Category: Luật

  • MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-C%E1%BA%A6N-B%C3%80N-V%E1%BB%80-C%C4%82N-C%E1%BB%A8-T%C3%8DNH-THU%E1%BA%BE-THEO-QUY-%C4%90%E1%BB%8ANH-C%E1%BB%A6A-LU%E1%BA%ACT-THU%E1%BA%BE-THU-NH%E1%BA%ACP-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-V%C3%80-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

     

    Phạm Quốc Thuần*

     

    TÓM TẮT

     

    Bài viết đề cập đến phương pháp xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trên cơ sở tham chiếu các quy định của Chuẩn mực kế toán và các quy định về thuế, chủ yếu là quy định về Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp. Bài viết cho thấy có sự khác biệt về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành giữa thuế và kế toán, từ đó đề ra các kiến nghị nh̀m hoàn thiện việc xác định và ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tại các doanh nghiệp hiện nay.

     

    Từ khóa: Thu nhập tính thuế, thu nhập chịu thuế, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, kế toán thuế.

     

    DISCUSSING THE TAX BASES IN ACCORDANCE WITH THE ENTERPRISE INCOME TAX LAW AND THE ACCOUNTING STANDARDS

     

    ABSTRACT

     

    This article refers to the method of determining the corporate income tax payable on the basis of the provisions of accounting standards and tax regulations, primarily concentrates on the Corporate Income Tax Regulations. The paper indicates that there are the differences in calculating the income tax amount between Tax Regulations and Accounting Standards. Furthermore, the proposals are also set out to improve the identiication and recognition of income tax expense in the business today.

     

    Key words: The income tax, the taxable income, the tax cost for enterprises, the tax accountant.

     

     

    1.  Tổng quan về căn cứ pháp lý

     

    Tại Việt Nam, kể từ khi VAS 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành ngày 15/2/2005, sự khác biệt giữa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (là chỉ tiêu được kế toán ghi nhận để xác định lợi nhuận kế toán) và

     

    thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (là chỉ tiêu trình bày trên báo cáo thuế xác định số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp Nhà Nước) đã được xác định rõ. Theo VAS 17, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp được khái niệm là tổng chi phí thuế thu nhập hiện hành

     

     

    • GV. Trường Đại học Kinh Tế – Luật ĐHQG TPHCM

     

     

    44

     

    Một số vấn đề ….

     

    và chi phí thuế thu nhập hoãn lại. Như vậy có thể thấy rằng liên quan đến việc ghi nhận thuế TNDN, giữa kế toán và thuế vẫn có điểm chung được cả hai bên cùng ghi nhận đó là thuế thu nhập hiện hành (kế toán ghi vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và thuế ghi nhận là một khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán cho Nhà Nước) và phần tạo ra sự khác biệt giữa thuế và kế toán chính là thuế thu nhập hoãn lại (kế toán ghi nhận nhưng không được thuế ghi nhận). VAS 17 được biên soạn trên cơ sở tham chiếu quy định của Luật thuế TNDN do Quốc Hội ban hành năm 2003. Kể từ đó đến nay, quy định về thuế TNDN đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ

    sung và từ đó đã làm xuất hiện sự khác biệt về căn cứ để xác định chỉ tiêu thuế thu nhập hiện hành (điểm chung được cả thuế và kế toán ghi nhận) giữa thuế và kế toán. Điều này đã gây khó khăn cho công tác kế toán trong việc ghi nhận các nghiệp vụ liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp.

    2. Quy định hiện hành về căn cứ tính

    thuế

     

    Theo quy định của Luật thuế

     

    Theo Thông tư 123/2012/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN do Quốc hội ban hành năm 2012, căn cứ tính thuế TNDNlà thu nhập tính thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:

     

     

    Thuế TNDN phải nộp   =  Thu nhập tính thuế

    x

    Thuế suất thuế TNDN

     

    Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:

       

    Thu nhập

    =

    Thu nhập

    ( TN được

    +

    Các khoản lỗ được kết)

     

    tính thuế

    chịu thuế

    miễn thuế

    chuyển theo quy định

     
         

    Công thức tính thu nhập chịu thuế:

             

    TN chịu thuế  =

    (Doanh thu  –

    Chi phí được trừ)

    +   Các khoản thu nhập khác

     

     

     

    Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm của thuế có sự phân biệt rất rõ ràng khái niệm thu nhập tính thuế và thu nhập chịu thuế. Theo đó, thu nhập tính thuế chính là căn cứ để xác định thuế TNDN mà các tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải nộp cho Nhà Nước, là căn cứ để xác định nghĩa vụ thuế phải nộp của các doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Thu nhập chịu thuế chính là chênh lệch giữa doanh thu tính thuế, thu nhập khác và chi phí được trừ. Cần lưu ý rằng thu nhập chịu thuế chưa phải là căn cứ cuối cùng để xác định nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp với Nhà Nước.

     

    Thí dụ 1: Doanh nghiệp Hoàng Giác trong năm 200X có các thông tin sau: (ĐVT: 1.000 đồng)

     

    • Doanh thu bán hàng: 3.000.000
    • Khoản thu từ nợ khó đòi đã xử lý: 100.000

     

     

    • Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp: 2.000.000

     

    • Doanh thu tài chính (lãi được chia từ hoạt động liên doanh): 300.000

     

    • Khoản lỗ từ năm trước chuyển sang: 200.000.

     

     

    • Các khoản còn lại liên quan đến doanh thu, chi phí giả sử không phát sinh; doanh nghiệp không thực hiện trích lập quỹ khoa học và công nghệ; thuế suất thuế TNDN theo quy định là 25%.

     

    Dựa vào dữ liệu trên, thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế và thuế TNDN phải nộp trong năm 200X được xác định như sau:

     

    • Xác định thu nhập chịu thuế

     

     

    45

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Thu nhập chịu thuế = Doanh thu bán hàng

     

    • Doanh thu tài chính = 3.300.000 Chi phí được tính trừ = 2.000.000 Thu nhập khác = 100.000

    Thu nhập chịu thuế = (3.300.000 – 2.000.000) + 100.000 = 1.400.000

     

    • Xác định thu nhập tính thuế Thu nhập chịu thuế = 1.400.000

    Thu nhập được miễn thuế = 300.000

     

    (điều 8 chương II của TT 123/2012/TT-BTC quy định thu nhập được chia từ hoạt động góp vốnsau khi bên nhận góp vốn đã nộp thuế TNDNtheo quy định của Luật Thuế TNDNđược xem là thu nhập được miễn thuế)

     

    Khoản lỗ năm trước chuyển sang = 200.000

     

    Thu nhập tính thuế = 1.400.000 – (300.000 + 200.000) = 900.000

     

    Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x 25% = 900.000 x 25% = 225.000.

     

    Theo thí dụ này, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán khoản thuế TNDN năm 200X cho Nhà Nước là 225.000.

     

    Theo quy định của VAS 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp

     

    Theo chuẩn mực kế toán Thuế TNDN (VAS 17): “thuế thu nhập hiện hành là số thuế TNDN phải nộp tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế TNDN của năm hiện hành”.

     

    Như vậy, theo chuẩn mực kế toán, chỉ tiêu để xác định nghĩa vụ thuế TNDN được gọi là Thuế TNDN hiện hành. Để xác định thuế thu nhập hiện hành cần phải xác định thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó thu nhập chịu thuế được định nghĩa như sau:“Thu nhập chịu thuế: Là thu nhập chịu thuế TNDN của một kỳ, được xác định theo qui định của Luật thuế TNDN hiện hành và là cơ sở để tính thuế TNDN phải nộp (hoặc thu hồi được)”.

    Như vậy VAS 17 không đưa ra nguyên tắc để xác định thu nhập chịu thuế mà theo đó, chỉ tiêu này được tính toán dựa vào quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

    Thông tư 20/2006/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 20 tháng 3 năm 2006, hướng dẫn kế toán ghi nhận thuế thu nhập hiện hành:” Cuối năm tài chính, kế toán phải xác định và ghi nhận số thuế TNDN thực tế phải nộp trong năm trên cơ sở tổng thu nhập chịu thuế cả năm và thuế suất thuế TNDN hiện hành. Thuế TNDN thực phải nộp trong năm được ghi nhận là chi phí thuế TNDN hiện hành trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm đó”. Theo đó, chi phí thuế TNDN hiện hành được hạch toán như sau: N TK 8211- Chi phí thuế TNDN hiện hành/ Có TK 3334- Thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

    3.  Vấn đề tồn tại

     

    Các nội dung trình bày trên cho thấy căn cứ để xác định số thuế mà các doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước là thu nhập tính thuế (Luật thuế thu nhập doanh nghiệp), trong khi đó quy định kế toán lại là thu nhập chịu thuế. Điều này làm cho nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải nộp được trình bày trên báo cáo thuế (tờ khai thuế TNDNMS 03/TNDN ban hành theo Thông tư 28/2011 do Bộ Tài chính ban hành ngày 28 tháng 2 năm 2011) và phản ánh trên sổ sách kế toán (trên tài khoản 3334 Thuế thu nhập doanh nghiệp) có sự chênh lệch với nhau, hay nói khác đi là số liệu trên sổ sách kế toán không phản ánh đúng thực chất nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Thí dụ sau đây minh chứng rõ điều này.

     

    Thí dụ 2- Lấy lại dữ liệu của thí dụ 1, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với Nhà Nước trình bày trên báo cáo thuế và ghi nhận trên sổ sách kế toán được ghi nhận như sau:

     

     

    46

     

    Một số vấn đề ….

     

    Trên báo cáo thuế (Bảng 1).

     

    Theo số liệu trên tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, năm 200X công ty Hoàng Giác phải nộp cho Nhà Nước một khoản thuế TNDN là 225.000 nghìn đồng.

     

    Trên sổ sách kế toán (bảng 2)

     

    • Thuế thu nhập hiện hành = Thu nhập chịu thuế x thuế suất thuế TNDN= 1.400.000

     

    • 25% = 350.000

     

    • Ghi nhận chi phí thuế TNDN hiện hành: N 8211/C 3334 350.000

     

    • Hoàn nhập tài sản thuế thu nhập hoãn lại (phát sinh từ khoản lỗ của năm trước chuyển sang): N 8212/ C 243: 200.000 x 25% = 50.000

     

    • Nộp thuế TNDN vào ngân sách Nhà Nước theo số thuế phải nộp trên tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp: N 3334/C 111, 112: 225.000
    • Thông tin về nghĩa vụ nộp và thanh toán thuế TNDN của công ty Hoàng Giác năm 200X với Nhà Nước được phản ánh trên tài khoản 3334- Thuế TNDN như bảng 2.

    Nhận xét: sau khi ghi nhận số thuế TNDN phải nộp và đã nộp, tài khoản 3334- Thuế TNDN vẫn còn kết dư bên nợ một khoản là 125.000 nghìn đồng (Nhà nước còn nợ công ty một khoản thuế TNDN là 125.000 nghìn đồng). Đây là số dư ảo bởi lẽ sau khi đã nộp thuế thì giữa công ty và Nhà nước không còn phát sinh nghĩa vụ về công nợ với nhau, lúc này số dư trên tài khoản 3334 phải bằng 0 (không). Nguyên nhân là do kế toán và thuế không đồng nhất với nhau trong vấn đề xác định căn cứ dùng để tính nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với Nhà nước. Cần lưu ý là theo hướng dẫn thực hiện VAS 17, tài khoản 3334 không phải là tài khoản được dùng để ghi nhận chênh lệch thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

     

    TỜ KHAI QUYẾT TOÁN THUẾ TNDN(lược trích) (bảng 1)

     

     

    Kỳ tính thuế: từ ngày 1/1/200X đến ngày 31/12/200X

     

    ĐVT: 1.000 đồng

               

    STT

    Chỉ tiêu

     

    Mã số

     

    Số tiền

               

    (1)

    (2)

     

    (3)

     

    (4)

    A

    Kết quả kinh doanh ghi nhận theo báo cáo tài chính

           
               

    1

    Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập doanh nghiệp

     

    A1

     

    1.400.000

    B

    Xác định thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

           
               

    1

    Điều chỉnh tăng tổng lợi nhuận trước thuế TNDN

     

    B1

       

    (B1= B2+B3+B4+B5+B6)

       

           

    2

    Điều chỉnh giảm tổng lợi nhuận trước thuế

     

    B7

     

    TNDN(B7=B8+B9+B10+B11)

       
             

    3

    Tổng thu nhập chịu thuế

     

    B12

       

    (B12=A1+B1-B7)

       

    1.400.000

           

    3.1

    Thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh

     

    B13

       

    (B13=B12-B14)

       

    1.400.000

           

    C

    Xác định thuế TNDN phải nộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh

           
               

    1

    Thu nhập chịu thuế (C1 = B13)

     

    C1

     

    1.400.000

               

    2

    Thu nhập miễn thuế

     

    C2

     

    300.000

               

    3

    Lỗ từ các năm trước được chuyển sang

     

    C3

     

    200.000

               

    47

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    4

    Thu nhập tính thuế

         

    C4

     

    900.000

    (C4=C1-C2-C3)

             
                   

    6

    Thu nhập tính thuế sau khi đã trích lập quỹ khoa học công nghệ

     

    C6

       

    (C6=C4-C5)

             

    900.000

                 

    7

    Thuế TNDN từ hoạt động SXKD tính theo thuế suất phổ thông

     

    C7

       

    (C7=C6 x 25%)

             

    225.000

                 

    11

    Thuế TNDN của hoạt động sản xuất kinh doanh

         

    C11

       

    (C11=C7-C8-C9-C10)

           

    225.000

               

    D

    Thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản còn phải

     

    D

       

    nộp sau khi trừ thuế TNDN đã nộp ở địa phương khác

           

               

    E

    Tổng số thuế TNDN phải nộp trong kỳ

         

    E

     

    225.000

                       

    1

    Thuế TNDN của hoạt động sản xuất kinh doanh

         

    E1

     

    225.000

                       

    2

    Thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản

         

    E2

     

       

    SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN 3334 – THUẾ TNDN (Bảng 2)

         
                     

    Ngày

    Chứng từ

    Diễn giải

    TKĐƯ

       

    ST

     
                     
     

    SH

    Ngày

           

    N

    C

                       
         

    SDĐK

         

     

                     

    xxx

    xxx

    xxx

    Ghi nhận thuế TNDN phải nộp năm 0X

    8211

       

    350.000

     

    xxx

    xxx

    xxx

    Nộp thuế TNDN vào NSNN

    111

           

    225.000

                     
         

    TPS

         

    350.000

    225.000

         

    SDCK

         

    125.000

     
                       

    4.  Kiến nghị

     

    VAS 17 được biên soạn trên cơ sở tham khảo Luật thuế TNDN do Quốc Hội ban hành

     

    ngày 17 tháng 6 năm 2003. Theo quy định của Luật này, căn cứ để tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất. Thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

     

     

    Thu nhập chịu thuế = chưa trừ chuyển lỗ

    Doanh thu để tính thu nhập – chịu thuế trong kỳ tính thuế

    Chi phí hợp lý trong     +        Thu nhập chịu thuế

    kỳ tính thuế                            khác trong kỳ tính thuế

     

     

    Thu  nhập  chịu  thuế  đã  trừ =       Thu nhập chịu thuế         chưa trừ –       Lỗ từ các năm trước chuyển sang

    chuyển lỗ                                              chuyển lỗ

     

     

    Như vậy có thể thấy rằng Luật thuế TNDN năm 2003 chỉ đưa ra khái niệm thu nhập chịu thuế và vì vậy giữa thuế và kế toán là đồng nhất với nhau trong vấn đề xác định nghĩa vụ về thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước (cả kế toán và thuế đều căn cứ vào thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập

    hiện hành và thuế TNDN phải nộp). Đến năm 2008, khi Luật thuế TNDN mới ra đời thay thế cho Luật thuế TNDN năm 2003 thì đã có sự thay đổi về các khái niệm làm căn cứ tính thuế. Theo đó Luật thuế năm 2008 có sự phân biệt khá rạch ròi giữa khái niệm thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế, theo

     

     

    48

     

    Một số vấn đề ….

     

    đó, thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế điều chỉnh cho các khoản thu nhập miễn thuế và lỗ từ các năm trước chuyển qua và là căn cứ để xác định nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp đối với Nhà nước. Trong khi đó, quy định của kế toán thì vẫn không có sự chỉnh sửa về thuật ngữ cho phù hợp với sự thay đổi của thuế và đây chính là nguyên nhân làm cho thuế và kế toán lệch nhau trong vấn đề xác định nghĩa vụ thuế TNDN của các doanh nghiệp đối với Nhà nước. Vì vậy chúng tôi kiến nghị như sau:

     

    • Quy định kế toán liên quan đến thuế TNDN cần phải có sự điều chỉnh về căn cứ

    tính thuế nhằm đảm bảo số thuế thu nhập danh nghiệp mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước được khớp đúng với số thuế TNDN phải nộp trên báo cáo thuế. Theo đó, quy định của kế toán cần thay đổi thuật ngữ “thu nhập chịu thuế” thành “thu nhập tính thuế”.

     

    • Các quy định của thuế, nhất là về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng thường xuyên được thay đổi và sự thay đổi này thường ảnh hưởng đến việc tính toán và ghi chép của kế toán, vì vậy những văn bản của kế toán có liên quan cũng cần phải có sự rà soát, chỉnh sửa kịp thời cho phù hợp.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Tài chính (2012), TT 123/2012/TT-BTC: hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
    • Bộ Tài chính (2005), QĐ 12/2005/QĐ-BTC: về việc ban hành và công bố 6 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 4.
    • Bộ Tài chính (2006), TT 20/2006/TT-BTC: hướng dẫn kế toán 6 chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
    • Phạm Quốc Thuần (2009), Kế toán thuế, NXB Đại Học Quốc Gia TPHCM, 2009.

     

     

     

     

     

    49


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-%C4%90%E1%BA%BEN-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-CH%E1%BA%A4P-H%C3%80NH-PH%C3%81P-LU%E1%BA%ACT-THU%E1%BA%BE-C%E1%BB%A6A-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-N%E1%BB%98P-THU%E1%BA%BE-T%E1%BA%A0I-C%E1%BB%A4C-THU%E1%BA%BE-TP.HCM_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    Kinh tế

     

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

     

    (ANALYSIS OF FACTORS AFFECTING THE SENSE OF EXECUTIVE LEGAL DUTY OF TAXATION TAXPAYERS IN HCM CITY)

     

    Tôn hất Viên(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế tại Cục Thuế TP.HCM. Số liệu trong nghiên cứu ch́nh thức này được thực hiện bằng bảng câu h̉i khảo sát, m̃u được cḥn bằng phương pháp cḥn m̃u thuận tiện v́i c̃ m̃u là 276 đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM. Dựa trên phương pháp độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân t́ch nhân tố khám phá EFA đ̉ đo lừng sự hội tụ c̉a các biến. Phân t́ch h̀i quy đ̉ kỉm định giả thuyết nghiên cứu và mô h̀nh nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế là: Tuân th̉ thuế, Công tác kỉm tra thuế, Nhận thức về công bằng, Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế, Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế, Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội, T̀nh trạng tài ch́nh c̉a đối tượng nộp thuế, Vấn đề thuế suất. Dựa vào phương tr̀nh h̀i quy cho thấy, tám biến đưa vào mô h̀nh đều có tương quan thuận v́i hiệu quả c̉a công tác chấp hành luật thuế và ảnh hưởng như nhau. Bài viết cũng đ̀ng th̀i thảo luận những kết quả nghiên cứu ch́nh và đề xuất các giải pháp đ̉ nâng cao ý thức chất hành pháp luật thuế c̉a đối tượng nộp thuế.

     

    Từ khóa: Chấp hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, Cục Thuế TP.HCM

     

    ABSTRACT

     

    The study was conducted to determine the factors affecting the sense of observance of tax legislation in HCMC Tax Department. Data in the oficial study was performed in questionnaire survey, the sample was selected by convenience sampling method with a sample size of 276 taxpayers in the Tax Department. HCM. Based on the method of Cronbach’s Alpha reliability and ANALYSIS EFA EXPLORE FACTOR to measure the convergence of the variables. Regression analysis is meand for testing hypotheses and research model. The study results showed that the factors affecting the sense of observance of tax legislation: Tax Compliance, Tax Inspection, Perceptions of fairness, Operational eficiency of the tax authorities, Knowledge of the taxpayer’s tax, penalties and Awareness of crime, inancial status of the taxpayer, the tax issue. Based on the regression equation shows, the eight variables included in the model are positively correlated with the effectiveness of law enforcement activities at the same level. The article also discusses the main indings and propose solutions to raise awareness of the tax legislation of the taxpayer.

     

    Keywords: law observation, inspector, examination, HCMC tax department

     

     

    • GV. Trừng Đại ḥc Kinh tế – Kỹ thuật B̀nh Dương

     

     

    1

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Những nghiên cứu hiện nay tập trung vào hướng mới là phù hợp và sự thích nghi của quản lý thu thuế đối với sự thay đổi của đối tượng nộp thuế (ĐTNT). Các nghiên cứu theo hướng này tập trung làm rõ tại sao? và làm thế nào ? để ĐTNT chấp hành pháp luật thuế, với hai cách tiếp cận khác nhau. Hướng thứ nhất, một số nghiên cứu tập trung làm rõ tại sao đối tượng lại trốn thuế và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp hành pháp luật thuế (Alm, J., & McClelland, G. H., Schulze (1992)). Hướng nghiên cứu thứ hai, một số tác giả cho rằng theo chuẩn mực truyền thống thì đối tượng nên chấp hành hơn là không chấp hành pháp luật thuế và vì vậy một hệ thống thuế có hiệu lực phải đạt được sự vui lòng hợp tác của đa số những người nộp thuế. Cơ quan thuế sẽ có lợi hơn khi giúp đỡ đối tượng chấp hành pháp luật, đáp ứng những nhu cầu của họ, tạo điều kiện cho họ chấp hành pháp luật nghĩa vụ thuế hơn là tiêu tốn quá nhiều nguồn lực vào thiểu số những đối tượng trốn thuế. Do đó, hệ thống tự khai tự nộp (TKTN) là sự ngụ ý cho việc đảm bảo và tăng cường sự chấp hành pháp luật thuế. Cục Thuế TP.HCM hơn mười năm thực hiện công cuộc cải cách hành chính thuế theo lộ trình được đề ra một cách cụ thể, khoa học và hiện nay vẫn tiếp tục thực hiện. Thực tế cho thấy ngành thuế đã có những bước tiến dài và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện đại trên thế giới, đáp ứng được theo sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế đất nước trong từng giai đoạn.

     

    Hiện nay, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp (DN) ở các nước đang phát triển, đang đối mặt với nhiều thách thức khác nhau tạo ra sức ép ngày càng tăng đối với nhiệm vụ thu thuế của nhà nước. Một trong những thách thức lớn,

     

    đó là sự đa dạng hành vi chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế. Phức tạp hơn, khi hành vi chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế lại chịu ảnh hưởng của nhiều biến số khác nhau. Những yếu tố này tạo ra bài toán lớn đối với cơ quan thuế trong việc đảm bảo sự chấp hành pháp luật thuế của của đối tượng nộp thuế. Do vậy, tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế là khâu đột phá của toàn bộ lộ trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế hiện nay. Công tác này có tầm quan trọng đặc biệt, không những nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và tính tự giác chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của ngành, mà còn tạo mối quan hệ gắn kết giữa cơ quan thuế và ĐTNT. Từ đó, việc tăng cường công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế cũng như làm tốt công tác hỗ trợ ĐTNT đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT; từng bước giảm dần các sai sót và vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách thuế của đối tượng nộp thuế; quan hệ giữa cơ quan thuế, công chức thuế và ĐTNT ngày càng thân thiện và là người bạn đồng hành trong việc thực thi các chính sách, pháp luật thuế.

     

    Tuy nhiên, sự đổi mới nói trên không thể đảm bảo rằng cơ quan quản lý thuế có thể đạt được sự chấp hành pháp luật tự nguyện, đầy đủ của hầu hết các ĐTNT, đảm bảo nguồn thu tiềm năng cho ngân sách nhà nước (NSNN). Trong bối cảnh hành vi và đặc điểm của ĐTNT ngày càng phức tạp như ở TP. HCM, quản lý thu thuế cần phải đạt được mục tiêu chấp hành pháp luật cao nhất đặc biệt là sự chấp hành pháp luật tự nguyện của ĐTNT. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi quản lý thu thuế ở các thành phố lớn như TP. HCM có sự đổi mới hoàn toàn về quan điểm, chiến lược, chính sách quản lý thu thuế đối với ĐTNT.

     

     

    2

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

    • Cơ sở lý thuyết

    2.1.1. Khái niệm nộp thuế

     

    Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN). Các tác giả ở Học Viện Tài chính viết: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” (Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007)). Do vậy, nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của DN. Tính tất yếu này xuất phát từ một số cơ sở như sau:

     

    • Thuế là khoản chi phí mà DN phải trả cho việc sử dụng các tài sản quốc gia như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, hệ thống thông tin.v.v.). Vì vậy, DN phải có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập cho Nhà Nước để duy trì và phát triển tài sản quốc gia mà họ sử dụng.

     

    • Thuế thu từ DN là khoản thu chủ yếu của NSNN nhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu phát triển kinh tế xã hội như chi tiêu cho các hoạt động cung ứng các dịch vụ công, chi cho điều tiết kinh tế vĩ mô.v.v. Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thu thuế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho xã hội, đặc biệt ở những nước mà NSNN chủ yếu dựa vào nguồn thu nội bộ. Thuế tồn tại trong môi trường chính trị kinh tế và xã hội, vì vậy nếu các DN chấp hành pháp luật thuế đầy đủ thì đó chính là tín hiệu tích cực và có lợi đối với NSNN.

     

    • Nộp thuế của DN đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được các mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự

    cân đối trong nền kinh tế và thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước. Mặt khác, nghĩa vụ nộp thuế của DN là tất yếu bởi đây là công cụ mà Nhà nước sử dụng để phân phối, điều hoà thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng.

     

    • Nộp thuế của DN sẽ đảm bảo tính công bằng trong chấp hành pháp luật thuế giữa các DN ở các thành phần kinh tế, ở các ngành kinh tế và ở các loại hình quy mô khác nhau. Việc chấp hành nghĩa vụ thuế của một DN sẽ ảnh hưởng tích cực đến các DN khác và tăng cường sự nhận thức công bằng trong cộng đồng DN, kích thích sự chấp hành pháp luật thuế của đại bộ phận các DN còn lại, đặc biệt là các đối tượng hoạt động trong khu vực phi chính thức và các DN đang khai thác các hình thức tránh thuế. Xét theo ảnh hưởng tâm lý hành vi, việc nhận thức được nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu sẽ tạo môi trường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hoá sự miễn cưỡng đối đầu cao của các DN, kích thích sự chấp hành pháp luật thuế tiềm năng.

    Tóm lại, nộp thuế phải được các DN nhận thức là một nghĩa vụ tất yếu. Quản lý thu thuế của Nhà nước quan trọng nhất là phải làm cho các DN nhận thức được điều này, đó là cơ sở của sự chấp hành pháp luật thuế một cách đầy đủ và kịp thời.

     

    2.1.2. Chấp hành pháp luật thuế

     

    “Chấp hành pháp luật thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đối tượng chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế” (James, S., Alley, C. (1999)). Theo cơ quan thuế Australia (ATO), “chấp hành pháp luật thuế là việc DN đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và theo các quyết định của toà án” (Cash Economy Task Force (1998)), Mc Barnet nghiên cứu rằng dựa vào mục đích và lợi ích của mình, DN có thể lựa chọn một trong 4 phương án sau (1) chấp hành pháp thuế (2) thoả

     

     

    3

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    hiệp bằng việc thương lượng cách mà luật thuế cụ thể nào đó hoạt động trong những hoàn cảnh nhất định và chấp hành pháp luật thuế mà các mục tiêu được tuyên bố của luật có thể không thực hiện được (3) chuyển đổi các quyết định luật theo cách cụ thể, tạo điều kiện tích cực cho việc trốn thuế (4) phá vỡ hoặc không chấp hành pháp luật luật với hy vọng không bị phát hiện bằng cách thiết lập hệ thống kế toán để che dấu bất kỳ sự kiểm tra nào (Kirchker, E., Macielovsky, B., Schneider, F. (2001)). Theo Mc Barnet, các DN lớn có xu hướng là có học” trong việc lựa chọn sự chấp hành pháp luật thuế, họ có xu hướng chọn cách trốn thuế theo phương án thứ hai và thứ ba, còn DN nhỏ lựa chọn phương án trốn thuế theo cách thứ tư.

     

    Do vậy, chấp hành pháp luật thuế nghĩa là chấp hành mục đích của luật trong khi đảm bảo tăng cường tính chắc chắn mà mục đích đó có thể được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, khái niệm chấp hành pháp luật thuế vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế. Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện chấp hành pháp luật thuế, và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận cưỡng chế chấp hành pháp luật thuế và cách tiếp cận kinh tế tập trung làm giảm mức độ trốn thuế chứ không hướng vào việc tăng cường sự chấp hành pháp luật thuế. Nghiên cứu khái niệm chấp hành pháp luật thuế thông qua việc tập trung vào sự không chấp hành pháp luật thuế và tính cưỡng chế chấp hành pháp luật thuế là quá đơn giản hoá.

     

    Quan điểm nghiên cứu hiện nay chuyển sang xem xét tính tự nguyện của việc chấp hành nghĩa vụ thuế. Bergman (1998) gợi ý rằng sự chấp hành pháp luật thuế được đo bằng số thu

     

    mà cơ quan thuế giả định dựa theo luật thuế do DN thanh toán cho NSNN. Tuy nhiên, phạm vi mà DN phản đối các luật thuế lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự vui lòng chấp hành pháp luật thuế. Vì vậy, các tác giả như Andrreoni J., Erard B. bắt đầu xem xét đến tính tự nguyện của sự chấp hành pháp luật thuế (Andrreoni J., Erard B.(1998)). Tính tự nguyện sau đó đã được một số cơ quan thuế như cơ quan thu nội địa Hoa Kỳ (IRS) xem xét đến trong các định nghĩa về khoảng cách thuế. Theo đó, chấp hành pháp luật thuế được định nghĩa là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ và tự nguyện. Nếu DN chấp hành pháp luật thuế chỉ bởi vì sự đe doạ và trừng phạt thì đó dường như không phải là sự chấp hành pháp luật thuế đúng nghĩa ngay cả khi 100% dự toán thuế được hoàn thành. Quản lý thu thuế thành công là hầu hết đối tượng chấp hành pháp luật thuế một cách tự nguyện mà ít cần đến sự chất vấn, điều tra, nhắc nhở hoặc đe doạ và các hành vi xử phạt hành chính khác. Khía cạnh “tự nguyện” trong định nghĩa trên đây rất quan trọng, giúp các cơ quan thuế phân biệt giữa khái niệm chấp hành pháp luật thuế mà ít cần hoạt động cưỡng chế trực tiếp và khái niệm chấp hành pháp luật thuế là kết quả của sự cưỡng chế.

     

    Theo đó, cần phát triển khái niệm này và đưa yếu tố thời gian vào như là một tiêu chí thể hiện sự chấp hành pháp luật thuế tự nguyện. Một DN cuối cùng cũng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhưng nếu nghĩa vụ thuế đó được thanh toán muộn thì cũng không phải sự chấp hành pháp luật thuế hoàn toàn. Hơn nữa, nếu lãi suất nộp muộn bị tính thì khoản thu đó cũng không phải là sự chấp hành pháp luật thuế hoàn toàn tự nguyện. Từ đó có thể định nghĩa sự chấp hành pháp luật thuế của DN là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian. Như vậy khái niệm chấp hành pháp luật thuế

     

     

    4

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    trên được đo bằng 3 yếu tố (1) tính đầy đủ, (2) tính tự nguyện và (3) yếu tố thời gian.

     

    Tuy nhiên để đạt được 3 tiêu chí trên, quản lý thu thuế của nhà nước cần xem xét sự chấp hành pháp luật thuế dự tính và sự không chấp hành pháp luật thuế không dự tính. Nhiều khi DN tự nguyện có thể không đáp ứng nghĩa vụ thuế một cách không tính toán bởi vì họ không

     

    thể hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc họ không nhận thức được hoặc hiểu sai về luật hay do những lý do tương tự. Những nỗ lực của các cơ quan thuế để cải thiện quản lý thu thuế

     

    • khía cạnh này là tìm ra các giải pháp giúp đỡ ĐTNT để họ không rơi vào tình trạng không chấp hành pháp luật thuế không dự tính.

     

     

    Bảng 2.1. Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về chấp hành pháp luật thuế theo đề nghị c̉a James và Alley (2004).

     

    Bảng 2.1: Các cách tiếp cận chấp hành pháp luật thuế

     

    Chấp hành

           

    pháp luật

    Cách tiếp cận kinh tế

     

    Cách tiếp cận hành vi

     

    thuế

           
             

    Góc độ

    Chấp hành pháp luật 100% quy định về

    Tự

    nguyện, sẵn sàng hành động

     

    thuế so với thực tế, xét trên góc độ hẹp.

    theo tinh thần và từng quy định của

     

    tiếp cận

     

    luật thuế, xét trên góc độ rộng hơn

     
       
           

    Quyết  định  chấp

    Dựa trên sự hợp lý về lợi ích kinh tế

    Dựa trên hành vi hợp tác giữa

     

    hành pháp luật

     

    người nộp thuế và cơ quan thuế

     
       

    Mỗi cá nhân không chỉ đơn thuần

     
     

    Cân nhắc lựa chọn:

    là một cá thể độc lập chỉ biết tối đa

     

    Mức độ chi tiết

    1. Lợi ích mong đợi từ từ việc trốn thuế

    hoá lợi ích cá nhân. Họ tương tác

     

    2. Rủi ro bị phát hiện và mức bị phạt

    theo thái độ, niềm tin tiêu chuẩn và

     
     
     

    3. Tối đa hóa thu nhập và của cải cá nhân

    vai trò khác nhau.Thành công dựa

     
       

    trên sự hợp tác

     
           

    Chấp hành pháp

    Hiệu quả trong việc phân phối nguồn lực

    Hợp lý, công bằng và phạm vi tác

     

    luật thuế

    Hình ảnh người nộp thuế  ích  kỷ  tính

    động

    tích cực “Công dân tốt”

     
     

    toán lợi ích và thiệt hại bằng tiền

         
             

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Trong phạm vi đề tài này, tập trung chủ yếu là để khai thác thêm về cách tiếp cận thứ hai với khía cạnh hành vi được nhấn mạnh hơn so với cách tiếp cận hợp lý về kinh tế. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã nỗ lực để định nghĩa chấp hành pháp luật thuế, dựa trên mục đích của nghiên cứu này (phù hợp với định nghĩa của

    Nguồn: James và Alley (2004), trang 33.

     

    IRS (2009), ATO (2009) và IRB (2009); ALM (1991); Jackson và Milliron (1986); Kirchler

     

    (2007), khái niệm chấp hành pháp luật thuế được đo lường qua việc đánh giá sự sẵn lòng của người nộp thuế để tuân theo luật thuế, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn.

     

     

    5

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH

    Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT. Trong nghiên cứu chính thức này được thực hiện bằng bảng câu hỏi khảo sát, mẫu được chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là 276 đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM theo phương pháp độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để đo lường sự hội tụ của các biến và phân tích hồi quy để kiểm định giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Từ cơ sở các lý thuyết, học thuyết và các nghiên cứu có liên quan, đề tài nghiên

     

    cứu kế thừa mô hình nghiên cứu của Palil và Mustapha (2011), Võ Đức Chín (2011) và phát triển, tác giả xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính ban đầu với biến phụ thuộc là Ý thức chấp hành pháp luật thuế và các biến độc lập được lấy từ các yếu tố: (1) Tuân th̉ thuế (Nirmala, 2011), (2) Công tác kỉm tra thuế,

     

    • Nhận thức về công bằng, (4) Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế, (5) Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế, (6) Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội, (Palil and Mustapha, 2011),

     

    • T̀nh trạng tài ch́nh c̉a đối tượng nộp thuế (Evan, Carlon và Massey, 2005), (8) Vấn đề thuế suất, (Clotfelter, 1983). Từ đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề nghị (hình 3.1) phù hợp với tình hình, đối tượng tại TP. HCM.

     

     

     

     

     

    Hình 3.1: Mô h̀nh nghiên cứu tác giả đề nghị

     

     

     

     

    6

     

    Các yếu tố ảnh hưởng. . .

     

     

     

     

    Hình 3.2: Mô h̀nh nghiên cứu tác giả điều chỉnh

     

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

     

    Theo mô hình tác giả đề nghị, đã hình thành các nhân tố tác động đến ý thức chấp hành pháp luật thuế: H1: T́nh đơn giản c̉a việc kê khai thuế tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H2: Kỉm tra thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H3: T̀nh trạng tài ch́nh c̉a ngừi nộp thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H4: Nhận thức về t́nh công bằng c̉a thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H5: Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H6: Kiến thức thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H7: Nhận thức về h̀nh phạt có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H8: Thuế suất tác động ngược chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

     

    Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng mô hình lý thuyết nghiên cứu được chấp nhận là H1, H2, H3, H4, H5, H7 và H8. Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết được minh họa qua hình 3.2 được trình bày nêu trên.

    4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Các thang đo được đánh giá độ tin cậy qua hệ số Cronbach’s Alpha. Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các biến quan sát trong thang đo tương quan với nhau, nghĩa là nó cho chúng ta biết một thang đo nào đó có phải là thang đo tốt về một phía cạnh nào đó hay không. Công cụ này cũng giúp loại đi những biến quan sát và những thang đo không phù hợp vì nếu không chúng ta không thể biết được độ biến thiên cũng như độ lỗi của các biến. Các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và thang đo được chấp nhận khi hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha từ 0.6 trở lên (Nunnally & Burnstein (1994).

     

    Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (phụ lục 4) cho thấy biến KKHAI4 “Hoạt động quản lý thu thuế c̉a Nhà nức đối v́i doanh nghiệp tốt ngừi nộp thuế càng ý thức chấp hành pháp luật thuế” bị loại vì hệ số tương quan biến tổng <0.3. Kết quả chỉ còn 32 biến còn lại đều có tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và các hệ số Cronbach Alpha đều lớn hơn 0,6 được sử dụng cho phân tích nhân tố (EFA) tiếp theo.

     

     

    7

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.1: Kết quả kỉm định Cronbach’s Alpha trức khi phân t́ch EFA

     

         

    Cronbach’s

    Hệ số tương

    STT

    Thang đo

    Số biến

    quan giữa biến

       

    quan sát

    Alpha

    tổng nhỏ nhất

         
             

    1

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

    0.402

             

    2

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

    0.759

             

    3

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

    0.349

             

    4

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

    0.443

             

    5

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế(CQT)

    5

    0.905

    0.636

             

    6

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

    0.650

             

    7

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

    0.744

             

    8

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

    0.573

             
     

    Tổng

    32

       
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    Sau khi phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha, các thang đo được đánh giá tiếp theo bằng phương pháp EFA. Thông qua việc phân tích nhân tố EFA ở bước tiếp theo, sẽ cho thấy được cụ thể hơn các thang đo trên có tách thành những nhân tố mới hay bị loại bỏ ra hay không. Điều này sẽ đánh giá chính xác hơn thang đo, đồng thời loại bỏ bớt các biến đo lường không đạt yêu cầu, mục đích làm cho các thang đo đảm bảo tính đồng nhất. Một số tiêu chuẩn mà các nhà nghiên cứu thường quan tâm trong phân tích nhân tố khám phá (EFA) như sau:

     

    Hệ số KMO (Kaiser-Mayer-Olkin) ≥ 0.5 và mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett ≤ 0.05. KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của EFA, phân tích nhân tố khám phá (EFA) thích hợp khi 0.5 ≤ KMO ≤ 1. Hệ số tải nhân tố (Factor loading) là hệ số tương quan đơn giữa các yếu tố thành phần và các nhân tố. Hệ số tải nhân tố > 0.3 được xem là đạt mức tối thiểu, Hệ số tải nhân tố > 0.4 được xem là quan trọng và ≥ 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn. Tác giả sử

    dụng phương pháp trích Principal Component Analysis với phép quay Varimax và điểm dừng khi trích các nhân tố có eigenvalue > 1.

     

    • Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy 32 biến quan sát trong 8 thành phần của thang đo các yếu tố các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công việc vẫn được rút trích thành 8 thành phần. Hệ số KMO = 0.839 nên EFA phù hợp với dữ liệu và thống kê Chi-quare của kiểm định Bartlett đạt giá trị 7150.203 với mức ý nghĩa Sig
    • 000; do vậy các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Phương sai trích được là 74.126% thể hiện rằng 8 nhân tố rút ra được giải thích 74.126% biến thiên của dữ liệu, tại hệ số eigenvalue bằng 1.016.

     

    Như vậy, thang đo các yếu tố ảnh hưởng kết quả công việc từ 8 thành phần nguyên gốc (33 biến quan sát) sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA thì vẫn được giữ nguyên 8 thành phần với 32 biến quan sát, các nhân tố trích ra đều đạt độ tin cậy và độ giá trị.

     

     

    8

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    Bảng 4.2: Kết quả phân t́ch nhân tố khám phá (EFA)

     

         

    HỆ SỐ TẢI NHÂN TỐ

       
     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    CQT1

    .842

                 
                     

    CQT2

    .837

                 
                     

    CQT3

    .756

                 
                     

    CQT4

    .701

                 
                     

    CQT5

    .822

                 
                     

    TCB1

     

    .838

               
                     

    TCB2

     

    .671

               
                     

    TCB3

     

    .818

               
                     

    TCB4

     

    .847

               
                     

    TC1

       

    .812

             
                     

    TC2

       

    .811

             
                     

    TC3

       

    .849

             
                     

    TC4

       

    .820

             
                     

    KTRA1

         

    .838

           
                     

    KTRA2

         

    .837

           
                     

    KTRA3

         

    .691

           
                     

    KTRA4

         

    .696

           
                     

    KTT1

           

    .924

         
                     

    KTT2

           

    .853

         
                     

    KTT3

           

    .906

         
                     

    KTT4

           

    .516

         
                     

    HP1

             

    .717

       
                     

    HP2

             

    .667

       
                     

    HP3

             

    .745

       
                     

    HP4

             

    .805

       
                     

    TS1

               

    .795

     
                     

    TS2

               

    .824

     
                     

    TS3

               

    .776

     
                     

    TS4

               

    .598

     
                     

    KKHAI1

                 

    .816

                     

    KKHAI2

                 

    .711

                     

    KKHAI3

                 

    .607

                     

    Giá trị riêng

    9.340

    3.199

    2.736

    2.336

    2.115

    1.623

    1.312

    1.018

    Phương sai trích %

    12.657

    10.323

    10.165

    9.420

    8.497

    8.429

    7.570

    6.646

    Độ tin cậy

    0.905

    0.908

    0.919

    0.917

    0.814

    0.815

    0.759

    0.662

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Sau khi phân tích EFA, các thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công việc có biến quan sát bị EFA loại, từ 33 còn 32 biến quan sát, hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo đó được tính lại, kết quả cũng đạt được yêu cầu về độ tin cậy. Do vậy, các thang đo đã phân tích là chấp nhận được.

     

     

    9

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.3: Kết quả kỉm định Cronbach’s Alpha sau khi phân t́ch EFA

     

       

    Số biến

    Cronbach’s

    Hệ số tương

    STT

    Thang đo

    quan giữa biến

       

    quan sát

    Alpha

    tổng nhỏ nhất

           
             

    1

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

    0.402

             

    2

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

    0.759

             

    3

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

    0.349

             

    4

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

    0.443

             

    5

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

    5

    0.905

    0.636

             

    6

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

    0.650

             

    7

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

    0.744

             

    8

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

    0.573

             
     

    Tổng

    32

       
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Với kết quả EFA, 4 biến thành phần được rút trích thành 1 nhân tố và hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5 nên các biến này đều có ý nghĩa thực tiễn. Hệ số KMO = 0.585 nên EFA phù hợp với dữ liệu phân tích. Thống kê Chi-Square của kiểm định Bartlett’s đạt giá trị 441.202 với mức ý nghĩa 0.000, tại hệ số eigenvalue bằng 2.424, vì thế các biến quan sát có tương quan với nhau. Phương sai trích đạt 60.594% thể hiện rằng 1 nhân tố rút ra giải thích được 60.594% biến thiên của dữ liệu. Cùng với hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha bằng 0.758 thì thang đo kết quả công việc đạt yêu cầu.

     

    Bảng 4.4: Kết quả EFA cho thang đo Ý thức chấp hành pháp luật thuế

     

    Biến quan sát

    Hệ số tải nhân tố

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 1

    .936

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 2

    .796

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 3

    .715

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 4

    .635

       

    Giá trị riêng

    2.424

       

    Phương sai trích %

    60.594

       

    Độ tin cậy

    0.758

       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    10

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    Bảng 4.5: Tóm tắt kết quả kỉm định thang đo

     

    Thành phần

    Số biến

    Độ tin cậy

    Phương

    Đánh

     

    sai trích

    quan sát

    Alpha

    giá

     
     

    (%)

             
               

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

         

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

         

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

         

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

         

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

    5

    0.905

    74.126

    Đạt yêu

     

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

     

    cầu

     
           
               

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

         

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

         

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT)

    4

    0.758

    60.594

       

    Tổng

    36

           

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Với kết quả chạy SPSS cho ra hệ số tương quan tuyến tính giữa các biến, hầu hết các biến đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

     

    Bảng 4.6: Ma trận hệ số tương quan

     

       

    KKHAI

    KTRA

    TC

     

    TCB

    CQT

    KTT

    HP

    TS

    CHLT

                           

    KKHAI

    Tương quan

    1

                     

    Pearson

                     

    KTRA

    Tương quan

    .509**

    1

                   
     

    Pearson

                       

    TC

    Tương quan

    .375**

    .438**

    1

                 
     

    Pearson

                       

    TCB

    Tương quan

    .238**

    .362**

    .423**

     

    1

    **

           
     

    Pearson

                       

    CQT

    Tương quan

    .304**

    .559**

    .397**

     

    .419**

    1

           
     

    Pearson

                       

    KTT

    Tương quan

    .150*

    .315**

    .078

     

    .199**

    .206**

    1

         
     

    Pearson

                       

    HP

    Tương quan

    .252**

    .246**

    .343**

     

    .572**

    .304**

    .138*

    1

       
     

    Pearson

                       

    TS

    Tương quan

    .159**

    .169**

    .187**

     

    .191**

    .181**

    -.019

    .217**

    1

     
     

    Pearson

                       

    CHLT

    Tương quan

    .534**

    .597**

    .655**

     

    .556**

    .538**

    .238**

    .491**

    .125*

    1

     

    Pearson

                       

    *. Tương quan ý có nghĩa 0.05 level (2-tailed).

               

    **. Tương quan có ý nghĩa 0.01 level (2-tailed).

               
                         
       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    11

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Kết quả bảng hệ số tương quan bảng 4.6 cho thấy biến phụ thuộc có mối tương quan tuyến tính với 8 biến độc lập, Tác giả sẽ xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập này thông qua kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bên dưới.

     

    Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy hệ số xác định R² là 0.675 và R² điều chỉnh là 0.665. Mô hình này giải thích được 67.5% sự thay đổi của biến phụ thuộc ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT) là do các biến độc lập trong mô hình tạo ra, còn lại 32.5% biến thiên được giải thích bởi các biến khác ngoài mô hình. Mô hình cho thấy có 6 biến độc lập đều ảnh hưởng thuận chiều, 01 biến nghịch chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ở độ tin cậy 95% và 01 biến không có ý nghĩa thống kê Điều này có nghĩa là các thành phần càng thuận chiều thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT càng tốt.

     

    Bảng 4.7: Mô h̀nh đầy đ̉

     

               

    Sai số

     

    Thống kê thay đổi

       
                         

    Hệ số

                         
     

         

    R2 điều

    chuẩn

    R2

         

    Sig. F

     

    R

    R2

     

    F thay

       

    Durbin-

     

    hình

     

    chỉnh

    của ước

       
           

    thay

    df1

    df2

    thay

    Watson

               

    lượng

    đổi

               

    đổi

       

    đổi

     
                         
                             

    1

     

    .821a

    .675

     

    .665

    .26989

    .675

    69.188

    8

    267

    .000

    1.007

                         

    a. Biến độc lập: TS, KTT, TC, HP, KKHAI, CQT, TCB, KTRA

           

    b. Biến phụ thuộc: CHLT

                   
                             
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

    Trị số thống kê F đạt giá trị 69.188 được tính từ giá trị R2 của mô hình đầy đủ, tại mức ý nghĩa Sig = 0.000; kiểm tra hiện tượng tương quan bằng hệ số Durbin–Watson (1< 1.008 < 3). Như vậy, mô hình hồi quy tuyến tính đưa ra là phù hợp với mô hình và dữ liệu nghiên cứu. Kết quả phân tích hồi quy phương trình được trình bày trong bảng 4.7 và 4.8.

     

    Bảng 4.8: Phân t́ch ANOVA

     

     

    Mô hình

    Tổng các

    Bậc tự

    Bình quân

    Giá trị

    Giá trị Sig.

     

    bình phương

    do(df)

    độ lệch

    F

         
                 

    1

    Hồi quy

    40.317

    8

    5.040

    69.188

    .000b

                 

    2

    Số dư

    19.448

    267

    .073

       
                 

    3

    Tổng

    59.764

    275

         
                 

    a. Biến độc lập: TS, KTT, TC, HP, KKHAI, CQT, TCB, KTRA

       

    b. Biến phụ thuộc: CHLT

           
         
       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    12

     

                 

    Các yếu tố ảnh hưởng. . .

                     
     

    Bảng 4.9: Các thông số c̉a từng biến trong phương tr̀nh h̀i quy

     
                       

     

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số

           

    Nhân tố

    chuẩn

    Giá trị

     

    Đa cộng tuyến

    hình

    hoá

     

    Giá trị

       

    hoá

       
               

    Sig.

       
               

    t

       
       

    B

     

    Sai số

    Beta

     

    Độ chấp

    VIF

             
         

    chuẩn

       

    nhận

                   
                       
     

    (hằng số)

    .353

     

    .189

     

    1.866

    .063

       
                       
     

    KKT

    .032

     

    .026

    .045

    1.210

    .227

    .873

    1.145

                       
     

    KKHAI

    .200

     

    .040

    .208

    4.980

    .000

    .700

    1.428

                       

    1

    KTRA

    .129

     

    .037

    .170

    3.455

    .001

    .506

    1.976

                     

    TC

    .280

     

    .035

    .338

    7.961

    .000

    .675

    1.482

       
                       
     

    TCB

    .127

     

    .036

    .161

    3.476

    .001

    .568

    1.760

                       
     

    CQT

    .117

     

    .038

    .137

    3.091

    .002

    .619

    1.616

                       
     

    HP

    .133

     

    .036

    .159

    3.644

    .000

    .639

    1.564

                       
     

    TS

    -.079

     

    .032

    -.089

    -2.455

    .015

    .919

    1.088

    a.  Biến phụ thuộc: CHLT

               
                       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Từ bảng 4.9 cho thấy trong 8 yếu tố có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế có tác động thuận chiều (hệ số β dương) và 01 yếu tố thuế suất (TS) có tác động ngược chiều (hệ số β âm), đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT với mức ý nghĩa Sig = 0.000 đến 0.015 ở tất cả các biến. Riêng yếu tố Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT) có hệ số β = 0.045 với Sig = 0.227 > 0.05 nên không có ý nghĩa thống kê. Bảng 4.9 cũng cho thấy dung sai các biến (độ chấp nhận) khá cao từ 0.506 trở lên và hệ số VIF của cả 7 nhân tố nhỏ hơn 10, nghĩa là không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các yếu tố độc lập trong mô hình.

     

    Phương trình hồi quy đối với các biến có hệ số chuẩn hoá có dạng như sau:

    0.89X8 +ɛ1

     

    F1= 0.208 X1 + 0.170X2          + 0.338X3 + 0.161X4 + 0.137X5 + 0.045X6 + 0.159X7

     

    Trong đó:   F: Ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT)

     

    X1: Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

     

    X2: Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

     

    X3: Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

     

    X4: Nhận thức về tính công bằng (TCB)

     

    X5: Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

     

    X6: Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

     

    X7: Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

     

    X8: Vấn đề thuế suất (TS)

     

    Mô hình nghiên cứu tác giả điều chỉnh cho ta kết quả bảng 4.10 sau:

     

     

    13

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.10: Bảng tổng hợp kết quả kỉm định giả thuyết

     

     

    Giả thuyết

    Kết quả kiểm định

     
           

    H1

    T́nh đơn giản c̉a việc kê khai thuế tác động cùng chiều đến ý

    Chấp nhận

     

    thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H2

    Công tác kỉm tra thuế có tác động cùng chiều đến ý thức chấp

    Chấp nhận

     

    hành pháp luật thuế.

         
           

    H3

    T̀nh trạng tài ch́nh c̉a ĐTNT nộp thuế có tác động cùng chiều

    Chấp nhận

     

    đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H4

    Nhận thức về t́nh công bằngcó tác động cùng chiều đến ý thức

    Chấp nhận

     

    chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H5

    Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế có tác động cùng chiều

    Chấp nhận

     

    đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H6

    Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế có tác động cùng chiều đến

    Không chấp nhận

     

    ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H7

    Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội có tác động cùng chiều đến

    Chấp nhận

     

    ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H8

    Vấn đề thuế suất có tác động ngược chiều đến ý thức chấp hành

    Chấp nhận

     

    pháp luật thuế.

         
           
     

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

     

     

    Kết quả cho thấy trong 8 yếu tố có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế có tác động thuận chiều (hệ số β dương) và 01 yếu tố thuế suất (TS) có tác động ngược chiều (hệ số β âm), đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT với mức ý nghĩa Sig = 0.000 đến 0.015 ở tất cả các biến. Riêng yếu tố Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT) có hệ số

     

    • = 0.045 với Sig = 0.227 > 0.05 nên không có ý nghĩa thống kê.

    Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy hệ số xác định R² là 0.675 và R² điều chỉnh là 0.665. Mô hình này giải thích được 67.5% sự thay đổi của biến phụ thuộc ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT) là do các biến độc lập trong mô hình tạo ra, còn lại 32.5% biến thiên được giải thích bởi các biến khác ngoài mô hình. Mô hình cho thấy có 6 biến độc lập đều ảnh hưởng thuận chiều, 01 biến nghịch chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ở độ tin cậy 95% và 01 biến

    không có ý nghĩa thống kê Điều này có nghĩa là các thành phần càng thuận chiều thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT càng tốt.

     

    Thái độ của người nộp thuế đối với từng nhân tố tác động đến việc chấp hành pháp luật thuế, với giá trị trung bình của các tiêu chí dao động trong khoảng giá trị từ 3.84 cho đến 3.86. Các biến có giá trị thấp nhất là KTT4, KTT3, KTT2 và KTT1 đều có giá trị lần lượt là 2.67, 3.28, 3.37. 3.37. Điều này có nghĩa là cũng có một bộ phận người nộp thuế cho rằng ý thức chấp hành pháp luật thuế không chịu tác động về việc họ càng được cập nhật kiến thức về thuế càng chấp hành pháp luật tốt hơn.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

     

    Hỗ trợ đối tượng nộp thuế tăng cừng ý

     

    thức chấp hành pháp luât thuế:

     

    • Không ngừng hoàn thiện chính sách thuế theo hướng rõ ràng, minh bạch, công khai và đầy đủ.

    14

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    • Xây dựng hình ảnh cơ quan thuế hướng đến khách hàng với chất lượng dịch vụ được nâng cấp.
    • Cải thiện và nâng cao giá trị sử dụng của trang thông tin điện tử Cục Thuế TP.HCM theo xu hướng phù hợp với yêu cầu của hệ thống thuế điện tử.
    • Tăng cường hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm tra thuế.
    • Tăng cường giáo dục kiến thức thuế nhằm cải thiện nhận thức của người nộp thuế.
    • Xây dựng văn hóa tự giác tuân thủ thuế một cách hiệu quả.
    • Tăng cường thiết lập một hệ thống hoạt động dựa trên cơ chế tiếp nhận thông tin và phản hồi, kết hợp với việc đánh giá các phản hồi
    • Xây dựng và không ngừng củng cố cơ sở dữ liệu thông tin tổng hợp về người nộp thuế.
    • Xem xét việc xây dựng chức năng cung ứng dịch vụ cho người nộp thuế.

    Hạn chế c̉a đề tài và hứng nghiên cứu tiếp theo:

     

    Tuy có những kết quả nghiên cứu đạt được, nhưng đề tài còn một số hạn chế trong quá trình thực hiện sau đây:

    • Nghiên cứu chỉ thực hiện được trên một bộ phận người nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM nên tính đại diện sẽ chưa cao, sẽ bao quát hơn

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Tài chính (2010), Quy trình quản lý thuế và Cơ chế tự khai tự nộp thuế theo Luật Quản lý thuế, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.

     

    • Ian Pretty (2011), Hiện đại hóa quản lý thuế nhìn từ cơ quan thuế Anh, Tạp chí Thuế nhà nước, Số 4 (314), kỳ 4/1/2011.

     

    • Lê Thị Xuân Nghi (2015), Các nhân tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Tài chính-Marketing.

    nếu lấy mẫu nhiều quận, huyện trong TP. HCM.

     

    • Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên cũng có thể hạn chế sự đa dạng trong các đối tượng được khảo sát. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính toàn diện của thông tin được thu thập.
    • Do đặc thù của công việc kê khai, kế toán thuế ở Việt Nam trong một số trường hợp, nhân viên kê khai, kế toán thuế không được toàn quyền thực hiện các công việc liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế theo quy định mà phải thực hiện theo chỉ đạo của chủ doanh nghiệp, công ty khi xác định tiền thuế phải nộp. Vì vây, mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với nhân viên kê khai, kế toán thuế ảnh hưởng như thế nào đến việc chấp hành pháp luật thuế của các công ty ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau, ở những quy mô khác nhau là hướng nghiên cứu có thể cần được khai thác ở những nghiên cứu tiếp theo.

     

    • Mối quan hệ giữa các ngành, các cấp chưa có sự phối hợp đồng thời và còn tuân thủ theo Luật NSNN có những quy định về thuế quá khắt khe trước xu thế hội nhập.

     

    • Tính nghiên cứu còn dựa trên phương pháp định lượng mà chưa kết hợp toàn diện ở phương pháp định tính, làm cho đề tài chưa được đa dạng, phong phú của các đối tượng thực thi công việc (người nộp thuế, công chức thuế…)./.

     

    • Ngân hàng thế giới (2011), Cải cách thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn, Ban quản lý kinh tế và xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.

     

    • Nguyễn Thị Bất, Vũ Duy Hào (2002), Giáo trình quản lý thuế, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007), Giáo trình thuế, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), Hoàn thiện

     

     

    15

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (Nghiên cứu tình huống của Hà Nội), Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội.

     

    • Võ Đức Chín (2011), Các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp – Trường hợp tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế TPHCM.

     

    • Vương Hoàng Long (2000), Hoàn thiện tổ

    chức bộ máy ngành thuế trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.

     

    • Tổng cục Thuế (2006), Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010.
    • Tổng cục Thuế – Tạp chí thuế nhà nước (năm

     

    2008), Quy trình kê khai, miễn giảm, hoàn, kiểm tra và quản lý nợ thuế (tập 1), NXB Tài chính.

     

     

     

     

     

     

     

    16


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

    Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

    Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-b%E1%BA%A3o-%C4%91%E1%BA%A3m-c%C3%B4ng-l%C3%AD-cho-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-khuy%E1%BA%BFt-t%E1%BA%ADt-v%E1%BB%81-tr%C3%AD-tu%E1%BB%87-trong-t%E1%BB%91-t%E1%BB%A5ng-h%C3%ACnh-s%E1%BB%B1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Review Article

     

    Ensuring Justice for People with Intellectual Disabilities in Criminal Procedure

     

    Vu Cong Giao1,*, Hoang Thi Bich Ngoc2

     

    1School of Law, Vietnam National University Hanoi, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2Hanoi University of Procuracy, Duong Noi Ward, Ha Dong District, Hanoi, Vietnam

     

    Received 17 April 2019

    Revised 21 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: This paper analyzes the conditions for guaranteeing justice for people with intellectual disabilities. The paper argues that justice is a highly generalized category, reflecting the combined value system, relating to social morality, politics, law and the operation of the state apparatus. A person who wants access to justice must understand and wholly apply such factors as the legal system and law enforcement institutions. Yet, people with intellectual disabilities are those with special cognitive disabilities, making it difficult for them to understand and apply the stated factors. This requires that, people with intellectual disabilities, in addition to their own efforts, need support from the state, society and family to ensure their access to justice. Access to justice is a very important right of people with disabilities. Thus, ensuring access to justice in criminal proceedings is to ensure the rights, benefits, and dignity of this vulnerable group of people in society.

     

    Keywords: Disable, intellectual disabilities, justice, criminal proceedings.

     

    *

     

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4193

    44

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật

    về trí tuệ trong tố tụng hình sự

     

    Vũ Công Giao1,*, Hoàng Thị Bích Ngọc2

     

    1Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Phường Dương Nội, Quận Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 17 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 21 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Bài viết phân tích những điều kiện bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự. Theo các tác giả, công lí là một phạm trù có tính khái quát cao, phản ánh hệ giá trị tổng hợp, liên quan đến đạo đức xã hội, nền chính trị, pháp luật và hoạt động của bộ máy nhà nước. Một người muốn tiếp cận được công lí thì phải hiểu và vận dụng được tổng thể các yếu tố như: hệ thống pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật. Trong khi đó, người khuyết tật về trí tuệ là những cá nhân có những khiếm khuyết đặc biệt về mặt nhận thức, khiến cho họ khó có thể hiểu và vận dụng được những yếu tố đã nêu. Điều này đòi hỏi ngoài sự cố gắng của bản thân, họ cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước, xã hội và gia đình mới bảo đảm được quyền tiếp cận công lí của mình. Tiếp cận công lí là quyền có ý nghĩa hết sức quan trọng với của người khuyết tật. Việc đảm bảo công lí trong tố tụng hình sự chính là bảo đảm các quyền, lợi ích, giá trị nhân phẩm của họ với tính cách là nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.

     

    Từ khóa: Khuyết tật, người khuyết tật trí tuệ, công lí, tố tụng hình sự.

     

    Khái niệm “công lí”, “khuyết tật”, “người khuyết tật thiểu năng trí tuệ”*

     

    1.1. Khái niệm công lí

     

    “Công lí” (justice) là khái niệm đã được nhiều nhà tư tưởng trên thế giới đề cập và thảo luận trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại.

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4193

     

    45

     

    Khái niệm công lí được xác định dựa trên nhiều khía cạnh, góc độ tiếp cận, thể hiện những khác biệt giữa các nền văn hóa, giữa các thời điểm lịch sử khác nhau. Thời nay, quan điểm nổi bật về công lí là của nhà triết học chính trị hàng đầu của Mỹ J. Rawls. Ông coi ‘công lí như là sự công bằng’ (justice as fairness). Như vậy, để bảo đảm công bằng, tương tự như quyền con người, công lí phải được quy định bằng pháp luật và phải được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống tư pháp, mà cụ thể là tòa án.

     

    Bảo đảm công lí là nền tảng cho một xã hội trật tự, an toàn, ổn định, văn minh, hạnh phúc

     

    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    và thịnh vượng. Từ góc độ chính trị học, công lí chính là một tiêu chí quan trọng để đánh giá tính ưu việt của một chế độ xã hội. Tính chính đáng, chính nghĩa của sự xuất hiện, tồn tại của một chính quyền thường được đánh giá thông qua việc chính quyền đó có thừa nhận, bảo vệ và bảo đảm công lí trong thực thi quyền lực nhà nước hay không. Từ góc độ khác, công lí là giá trị, phẩm hạnh giữ cho các thành viên trong xã hội gắn kết chặt chẽ với nhau vì lợi ích chung của toàn thể cộng đồng. Để đảm bảo sự ổn định và phát triển của cộng đồng, những đức hạnh như sự công bằng, liêm chính và tử tế cần phải được xem là nền tảng và phải được lan tỏa sâu rộng trong xã hội.

     

    Về khía cạnh ngôn ngữ, khái niệm công lí cũng đã xuất hiện trong một số từ điển trong và ngoài nước. Ví dụ, ở nước ngoài, trong cuốn từ điển Luật Black (Black Law Dictionary), công được định nghĩa là “sự công bằng và hợp lí, với ba ý niệm cơ bản: sự nhấn mạnh về tầm quan trọng cá nhân, yêu cầu các cá nhân phải được đối xử một cách phù hợp, không thiên vị và bình đẳng” [1]. Ở Việt Nam, trong một số cuốn Từ điển Tiếng Việt, công lí cũng đã được giải thích như là “Công lí là lẽ phải, lẽ công bằng, phù hợp với pháp luật đương thời, không thiên lệch, không tư vị. Chế độ nào cũng coi tòa án là tượng trưng cho công lí, là cơ quan công lí của chế độ ấy” [2], “Công lí là sự nhận biết đúng đắn và tôn trọng theo lẽ phải các quyền lợi ích chính đáng của mọi người” [3].

     

    • Việt Nam, công lí và bảo vệ công lí được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị). Cụ thể, Chiến lược này đã nêu rõ, cần: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lí, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. Cùng với đó, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những biện pháp nhằm đảm bảo cơ sở chính trị cho hoạt động cải

    cách tư pháp, để từ đó xây dựng cơ quan tư pháp thật sự là chỗ dựa vững chắc trong hoạt động bảo vệ công lí và quyền con người. Cụ thể, về mục đích và lộ trình thực hiện, Văn kiện xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lí, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Phân định rành mạch thẩm quyền quản lí hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp” [4]. Như vậy, khái niệm công lí trong Chiến lược cải cách tư pháp và Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính chất là một phạm trù gắn với lĩnh vực tư pháp, thể hiện qua việc xét xử bằng các thủ tục công bằng, hợp pháp, nhằm bảo vệ các quyền con người trong hoạt động tố tụng.

     

    Nói tóm lại, mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhưng xét tổng quát, công lí có thể được hiểu là việc bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa con người với con người. Công lí gắn liền với việc bảo đảm danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, ngăn ngừa những hành xử tuỳ tiện, bạo ngược của các chủ thể trong xã hội, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước. Đây là một phạm trù đa diện, vừa mang tính pháp lí, vừa mang tính xã hội, đạo đức.

     

    1.2. Khái niệm “khuyết tật”

     

    Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (The World Health Organisation – WHO) có ba mức độ suy giảm khả năng là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Trong đó, khái niệm khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lí hoặc/và sinh lí; khái niệm khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết; còn khái niệm tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên cuộc sống của họ [5].

     

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    47

    Công ước về quyền của người khuyết tật do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 2007 nêu định nghĩa người khuyết tật ở Điều 1, là “những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ, hay giác quan mà khi tương tác với nhiều rào cản khác nhau thì dẫn tới việc gây trở ngại cho sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Đây là định nghĩa mang tính pháp lí quốc tế đầu tiên về “người khuyết tật”, vì vậy có ý nghĩa to lớn trong việc thống nhất những hành động và nỗ lực bảo vệ các quyền của người khuyết tật trên thế giới.

     

    • cấp độ quốc gia, pháp luật của một số nước cũng đã nêu định nghĩa về “người khuyết tật” mà chia sẻ những thuộc tính cơ bản trong định nghĩa nêu trên. Cụ thể, theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật của Vương quốc Anh (Disability Discrimination Act, 2010), người khuyết tật được hiểu là cá nhân có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra sự suy giảm đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hằng ngày một cách đáng kể và kéo dài. Theo đạo luật này, xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài phải từ 12 tháng trở lên (dưới 12 tháng thì thường không được xem là khuyết tật, trừ khi bị tái đi tái lại). Trong Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (Americans with Disablities Act of 1990) người khuyết tật được định nghĩa là cá nhân có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Còn ở Việt Nam, Luật về người khuyết tật năm 2010 định nghĩa ở khoản 1 Điều 2, trong đó: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.

    Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể thấy khuyết tật là một hiện tượng phức tạp và có biểu hiện rất đa dạng. Khái niệm này phản ánh sự suy giảm về khả năng tương tác xã hội của một cá nhân mà xuất phát từ những vấn đề bất ổn nảy sinh trong chức năng của cơ thể của

     

    cá nhân đó. Về mặt hình thức, những biểu hiện và nhận thức về sự khuyết tật mang tính tương đồng ở các quốc gia, tuy nhiên việc đối xử với người khuyết tật có sự khác biệt nhất định giữa các xã hội, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là về kinh tế, xã hội, văn hoá.

     

    1.3. Khái niệm người khuyết tật về trí tuệ

     

    Trong tiếng Anh, ‘thiểu năng trí tuệ’ (hay ‘khuyết tật về trí tuệ’) được thể hiện qua nhiều cụm từ có nội hàm tương tự nhau, ví dụ như ‘intellectual disability’, ‘general learning disability’ hoặc ‘mental retardation’… Cụm từ general mental disability được sử dụng chủ yếu

     

    • Vương quốc Anh [6], trong khi ở Hoa Kỳ và các văn kiện quốc tế hay trong các tài liệu học thuật của các học giả trên thế giới thường sử dụng cụm từ mental retardation. Tương ứng với cụm từ này là cụm từ mental retarded persons [7] (‘người thiểu năng trí tuệ’ hay ‘người khuyết tật về trí tuệ’).

    Tình trạng thiểu năng trí tuệ được xác định trong Sách Trắng về Chăm sóc sức khỏe và xã hội với người thiểu năng trí tuệ ở Anh [8] qua ba tiêu chí như sau: (1) khả năng trí tuệ thấp (thường có chỉ số IQ thấp hơn 70 [9]); (2) suy giảm khả năng thích ứng xã hội; và (3) phát hiện thiểu năng trí tuệ từ lúc còn nhỏ. Như vậy, việc xác định một người có bị thiểu năng trí tuệ hay không phải xem xét sự hạn chế của người đó thông qua hai khía cạnh về năng lực, đó là khả năng nhận thức (khả năng học tập, đưa ra các quyết định và giải quyết các vấn đề,…) và khả năng thích ứng (những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày như là giao tiếp, tương tác và quan tâm tới người khác).

     

    Thiểu năng trí tuệ được phân chia thành hai dạng là hội chứng thiểu năng trí tuệ có biểu hiện rõ ràng (ví dụ, hội chứng Down, hội chứng Tớc-nơ); và hội chứng thiểu năng trí tuệ không biểu hiện rõ ràng (ví dụ, Alzheimer, trầm cảm, hay quên, hoang mang trong suy nghĩ). Theo báo cáo của Dự án Nghiên cứu Bệnh tật toàn cầu, ở thời điểm năm 2013, có khoảng 95 triệu

     

    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    người trên thế giới có hội chứng thiểu năng trí tuệ không biểu hiện rõ ràng [10].

     

    Bên cạnh đó, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ cũng đã xác định thiểu năng trí tuệ là ‘có sự bất thường trong chức năng trí tuệ nói chung, xuất hiện trong quá trình phát triển và có sự liên quan đến: một là, sự khiếm khuyết trong nhận thức, và hai là, khả năng thích ứng với xã hội, hoặc liên quan đến cả hai điều này’ [11].

     

    Sự cần thiết, ý nghĩa của việc bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

     

    Theo một chuyên gia, bảo đảm công lí trong tố tụng hình sự chính là bảo đảm sự công bằng và các quyền, tự do của con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [12]. Ở đây, các thủ tục tố tụng hình sự chính là những cơ chế, công cụ giúp mọi người tiếp cận công lí, song cũng có thể bị lợi dụng để vô hiệu hoá công lí. Để tố tụng hình sự là công cụ tiếp cận công lí của mọi người, cần phải đáp ứng các yêu cầu đó là: (i) Phải bảo đảm toà án có khả năng tìm kiếm sự thật và đưa ra những phán quyết chính xác; (ii) Phải bảo đảm thời gian xử lí vụ việc kịp thời, vì công lí bị trì hoãn là công lí bị từ chối (justice delayed is justice denied [13]); (iii) Chi phí tài chính cho việc tiếp cận với toà án phải hợp lí, không phải là rào cản đối với mọi người. Đây cũng được xem là những tiêu chí cơ bản dùng để đánh giá mức độ thành công trong cải cách tư pháp ở các quốc gia trên thế giới [14].

     

    Một người khuyết tật về trí tuệ có thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự với tư cách là bị hại, bị cáo hoặc người làm chứng. Thực tế trên thế giới cho thấy nhiều người trong số họ không được đảm bảo đầy đủ các quyền tố tụng. Ví dụ, trong quá trình điều tra, xét hỏi, người khuyết tật về trí tuệ có thể dễ dàng bị “dẫn dắt” câu trả lời theo ý muốn của người thẩm vấn, bởi họ không đủ khả năng tương tác với câu hỏi và

     

    người hỏi. Hoặc trong quá trình cung cấp chứng cứ, người khuyết tật về trí tuệ thường không được hoặc không thể cung cấp chứng cứ trước tòa do những khiếm khuyết của họ. Chính vì vậy, nếu không có biện pháp bảo vệ đặc biệt, có thể dẫn đến oan sai trong các vụ án mà bị can, bị cáo là người khuyết tật về trí tuệ.

     

    Công lí là một phạm trù có tính khái quát cao, phản ánh hệ giá trị tổng hợp, liên quan đến đạo đức xã hội, nền chính trị, pháp luật và hoạt động của bộ máy nhà nước. Vì vậy, một người muốn tiếp cận được công lí thì phải hiểu và vận dụng được tổng thể các yếu tố như: hệ thống pháp luật (hiểu biết về quyền, nội dung và thủ tục tố tụng hình sự); và các thiết chế thực thi pháp luật (tư pháp, hành chính, các thiết chế bổ trợ tư pháp…). Trong khi đó, người khuyết tật về trí tuệ là những cá nhân có những khiếm khuyết đặc biệt về mặt nhận thức, khiến cho họ khó có thể hiểu và vận dụng được những yếu tố đã nêu. Điều này đòi hỏi ngoài sự cố gắng của bản thân, họ cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước, xã hội và gia đình mới bảo đảm được quyền tiếp cận công lí của người khuyết tật về trí tuệ. Sự hỗ trợ này không vi phạm nguyên tắc công bằng, mà là để bảo đảm sự công bằng thực chất khi mà nó giúp xóa bỏ những rào cản bất hợp lí với người khuyết tật về trí tuệ trong quá trình tố tụng [15].

     

    Từ cách tiếp cận nêu trên, có thể thấy quyền tiếp cận công lí của người khuyết tật về trí tuệ bao hàm hai nội dung chính: (1) Họ có quyền được cung cấp hay hỗ trợ dịch vụ tư vấn, giải đáp về chính sách, pháp luật miễn phí; (2) Họ có được hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi trong việc tham gia tố tụng, bao gồm việc khiếu nại, tố cáo để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền tiếp cận công lí của người khuyết tật nói chung và người khuyết tật về trí tuệ nói riêng là quyền có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việc đảm bảo quyền này chính là bảo đảm các quyền, lợi ích, giá trị nhân phẩm của họ với

     

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    49

    tính cách là nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, đặc biệt trong tố tụng hình sự.

     

     

    Bảo đảm công lí trong áp dụng tố tụng hình sự với người khuyết tật về trí tuệ: Các tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc tế

     

    Tuyên bố về quyền của người bị thiểu năng trí tuệ (Declaration on the Rights of Mentally Retarded Persons) của Liên Hợp quốc năm 1971 đã kêu gọi các quốc gia thực thi các biện pháp để đảm bảo Tuyên bố này trở thành cơ sở bảo vệ quyền của người bị khuyết tật về trí tuệ. Một trong số các nguyên tắc về quyền của người bị khuyết tật về trí tuệ mà Tuyên bố đã chỉ ra bao gồm: “Quyền được bảo vệ không bị bóc lột, lạm dụng và đối xử hạ nhục. Nếu bị truy tố vì bất kì tội gì thì họ có quyền được luật pháp xét xử công minh, có xem xét đầy đủ đến mức độ ảnh hưởng về tâm thần của họ.” [16] và “Khi nào vì bệnh tật nghiêm trọng mà người khuyết tật về tâm thần không thể thực hiện được tất cả các quyền của họ một cách có ý nghĩa, hay cần thiết phải hạn chế hoặc phủ nhận một số trong những quyền đó thì thủ tục áp dụng để hạn chế hay phủ nhận phải có sự bảo vệ về mặt pháp lí thích hợp chống mọi hình thức lạm dụng. Thủ tục này phải dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia có trình độ về khả năng xã hội của người khuyết tật về tâm thần và phải tùy thuộc vào sự xem xét định kỳ và quyền được kháng cáo lên những nhà chức trách có thẩm quyền cao hơn.” [17]. Vấn đề then chốt của hai nguyên tắc này đó là người khuyết tật về trí tuệ có quyền được xét xử công bằng (due process of law) công nhận sự giới hạn về khả năng nhận thức của họ (recognition of their individual capacities and limitations).

     

    Trong bài viết của tác giả Paul R. Friedman về quyền con người và quyền pháp lí của người khuyết tật về trí tuệ [18], ông đã đề cập đến quyền của người khuyết tật về trí tuệ trong hệ thống tư pháp hình sự Mỹ và chỉ ra vấn đề quan trọng nhất mà người bị thiểu năng trí tuệ phải đối diện trong tố tụng hình sự đó là khả năng nhận thức bị hạn chế và góc nhìn nhạy cảm

     

    dành cho người bị thiểu năng trí tuệ từ các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cảnh sát, luật sư và thẩm phán. Nếu xác định sai yếu tố nhận thức trong một vụ án hình sự thì dễ dàng dẫn đến việc các vấn đề pháp lí mà bị hại đưa ra để chống lại bị cáo không được xem xét một cách công bằng. Do đó, việc xác định khả năng của người được cho là bị thiểu năng trí tuệ là yếu tố quan trọng, cần phải cân nhắc kĩ càng trong quá trình tố tụng để xác định trách nhiệm hình sự và xác định tính chính xác, tính khách quan trong lời thú tội.

     

    Trong giai đoạn xét hỏi, theo pháp luật Mỹ, nếu người bị cáo buộc phạm tội bị ép nhận tội thì những lời thú tội đó không được dùng làm bằng chứng chống lại người bị cáo buộc phạm tội [19]. Điều này thứ nhất là để đảm bảo công bằng và thứ hai là để chống sự nhầm lẫn dẫn đến buộc tội người vô tội. Đó là bởi trong thực tế, một người bị thiểu năng trí tuệ, dù bị ép buộc nhận tội hay không thì thông thường họ cũng không có đủ năng lực nhận thức để hiểu được thủ tục tố tụng, những hậu quả từ lời thú tội và những quyền hiến định mà họ được hưởng (ví dụ như quyền im lặng, quyền có luật sư tư vấn,..).

     

    Trong giai đoạn xét xử, thông thường, người bị tâm thần không có khả năng hầu tòa, song họ vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự và họ sẽ phải hầu tòa sau khi nhận thức được phục hồi. Ngược lại, không giống như người bị tâm thần, người bị thiểu năng trí tuệ không có khả năng hầu tòa, cũng không có khả năng thực hiện các trách nhiệm dân sự cả hiện tại và trong tương lai vì ít có khả năng hồi phục nhận thức.

     

    Xét về trách nhiệm hình sự, mặc dù tiêu chí để xác định khuyết tật về tâm thần là khác nhau trong các phán quyết khác nhau của tòa án, nhưng có một ‘phép thử chung’ đã được công nhận rộng rãi bởi Viện Pháp luật Mỹ (1962), đó là: “Một người sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi của mình nếu tại thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội, vì lí do mắc bệnh tâm thần hoặc vì hạn chế năng lực nhận thức, người đó không thể nhận thức được hành vi của mình là trái với pháp luật”.

     

    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Về vấn đề này, Ủy ban Nhân quyền Úc (Australian Human Rights Commision) đã đưa ra một số biện pháp thiết thực để bảo đảm quyền tiếp cận công lí của những người khuyết tật thiểu năng trí tuệ nói riêng hay khuyết tật về tâm thần nói chung trong tố tụng hình sự. Các biện pháp được chỉ ra bao gồm:

     

    • Trong quá trình xét hỏi, cán bộ điều tra phải cung cấp các thông tin cần thiết về diễn biến của hoạt động (ví dụ như băng ghi âm, ghi hình,…) và cần giúp đỡ người khuyết tật hiểu về điều mà họ đang được hỏi cũng như những quyền mà họ được áp dụng trong quá trình xét hỏi;
    • Hệ thống trợ giúp pháp lí phải nhận thức được những khó khăn mà người bị thiểu năng trí tuệ đang phải đối mặt trong hệ thống tư pháp hình sự để có thể cung cấp sự hỗ trợ kịp thời;
    • Thủ tục tố tụng ở tòa án và nguyên tắc chứng minh phải được áp dụng dựa trên việc đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người khuyết tật;
    • Tăng cường sự hỗ trợ và sự thấu hiểu của tòa án và thẩm phán đối với những khó khăn mà người khuyết tật đang phải gánh chịu, các cơ quan nhà nước cần nghiên cứu quy định một số hình phạt phù hợp hơn với nhóm người này.
    • Đảm bảo quyền không bị đối xử ngược đãi bởi các cơ quan thi hành tố tụng, và nếu trong trường hợp có cáo buộc người khuyết tật bị đối xử ngược đãi thì cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ điều tra và giải quyết kịp thời.

    Tương tự, tổ chức phi chính phủ JUSTICE

     

    • ở Vương Quốc Anh đã xuất bản một báo cáo về Sức khỏe tâm thần và Xét xử công bằng
    • (Report on Mental Health and Fair Trial) bởi Nhóm nghiên cứu do các chuyên gia pháp lí và y tế uy tín hàng đầu soạn thảo. Báo cáo được soạn thảo dựa trên sự đánh giá thực tế của nhóm nghiên cứu khi họ cho rằng, quá trình tố tụng kể từ thời điểm cảnh sát tiếp nhận vụ việc đến khi chính thức bị buộc tội bằng các phán xét của tòa án vẫn còn tồn tại những vấn đề khiến cho quyền được xét xử công bằng của những người khuyết tật về tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ chưa được đảm bảo. Từ lí do này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất 52 giải pháp cụ thể

    trong lĩnh vực tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền cho nhóm người có khuyết tật về tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ nói chung. Những giải pháp này đề cập đến những phương diện chủ yếu sau:

     

    • Giai đoạn điều tra: trong giai đoạn này, những chuyên gia y học về tâm thần sẽ thay các cán bộ điều tra làm nhiệm vụ giám định sức khỏe tâm thần cho những người bị buộc tội; nếu sau khi được giám định và xác định người đó có bị khuyết tật tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ thì nhà nước phải hỗ trợ những người đó bằng các biện pháp hỗ trợ phù hợp;
    • Giai đoạn truy tố: có một công tố viên được tập huấn chuyên biệt tham gia xét xử những vụ án có người bị buộc tội bị khuyết tật về tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ;
    • Giai đoạn xét xử: cũng có một thẩm phán được đào tạo chuyên biệt cho những phiên tòa có bị cáo là người bị khuyết tật tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ trực tiếp điều hành và chỉ đạo triển khai;
    • Bài kiểm tra năng lực pháp lí: Bài kiểm tra năng lực để tự biện hộ và khả năng tham dự phiên tòa phải là bước đầu tiên bắt buộc phải làm trước khi phiên tòa diễn ra. Lí do biện hộ ‘do bị tâm thần/thiểu năng’ nên được thay bằng ‘không phải chịu trách nhiệm hình sự do có khuyết tật đã được chuyên gia y tế thẩm định’;
    • Kết án: cần phải có văn bản pháp luật hướng dẫn về việc kết án đối với nhóm người dễ bị tổn thương và người có vấn đề về tâm thần, quy định một số hình thức kết án cụ thể và đa dạng hơn để đáp ứng được nhu cầu giải quyết vụ án.

    Những giải pháp nêu trên được tạo ra dựa trên nhu cầu thực tế và trở thành một nguồn tham khảo uy tín dành cho các nhà làm luật. Nếu những vấn đề còn tồn tại giữa tòa án và người tham gia tố tụng là nhóm người bị tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ không được giải quyết, việc xét xử công bằng đối với nhóm người này khó có thể được đảm bảo. Những đề xuất trong báo cáo này không những được tác động đến hệ thống pháp luật Anh mà còn có giá

     

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    51

    trị tham khảo cao đối với các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

     

    Bảo đảm công lí trong áp dụng tố tụng hình sự với người khuyết tật ở Việt Nam: Thực trạng và một số đề xuất thúc đẩy

     

    • Việt Nam, định nghĩa về khuyết tật trí tuệ được quy định tại Khoản 5 Điều 2 Nghị định 28/2012/NĐ-CP, theo đó: ‘Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc”. Theo kết quả Điều tra quốc gia người khuyết tật Việt Nam năm 2016 [22] (được công bố vào tháng 1 năm 2019) thì cả nước có 6.225.519 người khuyết tật, trong đó người khuyết tật về nhận thức có 2.622.578 người. Nhìn từ những con số đó, có thể thấy người bị khuyết tật về nhận thức chiếm tỷ lệ cao, lên đến hơn một phần ba tổng số người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

    Việc bảo vệ quyền con người nói chung và người khuyết tật nói riêng trong lĩnh vực tư pháp hình sự, bao gồm các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả trong quá trình giam giữ, cải tạo phạm nhân, đều cần dựa trên nguyên tắc đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh, song cũng không được làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội. Người phạm tội phải được đưa ra xét xử và phải chịu hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Tuy nhiên, mục đích của hình phạt không chỉ mang tính trừng trị mà còn mang tính giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Đây chính là yêu cầu cơ bản để bảo đảm quyền con người nói chung và người khuyết tật nói riêng trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về vấn đề này, trong Điều 3 Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ: ‘Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi

     

    người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.’

     

    Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, vấn đề bảo vệ quyền con người (bao gồm cả người khuyết tật) được quy định tại một số điều luật khác nhau như: Điều 4 ‘Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân’; Điều 6 ‘Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể công dân’; Điều 7 ‘Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân; Điều 8 ‘Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân’; Điều 9 ‘Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật’; Điều 11 ‘Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo’. Ngoài các quy định chung này, Bộ luật Tố tụng Hình sự còn có một số quy định cụ thể liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ người khuyết tật, cụ thể như quy định Điều 76 trong đó nêu rằng mọi trường hợp nếu bị can, bị cáo là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm yêu cầu đoàn luật sư phân công người bào chữa cho họ, nếu không có người bào chữa cho họ trong trường hợp này là vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, Điều 21 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Để xác định chính xác người thực hiện hành

     

    • nguy hiểm cho xã hội có mắc bệnh tâm thần hay không, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu đây là một trong những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định (tại khoản 1 Điều 206). Nếu kết quả giám định cho thấy người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vì thì Viện Kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết quả này đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình đã thực hiện.
    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Những quy định nêu trên thể hiện chính sách của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người đối với người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất khi họ tham gia tố tụng hình sự và không để họ bị bất lợi khi tham gia tố tụng hình sự. Những quy định này cũng có sự tương đồng với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như phân tích ở phần trước.

     

    Tuy nhiên, có một số vấn đề được đặt ra trong thực tiễn hiện nay, trong đó bao gồm việc làm rõ câu hỏi ‘thế nào là người có nhược điểm về tâm thần và thể chất?’. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 không có quy định nào và cũng chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Điều đó đã tạo ra những cách hiểu khác nhau trong giải thích và áp dụng pháp luật tố tụng với người có nhược điểm về tâm thần và thể chất mà tiềm ẩn khả năng dẫn đến oan sai hoặc để lọt tội phạm. Thêm vào đó, có thể thấy, hiện pháp luật Việt Nam chưa có bất kì quy định cụ thể nào về bảo vệ quyền của người khuyết tật trong tố tụng hình sự, trong khi đã có quy định về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương khác như phụ nữ, trẻ em, người thuộc các dân tộc thiểu số…

     

    Từ những phân tích trên, có thể đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận công lí cho người khuyết tật nói chung và người khuyết tật về trí tuệ nói riêng trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay như sau:

     

    Thứ nhất, cần có quy định cụ thể và văn bản hướng dẫn về việc xác định như thế nào là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất bằng cách phân chia các nhóm nhược điểm có tính tương đồng với nhau một cách rõ ràng. Việc này sẽ giúp cho các cơ quan và người thực thi pháp luật có thể áp dụng pháp luật thống nhất, tránh oan sai và đảm bảo thực thi công lí trong mọi trường hợp.

     

    Thứ hai, cần có những quy định riêng, cụ thể hơn về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong luật tố tụng hình sự, bởi người khuyết tật là một nhóm đặc biệt, cần được bảo đảm những điều kiện tố tụng phù hợp với tình trạng và đặc điểm về thể chất cũng như tinh thần của họ. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ

     

    quyền và lợi ích của người khuyết tật cũng như đảm bảo công lí xuyên suốt quá trình tố tụng.

     

    Thứ ba, cần đào tạo hoặc đào tạo bổ sung để xây dựng một đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật tố tụng có hiểu biết đầy đủ về đặc thù và các quyền của người khuyết tật trong tố tụng hình sự. Thành phần cần được đào tạo hay đào tạo lại bao gồm cả cán bộ điều tra, công tố viên, thẩm phán, giám thị trại giam…Việc này là để phòng ngừa những vi phạm và tăng cường mức độ bảo đảm quyền của người khuyết tật trong mọi giai đoạn của tố tụng hình sự.

     

    Lời cảm ơn

     

    Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài: “Công lý và quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam” (mã số 505.01-2017.01) do Quỹ Khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tài trợ.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Henry Campbell Black M.A. St.Paul, Minn, Từ điển Luật Black (Black’s Law Dictionary), NXB West Publishing Co, 1983 (447).
    • Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, (1999) 210.
    • Nguyễn Lân, Từ và ngữ Tiếng Việt, NXB Tổng hợp Hồ Chí Minh, 2006.
    • Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, (2016) 114.
    • Mary Lowth, Nghiên cứu chung về khuyết tật nhận thức (General Learning Disability), The

    Information Standard (2016). https://patient.info/doctor/general-learning-disability.

     

    • Harkin, Báo  cáo  số  111-244  về  Luật  ROSA

    (Report 111-244 on ROSA’S LAW), Washington

     

    D.C (2010) 3. https://www.gpo.gov/fdsys/pkg/CRPT-111srpt244/pdf/CRPT-111srpt244.pdf.

     

    • Sách Trắng về sức khỏe và chăm sóc xã hội cho người bị khuyết tật về trí tuệ năm 2001 (The 2001

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    53

    White Paper on the health and social care of people with learning disabilities).

     

    • Chỉ số IQ có thang điểm trung bình là 100, hầu hết mọi người có IQ từ 85 đến 115. Một người được xác định có khả năng cao bị thiểu năng trí tuệ nếu chỉ số IQ của họ thấp hơn từ 70 đến 75.
    • Nghiên cứu về Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm

    2013, Collaborators, (2015).

     

    https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4

     

    561509/.

     

    • Hiệp Hội tâm thần Hoa, Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần 14, (1968) 2d ed.,.
    • Nguyễn Ngọc Chí, Công lí và quyền tiếp cận công lí: Những vấn đề lí luận, thực tiễn, NXB Hồng Đức, (2018) 176.
    • William Penn, Những loài trái cây cô đơn (Some

    Fruits of Solitude), Headley Brothers Pub., (1905) 86.https://archive.org/stream/somefruitssolit00pen ngoog#page/n9/mode/1up.

     

    • Adrian Zuckerman, Khủng hoảng trong tư pháp, từ khủng hoảng tư pháp dân sự: các quan điểm so sánh (Justice in Crisis, from Civil Justice in Crisis: Comparative Perspectives of Civil Procedure), Oxford University Press, 1999.
    • Trần Thái Dương (2018), Công lí và Quyền tiếp cận công lí: Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Hồng Đức, ( 2018) 372.
    • Nguyên tắc 6, Tuyên bố về Quyền của người bị thiểu năng trí tuệ của Liên Hợp quốc.
    • Nguyên tắc 7, Tuyên bố về Quyền của người bị thiểu năng trí tuệ của Liên Hợp quốc.
    • Paul R. Friedman (1977), Quyền con người và quyền luật pháp của người bị thiểu năng trí tuệ

    (Human and Legal rights of mentally retarded persons), International Journal of Mental Health. (1977) 50-72.

     

    DOI: 10.1080/00207411.1977.11448756.

     

    • Tổ công tác của Văn phòng Tổng thống nghiên cứu về thiểu năng trí tuệ, 1963.
    • Tổ chức Justice được thành lập năm 1957 bởi một nhóm các nhà luật gia hàng đầu để thúc đẩy pháp quyền và quản trị công bằng. Justice trở thành thành viên của Ủy ban luật gia quốc tế của Vương Quốc Anh với sự tham gia của tất cả thành viên của các Đảng.
    • Tổng cục Thống kê, Điều tra quốc gia về người khuyết tật, (2016)

    https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=460&i

     

    dmid=5&ItemID=19054.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Y%C3%AAu-c%E1%BA%A7u-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-v%E1%BB%81-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-to%C3%A0n-c%E1%BA%A7u-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    Original Article

     

    Globalization and the Need of Improving Law on Foreign Worker Management in Vietnam

     

    Pham Thi Huong Giang*

     

    Institute of State and Law, 27 Tran Xuan Soan, Hai Ba Trung, Hanoi, Vietnam

     

    Received 29 January 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 24 June 2019

     

    Abstract: Immigration for employment is becoming a basic element of the globalization era. In this context, each country has a legal framework to regulate foreign workers. The article assesses the reality of the Vietnamese law on foreign worker management, thereby proposing five requirements for improving the law, including: (1) the law should reflect the demand of the domestic labour market; (2) the law should be compatible with the contents and principles of the law on worker management in Vietnam; (3) the law should ensure the rigor in the State management of foreign workers; (4) the law should be comprehensive and consistent with the national law system; and (5) the law should be compatible with the international labour laws.

     

    Keywords: Foreign workers, law on foreign worker management, requirements, globalization.

     

    *

     

     

    ________

    *Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4197

    90

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

     

    Phạm Thị Hương Giang*

     

    Viện Nhà nước và Pháp luật, 27 Trần Xuân Soạn, phường Ngô Thì Nhậm,

     

    quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 29 tháng 01 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Ngày nay, di trú vì việc làm trở thành yếu tố cơ bản của kỷ nguyên toàn cầu hóa. Trước thực trạng đó, mỗi quốc gia đều có khung pháp luật điều chỉnh lao động nước ngoài. Bài viết đánh giá thực trang pháp luật Việt Nam về quản lý lao động nước ngoài. Qua đó, tác giả đưa ra 5 yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam bao gồm: (1) pháp luật phản ánh nhu cầu thị trường lao động trong nước; (2) phù hợp với nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam; (3) đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là lao động nước ngoài; (4) phải đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia; và (5) phải phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động.

     

    Từ khóa: Lao động nước ngoài, pháp luật quản lý lao động nước ngoài, yêu cầu, toàn cầu hóa.

     

    Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa *

     

    Hiện nay các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, bên cạnh việc phát triển thị trường dịch vụ hàng hoá thì thị trường lao động cũng là một yếu tố đang được chú trọng. Theo Tổ chức Lao động quốc tế – ILO thì “Thị

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4197

     

    91

     

    trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” [12]. Qua nhận định của ILO đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của thị trường lao động và vấn đề mở cửa thị trường lao động là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá dẫn tới hiện tượng lao động di trú ngày càng sôi nổi.

     

    Dưới góc độ pháp lý, Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 có ghi nhận các quốc gia thành viên có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để đảm bảo quyền được có cơ hội kiếm sống bằng công

     

    92                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    việc do công dân tự do lựa chọn (Điều 6). Như vậy, tạo ra và phát triển thị trường lao động là trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân của nước mình. Người nước ngoài di trú đến một nước mà họ không phải là công dân nhằm mục đích lao động thuộc vào đối tượng đặc thù và cần phải tuân theo những điều kiện nhất định về trình tự, thủ tục…để được làm việc hợp pháp tại quốc gia đó. Như vậy, mỗi quốc gia cần phải có một khung pháp lý riêng biệt để điều chỉnh đối tượng này.

     

    • nước ta, các quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được đề cập trong Bộ luật Lao động 2012 và các quy định hướng dẫn thi hành bởi Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (thay thế Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05/9/2013) và Thông tư số 40/2016/TT -BLĐTBXH ngày 25/10/2016 Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (thay thế Thông tư số 03/2014/TT-

    BLĐTBXH ngày 20/01/2014). Có thể nhận thấy các quy định pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam bên cạnh những bước tiến đáng kể vẫn tồn đọng những bất cập sau:

     

    Thứ nhất, một số quy định của pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam chưa thể hiện được nhu cầu thị trường lao động trong nước. Pháp luật Việt Nam thiếu những quy định về công nhận bằng cấp, chứng nhận trình độ, kinh nghiệm làm việc để tuyển dụng lao động nước ngoài. Hơn nữa, nhu cầu của thị trường lao động Việt Nam là chiêu mộ lao động nước ngoài có trình độ cao tại những vị trí việc làm mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được. Như vậy, người sử dụng lao động nước ngoài có trình độ cao thường là những doanh nghiệp lớn, trong những ngành nghề đặc thù đòi hỏi sự chuyển giao chất xám. Tuy nhiên, hiện nay điều kiện giao kết hợp đồng lao động của người sử

     

    dụng lao động với lao động nước ngoài quá rộng, bao gồm cả những chủ thể phải đăng ký kinh doanh và những chủ thể không phải đăng ký kinh doanh, có thu nhập thấp (cá nhân hoạt động thương mại, hộ kinh doanh sử dụng lao động dưới 10 người), không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của thị trường lao động.

     

    Thứ hai, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa phù hợp với nội dung của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam. Bộ luật Lao động năm 2012 quy định cụ thể về việc tạm hoãn, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động (Mục 2, 3 chương

     

    • tuy nhiên lại không có quy định riêng điều chỉnh các vấn đề này đối với lao động nước ngoài. Ngoài ra, về hình thức làm việc của lao

    động nước ngoài quy định còn có sự trùng lặp, chưa có sự phân loại theo các tiêu chí thống nhất và logic, đồng thời cũng chưa cập nhật các quy định về tiếp nhận lao động trong các Hiệp

     

    định hợp tác lao động như hình thức làm việc kết hợp với kỳ nghỉ được quy định trong Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Australia về chương trình lao động kết hợp kỳ nghỉ. Về trình tự tuyển dụng lao động nước ngoài, quy định sau khi lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì hai bên mới được ký hợp đồng lao động và phải gửi bản sao của hợp

     

    đồng lao động tới Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cấp giấy phép đó nhưng không có quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra, xác nhận sự phù hợp của giấy phép lao động với hợp đồng lao động đã ký dẫn đến trường hợp hợp đồng lao động không phù hợp với giấy phép lao động.

     

    Thứ ba, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa đảm bảo được tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là lao động nước ngoài. Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn trực tiếp và cụ thể về trường hợp lao động nước ngoài không có giấy phép lao động đối với việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, dẫn đến sự áp dụng không thống nhất tại cơ quan giải quyết tranh chấp.

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    93

    Thứ tư, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật trong nước. Hiện nay, Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn đi kèm không quy định cụ thể khái niệm “Người lao động nước ngoài”, mà theo đó khái niệm người lao động nước ngoài được xác định trên căn cứ của một đạo luật khác theo khái niệm “người nước ngoài” tại Luật Quốc tịch (Khoản 2 Điều 1). Trong khi đó, Bộ luật lao động quy định điều kiện để công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam không đồng nhất với khái niệm người lao động nước ngoài được xây dựng trên khái niệm người nước ngoài và người lao động. Như vậy, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam với mọi hình thức trong đó có hợp đồng lao động. Ngoài ra, Bộ luật lao động 2012 chưa có quy định về khái niệm “người sử dụng người lao động nước ngoài” nhưng Nghị định 11/2016 lại sử dụng khái niệm trên.

     

    Thứ năm, một số quy định của pháp luật Việt Nam chưa phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động. Quy định của pháp luật Việt Nam chưa đáp ứng được nguyên tắc “không phân biệt đối xử” và nguyên tắc “đối xử quốc gia”. Việt Nam là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế, vì vậy pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được một phần của hai nguyên tắc này đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy định lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn đã hạn chế một phần quyền kinh tế của lao động nước ngoài, đồng thời cũng thể hiện sự không bình đẳng giữa lao động nước ngoài và lao động Việt Nam.

     

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

     

    2.1. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp và phản ánh được nhu cầu thị trường lao động trong nước

     

    Đối với từng quốc gia, nhu cầu phát sinh của thị trường lao động là khác nhau. Thị trường lao động tại những nước phát triển có xu hướng tuyển dụng lao động phổ thông để làm những công việc mà số lượng lao động trong nước không đủ đáp ứng hoặc những công việc mà lao động trong nước không muốn làm. Ngược lại, những quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển lại có nhu cầu chiêu mộ lao động trình độ cao như các chuyên gia, kĩ sư…trong từng lĩnh vực cụ thể vì mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Tùy thuộc vào nhu cầu điều tiết của thị trường lao động mà mỗi quốc gia xây dựng khung chính sách pháp luật thích ứng nhằm thu hút lực lượng lao động nước ngoài.

     

    • Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường lao động thời gian qua tiếp tục được phát triển theo hướng hiện đại hóa và định hướng thị trường; khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị trường lao động từng bước được hoàn thiện, số người làm công ăn lương, có quan hệ lao động tăng dần… Theo thống kê, năm 2017, cả nước đã tạo việc làm cho gần 1,6 triệu người. Tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam cũng ở mức thấp so với khu vực, trong đó tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị chỉ khoảng hơn 3%. Chất lượng việc làm, thu nhập của người lao động đều đặn được tăng lên, mức độ phân biệt giữa việc trả công cho lao động nam và nữ cũng được thu hẹp. Số lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng tiếp tục tăng [13].

    Hiện nay, Việt Nam là nước đang phát triển, trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để hội nhập quốc tế nên rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao từ những quốc gia khác để bồi dưỡng năng lực, củng cố phát triển kinh tế. Bởi thế pháp luật Việt Nam quy định “chỉ được tuyển lao động là công dân nước ngoài vào làm công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lào động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh” [1]. Thị trường lao động Việt Nam đang thiếu hụt lao động nước ngoài có kĩ năng, trình độ chuyên môn cao, nên pháp luật quốc gia không chấp thuận lao động nước ngoài phổ thông, chỉ cho phép

     

    94                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    lao động nước ngoài chất lượng cao vào làm các công việc mà lao động Việt Nam không đáp ứng được. Tuy nhiên quy định cụ thể về việc xác định tiêu chí tuyển dụng lao động nước ngoài với trình độ, bằng cấp và kinh nghiệm làm việc lại đang bị bỏ ngỏ. Hơn nữa, chủ thể giao kết hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và lao động nước ngoài hiện nay theo quy định pháp luật là quá rộng, không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của thị trường lao động trong nước.

     

    Trong những năm 1960-1970, Hàn Quốc là một trong những quốc gia xuất khẩu lao động, với thị trường tiếp nhận lao động chủ yếu là Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản và các Trung Đông [14]. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của kinh tế Hàn Quốc và mức lương tăng đã dẫn đến thiếu hụt lao động trong lĩnh vực sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng. Người lao động bản địa ngày càng ít tham gia vào nhóm các ngành nghề kỹ năng thấp và thu nhập thấp, còn gọi là “công việc 3-D” (dirty, difficult and dangerous). Trong khi đó, pháp luật về nhập cư và di cư vào thời điểm này không cho phép lao động nước ngoài kỹ năng thấp được làm việc ở Hàn Quốc. Sức ép về tăng trưởng kinh tế nhanh và thiếu hụt lao động trong những năm 1980 đã buộc Hàn Quốc thay đổi chính sách lao động nhằm thu hút lao động giá rẻ từ các quốc gia khác. Chính phủ ban hành Chương trình Đào tạo Kỹ thuật và Công nghiệp (Industrial and Technical Training Program) vào tháng 11/1991, cho phép thuê mướn trên thực tế lao động nước ngoài tay nghề thấp. Chương trình này được thay thế bởi Hệ thống Thực tập sinh (Industrial Trainee System) vào năm 2001 nhằm giải quyết thiếu hụt lao động ở các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, Hàn Quốc đưa ra một loạt các chính sách mở cửa nhằm thu hút lao động nước ngoài, đặc biệt là số lượng lớn lao động phổ thông thông qua Chương trình dành cho lao động phổ thông đi theo chương trình cấp phép việc làm tại Hàn Quốc theo Luật làm việc của Hàn Quốc (EPS). Khảo sát của OECD năm 2018 cho thấy lao động với mức lương thấp (low-wage workers) chiếm tỷ lệ cao ở Hàn Quốc so với các quốc gia khác trong khối OECD [11].

     

    Trước kinh nghiệm của Hàn Quốc và thực trạng của Việt Nam về đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước thì pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần phải: Một là, xây dựng những chế định mở để thu hút lao động chất lượng cao vào làm việc tại Việt Nam như chính sách bảo hiểm, chế độ đãi ngộ đối với lao động nước ngoài và thành viên gia đình họ. Hai là, mở cửa thị trường lao động thông qua việc tổ chức những diễn đàn trong và ngoài nước cho các lao động nước ngoài chất lượng cao có khả năng tiếp cận được nguồn thông tin về vị trí việc làm và có cơ hội được tham gia ứng tuyển tại Việt Nam. Ba là, với những thách thức đặt ra từ cuộc cách mạng công nghệ 4.0 thì thị trường lao động ở Việt Nam cần phải có sự thay đổi từ thâm dụng lao động sang thâm dụng về trí tuệ và công nghệ. Do đó, trong thời gian tới việc mở cửa thị trường lao động trong nước cần chú trọng hơn đến chất lượng lao động nước ngoài và lĩnh vực thu hút lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.

     

    2.2. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp với nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam

     

    Nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động nói chung và pháp luật về quản lý lao động nước ngoài nói riêng phải bảo vệ được người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động, tức là ngăn chặn và xử lý được các hành vi xâm hại có nguy cơ hoặc xảy ra đối với người lao động. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật lao động, pháp luật về quản lý lao động. Bởi lẽ, trong mối quan hệ với người sử dụng lao động thì người lao động luôn là đối tượng ở vị thế yếu hơn, phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Cụ thể, đối với lao động nước ngoài, đây là đối tượng trải qua quá trình tuyển dụng, đáp ứng các yêu cầu pháp định để tham gia vào thị trường lao động tại nước sở tại, điều đó có nghĩa lao động nước ngoài là chủ thể trong quan hệ lao động có đầy đủ quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    95

    Làm việc trong môi trường lao động tại nước sở tại, lao động trong nước và lao động nước ngoài đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động và không có sự tách biệt. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải được xây dựng trên cơ sở những nội dung và nguyên tắc chung của pháp luật về quản lý lao động. Là đối tượng đặc thù nên mỗi quốc gia đều có những chế định riêng về quản lý người lao động nước ngoài, tuy nhiên vẫn phải phù hợp với nguyên tắc và nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý lao động.

     

    Pháp luật của các quốc gia châu Á quy định những chế định về quản lý lao động nước ngoài rất khác nhau, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia xây dựng đạo luật độc lập về tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài. Trong khi đó, một số quốc gia khác như Philippines hay Việt Nam thì quy định những nội dung này là một phần trong bộ luật lao động. Dù ở hình thức nào thì lao động nước ngoài vẫn được coi là một thực thể tham gia vào quan hệ lao động và được hưởng quyền và nghĩa vụ như lao động trong nước, trừ khi pháp luật quy định những chế định pháp lý đặc biệt khác. Những quốc gia có đạo luật riêng dành cho lao động nước ngoài thì quản lý đối tượng lao động này được thiết chặt hơn bởi những quy định trong suốt quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài. Chẳng hạn, Hàn Quốc và Singapore có những chính sách đãi ngộ ưu tiên cho lao động chất lượng vào và thành viên gia đình họ; Đài Loan phân định các chế độ dành cho lao động nước ngoài chất lượng cao và lao động nước ngoài phổ thông… Đa phần các quốc gia đều có quy định hạn ngạch tuyển dụng đối với lao động nước ngoài và ở một số các ngành nghề, như Thủ tướng Ý hàng năm ban hành nghị định xác định số lượng lao động nước ngoài được tuyển dụng dựa trên những tiêu chí như: loại hình công việc, lãnh thổ, tính chất công việc và quốc tich; Indonesia hạn chế tuyển dụng lao động nước ngoài ở lĩnh vực nhân sự. Bên cạnh đó, một số quốc gia như Việt Nam, Singapore sử dụng tỷ lệ phần trăm lao động nước ngoài dựa trên tổng lao động địa phương nhằm đảm bảo việc làm cho lao động trong nước.

     

    Người sử dụng lao động cũng được pháp luật quy định chặt chẽ trong việc sử dụng, quản lý người lao động nước ngoài. Cụ thể, pháp luật Việt Nam quy định từ khâu tuyển dụng, người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài đối với từng vị trí việc làm mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và kê khai số lượng, trình độ người lao động nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình sử dụng lao động nước ngoài, người sử dụng lao động phải báo cáo định kỳ cho cơ quan cấp trên. Người sử dụng lao động Singapore có trách nhiệm đảm bảo quyền được tham gia bảo hiểm, được kiểm tra sức khoẻ của lao động nước ngoài, hay người sử dụng lao động phải chịu các chi phí hồi hương cho lao động nước ngoài tại Philippines. Bên cạnh đó, một số các quy định đặc biệt về tuyển dụng, quản lý lao động nước ngoài phụ thuộc vào các hiệp định song phương, đa phương về lao động của nước tiếp nhận lao động và nước ký gửi lao động.

     

    Như vậy, pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải đảm bảo những nguyên tắc và nội dung phù hợp với chế định chung của pháp luật quản lý lao động, đảm bảo lợi ích cơ bản của các chủ thể trong quan hệ lao động. Lao động nước ngoài được hưởng những quyền và nghĩa vụ tương tự như lao động trong nước.

     

    2.3. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam phải đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là người lao động nước ngoài

     

    Lao động nước ngoài là đối tượng đặc biệt và cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng trong công tác quản lý diễn ra suốt quá trình di trú bắt đầu từ khâu nhập cảnh, cư trú, làm việc đến khi xuất cảnh. Đối với vấn đề lao động, Nhà nước là chủ thể quản lý lao động thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương, bao gồm cả lao động trong nước và lao động nước ngoài mặc dù là đối tượng có những quy định riêng. Các cơ quan nhà nước cần phân công nhiệm vụ, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, với các quy định

     

    96                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    pháp luật hiện nay thì các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động về lao động nước ngoài đang gặp những khó khăn trong việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ hay không đối với trường hợp lao động nước ngoài không có giấy phép lao động bởi chưa có hướng dẫn cụ thể.

     

    Cộng hòa Liên bang Nga thành lập Cục di trú Liên bang (the Federal Migration Service – FMS) thuộc Bộ Nội vụ có chức năng phụ trách chính sách nhập cư và bảo đảm thực hiện các chính sách nhà nước trong lĩnh vực di cư và tiến hành việc thực thi pháp luật, giám sát và cung cấp các dịch vụ công về di cư. Bên cạnh đó, Sở di trú liên bang (FMS) dự định sẽ đưa loại hộ chiếu sử dụng dấu vân tay vào thí điểm. Nga kiểm tra, giám sát lao động nước ngoài thông qua hệ thống cấp phép lao động, số lượng hạn ngạch cấp giấy phép lao động cho công dân nước ngoài, được phân chia ngành nghề. Hệ thống tòa án độc lập, công minh và tổ chức các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nga sử dụng bản đồ mật độ cư trú để theo dõi số lượng người nước ngoài đang có mặt ở Nga, có bao nhiêu người trong số đó thuộc diện du lịch thăm thân, đi học, đi chữa bệnh, có bao nhiêu người đến làm việc, bao nhiêu người có quyền lao động và thẻ xanh đang còn hiệu lực… Bản đồ chỉ rõ tình trạng di trú theo khu vực, theo dân tộc của người nước ngoài đến Nga [10].

     

    Tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cơ quan quản lý lao động các cấp, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, UBND các cấp… đều có trách nhiệm trong việc phối hợp để quản lý lao động nước ngoài. Bên cạnh đó, cũng có những quy định chỉ rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc quản lý lao động nước ngoài và hỗ trợ các cơ quan chức năng thực hiện công tác này. Nghị định 11/2016/NĐ-CP

     

    • quy định: “Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn về thẩm quyền, thủ tục trục xuất đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động; Hướng dẫn việc cấp thị thực cho lao động nước ngoài liên quan đến việc cấp, cấp lại giấy phép lao động; xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động;

    cung cấp thông tin về lao động nước ngoài được cấp thị thực vào làm việc cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tới Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn về lệ phí cấp, cấp lại giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Bộ Công thương có trách nhiệm hướng dẫn căn cứ, thủ tục để xác định lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới”. Nhiệm vụ của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được quy định tại Nghị định 140/2018/NĐ-CP [9]: “Thực hiện chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài; xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động; cấp, cấp lại giấy phép lao động và đề nghị cơ quan công an trục xuất người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động theo quy định của Nghị định này và người sử dụng lao động có trụ sở chính tại một tỉnh, thành phố nhưng có văn phòng đại diện và chi nhánh tại các tỉnh, thành phố khác”

     

    Như vậy, trước thực trạng trên, yêu cầu đặt ra đối pháp luật về quản lý lao động nước ngoài là: Thứ nhất, quy định chức năng cụ thể của từng cơ quan quản lý nhà nước và người sử dụng lao động nước ngoài, thể hiện sự thống nhất và mối liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng lao động này. Thứ hai, nâng cao vai trò của thanh tra lao động trong công tác thanh, kiểm tra việc quản lý lao động nước ngoài đối với người sử dụng lao động như việc gia hạn giấy phép lao động, nội dung giấy phép lao động phù hợp với hợp đồng lao động…

     

    2.4. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia

     

    Trong quá trình lập pháp, mỗi quốc gia đều dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội cũng như chính trị của quốc gia mình để ban hành những quy định pháp luật phù hợp với môi trường

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    97

    pháp lý chung và đạt hiệu quả thực thi cao nhất. Việc tuyển dụng lao động nước ngoài không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động mà còn hàm ý quan hệ ngoại giao, thương mại giữa các quốc gia. Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật lao động. Tuy nhiên, luật lao động có mối quan hệ tương quan với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, mối quan hệ lao động này mang yếu tố nước ngoài nên gắn chặt với tư pháp quốc tế. Bởi thế, lao động nước ngoài làm việc trong từng ngành nghề cụ thể còn chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành. Cụ thể, lao động nước ngoài được tuyển dụng làm việc tại Việt Nam bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn chung về độ tuổi, sức khỏe… như quy định trong pháp luật lao động mà công tác trong ngành giáo dục đòi hỏi có những giấy chứng nhận chuyên môn, bằng cấp, chứng chỉ mà Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; lao động nước ngoài phục vụ cho lĩnh vực thể thao phải tuân thủ các quy định của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch…

     

    Yêu cầu đặt ra là xây dựng những quy định pháp luật cụ thể để quản lý đối tượng lao động này để đẩy mạnh mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhưng vẫn đảm bảo chính sách việc làm cho lao động trong nước. Trước tiên, pháp luật quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp với tinh thần Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Theo GS. TSKH. Đào Trí Úc nhận định: “Xét về bản chất, Hiến pháp vừa là văn bản pháp lý của Nhà nước, vừa là bản khế ước mang trong mình ý chí chung của xã hội” [6]. Bên cạnh đó, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về quản lý lao động nước ngoài với các ngành luật khác là yêu cầu cơ bản trong hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Yêu cầu về tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam cần phải có sự quan tâm, nỗ lực của từng cơ quan, trong đó quan trọng nhất là cơ quan quản lý nhà nước về lao

     

    động từ trung ương đến địa phương; cần có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan đó, giữa các ngành trong quá trình xây dựng, soạn thảo, thẩm định ban hành cho đến cơ quan kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật về lao động nước ngoài nói riêng và pháp luật lao động nói chung.

     

    2.5. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam phải phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động

     

    Có thể nói, Điều ước quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật về lao động là hai trong số những loại nguồn quan trọng của pháp luật lao động Việt Nam hiện nay. Trong đó, Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và thành viên gia đình họ năm 1990 và Công ước số 97 về quyền của người lao động di trú, năm 1949 được xem là hiến chương quốc tế về lao động di trú. Ngoài ra, pháp luật quốc tế về lao động bao gồm: Các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế – ILO về quyền con người: Công ước 143 về lao động di cư; Công ước số 87 về quyền tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội, 1948; Công ước số 98 về quyền được tổ chức và thương lượng tập thể, 1949; Công ước số 29 về lao động cưỡng bức; Công ước số 100 về việc trả lương bình đẳng, 1951; Công ước số 105 về cấm cưỡng bức lao động, 1957; Công ước số 111 chống phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, 1958; Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiếu, 1973; Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức sử dụng lao động trẻ em tồi tệ nhất, 1999. Công ước và khuyến nghị liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động di trú: Công ước số 26 về cơ chế xác định lương tối thiểu, 1928; Công ước số 81 về thanh tra lao động, 1947; Công ước số 88 về dịch vụ việc làm, 1948; Công ước số 103 về bảo vệ quyền thai sản (sửa đổi), 1952; Khuyến nghị số 115 về nhà

     

    • cho người lao động, 1961; Công ước số 122 về chính sách việc làm, 1964; Khuyến nghị số 155 về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, 1981; Công ước số 158 về chấm dứt việc làm, 1982; Công ước số 169 về các dân tộc và bộ lạc bản

    98                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    địa, 1989; Công ước số 181 về tổ chức giới thiệu việc làm tư nhân, 1997.

     

    Các công ước và khuyến nghị trên liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động di trú, bao quát toàn diện nhất về vấn đề lao động di trú bao gồm những nội dung cơ bản về an sinh xã hội, tuổi lao động, giờ làm việc, quyền tham gia công đoàn, mức lương tối thiểu, nơi ở, thuế, chống phân biệt đối xử…Các quốc gia thành viên là nước tiếp nhận lao động nước ngoài có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định của công ước, phải đảm bảo thực hiện các cam kết đối với lao động di trú.

     

    Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng mà tất cả các quốc gia quan tâm. Mối quan hệ này thường được quy định trong Hiến pháp của mỗi quốc gia [7]. Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của lao động nước ngoài trong Bộ luật lao động và Nghị định và Thông tư hướng dẫn kèm theo. Theo đó, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được đảm bảo quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, hiện nay quy định chưa cho phép lao động nước ngoài tham gia công đoàn sẽ hạn chế việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Tự do công đoàn là một trong những quyền quan trọng thuộc nhóm quyền đối xử bình đẳng giữa người lao động di trú và người lao động bản địa [5]. Cụ thể, pháp luật Việt Nam quy định thành phần tham gia phiên hòa giải có đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động [2]. Vậy đại diện cho người lao động Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là tổ chức Công đoàn. Nhưng lao động nước ngoài không được gia nhập công đoàn Việt Nam thì tổ chức nào sẽ đại diện cho họ trong việc giải quyết tranh chấp lao động?

     

    Cho đến thời điểm này, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán 16 hiệp định thương mại tự do FTA [4], trong đó có hai hiệp định có

     

    chứa các điều khoản về lao động là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà Việt Nam gia nhập năm 2018 và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam

     

    – EU (EVFTA) đang trong quá trình đàm phán. Đối với Hiệp định CPTPP, Việt Nam phải tuân theo nguyên tắc “thông qua và duy trì”, tức là Việt Nam phải nội luật hóa các điều khoản của Hiệp định vào pháp luật quốc gia, sửa đổi pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng để phù hợp với các cam kết đã ký trong Hiệp định. Bên cạnh đó, Việt Nam đã gia nhập 21 công ước của ILO, trong đó phê chuẩn 5/8 công ước cơ bản. Ở phạm vi khu vực, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập năm 2005 cho phép các lao động có tay nghề cao, dịch vụ, đầu tư và hàng hóa của 10 quốc gia thành viên được di chuyển tự do trong khu vực. Các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs) của các thành viên ASEAN cho phép 8 ngành nghề mà lao động có kĩ năng, kinh nghiệm phù hợp được hành nghề ở nước ngoài [13]. Nhìn chung, Việt Nam cũng như các nước trong khu vực ASEAN đều là thành viên của ILO, bởi thế khi xây dựng pháp luật quốc gia cũng như pháp luật của cộng đồng khu vực đều tuân theo những tiêu chuẩn lao động quốc tế.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 1 Điều 170.
    • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 209.
    • Các Hiệp định thương mại Việt Nam đã ký kết quá trình và lợi thế, nguồn:

    https://www.geskualalumpur2013.org/ngoai-giao/cac-hiep-dinh-thuong-mai-viet-nam-da-ky-ket-qua-trinh-va-loi-the/, truy cập ngày 10/11/2018.

     

    • Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật, Quyền của người nước ngoài, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, (2018) 115.
    • Đặng Minh Tuấn, Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia: Nhìn từ góc độ hiến

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    99

    pháp trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam,

    nguồn:

    https://hienphap.wordpress.com/2013/07/23/moi-

     

    quan-he-giua-phap-luat-quoc-te-va-phap-luat-

    quoc-gia-nhin-tu-goc-do-hien-phap-tren-the-gioi-

    va-mot-so-goi-mo-cho-viet-nam-dang-minh-tuan/,

    truy cập ngày 9/4/2019.

     

    • Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy

    định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Điều 20.

     

    • Nghị định 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 về sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Khoản 8 Điều 11.
    • Nguyễn Thị Lan Hương, Vấn đề lao động người nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Đề tài cấp Nhà nước, mã số

    KX.02.01/11-15, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, (2014) 13.

     

    A

     

    a

     

    aq

     

    • OECD, OECD Economic Surveys: Korea, (2018) 38.
    • Phạm Quý Thọ, Thị trường lao động Việt Nam – Thực trạng và các giải pháp phát triển, NXB. Lao động – xã hội, Hà Nội, (2003) 10.
    • Thị trường lao động Việt Nam đối mặt nhiều thách thức trong tiến trình hội nhập, nguồn: http://dangcongsan.vn/xa-hoi/thi-truong-lao-dong-viet-nam-doi-mat-nhieu-thach-thuc-trong-tien-trinh-hoi-nhap-468083.html, truy cập ngày 27/12/2017.
    • Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ LĐTB&XH, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Chính sách, pháp luật ASEAN về lao động và các vấn đề xã hội – tính tương thích của pháp luật Việt Nam” ngày 1/12 tại Hà Nội, (2016), 25-40.
    • Wang-Bae Kim, Migration of Foreign Workers into South Korea: From Periphery to Semi-Periphery in the Global Labor Market, Asian Survey, 44 (2) (2004) 317.

    aa

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

    Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

    Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-v%C4%83n-b%E1%BA%A3n-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-m%E1%BB%99t-trong-nh%E1%BB%AFng-%C4%91i%E1%BB%81u-ki%E1%BB%87n-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BB%83-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-b%E1%BA%A3o-%C4%91%E1%BA%A3m-quy%E1%BB%81n-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    Review Article

     

    Legal Document Control: A Basic Condition to

     

    Protect and Ensure Human Rights

     

    Hoang Thi Kim Que*, Le Thi Phuong Nga

     

    School of Law, Vietnam National University, Hanoi,

    144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 12 April 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: This article analyzes the significance of legal document control, one of the basic conditions to protect human rights and ensure freedom and constitutional, legitimate interests. Although the Vietnamese legal system is more and more complete, there are limitations to its legal document control. The article shows the clear negative influences of inappropriate legal regulations on human rights and interests. On that basis, the article referred to the basic rules of legal document control: The control of constitutionality, lawfulness and rationality throughout the legal document formulation process.

     

    Keywords: Legal supervision, supervision of legal documents, mechanisms for supervising legal (normative) documents, constitutionality, legitimacy, profitability.

     

    *

     

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4201

    14

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

     

    Hoàng Thị Kim Quế*, Lê Thị Phương Nga

     

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 12 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Bài viết đã phân tích ý nghĩa của kiểm soát văn bản pháp luật như là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do và lợi ích hợp hiến, chính đáng của con người. Mặc dù hệ thống pháp luật Việt nam đã ngày càng hoàn thiện song vẫn còn hạn chế về phương diện kiểm soát văn bản pháp luật. Bài viết đã nêu rõ những tác động tiêu cực của những quy định pháp luật có nội dung sai trái, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của con người. Trên cơ sở lập luận đó, bài viết đã cập những nguyên tắc cơ bản trong nội dung kiểm soát văn bản pháp luật: kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lí, kiểm soát trong tất cả các giai đoạn của quy trình xây dựng pháp luật.

     

    Từ khóa: Kiểm soát pháp luật, kiểm soát văn bản pháp luật; cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật, tính hợp hiến, hợp pháp, tính lợi ích.

     

    1. Kiểm soát pháp luật – điều kiện cơ bản để bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do và lợi ích hợp hiến, chính đáng của con người*

    Một trong những yêu cầu thường trực của nhà nước pháp quyền là hoạt động của các cơ quan và các cá nhân công quyền đều phải được kiểm soát bằng những thiết chế, cơ chế pháp lí và xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hợp lí, hợp đạo đức, công

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4201

    bằng, lẽ phải, hài hòa, cân bằng các loại lợi ích, hòa bình và hiệu quả. Nhà nước pháp quyền là nhà nước bị giới hạn quyền lực bởi pháp luật và các quyền, tự do, lợi ích của cá nhân.

     

    Kiểm soát quyền lực nhà nước là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do và lợi ích hợp hiến, hợp pháp, chính đáng của con người. Kiểm soát quyền lực nhà nước có nội hàm rộng lớn, bao gồm nhiều hợp phần chính yếu trong đó có kiểm soát pháp luật. Pháp luật do nhà nước ban hành và tổ chức thực thi cũng phải được đặt trong điều kiện bị kiểm soát. Kiểm soát pháp luật đến lượt mình cũng bao gồm nhiều thành tố cơ bản trong đó có kiểm soát văn bản pháp luật.

     

    15

     

    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    Khi đề cập về kiểm soát quyền lực nhà nước, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh đến vai trò của pháp luật: “pháp luật phải kiểm soát quyền lực, nơi nào có quyền lực, nơi đó phải có giám sát, luật pháp phải theo hướng đó. Pháp luật phải kiểm soát quyền lực, khi pháp luật trao quyền cho bất cứ ai thì phải có cơ chế để kiểm soát quyền lực đó, kể cả đối với Thủ tướng” [1].

     

    Kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ có ý nghĩa đầy đủ, hiệu lực, hiệu quả nhất khi bao quát cả việc kiểm soát hành vi và các văn bản pháp luật. Nếu xét riêng về phạm vi, tần suất tác động, số lượng các chủ thể chịu sự tác động thì có thể nói, sự tác động của các văn bản pháp luật rộng lớn hơn so với những hành vi pháp luật của các cá nhân, tổ chức.

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật phải được áp dụng đối với tất cả các loại văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Trong điều kiện hiện tại ở nước ta, với một khối lượng đồ sộ các văn bản dưới luật thì hoạt động kiểm soát văn bản pháp luật lại càng đặt ra một cách cấp thiết với những giải pháp mạnh, đồng bộ và có tính chất đột phá.

     

    Một quy định pháp luật sai trái sẽ gây nên tác động tiêu cực, ảnh hưởng ở những mức độ nhất định đến cuộc sống của tất cả những đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định pháp luật. Do vậy, pháp luật cần phải được kiểm soát, từ đầu vào và đầu ra của pháp luật, từ pháp luật trên giấy tờ, văn bản – “law in book” và pháp luật trong thực tiễn cuộc sống – “living law”.

     

    Tầm quan trọng của kiểm soát văn bản pháp luật thì đã rõ, tuy vậy, sự quan tâm đúng mức đến sự tác động của các văn bản pháp luật đối với đời sống xã hội, đặc biệt là sự tác động tiêu cực của những văn bản pháp luật có nhiều quy định trái pháp luật thì vẫn còn rất khiêm tốn, chưa thật sự quyết liệt và còn thiếu những giải pháp thuộc về cơ chế, chế tài xử lí.

     

    Suy cho cùng, hoạt động của các cơ quan nhà nước được thể hiện trong hành vi và các quyết định – văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện

     

    các chính sách, pháp luật trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương. Dư luận xã hội ngày càng có mối quan tâm đặc biệt đến chất lượng, tính khả thi, giá trị nhân văn của các văn bản pháp luật, các quy định pháp luật, chứ không chỉ đến hoạt động đến những hành vi cụ thể của các cơ quan và các cá nhân công quyền.

     

    Yêu cầu cấp thiết về kiểm soát văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay

     

    Kế từ khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành đến nay, hệ thống pháp luật nước ta đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện với những thành tựu quan trọng, đặc biệt là về tổ chức bộ máy nhà nước và quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Cùng với hoạt động xây dựng pháp luật, công tác kiểm tra, giám sát các văn bản pháp luật cũng đã đạt nhiều thành tích quan trọng, nhất là việc phát hiện những quy định,văn bản pháp luật sai trái.

     

    Tuy vậy, vẫn còn tình trạng nhiều văn bản pháp luật kém chất lượng, ở mức độ nhất định có còn trái pháp luật, vi phạm luật, hiến pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích, đến

     

    • thức và hành vi tôn trọng, tuân thủ pháp luật của người dân. Vấn đề kiểm soát văn bản pháp luật, quy định trách nhiệm xử lí đối với các cơ quan nhà nước trong việc ban hành các văn bản trái pháp luật đã và đang được đặt ra một cách cấp thiết, là nguyện vọng và yêu cầu của nhà nước và toàn xã hội, cần có những biện pháp kịp thời giải quyết mang tính quyết liệt và thiết thực hơn.

    Chỉ tính riêng trong phạm vi các văn bản pháp luật của các bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, số lượng các văn bản pháp luật sai trái pháp luật được phát hiện còn khá lớn và không thuyên giảm. Những con số biết nói phần nào thể hiện vấn đề này. Theo Báo cáo đánh giá hậu quả, tác hại của việc ban hành văn bản trái pháp luật gửi Thủ tướng Chính phủ, qua kiểm tra văn bản do các bộ ngành, địa phương ban hành, Bộ Tư pháp đã phát hiện 5.639 văn bản trái pháp luật. Trong đó, có tới 1.236 văn bản trái pháp luật về thẩm quyền ban hành và nội

     

    H.T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

    17

    dung; hơn 3.829 văn bản sai sót về căn cứ pháp lí, thể thức kỹ thuật trình bày văn bản; 574 văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng có chứa quy phạm pháp luật…, việc ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật làm ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai minh bạch; đồng thời cũng “ thể hiện sự “nhờn” luật, không nghiêm túc trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [2] .

     

    Việc ban hành các văn bản pháp luật sai trái pháp luật sẽ dẫn đến nhiều hậu quả, hệ lụy tiêu cực trên những mức độ như: xâm phạm các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng tiêu cực đến nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật; làm giảm uy tín của chính các cơ quan ban hành văn bản pháp luật và người lãnh đạo các cơ quan này. Tình trạng còn nhiều văn bản, quy định pháp luật sai trái được biểu hiện không chỉ ở sự vi phạm về tính hợp pháp, hợp lí, tính khả thi mà còn ở sự chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau giữa nhiều loại văn bản pháp luật của trung ương và địa phương; ở sự chậm trễ, nóng vội hoặc nợ đọng văn bản pháp luật. Tình trạng “pháp luật triệt tiêu pháp luật” là hiện tượng không bình thường. Nhưng hiện tượng đó vẫn diễn ra, thậm chí còn khá phổ biến hiện nay… [3]. Về phía Chính phủ, sau khi xem xét báo cáo của Bộ Tư pháp về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2017, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã yêu cầu kiểm điểm, xử lí, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với người đứng đầu, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc ban hành văn bản trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng. [4]

     

    2.           Cơ sở pháp lí của kiểm soát văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay

     

    Về cơ sở pháp lí, chúng ta đã có khá nhiều quy định liên quan đến kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, kiểm soát văn bản pháp luật

     

    nói riêng. Kiểm soát văn bản pháp luật theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm: giám sát, kiểm tra, xử lí văn bản pháp luật sai trái.

     

    Hiến pháp năm 2013 đã đặt nguyên tắc cơ bản để xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Điều 119 hiến pháp đã quy định: Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lí cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lí. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án Nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định. Mặc dù hiện tại, Hiến pháp chưa có quy định về cơ chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách như Nghị quyết của Đảng đã đề ra, nhưng với quy định của Điều 119 đã tạo lập cơ sở hiến định về xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng như trách nhiệm bảo vệ, tuân thủ hiến pháp.

     

    Hiến pháp đã quy định thẩm quyền của Quốc hội về giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch Nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 70). Theo Điều 74, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ

     

    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    quan nhà nước cấp trên. Điều 98 Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

     

    Luật ban hành văn bản pháp luật năm 2015 cũng đã quy định về chế độ giám sát, kiểm tra, xử lí văn bản quy phạm pháp luật và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (chương XV). Theo đó, tất cả mọi văn bản quy phạm pháp luật đều phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo quy định của pháp luật.

     

    Điều 7 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khâu lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chủ trì, tham gia soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lí, trình dự án, dự thảo đến ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Luật năm 2015 bổ sung một điều quy định về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 14) , bao gồm các hành vi sau: ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; ban hành văn bản không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

     

    3.           Nội dung chủ yếu của kiểm soát văn bản pháp luật dưới lăng kính nhà nước pháp quyền và quyền con người

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật và kiểm tra văn bản pháp luật là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất. Kiểm soát văn bản pháp luật

     

    bao gồm giám sát, kiểm tra, xử lí văn bản pháp luật với những chế tài hợp lí. Kiểm soát văn bản pháp luật đối với tất cả các công đoạn của quy trình xây dựng chính sách, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thảo luận và thông qua. Xét một cách toàn diện hơn, kiểm soát văn bản pháp luật còn bao hàm giám sát, kiểm tra việc áp dụng các văn bản pháp luật trong hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

     

    Cần xác định đầy đủ mục đích, yêu cầu của kiểm soát pháp luật. Kiểm soát pháp luật không chỉ để phát hiện vi phạm về quy trình, thủ tục xây dựng, ban hành, công bố các văn bản pháp luật. Kiểm soát pháp luật còn có mục đích, nhiệm vụ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hài hoà, hạn chế đến mức thấp nhất sự chồng chéo, mâu thuẫn, khắc phục các lỗ hổng pháp luật của hệ thống pháp luật quốc gia nói chung và trong từng lĩnh vực hoạt động xã hội nói riêng.

     

    Hiện nay ở Việt nam, kiểm tra văn bản pháp luật được xác định là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản sau khi ban hành (hậu kiểm văn bản) nhằm phát hiện, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật.

     

    Đối tượng của kiểm tra văn bản pháp luật theo quy định hiện hành rất hẹp, chỉ bao gồm các văn bản pháp luật từ cấp Bộ trưởng trở xuống sau khi văn bản đã được ban hành. Kiểm tra văn bản pháp luật theo quy định hiện hành thực chất là hoạt động hậu kiểm tra là chủ yếu. Theo quy định của khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì văn bản phải được kiểm tra, xử lí bao gồm: Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân. Văn bản được xử lí gồm: văn bản có nội dung trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao hơn; văn bản vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành.

     

    H.T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

    19

    Trên bình diện chung nhất, kiểm soát văn bản pháp luật có một số nội dung cơ bản như sau.

     

    Trước hết là kiểm soát Hiến pháp: kiểm soát tính hợp hiến của tất cả các văn bản pháp luật, đặc biệt là đối với các văn bản pháp luật của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ở trung ương. Kiểm soát Hiến pháp còn bao hàm nội dung quan trọng nữa là kiểm soát việc thể chế hoá các nguyên tắc, quy định cụ thể của Hiến pháp thành các văn bản luật trong cuộc sống.

     

    Kiểm soát Hiến pháp đặt ra cả trước và sau khi ban hành văn bản pháp luật cũng như trong quá trình thực hiện chúng. Kiểm soát Hiến pháp hay nói cách khác là bảo vệ Hiến pháp cả trên phương diện kiểm soát hành vi và quyết định dưới dạng văn bản pháp luật là công cụ quan trọng nhằm thiết lập, bảo vệ trật tự hiến pháp – một trong những điều kiện cốt lõi của xã hội pháp quyền, dân chủ.

     

    Kiểm soát toàn bộ quy trình xây dựng chính sách, đánh giá tác động của các chính sách, văn bản pháp luật, dự thảo văn bản pháp luật.

     

    Để có các văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng và đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn thì cần phải có chính sách tương ứng được xây dựng, phân tích thấu đáo. Về cơ sở pháp lí, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã đổi mới cơ bản quy trình xây dựng, ban hành văn bản theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định, quy định quy trình xây dựng chính sách cần được thông qua, phê duyệt trước khi bắt đầu soạn thảo văn bản.

     

    Thời gian qua, đối với một số văn bản quy phạm pháp luật, công đoạn chính sách đã được thực hiện với kết quả tích cực. Tuy vậy, trong thực tiễn, công đoạn xây dựng, phân tích, lấy ý kiến góp ý rộng rãi, đủ lượng thời gian cần thiết trước khi soạn thảo văn bản pháp luật còn nhiều hạn chế. Chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật còn hạn chế về đánh giá tác động chính sách.

     

    Sự bất cập, sự đồng nhất hai quá trình: xây dựng, phân tích chính sách và soạn thảo văn

     

    bản pháp luật. Đây có thể coi là một trong những hạn chế lớn nhất của quy trình lập pháp hiện nay, chưa hình thành nên những đề án chính sách – cơ sở vật chất cho việc hình thành một dự án luật. Các đề nghị xây dựng luật nhiều khi mới chỉ là cảm tính, chưa đưa được cuộc sống vào luật [5]. Nhiều dự án do vậy đã phải soạn thảo lại, sửa đổi nhiều lần, gây lãng phí lớn về thời gian, công sức và tiền bạc. Do chưa làm tốt ở công đoạn chính sách, chưa rõ ràng về chính sách trong dự thảo văn bản pháp luật nên phải lấy ý kiến nhiều lần, lặp lại, thiếu đánh giá tác động (RIA), thiếu tính tóan về chi phí – lợi ích.

     

    Một khi chất lượng, tính khả thi của văn bản pháp luật thấp kém sẽ kéo theo nhiều hệ lụy như giảm mức độ ủng hộ, giảm niềm tin, khó khăn trong việc hiểu và áp dụng chúng; tạo điều kiện thuận lợi cho các hiện tượng hư vô pháp luật cả ở thể nhẹ và thể nặng; dẫn đến vi phạm pháp luật, gây thiệt hại vật chất, tinh thần cho các cá nhân, tổ chức, tốn kém thêm tiền bạc, thời gian, công sức để khắc phục hậu quả. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, để có một chính phủ kiến tạo và phục vụ, mong muốn và quyết tâm của Thủ tướng là chưa đủ. Một chính phủ kiến tạo chỉ có được trên nền tảng một thể chế đủ mạnh, trong đó xác định rõ vai trò và các chức năng của nhà nước, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước và những người làm trong bộ máy nhà nước, cơ cấu tổ chức và con người trong bộ máy nhà nước, các nguyên tắc và cách thức thi hành công vụ, với những chuẩn mực minh bạch, có thể giám sát, đo lường và đánh giá được [6] .

     

    Kiểm soát sự hài hoà, cân bằng các loại lợi ích trong các văn bản pháp luật. Hài hòa, cân bằng các loại lợi ích là một trong những điều kiện căn bản để đảm bảo tính đúng đắn của các quy định pháp luật và tính khả thi của chúng trong thực tiễn. Hiệu lực và hiệu quả của pháp luật phụ thuộc vào sự tôn trọng cân bằng lợi ích của chủ thể thực thi pháp luật.

     

    Kiểm soát để phát hiện, nhận diện vấn đề lợi ích nhóm trong các văn bản pháp luật. Không cài cắm vào luật những lợi ích nhóm làm ảnh hưởng đến lợi ích chung, lợi ích chính

     

    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    đáng của các cá nhân, tổ chức. Đây là thông điệp được đưa ra của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2017 [7] .

     

    Trong văn bản pháp luật cần được thể hiện rõ ràng những vấn đề cơ bản như: đối tượng có trách nhiệm thực hiện, cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ quan áp dụng chế tài; cơ quan giải quyết tranh chấp; cơ quan cấp vốn; cơ quan giám sát và đánh giá; cơ quan ban hành các văn bản dưới luật; cơ quan duy trì trật tự văn bản [8] .

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật bao hàm việc kiểm soát sự tuân thủ, tính phù hợp của các quy định pháp luật với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, trong đó có các nguyên tắc cốt lõi như: tôn trọng trật tự thứ bậc về hiệu lực pháp lí của các văn bản pháp luật, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người; công bằng, bình đẳng, nhân đạo; “được làm tất cả những gì pháp luật không cấm” và nguyên tắc “chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”.

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật không chỉ để phát hiện vi phạm, mặc dầu điều này có tầm quan trọng và ý nghĩa xã hội to lớn. Kiểm soát văn bản pháp luật phải nhằm đảm bảo tạo lập, vận hành một hệ thống pháp luật đơn giản, gọn nhẹ, khắc phục nhanh chóng sự phức tạp, rườm rà, số lượng quá lớn, khó tiếp cận, khó áp dụng, gây ảnh hưởng đến ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật. Đây chính là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo cho tính hiện thực của các quyền, lợi ích của con người mà hiến pháp, pháp luật đã quy định.

     

    Kiểm soát việc tổ chức, quản lí, xử lí, tiếp thu ý kiến, phản biện, tham vấn của người dân, doanh nghiệp đối với dự thảo chính sách và văn bản pháp luật trước và sau khi được ban hành. Chất lượng, tính đúng đắn của các văn bản pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn tổ chức lấy ý kiến, tham vấn và phản biện xã hội một cách thực chất. Cần đổi mới cách làm, cách quản lí, xử lí thông tin lấy ý kiến một cách khách quan, thực chất hơn. Cần thu hút sự tham gia ý kiến của các chuyên gia, doanh nghiệp và người dân ngay từ khâu xây dựng chính sách

     

    chứ không chỉ góp ý vào các Dự án, Dự thảo văn bản pháp luật.

     

    Thực tiễn thời gian qua, do có chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ nên đã cắt giảm đáng kể các thủ tục hành chính, tạo lập môi trường pháp lí, môi trường đầu tư thông thoáng, giảm phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, việc loại bỏ những quy định thủ tục rắc rối, rườm rà cùng một số điều kiện kinh doanh chính là sự “cởi trói” cho doanh nghiệp, tạo lập không gian tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm, mở ra tạo cơ hội phát huy năng lực, tiềm năng, lợi thế và gia tăng sản phẩm có ích cho xã hội.

     

    Mặc dầu chúng ta có rất nhiều quy định pháp luật về trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan công quyền trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật, song mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc, các quy định trách nhiệm pháp lí theo nghĩa tích cực. Hiện tại còn thiếu các chế tài xử lí cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật có những quy định trái pháp luật.

     

    Trong nội dung của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu những chế tài về trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan soạn thảo, cán bộ, công chức trong việc tham mưu soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và kí ban hành văn bản trái pháp luật. Do vậy, nếu có sai phạm thì cũng không có quy định cụ thể để xử lí và trên thực tế “cũng chưa có ai bị xử lí vì ban hành văn bản trái pháp luật, nhiều Bộ, ngành, địa phương chấp hành chưa nghiêm việc gửi văn bản sau khi ban hành cho Bộ Tư pháp để kiểm tra, trong khi quy định hiện hành chưa có biện pháp xử lí cụ thể đối với việc không gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra; chưa quy định về thời gian hoặc thời điểm văn bản được kiểm tra xong kể từ ngày nhận được văn bản” [9].

     

    Trong phiên họp ngày 28.2.2016, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã cảnh báo tình trạng “cài cắm câu chữ để bẫy doanh nghiệp”. Những quy định chung chung, định tính, không rõ ràng đã tạo sự thuận lợi cho ý định và hành vi tham nhũng.

     

    H.T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

    21

    Yêu cầu trở nên cấp thiết về xây dựng “ cơ chế cơ chế kiểm soát nguy cơ cài cắm trong xây dựng pháp luật, xây dựng quy trình quản lí. Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, cách tốt nhất để chống cài cắm chính sách là có một bộ phận chuyên môn độc lập làm việc này. Các dự thảo văn bản pháp luật phải được gửi cho đơn vị này để lấy ý kiến trước khi trình kí ban hành” [10].

     

    Cần ban hành văn bản quy định cụ thể, chế tài cụ thể đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật và các hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm tra văn bản pháp luật. Hình thức trách nhiệm pháp lí cũng cần được quy định đối với người đứng đầu các cơ quan xây dựng, ban hành pháp luật. Cần xây dựng các văn bản pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật, quy định cụ thể với các chế tài thích hợp về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan xây dựng pháp luật theo quy định tại Điều 7 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

     

    Đặc biệt là cần quy định rõ ràng, thiết thực, mạnh mẽ hơn nữa về hậu quả pháp lí đối với các văn bản pháp luật có vi phạm, quy định chế tài hợp lí về trách nhiệm đối với cán bộ, công chức trong việc tham mưu soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và kí ban hành văn bản trái pháp luật.

     

    Về thiết chế, cơ chế thực hiện kiểm soát văn bản pháp luật do vậy cần thay đổi mạnh mẽ. Trong khi chúng ta chưa có một thiết chế hoàn chỉnh về bảo hiến – kiểm soát hiến pháp thì nên kiện toàn các thiết chế chuyên trách về kiểm soát văn bản pháp luật theo hướng tăng thẩm quyền, mở rộng phạm vi, đối tượng kiểm soát văn bản pháp luật của tất cả các cơ quan nhà nước.

     

    Cần nhận thức đầy đủ về kiểm soát văn bản pháp luật trên nguyên tắc: phân công rành mạch, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật.

     

    Cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật phải là một tổng thể bao gồm cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật từ bên ngoài – cơ chế kiểm soát xã hội; cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật bên

     

    trong do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫn nhau.

     

    Đồng thời, phải có cả cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật một cách độc lập do Luật quy định. Theo đấy, cần bổ sung quy định pháp luật về trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến hoạt động kiểm soát các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành.

     

    Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, cần nghiên cứu thành lập thiết chế bảo hiến phù hợp với điều kiện Việt nam, trao quyền cho thiết chế đó chức năng phán quyết, xem xét, xử lí các văn bản pháp luật vi phạm hiến pháp, pháp luật. Tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia khác, cần xây dựng các thiết chế kiểm soát văn bản pháp luật độc lập, có như vậy mới có thể xây dựng, vận hành một hệ thống pháp luật thống nhất, đáp ứng được các nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân.

     

    Trên quan điểm đặt lên hàng đầu quyền, lợi ích của người dân trong xây dựng chính sách, pháp luật, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu trong phần trả lời chất vấn của các đại biểu vào ngày 1 tháng 11 vừa qua ” chúng ta phải hiểu và đặt sự lưu tâm đến từng người dân, không để bất kỳ ai bị bỏ sót hay cảm thấy bị bỏ sót trong các chính sách phát triển… Luật pháp không cho phép chúng ta hợp thức hoá cái sai, không ai có quyền quyết định trái pháp luật” [11].

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Nguyễn Bá Chiến, Pháp luật triệt tiêu pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 74, tháng 4/2006.
    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    tuong-chi-dao-xu-ly-cac-van-ban-trai-luat-20180815220104277.htm.

     

    • Đinh Dũng Sỹ, Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật trong hoạt động lập pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 127, tháng7/2008.
    • Phạm Chi Lan, Thể chế cho một chính phủ kiến tạo. http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/the-che-cho-mot-chinh-phu-kien-tao/1102398.
    • Thái Bình, Không cài cắm vào luật để phục vụ lợi

    ích riêng. http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/thu-tuong-khong-cai-cam-vao-luat-noi-dung-khong-vi-loi-ich-chung-348136.html#inner-article

     

    • Ann Seidman,   Robert      Seidman,   Nalin

    Abeyesekers, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội

     

    dân chủ: Sổ tay cho nhà soạn thảo, NXB. Chính trị Quốc gia, (2003) 70 – 72.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-thi-h%C3%A0nh-%C3%A1n-h%C3%ACnh-s%E1%BB%B1-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ph%C3%A1p-nh%C3%A2n-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-ph%E1%BA%A1m-t%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    Review Article

     

    Criminal Law Enforcement Policy for Corporates

     

    Dinh Thi Mai*

     

    Graduate Academy of Social Sciences, 477 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Received 15 April 2019

    Revised 26 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: Corporate criminal liability is still a new issue in Vietnam’s criminal justice practice. Criminal judgment execution and criminal enforcement policy for corporates in Vietnam are still being formulated. Therefore, this article discusses four factors that are considered the main pillars of criminal law enforcement policy for corporate entities, including: (1) Impact object of criminal law enforcement policy for corporate entities; (2) Object of criminal law enforcement policy for corporate entities; (3) Subjects of criminal law enforcement policy for corporate entities; and (4) Forms and measures of criminal law enforcement policy for corporate entities.

     

    Keywords: Criminal law enforcement policy, corporate criminal, impact object, object, subject, form and measure.

     

    *

     

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4213

     

    54

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với

     

    pháp nhân thương mại phạm tội

     

    Đinh Thị Mai*

     

    Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

     

    Nhận ngày 15 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 26 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Pháp nhân thương mại phạm tội vẫn còn là vấn đề rất mới đối với nền tư pháp hình sự Việt Nam. Thi hành án hình sự và chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại ở Việt Nam hiện nay vẫn đang trong giai đoạn xây dựng và hình thành chính sách. Vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu và luận bàn đến 4 yếu tố được coi là trụ cột của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, bao gồm:

     

    • Đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân; (2) Khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân; (3) C hủ thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân; (4) Hình thức và biện pháp của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân.

    Từ khóa: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự; pháp nhân thương mại phạm tội; đối tượng tác động; khách thể; chủ thể; hình thức và biện pháp.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Kể từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018, mọi hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự1. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, tính đến nay, chúng ta đã có các quy định về mặt nội dung

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4213

     

    1Theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

     

    (Bộ luật hình sự năm 2015), đã có các quy định về thủ tục tố tụng để khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Chương 24, Bộ luật tố tụng hình sự 2015). Tuy nhiên, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì chưa có quy định cụ thể2. Từ đầu năm 2019 đến nay, vấn đề này đã và đang được Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

     

    ________

     

    • Quy định tại Điều 445 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền, thủ tục thi hành án hình sự đối với pháp nhân phạm tội còn rất chung chung, theo hướng đối với hình phạt tiền thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, còn các hình phạt khác giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành “theo quy định của pháp luật”.

     

    55

     

    56                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    gấp rút thảo luận, để trình các phương án sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi 2019).

     

    Vấn đề vướng mắc và khó khăn nhất về cả lý luận và thực tiễn trong chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội đó là do đặc điểm của chủ thể bị thi hành án hình sự (là pháp nhân thương mại) khác biệt cơ bản với chủ thể bị thi hành án là cá nhân (con người cụ thể). Bên cạnh đó, các hình phạt được áp dụng với pháp nhân cũng khác hẳn về bản chất, trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành so với cá nhân. Đối với người phạm tội là cá nhân, các hình phạt sẽ do cơ quan thi hành án áp dụng và cưỡng chế thi hành (ví dụ: áp dụng hình phạt tù chung thân, tù có thời hạn hay cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, trục xuất,…). Đối với pháp nhân phạm tội, về nguyên tắc, các hình phạt cũng do cơ quan thi hành án áp dụng và cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, để áp dụng hình phạt (ví dụ, hình phạt cấm kinh doanh, hoặc cấm huy động vốn hay đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn trong một số lĩnh vực) đối với pháp nhân thương mại thì ai là người có thẩm quyền và nghĩa vụ thực thi các hình phạt này, cấm/ đình chỉ hoạt động bằng biện pháp gì, trình tự thủ tục ra sao? Không thể cấm và đình chỉ hoạt động của pháp nhân bằng biện pháp có tính chất vật lý như biện pháp “đưa vào cơ sở giam giữ” như khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với cá nhân phạm tội được.

     

    Như vậy, trong nghiên cứu chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, vấn đề xương sống là cần xác định các yếu tố trụ cột của chính sách, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thi hành án đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Đây cũng chính là các vấn đề còn nhiều vướng mắc, gây nhiều tranh luận nhất trong quá trình thảo luận và chỉnh lý dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi) dự kiến sẽ thông qua vào kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIV (tháng 6/2019).

     

    Với những nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đưa ra các quan điểm về bốn yếu tố chính của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại sau đây:

     

    1.   Đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân

     

    Nghiên cứu về đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân là nghiên cứu về đối tượng bị thi hành án hình sự (trả lời câu hỏi: Thi hành án hình sự đối với những loại hình pháp nhân nào?)

     

    Nói đến chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội không thể không bàn đến đối tượng tác động của chính sách. Tức cần nghiên cứu làm rõ pháp nhân thương mại là đối tượng của thi hành án hình sự gồm những loại hình gì? Những pháp nhân nào có thể là đối tượng của thi hành án hình sự?

     

    Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 75 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. 2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác [5]. Pháp nhân thương mại phạm tội có nghĩa vụ phải chấp hành án kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

     

    Như vậy, đối tượng bị thi hành án hình sự là pháp nhân thương mại bao gồm (1) doanh nghiệp và (2) các tổ chức kinh tế khác có mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên3.

    ________

     

    • Theo khái niệm pháp nhân thương mại như đã nêu trên, các chủ thể nào không phải là doanh nghiệp, cũng không phải là các tổ chức kinh tế khác hoặc tuy là doanh nghiệp, là các tổ chức kinh tế khác nhưng không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên thì không phải là pháp nhân thương mại; ví dụ như:

     

    Một là, ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu chủ yếu là liên

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    57

    Đến nay, theo báo cáo của Vụ pháp chế – Bộ công thương tại Ủy ban tư pháp của Quốc hội: “Tính đến thời điểm 01/01/2017 cả nước có gần 5,9 triệu đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp, mỗi năm tăng bình quân 2,6%. Số lượng lao động trong các đơn vị là 26,9 triệu người. Trong đó, doanh nghiệp là khu vực dẫn đầu về mức tăng số lượng và thu hút lao động với 518 nghìn doanh nghiệp thực tế đang tồn tại. Khối doanh nghiệp này cũng thu hút 14,1 triệu lao động, trong đó có 14 triệu lao động thuộc các doanh nghiệp hoạt động thực tế, bình quân hàng năm số lượng doanh nghiệp tăng 8,7%. Cả nước có 13,56 nghìn hợp tác xã, thu hút 206,6 nghìn lao động. Số lượng các hợp tác xã thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 51%, công nghiệp và xây dựng chiếm 19,5%, dịch vụ chiếm 29,5%. Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể là 5,1 triệu, thu hút 8,7 triệu lao động”[3].

     

    1.1. Pháp nhân thương mại là doanh nghiệp

     

    Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các chủ thể được coi là doanh nghiệp phải thỏa mãn các điều kiện là doanh nghiệp được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật Đầu tư 2014, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Chứng khoán năm 2006… [1].

     

    kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân (Khoản 7 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Ngân hàng hợp tác xã được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã (đoạn 1 Khoản 5 Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) .

     

    Hai là, quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống (Khoản 6 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010).

     

    Ba là, ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước (Khoản 1 Điều 17 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) .

     

    Bốn là, đơn vị sự nghiệp công lập không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận.

     

    Các loại hình doanh nghiệp có thể là đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành này ở Việt Nam rất đa dạng, bước đầu nghiên cứu chúng tôi tạm phân loại theo 5 loại hình doanh nghiệp, bao gồm:

     

    • Các công ty, doanh nghiệp, gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp nhà nước [6].

     

    • Các tổ chức hoạt động kinh doanh, bảo hiểm, gồm: Doanh nghiệp bảo hiểm, Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam (gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, Công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm, Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài)[8].
    • Các tổ chức tín dụng ngân hàng, gồm: Ngân hàng thương mại (bao gồm cả ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài); Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trừ Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ), Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.

     

    • Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, gồm: Công ty tài chính (bao gồm cả công ty tài chính trong nước, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, Công ty cho thuê tài chính (bao gồm cả công ty cho thuê tài chính trong nước, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính

    100% vốn nước ngoài; Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác (bao gồm cả các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác trong nước, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác liên doanh và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác 100% vốn nước ngoài).

     

    • Các pháp nhân thương mại thực hiện kinh doanh chứng khoán, gồm: Công ty chứng khoán (bao gồm cả công ty chứng khoán không

     

    58                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    có vốn đầu tư nước ngoài và công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam); Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (bao gồm cả công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không có vốn đầu tư nước ngoài và công ty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam), Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (gọi là công ty quản lý quỹ), Công ty đại chúng, Công ty đầu tư chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng giám sát [7].

     

    • Các doanh nghiệp khác có tham gia kinh doanh, hành nghề được quy định trong các Luật chuyên ngành.

    Đây là loại hình pháp nhân thương mại (doanh nghiệp) rất đa dạng, được quy định là tổ chức kinh tế tham gia kinh doanh, hành nghề, hoạt động trong lĩnh vực luật chuyên ngành với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia đều cho các thành viên.

     

    Theo đó, hiện nay, các tổ chức kinh tế này rất đa dạng, bao gồm các tổ chức kinh tế với các tên gọi khác nhau được quy định trong các luật chuyên ngành như: Luật Điện lực 2004 (vd: Doanh nghiệp truyền tải điện…), Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (vd: Doanh nghiệp vận chuyển hàng không, Doanh nghiệp kinh doanh hàng không), Luật Giám định tư pháp 2012 (vd: Văn phòng giám định tư pháp), Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật 2013 (vd: Doanh nghiệp nhập khẩu thực vật, Doanh nghiệp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật) , Luật Bưu chính 2010 (vd: Công ty bưu chính viễn thông), Luật Công chứng 2014 (vd: Văn phòng công chứng), Luật Dược 2016 (vd: Cơ sở sản xuất thuốc, Cơ sở bán lẻ thuốc, dược liệu), Luật Du lịch 2017(vd: Doanh nghiệp lữ hành), Luật Đất đai 2013 (vd: Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư đất đai), Luật Đường sắt 2017 (vd: Doanh nghiệp vận tải đường sắt), Luật Giá 2012 (vd: Doanh nghiệp dịch vụ thẩm định giá), Luật Hải quan 2014 (vd: Đại lý làm thủ tục hải quan), Luật Kế toán 2015(vd: Công ty TNHH dịch vụ kế toán), Luật Khoáng sản 2010 (Vd: Công ty khai thác khoáng sản), Luật

     

    Kiểm toán độc lập 2011(vd: Doanh nghiệp kiểm toán, báo cáo tài chính), Luật Chăn nuôi 2018, Luật Chuyển giao công nghệ 2017, Luật Giám định tư pháp 2012, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, Luật Khí tượng thủy văn 2015, Luật Khoa học công nghệ 2013, Luật Thú y 2015, Luật Thủy sản 2017, Luật Việc làm 2013, Luật Báo chí 2016, Luật Đấu giá tài sản 2016, Luật Giám định tư pháp 2012, Luật Giáo dục đại học 2014, Luật Khám chữa bệnh 2009, Luật Thể dục, thể thao 2006, Luật Xuất bản 2012 (vd: Nhà xuất bản)…

     

    1.2. Pháp nhân thương mại là các tổ chức kinh tế khác.

     

    Pháp nhân là các tổ chức kinh tế khác có mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên theo chúng tôi bao gồm 5 loại hình sau:

     

    • Hộ kinh doanh
    • Hợp tác xã: là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

     

    • Liên hiệp hợp tác xã

    Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

     

    Khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

     

    • Đơn vị sự nghiệp công lập có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận

    Đơn vị sự nghiệp công lập có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    59

    nhà nước và có nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công.

     

    Đơn vị sự nghiệp công lập có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận (theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ) gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc doanh nghiệp nhà nước, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức chính trị – xã hội có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp.

     

    • Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập

    Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập là các tổ chức được quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008.

     

    2.   Khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân

     

    Nghiên cứu về khách thể của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân tức là nghiên cứu trả lời câu hỏi: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân hướng tới điều gì?

     

    Theo nghĩa gốc, khách thể chính là cái mà chủ thể đạt được (hoặc hướng tới nhằm đạt được) thông qua việc tác động vào đối tượng.

     

    Mục tiêu cuối cùng mà chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân hướng đến chính là việc thi hành hiệu quả bản án đã tuyên đối với pháp nhân phạm tội. Hay nói cách, khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân chính là

     

    việc thi hành hiệu quả các hình phạt đã được tuyên đối với pháp nhân (bao gồm cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp).

     

    Nghĩa là, chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân hướng đến việc thi hành được và hiệu quả hình phạt tiền, hình phạt đình chỉ vĩnh viễn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, hoặc thi hành được hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực của pháp nhân thương mại, hoặc tịch thu được tang vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm của pháp nhân.

     

    Như vậy, nghiên cứu về khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân4 không phải là nghiên cứu về hình phạt đối với pháp nhân. Tuy nhiên, bước đầu nghiên cứu chúng tôi khẳng định: khi nghiên cứu về khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội trước hết phải làm rõ các loại hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Tức trả lời câu hỏi: Thi hành cái gì?).

     

    Hình phạt là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới chủ thể, biện pháp và cách thức tổ chức thi hành án hình sự. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:

     

    • Bốn hình phạt chính, gồm: + Phạt tiền (Điều 77),
    • Đình chỉ hoạt động có thời hạn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 78),
    • Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 79 Khoản 1),
    • Đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động (Điều 79 Khoản 2).

    – Ba hình phạt bổ sung, gồm:

     

    ________

     

    • Từ trước tới nay, khi nghiên cứu về chính sách pháp luật nói chung hay chính sách pháp luật hình sự nói riêng, khái niệm “Khách thể của chính sách pháp luật”, đặc biệt là khái niệm “Khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân” chưa hề được đề cập nghiên cứu. Có thể nói, đây là lần đầu tiên, khái niệm này được đề cập nghiên cứu, vì vậy, các quan điểm trong bài viết này hoàn toàn là quan điểm nghiên cứu bước đầu của cá nhân của tác giả, rất mong nhận được ý kiến bàn luận và góp ý của các độc giả và các nhà nghiên cứu.

     

    60                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    • Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực (Điều 80)
    • Cấm huy động vốn dưới các hình thức: a) Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư; b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; c) Cấm huy động vốn khách hàng; d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản (Điều 81).
    • Phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính)

    – Bốn biện pháp tư pháp, gồm:

     

    • Tịch thu tang vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 82, Khoản 1);
    • Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 82, Khoản 1, Điểm a);
    • Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu (Điều 82, Khoản 1, Điểm b)
    • Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra (Điều 82, Khoản 1, Điểm c)5.

    Như vậy, ngoài hình phạt tiền thì các hình phạt chính và hình phạt bổ sung được áp dụng đối với pháp nhân thương mại đều có tính chất chung là hạn chế quyền thực hiện một hoặc một số, hoặc tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.

     

    ________

     

    • Gồm các biện pháp: a) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; b) Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm; d) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật; đ) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; e) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường. (Điều 82, Khoản 3)

    Đối với hình phạt tiền, trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tiền do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

     

    Còn lại ba hình phạt chính và ba hình phạt bổ sung như trên đã phân tích đều có chung tính chất là liên quan đến việc giám sát hoặc tác động “cấm”, “đình chỉ” một, một số hoặc tất cả các hoạt động hoặc các lĩnh vực của pháp nhân thương mại.

     

    3.   Chủ thể của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân

     

    Nghiên cứu về chủ thể của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân tức là nghiên cứu trả lời câu hỏi: Ai thi hành án? Cần xác định được cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thương mại gồm những cơ quan nào? Ai, cơ quan nào có thẩm quyền và có thể thực hiện được các hình phạt được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội?

     

    Như đã phân tích ở trên, pháp nhân là đối tượng của thi hành án hình sự gồm hai nhóm chính: Pháp nhân thương mại là doanh nghiệp và Pháp nhân thương mại là các tổ chức kinh tế khác6. Xét theo tính chất của các hoạt động giao dịch của pháp nhân, có thể phân loại hoạt động của pháp nhân thành ba nhóm chính, bao gồm: nhóm “hoạt động tự thân”, nhóm “hoạt động với chủ thể công” và nhóm “hoạt động với chủ thể tư”7.

     

    Để xác định chủ thể và trình tự thủ tục thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, hoàn toàn có thể dựa vào 2 cách phân loại trên. Hoặc xác định cách thức thi hành theo các loại hình phạt.

     

    Tuy nhiên, để xác định cơ quan nào là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội cũng như đề xuất trình tự, thủ tục thi hành án phù

     

    ________

    • Xem thêm mục 1.1 và 1.2 của bài viết này.

     

    • Xem thêm mục 3. của bài viết này.

     

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    61

    hợp với từng chủ thể thi hành, theo nghiên cứu bước đầu của chúng tôi, cách thức hợp lý hơn cả không phải là phụ thuộc vào hình phạt, mà là xác định tùy theo đối tượng bị thi hành án (tức là xem xét đối tượng phải thi hành án là pháp nhân thương mại thuộc loại hình doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế nào).

     

    Qua nghiên cứu bước đầu, tôi đề xuất việc xác định Cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thương mại và trình tự thủ tục thi hành phải được xác định và phân loại dựa theo đặc điểm kinh doanh của pháp nhân, và được phân loại theo 3 nhóm đặc thù sau đây [3]:

     

    • Nhóm 1: Nhóm các cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thuộc các ngành, nghề không yêu cầu điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính (pháp nhân chỉ cần đăng ký doanh nghiệp là có thể hoạt động)

    Các pháp nhân thương mại được kinh doanh tất cả những ngành, nghề mà pháp luật không cấm (quyền tự do kinh doanh). Đối với loại pháp nhân thương mại này, công tác theo dõi, giám sát, bảo đảm thi hành án thuộc thẩm quyền chính của các cơ quan quản lý doanh nghiệp là cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp và cơ quan thuế.

     

    Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân kinh doanh các ngành, nghề không yêu cầu điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính là Bộ kế hoạch và đầu tư, Sở kế hoạch và đầu tư (các cấp) và Cục thuế.

     

    Hiện nay, cơ chế phối hợp liên thông điện tử tự động giữa các cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế thông qua quy trình tạo và sử dụng mã số doanh nghiệp. Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối công khai thông tin doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp có hành vi

     

    • phạm pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư. Cục thuế công khai danh sách các doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp trên địa bàn có vi phạm pháp luật về thuế. Hình thức công khai thông tin về xử lý doanh nghiệp phạm tội của từng cơ quan được thực hiện trên Cổng thông tin điện tử của mỗi ngành theo quy

    trình công khai thông tin điện tử riêng của từng cơ quan.

     

    • Nhóm 2: Nhóm các cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thuộc các ngành, nghề thuộc kinh doanh có điều kiện.

    Đối với các ngành, nghề thuộc kinh doanh có điều kiện (gồm 243 ngành, nghề theo quy định của Luật đầu tư [9]) thì các pháp nhân muốn hoạt động cần phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, hoặc giấy phép hoạt động (gọi là tiền kiểm).

     

    Cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện là cơ quan quản lý nhà nước được giao chủ trì về quản lý nhà nước đối với ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện, tức chính là cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính (tiền kiểm) theo quy định của pháp luật. (Tức chính là cơ quan có thẩm quyền cấp, thu hồi, sửa đổi giấy chứng nhận đủ điều kiện (hoặc giấy tờ có giá trị tương đương) cho pháp nhân thương mại. Ví dụ: Ủy ban chứng khoán (đối với Các pháp nhân thực hiện kinh doanh chứng khoán), Ngân hàng nhà nước (đối với Các tổ chức tín dụng ngân hàng).

     

    Tuy nhiên, không phải tất cả 243 ngành nghề này đều có kết quả quản lý nhà nước là một loại giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh… (tức là quản lý theo phương pháp tiền kiểm). Theo chỉ đạo chung của Chính phủ, nhiều ngành nghề trong số 243 ngành, nghề này dần được chuyển từ quản lý dạng tiền kiểm sang dạng hậu kiểm, tức là diện kinh doanh chỉ được kiểm soát trong quá trình doanh nghiệp hoạt động thông qua thanh tra, kiểm tra chứ không nhất thiết phải kiểm tra và cấp phép trước khi hoạt động [3].

     

    Và như vậy, đối với các ngành, nghề, hoạt động mà quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh theo chế độ hậu kiểm thì về thực tiễn, việc thi hành các hình phạt (các biện pháp cấm kinh doanh, cấm hoạt động…) được thực hiện tương tự như các pháp nhân tự do kinh doanh.

     

    • Nhóm 3: Nhóm các cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân

     

    62                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    kinh doanh một số hoạt động phải thực hiện thủ tục hành chính trước khi thực hiện hoạt động (giấy phép, chứng chỉ hành nghề và các giấy tờ tương đương)

     

    Hiện nay, theo Điều 8, Khoản 2, Điểm a, Nghị định 92/2017 về kiểm soát thủ tục hành chính, các thủ tục hành chính được thực hiện theo các phương thức sau:

     

    • Pháp nhân thương mại đề nghị cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp giấy phép, chấp thuận, xác nhận… trước khi pháp nhân thực hiện hoạt động. (hành chính – tiền kiểm)
    • Pháp nhân đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để được hoạt động. Tuy nhiên, việc đăng ký có thể cần có kết quả trả lời (mới được hoạt động) hoặc không cần trả lời (sau một thời gian nhất định mà không phản hồi thì doanh nghiệp được tự động thực hiện).
    • Pháp nhân thông báo hoạt động của mình đến cơ quan quản lý nhà nước có liên quan mà không cần trả lời là có đồng ý hay không của cơ quan quản lý nhà nước (hành chính – hậu kiểm). Riêng đối với hình thức thứ 3 này, thủ tục hành chính được thực hiện theo chế độ hậu kiểm nên việc thi hành các biện pháp cấm kinh doanh, cấm hoạt động lại được thực hiện tương tự như các pháp nhân tự do kinh doanh (thuộc nhóm 1).

    Và như vậy, ngoài pháp nhân được thực hiện thủ tục hành chính – hậu kiểm (nêu trên), đối với 2 hình thức hành chính tiền kiểm còn lại, Cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

     

    Ví dụ:

     

    • Cơ quan Hải quan, các hãng vận tải, cảng vụ hàng không, các đại lý hải quan… khi thực hiện các hình phạt cấm / đình chỉ hoạt động xuất nhập khẩu;
    • hoặc: Ngân hàng nhà nước, các cảng vụ hàng không, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứng khoán… khi thực hiện hình phạt đình chỉ hoạt động giao dịch tài chính đối với pháp nhân phạm tội.

    4.   Hình thức và biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

     

    Trả lời câu hỏi: Thi hành án như thế nào?

     

    Hình thức và biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân là một vấn đề mới, cả thực tiễn và lý luận về chính sách pháp luật thi hành án hình sự chưa được nghiên cứu. Hiện nay, đây cũng là vấn đề có nhiều ý kiến và được bàn luận khá sôi nổi tại các phiên họp góp ý Dự thảo Bộ luật thi hành án hình sự sửa đổi 2019. Qua nghiên cứu, tôi cho rằng:

     

    • Về hình thức thi hành án hình sự đối với pháp nhân:

    Xét về nguyên tắc, có hai hình thức chính trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân, gồm:

     

    • Tự nguyện thi hành: ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, pháp nhân thương mại phạm tội có nghĩa vụ chấp hành bản án và các quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án và của các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan về thi hành án.
    • Cưỡng chế thi hành án: trường hợp pháp nhân không tự nguyện chấp hành án hoặc chấp hành án không đầy đủ thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Các biện pháp cưỡng chế chưa được quy định trong luật, tuy nhiên, theo Điều 178, Dự thảo Luật Thi hành án hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2018 (lần 6) bao gồm:
    • Buộc chấm dứt ngay hoạt động đã bị Tòa án đình chỉ hoặc cấm;
    • Buộc thông tin công khai về hoạt động đã bị Tòa án đình chỉ hoặc cấm trên các phương tiện theo quy định của pháp luật;
    • Niêm phong, tạm giữ tài liệu, chứng từ, dữ liệu điện tử, con dấu của pháp nhân thương mại;
    • Phong tỏa tài khoản;
    • Kê biên tài sản.
    • Về biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân: Đây thực sự là một vấn đề khó, xuất phát từ đặc điểm “không phải là thể nhân” của pháp nhân thương mại. Việc thi hành hình phạt đối với pháp nhân, do vậy, hoàn toàn khác biệt về

     

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    63

    tính chất và biện pháp thi hành so với việc thi hành hình phạt đối với cá nhân phạm tội.

     

    Như mục trên đã phân tích, các hình phạt (hình phạt chính và hình phạt bổ sung) được áp dụng đối với pháp nhân, ngoài hình phạt tiền được giao cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (hiện không có vướng mắc gì, có thể dễ dàng thực hiện) thì các hình phạt còn lại8 đều có chung đặc điểm là hạn chế quyền thực hiện một hoặc một số, hoặc tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.

     

    Như vậy, xét theo đặc điểm này, chúng tôi chỉ ra hai tính chất đặc trưng quyết định tới biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân, bao gồm:

     

    • Thứ nhất, tự thân pháp nhân không thực hiện hành vi (giao dịch) nếu không có người đại diện.
    • Thứ hai, hoạt động của pháp nhân được hình thành bởi: hành vi của người đại diện và hành vi của đối tác.

    Như vậy, khi áp dụng hình phạt đối với pháp nhân, tức là cần tác động tới hành vi của người đại diện hoặc hành vi của đối tác (hoặc cả hai) để đình chỉ, tạm đình chỉ, cấm, hoặc đình chỉ vĩnh viễn một (hoặc một số, toàn bộ) hoạt động(hoặc lĩnh vực) của pháp nhân.

     

    Như vậy, để xác định được phương pháp, chủ thể và cả trình tự, thủ tục thi hành án hình sự đối với pháp nhân, cần xác định dựa trên đặc điểm, tính chất của các hoạt động của pháp nhân.

     

    Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng có thể phân loại hoạt động của pháp nhân thành ba nhóm, bao gồm:

     

    ________

     

    • Bao gồm các hình phạt: Đình chỉ hoạt động có thời hạn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 78), Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 79 Khoản 1), Đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động (Điều 79 Khoản 2). Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực (Điều 80), Cấm huy động vốn dưới các hình thức: a) Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư; b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; c) Cấm huy động vốn khách hàng; d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. (Điều 81).
    • Nhóm 1, nhóm “hoạt động tự thân”: Các hoạt động pháp nhân tự làm mà không cần phối hợp hay giao dịch với bất kỳ chủ thể thứ 2 nào, như: vận hành máy móc, tự sản xuất, gia công, hoạt động điều hành quản lý doanh nghiệp…
    • Nhóm 2, nhóm “hoạt động với chủ thể công”: Các hoạt động có giao dịch với cơ quan nhà nước.
    • Nhóm 3, nhóm “hoạt động với chủ thể ”: Các hoạt động có giao dịch với một bên chủ thể tư (như mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, thuê mướn lao động, chuyển quyền sở hữu đối với tài sản…) [4].

    Như vậy, đối với loại hoạt động của pháp nhân ở nhóm 1, chúng tôi đặt tên là “hoạt động tự thân”. Đây là các loại hoạt động mang tính vật lý diễn ra tại trụ sở (sản xuất, vận chuyển, xây dựng, vận hành, điều hành… doanh nghiệp) thì việc xác định trách nhiệm thi hành án đối với loại hoạt động này hoàn toàn thuộc về cơ quan thi hành án hình sự chuyên trách (áp dụng các biện pháp để giám sát/ cấm/ đình chỉ các hoạt động này của doanh nghiệp tại trụ sở). Ví dụ: dừng hoạt động sản xuất thì cơ quan thi hành án niêm phong máy móc, nhà xưởng và cử người giám sát.

     

    Đối với loại hoạt động nhóm thứ 2: “hoạt động với chủ thể công”. Đây là nhóm hoạt động giao dịch với cơ quan nhà nước thì cơ quan thi hành án hình sự chuyên trách cần gửi thông báo đến cho cơ quan nhà nước tương ứng (mà doanh nghiệp đang có hoặc sẽ có hoạt động giao dịch) để yêu cầu cơ quan nhà nước dừng, tạm dừng, hoặc đình chỉ vĩnh viễn hoạt động đối với pháp nhân thương mại theo hình phạt bị áp dụng. Ví dụ: Doanh nghiệp phải thi hành hình phạt cấm mua bán, phát hành chứng khoán thì cơ quan thi hành án yêu cầu Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấm hoạt động mua bán, phát hành của doanh nghiệp.

     

    Đối với loại hoạt động nhóm thứ 3, “hoạt động với chủ thể tư”. Đây là loại hoạt động phức tạp nhất trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân.Vì pháp nhân thực hiện giao dịch với bên thứ 2 là chủ thể tư (với cá nhân khác, với pháp nhân khác, với một chủ thể bất kỳ khác…) [4], nên một mặt cơ quan thi hành án yêu cầu

     

    64                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    doanh nghiệp phải tự nguyện thực hiện hình phạt, mặt khác, cơ quan thi hành án cần có hình thức thông báo rộng rãi đến các chủ thể tư (và rộng rãi công chúng) với nội dung: toàn bộ các giao dịch được pháp nhân thực hiện trong phạm vi bị cấm/ bị đình chỉ (theo nội dung bản án) đều bị coi là vô hiệu, nếu cá nhân hoặc pháp nhân vẫn cố tình giao dịch (trong phạm vi bị cấm/ bị đình chỉ) thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

     

    Như vậy, tùy thuộc vào từng đặc điểm của các loại hoạt động của pháp nhân mà trong việc xác định hình thức và biện pháp thi hành án hình sự phù hợp.

     

    Trong đó:

     

    • Khi thi hành các hình phạt liên quan đến các “hoạt động tự thân” của pháp nhân, nên giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ưu tiên áp dụng biện pháp giám sát đối với những hoạt động “mang tính vật lý” như sản xuất, vận chuyển, xây dựng, hoạt động quản lý, điều hành, vận hành tại trụ sở của pháp nhân phải thi hành án.
    • Khi thi hành các hình phạt liên quan đến các “hoạt động với chủ thể công” của pháp nhân, nên giao, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước chủ trì về quản lý nhà nước đối với ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện (đối với pháp nhân thương mại kinh doanh có điều kiện) và giao cho cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính (đối với pháp nhân thương mại phải thực hiện thủ tục “hành chính – tiền kiểm”) ngừng/ hạn chế/ từ chối/ cấm/ đình chỉ hoặc xử lý các hoạt động theo các mức hình phạt tương ứng đã được tuyên đối với pháp nhân.
    • Khi thi hành các hình phạt liên quan đến các “hoạt động với chủ thể tư” của pháp nhân, cần thông qua các cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm soát phù hợp, linh hoạt. Ví dụ: Yêu cầu pháp nhân báo cáo, Chính cơ quan quản lý từ

    chối giao dịch có liên quan, hoặc thông báo rộng rãi tới các chủ thể tư để buộc chủ thể tư phải dừng các giao dịch bị cấm, nếu vẫn giao dịch thì giao dịch đó bị vô hiệu và có thể bị xử lý theo pháp luật.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Đỗ Đức Hồng Hà, Nhận diện pháp nhân thương mại trong Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi). Hội thảo khoa học về Chính sách pháp luật thi hành án hình sự: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Học viện Khoa học xã hội, 4/2019.
    • Đinh Thị Mai, Các yếu tố tác động tới chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Hội thảo khoa học Chính sách pháp luật thi hành án hình sự: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Học viện Khoa học xã hội, tháng 4 năm 2019.
    • Ngô Đức Minh, Trình tự, thủ tục thi hành án và các biện pháp bảo đảm thi hành án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực đối với pháp nhân thương mại. Phiên tọa đàm về thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại, ngày 28/2-01/3/2019, Ủy ban tư pháp của Quốc hội.
    • Đậu Anh Tuấn, Cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực hoạt động của pháp nhân thương mại và xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Phiên tọa đàm về thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại, ngày 28/2-01/3/2019, Ủy ban tư pháp của Quốc hội.
    • Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp năm 2014.
    • Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất Luật Chứng khoán số 27/VBHN-VPQH ngày 18 tháng

    12 năm 2013.

     

    • Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm số 12/VBHN-VPQH ngày 23 tháng 7 năm 2013.
    • Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất Luật Đầu tư số 06/VBHN-VPQH ngày 29 tháng 6 năm 2018.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%C3%ADnh-quy%E1%BB%81n-%C4%91%E1%BB%8Ba-ph%C6%B0%C6%A1ng-Vi%E1%BB%87t-Nam-v%E1%BB%ABa-ph%C3%A2n-quy%E1%BB%81n-v%C3%A0-v%E1%BB%ABa-kh%C3%B4ng-ph%C3%A2n-quy%E1%BB%81n-v%E1%BB%ABa-t%E1%BB%B1-qu%E1%BA%A3n-v%C3%A0-v%E1%BB%ABa-kh%C3%B4ng-t%E1%BB%B1-qu%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    Review Article

    Vietnamese Local Government: Centralized and Decentralized/ Autonomous and Nonautonomous

    Nguyen Dang Dung*

    School of Law, Vietnam National University, Hanoi,

    144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    Received 29 April 2019

    Revised 28 May 2019; Accepted 20 June 2019

    Abstract: Although the autonomy of the local government has not been recognized in Vietnam to date, there is not much difference between the autonomous local government in the West and the nonautonomous local government in Vietnam – they are all to solve local issues relating to the lives of local people. However, the deciding of important issues, especially those on human resources, by the local government in Vietnam, unlike in the West, must be approved by the higher authorities.

    Keywords: Local government, autonomous local government, nonautonomous local government.*

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address:[email protected]

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4218

    1

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và

     

    vừa không phân quyền/ vừa tự quản và vừa không tự quản

     

    (Tiếp theo bài Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 3/ 2016)

     

    Nguyễn Đăng Dung*

     

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 29 tháng 04 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Nhìn chung ở Việt Nam cho đến hiện nay vẫn chưa thừa nhận tính tự quản của chính quyền địa phương. Nhưng giữa chính quyền địa phương tự quản của phương Tây và chính quyền địa phương không tự quản ở Việt Nam không có gì gọi là khác nhau quá lớn. Vì giữa chúng các chính quyền địa phương đều phải giải quyết tất cả các vấn đề có tính chất địa phương có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương. Nhưng đi vào cụ thể giữa chúng có sự khác nhau không nhỏ. Các quyết định quan trọng của địa phương nhất là vấn đề nhân lực của chính quyền địa phương Việt Nam phải có sự đồng ý phê chuẩn của chính quyền cấp trên.

     

    Từ khóa: Chính quyền địa phương; chính quyền địa phương tự quản, chính quyền địa phương không tự quản.

     

    *Hiện nay trong lí luận cũng như trong các quy định của pháp luật các quốc gia, nhất là của các nước phát triển đều thừa nhận chính quyền địa phương là chính quyền tự quản. Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận chính quyền địa phương là chính quyền tự quản. Nên trong tất cả giới lí luận cũng như pháp luật của Việt Nam cho đến hiện nay chưa có một nhận thức thống nhất thế nào là chính quyền địa phương tự quản và nhất là vấn đề chính quyền địa phương của

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email:[email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4218

     

    Việt Nam hiện thuộc loại nào tự quản hay không tự quản. Phạm vi bài viết này muốn giải quyết vấn đề chính quyền địa phương của Việt Nam thuộc loại nào, thuộc loại tự quản hay không tự quản.

     

    1.   Về sự cần thiết và mô hình của chính quyền tự quản

     

    Thuật ngữ “địa phương tự quản” được dùng từ xa xưa, ngay từ thời La Mã cổ đại tương đương với thuật ngữ “địa phương tự trị”. Ở Italia, khi Rome từ một công xã nhỏ, vào năm 45 trước Công nguyên Hoàng đế Julius Caesar

     

    2

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    3

    (100 – 44 tr.CN) đã ban hành đạo luật đầu tiên về chế độ tự quản cho các địa phương. Hình thức tự quản lãnh thổ ra đời cùng với quá trình hình thành các đô thị tự do của thời kì trung đại vào những năm của thế kỉ X và XI với hai đặc điểm chính: i. vai trò chính trong cộng đồng thuộc về cư dân thuộc tầng lớp quy tộc trung lưu; ii. Tính tổ chức chặt chẽ của cộng đồng lãnh thổ. Sự hình thành này diễn ra do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, lịch sử, xã hội và chính trị. Với sự phát triển của nông nghiệp, người dân có mức sống khá giả hơn, dẫn đến sự ra đời của các tầng lớp thủ công, hình thành tầng lớp công nhân công nghiệp, dẫn đến phân hóa xã hội sâu sắc. đẩy nhanh quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị. Với sự phát triển các lãnh chúa đứng đầu các cộng đồng có nhu cầu duy trì năng lực tự vệ của cộng đồng cho phép các thị dân có quyền mang vũ khí hình thành ra các trung tâm chính quyền, với hai điều kiện căn bản: i. do sự tự nguyện trao quyền từ phía các chính quyền; ii. do kết quả của các phong trào đấu tranh của tầng lớp trung lưu đòi quyền tự quyết.

     

    Hiến chương London của Hoàng đế Henrich I năm 1129 với tên gọi là Hiến chương về các Quyền Tự do (Charter of Liberties) là văn kiện đầu tiên xác nhận quyền của các thị dân tự bầu ra những người lãnh đạo cộng đồng, thành phố London trở thành một công xã đặt dưới quyền lãnh đạo của một Thị trưởng do dân bầu ra. Sự khai phóng này của các vương triều phong kiến Châu Âu lúc bấy giờ thúc đẩy sự ra đời của chính quyền địa phương tự quản, nền tảng cho môt xã hội văn minh dân chủ như ngày nay.

     

    Sự hình thành ra các chính quyền tự quản ở các nước Đức và Pháp lại theo một con đường khác, không bằng con đường hòa bình như Anh đã nói ở phần trên. Ở Đức các chính quyền tự trị của các cộng đồng địa phương được hình thành sau những cuộc đấu tranh chống sách cai trị phong kiến độc đáo, và các phong trào chống sự cai trị của các Giám mục của nhà thờ, các thương nhân, các thợ thủ công thành lập ra các Koln (Cologne) được thừa nhận có quyền tự quản cộng dồng của mình, các thành phố được quyền tự quản, không còn các lãnh thổ dưới sự

     

    quản lí của các Nhà thờ, mặc dù Giám mục của các xứ này vẫn giữ lại vai trò quan trọng trong việc quản lí các xứ đạo. Một hình thức khác giành quyền tự trị của các địa phương ở Châu Âu là sự ra đời của phường hội thủ công nghiệp và buôn bán. Các phường hội này trong quá trình hoạt động buôn bán và sản xuất đã nhanh chóng cố kết lại với nhau để bảo vệ lợi ích của họ, dần dần hình thành ra các công xã, nơi diễn ra các hoạt động buôn bán và sản xuất của họ.

     

    Vào cuối thế kỉ XVIII, dưới sự ảnh hưởng của Cách mạng dân chủ tư sản, ở Đức và ở Pháp đã hình thành một xu hướng tập trung quyền lực chống lại tư tưởng quân chủ phong kiến chuyên chế, xác lập nguyên tắc thống nhất trong quản trị địa phương cho cả đô thị và nông thôn, các địa phương đặt dưới sự quản lí chặt chẽ của trung ương thông qua cơ chế bổ nhiệm người đứng đầu các công xã. Nhưng chẳng bao lâu hệ thống quản lí tập trung đó tỏ ra kém hiệu quả, phải quay lại chế độ quản trị tự quản địa phương.

     

    Kết quả tất cả các con đường hình thành chế độ tự quản địa phương là việc các đô thị mới ra đời xác định các quyền tự do cho mình. Trong đó quan trọng nhất là việc xác định các quyền tự quản lí các công việc của cộng đồng, quyền được miễn trừ các thứ thuế cho các lãnh chúa và nhà thờ. Sự chế độ tự quản địa phương đồng nghĩa với sự hạn chế sự chuyên chế của chính quyền phong kiến. Tuy vậy, quyền của các cá nhân tham gia vào quản lí cộng đồng vẫn còn bị hạn chế bởi các điều kiện về tài sản và đẳng cấp [1].

     

    Nhu cầu của nhà nước pháp quyền cho tất cả các chủ thể: Cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước trong đó có các địa phương đều phải tuân thủ pháp luật. Trong phạm vi thẩm quyền của mình mọi chủ thể phải tự chịu trách nhiệm. Không chủ thể nào, kể cả các chính quyền địa phương được đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Không ai có thể chịu trách nhiệm thay, hay bảo trợ cho các hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền địa phương.

     

    Thuật ngữ tự quản địa phương là thể hiện mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với chính quyền trung ương về 2 khía cạnh: i.

     

    4                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    Quyền đưa ra sáng kiến độc lập để giải quyết vấn đề địa phương; ii. Quyền miễn trừ đối với sự can thiệp của chính quyền cấp trên và chính quyền trung ương vào việc giải quyết các công việc chính quyền địa phương.

     

    • các những nước phát triển phương Tây, việc tổ chức chính quyền địa phương tự quản không những chỉ được nhận thức bằng học thuật, mà còn dần dần trở thành tiêu chí đánh giá mức độ phát triển và mức độ dân chủ của quốc gia. Hay nói một cách khác chính quyền địa phương gắn liền với dân chủ, với phát triển, gắn liền với nhà nước pháp quyền, không có

    điều ngược lại. Ở Châu Âu đã thông qua Hiến chương chính quyền địa phương tự quản. Muốn trở thành thành viên của Liên minh Châu Âu, thì phải có chính quyền địa phương tự quản. Trong Hiến chương chính quyền tự quản nêu rõ khái niệm chính quyền địa phương tự quản: Tự quản là khả năng chính quyền địa phương trong giới hạn của luật, điều tiết các công vụ thuộc trách nhiệm của địa phương vì lợi ích của cư dân địa phương. Tự quản địa phương được thông qua bởi Hội đồng các thành viên bầu ra một cách tự do qua các lá phiếu kín trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bình đẳng. /Điều 3 Hiến chương Chính quyền tự quản Châu Âu.

     

    Đặc điểm của Chính quyền địa phương tự quản: i.Địa phươngđược quản lí bởi cơ quan dân cử; ii. Có thẩm quyền riêng được tự quyết trong phạm vi thẩm quyền; iii. Có phương tiện để thực hiện tự quản: Có nguồn thu độc lập – thuế, phí, và các tài sản khác / Ngân sách riêng.

     

    Một khi đã thành chính quyền tự quản thì vấn đề các cấp chính quyền không có mấy ý nghĩa. Bởi vì cho dù có hai cấp, hay ba, bốn cấp, thì chúng vẫn là tự quản. Đã là tự quản, tự trị thì không có khái niệm của sự trực thuộc trên dưới. Việc sai đúng đều phải nại ra tòa để giải quyết nếu như có sự hiện diện của một sự nại ra. Việc thành lập các đặc khu có lẽ cũng không cần thiết phải đặt ra đối với các nhà nước có chính quyền địa phương tự quản. Đã là đặc khu thì sẽ có vấn đề ưu tiên về thuế về kinh doanh, về xuất nhập khẩu. Một khi có sự ưu tiên thì đã

     

    có sự bất bình đẳng giữa các thực thể địa phương, một trong những nguyên tắc của chính quyền tự quản.

     

    Tự quản địa phương là vấn đề tự quyết những vấn đề có liên quan đến địa phương. Muốn chính quyền địa phương tự quản thì trước tiên phải là phân quyền giữa các chính quyền. Vấn đề nào thuộc chính quyền địa phương, thì phải được cơ quan địa phương giải quyết không thể thuộc thẩm quyền giải quyết của một thực thể nào khác, không thể phân cho thực thể nào khác. Nếu như có cách phân quyền, hay phân cấp, thì không biết lấy quyền đó ở đâu ra để phân cho địa phương.

     

    Vấn đề căn bản là ở chỗ vấn đề nào của địa phương. Với sự cố gắng miệt mài của một học giả người Mỹ đã liệt kê ra tới 400 đầu việc đâu là của trung ương (liên bang, tiểu bang), đâu là của đô thị, đâu là của tỉnh, của quận, của xã. Nhưng cho đến nay cũng chỉ có một mình ông nêu ra mà không có một tác giả thứ hai nào nhắc lại. Và cũng không có một đạo luật của bất cứ liên lang, hay tiểu bang nào được thông qua quy định thẩm quyền của các chính quyền địa phương. Tôi cũng đã nhiều lần chép lại trong các sách chuyên khảo về chính quyền địa phương của mình, nhưng cũng chẳng được một độc giả nào của Việt Nam để ý [2].

     

    Về phương pháp luận, vấn đề tự quản địa phương có lẽ chẳng khác nào như vấn đề nhân quyền. Con người có nhân quyền, thì địa phương cũng có quyền tự trị. Sự khó khăn của vấn đề nhân quyền như thế nào thì cũng diễn ra khó khăn như thế đối với vấn đề công nhận hay không công nhận quyền tự quản của địa phương. Hôm nay vấn đề đó chưa phải là vấn đề nhân quyền, nhưng tương lai thì sẽ là nhân quyền. Ví dụ khi quy định quyền con người của Mỹ khi thông qua 10 tu chính án đầu tiên, bí mật thư tín là quyền riêng tư chưa được ghi nhận, mà mãi sau này con người mới có quyền này, bằng cách suy ra từ quyền bí mật nơi cư trú qua một án lệ. Quyền im lặng là quyền con người được suy ra từ vụ Tối cao Pháp viện quyết định trong Miranda kiện Arizona, (1966) [3], mà mãi cho đến Bộ Luật Tố tụng Hình sự

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    5

    Việt Nam năm 2015 mới được thừa nhận một cách gián tiếp của các Điều 60, 61 khi Bộ Luật này quy định quyền của bị can, bị cáo. Cũng tương tự như vậy, hôm nay chính quyền địa phương chưa có tự quản nhưng ngày mai sẽ trở thành tự quản.

     

    Chính quyền địa phương tự quản là đa dạng các mô hình. Mô hình chính quyền địa phương trước hết thể hiện mối quan hệ giữa trung ương, với chính quyền địa phương và sau đấy là mối quan hệ giữa chính quyền cấp trên với chính quyền cấp dưới. Trong trường hợp chính quyền tự quản thì mối quan hệ này dựa trên quy định của luật pháp, mà không bằng các chỉ thị/ quyết định trực tiếp của các cơ quan nhà nước cấp trên.

     

    Mô hình của Anh quốc (British model) có đặc điểm trung ương không phải là cơ quan quản lí cấp trên đối với địa phương, không điều khiển địa phương. Các cấp chính quyền địa phương được độc lập lẫn nhau, và không có sự trực thuộc lẫn nhau. Trong phạm vi quyền hạn của mình các chính quyền đều có quyền tổ chức hoạt động chỉ phụ thuộc vào pháp luật mà không phụ thuộc vào bất cứ một sự chỉ đạo nào của cấp trên. Trong trường hợp có mâu thuẫn, tranh chấp hoặc có hiện tượng vi phạm pháp luật sẽ bị sự phân giải của toà án. Thiết nghĩ rằng đây là mô hình dân chủ hơn cả, và chính trong quan niệm như vậy chính quyền địa phương mới có khả năng và điều kiện phát huy được quyền chủ động của mình, mà gạt đi bất cứ một sự bảo trợ nào của chính quyền cấp trên, cũng như của cả chính quyền trung ương. Trong trường hợp hãn hữu gặp khó khăn về tài chính chính quyền địa phương được sự trợ giúp của chính quyền trung ương. Một khi đã nhận sự trợ giúp về mặt kinh tế của trung ương, ít nhiều chính quyền địa phương phải chịu sự chỉ đạo của chính quyền trung ương. Trong trường hợp không chịu sự chỉ đạo của trung ương, thì lẽ đương nhiên các khoản viện trợ kinh phí sẽ bị giảm bớt, thậm chí là cắt hẳn. Điều đặc biệt ở chính quyền địa phương Anh quốc có nơi chỉ có các cơ quan đại diện, mà không có cơ quan chịu trách nhiệm chung thực hiện các quyết định do cơ quan đại diện ban hành kiểu như Ủy ban

     

    nhân dân của Việt Nam hiện nay, mà trực tiếp thành lập ra các sở chuyên ngành.

     

    Đặc điểm của mô hình Anh – Mỹ là tính chịu trách nhiệm của quyền lực nhà nước được thực hiện một cách triệt để, vì các chính quyền địa phương được phân quyền triệt để và đầy đủ. Trong phạm vi thẩm quyền các địa phương có toàn quyền giải quyết và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đó là sự tự quản của chính quyền địa phương.

     

    Mô hình của Pháp (French model)có đặc điểm là chính quyền địa phương bị song trùng giám sát của đại diện chính quyền trung ương và của chính quyền cấp trên. Mô hình này được phát triển từ những năm của chế độ quân chủ chuyên chế mà hình thành nên. Thuở ban đầu của chế độ phong kiến, chính quyền địa phương chỉ là các quan cai trị do Nhà Vua cử về địa phương chỉ nhằm mục đích thực hiện hay giám sát sự thực hiện các quyết định của Nhà Vua, mà không tính đến các điều kiện hoàn cảnh của địa phương, hoặc thậm chí cai trị theo cách riêng của quan chức được cử về. Sau dần với sự đấu tranh của dân chủ, các lãnh đạo địa phương có một thẩm quyền nhất định cho việc giải quyết các công việc của địa phương, trong đó có cả các việc có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương, và cuối cùng các quan chức được cử về chỉ làm mỗi một chức năng giám sát việc thực hiện các quyết định của cấp trên và các văn bản luật của trung ương, mà không còn có quyền hành như trước đây. Tại tất cả các tỉnh ở Pháp đều có những Thị trưởng do hội đồng thành phố bầu cử và ở dưới quyền kiểm soát của các tỉnh trưởng. Thị trưởng vừa chăm nom đến những quyền lợi địa phương vừa quan tâm đến những quyền lợi của trung ương, dần dần tạo nên tính tự quản của chính quyền địa phương. Hiện nay quan cấp trên cử về chỉ được thực hiện quyền giám sát địa phương.

     

    Mô hình của Cộng hoà Liên bang Đức (Germanic model) có đặc điểm giống của Pháp quốc nhưng không có cơ quan đại diện của chính quyền cấp trên xuống giám sát chính quyền cấp dưới. Đây là một mô hình mà chính quyền liên bang phụ thuộc vào chính quyền

     

    6                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    bang, chính quyền bang phụ thuộc vào chính quyền địa phương trong việc quản lí và cung cấp các dịch vụ cho dân. Điểm đặc trưng nhất của mô hình của Đức là tính phân quyền. Đây là hệ thống quyền lực được phân theo nguyên tắc: cái gì địa phương làm tốt thì địa phương làm, trung ương chỉ làm những gì mà địa phương làm không tốt hơn. Vấn đề quan trọng trong hệ thống của Đức là ở đây phân rất rõ trách nhiệm của từng cấp, cấp này làm thì cấp kia không làm. Và như vậy thì quyền của mỗi cấp mang tính chủ động và được phân cấp; đồng thời được phân nhiệm vụ thì cũng được phân ngân sách, tức là cấp đó sẽ có nguồn thu bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Mô hình của Đức, cũng giống như của Pháp, có 5 cấp, trong đó một cấp không có cơ quan đại diện gọi là regierungsbezirke. Ở Đức có liên bang, dưới liên bang có bang, dưới bang có regierungsbezirke, dưới đó là Kries và tiếp theo là gemeind.

     

    Trong một nhà nước dân chủ và nhất là của một nền kinh tế thị trường sự trực thuộc vào chính quyền cấp trên của các cơ quan chính quyền địa phương cấp dưới càng giảm bớt, càng ngày tăng thêm tính chất tự quản tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền. Từng cấp chính quyền phải tự chịu trách nhiệm về những hoạt động của mình. Mối quan hệ trên dưới bằng cách hướng dẫn, chỉ đạo, ra lệnh sẽ được thay dần bằng pháp luật, và thậm chí bằng các hợp đồng quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các bên.

     

    Xét dưới giác độ cấu trúc chính quyền tự quản, nhìn chung chúng không khác nào cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương cũng có cơ cấu phân quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng đi vào cụ thể chúng đa dạng hơn và không rõ nét 3 quyền như của chính quyền trung ương. Mặc dù là chính quyền địa phương nhưng cơ cấu chính quyền cũng phải có cơ quan đại diện có chức năng lập pháp, cũng có cơ cơ quan hành pháp có chức năng thực hiện các quyết định của cơ quan đại diện. Rõ và điển hình nhất là cơ cấu chính quyền Mỹ quốc.

     

    Mô hình chính quyền địa phương của Mỹ là một trong những mô hình áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách đậm đặc nhất. Địa phương ở Mỹ quốc được toàn quyền giải quyết các công việc của mình mà không cần thiết có sự bảo trợ từ trung ương. Sự phục tùng trung ương, cũng như việc giám sát trung ương đối với địa phương chủ yếu bằng pháp luật và thông qua hoạt động xét xử của toà án. Việc phân quyền tuyệt đối được thể hiện trước hết bằng sự các địa phương thoải mái trong việc lựa chọn các mô hình tổ chức và hoạt động cuả mình. Hiện nay nước Mỹ có tới 4 mô hình tổ chức: Hội đồng và Thị trưởng mạnh; Hội đồng và thị trưởmg yếu; Ban quản đốc cùng với hội đồng do dân bầu ra; và uỷ ban và hội đồng cùng do dân bầu ra.

     

    Hội đồng và Thị trưởng yếu hoặc Hội đồng và Thị trưởng mạnh

     

    Những đô thị Mỹ trên 5 ngàn dân đều có hình thức Hội đồng với thị trưởng. Dưới hình thức được mệnh danh là “Thị trưởng mạnh thế”, Hội đồng thành phố và Thị trưởng đều trực tiếp do cử tri bầu ra. Thị trưởng thi hành việc kiểm soát chặt chẽ các nhân viên chấp hành trong nền hành chánh đô thị và thường có trách nhiệm soạn thảo ngân sách hàng năm. “Thị trưởng yếu thế” không có quyền đề cử hoặc bãi chức những viên chức chấp hành quan trọng nhất. Trong những trường hợp này, hội đồng có thể đề cử những viên chức, hoặc những viên chức ấy có thể do dân bầu ra. Về nguyên tắc ở địa phương có thị trưởng yếu thì Thị trưởng không có quyền phủ quyết đối với các quyết định của Hội đồng. Thị trưởng của 12,6 % những đô thị có trên 5 ngàn dân không có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng. 58, 5% đô thị có từ trên 10 ngàn dân cũng không dành cho thị trưởng có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng. Tuy nhiên trong số đó có khoảng 12,6 % thị trưởng được quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng (tức ở đây có cơ cấu tổ chức theo mô hình Hội đồng và thị trưởng mạnh). Quyền này có thể dùng để phản đối một số đoạn đặc biệt trong dự án tài chính mà không huỷ bỏ toàn bộ dự án đó. Số các địa phương được

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    7

    tổ chức theo phương thức Hội đồng và thị trưởng kể cả mạnh thế và yếu thế lên tới 60%. [4]

     

    Hội đồng và Quản đốc

     

    Cùng với việc giảm bớt số các viên chức do dân bầu lên để gia tăng quyền kiểm soát của các cử tri đối với những viên chức đó và để tiết kiệm nhiều hơn, có một phong trào tại các tỉnh, thành ở Mỹ nhằm thay đổi địa vị của các Thị trưởng. Từ bước thành công lúc đầu tại Mỹ năm 1908 phong trào này thường được gọi là “cử người quản trị thành phố”. Theo hình thức hành chánh đó, hội đồng do các khu tuyển cử hay toàn thể đô thị bầu ra bổ nhiệm một viên quản đốc chuyên môn và giao cho viên quản đốc ấy hầu hết các quyền hạn hành chánh của địa phương. Viên quản đốc ấy chịu trách nhiệm với hội đồng thành phố về những kết quả các công việc của ông ta và có thể bị hội đồng cách chức hoặc cho nghỉ việc trước khi mãn hạn hợp đồng, nếu công việc của ông ta không làm vừa lòng hội đồng. Công việc của địa phương được điều hành như một công ty do một Ban giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng thực hiện. Trong trường hợp không thực hiện được, Hội đồng sẽ huỷ bỏ hợp đồng và có thể thuê Ban giám đốc khác.

     

    Các hình thức cai trị bằng uỷ hội và những phiên họp

     

    Hai hình thức cai trị thành phố sau cùng ít được thi hành tại nước Mỹ là cai trị bằng những uỷ hội và bằng những phiên họp. Lối cai trị bằng những uỷ hội được áp dụng trước hết tại Galveston, trong tiểu bang Texas, năm 1900 và bành trướng một cách mau lẹ trong mấy trăm thành thị trước năm 1917. Theo lối cai trị này thì các cử tri bầu cử năm uỷ viên họp lại thành uỷ hội hành chánh tỉnh. Các uỷ hội cùng cai trị chung, nhưng về thực tế thì mỗi uỷ viên phụ trách cai quản một ngành hành chính chẳng hạn như các công viên, an ninh công cộng, luật pháp, tu bổ đường sá và tài chính.

     

    Lối cai trị bằng uỷ hội hơi giống lối cai trị bằng văn phòng quận và bằng cách tuyển lựa một số uỷ viên hành chính trong chế độ cai trị bằng phiên họp. Những tỉnh, thành đầu tiên ở New England áp dụng lối hội họp những cử tri có đủ tư cách trong những phiên họp được

     

    triệu tập thường xuyên để giải quyết các vấn đề hành chính địa phương. Sau vì dân số càng ngày càng tăng và công việc hành chính trở nên liên tục, đồng thời số cử tri tăng lên qua quyền tuyển cử được nới rộng, nên những phiên họp trở nên tương đối vô hiệu và phiền phức. Những phiên họp của thành phố đó, tuy gần là hoàn toàn tự trị nhưng không lúc nào tránh khỏi sự thể bị một thiểu số, một nhóm gia đình hoặc một nhóm có thế lực chính trị chi phối. Kết quả là nhiều tỉnh đông dân cư bỏ lối cai trị bằng những phiên họp và thay thế bằng những đại diện cử tri do các khu phố bầu lên. Những đại diện ấy cũng hội họp giống những phiên họp trước bầu ra ban quản đốc và những quản trị viên để quản lí địa phương.

     

    Khi soạn thảo Hiến pháp năm 1787 của mình, các nhà lập hiến Mỹ quốc đã không đả động đến hệ thống chính quyền đa cấp và đa dạng này. Trong khi vẫn coi cơ cấu quốc gia là quan trọng nhất, họ đã khôn khéo thừa nhận sự cần thiết một loạt các cấp chính quyền có quan hệ trực tiếp hơn đến dân chủ và thích ứng một cách nhạy bén hơn với các nhu cầu của họ. Do vậy các chức năng nhất định, như quốc phòng, quản lí tiền tệ, và các quan hệ đối ngoại, chỉ có thể kiểm soát bằng một chính quyền mạnh. Nhưng những vấn đề khác, như hệ thống vệ sinh, giáo dục và giao thông vận tải địa phương, thì chủ yếu thuộc phạm vi quyền hạn của địa phương [5] .

     

    Nhà nước pháp quyền là nhà nước không có sự bảo trợ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà các chủ thể phải chịu trách nhiệm. Không có một chủ thể nào trong nhà nước pháp quyền lại phải chịu trách nhiệm cho một chủ thể khác, và ngược lại cũng không thể có một một chủ thể nào trong nhà nước pháp quyền lại có thể nhờ một chủ thể khác chịu trách nhiệm thay mình. Với tính chịu trách nhiệm các địa phương chịu trách nhiệm chính các hành vi của mình. Những biểu hiện mối quan hệ trên dưới, báo cáo của cấp chính quyền cấp dưới đối với cấp trên; hướng dẫn của cấp trên đối với cấp dưới trong mô hình của nhà nước pháp quyền là không cần thiết, không còn tồn tại. Các địa phương phải chịu

     

    8                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    trách nhiệm về những tổ chức và hoạt động của mình theo quy định đúng của pháp luật.

     

    2. Chính quyền địa phương ở Việt Nam

     

    Chính quyền địa phương ở Việt Nam có lịch sử theo chiều dài của lịch sử Việt Nam. Nếu chiều dài của lịch sử Việt Nam được chia thành 4 giai đoạn, ứng với 4 thời kì: Bắc thuộc, Pháp thuộc, thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềm Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, và hiện nay thống nhất đất nước thì 4 thời kì này chưa bao giờ chính quyền địa phương được quy định là chính quyền tự quản. Tất cả các cấp chính quyền đều là phần nối dài của chính quyền trung ương.

     

    Nếu có chăng tính tự quản hoặc đúng hơn là mang tính tự quản thì chỉ có thể tính đến chế độ làng xã của thời kì phong kiến cổ xưa, trước khi Pháp thuộc. Nhận xét đó được thể hiện bằng những đặc điểm như sau: i. Xã có ban quản trị độc lập với quan chức cấp trên: Hội đồng kì mục, là cơ quan quyết định và vừa tư vấn cho Lí trưởng; ii. Lí trưởng là người quyết định đồng thời cũng là chấp hành Hội đồng kì mục;

     

    • Xã có tài sản riêng; ruộng đất; Có pháp

     

    đình riêng, căn cứ lệ làng riêng. Chế độ tự trị làng xã có tác dụng: i. Hạn chế tính chuyên chế của chế độ phong kiến quân chủ; ii. Giải quyết những vấn đề địa phương; iii. Giải phóng nhà nước trung ương không phải giải quyết vấn đề địa phương. Theo Trần Ngọc Thêm thì nguyên nhân của chế độ tự trị này ở Việt Nam có từ truyền thống văn hóa lúa nước. Dân chủ làng xã như một hình thức dân chủ địa phương từng tồn tại lâu dài gần như trong suốt lịch sử, các địa phương đều dân chủ nên buộc quốc gia cũng phải chấp nhận dân chủ theo, như vậy dân chủ quốc gia trong lịch sử Việt Nam và Đông Nam

     

    Á luôn là dân chủ bị động [6]. Trong đời sống của người Việt Nam làng xã cho đến tận bây giờ vẫn luôn luôn đóng một vai trò quan trọng.

     

    Với chế độ thuộc địa, người Pháp đã tiến hành cải cách chế độ tự trị làng xã gọi là cuộc Cải lương hương chính. Theo chủ trương này, mỗi làng bầu ra một Hội đồng tộc biểu có chức

     

    năng quyết nghị vấn đề làng xã, thay thế Hội đồng kì mục. Lí trưởng có vai trò chấp hành. Việc bầu cử chức danh lí trưởng phải được thông qua công sứ. Không chỉ can thiệp về nhân sự xã, chính quyền Pháp còn quản lí ngân sách xã. Mọi việc thu, chi đều phải được công sứ chấp thuận phê chuẩn. Nhưng cuộc cải lương này chỉ được một thời gian ngắn, vì không hiệu quả, năm 1927, Thống sứ Bắc Kì điều chỉnh quy định về tổ chức chính quyền cấp xã, khôi phục Hội đồng kì mục với vai trò tư vấn cho các quyết nghị Hội đồng tộc biểu. Tồn tại song song hai Hội đồng (tộc biểu và kì mục) gây khó khăn cho quá trình bầu cử; quyền lực của các kì mục đứng đầu bị giảm sút; trách nhiệm của các tộc biểu và kì mục bị phân tán. Vì vậy, cần thiết phải cải tổ chính quyền làng xã. Thống sứ: huỷ bỏ việc bầu cử; khôi phục thực quyền cho các kì mục chính vốn là người đứng đầu các làng và giảm số lượng kì mục hàng xã…

     

    Nhưng chỉ đến khi chính quyền dân chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tính tự quản của làng xã được thay bằng chính quyền địa phương phải trực thuộc cấp trên của huyện, quận và tương đương. Cũng gần tương tự như vậy, các chính quyền quận, huyện cũng không được tổ chức theo nguyên tắc tự quản mà phải trực thuộc chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đó là một trong những biểu hiện của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Hơn thế nữa theo nguyên tắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa chính quyền địa phương còn phải trực thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng địa phương. Về nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương của thời kì này kéo dài cho đến hiện nay theo mô hình không tự quản, tức là tập quyền của Xô viết. Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam không còn chế độ tự quản làng xã, mặc dù đã được hình thành từ xa xưa ở Việt Nam, mà ngay cả chế độ thuộc địa hà khắc của Thực dân Pháp cũng không xóa bỏ được. Những hình bóng “cây đa bến nước sân đình” và đường làng quanh co chỉ còn lại rơi rớt trở

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    9

    thành những khu du dịch như Đường Lâm, Sơn Tây Hà nội ngày nay1.

     

    Đây chính là mô hình tập quyền của Xô viết, mà đặc điểm cơ bản của nó là không có sự phân quyền rõ ràng giữa trung ương và địa phương, tức là tập quyền vào trung ương không có phân quyền cho địa phương. Địa phương chỉ được giải quyết những gì mà trung ương cho phép. Nhiều quyết định của địa phương phải có sự phê chuẩn chính quyền cấp trên. Ở địa phương phải có cả cơ quan quyết nghị, có cả cơ quan chấp hành và có cả cơ quan xét xử và phải đặt dưới sự lãnh đạo và trực thuộc của cơ quan dân cử. Chính quyền địa phương là một bộ phận cấu thành của hệ thống nhà nước thống nhất, không có sự phân chia quyền lực giữa các cấp chính quyền, mà chỉ có sự phân công, phân nhiệm. Ngoài việc phải chịu sự lãnh đạo của chính quyền cấp trên, chính quyền địa phương còn chịu sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của cấp uỷ đảng địa phương.

     

    Mô hình chính quyền địa phương này cộng với cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương được mô tả con bút bê Matryoshka, biểu tượng của nước Nga con nhỏ nằm trong con to. Mỗi mảnh đất, mỗi con người đều phải chịu tới 5 tầng chính quyền từ xã, cho đến trung ương tiểu bang và tới chính quyền liên bang. Chính quyền cấp trên có cơ cấu gì thì chính quyền địa phương có cấu đó. Con người cùng cơ cấu của nó với chính sách luôn luôn là một. Chính quyền địa phương không những được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cấp trên, giữa chính quyền cấp trên đối với cấp dưới, giữa trung ương với địa phương, như các nước phương Tây phần Châu Âu lục địa thời phong kiến chuyên chế, mà còn chịu sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của cấp uỷ đảng địa phương, và của cơ chế tập trung bao cấp. Nhân dân các địa phương thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình bầu ra các Xô viết, cơ quan quyết nghị của địa phương có quyền quyết định các vấn đề quan trọng có liên quan đến nhân dân trong

     

    ________

     

    1Đường Lâm là một xã thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 19 tháng 5 năm 2006.

     

    vùng lãnh thổ địa phương. Xô viết địa phương được gọi là cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương, thành lập ra các cơ quan chấp hành và điều hành của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Nhà nước ở địa phương, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quyết định của Xô viết các văn bản pháp luật và quyết định khác của các cơ quan Nhà nước cấp trên. Các công việc hành chính địa phương đều do những uỷ ban đảm nhiệm; các cơ quan hành chính địa phương thi hành những đường lối của cơ quan nhà nước cấp trên. Cách thức tổ chức này đã và đang dẫn đến tình trạng, một vấn đề có rất nhiều cơ quan, cơ cấu giải quyết, nhưng lại có vấn đề không có cơ quan, cơ cấu nào trong bộ máy trùng trùng điệp điệp chịu trách nhiệm, khi có vấn đề xảy ra, theo nguyên tắc “mất mùa thì tại thiên tai, được mùa thì tại thiên tài đảng ta”.

     

    Sang đến thời kì đổi mới và với sự sụp đổ của chế độ Xô viết, nước Nga quay trở lại thực hiện chế độ tự quản của chính quyền địa phương [7]. Khác với sự thay đổi chế độ chính trị của Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu, các nước Việt Nam và Trung Quốc, Cu Ba vẫn kiên định chế độ xã hội chủ nghĩa.

     

    • Việt Nam với sự đổi mới về mặt kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng về mặt chính trị vẫn kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính vì sự kiên định mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới tập trung vào lĩnh vực kinh tế. Sau một thời gian thu được nhiều thắng lợi trong kinh tế, Việt Nam chuyển sang đổi mới lĩnh vực chính trị, mà bắt đầu bằng công cuộc đổi mới chính quyền địa phương. Việc sửa đổi Hiến pháp năm 2001 bên cạnh mục tiêu gạt bỏ những quy định lỗi thời cản trở công cuộc đổi mới kinh tế là

    đổi mới chính quyền địa phương.

     

    Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ X năm 2006 đã chỉ rõ nhiệm vụ: phải phân cấp mạnh, giao quyền chủ động cho chính quyền địa phương, nhất là trong quyết định về tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính với TW… bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệmcủa chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Tổ chức hợp lí chính quyền địa phương, phân

     

    10                             N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    định lại thẩm quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; phải đổi mới tổ chức hoạt động chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động HĐND & UBND, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo. Tiếp tục thí điểm chủ trương không tổ chức HĐND huyện, quận, phường.

     

    Thực hiện nghị quyết trên, năm 2008 Quốc Hội khóa XII ra quyết định thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, xã và tương đương ở 10 tỉnh thành, nhưng bằng Luật tổ chức chính quyền địa phương hiện hành năm 2015 thực hiện Hiến pháp năm 2013, việc thực hiện thí điểm trên bị chấm dứt, với một luận điểm hết sức đơn giản, ở đâu có cơ quan chấp hành- hành chính thẩm quyền chung, thì phải có cơ quan đại diện. Dân chủ như là một con đường đi một chiều một khi đã có sự hiện diện thì khó có khả năng bãi bỏ.

     

    Mặc dù có rất nhiều biện pháp nhằm tiến hành cải cách chính quyền địa phương như trên đã

     

    nêu, nhưng cuối cùng vẫn không có gì tạo nên sự thay đổi. Lí do căn bản của vấn đề nằm ở chỗ không thừa nhận nguyên tắc phân quyền, cũng không thừa nhận chính quyền địa phương tự quản.

     

    Hiến pháp mới 2013 thay tên gọi tên chương Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân thành về chương Chính quyền địa phương, mở ra khả năng đa dạng các mô hình tổ chức chính quyền địa phương, phân biệt rõ các loại hình đơn vị hành chính giữa nông thôn, thành thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt… Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 được Quốc hội thông qua thể hiện và triển khai thực hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, nhưng vẫn không thể hiện được tinh thần của nguyên tắc chính quyền địa phương tự quản. Vì khái niệm này cho đến hiện nay vẫn chưa được thừa nhận một cách chính thức trong các văn kiện của Đảng. Mặc dù Luật tổ chức chính quyền có phân biệt rõ ràng chương quy định về giữa chính quyền địa phương thành thị khác với vùng nông thôn. Nhưng đi vào cụ thể các nhiệm vụ quyền hạn giữa chúng vẫn là giống nhau không có gì thay đổi.

     

    Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

    Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

    ở tỉnh (Điều 17)

    ở thành phố trực thuộc trung ương (Điều 37)

    1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và

    1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và

    pháp luật trên địa bàn tỉnh.

    pháp luật trên địa bàn thành phố.

    2. Quyết định những vấn đề của tỉnh trong phạm vi

    2.  Quyết  định  vấn  đề  trong  phạm  vi  được  phân

    được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật.

    quyền, phân cấp theo quy định của Luật.

    3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành

    3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành

    chính nhà nước ở trung ương ủy quyền.

    chính nhà nước ở trung ương ủy quyền.

    4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính

    4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính

    quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.

    quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.

    5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên

    5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về

    về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của

    kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính

    chính quyền địa phương ở tỉnh.

    quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương.

    6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương,

    6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương,

    các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực

    các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực

    hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của

    hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của

    nền kinh tế quốc dân.

    nền kinh tế quốc dân.

    7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp

    7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp

    nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy

    nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy

    động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển

    động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển

    kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên

    kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên

    địa bàn tỉnh.

    địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương.

    a

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

    Luật Tổ chức Chính quyền địa phương thể hiện rất nhiều những quy định vừa mang tính tự quản vừa mang tính trực thuộc, tức là vừa tự quản vừa không tự quản. Các quy định mang tính tự quản luôn luôn phải được đi kèm theo tính trực thuộc. Đó là các quy định rất cơ bản mang tính nguyên tắc của tự quản như việc quy định: HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri

     

    • địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, cũng phải kèm ngay theo đó là tính trực thuộc cấp trên của HĐND trong việc phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên. Tương tự như vậy, Ủy ban nhân dân do HĐND cùng cấp bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp là quy định mang tính tự quản, cũng phải kèm ngay theo đó là tính trực thuộc của cơ quan này trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

    Ngoài những quy định thể hiện tính vừa tự quản vừa trực thuộc, trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương chứa đựng nhiều quy định thuần túy sự trực thuộc. Nặng nề nhất của sự phụ thuộc trên là ở quy định về vấn đề nhân sự. Theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, thì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp cấp trên có quyền phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp dưới; có quyền điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp dưới; giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trong trường hợp khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới giữa hai kì họp Hội đồng nhân dân; yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân đình chỉ, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc vi phạm pháp luật; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động,

    cách chức, khen thưởng, kỉ luật cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lí theo quy định của pháp luật. Đó cũng là quyền tương tự của Thủ tướng Chính phủ đối với Chủ tịch và các Phó Chủ tịch của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Pháp luật có những quy định này quy định kia thể hiện sự phân quyền giữa các cấp chính quyền nhưng với nguyên tắc tập quyền không thể làm cho các chính quyền địa phương có sự chịu trách nhiệm trước thực trạng của địa phương. Chính thực trạng này không tạo nên những biểu hiện của nhà nước pháp quyền.

     

    Tập quyền nhưng thực trạng diễn ra một cách ngược lại phân quyền

     

    Những điều phân tích ở phần trên chỉ là những quy định hình thức của luật pháp. Nhưng trên thực tế, thì mọi việc hầu như đều không hoàn toàn như vậy. Mặc dù không là chính quyền tự quản, tức là không được phân quyền như các nhà nước phát triển, nhưng ở hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa với sự hiện diện các cấp ủy Đảng Cộng sản, do Bí thư địa phương đứng đầu có quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện trong phạm vi lãnh thổ địa phương đã làm cho chính quyền địa phương trở nên rất cát cứ. Với quyền lãnh đạo này, các cấp ủy, mà đứng đầu là các Bí thư có quyền hạn rất lớn, từ chủ trương chính sách đến các nhân sự của địa phương, làm cho các địa phương trở thành phân quyền rất lớn. Trong một nền kinh tế thị trường chưa ổn định, thiếu chặt chẽ, cộng với nguồn tài sản đất đai, tài nguyên trong phạm vi quản lí của mình, các địa phương rất dễ trở thành phân quyền. Vì vậy mặc dù về nguyên tắc địa phương không phân quyền, không tự quản, tức là phải trực thuộc trung ương, nhưng với hoạt động của các cấp ủy Đảng lãnh đạo và người đứng đầu cấp ủy Đảng do Đảng bộ địa phương bầu ra, các địa phương rất dễ trở thành phân quyền cát cứ, thoát ly khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương, nhất là cấp tỉnh, nơi

     

    11

     

    12                             N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    đứng đầu của các địa phương. Hơn thế nữa với các quy định bầu cử trong Đảng như hiện nay, các chức sắc lãnh đạo trong Đảng và Nhà nước đều phụ thuộc vào khối các lá phiếu các đại biểu của địa phương, tính cát cứ địa phương lại càng có cơ hội cho sự phát triển. Các đại biểu trung ương phải tìm sự ủng hộ các địa phương thì mới có cơ hội giành được các tỉ lệ phiếu bầu qua các lần bầu cử các chức danh quan trọng, kể cả quan trọng nhất là người đứng đầu Đảng Cộng sản – Tổng Bí thư. Các địa phương thi đua nhau mở cảng nước sâu, mở các sân bay. Địa phương này mở được thì địa phương khác cũng xin mở2. Địa phương này xin trung ương có cơ chế đặc biệt thì địa phương khác cũng đòi hỏi phải hưởng một quy chế gần tương tự, đã gây nên tình trạng bất bình đẳng giữa các địa phương. Xem Hộp sau đây:

     

    Cho đặc thù nhưng cần phải cân đối

     

    Trong phiên họp thứ 50, các thành viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý nới khung đặc thù về tài chính, ngân sách cho Đà Nẵng, để thành phố này có nhiều nguồn lực hơn cho đầu tư, phát triển.

     

    Theo đó, trong khuôn khổ phiên họp, UB Thường vụ Quốc hội đã cân nhắc và thông qua đề xuất nâng mức dư nợ vay của Đà Nẵng lên không quá 40%, tức là cao hơn quy định của luật 10% và thấp hơn hai thành phố Hà Nội, TP.HCM 20% (hiện là 60%). Đồng thời, nhất trí con số thưởng vượt thu ngân sách cho thành phố Đà Nẵng là 70%.

     

    ________

     

    • Theo thống kê của Tổng Công ty CHKVN, đơn vị này hiện đang quản lí và khai thác 22 cảng hàng không, sân bay trên cả nước. Tuy nhiên, đến thời điểm này mới chỉ có

     

    • sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất kinh doanh có lãi, còn lại đều trong tình trạng hòa vốn hoặc thua lỗ, nhất là những sân bay ở các địa phương chưa thực sự phát triển về du lịch. Thế nhưng, nhiều địa phương vẫn “đắm đuối” với viễn cảnh có sân bay riêng, viện dẫn đủ loại lí do như: Tỉnh vùng núi khó khăn; có nhiều di tích lịch sử, thậm chí là địa phương anh hùng trong thời kì kháng chiến… để kiến nghị, đề xuất. (Nhiều địa phương đua mở sân bay/Giao thông vận tải 25/ 5 /2017).

    Về con số này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu quan điểm: “Đà Nẵng xứng đáng được hưởng cơ chế đặc thù, nhưng chỉ mở mức độ nào đó, chứ không thể bằng Hà Nội và TP.HCM được. Không nên vung tay quá nhiều. Vung quá nợ công tăng cao thì Đà Nẵng sẽ gánh chịu hậu quả. Đặc thù có thể là 40% (Luật Ngân sách nhà nước cho phép 30%). Mức đặc thù thêm 10% so với hiện tại là ổn”.

     

    Còn Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, Chính phủ cần cân đối, tính toán vì nhiều tỉnh, thành cũng sẽ xin cơ chế đặc thù, cần phải hài hòa giữa các địa phương.

     

    Nguồn: Cơ chế đặc thù có giúp địa phương cất cánh của Nguyễn Thanh Lan / Diễn đàn doanh nghiệp 13/7/2016.

     

    Chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay rất giống với mô hình của Trung quốc vừa tự quản vừa không tự quản, thậm chí còn phân quyền hơn nhiều quốc gia tư sản.Về hình thức, thì Trung quốc có chính quyền tập quyền, nhưng trên thực tế thì lại phân quyền một cách cao độ. Cuộc phân tranh giữa chính quyền trung ương và địa phương luôn là một đề tài dai dẳng xuyên suốt chiều dài lịch sử Trung quốc, một cuộc chiến có thể tóm bằng câu nói, “trên có chính sách, thì dưới có đối sách”. Tỉ lệ khoản thu chi ngân sách cho địa phương phụ trách thì Trung Quốc là nước có tính phân quyền cao nhất toàn cầu – chỉ riêng tỷ lệ khoản thu chi của chính quyền địa phương đã cao gấp đôi mức thông thường của các nước phát triển theo nhóm OECD, mà các nước này vốn có xu hướng phân quyền nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Ở mức phân quyền cao độ Trung quốc như một quốc gia chuyên chế, nơi chính quyền trung ương chỉ cần búng tay là dàn xếp được mọi chuyện. Nhưng trên thực tế theo chiều hướng ngược lại, Trung quốc là quốc gia phân mảnh đến mức chính quyền địa phương tự tung, tự tác làm bất cứ điều gì, bất chấp chỉ thị từ Bắc Kinh [8].

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    13

    Tài liệu tham khảo

     

    • Đào Bảo Ngọc, Quản trị địa phương ở các Châu Âu – nghiên cứu trường hợp Anh, Pháp, Đức và tiếp thu kinh nghiệm cho Việt Nam (LA Tiến sĩ Luật học), (2019) 32- 34.
    • Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Hội đồng Nhân dân trong nhà nước pháp quyền, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011.
    • Miranda kiện Arizona 384 U.S. 436.

    A

     

    a

     

    .

     

    • The Elements of Political Science by Alfred de Grazia Copyright 1959 by Metron Princeton, New Jersey tr. 651.
    • Khái quát về chính quyền Hợp Chủng quốc Hoa

    Kì/Outline of U.S. Government. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2002) 130.

     

    • Trần Ngọc Thêm, Giá trị Việt Nam – từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai.

    NXB. Văn hóa – Văn nghệ, (2016) 473.

     

    • Hiến pháp Liên bang Nga, Điều 130 – 131.
    • Kroeber A. R., Sự trỗi dậy của một cường quốc, cái nhìn từ bên trong, NXB. Hồng Đức, 2019.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

    Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

    Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-quy%E1%BB%81n-l%E1%BB%A3i-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-y%E1%BA%BFu-th%E1%BA%BF-trong-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-Vi%E1%BB%87t-Nam-v%C3%A0-%C4%90%C3%A0i-Loan.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    Review Article

     

    Consumer Disadvantaged Rights Protection in the

     

    Vietnamese and Taiwanese Laws

     

    Nguyen Trong Diep1,*, Nguyen Tien Dat2

     

    1School of Law, Vietnam National University Hanoi, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2Academy of Policy and Development Lane 7 Ton That Thuyet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 11 April 2019

    Revised 22 May 2019; Accepted 24 June 2019

     

    Abstract: In a competitive market, consumers are protected by law to avoid the risks and damages resulting from the asymmetry of position between the seller and the consumer, or the concept of “persons disadvantaged”. Taiwan (China) and Vietnam’s consumer protection laws create all the necessary legal foundations that consumers can use during the consumption process and even in the event of damage, risk. The legislative experiences and the results of the implementation of regulations in Taiwan are also important lessons for Vietnam in the development of consumer law.

     

    Keywords: Taiwan, consumer law, disadvantaged, consumer protection.

     

    *

     

    ______

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4220

     

    23

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong

     

    pháp luật Việt Nam và Đài Loan

     

    Nguyễn Trọng Điệp1,*, Nguyễn Tiến Đạt2

     

    1Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Học viện Chính sách và Phát triển, ngõ 7 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 11 tháng 04 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 22 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Trong một thị trường cạnh tranh, người tiêu dùng được bảo vệ bởi pháp luật nhằm ngăn ngừa những rủi ro, thiệt hại do những bất cân xứng về vị thế giữa bên bán và người tiêu dùng, hay còn biết đến tới khái niệm “người tiêu dùng yếu thế”. Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam đều tạo các cơ sở pháp lí cần thiết để người tiêu dùng có thể vận dụng trong suốt quá trình tiêu dùng và ngay cả khi phát sinh thiệt hại, rủi ro. Những kinh nghiệm lập pháp và kết quả thực thi quy định của Đài Loan cũng là bài học quan trọng cho Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật tiêu dùng.

     

    Từ khóa: Đài Loan, luật bảo vệ người tiêu dùng, yếu thế.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được hình thành là sự “bù đắp” cho bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Hướng tới một mục đích quan trọng là bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và tái lập sự cân bằng trong quan hệ hợp đồng tiêu dùng, những lí thuyết pháp lí dân sự được đề cập và phản ánh trong quy định pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có pháp luật Việt Nam và pháp luật Đài Loan (Trung Quốc). Trước yêu cầu cải cách và hoàn thiện pháp luật tiêu dùng, pháp

     

    ______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4220

    24

     

    luật Đài Loan với kinh nghiệm xây dựng từ rất sớm là bài học quan trọng cho nhà lập pháp Việt Nam sau gần 10 năm thực thi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

     

    • Khái niệm “người tiêu dùng yếu thế” trong quan hệ tiêu dùng

    Mặc dù, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc UNESCO từng phân tích: “Tính dễ bị tổn thương là một phần của điều kiện của con người; một số người có thể nói rằng

     

    N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

    25

    những tổn thương đó khiến chúng ta ‘con người’ hơn. Không ai là không bị tổn thương…”[1]. Điều này cho thấy bất cứ chủ thể nào không chỉ riêng người tiêu dùng trong quan hệ tiêu dùng đều phải đối mặt với những rủi ro bị tổn thương. Nhu cầu bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng xuất hiện từ khi khái niệm “hợp đồng” chính thức được quy định trong luật pháp thời kỳ La Mã. Ví dụ, nguyên tắc thiện chí bona fides của Tòa án; cơ chế exception doli để giải phóng nghĩa vụ cho con nợ hay các quy định bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong Luật 12 bảng… Trong pháp luật hiện đại, mỗi chủ thể trong các quan hệ pháp luật khác nhau sẽ được đặc trưng bởi những rủi ro bị tổn thương khác nhau, và người tiêu dùng là một chủ thể như vậy. Khái niệm “nhóm yếu thế” (tiếng anh: Disadvantaged groups) thường được sử dụng để nói về một nhóm người đặc trưng bởi những rủi ro cao hơn về sự nghèo đói, loại trừ khỏi xã hội, sự phân biệt và bị bạo lực hơn so với cư dân bình thường khác. “Nhóm yếu thế” trong luật quốc tế bao gồm nhưng không giới hạn tới những dân tộc thiểu số, người di cư, người khuyết tật, người bị cách ly khỏi xã hội và trẻ em [2]. Tuy nhiên, so sánh với những rủi ro pháp lí mà người tiêu dùng phải đối diện khi tham gia quan hệ tiêu dùng, Dennis E. Garrett và Peter G. Toumanoff đã đặt ra một câu hỏi về vấn đề này, rằng: “Liệu người tiêu dùng có phải là một nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương” [3]. Câu hỏi này đã được Tổ chức Consumer Affairs Victoria (Autralia) trả lời khi đưa ra định nghĩa về “Người tiêu dùng yếu thế” được hiểu là “những người có thể dễ dàng hoặc nhanh chóng bị thiệt hại trong quá trình tiêu dùng, tính dễ bị tổn thương phát sinh từ những đặc điểm của thị trường đối với một sản phẩm cụ thể, hoặc các thuộc tính hoặc hoàn cảnh của cá nhân đó khi quyết định tiêu dùng hoặc việc theo đuổi biện pháp khắc phục cho bất kỳ thiệt hại nào họ phải chịu, hoặc sự kết hợp của những điều này”1[4].

     

    ______

     

    • “A vulnerable consumer is a person who is capable of readily or quickly suffering detriment in the process of consumption. A susceptibility to detriment may arise from either the characteristics of the market for a particular product, the product’s qualities or the nature of the transaction; or the individual’s attributes or circumstances which adversely affect consumer decision-making or the

    Tính yếu thế của người tiêu dùng được phản ánh thông qua 02 thành tố gồm: (1) Khả năng được bảo vệ và bảo đảm trước những nguy cơ rủi ro và thiệt hại; (2) Khả năng đương đầu với những hệ quả tiêu cực khi phát sinh rủi ro và thiệt hại. Các nghiên cứu cũng cho thấy tính yếu thế và dễ bị tổn thương là một khái niệm “động” khi nó có thể thay đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể trong suốt quá trình tiêu dùng, trong đó yếu tố pháp lí là một trong những nhân tố quyết định. Cũng vì lí do này mà pháp luật các quốc gia trên thế giới và phán quyết của Tòa Công lý Châu Âu2 cũng chỉ ghi nhận thông lệ khái niệm “người tiêu dùng cá nhân” (mà không phải là tổ chức) nhằm “khu biệt hóa” đối tượng được bảo vệ, tập trung nguồn lực bảo vệ nhóm người tiêu dùng yếu thế [5].

     

    Giữa pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan và Việt Nam, cũng như quan niệm chung được thừa nhận trong pháp luật tiêu dùng nhiều quốc gia, “người tiêu dùng” được hiểu thống nhất tại Khoản 2 Điều 2 Luật tiêu dùng Đài Loan và Khoản 1 Điều 3 Luật tiêu dùng Việt Nam, là người mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ cuối cùng trong quan hệ tiêu dùng, hay nói cách khác, người tiêu dùng là người thụ hưởng cuối cùng giá trị hàng hóa. Từ quá trình lựa chọn sản phẩm, quyết định mua, tiêu dùng và hậu tiêu dùng, người tiêu dùng luôn phải đối diện với những rủi ro có thể gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp nếu như Nhà nước và pháp luật không can thiệp. Lí thuyết về bất cân xứng thông tin (“information asymmetry”) giữa bên bán (nhà cung cấp) và bên mua (người tiêu dùng) đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu khi lí thuyết lí tưởng về quan hệ tiêu dùng cân bằng thông tin giữa hai chủ thể này hiếm khi có được trong thực tế [6]. Thực tiễn đã chỉ ra rằng trong quan hệ hợp đồng tiêu dùng, bên yếu thế thông thường là người tiêu dùng. Mặc dù có thể đủ năng lực hành

     

    pursuit of redress for any detriment suffered; or a combination of these”.

     

    • Criminal Proceedings against Patrice Di Pinto, Case C-361/89 [1991] I-1189 (cited in Geraint Howells and Stephen Weatherill, Consumer Protection Law, 2nd ed. (England: Ashgate Publishing Limited, 2005) at 365.

     

    26                        N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    • khi xác lập giao dịch nhưng “sự yếu thế” được phản ánh thông qua khả năng hạn chế khi tiếp cận, xử lí, hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ và giao dịch; hạn chế trong đàm phán; hạn chế về tiềm lực tài chính, địa vị xã hội và khả năng theo đuổi các công cụ giải quyết tranh chấp.

    Như vậy, “người tiêu dùng yếu thế” được điều chỉnh trong pháp luật tiêu dùng của Việt Nam và Đài Loan là người tiêu thụ hàng hóa, sử dụng dịch vụ cuối cùng trong chuỗi luân chuyển của hàng hóa, là chủ thể dễ dàng hoặc có nguy cơ bị thiệt hại, rủi ro lợi ích nhiều hơn trong quan hệ tiêu dùng do những bất lợi về thông tin, năng lực và vị thế.

     

    1. Khả năng được bảo vệ và bảo đảm trướckhi phát sinh rủi ro

    Dựa trên các 08 nhóm quyền cơ bản của người tiêu dùng trong Hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Liên hợp quốc năm 1985 [7], Luật pháp các quốc gia trong đó có Đài Loan và Việt Nam đều đảm bảo và xây dựng những năng lực pháp lí ban đầu để bảo vệ và bảo đảm quyền lợi cho “người tiêu dùng yếu thế” trước khi rủi ro, thiệt hại phát sinh. Điều 3 Luật tiêu dùng Đài Loan năm 1994, sửa đổi mới nhất năm 2005 (sau đây gọi chung là Luật tiêu dùng Đài Loan) đặt ra nguyên tắc đối với người bán hàng hóa phải có nghĩa vụ bảo đảm: chất lượng, an toàn, vệ sinh, yêu cầu ngăn chặn những rủi ro, thiệt hại về tính mạng, cơ thể, sức khỏe, tài sản và những loại ích khác của người tiêu dùng; nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu pháp luật về quảng cáo, dán nhãn, đóng gói [8]. Theo pháp luật Việt Nam, ngoài việc quy định nghĩa vụ của người bán, dựa trên hệ thống quyền của người tiêu dùng quy định trong Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành năm 1985, sửa đổi năm 1999 được CI (Consumers International), Luật năm 2010 của Việt Nam cũng ghi nhận 08 nhóm quyền cơ bản cho người tiêu dùng gồm: được

     

    ______

     

    • Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2010.

     

    • Điều 66 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Việt Nam quy định xử phạt vi phạm hành

    bảo đảm an toàn; được cung cấp thông tin; được lựa chọn hàng hoá, dịch vụ; được góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; được tham gia xây dựng và thực thi chính sách; được yêu cầu bồi thường thiệt hại; được khiếu nại, tố cáo và được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng3 [9]. Từ các quy định này, người tiêu dùng được bảo vệ thông qua các nghĩa vụ của người bán trong quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Đơn cử:

     

    • Nghĩa vụ đối với bao gói sản phẩm, hàng hóa: Điều 7 Luật tiêu dùng Đài Loan quy định nghĩa vụ thông tin của nhà sản xuất – kinh doanh trên bao gói sản phẩm trong trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ gây nguy hại đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe hoặc tài sản của người tiêu dùng, một cảnh báo và phương pháp đối phó trong trường hợp khẩn cấp đối với những nguy hiểm đó phải được ghi tại một vị trí thích hợp. Pháp luật Việt Nam cũng quy định nghĩa vụ này của người bán tại Khoản 1 Điều 12 Luật BVNTD năm 2010 và quy định về dán nhãn sản phẩm, hàng hóa tại Nghị định 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ Việt Nam [10]. Ngoài ra, hành vi vi phạm về cung cấp thông tin cảnh báo đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ có thể bị xử phạt hành chính tới cao nhất là 50 triệu đồng Việt Nam và có thể bị tước giấy phép kinh doanh tới 06 tháng4 [11].
    • Nghĩa vụ thu hồi hàng hóa: thực tế cho thấy nghĩa vụ thu hồi hàng hóa khuyết tật là một nội dung đặc biệt quan trọng trong pháp luật tiêu dùng nhiều quốc gia. Điều 10 Luật tiêu dùng Đài Loan làm rõ nghĩa vụ này bắt buộc phải thực hiện khi doanh nghiệp có “nghi ngờ” về hàng hóa hoặc dịch vụ có rủi ro gây nguy hiểm đến an toàn và sức khỏe người tiêu dùng. Điều 22 Luật BVNTD Việt Nam có quy định tương tự về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật, đồng thời bổ sung nghĩa vụ thông báo công khai việc thu hồi hàng hóa trong ít nhất 05 số báo liên tiếp hoặc 05 ngày liên tiếp trên đài phát thanh, truyền hình địa phương.

    chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

     

    N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

    27

    • Trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp: Luật tiêu dùng Đài Loan luôn đặt ra vấn đề trách nhiệm liên đới và riêng rẽ giữa các doanh nghiệp phân phối, bán hàng, thiết kế, sản xuất, chế tạo trong nghĩa vụ thông tin, cảnh báo rủi ro cho người tiêu dùng. Quyền lợi của người tiêu dùng được bảo đảm ngay tại thời điểm mua hàng khi nghĩa vụ cảnh báo và chứng minh phù hợp các quy chuẩn, tiêu chuẩn và tính an toàn. Nghĩa vụ liên đới và riêng rẽ tiếp tục được quy định bắt buộc đối với các doanh nghiệp phân phối hoặc bán hàng, doanh nghiệp thiết kế, sản xuất hoặc chế tạo hàng hóa dịch vụ tại Điều 8 và tương tự đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa tại Điều 9. Ở Việt Nam, trách nhiệm này giới hạn ở trách nhiệm riêng rẽ của chủ thể bán hàng, còn chỉ phát sinh trách nhiệm liên đới với bên thứ ba trong thiệt hại từ cung cấp thông tin không chính xác và không đầy đủ5.
    • Giải thích hợp đồng tiêu dùng: với quan điểm tương đồng về tính bất cân xứng về vị thế giữa người tiêu dùng và bên bán, Luật tiêu dùng Đài Loan quy định về việc giải thích Điều khoản và Điều kiện của hợp đồng tiêu dùng hàng loạt (hay Luật tiêu dùng Việt Nam gọi tên là hợp đồng mẫu) phải được giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng, áp dụng nguyên tắc bình đẳng và có đi có lại (Điều 11). Việc giải thích có lợi không đồng nghĩa với việc tước bỏ quyền được đảm bảo một thời hạn hợp lí để xem xét nội dung hợp đồng cũng như hệ quả hủy bỏ hợp đồng nếu như quyền này không được doanh nghiệp bảo đảm.

     

    • Hệ quả vô hiệu hợp đồng tiêu dùng: vô hiệu là hệ quả tất yếu nếu như quá trình giao kết hợp đồng giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng không bảo đảm rằng “người tiêu dùng yếu thế” được đối xử công bằng hơn trong quan hệ mua bán. Điều 12 Luật tiêu dùng Đài Loan đặt ra trường hợp “không công bằng” để áp dụng vô hiệu giao dịch mua bán giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. Trong đó, Khoản 1 Điều 12 cho thấy sự “không công bằng” sẽ dẫn tới vô hiệu khi giữa người tiêu dùng và bên bán không đạt được

    ______

     

    sự “bình đẳng”. Hợp đồng vô hiệu còn được đặt ra tại Điều 17 Luật tiêu dùng Đài Loan khi doanh nghiệp bỏ qua nghĩa vụ công khái các Điều khoản bắt buộc và Điều khoản bị cấm trong hợp đồng hàng loạt, dẫn tới tính trạng rủi ro về thông tin cho người tiêu dùng. Đối với phương thức thư mời mua hoặc bán hàng tận cửa, bất cứ thỏa thuận nào vi phạm nghĩa vụ thông tin của bên bán cũng như tạo ra một trạng thái “không sẵn lòng” của người tiêu dùng khi mua hàng hoặc một thỏa thuận bồi hoàn sản phẩm nếu chấm dứt hợp đồng “kém thuận lợi” cho người tiêu dùng thì đều áp dụng vô hiệu theo Điều 18 Luật tiêu dùng Đài Loan. Trong pháp luật tiêu dùng Việt Nam và rộng hơn là pháp luật dân sự, một trong các căn cứ vô hiệu hợp đồng là tồn tại và chứng minh được sự lừa dối, đe dọa, cưỡng ép ý chí khi giao kết. Sự cưỡng ép ý chí này trở nên khá “mơ hồ” nếu như quan hệ mua bán giữa người tiêu dùng và bên bán được xác lập nhanh chóng và mang tính đơn lẻ. Việc quy định rõ ràng một cơ sở về “không sẵn lòng” là một điều đặc biệt quan trọng giúp “người tiêu dùng yếu thế” luôn chủ động trong quan hệ mua bán và từ đó nâng cao trách nhiệm của bên bán trong việc tạo ra sự hài lòng và thỏa mãn từ người mua.

     

     

    3. Khả năng ứng phó với những hệ quả tiêu cực

     

    Những hệ quả tiêu cực như thiệt hại vật chất (sức khỏe, tính mạng, tài sản) hay tinh thần đặt ra khi hàng hóa, dịch vụ khuyết tật gây ra đòi hỏi phải tồn tại những cơ sở pháp lí để truy cứu trách nhiệm bồi thường đối với doanh nghiệp. Trách nhiệm này bao gồm các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với thiệt hại và xử lí một vụ việc tranh chấp khi phát sinh.

     

    Nghĩa vụ của doanh nghiệp khi phát sinh nguy hại cho người tiêu dùng

     

    Luật tiêu dùng Đài Loan cho thấy quan điểm xây dựng trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability) đối với doanh nghiệp khi cung ứng sản phẩm tới người tiêu dùng. Khi phát sinh thiệt hại, việc giải thích có lợi cho người tiêu dùng và trách

     

    • Điểm c Khoản 1 Điều 13 Luật BVQLNTD Việt Nam năm

     

    2010.

     

    28                        N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    nhiệm của các doanh nghiệp là 02 điều kiện bắt buộc, ngay kể cả khi doanh nghiệp chứng minh được mình không có lỗi đối với sai sót đó. Điều 7 Luật tiêu dùng Đài Loan quy định nghĩa vụ liên đới hoặc riêng rẽ của các doanh nghiệp kinh doanh khi việc cảnh báo không đảm bảo và gây thiệt hại, đồng thời việc xem xét giảm nhẹ trách nhiệm chỉ đặt ra khi các doanh nghiệp chứng minh được rằng họ không có lỗi đối với sai sót đó. Điều này có vẻ thiếu công bằng cho các doanh nghiệp, nhưng lại hợp lí bởi nó ràng buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực cảnh báo các rủi ro có thể xảy ra cho người tiêu dùng trong mọi trường hợp và tự nâng cao trách nhiệm xã hội của họ.

     

    Điều này Luật tiêu dùng Việt Nam chưa làm được khi các nghĩa vụ của doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở quy định nghĩa vụ cảnh báo mà không ghi nhận trách nhiệm và giải thích tình huống phát sinh thiệt hại. Tuy nhiên, Luật BVNTD năm 2010 của Việt Nam đưa vào áp dụng một nguyên tắc đặc biệt trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng tại Tòa án, đó là “người mua có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thiệt hại của mình, và người bán có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại”6.

    Thực thi quyền xử lí khiếu nại tiêu dùng

     

    Nếu như Luật tiêu dùng Việt Nam chỉ ghi nhận khiếu nại tiêu dùng như một trình tự hành chính trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng và giao cho các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Chính phủ tự xây dựng quy trình và thời hạn xử lí thì Luật tiêu dùng Đài Loan ấn định thời hạn tối đa của doanh nghiệp là 15 ngày để giải quyết khiếu nại và trường hợp không thực hiện thì cơ quan thanh tra tiêu dùng sẽ can thiệp ngay sau đó để bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng. Luật BVNTD Việt Nam đang bỏ ngỏ quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại này. Hiện nay, Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng thuộc Bộ Công Thương Việt Nam đang triển khai song song 03 phương thức tiếp nhận khiếu nại tiêu dùng gồm: trực tuyến (qua website hoặc

     

    ______

    • Điều 42 Luật BVNTD Việt Nam năm 2010.

    email); bưu điện và trực tiếp. Trong đó, khiếu nại qua email chiếm tới 76%, việc xử lí khiếu nại thành công chiếm 97%7.

     

    Sự can thiệp của cơ quan bảo vệ người tiêu dùng và chính quyền địa phương

     

    Việc can thiệp của chính quyền địa phương tại Đài Loan trong việc xử lí các vụ việc liên quan tới hàng hóa khuyết tật gây thiệt hại được hậu thuẫn đáng kể bởi các quy định của Luật tiêu dùng Đài Loan. Theo đó, Luật cho phép từ chính quyền cấp huyện đã được trao thẩm quyền để có thể can thiệp một cách hiệu quả vào quá trình thiết kế, sản xuất, chế tạo, gia công, nhập khẩu, phân phối hàng hóa bị nghi ngờ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tiêu dùng (Điều 36 Luật tiêu dùng Đài Loan). Biện pháp mạnh nhất có thể được cơ quan này và các cơ quan cấp cao hơn thực hiện là tạm ngừng và ngừng hoạt động cung ứng đồng thời có thể áp dụng bổ sung các biện pháp khác nếu thấy cần thiết. Ở tầm chính sách, Viện Hành chính Đài Loan và một cơ quan liên bộ là Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng là những cơ quan tư vấn, xây dựng và kiến nghị chính sách bảo vệ người tiêu dùng.

     

    Khi phát sinh các khiếu nại tiêu dùng cần hòa giải, Luật tiêu dùng Đài Loan cho phép chính quyền cấp huyện và cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp với sự tham gia của các đại diện chính quyền, thanh tra tiêu dùng, nhóm bảo vệ người tiêu dùng, đại diện hiệp hội ngành nghề để đảm bảo tiếng nói công bằng cho các nhóm lợi ích trong quan hệ tiêu dùng. Điều này cũng là một hạn chế trong pháp luật tiêu dùng Việt Nam khi Luật tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam mới đề cập tới hòa giải tranh chấp tiêu dùng như một cơ chế chính thức được nhắc tới nhưng không có hướng dẫn cụ thể về thực hiện. Năm 2017, Chính phủ Việt Nam có ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại như một hướng dẫn pháp lí ban đầu để giải quyết tranh chấp tiêu dùng theo hình thức này nhưng khó phát huy hiệu quả bởi “tranh

     

    • Nguồn: Cục Cạnh tranh & Bảo vệ người tiêu dùng – Bộ Công Thương Việt Nam, số liệu 06 tháng đầu năm 2018.

     

     

    N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

    29

    chấp tiêu dùng” thực chất không hề tương đồng với “tranh chấp thương mại”.

     

    Những yêu cầu đặc biệt đối với vụ kiện tiêu dùng

     

    “Người tiêu dùng yếu thế” được bảo đảm về quyền lợi khá rõ ràng trong cả pháp luật tiêu dùng Đài Loan và Việt Nam thông qua các cơ chế khá khác biệt. Điều 48 Luật tiêu dùng Đài Loan hướng tới xây dựng những thẩm phán chuyên trách đối với các vụ kiện tiêu dùng – một điều mà Việt Nam chưa làm được, thì Điều 41 Luật tiêu dùng Việt Nam lại xây dựng được một mô hình rút gọn lí tưởng với mục tiêu giải quyết nhanh chóng các vụ kiện tiêu dùng đơn giản có mức ngạch thấp dưới 100 triệu đồng Việt Nam. Pháp luật tiêu dùng Đài Loan và Việt Nam gặp nhau ở quy định về quyền khởi kiện tập thể của nhóm chủ thể đại diện quyền lợi người tiêu dùng. Năm 2015, ở Bến Tre – Việt Nam, 34 người tiêu dùng gửi đơn khiếu nại Hội bảo vệ người tiêu dùng tỉnh về bánh mỳ ngộ độc của Cơ sở bánh mỳ Minh Tuyến, TP Bến Tre từ năm 2013. Mất 02 năm, 02 vụ kiện, xử 02 cấp sơ thẩm và phúc thẩm, vụ kiện mới khép lại với nghĩa vụ bồi thường tổng số tiền 22 triệu đồng của bị đơn – chủ cơ sở bánh mỳ theo kết quả hòa giải8. Tương tự là vụ việc anh Vũ Song Toàn mất xe tại nhà hàng My Way và yêu cầu nhà hàng bồi thường, từ năm 2011 tới nay vẫn chưa có kết quả9. Từ đó cho thấy, thực tiễn xét xử vụ án vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam thường kéo dài và là nguyên nhân khiến người tiêu dùng có tâm lí ngại khởi kiện và khiếu nại.

     

    Bên cạnh đó, một quy định đặc biệt quan trọng là nghĩa vụ bồi thường và quyền yêu cầu bồi thường thì Luật tiêu dùng Đài Loan đã mở ra một cơ chế đòi bồi thường ưu tiên cho người tiêu dùng khi mức yêu cầu đòi bồi thường có thể lên tới gấp 03 lần mức thiệt hại thực tế nếu như liên quan tới yếu kém của doanh nghiệp hoặc một hành vi cố ý (Điều 51). Trong khi đó, Luật tiêu

     

    dùng Việt Nam và Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 chỉ quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dựa trên thiệt hại thực tế chứng minh được.

     

    Kết luận

     

    “Người tiêu dùng yếu thế” là một khái niệm được sinh ra từ việc xem xét vị thế của người tiêu dùng trong quan hệ với bên bán trong một quan hệ mua bán vốn dĩ dựa trên nguyên tắc bình đẳng. Tuy nhiên, sự yếu thế của người tiêu dùng trong thực tiễn giao dịch lại đi ngược lại nguyên tắc bính đẳng đó của dân sự, đòi hỏi pháp luật các quốc gia cần có những quy định và cách giải thích, vận dụng pháp luật nhằm lấy lại sự cân bằng này. Pháp luật tiêu dùng Đài Loan qua nhiều năm thực thi đã cho thấy một thực tế rằng pháp luật cần có những quy định mạnh mẽ và thể hiện rõ ràng quan điểm bảo vệ “người tiêu dùng yếu thế”. Pháp luật tiêu dùng Việt Nam sau gần 10 năm thực thi cũng cần nghiên cứu quan điểm lập pháp này để có những sửa đổi cần thiết để tăng hiệu quả thực thi. Kết quả tranh chấp tiêu dùng ở Việt Nam qua các năm phản ánh rằng các quy định hiện hành chưa tạo ra sự khác biệt, chưa đủ thu hút người tiêu dùng vận dụng để bảo vệ quyền lợi cho mình.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization, The principle of respect for human vulnerability and personal integrity – report of the International bioethics committee of UNESCO, UNESCO, 2013.
    • Eige Experts – Eige Europa, CSW Agreed conclusions on the elimination and prevention of all forms of violence against women and girls, para. 34, (2013), E/2013/27-E/CN.6/2013/11.

    ______

     

    • Các bản án: Bản án sơ thẩm số 08/2015/DS-ST ngày 09/2/2015; Bản án sơ thẩm số 11/2015/DS-ST ngày 04/3/2015 của Tòa án nhân dân TP Bến Tre; Biên bản hòa giải ngày 17/8/2015 giữa 17 nguyên đơn và bà Võ Thị Minh Tuyến.
    • Các bản án: Bản án sơ thẩm số 06/2012/DS-ST ngày 10/5/2012 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy; Bản án phúc thẩm số 180/2012/DS-PT ngày 11/10/2012 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội; Thông báo số 1568/TB-TDS ngày 20/12/2012 của Tòa dân sự – Tòa án nhân dân tối cao về việc tiếp nhận đơn đề nghị giám đốc thẩm.

     

    30                        N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    • Dennis E. Garrett và Peter G. Toumanoff (2010), Are consumers disadvantaged or vulnerable? An examination of consumer complaints to the better business bureau, The Journal of Consumer Affairs, vol.44, No.1 (2010) 3-23.
    • Consumer Affairs Victoria, What do we mean by

    ‘vulnerable’   and   ‘disadvantaged’   consumers,

    Discussion paper, 2004.

     

    • Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Thị Vân Anh, Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật, 2012.
    • Bairagya Ramsundar & Sarkar Shubhabrata, Information Asymmetry – Consumer behavior and market equilibrium, Euro-Asian Journal of Economics and Finance, vol.1, Issue 1 (11/2013) p.33-40.
    • United Nations, Guidelines for Consumer protection, 1985.
    • Luật tiêu dùng Đài Loan năm 1994, sửa đổi năm

    2005.

     

    • Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2010.
    • Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ Việt Nam về nhãn hàng hóa.
    • Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Việt Nam quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

    .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

    Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

    Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-l%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-c%C6%A1-quan-chuy%C3%AAn-m%C3%B4n-thu%E1%BB%99c-%E1%BB%A6y-ban-Nh%C3%A2n-d%C3%A2n-c%E1%BA%A5p-huy%E1%BB%87n-v%C3%A0-vi%E1%BB%87c-tinh-gi%E1%BA%A3n-bi%C3%AAn-ch%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    Review Article

     

    Re-organizing the Functional Bodies of the District-level People’s Committee and Downsizing the Civil Service

     

    Pham Thi Giang*

     

    Faculty of Administrative Sciences and Organization – Personnel Management,

     

    National Academy of Public Administration, 77 Nguyen Chi Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam

     

    Received 12 April 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 24 June 2019

     

    Abstract: The article focuses on streamlining the organizational structure of the functional bodies of the district-level People’s Committee for more effective management. This is the basis for downsizing the civil service by screening the current civil servants with the purpose of replacing no longer suitable staff with competent servants to work in the functional bodies of the district-level People’s Committee. In fact, although the state administrative reform since 2001 has helped reduce the number of the functional bodies under the district-level People’s Committee from 15 agencies to 12 agencies, the number of civil servants in these agencies has increased. Therefore, the article offers a number of solutions for rationally downsizing the civil service.

     

    Keywords: Reorganization, functional body, payroll streamlining, district-level People’s Committee.

     

    *

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4222

    65

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc

     

    Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

     

    Pham Thi Giang*

     

    Khoa Khoa học hành chính và Tổ chức nhân sự, Học viện Hành chính Quốc gia,

     

    77 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 12 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Bài viết tập trung vào việc phân tích sắp xếp cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện để tinh gọn, hợp lý, đáp ứng được yêu cầu quản lý. Đồng thời, đây là cơ sở cho việc xác định, sắp xếp lượng biên chế phù hợp và tinh giản biên chế: đưa người cần tinh giản ra khỏi bộ máy, bổ sung người có trình độ, chuyên môn vào làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong thực tiễn cải cách hành chính nhà nước từ 2001 đến nay, số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có thay đổi theo chiều hướng giảm từ 15 cơ quan xuống còn 12 cơ quan (có tính đến yếu tố đặc thù). Tuy nhiên, biên chế các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện lại có sự tăng lên về số lượng. Qua đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm tổ chức lại cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện tinh gọn, hợp lý hơn và góp phần vào việc tinh giản biên chế hiện nay.

     

    Từ khóa: Tổ chức lại, cơ quan chuyên môn, tinh giản biên chế, Ủy ban Nhân dân cấp huyện.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và xác định biên chế là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phát triển khác nhau lại có những yêu cầu mới cần bổ sung hoặc cắt giảm chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4222

    cơ quan để đáp ứng nhu cầu xã hội là rất cần thiết. Do vậy, việc đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ để bố trí, sử dụng đúng, đủ biên chế có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

     

    1.   Về tổ chức lại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện

     

    Những năm qua, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện về cơ bản

     

    66

     

    P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

    67

    chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra bới sự thường xuyên tách ra nhập vào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy, dẫn đến khó khăn trong việc xác định, sắp xếp biên chế của các cơ quan chuyên môn. Cụ thể năm 2001, cấp huyện có 10 phòng “cơ cấu cứng” và có một số phòng thành lập tùy theo đặc thù riêng của địa phương nhưng không quá 12 phòng, huyện đảo 08 phòng. Thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 quy định cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có 12 phòng chuyên môn và tương đương “cơ cấu cứng” ngoài ra còn có một số phòng có thể được thành lập tùy theo đặc thù ở địa phương như: phòng Tôn giáo, phòng Dân tộc, phòng Kinh tế tổng số không quá 15 phòng, huyện đảo không quá 10 phòng. Như vậy, số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện tăng lên.

     

    Trước yêu cầu về cải cách hành chính (CCHC), cần tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước theo xu hướng tổ chức bộ máy quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định về cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện do vậy, cơ cấu tổ chức giảm xuống còn 10 phòng “cơ cấu cứng” và có một số phòng tùy theo đặc thù địa phương nhưng không quá 12 phòng, huyện đảo không quá 10 phòng; số lượng cấp phó phòng là 03 người. Như vậy, so với nghị định số 172/2004/NĐ-CP, số lượng phòng chuyên môn đã giảm 03 phòng. Tuy nhiên, việc giảm số lượng phòng chuyên môn này về cơ bản chỉ giảm được đầu mối – mang tính cơ học, thực chất chưa sát với yêu cầu của thực tiễn, chưa bảo đảm hiệu quả về chuyên môn, nhiệm vụ,… cụ thể như: việc sáp nhập tổ chức, chức năng quản lý nhà nước về dân tộc vào Văn phòng HĐND và UBND huyện là chưa phù hợp với các tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Công tác quản lý nhà nước về dân tộc là một trong những công tác phức tạp nên cần phải có một cơ quan chuyên môn độc lập để thực hiện chức năng tham mưu chuyên sâu mới đáp ứng yêu cầu

     

    thực tiễn đồng thời phát huy được hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Mặt khác, việc thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chưa được đề cập ở Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác do vậy đã gây ra không ít các khó khăn, bất cập cho các địa phương trong quá trình thực thi.

     

    Để giải quyết bất cấp trên và tiếp tục bảo đảm việc đáp ứng yêu cầu CCHC, tinh gọn bộ máy từ trung ương đến cơ sở theo kết luận số 64 KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị thứ lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Đảng (Khóa XI) về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở” và Hiến pháp năm 2013, Chính phủ đã ban hành nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh theo nguyên tắc: (i) Bảo đảm bao quát đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện và bảo đảm tính thống nhất, thông suốt về quản lý ngành, lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở; (ii)Tổ chức quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn, hợp lý, hiệu quả; không nhất thiết ở cấp tỉnh có sở nào thì cấp huyện có tổ chức tương ứng; (iii) Phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện và điều kiện tự nhiên, dân số, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương và yêu cầu cải cách hành chính nhà nước; (iv) Không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn với các cơ quan/tổ chức của trung ương đặt tại cấp huyện. Trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đã có những điều chỉnh nhất định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức song về cơ bản các cơ quan chuyên môn vẫn còn 10 phòng chuyên môn “cơ cấu cứng” đồng thời có thêm một số cơ quan đặc thù phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính (địa phương) không quá 13 phòng (cơ bản giữ ổn đình 12 phòng), huyện đảo không quá 10 phòng; số lượng cấp phó phòng là 03 người. Như vậy, có thể nhận thấy so nghị định số 14/2008/NĐ-CP, số lượng phòng chuyên môn đã được điều chỉnh tăng lên để đảm bảo đặc thù

     

    68                            P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    địa phương như: việc thành lập Phòng Dân tộc do UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định dự vào căn cứ tiêu chí quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 2 Nghị định 53/2004/NĐ-CP ngày 18/02/2004 về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc UBND các cấp. Thực tế cho thấy, hoạt động của các cơ quan chuyên môn chưa thực sự hiệu quả bởi cơ cấu tổ chức bên trong của một số cơ quan chuyên môn chưa tinh gọn, nhiều phòng chuyên môn có chức năng, nhiệm vụ tương tự nhau như: “Đội trật tự đô thị” với “phòng Quản lý đô thị”; Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Phòng quản lý xây dựng công trình… nên cần xem xét, sát nhập để tiếp tục giảm bớt đầu mối và biên chế. Mặt khác, các cơ quan chuyên môn chia ra theo nghị định này chưa bảo đảm tính đặc thù phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương đặc biệt là việc phân biệt rõ hơn nữa sự khác biệt đô thị, nông thôn.

     

    Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn. Tiếp đó là Nghị quyết số 18/2017-NQ/TW ngày 25/10/2017 và Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 về tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện các Nghị quyết và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, hiện nay một số tỉnh đang triển khai thí điểm hợp nhất các cơ quan cấp huyện như: phòng Nội vụ nhập với Ban tổ chức huyện ủy, chức danh trưởng ban tổ chức huyện ủy kiêm trưởng phòng nội vụ; Thanh tra huyện nhập với Ủy ban Kiểm tra huyện ủy, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra kiêm chánh Thanh tra; hợp nhất Văn phòng cấp ủy với Văn phòng HĐND và UBND; UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp quyết định việc giữ ổn định hoặc hợp nhất: phòng Nội

     

    vụ với phòng Lao động – Thương binh và Xã hội; UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp quyết định giữ ổn định hoặc sáp nhập, thành lập hoặc không thành lập các phòng để phù hợp với yêu cầu của từng địa phương như: không tổ chức phòng Y tế, phòng Dân tộc (trường hợp không đủ 5.000 người dân tộc thiểu số hoặc có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh quốc phòng; không phải địa bàn xen canh, xem cư; không phải là biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại) và giao các nhiệm vụ này cho Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về y tế, công tác dân tộc.

     

    Như vậy, có thể nhận thấy, theo các quy định trên, chính quyền địa phương đã được trao quyền nhiều hơn trong việc sắp xếp, tổ chức các cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, việc sắp xếp này vẫn gặp nhiều khó khăn do vướng mắc như: bố trí, sắp xếp, điều chuyển nhân sự, xác định ví trí pháp lý người đứng đầu cơ quan thanh tra, kiểm tra, nội vụ; chế độ chính sách cho công chức làm việc trong cơ quan sáp nhập – phòng Thanh tra với Ủy ban Kiểm tra, phòng Nội vụ với Ban tổ chức; công tác đánh giá công chức cuối năm v.v.. Ngày 10/4/2018 Bộ Nội vụ đã có dự thảo quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện trình Chính phủ. Trong dự thảo quy định danh mục là 15 phòng chuyên môn, căn cứ vào danh mục đó và hướng dẫn của Bộ quản lý về ngành, lĩnh vực, UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp quyết định việc thành lập, hợp nhất, sáp nhập hoặc không thành lập tổ chức các phòng cụ thể của đơn vị hành chính cấp huyện như sau: thống nhất cả nước có 10 phòng “cơ cấu cứng” ngoài ra có thể thành lập thêm phòng tùy thuộc vào chuyên ngành, đặc thù ở các địa phương khác nhau với đơn vị hành chính loại I không quá 12 phòng; loại II không quá 11 phòng; loại III không quá 10 phòng và huyện đảo không quá 10 phòng. Số lượng cấp phó phòng bình quân không quá 2 phó phòng, căn cứ vào số lượng phòng chuyên môn được thành lập và tổng số Phó Trưởng phòng, UBND cấp huyện quyết định cụ thể số

     

    P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

    69

    lượng Phó Trưởng phòng của từng phòng chuyên môn cho phù hợp[1]. Tuy nhiên, cho đến nay Chính phủ chưa ban hành chính thức nghị định này.

     

    2. Về tinh giản biên chế

     

    Từ những kết quả về sắp xếp cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chủ yếu nêu trên nhìn chung đã được thiết kế tinh gọn, hợp lý, đáp ứng được yêu cầu quản lý thống nhất, thông suốt và bao quát đối với ngành, lĩnh vực và đây làm cơ sở cho việc xác định, rà soát, sắp xếp lượng biên chế và tinh giản biên chế, đưa những người cần tinh giản ra khỏi bộ máy. Đồng thời, có điều kiện để bổ sung những người có trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ cao, có sức khỏe vào làm việc trong các cơ quan chuyên môn. Cụ thể, số lượng cơ quan chuyên môn có thay đổi theo chiều hướng giảm từ 15 xuống còn là 12 (có tính đến đặc thù theo loại hình đơn vị hành chính cấp huyện). Tuy nhiên, có thể nhận thấy về cơ bản biên chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện lại có sự tăng lên về số lượng. Bởi việc xác định biên chế và tinh giản biên chế công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện từ tháng 12 năm 2009 trở về trước là xác định theo “vị trí công tác”, việc xác định vị trí công tác này cũng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn và từ vị trí công tác của các cơ quan chuyên môn sẽ xác định số lượng biên chế (trong đó có sự phân biệt giữa thành thị và nông thôn) cụ thể như đối với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: phòng Nội vụ có từ 07 – 11 vị trí (tương đương là 07-11 biên chế); phòng Tài nguyên và Môi trường có 07-11 vị trí và 07-11 biên chế, phòng Thanh tra có 05 -08 vị trí và 05 – 08 biên chế; huyện phòng Nội vụ có 08 – 10 vị trí tương đương có 08 -10 biên chế, phòng Tài nguyên và Môi trường có có 09 -11 vị trí và có 09 – 11 biên chế, phòng Thanh tra 05 – 07 vị trí có 05 – 07 biên chế… Tổng vị trí công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được xác định giai đoạn

     

    này là từ 113 -138 vị trí công tác, tương đương với 113 – 138 biên chế [2 tr.47].

     

    Năm 2008, Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 việc xác định biên chế công chức theo vị trí việc làm (VTVL). Do vậy, việc xác định biên chế của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đã được điều chỉnh khác với giai đoạn trước như: VTVL được phân thành 03 loại (VTVL do một người đảm nhận; VTVL do nhiều người đảm nhận; VTVL kiêm nghiệm). Khi xác định vị trí này phải có một địa chỉ cụ thể, nội dung công việc rõ ràng, có nghĩa là ngoài việc gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện còn gắn với tính chất, đặc điểm, mức độ phức tạp của quy mô, phạm vi, đối tượng quản lý của ngành, lĩnh vực; quy trình quản lý chuyên môn, nghiêp vụ theo quy định của luật chuyên ngành; mức độ hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; quy mô dân số, diện tích tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; đặc điểm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; và đặc biệt còn gắn với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đào tạo của từng VTVL. Bên cạnh đó còn có sự phân biệt thành 03 nhóm công chức khác nhau (nhóm lãnh đạo quản lý, nhóm chuyên môn nghiệp vụ, nhóm hỗ trợ phục vụ).

     

    Thực tiễn, việc tính toán một cách khoa học biên chế dành cho mỗi VTVL tại các cơ quan chuyên môn sao cho vừa bảo đảm khoa học lại phải sát với thực tế yêu cầu công việc gặp nhiều khó khăn vì việc xác định này chỉ mang tính định tính là chủ yếu, mặc dù Bộ Nội vụ đưa ra những quy định như: phải có sắp xếp, xây dựng xong VTVL rồi mới được tuyển dụng… điều này khiến các cơ quan thực hiện bị lúng túng, bởi yêu cầu một nhân viên chỉ được vào một vị trí, nhưng thực tế một nhân viên đó hoàn toàn có thể sắp xếp được 2 – 3 – 4 vị trí và ngược lại. Dẫn đến, việc xác định VTVL có thể làm cho số lượng biên chế tăng hoặc giảm. Nhưng về cơ bản là phải bảo đảm phù hợp với chức năng,

     

    70                            P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    nhiệm vụ, khối lượng công việc của cơ quan, đơn vị. Từ đó làm căn cứ cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao số lượng biên chế cho phù hợp với từng cơ quan đó. Vì vậy, không ít cơ quan chuyên môn trong khi xây dựng đề án mô tả VTVL có tâm lý muốn tăng thêm hoặc giữ nguyên biên chế nên có thể chưa mô tả hết thực chất tính chất công việc của từng VTVL, công chức kê khai không đúng tỷ lệ thời gian thực hiện công việc của mình do lo sợ bị giảm biên chế.v.v. Cụ thể, với cơ quan chuyên môn cấp huyện việc xác định biên chế đã có sự phân biệt giữa nông thôn và thành thị như: Đối với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: phòng Tài nguyên và Môi trường có 13 VTVL với 13 biên chế trong đó: (1) 04 vị trí gắn với công việc lãnh đạo, quản lý gồm 01 trưởng phòng, 03 phó phòng tương đương 04 biên chế; (2) 06 vị trí gắn với công việc chuyên môn, nghiệp vụ tương đương là 06 biên chế (3) 03 vị trí hỗ trợ phục vụ tương đương 03 biên chế. Đối với huyện có: phòng Tài nguyên và Môi trường có 10 VTVL với 10 biên chế trong đó: (1) 03 vị trí công việc gắn với công việc lãnh đạo, quản lý tương đương có 03 biên chế; (2) vị trí công việc chuyên môn nghiệp vụ 05 theo lĩnh vực công tác chuyên môn tương đương 05 biên chế; (3) vị trí phục vụ 02 việc làm tương đương 02 biên chế v.v… Tổng VTVL các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là 179 vị trí việc làm tương đương 179 biên chế [2.Tr 64].

     

    Qua phân tích trên có thể nhận thấy việc xác định biên chế đã có thay đổi phù hợp với yêu cầu của CCHC từ việc xác định vị trí công tác để xác định biên chế sang xác định VTVL để xác định biên chế hơn nữa còn có sự phân biệt rõ về nhóm VTVL. Mặt khác, các quy định vẫn chưa thể hiện và phân biệt được giữa tên gọi vị trí việc làm với chức danh, ngạch công chức theo yêu cầu của VTVL mà có sự đồng nhất giữa VTVL với biên chế công chức dẫn đến việc khi các cơ quan hành chính nhà nước

     

    xác định VTVL luôn có xu hướng tăng VTVL cũng dẫn đến tăng biên chế. Đây là một nghịch lý trong thực tiễn cần được khắc phục theo hướng tinh giản biên chế.

     

    2.   Một số giải pháp cho việc tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và tinh giản biên chế

     

    Thứ nhất: Chính phủ cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền cụ thể của các cơ quan chuyên môn, giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện với nhau để bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước theo xu hướng đa ngành, đa lĩnh vực, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ và tránh sự chồng chéo, trùng lắp giữa các phòng chuyên môn. Bên cạnh đó, có những quy định khuyến khích các địa phương thực hiện việc tinh gọn tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước cấp huyện hơn so với quy định hiện hành. Tuy nhiên, không tăng tổng biên chế và nên áp dụng khoán biên chế và giao nhiệm vụ cho người đứng đầu của cơ quan phải có lộ trình giảm biên chế cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, kiểm tra giám sát để hạn chế việc tăng biên chế, đồng thời không áp dụng chế độ “hợp đồng” để thực hiện công việc của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước như một số địa phương đã áp dụng, làm cho số lượng người hưởng lương trong bộ máy gia tăng đáng kể.

     

    Thứ hai: Chính phủ cần phải sửa đổi và ban hành ngay văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hướng dẫn về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, trong đó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức và biên chế của các cơ quan chuyên môn để không trái với các quy định của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Làm cơ sở pháp lý cho việc xác định và tinh giản biên chế cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện.

     

    P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

    71

    Thứ ba: Hoàn thành việc xác định VTVL trong các cơ quan chuyên môn, cấn phân biệt giữa tên gọi VTVL với chức danh, ngạch công chức theo yêu cầu tại VTVL; không đồng nhất giữa VTVL với biên chế công chức. Mặt khác, do chức năng, nhiệm vụ mỗi cơ quan là khác nhau, vì vậy việc xác định chỉ tiêu biên chế, cơ cấu công chức phải được thực hiện riêng, không thể lấy kết quả đo lường của cơ quan này áp cho cơ quan khác mà cần nghiên cứu cho từng cơ quan. Bên cạnh đó, không thể xác định định mức cơ cấu ngạch công chức theo chức danh nghề nghiệp chung cho tất cả các cơ quan mà cần phải nhóm theo mức độ phức tạp của từng loại nhiệm vụ và được tính toán một cách chi tiết riêng cho từng cơ quan cụ thể. Để từ đó, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có căn cứ xác định biên chế phù hợp và tinh giản được biên chế. Một biên chế có thể đảm nhiệm một vị trí hoặc một số vị trí việc làm, tùy theo tần xuất, số lượng công việc của từng vị trí để bố trí nhân sự cho hợp lý.

     

    Thứ tư: Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện cần rà soát, đánh giá năng

     

    lực, trình độ đào tạo, của công chức để có kế hoạch sắp xếp, bố trí sử dụng phù hợp với VTVL và yêu cầu nhiệm vụ. Có biện pháp đồng bộ để tinh giản biên chế đối với những công chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng, không đạt yêu cầu tiêu chuẩn quy định về phẩm chất, năng lực, trình độ đào tạo, sức khỏe; những người dôi dư do sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự; những người dôi dư do cơ cấu lại công chức theo VTVL.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Xem Dự thảo Nghị định ngày 10/4/2018 – Bộ Nội vụ, Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. https://www.moha.gov.vn.
    • Nguyễn Văn Lượng, Đề tài khoa học cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định vị trí việc làm trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện”, mã số: ĐT04/11, H.2016, tr 47, tr 64.

    .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-%C4%90%E1%BA%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Lời mở đầu.

           Giai cấp công Việt Nam thật sự đã hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhưng nếu dùng khái niệm chính trị-xã hội học mà Ăng-ghen dùng thì tuy đã thành giai cấp nhưng còn ở bước đầu, giai đoạn “tự mình” hay “tự phát”. Giai cấp công nhân có một sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng. Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Vậy vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều liện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là gì và điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được Cách Mạng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua phần dưới đây.

     

     

    Nội dung.

    1.     Sự ra đời và đặc điểm của giai cấp công nhân.

    1.1.           Sự ra đời.

              Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Về chính sách cai trị kinh tế, chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, hạn chế sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Về chính sách cai trị chính trị: thực hiện chính sách chia để trị, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam, đó là chính sách thực dân kiểu cũ. Về chính sách cai trị văn hoá xã hội: đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, mở trường học hạn chế và nhỏ giọt. Trước tình hình đó đã dẫn đến những hậu quả về xã hội và giai cấp.

    • Thay đổi tính chất xã hội Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến đôc lập thành môt nước thuộc địa, bản chất là thay đổi chủ thể quyền lực chính trị, từ vua quan phong kiến chuyển sang tay thực dân Pháp.
    • Thay đổi mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngoài giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đó là mâu thuẫn về giai cấp, xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mâu thuẫn dân tộc. Phải nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho Việt Nam phát triển.
    • Thay đổi kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam.Trong đó đặc biệt là sự ra đời 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau do đó có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội.

    1.2.           Đặc điểm.

    1. Cơ sở lý luận.

             Theo C.Mác và Ăng-ghen thì giai cấp công nhân mang 2 thuộc tính cơ bản là:

    • Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. C.Mác và Ăng-ghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.
    • Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
    1.  b) Đặc điểm chung của giai cấp công nhân.

            – Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            –  Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
            –  Là “giai cấp dân tộc” – vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
            –  Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân , đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin).
            Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
             Từ những đặc điểm vốn có đó, giai cấp công nhân mới có ba tính chất cơ bản là:
    a) Tính tổ chức, kỷ luật cao. 
    b) Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
    c) Tính triệt để cách mạng.

    2. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

    2.1. Hoàn cảnh lịch sử.

           Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn. Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:

    • Giai cấp địa chủ phong kiến:

    + Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đầu hàng, được đế quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực.

    + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản ). Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không ít tiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện có tham gia vào phong trào dân tộc.

    • Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống, tự do. Tuy nhiên họ là những người tư hữu nhỏ, tư hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả vê kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành lực lượng chính của cách mạng.
    • Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
      + Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh. Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,…
      + Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
      – Giai cấp tư sản:
      + Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ ).
      + Bị phân hóa làm hai bộ phận:
      Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ.
      • Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượng nhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
      => Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc.
      – Giai cấp công nhân:

    + Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng nhỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.

    + Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người.
    + Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân.Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ). Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
    – Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    2.2. Quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân.

          Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công nhân ra đời và hình thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta. Điều đó đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta.

           Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này: phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước.

           Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các phong trào đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được 2 lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công.

            Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo.

            Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    2.3. Giai cấp công nhân có đủ các tố chất để lãnh đạo cách mạng.

         Giai cấp công nhân là giai cấp tiến tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chủ nghĩa tư bản và đế quốc, để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    1. Giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ.

           Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

           Giai cấp công nhân, con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất tiến bộ, đoàn kết. Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị bởi lý luận khoa học cách mạng và luôn đi đầu trong phong trào cách mạng theo mục tiêu xoá bỏ xã hội cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ. Nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng. Hơn nữa đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta.

    1. Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.

          Vì là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên giai cấp này được tôi luyện trong môi trường lao động công nghệ ngày càng hiện đại cũng như trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến trước đây cũng như chống giai cấp tư sản ngày nay. Chính điều kiện làm việc ở thành thị và các khu công nghiệp giúp cho giai cấp công nhân mở rộng các quan hệ xã hội, mở mang trí tuệ. Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản – là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

            Giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu khách quan sẽ dẫn đến quan hệ sản xuất cũ phải thay đổi để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển.

    1. Giai cấp công nhân ra đời trước tư sản Việt Nam.

            Đội ngũ công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh-Bến Thuỷ, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người,… Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột  nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến…dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh

            Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề, ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản.

    3.     Điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được cách mạng.

            Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Phong trào đấu tranh của công nhân từng bước trưởng thành, phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng lớn mạnh. Điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng đó là giai cấp công nhân có Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, có tinh thần cách mạng triệt để. Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, họ sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin. Do vậy họ là tầng lớp đại diện cho giai cấp nông dân nhưng tiến bộ hơn về mặt tư duy cách mạng. Đồng thời họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”.Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

     

     

    Kết luận.

          Tóm lại giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuyệt đại bộ phận trong giai cấp là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta. Giai cấp công nhân Việt Nam sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh – Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]