Category: Luật

  • Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%C4%83ng-k%C3%BD-thay-%C4%91%E1%BB%95i-c%C3%B4ng-ty-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-n%C6%A1i-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-m%E1%BB%9F-t%C3%A0i-kho%E1%BA%A3n-giao-d%E1%BB%8Bch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    BỘ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
    Thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính
    ______________________________
     
     

    Thủ tục: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

     

    – Trình tự thực hiện:

    1. Nộp hồ sơ

    – Nhà đầu tư nước ngoài gửi hồ sơ đề nghị chấp thuận thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch đến Trung tâm Lưu ký Chứng khoán trực tiếp tại trụ sở Trung tâm Lưu ký Chứng khoán hoặc theo đường bưu điện

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán tiếp nhận hồ sơ

    2. Thẩm định hồ sơ

    Trung tâm Lưu ký Chứng khoán thẩm định hồ sơ.

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ (nếu có)

    – Nhà đầu tư nước ngoài sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (nếu có).

    3. Ra quyết định chấp thuận

    Trong thời hạn hai (02) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán chấp thuận việc thay đổi công ty chứng khoán. Trường hợp từ chối, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

    – Cách thức thực hiện:

    + Gửi Hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Trung tâm LK Chứng khoán

    + Hoặc theo đường bưu điện

    – Thành phần, số lượng hồ sơ:

     

    Thành phần hồ sơ, bao gồm:

     

    +      Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi do đại diện có thẩm quyền của nhà đầu tư nước ngoài ký

    +      Thông báo xác nhận về mặt nguyên tắc việc đóng tài khoản giao dịch tại Công ty chứng khoán cũ

    Lưu ý: Hồ sơ được lập thành hai (02) bộ, một (01) bộ gốc và một (01) bộ sao. Mỗi bộ hồ sơ gồm hai (02) bản, một (01) bản bằng tiếng Việt và một (01) bản bằng tiếng Anh, trong đó các tài liệu tiếng Anh phải được hợp pháp hóa lãnh sự, các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt phải được tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp luật về công chứng của Việt Nam. Các văn bản tiếng Việt là bản gốc (hoặc sao từ bản gốc tiếng Việt) và được lập tại Việt Nam không cần phải dịch ra tiếng Anh.

     

    Số lượng hồ sơ: 02 bộ (01 bộ gốc, 01 bộ sao); mỗi bộ hồ sơ gồm 02 bản (01 bản tiếng Việt, 01 bản tiếng Anh).

    – Thời hạn giải quyết: 02 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ

    – Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức/Cá nhân

    – Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    + Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Trung tâm LKCK Việt Nam

    + Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Trung tâm LKCK Việt Nam

    – Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định chấp thuận

    – Lệ phí (nếu có):

    – Tên mẫu đơn, mẫu t khai (nếu có):

    + Phụ lục V: Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi

    – Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có):

    – Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

     

    +    Luật Chứng khoán số 70/QH11 ngày 29/6/2006; có hiệu lực ngày 01/01/2007

    +    Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 24/12/2008 về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; hiệu lực ngày 18/02/2008

    Phụ lục V/ Appendix 5

     MẪU THÔNG BÁO/ĐỀ NGHỊ CHẤP THUẬN VỀ MỘT SỐ THAY ĐỔI CỦA TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI  (NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LẬP)

    (Ban hành kèm theo Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam)

    Tên nhà đầu tư nước ngoài/ Foreign investor’s name:

     

    Mã số giao dịch/ Securities Trading Code Number:

    REGISTRATION APPLICATION FORM FOR …..

    Kính gửi: Trung tâm lưu ký chứng khoán

    To: Vietnam Securities Depository

    1.       Tên / Applicant

     

    (Applicants name shall be same as indicated on supporting identification documents)

    2.       Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Certificate For Business Registration
    3.       Ngày thành lập/Establishment Date:
    4.       Quốc gia nơi thành lập/Country of domicile
    5.       Loại hình tổ chức /Type of Applicant

     

    (Please check applicable box and fill in relevant information, as appropriate)

    □      Quỹ đầu tư / If Applicant is a fund investment manager □     Không phải là quỹ đầu tư/If Applicant

     

    is not a fund investment manager

    Loại hình/Type:

     

    Quỹ dạng pháp nhân/a fund established as a corporation.

    Quỹ dạng hợp đồng/ a trust fund

    Quỹ thành viên/ a fund established as a partnership

    Quỹ hưu trí/ a pension fund

    Quỹ mở (quỹ tương hỗ)/a mutual fund/ open-ended fund

    Quỹ đóng/ a closed-ended fund

    Hợp đồng ủy thác/ an unit trust

    Loại hình khác/ Others__________

     Loại hình/Type:

     

    Ngân hàng thương mại/ a commercial/merchant bank

    Ngân hàng đầu tư /Investment bank

    Công ty bảo hiểm/an insurance company

    Công ty chứng khoán/ a broker firm or a futures commission merchant

    Công ty quản lý quỹ/ a fund (asset) management company

    Loại hình khác/Others ____________[1]

    6.       Mã số Giao dịch/Securities Trading Code
    7.       Nội dung thay đổi (Ghi N/A, nếu không có sự thay đổi phù hợp)

     

    Content to change (Please mark N/A, if such item is not applicable)

    Nội dung cũ

     

    Original Information

    Nội dung mới

     

    New Information

    Tên

     

    Original Name

    Địa chỉ

    Original Address

    Tel/Fax/Email

    Thành viên lưu ký

    Original Custodian

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán

    Securities Company

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp cũ

    Foreign Indirect Investment Account

    Đại diện

    Representative/Agent

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Tên mới (nếu có)

     

    New Name (if any)

    Địa chỉ mới (nếu có)

    New Address (if any)

    Tel/Fax/Email (if any / nếu có)

    Thành viên lưu ký mới (nếu có)

    New Custodian (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán mới (nếu có)

    New Securities Company (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới (nếu có)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới

    New Foreign Indirect Investment Account (if any)

    Đại diện mới (nếu có)

    New Representative/Agent (If any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Đại diện giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nếu có)

     

    Representative/Agent in Vietnam (if any)

     
    Người liên lạc:

     

    Contact person

     
    Ngày nộp hồ sơ

     

    Application Date:

     
    Những thay đổi khác như địa vị pháp lý, mô hình tổ chức hoạt động, đại diện có thẩm quyền … (liệt kê chi tiết)

     

    Other changes to type of applicant, Authorized Representative as Chairman of the Board of Director, President or CEO (Please fill in relevant detailed information, as appropriate)

    8.  Cam kết:  (có hiệu lực kể từ ngày ký)

     

    Declaration: (effective from the date this registration from is signed)

    8.1   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên và nội dung của toàn bộ hồ sơ và các tài    liệu kèm       theo là hoàn toàn chính xác, trung thực

    I hereby certify that all the imformation above is correct, the attached documents and the contents therein are true and accurate.

    8.2   Tôi xin cam kết sẽ tuân thủ pháp luật Việt Nam, không có các hành  vi giao dịch trái luật làm ảnh hưởng tới sự công bằng và trật tự thị trường tài chính, thị trường chứng khoán của Việt Nam

    I  hereby undertake to comply to the Vietnamese law and  not knowingly to take such measures to threatening to the stability or order of the Vietnam’s financial/securities market.

    8.3   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên hoàn toàn đúng và hiện nay không bị kết án về bất kì hoạt động tội phạm nào ở nước sở tại cũng như ở nước ngoài (cam kết của nhà đầu tư là cá nhân).

    I hereby certify that I am not and have not been convicted of any criminal offence either inside the country of birth or of permanent resident or of any other country. (applicable for individual investor).

    Hồ sơ kèm theo

     

    Attachments

    1.           Giấy ủy quyền cho đại diện tại Việt Nam

    Power of attorney to agent or letter of appointment to representative.

    2.           Các hồ sơ khác theo quy định

    Documents evidencing that the applicant meets these Guidelines.

    Nhà đầu tư:

     

    Applicant: ____________________________________________

    Tên và chữ ký của đại diện có thẩm quyền

    Name and Signature

    of Authorized Signatory: ___________________________________

    Chức danh

    Title: ________________________________________________

    Ngày thực hiện

    Execution Date: ________________________________________

         

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%C3%AAp-Tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-h%E1%BA%A1n-ch%E1%BA%BF-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-xe-c%C6%A1-gi%E1%BB%9Bi-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-PJICO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    I.                   THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH XE CƠ GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Xe cơ giới:

    Là tấ t cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, trừ xe đạp máy.

    Theo Luật giao thông đường bộ: tại Điều 3, Mục 13, 15.

    • Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm: xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự kể cả xe cơ giới dành cho người tàn tật.
    • Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.

    1.                 Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay.

    Trong quá trình hoạt động xe cơ giới có một số đặc điểm sau liên quan đến quá trình bảo hiểm:

    • Số lượng đầu xe tham gia giao thông đường bộ ngày càng tăng và có những thời kỳ tăng đột biến làm cho tai nạn có những thời kỳ xảy ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng. Năm 1995 số lượng ôtô là 340.779 chiếc, xe máy 3.578.156 chiếc nhưng đến năm 2004 (chỉ 10 năm sau) số lượng ôtô đã là 735.000 chiếc và xe máy 12.859.000 chiếc. Vậy chỉ trong 10 năm số lượng ôtô đã tăng 2,2 lần và số lượng xe máy đã tăng 3,6 lần.
    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, tính việt dã tốt và nó tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy xác xuất rủi ro là rất lớn.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phụ thuộc rất lớn vào cơ sở hạ tầng, thời tiết khí hậu, địa hình … Năm 1995 có 112.996 km đường bộ, nhưng chỉ có 19,8% đường rải nhựa và bê tông. Cho đến năm 2004 có 127.678 km, trong đó 38% là đường rải nhựa và bê tông. Hiện nay nước ta có 109 đèo dốc nguy hiểm các loại.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ chịu sự chi phối của một số bộ luật của quốc gia.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do nh ững đặc điểm trên có tính đặc thù nên ở tất cả các nước khi đã có bảo hiểm thì bao giờ cũng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Và ở Việt Nam thì nghiệp vụ này cũng đã được triển khai phổ biến và rộng rãi.

    Để biết cụ thể số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay xem ở bảng

    sau:

    Bảng 1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Việt Nam hiện nay.

    Chỉ Tổng số ôtô + xe Ôtô   Xe máy
    tiêu máy            
    Năm Số lượng   Tốc độ Số lượng   Tốc độ Số lượng Tốc độ
        tăng     tăng   tăng
          (%)     (%)   (%)
    1995 3.918.935   17,6 340.779   03,3 3.578.156 19,3
    1996 4.494.250   14,7 386.976   13,5 4.208.274 17,6
    1997 5.244.978   16,7 417.768   07,9 4.827.210 14,7
    1998 5.643.000   07,6 443.000   06,0 5.200.000 07,7
    1999 6.051.000   07,2 465.000   04,9 5.586.000 07,4
    2000 6.965.562   15,1 486.608   04,6 6.478.954 15,9
    2001 8.916.134   28,0 557.092   14,5 8.389.042 29,5
    2002 10.880.401   22,0 607.401   09,0 10.273.000 22,4
    2003 12.054.000   10,8 675.000   11,1 11.379.000 10,7
    2004 13.594.000   12,7 735.000   08,8 12.859.000 13,0
                  (Nguồn:   công   ty
                Pjico).  

    2. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam.

    Tai nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thông đường bộ nói riêng đang là thách thức đối với tất cả các quốc gia trên thế gới. Hiện nay tai nạn giao thông ở Việt Nam đ ang gia tăng rất đ áng lo ngại và cũng là mối quan tâm hàng đầu của dư luận Xã hội, của Đảng và của Chính Phủ.

    Tai nạn giao thông xảy ra thườ ng để lại hậu quả rất nặng lề và hiện này nó đang là bài toán không có lời giải đối với mạng lưới giao thông ở nước ta. Qua số liệu thống kê cho thấy số v ụ tai nạn giao thông ngày một tăng cả về số lượng và quy mô. Đòi hỏi tất cả các ngành các cấp có liên quan phải sớm vào cuộc tìm ra lời giải cho bài toán này vì tai nạn giao thông làm mất đi củ a cải của xã hội, mất ổn định xã hội, nghiêm trọng hơn là hậu quả của nó để lại.

    Số vụ tai nạn giao thông ở nước ta có chi ều hướng ngày một tăng cao, năm 1995 xảy ra 15.376 vụ, đến n ăm 2002 s ố vụ tai nạn xảy ra đã gấp 1,8 lần số vụ năm 1995 (xảy ra 27.134 vụ ). Riêng 2 năm tr ở lại đ ây số vụ tai nạn có chiều hướng chững lại do sự đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và ý thức

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người dân đã được nâng lên đáng kể. Đặc biệt năm 2003 tốc độ tăng tai nạn giao thông mang dấu âm (-28,2%) đây là dấu hiệu đáng mừng cũng do trong năm này các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế tình hình tai nạn giao thông như: giải toả chỗ lấn chiếm lòng đườ ng vỉa hè, họp chợ trái phép… cho tới những biện pháp mạnh tay nh ư: bắn tốc độ, kiểm tra nồ ng độ cồ n… cũng trong n ăm này r ất nhiều dự án an toàn giao thông đã được đưa vào hoạt động và có tác dụng tích cực.

    Tai nạn giao thông không chỉ gia tăng về số lượ ng mà nguy hiểm hơn đó là quy mô của tai nạn. Từ n ăm 1995 số người chết do tai nạn giao thông là 5.431 đến nă m 2004 con số này đã gấp 2,3 lần (số ng ười ch ết do tai nạn giao thông năm 2004 là 12.644 người) trong đó không ít người là những lao động chính trong gia đình, tr ụ cột trong gia đình mà sự ra đi quá đột ngộ t của họ là một cú sốc lớn đố i với gia đình đó và ngày hôm sau con em họ sẽ sống ra sao? Nguy hiểm h ơn trong số những nạn nhân đó có không ít những thanh niên tr ẻ tuổ i (ngu ồn lao động tương lai của đất nước) họ vừa là nạn nhân nhưng cũ ng đồ ng thời là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chỉ vì một phút thi ếu suy nghĩ, bồng b ột, đây là điều đáng tiếc nhất mà chúng ta phải lên án và phải có những biện pháp can thiệp thích hợp ngay từ đầu trước khi tai nạn đáng tiếc xảy ra.

    Quy mô của tai nạn còn được thể hiện qua số người b ị thương do tai nạn giao thông. Năm 1995 có 16.921 người b ị thương do tai nạn giao thông đến năm 2004 con số này đã là 21.728 người. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện t ừ TW đến địa phương và trong số những ngườ i bị thương sẽ có không ít người trở thành tàn tật vĩnh viễn (người thực vật) sống dựa vào thu nhập và khả năng chăm sóc củ a người khác. Thiệt hại về người trong tai nạn giao thông là thiệt hại vô giá mà không ai muốn gặp phải do vậy, để hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra phụ thuộc vào ý thức và hành động của tất cả mọi người.

    Để bi ết cụ thể tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam qua các năm xem ở bảng sau:

    Bảng 2:Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 1995-2004.

    Chỉ Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị Tỷ lệ số
    tiêu         thương ngườ i
                  chết
                  trên
      Số vụ (vụ) Tốc độ Số Tốc độ Số Tốc độ 10.000
    Năm   tăng người tăng người tăng xe cơ
      (%) (người) (%) (người) (%) giới

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.       Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                     
    1995 15.376 +17,2 5.431 +19,3   16.921 +29,5 13,8
    1996 19.075 +24,0 5.581 +2,7   21.556 +27,3 12,1
    1997 19.159 +0,4 5.681 +1,8   21.905 +1,6 10,8
    1998 19.975 +4,3 6.067 +6,8   22.723 +3,7 10,7
    1999 20.773 +3,8 6.671 +9,9   23.911 +5,2 10,9
    2000 22.486 +8,5 7.501 +12,4   25.401 +6,2 10,7
    2001 25.041 +11,3 10.477 +39,6   29.188 +14,9 11,7
    2002 27.134 +8,3 12.801 +22,2   30.733 +5,3 11,8
    2003 19.852 -28,2 11.319 -9,4   20.401 -35,2 9,4
    2004 20.944 +5,5 12.644 +11,7   21.728 +6,5 9,3

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Tình hình tai nạn giao thông tăng một cách đáng lo ngại như vậy là bởi các nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Xuất pháp từ đặc điểm của xe cơ giới là có tính động cơ cao và tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy, xác xuất rủi ro lớn hơn các loại hình giao thông vận tải khác.
    • Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên gặp phải hạn hán, lũ lụt, địa hình hiểm trở 3/4 diện tích là đồi núi gây khó khăn cho việc đi lại vận chuyển.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Do nhu cầu vận chuyển, đi lại cộng với giá thành xe cơ giới ngày càng hạ làm cho số lượng xe cơ giới tham gia giao thông tăng đột biến. Hiện nay cả nước có 735.000 xe ôtô và 12.859.000 xe máy. Trong đó tốc độ gia tăng của xe ôtô hàng năm là 8-9% (khoảng 50.000 chiếc/năm) còn tốc độ gia tăng của xe máy là 20-30% (khoảng 1,5- 2 triệu chiếc/năm). Sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện cơ giới trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp làm cho mật độ các phương tiện trên đường tăng lên cũng đồng nghĩa với việc tăng xác xuất gây tai nạn giao thông.
    • Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông đường bộ trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được với tốc độ gia tăng của các phương tiện nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp. HCM.
    • Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông xuất phát từ người điều khiển phương tiện trong đó, ý thức của người điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính. Thống kê nguyên nhân gây tai nạn giao thông của nhiều năm qua đều cho thấy từ 70- 80% các vụ tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông không chấp hành đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông (vi phạm tốc độ chiếm 30%, trách vượt sai quy định

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chiếm 21%, say rượu bia chi ếm 7,3%…). Tổng số xe cơ giới đường bộ là 13.594.000 xe nhưng chỉ có 5.863.857 người có giấy phép lái xe chiếm 43,1%. Điều này cho thấy còn nhiều người không cần họ c luật, không cần thi giấy phép lái xe nhưng vẫn ngang nhiên điều khiển phương tiện, coi thường pháp luật.

    • Ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông của người dân Việt Nam còn kém. Hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh, họp chợ… xảy ra phổ biến, hiện tượng coi đường quốc lộ là sân phơi, nơi tập kết vật liệu xây dựng, nơi chơi thể thao… tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến mất an toàn giao thông.

    II.               SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1.                 Ưu điểm của loại hình giao thông đường bộ tại Việt Nam.

     

    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, linh hoạt với sự tham gia đông đảo của các loại xe: xe tải, xe khách, xe con, xe máy… hoạt động trong phạm vi rộng kể cả địa hình phức tạp, có thể vận chuyển người và hàng hoá tới những nơi mà các loại hình vận tải khác không thể đến được.
    • Tốc độ vận chuyển của loại hình vận tải này nhanh với chi phí vừa phải. Tiền vốn đầu tư mua sắm phương tiện, xây dựng bến bãi ít tốn kém hơn các hình thức khác, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và thu nhập của người dân Việt Nam.
    • Việc sử dụng các phương xe cơ giới cũng đơn giản và thuận tiện hơn các loại phương tiện khác.

    Với ưu điểm trên số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay đang phát triển như vũ bão.

    2.                 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xe cơ giới.

    Tình trạng tai nạn giao thông ngày càng tăng cả về số vụ và mức độ nghiêm trọng. Mặt khác, có tới 70% số ngườ i đi trên các phương tiện giao thông là người chủ, người trụ cột trong gia đình cũng như ở các doanh nghiệp nên khi tai nạn giao thông xảy ra thì thiệt hại không chỉ bó hẹp trong phạm vi vụ tai nạn mà còn làm mất thu nhập cho cả gia đình, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh và hậu quả cho nền Kinh tế quố c dân. Bên cạnh đó, có những chủ xe gây tai nạn rồ i bổ trốn. Việc giải quyết bồ i thường trở nên khó khăn, lợi ích của người bị nạn không được b ảo đảm, gây ảnh hưởng tiêu cực trong dư luận xã hội. Bởi vậy, nhu cầu lập quỹ chung để bù

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đắp tổn thất là một yếu tố khách quan. Đó là lý do cơ bản cho thấy sự cần thiết khách quan cho sự ra đời của bảo hiểm xe cơ giới.

    Khi tai nạn giao thông xảy ra, ngườ i có lỗi phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do anh ta gây ra bao gồm:

    • Thiệt hại về người và tài sản của người thứ ba và hành khách vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về người và tài sản cũng như thiệt hại do gián đoạn kinh doanh của chính chủ xe.

    Trên thực tế việc giải quyết hậu quả của những vụ tai nạn giao thông thường rất phức tạp và mất nhiều thời gian vì một số lý do:

    • Sau khi gây tai nạn một phần do hoảng sợ, một phần do thiếu trách nhiệm, lái xe đã bỏ trốn để mặc cho nạn nhân phải chịu hậu quả.
    • Lái xe quá nghèo, không đủ khả năng tài chính để bồi thường thiệt hại cho người thứ ba cũng như cho chủ xe và hàng hoá trên xe.
    • Sau tai nạn lái xe bị thiệt mạng không thể bồi thường cho nạn nhân

    được.

    Vậy để đảm bảo bù đắp những thiệt hại sau những vụ tai nạn, thì việc tham gia bảo hiểm xe cơ giới là hoàn toàn cần thiết. Nhà bảo hiểm sẽ bù đắp các thiệt hại của chính chủ xe cũng như thay mặt chủ xe bồi thường cho người thứ ba, giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả tai nạn và sớm ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống.

    3.                 Tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới.

    Hoạt động của nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã đem lại cho cá nhân, tổ chức, xã hội những tác dụng to lớn sau:

    – Đối với cá nhân:

    Rủ i ro là yếu tố ngẫu nhiên không lường trước được, có thể xảy ra cho bất cứ cá nhân, bất cứ phương tiện giao thông nào và hoàn toàn nằm ngoài ý muố n chủ quan của con ng ười. Thêm vào đó xe cơ giới dù là xe máy cũng là một tài sản có giá trị lớn. Do v ậy b ảo hiểm xe cơ gi ới ra đời góp phần ổn định tài chính, khắc phục những hậu qu ả khó khăn về vật chất cũng như tinh thần cho ngườ i bị nạn, giúp họ nhanh chóng khôi phục sau rủi ro tai nạn. Đồng thời, nó cũng giúp ch ủ phương tiện trách được những khoản chi phí bất thường làm mất cân đố i tài chính, đảm b ảo cho người bị thiệt hại được thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự của chủ trách nhiệm.

    Nh ờ có quỹ t ập chung của nhà bảo hiểm, khi có tai nạn xảy ra nhà bảo hiểm giải quyết bồi thường nhanh chóng, kịp thời góp phần xoa dịu bớt căng thẳng giữa chủ xe và nạn nhân.

    – Đối với xã hội:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Việc triển khai nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã góp phần đảm bảo an ninh và an toàn xã hội. Thông qua công tác thương lượng, hoà giải làm giảm bớt bức súc căng thẳng giữa chủ xe và người bị thiệt hại trong vụ tai nạn. Nó c ũng giúp lái xe luôn có ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông góp phần ngăn ngừa tổn thất.

    – Đối với Nhà Nước:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe c ơ giớ i ra đời cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà Nước đồ ng thời làm tăng thu cho ngân sách Nhà Nước, tăng thu ngoại tệ cho Nhà Nước. Phí bảo hiểm là nguồn tài chính đáng kể, ngoài việc được dùng để bồi thường thiệt hại và đề phòng hạn chế tổn thất, nó còn được dùng để nâng c ấp và xây dựng cơ sở h ạ tầng giao thông, một mặt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặt khác hạn ch ế tai nạn giao thông xảy ra và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

    III. MỘT SỐ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.

    Bảo hiể m TNDS của chủ xe cơ gi ới đối với ngườ i th ứ ba đây là hình thức bảo hiểm bắt buộc đối với tất cả các chủ xe cơ giới, bởi vì:

    • Xe cơ giới là một nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây tai nạn bất cứ lúc nào mà con người không thể lường trước được. Đất nước ngày càng phát triển, mạng lưới giao thông ngày càng dày đặc thì tai nạn do xe cơ giới gây ra ngày càng nhiều.
    • Bảo hiểm TNDS của xe cơ giới là một biện pháp kinh tế mà các chủ xe có trách nhiệm đóng góp về mặt tài chính để hình thành nên quỹ bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm quản lý. Quỹ này nhằm đảm bảo bồi thường nhanh chóng, khắc phục hậu quả kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của những người bị thiệt hại về thân thể và tài sản do xe cơ giới gây ra. Đặc biệt là trong trường hợp người gây tai nạn không có khả năng về kinh tế để đền bù thiệt hại hoặc người đó cũng đã tử vong trong chính vụ tai nạn đó.
    • Thông qua quỹ này, các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc bồi thường, bù đắp cho chủ xe khi gặp phải rủi ro sự cố tai nạn xảy ra, giúp chủ xe khắc phục được hậu quả tài chính, ổn định sản xuất, góp phần ổn định kinh tế xã hội.
    • Ngoài ra quỹ này còn được sửa dụng một phần vào việc đề phòng và hạn chế tổn thất thông qua việc đóng góp xây dựng những công trình phục vụ an toàn giao thông như các đường thoát nạn, các biển báo nguy hiểm…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    và tổ chức các chiến d ịch tuyên truyền rộ ng rãi về luật giao thông, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của mọi người khi tham gia giao thông.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân hay đại diện cho một tập thể. Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiể m cho phần TNDS củ a chủ xe phát sinh do s ự hoạt độ ng và đi ều khiển xe cơ giới của ng ười lái xe. Như vậy, đối tượng được bảo hiểm là phần TNDS của chủ xe cơ giới đố i với người thứ ba. Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ gi ới đối với người thứ ba là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồ i thường ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây nên.

    Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước. Chỉ khi nào việc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba thì đối t ượ ng này mới được xác định cụ thể. Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba bao gồm:

    • Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ của bên thứ ba.
    • Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái phát luật. Có thể do vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm các quy định khác của Nhà nước…
    • Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái phát luật của chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba.
    • Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi.

    Thực tế chỉ cần đồng thời x ảy ra ba điều ki ện thứ nhất, thứ hai, th ứ ba là phát sinh TNDS đối với người thứ ba củ a chủ xe (lái xe) . Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên TNDS của ch ủ xe s ẽ không phát sinh, và do đó không phát sinh trách nhiệm củ a b ảo hiểm. Điều kiện th ứ tư có thể có hoặc không, vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của ch ủ xe (lái xe). Ví dụ: Xe đang chạy bị nổ lốp, lái xe mất khả năng đi ều khiển nên đã gây ra tai n ạn. Trong trường hợp này, TNDS vẫn có thể phát sinh nếu có đủ ba điều kiện đầu tiên.

    Chú ý rằng, bên thứ ba trong bảo hi ểm TNDS chủ xe cơ giới là những người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:

    • Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe.
    • Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con

    cái…

    – Hành khách, những người có mặt trên xe.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Người bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường trước gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe. Cụ thể, các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm bao gồm:

    – Tai nạn gây thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ

    ba;

    – Tai nạn gây thiệt hại về tài sản, hàng hoá… của bên thứ ba;

    – Tai nạn gây thiệt tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thu nhập;

    – Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể cả biện pháp không đem lại hiệu quả).

    – Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.

    • Các rủi ro được loại trừ:

    Ngườ i b ảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các tai nạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp sau:

    • Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại.
    • Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao thông theo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ.
    • Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông đường bộ như:
      • Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường.
    • Lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái bị tịch thu, bằng

    không hợp lệ.

    • Lái xe bị ảnh hưởng của các chất khích thích như: rượu, bia,

    ma tuý…

    • Xe chở chất cháy, nổ trái phép.
    • Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa.
    • Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm, xe đi đêm không có đèn chiếu sáng hoặc chỉ có đèn bên phải.
    • Xe không có hệ thống lái bên phải.
    • Thiệt hại do chiến tranh, bạo động.
    • Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuất kinh doanh.
    • Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, bị mất cắp trong tai nạn.
    • Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia (trừ khi có thoả thuận khác). Ngoài ra, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường

    thiệt hại đối với những tài sản đặc biệt như:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Vàng bạc, đá quý.
    • Tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền.
    • Đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm.
    • Thi hài, hài cốt.
    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện. Người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượng đầu phương tiện của mình. Mặt khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về độ lớn có xác xuất gây ra tai nạn khác nhau. Do đó, phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện) tuỳ theo mỗi đầu phương tiện.

    Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện (thường tính theo năm) là:

    P = f + d

    Trong đó:

    P – Phí bảo hiểm / đầu phương tiện f – Phí thuần

    d – Phụ phí

    Phí thuần được tính theo công thức: n

    • Si x Ti

    i = 1

    f=            n Ci

    i=1

    Trong đó:

    Si – Số vụ tai nạn x ảy ra có phát sinh TNDS của chủ xe được bảo hiểm bồi thường trong năm thứ i.

    Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn trong năm

    thứ i.

    Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm

    thứ i.

    n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1,n).

    Như vậy, “f” thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n

    năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó.

    Đối với các phươ ng tiện không thông dụng, mức độ rủi ro lớn hơn như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng… thì tính thêm tỷ lệ ph ụ phí so với mức phí cơ bản. Ở Việt Nam hiện nay thường cộng thêm 30% mức phí cơ bản.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Đối với các phương ti ện hoạt động ngắn hạn (dưới một năm), thời gian tham gia bảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác định như sau:

    Pngắn hạn = P năm x Tỷ lệ phí ngắn hạn theo tháng

    Trường hợp đã đóng phí (tham gia bảo hiểm) cả năm, nhưng vào một thời đi ểm nào đó phương tiện không ho ạt động nữa hoặc chuyển sở hữu mà không chuy ển quyền b ảo hiểm thì chủ phương tiện s ẽ được hoàn phí bảo hiể m tương ứng với số thời gian còn lại của n ăm (làm tròn tháng) n ếu trước đó chủ phương tiện chưa có khiếu nại và được bảo hiểm bồi thường.

    Số phí hoàn lại được xác định như sau:

    Pnăm x Số tháng xe không hoạt động

    • hoàn lại =

    12 tháng

    Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện. Tuỳ theo số lượ ng phương tiện, người b ảo hiểm sẽ quy đị nh thời gian, số lần nộ p và mức phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo số lượng phươ ng ti ện tham gia bảo hiểm (tối đa thường là 20%). Nếu không thực hiện đúng quy định này sẽ bị phạt.

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Về người: 30 triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách).

    Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ (đối với người thứ ba).

    Phí bảo hiểm (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển

    hành khách).

    Xe taxi:

    – Dưới 6 chỗ tính bằng 150% của phí xe kinh doanh dưới 6 chỗ quy định tại mục

    IV.A.

    – Xe trên 6 chỗ tính bằng phí xe kinh doanh cùng số chỗ ngồi quy định tại mục

    IV.A.

    Xe buýt: Tính bằng phí bảo hiểm của xe không kinh doanh cùng số chỗ ngồi theo quy định tại mục III.

    Xe ôtô chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải cùng trọng tải quy định tại mục III.B.

    Xe máy chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải dưới 3 tấn quy định tại mục III.B.

    Xe rơ moóc: Tính bằng 30% phí bảo hiểm của xe kéo rơ moóc đó.

    Bảng 3: Biểu phí TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại Pjico.

    STT LOẠI XE PHÍ BẢO HIỂM NĂM (Đồng)
    I MÔ TÔ 2 BÁNH:  
    1 Từ 50cc trở xuống 50,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
           
    2 Trên 50 cc   55,000
         
    II XE LAM, XE MÔ TÔ BA BÁNH, XÍCH LÔ MÁY, XE LÔI 140,000
           
    III XE Ô TÔ KHÔNG KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Loại xe dưới 6 chỗ ngồi   200,000
    2 Loại xe từ 6 đến 11 chỗ ngồi   400,000
    3 Loại xe từ 12 đén 24 chỗ ngồi   640,000
    4 Loại xe trên 24 chỗ   920,000
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   340,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   670,000
    3 Trên 8 tấn   930,000
    C Xe vừa chở người vừa chở hàng (pickup)   470,000
           
    IV XE Ô TÔ KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Dưới 6 chỗ ngồi theo đăng ký   350,000
    2 6 chỗ ngồi theo đăng ký   430,000
    3 7 chỗ ngồi theo đăng ký   500,000
    4 8 chỗ ngồi theo đăng ký   580,000
    5 9 chỗ ngồi theo đăng ký   650,000
    6 10 chỗ ngồi theo đăng ký   730,000
    7 11 chỗ ngồi theo đăng ký   800,000
    8 12 chỗ ngồi theo đăng ký   880,000
    9 13 chỗ ngồi theo đăng ký   950,000
    10 14 chỗ ngồi theo đăng ký   1,030,000
    11 15 chỗ ngồi theo đăng ký   1,110,000
    12 16 chỗ ngồi theo đăng ký   1,180,000
    13 17 chỗ ngồi theo đăng ký   1,360,000
    14 18 chỗ ngồi theo đăng ký   1,330,000
    15 19 chỗ ngồi theo đăng ký   1,410,000
    16 20 chỗ ngồi theo đăng ký   1,480,000
    17 21 chỗ ngồi theo đăng ký   1,560,000
    18 22 chỗ ngồi theo đăng ký   1,630,000
    19 23 chỗ ngồi theo đăng ký   1,710,000
    20 24 chỗ ngồi theo đăng ký   1,790,000
    21 25 chỗ ngồi theo đăng ký   1,860,000
    22 Trên 25 chỗ ngồi   1.860.000 + 20.000 x (Số chỗ – 25 chỗ)
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   380,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   740,000
    3 Trên 8 tấn   1,020,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    (Nguồn: công ty Pjico)

    (Lưu ý: Phí bảo hiểm trên chưa bao gồm 10% thuế GTGT).

    3.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách.

    Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc với mục đích:

    • Góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành khách không may bị tai nạn và gia đình họ.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn khắc phục hậu quả kịp thời, nhanh chóng.
    • Xét trên phạm vi xã hội, nó góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông. Tăng thu ngân sách cho Nhà nước để từ đó có điều kiện đầu tư trở lại nâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông.
    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Là tính mạng và tình tr ạng sức khoẻ của tất cả hành khách đi trên các phương tiện giao thông kinh doanh chuyên chở hành khách. Những người này không phân biệt lứa tuổi, nghề nghi ệp, miễn là họ có vé hoặc miễn giảm vé theo quy định. Người được bảo hiểm bao gồm cả những hành khách đượ c ưu tiên đặc biệt không phải mua vé, trẻ em đi theo người lớn được miễn vé.

    Tuy nhiên, hành lý, tài sản, hàng hóa củ a hành khách mang theo, các lái phụ xe và những người đ ang làm việc trên các phương tiện vận chuyển hành khách (ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ , thuyền phà và máy bay) không thuộc đối tượng bảo hi ểm. Nghiệp vụ này ở nước ta được tri ển khai dưới hình th ức bắt buộc, vì vậy phí b ảo hi ểm được tính vào giá cước vận chuyển và mặc nhiên mỗi tấm vé là một giấy chứng nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm:

    Là các rủ i ro do thiên tai, tai nạn bất ng ờ xảy ra trong suốt hành trình của hành khách gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của người được bảo hiểm.

    • Thiên tai bao gồm: Thời tiết xấu, bão lốc, lũ lụt, sụt lở đất đá… gây thiệt hại cho phương tiện chuyên chở, do đó gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của hành khách.
    • Tai nạn bất ngờ: Đâm va, cháy nổ, lật nghiêng, do sự cố kỹ thuật của chính phương tiện, lỗi lầm của người điều khiển phương tiện hoặc do phương tiện khác đâm vào…
    • Các rủi ro loại trừ:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bị tai nạn do vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm pháp luật (nhảy tàu, xe khi phương tiện chưa dừng hẳn, bám xe, đứng ngồi không đúng chỗ quy định, hành hung, ăn cắp…).
    • Bị tai nạn do những nguyên nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình vận chuyển hoặc bản thân tình trạng sức khoẻ của hành khách gây ra (ngộ độc thức ăn, trúng gió, ốm đau…).
      • Thời hạn hiệu lực của bảo hiểm:
    • Là thời gian hợp lý để thực hiện cuộc hành trình, tức là bắt đầu từ lúc hành khách bước chân lên phương tiện và kết thúc khi hành khách rời khỏi phương tiện một cách an toàn tại bến, ga hoặc sân bay cuối cùng ghi trên vé. Thời gian tạm ngừng hợp lý (lấy nhiên liệu, ăn uống…) vẫn được tính vào thời hạn bảo hiểm. Nếu đi liên vận, hành khách phải thay đổi phương tiện, trong lúc chờ đợi để lên phương tiện tiếp theo vẫn được bảo hiểm.
    • Nếu hành khách tự ý hay vô tình rời bỏ cuộc hành trình, rời bỏ hay lạc mất phương tiện chuyên chở thì coi như thời hạn bảo hiểm chấm dứt.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    S ố tiền bảo hiểm đượ c ấn định theo quy định chung đối với mỗi loại phương ti ện hay một số loại phương tiện. Chẳng hạn, nếu hành khách đi trên máy bay, số tiền bảo hiểm là 20.000 USD/hành khách. Nếu đi trên tàu hoả, tàu thuỷ, ôtô số tiền bảo hiểm là 12.000.000 VNĐ/hành khách. Vì nghiệp vụ được thực hiện dưới hình thức bắt buộc nên ngườ i tham gia bảo hiểm không có quyền lựa chọn số ti ền bảo hiể m. Trẻ em mua n ửa vé hoặc được miễn vé thì số tiền bảo hiểm chỉ bằng 50% số tiền bảo hiểm của người lớn.

    1. Phí bảo hiểm:

    Vì thực hi ện bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm được tính vào giá vé. Cơ quan làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách bán vé cũng là người thu phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:

    • Số tiền bảo hiểm.
    • Loại phương tiện vận chuyển.
    • Độ dài tuyến đường chuyên chở.
    • Đặc điểm tuyến đường hoạt động của phương tiện vận chuyển (chất lượng đường xá, địa hình).

    Có 2 phương pháp tính phí được các công ty bảo hiểm vận dụng:

    • Phí bảo hiểm tính trên 1km/ hành khách, cho từng loại phương tiện với giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Công thức:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    P= f1+ f2+ f3+ f4

    ∑Ci+ ∑Ti

    f1=

    • m∑Lij Kij

    Trong đó:

    f1– Phí thuần

    f2– Phí đề phòng hạn chế tổn thất

    f3– Phí dự phòng

    f4– Phí quản lý và lãi dự kiến

    (f2, f3, và f 4 th ường được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng số phí thu).

    Ci- Số tiền chi trả cho những hành khách bị chết năm thứ i.

    Ti- Số tiền chi trả cho những hành khách phải điều trị, phẫu thuật năm thứ i.

    Lij- Độ dài quãng đường j năm thứ i.

    Kij- Số hành khách đi trên quãng đường j năm thứ i.

    n- Số năm khảo sát (n= 5 năm).

    m- Số quãng đường của từng loại hình giao thông vận tải.

    Ph ương pháp này có ưu điểm chính là chính xác và độc lập với giá cướ i vận tải, song lại có nhược điể m mức phí tính ra rất lẻ và đôi khi quá nhỏ nên đã ảnh hưởng đến khâu bán vé và quản lý của cơ quan vận chuyển.

    • Phí bảo hiểm tính theo tỷ lệ trên giá cước vận tải của từng loại phương tiện.

    f= R x Gv

      ∑Qi
    R=   x 100
     
      ∑ Di

    Trong đó:

    f- Phí thuần

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    Gv- Giá cước vận tải

    Qi- Tổng chi phí chi trả cho tai nạn bảo hiểm năm th ứ i Di- Tổng doanh thu cước phí của ngành vận tải năm i

    Ph ương pháp này tuy đơn giản, dễ tính toán, song phụ thuộ c nhiều vào giá cước vận t ải. Khi tính toán cũng phải giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ngoài ra, đối với các công ty tư nhân kinh doanh vận tải hành khách, công ty bảo hiểm thu phí theo phương thức khoán. Cụ thể, số phí một công ty vận tải phải nộp hàng tháng.

    Phí bảo hiểm     Số chỗ ngồi         Số phương           Số lượt phương         Số ngày

    P = bình quân 1    x      BQ một             x     tiện hoạt        x      tiện hoạt động x hoạt

    động

    hành khách           phương tiện            động                        BQ một ngày           BQ một

    tháng

    1. Trả tiền bảo hiểm:
    • Nếu tai nạn chết người: Số tiền chi trả cho 1 hành khách bằng số tiền bảo hiểm.
    • Nếu bị tai nạn thương tật: Số tiền chi trả bằng tỷ lệ thương tật nhân với số tiền bảo hiểm (tỷ lệ thương tật được giám định thông qua giám định y khoa).
    • Nếu hành khách bị tai nạn nhẹ, tạm thời: Số tiền chi trả có thể tính theo chi phí thực tế (nằm viện, điều trị…) hoặc cũng có thể bằng số tiền chi trả bình quân một ngày nhân với số ngày nằm viện. Số tiền chi trả 1 ngày và số ngày nằm viện được quy định thống nhất căn cứ vào số tiền bảo hiểm. Nhưng số tiền chi trả tối đa không vượt quá số tiền bảo hiểm.

    3.                 Bảo hiểm vật chất thân xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm: Bao gồm tất cả những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ của quốc gia.

     

    – Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để được bồi thường cho những thiệt hại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.

    – Đối với xe ôtô các loại có thể tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất xe cũng có thể tham gia bảo hiểm từng bộ phận của chiếc xe. Tuy nhiên nếu tham gia từng bộ phận thì phải theo 7 tổng thành sau:

    • Tổng thành động cơ.
    • Tổng thành hộp số (chính, phụ).
    • Hệ thống lái.
    • Tổng thành thân vỏ.
    • Tổng thành trục trước.
    • Tổng thành cầu sau.
    • Tổng thành lốp.

    Ngoài ra có một số loại xe còn có tổng thành thứ 8 như xe cứu thương, xe cứu hoả, móc cần cẩu, móc kéo…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Còn đối với xe môtô và xe máy chỉ tiến hành bảo hiểm toàn bộ xe. Đây là loại hình bảo hiểm tài sản vì vậy được thực hiện dưới hình thức

    tự nguyện. Khi tham gia bảo hiểm chủ xe phải lưu ý 4 vấn đề sau:

    • Trong mọi trường hợp không bao giờ bảo hiểm bồi thường vượt quá số tiền ghi trong đơn bảo hiểm, hay nói cách khác đó là giới hạn tối đa để bồi thường.
    • Nếu chủ xe cũ đã mua bảo hiểm, sau đó chuyển quyền sở hữu cho người khác thì chủ xe mới vẫn được hưởng quyền bảo hiểm đó cho đến hết hợp đồng, nhưng chủ xe phải báo cho công ty bảo hiểm.
    • Bảo hiểm không chịu phần hao mòn tự nhiên của chiếc xe. Chủ xe phải chịu các khoản miễn thường, hao mòn, trục trặc máy móc, hỏng lốp xe do sử dụng thành bị cắt hay nổ.
    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm thông thường bao gồm: – Tai nạn do đâm va, lật đổ;

    – Cháy nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá; – Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên;

    Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc

    xe được bảo hi ểm trong những trườ ng hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:

    • Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm;
    • Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
    • Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;

    Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng số tiền bồ i thường của công ty bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm.

    • Công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:

    – Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa.

    – Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng mà không do tai nạn gây ra.

    – Mất cắp bộ phận xe.

    – Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba.

    1. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Giá trị bảo hiểm củ a xe cơ giới là giá trị th ực tế trên th ị trường của xe tại thời điể m người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm. Việ c xác định đ úng giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường chính xác thiệt h ại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, giá trị xe trên thị trường luôn bi ến độ ng và có thêm nhiều chủng loại xe mới gây khó khăn cho việc xác định đúng giá trị xe.

    Trong th ực t ế, các công ty bảo hiểm thường dựa trên các yếu tố sau để xác định giá trị xe:

    • Loại xe;
    • Năm sản xuất;
    • Mức độ cũ, mới của xe;
    • Thể tích làm việc của xi lanh…

    Một phươ ng pháp xác định giá trị b ảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:

    Giá trị bảo hiểm= Giá trị ban đầu – Khấu hao.

    Ví dụ: Ch ủ mộ t chiếc xe ôtô TYOTA mua ngày 01 tháng 01 n ăm 1998 với giá 600 triệu đồng; mua bảo hiể m vật chất xe vào ngày 10 tháng 03 năm 2000. Công ty bảo hiểm đánh giá t ỷ lệ khấu hao là 12% năm. Mức khấu hao được tính cho từng tháng, nếu mua bảo hi ểm trước ngày 16 thì tháng đó không phải tính khấu hao, còn từ ngày 16 trở đi thì tháng đó phải tính khấu hao. Trong trường hợp này giá trị bảo hiểm sẽ được tính như sau:

    Giá trị ban đầu        600.000.000 VNĐ

    KH năm 1998: (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 1999:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 2000:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Tổng: 156.000.000 VNĐ

    Như vậy giá trị bảo hiểm sẽ là:

    600.000.000 – 156.000.000 = 444.000.000 VNĐ

    1. Phí bảo hiểm:

    Khi xác định phí b ảo hiểm cho từng đối tượ ng tham gia bảo hi ểm cụ thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:

    • Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác định phí bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thành các nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng. Đối với các xe hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    moóc, xe chở hàng n ặng… do có mức độ rủi ro cao nên phí b ảo hiểm thường được cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.

    Giống nh ư cách tính phí b ảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau:

    P = f + d

    Trong đó:      P – Phí thu mỗi đầu xe

    d – Phụ phí

    f – Phí bồi thường

    Theo công thức trên, việc xác định phí bảo hiểm phụ thuộc vào những nhân tố sau:

    – Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó. Căn cứ vào số liệu thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí bồi thường “f” cho mỗi đầu xe như sau:

    • Si x Ti

    f =    ∑ Ci

    (Với i = 1, 2, … , n)

    Trong đó: Si – Số vụ tai nạn xảy ra trong năm thứ i

    Ti – Thiệt hại bình quân một vụ trong n ăm thứ i Ci – Số xe hoạt động thực tế trong năm thứ i

    • Các chi phí khác hay còn gọi là phần phụ phí (d), bao gồm các chi phí như chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý …

    + Khu vực giữ xe và để xe: Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm nào cũng quan tâm đến nhân tố này. Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt chẽ.

    + Mục đích sửa dụng: Đây là nhân tố quan trọng khi xác định phí bảo hiểm. Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ, xe do một người về hưu sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thương gia sử dụng để đi lại trong những khu vực rộng lớn. Rõ ràng xe lăn bánh trên đường càng nhiều, rủi ro tai nạn càng lớn.

    + Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm. Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55 tuổi, do kinh nghiệm cho thấy số người này gặp ít tai nạn hơn so với các lái xe trẻ tuổi. Tuy nhiên, với những lái xe quá lớn tuổi (thường từ 65 tuổi trở lên) thường phải xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Ngoài ra, để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty bảo hiểm th ường yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất xảy ra với xe (hày còn gọi là mức miễn th ường). Đối với những lái xe trẻ tuổi mức miễn thường này thường cao hơn so với những lái xe lớn tuổi.

    • Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham gia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm phí so với mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết các công ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỷ lệ giảm giá này cho một số năm không có khiếu nại gia tăng. Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới.

    Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt động một số ngày trong một năm, thì chủ xe phải đóng phí bảo hiểm cho những ngày hoạt động đó theo công thức sau:

    Phí Mức phí Số tháng xe hoạt động trong năm
    bảo hiểm = cả năm  ế   12 tháng  
    • Biểu phí đặc biệt: Khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, các công ty bảo hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó. Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính biểu phí được đề cập ở trên, chỉ khác là chỉ dựa trên các số liệu về bản thân khách hàng đó, cụ thể:

    – Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm;

    – Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng

    • những năm trước đó;

    – Tỷ lệ phụ phí theo quy định của công ty;

    Trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, công ty bảo hiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt. Còn nếu mứ c phí đặc biệt tính được là cao hơn (hoặc bằng) mức phí chung, tức là tình hình t ổn thất của khách hàng cao hơn (hoặc bằng) mức tổn thất bình quân chung, thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung.

    • Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó, ví dụ như ngừng hoạt động để tu sửa xe. Trong trường hợp này thông thường công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại được tính như sau:
    Phí Phí Số tháng không hoạt động Tỉ lệ
    hoàn lại = cả năm ế         hoàn lại phí
      12 tháng Х
                 

    Mỗ i công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau. Nhưng thông thường tỷ lệ hoàn này là 80%.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Nếu chủ xe mu ốn hu ỷ bỏ h ợp đồng bảo hiểm khi chưa hết hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hi ểm cho thời gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xe chưa có lần nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.

    1. Bảo hiểm tai nạn lái xe, phụ xe và người ngồi trên xe.

     

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Đối tượ ng bảo hiểm là thiệt hại về thân thể xe, phụ xe và những người khác được chở trên xe đang tham gia giao thông.

    và tính mạng đối với lái gây ra do tai nạn khi xe

    1. Phạm vi bảo hiểm:

    Nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi th ường thiệt hại về thân thể của lái xe và những người khác được chở trên xe. Những người này bị tai nạn khi đang ở trên xe, lên xuống xe hay trong quá trình xe đang tham gia giao thông.

    Các trường hợp loại trừ:

    • Đối tượng được bảo hiểm cố ý gây tai nạn.
    • Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đây là nghiệp vụ bảo hiểm con ngườ i nên các công ty bảo hiểm sử dụng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường và các công ty thường đưa ra nhiều mức gi ới hạn cho từng loại xe để người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng tài chính của mình.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm của nghiệp vụ này được tính theo công thức sau: P = S x R x N

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm S- Số tiền bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm N- Số chỗ ngồi trên xe

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảng 4: Biểu phí bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe tại Pjico.     (Đơn

    vị: Đồng)

    Loại xe Số người Phí bảo hiểm
    I. Xe không kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 40,000
    Xe 5 chỗ 5 50,000
    Xe 6 chỗ 6 60,000
    Xe 7 chỗ 7 70,000
    Xe 11 chỗ 11 110,000
    Xe 12 chỗ 12 120,000
    Xe 16 chỗ 16 160,000
    Xe 24 chỗ 24 240,000
    Xe 25 chỗ 25 250,000
    Xe 32 chỗ 32 320,000
    Xe 48 chỗ 48 480,000
    II. Xe buýt.    
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    III. Xe kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Xe 6 chỗ 6 90,000
    Xe 7 chỗ 7 105,000
    Xe 8 chỗ 8 120,000
    Xe 9 chỗ 9 135,000
    Xe 10 chỗ 10 150,000
    Xe 11 chỗ 11 165,000
    Xe 12 chỗ 12 180,000
    Xe 13 chỗ 13 195,000
    Xe 14 chỗ 14 210,000
    Xe 15 chỗ 15 225,000
    Xe 16 chỗ 16 240,000
    Xe 17 chỗ 17 255,000
    Xe 18 chỗ 18 270,000
    Xe 19 chỗ 19 285,000
    Xe 20 chỗ 20 300,000
    Xe 21 chỗ 21 315,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.   Phạm Minh Nguyên- BH43a.
         
    Xe 22 chỗ 22 330,000
    Xe 23 chỗ 23 345,000
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 26 chỗ 26 390,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 36 chỗ 36 540,000
    Xe 42 chỗ 42 630,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    IV. Xe taxi.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Trên 6 chỗ Tính phí bh bằng phí bh xe kd vận tải cùng số chỗ ngồi
    Pjico)   (Nguồn:  Công  ty
       

    4.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hoá chuyên chở trên xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Loại hình bảo hiểm này chỉ áp dụ ng cho những xe có giấy phép kinh doanh vận tải hàng hoá. Khi nhận hàng hoá để chuyên trở, chủ xe phải có ngh ĩa vụ đưa hàng hoá đến điểm giao cu ối cùng một cách đầy đủ và nguyên vẹn do v ậy chủ xe ph ải chịu trách nhiệm về những thiệt hại của hàng hoá mà họ nhận chuyên chở xảy ra do lỗi của họ hoặc người làm công cho họ. Vì vậy, đối tượng đượ c bảo hiểm là TNDS của chủ xe cơ giới đối với thiệt hại củ a hàng hoá được v ận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển giữa chủ xe và ch ủ hàng, được pháp luật quy định tại thể lệ vận chuyển hàng hoá bằng ôtô ban hành kèm theo Quyết định số 1690/QĐ- VT ngày 15/09/1990 của Bộ giao thông vận tải và Bưu điện.

    Hàng hoá ở đ ây là hàng hoá thông thường không thuộc nhóm hàng cấm kinh doanh, v ận chuyển theo quy định của pháp lu ật. Còn đối với nh ững hàng hoá đặc bi ệt như vàng bạc, đ á quý, đồ cổ, tranh cổ , hài cố, tiền… chỉ được bảo hiểm khi có thoả thuận riêng giữa chủ hàng với bên nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Phạm vi bảo hi ểm ở đây là TNDS của chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe; là số tiền chủ xe phải chịu trách nhiệm b ồi th ờng cho chủ hàng khi có tai nạn làm thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển.

    Ngoài ra, nhà bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe các chi phí hợp lý và cần thiết nhằm:

    • Ngăn ngừa, giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá.
    • Bảo quản, xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi hàng hoá trong quá trình vận chuyển do hậu quả của tai nạn.
    • Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Các điều khoản loại trừ:

    Nhà bảo hiểm không nhận bảo hiểm và bồi thường cho những thiệt hại hàng hoá trong những trường hợp sau:

    • Vi phạm các điều khoản loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    • Hàng hoá lưu thông trái phép.
    • Tiền, các loại ấn chỉ, hóa đơn có giá trị như tiền, đồ cổ, trang ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt, vàng bạc, đá quý …
    • Mất cắp, trộm cướp.
    • Tổn thất hàng hóa do bắt giữ của cơ quan chức năng Nhà Nước.
    • Tổn thất hàng hóa do bị xô lệch, va đập trong quá trình vận chuyển mà không phải do va đập, lật đổ.
    • Xe ôtô không thích hợp với loại hàng hoá chuyên chở.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đố i với hàng hoá chuyên chở trên xe, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm của mình đối với một tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm trong một vụ tai nạn. Cụ thể:

    Số tiền bảo hiểm = Mức trách nhiệm x Số tấn trọng tải đăng ký bảo

    hiểm.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm trong bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với hàng hoá vận chuyển trên xe được tính theo công thức sau:

    P = R x M x G

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    M- Mức trách nhiệm bảo hiểm / tấn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    G- Số tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico áp dụng từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Bảng 5: Biểu phí bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe tại Pjico.

    (Đơn vị: Đồng)   Phí bảo    
    Loại xe Tấn VAT  
    hiểm
    Xe chở hàng kinh doanh vận tải, xe chở hàng        
    đông lạnh.        
    Tải 0,5 tấn 0,5 27.273 2.727  
    Tải 1 tấn 1 54.545 5.455  
    Tải 1,5 tấn 1,5 81.818 8.182  
    Tải 2 tấn 2 109.091 10.909  
    Tải 2,5 tấn 2,5 136.364 13.636  
    Tải 3 tấn 3 163.636 16.364  
    Tải 5 tấn 5 272.727 27.273  
    Tải 7 tấn 7 381.818 38.182  
    Tải 8 tấn 8 436.364 43.636  
    Tải 9 tấn 9 490.909 49.091  
    Tải 10 tấn 10 545.455 54.545  
    Pjico)   (Nguồn: Công ty  
           

    IV. VẤN ĐỀ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Khái niệm trục lợi bảo hiểm.

    Cùng v ới sự l ớn mạnh của thị trường bảo hiểm, số lượng người tham gia b ảo hi ểm xe cơ giới ngày càng nhiều, thị trường bảo hiể m xe cơ giới ngày càng mở rộng. Bên cạnh những người thực s ự mu ốn tham gia bảo hiểm để bảo vệ, ổn định cuộc số ng của mình khi không may gặp rủ i ro, thì đã xuất hiện không ít khách hàng lợi d ụng bảo hiể m để làm lợi cho bản thân mình một cách phi pháp. Đó chính là hành vi trục lợi bảo hiểm.

    Vậy: “Tr ục lợi bảo hiểm là tất cả các hành vi cố tình gian dối, l ừa đảo có thể có chủ ý ngay từ khi tham gia b ảo hiể m hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi ro cho đối tượng được bảo hiểm nh ằm chiếm đoạt một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng”.

    Tr ục lợi bảo hiểm còn được quan niệm là gian lận trong b ảo hi ểm. Trên th ế giới, hiện tượng này được biết đến như là một vấn đề nhức nh ối đối với các doanh nghiệp b ảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đ ã phải b ỏ ra khá nhiều tiền để khắc phục vấn đề trục lợi bảo hiểm, song số vụ gian lận

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    vẫn tăng theo thời gian và hình th ức ngày càng tinh vi, thủ đoạn ngày càng sắc sảo. Trục lợi bảo hiểm diễn ra hầu h ết các nghiệp v ụ b ảo hiể m và bất cứ nước nào đã triển khai bảo hiể m thương mại thì ở nước đó s ẽ có trục lợi b ảo hiểm. Theo Hiệp hội các hãng bảo hiểm châu Âu, hàng năm họ bị thiệt hại vì trục l ợi bảo hiểm không d ướ i 10 tỷ USD, chiếm gần 2,5% số phí bảo hiểm, trong đó trục lợi bảo hiểm xe cơ giới là nhiều nhất.

    2.                 Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước trên thế giới.

    Từ khi ra đời cho đến nay, hoạt động của ngành bảo hiểm đã và đang tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của m ỗi quốc gia. Đồng th ời cùng v ới xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế gi ới, thị trườ ng bảo hiểm thế giới cũng ngày một phát triển và hình thành nên những tập đoàn bảo hiểm lớn về quy mô cũng như tiề m lực kinh tế với số vốn khổng lồ như thị trường bảo hiểm Lloyd’, thị trường bảo hiểm Bermula … Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của thị trườ ng bảo hiểm thì hiện t ượng gian lận, lừa đảo củ a khách hàng trên thế giới cũng ngày một tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng.

    Theo thông tin của hi ệp hội bảo hiểm Anh quốc (ABT), n ăm 2003 số tiền chi phí cho các vụ bồi thường gian lận lên tới 1,1 tỷ USD tăng 8% so với năm 2002. Trong đó:

    – Bảo hiểm xe cơ giới là 481 triệu USD, tăng 10 lần so với năm

    2002.

    • Bảo hiểm tai nạn con người, du lịch là 287 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.
    • Bảo hiểm tài sản (trong lĩnh vực kinh doanh) là 74 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.

    Còn tại Mỹ, Công ty Infoglige bang Texas đưa ra số liệu về lừa đảo bảo hiểm đối với xe cơ giới “đạt” 16 tỷ USD/năm.

    Tại Pháp chỉ riêng các yêu cầu gian lận về cháy, mất cắp xe hơi và mất trộm tại nhà, các hãng bảo hiểm Pháp đã phải trả gần 12 tỷ FR. Còn số này ở Canada là 1,3 – 2 tỷ USD. (Theo tạp chí : “Tài chính quốc tế năm 2004).

    3.                 Các hình thức của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở Việt Nam.

    Trục l ợi bảo hiểm đã tr ở thành một hiện tượng phổ biến, nó có ở tất cả các công ty bảo hiểm trong nhiều nghiệp vụ nhưng phổ biến nhất vẫn là trong bảo hiểm xe cơ giới. Mức độ và cách thức trục lợi trong nghiệp vụ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    ngày càng tinh vi và đa dạng hơn. Các biểu hiện của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới th ường gặp là:

    1. Hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Có thể do vô tình hay cố ý, chủ xe đã không mua b ảo hiểm và khi tai nạn xảy ra, chủ xe phải đối mặt với khó khăn về tài chính nên đã hình thành

    • đồ gian lận để được nhận tiền bồi thường. Tai nạn xảy ra nằm ngoài thời hạn bảo hiểm, người trục lợi sẽ tìm mọi cách để hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm. Có hai cách để thực hiện:
    • Ghi lại ngày tai nạn:
    • Bị tai nạn rồi mới mua hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày thực tế.
    • Bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng hoặc tìm mọi cách mua chuộc nhân viên cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    • Ghi lùi ngày trên giấy chứng nhận bảo hiểm:

    Là hành vi người trục lợi bảo hiểm thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm về trước trên giấy chứng nhận bảo hiểm, do đó quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính.

    1. Thay đổi tình tiết vụ tai nạn:
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không có hiệu lực).
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    1. Tạo hiện trường giả:
    • Đưa xe từ nơi xảy ra tai nạn đến nơi khác lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn không mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Số tiền nhằm trục lợi ở hình thức này thường lớn.

    1. Khai tăng số tiền tổn thất:
    • Đối với bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hóa hư hỏng (đối với bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường tai nạn hoặc biên bản tai nạn.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Đối với bảo hiểm vật chất thân xe:
    • Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với thực tế, thúc ép công ty bảo hiểm chấp nhận phương án khắc phục hậu quả bất hợp lý như thiệt hại bộ phận xe nhẹ nhưng đòi thay mới.
    • Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai đưa vào hợp đồng sửa chữa.
    • Sửa chữa, thay thế ngay cả những bộ phận hư hang không do tai nạn hoặc bị tai nạn từ trước khi bảo hiểm.
    • Thay thế những vật tư cũ, chế lại, … nhưng kê khai thay mới.
    • Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đồ đã hư hỏng.
    1. Lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

     

    • Khách hàng mua bảo hiểm trùng để có thể thu được số tiền bồi thường nhiều hơn giá trị thiệt hại.
    • Hai xe đâm va với nhau, chủ xe đã được chủ xe có lỗi bồi thường nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại đòi bồi thường.
    • Hai xe cùng có lỗi gây thiệt hại cho người thứ ba, cả hai chủ xe đều lập hồ sơ và cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.
    1. Cố ý gây tai nạn:

    Hình thức này thường xảy ra v ới các chủ xe đang trong thời kỳ khó khăn về tài chính, họ lập ra màn kịch thu tiền b ồi thường để chi trả nợ nần hay lấy số tiền đầu tư vào một phương thức kinh doanh khác.

    Ví dụ: tự đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay mới …

    4. Nguyên nhân và hậu quả của trục lợi bảo hiểm.

    1. Nguyên nhân:

    Nguyên nhân sâu xa thúc đẩy hành vi gian lận bảo hiểm là xuất phát từ lòng tham của con người, họ có th ể tìm mọ i cách để kiếm lợi cho mình kể cả những hành vi vi phạm pháp luật. Sở dĩ họ có thể thành công là do có một số nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Nguyên nhân khách quan đầu tiên phải kể đến là sự thiếu của hệ thống hành lang pháp lý đã khiến các cơ quan chức năng trong việc ngăn chặn các hành vi gian lận bảo hiểm, do chưa có

    chặt chẽ nơi lỏng một quy

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    định rõ ràng, đầy đủ khi ký kết hợp đồng bảo hiểm hoặc do trong quá trình thực hiện chưa được nghiêm minh, chủ xe sẽ thực hiện hành vi gian lận của mình nếu họ biết đượ c rằng có thể lách qua kẽ hở củ a pháp luật cũng như họ nghĩ rằng nếu bị phát hiện cũng không bị sự trừng trị của pháp luật.

    • Do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý. Theo nguyên tắc các xe đang lưu hành bắt buộc phải có giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba, nhưng không mấy khi cảnh sát giao thông hỏi tới giấy tờ này do đó sẽ tạo ra sự yên tâm cho chủ xe khi không tham gia bảo hiểm, đây cũng là cơ hội giúp cho các chủ xe tiến hành trục lợi bảo hiểm.
    • Không gian địa lý cũng là một nguyên nhân phát sinh hành vi gian lận bảo hiểm. Như ta đã biết xe cơ giới có tính cơ động cao tham gia hoạt động trên nhiều địa bàn, nhiều khu vực trong cả nước. Do đó đối với những vụ tai nạn xảy ra ở xa, hoang vắng, ít người qua lại khó có thể giữ nguyên hiện trường, sự thay đổi tình tiết hiện trường có lợi cho người tham gia bảo hiểm là dễ xảy ra. Mà để giám định kịp thời thường phải nhờ các công ty khác giám định hoặc phải nhờ vào biên bản của công an, cảnh sát khu vực, mà trong những biên bản này vì nhiều lý do có thể không chính xác, không trung thực …
    • Trình độ lái xe rất cao họ am hiểu về xe cộ, địa hình đi lại … họ có thể tạo ra những vụ tai nạn đánh lạc hướng cơ quan bảo hiểm để lấy tiền bồi thường của công ty bảo hiểm.
    • Do giá trị của xe cơ giới là rất lớn do đó khi xảy ra tai nạn sẽ làm cho chủ xe bị kiệt quệ về tài chính, giảm hoặc thậm chí mất khả năng kinh doanh tiếp, vì vậy đây là động cơ lớn dẫn đến hiện tượng các chủ xe trục lợi bảo hiểm.
    • Bên cạnh những nguyên nhân không nằm trong tầm kiểm soát của con người thì còn có những nguyên nhân có thể phát sinh từ ý chí của con người nhưng vẫn không thể ngăn chặn được triệt để.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Nguyên nhân chủ quan đầu tiên phải kể đến đó là hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bằng đủ mọi thủ đoạn. Trong vòng một năm, mức phí bảo hiểm bình quân đã hạ tới 40%, đặc biệt có những mặt hàng phí bảo hiểm giảm tới 70-80%. Trong khi đó hoa hồng đã tăng gấp từ 3- 4 lần mức quy định của Bộ tài chính. Một số công ty bảo hiểm đã mở rộng điều kiện một cách thoái quá, trái với thông lệ bảo hiểm quốc tế mà những rủi ro này thuộc về người bán bảo hiểm. (Thời báo kinh tế Việt Nam số 209- thứ Hai- 13/12/2004).
    • Do các doanh nghiệp luôn hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt nên các doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải giữ bí mật thông

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    tin. Việc trao đổ i những thông tin cần thiết về khách hàng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hầu như không có. Vì vậy, khi có tai n ạn x ảy ra các công ty bảo hi ểm cũng tiến hành bồi th ường mà không xem xét tình hình ở các doanh nghiệp khác d ẫn đến chủ xe có thể được hưởng nhiều l ần tiền bồi thường ở các công ty khác nhau do h ọ bảo hi ểm trùng, mà theo nguyên tắc không được bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản.

    • Cũng do điều kiện hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, để nâng cao doanh thu phí các công ty đã đơn giản hoá nhiều thủ tục khi ký kết hợp đồng cũng như khi xảy ra tổn thất hoặc khi đánh giá rủi ro xét nhận bảo hiểm, đơn giản thủ tục xét bồi thường … đã tạo nhiều điều kiện cho các chủ xe lợi dụng.
    • Nhận thức của người dân về pháp luật còn nhiều yếu kém, nhất là những văn bản pháp quy về bảo hiểm. Nhiều người dân nhận thức rất mơ hồ về bảo hiểm và họ cho rằng quỹ bảo hiểm giống như quỹ phúc lợi. Cho nên đã có những trường hợp nói sai sự thật để giúp nạn nhân nhận quyền lợi bảo hiểm …
    • Đối với những trường hợp khiếu nại gian lận bị công ty bảo hiểm phát hiện, các công ty chưa có biện pháp sử lý đích đáng mà chỉ mới dừng lại ở mức độ từ chối bồi thường, điều này sẽ làm cho các chủ xe suy nghĩ theo một hướng tiêu cực là cứ lập hồ sơ khiếu nại nếu qua được thì nhận tiền bồi thường còn nếu không được thì cũng không phải nộp phạt …
    • Trong công tác phòng chống gian lận bảo hiểm các đại lý khai thác và nhân viên giám định có một vai trò hết sức quan trọng. Công việc của hai chức danh này ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa và phát hiện hành vi gian lận cả khi ký kết hợp đồng cũng như khi giải quyết bồi thường. Do đó những người làm trong hai bộ phận này phải là những người có tâm huyết với nghề, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực thực sự … Tuy nhiên một thực tế hiện nay là việc tuyển dụng đại lý còn tương đối dễ dàng, qua loa, chủ yếu là do quen biết … do đó nhiều nhân viên đại lý cũng có hành vi gian lận bảo hiểm cùng với khách hàng… nếu điều này xảy ra thì sẽ gây hậu quả nghiêm thọng cho công ty bảo hiểm.
    • Trình độ của nhân viên bảo hiểm còn hạn chế. Đặc biệt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam thì đây còn là một điều trăn trở, vì thị trương bảo hiểm Việt Nam còn non trẻ, việc đào tạo cho nhân viên chưa được coi trọng, các nhân viên còn ít kinh nghiệm trong công tác phòng và chống gian lận bảo hiểm. Do nhiều nhân viên chạy theo mức doanh thu phí mà quên mất điều quan trọng là khi tổn thất xảy ra thì số tiền bồi thường sẽ rất lớn so với mức phí thu được nếu như khi ký hợp đồng họ coi nhẹ khâu đánh giá rủi ro để dễ dàng ký được hợp đồng. Đây là một điều tốt cho các chủ xe làm lợi bất chính…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Do tư cách phẩm chất của một số bộ phận nhân viên trong công ty bị thoái hoá, coi trọng đồng tiền hơn cả trách nhiệm nghề nghiệp. Họ có thể đánh giá cao mức độ tổn thất hoặc vạch đường đi nước bước cho khách hàng lợi dụng các kẽ hở về giấy tờ, về thủ tục giám định, bồi thường để trục lợi … Những người này dễ bị các chủ xe lợi dụng, mua chuộc để tiếp tay cho hành
    • gian lận của chủ xe. Nếu chủ xe được bồi thường họ sẽ được hưởng một số tiền nhất định, sự việc này cứ diễn ra thì các chủ xe trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và do đó công ty bảo hiểm cũng ngày càng phải chi những khoản bất thường làm cho doanh thu giảm đáng kể.
    • Do sự thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm có hành vi gian lận với những người có liên quan như: y, bác sỹ, những người làm chứng trong các vụ tổn thất … Ví dụ, mua chuộc bác sỹ để dựng lên bệnh, làm giả hoặc kê những đơn thuốc đắt tiền để đòi được số tiền bảo hiểm nhiều hơn.
    1. Hậu quả của trục lợi bảo hiểm:

    Hậu quả trụ c lợi bảo hiể m xe cơ giới ngày càng trở lên phổ biến với mức độ ngày càng tinh vi, hình thức ngày càng đa dạng. Chính vì thế mà hậu quả của trục lợi bảo hiểm để lại có xu hướng ngày càng nặng nề và trầm trọng, không chỉ đối với các công ty bảo hiểm mà còn đối với cả xã hội.

    • Đối với doanh nghiệp bảo hiểm:
    • Ta có thể nhận thấy nếu không ngăn chặn được hành vi trục lợi bảo hiểm sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty bảo hiểm. Mà mục tiêu quan trọng nhất của hầu hết các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là lợi nhuận.

    Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi.

    Trong đó: Tổng chi = Chi bồi thường + Chi quản lý + Chi khác.

    • Nếu hành vi trục lợi bảo hiểm không bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi bồi thường. Nếu các hành vi đó bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi quản lý bởi lẽ chi phí cho một cuộc điều tra trục lợi thường rất lớn. Thậm chí có trường hợp nghi ngờ công ty tổ chức điều tra nhưng không đủ cơ sở từ chối bồi thường. Như vậy cả chi bồi thường và chi quản lý đều làm tăng chi phí điều này làm giảm lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm bị hạn chế.
    • Do hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng nên công ty bảo hiểm phải tăng cường công tác giám định, điều tra, kiểm tra, thanh tra. Điều này làm tăng thời gian giải quyết bồi thường, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng. Do đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh sản phẩm của công ty trên thị trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Có nhiều hành vi gian lận với hiệu quả hoà giải thấp dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết trang chấp, ảnh hưởng xấu đến uy tín của công ty.
    • Trục lợi bảo hiểm còn làm giảm số lượng khách hàng hiện tại cũng như thu hút, hấp dẫn các khách hàng mới. Bởi bản chất của bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một rủi ro nào đó đóng góp tạo nên và hoạt động dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”. Vì vậy, hành vi trục lợi bảo hiểm được thực hiện thì không ai khác chính là các khách hàng trung thực sẽ phải gánh chịu hậu quả, do đó không ai dại gì tiếp tục tham gia hoặc có ý định tham gia bảo hiểm. Đó là lý do làm cho lượng khách hàng giảm đi.
      • Đối với Nhà Nước và xã hội:
    • Khi lợi nhuận của công ty bảo hiểm giảm thì các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà Nước cũng giảm. Điều này kéo theo sự đầu tư cho xã hội cũng giảm và lợi ích chung của xã hội bị mất đi là không nhỏ.
    • Trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, nếu các hành vi gian lận tiếp diễn sẽ làm rối loạn an ninh xã hội, làm cho môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh và thiếu sự công bằng. Sự hoạt động kém hiệu quả của một số công ty bảo hiểm kéo theo đó là nguồn vốn đầu tư giảm, làm giảm các hoạt động đầu tư ở một số lĩnh vực.
    • Đảng và Nhà Nước ta đang hướng tới việc xây dựng Nhà Nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng vẫn tồn tại

    những con ng ười tha hoá đạo đức, biến chất, thiếu ý th ức chấp hàng pháp luật, chỉ nghĩ tới lợi ích riêng của cá nhân mình bằng các hành vi gian d ối sẽ tạo ra sự bất công. Từ đó dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật gây rối trật tự an ninh xã hội.

    • Trục lợi bảo hiểm còn gây ảnh xấu tới đạo đức xã hội, kỷ cương pháp luật. Tính chất phát triển và quy mô tổ chức của những vụ trục lợi sẽ kéo theo sự tha hoá, biến chất của các cán bộ, nhân viên trong ngành có liên quan. Những hành vi tiêu cực, thông đồng với nhau gian lận tiền của công ty bảo hiểm sẽ tạo tiền đề cho hành vi tham nhũng phát triển ở cả những ngành khác trong nền kinh tế.
    • Nền kinh tế nước ta đang phát triển, thị trường bảo hiểm còn non trẻ nên những hành vi gian lận cũng mới chỉ ở dạng bộc phát, lẻ tẻ. Nhưng nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì các hành vi này sẽ pháp triển thành các hành vi tội phạm có tổ chức. Đồng thời sẽ tạo ra tâm lý coi thường kỷ cương pháp luật.
    • Đối với khách hàng:

    Khách hàng là những người trung thực sẽ bị thiệt thòi về quyền lợi. Bởi vì, phí bảo hiểm mà họ phải nộp lại dùng để chi trả cho những khoản tiền gian lận không được phát hiện ra. Do vậy, những doanh nghiệp bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nào có nhiều vụ gian l ận sẽ có mức phí bảo hiểm cao hơn những doanh nghiệp kiên quyết chống và loại trừ những kẻ trục lợi bảo hiểm.

    Tóm lại, hành vi tr ục lợi bảo hi ểm đã gây ảnh hưởng xấu đến không chỉ hoạt động kinh doanh củ a công ty mà còn ảnh hưở ng tới đạo đức xã hội và pháp luật của Nhà Nước. Cuộc chiến chống lại các hành vi gian lận này đang gặp rất nhiều khó khăn. Đây không ch ỉ là v ấn đề riêng của ngành bảo hiểm nước ta mà của tất cả các nước trên thế giới.

    5. Sự cần thiết phải phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới:

    Gắn liền với sự phát triển của xã hội là sự phát triển của ngành Bảo hiểm với s ố người tham gia bảo hiểm ngày càng gia tăng và thị trường bảo hiểm ngày càng được mở r ộng. Nhưng có một thực tế đáng buồn là số vụ bảo hiểm cũng như mức độ nghiêm tr ọng củ a mỗi v ụ ngày một t ăng đặc biệt trong b ảo hiể m xe cơ giới. Đấu tranh chống trục lợi bảo hiểm là sự cần thiết đối với tất cả các nước trên thế giới.

    Tình trạng trục lợi bảo hiểm xe c ơ gi ới ở Việt Nam cũng ngày càng trở lên phức t ạp. Việc phòng chố ng gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới cũ ng trở thành một vấn đề cần thiết có tính chất khách quan vì một số lý do sau:

    • Số vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng:

    Đến nă m 1998 trướ c tình hình gian lận bảo hi ểm trong cả nước ngày càng lớn, đặc biệt là trong bảo hiểm xe c ơ giới. Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã yêu cầu các công ty thành viên của mình làm báo cáo về tình hình khiếu nạn gian lận bảo hi ểm xe cơ giới kết quả cho thấy chỉ tính riêng năm 1997, trong hệ thống của Bảo Vi ệt đã phát hiện 224 vụ gian lận số tiền ước tính bị trục lợi là 1 tỷ đồng. Hiện nay trên thị tr ường Việt Nam không chỉ có Bảo Việt hoạt động mà có Bả o Minh, Pjico… Do đ ó, không thể biết trong một năm con số các vụ trục lợi bảo hiểm bị phát hiện là bao nhiêu.

    Chỉ tính riêng Pjico trong năm 2000 phát hiện ra 32 vụ gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới, năm 2001 phát hiện 48 vụ , năm 2002 phát hiện 53 vụ nhưng đến năm 2004 thì số vụ gian lận phát hiện được là 75 vụ.

    • Tính chất nghiêm trọng trong mỗi vụ ngày càng phức tạp:
    • Hành vi gian lận ban đầu mang tính chất cơ hội thường hay gặp trong những vụ có thiệt hại nhỏ. Theo pháp luật của Việt Nam thì các hành
    • này chưa đủ để cấu thành tội phạm nhưng nó cũng ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới.
    • Sau đó đến các hành vi mang tính lợi dụng, tức là các hành vi gian dối dân sự. Theo Bộ Luật Dân Sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trong điều 142: “ Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó”.
      • đây người gian lận dùng các hình thức khác nhau để cho nhà bảo hiểm hiểu rằng tổn thất họ gặp phải là lớn hơn thực tế, nhằm đòi được số tiền bồi thường lớn hơn. Bao gồm các hành vi sau đây:
        • Lập hồ sơ đòi bồi thường khai tăng giá trị tổn thất.
        • Khai báo sai chất lượng thực tế của hạng mục tổn thất trước

    tai nạn

    • Khai thêm hạng mục tổn thất không do tai nạn gây ra.
    • Khai báo sai giá trị sử dụng của đối tượng, thành phần bị tổn

    thất.

    • Cho đến các hành vi gian lận mang tính chất “chiếm đoạt”, cấu thành tội phạm hình sự.

    Theo luật hình sự nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

    Điều 134: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản XHCN thì bị phạt tù…”.

    Điều 157: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù…”

    • đây người gian lận đã cố tình gian dối để chiếm đoạt một số tiền từ nhà bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng. Đó là các trường hợp rủi ro gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm không thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm (ngoài phạm vi bảo hiểm, ngoài thời hạn bảo hiểm) nhưng cố ý tạo lập hồ sơ giả để đòi bồi thường:
    • Lập hồ sơ tai nạn giả cho trường hợp xe có giấy chứng nhận bảo hiểm có hiệu lực để thu lợi bất chính.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm ghi lùi ngày hiệu lực cho xe bị tai nạn trước đó.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm cho xe bị tai nạn trước đó rồi làm hồ sơ tai nạn ghi lùi ngày tai nạn.
    • Lập hồ sơ giả mạo về nguyên nhân tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm để đòi bồi thường cho một thiệt hại không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
    • Hiện tượng trục lợi bảo hiểm nó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như hình ảnh của Công ty trên thị trường. Nó làm tha hóa biến chất về đạo đức của một số cán bộ, làm rối ren kỷ cương pháp luật và mất công bằng xã hội.

    Vì vậy, phòng chống gian lận trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xe cơ giới nói riêng là hoàn toàn cần thiết và mang tính tất yếu khách quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    5.                 Các biện pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước.

    Trên thế giới, việc phòng ch ống gian lận bảo hi ểm được các doanh nghiệp b ảo hiểm hết sức coi trọng. Ở Châu Âu, các tổ chức bảo hiểm cho biết việc chống gian lận bảo hiểm là một cuộc đấu tranh khá tốn kém. Theo số liệu thống kê cho thấy rằng việc kiểm tra thụ động hoặc chủ động làm tiêu tốn của họ t ừ 1 – 3% tổng số tiền chi trả bảo hiểm nhưng họ vẫn cương quy ết ti ến hành. Do v ậy, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã thành lập các đội, các ban phòng chống trục lợi bảo hiểm của riêng mình và các biện pháp sau đây được áp d ụng ở rất nhiều nước trong đó phải kể đến một số nước tiêu biểu như Anh, Pháp, Mỹ, Canada.

    • Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm. Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm mà pháp luật quy định bắt buộc khách hàng phải tham gia cần có sự phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra theo dõi và đưa ra những mức tiền phạt thích đáng cao hơn mức phí bảo hiểm mà họ phải nộp. Tiêu biểu như tại Anh Quốc, Hiệp hội bảo hiểm Anh (ABI) đã và đang phát động một chiến dịch phối hợp tất cả các thành viên cơ quan có liên quan nhằm ngăn chặn, vạch mặt những kẻ gian lận lừa đảo bảo hiểm. Hàng năm ABI đã cùng với lực lượng Cảnh sát West Middland tổ chức các cuộc hội thảo về tội phạm và chống tội phạm. Năm 1998 đã thống nhất triển khai một chiến dịch rộng rãi chống lại việc gian lận bảo hiểm trên toàn nước Anh. Lập một đường dây nóng để tố cáo những kẻ gian lận, lừa đảo bảo hiểm. Còn tại Mỹ, nhằm mục đích ngăn chặt tội phạm bảo hiểm, Hội đồng thành phố Washingtơn DC đã ban hành một đạo luật đấu tranh chống tệ nạn lừa đảo bảo hiểm, trong đó đặc biệt kẻ gian lận sẽ bị phạt 50.000 USD và kèm theo 15 năm tù giam, ngoài ra còn phải bồi thường khoản tiền chiếm đoạt do lừa đảo. Các nhà bảo hiểm được yêu cầu phải thiết lập những chương trình cụ thể nhằm bảo vệ và chống lừa đảo bảo hiểm. Những công ty không thực hiện chương trình này sẽ bị phạt. Đồng thời cố gắng động viên khuyến khích cơ quan Cảnh sát tham gia tích cực vào công việc này.
    • Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi và kiểm tra chặt chẽ các cán bộ, đại lý và các cộng tác viên khai thác bảo hiểm. Một mặt, phải nhắc nhở họ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mặt khác phải đề ra những cơ chế quản lý phù hợp như: Phí bảo hiểm thu được trong ngày, cuối ngày phải nộp; giấy chứng nhận bảo hiểm cấp trong ngày phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm vào cuối ngày; khi khách hàng tham gia bảo hiểm với số tiền lớn thì phải báo cáo về doanh nghiệp bảo hiểm kiểm tra, theo dõi… tiêu biểu như tại Cana da: Cuộc đấu tranh chống gian lận bảo hiểm ở Canada do văn phòng bảo hiểm Canada (IBC) đứng đầu.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    IBC tổ chức đánh giá, tổ ng kết kinh nghiệ m ch ống gian lận bảo hiểm của tất cả các công ty bảo hiểm và soạ n thảo một giáo trình đặc biệt h ướng dẫn hoạt động chống gian lận b ảo hiểm. Tổ chức “ngăn chặn tội phạm” của Canada tự nguyện đứng ra ngăn chặn và đi ều tra mọ i tội phạm, trong đó có tội phạm gian lận bảo hiểm. IBC cung cấp cho cảnh sát và lực lượ ng chữa cháy sổ ghi nhớ các dấu hiệu nghi vấn gian lận bảo hiểm để họ lưu ý. Tổng giá trị gian lận b ảo hiểm tài sản và các trường hợp rủi ro khoảng 1,3 tỷ USD/ năm (10-15% số tiền đóng bảo hiểm).

    Liên đoàn chống gian lận bảo hiểm thành lập tháng 6/1994 ở Canada bao g ồm đại diện của các công ty Bảo hiểm, Cảnh sát, Lu ật sư đoàn và ngườ i tiêu dùng. Liên đoàn đã ra bản tuyên bố được tất cả các hãng bảo hiểm ký và cam kết th ực hiện, đồng thời đưa ra định nghĩa: “gian lận bảo hiểm là mọi hành động tiến hành với mục đích nhận tiền bảo hiểm phi pháp từ yêu cầu giả mạo đến tăng hay giảm các yêu cầu hợp pháp, từ yêu cầu giả đến gian lận nội bộ”.

    Đối với thẻ bảo hiểm liên đoàn hướng dẫn như sau:

    • Thẻ bảo hiểm phải được viết bằng ngôn ngữ đơn giản.
    • Các yêu cầu trong thẻ phải được điền đầy đủ.
    • Trong đơn xin trả bảo hiểm người viết phải chứng minh rõ ràng tất cả những khía cạnh yêu cầu của mình.
    • Khi ký lại hợp đồng bảo hiểm phải lưu ý thông báo tất cả những thay đổi vật chất và các thay đổi đáng kể khác của đối tượng bảo hiểm.
    • Thêm vào điều kiện: người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm giải thích rõ ràng sau khi xảy ra thiệt hại.

    Bảo hiểm ôtô phải tuân thủ trình tự kiểm tra toàn bộ trước khi nhận bảo hiểm. Để tránh gian lận trong bảo hiểm các đối tượng thương mại cần phải phân tích tình hình tài chính của người được bảo hiểm. Mỗi khi nhận được đơn bảo hiểm, Công ty bảo hiểm có quyền xem xét “lịch sử yêu cầu bảo hiểm “ của đối tượng (tần số và khối lượng bảo hiểm) từ các trung tâm tư liệu.

    Về phía Công ty bảo hiểm, khi làm giấy tờ bảo hiểm phải:

    • Chuẩn bị và áp dụng các biện pháp đặc biệt để xác định và làm hồ sơ các thiệt hại đáng nghi ngờ.
    • Tiến hành điều tra tất cả các trường hợp khả nghi và nếu có thể thì áp dụng tất cả các biện pháp để khôi phục các khoản chi trả bất hợp pháp.
    • Thành lập ban điều tra hoặc bắt buộc các công ty bảo hiểm hợp tác với cơ quan điều tra đặc biệt của các hãng bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Hợp tác với chính quyền về các yêu cầu bảo hiểm không được thanh toán gian lận.

    Muốn từ chối trả tiền bảo hiểm, Công ty bảo hiểm phải chứng minh được “tam giác tội phạm” gồm động cơ gian lận, khả năng thực hiện và hậu quả của nó. Công việc này có thể được công ty bảo hiểm tiến hành, có trườ ng hợp có cả sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài. Thêm vào đó một số mạng lưới các công ty đặc biệt được cấp giấy phép hoạt động như đơn vị điều tra độc lập theo yều cầu của công ty bảo hiểm.

    Trường hợp thiệt hại trên 25.000 đôla Canada bắt buộc phải điều tra, còn dưới 25.000 đôla Canada thì chỉ điều tra khi đặc biệt nghi vấn. Điều tra của Công ty bảo hiểm là nhằm quyết định trả hay không trả bảo hiểm, còn của Cảnh sát là xem xét có dấu hiệu phạm tội hình sự hay không?

    Ngoài gian lận từ phía người được bảo hiểm còn có những gian lận nội bộ từ phía trung gian như đại lý, môi giới hay nhân viên bảo hiểm. Để chống lại loại này, trước hết phải làm rõ chức năng của các chuyên gia xác định quy mô thiệt hại với các chuyên gia thực hiện trả tiền cho các thiệt hại (kể cả bố trí họ ở các văn phòng khác nhau). Công ty bảo hiểm nên thường xuyên luân chuyển cán bộ, thay đổi hệ thống, kiểm tra định kỳ tại chỗ và sử dụng các bộ phận độc lập. Người ta cho rằng, việc thay đổi thường xuyên các nhân viên quản lý thiệt hại đã giảm đáng kể khả năng móc ngoặc giữa những người mưu toan gian lận trong thời gian dài

    • Quá trình giám định– bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm phải được thực hiện đúng nguyên tắc và trình tự mỗi khâu. nếu thấy nghi ngờ một loại giấy tờ nào đó hoặc không rõ về thời gian, không gian trong các vụ tổn thất cần xác minh lại ngay. Nếu thấy cần thiết phải báo ngay để doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức điều tra xác, minh cho rõ. Ngoài phương án điều tra độc lập, cần tranh thủ sự giúp đỡ của các bên có liên quan như: công an, y bác sỹ và những người làm chứng… Tiêu biểu như tại Pháp: Tất cả các hãng bảo hiểm của Pháp đều có danh sách những kẻ lừa đảo bảo hiểm đã bị toà án kết tội để không ký các hợp đồng bảo hiểm đối với các đối tượng này, qua đó nghiên cứu kỹ hồ sơ các vụ gian lận để tìm các biện pháp phòng chống. Ở nước này, theo ước tính của các công ty bảo hiểm, chi phí cho việc điều tra gian lận bảo hiểm tiêu tốn khoảng 1,5% tổng phí thu. Mặc dù vậy, các công ty bảo hiểm này vẫn tiến hành các chiến dịch chống gian lận bảo hiểm. Tiêu biểu trong số đó là công ty bảo hiểm Pháp – UAP. Từ năm 1980, trong bộ phận điều chỉnh thua lỗ của hãng có nhóm chống gian lận với nhiệm vụ: phân tích tài liệu của các trường hợp bảo hiểm khác nhau, kiểm tra tính hợp pháp của chúng, lưu ý những thông tin trái ngược và những sự kiện không phù hợp với từng trường hợp:
    • Những người tham gia vào nhiều loại bảo hiểm khác nhau.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trường hợp phải trả tiền bảo hiểm ngay sau khi ký hợp đồng bảo hiểm hay sau khi tăng tiền bảo hiểm.
    • Trường hợp tăng số vụ tai nạn ngay cùng một chỗ.
    • Giấy yêu cầu bảo hiểm không phải do chính người được bảo hiểm hoặc người thừa hưởng đề nghị.

    Để công tác điều tra có hiệu quả, hãng UAP thường cộng tác với các cơ quan bên ngoài, đặc biệt là sự tham gia của Cảnh sát.

    Để có được những biện pháp như trên, các Công ty bảo hiểm ở Pháp đã có sự thống nhất trong hàng động, xử lý thông tin kịp thời và quản lý khách hàng rất chặt chẽ.

    Đặc biệt ở Pháp còn hình thành những tổ chức đặc biệt để đối phó với những hành vi trục lợi bảo hiểm mang tính chất nguy hiểm, xảo trá và hãng ALFA là một trrong những tổ chức như vậy. Tổ chức ALFA được thành lập năm 1989 có trụ sở chính tại Paris. Với sự tập trung các thám tử trong lĩnh vực bảo hiểm có trình độ, trí thông minh và khả năng phá án tốt, ALFA đã trở thành cánh tay đắc lực cho các hãng bảo hiểm Pháp trong việc truy tìm tội phạm trục lợi bảo hiểm, ALFA có 80 thám tử tư làm việc trong phạm vi khắp nước Pháp, dưới sự chỉ đạo của ban tham mưu gồm 15 người, nhân viên ALFA có tuổi trung bình 50 tuổi và đều có kinh nghiệm qua thời gian trong ngành cảnh sát điều này là một nguyên nhân khiến công việc của tổ chức này luôn thuận lợi.

    Các cuộc điều tra mất khá nhiều thời gian và tiền bạc nhưng những chi phí đó không phải là vô ích.

    Trên đây là một số các phương pháp, mô hình tổ chức phòng chống ngăn chặn gian lận bảo hiểm ở một số nước tiêu biểu trên thế giới mà phương pháp của họ đã được cả thế giới tham khảo vận dụng. Việc vận dụng, học hỏi các nước đi trước để tìm ra cho mình một giải pháp phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn là điều rất cần thiết đối với các nước đi sau trong đó có Việt Nam.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương II. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TẠI CÔNG TY PJICO.

    I.                   SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY PJICO.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Pjico.

    1. Lịch sử hình thành công ty:
    • Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam sau hơn 30 năm chỉ có một mình Bảo Việt “đơn thương độc mã” hoạt động thì đến nay ngoài Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm khác với các hình thức sở hữu khác nhau, có thể kể đến các công ty sau:

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO);

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long);

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Công ty bảo hiểm Thành Phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh);
    • Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVIC);
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện (PTI);
    • Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế Việt Nam (VIA);
    • Việc thị trường bảo hiểm nước ta được mở rộng là xuất phát từ chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, mà nổi bật là chủ trương cổ phần hoá và phát triển các công ty cổ phần theo Luật công ty năm 1990 vì thế sau năm 1994 một loạt các công ty cổ phần bảo hiểm đã ra đời trong đó có Pjico.
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex với tên gọi tiếng anh là Petrolimex Joint- Stock Insurance Company, viết tắt là PJICO đã ra đời và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 15 tháng 6 năm 1995. Công ty là sự hội tụ của 8 cổ đông lớn trong đó có 7 thành viên sáng lập và một thành viên tham gia. Các thành viên này đã và đang có những đóng góp tích cực vào hoạt động kinh doanh của Pjico. Dưới đây là các cổ đông sáng lập:
    • Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex);
    • Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank);
    • Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare);
    • Tổng công ty thép Việt Nam (VSC);
    • Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ (Matexim);
    • Công ty điện tử Hà Nội (Hanel);
    • Công ty TNHH thiết bị an toàn (AT);

    Công ty Pjico là cổ phần đầu tiên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân th ọ, do vậy, Pjico đã phải trải qua không ít những khó khăn của những ngày đầu hoạt động (Vạn sự khởi đầu nan), đặc biệt khi các điều ki ện v ề cơ chế pháp luật còn chưa đầy đủ, khách hàng còn ít lòng tin. Nhưng với sự chỉ đạo của hội đồng qu ản trị , của các ban ngành liên quan, đồng thời cùng với sự ủng hộ hợp tác giúp đỡ nhiệt tình của các cổ đông sáng lập, khách hàng và đặc biệt là sự nỗ l ực phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty đã từng bước phát triển và tạo dựng được chỗ đứng trên th ị trường bảo hiểm Việt Nam.

    1. Cơ cấu tổ chức của công ty:

    Là một công ty cổ ph ần có tư cách pháp nhân, tự chủ về mặt tài chính và hạch toán độ c lập, Pjico r ất chú trọng tới việc xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty sao cho chặt chẽ đồ ng thời vẫn tuân thủ theo trật tự cơ cấu của một công ty cổ phần. Hiện nay, bộ máy tổ chức của Pjico bao gồm các bộ phận sau:

    • Hội đồng quản trị;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tổng giám đốc;
    • Các phó giám đốc;
    • Các phòng ban nghiệp vụ:
    • Phòng tổ chức cán bộ;
    • Phòng tổng hợp;
    • Phòng thị trường và quản lý nghiệp vụ;
    • Ban thanh tra pháp chế;
    • Phòng bảo hiểm hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm phi hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm tài sản hoả hoạn;
    • Phòng tái bảo hiểm;
    • Phòng kế toán;
    • Phòng đầu tư tín dụng và thị trường chứng khoán;
    • Phòng giám định bồi thường;
    • Bộ phận quản lý đại lý;
    • Các văn phòng bảo hiểm tại Hà Nội: KV1, KV2, KV3, KV4, KV5, KV6 và KV7.
    • Các chi nhánh trực thuộc tại 64 tỉnh thành trên toàn quốc.
    1. Các nghiệp vụ bảo hiểm triển khai:

    So với những ngày đầu mới thành lập, các nghiệp vụ bảo hiểm mà công ty triển khai đã đượ c đ a dạng hoá và hoàn thiện lên rất nhiều. Điề u đó đã đ áp ứng được nhu c ầu v ề bảo hi ểm ngày một tă ng lên không ch ỉ của mỗi mộ t cá nhân mà còn cả các tổ chức đang hoạt động kinh doanh, sản xuất trên đất nước Việt Nam. Hiện nay công ty đang triển khai một số các nghiệp vụ chính sau:

    • Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải:
    • Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không;
    • Bảo hiểm thân tàu;
    • Bảo hiểm TNDS của chủ tàu;
    • Bảo hiểm nhà thầu đóng tàu;
    • Bảo hiểm tàu sông, tàu cá;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải:
    • Bảo hiểm xe cơ giới;
    • Bảo hiểm kết hợp con người;
    • Bảo hiểm học sinh, sinh viên, giáo viên;
    • Bảo hiểm bồi thường cho người lao động;
    • Bảo hiểm khách du lịch;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm hành khách;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm Kỹ thuật và Tài sản:
    • Bảo hiểm mọi rủi ro về xây dựng lắp đặt;
    • Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt;
    • Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp;
    • Bảo hiểm máy móc;
    • Bảo hiểm trách nhiệm;
    • Bảo hiểm hỗn hợp tài sản cho thuê mướn;
    • Nghiệp vụ tái bảo hiểm: bao gồm nhượng và nhận các nghiệp vụ bảo

    hiểm.

    • Các hoạt động khác:
    • Thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới bảo hiểm như: Giám định, điều tra, tính toán phân bổ tổn thất, đại lý giám định tổn thất, đại lý xét giải quyết bồi thường và yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
    • Hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, tín dụng, liên doanh liên kết với các bạn hàng trong và ngoài nước.

    2.                 Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Công tác triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico:

    Với phươ ng châm “Pjico luôn cùng bạn v ững tay lái”, nghiệp v ụ bảo hiểm xe cơ giới đ ã được công ty triển khai ngay từ khi mới thành lập. Theo thời gian, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đã từng bước đứng vững và trở thành nghiệp vụ chủ đạo của công ty. Đặc biệt trong những năm gần đây, sự phát tri ển của nền kinh tế nhiều thành phần đã làm bùng nổ các phương tiện vận tải chuyên dụng. Đây là đ iều cần cho quy luật “s ố đông bù số ít” trong kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới có nhiều thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng.

    Hiện nay công ty đang triển khai tất cả các loại hình của bảo hiểm xe cơ giới, bao gồm:

    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới bắt buộc:
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nghiệp vụ này gồm: Bảo hiểm TNDS của chủ xe ôtô đối với người thứ ba và bảo hiểm TNDS của chủ xe máy đối với người thứ ba.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hành khách trên xe.
    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới tự nguyện:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với hàng hoá chuyên chở

    trên xe.

    • Bảo hiểm tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại

    Pjico ta xem xét những mục cụ thể sau:

    • Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là mộ t trong những sản phẩm truyền thống, có tính cạnh tranh cao, có thế mạnh tạo ra uy tín cho Pjico đồng thời là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo.

    Để chứng minh đây là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo ta xem xét bảng sau:

    Bảng 6: Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện Tốc độ tăng Mức đạt kế
    Năm (Tr.đ) (Tr.đ) trưởng (%) hoạch (%)
             
    2000 23.150 28.400 37,4 122,7
    2001 32.600 42.436 49,4 129,9
    2002 53.894 60.981 43,7 113,1
    2003 55.941 66.669 9,32 119,1
    2004 64.978 77.568 16,34 119,4

    (Nguồn:    Công    ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới liên tục tăng năm sau cao hơn năm trước. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu chỉ đạt 28.400 triệu đồng nhưng đến năm 2004 doanh thu đã đạt 77.568 triệu đồng) điều này có được là nhờ công ty luôn coi sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới là một trong những sản phẩm chủ đạo.
    • Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 31% điều này nói lên sự nỗi lực rất lớn của đội ngũ nhân viên khai thác của công ty. Đặc biệt trong 3 năm 2000, 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng rất cao (2000 đạt 37,4%; năm 2001 đạt 49,4%; năm 2002 đạt 43,7%) đó là nhờ sự hoàn thiện dần về cơ chế, tổ chức của công ty và cũng là những năm Pjico nỗ lực xây dựng hình ảnh của mình trên thị trường. Đáng chú ý là năm 2001 năm có sự tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay đó cũng là năm đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Pjico với 64 chi nhánh trên khắp tỉnh, thành trong cả nước. Trong hai năm trở lại đây 2003 và 2004 tốc độ tăng trưởng có giám sút điều này được giải thích đó là

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm cùng loại trên thị trường của những công ty bảo hiểm khác.

    • Tình hình khai thác từng nghiệp vụ cụ thể:

    Trong bảo hiểm xe cơ gi ới có rất nhiều nghiệp vụ và mỗi nghiệp v ụ lại có tính đặc thù riêng điều này giải thích tại sao độ i ng ũ nhân viên khai thác phải luôn hoàn thiện mình để đ áp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cũng như nâng cao thu nhập cho bản thân và doanh thu cho công ty.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác của từng nghiệp vụ ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 7: Doanh thu phí các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-

    2004.(Đơn vị: Tr. đ)

    STT Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
                 
    1 TNDS ôtô 9.054 13.900 19.974 21.731 25.299
                 
    2 TNDS xe 557 1.705 2.450 2.673 3.178
      máy          
                 
    3 TNDS đối 137 132 190 204 229
      với hành          
      khách          
    4 TNDS đối 752 712 1.023 1.078 1.208
      với hàng hoá          
                 
    5 Vật chất ôtô 15.742 22.802 32.766 36.096 42.017
                 
    6 Vật chất xe 153 44 63 83 89
      máy          
                 
    7 Tai nạn lái phụ 1.958 3.141 4.515 4.804 5.548
      xe và người ngồi          
      trên xe          
    8 Cộng: 28.400 42.436 60.981 66.669 77.568
                 
              (Nguồn: Công  ty
            Pjico)  

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu phí của tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm đều tăng năm sau cao hơn năm trước. Riêng đối với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe máy doanh thu là không đáng kể theo tôi nên loại bỏ nghiệp vụ bảo hiểm này để đỡ tốn chi phí.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS và vật chất của ôtô là hai nghiệp vụ chủ đạo. Tổng doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 85% tổng phí thu của nghiệp vụ xe cơ giới. Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 86,5% tổng phí thu, điều này cho thấy công ty luôn xác định đây là hai nghiệp vụ hàng đầu và hết sức quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và Pjico luôn nỗ lực xây dựng quan hệ bền chặt với những khách hàng truyền thống, cũng như luôn xác định hai sản phẩm này luôn đi cùng với những chiếc xe của những doanh nhân thành đạt.
    • Bảo hiểm vật chất ôtô là nghiệp vụ có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ của bảo hiểm xe cơ giới. Nghiệp vụ này chiếm tới 55% trong tổng doanh thu vào năm 2000, năm 2004 con số này là 54,2% điều này cho thấy đây là nghiệp vụ Pjico luôn coi là thế mạnh của mình và các chủ xe luôn ý thức được đây là nghiệp vụ bảo hiểm rất cần thiết cho chiếc xe của mình. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 43% trong giai đoạn 2000- 2004. Trong đó, giai đoạn 2000- 2002 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (năm 2000 tốc độ tăng trưởng đạt 35,9%; năm 2001 đạt 44,8%; năm 2002 đạt 43,7%) đặc biệt, năm 2001 tốc độ tăng trưởng đạt kỷ lục từ trước tới nay do trong giai đoạn này công ty đang nỗ lực xây dựng thương hiệu của mình trên thị trường. Trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng có giảm do sự lớn mạnh của các đối thủ cạnh tranh nhưng doanh thu phí vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu.
    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS ôtô là một trong những nghiệp vụ quan trọng và có doanh thu đáng kể chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí bảo hiểm đã tăng 2,8 lần (năm 2000 doanh thu đạt 9.054 triệu đồng đến năm 2004 đạt 25.299 triệu đồng) và nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao 33,5% trong đó, có những thời kỳ tăng đột biến đó là giai đoạn 2000 đến 2002 (năm 2000 đạt 45%; năm 2001 đạt 53,52%; năm 2002 đạt 43,69%) trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng của nghiệp vụ này không cao cho dù đây là nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc (từ năm 2003) nói lên sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường của những sản phẩm cùng loại của những doanh nghiệp khác.
    • Sản phẩm bảo hiểm TNDS của chủ xe máy trong 4 năm gần đây đã được chú trọng nhất là từ năm 2003 khi nghiệp vụ này là nghiệp vụ bắt buộc đối với các chủ phương tiện. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí của nghiệp vụ này đã tăng 5,5 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 577 triệu đồng thì đến năm 2004 đạt 3.178 triệu đồng). Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 69,4% trong đó, có thời kỳ nghiệp vụ này tăng trưởng không được như mong muốn vào năm 2000 do lúc này lòng tin của khách hàng với Pjico chưa nhiều và Bảo Việt còn đang chiếm ưu thế. Nhưng cũng từ đó

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Pjico th ực hiện cơ chế khoán doanh thu tới từng phòng KV làm cho doanh thu của nghiệp vụ này không ngừng tăng cao đ iển hình nă m 2001 tốc độ tăng trưởng đạt con số kỷ lục 206,1%. Trong hai năm trở lại đây do sự cạnh tranh khốc liệt với những doanh nghiệp b ảo hiểm khác là cho tốc độ tăng trưởng có giảm sút, năm 2004 t ốc độ tăng trưởng đạt 18,89% và doanh thu của nghiệp vụ này đã chiếm 4% trong tổng doanh thu.

    1. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất:

    Trong lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm, kiểm soát tổn thất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là các doanh nghi ệp bảo hiểm phi nhân thọ . Kiểm soát tổn thất có tác dụng làm giảm tần xuất hoặc mức độ trầm trọng củ a các tổ n thất, vì thế nó không chỉ là chức năng củ a doanh nghiệp bảo hiểm mà còn là yêu cầu bức xúc của ngườ i tham gia bảo hiểm. Ngày nay các nhà chuyên môn của ngành bảo hiểm đều th ống nhất rằng, kiểm soát tổn thất là sự k ết hợp chặt ch ẽ giữa hai yếu tố: Đề phòng tổn thất và h ạn chế tổn thất. Đề phòng tổn thất là các biện pháp được sử dụng để hạ thấp tần su ất tổn th ất, hay nói cách khác là để ngăn ngừa các tổn thất xảy ra. Còn hạn ch ế tổ n thất là các biện pháp s ử dụng nhằm làm giảm mức đọ trầm trọng của các tổn th ất khi rủ i ro x ảy ra. Đố i với các doanh nghi ệp bảo hi ểm, hoạt động kiểm soát tổn thất cũng đáp ứng được t ất cả các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra, đó là: Giảm chi bồi thường, tăng lợi nhu ận, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, thực hiện được nhu cầu pháp lý và các công tác xã hội, nhân đạo của doanh nghiệp bảo hiểm.

    Công ty Pjico luôn coi ho ạt động kiểm soát tổn thất là một trong những khâu quan trọng nhất trong chu kỳ của sản phẩm bảo hi ểm xe cơ giới. Công ty luôn xác định n ếu có làm tốt khâu này thì: chất lượng của sản phẩm mới đượ c bảo đảm, tạo đượ c lòng tin cho khách hàng vì chẳng ai mua bảo hiểm lại muốn mình gặp rủi ro cũng như thực hiện được những mục tiêu mà công ty đề ra.

    Do vậy trong hoạt độ ng ki ểm soát tổn thất của mình công ty luôn áp dụng triệt để 3 khâu chuyên môn:

    • Một là, khảo sát điều tra thực tế, công việc chủ yếu của khâu này là điều tra, thu thập các thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, đến đặc điểm của rủi ro và liên quan đến chính bản thân khách hàng.
    • Hai là, phân tích và tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lý rủi ro. Sau khi nắm bắt được những thông tin cơ bản ở khâu điều tra khảo sát, kiểm soát viên tổn thất sẽ phân tích những tổn thất trong quá khứ của khách hàng và tư vấn cho họ những vấn đề cụ thể liên quan đến công tác quản lý rủi ro.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ba là, thực hiện chương trình quản lý rủi ro. Đây là công việc chủ yếu thuộc về phía người tham gia bảo hiểm. Họ có trách nhiệm trực tiếp thực hiện chương trình và sau khi thực hiện doanh nghiệp bảo hiểm của các kiểm soát viên tổn thất kiểm tra xem chương trình có phù hợp với điều kiện thực tế hay không và tư vấn thêm những dịch vụ tư vấn phù hợp.

    Bên cạnh đó, công ty còn sử dụng biện pháp tăng cường quản lý thông tin như thông tin về khách hàng, về các doanh nghiệp bảo hiểm khác, về đại lý… để có thể tìm ra những sai xót, từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh cho tốt hơn.

    Như vậy, để đảm bảo thực hiện được công tác đề phòng và hạn chế tổn thất thì hàng năm công ty cũng phải chi ra một khoản tiền nhất định trong tổng phí bảo hiểm thu được. Tại Pjico, khoản chi này được tính vào chi phí quản lý nghiệp vụ.

    Cụ thể ta có bảng chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004 như sau:

    Bảng 8: Tình hình chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Chỉ tiêu Số vụ tổn thất Chi quản lý Doanh thu   Chi qu ản lý
    Năm (vụ) nghiệp vụ (Tr.đ) nghiệp vụ / doanh
      thu phí (%)
        (Tr.đ)      
    2000 2.358 3.726 28.400   13,1
    2001 2.948 5.814 42.436   13,7
    2002 3.861 10.123 60.981   16,6
    2003 3.856 10.607 66.669   15,9
    2004 4.216 12.531 77.568   16,1
          (Nguồ n: Công  ty
          Pjico)    

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Công ty rất chú trọng đến công tác đề phòng và hạn chế tổn thất và coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm. Ta nhận thấy rằng giai đoạn 2000- 2004 cho dù doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 28.400 triệu đồng; năm 2004 doanh thu phí đạt 77.568 triệu đồng) nhưng số tiền doanh nghiệp bỏ ra để chi quản lý nghiệp vụ lại tăng tới 3,3 lần (chi quản lý nghiệp vụ năm 2000 là 3.726 triệu đồng; năm 2004 chi quản lý nghiệp vụ là 12.531 triệu đồng).
    • Để đảm bảo được các mục tiêu công ty đã đề ra thì công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải luôn được tăng cường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty. Bằng chứng là tỷ lệ giữa số tiền chi quản lý nghiệp vụ / doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước và trong những năm gần đây thì công tác này càng được coi trọng, hai năm trở lại đây tỷ lệ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    dần đ i vào ổn định (dao độ ng khoảng 16% tổng doanh thu của nghiệp vụ) do cơ sở hạ tầng đã được Nhà Nước đầu tư tốt hơn trước rất nhiều.

    1. Công tác giám định- bồi thường:

    Công tác giám định- bồi thường là những công việc thuộ c dị ch v ụ sau bán hàng, có tác động đến sự c ạnh tranh và uy tín của Công ty. Do vậy công ty Pjico rất chú trọng đến công tác này.

    • Công tác giám định tổn thất: Giám định tổn thất được thực hiện bởi các chuyên viên giám định. Ở những nước pháp triển, chuyên viên giám định do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp chỉ định và lựa chọn. Nhưng phần lớn các nước chuyên viên giám định lại chính là nhân viên của bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy chuyên viên giám định phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

    – Ghi nhận thiệt hại phải đảm bảo chính xác, kịp thời, khách quan và trung thực. Ghi nhận thiệt hại tức là ghi lại thực trạng và xác định lại thiệt hại, mức độ trầm trọng và nguyên nhân gây thiệt hại. Công việc giám định chỉ được tiến hành khi bên tham gia bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu. Để đảm bảo tính khách quan, một số nghiệp vụ bảo hiểm trong quá trình giám định phải có sự chứng kiến của các bên có liên quan.

    – Đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại, phải kịp thời và đúng quyền hạn, khi rủi ro tổn thất xảy ra, chuyên viên giám định có nghĩa vụ can thiệp để giảm thiểu độ trầm trọng của tổn thất và tình trạng gia tăng thiệt hại. Nếu phát hiện tổn thất có tính hệ thống, chuyên viên giám định phải tìm hiểu nguyên nhân, cách giải quyết và thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm đã uỷ nhiệm mình làm người giám định.

    – Những thông tin mà chuyên viên giám định cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm dù là tự nguyện, nhưng nội dung của nó là tất cả những chi tiết về những sự kiện đã xảy ra và các vấn đề liên qua như: Thực trạng hiện trường nơi xảy ra tai nạn, tình trạng mất cắp, các quy định của cơ quan công an và chính quyền địa phương… Những thông tin này sẽ không có giá trị nếu được cung cấp quá muộn, bởi vì nó không được đưa ra thảo luận và làm bằng chứng khi lập biên bản giám định tổn thất.

    • Công tác bồi thường: Bồi thường và chi trả bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đã trả tiền cho các sản phẩm bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường một cách nhanh chóng và đầy đủ nếu không may họ bị tổn thất. Chính vào thời điểm tổn thất xảy ra, phía khách hàng thường bị những “cú sốc” lớn về tinh thần, đặc biệt là trong những trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Vào lúc này thì năng lực, sự trung thực, tính hiệu quả, sự tế nhị và tính nhân đạo của doanh

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nghiệp bảo hiểm đượ c thừa nhận qua cách xử s ự của mình với các nạn nhân và sự ki ện được bảo hiểm. Nếu giải quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốt nhất đối với một doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy, công ty Pjico luôn quan niệm “Những cam kết được bảo đảm bằng vàng”.

    Cụ thể ta có tình hình chi bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty trong giai đoạn 2000- 2004 như sau:

    Bảng9: Tình hình chi bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico.(ĐV: Tr.đồng)

    Stt Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
    1 TNDS ôtô 5.623 10.441 16.037 17.063 20.035
    2 TNDS xe máy 105 176 270 265 301
    3 TNDS đối với hành khách 125 273 419 443 523
    4 Vật chất ôtô 9.045 14.334 22.017 24.258 28.615
    5 Vật chất xe máy 141 41 63 76 78
    6 TNDS đối với hàng hoá 229 256 393 375 410
    7 Tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe 486 1.122 1.719 1.722 1.990
    8 Cộng: 16.654 26.643 40.918 44.202 51.952
    9 Tỷ lệ bồi thường (%) (∑chi 58,64 62,78 67,1 66,3 66,97
      / ∑thu)

    (Nguồn:    công       ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Bảo hiểm vật chất ôtô có số tiền bồi thường cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ, đây cũng là điều dễ hiểu vì nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ. Trong khi doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có tốc độ tăng trưởng trung bình 43% thì tốc độ tăng trưởng trung bình chi bồi thường vật chất ôtô là 36% (giai đoạn 200-2004) điều này cho thấy nghiệp vụ này đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty và đóng vai trò chủ đạo.
    • Nghiệp vụ TNDS ôtô là nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng doanh thu phí hàng năm khá cao đạt 33,5% nhưng đi đôi với nó là số tiền bồi thường cũng tăng lên một cách chóng mặt, tăng tới 3,6 lần và tốc độ tăng trưởng bình quân của số tiền bồi thường là 40,8% (giai đoạn 200-2004) cho thấy rằng nghiệp vụ này có xác xuất rủi ro là rất cao do vậy công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải được coi trọng. Đặc biệt, năm 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng của số tiền bồi thường rất cao (năm 2001 đạt kỷ lục 85,6%; năm 2002 đạt 55,5%) do trong những năm này có hiện tượng bùng nổ số lượng phương tiện xe cơ giới trong đó có xe máy Trung quốc và hai năm trở lại

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đây tốc độ này có giảm do Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp bảo hiểm TNDS bắt buộc.

    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS đối với xe máy có số tiền bồi thường rất khiêm tốn do đặc điểm của nghiệp vụ là bắt buộc nên chủ xe chỉ mua để đối phó với cơ quan chức năng (CSGT) có người bị tai nạn xong mới biết trong túi mình có mua bảo hiểm do vậy, những vụ va chạm nhỏ thường các chủ xe tự giải quyết theo thoả thuận không báo cho công ty bảo hiểm biết còn những vụ nghiêm trọng thì công ty mới biết và tiến hành bồi thường. Do đó, trong thời gian tới chúng ta phải tổ chức tuyên truyền cho mọi người dân hiểu mua bảo hiểm không phải là bắt buộc mà còn mang nhiều ý nghĩa to lớn khác.

    Như vậy, công tác giám định tổn thất tại công ty Pjico đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần làm cho công tác bồi thường chính xác và đạt hiệu quả cao.

    Để biết về công tác giám định- bồi thường tại Pjico ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 10:Tình hình giám định- bồi thường tại công ty Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004  
    vị
                   
    1 Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường Vụ 2.358 2.948 3.861 3.856 4.217  
    2 Số vụ giải quyết bồi thường Vụ 2.287 2.858 3.762 3.741 4.087  
    3 Số vụ phát hiện trục lợi bảo Vụ 32 48 53 64 75  
      hiểm  
    4 Số tiền bồi thường thực tế Tr.đ 16.654 26.643 40.918 44.379 52.128  
    5 Số vụ tồn đọng Vụ 39 42 46 51 55  
    6 Tỷ lệ tồn đọng (5/1) % 1,65 1,42 1,19 1,32 1,3  
    7 Tỷ lệ giải quyết bồi thường (2/1) % 97,0 97 97,4 97 97  
    8 Số tiền bồi thường thực tế/vụ Tr.đ 7,28 9,32 10,88 11,86 12,75  
      (4/2)  
    9 Chi quản lý nghiệp vụ Tr.đ 3.726 5.814 10.123 10.607 12.531  
    10 Tổng chi nghiệp vụ (4+9) Tr.đ 20.380 32.457 51.041 54.986 64.659  
    11 Tỷ lệ chi bồi thường (4/10) % 81,7 82,1 80,2 80,7 80,6  

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Số vụ giải quyết bồi thường và số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm năm sau đều cao hơn năm trước. Điều này cho thấy công tác giám định- bồi thường của công ty ngày càng chính xác, khách quan và trung thực hơn. Riêng năm 2003 có số vụ tổn thất đòi giải quyết bồi thường khá khiêm tốn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    điều này được giải thích do năm 2003 Bộ tài chính đã ban hành quyết định số 23/2003/QĐ- BTC về thực hiện bảo hiểm TNDS bắt buộc và cũng trong năm này Chính phủ chọn là năm phát động chiến dịch xoá “điểm đen” trên tuyến quốc lộ.

    • Tỷ lệ tồn đọng hàng năm của công ty ở mức rất thấp và tỷ lệ giải quyết bồi thường luôn đạt trên 97% điều này cho thấy công tác chi trả bảo hiểm của công ty Pjico được thực hiện rất nhanh chóng và kịp thời góp phần xoa dịu sự mất mát của khách hàng cũng như nâng cao uy tín của công ty. Riêng năm 2000 là năm có số vụ tồn đọng cao nhất từ trước đến nay (chỉ 1,65%) do những vụ tai nạn vào năm này xảy ra quá sát tết.
    • Số tiền bồi thường thực tế trên vụ năm sau luôn cao hơn năm trước điều này cho thấy tổn thất ngày càng xảy ra với mức độ trầm trọng hơn đòi hỏi, công ty phải có những biện pháp thiết thực hơn nữa nhằm hạn chế tổn thất xảy ra.
    • Tỷ lệ chi bồi thường= Số tiền bồi thường thực tế/ tổng chi nghiệp vụ. Tỷ lệ này luôn đạt trên 80% cho thấy rằng công ty rất chú trọng đến công tác bồi thường, mục tiêu đặt ra trong những năm tới là công ty phải giảm số tiền bồi thường thực tế và tăng tổng chi nghiệp vụ muốn làm được điều này công ty phải kết hợp với ngành công an hạn chế tới mức thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra đặc biệt tai nạn xảy ra trên những đoạn đường đèo dốc nguy hiểm vì tai nạn xảy ra trên những đoạn đường này thường để lại hậu quả hết sức nặng lề.

    Tóm lại, các khoản chi bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chủ yếu xuất phát từ ba nghiệp vụ: bảo hiểm TNDS ôtô; vật chất ôtô; tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe. Chi bồi thường của nghiệp vu bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico có xu hướng tăng do tình hình tai nạn giao thông ngày một nghiêm trọng bên cạnh đó cũng phải xét đến yếu tố gian lận trong bảo hiểm vì hiện tượng gian lận ngày càng trở lên phổ biến; nếu ngăn chặn được tình trạng gian lận bảo hiểm sẽ làm giảm thất thoát do bồi thường không hợp lý; qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh của công ty nói chung và của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    II.               TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Thực trạng trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảo hiểm là ngành dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới là ngành được mệnh danh là “gà đẻ chứng vàng” vì nhưng lợi ích của bảo hiểm mang lại thì không ai có thể phủ nhận. Nhưng nó cũng đang ph ải đối mặt v ới nhiều nhân tố cản trở trên con đườ ng phát triển của mình, một trong số đó là việc gian lận củ a ng ười được bảo hiểm. Có thể khẳng định r ằng tất cả các công ty bảo hiểm trên thế giới và ở Việt Nam đều đã, đang và sẽ tiếp tục gánh chịu hậu quả của những hành vi tr ục lợi bảo hi ểm. Theo thống kê của hi ệp hộ i bảo hiểm Châu Âu, hàng năm các công ty bảo hiểm thiệt hại không dưới 10 tỷ USD do s ự gian lận của khách hàng và chiếm khoảng 2,5% doanh thu của các Công ty bảo hiểm.

    Cũng như các công ty b ảo hiểm khác, Pjico đang phải đố i mặ t với sự gia tăng về số lượ ng cũ ng như tính chất nghiêm trọng của các vụ trục lợi. Cụ thể ta xem xét bảng sau:

    Bảng 11:Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004
    vị
    1 Số vụ khiếu nại đòi   2358 2948 3861 3856 4217
      giải quyết bồi thường Vụ
    2              
      Số vụ nghi ngờ Vụ 105 164 193 214 243
    3 Tổng số vụ chấp nhận            
        2326 2900 3808 3792 4142
      bồi thường (1- 4) Tr.đ
    4 Số vụ phát hiện trục            
      Vụ 32 48 53 64 75
      lợi
    5 Tổng số tiền từ chối            
      bồi thường do gian Tr.đ 270 450 903 926 1106
      lận
    6 Số tiền từ chối bồi            
      thường bình quân/vụ   8,4 9,4 17 15,4 16,6
      (5/4) Tr.đ
    7 Số tiền bồi thường            
        16654 26643 40918 44379 52128
      thực tế Tr.đ
    8 Số vụ nghi ngờ/hồ sơ            
      % 4,5 3,9 3,4 5,5 5,8
      khiếu nại (2/1)
    9 Số vụ phát hiện/số vụ            
      % 30,5 29,1 27,4 29,9 30,86
      nghi ngờ (4/2)_

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên cho ta thấy:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Số vụ khiếu nại đòi bồi thường tăng mạnh trong các năm từ 2000 đến 2004 (từ 2358 vụ lên 4216 vụ) nên số tiền bồi thường hàng năm của Pjico cũng tăng (từ 16654 triệu đồng đến 52128 triệu đồng).
    • Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm liên tục tăng: Năm 2000 là 32 vụ đến năm 2001 là 48, năm 2002 là 53, năm 2003 là 64 và năm 2004 là 75. Điều này cho thấy số lượng những vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và hoạt động của ban thanh tra ngày càng mang lại hiệu quả to lớn.
    • Tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm tăng lên nhanh chóng qua các năm, năm 2000 và 2001, lần lượt là 270tr.đ/vụ, 450tr.đ/vụ, ba năm trở lại đây 2002, 2003 và 2004 tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm lần lượt là 903 triệu đồng; 926 triệu đồng và 1106 triệu đồng. Điều này cho thấy chiều hướng trục lợi bảo hiểm gia tăng, cả về số lượng và quy mô trục lợi bảo hiểm với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Ở đây chúng ta phải mạnh dạn đặt ra câu hỏi có sự tiếp tay của các nhân viên trong ngành bảo hiểm hay không?
    • Thêm vào đó, tỷ lệ phát hiện trục lợi / số vụ nghi ngờ năm 2000, 2003, 2004 lần lượt là 30,5%; 29,9%; 30,86%. Tỷ lệ này giảm xuống trong hai năm 2001 và 2002 (năm 2001 là 29,1%; năm 2002 là 27,4%) và ngày càng có chiều hướng ổn định. Chứng tỏ là hành vi trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng tinh vi hơn, đa dạng hơn và đặc biệt trục lợi bảo hiểm ngày càng có tổ chức hơn.

    Trong các hình thức trục lợi bảo hiểm thì đối tượng chỉ nhắm vào những hình thức phổ biến mà công ty thường hay sơ hở cũng như ít nghi ngờ.

    Cụ thể ta xem xét bảng số vụ trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức:

    Bảng 12: Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức tại Pjico giai đoạn 2000-2004 (Đơn
    Vị: Vụ)              
    STT Các hình thức trục lợi 2000 2001 2002 2003   2004
      bảo hiểm            
    1 Hợp lý hoá ngày giờ tai 15 22 26 30   34
      nạn và hiệu lực bảo hiểm            
                   
    2 Thay đổi tình tiết vụ 7 11 12 14   16
      tai nạn            
    3 Lập hồ sơ hiện 3 5 5 7   9
      trường giả            
    4 Khai tăng số tiền tổn 6 9 10 12   15
      thất            
                   
    5 Lập hồ sơ khiếu nại 1 1 1   1
      nhiều lần            

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.     Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                       
    6 Cố ý gây tai nạn      
                       
    7 Cộng: 32 48   53   64   75
                       
              (Nguồn: công ty
              Pjico)      

    Nhìn vào số liệu b ảng trên ta thấy, trong 6 hình thức trục lợi b ảo hi ểm cơ b ản thường thì khách hàng của công ty sử dụng 4 hình th ức phổ biến là: hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu l ực bảo hiểm; thay đổi tình tiết vụ tai nạn; lập hồ s ơ hiện trường giả và khai tăng số tiền tổ n thất; hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần có được sử d ụng nhưng rất ít; còn hình thức cố ý gây tai nạn chưa từng xuất hiện tại công ty Pjico.

    III.            BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ XỬ LÝ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Những dấu hiệu nghi vấn có gian lận bảo hiểm xe cơ giới.

    Cũng như các vụ án hình sự, các v ụ gian lận bảo hiểm xe cơ giới dù được chuẩ n bị công phu đến đâu cũ ng để lại những sơ hở gây nghi vấn. Và ngườ i làm bảo hiểm nếu nắm vững được các biểu hiện nghi vấn này sẽ dễ dàng hơn trong việc điều tra. Sau đây là những dấu hiệu cần đặt nghi vấn đã được tổng kết qua thực tiễn tại công ty Pjico:

    • Tai nạn xảy ra trong vòng 01 tháng kể từ ngày hết hạn hoặc bắt đầu có hiệu lực bảo hiểm.
    • Tai nạn xảy ra, giải quyết xong mới thông báo cho công ty bảo hiểm

    biết.

    • Tai nạn xảy ra ban đêm, nơi hoang vắng, không có người chứng kiến hoặc dân xung quanh.
    • Xe tư nhân, xe của chủ xe có nhiều xe chưa tham gia bảo hiểm thân xe, xe đăng ký từ tỉnh khác đến yêu cầu bảo hiểm thân xe với giá trị cao.
    • Xe được bảo hiểm thân xe riêng ngoài giấy chứng nhận bảo hiểm

    TNDS.

    • Chủ xe đến tham gia bảo hiểm vật chất xe nhưng không mang theo xe, không có giấy chứng nhận bảo hiểm cũ hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cũ không tham gia bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Hồ sơ tai nạn có hiện tượng tẩy xoá ngày tai nạn, ngày hiệu lực của bằng lái, giấy phép lưu hành, giấy phép lái xe, nguyên nhân tai nạn, tổn thất, số tiền đền bù …

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hồ sơ tai nạn, có ghi hoặc có biểu hiện có xe thứ ba liên quan nhưng không để lại việc giải quyết liên quan, không để lại địa chỉ của xe khác.
    • Xe bị thiệt hại nặng hoặc toàn bộ tham gia bảo hiểm cao hơn giá trị thực tế thị trường.
    • Xe bị thiệt hại nặng (cháy xe, đổ xe xuống vực…) nhưng người lái xe hoặc người trên xe không bị thương.
    • Chủ xe đề nghị người bán bảo hiểm ghi giúp họ lùi ngày cấp ấn chỉ vì những lý do mà họ đưa ra như tránh bị Công an phạt, hợp lý hoá giấy tờ lưu hành, để chứng minh với chủ hàng là trước đó đã tham gia bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe…

    2.                 Các hình thức gian lận và biện pháp phát hiện, xử lý trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Hình thức hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Để hợp lý hoá ngày hiệu lực của gi ấy chứng nhận bảo hiểm, người khiếu nại gian lận thường làm theo hai cách sau:

    Cách thứ nhất: Ghi lùi ngày hoặc tiến ngày xảy ra tai nạn.

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi:

    • Trường hợp bị tai nạn rồi mới tham gia bảo hiểm: Trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày bị tai nạn thực tế.
    • Trường thợp bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: Trong hồ sơ tai nạn, ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng với nhân viên của các cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ hi ện tượng trên thì phải kiểm tra lại giấy chứng nhận bảo hi ểm xem có h ợp lý không. Nếu đã hợp lý thì việc giám định chủ yếu dựa vào việc xác minh hiện trường cùng lời khai của nhân ch ứng để xác định đúng ngày xảy ra tai nạn bao gồm các công việc cụ thể sau:

    • Xác minh hiện trường: xem xét dấu vết trên địa bàn và nơi xảy ra tai nạn có phù hợp vời lời khai của lái xe, chủ xe hay không?

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Xác minh dựa trên lời khai của nhân chứng, người dân xung quanh nơi xảy ra tai nạn.
    • Xác minh qua các đối tượng liên quan trong vụ tai nạn: người trên xe bị thương đến mức độ nào, người thứ ba bị thiệt hại (được đưa đi cấp cứu ở đâu, vào lúc nào, tại bệnh viện nào…).
    • Xác minh lại hành trình của xe: ngày đi, các điểm dừng xe, đã dừng để bốc dỡ hay chở hàng ở đâu …

    Sau đó phải đặt các chi tiết xác minh được xem có lôgic, hợp lý về mặt thời gian cũng như lời khai của chủ xe để đưa ra nhận định cuối cùng.

    Nếu phát hiện ra hành vi trục lợi bảo hiểm này thì trước hết người được bảo hiểm sẽ không được nhận được tiền bồi thường; tuỳ theo số tiền có

    • định chiếm đoạt mà công ty bảo hiểm có biện pháp xửa lý thích hợp; nhẹ thì hoà giải; nặng có thể bị truy tố trước pháp luật. Còn nhân viên bảo hiểm do lỗi vô tình hay cố ý ghi sai mà phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình; nhẹ thì bị kiểm điểm, khiển trách; nặng thì bị thôi việc và kết tội đồng phạm.

    Cách thứ hai: Ghi lùi ngày bảo hiểm.

    Hành vi: Người khiếu nạn gian lận thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm trở về trước so với ngày đến mua và làm thủ tục bảo hiểm.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý: Lỗi này thuộc lỗi chủ quan, quản lý nội bộ của công ty đối với người bán bảo hiểm như nhân viên khai thác, đại lý, cộng tác viên, do vậy việc quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính. Muốn vậy:

    • Phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi kiểm tra các đại lý thường xuyên, luôn nhắc nhở đại lý tuân thủ quy trình nghiệp vụ, lưu ý người bán bảo hiểm người khiếu lại gian lận thường tìm nhiều lý do để lừa người bán bảo hiểm chấp nhận ghi lùi ngày bảo hiểm (như lý do để hợp thức hoá giấy tờ lưu hành, tránh bị Công an phạt …).
    • Khi có người yêu cầu ghi lùi ngày bảo hiểm thì nhân viên khai thác phải tìm cách ghi lại số xe, báo về công ty để có biện pháp ngăn chặn trên toàn tuyến (thông báo cho các điểm bán bảo hiểm khác, thông báo cho bảo hiểm tỉnh bạn, chú ý khi xét duyệt bồi thường …).
    • Khi đã xảy ra việc bán bảo hiểm ghì lùi ngày bảo hiểm, cán bộ quản

    lý phải:

    . Kiểm tra kỹ giấy chứng nhận, cuống lưu, hoá đơn (nếu có).

    . Yêu cầu người bán bảo hiểm tường trình lại sự việc.

    . Có biện pháp xử lý ngay đối với người bán bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Nếu phát hiện ra trường hợp này thì người được bảo hiểm sẽ không được bồi thường đồng thời người bán bảo hiểm có thể bị kết tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà Nước tại Điều 144 BộLuật Hình Sự nước Cộng hoà xã hội củ nghĩa Việt Nam.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe ôtô mang biển kiểm soát 35M – 5556 ngày 17/11/1998 bị đâm vào dải phân cách km 9 + 824 quốc lộ 5A, giấy chứng nhận bảo hiểm được mua tại Pjico vào ngày 13/11/1998. Cán bộ công ty đã đặt dấu hiệu nghi ngờ chiếc xe này vừa tham gia bảo hiểm nên ngay lập tức cử cán bộ xuống hiện trường điều tra. Sự việc được làm sáng tỏ thì ra chiếc xe này đã bị tai nạn từ ngày 11/11/1998, công ty đã từ chối trả tiền bồi thường 20,75 triệu đồng với lý do tai nạn nằm ngoài thời hạn bảo hiểm.

     

    • Hoặc vụ tai nạn của ôtô mang biển kiểm soát 22A – 8899 xảy ra lúc 9 giờ 45 phút ngày 09/08/1997 thiệt hại 44 triệu đồng nhưng đến 14 giờ cùng ngày mới mua bảo hiểm tại Pjico. Hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông khám nghiệm hiện trường ghi lùi vào ngày 12/08/1997.
    • Gần đây nhất là vụ tai nạn của xe ôtô mang biển số 29M-3344 của công ty TNHH Tân Hoàng Yến thiệt hại 43 triệu đồng, tai nạn xảy ra vào ngày 7/12/2004 và tai nạn xảy ra mới mua bảo hiểm tại Pjico hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông ghi lùi vào ngày 11/02/2002.
    1. Hình thức thay đổi tình tiết trong vụ tai nạn:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Thay đổi lỗi, thay đổi nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Sửa chữa hiệu lực giấy phép lưu hành xe (do hết hạn).
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do người lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không hợp lệ).

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Đọc kỹ lời khai của lái xe, biên bản khám nghiệm hiện trường, hồ sơ hiện trường để phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Đối chiếu bản gốc của các loại giấy tờ trên như giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành xe …
    • Trường hợp hồ sơ không có dấu hiệu sửa chữa thì có thể tìm cách đối chiếu bản gốc hồ sơ tai nạn tại cơ quan chức năng lập biên bản nếu khó khăn có thể nhờ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên.
    • Trường hợp này nếu bị phát hiện thì trước hết người được bảo hiểm cũng không được nhận tiền bồi thường. Tuỳ theo số tiền định chiếm đoạt mà sẽ bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp xe ôtô 15 chỗ ngồi mang biển số 19M- 4455 do lái xe Hoàng Mạnh Tân điều khiển gây tai nạn ngày 18/11/1999 gây thiệt hại cho người thứ ba lên đến 60 triệu đồng. Sau khi chủ xe có khiếu nại, công ty Pjico đã thụ lý hồ sơ và xác định lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ, chỉ có giấy phép lái xe loại xe ôtô chở tối đa 9 chỗ ngồi nhưng anh ta đã lợi dụng giấy phép lái xe có mặt trước mang tên Hoàng Mạnh Tân còn mặt sau ghi loại xe được phép lái là ôtô chở từ 25 đến 30 chỗ. Sau khi giám định, Pjico đã từ chối bồi thường với lý do tổn thất nằm ngoài phạm vi bảo hiểm.

    Hành vi gian lận rất khó phát hiện trong trường hợp người gian lận không trung thực đã thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn hay thay đổi người lái xe hợp lệ. Vì khi tham gia giao thông thì chỉ những người trên xe mới biết điều gì xảy ra với chiếc xe của mình. Khi tai nạn xảy ra họ khai báo những gì không đúng thực tế thì khó mà biết được.

    • Xe máy 29K- 4576 đến khiếu nại bồi thường bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội vào ngày 16/08/2003 nhưng qua xác minh của công ty Pjico thì nạn nhân bị tai nạn không phải là người điều khiển xe máy trên.
    1. Hình thức lập hồ sơ hiện trường giả:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Đưa xe từ nơi tai nạn đến nơi khác để lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn chưa mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Bằng giác quan để điều tra các vết tích trên hiện trường xem có phải là lái xe đã bị tai nạn ở đó hay không.
    • Đối chiếu biển số xe với số khung, số máy để xác định xem xe đang nằm trên hiện trường có phải đã được tham gia bảo hiểm hay không.
    • Hình thức này muốn làm được phải có sự “giúp đỡ” của các cơ quan chức năng do vậy rất khó phát hiện. Nếu bị pháp hiện thì người được bảo hiểm sẽ không nhận được một đồng tiền bồi thường nào mà còn bị cáo buộc liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức tại Điều 139 Bộ Luật Hình S ự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Hình thức khai tăng số tiền tổn thất:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hoá hư hỏng (bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    – Bảo hiểm vật chất thân xe:

    . Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với th ực tế, thúc ép Pjico chấp nhận phương án khắc phục hậu quả tai nạn bất hợp lý (thiệt hại bộ phận nhẹ nhưng đòi thay mới).

    . Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai, đưa vào hợp đồng sửa chữa.

    . S ửa chữa thay th ế cả những bộ phận hư hỏng không do tai nạn, hoặc bị tai nạn từ trước khi tham gia bảo hiểm.

    . Thay thế những vật tư cũ, chế lại… nhưng kê khai thay vật tư

    mới.

    . Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương…), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đó đồ đã hư hỏng.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải giám định trực tiếp trong thời gian sớm nhất (giám định sơ bộ, giám định chi tiết).
    • Phải theo dõi thường xuyên trong quá trình sửa chữa.
    • Chú ý công tác nghiệm thu sửa chữa (bộ phận hư hỏng thực tế đã sửa chữa, thay thế đúng chủng loại, chất lượng…).
    • Những bộ phận thay thế, thu hồi phải được quản lý chặt chẽ, tránh hiện tượng quay vòng sửa chữa đòi tiền bồi thường.
    • Hợp tác tốt với xưởng sửa chữa nhưng phải có thái độ độc lập, kiên

    quyết.

    • Hình thức này rất dễ thực hiện vì thế rất dễ phát hiện. Công ty nên có sẵn những bảng báo giá cụ thể, từng loại thiết bị, cho từng loại xe của từng hãng đồng thời trong đội ngũ giám định nên có một thợ máy.
    • Nếu phát hiện ra hình thức gian lận này có thể giải quyết theo nguyên tắc hoà giải, êm thấm, khi có những bằng chứng, chứng minh khách hành trục lợi để giữa khách hàng tránh chuyện bé xé ra to. Nhưng khách hàng một mực không chịu nhận thì phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cho khách hàng thấy được hành vi gian lận của mình và không chấp nhận bồi thường.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe 29N- 5338 của công ty TNHH Song Ánh Nguyệt, lúc 8 giờ 30 ngày 13/06/2002 khi xe đang đi trên đường vào khu Nghĩa Tân thì bị va vào bức tường do trách người qua đường gây thiệt hại: vỡ đèn xi nhan bên phải, sước sơn cửa sau xe bên phải, rơi nẹp cửa sau xe và xây xát hông bên phải, bồi thường thực tế là 11.812.000 đồng nhưng chủ xe đã làm hồ sơ yêu cầu bồi thường đến công ty Pjico Hà Nội với số tiền lên tới 30 triệu đồng.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bên cạnh đó, việc khai tăng số tiền tổn thất bằng cách thông đồng với bác sĩ để khai tăng bệnh án hay nội dung trong đơn thuốc thì rất khó phát hiện.
    • Trường hợp tai nạn ở Đông Anh Hà Nội là một ví dụ điển hình. Chiếc xe môtô mang biển kiểm soát 29K-1122 do chủ xe Nguyễn Trọng Ân điều khiển tham gia bảo hiểm người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội với mức trách nhiệm 10 triệu đồng/ vụ. Ngày 14/5/2002 do phóng nhanh ông Ân đã không làm chủ được tốc độ đã đâm vào người đi phía trước làm xe đổ lên người, ông Ân đã được đưa vào Bệnh Viện Giao Thông Vận Tải để điều trị. Nghiên cứu hồ sơ, cán bộ Pjico Hà Nội được biết ông Ân bị gãy xương bàn chân và sương sườn nằm điều trị hai đợt. Để làm rõ Pjico Hà Nội đã kiểm tra bằng cách đưa ông Ân đi chụp X- quang tại Bệnh Viện Việt Đức. Kết quả cho thấy ông Thư chỉ bị thương nhẹ và cuối cùng sự việc được làm sáng tỏ thì ra ông Ân đã thông đồng với nhân viên Bệnh Viện để có tấm phim X-quang bị gãy xương bàn chân và xương sườn mang tên ông Nguyễn Trọng Ân. Pjico Hà Nội đã từ chối bồi thường phần gãy xương bàn chân và xương sườn và chỉ bồi thường 3.7 triệu đồng theo chế độ bồi thường của người ngồi trên xe.
    1. Hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Chủ xe mua bảo hiểm trùng (mua từ 2 Công ty trở lên), khi xảy ra tai nạn xe đó đã được một công ty bảo hiểm bồi thường nhưng vẫn tiếp tục đòi bồi thường ở công ty bảo hiểm khác mà xe đó cũng tham gia bảo hiểm.
    • Hai xe đâm nhau, chủ xe đã được xe khác bồi thường nhưng vấn tiếp tục khiếu nại bồi thường về tai nạn dân sự đối với công ty bảo hiểm.
    • Hai xe cùng có lỗi gây ra tai nạn cho người thứ ba, cả hai xe đều thông đồng với cảnh sát lập hồ sơ cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải tìm bằng được xe liên quan trong vụ tai nạn để xác định được việc bồi thường của xe khác đối với người thứ ba hoặc bồi thường cho xe được bảo hiểm.
    • Khi xe được đăng ký tại tỉnh khác thì nhất thiết phải thông báo với công ty bảo hiểm tại tỉnh xe đó đăng ký và chỉ giải quyết bồi thường khi đã có thông tin xác nhận của đơn vị bạn.
    • Hình thức này rất dễ phát hiện nếu như các công ty có những thông tin về nhau, nhưng do cạnh tranh các công ty phải bảo mật thông tin đây là kẽ hở cho khách hàng lợi dụng. Vì thế, để hạn chế được hình thức này các công ty cố gắng xây dựng quan hệ hoà hữu tốt đẹp, canh tranh lành mạnh ít

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nh ất cũng công khai những thông tin về số vụ tổn thất đã bồi thường để công ty bạn biết và xử lý.

    • Nếu phát hiện ra hình thức trục lợi này thì phải cương quyết không bồi thường và tìm ra những bằng chứng, chứng minh hành vi gian dối của khách hàng để khách hàng thấy được hoạt động bảo hiểm rất quy mô và chặt chẽ.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp có sự tiếp tay của cán bộ Pjico Tuyên Quang trong vụ tai nạn xảy ra ngày 24/01/2003 tại km 8+ 277 Tuyên Quang- Thái Nguyên. Chiếc xe ôtô mang biển kiểm soát 29LD- 1002 của công ty thức ăn chăn nuôi gia súc Con Cò đã tham gia bảo hiểm vật chất và bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba tại công ty Pjico Hà Nội, còn xe ôtô 22H-4344 tham gia bảo hiểm vật chất tại Pjico Tuyên Quang. Ngày 24/01/2001 do không làm chủ được tốc độ xe 29LD- 1002 đã quyệt vào xe đi ngược chiều làm thiệt hại vật chất ước tính 13.876.000 đồng.

    Theo bản kết luận điều tra của cảnh sát giao thông thì lỗi 100% thuộc về xe 29LD- 1002. Sau tai nạn, chủ xe đã báo cho Pjico tỉnh Tuyên Quang tiến hành giám định. Vì lỗi 100% thuộc về xe 29LD-1002 nên sau khi giám định, Pjico Tuyên Quang phải thông báo bằng văn bản cho Pjico Hà Nội để tiến hành giải quyết bồi thường TNDS của chủ xe 29LD-1002 và Pjico Tuyên Quang không được phép bồi thường bất kỳ một khoản nào, trừ khi có yêu cầu chi hộ của Pjico Hà Nội. Nhưng do có sự thông đồng giữa chủ xe 22H- 4344 với cán bộ Pjico Tuyên Quang nên Pjico Tuyên Quang đã tiến hành bồi thường vật chất cho chủ xe 22H- 4344 với số tiền 13.876.000 đồng. Sau đó chủ xe mang hồ sơ về Pjico Hà Nội để đòi bồi thường TNDS.

    Như vậy, nếu Pjico Hà Nội tiếp tục bồi thường về TNDS cho chủ xe 29LD- 1002 thì xe 22H- 4344 sẽ nhận được hai lần số tiền bồi thường (bồi thường về TNDS và bồi thường về vật chất xe) tức là nhận được số tiền bồi thường lớn hơn số tổn thất thực tế, điều này nằm ngoài nguyên tắc của bảo hiểm.

    1. Hình thức cố ý gây tai nạn: Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ có hiện tượng cố ý gây tai nạn thì cần phải có biện pháp xử lý thích hợp vì đây là hiện tượng gian lận ít gặp nhưng lại nghiêm trọng nhất và cũng khó phát hiện nhất.

     

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau: Đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay thế mới.

     

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Lập phương án điều tra tỉ mỉ, nhiều hướng, đặc biệt chú ý đến công việc lấy lời khai nhân chứng, người biết sự việc liên quan và phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Ngoài phương án điều tra độc lập cần tranh thủ và huy động sự giúp đỡ của cơ quan điều tra chuyên môn như cảnh sát điều tra, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Viện khoa học hình sự…
    • Nhiều trường hợp cố ý gian lận xuất phát từ việc được bảo hiểm với giá trị cao nên việc xác định đúng giá trị thực tế của xe trước khi tham gia bảo hiểm là điều hết sức cần thiết: xác định qua nguồn gốc xe, hồ sơ gốc khi đăng ký xe (có đánh giá giá trị khi nộp thuế trước bạ…), xác định nơi sửa chữa qua các lần sửa chữa, nâng cấp… để xác định giá trị tăng thêm.
    • Trong quá trình điều tra các nghi ngờ trục lợi bảo hiểm cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

    . Khẩn trương nhanh chóng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết tai nạn.

    . Không để khách hàng biết kế hoạch, phương án điều tra vì công việc điều tra là do sự nghi ngờ của người làm bảo hiểm. Do vậy, nếu nghi ngờ sai sẽ làm mất lòng khách hàng có thể xảy ra tranh chấp không đáng có. Còn nếu nghi ngờ đúng thì sẽ dẫn đến hiện tượng “đánh rắn động cỏ”, “bứt dây động rừng”, khách hàng sẽ có điều kiện để chuẩn bị cho các tình tiết mới làm cho công việc điều tra trở lên khó khăn.

    . Kết quả điều tra phải được ghi nhận bằng những biên bản xác nhận hoặc các tài liệu làm chứng cứ đấu tranh với người trục lợi bảo hiểm.

    • Hình thức này được xử lý theo Điều 578 Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong Luật có ghi rõ:

    . “Bên được bảo hiểm có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện ghi trong hợp đồng, các quy định pháp luật có liên quan và thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại”.

    . “Trong trường hợp bên được bảo hiểm có lỗi không thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại đã ghi trong hợp đồng, thì bên bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để bên được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn mà các biện pháp phòng ngừa vẫn không được thực hiện, thì bên bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc không trả tiền bảo hiểm khi thiệt hại xảy ra do các biện pháp phòng ngừa không được thực”.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    Để đối phó v ới tình trạng trục lợi bảo hiểm nói chung, trục lợi bảo hiểm xe c ơ giới nói riêng đang gia tăng, ngày một tinh vi hơn dẫn đến nguy cơ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân, doanh nghiệp cũng như đối với xã hội. Công ty Pjico đã có những biện pháp phòng chống thiết thực, huy độ ng nguồn nội lực cũng như sự giúp đỡ của các ngành, các cấp và đã thu được một số kết quả nh ất đị nh. Tuy nhiên để công tác này thực sự đem lại hi ệu quả cao hơn trong thời gian tới, Công ty cần phải tiếp tục tăng cường các biện pháp đồng bộ mang tính khả thi cao.

    Qua thời gian thực tậ p tại Công ty, nghiên cứu thực tế vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    I. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC.

    1.     Cần sớm hoàn chỉnh hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

    Xuất phát từ đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp b ảo hiểm thương mại và luôn gắn liền với các trách nhiệm b ảo vệ hàng ngàn tổ chức, hàng triệu cá nhân trước các rủi ro và thiệt hại kinh tế cũng nh ư các cơ hội tiết kiệm và đầu tư. Vì thế sự bảo đảm kh ả năng tài chính của công ty bảo hiểm có ý nghĩa hết s ức quan trọng đối với nhiều cá nhân, tổ chức. Cùng với s ự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội, công ty bảo hiểm ngày càng đóng một vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ l ợi ích cộng đồng. Mà trục lợi bảo hiểm lại ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tài chính của công ty.

    Mỗi quốc gia đều thiết lập một cơ quan chuyên trách của Nhà n ước quản lý hoạt độ ng kinh doanh bảo hiể m, có thể gọi là cơ quan giám sát bảo hiểm Nhà nước hoặ c cơ quan Qu ản lý bảo hiể m. Cơ quan này có trách nhiện bảo đảm hoạt động củ a các công ty bảo hiểm tuân thủ theo đúng nh ững quy định của pháp luật và các quy định khác có liên quan của quốc gia. Đố i với Việt Nam, quản lý Nhà Nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua:

    • Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.
    • Bộ tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý Nhà Nước về kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000, song việc áp dụng vào thực tế rất chậm chạm, chưa tạo được môi trường pháp lý toàn diện, đầy đủ, vững chắc, chưa tương ứng với tầm vóc và tiềm năng của thị trường. Do vậy, để lành mạnh hoá thị trường, đảm bảo cạnh tranh công bằng đòi hỏi, các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm phải ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm và có vai trò tích cực trong việc điều tiết thị trường. Nhưng luật kinh doanh bảo hiểm có tới IX chương, 129 điều nhưng lại chưa có chương nào, điều nào đề cập tới vấn đề trục lợi bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do vậy, một vấn bức xúc đặt ra là khi các doanh nghiệp bảo hiể m phát hiện ra tr ục lợi thì cũng không biết xử lý thế nào ngoài việc t ừ chối bồi thườ ng. Bởi lẽ, trong các v ăn bản dướ i luật từ trước đến nay củ a Chính ph ủ, Bộ tài chính, Bộ công an cũng chưa có văn bản nào quy định về việc xử phạt đối với các đối tượng gian lận bảo hiểm. Vì v ậy trong thời gian tới, Chính Phủ cần phải ban hành một văn bản dưới luật quy định về tội danh này. Trong văn bản đó phải quy định chi tiết số ti ền gian lận bao nhiêu là bị xử phạt hành chính, bao nhiêu là bị xử tù. Đồng thời phải có thông tư hướng dẫn các Bộ, các ngành có liên quan trong việc thực hiện nhằm bảo đảm tính thực thi của văn bản đó.

    2.     Bộ tài chính cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện các quy tắc về bảo hiểm nói chung và vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    Bộ tài chính và các cơ quan chức năng phải có h ướng triển khai triệt để, ngăn chặn khiếu nại gian lận trong bảo hiểm ở nước ta. B ộ tài chính cần thành lập một ban thanh tra độc lập để ngăn chặn hành vi tiêu cực củ a các cơ quan thực hiện pháp luật như cảnh sát giao thông, Viện ki ểm sát… để đảm bảo quyền lợi của các đơn vị cá nhân trong hoạt động b ảo hiểm. Ban thanh tra còn có th ể trợ giúp các công ty bảo hiểm trong những vụ gian lận có thiệt hại lớn, tính chất, mức độ phạm pháp nguy hiểm có tính tổ chức. Đồ ng thời tổ chức những lớp tập huấn ngắn hạn hay dài hạn cả trong việc hợp tác với các n ước phát triển để đào tạo nâng cao trình độ, khả năng của các thanh tra viên, giám định viên cũng như truyền đạt các thông tin nhanh chóng trong các công ty trên phạm vi toàn quốc.

    Bộ tài chính cần có văn bản yêu cầu sự giúp đỡ của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ trong việc phối hợp với cơ quan bảo hiểm để hạn chế việc gian lận bảo hi ểm, xử lý nghiêm những nhân viên tiếp tay cho hành vi gian lận (Ví dụ: Bộ y tế cần có biện pháp xử lý đối với trường h ợp bác sỹ thông đồng với ng ười tham gia bảo hiểm để kê tăng bệnh án cũ ng như đơn thu ốc…) hay cần có biện pháp để kiể m tra xử lý đối v ới tr ường h ợp xe tham gia giao thông nhưng không tham gia bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới.

    3.     Bộ Công an phải đi tiên phong trong việc tấn công các đối tượng phạm tội trong ngành bảo hiểm.

     

    Bộ Công an là cơ quan có hoạt động g ắn bó bảo hiểm nhất. Bộ cần phối hợp với Bộ Tài chính

    mật thiết với các cơ quan để giảm bớt các hành vi

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    gian l ận bảo hiểm. Cụ thể, Bộ phải nhắc nhở các chiến sĩ Cảnh sát giao thông tăng cường ki ểm tra các giấy bảo hiểm bắt buộc của xe cơ giới như bảo hiểm TNDS của chủ xe, b ảo hiểm tai nạn hành khách. Việc tham gia đầy đủ các loại hình bảo hiểm bắt buộ c cũng sẽ hạn chế được tình trạng trục lợi. Bên cạnh đó, Bộ cần tăng cường nhắc nh ở phổ biến các hình thức trục lợi bảo hiểm đối với các nhân viên điều tra. Ngoài ra trong thời gian tới, Bộ Công an nên đưa công tác qu ản lý xe cơ giới và mạng vi tính toàn quốc. Điều này sẽ giúp cho các nhà bảo hiểm thu ận tiện h ơn khi kiểm tra lý lịch của chiếc xe tham gia bảo hi ểm. Đồng thời Bộ cũng nên lập danh sách các đối tượng đã có tiền sự trong việc trục lợi bảo hiểm gửi tới các Công ty bảo hiểm để đề phòng.

    Trong công tác đấu tranh chống tội phạm và trật tự an toàn xã hội chúng ta đã có số điện thoại nóng 113 (CSCĐ) được cả xã hội ủng hộ. Vậy tại sao trong công tác chống tham nhũng, mua chuộc cán b ộ và gian lận kinh tế chúng ta không thành lập mộ t đường dây nóng tương tự mà khi gọi đến số này chỉ vài phút sau lực lượng chuyên môn đã có mặt bắt quả tang và giải quyết kịp th ời nh ững hành vi gian dối lừa đảo. Điều này giải thích tại sao trong những năm v ừa qua chúng ta liên tục tuyên truy ền, phát động tuần lễ an toàn giao thông, tháng an toàn giao thông nhưng tai nạn giao thông lại cứ tăng, điều chớ trêu thay trong những tháng phát động tai nạn giao thông lại cao hơn những tháng không phát động.

    Một điều n ữa mà chúng ta không thể không nói đến hi ện nay, bên cạnh những chiến sỹ công an hết lòng với công việc để canh giữ sự bình yên cho xã hội là tình trạng tha hoá, biến chất về đạo đức củ a một bộ phận cán bộ trong ngành Công an. Ngành Công an là ngành dọc lại có công việc chính là điều tra, thanh tra, kiể m tra những ngành khác, cũng như mọi hoạt động trong xã hội. Chính vì lý do đó mà một b ộ phận cán bộ trong ngành cứ nghĩ một tay có thể che cả bầu trời chạy theo đồng tiền làm những việc tày tr ời. Bằng chứng trong những n ăm vừa qua chúng ta liên tục phát hiện những vụ cán bộ công an có chức có quyền buôn bán ma tuý mà nếu không ph ải do ăn chia không đều tố giác lẫn nhau thì chúng ta có thể phát hiện được không? Giả sử , chúng không tố giác lẫn nhau thì đến bao giờ chúng ta mới phát hiện được? và sẽ có bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu con ngườ i bị huỷ hoại tương lai dưới bàn tay của những kẻ mặt người dạ quỷ. Đó là chưa k ể đến hàng năm có bao nhiêu con em cháu cha trong ngành Công an “vượt qua” được cánh cửa các trường đại học, học viện trong ngành như: Đại học an ninh; Học viện kiểm sát; Đạ i học cảnh sát nhân dân… mà đ ó là nh ững trườ ng mơ ứơc của những học sinh nghèo học giỏi ở nh ững miền quê xa xôi, hẻo lánh, để rồi vài năm sau đó, khi ra trường chúng lại là bản sao của bố mẹ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chúng. Còn những học sinh nghèo kia chỉ giám nhìn qua cánh cổng trường đại học mà đặt ra những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời.

    Một điều mắt thấy tai nghe nữa, chúng ta hãy một lần đi trên những chuyến xe khách về các tỉnh lẻ thì biết. Tại sao, khi công an thổi còi xe dừ ng lại phụ xe ch ạy xuống rồi chạy lên ngay như một phản xạ tự nhiên. Hỏi ra mới biết tiền đã kẹp trong đống giấy tờ đó rồi và công an đâu có quan tâm đến đi ều gì ngoài điều đó. Những ngày thường thì (20.000- 30.000 đồng) những dị p lễ tết xe đ ông thì sẽ cao hơn (50-100.000 đồng) những cán bộ này đang coi mạng sống của những người đi trên xe chỉ đáng giá bằng ấy tiền. Thế mới có chuyện một chiếc xe khách ở Bắc Ninh chở ch ất cháy, nổ trái phép từ Lạng Sơn về t ận Bắc Ninh mà không bị phát hiện cho tới khi xe cháy thì mọi người mới ngã ngửa ra trên xe có ch ất nổ . Ai dám chắc rằ ng đó là l ần đầu tiên chiếc xe đó chở nh ững chất cấm. Vậy một câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao lại có những hành vi trên? Nếu không phải do tham ô, tham nhũ ng, tha hoá, biến ch ất từ trên xuống dưới thì một cá nhân có thể giám làm những điều trên hay không?

    Mà ngành bảo hiểm lại phải giải quyết tất cả những hậu quả trên. Đôi khi những h ậu quả đó có lỗi trực tiếp của nh ững cán bộ ngành công an sau đó họ lại là những người lập biên bản, giám định hiện trường (quyền sinh, quyền sát nằm trong tay) liệu họ có giám nh ận lỗi thu ộc về mình hay lại quy hết lỗi thuộc về lái xe và nhà xe thì nhà bảo hiểm chỉ biết bồi thường không giám kêu ai và nhờ ai đi ều tra. Đây là một điều bất cập và cũng là một nguyên nhân gia tăng tình trạng trục lợi bảo hiểm.

    Theo tôi, để giải quyết mâu thuẫn này ngành bảo hiểm phả i liên kết với ngành công an như tay phải và tay trái. Khi có tai nạn, biên bản về vụ tai nạn để bồi thường bảo hiểm phải có xác nhận của đại diện ngành bảo hiểm thì mới có hiệu lực. Muốn nh ư vậy, thì đại diịen ngành bảo hiểm phải có mặt đồng th ời với đại diện ngành công an trong quá trình giám định tai n ạn. Như vậy, tất cả những hành vi gian dối nhằm tr ục lợi bảo hi ểm như: thay đổi tình tiết vụ tai nạn có lợi cho khách hành, khai tăng số tiền tổn thất … sẽ bị phát hiện và ngăn chặm kịp thời.

    II. KIẾN NGHỊ VỚI HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    Từ 10 doanh nghiệp b ảo hi ểm hội viên sáng lập ban đầu khi thành lập năm 1999 gồ m: Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo Long, PV insurance, PJICO, VinaRe, VIA, UIC, PTI và Việt Úc đến nay, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã là ngôi nhà chung, thể hiện sự hợp tác liên kết của 21 doanh nghiệp bảo hiểm, cùng với các hội viên tán trợ là các doanh nghiệp môi gi ới bảo hiểm, doanh nghiệp tư vấn giám định bảo hiểm, văn phòng đại diện công ty bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nước ngoài và các trườ ng đại học có b ộ môn bảo hi ểm. Nhưng cho đến này hoạt động của Hiệp hội vẫn chưa đ em l ại hiệu quả thiết thực. Do v ậy, trong thời gian tới Hiệp hộ i ph ải phát huy vai trò đoàn kết các Công ty chống lại hiện tượng trục lợi bảo hiểm. Cụ thể là:

    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào việc soạn thảo các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà Nước về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan; góp ý kiến với cơ quan quản lý Nhà nước trong việc nghiên cứu xây dựng chiến lược pháp triển ngành bảo hiểm Việt Nam; thu thập và phản ánh với các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền ý kiến của các hội viên về các vấn đề chính sách, chế độ áp dụng với ngành bảo hiểm; đặc biệt Hiệp hội phải nhanh chóng soạn thảo nột chương trình phòng chống trục lợi bảo hiểm cho tất cả các công ty thành viên trong hội góp phần phát triển bền vững ngành bảo hiểm.
    • Tổ chức diễn đàn phổ cập pháp luật và chủ trương chính sách của Nhà Nước, đặc biệt chú trọng những diễn đàn phổ biến kinh nghiệm phát hiện gian lận bảo hiểm qua thực tiễn thực hiện, góp ý kiến nhằm hoàn thiện các văn bản pháp quy hiện hành về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan.
    • Xây dựng và thông qua nguyên tắc chung và nội dung phối hợp hoạt động giữa các hội viên, chú ý đến công tác phối hợp chống trục lợi bảo hiểm giữa các thành viên; quy chế tự quản nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm do Bộ tài chính ban hành. Đặc biệt, là biểu phí bảo hiểm xe cơ giới vì nghiệp vụ này thay đổi theo tốc độ tăng của số lượng xe và tổng số vụ tai nạn giao thông xảy ra. Tổ chức nghiên cứu xây dựng quy tắc, điều khoản, biểu phí của các nghiệp vụ bảo hiểm theo yêu cầu của hội viên dưới hình thức đề tài nghiên cứu khoa học câ.
    • Tổ chức trung tâm thông tin của Hiệp hội theo quy định của pháp luật hiện hành; tiến hành thống kê nghiệp vụ bảo hiểm trong khuôn khổ của Hiệp hội từ đó đề ra các giải pháp cụ thể cho từng nghiệp vụ cũng như đề xuất các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng trục lợi bảo hiểm từ phía khách hàng.
    • Đánh giá kết quả hoạt động của ngành bảo hiểm; phân tích tác hại của trục lợi bảo hiểm đối với cá nhân, doanh nghiệp và xã hội; đề ra những phương hướng hoạt động của ngành bảo hiểm.
    • Phối hợp hoạt động giữa các hội viên trong việc đào tạo bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ bảo hiểm chú trọng đội ngũ giám định- bồi thường, đào tạo đại lý, cộng tác viên.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tư vấn cho hội viên về tổ chức hoạt động, phát triển kinh doanh cũng như giúp đỡ hội viên trong việc xử lý những trường hợp trục lợi bảo hiểm và các vấn đề khác có liên quan.
    • Nghiên cứu, đề xuất hoặc tham gia ý kiến về các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất chung có liên quan chú ý, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất trong nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đến các doanh nghiệp bảo hiểm hội viên, phối hợp các hội viên và các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện.
    • Tổ chức tuyên truyền hoạt động bảo hiểm trong cả nước để mọi người dân hiểu quỹ bảo hiểm dùng để bồi thường cho những người có khả năng gặp phải cùng một rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi.
    • Hoà giải tranh chấp giữa các hội viên; kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà Nước về việc xử lý các trường hợp vi phạm phát luật trong lĩnh vực bảo hiểm.
    • Thiết lập các mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các đoàn thể có liên quan đến hoạt động của hội xây dựng quan hệ tốt đẹp với ngành có liên quan hệ mật thiết với bảo hiểm như: công an, thanh tra, đầu tư … Quan hệ hợp tác với Hiệp Hội bảo hiểm các nước và tham gia các tổ chức quốc tế theo quy địng của Nhà nứơc.

    Với những biện pháp trên, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam sẽ không những nâng cao vai trò, uy tín của mình mà còn tạo cho các công ty thành viên mối quan hệ đoàn kết, sự đồng lòng trong việc chống gian lận bảo hiểm xe cơ giới, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    IV.             KIẾN NGHỊ VỚI CÔNG TY PJICO.

    • Công ty cần tiếp tục mở rộng, tăng cường quan hệ, liên kết với các công ty bảo hiểm khác một cách chặt chẽ, đồng bộ ít nhất là ở công tác ngăn chặn, khiếu nại gian lận không để khách hàng lợi dụng yếu điểm của tình trạng cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các công ty mà tiếp tục làm gia tăng khiếu nại gian lận. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Cơ quan Công an, Y tế, các cơ quan giám định trong nước và quốc tế.
    • Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn các phòng kinh doanh, phòng giám định- bồi thường tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiệp vụ. Xử lý nghiêm những cá nhân, tập thể mắc sai phạm trong chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến việc khách hàng lợi dụng nghiệp vụ để trục lợi bảo hiểm. Đặc biệt, Công ty cần thẳng tay xa thải những cán bộ có hành vi tiếp tay cho gian lận.
    • Công ty cần ban hành một quy chế khen thưởng cụ thể đối với nhưng người có công pháp hiện ra trục lợi. Nên chăng trong quy chế này cần quy định cụ thể về tỷ lệ số tiền khen thưởng trên số tiền hòng trục lợi của

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    khách hàng. Việc này sẽ là một động lực khuyết khích tinh thần làm việc của cán bộ giám định. Ngoài ra cũng có thể áp dụng quy chế này đối với những cảnh sát điều tra.

    • Công ty nên có những phòng tiếp khách hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng đồng thời giải thích rõ các quy định, quy tắc của Nhà Nước, của công ty cho khách hàng và đối tượng quan tâm về tính nhân đạo, tính chặt chẽ trong hoạt động bảo hiểm, lợi ích của bảo hiểm đối với cá nhân cũng như cộng đồng, giải thích cho họ hiểu quỹ bảo hiểm là quỹ để bồi thường rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi, để nâng cao nhận thức của họ nhằm hạn chế bớt sự phát sinh tính gian lận nhằm trục lợi từ trong ý nghĩ.

    Đi đôi với biện pháp trên, Công ty cần phải tiếp tục hoàn thiện các khâu củ a quá trình kinh doanh như:

    • Đối với công tác quản lý ấn chỉ:

    . Toàn bộ ấn chỉ các phòng nhận từ công ty đều ph ải vào sổ theo dõi. Riêng đố i với số đem sử dụng phải theo dõi được đối tượ ng sử dụng, thời gian sử dụng và phải có quyết toán. Ấn chỉ xuất dùng sử dụng không hết phải nhập lại kho.

    . Phòng phải cử cán bộ theo dõi và quản lý ấn chỉ, đôn đốc kiểm tra và quyết toán ấn chỉ với đại lý và với công ty.

    . Chỉ được giao cho đại lý nh ững lo ại ấn chỉ được phép giao theo quy định của công ty. Đối v ới những ấn ch ỉ có số tiền lớn thườ ng dễ gây trục lợi, công ty cần hạn chế và quản lý tập chung tại phòng bảo hiểm khu vực hay công ty.

    . Số lượng ấn chỉ giao cho đại lý phải căn cứ theo từng loại ấn ch ỉ và đối tượng làm đại lý. Trong các trườ ng hợp số l ượng lớn hơn 1 công ty cần có các quy định chặt chẽ để tránh các hiện tượng tiêu cực xảy ra.

    . Thời gian quyết toán phải gắn liền v ới việc nộp phí bảo hiểm. Trong thời gian chưa nộp được phí về phòng, đại lý phải thông báo số phí, số đơn bảo hiểm để vào sổ theo dõi tại phòng.

    . Phương thức quyết toán từng tờ. Khi quyết toán ph ải kiểm tra thời gián ghi trên ấn chỉ, tu ần tự thời gian trong một quyển, đối chiếu thời gian ghi trên ấn chỉ với thời gian đại lý báo về của những ấn chỉ không quyết toán trong ngày, đối chiếu xác nhận số tiền ghi trên ấn chỉ với số phí thực tế đã thu.

    . Kiểm tra việc sử d ụng ấn chỉ của đại lý định kỳ hoặc khi nghi ngờ các hiện tượng trụ c lợi bảo hiểm công ty phải ti ến hành kiểm tra việc ghi chép và pháp hành hoá đơn của đại lý, đối chiếu thời gian và nội dung ghi trên liên gốc và liên giao cho khách hàng.

    – Đối với công tác nâng cao chất lượng đại lý:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    . Đại lý ph ải tuân thủ trình tự kiểm tra tất cả các xe trước khi nhận bảo hiểm đặc bi ệt đố i với xe mua bảo hiểm lẻ, xe t ư nhân, xe đăng ký tỉnh khác. Nhân viên phải đặc biệt chú ý tới nguyên tắc này, phải mắt thấy tai nghe về chiếc xe trước khi bán b ảo hiểm. Nếu sợ bắt chủ xe đưa xe tới có nhiều rầy rà mất th ời gian thì nhân viên làm bảo hiểm có thể đi kiểm tra sơ bộ rồi mới bán bảo hiểm.

    . Nhân viên nên kiểm tra lý lị ch quá trình hoạt động của xe, nếu đối tượng nhiều lần rủi ro hoặc chủ xe có tiền án, ti ền sự thì trong quá trình làm việc đại lý phải linh hoạt, khéo léo trong việc từ chối bán bảo hiểm.

    . Công ty phải tăng cường khâu tuyển chọn và đào tạo đại lý, cộng tác viên. Tuy ển l ựa đại lý, cộng tác viên có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, tổ ch ức cho họ tham gia các lớp đào tạo, h ướng dẫn về khai thác nghiệp vụ. Theo tôi, trong khâu tuyển chọn đại lý nên chăng Pjico nên tuyển chọ n ngay từ gốc bằng cách đến các trường đại học có khoa bảo hi ểm chọn lấy những sinh viên năm th ứ 3, thứ 4 có học lực tốt, phẩm chất tốt, tâm huy ết với nghề phổ biến cho họ cách khai thác bảo hiểm cách viết ấn chỉ và dựa vào sức tr ẻ s ự sáng tạo của họ cho họ đi khai thác một, mặt quảng bá hình ảnh công ty mặt khác tạo cho họ những kinh nghiệm thức tế họ còn thiếu và qua đây có thể tuyển chọn được mộ t vài đại lý đạt tiêu chuẩn cũng như sau khi họ ra trường có thể tuyển thành nhân viên chính thức cho công ty. Có thể nói đây là cách làm mới mẻ nhưng hiệu quả rất cao và có một vài công ty đ ã áp dụng, nên Pjico phải nghiên cứu và coi đây như là một chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho công ty sau này.

    . Định kỳ tổ ch ức các lớp tập huấn, đồ ng thời cũng cần tổ chức thườ ng xuyên các đợt kiểm tra công việc, trình độ của các đại lý, cộng tác viên để nắm bắt được nh ững hạn chế của họ từ đó có những biện pháp điều chỉnh, uốn nắm kịp thời. Hệ thống đại lý như mạng chân rết rất quan trọ ng đối với sự sống còn củ a công ty h ọ không chỉ đem lại doanh thu cho công ty mà còn là bộ mặt của công ty vì vậy, công ty luôn phải h ướng dẫn đào tạo cho nhân viên bán bảo hiểm nh ững ki ến thức cần thiết để có thể tư vấn cho khách hàng chứ không phải đơn thuần là bán bảo hiểm.

    . Một đ iều quan trọng nữa là hiện nay đại lý không thuộc biên chế của công ty nên có tâm lý làm việc không tích cực, nhanh chán nản, dễ pháp sinh tiêu cực. Vì vậy công ty cần có nh ững biện pháp khắc ph ục tình trạng này nh ư: bổ nhiệm các đại lý giỏi vào các chức v ụ tổ trưở ng đại lý, tuyển những đại lý xu ất sắc làm nhân viên thuộc biên chế của công ty… điều này chắc chắn sẽ tăng động cơ làm việc cho mỗi đại lý.

    – Đối với khâu giám định bồi thường:

    Giám định- bồi thườ ng là vấn đề lớn hàng ngày, hàng giờ ảnh h ưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới. Chính vì vậy để nâng

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao ch ất lượng phòng chống gian lận bảo hiểm thì phải nâng cao chất lượng khâu giám định- bồi thường. Để thực hiện được điều này, công ty cần phải quan tâm giải quyết một số vần đề sau:

    . Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tranh thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác giám định.

    . Không nên đợi chờ các lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ của công ty mà phải chủ động nâng cao trình độ của các giám định viên thông qua việc gửi các giám định viên theo học các lớp ngắn ngày tại các trường kỹ thuật, hoặc mời các chuyên gia điều tra bên Bộ Công an về nói chuyện chuyên đề, phổ biến kinh nghiệm.

    . Giám định viên sẽ được phân thành nhiều bậc từ thấp đến cao, mỗi bậc có chức năng, nhiệm v ụ, quyền lợi riêng để đáp ứng nhu cầu của công việc, giải quyết các vụ tai nạn tuỳ theo mức độ phức tạp. Giám định viên phải điều tra trên số vụ đã bồi thườ ng hoặc số vụ cần ph ải điều tra tối thiểu cho phòng trong một tháng (hoặc 1 tuần). Trên cơ sở đó, phòng sẽ chủ động phối h ợp với các phòng, ban chức năng để tiến hành hoạt động và báo cáo định kỳ với Ban Giám Đốc.

    . Công ty nên th ực hiện chế độ khoán chi cho phòng giống như các phòng kinh doanh. Việc này sẽ c ải thiện được mức thu nhập của nhân viên trong phòng, giúp họ yên tâm tập trung vào công việc.

    Việc phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới yêu cầu mang tính liên tục, nhanh chóng nhưng không đượ c đốt cháy giai đoạn. Trong quá trình công ty tiến hành các biện pháp trên đòi hỏi phải có sự phối hợp thống nhất và đồng bộ giữa Ban Giám Đốc và các phòng trực thuộc, giữa các phòng ban với nhau, giữa các nhân viên khai thác, giám định- bồi thường và thanh tra. Có như vậy, công tác này mới thực sự đem lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như xã hội.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    KẾT LUẬN

    Thực ti ễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới t ại công ty Pjico cho thấy kinh doanh nghiệp vụ này không những đạt kết quả khá cao mà còn nâng cao được trách nhiệm của người tham gia bảo hi ểm hạn chế đượ c tình hình tai nạn giao thông hiện nay, đóng góp chung vào sự bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

    Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồ n tại hành vi trục lợi bảo hiểm. Hành vi này rất nguy hi ểm đối với tất cả các Công ty bảo hiểm, bởi vì nó không chỉ gây thiệt hại về mặt tài chính của các Công ty bảo hiểm mà kéo theo đó là sự tha hoá biến chất của mộ t số cán bộ viên chức, ảnh hưởng đến uy tín cũng như chất lượng hoạt động của các Công ty bảo hiểm.

    Vì vậy các Công ty bảo hiểm nói chung và công ty Pjico nói riêng cần phải có những biên pháp hữu hiệu nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi trục lợi bảo hiểm đồng thời phối hợp với các cơ quan có chức năng tiến hành xử phạt một cách nghiêm minh đối với hành vi này để bảo hiểm hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.

    Chuyên đề: “Trụ c lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico”.

    Là kết quả của quá trình nghiên cứu và tìm hi ểu tình hình trục lợi bảo hiể m xe cơ gi ới tại công ty Pjico. Em hy vọng rằng các giả i pháp này sẽ có ích trong việc hạn chế tình hình trục lợi b ảo hi ểm xe cơ giới tại công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên chuyên đề mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các hiện tượ ng trục lợi trong bảo hiểm xe cơ gi ới. Trên thực tế cho thấy hiện tượng trục lợi bảo hiểm có thể xảy ra ở tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm. V ậy nên để có cái nhìn tổng quát hơn về hiện tượng trục lợi b ảo hiểm xe cơ giới cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện trên tất cả các loại hình bảo hiểm.

    Một l ần nữa em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Vũ Quỳnh Anh cùng các anh chị tại văn phòng VII, đặc biệt là anh Nguyễn Tiến Hải đã tận tình chỉ bảo em trong thời gian thực tập và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Giáo trình Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Chủ biên: PGS.TS. Hồ Sĩ Sà.

    Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2000.

    1. Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

    Chủ biên: TS. Nguyễn Văn Định. Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2003.

    1. Quy tắc bảo hiểm xe ôtô – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn khai thác bảo hiểm xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn công tác giám định bồi thường xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Tài liệu đào tạo đại lý – Công ty Pjico.
    1. Bản tin nôi bộ – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác năm 2001 và phương hướng hoạt động 2002 – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác hoạt động 2002 và phương hướng hoạt động 2003 – Công ty Pjico.
    1. Tạp chí bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    1. Tạp chí giao thông vận tải.
    1. Luật kinh doanh bảo hiểm.
    1. Một số tài liệu của uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia.
    1. Bộ luật dân sự Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Các tài liệu khác có liên quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Lời nói đầu

     

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự  đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định  Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu – chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

     

    Phần I. Lý luận chung về BHXH và Quỹ BHXH

    I. Lý luận chung về BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển                    của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    – Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    – Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).

    – Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.

    – Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.

    – Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:

    + Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu  sinh sống thiết yếu của họ.

    + Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.

    + Xây dựng điều kiện  sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.

    – Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.

    – Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    – Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    – Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.

    1. Tính chất của BHXH.

    – Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.

    – BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung  cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.

    – BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    – BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.

    – Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.

    – Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.

    + Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.

    + Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    + Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.

    + Ngành nghề công tác của người lao động

    + Thời gian công tác và tiền lương của người lao động

    + Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp

    + Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.

    + Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.

    – Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. Quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    – Người lao động đóng góp

    – Người sử dụng đóng góp

    – Nhà nước bù thiếu

    – Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    – Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp   rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.

    – Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.

    – Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    – Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.

    – Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    2. Trợ cấp ốm đau
    3. Trợ cấp thất nghiệp
    4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    5. Trợ cấp tuổi già
    6. Trợ cấp gia đình
    7. Trợ cấp sinh đẻ
    8. Trợ cấp khi tàn phế.
    9. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    + Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.

    + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.

    + Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.

    + Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.

    + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.

    + Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.

    + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.

    + Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

     

    Phần II. Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam thực trạng và giải pháp

    I. Khái quát tình hình BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số    văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    + Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ trang.

    + Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    + Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.

    + Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần  ổn định đời sống  cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống  quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ  yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em  ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    – Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.

    – Chính sách  này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.

    – Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực tế.

    – Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia  BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    – Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    – Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.

    – Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước  và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.

    – Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.

    – Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động  sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực  vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. Thực trạng quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại  trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm 6 chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    – Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.

    – Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.

    – Nhà nước hỗ trợ thêm.

    – Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    – Chi quản lý hành chính sự nghiệp

    – Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định  12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    – BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.

    – Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.

    – Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH  thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ (NS/NT)
    1995 2.275.998   788.486  
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc  chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    – Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)

    – Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.

    – Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác  truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.

    – Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    – Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới  ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.

    – Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
    1995 11,3
    1996 8,3
    1997 11,2
    1998 10,0
    1999 9,0

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    + Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.

    + Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.

    + Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.

    + Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.

    – Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ  đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp 11,82 19,68
    Malayxia 9,5 12,75

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo  của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm  vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    – Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.

    – Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.

    – Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    – Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người  lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    + Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH

    + Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ,  thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các  đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách  được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao  hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    – Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.

    – Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    – Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. Các giải pháp nhằm cân đối quỹ BHXH Việt Nam.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.

    – Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.

    – Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.

    – Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    – Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước  thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là  35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.

    1. Với các khoản thu khác.

    – Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.

    – Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.

    – Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.

    – Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    – Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.

    – Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.

    – Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện  mới.

    – ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    Tài liệu tham khảo

     

    – Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)

    – Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)

    Chủ biên PGS. TS Hồ Sĩ Sà

    – Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn

    – Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000

    – Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993

    – Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995

    – Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-VN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                AIA –                    
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%      
        12%                      
                     
                                   
                                   
                                     
    c«ng ty                          
    kh¸c-                          
                           
                      Prudential-  
    18,2%                         34%      
                                     
                                     

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Lu%E1%BA%ADt-kinh-t%E1%BA%BF-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Luật kinh tế dịch vụ logistics

    ĐỀ TÀI: LOGISTICS- CÓ HAY KHÔNG NHỮNG THÁCH THỨC VÀ RÀO CẢN

    Ông Trần Văn Thanh hiện đang có trong tay một số vốn là 20 tỷ đồng và muốn thành lập một công ty kinh doanh về việc vận chuyển kho bãi…còn gọi là dịch vụ logistics. Tuy nhiên, ông còn có nhiều thắc mắc xung quanh những qui định của pháp luật dành cho loại hình kinh doanh này. Thắc mắc trên đã được ông mang đến văn phòng luật sư Hoàng Minh Duy. Và sau đây, chúng ta cùng theo dõi cuộc trao đổi giữa luật sư Duy và ông Thanh.

     

    Ông Thanh:” Trước tiên, tôi muốn hiểu rõ logistics là gì và những điều kiện cần có để kinh doanh dịch vụ này.”

    Luật sư:

    • Theo điều 233 luật Thương mai: dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển,lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

    Điều kiện cần có để kinh doanh dịch vụ này:

                            1.Đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics  chủ yếu: 

    Thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics chủ yếu phải đáp ứng các điều kiện: phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam; có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng các điều kiện trên, chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2014.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2014.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.
    1. Đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ logistic liên quan đến vận tải.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic liên quan đến vận tải phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam; tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định trên chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2012.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010.

    Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    1. Đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics liên quan khác.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam . Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics chỉ được kinh doanh các dịch vụ logistics khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật: đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ thì chỉ được thực hiện dưới hình thức liên doanh sau ba năm hoặc dưới các hình thức khác sau năm năm, kể từ khi doanh nghiệp tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó. Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải. Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.
    • Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.

    Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    Ông Thanh:” Vậy khi tham gia vào logistics thì thương nhân sẽ có những quyền và nghĩa vụ gì?”

    Luật sư:

    Luật Thương mại quy định: trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

    • Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.
    • Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
    • Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn.
    • Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

    Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.

    Ông Thanh: “Thế tôi có phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những tổn thất trong quá trình tổ chức vận tải hay không?”

    Luật sư:” Không hẳn là thế. Luật thương mại Việt Nam và Nghị định cũng có những qui định giới hạn trách nhiệm cùng một số trường hợp miễn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

    • Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan về giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực vận tải.
    • Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không thuộc phạm vi quy định trên đây do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:

    + Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về gía trị của hàng hoá thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường.

    + Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về giá trị của hàng hoá và được thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xác nhận thì giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của hàng hoá đó.

    • Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

    Theo quy định tại Luật Thương mại 2005 (Điều 294), thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm trong các trường hợp sau:

    • Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
    • Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận.
    • Xảy ra sự kiện bất khả kháng.
    • Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia.
    • Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
    • Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.

    Để được miễn trách nhiệm trong các trường hợp trên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải thực hiện việc thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm như sau:

    • Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.
    • Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
    • Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình.

    Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây:

    • Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
    • Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
    • Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá.
    • Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận.

    • Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.

    • Tuy nhiên, hiện nay dịch vụ logistics vẫn còn những khó khăn và hạn chế trong cả lĩnh vực kinh tế lẫn pháp luật Việt Nam:

    Trong lĩnh vực kinh tế, với doanh số hàng tỷ USD, dịch vụ này rất hấp dẫn các nhà đầu tư và họ đang đầu tư và kinh doanh sôi động tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là các DN trong nước hiện đang thua hoàn toàn trên thị trường này, nguồn lợi lớn từ dịch vụ logistics đang chảy vào túi các đại gia nước ngoài, DN Việt Nam đang làm thuê trên sân nhà.

    Sở dĩ logistics là một dịch vụ quan trọng, thị trường lớn bởi sự phát triển của nó có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.

    Thực tế cho thấy với một nền sản xuất phát triển mạnh mẽ, nhu cầu xuất nhập khẩu tăng cao. Nếu chỉ tính theo tỷ lệ trên đây thì phí dịch vụ logistics trên thị trường Việt Nam có một doanh số khổng lồ và hứa hẹn tốc độ tăng trưởng rất mạnh mẽ. Dịch vụ logistics ở Việt Nam chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Ước tính GDP nước ta năm 2006 khoảng 57,5 tỷ USD. Như vậy, chi phí logistics chiếm khoảng 8,6-11,1 tỷ USD. Đây là một khoản tiền rất lớn. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thì cũng đã là một thị trường dịch vụ khổng lồ.

    Nhưng nhìn về khía cạnh kinh tế, logistics ở Việt Nam đang phải đối đầu với những khó khăn và thách thức sau:

    • Tầm quan trọng và cơ hội phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam đã được khẳng định. Tuy nhiên, điều đáng nói là nguồn lợi lớn từ dịch vụ này hiện không nằm trong tay các DN Việt Nam mà đang chảy về túi các đại gia nước ngoài. Một nguồn lợi lớn trên sân nhà chưa được các DN Việt Nam tận dụng mà họ đang là những người làm thuê cho các tập đoàn nước ngoài.
    • Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì DN trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển. Năm 2006 lượng hàng qua các cảng biển Việt Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến 19,4%. Đây thực sự một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài đang thèm muốn và tập trung khai phá.
    • Thực trạng trên bắt nguồn từ việc dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam mới đang ở giai đoạn phôi thai, phần lớn hệ thống logistics chưa được thực hiện một cách thống nhất. Thị trường dịch vụ logistics Việt Nam có 800 DN nhưng đa phần đều nhỏ bé, hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực. Bên cạnh đó, cũng phải nói đến cơ sở hạ tầng về vận tải còn nghèo nàn quy mô nhỏ bố trí bất hợp lí, kho hàng còn yếu kém.
    • Điều đáng nói, trong khi DN trong nước còn non yếu, chưa có sự liên minh, liên kết thì lại xuất hiện kiểu kinh doanh chụp giựt, manh mún, cạnh tranh theo kiểu hạ giá thành để làm đại lý cho nước ngoài một cách không lành mạnh. Trong khi đó, các hãng cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài đã đổ xô vào thị trường chúng ta, hầu hết các tên tuổi lớn đã có mặt và ăn nên làm ra rên thị trường Việt Nam, gây sức ép lớn cho chính các DN trong nước.

    Những khó khăn và hạn chế trong luật pháp Việt Nam:

    1. Về vấn đề giấy phép kinhdoanh (ĐKKD) logistics:

    – Tổng quan: Rắc rối, rườm rà, nhiều khâu=> làm khó doanh nghiệp

    – Chi tiết: Logistics là 1 ngành nghề kinh doanh có điều kiện nghĩa là ngoài GPKD, doanh nghiệp cần có thêm một số chứng chỉ hành nghề. Tuy nhiên các cơ quan chính phủ đã không hiểu hết được thực trạng,nguồn lợi to lớn mà logistics mang lại nên đã đặt ra những điều kiện mà doanh nghiệp khó lòng đáp ứng và đôi khi lại không cần thiết.

    • Chủ doanh nghiệp sau khi đăng kí kinh doanh tại sở kế hoạch đầu tư phải xin được giấy phép kinh doanh đa phương thức của Bộ GTVT cấp, giấy phép đại lý làm thủ tục hải quan do cục Hải quan cấp, GPKD kho hải quan, điểm thông quan ngoài khu vực cửa khẩu và cảng cạn….
    • Một số chứng từ trong hồ sơ xin phép DN phải xuất trình được “bản kê khai tài sản doanh nghiệp do cơ quan tài chính quản lý doanh nghiệp xác nhận”….. trong khi đó thực tế ở Việt Nam ;đặc biệt khu vực tư nhân không có cơ quan này
    • Để đủ điều kiện làm đại lý hải quan DN phải có một nhân viên làm trong lĩnh vực hải quan (được cấp chứng chỉ nghiệp vụ hải quan sau khi tham gia 1 khóa học do cơ quan hải quan tổ chức)

    => DN phải mất rất nhiều thời gian để ĐKKD (thực tế các DN này vẫn hoạt động không giấy phép)

    1. Về vấn đề làm ăn với đối tác nước ngoài :trong khi làm ăn với nước ngoài DN thường không nẳm rõ các điều ước quốc tế,tập tục hải quan.Các văn bản luật lại quá sơ sài thiếu chi tiết làm doanh nghiệp không có môt cơ sở pháp lý.Thực tế trong các vụ làm ăn DN chịu rất nhiều rủi ro khi không nắm luật quốc tế.Rõ ràng là luật định về vấn đề này của Việt Nam vô tình đem nguồn lợi dâng cho đối tác nước ngoài.
    2. Rất nhiều qui định thiếu hợp lý dẫn đến những tình huống “dở khóc dở cười”:
    • Quy định về tải trọng :sự chồng chéo và thiếu nhất quán của các quy định về pháp luật.
    • Nhiều DN phải hủy hợp đồng hoặc không dám nhận hợp đồng vận chuyển hàng về các tỉnh ĐB Sông Cửu Long vì những qui định của nhà nước về tải trọng vận chuyển hàng hóa qua cầu đường
    • Đường cắm biển báo tải trọng đường,cầu cắm biển báo tải trọng cầu làm cho các xe đang vận chuyển không đáp ứng được “những biển báo”!!! Và họ buộc lòng phải vi phạm pháp luật mà không thể hạ tải hay tháo dỡ hàng.
    1. Về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp:
    • Vì không nằm trong các danh mục hàng hóa do nhà nước qui định nên giá dịch vụ cảng biển Việt Nam hoàn toàn do các doanh nghiệp tự quyết định. Điều này một mặt tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh nhưng một mặt cũng đem lại những bất cập:doanh nghiệp lao vào cuộc chiến giảm giá cước vô tội vạ làm giảm đi phần giá trị gia tăng mà logistics mang lại. Như vậy từ mục đích tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thì đã bị biến thành sự cạnh tranh thiếu lành mạnh.
    • Tình trạng trên còn dẫn đến những nguy cơ bị các tập đoàn đa quốc gia lợi dụng để chiếm lĩnh thị phần, ngư ông đắc lợi.
    1. Luật Hàng hải Việt Nam còn đứng ngoài quá nhiều công ước quốc tế:
    • Những công ước quốc tế thường quy định những tiêu chuẩn về môi trường như chất lượng sơn tàu,
    • Lực lượng an ninh cảng biển của nước ngoài thường rất “chú ý” đến tàu Việt Nam, những qui định lỏng lẻo của pháp luật Việt Nam đã giảm đi năng lực cạnh tranh quốc tế.Tệ hơn khi tàu bị giữ lại thì rất nhiều khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chịu.Từ đó làm cho doanh nghiệp rất ngại làm ăn ở nước ngoài.Doanh nghiệp chỉ dám làm ăn trong nội địa,vốn dĩ đã thiếu lành mạnh,hoạt động thiếu hiệu quả.
    1. Những quy định về thuế rất bất hợp lý: giá mua và giá bán được coi là bí mật kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.Thế nhưng Bộ Tài chính lại yêu cầu các doanh nghiệp giao nhận vận tải quốc tế phải  khai báo những thông tin này ngay trong hợp đồng và… hóa đơn tài chính. Đó là nội dung Công văn 15448/BTC – TCT ngày 2/11/2009 về việc thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) 10% trên chênh lệch giữa giá bán và giá mua cước vận tải quốc tế (VTQT). Điều này trái với thông lệ quốc tế, hơn nữa Luật thuế GTGT quy định thuế suất 0% đối với vận tải quốc tế. Rõ ràng luật đã chồng chéo lên nhau làm cho doanh nghiệp tiến thoái lưỡng nan.
    2. Về hành lang pháp lý: thực ra Logistics mới chỉ được công nhận là một hành vi thương mại trong Luật Thương mại sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1-1-2006. Tháng 9-2007 vừa qua, Chính phủ mới ban hành Nghị định 140 “Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics”,như vậy trong lĩnh vực mang lại lợi nhuận rất lớn này qui định còn rất sơ sài. Doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn lớn trong việc sử dụng luật để bảo vệ quyền lợi cho mình.

    Ông Thanh:”Xin cảm ơn luật sư đã làm sáng tỏ những khúc mắc của tôi. Nếu có những thắc mắc khác tôi sẽ liên lạc với luật sư.

    Luật sư:” Hy vọng những tư vấn của tôi sẽ có thể giúp ích cho ông trong hoạt động kinh doanh. Chúc ông thành công”.

     

     

    NHẬN XÉT

     

    Qua mẩu đối thoại tư vấn luật ở trên, chúng ta thấy rằng: logistic là một ngành đầy tiềm năng phát triển nhưng vẫn chưa nhận được sự hỗ trợ đầy đủ của một hành lang pháp lý cụ thể, sâu sát. Chúng ta đang tự đánh mất dần lợi thế to lớn của mình, vô tình dâng nguồn lợi to lớn cho các công ty quốc tế, tập đoàn xuyên quốc gia. Chính vì thế, chúng ta cần phải học hỏi những kinh nghiệm thực tế từ các tập đoàn logistic lớn ở các nước trên thế giới. Có thể nói, hiện nay khu vực Bắc Mỹ và châu Âu có ngành dịch vụ logistic phát triển trên thế giới. Ở châu Á thì Singapore cũng là một nước có nền công nghiệp- dịch vụ logistic phát triển vượt bậc. Điểm nổi bật trong kinh nghiệm phát triển logistics của Singapore là chính sách cảng mở và đầu tư xây dựng các trung tâm phân phối vùng. Nhà nước cho phép xây dựng các trung tâm cung cấp dịch vụ và phân phối hàng hóa,các trung tâm này cung cấp cho khách hàng của mình những thông tin liên quan cần thiết. Ngoài ra, hoạt động hiệu quả của hiệp hội logistics  Singapore đóng vai trò quan trọng trong quản lý, điều hòa hoạt động của các thành viên, đồng thời hiệp hội cũng thống nhất quy định các chi phí liên quan đến giao nhận, chuyển tải. Nhờ thế nên Singapore đã trở thành trung tâm logistics lớn nhất Đông Nam Á với hơn 12 triệu TEOs container thông qua cảng biển quốc tế và hơn 1,2 triệu tấn hàng vận tải qua sân bay Changi mỗi năm.

    Mặc dù còn nhiều hạn chế về mặt kinh tế lẫn hành lang pháp lý, hiện nay ngành công nghiệp- dịch vụ logistics ở Việt Nam đang có những bước chuyển đổi mới .Đánh dấu cho  bước chuyền đổi đó là vào ngày 14/05/2007, 4 doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực phân phối của Việt Nam là Satra, Hapro, Saigon Co.op và Phú Thái Group đã liên kết lại và chính thức ra mắt Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam với tổng số vốn đầu tư lên đến 6000 tỷ đồng. Đây được xem là mở đầu cho một kỷ nguyên mới của ngành phân phối ở nước ta với hy vọng Việt Nam sẽ trở thành: ”Wall Mart của Việt Nam”.

    Hết

    Tài liệu tham khảo:

    1.Văn bản pháp luật dành cho học phần Luật kinh tế-NXB Phương Đông.

    2.Nghị định của Chính phủ ban hành về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics.

    3.Những kinh nghiệm phát triển Logistics trên thế giới- trang vietmarine.org.

    4.Thực trạng Logistics- trang vietbao.net

    5.Trang vietship.vn


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-theo-ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-ISO-9001-2008-v%C3%A0-ISO-14001-2004-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-X%C3%ADch-l%C3%ADp-%C4%90%C3%B4ng-Anh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    LỜI NÓI ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra sức ép cạnh tranh to lớn đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam phải luôn chủ động tìm kếm các giải pháp nhằm nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Một trong số các giải pháp đó là việc áp dụng các công cụ quản lý mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nổi bật là việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.

    Qua nhiều năm áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO tại Việt Nam, bên cạnh những thay đổi theo chiều hướng tích cực thì còn tồn tại nhiều bất cập. Đa số các doanh nghiệp nhận thấy được tầm quan trọng của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và triển khai có hiệu quả. Tuy nhiên, trước tâm lý ưa chuộng bằng cấp của người Việt Nam, không ít doanh nghiệp chỉ cố gắng đạt được chứng chỉ ISO nhưng không thực sự triển khai và dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh không đạt yêu cầu.

    Ngành cơ khí chế tạo nước ta thời gian qua có bước phát triển nhanh chóng. Nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp cơ khí trong nước lại gặp rất nhiều khó khăn trước yêu cầu phải liên tục đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp phải tự vượt qua khó khăn bằng chính năng lực của mình và công ty cổ phần Xích líp Đông Anh là một ví dụ điển hình. Với hướng đi đúng đắn trong công tác quản lý chất lượng, công ty không ngừng phát triển trong những năm qua và nhận được nhiều bằng khen của Đảng và Nhà nước.

    Sau quá trình học tập môn Quản trị chất lượng và tìm hiểu thực tế công tác quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, nhóm xin chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh”.

    1. Mục đích và phương pháp nghiên cứu

    Bài viết có mục đích làm rõ thực trạng triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh, đồng thời hoàn thiện công tác quản lý chất lượng tại doanh nghiệp.

    Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, quan sát thực tiễn và phân tích số liệu để đánh giá hiệu quả quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh, từ đó đề xuất một số giải giáp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

    1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

    – Đối tượng nghiên cứu: hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    – Phạm vi nghiên cứu: hoạt động quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1. Kết cấu bài viết

    Bài viết gồm 3 phần chính:

    – Phần 1: Cơ sở lý luận

    – Phần 2: Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    – Phần 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng tại công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    •  

    NỘI DUNG

    CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1.     Chất lượng

    1.1.                      Khái niệm

    Trong điều kiện hiện nay, thị trường hàng hóa ngày càng mở rộng và mang tính toàn cầu, tính cạnh tranh tăng cao. Chính vì thế, các doanh nghiệp trên toàn thế giới, trong mọi lĩnh vực ngành nghề đều quan tâm đến chất lượng và có những nhìn nhận đúng đắn về chất lượng. Xung quanh vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có một số quan điểm chính:

    – Chất lượng là thuộc tính và bản chất của sự vật, đặc tính khách quan của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì (từ điển bách khoa Việt Nam tập 1)

    – Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu sử dụng và mục đích sử dụng (Joseph Juran)

    – Chất lượng là toàn bộ đặc tính của sản phẩm làm thỏa mãn yêu cầu đã đề ra (cơ quan kiểm tra chất lượng Mỹ)

    – Chất lượng là sự thỏa mãn tối đa yêu cầu của người tiêu dùng (Ishikawa Kaoru)

    – Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính làm thỏa mãn nhu cầu (ISO 9000-2000)

    – …

    1.2. Đặc điểm

    – Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính của sản phẩm đó

    + Đặc tính kĩ thuật: các đặc tính đặc trưng bởi chỉ tiêu kĩ thuật như độ tin cậy, độ chính xác, độ an toàn, tuổi thọ,…

    + Đặc tính kinh tế: cơ sở của các đặc tính kinh tế là các đặc tính kĩ thuật và tổ chức. Kĩ  thuật tốt tạo cho sản phẩm có độ chính xác cao, độ tin cậy cao, vận hành tốt nên chi phí sản xuất tăng lên và chi phí sử dụng thấp.

    – Một sản phẩm có chất lượng phải là sản phẩm làm thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó mà không đáp ứng được nhu cầu thì bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.

    – Chất lượng sản phẩm mang tính tương đối: Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.

    – Chất lượng vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng: Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng. Do đó chất lượng cũng mang đặc điểm tương tự.

    2.  Quản lý chất lượng

    2.1.  Khái niệm

    Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như: Lập kế hoạch chất lượng, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng (ISO 8402:1994)

    Như vậy thực chất quản lý chất lượng là chất lượng của hoạt động quản lý chứ không đơn thuần chỉ làm chất lượng của hoạt động kỹ thuật.

    2.2. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi,nhiệm vụ, chức năng

    Đối tượng quản lý chất lượng là các quá trình, các hoạt động, sản phẩm và dịch vụ.

    Mục tiêu của quản lý chất lượng chính là nâng cao mức thảo mãn trên cơ sở chi phí tối ưu.

    Phạm vi quản lý chất lượng: Mọi khâu từ nghiên cứu thiết kế triển khai sản phẩm đến tổ chức cung ứng nguyên vật liệu đền sản xuất, phân phối và tiêu dùng.

    Nhiệm vụ của quản lý chất lượng: Xác định mức chất lượng cần đạt được. Tạo ra sản phẩm dịch vụ theo đúng tiêu chuẩn đề ra. Cải tiến để nâng cao mức phù hợp với nhu cầu.

    Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng: Lập kế hoạch chất lượng, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát chất lượng, điều chỉnh và cải tiến chất lượng.

    2.3. Các nguyên tắc

    • Định hướng bởi khách hàng
    • Cam kết của lãnh đạo
    • Sự tham gia của mọi người
    • Quan điểm quá trình
    • Tính hệ thống
    • Cải tiên liên tục
    • Quyết định dựa trên sự kiện
    • Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng

    3.Hệ thống quản lý chất lượng

    3.1. Khái niệm

    Hệ thống quản lý chất lượng là tổ chức, công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu và các chức năng quản lý chất lượng. Đối với doanh nghiệp, hệ thống quản lý chất lượng là tổ hợp những cơ cấu tổ chức, trách nhiệm, thủ tục, phương pháp và nguồn lực để thực hiện hiệu quả quá trình quản lý chất lượng. Hệ thống quản lý chất lượng của một tổ chức có nhiều bộ phận hợp thành, các bộ phận này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau.

    3.2. Vai trò

    Hệ thống quản lý chất lượng là bộ phận hợp thành của hệ thống quản lý tổ chức doanh nghiệp. Hệ thống quản lý chất lượng không chỉ là kết quả của hệ thống khác mà còn là yêu cầu đối với hệ thống khác. Hệ thống quản lý chất lượng đóng vai trò quan trọng trên các lĩnh vực sau:

    – Tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng

    – Đảm bảo cho tiêu chuẩn mà tổ chức đặt ra được duy trì.

    – Tạo điều kiện cho các bộ phận, phòng ban hoạt động có hiệu quả, giảm thiểu sự phức tạp trong quản lý.

    – Tập trung vào việc nâng cao chất lượng, giảm chi phí,…

    4. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

    4.1.Khái quát về ISO

    ISO là một từ gốc Hi Lạp, có nghĩa là công bằng, là tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá (International Organization for Standardization)

    Tổ chức ISO chịu trách nhiệm ban hành các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) khuyến nghị áp dụng nhằm thuận lợi hóa thương mại tòan cầu và bảo vệ an toàn, sức khỏe và môi trường cho cộng đồng. Hiện nay, ISO với gần 3000 tổ chức kỹ thuật với hệ thống các Ban Kỹ thuật (TC-Technical committee); Tiểu ban kỹ thuật (STC); Nhóm công tác (WG) và Nhóm đặc trách có nhiệm vụ soạn thảo các tiêu chuẩn quốc tế. Tiêu chuẩn quốc tế ISO được ban hành sau khi được thông qua theo nguyên tắc đa số đồng thuận của các thành viên chính thức của ISO.

    Hiện nay ISO đã soạn thảo và ban hành gần 16.000 tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ, hệ thống quản lý, thuật ngữ, phương pháp…

    Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO – International Organization for Standardization) được thành lập từ năm 1947, có trụ sở đặt tại Geneva – Thụy Sĩ. ISO là một hội đoàn toàn cầu của hơn 180 các các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia (mỗi thành viên của ISO là đại diện cho mỗi quốc gia của mình). Việt Nam là thành viên chính thức năm 1977.

    4.2. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    • Khái niệm

    Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 trong đó tiêu chuẩn ISO 9001:2008 được coi là tiêu chuẩn cơ bản nhất, cốt yếu nhất xác định các yêu cầu cơ bản của Hệ thống quản lý chất lượng của một Tổ chức để đảm bảo rằng sản phẩm của một Tổ chức luôn có khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và phù hợp với các chế định, đồng thời tiêu chuẩn ISO 9001:2008 cũng là cơ đồng thời tiêu chuẩn ISO 9001:2008 cũng là cơ sở để đánh giá khả năng của một Tổ chức trong hoạt động nhằm duy trì và không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động.

    Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 là một phương pháp quản lý chất lượng mới, khi được áp dụng vào một tổ chức sẽ giúp lãnh đạo của tổ chức đó kiểm soát được hoạt động trong nội bộ tổ chức đó và thúc đẩy hoạt động đạt hiệu quả ở mức cao nhất.

    Tại Việt Nam, tiêu chuẩn này được chuyển đổi sang tiếng Việt và được ban hành dưới dạng một tiêu chuẩn Việt Nam với tên gọi TCVN ISO 9001:2008.

    • Các yêu cầu

    – Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ

    – Trách nhiệm của lãnh đạo:

    – Quản lý nguồn lực:

    – Tạo sản phẩm:

    – Đo lường phân tích và cải tiến

    • Lợi ích

    – Về quản lý nội bộ:

    + Giúp lãnh đạo quản lý hoạt động của doanh nghiệp khoa học và hiệu quả.

    + Củng cố uy tín của lãnh đạo.

    + Cải thiện hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng suất, giảm phế phẩm và chi phí không cần thiết nhờ sử dụng hợp lý các nguồn lực

    + Kiểm soát chặt chẽ các công đoạn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    + Cải tiến các quá trình chủ yếu, nâng cao chất lượng sản phẩm.

    + Tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo và nhân viên.

    + Giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ, triệt tiêu những xung đột về thông tin do mọi việc được qui định rõ ràng. Mọi việc đều được kiểm soát, không bỏ sót, trách nhiệm rõ ràng.

    + Thúc đẩy nề nếp làm việc tốt, nâng cao tinh thần thái độ của nhân viên.

    – Về đối ngoại:

    + Tạo lòng tin cho khách hàng, chiếm lĩnh thị trường.

    + Đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng của khách hàng.

    + Phù hợp quản lý chất lượng toàn diện.

    + Thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

    + Nâng cao lợi thế thương mại bằng uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Củng cố và phát triển thị phần, giành ưu thế trong cạnh tranh.

    + Phá bỏ được rào cản, tạo được một sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong các thị trường yêu cầu bắt buộc việc chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001: 2008.

    + Thuận lợi trong việc thâm nhập thị trường quốc tế và khu vực.

    + Khẳng định uy tín về chất lượng sản phẩm của Doanh nghiệp.

    + Đáp ứng đòi hỏi của Ngành và Nhà nước về quản lý chất lượng.

    4.3.  Hệ thống quản lý chất lượng ISO 14001:2004

    • Khái niệm

    ISO 14001:2004 là một tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO ban hành lần thứ 2 vào năm 2004. Tên gọi đầy đủ của tiêu chuẩn ISO 14001:2004 là Hệ thống quản lý môi trường – các yêu cầu và hướng dẫn sử dụng.

    Mục đích của tiêu chuẩn ISO 14001:2004 và các tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là giúp các Doanh nghiệp/tổ chức thiết lập, duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý môi trường của mình nhằm bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm do các hoạt động của chính doanh nghiệp/tổ chức gây ra.

    • Các yêu cầu

    – Chính sách môi trường

    – Xác định các khía cạnh môi trườn

    – Xác định các yêu cầu pháp luậ

    – Mục tiêu, chỉ tiêu và chương trình môi trường

    – Xác định trách nhiệm, quyền hạn

    – Đào tạo

    – Thông tin nội bộ

    – Kiểm soát tài liệu

    – Kiểm soát hồ sơ

    – Kiểm soát hoạt động

    – Sẵn sàng ứng phó các tình huống khẩn cấp

    – Giám sát và đo lường

    – Hành động khắc phục và phòng ngừa

    – Đánh giá nội bộ

    – Xem xét của lãnh đạo

    • Lợi ích

    Về quản lý:

    + Giúp tổ chức/doanh nghiệp xác định và quản lý các vấn đề môi trường một cách toàn diện;

    + Chủ động kiểm soát để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về môi trường;

    + Phòng ngừa rủi ro, tổn thất từ các sự cố về môi trường.

    – Về tạo dựng thương hiệu:

    + Nâng cao hình ảnh của tổ chức/doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và cộng đồng

    + Giành được ưu thế trong cạnh tranh khi ngày càng có nhiều công ty, tập đoàn yêu cầu hoặc ưu tiên lựa chọn các nhà cung cấp áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000.

    – Về tài chính:Tiết kiệm chi phí sản xuất do quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả

    CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THEO TIÊU CHUẨN ISO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH

    1.     Tổng quan về công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.1.         Giới thiệu chung

    Tên công ty Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh
    Trụ sở chính

     

    Địa chỉ

    Điện thoại

    Fax

    Email

    Số 11, tổ 47, thôn Dục Nội, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

     

    043.8832200 hoặc 043.8832204

    84.4.8835395

    [email protected]

    Năm thành lập 1974
    Người đại diện theo pháp luật TGĐ. Phan Tấn BÌnh
    Cơ cấu vốn

     

    Vốn pháp định

    Vốn điều lệ

    50.000.000.000 VNĐ

     

    60.000.000.000 VNĐ

    Bảng 1: Thông tin chung về công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.2.         Lịch sử hình thành và phát triển

    Năm 1975-1985: công ty sản xuất phụ tùng xe đạp phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong nước.

    Năm 1986:  nhà nước xoá bỏ chế độ bao cấp, công ty đã lâm vào hoàn cảnh khó khăn khi phải tự cấp để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được.

    Năm 1996: Ban Giám đốc mới của công ty được bổ nhiệm, công ty   bước sang  một giai đoạn mới , mở rộng ngành nghề kinh doanh, sản phẩm công ty sản xuất ra không chỉ cạnh tranh với sản phẩm trong nước mà còn cả với sản phẩm nhập ngoại của các nước tiên tiến. Trước thực tế đó Ban lãnh đạo cùng cán bộ công nhân viên công ty đã không ngừng tìm tòi học hỏi và sáng tạo để tìm ra hướng đầu tư đúng đắn và hiệu quả, công ty tiến hành đổi mới cơ cấu sản xuất và bộ máy quản lý để phù hợp với quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường. Công ty sắp xếp lại cán bộ công nhân viên có trình độ tay nghề non kém, trình độ nghiệp vụ thấp sang công việc phù hợp, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ công nhân viên có khả năng học hỏi và nâng cao trình độ. Bên cạnh những mặt hàng truyền thống như xích líp đùi, đĩa phụ tùng xe đạp, công ty còn sản xuất các chi tiết trong và ngoài động cơ xe máy, xích công nghiệp và viên bi cầu bằng thép các loại. Đặc biệt các sản phẩm mạ Niken – Crôm, mạ kẽm và công nghệ đúc nhôm chất lượng cao.

    Ngày 23/12/2003: theo quết định số 2040/QĐ-UB và 7862/QĐ-UB của ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Xích líp Đông Anh đã tiếp nhận 2 công ty: Công ty Bi Hà Nộ và công ty Phụ tùng xe đạp Đông Anh sát nhập vào công ty. Với nhiệm vụ ngày càng nặng nề vì phải giải quyết số nợ còn tồn lại của công ty và công ăn việc làm cho hơn 400 lao động mới về, ban lãnh đạo công ty đã và đang tìm cách mở rộng thị trường sản xuất nhiều sản phẩm mới để tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Cũng theo lộ trình cổ phần hoá các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước đến năm 2010, ngày 01/07/2009 Công ty đã chính thức chuyển đổi sang thành công ty cổ phần và hoạt động  dưới tên gọi “ Công ty cổ phần xích líp Đông Anh”. Hiện tại công ty có tất cả 1553 cán bộ công nhân viên, trong đó 1300 công nhân sản xuất trực tiếp và 253 công nhân sản xuất gián tiếp. Những khách hàng chính của công ty: Honda Việt Nam, YAMAHA, Machino auto parts, VAP, VMEP, GOSHI Thang Long, Piaggio Việt Nam…

    1.3. Sản phẩm

    – Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại: xích líp, đùi đĩa xe đạp, xích xe máy, xích công nghiệp, phụ tùng xe máy, ô tô, khóa bi và sản phẩm cơ kim khí khác, mạ niken-crom, kẽm các loại sản phẩm khác

    – Giới thiệu sản phẩm của công ty và các sản phẩm liên doanh

    – Liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để mở rộng kinh doanh, nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, phụ tùng phục vụ cho công tác sản xuất

    – Kinh doanh thương mại tổng hợp, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, cho thuê bến bãi, văn phòng, cửa hàng, nhà ở, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản

    Một số sản phẩm chính:

       
       
       
       

    Hình 1.1: Một số sản phẩm chính của công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.3.         Tình hình sản xuất kinh doanh

    Hình 1.2: Biểu đồ doanh thu giai đoạn 2005-2012

    1.4.         Sơ đồ tổ chức

    Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần Xích líp Đông Anh

    1.5.         Hệ thống quản lý chất lượng tại doanh nghiệp

    Từ năm 2002 Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh đã đưa hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO9001-2000 áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Công ty đã quyết định thành lập phòng QC – ISO quản lý mọi vấn đề về chất lượng sản phẩm như : Kiểm tra chất lượng đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường tiêu thụ.

    Sơ đồ tổ chức phòng QC:

    Hình 1.4: Sơ đồ tổ chức phòng quản lý chất lượng(QC)

    2.     Đánh giá thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    2.1.         Các thủ tục hoạt động của công ty

    Theo yêu cầu của tiêu chuẩn khi xây dựng ISO 9001:2008, công ty đã ban hành và áp dụng các tài liệu sau đây:

    – Chính sách chất lượng

    – Mục tiêu chất lượng của công ty và mục tiêu chất lượng của từng cấp phòng ban chức năng. ( Xem phụ lục 1 –Mục tiêu chất lượng công ty)

    – Sổ tay chất lượng ( Xem phụ lục 2 – Sổ tay chất lượng và môi trường)

    – Thủ tục xử lý khiếu nại ( Xem phụ lục 3–Thủ tục xử lí khiếu nại)

    – Thủ tục hành động khắc phục – phòng ngừa ( Xem phụ lục 4 – Thủ tục hành động và khắc phục phòng ngừa)

    – Thủ tục kiểm soát sản phẩm sai hỏng ( Xem phụ lục 5 – Thủ tục kiểm soát sản phẩm sai hỏng)

    Ngoài những thủ tục bắt buộc như trên theo yêu cầu của tiêu chuẩn, công ty cũng đã xây dựng và đang áp dụng thêm các thủ tục, hướng dẫn công việc và  lập các hồ sơ cần thiết nhằm đảm bảo hệ thống quản lý có hiệu lực và hiệu quả, như : thủ tục lưu kho bảo quản, thủ tục triển khai sản xuất, thủ tục bán hàng, thủ tục tuyển dụng, các hướng dẫn công việc,…

    2.2.         Chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng năm 2012

    • Chính sách chất lượng

    Công ty cổ phần Xích líp Đông Anh xây dựng chính sách chất lượng và môi trường theo các tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 và phù hợp với các hoạt động của công ty.

    – Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất đến khách hàng và đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan.

    – Thường xuyên xem xét nguồn lực để đầu tư công nghệ và đào tạo nhân viên về chất lượng sản phẩm, bảo vệ, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và tái sử dụng nguồn tài nguyên.

    – Nắm bắt chính xác, hạn chế tối đa ảnh hưởng và tác động đến môi trường trong các hoạt động của công ty. Nỗ lực hoàn thành mục tiêu chất lượng, chỉ tiêu môi trường đã đề. Đồng thời điều chỉnh phù hợp với các yêu cầu thực tế

    – Duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo chuẩn quốc tế ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004.

    2.2.2. Mục tiêu chất lượng

    Vào cuối mỗi năm, đại diện lãnh đạo đệ trình lên Tổng giám đốc mục tiêu chất lượng của công ty năm tới để làm cơ sở thiết lập mục tiêu chất lượng tại các cấp và từng bộ phận chức năng. Mục tiêu chất lượng công ty năm 2012 đã được thiết lập (Phụ lục 1- Mục tiêu chất lượng công ty năm 2012).

    2.3.         Hệ thống tài liệu

    Sổ tay chất lượng là tài liệu mô tả toàn bộ hệ thống quản lý chất lượng của công ty, công bố các cam kết của giám đốc về việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, là tài liệu giới thiệu các quá trình công việc và quan hệ giữa chúng trong toàn bộ hệ thống. Đối với từng quá trình, sổ tay chất lượng giới thiệu các chính sách được công ty sử dụng, viện dẫn đến các tài liệu liên quan như là một chuẩn mực trong việc kiểm soát hoạt động của các quá trình. Đối tượng sử dụng sổ tay chất lượng là các nhà quản trị cấp cao trong công ty (ban giám đốc) và các nhà quản trị cấp trung gian (Trưởng, phó các đơn vị trực thuộc) và các cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Các quy trình dạng văn bản mô tả các cách thức, biện pháp, trình tự thực hiện, kiểm soát các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến các yêu cầu của ISO 9001:2008. Đối tượng sử dụng tài liệu là cán bộ, nhân viên – những người trực tiếp thi hành công việc mà tài liệu quy định.

    Các tài liệu hỗ trợ, bao gồm :

    • Các quy định và các hướng dẫn tác nghiệp của Công ty.
    • Các tài liệu bên ngoài, TCVN, tiêu chuẩn ISO, tiêu chuẩn nước ngoài, các quy định pháp lý của nhà nước liên quan đến hoạt động của Công ty.
    • Các hồ sơ theo yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và các hồ sơ hoạt động khác

    Các tài liệu của hệ thống quản lý chất lượng được những người có thẩm quyền xem xét và phê duyệt trước khi ban hành, được cập nhật vào danh mục tài liệu và được phô tô, phân phối đến nơi sử dụng thông qua sổ phân phối tài liệu.

    Tất cả các hồ sơ theo yêu cầu của ISO đều được ghi nhận và lưu trữ. Hồ sơ được Trưởng các bộ phận liên quan xác định thông qua các danh mục hồ sơ, nêu rõ phương pháp lập thư mục, thời gian lưu giữ, nơi lưu giữ của từng loại hồ sơ. Người chịu trách nhiệm lưu giữ hồ sơ được hướng dẫn cách thức quản lý sao cho có thể truy cập dễ dàng, nhanh chóng, tránh mất mát, hư hỏng.

    2.4.         Quản lý nguồn lực

    Công ty luôn xem xét, xác định và cung cấp các nguồn lực cần thiết cho các hoạt động. Những người thực hiện các công việc ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm đều có năng lực trên cơ sở được giáo dục, đào tạo, có kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp.

    Công ty đã soạn thảo và ban hành các bảng mô tả công việc, các tài liệu liên quan đến trách nhiệm của nhân viên đối với Công ty; triển khai các khóa huấn luyện, đào tạo định hướng; truyền đạt qua các phương tiện thông tin như mạng nội bộ, bản tin; hướng dẫn công nhân viên thực hiện nghiêm túc các sứ mệnh và chính sách của Công ty.

    STT Đơn vị Đại học Cao đẳng Trung cấp Công nhân KT Tổng số
    1 Ban giám đốc 03       03
    2 Phòng kỹ thuật sản xuất 20 15     35
    3 Phòng đảm bảo chất lượng 05 40 15   60
    4 Phòng thiết bị đầu tư 03 04     07
    5 Phòng kinh doanh 10 10 15   35
    6 Phòng kế toán thống kê 05 03 03   11
    7 Phòng TCHC 10 05 13   28
    8 Phân xưởng xích 03 05 04 118 130
    9 Phân xưởng líp 02 05 06 106 119
    10 Phân xưởng nhiệt luyện 02 05 05 64 76
    11 Phân xưởng phụ tùng 1 03 05 08 102 118
    12 Phân xưởng phụ tùng 2 03 05 10 91 109
    13 PX Bi 05 03 09 60 77
    14 PX Cơ điện 03 07 07 73 90
    15 PX rèn đập 05 03 04 48 60
    16 XN phụ tùng 05 03 05 19 32
    17 PX cơ khí 05 03 06 105 119
    18 PX mạ 05 03 03 80 91
    19 Tổng cộng 97 124 113 866 1200
    20 Tỉ lệ (%) 8,08 10,33 9,42 72,17 100

    Bảng 2 : Cơ cấu lao động của DN tính đến 31/12/2009 (Đ/v : người)

    Qua bảng số liệu trên có thể thấy số lượng nhân viên có bằng Đại học và Cao đẳng chiếm 19,41% số lượng lao động trong công ty, họ là những người được đào tạo chuyên sâu về sản xuất và điều hành do đó sẽ đảm bảo tốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Phòng đảm bảo chất lượng có 60 nhân viên trong đó 45 người có trình độ Cao đẳng trở lên. Có thể thấy doanh nghiệp luôn chú trọng việc quản lý chất lượng sản phẩm thông qua tuyển dụng những nhân viên có năng lực vào phòng QC.(Phụ lục 6 – kế hoạch đào tạo nhân viên năm 2012)

    2.5.         Quy trình triển khai sản xuất

    Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng cũng như đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra đúng tiến độ, phù hợp với năng lực của các đơn vị được giao, công ty đã lập ra quy trình triển khai sản xuất.

    Hình 2.1 : Quy trình triển khai sản xuất

    Công ty kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch sản xuất thông qua phòng Kỹ thuật sản xuất. Phòng Kỹ thuật sản xuất có nhiệm vụ đôn đốc các đơn vị tăng cường sản xuất, tháo gỡ vướng mắc cho các đơn vị như : điều động nhân lực cho sản xuất, yêu cầu các đơn vị khác hỗ trợ…Bên cạnh đó, luôn theo dõi và đánh giá mức độ hoàn thành công việc về chất lượng và tiến độ thực hiện sản xuất, lập báo cáo thống kê vào cuối tuần, như vậy luôn đảm bảo được việc kiểm soát sản xuất trong công ty. Vào ngày 03 của tháng sau, phòng Kỹ thuật sản xuất có trách nhiệm tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch tháng trước của các đơn vị trước cuộc họp giao ban, điều chỉnh và ban hành kế hoạch sản xuất tháng lần 2 để các đơn vị thực hiện. Cuối mỗi quý, năm, thủ kho các đơn vị thực hiện kiểm kê số lượng theo mẫu báo cáo, thống kê các đơn vị căn cứ vào đó để lập bảng quyết toán vật tư nộp cho phòng Kỹ thuật sản xuất.

    2.6.         Khắc phục, phòng ngừa và cải tiến

    Tất cả những sự không phù hợp từ thông tin khách hàng hay được tìm thấy trong quy trình sản xuất đều được yêu cầu thực hiện hành động khắc phục phòng ngừa nhằm loại bỏ nguyên nhân của sự không phù hợp hay nguyên nhân của sự không phù hợp tiềm ẩn để đảm bảo điều đó không xảy ra lặp lại hoặc ngăn ngừa sự xuất hiện của chúng. Doanh nghiệp đề ra đầy đủ và cụ thể các quy trình khắc phục, phòng ngừa cũng như cải tiến sản phẩm trong quá trình sản xuất.

    Công ty luôn tìm cơ hội nâng cao tính hiệu lực của hệ thống quản lí chất lượng thông qua việc sử dụng chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, kết quả đánh giá, việc phân tích dữ liệu, hành động khắc phục và phòng ngừa đều được xem xét kỹ lưỡng bởi lãnh đạo công ty.

    2.7.         Khiếu nại của khách hàng

    Trong quá trình sản xuất không thể tránh khỏi việc sản phẩm của công ty mắc lỗi cũng như không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Do đó, công ty đã lập ra thủ tục khiếu nại của khách hàng. Mục đích là ghi lại phản hồi và nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất cho khách hàng. Công ty đã lập ra QT15 về Quy trình Xử lý khiếu nại của khách hàng, cùng với đó là đơn khiếu nại (mẫu), đơn phản hổi của công ty (mẫu) và bảng theo dõi khiếu nại của khách hàng. Với việc lập ra một quy trình rõ ràng như vậy sẽ giúp việc giải quyết các vấn đề của khách hàng được nhanh và chính xác, tạo lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp.

    Hình 2.2 : Quy trình giải quyết khiếu nại

    2.8. Lợi ích khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001 :2008 tại doanh nghiệp

    – Giúp cho công ty nâng cao được hình ảnh và uy tín đối với khách hàng, đối tác và tất cả các bên liên quan, điều này góp phần rất lớn vào việc xây dựng cho công ty một thương hiệu mạnh.

    Hình 2.3 : Biểu đồ số lượng khách hàng từ 2005-2010

    – Thúc đẩy hiệu quả làm việc của từng phòng ban, bộ phận trong công ty. Khi áp dụng ISO 9001:2008 mọi phòng ban thiết lập mục tiêu theo định hướng của Ban Giám đốc công ty, mục tiêu năm sau phải cao hơn mục tiêu năm trước, điều này buộc mỗi phòng ban, bộ phận phải luôn nổ lực làm việc hiệu quả mỗi ngày để có thể đạt được mục tiêu.

    – Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi nhân viên nhờ sự hiểu rõ sự đóng góp của mình đối với mục tiêu chất lượng. Mỗi người nhân viên đều biết được tầm quan trọng của công việc mình đang đảm nhận và cảm thấy có trách nhiệm hơn trong công việc. Trách nhiệm và quyền hạn cho mỗi nhân viên được xác định rõ ràng và công bố rộng rãi trong toàn công ty, vì vậy đã giảm đi rất nhiều tình trạng đùng đẩy công việc và trách nhiệm lẫn nhau.

    – Tất cả các vấn đề phát sinh đều phải được ghi nhận lại, sau đó công ty phải phân tích và tìm kiếm nguyên nhân để đề ra biện pháp khắc phục để vấn đề không lặp lại một lần nữa với cùng nguyên nhân cũ.

    – Năng lực của nhân viên trong công ty ngày càng nâng cao hơn. Mỗi người nhân viên đều được xác định những kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ tối thiểu cần phải có để đảm nhận công việc, những nhân viên chưa đạt yêu cầu sẽ được công ty lên kế hoạch đào tạo, huấn luyện để những nhân viên này có đủ năng lực thực hiện tốt công việc.

    – Giảm thiểu tối đa các sai sót trong công việc vì những công việc phức tạp thì có hướng dẫn công việc, … tất cả các nhân viên tham gia công việc đều phải đọc và làm theo những quy trình/hướng dẫn công việc đó. Nhờ vậy các công việc có tính chuẩn hóa cao.

    – Nhân viên mới dễ dàng tiếp nhận công việc. Công ty dễ dàng đào tạo nhân viên mới hơn và cũng mất ít thời gian để đào tạo hơn nhờ tất cả các công việc đều có quy trình, hướng dẫn công việc.

    – Chất lượng sản phẩm ổn định, tỉ lệ phế phẩm ngày càng giảm. Tất cả các công việc đều được kiểm soát và quản lý chặt chẽ, năng lực của nhân viên đồng đều và ngày càng nâng cao.

    2.9. Hạn chế khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2008 tại doanh nghiệp

    – Chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng chưa được truyền đạt và thấu hiểu bởi tất cả các cấp.

    – Qui trình xây dựng và thực hiện mục tiêu không tốt. Chủ yếu dựa vào cảm tính.

    – Nhiều tài liệu, biểu mẫu được ban hành rất lâu, nay không còn sử dụng hoặc đã lỗi thời nhưng không được huỷ bỏ hay cập nhật.

    – Chưa áp dụng mạnh các kỹ thuật thống kê để phân tích dữ liệu.

    – Một số nhân viên, đặc biệt là nhân viên mới, chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008

    3. Thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 14001:2004

    3.1.    Các thủ tục hoạt động của công ty

    Theo yêu cầu của tiêu chuẩn khi xây dựng ISO 14001:2008, công ty đã ban hành và áp dụng các tài liệu sau đây:

    – Chính sách Môi trường

    – Sổ tay Môi trường ( Phụ lục 2 – Sổ tay chất lượng và môi trường)

    – Mục tiêu môi trường năm 2012 ( Phụ lục 7 – MTMT công ty năm 2012)

    – Đánh giá mục tiêu môi trường 2012 ( Phụ lục 8 – ĐG MTMT 2012)

    Ngoài những tài liệu bắt buộc như trên theo yêu cầu của tiêu chuẩn, công ty cũng đã xây dựng và đang áp dụng thêm các tài liệu, hướng dẫn công việc và  lập các hồ sơ cần thiết nhằm đảm bảo hệ thống quản lý môi trường có hiệu lực và hiệu quả, như : quy trình kiểm tra chỉ tiêu môi trường, quy trình vệ sinh môi trường, quy trình sản xuất nước sinh hoạt và sản xuất,…

    3.2. Sơ đồ quản lý môi trường của công ty

    Hình 3.1 : Sơ đồ quản lý môi trường Hình 3.2 : Sơ đồ vận hành quản lý môi trường trong hệ thống

    Công ty đã lập kế hoạch, mô hình quản lý môi trường dựa trên phương pháp luận là Plan – Do – Check – Act. Trước tiên là thiết lập các mục tiêu và các quá trình cần thiết đề đạt được kết quả phù hợp với chính sách môi trường của công ty, tiếp theo là thực hiện các quá trình đó theo kế hoạch đã đề ra, tiến hành kiểm tra giám sát và đo lường các quá trình dựa trên chính sách môi trường, mục tiêu, chỉ tiêu và các báo cáo kết quả. Cuổi cùng là thực hiện các hành động cải tiến thường xuyên hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý môi trường.

    3.3. Biện pháp thực hiện của công ty trong quá trình đảm bảo mục tiêu môi trường

    • Trong quá trình sử dụng điện sản xuất

    Hiện nay, việc lãng phí điện năng trong các công ty sản xuất luôn là một vấn đề đau đầu đối với các nhà quản lý. Bản thân công ty Xích líp Đông Anh là một doanh nghiệp sản xuất sử dụng điện năng trong hầu hết các quá trình sản xuất do đó việc giám sát việc sử dụng điện sản xuất luôn được quan tâm chú trọng. Công ty luôn đề ra mục tiêu giảm lượng điện tiêu thụ của năm sau thấp hơn so với năm trước, và để thực hiện mục tiêu này thì công ty đã đề ra các biện pháp cơ bản sau :

    – Thay mới các đường dây cũ nát trong tất cả các phân xưởng

    – Thường xuyên bảo dưỡng các thiết bị điện trong sản xuất

    – Tắt máy ngay khi không có nhu cầu sản xuất hoặc lúc nghỉ ngơi khi chờ sản xuất

    – Phổ biến các quy định này tới tất cả các công nhân trong phân xưởng bằng cách dán thông báo quy định lên bảng hoặc trao đổi trực tiếp

    – Sử dụng hợp lý các bóng đèn chiếu sáng trong phân xưởng

    – Tuân thủ thời gian làm việc và nghỉ ngơi đã được quy định.

    – Hạn chế sử dụng các thiết bị không cần thiết vào giờ cao điểm (19h-22h)

    – Thay thế hệ thống bóng đèn tiết kiệm năng lượng nếu có

    • Quá trình xử lý rác thải công nghiệp từ các phân xưởng

    Mục tiêu của công ty là phân loại quản lý rác thải từ đầu nguồn tại các phân xưởng và giảm lượng dầu công nghiệp thải, rác thải và nước thải ra ô nhiễm đất. Công ty có các biện pháp cơ bản sau :

    – Cấp phát thùng đựng rác thải nguy hại và thùng đựng rác thải thông thường cho các phân xưởng sản xuất

    – Tuân thủ đúng quy trình công nghệ sản xuất

    – Đào tạo ý thức cho người lao động trong khi tham gia vào dây chuyền sản xuất

    – Thu gom lượng dầu thải ra từ công nghệ sản xuất và tập trung tái sử dụng hoặc tái chế

    – Định kì vệ sinh tất cả các phân xưởng để tránh dầu thấm lâu ô nhiễm đất

    – Thu gom lượng dầu thải thải ra từ công nghệ sản xuất về bể chứa dầu thải của công ty

    • Kiểm soát chỉ tiêu ô nhiễm nước thải

    – Đào tạo cho người vận hành phương pháp vận hành và quản lý Hệ thống nước thải.

    – Phân tích định kì và đánh giá mức độ ô nhiễm để kiểm soát ô nhiễm nước

    – Duy trì hệ thống thường xuyên

    • Kết quả công ty đạt được khi áp dụng các biện pháp
    STT Mục tiêu Kết quả TL thực hiện Nguyên nhân
    1 – Giảm 5% tiêu hao điện năng/1đồng doanh thu. +0,0000139 (KW/đồng doanh thu) 0,000020KW/đồng doanh thu (tăng 37%) Không đạt –  Kế hoạch sản xuất tăng.

     

    – Nhiều sản xuất chế thử đi vào sản xuất hàng loạt

    2 – Phân loại quản lý rác thải

     

    – Giảm lượng dầu công nghiệp thải và nước thải ô nhiễm

    Vẫn duy trì thực hiện tốt Đạt  
    3 Đưa hàm lượng các chỉ tiêu ô nhiễm như : pH ; SS ; Fe ; Mn ; Cu ; COD ; BOD5 trong nước thải về hợp tiêu chuẩn QCVN24 :2009/BTNMT 10/10 chỉ tiêu ô nhiễm trong nước đề đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Đạt  

    Bảng 3 : Đánh giá hiệu quả thực hiện mục tiêu môi trường năm 2012

    • Lợi ích khi áp dụng ISO 14001 :2004 tại công ty

    – Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất tại công ty

    – Tiết kiệm chi phí đầu vào bao gồm nước, năng lượng, nguyên vật liệu, hóa chất…đặc biệt là những nguyên vật liệu khan hiếm như điện năng, than, dầu.

    – Tăng cường uy tín của doanh nghiệp với khách hàng, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường

    – Giúp doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiêu chuẩn iso 9001 :2008 mà không áp dụng iso 14001

    – Nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp khi không phải mất chi phí giải quyết các vấn đề gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật

    • Hạn chế khi áp dụng ISO 14001 :2004 tại công ty

    Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 :2004 tại công ty vẫn còn một số hạn chế đó là : chưa đạt được mục tiêu cắt giảm điện năng trong quá trình sản xuất, việc đào tạo cán bộ công nhân viên về áp dụng tiêu chuẩn iso 14001 :2004 chưa được tiến hành, các nhân viên mới chưa có kỹ năng và kinh nghiệp trong việc áp dụng các tiêu chuẩn của ISO. Song đến thời điểm hiện tại doanh nghiệp vẫn đáp ứng được các tiêu chuẩn về ô nhiễm môi trường ở Việt Nam.

    CHƯƠNG III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH

    1.     Cải tiến quy trình xây dựng và thực hiện mục tiêu

    Quản lí chất lượng là công việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong mỗi tổ chức, công ty. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất để tạo uy tín và thương hiệu lâu dài, mãi mãi. Nhằm đảm bảo các cam kết trong chính sách chất lượng của công ty được thực thi đồng thời tăng tính hiệu lực vầ hiệu quả của các mục tiêu chất lượng, quá trình xây dựng và triển khai thực hiện các mục tiêu được thực hiện theo quy trình.

    Hình 3.1 Quy trình xây dựng và triển khai mục tiêu

    Từ quy trình trên có thể nhận thấy mục tiêu chất lượng công ty được xác định hàng năm dựa vào nhiệm vụ từng giai đoạn và kết quả hoạt động thự tế. Và dựa trên mục tiêu này các bộ phận sẽ xây dựng mục tiêu cho bộ phận mình và đưa ra kế hoạch thực hiện hàng tháng/ quý của mỗi bộ phận.

    Quá trình triển khai mục tiêu thực hiện phải tuân thủ theo chu trình Deming (Hình 3.2)

    Hình 3.2: Chu trình Deming

    2.     Hoàn thiện hệ thống tài liệu

    Cần thường xuyên xem xét lại quy trình làm việc, thủ tục, biểu mẫu nhằm:

    + Loại bỏ những biểu mẫu, thủ tục lỗi thời, rườm rà, phức tạp, không mang lại giá trị cho doanh nghiệp.

    + Thường xuyên, liên tục cập nhật các quy trình đang làm việc để kịp thời phát hiện những bước thừa, không hiệu quả. Đồng thời áp dụng các quy trình sản xuất tinh gọn, đơn giản nhằm phối hợp hiệu quả giữa các phòng ban để cải tiến, đổi mới công việc cho phù hợp với thời kì.

    + Tổ chức huấn luyện đào tạo để đảm bảo mọi người trong công ty tuân thủ các quy trình, thủ tục này.

    + Duy trì việc cập nhật hệ thống tài liệu trên website nội bộ của công ty để phân phối cho tất cả phân xưởng vào đầu mỗi quý. Đồng thời thông báo những thay đổi trong hệ thống tài liệu trong các buổi họp giao ban đầu quý

    + Lập kế hoạch hỗ trợ và giảm sát tình hình áp dụng tài liệu ở từng đơn vị đặc biệt là khối công xưởng.

    3.     Hoàn thiện nguồn nhân lực, công tác huấn luyện đào tạo

    Trong bất cứ một tổ chức, con người luôn luôn đóng vai trò quan trọng tạo nên sự thành công hay thất bại. Chính vì vậy công ty cần đạo tạo ra ban lãnh đạo xuất sắc, đội ngũ công nhân lành nghề, tận tâm trong công việc. Hiểu được tầm quan trọng này, nhóm chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến để hoàn thiện nguồn nhân lực tại công ty Xích líp Đông Anh như sau:

    + Tuyên truyền sâu rộng và mạnh mẽ về văn hoá công ty để truyền lửa và tinh thần cho ban lãnh đạo, đội ngũ công nhân.

    + Thường xuyên nâng cao nhận thức trong toàn công ty về việc thiết lập và áp dụng hệ thống quản lí chất lượng này.

    + Tổ chức các hoạt động đánh giá hiệu quả công việc, làm cơ sở cho các hoạt động đào tạo, tuyển dụng, khen thưởng, kỉ luật.

    + Thường xuyên có các buổi trao đổi, thảo luận về chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, tăng cường thông tin, tuyên truyền bằng các bảng biểu, băng rôn để mọi người trong công ty đều nắm rõ và thực hiện đúng mục tiêu, chính sách đề ra.

    + Thực hiện đào tạo ngay từ đầu sẽ giúp nhân viên mới có ngay nhận thức về vấn đề quản lí chất lượng, giúp hạn chế rủi ro xảy ra và từ đó nâng cao được năng suất chất lượng công việc.

    + Đối với công nhân: cần được đào tạo cơ bản về nguyên lý lắp đặt, vận hành máy móc, an toàn lao động, các sự cố thường gặp, cách phòng ngừa để từ đó giảm thiểu rủi ro trong công việc.

    + Quản lí trực tiếp việc tổ chức huấn luyện, hướng dẫn tại nơi làm việc: mô tả công việc cho nhân viên mới, hướng dẫn cách sử dụng phần mềm, công cụ hỗ trợ cho công việc, phân công người hướng dẫn trực tiếp công việc hàng ngày giúp nâng cao năng suất lao động.

    + Phòng hệ thống quản lí chất lượng cần có cách thức đào tạo mỗi khi có quy định mới, đồng thời luôn giải đáp thắc mắc cho công nhân vì mục tiêu chung.

    + Sau mỗi lần đào tạo cần đánh giá lại để sửa đổi và đào tạo lại.

    4.      Xây dựng các chỉ tiêu theo dõi và đo lường

    Một trong những yếu tố nhằm đảm bảo hệ thống quản lí chất lượng đạt hiệu quả cao chính là việc đưa ra những chỉ tiêu cần có và một hệ thống đánh giá mức độ đạt được các chỉ tiêu đó.

    Kế hoạch theo dõi và đo lường các quá trình có thể được lập thành bảng như sau:

    Quá trình Mục tiêu Chỉ tiêu/ yêu cầu Tần suất đánh giá Trách nhiệm
    Thực hiện Kiểm tra
               

    Bảng 4: Bảng theo dõi quá trình thực hiện mục tiêu

    5.     Hoàn thiện các kĩ thuật thống kê

    Để đưa ra được những quyết định đúng đắn và có hiệu lực cần phải dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin. Đối với các quyết định liên quan đến chất lượng ta cần phải xác định đúng, rõ ràng nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, xem xét những yếu tố nào có thể kiểm soát được, phân tích các quyết định có liên quan đến nhũng yếu tố đầu vào. Sau đây là quy trình phân tích dữ liệu mà nhóm đề xuất (hình 3.3):

    + Thu thập số liệu

    + Xư lí số liệu

    + Nhận xét kết quả: Xác định những biến động làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện của quá trình

    +Đưa ra thông tin điều khiển, xử lí, phân tích.

    Hình 3.3: Quy trình phân tích dữ liệu

    • Các kĩ thuật thống kê thường sử dụng ( Bảng 4 và 5)
    Công cụ và kĩ thuật Ứng dụng
    Tấn công não Xác định các giải pháp có thể cho các vấn đề và các cơ hội tiềm tàng cho việc cải tiến chất lượng
    Biểu đồ xương cá Phân tích và thông báo các mối quan hệ nhân quả
    Biểu đồ tiến trình Mô tả quá trình hiện có
    Biểu đồ cây Biểu thị mối quan hệ giữa chủ đề và các yếu tố hợp thành

    Bảng 4: Các công cụ và kĩ thuật phân tích các dữ liệu không bằng số

    Công cụ và kĩ thuật Ứng dụng
    Biểu đồ kiểm soát Phân tích: đánh giá sự ổn định của quá trình thực hiện

     

    Kiểm soát: xác định khi nào một quá trình cần điều chỉnh và khi nào cần giữ nguyên hiện trạng

    Biểu đồ Pareto Trình bày theo thứ tự quan trọng sự đóng góp của từng cá thể cho hiệu quả chung

     

    Xếp hạng các cơ hội cải tiến

    Biểu đồ tán xạ Phát hiện và xác nhận mối quan hệ giữa hai tập số liệu có liên hệ với nhau

     

    Xác định mối quan hệ dự tính giữa hai bộ số liệu có quan hệ với nhau

    Bảng 5:Các công cụ và kĩ thuật cho các dữ liệu bằng số

    Việc áp dụng các kĩ thuật thống kê nhằm giải quyết các vấn  đề chất lượng. Do vậy, chỉ nên lựa chọn những kỹ thuật đơn giản mà mọi người đều có thể sử dụng. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào nội dung cần thống kê, đặc điểm của hoạt động thống kê để lựa chọn những công cụ phân tích đánh giá phù hợp

    6.     Thành lập nhóm chất lượng

    Để tìm ra được nguyên nhân và đưa ra các biện pháp giảm tỉ lệ khuyết tật của sản phẩm, nâng cao chất lượng sản xuất Công ty tổ chức nhóm chất lượng từ 4-7 nhân viên cùng làm việc với nhau để giải quyết những vấn đề chung có liên quan đến công việc. Nhóm chất lượng này cần phải được đào tạo về cách sử dụng các kĩ thuật và công cụ quản lí chất lượng như: biểu đồ Pareto, biểu đồ xương cá, chu trình PDCA, lưu đồ, phương pháp tấn công não… Việc đào tạo ban đầu có thể do người trong công ty am hiểu về lĩnh vực này hoặc mời chuyên gia hướng dẫn.

    Cần đưa ra các mục tiêu hoạt động rõ ràng, cụ thể, liên tục cập nhật những kiến thức về quản trị chất lượng, giao việc đúng người đúng thời điểm, đúng nhiệm vụ và hướng dẫn các nhóm nhằm đảm bảo việc thực thi đúng đắn của nhóm chất lượng. Tuy nhiên, cần tránh những lí do dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của các nhóm chất lượng như:

    – Thành viên nhóm chất lượng nhiệt tình nhưng không hiều rõ, đầy đủ về nhiệm vụ và thiếu kĩ thuật, kĩ năng thực hiện công việc

    – Ban lãnh đạo thiếu quan tâm, thiếu cởi mở

    – Nhóm quá lớn hoặc quá nhỏ

    – Giao công việc không phù hợp, không đúng lúc.

    Sau đây là mô hình tổ chức hoạt động của nhóm chất lượng ( hình 4.4)

    Đưa ra các vấn đề
    Phân tích các vấn đề, dự án
    Ban lãnh đạo xem xét, chấp thuận, theo dõi
    Báo cáo với lãnh đạo
    Triển khai các cách giải quyết

    Hình 4.4 Mô hình hoạt động tổ chức của nhóm chất lượng

    7.     Ứng dụng các hệ thống quản lí/ công cụ cải tiến khác

    Ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin vào công tác quản lí như: ERP ( Enterprise Resource Planning).

    Phát triển chương trình Kaizen, Sản xuất tinh gọn, 6 sigma.

     

    KẾT LUẬN

    Trong một môi trường kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn và phức tạp như hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững đòi hỏi công ty phải chuẩn hóa toàn bộ quá trình sản xuất từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra đến tay khách hàng. Việc xây dựng hệ thống ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004 trong công ty cổ phần Xích líp Đông Anh chính là những bước đi cần thiết giúp công ty phát triền và duy trì một hệ thống quản lý chất lượng toàn diên tốt nhất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

    Với việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể thể hiện ở việc công ty đã có một quy trình chuẩn hóa chất lượng ở mọi công đoạn và quy trình sản xuất để cho ra những sản phẩm chất lượng. Doanh số và lợi nhuận của công ty liên tục tăng, quy mô không ngừng được mở rộng kể từ khi thành lập cho đến nay. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và lợi ích mà hệ thống tiêu chuẩn ISO mang lại thì vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục, thông qua phân tích giải pháp và thực trạng chúng ta có thể thấy việc áp dụng tiêu chuẩn này vẫn còn nhiều vấn đề như là quy trình thủ tục chưa chuyên nghiệp, hồ sơ và giấy tờ liên quan còn rườm rà nặng nề, đôi lúc quy trình còn chồng chéo lên nhau,… Do đó để việc áp dụng tiêu chuẩn này cho kết quả một cách hoàn hảo hơn công ty nên thường xuyên nâng cao hiệu lực của hệ thống.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    PHỤ LỤC


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nghĩ về bản sắc văn hóa Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-h%C3%A0nh-vi-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-m%E1%BB%91i-quan-h%E1%BB%87-gi%E1%BB%AFa-phong-c%C3%A1ch-l%C3%A3nh-%C4%91%E1%BA%A1o-v%C3%A0-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-nhi%E1%BB%87m-v%E1%BB%A5-trong-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    1. PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO TRONG TỔCHỨC

    “Sếp mình thật khó khăn

    ông ta làm cho công ty mình ai nấy đ ều sống trong áp lực trong khi kết quả công việc lại không cao” Đức than vãn. Như đụng phải nỗi lòng của mình Việt nói như phủ đầu Đức “Công ty ông làm sao bằng công ty tôi, giám đốc thì độc đoán bảo thủ, chẳng ai muốn nêu một kiến mới nào

     

    nữa”, trong khi đó Tùng cười mỉm rất tâm đắc’ còn tôi thì thật may mắn, sếp rất tinh ý và hiểu lòng nhân viên nên chúng tôi làm việc rất hăng hái”. Đây là mẩu chuy ện tôi nghe được từ 3 người bạn, nghe như một cuộc nói xấu cấp trên vậy nhưng sâu xa hơn tôi nhận thấy họ đan g nhận xét và phản ứng về phong cách lãn h đạo của cấp trên mình- một người đứng đầu tổ chức.

     

    Phong cách lãnh đạo là gì và thực sự nó có ảnh hưởng đến các hoạt động trong tổ chức? Nó ảnh hưởng như thế nào? Như câu chuyện kể trên thì ba người bạn này vừa đề cập đến sếp mình với tính cách và cách điều hành của họ thì đi ngay sau là hệ quả cho tổ chức đó. Phong cách lãnh đạo chính là hành vi của một cá nhân mà nó có t ác động đến các thành viên trong một tổ chức. Sự tác động này là kết quả tương tác trong hệ thống quản lý của tổ chức. Phong cách lãnh đạo của một ngưởi đứng đầu thường mang tính hướng vào một mục tiêu rõ r àng, tập trung vào kết quả chu ng của tổ chức, tuy nhiên trên con đường hướng các thành viên trong tổ chức đến cùng một mục tiêu thì mỗi nhà lãnh đạo đều có cách riêng, sự ảnh hưởng riêng cũng như t ác động riêng dựa trên phong cách lãnh đạo của họ. Chính phong cách của mỗi người tạo nên những tác động, ảnh hưởng khác nhau đến các thành viên khác trong tổ chức, tác động đến tâm lý, đến phương cách thực hiện nhiệm vụ của một tổ chức và cuối cùng là tác động trực t iếp đến kết quả của công việc trong tổ chức đó.

     

    Các phong cách lãnh đạo rất đa dạng và mang màu sắc kết hợp giữa các phương pháp của các nhà đứng đầu tổ chức. Ở đây chú ng ta sẽ tìm hiểu 3 phong cách lãnh đạo

     

    cơ bản để thấy sự tác động của mỗi phương ph áp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức.

     

    II.MỐI QUAN HỆ C ỦA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO ĐẾN KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ TRONG TỔ CHỨC

     

    1. Phong cách lãnh đạo độc tài

    1.1 Khái niệm

     

    Phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng được hiểu là sự áp đặt công việc với sự kiểm soát và giám sát chặt chẽ. Nhà lãnh đạo độc tài thường lấy mình làm thước đo giá trị. Họ không quan tâm đến ý kiến của người khác, dù là đồng đội hay nhân viên, mà chỉ hoàn toàn

     

    dựa vào kiến thức kinh nghiệm của mình. Hình thức này thường phù hợp với lối quản lý cổ điển hoặc khi tổ chức đang trong tình trạng canh tân nội bộ để loại trừ những phần tử làm lũng đoạn sinh hoạt chung. Nhất là khi tinh thần kỉ luật và trật tự tổ chức

    lỏng lẻo cần sửa đổi.

     

    1.2. Đặc điểm của phong cách lãnh đạo độc tài

     

    Kiểu lãnh đạo độc tài được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào tay một người lãnh đạo.Lãnh đạo bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể.

     

    M ột người quản lý có phong cách làm việc độc đoán sẽ điều hành với tư tưởng nhân viên phải làm những gì họ nói, hoàn thành công việc theo định hướng được các ông chủ vạch ra và đã được xác định bởi mong muốn của việc sản xuất. Các nhà quản lý độc tài thường gọi cho các nhà quản lý cấp dưới và đưa cho họ chỉ thị cũng như lời khuyên với tư tưởng nhân viên sẽ tuân theo. Họ cảm thấy nhân viên cần sự chỉ đạo nghiêm ngặt hơn, các biện pháp kiên quyết và quyết định mạnh mẽ hơn. Điều này tạo nên các kỹ năng quản lý. Phong cách quản lý này cho phép nhân viên biết những gì họ cần phải làm, họ sẽ làm như thế nào và lúc nào các nhiệm vụ phải hoàn thành.

     

    Các nhà lãnh đạo chuyên quyền cao độ, ít có lòng tin vào cấp dưới.Nhà lãnh đạo thúc đẩy nhân viên bằng đe dọa.

     

    Quá trình quản lý thông tin từ trên xuống và giới hạn ở việc ra quy ết định ở cấp cao nhất, không cho phép nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định.

     

    Nhân viên thường ít thích người lãnh đạo.Hiệu quả công việc cao chỉ khi có mặt người lãnh đạo, thấp khí không có người lãnh đạo.

    Không khí trong tổ chức thường nặng nề, gây hấn, tạo áp lực, chủ yếu phụ thuộc vào định hướng cá nhân của người quản lý.

     

    1.3. Mối quan hệ của phong cách lãnh đạo độc tài và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức.

     

    Tạo tính ổn định, trật tự cao trong tổ chức nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ. Chính phong cách độc tài, quyền lực nằm trong tay một người này thì làm cho các mệnh lệnh đến các n hân viên, các thành viên trong tổ chức sẽ mang một áp lực thực hiện cao.

    Nhà lãnh đạo sẽ trở thành

     

    1 huấn luyện viên tốt với đầy đủ năng lực và trình độ cho các nhân viên mới giúp họ thực hiện nhiệm vụ một nhanh chóng.

    Nâng cao tính hiệu lực trong quản lý chính là p hon g cách lãnh đạo này mang lại. Chính điều này làm cho nhiệm vụ trong tổ chức được thực hiện tốt hơn nhờ t ính quản lý tốt.

     

    Trong những tính huống bất ngờ,bất chắc trong khi thực hiện nhiệm vụ đòi hỏi phải đưa ra quy ết định xử lý ngay, hoặc những bất đồng trong trong tập thể hay những tình gây hoang mang, thì việc sử dụng phong cách lãnh đạo này sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Chính vì thế mà nhiệm vụ được thực hiện nhanh chóng và đồng nhất ý kiến

     

    Tuy nhiên không phải lúc nào p hon g cách lãnh đạo này cũng mang lại những kết quả tốt cho tập thể. Đôi khi hiệu quả công việc không cao, chính là do phong cách lãnh đạo này mang tính độc đoán làm cho các thành viên khác thực hiện công việc như

     

    4

     

    một trách nhiệm phải làm thiếu đi sự nhiệt tình hăng say, và hiệu quả không được cao. Phong cách lãnh đạo này gây tâm lý lo sợ trong nhân viên. Họ sợ chứ không phục ngư ời lãnh đạo cho nên làm việc k hông hết tâm dẫn đến những hạn chế năng lực

     

    làm việc. Kết quả công việc không cao là điều khó tránh khỏi.

     

    Tuy nhiên trong nhiều tình huống hay tổ chức thì chính phong các lãnh đạo n ày là nhân tố kìm hãm, thậm chí dập tắt tính năng động và sáng tạo của nhân viên. Từ đó mà kết quả nhiệm vụ của tố chức cũng không có sự đa dạng sự s áng tạo nên kết quả khó đạt được mỹ mãn.

     

    M ôi trường làm việc căng thẳng ngột ngạt do chính phong cách lãnh đ ạo này mang lại dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả công việc.

    Phong cách lãnh đạo này không tập trung được nhiều ý kiến, sáng kiến tốt .Các quyết định quản lý mang tính chủ quan duy ý chí nên tính khả thi công việc không cao.

     

    Người lãnh đạo dễ nảy sinh tâm lý chuyên quyền, hách dịch, ảnh hưởng không tốt đến tổ chức đạc biệt là hoạt động của tổ chức.

     

    1.4. Ví dụ về phong cách lãnh đạo độc đoán

     

    M ột  trường

     

    hợp sử dụng thành công phong cách lãnh đạo này còn phải kể đến ông chủ tập đoàn APPLE là Steve Jobs với câu nói nổi tiếng: “Dân chủ không tạo nên

     

    những sản phẩm tuyệt vời. Để làm được điều đó, anh cần 1 nhà độc tài thông thái.”

     

    Bên cạnh những tên tuổi thành công với phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng, cũng không ít người thất bại khi sử dụng phong cách này. Chắc hẳn chúng ta vẫn còn nhớ đến sự cố của tập đoàn VINASHIN ở Việt Nam. nhiều năm liền Vinashin báo cáo không trung thực về sử dụng vốn, về đầu tư và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2009 tập đoàn lỗ 1.600 tỷ đồng, nhưng lại báo cáo lãi 750 tỷ đồng,

     

    5

     

    quý 1 năm 2010 thua lỗ, vẫn báo cáo lãi gần 100 tỷ đồng. Đến tháng 6/2010, tổng số nợ của tập đoàn đã là 86 nghìn tỷ đồng. Đề cập khía cạnh này, Chính phủ cho rằng, mô hình tập đoàn đang triển khai thí điểm, nhưng ở Vinashin trong thời gian dài, tập trung các chức danh Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc vào một người. Những năm gần đây, người nắm nhiều quyền lực này đã “trở nên độc đoán, gia trưởng”. Trong khi đó, Đảng ủy, Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, các phó tổng giám đốc y ếu kém, không thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được giao về lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát, ngược lại còn đồng tình với những việc làm sai trái của người đứng đầu tập đoàn.Đó là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Vinashin.

     

    2.                 Phong cách lãnh đạo dân chủ

     

    2.1 Khái niệm

     

    Là phong cách mà theo đó nhà quản trị chủ yếu sử dụng uy tín cá nhân để đưa ra những tác động đến những người

     

    dưới quyền.

     

    2.2.Đặc điểm

     

    Ít sử dụng quyền lực trước mọi người, không đòi hỏi cấp dưới phục tùng tuyệt đối

     

    M ọi người được tham gia, trao đổi, bàn bạc. Thường thu thập ý kiến của những người dưới quyền,

     

    thu hút, lôi cuốn cả tập thể vào việc ra quyết định, thực hiện quyết định.

     

    Thông qua biểu quyết, thường sử dụng hình thức động viên khuyến khích. Thông tin di chuyển theo 2 chiều: thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới và

     

    ngược lại

     

    2.3. Mối quan hệ của phong cách lãnh đạo dân chủ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

     

    Quyết định của nhà quản trị thường được cấp dưới chấp n hận, ủng hộ và làm theo. Phương pháp lãnh đạo này kh ích lệ để đưa ra ý kiến, khích lệ tranh luận phát huy được năng lực tập thể, trí tuệ, tính sáng tạo của tập thể chính vì thế mà hiệu quả của công việc khá cao, nhiệm vụ của tổ chức được thực hiện tốt.

     

    Phương pháp dân chủ tạo cho cấp dưới sự chủ động cần thiết và thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp. dẫn đến năng suất cao kể cả khi không có mặt của lãnh đạo.

     

    6

     

    Nhân viên thích lãnh đạo hơn, không khí thân thiện, định hướng nhóm, định hướng nhiệm vụ tốt hơn. Chính phong cách làm việc này t ạo cho các thành viên trong tổ chức có được sự thoải mái cần thiết tạo tiền đề cho sự phát huy sáng tạo giúp cho kết quả thực hiện công việc có hiệu quả hơn.

     

    Tuy nhiên, chính phương pháp lãnh đạo này cũng mang lại những y ếu điểm làm cho tiến trình nhiệm vụ không đ ược nhanh do sự thoải mái ít áp lực cho nhiệm vụ nên đôi khi quyết định chậm, bỏ lỡ thời cơ.

     

    Nếu thiếu sự quyết đoán, nhà quản trị có thể trở thành người theo đuôi cấp dưới, ba phải.Nếu không có tài năng thực sự sẽ không dám chịu trách nhiệm cá nhân.Xảy ra tình trạng “dân chủ giả h iệu”. Khi đó thì công việc nhiệm vụ có thể đi theo nhiều hướng mà không đến được cái đích cuồi cùng của nó do sự thiếu quyết đoán của lãnh đạo.

     

    Khi sử dụng phương pháp lãnh đạo này dễ gây tranh chấp tro ng quátrình thảo luận ý kiến của thiểu số thường được không được bảo vệ.

     

    2.4. Ví dụ về phong cách lãnh đạo dân chủ

     

    Phong cách quản lý Nhật Bản được thừa nhận là độc đáo ở chỗ: Người lãnh đạo luôn ý thức rằng, họ phải thiết lập các quan hệ không chính thức với những người dưới quyền bằng thái độ ứng xử chân tình, gần gũi, chan hoà, sự thiện cảm và đồng cảm ở người dưới quyền. Đối với các nhà quản lý Nhật Bản, quan hệ gần gũi, thân mật với người dưới quyền không phải là mục đích tự thân mà là một nhiệm vụ để qua

    đó tạo được bầu không khí cởi mở, chân tình, tin cậy lẫn nhau trong tập thể. Hơn thế nữa, nó là động lực khuyến khích mọi người đóng góp trí tuệ, tài năng, sức lực vào công việc chung.

     

    Phong cách quản lý Nhật Bản còn độc đáo ở cách thức khen thưởng và kỷ luật. 7

     

    Khen thưởng không chỉ dành cho những ai có sáng kiến, đạt năng suất lao động cao, mà cả những người làm việc chăm chỉ, cần mẫn, dù năng lực của họ như thế nào. Khen thưởng phải có tác dụng khích lệ những người dưới quyền dám làm những gì họ cho là đúng và hợp lý, không ngồi chờ thụ động chỉ thị cấp trên. Nếu có điều gì không tốt xảy ra thì ban quản trị cũng không mất công truy tìm, điều tra người phạm lỗi (điều này khác hẳn so với phương pháp quản lý theo phương Tây).

     

    3. Phong cách lãnh đạo tự do

    3.1.Khái Niệm

    Nhà lãnh đạo theo phong cách tự do chỉ là người cung cấp t hông tin, rất ít tham gia vào các hoạt động tập thể. Sự có mặt của người lãnh đạo chủ yếu là để truyền đạt các thông tin và dữ kiện. Quyền hành của người lãnh đạo rất ít được sử

     

    dụng. Với phong cách lãnh đạo này, nhà lãnh đạo sẽ cho phép các nhân viên được

     

    quyền tham gia ra quyết định, nhưng nhà lãnh đạo vẫn chịu trách nhiệm đối với những quyết định được đưa ra.

     

    3.2. Đặc điểm

     

    Các thành viên ít thích lãnh đạo.

     

    Không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng nhóm, định hướng vui chơi.

     

    Năng suất thấp, người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên.

     

    3.3. Mối quan hệ của phong cách lãnh đạo t ự do và kết quả thực hiện nhiệm vụtrong tổ chức.

     

    M ỗi thành viên trong nhóm đều có khuynh hướng trở thành chủ thể cung cấp những tư tưởng, ý kiến để giải q uyết những vấn đề cốt lõi do thực tiễn đặt ra. Do đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ các ý k iến được tận dụng triệt để làm cho nhiệm vụ được thực hiện tốt hơn và có hiệu quả cao hơn.

     

    Các thành viên có quyền tham gia v ào quyết định các việc lớn của tổ chứcnên

     

    khai thác được tính sáng tạo của các thành viên, và vì vậy có n hiều phương án để lựa chọn khi giải quyết 1 vấn đề nhiệm vụ được thực hiện một cách tốt nhất.

     

    Phong cách này tạo cho nhân viên sự thoải mái trong công việc, không bị gò bó dẫn đến hiệu quả công việc có thể sẽ cao hơn.

     

    Phong cách này phù hợp với các nhà quản trị không có khả năng quyết đoán cao và chính xác, mọi việc được đưa ra bàn bạc và giảm được các sai lầm do quyết định của nhà quản trị.

     

    Đôi khi tạo ra dân chủ quá trớn, mỗi người 1 ý kiến, dẫn đến không thống nhất được, và có thể dẫn đến mục tiêu chung không hoàn thành.

     

    Dễ tạo ra tâm lý buồn chán cho người lãnh đạo, dẫn tới tình cảm cô đơn , tùy tiện, lơ là công việc cho dù bản thân rất phù hợp với công việc đó.

     

    3.4. Ví dụ về phong cách lãnh đạo tự do

     

    Bill Gates là một nhà lãnh đạo

     

    điển hình của sự pha trộn nhiều phong cách: độcđoán, dân chủ và tự do. Trong từng trường hợp, từng tình huống mà Bill Gates thể hiện các loại phong cách lãnh đạo khác nhau. Nó vừa tạo ra được sự uy quyền quyết đoán nhất định của 1 nhà quản trị tài ba có nguyên tắc, vừa tham khảo ý

     

    kiến của các thành viên khác, phát huy được khả năng và tính sáng tạo của họ. Tuy phong cách độc đoán chuyên quyền được ông thể hiện nhiều hơn cả nhưng phong cách tự do cũng được ông thể hiện khá độc đáo. Điều này được thể hiện thông qua các cách quản lý của ông trong công ty.Ở Microsoft, sáng thứ bẩy hàng tuần, Bill thường dành ít nhất một tiếng mời các vị phó chủ tịch đến, nghe trình bày và “thọc” vào các chi tiết của từng dự án. Billđặc biệt rất quan tâm về các hiệu suất công việc. Bill giữ được kiểm soát tới từng bộ phận thông qua các phó chủ tịch công ty. Điều này chứng tỏ ông luôn lắngnghe ý kiến của mọi người giúp cho công việc quản lý được dễ dàng hơn.Bill Gates và các giám đốc điều hành đều để để xe ở bãi chung, ăn trong nhà ănchung hoặc trong phòng làm việc, tự làm những công việc đáng ra dành cho cácthư ký như xem thư, soạn thư, chuyển thư… Nhờ đó, họ huỷ bỏ được những “tầngnhân

     

    9

     

    tạo” làm chậm lại các việc giao dịch và ra quyết định.Từ những ngày đầu thành lập công ty, Bill Gates và Paul Alen đã đưa tác phonglàm việc của chính mình thành “chuẩn mực” của Microsoft. Họ muốn làm cho các nhân viên của mình thật là thoải mái, hiệu suất và s ung sướng nhất có thể trong công việc. “Chuẩn mực” đó là tất cả mọi người đều có không gian riêng tư của mình. Đó là của họ. Họ có thể đóng cửa lại, bật nhạc lên, điều chỉnh ánh sáng và làm việc.Không có luật quy định về ăn mặc tại M icrosoft. Thaycho các bộ comlê và carvat mà ta thấy ở các công ty khác, ở Microsoft, trong mùa hè, ra lại thấy các kiểu áo cộc, áo phông và m ọi thứ khác. Ở Microsoft không có việc quy định giờ làm việc với các nhà lập trình và điều hành. Các nhân viên có thể chọn giờ làm việc của mình nhưng phải có những khoảng thời gian xác định hàng ngày. Mọi người có thể bắt đầu vào những thời gian khác nhau và làm việc theo những giờ khác nhau mỗi ngày. Điều này thể hiện rất rõ phong cách quản lý theo kiểu tự do của Bill Gates. Ông luôn biết cách tạo cho nhânviên sự thoái cần thiết để họ phát huy được khả năng và sức sáng tạo đóng góp chung vào thành công cho công ty.

     

    II. SỰ ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘN G NGƯỢC LẠI TỪ KẾT Q UẢ HOẠT ĐỘNG ĐẾN CÁC PHON G CÁCH LÃNH ĐẠO.

     

    Người biết đánh giá kết quả và thay đổi thích ứng phong cách lãnh đạo mới cho phù hợp với tổ chức thì đó mới chính là một lãnh đạo tài năng. Không có một cô ng thức lãnh đạo, hay một chuẩn mực nhất định cho các tổ chức, mà cần phải có sự ling

     

    hoạt thích ứng kịp thời và kết hợp để tạo ra một phương pháp lãnh đạo tốt nhất cho một tổ chức, đó mới chính là một n gười tài- một người biết nhìn vào hiệu quả, hiệu xuất, đặc điểm của từng công việc từng tổ chức để đưa ra phong các lãng đạo phù hợp.

     

    M ột người chơi golf mang một túi golf có rất nhiều gậy… Cái thì dùng cho khoảng cách đánh ngắn; cái dùng cho cú đánh xa; sử dụng cây nêm cắm đất khi banh golf nằm trên nền cỏ; cây nêm xuống cát để lấy banh golf ra khỏi hố cát sâu; gậy ngắn dùng để đánh nhẹ trên cỏ… Mỗi gậy được chọn sử dụng theo những mục đích khác nhau nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất.

     

    Tương tự như vậy, phong cách người lãnh đạo có thể thay đổi tùy theo công việc và hoạt động kinh doanh. Bạn có thể là một người lãnh đạo khôn ngoan khi áp dụng phong cách dân chủ nếu bạn muốn xây dựng tinh thần đoàn kết hoặc kêu gọi sự đồng tâm hiệp lực, lấy ý kiến quý báu từ mỗi nhân viên. Trong hoàn cảnh này, sử dụng phong cách quyết đoán – áp đặt cho nhân viên làm theo những gì bạn nói ra, không cho

     

    10

     

    họ cơ hội đóng góp ý kiến, suy nghĩ và sự đồng ý của họ – rất có thể chẳng mang lại kết quả gì.

     

    Khác với cách hành xử của nhà lãnh đạo trong câu chuy ện trên, nếu bạn là đội trưởng đội cứu hỏa và nhiệm vụ của bạn là cứu 1 căn nhà đang bùng cháy dữ dội, liệu bạn sẽ triệu tập một cuộc họp để bàn về các phương cách cứu ngôi nhà và những người trong nhà đó không? Tình huống cấp bách này buộc bạn phải đưa ra chỉ đạo chính xác và chuy ên nghiệp cho đội. Thành công trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc này hoàn toàn đến từ hành động quyết đoán của bạn.

     

    Khi tổ chức trong tình trạng khủng hoảng và cần có những biện pháp tức thời, nghiêm khắc thì việc dùng phong cách quyết đoán sẽ giúp bạn nhanh chóng đạt được sự đồng thuận từ nhân viên, thay vì đi vòng vòng hỏi xem họ đang nghĩ gì, tại sao chúng ta không thử phong cách này hoặc phong cách khác…

    Tất cả đều dực vào sự nhanh nh ạy và quyết đo án của người lãnh đạo, khi phân tích tính hiệu quả nhiệm vụ mà cần đưa ra phong cách lãnh đạo nào

     

    • Như cần độc đoán:
    • Khi tổ chức mới được hình thành, cần có kỷ luật cao
    • Khi tổ chức coì sự bất đồng
    • Với những người có ý chống đối
    • Không có tính tự chủ.
    • Thiếu nghị lực
    • Kém tính sáng tạo
    • Nhân viên mới, chưa có ý thức.
    • Cần dân chủ;
    • Khi tổ chức đang ổn định
    • Với những người có tính thần hợp tác, nhân viên coì thâm niên
    • Có lối sống tập thể.

    11

     

    • Nên tự do;
    • Khi tổ Khi tổ chức đang ổn định
    • Với những người không thích giao thiệp.
    • Hay có đầu óc cá nhân chủ nghĩa

    IV . KẾT LUẬN

     

     

    Để có những kết quả tốt trong thực hiện nhiệm vụ trong một tổ chức thì theo chúng tôi thì một phong cách lãnh đạo phù hợp với các đặc điểm đặc thù cho mỗi tổ chức sẽ là phong cách lãnh đạo mà ở đó người lãnh đạo phải có tính quyết đoán thể hiện qua các phẩm chất dám nghe dám làm, dám chịu trách nhiệm, tự tin, ra được những quyết đính kịp thời trong những tình huống khó khăn phong cách lãnh đạo cần có sự đa dạng không cứng nhắc mà uyển ch uyển giúp tạo ra những điều kiện cũng như môi trường tốt nhất cho việc thực h iện nhiệm vụ trong tổ chức. Bên cạnh đó, người lãnh đạo phải nhìn được sự phản ánh của kết quả nhiệm vụ để đưa ra phong cách lãnh đạo p hù hợp và tạo ra được nhiều điều kiện thuận lợi để cấp dưới phát huy hết năng lực, trí lực, óc sáng tạo, lòng nhiệt tình vào công việc, có hệ thống chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật kịp thời, thích đáng nhằm động viên người lao động phát huy mọi tiềm năng, ổn định tinh thần và đảm bảo được cuộc sống.

     

    Các luồng thông tin trong quản lý phải luôn được đảm bảo theo các kênh từ trên xuống dưới, từ cấp dưới lên trên. Đó cũng chính là sự kết hợp hài hòa của phong cách độc tài gia trưởng và phong cách lãnh đạo tự do, dân chủ, thích ứng với từng hoàn cảnh tình huồn quản lý cụ thể. Và một đặc điểm quan trọng trong phong cách quản lý này đó là phải tính tới những đặc điểm dân tộc, đạo đức, văn hoá của người Việt Nam.

     

    Tóm lại,có thể nói rằng, một phong cách lãnh đạo tốt là một sản phẩm mang tính trí tuệ cao của người lãnh đạo, thể hiện sự nhuần nhuyễn trong cách sử dụng các phong cách lãnh đạo khác nhau vào các tình huống khác nhau, đồng thời phù hợp với

    12

     

    các đặc điểm văn hóa Việt Nam. Chỉ có như thế tổ chức mới đạt được hiệu quả trong giải quyết công việc một cách cao nhất, phát huy được sức mạnh tập thể và tinh thần sáng tạo của nhân viên. Đúng như một câu danh ngôn đã nói:“ M ột nhà quản lý phải đồng thời là: M ột viên đại tướng biết cách chỉ huy, một quan tòa biết cách xét xử, một nhà giáo dục khéo dạy dỗ, một nhà tâm lý biết cách khích lệ cổ vũ”.

     

     

     

     

     

     

     

     

    13

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/C%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-h%E1%BB%AFu-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp

    Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực
    của Doanh nghiệp

     * Làm thế nào để quản trị nguồn nhân lực một cách hiệu quả?

    Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trước sự biến động mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, tính chất khốc liệt của sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi được đáp ứng ngày càng cao của nhân viên, tất cả những vấn đề này đã và đang là sức ép lớn đối với doanh nghiệp. Trong đó, vấn đề quản trị nguồn nhân lực là một trong các yếu tố mang tính chất sống còn.

    Từ nhu cầu – Một doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách tổ chức được một hệ thống quản trị nguồn nhân lực toàn diện: xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại, chính xác, sử dụng người lao động một cách hiệu quả, giải quyết chính sách, chế độ kịp thời, tiêu chí đánh giá công việc được chuẩn hóa, chính sách lương thưởng công bằng, hoạch định nguồn nhân lực đảm bảo đúng người, đúng việc 

    Đến giải pháp  – Lạc Việt HRP2004 là phần mềm được phát triển trên cơ sở đó với các phân hệ được xây dựng tích hợp đầy đủ tất cả các tính năng cao cấp nhất mà một giải pháp quản trị nhân sự cần có.

      * GIÁ TRỊ NỔI BẬT.

    • Chuyên nghiệp: Hệ thống tính năng – nghiệp vụ được thiết kế chuyên nghiệp theo mô hình quản trị mới và đúng luật định, phù hợp với các loại hình doanh ngiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
    • Hệ thống mở, linh hoạt, dễ sử dụng: Cho phép thiết lập các thông số tùy biến của hệ thống, tự định nghĩa các yếu tố tính lương, công thức tính toán trong công tác tính lương, chấm công, tuyển dụng, đào tạo …
    • Hệ thống chấm công: phù hợp với tất cả các loại máy chấm công hiện nay, người dùng có thể sử dụng phân ca tự động hoặc theo chu kỳ ca với ca làm việc kéo dài trong thời gian bao lâu tùy ý và các tiện ích khác như: tính công ngoài giờ tự động hoặc qua xác nhận … giúp cho công tác tính công được chính xác tuyệt đối.
    • Hệ thống tuyển dụng: người dùng tự thiết lập quy trình tuyển dụng, các tiêu thức tuyển dụng … trên từng chức danh. Tự động lọc danh sách ứng viên hoặc nhân viên nội bộ theo đúng tiêu thức tuyển dụng. Quản lý công tác tuyển dụng đi từ yêu cầu, kế hoạch đến thực hiện.
    • Hệ thống đào tạo: người dùngtự định nghĩa các yếu tố , công thức tính thời gian cam kết phục vụ sau đào tạo, tự động tính tiền đền bù hợp đồng nếu nhân viên nghỉ việc không phục vụ đủ, tự động tạo lập danh sách nhân viên cần đào tạo theo yêu cầu công việc.
    • Hệ soạn thảo các quyết định: giúp người dùng tự xây dựng một hê thống các quyết định như: lên lương, phụ cấp, khen thưởng, kỷ luật … theo bất kỳ định dạng nào đặc thù. Ngoài ra có thể thiết kế lại các mẫu báo cáo có sẵn từ hệ thống theo yêu cầu riêng của mình.
    • Hệ hỗ trợ ra quyết định: Với hệ thống báo cáo quản trị từ xa, người dùng có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi sẽ giúp lãnh đạo đưa ra những quyết định nhanh chóng, chính xác nhờ hệ thống báo cáo từ xa được cung cấp bởi phần mềm LV-HRP. Từ đó, giúp doanh nghiệp thực hiện công tác quản trị nhân sự chuyên nghiệp hơn.
    • Hệ phân tích dữ liệu: Chỉ cần 2 phút để lập ra mẫu báo cáo với số liệu tuyệt đối chính xác với số lượng báo cáo tự “chế biến” là vô tận.
    • Đa ngôn ngữ, chuyển đổi ngôn ngữ chỉ bằng một phím tắt.
    • Hợp nhất dữ liệu công ty đa cấp, đa chi nhánh.

      * CÁC TÍNH NĂNG CHÍNH

    Phân hệ cơ bản  
    1. Thông tin nhân viên Kết nối thông tin với các phân hệ nhân sự khác.

     

    Lưu trữ đầy đủ hệ thống dữ liệu chi tiết của cá nhân trong suốt quá trình làm việc tại công ty.

    Công cụ trích lập báo cáo giúp dễ dàng phân tích tình hình biến động nhân sự trong toàn công ty.

    2. Bảo hiểm xã hội

     

    Bảo hiểm Y tế

    Xử lý và theo dõi các thông tin liên quan đến Bảo hiểm Xã hội và Bảo hiểm Y tế.

     

    Cung cấp hệ thống báo cáo đúng mẫu của nhà nước quy định.

    3. Chấm công tự động Quản lý giờ công, ngày công thực tế của nhân viên thông qua việc xử lý dữ liệu thô từ các máy chấm công

     

    Tự động tính toán và xuất ra các báo cáo phù hợp phục vụ cho công tác tính lương.

    4. Tính lương Quản lý dữ liệu liên quan đến tiền lương

     

    Tính lương định kỳ dựa trên các số liệu liên quan như ngày công, phụ cấp và các hệ số cấu thành nên công thức tính lương.

    Ngoài các phương pháp tính lương truyền thống, hệ thống còn cung cấp thêm phương pháp tính lương do người dùng tự định nghĩa.

    5. Hệ phân tích dữ liệu Truy xuất, phân tích và xử lý hệ thống dữ liệu theo các tiêu thức khác nhau tạo thành các báo cáo từ chi tiết đến tổng hợp, đáp ứng nhu cầu thực tế trong công tác quản lý của công ty.

     

    Vô vàn các báo cáo được tạo ra chỉ bằng các thao tác click chuột đơn giản.

    Phân hệ mở rộng  
    1. Tuyển dụng Tự thiết lập quy trình tuyển dụng, quy định môn thi, điểm thi cho từng bước trong quy trình.

     

    Theo dõi quá trình tuyển dụng để tìm kiếm những ứng viên phù hợp nhất với yêu cầu của từng vị trí công việc đòi hỏi.

    2. Đào tạo Tính năng chuyên nghiệp và linh hoạt à công cụ hiệu quả giúp doanh nghiệp phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong công ty.

     

    Giúp hoạch định các kế hoạch đào tạo, tổ chức thực hiện cũng như theo dõi chi phí, kết quả đào tạo

    3. Đánh giá Tự động hoá hệ thống đánh giá năng lực và đánh giá kết quả công việc của nhân viên

     

    Giúp việc thực thi công tác đánh giá trở nên dễ dàng, chính xác và khoa học hơn.

    4. Trang thiết bị

     

    Bảo hộ lao động

    Lập định mức cấp phát thiết bị an toàn lao động.

     

    Huấn luyện an toàn lao động.

    Lập yêu cầu và kế hoạch cấp phát hằng năm.

    Quản lý quá trình cấp phát trang thiết bị, bảo hộ lao động cho nhân viên.

    5. Hệ Báo cáo từ xa Hỗ trợ việc truy xuất báo cáo Quản trị và báo cáo cá nhân thông qua mạng Intranet/Internet.

     

    Thông tin báo cáo thể hiện dạng số liệu hoặc biểu đồ thống kê cho thấy diễn biến tình hình nhân sự tại các thời điểm.

    6. Hệ hợp nhất dữ liệu Đáp ứng yêu cầu công ty có mô hình đa cấp, đa chi nhánh có quản lý dữ liệu phân tán tại các điểm khác nhau

     

    Cung cấp báo cáo từng đơn vị thành viên và tự động hợp nhất dữ liệu cho toàn công ty.

     

    Quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

    ( Bình chọn:   —  Thảo luận: —  Số lần đọc: 18778)

    – Quản trị nhân sự (QTNS) là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức doanh nghiệp với người lao động. QTNS chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào doanh nghiệp giúp  họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh.

    Mục tiêu cơ bản của QTNS trong doanh nghiệp (DN) là thu hút, lôi cuốn những người giỏi về với DN; sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp; động viên, thúc đẩy nhân viên, tạo điều kiện cho họ bộc lộ, phát triển và cống hiến tài năng cho DN, giúp họ gắn bó, tận tâm, trung thành với DN.

    QTNS giúp cho các DN xuất phát từ vai trò quan trọng của con người. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức DN, vận hành DN và quyết định sự thành bại của DN. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của DN nên QTNS là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức DN. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu DN không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người. Xét về mặt kinh tế, QTNS giúp cho các DN khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của DN về nguồn nhân lực. Về mặt xã hội, QTNS thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, DN và người lao động.

    Nhận thức được tầm quan trọng của QTNS trong các DN như vậy nên hiện nay các DN đều chú trọng đến vấn đề này. Sự tiến bộ của QTNS được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng thúc đẩy các DN hoạt động có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trên thực tế công tác quản lý nguồn nhân lực ở các DN hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều thách thức lớn. Khó khăn và thách thức lớn nhất đối với các DN hiện nay không phải là thiếu vốn hay trình độ kỹ thuật mà là làm thế nào để quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả.

    Hiện nay, các DN Việt Nam trung bình chỉ sử dụng khoảng 40% năng suất của nguồn nhân lực mà họ đang sở hữu và tỷ lệ này còn khó lý giải hơn nữa ở nhóm nhân viên khối văn phòng. Nguyên nhân của vấn đề này cơ bản nằm ở sự yếu kém về công tác quản trị nguồn nhân lực. Những khó khăn và hạn chế chủ yếu mà phần lớn các DN ở Việt Nam hay gặp phải như là:

    – Nhận thức chưa đúng của nhiêu cán bộ lãnh đạo, nhân viên về vai trò then chốt của nguồn nhân lực con người và quản trị nguồn nhân lực đối với sự thành công của DN.
    – Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động chưa cao, thiếu cán bộ quản lý giỏi và các chuyên gia về quản trị nguồn nhân lực.
    – Nhiều DN rơi vào tình trạng thừa biên chế. Cùng lúc các DN phải giải quyết tình trạng thiếu lao động có trình độ lành nghề cao nhưng lại thừa lao động không có trình độ lành nghề hoặc có những kỹ năng được đào tạo không còn phù hợp với những yêu cầu hiện tại, dẫn đến năng suất lao động thấp.
    – Nhiều DN hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, thu nhập của người lao động thấp, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, nhiệt tình và hiệu quả làm việc của người lao động.
    – Ý thức tôn trọng pháp luật chưa cao, luật pháp được thực hiện chưa nghiêm minh.
    – Chưa có tác phong làm việc công nghiệp.
    – Chưa xác lập được quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa người lao động và chủ DN.
    – Một số quy chế về đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, cho nghỉ việc… chậm cải tiến, không còn phù hợp với điều kiện kinh doanh mới của DN
    – Nhiều DN chưa chú trọng đầu tư vào nguồn nhân lực để có lợi thế cạnh tranh cao hơn.

    Những khó khăn, hạn chế trong quản trị nguồn nhân lực ở Việt Nam đặt ra yêu cầu cần phải thay đổi cơ bản cách thức hoạt động quản trị con người trong DN. Các DN cần có hệ thống QTNS với những chính sách về tuyển dụng, đào tạo, trả lương, khen thưởng, đánh giá mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay của DN

    Về chính sách tuyển dụng: DN cần phải chuẩn bị kỹ, thực hiện tốt quá trình tuyển chọn các ứng cử viên nhằm tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cho các vị trí và các chức danh cần người trong DN. DN có thể trực tiếp tuyển dụng các nguồn từ bên ngoài và trong nội bộ DN hoặc có thể áp dụng các giải pháp thay thế tuyển dụng. Các giải pháp thay thế tuyển dụng thường được áp dụng là: Giờ phụ trội, hợp đồng thuê gia công, thuê lao động thời vụ, thuê lao động của DN khác. Mỗi giải pháp tuyển dụng có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy, DN cần phải xem xét khi áp dụng các giải pháp này phải phù hợp với điều kiện của DN.

    Về đào tạo và phát triển nhân sự: Dựa trên những mục tiêu và để thực hiện các mục tiêu của DN, DN cần phảiđào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp họ hoàn thành tốt nhất công việc được giao và nâng cao trình độ bản thân. Sau khi phân tích và xác định nhu cầu đào taọ công nhân kỹ thuật và phát triển năng lực cho các nhà quản trị DN thì vấn đề tiếp theo là xác định các hình thức đào tạo với các chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo thích hợp. Đây là vấn đề quan trọng, đòi hỏi bộ phận QTNS DN phải hết sức thận trọng vì tất cả các chi phí đào tạo đều tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của DN và phải được hoàn lại. DN có thể áp dụng một trong các hình thức đào tạo với các chương trình và phương pháp đào tạo phổ biến như: đào tạo tại nơi làm việc, đào tạo ngoài nơi làm, tại các trường, các lớp đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề và nâng cao năng lực cho quản trị gia, đào tạo tại các trường đại học.

    Về đánh giá năng lực thực hiện công việc và thù lao cho người lao động: Các nhà QTNS phải kiểm tra, giám sát, đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao động để đưa ra mức thù lao hợp lý theo quy định củaLuật Lao động và chính sách tiền lương mà Nhà nước ban hành; tổ chức huấn luyện những người làm công tác đánh giá. Hiệu quả của công tác đánh giá năng lực thực hiện công việc phụ thuộc nhiều vào những người làm công tác đánh giá. Do đó những người này phải được huấn luyện kỹ năng và nghệ thuật đánh giá để đảm bảo hiệu quả của đánh giá…

    “Nhân sự là chìa khóa thành công của mọi doanh nghiệp”. Nhưng để quản lý có hiệu quả nguồn nhân lực thật không đơn giản, điều đó đòi hỏi nghệ thuật của người lãnh đạo. Với những giải pháp nêu trên, cùng với khả năng cố gắng, kinh nghiệm và sự học hỏi, không ngừng tiếp cận tri thức mới của các nhà QTNS. Hy vọng rằng công tác QTNS trong các DN ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ có những kết quả đáng ghi nhận.

    www.SAGA.vn l ST

     

     

    Phân quyền quản lý nhân lực trong doanh nghiệp

    CKA

    12-30-2008, 03:55 PM

    Cách đây một thập niên, các chủ doanh nghiệp thường chú tâm đến vấn đề kinh doanh – tiếp thị hay tài chính – kế toán. Những năm gần đây, người ta quan tâm nhiều hơn đến yếu tố con người trong phát triển sản xuất kinh doanh.

    Trừ các công ty có quy mô lớn, hoạt động bài bản, do không nhìn thấy lợi ích lâu dài mà chỉ suy xét dưới góc độ chi phí trước mắt, hầu hết các công ty tư nhân nhỏ và vừa ở Việt Nam đều rất ngần ngại khi đầu tư cho bộ phận nhân sự.

    Ở những công ty này, hệ thống điều hành hầu như chỉ nằm trong tay một người. Mọi việc lớn nhỏ đều phải báo cáo và do người này quyết định khiến họ luôn bị công việc thường nhật đeo bám và không còn thời gian cho những việc dài hơi khác. Hệ thống quyền lực đôi khi lại rơi vào vài người mà ranh giới không rõ ràng khiến nhân viên vô cùng bối rối, không biết phải nghe lệnh ai. Có trường hợp lãnh đạo can thiệp vào công việc của cấp dưới mặc dù đã giao việc ấy cho họ.

    Lối làm việc này khiến nhân viên ngày càng trở nên thụ động, cứng nhắc, thiếu tự tin. Khi nhân viên cảm thấy không được tin tưởng và không có cơ hội tiến thân thì sức đóng góp của họ cũng ngày càng giảm thiểu. Cơ cấu tổ chức như vậy vẫn tồn tại đối với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, tập trung, ít người và ít phức tạp về chuyên môn do nó cũng có lợi điểm là người chủ an tâm rằng con thuyền kinh doanh được lèo lái bởi bàn tay của những người góp vốn.

    Xu thế phát triển không cho phép một ai đứng tại chỗ mà vẫn duy trì được vị trí như ban đầu, khi mà nhu cầu khách hàng ngày càng thay đổi cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Để duy trì hay chiếm lĩnh vị trí cao hơn trên thị trường, phải mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị và công nghệ tiên tiến.

    Muốn thế, lực lượng lao động, hệ thống quản lý và trình độ quản lý của các cấp cũng phải đáp ứng kịp thời với sự đổi mới này. Người đứng đầu công ty lúc này không còn đủ thời gian, tâm trí và sức lực để ôm đồm mọi việc nữa. Họ phải biết chọn lựa nên quản cái gì, biết cái gì, làm cái gì và nhất là biết dùng ai, dùng gì để có được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.

    Ngày nay, nhân lực được coi là nguồn tài nguyên quý giá mà công ty phải đầu tư, vun trồng và chăm sóc kỹ lưỡng. Đó cũng là lý do tại sao nhiều công ty nước ngoài đã điều chỉnh tên gọi bộ phận nhân sự (Personnel Department) thành bộ phận phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development Department).

    Để có người phụ trách văn phòng, trong đó bao gồm cả công tác nhân sự, các công ty nhỏ thường thành lập phòng hành chính – nhân sự, còn ở những đơn vị mới hoạt động thì đôi khi giám đốc hay một phó giám đốc sẽ kiêm luôn việc này. Dù cơ cấu hay quy mô như thế nào thì những công việc như hoạch định, tuyển chọn nhân lực và sau đó là sử dụng, đào tạo hay khen thưởng, đề bạt vẫn phải thực hiện tùy theo mức độ khác nhau.

    Khác với khu vực hành chính sự nghiệp nhà nước, nhu cầu quản lý và phát triển nhân lực trong các đơn vị sản xuất thuộc khu vực kinh tế tư nhân ngày càng nặng nề do yêu cầu sản xuất kinh doanh, do cạnh tranh nhân lực và do nhu cầu ngày càng cao của nhân viên. Người phụ trách lĩnh vực này thường hay phải lo toan những công việc hành chính, xử lý sự vụ hàng ngày nên thường không quán xuyến nổi hoặc không sâu sát để có thể chăm sóc chu đáo nguồn nhân lực này.

    Khi ấy, bắt đầu phát sinh những sự việc lúc đầu thì nhỏ nhưng nếu không được giải quyết rốt ráo sẽ ngày càng phức tạp và hậu quả là gánh nặng ấy đè lên vai các trưởng bộ phận – nhất là những người trực tiếp điều hành nhân viên từ cấp tổ trưởng đến quản đốc – vì tư tưởng bất an sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả lao động của đội nhóm mà họ phụ trách.

    Khoảng trống trong quản lý và trách nhiệm phát triển nhân lực xảy ra khi mọi người, nhất là hầu hết các trưởng bộ phận, đều có thói quen nghĩ rằng “đó là việc của bộ phận nhân sự” hay “tôi đâu có được giao việc ấy?”, thậm chí có người nghĩ “tôi đâu biết làm việc ấy” hay “tôi làm tốt việc ấy liệu có ai biết không?”.

    Theo ý kiến người viết, việc giao một phần nhiệm vụ quản lý nhân lực cho các trưởng bộ phận hoàn toàn phù hợp với bối cảnh hiện nay vì họ có chuyên môn riêng cộng với sự sâu sát và cập nhật thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

    Như vậy, nguyên tắc “ai làm việc chuyên môn của người ấy” sẽ không còn hiệu lực nữa mà thay vào đó là “ai làm tốt, kịp thời và hiệu quả nhất” sẽ được chọn. Tùy theo phong cách làm việc của mỗi công ty mà tỷ trọng công việc và tầm quan trọng của trưởng bộ phận trong công tác nhân sự có khác nhau nhưng không thể phủ nhận tầm quan trọng của công tác nhân sự này đối với hiệu quả hoạt động của công ty và chính từng bộ phận ấy.

    Như vậy, cơ cấu tổ chức trong các công ty có sự phân công hoàn toàn theo chức năng không còn thịnh hành nữa mà mỗi bộ phận, mỗi nhân viên thường phải làm nhiều chức năng cùng một lúc. Và để giảm chi phí, tăng hiệu quả và kích thích sự đóng góp của nhân viên, xu hướng phân quyền trong cơ cấu đa chức năng đã và đang được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nơi. Trong đó việc xây dựng hệ thống quản lý, chuẩn hóa các hoạt động và yếu tố con người trong bộ máy công ty đóng vai trò quyết định với sự cộng tác của các trưởng bộ phận – những người góp phần tích cực để bộ máy quản lý nhân lực công ty vận hành hiệu quả.

    Một số quy tắc quản lý nguồn nhân lực

     

    Thứ sáu, 20 Tháng bảy 2007, 11:31 GMT+7
           
     
    Tags: quản lý nguồn nhân lựcquy tắc quản lýquy tắc vàngnhững người khácnhân viên,lãnh đạohiệu quảmột sốtổ chứctập trungquanđiểmcôngxemnhận

     

    Quản lý nguồn nhân lực luôn là vấn đề mà lãnh đạo các tổ chức quan tâm hàng đầu. Quy tắc vàng ở đây là: “Quản lý những người khác theo cách bạn muốn được quản lý”.

    Jack Welch – Chủ tịch kiêm CEO của tập đoàn GE nhấn mạnh vào sự công bằng trong việc quản lý nhân viên. Ông cho rằng, sự thiên vị trong công việc có thể là một trong những chướng ngại quan trọng đối với thành công của tổ chức: “Trong một môi trường quan liêu, mọi người sẽ sợ nói ra quan điểm của mình. Loại môi trường này sẽ nhấn chìm bạn xuống, và nó không cải thiện được công việc”.

    Thay vì thế, Jack Welch kêu gọi phát triển văn hoá tổ chức theo hướng khuyến khích và khen thưởng cho những phản hồi trung thực. Ông cũng cho rằng với các nhân viên hàng đầu của công ty, sự kết hợp đúng đắn của việc khen thưởng và thừa nhận sẽ nâng cao tinh thần làm việc của nhân viên.

    Dưới đây là các lưu ý cơ bản trong quản lý nguồn nhân lực:

    Đừng quản lý con người, hãy quản lý tiềm năng

    Hãy đối mặt với điều này: tất cả chúng ta có phong cách làm việc, nền tảng, kinh nghiệm và văn hoá khác nhau. Vị CEO không hiệu quả sẽ xem tất cả những khác biệt này là điều cần phải quản lý, nhưng đó là quan điểm sai lầm. Cố gắng để quản lý vi mô phong cách làm việc của mọi người và các xung đột cá nhân là một việc làm hoàn toàn mất thì giờ. Hãy xem nhân viên như những người chuyên nghiệp và định hướng các kỹ năng của họ.

    Các CEO hiệu quả lãnh đạo bằng cách quản lý tiềm năng – mài sắc các kỹ năng trong nhóm, tạo nên kế hoạch để tận dụng những kỹ năng này nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng.

    Tập trung vào điểm mạnh, không phải điểm yếu

    Một huấn luyện viên bóng đá không yêu cầu một tiền vệ phải phòng thủ. Người huấn luyện đặt các cầu thủ vào nơi họ có thể phát huy và nhóm giành chiến thắng. Làm cho các kỹ năng phù hợp với trách nhiệm là cách để thành công, không chỉ tập trung vào điểm yếu.

    Nhiều vị CEO không nhận thức được quan điểm rằng công việc của họ là đặt con người vào vị trí để thành công. Các nhà lãnh đạo không hiệu quả thường xem việc tổng kết hàng năm là cơ hội tập trung vào các điểm yếu, để thiết lập các mục tiêu cho việc cải thiện những lĩnh vực này. Lãng phí thời gian. Các CEO hiệu quả tập trung vào các thế mạnh, phát huy tài năng và sở thích của nhân viên và quản lý điểm yếu của họ.

    Học cách để động viên mỗi nhân viên tốt nhất

    Trong việc động viên và khuyến khích nhân viên, cách tiến hành thường là cào bằng. Thực tế, mỗi người có những mong muốn khác nhau. Một nhân viên độc thân sẽ xem chuyến đi được bao trọn gói là một món quà động viên, nhưng nhân viên lớn tuổi – cha của những đứa trẻ có thể xem việc có thời gian với gia đình là sự động viên.

    Giống như vậy, trong việc quản lý hàng ngày, một số nhân viên không cần gì ngoài một cái vỗ vào lưng, trong khi các nhân viên khác muốn nhận được sự thừa nhận thường xuyên.

    Các nhà lãnh đạo hiệu quả nhận ra rằng nhân viên có các mục tiêu và tham vọng khác nhau. Học những điều họ có thể giúp để giành được hiệu quả, lòng trung thành và cách làm việc từ nhân viên.

     

     

    Quản lý nguồn nhân lực có nghĩa là gì?

    Doanh nghiệp của bạn là một tập hợp các Nguồn lực mà bạn đã tập trung lại nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh:

     

    • Con người (bản thân bạn và nhân viên)
    • Tiền
    • Máy móc. thiết bị và nguyên vật liệu
    • Kiến thức (thông tin, thời gian, các hệ thông quản lý và sáng tạo, các quy trình và thủ tục)

    Đọc và suy ngẫm cẩn thận những bài học cơ bản dưới đây về Quản lý nguồn nhân lực (HRM) chính là giúp cho bản thân bạn và doanh nghiệp của bạn:

    • Con người là tài sản quan trọng nhất mà một doanh nghiệp có. Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con người” của bạn- bao gồm cả cách quản lý chính bản thân mình, quản lý nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và người cho vay như thế nào!
    • Cung cách quản lý, môi trường làm việc mà bạn đem lại cho nhân viên của mình và cách truyền đạt những giá trị và mục đích sẽ quyết định sự thành công của bạn cũng như thành công của doanh nghiệp.
    • Để đạt được mục tiêu và thực hiện các kế hoạch chiến lược bạn cần phải liên kết chặt chẽ các chính sách nhân sự và các thủ tục với mục tiêu kinh doanh. Chẳng hạn bạn cần biết rõ khi nào và tại sao phải tuyển dụng nhân viên, bạn mong đợi những gì ở họ, bạn sẽ khen thưởng và/hoặc kỷ luật nhân viên thể nào để họ phải đạt được các mục đích chiến lược kinh doanh.
    • Bạn, với tư cách là chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa (giám đốc hoặc lãnh đạo ban quản lý) có trách nhiệm không ngừng chỉ rõ và truyền đạt những mục tiêu kinh doanh cho tất cả các nhân viên trong doanh nghiệp. Bạn cũng phải tạo điều kiện để cán bộ chuyên môn và nhân viên làm việc vì những mục tiêu này bằng cách xây dựng những hệ thống trong công ty: quy tắc làm việc, hệ thống lương bổng, phương pháp đánh giá hiệu quả làm việc, biện pháp khen thưởng và kỷ luật.

    Quản lý nguồn nhân lực là gì?

    • Trước tiên quản lý nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mong muốn của doanh nghiệp và mong muốn của nhân viên của bạn tương hợp với nhau và cùng đạt đến mục tiêu. Hãy nghiên cứu biểu đồ dưới đây để tự đánh giá xem bạn xác định được tới đâu mong muốn của bạn và của nhân viên trong doanh nghiệp. Nhân viên của bạn trông đợi từ phía bạn một mức lương thoả đáng, điều kiện làm việc an toàn, sự gắn bó với tổ chức, những nhiệm vụ có tính thách thức, trách nhiệm và quyền hạn. Mặt khác, bạn với tư cách là chủ lao động mong muốn nhân viên của mình sẽ tuẩn thủ quy định tại nơi làm việc và các chính sách kinh doanh, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, đóng góp sáng kiến vào các mục tiêu kinh doanh, chịu trách nhiệm về cả việc tốt và việc dở, liêm khiết và trung thực.
    • Thứ hai, quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động (một quy trình) mà bạn và nhóm quản lý nhân sự của bạn tiến hành triển khai sắp xếp nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Quy trình này gồm các bước tuyển dụng, quản lý, trả lương, nâng cao hiệu quả hoạt động, và sa thải nhân viên trong doanh nghiệp.
     

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quản trị nguồn nhân lực & Thách thức của sự thay đổi


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:ĐỒ ÁN Hoạt động tuyển dụng nhân lực

    LỜI NÓI ĐẦU

    Chúng ta đã biết, trong mọi nguồn lực thì nguồn nhân lực là quan trọng nhất trong một tổ chức. Nguồn nhân lực có vai trò rất lớn trong việc thành bại của tổ chức. Trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt hiện nay, khi mà luôn có những thay đổi chóng mặt; những xu hướng mới; những cơ hội và thách thức mới thì mỗi tổ chức phải linh hoạt để thích ứng. Những giá trị ngày xưa đã không còn phù hợp với thời buổi hiện nay. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn quá khứ. Song một thực tế rõ ràng là các nhân viên ngày nay cần thiết phải trang bị một kiến thức mới, một công nghệ mới và với một tư duy mới. Chúng ta chỉ giữ lại những gì còn phù hợp với thời buổi hiện nay, còn lại phải thay đổi hết. Từ đó chúng ta thấy rõ nhu cầu cấp thiết của Tổ chức trong việc tuyển dụng một đội ngũ nhân viên mới thoả mãn yêu cầu của công việc trong thời buổi hiện nay. Đặc biệt là trong nền kinh tế Việt Nam khi mới chuyển từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường thì nhu cầu đó lại càng bức xúc hơn bao giờ hết. Chỉ khi nào các doanh nghiệp, công ty của Việt Nam có một nguồn nhân lực đủ mạnh thì mới thể tồn tại và phát triển trên thị trường và sau đó là hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.

    Cùng với công tác đào tạo và đào tạo lại thì công tác tuyển dụng nhân lực được xem là hoạt động then chốt của tổ chức trong việc có được một đội ngũ nhân viên thoả mãn yêu cầu công việc mới. Hoạt động tuyển dụng nhân lực sẽ quyết định lớn đến chất lượng và sự phù hợp của nhân viên. nếu công tác này được làm tốt thì tổ chức sẽ có một cơ cấu tổ chức hợp lý, đủ sức tồn tại và phát triển. Điều ngược lại là có thể dẫn tới sự phá sản của Tổ chức.

    Đây là một đề tài còn khá mới mẻ, rất ít tài liệu tham khảo nen bài viết chỉ để cập đến những vấn đề cơ bản và chung nhất, không có ý định đi sâu và phân tích kỹ càng. Nhưng cũng mong qua bài viết này sẽ ít nhiều nêu bật được tầm quan trọng của công tác tuyển nhân lực trong một tổ chức. Đồng thời sẽ cố gắng đưa ra những giải pháp để cho hoạt động này được tốt hơn trong các doanh nghiệp ở Việt Nam.

    Đề tài này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của giáo viên – Thạc sỹ

    …………………….. Xin chân thành cảm ơn cô đã hướng dẫn và sửa chữa giúp cho

    đề tài này được ra đời.

    Tuy rất cố gắng, xong bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, thiển cận. Vậy rất mong các bạn bỏ qua và góp ý kiến để đề tài này càng hoàn thiện thêm

    1

    CHƯƠNG I

    HOẠT ĐỘNG TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC

    A. TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC

    Nghiên cứu kỹ các kế hoạch chiến lược của tổ chức mình là nhiệm vụ trước tiên mà nhà quản trị phải thực hiện. Từ đó xem xét với nguồn nhân lực hiện thời của tổ chức thì có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra hay không. Thông thường việc đáp ứng đầy đủ rất khó xảy ra nếu không mốn nói là không thể. Với một kế hoạch chiến lược thì trong tổ chức luôn xảy ra tình trạng dư thừa hoặc thiếu nhân viên là như thế nào?

    Trong trường hợp khiếm dụng nhân viên, nhà quản trị cần phải thực hiện chương trình thuyên chuyển nhân viên theo đúng khả năng và tiềm năng của họ, hoặc thăng chức và giáng chức theo đúng nhu cầu và khả năng của công ty. Nếu sau khi sắp xếp lại mà vẫn thấy không đủ theo nhu cầu, tổ chức sẽ tiến hành chương trình tuyển mộ và tuyển chọn nhân viên. Còn trong trường hợp thặng dư nhân viên, nhà quản trị có thể áp dụng các biện pháp như: hạn chế việc tuyển dụng lại; giảm bớt giờ lao động; cho về hưu sớm hoặc giãn thợ (cho nghỉ tạm thời) – trường hợp này sẽ không đề cập đến nhiều, bởi mục đích chính của chúng ta là tuyển dụng nhân lực.

    Hoạt động tuyển dụng nhân lực bao gồm tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực. Chúng ta có thể hiểu một cách nôm na rằng: Tuyển mộ là tập trung các ứng viên lại, còn tuyển chọn là quyết định xem trong số các ứng cử viên ai là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc cho tổ chức. Bây giờ ta hay xem xét kỹ từng hoạt động này.

    I. TUYỂN MỘ.

    Khái niệm: Tuyển mộ là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký, nộp đơn tìm việc làm.

    Tuy nhiên, như trên đã nói, không phải là khi thấy thiếu nhân viên là ta phải lập tức tuyển mộ ngay. Để tránh lãnh phí, trước khi đưa ra quyết định tuyển mộ người ta xem xét còn giải pháp nào có thể giải quyết được tình hình thiếu hụt nhân viên hay không?

    1. Các giải pháp khác trước khi quyết định tuyển mộ. Giờ phụ trội (làm thêm giờ).

    Đối với các công ty, doanh nghiệp mà lượng hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra không ổn định trong năm mà có tính chất thời vụ thì họ thường khuyến khích công nhân làm thêm giờ phụ trội. Giờ phụ trội được tính cap gấp rưỡi hoặc gấp đôi giờ công lao động bình thường.

    Giải pháp này có ưu điểm là công ty không phải tuyển thêm lao động mà vẫn hoàn thành các đơn đặt hàng. Vẫn giữ được cơ cấu và không phải nuôi số người dư thừa khi nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của công ty qua mùa cao điểm.

    Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là khi nhân viên làm việc phụ trội trong một thời gian dài sẽ dẫn đến mệt mỏi, quá tải và kéo theo chất lượng sản phẩm giảm. Đồng thời nhân viên sẽ thiếu nhiệt tình khi trở lại làm việc ở mức độ bình thường như trước kia.

    1. Hợp đồng gia công.

    Khi ở vào tình trạng thiếu nhân viên, các công ty có thể chọn giải pháp ký hợp đồng với các hãng khác sản xuất cho mình. Việc này về trước mắt có lợi cho cả đôi bên. Công ty sẽ không phải tuyển mộ thêm nhân viên, song lại có nhược điểm là (về lâu dài) có thể mất khách hàng vào tay các công ty được thuê gia công kia.

    1. Thuê nhân viên của hãng khác.

    Trong trường hợp này, sổ lương của các công nhân được thuê, mướn vẫn nằm tại công ty gốc và tiền thù lao của họ được thanh toán tại công ty gốc. Điều này không phá vỡ cơ cấu của cả hai công ty, tuy nhiên nó có nhược điểm lớn là công nhân cảm thấy mình không phải là công nhân biên chế, nên họ làm việc không hăng hái. Điều quan trọng khác rất dễ xảy ra là sự chênh lệch về chuyên môn của các công nhân.

    1. Nhân viên tạm thời.

    Đây cũng là giải pháp giải quyết vấn đề khiếm dụng nhân công. Để tránh những điều đáng tiếc xảy ra sau này, chúng ta nên nói ra trong hợp đồng là cần tuyển người trong thời gian ngắn. Trường hợp này cũng có những hạn chế giống như ở giải pháp thuê nhân viên hãng khác.

    Khi đã thực hiện tất cả các giải pháp trên mà vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của tổ chức, lúc đó chúng ta mới quyết định tuyển mộ nhân viên.

    3

    1. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến quá trình tuyển mộ nhân viên.

     

    Phẩm chất của nhân viên luông là mục đích quan trọng của quá trình

    tuyển dụng. Việc tìm được các nhân viên có đầy đủ năng lực và phẩm chất để sắp xếp đúng vị trí luôn là điều mơ ước của các nhà quản trị. Tuy nhiên, vì lý do này hay lý do khác mà các nhà quản trị đôi khi phải chấp nhận những phương án không phải là tối ưu. Đó là do sự tác động của môi trường (bên trong và bên ngoài) doanh nghiệp. Chúng ta hãy xem xét kỹ ảnh hưởng của yếu tố này.

    1. Môi trường bên trong doanh nghiệp.

    * Tính chất, đặc điểm công việc của doanh nghiệp.

    Với từng loại công việc mà nhân viên được tuyển dụng sẽ cần các kỹ năng, trình độ không giống nhau. Xác định rõ được điều này sẽ giúp nhà quản trị phân vùng và hướng tới các ứng viên phù hợp. Sẽ tránh được việc phải xem xét quá nhiều những trường hợp, những ứng viên không phù hợp với yêu cầu tuyển dụng.

    * Thời gian.

    Đôi khi, do sự việc đến quá bất ngờ và cấp bách yếu tố thời gian sẽ là quan trọng nhất đối với việc tuyển dụng nhân viên. Lúc này nhà quản trị phải quyết định tuyển dụng những nhân viên có thể không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất đã đề ra. Chỉ cần những nhân viên đó thoả mãn một trong các yêu cầu đó là có thể tuyển dụng được.

    * Khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    Có những trường hợp, do khả năng tài chính của doanh nghiệp quá eo hẹp nên các nhà quản trị không có điều kiện để sàng lọc tất cả các ứng viên để tìm được những người thích hợp nhất. Kết quả là họ phải chấp nhận các phương pháp tuyển dụng tắt (bỏ một số bước) hoặc trong một phạm vi hẹp để phù hợp với khả năng tài chính. Điều này sẽ dẫn đến chất lượng của các nhân viên được chọn có thể không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công việc.

    * Bầu không khí văn hoá của doanh nghiệp.

    Một công ty hay doanh nghiệp có bầu không khí năng động, chắc chắn các nhà quản trị sẽ tuyển chọn những người có đầu óc thông minh, có tham vọng, và nhất là năng động và có sáng kiến.

    Phản ứng của công đoàn.

    4

    Nếu các cấp quản trị thực hiện việc tuyển dụng không bình đẳng, phân biệt đối xử và nhất là đi ngược lại lợi ích của Công đoàn thì chắc chắn Công đoàn sẽ phản ứng. Điều này chưa xảy ra ở Việt Nam, nhưng trong tương lai chắc chắn sẽ xảy ra.

    1. Môi trường bên ngoài doanh nghiệp. * Khung cảnh kinh tế.

    Khi nền kinh tế phát triển hay suy giảm, nó ảnh hưởng đến quá trình tuyển dụng nhân viên của các doanh nghiệp. Khi kinh tế phát triển có chiều hướng ổn định, doanh nghiệp phải tuyển thêm người có trình độ, tăng lương để thu hút nhân tài, tăng phúc lợi và cải thiện điều kiện làm việc và ngược lại.

    * Dân số, lực lượng lao động.

    Dân số và lực lượng lao động đông dẫn đến nhu cầu về việc làm tăng. Chúng ta còn có thể kể đến luật lệ của Nhà nước, văn hoá – xã hội, đối thủ cạnh tranh, khoa học kỹ thuật, khách hàng và chính quyền đoàn thể.

    1. Nguồn tuyển mộ.

    Có hai nguồn tuyển mộ là nguồn nội bộ và nguồn bên ngoài.

    1. Nguồn nội bộ.

    Tuyển mộ nhân viên trong nội bộ công ty là cả một thủ tục phức tạp. Đối với các chức vụ quản trị gia cao cấp, thường công ty áp dụng hồ sơ thuyên chuyển. Với các chức vụ hoặc công việc ở cấp thấp hơn các công ty thường sử dụng phương pháp niêm yết công việc còn trống. Bảng niêm yết này được dán công khai để mọi người đều biết. Trong bảng này, thường người ta ghi rõ chỗ làm còn trống, các thủ tục cần biết… Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật mời đăng ký chỗ còn trống. Đôi khi một số công ty tổ chức thêm các cuộc trắc nghiệm và phỏng vấn để cho việc tuyển lựa chính xác hơn.

    Khi yếu tố thời gian là yếu tố nổi bật – nghĩa là công ty cần tìm gấp một người nào đó mà không có thời gian thì cách tốt nhất là dán thông báo trong nội bộ công ty. Ngoài ra, đây cũng là vấn đề thuộc về chính sách. Các công ty lớn của các nước Âu – Mỹ, nhất là Nhật Bản, thường ưu tiên tuyển người từ nguồn nội bộ (nó còn được gọi là tuyển nhân viên hiện hành).

    Tuyển người từ nguồn nội bộ có ưu điểm là nhân viên thấy công ty luôn luôn tạo cơ hội để họ được thăng tiến, và do đó họ gắn bó với công ty hơn và làm việc tích cực hơn. Ngoài ra, họ là những người đã quen thuộc, hiểu được

    5

    chính sách và cơ cấu của công ty. Do đó chỉ cần một thời gian ngắn công ty giúp họ hội nhập vào môi trường làm việc mới.

    1. Nguồn bên ngoài.

    Có rất nhiều nguồn tuyển mộ từ bên ngoài. Sau đây là một số nguồn

    chính.

    * Bạn bè của nhân viên.

    Các nhân viên đang làm trong công ty có thể giới thiệu cho công ty những người bạn (mà mình biết và hiểu rõ) có khả năng và có chất lượng. Điều dễ hiểu là nếu nhân viên thích các công việc ở công ty, họ thường rất muốn bạn bè của mình vào làm việc chung với mình.

    Tuyển mộ theo lối này có khả năng dẫn tới sự thiện vị hoặc cảm tưởng không tốt trong nhân viên khi một người bạn hoặc họ hàng của họ không được chấp nhận vào làm việc. Sự bất lợi nãy sẽ được giải quyết khi công ty giải thích rõ ràng tất cả các đơn xin việc đó sẽ được cứu xét khách quan giống như những người nộp đơn qua hệ thống tuyển mộ khác, nhưng sẽ được ưu tiên hơn người khác nếu xảy ra trường hợp bằng điểm số.

    * Nhân viên cũ (cựu nhân viên của công ty).

    Đó là trường hợp các nhân viên vì lý do nào đó rời bỏ công ty để làm việc cho một công ty khác mà nay lại muốn trở về nơi cũ. Việc nhận số nhân viên này làm cho tất cả các nhân viên có ý tưởng rằng họ có thể rời công ty bất cứ lúc nào họ muốn, và một khi trở lại họ không mất mát gì. nếu nhà quản trị thận trọng tránh để nhân viên có tư tưởng như vậy thì việc nhận số người cũ có lợi là họ sẽ trở thành những nhân viên làm việc tốt hơn, vui vẻ hơn và có tinh thần trung thực hơn trước kia.

    * Ứng viên tự nộp đơn xin việc.

    Đó là những người tự ý đến văn phòng công ty để xin việc trong khi công ty không đăng quảng cáo tìm người.

    Trong trường hợp này ta nên thiết lập một hệ thống hồ sơ các ứng viên loại này để khi cần thiết có thể mời họ vào mà không phải tốn thời gian, công sức và tiền bạc.

    * Nhân viên của các hãng khác.

    Tuyển dụng những nhân viên này là con đường ngắn nhất và có hiệu quả nhất vì công ty không phải chi phí cho nghiệp vụ đào tạo và hầu như không phải qua thời kỳ tập sự. Hình thức này hay được áp dụng tại Mỹ.

    6

    * Các trường đại học và cao đẳng

    Đây là nguồn tuyển mộ quan trọng đối với hầu hết các công ty. Bởi vì những người này còn giữ được thói quen học tập, tâm hồn trong trắng, để tào tạo, có sức bật vươn lên và nhiều sáng kiến.

    * Người thất nghiệp.

    Đây cũng là nguồn có giá trị. Có nhiều lý do để họ thất nghiệp mặc dù không phải là họ thiếu khả năng. Nếu khai thác tốt nguồn này công ty có thể nhặt được những “của quý” bất ngờ.

    * Công nhân làm nghề tự do.

    Những công nhân làm nghề tự do cũng là một nguồn tuyển mộ có tiềm năng. Họ có thể sẽ là những ứng viên cho những công việc đòi hỏi kỹ thuật, chuyên môn cao.

    1. Phương pháp tuyển mộ.

    Có rất nhiều phương pháp tuyển mộ nhân viên từ nguồn bên ngoài. Phổ biến nhất vẫn là quảng cáo, đến các trường tuyển mộ và đến các cơ quan lao động – công cũng như tư.

    1. Phương pháp quảng cáo.

    Phổ biến nhất vẫn là quảng cáo trên báo chí, ngoài ra còn ở tivi, đài, tờ rơi… Tiền quảng cáo khá tốn kém nhất là đối với tivi. Hầu hết các công ty đều đồng ý rằng đăng quảng cáo trên báo chí là nguồn cung cấp các công nhân, nhân viên trẻ tuổi, đa số ít có kỹ năng theo nhu cầu của công ty. Cách này được áp dụng khi các phương pháp tuyển mộ khác quá tốn kém hoặc khó khăn. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là công ty sẽ e ngại phản ứng của công nhân khi họ biết công ty đang rất cần người, nhất là các ngành nghề đòi hỏi kỹ năng cao, điều đó dẫn đến năng suất lao động giảm.

    1. Cử chuyên viên tuyển mộ đến các trường.

    Còn được gọi là phương pháp chuyên viên tuyển mộ. Mấu chốt là ở chỗ các chuyên viên tiếp xúc với giám đốc sinh viên vụ của các trường. Hầu hết các sinh viên giỏi đều lọt vào “tầm ngắm” của họ và có thể tài trợ cho sinh viên đó học tập. Khi ra trường, sinh viên đó sẽ được mời về công ty để làm việc (thậm chí là bắt buộc).

    7

    1. Các cơ quan tuyển dụng.

    Cũng có nhiều công ty lại phải nhờ cậy các cơ quan tuyển dụng hoặc tuyển chọn dùm. Thường là họ thiên về tuyển nhân viên văn phòng hơn. Chất lượng tuyển tuỳ theo kha năng chuyên môn của cấp quản trị của các cơ quan này. Các cơ quan tư nhân thường tuyển lựa kỹ và tốt hơn các cơ quan công.

    1. Sinh viên thực tập.

    Sinh viên thường thực tập trong các tháng hè. Qua thời gian làm việc ở công ty và qua mối quan hệ tiếp xúc, sinh viên có thể xác định được có nên xin làm việc tại đây không và ngược lại, công ty có thể chấp nhận sinh viên này hay không.

    Ngoài ra còn có một số phương pháp như: Nhờ nhân viên giới thiệu, ứng viên tự nộp đơn… và các phương pháp áp dụng ở các nước phát triển, chưa xuất hiện ở Việt Nam như: Sử dụng hiệp hội chuyên ngành, Trung tâm dịch vụ dữ kiện lỹ lịch.

    II. TUYỂN CHỌN NHÂN LỰC.

    Tuyển chọn nhân lực là một quá trình phức tạp và tốn nhiều công sức. Phải có nghiệp vụ chuyên môn, tầm hiểu biết rộng rãi đồng thời còn phụ thuộc và chính sách tuyển dụng của công ty.

    Tuyển chọn nhân lực được định nghĩa như sau: Là quyết định xem trong số các ứng viên đã được tuyển mộ ái là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc cho công ty.

    Tiến trình tuyển chọn gồm các giai đoạn.

    1. Giai đoạn chuẩn bị.

    Nhất thiết phải chuẩn bị kỹ càng về vật chất và cơ sở hạ tầng, các công ty cần chú trọng đến bảng mô tả chi tiết tiêu chuẩn công việc. Có bảng này sẽ giúp các cấp quản trị biết rõ sẽ cần loại ứng viên có tiêu chuẩn như thế nào. Từ đó các chuyên gia sẽ soạn thảo các mẫu trắc nghiệm, các mẫu phỏng vấn thích hơp.

    1. Giai đoạn chính thức. Bao gồm 7 bước:

     

    Bước1: Ứng viên nộp đơn

    8

    Bước này yêu cầu các ứng viên nộp đầy đủ hồ sơ xin việc, bao gồm các giấy tờ cần thiết cho cơ quan tuyển chọn. Các công ty nên soạn thảo mẫu đơn xin việc của riêng mình, như vậy dễ cho việc xem xét về sau này hơn.

    Bước 2: Phỏng vấn hồ sơ.

    Sau khi hồ sơ được tuyển chọn sơ bộ, công ty sẽ báo cho các ứng viên được chọn đến tham dự các giai đoạn tuyển chọn kế tiếp. Vì là lần đầu tiên ứng viên tiếp xúc với công ty nên các tiếp viên nên tế nhị để gây ảnh hưởng tốt cho công ty. Là giai đoạn chọn lọc hồ sơ để loại các ứng viên không đủ yêu cầu. Phỏng cấn viên hỏi thẳng một số câu hỏi về chuyên môn ngay. Cần chú ý khi các ứng viên có kinh nghiệm và trình độ thuộc lĩnh vực khác thì không nên loại ra ngay mà có thể chuyển sang bộ phận sắp cần người hoặc tuyển đợt sau.

    Thực hiện tốt giai đoạn này sẽ xây dựng thiện ý cho công ty, đồng thời tối đa hoá hiệu quả của tuyển dụng.

    Bước 3: Trắc nghiệm.

    Qua trắc nghiệm có thể phát hiện ra những tài năng đặc biệt của ứng viên, tìm ra các sắc thái đặc biệt về cá tính …

    Mục đích của nó là nhằm giảm bớt chi phí về huấn luyện. Khi đã biết năng khiếu của họ chỉ việc phát triển lên, rút ngắn thời gian tập sự…

    Các phương pháp trắc nghiệm:

    • Trắc nghiệm về kiến thức tổng quát: Mục đích là tìm xem trình độ hiểu biết tổng quát của cá nhân đạt đến trình độ nào về các lĩnh vực kinh tế, địa lý, toán… Chỉ áp dụng trắc nghiệm này khi cần phải tuyển chọn những nhân viên thuộc cấp quản trị.
    • Trắc nghiệm tâm lý: Hiện nay đóng vai trò quan trọng. Nó giúp cho nhà quản trị hiểu được động thái và thái độ ứng xử của ứng viên.
    • Trắc nghiệm trí thông minh.

    Với loại này người ta sẽ suy đoán được khả năng của ứng viên về từ ngữ, óc toán học, lý luận logic và những mối liên hệ trong không gian.

    Chỉ số thông minh IQ được tính như sau:

      IQ = Tuổi tinh thần x 100%
       
      Tuổi thực
         
    IQ < 100 → kém thông minh  
    IQ > 100 → thông minh  

    9

    • < IQ < 140 → lỗi lạc IQ > 140 → thần đồng * Trắc nghiệm cá tính:

    Mục đích xem cá tính của ứng viên để sau này giúp các ứng viên thực

    hiện nhiệm vụ dễ dàng hơn nhờ chỉnh bớt sự phức tạp và sai lệch của cá tính.

    * Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng chuyên môn.

    Đây là loại trắc nghiệm để tìm ra người có chuyên môn, nghiệp vụ có đầu óc sáng tạo cho công ty.

    Còn một số trắc nghiệm khác như khả năng nhận thức, độ linh hoạt của phản ứng, sở thích nghề nghiệp…

    Bước 4: Phỏng vấn sâu.

    Là phương pháp thông dụng nhất trong nghiệp vụ truyển chọn. Đây là phương pháp được sử dụng để lựa một ứng viên thích hợp.

    Mục đích là phối kiểm tra lại tất cả những dữ kiện mà ứng viên đã cung cấp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tong suốt giai đoạn lựa chọn. Phỏng vấn giúp ứng viên và chỉ huy hiểu rõ nhau hơn, xem ứng viên có thực sự đủ kiến thức không, đánh giá cả bên ngoài và bên trong ứng viên viên. những người chịu trách nhiệm phỏng vấn có thể gồm: Giám đốc TNNS, chỉ huy trực tiếp của ứng viên… Để công việc đạt được hiệu quả cao thì cả hai bên cùng phải chuẩn bị.

    Có các phương pháp phỏng vấn sau:

    Phỏng vấn theo mẫu; Phỏng vấn không theo mẫu; Phỏng vấn theo hợp đồng; Phỏng vấn căng thẳng; Phỏng vấn cá nhân hay phỏng vấn nhóm. Lưu ý những điều cần tránh sau:

    – Không nên phán xét một ứng viên bằng cách so sánh họ với một người

    khác.

    • Người phỏng vấn không nên tự cho mình là người kỳ cựu của công ty hay là người hiểu rộng biết nhiều khi đánh giá ứng viên.
    • Không nên tạo cho ứng viên cảm tưởng lạc quan quá đáng về quyền lợi ma họ được hưởng.
    • Không nên che đậy thực trạng của công ty.

    Bước 5: Sưu tra lý lịch.

    Sau khi đã trắc nghiệm và phỏng vấn sâu, nhà quản trị nên kiểm tra xem lại tất cả những gì ứng viên trình bày có đúng sự thật hay không. Ngoài ra còn

    10

    cần tìm hiểu một đôi nét về ứng viên qua thông tin người nào đó nói về ứng viên. Đó là sưu tra lý lịch.

    Bước 6: Khám sức khoẻ.

    Xem có phù hợp với tính chất của công việc không.

    Nên khám sức khoẻ trước khi quyết định tuyển dụng để việc tuyển dụng không biến thành “công dã tràng”.

    Bước 7: Thử việc và quyết định tuyển dụng.

    Sau khi ứng viên vượt qua được các bước trên, ứng viên sẽ có một thời gian ngắn để tiếp xúc và làm thử công việc của mình. Nếu họ hoàn thành công việc của mình thì công ty sẽ quyết định tuyển dụng anh ta.

    Từ 7 bước trên ta có kết luận:

    Các yêu cầu với cán bộ tuyển chọn phải là: Có trình độ kỹ năng đặt lợi ích của tổ chức lên trên hết đồng thời nhạy bén và linh hoạt trong việc ứng dụng các phương pháp tuyến chọn.

    B- VAI TRÒ Ý NGHĨA CỦA TUYỂN DỤNG.

    1. Đối với tổ chức.

    Hoạt động tuyển dụng tốt thì tổ chức sẽ có một đội ngũ nhân viên có trình độ, kinh nghiệm để giúp tổ chức tồn tại và phát triển tốt, có tính cạnh tranh cao. Ngược lại có thể dẫn đến suy yếu nguồn nhân lực → hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, lãng phí nguồn lực → phá sản.

    2. Đối với xã hội.

    Hoạt động tuyển dụng tốt thì sẽ giúp xã hội sử dụng hợp lý tốt đa nguồn lực. Là đầu ra của đào tạo nguồn nhân lực. Nó có thể giải quyết vấn đề việc làm xã hội.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRANG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG TẠI CÁC DOANH

    NGHIỆP Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG.

    I.                   THAM KHẢO PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC TUYỂN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN.

    1. Tại Mỹ.

    Các công ty tại Mỹ có vốn lớn, trình độ quản lý và công nghê cao do đó họ rất coi trọng công tác tuyển dụng nhân lực. Quá trình này luôn đầy đủ các bước. Một đặc trưng rất quan trọng là theo lậut lao động Mỹ, sau ba tháng, các công ty hoặc phải cho người lao động vào biên chế chính thức hoặc cho nghỉ. Nếu vào biên chế chính thức ngoài khoản được tăng lương, công nhân còn được hưởng các loại phúc lợi rất tốn kém. Công nhân thường được tuyển dụng theo hợp đồng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nên việc tuyển chọn nhân viên của hãng khác là khá phổ biến. Đây là triết lý chính trong quan điểm tuyển dụng của họ: Sử dụng triệt để người có tài bất kể trước đây anh là ai, làm việc cho hãng nào. Ngoài ra tuyển chọn quan trọng của các công ty Mỹ. Họ ưa thích nguồn nội bộ.

    2. Tại Nhật Bản.

    Các công ty ở Nhật bản cũng có vốn lớn, trình độ quản lý và công nghệ cao. Quá trình tuyển dụng nhân lực luôn được làm đầy đủ, nghiêm túc và kỹ càng. Giống tại Mỹ, các công ty Nhật ưa thích các nguồn nội bộ, trái với người Mỹ việc thăng chức chủ yếu dựa vào thành tích và khả năng là chủ yêu và thâm niên là thứ yếu. Còn người Nhật, thì yếu tố nhâm niên là chủ yếu giống hệt như tại Việt Nam. Tuy nhiên kể từ thập niên 1980, người Nhật đã cố gắng phá vỡ quan niệm truyền thống lạc hậu này vì cản trở người trẻ tuổi có thực tài. Từ thập niên 1990, hầu hết các hãng lớn của Nhật theo bước chân Mỹ trong việc thăng cấp. Những người trẻ tuổi muốn được thăng cấp ngạch quản trị đều phải qua chu kỳ thi trắc nghiệm và phải qua khoá huận luyện về quản trị. Truyền thống tuyển dụng của người Nhật là tuyển dụng suốt đời do đó họ không muốn tuyển dụng người nhân viên của các khãng khác như các công ty Mỹ. Hầu hết các công ty Nhật tuyển dụng nhân viên từ các trường Đại học và

    12

    Cao đẳng. Nhưng từ thập niên 1980 và nhất là 1990, dần dần càng có nhiều công ty tuyển mộ theo cách trên. họ thường thu nhận nhân viên của các hãng đang sa sút thừa nhân viên, sinh viên trẻ tuổi của các khoa Đại học… Rất hiếm khi nhân viên được tuyển từ các hãng đang cạnh tranh trong cùng ngành công nghiệp. Trong việc bố trí những người này vào một tổ chức, các công ty thường hết sức thận trọng, mục đích để bảo vệ nhân viên “riêng” của mình. Vì vậy những nhân viên này thường bị thua thiệt về chính sách lương bổng với nhân viên “gốc” của công ty. Điều này khác hẳn với Mỹ.

    Ngoài ra tại Mỹ và Nhật còn có các hãng như hãng chuyên cung cấp ứng viên có khả năng quản trị (Executive Search Firms) hoặc Hiệp hội chuyên ngành (Professional Associations) hoặc đến các trung tâm dịch vị dữ kiện lý lịch (Resume Databases) để được cung cấp lý lịch của các ứng viên đang cần việc làm. Những phương pháp này tại Việt Nam chưa có.

    1. ĐỘNG THÁI VÀ KHẢ NĂNG THU HÚT LAO ĐỘNG CỦA CÁCDOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG.

    “Mức cầu lao động” trong các doanh nghiệp là bộ phận quan trọng cấu thành “Mức cầu chung về lao động” của thị trường lao động. Đánh giá động thía lao động doanh nghiệp làm cơ sở cho cơ quan chức năng hoạch định các chính sách, giải pháp về phát triển kinh tế (đầu tư, công nghệ, phát triển ngành nghề, đào tạo nhân lực…) nhằm không ngừng tăng số chỗ làm việc mới, ổn định việc làm cho lực lượng lao động trong từng khu vực và thị trường lao động cả nước. Động thái lao động doanh nghiệp còn phản ánh xu thế thu hút lao động của các doanh nghiệp về mặt số lượng và chất lượng và đặc trưng khác của người lao động,

    Qua khảo sát động thái lao động năm 1999 của các doanh nghiệp tại 5 địa phương: Hà Nội, Vinh, Đà Năng, Đồng Nai, Cần Thơ, (tháng 12/1999) cho thấy tính đa dạng về mức độ giảm, tăng và khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp. Cụ thể:

    1. Lao động giảm trong năm.

    Mức lao động giảm trong năm 1999 của các doanh nghiệp tại các địa phương thể hiện ở biểu sau:

    13

    Biểu mức độ giảm lao động của các doanh nghiệp tại địa phương năm 1999

                  Thị trường lao động  
      Các chỉ tiêu                
        Vinh   Đà Đồng Cần Tổng số
              Nội   Nẵng Nai Thơ
                   
                           
        A     1 2   3 4 5 6
                   
    Tổng số lao động có đầu             172.663
    năm thuộc mẫu quan sát 34.415 21.222   32.851 65.635 18.540 (nữ
    (người)                   92.293)
                   
    Tổng số lao động thực tế             193.165
    đang làm việc thuộc mẫu 37.180 25.568   36.244 73.005 21.168 (nữ
    quan sát (người)               102.014)
                         
    Tổng số lao động giảm 2.046 908   3.824 7.676 1.740 16.191
    (người)        
                       
                       
    % giảm so tổng số lao 5,5 3,5   10,5 10,5 8,2 8,4
    động đang làm việc    
                   
                           
    Tổng số lao động nữ 1.224 348   2.840 4.950 1.009 10.381
    giảm          
                         
                   
    % lao động nữ giảm so              
    tổng số lao động nữ đang 6,4 3,6   15,4 10,7 11,9 10,2
    làm việc                    
                   
    Tỷ lệ số lao động giảm so              
    tổng số lao động có đầu 5,95 4,28   11,64 11,69 9,39 9,38
    năm (%)                    
                   
    Tỷ lệ lao động nữ giảm              
    so tổng số lao động nữ 6,72 4,35   16,42 12,29 12,29 11,2
    đầu năm (%)                  
                           

    Biểu trên cho thấy, trong năm 1999 lao động của các doanh nghiệp giảm khá lớn, bằng 8,4% tổng số lao động thực tế đang làm việc và bằng 9,38% tổng số lao động có đầu năm. Trong đó so với lao động thực tế đang làm việc, mức giảm lao động lớn ở các doanh nghiệp khu vực Đà Nẵng, Đồng Nai (đều 10,5%), Cần Thơ (8,2%) và thấp ở khu vực Vinh (3,5%). Tỷ lệ lao động nữ giảm trong tương quan với lao động nam, không có chênh lệch lớn, ngoại trừ

    14

    tại khu vực Đà Nẵng và Cần Thơ tỷ lệ này cao vọt lên tương ứng là 15,4 và 11,9% so tổng số lao động đang làm việc do một số doanh nghiệp cơ cấu lại sản suất và lao động, phát triển các nghề ít thu hút lao động nữ.

    Phần lớn lao động nữ giảm trong năm thuộc ngành công nghiệp chế biến, chiếm tỷ lệ 72%; sản suất điện – xây dựng: 8%; thương nghiệp: 7,3%; dịc vụ khác: 7,6% tổng số lao động giảm. Ở các ngành khác lao động giảm với tỷ lệ thấp.

    Số lao động giảm trong năm hầu hết tập trung vào các doanh nghiệp vừa và lớn (trên 100 lao động), chiếm tới 97,2% tổng số lao động giảm. Trong đó, doanh nghiệp có hơn 1000 lao động chiếm tỷ lệ 46,6% tổng số lao động giảm. Như vậy, biến động lao động giảm trong các doanh nghiệp lớn rất đáng chú ý.

    Lao động giảm trong năm chủ yếu là lao động phổ thông chiếm 54,1%, sau đó là công nhân kỹ thuật và sơ cấp: 36,5% tổng số lao động giảm. Lao động phổ thông giảm cao hơn mức chung là ở các doanh nghiệp khu vực Đồng Nai, chiếm 64,3% tổng số lao động giảm. Lao động cao đẳng, đại học giảm cao hơn mức chung là ở các doanh nghiệp khu vực Hà Nội, chiếm tỷ lệ 12,4% tổng số lao động giảm.

    Xem xét nguyên nhân giảm lao động của các doanh nghiệp cho thấy số lao động giảm do bỏ việc vì mức tiền lương (tiền công) thấp, chiếm tỷ lệ cao nhất: 36,3%, do kết thúc hợp đồng: 18,8%, về hưu mất sức: 8,1%. Các nguyên nhân khác: sản suất thu hẹp, thay đổi công nghệ, sa thải… chiếm tỷ lệ từ 0,4% – 4,2% tổng số lao động giảm trong năm.

    1. Tuyển dụng lao động trong năm.

    Biểu dưới cho thấy tình hình tuyển dụng lao động trong năm của các địa phương.

    Biểu tình hình tuyển dụng lao động các doanh nghiệp tại đại phương, 1999

    Chỉ tiêu Vinh Đà Đồng Cần Tổng
      Nội   Nẵng Nai Thơ số
                 
    Tổng số lao động tuyển 3.028 1.205 6.595 14.651 2.063 27.542
    dụng (người)            
                 
    % so tổng số lao động 8,14 4,71 18,2 20,07 9,75 14,26
    đang làm việc            
                 
    % so tổng số lao động có 8,8 5,68 20,08 22,32 11,13 15,95
                 

    15

    đầu năm

    Tổng số lao động tuyển dụng trong năm 1999 của các doanh nghiệp được quan sát tại 5 địa bàn là 17.542 người, bằng 14,26% tổng số lao động đang làm việc. Trong đó có 17.821 lao động nữ, bằng 64,7% TSLĐ tuyển dụng. Rõ ràng lao động nữ được các doanh nghiệp quan tâm sử dụng. Mức tuyển dụng lao động rất cao tại khu vực Đồng Nai: 20,07%, Đà Nẵng: 18,2% và thấp ở Vinh: 4,71% tổng số lao động đang làm việc.

    Số lao động tuyển dụng của các ngành có tỷ lệ cao nhất là công nghiệp chế biến: 21.841 người (79,3%), sản suất phân phối điện – xây dựng: 2.275 người (8,26%), thương nghiệp: 1.382 người (5,02%), dịch vụ khác: 1.120 người (4,7). Các lĩnh vực sản suất kinh doanh khác chỉ chiếm con số nhỏ.

    Các doanh nghiệp có quy mô lao động hơn 1000 người tuyển lao động nhiều nhất là 14.111 lao động, bằng 51,23% tổng số lao động tuyển dụng; Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn hoặc bằng 100 người chỉ chiếm tỷ lệ 2&. Ở đây biểu hiện rõ xu thế doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì nhu cầu tuyển dụng lao động có phần lớn hơn.

    Xét theo nghề cho thấy, nhu cầu tuyển dụng lao động lớn nhất thuộc nhóm nghề rệt, may, và thợ liên quan đến dệt may (cơ khí, điện…), chiếm tỷ lệ 33,5% tổng số lao động tuyển dụng của tất cả các nghề. Một số nghề khác chiếm tỷ lệ khá cao như lao động giản đơn trong công nghiệp: 10,7%; thợ giày da và thợ liên quan: 7,2%; thợ sản suất đồ gỗ và thợ liên quan: 6,29%; nhóm nghề khác chiếm tỷ lệ tư 0,9 – 3,6%.

    Nhu cầu tuyển dụng lao động nữ phụ thuộc vào đặc trưng nghề (tính chất công việc). Một số nhóm nghề thích hợp với lao động nữ nên tỷ lệ tuyển dụng nữ cao như: thợ giày da chiếm tỷ lệ 93,92%; thợ may:84,8%; thợ lắp ráp: 89,07%; lao động giản đơn trong công nghiệp: 69,37% … so tổng số lao động tuyển dụng của từng nghề. Ngược lại, nghề có tính chất năng nhọc, độc hại thì tỷ lệ tuyển dụng lao động nữ thấp, như: thợ xây dựng: 6,33%; thợ đúc, hàn: 8,46%; thợ cơ khí sửa chữa máy móc, thiết bị sản suất: 10,51%… so tổng lao động tuyển dụng của từng nghề.

    Phần lớn lao động tuyển dụng trong năm là lao động phổ thông và công nhân kỹ thuật. Trong đó, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ 56,6% (nữ 60,6%), công nhân kỹ thuật: 34,7% (nữ 33,5%). Các tỷ lệ này thấp ở lao động trung cấp chuyên nghiệp: 3,5% (nữ 2,3%); cao đẳng, đại học trở lên: 6,2% (nữ 2,3%).

    16

    Như vậy, trong năm các doanh nghiệp đã giải quyết được một số lượng đáng kể chỗ làm việc cho đội ngũ công nhân.

    Động thái giảm lao động trong năm 1999 của các doanh nghiệp vận động theo chiều hướng tích cực, xuất hiện nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động.

    Trong 5 tỉnh khảo sát cho thấy, mức thu hút lao động đạt cao ở các doanh nghiệp khu vực Đồng Nai (9,5% TS lao động đang làm việc) Đà Nẵng (7,7%); thấp ở Cần Thơ (1,55%); Vinh (1,21%). Một yếu tố quan trọng đảm bảo sự tăng trưởng việc làm cao ở các địa phương có mức thu hút lao động cao là do khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm qua có sự phát triển đáng kể hơn so với địa hương khác.

    1. Nhu cầu tuyển dụng lao động trong năm 2000 của các doanh nghiệp.

    Biểu sau cho thấy nhu cầu tuyển dụng lao động một số ngành trong năm

    • qua điều tra kế hoạch tuyển dụng lao động, đảm bảo kế hoạch sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp.

    Biểu nhu cầu tuyển dụng lao động năm 2000

        Nhu cầu tuyển dụng lao động
      Lĩnh vực hoạt động    
      Bình quân một doanh Tỷ lệ nữ (%)
        nghiệp (người)
         
           
    1. Nông-Lâm-Ngư 4,9 13,6
           
    2. Khai thức mỏ 5,1 27,8
           
    3. CN chế biến 15,6 71,9
           
    4. SX-PP điện-xây dựng 10,1 5,9
           
    5. Thương ngiệp 6,5 55,8
           
    6. Vận tải-Thông tin 4,9 19,9
           
    7. Tài chính, tín dụng và dịc vụ khác 3,9 50,29
           

    Tổng số nhu cầu tuyển dụng lao động trong năm 2000 của 500 doanh nghiệp quan sát là 5226 người, bằng 2,78% tổng số lao động tực tế đang làm. Đây là con số thấp hơn nhiều so với nhu cầu tuyển dụng lao động năm 1999 (2,78% so 14,26%). Từ biểu trên cho thấy, nhu cầu tuyển dụng lao động bình quân trên doanh nghiệp cao nhất là ở ngành công nghiệp chế biến cũng chỉ đạt

    17

    15,6 người; sản suất phân phối điện – xây dựng: 10,1 người, các ngành khác có nhu cầu tuyển dụng lao động rất thấp.

    Xét theo trình độ chuyên môn – kỹ thuật, nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông cao nhất là 41,73%, tiếp đến công nhân kỹ thuật: 39,56%, trung cấp: 7,4%, cao đẳng, đại học trở lên 12,8%. Đáng chú ý là năm 200 mức tuyển dụng lao động phổ thông có giảm xuống so với năm 1999 (41,73% so 55,6%), trong khi lao động các loại khác có tăng lên: công nhân kỹ thuật: 33,5% (1999) và 33,56% (2000); trung cấp chuyên nghiệp: 3,5% (1999) và 7,43% (2000); cao đẳng, đại học trở lên 6,2% (1999) và 12,8% (2000). Đây là xu thế tất yếu về sự tăng lên của cầu lao động kỹ thuật trong điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật.

    II.                MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC.

    Tuyển dụng lao động là khâu quan trọng quyết định đến chất lượng đóng

    góp lao động, khả năng đáp ứng công việc đảm bảo cho hoạt động của dây chuyền sản xuất – kinh doanh nhịp nhàng, có hiệu quả. Công tác tuyển dụng lao động còn là yếu tố đảm bảo ổn định quan hệ lao động, bầu không khí quan hệ lao động, khả năng hợp tác lao động, ứng xử và thái độ tác phong làm việc… Chính vì thế công tác tuyển dụng lao động được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các tỉnh phía Bắc rất chú trọng.

    Từ thực tế điều tra:

    Qua số liệu điều tra 110 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các tỉnh phía Bắc cho thấy các biểu hiện chủ yếu của công tác tuyển dụng lao động là:

    • Số lao động bình quân của tất cả các doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 1998 tăng 2,62% so với lao động bình quân năm 1997. Xét trong năm 1997 thì số lao động giảm của tất cả các doanh nghiệp là 6.667 người, số lao động tăng 8.789 người. Như vậy, số lao động tăng thực tế của 110 doanh nghiệp trong năm 1997 là 2.122 người. Trong tổng số lao động giảm của năm 1997 nêu trên thì 33,05% là kết thúc hợp đồng lao động, 1.28% bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động và 57,36% lao động tự chấm dứt hợp đồng lao động vì lương thấp, cường độ lao động cao, làm thêm giờ quá mức (10% tổng số doanh nghiệp có số giờ làm thêm bình quân một lao động cao hơn 200 giờ/năm). Số lao động tăng thêm trong năm 1997 bao gồm 30,72% là do ký tiếp hợp đồng lao động và

    18

    69,28% là tuyển mớ. Số lao động tăng thêm chủ yếu là ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và giảm ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hồng Kông, Singapore. Việc ký kết hợp đồng lao động ngắn hạn (dưới 6 tháng) theo mùa, vụ và công việc, sau đó ký kết lại hợp đồng lao động hoặc sa thải lao động là phương pháp tuyển – sử dụng lao động mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng để đổi mới lao động hàng năm. Tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có một bộ phận lao động (chiếm khoảng 9,7% tổng số lao động) có công việc không ổn định luôn có nguy cơ bị sa thải do phụ thuộc vào tình trạng sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp.

    • Trong số lao động được tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được điều tra, lao động ở độ tuổi dưới 29 chiếm tỷ lệ 54,7%, ở độ tuổi từ 30-40 tuổi là 32,26%, và trên 40 tuổi là 13,04%. Số lao động dưới 24 tuổi (12,1% tổng số lao động) phần lớn là lao động phổ thông được tuyển từ nông thôn vào làm các công việc theo mùa, vụ và công việc nhất định. Trong số lao động ở độ tuổi trên 30 được tuyển từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, khu vực hành chính sự nghiệp có một số người được nắm giữ vị trí quản trị doanh nghiệp điều hành ở một số khâu, công đoạn sản xuất – kinh doanh. Do tỷ trọng các chỗ làm việc có cường độ cao, nhịp độ dây chuyền sản xuất lớn (lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, may mặc…) nên việc tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tuyển dụng lao động ở độ tuổi dưới 45 tuổi.
    • Hình thức tuyển dụng lao động: Theo quy định của luật lao động, tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện qua hai kênh: Trung tâm dịch vụ việc làm và cơ quan lao động địa phương. Sau 30 ngày, các kênh trên không đáp ứng thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép tự tuyển lấy lao động. Thực tế điều tra ơ các doanh nghiệp cho thấy, 76,1% tổng số lao động được tuyển vào làm việc là do doanh nghiệp tự tuyển, 23,39% là do trung tâm dịch vụ việc làm. Nguyên nhân của tình hình trên là do hệ thống trung tâm dịch vụ việc là, tại các địa phương không đáp ứng được kịp thời về số lượng, chất lượng lao động theo yêu cầu của các doanh nghiệp. Các cơ quan địa phương chưa có mối quan hệ cung ứng lao động với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài một cách chặt chẽ. Theo ý kiến của một số cơ quan lao động địa phương, thực tế còn có hiện tượng các trung tâm dịch vụ việc làm thu lệ phí không hợp lệ từ người lao

    19

    động và doanh nghiệp làm giảm sức hút của các trung tâm dịch vụ việc làm đối với người lao động và doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng thấy rằng, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các tỉnh phía Bắc đòi hỏi chất lượng lao động tuyển dụng cao (trong 1.100 lao động đang có việc làm được phỏng vấn thì 93,27% đã tốt nghiệp phổ thông trung học, 86,1% đã qua đào tạo chuyên môn – kỹ thuật) trong khi thị trường lao động địa phương còn khan hiếm lao động đã qua đào tạo. Chính vì thế các doanh nghiệp phải tự tuyển lấy lao động tốt nghiệp phổ thông trung học để đào tạo theo yêu cầu sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp (riêng năm 1997 số lượt người được đào tạo bằng 14,41% tổng số lao động đang làm việc). Rõ ràng, nguồn lao động đã tốt nghiệp phổ thông trung học dù chưa qua đào tạo cũng được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chú ý khai thác, tuyển dụng để đào tạo và làm việc.

    • Đánh giá của doanh nghiệp về lao động được tuyển dụng: Theo đánh giá của người sử dụng lao động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì việc tuyển dụng lao động vào làm việc vào làm việc tại các doanh nghiệp này được thực hiện khá khắt khe, nên 93,53% tổng số lao động đang sử dụng đáp ứng được yêu cầu công việc của doanh nghiệp. Số còn lại (6,47% gồm 1.437 người của 110 doanh nghiệp) chưa đáp được yêu cầu công việc do các nguyên nhân khác nhau. Trong số đó nguyên nhân do trình độ chuyên môn yếu chiếm tỷ lệ 45,46%, do tác phong lao động là 46,63%, các lý do khác (thái độ lao động…) là 7,93%. Rõ ràng là trong tuyển dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những chú trọng đến chuyên môn mà còn đến các phẩm chất khác như tác phong lao động, khả năng hợp tác lao động, ứng xử xã hội trong lao động…
    • Khó khăn trongtuyển dụng lao động: Trong số các doanh nghiệp được điều tra, số doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động chiếm tỷ lệ 35,45% (49/110 doanh nghiệp). Nguyên nhân khó khăn chủ yếu của tuyển dụng lao động là thiếu lao động theo loại hình ngành nghề (lao động nghề đào tạo trên thị trường lao động không phù hợp yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp), chiếm tỷ lệ 63%. Còn các nguyên nhân khác như: mức tiền công thấp, địa bàn khó khăn, hợp đồng ngắn hạn và công việc bấp bênh không thu hút được người lao động là 37%. Ngoài ra, một bộ phận doanh nghiệp (55,32% tổng số lao động trên thị trường lao động các doanh nghiệp) có ý kiến chất lượng lao động trên thị trường lao động các địa phương chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, thủ tục tuyển dụng lao động vào làm việc tại các

    20

    doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phức tạp (19,15% tổng số doanh nghiệp có ý kiến), thủ tục cấp giấy phép cho người lao động vào làm việc tại Việt Nam chưa nhanh chóng.

    CHƯƠNG III

    CÁC BIỆN PHÁP CHO CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG LAO

    ĐỘNG.

    Tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang có những vấn đề tồn tại, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có các biện pháp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện tốt nhất công tacs tuyển dụng lao động cho hoạt động sản xuất – kinh doanh, sử dụng hiệu quả nguồn lao động dồi dào của các địa phương. Các biện pháp có thể là:

    • Tạo môi trường pháp luật thông thoáng hơn, phù hợp cơ chế thị trường cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tuyển dụng lao động, cho phép doanh nghiệp tự tuyển chọn trực tiếp lao động để sử dụng hoặc để đào tạo rồi sử dụng có sự quản lý của cơ quan lao động địa phương.
    • Nâng cao năng lực hoạt động của các Trung tâm dịch vụ việc làm bằng việc hướng các hoạt động của các Trung tâm vào tư vấn việc làm, cung ứng lao động, thông tin thị trường lao động để góp phần hỗ trợ có hiệu quả vào cung ứng lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không khuyến khích các trung tâm dịch vụ việc làm làm công tác đào tạo, kinh doanh, dịch vụ…).
    • Tăng cường công tác đào tạo, dạy nghề lao động có trình độ chuyên môn – kỹ thuật cao cho thị trường lao động các tỉnh phía Bắc. việc đào tạo, dạy nghề có tính đến nhu cầu sử dụng lao động theo ngành nghề, loại hình lao động (công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trở lên) của doanh nghiệp các khu vực kinh tế, kể cả khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
    • Hoàn thiện quy định thủ tục tuyển dụng lao động và tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; thủ tục cấp phép cho người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đảm bảo thuận lợi, nhanh chóng.
    • Thực hiện việc huấn luyện các phẩm chất cần thiết cho người lao động trong các trường đào tạo, dạy nghề phù hợp với lao động trong điều kiện công

    nghiệp, công nghệ hiện đại và trình độ tổ chức sản suất – kinh doanh, tổ chức lao động cao.

    • Hoàn thiện các quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi, tự do di chuyển sức lao động giữa các tỉnh, các khu vực kinh tế trong vùng. Trên cơ sở đó tránh hiện tượng chia cắt thị trường lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động xã hội.

    Ngoài ra, người viết nà xin được đưa ra một số giải pháp có tính chất chung nhằm nâng cao hiệu quả của tuyển dụng nhân lực.

    * Đào tạo một đội ngũ cán bộ, chuyên gia nhân sự giỏi.

    Có được đội ngũ này thì hoạt động tuyển dụng nhân lực sẽ được làm đến nơi đến chốn. Hoạt động sẽ được hướng dẫn và thực hiện một các tỉ mỉ, cụ thể và có khoa học. Do đó sẽ nâng cao được hiệu quả của tuyển dụng nhân lực.

    • Tuỳ vào điều kiện tài chính của doanh nghiệp, tuỳ theo môi trường kinh tế – xã hội mà tiếp thu có chọn lọc các phương pháp tiến bộ, khoa học ở các nước phát triển. Để áp dụng vào thực tế ở Việt Nam.

    Các phương pháp tuyển dụng ở các nước phát triển tiên tiến và khoa học nhưng chưa chắc khi đem áp dụng vào thực tế Việt Nam đã đem lại hiệu quả, bởi vì mỗi nơi đều có văn hoá riêng và bản sắc dân tộc riêng. Việc cải tiến các phương pháp đó sao cho phù hợp với thực tiễn của Việt Nam là nhiệm vụ của các nhà quản trị. Nếu vấn đề này được giải quyết thì có lẽ đó là giải pháp hữu hiệu và phổ biến nhất ở nước ta trong năm tới.

    • Thay đổi cơ cấu đào tạo theo hướng phát triển các ngành kỹ thuật và giảm bớt các khối kinh tế – xã hội.

    Điều này có vẻ xa vời và lệch với nội dung cần đề cập của đề án này, song đó lại là một thực tế ở Việt Nam. Việc thiếu các kỹ sư có tay nghề và thừa rất nhiều các cử nhân là điều đã và đang xả ra trên thị trường lao động. Cần tăng lượng kỹ sư không chỉ về lượng mà còn về chất là một nhu cầu bức xúc để theo kịp yêu cầu của thị trường. Việc đào tạo ồ ạt các cử nhân khối kinh tế mà không có việc làm phù hợp khi ra trường là một sự lãnh phí ghê gớm. Không có việc làm phù hợp tất sẽ sinh ra hiện tượng “trái ngành, trái nghề”. Chính điều này đã dẫn đến khó khăn lớn cho hoạt động tuyển dụng vì có công việc thì rất nhiều ứng viên phù hợp song có những ông việc lại thiếu ứng viên.

    • Cuối cùng, chúng ta cần duy trì và phát triển loại nhật báo như tờ Mua
    • Những tờ nhật báo này sẽ mang đến thông tin về lao động một cách

    22

    nhanh nhất và đại chúng nhất cho những người quan tâm. Nó là tối khi tính vả về giá cả và hiệu quả. Nhờ nó các ứng viên và nhà quản trị sẽ bớt được nhiều công sức mà hoạt động tuyển dụng lại thu hút được nhiều ứng viên phù hợp hơn. Từ đó tuyển dụng sẽ hiệu quả hơn.

    KẾT LUẬN

    Như vậy chúng ta đã có một cái nhìn tổng quan về hoạt động tuyển dụng nhân lực trong một tổ chức. Tuy đơn giản, sơ sài và không tránh khỏi thiếu sót song qua đó chúng ta cũng thấy được tầm quan trọng của hoạt động này đúng thời điểm cần thiết sẽ khiến công việc của doanh nghiệp được thực hiện một cách trôi chảy và hiệu quả. Việc sử dụng người đúng lúc, đúng chỗ sẽ giúp công ty có một cơ cấu hợp lý và đội ngũ nhân viên thích hợp với từng loại công việc. Điều này sẽ dẫn tới một loạt các vấn đề khác được giải quyết như: tiết kiệm các nguồn lực khác, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp… Kết quả cuối cùng là lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp càng lớn sẽ giúp doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và phát triển. Ngược lại việc sử dụng người không hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu khó lường trước được. Việc hoạt động kinh doanh kém hiệu quả là điều có thể thấy rõ nhất. Nặng hơn, doanh nghiệp có thể bị phá sản. vậy có thể nói hoạt động tuyển dụng nhân lực trong một tổ chức là yếu tố sống còn của tổ chức đó.

    Trước khi làm công việc gì thì yếu tố đầu tiên được tính đến sẽ là con người. Có nhân lực rồi thì mới lo đến máy móc, thiết bị, công nghệ, vật liệu,… Chính con người sẽ sử dụng những nguồn lực đó đẻ biến thành kết quả đầu ra.

    Như vậy hoạt động tuyển dụng nhân lực là khởi đầu cho mọi công tác khác.

    Đất nước Việt Nam đang trên đường hoà nhập cùng thế giới và nền kinh tế của chúng ta cũng đang dần hoà nhập với kinh kế khu vực và toàn cầu. Chúng ta hào nhập chứ không hoà tan, vẫn giữ được những nét riêng, đặc sắc và bản sắc dân tộc. Hoạt động tuyển dụng cũng vậy; một mặt tiếp thu, học hỏi những cái hay, những phương pháp tiên tiến, khoa học của nước ngoài những mặt khác chúng ta vẫn giữ truyền thống nhân đạo; giúp đỡ và tạo điều kiện cho những người chưa đạt tiêu chuẩn hoặc cho người lao động cơ hội để họ bù lấp những thiếu sót của mình… nghĩa là vấn đề đặt con người lên trên hết; thậm trí trên cả công việc. Đây là một nét truyền thống rất Á Đông, tuy trước mắt có thể hiệu quả công việc sẽ không như ý muốn nhưng về sau, về dài thì nó có một cái lợi không gì sánh được đó là lòng trung thành, sự tận tâm tuyệt đối của nhân viên với doanh nghiệp. Có lẽ đó sẽ là xu hướng hoạt động tuyển dụng ở nền kinh tế Việt Nam của thiên niên kỷ mới.

    23

    Đến đây chúng ta có thể khẳng định: Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nhân lực trong một tổ chức.

    Trước khi kết thúc, một lần nữa em xin cảm ơn cô giáo: Thạc sĩ

    đã hướng dẫn để em hoàn thành đề án này.

    Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2000


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng công trình

    Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng công trình

    Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng công trình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận án Tiến sĩ Kinh tế công nghiệp Đo lường hình ảnh điểm đến của du khách quốc tế – trường hợp thành phố Đà Nẵng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng công trình

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    **********

    HỢP ĐỒNG KINH TẾ VỀ GIAO NHẬN THẦU

    KHẢO SÁT ĐỊA ĐIỂM DỰ KIẾN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

                                                             Số:[SO HD]/HĐKS

              Căn cứ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25-9-1989 của Hội đồng Nhà nước.

              Căn cứ Nghị định số 17/HĐBT ngày 16-01-1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.

              Căn cứ Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08-7-1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản.

              Căn cứ vào biên bản xác nhận kết quả đấu thầu ngày [NGAY THANG NAM] (nếu có).

              Căn cứ [YEU CAU HAI BEN]

              Hôm nay ngày [NGAY THANG NAM] tại [DIA DIEM] chúng tôi gồm có:

    BÊN CHỦ ĐẦU TƯ

    Tên doanh nghiệp: [TEN DOANH NGHIEP]

    Địa chỉ trụ sở chính: [DIA CHI TRU SO]

    Điện thoại:[SO DT] Telex: [SO TELEX] Fax:[SO FAX]

    Tài khoản số: [SO TAI KHOAN] Mở tại ngân hàng: [TEN NGAN HANG]

    Đại diện bởi: [HO VA TEN] Chức vụ:[CHUC VU]

    (Giấy ủy quyền số: [SO GIAY UY QUYEN] (nếu ký thay)

    Viết ngày [NGAY THANG NAM] Do [HO VA TEN] chức vụ [TONG GIAM DOC HAY GIAM DOC] ký.

    Trong hợp đồng này gọi tắt là bên A

    BÊN TỔ CHỨC NHẬN THẦU XÂY DỰNG

    Tên doanh nghiệp: [TEN DOANH NGHIEP]

    Địa chỉ trụ sở chính: [DIA CHI TRU SO]

    Điện thoại:[SO DT] Telex:[SO TELEX] Fax: [SO FAX]

    Tài khoản số: [SO TAI KHOAN] Mở tại ngân hàng: [TEN NGAN HANG]

    Đại diện bởi: [HO VA TEN] Chức vụ: [CHUC VU]

    (Giấy ủy quyền số: [SO GIAY UY QUYEN] (nếu ký thay)

    Viết ngày [NGAY THANG NAM] Do [HO VA TEN] chức vụ [TONG GIAM DOC HAY GIAM DOC] ký.

    Trong hợp đồng này gọi tắt là bên B

    Hai bên thống nhất ký hợp đồng kinh tế giao nhận thầu khảo sát địa điểm xây dựng công trình với những nội dung, điều khoản sau:

    Điều 1: Nội dung công tác khảo sát

    1. Công tác đo đạc địa hình: phải bảo đảm chính xác, khách quan về số liệu…
    2. Xác định kết cấu của chất đất tại địa điểm khảo sát có ảnh hưởng tới việc xây dựng công trình.
    3. Xác định các mạch nước ngầm, các khối rỗng trong lòng khu đất khảo
    4. [NOI DUNG CU THE KHAC]

    Có kết luận dựa trên những căn cứ khoa học về khả năng xây dựng công trình đã dự kiến hay không?

    Điều 2: Thời hạn thực hiện

    Toàn bộ các nội dung khảo sát Bên B tiến hành trong thời gian là [SO NGAY] ngày tính từ ngày [NGAY THANG NAM] đến ngày [NGAY THANG NAM]

    Điều 3: Trị giá hợp đồng

    Tổng trị giá toàn bộ các hoạt động khảo sát và khấu hao các phương tiện kỹ thuật sử dụng trong khảo sát địa điểm xây dựng công trình trên là [SO TIEN] đồng.

    Điều 4: Phương thức thanh toán

    Thanh toán [BANG TIEN MAT HAY CHUYEN KHOAN, TY LE THANH TOAN TRUOC]

    Điều 5: Trách nhiệm Bên A

    1. Xác định chính xác tim, mốc và giới hạn địa điểm khảo sát.
    2. Cung cấp các tài liệu cần thiết về địa điểm này.
    3. Nêu chính xác về dự kiến công trình sẽ xây dựng để Bên B có nội dung yêu cầu khảo sát cụ thể.
    4. Thanh toán đúng giá trị hợp đồng và đúng thời hạn.

    Điều 6: Trách nhiệm Bên B

    1. Phải thực hiện đúng quy trình, quy phạm, đạt các thông số kỹ thuật nêu trong yêu cầu, phương án khảo sát.
    2. Cung cấp các số liệu khảo sát chính xác, khách quan, đúng yêu cầu và đúng thời hạn.
    3. Chịu trách nhiệm pháp lý về số liệu khảo sát đã cung cấp.

    Điều 7: Điều khoản thi hành

    Hai bên cam kết thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bên nào vi phạm sẽ chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

    Trong quá trình thực hịen nếu có vướng mắc gì hai bên tự bàn bạc giải quyết. Hợp đồng này được lập thành [SO BAN] bản có giá trị như nhau mỗi bên giữ [SO BAN] bản.

    ĐẠI DIỆN BÊN B                                                         ĐẠI DIỆN BÊN A

    Chức vụ                                                                Chức vụ

              (Ký tên, đóng dấu)                                                         (Ký tên, đóng dấu)