Category: Luật

  • Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ng%E1%BA%A1ch-chuy%C3%AAn-vi%C3%AAn-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-gi%E1%BA%A3i-quy%E1%BA%BFt-khi%E1%BA%BFu-n%E1%BA%A1i-v%E1%BB%81-tai-n%E1%BA%A1n-lao-%C4%91%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer] 

    Tải ngay bản PDF tại đây:Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

    LỜI MỞ ĐẦU

    ——-0***0——-

    Lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên, do Trường Chính trị Thị xã Sađéc Đồng Tháp mở từ ngày 20 tháng 04 năm 2009 đến ngày  6 tháng 7 năm 2009. Chương trình gồm ba phần:

    Phần I: Nhà nước và pháp luật.

    Phần II: Quản lý hành chính và công nghệ hành chính.

    Phần III: Quản lý nhà nước đối với ngành- lĩnh vực.

    Thời gian giành cho khóa học không dài, nhưng với sự biên soạn nội dung, chương trình ngắn gọn, đầy đủ và sự nhiệt tình của các Thầy, Cô của Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp đã truyền đạt những kiến thức cơ bản cho toàn thể học viên lớp học là những công chức nhà nước làm việc tại tỉnh Đồng Tháp, sẽ và đang làm việc với trình độ ở ngạch chuyên viên. Bản thân luôn cố gắng, đã nổ lực học tập để nâng cao năng lực trong lĩnh lực quản lý nhà nước với mục đích là mong muốn vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm đã được học đưa vào thực tiển công tác mà Đảng và Nhà nước đã phân công.

    Sau 03 tháng được bồi dưỡng kiến thức, qua liên hệ thực tiển trong công tác tôi nhận thấy vấn đề “An toàn để sản xuất” và “Sản xuất phải an toàn” luôn là khẩu hiệu hành động của tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Những năm gần đây khi quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu thì vấn đề an toàn trong lao động không chỉ là vấn đề của riêng khu vực sản xuất kinh doanh mà trở thành vấn đề đáng quan tâm của mọi người lao động trong tất cả các cơ quan, đơn vị và mọi thành phần kinh tế.

    Ngày 23/6/1994, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ Luật Lao động; trong đó có một chương riêng gồm các Điều qui định về vấn đề Bảo hộ lao động. Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/1995. Ngày 02/4/2002 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá X đã ban hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2003.

    Việc triển khai và tổ chức thực hiện Bộ luật Lao động tại hầu hết các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong Tỉnh Đồng Tháp được tiến hành đồng bộ và đạt nhiều kết quả khả quan; đã phát huy tác dụng nhằm đảm bảo các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên giữa người lao động và người sử dụng lao động.

    Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình thực hiện Bộ Luật Lao động cũng bộc lộ một số yếu kém, bất cập như: Công tác tuyên truyền giáo dục chưa được tiến hành thường xuyên, chưa đến được đều khắp các doanh nghiệp – đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân; một số trường hợp vi phạm pháp luật lao động chậm được xử lý hoặc xử lý không đúng pháp luật. Thậm chí vì những lý do khác nhau đã không được xử lý. Xuất phát từ tình hình trên Tôi xin trình bày tiểu luận cuối khoá với đề tài :

    Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động”

    Hy vọng đề tài góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn đinh tình hình an ninh – trật tự tại địa phương. Do kiến thức và thời gian chuẩn bị có hạn, tài liệu tham khảo không nhiều nên chắc hẳn tiểu luận không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót.

    Kính mong được Quí Thầy, Cô và đồng nghiệp đóng góp ý kiến.

    Xin thành thật biết ơn./.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG:

     

    Đầu tháng 11/2007, ngành lao động của Tỉnh có nhận được đơn khiếu nại của chị Lê thị N, 35 tuổi, ngụ tại Xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, đề nghị can thiệp giúp đỡ cho chị về bồi hoàn tai nạn lao động. Theo nội dung đơn thì chị N nhà nghèo, học đến hết lớp 4 thì nghỉ và đi làm công nhân cho doanh nghiệp sản xuất gạch ngói Trung Thành  đặt tại Xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, do ông Nguyễn Thành Nhân làm chủ.

    Chủ doanh nghiệp phân công chị N vào tổ chuyên nhào trộn, ép đất nguyên liệu do Ông Trần Văn Tuấn làm tổ trưởng, cùng làm việc với chị N còn có chị Bùi Thị K, công nhân mới được nhận vào làm việc hơn 6 tháng. Công việc chính của Chị N là đưa đất vào máy ép để nhào trộn – đây là công đoạn đầu tiên và rất quan trọng của qui trình chế biến gạch ngói nung và đây cũng là công đoạn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm cho người lao động trực tiếp. Một số chi tiết quan trong được ghi trong hợp đồng lao động giữa chị N với chủ doanh nghiệp: tiền công là 45.000đ/ngày; mỗi tháng nhận 2 lần vào ngày 1 và ngày 15 của tháng. Do xa nhà nên chị N được bố trí ở tạm trong khu tập thể của doanh nghiệp.

    Qua hơn 01 năm làm việc, chị N nhận được đầy đủ các lợi ích được ghi trong hợp đồng, ngoài ra, trong dịp tết cổ truyền chị còn được chủ doanh nghiệp thăm hỏi và tặng quà.

    Ngày 08/1/2007, một sự cố nghiêm trọng đã xãy ra tại nơi làm việc của Chị N:  Như thường lệ, sau khi khởi động máy và bắt đầu thao tác được gần 2 giờ đồng hồ thì bộ phận lưới sắt dùng để che chắn, bảo vệ miệng trục lăn của máy ép bị hỏng mối hàn cố định với chân đế nên chị N và chị K quyết định cho dừng máy để tháo dỡ ra mang đến với người quản lý là ông Nguyễn Văn Hùng (người này được chủ cho phép thay mặt mình giải quyết các vấn đề liên quan đến kỹ thuật tại máy ép – trộn này) để báo cáo và yêu cầu cho phép sửa chữa, khắc phục để đảm bảo an toàn và tiếp tục sản xuất. Được sự đồng ý của ông Hùng, Chị N đã mang đến cơ sở hàn tiện gần đó để hàn sửa.

    Mọi thông tin đã được chị N phản hồi đầy đủ đến Ông Tuấn và ông Hùng, về nguyên tắc an toàn lao động, trong điều kiện này người công nhân không được tiếp tục vận hành máy nhưng do nóng lòng thực hiện các chỉ tiêu sản phẩm, phần cũng thấy rằng việc thiếu thốn khung thép bảo vệ tuy có “thiếu một chút về an toàn” nhưng “nếu” kỷ lưỡng thì chắc “không có vấn đề gì”. Thế là tổ nhào nặn đất khởi động lại máy và tiếp tục vận hành, sau hơn 40 phút tiếp tục làm việc, do sơ xuất, một vạc áo của chị N bị trục ép của máy cuốn vào trong máy. Do phản xạ tự nhiên, Chị N dùng tay chống đỡ theo hướng ngược lại nhưng lần này do độ trơn trượt của đất sét nên cánh tay phải của chị lại tự đưa vào trục cuốn của máy ép. Chị N và cả tổ tri hô lên và nhận được sự trợ giúp của các đồng nghiệp. Máy được dừng lại, chị N được cứu thoát chết nhưng cánh tay thì bị máy cuốn dập nát. Trước tai nạn nghiêm trọng đó, các ông Tuấn, Hùng đã nhanh chống gọi phương tiện, xe đưa Chị N đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Đồng Tháp.Vì vết thương khá nặng nên sau đó được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều trị.

    Ngày 10/4/2007, Chị N được xuất viện, được chủ doanh nghiệp thanh toán tất cả các chi phí về thuốc men, ăn uống, đi lại trong quá trình điều trị với tổng số tiền là 30 triệu đồng và được đưa về tận quê nhà. Không có việc làm, không có thu nhập vết thương chưa lành hẳn, phải tiếp tục điều trị, hoàn cảnh rơi vào tình thế khó khăn gay gắt. Chị N đến  gặp chủ doanh nghiệp cầu cứu sự giúp đỡ để có thể tiếp tục sống, điều trị vết thương nhưng ông Nhân – chủ doanh nghiệp Trung Thành từ chối với lý do ông đã làm hết trách nhiệm.

    Trên đây là tóm tắt nguyên nhân dẫn đến việc chị N gửi đơn khiếu nại đến cơ quan chức năng nhờ can thiệp, giải quyết. Qua đơn của Chị N, các ngành chức năng đã tham gia giải quyết như sau:

    Ngày 29/10/2007, đoàn kiểm tra gồm:

    + Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội Huyện;

    + Đại diện Trung tâm y tế Huyện;

    + Đại diện Liên đoàn lao động Huyện.

    Đoàn kiểm tra đã trực tiếp đến cơ sở sản xuất Gạch ngói Trung Thành để xác định diễn tiến tai nạn lao động và tiến hành các bước điều tra theo đơn khiếu nại và theo các qui định của pháp luật. Xác định tình trạng thương tích của chị N:

    + Theo giấy ra viện do Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/4/2007 xác nhận: Chị N bị tai nạn làm dập nát một phần bàn tay và cả khuỷu tay phải. Bệnh viện đã tiến hành cắt lóc, khâu hở xương quai trụ, xương cánh tay phải, nắn khớp khuỷu và khâu vá nhiều vết trên mu và lòng bàn tay phải. Chị N được chuyển sang Trung Tâm chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều trị vết thương theo chuyên khoa và được xuất viện, trở về nhà tiếp tục điều trị và tái khám kiểm tra theo định kỳ 3 tháng /lần.

    + Kiểm tra tại nơi làm việc của chị N, đoàn kiểm tra ghi nhận như sau :

    . Khu vực đặt máy không có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động.

    . Người lao động phải vận hành máy trong điều kiện không đảm bảo an toàn lao động.

    . Người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp) không tiến hành huấn luyện và hướng dẫn các qui trình, qui phạm, các biện pháp an toàn khi vận hành máy, …, không được trang cấp dụng cụ bảo hộ lao động theo qui định (quần áo, phương tiện bảo hộ lao động cá nhân, . . .)

    II- MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:

    1- Mục đích:

    Nhằm xử lý, giải quyết thoả đáng, hợp lý, đúng qui định của pháp luật các vấn đề thuộc về an toàn lao động, các vụ tai nạn lao động góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, của người sử dụng lao động, ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội; tạo sự gắn bó giữa người sử dụng lao động và người lao động để họ cùng an tâm sản xuất kinh doanh.

    2- Yêu cầu :

    Vấn đề an toàn lao động và giải quyết hậu quả của một vụ,việc tai nan lao động – đặc biệt là các tai nạn lao động nghiêm trọng – luôn là vấn đề phức tạp. Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết một vụ tai nạn lao động là trước hết phải nắm vững pháp luật về lao động nói chung và các qui định về bảo hộ lao động, một số kiến thức cơ bản về tâm sinh lý học, v .v .Trên cơ sở đó, kết hợp với những hoàn cảnh cụ thể đã và đang xãy ra mà tìm hiểu vụ việc, nghiên cứu tường tận các khía cạnh của vụ việc, trách nhiệm của các bên liên quan.

    3- Mục tiêu cần giải quyết:

     

    – Chị N phải được chủ doanh nghiệp chi trả toàn bộ tiền thuốc men trong suốt quá trình điều trị cho đến khi khỏi bệnh.

    – Chị N được chủ doanh nghiệp đưa ra Hội đồng Giám định Y Khoa để Giám định phần sức khoẻ bị giảm sút, tỉ lệ thương tật do tai nạn lao động.

    – Trách nhiệm pháp lý của mỗi bên theo qui định của pháp luật. Trước mắt là giải quyết vấn đề hỗ trợ để chị N có đủ điều kiện tiếp tục điều trị và sinh sống trong thời gian chưa thể tiếp tục công việc hoặc chưa tìm được công việc mới.

    III- PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHIẾU NẠI VÀ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT:

    Thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng đi đúng của Đảng và Nhà nước ta. Trong Những năm qua, định hướng đó đã góp phần hết sức to lớn giúp cho đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử; cả nước hiện có hàng vạn doanh nghiệp. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đã ăn nên làm ra, có những doanh nghiệp nhanh chóng trưởng thành, tạo được uy tín trên thương trường quốc tế.

    Nhằm đáp ứng với tình hình mới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật tạo khung pháp lý để điều chỉnh, định hướng và phát huy vai trò chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, thúc đẩy cho từng doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, người lao động có việc làm ổn định, đời sống được nâng lên.

    Kế thừa và phát triển pháp luật, pháp luật lao động nước ta từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Bộ luật Lao động năm 1995 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động năm 2002, 2006 đã thể chế đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hoá các vấn đề về lao động, sử dụng và quản lý lao động được ghi trong  Hiến pháp 1992, 2002.

    Bộ Luật lao động bảo vệ quyền được có việc làm, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng khác của người lao động, người sử dụng lao động, tạo điều kiện và hành lang pháp lý phát triển  mối quan hệ lao động, tạo không khí hài hoà và ổn định giữa người lao động và người sử dụng lao động nhằm phát huy trí sáng tạo, tài năng của người lao động và người quản lý lao động nhằm tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

    Trong Bộ luật Lao động có hẳn những chương, Điều qui định về quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động như: Hợp đồng lao động, kỹ luật lao động, an toàn – vệ sinh lao động, các chế độ thử việc, học nghề, chế độ về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội,…,các văn bản dưới luật được ban hành khá kịp thời, đáp ứng nhu cầu và  yêu cầu xử lý các phát sinh mới trong quan hệ lao động. Trên thực tế, vẫn còn nơi này nơi khác, lúc này, lúc khác hoạt động quản lý Nhà nước về lao động chưa được tổ chức thực hiện nghiêm, vẫn còn nhiều địa phương, đơn vị nhất là các doanh nghiệp tư nhân, việc nắm và thực thi pháp luật lao động còn nhiều hạn chế. Mặt khác, cũng có tình trạng lách luật thậm chí cố tình không áp dụng luật. Từ đó trong quá trình thực hiện có những vi phạm mà lẻ ra không đáng có như tình huống được nêu ra ở phần trên.

    A – NGUYÊN NHÂN :

    Qua nghiên cứu, phân tích tình huống có thể làm sáng tỏ mấy vấn đề sau:

    1- Công tác quản lý nhà nước về  lao động :

    – Cơ quan thẩm quyền tại địa phương đã không thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động tại các doanh nghiệp, cụ thể là thực hiện Bộ Luật lao động như: vi phạm chế độ hợp đồng lao động, chế độ an toàn vệ sinh lao động, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Luật công đoàn và một số quyền và lợi ích khác.

    – Không kịp thời trong việc giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về quyền lợi của người lao động; chậm trể trong việc điều tra, xác minh, kết luận nhằm hướng dẫn, yêu cầu, thậm chí thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo luật định nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

    2- Về tổ chức công đoàn :

    Tại doanh nghiệp nơi xãy ra tai nạn lao động có hơn 40 công nhân đã và đang làm việc từ 6 tháng trở lên, (tức hội đủ điều kiện để thành lập tổ chức công đoàn cơ sở) nhưng Liên đoàn lao động Huyện chưa kịp thời tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người lao động tham gia vào tổ chức công đoàn.

    3- Đối với người sử dụng lao động:

    Chủ doanh nghiệp chưa thực hiện đúng theo qui định của pháp luật lao động khi đứng ra thành lập và điều hành doanh nghiệp cụ thể như sau:

    – Tuyển dụng công nhân vào làm việc không đúng các qui định về hình thức hợp đồng lao động. Tại các điều 26, điều 27 và điều 65 Bộ luật lao động có qui định: Đối với doanh nghiệp sử dụng người lao động thông qua vai trò trung gian của người quản lý thì người chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm chính, phải đảm bảo người quản lý đó thực hiện đầy đủ các qui định của pháp luật lao động.

    – Chủ doanh nghiệp đã vi phạm các thủ tục hành chính về quản lý lao động; không khai trình lập sổ lao động, sổ lương, bảo hiểm xã hội, không đăng ký nội qui lao động với ngành lao động. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp còn vi phạm qui định về việc khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Nơi đặt máy móc làm việc không có treo các bảng chỉ dẫn về an toàn lao động.

    – Khi tai nạn lao động xãy ra đã không kịp thời khai báo với cơ quan chức năng về lao động; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm bồi thường vật chất đối với người bị tai nạn lao động.

    – Chị N làm việc ở khâu nhào trộn đất, có vận hành máy điện nhưng chỉ được hướng dẫn sơ sài về cách vận hành máy, chưa được huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động, chưa được trang bị đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động theo qui định của nhà nước.

    4- Đối với người bị tai nạn lao động :

    – Do có nhu cầu về việc làm và thu nhập nên khi được nhận vào làm việc, được giải quyết nơi ở tạm, được hưởng lương theo chế độ khoán sản phẩm (không có bảo hiểm xã hội) lại là người có trình độ văn hoá thấp, nhận thức về pháp luật lao động chưa đầy đủ, không có tay nghề nên Chị N đã vì quyền lợi trước mắt mà dễ dàng chấp nhận công việc (theo kiểu nghề dạy nghề, người có thâm niên trong nghề hướng dẫn, kềm cặp người mới vào).

    – Chị N phạm vào lổi chủ quan khi xem thường các qui trình, qui phạm cũng như mối nguy hiểm khi vận hành, sử dụng máy móc thiết bị. Không đủ hiểu biết và bản lĩnh từ chối khi phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo an toàn lao động.

    B- HẬU QUẢ:

     

    Tai nạn lao động luôn mang đến điều bất lợi cho người sử dụng lao động và ngườì lao động, trong đó, người lao động trong hầu hết trường hợp là người chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế, gặp khó khăn về đời sống, có khi còn phải mang thương tật, thậm chí phải chịu tàn phế hoặc nguy hiễm đến tính mạng.

    Về phía người sử dụng lao động, khi tai nạn lao động xãy ra sẽ có ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh, phải chịu các phí tổn bồi thường, có trường hợp phải chịu trách nhiệm pháp lý, thậm chí có trường hợp phải thua lỗ, phá sản (hoả hoạn, cháy nổ)….

    Xuất phát từ việc thiếu kiểm tra, đôn đốc, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội; việc chấp hành pháp luật lao động của doanh nghiệp chưa nghiêm dẫn đến vi phạm pháp luật kéo dài không được phát hiện, ngăn chặn đã làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc làm và đời sống của người lao động. Tổ chức công đoàn chưa kịp thời tuyên truyền, vận động tổ chức công đoàn cơ sở để thông qua đó tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để người lao động hiểu biết và thực hiện tốt; đồng thời có thể tự đấu tranh để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.

    Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì tình trạng chậm chạp, xử lý chưa đến nơi, đến chốn của cơ quan chức năng đối với các bên liên quan khi tai nạn lao động xãy ra cũng sẽ tạo ra sự giãm sút niềm tin vào pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hậu quả sâu xa nhất là vấn đề pháp luật chưa được tôn trọng triệt để, pháp chế xã hội chủ nghĩa và pháp luật Nhà nước chưa được thực thi nghiêm chỉnh làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động, đến sản xuất – kinh doanh; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đất nước ta bước vào giai đọan hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, vấn đề cạnh tranh – một vấn đề sống còn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế- đang đặt ra hết sức gay gắt.

    IV- PHƯƠNG ÁN GIAI QUYẾT TÌNH HUỐNG :

     

    Để giải quyết nội dung đơn khiếu nại của Chị N, cần chú ý rằng đây là trường hợp tai nạn lao động nặng, có hậu quả khá nghiêm trọng và có thể kéo dài. Qua kết quả điều tra, phân tích như đã nêu ở phần trên thì nguyên nhân chính của tai nạn lao động thuộc về lỗi của người sử dụng lao động: chủ doanh nghiệp Thành Trung đã vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Tôi xin đưa ra một số phương án giải quyết đồng thời phân tích tìm phương án tối ưu nhất.

     

    1/- Cơ sở pháp luật :

    Trước hết, dựa trên cơ sở các điều luật có liên quan cần phân tích, làm rõ mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động (giữa Chị N và ông Nhân).

    a/- Điều 26, điều 27 và điều 65 của Bộ Luật lao động qui định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ lao động. Đối với doanh nghiệp sử dụng người qua trung gian người quản lý thì chủ doanh nghiệp – người đứng ra ký hợp đồng lao động vẫn phải là người chịu trách nhiệm chính. Trong trường hợp này, ông Nhân là chủ doanh nghiệp nên phải tuân theo các điều chỉnh của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các lợi ích khác của người lao động.

    b/- Khoản 1, điều 39, người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, điều trị, điều dưỡng theo quyết định thầy thuốc, của cơ quan y tế có thẩm quyền.

    c/- Điều 9, điều 10, điều 11 và điều 12 của Nghị định 110/2002/NĐ-CP ngày 21/12/2002 của Chính Phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 06/1996/NĐ-CP ngày 20/01/1996 của Chính Phủ, nội dung, trách nhiệm của sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động theo điều 105, điều 106 và điều 107 của Bộ Luật lao động được qui định như sau:

    – Phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu tại chỗ người bị tai nạn lao động, sau đó đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất;

    – Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nặng thì phải giữ nguyên hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động và báo ngay với cơ quan thanh tra Nhà nước về lao động và cơ quan công an địa phương.

    – Khi xảy ra tai nạn lao động phải tổ chức việc điều tra, lập biên bản có sự tham gia của Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Biên bản phải ghi đầy đủ diễn tiến của tai nạn lao động, thương tích của nạn nhân, mức độ thiệt hại, nguyên nhân xãy ra tai nạn lao động, trách nhiệm của các bên liên quan.

    – Chủ doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí cho người lao động từ khi sơ cấp cứu đến khi chấm dứt quá trình điều trị; đồng thời phải bồi thường cho người bi tai nạn lao động một khoản tiền bằng ít nhất 30 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có) nếu tai nạn lao động làm suy giảm khả năng lao động.

    Trường hợp tai nạn lao động xãy ra do lổi của người lao động thì với mức độ thương tật như trên, người lao động cũng được bồi thường một khoản tiền bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có).

    – Các trường hợp mức thương tật được xác định từ 5% đến dưới 81% thì trách nhiệm của người sử dụng lao động và các mức bồi thường được qui định tại thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH ngày 18/4/2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

    d/- Nghĩa vụ của sử dụng người lao động được qui định tại Điều 95, điều 98 và điều 102 Bộ Luật Lao dộng; Nghị định 06/1995/NĐ-CP ngày 20/01/1995 của Chính Phủ qui định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động:

    – Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động và cải thiện điều kiện làm việc.

    – Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động đối với người lao động theo qui định của Nhà nước.

    – Cử người giám sát việc thực hiện các qui định, nội qui, biện pháp an toàn lao động  trong doanh nghiệp.

    – Tại nơi làm việc cần xây dựng nội quy, qui định an toàn lao động theo chuẩn qui định của Nhà nước phù hợp với từng loại máy móc, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị.

    – Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, qui định, biện pháp an toàn đối với người lao động.

    – Chấp hành nghiêm chỉnh qui định về khai báo, điều tra tai nạn lao động và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo với Sở Lao động Thương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp hoạt động về kết quả, tình hình thực hiện các biện pháp an toàn lao động.

    – Người sử dụng lao động có quyền buộc người lao động phải tuân thủ các thủ tục, nội qui, qui định về an toàn vệ sinh lao động; khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm các qui định về an toàn vệ sinh lao động.

    – Nghĩa vụ của người lao động: chấp hành đầy đủ các qui định, nội qui về an toàn lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.

    – Người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động, trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân; huấn luyện, thực hiện các biện  pháp, qui trình, qui phạm về an toàn vệ sinh lao động; có quyền từ chối làm các công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xãy ra tai nạn lao động hoặc có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của mình.

    đ/- Điều 107 Bộ Luật lao động qui định: Người lao động bị tàn tật do tai nạn lao động được giám định y khoa để xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, xếp hạng thương tật. Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu cho đến khi quá trình điều trị chấm dứt; người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động. Nếu doanh nghiệp vì lý do nào đó chưa thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì chủ doanh nghiệp phải trả một khoản tiền chi phí tương đương với mức qui định trong điều lệ Bảo hiểm xã hội.

    e/- Điều 153 Bộ Luật lao động qui định: ở những doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên, đang hoạt động nhưng chưa có tổ chức công đoàn thì sau 6 tháng kể từ ngày bắt đầu hoạt động, công đoàn địa phương có trách nhiệm thành lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp này để đại diện, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và tập thể người lao động. Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tổ chức công đoàn sớm được thành lập và hoạt động.

    2/- Các phương án đề xuất:

    Từ thực tế tai nạn lao động của chị N tại doanh nghiệp Trung Thành; căn cứ biên bản của đoàn điều tra tai nạn lao động liên cơ quan gồm Phòng Lao động Thương Binh và xã hội huyện Cao Lãnh, Liên đoàn lao động huyện Cao Lãnh, tôi xin đề xuất một số phương án xử lý như sau:

     

    Phương án thứ nhất :

    Xác định tai nạn lao động trên đây là trường hợp tai nạn lao động khá nghiêm trọng, cần nhanh chóng thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh gồm :

    – Đại diện Sở Lao động Thương binh và xã hội;

    – Đại diện Sở Y tế;

    – Đại diện Liên đoàn lao động Tỉnh

    Quyết định thành lập đoàn điều tra do Giám đốc Sở Lao động Thương Binh và xã hội ký. Các bước làm việc gồm :

    + Bước 1 :

    Đoàn điều tra tiến hành tiếp xúc với Chị N tìm hiểu về quá trình chữa trị vết thương; việc chăm sóc, chi trả các khoản chi phí và các quyền lợi khác của người sử dụng lao động.

    + Bước 2 :

    Đoàn điều tra làm việc trực tiếp với chủ doanh nghiệp để xác minh nội dung đơn, đồng thời yêu cầu cung cấp hồ sơ về quản lý lao động tại doanh nghiệp, xác minh hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động; việc thực hiện các kiến nghị về an toàn vệ sinh lao động của các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động trước đây; tình hình thực hiện các qui định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, việc bồi thường tai nạn lao động trước đây (nếu có) và bồi thường cho trường hợp của chị N.

    + Bước 3 :

    Đoàn điều tra làm việc với các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động trước đây để vừa kiểm tra vừa thu thập thêm thông tin làm cơ sở so sánh đối chiếu thông tin giữa 3 bước.

    + Bước 4 :

    Tổng hợp nội dung, kết quả làm việc của từng bước và kết quả của từng nội dung, mức độ phạm lỗi do mỗi bên gây ra để từ đó hướng dẫn các biện pháp, giải pháp khắc phục hậu quả; tổ chức cuộc họp để nghe ý phản ảnh trực tiếp của 2 bên. Trên cơ sở đó, căn cứ vào các qui định của pháp luật, đưa ra kết luận giải quyết sự việc thấu tình, đạt lý.

    Phân tích:

     

    – Ưu điểm của phương án :

    + Thông qua các cuộc gặp gở, đoàn điều tra có thời gian và điều kiện để thẩm tra thông tin do 2 bên cung cấp, có thời gian để thu thập thêm chứng cứ, số liệu; từ đó có thể đưa ra những kết luận, những giải pháp, biện pháp, hình thức xử lý chính xác, khách quan, thấu tình, đạt lý, có tính thuyết  phục cao.

    + Chủ doanh nghiệp và người lao động có thời gian, điều kiện để suy nghĩ, nhận ra những chỗ đúng, chỗ sai của mình. Bên có lỗi sẽ dễ dàng nhận lỗi, có biện pháp khắc phục một cách tự giác. Bên khiếu nại dễ dàng chấp nhận các kết luận của đoàn điều tra, nhận ra những chỗ còn chưa đúng của mình, từ đó có thiện chí cùng hợp tác với người sử dụng lao động khắc phục hậu quả tai nạn lao động.

    – Nhược điểm của phương án :

    + Người sử dụng lao động, người lao động và đoàn điều tra phải tốn nhiều thời gian. Trước mắt, người lao động sẽ gặp nhiều khó khăn, thiệt thòi.

    + Đoàn điều tra phải đi lại nhiều lần để xác minh nên phải tốn nhiều chi phí cho công tác.

    Phương án thứ hai :

    – Thành lập đoàn điều tra như phương án thứ nhất:  Đoàn điều tra cũng tiến hành làm việc với chủ doanh nghiệp và người bị tai nạn lao động, nghe 2 bên trình bày ý kiến về từng vụ việc cụ thể, có giải trình chi tiết theo trình tự thời gian diễn tiến của vụ việc.

    – Đoàn điều tra tổng hợp các ý kiến và kết luận về mức độ sai phạm của từng bên, từng sự việc cụ thể. Từ đó đưa ra được nguyên nhân để từng bên nhận ra và cam kết có biện pháp khắc phục hậu quả, sửa chữa khuyết điểm và thực hiện đúng chế độ, chính sách đúng với các qui định của pháp luật hiện hành.

    Nếu mức độ sai phạm của chủ doanh nghiệp đúng như đơn khiếu nại của chị N thì đoàn điều tra sẽ đề nghị xử phạt theo Nghị định số 38/1996/NĐ-CP ngày 25/6/1996 của Chính phủ Qui định về việc xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động.

    Phân tích :

     

    – Ưu điểm của phương án :

    Thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn, sớm giải toả được mâu thuẫn và tâm lý căng thẳng giữa 2 bên, sớm ổn định sản xuất kinh doanh. Người lao động và chủ doanh nghiệp sẽ tốn ít  thời gian cho việc hội họp, đón tiếp đoàn điều tra, tập trung cho sản xuất kinh doanh.

    – Nhược điểm của phương án :

    Do sự việc mỗi bên đưa ra chưa có đủ cơ sở vững chắc, các cứ liệu chưa chính xác; không có thời gian hội ý, tham khảo ý kiến của mỗi bên để đưa ra những phân tích xác đáng mà chỉ được lắng nghe ý kiến của mỗi bên, vừa phân tích, vừa tổng hợp để chỉ rõ chỗ đúng, chỗ sai, nên việc hoà giải sẽ gặp khó khăn hơn.

    Trong những trường hợp phức tạp phương án này có thể làm cho đoàn điều tra không thể thực hiện đạt các yêu cầu đề ra khi khi giải quyết vụ tai nạn lao động .

    Phương án thứ ba :

    – Thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Huyện để theo dõi, giải quyết, thu thập tin tức. Trên cơ sở đó sẽ tìm ra thông tin, hướng xử lý vụ việc, hướng làm việc với chủ doanh nghiệp và người lao động.

    – Nếu vụ việc giải quyết không thoả mãn được nguyện vọng của các bên thì cần thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh. Sau đó sẽ quay về thực hiện các bước như phương án thứ hai.

    – Ưu điểm của phương án:

    + Có khả năng không phải thành lập đoàn điều tra cấp Tỉnh hoặc không mất nhiều thời gian của đoàn điều tra cấp Tỉnh, tiết kiệm được thời gian, kinh phí.

    + Người sử dụng lao động và người lao động sẽ tốn ít  thời gian cho việc hội họp, tiếp xúc và làm việc với đoàn điều tra.

     

    – Nhược điểm của phương án:

    + Nếu đoàn điều tra cấp huyện không đủ sức giải quyết thì có thể dẫn đến những quyết định không công bằng gây ảnh hưởng xấu đến tình trạng sản xuất kinh doanh, tình hình an ninh – trật tự tại địa phương.

    + Đoàn điều tra cấp huyện có thể không đủ sức giải quyết vụ việc. Khi đó phải tiến hành thành lập đoàn kiểm tra cấp Tỉnh. Do đó, sẽ kéo dài thời gian giải quyết, tạo tâm lý căng thẳng cho 2 bên.

    3/- Lưạ chọn phương án:

    Qua các phương án và việc phân tích một số ưu khuyết điểm như trên, theo Tôi, với trường hợp tai nạn lao động cụ thể của chị N tại doanh nghiệp Trung Thành  thì đây là loại tai nạn lao động nghiêm trọng nên cần chọn theo phương án thứ nhất.

    V- KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

    1- Kế hoạch:

    Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Tỉnh căn cứ Thông tư số 03/1995/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động thương binh và xã hội ra quyết định thành đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh gồm:

    – Cán bộ thanh tra Sở Lao động thương binh và xã hội làm trưởng đoàn.

     

    Các thành viên gồm :

    – Cán bộ thanh tra Sở Y tế.

    – Cán bộ Ban Thi đua – Kinh tế – Chính sách xã hội Liên đoàn lao động Tỉnh.

    Thời gian để hoàn thành công việc là 2 ngày với các nội dung, chương trình làm việc chia làm 2 giai đoạn như sau :

    Giai đoạn I :

    – Làm việc với chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp Thành Trung đang hoạt động (Uỷ ban nhân dân Xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp).

    – Làm việc với chủ doanh nghiệp, thông báo để chủ doanh nghiệp biết những yêu cầu cụ thể.

    – Tiếp xúc chị  N, một số công nhân cùng làm việc với chị N để thu thập thêm thông tin về việc thực hiện các vấn đề như hợp đồng lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tình trạng trang thiết bị làm việc, nội qui lao động.

    – Tiếp tục làm việc với chủ doanh nghiệp để thu thập thông tin, nghe ý kiến phản hồi từ phía người sử dụng lao động; đồng thời kiểm tra, xác minh một số vấn đề có liên quan.

    – Tổ chức buổi gặp gỡ 3 bên gồm: Đoàn điều tra, người sử dụng lao động, người lao động để nghe ý kiến đối thoại của các bên liên quan. Trong buổi họp này có thể mời thêm một số công nhân để làm nhân chứng (nếu thấy cần thiết).

     

    Giai đoạn II :

    – Đoàn điều tra hội ý, trao đổi, phân tích các kết quả thu được qua làm việc ở giai đoạn I. Trên cơ sở đó thống nhất các nội dung đánh giá, lập biên bản kết luận điều tra.

    – Thông qua biên bản kết luận điều tra tai nạn lao động tại doanh nghiệp Trung Thành, tại buổi họp này có mời đại diện Phòng Lao động Thương binh và xã hội, đại diện Liên đoàn lao động Huyện, đại diện Trung tâm Y tế Huyện và đại diện thường trực Uỷ ban nhân xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh.

    Dự kiến rằng các thành phần tham dự họp sẽ thống nhất các nội dung và hai bên cam kết thực hiện.

    Sau đó, đoàn điều tra gửi văn bản báo cáo đến Giám đốc Sở Lao động Thương binh và xã hội Tỉnh Đồng Tháp để theo dõi việc khắc phục hậu quả tai nạn lao động theo như cam kết của chủ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gạch Trung Thành.

    2- Kết quả:

    Với phương án tối ưu và cách làm việc tích cực của đoàn điều tra nên công việc đạt kết quả tốt đẹp, đúng tiến độ, kế hoạch, đạt các yêu cầu đề ra và đáp ứng đầy đủ theo các qui định của pháp luật. Từ đơn khiếu nại của chị N, đoàn điều tra đã ghi nhận và tập hợp các thông tin đưa vào biên bản như sau:

    a/- Doanh nghiệp tư nhân sản xuất kinh doanh gạch ngói Trung Thành  được thành lập từ năm 2002, có 45 công nhân thường xuyên làm việc; cơ sở vật chất chủ yếu được sang nhượng lại từ một doanh nghiệp gạch ngói khác đã giải thể do làm ăn không hiệu quả nên cơ sở vật chất của doanh nghiệp Trung Thành  còn nhiều thiếu thốn, máy móc thiết bị lạc hậu, phương tiện, điều kiện làm việc chưa đảm bảo an toàn lao động; các công đoạn sản xuất chủ yếu là thủ công, doanh nghiệp vốn ít nên gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chủ doanh nghiệp ít am hiểu pháp luật, đặc biệt là pháp luật về lao động, Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn từ đó đã không thể phát huy được vai trò tích cực của tổ chức công đoàn trong việc tham gia giám sát thực hiện pháp luật lao động.

    b/- Người lao động chủ yếu xuất thân từ nông thôn, học vấn kém, tay nghề thấp; trình độ nhận thức pháp luật không cao nên họ ít khi quan tâm đến việc tìm hiểu pháp luật – kể cả các qui định có liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của chính mình, họ chỉ quan tâm đến quyền lợi trước mắt, đó là vấn đề có thu nhập, thu nhập càng cao càng tốt.

    – Chỉ có 45 công nhân được chủ doanh nghiệp ký kết hợp đồng lao động có thời hạn từ một đến 2 năm, số công nhân còn lại làm việc theo chế độ khoán công việc. Việc trả lương tiến hành dưới hình thức khoán tiền mặt, không thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

    – Công nhân chưa được huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, người lao động chưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động, thậm chí không dám từ chối làm việc trong những điều kiện thiếu an toàn lao động.

    Chính những nguyên nhân nói trên đã dẫn đến các tai nạn lao động, thân thể người lao động bị thương tật, việc làm bị ảnh hưởng, cuộc sống đã vất vã nay càng khó khăn hơn và đến lúc này họ mới quay lại nhờ vào sự can thiệp của pháp luật.

    Sau khi đoàn điều tra xác minh, xác định được lỗi của doanh nghiệp và có hành vi vi phạm pháp luật lao động từ việc ký hợp đồng lao động, không tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, không trang bị đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động, chi trả tiền thuốc điều trị cho chị N không đầy đủ, không đúng với các yêu cầu, nhu cầu điều trị….Chủ doanh nghiệp cam kết sẽ thực hiện đầy đủ các kiến nghị của đoàn điều tra. Trước mắt chi trả tiền thuốc men và tiếp tục chi phí điều trị cho chị B đến khi lành bệnh, sau đó tiến hành các thủ tục đưa chị N ra giám định lại sức khoẻ và xác định mức độ thương tật để có cơ sở giải quyết các quyền lợi khác theo qui định của pháp luật.

    c/- Về các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chưa được thực hiện là do chủ doanh nghiệp chưa nắm được các qui định của pháp luật. Sau sự việc này, chủ doanh nghiệp nhận ra thiếu sót và tiến hành việc đăng ký đóng bảo hiểm xã hội cho tất cả công nhân có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ 3 tháng trở lên theo qui định tại điều 141 Bộ luật lao động; đồng thời truy nộp các khoản nợ đọng bảo hiểm xã hội từ trước đến nay cho công nhân.

    Về bảo hiểm y tế, chủ doanh nghiệp bắt đầu thực hiện ngay sau khi đoàn điều tra có kiến nghị.

    d/- Đoàn điều tra cũng kiến nghị Liên đoàn lao động Huyện Cao Lãnh và chủ doanh nghiệp tiến hành thành lập Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, tạo điều kiện cho tổ chức công đoàn giúp đỡ người lao động tiến bộ trong nghề nghiệp, có cơ hội học tập, tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người lao động, có tổ chức bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.

    e/- Đối với các sai phạm của doanh nghiệp, căn cứ các qui định tại Nghị định số 38/1996/NĐ-CP ngày 25/6/1996 của Chính Phủ, đoàn điều tra tai nạn lao động đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật lao động đối với doanh nghiệp Gạch ngói Trung Thành  bằng hình thức phạt tiền.

    Ngoài ra, căn cứ vào Thông tư số 08/TT-LĐTBXH ngày 14/4/1995 và Thông tư số 23/TT-LĐTBXH ngày 15/9/1995 của Bộ lao động Thương binh và xã hội thì chủ doanh nghiệp còn phải thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tai nạn lao động như: xây dựng nội qui, qui trình an toàn lao động dành cho máy nghiền trộn đất sét, thực hiện các biện pháp kỹ thuật đảm bảo an toàn máy móc, thiết bị đang được sử dụng tại doanh nghiệp.

    VI- NHỮNG KIẾN NGHỊ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHẰM ĐẢM BẢO VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG:

    Từ tình huống như trên, để đảm bảo pháp luật lao động được người sử dụng lao động thực hiện một cách nghiêm chỉnh nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho người lao động tại các doanh nghiệp, Tôi xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị như sau :

    1- Đối với các cơ quan cấp Bộ và Chính phủ:

    – Cần đẩy nhanh hơn nữa tiến độ ban hành các văn bản dưới luật, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật lao động, quyền công đoàn.

    – Củng cố, kiện toàn lực lượng thanh tra chuyên ngành có liên quan đến công tác an toàn vệ sinh lao động. Sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, góp phần làm trong sạch hơn nữa đội ngũ công chức làm công tác thanh tra lao động, an toàn vệ sinh lao động.

    2- Đối với các cơ ngành liên quan:

    – Hiện nay tình trạng từng ngành hoạt động riêng lẽ theo chức năng nhiệm vụ của mình nên dẫn đến tình trạng trùng lắp hoặc bỏ sót trong công tác kiểm tra, hướng dẫn, hỗ trợ đơn vị, cơ sở thực hiện an toàn vệ sinh lao động. Để khắc phục, đề nghị Sở Lao động Thương binh và xã hội tham mưu Uỷ ban nhân dân Tỉnh Đồng Tháp thành lập Hội đồng Bảo hộ lao động cấp Tỉnh và chỉ đạo hướng dẫn thành lập Hội đồng Bảo hộ lao động cấp Huyện – Thị, thống nhất chỉ đạo công tác Bảo hộ lao động trong toàn Tỉnh.

    – Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động Phòng chống cháy nổ và an toàn vệ sinh lao động. Tuỳ theo chức năng của từng cấp, từng ngành cần có Kế hoạch phổ biến sâu rộng những văn bản hướng dẫn các biện pháp bảo đảm an toàn trong sản xuất kinh doanh. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách có liên quan đến người lao động. Quá trình kiểm tra cần dành thời gian tiếp xúc với người lao động và người sử dụng lao động để lắng nghe ý kiến tâm tư nguyện vọng của từng đối tượng nhằm kịp thời có những đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền, góp phần hoàn chỉnh các văn bản pháp luật.

    – Các cấp, các ngành cần tăng cường công tác thông tin kiến thức pháp luật nói chung, Bộ Luật Lao động nói riêng để người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế nắm vững và thực hiện đúng các qui định của pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mỗi bên.

    Đối với Tỉnh Đồng Tháp, gần đây các doanh nghiệp sản xuất thường tập trung trong các khu công nghiệp, công nhân thường xuyên làm việc tăng ca, ít có điều kiện tập trung nên hoạt động tuyên truyền pháp luật cần có sự thay đổi về phương thức tuyên truyền như dùng hệ thống phóng thanh có công suất đủ lớn đặt gần các khu vực có nhiều công nhân ở trọ để đưa thông tin đến với người lao động nhiều lần vào những thời điểm thích hợp trong ngày. Ngoài ra cũng cần duy trì việc in và cấp phát miễn phí các tờ rơi, các hình thức tuyên truyền thông qua các phương tiên thông tin đại chúng.

    3- Đối với Liên đoàn lao động Tỉnh:

     

    – Phát huy Trung tâm kỹ thuật và dịch vụ Bảo hộ lao động; tăng cường và đổi mới công tác truyên truyền và huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động cho cán bộ bảo hộ lao động, cán bộ công đoàn và người lao động ở cơ sở; tiếp tục hướng dẫn các đơn vị cơ sở xây dựng và củng cố đội ngũ làm công tác Bảo hộ loa động trong hệ thống công đoàn, trong đó có Hội đồng Bảo hộ lao động và mạng lưới an toàn vệ sinh viên.

    – Phát động và tổ chức có hiệu quả việc kiểm tra, chấm điểm phong trào “Xanh – Sạch – Đẹp; bảo đảm an toàn vệ sinh lao động” ở các đơn vị sản xuất kinh doanh.

    4- Đối với tổ chức công đoàn:

    Cần dành nhiều thời gian hơn nữa cho việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục công nhân lao động; chú ý công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về lao động, về Luật công đoàn, điều lệ công đoàn. Nhanh chóng tuyên truyền, vận động thành lập các tổ chức Công đoàn cơ sở ở những nơi đủ điều kiện theo qui định của Luật công đoàn và Nghị định 133/HĐBT hướng dẫn thi hành Luật công đoàn.

    VII -KẾT LUẬN:

     

    Từ giải quyết vụ việc khiếu nại trên đây giúp chúng ta phát hiện thêm nhiều vấn đề hết sức quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về lao động. Cho thấy, với vai trò của tổ chức công đoàn, vấn đề tham gia, giám sát, đại diện nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động ngày càng trở nên bức xúc. Một thực trạng là còn không ít doanh nghiệp cố tình vi phạm các qui định pháp luật về các chế độ đối với người lao động như trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, không ký kết thoả ước lao động tập thể, . v. v..

    Trong các vi phạm nêu trên, thì vấn đề giải quyết tình trạng vi phạm các qui định về an toàn vệ sinh lao động là vấn đề bức xúc nhất, quan trọng nhất.

    Với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, kinh tế khu vực nhân doanh đang phát triển với tốc độ nhanh chóng đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, để sự tăng trưởng đó đáp ứng yêu cầu chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về một sự phát triển bền vững thì việc giải quyết một cách hài hoà, tốt đẹp các mối quan hệ, các lợi ích xã hội là vấn đề cần phải đặt ra và đòi hỏi được giải quyết tốt ngay trên từng chặng đường tăng trưởng kinh tế. Xu hướng phát triển trong những năm gần đây cho thấy cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp – dịch vụ thì cũng đồng thời diễn ra quá trình chuyển dịch mạnh mẽ lực lượng lao động từ nông thôn ra thành thị. Thực trạng về chất lượng của đội ngũ lao động này như đã nêu ở phần trên đòi hỏi các cấp các ngành có liên quan cần tăng cường nhiều hơn nữa sự quan tâm chăm lo cho vấn đề an toàn vệ sinh lao động và các vấn đề liên quan ở khu vực này. Làm tốt các biện pháp đảm bảo có hiệu quả công tác an toàn vệ sinh lao động chính là thành công ngay từ bước đầu tiên sự “che chắn của xã hội” đối với sức khoẻ người lao động, thể hiện sự trân trọng và bảo vệ vốn quí nhất của xã hội: đó là con người, sức khoẻ của con người. Con người với ý nghĩa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững ./.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ——///***///——

    1- Bộ Luật Lao động (1995) và Luật bổ sung, sửa đổi một số Điều của Bộ Luật Lao động ( 2002,2006).

    2- Lụât Công đoàn (1990) và Nghị định 133/HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Hướng dẫn thi Luật Công đoàn.

    3- Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội (1995) và Luật Bảo hiểm xã hội (2006).

    4- Tài liệu phục vụ Hội nghị Tổng kết 5 năm thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ của Ban chỉ đạo Tuần lễ quốc gia AT-VSLĐ, Phòng cháy chữa cháy Tỉnh Đồng tháp (tháng 7/2006).

    5- Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2005 của Trung Tâm Dịch vụ và Kỹ thuật Bảo hộ lao động thuộc Liên đoàn lao động Tỉnh Đồng Tháp (tháng 11/2005).

    6- Một số tài liệu khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-xo%C3%A1-%C4%91%C3%B3i-gi%E1%BA%A3m-ngh%C3%A8o-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-%C4%91%E1%BB%93ng-b%C3%A0o-c%C3%A1c-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-thi%E1%BB%83u-s%E1%BB%91-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-hi%E1%BB%87n-nay-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Lời nói đầu

    Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn đề phân biệt giầu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với phát triển bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn minh hiện đại. Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giầu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một quốc gia. Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, bất ổn về chính trị. Mọi dân tộc tuy có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giầu có. Trong thực tế ở một số nước cho thấy khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và có nguy cơ dẫn đến xung đột.

    Trong nền kinh tế thị trường, Quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng lớp dân cư trong quốc gia. Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giầu càng ngày càng có xu hướng rộng ra đang là một vấn đề có tính toàn cầu, nó thể hiện qua tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng vẫn đang đeo đẳng gần 1/3 dân số thế giới.

    Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một tỉ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển. ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng hàng năm là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn đề phân hoá giầu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giầu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng sâu vùng xa. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ đối với những  vùng gặp khó khăn, những hộ gặp rủi ro vươn lên xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Trong nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng đã nhấn mạnh coi vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Do đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa là đối tượng chính của nhiệm vụ xoá đói giảm nnghèo, bởi vì họ còn ở trình độ dân tri thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường. Việc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số được thực hiện tốt là một trong những yếu tố cơ bản để thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc ở nước ta  cùng tiến lên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ các chương trình chính sách xoá đói giảm nghèo được triển khai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các ngành Trung ương và địa phương cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số thực sự đã góp phần quan trọng, tạo được chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề bức xúc ở vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên những thành tựu này mới chỉ là bước đầu những tồn tại và khó khăn còn nhiều, để khắc phục nó cần có sự nỗ lực của toàn đảng toàn dân và đặc biệt là từ phía bản thân đồng bào các đân tộc thiểu số, cùng với cả nước xoá đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    Nghiên cứu chính sách xoá đói giảm nghèo và tác động của chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ  giúp chúng ta hiểu thêm về thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thấy được những kết quả đã đạt được và những yếu kém cần được khắc phục trong quá trình thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta ,để từ đó có kiến nghị và đề xuất giải pháp tốt hơn, có hiệu quả hơn trong công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

    Đề án gồm ba phần chính:

    Chương I Cở sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    Chương II Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây.

               

    Chương III   Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

     

     

     

    Chương I

    Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với vùng đồng bào các đân tộc thiểu số ở nước ta.

    I Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội

         1 Các khái niệm cở bản về chính sách kinh tế xã hội.

    1.1 Khái niệm chính sách

    Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức nhất định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại.

    Chính sách giúp các nhà quản lý xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Giúp họ thấy được phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể. Từ đó chính sách sẽ hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.

    1.2 Khái niệm chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các giải pháp và công cụ do nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội xây dựng và tổ chức thực hiện để giải quyết những vấn đề chính sách nhằm thực hiện mục tiêu bộ phận theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.

         2 Đặc trưng cơ bản của chính sách kinh tế xã hội

    • Chính sách kinh tế xã hội là các hình thức mà Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Thông qua các quyết định của nhà nước tác động lên các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế hướng họ theo mục tiêu chung của quốc gia trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành.
    • Chính sách kinh tế xã hội là hành động can thiệp của nhà nước trước một vấn đề chính sách chín muồi. Đó là những vấn đề lớn có phạm vi ảnh hưởng đến toàn bộ đất nước cần được giải quyết ngay.
    • Các mục tiêu của chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu bộ phận, có thể mang tính ngắn hạn huặc dài hạn và được thực hiện trên cơ sở hướng vào mục tiêu tổng thể của đất nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội không chỉ là những cách thức được đưa ra mà nó còn bao hàm cả quá trình thực hiện chính sách đó. Khi Nhà nước đưa ra văn bản về chính sách đã được các cấp có thẩm quyền thông qua thì đó vẫn chưa phải là chính sách. Chính sách kinh tế xã

    hội bao hàm cả hành vi thực hiện những kế hoạch được thể hiện         trong chính sách và đưa lại những những kết quả thực tế tiễn.Việc hiểu chính sách kinh tế xã hội một cách giản đơn là những chủ trương, chế độ mà nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách và những kết quả thực tiễn thu đựơc thì chính sách đó chỉ là những khẩu hiệu.

    • Mục tiêu chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu chung của nhiều nguời huặc của xã hội. Tuy nhiên một chính sách khó có thể đều đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, khi đó chính sách được lựa chọn là chính sách đem lại lợi ích cho đa số mọi người. Thước đo chính để đánh giá, so sánh và lựa chọn chính sách phù hợp là lợi ích mang tính xã hội mà chính sách đó đem lại.
    • Việc xây dựng chính sách kinh tế xã hội có sự tham gia từ nhiều phía nhiều tổ chức khác nhau trong đó Nhà nước với tư cách là người tổ chức và quản lý xã hội xây dựng và chịu trách nhiệm tổ chức thực thi. tuy nhiên ngày nay chính sách kinh tế xã hội không chỉ do các cơ quan tổ chức của nhà nước xây dựng mà nó có sự tham gia của nhiều cơ quan tổ chức ngoài nhà nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội có phạm vi ảnh hưởng lớn, nó tác động đến nhiều đối tượng, đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.

         3 Giải pháp và công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    3.1 Giải pháp chính sách kinh tế xã hội

    Giải pháp chính sách  kinh tế xã hội là phương thức hành động của nhà nước để đạt được mục tiêu. Để đạt được mục tiêu nhà nước phải xác định một hệ thống các giải pháp và mỗi chính sách đều có giải pháp riêng của mình. Có thể phân loại các giải pháp dưới nhiều tiêu trí khác nhau một trong những cách đó là phân loại theo phương thức tác động bao gồm các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu và các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu của chính sách. Với các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu, Nhà nước tham gia vào thị trường, vào đời sống kinh tế xã hội thông qua những chính sách những quy định cụ thể về các hoạt động kinh tế xã hội từ đó tác động tới mục tiêu một cách trục tiếp. Các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu được sử dụng nhằm tạo ra những phản ứng có lợi cho việc mục tiêu từ những chủ thể kinh tế xã hội.

    3.2 Những nhóm công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    • Nhóm công cụ kinh tế là các ngân sách, các quỹ, hệ thống đòn bẩy và khuyến khích kinh tế như thuế, lãi suất, giá cả, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, tỷ giá hối đoái…
    • Nhóm các công cụ hành chính tổ chức bao gồm các công cụ mô hình các tổ chức, bộ máy và đọi ngũ cán bộ, công chức, các công cụ hành chính là các kế hoạch của nhà nước và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.
    • Nhóm công cụ tuyên truyền, giáo dục là hệ thống thông tin đại chúng, hệ thống thông tin chuyên ngành, hệ thống giáo dục và đào tạo, hệ thống các tổ chức tổ chức chính trị, xã hội và đoàn thể.
    • Các công cụ kỹ thuật, nghiệp vụ đặc trưng cho từng chính sách.

         4 Vai trò của chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội có vai trò hết sức to lớn thể hiện ở những chức năng cơ bản sau:

    • Chức năng định hướng giúp các củ thể kinh tế xã hội có được những chỉ dẫn ra quyết định vạch ra phạm vi giới hạn cho phép của những quyết định, hướng suy nghĩ hành động của các chủ thể vào việc thực hiện mục tiêu chung của quốc gia. Chính sách kinh tế xã hội cũng định hướng việc huy động phân bổ và sử dụng nguồn lực nhằm giải quyết những vấn đề chính sách một cách kịp thời và có hiệu quả.
    • Chức năng điều tiết của những chính sách do Nhà nước ban hành giúp Nhà nước giải quuyết những vấn đề bức xúc phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội , điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động xã hội theo các mục tiêu đề ra.
    • Chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển đây chức năng quan trọng nhất của chính sách xây dựng và nâng cấp các yếu tố quyết định sự phát triển như giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hệ thống thông tin và các thị trường vốn.
    • Chức năng khuyến khích sự phát triển đây là chức năng tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội. Bản thân mỗi chính sách khi hướng vào giải quyết một vấn đề bức xúc đã làm cho sự vật phát triển thêm một bậc. Đồng thời khi giải quyết vấn đề đó thì chính sách lại tác động lên vấn đề khác, làm nẩy sinh những vấn đề mới.

    II Vấn đề nghèo đói

         1 Các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói

    1.1 Theo cách tiếp cận hẹp

    Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác.

    Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giầu nhất. Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình. Đó là nghèo đói tương đối. Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn.

    Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay. Những người theo quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy ra. Do đó các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống.

    1.2  Theo cách tiếp cận rộng

    Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giầu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội. Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chưa có tích luỹ thì giữa con người chưa có sự phân hoá giầu nghèo. Nhưng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lượng sản suất, xã hội đã bắt đầu có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tư nhân và trao đổi hàng hoá. Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có người giầu người nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp. Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giầu có và trong hoàn cảnh nhất định. Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giầu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói như thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo.

    Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau:

    • Phân hoá giầu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp người giầu lớp người nghèo. Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội.
    • Phân hoá giầu nghèo là hiện tượng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy nếu không xử lý kịp thời, huặc không có cơ chế duy trì sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố ngăn cách giữa lớp người giầu và lớp người nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp cũng sẽ diễn ra.
    • Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cư là Nhà nước, tuy nhiên do bản chất nhà nước ở các chế độ, cũng như định hướng chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng như tính triệt để của các giải pháp xủ lý hố ngăn cách giầu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử nhất định.

         2 Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo đói hiện nay

    Cho đến nay dường như đã đi đến một cách tiếp cận tương đối thống nhất về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại trong xã hội. Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay không nghèo. Tuy nhiên khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian.

    ở đây cần phân biệt rõ mức sống tối thiểu và mức thu nhập tối thiểu. Mức thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận được những thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc sống. Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lượng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi giải trí và các hoạt động văn hoá khác. Do vậy khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động, một khái niệm tương đối và rất phong phú về nội dung và hình thức, không chỉ tuỳ theo sự khác nhau về môi trường văn hoá, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế.

    2.1 Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB)

    – Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh gía WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở, giá trị hàng hoá lâu bền. Tuy nhiên báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn người lao động tự hành nghề.

    – WB đưa ra hai ngưỡng nghèo:

    + Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực gọi là ngưỡng nghèo lương thực.

    + Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung.

    – Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998  là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày. Người dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực. Dựa trên giá cả thị trường để tính chi phí cho rổ lương thực đó. Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm.

    – Cách xác định ngưỡng nghèo chung

    Ngưỡng nghèo chung  =(ngưỡng nghèo lương thực)+(ngưỡng nghèo phi lương thực)

    Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là 503038 đồng/người/năm từ đó ta có ngưỡng nghèo chung là 1789871 đồng/người/năm.

    2.2  Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế(ILO)

    -Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng rổ hàng hoá cho người nghèo cơ sở xác định là lương thực thực phẩm. Rổ lương thực phải phù hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm người nghèo. Theo ILO thì có thể thu được nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn. Với người nghèo thì phải thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất .

    – ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương thực thục phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lương thực trong rổ lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ  gạo và 25% kcalo có được từ các hàng hoá khác được gọi là các gia vị. Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là 511000 đồng/người/năm.

    2.3 Quan điểm của tổng cục thống kê Việtnam

    – Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việtnam được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời gía vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người. Những người có mức mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo.

    2.4 Quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội

    – Theo quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội cho rằng nghèo là bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực.

    – Bộ lao động thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau :

    + Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một     tháng quy ra gạo được 13 kg.

    + Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng.

    Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo.

    Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo.

    Vùng thành thị dưới 25 kg gạo.

    2.5 Các phương pháp đánh giá các chính sách của chính phủ về giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội

         2.5.1  Phương pháp đường cong Lorenz

    Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ % dân số được cộng dồn với tỷ lệ thu nhập được cộng dồn tương ứng. Phương pháp này được mô tả bằng đồ thị sau :

    100%                                                               A

                            % thu

                             nhập

    cộng                                                      A

    dồn     50

    L2        

    L1

    25

    B

    0             25            50                           100%

    % Dân số được cộng dồn          

    Vì dân số được cộng dồn và thu nhập được cộng dồn tương ứng nên mọi điểm nằm trên đường phân giác 0A phản ánh một sự phân phối tuyệt đối công bằng.

    Các đường cong Lorenz nói lên trong phạm vi dân số đã biết thì tỷ lệ % thu nhập tại các nhóm dân cư là khác nhau. Nhìn trên đồ thị ta thấy đường cong Lorenz càng gần đường phân giác bao nhiêu thì sự phân phối công bằng càng công bằng bấy nhiêu ( đường L2 gần đường phân giác hơn đường L1 ).

    Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy rằng, khi nền kinh tế chưa phát triển, đường cong Lorenz khá gần đường phân giác 0A. Khi đó mọi người cảm thấy có sự công bằng nhưng nhưng công bằng trong nghèo khổ. Khi nền kinh tế thị trường dần dần phát triển thì đường cong Lorenz cũng dần dần nhích xa đường phân giác 0A, tức Lorenz là xuất hiện sự mất công bằng trong phân phối thu nhập. Một số có thu nhập cao nên giầu có, số khác có thu nhập thấp trở nên nghèo khổ. Và đến một lúc nào đó sự mất công bằng phân phối trở thành rào cản của sự phát triển. Khi đó chính phủ phải dùng chính sách tác động đến phân phối thu nhập để kéo đường cong Lorenz tiến dần về phía đường phân giác 0A.

    Để lượng hoá phương pháp đường cong Lorenz, người ta sử dụng hệ số Gini.

    Nếu gọi diện tích được giới hạn bởi đường phân giác và đường cong Lorenz là A và diện tích nằm phía dưới đường cong Lorenz là B, thì hệ số Gini được xác định bằng biiêủ thức :

    B = A/(A+B) = A/(1/2) = 2A

    Hệ số Gini nhận các giá trị từ 0 đến 1.

    G = 0 phản ánh một mức phân phối tuyệt đối công bằng.

    G = 1 phản ánh một sự phân phối tuyêt đối mất công bằng.

    Cả hai trường hợp G = 0 và G = 1 chỉ có ý nghĩa lý thuyết, không có trong thực tế.

    Tên thực tế G nhận các gía trị trong đoạn [ o,1 ], tức Là: 0<G<1 hệ số Gini càng gần 0 thì phản ánh sự phân phối càng công  bằng.

         2.5.2  Chỉ số nghèo khó

    Một chỉ số khác thường được dùng trong phân tích đánh giá chính sách là chỉ số nghèo khó.

    Chỉ số nghèo khó được xác định bằng tỷ lệ % giữa số dân nằm dưới giới hạn của sự nghèo khó với toàn bộ dân số .

    Ip = ( Số dân ở dưới mức tối thiểu)/(Tổng dân số)

    Chỉ số này cho ta biết những thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người thật sự nghèo với những sự thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người khá giả không quan trọng bằng những thay đổi có khả năng chuyển các cá nhân nằm dưới đường nghèo khổ lên trên đường này. Chỉ số này có thể dánh giá mức độ nghèo khổ của một huyện một tỉnh, hay cả nước.

    III Chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta

         1 Khái niệm, mục tiêu, đối tượng chính sách xoá đói giảm nghèo

    Khái niệm Chính sách xoá đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội giầu đẹp.

                Mục tiêu  của chính sách xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng thuộc diện nghèo đói ở nước ta, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo trong xã hội,  nhằm mục tiêu tổng quát xây dựng một đất nước dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.      

    Đối tượng  là đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, những vùng sâu vùng xa nơi mà cuộc sống còn nhiều khó khăn và có cuộc sống cách biệt với đời sống kinh tế xã hội của cả nước.

         2 Những chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

    2.1 Chương trình phát triển nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

         2.1.1 Chương trình về thuỷ lợi, giao thông

    Đây là chương trình đầu tiên và kéo dài thời gian nhất cho đến nay nó vẫn được tiếp tục. Đa số người người nghèo tập trung nhiều nhất ở những vùng sâu vùng xa mà chính những nơi này giao thông thuỷ lợi lại rất yếu kếm do đó Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ cho những khu vực này với khẩu hiệu nhà nước và nhân dân cùng làm. Việc phát triển giao thông và thuỷ lợi sẽ tạo đà cho sự hoà nhập giữa miền ngược và miền xuôi, thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển, tăng năng suất lao động góp phần bình ổn lương thực trong vùng.

         2.1.2 Chương trình định canh định cư

    Từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận vấn đề định canh định cư có tầm vóc cực kỳ quan trọng nhằm làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội miền núi, vùng dân tộc thực tế đây là cách sống ổn định văn minh, tiến bộ. Nó tác động sâu sắc tới tâm tư tình cảm của nhân dân các dân tộc thiểu số, từng bước xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, bất lợi cho sự phát triển để hoà nhập vào sự phát triển chung. Chương trình này bắt đầu từ 1968, và nó đã trở thành một chương trình rất đắc lực trong việc giảm nghèo đói . Mục tiêu của nó nhằm biến người du canh du cư thành định cư, tức là giúp những người nghèo nhất những người dễ bị rủi ro nhất trở thành những người sống ổn định, nó có đối tượng phục vụ cụ thể và rất thiết thực đói với người nghèổ miền núi.

         2.1.3 Chương trình tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ

    Đây là một chương trình đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế miền núi theo hướng chuyển dịch cơ cầu giống cây trồng mới và sản xuất hàng hoá tập trung. Nó được hiểu là một chương trình bao gồm nhiều công việc, dự án triển khai trên diện rộng, chủ yếu tập trung vào các khâu khuyến nông, khuyến lâm, khoa học kỹ thuật, vật tư sản xuất, tín dụng nông thôn.

    2.2 Chương trình giải quyết việc làm

    Trên cơ sở nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11-4-1992 một chương trình có tầm quan trọng tác động tới việc xoá đói giảm nghèo đó là chương trình xúc tiến việc làm, chương trình ra đời nhằm giải quyết gánh nặng nhân lực trong qúa trình tổ chức, xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu đổi mới, cung cấp tín dụng, bồi thường, trợ cấp cho người ra khỏi biên chế nhà nước để tự tạo việc làm, buôn bán nhỏ và các hoạt động kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường.

    2.3 Chương trình tín dụng

    Nhà nước ta đã có chủ trương thực hiện các khoản tín dụng cho vay mở rộng tới hộ nông dân, và theo quyết định số 525/TTg ngày 31-8-1995 của thủ tướng chính phủ cho phép thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo để giúp người nghèo vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Ngân hàng phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vồn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác nhà nước cho phép được lập quỹ cho người nghèo vay thực hiện chương trình của chính phủ đối với người nghèo.

    Hoạt động của ngân hàng người nghèo vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện việc cho vay trực tiếp đến hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được cho vay để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn, và theo lãi suất quy định. Ngân hàng phục vụ người nghèo được xét miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo. Các rủi ro trong quá trình hoạt động phục vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của bộ tài chính.

    Sau bẩy năm họat động ngay 4-10-2002 chính phủ đã ban hành nghị định 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác trong đó ghi rõ thành lập ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng người nghèo đưa ngân hàng người nghèo trở thành một ngân hàng hoàn chỉnh giúp cho việc thực hiện các chức năng của mình hiệu quả hơn.

    2.4 Chương trình giáo dục y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

         2.4.1 Chương trình giáo dục

    Có thể gói gọn chương trình giáo dục trong khuôn khổ đóng góp huặc tác động vào vào việc xoá đói giảm nghèo gồm:

    • Chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp.
    • Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học.
    • Chương trình tăng cường đẩy mạnh giáo dục phi chính thức.
    • Chương trình cải tiến hệ thống dậy nghề đáp ứng nhu cầu thị trường.
    • Chương trình 7 của Bộ giáo dục và đào tạo về hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú.

         2.4.2 Chương trình y tế

    Chương trình y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân nói chung vốn có thâm niên từ trước rất lâu so với chương trình xoá đói giảm nghèo. Trong chương trình chung lại có chương trình bảo vệ bà mệ trẻ em, đó là hai đối tượng dễ bị tổn thương và rủi ro trong cuộc sống xã hội và gia đình. Những chương trình hoạt động chính trong khuôn khổ xoá đói giảm nghèo bao gồm chương trình phòng chống bệnh bướu cổ, phòng chống bệnh sốt rét, nước sạch cho sinh hoạt nông thôn, tiêm chủng mở rộng, xoá xã trắng về y tế. Những chương trình này nhằm cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    2.5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Chương trình quốc gia số 06/cp là chương trình về phòng chống và kiểm soát ma tuý theo nghị quyết số 60/CP của chính phủ ra ngày 29-01-1993. Chương trình này này được triển khai nhằm mục tiêu phòng và kiểm soát ma tuý mang ý nghĩa chính trị xã hội và quốc tế rộng lớn. Song quá trình thực hiện nó lại có ý nghĩa rất lớn đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vận động đồng bào dân tộc từ bỏ trồng cây thuốc phiện và thay thế cây trồng vật nuôi để bù đắp sự hẫng hụt từ việc mất nguồn thu từ cây thuốc phiện.

    2.6 Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn

    Chương trình này bắt đầu từ năm 1992, mục tiêu nhằm vào các dân tộc thiểu số khó khăn và có dân số ít ( trên dưới một vạn người ). Đa số những dân tộc này nằm ở vùng sâu vùng xa khó khăn về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, y tế, giao thông, văn hoá thông tin… Những dân tộc quá cách biệt với các khu vực kinh tế đang năng động và hầu như chưa được cơ chế thị trường ảnh hưởng và tác động tới. Tính đặc biệt của chương trình này là đầu tư không hoàn lại tức là cho không .

    2.7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Có thể nói những năm qua, chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ môi trường, chi phí cho việc bảo vệ môi trường năm sau lớn hơn năm trước mà nổi bật là chương trình 327 phủ xanh đất chống đồi trọc. Chương trình bảo vệ môi trường mà nước ta triển khai nhằm mục tiêu nâng cao kiến thức, tập huấn kỹ thuật cho đồng bào miền núi. Những yêu cầu, biện pháp bảo vệ môi trường dễ hiểu, thiêt thực đối với họ. Đồng thời có các chương trình chyển giao khoa học kỹ thuật để họ có thể thâm canh tăng năng suất lao động trên đất nông nghiệp hiện có và quan trọng hơn là không mở rộng diện tích canh tác khi dân số tăng huặc do thiếu đất bằng cách chuyển đất rừng làm nương rẫy. Tuy trọng tâm của những chương trình được triển là tập trung vào việc xoá đói giảm nghèo giải quyết những bức xúc của người nghèo nhưng không cho phép xâm hại phá vỡ tính ổn định của tự nhiên. nói cách khác xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi  trường là hai mặt của một quá trình cải thiện tính bên vững của môi trường sống, có giá trị lâu bền với đồng bào các dân tộ thiểu số.

     

    Chương II

    Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

    I Thực trạng và nguyên nhân về tình trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn trước đây

         1 Thực trạng về tình hình nghèo đói ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong những giai đoạn gần đây

    Chính sách đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay và nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/TƯ ngày 27-11- 1989 của bộ chính trị “ Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế _ xã hội miền núi “ và quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) “ về một số chủ trương biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế  xã hội miền núi “ nhằm cụ thể hoá việc phát triển kinh tế xã hội vùng cao, miền núi ngày càng đạt được nhiều thành tựu. Có thể nói chưa bao giờ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước lại có tác động mạnh mẽ đến như vậy đối với vùng cao, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn quen với một cuộc sống có nhu cầu thấp về tiêu thụ và hưởng thụ.

    Trong tình hình đó sự phân hoá giầu nghèo ngày càng rõ nét. Một nhóm nhỏ đã năng động sáng tạo biết cách làm ăn để vượt lên. Một nhóm lớn vẫn còn loay hoay chưa dám mạnh dạn thay đổi., kiếm tìm nguồn lực, phương sách tăng thu nhập. Nhóm đa số thực sự chỉ trông vào hạt ngô hạt lúa, hứng chịu nhiều hơn sự rủi ro, thất bát mùa màng. Không có lương thực cũng có nghĩa là không thể chăn nuôi để tăng thu nhập, không có tiền để đầu tư vào vật tư, giống cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch ít hơn, trong khi số người trong gia đình ngày càng tăng lên. Phương sách đơn giản và đỡ tốn kém nhất là đốt phá rừng làm nương rẫy để tăng thêm lương thực, thậm chí một số đồng bào dân tộc Thái, Dao và Mông quay sang trồng cây thuốc phiện để tạo thu nhập cho cuộc sống.

    Tuy chưa có cuộc điều tra riêng rẽ chính xác cho vùng dân tộc thiểu số, nhưng hai cuộc điều tra chung ở nông thôn cả nước đều cho thấy kết quả là mức độ nghèo đói diễn ra trầm trọng nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc, vùng duyên hải Trung bộ và Tây nguyên. Kết quả cuộc điều tra năm 1992 về các dân tộc Thái, Dao, Tày, Nùng, Mông, Ơ Đu, Khơmú, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng trên địa bàn miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, miền Trung và Tây Nguyên đã cho một kết luận đáng chú ý về tỷ lệ phân hoá giầu nghèo như sau:

    • Giàu, khá : 9,3%
    • Trung bình : 45%
    • Nghèo : 45,7%

    Sự giầu nghèo giữa các dân tộc thiểu số là một vấn đề cần được quan tâm để tìm ra phương sách phù hợp. Cùng một vùng, khi người giầu huặc khá ở dân tộc Nùng là 10% thì dân tộc Giáy chưa có sự hình thành tầng lớp này. ở dân tộc Thái là 8 – 10 % trong khi người Mông ở Nghệ An lại là 31,25% do còn lén lút trong trồng bán thuốc phiện.

    Lấy mốc cuộc điều tra năm 1993 mức độ giầu khá, trung bình tính chung cả nước gấp gần 2,5 lần so với các tỉnh trung du và gần 4 lần so với các tỉnh miền núi phía bắc. Trong cuộc điều tra này đã phát hiện một vấn đề rất đáng quan tâm là chỉ số nghèo đói ở Việtnam được xếp ở mức độ rất thấp. Tỷ lệ chi phí cho nhu cầu lương thực chiếm tới 70% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nhất và là 66% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nói chung. Mức chi phí từ 66% – 70% là qua cao so với nhu cầu về nhiều mặt khác của một gia đình như dinh dưỡng từ những thực phẩm thịt động thực vật, chi phí học hành, hưởng thụ văn hoá- thông tin…

    Trong việc phân chia mức độ nghèo đói, có thể phân chia ra các nhóm như sau:

    Nhóm thứ nhất : một số hộ đói nghèo chủ động tìm kiếm cơ hội thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Họ tìm đến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cao hơn, giỏi làm kinh tế để học tập kinh nghiệm, tìm tòi các địa điểm, địa phương có điều kiện làm việc để có thu nhập cao hơn. Họ mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất, tìm kiếm để mở rộng sản xuất ngoài nông nghiệp và chăn nuôi.

    Nhóm thứ hai : Nhóm này ít năng động hơn có thể khá lên thoát khỏi đói nghèo nhờ vào các chương trình phát triển giao thông, có đường sá tốt để giao lưu buôn bán trao đổi hàng hoá và nhờ vào được hưởng các dự án kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhưng nhóm này tỏ ra kèm năng động hơn nhóm thứ nhất và cũng đễ bị đẩy xuống diện đói nghèo nếu các chương trình, dự án trên địa bàn kết thúc. Đó là nhóm thiếu bền vững.

    Nhóm thứ ba : Đây là nhóm chiếm đa số là những người không huặc rất ít khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển. Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương huặc phát đồi rừng làm nương để hy vọng có lương thực khá  hơn, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi về giao thông, chợ, tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không nghĩ ra huặc không giám mạnh dạn tìm cơ hội thay đổi cuộc sống. Tâm lý dân tộc thiểu số quen sống dựa vào tự nhiên an phận thủ thường, dễ thoả mãn vào các nhu cầu cũng là một yếu tố đáng quan tâm một phần số họ là nhữg người neo đơn, bệnh tật, già nua, độc thân, họ sẽ bị tụt hậu mãi về phía sau khi nền kinh tế không ngừng tăng trưởng.

    Mặc nhiên hộ là dân tộc thiểu số hay đa số nhưng khi cư trú ở các khu vực miền núi có khó khăn thì họ phải chịu đựng những thiệt thòi chung. Dù cho sự thiệt thòi có khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng tạo thu nhập, sáng kiến của các dân tộc. Trong cuộc điều tra năm 1992 người Tày đông đứng đầu trong các dân tộc thiểu số sống tập trung ở Việt Bắc, có tỷ lệ đói nghèo chiếm tới 58,1%. Ngoài sự khác biệt về vùng có chênh lệch khá lớn thì một thực tế cho thấy trong 53 dân tộc thiểu số cũng có sự phân cách nhất định giữa các nhóm đầu bản, giữa bảng và cuối bảng về mức độ giầu nghèo. Những dân tộc Thái, Mường, Tày thường đứng ở những bậc thang cao hơn cả. Họ vùa có số dân đông, nơi cư trú khá thuận lợi, trình độ dân trí cao.

    Một nhóm dân tộc quá ít người thường chịu những thiệt thòi hơn. Có thể là do lịch sử để lại những yếu kém tồn tại. Họ không đủ lực để tranh chấp những vùng đất mầu mỡ huặc họ đến sau những nơi tươi tốt đã thuộc về dân tộc khác đến trước. Có thể họ bị chèn ép, họ tự ý dắt nhau đi sâu vào những vùng hoang vắng. Những vấn đề ấy trong lịch sử của bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể diễn ra, không phải là hiện tượng cá biệt. Di chứng lịch sử để lại nên họ đành phải chấp nhận một số phận ít may mắn hơn các dân tộc khác và vì thế độ đói nghèo cũng nhiều hơn. Các dân tộ trong nhóm này gồm: Lào, La Hủ, Phù Lá, Lự, Chứt, Cờ Lao, La Ha, Cống, Pu Péo, Ơ Đu, La Chí, Kháng, Pà Thẻn, Lô Lô, Mảng, Bố Y, Ngái, Shi La, Rơ Măm, BRâu.

    Một nhóm dân tộc thiểu số khác cũng cần đề cập đến là những người du canh du cư một cách khá thường xuyên huặc di dân tự do. Nhóm này gồm cả một bộ phận dân tộc có số dân đông như Mông, Ba Na, Gia Rai và gần đây là cả Tày, Nùng và Giao vào các vùng đất còn rừng và mầu mỡ ở Tây Nguyên. Đây là một nhóm người mà cuộc sống cũng rất bấp bênh và còn nhiều khó khăn chưa ổn định cuộc sống.

    Một nhóm nữa là một vài dân tộc còn khá lạc hậu, tồn tại nhiều phong tục tập quán cổ hủ và có nguy cơ giảm dân số huặc suy thoái nòi giống, còn giữ những nét hoang dã, chưa hoà nhập được với cuộc sống lao động sản xuất, vẫn quen hái lượm săn bắn, dựa vào thiên nhiên. Nhà ở tạm bợ, ăn uống thiếu vệ sinh, luôn trong tình trạng đói nghèo đã làm cho những dân tộc này tăng dân số rất chậm. Năm 1995, dân tộc Chứt ở bản Rào Tre, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có 19 hộ với 103 nhân khẩu trưởng bản là một bà tên là Đại, người bé như một đứa trẻ 11 – 12 tuổi, nặng chừng 30 kg do suy thoái nòi giống. Trước đó 2 năm một dự án định canh định cư đã được thực hiện ở đây. Bản có ruộng nước, được cấp trâu bò, xây nhà cho các hộ, đào giếng nước ăn, mở lớp học… nhưng điểm quan trọng cần lưu ý là số ruộng đó lại do người kinh phát canh. Mùa đến, tuỳ theo người kinh cho bao nhiêu gạo thì cho, bản lúc nào cũng vắng tanh, chỉ có phụ nữ và trẻ con, đàn ông thì đi rừng hết, họ đi hàng tháng, đêm ngủ trong hang đá huặc leo lên cây… nghĩa là họ vẫn quen cuộc sống dựa vào thiên nhiên, không chịu làm ruộng mặc dù đã có ruộng và trâu bò.

         2 Những nngyuên nhân cơ bản về tình trạng nghèo đói ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

    2.1 Sự phân cách trầm trọng kéo dài

    Đây là nguyên nhân bao trùm dẫn dến tình trạng nghèo đói đối với các hộ dân tộc thiểu số. Những dân tộc thiểu số chịu sự phân chia về địa hình và sự cách biệt về xã hội. Chiến lược phát triển giao thông vận tải đã đưa ra những con số gần đây cho thấy rõ những yếu kém và sự quá tải của hệ thống giao thông nước ta. Hiện nay cả nước vẫn còn khoảng 657 xã chưa có đường ôtô vào trung tâm xã ước tính độ dài đường cần phải làm là 6.400 Km và cần dựng thêm 2.708 cầu trên các tuyến đường vao trung tâm các xã mà chủ yếu là cầu nhỏ dân sinh. Riêng miền núi phía bắc còn có trên 400 xã chưa có đường ôtô đi vào, chiếm trên hai phần ba số xã miền núi trong toàn quốc.

    Đó là chưa thể so sánh con đường đó với những đường chỉ có ngựa thồ và người đi bộ từ các làng bản xa và cao xuống đường xương cá gắn với đường trục. Các chòm bản các hộ cách xa nhau là đặc điểm bắt buộc của những cư dân sống bằng nương rẫy. Do luân chuyển các hạt nương và năng suất đạt thấp nên gia đình cần có một khoảng canh tác rộng để có đủ lương thực sống. Hầu như họ rất ít đi chợ, mỗi lần đi chợ họ mua dự trữ những mặt hàng thiết yếu dầu thắp, muối ăn, và một vài thứ khác.

    Sự phân cách về mặt địa lý đã làm cho việc đi lại trở nên khó khăn. Việc đi lại cách trở, xa các chợ, thị tứ, thị trấn đã làm cho họ rất thiếu thông tin kiến thức về kinh tế thị trường, tính toán đầu vào đầu ra để có kết quả tốt nhất. Bên cạnh đó là sự thiếu thốn về giáo dục làm cho trình độ dân trí của các dân tộc thiểu số có sự cách biệt đáng kể. Số người được học hành để có bằng cấp là rất ít do vậy nên khả năng tham gia của nhười dân tộc vào các hoạt động của xã hội hiện đại là rất hạn chế. Những nỗ lực nhằm từng bước hoà nhập đời sống xã hội của đồng đồng bào các dân tộc thiểu số vào xã hội đương thời ở nước ta chính là cách xoá dần sự chênh lệch cách biệt. Các chương trình mở trường học, xoá mù chữ, dậy tiếng Việt trong nhà trường đã được tiến hành nhưng hiện tượng tái mù chữ vẫn xẩy ra do sau khi học xong thì họ ít có cơ hội tiếp xúc với những phương tiện thông tin để có thể vận dụng những chữ đã được học trong nhà trường.

    Song cho dù chương trình có tốt đến đâu, có hay đến đâu nếu không có kinh phí thì cũng không thể tiến hành được.Đây là một thực trạng khó khăn cho chúng ta hiện nay. Nguồn kinh phí chi cho những công tác này còn rất eo hẹp, cộng thêm với đội ngũ cán bộ thực hiện những chương trình đó thì chưa có đủ trình độ do đó dẫn đến sự kếm hiệu quả của những chương trình đã được triển khai.

     

     

     

    2.2 Những rủi ro tai hoạ đột xuất

    Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi, điều quan tâm nhất của họ trong đời sống là vấn đề cái ăn. Vì vậy có được sự an toàn về lương thực là vấn đề ưu tiên số một. Nhìn lại mấy chục năm qua, tình trạng thiếu lương thực luôn đè nặng lên cuộc sống của họ. Đa phần họ sống trên những vùng đất rốc, núi đá, không thuận lợi cho việc canh tác và năng suất lao động kém. Các vùng và tiểu vùng nơi họ sống thường rất thất thường và khắc nghiệt. Độ ẩm, gió Lào, độ mưa, độ lạnh luôn gây khó khăn cho cây vật nuôi, quá trình sản xuất, và kết quả là mất mùa đối với cây trồn, bệnh dịch đối với gia súc, cây trồng, vật nuôi kém phát triển tất nhiên dẫn đến năng suất thấp ít hiệu quả. Điều quan trọng là do cư trú ở những vùng sinh thái thiếu sự đảm bảo ổn định, tài nguyên rừng, nước ngày càng cạn kiệt. Do lối canh tác ngày càng lạc hậu cây con truyền thống, phụ thuộc nhiều vào khí hậu thời tiết nên dẫn đến thường xuyên đói lương thực và bị đe doạ đứt bữa vào những kỳ giáp hạt.

    Rủi ro và những phát sinh bất thường chính là do sự thiếu bền vững, có thể nói đó là hai mặt gắn liền với sự đói nghèo. Môi sinh mỏng manh, đất đai dễ bị sói mòn, bạc mầu, rừng bị tàn phá thu hẹp dần, nguồn nước mất kéo theo mất luôn nguồn thuỷ sản. Thêm vào đó là thiên tai thường xẩy ra hàng năm và bất ngờ đẩy cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vào hoàn cảnh rất bấp bênh. Mặc dù có nhiều chương trình được thực hiện để củng cố tính bền vững của môi trường như chương trình định canh định cư và chương trình 327 nhưng hiệu quả đem lại chưa cao.

    2.3 Nguồn lực và năng lực

         2.3.1 Nguồn lực

    Có thể nói một cách nhắn gọn nguồn lực bao gồm tất cả những khâu thuộc đầu vào để tạo ra nguồcn thu nhập gồm  tức là đầu ra. Nguồn lực của những người nông dân bao gồm : đất đai, lao động, vốn sản xuất kỹ năng sản xuất. Muốn thực hiện xoá đói giảm nghèo thì phải cung cấp cho họ những điều kiện để họ sản xuất.Trong các nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, ở nước ta ngoài các dân tộc thiểu số như Mường, Tày, Nùng đã canh tác ruộng nước có hệ thống dẫn nước để tưới tiêu học ở người kinh còn lại đa số các đân tộc thiểu số quen phương thức canh tác trên đất đốc và khô. Để ngăn chặn nạn du canh du cư, phá rừng làm rẫy ngày 14-7-1993 tại kỳ họp thứ ba của Quốc Hội khoá IX đã thông qua luật đất đai cho phép xác định tính pháp lý của người có quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đất chia rừng cho các hộ gia đình quản lý diễn ra chậm chạp. Và nếu không có giấy tờ sở hữu đầy đủ thì các hộ dân tộc thiểu số sẽ bị lợi dụng huặc xâm chiếm đất đai bởi những cư dân tự do mới đến.

    Có được đất đai rồi muốn tổ chức sản xuất cần có lao động. Nhìn chung chất lượng lao động ở các dân tộc thiểu số bị yếu kém ở hai khía cạnh chính là : Thể trạng yếu mệt suy dinh dưỡng và kỹ năng lao động kém do đó làm cho năng suất trong lao động rất thấp. Bên cạnh đó nguồn vốn eo hẹp. Có nhiều hộ chỉ quen trông chờ vào nông nghiệp, chăn nuôi nên khi chưa có phương sách gì hơn để tạo thu nhập vốn nhiều khi chưa phải là cần thiết.

         2.3.2 Năng lực

    Năng lực muốn nói ở đây là mức độ tham gia của các dân tộc thiểu số vào xã hội hiện thời. Trước hết quyền tham gia vào các lĩnh vực chính trị – kinh tế, xã hội của các công dân thiểu số đã được xác lập cùng với sự ra đời của nhà nước Việt Nam. Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho con em của đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện được học  ở những lớp chuyên ngành và đại học

    II Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở vùng tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

         1 Chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

    1.1 Thuỷ lợi, giao thông

    Thập kỷ cuối của thế kỷ XX, việc phát triển giao thông nông thôn được phát triển trong toàn quốc, với phương châm nhà nước và nhân dân cừng làm đã huy động được nhiều nguồn nhân lực, vật lực, tiền của, phát triển được trên 150.000 Km đường bộ và 35.700 Km đường thuỷ. Nhưng ở miền núi còn rất nhiều khó khăn, làm một Km đường rất tốn kém vì núi đá và địa hình phức tạp, đóng góp của dân về tiền của không nhiều và cuối cùng là ngân sách của Nhà nước đầu tư cho giao thông miền núi còn xa mới đáp ứng được nhu cầu.                         

    1.2 Chương trình định canh định cư

    Vấn đề định canh định cư từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Nó được thể hiện rõ nét nhất qua chương trình 327 được hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) quyết định ngày 15/9/1992. Chương trình này nhằm vào mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, bãi cát sông biển và đối tượng của nó mở rộng tói nhiều hộ gia đình thiểu số dân tộc miền núi. Ngay trong hai năm đầu triển khai chương trình đã được vay 67 tỷ 230 triệu đồng (1 triệu đồng/hộ) để phát triển 400.495 ha đất thành kinh tế hộ, trồng được 19.500 ha cao su, 11.500 ha chè, 7.000 ha cà phê, 18.500 cây ăn quả; và giải quyết việc làm cho 68.300 hộ trải dài trên địa bàn gần 220 huyện, 700 xã miền núi.

    Tính đến 1998 cả nước ta còn có 356.000 hộ với 2,246 triệu nhân khẩu ở 1.939 xã của 38 tỉnh thuộc đối tượng định canh định cư, trong đó có 82.300 hộ, 507.000 khẩu cơ bản đã hoàn thành định canh định cư. Đối tượng còn lại tiếp tục định canh định cư có 25.714 hộ với 157.000 nhân khẩu đang còn du canh du cư.

     

    1.3 Tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học kỹ thuật

    Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX dịch vụ này đã có sự tiền bộ đáp ứng tương đối tốt nhu cầu đầu vào cho sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp. Nhiều hộ nghèo đã được hưởng lợi ích từ chương trình này, và họ đã tìm được cho mình cuộc sống ổn định. Song miền núi, vùng dân tộc thiểu số, thậm trí cho tới nay cũng mới chỉ số ít địa phương có dược những chương trình hiệu quả kiểu này. Thực chất những nội dung lớn của chương trình này chưa được hoạt động mạnh mẽ, phần lớn chỉ khuôn lại ở khuyến nông và khuyến lâm, chỉ đơn thuần là việc đưa giống mới cho người sản xuất để tăng thu nhập. Sự chuyển giao công nghệ theo đúng nghĩa của nó thì chưa làm được bao nhiêu, mới chỉ dừng lại ở cây chè, cây cà phê, cây cao su. Hiệu quả hoạt động của trên 200 trạm khuyến nông cấp huyện và 61 trạm cấp tỉnh chưa đạt yêu cầu, đặc biệt ở những huyện miền núi trạm chưa đủ cán bộ, mạng lưới mỏng khó có thể tiếp cận được với đồng bào các dân tộc thiểu số.

    Nhưng khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện chương trình này qua tìm hiểu từ hai phía nhà đầu tư và người được đầu tư cho thấy:

    Về phía đầu tư  do đi lại khó khăn, thiếu cán bộ khoa học tâm huyết lên với đồng bào miền núi vì chế độ, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng để khuyến khích chất xám khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuất ở miền núi; mặt khác, mức độ thử nghiệm gặp rủi ro cao…

    Về phía được đầu tư  đồi hỏi phải có một trình độ nhận thực nhất định mới có thể tiếp thu được công nghệ. Những hộ nghèo rất hiếm có được trình độ hiểu biết do phía đầu tư yêu cầu. Người được nhận những chương trình loại này đa phần lại rơi vào các hộ khá và hộ giầu; nên vô hình chung người nghèo lại bị loại khỏi cuộc chơi.

    Một vấn đề rất cần quan tâm đến ở miền núi là công nghệ bảo quản sau thu hoạch và công nghệ chế biến nông phẩm. Vì vậy vấn đề nan giải trước mắt là lo đầu ra cho sản phẩm làm ra của người nghèo. Do không phát huy được những việ kể trrên nên dẫn đến việc tổn hại không nhỏ do bảo quản thiếu kỹ thuật, số lượng thực dư thừa chỉ biết chế biến thành rượu chứ không biết bán cho ai.

    Những vấn đề đặt ra đã cho thấy chương trình trợ giúp công nghệ hiện nay còn hết sức hạn chế. Nhu cầu dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật ở miền núi chưa được đáp ứng tương xứng, nên không thể có hàng hoá đủ tiêu chuẩn chất lượng cho thị trường hiện nay và không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

         2 Chương trình giải quyết việc làm

                Với mục tiêu là giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số, trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách xoá đói giảm nghèo thì một hệ  thống trung tâm xúc tiến việc làm đã được hình thành trên cả nước, góp phần tích cực để có thêm nhiều người có thu nhập và ổn định cuộc sống.Từ khi thực hiện chương trình đến nay đã có hàng vạn lao động đã được hưởng lợi ích tù chương trình này. Song nhìn vào những kết quả người ta chỉ nhận ra là chương trình xúc tiến việc làm chủ yếu tập trung ở những thành phố lớn, thành thị., còn ở nông thôn đặc biệt là những dân tộc thiểu số dường như chưa có sự ưu đãi, hưởng lợi từ chương trình này.

    Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vấn đề cần phải cảnh báo là: khả năng tham gia vào chương trình này là rất yếu kém. Đặc thù này dẫn đến một yêu cầu không thể thiếu được là cần chú ý huấn luyện, bồi dưõng để nâng cao năng lực cho đồng bào dân tộc ngay lúc ban đầu, thậm trí phải bầy ra công việc để hướng họ vào làm việc đó tức là tạo ngành nghề vừa với khả năng thói quen truyền thống của họ và mở ra các công việc mới mẻ cho lớp trẻ tham gia làm quen và nâng cao tay nghề của họ.

    Vì vậy chương trình xúc tiến việc làm ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số sẽ khó khăn và nặnh nề hơn nhiều lần so với ở đồng bằng. Một điều cấp thiết nữa là cần có người biết tiếng dân tộc để truyền thụ kiến thức và hướng dẫn cách làm. Đội ngũ này hiện nay dường như chưa đáng kể, chưa đủ tiêu chuẩn am hiểu về tiếng và chưa đủ về lượng để phân phối cho một địa bàn rộng lớn chiếm 2/3 diện tích cả nước.

         3 Chương trình tín dụng

    Thực tế cho thấy từ năm 1991 chúng ta đã thực hiện khoản tín dụng cho vay mở rộng đối tới hộ nông dân, nhưng chỉ một số trong diện hộ nghèo mới có cơ hội vay vốn từ ngân hàng nhà nước và số vốn vay còn rất hạn chế. Tháng 3 năm 1995 quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo phát triẻn sản xuất ra đời, đó là tổ chức tín dụng tiền thân của ngân hàng phục vụ người nghèo nay là ngân hàng chính sách xã hội. Quỹ cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo đầu tiên đến với hộ nghèo đánh dấu sự đi lên với giấc mơ đẹp với người nghèo biết làm ăn và sản xuất vuơn lên. Cuối năm 2002 tổng nguồn vốn của ngân hàng người nghèo là 7.083 tỷ VND, trong đó vốn điều lệ là 1.105 tỷ dồng bằng tiền vay từ ngân hàng nhà nước, ngoài ra còn nhận vốn uỷ thác từ ngân sách địa phương và huy động vốn của hộ nghèo 398 tỷ đồng. Từ nguồn vốn khiêm tốn đó sau 7 năm hoạt động đã cho vay tổng doanh số 14.895 tỷ đồng, số lượng hộ nghèo được vay trên 7,7 triệu hộ. Số hộ còn dư nợ là 2,8 triệu hộ. Bình quân mỗi hộ được vay 2,5 triệu đồng và đến năm 2001 là 5 triệu đồng. Đáng chú ý là có 55 vạn hộ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số được vay với dư nợ 1300 tỷ. Tính đến 31-12-2002, nhân hàng người nghèo đã đưa 64 vạn hộ thoát nghèo trong đó có  7,6 vạn hộ thuộc dân tộc thiểu số, và cứ 8 hộ thì có 1 hộ thoát nghèo. Về chất lượng tín dụng thì chỉ có 1,71% là nợ quá hạn. Kết quả tài chính bước đầu khả quan. Tổng thu nhập 2.435 tỷ đồng, số lượt hộ nghèo được vay 7,7 triệu hộ. Những thành tựu trên thật đáng khích lệ, thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo.

    Một mặt tồn tại trong hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo là do thụ động trông chờ vào vốn từ Trung ương rót xuống và không có mạng lưới, chi nhánh riêng nên ngân hàng phục vụ người nghèo chưa có một cơ chế hoạt động rõ ràng. Cuối cùng nó lại rơi vào tình trạnh của ngân hàng nông nghiệp, tức là vẫn còn những khoảng trống rât lớn ở vùng cao, vùng dân tộc thiểu số. Trong số những người nghèo thì người nghèo thuộc dân tộc thiểu số bao giờ cũng chịu nhiều bất lợi hơn. Đến nay ngân hàng phục vụ người nghèo chưa tác động được bao nhiêu đến các hộ đặc biệt khó khăn ở vùng cao biên giới, vùng sâu, vùng xa.

    Vấn đề thiết thực cần bàn đến là với mức lãi suất ưu đãi hiện nay, nhiều hộ người nghèo miền núi còn e ngại. Thông qua một số chương trình cho vay của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, SIDA, IFAD, và UNDP, Hà Lan và một số tổ chức phi chính phủ thông qua hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tỏ ra có hiệu quả. Những chương trình này đã tạo ra một bài học thực tế là nguồn tín dụng phải được chặt chẽ, gắn liền với việc huấn luyện phương pháp thích hợp để tăng thu nhập. Nếu không có hai yếu tố trên thì mức độ rủi ro sẽ cao và người nghèo sẽ phải gánh chịu hậu quả. Như vậy yếu tố tín dụng phải đi song song với việc cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao giống và công nghệ mới. Bản thân người nghèo ở vùng dân tộc thiểu số không có khả năng lập kế hoạch sản xuất và tiến hành đầu tư khôn ngoan để có thể sinh lãi. Họ cần có cả tiền vốn và kiến thức về kinh tế, những dịch vụ cho sản xuất, mà trước hết là những vật tư cho sản xuất nông nghiệp thiết yếu như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới và các dịch vụ thú y để hạn chế thấp nhất mức rủi ro.

         4 Chương trình giáo dục, y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

    4.1 Chương trình giáo dục

    Phổ cập giáo dục xoá nạn mù chữ là một mục tiêu mà Nhà nước ta rất ưu tiên, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và đây chính là một cách thức hiệu quả nâng cao trình độ dân trí cho họ, giúp hộ hoà nhập với xã hội tiên tiến là con đường để họ có thể tự nhận thức và vươn lên xoá đói giảm nghèo. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi khuyến khích cho những giáo viên về công tác tại bản làng, đồng thời mở nhiều trường dậy học ở vùng cao xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành giáo dục nơi đây. Tuy nhiên do sự cách biệt về mặt địa lý nên công tác giáo dục nơi đây chưa làm được nhiều, con em của đồng bào dân tộc được học hành đầy đủ còn ít nhưng đó cũng là tín hiệu đáng mừng cho việc thay đổi bộ mặt nơi đây. Đã có nhiều sinh viên là con em các dân tộc sau khi học xong trở lại xây dựng quê nhà, thêm vào đó là những chương trình dậy nghề đã giúp cho họ có được nhiều việc làm tăng thu nhập, nâng cao năng suất lao động.

    Trong những nhóm chương trình được tiến hành thì chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp hầu như chưa có tác động trực tiếp tới học sinh nghèo vì hệ thống chủ yếu tập trung phục vụ cho chương trình này là các thiết bị cao cấp, kể cả máy vi tính. Điều đó là quá xa vời đối với học sinh là con em nhà nghèo. Với dân tộc thiểu số thì đó quả là một giấc mơ. Chương trình dậy nghề đối với học sinh dân tộc miền núi, vì nó không thuộc khu vực ưu tiên nên nó chưa có một hệ thống trung tâm dậy nghề và ít có khả năng với tới nguồn kinh phí ít ỏi của nhà nước dành cho lĩnh vực này và nguồn viện trợ từ nước ngoài.

    Điều đáng lưu ý nhất là trẻ em nghèo không có khả năng kinh tế để học lên các lớp trên nên không đủ tiêu chuẩn văn hoá để vào học các lớp dậy nghề; chính vì vậy có thể nói con nhà nghèo chưa được hưởng lợi từ chương trình này.

    4.2 Chương trình y tế          

    Bên cạnh chương trình giáo dục, chương trình y tế cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Những chương trình y tế nhìn chung đã phát huy tác dụng cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra xưa và nay ở miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Việc ưu tiên dành hàng chục tỷ đồng cấp phát muối iốt cho vùng dân tộc thiểu số và hàng chục tỷ đồng trợ cước vận chuyển tới vùng cao, nhờ đó tỷ lệ bướu cổ đã từ 54% năm 1991 xuống dưới 40% năm 1996. Đến nay người dân miền núi và cả nhiều vùng miền xuôi đã quen dùng muối iốt và không cần phải tuyên truyền vận động như những năm trước đây.

    Chương trình nước sạch cho sinh hoạt cũng là một chương trình có ý nghĩa không nhỏ để cải thiện sức khoẻ sinh hoạt và đời sống xã hội đối với người nghèo. Chương trình này đã có 20 năm thực hiện (1982-2002) dưới sự trợ giúp của UNICEF. Kết quả của sự đầu tư gần 20 triệu USD và của UNICEF và trên 40 tỷ đồng của chính phủ Việt Nam là hơn 1/3 dân số nông thôn được dùng nước sạch, tuy nhiên số dân miền núi và dân tộc thiểu số được hưởng từ chương trình này là quá nhỏ bé, cần có sự điều chỉnh hợp lý hơn về vốn đầu tư dành cho những vùng đặc biệt khó khăn ở miền núi. Theo những số liệu của bộ y tế thì chương trình tiêm chủng mở rộng và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em đã thu được kết quả rất khả quan, Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thiếu trọng lượng tiêu chuẩn khi mới sinh, trẻ em chết dưới một tuổi giảm. Tuy vậy tỷ lệ trẻ em trên dưới 40% ở lứa tuổi dưới một tuổi và suy dinh dưỡng dưới năm tuổi vẫn là con số khá cao đòi hỏi cần có sự đầu tư hơn nữa trong công tác y tế ởvùng cao.

         5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Năm năm thực hiện chương trình quốc gia số 06/CP diện tích trồng cây thuốc phiện từ 15.495 ha ở 11 tỉnh miền núi phía bắc đã giảm nhanh chóng xuống còn 12.787 ha vụ 1993; 3.296 ha vụ 1994; 2.363 ha vụ 1995. Cho đến nay cơ bản cây thuốc phiện đã được huỷ bỏ trên địa bàn miền núi nước ta. Trong số các địa bàn xoá bỏ cây thuốc phiện thì có 30% trong số các địa bàn đó đã ổn định cuộc sống nhờ vào các dự án xoá bỏ cây thuốc phiện và các chương trình xoá đối giảm nghèo. Còn 30% số vùng xoá bổ cây thuốc phiện đan còn gặp khó khăn, chưa ổn định, còn du canh , chưa tạo ra được nguồn thu nhập để thay thế cây thuốc phiện, lúng túng  trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tức cuộc sống còn bấp bênh. Có 20% số vùng đã xoá bỏ cây thuốc phiện nhưng đang có hiện tượng tái trồng lại . 20% còn lại là những vùng quá xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống du canh du cư mà chương trình chưa vươn tới huặc chưa có tác dụng.

         6 Chương trình hỗ trợ dân tộc dặc biệt khó khăn

    Theo cuộc điều tra đã thống kê ra 41 dân tộc trong đó có 27 dân tộc đói nghèo dưới mức quy chuẩn của Bộ lao động thương binh và xã hội tức là có thu nhập bình quân đầu người dưới 60.000đ/tháng. Theo số liệu điều tra có tới 65,85% số hộ nơi này dơi vào tình trạng đói nghèo, 990,7% là nhà tạm tranh tre nứa lá, 82,96% là không có nước sạch dùng trong sinh hoạt. Từ thực trạng những khó khăn trên chương trình đã được triển khai với cơ cấu nguồn vốn như sau:

    • 30% hàng hoáỗ trợ đời sống: lương thực, chăn màn, quần áo sửa chữa nhà cửa.
    • 57% mua trâu bò, lập vườn hộ, chăn nuôi để tạo thu nhập hỗ trợ sản xuất.
    • 10% củng cố thuỷ lợi nhỏ, trạm xá, lớp học …
    • 3% dùng trong hướng dẫn kỹ thuật và quản lý chỉ đạo chương trình.

    Qua một thời gian thực hiện, tình hình thu nhập của các hộ thuộc các diện được hỗ trợ trong chương trình này đã nhích lên trên mức đối nghèo. Thu nhập thấp nhất là dân tộc Chứt và La Chí từ 65.000đ đến 65.790đ/người/tháng, với các dân tộc khá hơn như Ơ Đu và M Nông là 82.300đ đến 87.300đ/người/tháng.

         7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Trong số những chương trình về bảo vệ môi trường được triên khai thì chương trình 327 là chương trình có ý  nghĩa nhất đối với đồng bào dân tộc. Các chương trình về môi trường đã góp phần làm tăng độ tre phủ của rừng từ 25% năm 1992 lên 30% năm 1996, bình quân riêng chương trình 327 đã làm tăng thêm từ 110.000 ha lên 130.000 ha rừng trồng. Có rừng tức là có nguồn nước, chống được xói mòn, tạo cho đất đai thêm mâu mỡ, bền vững là cơ sở tăng năng suất trong nông nghiệp ở vùng núi. Chính điều này  lại tác động trở lại vào việc xoá đói giảm nghèo.               

                   

                            

     

     

    chương III

    Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của nước ta

     

    I Những vấn đề cần lưu ý và giải pháp khắc phục trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

         1 Vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

    1.1 Khuyến nông, khuyến lâm

    Để giải quyêt vấn đề nghèo đói hiện nay ở miền núi, một điều dễ nhìn thấy là phải khai thác triệt để những ruộng nương, ao hồ, sông, suối, bãi bồi để trồng trọt và chăn nuôi… Với việc bùng nổ dân số thì việc phá rừng là một biện pháp hiệu quả nhất cho các dân tộc thiểu số để có diện tích đất canh tác, bên cạnh đó có thể tăng thu nhập bằng cách săn bắn thú quý trái phép và dùng thuốc nổ hay điện để bắt cá. Những biện pháp trên là kể thù của môi trường và không thể chấp nhận được trong yêu cầu phát triển bền vững hiện nay.

    Đặt vấn đề trên cũng coi như là khẳng định giải pháp kỹ thuật , chuyển dịch cơ cấu sản xuất với các loại giống mới với năng suất cao và xây dựng loại mô hình VACR ( vườn, ao, chuồng, rừng ) là trọng tâm của công tác khuyến lâm miền núi. Tuy nhiên để đảm trách được công việc này cần có một hệ thống khuyến nông từ Tung ương đến các địa phương, các trung tâm nghiên cứu các dự án chương trình, kế hoạch trong khuôn khổ quỹ xoá đói giảm nghèo. Quy trình khuyến nông, lâm, ngư  như sau:

    • Các trung tâm nghiên cứu đào tạo cán bộ khuyến nông, trang bị kiến thức cho họ bằng những thông tin mới nhất và kỹ nghệ tiên tiến sát với yêu cầu thực tế của nông dân miền núi và của thị trường.
    • Hệ thống khuyến nông chính quy bao gồm cục khuyến nông của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và các trung tâm của tỉnh, huyện.
    • Hệ thống khuyến nông tự nguyện bao gồm các viện, trường cao đẳng, đại học, các hội, các tổ chức đoàn thể, các tình nguyện viên, các hộ nông dan sản xuất giỏi.

    Đối với những người, những đơn vị tham gia khuyến nông tự nguyện tuy họ làm như vậy mà không đòi hỏi gì nhưng cũng cần có hìn thức khuyến khích động viên huặc tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong công việc. Trong tình hình miền núi nước ta hiện nay giải pháp khuyến nông Nhà nước vẫn cần được duy trì và mở rộng, và vẫn phải trợ cước, trợ giá để đỡ bớt gánh nặng đầu vào trong quy trình sản xuất cho người nghèo.

    1.2 Tín dụng

    Phần lớn các hộ dân tộc thiểu số nghèo đều ngại vay tiền trong hệ thống dịch vụ tài chính mà Nhà nước cung cấp phục vụ cho mọi đối tượng dân cư. Đối với họ thì hình thức hấp dẫn phải với điều kiện là thời gian đầu cho vay không lãi, sau đó lãi suất thấp. Tức là mô hình ưu đãi kiểu mô hình người nghèo đã áp dụng. Tuy nhiên loại tín dụng ưu đãi này chỉ đến được với rất ít người nghèo trong hàng chục vạn hộ nghèo ở vùng cao miền núi. Lý do mà những người dân tộc thiểu số ngại vay tín dụng vì những lý do chính sau:

    • Không biết cách sử dụng vốn để sinh lãi.
    • Sợ rủi ro trong sản xuất, chăn nuôi (bão, lũ, lụt, dịch bệnh trong chăn nuôi).

    Muốn thu hút được người dân tộc thiểu số tiếp cận ngày càng đông với tín dụng thì thì phải giải quyết được những khúc mắc ngần ngại này.

    Có một thực tế hiện nay là với nguồn lực hiện nay thì việc huy động một nguồn tài chính khổng lồ như vậy là rất khó khăn. Ngân sách dành cho ngân hàng người nghèo là có hạn vì vậy càn phải huy động từ nguồn lực khác nhau từ những quỹ tín dụng hợp tác xã, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nông thôn… ở những nơi mà ngân hàng người nghèo chưa vươn tới được huặc không có khả năng cung cấp tín dụng do nhu cầu quá cao. Đối với dân tộc thiểu số thì những uỹ tín dụng như vậy có lẽ phù hợp với điều kiện dân cư phân tán, đường sá khó đi, chi phí vận chuyển cao, khó tiếp cận với ngân hàng nhà nước. Những quỹ tín dụng thôn, xã, nhóm hộ dễ tiếp cận hơn, dễ kiểm soát đồng vốn vay, biết được các hộ đầu tư vào công việc gì. Nó còn phù hợp ở chỗ đáp ứng được vốn vay nhỏ cải thiện đời sống.

    Đông thời cũng cần cải cách dần dần chính sách lãi suất hợp lý để thu hút được vốn đầu vay cho hộ nghèo, khuyến khích các tổ chức tài chính huy động các nguồn vốn từ cộng đồng, cá nhân và coi trọng quyền tự chủ của họ. Bên cạnh đó cần xem xét xen kẽ vốn ngắn hạn và dài hạn nếu cùng một lúc hộ nghèo có kế hoạch đầu tư vào sản xuất ngắn hạn và dài hạn. Song, dù dưới hình hức nào, kiểu nào cũng phải tăng hạn mức vay và kéo dài thời gian vay để người nghèo có đủ thời gian cho cây, con lớn trưởng thành đến khi thu hoạch.

    1.3 Giao thông vận tải

    Vấn đề số một hiện nay là giao thông được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vì đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự cách biệt, nhưng nếu giải quyết tốt sẽ tạo là cơ hội cho ngưòi nghèo ở vùng dân tộc thiểu số vươn lên. Với phương chân Nhà nước và nhân dân cùng làm đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên số dự án xây dựng đường giao thông ở miền núi vẫn còn ít, trong khi đó nhu cầu thì rất nhiều. Một khó khăn đó là vấn đề vốn đầu tư cho những dự án này đòi hỏi chúng ta cần phải có một cơ chế, chính sáh ưu đãi về vốn vay, thu phí giao thông… để các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng giao thông miền núi.

    Một vấn đề hết sức quan trọng là việc duy trì, bảo dưỡng đường miền núi. Do địa hình dốc, phức tạp, độ xói mòn lớn, mưa gió bất thường nên đường thường xuyên hỏng. Biện pháp tốt nhất để giải quyết là nên giao công việc này cho cơ quan địa phương phối hợp cùng với các cơ quan ngành giao thông và được sự giúp đỡ của cơ quan nhà nước. Vấn đề lâu dài cần có kế hoách từng bước nâng cấp đường giao thông theo hướng nhựa hoá tỉnh lộ,  đá hoá huyện lộ, cơ giới hoá xa lộ và mở rộng đường liên thôn, liên bản để xe ngựa và xe máy có thể đi lại dễ dàng.

    1.4 Giao đất giao rừng

    Tình trạng mất đất do mua bán, sang nhượng huặc thiếu đất canh tác đang diễn ra rất trầm trọng ở khắp các địa phương kể cả đồng bằng và miền núi. Đối với đa phần các dân tộc thiểu số thì đất đai là nguồn lực quan trọng nhất để duy trì cuộc sống. Trong điều kiện hiện nay, đối với miền núi, vùng dân tộc thiểu số nơi phức tạp bởi các phong tục tập quán truyền thống việc chia đất khoán rừng nên thực hiện theo những  bước sau:

    • Lập một bản đồ tổng thể ở các xã, bản có cán bộ địa chính và chính quyền xã, già làng, truởng bảntham gia.
    • Tổ chúc các cuộc họp lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân.
    • Xác định mốc giới trên thực địa có mặt các hộ và cấp sổ đỏ sử dụng đất.

    Nghiên cứu cấp sỏ đỏ và chia đất khoán rừng theo nguyên tắc gán với nơi cư trú của các hộ và tuỳ vào khả năng canh tác và số nhân khẩu. Một số đất đai dự trữ dành cho sự phát triển dân số giao cho tập thể cộng đồng quản lý và sử dụng. Cần có sự hướng dẫn viẹc sử dụng dất đai khai thác rừng, giữ gìn và bảo vệ rừng đầu nguồn, dừng đặc vụ… để đảm bảo tính bền vững lâu dài cho môi trường sinh thái. Những nơi không có khả năng sản xuất thì giãn đi nơi khác. Hướng giải quyết đất đai ưu tiên trước hết là giãn trong nội huyện, nội tỉnh, tránh tối đa sự xáo trộn quá nhiều ảnh hưởng tới đời sống kinh tế và xã hội trong vùng.

    1.5 Chuyển giao khoa học kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu sản xuất

    Thực tế cho thấy nếu biết ứng dụng khoa học tiên tiến, tìm kiếm giống mới, thâm canh thì không cần tăng diện tích vẫn có thể làm giầu được. Tuy đất đai rất quan trọng nhưng nó không phải là tất cả. Cho nên với một mức độ nào đó, người nghèo ở miền núi phải được tập huấn và tạo nên một cách làm ăn mới. Bỏ dần cây, con và cách canh tác truyền thống, thay vào đó là những cây, con mới hoàn toàn huặc lai tạo với giống địa phương có khả năng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái ở địa phương.

    Để giúp đỡ bà con các dân tộc dần dần xoá đói giảm nghèo nên chăng ở mỗi huyện cần có một trung tâm chuyển giao hướng dẫn khoa học kỹ thuật, mà trước hết là những kỹ thuật đơn giản cho nhân dân miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trung tâm này mở các lớp huấn luyện ngắn hạn cho một số người có học vấn tối thiểu ở các xã, các bản theo múa vụ của cây con, rồi từ đó họ sẽ toả xuống các bản xóm chỉ dẫn kỹ thuật cho đồng bào ngay trên thực địa. Cách làm này hiệu quả mà chi phí lại ít và phù hợp với điều kiện dân cư phân tán ở miền núi.               

         2 Các vấn đề xã hội

    2.1 Y tế

    Về tình hình y tế miền núi , vùng dân tộc hiện nay, cần lưu ý mấy vấn đề sau:                     

    • Sự kém hiểu biết của nguời miền núi về bảo vệ sức khoẻ và phòng chống bệnh dịch thường dẫn đến tình trạng phát bệnh đến giai đoạn trầm trọng, mãn tính nên rất khó chữa trị.
    • Các bệnh nguy hiểm lại thường bắt nguồn từ những bệnh rất thông thường. Do một lý do nào đó, người dân ơi đây đã coi thường huặc ngại đi đến các cơ sở khám chữa bệnh, không có thuốc men… nên từ bệnh này lan sang bệnh khác càng khó chữa trị.
    • Các phương pháp chữa trị dân gian tỏ ra có hiệu quả và rẻ tiền dễ kiếm ở địa phương, nhưng một tình trạng vẫn đang xẩy ra là một số bà con ở vùng sâu vùng xa lạc hậu hoặc bị lừa bịp với cách chữa trị thiếu khoa học của thầy mo, thầy cúng nên thường đãn đến nguy hiểm cho tính mạng.
    • Hệ thống y tế dường như nặng về hình thức, thiếu khả năng chuyên môn, thuốc thang và cán bộ để phục vụ trên địa bàn rộng thì phân tán.

    Từ những vấn đề trên một số giải pháp để khắc phục những vấn đề này là:

    • Phổ biến rộng khắp mạng lưới y tế viên cộng đồng gồm các giáo viên phổ thông, người có trình độ học vấn, cán bộ các đoàn thể…kết hợp công tác chuyên trách với công tác y tế cộng đồng.
    • Cung cấp đủ số thuốc thông thường cho các túi thuốc thôn bản.
    • Kết hợp với sự giúp đỡ về y tế của lực lượng y tế bộ đội biên phòng ở các đồn vùng sâu vùng xa.
    • Tập hợp các bà lang, ông lang có uy tín ở địa phương để cùng hợp tác chữa bệnh. Khuyến khích chữa bệnh bằng thuốc nam, thuốc lá và xây dựng vườn thuốc thôn bản.
    • Tổ chức những đợt khám chữa bệnh lưu động và miễn phí định kỳ xuống thôn bản. Phát hiện kịp thời để đưa các bệnh nhân nặng về tuyến y tế huyện, tỉnh chữa trị.
    • Cấp thuốc nhân đạo cho các trưồng hợp quá khó khăn và đối tượng thuộc chính sách xã hội.

    2.2 Giáo dục

    Những vấn đề nổi cộm hiện nay:

    • Mù chữ và tái mù chữ còn nhiều.
    • Việc phổ cập giáo dục tiểu học đối với trẻ em nhà nghèo còn chưa đạt yêu cầu.
    • Sự bất bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái còn phổ biến. Các trẻ em gái có tỷ lệ bỏ học lớn hơn so với em trai, và càng học lên cao thì tình trạng rơi rụng càng nhiều.
    • Đội ngũ dậy học và sách giáo khoa còn thiếu nghiêm trọng.
    • Đội ngũ thầy cô giáo mỏng, còn thiếu về số lượng, yếu kém về trình độ chuyên môn, đặc biệt là tình trạng thiếu giáo viên là người dân tộc thiểu số.
    • Cơ sở hạ tầng trường lớp xuống cấp, chất lượng học sinh yếu so với mặt bằng giáo dục phổ thông chung.

    Từ thực trạng trên cho thấy muốn giúp người nghèo được hưởng thụ chương trình giáo dục nâng cao đân trí để tiếp bước xoá đói giảm nghèo, cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

    • Cần có cơ chế chính sách ưu tiên với đối tượng nghèo và con con em của họ đảm bảo xoá được nạn mù chữ và phổ cập tiểu học, được miễn hoàn toàn về học phí và các khoản đóng góp khác.
    • Mở các nhóm xoá mù chữ tại các chòm xóm, bản; người biết khá dậy người biết kém, người biết kém dậy người chưa biết chút nào… Người tình nguyện dậy có kết quả tốt sẽ được hỗ trợ một khoản tiền hay vật chất để khuyến khích.
    • Mở rộng loại hình lớp học bán trú dân nuôi thành một quy định đóng góp của toàn dân(bằng ngô, lúa, lương thực tự có).
    • Dần dần đào tạo thay thế hệ thống giáo viên thôn bản bằng giáo viên dân tộc và có chế độ đãi ngộ để họ đủ sống, yên tâm bám trường lớp giảng dậy.       
    • Cải thiện đời sống văn hoá tinh thần cho thầy trò nhà trường ở miền núi( trang bị một số thiết bị như báo, tranh ảnh, vi deo, đài…).
    • Mở rộng việc kết nghĩa giữa các đơn vị quân đội, đoàn thể nhân dân với nhà trường nhằm giúp đỡ, ủng hộ về vật chất, ngày công sửa trường lớp và đồ dùng sách vở học tập.
    • Cần trích hợp lý một phần nhỏ kinh phí từ các chương trình dự án trên địa bàn để hỗ trợ cho giáo dục và con em nhà nghèo.

    2.3 Về bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số

    Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi muốn giữ được bản sắc văn hoá trước hết phải có thông tin đúng và thường xuyên về chính sách văn hóa đối với từng dân tộc, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước. Vấn đề quyết định là phải có chế độ, chính sách thoả đáng trong việc đầu tư cho phong trào văn hoá quần chúng ở cơ sở, đẩy mạnh hơn nữa công tác văn hoá , thông tin lưu động, cổ động trực quan phục vụ đồng bào dân tộc và miền núi. Tăng cường hơn nữa công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số qua các hoạt động xuất bản, phát hành, thư viện. Đẩy mạnh hơn nữa phong trào đọc sách báo qua các thư viện, tủ sách cơ sở, các trường học. Bên cạnh đó cần có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về văn hoá của các dân tộc thiểu số, tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm, tập huấn về các chủ đề truyền thống các dân tộc, chủ động giao lưu văn hoá giữa ác dân tộc, tiếp thu nền văn hoá, văn minh của các dân tộc trên thế giới làm phong phú thêm ban sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nước ta.

         3 Trợ giúp đối tượng chính sách xã hội

    3.1 Người có công với nước và gia đình họ

    Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi với những đối tượng thuộc diện này, hàng năm chúng ta đã dành ra hàng ngàn tỷ đồng giúp đỡ đối tượng này. Tuy vậy đối tượng này vẫn gặp không ít khó khăn và chỉ trông chờ vào số tiền trợ giúp của Nhà nước huặc một số rất nhỏ có sổ tiền tiết kiệm thì chưa thể giải quyết được đời sống ổn định. Vì vậy cần có một chính sách ưu tiên rộng lớn và phong phú hơn, đa dạng về hình thức sản xuất hàng hoá để giúp cho những đối tượng này có được mức sống bằng và dần dần cao hpưn mặt bằng đời sống ở địa phương.

    Có thể áp dụng những hình thức ưu tiên, giúp đỡ sau dây:

    • Ưu tiên đất canh tác tốt hơn khi chia đất khoán rừng và có cự ly gần nhà để tiện chăm sóc.
    • Ưu tiên việc đầu tư giống mới, cấp cho không(hạt, giống) huặc miễn một phần chi phí dịch vụ hay vật tư nông nghiệp…
    • Ưu tiên cho con em họ khi sắp xếp việc làm, ngành nghề.     
    • Cấp sổ khám bệnh và miễn phí trong trường hợp bệnh nặng cần số tiền lớn để điều trị…
    • Các tổ chức đoàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm chăm sóc, động viên các hộ nghèo theo hướng sản xuất tiên tiến bằng cả vật chất và tinh thần trong điều kiện cho phép.

    3.2 Người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi

                Đây là đối tượng rất đông đảo do nguyên nhân chiến tranh, do điều kiện sống quá thiếu thốn nghèo đói gây ra. Nhà nước đã có nhiều quyết định và được thể chế hóa và hướng dẫn tiêu chuẩn, chế độ cho từng loại đối tượng. Tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa giải quyết được so với yêu cầu và sự bình đẳng giữa các địa phương có người tàn tật, cô đơn chưa công bằng và chưa được chuẩn hóa. Trước khó khăn để hỗ trợ cho họ, những đối tượng loại này cũng cần được nghiên cứu tìm nhữnh khả năng phù hợp để mở rộng các hình thức và biện pháp giúp đỡ họ theo hướng sản xuất và ngành nghề phù hợp. Các địa phương cần có những lớp dậy nghề phù hợp cho từng loại đối tượng, nên khuyến khích và có chế độ giảm thuế đối với những cơ sổ sản xuất nhận người tàn tật, trẻ mồ côi…

         4 Cứu tế, viện trợ khẩn cấp

                Hàng năm, nhà nước dùng khoản chi phí trên dưới 40-60 tỷ đồng cho các đối tượng thuộc diện cần cứu trợ khẩn cấp. Nguồn viện trợ này chủ yếu được sử dụng trong những trường hợp: cứu tế khi bị thiên tai, cứu tế khi giáp hạt, trong đó chủ yếu là thuốc men, lương thực và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu. Hiện nay Nhà nước đã cho phép các địa phương thành lập các quỹ dự trữ để khắc phục các hậu quả do thiên tai. Tuy nhiên khi có thiên tai xẩy ra thường bị động và cung cấp chậm những nhu cầu khẩn cấp. Để chủ động hơn nữa việc phòng chống thiên tai chúng ta cần chủ động dự báo trước các hiện tượng thiên tai trên mọi phương tiện thông tin và cách phòng chống cho mọi nguời. Bên cạnh đó trước mùa mưa lũ, nên tập kết các loại vật chất thiết yếu để viện trợ kịp thời khi có thiên tai xẩy ra.

         5 Chốngtệ nạn xã hội và xây dựng nếp sống văn hoá

    Tệ nạn chủ yếu ở miền núi hiện nay là tệ nghiện hút thuốc phiện, ma chay cưới xin lạc hậu, tốn kém đã ảnh hưởng lớn tới kinh tế gia đình và làm cho hộ nghèo càng nghèo hơn. Từ khi có trương trình quốc gia số 06/CP mỗi năm nguồn kinh phí cho chương trình nay là vài ba chục tỷ đồng, tuy đã đem lại nhiều kết quả khả quan nhưng chươg trình này là chưa đủ để có thể xoá hết những tệ nạn, phong tục tập quán lạc hậu đang tồn tại là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nghèo đói.

    Để giúp người nghèo thoát khỏi những tệ nạn này, biện pháp tập trung cai nghiện hoặc cải tạo gái mại dâm ở miền núi là khó có thể triển khai trên diện rộng, do khó khăn về kinh phí và các khoản khó khăn về chi phí cho xây dựng cơ sở hạ tầng và bộ máy quản lý. Biện pháp tốt nhất là tuyên truyền phát động phong trào bỏ hút thuốc phiện, tác động từ phía những người thân ruột thịt trong gia đình. Trợ giúp thuốc cai nghiện tại nhà phù hợp với đồng bào các dân tộc thiểu số sống phân tán và không muốn xa nhà. Nên có nguồn kinh phí sủ dụng để vận động trợ giúp, tập huấn, tuyên truuyền đồng bào bỏ các tệ nạn xã hội. Đồng thời xây dựng các quy ước văn hoá cộng đồng, xây dựng các chuẩn mực văn hoá phù hợp với vùng dân tộc và cho từng dân tộc. Việc chống tệ nạn xã hội cần phải có sự tham gia của đông đảo mọi người, bên cạnh hình thức tuyên truyền thì Nhà nước cần từng bước thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật để đưa những đối tượng này vào kỷ cương phép nước.

     

     

     

     

     

    II Bài học kinh nghiệm trong công tác xoá đói giảm nghèo ở nước ta

    1. Sự nghiệp xoá đói giảm nghèo là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả mọi người cùng tham gia mà trước hết là những cơ quan tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện các chủ trương chính sách của nhà nước về công tác xoá đói giảm nghèo. Để có thể thành công bản thân các cơ quan tổ chức này cần xây dựng cho mình một bộ máy vững mạnh có đủ năng lực và trình độ, nhiệt tình trong công việc. Bên cạnh đó cần có một cái nhìn khách quan và toàn diện về hiện tượng nghèo đói để có được phương pháp tiếp cận, công cụ thực hiện một cách có hiệu quả nhất.
    2. Muốn xoá đói giảm nghèo thành công, một vấn đề quan trọng là cần phải có sự thống nhất cao trong nhận thức về trách nhiệm của cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, của các tổ chức đoàn thể nhân dân; có hệ thống chính sách, cơ chế phù hợp, có kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cụ thể ở từng xã, thôn, bản và đến từng hộ.
    3. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể giữa các cấp, các ngành, phát huy vai trò của tổ chức đòan thể: hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh…
    4. Các giải pháp đưa ra để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược thường có liên quan tới nhiều cấp nhiều ngành, do đó cần có cơ chế vận hành chương trình hiệu quả để có thể phối hợp các cơ quan liên quan nhằm thực hiện mục tiêu nhiệm vụ chiến lược đã đề ra. Cơ chees vận hành và sự phối kết hợp phải tạo ra được sự phù hợp về trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan.
    5. Phải có quy hoạch sắp xếp lại dân cư, bố trí xen kẽ và hợp lý các hộ thuộc dân tộc Kinh có kinh nghiệm sản xuất giỏi với các hộ chưa biết cách làm ăn, giúp nhau phát triển sản xuất, thực hiện xoá đói, giảm nghèo.
    6. Phải có tổ chức điều tra, xác định rõ nguyên nhân, quản lý chắc các hộ nghèo ở từng xã và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, phát huy dân chủ cơ sở tạo cơ hội cho người nghèo trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch xoá đói giảm nghèo.
    7. Đa dạng hoá nguồn lực, trước hết là phát huy nguồn lực tại chỗ, huy động nguồn lực cộng đồng, mở rộng hợp tác quốc tế về kinh nghiệm và kỹ thuật, tài chính cho xoá đói giảm nghèo.
    8. Có sự lồng ghép và có kế hoạch tổ chức các hoạt động xoá đói, giảm nghèo các chương trình dự án trên địa bàn miền núi, tránh trùng lặp để có được hiệu quả cao.

    Kết luận

    Xoá đói giảm nghèo từ lâu là vấn đề mà Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu ưu tiên thực hiện, đặc biệt là xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Thông qua chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, chúng ta đã đạt được nhiều thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo , tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức đòi hỏi chúng ta cần nỗ lực hơn nữa. Qua quá trình nghiên cứu đề tài “ Chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp “ phần nào đã cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo và có một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghèo đói, thấy được những thành công đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo. Xoá đói giảm nghèo là một vấn đề lớn và phức tạp, nó là vấn đề thách thức không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới. Bởi vai trò và tính chất phức tạp của công tác xoá đói giảm nghèo, vấn đề xoá đói giảm nghèo không thể giải quyết ngay mà nó cần phải giải uyết từng bước và cần có sự đóng góp nỗ lực của tất cả mọi người. Với khả năng có hạn của mình, em xin đóng góp một số ý kiến để hoàn thiện hơn công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta. Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hồng Thuỷ đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề án này. Tuy bản thân đã có nhiều cố gắng, nhưng do còn hạn chế về kiến thức nên đề án không tránh khỏi có nhiều thiếu xót, em rất mong nhận được sự góp ý của cô để đề án được hoàn thiện hơn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN   


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/Quy-tr%C3%ACnh-xin-ch%E1%BB%A9ng-nh%E1%BA%ADn-xu%E1%BA%A5t-x%E1%BB%A9-m%E1%BA%ABu-D-%C4%91%E1%BB%83-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-thu%E1%BA%BF-quan-%C6%B0u-%C4%91%C3%A3i-theo-Hi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BB%8Bnh-ATIGA-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-m%E1%BA%B7t-h%C3%A0ng-gi%C3%A0y-d%C3%A9p-sang-Indonesia..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Tiểu Luận Quy trình Xin Chứng Nhận Xuất Xứ Mẫu D (C/O Form D) Để Hưởng Thuế Quan Ưu Đãi Theo Hiệp Định ATIGA Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Sang Indonesia.

    ĐỀ TÀI: Quy trình xin chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O form D) để hưởng thuế quan ưu đãi theo Hiệp định ATIGA đối với mặt hàng giày dép sang Indonesia.

    I.                   GIỚI THIỆU VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ C/O FORM D

    1. Giấy chứng nhận xuất xứ

    –     C/O là giấy chứng nhận xuất xứ, tiếng Anh là Certificate of Origin.

    –     Là giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá, là văn bản được tổ chức thuộc quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hoá cấp dựa trên những quy định và yêu cầu liên quan về xuất xứ và chỉ rõ xuất xứ của hàng hoá đó.

    –     Khi biết được nguồn gốc hoặc xuất xứ của hàng hóa sẽ giúp chủ hàng nhập khẩu xác định xem hàng có được hưởng ưu đãi đặc biệt hay không.

    Ví dụ: nếu hàng từ các nước ASEAN, có C/O form D, thì có thể được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt, nghĩa là thuế thấp hơn mức không có C/O.

    2. Các nội dung cơ bản của giấy chứng nhận xuất xứ – C/O (Certificate of Origin)

    Xuất phát từ mục đích, đặc điểm của C/O mà nội dung cơ bản của C/O phải thể hiện được các nội dung như:

    • Loại mẫu C/O: nhằm thể hiện C/O được cấp theo một Qui tắc xuất xứ cụ thể tương ứng.
    • Tên, địa chỉ người xuất khẩu, nhập khẩu.
    • Tiêu chí về vận tải (tên phương tiện vận tải, cảng, địa điểm xếp hàng/ dỡ hàng, vận tải đơn…).
    • Tiêu chí về hàng hoá (tên hàng, bao bì, nhãn mác đóng gói hàng hoá, trọng lượng, số lượng, giá trị…).
    • Tiêu chí về xuất xứ hàng hoá (tiêu chí xác định xuất xứ, nước xuất xứ hàng hoá). Ví dụ: “WO”, “RVC 40%”, “CC”, “CTH”, “CTSH”.
    • Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nước cấp xuất khẩu.

    3. Giấy chứng nhận xuất xứ C/O form D

    –     Là loại C/O theo Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

    –     Chỉ cấp cho hàng hóa xuất khẩu từ một nước thành viên của ASEAN sang một nước thành viên ASEAN khác.

    II. YÊU CẦU VỀ XUẤT XỨ CỦA MẶT HÀNG GIÀY DÉP CẦN XUẤT KHẨU

    • Giày dép bằng da được sản xuất tại Việt Nam.
    • Mã số HS của mặt hàng: 64042000
    • Thị trường xuất khẩu là quốc gia Indonesia, đã kí hiệp định ATIGA có qui định cắt giảm thuế.
    • So sánh thuế suất ta chọn mẫu CO form D để được hưởng thuế suất ưu đãi thấp nhất
    • Kiểm tra xuất sứ theo hàng hóa theo qui định ATIGA – Annex 3.

    Hàng hóa được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D – là hàng hóa phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Hiệp định ATIGA, bao gồm:

    Hàng hóa có chứa ít nhất 40% hàm lượng có xuất xứ từ bất kỳ một nước thành viên ASEAN nào trong thành phần của hàng hóa,

    Công thức tính 40% Hàm lượng ASEAN:

    Giá trị nguyên phụ liệu nhập từ nước không phải là thành viên ASEAN ++ Giá trị nguyên phụ liệu có xuất xứ không xác định

    × 100    ≤   60%

    Giá FOB

    Đối với mặt hàng giày dép bằng da, có đến 54% nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Trung Quốc (quốc gia không phải thành viên của ASEAN) như thuộc da, PVC để làm đế giày, vật liệu làm pho, phụ kiện (bằng kim loại, chất dẻo), keo dán và hóa chất. Ngoài ra cũng nhập khẩu hoá chất từ 1 số quốc gia khác không thuộc ASEAN chiếm đến 2% giá trị nguyên phụ liệu.

    Như vậy, sản phẩm giày dép bằng da đã đáp ứng đủ điều kiện về xuất xứ theo Hiệp định ATIGA.

    III.             QUY TRÌNH XIN CẤP C/O FORM D

    1.     Hướng dẫn chung:

    • Nhà xuất khẩu sản phẩm đủ tiêu chuẩn được hưởng ưu đãi viết đơn gửi Công ty Giám định xuất xứ hàng hóa, để được kiểm tra xuất xứ hàng hóa trước khi xuất khẩu. Kết quả của việc kiểm tra này có thể được xem xét lại định kỳ hoặc bất cứ khi nào thấy cần thiết, sẽ được chấp nhận là chứng cứ hỗ trợ để xác định xuất xứ hàng hóa được xuất khẩu cho sau này. Có thể không áp dụng kiểm tra đối với một số hàng hóa có xuất xứ dễ xác định.
    • Khi làm thủ tục để xuất khẩu hàng hóa được hưởng ưu đãi, nhà xuất khẩu phải nộp đơn xin cấp Giấy chứng xuất xứ cùng với các chứng từ cần thiết chứng minh hàng hóa xuất khẩu đủ tiêu chuẩn để được cấp mẫu D.
    • Cơ quan có thẩm quyền của Chính Phủ được giao cấp Giấy chứng nhận mẫu D sẽ kiểm tra cụ thể từng trưỡng hợp, nhằm đảm bảo rằng:
    • Đơn xin và Giấy chứng nhận mẫu D đã được khai đúng, đủ và được người có thẩm quyền ký ;
    • Xuất xứ của hàng hóa tuân thủ quy chế xuất xứ.
    • Các lời khai khác trong Giấy chứng nhận mẫu D phù hợp với các chứng từ kèm theo
    • Quy cách, số lượng và trọng lượng hàng hóa, mã hiệu và số lượng kiện hàng, số lượng và các loại kiện hàng được khai phù hợp với hàng hóa xuất khẩu.

    2.     Thành phần hồ sơ xin cấp C/O

    • Hồ sơ đăng ký thương nhân gồm:
    • Đăng ký mẫu chữ ký của người được ủy quyền ký Đơn đề nghị cấp C/O và con dấu của thương nhân;
    • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của thương nhân (bản sao có dấu sao y bản chính);
    • Giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế (bản sao có dấu sao y bản chính);
    • Danh mục các cơ sở sản xuất (nếu có) của thương nhân.
    • Hồ sơ đề nghị cấp C/O:
    • Đơn đề nghị cấp C/O được kê khai hoàn chỉnh và hợp lệ như hướng dẫn;
    • Mẫu C/O form D đã được khai hoàn chỉnh;
    • Tờ khai hải quan đã hoàn thành thủ tục hải quan.
    • Hoá đơn thương mại (bản sao có chữ ký và đóng dấu xác nhận sao y bản chính của người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của thương nhân, bản chính có thể được Tổ chức cấp C/O yêu cầu cung cấp để đối chiếu nếu thấy cần thiết).
    • Vận tải đơn hoặc chứng từ vận tải tương đương trong trường hợp thương nhân không có vận tải đơn.
    • Bảng tính toán chi tiết hàm lượng giá trị khu vực (đối với tiêu chí hàm lượng khu vực RVC %). Hoặc bảng kê khai chi tiết mã HS của nguyên liệu đầu vào và mã HS của sản phẩm đầu ra (đối với tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc tiêu chí công đoạn gia công chế biến cụ thể “CC”, “CTH”, “CTSH”). Hoặc bảng kê khai theo tiêu chí xuất xứ thuần tuý “WO”.
    • Hoá đơn mua nguyên phụ liệu / hàng hoá hoặc Tờ khai hải quan nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu dùng để sản xuất ra hàng hóa xuất khẩu (trong trường hợp có sử dụng nguyên liệu, phụ liệu nhập khẩu trong quá trình sản xuất).
    • Quy trình sản xuất ra hàng hóa.

    3.     Cấp Giấy chứng nhận C/O form D:

    • Giấy chứng nhận mẫu D phải theo đúng mẫu do Bộ thương mại phát hành và phải làm bằng tiếng Anh ;
    • Bộ Giấy chứng nhận C/O form D gồm 01 bản gốc và ba bản sao carbon (carbon copy) có mầu như sau:
    • Bản gốc (Original): Màu tím nhạt (light violet)
    • Bản sao thứ hai (Duplicate) Màu da cam (Orange)
    • Bản sao thứ ba (Triplicate) Màu da cam (Orange)
    • Bản sao thứ tư (Quadruplicate) Màu da cam (Orange)
    • Mỗi bộ Giấy chứng nhận có tham chiếu riêng của mỗi địa điểm hoặc cơ quan cấp.
    • Bản gốc và bản sao thứ ba được nhà xuất khẩu gửi cho nhà nhập khẩu để nộp cho cơ quan hải quan tại cảng hoặc địa điểm nhập khẩu; bản sao thứ hai được cơ quan có thẩm quyền cấp giữ lại; bản sao thứ tư được nhà xuất khẩu giữ lại.
    • Sau khi nhập khẩu hàng hóa, bản sao thứ ba sẽ được đánh dấu thích hợp vào ô thứ tư và gửi lại cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng xuất xứ hàng hóa trong khoảng thời gian thích hợp.

    4.     Thời hạn cấp Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D

    (Thời hạn này được tính kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ)

    • 2 giờ làm việc đối với các trường hợp thông thường.
    • 4 giờ làm việc đối với các trường hợp cần thiết phải xác định lại xuất xứ của hàng hóa.

    IV.              HƯỚNG DẪN KÊ KHAI C/O FORM D

    Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D được khai bằng tiếng Anh và đánh máy (không ghi tay). Nội dung khai phải phù hợp với tờ khai hải quan đã được thanh khoản và các chứng từ khác như vận đơn, hóa đơn thương mại, giấy chứng nhận kiểm tra xuất xứ hàng hóa của Công ty kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa xuất nhập khẩu.

    1.     Số tham chiếu

    • Số tham chiếu là số ghi ở vị trí trên cùng phía bên phải.
    • Theo quy định của Việt Nam, số tham chiếu được ghi như sau:

    Số tham chiếu gồm 13 ký tự, chia làm 5 nhóm, với cách ghi cụ thể như sau:

    1. Nhóm 1: Tên nước thành viên xuất khẩu là Việt Nam, gồm 2 ký tự là “VN”
    2. Nhóm 2: Tên nước thành viên nhập khẩu là các nước thành viên thuộc khối ASEAN, ở đây là nước Indonesia, gồm 2 ký tự “ID”
    3. Nhóm 3: Năm cấp C/O, gồm 2 ký tự. ở đây, năm cấp là năm 2016, ghi là “16”
    4. Nhóm 4: Tên tổ chức cấp C/O, gồm 2 ký tự. Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh ghi là “02”
    5. Nhóm 5: Số thứ tự của mẫu C/O gồm 5 ký tự. Lô hàng giày dép này có C/O form D mang số thứ tự 9 ghi là “00009”
    • Giữa nhóm 1 và nhóm 2 có dấu “–”, giữa nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 có dấu “/”.

    Số tham chiếu của lô hàng này: VN-ID 16/02/000009                     

    2.     Cách ghi các ô thể hiện trên form D

    • Ô thứ 1: Tên giao dịch, địa chỉ nhà xuất khẩu Việt Nam
    • Ô thứ 2: Tên giao dịch, địa chỉ nhà nhập khẩu Indonesia
    • Ô thứ 3: Ngày khởi hành, tên phương tiện vận tải, cảng đi/ đến
    • Ô số 4: Để trống. Cơ quan Hải quan tại cảng hoặc địa điểm nhập khẩu sẽ đánh dấu ü vào ô thích hợp.
    • Ô số 5: Danh mục hàng hóa
    • Ô số 6 : Ký hiệu và số hiệu của kiện hàng
    • Ô số 7: Số kiện hàng, loại kiện hàng, mô tả hàng hoá (bao gồm số lượng và mã HS).
    • Ô số 8: Ghi hàm lượng ASEAN
    1. “WO” nếu là hàng có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam
    2. Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý
    • Hàm lượng giá trị khu vực: Tỷ lệ % của hàm lượng giá trị ASEAN.
    • Thay đổi mã số hàng hoá (CTC)
    • Công đoạn gia công chế biến cụ thể: “SP”
    1. Hàng hoá (cộng gộp từng phần): “PC x%” trong đó “x” là tỷ lệ % của hàm lượng giá trị ASEAN (20% < x < 40%)
    • Ô thứ 9: Ghi trọng lượng cả bì của hàng hoá và trị giá FOB của lô hàng
    • Ô thứ 10: Số và ngày của hóa đơn lô hàng
    • Ô thứ 11:
    • Dòng thứ nhất ghi “VIET NAM”
    • Dòng thứ hai ghi “INDONESIA”
    • Dòng thứ ba ghi Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm đề nghị cấp C/O form D, chữ ký của người đề nghị cấp C/O form D.
    • Ô thứ 12: Ô này Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh ghi ngày tháng năm cấp C/O form D, ký tên và đóng dấu.

     

    ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP C/O

    (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2011/TT-BCT ngày 21 tháng 5năm 2011 của Bộ Công Thương quy định thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ưu đãi)

     
       

     

    1. Mã số thuế của doanh nghiệp ………………………… Số C/O: ………………………….
    2. Kính gửi: (Tổ chức cấp C/O)…………………..

     

    ……………………………………………………..

    ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP C/O Mẫu …..

     

    Đã đăng ký Hồ sơ thương nhân tại …………………………………………

    ……………………………………………vào ngày…………………………………

    3. Hình thức cấp (đánh (√) vào ô thích hợp)

     

     Cấp C/O

     Cấp lại C/O (do mất cắp, thất lạc hoặc hư hỏng)

     C/O giáp lưng

     

     C/O có hoá đơn do nước thứ ba phát hành

    4. Bộ hồ sơ đề nghị cấp C/O:

     

    – Mẫu C/O đã khai hoàn chỉnh

    – Tờ khai hải quan

    – Hóa đơn thương mại

    – Vận tải đơn/chứng từ tương đương

    – Tờ khai hải quan nhập khẩu nguyên liệu

    – Giấy phép xuất khẩu

     

    – Hóa đơn mua bán nguyên liệu trong nước

     

    – Hợp đồng mua bán

    – Bảng tính toán hàm lượng giá trị khu vực

    – Bản mô tả quy trình sản xuất ra sản phẩm

    – Các chứng từ khác………………………….. …………………………………………………

     

    5. Người xuất khẩu (tên tiếng Việt):…………………………..

     

    – Tên tiếng Anh: ………………………………………………

    – Địa chỉ: ………………………………………………………

    – Điện thoại: …………, Fax: …………Email:……………..……

    6. Người sản xuất (tên tiếng Việt):………………………….

     

    – Tên tiếng Anh: ……………………………………………

    – Địa chỉ: ……………………………………………………

    – Điện thoại: …………, Fax: …………Email:……………..…

    7. Người nhập khẩu/ Người mua (tên tiếng Việt): ……………………………………………………………………………………………..

     

    – Tên tiếng Anh: …………………………………………………………………………………………………………

    – Địa chỉ: …………………………………………………………………………………………………………………

    – Điện thoại: ………………………, Fax: …………………………Email:…………………………………………………..……

    8. Mã HS (8 số) 9. Mô tả hàng hóa (tiếng Việt và tiếng Anh) 10. Tiêu chí xuất xứ và các yếu tố khác 11. Số lượng 12. Trị giá FOB (USD)*
            (Ghi như hướng dẫn tại mặt sau của C/O)    
    13. Số Invoice:…….

     

    …………………….

    Ngày: ……/…../…..

    14. Nước nhập khẩu:

     

    …………………………..

    15. Số vận đơn:……………….

     

    ………………………………..

    Ngày: ……./……../…………..

    16. Số và ngày Tờ khai Hải quan xuất khẩu và những khai báo khác (nếu có):

     

    …………………………………

    …………………………………

    17. Ghi chú của Tổ chức cấp C/O:

     

    – Người kiểm tra: …………………………………………………

    – Người ký: ……………………………………………………….

    – Người trả: ……………………………………………………….

    – Đề nghị đóng:

    18. Doanh nghiệp chúng tôi xin cam đoan lô hàng nói trên được khai báo chính xác, đúng sự thực và phù hợp với các quy định về xuất xứ hàng hóa hiện hành. Chúng tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời khai trước pháp luật.

     

    Làm tại………………ngày……..tháng……năm……….

    (Ký tên, ghi rõ chức vụ và đóng dấu)

    §  Đóng dấu (đồng ý cấp)

     

    §  Đóng dấu “Issued retroactively”

    §  Đóng dấu “Certified true copy”

     

                           

    *Trong trường hợp trị giá ghi trên hợp đồng xuất khẩu không tính bằng USD, doanh nghiệp phải quy đổi trị giá đó sang USD khi khai trên Đơn này Việc khai trên Đơn này không ảnh hưởng đến việc ghi trị giá của hợp đồng trên C/O.

     

    ĐĂNG KÝ MẪU CHỨ KÝ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ỦY QUYỀN KÝ

    ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP C/O VÀ MẪU CON DẤU CỦA THƯƠNG NHÂN

    (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2011/TT-BCT ngày 21 tháng 5năm 2011 của Bộ Công Thương quy định thủ tục cấp Giấy chứng nhận
    xuất xứ hàng hoá ưu đãi)

     
       

     

     

    ………, ngày…….tháng……..năm……….

    Kính gửi: ……………………………………………………… (tên của Tổ chức cấp C/O)

    Công ty: ……………………………………………………….. (tên doanh nghiệp)

    Địa chỉ: ………………………………………………………… (địa chỉ của doanh nghiệp)

    1. Đề nghị được đăng ký các cá nhân của doanh nghiệp có tên, mẫu chữ ký và dấu dưới đây:
    TT Họ và tên Chức vụ Mẫu chữ ký Mẫu dấu
             
           
           
           

    Có thẩm quyền hoặc được ủy quyền ký trên Đơn đề nghị cấp Mẫu C/O.

    1. Đăng ký các cá nhân có tên dưới đây:
    TT Họ và tên Chức danh Phòng (Công ty) Số Chứng minh thư
             
             
             
             

    được ủy quyền tới liên hệ cấp C/O tại … (tên của Tổ chức cấp C/O).

    Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về việc đăng ký, ủy quyền này.

    CÔNG TY ………………………

    (Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp)

    (Ký tên, đóng dấu)

     

    DANH MỤC CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT CỦA THƯƠNG NHÂN

    (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2011/TT-BCT ngày 21 tháng 5năm 2011 của Bộ Công Thương quy định thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ưu đãi)

     
       

     

    ……., ngày…….tháng……..năm……….

    Kính gửi: …………………………………………………….. (tên của Tổ chức cấp C/O)

    Công ty: ……………………………………………………………………….. (tên doanh nghiệp)

    Địa chỉ: ………………………………………………………………………… (địa chỉ của doanh nghiệp)

     

    Đề nghị được đăng ký các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu của doanh nghiệp chúng tôi như sau:

    TT Tên, địa chỉ, điện thoại, fax của cơ sở Phụ trách cơ sở Diện tích nhà xưởng Mặt hàng sản xuất để xuất khẩu

     

    (ghi riêng từng dòng cho mỗi mặt hàng)

    Tên hàng Số lượng công nhân Số lượng máy móc Công suất

     

    theo tháng

                   
                   
                   
                   

    Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật về việc đăng ký này.

     

    CÔNG TY  ………………………

    (Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp)

    (Ký tên, đóng dấu)

     

     

     GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ THUẾ

     

     

    MẪU C/O FORM D


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN

    Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN

    Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN   

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/T%C3%ACnh-H%C3%ACnh-Xu%E1%BA%A5t-Kh%E1%BA%A9u-Lao-%C4%90%E1%BB%99ng-Th%E1%BB%8B-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Nh%E1%BA%ADt-B%E1%BA%A3n-V%C3%A0-Khu-V%E1%BB%B1c-ASEAN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Tình Hình Xuất Khẩu Lao Động Thị Trường Nhật Bản Và Khu Vực ASEAN 

    TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

    VÀ KHU VỰC ASEAN

     

    Tình hình chung thị trường XKLĐ 2017

    Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, năm 2017, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt hơn 130 nghìn người, vượt trên 28% so với kế hoạch đề ra và đạt con số kỷ lục từ trước đến nay trong lĩnh vực này. Đây là năm thứ 4 liên tiếp xuất khẩu lao động đạt trên 100.000 người và đạt kỷ lục mới.

    Cục Quản lý lao động ngoài nước đã đưa ra mục tiêu đưa 110.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018).

    Thị trường Asean – cơ hội hay thách thức?

    Trong những năm gần đây, xuất khẩu lao động trở thành lựa chọn sáng giá cho những lao động trẻ. Tuy nhiên, thị trường ASEAN nói chung lại không là điểm đến của đa phần các đối tượng này – mà thị trường này thường là điểm xuất khẩu lao động. Thống kê trong khu vực Đông Nam Á, tổng số di chuyển lao động là khoảng 16 triệu người (2016). Trong đó, có 03 thị trường (Malaysia, Thái Lan, Singapore) chiếm 90% số lượng lao động nhập khẩu. Các thị trường này lại chú trọng vào tầng lớp lao động có kỹ năng cao, đặc biệt là các chuyên ngành như cơ khí, y tá, kiến trúc, kiểm định, y nha khoa, kế toán và du lịch. Điều này khiến nhân lực xuất khẩu trong khu vực không đáng ứng được yêu cầu, bởi số lượng lớn người lao động có nhu cầu làm việc cho nước ngoài tại khối ASEAN có trình độ thấp.

    Việt Nam đã tham gia các hiệp định đa phương như các FTA giữa khối ASEAN với các đối tác như Trung Quốc vào năm 2004, với Hàn Quốc vào năm 2006, Nhật Bản vào năm 2008, Oxtraylia và New Zealand vào năm 2009, Ấn Độ năm 2009, FTA với Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc năm 2015. Nhìn chung, các Hiệp định này chủ yếu tập trung và các cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, từ đó dẫn tới tác động sau sắc đến nhu cầu tuyển dụng lao động, cơ cấu và điều kiện việc làm.

    Ngày 22/11/2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã kí kết Tuyên bố Kuala Lumpur thành lập AEC (ASEAN Economic Community – Cộng đồng kinh tế ASEAN), tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27.  AEC là cơ chế hợp tác có quy mô dân số trên 600 triệu người và GDP khoảng 2.500 tỷ USD.  Việc này đã hứa hẹn tạo nên một thị trường đơn nhất và mang tính tự do cao hơn, trong số đó có bao gồm việc tự do lưu chuyển lao động có tay nghề – ban đầu là đối với 8 ngành nghề (kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, kỹ sư, bác sĩ, y tá và cán bộ hộ sinh, trắc địa viên và các nghề liên quan đến du lịch). Tuy nhiên, thị trường ASEAN lại chưa đủ hấp dẫn đối với các lao động trình độ cao đang bị thu hút bởi mức lương tại các quốc gia phương Tây. Riêng với thị trường lao động Việt Nam, cũng chưa có sự dịch chuyển lao động nào quá đáng kể trong khối này – đặc biệt là lao động có trình độ cao. Cụ thể, để có thể tự do di chuyển trong nội khối AEC, lao động phải chứng minh được trình độ kĩ thuật, khả năng ngôn ngữ (tiếng Anh hoặc tiếng của nước sở tại) và một vài kĩ năng mềm khác (hiểu biết về văn hóa của nước sở tại, làm việc theo nhóm). Lao động nước ta trong thời gian gần đây đang dần nâng cao tay nghề, nhưng khả năng giao tiếp và các kĩ năng mềm vẫn còn hạn chế. Để khắc phục khuyết điểm này, cần có sự  phối hợp của nền giáo dục nghề nghiệp tại nước ta – tạo ra một nguồn lao động có chất lượng đủ để đáp ứng nhu cầu. Để nắm bắt được cơ hội việc làm trong AEC tốt hơn, cần nhanh chóng thống nhất về chứng chỉ bằng cấp – giúp lao động được đào tạo tại Việt Nam có trình độ tương đươg với lao động các nước trong cộng đồng ASEAN.  Đồng thời, cần gắn kết giưa đào tạo với thị trường lao động, đẩy mạnh sự tham gia của doanh nghiệp cũng như đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phương diện giáo dục nghề nghiệp. Trên nền tảng này, người lao động sẽ không chỉ được trang bị kĩ về kiến thức chuyên môn, trình độ tay nghề mà còn có thể phát triển hiểu biết về văn hóa – xã hội và những lĩnh vực quan trọng tại các nước tiếp nhận, nâng cao khả năng hòa nhập khi sang môi trường làm việc của các nước khác.

    Theo ILO đến năm 2025, khi tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Việt Nam sẽ tăng thêm 6 triệu việc làm so với kịch bản cơ sở, chiếm 10% tổng việc làm tăng thêm của khối (60 triệu), chủ yếu ở các ngành sản xuất lúa gạo, xây dựng, vận tải, dệt may và chế biến lương thực. Với lực lượng lao động trẻ và dồi dào được coi là mặt lợi thế của lao động nước ta trong quá trình hộp nhập với thị trường lao động khu vực và quốc tế.

    Tỉ lệ lao động trình độ cao di cư của một số nước ASEAN khá cao. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là khoảng 10%. Trong đó, tỉ lệ lao động lành nghề đi xuất khẩu khá cao so với tỉ lệ lao động có trình độ cao. Điều này vẫn bị cho là gây tốn kém khi nước xuất xứ phải lo trả chi phí đào tạo nhưng các lao động trình độ cao lại được sử dụng ở ngoài nước.

    Theo báo cáo Báo cáo Di cư tìm cơ hội (do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố vào 10/2017), Việt Nam là một trường hợp đặc biệt ở ASEAN vì lượng người xuất khẩu lao động lớn nhưng tỉ lệ người tới các nước ASEAN không nhiều, thậm chí chí lao động người Việt đến các nước ASEAN làm việc ngày càng ít. Nhiều người Việt Nam muốn sang châu Âu, tới các quốc gia phát triển khác để lao động.

    Trong thời gian tới, thị trường lao động thế giới có thể tiếp tục tăng trưởng với nhu cầu lao động lớn, do các nền kinh tế trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á đang hồi phục – giúp các nước Đông Nam Á tăng cơ hội xuất khẩu lao động. Cạnh tranh với Việt Nam trong thị trường này là Philippines, quốc gia được cho là cung cấp lực lượng LĐXK chủ yếu cho các nước Trung Đông. Điều này có thể giúp lao động Việt Nam giảm cạnh tranh hơn trong một số lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, y tế, tin học. Ngoài ra, trong thời gian tới, thị trường XKLĐ sang Trung Đông tiếp tục được mở rộng và tạo cơ hội tốt cho nhiều lao động khu vực nông thôn có việc làm đòi hỏi vốn ít, trình độ thấp.

    Cũng theo ông Mauro Testaverde – chuyên gia kinh tế, Trưởng Ban An sinh xã hội và việc làm toàn cầu WB: “Là một nước xuất khẩu lao động, Việt Nam cần đánh giá các chính sách hiện hành về khuyến khích xuất khẩu lao động nhằm xác định có đáp ứng được các nhu cầu của đất nước hay chưa. Những chính sách này là đáng hoan nghênh nhưng cũng cần có những cải cách khác nữa, như xem xét lại việc các công ty xuất khẩu lao động thường xuyên hay chí ít cũng ngầm yêu cầu người lao động phải đóng tiền ký quỹ để bảo đảm sẽ trở về nước, sau đó lại thường không trả lại số tiền này.

    Hiện nay, đa số các nước trong khu vực Đông Nam Á đã xây dựng được khuôn khổ pháp lý tương đối hoàn thiện đối với hoạt động xuất, nhập khẩu lao động và có chính sách, chiến lược quan trọng về thu hút và phát triển nguồn nhân lực. Tại nước ta, các thị trường thu hút nhân lực chất lượng trung bình, lao động giản đơn có dấu hiệu chững lại. Về mặt pháp lý, hiện nay Việt Nam có Bộ luật Lao động, Luật Dân sự, Luật Hình sự có nhiều điều khoản liên quan vấn đề XKLĐ.

    Lao động Nhật Bản  –  “mỏ vàng” thị trường xuất khẩu lao động

    Số lượng người lao động xuất khẩu chính quy sang Nhật Bản ngày càng tăng. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2017, thị trường XKLĐ sang quốc gia này đã đón nhận tới 23.209 lao động từ Việt Nam, tăng tới 7547 lượt so với cùng kì năm 2016.

    Theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB-XH), năm 2017, cả nước đưa đi được 134.700 lao động, vượt hơn 28% so với kế hoạch năm. Đây là năm thứ tư liên tiếp, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 người/năm. Trong đó, thị trường Nhật Bản có sự tăng trưởng vượt bậc với 54.504 lao động (trong đó, có 24.502 lao động nữ).

    Nếu trước đây quốc gia này chỉ tiếp nhận thực tập sinh Việt Nam chủ yếu trong các ngành cơ khí, điện tử, dệt may,  thì tính từ 2016, đã mở rộng ở hầu hết các ngành, nghề, từ xây dựng, cơ khí, nông nghiệp, chế biến thực phẩm đến dệt may, hộ lý, trong đó nhu cầu về các ngành xây dựng, nông nghiệp, chế biến thực phẩm tăng mạnh.

    Năm 2017, một số bản thỏa thuận quan trọng đã được ký kết giữa Bộ LĐ-TB-XH và các cơ quan Nhật Bản: Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) về chương trình thực tập kỹ năng với Bộ trưởng các bộ Tư pháp, Ngoại giao, Y tế – Lao động – Phúc lợi xã hội Nhật Bản; Bản ghi nhớ hợp tác chương trình đưa thực tập sinh đi Nhật Bản với Cơ quan Quản lý thực tập kỹ năng (OTIT) Nhật Bản và Ngân hàng Gunma.. Theo thứ trưởng Doãn Mậu Diệp, năm 2017, riêng thị trường Nhật Bản có nhu cầu tuyển dụng lao động Việt Nam ngày càng tăng cao, đa dạng về ngành nghề. Một số công việc như chế biến thức ăn thay thế, bảo dưỡng nhà cao tầng, sửa chữa ô-tô) có nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam rất cao. Bên cạnh đó, từ tháng 11/2017, Bộ lao động Nhật Bản cho phép người lao động Việt Nam có thể ra hạn hợp đồng lên đến 5 năm với tất cả các ngành nghề thay vì chỉ có ngành xây dựng như thời gian vừa qua.

    Tuy nhiên, khi xứ sở hoa anh đào  trở thành “mỏ vàng” XKLĐ thì cũng kéo theo con số các lao động “chui” và lao động bỏ trốn khá cao – luôn nằm trong top 3 thống kê. Chính vì thế, trong năm 2018, nước ta cần phải tìm biện pháp để con số này không chạm tới mức 5% nếu không Nhật Bản sẽ ngừng tiếp nhận. Để có thể thực hiện mục tiêu trên, Bộ LĐTB&XH (Bộ Lao động thương binh & Xã hội) cho biết, năm nay riêng thị trường Nhật Bản sẽ dứt điểm ngừng các công ty phái cử thu phí xuất cảnh cao hơn quy định, tuyệt đối bỏ tất cả các khoản đặt cọc chống trốn – nhằm giảm bớt gánh nặng về tài chính, cũng như giảm thiểu phát sinh các trường hợp bỏ trốn ra ngoài, tự ý nhận việc làm thêm. Ngoài ra, theo dự kiến của Bộ, từ năm 2018 trở đi, thị trường XKLĐ nước này sẽ dẫn đầu, sau đó mới đến Đài Loan. Ngoài ra, riêng thị trường Nhật Bản sẽ dứt điểm ngừng các công ty phái cử thu phí xuất cảnh cao hơn quy định.

    Năm 2018 cũng là năm Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội triển khai Bản ghi nhớ hợp tác về Chương trình thực tập sinh kỹ năng đã ký kết năm 2017 với Nhật bản; Hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng theo Luật “bảo hộ thực tập sinh và triển khai chương trình thực tập sinh kỹ năng người nước ngoài đúng quy định” của Nhật Bản và các quy định của Việt Nam

    Nhiều doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã và đang từng bước chủ động tìm kiếm và phát triển thị trường, kèm theo đó đầu tư bài bản trong công tác tạo nguồn và đào tạo lao động về tay nghề và ngoại ngữ trước khi xuất cảnh, cũng như tác phong, kỷ luật lao động và ý thức chấp hành kỷ luật khi làm việc ở nước ngoài, điển hình là công tác đưa lao động sang thực tập kỹ năng, hộ lý và điều dưỡng tại Nhật Bản.

    Đây là những tín hiệu đáng mừng cho người lao động nước ta. Bởi với thị trường Nhật Bản cũng được coi là thị trường “vàng” về khía cạnh tài chính đối với người lao động, khi làm việc tại môi trường này giúp có được mức thu nhập cao hơn so với các thị trường khác. Mức lương cơ bản đối với người lao động bình thường dao động từ 25 – 30 triệu đồng/ tháng, đối với các kĩ thuật viên – kĩ sư sẽ có thu nhập trên 45 triệu/tháng.

    Kết

    Tình hình xuất khẩu lao động 2018 sang các nước phát triển hơn Việt Nam vẫn là một hướng đi tích cực cho những lao động dư thừa ở nước ta. Trong Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018, thứ trưởng Doãn Mậu Diệp đề nghị Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước phối hợp với Vụ Pháp chế trong việc sửa đổi Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Cục Quản lý lao động ngoài nước cần đẩy mạnh quản lý DN, chấn chỉnh hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đáp ứng 3 tiêu chí (đúng người, minh bạch và có kế hoạch khi lao động quay trở về nước).

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài Tập Lớn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/xu%E1%BA%A5t-x%E1%BB%A9-h%C3%A0ng-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu 2019

    Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

    1.     Tổng quan về xuất xứ hàng hóa.

    1.1.           Khái niệm.

    Theo nghị định số 19/2006/NĐ-CP thì xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản đối với hàng hóa do nhiều nước và vùng lãnh thổ tham gia sản xuất.

    1.2.           Ý nghĩa.

    Thứ nhất, xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa, nhất là những sản phẩm thô và đặc sản. Xuất xứ hàng hóa giúp chúng ta hình dung được nguồn gốc, quê hương, nơi sản xuất của hàng hóa, từ đó chúng ta có thể nhìn nhận hay đánh giá qua được chất lượng của hàng hóa đó. Điều này đã được chứng thực ở nhiều quốc gia, chẳng hạn như nhắc đến Pháp, người ta sẽ nghĩ ngay các loại phô mai đa dạng về chất lượng cũng như chất lượng hàng đầu của nó. Hay như nhắc đến New Zealand, người ta sẽ nghĩ ngay đến các loại sữa chất lượng nổi tiếng thế giới. Như vậy, có thể coi việc xác định xuất xứ hàng hóa là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hóa.

    Thứ hai, xuất xứ hàng hóa được sử dụng kết hợp với mã số thuế để xác định mức thuế suất, tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi và quyền lợi của nước xuất khẩu tại nước nhập khẩu. Điều này liên quan đến chính sách thương mại của các quốc gia thỏa thuận thương mại trong các hiệp định kinh tế. Việc xác định được xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan hải quan có thể phân biệt được đâu là hàng nhập khẩu được hưởng ưu đãi để áp dụng chế độ ưu đãi theo các theo các thảo thuận thương mại đặc biệt và đâu là hàng không được hưởng ưu đãi. Ví dụ như theo hiệp định ATIGA thì khi hàng hóa từ các nước trong khu vực ASEAN nhập khẩu vào Việt Nam thì sẽ được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan, Việt Nam sẽ áp dụng mức thuế suất thấp hơn hoặc ưu đãi đối với các sản phẩm có xuất xứ từ các nước này.

    Thứ ba, xuất xứ hàng hóa liên quan đến việc kiểm soát hoạt động ngoại thương, đồng thời phục vụ cho công tác thống kê ngoại thương. Xác định xuất xứ giúp cho việc biên soạn các số liệu thống kê thương mại hàng năm được tiến hành dễ dàng hơn.

    Thứ tư, xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Ví dụ đối với  một số loại thực phẩm có xuất xứ từ các nước Châu Âu như Mỹ, Đức, Pháp,…thường được người dân tin dùng vì trước khi xuất sang Việt Nam, hàng hóa có xuất xứ từ các nước này đã qua kiểm định nghiêm ngặt, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Còn đối với một số hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc sẽ khiến người tiêu dùng e ngại hơn vì phần lớn các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đều xuất xứ từ thị trường này.

    Như vậy, việc xác định xuất xứ hàng hóa là chỉ tiêu quan trọng cho việc đánh giá chất lượng, là công cụ để thể hiện chính sách thương mại trong quan hệ song phương và đa phương giữa các quốc gia. Trong điêu kiện hiện nay, khi việc gia nhập các liên kết kinh tế – thương mại khu vực và thế giới trở thành một xu thế, nhu cầu bức thiết nhằm duy trì và đẩy mạnh quan hệ thương mại thì việc xác định xuất xứ hàng hóa càng có ý nghĩa quan trọng.

    1.3.           Giấy chứng nhận xuất xứ.

    Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) là một loại văn bản chứng minh xuất xứ hàng hóa. Về cơ bản, C/O được cấp cho lô hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu cụ thể. C/O chứng nhận xuất xứ hàng hóa được xác định theo một quy tắc xuất xứ cụ thể và quy tắc này phải được nước nhập khẩu chấp nhận và thừa nhận. Một số mẫu C/O ưu đãi thông dụng ở Việt Nam gồm: C/O mẫu A ( cấp cho các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang các nước dành cho Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP), C/O mẫu D ( cấp cho các sản phẩm mua bán giữa các nước thành viên ASEAN ), C/O mẫu B (cấp cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong các trường hợp thông thường hay không đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ để hưởng chế độ ưu đãi GSP đó).

    2.     Ý nghĩa của xuất xứ hàng hoá đối với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Xuất nhập khẩu và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu.

    2.1.           Ý nghĩa của xuất xứ hàng hóa đối với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu.

    Khi Việt Nam là nước xuất khẩu, thủ tục thông quan hàng hóa quy định phải dựa trên sự xuất trình đầy đủ các chứng từ hàng hóa trong đó có bao gồm xuất xứ hàng hóa thì C/O là một căn cứ để cơ quan Hải quan cho phép người xuất khẩu thông quan hàng hóa. Xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan hải quan thuận tiện trong việc kiểm tra và xác định nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa đang làm thủ tục hải quan xuất, nhập khẩu, đánh giá được khả năng xuất khẩu thực tế hàng hóa có xuất xứ từ nước mình, xác định tỉ lệ hàng quá cảnh. Còn khi Việt Nam là nước nhập khẩu, xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, quản lý được hàng hóa nhập khẩu phù hợp với chính sách ngoại thương và quan hệ kinh tế đối ngoại của Chính phủ nước mình và chính phủ nước xuất xứ hàng hóa. Nó còn giúp cơ quan quản lý nhà nước ngăn chặn kịp thời hàng hóa từ những nước đang là đối tượng bị hạn chế và cấm nhập khẩu, xác định mức thuế áp dụng  cho lô hàng nhập khẩu phù hợp vớ chế độ thuế quan hiện hành. Ví dụ như với Mỹ, cơ quan quản lỹ nhà nước của Mỹ đã ra quyết định hạn chế nhập khẩu mặt hàng thép có xuất xứ từ Trung Quốc nguyên nhân một phần do các vụ điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép có xuất xứ từ Trung Quốc. Vậy nên, đói với mặt hàng thép có xuất xứ từ Trung Quốc, việc thông quan qua cửa khẩu Mỹ là rất khó khăn. Còn với Việt Nam, theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO tại Điều 147 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO thì Việt Nam sẽ không áp đặt, cũng như hạn chế nhập khẩu đối với bất cứ nước nào, mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp có quyền tự do lựa chọn nhà phân phối để nhập khẩu nguyên vật liệu vào Việt Nam. Về mức thuế quan, nếu hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ Lào (C/O form S), để thực hiện Bản thỏa thuận giữ Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam và bộ công thương nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, thì những hàng hóa đó sẽ được hưởng ưu đãi về mặt thuế quan. Trên cơ sở thông tin về xuất xứ hàng hóa cho phép cơ quan quản lý nhà nước tiến hành công tác thống kê ngoại thương, xác định nguồn nhập chủ yếu của từng mặt hàng để từ đó có chế độ tính thuế nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan ngày 17/1/2016, dựa vào xuất xứ hàng hóa, chúng ta có thể xác định được thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung ở Châu Á. Trong đó, thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc, chiếm tỉ trọng 28,7%.

    Đối với  việc phát triển kinh tế và quản lý chính sách ngoại thương của nhà nước. Đối với nước xuất khẩu, thông thường nước xuất khẩu là nước đang và kém phát triển đều thuộc danh mục các nước được hưởng ưu đãi của chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP của các nước phát triển, xuất xứ hàng hóa là bằng chứng để được hưởng ưu đãi thuế quan. Ví dụ như khi Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang EU thì sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP. Ngoài ra xuất xứ hàng hóa còn giúp các nước xuất khẩu tăng cường khả năng thâm nhập hàng hóa vào các thị trường của các nước phát triển cho hưởng ưu đãi. Giúp mở rộng thị trường và hàng hóa của nước xuất khẩu trở nên có sức cạnh tranh hơn so với hàng hóa cùng loại của các nước không được hưởng ưu đãi, tăng lợi nhuận xuất khẩu, tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Từ ngày 1/1/2014, EU chính thức thông qua quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập, đưa Việt Nam vào các nước được hưởng GSP đối với tất cả các mặt hàng. Cũng trong năm này, Việt Nam đã xuất khẩu được 7% mặt hàng sang EU, giai đoạn 2014-2016 đã tăng lên thành 30%. Còn đối với nước nhập khẩu, về mặt phát triển kinh tế và quản lý chính sách ngoại thương của nhà nước, xuất xứ hàng hóa là cơ sở đrr cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác thống kê ngoại thương, nắm tình hình nhập khẩu hàng hóa, thực hiện hạn ngạch nhập khẩu sản phẩn có xuất xứ từ các nước được phân bố (nếu có), tình hình chất lượng hàng hóa nhập khẩu từ các nước, thị trường khác nhau, xem xét sự tác động về mặt xã hội và vệ sinh môi trường của hàng hóa nhập khẩu từ đó có biện pháp quản lý và xây dựng chính sách nhập khẩu, biểu thuế thích hợp, chính sách xử lý môi trường để bảo vệ sức khỏe, an ninh… xác địnhtiêu chuẩn chất lượng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác nhau. Xuất xứ hàng hóa cấp cho hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan là căn cứ để Chính phủ nước cho hưởng nắm được tình hình thực hiện ưu đãi, xây dựng và sửa đối bổ sung kịp thời, có thể giữ nguyên chế độ ưu đãi hoặc cắt giảm bằng những yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn để được cấp C/O phù hợp hoặc tuyên bố cắt thẳng. Theo những kết quả thống kê được về hàng hóa có chứng nhận xuất xứ để được hưởng ưu đãi, EU cí thể xác định được mức độ phát triển kinh tế chung và kinh tế từng ngành hàng của các nước được hưởng ưu đãi, từ đó xác định danh mục các nước được hưởng GSP, cá nước không được hưởng. Ví dụ Brunei, Hongkong, Hàn Quốc, Singapore,.. từ 1/1/1997 koong cì nằm trong danh sách hưởng GSP của EU nữa.

    2.2.           Ý nghĩa của xuất xứ hàng hóa đối với cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Xuất xứ hàng hóa giúp cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hậu kiểm, giảm thiểu rủi ro đối với doanh nghiệp gian lận sử dụng nguyên liệu mua trong nước không đạt xuất xứ những vẫn cộng gộp 100% trị giá nguyên liệu đó vào trị giá thành phẩm cuối cùng, hoặc cũng có doanh nghiệp nhập hàng về, khai báo là nguyên vật liệu rồi gia công vài công đoạn sơ sài để xin cấp chứng nhận xuất xứ nhằm tránh được thuế bán phá giá hoặc được hưởng lợi từ thuế. Từ đó ngăn chặn được nguy cơ gian lận xuất xứ đối với đối với thành phẩm xuất khẩu.

    Xuất xứ hàng hóa cũng giúp cho cơ quan quản lý nhà nước xác định chính xác xuất xứ hàng hóa mà doanh nghệp nhập vào Việt Nam. Hiện nay có một số doanh nghiệp làm giả C/O form D để nhập lậu vào Việt Nam. Trước đó, cơ quan chức năng đã phát hiện một số hàng nhập lậu sử dụng C/O form D giả, vifcasc C/O thu giữ được đều ghi 100% hàm lượng ASEAN, đối với nhà sản xuất cũng như cơ quan quản lý, điều này là không cần thiết vì chỉ cần hơn 40% hàm lượng asean là có thể được cấp c/o. Qua kiểm tra xuất xứ, cơ quan quản lý đã ngăn chặn được phần nào hành vi làm giả để hưởng thuế ưu đãi này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây