Category: Luật

  • Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đánh giá sự mài mòn xéc măng trong quá trình hoạt động của động cơ diesel tàu thủy cỡ lớn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ngu%E1%BB%93n-lu%E1%BA%ADt-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-gi%E1%BA%A3i-quy%E1%BA%BFt-tranh-ch%E1%BA%A5p-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    • Abknowitz, M.A, Lectures on ship hydrodynamics steering and manoeuvrability, Hya report no. hy- 5, 1964.
    • Nomoto, K., Analysis of Kempf’s Standard Maneuver Test and Proposed Steering Quality

    Indices, Proceedings of 1st Symposium on ShipManoeuvrability, (1960), pp.275- 304.

     

    • Hamamoto, M. : MMG report II, Bulletin of the society of Naval Architects of Japan, No. 577, pp. 322-329, July 1997.

    Người phản biện: TS. Nguyễn Kim Phương; TS. Nguyễn Công Vịnh

     

    NGUỒN LUẬT ÁP DỤNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNG HẢI

    SOURCE OF LAW FOR MARITIME DISPUTE RESOLUTION

     

    1. NGUYỄN KIM PHƯƠNG CN.LS. PHẠM THANH TÂN Khoa Hàng hải, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

    Tóm tắt

     

    Bài báo giới thiệu một nghiên cứu về nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải, một sự kiện pháp lý phức tạp nảy sinh trong hoạt động thương mại hàng hải. Qua đó, nghiên cứu cho thấy tổng quan những quy định áp dụng luật để giải quyết tranh chấp hàng hải ở phạm

     

    • quốc tế và Việt Nam.

     

    Abstract

     

    This paper presents a study of the applicable sources of law for resolving maritime dispute that arises in commercial maritime operations.Thereby, an overview of the legal provisions which are applicable to the maritime dispute resolution in international scope and Vietnam is shown.

    1.   Đặt vấn đề

     

    Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005, Chương XVII, Điều 258 quy định rằng “Tranh chấp hàng hải là các tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động hàng hải”. Đặc điểm đặc trưng của tranh chấp hàng hải là tranh chấp đa dạng, phức tạp, thường xuyên nảy sinh trong thực tiễn hàng hải quốc tế. Trong hoạt động hàng hải có thể phát sinh hai loại tranh chấp: tranh chấp trong hợp đồng và tranh chấp ngoài hợp đồng. Ngoài ra, theo đối tượng liên quan đến tranh chấp, lĩnh vực hoạt động của tàu biển, tranh chấp hàng hải có thể phân loại thành các dạng như: Tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa; Tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; Tranh chấp liên quan đến các dịch vụ hàng hải; Tranh chấp về tai nạn va chạm tàu; Tranh chấp liên quan đến thuyền viên;…

     

    Khi tranh chấp xảy ra, nếu bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu thì phải giải quyết tranh chấp. Việc giải quyết các tranh chấp là khâu cuối cùng của cả một quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng trong hàng hải thương mại. Trên thực tế giải quyết các tranh chấp hàng hải có thể được thể hiện bằng các phương thức khác nhau: Thương lượng, hòa giải hoặc đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc tòa án [1]. Trong tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp, vấn đề áp dụng luật nào để phán quyết là điểm mấu chốt mà thực tiễn hàng hải đang đặt ra.

     

    Vấn đề tranh chấp hàng hải đã được một số tác giả nước ngoài và trong nước đề cập đến trong các tài liệu như: Maritime Law, 2004 (Chistopher Hill); Resolving Maritime Disputes, 2010 (Marilyn Raia); International Commercial and Marine Arbitration, 2008 (Georgios I. Zekos); Các tài liệu [1], [2], [3] và [4]. Tuy nhiên, các công trình này mới chủ yếu tập trung vào việc làm rõ khái niệm tranh chấp hàng hải và phương thức giải quyết tranh chấp. Do đó, việc đi sâu nghiên cứu để có cái nhìn đầy đủ và chi tiết về nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

     

    2.   Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

     

    • Nguồn luật quốc tế

    Loại hình đầu tiên cần kể đến là các điều ước đa phương như Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển năm 1924 (Quy tắc Hague), Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số qui tắc về vận đơn đường biển thường được gọi là Nghị định thư 1968 hay Qui tắc Visby (ký 23/2/1968, hiệu lực 23/6/1977), Công ước của Liên Hợp Quốc về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế năm 1978 (Công ước Hamburg), Công ước của Liên hợp quốc về Bộ luật hành vi đối với các Công hội tàu chợ năm 1974, Công ước quốc tế về

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               48

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    giới hạn trách nhiệm của chủ tàu biển năm 1957, Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc liên quan đến việc bắt giữ tàu biển năm 1952,…

     

    Ví dụ, vụ tranh chấp về khả năng đi biển của tàu giữa công ty thuê chở hàng Australia (nguyên đơn) và công ty vận tải đường biển Trung Quốc (bị đơn) vào năm 1982 đã được giải quyết tại trọng tài với nguồn luật áp dụng để giải quyết là Điều 4, Qui tắc Hague [5].

     

    Bên cạnh các điều ước quốc tế đa phương, còn tồn tại nhiều điều ước quốc tế song phương dưới dạng các Hiệp định hàng hải. Hiệp định hàng hải được chia làm hai loại là Hiệp định chung và Hiệp định đặc thù (chứa các điều khoản cụ thể như định nghĩa tàu, điều khoản tự do ra vào, điều khoản vận chuyển hàng hoá,…). Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế về hàng hải như Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển (1952, 1999), Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường và thống nhất hành động khi có sự cố, các Hiệp định hàng hải song phương với Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Brunei,…

     

    Bên cạnh các Công ước và các Điều ước quốc tế chính thức khác, trong những năm qua Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã thông qua nhiều Luật, Khuyến cáo, Hướng dẫn,… IMO đã soạn thảo, ban hành trên 30 Công ước và Nghị định thư, khoảng 600 các Luật và Khuyến cáo,… Các Khuyến cáo không ràng buộc các Chính phủ, nhưng có tác dụng hướng dẫn, tạo cơ sở cho các quy tắc, quy phạm pháp luật của các quốc gia [2].

     

    2.2. Nguồn luật quốc gia

     

    Bên cạnh các điều ước quốc tế, các nước đã ban hành các luật về hàng hải, trong đó nổi bật là các luật chuyên chở bằng đường biển hoặc luật hàng hải. Ở Hoa Kỳ tồn tại ba đạo luật liên bang là Luật Harter năm 1893, Luật Pomerene năm 1916 điều chỉnh về vận đơn đường biển và Luật chuyên chở hàng hoá năm 1936. Pháp luật hàng hải ở Anh về cơ bản dựa trên Luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển năm 1924 (được thay bằng Luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển năm 1971). Tuy nhiên, Luật 1924 vẫn có hiệu lực đối với các vận đơn được ký phát trước ngày 23/6/1977 (ngày có hiệu lực của Luật 1977). Ở Trung Quốc, Bộ luật Hàng hải năm 1992 điều chỉnh các vấn đề liên quan tới tàu biển và vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, bảo vệ quyền và lợi ích các bên liên quan đến hoạt động hàng hải. Nhiều nước Bắc Âu cũng áp dụng Bộ luật Hàng hải. Điểm đặc biệt của bốn nước Bắc Âu là họ chấp nhận một Bộ luật Hàng hải chung, có hiệu lực vào ngày 1/10/1994. Ở một số quốc gia khác như Nhật Bản, Philíppin,… các quy định về hàng hải lại nằm trong Bộ luật Thương mại [2].

     

    2.3. Tập quán hàng hải quốc tế

     

    Một nguồn luật quan trọng khác cũng cần nhắc tới là tập quán hàng hải quốc tế – là những phong tục, thói quen phổ biến về hàng hải được nhiều nước công nhận và áp dụng thường xuyên đến mức trở thành các quy tắc được các bên mặc nhiên tuân thủ. Tập quán hàng hải sẽ được áp dụng trong hợp đồng vận tải khi không có quy định về luật áp dụng hoặc có luật nhưng chưa được quy định đầy đủ. Ví dụ, việc ném hàng xuống biển để cứu tàu, hàng hoá và sinh mạng thuyền viên và hành khách trên tàu để tránh một thảm họa thực sự là một tập quán hàng hải lâu đời được xã hội thừa nhận [2].

     

    3.   Nguồn luật Việt nam áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

     

    • Bộ luật Hàng hải Việt Nam

    Năm 1990 Việt Nam đã ban hành Bộ luật Hàng hải và hiện nay là Bộ luật Hàng hải năm 2005 nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện pháp luật quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế. Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 đã xây dựng được một hệ thống quy phạm làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp hàng hải với việc làm rõ tranh chấp hàng hải, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hàng hải, tranh chấp hàng hải có yếu tố nước ngoài, thời hiệu giải quyết các tranh chấp hàng hải,…[2].

     

    Theo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2005, các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì có quyền thoả thuận áp dụng tập quán hàng hải quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn trọng tài, toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba để giải quyết tranh chấp [3]. Khi giải quyết các tranh chấp hàng hải tại các cơ quan tài phán Việt Nam thì vấn đề vận dụng pháp luật để điều chỉnh và giải quyết các tranh chấp đó được dựa trên cơ sở các bên đương sự hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận chọn nguồn luật áp dụng cho mối quan hệ hợp đồng của mình (Khoản 2, Điều 4, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005). Nguồn luật đó có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế về hàng hải, về thương mại, tập quán hàng hải quốc tế thậm chí cả án lệ. Song, điều quan trọng là

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               49

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    • chỗ nên chọn nguồn luật nào, làm thế nào để chọn nguồn luật thích hợp nhất để bảo vệ quyền lợi của mình, vấn đề này thật không đơn giản. Điều 1, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 quy định phạm vi áp dụng các quy định của Bộ luật này như sau:

    “Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển,…

     

    Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam với quy định của luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động hàng hải thì áp dụng quy định của Bộ luật này”.

     

    Trong trường hợp có xung đột pháp luật thì việc chọn luật để áp dụng được xác định theo các nguyên tắc sau đây (Điều 2 và Điều 3, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005):

     

    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến các quyền sở hữu tài sản trên tàu; Hợp đồng cho thuê tàu; Hợp đồng thuê thuyền viên; Hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và và thuyền bộ của tàu cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả; các vụ việc xảy ra trên tàu khi tàu đang ở biển cả thì luật được chọn là luật của quốc gia mà tàu mang cờ.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung, thì luật được chọn là luật nơi tàu ghé vào ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển, xảy ra tại nội thủy hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì luật được chọn là luật của quốc gia đó.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở biển cả thì luật được chọn là luật của quốc gia mà trọng tài hoặc tòa án của quốc gia đầu tiên đã thụ lý giải quyết tranh chấp. Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra ở biển cả hoặc trong nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác giữa các tàu biển cùng quốc tịch thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì luật được chọn là luật quốc gia nơi hàng hóa được trả theo hợp đồng.
    • Nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này thì áp dụng điều ước quốc tế.

    Ví dụ năm 2002 xảy ra vụ tranh chấp giữa 3 doanh nghiệp Việt Nam nhập hàng điện tử từ Mỹ về theo hợp đồng vận chuyển với hãng tàu OOC (đại diện OOC tại Thành phố Hồ Chí Minh). Tàu Matt V0175 bị chìm trên đường vận chuyển về Việt Nam mang theo toàn bộ số hàng. Chủ hàng đã khiếu nại và khởi kiện OOC tại tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo Điều 5 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990 (nay là Điều 3 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005) [4].

     

    3.2. Bộ luật Dân sự Việt Nam

     

    Điều 759 Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng có những quy định tương tự như Bộ luật Hàng hải Việt Nam. Tuy nhiên, khoản 4 của Điều 759 quy định:“Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự mà các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nhà nước Việt Nam dành cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sự bảo hộ pháp lý bình đẳng như cá nhân, tổ chức Việt Nam. Khoản 2 điều 761 và khoản 2 điều 765 Bộ luật Dân sự quy định: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”; “Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngoài việc được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân, pháp nhân Việt Nam trong lĩnh vực tố tụng, pháp nhân, cá nhân nước ngoài còn được quyền tiến hành tố tụng ở tòa án thông qua người đại diện, trong đó có cơ quan lãnh sự ở nước ta. Vấn đề này đã được ghi nhận trong các hiệp định về lãnh sự và hiệp định tương trợ tư pháp của Việt Nam với nước ngoài.

     

    Các tranh chấp hàng hải thông thường phát sinh từ hai cơ sở pháp lý khác nhau đó là những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và các tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng (bồi thường

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               50

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    thiệt hại ngoài hợp đồng). Vì có sự phát sinh tranh chấp từ hai cơ sở pháp lý khác nhau như vậy nên quá trình giải quyết xung đột pháp luật của mỗi loại tranh chấp cũng khác nhau.

     

    Các tranh chấp hàng hải phát sinh từ hợp đồng thường xảy ra trong các trường hợp:

     

    • Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau;
    • Hợp đồng được các bên tham gia ký kết ở nước này nhưng lại được thực hiện ở nước khác, nên cùng một lúc các quan hệ phát sinh từ hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật: Luật nơi ký kết hợp đồng và luật nơi thực hiện hợp đồng;
    • Đối tượng của hợp đồng ở một nước khác, mặc dù các bên tham gia ký kết có cùng quốc tịch và hợp đồng đó được thực hiện ngay trên lãnh thổ mà các bên mang quốc tịch. Như vậy, trường hợp này chịu sự điều chỉnh của luật quốc tịch của các bên chủ thể và luật nơi tồn tại đối tượng của hợp đồng.

    Khi xuất hiện một tranh chấp hàng hải phát sinh từ hợp đồng, người ta thường căn cứ vào hợp đồng làm cơ sở để giải quyết xung đột pháp luật, vì thực chất hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên tham gia ký kết đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ nên nó phải là cơ sở pháp lý cơ bản và chủ yếu để giải quyết các tranh chấp đó. Về vấn đề này Khoản 1, Điều 770, Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định như sau: “Hình thức của hợp đồng dân sự phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam”. Khoản 1 Điều 769 quy định về hợp đồng dân sự như sau: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác. Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng cũng phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

     

    Trong thực tiễn giao lưu thương mại hàng hải quốc tế có không ít những tranh chấp phát sinh từ những sự kiện pháp lý ngoài hợp đồng. Ví dụ như việc gây ra thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, liên quan đến con tàu đang hoạt động, tai nạn đâm va, cứu hộ, tổn thất chung,… rõ ràng những sự kiện pháp lý này xảy ra hoàn toàn ngoài dự kiến của các bên nhưng nó lại làm nảy sinh mối quan hệ pháp lý mà ở đó các bên liên quan có trách nhiệm với nhau. Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hai chủ thể là người bị thiệt hại và người gây thiệt hại. Nó hàm chứa hai yếu tố: Các bên tham gia quan hệ (người bị thiệt hại và người gây thiệt hại) có quốc tịch khác nhau và sẽ được điều chỉnh cùng một lúc bởi vì hệ thống pháp luật theo dấu hiệu quốc tịch của hai bên đương sự; Hành vi gây thiệt hại xảy ra ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật quốc tịch của đương sự và hệ thống pháp luật nơi xảy ra hành vi thiệt hại.

     

    Các trường hợp tranh chấp hàng hải phát sinh ngoài hợp đồng được Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định tại Điều 773 “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” như sau:

     

    “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại do tàu bay, tàu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc nơi biển cả được xác định theo pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

     

    4.   Kết luận

     

    Từ những vấn đề đã được trình bày ở trên, cho thấy việc áp dụng luật để điều chỉnh các tranh chấp hàng hải đã được pháp luật quốc tế quy định khá đầy đủ và toàn diện. Đối với Việt Nam, vấn đề này cũng đã được quy định tương đối cụ thể và hoàn chỉnh trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hàng hải, các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, pháp lệnh thi hành các bản án dân sự, pháp lệnh công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài… Dựa vào đó, các cơ quan tòa án của Việt Nam vận dụng các quy phạm pháp luật thích hợp cho từng quan hệ pháp luật cụ thể, nhằm thừa nhận hoặc bác bỏ quyền và nghĩa vụ dân sự, kinh tế, hàng hải, thương mại… và ra các quyết định chế tài trong các trường hợp cần thiết.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%E1%BB%83-ch%E1%BA%BF-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-B%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-qu%E1%BB%91c-gia-%C4%91ang-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-ch%C3%A2u-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TẠI CHÂU Á

     

    QUALITY OF INSTITUTIONS AND FINANCIAL DEVELOPMENT:

     

    EVIDENCE FROM DEVELOPING ASIAN COUNTRIES

     

    Nguyễn Thị Mỹ Linh1

     

    Ngày nhận: 24/7/2018             Ngày nhận bản sửa: 7/9/2018              Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Các nghiên cứu về phát triển tài chính đã nhận định chất lượng thể chế là yếu tố tạo nên sự khác biệt về phát triển tài chính giữa các quốc gia. Bài viết này đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, độ mở tài chính và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á bằng phương pháp thực nghiệm. Bài viết sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM cho dữ liệu bảng từ 18 quốc gia trong giai đoạn 2000–2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại có tác động âm có ý nghĩa tới phát triển tài chính. Trong khi đó độ mở tài chính không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính tồn tại mối quan hệ phi tuyến có hình chữ U. Các phát hiện này đưa đến một số hàm ý chính sách cho Chính phủ các quốc gia đang phát triển tại khu vực này. Từ khóa: Chất lượng thể chế, phát triển tài chính, GMM.

     

    Abstract

     

    Recent studies of financial development have confirmed that the quality of institutions was the crucial element of financial development difference among various countries. This paper focus on investigating the effect of economic growth, trade openness, financial opennes and institutional quality on financial development in developing Asian countries. Using Generalized Method of Moments (GMM) to analyse a panel data of 18 countries spanning from 2000 to 2015, we find that economic growth and trade openness have significantly negative influences on financial development. Meanwhile, financial openness has no statistical significance. Especially, there’s U-shaped relationship between financial development and quality of institutions. Our results have several significant contributions to policy makers of these countries. Keywords: Quality of Institutions, financial development, GMM.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các lý thuyết kinh tế tài chính trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của hệ thống

    __________________________________________

    tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng. Các lý thuyết đó cũng hướng tới việc cung cấp câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số quốc gia lại phát triển tài chính hơn những quốc gia khác. Trong

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính – Marketing; Email: [email protected]

    11

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bối cảnh này, một sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn gốc của sự phát triển thị trường tài chính ngày càng trở nên cần thiết hơn cho việc thiết kế các chính sách để thúc đẩy sự phát triển tài chính, bởi phát triển tài chính sẽ̃ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, mà các nghiên cứu thực nghiệm rộng rãi đã minh chứng.

     

    Gần đây, một số lượng lớn các nghiên cứu đã xác định rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng và phát triển tài chính của một quốc gia liên quan đến các đặc điểm thể chế của nó, bao gồm khung pháp lý (Arestis và Demetriades, 1996). Claessens và Leaven (2003) chỉ ra rằng việc phân bổ tài sản được cải thiện do bảo vệ quyền sở hữu tài sản tốt hơn có ảnh hưởng đến tăng trưởng do nó làm gia tăng giá trị ngành nghề tương đương với sự cải thiện khả năng tiếp cận tài chính phát sinh từ sự phát triển tài chính mạnh mẽ̃ hơn. Garretsen và cộng sự (2004) cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn xã hội và văn hóa giúp giải thích sự khác biệt trong phát triển tài chính xuyên quốc gia. Demetriades và Andrianova (2004) cho rằng sức mạnh của các thể chế, như quy định tài chính và tuân thủ pháp luật, có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cải cách tài chính. Chinn và Ito (2006) cho rằng các hệ thống tài chính có mức độ phát triển pháp lý/thể chế cao hơn thường có lợi ích nhiều hơn từ tự do hóa tài chính so với các hệ thống tài chính có mức độ phát triển thấp hơn. Như vậy thể chế mang một tầm ảnh hưởng nhất định đến phát triển tài chính. Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính dựa trên phân tích dữ liệu bảng thu thập cho các quốc gia đang phát triển tại Châu Á. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động để ước lượng mối quan hệ tuyến tính và phi tuyến của các biến trong mô hình. Trong đó, thước đo chất lượng thể chế sử dụng trong

    nghiên cứu được xây dựng bởi Kaufmann và cộng sự (2008) bao gồm một tập hợp các biến khác nhau, có thể đánh giá một cách đa chiều ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính.

     

    2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    Cơ sở lý luận giải thích cho sự phát triển tài chính xuất phát từ bốn giả thuyết bao gồm giả thuyết cung ứng vốn, giả thuyết luật và tài chính, giả thuyết mở cửa đồng bộ và giả thuyết thể chế kinh tế.

    Giả thuyết cung ứng vốn (The endowment hypothesis) của Acemoglu và cộng sự (2001) xác nhận tầm quan trọng của một thể chế vững mạnh đến sự phát triển tài chính và cho rằng chất lượng thể chế khác nhau giữa các quốc gia là do sự thay đổi cung ứng vốn ban đầu. Nói một cách đơn giản, giả thuyết này cho rằng môi trường không thuận lợi do các cường quốc thuộc địa châu Âu gây ra trong nhiều thế kỷ ở quá khứ là nhân tố chính làm chậm lại sự thành lập các thể chế có thể thúc đẩy sự thịnh vượng trong dài hạn. Vì vậy, giả thuyết cho rằng các cường quốc thuộc địa châu Âu đã thành lập nên các thể chế khai thác không phù hợp, không tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng trong dài hạn.

     

    Giả thuyết luật và tài chính (The law and finance hypothesis) của La Porta và cộng sự (1997) đưa ra ý tưởng về các hệ thống dựa trên nền tảng luật thông thường, có nguồn gốc từ luật pháp Anh là tốt hơn các hệ thống dựa trên luật dân sự cho sự phát triển của thị trường vốn. Điều này là bởi luật pháp Anh được hình thành để bảo vệ tài sản tư nhân từ Chính phủ các quốc gia quân chủ chuyên chế. Trong khi đó, luật pháp Pháp được phát triển với mục tiêu giải quyết tham nhũng của bộ máy tư pháp và gia tăng quyền lực của Nhà nước. Qua thời gian,

     

    12

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    điều này cho thấy luật pháp Anh bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ tốt hơn nhiều so với luật pháp Pháp, được cho rằng có lợi hơn cho sự phát triển của thị trường vốn.

    Giả thuyết mở cửa đồng bộ (The simultaneous openness hypothesis) được đưa ra bởi Rajan và Zingales (2003) cho rằng các nhóm lợi ích, đặc biệt là những người giữ chức vụ trong ngành công nghiệp và tài chính thường bị mất đi ích lợi do phát triển tài chính, bởi mở cửa sẽ̃ tạo ra cạnh tranh làm xói mòn đặc quyền của họ. Giả thuyết cho rằng sự kháng nghị của các cán bộ đương nhiệm sẽ̃ trở nên yếu hơn khi nền kinh tế mở cửa cho cả dòng chảy thương mại và vốn. Do đó, sự mở cửa đồng bộ đối với tài khoản thương mại và vốn chính là chìa khóa cho sự phát triển tài chính thành công. Điều này không chỉ bởi vì độ mở thương mại và tài chính làm giới hạn khả năng của cán bộ đương nhiệm ngăn chặn sự phát triển của thị trường tài chính mà còn bởi những cơ hội mới được tạo ra từ mở cửa, làm sản sinh đủ lợi nhuận mới cho họ có giá trị hơn những ảnh hưởng tiêu cực của cạnh tranh gia tăng.

     

    Giả thuyết thể chế kinh tế (The economic institutions hypothesis) gần nhất được đưa ra bởi Acemoglu và cộng sự (2004), được xây dựng trên giả thuyết cung ứng vốn, đề xuất về một khung kinh tế chính trị năng động mà trong đó sự khác biệt về kinh tế trong các thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự phát triển kinh tế khác nhau. Các thể chế kinh tế trong đó xác định các động lực khuyến khích và kiềm hãm các chủ thể kinh tế. Các thể chế chính trị và phân phối thu nhập là các lực lượng động kết hợp với nhau hình thành nên các thể chế kinh tế và kết quả đầu ra. Các lập luận cho rằng tăng trưởng thúc đẩy các thể chế kinh tế khi các thể chế chính trị (i) phân bổ quyền lực cho các nhóm có lợi ích trong việc thực thi quyền sở

    hữu tài sản rộng rãi, (ii) tạo ra các hạn chế hiệu quả đối với người nắm giữ quyền lực và khi có ít đặc lợi chiếm giữ bởi người cầm quyền.

    Hai giả thuyết đầu nhấn mạnh yếu tố lịch sử bất biến theo thời gian có thể chỉ giải thích một phần nhất định cho sự thay đổi của phát triển tài chính xuyên quốc gia. Giả thuyết thứ ba và thứ tư có thể giải thích cho sự phát triển tài chính xuyên quốc gia và cả sự thay đổi của phát triển tài chính qua thời gian, bởi chúng đều có tính chất động, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố biến đổi qua thời gian. Mặc dù cả hai giả thuyết đều xác nhận tầm quan trọng của các tinh hoa chính trị, nhưng nó vẫn nhấn mạnh các cơ chế khác nhau của phát triển tài chính. Giả thuyết thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và như vậy mang đến một hàm ý chính sách đương đại rõ ràng. Giả thuyết thứ tư cho thấy mặc dù các cơ chế chính trị phức tạp có ở công sở (bao gồm cả xung đột xã hội phát sinh từ việc thay đổi lực lượng chính trị như sự gia tăng dân chủ đại chúng và những thay đổi trong phân phối thu nhập), nhưng giả thuyết thể chế kinh tế này đã cung cấp lập luận hữu ích giúp định hình cho phát triển kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào.

     

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Levine (2001) xem xét mối liên kết giữa môi trường pháp lý và phát triển tài chính, sau đó truy xuất mối liên kết này thông qua tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thứ nhất nghiên cứu cho rằng môi trường pháp lý và luật lệ có vai trò quan trọng đối với phát triển tài chính. Các quốc gia với hệ thống pháp lý và quy định ưu tiên cho các chủ nợ nhận được giá trị hiện tại đầy đủ của các khoản cho vay đối với các tập đoàn, có chức năng trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia nơi hệ thống pháp lý cung cấp sự hỗ trợ yếu ớt cho các chủ nợ. Thứ hai, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc thực thi hợp

     

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    đồng là rất quan trọng quyết định đến sự phát triển tài chính. Các quốc gia áp đặt sự tuân thủ pháp luật một cách hiệu quả và thực thi các hợp đồng bao gồm cả những hợp đồng của Chính phủ có xu hướng phát triển các định chế tài chính trung gian tốt hơn nhiều so với các quốc gia mà việc tuân thủ lỏng lẻo hơn. Cuối cùng, nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tiết lộ thông tin cũng đóng một vai trò quan trọng quyết định phát triển tài chính. Chẳng hạn tại các quốc gia nơi mà các công ty công bố báo cáo tài chính tương đối toàn diện và chính xác thì phát triển các trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia mà việc công bố thông tin kém tin cậy hơn.

     

    Baltagi và cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng về đóng góp của độ mở thương mại và thể chế kinh tế đến phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia cho các mẫu các quốc gia đang phát triển với khoảng thời gian nghiên cứu từ 1980–2003. Kết quả cho thấy cả hai yếu tố đều mang tác động quan trọng tiềm tàng đến các mức độ phát triển tài chính. Tuy nhiên độ mở thương mại có hiệu quả đáng kể hơn là độ mở tài chính trong việc thúc đẩy phát triển tài chính cho các quốc gia.

     

    Law và Azman – Saini (2008) sử dụng phương pháp ước lượng GMM cho dữ liệu bảng động thu thập từ các quốc gia phát triển và đang phát triển và kết luận chất lượng thể chế làm gia tăng sự phát triển tài chính, đặc biệt là sự phát triển của khu vực ngân hàng trong đó chỉ tiêu tín dụng khu vực tư được sử dụng trong phân tích. Mặc dầu vậy một số dẫn xuất của thể chế có tầm ảnh hưởng hơn một số dẫn xuất còn lại. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện rằng tuân thủ pháp luật, sự ổn định chính trị và hiệu quả của Chính phủ đóng vai trò cơ bản đối với sự phát triển của khu vực ngân hàng. Bên cạnh đó, GDP thực bình quân đầu người cũng là yếu tố quyết định đến phát triển tài chính. Tuy nhiên

    độ mở tài chính lại làm suy yếu sự phát triển của thị trường này. Trong sáu chỉ số phản ánh chất lượng thể chế, chỉ số chất lượng quản lý cho thấy tồn tại mối quan hệ có hình dạng chữ U với phát triển tài chính.

    Như vậy các giả thuyết và nghiên cứu ngoài nước trên cho rằng tự do hóa tài chính, hệ thống pháp luật, nền kinh tế chính trị, độ mở thương mại là nguồn gốc của phát triển tài chính. Trong đó, tầm quan trọng của chất lượng thể chế đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trong nhiều lĩnh vực. North (1990) định nghĩa các thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội. Thể chế bao gồm các thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi Nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa. Khi các quy tắc thay đổi liên tục hoặc không được tôn trọng, tham nhũng phổ biến, việc thực thi quy tắc còn mong manh hoặc khi quyền đối với tài sản không được xác định rõ ràng, thì đó vấn đề về chất lượng thể chế. Vai trò của thể chế là làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh tế quy mô và tăng cường phân công lao động xã hội. Ảnh hưởng khác của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ̃ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ tài nguyên theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế. Baumol (1990, 1993) cho rằng khi cơ cấu thể chế không khuyến khích tài năng kinh doanh sáng tạo mà chỉ khuyến khích tái phân phối, tìm kiếm đặc lợi thì tăng trưởng kinh tế sẽ̃ thấp đi. Các vấn đề liên quan đến chất lượng thể chế dẫn đến sự gia tăng tính không chắc chắn, gửi tín hiệu gây

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    hiểu lầm đến thị trường, do đó ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.

    3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng

     

    • Mô hình nghiên cứu

     

    Trên cơ sở lý thuyết, nền tảng của các nghiên cứu trước và của Law và Saini (2008), mô hình thực nghiệm được thể hiện như sau:

     

    (FD)it = β0 + β1(FD)(it-1)  + β2(GDPG)it + β3(INS)

     

    it  + β4(TO)it + β5(FO)it + εit     (3.1)

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính có thể là phi tuyến. Cải cách thể

    chế nhìn chung có tác động tích cực đến phát triển tài chính. Tuy nhiên độ lớn của tác động có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ của phát triển kinh tế. Nghiên cứu giả thiết rằng tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính là chưa rõ ràng tại mức phát triển thấp trong khi nó sẽ̃ trở nên tích cực bởi tiến trình phát triển hay đây chính là mối quan hệ có hình dạng chữ U giữa hai yếu tố này. Để xem xét mối quan hệ phi tuyến trên, biến thể chế bình phương được đưa vào phương trình (3.1) và vì vậy mô hình hồi quy được viết lại như sau:

     

    (FD)it = β

    0

    + β

    (FD)

    it-1

    + β

    (GDPG)

    it

    + β

    (INS)

    it

    + β (INS2)

    it

    + β

    (TO)

    it

    + β

    (FO)

    it

    + ε

    it

    (3.2.)

     

    1

     

    2

     

    3

     

    4

    5

     

    6

         

    với kỳ vọng β3 < 0 và β4 > 0.

                                 
               

    Bảng 1. Mô tả biến và nguồn dữ liệu

                 

    Ký hiệu biến

    Mô tả

                           

    Nguồn

       
             

    FD

       

    Sự phát triển tài chính, đo bằng tín dụng nội địa được

    World Development

         

    cung ứng bởi khu vực tài chính/GDP

             

    Indicator – WDI

    GDPG

       

    Tốc độ tăng trưởng GDP

                   

    WDI

         

    INS

       

    Chất lượng thể chế, sử dụng chỉ số đánh giá trong bộ chỉ

    World

    Governance

         

    số Quản trị công toàn cầu với giá trị xấp xỉ từ – 2,5 đến 2,5

    Indicator – WGI

    TO

       

    Độ mở thương mại, bằng Xuất khẩu + Nhập khẩu/GDP

    WDI

         

    FO

       

    Độ mở tài chính, sử dụng chỉ số Chinn – Ito

           

    Chinn-Ito website

    Dữ liệu được thu thập cho 18 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực châu Á giai đoạn 2000– 2015 bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Armenia, Bhutan, Kyrgyz, Mông Cổ, Nepal, và Georgia. Trong đó, chỉ tiêu tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng để đo lường mức độ phát triển tài chính của các quốc gia. Do tính chất nguồn dữ liệu có giới hạn số liệu không được cập nhật nên bài nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất chỉ tiêu này. Đây cũng là thước đo được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển tài chính. Bên cạnh đó, chỉ tiêu đánh giá chất lượng thể chế sử dụng trong nghiên cứu là bộ chỉ số “Quản trị công toàn cầu” do

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    WB công bố với sáu biến đo lường gồm: tham nhũng; hiệu quả Chính phủ; ổn định chính trị; chất lượng quản lý; tuân thủ luật pháp; tiếng nói và trách nhiệm giải trình. Đây được xem là một đánh giá khá đầy đủ về chất lượng thể chế của một quốc gia và cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Law và Saini (2008). Đối với chỉ số Chinn-Ito (Kaopen) là chỉ số đo mức độ mở tài khoản vốn của một quốc gia. Chỉ số này ban đầu được giới thiệu trong Chinn và Ito (Tạp chí Journal of Development Economics, 2006). Kaopen được xác định dựa trên các biến giả nhị phân mã hóa hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới được báo cáo trong Báo cáo thường niên của IMF về các thỏa thuận giao dịch và hạn chế giao dịch.

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3.2. Phương pháp ước lượng

     

    Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng GMM do một số vấn đề sau đây có thể phát sinh và dẫn đến các kết quả ước lượng phương trình (3.1) bị chệch:

     

    • Do tính chất của các biến nghiên cứu đều là các biến số vĩ mô, thường có tác động hai chiều, ví dụ như biến GDPG có thể là biến nội sinh khi nó tác động tới phát triển tài chính và ngược lại phát triển tài chính cũng tác động tới phát triển kinh tế. Điều này cũng tương tự với biến FO. Vì thế, việc hồi qui các biến này có thể dẫn đến sự tương quan với sai số và một số biến khác có thể có những thuộc tính tương tự.
    • Các đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian như là địa lý, văn hóa và nhân chủng học, có thể tương quan với các biến giải thích (các tác động cố định). Các tác động cố định này hiện diện trong đại lượng sai số của các phương trình thực nghiệm.
    • Sự hiện diện của biến trễ của biến phụ thuộc FDit-1 đưa đến khả năng tự tương quan cao.

    Các vấn đề nêu trên có thể khiến hồi quy OLS không nhất quán và ước lượng bị chệch, hay vấn đề nội sinh của các biến chưa thể xử lý triệt để bằng các phương pháp như FE, RE, 2SLS. Phương pháp hồi quy GMM sai phân được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) có thể xử lý tốt hơn các vấn đề trên. Tính phù hợp của các biến công cụ trong ước lượng GMM sai phân dữ liệu bảng được đánh giá thông qua thống kê Sargan và thống kê Arellano-Bond. Kiểm định Sargan với giả thuyết H0: biến công cụ có tính ngoại sinh, nghĩa là nó không tương quan với sai số. Vì thế p-value của thống kê Sargan càng lớn càng tốt. Kiểm định Arellano-Bond được dùng để phát hiện tự tương quan chuỗi ở sai phân bậc 1. Vì thế, kết quả kiểm định tương quan chuỗi bậc một AR(1) không cần quan tâm trong khi tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2) được kiểm định dựa trên chuỗi sai phân bậc 1 của sai số để phát hiện hiện tượng tự tương quan bậc 1 của nó.

     

    4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

     

    Bảng 2. Thống kê mô tả giá trị của các biến trong mô hình

     

    Các biến

    Obs

    Mean

    Std.Dev.

    Min

    Max

    FD

    283

    56.37612

    42.37533

    2.942829

    193.4096

    GDPG

    288

    6.121962

    3.199587

    -14.14999

    17.92582

    FO

    288

    -0.1772923

    1.16868

    -1.90359

    2.374419

    TO

    288

    86.15815

    42.05665

    26.27484

    220.4073

    COR

    288

    -0.5388194

    0.5470128

    -1.5

    1.28

    POS

    288

    -0.6288889

    0.866287

    -2.81

    1.28

    RUL

    288

    -0.4327431

    0.4815948

    -1.37

    0.59

    VOI

    288

    -0.5435417

    0.6074961

    -1.78

    0.47

    GEF

    288

    -0.2013889

    0.5165398

    -1.21

    1.27

    REG

    288

    -0.3154514

    0.4845701

    -1.41

    1.29

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

     

    Ghi chú: FD = Financial Development (Phát triển tài chính), GDPG = GDP Growth (Tăng trưởng

     

    GDP), FO = Financial Openness (Độ mở tài chính), TO = Trade Opennes (Độ mở thương mại),

     

    COR = Control of Corruption (Kiểm soát tham nhũng), POS = Political Stability (Ổn định chính

     

    trị), RUL = Rule of Law (Tuân thủ pháp luật), VOI = Voice and Accountability (Tiếng nói và trách

     

    nhiệm), GEF = Government effectiveness (Hiệu quả Chính phủ), REG = Regulatory quality (Chất

     

    lượng quản lý)

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu

     

     

    FD

    GDPG

    FO

    TO

    COR

    POS

    RUL

    VOI

    GEF

    REG

    FD

    1.0000

                     

    GDPG

    -0.0423

    1.0000

                   

    FO

    -0.3367

    0.0009

    1.0000

                 

    TO

    0.2617

    0.0212

    0.2471

    1.0000

               

    COR

    0.3093

    0.0598

    -0.1025

    0.2862

    1.0000

             

    POS

    0.0563

    0.2388

    0.2302

    0.5479

    0.4886

    1.0000

           

    RUL

    0.4341

    0.0040

    -0.0857

    0.2863

    0.8429

    0.4082

    1.0000

         

    VOI

    -0.1451

    -0.1461

    0.2925

    -0.0191

    0.1796

    -0.0871

    0.3894

    1.0000

       

    GEF

    0.5292

    -0.0222

    -0.0081

    0.4638

    0.7572

    0.3720

    0.7705

    0.1921

    1.0000

     

    REG

    0.3658

    -0.0959

    0.4001

    0.4033

    0.3840

    0.1626

    0.5269

    0.3385

    0.6621

    1.0000

     

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

    Bảng 2 thể hiện giá trị các biến trong mô

    GDPG, FO, VOI và có tương quan thuận với

    hình nghiên cứu, qua đó tỷ lệ tín dụng nội địa

    tất cả các biến còn lại trong mô hình. Điều này

    được cung ứng bởi khu vực tài chính trung bình

    cho thấy đa số các biến thể chế thực sự có tương

    ở các quốc gia trong mẫu đạt giá trị dương 56.3.

    quan dương với phát triển tài chính. Tuy nhiên,

    Chỉ số đánh giá chất lượng thể chế ở các quốc

    kết quả với FO và VOI không như mong đợi

    gia này còn thấp khi mà giá trị trung bình của

    theo lý thuyết tiêu chuẩn, dù vậy đây không

    các chỉ số đều mang dấu âm. Bảng 3 chỉ ra sự

    phải là nghiên cứu đầu tiên có kết quả này.

    phát triển tài chính có tương quan nghịch với

     

    Bảng 4. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình tuyến tính, phương trình 3.1)

     

                 

    Các biến

    Mô hình 1a

    Mô hình 2a

    Mô hình 3a

    Mô hình 4a

    Mô hình 5a

    Mô hình 6a

    FD (-1)

    0.708***

    0.643***

    0.746***

    0.787***

    0.788***

    0.751***

     

    (0.096)

    (0.107)

    (0.096)

    (0.093)

    (0.083)

    (0.100)

    GDPG

    -0.615*

    -0.576*

    -0.763**

    -0.646*

    -0.752**

    -0.689*

     

    (0.344)

    (0.341)

    (0.360)

    (0.353)

    (0.358)

    (0.352)

    FO

    0.509

    0.963

    1.472

    1.934

    1.094

    1.784

     

    (2.627)

    (2.509)

    (2.564)

    (2.546)

    (2.649)

    (2.562)

    TO

    -0.333***

    -0.364***

    -0.287***

    -0.293***

    -0.258***

    -0.287***

     

    (0.094)

    (0.096)

    (0.091)

    (0.101)

    (0.093)

    (0.092)

    COR

    15.703*

             
     

    (8.914)

             

    POS

     

    9.098**

           
       

    (4.176)

           

    RUL

       

    11.394

         
         

    (10.844)

         

    VOI

         

    1.850

       
           

    (7.258)

       

    GEF

           

    9.660

     
             

    (8.701)

     

    REG

             

    9.611

               

    (11.247)

    AR (2) test

    0.26

    0.41

    0.35

    0.38

    0.27

    0.22

    Sargan test

    0.46

    0.49

    0.39

    0.36

    0.42

    0.42

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là sai số chuẩn.

     

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng tại Bảng 4 kết quả thực nghiệm của mô hình tuyến tính (phương trình 3.1) bằng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng động GMM, với các mô hình từ 1a đến 6a lần lượt từng biến thể chế được đưa vào. Biến trễ phụ thuộc FD(-1) có ý nghĩa thống kê, ngụ ý rằng GMM là một phương pháp ước lượng thích hợp và có thể dựa vào kết quả thực nghiệm để thực hiện suy luận thống kê. Trong đó, hai biến thể chế COR và POS mang tác động dương còn GDPG và TO mang tác động âm có ý nghĩa thống kê tới phát triển tài chính. Kết quả về sự tác động nghịch chiều của tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính tuy ngược với kỳ vọng nhưng tương đồng với nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2007) và có thể được giải thích thông qua tính nghịch chu kỳ của chính sách tiền tệ. Thực vậy các tử số của biến phụ thuộc là tín dụng nội địa thường được các ngân hàng trung ương lựa chọn là mục tiêu trung gian rõ ràng hoặc ngầm định của chính sách tiền tệ, kết hợp với sự tịnh tiến của mẫu số là GDP. Do đó, mối quan hệ nghịch chiều giữa GDP và các chỉ số ngân hàng về phát triển tài chính không là sự bất thường, đặc biệt là ở tần suất hàng năm, trùng với các hoạt động của chính sách tiền tệ. Tương tự, độ mở thương mại cũng tác động âm có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính. Trên khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính cho kết quả rất khác nhau. Anutechia (2010) không phát hiện ảnh hưởng của độ mở thương mại đến phát triển tài chính. Hu và Iyke (2018) kết luận độ mở thương mại làm gia tăng phát triển tài chính trong dài hạn, tuy nhiên xét trong ngắn hạn, tác động của nó đến phát triển tài chính là không rõ ràng và có xu hướng ảnh hưởng nghịch chiều đến phát triển tài chính. Khi các quốc gia được phân chia thành hai nhóm có thu nhập thấp và thu nhập trung bình

    thì độ mở tài chính có tác động tích cực đến phát triển tài chính đối với nhóm trước trong khi đó lại nó tác động bất lợi cho phát triển tài chính đối với nhóm sau. Bayar (2017) cho rằng chất lượng thể chế và quy định là cần thiết cho sự tương tác tích cực giữa sự mở cửa thương mại và sự phát triển của tài chính. Do đó, sự tương tác không đáng kể hay tiêu cực giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính là kết quả của sự phát triển không đầy đủ của thể chế. Trong khi đó, với sáu biến dẫn xuất cho vấn đề thể chế lần lượt được đưa vào mô hình, có hai biến là tham nhũng và sự ổn định chính trị tác động dương có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính, phù hợp với giả thuyết thể chế kinh tế của Acemoglu và cộng sự (2004). Kết quả về sự ảnh hưởng của ổn định chính trị đến phát triển tài chính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Roe và Siegel (2008) cho rằng bất ổn chính trị cản trở phát triển tài chính, ổn định chính trị chính là yếu tố then chốt giải thích cho sự phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng của phương trình (3.2), kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa phát triển tài chính và thể chế. Việc bổ sung thêm yếu tố thể chế được bình phương cho phép hình thành chuyển động có dạng U của yếu tố này. Kết quả thực nghiệm cho thấy ngoại trừ hai dẫn xuất VOI và GEF không có

     

    • nghĩa thống kê, bốn dẫn xuất còn lại đều có mối quan hệ phi tuyến với tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính. Các hệ số của thể chế và thể chế bình phương lần lượt là âm và dương. Điều này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hình chữ U về chất lượng thể chế phát triển tài chính. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Law và Saini (2008). Giá trị ngưỡng của chất lượng thể chế là các biến COR, POS, RUL, REG cũng được xác định cho các quốc gia trong mẫu nhằm làm sáng tỏ hơn về mặt

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    định lượng tầm quan trọng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính, theo đó giá trị của chúng lần lượt là 0.37, 0.26, 0.54 và 0.62. Điều này có nghĩa là trong bối cảnh chất lượng thể chế của các quốc gia thấp hơn hay bằng mức ngưỡng, chất lượng thể chế có tác động tiêu

    cực đến phát triển tài chính, tức là phát triển tài chính bị suy giảm khi chất lượng thể chế được cải thiện. Tuy nhiên, khi chất lượng thể chế vượt ngưỡng, tác động của chất lượng thể chế đến sẽ̃ trở nên tích cực. Nói cách khác, việc cải cách thể chế dẫn đến phát triển tài chính.

     

    Bảng 5. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình phi tuyến tính, phương trình 3.2)

     

    Các biến

    Mô hình 1b

    Mô hình 2b

    Mô hình 3b

    Mô hình 4b

    Mô hình 5b

    Mô hình 6b

    FD (-1)

    1.150***

    1.096***

    0.924***

    1.089***

    1.036***

    1.082***

     

    (0.066)

    (0.063)

    (0.080)

    (0.067)

    (0.077)

    (0.063)

    GDPG

    -0.022

    -0.738**

    -0.097

    -0.029

    0.048

    -0.431

     

    (0.231)

    (0.344)

    (0.317)

    (0.232)

    (0.184)

    (0.320)

    FO

    1.981

    0.631

    3.044

    1.503

    -1.416

    -1.830

     

    (3.095)

    (3.227)

    (3.142)

    (2.935)

    (1.608)

    (1.771)

    TO

    -0.067

    -0.020

    -0.269**

    -0.273**

    -0.069

    -0.078

     

    (0.081)

    (0.088)

    (0.115)

    (0.116)

    (0.072)

    (0.084)

    COR

    -43.586**

             
     

    (22.180)

             

    COR2

    32.993**

             
     

    (16.510)

             

    POS

     

    -23.682**

           
       

    (11.932)

           

    POS2

     

    12.227*

           
       

    (6.378)

           

    RUL

       

    -48.128***

         
         

    (15.814)

         

    RUL2

       

    51.589***

         
         

    (17.012)

         

    VOI

         

    -12.957

       
           

    (12.753)

       

    VOI2

         

    9.816

       
           

    (11.145)

       

    GEF

           

    37.091**

     
             

    (18.215)

     

    GEF2

           

    -29.983

     
             

    (18.860)

     

    REG

             

    -39.638*

               

    (23.783)

    REG2

             

    48.951**

               

    (23.280)

    AR (2) test

    0.83

    0.71

    0.93

    0.70

    0.70

    0.49

    Sargan test

    0.21

    0.50

    0.60

    0.18

    0.21

    0.65

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là

     

    sai số chuẩn.

     

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Cả hai nhân tố phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế (Law và Azman-Saini, 2008). Trong đó, nghiên cứu này xem xét vai trò của chất lượng thể chế ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 2000–2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng thể chế mà đặc biệt là yếu tố tham nhũng là sự ổn định chính trị làm gia tăng đáng kể sự phát triển tài chính mà yếu tố tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng trong phân tích. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại cũng là hai yếu tố có tầm quan trọng về mặt thống kê đối với phát triển tài chính, tuy nhiên tác động của chúng đến phát triển tài chính là nghịch chiều. Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tác động của chất lượng thể

     

    Tài liệu tham khảo

    chế đến phát triển tài chính không đơn điệu và phụ thuộc vào các dẫn xuất của thể chế. Trong số sáu chỉ số chất lượng thể chế, chỉ số tham nhũng, sự ổn định chính trị, tuân thủ pháp luật và chất lượng quản lý có mối quan hệ hình chữ U với sự phát triển tài chính. Kết quả này cho thấy chất lượng thể chế đóng góp vào phát triển tài chính khi mà nó vượt mức ngưỡng. Do đó việc cải thiện chất lượng thể chế hơn nữa có vai trò then chốt nhằm phát triển thị trường tài chính hơn nữa tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á. Chính phủ của các nền kinh tế này nên áp dụng các chính sách quản lý hoạt động thị trường tài chính cho khu vực tư nhân một cách có kỷ luật và tăng cường cơ sở hạ tầng thể chế nhằm khai thác các khía cạnh có lợi của các thể chế cụ thể, khuyến khích sự phát triển của thị trường tài chính.

     

    Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2004). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. NBER Working paper 10481.

     

    Demetriades, P., & Andrianova, S. (2004). Finance and growth: what we know and what we need to know. In Financial development and economic growth (pp. 38-65). Palgrave Macmillan, London.

    Anutechia, A. S. (2010). Linkages between Financial Development and Openness: panel evidence from developing countries. MPRA paper no. 26926.

     

    Arestis, P., & Demetriades, P. (1997). Financial development and economic growth: assessing the evidence. The economic journal, 107(442), 783-799.

     

    Baltagi, B. H., Demetriades, P. O., & Law, S. H. (2009). Financial development and openness:

     

    Evidence from panel data. Journal of development economics, 89(2), 285-296.

     

    Baumol, W. (1993). Entrepreneurship, Management and the Structure of Payoffs. London: The MIT Press.

     

    Bayar, Y., Akyuz, F., & Erem, I. (2017). Openness and Financial Development in Central and Eastern European Countries. Studies in Business and Economics, 12(3), 5-16.

     

    Chinn, M. D., & Ito, H. (2002). Capital account liberalization, institutions and financial development: cross country evidence (No. w8967). National Bureau of Economic Research.

     

    Claessens, S., & Leaven, L. (2003). What Drives Bank Competition, Some International Evidence World Bank Policy, Working Paper 3113.

     

    20

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Garretsen, H., Lensink, R., & Sterken, E. (2004). Growth, financial development, societal norms and legal institutions. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 14(2), 165-183.

    Ho, S. Y., & Njindan Iyke, B. (2018). Short-and Long-term Impact of Trade Openness on Financial Development in Sub-Saharan Africa. MPRA Working Paper 84272.

     

    Kaufman, D. (10). Myths about Governance and Corruption,”. Finance and Development, 42(3), 2005.

     

    La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). Legal determinants of external finance. The journal of finance, 52(3), 1131-1150.

     

    Law, S. H., & Azman-Saini, W. N. W. (2008). The quality of institutions and financial development.

     

    MPRA paper no. 12107.

     

    Levine, R. (2001). International financial liberalization and economic growth. Review of international Economics, 9(4), 688-702.

     

    North, D. C. (1991). Institutions. Journal of economic perspectives, 5(1), 97-112.

     

    Rajan, R. G., & Zingales, L. (2003). The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century. Journal of financial economics, 69(1), 5-50.

     

    Roe, M. J., & Siegel, J. I. (2009). Finance and politics: A review essay based on Kenneth Dam’s analysis of legal traditions in the law-growth nexus. Journal of Economic Literature, 47(3), 781-800.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận: Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-C%E1%BA%A4P-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-KINH-T%E1%BA%BE-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM-NH%C3%8CN-T%E1%BB%AA-G%C3%93C-%C4%90%E1%BB%98-TH%E1%BB%82-CH%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ1

     

    Vũ Thành Tự Anh

     

    Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

     

    1.       Giới thiệu

     

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam được khởi động từ Đổi mới (1986) và được tăng tốc từ cuối thập niên 1990. Đồng thời, phạm vi phân cấp cũng liên tục được mở rộng, cho đến giữa thập niên 2000 đã bao trùm sáu lĩnh vực chính là: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển; ngân sách nhà nước; đất đai, tài nguyên; doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức. Chính phủ kỳ vọng rằng chính sách phân cấp sẽ giúp “phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.”2

     

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế, kết quả thu được không như kỳ vọng. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh các giữa chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

     

    Trong quá trình phân cấp ở Việt Nam, nổi lên bốn mâu thuẫn có tính nền tảng trong bản thân hệ thống nhà nước. Thứ nhất, phân cấp ở một quốc gia nhất thể và tôn ti trật tự như Việt Nam nhất thiết đòi hỏi sự chuyển đổi vai trò của nhà nước, từ vai trò truyền thống như người ra và thực hiện quyết định trở thành người định hướng và xác lập luật chơi. Tuy nhiên, việc chuyển đổi này không hề đơn giản vì nó kéo theo không

     

    • Bài viết này do TS. Vũ Thành Tự Anh thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Bài viết này được thực hiện hoàn toàn với danh nghĩa cá nhân, và do vậy, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hay của Chương trình Việt Nam tại Trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy. Tôi xin chân thành cảm ơn những nhận xét quý báu của người thảo luận – Ông Trương Đình Tuyển – cố vấn cao cấp của Thủ tướng Chính phủ và nguyên Bộ trưởng Bộ Thương Mại. Đề nghị không phổ biến và trích dẫn nếu không được

    sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.

    • Nghị quyết 08/2004/NQ-CP.

     

     

    1

     

    chỉ thay đổi về tổ chức nội bộ, minh định lại các nhiệm vụ và chức năng, mà còn làm xói mòn quyền lực có tính tùy định vốn có của nhà nước. Thứ hai, trách nhiệm được phân cấp nhiều hơn trong nhiều trường hợp không đi đôi với sự gia tăng nguồn lực một cách cân xứng, khiến cho địa phương bị quá tải. Thứ ba, việc tăng tính tự chủ cho chính quyền địa phương không tự nó đảm bảo trách nhiệm giải trình. Và thứ tư, việc tăng tính tự quản (self-governance) của chính quyền địa phương trong nhiều trường hợp thực tế đã dẫn tới việc phá vỡ tính thống nhất của chính sách quốc gia.

     

    Theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này sẽ đánh giá tổng quan về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam trên các phương diện cơ sở lý thuyết, bản chất, và những nguyên tắc của phân cấp; thực trạng phân cấp kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua và những hệ quả của nó; từ đó đưa ra những khuyến nghị về đổi mới chính sách phân cấp. Vì tính chất tổng quan, bài viết này sẽ không đi sâu vào các khía cạnh cụ thể của phân cấp – là chủ đề của các bài viết khác trong Diễn đàn này – mà tập trung vào các vấn đề chung, xuyên suốt các khía cạnh khác nhau của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này chỉ tập trung phân tích mối quan hệ phân quyền giữa hai cấp chính quyền quan trọng nhất – đó là giữa chính quyền trung ương và chính quyền tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng phân cấp là một khái niệm rất đa diện, và như sẽ chỉ ra trong bài viết này, việc chỉ thu hẹp mối quan tâm vào một số phương diện sẽ có nguy cơ dẫn tới sự đơn giản hóa quá mức, thậm chí phiến diện trong thiết kế chính sách.

     

    • thời điểm hiện nay, việc thảo luận về định hình lại chính sách phân cấp đặc biệt thích hợp khi quá trình sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Quốc hội, trong đó mối quan hệ quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương hiển nhiên là một nội dung trọng yếu. Bên cạnh đó, hai đạo luật đặc biệt quan trọng đối với phân cấp là Luật Đầu tư công – mua sắm công và Luật Đất đai (sửa đổi) đã được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm 2013. Hơn nữa, việc sửa đổi các Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, và Luật ngân sách nhà nước sẽ được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm

    2014.

     

    All data used for this analysis were obtained either from official government sources, including the General Statistical Office (GSO), Ministry of Finance (MOF), Ministry of Planning and Investment (MPI), or from studies funded by international donors such as the World Bank, UNDP, and USAID.

     

    Phần còn lại của bài viết này được chia thành năm phần. Phần 2 trình bày ngắn gọn khái niệm phân cấp. Phần 3 giải thích tại sao lại cần phân cấp từ góc độ lý thuyết cũng như thực tiễn. Phần 4 thảo luận một cách khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

     

    2

     

    kể từ Đổi mới trở lại đây. Phần 5 sẽ đánh giá một cách tổng quan những thành công và hạn chế của phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam. Phần 6 sẽ kết luận và đưa ra một số gợi ý chính sách, trong đó nhấn mạnh nhu cầu thay đổi một cách cơ bản quan niệm về phân cấp và thiết kế phân cấp ở Việt Nam.

     

    2.       Khái niệm phân cấp

     

    Phân cấp (decentralization) là quá trình chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các chính quyền địa phương hay cho khu vực kinh tế tư nhân. Ở một số quốc gia đang tiến hành chuyển đổi hệ thống kinh tế như Việt Nam, phân cấp còn bao hàm sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và cho thị trường. Các hình thức phân cấp này có đặc điểm chung là đều bắt đầu với sự minh định lại vai trò của nhà nước, để trên cơ sở đó tiến hành phân định quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa nhà nước với thị trường, và giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân và khu vực dân sự.

     

    Các lĩnh vực của phân cấp rất rộng, tuy nhiên về đại thể có thể chia thành bốn nhóm chính như sau:

     

    • : mục đích là tạo ra môi trường thuận lợi cho người dân và các

    thể chế dân cử được tham gia và có tiếng nói trong quá trình hoạch định chính

     

    sách ở địa phương. Thông qua phân cấp chính trị, chính quyền địa phương và

     

    các đại biểu dân cử sẽ có trách nhiệm giải trình cao hơn trước người dân địa

     

    phương.

    • : là việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm trong việc

    thực hiện các nhiệm vụ công từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa

     

    phương. Thông qua quá trình này, công tác kế hoạch, quy hoạch, quản lý, điều

     

    hành, thậm chí cả tài trợ cho cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công sẽ được

     

    chuyển giao từ cấp trung ương xuống các cơ quan hành chính địa phương. Phân

     

    cấp hành chính được chia thành 3 nhóm

     

    • Phi tập trung (deconcentralization) là hình thức chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm cho các đơn vị đại diện chính quyền trung ương ở các vùng hay địa phương (ví dụ văn phòng đại diện của bộ ở các vùng , theo đó các cơ quan đại diện này thực thi các chính sách quốc gia do các cơ quan trung ương ban hành. Đây là hình thức thấp nhất trong các hình thức phân cấp hành chính, thậm chí có người cho rằng nó không phải là hình

    thức phân cấp bởi vì việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chỉ diễn ra trong nội bộ ngành dọc của trung ương.

     

    • Uỷ quyền (delegation) là hình thức phân cấp hành chính trong đó chính quyền trung ương chuyển giao quyền quyết định và trách nhiệm điều hành cho cơ quan địa phương trong khuôn khổ các hướng dẫn do chính

    3

     

    quyền cấp cao hơn ban hành. Trong hình thức phân cấp này, chính quyền địa phương thay mặt chính quyền trung ương để ra quyết định, song chính quyền trung ương vẫn chịu trách nhiệm về các quyết định này.

     

    o    Phân ề (devolution): là cấp độ phân cấp hành chính cao nhất theo đó toàn bộ chức năng ra quyết định, quản lý và tài chính được chuyển giao cho chính quyền địa phương. Trong các trường hợp cụ thể, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm giải trình trước các quan chức dân cử. Đồng thời, các quan chức dân cử sẽ chịu trách nhiệm giải trình trước cử tri chứ không phải là trước chính quyền các cấp cao hơn.

     

    • Phân c p ngân sách: là trọng tâm của mọi biện pháp phân cấp. Mỗi đơn vị phân cấp chỉ có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp khi họ có đủ các nguồn lực cần thiết và có quyền đưa ra các quyết định chi tiêu. Bốn nội dung trọng tâm của phân cấp ngân sách bao gồm (i) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chi tiêu; (ii) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm thu ngân sách; (iii) chuyển giao ngân sách từ trung ương cho địa phương và điều tiết ngân sách từ

    địa phương về trung ương; và (iv quy định về khả năng đi vay và phát hành nợ của chính quyền địa phương.

     

    • Phân c p th ường: là hình thức phân cấp trong đó nhà nước chuyển giao một số chức năng từ khu vực công sang khu vực tư và từ nhà nước sang thị trường. Như vậy một số quyền hạn và nhiệm vụ trước đây thuộc các cơ quan nhà nước sẽ được chuyển giao cho khu vực kinh tế tư nhân, hợp tác xã, các hiệp hội, và các tổ chức phi chính phủ thực hiện. Hình thức này lại có thể được phân thành hai nhóm, bao gồm: (i) “tư nhân hoá” – chuyển giao việc cung ứng một số sản phẩm và dịch vụ từ nhà nước sang các chủ thể ngoài nhà nước; và (ii) giải quy chế – giảm các rào cản hành chính, tạo điều kiện cho các chủ thể ngoài nhà nước tham gia vào thị trường.

    Cách phân loại phân cấp thứ hai không căn cứ vào lĩnh vực phân cấp mà căn cứ vào các chức ă g trong quá trình hoạch định chính sách công. Theo cách phân loại này, việc phân cấp có thể được thực hiện đối với một số hoặc toàn bộ các chức năng hoạch định chính sách công, từ việc đưa ra đề xuất chính sách và lập kế hoạch cho đến việc thực hiện, giám sát, và đánh giá chính sách.

     

     

     

    4

     

    Hình 1. Sơ đồ nội dung và chức năng phân cấp

     

    Trung Ương

     

     Hoạch định Phân cấp chính trị

     

    Tài trợ

     

    Phân cấp hành chính

     

    Địa phương

    Thực hiện

     

    Phân cấp ngân sách

    Giám sát

     

    Phân cấp thị trường

     

     Kiểm toán, đánh giá Các cấp NS thấp

    hơn

     

    Khái niệm và hai cách phân loại phân cấp được minh họa trong

     

     

    Hình 1. Sự kết hợp giữa hai cách phân loại này có thể đưa đến rất nhiều cấu hình (hay trạng thái) phân cấp khác nhau. Nói cách khác, lựa chọn trong việc thiết kế phân cấp không đơn thuần là “có” hay “không” phân cấp, mà là phối hợp các nội dung và các chức năng phân cấp như thế nào để tạo ra cấu hình phân cấp mong muốn. Bên cạnh đó, vì các nội dung và chức năng phân cấp có tính tương tác, nên khi thiết kế chính sách phân cấp, cần rất lưu ý đến trình tự và sự phối hợp giữa các nội dung và chức năng phân cấp để tạo ra hiệu quả tổng hợp cao nhất. Chẳng hạn như trong phạm vi của phân cấp ngân sách, nếu như phân cấp nguồn thu không đi trước, hoặc ít nhất là đi đôi với phân cấp nhiệm vụ chi thì địa phương sẽ không đủ nguồn tài chính để thực hiện những nhiệm vụ được giao thêm. Một ví dụ khác là nếu như việc phân cấp chức năng hoạch định và thực hiện đầu tư cho địa phương nhưng lại không đi kèm với những biện pháp đánh giá và điều phối thích hợp thì có thể dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán, kém hiệu quả và lãng phí.

     

    Cần lưu ý rằng chính sách và quá trình phân cấp không được định hình và thực hiện một cách biệt lập mà trong một môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và pháp

     

    5

     

    luật nhất định – gọi chung là môi trường thế chế theo nghĩa rộng của thuật ngữ này3. Do vậy, thiết kế – và đương nhiên là cả kết quả – của chính sách phân cấp phụ thuộc vào môi trường thế chế chung của quốc gia. Một cách khái quát, các môi trường thể chế khác nhau sẽ tạo ra những động cơ khuyến khích khác nhau, từ đó đưa đến những hành vi và cuối cùng là các kết quả khác nhau. Những kết quả này, đến lượt mình, lại có tác động trở lại đối với môi trường thể chế, có thể theo hướng củng cố mà cũng có thể theo hướng làm rạn nứt các thể chế hiện tại. Và vòng lặp này cứ thế tiếp tục tái diễn.

     

    3.       Tại sao cần phân cấp?

     

    Làn sóng phân cấp trên thế giới trong mấy thập niên trở lại đây xuất phát từ cả cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Về phương diện lý thuyết, theo Stigler (1957) thì “một chính phủ đại diện hoạt động tốt nhất khi nó ở gần dân nhất” và “người dân phải có quyền bỏ phiếu cho loại hình và số lượng dịch vụ công mà họ cần”. Còn Olson (1969 đề xuất “nguyên lý tài khóa tương đương” như là tiêu chuẩn cho sự thiết kế phân chia quyền hạn giữa các cấp chính quyền, theo đó phạm vi của quyền hạn và lợi ích của dịch vụ công phải trùng nhau nhằm đảm bảo lợi ích biên của việc cung cấp dịch vụ công ngang bằng chi phí biên của nó và rằng không có vấn đề “người ăn theo”. Oates (1972 sau đó cụ thể hóa thêm khi viết rằng “dịch vụ công nên do cấp chính quyền đại diện tốt nhất cho vùng hay địa phương được hưởng lợi cung cấp” và “mỗi dịch vụ công nên được cung ứng bởi cấp chính quyền kiểm soát được khu vực địa lý tối thiểu trong đó “nội hóa” được các lợi ích và chi phí của việc cung cấp dịch vụ công này.”

     

    Lý thuyết của những học giả tiên phong về phân cấp này cũng như các lý thuyết phân cấp về sau (Shah 2004, WB 2010) đều cho rằng nhờ ở gần dân hơn nên so với chính quyền trung ương chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn về nhu cầu và ý nguyện của người dân, đồng thời thấu hiểu hơn những điều kiện đặc thù của địa phương. Vì vậy, chính quyền địa phương có thể đáp ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các yêu cầu của người dân, và do vậy thích hợp hơn trong việc ra các quyết định tác động trực tiếp đến phúc lợi của người dân địa phương. Ở chiều ngược lại, vì người dân ở gần chính quyền địa phương hơn nên tiếng nói của họ cũng được chính quyền cảm nhận một cách nhanh chóng và rõ ràng hơn. Tựu trung lại, các lý thuyết về phân cấp cho rằng việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương xuống cho chính quyền địa phương, nhờ đó đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn, sẽ giúp tăng cường hiệu quả, tính công bằng, sự minh bạch, và trách nhiệm giải trình của khu vực công.

     

    Những lý thuyết này dựa trên một số giả định (điều kiện tiền đề), trong đó quan trọng nhất là những giả định về:

     

    • Thể chế (institution theo Douglass North (1990 bao gồm các quy tắc thành văn và không thành văn cũng những cơ chế cưỡng chế thi hành các quy tắc này.

     

     

    6

     

    • Minh bạch thông tin: Cộng đồng dân cư địa phương phải được tiếp cận thông tin về các quyết định công một cách đầy đủ, kịp thời, và chính xác. Chẳng hạn như khi chính quyền địa phương cung ứng một hàng hóa hay dịch vụ công thì người dân phải được thông tin về các lựa chọn chính sách khả hữu cùng với chi phí và lợi ích của chúng. Nếu thông tin được minh bạch thì một mặt sẽ giúp đảm bảo rằng việc cung ứng hàng hóa – dịch vụ công là có ý nghĩa, mặt khác giúp cộng đồng dân cư giảm sát một cách hiệu quả đối với kết quả hoạt động của chính quyền địa phương.
    • Tiếng nói: Tồn tại những cơ chế có hiệu lực để cộng đồng dân cư địa phương truyền đạt ý nguyện và các ưu tiên của mình tới chính quyền. Điều này, cùng với yêu cầu về minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình sẽ khuyến khích người dân tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách để bảo vệ lợi ích của mình và của cộng đồng.
    • Trách nhiệm giải trình: Đối tượng được phân cấp phải có trách nhiệm giải trình

    hai chiều: với chính quyền cấp trên mà từ đó trách nhiệm và quyền lực được phân cấp xuống dưới và với các đối tượng phía dưới chịu tác động trực tiếp của phân cấp. Lấy ví dụ như phân cấp từ chính quyền trung ương cho địa phương.

     

    Chính quyền địa phương khi ấy phải chịu trách nhiệm giải trình trong việc tuân thủ chủ trương, chính sách do chính quyền trung ương ban hành; đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình trước người dân địa phương về chất lượng phục vụ của mình. Nếu thiếu những cơ chế đảm bảo trách nhiệm giải trình ở cả hai chiều này thì việc đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn một mặt không

     

    đảm bảo nó sẽ phục vụ người dân tốt hơn, mặt khác lại đưa nó ra xa khỏi tầm quản lý của chính quyền trung ương.

     

    • Nguồn lực: Ngay cả khi thông tin minh bạch, người dân có tiếng nói, và chính quyền địa phương có trách nhiệm song lại không đủ nguồn lực thì cũng không thể đáp ứng một cách có hiệu quả các ý nguyện của người dân. Nói cách khác, nếu tiền và các nguồn lực khác không đi theo sự gia tăng quyền hạn và trách nhiệm thì phân cấp sẽ rất khó thành công.4
    • Quy mô: Đơn vị phân cấp nên có quy mô đủ lớn để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời bao trùm được các lợi ích và chi phí của các hoạt động hay chức năng được phân cấp (để có thể “nội hóa” được ngoại tác, cả tiêu cực lẫn tích cực). Quy mô của đơn vị phân cấp đủ lớn – hay số lượng đơn vị phân cấp đủ nhỏ – còn giúp cho việc điều phối chính sách của trung ương cũng như phối hợp chính sách liên địa phương hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu quy mô phân cấp quá bé và số lượng đơn vị phân cấp quá nhiều sẽ dễ dẫn đến cạnh tranh
    • Điều này cũng hàm ý rằng, ít nhất từ phương diện lý thuyết, các địa phương với nguồn lực và năng lực khác nhau sẽ nên được phân cấp các quyền hạn và trách nhiệm không giống nhau.

     

     

    7

     

    không lành mạnh thay vì hợp tác giữa các địa phương. Điều này một mặt làm tăng chi phí và xói mòn tác dụng của phân cấp, mặt khác còn có thể đưa đến nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế quốc gia.

     

    Các giả định này đồng thời là những điều kiện cần (mặc dù chưa đủ) cho sự thành công của hoạt động phân cấp. Có thể thấy rằng cả năm điều kiện này đều chịu tác động, thậm chí trong một chừng mực nào đó là sản phẩm của môi trường thể chế. Vì vậy, để phân cấp thành công thì những yếu tố của môi trường thể chế phải được điều chỉnh sao cho chúng vận hành cùng chiều và hỗ trợ cho quá trình phân cấp. Tuy nhiên, thể chế thường có tính tự duy trì, vì vậy trong nhiều trường hợp không những không hỗ trợ mà còn cản trở phân cấp.

     

    Từ góc độ thực tiễn, hầu hết các chương trình phân cấp của các quốc gia trên thế giới trong vòng hai thập niên trở lại đây xuất phát từ những động cơ và quan ngại về chính trị (xem thêm Shah 2004). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phân cấp không hề bị thúc đẩy bởi các yếu tố thực tiễn có tính phi chính trị. Sự chuyển đổi từ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như hiện nay đương nhiên đòi hỏi phải xác định lại một cách cơ bản vai trò của nhà nước, và đi kèm với nó, là tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng phân cấp và phân quyền nhiều hơn. Ở những quốc gia nơi chính quyền trung ương luôn bị quá tải, phân cấp được đẩy mạnh với kỳ vọng rằng nó sẽ giúp giải tỏa những ách tắc trong quá trình ra quyết định, giảm bớt sự phiền hà của thủ tục hành chính, và tăng tính nhạy cảm của chính quyền trước nhu cầu, ý nguyện, và điều kiện đặc thù của địa phương. Ở những quốc gia có thành phần dân tộc và tôn giáo phức tạp và dễ xung đột, phân cấp được kỳ vọng sẽ đem lại sự tham gia và tiếng nói của những thành phần thiểu số, dễ bị tổn thương, và qua đó góp phần duy trì tính cố kết dân tộc.

     

    Bảng 1. Các xu thể thay đổi quản trị nhà nước trong thế kỷ 21

     

       

    THẾ K  20

         

    THẾ K  21

                     

    Nhất thể

     

    Liên bang

    Tập trung

     

    •  Toàn cầu hóa và địa phương hoá5

    •  Trung ương quản lý

     

    •  Trung ương lãnh đạo

    Quan liêu

     

    Cùng tham gia

    •  Chỉ huy, kiểm soát

     

    •  Đáp ứng nhu cầu của dân

    •  Kiểm soát đầu vào

     

    •  Chú trọng đầu ra (kết quả)

    •  Trách nhiệm giải trình từ trên xuống

     

    •  Trách nhiệm giải trình từ dưới lên

    •  Phụ thuộc nội bộ

     

    Cạnh tranh

    Đóng và chậm

     

    Nhanh và mở

    •  Không chấp nhận rủi ro

     

    Tự quyết định thất bại thành công

                     
    • : Shah, Anwar (2004).
    • Thuật ngữ Shah sử dụng để miêu tả quá trình toàn cầu hóa song hành với địa phương hóa này là “glocalization”.

     

     

    8

     

    Từ góc độ quản trị nhà nước (public governance), theo Shah (2004), tiến trình phân cấp

     

    • các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển còn được thúc đẩy bởi làn sóng toàn cầu hóa và xu thế dân chủ hóa từ cuối thập niên 1980. Toàn cầu hóa biến thế giới thành một “ngôi làng toàn cầu” và thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia. Điều này, đến lượt

    mình, đòi hỏi chính quyền địa phương phải có nhiều thẩm quyền hơn và gần dân hơn để có thể phản ứng một cách hiệu quả hơn đối với những cơ hội và thách thức mới nổi lên của toàn cầu hóa. Song song với sự trao quyền này, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giải trình và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Shah (2004 đã tổng kết các xu hướng thay đổi trong quản trị nhà nước trên thế giới trong thế kỷ 20 và 21 trong Bảng 1.

     

    Khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

     

    Trong suốt lịch sử Việt Nam, kể từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập dân tộc vào thế kỷ thứ X cho đến trước Đổi mới, dù ở chế độ phong kiến, dưới thời thực dân đô hộ, hay trong giai đoạn quá độ kế hoạch hóa tập trung, tuy mức độ nặng nhẹ khác nhau song cấu trúc nhà nước đều thiên về tập quyền hơn là phân cấp. Chính quyền trung ương luôn nắm hầu hết quyền lực mang tính quyết định, phân cấp nếu được sử dụng cũng rất giới hạn. Hệ quả là chính quyền địa phương hầu như lệ thuộc vào chính quyền trung ương cả về chính sách, ngân sách và nhân sự.

     

    Tuy vậy, trong đời sống thực tiễn, bên cạnh cấu trúc tập trung đậm nét, vẫn tồn tại vai trò của làng xã trong việc cung ứng hàng hóa công và giải quyết các sự vụ có tính địa phương, đặc biệt là ở miền Bắc.6 Hương ước của làng cũng là một điểm đặc biệt trong hệ thống luật pháp Việt Nam trong những thế kỷ trước, thể hiện một mức độ tự quản nhất định của làng. Nhưng dù làng có vị thế như vậy nhưng nó chưa bao giờ được thừa nhận như một đơn vị hành chính chính thức của bộ máy chính quyền. Lý trưởng trước kia và trưởng thôn ngày nay mặc dù được hưởng trợ cấp từ ngân sách nhưng không phải là công chức trong hệ thống hành chính. Như vậy, quyền lực của làng mang tính phi chính thức và chỉ có thể giải quyết được một số vấn đề với quy mô nhỏ trong phạm vi của làng.

     

    Ngay từ giai đoạn đầu của Đổi Mới, vấn đề phân cấp đã được Đảng nhìn nhận một cách nghiêm túc và được đưa ngay vào Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986):

     

    “Phải lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý kinh tế, xã hội. Chính cơ chế quản lý còn nặng tính chất tập trung quan liêu, vừa gò bó cấp dưới, vừa làm giảm hiệu lực quản lý tập trung là nguyên nhân trực tiếp làm rối loạn trật tự, kỷ cương. Vì vậy, không thể khắc phục sự rối ren bằng cách quay

     

    • Những câu tục ngữ như “phép vua thua lệ làng” hoặc nhận định Việt nam tuy có nhiều thời gian dài bị mất nước nhưng chưa bao giờ bị mất làng là những biểu hiện của sức sống của làng.

     

     

    9

     

    trở lại cơ chế cũ, mà phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý (chữ in nghiêng do tác giả nhấn mạnh) theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

     

    Việc phân cấp quản lý phải bảo đảm quyền làm chủ của ba cấp: quyền quyết định của trung ương (bao gồm cả các ngành trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm cho sự phát triển cân đối của toàn bộ nền kinh tế; quyền chủ động của các địa phương trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ; quyền tự chủ sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và vai trò làm chủ của các tập thể lao động. Trong sự phân công, phân cấp quản lý, trách nhiệm phải đi đôi với quyền hạn, nghĩa vụ gắn liền với lợi ích.”7

     

    Mặc dù có chủ trương song lý luận về phân cấp, đặc biệt là lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế mới, vẫn chưa rõ ràng, thiếu hệ thống, và còn nhiều khoảng trống. Vì vậy, sau một thời gian dài, phân cấp chưa đáp ứng được mục tiêu và đi sau thực tiễn như được thừa nhận trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP như sau:

     

    Tuy nhiên, quá trình đổi mới phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp vừa qua xét về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, còn nhiều hạn chế, bất hợp lý:

     

    • Phân cấp nhưng chưa bảo đảm quản lý thống nhất, còn biểu hiện phân tán, cục bộ; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; chưa chú trọng việc thanh tra, kiểm tra đối với những việc đã phân cấp cho địa phương.
    • Chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước. Chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân đối với những nhiệm vụ đã được phân cấp.
    • Phân cấp nhiệm vụ cho cấp dưới, nhưng chưa bảo đảm tương ứng các

    điều kiện cần thiết để thực hiện, còn thiếu sự ăn khớp, đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực có liên quan, chưa tạo điều kiện thực tế cho địa phương chủ động cân đối các nguồn lực và các nhu cầu cụ thể của mình.

     

    • Một số nội dung phân cấp đã được pháp luật quy định nhưng chậm

    được triển khai thực hiện hoặc thực hiện không triệt để. Mặt khác, các

     

    7Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, trang 747

     

    10

     

    quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa đô thị và nông thôn.

     

    Những hạn chế, bất cập trên đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân: nhận thức, quan điểm về các chủ trương, giải pháp phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh chưa rõ ràng, rành mạch, thiếu nhất quán, lo ngại phân cấp mạnh dẫn đến tình trạng cục bộ, cát cứ, phân tán. Trong tổ chức chỉ đạo còn thiếu quyết tâm, mạnh dạn từ xây dựng, ban hành thể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện; chưa chú trọng tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng với yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới.

     

    Mặc dù đồng ý với hầu hết những nhận định về nhược điểm của phân cấp của Chính phủ, song chúng vẫn chưa chạm đến những nguyên nhân cốt lõi – những nguyên nhân đã ăn sâu bám rễ trong hệ thống thể chế hiện tại. Cụ thể là Chính phủ luôn cố gắng bảo về quyền lực tối cao của trung ương, trong đó đặc biệt quan trọng là quyền lực chính trị, ngân sách, và bổ nhiệm nhân sự. Một hệ quả của thực tế này là quan niệm về phân cấp ở Việt Nam chỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi phân cấp quản lý kinh tế chứ hầu như không bao gồm phân cấp chính trị và nhân sự.8 Bên cạnh đó, việc định nghĩa lại vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế ở đó khu vực tư nhân đóng vai trò động lực và quan trọng nhất cũng không được đặt ra. Không những thế, ngay cả khi khu vực nhà nước (cụ thể là DNNN, đầu tư công, và ngân hàng thương mại nhà nước được công nhận là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế trong giai đoạn gần đây thì các chương trình tái cơ cấu của chính phủ vẫn khẳng định nhiệm vụ hàng đầu là khôi phục và khẳng định vị trí chủ đạo, chủ lực của khu vực này.

     

    Với nhận định như vậy về những hạn chế trong chính sách và triển khai phân cấp, Nghị quyết 08 tiếp tục khẳng định mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước, đồng thời đưa ra một hệ thống quan điểm và nguyên tắc phân cấp như sau:

     

    1. Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, bảo đảm quản lý thống nhất của Chính phủ về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra; đồng thời phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
    1. Tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ những nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ,
    • Như sẽ chứng minh ở một phần dưới, ngay trong địa hạt kinh tế, phân cấp ngân sách trên thực tế không những không làm tăng sự tự chủ mà trái lại còn làm tăng sự phụ thuộc của chính quyền địa phương vào trung ương.

     

     

    11

     

    ngành với nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với các hoạt động kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ.

     

    1. Bảo đảm nguyên tắc hiệu quả, việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và nhân dân thì giao cho cấp đó thực hiện; phân cấp phải rõ việc, rõ địa chỉ, rõ trách nhiệm, gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp.
    1. Phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn,

    đặc thù của ngành, lĩnh vực, điều kiện và khả năng phát triển của từng khu vực, vùng lãnh thổ, với từng loại hình đô thị, nông thôn, với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế.

     

    1. Phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác; phải

    đồng bộ, ăn khớp giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan.

     

    1. Bảo đảm quyền và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định, thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp; chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời phát huy dân chủ rộng rãi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
    1. Phân cấp phải thể hiện được sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở.
    1. Đối với những vấn đề đã phân cấp, chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện; các bộ, ngành trung ương có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc trái với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thì xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét.

    Bên cạnh những quan điểm và nguyên tắc chính thống được liệt kê ở trên thì trên thực tế, chính sách phân cấp ở Việt Nam còn được định hướng bởi hai nguyên tắc quan trọng khác. Nguyên tắc đầu tiên là “phân cấp từ trên xuống”, có nghĩa là những gì ở cấp trên không cần làm thì cấp dưới sẽ thực hiện” (từ trên xuống), hoàn toàn không tương ứng với nguyên tắc phân cấp phổ biến trên thế giới là “những gì cấp dưới không làm được thì cấp trên mới phải làm” (từ dưới lên). Nguyên tắc phân cấp từ trên xuống đã đẩy đến hiện tượng “cấp dưới luôn cảm thây bị gò bó và cấp trên luôn ở trong tình trạng “quá tải” và không thể kiểm soát được đồng thời tiếp tục làm tăng tính “ỷ lại” ở chính quyền cấp dưới.

     

    Nguyên tắc thứ hai là phân cấp theo quy mô, hay còn gọi là “nắm to, buông nhỏ”. Đây là một trong những tiêu chí chủ đạo trong quá trình phân cấp ở Việt nam, đặc biệt trong

     

    12

     

    vấn đề quản lý đầu tư và DNNN. Song quy mô đầu tư không phải lúc nào cũng tương ứng với tính chất và mức độ ảnh hưởng của dự án đầu tư. Chính nguyên tắc phân cấp này đã gây khó khăn không nhỏ cho các địa phương và đó cũng là một nguyên nhân khiến họ phải tìm những biện pháp “xé rào” để thu hút đầu tư nước ngoài.9

     

    5. Đánh giá khái quát kết quả phân cấp ở Việt Nam

     

    Việc đánh giá một chính sách lớn và phức tạp như phân cấp phải dựa trên nhiều nghiên cứu toàn diện, tỉ mỉ, và được tiến hành một cách khách quan. Đáng tiếc là cho đến thời điểm này, chúng ta hầu như chưa có những nghiên cứu như vậy.10 Mục đích của phần này, vì vậy, chỉ khiêm tốn là đưa ra một số đánh giá có tính khái quát từ góc độ thể chế về những thành công và hạn chế của việc thiết kế và thực hiện phân cấp, để từ đó làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị chính sách cụ thể.

     

    4.1. Một số thành công của chính sách phân c p

     

    Có thể nói những thành công lớn nhất trong chính sách phân cấp ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đều gắn liền với sự hạn chế bớt vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và sự tham gia ngày một tăng của thị trường và của khu vực dân doanh. Điều này xuất phát từ một thực tế là bản chất của quá trình cải cách ở Việt Nam kể từ năm 1986 là sự chuyển đổi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Cho đến nay, ngoại trừ những hoạt động độc quyền hay tựa độc quyền của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước chiếm khoảng 20-25% GDP của cả nước, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang thị trường phi tập trung. Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới đến từ quá trình phân cấp thị trường. Có thể kể ra đây một vài ví dụ điển hình. Sự chuyển đổi của khu vực nông nghiệp trong giai đoạn cuối thập niên 1980 là kết quả trực tiếp của một loạt những thay đổi thể chế quan trọng như việc ban hành Luật đất đai 1987 công nhận những quyền sử dụng đất cơ bản, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10) vào tháng 4/1988 qua đó công nhận loại hình kinh tế hộ trong nông nghiệp, giảm vị trí độc quyền của kinh tế quốc doanh trong sản xuất và phân phối lúa gạo v.v. Kết qủa là chỉ sau một năm, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nhập khẩu lương thực, và sau đó vài năm trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.

     

    Một thành tựu nữa của công cuộc Đổi mới được ghi nhận vào đầu những năm 1990 khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và kéo theo nó là nguồn viện

     

    • Xem thêm Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2010 nhan đề “Các thể chế hiện đại” là một ngoại lệ. Tuy nhiên, như sẽ chỉ ra trong bài viết này, ý kiến khách quan – ít nhất là về mặt hình thức – của các nhà tài trợ nước ngoài về thành công và thất bại của phân cấp trong một số trường hợp cũng vẫn còn có ý kiến khác nhau.

     

     

    13

     

    trợ nước ngoài lớn nhất của Việt Nam khi ấy. Cũng trong thời gian đó, Mỹ vẫn còn áp đặt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Kết quả là Việt Nam gần như hoàn toàn bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài. Một lần nữa, khu vực tư nhân – lần này là doanh nghiệp tư nhân – lại được giải phóng và trở thành cứu tinh của nền kinh tế thông qua Luật Công ty 1990, trong đó công nhận quyền sở hữu tư nhân và vai trò của khu vực tư nhân trong sự phát triển của nền kinh tế. Kể từ đó, nhà nước đã dần dần từ bỏ vị trí độc tôn của mình trong các ngành công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ. Việc thông qua Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 sau đó tiếp tục đẩy mạnh phân cấp thị trường bằng việc tái khẳng định quyền tự do kinh doanh của người dân và giảm bớt chi phí giao dịch khi đăng ký thành lập công ty. Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành, một số lượng kỷ lục các doanh nghiệp tư nhân đã được thành lập nhờ thủ tục đăng ký kinh doanh giờ đây đã trở nên dễ dàng hơn. Khối lượng vốn khổng lồ trong nước được các doanh nghiệp này huy động đã giúp cho Việt Nam hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997-1998 và duy trì một tốc độ tăng trưởng cao kể từ năm 2000.

     

    Từ những thành công trong phân cấp thị trường này, có thể rút ra một bài học là, nếu như ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới, nhận thức và lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, đồng thời lý luận về phân cấp (theo nghĩa rộng được nghiên cứu một cách nghiêm túc thì Việt nam đã có thể thiết kế được một lộ trình tương đối rõ ràng cho quá trình chuyển đổi và có thể hạn chế được rất nhiều sai lầm về thiết kế và triển khai chính sách phân cấp trong suốt hơn môt phần tư thế kỷ qua.

     

    Đối với các nội dung khác của phân cấp – bao gồm phân cấp chính trị, ngân sách, và quản lý hành chính – tuy Việt Nam cũng đã thu được một số thành công với các mức độ khác nhau, song những thành công này không thực sự thuyết phục như trường hợp phân cấp thị trường. Điều này có thể thấy rõ qua những đánh giá về sáu nội dung phân cấp được đề ra trong Nghị quyết 08 của Chính phủ trong Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010 và những bài viết của những tác giả khác trong Diễn đàn kinh tế mùa Thu 2012.11 Để không lặp lại nội dung của các tác giả khác, trong phần kế tiếp, bài viết này sẽ trình bày một số hạn chế phổ biến trong các hình thức phân cấp ở Việt Nam và phân tích những nguyên nhân cơ bản nằm đằng sau những hạn chế này.

     

    4.2. Một số   ượ      điểm trong thiết kế và thực hiện chính sách phân c p ở Việt Nam

     

    1. a) Phân c ưa thực sự đi kèm với nhữ g điều kiện cần để phân c p hiệu quả
    • Sáu nội dung phân cấp này bao gồm: (1) phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; (2 phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; (3 phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; (4 phân cấp quản lý doanh

    nghiệp nhà nước; (5 phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và (6 phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ công chức.

     

    14

     

    Như đã thảo luận ở Phần 2, lý thuyết và thực tiễn phân cấp cho thấy, để phân cấp một cách hiệu quả và công bằng thì phân cấp phải được thực hiện cùng với các điều kiện về minh bạch thông tin, tiếng nói, trách nhiệm giải trình, nguồn lực, và quy mô. Để đánh giá thực trạng của các điều kiện cần này, một cách lý tưởng, chúng ta cần so sánh số liệu trước và sau khi tiến hành phân cấp. Tuy nhiên, vì số liệu quá khứ không có nên chúng ta đành phải bằng lòng với việc chủ yếu sử dụng số liệu hiện tại.

     

    • Thông tin thiếu minh bạch: Số liệu Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công

    cấp tỉnh (PAPI)12 ở Việt Nam cho thấy mức độ minh bạch về thông tin rất thấp. Chẳng hạn như trong cả hai năm 2010 và 2011, trong số hàng ngàn người được phỏng vấn, chỉ khoảng một phần ba đã từng được nghe nói đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn, mặc dù Pháp lệnh này được thực thi từ đầu năm 2007 (Hình 2). Bên cạnh đó, có tới khoảng một phần ba số người được phỏng vấn chưa từng nghe đến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mặc dù khẩu hiệu này đã được nói đi nói lại nhiều lần từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến nay.

     

    Hình 2. Tỷ lệ người dân đã từng nghe đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ và khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

     

    80%

                     
     

    71%

                 
                     

    70%

       

    65%

             

    60%

                   

    Đã từng nghe đến Pháp

                   

    50%

                   
                   
                   

    lệnh thực hiện dân chủ cơ

             

    40%

                   

    sở ở xã, phường, thị trấn

     

    33%

    34%

             
                 

    30%

                   

    Đã từng nghe đến khẩu

                   
                   
                     

    hiệu “dân biết, dân bàn,

    20%

                   

    dân làm, dân kiểm tra”

                   
                     

    10%

                     
                     

    0%

                     
     

    2010

    2011

             
                       

    Nguồn: PAPI 2010 và 2011

     

    Tương tự như vậy, và bất chấp thực tế đất đai là một tài sản vô cùng quan trọng, số liệu PAPI cho thất có tới gần 80% người được phỏng vấn không hề được biết về quy

     

    • PAPI gồm có 6 chỉ số bộ phận, bao gồm: (i tham gia của người dân ở cấp cơ sở; (ii công khai, minh bạch; (iii trách nhiệm giải trình với người dân; (iv kiểm soát tham nhũng; (v thủ tục hành chính công; và (vi cung ứng dịch vụ công. PAPI được tiến hành lần đầu tiên vào năm 2010 bao gồm 30 tỉnh, sau đó được mở rộng ra tất cả 63 tỉnh thành trong năm 2011.

     

     

    15

     

    hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn của họ.13 Tỷ lệ này của năm 2011 còn tăng so với 2010. Bên cạnh đó, có chưa đến 20% số người được phỏng vấn biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở địa phương của họ. Không những thế, con số này còn giảm từ 18,6% trong năm 2010 xuống còn 16,2% trong năm 2011 (

     

    Hình 3).

     

    Hình 3. Tỷ lệ người dân được biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn

     

    90%

                       
     

    76.6% 79.2%

                   

    80%

                     
                       

    70%

                       
                 

    2010

       

    60%

                   
                 
                       
                 

    2011

       

    50%

                   
                 
                       
                       

    40%

                       
                       

    30%

                       
       

    18.6% 16.2%

               

    20%

                   
           

    5.8%

       

    10%

           

    3.8%

     
                     

    0%

                       
       

    Không được biết

     

    Được biết nhờ thông

     

    Được biết nhưng qua

     
           

    báo của chính quyền

         

    nguồn khác

     

    Ngu n: PAPI 2010 và 2011

     

    Không chỉ người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin chính sách mà doanh nghiệp cũng gặp phải tình trạng này. Hơn nữa, tình trạng này còn xấu đi trong những năm trở lại đây. Theo số liệu PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) của VCCI và VNCI thì đa số doanh nghiệp cho rằng cần phải có “mối quan hệ” để có được các tài liệu của tỉnh, và tỷ lệ này tăng từ 62% trong năm 2006 lên 73,3% trong năm 2011. Bên cạnh đó, khả năng dự đoán được việc thực thi pháp luật của tỉnh cũng rất thấp và giảm từ 10,5% trong năm 2006 xuống chỉ còn 8,9% trong năm 2011. Kết quả chung là trong giai đoạn 2006 – 2011, chỉ số đo lường mức độ minh bạch chính sách ở cấp tỉnh ở Việt Nam đã giảm từ 5,8 xuống còn 5,3.

     

    Bảng 2. Tính minh bạch trong chính sách của chính quyền cấp tỉnh

     

       

    Cần có “mối quan hệ” để có

    Khả năng có thể dự đoán được

    Minh bạch

       

    được các tài liệu của tỉnh

    trong thực thi pháp luật của tỉnh

       

    nói chung

       

    (% quan trọng hoặc rất quan

    (% luôn luôn hoặc thường

         
               
               
    • Số liệu của Báo cáo Phát triển Việt Nam cũng phản ảnh tình trạng “dân không biết” này. Trong số những người quan tâm, có tới hơn một nửa không hề được biết thông tin nào về ngân sách và kế hoạch của xã. Hơn nữa, nếu giả sử họ có được cung cấp thông tin đi chăng nữa thì những thông tin đó cũng không đủ đáp ứng được yêu cầu của họ.

     

     

    16

     

     

    trọng

    xuyên)

     
           

    2006

    62.0%

    10.5%

    5.8

    2011

    73.3%

    8.9%

    5.3

    Ngu n: VCCI và VNCI

     

    • Trách nhiệm giải trình th p14

    Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào thực sự có hệ thống và đáng tin cậy về trách nhiệm giải trình của các đối tượng được phân cấp, và điều này càng đúng đối với các nghiên cứu có tính định lượng.15 Vì thế, phần này sẽ sử dụng một số trường hợp điển hình nhằm minh họa cho luận điểm rằng trách nhiệm giải trình theo cả hai chiều lên trên và xuống dưới ở Việt Nam nhìn chung còn rất thấp.

     

    Trường hợp đầu tiên liên quan đến các khiếu kiện về đất đai của người dân. Đã từ lâu, khiếu kiện về đất đai luôn chiếm tới 80-90% tổng số khiếu kiện chính thức của người dân. Điều đáng lưu ý là tuy là hiện tượng phổ biến, song số vụ khiếu kiện về đất đai đột nhiên tăng vọt ngay sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành (Hình 4). Rõ ràng là chính sách phân cấp đi đôi với đạo luật này đã không đảm bảo được trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương đối với người dân, khiến cho số lượng đơn khiếu kiện tăng đột biến.

     

    Hình 4. Các khiếu nại chính thức liên quan đến đất đai

     

     

     

    Ngu n: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010

     

    • Có thể thấy trách nhiệm giải trình thấp trong các nội dung phân cấp liên quan đến DNNN (điển hình là trường hợp của Vinashin và quản lý đầu tư công (cụ thể là PMU 18 . Độc giả có thể tham khảo thêm các bài trong kỷ yếu của Diễn đàn kinh tế mùa Xuân 2012.

     

    • Dự án PAPI đã nỗ lực đo lường trách nhiệm giải trình của chính quyền đối với người dân địa phương. Tuy nhiên, với thiết kế câu hỏi như hiện nay, PAPI không thể đo lường (chứ chưa nói đến việc đo lường chính xác trách nhiệm giải trình này.

     

     

    17

     

    Trường hợp thứ hai là phong trào “xé rào” trong ưu đãi đầu tư FDI của 32 tỉnh – thành phố trong giai đoạn 2001-2005 trong bối cảnh phân cấp quản lý FDI đang tiếp tục được đẩy mạnh.16 Cụ thể là các tỉnh này đã đưa ra những ưu đãi trái hoặc vượt quá khuôn khổ chính quyền trung ương quy định cho các nhà đầu tư, đặc biệt là trong các khu công nghiệp. Trước tình hình này, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định số 1387 ngày 29/12/2005 ra lệnh chấm dứt ngay lập tức các ưu đãi đầu tư trái quy định mà 32 tỉnh đang áp dụng. Nhiều bộ, trong đó có Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên Môi trường, và Văn phòng Chính phủ đã tham gia vào việc ban hành Quyết định này. Quyết định của Thủ tướng cũng đã yêu cầu UBND của tất cả 64 tỉnh thành phải báo cáo về tất cả các

     

    • phạm trong các quy định về ưu đãi đầu tư.17 32 tỉnh xé rào ngoài ra còn được yêu cầu hải báo cáo về các biện pháp mà họ đã thực hiện để khắc phục những vi phạm

    đã mắc phải. Mặc dù hạn nộp báo cáo là ngày 1 3 2006, nhưng tính đến ngày 14/3/2006, chỉ mới có 14 tỉnh nộp báo cáo, và chỉ có 4 tỉnh trong số này thừa nhận là có vi phạm. Sau đó, chính quyền trung ương một lần nữa lại yêu cầu 50 tỉnh còn lại nộp báo cáo muộn nhất là ngày 15 4 2006. Nhưng cho đến ngày 2/8/2006, vẫn còn 22 tỉnh chưa nộp. Trong số 42 tỉnh đã nộp báo cáo, một số tỉnh báo cáo một cách chiếu lệ về những biện pháp khắc phục mà không hề đưa ra một danh sách các vi phạm như chính quyền trung ương đã yêu cầu. Ví dụ này cho thấy mức độ tuân thủ của chính quyền địa phương đối với quyết định của chính quyền trung ương (còn gọi là trách nhiệm giải trình lên trên) là rất hạn chế.

     

    • Nguồn lực của đa số đ a ươ  g       t hạn chế:

    Nguồn lực nhiều hơn là điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện những trách nhiệm địa phương được phân cấp thêm. Thoạt nhìn, có vẻ như chính quyền địa phương ở Việt Nam đang được giao ngày càng nhiều ngân sách, thể hiện qua thực tế là cả tỷ lệ thu và chi của cấp chính quyền địa phương so với tổng chi tiêu liên tục tăng trong 10 năm trở lại đây (Hình 5). Cụ thể là tỷ lệ thu ngân sách của địa phương trong tổng thu ngân sách nhà nước đã tăng từ 25% vào năm 2000 lên 38% vào năm 2010. Cũng trong giai đoạn này, tỷ lệ chi ngân sách địa phương trong tổng chi ngân sách nhà nước cũng tăng tương ứng từ 45% lên tới 53%.

     

    Hình 5. Thu, chi ngân sách ĐP và chuyển giao từ TƯ (1996-2010)

     

     

    • Trích từ nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo này cần phải được đệ trình đồng thời cho các Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, Bộ Tư pháp, và VPCP.

     

     

    18

     

     

     

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

     

    Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào bức tranh thu chi ngân sách thì thấy tồn tại một số vấn đề quan trọng. Thứ nhất, tỷ lệ thu ngân sách của địa phương tăng lên trong thời gian gần đây không thực sự xuất phát từ những thay đổi cơ bản trong thiết kế phân cấp ngân sách, mà xuất phát từ việc gia tăng một số nguồn thu được để lại 100% ở địa phương, mà cụ thể là thu từ đất (lớn nhất là thuế chuyển quyền sử dụng đất). Đây là khoản thu có tính nhất thời, không thể duy trì trong dài hạn.

     

    Thứ hai, trong ngân sách chung của nhà nước, tỷ lệ thu của ngân sách địa phương vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ chi. Điều này có nghĩa là một phần rất lớn trong chi ngân sách của địa phương vẫn phụ thuộc vào các khoản chuyển giao từ chính quyền trung ương, và do vậy làm tăng sự phụ thuộc của địa phương vào trung ương. Điều này đặc biệt đúng với hơn 50 tỉnh hiện đang nhận trợ cấp từ trung ương (Hình 5).

     

    Bảng 3. Tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn (%

     

     

    2003

    2005

    2010

           

    Hà Nội

    12.5

    12.4

    17.6

    Hồ Chí Minh

    10.5

    10.1

    9.7

    Đà Nẵng

    17.3

    16.5

    15.4

    Cần Thơ

    54.4

    27.1

    36.3

    Hà Giang

    312.0

    118.7

    180.3*

    Vĩnh Phúc

    29.1

    28.8

    13.0

    Nam Định

    107.0

    174.3

    114.5

    Quảng Bình

    108.2

    109.7

    Khánh Hòa

    30.4

    24.1

    29.3

    Bình Định

    73.7

    45.2

    89.9

    Đắc Lắc

    173.8

    8.3

    77.8

    Đồng Nai

    24.3

    32.4

    26.5*

    Bình Dương

    20.7

    33.8

    25.7

       

    19

     

    Long An

    81.6

    39.9

    24.4

    Bạc Liêu

    99.9

    21.9

    4.5

    Ghi chú: * là số liệu của 2009

     

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

     

    Thứ ba, mặc dù tỷ lệ chi ngân sách địa phương tăng, song trong một phần rất lớn trong tỷ lệ tăng thêm này là những khoản chi có tính định mức, và do vậy chính quyền địa phương không hề được tự chủ mà buộc phải tuân theo. Một lần nữa, điều này đặc biệt đúng đối với các tỉnh không tự chủ được ngân sách, tức là không gian tài khóa vừa hẹp vừa thiếu khả năng tự chủ. Bảng 3 trình bày số liệu về tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn của một số địa phương có tính đại diện cho các mức độ phát triển và vùng miền khác nhau trong các năm 2003, 2005 (là hai năm trước và sau khi Luật Ngân sách 2002 có hiệu lực và 2010 (là năm gần nhất có số liệu). Kết quả cho thấy tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối của các địa phương là hết sức khác nhau, thấp nhất là Hồ Chí Minh chỉ có 9,7%, cao nhất là Hà Giang, lên tới 180%. Rõ ràng là với tỷ lệ chi thường xuyên cao như thế này, tất cả nguồn thu cân đối trên địa bàn của Hà Giang chỉ đáp ứng được phân nửa nhu cầu chi thường xuyên, làm cho ngân sách của tỉnh luôn thâm hụt nặng, và vì vậy hoàn toàn không tự chủ.

     

    • Quy mô đ a ươ g nhận phân c           ươ g đối nhỏ

    Số lượng tỉnh khá lớn làm cho quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp ở Việt Nam tương đối nhỏ. Trên thực tế, đây là đặc điểm chung của các nước Đông Nam

     

    • Nếu so với các nước Đông Bắc Á thì quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp – được đo bằng diện tích, dân số và GDP trung bình, của các nước Đông Nam Á nhỏ hơn rất nhiều (Bảng 4).

    Bảng 4. Quy mô của đơn vị phân cấp: Đông Bắc Á sv. Đông Nam Á (2010

     

     

    Số đơn vị

    Diện tích trung

    Dân số trung

    GDP trung

     

    Nước

    bình (triệu

    phân cấp

    bình (km2)

    bình (tỷ USD)

     
     

    người)

             

    Đô g Á

             

    China

    34

    282.264

    38,6

    175,0

     

    South Korea

    9

    10.010

    5,5

    112,8

     

    Japan

    47

    8.041

    2,7

    116,8

     

    Đô g Nam Á

             

    Thailand

    75

    6.842

    0,9

    4,3

     

    Việt Nam

    63

    5.257

    1,4

    1,6

     

    Philippines

    80

    3.750

    1,2

    2,5

     

    Với quy mô như thế này, các địa phương không tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời không giải quyết được một cách hiệu quả các vấn đề ngoại tác.

     

    20

     

    Không những thế, quy mô nhỏ cùng với số lượng đơn vị phân cấp nhiều còn có thể dẫn tới sự cạnh tranh quyết liệt giữa các địa phương.

     

     

     

     

    Hình 6. Sự chia cắt thể chế ở Việt Nam: Sân bay, cảng biển, khu kinh tế ven biển

     

         

    Sân bay

    Cảng biển

    Khu kinh tế ven biển

         

    Trên một số phương diện, chẳng hạn như xây dựng môi trường kinh doanh hay thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, sự cạnh tranh này là lành mạnh và đưa đến những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trên nhiều phương diện khác, đặc biệt là liên quan đến việc tranh giành các nguồn lực cũng như sự ưu ái từ trung ương thì hệ quả có thể hết sức tiêu cực. Cụ thể là địa giới hành chính có thể bị biến thành địa giới kinh tế giữa các địa phương, nền kinh tế quốc gia bị chia cắt thành vô số mảnh nhỏ, đầu tư

     

    21

     

    công bị dàn trải và dẫm chân lên nhau – những điều trên thực tế đã và đang xảy ra ở Việt Nam (xem

     

     

     

    Hình 6).

     

    1. b) Phân c đồng loạ v    đại trà

    Nếu xét địa phương như là đơn vị phân cấp thì các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam được chia ra thành ba nhóm. Nhóm một gồm Hà Nội và Hồ Chí Minh được hưởng chính sách phân cấp đặc biệt.18 Nhóm hai gồm ba thành phố trực thuộc trung ương còn lại, bao gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, và Cần Thơ, với hưởng chính sách phân cấp không rộng rãi như nhóm một, nhưng thông thoáng hơn so với nhóm ba, bao gồm 58 tỉnh còn lại, được hưởng chung một chính sách phân cấp, bất chấp sự khác nhau hiển nhiên về quy mô, không gian tài khóa, nguồn lực, năng lực v.v. của những địa phương này. Việc có một tấm áo phân cấp chung cho hầu như tất cả các địa phương là điều có thể hiểu được từ góc độ chính quyền trung ương, song điều này hạn chế hiệu quả của chính sách phân cấp.19 Một hệ thống phân cấp hiệu quả sẽ điều chỉnh mức độ tự quyết của chính quyền mỗi tỉnh sao cho phù hợp nhất với năng lực của chính quyền tỉnh đó. Tất nhiên, khi không gian phân cấp của một địa phương nào đó trở nên rộng rãi hơn thì cũng cần phải quy định trách nhiệm giải trình chặt chẽ hơn và công tác điều hành của chính quyền của địa phương đó phải minh bạch hơn.

     

    1. c) Phân c k ô g đồng bộ

    Phân cấp ở Việt Nam không cân đối trên ít nhất hai khía cạnh. Thứ nhất là các nội dung khác nhau của phân cấp không song hành với nhau, và do vậy không những không tạo ra tác dụng cộng hưởng mà còn hạn chế hiệu quả của phân cấp. Chẳng hạn như phân

     

    • Chẳng hạn như về phân cấp ngân sách, xem Nghị định 123/2004/NĐ-CP và 124/2004/NĐ-CP về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Hà Nội và Hồ Chí Minh.

     

    • Xem thêm Ninh Ngọc Bảo Kim và Vũ Thành Tự Anh (2008).

     

     

    22

     

    cấp về quản lý đất đai (đặc biệt là liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất), quản lý FDI, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã diễn ra khá mạnh mẽ, song lại không được đi kèm với phân cấp chính trị. Điều này có nghĩa là không gian tự quyết của địa phương được mở rộng, nhưng cơ chế để buộc chính quyền địa phương hành động thực sự vì lợi ích của người dân địa phương không được cải thiện một cách tương ứng. Kết quả là không gian tự chủ rộng rãi hơn này có thể bị lạm dụng, thậm chí đi ngược lại lợi ích của một bộ phận dân chúng địa phương.

     

    Khía cạnh không cân đối thứ hai tồn tại giữa các cấp chính quyền khác nhau ở địa phương. Ví dụ như cho đến thời điểm này, chính sách dân chủ cơ sở chủ yếu mới dừng lại ở cấp độ phường, xã, và thị trấn; trong khi chính quyền cấp tỉnh mới là đối tượng tiếp nhận quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu trong phân cấp. Sự bất cân xứng này, một lần nữa, vừa làm yếu tiếng nói của người dân vừa làm giảm trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.

     

    ) Cá    ơ       ế giám sát và phối hợp còn thiếu và yếu

     

    Đây là một hạn chế được tổng kết trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP, nhưng cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên vẹn. Như các phần trên đã phân tích, quan hệ giữa các địa phương với nhau hiện nay mang tính cạnh tranh nhiều hơn là phối hợp. Mặc dù có tồn tại một số cơ chế điều phối vùng, chẳng hạn như thông qua các Ban chỉ đạo vùng, song Ban chỉ đạo này hoạt động trên cơ sở kiêm nhiệm và bán thời gian, trung bình một năm chỉ gặp nhau vài lần. Hơn nữa, nguồn lực về con người, tài chính, và tổ chức của các Ban chỉ đạo đều rất hạn chế. Tất cả những điều này dẫn đến một hệ quả là việc phối hợp giữa các địa phương với nhau hiện nay rất lỏng lẻo.

     

    Về phương diện giám sát, một cơ chế ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng là thông qua các cơ quan đại biểu dân cử. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, hiệu quả và hiệu lực của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp còn rất hạn chế. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân có tính kỹ thuật và những nguyên nhân có tính thể chế. Về phương diện kỹ thuật, thời gian, ngân sách, và các nguồn lực khác phục vụ cho hoạt động giám sát hết sức hạn chế, đồng thời nguồn thông tin và dữ liệu không đủ, dẫn đến các cơ quan dân cử không thể sâu sát trong việc giám sát hoạt động của UBND. Về phương diện thể chế, tỷ lệ chuyên trách của đại biểu HĐND rất thấp (chỉ khoảng từ 10% đến 30% tùy từng địa phương . Điều này có nghĩa là đa số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, chủ yếu là công chức nhà nước. Bên cạnh đó, hơn 90% số đại biểu là Đảng viên. Như vậy, câu hỏi đặt ra là những đại biểu này đại diện cho ai, cho dân, cho chính quyền, cho Đảng, hay cho cả ba?

     

    1. d) Hạn chế xu t phát từ sự ươ g  á       giữa chính sách phân c p với môi       ường thể chế

     

     

    23

     

    Phần này sẽ minh họa một luận điểm được nêu ra ở một phần trước, đó là kết quả của chính sách phân cấp phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thể chế và chính sách trong đó chính sách phân cấp được thiết kế và thực hiện.

     

    Chẳng hạn như khi tốc độ (chứ không phải chất lượng tăng trưởng GDP được sử dụng làm thước đo gần như duy nhất cho thành tích phát triển kinh tế thì một cách tự nhiên, mỗi địa phương sẽ tìm mọi cách để có tốc độ tăng GDP cao hơn, trong đó cách đơn giản nhất có lẽ là tăng đầu tư từ nguồn xin được của trung ương. Hơn nữa, do không có cơ chế điều phối hữu hiệu giữa các địa phương trong cùng một vùng nên các các tỉnh đều mạnh ai nấy xin trung ương, mạnh ai nấy đầu tư, cho dù có thể biết rằng làm như vậy sẽ khiến hiệu quả đầu tư chung của cả vùng giảm sút. Kết quả là vô hình trung, địa giới hành chính đã trở thành biên giới kinh tế giữa các địa phương, và nền kinh tế quốc gia bị phân rã thành 63 nền kinh tế nhỏ, kém hiệu quả.

     

    Bên cạnh đó, tư duy “nhiệm kỳ” khiến việc chạy đua GDP càng trở nên gấp gáp, và thường thì quyết định càng vội vã, xác suất phạm sai lầm càng lớn, nhất là khi người ra quyết định nhiệm kỳ sau không còn ở đó để nhận lãnh trách nhiệm cho quyết định của mình. Như vậy, trong bối cảnh thể chế hiện nay, tầm nhìn của lãnh đạo địa phương bị giới hạn về cả không gian (địa giới hành chính) và thời gian (nhiệm kỳ 5 năm .

     

    Các tỉnh nghèo sẽ tham gia cuộc đua tăng trưởng này bằng cách nào? Rõ ràng khi đang nhận trợ cấp của trung ương thì chúng không thể chạy đua nếu chỉ dựa vào nguồn ngân sách của bản thân mình. Vì vậy, các tỉnh này buộc phải dựa vào các yếu tố đến từ bên ngoài, có thể là từ nhà nước trung ương hoặc từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với công thức ngân sách như hiện nay, các tỉnh sẽ có rất ít động cơ để tiến tới tự cân đối thu chi tài khóa. Cụ thể là phương trình cân bằng tài khóa địa phương như sau:

     

    A = B + t.C + T

     

    Trong đó:

    • A = Tổng chi ngân sách của địa phương

     

    • B = Các khoản thu NSĐP hưởng 100%

     

    • C = Các khoản thu chia sẻ giữa TƯ và ĐP

     

    • t = Tỷ lệ phân chia

     

    • T = Chuyển giao (trợ cấp) từ TƯ cho ĐP

    Theo công thức này:

     

    • Nếu A > B + C thì NSTƯ sẽ bù thông qua trợ cấp (hay chuyển giao) T = A – (B + C). Tất nhiện khi ấy tỷ lệ phân chia ngân sách t = 100%.

     

    • Nếu A ≤ B + C thì NSTƯ không bù, nghĩa là T = 0 và tỷ lệ phân chia ngân sách t = (A – B)/C

     

     

    24

     

    Rõ ràng là với phương trình tài khóa và công thức chia sẻ ngân sách như thế này, các địa phương sẽ có động cơ tăng chi và giảm (hay giấu) nguồn thu – cả hai động cơ này đều có tác động tiêu cực đến sự lành mạnh của nền tài khóa quốc gia. Không những thế, nó còn tạo ra sự ỷ lại của địa phương, do vậy hạn chế sự nỗ lực cải thiện và nuôi dưỡng nguồn thu, đồng thời cải thiện hiệu quả của chi tiêu ngân sách.

     

    Có ý kiến cho rằng tình trạng đầu tư tràn lan của các địa phương hiện nay có nguồn gốc từ chính sách phân cấp quá mức. Điển hình là trong thời gian vừa qua, hiện tượng phát triển các khu, cụm công nghiệp và sân golf mang tính phong trào vì giờ đây chỉ bằng một quyết định của chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, hàng trăm héc-ta đất nông nghiệp có thể được chuyển thành đất công nghiệp hay thương mại.20 Mặc dù không thể phủ nhận một thực tế là nhiều địa phương đã lợi dụng nhiều khe hở của quá trình phân cấp nhưng suy đến cùng, chính sự thiếu giám sát, điều phối và kỷ luật lỏng lẻo của trung ương cùng với chất lượng quy hoạch thấp là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới tình trạng đầu tư lan tràn, chồng chéo, và kém hiệu quả (Bảng 5).

     

    Bảng 5. Trách nhiệm và thẩm quyền của TƯ và ĐP trong đầu tư công

     

             

    Cảng

         

    Sân

         

    Khu

         

    Quốc lộ

         

    Điện

     
                                       
                                       
             

    biển lớn

         

    bay

         

    kinh tế

                 
                                           
                                                 
                                             
                                             
     

    Quy hoạch

         

         

         

         

         

     
                                                 
                                         
     

    Thẩm định

         

         

         

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Phê duyệt

         

         

         

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Tài trợ

         

         

         

    TƯ ĐP

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Thực hiện

         

         

         

    TƯ/ĐP

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Giám sát

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Kiểm toán

         

         

         

    TƯ ĐP

         

         

     
                                     
                                                 
                                                 

    Một ví dụ minh họa là trường hợp cảng biển, theo quy hoạch (Quyết định 2190 QĐ-TTg ngày 24 12 2009 thì đến năm 2020 cả nước sẽ có 39 cảng biển với khoảng 100 khu bến cảng tổng hợp. Thế nhưng từ bản phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng đến bản quy hoạch chi tiết của Bộ Giao thông – Vận tải, số lượng bến cảng không ngừng mọc thêm. Lấy ví dụ như nhóm cảng số 6 ở ĐBSCL. Theo Quyết định 2190 QĐ-TTg thì ĐBSCL sẽ có 14 cảng biển với 21 bến tổng hợp. Chưa đầy 2 năm sau, đến Quyết định 1746 QĐ-

     

    • Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong giai đoạn 2000 – 2010, trung bình mỗi năm có

     

    • 300 héc-ta đất nông nghiệp bị thu hồi để chuyển thành đất công nghiệp, đô thị và hạ tầng.

    25

     

    BGTVT ngày 3/8/2011 về quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển ĐBSCL, con số bến tổng hợp đã tăng lên 27. Đấy là chưa kể đến 21 bến cảng chuyên dùng, phục vụ cho hoạt động kinh doanh xăng dầu, gas, và nhiệt điện cũng mới được đưa vào quy hoạch.

     

    Sự phân mảnh về thể chế không chỉ nằm ở phạm vi của các tỉnh, giữa chính quyền trung ương và địa phương, mà còn giữa những bộ ngành khác nhau của trung ương. Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Việt Nam 2010 của Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương và Trường Chính sách công Lý Quang Diệu đã nhận định rằng việc hoạch định chính sách ở Việt Nam “thiếu tầm nhìn, thiếu trọng tâm và xác định thứ tự ưu tiên

     

    • Mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí xung đột giữa các chính sách và các quy định khác nhau, thiếu sự gắn kết giữa kế hoạch ngắn hạn và chiến lược dài hạn”21. Báo cáo này

    cũng chỉ ra rằng nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế này là do “thiếu sự phối hợp liên ngành trong xây dựng nội dung cũng như thực hiện chính sách” và thiếu cơ chế để buộc các bộ làm việc cùng nhau”.

     

    Kết luận

     

    Sau một phần tư thế kỷ đẩy mạnh phân cấp, Việt Nam hiện đang đứng ở ngã ba đường. Nhìn từ góc độ toàn xã hội, có thể nói rằng nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới được bắt nguồn từ quá trình phân cấp thị trường, và đây đồng thời là những thành công quan trọng nhất của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Cốt lõi của những cải cách thành công trong quá trình Đổi mới chính là sự rút lui của nhà nước và trỗi dậy của thị trường. Trong nội bộ hệ thống nhà nước, phân cấp đã giúp chính quyền các tỉnh có nhiều không gian chính sách và quyền tự chủ hơn trong việc theo đuổi các mục tiêu của họ. Đặc biệt, phân cấp ngân sách đã cho phép chính quyền ở các địa phương có thặng dư ngân sách trở nên linh hoạt hơn trong việc huy động và phân bổ nguồn lực của họ. Ngoài ra, việc phân cấp quản lý FDI cũng giúp cho chính quyền địa phương gần như có toàn quyền tự chủ trong việc cấp giấy phép FDI.

     

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ tăng tốc phân cấp, kết quả đạt được thua xa so với kỳ vọng của chính phủ. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính

     

    • Xem phần “Hoạch định chính sách kinh tế ở Việt Nam”, tr. 69-70.

     

     

    26

     

    sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

     

    Những hạn chế của phân cấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thực tế là cho đến tận ngày hôm nay, Việt Nam vẫn còn thiếu ngay cả những điều kiện tiền đề cơ bản cho phân cấp thành công. Đầu tiên phải kể đến sự thiếu ý chí chính trị. Quan điểm chủ đạo của chính thể hiện nay vẫn là tăng cường tập trung hóa và nhất thể hóa về chính trị và quản lý nhà nước. Biểu hiện cụ thể của tư tưởng này là nguyên lý “phân cấp từ trên xuống” và duy trì “vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước” bất chấp sự yếu kém của khu vực này.

     

    Thứ hai, môi trường thể chế và quản trị của Việt Nam còn yếu kém. Thông tin chưa minh bạch, tiếng nói của người dân, doanh nghiệp, và xã hội dân sự còn yếu ớt, trách nhiệm giải trình hai chiều của chính quyền còn hạn chế. Tất cả những điều này triệt tiêu phần lớn tác dụng kỳ vọng cải thiện hiệu quả của khu vực công thông qua việc đưa chính quyền đến gần người dân hơn nhờ phân cấp.

     

    Thứ ba, về phương diện chính sách, phân cấp ở Việt Nam còn khập khiễng. Trong khi phân cấp thị trường, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã được đẩy mạnh thì phân cấp chính trị và nhân sự hầu như chưa xảy ra. Bên cạnh đó, năng lực của các cấp chính quyền còn yếu, và càng xuống cấp chính quyền thấp hơn thì hạn chế về năng lực càng được bộc lộ rõ. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, phân cấp không đi đôi với bổ sung nguồn lực, khiến cho chính quyền địa phương, cả giàu lẫn nghèo, đều luôn phải chịu áp lực quá tải. Không những thế, với công thức chia sẻ ngân sách được quy định bởi Luật Ngân sách hiện nay, các địa phương không có nhiều động cơ để nuôi dưỡng và huy động nguồn thu. Thêm nữa, việc áp dụng một chính sách phân cấp như nhau cho hầu hết các tỉnh làm vấn đề trở nên trầm trọng vì nó áp đặt thêm một số hạn chế đối với chính quyền địa phương về sự linh hoạt trong huy động nguồn lực và phát triển các chính sách sáng tạo, mà đến lượt mình điều này lại làm cho sự phân cấp trở nên không hiệu quả.

     

    Thứ tư, từ góc độ quản lý nhà nước, việc thực hiện phân cấp đòi hỏi phải có sự tham gia và phối hợp giữa các bộ ngành và giữa các tỉnh với nhau. Tuy nhiên, do thiếu sự liên kết, phối hợp, và hợp tác ở tất cả các cấp nên quá trình phân cấp trên thực tế tạo ra tình trạng cát cứ và chia cắt trong hệ thống quản lý nhà nước (cụ thể là giữa các bộ ngành và các địa phương cũng như một cuộc chạy đua xuống đáy giữa các tỉnh.22 Liên quan đến sự giám sát chính sách phân cấp, mặc dù vai trò của Hội đồng nhân dân đã được cải thiện, nhưng tính hiệu quả và hiệu năng của cơ quan này vẫn còn hạn chế cả về khía cạnh thể chế lẫn kỹ thuật.

     

    • See Vu Thanh Tu Anh, Le Viet Thai, and Vo Tat Thang (2007).

     

     

    27

     

    Cuối cùng, ở những khía cạnh kỹ thuật hơn, quy mô của các tỉnh ở Việt Nam quá nhỏ để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô cũng như để nội hóa các ngoại tác liên tỉnh. Hơn nữa, việc có quá nhiều tỉnh như vậy cũng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh thay vì là sự hợp tác giữa các tỉnh này với nhau, mà điều này lại làm tăng chi phí và làm xói mòn các lợi ích của sự phân cấp.

     

    Đối với Việt Nam, để thiết kế một chính sách phân cấp có hiệu quả, ưu tiên trước hết là phải chuẩn bị các điều kiện tiền đề – và điều này chỉ có thể có nếu như Chính phủ thực sự thay đổi quan niệm hẹp về phân cấp (chỉ bao hàm phân cấp quản lý kinh tế) và chấp nhận một sự thay đổi cơ bản về vai trò của nhà nước. Đây là quyết định chính trị chứ không phải quyết định kinh tế, và tương lai phân cấp của Việt Nam phụ thuộc một cách cơ bản vào quyết định chính trị này.

     

     

     

     

     

     

     

    28

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. CECODES, TCMT, BDN & UNDP (2012). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân.
    1. Cộng đồng các nhà tài trợ (2009). Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010: Các thể chế hiệ đại.
    1. Musgrave, Richard, 1986. “The Economics of Fiscal Federalism.” In: Richard Musgrave,

    Public Finance in a Democratic Society, Collected Papers. Vol. 2. New York University Press.

     

    1. Oates, Wallace (1972). Fiscal Federalism. New York: Harcourt Brace.
    1. Oates, Wallace and Robert Schwab (1988). Economic Competition Among Jurisdictions: Efficiency Enhancing or Distortion Inducing? Journal of Public Economics 35: 33-354.
    1. Oates, Wallace (1999). An Essay on Fiscal Federalism. Journal of Economic Literature, Vol.XXXVII (September): 1120-1140.
    1. Olson, Mancur (1969). The Principle of Fiscal Equivalence: The Division of Responsibilities among Different Levels of Government, American Economic Review, Papers and Proceedings, 59(2), 479-487.
    1. Shah, Anwar (2004). Fiscal Decentralization in Developing and Transition Economies: Progress, Problems, and the Promise. World Bank Policy Research Working Paper 3282.
    1. Stigler, George (1957). The Tenable Range of Local Functions. Reprinted in Wallace Oates, editor, (1998), pp.3-9.
    1. Willis, Garman and Haggard (1999). The politics of decentralization in Latin America. Latin American Research Review, Winter 1999, volume 34, issue 1: 7-46.
    1. World Bank (2001). Decentralization in the Transition Economies: Challenges and the Road Ahead. Europe and Central Asia Region.
    1. World Bank (2010). Local Government and Decentralization Project. Có thể truy cập từ địa chỉ: http://www.worldbank.org/projects/P111577/local-government-decentralization-project?lang=en

     

     

     

    29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tài liệu ôn thi giữa kì 90 Câu trắc nghiệm môn Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương Incoterm 2000 và Incoterm 2010


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-NGO%E1%BA%A0I-TH%C6%AF%C6%A0NG-C%E1%BB%A6A-C%C3%81C-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TR%C3%8AN-TH%E1%BA%BE-GI%E1%BB%9AI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Chương 4

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    I- Chính sách ngoại thương:

    1- Khái niệm về chính sách ngoại thương:

    Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực ngoạüi thương của một nước trong thời kỳ nhất định.

    Chính sách ngoại thương là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế của một nước, nó góp phần thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ. Mục tiêu phát triển kinh tế của một đất nước trong từng thời kỳ có khác nhau, cho nên đường lối chính sách ngoạ i thương phải thay đổi để đạ t được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế. Không có chính sách ngoại thương áp dụng cho mọi thời kỳ phát triển kinh t ế. Tuy nhiên, các chính sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và bành trướng ra bên ngoài.

    Mỗi nước đề u có những đặc thù chính trị, kinh tế – xã hội và điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế, vì vậy mỗi nước đều có chính sách phát triển ngoại thương riêng với các biện pháp cụ thể

    2- Ý nghĩa của việc nghiên cứu chính sách ngoại

    TOP

     
    thương:
       

    Đối với các nhà quản lý và doanh nghiệp của sản xuất và thương mại, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương của các nước có ý nghĩa quan trọng:

    • Giúp rút ra những kinh nghiệm về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách ngoại thương của đất nước một cách có khoa học và hiệu quả nhất.
    • Nắm rõ chính sách ngoại thương của các nước mới tìm cách xâm nhập và phát triển thị trường, chọn thị trường thích hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương.
    • Giúp các nhà lãnh đạo ở tầm vĩ mô xây dựng chính sách đối ngoại song phương và đa phương phù hợp.
    • Riêng đối với môn học, việc nghiên cứu chính sách ngoại thương sẽ giúp học viên khái quát được chính sách ngoạüi thương trên thế giới và cụ thể những nước thường có quan hệ mậu dịch với nước ta, từ đó có kiến thức cơ bản để hiểu rõ hơn chính sách ngoại thương của nhà nước, tạo điều kiện vận dụng làm tốt công tác chuyên môn trong lĩnh vực ngoại thương.

    3- Các phương pháp áp dụng trong chính sách ngoại

    TOP

     
    thương
       

    :

    Phương pháp ở đây có nghĩa là cách thức thực hiện những mục tiêu mà chính sách ngoại thương đề ra thông qua việc lựa chọn những biện pháp áp dụng thích hợp. Có hai phương pháp:

    • Phương pháp tự định: Nhà nước tự mình quyết định những biện pháp ngoại thương khác nhau với mức độ khác nhau trong các quan hệ buôn bán với nước ngoài.

    Cơ sở để thực hiện phương pháp tự định là quyền độc lập, tự chủ, tự quyết của mỗi quốc gia. Các chính phủ căn cứ vào tình hình kinh tế trong và ngoài nước để đưa ra các biện pháp thuế quan, hạn chế về số lượng, các biện pháp tài chính tiền tệ phi thuế quan… đối với từng ngành hàng, từng quan hệ buôn bán với nước ngoài với mức độ khác nhau để thực hiện các mục tiêu ngoại thương đề ra.

    Trong xu thế nhất thể hóa khu vực và toàn cầu như hiện nay, phương pháp tự định đang giảm dần vai trò của mình trong việc xây dựng chính sách ngoại thương của từng nước. Tuy nhiên, nó vẫn được xây dựng ở các quốc gia có nền kinh tế mạnh, chi phối quan hệ kinh tế tài chính toàn cầu như Mỹ.

    • Phương pháp thương lượng: Nhà nước thực hiện thương lượng với các bên tham gia quan hệ buôn bán thỏa thuận. lựa chọn các biện pháp và mức độ áp dụng nó vào quan hệ buôn bán lẫn nhau

    Phương pháp này được thực hiện dưới hình thức ký kết những điều ước hiệp định mậu dịch tự do song phương và đa phương. Ví dụ như 148 nước đã ký kết vào các hiệp định của tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong quan hệ buôn bán với các nước khác trên thế giới. Ngày nay, việc sử dụng phương pháp này ngày càng phổ biến, phù hợp với quy luật phát triển nhất thể hóa kinh tế khu vực và toàn cầu

    II- Các nguyên tắc điều chỉnh buôn bán TOP

     

    quốc tế:

    Có 3 nguyên tắc thường được sử dụng để điều chỉnh:

    1- Nguyên tắc tương hỗ:   TOP

    Trên nguyên tắc này các bên dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau trong quan hệ mua bán.

    Mức độ ưu đãi và điều kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Bên yếu hơn sẽ bị lép vế và thường bị buộc phải chấp nhận những điều kiện do bên có thực lực kinh tế mạnh hơn đưa ra.

    Ngày nay, các nước ít áp dụng nguyên tắc này hơn trong quan hệ buôn bán giữa các nước.

    2- Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (Most Favoured

    TOP

     
    Nation)
       
    • Nước được ưu đãi nhất:

    2.1- Khái niệm:

    Nguyên tắc “ Tối huệ quốc “ (MFN) là biểu hi ện của vi ệc “ không phân biệt đối xử “ trong quan hệ mậu dịch giữa các nước. Nó có nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặ c sẽ dành cho các n ước khác. Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:

    Cách thứ nhất: Tấ t cả những ưu đãi và mi ễn gi ảm mà một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế – thương mại quốc tế đã hoặc sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng được dành cho bên tham gia kia được hưởng một cách không điều kiện.

    Cách thứ hai: Hàng hóa di chuyển từ một bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các phí tổn cao hơ n, không bị chịu những thủ tục phiền hà hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ nước thứ ba khác.

    Theo luật pháp quốc tế thì điều chủ yếu của quy chế tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền, mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế.

    Mục đích của việc s ử dụng nguyên tắc MFN trong buôn bán quốc tế là nhằm chống phân biệt đối xử, làm cho điều ki ện cạnh tranh giữa các bạ n hàng ngang bằng nhau, nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển. Mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc MFN còn phụ thuộc vào mức độ quan hệ thân thiện giữa các nước với nhau

    2.2- Cách thức áp dụng nguyên tắc MFN:

    Nguyên tắc MFN được các nước tùy vào lợi ích kinh tế của mình mà áp dụng rất khác nhau, nhìn chung có hai cách áp dụng:

    Cách thứ nhất: Áp dụng chế độ t ối huệ quốc có điều kiện: Quốc gia được hưở ng tối huệ quốc phả i chấp nhận thực hiện những điều kiện kinh tế và chính trị do Chính phủ của quốc gia cho hưởng đòi hỏi.

    Cách thứ hai: Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện: là nguyên tắc quốc gia này cho quốc gia khác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện ràng buộc nào cả.

    Để đạt được chế độ MFN của một quốc gia khác, có hai phương pháp thực hiện:

    + Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương mại

    + Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

    2.3- Chế độ tối huệ quốc dành cho các nước đang phát triển:

    Nghiên cứu chế độ tối huệ quốc cần phải nghiên cứu chế độ MFN đặc biệ t dành cho các nước chậm ti ến và đang phát triển thông qua chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (Generalized System of Preference).

    GSP là hệ thống ưu đãi về thuế quan do các nước công nghiệp phát triển dành cho một số sả n phẩm nhất định mà họ nhập khẩu từ các nước đang phát triển (gọi là các nước nhận ưu đãi).

    Lần đầu tiên Hội nghị của Liên Hiệp quốc về Thương M ại và phát triển (UNCTAD) năm 1968 thông qua việc áp d ụng hệ thống thuế quan ưu đãi chung (GSP) dành cho các nước đang phát triển t ăng khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường, khuyến khích phát triển công nghiệp đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của các nước này.

    Nội dung chính của chế độ GSP là:

    • Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang hoặc kém phát triển.
    • GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến

    Đặc điểm của việc áp dụng GSP:

    • Không mang tính chất cam kết: Chính sách GSP thay đổi từng thời kỳ; số nước cho ưu đãi và nhận ưu đãi không cố định. Hiện nay có đến 16 chế độ GSP bao gồm 27 nước cho ưu đãi và 128 nước, vùng lãnh thổ được nhận ưu đãi.
      • GSP chỉ dành cho các nước đang phát triển: Trong quá trình thực hiện GSP, các nước công nghiệp phát triển kiểm soát và khống chế các nước nhận ưu đãi rất chặt, biểu hiện ở cách quy định về nước được hưởng GSP. Ví dụ như EU quy định nước đang phát triển nào có thu nhập GDP tính trên đầu người cao hơn 6000USD/năm thì không còn được hưởng GSP nữa.

    Quy định đối với hàng hóa được hưởng chế độ GSP:

    Không phải bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu vào các nước cho hưởng từ những nước được hưởng đều được miễn hay giảm thuế theo GSP. Để được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi GSP, hàng nhập khẩu vào thị trường những nước cho hưởng phải thỏa mãn 3 điều kiện cơ bản sau:

    • Điều kiện xuất xứ từ nước được hưởng
    • Điều kiện về vận tải (ví dụ như hàng vận chuyển không qua lãnh thổ của nước thứ ba hoặc không bị mua bán, tái chế…tại nước thứ ba)
    • Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ ( chứng từ xác nhận xuất xứ From A)

    2.4- Chế độ tối huệ quốc của một số nước trên thế giới:

    2.4.1- Quy chế GSP của EU:

    Quy chế 2501/2001 của EU về GSP được áp dụng từ ngày 01/01/2002 đến

    31/12/2004 cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. So với qui chế áp dụng trong thời

    gian từ 1999 đến 2001, qui chế này đơn giản hơn, chỉ chia hàng hóa làm hai loại, nhạy

    cảm và không nhạy cảm. Các nước khác nhau sẽ được hưởng những mức thuế GSP khác

    nhau theo cách sắp xếp nhằm khuyến khích bảo vệ quyền lợi người lao động và môi

    trường … được định ra trong phụ lục I của qui chế. Cách sắp xếp các dạng khuyến khích

    được chia ra như sau:

    Danh mục chung

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo hộ quyền lợi người lao động

    Danh mục đặc biệt khuyến khích bảo vệ môi trường Danh mục đặc biệt cho các nước chậm phát triển nhất

    Danh mục đặ c biệt khuyến khích đấu tranh chống sản xuất và vận chuyển ma túy. Các nước được hưởng GSP của EU chủ yếu là các nước G77 và các nước chậm

    phát triển nhất LDC. Ngoài ra, các LDC được hưởng những ưu đãi đặc biệt hơn, tương thích với chương trình EBA (Everything But Arms) của EU dành ưu tiên thuế quan và không áp đặt hạ n ngạch mọi mặt hàng trừ vũ khí và đạn dược; riêng chuối tươ i, g ạo và đườ ng áp dụng hạ n ngạch với số lượng tăng dần và bỏ hẳn vào các năm 2006 và 2009 cho 49 nước chậm phát triển nhất.

    Mỗi danh mục GSP khác nhau bao gồm nhiều loạ i sản phẩm khác nhau, các nước nằm trong danh mục khác nhau sẽ nhận ưu đãi thuế quan khác nhau cho cùng một mặt hàng.

    Các nước nằm trong danh mục chung sẽ được hưởng GSP 7000 mặt hàng (trong 10.300 dòng hàng của biểu thuế quan, trong đó có 2.100 mặt hàng thuế suất MFN đã là 0%), trong đó có khoảng 3.300 mặt hàng không nhạy cảm và 3.700 mặt hàng nhạy cảm, dĩ nhiên GSP cũng loại trừ hàng hóa chương 93 trong biểu thuế, vũ khí và đạn dược.

    Riêng các LDC đượ c khoảng 8.200 mặt hàng. Các nướ c trong danh mục đặc biệt sẽ được hưởng ưu đãi nhiều hơn so với trong danh mục chung, ví dụ như các nước thuộc diện khuyến khích không sản xuất và vận chuyển ma túy, được miễn thuế hoàn toàn đối với sản phẩm nông nghiệp (chương 1 đến chương 24) là những mặt hàng trong danh mục chung được phân là “nhạy cảm”

    Ưu đãi thuế quan GSP dựa vào mức thuế MFN và giảm t ỷ lệ thuế xuống, tuy nhiên có những trường hợp giảm hẳn bằng cách tr ừ đi một t ỷ lệ thuế nhất định. Ví dụ, trong danh mục chung, hàng hóa thuộc chương 50 đến 63 sẽ được giảm 20% thuế MFN, còn hàng hóa nhạy cảm trong phụ lục IV sẽ được giảm đi (trừ đi) 3,5%.

    Tất cả các loạ i hàng hóa này nếu muốn được hưởng ưu đãi thuế quan đều phải tuân thủ quy định về xuất xứ hàng hóa của EU

    Thông tin chi tiết về qui chế GSP của EU có thể tìm trên trang web http://www.eurunion.org/legislat/gsp/gsp.htm

    2.4.2- Chế độ MFN và GSP của Mỹ:

    • Chế độ MFN: Tính đến hết 1997, Mỹ đã cho 164 nước hưởng quy chế MFN trong buôn bán với Mỹ. Các nước Đông Âu và Châu Á đã giành được MFN của Mỹ như Rumani (1975), Hungary (1990), Tiệp khắc (1990), Đông Đức (1990), Bungary (1991), Trung Quốc (1980), Mông Cổ (1991) và Campuchia (1996).

    Những nước được hưởng chế độ MFN bình quân thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa là 9%, trong khi đó thuế nhập khẩu bình thường không được hưởng chế độ MFN thuế bị đánh cao gấp 7 lần. Chẳng hạn năm 1990, trị giá hàng nhập khẩu vào Mỹ từ Trung quốc là 19 tỷ USD, nếu không được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu sẽ trên 2 tỷ USD, tuy nhiên, do được hưởng quy chế MFN thuế nhập khẩu chỉ là 354 triệu USD.

    • Chế độ GSP của Mỹ mang tính đơn phương, không ràng buộc điều kiện có đi có lại, mức thuế nhập khẩu hàng từ các nước nhận ưu đãi vào Mỹ bằng 0.

    Mỹ thường áp dụng chế độ MFN và GSP có điều kiện để gây sức ép về chính trị và kinh tế với các bạn hàng. Ví dụ, đối với Trung Quốc, từ tháng 2/1980 Mỹ cho hưởng chế độ MFN để kềm chế Trung Quốc phải nhượng bộ trong các vấn đề nhân quyền ở Tây Tạng, vấn đề Đài Loan… Hoặc trong Luật Thương Mại năm 1974, có quy định cấm Tổng Thống không cho các nước hưởng chế độ GSP như các nước Cộng Sản (trừ trường hợp

    sản phẩm của nước đó là thành viên của GATT/WTO và IMF, hoặc nước đó không bị Chủ nghĩa Cộng sản quốc tế khống chế)

    Đối với Việt Nam, dù đàm phán song phương hay đa phương, Mỹ cũng đòi hỏi Việt Nam áp dụng quy chế của GATT/WTO với các nguyên tắc cơ bản là:

    • Không phân biệt đối xử giữa các nước bạn hàng, thể hiện trong điều khoản về tối huệ quốc.
    • Đối xử như nhau giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước (quy chế đối xử trong nước NT – National Treatment).
    • Thực hiện các chính sách cởi mở và tự do. Bảo hộ bằng thuế quan ở mức thấp và chỉ áp dụng hạn chế số lượng trong một số trường hợp đặc biệt.
    • Cam kết thực hiện lịch trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan.
    • Chính sách và luật pháp phải rõ ràng, công khai.

    Bên c ạnh những mặt lợi thế có thể mang lại, việc chấp nhận các nguyên tắc này đang là thách thức lớn đối với Việ t nam. Bởi vì, nếu thực hiện, chúng ta phải điều chỉnh luật pháp của mình cho phù hợp với WTO và phả i điều hành nền kinh tế theo nguyên tắc đó. Vấn đề này hết sức phức tạp và đòi hỏi phải có thờ i gian để điều chỉnh, thực hiện. Từ tháng 12/2001, khi hiệp định thươ ng mạ i Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, Mỹ đã trao cho việt nam qui chế MFN (hay còn gọi là qui chế đối xử thương mại bình thường, Normal Trade Relation, NTR).

    2.4.3- Vài nét về chế độ ưu đãi về thuế quan của Nhật:

    Chế độ GSP của Nhật áp dụng từ 8/1971, chủ yếu ở ba mặ t hàng nông sản chế biến, công nghiệ p và hàng dệt nhập khẩ u từ các nước đang phát triển. Các nước Châu Á đang sử dụng nhiều nhất chế độ GSP của Nhật.

    Trong những năm bị ảnh h ưởng bởi lệnh c ấm vậ n của Mỹ, t ỷ lệ hàng hóa xuấ t sang Nhật của Việt Nam được hưởng chế độ GSP rấ t thấ p, khoảng 8% tổng trị giá hàng công nghiệp nhậ p khẩu vào Nhật Bản (mức trung bình của các nước là 39,8%). Từ năm 1994 trở đi, khi lệnh cấm vận được xóa bỏ, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có dễ dàng hơn .

    3- Nguyên tắc đối xử trong nước (National Treatment _ NT)     TOP

    Nguyên tắc đối xử trong nước NT được áp dụng trên nhiều lĩnh vực như thương mại hàng

    hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…với ý nghĩa là đối xử như “trong nước” đối với phía

    đối tác trong các lĩnh vực được ghi trong thỏa ước. Qui mô của nghĩa vụ này có thể thay

    đổi tùy thỏa ước, đối với hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT, NT được

    qui định chủ yếu trong điều III “Đãi ngộ quốc gia về thuế và nguyên tắc đối xử trong

    nước”. Trong thương mại hàng hóa, nếu như nguyên tắc MFN đòi hỏi đãi ngộ công bằng

    giữa các quốc gia, thì nghĩa vụ NT đòi hỏi sự đãi ngộ với hàng nhập khẩu, sau khi hoàn

    tất các thủ tục hải quan và biên giới, không được tệ hơn cách đãi ngộ dành cho hàng sản

    xuất trong nước.

    III- Các loại hình chính sách ngoại thương:

    Mỗi nước đều có chính sách ngo ại thương riêng phù hợp với điề u kiệ n phát triể n kinh tế riêng của từng nước, ở từng thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, chính sách phát triển ngoại thương của các nước có thể phân loại theo hai tiêu thức cơ bản sau:

    • Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương.
      • Phân loại theo mức độ tiếp cận của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. A- Phân loại theo mức độ tham gia của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương

    1- Chính sách mậu dịch tự do    TOP

     

    1.1- Khái niệm:

    Chính sách mậ u dịch t ự do có nghĩa là nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tiết ngoại thương mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội đị a để cho hàng hóa và tư bản được tự do lưu thông giữa trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển trên cơ sở quy luật tự do cạnh tranh.

    Đặc điểm chủ yếu của chính sách mậu dịch tự do là:

    • Nhà nước không sử dụng các công cụ để điều tiết xuất khẩu và nhập khẩu.
      • Quá trình nhập khẩu và xuất khẩu được tiến hành một cách tự do.
    • Quy luật tự do cạnh tranh điều tiết sự hoạt động của sản xuất tài chính và thương mại trong nước.

    1.2- Ưu và nhược điểm của chính sách mậu dịch tự do:

    Ưu điểm:

    • Mọi trở ngại thương mại quốc tế bị loại bỏ, giúp thúc đẩy sự tự do hóa lưu thông hàng hóa giữa các nước.
    • Làm thị trường nội địa phong phú hàng hóa hơn, người tiêu dùng có điều kiện thỏa mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

    -Tạo môi trường cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, kích thích các nhà sản xuất phát triển và hoàn thiện.

    • Nếu các nhà sản xuất trong nước đã đủ sức mạnh cạnh tranh với các nhà tư bản nước ngoài thì chính sách mậu dịch tự do giúp các nhà kinh doanh bành trướng ra ngoài. Thật vậy, chính sách mậu dịch tự do lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh, “cái nôi” của chủ nghĩa tư bản. Nước Anh lúc bấy giờ là cường quốc công nghiệp, sản xuất bằng máy thay thế lao động thủ công đã khiến cho chi phí thấp, hàng hóa dồi dào so với các nước láng giềng chậm phát triển hơn như Pháp, Đức, Nga. Chính nhờ thực hiện chính sách mậu dịch tự do đã giúp cho các nhà tư bản Anh xâm chiếm nhanh chóng thị trường thế giới, khiến các nước khác phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch để chống lại sự xâm lăng hàng hóa ồ ạt từ nước Anh. Nhưng sau này khi nền kinh tế của Đức, Pháp, Nga đã phát triển mạnh thì chính sách mậu dịch tự do thay thế cho chính sách bảo hộ mậu dịch.
    • Thực hiện chính sách mậu dịch tự do không đồng nghĩa với việc làm suy yếu vai trò

    của Nhà nướ c tư bản trong quan hệ thươ ng mại quốc t ế. Ngượ c lại, việc tạo điề u kiện tự do phát triển thương mạ i trên thị trường nội đị a nhằm làm suy yếu hoặc xóa bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước khác, tạo cơ sở để các nhà kinh doanh nội địa dễ dàng xâm nh ập và phát triển ở thị trường mới.

    • Thị trường trong nước điều tiết chủ yếu bởi quy luật tự do cạnh tranh cho nên nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng, phát triển mất ổn định.
    • Những nhà kinh doanh sản xuất trong nước phát triển chưa đủ mạnh, thì dễ dàng bị phá sản trước sự tấn công của hàng hóa nước ngoài.

    Chính bởi những nhược điểm này mà ngày nay trên thế giới, ngay cả những nước có nền kinh tế mạnh nhất như Mỹ, Nhật đều không thực hiện chính sách mậu dịch tự do đối với tất cả các ngành hàng, mà chỉ thực hiện sự tự do mậu dịch trong một số ngành hàng đủ mạnh, cạnh tranh được với hàng hóa nước ngoài và cũng chỉ thực hiện trong một thời gian nhất định.

    1.3- Các khoản lợi và hiệu quả của mậu dịch tự do theo kinh tế học:

    Trong chương 3 chúng ta đã phân tích tác động của một trong những công cụ chính sách ngoại thương là thuế quan. Trong trường hợp một nước nhỏ không gây ảnh hưởng đến

    giá xuất khẩu của nước ngoài, thuế quan gây nên thiệt hại ròng cho nền kinh tế được đo bằng hai hình tam giác b và d (biểu đồ 3.2). Thiệt hại này là do thuế quan đã làm lệ ch lạc những khuyến khích kinh tế đối với người sả n xuất l ẫn người tiêu dùng. Ngược lại, tự do mậu dịch sẽ loại bỏ được những tổn thất này và tăng thêm phúc lợi quốc gia.

    Các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tính toán t ổng chi phí phải trả cho những lệch lạc do thuế quan và hạn ngạ ch nh ập khẩu gây ra trong một số nền kinh tế cụ thể. Phí tổn này được tính theo % thu nhập quốc dân, đối với Braxin (1966) là 9,5%; Mexico (1960) là 2,5% ; Mỹ (1983) là 0,26%.

    Ngoài ra, ở các nước nhỏ nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, nhiề u nhà kinh tế học còn chỉ ra rằ ng, tự do mậu dịch còn nhiề u cái lợi quan trọng không được tính tới trong phân tích chi phí – lợi ích thông thường, Ví dụ như lợi thế kinh tế của qui mô sản xuất chẳ ng hạn, các thị trường được bảo hộ không chỉ chia nhỏ s ản xuất trên phạm vi quốc tế, mà bằng cách giảm cạnh tranh và tăng lợi nhuận, chúng còn đẩy nhiề u công ty gia nhậ p ngành công nghiệp được bảo hộ. Với việc gia tă ng các công ty trong thị trường nội địa nhỏ hẹp, quy mô sản xuất của từng công ty s ẽ trở nên không hiệu quả. (Ví dụ như, do được bảo hộ cao, các nhà máy đường trong nước ta mọc lên rất nhiều, vì vậy chỉ có khoảng 17/47 nhà máy hoạt động được khoảng 50% công suất!)

    2- Chính sách bảo hộ mậu dịch

    TOP

    2.1- Khái niệm:  

    Chính sách bả o hộ mậu dịch là chính sách ngoại thương của các nước nhằm một mặt sử dụng các biện pháp để bảo vệ thị trườ ng nội đị a trước sự cạ nh tranh của hàng hóa ngoại nhập, mặt khác Nhà nước nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    Đặc điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch là:

    • Nhà nước sử dụng những biện pháp thuế và phi thuế : thuế quan, hệ thống thuế nội địa, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các biện pháp kỹ thuật… để hạn chế hàng hóa nhập khẩu.
    • Nhà nước nâng đỡ các nhà sản xuất nội địa bằng cách giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức, giá tiền tệ nội địa, trợ cấp xuất khẩu…để họ dễ dàng bành trướng ra thị trường nước ngoài.

    2.2- Ưu và nhược điểm của chính sách bảo hộ mậu dịch:

    Ưu điểm:

    • Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu.
    • Bảo hộ các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, giúp họ tăng cường sức mạnh trên thị trường nội địa.
    • Giúp các nhà xuất khẩu tăng sức cạnh tranh để xâm chiếm thị trường nước ngoài.
    • Giúp điều tiết cán cân thanh toán của quốc gia, sử dụng hợp lý nguồn ngoại tệ thanh toán của mỗi nước.

    Nhược điểm: Nếu bảo hộ thị trường nội địa quá chặt chẽ sẽ:

    • Làm tổn thương đến sự phát triển thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cô lập kinh tế của một nước đi ngược lại xu thế của thời đại ngày nay là quốc tế hóa đời sống kinh tế toàn cầu.
    • Tạo điều kiện để phát triển sự bảo thủ và trì trệ trong các nhà kinh doanh nội địa, kết quả là mứcï bảo hộ kinh tế ngày càng cao, càng làm cho sức cạnh tranh của các ngành không còn linh hoạt, hoạt động kinh doanh và đầu tư không mang lại hiệu quả. Đây sẽ là nguy cơ cho sự phá sản trong tương lai của các ngành sản xuất trong nước nếu quốc gia

    này phải chịu áp lực cạnh tranh trên thị trường thế giới và yêu cầu giảm hàng rào thuế quan khi gia nhập WTO hoặc các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới.

    • Người tiêu dùng bị thiệt hại như hàng hóa kém đa dạng, mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng hàng hóa kém cải tiến, giá cả hàng hóa đắt….

    3- Bảo hộ mậu dịch và thuế quan

    TOP

     
    tối ưu:
       

    Việc thi hành các chế độ quan thuế, hạ n ngạch nhập khẩ u và các biện pháp chính sách mậu dịch khác hầu hết là nhằm bảo vệ thu nhập của các nhóm lợi ích đặc biệt….Các nhà

    kinh tế học thường lập luận r ằng, bảo hộ mậu dịch s ẽ giảm phúc lợi quốc gia. Tuy nhiên, trên thực t ế, có một số cơ sở lý thuyết cho thấ y rằng các chính sách mậu dịch tích cực đôi khi có thể làm tăng phúc lợ i của quốc gia nói chung. Bởi vì, theo bi ểu đồ 3.2, đối với một nước lớn, thuế quan s ẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu ở nước ngoài, tạo ra một khoản lợi. Nếu đem so sánh v ới giá phải trả do thi hành thuế quan là làm lệch lạc các khuyến khích đối với sả n xuất và tiêu dùng, có kh ả năng, trong một số trường hợp, lợi ích về điều kiện mậ u dịch của thuế quan lại lớn hơn cái giá phải trả. Vớ i mộtü mức độ thuế quan đủ thấ p, thì lợi ích về điều ki ện mậu dịch sẽ phải lớn hơn cái giá phải trả. Đối với một nước lớn, tỷ suất thuế quan thấp, phúc lợi sẽ cao hơn khi thi hành mậu dịch tự do. Và sẽ tồn tại một

    mức thuế quan t0 tối ưu, t ại đó, lợ i ích biên do điều kiện mậu dịch được cải thiện bằng tổn thất hiệu năng biên do sự lệch lạc trong sản xuất và tiêu dùng. Với mức thuế suất khác

    lớn hơn t0 , phúc lợi quốc gia sẽ đi xuống.

    Tóm lại, chính vì cả chính sách tự do mậu dịch và chính sách bảo hộ mậu dịch đều có những ưu điể m và nhược điểm cho nên không một nướ c nào trên thế giới thi hành chính sách này hay chính sách khác một cách tuyệt đối mà sẽ duy trì chính sách mậu dịch tự do trong một số ngành hàng đối với một s ố thị trường trong một thờ i gian nhất định, còn một số ngành khác thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch (với mức độ khác nhau) trên những thị trường khác nhau.

    B- Phân loại theo mức độ tiếp cận c ủa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới 1- Chính sách hướng nội (Inward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh t ế ít có quan hệ với thị trường thế giới, phát triể n tự lực cánh sinh b ằng sự can thiệp tuyệt đối của Nhà nước. Với mô hình này, nền kinh tế thực hiện chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu.

    Ưu điểm:

    • Thị trường nội địa được bảo hộ chặt chẽ, nhờ đó mà nền công nghiệp còn non yếu trong nước có thể phát triển được trong điều kiện không phải trực diện với cạnh tranh; đặc biệt ở những nước mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác tài nguyên.
    • Là mô hình phát triển dựa vào nguồn tài lực bên trong, cho nên mọi tiềm lực quốc gia được huy động cao độ cho công cuộc phát triển kinh tế.
    • Phát triển kinh tế trong nước ít chịu sự tác động của thị trường thế giới, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy thấp nhưng ổn định.

    Nhược điểm:

    • Hàng hóa sản xuất không mang tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
    • Nhiều ngành kinh tế của quốc gia phát triển không có hiệu quả, vì không phát triển dựa vào lợi thế mà chỉ dựa vào nhu cầu của nền kinh tế đóng cửa.
    • Mất cân đối trong cán cân thương mại, vì nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu bị hạn chế.
    • Vay nợ nước ngoài lớn, trả nợ khó khăn.

    2- Chính sách hướng ngoại (Outward Oriented Trade Policies):

    Là chính sách mà nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực để phát triển. Tham gia vào

    quá trình phân công lao động khu vực và quốc tế, chuyên môn hóa vào sản xuất những

    sản phẩm mà quốc gia có lợi thế phát triển, về thực chất, đây là chính sách “mở cửa“ kinh

    tế để tham gia vào quá trình quốc tế hóa kinh tế toàn cầu. Và tùy điều kiện phát triển kinh

    tế của mỗi nước mà chính sách “mở cửa“ được lựa chọn thực hiện khá đa dạng như mô

    hình phát triển mở cửa dần từng bước hay mô hình phát triển xuất khẩu dựa vào nguồn

    tài nguyên thiên nhiên hoặc gia công sản phẩm sơ chế hoặc mô hình phát triển XK dựa

    vào lợi thế so sánh…

    Ưu điểm :

    – Tạo ra sự năng động trong sự phân công lao động quốc tế:

    Thật vậy, chúng ta có thể thấy hình ảnh công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các

    nước Đông và Đông Nam Châu Á trong 3 thập niên cuối thế kỷ 20 trong ngành công

    nghiệp may, sản xuất hàng điện và điện tử gia dụng. Lúc đầu các ngành này phát triển ở

    Nhật Bản, sau đó giá nhân công của Nhật đắt dần lên, các ngành thâm dụng nhiều nhân

    công của Nhật mất dần lợi thế và chuyển các ngành này sang Hàn Quốc, sau đó là các

    nước ASEAN và ở Trung Quốc ở những thập niên 80. Đến thập niên 90, các ngành hàng

    này lại phát triển ở Việt Nam. Sự thay đổi năng động trong phân công lao động khu vực

    như vậy do làn sóng công nghiệp hóa lan rộng làm cho thương mại giữa các nước tăng

    mạnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhờ phát huy được lợi thế và thị trường được mở

    rộng.

    • Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu làm cho nền kinh tế phát triển năng động vì các doanh nghiệp luôn trực diện với cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ của họ phải có khả năng đảm bảo cạnh tranh (về chất lượng, giá cả…) với các sản phẩm khác trên thế giới.
    • Mở cứ kinh tế tạo điều kiện cho cạnh tranh phát triển, là động lực thúc đẩy cải tổ nền kinh tế, hợp lý hóa sản xuất, đầu tư mới công nghệ.
    • Tăng cường thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa môi trường tài chính quốc gia: giảm bớt vay nợ, thực hiện cân bằng cán cân thanh toán và cán cân buôn bán quốc tế.
    • Chính sách hướng về xuất khẩu còn được xem như là một chính sách ngoại thương tạo ra sự công bằng hơn trong nền kinh tế.

    + Đầu tiên, mở rộng xuất khẩu hàng thâm dụng lao động đồng nghĩa với tăng việc làm cho người lao động.

    + Thứ hai, chính sách này nâng cao khả năng chuyển sang sản xuất hàng thâm dụng kỹ thuật.

    + Cuối cùng, việc áp dụng chính sách này làm nâng cao thu nhập ròng cho quốc gia bởi việc giảm tài trợ giấy phép xuất khẩu…

    Ngày nay, khi xu hướng nhất thể hóa nền kinh tế toàn cầu gia tăng, mô hình kinh tế

    hướng ngoại đẩy mạnh xuất khẩu ngày càng khẳng định ưu thế phát triển và ngày càng được các nước áp dụng rộng rãi.

    IV- Chính sách ngoại thương của các nước đang phát triển:

    Ba mươi năm sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chính sách thương mại ở các nước đang phát triển vẫn còn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi lý thuyết cho rằng, chìa khóa để phát triển kinh tế là phải thúc đẩy công nghiệp chế tạo và đó là cách tốt nhất để bảo hộ công nghiệp chế tạo trong nước trong sự cạnh tranh toàn cầu. Chúng ta sẽ xem xét chính

    sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩ u, gi ống như một chiến lược của các nước đang phát triển t ừ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970 và sau đó trở nên thấ t bạ i vào những năm cuối thậ p kỷ 1980. Những vấn đề liên quan đế n chính sách kinh tế của các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp, hay những đặc điểm tạ o nên sự khác biệt trong thu nhập giữa các vùng và khu vực, còn được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Và đặc biệt, trong việc xét đến chính sách thươ ng mại của các nước đang phát triển, không thể không xét đến các chính sách đem lại sự phát triển diệu kỳ của các nước Đông Á.

    1- Công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu:

    Từ sau chiến tranh thế giớ i lần thứ hai đến những năm 1970, các nước đang phát triển cố gắng đẩ y nhanh quá trình phát triển bằ ng cách hạn chế nhập khẩu s ản phẩm công nghiệp và nâng đỡ ngành công nghiệp chế tạ o để phục vụ th ị trườ ng trong nước. Chiến lược này đã trở nên rất phổ biến vì nhiều lý do, trong đó, lý do quan trọng nhất là lập luận về “nền công nghiệp non trẻ”.

    Theo lập luận này, các nước đang phát triển có một lợi thế tương đối tiềm tàng trong

    công nghiệp chế tạo, nhưng các ngành công nghiệp chế tạo mới hình thành trong nước

    không thể cạnh tranh được với ngành công nghiệp chế tạo được hình thành từ lâu ở các

    nước phát triển. Để tạo điều kiện cho khu vực công nghiệp chế tạo có chỗ đứng, chính

    phủ tạm thời nâng đỡ các ngành công nghiệp mới để nó lớn mạnh, đủ đương đầu được

    với cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, việc sử dụng thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu như là

    những biện pháp tạm thời để bắt đầu công nghiệp hóa là một việc có ý nghĩa. Có một

    thực tế lịch sử là cả ba nền kinh tế thị trường lớn nhất thế giới đều bắt đầu quá trình công

    nghiệp hóa của mình đằng sau hàng rào mậu dịch: Mỹ và Đức có mức thuế quan cao đối

    với hàng chế tạo vào thế kỷ XIX, trong khi Nhật cho đến thập kỷ 1970 vẫn áp dụng rộng

    rãi biện pháp kiểm soát nhập khẩu.

    Lập luận về ngành công nghiệp non trẻ dường như rấ t hợ p lý và trên thực tế nó có tính chất thuyết phục đối vớ i nhiều chính phủ. Thế nhưng các nhà kinh tế học đã chỉ ra nhiều cạm bẫy trong lập luận này và gợi ý rằng nó cần được sử dụng một cách thận trọng.

    Thứ nhất, việc đi ngay vào các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh trong tươ ng lai không phải luôn luôn là ý tưở ng tốt. Giả sử một nước có dồi dào sức lao động đang trong quá trình tích lũy vốn, khi nó tích lũy đủ vốn, nó sẽ có lợi thế so sánh trong các ngành tập trung vốn. Điều đó không có nghĩa là nó phải cố gắng phát triển ngay lập tức các ngành công nghiệp đó.

    Thứ hai, việc bảo hộ công nghiệp chế t ạo sẽ không đem l ại lợi lộc gì trừ khi bản thân việc bảo hộ đó giúp cho ngành công nghiệ p có khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, đôi lúc, sự bảo hộ lạ i không đạt được điều mong muốn đó. Ví dụ như Pakistan và Ấn Độ đã tiến hành bảo hộ khu vực công nghiệp chế tạ o trong hàng thập kỷ và khi họ bắt đầu phát triển xuất khẩu thì hàng hóa mà họ xuất khẩu là những hàng công nghiệp nhẹ như hàng dệt, chứ không phải là hàng công nghiệp nặng mà họ bảo hộ.

    Mặc dù có những nghi ng ờ về lậ p luậ n ngành công nghiệp non trẻ, nhiề u nước đang phát triển vẫn coi l ập luận này như là một lý do bắt buộc để dành sự giúp đỡ đặc biệt do việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng chế tạ o. Chiến lược khuyến khích công nghiệp trong nước bằng cách hạn chế nhập khẩu hàng chế tạo được gọi là công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu.

    Thập kỷ 1950 và 1960 đã chứng kiến cao trào của công nghiệ p hóa thay thế hàng nhập khẩu. Các nước đang phát triển thường bắt đầu bằng việc bảo hộ các công đoạn cuối của

    ngành, ví dụ như chế biến thực phẩm và lắp ráp ôtô. Ở các nước đang phát triển lớn hơn, sản phẩm nội địa hầu như thay thế hoàn toàn hàng tiêu dùng nhập khẩu (mặc dù sả n xuất hàng chế tạo thường do các công ty đa quốc gia tiến hành). Một khi khả năng thay thế hàng tiêu dùng nhậ p khẩu giả m đi, các nước này quay sang bảo hộ hàng hóa trung gian như thân ôtô, thép, sản phẩm hóa dầu.

    • hầu hết các nước đang phát triển xu thế thay thế nhập khẩu đều dừng ở giới hạn hợp lý: những hàng hóa chế tạo tinh vi như máy tính, máy công cụ chính xác… tiếp tục được nhập khẩu. Tuy nhiên, các nước lớn hơn theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đã cắt giảm nhập khẩu của họ xuống mức thấp đáng kể. Thông thường, qui mô kinh tế của một nước càng nhỏ (tính theo giá trị tổng sản phẩm) thì hàng nhập khẩu và xuất khẩu chiếm tỷ lệ càng lớn. Thế nhưng, như Ấn Độ chẳng hạn, với thị trường trong nước nhỏ thua 5% so với Hoa Kỳ mà mức xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 6% GNP năm 1983 và 8% năm 1990 trong khi tương ứng của Hoa Kỳ là 8 và 10% (Singapore và Hongkong tỷ lệ này năm 1990 là 190% và 137%)

    Mặc dù chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu đem lại cho các nước áp

    dụng một tỷ lệ hàng công nghiệp chế tạo trong tổng sản phẩm quốc nội chiếm một phần bằng các nước tiến tiến, như các nước Mỹ la tinh. Nhưng do hạn chế nhập khẩu đã dẫn đến kiềm hãm xuất khẩu (chương 3) và làm chậm tốc độ phát triển kinh tế. Ví dụ như Ấn độ, sau 20 năm theo đuổi chính sách này (1950 – 1970) thu nhập bình quân đầu người chỉ tăng vài %, cả Achentina, nước từng được xem là một nước giàu, nền kinh tế cũng chỉ tăng trưởng với tốc độ rất chậm trong hàng thập kỷ.

    Ngoài những lý do đã được nêu ra về các cạm bẫy của chiến lược công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, khi chính sách này thất bại, các nhà kinh tế học còn đưa ra lý do về “phí tổn” do những lệch lạc trong bảo hộ hàng công nghiệp mang lại. Ví dụ, mức bảo hộ hữu hiệu một số ngành công nghiệp ở Mỹ la tinh và Nam Á là hơn 200%. Chính tỷ lệ bảo hộ cao này đã cho phép các ngành công nghiệp tồn tại thậm chí ngay cả khi chi phí sản xuất cao gấp ba hoặc bốn lần so với hàng nhập khẩu mà chúng thay thế. Ngoài ra, sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để bảo hộ sẽ dẫn đến phí “thuê hạn ngạch” và một sự độc quyền. Sự cạnh tranh giành lợi nhuận này dẫn đến nhiều công ty gia nhập vào một thị trường mà thực tế chỉ đủ chỗ cho một công ty và sản xuất được tiến hành trên quy mô rất không có hiệu quả… Một chi phí nữa cũng được đề cập đến là việc hạn chế nhập khẩu để thúc đẩy sản xuất trong nước, nhưng với thị trường trong nước nhỏ hẹp, qui mô sản xuất này cũng không có hiệu quả.

    Vào cuối những năm 1980, những hạn chế của chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu càng bị chỉ trích, không những bởi các nhà kinh tế mà còn là các tố chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và ngay cả những nhà làm chính sách của các nước áp dụng. Số liệu thống kê đã chứng minh rằng, ở các nước đáng phát triển theo đuổi chính sách thương mại tự do hơn có tốc độ phát triển trung bình nhanh hơn các nước theo chính sách bảo hộ. Sự thực hiển nhiên này đã giúp các nước đang phát triển tháo dỡ bớt hàng rào bảo hộ của mình bằng bỏ dần hạn ngạch và giảm thuế quan.

    2- Chính sách công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu và nền kinh tế nhị nguyên: Trong khi chính sách thương mại của các nước kém phát triển, một phần bị phản đối bởi sự tụt hậu của họ khi so sánh với các nước phát triển, chính sách này còn bị phản ứng đối với sự phát triển không đồng đều trong phạm vi từng nước. Khi đó, một khu vực công nghiệp hiện đại, sử dụng nhiều vốn, lương cao tồn tại trong cùng một quốc gia với một khu vực nông nghiệp truyền thống rất nghèo khổ. Sự phân chia một nền kinh tế thống

    nhất thành hai khu vực có mức độ phát triển khác nhau được gọi là tình trạng “hai khu vực” của nền kinh tế, và nền kinh tế như vậy được gọi là nền kinh tế “nhị nguyên”. Các dấu hiệu của nền kinh tế nhị nguyên:

    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân ở khu vực hiện đại cao hơn nhiều so với khu vực còn lại của nền kinh tế. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm do một công nhân trong khu vực công nghiệp làm ra có giá trị cao hơn vài lần so với sản phẩm của một công nhân trong nông nghiệp. Đôi khi sự khác biệt này lên tới 15/1.
    • Cùng với giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao là mức lương cao. Lương công nhân trong công nghiệp có thể cao hơn 10 lần so với lao động trong nông nghiệp.
    • Tuy nhiên, trong khu vực công nghiệp, mặc dù lương cao, lợi tức của đồng vốn không nhất thiết cao hơn. Trên thực tế, dường như thường là trong khu vực công nghiệp vốn đưa lại lợi tức thấp hơn.
    • Giá trị sản phẩm tính theo đầu công nhân cao tại khu vực hiện đại ít nhất một phần là do sự tập trung vốn cao hơn trong sản xuất. Công nghiệp chế tạo tại các nước kém phát triển thường sử dụng vốn cao hơn nhiều so với nông nghiệp (ở các nước tiên tiến thì trái lại, nông nghiệp lại là ngành sử dụng nhiều vốn). Tại các nước đang phát triển, nông dân thường sử dụng các công cụ thô sơ, trong khi các cơ sở công nghiệp tại đây lại chẳng khác mấy so với các nước tiên tiến.
    • Cuối cùng, nhiều nước kém phát triển có vấn đề thất nghiệp thường xuyên. Đặc biệt

    tại các khu vực đô thị có một số lượng lớn những người hoặc không có việc làm, hoặc thỉnh thoảng mới có vi ệc làm được trả lương đặc biệt thấp. Những người thành thị không có việc làm này cùng tồn tại với tầng lớp công nhân công nghiệp thành thị được trả lương tương đối cao.

    Chính sách ngoại thương thường bị cáo buộc tội là nguyên nhân làm tăng chênh lệch về

    lương giữa công nghiệp và nông nghiệp và khuyến khích tập trung vốn quá mức vào công nghiệp. Sự khác biệt về lương này cũng phản ánh s ức mạnh độc quyền của các ngành công nghiệ p được che chở bởi các hạn ngạch nhập khẩu hay mức thuế quan cao trước sự cạnh tranh của nước ngoài.

    3- Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu : “Sự diệu kỳ Đông TOP  
    Á”
       

    :

    Nếu như thậ p niên 1950-1960 chứng kiến cao trào công nghiệp hóa thay thế hàng nhập khẩu, thì bắt đầu cuối những năm 1960 đã xuất hiện một chính sách công nghiệp hóa mới, h ướng ra xuất khẩu sản phẩm chế tạo. Một nhóm các quốc gia phát triển theo định hướng này đã đạt tốc độ phát triể n cao về kinh tế, có nước đạt hơn 10%/năm, mà Ngân hàng Thế giới gọi là “những nền kinh tế hiệu quả cao Châu Á” (High Performance Asian Economies HPAEs).

    Trong khi những thành tựu của HPAEs không được nhân lên mà cũng không có một câu hỏi nào về sự thành công của HPEAs đã bác bỏ luậ n cứ trước kia cho rằng phát triển công nghi ệp phải đi bằng con đường thay thế hàng nhập khẩu, mà thành tựu này lại trở thành chủ đề tranh luận về “sự di ệu kỳ Đông Á”. Đặc biệt, qua nhiều quan sát khác nhau đã chỉ ra rằ ng có nhiều cách diễn giải khác nhau về vai trò của những chính sách c ủa chính ph ủ, bao gồm cả chính sách thương mạ i, đã là tiền đề cho sự phát triển kinh tế. Các quan sát này cũng chứng minh được r ằng, sự thành công của kinh tế Châu Á liên quan rấ t nhiều đến thương mại tự do và sự tác động của chính sách chính phủ; mặt khác, sự thành

    công này cũng lại chứng tỏ sự can thiệp của chính phủ vào chính sách thương mại là có hiệu lực.

    3.1- Sự kiện tăng trưởng kinh tế Châu Á :

    Ngân hàng Thế giới chia các nước HPAEs thành ba nhóm khác nhau bởi “sự diệu kỳ” bắt đầu ở những thời điểm khác nhau. Đầ u tiên là Nh ật Bản, t ốc độ phát triể n kinh tế nhanh bắt đầu không bao lâu sau Thế Chi ến Thứ Hai và bây giờ, thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản tương đương Mỹ và các nước EU. Vào những năm 1960 tốc độ kinh t ế phát triển nhanh bắt đầu ở bốn nước Châu Á nhỏ hơn và thường được gọi là “bốn con hổ Châu Á”, đó là Hồng Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên và Singapore. Vào cuối những năm 1970 và những năm 1980 tốc độ kinh tế lại phát triển rất nhanh bắt đầu ở Malaysia, Thailand, Indonesia và ngoạn mục nhất là Trung Quốc.

    Mỗi nhóm nước đề u đạt thành tựu cao bởi tốc độ phátï triển kinh tế. Thu nh ập quốc nội của các “con rồng” t ăng bình quân 8-9% một năm từ giữa những năm 1960 cho đến 1997 xảy ra khủng hoảng tiền tệ Châu Á, trong khi Mỹ và EU chỉ tăng 2-3%/năm. Tốc độ phát triển kinh tế của Châu Á vẫn còn tiếp tục được đem ra so sánh với các nước khác và Trung Quốc là một ví dụ điển hình, trong suốt thập niên 1990 và ngay bây giờ cũng vậy, tốc độ tăng GDP của Trung Quốc là khoảng 10%/năm.

    Ngoài tốc độ phát triển kinh tế cao, các nước HPEAs còn đạt được một thành t ựu tiêu biểu khác, đó là mở cửa hội nhập vào thương mại quốc t ế và càng v ề sau, mức độ hội nhập càng cao hơn. Vì vậ y , trong phát triển kinh tế, các nướ c Châu Á hướ ng về xuất khẩu nhiều hơ n các nước đang phát triển khác như Châu Mỹ la tinh và các nướ c Nam Á. Sự “hướng về xuất khẩ u” của các nước Châu Á trong thập niên 90 cao hơn so với các nước khác có thể nhậ n thấy được qua bảng 4.1, bảng tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân của một số nước tiêu biểu.

    Bảng 4.1 Tỷ lệ Xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (1990)

    Nước Tỷ lệ xuất khẩu so với thu nhập quốc dân (%)
    Brazil 7
    Ấn độ 8
    Hoa kỳ 10
    Nhật 11
    Tây Đức 32
    Nam Triều Tiên 32
    Hồng Kông 137
    Singapore 190

    (Nguồn: International Economics trang 259)

    2.2- Chính sách thương mại trong các nước HPAEs:

    Một vài nhà kinh tế học cho rằng thành công của các nước Đông Á tượng trưng cho

    chính sách ngoại thương hướng ngoại. Xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao trong

    GDP của các nước Châu Á là một minh chứng cho chính sách này. Mặc dù chính sách

    này chưa tương ứng với chính sách thương mại tự do hoàn toàn, tuy nhiên, nó đã tự do

    hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển chủ trương hạn chế nhập khẩu làm động lực

    phát triển. Và tốc độ phát triển cao giống như phần thưởng cho chính sách thương mại

    mở cửa của họ.

    Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học khác không đồng ý với quan điểm cho rằng tốc độ phát triển thương mại cao c ủa các n ước HPEAs có quan hệ mật thiết với thương mại tư do, ngoài trừ Hồng Kông, nước có chính sách thương mại tự do nhất, các HPAEs còn lại đều

    duy trì một mức thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu và các chính sách của chính phủ

    để quản lý thương mại. Xuất nhập khẩu tăng cao cũng không nhất thiết phải nhờ đến

    thương mại tự do, như Thái Lan chẳng hạn, xuất nhập khẩu tăng vọt vào những năm 1990

    là nhờ chính sách thu hút đầu tư của các công ty đa quốc gia, chính sự đầu tư này là tiền

    đề cho xuất khẩu và nhập khẩu. Và nhờ vào các con số thống kê, họ chứng minh được

    rằng, với một tỷ lệ bảo hộ mậu dịch thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác

    đã góp phần cho các HPAEs đạt được sự phát triển diệu kỳ. Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch của

    các HPAEs thấp hơn các nước khác được thể hiện qua bảng 4.2 như sau:

    Bảng 4.2 Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình của một số nước (1985).

    Nước Tỷ lệ bảo hộ mậu dịch trung bình (%)
    HPAEs 24
    Các nước Châu Á khác 42
    Nam Mỹ 46
    Một số nước Châu Phi 34

    (Nguồn: International Economics, trang 268)

    3.3- Kinh nghiệm phát triển xuất khẩu các nước ASEAN :

    Nghiên cứu chính sách ngoại thương hướ ng về xuất khẩu của các nước ASEAN từ những năm 1970 đến nay ta có thể đưa ra các đánh giá cơ bản sau:

    • Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của các nước ASEAN biến động theo

    hướng:

    • Giảm dần tỉ trọng xuất khẩu những hàng hóa xuất khẩu dưới dạng thô ít qua chế biến. Ví dụ, qua bảng 4.3, ta nhận thấy rằng, như Thái Lan chẳng hạn, những năm 1960 hàng hóa chưa qua chế biến chiếm 98% kim ngạch xuất khẩu nhưng đến thập niên 1990, tỷ lệ này chỉ còn là 33%.

    Bảng 4.3:. Thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN giai đoạn 1960-1990

    Tên nước Hàng hóa chưa qua chế biến (%) Hàng hóa đã qua chế biến (%)
      1960 1970 1980 1990 1960 1970 1980 1990
    Singapore 74 70 27 22 26 30 73 78
    Indonesia 99 98 64 53 1 >1 36 47
    Malaysia 94 93 56 39 6 >6 44 61
    Philippines 96 93 48 27 4 >6 52 73
    Thái Lan 98 94 36 33 2 >5 64 67
        (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)    
    • Tăng nhanh tỉ trọng hàng công nghiệp chế biến trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong ngành hàng công nghiệp chế biến thì: thực hiện giảm dần tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu những sản phẩm có hàm lượng lao động cao, mà nâng dần tỉ trọng xuất khẩu hàng hóa cao cấp có hàm lượng tư bản và công nghệ cao như sản phẩm của ngành hóa chất, chế tạo máy móc trang thiết bị. Cũng lấy Thái Lan làm ví dụ, những năm 1970, mặt hàng công nghiệp chỉ chiếm 5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến thập niên 1990, tỷ trọng hàng công nghiệp đã chiếm tới 71,38% kim ngạch xuất khẩu (bảng 4.4). Các nước ASEAN khác như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philippines cũng có sự thay đổi tương tự về

    tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ thập niên 1970 đến 1990 (bảng 4.4).

    Bảng 4.4: Tỉ trọng hàng công nghiệp trong kim ngạch xuất khẩu của các nước

    ASEAN                                                                                                                                                Đơn vị tính:

    %.

    Tên nước 1970 1981 1991 1996
    Indonesia 1,2 2,9 42 55,78
    Malaysia 6,3 19,5 58,9 82,8
    Philippines 6,4 22,8 69,72 70,1
    Thái Lan 5 24,8 74,7 71,38
    Singapore 28 41,1 57,2 85
      (Nguồn: Tư liệu về các nướ c ASEAN 1997)  

    Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN có thể lý giải như sau:

    • Hàng chưa qua chế biến nên giá trị xuất khẩu thấp, tỉ lệ hao hụt, hư hỏng lại cao, đặc biệt xuất khẩu nông sản vốn là thế mạnh trong những ngày đầu phát triển các nước

    ASEAN.

    • Hàng chưa qua chế biến không cho phép sử dụng nhiều nhân công lao động vốn là lợi thế của ASEAN.
    • Hàng sơ chế chỉ thường xuất khẩu qua các thị trường trung gian, sau đó tái chế mới xuất khẩu được sang các thị trường cao cấp cho nên trị giá hàng xuất khẩu càng thấp.
    • Cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật đã lôi kéo các nước ASEANvào cuộc, giúp cho các nước mau chóng đầu tư máy móc và công nghệ cho phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm và chế tạo thiết bị máy móc.
    • Đồng Yên Nhật liên tục lên giá thời kỳ 60-96, giá nhân công liên tục tăng cho nên

    Nhật đấu tư mạnh mẽ ra nước ngoài, trong đó có các nước ASEAN để phát triển những ngành công nghiệ p chế biến sử dụng nhiều nhân công như: công nghiệp dệt, may mặc, lắp ráp hàng điện tử, đồ gia dụng…

    • Giá cả xuất khẩu nông sản thường xuyên biến động, đặc biệt như sự sụt giá liên tục của một số sản phẩm thô diễn ra ở thời kỳ 1960-1970 như đay, mía đường, các loại rau quả…

    khiến cho các nước ASEAN quyết tâm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của mình theo hướng công nghiệp hóa

    Việc sớm mở cửa thị trường và thực hiện chính sách “hướng về xuất khẩu” đã giúp năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 (trừ Bruney, quốc gia chưa đến 1 triệu dân nhưng có thế mạnh đặc thù về xuất khẩu tài nguyên thiên thiên là dầu mỏ) thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia, nâng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP. Cho đến cuối thập niên 90, năm nước ASEAN trong nhóm ASEAN – 6 kể trên đã có một “cơ cấu kinh tế khá lý tưởng” (bảng 4.5).

    Bảng 4.5: Cơ cấu kinh tế của các nước ASEAN 1997

          Đơn vị tính: %
    Nước Nông nghiệp (% GDP) Công nghiệp (% GDP) Dịch vụ (% GDP)
    Myanmar 59 10 31
    Lào 52 21 26
    Cambodia 51 15 34
    Việt Nam 33 27 40
    Philippines 19 32 49
    Indonesia 16 43 41
    Malaysia 12 47 41
    Thailand 11 40 49
    Singapore 0 35 65

    (Nguồn: Kinh tế thế giới số 3/2001)

    Việc thay đổi cơ cấ u kinh tế này đã giúp các quốc gia khai thác được lợ i thế so sánh của mình đồng thời gia tăng sản xuất các ngành hàng có giá trị gia tă ng cao, chính điều này lại thúc đẩy nhanh quá trình phát triển. Điều đó cũng được minh chứng ngay trong bảng 4.5, các nước ASEAN còn lại có nền kinh tế kém phát triển hơ n như Myanmar, Lào, Cambodia, Việ t Nam, cơ c ấu kinh tế còn quá nặng về sản xuất nông nghiệp, một ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp.

    • Thị trường xuất khẩu chủ yếu của các nước ASEAN là các nước công nghiệp phát triển:

     

    Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của các nước ASEAN là thị trường các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), đặc biệt là thị trường Mỹ, Canada, EU và Nhật Bản. Đây là những thị trường tạo điều kiện cho nền kinh tế của các nước ASEAN cất cánh.

    Qua bảng 4.6 ta thấy, thị trường Mỹ, EU, Nhật chiếm trên dưới 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp của các nước ASEAN* này (ASEAN*: Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia).

    Bảng 4.6: Thị trường xuất khẩu chủ yếu hàng công nghiệp của một số nước ASEAN

              Đơn vị tính: %
    Thị trường 1985   1990 1994  
         
                 
    Nhật   10,6 12,7   11,6  
    EU   20,8 21,1   16,5  
    Mỹ   30,0 25,8   24,7  
    Cộng Mỹ, Nhật,   61,4 59,6   52,8  
    EU            
    ASEAN   3,5 3,3   4,1  
    Các nước khác   35,1 37,1   43,1  
    Với toàn thế giới   100,0 100,0   100,0  

    (Nguồn: Tư liệu về các nước ASEAN 1997)

    Nói chung trên cả thị trường xuất khẩu lẫn nhập khẩu, tỷ trọng buôn bán với các nước thuộc OECD của các nước ASEAN, cũng cao hơn. Nhìn vào bảng 4.6B ta thấ y các nước được liệt kê trong giao thương bên ngoài ASEAN những năm 1996-1997 hầu như là các nước thành viên OECD (trừ Trung Quốc, Nga và Ấn Độ).

    Nguyên nhân:

    • Các nước OECD thường cho các nước ASEAN hưởng chế độ thuế quan đặc biệt thấp.
    • Khả năng tiêu thụ và khả năng thanh toán của các nước OECD rất lớn.
      • Khi xuất khẩu sang các nước OECD dễ dàng nhập khẩu máy móc, công nghệ tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở các nước ASEAN.

    Bảng 4.7: Giao dịch thương mại giữa ASEAN và các nước 1996-1997 (triệu USD).

      ASEAN xuất khẩu đến ASEAN nhập khẩu từ Tỷ lệ xuất Tỷ lệ nhập  
    Nước khẩu (%) khẩu (%)  
           
                       
      1996 1997 1996 1997 1996 1997 1996 1997  
    Bênngoài 192.882,3 212.453,9 228.739,8 238.320,5 59,6 62,0 65,2 66,9  
    ASEAN
                     
    EU 46.926,0 46.086,7 57.380,5 51.009,8 14,5 13,4 16,4 14,3  
    Mỹ 59.515,5 70.030,4 53.011,4 61.695,0 18,4 20,4 15,1 17,3  
    Úc 6.106,0 6.418,4 8.688,8 7.963,9 1,9 1,9 2,5 2,2  
    New Zealand 812,5 773,8 1.150,8 1.297,1 0,3 0,2 0,3 0,4  
    Canda 1.988,2 1.881,9 2.445,6 2.568,0 0,6 0,5 0,7 0,7  
    Nhật 43.150,3 42.008,6 73.310,1 71.264,2 13,3 12,3 20,9 20,0  
    Trung Quốc 18.045,1 29.237,1 14.573,6 22.154,0 5,6 8,5 4,2 6,2  
    Nga 3.169,2 876,1 2.040,9 1.115,6 1,0 0,3 0,6 0,3  
    Ấn Độ 3.722,8 4.473,2 2.843,8 4.395,5 1,2 1,3 0,8 1,2  
    Hàn Quốc 9.446,7 10.667,8 13.294,4 14.857,4 2,9 3,1 3,8 4,2  
                       
    Nội bộ ASEAN 79.986,3 84.419,0 63.948,3 64.452,1 24,7 24,6 18,2 18,1  
    Brunei 2.008,5 1.776,6 457,2 301,9 0,6 0,5 0,1 0,1  
    Indonesia 2.264,9 2.833,4 2.914,5 2.874,2 0,7 0,8 0,8 0,8  
    Lào 721,5 1.287,5 50,0 52,1 0,2 0,4 0,0 0,0  
    Malaysia 25.130,8 27.131,0 25.716,5 25.459,2 7,8 7,9 7,3 7,2  
    Myanma 1.368,3 1.590,7 493,9 344,3 0,4 0,5 0,1 0,1  
    Philippine 4.360,1 5.672,4 2.637,2 3.285,6 1,3 1,7 0,8 0,9  
    Singapore 28.071,7 25.880,3 19.492,1 19.234,4 8,7 7,6 5,6 5,4  
    Thái Lan 11.546,2 10.715,5 11.213,9 11.544,6 3,6 3,1 3,2 3,2  
    Việt Nam 4.514,4 7.531,8 973,0 1.355,9 1,4 2,2 0,3 0,4  
    Các nước khác 50.493,0 45.797,2 57.918,1 53.199,1 15,6 13,4 16,5 14,9  
    Tổng cộng 323.361,5 342.670,1 350,606.2 355,971.8 100,0 100,0 100.0 100.0  
          (Nguồn: ASEAN Secretariat)        

    (3) Nhà nước rất quan tâm đề ra những biện pháp hỗ trợ và khuyến khích xuất

    khẩu:

    Kim ngạch xuất xuất của các nước ASEAN tă ng lên nhanh chóng, một trong những nguyên nhân chính là do Chính ph ủ mỗi nước đề ra những chính sách có hiệu quả để hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu, cụ thể:

    • Phá giá đồng tiền nội địa để khuyến khích xuất khẩu.
    • Trợ cấp xuất khẩu thông qua các hình thức: giảm thuế nội địa cho các nhà xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ tầng, các cơ quan nghiên cứu hỗ trợ phát triển…
    • Nhà nước góp vốn và kêu gọi đầu tư nước ngoài thành lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung để đẩy mạnh phát triển các ngành hàng xuất khẩu.
    • Chính phủ đẩy mạnh hoạt động đối ngoại: thỏa thuận với các chính phủ nước ngoài mở rộng thị trường, hạn ngạch xuất khẩu qua các nước và các khu vực, xin hưởng chế độ thuế quan ưu đãi, giúp các nhà xuất khẩu nội địa tăng cường sức mạnh cạnh tranh ở nước ngoài.
    • Nhà nước phát triển hệ thống thông tin về thị trường, đưa ra định hướng phát triển các ngành hàng xuất khẩu giúp cho các nhà kinh doanh và sản xuất hàng xuất khẩu xây dựng chiến lược phát triển lâu dài.

    Nhờ những biện pháp tích cực kể trên nên chỉ trong hai thập kỷ 70 và 80 mà các nước ASEAN đã nâng tỉ trọng xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội lên nhanh chóng và tiếp tục phát triển trong thập kỷ 90. Bảng 4.7 thể hiện một cách rõ rệt sự gia tăng tỷ lệ xuất khẩu so với tổng GDP của các nước ASEAN:

    Bảng 4.8: Tỉ lệ xuất khẩu so với GDP của các nước ASEAN giai đoạn 1970-2000

    Đơn vị tính: (%)

    Nước 1970 1980 1990 1996 1997 1998 1999 2000
    Brunei       49,71 52,06 45,43 56,80 72,72
    Cambodia       20,30 27,76 32,00 32,54 37,86
    Indonesia 11,2 34,4 28,7 22,07 26,09 52,78 36,26 40,79
    Lao PDR       17,13 18,15 29,32 20,81 20,44
    Malaysia 39,8 56,0 69,9 76,33 77,17 98,97 106,19 109,83
    Myanmar       17,03 18,42 20,33 17,72 19,41
    Philippines 12,3 17,3 18,5 29,63 31,27 45,03 44,63 49,60
    Singapore 78,8 176,3 153,4 136,6 133,15 134,64 137,92 168,90
    Thailand 9,5 20,8 34,4 29,97 37,53 47,25 46,53 55,72
    Việt Nam       29,75 34,60 33,78 40,23 45,26
    ASEAN 19,0 40,0 49,9 46,93 51,80 70,10 65,51 73,32

    (Nguồn: ASEAN Statistics Webmaster)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BB%93ng-m%E1%BA%ABu-trong-%C4%91%C3%A0m-ph%C3%A1n-k%C3%BD-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BB%93ng-mua-b%C3%A1n-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-th%E1%BB%B1c-ti%E1%BB%85n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hoạt động ngoại thương có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế ở các nước cũng như ở Việt Nam. Sự chuyển hướng kinh tế đối ngoại giữa các tổ chức kinh doanh trong nước và các tổ chức và cá nhân nước ngoài đã tạo cho ngành ngọai thương Việt Nam gặt hái được những kết qủa đáng mừng. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế thế giới có nhiều biến chuyển tích cực, hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngọai thương nói riêng ngày nay rất đa dạng và phong phú cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Do vậy việc ra đời của hợp đồng mẫu là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp có hoạt động buôn bán ngọai thương vì nó là công cụ đắc lực cho hoạt động này.

    Trong buôn bán ngoại thương phần lớn các giao dịch đàm phán kết thúc bằng việc các bên đương sự ký vào một hợp đồng đã in sẵn, họ chỉ bổ sung thêm một vài điều khoản riêng biệt. Hợp đồng như thế gọi là hợp đồng mẫu (standard contract).

    Hợp đồng mẫu thường được làm dưới dạng như:

    • Bản hợp đồng in sẵn, có để trống cho ngững điều khoản cần điền thêm.
    • Điều kiện chung bán (hoặc mua) hàng do người bán (hoặc người mua) thảo sẵn
    • Điều kiện chung giao hàng đã được hai bên ký kết từ trước về những nguyên tắc cơ bản làm khung cho việc ký kết những hợp đồng cụ thể.
    • Điều kiện chung do các tổ chức Quốc tế dự thảo.

    Hợp đồng mẫu thường được soạn thảo trên cơ sở tập quán buôn bán của ngành hàng có liên quan và / hoặc tập quán buôn bán của địa phương có liên quan cho nên việc tìm hiểu các hợp đồng mẫu giúp cho chúng ta càng hiểu sâu hơn về tập quán buôn bán để vận dụng chúng vào những giao dịch của chúng ta.

    Các hợp đồng mẫu nói lên kỹ thuật buôn bán về từng ngàng hàng. Hợp đồng mẫu về lương thực thực phẩm có rất nhiều chi tiết khác với hợp đồng mẫu về ngành hàng thủ công mỹ nghệ. Thậm chí cũng cùng một thuật ngữ mà sự giải thích ở từng ngành hàng có thể mỗi khác. Ví dụ: thuật ngữ “giao nguyên lành” – Sound delivery được giải thích ở mỗi ngành hàng một khác.

    4

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Đó cũng chính là lý do tôi thực hiện đề tài này. Trên cơ sở tham khảo sách báo, tạp chí trong và ngoài nước, thực tiễn ở một số công ty có hoạt động buôn bán ngoaị thương.

    Trong luận văn này tôi xin đề cập đến những điểm cơ bản nhất trong hợp đồng mẫu, bao gồm 3 phần chính như sau:

    • Chương I: Khái quát chung về hợp đồng mẫu
    • Chương II: Một số điều khoản chung của hợp đồng mẫu & một số hợp đồng mẫu trong buôn bán Quốc tế
    • Chương III: Thực trạng sử dụng hợp đồng mẫu Việt Nam

    Với năng lực tổng hợp của người viết có hạn cho nên có thể sẽ có nhiều thiếu sót trong đề tài này. Vì vậy người viết rất mong được sự đóng góp ý kiến và sự chỉ bảo của người đọc để có thể hoàn thiện hơn nữa chuyên đề này.

    5

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MẪU

    1.     Định nghĩa về hợp đồng mẫu & sự ra đời và phát triển của hợp đồng mẫu.

    Định nghĩa: Hợp đồng mẫu có thể hiểu là hợp đồng mà đại bộ phận các điều khoản đều được quy định sẵn và, mỗi khi đàm phàn để ký hợp đồng, hai bên chỉ cần ghi bổ sung những chi tiết về chủ thể hợp đồng ( như tên và địa chỉ hai bên, những người đại diện cho hai bên, chức vụ của họ ) và những điều khoản thoả thuận riêng của thương vụ đó ( như mức giá, thời hạn giao hàng, địa điểm giao hàng, ký mã hiệu hàng hoá ).

    Trên thị trường thế giới các bên mua và các bên bán thường có mâu thuẫn về quyền lợi. Trong một thương vụ nếu bên bán có lợi ắt hẳn bên mua ở vào thế bất lợi. Ngược lại, nếu bên mua có lợi bên bán lại vào thế bất lợi. Tham vọng giành giật thêm điều lợi hoặc, chí ít, bảo vệ quyền lợi cho mình đã tập hợp những doanh nghiệp có lợi ích giống nhau lại thành các tập đoàn. Những tập đoàn đó có thể là những tổ chức lũng loạn như: Cartel, Trust, Syndicat, Consortium, Conglomerate, cũng có thể là những tổ chức xã hội có tính chất nghề nghiệp như các hiệp hội (Association), hội liên hiệp (Federation ). Chỉ có những doanh nghiệp nào có nhiều lợi thế, có tiềm năng dồi dào thì mới đứng độc lập trong kinh doanh quốc tế, gọi là những doanh nghiệp “ ngoài rìa” (outsiders)

    Để bảo vệ quyền lợi cho các thành viên của mình, các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn thường đưa ra những điều quy định này, những cách ứng xử kia cho việc mua bán hàng hoá. Đầu tiên đó là những điều khoản mẫu (standard clause; clause type ) để vận dụng vào các hợp đồng mua bán. Đó chỉ mới là các qui định, cách xử lý cho từng vấn đề của quan hệ mua bán như: như cơ sở của giá cả, phương thức thanh toán, điều kiện giao hàng, khiếu nại, phạt bội ước, trọng tài. Điều khoản mẫu chưa phải là biện pháp có tính chất tổng thể cho việc ký kết hợp đồng. Sau đó người ta đã tập hợp những điều khoản mẫu như thế vào trong một văn bản có tính tổng quát hơn, đó là các hợp đồng mẫu.

    Với các hợp đồng mẫu đã được thảo sẵn, khi đàm phán để ký kết hợp đồng, một bên chỉ cần đưa ra cho bạn hàng, đòi hỏi sự nhất trí của bạn hàng về các điều khoản và điều kiện của hợp đồng mẫu. Do đó việc đàm phán trở nên

    6

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    gọn nhẹ, người ta đã tiết kiệm được chi phí và thời gian trong việc thảo luận từng vấn đề, từng điều khoản.

    Các tập đoàn kinh doanh đã đưa ra hàng loạt hợp đồng mẫu như vậy để những thành viên của mình sử dụng.

    Ví dụ: Hiệp hội buôn bán ngũ cốc Luân đôn (The London Corn Trade Association) có tới trên dưới 60 loaị hợp đồng mẫu: Hiệp hội đường của Luân đôn (The Sugar Association of London) cũng có hàng chục loại hợp đồng mẫu để các hội viên tuỳ nghi sử dụng.

    Các hợp đồng mẫu có thể được trình bày dưới dạng bản điều kiện chung của doanh nghiệp hoặc của tập đoàn kinh doanh. Đó là các bản điều kiện chung bán hàng (General conditions of sales) hoặc điều kiện chung mua hàng (General Conditions of Purchases). Các bản điều kiện chung như thế có thể là những văn bản độc lập riêng rẽ, cũng có thể là bản quy định nằm ở các mặt sau của hợp đồng. Trong trường hợp này, để làm cho bản điều kiện chung trở nên một bộ phận không thể tách rời khỏi hợp đồng, người ta phải ghi trên hợp đồng một lời dẫn chiếu đến bản điều kiện chung, ví dụ như: “ Theo bản điều kiện chung bán hàng kèm theo đây” (tiếng Anh là : as per the hereinattached general conditions of sales)

    Hợp đồng mẫu dù được thành lập bằng cách nào, nội dung của nó không phải là bất di bất dịch. Từng thời gian, cùng với sự thay đổi của kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, sự đa dạng hoá phương thức kinh doanh và mặt hàng mua bán, các tập đoàn và các doanh nghiệp vẫn sửa đổi thường xuyên nội dung các hợp đồng mẫu cho phù hợp với yêu cầu của việc kinh doanh trao đổi hàng hóa.

    2. Lĩnh vực áp dụng hợp đồng mẫu.

    Xét về mức độ chế biến của hàng hoá, đối tượng của các hợp đồng mua bán ngoại thương có thể chia ra làm hai loại:

    a. Những hàng nguyên liệu nông sản và khoáng sản:

    Đây là những mặt hàng hoặc chưa được chế biến hoặc có mức độ chế biến thấp, có khối lượng lớn, thường là những hàng đồng loại, chưa được đặc định hoá vào lúc ký kết hợp đồng. Đại bộ phận những mặt hàng này nằm trong danh mục hàng được mua bán tại các sở giao dịch hàng hoá.

    b. Những hàng công nghiệp và thủ công nghiệp:

    7

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Bao gồm cả máy móc thiết bị và hàng công nghiệp tiêu dùng lâu bền và cả hàng nông sản chế biến. Mặt hàng này có mức độ chế biến cao hơn mặt hàng loại (a) kể trên. Tính chất đặc định cũng nhiều hơn và không nằm riêng trong danh mục những mặt hàng được mua bán ở sở giao dịch hàng hoá.

    Trước chiến tranh thế giới lần hai, các hợp đồng mẫu chỉ được áp dụng đối với tất cả các mặt hàng, kể cả những loại hàng hoá vô hình như dịch vụ tư vấn kỹ thuật (Engineering), mua bán sáng chế (Licence) và bí quyết kỹ thuật (knowhow) .. tuy nhiên, lãnh vực mà các hợp đồng mẫu được áp dụng phổ biến vẫn là lãnh vực buôn bán những mặt hàng nguyên liệu nông sản và khoáng sản nghĩa là những mặt hàng có khối lượng lớn.

    3. Ngôn từ dùng trong các hợp đồng mẫu

    Nội dung của hợp đồng mẫu thường bao gồm những bộ phận như sau:

    a. Số lượng hợp đồng:

    Các hợp đồng mẫu thường in sẵn chữ: “ Hợp đồng số:…. (Contract No.

    ….) và giành chỗ để các đương sự điền số vào đó.

    b. Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng:

    Nội dung này có thể để trên đầu hợp đồng hoặc để cuối cùng của hợp

    đồng.

    Nếu để trên đầu hợp đồng, nội dung này có thể chỉ viết đơn giản: “Tên địa điểm và ngày tháng năm”. Người ta cũng có thể dùng cả một tập hợp câu chữ, ví dụ như: “Hợp đồng này được thành lập và bắt đầu có hiệu lực tại… ngày, tháng, năm…. bởi hai bên và giữa hai bên sau đây” (The present contract was made and entered into at… on…by and between)

    Nếu để dưới cùng, nội dung này thường được viết thành công thức:

    “Hợp đồng này thành lập tại….vào ngày, tháng, năm…thành…bản có

    hiệu lực ngang nhau, mỗi bên giữ…bản”(The present contract was made at…on…in/ duplicate, triplicate, quadruplicate/ of equal force, … copies of which are kept by each party).

    c. Tên và địa chỉ các bên ký kết hợp đồng.

    Trên các hợp đồng mẫu thường in sẵn các chữ “giữa” (between) “với” (and). Sau hai chữ đó là những dòng để trống để hai bên điền tên và địa chỉ của họ, tư cách của họ (là người mua hay người bán) trong quan hệ hợp đồng đó:

    8

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Người ta có thể điền: “Công ty X, địa chỉ…, dưới đây được dẫn chiếu tới như là bên bán” ( X company, address, hereinafter referred to as the seller)
    • Người ta cũng có thể đề: “ Công ty X, địa chỉ.., do ông.. chức vụ giám đốc, dưới đây gọi là bên bán” ( X company, address.., represented by Mr…, Dierector, hereinafter called the “sellers” )

    d.                 Sự thể hiện nguyên vọng (hoặc sự thoả thuận) cam kết của các bên.

    Sau khi đã giành những dòng để các bên ghi tên, địa chỉ và tư cách của mình (là người bán hoặc người mua), hợp đồng in sẵn những dòng chữ thể hiện sự thoả thuận cam kết của mỗi bên bằng những từ ngữ sau đây:

    • Trên cơ sở thoả thuận, bên bán cam kết bán và bên mua cam kết mua những hàng hoá dưới đây theo các điều khoản và điều kiện sau đây (On the basis of mutual agreement the seller commits to sell and the buyer commits to buy the undermentioned goods on the following terms and conditions)
    • Bên bán đồng ý bán, bên mua đồng ý mua (The seller agrees to sell and the buyer agrees to buy…)
    • Xác nhận rằng (Witnesseth that)
    • Xác nhận về việc sau (in witness whereof..)
    • Các bên thoả thuận dưới đây rằng (The parties hereby agree that…) Sự giải thích hợp đồng (Interpretation)

    Trong rất nhiều trường hợp, người ta áp dụng những thuật ngữ ngắn gọn vào hợp đồng mẫu như vậy hợp đồng cần có những đoạn giải thích rõ ngữ nghĩa của thuật ngữ đó.

    Ví dụ: người ta định nghĩa như sau:

    • “Nhà máy” là máy móc, công cụ, vật liệu và mọi thứ được cung cấp theo hợp đồng này để lắp đặt vào các công trình. (“ Plant: means machinery, apparatus, materials and all things to be provided under the contract for incorporation in the works).
    • “Hợp đồng” là bản thoả thuận mua hàng này và tất cả các điều kiện chung mua hàng được áp dụng, các bản điều kiện mua hàng đặc biệt, các bản quy cách, bản thuyết minh công trình và các bản vẽ chế tạo (“Contract” means

    this  purchase  agreement  itself,  and  all  applicable  general  conditions  of

    9

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    purchase, special conditons of purchase, specifications, the statement of works, and manufacturing drawings).

    • “Incoterms 2000” là bản Incoterms 2000 – tức bản những quy tắc quốc tế giải thích các điều kiện thương mại quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế xuất bản. Nếu một điều kiện của Incoterms 2000 được áp dụng vào trong hợp đồng này, thì những quy tắc và khái niệm được áp dụng đối với điều kiện đó trong Incoterms 2000 sẽ được coi là bộ phận gắn liền vào hợp đồng này trừ trường hợp chúng mâu thuẫn với các quy dịnh khác của hợp đồng. Trong trường hợp này, những quy định của hợp đồng này sẽ có giá tri hiệu lực. (“Incoterms 1990” means Incoterms 2000, The International rules for the interpretation of commercial terms published by the International Chamber of Commerce. When a term from Incoterms 2000 is used in this contract, the rules and definitions applicable to that terms in Incoterms 2000 shall be deemed to have been incorporated in this contract except insofar as they may conflict with any other provisions of the contract, in which case the provisions of the contract prevail).

    g.                  Các điều khoản hợp đồng ( clause)

    Trên thị trường thế giới một số khá lớn điều kiện đã được hình thành từ thực tiễn của việc giao dịch trao đổi, mua bán sản phẩm, trong đó nêu rõ nghĩa vụ của người bán và người mua về các mặt như: Chịu phí tổn và rủi ro trong việc chuyên chở, làm thủ tục kiểm tra hàng hoá, trách nhiệm giao nhận đúng phẩm chất và số lượng…. những điều kiện đó gọi là những điều kiện giao dịch.

    Những điều kiện giao dịch ra đời như là một qui định của pháp luật, hoặc như là một tập quán, hoặc như là những sự giải thích hay những điều qui ước của một tổ chức kinh tế quốc tế (ví dụ như của phòng thương mại quốc tế chẳng hạn).

    Sự hình thành những điều kiện giao dịch nói trên có tác dụng thuận lợi đối với việc đẩy mạnh buôn bán quốc tế, bởi vì, nhờ các điều kiện đó, người mua và người bán mau hiểu biết ý của nhau hơn, giảm bớt những chanh chấp với nhau hơn… vì vậy, khi chào hàng, khi hỏi hàng cũng như khi ký kết và thực hiện hợp đồng người ta thường vận dụng các điều kiện giao dịch buôn bán vào hoàn cảnh cụ thể và biến chúng thành các điều khoản cụ thể.

    10

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Những điều kiện giao dịch phần nhiều đều có tính chất kỹ thuật – nghiệp vụ thuần tuý, song việc vận dụng chúng lại có tính chất giai cấp rõ rệt, bởi vì việc vận dụng đó có thể nhằm bảo vệ quyền lợi cho một đương sự nào đó (hoặc cho người bán hoặc cho người mua). Do đó, việc vận dụng các điều kiện giao dịch vào một hợp đồng cụ thể nào đó thường phải chải qua một quá trình đấu tranh phức tạp giữa hai bên liên quan. Ngoài ra, việc vận dụng các điều kiện giao dịch cũng đòi hỏi phải linh hoạt và sáng tạo, bởi vì bản thân các điều kiện đó cũng được bổ sung, thay đổi hoàn chỉnh không ngừng.

    Trong quá trình buôn bán với nước ngoài, việc vận dụng chính xác các điều kiện giao dịch có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta. Đó là do:

    Một là, có vận dụng khéo léo và sáng suốt các điều kiện giao dịch, chúng ta mới thực hiện đúng đắn được các đường lối chủ trương của đảng và chính phủ về công tác ngoại thương.

    Hai là, những điều kiện giao dịch, một khi đã được vận dụng và trở thành nội dung của hợp đồng sẽ là cở sở có ý nghĩa bắt buộc trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên ký kết. Vì vậy, có vận dụng chính xác những điều kiện đó mới ngăn ngừa được những hiểu lầm tranh chấp và những hậu quả tai hại trong khi ký kết và thực hiện hợp đồng

    Ba là, những điều kiện giao dịch công bằng và hợp lý, sau khi đã được các bên liên quan thoả thuận, thì không những có tác dụng xác định quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong lần giao dịch đó mà có thể trở thành cơ sở và tiền tệ để thoả thuận những giao dịch mới sau đó. Vì vậy, việc vận dụng chính xác các điều kiện giao dịch có thể có tác dụng rút ngắn được thời gian đàm phán hoặc tránh được những thiếu sót xảy ra trong quá trình giao dịch bằng thư từ, điện tín.

    Do vậy các điều khoản chính là nội dung chính của các hợp đồng mẫu. Các điều khoản có thể được in trực tiếp vào hợp đồng, cũng có thể được in riêng trong những văn bản gọi là “ Điều kiện chung giao hàng” (General conditions of delivery), “Điều kiện chung cung cấp” ( General conditions of supply ), “Điều kiện chung mua hàng: ( General conditions of purchase), “Điều kiện đặc biệt về mua hàng” ( Special conditions of purchase)… cũng có khi nội dung chính này của hợp đồng mẫu lại phù hợp với một văn bản do một tổ chức quốc tế ( như Uỷ ban liên hợp quốc về thống nhất tư pháp Unidroit, Uỷ ban kinh tế châu Âu Liên hợp quốc ECE, Phòng thương mại quốc tế ICC v.v..)

    11

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    soạn thảo. Trong các trường hợp này, thay vì trình bày các điều khoản, người ta dẫn chiếu đến các văn bản có liên quan.

    Các điều khoản có thể đánh số thứ tự ( Điều khoản I, điều khoản II, v.v…) cũng có thể được bắt đầu bằng một tên gọi ( Điều khoản giá cả, điều khoản giao hàng v.v…); cũng có thể vừa có số thứ tự vừa có tên gọi.

    Ngôn từ dùng trong các khoản hợp đồng là ngôn ngữ pháp lý thương mại rất chặt chẽ và không chắc là đã thật dễ hiểu. Muốn loại trừ sự hiểu lầm có thể xẩy ra trong những vấn đề lớn, người ta thường có nhiều điều bảo lưu và nhiều điều thêm bớt, câu cú được sắp đặt một cách khác biệt so với văn phong bình thường.

    Trong nội dung nhiều thuật ngữ thương mại được sử dụng. Nhưng thuật ngữ này, trong nhiều trường hợo, chứa đựng những công thức để xử lý những vấn đề nghiệp vụ cụ thể. Ví dụ hợp đồng mẫu có thể dẫn chiếu đến Incoterms 1990 về điều kiện CIF, trong đó người ta đã nêu ra công thức về nghĩa vụ thuê tàu đi theo hành trình thông thường (usual route), phải trả cước đến tận cảng đến v.v…

    Những thuật ngữ trên đây có thể được giải thích bởi mỗi hợp đồng một khác. Ví dụ thuật ngữ “giao nguyên lành” (sound delivery) được giải thích ở các hợp đồng của Đức khác với các giải thích ở các hợp đồng của Anh.

    Tóm lại, hợp đồng mẫu trong buôn bán có một số nét đặc thù cả về hình thức, nội dung và sự vận dụng. Hợp đồng mẫu luôn luôn phục vụ quyền lợi của người thảo ra nó. Sau khi được hai bên ký kết, hợp đồng mẫu sẽ có giá trị ràng buộc các bên đương sự. Vì vậy ngôn từ trong hợp đồng rất chặt chẽ và chính xác.

    12

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    CHƯƠNG II- NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHUNG HỢP ĐỒNG MẪU.

    I. ĐIỀU KHOẢN TÊN HÀNG.

    “Tên hàng” là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng, thư hỏi hàng, hợp đồng hoặc ghị định thư. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi. Điều khoản này hoặc mang tên là điều khoản “hàng hóa đã thoả thuận” (contracted goods, contracted merchandise) “hàng hoá” (commodity), hoặc “đối tượng cảu hợp đồng” (Object of the contract), hoặc” mô tả hàng hoá” (description of the goods), hoặc “mô tả” (description).

    Trong buôn bán Quốc tế, người ta phân biệt rất rõ ràng các khái niệm sau: “hàng” (tên hàng), “nhóm hàng”, “loại hàng” và loạt hàng giống nhau (family of goods). Trên cơ sở những khái niệm đó, chúng tôi rút ra những nhận xét sau đây: Trong đa số trường hợp, một hợp đồng mẫu được soạn thảo cho một nhóm hàng ( như hạt có dầu, ngũ cốc, cao su). cũng có khi, một hợp đồng mẫu chỉ áp dụng cho một loại hàng, ví dụ như hợp đồng mẫu về đường tinh chế, hợp đồng mẫu về đường thô…

    Trong điều khoản tên hàng có những cách sau để biểu đạt tên hàng.

    • Người ta ghi tên thương mại cả hàng hoá và kèm theo tên thông thường và tên khoa học của nó.
    • Người ta ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra hàng đó VD: Rượu vang Bordeux, thuỷ tinh bohêmia…
    • Người ta ghi tên hàng kèm theo tên hàng sản xuất ra hàng đó.

    VD: Xe máy honda, xe hơi ford…

    Ngoài ra, có khi người ta còn kết hợp một hai phương pháp trên với

    nhau.

    VD: Ti-vi 14 inches, màu của hàng sony ( Sony 14” color TV set)

    II. ĐIỀU KHOẢN SỐ LƯỢNG.

     

     

    1.     Chỉ tiêu số lượng và cách biểu thị của nó.

    13

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nhằm nói lên mặt “lượng” của hàng hoá được giao dịch, điều khoản này bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng) của hàng hoá, phương pháp qui định số lượng và phương pháp xây dựng trọng lượng.

    1. Đơn vị tính số lượng:

    Nếu hàng hoá mua bán được tính bằng cái, chiếc, hòm, kiện thì rất dễ dàng. Những hàng tính theo chiều dài, trọng lượng, thể tích và dung tích thì đơn vị phức tạp hơn nhiều: Nếu đơn vị tính không được qui định rõ ràng, các bên giao dịch dễ có sự hiểu lầm nhau. Nguyên nhân của sự hiểu trái ý của nhau là do, trong buôn bán quốc tế, nhiều đơn vị đo lường có cùng một tên gọi nhưng ở mỗi nước lại có một nội dung khác.

    VD: Một bao bông ở Ai cập là 330 kg, ở Brazin là 180 kg, một bì cà phê ở các nước thường là 60 cân Anh (27,13kg), nhưng ở Colombia là 70 cân Anh (31,7 kg).

    Ngoài ra một nguyên nhân đáng kể khác nữa là sự áp dụng đồng thời nhiều hệ thống đo lường trong buôn bán quốc tế. Ngoài các đơn vị thuộc mét hệ, người ta còn dùng hệ thống do lường của Anh, của Mỹ v.v…

    Dưới đây là một số đơn vị đo lường thường dùng trong buôn bán quốc tế, ngoài các đơn vị thuộc mét hệ:

    • Đơn vị đo chiều dài inch (2,54cm ): Foot (12 inches = 0,304m); yard (3 feet = 0,914m); Mile (1,609km).
    • Đơn vị đo diện tích square inch (6,4516 cm2); Square foot (2,2903 dm2); Square yard (0,836 m2); Acre (0,40468 ha) v.v…
    • Đơn vị đo dung tích: Gallon (Anh: 4,546 lít, Mỹ:3,785 lít): Bushel

    (Anh: 3,637 dê ca lít, Mỹ: 3,523 lít): Barrel (158,98 lít)

    • Đơn vị đo khối lượng (trọng lượng ) Grain (0,0648g): Dram(1,772g); Ounce (28,35g trong buôn bán hàng thông thường và 31,1035g trong buôn bán vàng bạc): Short ton (907,184 kg); Long ton (1.016,074kg) Pound (453,59 kg)…
    • Đơn vị tính số lượng tập hợp: Tá (12 cái ); Gross (12 tá), hộp, đôi… Phương pháp quy định số lượng.

    Trong thực tiễn buôn bán quốc tế người ta có thể quy định số lượng hàng hoá giao dịch bằng hai cách:

    14

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Một là, bên bán và bên mua quy định cụ thể số lượng hàng hoá giao dịch. Đó là một khối lượng được khẳng định dứt khoát. Khi thực hiện hợp đồng các bên không đựơc phép giao nhận theo số lượng khác với số lượng đó. Phương pháp này thường được dùng với những hàng tính bằng cái, chiếc.

    Hai là, bên bán và bên mua quy định một cách phỏng chừng về số lượng hàng hoá giao dịch. Khi thực hiện hợp đồng, các bên có thể giao nhận theo một số lượng cao hoặc thấp hơn số lượng quy định trong hợp đồng. Khoản chênh lệch đó gọi là dung sai về số lượng. Điều khoản của đơn chào hàng, hợp đồng hoặc hiệp định qui định dung sai về số lượng gọi là điều khoản số lượng phỏng trừng (moreless clause).

    Điều khoản này có thể được thực hiện trong hợp đồng bằng cách ghi chữ “Khoảng chừng” ( about), “xấp xỉ” (approximately) hoặc (moreless), ± (cộng, trừ ), hoặc “từ…tấn mét đến…tấn mét”.

    Phạm vi của dung sai có thể được xác định trong hợp đồng. Nếu không, nó được hiểu theo tập quán.

    VD: Trong tập quán buôn bán hàng ngũ cốc, dung sai là ±5%, hàng cà phê là ±3%, cao su là ±2,5%, gỗ là ±10%, máy và thiết bị là ±5%, về trọng lượng hàng giao.

    Hợp đồng cũng có thể qui định về người được hưởng quyền lựa chọn dung sai như: Do người bán chọn (at sellers’ option), do người mua chọn (at buyers option), hoặc do bên nào đi thuê tàu thì được chọn (at charterers’ option).

    Trong nhiều trường hợp người ta còn thoả thuận quy định giá hàng của khoảng dung sai về số lượng sao cho một trong hai bên không thể lợi dụng sự biến động của giá cả thị trường để làm lợi cho mình.

    Ngoài việc quy định dung sai về số lượng người ta còn quan tâm đến địa điểm xác định số lượng và trọng lượng. Nếu lấy trọng lượng được xác định ở nơi gửi hàng (trọng lượng bốc – shipped weight) là cơ sở để xem xét tình hình người bán chấp hành hợp đồng, hoặc để thanh toán tiền hàng thì những rủi ro xảy đến với hàng hoá trong quá trình chuyên chở do người mua phải chịu. Nếu việc thanh toán tiền hàng tiến hành trên cơ sở trọng lượng được xác định ở nơi hàng đến (trọng lượng dỡ –landed weight) hai bên phải căn cứ vào kết quả kiểm tra trọng lượng hàng ở nơi đến. Kết quả này được ghi trong một chứng từ do một tổ chức được các bên thoả thuận chỉ định tiến hành kiểm tra và lập lên.

    15

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Trong những trường hợp cần thiết, người ta cũng có thể quy định một tỷ lệ miễn trừ (franchese). Ý nghĩa của việc miễn trừ, trong điều kiện này là:

    • Người bán được miễn trách nhiệm (như trách nhiệm giao bổ xung, hoặc giảm giá, hoặc bồi thường bằng tiền…) nếu mức hao hụt tự nhiên thấp hơn tỷ lệ miễn trừ đã được quy định.

    2.                 Phương pháp xác định trọng lượng.

    Để xác định trọng lượng hàng hoá mua bán, người ta thường dùng những phương pháp sau đây:

    1. Trọng lượng cả bì: Đó là trọng lượng của hàng hoá cùng với trọng lượng của các loại bao bì hàng đó. Những mặt hàng được mua bán theo trọng lượng cả bì không phải là ít. Những quận giấy làm báo, các loại đậu tạp…khi mua bán, người ta thường tính trọng lượng cả bì.

     

    1. Trọng lượng tịnh: Đó là trọng lượng thực tế của bản thân hàng hoá. Nó bằng trọng lượng cả bì trừ đi trọng lượng của vật liệu bao bì . Từ trọng lượng cả bì, muốn tính ra trọng lượng tịnh, phải tính được trọng lượng bì. Có mấy phương pháp tính trọng lượng bì:

     

    • Theo trọng lượng bì thực tế (actual tare): Đem cân cả bao bì rồi tính tổng số trọng lượng bì. Phương pháp này chính xác nhưng mất nhiều công và nhiều khi không thể thực hiện được.
    • Theo trọng lượng bì trung bình ( average tare) trong số toàn bộ bao bì, người ta rút ra một bao bì nhất định để cân lên và tính bình quân. Trọng lượng bình quân đó được coi là trọng lượng bì của mỗi đơn vị hàng hoá.
    • Trọng lượng bì quen dùng( customory tare) đối với những loại bao bì đã được nhiều lần sử dụng trong buôn bán, người ta lấy kết quả cân đo từ lâu là tiền tệ để xác định trọng lượng bì. Khi gặp những loại bao bì như thế người ta tính theo một trọng lượng cố định, gọi là trọng lượng bì quen dùng.
    • Trọng lượng bì ước tính (estimated tare). Trọng lượng bao bì được xác định bằng cách ước lượng, trứ không qua cân thực tế.
    • Theo trọng lượng bì ghi trên hoá đơn (invoiced tare). Trọng lượng bì được xác định căn cứ vào lời khai của người bán, không kiểm tra lại.

    Trong một số trường hợp để biểu thị chính xác trọng lượng tịnh thực tế của hàng hoá người ta còn dùng thuật ngữ “trọng lượng thuần tuý” (net net weight) ý nghĩa của thuật ngữ này là: trọng lượng được xác định chỉ bao gồm

    16

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    trọng lượng của bản thân hàng hoá, không có bất kỳ một loại bao bì nào. Khác với “trọng lượng tịnh thuần tuý”, trọng lượng nửa bao bì gồm trọng lượng của bản thân hàng hoá cộng với trọng lượng của vật liệu trực tiếp.

    Đối với một số mặt hàng mà trọng lượng của bao bì rất nhỏ không đáng kể hoặc đơn giá của bao bì không chênh lệch bao nhiêu so với đơn gía của hàng hoá nhiều khi người ta còn có thể thoả thuận với nhau tính gía cả của bao bì theo cách thức “với cả bao bì coi như tịnh” (gross weight for net). Ý nghĩa của điều khoản này là: Giá cả của bao bì được tính như giá cả của bản thân hàng hoá và cả hai yêú tố này đều tính theo trọng lượng.

    1. Trọng lượng thương mại: Đây là phương pháp áp dụng trong buôn bán những mặt hàng dễ hút ẩm, có độ ẩm không ổn định và có giá trị kinh tế tương đối cao như: Tơ tằm, lông cừu, bông, len.. trọng lượng thương mại là trọng lượng của hàng hoá có độ ẩm tiêu chuẩn. Trọng lượng thương mại thường được xác định bằng công thức:

    Trong đó:

    • GTM : là trọng lượng thương mại của hàng hoá
    • GTT : là trọng lượng thực tế của hàng hoá

    – Wtt   : là độ ẩm thực tế của hàng hoá

    • Wtc : là độ ẩm tiêu chuẩn của hàng hoá
    1. Trọng lượng lý thuyết: Phương pháp này thích hợp với những mặt hàng có

    quy cách và kính thước cố định như: Tấm thép, thép chữ U, thép chữ I, tôn lá… và cả trong trường hợp mua bán thiết bị toàn bộ. Theo phương pháp này, người ta căn cứ vào thể tích, khối lượng riêng và số lượng hàng để tính toán trọng lượng hàng, hoặc căn cứ vào thiết kế của nó ( trường hợp đối với thiết bị toàn bộ) để xác định trọng lượng hàng hoá cung cấp cho nhau. Trọng lượng tìm thấy được gọi là trọng lượng lý thuyết.

    III. ĐIỀU KHOẢN BAO BÌ.

    Trong điều khoản về bao bì, các bên giao dịch thường phải thoả thuận với nhau những vấn đề yêu cầu chất lượng của bao bì và giá cả của bao bì.

    17

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Phương pháp quy định chất lượng của bao bì.

    Để quy định chất lượng của bao bì, người ta có thể dùng một trong hai phương pháp sau đây:

    • Quy định chất lượng của bao bì phải phù hợp với một phương thức vận tải nào đó.

    VD: “bao bì thích hợp với vận chuyển đường sắt”, “bao bì đường biển”.

    Sở dĩ người ta có thể thoả thuận chung chung như vậy, mà vẫn hiểu nhau được là vì trong buôn bán quốc tế, đã hình thành một số tập quán quốc tế về các loại bao bì này.

    Theo tập quán đó bao bì đường biển thường có hình dạng là hình hộp, ít khi là những hình khác, có độ bền khá đủ để chịu đựng sức ép của những hàng hoá khác chất xếp trong cùng hầm tầu trong khi chuyên chở, có kích thước là những số nguyên của đơn vị đo lường. Trong chuyên chở hàng hoá đường biển, ít khi người đóng chung những mặt hàng có suất cước khác nhau vào cùng một kiện hàng, bởi vì trong trường hợp như vậy, các hãng tàu có quyền áp dụng một suất cước cao nhất trong số các suất cước của hàng hoá đóng gói chung để tính cước cho cả kiện hàng.

    Trong chuyên chở đường sắt, bao bì cũng cần khá chắc chắn bởi vì hàng hoá có thể phải qua nhiều khâu sang toa, dịch chuyển. Đồng thời bao bì đường sắt cũng cần kích thước phù hợp với quy định của cơ quan đường sắt, nơi hàng đi qua. Những hàng hoá có bao bì quá dài và có trọng lượng quá nặng, thường gặp khó khăn trong khi đăng ký xin toa, cũng như khi bốc dỡ.

    Bao bì thích hợp với việc vận chuyển bằng máy bay, phải là bao bì nhẹ, có kích thước phù hợp với quy định của công ty hàng không. Có như vậy, mới giảm được chi phí chuyên chở, bởi vì suất cước máy bay cao hơn rất nhiều so với suất cước của các phương thức chuyên chở khác. Ngoài ra, để tránh nguy hiểm cho hàng hoá và công cụ vận tải, người ta tránh dùng những vật liệu dễ bốc cháy trong việc chế tạo bao bì máy bay.

    Điểm lại các tập quán có liên quan đến bao bì, chúng ta thấy rằng cách quy định chung chung về chất lượng bao bì vẫn có thể gây nên sự không thống nhất trong việc giải thích yêu cầu đối với bao bì.

    VD: Mỗi bên giao dịch có thể hiểu một cách khác nhau về khái niệm “khá chắc chắn” hoặc “kích thước phù hợp”.

    18

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Quy định cụ thể các yêu cầu về bao bì như: + Yêu cầu về vật liệu làm bao bì.

    VD: bằng gỗ mới, bằng màng mỏng polyetylen, bằng tre lứa đan, bìa bồi (cardboard), gỗ gép (fiberboard).

    + Yêu cầu về hình thức của bao bì.

    VD: (case) bao (bale), thùng (drum), quận (roll), bao tải (gunny bag).. + Yêu cầu về kích cỡ của bao bì

    VD: Mỗi bao 50kg, đay ép 100kg/ kiện hàng…

    + Yêu cầu về số lợp bao bì và cách thức cấu tạo mỗi lớp đo.

    VD: lớp trong có bôi mỡ và phủ giấy nến, lớp giữa làm bằng nylon, lớp ngoài là hòm gỗ mới dày không dưới 2cm.

    + Yêu cầu về đai nẹp của bao bì:

    VD: hòm phải có ba lượt nẹp, mà bề rộng từ 2cm trở lên, mỗi góc hòm phải có săt cooc-ne…

    Đương nhiên phương pháp quy định các yêu cầu cụ thể của bao bì có nhiều ưu điểm hơn phương pháp quy định chung. Song nó đòi hỏi mỗi bên giao dịch phải có trình độ nhất định về kiến thức và kinh nghiệm cả trong lĩnh vực thương phẩm lẫn trong lĩnh vực vận tải.

    2. Phương thức cung cấp bao bì

    Nói chung, việc cung cấp bao bì được thực hiện bằng một trong ba cách dưới đây, tuỳ theo sự thoả thuận của các bên tham gia giao dịch.

    Một là, bên bán cung cấp bao bì đồng thời với việc giao hàng cho bên mua. Đây là phương thức thông thường nhất, phổ biến nhất.

    Hai là, bên bán ứng trước bao bì để đóng gói hàng hoá nhưng sau khi nhận hàng bên mua phải trả lại bao bì. Nói cách khác, bên bán chỉ bán hàng hoá còn bao bì được giữ lại tiếp tục sử dụng. Phương thức này chỉ thường dùng đối với những loại bao bì có giá trị cao hơn giá hàng hoặc những bao bì sử dụng nhiều lần.

    Ba là, bên bán yêu cầu bên mua gửi bao bì đến trước để đóng gói, sau đó mới giao hàng. Trường hợp này chỉ xảy ra khi nào bao bì quả thật khan hiếm và thị trường thuộc về người bán.

    3. Phương thức xác định giá cả của bao bì.

     

    19

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nếu bên bán chịu trách nhiệm cung cấp bao bì, sau đó không thu hồi, thì hai bên giao dịch thường phải thoả thuận với nhau việc xác định giá bao bì. nói chung việc tính giá của bao bì có thể có mấy trường hợp:

    • Giá của bao bì được tính vào giá cả của hàng hoá, không tính riêng. Đây là biện pháp hay dùng. Trong trường hợp này người ta khẳng định giá hàng đã bao gồm giá của bao bì (Packing charges included)

     

    • Giá cả của bao bì do bên mua trả riêng. Muốn vậy cần xác định mức độ chi phí tạo nên giá cả bao bì. Chi phí này có thể tính theo chi phí thực tế, có thể tính bằng mức phần trăm so với giá hàng. Nhưng cả hai phương pháp này đều có những điểm không thoả đáng. Phương pháp trước sẽ khuyến khích bên bán chế tạo bao bì bằng vật liệu đắt tiền hoặc với khối lượng lớn quá mức cần thiết. Phương pháp sau dễ làm cho giá cả bao bì nhiều hơn chi phí thực tế vì rằng chi phí bao bì không có quan hệ trực tiếp với giá cả hàng hoá.
    • Giá cả của bao bì được tính như giá cả của hàng hoá. Đây là trường hợp các bên thoả thuận áp dụng điều khoản (cả bì coi như tịnh).

    IV. ĐIỀU KHOẢN VỀ PHẨM CHẤT

    1. Tên điều khoản và các phương pháp xác định phẩm chất

    Trong các hợp đồng mẫu, điều khoản phẩm chất có thể mang nhiều tên khác nhau. Có khi đó là: “Phẩm chất” (Quality), có khi là “Phẩm chất hàng hoá” (Quality of goods), có khi là “Quy cách và phẩm chất” (Specification and quality), có khi là “Sự mô tả” ( Description ).

    Trong nội dung của điều khoản này, người ta quy định phẩm chất hàng hoá bằng nhiều cách khác nhau.

    Có hợp đồng chỉ nêu lên phẩm cấp ( category hoặc grade). Trong trường hợp này, phụ lục của hợp đồng xác định rõ nội dung và các chỉ tiêu chất lượng của mỗi loại đó. Cũng có trường hợp bản quy định chất lượng đã được công bố trước tại sở giao dịch và hợp đồng chỉ dẫn chiếu đến bản đó.

    Một số hợp đồng mẫu có nêu lên khả năng dùng hàng đó vào một mục đích nhất định. Ví dụ, ngũ cốc dùng cho người ăn ( for human consumption ) hoặc cho súc vật ( for cattle) hoặc để chế biến công nghiệp v.v…

    Cách mua bán theo mẫu hàng (sale by sample )được dùng khá phổ biến. Theo cách này, trước khi ký hợp đồng người bán đưa ra để người mua xem xét

    20

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    mẫu. Khi đã thoả thuận thành lập hợp đồng, mẫu được hai bên đóng dấu hoặc ghi số hiệu và giao cho bên bán, bên mua và một bên thứ ba để lưu giữ. Công thức thường được dùng trong trường hợp này là: “ Gần giống mẫu đã được đóng dấu / hoặc ký tên / và được lưu giữ tại…” ( About as per sample sealed / or signed / in possession of…). Đôi khi việc bán hàng theo mẫu lại có kèm theo một số chỉ tiêu về chất lượng. Như vậy, ta có thể hiểu rằng hàng hoá phải phù hợp với các chỉ tiêu đã quy định cả đối với những chỉ tiêu khác không được quy định trong hợp đồng, hàng hoá phải phù hợp với mẫu hàng. Còn khái niệm “gần giống”, “gần đúng” với mẫu hàng, các hợp đồng mẫu cũng chưa có sự giải thích rõ ràng. Đa số hợp đồng dành việc này cho trọng tài quy định. Chỉ có hợp đồng mẫu của London Corn Trade Association quy định phạm vi dung sai” đó là 0,5% và của Italia quy định đó là 1%.

    Một số không ít hợp đồng có quy định chung chung, theo những chỉ tiêu đại khái quen dùng như:

    • Phẩm chất trung bình vào lúc giao hàng” (Average quality at the time of shipment) trong hợp đồng của Antwerp.
    • “Phẩm chất tiêu thụ tốt theo mô tả trên: ( Good merchantable quality of the above-mentioned description), trong thương mại về dầu thực vật.
    • “Phẩm chất trung thực và tiêu thụ được” (Qualité loyale et marchande) trong buôn bán về dầu gai.

    -“Phẩm chất bình quân tốt ở thời kỳ bốc hàng theo tập quán ổn định ở địa phương của nước xuất xứ” (Qualité bonne moyenne à l’ e’poque de l’embarquement, suivant usages locaux et constants du pays d’origine) ở các bản điều kiện chung trước đây của Pháp.

    Trong số các hợp đồng loại này, một số hợp đồng đã dùng công thức FAQ (Fair Average Quality). Trong trường hợp này, người ta chỉ định một tổ chức lấy mẫu và công bố trong từng thời gian một. Tuy nhiên, trong ngành thương mại cao su, người ta lại dùng công thức FAQ với mọi ý nghĩa khác thông thường, tức là không mang tính chất của một phương pháp xác định phẩm chất thay đổi tuỳ thời gian và khu vực chọn mẫu trung bình, mà lại là một nhân tố xác định vĩnh viễn cho từng tiêu chuẩn được xếp hạng.

    Đôi khi ta lại thấy thuật ngữ FAQ còn được kèm thêm một tính ngữ như “tốt”, “dưới mức” ví dụ: good FAQ hoặc inferior FAQ. Như vậy một lần nữa chúng ta thấy rất khó dịch chữ “fair” là “tốt” hay “hoàn hảo”.

    21

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Phương pháp xác định phẩm chất “theo hiện trạng” cũng được dùng với thuật ngữ tiếng Pháp “Tel quel”. Đôi khi các hợp đồng của Italia, của London cũng dùng thuật ngữ này với sự biến đổi theo cách phát âm của người Anh cũng dùng thuật ngữ này với sự biến đổi theo cách phát âm của người Anh “Tale quale”, mặc dù trong tiếng Anh đã có thuật ngữ tương đương “As is”. Nội dung của các thuật ngữ này là: Hàng có thể giao theo đúng loại hàng yêu cầu, còn phẩm chất thì “có sao giao vậy”.

    Trong nhiều trường hợp, hàng có khối lượng lớn cũng được mua bán theo sự mô tả ( sale by description). Trong đó, tuỳ theo từng loại hàng, điều khoản mô tả có thể bao gồm:

    • Tỷ lệ tối đa những nhân tố mà người ta không muốn có:
    • Tỷ lệ tối thiểu về những nhân tố có ích:

    -Dung trọng, tức là trọng lượng tự nhiên (natural weight) của một đơn vị dung tích.

    • Kích cỡ (ví dụ: 2800hạt /kg, cục có đường kính từ 3 cm trở lên)
    • Mầu sắc

    -Hương vị

    – v.v…

    Đối với những chất muốn có trong hàng hoá, người ta thường ám chỉ bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: chất lạ: (foreign matters, extraneous matters), chất hỗn hợp (admixture) … Người ta xác định chúng bằng công thức “Không qua…%” (Not exceed…%, not over…%) hoặc “chỉ tới…%” (up to …%). Tuy nhiên, có khi sự quy định chỉ ở mức chung chung, thiếu cụ thể. Ví dụ trong hợp đồng mủ cao su (latex) của London quy định rằng “Không có tạp chất về thương mại” ( Commercially free from extraneous matters).

    Đối với những nhân tố cấu tạo nên hàng hoá, có khi người ta quy định tỷ lệ càng thấp càng tốt của một thành phần nào đó. Ví dụ trong các hợp đồng gạo, tỷ lệ % tấm càng ít thì chất lượng gạo càng cao. Tuy nhiên trong trường hợp này, điều cần là chính xác là chiều dài của tấm ( bằng 1/2 hạt gạo hay bằng 3/4 hạt gạo…)

    Ngoài ra, nhiều chỉ tiêu khác cũng được nêu ra trong hợp đồng, tuỳ thuộc yêu cầu về từng loại hàng như: màu sắc, nhiệt lượng (ví dụ đối với than,

    22

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    dầu mỏ…) hàm lượng của chất chủ yếu trong hàng hoá; số lượng thành phần thu được khi chế biến hàng hoá nói trong hợp đồng v.v…

    Một số hàng có khối lượng lớn đã được tiêu chuẩn hoá và việc mua bán theo tiêu chuẩn cũng không phải là hiện tượng hiếm thấy đối với hàng này. Tuy nhiên, điều khá mới ở nước ta là: Những tiêu chuẩn này không phải chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng mà có cả các tiêu chuẩn do các hiệp hội tư nhân xây dựng nên, nhưng do được dùng lâu, các tiêu chuẩn này cũng được thừa nhận trên thị trường. Một ví dụ về trường hợp này là tiêu chuẩn RSS (Ribbed Smoked Sheet) trong buôn bán cao su do RMA (Rubber Manufacturers Association – hiệp hội các nhà chế tạo cao su) xác định.

    2. Phạm vi chênh lệch cho phép về chất lượng.

    Đối với hàng có khối lượng lớn, phẩm chất thường bị tác động bởi khí hậu, thời tiết, phương tiện bảo quản và vận chuyển v.v… Do đó thật khó lòng bảo đảm sự phù hợp hoàn toàn giữa phẩm chất hàng giao với phẩm chất được quy định trong hợp đồng. Cũng tinh thần như vậy, ngay đến Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (Công ước Vienna 1980) cũng khẳng định rằng hàng hoá chỉ bị coi là không phù hợp với hợp đồng nếu:

    1. Hàng không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hoá cùng loại vẫn thường đáp ứng.
    2. Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người bán đã trực tiếp và gián tiếp biết được vào lúc ký kết hợp đồng, trừ trường hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng không dựa vào ý kiến sau sự phán đoán của người bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp lý.
    1. Hàng không có các tính chất của hàng mẫu hoặc kiểu dáng mà người bán đã cung cấp cho người mua.
    2. Hàng không được đóng bao bì theo cách thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó. (Điều 35 – Mục 2)

    Còn các hợp đồng mẫu thì cho phép hàng giao được phép chênh lệch ở mức độ nhất định so với quy định của hợp đồng. Khi phẩm chất hàng giao nằm trong phạm vi chênh lệch đó (ngoài mức dung sai đã được xác định trước) người mua vẫn không được đòi bồi thường. Đó là tỷ lệ vẫn gọi là miễn thường

    23

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    (franchise). Tỷ lệ miễn thường và mức dung sai cao thấp bao nhiêu đều là do mối tương quan giữa gười mua và người bán quyết định.

    Đôi khi hợp đồng mẫu còn quy định cả những chỉ tiêu được phép chênh lệch và chỉ tiêu nào không được phép như vây.

    Về cách xử lý trường hợp mức độ hàng xấu vượt quá phạm vi chênh lệch, mỗi hợp đồng cũng quy định một khác. Quy định này có khi có lợi cho bên mua, có khi có lợi cho bên bán. Đây là điều khoản nhận hàng trong hợp đồng mẫu về ngũ cốc của Italia:

    “Nghĩa vụ nhận hàng: Người mua phải nhận hàng trong bất cứ trường hợp nào. Người mua không được gửi trả ngay hàng cho người bán dù với lý do phẩm chất không hợp lệ. Người mua vẫn phải nhận hàng và bảo quản, nếu sau khi dỡ hàng thấy hàng xấy do có tiềm tật( inherent vice)

    Trong một số hợp đồng khác về ngũ cốc, ta cũng thấy quy định tương tự. Sở dĩ ngành hàng ngũ cốc có thể quy định như vậy vì ngành này có cả một hệ thống chiết khấu và hạ giá đã có lợi cho bên mua.

    Để xác định sự hoàn thành nghĩa vụ của người bán, người ta thường tiến hành kiểm tra, giám định phẩm chất hàng sau khi hàng đó được giao xong. Để né tránh trách nhiệm đối với việc kiểm tra, giám định như vậy, người bán quy định rằng giấy chứng nhận phẩm chất do mình đưa ra là giấy chứng nhận cuối cùng (Certificate to be final ), trừ phi người mua chứng minh được giấy đó không hợp lệ. Quy định này đã xuất hiện trong các hợp đồng mẫu ngành than và một số hợp đồng mẫu ngũ cốc xuất khẩu từ Canada và Hoa kỳ.

    3. Trạng thái hàng hoá.

    Hàng hoá có thể được đánh gía chẳng những bằng các chỉ tiêu chất lượng (tạp chất, thủy phần, kích cỡ, độ dài của sơ sợi v.v…) như đã trình bày ở phần 1 của chương này, mà còn được đánh giá bằng trạng thái bên ngoài của nó. Trạng thái (condition of goods) thể hiện ở sự biến dạng, sự hấp hơi, sự gãy vụn v.v… hoặc ở sự nguyên lành. Sự nguyên lành này còn gọi là sự an toàn hàng hoá (tiếng Anh: Sound, tiếng Pháp: Sain, tiếng Đức: Gesund).

    Địa điểm đánh gía trạng thái hàng hoá có thể là nơi hàng đi hoặc nơi hàng đến.

    Khi hợp đồng là hợp đồng giao hàng ở nơi đi (shipment contract), trạng thái của hàng hoá được xem xét trong thời gian bốc hàng lên tàu và người bán

    24

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    phải giao hàng trong trạng thái tốt (in good condition) cho người vận tải. Ngược lại đối với hợp đồng giao hàng ở nơi đến (arrival contract), trạng thái hàng được xem xét ở cảng đến.

    Tuy nhiên, điều khó khăn là hợp đồng thuộc loại giao hàng ở nơi đi (ví dụ họp đồng FOB, CIF, CFR) nhưng lại có điều khoản quy định lấy phẩm chất

    • cảng đến làm căn cứ quýêt định. Trong trường hợp này, các điều kiện FOB, CIF, CFR chỉ còn là điều kiện cơ sở của giá cả.

    Để đánh gía trạng thái hàng hoá, người ta thường dùng mấy công thức sau đây: “Giao hàng theo hiện trạng” (Tel quel) “Giao nguyên lành” (Sound delivery), “Điều kiện mạch đen” ( Rye terms)

    “Giao theo hiện trạng” (Tel quel) như đã được định nghĩa ở phần &1 chương này, có nghĩa là “có sao giao vậy”. Nhưng trong các hợp đồng của London Corn Trade Association lại giải thích thuật ngữ này là: Hàng hư hỏng vì nước biển hoặc vì lý do nào khác phải được coi như tốt”

    Những hợp đồng của Antwerp cắt nghĩa thuật ngữ đó như sau: “Khi mua bán theo điều kiện Tel quel, người mua sẽ nhận hàng bị hư hỏng vì nước biển hay vì lý do khác mà không có quyền đòi hạ giá”.

    Đa số những hợp đồng “giao theo hiện trạng” là hợp đồng giao hàng ở nơi đến (DES, DEQ, DDU,DDP) và hợp đồng CIF.

    “Giao nguyên lành”(Sound delivery) là công thức thường thấy trong các hợp đồng của Antwerp. Các hợp đồng của Đức cũng dùng điều kiện này và gọi là “Gesund Auszuliefern” hợp đồng Đức- Hà Lan coi điều kiện này giống như điều kiện Rye terms ( sẽ được trình bày dưới đây còn theo các hợp đồng mẫu của Antwerp giải thích điều kiện “Giao nguyên lành” là : nếu hàng bị hư hỏng vì nước biển hoặc vì lý do khác, người mua phải nhận tất cả hàng, bảo quản hàng đó một cách thích ứng (en bon pere re de famille), không có quyền đòi hạ giá. Nếu đó là người mua cuối cùng (người tiêu dùng), người này phải thông báo bằng hình thức viết cho người bán trong vòng hai ngày kể từ khi hàng được dỡ xong. Nếu là người kinh doanh ở khâu trung gian, người mua phải thông báo cho người bán bằng hình thức biết cho người bán trong một thời gian hợp lý (hoặc nội nhật ngày nhận hàng hoặc trước 12 h:00 ngày hôm sau)

    Trong trường hợp này, những rủi ro và chi phí xảy ra trong thời gian bảo quản hàng hư hỏng đều do người mua ứng trước và người bán phải hoàn lại

    25

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    cho người mua. Và nếu người mua yêu cầu, người bán phải nhận lại hàng hư hỏng đó.

    Như vậy, theo điều kiện này, nếu hàng giao có hư hỏng, người mua được quyền lựa chọn: hoặc là nhận hàng mà không được hạ giá (giống điều kiện Tel quel), hoặc từ chối hoàn toàn lô hàng.

    “Điều kiện mạch đen” (Rye terms) tuy có tên gọi “Lúa mạch đen” nhưng điều kiện này cũng được dùng trong mua bán các loại ngũ cốc khác.

    Điều kiện này được giải thích trong các hợp đồng của London rằng:

    “Người mua sẽ nhận hàng hư hỏng vì nước biển hoặc vì một lý do khác

    nếu người bán hạ giá hàng, nhưng không kể trường hợp do bị nóng nhẹ, không bị ảnh hưởng tới phẩm chất và không làm giảm giá trị hàng hoặc trường hợp hư hỏng trên đất liền mà không cho quyền đòi hỏi giá”

    Các hợp đồng của Italia cũng giải thích tương tự. Hợp đồng Đức-Hà lan biểu thị cùng một nghĩa này: “hàng giao đi phải tốt, không kể tới hàng bị khô, nóng nhẹ, không làm phẩm chất biến đổi người mua

    Phải nhận hàng hư hỏng đó và được hạ gía theo mức mà trọng tài quyết

    định”

    “Tổn thất trên biển do bên bán chịu” (Sea damages for the sellers account) tuy là điều kiện không được phổ biến nhiều nữa, nhưng vẫn còn được nêu trong một vài hợp đồng mẫu, với tên gọi tắt là điều kiện S.D.

    Điều kiện này được định nghĩa đầy đủ như sau:

    Hàng bị hư hỏng vì nước biển, thiệt hại do người bán chịu (damages by sea water, if any to be for the sellers account).

    Các hợp đồng của London về hạt ngũ cốc nhập khẩu từ ấn độ có ghi thể thức như sau: “người mua sẽ không nhận những kiện hàng và hàng hoá bị hư hỏng vì nước biển hay hơi nước đọng lại”

    Hợp đồng của Antwerp về hạt ngũ cốc nhập từ Achentina và Urugay (với điều kiện hàng đến Antwerp an toàn và lại tái xuất CIF) cho lựa chọn: hoặc hai bên thoả thuận rằng hàng sẽ giao cho người mua ở trạng thái lúc bốc hàng ở Châu Âu thế nào thì giao như thế với điều kiện sẽ hạ gía hoặc hợp đồng sẽ coi như hoàn thành mà người bán không phải phí tổn khi hàng không có trạng thái bên ngoài tốt.

    26

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    V. ĐIỀU KHOẢN GIAO HÀNG

     

     

    1.     Điều kiện cơ sở giao hàng.

    Các hợp đồng mẫu đều có sự vận dụng một trong những điều kiện cơ sở giao hàng đã được hình thành trong buôn bán quốc tế để phân chia trách nhiệm về việc giao hàng. Đó là các điều kiện như EXWORK, EX WARE-HOUSE, FOB, CIF, CFR v.v..

    Các điều kiện này được giải thích một cách rất khác nhau bởi các tập đoàn buôn bán, bởi tập quán ngành hàng và bởi tập quán địa phương. Phòng thương mại quốc tế đã có công thống nhất giải thích các điều kiện đó trong văn bản “ các điều kiện thương mại” gọi tắt là Incoterms.

    Các hợp đồng mẫu đã dẫn chiếu đến Incoterms bằng công thức, chẳng hạn như:

    • Giá hàng được hiểu là FOB /CIF/CFR cảng… theo Incoterms 1990 (the price to be understood interested in accordance with Incoterms 1990.
    • Hợp đồng này chịu sự điều tiết của những quy định trong Incoterms 2000 (the contract will be governed by the provision of Incoterms 2000).

    Những hợp đồng không dẫn chiếu đến Incoterms thường có quan niệm rất khác nhau về điều kiện cơ sở giao hàng. Chẳng hạn, đã có trường hợp người ta quan niệm điều kiện CIF giống như điều kiện EX SHIP (mà ngày nay, theo Incoterms là DES).

    Sở dĩ có sự hiểu lầm giữa CIF và EX SHIP là vì, trong nhiều lúc, người ta không phân biệt giữa hàng giao thực tế (actual delivery) với giao hàng tượng trưng (Symbol delivery) CIF thuộc loại giao hàng tượng trưng, trong đó giao chứng từ được coi là giao hàng, nếu chứng từ hợp lệ thì người mua phải trả tiền. Còn EX SHIP (tức DES) thuộc loại giao hàng thực tế, trong đó người bán phải thực sự đặt hàng hoá dưới sự định đoạt của người mua trên tàu tại cảng đến quy định.

    Theo Incoterms, khi hàng được giao bằng container hoặc tàu RO/RO thì cần thay điều kiện FOB bằng điều kiện FIA, thay CFR bằng CPT, thay CIF băng CIP.

    2. Thời gian giao hàng.

    27

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Thời hạn giao hàng là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nếu các bên giao dịch không có thoả thuận gì khác, thời hạn này cũng là lúc di chuyển rủi ro và tổn thất về hàng hoá từ người bán sang người mua.

    Trong buôn bán quốc tế, người ta có 3 kiểu quy định thời hạn giao hàng như sau:

    • Thời hạn giao hàng có định kỳ: theo phương pháp này người ta có thể xác định thời hạn giao hàng.

    + Hoặc vào một ngày cố định, ví dụ vào ngày 30 tháng 5 năm 2000

    • Hoặc vào một ngày được coi là ngày cuối cùng của thời hạn giao hàng, ví dụ: Không chấp nhận quá ngày 30 tháng 5 năm 2000.
    • Hoặc bằng một khoảng thời gian như: quý 3 năm 2000
    • Hoặc bằng một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo sự lựa chọn của một trong hai bên, ví dụ: trong vòng 6 tháng sau khi ký kết hợp đồng tuỳ theo sự lựa chọn của người bán (within 6 months after concluding the contract, at the sellers option) từ tháng 2 đến tháng 7 tuỳ người mua lựa chọn (delivery Feb./Jul. at the buyers option)…
    • Thời hạn giao hàng ngay: theo phương pháp này các bên giao dịch có thể thoả thuận:
    • Giao nhanh ( Prompt)
    • Giao ngay lập tức (immediately)
    • Giao càng sớm càng tốt ( as soon as possible)
    • v…

    Nội dung của những qui định trên đây được giải thích ở từng nơi, từng vùng, từng ngành một khác nhau. Ví dụ, ở Mỹ người ta giải thích “giao ngay” là giao trong vòng 5 ngày sau khi ký kết hợp đồng, “giao gấp” là giao trong vòng 5 ngày đến 10 ngày sau khi ký kết hợp đồng.

    Trong bản “ qui tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ” (bản sửa đổi năm 1993), phòng thương mại quốc tế giải thích một cách thống nhất “các từ ngữ đó là yêu cầu gửi hàng trong thời gian 30 ngày kể từ ngày mở thư tín dụng” (tài liệu của phong thương mại quốc tế số 500)

    • Thời hạn giao hàng không định kỳ: Đây là cách quy định chung chung ít được dùng. Theo cách này người ta có thể thoả thuận như:

    28

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Giao hàng cho chuyến tầu đầu tiên (Shipment by first available steamer).
    • Giao hàng khi nào có khoang tàu (Subject to shipping space available

    )

    • Giao hàng sau khi nhận được L/C (Suject to the opening of L/C)
    • Giao hàng khi nào xin được giấy phép xuất khẩu (subject to export

    licence.

    Trong hợp đồng mẫu có thể dành chỗ cho việc ghi ngày giao hàng, cũng có thể dành chỗ cho việc ghi tháng giao hàng. Theo công ước Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (công ước Vienna1980) “Người bán phải giao hàng đúng vào ngày mà hợp đồng đã quy định cho việc giao hàng”. Vì vậy khi quy định ngày giao hàng, người bán phải giao trước 24 giờ ngày đó; còn khi qui định tháng giao hàng, người bán phải tiến hành việc giao hàng vào một ngày trong tháng đó (tính từ ngày đầu tiên đến ngày cuối tháng).

    Tuy nhiên, nếu ngày ấn định giao hàng lại là một ngày không làm việc (Tiếng Anh: Non-business day, non-market day) thì, theo một số hợp đồng mẫu, người bán phải giao hàng vào ngày tiếp theo.

    Nhiều khi các bên trong hợp đồng lại dùng những thuật ngữ chung chung để quy định thời gian giao hàng như: “giao càng sớm càng tốt” (as soon as posible – viết tắt là: asap)…những thật ngữ này được mỗi tập đoàn giải thích một khác.

    Dưới đây là cách hiểu của các tập đoàn đối với các thuật ngữ chỉ thời gian giao hàng tính từ lúc ký hợp đồng:

    (Đơn vị: ngày)

    NHÓM TÊN TẬP ĐOÀN TẠI CHỖ NHANH LẬP TỨC GẤP
    HÀNG   SPOT QUICK IMMEDIAT PROMP
              E T
    Ngũ cốc Chambre Arbitrale-Anvers        
    6   6 31
    Ngũ cốc Associasione dei Cereale-Genova        
      8 5  
    Hạt Seed,  Oil,  Cake  Association  –        
        7-21 7-21
    dầu   Liverpool        
    Hạt Foreign  comm.  Asso  –  San        
    1 2 5 10
    dầu   Francisco        
        29        

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Hạt  có Nat. Cottonseed Prod. Asso.-New     5 10
    dầu Orleans        
    Đường Refined Sugar Asso        
        3 14
    Cao su Rubber Trade Asso –Newyork        
          10
    Bông Assol de coton –Haver        
        14 15-30
    Bông Alexandria Cotton Asso- Egypt        
          14
    Gỗ Timber Trade Feeder of U.k        
          45
    Kim London Metal Exchange        
          5
    loại          
               

    Phòng thương mại quốc tế đã giải thích – trong các UCP (Điều lệ và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ) rằng tất cả các thuật ngữ trên đều có nghĩa là hàng được giao trong vòng 30 ngày kể từ ngày L/C được mở.

    Trong các hợp đồng mẫu do các sở giao dịch hàng hoá soạn thảo, người ta thường nêu ra 2 thời hạn giao hàng: thời hạn giao hàng cơ sở (basic delivery) và thời hạn giao hàng có thể kéo dài (tenderable delivery) khi đến thời hạn giao hàng cơ sở, nếu một bên thấy việc thanh toán hợp đồng không có lợi cho mìng thì có thể nộp một số tiền bù để hoãn mua hặc hoãn bán là Backwardation.

    3. Địa điểm giao hàng.

    Địa điểm giao hàng thường được ghi bên cạnh điều kiện cơ sở giao hàng. Trong các hợp đồng mẫu, người ta để chừa một khoảng trống sau điều kiện cơ sở giao hàng để các đương sự ghi địa điểm giao hàng.

    Đối với các hợp đồng giao hàng tại chỗ (spot contract), việc quy định địa điểm giao hàng là khôg có gì phức tạp. Nhưng đối với các hợp đồng CIF, người ta phải ghi rõ tên hai cảng: cảng bốc hàng (loading port) và cảng dỡ hàng (discharging port).

    Cũng không ít khi người ta còn quy định cảng giao nhận về số lượng và cảng giao nhậ về chất lượng hàng.

    Việc lựa chọn địa điểm giao hàng có liên quan chặt chẽ đến phương thức chuyên chở hàng hoá và đến điều kiện cơ sở giao hàng. Mặc dù nói chung điều kiện cơ sở giao hàng đã xác định rõ địa điểm giao hàng, ví dụ khi thoả thuận

    30

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    giao hàng theo điều kiện FOB Marseille, FOB Liverpool thì địa điểm giao hàng đã được quy định rồi. Tuy nhiên, có những điều kiện cơ sở giao hàng chỉ xác định cảng đến mà không xác định cảng đi (ví dụ điều kiện CIF, CFR) hoặc có trường hợp hai bên muốn giành giật hơn nữa lợi thế về mình. Vì thế, hai bên có thể còn phải thoả thuận quy định địa điểm giao hàng.

    Trong buôn bán quốc tế, người ta phân biệt các phương pháp sau đây về việc quy định địa điểm giao hàng.

    • Quy định cảng (ga) giao hàng, cảng (ga), đến, cảng (ga) thông qua.
    • Quy định một cảng (ga) và nhiều cảng (ga): trong trường hợp đối tượng giao dịch là hàng bách hoá người ta thường chỉ quy định một địa điểm hàng đi hoặc một địa điểm hàng đến. Nhưng khi giao dịch về hàng hoá có khối lượng lớn, người ta có thể quy định nhiều địa điểm gửi hàng và – hoặc nhiều địa điểm hàng đến. Ví dụ, cảng đi: Hải Phòng/ Đà Nẵng/ TP Hồ Chí Minh; Cảng đến: Luân đôn/ Livơpun/ Hămbua.
    • Quy định cảng (ga) khẳng định và cảng (ga) lựa chọn: dù có quy định một hoặc nhiều cảng (ga) nhưng phương pháp trên vẫn khẳng định nơi giao hàng. Tuy nhiên trong buôn bán quốc tế nhiều khi người ta còn cho phép một bên lựa chọn cảng khẩu (optional ports) trong trường hợp này người ta có thể quy định bằng một trong hai phương pháp sau:
    • Trong thuật ngữ về điều kiện cơ sở giao hàng, các bên giao dịch lựa chọn thêm một cảng thứ hai hoặc thứ ba, ví dụ: FOB Hămbua/ Rot-tec-dam/ Am-xtec-dam; điều kiện CIF Luân đôn/ Rortecdam/ Hămbua.
      • Các bên giao dịch quy định những cảng chủ yếu của một khu vực nào đó được coi là cảng lựa chọn đối với một trong hai bên. Ví dụ, nếu các bên quy định: “ CIF European main ports” hoặc “CIF EMP” thì đến lúc giao hàng, bên mua có thể chỉ định bất cứ một cảng nào đó trong số các cảng chủ yếu của Châu Âu làm cảng hàng đến.

    Thật ra trong cách quy định thứ hai này vẫn có thể xảy ra tranh chấp vì, trong số các cảng của Châu Âu hiện nay vẫn chưa có một quy định cụ thể những cảng nào là cảng chủ yếu.

    4. Phương thức giao hàng.

    Thực tiễn giao hàng trong mua bán hàng hoá đã làm nảy sinh nhiều phương thức giao hàng.

    31

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Người ta có thể quy định việc giao nhận được tiến hành ở một nơi nào đó là giao nhận cuối cùng. Việc giao nhận sơ bộ thường được tiến hành ở ngay địa điểm sản xuất hàng hoá hoặc ở nơi gửi hàng. Việc giao nhận sơ bộ thường có mục đích là bước đầu xem xét hàng hoá, xác định sự phù hợp về số lượng và chất lượng hàng so với quy định trong hợp đồng. Trong khi giao nhận sơ bộ, người mua có quyền đòi hỏi khắc phục khuyết điểm hàng hoá trước khi giao hàng. Việc giao nhận cuối cùng có mục đích xác nhận việc người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng về các mặt số lượng, chất lượng hàng, thời gian giao hàng. Qua đó, hai bên thừa nhận các kết quả kiểm tra hàng hoá đã lấy được ở nơi giao nhận cuối cùng. Người ta cũng có thể quy định việc giao nhận được tiến hành ở một địa điểm nào đó là việc giao nhận về số lượng hoặc là việc giao nhận về chất lượng.

    Giao nhận về số lượng là xác định số lượng thực tế của hàng được giao bằng các phương pháp cân, đo, đếm. Việc giao nhận bằng số lượng được tiến hành ở đâu là tuỳ theo điều khoản quy định trong hợp đồng. Ví dụ, nếu hợp đồng quy định “ trọng lượng bốc hàng” thì địa điểm xác định trọng lượng là cảng gửi hàng, thời gian xác định là khi giao hàng.

    5. Thông báo giao hàng.

    Các điều kiện cơ sở giao hàng đã bao hàm nghĩa vụ về thông báo giao hàng. Nhưng, bên cạnh đó, các bên giao dịch thường vẫn thoả thuận thêm về nghĩa vụ thông báo giao hàng. Trong khi thoả thuận về việc này, người ta thường quy định về số lần thông báo giao hàng và những nội dung cần được thông báo.

    Thời gian hoàn thành nghĩa vụ giao hàng được khá nhiều hợp đồng mẫu quan tâm quy định. Theo phần lớn các hợp đồng mẫu, ngày giao hàng được xác định “bằng ngày vận đơn được cấp hoặc sẽ được cấp” (tiếng anh: as per bill of lading dated or to be dated). Đa số các hợp đồng thuộc loại này còn quy định rằng, nếu không có bằng chứng khác thì vận đơn đường biển được công nhận là bằng chứng ngày bốc hàng lên tầu. Một số hợp đồng còn đề cao giá trị này của vận đơn bằng cách quy định rằng nếu muốn phủ nhận bằng chứng của vận đơn thì phải đưa ra bằng chứng “có khả năng thuyết phục” (conclusive). Những hợp đồng khác không công nhận những bằng chứng khác ngoài vận đơn về ngày bốc hàng.

    32

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Vì ngày của vận đơn quan trọng như thế cho nên để xác định thời gian hoàn thành việc giao hàng các hợp đồng thường quy định khi nào thì ghi ngày vào vận đơn. Đa số hợp đồng ngũ cốc của London quy định vận đơn phải đề ngày hàng thực sự đã nằm trên tầu biển, các vận đơn nhận hàng để xếp (Received for shipment bill of lading) không được công nhận là hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.

    Hầu hết các hợp đồng mẫu đều có một hay nhiều điều khoản cho hoãn hoặc miễn giao hàng nếu gặp những trở ngại khách quan (không phụ thuộc vào đương sự) cản trở việc giao hàng đó. Điều khoản này có thể mang tên là điều khoản “trường hợp bất khả kháng” (Force majeure), điều khoản “ngoại lệ” (exception) điều khoản “miễn trách”

    Thông thường thời hạn giao hàng được hoãn trong một thời gian tương ứng với thời gian diễn biến của trở ngại cộng với thời gian khắc phục hậu quả của nó để thực hiện hợp đồng. Khi trở ngại kéo dài, quá một thời gian đã được quy định thì, với những điều kiện nhất định, một bên có thể yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng.

    Một số hợp đồng không quy định thời hạn cụ thể để sau đó có thể yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng. Mà chỉ quy định đó chỉ là thời gian quy định hợp lý (Reasonable time). Cũng có hợp đồng mà, nếu ta suy diễn từng chữ trong đó, lại không cho huỷ hợp đồng, không kể tới thời gian dài hay ngắn của sự việc trở ngại, đương sự vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.

    Ngoài nguyên nhân khách quan trên đây, việc giao hàng có khi còn phụ thuộc vào chủ quan của đương sự. ở một vài hợp đồng mẫu, chúng ta có một điều khoản đặc biệt, gọi là “điều khoản gia hạn” (extension clause), cho đương sự được quyền hoãn giao trong một vài ngày (có thể tối đa là 8 ngày), miễn là phải trả cho đối tác của mình một khoản tiền thích ứng. Như vậy, người bán có quyền lựa chọn quyền giao hàng đúng hạn với việc hoãn giao hàng và chịu phạt. Nhưng khi sử dụng quyền hoãn giao hàng người bán phải báo cho người mua biết.

    6. Những quy định khác về việc giao hàng.

    Ngoài những vấn đề nêu trên, trong điều kiện giao dịch, căn cứ vào nhu cầu của bên mua, vào khả năng của bên bán và vào những đặc điểm của hàng hoá, người ta có những quy định đặc biệt như sau:

    33

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Đối với những hàng hoá có khối lượng lớn, người ta có thể quy định “cho phép giao hàng từng đợt” (partial shipment).
    • Nếu trên dọc đường đi cần phải thay đổi phương tiện vận chuyển, người ta có thể quy định “cho phép chuyển tải” (transhipment alloed).
    • Nếu cảng gửi hàng ở gần cảng đến, khi hành trình của giấy tờ lại chậm hơn hành trình hàng hoá, người ta có thể quy định “ vận đơn đến chậm được chấp nhận”.
    • Nếu người bán uỷ nhiệm cho một người thứ ba đứng ra thay mặt mình đứng ra giao hàng, người ta có thể quy định “vận đơn người thứ ba được chấp nhận” (thirdparty B/L acceptable).

    VI. ĐIỀU KHOẢN VẬN TẢI:

     

    Trong điều khoản vận tải của các hợp đồng người ta thường nêu lên những vấn đề sau:

    1. a. Quy định tiêu chuẩn về con tầu trở hàng như: tầu có khả năng đi biển, phải được xếp loại A theo đăng kiểm của Loyd’s hoặc tầu phải dưới 15 tuổi sử dụng, hoặc phụ phí tầu già (OAP) phải do người thuê tầu chịu.
    1. Quy định về nước bốc dỡ, thời gian bốc dỡ, thưởng phạt bốc dỡ.
    1. Quy định về thời gian bắt đầu tính thời gian bốc dỡ.
    1. Quy định về điều kiện để tống đạt thông báo sẵn sàng bốc dỡ như:

     

    • WIBON (whether in berth or not) dù ở cầu cảng hay chưa.
    • WIPON (whether in port or not) dù ở cảng hay chưa.
    • WIFPON (whether in free pratique or not) dù đã được tự do tiếp xúc với bờ hay chưa.
    • WICCON (whether in custom’s clearance or not) dù đã thông quan hay

    chưa.

    1. Quy định về thưởng (Despatch money) và phạt (Demurrage) bốc dỡ.

    Cũng có khi, người ta không quy định thưởng phạt bằng cách quy định chung chung như “mức bốc dỡ nhanh thường lệ” ( CQD-customary quick despatch)

    Ngoài những điều kiện trên đây trong quá trình giao dịch tuỳ từng tình hình cụ thể, các bên có thể đề ra những điều kiện khác ví dụ:

    34

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • Điều kiện cấm chuyển bán, thu hẹp quyền hạn của bên mua, không cho bên mua được bán lại hàng hoá mà mình đã mua theo một hợp đồng nhất định.
    • Điều kiện về quyền lựa chọn: cho phép một bên được lựa chọn về một nội dung nào đó của hợp đồng như: lựa chọn về số lượng dung sai, lựa chọn cảng giao hàng…
    • Điều kiện chế tài quy định các loại phạt, phạt bội ước, bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng phải chịu.
    • Điều kiện quy định trình tự thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng.
    • Điều kiện cấm chuyển nhượng quyền lợi và nghĩa vụ cho một bên thứ ba, nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cùng ký kết hợp đồng.
    • .v.v…

    Các điều kiện trên đây đều có tính chất tuỳ ý, cho phép hai bên được tự nguyện vận dụng. Nhưng một khi đã được vận dụng vào hợp đồng, chúng trở thành bắt buộc với các bên ký kết và phải được thực hiện nghiêm chỉnh.

    Trong buôn bán quốc tế, nhiều công ty hoặc hiệp hội công nghiệp ghi sẵn những điều kiện giao dịch có lợi cho mình vào một văn bản gọi là “Standard form contract” hoặc “điều kiện chung bán hàng” (General conditions of sale) hoặc “điều kiện chung giao hàng” (General conditions for delivery of goods) của họ. Mỗi khi đàm phán ký kết hợp đồng, họ đưa ra một số dự thảo sẵn của hợp đồng để làm căn cứ thảo luận. Tuy nhiên, nếu gặp đối thủ yếu thế hơn so với họ, hoặc đối thủ có sơ xuất trong việc kiểm tra các điều khoản của hợp đồng, họ cũng không ngần ngại buộc đối thủ phải chấp nhận các điều kiện do họ đưa ra.

    VII -ĐIỀU KHOẢN GIÁ CẢ VÀ THANH TOÁN.

    1. Đồng tiền của hợp đồng.

    Trong giao dịch buôn bán điều kiện gía cả là một điều kiện quan trọng, điều khoản giá cả những vấn đề : đồng tiền tính giá, mức giá, phương pháp quy định giá, phương pháp xác định mức giá, cơ sở của giá cả và việc giảm giá.

    Các hợp đồng mẫu trong các sở giao dịch hàng hoá thường có in sẵn đơn vị tiền tệ là đồng tiền của địa phương. Còn trong các hợp đồng mẫu khác, đồng tiền của hợp đồng được ghi là đồng tiền ổn định, thậm chí đang lên giá. Ngược lại, nếu đó là người mua thì, do tâm lý sợ giảm sút tài sản hiện có và

    35

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    muốn chuyển đổi đồng tiền mất giá mau chóng thành hàng hóa, đồng tiền của hợp đồng có thể là đồng tiền mất giá, không ổn định.

    Bên cạnh nhân tố trên đây, sự lựa chọn đồng tiền của hợp đồng còn phụ thuộc vào tập quán của ngành – hàng. Ví dụ các hợp đồng mẫu về cao su thường dùng đồng bảng Anh (GBP), nhiều hợp đồng mẫu về ngành – hàng khác lại dùng đồng đô la Mỹ (USD). Nhân tố này vẫn có thể thay đổi. Cụ thể, thước chiến tranh thế giới thứ hai, các hợp đồng bông thường dùng đồng bảng Anh, nhưng đến nay các hợp đồng về mặt hàng này lại thường dùng đồng đô la Mỹ.

    Không phải bao giờ đồng tiền tính giá cũng là đồng tiền thanh toán. Trong trường hợp giá cả ghi bằng một đồng tiền, thanh toán lại là một đồng tiền khác, hợp đồng có qui định tỷ giá để chuyển đổi. Tỷ giá đó có thể là một đồng tiền khác, hợp đồng có qui định tỷ giá để chuyển đổi. Tỷ giá đó có thể là tỷ giá do Ngân hàng trung ương công bố hoặc là tỷ giá hình thành trên thị trường hối đoái. Thời gian công bố có thể là lúc mở cửa chợ/ mở cửa ngân hàng (opening rate) hoặc là lúc đóng cửa cợ / đóng cửa ngân hàng (closing rate). Thường thường, tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra bao giờ cũng có chênh lệch, cho nên hợp đồng cũng phải qui định rõ tỷ giá nào được áp dụng.

    Sự biến động của tỷ giá hối đoái ngày nay rất nhanh chóng và hợp đồng mẫu lại được soạn thảo cho một thời gian không quá ngắn, cho nên điều khoản đảm bảo hối đoái có thể lúc này có lợi cho tập đoàn, lúc khác lại bất lợi cho họ.

    2. Giá cả của hợp đồng.

    Giá cả trong các hợp đồng ngoại thương là gía quốc tế. Việc xuất khẩu thấp hơn giá quốc tế và nhập khẩu cao hơn giá quốc tế làm tổn hại dến tài sản quốc gia. Vì vậy, trước khi ký hợp đồng, các bên phải tuân theo những nguyên tắc xác định giá quốc tế.

    Trong buôn bán một số mặt hàng (như qặng, kim loại, lương thực, thực phẩm… chẳng hạn) giá cả lại được xác định theo hàm lượng của chất hữu ích trong hàng hoá mua bán. Nếu hàm lượng chất đó càng giàu thì giá cả càng cao. Nếu hàm lượng chất hữu ích càng thấp thì giá cả càng hạ. Trong không ít hợp đồng. Giá cả lại được xác định ngay vào khi ký kết, nhưng kèm theo giá đó có điều khoản về mức tăng giá khi hàng được giao có hàm lượng chất hữu ích cao hơn qui định của hợp đồng. Mức tăng giá đó gọi là tăng gia về chất lượng hàng

    36

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    (bonification). Ngược lại, khi hàm lượng chất hữu ích trong hàng được giao lại thấp hơn so với qui định, mức giảm giá tương ứng gọi là giảm giá về chất lượng hàng (refaction).

    Trong một số hợp đồng mẫu về quặng, người mua còn đề ra những qui định bất lợi cho người bán như: Nếu hàm lượng chất hữu ích thấp hơn qui định, người bán chẳng những phải hạ giá mà còn phải hoàn lại một phần tiền cước mà người bán đã phải trả cho người vận tải. Phần cước phải hoàn lại này tương ứng với phần tạp chất vô ích đã có trong khối lượng hàng chuyên chở.

    Một số hợp đồng mẫu qui định giá hàng giao rời (tức “để xá”), không đóng gói), và giá hàng có bao bì. Giá có bao bì thường cao hơn giá hàng giao rời.

    Đa số hợp đồng trực tiếp xác định giá, có thể là giá cố định (fixed price), có thể là giá linh hoạt (flexible price). Trong trường hợp này, hợp đồng có thể qui định giá bằng một con số, ví dụ: Đơn giá…. USD (Unit price:…USD). Nhưng cũng có khi giá cả được qui định bằng hai con số là giá và mức giảm giá, ví dụ: Giá đơnvị….USD giảm giá…% (Unit price: USD…. To be discounted ….%)

    Trong ngành buôn bán quặng, hợp đồng có thể qui định giá cơ sở (basic price) và, kèm theo hợp đồng, có cả một bản tính toán mức tăng giá thời vụ (seasonal discount), giảm giá trả tiền sớm (cash discount), giảm giá vì số lượng lớn (quantiy discount),v,v…

    Một số hợp đồng lại qui định giá một cách gián tiếp. Theo cách này, hợp đồng chỉ qui định phương pháp xác định mức giá, ví dụ giá phải cao hơn giá yết bảng ở sở giao dịch. Lại có trường hợp, hợp đồng thoả thuận lấy làm giá hợp đồng giá yết bảng ở một sở giao dịch hàng hoá vào một thời điểm nào đó tuỳ người bán chọn (on seller’s call) hoặc tuỳ người mua chọn (on Buyer’s call).

    Tất nhiên, dù qui định bằng cách nào, hợp đồng cũng phải xác định những vấn đề sau đây: Giá đó tương ứng với điều kiện giao hàng nào (FOB, CIF, CFR, FCA v.v…). Giá đó đã bao gồm chi phí bao bì hay chưa?

    3. Một số vấn đề về việc thanh toán.

    Nếu giao hàng là nghĩa vụ quan trọng của người bán thì trả tiền cũng là nghĩa vụ rất quan trọng của người mua. Vì vậy, bên cạnh điều khoản giao

    37

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    hàng, các hợp đồng mẫu đều có điều khoản trả tiền (ở các hợp đồng mẫu bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, điều khoản này ghi là “payment”, còn các hợp đồng mẫu tiếng Đức ghi là “Zahlung”.

    Trong nghiệp vụ xuất khẩu hàng ngũ cốc, các hợp đồng mẫu thường người mua trả tiền sớm, thậm chí trả tiền trước khi giao hàng (CBD – cash berore delivery) hoặc trả tiền ngay khi ký hợp đồng (CWO –cash with order) hoặc trả tiền trước với ý nghiã đặt cọc (down payment.)

    Trong khi đó, những hợp đồng mẫu do các liên doàn soạn thảo để nhập khẩu lại thường quy định trả chậm, trả sau (deferred payment) hoặc trả sau thành nhiều kỳ bằng nhau (instalment payment)

    Trong lĩnh vực buôn bán da sống, có hợp đồng qui định là trả ngay, nhưng điều khoản trả tiền vẫn bất lợi cho người bán. Ví dụ, người ta qui định “trả ngay vào lúc giao hàng ở cảng đến” (cash on delivery at port of destination.)

    Trong không ít trường hợp, hợp đồng mẫu nhập khẩu cho bên mua được quyền chọn thời hạn trả tiền trong phạm vi một thời hạn quy định. Nếu trả tiền sớm, trước hạn thì người mua được hưởng một khoản giảm giá, gọi là “giảm giá trả tiền sớm” (cash discount)

    Về thời hạn trả tiền, một số hợp đồng mẫu của London chỉ đề chung chung như: Trả tiền trong thời hạn thích đáng (in due course hặc due days) hay trả gấp (prompt)… Hợp đồng cũng không giải thích những thuật ngữ đó là bao nhiêu ngày.

    Việc trả tiền có thể tiến hành làm một lần, có thể làm hai lần: Tạm tính và thanh toán chính thức. Việc tạm tính thường sảy ra trong hai trường hợp sau:

    1. Hợp đồng qui định lấy số lượng và/ hoặc chất lượng hàng ở cảng đến làm căn cứ quyết định để thanh toán. Khi đó, sau lúc giao hàng ở cảng đi, người bán chỉ thanh toán tạm thười bằng một hoá đơn tạm tính (Provisional Invoice hoặc Facture provisoire hoặc Provisorisch Rechnung ). Sau khi hàng đã được giao nhận chính thức về số lượng và / hoặc chất lượng tại cảng đến, người bán mới làm hoá đơn chính thức (final Invoice hặc facture finale hặc Schlut – Rechnung ) để thanh toán dứt khoát.

    38

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Hàng được giao làm nhiều lần, cứ mỗi lần giao hàng, người bán chỉ làm hoá đơn tạm tính. Chỉ sau khi hàng được giao lần cuối cùng, người bán mới làm hoá đơn chính thức để thanh toán dứt khoát tiền hàng.

    Trong các hợp đồng mẫu được soạn thảo từ những năm 60 trở về trước, vẫn còn có trường hợp trong đó qui định việc trả tiền tiến hành trên cơ sở thực tế hàng giao. Nhưng trong những hợp đồng soạn thảo gần đây, tuyệt đại bộ phận qui định trả tiền trên cơ sở chứng từ (cash againt docments)

    Trong số những chứng từ hàng hoá làm cơ sở để thanh toán tiền hàng, chứng từ quan trọng nhất là vận đơn. Tuỳ theo phương thức vận tải, đó có thể là vận đơn đường biển (ocean bill of lading ), vận đơn đường sắt (Railway bill) vận đơn ô tô (Bill of truck….) Nếu hàng được chở bằng container, vận đơn đó có thể là vận đơn giao nhận gọn container (FCL –full container load) hoặc vận đơn tập hơp (housed B/L) khi hàng xếp không đủ container (LCL-less than container load). Điều quan trọng là vận dơn phải hoàn hảo (clean bill of lading), nghĩa là không có phê chú xấu về tình trạng bên ngoài của hàng hoá.

    Sở dĩ vận đơn là chứng từ quan trọng nhất vì nó có tới ba chức năng: là bằng chứng của một hợp đồng vận tải đã được ký kết; là biên lại của người vận tải về việc đã nhận hàng để chở và là chứng từ sở hữu hàng hoá đang được chuyên chở trên tàu. Chính là do chức năng thứ ba này của vận đơn, người ta có thể mua bán hàng hoá bằng cách chuyển nhượng vận đơn về hàng đó.

    Trong các hợp đồng mẫu đôi khi người ta lại qui định chứng từ làm cơ sở thanh toán tiền hàng là chứng chỉ lưu kho (warehouse warrant). Thông thường, đây là trường hợp mua bán hàng hiện vật (spot transaction)

    Về phương thức trả tiền được quy định trong các hợp đồng mẫu, phổ biến nhất là sự vận dụng phương thức tín dụng chứng từ (documentary credit) Phương thức này còn gọi là phương thức thư tín dụng (Letter of credit – viết tắt là L/C) vì thư này chứa đựng cam kết của ngân hàng về việc trả tiền hàng đầy đủ cho bên bán, hoặc cho một người được bên bán chỉ định, nếu bên bán thoả mãn những yêu cầu đề ra trong thư. Về sự giải thích nội dung L/C, thường thường các hợp đồng mẫu dẫn chiếu đến văn bản do Phòng thương mại quốc tế ấn hành, có tên gọi là “Điều lệ và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ” (Uniform Custom and Practice for Documentary Credit – Viết tắt UCP). Loại

    39

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    thư tín dụng được dùng nhiều là thư tính dụng không huỷ ngang (irrevocable L/C).

    Một số hợp đồng mẫu lại qui định tiền hàng được trả bằng phương thức nhờ thu. Hối phiếu dùng trong nhờ thu có thể không kèm chứng từ (nhờ thu phiếu trơn – clean bill collection ) hoặc có kèm chứng từ ( nhờ thu kèm chứng từ – chứng từ để nhận hàng, người mua hoặc phải trả tiền (Documents against payment – viết tăt D/P), hoặc chấp nhận trả tiền (Documents against acceptance – viết tắt D/A). Một số ít hợp đồng mẫu qui định dùng tiền mặt để trả tiền hàng ( cash payment ). Tuy nhiên, theo quan điểm của họ, séc cũng được coi là tiền mặt.

    Phương thức ghi sổ (Open account) cũng được dùng trong các hợp đồng mẫu về buôn bán đối lưu.

    Để làm ví dụ cho tính phức tạp của điều khoản “trả tiền”, chúng tôi xin ghi dưới đây điều khoản cùng tên trích từ hợp đồng mẫu về xuất khẩu cảu tập đoàn Sumitomo (Nhật bản)

    “Trả tiền”: Nếu việc trả tiền hàng được tiến hành bằng L/C thì, ngay sau khi ký kết hợp đồng này, bên mua sẽ thông qua một ngân hàng loại một, có tín nhiệm quốc tế , mở cho Bên bán hưởng một L/C không huỷ ngang dưới hình thức và theo những điều khoản thoả mãn cho Bên bán.

    Nếu lường trước một cách hợp lý thấy Bên mua không trả tiền hàng đúng hạn, không mở L/C hoặc không làm việc gì đó khác để thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng này thì Bên Bán có thể đòi Bên Mua, khi đó trong một khoảng thời gian hợp lý, phải cung cấp một sự bảo đảm đầy đủ, thoả mãn Bên Bán về việc sẽ thực hiện nghiêm túc hợp đồng này, đồng thời Bên bán có thể từ chối gửi hoặc giao những hàng chưa giao cho tới khi nhận được sự bảo đảm đó.

    Bên mua phải trả số tiền hàng được ghi trên mặt trước của hợp đồng này chứ không có quyền bù trừ, hồi tố, bớt giảm hoặc thực hiện những quyền khác mà Bên Mua được làm để chống lại Bên Bán, những quyền đó phải được thực hiện riêng giữa Bên Mua và Bên Bán

    Mọi khoản mới phát sinh, thu bổ xung hoặc tăng thêm về suất cước phí hoặc tiền phụ thu (về nhiên liệu, ngoại tệ, ùn tắc hoặc nhập khẩu hoặc các khoản chi phí luật định khác, hoặc tiền phí bảo hiểm mà Bên bán có thể phải

    40

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    chịu đối với hàng hoá sau khi ký hợp đồng này đều do Bên Mua phải chịu và phải được bên mua hoàn lại cho Bên Bán khi Bên Bán yêu cầu.

    Nếu Bên Mua không trả tiền hàng theo đúng hợp đồng thì bên mua phải trả cho Bên Bán – với tính cách là tiền bồi thường thiệt hại định sẵn chứ không phải là tiền phạt – khoản lợi tức vượt trội tính theo mức lãi suất thấp hơn 18% năm hoặc theo lãi suất tối đa mà luật nước người bán cho phép, tính từ ngày đến hạn trả tiền cho đến ngày thực tế trả tiền, tính trên cơ sở 360 ngày một năm đối với số ngày thực tế quá hạn”

    (Payment: If payment for the Goods shall be made by a letter of credit, Buyer shall establish in favor of Seller an irrevocable letter of credit through a prime bank of good international repute immediately after the conclusion of this contract in a form and upon terms satisfactory to Seller.

    If Buyer’s failure to make payment, to establish a letter of credit or otherwise to perform its obligations hereunder is reasonably anticipated, Seller may demand that Buyer provide, within a reasonable time, adequate assurance is given.

    Buyer shall pay the price specified on the face of this Contract without set-off, counterclaim, recoupment or other similar rights which Buyer may have against Seller , which rights shall be exercised in separate proceedings between Buyer and Seller.

    Any new, additional or increased freight rates, surcharges (bunker, currency, congestion or other surcharges), taxes, customs duties, export or import surcharges or other governmental charges, or insurance premiums, which may incurred by Seller which respect to the Goods after the conclusion of this Contract shall be for the account of Buyer and shall be reimbursed to Seller by Buyer no demand.

    If Buyer fails to pay for the Goods in accordance with this Contract, Buyer shall pay to Seller as liquidated damages and not as penalty overdue interest at the rate of the lower of eighteen percent ( 18%) per annum or the maximum interest rate permitted by the laws of Buyer’s country, clculated from the due date for such payment until the actual date of payment calculated on the 360 days a year vasis for he actual number of days elaped.)

    41

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    VIII. ĐIỀU KHOẢN PHÁP LÝ.

    Trong các hợp đồng mẫu, những điều khoản pháp lý là bộ phận không thể thiếu được. Đó là các điều khoản về luật áp dụng, trường hợp bất khả kháng, trọng tài chuyển nhượng hợp đồng ..v..v..

    1. Luật điều chỉnh hợp đồng (governing law)

    Hợp đồng dù có đầy đủ đến đâu cũng không bao trùm được tất cả các tình tiết có thể xẩy ra, không thể qui định được tất cả những cách sử trí cụ thể cho từng trường hợp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Vì vậy, người ta thường phải dẫn chiếu đến một nguồn luật nào đó có thể được áp dụng vào quan hệ hợp đồng (law applicable to the contract).

    Đa số hợp đồng mẫu quy định luật điều chỉnh hợp đồng là luật của nước người bán hoặc của nước người mua. Cũng có trường hợp người ta lại quy định áp dụng luật của nơi ký kết hợp đồng. Nhìn chung, người soạn thảo hợp đồng mẫu luôn luôn muốn luật của nước mình được áp dụng vào hợp đồng. Vì vậy, chúng có thể đi đến nhận xét chung như sau: Luật áp dụng vào hợp đồng là luật qui định của nước người soạn thảo hợp đồng mẫu.

    Chẳng hạn, hợp đồng mẫu của Sumitomo (Nhật bản) quy định như sau: “Về mọi khía cạnh hợp đồng này phải được điều chỉnh và giải thích phù hợp với luật của nước Nhật Bản” ( This Contract shall be, in all respectes, governed by and construed in accordance with the laws of Japan).

    2.     Trường hợp bất khả kháng và trường hợp trở ngại ( Force majeure and Hardship clause )

    Trong khi thực hiện hợp đồng, một trong hai bên ký kết có thể gặp những hiện tượng khách quan khác thường không lường trước được và không thể khắc phục được, cản trở việc thi hành nghĩa vụ của hợp đồng.

    Những trường hợp xảy ra hiện tượng như thế, trog thương mại, vẫn gọi là trường hợp bất khả kháng (Force majeure). Ghi điều khoản trường hợp bất khả kháng vào hợp đồng, các bên ký kết cho mục đích cho phép đương sự lâm vào trường hợp đó có quyền miễn hoặc hoãn thi hành nghĩa vụ hợp đồng trong một thời gian, tương ứng với thời gian xảy ra bất khả kháng, cộng với thời gian khắc phục hiện tượng đó.

    42

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Trong các hợp đồng mẫu, điều khoản này thường liệt kê hàng loạt trường hợp được gọi là trường hợp bất khả kháng. Ví dụ, trong hợp đồng mẫu do người bán soạn thảo đã ghi như sau:

    “Nếu khi người Bán thực hiện các nghiã vụ theo hợp đồng này trực tiếp hoặc gián tiếp bị ảnh hưởng hoặc bị cản trở bởi hiện tượng bất khả kháng, bao gồm nhưng không hạn chế các trường hợp thiên tai, lụt bão, động đất, sóng thần, đất lở, cháy, tai hoạ, dịch bệnh, tai nạn trên biển, phong tỏa, bị chính phủ, vua chúa hoặc nhân dân bắt giữ hoặc cầm giữ tàu hoặc hỏng hóc toàn bộ hoặc một phần của thiết bị, nhà máy, phương tiện vận tải bốc dỡ, do yêu cầu của chính phủ, của chỉ thị, mệnh lệnh hay quy chế, không sẵn sàng về phương tiện vận tải bốc dỡ, phá sản hoặc khánh kiệt của người sản xuất hoặc cung cấp hàng, hoặc do những nguyên nhân hoặc hoàn cảnh hất kỳ nào khác ngoài sự kiểm soát hợp lý của người bán, người sản xuất hoặc người cung cấp hàng, thì người bán sẽ không chịu trách nhiệm đối với mất mát, hoặc hư hại, hoặc không thực hiện, hoặc chậm thực hiện những nghĩa vụ của mình, có thể kéo dài thời hạn gửi hàng hoặc giao hàng, hoặc chấm dứt vô điều kiện, mà không chịu trách nhiệm gì, bộ phận chưa được thực hiện của hợp đồng này trong chừng mực bị ảnh hưởng hoăc bị cản trở nói trên đây”.

    (If the performance by Seller of its obligations hereunder is directly of indirectly affected or prevented by force majeure, including but not limited to Acts to God, flood, typhoon, earthquake, tidal wave, landslide, fire, plague, epidemic, quarantine restriction, perils of the sea, war declared or not or thread of the same, civil commotion, blockade, arrest of restrain of government, rules of people, requisition of vessel or aircraft, strike, lockout, sabotage or other labor dispute, explosion, accident or breakdown in whole or in part f machinery, plant, transportation or loading facility, governmental request, guidance, order or regulation, unavailability of transportation or loading facility, bankruptcy or insolvever beyond the reasonable control of Seller or manufacturer or supplier of the Goods, then Seller shall not be liable for loss or damage, or failure of or delay in performing its obligations under this Contract and may, at its option, extend he time of shipment or delivery of the Goods or terminate unconditionally and without liability the unfulfilled portion of this Contract to the extent so affected or prevented)

    43

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Cũng tập đoàn ấy trong hợp đồng mẫu về nhập khẩu, lại chỉ quy định rất ngắn gọn như sau:

    “Nếu trong khi bên mua thực hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng này mà lại, trực tiếp bị ảnh hưởng hoặc bị cản trở hởi hiện tượng bất khả kháng, hao gồm nhưng không hạn chế thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh có tuyên bố hoặc không tuyên bố hoặc bị đe doạ nghiêm trọng bởi chiến tranh, dân bến, đình công hoặc tranh chấp lao động khác, có lệnh hoặc quy chế cấm của chính phủ, hoặc do các nguyên nhân khác ngoài sự kiểm soát hợp lý của bên Mua hoặc của khách hàng của bên mua , bên mua sẽ không chịu trách nhiệm đối với những mất mát, hoặc tổn thất , hoặc việc không thực hiện hoặc việc chậm trễ thực hiện các nghĩa vụ của mình và, tuỳ theo sự xem xét của mình, có thể chấm dứt hợp đồng này hoặc một bộ phận của hợp đồng này”

    (If the performance by Buyer of its obligations hereunder is directly affeted or prevented by force majeure, including but limited to Acts of God, fire, war or serious threat of the same, civil commotion, strike or other labor dispute, governmental order or regulaton or any other causes beyond the reasonable control of Buyer or Buyer’s customer(s), Buyer shall not be liable for loss or damage, or failure of or delay in performing its obligations hereunder and may, at its sole discreation, terminate this Contract or any portion thereof.)

    Trong những hợp đồng mẫu mới được soạn thảo gần dây, người ta đã đưa ra một phạm trù mới: Trường hợp khó khăn (Hardship). Đó là những hiện tượng khách quan gây trở ngại cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nhưng không đến nỗi “ không thể khắc phục được”.

    Nghiên cứu về “các hợp đồng mua bán quốc tế”. Tiến sĩ James R. Pinnells (Phần Lan) cho biết rằng khái niệm về “ trường hợp trở ngại” mới ra đời gần đây và đang trong quá trình phát triển. Có lẽ chính vì lý do đó, khi soạn thảo điều khoản trường hợp trở ngại của hợp đồng mẫu, người bán thường nêu lên một danh mục rất rộng những trường hợp được gọi là “trở ngại”.

    3. Chế tài (Sanction).

    Nghiên cứu các hợp đồng mẫu, chúng ta thường gặp các chế tài về việc không thực hiện hợp đồng – đó là phạt, giảm gía và bồi thường thiệt hai.

    44

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Chế tài phạt được ghi ở các hợp đồng mẫu của lục địa Châu Âu là “phạt bội ước” ( Penalty) và, ở các hợp đồng của Anh – Mỹ là “tiền bồi thường định trước” (liquidated demages). Mức phạt được quy định ở mỗi hợp đồng một khác tuỳ theo mặt hàng, người soạn thảo hợp đồng mẫu và tình hình thị trường.

    Chế tài giảm giá hàng được áp dụng trong trường hợp người bán giao hàng có phẩm chât kém hơn phẩm chất qui định trong hợp đồng hoặc giao hàng chậm chễ … mức % giảm giá hàng được qui định mỗi lúc một khác. Hợp đồng mẫu cũng có khi quy định việc bồi thường thiệt hại nêú một bên thực hiện không nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình, gây nên thiệt hại cho đối phương, chẳng hạn như chậm hoặc không giao hàng, chậm hoặc không trả tiền hàng…

    4. Giải quyết tranh chấp (settlement of disputes)

    Đối với những tranh chấp hoặc bất đồng ý kiến, các hợp đồng mẫu đề ra nhiều cách giải quyết khác nhau.

    Có hợp đồng mẫu quy định việc hai bên trước hết phải thương lượng với nhau, nếu thương lượng với nhau không thành công thì tranh chấp mới được đưa ra trọng tài hoặc toà án, ví dụ:

    “Mọi tranh chấp và bất đồng có thể xảy ra từ hợp đồng này hoặc có liên quan đến hợp đồng này phải được giải quyết bằng cách hữu nghị, nếu có thể. Nếu không thể giải quyết bằng cách hữu nghị, hai bên sẽ đưa ra trọng tài phòng thương mại quốc tế tại Paris”.

    (All disputes and differences which may arise out of the present contract or in connection with it shall be settled, if possible, in an amicable way.

    In the event that it is not possible to settle them in an amicable way, the parties shall refer the matter to Arbitration in the International Chamber of Commerce in Paris)

    Có hợp đồng mẫu lại quy định việc giải quyết tranh chấp bằng toà án, ví dụ: “Mọi tranh chấp và bất đồng có thể xảy ra từ hợp đồng này hoặc có liên quan đến hợp đồng này sẽ phải đưa ra và xác định bởi Toà án Anh quốc và các bên phải tuân theo quyền tài phán độc nhất của các toà án Anh”.

    (Any dispute and difference between the parties arising under, out of, or in connection with the present contract shall be refered to and determined by the English courts and parties hereto submit themselves to the exclusive jurisdiction of the English courts)

    45

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Đa số các hợp đồng mẫu lựa chọn cách giải quyết bằng trọng tài. Trong cách giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, có hợp đồng mẫu (ví dụ hợp đồng mẫu của liên đoàn ngũ cốc và thực phẩm GAFTA) quy định trọng tài trọng vụ (ad –hoc arbitration ) theo thể thức được quy định sẵn của mình.

    Nhiều hợp đồng mẫu quy định việc sử dụng trọng tài quy chế (Institutional Arbitration) cả nước mình. Ví dụ:

    “Mọi bất đồng hoặc khiếu nại xảy ra từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này, hoặc mọi sự vi phạm hợp đồng, sẽ được giải quyết bằng trọng tài theo quy tắc Trọng tài Thương mại của hiệp hội trọng tài Mỹ và phán quyết theo quýêt định của (các) trọng tài viên sẽ có hiệu lực tại bất cứ toà án nào có thẩm quyền xét xử vụ đó”

    (Any controversy or claim arising out of or relating to ths contract, or the breach thereof, shall be settle by arbitratiion in accordance with the Commercial Arbitration Rules of the American Arbitration Association, and judgement upon the award rendered by the Arbitrator(s) may be entered in any Court having juridiction thereof.)

    Có hợp đồng mẫu lại dẫn chiếu đến quy tắc trọng tài của một tổ chức nào đó.

    Ví dụ:

    “Mọi tranh chấp, khiếu nại xảy ra từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này, hoặc sự vi phạm, sự chấm dứt hoặc sự vô hiệu của hợp đồng này, phải được giải quyết bằng trọng tài, phù hợp với quy tắc trọng tài của Uỷ ban Liên hợp quốc về luật thương mại đang hiện hành”.

    (Any controversy of claim arising out of or relating to this contract, or the breach, termination or invalidity thereof, shall be setted by arbitratiion in accordance with the UNCITRAL Arbitration Rules at present in force)

    Tóm tại, hợp đồng mẫu bao giờ cũng có nội dung phong phú, toàn diện hơn các hợp đồng soản thảo tức thời. Điều này không những xuất phát từ động cơ tránh hiểu lầm, tránh không thống nhất giải thích, tránh những tranh chấp và kiện tụng, mà còn xuất phát từ việc bảo vệ quyền lợi và giành lợi thế trong buôn bán. Nội dung của các hợp đồng mẫu cũng được quy định khác nhau, tuỳ theo địa phương áp dụng hợp đồng mẫu, tuỳ theo bạn hàng mua bán thường xuyên. Sự khác nhau này sẽ được nghiên cứu cụ thể hơn ở chương sau.

    46

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    MỘT SỐ HỢP ĐỒNG MẪU TRONG BUÔN BÁN QUỐC TẾ

    1. Hợp đồng về ngũ cốc
    1. Việc xác định phẩm chất và trạng thái của hàng ngũ cốc

    Trong buôn bán quốc tế, hàng ngũ cốc là một trong những mặt hàng có những đặc điểm sau đây:

    • Khối lượng lớn,
    • Phẩm chất được tiêu chuẩn hoá cao
    • Mỗi lô hàng có tính đồng đều cao

    Người sản xuất khá phân tán và thường không trực tiếp xuất nhập khẩu. Vì những đặc điển này, cho nên mặc dù cách giải quyết những vấn đề riêng lẻ có phần khác nhau, nhưng từ lâu trong buôn bán quốc tế đã có những trình tự kỹ thuật thống nhất về ký kết hợp đồng.

    Nhiều khi hợp đồng mẫu được xây dựng cho một nhóm hàng và có tên gọi riêng. Ví dụ: các hợp đồng ngũ cốc của Pháp có đầu đề “ Grains et graines” (hạt và giống), của Italy đều có đầu đề “ cereany” (ngũ cốc) và của Đức có đầu đề “Getrede” (ngũ cốc) các mẫu hợp đồng của Anh không ghi đầu đề

    Nhiều hợp đồng mẫu được xây dựng cho từng mặt hàng như lúa mạch, thóc gạo, đậu đỗ…. cũng có khi hợp đồng được xây dựng cho một mặt hàng như: kiều mạch, đại mạch, ngô, gạo… tuy nhiên trong tất cả các trường hợp, hợp đồng đều để trống phần tên hàng để cho các bên ký kết ghi thêm tên mặt hàng cụ thể. Ví dụ họ có thể ghi “ngô vàng”, “ngô trắng”, “gạo hạt tròn”, “gạo hạt dài”…

    Cách xác định phẩm chất thường được in sẵn trong hợp đồng với hai ba phương án (Option) để các bên có thể chọn dùng một trong những phương pháp như:

    Theo mẫu hàng, theo hàm lượng chất chủ yếu, theo tiêu chuẩn phẩm cấp, theo mô tả các chỉ tiêu chất lượng …

    Nếu đã sử dụng một phương pháp thì xoá bỏ các phương pháp khác

    Phổ biến trong các hợp đồng mẫu là sử dụng chỉ tiêu FAQ. Chỉ tiêu này được một tổ chức chỉ định trong hợp đồng tiến hành xác định và công bố. Muốn vậy, lúc bốc hàng, người bán phải lấy mẫu đúng qui định, niêm phong theo thủ tục quy định. Sau khi thừa nhận là FAQ, mẫu cần được lưu ở một tổ chức hay một người thứ 3 do hai bên qui định trong hợp đồng

    47

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Hợp đồng mẫu cũng chỉ định tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm – hàng hoá. Tuy nhiên nếu người bán mạnh hơn về mặt tài chính thì người này đưa vào hợp đồng những điều khoản quy định rằng giấy chứng nhận phẩm chất cả bán (hoặc người sản xuất) cấp sẽ coi là giấy chứng nhận cuối cùng.

    Thông thường hợp đồng quy định người bán không chịu trách nhiêm về các khuyết điểm kín (inherent vice) của hàng hoá.

    Hầu hết các hợp đồng ngũ cốc đều quy định rằng hàng giao xuống tàu phải trong tình trạng tốt đẹp (of good conditions), trong trạng thái bao bì thích đáng như: bao bì xuất khẩu, bao bì đường biển v.v…

    1. Đơn vị tính số lượng dung sai và cách tính giá dung sai.

    Hai hệ thống đo lường thường được dùng: các hợp đồng của Anh dùng hệ thống Avoir Dupois, còn hợp đồng của lục địa châu Âu thì dùng mét hệ (metric system). Các hợp đồng thường dành cho các đương sự quyền tự do chọn đơn vị trọng lượng. Đơn vị dùng nhiều nhất là tấn: tấn dầu (long ton) và tấn mét (metric ton). Đơn vị nhỏ hơn được dùng là kilogam hay pound. Cũng có khi người ta sử dụng đơn vị đo là dung tích như thùng (bushel), thùng lớn (quarter).

    Người ta cũng qui ước những đơn vị mua bán đối với lúa mạch là 480 pounds, đối với đại mạch là 448 pounds, đối với điều mạch là 320 pounds.

    Các hợp đồng Đức Hà lan lấy tấn mét làm đơn vị tính số lượng. Các hợp đồng Antwerp lấy tạ (100kg) làm đơn vị. Trong khi đó hợp đồng của Liên đoàn Calcutta Grain Oilseed and Tice association tính giá theo đơn vị gọi là Bazar mound (đơnvị này ở Calputta là 37.522kgs, cỏ ở Bombay là 12.7kgs)

    Mức dung sai thường thấy là 5% trên số lượng của cả tầu. Số lượng dung sai có thể được tính theo giá trị của hợp đồng nếu dung sai chỉ nằm trong một phạm vi nhất định. Thông thường dung sai là 2% so với số lượng của hợp đồng thì tính theo giá hợp đồng, nếu quá 2% (nhưng vẫn trong giới hạn ± 5%) thì thính theo giá thị trường.

    Các hợp đồng của London có điểm rất đặc biệt là mức dung sai cho phép rấtnhỏ. Ví dụ trong mẫu của hợp đồng nhập khẩu CIF ngũ cốc từ Ấn độ, mức dung sai là 2%, còn dung sai trong hợp đồng nhập khẩu ngũ cốc từ Mỹ và Canada là 5% tính theo giá hợp đồng và 5% tính theo giá thị trường.

    48

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nói chung nhiều hợp đồng không qui định trước các biện pháp cần giải quyết khi sốlượng hàng thực giao vượt quá mức dung sai. Một vì hợp đồng của Antwerp quy định rằng “người mua hông buộc phải nhận số lượng hàng vượt quá 5% số lượng ghi trong hợp đồng”. Trái với cách giải quyết trực tiếp hoặc mặc nhiên cho phép, các hợp đồng Đức Hà Lan và một số hợp đồng của Antwerp chỉ cho người mua quyền lựa chọn một trong hai cách thanh toán: Theo giá hợp đồng hoặc theo giá thị trường tại cảng đến vào ngày kết thúc việc dỡ hàng. Thoạt nhìn ta có thể tưởng như biện phápnày khắt khe với người mua (người mua thường là nhà kinh doanh ở các nước phát triển), như thực ra nó lại bảo đảm quyền lợi cho người mua. Nếu người mua không cần tới số lượng được giao vượt thì người này sẽ bán ngay tại địa phương và tính theo giá thị trường. Khi giá thị trường cao hơn giá hợp đồng, người mua chỉ thanh toán theo giá hợp đồng và được hưởng phần chệnh lệch. Nếu giá thị trường thấp hơn giá hợp đồng , người mua sẽ tính với người bán theo giá thị trường, tức là không bị lỗ vốn.

    1. Tăng giá và hạ giá.

    Trong các hợp đồng mẫu vê ngũ cốc thường đặt vấn đề tăng giá và hạ giá. Có những hợp đồng đặt vấn đề này ra nhưng không quy định mức tăng và mức hạ giá là bao nhiêu.

    Hạ giá thường xẩy ra khi phẩm chất sút kém so với mẫu hàng, hoặc so với chỉ tiêu FAQ, hoặc khi trạng thái của hàng xấu đi so với các điều quy định trong hợp đồng ( ví dụ khi hợp đồng có điều khoản liên quan như Rye terms). Trong nhiều hợp đồng của London lại có điều khoản “gửi hàng ở cảng đi” (Shipment clause) quy định như sau: “nếu ngũ cốc đến nơi trong trạng thái xấu thì phải lưu ý đến phẩm chất khi hàng được bốc lên tàu ở cảng đi. Hiện tượng hàng tới nơi trong trạng thái xấu không nhất thiết có nghĩa là hàng được gửi đi đã xấu”

    Khi xảy ra vấn đề hạ giá mà các bên không tự thoả thuận được, họ có thể nhờ trọng tài quyết định. Ngoài ra, các hợp đồng của London còn nói rõ như sau: “nếu hàng đã giao có chênh lệch so với tiêu chuẩn ở mức dưới 0.5% thì không có việc hạ hoặc tăng giá”.

    Một số hợp đồng ngũ cốc quy định rất chi tiết về hạ giá khi tăng mức % tạp chất. Ví dụ hợp đồng Đức Hà lan về ngũ cốc quy định mức hạ giá đối với

    49

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    lúa mạch đen như sau: “ Nếu tạp chất vượt quá nhiều % thì hạ giá 0,5% cho các % thứ nhất, thứ hai, thứ ba và hạ giá 1% cho các tỷ lệ % thứ tư, thứ năm, thứ sáu”.

    Đa số hợp đồng của London và Đức Hà lan công nhận rằng nếu hao hụt dưới 1% thì coi đó là hao hụt tự nhiên, không có vấn đề hạ giá.

    1. Giao hàng và hậu qủa của việc chậm giao hàng.

    Hàng ngũ cốc có đặc điểm là mau bị hư hỏng, cho nên người ký hợp đồng thường quan tâm đến những quy định về thời hạn giao hàng và hiệu quả của việc giao chậm hàng.

    Trong hầu hết các hợp đồng London, Đức hoặc Antwerp đều có điều khoản “cấm đoán” (prohibition clause) quy định rằng: “Nếu hợp đồng không thể thực hiện được hoàn toàn hoặc một phần do có lệnh cấm xuất khẩu, vì phong toả cấm vận hậu chiến tranh thì hợp đồng – hoặc bộ phận chưa thực hiện được của hợp đồng – sẽ phải được huỷ bỏ”

    Trong trường hợp gặp đình công ở cảng bốc hặc cảng dỡ, hợp đồng thường cho đương sự được hoãn giao hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Khi việc đình công kéo dài quá thời hạn này (thường là 4 tuần ): Theo các hợp đồng mẫu của Đức, hai bên có thể hoãn thêm một thời hạn nữa (có thể là 3 tuần); còn theo các hợp đồng mẫu của Anh, hai bên có thể thoả thuận huỷ hợp đồng. Các hợp đồng của Paris không hạn chế việc kéo dài thời hạn giao hàng với điều kiện người bán phải thông báo cho người mua về việc gặp trường hợp bất khả kháng, trong vòng 48 tiếng đồng hồ sau khi hết thời hạn giao hàng lần thứ nhất.

    Việc đóng cửa eo biển nằm trên đường đi giữa cảng bốc và cảng dỡ cũng là một căn cứ để hoãn giao hàng tới 14 ngày theo hợp đồng của Đức Hà Lan, 21 ngày theo hợp đồng của Antwerp, 45 ngày theo hợp đồng của Italia.

    Một hợp đồng London về việc nhập hàng từ Ấn độ vào Anh quy định về vấn đề này như sau: “nếu một bên không hoàn thành hợp đồng thì bên kia, sau khi thông báo bằng thư hoặc điện, có quyền tiếp tục hoặc không tiếp tục hợp đồng như phí tổn về việc này do đương sự không hoàn thành nghĩa vụ phải chịu (against the defaulter)

    Nếu người bán giao chậm, người mua có quỳên đòi bồi thường, mức bồi thường thiệt hại theo thực tế do việc giao chậm gây nên. Nếu hai bên không có

    50

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    thoả thuận về việc bồi thường, trị giá bồi thường sẽ do trọng tài quyết định. Không có một điều kiện nào của hợp đồng hay một hành động nào có liên quan tới hợp đồng có thể dùng làm cơ sở để người mua đòi bồi thường số lãi bị bở lỡ trong một hợp đồng khác mà người mua đã cấu kết ý với người đó, trừ khi trọng tài ra nghị quyết bồi thường về việc này”.

    Một công thức khác được đưa ra trong hợp đồng mua bán ngũ cốc giữa Anh (London Corn Trade association) và Nhật bản. Trong đó, người ta quy định rằng:

    • Nếu người bán chậm giao hàng hoặc chậm thông báo về việc sẵn sàng giao hàng, hợp đồng sẽ bị huỷ bỏ bằng cách bên mua đòi tiền lại (invoicing back) tính cao hơn giá thị trường 2%. Giá này bao giờ cũng được tất cả các bên có liên quan công nhận và chấp hành.
    • Nếu người mua chậm thực hiện hợp đồng (chậm chỉ định tàu, chậm điều tàu đến nhận hàng…) thì sau khi đã báo cho người mua bằng thư hoặc bằng điện, người bán có quyền bán hàng cho người khác và người mua phải chịu phí tổn bán hàng và chênh lệch gía (nếu có)”. Rõ ràng công thức này bất lợi cho người mua.

    Theo các hợp đồng Đức – Hà lan, nếu một bên chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ, bên kia có quyền:

    • Từ chối hợp đồng
    • Bán hàng hoặc mua hàng khác trong vòng 3 ngày tại thị trường tự do hoặc bán đấu giá, với phí tổn do bên gây ra chậm trễ phải chịu.
    • Yêu cầu trọng tài định giá hàng và bồi thường thiệt hại vì chênh lệch

    giá.

    Tuy nhiên, nếu bên bị vi phạm không thông báo ngay cho bên vi phạm thì chỉ được quyền nói ở điểm thứ ba. Còn nếu đã chọn quyền thứ hai (bán hoặc mua hàng) thì trong vòng một tuần vẫn có thể thay đổi để thực hiện quyền thứ ba (hưởng chênh lệch giá).

    1. Kiểm tra hàng hoá.

    Tất cả các hợp đồng ngũ cốc đều quy định việc kiểm tra phẩm chất bằng cách chọn mẫu và phân tích mẫu. Các hợp đồng mẫu của Anh thường quy định việc chọn mẫu tại cảng dỡ hàng, trong thời gian dỡ hàng, hợp đồng FOB bán

    51

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    ngũ cốc của Paris lại quy định chọn mẫu trước khi bốc hàng. Có lẽ đây là một ngoại lệ trong buôn bán ngũ cốc. Nhưng ngoại lệ này có lợi cho người bán.

    Phương pháp chọn mẫu phải bảo đảm cho mẫu đó đại diện được cho phẩm chất bình quân của lô hàng. Nhưng cách chọn mẫu cũng có thể đem lại cái lợi cho người bán hoặc người mua.

    Theo hợp đồng xuất khẩu ngũ cốc từ Ấn độ đi Anh, người mua có quyền yêu cầu lấy mẫu khi dỡ hàng theo cách sau đây: cứ 5 bao thì lấy mẫu ở 1 bao và số bao mẫu nhiều nhất là 60 bao, không kể số hàng để lại coi như không bán. Người mua (ở Anh) sẽ chọn mẫu cuối cùng ở các bao này.

    Các hợp đồng Đức Hà Lan lại chỉ rõ: Nếu hang giao bằng Si-lô thì sẽ không chọn mẫu ở trên tàu. Người ta bắt đầu lấy mẫu từ tấn thứ 7 và sau đó cứ

    • tấn lấy một mẫu. Mẫu được để vào trong bao nhỏ, có dung tích ít nhất là 1 lít. Trên bao phải ghi rõ tên tàu, lô hàng đã dỡ, ngày dỡ hàng, tên người giao hàng và tên người nhận hàng.

    Theo các mẫu hợp đồng của Italia, các mẫu dùng để kiểm tra phẩm chất hàng phải cân được 2kg và tổng số phải ước lượng 100kg. Các hợp đồng của Paris thường hạn chế mẫu là 1kg.

    Chi phí kiểm tra theo hợp đồng của London mua ngũ cốc từ Ấn độ, là do người bán chịu. Nhưng các hợp đồng khác quy định chia đều chi phí kiểm tra cho cả hai bên. Vì có hợp đồng lại quy định “không ai chịu thay cho người khác”, nghĩa là nếu kiểm tra ở cảng đi thì do người bán chịu, nếu kiểm tra ở cảng đến thì do người mua chịu.

    1. Những vấn đề khác.

    Đa số hợp đồng ngũ cốc là hợp đồng CIF. Về cơ bản, đây là hợp đồng giao hàng ở cảng đi (shipment contract). Do đó rủi ro và tổn thất về hàng hoá di chuyển từ người bán sang người mua từ khi hàng qua hẳn lan can tàu ở cảng đi.

    Tuy nhiên không ít hợp đồng mẫu nhập khẩu ngũ cốc từ nước đang phát triển vào nước phát triển lại có những quy định bất lợi cho người bán. Ví dụ họ trút những rủi ro đường biến lên đầu người bán, họ quy định lấy số lượng và/ hoặc phẩm chất ở cảng dỡ hàng làm căn cứ để thanh toán. Như vậy trong những trường hợp này, điều kiện CIF, FOB, CFR chỉ còn là điều kiện về giá cả.

    52

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Sau khi hàng được bốc lên tàu, người bán phải thông báo việc đã giao hàng lên tàu.Người ta coi thông báo này như một thông báo về sự cá biệt hoá hàng hoá (notice of appropriation). Thời hạn thông báo này được quy định ở mỗi hợp đồng một khác.

    Đa số hợp đồng ngũ cốc quy định việc thanh toán tiền hàng trên cơ sở người bán xuất trình chứng từ (cash against documents). Nhưng một hợp đồng của London lại quy định “trả tiền khi giao hàng” (cash on delivery). Song, nếu người bán trả tiền hàng sớm thì được hưởng giảm giá trả sớm” (cash discount). Theo hợp đồng của Italia, nếu chậm trả tiền hàng, người bán phải trả thêm tiền lợi tức theo lãi suất của ngân hàng Italia cộng (+) với 2% tiền phạt và / hoặc bồi thường thiệt hại do việc chậm trả đó gây nên.

    Trong buôn bán ngũ cốc, hàng có thể được chở bằng tàu chợ hoặc tàu chuyến, tiền cước và chi phí bốc và/ hoặc dỡ hàng là những khoản chi phí khá lớn. Vì vậy, trong nhiều hợp đồng người ta quy định cả điều kiện thuê tàu (mớn nước cẩu con tàu, cờ phương tiện, phương tiện bốc dỡ của nó), mức bốc/ dỡ, thưởng phạt bốc / dỡ…

    Hợp đồng bán ngũ cốc cảng Đan mạch quy định rằng tàu của người mua đưa đến phải có mớn nước thích hợp sao cho luôn luôn nổi (always afloat). Nếu người mua thuê tàu quá lớn thì người mua phải chịu chi phí lõng hàng (lighterage)

    Về bảo hiểm, đa số hợp đồng quy định phải bảo hiểm FPA (điều kiện C) hoặc WA (điều kiện B). Hợp đồng Đức Hà Lan lại dành vấn đề này cho các đương sự thoả thuận.

    53

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Hợp đồng ngũ cốc của London.

    Sách báo kinh tế đều nhất trí công nhận rằng trong các hợp đồng mẫu về ngũ cốc, vị trí hàng đầu thuộc về các hợp đồng của London Corn Trade Association và của GAFTA (Grain and Feed Trade Association) nguyên nhân là ở vai trò cổ truyền ở nước Anh, một trong những nước nhập khẩu ngũ cốc lớn nhất thế giới.

    Liên đoàn London Corn Trade Association đã thành lập với hình thức pháp lý hiện nay của nó (hình thức INCORPORATED) từ năm 1986 những hợp đồng mà nó công bố đã là mẫu mực cho các liên đoàn ngành khác muốn khỏi bị lệ thuộc vào các hợp đồng của Anh, họ dần dần tự xây dựng lấy những hợp đồng nhập khẩu riêng của họ. Dù sao, hiện nay các hợp đồng của Anh vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong và ngoài thị trường nước Anh, không những ở các hợp đồng có hãng Anh tham gia mà cả ở các hợp đồng khác nữa. tuy nhiên nguyên nhân là vì các hội viên của London Corn Trade Association không những là các hãng Anh, mà là cả hàng loạt các hãng ngũ cốc của Pháp, Bỉ, Hà lan, Đức, ý, Bắc Âu. ở nước Anh thực tế các hợp đồng này đã lấn át các hợp đồng của Liverpool và Briston vẫn được dùng từ trước cho tới chiến tranh thế giới thứ II.

    Tiêu chuẩn chính để xếp loại các hợp đồng của London là nơi xuất xứ hàng hoá. Chỉ có một ngoại lệ là hợp đồng FOB giành cho mua bán hàng bất kỳ xuất sứ từ đâu. Các hợp đồng giành cho những hàng hoá xuất sứ từ một nước nhất định được xếp theo những tiêu chuẩn khác nhau. Đôi khi chúng được phân chia theo các loại hạng, đồng thời phạm vi của các nhóm hàng cũng khác nhau; ở mỗi trường hợp, nhân tố quyết định để dùng mẫu lại là nơi hàng đến (đến Anh hay Lục địa) có lúc tiêu chuẩn lại là các trở hàng (tầu chuyến hay tầu chợ) hoặc công thức trạng thái bề ngoài được ứng dụng (Tel Quel hay Rye Terms), ở trường hợp khác (lúa mạch Oxtraylia giao chuyến lẻ, chưa biết giao tới đâu), lý do lập ra hai mẫu hợp đồng mẫu mới là vì áp dụng những cách trả tiền đặc biệt. Tiêu chuẩn chủ yếu để chọn mẫu hợp đồng được in ở đầu đề của bản mẫu. Nếu hợp đồng không cho trở hàng bằng thuyền buồm thì ở đầu đề cũng ghi rõ (Steamer or power vessel).

    Từ những điều nói trên ta có thể kết luận rằng các hợp đồng của London đã được nghiên cứu rất sâu và mỗi mẫu xét đủ các vấn đề có thể xảy ra vì đặc

    54

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    điểm cơ cấu của nó. Tất nhiên, chúng được xây dựng theo các quy phạm luật của Anh. Tình trạng này có thể làm cho việc dùng mẫu của London khó khăn mỗi khi luật của Anh không được áp dụng, hoặc vì ở mẫu hợp đồng không ghi nơi giao kết và nơi thực hiện hợp đồng, không ghi địa chỉ của các đương sự, nơi có các đối tượng mua bán hoặc vì các đương sự thoả thuận theo luật của một nước khác.

    Về vấn đề này cần lưu ý đến công thức hết sức tỉ mỉ về địa chỉ pháp lý của các đương sự mà ở tất cả các phương pháp mẫu đều nhắc tới với một hình thức giống nhau.

    Tuy thể lệ của điều khoản này về mặt pháp lý đã có nhiều điều đáng nghi ngờ, nó còn làm cho địa vị pháp lý của các đương sự phức tạp hơn. Hơn nữa, nếu bác bỏ điều khoản này thì cũng không giải quyết được vấn đề, bởi vì nó là cơ sở logic cho nhiều điều khoản khác xây dựng theo luật nước Anh. Lại cần phải chú ý rằng tất cả các mẫu của London đều in sẵn chú thích. London là nơi được coi là trụ sở giao dịch, còn một số mẫu, mặc dù có công thức đầy đủ về nơi ở của các đương sự, nhưng hợp đồng lại ghi thêm câu “trú quán pháp lý

    • London” .

    Các hợp đồng London xây dựng chủ yếu về lợi ích của người nhập khẩu và có nhiều điều khoản chèn ép người bán. Những hợp đồng tương đối có lợi hơn cho người xuất khẩu là những hợp đồng về hàng từ Canađa và Hoa kỳ.

    Cần đặc biệt chú ý phân biệt hợp đồng về ngũ cốc của Baltic là mẫu có thể đưa ra trong trường hợp xuất khẩu ngũ cốc từ Balan. Hợp đồng này bất lợi cho người xuất khẩu, quy định trách nhiệm lớn về việc trạng thái bề ngoài bị xấu đi trong thời gian vận tải (Rye terms)

    Nhưng không như những hợp đồng khác theo điều kiện Rye terms, hợp đồng này không có điều khoản “người bán chịu mọi tổn thất” nhưng từ điểm này, có thể nói rằng người bán không phải chịu trách nhiệm về trạng thái bề ngoài bị xấu vì rủi ro hàng hải. Ngoài ra, còn có những chi tiết sau đây cần chú ý.

    55

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Phẩm chất hàng có thể do các bên đương sự quy định theo tiêu chuẩn FAQ hay theo mẫu. Nhưng dù có quy định như vậy, người bán vẫn phải đảm bảo trọng lượng tính bằng pound Anh của một butxen.

    Không được chở hàng bằng buồm.

    Phần dung sai 2% so với lượng quy định tính theo giá hợp đồng, 3% sau (8% nếu hàng trở cả chuyến tầu) thì theo giá CIF thị trường , căn cứ vào số lượng ngày ký vận đơn. Nếu các đương sự không có thoả thuận về giá thì sẽ do trọng tài quyết định. Dung sai số lượng trong vận đơn thì tính theo giá trị hợp đồng.

    Người mua có quyền chọn cảng nhận hàng và phải sử dụng quyền này trong ngày ký vận đơn. Người bán phải nhắc nhở người mua biết ngày nào người mua phải chỉ thị về việc này.

    Cước vận tải phải trả khi dỡ hàng, trừ khoản tiền ứng trước cho tầu tại cảng bốc hàng hay ứng theo hợp đồng thuê tầu (Charter party).

    Các điều kiện trả tiền tương đối có lợi cho người xuất khẩu: trả tiền mặt tại London trong 3 ngày sau khi nhận được hoá đơn, trả tiền đổi lấy chứng từ giao hàng và/ hay bản sao hợp đồng thuê tầu, trừ khoản tiền hạ giá vì thời gian không sử dụng trong 60 ngày kể từ ngày ký vận đơn, hạ giá theo tỷ lệ 5% một năm hoặc theo mức lãi ngân hàng nếu lãi này cao hơn.

    Hàng bảo hiểm theo giá tối thiểu là giá trị hoá đơn thêm 3%, khoản trị giá bảo hiểm trên 3% chỉ bồi thường cho người bán khi nào hàng mất toàn bộ. Nội dung bảo hiểm là FPA cộng thêm rủi ro chiến tranh, đình công, rủi ro về chuyên trở bằng xà lan. Người mua trả phần phí bảo hiểm chiến tranh vượt 0,5% . Có thể thay đơn bảo hiểm (Policy) bằng một giấy chứng nhận bảo hiểm (Certificate)

    Người mua không chịu trách nhiệm các khoản tiền mà tầu đòi tại cảng giỡ hàng.

    Các đương sự sẽ thoả thuận về đơn vị số lượng dùng để tính giá hàng.

    Khoản hạ giá khi cân bằng cân tự động là 0,1%.

    56

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Phải thông báo về việc cá thể hoá lô hàng trong vòng 48 ngày hay 72 tiếng sau khi ký vận đơn. Người bán thứ nhất phải gửi bản hoá đơn tạm thời trong vòng 3 ngày sau ngày bán hàng.

    Người mua phải báo cho người bán là mình sẵn sàng tiếp nhận chứng từ trước 11h30 sáng ngày trả tiền (trước 16h00 ngày hôm trước nếu ngày trả tiền là ngày thứ 7)

    Các điều khoản của việc thực hiện chậm trễ không có gì là chèn ép người bán.

    Mẫu hàng được chọn phải được gửi đi kiểm nghiệm trong vòng 21 ngày sau khi dỡ hàng xong, còn nếu trọng tài yêu cầu phải có mẫu thì phải gửi đi kiểm nghiệm trong vòng 14 ngày sau khi trọng tài yêu cầu, phí tổn về kiểm tra chia đều cho 2 bên.

    Nếu hàng bán theo mẫu, khiếu nại về phẩm chất và trạng thái bên ngoài phải làm trong vòng 28 ngày sau khi dỡ hàng xong, còn nếu bán theo tiêu chuẩn FAQ thì sau khi công bố tiêu chuẩn hay thông báo rằng sẽ không xác lập tiêu chuẩn. Khiếu nại về số lượng trong vòng 6 tuần sau khi dỡ hàng xong.

    Từ những điểm đã nói ta thấy rằng hợp đồng này không đến nỗi bất lợi như những hợp đồng khác của London nhưng nó cũng không cho người bán những ưu quyền đặc biệt. điều bất lợi nhất cho người bán là điều kiện Rye terms và điều kiện phải hạ giá nếu không được đền bù trong giá hàng của hợp đồng.

    Ngoài những bản mẫu hợp đồng, London Corn Trade Association còn công bố nhiều thông báo khác.

    Tuy nhiên cần lưu ý rằng ngay ở trong cùng một câu, có cả những điểm có lợi cho người bán và có cả những điểm có lợi cho người mua.

    Mỗi mẫu được dùng tuỳ theo “mục đích chung” vủa hợp đồng trong từng hoàn cảnh riêng. Ví dụ có những hợp đồng CIF “Hợp đồng CIF với điều kiện là hàng tới nơi an toàn”, Hợp đồng “tái xuất”, đôi khi còn thêm điều khoản “ hàng tới nơi an toàn” “hợp đồng có thời hạn và cả hợp đồng giao hàng tại nơi đến.

    57

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Một số các bản thông báo này là phần gắn liền với tất cả hoặc một số hợp đồng.

    Ví dụ: bản công bố về điều kiện bảo hiểm cụ thể hoặc các điều khoản bảo hiểm của những hợp đồng có dẫn chiếu nó. Bảng này luôn luôn được dổi mới và bổ sung có tính chất một tư liệu đáng chú ý để nghiên cứu vấn đề bảo hiểm hàng hải trong buôn bán ngũ cốc.

    Ngoài thể lệ về tỷ lệ tạp chất được phép và thể lệ xác định trọng lượng, các hợp đồng còn bao gồm cả những tiêu chuẩn hạ giá nói ở chương trước. Nếu ký hợp đồng theo mẫu của London mà không biết tới các tiêu chuẩn này thì không thể thanh toán tạm thời được đúng. Về vấn đề này, một tác giả am hiểu tình hình, có nhận xét như sau: “ý đồ của đương sự đưa vào hợp đồng những điều kiện có lợi cho mình có thể dẫn tới tình trạng bên đối phương ký vào hợp đồng mà không biết tới các điều kiện đặc biệt của nó hay những khó khăn trong việc sửa đổi một phần các điều kiện này, cũng như tình trạng nhẹ dạ và tín nhiệm mù quáng khi dùng những điều kiện mà các liên đoàn lớn lập ra và công bố ở một nơi nào đó . Tình trạng nhẹ dạ và tín nhiệm mù quáng này làm cho ta hiểu tại sao người ta hay dùng loại “mẫu hợp đồng rút ngắn” trên thị trường, dẫn chiếu đến một hợp đồng mẫu chính mà đôi khi người ta không biết tới đầy đủ.

    58

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    CHƯƠNG III: VIỆC SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG MẪU

    TẠI VIỆT NAM

    1. Các doanh nghiêp Việt Nam với việc soạn thảo hợp đồng mẫu.

    Qua nghiên cứu khái quát về nội dung và hình thức của hợp đồng mẫu, cho ta thấy việc sử dụng hợp đồng mẫu là hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Nắm được những ưu việt này của hợp đồng mẫu, các tập đoàn kinh doanh xuất nhập khẩu trên thế giới đã sử dụng khá phổ biến để tạo nên những lợi thế hơn hẳn so với đối phương trên thị trường.

    Ở Việt Nam, ngành ngoại thương vẫn còn rất nhiều hạn chế so với các nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên những năm gần đây nhờ có chính sách đổi mới đối với ngành ngoại thương nói riêng và ngành kinh tế nói chung đã cho ta thấy những dấu hiệu phát triển rất đáng mừng. Với sự tham gia rất tích cực của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường thế giới. Điều này thể hiện qua kim ngạch ngoại thương của nước ta trong những năm gần đây như sau:

    59

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    201 Tổng trị gía xuất khẩu và nhập khẩu 1990-2000

    Foreign trade turnover 1990-2000

      Tổng số   Chia ra – Of which  
      (triệu Rup – Xuất khẩu – Export Nhập khẩu – Import
      đô la Mỹ)        
        Trong đó   Triệu rup – Trong đó
        Triệu đô la Mỹ đô la Mỹ Triệu đô la Mỹ
      (Mill. R-USD) Mill. R.USD Of which Mill. R-USD Of which
          Mill. USD   Mill. USD
    1990 5156,4 2404 1352,2 2752,4 1372,5
    1991 4425,2 2087,1 2009,8 2338,1 2049
    1992 5121,4 2580,7 2552,4 2540,7 2540,3
    1993 6909,2 298,2 2952 3924 3924
    1994 9880,1 4054,3 4054,3 5825,8 825,8
    1995 13604,3 5448,9 5448,9 8155,4 8155,4
    1996 18399,5 7255,9 7255,9 11143,6 11143,6
    1997 20777,3 9185 9185 11592,3 11592,3
    1998 20859,9 9360,3 9360,3 11499,6 11499,6
    1999 23162 11540 11540 11622 11622
    Sơ bộ – Prel. 2000 29508 14308 14308 15200 15200
      Chỉ số phát triển (năm trước = 100)-%  
      Index (Previous year = 100)-%    
    1990 114,3 123,5 118,8 107,3 156,1
    1991 85,8 86,8 148,6 84,9 149,3
    1992 115,7 123,7 127 108,7 124
    1993 134,9 115,7 115,7 154,4 154,5
    1994 143 135,8 137,3 148,5 148,5
    1995 137,7 134,4 134,4 140 140
    1996 135,2 133,2 133,2 136,6 136,6
    1997 112,9 126,6 126,6 104 104
    1998 100,4 101,9 101,9 99,2 99,2
    1999 111 123,3 123,3 101,1 101,1
    Sơ bộ – Prel. 2000 127,4 124 124 130,8 130,8

    60

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Xu©t nhËp khÈu hμng ho¸

    Tû USD

    18

    16

    14

    12

    10

    8

    6

    4

    2

    0

    -2

    -4

    -6

    1995               1996               1997               1998                1999        S¬ bé – Prel.

    2000

     

     XuÊt khÈu – Export  NhËp khÈu _ Import  Balance

    61

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    N¨m

     

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Nếu như trước kia số doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất nhập khẩu chỉ ở con số vài nghìn, thì nay, đặc biệt là từ năm 1997 khi Luật thương mại đã được Quốc hội thông qua tại khoá IX kỳ họp thứ 11 ngày 10 tháng 05 năm 1997. Con số này đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu thống kê của viện chiến lược thì đến cuối năm 2001 doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp đã lên đến hơn 21.000,. Và đặc biệt hai năm trở lại đây các doanh nghiệp (có đủ tư cách pháp nhân) muốn xuất nhập khẩu trực tiếp không phải xin giấy phép của Bộ thương mại với những điều kiện khắt khe như trước nữa, mà họ chỉ cần đăng ký với Cục Hải Quan và đưa mã số thuế của mình là có thể trực tiếp xuất khẩu hàng hoá (hàng hoá trong danh mục được phép xuất nhập khẩu theo qui định).

    Tuy nhiên với trình độ nghiệp vụ còn hạn chế các doanh nghiệp Việt nam chưa tranh thủ được hết những lợi thế của hợp đồng mẫu. Qua tìm hiểu một số hợp đồng mẫu ở một số doanh nghiệp cho ta thấy mức độ sử dụng hợp đồng mẫu của các doanh nghiệp này có thể chia ra thành 7 loại như sau:

    1. Các doanh nghiệp đã có những loại hợp đồng mẫu được soạn thảo sẵn, do đó rất chủ động trong việc đàm phán ký kết hợp đồng. Những doanh nghiệp này là những Công ty, Tổng công ty trước đây thuộc Bộ ngoại thương (nay là Bộ thương mại). Họ có kinh nghiệm và kỹ thuật soạn thảo hợp đồng và giao dịch đối ngoại.
    2. Một số doanh nghiệp đã có những hợp đồng được soạn thảo từ khá lâu, không định kỳ xem xét và sửa chữa lại, ngày nay vẫn còn sử dụng. Do đó trong hợp đồng có nhiều điều lạc hậu. Ví dụ, trong hợp đồng vẫn còn dẫn chiếu đến INCOTERMS1953, đến UCP ban hành năm 1974.
    1. Có những doanh nghiệp chỉ dùng một loại hợp đồng mẫu cho cả nghiệp vụ xuất khẩu lẫn nghiệp vụ nhập khẩu. Như vậy, nếu trong hợp đồng xuất khẩu có điều khoản nào đó lợi ích cho người bán thì điều khoản đó tất nhiên sẽ bất lợi cho người mua.
    1. Một số doanh nghiệp đã có hai loại hợp đồng mẫu (một dùng cho xuất khẩu, một dùng cho nhập khẩu ), nhưng mỗi hợp đồng lại áp dụng cho mọi mặt hàng, mọi khách khàng của doanh nghiệp. Vì vâỵ, hợp đồng mẫu có nội dung chung chung, không sát sao với điều kiện và hoàn cảnh giao dịch.
    1. Khá nhiều hợp đồng mẫu lại được xây dựng cho nhiều điều kiện cơ sở giao hàng, vì trong đó ở điều khoản giá cả thường ghi câu “giá trên đây được

    62

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    hiểu là giá FOB/CFR/CIF”. Như vậy, đến khi ký kết người ta chỉ cần xoá hai điều kiện không cần và giữ lại điều kiện sử dụng. Cách làm này cũng đem lại nhiều điều bất lợi vì nhiều điều khoản không sát hợp với sự giao dịch. Ví dụ, theo hợp đồng xuất khẩu FOB, người bán không có nghĩa vụ thuê tàu trở hàng, nhưng trong hợp đồng lại chói buộc người bán vào những việc không đáng có.

    1. Một số không ít công ty của chúng ta chưa có hợp đồng mẫu riêng của mình. Vì vậy khi ký kết hợp đồng, họ sử dụng ngay hợp đồng mẫu của khách hàng. Như đã phân tích ở trên (xem phần I). hợp đồng mẫu là công cụ phục vụ đắc lực cho bên đương sự thảo ra nó. Do đó, sử dụng hợp đồng mẫu của đối phương, doanh nghiệp của ta, tất nhiên, ở vào thế bất lợi.
    2. Một số không ít công ty của chúng ta không có hợp đồng được soạn thảo sẵn. Mỗi khi đàm phán ký kết hợp đồng, hai bên (bên mua và bên bán) mới soạn thảo hợp đồng. Do đó, hợp đồng rất sơ sài, nhiều điều khoản bất lợi, nhiều nội dung rất cần thiết mà lại không được quy định. Vì thế, trong quá trình thực hiện hợp đồng giữa các bên đương sự thường diễn ra tranh chấp, kiện tụng và, trong nhiều trường hợp, bất lợi nghiêng về phía doanh nghiệp Việt Nam.

    Ba trường hợp sau cùng (5,6,7) thường rơi vào các công ty mới bắt đầu chưa lâu các hoạt động trực tiếp xuất nhập khẩu, qui mô công ty không lớn và không có đội ngũ cán bộ được đào taọ một cách hệ thống về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.

    1. Yêu cầu của việc thống nhất soạn thảo hợp đồng mẫu.

    2.1 Ngôn ngữ trong hợp đồng phải chính xác, cụ thể, đơn nghĩa.

    2.1.1- Nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ phải chính xác:

    Tức là ý nghĩa của từ sử dụng trong hợp đồng phải thể hiện đúng ý chí của các bên ký kết, điều này đòi hỏi người soạn thảo hợp đồng phải có vốn từ vựng về nghiệp vụ phong phú, sâu sắc mới có thể xây dựng được bản hợp đồng chặt chẽ về từ ngữ, không gây ra những nhầm lẫn đáng tiếc, phí tổn nhiều tiền bạc và công sức, đặc biệt là khi thoả thuận về phẩm chất, quy cách hàng hoá phải hết sức thận trọng khi chọn sử dụng thuật ngữ.

    2.1.2- Ngôn ngữ hợp đồng phải cụ thể.

    63

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Khi thoả thuận về điều khoản nào các chủ thể ký kết hợp đồng phải chọn những số liệu những ngôn từ chỉ đích danh ý định, mục tiêu hoặc nội dung mà họ đang bàn đến nhằm đạt được, tránh dùng từ ngữ chung chung, đây cũng là những thủ thuật để chốn tránh trách nhiệm trong quá trình thực hiện hợp đồng.

    2.1.3- Ngôn ngữ hợp đồng phải đơn nghĩa.

    Từ ngữ của hợp đồng phải có sự chọn lọc chặt chẽ, thể hiện đúng mục đích của chủ thể đề nghị ký kết hợp đồng, tránh dùng những từ có thể hiểu thành nhiều nghĩa khác nhau: nó vừa mâu thuẫn với yêu cầu chính xác, cụ thể vừa có thể tạo ra khe hở cho kẻ xấu tham gia hợp đồng lợi dụng gây thiệt hại cho đối tác hoặc trốn tránh trách nhiệm khi có hành vi vi phạm hợp đồng, vì họ có quyền thực hiện theo ý nghĩa của từ ngữ mà họ thấy có lợi nhất cho họ, dù cho đối tác có bị thiệt hại nghiêm trọng rồi sau đó họ sẽ có cơ sở để biện luận, để thoái thác trách nhiệm. Một ví dụ điển hình như: “bên B thanh toán cho bên

    • bằng ngoại tệ…” ý đồ của bên A là muốn được thanh toán bằng USD như mọi trường hợp làm ăn với người thiện trí khác nhưng bên B lại thanh toán bằng đồng RUP của Nga cũng là ngoại tệ nhưng khả năng giao dịch rất yếu và giá trị không ổn định, kém hiệu lực rất nhiều so với đồng Đôla Mỹ (USD).

    2.2- Chỉ được sử dụng từ ngữ thông dụng, phổ biến trong hợp đồng tránh dùng các thổ ngữ hoặc tiếng lóng.

    Trong tình hình hiện nay nhà nước đang có chủ trương mở cửa giao dịch với nhiều cá nhân và tổ chức nước ngoài, các bên đương sự cần phải đựơc hiểu đúng chính xác ý chí của nhau thì việc giao dịch mới nhanh chóng thành đạt. Phải dùng tiếng phổ thông mới tạo điều kiện thuận lợi cho các bên cùng hiểu, dễ hiểu, tránh tình trạng hiểu nhầm dẫn tới việc thực hiện hợp đồng sai gây ra thiệt hại cho cả hai bên, đồng thời trong quan hệ với đối tác nước ngoài việc dùng tiếng phổ thông mới tạo ra sự tiện lợi cho việc dịch thuật ra tiếng nước ngoài, giúp cho đối tác nước ngoài hiểu đựơc đúng đắn, để việc thực hiện hợp đồng có hiệu quả cao giữ được mối tương quan bền chặt lâu dài thì làm ăn mới phát đạt. Đó cũng là yếu tố quan trọng để gây niềm tin ở đối tác…

    Tóm lại trong nội dung của bản hợp đồng việc sử dụng tiếng địa phương và tiếng lóng là biểu hiện sự tuỳ tiện trái với tính chất pháp lý, nghiêm túc mà bản thân loại văn bản này đòi hỏi phải có.

    2.3- Trong hợp đồng không được tuỳ tiện ghép chữ, ghép nghĩa, không tuỳ tiện thay đổi từ ngữ pháp lý và kinh tế.

    64

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    Việc ghép chữ, ghép tiếng dễ dẫn đến sự hiểu nhầm ý của các bên chủ thể, việc thay đổi ngôn từ pháp lý trong hợp đồng có thể dẫn đến tình trạng vận dụng bị sai lạc gây ra thất bại trong việc thực hiện hợp đồng. Chẳng hạn pháp luật quy định khi xây dựng hợp đồng phải thoả thuận về “thời hạn có hiệu lực của hợp đồng…” không được tuỳ tiện ghép chữ và thay đổi ngôn từ pháp lý thành điều khoản “thời hiệu của hợp đồng…” đến đây có thể làm sai lạc ý nghĩa của từ ngữ ban đầu.

    2.4- Trong hợp đồng quốc tế không đựơc sử dụng chữ thừa vô ích, không tuỳ tiện dùng chữ v.v hoặc dấu và dấu .

    Xuất phát từ yêu cầu bắt buộc trong bản thân hợp đồng phải chính xác, chặt chẽ, cụ thể như mọi văn bản pháp quy khác, không thể chấp nhận hoặc dung nạp chữ thừa vô ích làm mất đi tính nghiêm túc của sự thoả thuận, đó là chưa kể đến khả năng “ chữ thừa” còn có thể chứa đựng ý sai làm lạc đi mục tiêu của sự thoả thuận trong nội dung hợp đồng.

    Việc dùng loại chữ “v.v.” hoặc “…” là nhằm liệt kê hàng loạt tạo điều kiện cho người đọc hiểu một cách trừu tượng rằng còn rất nhiều nội dung tương tự không cần thiết phải viết ra hết hoặc không có khả năng liệt kê toàn bộ ra hết, điều này trong văn phạm pháp lý của hợp đồng không thể chấp nhận vì nó cũng trái với nguyên tắc chính xác, cụ thể của văn bản hợp đồng và có thể sẽ bị lợi dụng làm sai đi nội dung thoả thuận của hợp đồng chưa đưa ra bàn bạc thoả thuận trước các bên hợp đồng thì không cho phép thực hiện nó vì nó chưa được đủ hai bên xem xét quy định. Thực tế trong văn phạm của các loại văn bản pháp quy và hợp đồng hầu như không sử dụng chữ “v.v..” hoặc dấu “…”.

    2.5- Yêu cầu về văn phạm trong soạn thảo hợp đồng mẫu.

    2.5.1- Văn phạm trong hợp đồng phải nghiêm túc, dứt khoát.

    tính nghiêm túc , dứt khoát của hành văn trong hợp đồng được thể hiện ở tính mục đích được ghi nhận một cách trung thực, trong hoàn cảnh các bên tiến hành làm ăn kinh tế rất nghiêm túc, đi tới những nộidung thoả thuận rất thiết thực, kết quả của nó là các lợi ích kinh tế, hậu quả của nó là sự thua lỗ, phá sản, thậm chí bản thân người ký kết phải gánh chịu sự trừng phạt bằng đủ loại hình thức cưỡng chế: từ cảnh cáo, cách chức đến giam cầm, tù tội kèm theo cả sự bồi thường tài sản cho chủ sở hữu giao cho họ quản lý. Tóm lại hợp đồng kinh tế thực chất là phương án làm ăn có hai bên kiểm tra, chi phối lẫn nhau,

    65

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    trong nội dung đó tất nhiên không thể chấp nhận sự mô tả dông dài, thiếu nghiêm túc, thiếu chặt chẽ và dứt khoát.

    2.5.2- Văn phạm trong hợp đồng phải rõ ràng, ngắn gọn và đủ ý.

    Việc sử dụng từ ngữ phải chính xác, cụ thể sẽ dẫn tới những hành văn rõ ràng, ngắn gọn, đòi hỏi việc sử dụng các dấu chấm (.), dấu phẩy (,) phải chính xác, thể hiện được rõ ý không được phép biện luận dài dòng làm sai lạc nội dung thoả thuận nghiêm túc của hai bên hoặc làm loãng đi vấn đề cốt yếu cần quan tâm của các điều khoản trong hợp đồng.

    Đảm bảo yêu cầu ngắn gọn, rõ ràng nhưng phải chứa đựng đầy đủ các thông tin cần thiết về những nội dung mà hai bên cần thoả thuận trong hợp đồng: Ngắn gọn dẫn đến phản ánh thiếu ý, thiếu nội dung là biểu hiện của sự tắc trách, chú trọng mặt hình thức mà bỏ mặt nội dung tức là bỏ vấn đề cốt yếu của hợp đồng. Cách lập hợp đồng kinh tế như vậy bị coi là khiếm khuyết lớn không thể chấp nhận được.

    KẾT LUẬN

    Qua những phân tích kể trên, chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của hợp đồng mẫu trong buôn bán Quốc tế. Nhờ những hợp đồng mẫu nên việc thực hiện các thương vụ kinh tế dễ dàng hơn và đỡ phát sinh tranh chấp hơn.

    Chính vì những ưu việt này của hợp đồng mẫu nên nó được sử dụng ngày càng nhiều và đa dạng trong buôn bán Quốc tế. Ngày nay, hầu hết các

    66

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    ngành và thậm chí các công ty đều đang cố gắng xây dựng cho mình các hợp đồng mẫu. Công việc này rất khó khăn, nhưng vô cùng cần thiết và quan trọng vì chúng ta phải thảo ra một hợp đồng mẫu như thế nào để nhằm bảo vệ lợi ích tối đa cho công ty, đồng thời những điều khoản của hợp đồng phải phù hợp với tập quán buôn bán Quốc tế và nhất là phải được đối phương của chúng ta chấp nhận.

    Nếu một hợp đồng được ký kết không theo đúng nguyên tắc, bình đẳng, và cân đối giữa quyền và nghĩa vụ, chặt chẽ về pháp lý thì sẽ rất dễ gây ra tranh chấp.

    Như chúng ta đã biết các hợp đồng mẫu với các điều khoản càng chi tiết bao nhiêu càng giúp cho chúng ta thực hiện nó dễ dàng bấy nhiêu.Vì vậy chúng ta nên loại bỏ dần những hợp đồng với những điều khoản sơ sài và mỗi công ty nên tham gia khảo sát các hợp đồng về những mặt hàng cùng chủng loại để xây dựng cho mình những hợp đồng mẫu cho từng nhóm hàng cụ thể và dựa trên các điều khoản đó để làm căn cứ cho đàm phán trước khi ký kết hợp đồng.

    Với điều kiện buôn bán Quốc tế ngày càng được mở rộng, nên danh mục về hàng hóa xuất nhập khẩu của chúng ta ngày càng trở nên phong phú. Cùng với cơ chế mới, số lượng các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu ngày càng tăng lên không ngừng. Để tránh những ấu trĩ trong việc soạn thảo và thực hiện hợp đồng ngoại thương việc nghiên cứu hợp đồng mẫu là điều hết sức cần thiết.

    Hơn nữa, mọi thương vụ Quốc tế đều có đặc điểm riêng biệt. Dù là những thương vụ lặp lại vẫn luôn có khả năng phát sinh những rủi ro mới trong quá trình thực hiện. Do vậy việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý xung quanh hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương trước khi ký kết cũng có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

    Do thời gian có hạn, tôi chỉ phân tích một cách khái quát về nội dung và hình thức của hợp đồng mẫu và tôi chọn ra một số hợp đồng mẫu tiêu biểu. Tôi hy vọng rằng những sự phân tích của tôi trong đề tài này sẽ giúp ích một phần nào đó cho các cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu và nhất là những người trực tiếp tham gia đàm phán ký kết hợp đồng trong buôn bán Quốc tế.

    67

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    PHẦN PHỤ LỤC

    68

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    SALES CONTRACT

    No.: NTL-NVL0303-03

    Date: 27-02-2003

    Between:

    The Buyer:          NESTLE VIETNAM LTD.

    NESTLE FACTORY

    Bien Hoa Industrial Zone II, Lot 14, Bien Hoa, Dong nai Province, Vietnam. Account name: Nestle Vietnam Ltd.,

    41, Nguyen Thi Minh Khai, District 1, HCMC, VN. A/c No 00201112150000USD at Credit Argicole Indosuez,

    21-12 Nguyen Thi Minh Khai, District 1, HCMC, VN.

    Represented by:Mr. LUCA FICHERA-Supply Chain Manager

    And:

    The Seller:            NESTLE (THAI) Ltd.

    500 Ploenchit Road, Lumpini, Pathumwan Bangkok 10330, Thailand.

    Deutsche Bank AG, Bangkok Branch

    SWIFT DEUTTHBK

    A/C with Deutsche Bank Trust Company Americas in favor of Nestle (Thai) Ltd. A/C no. 0010405-30-0

    Represented  by:Mr.S. SUREE – Vice President of Indochina

    Development Dept.

    69

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    We are pleased to confirm the sale under the following terms and conditions:

    1. Commodity: MAGGI SEASONING SAUCE FOR COOKING, MAGGI SEASONING SAUCE FOR DIPPING, MAGGI OYSTER SAUCE.
    1. Specifications: Maggi Brand.
    1. Origin:
    1. Packing:Standard export cartons of
        Maggi : 700mlx12,  
        Maggi : 100mlx24,  
        Maggi : 340g x24 / 790gx12.  
    5. Quantity: 3x20FT containers of 3,600 cartons comprising following:
        Maggi : 700mlx12 – 1,240 cartons,  
        Maggi : 100mlx24 –  280 cartons,  
        Maggi : 340g x24 – 1,250 cartons / 790gx12  – 830
        cartons.      
    6. Delivery: March 2003.      
    7. Unit price: THB 201.68 / carton Maggi700ml x12 FOB,
        THB 124.34 / carton Maggi100ml x24 FOB,
        THB 247.58 / carton Maggi340g x24 FOB,  
        THB 234.04 / carton Maggi790g x12 FOB,  
        Sea Freight : THB 36,120.00  
        Insurance : THB 824.40  

    Total amount CIF HCM City Port: THB 825,571.00 (Thai Baht Eight Hundred & Twenty Five Thousand, Five Hundred & Seventy One only).

    1. Quality, quantity, packing (if any)

    All finalised at loading port as per certificate of manufacturer.

    1. Payment: 100% of Invoice Value.

    70

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    • By T/T 30 days after B/L date through a reputable international bank in favour of account number:

    A/C no. 0010405-30-0

    Deutsche Bank AG, Bangkok Branch

    SWIFT DEUTTHBK

    A/C with Deutsche Bank Trust Company Americas in favor of Nestle (Thai) Ltd.

    • All expenses incurred due to buyer’s delay in taking delivery of goods, arrived in normal quality conditions at destination, will be on buyer’s account.
    • All charges caused by buyer’s refusal to take delivery of goods, unless they are not arrived at destination in good conditions, as well as all formalities relating this end will be for buyer’s account. This will not, nevertheless, discharge them of the obligation for the commodity.
    1. Insurance:

    All risks, including war risks for seller’s account.

    1. Force Majeure:

    Seller is not liable any penalty of delay of all or any of this contract caused by any contingency beyond its control or beyond the control of, or covered by its contract to furnish this commodity. Such contingencies shall include, but not limited to governmental or other restrains affecting shipment or credit, strikes, lockout, flood, droughts, short or reduced supply of fuel or raw materials, declared or undeclared wars, revolutions, fires, cyclones or hurricanes or any other acts of God or force majeure.

    1. Arbitration:

    In case of dispute and if the contracting parties cannot reach an amicable settlement of claim within 60 days from its occurrence, the case shall be referred to arbitration in Ho Chi Minh City for final settlement. A panel of 3 arbitrators will be formed, each party appointing one arbitrator and both shall

    appoint a third one as president of the panel.

    71

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Definition:

    This contract is subject to interpretation as per the provisions of the 1990 edition of Incoterms as amended.

    THE BUYER

    Name:

    THE SELLER

    Name:S. Suree

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    72

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    1. Giáo trình “Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương” – PGS, NGƯT-Vũ Hữu Tửu. Nhà xuất bản giáo dục 1996.
    1. Giáo trình “Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại” –PTS-Nguyễn Thị Mơ, PGS, Hoàng Ngọc Thiết, NXB Giáo dục 1994
    1. Giáo trình “Thanh toán Quốc tế” – PGS – Đinh Xuân Trình, NXB Giáo dục 1996.
    1. Giáo trình “Luật hợp đồng kinh tế”, Trường đại học luật HN.
    1. “Pháp lệnh hợp đồng kinh tế”
    1. “Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng kinh tế – Hợp đồng thương mại”- Luật gia Phạm Thanh Tuấn – Nguyễn Duy Anh.
    1. Hợp đồng mẫu một số công ty xuất nhập khẩu trong và ngoài nước.

    73

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9

    Hợp Dồng Mẫu Trong Buôn Bán Quốc Tế.

    74

    SV- Bùi Thị Thanh Mai – A1- CN9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Công pháp quốc tế

    Bài tập lớn môn Công pháp quốc tế

    Bài tập lớn môn Công pháp quốc tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập lớn Thẩm định dự án


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-C%C3%B4ng-ph%C3%A1p-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Công pháp quốc tế

    LỜI MỞ ĐẦU:

    Xu hướng toàn cầu hóa đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, các quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng nhiều và phát triển trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh những thành quả rất to lớn mà quan hệ hợp tác quốc tế mang lại thì những nguy cơ tiềm ẩn sự mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thiết lập các mối quan hệ cũng không phải là nhỏ. Khi đó các tranh chấp quốc tế xảy ra, cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế các tranh chấp quốc tế ngày càng nhiều và có tính chất phức tạp hơn. Nên vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để giải quyết các tranh chấp quốc tế mà không làm ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao giữa các nước và đặc biệt là tránh gây xung đột ảnh hưởng tới hòa bình và an ninh các chủ thể tranh chấp quốc tế nói riêng và thế giới nói chung. Chính vì thế mà việc nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn các phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế là rất cần thiết. Phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán là một trong số đó, phương thức này đã và đang chứng minh được những điểm ưu việt của mình trong giải quyết các tranh chấp quốc tế.

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 3

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    NỘI DUNG

    1. Tranh chấp quốc tế và những biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp

    quốc tế.

    Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu đòi hỏi trái ngược nhau. Chủ thể của tranh chấp quốc tế trước hết phải là chủ thể của luật quốc tế, đó là quốc gia, các tổ chức quốc tế liên quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập. Trước kia để giải quyết các tranh chấp quốc tế các chủ thể thường sử dụng chiến tranh để phân định thắng thua. Tuy nhiên khi Liên hợp quốc ra đời cùng với những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đó thì các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được ưu tiên và đảm bảo thực hiện. Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Hiến chương Liên hợp quốc đã liệt kê nhiều những biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế để tạo cơ hội cho chủ thể có thể lựa chọn những biện pháp phù hợp nhất, tối ưu nhất làm sao cho tranh chấp được giải quyết một cách triệt để và không gây ảnh hưởng đến hòa bình an ninh. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp quốc tế từ trước đến nay cho thấy có các phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế như: giải quyết trực tiếp tranh chấp, giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba, giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế và các hiệp định khu vực, giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán. Trong đó phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua cơ quan tài phán có những nét nổi trội về nội dung và thực tiễn áp dụng.

    2. Nội dung và những ưu nhược điểm của phương thực giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán.

    Trước hết ta hiểu tài phán quốc tế là cách thức hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương thức, thủ tục tư pháp do các quốc gia tự lựa chọn. Còn cơ quan tài phán quốc tế là những cơ quan hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể của Luật quốc tế nhằm giải quyết các tranh chấp nảy sinh giữa các chủ thể này. Như vậy có thể hiểu phương thức giải quyết tranh chấp thông

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 4

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    qua cơ quan tài phán là phương thức mà các chủ thể của tranh chấp quốc tế lựa chọn (hoặc thành lập) một cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp giữa các bên bằng các phương thức, thủ tục nhất định.Cơ sở pháp lí để áp dụng phương thức này nói riêng và các phương thức hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế nói chung là 7 nguyên tắc trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc cũng qui định “Tất cả các Thành viên giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, theo cách không làm nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế, và công lý” tại khoản 3 điều 2.

    Sử dụng phương thức này các chủ thể của tranh chấp quốc tế phải lựa chọn một cơ quan tài phán, (có thể là tòa án quốc tế hoặc trọng tài quốc tế) số lượng thẩm phán hoặc số lượng trọng tài, luật pháp được áp dụng tùy thuộc vào các điều ước quốc tế mà các bên đã kí kết hoặc thiết chế của cơ quan tài phán đó.Nếu các bên đồng ý lựa chọn một tòa án quốc tế thì phải chịu những cơ chế xét xử của Tòa án, còn nếu như lựa chọn tòa trọng tài thì các bên sẽ phải thỏa thuận, thỏa thuận này phải được xác định rõ ràng trong một điều ước hoặc cũng có thể là một điều khoản, trong điều ước này không chỉ thể hiện việc nhất trí đưa vụ việc ra tòa trọng tài mà còn qui định về thẩm quyền, thủ tục xét xử, nguồn luật áp dụng, nghĩa vị mà các bên phải tuân thủ. Thành phần của cơ quan tài phán quốc tế cũng được thỏa thuận, tuy nhiên cũng tùy từng cơ quan tài phán mà thành phần đó cần có những yêu cầu bắt buộc nào.

    Thẩm quyền của các cơ quan tài phán là do các bên trong tranh chấp quốc tế tự thỏa thuận, nhưng một khi thẩm quyền này đã được viện dẫn thì nó là độc lập. Cơ quan tài phán sẽ tiến hành các thủ tục cho hoạt động xét xử mà không phụ thuộc vào

    • chí của các bên tranh chấp cũng như dư luận thế giới, chỉ cần tuân theo những nguyên tắc chung của luật quốc tế, các tập quán quốc tế, những công ước mà các bên

    đã kí kết, và đặc biệt là văn bản đã thỏa thuận của hai quốc gia.

    Thủ tục tố tụng: các tòa án quốc tế đều được tiến hành theo thủ tục bổ trợ và thủ tục nội dung, trong thủ tục nội dung có thủ tục viết và nói; thủ tục tố tụng tại tòa trọng tài cũng do các bên thỏa thuận nhưng nếu như không thỏa thuận được thì có

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 5

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    thể dựa vào thủ tục tố tụng được qui định trong công ước Lahaye về giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế hoặc có thể trong Qui chế mẫu về thủ tục trọng tài.

    Nguồn luật áp dụng chủ yếu là các nguyên tắc và qui phạm pháp luật quốc tế, các tập quán quốc tế hoặc cũng có thể là pháp luật quốc gia nếu điều ước quốc tế về trọng tài mà các bên kí kết có qui định về khả năng viện dẫn luật quốc gia.

    Giá trị pháp lí của các phán quyết của cơ quan rất lớn, có giá trị chung thẩm và bắt buộc chung. Có nghĩa là các phán quyết của cơ quan tài phán đã đưa ra thì các chủ thể của tranh chấp phải thực hiện một cách tự giác nghiêm túc và không có quyền yêu cầu xét xử lại, tuy nhiên đối với tòa trọng tài thì có thể xem xét lại nếu như có những tình tiết mới hoặc phát hiện ra có dấu hiệu mua chuộc trọng tài, tòa trọng tài vượt quá thẩm quyền mà các bên trao cho, tòa có hành vi vi phạm nghiêm trọng các qui định về thủ tục tố tụng, hoặc điều ước quốc tế về trọng tài mà các bên đã kí kết đã bị vô hiệu.

    Từ nội dung trên ta có thể đánh giá về phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán như sau:

    Qui trình thành lập, thẩm quyền, thủ tục xét xử được qui định một cách cụ thể rõ ràng minh bạch cho nên tránh được sự nhầm lẫn về các nội dung đó khi tiến hành xét xử. Theo một nguyên tắc chung là thẩm quyền không đương nhiên nhưng thẩm quyền của cơ quan tài phán quốc tế là độc lập khi đã được viện dẫn. Giá trị pháp lí của các phán quyết có hiệu lực tối cao (đối với các phán quyết của Tòa án công lí quốc tế ICJ) và có hiệu lực tương đối cao ( đối với các phán quyết của các tòa án khác và các tòa trọng tài) do về nguyên tắc đó là chung thẩm có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp. So với phương thức thông qua bên thứ ba thì ở khía cạnh này phương thức thông qua cơ quan tài phán thể hiện sự vượt trội hơn hẳn, các hoạt động trung gian hòa giải chỉ dừng lại ở việc khuyến khích đưa ra ý kiến để các bên có thể lựa chọn mà không có yêu cầu bắt buộc dẫn đến việc thi hành không đảm bảo.

    Nếu như các cơ quan tài phán quốc tế có thể xét xử đối với cả các chủ thể không phải là thành viên của một điều ước quốc tế có liên quan tới cơ quan tài phán đó trong phương thức thông qua cơ quan tài phán thì trái lại ở phương thức giải

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 6

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    quyết tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế thì lại thu hẹp đối tượng, hạn chế chỉ trong phạm vi các quốc gia thành viên của tổ chức đó.

    Sự thỏa thuận trong phương thức này cũng được đề cao, hầu hết trong các bước của quá trình thành lập cơ quan tài phán, qui định về thẩm quyền thủ tục đều phải có sự nhất trí của hai bên, từ đó thấy được tính chất công bằng bình đẳng trong quan hệ quốc tế.

    Tuy nhiên bên canh những ưu điểm vượt trội đó thì phương thức này cũng có một số những hạn chế. Vì thủ tục rất nhiều cho nên tốn thời gian tốn nhiều kinh phí cho sự hoạt động của cơ quan tài phán, về điểm này thì phương thức thông qua cơ quan tài phán không tốt bằng phương thức giải quyết trực tiếp, không có sự nhanh gọn, tiện lợi.Kết quả tranh chấp phụ thuộc hoàn toàn vào phán quyết của cơ quan tài phán, không thể là ý chí chủ quan của các bên tranh chấp, hơn thế nữa việc xét xử công khai của tòa án quốc tế cũng khiến cho đôi khi gây khó khăn cho những tranh chấp cần được giữ kín, bí mật.

    Bên canh đó mặc dù cơ chế tự thỏa thuận giữa các bên về việc lựa chọn cơ quan tài phán phát huy được tính chất công bằng tuy nhiên đây cũng chính là một hạn chế khi trên thực tế vì một bên không chấp nhận đưa vụ việc ra cơ quan tài phán giải quyết mà các tranh chấp vẫn diễn ra một cách dai dẳng gây phiền phức cho bên còn lại và là nguy cơ tiềm ẩn sự xung đột giữa các chủ thể tranh chấp quốc tế. Ví dụ cụ thể nhất là việc tranh chấp 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc đưa vụ việc ra Tòa án luật biển quốc tế nhưng Trung quốc đã không chấp nhận, vì thế cho đến nay vẫn chưa có một quyết định cụ thể nào gây hoang mang dư luận và quan hệ ngoại giao của hai nươc cũng trở nên căng thẳng. Chính vì thế có nên hay chăng việc qui định rộng hơn thẩm quyền của các cơ quan tài phán trong một chừng mực giới hạn nào đó để vừa có thể đảm bảo quyền lợi ích của các bên tranh chấp vừa không xâm phạm tới chủ quyền của mỗi chủ thể.

    3. Thực tiễn áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán:

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 7

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    Thực tiễn áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán quốc tế từ trước đến nay cho thấy có 2 loại cơ quan tài phán đó là tòa án quốc tế và trọng tài quốc tế.

    Tòa án Quốc tế:

    Tòa án quốc tế hiện nay trên thế giới có tòa án công lí quốc tế ICJ, Tòa án Liên minh Châu Âu, Tòa án luật biển… Tòa áncông lí quốc tế ICJ đã và đang hoạt động với vai trò là một tòa án thường trực và là một cơ quan trực thuộc Liên hợp quốc, chính vì vậy những mâu thuẫn giữa các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc đương nhiên sẽ có quyền được đưa những tranh chấp của mình ra ICJ để giải quyết, ICJ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp pháp lí giữa các quốc gia hoặc đưa ra những kết luận tư vấn về các vấn đề pháp lí mà Đại hội đồng, HĐBA cũng như các cơ quan khác của Liên hợp quốc yêu cầu…….Tòa đã có bước khởi đầu tốt đẹp qua

    các vụ Eo biển Corfou năm 1949, quyền tị nạn năm 1950 hay các kết luận tư vấn Bồi thường thiệt hại cho các hoạt động của các cơ quan của Liên hợp quốc năm 1949. Tuy nhiên chiến tranh lạnh đã kìm hãm sự hoạt động của ICJ và những năm 60-70 của thế kỉ XX niềm tin vào hoạt động cũng như số lượng các vụ tranh chấp và các tư vấn tại tào giảm sút một cách đáng kể. Tuy nhiên trong những năm tiếp theo Tòa đã tiến hành điều chỉnh lại cơ chế làm việc và mở rộng tầm hoạt động của mình, từ sau những năm 1992 ICJ đã thực sự hồi sinh. Tòa mở rộng việc áp dụng Tòa rút gọn (rút gọn chỉ còn 5 thẩm phán ) và thời gian cho thủ tục tranh chấp cũng được rút gọn. Từ năm 1946 đến nay đã có 74 phán quyết và 23 kết luận tư vấn không kể cong nhiều vụ khác đang đưa trước Tòa (số liệu năm 2002). Trung bình Tòa có 2-> 2.5 vụ việc một năm riêng năm 1998 và 1999 môi năm có tới năm lần các nước tìm đến sự giúp đỡ của Tòa. Chỉ riêng ở Libi đã bốn lần xuất hiện trước Tòa trong các vụ việc: Thềm lục địa Tuynidi /Libi, thềm lục địa Libi /manta, tranh chấp lãnh thổ Libi/ Sat, Loccobi. Năm 1998. Indonexia và Malaixia cũng đồng ý dưa vụ tranh chấp chủ quyền trên các đảo paulau Ligitan và Pulau Sipadan ra Tòa. Bỉ, Canada, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Italia, Hà lan, Bồ Đào Nha, Vương quốc Anh, Tây ban Nha, Mỹ đã trở thành bên bị đơn trong vụ Nam Tư kiện lên Tòa án năm 1999 về Tính hợp pháp của việc sử dụng vũ khí trong việc sử dụng vũ lực trong chiến dich các nước Phương Tây đã tấn

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 8

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    công quân sự Nam tư. Các phán quyết của Tòa thể hiện tính khách quan hơn trước . Trong vụ các hành động quân sự và bán quân sự tại Nicaraoa và chống lại Nicaraoa, Tòa đã sử Nicaraoa thắng và yêu cầu Mỹ phải chấm dứt mọi hoạt đọng đe dọa và sử dụng vũ lực chống lại Nicaraoa, vi phạm các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tê… các thành quả trên đã thể hiện sự hoạt động có hiệu quả cao của Tòa ICJ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia, trong việc bảo vệ và duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

    Tòa án liên minh Châu Âu là một trong những thiết chế chính của Liên minh Châu Âu, do mô hình liên kết đặc biệt nên Tòa án Liên minh Châu Âu không chỉ dừng lại ở thẩm quyền của một cơ quan tào phán quốc tế đơn thuần mà trong một số lĩnh vực nhất định theo thỏa thuận của các nước thành viên, thẩm quyền của Tòa này giống như Tòa án quốc gia. Tòa án Liên minh châu Âu có chức năng giải thích luật của EU và đảm bảo cho pháp luật của Liên minh được các thiết chế thuộc EU, các quốc gia thành viên và công dân của các nước thành viên tuân thủ. Tuy nhiên các phán quyết của Tòa có thể bị kháng cáo và được xem xét lại.

    Tòa án luật biển là thiết chế được hình thành từ thỏa thuận của điều ước chuyên môn, Tòa có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên cũng như tất cả các thực thể khác không phải là quốc gia thành viên của công ước trong tất cả các trường hợp liên quan đến việc quản lí và khai thác vùng- di sản chung của loài người.

    =>Từ các tòa án quốc tế trên ta có thể thấy rằng phương thức giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán đã và đang được thực hiện một cách hiệu quả, chỉ khi hoạt động hiệu quả thì các thiết chế đó mới có thể tồn tại và được tin tưởng.

    Trọng tài quốc tế

    Tòa trọng tài là một thiết chế được sử dụng khá phổ biến hiện nay với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên có quyền thỏa thuận trao cho một cá nhân hoặc hội đồng trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa họ. Tòa trọng tài là cơ quan tài phán quốc tế được các chủ thể thỏa thuận thành lập nên trên cơ sở điều ước quốc tế (hoặc điều khoản) về trọng tài nhằm giải quyết tranh chấp

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 9

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    phát sinh giữa các bên. Thẩm quyền của tòa trọng tài không là thẩm quyền đương nhiên cũng như những phương thức khác phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Việc Thành phần của tòa trọng tài có thể là 1 cá nhân hoặc hội đồng trọng tài với điều kiện là số lẻ để đảm bảo tính chất công bằng

    Tiêu biểu cho thiết chế này là Tòa trọng tài thường trực Lahaye . Toà trọng tài thường trực nhưng toà không hẳn là cơ quan tài phán quốc tế thường trực. Đây thực tế chỉ là một danh sách các trọng tài viên thường trực, có thể được các quốc gia lựa chọn khi giải quyết các tranh chấp quốc tế sử dụng biện pháp này. Từ khi thành lập, Toà trọng tài thường trực Lahay đã giải quyết được khá nhiều vụ tranh chấp quốc tế và có một số vụ đã được Toà giải quyết tương đối thành công như vụ: Tranh chấp chủ quyền trên đảo Palmas (1922-1928) giữa Hà Lan và Hoa Kỳ, tranh chấp chủ quyền một số đảo ở Biển Đỏ giữa Eritrea và Yemen (1999), Tranh chấp về biên giới giữa Ethiopia và Ertrea (2001)….Như vậy có thể thấy việc lựa chọn trọng tài trong

    giải quyết các tranh chấp quốc tế đã có từ lâu trong lịch sử, với tính chất linh động của mình, Toà Trọng tài có thể tổ chức xét xử tại khắp mọi nơi trên thế giới và không có thời gian cụ thể cho mỗi vụ việc. Tuy nhiên trong những năm gần đây Tòa trọng tài Lahaye bộc lộ khá nhiều hạn chế và vai trò của Toà trong việc giải quyết các tranh chấp giảm sút. Vì Toà không phải là cơ quan tài phán có thẩm quyền bắt buộc và cũng không phải là cơ quan tài phán duy nhất mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn. Để khắc phục phần nào những bất cập nêu trên, từ năm 1992, Toà trọng tài thường trực Lahay đã ban hành hàng loạt quy định nhằm mở rộng thẩm quyền cũng như hoàn thiện thủ tục tố tụng tại Toà.

    Việc sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán không tách rời với các phương thức khác, một số vụ tranh chấp khác sau khi có phán quyết của Tòa án nhưng vẫn tiếp tục sử dụng tới trọng tài để phân xử. ví dụ như vụ Argentina kiện Mỹ về các biện pháp chống bán phá giá đối với các ống dẫn dầu từ Argentina. Kết luận của Tòa án không làm Argentina và Mỹ đồng ý vì vậy cả hai bên đã đồng ý thỏa thuận bổ nhiệm ông A.V. Ganesen ủy viên cơ quan phúc thẩm làm trọng tài phân xử. Hoặc sau khi có phán quyêt của Tòa án các bên có thể tiếp tục áp dụng phương thức đàm phán. Có thể thấy rằng việc sử dụng các biện pháp hòa bình

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 10

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    giải quyết các tranh chấp nói chung và sử dụng phương thức thông qua tòa án để giải quyết các tranh chấp nói riêng đã và đang được sử dụng một cách phổ biến và thật sự hiệu quả hiện nay.

    KẾT LUẬN:

    Do bối cảnh kinh tế ,chính trị văn hóa xã hôi ở mỗi nước mỗi khu vực có sự khác nhau nên trong quan hệ quốc tê thường phát sinh những bất đồng và mâu thuẫn. Do đó muốn giữ gìn và bảo đảm hòa bình an ninh thế giới thì việc sủ dụng những biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là hoàn toàn hợp lí. Việc sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán đã đảm bảo cho các nguyên tắc của luật quốc tế được thi hành, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể của luật quốc tế. Việc sử dụng phương thức thông qua cơ quan tài phán không chỉ yêu cầu thái độ tôn trọng chủ quyền của nhau giữa các chủ thể mà còn thể hiện sự tôn trọng công lí lẽ phải trên thế giới. Thực tiễn áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán đã cho thấy những ưu điểm vượt trội của phương thức này, thẩm quyền của các cơ quan tài phán là độc lập cùng với các phán quyết có giá trị pháp lí cao, bảo đảm sự thực hiện các phán quyết khác. Tuy nhiên cũng có những điểm còn hạn chế như cơ chế nặng nề cồng kềnh, những năm gần đây các cơ quan tài phán đã có những thay đổi rất tích cực để đảm bảo cho biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế được thực hiện tốt nhất. Hiện tại và tương lai trong quan hệ quốc tế các cơ quan tài phán sẽ luôn là nơi “ chọn mặt gửi vàng” của các chủ thể luật quốc tế.

    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 11

    Bài tập lớn học kỳ môn Công pháp quốc tế

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1.Luật quốc tế. Trường đại học Luật Hà Nội. Nxb Công an nhân dân. 2004

    1. pca-cpa.org
    1. Luận văn tiến sĩ Luật học:

    4.Lê Mai Anh & Trần Văn Thắng, Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.

    5.Lê Mai Anh, Luật biển quốc tế hiện đại, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2005

    1. Hiến chương Liên hợp quốc 1945.
    1. Công ước của Liên hợp quốc năm 1982 về luật biển.
    1. Nguyễn Hồng Thao, Toà án công lí quốc tế, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2000
    Nguy n Th  Kim Cúc – 351823 12

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bài tập lớn Thẩm định dự án

    Bài tập lớn Thẩm định dự án

    Bài tập lớn Thẩm định dự án

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập phát hiện lỗi sai tiếng Anh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Thẩm định dự án

    Thẩm định dự án                                                                                                                                                  Bài tập trên lớp

    BÀI TẬP 2

    Thời gian làm bài 75 phút

    Anh/chị đựơc yêu cầu thẩm định tính khả thi của một dự án với những thông tin dưới đây:

    Vòng đời dự án:

    Việc xây dựng nhà xưởng và lắp đặt máy móc thiết bị dự kiến hoàn thành nội trong năm

    1. Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm tiếp theo và sẽ hoàn tất việc giải quyết công nợ và thanh lý tài sản ở năm sau đó.

    Đầu tư:

    Dự án được thực hiện trên một tòa nhà của Quân đội với tiền thuê trả một lần vào năm 0 là 600 triệu đồng (miễn tiền thuê năm xây dựng và năm thanh lý). Để thực hiện dự án này, chủ đầu tư phải chi ra khoảng 600 triệu đồng cho việc xây dựng sửa chữa lại tòa nhà theo đúng mục đích sử dụng của dự án.

    Chủ dự án dự kiến chi khoảng 800 triệu đồng cho việc mua sắm và lắp đặt máy

    móc thiết bị. Thời gian hữu dụng của các máy móc thiết bị này là 5 năm.

    Sản lượng:

    Sản lượng của dự án ở năm hoạt động đầu tiên là 12 ngàn sản phẩm. Dự kiến, sản lượng năm sau cao hơn năm trước 10% trong suốt tuổi thọ của dự án.

    Giá bán:

    Mức giá sản phẩm ở năm hoạt động đầu tiên là 120 ngàn đồng/sản phẩm và dự kiến mức giá năm sau cao hơn năm trước 10%.

    Chi phí trực tiếp:

    Chi phí trực tiếp (chưa bao gồm khấu hao và chi phí phân bổ tài sản cố định khác) bao gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, điện, tiền lương công nhân, bao bì,… ước khoảng 40 ngàn đồng/sản phẩm và chi phí này cũng tăng hàng năm với tỷ lệ như tăng giá bán.

    Chi phí quản lý và bán hàng:

    Vì chỉ bán buôn, không bán lẻ, nên chi phí quản lý và bán hàng thấp, dự kiến khoảng 150 triệu đồng/năm và không thay đổi qua các năm. Riêng năm thanh lý chỉ tốn khoảng 75 triệu đồng.

    Vay nợ:

    Để đủ tiền thanh toán cho đầu tư ban đầu, chủ đầu tư sẽ phải vay ngân hàng số tiền bằng 50% giá trị nhà xưởng và máy móc thiết bị với lãi suất 12%/năm. Khoản vay này sẽ được hoàn trả vào 3 năm tiếp theo với phương thức trả vốn gốc và lãi đều hàng năm và tiền lãi sẽ trả theo lãi phát sinh hàng năm.

    Khoản phải thu, khoản phải trả:

    Khoản phải thu ước khoảng 5% doanh thu và khoản phải trả ước khoảng 10% chi phí trực tiếp chưa bao gồm khấu hao.

    Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: 25%

    Những thông tin khác:

     

    Phùng Thanh Bình

    Thẩm định dự án                                                                                                                                                  Bài tập trên lớp

    Để đơn giản, giả sử rằng không có tồn kho nguyên liệu và thành phẩm, không có tồn quỹ tiền mặt, không tính đến thuế VAT, khấu hao theo phương pháp đường thẳng, và phân bổ hết các chi phí khác trong thời gian hoạt động của dự án.

    Yêu cầu:

    1. Anh/Chị hãy lập các bảng tính dưới đây:
    1. Tổng doanh thu và tổng chi phí trực tiếp chưa kể khấu hao và chi phí phân bổ khác
    1. Lịch vay và trả nợ
    1. Báo cáo thu nhập dự trù
    1. Bảng vốn lưu động
    1. Anh/Chị hãy lập Báo cáo ngân lưu theo quan điểm Tổng đầu tư (TIPV), sau đó tính NPV của dự án với suất chiết khấu WACC = 17%.
    1. Nếu suất sinh lợi yêu cầu tăng lên 22% thì dự án có đáng giá hay không? Anh/Chị hãy ước tính IRR của dự án.
    1. Anh/Chị cho biết dự án có đủ khả năng trả nợ hay không? Tại sao?
    1. Thật ngắn gọn, Anh/chị hãy lập Báo cáo ngân lưu theo quan điểm chủ đầu tư (EPV).
    1. Anh/Chị cho biết WACC có thể được ước tính như thế nào?

    Phùng Thanh Bình


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Giới thiệu sàn giao dịch bất động sản và vai trò của sàn bất động sản trong nền kinh tế thị trường


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ng%E1%BA%A1ch-chuy%C3%AAn-vi%C3%AAn-Tranh-ch%E1%BA%A5p-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-th%E1%BB%ABa-k%E1%BA%BF-l%C3%A0-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-%C4%91%E1%BA%A5t-ch%C6%B0a-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-c%E1%BA%A5p-gi%E1%BA%A5y-ch%E1%BB%A9ng-nh%E1%BA%ADn-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận quản lý nhà nước ngạch chuyên viên: Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thừa uỷ quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Sở Nội vụ tỉnh Đồng Nai đã phối hợp với Học viện Hành chính quốc gia tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính cho cán bộ lãnh đạo tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Đồng Nai (thời gian học từ 04/6 đến 11/9/2009) về bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý hành chính nhà nước.

    Qua thời gian ba tháng học tập, được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính, được Quý Thầy, Cô của Học viện Hành chính Quốc gia tranh thủ, tận tình chuyển tải những kiến thức và kỹ năng quí báu, sát tình hình thực tế công việc về quản lý hành chính nhà nước gồm những nội dung:

    • Nhà nước và pháp luật;
    • Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính;
    • Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.

    Đây là những nội dung vô cùng bổ ích và cần thiết cho người cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Qua gần 30 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác quản lý nhà nước. Đồng thời cũng nhận thức được rằng muốn đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý, cần phải nhạy bén, nắm chắc được các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới Luật, vận dụng sáng tạo, kết hợp linh hoạt với thực tiễn cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ được giao.

    Vận dụng những kiến thức được học từ quý Thầy, Cô em mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Tranh chấp bất động sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng” để

    thực hiện tiểu luận cho chương trình “Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính”.

    Trang 2

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Thực tiễn cho thấy trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo của công dân đúng cấp, đúng thẩm quyền và kịp thời không những đảm bảo được lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân mà còn góp phần ổn định an ninh – trật tự xã hội. Qua đó, góp phần vào việc ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí của công và các tệ nạn xã hội khác, xây dựng được khối đại đoàn kết trong nhân dân, tạo được niền tin của nhân dân đối với hệ thống bộ máy hành chính nhà nước. Mặt khác, thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời sẽ giảm thiểu tình trạng khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp. Đồng thời, nhiều cấp, nhiều ngành kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những sai sót, lệch lạc, những yếu kém trong công tác quản lý hành chính, kiến nghị với cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách, pháp luật sát với thực tiễn cuộc sống, xử lý nghiêm minh những người sai phạm hoặc tránh né trách nhiệm.

    Tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước là bài kiểm tra cuối khoá nhằm đánh giá khả năng vận dụng kiến thức lý luận vào điều kiện thực tiễn của hoạt động quản lý Nhà nước hiện hành. Thông qua đó, các học viên có vai trò như là người cán bộ, công chức có chức năng, thẩm quyền đưa ra phương hướng xử lý thực sự phù hợp với điều kiện thể chế; phong tục tập quán Việt Nam, phong tục từng vùng, miền. Song, những yêu cầu của tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước không đơn giản chỉ là việc giải quyết đơn thuần mà trong đó phải hàm chứa đầy đủ khả năng phân tích cơ sở lý luận, các quy định; đánh giá ưu, khuyết điểm của từng vấn đề… làm cơ sở cho việc đề xuất những kiến nghị theo từng nội dung. Do đó, mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm bản thân có hạn, nên bài viết này chắc chắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

    Trang 3

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN I

    GIỚI THIỆU TÌNH HUỐNG

    Ông Phạm Văn Sơn, nghề nghiệp làm ruộng, ngụ tại ấp Cầu Hang, xã Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và bà Trần Thị Bích Ngọc đã lấy nhau hơn 4 năm nhưng không sinh con. Vào năm 1980, Ông Bà Sơn đến Trung tâm Cô Nhi Đồng Nai xin con nuôi và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin nhận con nuôi có tên là Phạm Văn Đáp (lúc đó Đáp được 01 tuổi). Từ khi có anh Đáp, ba năm sau vợ chồng ông sinh thêm được 02 người con gái nữa lần lượt có tên là Đẹp và Đào.

    Đầu năm 1993, hộ gia đình ông Sơn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho 5 hécta đất nông nghiệp để trồng cà phê và cây ăn trái. Ông Sơn đã trồng cà phê và cây ăn trái trên hết diện tích đất nói trên. Hiện tại đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Vào năm 2004, anh Đáp lập gia đình và xin ra ở riêng, tại xã Tam An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Gia đình anh Đáp sinh sống bằng nghề làm ruộng và đã tự mua được 01 hécta đất để trồng cây cà phê và cây ăn trái.

    Năm 2007, Ông Sơn bị bệnh hiểm nghèo và qua đời. Trong lúc tang gia, mọi người xúm nhau dọn dẹp nhà cửa thì phát hiện di chúc của Ông Sơn (có công chứng của cơ quan nhà nước). Ông Sơn lập di chúc vào năm 2006 và để thừa kế lại cho anh Đáp 01 hécta đất trong tổng số 05 hécta đất nông nghiệp trồng cây cà phê và cây ăn trái; 01 xe gắn máy do ông Sơn đứng tên. Sau khi mở thừa kế, anh Đáp đã nhận 01 hécta đất, 01 xe gắn máy và Anh Đáp đầu tư hệ thống ống tưới tiêu để chăm sóc cho cà phê và cây ăn trái. Anh Đáp được hưởng thừa kế và làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng thì các em gái không đồng ý.

    Thế là Bà Ngọc và các con đồng ký đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã Hóa An khởi kiện đòi lại 01 hécta đất mà Anh Đáp được hưởng thừa kế và 01 xe gắn máy với lý do như sau:

    Trang 4

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được

    phân chia tài sản.

    • Đất nông nghiệp thuộc thành viên của hộ gia đình nên không được để

    thừa kế cho con nuôi.

    • Gia đình duy nhất có 01 xe gắn máy làm phương tiện (Ông Sơn vẫn còn

    đứng tên) nên không thể giao cho Anh Đáp.

    • Anh Đáp không tận tình chăm sóc trong thời gian ông Sơn bị bệnh nên

    không được hưởng thừa kế của ông Sơn.

    Sau khi nhận đơn của bà Ngọc, Ủy ban nhân dân xã Hóa An đã chuyển hồ sơ lên Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa.

    Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa đã tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ký quyết định hành chính chấp thuận nội dung khởi kiện của bà Ngọc, buộc anh Đáp phải giao lại 01 hécta đất trồng cây cà phê và cây ăn trái cho bà Ngọc. Anh Đáp vẫn được sử dụng xe gắn máy do ông Sơn cho, tặng (vì giá trị xe gắn máy không đáng kể). Mặt khác, bà Ngọc phải trả lại cho anh Đáp 15 triệu đồng, số tiền mà anh Đáp đã bỏ ra để đầu tư hệ thống ống ngầm tưới tiêu phục vụ cho việc trồng trọt và công chăm sóc cây cối.

    Bất ngờ trước quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa, anh Đáp đã làm đơn khiếu nại gửi đến phòng tiếp dân của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

    Nhằm làm rõ hơn vấn đề, chúng ta phân tích nguyên nhân và hậu quả để có được định hướng chung trong việc đưa ra giải pháp xử lý cho thích hợp.

    Trang 5

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN II

    PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ

    1. NGUYÊN NHÂN:

    1.1 . Về khách quan:

    Do quá trình đô thị hóa, phát triển các Trung tâm thương mại, khu công nghiệp, nhà cao tầng… đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại quỹ đất. Theo đó, giá trị đất nông nghiệp cũng ngày một tăng lên, dẫn đến phát sinh khiếu nại đòi lại, tranh chấp đất nông nghiệp ngày một gia tăng.

    Thủ tục hành chính rườm rà, khó hiểu. Việc tuyên truyền pháp luật ở cở sở chưa tốt dẫn đến người dân chưa hiểu hết trách nhiệm – nghĩa vụ và quyền lợi của mình.

    Bộ máy chính quyền cấp phường, xã bấy lâu nay chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí có thể nói là bị xem thường. Khi tuyển dụng cán bộ, viên chức cấp xã không chú trọng việc đề ra chuẩn mực trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nhất định (chủ yếu tuyển dụng bằng “Mối quan hệ”). Vì thế, đội ngũ cán bộ, viên chức cấp xã vừa thiếu, vừa yếu.

    1.2 . Về chủ quan:

    Cán bộ, công chức là người thực thi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế công tác không phải tất cả cán bộ, công chức đều hiểu và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, một cách đúng đắn, phù hợp với chức trách nhiệm vụ được giao. Trong tình huống này hoặc do đưa đẩy, tránh né trách nhiệm hoặc do thiếu hiểu biết về pháp luật (như công chức xây dựng – điạ chính xã Hóa An) đã làm cho vụ việc thêm phức tạp. Đó là một trong những nguyên nhân của tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài gây khó khăn không đáng có.

    Người dân do thiếu hiểu biết về pháp luật đã kiện sai nhưng không được giải thích ngay từ cơ sở; cán bộ quản lý hành chính nhà nước không nắm chắc

    Trang 6

    Tiểu luận tốt nghiệp

    các quy định của pháp luật nên đã tự tiện giải quyết vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình. Do đó dẫn đến việc ra quyết định hành chính sai.

    2. HẬU QUẢ:

    2.1. Tại Ủy ban nhân dân xã Hóa An:

    Trước tiên phải xác định nội dung của vụ kiện giữa bà Ngọc, các con và anh Đáp là tranh chấp tài sản thừa kế theo di chúc của Ông Sơn. Thực tế là kiện đòi lại quyền sử dụng đất nông nghiệp, tài sản trên đất cũng như tài sản là xe gắn máy.

    Trong chương VI, tại mục 2, điều 135 Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004) qui định:

    • “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc

    giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở”.

    • Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Uỷ ban

    nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai”.

    Như vậy Ủy ban nhân dân xã Hóa An sau khi nhận đơn của bà Ngọc đã không tiến hành tổ chức hòa giải giữa bà Ngọc và anh Đáp mà chuyển ngay đơn đến Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa là trái với qui định của pháp luật.

    Cũng trong chương VI, tại mục 2, điều 136, khoản 1- Luật đất đai năm 2003 qui định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

    “Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết

    như sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5

     

    Trang 7

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”.

    Do hộ Ông Sơn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho 5 hécta đất nông nghiệp để trồng cà phê và cây ăn trái bằng quyết định hành chính, nên theo qui định, khi đã tiến hành hoà giải mà không thành thì Ủy ban nhân dân xã Hóa An phải hướng dẫn cho các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân chứ không phải tự ý chuyển hồ sơ qua Ủy ban nhân dân thành phố.

    2.2. Tại Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa:

    Theo qui định, sau khi nhận được đơn kiện của bà Ngọc, do Ủy ban nhân dân xã Hóa An chuyển đến, Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa phải giải quyết như sau:

    – Xem xét hồ sơ: Nếu Ủy ban nhân dân xã Hóa An chưa tiến hành hòa giải thì trả hồ sơ lại và yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Hóa An tổ chức hòa giải giữa bà Ngọc và anh Đáp theo luật định.

    – Nếu đã hòa giải rồi mà không thành thì chỉ đạo và chuyển hồ về Ủy ban nhân dân xã Hóa An để hướng dẫn các đương sự nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để giải quyết vụ khởi kiện tranh chấp. Vì như đã nêu trên, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là cây cà phê và cây ăn trái giữa bà Ngọc và anh Đáp là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

    Như tình huống đã đưa ra, Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận theo nội dung đơn kiện của bà Ngọc là không đúng với qui định:

    Như vậy việc Uỷ ban nhân dân thành phố Biên Hoà ra quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có gắn với tài sản trên đất (cây cà phê và cây ăn trái) là sai với thẩm quyền.

    Nội dung xử lý đơn khởi kiện sai với qui định của Pháp luật. Cụ thể là:

    Trang 8

    Tiểu luận tốt nghiệp

    1. Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên không được phân chia tài sản. Nội dung kiện này sai. Vì đất của hộ gia đình ông Sơn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất (đầu năm 1993 có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước) và đã sử dụng ổn định, lâu dài đến nay. Mặc dù hiện tại hộ gia đình ông Sơn chưa làm thủ tục để xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn là đất được giao hợp pháp.
    1. Đất nông nghiệp thuộc thành viên của hộ gia đình nên không được thừa kế cho con nuôi. Vì đất nông nghiệp ở đây là đất trồng cây lâu năm (cây cà phê, cây ăn trái). Theo chương IV, mục 3, điều 113, khoản 5 – Luật đất đai qui định: “Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

    Như vậy, ông Sơn có quyền để lại thừa kế cho anh Đáp trong phần diện tích đất của ông trong thành viên hộ gia đình (05 hécta chia 05 người, gồm Ông Sơn, Bà Ngọc, Chị Đẹp, Chị Đào và Anh Đáp: mỗi người là 01 hécta).

    1. Gia đình duy nhất có 01 xe gắn máy làm phương tiện (Ông Sơn vẫn

    còn đứng tên) nên không thể giao cho Anh Đáp. Trong thời gian ông Sơn bị bệnh, anh Đáp không tận tình săn sóc ông Sơn nên không được hưởng thừa kế của ông Sơn.

    Nội dung kiện như trên là sai. Vì theo quy định tại phần thứ tư, chương XXII, điều 631-Bộ Luật dân sự “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Theo điều 648 của chương XXIII thì anh Đáp hoàn toàn có đủ điều kiện để hưởng thừa kế của ông Sơn (thừa kế theo di chúc).

    Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa đã giải quyết vụ khởi kiện nói trên không đúng quy định của pháp luật.

    Trang 9

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Qua phân tích ở trên ta thấy rằng: vụ kiện giữa bà Ngọc và anh Đáp có thể giải quyết được ngay tại Ủy ban nhân dân xã Hóa An, thông qua bước hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã. Có như vậy sẽ hạn chế tình trạng kiện tụng, khiếu nại đến nhiều cấp, nhiều nơi, gây phức tạp mà vẫn không giải quyết đến nơi, đến chốn, đúng pháp luật.

    Trang 10

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN III

    XÁC ĐỊNH YÊU CẦU MỤC TIÊU KHI XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

    * Mục tiêu chung:

    • Đảm bảo kỷ cương pháp luật, phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà Hiến pháp đã nêu: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân.
    • Giảm tối đa các mức thiệt hại kinh tế (nếu có), bảo vệ lợi ích của nhà

    nước, lợi ích chính đáng của công dân.

    • Giải quyết hài hòa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh

    tế – xã hội và tính pháp lý.

    • Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Mục tiêu của việc xử lý tình huống được đưa ra là vụ kiện về tranh

    chấp tài sản thừa kế theo di chúc giữa hộ gia đình bà Ngọc và anh Đáp. Vậy ta phải xác định rõ:

    • Đối tượng cần giải quyết?
    • Cấp nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ khởi kiện trên đúng theo quy định của pháp luật?
    • Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vụ kiện được xác định như

    thế nào?

    • Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tranh chấp.
    • Làm thế nào để giải quyết nhanh, có hiệu quả cao đối với các vụ việc

    hành chính trong bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, mang lại sự hài lòng cho người dân.

    Thế nhưng do cách giải quyết của các cấp chính quyền ở thành phố Biên Hòa (từ xã đến thành phố) không đúng theo quy định của pháp luật nên đã dẫn đến hậu quả là:

    • Từ vụ kiện tranh chấp quyền thừa kế trở thành vụ khiếu nại đối với

    quyết định hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

    Trang 11

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Đã làm phức tạp thêm tình hình, từ khởi kiện rồi đến khiếu nại kéo dài, qua nhiều cấp, nhiều nơi giải quyết nhưng vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn

    trong tranh chấp.

    Để đạt được các mục tiêu trên, cần phải căn cứ vào cơ sở pháp luật. Phân tích được nguyên nhân và hậu quả của vụ việc. Từ đó tìm ra giải pháp đúng đắn để giải quyết vấn đề. Đồng thời cũng qua đó đúc kết được kinh nghiệm quý báu trong việc giải quyết vụ việc hành chính đối với cơ quan quản lý hành chính Nhà nước sao cho hợp tình, hợp lý.

    Trang 12

    Tiểu luận tốt nghiệp

     

    PHẦN IV

    XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN

    PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

    Như đã phân tích ở trên, phương án giải quyết tình huống đã đặt ra như

    sau:

    A. Phương án 1: giả thuyết.

    Nếu mọi công dân đều được tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến nơi đến chốn thì sẽ không có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.

    Tất cả cán bộ, công chức từ phường, xã đến thành phố đều làm việc tập trung, có trách nhiệm cao; nắm vững luật pháp, quy trình… thì không có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.

    B. Phương án 2: thuyết phục, giáo dục.

    Phương án này áp dụng đối với các trường hợp đơn giản, tính chất mức độ sự việc không nghiêm trọng. Chỉ đạo tổ dân phố và các tổ chức đoàn thể để thuyết phục, giải quyết.

    • Ưu điểm: đơn giản, không tốn kém, giữ được mối quan hệ tình cảm,

    láng giềng, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới tại cộng đồng khu dân cư, văn minh, lịch sự.

    • Nhược điểm: Phải xây dựng được các tổ chức đoàn thể đủ mạnh, uy tín,

    có kiến thức, có hiểu biết về pháp luật thì mới giải quyết có tình có lý, hài hòa giữa hai bên. Ngược lại, kỷ cương, phép nước dễ bị xem nhẹ.

    C. Phương án 3: các cơ quan chuyên môn cùng cấp sẽ giúp Ủy ban nhân dân cấp mình đề ra biện pháp hợp lý, đúng pháp luật.

    Ưu điểm:

    Thực hiện đúng kỷ cương, phép nước. Thể hiện được tính nghiêm minh của Pháp luật và quyền lực của nhà nước.

    • Khuyết điểm:

    Trang 13

    Tiểu luận tốt nghiệp

    Nếu xử lý không khéo thì đây là cơ hội phát sinh cho tiêu cực, nhũng

    nhiễu.

    Cụ thể:

    1 – Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai:

    Đơn của anh Đáp là khiếu nại đối với quyết định hành chính đầu tiên. Do đó, phải chuyển đơn về ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa để giải quyết khiếu nại (theo điều 2 và điều 3 Luật Khiếu nại, tố cáo).

    Phát hiện được Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa ra quyết định hành chính không đúng thẩm quyền, bỏ qua trình tự hòa giải từ cơ sở. Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành Quyết định hành chính của mình. Đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã Hóa An giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.

    2 – Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa:

    Sau khi nhận được đơn khiếu nại của anh Đáp do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chuyển đến, cùng ý kiến chỉ đạo thì Ủy ban nhân dân thành phố Biên Hòa cần tiến hành:

    • Nhanh chóng ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định hành chính của mình (theo điều 35 – Luật khiếu nại tố cáo).

    Chuyển đơn của hộ gia đình bà Ngọc cùng hồ sơ đến Ủy ban nhân dân xã Hóa An. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã Hóa An tiến hành hòa giải tranh chấp quyền thừa kế tài sản theo quy định của Pháp luật.

    3 – Đối với Ủy ban nhân dân xã Hóa An:

    Sau khi nhận lại đơn của hộ bà Ngọc do Ủy ban nhân dân thành phố chuyển đến, tiến hành mời đương sự và các bên liên quan tiến hành hòa giải theo quy định của Pháp luật về quyền thừa kế tài sản.

    • Nếu hòa giải thành thì lập biên bản hòa giải thành và kết thúc vụ việc.

    Trang 14

    Tiểu luận tốt nghiệp

    + Nếu hòa giải không thành thì lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân để giải quyết.

    1. Phương án 4: chuyển hồ sơ qua Tòa án nhân dân giải quyết.

    Ưu điểm:

    Đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Khuyết điểm:

    • Có thể mất đi tình làng nghĩa xóm.
    • Kỷ cương pháp luật dễ bị xem nhẹ nếu xử lý không hợp lý.

    Sau khi nhận được đơn và các hồ sơ pháp lý liên quan của người khởi kiện, căn cứ vào các quy định của Pháp luật Toà án nhân dân xem xét:

    • Năng lực hành vi của các chủ thể.
    • Loại đất được hưởng thừa kế.
    • Tính hợp pháp của di chúc để thừa kế.
    • Diện tích đất để thừa kế theo di chúc so với phần diện tích của mỗi

    thành viên hộ gia đình ông Sơn.

    • Tổng diện tích đất sau khi được hưởng thừa kế của hộ gia đình anh Đáp

    so với hạn mức quy định của Pháp luật.

    • Tính hợp pháp về quyền sử dụng đất đã để thừa kế.
    • Đối tượng sử dụng đất sau khi được hưởng thừa kế, có thuộc đối tượng

    sử dụng đất hay không.

    Toà án nhân dân xem xét và thụ lý vụ án, đồng thời thông báo cho người khởi kiện đến làm thủ tục nộp tạm ứng án phí.

    Trang 15

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN V

    TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN

    Phân tích các phương án giải quyết tình huống nêu trên:

    • Phương án 1: giả thuyết, không chọn.
    • Phương án 2: Vì đã có quyết định hành chính sai nên áp dụng phương án

    này không khả thi.

    Vậy ta chọn phương án 3 kết hợp với phương án 4: các cơ quan chuyên môn cùng cấp sẽ giúp Ủy ban nhân dân cấp mình thực hiện phương án. Cụ thể là cơ quan địa chính các cấp từ tỉnh đến xã sẽ tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp giải quyết theo phương án 3. Nếu giải quyết không thành thì chuyển sang phương án 4. Cụ thể như sau:

    1.     Các cấp Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố:

    Sẽ tiến hành giải quyết như đã trình bày ở phần phương án 3.

    2.     Đối với Ủy ban nhân dân xã:

    Trong quá trình hòa giải phải luôn luôn tôn trọng ý chí của mỗi bên đương sự tham gia khiếu kiện. Nếu như các bên đương sự khởi kiện (hộ bà Ngọc và anh Đáp) cùng thống nhất ý chí (và kết quả giải quyết khác so với ban đầu thì cũng phải ghi biên bản hòa giải thành theo ý chí mà họ đã cùng thống nhất).

    Trường hợp hòa giải không thành thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên và nhất thiết phải đưa ra Tòa án nhân dân để giải quyết.

    3.Đối với Tòa án nhân dân:

    Nếu hòa giải không thành ở Ủy ban nhân xã thì Tòa án nhân dân tiến hành giải quyết như sau:

    • Tổ chức hoà giải giữa hộ bà Ngọc và anh Đáp Trường hợp hòa giải

    không thành thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên để giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Trang 16

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Về chủ thể tham gia vụ kiện: Tất cả các thành viên (bà Ngọc, chị Đẹp,

    chị Đào và anh Đáp) đều đủ năng lực hành vi để tham gia xét xử trước Tòa. Chị Đẹp và Chị Đào là giáo viên tiểu học, vẫn chưa lập gia đình, phụ giúp công việc cùng bà Ngọc.

    • Loại đất để thừa kế là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm (cà phê và cây

    ăn trái) của hộ gia đình đã có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sử dụng ổn địng từ năm 1993 đến nay. Do đó, đất được sử dụng hợp pháp, được quyền để thừa kế.

    Do vậy, các thành viên trong gia đình đều là đồng sở hữu diện tích đất tương ứng và được nhận thừa kế, để lại thừa kế cho người khác sau khi chết. Theo chương IV, mục 3, điều 113, khoản 5 – Luật đất đai qui định: “Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

    • Hộ gia đình anh Đáp là hộ gia đình sản xuất nông nghiệp nên thuộc đối tượng được sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lâu năm.
    • Di chúc của ông Sơn được lập trước khi ông qua đời có công chứng của nhà nước: Là di chúc hợp pháp.
    • Anh Đáp không phải con ruột của vợ chồng ông Sơn nhưng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết đầy đủ thủ tục pháp lý về việc xin

    nhận con nuôi. Trong quá trình chung sống, Anh Đáp đã từng tham gia canh tác, trồng trọt, chăm sóc; do đó, anh Đáp vẫn có quyền được hưởng 01 hécta đất trong 05 hécta mà được nhà nước giao cho hộ ông Sơn vào năm 1993 (đồng sở hữu). Hơn nữa, Tòa xem xét quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm đó là giao đất canh tác cho số nhân khẩu trong một hộ gia đình.

    Trang 17

    Tiểu luận tốt nghiệp

    • Anh Đáp có quyền hưởng thừa kế theo di chúc của ông Sơn (theo điều

    648 – chương XXIII – Bộ luật dân sự). Diện tích đất 01 hécta để lại cho anh Đáp theo di chúc là phần đất của ông Sơn trong khối tài sản chung của hộ gia đình (05 hécta chia đều cho năm người, mỗi người là 01 hécta). Tuy nhiên, trong bản di chúc của ông Sơn không được sự thống nhất của gia đình bà Ngọc và các con gái. Ông không nhắc đến vợ và các con gái của ông (có lẽ ông đã dự báo trước được tình trạng đối xử của vợ và các con ruột đối với con nuôi sau khi ông mất). Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của các thành viên trong gia đình; đặc biệt là thể hiện được nguyện vọng của Anh Đáp là luôn giữ mối quan hệ tình cảm tốt đẹp là truyền thống và đạo lý của người Việt Nam.

    Vì thế, Tòa căn cứ vào điều 669 – Bộ luật dân sự năm 2005: Là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc để quyết định việc phân chia 01 hécta đất và 01 xe gắn máy do Ông Sơn để lại trong di chúc: ”Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này”.

    Theo đó, Bà Ngọc là người được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

    Cụ thể như sau:

    Theo Điều 674, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định và Điều 676, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Như vậy, Bà Ngọc là vợ, Chị Đẹp, Chị Đào con ruột và Anh Đáp là con nuôi. Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì 01 hécta đất nông nghiệp của ông Sơn để lại được chia ra

    Trang 18

    Tiểu luận tốt nghiệp

    làm 4 phần: gồm Bà Ngọc 0,25 ha, Chị Đẹp 0,25 ha, Chị Đào 0,25 ha và Anh Đáp 0,25 ha, nhưng Ông Sơn đã lập di chúc để lại toàn bộ 1 ha cho Anh Đáp.

    Do đó, theo quy định trên Bà Ngọc đuợc hưởng 2/3 của suất thừa kế theo pháp luật tương đương với 0,167 ha và Anh Đáp được hưởng 0,883 ha (Chị Đẹp và Chị Đào không được hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện cả hai chị đang là giáo viên của trường tiểu học xã Hóa An.

    • Tương tự đối với chiếc xe gắn máy (01 chiếc) tuy là do ông Sơn đứng tên nhưng tòa đã xác định đây là tải sản chung sau hôn nhân. Do đó, sau khi tính

    giá trị (10 triệu đồng) thì Ông Sơn và Bà Ngọc được chia đôi: Mỗi người được hưởng 5 triệu đồng. Nếu Anh Đáp toàn quyền sở hữu xe gắn máy thì phải trả một số tiền tương đương với 2/3 của suất thừa kế theo pháp luật đối với chiếc xe cho Bà Ngọc là 83.333 đồng (Chị Đẹp và Chị Đào không được hưởng phần di sản do đã thành niên và hiện cả hai chị đang là giáo viên của trường tiểu học xã Hóa An.

    Căn cứ vào các quy định trên của pháp luật, Tòa án sẽ xử lý vụ kiện

    như sau:

    • Bảo vệ quyền được hưởng 01 hécta đồng sở hữu và hưởng thừa kế 0,833 hécta đất trồng cây cà phê và cây ăn trái của do ông Sơn để lại theo di chúc cho anh Đáp: tổng cộng 1,833 hécta.
    • Anh Đáp được quyền sở hữu xe gắn máy do Ông Sơn để lại theo di

    chúc với điều kiện phải trả một số tiền cho Bà Ngọc là 83.333 đồng.

    Trang 19

    Tiểu luận tốt nghiệp

    PHẦN VI

    KẾT LUẬN : ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

    Tất cả các vụ khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất có thể giải quyết thành ở cấp cơ sở (cấp xã) khi cán bộ quản lý hành chính nhà nước cấp xã thông hiểu pháp luật, có kiến thức chuyên môn và có tinh thần trách nhiệm cao. Ngược lại, thì làm cho sự việc hành chính trở nên rắc rối; phát sinh khiếu nại từ cơ sở, gây ra sự mất đoàn kết và xáo trộn trong nội bộ nhân dân, gây mất niềm tin trong nhân dân.

    Do đó, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước yêu cầu về tiêu chuẩn hóa các chức danh cán bộ, công chức và đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng công chức nhà nước thành đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết pháp luật, có năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân là hết sức cần thiết và bức bách hiện nay.

    Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã đề ra Nghị quyết về việc “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách một bước nền hành chính nhà nước”. Trong đó ghi rõ: “Tiến hành sửa đổi bổ sung thể chế và đề cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các khiếu nại của công dân không cần đưa xử ở Tòa án”. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn là việc làm hết sức cần thiết. Cần phải chú trọng tối đa đội ngũ cán bộ, công chức làm việc ở cơ sở. Có chế độ đãi ngộ và chế độ thu hút xứng đáng để họ an tâm làm việc hết mình, nâng cao hiệu suất công tác phục vụ nhân dân.

    Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước bằng chủ trương, đường lối của Đảng. Đảng phải thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chủ trương, đường lối của mình.

    Quốc hội thành lập Ủy ban chuyên trách nghiên cứu làm luật. Phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nước cùng tham gia xây dựng luật. Nên thành lập

    Trang 20

    Tiểu luận tốt nghiệp

    “Công ty Ý tưởng” để buôn bán, trao đổi, hiến kế… nhằm làm giàu kho chất xám phục vụ cho các đề án, công trình nghiên cứu lớn cấp quốcgia hay xây dựng, bổ sung cho các bộ Luật.

    Quản lý nhà nước được thực hiện theo pháp luật là cơ sở chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì vậy, mọi vấn đề thuộc về quản lý phải tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm.

    Cần tăng cường tổ chức việc giáo dục pháp luật đến tận cơ sở; làm cho mọi người thông hiểu pháp luật. Thực hiện “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”. Giáo dục pháp luật cho công dân phải được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi. Các bộ luật cơ bản của nước ta phải được đưa vào thành môn học ngoại khóa cho học sinh phổ thông và tổ chức sinh hoạt theo tình huống tháng hoặc tuần/lần; sắm vai hoặc phiên tòa giả định sao cho thật sự thu hút, vui, dễ nhớ. Để sau này các em có một số kiến thức cơ bản, không chỉ góp phần nào cho sự hiểu biết về pháp luật của bản thân mà còn tham gia thuyết phục cho người thân trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

    Phải thực hiện cải cách hành chính trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai nhà ở, tránh gây phiền hà, hạch sách nhũng nhiễu nhân dân. Cần lưu ý nhất là khâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở sao cho nhanh chóng, dễ dàng. Trên thực tế, rất ít nơi thực hiện đúng cam kết này. Cũng như rất ít người dân làm được thủ tục này mà không qua đối tượng “trung gian”, người ta thường gọi là “cò”.

    Và điều sau cùng là thường xuyên tạo điều kiện nâng cao trình độ về mọi mặt nhất là kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ từ cơ sở đến thành phố, tỉnh… những người thường xuyên trực tiếp làm việc với người dân./.

    Trang 21

    Tiểu luận tốt nghiệp

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình quản lý hành chính nhà nước của Học viện hành quốc gia.

    2.Luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm

    2004).

    3.Luật khiếu nại, tố cáo và các Nghị định hướng dẫn thi hành năm 2004.

    4.Bộ luật dân sự năm 2005.

    5.Một số tài liệu khác.

    Trang 22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%C3%A1nh-thu%E1%BA%BF-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Thông tin tổng quan chi tiết về thủ tục đánh thuế bất động sản?

      Văn Phòng Định Giá Viên Thành Định Giá Viên ước tính giá trị thị trường của bất động sản dựa trên các đặc
      Phố Minneapolis Xác Định Giá Trị điểm có ảnh hưởng tới giá trị thị trường như kích thước, tuổi, và tình trạng
      và Phân Loại Tài Sản Cá Nhân và hoàn thiện của tầng hầm, cùng với các tiện nghi đặc biệt khác như lò sưởi,
      Bất Động Sản phòng tắm thêm, bao lơn và các yếu tố khác.
      Theo luật tiểu bang, giá trị và hạng Các Định Giá Viên tiến hành phân tích chi tiết về các giao dịch bán bất
      mục của bất động sản được thiết lập động sản trong mỗi cộng đồng để tìm hiểu về xu hướng thị trường địa
      kể từ ngày 2 tháng Một và ngày 1 phương, trong đó bao gồm cả các giao dịch bán bất động sản được ghi nhận
      tháng Mười Hai hàng năm. Văn trong khu vực khác. Ban Phụ Trách Doanh Thu Tiểu Bang xem xét thông
      Phòng Định Giá Viên làm việc cả tin về các giao dịch bán bất động sản để bảo đảm rằng giá trị bất động sản
      năm để ước tính giá trị thị trường được xác định một cách công bằng và bình đẳng.
      của mỗi bất động sản cho ngày 2  
      tháng Một của năm kế tiếp. Kết quả Thành Phố Minneapolis có nhiệm vụ tiến hành một cuộc kiểm tra ở bên
      định giá được thiết lập vào ngày 2 trong và bên ngoài bất động sản của quý vị nếu quý vị vừa mới cho xây,
      tháng Một trở thành căn cứ để tính hoặc đã cho tu bổ hay sửa chữa, hoặc tiến hành kiểm tra ít nhất 5 năm một
      các mức thuế của năm kế tiếp. lần. Ngay cả khi Định Giá Viên không kiểm tra bất động sản của quý vị
        hàng năm, giá trị của bất động sản hoặc giá trị ước tính mà bất động sản
        của quý vị có thể bán được trên thị trường tự do có thể được điều chỉnh
        theo hoạt động trên thị trường địa phương.
         
        Định Giá Viên căn cứ vào cách thức bất động sản của quý vị được sử dụng
        trong năm trước đó (thí dụ như gia cư, cơ sở thương mại, nhà ở, không phải
        là nhà ở, chung cư, trang trại, v.v…) để phân loại hạng mục bất động sản
        theo tiêu chí của tiểu bang.
         
      Tất cả các chủ sở hữu bất động sản Định Giá Viên gửi cho quý vị Value Notice (Thông Báo về Giá Trị Bất
      đều nhận được Value Notice Động Sản) trễ nhất là cuối tháng Ba hàng năm, trong đó có ghi giá trị và
      (Thông Báo về Giá Trị Bất Động hạng mục của bất động sản của quý vị để tính mức thuế bất động sản mà
      Sản) trước tháng Ba hàng năm. quý vị sẽ trả cho năm kế tiếp và đồng thời cũng ghi cả giá trị của bất động
        sản trong năm trước đó.
         

    Tất cả các ch ủ sở hữ u bất động sản đều nên XEM Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản) và xác định xem họ đồng ý hay là không đồng ý với giá trị bất động sản đã ghi trong đó.

    Nếu quý vị không đồng ý với thông tin ghi trong Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản)

    Hãy bắt đầu b ằng việc gọi vào số điện thoại của định giá viên của quý vị ghi trong bản thông báo đó và bàn th ảo v ề các mố i lo ngại củ a quý vị với họ. H ọ có thể giải thích về cách thứ c xác định giá tr ị và hạng mục của bất động sản cho năm tính thuế mới và về các lựa chọn của quý vị. Nếu quý vị tin rằng đ ã có sai sót, quý vị có thể yêu cầu định giá viên xem xét lại mọi thông tin để bảo đảm rằng họ đã sử dụng thông tin thích hợp khi định giá.

    Lựa chọ n khác là tham dự một trong Các Buổi Họp Sổ Sách Công Khai của Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Thành Phố Minneapolis được tổ chức vào tháng Ba hàng năm để kháng cáo, bàn thảo và tìm hiểu cách xác định giá trị và h ạng mục cho n ăm tính thuế mới. Nếu quý vị cảm thấy đã có sai sót, quý vị có thể thu xếp một buổi họp để xem xét các thông tin đã được sử dụng trong quá trình định giá.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Nếu quý vị tin rằng mình không thể bán bất động sản ở mức giá mà Định Giá Viên đã ước tính, quý vị có thể kháng cáo theo những cách khác.

    Ví dụ, quý vị có thể thuê một định giá viên bất động sản tư để hoàn tất thủ tục định giá bất động sản của quý vị và nộp kết quả cho Thành Phố để xem xét.

    Quý vị cũng có thể kháng cáo với Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu Bang Minnesota).

    Bước tiếp theo là tất cả các cơ quan chính quyền địa phương thiết lập ngân sách – bao gồm các khoản tiền cần thiết cho khu học chánh, Thành Phố Minneapolis và các đặc khu khác có đánh thuế, thí dụ như Metropolitan Council (Hội Đồng Thành Phố).

        Theo luật, các chính quyền địa Các cơ quan chính quyền địa phương như khu học chánh và Thành Phố
        phương phải tổ chức một buổi họp Minneapolis – thiết lập ngân sách cho năm kế tiếp vào mùa xuân và mùa
        công khai và thông báo mức tăng của năm trước đó.
        thuế bất động sản tối đa mà họ dự  
        định sẽ phê chuẩn cho năm kế tiếp. Nếu quý vị quan tâm tới vấn đề ngân sách chính quyền địa phương hoặc
        Các buổi bàn thảo này thường diễn cách thức chi dùng tiền đóng thuế của quý vị, quý vị có thể xem ngày, giờ
        và địa điểm tổ chức các buổi điều trần và buổi họp công khai và liên lạc với
        ra vào cuối tháng Tám hoặc đầu các cơ quan đánh thuế để tham gia tiến trình lập ngân sách. Ngoài ra, quý vị
        tháng Chín, vì các chính quyền địa cũng nên tham dự một buổi hội thảo về ngân sách hoặc buổi lập kế hoạch
        phương phải bỏ phiếu và xác định ngân sách của các cơ quan chính quyền địa phương.
        mức tăng thuế tối đa trước trung  
        tuần tháng Chín.  
        Mức thuế áp dụng cuối cùng có thể  
        thấp hơn nhưng không thể cao hơn  
        mức công bố.  
           
        Sau khi các cơ quan địa phương Mỗi ngân sách của các cơ quan chính quyền địa phương sẽ bao gồm một
        hoàn tất các buổi điều trần về ngân mục qui định một phần chi phí hoạt động (cung cấp các chương trình và
        sách, các yêu cầu ngân sách được đề dịch vụ cho cư dân) lấy từ thuế đánh vào bất động sản, hoặc quy định tổng
        nghị sẽ được đệ trình để giải quyết. số tiền mà cơ quan chính phủ đó cần từ những người đóng thuế để đài thọ
          cho các hoạt động của cơ quan này trong năm kế tiếp.
           

    Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố chuẩn bị một bản tính toán các khoả n thuế bất động sản ước tính cho mỗi bất động s ản tại Thành Phố Minneapolis cho năm kế tiếp. Việc ước tính các khoản tiền này không dựa trên ch ủ quan. Các khoản tiền đó được tính toán theo các công thức toán học được máy điện toán và nhân viên có kinh nghiệm thực hiện và kiểm tra lại.

    Khi tất cả các đề án ngân sách cho

    mỗi cơ quan chính quyền địa

    phương đã được hoàn tất, Proposed

    Tax Statement (Các Bản Kê Khai Thuế Được Đề Nghị) hay thường gọi là các bản kê khai đóng thuế Truth-In–Taxation được in ra và gửi qua đường bưu điện trong khoảng thời gian từ ngày 10 tới ngày 25 tháng Mười Một cho mỗi

    Proposed Tax Statement (Các Bản Kê Khai Thuế Được Đề Nghị) không

    phải là hóa đơn; mà đó là thông báo về những thay đổi đối với các khoản

    thuế bất động sản của quý vị nếu tất cả các cơ quan đánh thuế tại địa

    phương thông qua các thay đổi về mức thuế bất động sản mà họ hiện đang

    xem xét. Bản kê khai này liệt kê các khoản thuế cho năm hiện tại và các

    khoản thuế đề nghị để phân tích. Các bản kê khai này cũng ghi ngày, giờ và

    địa điểm tổ chức các cuộc họp “Truth in Taxation”. Các buổi họp này được

    chính quyền địa phương tổ chức hàng năm để cung cấp một kênh khác cho

    công chúng đóng góp ý kiến về các khoản thuế bất động sản được đề nghị.

    Các buổi họp Truth in Taxation hàng năm là cơ hội cuối cùng để quý vị tác

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    chủ sở hữu bất động sản tại Thành Phố Minneapolis.

    động tới quyết định của các viên chức chính quyền địa phương về các đề án ngân sách của họ cho năm k ế tiếp, trong đó bao gồm cả khoả n tiền lấy từ thuế bất động sản mà họ tin là cần thiết để cung cấp các dịch vụ và chương trình.

    Các bước cuối cùng trong thủ tục lập ngân sách sẽ diễn ra trong vòng vài ngày gần ngày 20 tháng Mười Hai hàng

    năm. Các chính quyền địa phương phải phê chuẩn ngân sách chính thức của mình cho năm kế tiếp vào tháng

    Mười Hai và thông báo về thông tin qui định tài chính sẽ được sử dụng khi chuẩn bị tính toán mức thuế bất động

    sản chính thức.

        Property Tax Statement (Các Bản   Lưu ý: Các bản kê khai cho nhà lắp ghép thường được gửi qua đường bưu
        Kê Khai Thuế Bất Động Sản)   điện trước tháng Năm.
        “thực tế” – không còn là “đề nghị”      
        nữa – được gửi qua đường bưu điện      
        tới mỗi chủ sở hữu bất động sản trễ      
        nhất là cuối tháng Ba để thông      
        báo về các khoản thuế phải trả      
        cho năm đó.      
                 
        Đa số các chủ sở hữu bất động sản     Các cư dân Quận Hennepin có thể trả thuế bất động sản theo nhiều phương
        phải trả thuế bất động sản thành hai     thức. Xin sử dụng đường liên kết này để tìm hiểu thêm về các lựa chọn này:
        lần mỗi năm, một lần trước ngày 15     http://www.co.hennepin.mn.us/
        tháng Năm và lần thứ hai trước        
        ngày 15 tháng Mười.     Các ngày trả thuế khác: Xem bản kê khai thuế bất động sản của quý vị
              để biết ngày hết hạn ghi trong Property Tax Statement (Bản Kê Khai Thuế
              Bất Động Sản), đối với bất động sản dùng cho mục đích nông nghiệp, quý
              vị có thể trả nửa thứ hai của số tiền thuế trước ngày 15 tháng Mười Một.
              Các khoản thuế bất động sản cho nhà lắp ghép thường hết hạn vào ngày 31
              tháng Tám và ngày 15 tháng Mười Một.
                 

    Trang mạng điện toán của chính quyền Quận Hennepin cũng cung cấp nhiều thông tin về giá trị bất động sản, các loại h ạng mục và thu ế bất động sản. Các đường liên kết trong nội dung nói trên sẽ chuyển quý vị tới thẳng các mục thích hợp. Quý vị có thể truy cập trang mạng điện toán của Quận Hennepin tại: http://www.co.hennepin.mn.us/

     

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Khiếu Nại Mức Thuế Bất Động Sản của Quý Vị

    Tôi có những lựa chọn gì nếu không đồng ý với mức thuế bất động sản của tôi?

    Sau khi quý vị xem Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản) mà quý vị nhận được vào tháng Ba hàng năm và nếu quý vị không đồng ý với mức giá trị bất động sản hoặc hạng mục bất động sản, quý vị có thể kháng cáo theo một số cách thức có sẵn. Những cách thức kháng cáo được trình bày tóm lược dưới đây.

    Bàn thảo về các vấn đề lo ngại của quý vị với Nhân Viên Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis

    • Xem xét các phương thức và các thông số tính toán được sử dụng để xác định giá trị bất động sản của quý vị
    • Xem xét các đặc điểm của bất động sản đó và bất kỳ thay đổi nào trong năm vừa qua
    • Xem xét các giao dịch bán bất động sản trong vùng của quý vị và các xu hướng trên thị trường hiện tại
    • Bàn thảo về các lựa chọn và các bước tiếp theo với nhân viên Văn Phòng Định Giá Viên
    • Nếu quý vị và nhân viên Văn Phòng Định Giá Viên vẫn không đồng ý, sau đây là các lựa chọn mà quý vị có thể áp dụng để tiếp tục thủ tục kháng cáo
    Lựa Chọn Kháng Cáo Trực Tiếp    
      Ba Cấp Xem Xét để Giải Quyết Một Lựa Chọn Kháng Cáo
    với Tax Court (Tòa Án Thuế)    
     
         

    Khiếu Nại với City of Minneapolis of Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Thành Phố Minneapolis)

    • Ủy Ban này họp vào tháng Tư hoặc tháng Năm, xin gọi văn phòng Thư Ký Thành Phố Minneapolis để lấy đơn xin và thu xếp hẹn
    • Đích thân tới kháng cáo, kháng cáo qua thư hoặc qua người đại diện được ủy quyền
    • Nếu quý vị vẫn cảm thấy các mối lo ngại của mình không được giải quyết thỏa đáng, quý vị có thể kháng cáo lên cấp tiếp theo là Hennepin County Board of Equalization (Ủy Ban Bình Quyền của Hennepin)

    Khiếu Nại với Hennepin County Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Quận Hennepin)

    • Trước hết quý vị phải kháng cáo với Minneapolis Board of Appeal (Ủy Ban Kháng Cáo Thành Phố Minneapolis)
    • Ủy ban này họp vào tháng Sáu, xin gọi Hennepin County Taxpayers Services (Cơ Quan Dịch Vụ Trợ Giúp Người Đóng Thuế Quận Hennepin) để lấy đơn xin và lấy hẹn.
    • Đích thân tới kháng cáo, kháng cáo qua thư hoặc qua người đại diện được ủy quyền
    • Nếu quý vị vẫn cảm thấy rằng các mối lo ngại của mình không được giải quyết thỏa đáng, quý vị có thể kháng cáo lên cấp tiếp theo là Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu bang Minnesota

    Kháng Cáo tại Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu Bang Minnesota)

    • Có thể kháng cáo tới ngày 30 tháng Tư của năm phải trả các khoản thuế đó.
    • Có thể liên lạc với Clerk of Tax Court (Lục Sự Tòa Án Thuế) tại số 651-296-2806. Họ sẽ gửi tập thông tin về Tòa Án Thuế và các mẫu điền cần thiết cho việc nộp đơn kháng cáo. Phải trả lệ phí nộp đơn.
    • Không bắt buộc phải thuê luật sư nhưng quý vị nên cân nhắc hoàn cảnh của mình để quyết định
    Ban Thường Trực   Ban Giải Quyết Các Vụ Kiện Có Qui Mô Nhỏ
    Có thể sử dụng cho bất kỳ dạng bất động sản   Tất cả các dạng bất động sản là Nhà Ở, với điều kiện là
      nào     mỗi một đơn kiện liên quan đến một lô đất có một căn
    Phải sử dụng cho bất động sản được xác định   hộ trên đó.
      giá trị hơn $300,000   Bất động sản không phải là nhà ở có giá trị chưa tới
    Nên thuê luật sư   $300,000
    Có thể kháng cáo quyết định với Supreme   Không cần phải thuê luật sư
      Court (Tối Cao Pháp Viện)   Các quyết định đều có giá trị cuối cùng
             

    Dùng Bất Động Sản Làm Nhà Ở

     

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Tại sao người ta lại xin đăng ký theo hạng mục nhà ở?

    Thuế nhà ở (homestead) là một chương trình giảm thuế bất động sản dành cho Các Cư Dân Minnesota. Tiểu Bang Minnesota khuyến khích cư dân sở hữu nhà bằng cách giảm thu ế bất động sản cho các bất động sản có chủ nhân cư ngụ. Thí dụ, một bất động sản nếu thuộc hạng mục nhà ở có thể được giảm thuế tới $304 một năm.

    Quyền sở hữu có nghĩa là gì?

    Quý vị phải có khế ước hoặc hợp đồng khế ước hợp lệ cho phép quý vị có quyền sở hữu đối với căn hộ đó để làm bằng chứng về quyền sở hữu b ất động sản. Để được coi là khế ước hợp lệ, b ản khế ước đó phải được đăng ký với Văn Phòng Đăng Ký Khế Ước Quận Hennepin (Hennepin County Registrar of Deed).

    Ai được hưởng quyền lợi này?

    Nếu quý vị sở hữu b ất động sản và quý vị hoặc một người thân hộ i đủ điều kiện cư ngụ trong bất động sản đó trước ngày 1 tháng Mười Hai, quý vị có thể nộp đơn xin theo diện nhà ở.

    Tình trạng cư ngụ có nghĩa là gì?

    Quý vị và tất cả nh ững người sở hữu khác phải sử dụ ng bất động sản đó làm nơi cư ngụ chính – hay nói cách khác, quý vị phải sống ở đó. Tình trạng cư ngụ tạm thời và chiếu lệ không được coi là th ỏa đ áng để được x ếp vào diện nhà ở. Nếu có hơn một người sở hữu bất độ ng sản đó và bất kỳ người nào trong số các chủ sở hữ u không cư ngụ tại bất động sản đó, thì bất động sản đó có thể được xếp vào hạng mục nhà ở một phần hoặc theo tỷ lệ.

    Khi nào tôi cần nộp đơn xin?

    Quý vị nên nộp đơn xin càng sớm càng tốt sau khi mua và chuyển tới ở trong căn nhà của quý vị. Nếu quý vị mua và cư ngụ trong một bất động sản không phải là nhà ở trước ngày 1 tháng Mười Hai, và xin nộp thuế theo diện nhà ở trước ngày 15 tháng Mười Hai, thì mức thuế theo diện nhà ở sẽ bắt đầu được tính từ năm k ế tiếp. Sau khi được chấp thuận là thuộ c h ạng mục nhà ở, mức thuế nhà ở vẫn s ẽ tiế p tục được áp dụng cho bất động sản đó cho tới khi có thay đổi về quyền sở hữu, tình trạng cư ngụ hoặc bất động sản đó được bán.

    Nếu tôi bán bất động sản đó thì sao?

    Nếu vào bất kỳ lúc nào bất động sản đó được bán hoặc quý vị thay đổi n ơi cư ngụ chính, luật tiểu bang yêu cầu quý vị phải thông báo cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố trong vòng 30 ngày. Nếu quý vị không thông báo cho định giá viên trong vòng 30 ngày, quý vị sẽ phải đóng thuế cho bất động sản đó theo hạng mục bất động sản thích hợp, cộng với một khoản tiền phạt.

    Một người thân có thể cư ngụ tại một bất động sản thay cho tôi không?

    Có, nh ững người thân hội đủ điều kiện có thể cư ngụ thay thế cho chủ sở hữu bất động sản đó. Những người thân hội đủ điều kiện được định nghĩa là người thân theo quan hệ ru ột thịt, quan hệ con nuôi hợp pháp, hoặc hôn nhân. Định nghĩa “người thân của chủ sở hữu” bao gồm con, con của chồng (vợ) kế, con dâu, con rể, cha (mẹ), cha (mẹ) kế, cha mẹ chồng (vợ), cháu nội (ngoại), ông (bà), anh (em) trai, anh (em) rể , chị (em) gái, chị (em) dâu, cô (gì), chú (bác), cháu trai hoặc cháu gái, các thành viên trong nông trại gia đình và các nông trại là công ty hợp danh.

    Các Giới Hạn:

    1. Quyền lợi thuế nhà ở áp dụng cho một bất động sản có người thân cư ngụ không được vượt quá mức quyền lợi mà chủ sở hữu sẽ được hưởng với tư cách là người cư ngụ.
    2. Bất động sản hiện được phân loại là giải trí theo thời vụ phải là nơi cư ngụ của người thân đó trong bốn năm thì mới được xếp vào hạng mục nhà ở.
    1. Chủ sở hữu và người thân cư ngụ tại bất động sản đó đều không được xin hoàn thuế bất động sản cho một bất

    động sản là nhà ở, trừ khi người thân cư ngụ đó là chủ sở hữu một phần của bất động sản đó.

    Nếu tôi không tuân theo luật về bất động sản là nhà ở hoặc khai man bất động sản là nhà ở thì sao?

    Hành động khai man bất động sản là nhà ở sẽ bị phạt tù tới tối đa một năm hoặc trả tiền phạt tới tối đa $3,000, hoặc cả hai.

    Nếu định giá viên KHÔNG được thông báo trong vòng 30 ngày về việc bất động sản đó đã được bán hoặc không còn được sử dụng là nơi cư ngụ chính nữa, bất động sản đó sẽ không còn được coi là thuộc hạng mục nhà ở và thành phố sẽ áp dụng các mức phạt.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Làm thế nào để nộp đơn xin đóng thuế theo diện bất động sản là nhà ở?

    Các vị chủ nhà mới tại Thành Phố Minneapolis có thể nộp đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nhà ở qua đường bưu điện, fax, hoặc đích thân tới văn phòng sau khi đã chuyển tới nhà mới. Thông báo cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố biết là quý vị sở hữu bất động sản và quý v ị, hoặc người thân hội đủ điều kiện đang cư ngụ tại bất động sản đó. Nộp cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố giấy tờ bằng chứng để chứng minh cho luận điểm của quý vị. Quý vị có thể nộp đơn xin qua fax, đường bưu điện hoặc đích thân tới nộp.

    Xin Đóng Thuế Bất động sản Theo Diện Nhà Ở bằng cách Đích Thân tới Văn

    Phòng, qua Đường Bưu Điện hoặc qua Fax:

    Địa Chỉ Bưu Tín và Địa Chỉ Đường Phố:

    City of Lakes Building

    309 2nd Av S Room 100

    Minneapolis, MN 55401-2234

    Or By Fax: 612 673-3538

    Với tư cách là chủ sở hữu bất động sản, quý vị sẽ cần phải cung cấp bản sao của các giấy tờ sau đây:

    • Khế ước bảo đảm, hợp đồng khế ước, hoặc giấy chứng nhận về quyền sở hữu Torrens, v.v để làm bằng chứng cho quyền sở hữu bất động sản
    • Bản sao của Certificate of Real Estate Value-CRV (Giấy Chứng Nhận Giá Trị Bất Động Sản), để chứng minh rằng quý vị đã nộp các giấy tờ này cho Registrar-of-Deeds (Văn Phòng Đăng Ký Khế Ước)
    • Số An Sinh Xã Hội của tất các chủ sở hữu hoặc số Individual Taxpayer Identification Number- ITIN (ID Đóng Thuế Cá Nhân) của mỗi chủ sở hữu hoặc người thân hội đủ điều kiện theo qui định của luật tiểu bang
    • Yêu cầu về hạng mục đóng thuế theo diện nhà ở là ngày thực tế mà các cư dân chuyển tới sống tại bất động sản đó.
    • Các số điện thoại liên lạc vào ban ngày hoặc địa chỉ liên lạc trong trường hợp chúng tôi có thắc mắc khi giải quyết đơn xin của quý vị

    Nếu quý vị là Người Thân Hội Đủ Điều Kiện xin đóng thuế theo diện nơi ở cho bất động sản đó, quý vị cần nộp các thông tin trên cộng với mẫu đơn xin liên quan và các giấy tờ bổ sung sau đây:

    • Bản sao của các giấy khai sinh, trong đó cho biết mối quan hệ của người cư ngụ đối với chủ sở hữu. Giấy đăng ký kết hôn, giấy tờ nhận con nuôi, lệnh của tòa án hoặc các giấy tờ khác chứng minh mối quan hệ giữa người thân hiện đang cư ngụ và chủ sở hữu
    • Bằng lái xe hoặc thẻ căn cước hợp lệ do Tiểu Bang cấp của người thân hiện đang cư ngụ, trong đó có ghi địa chỉ của bất động sản được dùng làm nhà ở
    • Khi có yêu cầu, bất kỳ giấy tờ nào khác được thấy là cần thiết

    Sau khi chúng tôi nhận được các giấy tờ cần thiết để giải quyết đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nhà ở của quý v ị, chúng tôi sẽ lập đơn xin đóng thuế theo diện nhà ở và gửi qua đường bưu điện tới cho quý v ị. Sau khi nhận được đơn xin, xin kiểm tra xác nhận rằng các thông tin ghi trong đơn xin là đúng, sau đó mỗi người cư ngụ là chủ sở hữu phải ký tên vào đơn xin đ ó. Ph ải nộp đơn xin có chữ ký cho Văn Phòng Định Giá Viên của Thành Phố trước ngày 15 tháng Mười Hai của năm đánh thuế.

    Nếu không ký tên và gửi lại đơn xin trước ngày 15 tháng Mười Hai, bất động sản của quý vị sẽ không được đưa vào hạng mục nhà ở.

    Tại sao tôi phải cung cấp số An Sinh Xã Hội?

    Mặc dù số An Sinh Xã Hội là thông tin kín đáo, theo luật Tiểu Bang Minnesota, các thông tin này phải được cung cấp thì chúng tôi mới chấp thu ận coi bất động sản của quý vị là nhà ở. Các số An Sinh Xã Hội sẽ được sử dụng để xác định xem chủ sở hữu hoặc người thân của chủ sở hữu có xin đóng thuế bất động sản cho nhiều hơn một nhà ở tại tiểu bang đó hay không.

    Tôi sở hữu một tòa nhà chung cư; tòa nhà đó có được coi là nhà ở hay không?

    Các tòa nhà chung cư có từ bốn căn hộ trở lên và các dạng bất động sản khác thường ít khi được xếp vào hạng mục nhà ở một phần dựa trên mức phần trăm diện tích cư ngụ trong tòa nhà chủ sở hữu đó sử dụng.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Nhà lắp ghép có được miễn trừ theo diện nhà ở không?

    Có, ch ỉ có chủ nhân (người giữ quyền sở hữu)/người cư ngụ mới được xin theo diện này. Phải nộp các giấy tờ yêu cầu và một bản sao của Certificate of Title (Giấy Chứng Nhận Quyền Sở Hữu).

    “Life Estates” (Di Sản Cả Đời) có hội đủ điều kiện được coi là nhà ở không?

    Có, miễn là quyền lợi về di sản cả đời đó được ghi trong khế ước và người nắm giữ di sản cả đời hội đủ tất cả các điều kiện về nhà ở.

    Vậy còn việc coi bất động thuộc sở hữu của hợp đồng tín thác là nhà ở thì sao?

    Đa số các hợp đồng tín thác đều hộ i đủ điều kiện để được đóng thu ế theo diện nhà ở. Certificate of Trust (Chứng Nhận về Tín Thác) phải được hoàn tất và có sự chấp thuận của văn phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis, hoặc phải nộp giấy chứng nhận Tín Thác đó cho Văn phòng Định Giá Viên để xem xét. Xin liên lạc với Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis, 612-673-2382 để biết thêm chi tiết.

    Có hạng mục nhà ở “đặc biệt” không?

    Có, dành cho những người mù lòa, tàn tật, cựu chiến binh bị liệt hai chân, và một số người phục vụ quân đội. Đây chỉ là phần giới thiệu tóm lược về hạng mục nhà ở cho người tàn tật 1b. Để biết thêm chi tiết, hoặc để giải đáp các thắc mắc cụ thể, xin gọ i Property Tax Division of the Minnesota Department of Revenue (Ban Thuế Bất Động Sản của Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota) tại số:(651) 556-6109 hoặc số 1-800-627-9094, số máy phụ 6 -6109. Những người sử d ụng TDD/TTY: xin gọi Minnesota Relay Services (Dịch Vụ Chuyển Tiếp Minnesota) tại số 1-800-627-3529; nhờ gọi số 800-652-9094, số máy phụ 6-0335

    Hạng Mục Nhà Ở Đặc Biệt – Người Mù Lòa, Tàn Tật, và Liệt Hai Chân

    Tiểu Bang Minnesota có các hạng mục nhà ở đặc biệt đối với bất động sản là nhà ở của bất cứ người nào:

    1. mù lòa, bản thân hoặc người phối ngẫu của họ bị mù hoặc
    1. những người bị tàn tật hoàn toàn và vĩnh viễn và có chứng nhận của cơ quan chính phủ hoặc nguồn cung cấp lợi tức rằng người cư ngụ đó hội đủ các điều kiện về tình trạng tàn tật.

    Hạng mục nhà ở theo diện tàn tật 1b không giống như các hạng mụ c nhà ở khác, trong đó tiêu chuẩn hội đủ điều kiệ n chỉ liên quan đến người đó và tình trạng tàn tật của họ. Điều này khác với hạng mục nhà ở thông thường, trong đó hạng mục này được công nhận dự a trên việc sử dụng bất động sản đó. MN Department of Revenew (Do đó Ban Thu ế Vụ MN) khuyến cáo rằng h ạng mục tàn tật sẽ được áp dụng cho bản thân người tàn tật đó, không phụ thuộc vào việc người này chuyển chỗ ở từ bất động sản này sang bất động sản khác.

    Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota quản lý ch ương trình hạng mục nhà theo diện tàn tật 1b. Nh ững người muốn xin đóng thuế theo diện hạng mục nhà ở đặc biệt cho người tàn tật phải nộp đơn xin cho Ban Thuế Vụ MN trước ngày 1 tháng M ười để được áp dụng mức thuế bất động sản đó cho năm lịch kế tiếp. Để nộp đơn xin hoặc để tìm hiểu thêm, xin liên lạc với Ban Thuế Vụ Tiểu Bang MN tại số (651) 556-6087. Bản Kê Khai Truth in Taxation và Tax Statement (Bản Kê Khai Thuế) sẽ ghi hạng mục nhà ở thích hợp.

    Tax Reduction Programs (Các Chương Trình Giảm Thuế) và Tax Deferral Programs (Các Chương Trình Trì Hoãn Thuế)

    Tôi gần như không thể có khả năng trả thuế, có cách nào để xin giảm thuế không?

    Tiểu Bang Minnesota có hai chương trình giảm thuế bất động sản cho những người đóng thuế có mức thuế tăng

    đáng kể hoặc mức thuế bất động sản không phù hợp với mức lợi tức của họ. Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota

    quản lý cả hai chương trình này. Quý vị có thể lấy mẫu đơn bằng cách gọi số 651-296-4444 hoặc truy cập trên mạng

    Internet của Ban Thuế Vụ tại www.taxes.state.mn.us. Quý vị cũng có thể gọi số 651-296-3781 để tìm hiểu thêm. Họ

    cũng có thể là

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Income Adjusted Homestead Credit (Chiết Khấu Nơi Ở Được Điều Chỉnh) là gì?

    Mục đích của “Income Adjusted Homestead Credit” (Chiết Khấu Nơi Ở Được Điều Chỉnh Dựa Trên Lợi

    Tức) là để bảo đảm rằng mức thuế không bất cân xứng với mức lợi tức của người đóng thuế. Chương trình này

    có đặt ra nhiều điều kiện. Nghị viện năm 2001, cùng với các thay đổi toàn diện khác về thuế bất động sản đã

    tăng mức hoàn thuế tối đa của chương trình này tới mức $1,590. Có mức tiêu chuẩn về lợi tức đối với chương

    trình này.

    • Đối với các hộ không có người phụ thuộc, mức giới hạn này là $85,210. Mức giới hạn về lợi tức tăng lên nếu số người trong gia đình tăng lên, tới mức tối đa là $101,690 cho các gia đình có năm người phụ thuộc hoặc hơn.
    • Các chủ nhà là người cao niên hoặc người tàn tật: tới $104,740 cho các hộ gia đình có năm người phụ thuộc hoặc hơn.

    Targeting là gì?

    Chương trình thứ hai là “Targeting”. Chương trình này có hoàn thu ế nếu mức thuế tăng hơn 12% và mức thuế tăng cao hơn ít nhất $100 so với mức thuế phải trả trong năm 2005. Đa số các chủ nhà tại Thành Phố

    Minneapolis đều hội đủ điều kiện được hoàn thuế theo chương trình này.

    Chương trình Trì Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên) là gì?

    Các điều kiện căn bản là (các) chủ sở hữu ph ải từ 65 tuổ i trở lên và gia đình có lợi tức ch ưa tới $60,000. Đ ây là chương trình trì hoãn thuế chứ không phải là giảm thuế. Thuế tích luỹ cùng với lãi suất ở mức không vượt qúa 5% và một khoản tịch thu thế chấp được gắn liền với bất động sản đó.

    Đây chỉ là phần trình bày tóm lược về chương trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Các Cư Dân Cao Niên). Để lấy đơn xin hoặc giải đáp các thắc mắc cụ thể, xin gọi Property Tax Division of the Minnesota Department of Revenew (Ban Thuế Bất Động Sản của Ban Thuế Vụ Thành Ph ố Minnesota) tại số: 651-556-6109 hoặc số 1-800-627-9094, số máy phụ 6-6109, những người sử dụng TDD/TTY: gọi Minnesota Relay Services (Dịch Vụ Chuyển Tiếp Minnesota) tại số 1-800-627-3529; nhờ gọi số 800-652-9094, số máy phụ 6-0335

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Chương trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên) hoạt động như thế nào?

    Đây không phả i là chương trình miễn thuế – mà đây là một khoản vay từ chính quyền tiểu bang. Khoản thuế được trì hoãn sẽ được tiểu bang tr ả cho quận của quý vị. Khoản vay này sẽ bị tính lãi suất. Mức lãi suất sẽ được điều chỉnh hàng năm, nhưng sẽ không vượt quá 5 phần trăm. Sẽ có một khoản tịch thu thế nợ gắn liền với bất động sản của quý vị.

    Trong thời gian tham gia chương trình này, quý vị sẽ dùng tối đa 3 phần trăm lợi tứ c gia đình để trả thuế bất động sản hàng năm, cho dù thuế bất động sả n củ a quý vị thực sự cao tới mức nào đi nữa. Tiểu bang sẽ trả phần còn lại. Quý vị, hoặc những người thừa kế của quý vị sẽ cần phải hoàn trả số tiền thuế được trì hoãn thì mới được chuyển nhượng quyền sở hữu bất động sản đó.

    Trong lần xin trì hoãn thuế lần đầu, quý vị sẽ phải cung cấp (với chi phí do quý vị tự trả) – một bản báo cáo ghi chi tiết các khoản vay tài trợ địa ốc, các khoản thế ch ấp nợ, các phán quyết của tòa án hoặc các kho ản thuế bất động sản chư a trả cho bất động sản đó. Nếu không có, quý v ị vẫn sẽ phải cung cấp bản báo cáo xác nhận về vấn đề này. Bản báo cáo đó phải đề ngày tháng trong vòng 30 ngày kể từ ngày quý vị nộp đơn xin.

    Việc tham gia vào chương trình trì hoãn thuế này là tự nguyện. Nếu quý vị tham gia, một kho ản thế chấp nợ thuế sẽ được áp dụng cho bất động sản củ a quý vị. Quý vị phải trả hết kho ản thế chấp nợ này thì mới được bán bất động sản. Trong trường hợp quý vị qua đời, những người thừa kế của quý vị ph ải trả hết khoản th ế chấp nợ đó thì mới được quyền sở hữu bất động sản đó. Quý vị nên hỏi ý kiến luật sư, chuyên viên lập kế hoạch quản lý di sản hoặc người nhà trước khi ghi danh tham gia.

    Ai hội đủ điều kiện tham gia Chương Trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên)?

    Để được tham gia chương trình này, quý vị phải hội đủ tất cả các điều kiện sau đây:

    1. Bất động sản đó phải thuộc quyền sở hữu và là nơi cư ngụ của một người từ 65 tuổi trở lên. Trong trường hợp là vợ chồng đã kết hôn, cả hai phải ít nhất 65 tuổi vào thời điểm được trì hoãn thuế lần đầu tiên. (Nhà ở đó có thể được phân loại là gia cư hoặc trang trại, hoặc có thể là một phần của một tòa nhà có nhiều căn hộ.)
    1. Tổng mức lợi tức của gia đình không được vượt quá $60,000 cho năm lịch trước năm nộp đơn xin lần đầu tiên.
    2. Căn nhà đó phải thuộc quyền sở hữu và là nơi cư ngụ của ít nhất một trong các chủ sở hữu căn nhà trong ít nhất 15 năm trước năm nộp đơn xin lần đầu.
    1. Bất động sản đó không được có tình trạng bị giữ quyền sở hữu để thế nợ theo lệnh của tòa án hoặc giữ quyền sở hữu để trả nợ thuế liên bang.
    1. Tổng số tiền nợ còn lại chưa trả được bảo đảm bởi các khoản vay tài trợ địa ốc và các khoản tịch thu giữ quyền sở hữu bất động sản để thế nợ khác đối với bất động sản đó không được vượt quá 75 phần trăm giá trị ước tính trên thị trường của bất động sản đó.

    Làm thế nào để xin Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên)?

    Quý vị có thể lấy đơn xin tại văn phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis và trên trang mạng điện toán củ a Ban Thuế Vụ Minnesota tại: www.taxes.state.mn.us. Tất cả các đơn xin phải nộp trước ngày 1 tháng Bảy để xin trì hoãn một phần thuế của năm kế tiếp. Quý vị có thể nộp đơn xin vào năm mà quý vị tròn 65 tuổi, nhưng sẽ không được trì hoãn thuế cho tới năm kế tiếp.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Giảm Thuế do Gặp Thảm Họa là gì?

    Hình thức giảm thuế này được áp dụ ng cho mỗi bất động s ản do ngẫu nhiên hoặc không cố ý bị h ư hỏng với thiệt hại về cấu trúc từ 50% trở lên và bất động sản không th ể ở hoặc không th ể sử dụng được. Chủ sở hữu bất động sản là nhà ở hoặc không phải là nhà ở có thể xin giảm thuế bất động sản phải trả cho năm xảy ra thiệt hại đó.

    Số tiền giảm thuế được tính dựa trên số tháng trọn v ẹn mà bất động sản đó không thể ở hoặc không thể sử dụ ng được. Sau đó người ta nhân mức giá trị áp dụng cho bất động sản đó với mức thuế thuần. Cuối cùng, phân số (toàn bộ các tháng mà bất động sản đó không thể ở được chia cho 12) được nhân với kết quả.

    Ví dụ : Một căn nhà có mức giá ước tính trên thị trường là $100,000 và mức thuế thuần là $3,000 bị thiệt hại do hỏa hoạn vào ngày 10 tháng Bảy, 2003 và có thể sử dụng để ở được vào ngày 7 tháng Mười Một, 2003. Giá trị của căn nhà đó là $75,000 và tạ o ra tỷ lệ 75%. Tỷ lệ này nhân với mức thuế thuầ n là $3,000. Do đó, mức thuế áp dụng cho căn nhà đó sẽ là $ 2,250. Số ti ền này nhân với tỷ lệ 3/12, là số tháng trọn vẹn mà người trả thuế không thể cư ngụ trong căn nhà đó, do đó chủ nhà sẽ được giảm $562.50 tiền thuế.

    Làm thế nào để xin giảm thuế do gặp thảm họa?

    Trước hết, xin gọi Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis để thông báo cho họ biết về tình trạng nhà hư hỏng. Để tham gia chương trình Hennepin County’s Individual Disaster Credit (Giảm Thuế Cá Nhân Do Gặp Th ảm Họa của Quận Hennepin), quý vị phải hoàn tất đơn xin và n ộp cho Văn phòng Định Giá Viên Minneapolis. Quý vị cần làm việc này càng sớm càng tốt sau khi xảy ra thiệt hại. Ngoài ra, quý vị cần ph ải có một bả n sao báo cáo thiệt hại của hãng bảo hiểm của quý vị khi có bả n báo cáo này. Cuố i cùng, quý vị sẽ cần phải liên lạc với Văn Phòng Định Giá Thành Phố Minneapolis khi hoàn tất công việc tu bổ để biến bất động sản đó trở thành nơi có thể cư ngụ được hoặc khi bán bất động sản đó.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Các Ngày Quan Trọng Liên Quan tới Thuế Bất Động Sản

    Tháng Giêng Ngày 2 tháng Giêng – Ngày xác định giá trị và hạng mục bất động sản cho các
        mục đích đánh thuế.
         
    Tháng Hai Value Notice (Thông Báo về Giá Trị Bất Động Sản) được gửi qua đường bưu điện
        vào tháng Hai hoặc tháng Ba
         
    Tháng Ba Property Tax Statements (Các Bản Kê Khai Thuế Bất Động Sản) được gửi qua
        đường bưu điện trước khi kết thúc tháng Ba.
      •    Thành Phố Minneapolis tổ chức các buổi họp Open Book (Sổ Sách Công Khai).
    Tháng Tư Nếu quý vị muốn khiếu nại về giá trị bất động sản của mình với City of
        Minneapolis Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình
        Quyền Thành Phố Minneapolis), xin gọi để lấy hẹn.
      Ngày 30 tháng Tư là hạn chót nộp khiếu nại với Tòa Án Thuế Tiểu Bang
        Minnesota.
    Tháng Năm Ngày 15 tháng Năm – Hạn nộp nửa đầu tiên của số tiền thuế cho năm hiện tại.
      •    Nếu quý vị muốn khiếu nại về giá trị bất động sản của mình với Hennepin County
        of Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Quận
        Hennepin), xin gọi để lấy hẹn.
      •    Các bản kê khai được gửi cho nhà lắp ghép qua đường bưu điện.
    Tháng Bảy Ngày 1 tháng Bảy – Hạn chót nộp đơn xin tham gia chương trình Senior Citizen
        Tax Deferral (Trì Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên).
    Tháng Tám Ngày 31 tháng Tám – Hạn chót nộp nửa đầu tiên của khoản thuế cho năm hiện tại
        đối với Nhà Lắp Ghép.
         
    Tháng Chín    
         
    Tháng Mười Ngày 1 tháng Mười – Hạn chót nộp đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nơi ở
        dành cho các hạng mục đặc biệt liên quan tới người mù lòa, tàn tật và liệt hai chân
        cho MN Department of Revenew (Ban Thuế Vụ MN)
      •    Ngày 15 tháng Mười– Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế áp dụng cho năm
        hiện tại.
    Tháng Mười Một Property Tax Statements (Các Bản Kê Khai Thuế Bất Động Sản) hoặc Các Bản Kê
        Khai Truth in Taxation được gửi qua đường bưu điện.
      •    Ngày 15 tháng Mười Một – Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế cho năm
        hiện tại đối với bất động sả n là trang trại.
      •    Ngày 15 tháng Mười Một – Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế cho năm
        hiện tại đối với Nhà Lắp Ghép.
         
    Tháng Mười Hai Các cơ quan chính phủ địa phương phê chuẩn ngân sách chính thức của mình.
      •    Ngày 1 tháng Mười Hai – Cần phải nắm quyền sở hữu và cư ngụ để hội đủ điều
        kiện được xếp vào diện bất động sản là nhà ở để tính thuế cho năm kế tiếp.
      •    Ngày 15 tháng Mười Hai – hạn chót nộp đơn xin đóng thuế theo hạng mục
        Homestead Classification (Bất Động Sản Là Nhà Ở) cho năm kế tiếp.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Nguyên tắc định giá bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Nh%E1%BB%AFng-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-gi%C3%A1-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BA%A5t.-Li%C3%AAn-h%E1%BB%87-v%E1%BB%9Bi-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Thị trường bất động sản ở Việt Nam đã được hình thành và đang trong quá trình phát triển bước đầu được mở rộng. Đến nay các tác nhân tham gia thị trường này bắt đầu hoạt động có hiệu quả tạo cơ sở cho tính ưu việt của thị trường này hoạt động. Quyền sử dụng đất là một loại hàng hoá quan trọng của thị trường đó. Vì thế giá quyền sử dụng đất hay nói ngắn gọn là giá đất có một vị trí đặc biệt trong thị trường bất động sản, thu hút được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng. Đất đai là một nhu cầu thiết yếu của mỗi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình bởi vì đất đai là điểm tựa để sinh hoạt, lao động, sản xuất… Tất cả mọi người đều có nhu cầu có chỗ ở, tất cả mọi xã hội đều cần đất đai để phát triển…Có thể nói không có đất không có sự tồn tại của xã hội loài người. Đặc biệt, đối với cá nhân, hộ gia đình đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng vì nhu cầu có chỗ ở là nhu cầu thiết yếu của con người, hay như các cụ ta thường nói “ an cư mới lạc nghiệp”. Tuy nhiên, đất đai lại không thể được sản xuất đại trà như các loại hàng hoá khác bởi những đặc trưng của nó vì thế đất đai ngày càng trở nên khan hiếm. Mà đất càng khan hiếm thì giá của nó ngày càng cao. Sự thực hiển nhiên đó giải thích vì sao khi đi mua đất quan tâm hàng đầu của tất cả mọi người không phân biệt giàu, nghèo chính là giá đất. Thực tế hiện nay giá đất cũng gây rất nhiều bức xúc cho cả cơ quan có thẩm quyền và người dân bởi vì giá đất quá cao, có thông tin cho rằng giá đất ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn cao hơn giá đất ở thủ đô Tokyo của Nhật Bản. Ngoài ra giá đất trong bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi cũng còn nhiều bất cập gây tình trạng lôn xộn như trong thời gian qua. Chính vì những bất hợp lý về giá đất hiện nay mà tôi quan tâm đến giá đất. Để tìm hiểu kỹ hơn những vấn đề liên quan đến giá đất, thực trạng những gì đang diễn ra liên quan đến giá đất đặc biệt tôi quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam”. Đồng thời tìm hiểu vấn đề này tôi cũng bổ sung được kiến thức các môn học trong nhà trường và chắc chắn sẽ có ích cho công việc trong tương lai.

    Để nghiên cứu được đề tài này tôi đã sử dụng kiến thức của các môn: kinh tế tài nguyên đất, Nguyên lý thị trường bất động sản, Định giá bất động sản. Để có cái nhìn đúng đắn về những vấn đề liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, điều tra, phân tích.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    2

    Đề án môn học

    Kết cấu của đề tài này như sau:

    Chương I: Cơ sở lý luận về giá đất

    1. Khái niệm, quan điểm về đất đai. 1.Khái niệm

    2.Các quan điểm về giá đất.

    1. Sự cần thiết phải xác định giá đất.

    III. Cơ sở hình thành giá đất.

    1. Bản chất của giá đất
    1. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.
    1. Các phương pháp định giá đất hiện nay.
    1. Phương pháp so sánh trực tiếp.
    1. Phương pháp thu nhập
    1. Phương pháp đầu tư

    Chương II: Những nhân tố ảnh hưởng đến giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất đai.
    1. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    1. Quá trình đô thị hoá.
    1. Yếu tố cạnh tranh.
    1. Chính sách tiền tệ
    1. Chính sách pháp luật

    Do thời gian và trình độ có hạn, đề tài nghiên cứu này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý vị để đề tài này hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trung tâm đào tạo Địa chính và Kinh doanh bất động sản đặc biệt là Ths. Vũ Thị Thảo đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    3

    Đề án môn học

    Chươ ng I.

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ ĐẤT

    I.                   KHÁI NIỆM VÀ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐẤT ĐAI.

    1.Khái niệm về đất đai

    Luật Đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam khẳng định:” Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”. Như vậy đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cũng như trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong tiến trình lịch sử của loài người, con người và đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đất đai là nguồn của cải vô tận của con người, dựa vào đất đai con người tạo nên được những sản phẩm để duy trì sự tồn tại của mình. Khi dân số ngày càng đông thì đất đai vẫn có khả năng tạo ra một lượng sản phẩm lớn hơn lượng sản phẩm đủ để duy trì sự sống của người lao động. Ngược lại, con người cùng với những tác động tích cực hay tiêu cực đến đất đai nhằm phục vụ đời sống của mình. Đất đai là thành phần quan trọng của môi trường sống, là một trong những tài nguyên vô cùng quan trọng của con người. Có thể nói không có đất đai không thể có sự tồn tại của xã hội loài người.

    Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, vận tải, thuỷ lợi… Đất đai còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành xây dựng như: gạch ngói, gốm sứ…cho các ngành công nghiệp chế biến, cao su, cà phê…ngoài ra đất đai con tham gia vào các ngành sản xuất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân đất đai cũng giữ vai trò khác nhau. Đặc biệt trong nông nghiệp đất đai là yếu tố hàng đầu của đó là yếu tố đầu vào cần thiết và không thể thiếu được. Đối với nước ta- một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì đất đai càng quan trọng. Đất đai cũng là cơ sở để sản xuất ra tất cả các vật phẩm phục vụ cuộc sống của con người. Bởi vậy Wiliam Petis đã khẳng định: “Lao động là cha, đất là mẹ của của cải”.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    4

    Đề án môn học

    Khi xã hội càng phát triển vai trò của đất đai ngày càng trở nên quan trọng. Do những yêu cầu của thực tiễn đất đai trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Dân số nước ta ngày càng tăng lên, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, mà tổng cung về đất đai coi như không đổi nên đất đai trở nên khan hiếm. Nhu cầu về đất đai tăng nhanh bởi vậy giá trị của nó được quan tâm nhiều hơn.

    Đất đai là nguồn của cải, là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Nó cũng là một trong những bộ phận lãnh thổ của đất nước. Tôn trọng chủ quyền của một quốc gia trước hết phải tôn trọng lãnh thổ của quốc gia đó. Như vậy, đất đai không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất mà còn có một ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với an ninh quốc gia. Với những gì đất đai mang lại cho con người, chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Trong bất cứ một giai đoạn nào của lịch sử, trong bất cứ hoàn cảnh nào đất đai cũng là nơi cư trú của con người, là nguyên liệu, là cơ sở cho mọi lĩnh vực sản xuất vật chất.

    Đất đai theo khía cạnh địa lý được hiểu một cách cụ thể như sau: Đất đai là sản phẩm của tự nhiên qua quá trình phong hoá đá mẹ hình thành nên nhiều loại đất khác nhau. Mặt khác, đất đai là lớp bề mặt của trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để nuôi sống loài người, là môi trường để con người hoạt động gắn bó chặt chẽ với lớp bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định. Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ. Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào đó để nuôi sống mình. Đất đai luôn luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động nào của con người và cũng không thể tồn tại xã hội loài người.

    Về môi trường, đất đai thường gắn liền với khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và yếu tố không gian và được phân bố rộng rãi trên phạm vi toàn cầu cũng như trên từng vùng, từng miền lãnh thổ. Đất đai là yếu tố hình thành nên môi trường và chịu tác động của môi trường. Do đó đất đai và môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua các tác động tích cực của con người vào đất đai, môi trường sẽ được bảo vệ như là trên đất dốc, đất đồi núi trọc khi trồng cây gây rừng làm giảm độ xói mòn, bảo vệ được mạch nước ngầm, điều hoà không khí…Ngược lại, đất đai nằm ở cạnh các khu công nghiệp không xử lý triệt để nước thải thì môi trường đất cũng sẽ bị ô nhiễm.

    2.                 Các quan điểm về giá đất.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    5

    Đề án môn học

    Giá đất là một phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với quá trình trao đổi, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế…Trong quá trình sử dụng đất luôn luôn có lao động kết tinh trong đất nên đất đai có giá trị và giá trị sử dụng. Khi hai giá trị này đươck thể hiện qua quan hệ trao đổi tức là có người mua và người bán thì đất đai trở thành hàng hoá. Giá đất được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ, hiệu quả của quá trình sử dụng đất. Đây là một vấn đề rất phức tạp mà hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Trong đó có các quan điểm nổi bật sau:

    Có quan điểm cho rằng với mục đích xác định giá đất như hiện nay cần phải giả quyết, điều hoà hai lợi ích luôn đối lập nhau: Xác định giá đất để tính nguồn thu ngân sách Nhà nước như: tính thuế, tính tiền giao đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…Xác định giá đất để bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, khi thế chấp, khi đấu giá quyền sử dụng đất, để trả nợ và thi hành án…Đó là hai mặt đối lập nhau về lợi ích. Thực chất quan điểm này là đi giải quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước và các bên liên quan trong quan hệ giao dịch dân sự. Để giả quyết lợi ích của người bị Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước phải bồi thường cho người sử dụng đất. Khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích công cộng, quốc phòng an ninh sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bị thu hồi đất. Đất đai, tài sản bị thu hồi mặc dù được bồi thường nhưng các hộ trong diện phải di dời sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nếu không có khu tái định cư họ phải tự đi tìm nơi ở mới. Đặc biệt đối với những hộ có vị trí đất tốt đang tiến hành kinh doanh có hiệu quả mà phải di dời đến vị trí khác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu của họ. Trong trường hợp đó việc thu hồi đất của Nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích trước mắt của các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức. Mặt khác, người Việt Nam còn có tâm lý gắn bó với nơi mình sinh sống, không muốn chuyển đi nơi khác với những mối quan hệ khác. Vì thế để giải quyết lợi ích của người bị thu hồi đất đồng thời thuyết phục được tâm lý ấy, Nhà nước phải đặt ra giá bồi thường hợp lý để không làm tổn hại đến lợi ích của họ.

    Bên cạnh đó còn có quan điểm cho rằng cần phải giải quyết đầu tiên vấn đề hai giá đối với cùng một thửa đất, với hai nội dung là: Một là, giá đất do Nhà nước xác định khi thu hồi đất cần lấy theo giá đất khi chưa chuyển mục đích sử dụng, chưa có đầu tư, do đó giá thấp ( ví dụ là giá đất nông nghiệp); nhưng sau khi chuyển mục đích sử dụng để giao, để cho người khác thuê, thì giá đất cao ( ví dụ là giá đất ở tại đô thị). Hai là, xem xét giá đất do Nhà nước xác định và giá chuyển nhượng thực tế

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    6

    Đề án môn học

    trên thị trường. Thực tế có hai loại giá đất được áp dụng đó là giá thị trường và giá chuẩn. Giá thị trường của đất là giá hiện thực áp dụng trong mua bán quyền sử dụng đất, giá này tự điều chỉnh lên xuống tuỳ theo nhu cầu sử dụng đất và chính sách của Nhà nước về đất đai. Giá chuẩn là giá do Nhà nước xây dựng dựa trên các yếu tố: giá cả thị trường, mức thu nhập của người tiêu dùng, sức mua của đồng tiền. Thông thường giá chuẩn được xây dựng thành khung giá, là giá tối đa, tối thiểu do Nhà nước quy định để quản lý giá đất và kiểm soát sự biến động của thị trường đất phục vụ cho mục tiêu quản lý Nhà nước về đất đai. Với 4 lần thay đổi khung giá đất của Chính phủ, với khoảng vài năm một lần thay đổi khung giá của các UBND tỉnh, với sự biến động kinh tế, xã hội rất khác nhau của 64 tỉnh, thành phố làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất đã làm cho khoảng cách giữa giá đất của Nhà nước và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế quá cách biệt, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước tạo ra nhiều mâu thuẫn trong xã hội.

    Quan điểm của Nhà nước về giá đất theo văn bản mới nhất là Luật đất đai 2003 là: “ Giá đất được hình thành trong các trường hợp:

    Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.

    Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.

    Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quỳên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất” ( Điều 55).

    Giá đất do Nhà nước quy định cần phải đảm bảo các nguyên tắc theo Điều 56 Luật đất đai 2003.

    II.               SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÁC ĐỊNH GIÁ ĐẤT.

     

    Giá đất là phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với các quá trình trao đổi,

    chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, góp vốn… và có liên quan đến lợi ích của các đối tượng liên quan. Thông thường, trước khi tài sản nhà đất tham gia các giao dịch cho các mục đích khác nhau đều cần phải xác định giá đất.

    Chúng ta biết rằng giá đất được xác định thông qua luồng thu nhập do mảnh đất đó mang lại nên giá đất để đánh giá tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất. Nếu người sử dụng đất biết khai thác những lợi thế của mảnh đất thì sẽ đánh giá mảnh đất đó có giá cao hơn những người không thấy được lợi thế đó. Vì thế đất đai càng được sử dụng có hiệu quả thì giá của nó sẽ càng cao. Đặc biệt, đối với bất kỳ một sự trao đổi, mua bán của một loại hàng hoá nào đều cần phải có yếu tố giá cả.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    7

    Đề án môn học

    Quyền sử dụng đất cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất là một hàng hoá đặc biệt. Nó không được bày bán trên thị trường như các hàng hoá khác. Người mua và người bán không có cơ hội và đủ lượng thông tin cần thiết để lựa chọn. Mặt khác, đất đai thường có giá trị lớn, số lần mua bán ít do đó thiếu kinh nghiệm. Vì những lý do đó nên xác định giá đất cần phải có các nhà chuyên môn có kinh nghiệm. Như vậy, các loại giao dịch trên thị trường bất động sản liên quan đến quyền sử dụng đất đều cần phải xác định giá đất. Ngoài ra, giá đất theo khung giá của Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện để sở hữu toàn dân về đất đai được hoà nhập vào cơ chế thị trường. Khung giá đất ban hành theo loại đường phố, theo vị trí. Hệ thống khung giá này còn bao gồm bảng giá của các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo từng năm. Các giao dịch trên thị trường quyền sử dụng đất đều dựa trên cơ sở của khung giá này để định giá cho thửa đất. Hiện nay, giá trong khung giá mới theo Nghị định 188 đã cao hơn rất nhiều so với khung giá cũ, chẳng hạn ở Hà Nội, giá cao nhất là 67.2triệu đồng/ m2, thấp nhất là 500 nghìn đồng/ m2.. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng đất tham gia công khai vào thị trường quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung. Mặc dù khung giá đất đã nâng lên đáng kể nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với giá thị trường, vì vậy nảy sinh các hoạt động giao dịch “ngầm” vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước.

    Đặc biệt, đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đó là một chính sách để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng. Từ trước đến nay có lẽ những vướng mắc nhiều nhất liên quan đến đất đai là giá bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích công cộng, quốc phòng an ninh…Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên là điều tất yếu trong đó chủ yếu là đất xây dựng khu công nghiệp, khu chung cư, đường giao thông…Để làm được điều đó Nhà nước ta buộc phải thu hồi đất nhưng để đảm bảo lợi ích của người đang sử dụng đất Nhà nước phải bồi thường. Tuy nhiên, giá bồi thường thường thấp hơn giá thị trường từ 3 đến 5 lần thậm chí có nơi lên tới 10 lần dù các địa phương đã áp dụng giá bồi thường được phép tăng lên 20% so với khung giá đất của Nhà nước. Đó là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng khiếu kiện liên miên đồng thời không có mặt bằng xây dựng. Đứng trước thực tế trên Nhà nước phải có biện pháp nghiên cứu xác định giá đất hợp lý hơn, gần với giá thị trường hơn.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    8

    Đề án môn học

    Qua nội dung trình bày ở trên ta thấy giá đất thực sự cần thiết trong rất nhiều lĩnh vực. Vì thế phải xác định giá đất chính xác, hợp lý để đảm bảo tính công bằng, giải quyết hài hoà lợi ích của các bên tham gia: người mua- người bán, người thế chấp – Ngân hàng, người bị thu hồi đất – Nhà nước.

    III. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIÁ ĐẤT.

    Đất đai được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài. Ban đầu đất đai chỉ đơn thuần là sản phẩm của tự nhiên, nhưng do sự phát triển của xã hội đất đai trở thành sản phẩm của xã hội. Vì vậy, giá đất được hình thành trên cơ sở yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội.

    1.     Bản chất của giá đất.

    Mua đất là mua quyền thu địa tô, nên giá đất căn cứ vào khả năng sinh lời của đất, mà địa tô là hình thái theo đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế tức là đem lại thu nhập cho người sở hữu ruộng đất đó. Địa tô xuất hiện khi có sự tách rời giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Người sở hữu ruộng đất đó có quyền sử dụng ruộng đất theo ý muốn của họ: Trực tiếp kinh doanh hoặc cho thuê. Trong trường hợp cho thuê quyền sở hữu ruộng đất và quyền dụng đó tách rời, người thuê đất phải trả cho người chủ đất một khoản tiền nhất định theo hợp đồng. Quan hệ địa tô trong sử dụng đất thực chất là phân chia lợi ích giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Bởi vậy nó gắn liền với chế độ tư hữu đất đai. Theo tiến trình lịch sử, địa tô được biểu hiện dưới các hình thức: địa tô lao dịch, địa tô hiện vật và địa tô bằng tiền. Trong đó địa tô bằng tiền là hình thức biểu hiện cao nhất và phát triển của địa tô tư bản chủ nghĩa. Các hình thái cơ bản của địa tô là: địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối. Địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch do việc sử dụng các thửa đất có điều kiện khác nhau về vị trí và độ phì. Phần này nhà tư bản sử dụng ruộng đất phải trả cho chủ đất.

    Địa tô chênh lệch I có được do việc sử dụng đất đai có điều kiện thuận lợi hơn về vị trí và độ phì. Mặt khác, trong quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất, người sử dụng ruộng đất ( có khi là người sở hữu đất) đã có những đầu tư vào đất làm cho độ phì nhiêu của đất tăng lên, đó là những đầu tư lâu dài hoặc ngắn hạn để làm tăng sản lượng ruộng đất. Những khoản chi phí ấy đều làm tăng sản lượng ruộng đất, và biến ruộng đất từ chỗ vật chất đơn thuần thành ruộng đất tư bản. “Tuy có những thuộc tính tự nhiên như nhau, nhưng một đám đất được canh tác có giá trị lớn hơn

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    9

    Đề án môn học

    một đám đất bỏ hoang” ( Mác – Enghen toàn tập). Địa tô có được nhờ vào việc đầu tư khác nhau vào những đám đất như nhau do đó có được những năng suất khác nhau. Đó là địa tô chênh lệch II. Như vậy, địa tô chênh lệch II có được do đầu tư tư bản liên tiếp trên cùng một loại đất, tức là do trình độ thâm canh quyết định.

    Khi nghiên cứu địa tô chênh lệch, chúng ta đã xuất phát từ giả thuyết giá cả sản xuất chung ngang bằng với giá cả sản xuất cá biệt trên loại đất xấu xã hội cần thiết. Nói cách khác, giá cả sản xuất có tác dụng điều tiết thị trường ngang với giá cả cá biệt trên đất xấu nhất xã hội cần thiết. Khi đó chỉ có những mảnh đất nào có giá cả sản xuất cá biệt thấp hơn giá cả sản xuất cá biệt xã hội cần thiết thì mới có lợi nhuận siêu ngạch- cái sẽ chuyển hoá thành địa tô chênh lệch. Địa tô đó có cơ sở là sự chênh lệch về độ phì tự nhiên hoặc là kết quả chênh lệch giữa các lần đầu tư liên tiếp trên cùng một thửa đất hoặc là kết quả chênh lệch giữa các mức đầu tư khác nhau trong một lần đầu tư trên cùng một thửa đất. Tuy nhiên, theo giả thiết đó thì các chủ tư bản kinh doanh trên đất xấu nhất xã hội cần thiết sẽ không phải nộp địa tô cho chủ đất vì giá cả sản phẩm trên thị trường do giá cả sản xuất trên loại đất xấu đó quyết định và chủ đất loại đất xấu nhất cũng không thu được một địa tô nào cả. Trên thực tế không phải như vậy. Ngay cả loại đất đó cũng đem lại địa tô. Đó chính là địa tô tuyệt đối. Địa tô tuyệt đối là những giá trị thặng dư khác nhau trong việc sử dụng đất đai ứng với tỷ suất giá trị thặng dư như nhau trong những ngành sản xuất khác nhau do có cấu tạo hữu cơ tư bản khác nhau.

    Vì vậy, địa tô là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giá đất. Trên cơ sở địa tô cách tính giá đất cần dựa vào các tiêu thức: Mức địa tô thu được hàng năm trên một diện tích đất đai, tỷ suất lợi tức tiền gửi ngân hàng trong năm, ưu thế đất đai về vị trí, chất đất, quan hệ cung cầu về đất đai ở từng thời điểm.

    2. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.

    Đất đai gắn liền với lãnh thổ của một quốc gia vì thế nó liên quan đến tình hình an ninh chính trị của một quốc gia. Đó chính là lý do để hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định đất đai thuộc quyền sở hữu tối cao của Nhà nước. Ở Việt Nam, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý ( Luật Đất đai 1993) còn theo văn bản pháp luật mới nhất về đất đai thì “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Quy định này nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất đồng thời cũng bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước không trực tiếp sử dụng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    10

    Đề án môn học

    đất đai mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng (sau đây gọi chung là người sử dụng đất) dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất. Nhà nước quản lý việc sử dụng đất ở tầm vĩ mô như: quy hoạch sử dụng các loại đất nông nghiệp, phi nông nghiệp; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng…Khi người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì họ sẽ có các quyền lợi sau đối với thửa đất của mình:

    Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất mang lại.

    Được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Hưởng các lợi ích do công trình công cộng về bảo vệ, cải tạo đất mang lại.

    Được Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ trong việc cải tạo và bồi bổ đất.

    Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi.

    Được quyền góp đất để hợp tác sản xuất và kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất.

    Được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

    Song song với những quyền lợi đó người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ đối với đất đai:

    Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các yêu cầu khác đã được quy định khi giao đất.

    Thực hiện các biện pháp để bảo vệ và là tăng khả năng sinh lợi của đất.

    Tuân theo những quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.

    Nộp thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…

    Giao lại đất cho Nhà nước có quyết định thu hồi.

    Người sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sẽ có những quyền lợi nhất định, đặc biệt họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bởi vì khi đó họ được pháp luật bảo hộ về quyền sử dụng đất hợp pháp. Ngoài ra họ còn được hưởng lợi từ những công trình công cộng bảo vệ, cải tạo đất mang lại. Chẳng hạn một thửa đất trồng lúa nước, nếu Nhà nước đầu tư cho khu vực đó một hệ thống thuỷ lợi thì người sử dụng thửa đất đo nghiễm nhiên sẽ có được nguồn nước tốt cho

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    11

    Đề án môn học

    ruộng lúa của mình mà không phải mất gì. Còn đối với quy định về quyền được chuyển đổi mục đích sử dụng thì Luật đất đai 2003 đã co quy định cụ thể, có những trường hợp được phép chuyển mục đích sử dụng không phải xin phép cơ quan có thẩm quyền nhưng vẫn phải đăng ký để quản lý, cũng có những trường hợp bắt buộc khi chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan có thẩm quỳên…Ngược lại, trong quá trình sử dụng đất người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhà nước nghiêm cấm việc sử dụng lãng phí đất, huỷ hoại đất. Người sử dụng đất phải tôn trọng các quy định về nghĩa vụ vì chỉ có như vậy chúng ta mới đảm bảo sử dụng đất một cách bền vững.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    12

    Đề án môn học

    IV. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ ĐẤT HIỆN NAY.

    1. Phương pháp so sánh trực tiếp

    Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Trong quá trình sử dụng có thể được kết hợp với các phương pháp khác. Việc định giá theo phương pháp này là xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá đất của thửa đất, loại đất cần định giá. Có thể nói phương pháp này quan tâm đến sự nhận biết và đo lường tác động của sự hiện hữu hay thiếu vắng một số đặc tính có trong giá cả, tiền thuê của các tài sản có thể so sánh được. Tuy nhiên phương pháp chỉ áp dụng cho các tài sản có tính đồng nhất, các loại đất trồng, các loại đất có khu vực gần nhau và gần giống nhau. Nếu sử dụng phương pháp này để tính giá đất đòi hỏi phải có thông tin rõ ràng về mảnh đất cần được định giá. Nhưng thực tế những thông tin này luôn bị lạc hậu (chỉ cần trong thời gian ngắn). Do đó không thể đảm bảo phương pháp này sẽ tính được giá đất phản ánh đúng giá trị thực tế. Đây là phương pháp có vẻ đơn giản và trực tiếp nhưng lại dễ mắc sai lầm. Khi sử dụng phương pháp này, người định giá muốn so sánh những bất động sản có giá trị ngang nhau trong một vùng hoặc dựa vào các giao dịch được thực hiện trong thời gian trước đó. Để sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp cần thực hiện qua bốn bước sau:

    Thứ nhất là thu thập thông tin về bất động sản đã thực hiện giao dịch trước đó. Trong quá trình thu thập chú ý phải thu thập các bất động sản có điểm tương đồng như: căn hộ cùng loại, cùng khu vực, cùng mục đích sử dụng…

    Thứ hai kiểm tra lại các yếu tố của bất động sản để thấy được khả năng so sánh giữa các bất động sản thu thập được với bất động sản mục tiêu.

    Thứ ba là quyết định lựa chon những bất động sản thích hợp nhất để đưa vào làm các bất động sản tham chiếu cho quá trình so sánh. Căn cứ vào các đặc tính, điều kiện mà bất động sản đó có thể so sánh được.

    Thứ tư là so sánh trực tiếp từng yếu tố của bất động sản mục tiêu với các bất động sản tham chiếu để tìm ra các sai lệch giữa bất động sản mục tiêu và bất động sản tham chiếu.

    Thứ năm là xác định các cơ sở để đánh giá sự thay đổi giữa các tiêu thức so sánh để tìm ra các yếu tố tiến hành điều chỉnh bao gồm:

    +Tính chất ảnh hưởng: ảnh hưởng ít hay nhiều.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    13

    Đề án môn học

    +Đánh giá cảm quan về mức độ xấu- tốt.

    Thứ sáu là tổng hợp tất cả các yếu tố ảnh hưởng sẽ có được giá xác định cho bất động sản mục tiêu, từ đó có được khoảng giá bất động sản mục tiêu.

    2. Phương pháp thu nhập.

    Phương pháp thu nhập là phương pháp xác định mức giá tính bằng thương số giữa mức lợi nhuận thuần tuý thu được hàng năm trên một diện tích đất so với lãi suất của tiền gửi ngân hàng quốc doanh có mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ cao nhất kỳ hạn 1 năm trên địa bàn. Những khoản lợi nhuận đó nói chung ở dạng tiền cho thuê hoặc giá trị của vốn cho thu hồi trong tương lai. Đây là phương pháp xây dựng trên cơ sở tài chính, là phương pháp mang tính khoa học hơn cả nhưng tài sản nhà đất không hoàn toàn giống các dạng đầu tư tài chính khác. Do đó cần có hiểu biết kỹ lưỡng và có tài liệu chính xác. Phương pháp này được thực hiện theo các bước như sau:

    Bước 1: Tính tổng thu nhập hàng năm do bất động sản cần định giá mang lại.

    Bước 2: Tính tổng chi phí phải chi ra hình thành tổng thu nhập và các khoản phải nộp theo luật định.

    Bước 3: Xác định thu nhập thuần tuý hàng năm theo công thức sau:

    Thu nhập                            Tổng thu nhập                       Tổng chi phí

    thuần tuý      =               hàng năm tính     –            đã tính ở

    hàng năm                             được ở bước 1                          bước 2

    Bước 4: Ước tính mức giá đất cần định giá theo công thức sau:

        Thu nhập thuần tuý hàng năm thu được  
    Giá đất   từ đất  
    ước tính =    
    Lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng  
       

    3. Phương pháp đầu tư.

    Phương pháp đầu tư dựa trên nguyên lý là giá trị hàng năm và giá trị của vốn có mối quan hệ với nhau. Và khi biết trước thu nhập hay giá trị hàng năm do bất động sản tạo ra ta có thể đễ dàng tính ra giá trị vốn ban đầu của bất động sản. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi khi bất động sản tạo ra thu nhập được bán cho người mua với mục đích đầu tư. Nó được xác định dựa trên quan niệm nhà đầu tư

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    14

    Đề án môn học

    có thể đo lường được thu nhập bằng lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế. Giá trị bất động sản được xác định bằng công thức:

    Giá trị bất động sản = Thu nhập x Hệ số vốn hoá.

    Trình tự được thực hiện như sau:

    Bước 1: Ước tính tổng luồng thu thập bất động sản mang lại

    Bước 2: Phải tính đến các khoản chi phí, đầu tư để duy trì, vận hành bất động sản đó.

    Bước 3: Xác định hệ số vốn hoá: xác định tỷ suất sinh lợi của tiền vốn đầu tư được xác định bằng mức sinh lợi của các nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động tương tự, có khả năng thay thế.

    Ngoài các phương pháp cơ bản trên các nhà định giá bất động sản còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thặng dư, phương pháp lợi nhuận.

    Nhờ các phương pháp này chúng ta có thể xác định được tương đối chính xác giá bất động sản nói chung và giá đất nói riêng.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    15

    Đề án môn học

    Chương II

    NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ ĐẤT.

    Trong quá trình phát triển của xã hội, loài người dựa vào đất đai và khai thác, sử dụng đất đai để phục vụ cho cuộc sống của chính mình. Xã hội ngày càng phát triển, của cải làm ra ngày càng nhiều nảy sinh quan hệ mua bán, trao đổi. Nền kinh tế hàng hoá ra đời và ngày càng phát triển đỉnh cao là xuất hiện cơ chế thị trường. Ngày nay, hoạt động kinh tế chịu tác động của cơ chế thị trường. Đất đai cũng không nằm ngoài sự tác động đó, nó trở thành đối tượng trao đổi mua bán, chuyển nhượng và thực sự hình thành thị trường đất đai. Vì vậy chúng ta không thể phủ nhận vài trò quan trọng của giá đất. Nhưng giá đất được xác định như thế nào, độ chính xác ra sao thì có thể dựa vào những phương pháp định giá vừa trình bày ở trên nhưng trước hết chúng ta cần nghiên cứu đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành nên giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất.

    Thứ nhất, tôi muốn đề cập đến là tính hai mặt của đất đai đó là đặc tính không thể sản sinh và không thể tái tạo. Đất đai bị giới hạn về diện tích và không gian nhưng có tính vô hạn về thời gian sử dụng. Đất đai được tạo ra do quá trình lịch sử lâu dài của tự nhiên nên được coi là không thể sản sinh được tạo nên đặc tính cơ bản nhất của đất đai. Cũng vì thế mà đất đai có tính khan hiếm và trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Đất đai là sản phẩm tự nhiên, có tính cố định không di dời được và có hạn trên phạm vi toàn cầu và trong phạm vi mỗi quốc gia. Chính vị trí đã quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian của đất đai. Đó cũng là một trong những cơ sở để xác định địa tô- tức là lợi ích mảnh đất đó mang lại. Vị trí đất đai cũng có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác, sử dụng đất. Vị trí của đất đai là cơ sở cho việc tính toán mức phải trả cho người sử dụng đất. Chẳng hạn như các đô thị gần các trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị, gần các đầu mối giao thông thì được khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả hơn so với vùng nông thôn hay những vùng xa xôi, điều kiện giao lưu kinh tế, đi lại khó khăn và do đó giá trị và giá trị sử dụng lớn hơn. Đất đai không thể sản sinh tuy nhiên nó có khả năng tái tạo. Khả năng phục hồi và tái tạo của đất chính là khả năng phục hồi và tái

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    16

    Đề án môn học

    tạo độ phì thông qua tự nhiên hay do hoạt động của con người. Độ phì là một thuộc tính tự nhiên của đất, thể hiện khả năng cung cấp thức ăn, nước…cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Lợi dụng khả năng tái tạo của đất mà trong lịch sử con người đã có những hình thức canh tác như: chế độ bỏ hoang, chế độ bỏ hoá, chế độ luân phiên cây trồng. Ngày nay con người cải tạo, bồi dưỡng đất bằng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ và tái sử dụng đất đai. Tính hai mặt của đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình sử dụng đất. Một mặt phải hết sức tiết kiệm đất đai, bố trí hợp lý các hoạt động sản xuất. Mặt khác phải chú ý ứng dụng khoa học công nghệ để tăng khả năng phục hồi và tái tạo của đất.

    Các đặc tính vật lý khác nhau làm phân biệt đất đai với các tư liệu sản xuất khác như: đất không di chuyển, đất không thuần nhất ( chỉ tính riêng về mặt địa điểm), đất không bị phá huỷ ( không tính đến đầu tư và tài sản trên đất đó). Vì vậy nó có đặc thù riêng về mặt giá trị như sau:

    -Đất đai cố định về mặt số lượng cung cấp…Một yếu tố quan trọng cần biết là trong khi đất đai coi như không đổi về tổng cung thì đất đai cho một chức năng sử dụng xác định lại biến thiên… có nghĩa là sự cung cấp không hoàn toàn bất biến. Ví dụ, Nhà nước khuyến khích xây dựng nhà ở chung cư, nhà cao tầng sẽ giảm bớt sức ép về đất ở cũng sẽ làm thay đổi giá đất ở.

    • Giá trị của đất phụ thuộc vào cung và cầu của thị trường. Cung đất có thể coi là ổn định, việc sử dụng đất được định hướng bởi nhu cầu của thị trường. Nhu cầu sử dụng loại đất nào tăng lên thì thị trường đáp ứng loại đất tại đó. Ví dụ đất ở tại đô thị khác đất ở tại nông thôn và phụ thuộc vào mức độ phát triển của khu dân cư theo quy hoạch. Điều này thể hiện rất rõ trong khung giá của Nhà nước.

    Bảng: Khung giá đất ở tại nông thôn (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)

    Loại đô   Xó đồng bằng Xó trung du Xó miền nỳi
    thị  
                 
    Mức giỏ   Giá tối thiểu 3,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 2,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 0,5; Giá tối đa
      90,0   850,0     24,0
               
          Bảng: Khung giá đất ở tại đô thị (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)
                     
    Loại đô   Đặc biệt   I     II
    thị        
                 
    Mức giỏ Giá tối thiểu 1.500,0; Giá tối đa   Giá tối thiểu 400,0; Giá tối đa     Giá tối thiểu 150,0; Giá tối đa
        67.500,0   42.500,0     30.000,0
                     
                     
    Loại đô     III   IV   V
    thị        
                   
                     
    Nguyễn Tiến Dũng       Lớp Địa chính K44

     

    17

            Đề án môn học  
               
      Mức giỏ Giỏ tối thiểu 120,0; Giỏ tối đa Giá tối thiểu 50,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 30,0; Giá tối đa  
      19.500,0 13.350,0 6.700,0  
         

    Nhìn vào bảng trên ta thấy ở xã đồng bằng giá cao nhất là 90000đồng/m2 còn đất ở tại đô thị mức cao nhất là 67.5 triệu đồng/ m2. Đó là sự so sánh rất khập khiễng nhưng để thấy rằng sự phát triển ảnh hưởng như thế nào đến giá đất đai.

    Ngoài ra, các tính chất vật lý khác của đất đai như: vị trí, độ phì nhiêu, độ ẩm, tính bền vững… của đất cũng góp phần hình thành giá đất. Chẳng hạn những loại đất có độ phì cao, độ ẩm, độ xốp lớn thì sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp là rất tốt nên trong loại đất nông nghiệp giá đất đó phải cao hơn những loại đất có điều kiện kém hơn. Đối với đất nông nghiệp giá sẽ chủ yếu phụ thuộc vào chất đất (độ phì của đất) vì đó là yếu tố quan trọng nhất đối với cây trồng.

    Những yếu tố vật lý có tác động không nhỏ đến giá đất: Nếu một mảnh đất ở ở trên nền một đất ao do mới vượt lên chắc chắn sẽ không bền vững bằng một mảnh đất trên nền đất đồi và giá cua hai mảnh đất đó sẽ khác nhau dù các yếu tố khác tương tự. Đối với đất ở đô thị, giá đất phụ thuộc chủ yếu vào vị trí mảnh đất, độ bền vững của đất.

    2. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    Cơ sở hạ tầng gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật ( đường giao thông. hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống thông tin liên lạc…) và cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí…). Mật độ phát triển của kết cấu hạ tầng có tác động rất lớn đến giá đất. Kết cấu hạ tầng có tính đặc trưng khác nhau giữa thành thị và nông thôn. Có thể thấy cơ sở hạ tầng ở đô thị có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá đất hơn so với cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng có thể làm thay đổi công dụng và giá trị của đất đai hiện có. Việc phát triển kết cấu hạ tầng được thể hiện thông qua sự phát triển của hệ thống đường giao thông đồng bộ, hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống dịch vụ thông tin liên lạc, hệ thống xử lý các chất thải, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống an toàn lao động…Việc giá đất tăng ở những khu vực có đầu tư kết cấu hạ tầng tốt chủ yếu là do tâm lý của người sử dụng đất. Khi đi mua nhà, đất bất kỳ ai cũng chú ý đến hệ thống cơ sở hạ tầng: đường giao thông ở đó được hoàn chỉnh đến mức nào? hệ thống dịch vụ cấp thoát nước được xây dựng ra sao? hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng được lắp đặt với quy mô gì? hệ thống thông tin liên lạc đang

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    18

    Đề án môn học

    được trang bị hiện đại đến khả năng nào?… Đó sẽ là các nhân tố tác động trực tiếp đến nhiều giá trị sử dụng của vị trí đất đai của khu vực đó.

    Nhờ có sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng mà điều kiện tiếp cận của đất đai trở nên dễ dàng hơn, nó có thể đáp ứng và thoả mãn được những yêu cầu khác nhau của người sử dụng đất.

    Nhờ đó mà đất đai có thể tham gia vào thị trường bất động sản một cách dễ dàng hơn. Một khu đất không có kết cấu hạ tầng thì nhu cầu sử dụng đất đó không cao nên giá đất ở khu vực đó thấp là điều dễ hiểu. Ngược lại, cũng khu vực đó nếu được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, khả năng tiếp cận dễ dàng thuận tiện thì đó là nguồn cung rất có ý nghĩa đối với thị trường bất động sản, nhu cầu sử dụng đất khu vực đó chắc chắn tăng lên lập tức kéo giá đất khu vực đó tăng cao. Một ví dụ về sự thay đổi giá đất sau khi có đầu tư cơ sở hạ tầng là: Tại Khu 19 phường Bình Hàn, Thành phố Hải Dương khi chưa có con đường Chợ Mát thì giá đất ở đó là 1.5 triệu đồng/m2, nhưng từ khi UBND tỉnh đầu tư mở rộng đường Chợ Mát và đường vành đai thành phố thì giá tăng lên 5 triệu đồng/m2. Hay như dự án quốc lộ 10 qua các tỉnh Hải phòng, Hải Dương, Thái Bình làm cho giá đất hai bên đường tăng lên từ 7 đến 9 lần. Qua những ví dụ trên ta thấy rằng việc đầu tư cơ sở hạ tầng có tác động to lớn đến giá đất.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    Trong mỗi loại đô thị, được chia làm 04 loại đường phố, bao gồm:

    • Đường phố loại 1
    • Đường phố loại 2
    • Đường phố loại 3
    • Đường phố loại 4

    Mỗi loại đường phố được thể hiện tính đặc trưng và khả năng đáp ứng cao nhất đối với các yêu cầu về hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán, sinh hoạt, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Như vậy, khả năng phân loại đô thị theo quy mô trước hết là dựa vào quy mô của đô thị đó. Quy mô của đô thị không chỉ là quy mô về diện tích mà còn phải xem xét đô thị đó phát triển đến mức nào. Tại mỗi loại đô thị giá trị thực tế của đất ở sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào mỗi loại đường phố trong mỗi loại đô thị đó. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta xác định được một cách cụ thể về giá đất cho từng khu vực trong đô thị. Giá trị thực tế của đất ở tại đường phố loại 1 đương nhiên phải cao hơn tại đường phố loại 2 ít nhất là một bậc, và cách xác định giá trị

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    19

    Đề án môn học

    thực tế của đất ở tại các loại đường phố còn lại cũng tương tự như vậy. Đó cũng là sự phân chia hợp lý và công bằng.

    Trong mỗi loại đường phố đã được phân loại chính xác, vị trí đất cũng góp phần quyết định giá trị thực tế của đất ở. Chẳng hạn cùng đường phố loại 1 như nhau, nếu diện tích đất ở nằm tại vị trí mặt đường phố sẽ có giá trị thực tế cao hơn khi nó

    • vị trí xa mặt đường phố hoặc ở trong ngõ, trong hẻm ví dụ tại Quận Thanh Xuân

    đường Trường Chinh, đoạn đường từ Ngã Tư Sở đến ngã ba Tôn Thất Tùng: Vị trí 1: 23 triệu đồng/m2

    Vị trí 2: 13.3 triệu đồng/m2

    Vị trí 3: 11.2 triệu đồng/m2

    Vị trí 4: 10 triệu đồng/m2

    Mặt khác, diện tích đất ở đặt tại đầu phố gần trung tâm buôn bán, khu vui chơi giải trí…sẽ có giá trị thực tế cao hơn hẳn so với ở vị trí cuối phố xa các trung tâm trên (cùng đặt tại mặt đường phố). Ngược lại, nếu tại vị trí đặt diện tích đất ở tại các khu sản xuất và thải các chất độc hại thì giá trị thực tế của diện tích đất đó sẽ giảm mạnh so với diện tích đất đặt ở xa khu vực đó (cùng đặt tại mặt đường phố). Các diện tích đất ở tại các vị trí khác trên cùng một đường phố của cùng một loại đô thị và khác nhau về các điều kiện như trên thì sẽ có sự thay đổi giá trị thực tế của đất ở cũng tương tự. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta khắc phục được tình trạng thiếu căn cứ trong quá trình xác định giá trị thực tế của đất một cách cụ thể cho từng diện tích đất trong từng loại đường phố của cùng một loại đô thị.

    Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền tại các địa phương là xác định một cách cụ thể và chính xác thứ tự các loại đường phố. Có như vậy khi xác định giá đất cho cùng loại đường phố trong từng đô thị mới phản ánh đúng giá trị thực tế của đất ở tại đó.

    Sự phân loại đô thị theo quy mô sẽ tạo nên khả năng thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển về mọi mặt của đô thị. Giá trị sử dụng của đất cũng biến đổi theo quy mô phát triển của đô thị đặc biệt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với đô thị nếu đô thị nào phát triển, giao thông thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng lớn thì chắc chắn giá đất ở đô thị đó cũng cao lên. Ngày nay xu thế đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ nên việc mở rộng các đô thị và sự “ bành trướng” của đô thị ra vùng lân cận cũng làm thay đổi giá đất đai đặc biệt giá đất các vùng lân cận sẽ tăng lên.

    4. Quá trình đô thị hoá.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    20

    Đề án môn học

    Đô thị hoá là quá trình tất yếu trên con đường phát triển của các quốc gia đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ và đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn cần phải giải quyết: dân số đô thị tăng nhanh, vấn đề an ninh xã hội, vấn đề môi trường, việc làm…Hiện nay, vấn đề đất đô thị và sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến giá cả đất đai đang là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu lý luận.

    Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển đô thị, đó cũng là quá trình tập trung dân số vào các đô thị tạo ra sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình đô thị hoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá đất nước, làm biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ hình thức nông thôn sang thành thị. Đó là một quá trình diễn ra một cách khách quan gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội, nó còn gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của ngành nghề mới. Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, truyền thống văn hoá và phương pháp tổ chức đời sống xã hội. Như vậy đô thị hoá về hình thức là quá trình mở rộng diện tích và ưuy mô của đô thị trên cơ sở sát nhập các điểm dân cư nông thôn hoặc sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp cho xây dựng mới hoặc mở rộng đô thị. Đất đô thị là phần diện tích đất giới hạn được sử dụng để xây dựng các công trình đô thị như nhà ở, trụ sở các cơ quan hành chính, kinh tế, tổ chức chính trị, xã hội, các cơ sở sản xuất xã hội, kinh doanh, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị như: đường giao thông, mạng lưới chiếu sáng, lưới điện sinh hoạt, điện sản xuất, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp cấp thoat nước…phục vụ các nhu cầu lợi ích, công cộng, quốc phòng, an ninh và các mục đích khác. Phần diện tích đất có giới hạn đó theo các quy mô khác nhau kết hợp với một số yếu tố cơ cấu dân số và cơ cấu kinh tế được Nhà nước quy định phân loại thành đô thị loại I đến loại V. Quá trình đô thị hoá đặt ra nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng lên trong khi khả năng cung về diện tích đất đô thị là hữu hạn. Chính vì vậy việc khai thác sử dụng đất đô thị cho hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao là yêu cầu rất quan trọng. Để giải quyết vấn đề này thực chất là đi giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích của Nhà nước( lợi ích của cộng đồng) và lợi ích của cá nhân; giữa mục tiêu quản lý và mục đích sử dụng. Xét về khía cạnh kinh tế chính trị, đất đô thị là loại đất dùng để xây dựng và phát triể đô thị, đó là loại đất có giá trị lớn và có sức sản xuất cao, có giá trị sử

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    21

    Đề án môn học

    dụng lớn. Xu hướng phát triển và quy mô của đất đô thị có liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai được quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội. Nếu tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai nằm trong tay của một bộ phận giai cấp thống trị xã hội nắm quyền phân phối sản phẩm xã hội, thì đất đô thị là hàng hoá đặc biệt mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho chủ sở hữu là giai cấp thống trị. Còn nếu đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thì lợi ích do đất đai mang lại sẽ phục vụ cho lợi ích cộng đồng mà đại diện là Nhà nước, đối tượng được hưởng là nhân dân. Từ năm 1975 đến nay, đất nước thống nhất, việc đầu tư cải tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội đều sử dụng vốn ngân sách. Chính nhờ có sự đầu tư này mà đất đô thị ngày càng có giá trị hơn. Giá đất đô thị cao hơn giá đất nông thôn, miền núi là vì đất đai có những đặc trưng cơ bản khiến nó không giống bất kỳ một loại tư liệu sản xuất nào. Chẳng hạn: đất đai là nguồn tài nguyên có những hạn chế về số lượng và không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố định trong không gian và không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Ông cha ta từng nói: “ Tấc đất tấc vàng”- câu nói này đặc biệt đúng với đất đô thị, càng đúng hơn khi tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay.

    Khi nói về đất đô thị, Mác cho rằng: “Thật ra, người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ với sự phân tán của thủ công nghiệp và chính đại công nghiệp đã làm như vậy”, và khi nền sản xuất đại công nghiệp đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “ việc mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai”. Cũng giống như diện tích đất được sử dụng vào đất nông nghiệp, đất được sử dụng vào mục đích xây dựng đô thị có những ưu thế mà những công cụ sản xuất khác (như máy móc chẳng hạn) không có

    • “ưu thế của đất là những khoản đầu tư liên tiếp có thể đem lại lợi nhuận mà không làm thiệt hại đến những khoản đầu tư trước, ưu thế đó cũng đồng thời bao hàm cả khả năng có những sự chênh lệch trong sản phẩm của những khoản đầu tư liên tiếp ấy”. Đó cũng chính là khoản địa tô mà đất đô thị đem lại cho chủ đất. Vì thế, quá trình đô thị hoá diễn ra càng mạnh mẽ thì giá đất ở khu vực đô thị hoá tăng cao là điều tất yếu. Từ thực tế ta thấy rõ điều này, đô thị hoá đến đâu đất ở đó tăng giá đến đó.
      • nước ta, Hiến pháp và Luật đất đai đã khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Với việc quy định cụ thể trong những đạo luật cơ bản nhất về quyền sở hữu tối cao đối với đất đai thuộc về nhân dân, việc khai

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    22

    Đề án môn học

    thác, sử dụng nguồn lực đất đai phục vụ cho yêu cầu phát triển đất nước sẽ thuận lợi hơn rất nhiều, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai cũng tham gia vào thị trường với tính chất là một hàng hoá đặc biệt ( Tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được).

    Hiện nay, một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong xây dựng và phát triển đô thị ở nước ta là vấn đề quỹ đất cho xây dựng các công trình đô thị, đó là công việc liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Chính phủ đã có Nghị định số 87/NĐ/CP ngày 17/8/1994 mới nhất là Nghị định 188/NĐ/CP quy định khung giá các loại đất; các tỉnh, thành phố đã có quyết định về giá các loại đất trên từng địa bàn cụ thể. Tuy nhiên khung giá đó không hoàn toàn hợp lý khiến người dân không đồng tình dẫn đến tình trạng khiếu kiện liên miên. Đó là một trong những khó khăn về giá mà Nhà nước ta cần phải giải quyết.

    Qua những phân tích trên ta có thể thấy rằng quá trình đô thị hoá có ảnh hưởng rất lớn tới giá đất mà xu hướng là giá đất sẽ tăng lên. Đó là xu thế tất yếu của các nước đang trên đà phát triển như Việt Nam.

    5. Yếu tố cạnh tranh.

    Để tìm hiểu sự ảnh hưởng của yếu tố cạnh tranh đến giá đất trước tiên cần nghiên cứu về mối quan hệ cung cầu để thấy được mức giá cần xác định. Khi phân tích quan hệ cung và cầu ta thường coi cung và cầu là hàm số của giá. Cung, cầu có thể cân bằng ở bất cứ điểm nào, khi đó chúng ta sẽ có giá cân bằng. Nếu các yếu tố khác không đổi, một sự tăng lên của cầu hay giảm xuống của cung sẽ làm giá tăng lên và ngược lại sự giảm xuống của cầu hoặc tăng thêm của cung sẽ làm giá giảm xuống. Do đó trong thị trường cạnh tranh giá cả điều tiết lượng cung và cầu. Đó là quy luật chung của các loại hàng hoá thông thường nhưng đất đai lại có những điểm khác biệt. Cầu về đất đai ngày càng tăng nhưng cung về đất đai lại gần như không đổi do tính giới hạn về không gian của đất đai nên giá khó dịch chuyển về điểm cân bằng. Đối với đất đai, khi cầu giảm thì giá đất cũng sẽ không giảm mà thường “chững lại”.

    Ảnh hưởng đến giá đất gồm có các yếu tố cạnh tranh về cầu, cung và trong nội bộ cung, cầu. Cầu về đất đai nói chung luôn luôn tăng vì vậy giá đất nói chung cũng tăng lên. Chẳng hạn cầu về đất xây dựng biệt thự, đất phân lô tăng như thời gian vừa qua do thu nhập của người dân tăng lên và tâm lý người tiêu dùng muốn có một căn nhà riêng sẽ làm cho giá của loại đất này tăng lên ( chủ yếu là qua đấu

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    23

    Đề án môn học

    giá) trong khi cung về loại đất này có tăng nhưng chậm, không đáp ứng nổi cầu. Hiện nay giá của loại đất này rất cao, mới đây ở Huyện Đông Anh ( Hà Nội) đấu giá lô đất mà giá cao nhất lên tới 86 triệu đồng/ m2.

    Đối với cung đất đai: về tổng cung có thể coi là không đổi nhưng trong nội bộ cung đất đai vẫn có sự chuyển đổi như: chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp sẽ làm cung đất phi nông nghiệp tăng, thu hồi đất cho phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp thì cung đất khu công nghiệp tăng…Nguồn cung đất cũng có thể tăng lên do khai hoang, phục hoá. Chúng ta có thể thấy rằng hiện nay cung đất xây nhà chung cư có xu hướng tăng lên. theo quy luật cung cầu, khi cung tăng lên thì giá giảm đi nhưng điều đó không hoàn toàn đúng với hàng hoá đặc biệt là đất đai. Mặc dù cung về đất xây nhà chung cư tăng nhưng thực tế giá không hề giảm mà giá đất sẽ chững lại hoặc có giảm nhưng không đáng kể. Việc giá đất chững lại chính là biểu hiện thị trường “đóng băng” như thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay. Một biểu hiện nữa của sự cạnh tranh về cung là: hai nguồn cung khác nhau về đất ở, khu vực nào có cơ sở hạ tầng tốt hơn, môi trường trong sạch hơn chắc chắn giá đất ở đó sẽ cao hơn. Vì thế diễn ra sự cạnh tranh trong nội bộ cung một loại đất, ai đầu tư tốt hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Yếu tố cạnh tranh thực chất chính là quan hệ cung cầu. Đối với các loại hàng hoá thông thường sẽ tuân theo đúng quy luật đó nhưng đất đai thì không, giá cả của nó có phản ứng với sự thay đổi cung, cầu, tính cạnh tranh theo một cách khá đặc biệt. Trong điều kiện thị trường phát triển bình thường, sự thay đổi về cung hay cầu không làm giá đất biến động mạnh, nó sẽ giữ nguyên.Cung cầu về đất sẽ có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến giá khi thị trường có sự tăng đột biến về cung hay cầu nhưng chủ yếu là cầu tạo nên những cơn “sốt giá’ như ở nước ta những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX.

    6. Chính sách tiền tệ.

    Giá cả đất đai là biểu hiện bằng tiền của giá trị của đất đai, là số tiền thoả thuận giữa người mua và người bán tại một thời điểm xác định. Ở các thời điểm khác nhau giá cả đất đai cũng thay đổi theo chiều hướng khác nhau tăng hay giảm. Mặt khác, đất đai có giá trị rất lớn, đối với một quốc gia nó chiếm khoảng 3/4 tổng tài sản của quốc gia còn đối với một cá nhân, gia đình đất đai là tài sản quan trọng nhất. Vì thế, những biến động về tiền tệ, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng rất lớn đến giá đất. Giá đất phụ thuộc vào sự ổn định của đồng tiền, nếu sức mua của đồng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    24

    Đề án môn học

    tiền tăng giá đất giảm, ngược lại nếu sức mua của đồng tiền giảm giá đất tăng. Khi sức mua của đồng tiền tăng tức là cùng một lượng tiền mua được một lượng hàng hoá lớn hơn, trong xu hướng giá đồng tiền đang tăng các giao dịch liên quan đến đất đai sẽ “chững” lại vì người có ý định bán sẽ có tâm lý “ chờ” giá vì người ta cho rằng giá còn tiếp tục tăng

    Giá vàng lên xuống thất thường đang khiến các giao dịch nhà đất chững lại

    giữa tháng 5 /2004 giá vàng tăng thêm 70.000 đồng/lượng để ở mức 7,43 triệu đồng/lượng (mua vào) và 7,49 triệu đồng/lượng (bán ra). Nếu so với mức thấp nhất từ đầu năm (7,39 triệu đồng/lượng ngày 10-5-2004) thì gía vàng tăng 100.000 đồng/lượng; cũng với mức cao nhất (8,01 triệu đồng/lượng ngày 1-1-2004) giảm đến 520.000 đồng/lượng. Giá vàng tăng giảm thất thường, diễn biến chậm với khoảng cách chênh lệch lớn càng khiến tình hình khó dự báo. Do vậy, trên thị trường nhà đất, các giao dịch về đất đai vào thế “co cụm” . Cả người mua, người bán đều không muốn mạo hiểm với tài sản của mình.

    Thật ra thị trường nhà đất không chỉ bị tác động bởi giá vàng mà còn nhiều yếu tố khác liên quan như quy hoạch, khung giá đất, thuế, vật tư xây dựng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ….Tuy nhiên việc định gía nhà đất bằng vàng đã trở thành

    “truyền thống” từ bao đời nay nên giá vàng vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nhà đất. Giá tăng, cả bên mua, bên bán đều dừng lại để chờ giá tiếp tục tăng. Giám đốc một trung tâm giao dịch nhà đất cho biết, giá vàng ổn định, trong một tuần có thể mua bán 4 – 5 căn nhà (khoảng hơn 300 cây/căn) là chuyện bình thường. Còn hiện tại, thử đến các trung tâm sẽ thấy rõ sự thưa thớt. Đơn giản là với mức chênh lệch tăng giảm 100.000 đồng/ lượng người ta có thể mất đi hàng trăm triệu đến cả tỷ đồng với những căn nhà có gía trị lớn, vài trăm đến vài nghìn cây vàng

    7. Yếu tố pháp lý.

    Đất đai là tài sản quý giá của quốc gia, thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Vì vậy Nhà nước nắm quyền quản lý tuyệt đối với đất đai trong phạm vi toàn lãnh thổ. Nhà nước phải đảm bảo sử dụng đất theo nguyên tắc: đầy đủ, tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả cao nhất. Để làm được điều đó Nhà nước cần quản lý chặt chẽ quỹ đất của mình thông qua các chính sách pháp luật. Bởi thế nên đất đai rất “nhạy cảm” với sự thay đổi của các yếu tố pháp lý. Đất đai là đối tượng trực tiếp điều chỉnh của các văn bản pháp quy liên quan đến đất đai: Hiến

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    25

    Đề án môn học

    pháp, Luật đất đai, các Nghị định, quyết định, Thông tư… Nhà nước ta có các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với đất đai nhưng Nhà nước không trưc tiếp sử dụng đất đai mà giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất… Họ được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đó bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua đó ta thấy đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đó cũng chính là lý do để nói rằng yếu tố pháp lý có ảnh hưởng đến giá đất. Ta sẽ thấy rõ điều đó qua các ví dụ sau:

    Mỗi thửa đất được sử dụng hợp pháp đều được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất- đó là giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sử dụng hợp pháp thửa đất đó. Vì vậy nó vô cùng quan trọng đối với người sử dụng đất. Nếu hai thửa đất tương tự nhau nhưng một thửa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn một thửa chưa có thì điều chắc chắn thửa đất chưa có giấy chứng nhận sẽ có giá thấp hơn rất nhiều vì nếu mua mảnh đất đó quyền sử dụng của họ không được đảm bảo.

    Một chính sách nữa của Nhà nước là khuyến khích phát triển mô hình trang trại. Trước đây, khi chưa có chính sách này giá đất trang trại rất rẻ nhưng từ khi Nhà nước khuyến khích mô hình này người ta đã đổ xô đi mua đất trang trại khiến cho giá loại đất này tăng lên rất nhanh. Vì thế ta có thể khẳng định chính sách của Nhà nước đã có tác động tới giá cả đất đai.

    Một ví dụ tiếp theo sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của chính sách pháp luật liên quan tới giá đất. Xuất phát từ quá trình đô thị hoá, từ phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội mà các loại đô thị cũng tăng lên: ở nông thôn xuất hiện nhiều thị trấn, thị xã; ở thành thị sẽ chuyển xã thành phường, quận thành huyện. Việc Nhà nước quyết định thành lập mộ thị trấn, một thị xã, một phường, một quận hay một thành phố đều có ảnh hưởng rất mạnh tới giá đất các khu vực đó. Chẳng hạn khi Nhà nước quyết định thành lập quận Hoàng Mai, quận Long Biên (Hà Nội) đã làm chuyển biến đáng kể đời sống xã hội những khu vực đó, nhiều làng lên phố và nhiều nông dân đã trở thành tỷ phú. Đó không còn là điều lạ lẫm ở Việt Nam vì khi nông thôn đã trở thành đô thị giá đất ở đó sẽ tăng lên “chóng mặt”, có thể nói là tăng từng ngày. Vì thế không có lý do gì để nói rằng việc quyết định của Nhà nước không ảnh hưởng tới giá đát.

    Trên đây là một vài minh chứng để chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của yếu tố pháp lý hay nói rõ hơn là chủ trương, chính sách của Nhà nước có tác động không nhỏ tới giá đất. Vì vậy khi xác định giá đất cần đặc biệt chú ý đến tính pháp lý của thửa đất đó và các chính sách của Nhà nước tại thời điểm đó.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    26

    Đề án môn học

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    27

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Qua việc nghiên cứu trên, chúng ta càng có thể khẳng định được vai trò to lớn của đất đai trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng.. Đất đai tham gia vào mọi hoạt động đời sống kinh tế, xã hội, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động sản xuất nào có thể diễn ra được. Đất đai không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và khai thác mà còn đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Tuy nhiên do diện tích đất đai bị giới hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng đất đai lại tăng lên. Chính vì vậy giá đất lại có xu hướng ngày càng tăng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đi đôi với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước thì quá trình đô thị hoá ngày càng được mở rộng và tác động mạnh mẽ đến giá đất. Xã hội ngày càng phát triển làm nảy sinh nhiều mối quan hệ về đất đai do đó nhu cầu xác định giá đất cũng ngày càng tăng. Để xác định giá đất một cách chính xác cần phải sử dụng các phương pháp xác định giá đất như phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp đầu tư, phương pháp thu nhập… Tuy nhiên khi xác định giá đất còn phải dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất. Các nhân tố đó có tác động rất lớn đến giá đất, có nhân tố đã làm thay đổi hẳn giá trị của mảnh đất như nhân tố chính sách pháp luật hay quá trình đô thị hoá. Tôi hy vọng rằng với việc nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất sẽ là cơ sở quan trọng để các nhà định giá xác định giá đất chính xác, hợp lý hơn.

    Hiện nay có nhiều quan điểm về giá đất nhưng tóm lại giá đất về bản chất phản ánh nguồn lợi ích mang lại từ mảnh đất đó, nó được đo lường bằng giá trị mảnh đất đó tại một thời điểm nhất định. Nhà nước đã ban hành nhiều khung giá đất: Nghị định 80/NĐ-CP ban hành ngày 06/11/1993; Nghị định 87/NĐ-CP ban hành ngày 17/8/1994; Nghị định 17/1998/NĐ-CP và Nghị định 188/2004/NĐ-CP ban hành ngày 16/11/2004. Lấy khung giá các loại đất của Chính phủ làm cơ sở, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có quy định bảng giá về các loại đất cho phù hợp với địa phương mình. Song nhìn chung sự điều chỉnh giá đất của Nhà nước chưa theo kịp với giá đất thực tế, nó thường thấp hơn giá đất thực tế có nơi từ 8-10 lần. Sự chênh lệch đó đã tạo ra nhiều mâu thuẫn, tình trạng khiếu kiện vượt cấp kéo dài. Để khắc phục tình trạng này cần phải hoàn thiện pháp luật về giá đất, trước mắt

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    28

    Đề án môn học

    cần tập trung vào hoàn chỉnh các nội dung cơ bản sau: Về cơ chế quản lý giá (phải thừa nhận tính dịch vụ của hoạt động giá); về hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về giá ( chuyên trách, độc lập, đa mục đích, vừa quản lý hành chính vừa hoạt động dịch vụ); về phương pháp, nguyên tắc xác định giá; về đào tạo nhân sự cho hoạt động định giá và thẩm định giá; về hoàn thiện cơ sở pháp lý cho từng đơn vị bất động sản như tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tập trung đất đai, gắn liền bất động sản thành một khối ( như nhà- đất- tài sản gắn liền trên đất); thực hiện trước một bước công tác đăng ký quyền sử dụng đất ( đăng ký ban đầu và đăng ký biến động), thống nhất đăng ký quyền sở hữu nhà ở, đất ở, thống nhất một hệ thống cơ quan đăng ký tài sản theo tính kinh tế, dịch vụ là chủ yếu, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế chung đặc biệt là để phát triển thị trường bất động sản.

    Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Vũ Thị Thảo đẫ tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    29

    Đề án môn học

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Nguyên lý thị trường bất động sản. Giáo trình Kinh tế tài nguyên đất.
    1. Tạp chí địa chính
    1. Tạp chí Bất động sản
    1. Đặc san tạp chí Luật học 2003
    1. Nghị định 87, 188 Thông tư 114
    2. Các trang Web: na.gov.vn www.mof.gov.vn www.vnexpress.com www.hn.gov.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]