Author: Nguyễn Huyền

  • ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NH%E1%BB%AENG-B%E1%BA%A4T-C%E1%BA%ACP-TRONG-THU-H%C3%9AT-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-N%C6%AF%E1%BB%9AC-NGO%C3%80I-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-GIA-NH%E1%BA%ACP-WTO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng, việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia. Việt nam đã va đang tích cực, chủ động chuẩn bị các điều kiện để tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

    Do Việt nam là một quốc gia có tới hơn 80 triệu dân, có tiềm năng của một thị trường lớn nên nhiều nước quan tâm đến gói đàm phán gia nhập của nước này. Đầu năm 1995, Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO và trở thành quan sát viên của tổ chức này. Việc gia nhập WTO là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy cao đoọ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Hiện nay, Việt nam đang tích cực tiến hành đàm phán song phương và đa phương với các nước để sớm gia nhập WTO trong một tương lai cận kề. Vì vậy, việc chuẩn bị các điều kiện tiếp theo để xúc tiến quá trình đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại khi gia nhập WTO là những vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết.

    Tư cách thành viên WTO là bằng chứng của một môi trường kinh doanh thuận lợi, và nhờ dó sẽ thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI) vào khu vực xuất khẩu và khu vực sản xuất cho thị trường nội địa. Nếu được điều tiết đúng đắn, FDI có thể góp phần to lớn vào việc phát triển bền vững của một quốc gia. Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như tất cả các nước đều thiêus vốn đầu tư. Khắc phục tình trạng thiếu vốn, các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.

    Trong phạm vi yêu cầu của bài tập, bài viết xin trình bày một số bất cập trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt nam trong quá trình gia nhập WTO.

    4

     

    CHƯƠNG 1

    SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

    1. Đầu tư nước ngoài và một số đặc điểm.

    1.1. Lợi ích và mục tiêu của đầu tư nước ngoài.

    Hoạt động cơ bản của hợp tác đầu tư nước ngoài là nhận các nguồn vốn, ngày nay thường được quy về các loại tư bản tài chính, tư bản tri thức, tư bản mạo hiểm, tư bản xã hội (hai yếu tố quan trọng nhất là hợp tác và lòng tin) cùng các loại tư bản khác trong các dạng tài sản hữu hình và tài sản vô hình từ nước ngoài hoặc đưa vốn ra nước ngoài để sản xuất kinh doanh, dịch vụ…

    Đầu tư có 2 hình thức là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Xét về mọi mặt thì đầu tư trực tiếp có vai trò quan trọng đặc biệt, trước hết đó là những đóng góp to lớn và việc phát triển kinh tế, cung cấp cho nước chủ nhà vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại.

    Mục đích chính của các doanh nghiệp – nhà đầu tư thương là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Để hoàn thành mục đích này, họ luôn luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho hàng hóa của mình và làm giảm giá thành.

    1.2. Vốn và chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài.

    Nước chủ nhà cũng có nhiều lợi ích từ dòng vốn của nước ngoài vào. Một lợi ích quan trọng là đầu tư nước ngoài làm tăng việc làm và mức lương tại nước chủ nhà.

    Một nguồn lợi đáng kể khác là chuyển giao kỹ thuật, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với một doanh nghiệp Việt nam sản xuất các mặt hàng phát triển từ nước tiên tiến. Doanh nghiệp nước ngoài thông thường đào tạo các nhà quản lý và kỹ thuật cho địa phương. Ngoài ra cũng có sự chuyển giao kỹ thuật gián tiếp thông quan học hỏi bằng quan sát, qua giao tiếp, qua công việc cùng làm. Bằng cách theo dõi kỹ thuật quản lý của doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong nước có thể cải tiến tổ chức sản xuất và kiểm

    5

     

    soát từ bên trong. Chuyển giao công nghệ kỹ thuật thành công ở các nước áp dụng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động hội nhập trong hoạt động hợp tác quan hệ quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết, khuyến khích phát triển các sản phẩm hàng hóa dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    Vốn từ nước ngoài sẽ tiếp tục chảy vào với điều kiện tỷ suất sinh lợi nước chủ nhà cao hơn tỷ suất sinh lợi của nước xuất phát đầu tư. Một phần của chi tiêu Chính phủ có thể khuyến khích dòng vào của vốn nước ngoài là dùng nhân lực để phát triển một hệ thống pháp luật công bằng và hiệu quả.

    2. Lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh và cá nhân từ nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại nước sở tại.

    FDI thường cung cấp vốn, công nghệ, năng lực quản lý (qua đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm) và các nước đầu tư thường hội đủ những điều kiện sau:

    • Về khuôn khổ thể chế:
    • Có nền kinh tế mở hướng về xuất khẩu
    • Đồng tiền có thể chuyển đổi được
    • Chu trình tư nhân hóa quy mô lớn
    • Tham gia các khối thương mại trong khu vực họ định đầu tư
    • Cơ sở hạ tầng vật chất tốt, dồi dào
    • Nước nhận đầu tư thường được hưởng các mối lợi sau:
    • Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý
    • Các nhà đầu tư nước ngoài gánh chịu rủi ro sản xuất kinh doanh
    • Tăng năng suất và thu nhập quốc dân
    • Cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn
    • Tiếp cận với thị trường nước ngoài
    • Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước

    6

     

    • Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế.

    FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là:

    • Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lơi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp

    ngyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.

    • Đối với các nước nhận đầu tư, hiện nay có 2 dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào các nước đang phát triển.
    • Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp, lạm phát… FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và

    thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.

    + Đối với các nước đang phát triển, FDI thúc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. FDI giúp các nước này khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học – kỹ thuật mới. FDI cũng giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài.

    • Đối với Việt nam, FDI có vai trò rất quan trọng, thể hiện:

    7

     

    • Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước.
    • Đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt

    nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động.

    • Tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học – kỹ thuật tiên tiến của thế giới,

    nhờ đó rút ngắn khoảng cách của nước ta so với thế giới.

    • Nhờ có FDI, Việt nam sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ,

    khoáng sản,…

    3. Vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam

    3.1. Yêu cầu khách quan về nguồn vốn đầu tư.

    Yêu cầu phát triển nội tại và thực tiến khách quan trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đòi hỏi Việt nam cần tới một nguồn vốn đầu tư to lớn để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế – xã hội trên thế giới. Cụ thể là:

    • Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải ngoại lệ.
    • Tình hình cụ thể của Việt nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn,

    nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích lũy nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước nghèo.

    • Chúng ta có thể tranh thủ nguồn vốn từ các nước tư bản phát triển, mà chủ yếu là vốn của các nhà tư bản của các tập đoàn một quốc gia hay đa quốc gia, xuyên quốc gia.

    8

     

    • Vốn tư nhân vào Việt nam không thể bằng con đường viện trợ có hoàn lại

    hay bằng con đường cho vay. Hơn nữa, Chính phủ Việt nam hay bất kỳ một nước mới phát triển nào cũng không có đủ khả năng để đi vay hay sử dụng các nguồn vốn vay được trên mọi lĩnh vực. Do đó con đường chủ yếu để các nguồn tư bản nước ngoài chảy vào Việt nam là nhập khẩu vốn thông qua phương thức thu hút và nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

    3.2. Một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của

    nước ngoài.

    Đứng trên giác độ một quốc gia, việc tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau:

    • Xây dựng hệ quan điểm vè vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đối với

    phát triển kinh tế.

    • Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn: Đây là vấn đề có tính then chốt. Môi trường đàu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư; buộc các nhà đầu tư phải tự điều

    chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh.

    3.3. Một số nét về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam.

    Việt nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến 2 thập kỷ. Sau khi đường lối đổi mới được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và nhất là sau khi Việt nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt nam (1987), hoạt động đầu tư nước ngoài bước đầu đã thu được nhiều thành tựu. Qua hợp tác và đầu tư nước ngoài, chúng ta đã khai thác và nâng cao năng lực sản xuất của nhiều cơ sở cũ, đồng thời toạ ra năng lực sản xuất mới trong một số ngành công nghiệp dịch vụ. Vấn đề hiện đại hóa ở một số ngành (như viễn thông, bưu điện, công nghệ thông tin) được cải thiện rõ rệt.

    Thông qua đầu tư nước ngoài, đã tiếp nhận một số kỹ thuật, công nghệ mới, phần lớn thiết bị đưa vào nước ta thuộc loại trung bình của thế giới, tiên tiến

    9

     

    hơn cái ta hiện có. Các đối tác Việt nam cũng tiếp nhận một số phương pháp quản lý tiến bộ về tổ chức sản xuất kinh doanh và tiếp cận vơi tâm lý và phong cách của nhiều đối tượng khác nhau.

    Có thể nói, mặc dù kinh nghiệm của chúng ta còn hạn chế nhưng hoạt động trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã mang lại hiệu quả nhiều mặt.

    4. Đầu tư gián tiếp của nước ngoài

    4.1. Khái quát về đầu tư gián tiếp.

    Đây là những khoản đầu tư được thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ nguồn vốn thương là của các Chính phủ các nước và của các tổ chức quốc tế. Đó là các khoản tài trợ phát triển chính thức (ODA) do các tổ chức thuộc Liên hợp quốc (UNDP, UNFPA, UNICEF, FAO, PAM,…) hoặc các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đóng góp vào các khoản cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB,… và các Chính phủ các nước.

    Đầu tư gián tiếp thường thúc đẩy tạo điều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các điều kiện ưu đãi cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng nguồn vốn này thực hiện các dự án có mức vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

    Đầu tư gián tiếp có lợi cho cả nước đầu tư (khả năng lợi nhuận cao hơn) và cho cả nước nhận đầu tư (có thêm vốn cổ phần). Đầu tư gián tiếp thường dùng các công cụ như đầu tư trái phiếu và đầu tư cổ phiếu (quỹ quốc gia thu từ tiền gửi đầu tư cổ phiếu trực tiếp). Kinh nghiệm hoạt động kinh tế thị trường ở tất cả các nước hiện nay cho thấy để phát huy tác dụng của công cụ quản lý kinh tế vĩ mô trong lĩnh vực điều hành tiền tệ, hay trong lĩnh vực thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoai, Chính phủ phải gia tăng các hoạt động nghiệp vụ trên thị trường mở trong việc điều hành tiền tệ. Giảm bớt các biện pháp quản lý bằng công cụ hành chính trên đối với loại thị trường này. Khuyến khích các nhà đầu tư tích cực tham gia vào thị trường tài chính – tiền tệ trong nước.

    10

     

    Trong việc sử dụng ODA, kinh nghiệm của thế giới cho thấy thường xảy ra các trường hợp cần phải lường trước để quản lý có hiệu quả, đó là các vấn đề:

    • Chính phủ không kiểm soát được các mục tiêu ưu tiên
    • Lãng phí trong sử dụng và bố trí nguồn vốn phân tán
    • Tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài
    • Giảm tính tự lực và tăng tham nhũng.

    4.4. Triển khai ODA tại Việt nam.

    Hiện nay Việt nam có quan hệ ODA rất đa dạng, phong phú với nhiều đối tác, bao gồm:

    • Hơn 20 nước công nghiệp phát triển
    • Các ngân hàng quốc tế (WB, ADB,…)
    • Các quỹ (IMF, OEPC,…)
    • Tổ chức liên Chính phủ (EU)
    • Các tổ chức của Liên hợp quốc
    • Các tổ chức phi Chính phủ
    • Một số nước công nghiệp mới phát triển ở châu Á (NICs).

    Theo kinh nghiệm của các nước đã sử dụng ODA của Mỹ, Nhật bản, WB, ADB, là dùng vào việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng cơ sở quan trọng ở Việt nam, việc xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế – xã hội là yếu tố cấp bách, nhưng nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng được 40%. Vì vậy ODA chủ yếu để đầu tư cho hạ tầng kinh tế – xã hội, điều này cũng phù hợp với định hướng của các nước và tổ chức tài trợ.

    5. Kinh nghiệm một số nước trong khu vực trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    5.1. Trung quốc.

    Về chính sách, Trung quốc huy động FDI thông qua các hình thức như hợp đồng sản xuất liên doanh 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực đặc biệt.

    11

     

    Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung quốc là chính sách thuế. Trung quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển. Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương. Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế lợi tức từ 20 đến 40% và 10% cho địa phương.

    Về thuế nhập khẩu, Trung quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào góp vốn liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu cho bên nước ngoài đưa vào khai thác dầu khí, đưa vào xây dựng phát triển năng lượng, đường sắt, đường bộ, đưa vào khu chế xuất 14 thành phố ven biển; các vật liệu bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu. Trung quốc cũng miến thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển.

    Về thủ tục hành chính, Trung quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết mau lẹ. Các vấn đề giải phóng mặt bằng, cấp điện, nước, giao thông, môi trường được giải quyết dứt điẻm. Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi.

    Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung quốc cho thời hạn hợp đồng kéo dài hơn,m có thể tới 50 năm.

    5.2. Indonexia

    Indonexia khuyến khích đầu tư vào các dự án xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, chế biến thành phẩm và bán thành phầm, chuyển giao công nghệ, sử dụng chuyên gia và lao động Indonexia. Ủy ban đầu tư quốc gia công bố từng thời gian khu vực nào cho phép nước ngoài kinh doanh, khu vực nào cấm kinh doanh.

    Về chính sách thuế, đối với thuế lợi tức, nếu công ty có mức lãi ròng 10 triệu rupi trở xuống đánh thuế 15%, trên 10 triệu đến 50 triệu rupi đánh thuế 25% và treen 50 triệu rupi đánh thuế 35%. Các khoản thu từ lãi suát cho vay, cho thuê, phí tài nguyên, phí kỹ thuật, phí quản lý bị đánh thuế 15% trên doanh thu. Ở Indonexia không có chế độ miễn giảm thuế doanh thu và thuế lợi tức.

    12

     

    Về thuế nhập khẩu, Indonexia có chính sách miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, phụ tùng được ủy ban đầu tư phê duyệt trong danh mục quy định. Tuy nhiên những thứ nhập theo vốn đầu tư vào Indonexia đã sản xuất được thì không được miễn thuế nhập khẩu. Ngược lại, nước ngoài mua những hàng này của Indonexia thì được thoái lại thuế nhập khẩu đã đánh vào vật liệu, nguyên liệu sản xuất ra chúng.

    Đối với hàng xuất khẩu: lãi suất tín dụng phục vụ xuất khẩu thấp hơn nhiều so với lãi suất khác. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được nhập các mặt hàng sử dụng nếu hàng trong nước không đắt hơn. Được hoàn trả hoặc miễn thuế nhập khẩu các mặt hàng. Công ty sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ được phép xuất khẩu hàng của mình mà cả hàng của Công ty khác.

    Về chính sách thị trường, để tạo lập môi trường cạnh tranh thuận lợi, Indonexia cho phép mọi ngành công nghiệp, trừ các ngành trong danh mục loại trừ và trong kho ngoại quan được tiếp cận tự do thị trường nội địa.

    Về quản lý ngoại hối, doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển ra nước

    ngoài các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao TSCĐ …

    Ngoài ra Chính phủ Indonexia từng bước hạ thấp lãi suất tiền gửi ngân hàn trung

    ương làm cho tiền gửi ngân hàng và lãi suất cho vay giảm xuống. Điều đó khuyến

    khích các doanh nghiệp hăng hái dầu tư hơn….

    13

     

    CHƯƠNG 2

    NHŨNG BẤT CẬP TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG

    VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Khái quát về chính sách đầu tư nước ngoài

    Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội và chính sách đối ngoại. Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia đó.

    Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân chia thành:

    • Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính.
    • Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu)
    • Chính sách thị trường
    • Chính sách lao động
    • Chính sách đất đai
    • Chính sách công nghệ…

    2.                 Những bất cập trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam

    2.1. Môi trường pháp lý

    2.1.1. Hạn chế về hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài.

    Xuất phát từ đường lối đổi mới kinh tế, mở cửa và hội nhập với bên ngoài, ngày 29/12/1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam. kể từ đó đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài luôn được bổ sung, sửa đổi. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài tại Việt nam đang trong quá trình hoàn thiện nên vẫn còn tồn tại ít nhiều hạn chế.

    14

     

    Hiện nay, hai bộ luật khác biệt áp dụng cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng song song tồn tại và đang tạo ra những khác biệt về môi trường đầu tư trong cùng một không gian kinh tế nhất là thủ tục, điều kiện đầu tư và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp… Điều này là không phù hợp với thông lệ quốc tế, gây cho các nhà đầu tư nước ngoài tậm lý thiếu an tâm.

    Hệ thống pháp luật chính sách chưa đồng bộ và ổn định, chưa đảm bảo tính rõ ràng và dự đoán trước. Tính ổn định của luật pháp, chính sách chưa cao, một số luật, chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài thay đổi nhiều, một số trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của chủ đầu tư nên đã làm đảo lộn phương án kinh doanh và gây thiệt hại cho họ. Nhiều văn bản dưới luật ban hành chậm so với quy định. Một số văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành, địa phương có xu hướng xiết lại, đẻ thêm quy trình, dẫn đến tình trạng “trên thoáng, dưới chặt”. Một số chính sách mới của Chính phủ chậm đưa vào cuộc sống. Trong quá trình đầu tư tại Viẹt nam, các nhà đầu tư nước ngoài đều mong muốn được đảm bảo về sự ổn định và tính dự đoán trước được của pháp luật, chính sách để có thể lường trước và giảm thiểu được lợi ích và rủi ro đầu tư. Quy định của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Nghị định 12/CP về những biện pháp thỏa đáng của Chính phủ khi có sự thay đổi của pháp luật gây thiệt hịa cho nhà đầu tư vẫn chưa thực sự làm họ yên tâm.

    Hệ thống văn bản hướng dẫn về đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn tập trung vào giai đoạn thẩm định và cấp giấy phép đầu tư, chưa chú ý tới việc quản lý và theo dõi các dự án từ khi triển khai thực hiện. Trong một số trường hợp, khi thẩm định cấp giấy phép đầu tư các dự án đều đưa các điều khoản có lợi thế để được hưởng tiêu chuẩn miễn giảm và thuế suất ưu đãi. Khi thực hiện lại khong đạt được các điều kiện đã cam kết nhưng vẫn được hưởng ưu đãi (vì thuế suất ưu đãi và thời gian miễn giảm thuế được ghi trong giấy phép đầu tư) nên đã gây thiết hại tới nguồn thu ngân sách quốc gia và tạo môi trường đầu tư, môi trường hoạt động không bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

    Về hình thức đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam vẫn chưa cho phép áp dụng một số hình thức đầu tư như Công ty đa mục tiêu, Công ty quản lý vốn,… Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức dưới nhiều loại hình, có thể chuyển đổi hình thưc đầu tư dễ dàng hơn, có điều kiện huy động vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, không phải chịu sự can thiệp quá sâu của Chính phủ nước sở tại.

    15

     

    2.1.2. Hạn chế về hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI.

    Hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI còn có những quy định chưa thực sự khuyến khích thu hút FDI và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách đất đai: Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt nam. Điểm đặc thù ở Việt nam là đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân nên các nhà đầu tư nước ngoài không có

     

    quyền sở hữu về đất đai. Cho đến nay đã có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn liền với Luật Đầu tư nước ngoài như: Nghị định 18/CP ngày 13/02/1995, Quyết định số 1477/TC/TCĐN ngày 31/12/1994 của Bộ Tài chính ban hành bản quy định về quyền cho thuê mặt đất, mặt biển áp dụng đối với các

    hình thức đầu tư nước ngoài… Tuy nhiên nhìn chung chính sách đất đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định.

    Giá thuê đất của Việt nam hiện nay đã được điều chỉnh thấp hơn nhiều nước trong khu vực (giá thuê đất của Việt nam là 2,62 USD/năm/m2 – khu công nghiệp Sài Đồng, thấp hơn nhiều so với Philippin: 85 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp., hay như Singapore: 6,9 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp). Tuy nhiên, thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ hội và thời gian của các nhà đầu tư. Việc giao đất nhất là các dự án có đền bù và giải tỏa kéo dài, nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp phải mất hàng năm để thực hiện việc đền bù. Thậm chí một số khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, thu hút được nhiều nhà đầu tư nhưng vẫn chưa thực hiện xong việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Đây chính là yếu tố làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt nam cũng như làm giảm tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, do thiếu quy hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI, một số địa phương tùy tiện xử lý vấn đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách thuế và các khuyến khích tài chính đã đạt được mục tiêu đặt ra trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế này đã hấp dẫn đối với

     

    đầu tư nước ngoài nhưng ở một khía cạnh nào đó lại ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Các văn bản về thuế được ban hành rất nhiều nhưng không có hệ thống và

    16

     

    luôn thay đổi. Vì lợi nhuận của nhà đầu tư có liên quan đến việc nộp thuế nên khi mức thuế thay đổi gây khó khăn cho họ trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Mức thuế suất lợi tức tỏ ra ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài gồm 4 mức: 25%, 20%, 15%, 10% nhưng đối với các nhà đầu tư trong nước có 3 mức: 25%, 35%, 45%. Việc quy định mức thuế như vậy cũng gây nên bất bình đẳng trong việc đóng thuế của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các loại thuế áp dụng đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn chồng chéo, nhà đầu tư nước ngoài phải đóng 10 loại thuế như các doanh nghiệp Việt nam và nhiều loại lệ phí khác.

    * Chính sách tỷ giá và chính sách ngoại hối của Việt nam đang bộc lộ một số tác động tiêu cực đối với thu hút FDI. Điều 75 Luật Đầu tư nước ngoài 1996 quy định “tỷ giá chuyển đổi tiền nước ngoài sang tiền Việt nam và ngược lại áp dụng trong quá trình tiến hành đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp doanh được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt nam tại thời điểm chuyển đổi”, nhưng Luật năm 2000 không sửa đổi bổ sung điều này. Như vậy, do tỷ giá hối đoái đồng Việt nam được ấn định hàng ngày bởi Ngân hàng Nhà nước mà không phải là được ấn định bởi tỷ giá trên thị trường nên hầu hết tỷ giá của Ngân hàng thường cao hơn và việc này gây thiệt hại cho các doanh nghiệp do sự chênh lệch lớn này gây ra. Việc định giá đồng Việt nam quá cao đi đôi với việc kiểm soát quá nghiêm ngặt các khoản vay nước ngoài trên một năm của các doanh nghiệp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra có thể dẫn đến việc thiếu hoặc không có khả năng cung ứng ngoại tệ cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Hiện nay, tỷ lệ kết hối quy định cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn cao (hiện nay là 50%)., ảnh hưởng tới việc chủ động sử dụng vốn của doanh nghiệp.

    • Công tác quản lý về tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn do chưa ban hành được các chuẩn mực kế toán,

    kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế.

    • Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Việc thúc đẩy xuất khẩu mới chỉ dừng lại ở tình trạng bên nước ngoài, giá cả, tình hình lợi nhuận thu được

    từ xuất khẩu. Đây là yếu tố gây thua thiệt cho Việt nam. Thêm vào đó tỷ lệ hàng xuất khẩu còn rất hạn chế trong các dự án FDI đang triển khai.

    17

     

    • Chính sách công nghệ: Qua thẩm định các dự án cho thấy, nhiều dự án

    phát huy tác dụng tốt trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, đạc biệt là lĩnh vực dầu khí, viễn thông, tin học, điện tử. Tuy nhiên công nghệ tiến tiến tiếp nhận chưa nhiều, mức độ hiện đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Dây truyền công nghệ hiện đại nhập vào còn ít, phần lớn ở trình độ thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý. Mặt khác, giá cả công nghệ được chuyển giao vào Việt nam chưa thật hợp lý. Nhiều công nghệ lạc hậu, công nghệ đã qua sử dụng nhưng giá tình vào góp vốn được các nhà đầu tư cố ý nâng cao hơn từ 10

    • 15% so với mặt bằng giá thế giới. Việc tăng giá công nghệ góp vốn vào dự án còn thông qua việc khai tăng chi phí đào tạo nhân công làm cho cơ quan quản lý

    Nhà nước khó thẩm định được chính xác giá công nghệ. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết công nghệ còn kém.

    • Chính sách lao động: Về chế độ tuyển dụng lao động, Luật Đầu tư nước

    ngoài sửa đổi bổ sung năm 2000 đã có một vài thay đổi theo hướng nới lỏng hơn, chẳng ạn như các doanh nghiệp có quyền được trực tiếp tuyển lao động Việt nam sau 15 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu cung ứng lao động cho các tổ chức cung ứng lao động Việt nam (trước đây là 30 ngày); hay các doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt nam nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 10% trở lên so với lần điều chỉnh gần nhất. Tuy nhiên quy định thì như vậy nhưng thực tế các công ty nước ngoài rất khó tuyển dụng được lao động có chất lượng như mong muốn, ở địa phương hầu như chỉ có một tổ chức cung ứng lao động và do đó chiếm vị trí độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ này. Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuy đã được đặt ra nhưng chưa giải quyết được nhiều hoặc có tính chất tạm thời.

    Nhìn chung, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam còn đơn giản, chung chung nhưng lại dẫn chiếu đến nhiều văn bản dưới luật quá phức tạp làm giảm giá trị pháp lý của Luật Đầu tư nước ngoài, làm cho pháp luật Việt nam về đầu tư nước ngoài thiếu tính đồng bộ, trong sáng và tính dự đoán được. Hơn nữa, trìnhđộ hiểu biết pháp luật của người dân nói chung còn kém, việc tuyên truyền pháp luật còn chưa đầy đủ dẫn đến việc thực hiện pháp luật còn tùy tiện. Chính những hạn chế kể trên đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài lúng túng, gây cho họ tâm lý không an tâm khi tiến hành đầu tư và kinh doanh tại Việt nam.

    18

     

    2.2. Cơ cấu FDI

    Cơ cấu FDI đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực qua các năm, tuy nhiên vẫn còn có một số bất hợp lý.

    Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế bộc lộ sự mất cấn đối. Đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, trong khi đó, trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định nhưng đầu tư nước ngoài còn quá thấp. Số dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này thành công không nhiều do gặp rủi ro, thiên tai, nguồn nguyên liệu không ổnđịnh, chưa xay dựng được quan hệ hợp đồng dài hạn chùng có lợi với nông dân… Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp liên tục giảm chiếm 4,13% tổng vốn đăng ký giai đoạn 1991 – 1995 và chỉ chiếm 2,2% trong lĩnh vực công nghiệp là tốt, tuy nhiên tỷ trọng đối với các dự án thay thế nhập khẩu hướng vào thị trường nội địa còn cao, nhất là các dự án của EU, Nhật, Mỹ. Trong lĩnh vực dịch vụ, tỷ trọng các dự án kinh doanh bất động sản còn lớn, thị trường về dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý còn chưa thực sự mở đối với đầu tư nước ngoài, tư vấn về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ còn hạn chế.

    Đầu tư nước ngoài tập trungchủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh Trung Tây Nguyên và đồngbằng sông Cửu Long. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn cũng cao hơn các địa bàn khác. Các khu công nghiệp cũng chủ yếu tập rung vào các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 34 khu, với tổng diện tích trên 8.000 ha, chiếm gần 68% tổng diện tích các khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 10 khu với tổng diện tích 1.300 ha, chiếm 11% tổng diện tích các khu công nghiệp và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ có 7 khu với tổng diện tích 890 ha, chiếm 7,5% tổng diện tích. Như vậy, cơ cấu FDI theo vùng, địa phương còn mất cân đối, chênh lệch trìnhđọ phát triển giữa các vùng trong cả nước còn khá lớn.

    Vốn đầu tư nước ngoài từ các nước châu Á chiếm tới hơn 66%, trong khi từ Tây, Bắc Âu, Bắc Mỹ cònthấp. Do vậy, đầu tư nước ngoài ở nước ta dễ bị ảnh hưởng khi các nước xung quanh lâm vào khủng hoảng hay gặp khó khăn về kinh tế… Chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế hợp tác đầu tư với nước

    19

     

    ngoài chưa được cụ thể hóa và thiếu các chính sách cần thiết (đất đai, vay vốn…) nên các thành phần kinh tế dân doanh còn rất ít dự án đầu tư nước ngoài. Thực tế và khả năng đâu tư nước ngoài của Việt kiều còn hạn chế.

    2.3. Cơ sở hạ tầng và vai trò của phía Việt nam

    Cơ sở hạ tầng còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hệ thống giao thông vận tải, điện, nước… của nước ta hiện nay còn yếu kém, mật đọ đường bộ 1,48 km/1000 dân, đường sắt là 0,04km/1000 dân, chất lượng đường xá kém…

    Hệ thống dịch vụ đầu tư nước ngoài còn yếu, giá chi phí dịch vụ ở Việt nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực: giá lắp đặt điện thoại tại Hà nội là 110,33 USD, thành phố Hồ Chí Minh là 124,12 USD; trong khi đó giá lắp đặt điện thoại tại Singapore là 28,79 USD, ở Thái lan là 48,26 USD. Giá điện sản xuất tại Việt nam là 0,07 USD/Kwh đối với các nhà máy nước ngoài; 0,11 USD/Kwh áp dụng cho các văn phòng nước ngoài, giá nước là 0,21 USD/m3 đối với các nhà máy sản xuất; 0,45 USD/m3 đối với các dịch vụ công nghiệp, cao hơn gấp 2 lần giá cả tương ứng của Thái lan. Hệ thống thị trường, nhất là thị trường vốn cho hoạt động đầu tư nước ngoài còn chưa phát triển; thị trườngchứng khoán mới bước đầu còn sơ khai.

    Chính những yếu kém của cơ sở hạ tầng đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn như các khu công nghiệp đã thành lập do thiếu kết cấu hạ tầng, kinh tế – xã hội chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư nên mới lấp kín được gần 30% đất công nghiệp có thể cho thuê. Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp còn chậm. Ngoài một số khu công nghiệp đã xây dựng xong hoặc cơ bản xong cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp Nomura – Hải phòng, khu chế xuất Tân Thuận và khu chế xuất Linh Trung ở thành phố Hồ Chí Minh…, các khu công nghiệp còn lại phần lớn đang trong quá trình đền bù, giải phóng mặt bằng hoặc đang san lấp mặt bằng, chuẩn bị xây dựng các công trình hạ tầng.. Nhiều khu công nghiệp ở miền Bắc và miền Trung , chi phí san lấp mặt bằng cao, tỷ lệ cho thuê đất rất thấp. Giá phí sử dụng cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp cao đã triệt tiêu lợi thế về giá thuê đất rẻ trong các khu công nghiệp. Hơn nữa, đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp như hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cấp điện…

    và việc đấu nối với các công trình ngoài hàng rào đòi hỏi vốn đầu tư lớn, còn phải

    20

     

    giải quyết nhiều thủ tục có liên quan khá phức tạp và mất thời gian nên dẫn tới tình trạng ít có khu công nghiệp được xây dựng hoàn chỉnh. Điều đó dẫn đến hạn chế tính hấp dẫn của khu công nghiệp và nhiều khi bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư.

    • Vai trò của đối tác Việt nam trong liên doanh còn rất mờ nhạt: theo

    thống kê tỷ lệ góp vốn của bên Việt nam trong các liên doanh nước ngoài thường chỉ chiếm 25 – 30% và chủ yếu là bằng giá cả và quyền sử dụng đất, nhà xưởng cũ. Với tỷ lệ như thế chẳng những không thể đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động kinh doanh mà còn tăng sự phụ thuộc phía nước ngoài từ sản xuất kinh doanh, chia lợi nhuận, cũng như khó tránh khỏi việc “chia ngầm” với nhau làm thua thiệt quyền lợi của phía Việt nam cũng như của Nhà nước Việt nam.

    Cũng do vai trò quản lý của phía Việt nam mờ nhạt nên việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhất là ở những người lao động trực tiếp trong liên doanh chưa được quan tâm đúng mức. Khâu tuyển dụng, bố trí công việc, trả lương đều do phía nước ngoài đảm nhiệm hoặc chi phối, dễ tạo nên một số cán bộ người Việt nam vì lợi ích cá nhân đã không dám đấu tranh, thậm chí không làm hết trách nhiệm hoặc lại bảo vệ quyền lợi của đối tác nước ngoài. Trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, cường độ làm việc của người lao động thường cao hơn các khu vực kinh tế khác từ 1,2 đến 2 lần. Thời gian làm việc có thể kéi dài 12 giờ/ngày trong nhiều ngày liền mà không được trả thêm lương; công nhân bị xúc phạm nặng nề, sa thải vô lý đã là những nguyên nhân gây đình công, bãi công làm thiệt hại đến lợi ích cho cả liên doanh và người lao động.

    2.4. Hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

    Do những hạn chế nêu trên nên hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa cao.

    Thiết bị, máy móc nhập khẩu vào Việt nam đã có sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại ở một số ngành công nghiệp mũi nhọn và công nghệ sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, do việc kiểm tra giám sát nhập khẩu chưa nghiêm nên vẫn còn không ít thiết bị cũ, lạc hậu đã nhập khẩu vào Việt nam.Theo thống kế của Vụ Kỹ thuật – Bộ Công nghiệp, qua khảo sát 727 cơ sở có nhập máy móc thiết bị trong cả nước, thì có tới 76% thiêt bị mới nhầp về đã được sản xuất từ thời kỳ

    21

     

    1950 – 1960, trong đó có 2/3 số thiết bị đã được khấu hao hết, 50% thiết bị đã được tân trang lại, 20% thiết bị đã sử dụng trên 5 năm nhưng giá lại cao hơn giá trị thực 15 – 20%. Nhìn chung, vấn đề chuyển giao công nghệ chưa đạt được mục tiêu đề ra.

    Tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm điện tử, ô tô, xe máy, phát triển sản xuất linh kiện phụ tùng tại Việt nam còn thấp, chưa đạt như mong muốn. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI gia tăng nhanh nhưng mới đạt được trên 10% (thấp hơn một số nước trong khu vực). Hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt may, giày dép, điện tử nên giá trị gia tăng thấp, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới còn hạn chế. Việc cung cấp các nguyên liệu, phụ tùng của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất thấp, hạn chế khả năng tham gia vào chương trình nội địa hóa sản phẩm và xuất khẩu qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sách khuyến khích xuất khẩu chưa đủ hấp dẫn và mạnh để định hướng lại động cơ chính của nhà đầu tư nước ngoài là nhằm vào thị trường Việt nam.

    Hiệu quả kinh doanh của các hình thức đầu tư còn thấp, đặc biệt là đối với hình thức doanh nghiệp liên doanh. Xuất phát từ cách nhìn nhận khác nhau về các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt nam nên trong những năm đầu hợp tác đầu tư với nước ngoài, do quan niệm hình thức doanh nghiệp liên doanh có nhiều lợi thế hơn cho phía Việt nam, chúng ta chủ trương hướng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức này. Tỷ lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức này khá cao, chiếm 40% số dự án và 59% vốn đầu tư nhưng chính doanh nghiệp liên doanh có tỷ lệ lỗ vốn, giải thể nhiều nhất, mẫu thuẫn giữa các bên liên doanh khá phổ biến. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án liên doanh khá cao, khoảng 28% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ăn hiệu quả còn ít, bên Việt nam trong các liên doanh hầu hết là doanh nghiệp Nhà nước (chiếm 98% tổng vốn đầu tư và 92% tổng số dự án liên doanh); số doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ không đáng kể. Việc góp vốn liên doanh của bên Việt nam chủ yếu bằng chuyển quyền sử dụng đất, Nhà nước cho doanh nghiệp Việt nam nhận nợ (trước đây) và ghi vốn (về sau), nhưng khi doanh nghiệp Việt nam được chia lãi hoặc liên doanh thua lỗ thì không có nguồn để hoàn trả cho ngân sách Nhà nước.

    Ngoài ra, với cơ chế hiện nay, doanh nghiệp nào có quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp đó có thể liên doanh với nước ngoài, thậm chí trong những ngành

    22

     

    nghề, chuyên môn không phù hợp với chức năng, sở trường kinh doanh của bên Việt nam. Trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên (chiếm hơn 55% số dự án, khoảng 30% vốn đầu tư, chiếm hơn 85% số dự án được cấp phép trong các khu công nghiệp). Nhìn chung tốc độ triển khai thực hiện dự án 100% vốn nước ngoài nhanh hơn các doanh nghiệp liên doanh, tuy nhiên tỷ lệ các dự án bị thất bại còn tương đối cao. Tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn chếm 7,1% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Đối với các dự án theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, tỷ lệ bị giải thể trước thời hạn cũng khá cao, chiếm 26,6% số dự án và 16,3% vốn đăng ký đã cấp phép.

    23

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG

    ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Các biện pháp vĩ mô.

    1.1. Tập trung vào những dự án sản xuất chế tạo, định hướng xuất khẩu và sử dụng nhiều nhân công (như điện tử, máy tính, thông tin liên lạc). Đây là những ngành mà Việt nam có thể phát huy được lợi thế tương đối.

    1.2. Tăng cường xã hội hóa một số ngành sản xuất, dịch vụ, chú ý hơn nữa phát triển khu vực tư nhân, cho phép các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước đóng vai trò lớn hơn theo khả năng của họ trong nền kinh tế cộng đồng.

    1.3. Cải thiện hệ thống ngân hàng và hệ thống pháp lý về ngân hàng.

    1.4. Xóa bỏ độc quyền đối với điều kiện xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhà nước mà dần tiến hànhcơ chế cạnh tranh, doanh nghiệp chứng minh được bằng khả năng thực tế – cụ thể trong thị trường, tuân thủ pháp luật, đều có cơ hội ngang nhau. (Dĩ nhiên Nhà nước vẫnl uon chú ý những doanh nghiệp có thương hiệu và thương phẩm nổi tiếng, đã chiếm lĩnh thị trường thế giới, có thể đại diện được cho thương hiệu “made in Vietnam”, và thực tế là nếu Nhà nước có ưu tiên bằng chính sách cho họ thì các doanh nghiệp khác đều công nhận, đồng thời vì quyền lợi quốc gia có thể tập trung sức lực, vốn, thông tin… để hỗ trợ thêm).

    1.5. Tiến hành cổ phần hóa mạnh mẽ các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là những doanh nghiệp thua lỗ.

    2 – Các biện pháp cụ thể, đồng bộ.

    2.1. Đơn giản hóa thủ tục phê duyệt các dự án FDI, làm giảm số ngày tối đa để cấp giấy phép đầu tư nước ngoài.

    24

     

    2.2. Nỗ lực để ngăn chặn buôn lậu.

    2.3. Bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong các thủ tục hải quan và luật thuế.

    2.4. Có biện pháp thật hiệu quả để ngăn chặn nạn tham nhũng.

    2.5. Giảm thuế thu nhập cá nhân cho cả người Việt nam và người nước ngoài, đồng thời xóa bỏ cơ chế hai giá.

    2.6. Giảm thuế chuyển lợi nhuận ra về nước.

    2.7. Giảm thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu nhập khẩu không sản xuất được trong nước hoặc có thể áp dụng mức thuế suất bằng 0.

    2.8. Giảm giá các dịch vụ tiện ích.

    2.9. Thực hiện nghiêm túc các nghị định và thông tư đã được ban hành nhằm tạo thông thoáng cho môi trường đầu tư.

    2.10. Xóa bỏ hạn chế đối với những đối tượng được phép làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (Chống chảy máu chất xám bằng những biện pháp kinh tế – xã hội đồng bộ khác).

    2.11. Xóa bỏ:

    • Mức đầu tư tối thiểu.
    • Mức vốn pháp định tối thiểu trong tổng vốn đầu tư.
    • Lệ phí sử dụng đất quá cao.

    2.12. Cho phép thuê bất động sản với thời hạn dài hơn và cho phép được nhận thế chấp trong nước.

    2.13. Cho phép khấu trừ thuế đối với lãi phải trả cho những khoản mà doanh nghiệp vay.

    2.14. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng kỹ năng công nghệ, máy móc, thiết bị và đất đai.

    25

     

    2.15. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng tên hiệu, nhãn mác, uy tín, hệ thống phân phố và những tài sản vô hình khác.

    2.16. Tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho mọi khu vực: Nhà nước, tư nhân và nước ngoài.

    2.17. Chính thức cho phép các liên doanh được chuyển thành hoàn toàn sở hữu của nước ngoài hoặc sở hữu của Việt nam nếu họ đủ điều kiện và tuân thủ đúng pháp luật.

    26

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài

     

    • Việt nam.

    Chủ biên: PGS, PTS Mai Ngọc Cường

    NXB Chính trị quốc gia.

    1. Gia nhập WTO – Việt nam kiên định con đường đã chọn

     

    NXB Chính trị quốc gia.

     

     

    1. Giáo trình Kinh tế quốc tế – Trường ĐH Kinh tế quốc dân

     

     

    1. Kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế

    Tài liệu bồi dưỡng của Bộ Thương mại

    Một số tài liệu và thông tin khác trên mạng Internet.

     

    27


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Lời mở đầu

    Có thể nói trong 10 năm trở lại đây nền kinh tế của đất nước ta đã thay đổi rất nhiều. Từ một nước nông nghiệp lac hậu chúng ta đã và đang đi lên xây dựng một nước Việt Nam  ấm no, giàu đẹp, và văn minh. Chúng ta đang trên con đường xây dung đất nước công nghiệp hóa hiện đaị  hóa . Trong đó phải nói đến một sự đóng góp rất tích cực từ những nhà đầu tư nước ngoài. Họ đã mang đến cho chúng ta công nghệ mới, con người mới,  việc làm cho người lao động. Thu hút được một lượng ngân sách rất lớn cho nhà nước. ..FDI là một trong những nguồn vốn tư nước ngoài đầu tư vào nước ta. Những năm gần đây chúng ta đang  thu hút được rất nhiều nguồn vốn này. Điều này đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt kinh tế nước ta. Nó đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giúp tăng trưởng kinh tế nước ta

    Nhận thấy việc tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài FDI là một vấn đề rất hay và được nhiều sự quan tâm tìm hiểu nên em đã chọn vốn FDI làm đề tài cho bài tiểu luận của em.

    I Khái niệm

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    II Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI

    1.     Thực trạng

    Trong những năm qua đầu tư trưc tiếp nước ngoài FDI là một động lực quan trọng góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế của Việt Vam.

    Bảng 1

    Năm 2008 mặc dù nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức nhưng FDI vào Việt Nam vẫn có bước tăng trưởng rất khả quan. FDI năm 2008 là hơn 64 tỷ USD vốn đăng ký và vốn giải ngân là 11 tỷ USD. Đây là một thành  tích  ấn tượng của Việt Nam trong năm 2008. FDI đăng ký tập trung chủ yếu vào  các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng số vốn đăng ký là 32,6 tỷ USD. Khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tăg 25,8% so với năm 2007, tạo ra trên 200.000 việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI  lên tới 1,4 67 triệu người.( bảng 2)

    Bảng số 2: vốn FDI đầu tư vào các nghành

    Trong các lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    Năm 2008, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD. Malaysia đứng đầu, với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, Đài Loan đứng thứ hai, với 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Tỉnh Ninh Thuận đã vươn lên đứng đầu về số vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion Malaysia và Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ hai trong số 43 địa phương của cả nước có vốn FDI, với 4 dự án, tổng vốn đăng ký 9,35 tỷ USD.

    Năm 2008 là một năm kỷ lục về thu hút FDI dưới bất kỳ góc độ nào. Vốn đăng ký cũng như vốn giải ngân cao nhất từ trước tới nay, cao nhất trong 20 năm qua kể từ khi Việt Nam thu hút vốn đầu tư FDI đầu tiên điều này  thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay, mặc dù nền kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: lạm phát tăng cao, giá cả biến động, giá vật liệu xây dựng tăng cao đột biến. Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay mà vốn FDI vẫn tăng mạnh chứng tỏ nhà đầu tư có  niềm tin rất lớn vào môi trường kinh doanh.

    2.     Vấn đề giải ngân vốn FDI

    Thực tế năm 2008 con số 64,11 tỷ  USD vốn FDI đăng ký,  mà số vốn điều lệ của các dự án chỉ là 15,429 tỷ USD, bằng khoảng 25,6%. Như vậy phần vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài dự định phải đi vay để tài trợ cho các dự án của mình là rất lớn. Điều này làm nảy sinh một số vấn đề lo ngại là sẽ có những dự án mà nhà đầu tư chỉ dăng ký xin giấy phép cũng như cấp đất sau đó sẽ vay vốn của các tổ chức tài chính của Việt Nam để thực hiện dự án. Nếu nhà đầu tư đó lẩn tránh hoặc không đử lực để thực hiện dự án thì hậu quả để lại cho các ngân hàng là rất nặng nề.

    Nhìn vào bảng số 1 ta thấy ngay được tình trạng này. Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn trong những năm gần đây đã giảm rất mạnh Thấp nhất phải nói đến năm 2008 chỉ với 17% .Măc dù đây là năm thu hút nhiều vôn FDI nhất nhưng lại là năm có tỷ lệ thực hiện thấp nhất cho thấy đằng sau vấn đề đó còn nhiều điều cần phải quan tâm hơn nữa . Đặc biệt có biện pháp khắc phục vấn đề này sao cho hạn chế tối đa rủi ro cho các ngân hàng của ta.

    Bảng 3: tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với cam kết

    Nguyên nhân là do: Hiện đang có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kết cũng như tốc độ giải ngân các nguồn tiền đang đổ vào Việt Nam. Cụ thể, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu trầm trọng đường cao tốc, bến cảng container, kẹt xe… Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chu chuyển một container thì ở VN phải mất tới 7 ngày. Lợi thế giá nhân công thấp bị giảm hấp dẫn vì thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong 1 năm qua, mức lương các nhân sự quản lý của Việt Nam đã tăng 34% bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng này.

    Một điều nữa cần nói về vấn đề giải ngân vốn là có một số lượng lớn nguồn vốn FDI được tập trung vào các lĩnh vực bất động sản và đi vào các dự án lớn ( với quy mô  trên 1 tỷ ). Citybank ước tính vốn FDI liên quan đến các dự án bất động sản hiện nay chiếm đến 1/4 tổng vốn giải ngân. Mà thị trường bất động sản là thị trường nhạy cảm và hay biến động theo chu kỳ cho nên bất động sản hay đi vào các chu kỳ nóng rồi giảm mạnh. Cùng với sự đóng băng được dự đoán vào năm 2009 trên thị trường bất động sản thì chắc chắn nguồn vốn FDI đổ và lĩnh vực này sẽ giảm ảnh hưởng đến nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009.

    Quy mô dự án đầu tư lớn và tỷ trọng đầu tư vào bất động sản cao đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm ngay từ bây giờ để có những biện pháp, bước đi phù hợp, vừa phát huy điểm mạnh, vừa hạn chế những tiêu cực của nó

    Đầu tư nhiều vào bất động sản sẽ làm cho việc cân bằng xuất nhập khẩu thêm khó khăn vì khi giải ngân các dự án này chỉ có nhập khẩu, không có xuất khẩu. Cân đối ngoại tệ sẽ phức tạp khi các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn, thu nhập hợp pháp ra nước ngoài.

    Những dự án bất động sản cần nhiều diện tích đất hơn các dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Thêm nữa, dự án bất động sản thường tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp, thành ra phần lớn đất bị lấy làm dự án là đất nông nghiệp “bờ xôi, ruộng mật”. Đời sống của người nông dân bị thu hồi đất đến nay vẫn nóng bỏng và chưa được giải quyết rốt ráo.

    Bảng vốn FDI và bất động sản

    Quy mô dự án càng lớn thì thu hút lao động càng ít tính trên một đơn vị đồng vốn. Đến nay, FDI mới tạo việc làm cho 1,2 triệu lao động. Khu vực kinh tế nhà nước cũng đang trong giai đoạn cơ cấu, sắp xếp lại, nên việc làm ở khu vực này tăng không đáng kể. Khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình mới là khu vực giải quyết lao động cho hơn một triệu lao động hàng năm.

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế  Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.

    3. Đánh giá tác động của FDI tới phát triển kinh tế đất nước

    3.1 tích cực

    Bổ sung cho nguồn vốn trong nước : Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.

    -Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên,  công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.

    Tham gia mạng lưới toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

    -Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    -Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.

    Đạt được những kết quả trên là nhờ những nguyên nhân:

    + Cơ chế chính sách thu hút vốn thong thoáng, minh bạch

    + Kịp thời điều chỉnh, bổ sung và ban hành danh mục dự án gọi vốn FDI

    + Tích cực tuyên truyền, tiếp thị và quảng bá hình ảnh, môi trường và cơ hội đầu tư

    +Tổ chức tham gia hội ngị, hội thảo xúc tiến, vạn động đầu tư

    + Tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư

    Bên cạnh đó còn có những khó, khăn hạn chế

    -Việc thẩm định dự án đầu tư khá nhiều thì số dự án được cấp phép vẫn còn thấp do thẩm định dự án của bộ thường bị kéo dài, công tác xúc tiến đầu tư thiếu một chiến lược cụ thể về đối tác, thị trường và phương pháp tiếp cận thị trường

    -Công tác đào tạo cán bộ còn yếu

    -Viếc phối hợp giữa các ban nghành, địa phương trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư còn yếu chưa chặt chẽ, chưa có quy định rõ ràng

    III.  Giải pháp trong thu hút vốn đầu tư

    -Vấn đề quy hoạch đầu tưxác đingj dự án gọi vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên về ngành ngề, thời gian, địa điểm cụ thể

    -tăng cường công tác xúc tiến, khai thác và lựa chọn đối tác đầu tư

    -cải thiện môi trường đầu tư bao gồm hoàn tiện cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính

    -Đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ cán bộ cho hoạt động FDI

    -Thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư

    giải pháp gia tăng hấp thụ FDI

     

    trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, giải pháp quan trọng hàng đầu là thúc đẩy giải ngân vốn FDI trong năm nay và trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010. Về luật pháp và chính sách, cần sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân…

    Về quy hoạch, cần hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư. Về cải thiện cơ sở hạ tầng, sẽ tiến hành tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án FDI không có khả năng triển khai, hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất đã được giao để chuyển cho dự án

    Từ thực tế kinh nghiệm những năm qua => Bài học trong thu hút vốn đầu tư

    Bài học thứ nhất trong việc thu hút FDI, đó chính là nắm bắt và tận dụng cơ hội.Cần phải biết tận dụng những cơ hội để biến đó thành thế mạnh thu hút vốn đầu tư. VD: Tháng 2/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã đã lan rộng ra nhiều nước, gây thiệt hại nặng nề đối với các nền kinh tế vốn được coi là “sự thần kỳ Đông Á”. Việt Nam khi đó vẫn nằm ngoài “rìa” vòng xoáy của cuộc khủng hoảng. Lẽ ra chúng ta có thể nhân đó biến thành lợi thế so sánh để thu hút FDI hơn nữa. Nhìn thấy cơ hội và biết nắm bắt nó để có thể làm lợi cho đất nước giữ một vai trò quyết định trong vấn đề thu hút vốn FDI.
    Nhưng điều đó cũng đã không xảy ra, do nước ta bị động đối phó nên không những không biến được cơ hội thành hiện thực mà còn chịu tác dộng tiêu cực, khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, vốn FDI cũng do đó mà ít dần.
    -Bài học thứ hai, đó chính là ba mối quan hệ lợi ích liên quan đến FDI.
    Trước hết, đó là lợi ích của nước ta và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. cần hài hòa lợi ích của cả hai bên trên cơ sở bảo đảm lợi ích chính đáng của đất nước, phải bảo đảm nhà đầu tư thu được lợi nhuận đến mức đủ hấp dẫn họ, đi cùng với sự hướng dẫn và hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong việc cấp phép và triển khai dự án.
    Tiếp theo, đó là mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng và người lao động.
    Do đó, trong các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc này. các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc đình công bãi công của người lao động. Các cơ quan chức năng cần phải hướng dẫn người sử dụng lao động, nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ, tôn trọng văn hóa ứng xử, tập quán của người Việt Nam để từ đó giáo dục, tổ chức người lao động làm việc có kỷ luật, năng suất và đảm bảo công bằng. –          – Bài học thứ ba, đó là lợi thế so sánh. Chúng ta cần phải biết phát huy lợi thế về lực lượng lao động của mình, cần phải có hệ giải pháp đồng bộ từ chủ trương, chính sách của Chính phủ đến vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo…
    – Bài học thứ tư về FDI, đó là chính sách. Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI và coi trọng chất lượng FDI luôn là hai mặt có quan hệ hữu cơ của thể chế và chính sách của chúng ta. Trong điều kiện hoạt động đầu tư trong nước đang gia tăng nhanh chóng thì việc lựa chọn dự án FDI cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế – xã hội trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực.

    KẾT LUẬN

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    CHỈ THỊ

    CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 15/2007/CT-TTg NGÀY 22 THÁNG 6 NĂM 2007

    VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ

    NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Trong những năm gần đây, với việc thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ của Nghị quyết số 09/2001/NQ-CP của Chính phủ về “Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài thời kỳ 2001-2005” và các Chỉ thị số 19/2001/CT-TTg ngày 28 tháng 8 năm 2001 và số 13/2005/CT-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp nhằm tạo chuyển biến mới trong công tác thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nhiều khó khăn, vướng mắc đã được tháo gỡ; môi trường đầu tư của nước ta không ngừng được cải thiện và càng trở lên hấp dẫn hơn. Nhờ đó, hoạt động đầu tư nước ngoài đã vượt qua giai đoạn suy giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, từng bước phục hồi và tăng nhanh từ năm 2004. Cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp của nước ngoài cũng đã có xu hướng gia tăng đáng kể, nhất là từ sau khi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cùng các nghị định hướng dẫn có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu huy động vốn lớn bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Tiến độ triển khai cũng như chất lượng của một số dự án đầu tư còn hạn chế, vốn đầu tư thực hiện còn thấp so với vốn đăng ký, chưa đẩy mạnh chuyển giao công nghệ nguồn, công nghệ tiên tiến vào nước ta.

    Chủ trương tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và tiếp tục khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm (2006-2010). Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài”.

    Bước vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010, mặc dù phải đối phó với không ít khó khăn thách thức, nhưng nước ta đang có những thời cơ, thuận lợi mới, rất to lớn cho việc tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài:

    Một là, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục đà tăng trưởng cao, ổn định, bền vững. Riêng năm 2006 mức tăng GDP trên 8,17%, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 40 tỷ đô la Mỹ; môi trường đầu tư không ngừng được cải thiện đã khiến luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng trở lại từ năm 2004 và hiện đang xuất hiện một làn sóng đầu tư mới vào nước ta, tiếp tục tạo đà cho sự tăng trưởng cao trong những năm tới.

    Hai là, với các sự kiện Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tổ chức thành công Hội nghị APEC 14, Quốc hội Hoa kỳ thông qua Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam, thành công của các chuyến thăm làm việc song phương, đa phương của lãnh đạo cấp cao nước ta thời gian qua, đã tạo ra tầm ảnh hưởng lớn hơn của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Ba là, thể chế kinh tế thị trường ở nước ta ngày càng được tập trung xây dựng và hoàn thiện, trong đó hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến môi trường đầu tư, kinh doanh đã có những bước tiến quan trọng, tạo môi trường pháp lý bình đẳng, ngày càng thông thoáng, minh bạch và thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư kinh doanh một cách có hiệu quả tại Việt Nam.

    Bốn là, Việt Nam có tình hình chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; là một thị trường đang phát triển nhiều tiềm năng với dân số trên 80 triệu người và tương lai không xa là 100 triệu, đồng thời là một cửa ngõ thông thương thuận lợi với thị trường nhiều nước thành viên ASEAN. Bên cạnh đó, môi trường kinh tế thế giới tiếp tục chiều hướng tích cực. Những trung tâm kinh tế lớn của thế giới hoặc đã qua giai đoạn suy thoái, bước vào thời kỳ ổn định hoặc đang tiếp tục đà phát triển mạnh, đều đang có nhu cầu gia tăng mạnh mẽ hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

    Các yếu tố trên là những tiền đề quan trọng tạo nên những cơ hội mới, thuận lợi mới để đẩy mạnh thu hút làn sóng đầu tư vào nước ta. Tuy vậy, để tận dụng tốt thời cơ, cần phải tập trung nỗ lực khắc phục những mặt còn hạn chế đối với hoạt động đầu tư, như việc thực thi pháp luật, chính sách, chất lượng kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, xúc tiến đầu tư, thủ tục hành chính và hiện tượng tham nhũng, tiêu cực.

    I. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

    Nhằm tranh thủ cơ hội mới, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương tiến hành một số giải pháp chủ yếu và công việc cụ thể sau đây:

    1. Về công tác quy hoạch

    1. a) Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu; rà soát để định kỳ bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch không còn phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án.
    2. b) Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định mới của Luật Đầu tư trong công tác quy hoạch, bảo đảm việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm không phù hợp với các cam kết quốc tế.
    3. c) Hoàn chỉnh và công bố rộng rãi quy hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư.

    2. Về xây dựng và thực thi chính sách pháp luật

    1. a) Tiếp tục ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh; rà soát luật pháp, chính sách, sửa đổi hoặc bãi bỏ các ưu đãi, trợ cấp không phù hợp với quy định của WTO, cam kết quốc tế và có giải pháp bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư. Tăng cường tập huấn, phổ biến nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với dự án xây dựng công trình phúc lợi phục vụ người lao động làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, bảo đảm tương thích với luật pháp hiện hành.
    2. b) Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Chấn chỉnh tình trạng ban hành và áp dụng các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trái với quy định của pháp luật.

    3. Về xúc tiến đầu tư

    1. a) Hoàn thiện, công bố Danh mục dự án quốc gia về kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2010 hướng tới năm 2020 (có phân kỳ 2006-2010). Xây dựng chương trình vận động đầu tư tại địa bàn trọng điểm và các tập đoàn xuyên quốc gia tiềm năng; chú trọng ngành công nghiệp phụ trợ của một số ngành (chế tạo, lắp ráp, dệt may, da giầy) và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu và quy hoạch phát triển ngành, địa phương.
    2. b) Ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007-2010 để bảo đảm kinh phí cho hoạt động xúc tiến đầu tư gắn với xúc tiến thương mại và du lịch. Khẩn trương điều chỉnh các mục tiêu, cơ chế và tổ chức hoạt động của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu (thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ) phù hợp nguyên tắc của WTO và pháp luật hiện hành. Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam, kết hợp các chuyến công tác của lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước với hoạt động xúc tiến đầu tư; tổ chức tốt các hội thảo ở trong nước và nước ngoài; nâng cao chất lượng tài liệu xúc tiến đầu tư và trang thông tin điện tử về đầu tư nước ngoài. Tổ chức tốt “Những ngày Việt Nam ở nước ngoài”.
    3. c) Tăng cường các đoàn vận động đầu tư làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn, tại một số địa bàn trọng điểm ở nước ngoài để kêu gọi đầu tư vào các dự án lớn, quan trọng. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ hiệu quả các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam.
    4. d) Khẩn trương đặt bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm ở nước ngoài. Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch các cấp, ở trong nước lẫn đại diện ở nước ngoài nhằm đồng bộ và nâng cao hiệu quả của các hoạt động này.

    4. Khắc phục tình trạng yếu kém về kết cấu hạ tầng

    1. a) Rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tăng cường công tác quy hoạch, thực thi các quy hoạch cũng như thu hút đầu tư vào các công trình giao thông, năng lượng.
    2. b) Tranh thủ tối đa các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải); hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc – Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam – Trung Quốc; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc – Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam – Trung Quốc, đường sắt nối các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
    3. c) Đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích sản xuất, sử dụng điện từ, các loại năng lượng mới (sức gió, thủy triều, năng lượng mặt trời); trước mắt, bảo đảm cung cấp điện cho sản xuất.
    4. d) Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng trong đó có các công trình giao thông, cảng biển, các nhà máy điện độc lập.

    đ) Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần để nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn như cảng Hiệp Phước – Thị Vải, Lạch Huyện, Vân Phong…

    1. e) Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu.
    2. g) Tăng cường thu hút đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng các khu du lịch quốc gia có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

    5. Về lao động – tiền lương

    1. a) Phát triển nhanh về quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề, đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho doanh nghiệp; tập trung đầu tư phát triển 40 trường đào tạo nghề chất lượng cao, trong đó có một số trường đạt đẳng cấp quốc tế.
    2. b) Để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh quan hệ lao động theo tinh thần Bộ Luật Lao động, tăng cường các biện pháp sau:

    – Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách về lao động, tiền lương trong tình hình mới; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động đối với người sử dụng lao động nhằm bảo đảm điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động;

    – Tuyên truyền giáo dục để nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động cho người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm bảo đảm chính sách, pháp luật về lao động và tiền lương được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc.

    1. c) Xây dựng mặt bằng chung về mức lương tối thiểu cho lao động làm việc trong doanh nghiệp thuộc các thành viên kinh tế có tính đến các yếu tố về lạm phát, địa bàn đầu tư và quy định về mức sống tối thiểu của người Việt Nam.

    6. Về cải cách hành chính

    1. a) Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong phê duyệt, cấp Giấy Chứng nhận đầu tư, quản lý các dự án đầu tư nước ngoài, gắn với tăng cường hợp tác, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật về đầu tư. Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp và điều chỉnh Giấy Chứng nhận đầu tư.
    2. b) Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài.
    3. c) Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài, thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết thủ tục đầu tư. Đảm bảo sự thống nhất, các quy trình, các thủ tục tại địa phương, đồng thời, phù hợp với điều kiện cụ thể.
    4. d) Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa Trung ương và địa phương và giữa các bộ, ngành liên quan.

    đ) Thành lập đường dây nóng tại cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư ở các cấp nhằm kịp thời nắm bắt, xử lý vướng mắc của nhà đầu tư và khắc phục tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với nhà đầu tư.

    7. Các giải pháp khác

    1. a) Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư ở cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
    2. b) Đẩy mạnh việc xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.
    3. c) Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình hành động Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản giai đoạn II nhằm góp phần nâng cao môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

    II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Để triển khai thực hiện các nhóm giải pháp nêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

    1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    1. a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hoàn chỉnh, trình Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư còn thiếu; rà soát các vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp. Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành một số quy định của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp trong quý III năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương liên quan làm việc với các cơ quan chức năng của Chính phủ Nhật Bản và các tập đoàn của Nhật Bản nhằm thúc đẩy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Khu công nghệ cao Hòa Lạc.
    3. c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Giao thông vận tải, Tài chính và các Bộ, ngành liên quan làm việc với các cơ quan chức năng của Chính phủ Nhật Bản về dự án xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam và dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan khẩn trương thiết lập bộ phận xúc tiến đầu tư nước ngoài tại một số địa bàn trọng điểm theo thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 103/TB-VPCP ngày 09 tháng 5 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ về đề án tăng cường bộ phận xúc tiến đầu tư nước ngoài tại một số địa bàn trọng điểm.

    đ) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức các cuộc vận động đầu tư nhằm vào các địa bàn trọng điểm, các đối tác, tập đoàn lớn, các dự án quan trọng. Triển khai thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia nhằm tăng cường phối hợp hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư.

    1. e) Làm đầu mối phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện Chương trình hành động Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn II góp phần nâng cao môi trường đầu tư, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.
    2. g) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng mạng thông tin toàn quốc về đầu tư nước ngoài, nhằm kịp thời cung cấp và thu thập thông tin về đầu tư.
    3. h) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập đường dây nóng về đầu tư nhằm kịp thời nắm bắt, xử lý vướng mắc của nhà đầu tư và khắc phục tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với các nhà đầu tư.
    4. i) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Khoa học và Công nghệ và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007 chính sách ưu đãi đầu tư đối với các dự án công nghệ cao nằm ngoài khu công nghệ cao.
    5. k) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan lập Nhóm hỗ trợ các dự án đầu tư quy mô lớn ngay từ ban đầu nhằm đẩy mạnh quá trình hình thành và triển khai hiệu quả đầu tư tại Việt Nam.

    2. Bộ Tài chính

    1. a) Khẩn trương điều chỉnh các mục tiêu, cơ chế và tổ chức hoạt động của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu thành lập theo Quyết định số 195/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ phù hợp với các nguyên tắc của WTO và pháp luật hiện hành và đổi tên Quỹ này thành Quỹ Xúc tiến thương mại – Đầu tư – Du lịch, trình Chính phủ trong quý II năm 2007.
      b) Chủ trì xây dựng chính sách khuyến khích và cơ chế quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp và nguồn đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất các hình thức trợ cấp môi trường phù hợp với quy định của Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) của WTO.
    3. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi các quy định bất hợp lý liên quan đến chi phí giao dịch trong hoạt động lưu chuyển hàng hóa, thủ tục hải quan, trình Chính phủ trong quý III năm 2007.

    3. Bộ Công nghiệp

    1. a) Lập phương án cấp điện và biện pháp xử lý ứng với các mức độ thiếu nguồn điện; lập kế hoạch ưu tiên cấp điện cho sản xuất, nhất là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất và các địa bàn trọng điểm phát triển công nghiệp, dịch vụ quan trọng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. b) Khẩn trương thực hiện lộ trình thị trường hóa ngành điện, xây dựng cơ chế và khung định giá năng lượng (than, khí, điện), trình Chính phủ phê duyệt và công bố công khai trong quý IV năm 2007.
    3. c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định danh sách các dự án nguồn điện và năng lượng cần gọi vốn đầu tư nước ngoài theo hình thức đầu tư khác nhau; xây dựng tóm tắt đầu tư dự án và tổ chức vận động đầu tư.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng giải pháp sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời, trình Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    đ) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá thực trạng chất thải công nghiệp trong quý IV năm 2007.

    1. e) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững môi trường phù hợp với Luật bảo vệ môi trường năm 2005 trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

    1. a) Khẩn trương hoàn thiện và trình Chính phủ trong quý IV năm 2007 ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Dạy nghề.
    2. b) Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ lộ trình tiến tới một chính sách chung về mức lương tối thiểu áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả lao động làm việc trong các nhà thầu nước ngoài, có tính đến các yếu tố điều chỉnh như lạm phát, địa bàn đầu tư và các quy định về mức sống tối thiểu của người Việt Nam.
    3. c) Phát triển nhanh về quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề theo ba cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề) đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho doanh nghiệp; tập trung đầu tư phát triển 40 trường đào tạo nghề chất lượng cao, trong đó có một số trường hợp đạt đẳng cấp quốc tế.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu đổi mới các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, trong đó có lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về nguồn nhân lực.

    5. Bộ Tài nguyên và Môi trường

    1. a) Xây dựng đề án tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi các quy định ưu đãi đầu tư về lĩnh vực đất đai, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý II năm 2007.
    3. c) Xây dựng đề án phát triển dịch vụ môi trường phù hợp với các quy định WTO làm cơ sở thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực xử lý môi trường, cung cấp các dịch vụ môi trường, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý II năm 2007.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Công nghiệp nghiên cứu, xây dựng chính sách ưu đãi đối với hoạt động bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp.

    đ) Xây dựng quan hệ đối tác trong công tác bảo vệ môi trường giữa các cơ quan quản lý môi trường, hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp và cộng đồng.

    6. Bộ Bưu chính, Viễn thông

    Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007 phương án mở cửa đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông phù hợp với WTO và cam kết quốc tế.

    7. Bộ Giáo dục và Đào tạo

    1. a) Xây dựng quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, trong đó, nhấn mạnh việc xã hội hóa hoạt động giáo dục và đào tạo, tăng khả năng tự đào tạo của doanh nghiệp, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng đề án đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo nhu cầu phát triển, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.
    3. c) Rà soát, đề xuất điều chỉnh Nghị định số 06/2000/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2000 về khuyến khích đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo và Nghị định số 18/2001/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ về việc lập và hoạt động của các cơ sở văn hóa, giáo dục nước ngoài tại Việt Nam theo hướng phù hợp với pháp luật đầu tư và hội nhập quốc tế.

    8. Bộ Y tế

    1. a) Tiếp tục trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Quy hoạch mạng lưới y tế dự phòng trong quý II năm 2007.
    2. b) Tiếp tục hoàn thiện Đề án phát triển công nghiệp dược, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    3. c) Xây dựng dự thảo Luật Dược và Đề án phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    9. Bộ Văn hóa – Thông tin

    Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng trình Chính phủ ban hành danh mục các lĩnh vực không cấp phép và lĩnh vực đầu tư có điều kiện trong lĩnh vực văn hóa, thông tin phù hợp với lộ trình cam kết quốc tế trong quý III năm 2007.

    10. Bộ Thương mại

    Chủ trì tổ chức việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tới các địa phương, các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong và ngoài nước về lộ trình mở cửa thị trường liên quan đến các lĩnh vực đầu tư có điều kiện , phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam đã ký kết.

    11. Bộ Tư pháp

    Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra, rà soát việc ban hành, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực đầu tư để đảm bảo các hoạt động đầu tư có hiệu quả theo chức năng, nhiệm vụ của mình và theo quy định của pháp luật hiện hành.

    12. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện việc tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của Ngân hàng thương mại Việt Nam

    13. Bộ Ngoại giao

    1. a) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thành lập và quản lý hoạt động của bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm.
    2. b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình quảng bá quốc gia dưới hình thức “Những ngày Việt Nam ở nước ngoài” giai đoạn 2007 – 2010.

    14. Bộ Nội vụ

    1. a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng đề án kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan quản lý đầu tư và đăng ký kinh doanh phù hợp với quy định của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng trình Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng liên quan đến trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ, công chức, viên chức trong năm 2007.

    15. Bộ Giao thông vận tải

    Chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành và địa phương rà soát các quy hoạch chuyên ngành bao gồm đường bộ, đường cao tốc, hệ thống cảng biển Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2007.

    16. Bộ Xây dựng

    Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007 về Quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại, đặc biệt ở các vùng kinh tế trọng điểm.

    17. Bộ Khoa học và Công nghệ

    Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ và dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện  hợp tác đầu tư với nước ngoài trong hoạt động khoa học và công nghệ, trình Chính phủ ban hành trong quý III năm 2007.

    18. Tổng cục Du lịch

    Chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành, địa phương liên quan lập đề an thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch nhằm hình thành các khu du lịch quốc gia có quy mô, chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    19. Trách nhiệm của Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    1. a) Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp lệnh chuyên ngành. Đồng thời, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp theo Chỉ thị này của Thủ tướng Chính phủ.
    2. b) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương rà soát lại các điều kiện đầu tư, kinh doanh; bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ ngay các điều kiện không còn phù hợp. Đồng thời, không được tự quy định thêm điều kiện đầu tư, kinh doanh, các ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện.
    3. c) Triển khai việc phân cấp và tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.
    4. d) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy  ban nhân dân cấp tỉnh tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Đặc biệt, khẩn trương hoàn chỉnh các cơ chế tài chính, đầu tư, chính sách đất đai và cơ sở hạ tầng nhằm thu hút mọi nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.

    đ) Tiếp tục cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính. Nâng cao hiệu quả việc chống tham nhũng và nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư; thực hành tiết kiệm, chỗng lãng phí, kiểm tra giám sát và xử lý nghiêm khắc các hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức ở các cấp quản lý.

    1. e) Tăng cường công tác thông tin, quản lý dữ liệu đầu tư và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật đầu tư.
    2. g) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành cơ chế phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, công khai các thủ tục đầu tư, kinh doanh.
    3. h) Tiếp tục rà soát và có kế hoạch triển khai tốt các thỏa thuận trong Kế hoạch hành động thực hiện Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn II góp phần nâng cao môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc thực hiện Chỉ thị này.

    Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị này và báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết quả thực hiện chậm nhất trong quý I năm 2008 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Trường hợp phát sinh những vấn đề vượt thẩm quyền cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến chỉ đạo thực hiện./.

       THỦ TƯỚNG

    Nguyễn Tấn Dũng

  • Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    nghị định

    của chính phủ Số 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000
    Quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài
    tại Việt Nam

    chính phủ

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

    Căn cứ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 09 tháng 6 năm 2000;

    Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

    Nghị định:

    Chương I
    những quy định chung

    Điều 1. Phạm vi áp dụng

    Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 09 tháng 6 năm 2000 (sau đây gọi chung là Luật Đầu tư nước ngoài).

    Đầu tư nước ngoài vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao; đầu tư nước ngoài theo Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (viết tắt theo tiếng Anh là BOT), Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (viết tắt theo tiếng Anh là BTO), Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (viết tắt theo tiếng Anh là BT); đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học thực hiện theo quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan.

    Các hoạt động tín dụng quốc tế, hoạt động thương mại và các hình thức đầu tư gián tiếp khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

    Điều 2. Đối tượng tham gia hợp tác đầu tư

    Đối tượng tham gia hợp tác đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài gồm:

    1. Doanh nghiệp Việt Nam:
    2. a) Doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước;
    1. b) Hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã;
    2. c) Doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;
    3. d) Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp.
    4. Cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định.
    5. Nhà đầu tư nước ngoài.
    6. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
    7. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
    8. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng BOT, BTO và BT.

    Điều 3. Danh mục và lựa chọn dự án đầu tư

    1. Ban hành kèm theo Nghị định này:
    2. a) Danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư;
    3. b) Danh mục dự án khuyến khích đầu tư;
    4. c) Danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư;
    5. d) Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện;

    đ) Danh mục lĩnh vực không cấp phép đầu tư.

    Căn cứ vào quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh danh mục nói trên.

    1. Nhà đầu tư được chủ động lựa chọn dự án đầu tư, đối tác đầu tư, hình thức đầu tư, địa bàn, thời hạn đầu tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ góp vốn pháp định phù hợp với quy định của Luật Đầu tư nước ngoài và Nghị định này.

     

    Điều 4. Luật điều chỉnh

    1. Các đối tượng tham gia hợp tác đầu tư quy định tại Điều 2 Nghị định này phải tuân thủ quy định của Luật Đầu tư nước ngoài, quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.
    2. Trong trường hợp cụ thể nào đó về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà pháp luật Việt Nam chưa có quy định thì các bên có thể thoả thuận trong hợp đồng việc áp dụng luật của nước ngoài nếu việc áp dụng luật của nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    Điều 5. Ngôn ngữ sử dụng

    Hồ sơ dự án đầu tư và các văn bản chính thức gửi các Cơ quan Nhà nước Việt Nam được làm bằng tiếng Việt Nam hoặc bằng tiếng Việt Nam và tiếng nước ngoài thông dụng.

    Chương II
    Hình thức đầu tư

    Điều 6. Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan và Luật Đầu tư nước ngoài.

    Điều 7. Nội dung Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là các Bên hợp doanh); địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Đóng góp của các Bên hợp doanh, việc phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng;
    4. Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước;
    5. Thời hạn hợp đồng;
    6. Quyền, nghĩa vụ của các Bên hợp doanh;
    7. Các nguyên tắc tài chính;
    8. Thể thức sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng;
    9. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

    Ngoài các nội dung trên, các Bên hợp doanh có thể thỏa thuận những nội dung khác trong Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải do đại diện có thẩm quyền của các Bên hợp doanh ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối hợp đồng. Hợp đồng hợp tác kinh doanh có hiệu lực kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 8. Ban điều phối

    Trong quá trình kinh doanh, nếu xét thấy cần thiết, các Bên hợp doanh có thể thoả thuận thành lập Ban điều phối để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Ban điều phối không phải là cơ quan lãnh đạo của các Bên hợp doanh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban điều phối do các Bên hợp doanh thỏa thuận.

    Điều 9. Văn phòng điều hành

    Bên hợp doanh nước ngoài được thành lập Văn phòng điều hành tại Việt Nam để làm đại diện cho mình trong việc thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh và chịu trách nhiệm về hoạt động của Văn phòng điều hành.

    Văn phòng điều hành của Bên hợp doanh nước ngoài có con dấu, được mở tài khoản, được tuyển dụng lao động, được ký hợp đồng và tiến hành các hoạt động kinh doanh trong phạm vi các quyền và nghĩa vụ quy định tại Giấy phép đầu tư và Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Văn phòng điều hành của Bên hợp doanh nước ngoài phải đăng ký tại Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 10. Nghĩa vụ nộp thuế của các Bên hợp doanh

    1. Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo Luật Đầu tư nước ngoài; Bên hợp doanh Việt Nam thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo các quy định của pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước.
    2. Thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ tài chính khác của các Bên hợp doanh (gồm cả tiền thuê đất, thuế tài nguyên…) có thể được tính gộp vào phần sản phẩm được chia cho Bên hợp doanh Việt Nam và Bên hợp doanh Việt Nam có trách nhiệm nộp cho Nhà nước.

    Điều 11. Hình thức Doanh nghiệp liên doanh

    1. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở Hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

    Trong trường hợp đặc biệt, Doanh nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên cơ sở Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước khác.

    1. Doanh nghiệp liên doanh mới là doanh nghiệp được thành lập giữa Doanh nghiệp liên doanh đã được thành lập tại Việt Nam với:
    2. a) Nhà đầu tư nước ngoài;
    3. b) Doanh nghiệp Việt Nam;
    4. c) Cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định;
    5. d) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

    đ) Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam.

    1. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Mỗi Bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 12. Nội dung Hợp đồng liên doanh

    Hợp đồng liên doanh phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh; tên, địa chỉ của Doanh nghiệp liên doanh;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ góp vốn pháp định, phương thức, tiến độ góp vốn và tiến độ xây dựng;
    4. Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước;
    5. Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp;
    6. Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
    7. Quyền và nghĩa vụ của các Bên liên doanh;
    8. Các nguyên tắc tài chính;
    9. Thể thức sửa đổi và chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng, điều kiện chấm dứt hoạt động, giải thể doanh nghiệp;
    10. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

    Ngoài các nội dung trên, các Bên liên doanh có thể thỏa thuận những nội dung khác trong Hợp đồng liên doanh.

    Hợp đồng liên doanh phải do đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối hợp đồng. Hợp đồng liên doanh có hiệu lực kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 13. Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh

    Điều lệ của Doanh nghiệp liên doanh phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ của doanh nghiệp; tên, quốc tịch, địa chỉ của người đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ góp vốn pháp định, phương thức và tiến độ góp vốn pháp định;
    4. Cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp;
    5. Thể thức thông qua quyết định của doanh nghiệp; nguyên tắc giải quyết tranh chấp;
    6. Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
    7. Các nguyên tắc tài chính;
    8. Tỷ lệ phân chia lãi và lỗ cho các Bên liên doanh;
    9. Quan hệ lao động trong doanh nghiệp, các vấn đề về sử dụng và đào tạo lao động;
    10. Thời hạn hoạt động, điều kiện chấm dứt hoạt động và giải thể doanh nghiệp;
    11. Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, các Bên liên doanh có thể thỏa thuận những nội dung khác trong Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh.

    Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh phải do đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối Điều lệ. Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh được đăng ký tại Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 14. Vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh

    1. Vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.
    2. Tỷ lệ góp vốn của Bên hoặc các Bên liên doanh nước ngoài do các Bên liên doanh thoả thuận, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh. Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế – xã hội khác của dự án, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép Bên liên doanh nước ngoài có tỷ lệ góp vốn thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn pháp định.

    Trường hợp thành lập Doanh nghiệp liên doanh mới, tỷ lệ góp vốn pháp định của các Nhà đầu tư nước ngoài phải bảo đảm điều kiện nêu trên.

    1. Đối với những dự án quan trọng theo quy định của Chính phủ, khi ký kết Hợp đồng liên doanh, các Bên liên doanh thoả thuận việc tăng tỷ lệ góp vốn của Bên Việt Nam trong vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh.

    Điều 15. Tiến độ góp vốn pháp định

    1. Vốn pháp định có thể được góp một lần khi thành lập Doanh nghiệp liên doanh hoặc góp từng phần theo phương thức và tiến độ góp vốn pháp định quy định tại Hợp đồng liên doanh.
    2. Trường hợp các Bên liên doanh không thực hiện việc góp vốn theo tiến độ đã cam kết mà không có lý do chính đáng, thì Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có quyền thu hồi Giấy phép đầu tư.

    Điều 16. Góp vốn pháp định bằng giá trị quyền sử dụng đất

    Việc góp vốn pháp định bằng giá trị quyền sử dụng đất của Bên Việt Nam do các Bên liên doanh thỏa thuận trên cơ sở mức giá tiền thuê đất được ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định trong khung giá do Bộ Tài chính ban hành.

    Điều 17. Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh

    1. Hội đồng quản trị là cơ quan lãnh đạo của Doanh nghiệp liên doanh. Hội đồng quản trị gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác.

    Việc quyết định số lượng thành viên của Hội đồng quản trị, số lượng thành viên của mỗi Bên liên doanh, việc cử Chủ tịch Hội đồng quản trị, bổ nhiệm Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc thứ nhất thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài.

    Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc và các chức vụ khác của Doanh nghiệp liên doanh.

    1. Nhiệm kỳ Hội đồng quản trị do các Bên liên doanh thoả thuận, nhưng không quá 5 năm.
    2. Trong trường hợp thành lập Doanh nghiệp liên doanh mới, Bên Doanh nghiệp liên doanh đang hoạt động có ít nhất 2 thành viên trong Hội đồng quản trị và trong đó có ít nhất 1 thành viên là công dân Việt Nam đại diện cho Bên liên doanh Việt Nam.
    3. Các thành viên Hội đồng quản trị không hưởng lương, nhưng có thể được hưởng phụ cấp liên quan tới hoạt động của Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị quyết định. Các khoản chi phí này được hạch toán vào chi phí quản lý của Doanh nghiệp liên doanh.

    Điều 18. Phương thức họp của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh

    1. Hội đồng quản trị họp định kỳ mỗi năm ít nhất một lần. Hội đồng quản trị có thể họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc của ít nhất 2/3 số thành viên Hội đồng quản trị hoặc của Tổng Giám đốc hoặc của Phó Tổng Giám đốc thứ nhất. Các cuộc họp của Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập và chủ trì. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập và chủ trì cuộc họp của Hội đồng quản trị.
    2. Cuộc họp của Hội đồng quản trị phải có ít nhất 2/3 thành viên Hội đồng quản trị đại diện của các Bên liên doanh tham gia. Các thành viên của Hội đồng quản trị có thể ủy quyền bằng văn bản cho người đại diện tham gia cuộc họp và biểu quyết thay về các vấn đề được ủy quyền.
    3. Hội đồng quản trị thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền theo hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản.

    Điều 19. Quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị

    Chủ tịch Hội đồng quản trị có quyền hạn và trách nhiệm:

    1. Triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị;
    2. Giữ vai trò chủ chốt trong việc giám sát, đôn đốc thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị.

    Điều 20. Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc

    1. Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc Doanh nghiệp liên doanh quản lý và điều hành công việc hàng ngày của Doanh nghiệp liên doanh. Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ Doanh nghiệp có quy định khác. Tổng Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc thứ nhất do Bên liên doanh Việt Nam đề cử và là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam. Trong trường hợp Doanh nghiệp liên doanh chỉ có một Phó Tổng Giám đốc thì người đó là Phó Tổng Giám đốc thứ nhất.
    1. Hội đồng quản trị phân định quyền hạn và nhiệm vụ giữa Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc thứ nhất. Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về hoạt động của Doanh nghiệp liên doanh. Tổng Giám đốc cần trao đổi với Phó Tổng Giám đốc thứ nhất về việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng quản trị về một số vấn đề quan trọng như: bộ máy tổ chức; bổ nhiệm, miễn nhiệm nhân sự chủ chốt; quyết toán tài chính hàng năm, quyết toán công trình; ký kết các hợp đồng kinh tế.

    Trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữa Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc thứ nhất trong điều hành hoạt động của doanh nghiệp thì ý kiến của Tổng Giám đốc là quyết định, nhưng Phó Tổng Giám đốc thứ nhất có quyền bảo lưu ý kiến của mình để đưa ra Hội đồng quản trị xem xét, quyết định tại phiên họp gần nhất.

    1. Trường hợp Tổng Giám đốc vắng mặt, Phó Tổng Giám đốc thứ nhất được ủy quyền thay mặt Tổng Giám đốc điều hành doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc về công việc của mình.

    Điều 21. Hình thức Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà đầu tư nước ngoài, do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 22. Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    Điều lệ của Doanh nghịêp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của Nhà đầu tư nước ngoài;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Vốn đầu tư, vốn pháp định; phương thức, tiến độ thực hiện vốn và tiến độ xây dựng;
    4. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
    5. Các nguyên tắc tài chính;
    6. Quan hệ lao động trong doanh nghiệp, các vấn đề về sử dụng và đào tạo lao động;
    7. Thời hạn hoạt động, điều kiện chấm dứt hoạt động và giải thể doanh nghiệp;
    8. Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, Điều lệ doanh nghiệp có thể bao gồm những nội dung khác.

    Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải do đại diện có thẩm quyền của Nhà đầu tư ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối Điều lệ. Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được đăng ký tại Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 23. Vốn pháp định của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    1. Vốn pháp định của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.
    2. Phương thức và tiến độ thực hiện vốn pháp định được quy định tại Điều lệ doanh nghiệp. Trường hợp Nhà đầu tư nước ngoài không thực hiện vốn pháp định theo tiến độ đã quy định mà không có lý do chính đáng, thì Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có quyền thu hồi Giấy phép đầu tư.
    3. Việc điều chỉnh vốn đầu tư, vốn pháp định do Nhà đầu tư nước ngoài quyết định và được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    Điều 24. Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Tổng Giám đốc, trừ trường hợp Điều lệ doanh nghiệp có quy định khác.

    Chương III
    Triển khai dự án và tổ chức kinh doanh

    Điều 25. Nhân sự và phiên họp đầu tiên của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh

    Sau khi được cấp Giấy phép đầu tư, Doanh nghiệp liên doanh phải triển khai những công việc sau:

    1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư, các Bên liên doanh thông báo cho nhau danh sách thành viên Hội đồng quản trị, cử Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị.
    2. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư, Hội đồng quản trị tổ chức phiên họp đầu tiên để thực hiện các công việc chủ yếu sau:
    3. a) Thông qua Quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị;
    4. b) Bổ nhiệm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng (hoặc Giám đốc tài chính);
    5. c) Xác định cụ thể tiến độ góp vốn pháp định của các Bên liên doanh, kế hoạch và tiến độ xây dựng.
    6. Biên bản phiên họp đầu tiên của Hội đồng quản trị được gửi tới Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi Doanh nghiệp liên doanh đặt trụ sở chính. Đối với doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, biên bản được gửi đến Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao (sau đây gọi chung là Ban quản lý Khu công nghiệp) nơi thực hiện dự án.
    7. Danh sách Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc Doanh nghiệp liên doanh được đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư; đối với doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, danh sách trên được đăng ký tại Ban quản lý Khu công nghiệp.

    Điều 26. Thành lập và đăng ký bộ máy quản lý của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Việc thành lập bộ máy quản lý và cử nhân sự của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài quyết định.

    Việc đăng ký danh sách nhân sự của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đại diện các Bên hợp doanh và Văn phòng điều hành của Bên hợp doanh nước ngoài (đối với Hợp đồng hợp tác kinh doanh) được thực hiện như đối với Doanh nghiệp liên doanh được quy định tại Điều 25 của Nghị định này.

    Điều 27. Bố cáo về việc thành lập

    Sau khi được bổ nhiệm, Tổng Giám đốc Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đại diện các Bên hợp doanh thực hiện đăng bố cáo trên báo Trung ương hoặc báo hàng ngày của địa phương trong ba số liên tiếp về những nội dung chủ yếu như sau:

    1. Tên, địa chỉ của doanh nghiệp hoặc địa điểm thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh; tên, địa chỉ của Chi nhánh, Văn phòng đại diện, Văn phòng điều hành (nếu có);
    2. Tên, địa chỉ của các Bên liên doanh, các Bên hợp doanh hoặc Nhà đầu tư nước ngoài;
    3. Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc của các Bên hợp doanh;
    4. Số và ngày cấp Giấy phép đầu tư, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư, thời hạn hoạt động của doanh nghiệp hoặc thời hạn thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    5. Vốn đầu tư, vốn pháp định của doanh nghiệp; tỷ lệ góp vốn của mỗi Bên liên doanh và vốn do các Bên hợp doanh cam kết thực hiện;
    6. Mục tiêu và phạm vi hoạt động.

    Điều 28. Đăng ký kinh doanh, Chứng chỉ hành nghề

    1. Giấy phép đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
    2. Đối với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật phải có Giấy phép kinh doanh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh chỉ cần đăng ký với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để triển khai hoạt động kinh doanh theo quy định tại Giấy phép đầu tư mà không phải xin Giấy phép kinh doanh.
    3. Đối với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định phải có chứng chỉ hành nghề, thì trước khi đi vào hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.

    Điều 29. Chi nhánh, Văn phòng đại diện

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh được mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện ngoài tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc địa điểm hoạt động chính của Hợp đồng hợp tác kinh doanh để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định tại Giấy phép đầu tư.

    Trường hợp cần thiết để đẩy mạnh xuất khẩu, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể mở Chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện của mình ở nước ngoài để thực hiện các hoạt động giao dịch, tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm. Việc mở Chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện ở nước ngoài phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, chuẩn y.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu trách nhiệm về hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện của mình ở nước ngoài. Thu nhập của Chi nhánh được tính vào thu nhập của doanh nghiệp, hàng năm phải được chuyển về công ty mẹ tại Việt Nam và chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức quy định tại Giấy phép đầu tư. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở Chi nhánh tại nước đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế trùng với Việt Nam, thì thực hiện theo quy định của Hiệp định.
    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn trình tự, thủ tục mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh.

    Điều 30. Thuê tổ chức quản lý

    1. Đối với các lĩnh vực khách sạn, văn phòng cho thuê, căn hộ cho thuê, sân golf, thể thao, vui chơi giải trí, khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo và một số lĩnh vực khác cần có kỹ năng quản lý chuyên sâu, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thuê tổ chức quản lý để quản lý hoạt động kinh doanh.
    2. Việc thuê quản lý không được làm thay đổi hoặc tác động tiêu cực đến mục tiêu hoạt động của dự án và lợi ích của Nhà nước Việt Nam đã được quy định tại Giấy phép đầu tư.
    3. Việc thuê quản lý được thực hiện thông qua hợp đồng quản lý ký giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh với tổ chức quản lý. Phí quản lý do các Bên thỏa thuận trong hợp đồng quản lý, được tính vào chi phí quản lý của doanh nghiệp hoặc của các Bên hợp doanh.

    Hợp đồng quản lý chỉ có hiệu lực sau khi được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    1. Tổ chức quản lý hoạt động dưới danh nghĩa và sử dụng con dấu, tài khoản của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, của một hoặc các Bên hợp doanh. Tổ chức quản lý chịu trách nhiệm trước Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và tuân thủ pháp luật Việt Nam trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng quản lý.

    Tổ chức quản lý phải nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các Bên hợp doanh có trách nhiệm nộp thay tổ chức quản lý các khoản này cho Nhà nước Việt Nam.

    Trong mọi trường hợp, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của tổ chức quản lý trước pháp luật Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý nêu tại hợp đồng quản lý. Tổ chức quản lý phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về những hoạt động của mình nằm ngoài phạm vi hợp đồng quản lý.

    Điều 31. Tổ chức lại doanh nghiệp

    1. Việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức đầu tư (sau đây gọi chung là tổ chức lại doanh nghiệp) phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y.

    Hồ sơ đề nghị tổ chức lại doanh nghiệp gồm:

    1. a) Đơn xin tổ chức lại doanh nghiệp;
    2. b) Hồ sơ chuyển nhượng vốn (đối với trường hợp chuyển nhượng vốn);
    3. c) Nghị quyết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc thỏa thuận của các Bên hợp doanh;
    4. d) Điều lệ doanh nghiệp mới (trừ trường hợp chuyển thành doanh nghiệp Việt Nam);

    đ) Báo cáo tình hình hoạt động tài chính của các doanh nghiệp trước khi được tổ chức lại;

    1. e) Giải trình về việc tổ chức lại doanh nghiệp;
    2. g) Các tài liệu liên quan đến quyền sử dụng đất;

    ­h) Các tài liệu khác khi Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư yêu cầu.

    1. Giải trình về việc tổ chức lại doanh nghiệp có các nội dung chủ yếu như sau:
    2. a) Tên, địa chỉ người đại diện theo pháp luật; tên, địa chỉ các doanh nghiệp trước và sau khi tổ chức lại doanh nghiệp;
    3. b) Mục tiêu sản xuất, kinh doanh;
    4. c) Phương án sử dụng lao động;
    5. d) Phương án giải quyết các quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp liên quan đến việc tổ chức lại doanh nghiệp;

    đ) Thời hạn thực hiện việc tổ chức lại doanh nghiệp.

    1. Trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định chấp thuận việc tổ chức lại doanh nghiệp dưới hình thức cấp Giấy phép đầu tư. Trường hợp không chấp thuận, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư phải có văn bản giải thích rõ lý do.

    Điều 32. Kế thừa quyền và nghĩa vụ sau khi tổ chức lại doanh nghiệp

    Sau khi được cấp Giấy phép đầu tư cho việc tổ chức lại doanh nghiệp, doanh nghiệp mới kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cũ theo như phương án giải quyết các quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp nêu trong giải trình về việc tổ chức lại doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định này.

    Điều 33. Chuyển nhượng vốn

    1. Khi chuyển nhượng vốn, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đăng ký chuyển nhượng vốn với Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.
    2. Hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn gồm:
    3. a) Đơn đăng ký chuyển nhượng vốn;
    4. b) Hợp đồng chuyển nhượng vốn;
    5. c) Nghị quyết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc thỏa thuận của các Bên hợp doanh;
    6. d) Sửa đổi, bổ sung Hợp đồng liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh doanh, Điều lệ doanh nghiệp;

    đ) Báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp;

    1. e) Tư cách pháp lý, tình hình tài chính của Bên nhận chuyển nhượng trong trường hợp chuyển nhượng cho bên ngoài doanh nghiệp.
    2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư quyết định điều chỉnh Giấy phép đầu tư.

    Điều 34. Cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định

    1. Trong quá trình hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định khi có những thay đổi về mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các trường hợp khác.
    2. Việc cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định nêu tại khoản 1 Điều này không được làm giảm tỷ lệ vốn pháp định xuống dưới mức quy định tại Điều 14 và Điều 23 Nghị định này.
    3. Việc cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định, thay đổi tỷ lệ góp vốn của các Bên liên doanh do Hội đồng quản trị doanh nghiệp quyết định và được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y.

    Điều 35. Chuyển giao không bồi hoàn

    Trường hợp Nhà đầu tư nước ngoài cam kết chuyển giao không bồi hoàn tài sản thuộc sở hữu của mình cho Nhà nước Việt Nam hoặc cho Bên Việt Nam khi hết thời hạn hoạt động theo quy định tại Giấy phép đầu tư, thì  tài sản chuyển giao phải bảo đảm trong tình trạng hoạt động bình thường.

    Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh chấm dứt hoạt động trước thời hạn do các nguyên nhân không phải là bất khả kháng và nếu việc chấm dứt này làm thay đổi cam kết chuyển giao không bồi hoàn, thì Nhà đầu tư nước ngoài có trách nhiệm hoàn lại những ưu đãi đã được hưởng do cam kết chuyển giao không bồi hoàn mà có.

    Điều 36. Tạm ngừng hoạt động hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án

    Khi có lý do xác đáng cần phải tạm ngừng hoạt động hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh phải báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư. Trừ trường hợp bất khả kháng, việc tạm ngừng hoạt động hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án chỉ được thực hiện sau khi được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    Khi tạm ngừng hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án, tùy từng trường hợp cụ thể, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh có thể được miễn, giảm các nghĩa vụ tài chính.

    Điều 37. Chấm dứt hoạt động, thanh lý, giải thể doanh nghiệp

    Việc chấm dứt hoạt động, thanh lý, giải thể Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh được thực hiện theo trình tự sau:

    1. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định chấm dứt hoạt động của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong những trường hợp quy định tại Điều 52 Luật Đầu tư nước ngoài.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh có trách nhiệm thành lập Ban thanh lý để thanh lý tài sản doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
    3. Sau khi kết thúc thanh lý, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh lập báo cáo và gửi hồ sơ thanh lý trình Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư xem xét, ra quyết định giải thể doanh nghiệp hoặc chấm dứt hiệu lực Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Điều 38. Bố cáo về việc chấm dứt hoạt động

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định chấm dứt hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,  các Bên hợp doanh phải đăng trên báo Trung ương hoặc báo hàng ngày của địa phương trong ba số liên tiếp về việc chấm dứt hoạt động và thanh lý tài sản của doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    ­Điều 39. Thành lập Ban thanh lý

    1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn hoạt động hoặc kể từ ngày quyết định chấm dứt hoạt động trước thời hạn có hiệu lực, Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc Nhà đầu tư nước ngoài (đối với Doanh nghiệp 100% nước ngoài) hoặc các Bên hợp doanh có trách nhiệm thành lập Ban thanh lý để tiến hành thanh lý tài sản của doanh nghiệp hoặc thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Thành phần Ban thanh lý do Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh quyết định.
    2. Quá thời hạn nêu tại khoản 1 Điều này, nếu Ban thanh lý không được thành lập, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định thành lập Ban thanh lý để thực hiện việc thanh lý doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể mời đại diện của các cơ quan, tổ chức có liên quan hoặc chuyên gia, đại diện người lao động, đại diện chủ nợ tham gia Ban thanh lý.
    3. Quyết định thành lập Ban thanh lý nêu tại các khoản 1 và 2 Điều này phải quy định rõ thành phần, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, kinh phí hoạt động của Ban thanh lý và được gửi cho các Bên liên doanh, các thành viên Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh.

    Điều 40. Quyền hạn và nhiệm vụ của Ban thanh lý

    1. Ban thanh lý là tổ chức giúp Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh trong việc thanh lý doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ban thanh lý được sử dụng con dấu của doanh nghiệp hoặc của Bên Việt Nam tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh để phục vụ việc thanh lý;
    2. Trong quá trình thanh lý, Ban thanh lý có quyền:
    3. a) Yêu cầu Tổng Giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng của doanh nghiệp, đại diện các Bên hợp doanh, và đề nghị tổ chức, cá nhân khác cung cấp hồ sơ, tài liệu, chứng từ… liên quan đến hoạt động thanh lý;
    4. b) Trong trường hợp cần thiết, mời các tổ chức, chuyên gia Việt Nam hoặc nước ngoài tiến hành kiểm toán, giám định máy móc, thiết bị, nhà xưởng, xác định giá trị còn lại của doanh nghiệp hoặc của Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
    5. Ban thanh lý có nhiệm vụ:
    6. a) Thông báo bằng văn bản cho các chủ nợ, các tổ chức có liên quan về việc thanh lý doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    7. b) Xác định giá trị tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp hoặc của Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    8. c) Xác định các nghĩa vụ tài chính đã thực hiện đối với Nhà nước;
    9. d) Xác định các khoản còn phải thu, phải trả;

    đ) Lập phương án thanh lý để Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh chuẩn y;

    1. e) Thực hiện phương án thanh lý đã được chuẩn y;
    2. g) Lập báo cáo kết quả thanh lý trình Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh.

    Điều 41. Thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ

    Trong quá trình thanh lý, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  hoặc các Bên hợp doanh thanh toán các nghĩa vụ theo thứ tự ưu tiên như sau:

    1. Chi phí liên quan đến hoạt động thanh lý;
    2. Lương, chi phí bảo hiểm xã hội mà doanh nghiệp hoặc các Bên hợp doanh còn nợ;
    3. Các khoản thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp, của các Bên hợp doanh đối với Nhà nước Việt Nam;
    4. Các khoản nợ;
    5. Các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp, của các Bên hợp doanh.

    Điều 42. Thời hạn hoạt động của Ban thanh lý

    1. 1. Thời hạn hoạt động của Ban thanh lý không quá 12 tháng kể từ ngày thành lập.
    2. Khi hết thời hạn, nếu việc thanh lý chưa kết thúc, Ban thanh lý vẫn chấm dứt hoạt động; trong trường hợp đó, các Bên liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh tự giải quyết các vấn đề chưa được xử lý. Trường hợp có tranh chấp thì việc xử lý tranh chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 122 của Nghị định này.

    Điều 43. Phương thức thanh lý tài sản

    Tài sản của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tài sản để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh khi thanh lý được thực hiện theo phương thức do các bên thoả thuận.

    Trong trường hợp Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, khi chấm dứt hoạt động, giá trị quyền sử dụng đất của thời gian còn lại thuộc tài sản thanh lý của doanh nghiệp.

    Điều 44. Thủ tục giải quyết khi lâm vào tình trạng phá sản

    Trong quá trình thanh lý, nếu có đủ yếu tố để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thì Ban thanh lý phải báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư để chấm dứt việc thanh lý và chuyển sang giải quyết theo thủ tục phá sản quy định trong pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

    Chương IV
    các vấn đề về thuế – tài chính

    Điều 45. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất là 25% lợi nhuận thu được, trừ những trường hợp quy định tại Điều 46 của Nghị định này.

    Đối với lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên quý hiếm khác thì mức thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Dầu khí và pháp luật có liên quan.

    Điều 46. Thuế thu nhập doanh nghiệp trong các trường hợp khuyến khích đầu tư

    Thuế suất thuế  thu nhập doanh nghiệp ưu đãi được áp dụng như sau:

    1. 20% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau:
    2. a) Doanh nghiệp khu công nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ;
    3. b) Dự án sản xuất không thuộc loại các dự án nêu tại Điều 45 và các khoản 2 và 3 Điều này.
    4. 15% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau:
    5. a) Thuộc danh mục dự án khuyến khích đầu tư;
    6. b) Đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn;
    7. c) Doanh nghiệp dịch vụ trong Khu chế xuất;
    8. d) Doanh nghiệp khu công nghiệp xuất khẩu trên 50% sản phẩm;

    đ) Chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động.

    1. 10% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau:
    2. a) Có 2 trong các tiêu chuẩn nêu tại khoản 2 Điều này;
    3. b) Thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư;
    4. c) Đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư;
    5. d) Doanh nghiệp phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao; Doanh nghiệp chế xuất;

    đ) Thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học;

    1. Thời hạn áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi được quy định như sau:
    2. a) Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi nêu tại Điều này được áp dụng trong suốt thời hạn thực hiện dự án đầu tư đối với dự án đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau:

    – Thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư;

    – Thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn trong danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư;

    – Phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao;

    – Đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao;

    – Thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học.

    1. b) Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% được áp dụng trong 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án được quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
    2. c) Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 15% được áp dụng trong 12 năm, kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án được quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
    3. d) Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20% được áp dụng trong 10 năm, kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án được quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
    4. Sau thời gian được hưởng mức thuế suất ưu đãi nêu tại các điểm b, c, d khoản 4 Điều này, các dự án phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất là 25%.
    5. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo Luật đầu tư nước ngoài được giảm 20% thuế thu nhập doanh nghiệp so với các dự án cùng loại, trừ trường hợp được hưởng mức thuế là 10%.

    Điều 47. Các dự án không được hưởng thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

    Các mức thuế suất nêu tại Điều 46 Nghị định này không áp dụng với các dự án khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê (trừ trường hợp đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư hoặc chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động), các dự án tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, cung cấp dịch vụ (trừ dự án trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao).

    Điều 48. Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

    Việc miễn, giảm thuế  thu nhập doanh nghiệp áp dụng như sau:

    1. Các dự án nêu tại khoản 1 Điều 46 Nghị định này được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 1 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 02 năm tiếp theo.
    2. Các dự án nêu tại khoản 2 Điều 46 Nghị định này được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 02 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo.
    3. Các dự án nêu tại khoản 3 Điều 46 Nghị định này và các dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 04 ăm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo, trừ những dự án được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 8 năm.
    4. Các Doanh nghiệp BOT, BTO, BT đầu tư vào địa bàn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư; Doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao; doanh nghiệp dịch vụ công nghệ cao trong Khu công nghệ cao; các dự án trồng rừng và các dự án xây dựng – kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng tại điạ bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; các dự án có quy mô lớn và có tác động lớn đối với kinh tế – xã hội thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 8 năm kể từ khi kinh doanh có lãi.
    5. Thời hạn miễn, giảm thuế được tính liên tục kể từ năm đầu tiên kinh doanh có lãi.
    6. Việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trên đây không áp dụng đối với các dự án khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê (trừ trường hợp đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư hoặc chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động), các dự án đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, cung cấp dịch vụ (trừ dự án trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao).

    Điều 49. Điều chỉnh thuế suất ưu đãi và thời hạn miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

    1. Trong quá trình kinh doanh, nếu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài không đạt các tiêu chuẩn để được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi và thời hạn miễn, giảm thuế quy định tại các Điều 46 và 48 Nghị định này, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư sẽ điều chỉnh mức thuế suất, thời hạn miễn, giảm thuế đã được quy định trong Giấy phép đầu tư.
    2. Bộ Tài chính quyết định việc miễn, giảm thuế theo quy định hiện hành đối với các trường hợp gặp khó khăn trong quá trình kinh doanh do thiên tai, hoả hoạn và các điều kiện bất khả kháng khác.

    Điều 50. Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

    1. Lợi nhuận mà Nhà đầu tư nước ngoài thu được do đầu tư tại Việt Nam (kể cả thuế thu nhập doanh nghiệp được hoàn lại do tái đầu tư và lợi nhuận thu được do chuyển nhượng vốn), nếu chuyển ra nước ngoài hoặc được giữ lại ngoài Việt Nam đều phải chịu thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
    1. Thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài áp dụng như sau:
    2. a) 3% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với:

    – Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài;

    – Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư  vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao;

    – Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh từ 10 triệu USD trở lên;

    – Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư.

    1. b) 5% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh từ 5 triệu USD đến dưới 10 triệu USD và đối với Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học.
    2. c) 7% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều này.
    3. Thuế chuyển lợi nhuận được thu theo từng lần chuyển lợi nhuận.
    4. Trường hợp Nhà đầu tư nước ngoài đã nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, nhưng sau đó không chuyển ra nước ngoài, thì số thuế đã nộp sẽ được hoàn lại.

    Điều 51. Hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong trường hợp tái đầu tư

    1. Nhà đầu tư nước ngoài dùng lợi nhuận và các khoản thu hợp pháp khác từ hoạt động đầu tư ở Việt Nam để tái đầu tư vào dự án đang thực hiện hoặc đầu tư vào dự án mới theo Luật Đầu tư nước ngoài được hoàn lại một phần hoặc toàn bộ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp của số lợi nhuận tái đầu tư (trừ những trường hợp được quy định tại Luật Dầu khí) nếu đáp ứng các điều kiện sau:
    2. a) Tái đầu tư vào những dự án được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nêu tại Điều 46 của Nghị định này;
    3. b) Vốn tái đầu tư được sử dụng từ 3 năm trở lên;
    4. c) Đã góp đủ vốn pháp định, vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh ghi trong Giấy phép đầu tư.
    5. Mức hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với số lợi nhuận tái đầu tư tại Việt Nam được quy định như sau:
    6. a) 100% nếu tái đầu tư vào các dự án thuộc diện được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%;
    7. b) 75% nếu tái đầu tư vào các dự án thuộc diện được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 15%;
    8. c) 50% nếu tái đầu tư vào các dự án thuộc diện được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20%.
    9. Khi có yêu cầu sử dụng lợi nhuận tái đầu tư, Nhà đầu tư nước ngoài lập hồ sơ gửi Bộ Tài chính để được xem xét hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp, gồm:
    10. a) Đơn xin hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp do tái đầu tư;
    11. b) Cam kết về việc sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư từ 3 năm trở lên;
    12. c) Cam kết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh về việc Nhà đầu tư nước ngoài đã góp đủ vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    13. d) Bản sao Giấy phép đầu tư;

    đ) Giấy chứng nhận của Cơ quan thuế về số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp.

    1. Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính thông báo quyết định của mình cho Nhà đầu tư nước ngoài; trong trường hợp được chấp thuận, Nhà đầu tư nước ngoài được làm thủ tục hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần lợi nhuận của mình dùng để tái đầu tư. Quá thời hạn nêu trên, nếu chưa hoặc không chấp thuận, Bộ Tài chính thông báo cho Nhà đầu tư nước ngoài bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Trường hợp số lợi nhuận đã đăng ký tái đầu tư không được sử dụng để tái đầu tư, thì Nhà đầu tư nước ngoài phải nộp lại phần thuế thu nhập doanh nghiệp đã được hoàn, cộng thêm một khoản tiền lãi được tính bằng lợi tức tiền vay đối với số thuế phải nộp lại.

    Điều 52. Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chuyển nhượng vốn

    Việc chuyển nhượng vốn thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Luật Đầu tư nước ngoài và là đối tượng chịu thuế theo quy định như sau:

    1. Trong trường hợp chuyển nhượng vốn có phát sinh lợi nhuận, Bên chuyển nhượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 25% lợi nhuận thu được.
    2. Lợi nhuận chịu thuế bằng giá trị chuyển nhượng trừ đi giá trị ban đầu của phần vốn chuyển nhượng, trừ đi chi phí chuyển nhượng (nếu có).

    Trường hợp các Nhà đầu tư nước ngoài sau đó lại tiếp tục chuyển nhượng phần vốn của mình, thì giá trị ban đầu của phần vốn chuyển nhượng từng lần sau được xác định bằng giá trị chuyển nhượng của hợp đồng chuyển nhượng ngay trước đó cộng với giá trị phần vốn góp bổ sung (nếu có).

    1. Sau khi Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư xác nhận việc đăng ký Hợp đồng chuyển nhượng vốn thông qua việc điều chỉnh Giấy phép đầu tư, bên chuyển nhượng vốn hoặc người được uỷ quyền phải nộp cho Cơ quan Thuế địa phương tờ khai thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vốn kèm theo hồ sơ có liên quan theo quy định của Cơ quan Thuế.

    Điều 53. Năm tính thuế

    Năm tính thuế đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh có thể đề nghị Bộ Tài chính cho áp dụng năm tài chính 12 tháng của mình để tính và nộp thuế  thu nhập doanh nghiệp.

    Điều 54. Lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

    Lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là số chênh lệch giữa tổng các khoản thu với tổng các khoản chi cộng với các khoản lợi nhuận phụ khác trong năm tính thuế trừ đi số lỗ được chuyển theo quy định tại Điều 40 của Luật Đầu tư nước ngoài. Lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp gồm lợi nhuận chịu thuế của cơ sở chính cộng với lợi nhuận chịu thuế của cơ sở phụ (nếu có) của doanh nghiệp.

    Việc xác định lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được tính vào chi phí các khoản chi được cơ quan thuế xác định là khoản chi hợp lý tài trợ cho các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam.

    Điều 55. Chuyển lỗ

    Trong quá trình hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài sau khi quyết toán thuế với cơ quan thuế mà bị lỗ thì được chuyển khoản lỗ sang năm sau, số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm.

    Điều 56. Trích lập quỹ doanh nghiệp

    Sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trích lợi nhuận còn lại để lập các quỹ dự phòng, quỹ phúc lợi, quỹ mở rộng sản xuất và các quỹ khác theo quyết định của doanh nghiệp.

    Điều 57. Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định, bao gồm:
    2. a) Thiết bị, máy móc;
    3. b) Phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và phương tiện vận chuyển dùng để đưa đón công nhân (ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên, phương tiện thuỷ);
    4. c) Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm với thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển và vận tải chuyên dùng quy định tại điểm b khoản này;
    5. d) Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để chế tạo thiết bị, máy móc trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm với thiết bị, máy móc;

    đ) Vật tư xây dựng mà trong nước chưa sản xuất được.

    1. Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để thực hiện dự án BOT, BTO, BT; giống cây trồng, vật nuôi, nông dược đặc chủng được phép nhập khẩu để thực hiện dự án nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp được miễn thuế nhập khẩu.
    2. Việc miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu nêu tại khoản 1 và 2 Điều này được áp dụng cho cả trường hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế, đổi mới công nghệ.
    3. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh trong lĩnh vực khách sạn, văn phòng – căn hộ cho thuê, nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ kỹ thuật, siêu thị, sân golf, khu du lịch, khu thể thao, khu vui chơi giải trí, cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo, văn hoá, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ tư vấn cũng được áp dụng việc miễn thuế như quy định tại khoản 1 và 3 Điều này, trừ các trang thiết bị chỉ được nhập khẩu miễn thuế nhập khẩu một lần theo quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.
    4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đầu tư vào dự án thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất.
    5. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đầu tư sản xuất linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện, điện tử được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 05 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất.
    6. Nguyên liệu, bộ phận rời, phụ tùng và vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu.
    7. Hàng hoá, vật tư khác dùng cho các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ được miễn thuế nhập khẩu.
    8. Căn cứ vào Giấy phép đầu tư, giải trình kinh tế – kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật của dự án, Bộ Thương mại hoặc Cơ quan được Bộ Thương mại uỷ quyền quyết định danh mục hàng hoá nhập khẩu miễn thuế. Hàng hóa nhập khẩu nêu trên không được nhượng bán tại thị trường Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, nếu nhượng bán tại thị trường Việt Nam thì phải được Bộ Thương mại chấp thuận và phải nộp các khoản thuế liên quan theo quy định của pháp luật.

     

    Điều 58. Thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu và đối với nguyên liệu để sản xuất sản phẩm bán cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh sản xuất hàng xuất khẩu được tạm chưa nộp thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu trong thời hạn được quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Đối với một số sản phẩm xuất khẩu do yêu cầu sản xuất hoặc chu kỳ sản xuất, thì thời gian tạm chưa nộp thuế do Bộ Tài chính quyết định.

    Quá thời hạn nêu trên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh phải nộp thuế nhập khẩu và khi xuất khẩu thành phẩm được hoàn thuế nhập khẩu số nguyên liệu, vật tư đã nhập khẩu theo tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ thành phẩm xuất khẩu.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh bán sản phẩm của mình sản xuất cho các doanh nghiệp khác để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu tương ứng với số sản phẩm này.

    Điều 59. Giá tính thuế nhập khẩu

    Giá tính thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu thuộc diện phải chịu thuế nhập khẩu được xác định theo giá ghi trong hoá đơn hàng hoá nhập khẩu. Trường hợp không có hoá đơn thì giá tính thuế nhập khẩu được xác định theo quy định của Bộ Tài chính.

     

    Điều 60. Thuế giá trị gia tăng

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được tạm chưa phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu trong thời hạn tạm chưa phải nộp thuế nhập khẩu theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh không phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với:
    3. a) Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được, nhập khẩu để tạo tài sản cố định của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;

    Trường hợp dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ nhập khẩu thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng, nhưng trong dây chuyền đồng bộ đó có cả loại thiết bị, máy móc trong nước đã sản xuất được thì cũng không tính thuế giá trị gia tăng cho cả dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ;

    1. b) Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được để tạo tài sản cố định của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    2. c) Nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất sản phẩm cung cấp cho các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu.

    Điều 61. Khấu hao tài sản cố định

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thực hiện việc khấu hao tài sản cố định theo quy định của Bộ Tài chính.

    Chương  V
    chế độ kế toán, thống kê và bảo hiểm

    Điều 62. Công tác kế toán, kiểm toán, thống kê

    1. Công tác kế toán, kiểm toán, thống kê trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán, thống kê của Việt Nam.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện kế toán theo chế độ kế toán Việt Nam.

    Trường hợp có lý do chính đáng cần áp dụng chế độ kế toán nước ngoài thông dụng khác thì phải được Bộ Tài chính chấp thuận.

    1. Bên hợp doanh nước ngoài ghi chép kế toán theo nội dung phù hợp với từng loại hình hợp tác kinh doanh.

    Điều 63. Đơn vị đo lường, tiền tệ, ghi chép kế toán, thống kê

    1. Đơn vị đo lường dùng trong kế toán và thống kê là đơn vị đo lường chính thức của Việt Nam. Các đơn vị đo lường khác phải được quy đổi ra đơn vị đo lường chính thức của Việt Nam.
    2. Đơn vị tiền tệ được sử dụng trong ghi chép kế toán và thống kê là đồng Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài có thể đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận việc sử dụng đơn vị tiền tệ nước ngoài.
    3. Việc ghi chép kế toán và thống kê được thực hiện bằng tiếng Việt Nam hoặc đồng thời bằng tiếng Việt Nam và tiếng nước ngoài thông dụng.

    Điều 64. Báo cáo tài chính

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài phải gửi báo cáo tài chính hàng năm đến Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê trong vòng 03 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính của doanh nghiệp.

    Báo cáo tài chính hàng năm của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về kiểm toán trước khi gửi tới các cơ quan trên.

    Công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính độc lập, khách quan, trung thực của kết quả kiểm toán.

    Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài đã được kiểm toán có thể được sử dụng làm cơ sở để xác định và quyết toán các nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước Việt Nam.

    Điều 65. Quy định về bảo hiểm

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện việc bảo hiểm trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm ký với công ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện việc bảo hiểm tự nguyện và bắt buộc theo quy định của pháp luật.

    Đối tượng bảo hiểm gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

     

    Chương VI
    quản lý ngoại hối

    Điều 66. Mở tài khoản

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài được mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản đồng Việt Nam tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.

    Trong trường hợp đặc biệt, đối với một số dự án có nhu cầu cần thiết, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản tại ngân hàng ở nước ngoài sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận. Doanh nghiệp có trách nhiệm báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tình hình sử dụng tài khoản mở ở nước ngoài. Việc mở, sử dụng và đóng tài khoản của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Điều 67. Quy định về bảo đảm ngoại tệ

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài được mua ngoại tệ tại Ngân hàng Thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng cho các giao dịch vãng lai và các giao dịch được phép khác theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
    2. Đối với những dự án đặc biệt quan trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ trong từng thời kỳ, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo đảm cân đối ngoại tệ cho Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và được quy định tại Giấy phép đầu tư.
    3. Chính phủ Việt Nam bảo đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và một số dự án quan trọng khác trong trường hợp các Ngân hàng Thương mại không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ nêu tại khoản 1 Điều này.

    Điều 68. Chuyển các khoản thu ra nước ngoài của Nhà đầu tư nước ngoài

    1. Sau khi thực hiện các nghĩa vụ về thuế, Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài:
    2. a) Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, khoản thu được chia;
    3. b) Tiền thu nhập do cung ứng dịch vụ và chuyển giao công nghệ;
    4. c) Tiền gốc và lãi của các khoản vay nước ngoài;
    5. d) Vốn đầu tư;

    đ) Các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.

    1. Khi chấm dứt hoạt động và giải thể doanh nghiệp, Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài tài sản thuộc sở hữu hợp pháp.
    2. Trong trường hợp số tiền chuyển ra nước ngoài quy định tại khoản 2 Điều này cao hơn vốn ban đầu và vốn tái đầu tư, thì số tiền chênh lệch đó chỉ được chuyển ra nước ngoài sau khi được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y.

    Điều 69. Chuyển các khoản thu nhập của người nước ngoài ra nước ngoài

    Người nước ngoài làm việc trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh, được chuyển ra nước ngoài tiền lương và các khoản thu nhập hợp pháp khác bằng tiền nước ngoài, sau khi đã nộp thuế thu nhập và chi phí khác.

    Điều 70. Tỷ giá chuyển đổi

    Tỷ giá chuyển đổi tiền nước ngoài sang tiền Việt Nam và ngược lại áp dụng trong quá trình đầu tư và sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm chuyển đổi.

    Chương VII
    xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ,
    bảo vệ môi trường

    Điều 71. Đăng ký kế hoạch nhập khẩu

    1.Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đăng ký kế hoạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, nguyên liệu… cho toàn bộ thời gian xây dựng cơ bản của dự án, hoặc chia thành từng năm phù hợp với tiến độ xây lắp. Kế hoạch nhập khẩu có thể được bổ sung, điều chỉnh vào tháng đầu của mỗi quý và hàng năm phù hợp với tiến độ góp vốn, tiến độ thi công, chương trình sản xuất kinh doanh.

    1. Trên cơ sở Giấy phép đầu tư, căn cứ vào giải trình kinh tế – kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật công trình, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Cơ quan được Bộ Thương mại uỷ quyền duyệt kế hoạch nhập khẩu cho từng dự án. Quá thời hạn trên, nếu chưa phê duyệt, Cơ quan được Bộ Thương mại ủy quyền phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp, các Bên hợp doanh và nêu rõ lý do.
    2. Trong điều kiện thương mại như nhau, khuyến khích Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh mua hàng hoá tại Việt Nam thay vì nhập khẩu.

    Điều 72. Yêu cầu đối với thiết bị, máy móc, vật tư nhập khẩu

    Thiết bị, máy móc, vật tư nhập khẩu vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư phải bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, phù hợp với yêu cầu sản xuất, yêu cầu về bảo vệ môi trường, an toàn lao động nêu trong giải trình kinh tế – kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật và các quy định về nhập khẩu thiết bị, máy móc.

    Trừ thiết bị, máy móc đã qua sử dụng thuộc danh mục cấm nhập khẩu, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được quyền quyết định và chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế – kỹ thuật của việc nhập khẩu thiết bị, máy móc đã qua sử dụng và đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

     

    Điều 73. Giám định thiết bị, máy móc nhập khẩu

    1. Thiết bị, máy móc nhập khẩu để thực hiện dự án đầu tư phải được giám định giá trị, chất lượng trước khi nhập khẩu hoặc trước khi lắp đặt, trừ thiết bị, máy móc đã được mua sắm thông qua đấu thầu.
    2. Hải quan cửa khẩu căn cứ vào kế hoạch nhập khẩu đã được phê duyệt để cho phép nhập khẩu thiết bị, máy móc mà không yêu cầu việc xuất trình chứng chỉ giám định.
    3. Tổ chức thực hiện giám định giá trị thiết bị, máy móc nhập khẩu là Công ty giám định được phép hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức Nhà nước Việt Nam có chức năng giám định, hoặc Công ty giám định ở nước ngoài đối với việc giám định thiết bị, máy móc trước khi nhập khẩu. Nhà đầu tư phải cung cấp thông tin cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư về Công ty giám định mà mình lựa chọn.

    Tổ chức giám định phải chịu trách nhiệm pháp lý và vật chất về kết quả giám định. Trong trường hợp giá trị thiết bị, máy móc được giám định thấp hơn giá trị do Nhà đầu tư báo cáo, thì Nhà đầu tư phải điều chỉnh lại giá trị thực hiện theo kết quả đó. Nếu phát hiện có gian lận, thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    1. Trong trường hợp cần thiết, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể yêu cầu giám định lại giá trị các thiết bị, máy móc nhập khẩu.

    Điều  74. Thuê mua tài chính và thuê thiết bị, máy móc

    1. Đối với một số dự án có yêu cầu đặc biệt, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thuê thiết bị, máy móc ở trong nước và ở nước ngoài để thực hiện dự án.
    2. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê mua tài chính thiết bị, máy móc tạo tài sản cố định, thì được miễn thuế nhập khẩu.
    3. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê thiết bị, máy móc để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện theo quy định sau:
    4. a) Chỉ được thuê thiết bị, máy móc chưa có trong dây chuyền công nghệ đăng ký tại giải trình kinh tế – kỹ thuật, cũng như khuôn mẫu và phụ tùng đi kèm để sản xuất trong một thời gian nhất định;
    5. b) Thiết bị, máy móc thuê từ nước ngoài phải tái xuất khẩu khi hết thời hạn thuê.

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho Bên cho thuê theo quy định của pháp luật.

    Doanh nghiệp được hạch toán chi phí thuê thiết bị, máy móc vào chi phí kinh doanh, không thực hiện việc khấu hao tài sản đối với thiết bị, máy móc thuê, không được tính giá trị tài sản thuê vào giá trị tài sản của doanh nghiệp.

    Thiết bị, máy móc thuê trong thời hạn thuê không được coi là tài sản của Bên thuê khi tiến hành các thủ tục giải thể hay phá sản doanh nghiệp.

    Điều 75. Gia công và gia công lại

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thực hiện hoạt động gia công hoặc gia công lại sản phẩm theo mục tiêu được quy định tại Giấy phép đầu tư, cụ thể là:

    1. Nhận gia công nước ngoài;
    2. Nhận gia công trong nước;
    3. Đặt gia công trong nước một phần sản phẩm hoặc một số công đoạn mà công suất máy móc, thiết bị hoặc dây chuyền công nghệ chưa bảo đảm sản xuất được.

    Điều 76. Xuất khẩu hàng hoá

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu sản phẩm của mình, được nhận ủy thác xuất khẩu theo quy định của pháp luật.

    Doanh nghiệp làm thủ tục xuất khẩu tại Cơ quan Hải quan mà không phải đăng ký kế hoạch xuất khẩu.

    Trừ các mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, danh mục hàng hoá xuất khẩu có điều kiện, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được trực tiếp mua hàng hoá, sản phẩm tại thị trường Việt Nam để chế biến xuất khẩu hoặc để xuất khẩu theo quy định của Bộ Thương mại.

     

    Điều 77. Tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Việt Nam

    Đối với sản phẩm tiêu thụ tại thị trường Việt Nam, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trực tiếp hoặc thông qua đại lý tiêu thụ để thực hiện, mà không bị giới hạn về địa bàn tiêu thụ. Doanh nghiệp được làm đại lý tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp khác có cùng loại sản phẩm sản xuất tại Việt Nam.

    Giá bán sản phẩm do doanh nghiệp quyết định. Đối với những hàng hoá, dịch vụ Nhà nước thống nhất quản lý giá, giá bán thực hiện theo khung giá do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố.

    Điều 78. Bán sản phẩm của Doanh nghiệp chế xuất vào thị trường Việt Nam

    Doanh nghiệp chế xuất được bán vào thị trường nội địa các sản phẩm sản xuất tại doanh nghiệp, bao gồm:

    1. Nguyên liệu, bán thành phẩm cho các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu;
    2. Hàng hoá mà trong nước có nhu cầu nhập khẩu;
    3. Phế liệu, phế phẩm còn giá trị thương mại.

    Thủ tục và việc nộp thuế đối với các hàng hoá nói trên thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập khẩu.

    Điều 79. Kho bảo thuế

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu được lập Kho bảo thuế tại doanh nghiệp. Hàng hoá đưa vào Kho bảo thuế chưa thuộc diện phải nộp thuế nhập khẩu.

    Doanh nghiệp có nhu cầu thành lập Kho bảo thuế phải bảo đảm các điều kiện và thủ tục sau đây:

    1. Xuất khẩu ít nhất 50% sản phẩm;
    2. Hàng hoá đưa từ Kho bảo thuế vào cơ sở sản xuất phải được đăng ký, và chịu sự giám sát của hải quan;
    3. Hàng hoá đưa vào Kho bảo thuế không được bán tại thị trường Việt Nam. Trường hợp được Bộ Thương mại cho phép bán tại thị trường Việt Nam, doanh nghiệp phải nộp thuế nhập khẩu và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật;
    4. Hàng hoá đưa vào Kho bảo thuế nếu bị hư hỏng, giảm phẩm chất không đáp ứng yêu cầu sản xuất thì phải tái xuất khẩu hoặc tiêu huỷ. Việc tiêu huỷ phải theo đúng quy định và chịu sự giám sát của Cơ quan Hải quan, Cơ quan Thuế và Cơ quan Môi trường.

    Tổng cục Hải quan căn cứ vào quy định trên đây để hướng dẫn việc cấp Giấy phép thành lập Kho bảo thuế tại Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thực hiện việc quản lý, giám sát hoạt động của Kho bảo thuế.

    Điều 80. Bảo hộ và khuyến khích chuyển giao công nghệ

    1. Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi và bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của bên chuyển giao công nghệ để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ; khuyến khích chuyển giao nhanh công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến và công nghệ đáp ứng một trong các yêu cầu sau:
    2. a) Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết tại Việt Nam hoặc sản xuất hàng xuất khẩu;
    3. b) Nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất;
    4. c) Tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
    5. Nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, trật tự công cộng và an toàn lao động.

    Điều 81. Chuyển giao công nghệ và góp vốn bằng công nghệ

    1. Việc chuyển giao công nghệ của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thực hiện trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.
    2. Giá trị công nghệ chuyển giao dùng để góp vốn do các bên thoả thuận và trong mọi trường hợp không vượt quá 20% vốn pháp định.

    Bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật,… dùng để góp vốn được miễn các loại thuế có liên quan đến chuyển giao công nghệ.

    1. Khi góp vốn bằng công nghệ, Nhà đầu tư phải lập hồ sơ chuyển giao công nghệ. Hồ sơ chuyển giao công nghệ được gửi kèm theo hồ sơ dự án xin cấp Giấy phép đầu tư và phải có các tài liệu liên quan đến sở hữu công nghiệp, văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và các văn bản xác nhận về tính năng kỹ thuật, nguyên tắc thoả thuận giá trị công nghệ của các bên liên doanh.

    Việc góp vốn bằng công nghệ phải được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chấp thuận. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư thực hiện việc điều chỉnh Giấy phép đầu tư sau khi việc góp vốn bằng công nghệ được chuẩn y.

    Điều 82. Bảo vệ môi trường

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh có trách nhiệm tuân thủ các quy định, đáp ứng các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam.
    2. Căn cứ vào tính chất hoạt động, trình độ công nghệ và mức độ tác động môi trường, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường công bố danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

    Việc lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

    1. Đối với các dự án ngoài danh mục nói trên, trong hồ sơ xin phép đầu tư, Nhà đầu tư chỉ cần giải trình các yếu tố có thể ảnh hưởng đến môi trường, nêu các giải pháp xử lý và cam kết bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và hoạt động kinh doanh.
    2. Trường hợp Nhà đầu tư áp dụng tiêu chuẩn môi trường tiên tiến của quốc tế trong quá trình xây dựng và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thì chỉ cần đăng ký với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

    Chương VIII
    quan hệ Lao động

    Điều 83. Tuyển dụng lao động

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh tuyển dụng lao động Việt Nam thông qua các tổ chức cung ứng lao động Việt Nam. Sau thời hạn tối đa 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung ứng lao động của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh mà tổ chức cung ứng lao động Việt Nam không đáp ứng được thì Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được trực tiếp tuyển dụng lao động Việt Nam.
    2. Khi có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh làm thủ tục tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Ban quản lý Khu công nghiệp để được xem xét cấp Giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

    Điều 84. Lương trả cho lao động Việt Nam

    1. Mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt Nam làm việc trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được quy định và trả bằng tiền đồng Việt Nam. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố mức lương tối thiểu theo từng thời kỳ.
    2. Mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt Nam có thể được điều chỉnh khi chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 10% trở lên so với lần điều chỉnh gần nhất.

    Chương IX
    Đất đai, xây dựng, đấu thầu, nghiệm thu,
    quyết toán công trình

    Điều 85. Thuê đất và trả tiền thuê đất

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư và phải trả tiền thuê theo quy định của Bộ Tài chính.

     

    Điều 86. Mức tiền thuê đất và miễn, giảm tiền thuê đất

    Trên cơ sở khung giá tiền thuê đất và điều kiện miễn, giảm do Bộ Tài chính quy định, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức tiền thuê và việc miễn giảm cho từng dự án. Giá tiền thuê đất được giữ không tăng trong thời hạn tối thiểu là 5 năm; khi điều chỉnh tăng thì mức tăng không vượt quá 15% so với lần điều chỉnh trước đó.

    Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê đất của Nhà nước đã trả trước tiền thuê cho suốt thời hạn dự án hoặc cho một số năm, nếu trong thời hạn đó mà có quyết định tăng giá tiền thuê thì tiền thuê đã trả không điều chỉnh lại.

    Điều 87. Quy định về thuê đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao

    1. Đối với dự án đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao do doanh nghiệp phát triển hạ tầng đầu tư xây dựng hạ tầng, thì việc trả tiền thuê đất, tiền thuê lại đất đã phát triển hạ tầng và phí sử dụng các công trình hạ tầng thực hiện theo hợp đồng ký kết với doanh nghiệp phát triển hạ tầng.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê đất, thuê lại đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng dẫn của Tổng cục Địa chính.

    Điều 88. Thẩm quyền quyết định cho thuê đất

    Thủ tướng Chính phủ quyết định cho thuê đất đối với dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên, các loại đất khác từ 50 ha trở lên. ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho thuê đất đối với các dự án còn lại.

    Điều 89. Đền bù, giải phóng mặt bằng, hồ sơ thuê đất

    1. Trường hợp được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất, ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng, hoàn thành các thủ tục cho thuê đất. Chi phí đền bù, giải toả được tính vào vốn đầu tư của dự án. ủy ban nhân dân cấp tỉnh thỏa thuận với doanh nghiệp được thuê đất về nguồn tài chính để thực hiện việc đền bù, giải tỏa.
    2. Trường hợp Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, Bên Việt Nam có trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng và hoàn thành các thủ tục để được quyền sử dụng đất. Chi phí thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng được tính trong phần góp vốn của Bên Việt Nam hoặc do các Bên thoả thuận.
    3. Đơn giá đền bù thực hiện theo quy định chung của Nhà nước.
    4. Đối với dự án do ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép đầu tư, việc xem xét cho thuê đất được tiến hành đồng thời với việc xem xét cấp Giấy phép đầu tư.
    5. Đối với các dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép đầu tư, hồ sơ xin thuê đất kèm theo hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư bao gồm các nội dung sau:
    6. a) Vị trí, diện tích đất sử dụng;
    7. b) Giá tiền thuê đất do ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị trên cơ sở khung giá tiền thuê đất do Bộ Tài chính quy định;
    8. c) Phương án đền bù, giải phóng mặt bằng.
    9. Thủ tục, hồ sơ thuê đất, thuê lại đất thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Địa chính.

    Điều 90. Thời hạn tính tiền thuê đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

    Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê đất để thực hiện dự án đầu tư hoặc Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, thời hạn tính tiền thuê đất hoặc tính giá trị góp vốn của Bên Việt Nam được tính kể từ khi bàn giao đất trên thực địa.

    Điều 91. Ưu đãi về tiền thuê đất

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thuê đất với mức giá thấp nhất và được miễn, giảm tối đa các loại thuế trong trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và các công trình hạ tầng ngoài hàng rào. Mức giá thuê đất thấp nhất cũng được áp dụng đối với các lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học.

    Điều 92. Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất tại tổ chức tín dụng Việt Nam, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam với nước ngoài theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật trong các trường hợp sau:
    1. a) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trả tiền thuê đất nhiều năm, nếu thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất 5 năm;
    2. b) Doanh nghiệp liên doanh mà Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, nếu thời hạn góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn lại ít nhất 5 năm.
    3. Giá trị quyền sử dụng đất thế chấp bao gồm chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng và tiền thuê đất đã trả trừ đi tiền thuê đất cho thời gian đã sử dụng.
    4. Hồ sơ và thủ tục thế chấp giá trị quyền sử dụng đất thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Địa chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Điều 93. Giải chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

    1. Khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ có thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện việc giải chấp theo quy định của pháp luật.
    2. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay nợ, thì tài sản thế chấp được xử lý theo quy định của pháp luật.
    3. Tổ chức hoặc cá nhân nhận quyền sử dụng đất hợp pháp phát sinh từ việc thế chấp theo quy định của pháp luật được tiếp tục sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Giấy phép đầu tư; trường hợp thay đổi, bổ sung mục tiêu hoạt động phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    Điều 94. Quản lý xây dựng công trình có vốn đầu tư nước ngoài

    Việc quản lý xây dựng công trình có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo các nội dung sau:

    1. Thẩm định về quy hoạch, kiến trúc công trình xây dựng.
    2. Thẩm định thiết kế kỹ thuật.
    3. Kiểm tra việc thực hiện đấu thầu trong xây dựng, cấp Giấy phép thầu tư vấn và xây dựng cho nhà thầu trúng thầu.
    4. Quản lý chất lượng công trình xây dựng.

    Điều 95. Thẩm định quy hoạch và phương án kiến trúc

    Trong hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư phải kèm theo thiết kế sơ bộ thể hiện phương án kiến trúc.

    Việc thẩm định quy hoạch và phương án kiến trúc công trình được thực hiện trong quá trình thẩm định dự án đầu tư.

    Điều 96. Nội dung thẩm định thiết kế kỹ thuật

    Thiết kế công trình xây dựng được thẩm định với các nội dung sau:

    1. Tư cách pháp lý của tổ chức thiết kế.
    1. Sự phù hợp của bản thiết kế so với quy hoạch và kiến trúc đã được thẩm định trong dự án và quy hoạch được duyệt.
    2. Sự tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật, xây dựng của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật của nước ngoài được Bộ Xây dựng chấp thuận.

    Điều 97. Thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật và quyết định xây dựng

    Thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật được quy định như sau:

    1. Bộ Xây dựng thẩm định thiết kế kỹ thuật thuộc dự án nhóm A quy định tại Điều 114 của Nghị định này, trừ dự án có công trình xây dựng quy mô nhỏ, tính chất đơn giản. ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định thiết kế kỹ thuật đối với các dự án còn lại.

    Bộ Xây dựng hướng dẫn việc thẩm định thiết kế kỹ thuật.

    1. Việc thẩm định thiết kế kỹ thuật và thông báo quyết định cho Nhà đầu tư được thực hiện trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Sau khi thiết kế kỹ thuật được chấp thuận, Nhà đầu tư được thi công công trình.

    Quá thời hạn 20 ngày làm việc nêu trên, nếu cơ quan thẩm định thiết kế không thông báo quyết định của mình cho Nhà đầu tư, thì Nhà đầu tư được thi công công trình theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật đã nộp.

    1. Chậm nhất 10 ngày làm việc trước khi khởi công xây dựng công trình, Nhà đầu tư phải thông báo về ngày khởi công công trình cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xây dựng công trình.

    Điều 98. Trách nhiệm đối với công trình

    1. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về chất lượng công trình, an toàn công trình; phòng chống cháy, nổ; bảo vệ môi trường trong thời kỳ xây dựng công trình cũng như trong suốt thời gian sử dụng công trình.
    2. Tổ chức khảo sát, thiết kế, nhà thầu xây dựng phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật Việt Nam về phần việc của mình liên quan đến chất lượng công trình.

    Điều 99. Đưa công trình vào sử dụng

    Khi kết thúc xây dựng công trình, Nhà đầu tư báo cáo cơ quan thẩm định thiết kế công trình về việc hoàn thành xây dựng công trình và được phép đưa công trình vào sử dụng. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan này tiến hành kiểm tra công trình; nếu phát hiện vi phạm thiết kế đã được duyệt, quy định về xây dựng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    Điều 100. Quy định về đấu thầu đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài

    1. Doanh nghiệp liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh doanh có sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam từ 30% vốn pháp định, vốn kinh doanh trở lên phải tổ chức đấu thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, đại diện có thẩm quyền của các Bên hợp doanh có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu trên cơ sở ý kiến thoả thuận của Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.
    2. Ngoài các dự án quy định tại khoản 1 Điều này, khuyến khích Nhà đầu tư các dự án khác tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

    Điều 101. Quyết toán công  trình

    1. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày hoàn thành xây dựng công trình hoặc hạng mục công trình đưa vào khai thác sử dụng, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh gửi báo cáo quyết toán công trình tới Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư. Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, tính chính xác của báo cáo quyết toán.
    2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được báo cáo quyết toán công trình, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có trách nhiệm xem xét và cấp giấy xác nhận đăng ký báo cáo quyết toán công trình.

    Trường hợp cần thiết, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể thẩm định báo cáo quyết toán vốn đầu tư và yêu cầu điều chỉnh vốn đầu tư theo đúng chi phí hợp lý.

    1. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày hoàn thành xây dựng đưa toàn bộ công trình vào sử dụng, chủ đầu tư phải nộp hồ sơ hoàn công để lưu trữ theo quy định của pháp luật.
    2. Việc xác nhận quyền sở hữu công trình được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 102. Thanh khoản

    1. Nhà đầu tư nộp báo cáo quyết toán công trình đã được xác nhận đăng ký tới cơ quan Hải quan để tiến hành thủ tục thanh khoản đối với máy móc thiết bị, nguyên vật liệu đã nhập khẩu để lắp đặt và xây dựng công trình.
    2. Trường hợp hàng hoá đã nhập khẩu không sử dụng hết cho việc lắp đặt, xây dựng công trình của dự án, Nhà đầu tư báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư và cơ quan Hải quan để xử lý. Hàng hoá nêu trên chỉ được nhượng bán tại thị trường trong nước khi có chấp thuận của Bộ Thương mại và phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan theo quy định của pháp luật.

    Điều 103. Hỗ trợ đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào

    Chính phủ bảo đảm hỗ trợ xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đến hàng rào của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao. Trong trường hợp cần thiết, các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh công trình hạ tầng kỹ thuật có thể thoả thuận với doanh nghiệp phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao hoặc Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về việc ứng trước vốn hoặc phương thức khác để xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật.

    Chương X
    Thủ tục cấp Giấy phép đầu tư

    Điều 104. Quy trình cấp Giấy phép đầu tư

    1. Các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được chấp thuận dưới hình thức Giấy phép đầu tư. Giấy phép đầu tư được ban hành theo mẫu thống nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
    2. Việc cấp Giấy phép đầu tư thực hiện theo một trong hai quy trình sau:
    3. a) Đăng ký cấp Giấy phép đầu tư;
    4. b) Thẩm định cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 105. Điều kiện đối với dự án thuộc diện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư

    1. Các dự án thuộc diện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư phải đồng thời đáp ứng các điều kiện sau đây:
    2. a) Không thuộc nhóm A theo quy định tại Điều 114 của Nghị định này;
    3. b) Phù hợp với quy hoạch đã được duyệt;
    4. c) Không thuộc danh mục dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.
    5. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, dự án thuộc diện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
    6. a) Xuất khẩu toàn bộ sản phẩm;
    7. b) Đầu tư vào Khu công nghiệp đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
    8. c) Thuộc lĩnh vực sản xuất có quy mô vốn đầu tư đến 5 triệu USD và có tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm từ 80% trở lên.
    9. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư không được phép từ chối việc cấp Giấy phép đầu tư cho các dự án đáp ứng đủ điều kiện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư.
    10. Các dự án còn lại thuộc diện thẩm định cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 106. Đăng ký cấp Giấy phép đầu tư

    1. Hồ sơ đăng ký cấp Giấy phép đầu tư gồm:
    2. a) Đơn đăng ký cấp Giấy phép đầu tư;
    3. b) Hợp đồng liên doanh và Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh hoặc Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    4. c) Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các bên.
    5. Hồ sơ đăng ký cấp Giấy phép đầu tư được lập thành 05 bộ, trong đó ít nhất có 01 bộ gốc và tất cả được nộp cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.
    6. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư thông báo quyết định chấp thuận dưới hình thức Giấy phép đầu tư.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành văn bản hướng dẫn lập hồ sơ dự án đăng ký cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 107. Hồ sơ thẩm định cấp Giấy phép đầu tư

    1. Hồ sơ thẩm định cấp Giấy phép đầu tư gồm:
    2. a) Đơn xin cấp Giấy phép đầu tư;
    3. b) Hợp đồng liên doanh và Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh hoặc Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    4. c) Giải trình kinh tế – kỹ thuật;
    5. d) Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các Bên liên doanh, các Bên hợp doanh, Nhà đầu tư nước ngoài;

    đ) Các tài liệu liên quan đến chuyển giao công nghệ (nếu có).

    1. Hồ sơ được lập thành 12 bộ đối với dự án nhóm A và 08 bộ đối với dự án nhóm B, trong đó ít nhất có 01 bộ gốc và tất cả được nộp cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành văn bản hướng dẫn lập hồ sơ dự án đầu tư nước ngoài.

    Điều 108. Nội dung thẩm định dự án đầu tư

    Nội dung thẩm định dự án đầu tư gồm:

    1. Tư cách pháp lý, năng lực tài chính của Nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam.
    2. Mức độ phù hợp của dự án với quy hoạch.
    3. Lợi ích kinh tế – xã hội (khả năng tạo năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới và sản phẩm mới; mở rộng thị trường; khả năng tạo việc làm cho người lao động; lợi ích kinh tế của dự án và các khoản nộp cho ngân sách,…).
    4. Trình độ kỹ thuật và công nghệ áp dụng, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái.
    5. Tính hợp lý của việc sử dụng đất, định giá tài sản góp vốn của Bên Việt Nam (nếu có).

    Điều 109. Quy trình thẩm định dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép đầu tư

    1. Đối với dự án nhóm A, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Trường hợp có ý kiến khác nhau về những vấn đề quan trọng của dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức họp tư vấn với đại diện có thẩm quyền của các cơ quan có liên quan để xem xét dự án trước khi trình Thủ tướng Chính phủ. Tùy từng trường hợp cụ thể, Thủ tướng Chính phủ có thể yêu cầu Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư nghiên cứu và tư vấn để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
    2. Đối với dự án nhóm B thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan trước khi xem xét, quyết định.
    3. Thời hạn thẩm định dự án:
    4. a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi hồ sơ tới các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan lấy ý kiến;
    5. b) Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có ý kiến bằng văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về nội dung dự án thuộc phạm vi quản lý của mình; quá thời hạn trên mà không có ý kiến bằng văn bản thì coi như chấp thuận dự án;
    6. c) Đối với dự án nhóm A, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình ý kiến thẩm định lên Thủ tướng Chính phủ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được Tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đối với dự án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo quyết định về việc cấp Giấy phép đầu tư đối với dự án;
    7. d) Đối với dự án nhóm B, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thành việc thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư.

    Thời hạn trên đây không kể thời gian Nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư.

    Mọi yêu cầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với Nhà đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ dự án được thực hiện bằng văn bản trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.

    Sau khi hết thời hạn quy định nêu trên mà không cấp Giấy phép đầu tư,  Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho Nhà đầu tư nêu rõ lý do, đồng sao gửi cho các cơ quan có liên quan.

    1. Việc cấp Giấy phép đầu tư đối với các dự án trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và Khu công nghệ cao thực hiện theo cơ chế ủy quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    Điều 110. Quy trình thẩm định đối với các dự án do ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép đầu tư

    1. Nội dung thẩm định dự án theo quy định tại Điều 108 của Nghị định này.
    2. Thời hạn thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư:
    3. a) Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ dự án tới Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật và các Bộ, ngành liên quan lấy ý kiến đối với dự án;
    4. b) Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các Bộ, ngành có ý kiến bằng văn bản gửi ủy ban nhân dân tỉnh về nội dung dự án thuộc phạm vi quản lý của mình; quá thời hạn trên mà không có ý kiến bằng văn bản thì coi như chấp thuận dự án;
    5. c) Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoàn thành việc thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư.

    Thời hạn trên đây không kể thời gian Nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư.

    Mọi yêu cầu của ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với Nhà đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ dự án được thực hiện bằng văn bản trong vòng 20 ngày làm việc ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.

    Sau khi hết thời hạn quy định nêu trên mà không cấp Giấy phép đầu tư, ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo bằng văn bản cho Nhà đầu tư nêu rõ lý do, đồng thời sao gửi cho các cơ quan có liên quan.

    1. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày cấp Giấy phép đầu tư, Giấy phép điều chỉnh, ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi bản gốc Giấy phép đầu tư, Giấy phép điều chỉnh đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư và bản sao đến Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan.

    Điều 111. Điều chỉnh Giấy phép đầu tư

    1. Việc sửa đổi, bổ sung Giấy phép đầu tư được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận dưới hình thức Giấy phép điều chỉnh.
    2. Thẩm quyền cấp Giấy phép điều chỉnh được quy định như sau:
    3. a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định cấp Giấy phép điều chỉnh đối với các dự án quy định tại Điều 114 và khoản 2 Điều 115 Nghị định này và ủy quyền cho Ban Quản lý Khu công nghiệp quyết định cấp Giấy phép điều chỉnh đối với các dự án được ủy quyền;
    4. b) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cấp Giấy phép điều chỉnh đối với các dự án trong diện được phân cấp cấp Giấy phép đầu tư.
    5. Khi có nhu cầu sửa đổi, bổ sung Giấy phép đầu tư, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh nộp hồ sơ xin điều chỉnh Giấy phép đầu tư cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều này. Hồ sơ gồm:
    6. a) Đơn xin điều chỉnh Giấy phép đầu tư;
    7. b) Nghị quyết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc thỏa thuận của các Bên hợp doanh hoặc đề nghị của Nhà đầu tư nước ngoài về các nội dung xin sửa đổi, bổ sung Giấy phép đầu tư;
    8. c) Báo cáo tình hình thực hiện dự án.
    9. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư thông báo quyết định cho Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh về việc điều chỉnh Giấy phép đầu tư trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

    Thời hạn trên đây không kể thời gian Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh giải trình bổ sung.

    Chương XI
    Quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư nước ngoài

     

    Điều 112. Hướng dẫn hoạt động đầu tư

    1. Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực và địa bàn quản lý; cung cấp các thông tin cần thiết và tạo mọi điều kiện thuận lợi để Nhà đầu tư lựa chọn cơ hội đầu tư tại Việt Nam; cải tiến việc điều hành, rà soát thủ tục đầu tư nhằm bảo đảm thủ tục đầu tư đơn giản, nhanh chóng.
    2. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền liên quan tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài; trường hợp có ý kiến khác nhau phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    Điều 113. Phối hợp hoạt động quản lý nhà nước

    1. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật, thực hiện chế độ phối hợp trong công tác quản lý doanh nghiệp.
    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xử lý kịp thời các vấn đề thuộc thẩm quyền và hướng dẫn các doanh nghiệp hoạt động theo đúng quy định tại Giấy phép đầu tư và quy định của pháp luật.
    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, cung cấp thông tin về tình hình đầu tư nước ngoài cho các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh, định kỳ làm việc với các Bộ Tài chính, Thương mại, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục địa chính, Tổng cục Hải quan và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, giải quyết các kiến nghị của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh, đề xuất những chính sách, biện pháp cải thiện môi trường đầu tư.

    Điều 114. Thẩm quyền quyết định dự án đầu tư

    1. Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án nhóm A gồm:
    2. a) Các dự án không phân biệt quy mô vốn đầu tư thuộc các lĩnh vực:

    – Xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu đô thị; dự án BOT, BTO, BT;

    – Xây dựng và kinh doanh cảng biển, sân bay; kinh doanh vận tải đường biển, hàng không;

    – Hoạt động dầu khí;

    – Dịch vụ bưu chính, viễn thông

    – Văn hoá; xuất bản, báo chí; truyền thanh, truyền hình; cơ sở khám, chữa bệnh; giáo dục, đào tạo; nghiên cứu khoa học; sản xuất thuốc chữa bệnh cho người;

    – Bảo hiểm, tài chính, kiểm toán, giám định;

    – Thăm dò, khai thác tài nguyên quý hiếm;

    – Xây dựng nhà ở để bán;

    – Dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

    1. b) Các dự án có vốn đầu tư từ 40 triệu USD trở lên thuộc các ngành điện, khai khoáng, luyện kim, xi măng, cơ khí chế tạo, hoá chất, khách sạn, căn hộ Văn phòng cho thuê, khu vui chơi – giải trí – du lịch;
    2. c) Các dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên và các loại đất khác từ 50 ha trở lên.
    3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định dự án nhóm B (là các dự án không quy định tại khoản 1 Điều này), trừ những dự án quy định tại khoản 3 Điều này.
    4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với những dự án quy định tại khoản 1 Điều 115 Nghị định này.

     

    Điều 115. Phân cấp cấp Giấy phép đầu tư

    1. Dự án đầu tư phân cấp cấp Giấy phép đầu tư cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
    2. a) Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã được duyệt;
    3. b) Không thuộc dự án nhóm A quy định tại khoản 1 Điều 114 Nghị định này có quy mô vốn đầu tư theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
    4. Không phân cấp việc cấp Giấy phép đầu tư cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực sau đây (không phân biệt quy mô vốn đầu tư):
    5. a) Xây dựng đường quốc lộ, đường sắt;
    6. b) Sản xuất xi măng, luyện kim, điện, đường ăn, rượu, bia, thuốc lá; sản xuất, lắp ráp ôtô, xe máy;
    7. c) Du lịch lữ hành.

    Điều 116. Chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

    Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh  có trách nhiệm:

    1. Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã được duyệt, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan lập và công bố danh mục dự án thu hút đầu tư nước ngoài tại địa phương; tổ chức vận động và xúc tiến đầu tư.
    2. Chủ trì thẩm định, cấp Giấy phép đầu tư và điều chỉnh Giấy phép đầu tư, quyết định giải thể Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh trước thời hạn đối với các dự án thuộc thẩm quyền.
    3. Tham gia thẩm định đối với các dự án trên địa bàn do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép đầu tư.
    4. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn lãnh thổ theo các nội dung chủ yếu sau đây:
    5. a) Giám sát việc thực hiện góp vốn, thực hiện các quy định của Giấy phép đầu tư và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
    6. b) Giám sát việc thực hiện các quy định về nghĩa vụ tài chính, quan hệ lao động tiền lương, trật tự an toàn xã hội, và bảo vệ môi trường sinh thái, phòng, chống cháy nổ;
    7. c) Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tổ chức thực hiện việc giải phóng mặt bằng; cho phép đặt trụ sở, Chi nhánh; đăng ký cư trú cho người nước ngoài; giới thiệu lao động Việt Nam cho các doanh nghiệp và cấp các chứng chỉ theo quy định hiện hành;
    8. d) Giải quyết các khó khăn, vướng mắc của Nhà đầu tư theo thẩm quyền và kiến nghị các Bộ, ngành giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền;

    đ) Chủ trì hoặc tham gia cùng các Bộ, ngành kiểm tra, thanh tra hoạt động của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

    1. e) Đánh giá hiệu qủa kinh tế – xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn.
    2. Định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm, ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi báo cáo về hoạt động đầu tư nước ngoài trên địa bàn đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    Điều 117. Chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối giải quyết các vấn đề trong quá trình hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư gồm:
    2. a) Hướng dẫn, phối hợp các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án kêu gọi đầu tư và tiến hành các hoạt động xúc tiến kêu gọi đầu tư;
    3. b) Chủ trì thẩm định, cấp Giấy phép đầu tư và Giấy phép điều chỉnh đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền;
    4. c) Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ủy quyền cho Ban Quản lý Khu công nghiệp cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy phép đầu tư cho dự án đầu tư nước ngoài đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao trên cơ sở đề nghị của ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (đối với Khu công nghệ cao);
    5. d) Hoà giải tranh chấp khi có yêu cầu;

    đ) Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài;

    1. e) Đánh giá tổng thể hiệu quả kinh tế – xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam;
    2. g) Quyết định giải thể Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh trước thời hạn đối với dự án thuộc thẩm quyền.
    3. Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp tình hình cấp Giấy phép đầu tư và hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho các Bộ, ngành liên quan.

    Điều 118. Chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

    Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có  trách nhiệm:

    1. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến đầu tư nước ngoài.
    2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài của ngành; tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư.
    3. Tham gia ý kiến về các vấn đề thuộc thẩm quyền trong việc thẩm định dự án, cấp và điều chỉnh Giấy phép đầu tư.
    1. Ban hành và hướng dẫn việc thực hiện chính sách, giải quyết các thủ tục liên quan đến triển khai, thực hiện dự án đầu tư.
    2. Kiểm tra chuyên ngành; đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực quản lý ngành.
    3. Ban hành quy phạm, quy trình kỹ thuật liên quan đến lĩnh vực, ngành kinh tế kỹ thuật.
    4. Thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    Điều 119. Quy định về thanh tra, kiểm tra

    1. Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh phải bảo đảm thực hiện đúng chức năng, đúng thẩm quyền và tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài và pháp luật về thanh tra, kiểm tra.
    2. Các cơ quan có chức năng về thanh tra, kiểm tra có trách nhiệm lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Ban Quản lý Khu công nghiệp có liên quan để phối hợp thực hiện việc thanh tra, kiểm tra. Việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên ngành được thực hiện không quá một lần trong một năm đối với một doanh nghiệp.
    3. Người ra quyết định kiểm tra, thanh tra không đúng pháp luật hoặc lợi dụng kiểm tra, thanh tra để vụ lợi, sách nhiễu, gây phiền hà cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tùy theo mức độ vi phạm, sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    4. Nhà đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với các quyết định và hành vi trái pháp luật, gây khó khăn, phiền hà của viên chức, cơ quan Nhà nước. Việc khiếu nại, khởi kiện và việc giải quyết khiếu nại, khởi kiện được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Chương XII
    Bảo đảm đầu tư và xử lý tranh chấp

    Điều 120. Bảo đảm đầu tư

    1. Chính phủ Việt Nam bảo đảm đối đãi công bằng và thỏa đáng đối với Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.
    2. Việc ký các thoả thuận hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm, bảo lãnh về đầu tư chỉ được áp dụng đối với các dự án đặc biệt quan trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ thuộc lĩnh lực cơ sở hạ tầng, dự án đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT và một số dự án đặc biệt quan trọng khác.

    Điều 121. Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật

    1. Trong trường hợp do những thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, thì Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh tiếp tục được hưởng các ưu đãi đã được quy định trong Giấy phép đầu tư hoặc được Nhà nước giải quyết thoả đáng theo các biện pháp sau:
    2. a) Thay đổi mục tiêu hoạt động của dự án;
    3. b) Giảm, miễn thuế trong khuôn khổ của pháp luật;
    4. c) Thiệt hại của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp;
    5. d) Được xem xét bồi thường thỏa đáng trong một số trường hợp cần thiết.

    Đối với dự án do ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Quản lý Khu công nghiệp cấp Giấy phép đầu tư thì trước khi quyết định áp dụng các biện pháp trên, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban Quản lý Khu công nghiệp phải thống nhất ý kiến với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.

    1. Các quy định mới ưu đãi hơn được ban hành sau khi cấp Giấy phép đầu tư sẽ đương nhiên được áp dụng thay thế các quy định tương ứng trước đó. Nếu việc áp dụng các quy định mới của pháp luật dẫn tới việc phải điều chỉnh Giấy phép đầu tư thì Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư điều chỉnh Giấy phép đầu tư.

    Điều 122. Xử lý tranh chấp

    1. Tranh chấp giữa các Bên liên doanh, các Bên hợp doanh với nhau; hoặc tranh chấp giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổ chức, cá nhân nước ngoài; hoặc tranh chấp giữa các Bên liên doanh nước ngoài, các Bên hợp doanh nước ngoài với các tổ chức kinh tế Việt Nam trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải giữa các bên tranh chấp.

    Trong trường hợp hòa giải không thành, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận một trong các phương thức giải quyết sau đây:

    1. a) Tòa án Việt Nam;
    2. b) Trọng tài Việt Nam hoặc Trọng tài nước ngoài, Trọng tài quốc tế;
    3. c) Trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập.
    4. Tranh chấp giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nhau hoặc giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các tổ chức kinh tế Việt Nam được giải quyết tại tổ chức trọng tài hoặc tòa án Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.
    5. 3. Tranh chấp giữa Nhà đầu tư nước ngoài với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát sinh từ hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; tranh chấp giữa Doanh nghiệp BOT với các tổ chức kinh tế Việt Nam được giải quyết theo phương thức do các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng phù hợp với Quy chế của Chính phủ về đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    Chương XIII
    khen thưởng và xử lý vi phạm

     

    Điều 123. Khen thưởng

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và các cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
    2. Căn cứ thành tích của doanh nghiệp hoặc cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp cho xã hội và chấp hành tốt các quy định của pháp luật Việt Nam, Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định các hình thức khen thưởng, gồm:
    3. a) Huân chương, Huy chương của Nhà nước;
    4. b) Huân chương, Huy chương của Chủ tịch nước;
    5. c) Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;
    6. d) Bằng khen của Bộ trưởng các Bộ và của Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;

    đ) Bằng khen của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và cá nhân tự thấy đạt được các thành tích nêu tại khoản 2 điều này, gửi văn bản đề nghị để được xem xét khen thưởng theo quy định sau:
    2. a) Văn bản đề nghị Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư khen thưởng được gửi đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét và ra quyết định khen thưởng doanh nghiệp, cá nhân theo thẩm quyền hoặc đề nghị Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ xem xét khen thưởng;
    3. b) Văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ khen thưởng được gửi đến Bộ quản lý chuyên ngành hoặc cơ quan ngang Bộ xem xét;
    4. c) Văn bản đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng được gửi đến ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét.

    Điều 124.  Xử lý vi phạm

    1. Cán bộ viên chức, cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam lợi dụng quyền hạn của mình gây khó khăn, phiền hà, cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài, tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp do hành vi vi phạm gây ra thiệt hại, thì cán bộ, viên chức, cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan phải bồi thường cho tổ chức, cá nhân bị thiệt hại.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh, Nhà đầu tư nước ngoài và người lao động vi phạm các quy định của Giấy phép đầu tư và pháp luật Việt Nam thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    Chương XIV
    Điều khoản thi hành

    Điều 125. Điều khoản thi hành

    1. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2000 và thay thế Nghị định số 12/CP ngày 18 tháng 02 năm 1997 và Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
    2. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

    Phụ lục I

    1. danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư

    – Sản xuất, chế biến xuất khẩu từ 80% sản phẩm trở lên;

    – Chế biến nông sản, lâm sản (trừ gỗ), thuỷ sản từ nguồn nguyên liệu trong nước xuất khẩu 50% sản phẩm trở lên;

    – Sản xuất các loại giống mới có chất lượng và có hiệu quả kinh tế cao;

    – Nuôi trồng nông, lâm, thủy sản;

    – Sản xuất vật liệu mới, vật liệu quý hiếm; ứng dụng công nghệ mới về sinh học; công nghệ mới để sản xuất thiết bị thông tin, viễn thông;

    – Công nghiệp kỹ thuật cao;

    – Đầu tư vào nghiên cứu phát triển;

    – Sản xuất thiết bị xử lý chất thải;

    – Sản xuất nguyên liệu thuốc kháng sinh;

    – Xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường, xử lý chất thải;

    – Đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT.

    1. danh mục dự án khuyến khích đầu tư

    – Sản xuất, chế biến xuất khẩu từ 50% sản phẩm trở lên;

    – Sản xuất, chế biến xuất khẩu từ 30% sản phẩm trở lên và sử dụng nhiều nguyên liệu, vật tư trong nước (có giá trị từ 30% chi phí sản xuất trở lên);

    – Sử dụng nhiều lao động và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam;

    – Chế biến nông sản, lâm sản (trừ gỗ), thủy sản;

    – Bảo quản thực phẩm; bảo quản nông sản sau thu hoạch;

    – Thăm dò; khai thác và chế biến sâu khoáng sản;

    – Phát triển công nghiệp hoá dầu; xây dựng, vận hành đường ống dẫn dầu, dẫn khí, kho, cảng dầu;

    – Sản xuất thiết bị, cụm chi tiết trong khai thác dầu khí, mỏ, năng lượng; sản xuất thiết bị nâng hạ cỡ lớn;

    – Sản xuất thép cao cấp, hợp kim, kim loại mầu, kim loại đặc biệt, phôi thép, sắt xốp dùng trong công nghiệp;

    – Sản xuất các máy công cụ gia công kim loại, thiết bị luyện kim;

    – Chế tạo thiết bị cơ khí chính xác, thiết bị kiểm tra, kiểm soát an toàn, sản xuất  khuôn mẫu cho các sản phẩm kim loại và phi kim loại;

    – Sản xuất khí cụ điện trung, cao thế;

    – Sản xuất các loại động cơ diezen có công nghệ, kỹ thuật tiên tiến; sản xuất máy, phụ tùng ngành động lực, thủy lực, máy áp lực;

    – Sản xuất phụ tùng ô tô, phụ tùng xe máy; sản xuất, lắp ráp thiết bị, xe máy thi công xây dựng; sản xuất thiết bị kỹ thuật cho ngành vận tải;

    – Đóng tàu thủy; sản xuất thiết bị phụ tùng cho các tàu vận tải, tàu đánh cá;

    – Sản xuất thiết bị thông tin, viễn thông;

    – Sản xuất linh kiện, thiết bị điện tử, công nghệ tin học;

    – Sản xuất thiết bị, phụ tùng, máy nông nghiệp, thiết bị tưới tiêu;

    – Sản xuất các loại nguyên liệu thuốc trừ sâu bệnh;

    – Sản xuất các loại hoá chất cơ bản, hoá chất tinh khiết, thuốc nhuộm, các loại hoá chất chuyên dùng;

    – Sản xuất nguyên liệu chất tẩy rửa, phụ gia cho ngành hóa chất;

    – Sản xuất xi măng đặc chủng, vật liệu composit, vật liệu cách âm, cách điện, cách nhiệt cao, vật liệu tổng hợp thay gỗ, vật liệu chịu lửa, chất dẻo xây dựng, sợi thủy tinh;

    – Sản xuất các loại vật liệu xây dựng nhẹ;

    – Sản xuất bột giấy;

    – Sản xuất tơ, sợi các loại, vải đặc biệt dùng trong ngành công nghiệp;

    – Sản xuất nguyên liệu cao cấp để sản xuất giầy, dép, quần áo xuất khẩu;

    – Sản xuất bao bì cao cấp phục vụ hàng xuất khẩu;

    – Sản xuất thiết bị y tế trong công nghệ phân tích và công nghệ chiết xuất trong y học;

    – Sản xuất nguyên liệu thuốc, sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP quốc tế;

    – Cải tạo, phát triển nguồn năng lượng;

    – Vận tải khách công cộng;

    – Xây dựng, cải tạo cầu, đường bộ, sân bay, bến cảng, nhà ga, bến xe, đường sắt;

    – Xây dựng nhà máy sản xuất nước, hệ thống cấp thoát nước;

    – Xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

    III. Danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư

     

    Số TT Tỉnh/thành phố Mục A:
    Địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn
    Mục B:
    Địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn
    (1) (2) (3) (4)
    1 Hà Giang Toàn bộ các huyện và thị xã
    2 Cao Bằng Toàn bộ các huyện và thị xã
    3 Lai Châu Toàn bộ các huyện và thị xã
    4 Lào Cai Toàn bộ các huyện và thị xã
    5 Sơn La Toàn bộ các huyện và thị xã
    6 Bắc Kạn Toàn bộ các huyện và thị xã
    7 Tuyên Quang Toàn bộ các huyện và thị xã
    8 Lạng Sơn Toàn bộ các huyện và thị xã
    9 Yên Bái Toàn bộ các huyện và thị xã
    10 Thái Nguyên Toàn bộ các huyện, thị xã và thành phố Thái Nguyên
    11 Bắc Giang Toàn bộ các huyện và thị xã
    12 Vĩnh Phúc Các huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên Các huyện không thuộc mục A
    13 Phú thọ Toàn bộ các huyện, thị xã và thành phố Việt Trì
    14 Hoà Bình Toàn bộ các huyện và thị xã
    15 Bắc Ninh Các huyện: Quế Võ, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành
    16 Hà Nội Huyện Sóc Sơn
    17 Hà Tây Các huyện: Ba Vì, Mỹ Đức, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, ứng Hoà
    18 Quảng Ninh Các huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Quảng Hà, Hoành Bồ, Tiên Yên, Đông Triều và thị xã Móng Cái Huyện Yên Hưng và các thị xã: Cẩm Phả, Uông Bí
    19 Hải Phòng Các huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng
    20 Hải Dương Huyện Chí Linh Toàn bộ các huyện không thuộc mục A
    21 Hưng Yên Toàn bộ các huyện và thị xã
    22 Thái Bình Toàn bộ các huyện và thị xã
    23 Hà Nam Toàn bộ các huyện và thị xã
    24 Nam Định Toàn bộ các huyện và thành phố Nam Định
    25 Ninh Bình Các huyện: Nho Quan, Yên Mô, Gia Viễn Thị xã Tam Điệp và các huyện không thuộc mục A
    26 Thanh Hoá Các huyện: Lang Chánh, Thường Xuân, Quan Hoá, Bá Thước, Ngọc Lặc, Như Xuân, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Quan Sơn, Mường Lát Các huyện không thuộc mục A
    27 Nghệ  An Các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Tân Kỳ, Thanh Chương, Đô Lương. Thị xã Cửa Lò và các huyện không thuộc mục A
    28 Hà Tĩnh Toàn bộ các huyện Thị xã Hà Tĩnh
    29 Quảng Bình Toàn bộ các huyện Thị xã Đồng Hới
    30 Quảng Trị Thị xã Quảng Trị và các huyện Thị xã Đông Hà
    31 Thừa Thiên Huế Toàn bộ các huyện Thành phố Huế
    32 Đà Nẵng Huyện Hòa Vang và các quận: Thanh Khê, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu
    33 Quảng Nam Toàn bộ các huyện và thị xã Hội An Thị xã Tam Kỳ
    34 Quảng Ngãi Toàn bộ các huyện Thị xã Quảng Ngãi
    35 Bình Định Toàn bộ các huyện Thành phố Quy Nhơn
    36 Phú Yên Toàn bộ các huyện Thị xã Tuy Hoà
    37 Khánh Hoà Các huyện: Khánh Sơn, Khánh Vĩnh Các huyện không thuộc mục A
    38 Bình Thuận Toàn bộ các huyện Thị xã Phan Thiết
    39 Ninh Thuận Toàn bộ các huyện Thị xã Phan Rang
    40 Kon Tum Toàn bộ các huyện và thị xã
    41 Gia Lai Toàn bộ các huyện và thị xã
    42 Đắk Lắk Toàn bộ các huyện và thành phố Buôn Ma Thuột
    43 Lâm Đồng Toàn bộ các huyện, thị xã và thành phố Đà Lạt
    44 Đồng Nai Các huyện: Định Quán, Tân Phú, Xuân Lộc
    45 Bình Phước Toàn bộ các huyện và thị xã
    46 Bình Dương Các huyện: Bến Cát, Phú Giáo, Tân Uyên, Dầu Tiến
    47 Tây Ninh Toàn bộ các huyện
    48 Thành phố Hồ Chí Minh Các huyện Cần Giờ, Củ Chi.
    49 Bà Rịa – Vũng Tàu Các huyện: Long Đất, Xuyên Mộc
    50 Long An Toàn bộ các huyện Thị xã Tân An
    51 Đồng Tháp Toàn bộ các huyện và thị xã
    52 Tiền Giang Toàn bộ các huyện và thị xã Thành phố Mỹ Tho
    53 Bến Tre Toàn bộ các huyện và thị xã
    54 Vĩnh Long Toàn bộ các huyện và thị xã
    55 Trà Vinh Toàn bộ các huyện và thị xã
    56 An Giang Toàn bộ các huyện và Thành phố Long Xuyên
    57 Cần Thơ Toàn bộ các huyện và thị xã Thành phố Cần Thơ
    58 Sóc Trăng Toàn bộ các huyện và thị xã
    59 Bạc Liêu Toàn bộ các huyện và thị xã
    60 Cà Mau Toàn bộ các huyện và thị xã
    61 Kiên Giang Toàn bộ các huyện và thị xã

    Iv. Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện

     

    1. Chỉ đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh

    – Xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thông nội hạt (chỉ thực hiện theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh);

    – Khai thác, chế biến dầu khí, khoáng sản quý hiếm;

    – Dịch vụ tư vấn (trừ tư vấn kỹ thuật);

    – Vận tải hàng không, đường sắt, đường biển; vận tải hành khách công cộng; xây dựng cảng, ga hàng không (trừ các dự án BOT, BTO, BT);

    – Sản xuất thuốc nổ công nghiệp;

    – Trồng rừng;

    – Du lịch lữ hành;

    – Văn hoá.

    1. Các sản phẩm phải đảm bảo yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu

    Tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc đối với các sản phẩm mà sản xuất trong nước đã đáp ứng đủ yêu cầu về số lượng, chất lượng do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố trong từng thời kỳ.

    1. Dự án chế biến phải gắn với đầu tư tạo nguồn nguyên liệu

    – Sản xuất, chế biến sữa;

    – Sản xuất dầu thực vật, đường mía;

    – Chế biến gỗ.

    1. Dự án đầu tư vào dịch vụ nhập khẩu, dịch vụ phân phối trong nước thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

     

    1. danh mục lĩnh vực không cấp Giấy phép đầu tư
    1. Dự án gây nguy hại đến an ninh quốc gia, quốc phòng và lợi ích công cộng.
    2. Dự án gây phương hại đến di tích lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ tục của Việt Nam.
    3. Dự án gây tổn hại đến môi trường sinh thái; dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam.
    4. Dự án sản xuất các loại hóa chất độc hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế.

    phụ lục II

    1. Quy định chi tiết về danh mục máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải được miễn thuế nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp có vốn
      đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh
    1. Máy móc thiết bị chính thuộc dây chuyền công nghệ bao gồm:

    Máy móc, thiết bị sản xuất; vật tư, linh kiện, bộ phận rời đi kèm để lắp đặt hệ thống thiết bị; khuôn mẫu đi kèm với thiết bị máy móc, dụng cụ sản xuất… để hoàn chỉnh hoạt động sản xuất ra sản phẩm quy định tại Giấy phép đầu tư.

    1. Máy móc thiết bị phụ trợ thuộc dây chuyền công nghệ bao gồm:
    2. Hệ thống điện: toàn bộ thiết bị máy móc vật tư để lắp đặt hoàn chỉnh hệ thống cấp điện.
    3. Hệ thống cấp thoát nước: toàn bộ thiết bị máy móc vật tư đường ống… lắp đặt để hoàn chỉnh hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải.
    4. Hệ thống chiếu sáng: toàn bộ thiết bị máy móc vật tư để lắp đặt hoàn chỉnh hệ thống chiếu sáng.
    5. Hệ thống điều hoà, thông gió của khu vực sản xuất.
    6. Trang thiết bị phòng thí nghiệm.
    7. Trang thiết bị phòng cháy chữa cháy, trang thiết bị chống sét, trang thiết bị an toàn lao động…
    8. Hệ thống thông tin liên lạc.
    9. Máy móc thiết bị cần thiết cho thiết kế sản phẩm hoặc trang thiết bị văn phòng phục vụ cho quản lý sản xuất.
    10. Phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ bao gồm:
    11. Các phương tiện vận tải chuyên dùng cho hoạt động kinh doanh quy định tại Giấy phép đầu tư.
    12. Phương tiện vận tải để vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm trong dây chuyền công nghệ.
    1. Quy định chi tiết về danh mục các nhóm trang thiết bị miễn thuế nhập khẩu của các doanh nghiệp khách sạn, văn phòng – căn hộ cho thuê, nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ kỹ thuật, siêu thị, sân golf, khu du lịch, khu thể thao, khu vui chơi giải trí,
      cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo, văn hóa, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ tư vấn
    1. Danh mục các nhóm trang thiết bị miễn thuế nhập khẩu theo quy định chung
    1. Hệ thống cung cấp nước các loại (máy bơm, máy lọc, đồng hồ nước, nồi hơi…).
    2. Hệ thống điều hòa và thông gió (điều hoà trung tâm hoặc cục bộ và vật tư phụ tùng đồng bộ…).
    3. Hệ thống phòng cháy và chống cháy.
    4. Hệ thống điện và chiếu sáng (đèn các loại, đèn chiếu…).
    5. Hệ thống xử lý rác và nước thải.
    6. Hệ thống thông tin liên lạc.
    7. Hệ thống vận chuyển (thang máy, xe điện, các loại xe đẩy).
    8. Hệ thống giặt là.
    9. Hệ thống bảo vệ.
    10. Trang thiết bị thể dục thể thao, bể bơi, sân tennis, cắt tóc, vũ trường, karaoke, vui chơi giải trí, vật lý trị liệu (trừ các trang thiết bị nêu tại mục B Phụ lục này, nếu có).
    11. Máy móc thiết bị liên quan đến việc chăm sóc cỏ (cắt cỏ, phun thuốc trừ sâu…).
    12. Hệ thống phun nước, tưới tiêu và thoát nước.
    13. Máy móc, trang thiết bị, dụng cụ y tế, dụng cụ thí nghiệm.
    14. Trang thiết bị giảng dạy và học tập (bao gồm cả bàn ghế, bảng, đồ dùng dạy học, thí nghiệm v.v…).
    15. Các loại phụ tùng kèm theo các loại máy móc, trang thiết bị nêu trên.
    16. Máy móc, trang bị các loại chuyên áp dụng cho doanh nghiệp ngân hàng, tài chính (két bảo vệ, máy vi tính các loại, máy đếm tiền, máy kiểm tra tiền giả, hệ thống thông tin, máy móc bảo vệ, xe chở tiền).
    17. Trang thiết bị văn phòng phục vụ quản lý kinh doanh (máy tính, máy in, fax, telex, photocopy, bàn, ghế, tủ đựng tài liệu…).
    1. Danh mục các nhóm trang thiết bị chỉ được miễn thuế nhập khẩu một lần, không áp dụng cho trường hợp thay thế
    1. Trang thiết bị phòng khách sạn và trang trí nội thất (giường, tủ, bàn, ghế, điện thoại).
    2. Thiết bị vệ sinh (bồn tắm, bệ xí, lavabo, các vật tư lắp đặt hệ thống vệ sinh, gương…).
    3. Trang bị nội thất phòng khách (bàn, ghế).
    4. Trang thiết bị bếp, phòng ăn, nhà hàng, quầy bar (các loại bếp và dụng cụ làm bếp).
    5. Tranh, tượng, thảm và các vật trang trí khác.
    6. Tủ lạnh, ti vi, lò vi sóng, máy hút khói, hút bụi, khử mùi, ly, tách, đĩa, chén, bát.
    7. Thiết bị nghe nhìn.
    8. Dụng cụ đánh golf.
  • Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-NHTM-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-thanh-to%C3%A1n-h%C3%A0ng-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Lời Mở Đầu

    Thanh toán quốc tế là chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại, nó hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại thương của một nước và ngân hàng thương mại được nhà nước cho phép làm công tác thanh toán này. Do vậy các giao dịch thanh toán trong ngoại thương đều phải qua ngân hàng. Đây là các nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao ứng dụng công nghệ ngân hàng, tạo sự hoà hợp giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam và hệ thống ngân hàng thương mại thế giới, tạo hiệu quả an toàn với ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu khách hàng được tiến hành an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí thay vì thanh toán tiền mặt. Ngân hàng bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán, đồng thời tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, tạo sự an tâm tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu……đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp  nhập khẩu.

    Trong giao dịch thương mại quốc tế có rất nhiều phương thức thanh tóan quốc tế khác nhau như : thanh tóan chuyển tiền trực tiếp cho nhau hoặc trước khi nhận hàng hoặc sau khi nhận hàng, thanh tóan theo phương thức nhờ thu gồm nhờ thu trơn, nhờ thu kèm chứng từ,  nhờ thu trả ngay, nhờ thu trả chậm, thanh tóan theo phương thức tín dụng chứng từ . . . và mỗi phương thức khác nhau đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.  Phương thức thanh tóan bằng tín dụng chứng từ là phương thức đáp ứng được đòi hỏi của hai bên người nhập khẩu và người xuất khẩu.  Người bán và người mua không thanh toán trực tiếp với nhau mà thông qua các công cụ và sự bảo lãnh của ngân hàng để thực hiện việc thanh toán này. Do đó, các hình thức thanh toán quốc tế không thể thiếu trong vấn đề nhập khẩu hiện nay..

    Cũng chính vì điều đó mà đề tài :” Vận dụng các phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu”, được đem ra thảo luận hôm nay .

    Chương I : Giới thiệu hoạt động Ngân hàng Thương mai.

    1.1 Tổng Quan Về Ngân Hàng Thương Mại

    1.1.1 Giới thiệu về NHTM và hoạt động kinh doanh của NHTM:

    1.1.1.1 Khái niệm về NHTM

    Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động  kinh tế lâu đời của loài người. Cùng với sự phát triển của xã hội và nền kinh tế, hệ thống ngân hàng và hoạt động của nó không ngừng được phát triển, cải thiện như ngày nay. Ngân hàng thương mại (NHTM) trở thành một tổ chức tài chính trung gian chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Khi xã hội càng đi lên, hoạt động ngân hàng càng đa dạng hơn về loại hình, các chức năng và nội dung hoạt động của nó ngày càng hoàn thiện thêm. Và do vậy những nhận thức, quan điểm khác nhau về ngân hàng cũng có những bước biến đổi theo thời gian. Ngân hàng ngày nay đã cơ bản khác với ngân hàng trước đây. Đó là kết quả của tình hình kinh tế và tiền tệ của mỗi thời kỳ. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về ngân hàng thương mại.

    Ở Hoa Kỳ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.

    Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.

    Ở Việt Nam: NHTM là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Trong đó TCTD là doanh nghiệp được thành lập để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gởi và sử dụng tiền gởi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.

    1.1.1.2 Chức năng của NHTM:

    • Chức năng trung gian tài chính:

    Đây là chức năng đầu tiên, cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NHTM một mặt huy động và tập trung nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế, mặt khác trên cơ sở số vốn đã huy động được sẽ sử dụng để cho vay. Như vậy NHTM vừa là người cho vay vừa là người đi vay. Ngoài ra ngân hàng còn đóng vai trò làm môi giới cho người đầu tư.

    Thông qua chức năng trung gian tài chính, NHTM đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, thiết lập các dịch vụ tiện ích cho xã hội. Đối với bản than người gởi tiền họ kiếm được lợi nhuận từ số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình bởi lãi suất tiền gởi mà ngân hàng sẽ trả cho họ, cơ hội đầu tư cho nguồn vốn cũng  nhiều hơn. Đối với người đi vay sẽ thoả mãn nhu cầu về vốn và khả năng lựa chọn nguồn vốn nhiều hơn. Đối với NHTM sẽ kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi tiền gởi hay là hoa hồng môi giới. Lợi nhuận nyà chính là cơ sở tồn tại và phát triển của NHTM.

    • Chức năng trung gian thanh toán.

    Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều công cụ thanh toán mang tính tiện ích cao như séc, thẻ tín dụng, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi…Ngân hàng sẽ thừa lệnh khách hàng để thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân quỹ cho khách hàng, từ đó đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Với chức năng này cũng cho phép NHTM tạo ra bút tệ để mở rộng quy mô tín dụng đối với nền kinh tế, tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt phát triển và tiết giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông. Ngày nay có thể nói rằng hoạt động thanh toán chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM. Khi chức năng trung gian thanh toán càng được hoàn thiện thì vai trò của NHTM cũng sẽ được nâng cao hơn với tư cách “thủ quỹ của khách hàng”.

    • Chức năng tạo tiền.

    Ngoài việc thực hiện chức năng trung gian tài chính từ việc thu hút tiền gởi và cho vay trên số tiền gởi đó, NHTM còn tạo ra tiền gọi là bút tệ. Số tiền cho vay sẽ không trên cơ sở số tiền gởi mà khoản tín dụng đó do ngân hàng tạo ra tiền để cho vay. Đến hạn người vay trả nợ, tiền vay rút khỏi lưu thông quay về ngân hàng và bị huỷ bỏ. Như vậy bút tệ chỉ tạo ra khi ngân hàng cho vay thông qua tài khoản tại ngân hàng. Do đó nó không có hình thái vật chất và chỉ là những con số trên tài khoản. Việc tạo ra bút tệ là một bước quan trọng trong công nghệ ngân hàng, là công cụ thanh toán linh động và hữu ích. Tuy nhiên việc tạo ra bút tệ phải phù hợp với nhu cầu tiền tệ cho sự phát triển của nền kinh tế để tránh bị suy thoái và cần có những quy định cụ thể.

    • Chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia.

    Để ổn định tiền tệ, tạo điều kiện ổn định giá cả, các ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ điều tiết nhạy bén linh hoạt đối với NHTM để đưa thêm tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền vào lưu thông quay về ngân hàng. Qua đó tạo ra sự phù hợp giữa khối lượng tiền tệ với yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ nhất định.

    Nền kinh tế phát triển, vai trò của tín dụng NHTM càng tăng lên trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế xã hội. Phạm vi tín dụng mở rộng, hình thức cho vay vốn tín dụng đa dạng không chỉ đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp mà còn phục vụ các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện các chương trình, mục tiêu chính sách xã hội của Nhà nước. Ngoài ra, NHTM còn góp phần thúc đẩy việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, thu vốn nước ngoài….làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế.

    1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM:

    1.1.2.1 Huy động vốn

    Là nghiệp vụ cơ bản tạo tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này NHTM được sử dụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Có thể nói đây là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Thành phần nguồn vốn của NHTM bao gồm:

    • Vốn điều lệ và các quỹ: là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong suốt quá trình hoạt động. Vốn điều lệ là số vốn ban đầu khi thành lập ngân hàng được ghi vào điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng vốn pháp định do chính phủ quy định.

    Các quỹ ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng.

    • Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các TCTD, cá nhân dân cư…bao gồm:

    Tiền gởi không kỳ hạn :đây là khoản tiền mà người gởi có thể rút ra sử dụng bất cứ khi nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, bao gồm tiền gởi thanh toán và tiền gởi không kỳ hạn.

    Tiền gởi có kỳ hạn: là khoản tiền có sự thoả thuận thời gian rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng.

    Tiền gởi tiết kiệm: là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân, được gởi vào ngân hàng nhằm được hưởng lãi suất theo định kỳ. Có 2 loại tiền gởi tiết kiệm là tiền gởi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gởi tiết kiệm không  kỳ hạn.

    • Vốn đi vay

    Bên cạnh các hình thức huy động dưới dạng nhận tiền gởi, các ngân hàng còn huy động dưới hình thức phát trái phiếu của ngân hàng. Đây là dạng đi vay dài hạn của công chúng.

    Trong quá trình hoạt động của mình nhiều khi phát sinh các nghiệp vụ cùng một lúclàm cho nguồn vốn của ngân hàng không đảm bảo đáp ứng các nhu cầu hoạt động của mình, vì thế ngân hàng phải tiến hành vay vốn của NHTW thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu, vay của các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng , vay của các ngân hàng nước ngoài hoặc tiếp nhận vốn từ các TCTD ngân hàng, từ ngân sách nhà nước…

    • Vốn tiếp nhận: đây là các nguồn vốn tiếp nhận từ các TCTD, từ ngân sách nhà nước để tài trợ theo các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh. Nghiệp vụ này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng, mục tiêu đã được xác định trước.
    • Vốn khác: là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng.

    1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn:

    Đây là nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng bao gồm:

    • Dự trữ: mặc dù hoạt động của ngân hàng là nhằm mục đích kiếm lời, song cũng cần đảm bảo an toàn để giữ vững lòng tin cho khách hàng do vậy ngân hàng cần để dành một phần nguồn vốn gọi là dự trữ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán khi khách hàng có nhu cầu rút tiền.
    • Cấp tín dụng: số nguồn vốn còn lại sau khi để danh một phần dự trữ, các NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế.
      • Cho vay: là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Khi huy động tiền gởi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gởi còn lại. Hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn của tích sản NHTM do vậy tiền lãi thu được từ hoạt động này là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng, đồng thời cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Việc cho vay được phân chia trong phạm vi các khoản mục cho vay bao gồm:
        • Cho vay trực tiếp: là một loại hình tín dụng nghiệp vụ của NHTM trong đó ngân hàng sẽ cấp vốn cho người đi vay để sản xuất kinh doanh, đầu tư hay tiêu dùng đồng thời kiểm soát toàn bộ quá trình sử dụng vốn. Đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi cho ngân hàng.
        • Chiết khấu: đây là nghiệp vụ cho vay gián tiếp mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
      • Cho thuê tài chính: ngân hàng phải thành lập công tythuê mua tài chính độc lập có tư cách pháp nhân. Công ty thuê tài chính sẽ dùng nguồn vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và cho thuê trong một thời gian nhất định kèm theo lời hứa là sẽ bán lại về sau.
      • Bảo lãnh ngân hàng: trong nghiệp vụ này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh, nhờ đó khách hàng được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã được ký kết.
      • Đầu tư: đây là khoản mục có vị trí quan trọng thứ hai sau cho vay mang lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Ngân hàng có thể đầu tư dưới các hình thức như: hùn vốn, mua cổ phần cổ phiếu của công ty, trái phiếu của Chính phủ, chính quyền địa phương.
      • Tài sản Có khác: là những khoản mục còn lại của tài sản Có, trong đó chủ yếu là tài sản lưu động – cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động của ngân hàng.

    1..1.2.3 Hoạt động kinh doanh dịch vụ

    Ngày nay với xu hướng kinh doanh đa năng, các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ cho các nghiệp vụ chủ yếu, vừa tạo ra các khoản tiền hoa hồng, lệ phí,…đem lại khoản thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Hoạt động này đang dần có một vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của NHTM. Các hoạt động này bao gồm:

    • Các dịch vụ thanh toán, thu hộ và chi hộ cho khách hàng.
    • Bảo quản tài sản quý giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng cho dân chúng.
    • Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng.
    • Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý..
    • Tư vấn tài chính, giúp các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu

    Chương II : Vận dụng các phương thức thanh toán trong NHTM trong thanh toán hàng nhập khẩu.

    I. Phương thức mở sổ

     

    1.Khái niệm

    Người bán mở một tài khoản hoặc một quyển sổ để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ có thể là tháng, quý hoặc năm người mua trả tiền cho người bán.

    Đặc điểm của phương thức này thể hiện đây là phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản, bên người bán chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người mua mở tài khoản để ghi, tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh toán giữa hai bên.  

    2.Quy trình thực hiện 

    Trình tự thực hiện nghiệp vụ

    Những điều cần chú ý khi áp dụng phương thức ghi sổ

    Thứ  nhất, phải quy định thống nhất đồng tiền ghi trên tài khoản.

    Thứ hai, căn cứ ghi nợ của người bán thường là hóa đơn giao hàng.

    Thứ ba, căn cứ nhận nợ của người mua hoặc là dựa vào trị giá hóa đơn giao hàng hoặc là dựa vào kết quả nhận hàng ở nơi nhận hàng.

    Thứ tư, phương thức chuyển tiền hoặc là bằng thư hoặc là bằng điện cần phải thỏa thuận thống nhất giữa hai bên.

    Thứ năm, giá hàng trong phương thức ghi sổ này thường cao hơn giá hàng bán tiền ngay, chênh lệch này là tiền lãi phát sinh ra của số tiền ghi sổ trong khoảng thời gian bằng định kỳ thanh toán theo mức lãi suất được người mua chấp nhận.

    Thứ sáu, định kỳ thanh toán có hai cách quy định hoặc là quy định X ngày kể từ ngày giao hàng đối với từng chuyến hàng, hoặc là quy định theo mốc thời gian của niên lịch. Ví dụ: 60 ngày kể từ ngày ký phát hóa đơn thương mại hoặc là từ ngày ghi trên vận đơn giao hàng, hoặc là cuối mỗi quý thanh toán một lần.

    Thứ bảy, việc chuyển tiền thanh toán chậm của người mua được giải quyết thế nào, có phạt chậm trả không, mức phạt bao nhiêu, tính từ lúc nào?

    Thứ tám, nếu phát sinh sự khác nhau giữa số tiền ghi nợ của người bán và số tiền nhận nợ của người mua thì giải quyết thế nào?

    Nhận xét

    Trong phương thức ghi sổ, thực chất là người bán cho người mua vay số tiền trả chậm, tuy nhiên ở đây người bán có tính lãi trên số tiền trả chậm này. Như vậy, hàng hoá sau khi đã giao cho người mua thì người bán mới chỉ nhận được một phần số tiền hàng, do vậy mặc dù có tính lãi trên số tiền trả chậm thì rủi ro đối với người bán là vẫn cao. Đối với người mua thì có thể giải quyết được vấn đề thiếu vốn tức thời, nhưng họ lại phải chịu giá cao hơn do phải trả lãi trên số tiền sẽ trả định kỳ.

    Trường hợp áp dụng

    Với đặc điểm của phương thức ghi sổ, nó sẽ phù hợp trong trường hợp nhà nhập khẩu khan hiếm ngoại tệ, khi đó họ chấp nhận trả giá cao hơn, đổi lại họ sẽ mua được hàng hoá. Nó cũng phù hợp trong các mối quan hệ mua bán hàng đổi hàng hoặc hàng bán giao làm nhiều lần. Phương thức này chỉ áp dụng giữa các bên có quan hệ mua bán thường xuyên và tin cậy lẫn nhau, giữa nội bộ các công ty với nhau, giữa công ty mẹ và công ty con. Nó cũng có thể được áp dụng trong các thanh toán phi mậu dịch.

    II.Phương thức chuyển tiền

    1.Khái niệm

    Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng – người trả tiền – yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác – người hưởng lợi, ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách yêu cầu.

    1. Các bên tham gia trong phương thức chuyển tiền

    Người trả tiền – người mua, người mắc nợ – hoặc người chuyển tiền – người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra nước ngoài – là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài.

    Người hưởng lợi – người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư – hoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.

    Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.

    Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.

    1. Trình tự thực hiện nghiệp vụ

     

    Các nghiệp vụ ngân hàng chuyển tiền  

    Đối với ngân hàng có hai nghiệp vụ chuyển tiền đi và chuyển tiền đến.

    Khi chuyển tiền đi, nghiệp vụ ngân hàng diễn ra theo 4 bước: (1) tiếp nhận hồ sơ xin chuyển tiền; (2) Kiểm tra hồ sơ chuyển tiền đi; (3) Lập điện chuyển tiền và (4) Hạch toán – Lưu hồ sơ. (Hình 4.2.)

    Khi chuyển tiền đến, ngân hàng thực hiện thanh toán theo ba bước: (1) Tiếp nhận lệnh chuyển tiền; (2) Thanh toán cho người hưởng lợi và (3) Lưu hồ sơ. (Hình 4.3.) 

    1. Hình thức chuyển tiền

    Chuyển tiền có thể thực hiện dưới hai hình thức: chuyển bằng thư (Mail transfer – M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer – T/T). Theo hình thức thứ nhất, ngân hàng thực hiện chuyển tiền bằng cách gửi thư cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi. Theo hình thức này, chi phí chuyển tiền thấp, nhưng tốc độ chậm, do vậy dễ bị ảnh hưởng nếu có biến động nhiều về tỷ giá.

    Chuyển tiền bằng điện tức là ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi. Theo cách này, chi phí chuyển tiền cao hơn nhưng nhanh chóng hơn, do vậy ít bị ảnh hưởng của biến động tỷ giá.

    Thông thường, phương thức chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng, trên thực tế người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu. Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người mua

    Nhận xét

    Phương thức chuyển tiền thủ tục đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, việc trả tiền nhanh hay chậm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí người chuyển tiền hay người trả tiền, nếu trong quan hệ thương mại thì đó chính là người mua, người nhập khẩu. Do vậy phương thức này không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu, tức là người hưởng lợi, tốc độ thanh toán thường chậm.

    Trường hợp áp dụng

    Do phương thức chuyển tiền mức độ an toàn trong thanh toán thấp, nó chỉ nên sử dụng cho các mối quan hệ giữa các đối tác tin cậy lẫn nhau hoặc quy mô thanh toán nhỏ. Nó thường được áp dụng cho các trường hợp chuyển vốn đầu tư, chuyển tiền tư nhân, chuyển tiền chính phủ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài hoặc cho các nghiệp vụ thanh toán phi mậu dịch khác. Tronhg quan hệ thanh toán mậu dịch, không nên sử dụng trong thanh toán hàng xuất khẩu mà chỉ nên sử dụng trng thanh toán hàng nhập khẩu.

    Thông thường, phương thức chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng, trên thực tế người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu. Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người mua, nó có lợi cho người mua.

    III.Phương thức nhờ thu

    1. Khái niệm

    Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra.

            2.Các bên tham gia phương thức nhờ thu

    Người bán tức là người hưởng lợi (Principal)

    Ngân hàng bên bán là ngân hàng nhận sự ủy thác của người bán (Remitting Bank)

    Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người mua (Collecting Bank and/or Presenting Bank)

    Người mua tức là người trả tiền (Drawee) 

    3.Các loại nhờ thu

    Thanh toán bằng phương thức nhờ thu sẽ giảm thiểu một phần rủi ro cho nhà xuất khẩu vì chứng từ chỉ được giao cho người nhập khẩu khi người nhập khẩu thanh toán tiền hàng hoặc đã ký chấp nhận hối phiếu (đối với nhờ thu chứng từ). Tuy nhiên thanh toán theo phương thức này người bán/xuất khẩu vẫn phải chịu rủi ro trong trường hợp người mua/nhập khẩu không chấp nhận chứng từ hoặc từ chối thanh toán hối phiếu khi đáo hạn

    • Căn cứ theo thời hạn, có 2 loại Nhờ thu:

    – Nhờ thu trả ngay (D/P): Phương thức này qui định người mua/người nhập khẩu phải thanh toán tiền ngay khi nhận bộ chứng từ.

    – Nhờ thu trả chậm (D/A): Phương thức này cho phép người mua không phải thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được ký phát bởi người bán/người xuất khẩu. Thông thường hối phiếu đã chấp nhận sẽ được giữ tại nơi an toàn của ngân hàng nhờ thu (ngân hàng người nhập khẩu) cho đến ngày đáo hạn. Tới ngày này, người mua phải thực hiện thanh toán như đã chấp nhận.

    • Căn cứ theo chứng từ, có 2 loại Nhờ thu:

    Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection) là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng .

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ của nhờ thu phiếu trơn phải trải qua các bước sau đây (Hình 4.5.):

     

    (1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập một hối phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu

    (2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi chỉ thị nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu itền, còn gọi là Ngân hàng phục vụ bên mua

    (3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu nếu trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu nếu mua chịu

    (4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán 

      Nhận xét và trường hợp áp dụng

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán do việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trả tiền. Đối với người mua áp dụng phương thức này cũng có điều bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không.

    Nhờ thu kèm chứng từ (Documnetary Collection)

    Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thu phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở khâu (3) là ngân hàng đại lý chỉ trao cho người mua nếu như người mua trả itền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu. Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. (Hình 4.6)  

    Nhận xét và trường hợp áp dụng

    Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ có một số mặt yếu. Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng hóa của người mua chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được khi tình hình thị trường bất lợi với họ. Việc trả tiền thường quá chậm chạp từ lúc giao hàng đến lúc nhận được tiền có thể kéo dài vài tháng hoặc nửa năm. Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ còn không có trách nhiệm về việc trả tiền của người mua.

    Qui trình nghiệp vụ ngân hàng trong phương thức nhờ thu 

    Trên thực tế thanh toán quốc tế, trong hai phương thức nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ thì các nhà xuất nhập khẩu sử dụng phương thức nhờ thu kèm chứng từ nhiều hơn. Trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò là người chuyển chứng từ thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người nhập khẩu thu hộ tiền cho nhà xuất khẩu. Qui trình nghiệp vụ của ngân hàng trong trường hợp này thể hiện trong hình 4.7 dưới đây.

    Cụ thể nhờ thu chứng từ nhập khẩu như sau :
    Khi nhận bộ chứng từ nhờ thu từ Ngân hàng nước ngoài gởi đến hoặc do người Bán gởi trực tiếp, Ngân hàng sẽ thông báo cho Nhà NK ngay trong ngày.

     

    Đối với nhờ thu trả ngay (D/P):

    Trên cơ sở Nhà NK đã ký quỹ đủ trị giá của bộ chứng từ hoặc có bảo lãnh của và Phòng Tín Dụng Doanh Nghiệp, Nhà NK nhận bộ chứng từ ngay khi Nhà NK có công văn chấp nhận thanh toán.

    Đối với nhờ thu trả chậm (D/A):

    Nhà NK nhận chứng từ ngay sau khi ký chấp nhận thanh toán hối phiếu vào ngày đáo hạn. Đến hạn thanh toán Ngân hàng sẽ thông báo cho Nhà NK trước khi thực hiện thanh toán và Ngân hàng sẽ thực hiện thanh toán khi đến hạn.

    Lưu ý :

    Khi giao dịch nghiệp vụ nhờ thu tại Ngân hàng, Nhà NK cần có các chứng từ cần thiết sau:
    1. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế (Nếu Quý khách đến giao dịch lần đầu)

    1. Bản sao hợp đồng ngọai thương có xác nhận sao y bản chính của thủ trưởng Doanh nghiệp (Đối với chứng từ nhờ thu trả chậm D/A)

    Ký hậu vận đơn trước khi chứng từ nhờ thu gởi đến Ngân hàng:

    Trường hợp hàng về Việt Nam trước khi chứng từ nhờ thu được gởi đến Ngân hàng, nếu Nhà NK muốn nhận hàng ngay (Khi Nhà NK đã ký quỹ đủ trị giá của hóa đơn hoặc có bảo lãnh của và Phòng Tín Dụng Doanh Nghiệp – Đối với chứng từ nhờ thu trả ngay D/P) Ngân hàng sẽ ký hậu vận tải đơn do người bán gởi trực tiếp đến Quý khách trên cơ sở công văn đề nghị ký hậu vận tải đơn và chấp nhận thanh toán bộ chứng từ nhờ thu.

    Khi bộ chứng từ nhờ thu về đến Ngân hàng, Ngân hàng sẽ thông báo ngày thanh toán cho Nhà NK và sẽ thực hiện thanh toán theo điều kiện của bộ chứng từ nhờ thu.

    Thủ tục, hồ sơ :

    Nhờ thu hàng nhập khẩu:

    – Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp (đối với khách hàng lần đầu giao dịch): Quyết định thành lập doanh nghiệp (đối với DN thành lập trước năm 1999), Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập tổ chức do cơ quản chủ quản cấp (đối với những DN thành lập trước năm 1999), Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh, Quyết định bổ nhiệm Giám đốc kinh doanh của Hội đồng sáng lập viên Công ty hoặc quyết định bổ nhiệm người đứng đầu tổ chức do cơ quan cấp trên trực tiếp ban hành, Điều lệ công ty (nếu có)

    – Hợp đồng ngoại thương và các phụ lục (nếu có)

    – Giấy phép nhập khẩu hoặc hạn ngạch (nếu cần)

    – Hợp đồng ngoại hối (theo mẫu của ngân hàng/ trong trường hợp khách hàng có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán);

     

    IV.Phương thức CAD (Cash against Documents) – Phương thức giao chứng từ nhận tiền.

    1.Khái niệm.

    CAD là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu Ngân hàng mở tài khoản ký thác ( Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu xuất trình đầy đủ những chứng từ yêu cầu. Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho Ngân hàng để nhận tiền thanh toán.

    Phương thức thanh toán này rất có lợi cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho họ có thể thanh toán được nhanh và chắc chắn.

     

    2.Quy trình.

     

     

    (1) Sau khi ký hợp đồng ngoại thương với nhà xuất khẩu ( trong đó phương thức thanh toán được quy định là CAD), người nhập khẩu cần đến Ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thực hiện dịch vụ CAD.

    Để làm được điều đó, người nhập khẩu và Ngân hàng sẽ thỏa thuận và ký một bản ghi nhớ gồm những nội dung sau:

    • Phương thức thanh toán: CAD
    • Số tiền ký quỹ trị giá 100% thương vụ.
    • Những chứng từ yêu cầu.

    Thông thường phí dịch vụ này do nhà xuất khẩu chịu( 0.25% trị giá thương vụ)

    (2) Sau khi nhà nhập khẩu chuyển đầy đủ số tiền ký quỹ, một tài khoản ký thác sẽ được mở để ghi số tiền ký quỹ, đồng thời Ngân hàng cũng thông báo cho người xuất khẩu về tài khoản ký thác đã hoạt động.

    (3) Nhà xuất khẩu giao hàng cho vận tải để chuyển đến nơi nhà nhập khẩu yêu cầu.

    (4) Người xuất khẩu sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ mà Bản ghi nhớ yêu cầu tại Ngân hàng.

    (5) Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu của Bản ghi nhớ, nếu thấy phù hợp thì tiến hành ghi có cho người xuất khẩu và ghi nợ vào tài khoản ký quỹ của người nhập khẩu, sau khi đã thu phí dịch vụ Ngân hàng theo chỉ thị trong Bản ghi nhớ.

    (6) Ngân hàng giao chứng từ cho nhà nhập khẩu.

     

    3.Trường hợp áp dụng:

    Quan hệ bạn hàng tốt và thân tín giữa hai bên xuất và nhập khẩu. Đặc biệt người nhập khẩu phải rất tin tưởng người xuất khẩu.

    Khi bán những mặt hàng khan hiếm trên thị trường và người xuất khẩu muốn có đảm bảo chắc chắn trong thanh toán .

    Nhà nhập khẩu phải có đại diện bên nước nhà xuất khẩu vì trong bộ chứng từ mà nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu xuất trình có giấy chứng nhận của đại diện người mua về việc giao hàng hóa

     Ưu điểm 

    –           Thủ tục thanh toán đơn giản.

    –           Người Bán thanh toàn bằng phương thức này rất có lợi :giao hàng xong là được tiền ngay, Bộ chứng từ xuất trình giản.

    Nhược điểm

    –           Người Mua phải có đại diện hay chi nhánh ở nước Người Bán vì phải xác nhận hàng hoá trước khi gửi.

    –           Việc kí quỹ để thực hiện CAD, sẽ dẫn đến ứ đọng vốn tại Ngân hàng, Nếu người Bán ko giao hàng thì tiền kí quỹ sẽ ko được hưởng lãi xuất

    V. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ :

    1. Quy trình thanh toán

    Trong nghiệp vụ này Ngân hàng thực hiện chức năng là Ngân hàng mở L/C, đứng ra cam kết trả tiền cho nhà nhập khẩu nước ngoài. Đây là nghiệp vụ có nhiều khả năng rủi ro nhất cả về thiệt hại tài chính và thường tổn đến uy tín của Ngân hàng. Quy trình nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu được chia làm hai mảng:

    • Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ
    • Tiếp nhận, kiểm tra chứng từ, giao chứng từ và trả tiền.

    Quy trình này được khái quát hoá theo sơ đồ dưới đây:

    (3)                          (4)

    (5)

    * Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ.

    (1). Doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng Thương mại đã ký kết với nhà xuất khẩu nước ngoài, lập thư xin mở L/C và xuât trình cho VietcomBank với đầy đủ các tài liệu:

    • Giấy xin mở L/C
    • Bản sao hợp đồng Thương mại hoặc điện, Telex giao dịch mua bán.
    • Uỷ nhiệm chi thanh toán và thủ tục phí.
    • Hợp đồng vay ngoại tế.

    Các thủ tục bảo lãnh theo quy định hiện hành nếu mở L/C mua chịu.

    (2). Mở L/C. Khi nhận được yêu cầu mở hoặc điều chỉnh L/C của hkách hàng thanh toán viên kiểm tra được nội dung theo mẫu quy định Ngân hàng: Kiểm tra nguồn vố (vốn vay, vốn tự có) và khả năng thanh toán của khách hàng đối với L/C yêu cầu mở để yêu cầu ký quỹ hoặc xem xét điền kiện miễn giảm ký quỹ theo quy định của Giám đốc chi nhánh. Sau khi kiểm tra nếu hợp lệ thanh toán viên lập hồ sơ L/C, đưa số liệu vào máy vi tính theo quy định. Việc mở L/C được thực hiện bằng một trong những phương thức sau:

    – Bằng điện:

    + Bằng Swift

    + Bằng telex: Có mã khoá.

    – Bằng thư: Theo mẫu quy định của VietcomBank và phải có đầy đủ chữ ký được uỷ quyền.

    Sau đó hạch toán tiền ký quỹ và thu thủ tục phí theo biểu phí dịch vụ hiện hành của Ngân hàng.

    Mức ký quỹ của khách hàng từ 0% đến 100% giá trị thanh toán, các mức ký quỹ phổ biến ở Ngân hàng được quy định như sau:

    + Các khách hàng không phải ký quỹ mở L/C là các khách hàng có thị trường tiền gửi lớn tại Ngân hàng, hoạt động kinh doanh ổn định, cso tín nhiệm vao trong thanh toán.

    + Các khách hàng ký quỹ từ 10%-30% trị giá L/C là trường hợp phổ biến nhất.

    + Các khách hàng ký quỹ 100% trị giá L/C là những khách hàng mới lần đầu đến giao dịch hoặc tình hình tài chính gần đây không tốt.

    Nếu khách hàng yêu cầu điều chỉnh L/C mà phí điều chỉnh do người hưởng lợi chịu trong điện thư của Ngân hàng thông báo phải nêu rõ: Phí điều chỉnh sẽ được trừ vào tiền hàng khi thanh toán L/C hoặc lập thư đòi phí sau. Thanh toán viên phải có hồ sơ theo dõi các khoản phí đã đòi Ngân hàng nước ngoài, trong vòng 30 ngày không nhận được tiền phí thì phải nhắc Ngân hàng thông báo.

    Đối với các yêu cầu huỷ L/C trong thời hạn hiệu lực L/C: Nếu Ngân hàng thông báo yêu cầu huỷ L/C thì thanh toán viên phải thông báo ngay cho người mua và đề nghị họ trả lời bằng văn bản, khi nhận được trả lời của khách hàng bằng văn bản thì báo ngay cho Ngân hàng thông báo biết. Nếu người mua yêu cầu huỷ L/C, căn cứ  vào thư yêu cầu của khách hàng, Ngân hàng điện báo cho Ngân hàng thông báo biết, trong nội dung điện thông báo phải ghi rõ: trong vòng 07 ngày làm việc nếu không nhận được trả lời thì L/C tự động huỷ.

    Trường hợp khách hàng yêu cầu mở L/C xác nhận trước khi mở L/C ngoài việc kiểm tra nguồn vốn L/C, thanh toán viên phải kiểm tra điều khoản quy định phí xác nhận. Trong L/C xác nhận phải chi ra tên và địa chỉ đầy đủ của Ngân hàng xác nhận, nếu Ngân hàng xác nhận không phải là Ngân hàng thông báo thì phải liên hệ trước với một Ngân hàng đại lý có quan hệ tốt với Ngân hàng đề nghị họ xác nhận Ngân hàng sẽ không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ sự chậm trễ nào gây ra do chậm xác nhận của Ngân hàng nước ngoài. Nếu Ngân hàng nước ngoài yêu cầu ký quỹ thì phải yêu cầu họ phải trả lãi trên số tiền ký qũy đó. Thanh toán viên phải theo dõi chặt chẽ và hạch toàn tiền kỹ quỹ không được thấp hơn số tiền Ngân hàng phải ký quỹ tại Ngân hàng nước ngoài.

    * Tiếp nhận, kiểm ta chứng từ, giao chứng từ, trả tiền.

    (3). Kiểm tra chứng từ trước khi giao hàng khách hàng.

    Khi nhận được chứng từ trước khi giao cho khách hàng. Việc kiểm tra này đảm bảo rằng Ngân hàng mở phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện, điều khoản của L/C đồng thời làm tốt vai trò cố vấn cho khách hàng của mình. Cũng giống Ngân hàng thông báo Ngân hàng mở chỉ kiểm tra tính chính xác trên bề mặt chứng từ mà không cần biết đến tính chất thật giả của chứng từ. Đó chỉ là kiểm tra xem chứng từ xuất trình cóđúng thời hạn hiệu lực của L/C hay không, việc giao hàng có đúng thời hạn hay không, các chứng từ có đầy đủ về mặt số lượng, số loại, có khớp đúng với các quy định của L/C hay không…

    (4) Giao chứng từ cho khách hàng.

    Đây là bước thực hiện sau khi Ngân hàng đã kiểm tra chứng từ với sự cẩn thận thích đáng.

    (5). Trả tiền cho nước ngoài

    Có hai trường hợp xảy ra:

    + Trường hợp cho phép đòi tiền bằng điệu:

    Khi nhận được điện đòi tiền của Ngân hàng xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên thực hiện việc trả tiền theo chỉ dẫn trên lệnh chuyển tiền đồng thời thông báo cho Ngân hàng đòi tiền biết nếu họ yêu cầu mẫu điện , trừ phí trên số tiền phải trả và hạch toán theo chế độ Kế toán hiện hành:

    Mặc dù đã trả tiền theo điện đòi tiền nhưng khi nhận được chứng từ thanh toán viên phải kiểm tra nếu phát hiện thấy chứng từ không phù hợp với điền kiện L/C phải thông báo ngay cho khách hàng biết đồng thời thông báo ngay cho Ngân hàng nước ngoài, trong thông báo phải chỉ ra những điểm không phù hợp và ghi rõ: Chúng tôi đang giữ chứng từ và chờ sự định đoạt của các ông.

    Khi nhận được điện của Ngân hàng nước ngoài thông báo chứng từ không phù hợp, thanh toán viên phải thông báo ngày cho khách hàng những điểm không phù hợp và yêu cầu người mua trả lời bằng văn bản trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Ngân hàng. Nếu chấp nhận thanh toán thì thực hiện việc thanh toán theo quy định, nếu không chấp nhận thanh toán hoặc chỉ chấp nhận thanh toán một phần thì phải thông báo ngay cho Ngân hàng đòi tiền biết.

    Trường hợp L/C cho phép đòi tiền bằng chứng từ.

    Khi nhận được chứng từ nước ngoài xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên kiểm tra chữ ký được uỷ tiền, kiểm tra nội dung chứng từ. Nếu phù hợp thì trả tiền và giao chứng từ cho khách hàng. Nếu chứng từ không phù hợp với các điền kiện, điều khoản của L/C thanh toán viên phải báo ngay cho người mua những điểm không phù hợp, yêu cầu họ trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo Ngân hàng phải có ý kiến bằng văn bản về bộ chứng từ đó đồng thời phải điện báo cho Ngân hàng chuyển chứng từ  những điểm không phù hợp, trên điện báo phải nêu rõ: Chúng tôi đang giữ chứng từ và chờ sự định đoạt của các ông.

    Đối với các L/C thanh toán có kỳ hạn (L/C trả chậm) sau khi kiểm tra chứng từ nếu phù hợp phải lập biện, thư chấp nhận hối phiếu hoặc ký hậu hối phiếu gửi Ngân hàng chuyển chứng từ 30 ngày trước ngày đến hạn của hối phiếu, phải nhắc khách hàng thanh toán đúng hạn. Nếu đến hạn người mua không có khả năng  thanh toán phải kịp thời báo cáo lãnh đạo phòng để có hướng xử lý.

    Trường hợp chứng từ đến sau hàng hoá, nếu người mua yêu cầu Ngân hàng phát hành bảo lãnh nhận hàng để nhập hàng theo L/C, người mua phải cam kết bằng văn bản trả tiền kể cả khi chứng từ không phù hợp  và thủ tục phí phải theo thủ tục phí hiện hành của Ngân hàng .

    Nếu khách hàng yêu cầu chỉ định Ngân hàng hoàn trả ngay từ khi mở L/C , Ngân hàng sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định có chấp nhận chỉ định Ngân hàng hoàn trả hay không. Trường hợp Ngân hàng hạn chế L/C thanh toán tại một Ngân hàng thương lượng, số tiền tối đa của một L/C là 5 triệu USD hoặc tương đương, Ngân hàng được chỉ định hoàn trả phải là Ngân hàng giữ tài khoản và Ngân hàng đại lý chính của Ngân hàng. Sau khi mở L/C hoàn trả, thanh toán viên tiến hành lập uỷ quyền gửi Ngân hàng hoàn trả bằng SWIFT, bằng telex hoặc bằng thư. Trong trường hợp cần sử đổi hoặc huỷ việc uỷ quyền thanh toán viên phải thông báo ngay cho Ngân hàng được uỷ quyền biết.

    2. Đánh giá hiệu quả

    Để đánh giá hiệu quả của quy trình thanh toán L/C nhập cũng tương tự như quy trình thanh toán L/C xuất phải xem xét dựa trên một số điểm sau:

    – Tính chặt chẽ của quy trình

    + Trong mọi trường hợp khi nhận được thư yêu cầu mở và điều chỉnh L/C của khách hàng, sau khi kiểm tra nội dung theo mẫu quy định của ngân hàng sẽ kiểm tra nguồn vốn và khả năng thanh toán của khách hàng đối với L/C để yêu cầu ký quỹ hoặc xem xét điều kiện miễn giảm ký quỹ theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh.

    + Mặc dù bộ chứng từ gửi hàng đã được ngân hàng gửi chứng từ kiểm tra tính phù hợp so với L/C trước khi chuyển tới song tại các kiểm soát viên vẫn phải kiểm tra lại trước khi thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, nếu kiểm tra thấy sai sót sẽ thông báo kịp thời cho các bên liên quan và hoãn việc thanh toán.

    – Sơ hở còn tồn tại trong quy trình thanh toán

    Trường hợp nhà nhập khẩu không chịu nhận chứng từ gửi hàng để lãnh hàng mặc dù bộ chứng từ trên hoàn toàn phù hợp với L/C sẽ gặp phải một số khó khăn nhất định.

    – Sự phù hợp của quy trình thanh toán đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tham gia

    + Thuận tiện

    Mức ký quỹ của khách hàng từ  0% – 100% giá trị thanh toán các mức ký quỹ phổ biến ở được quy định như sau:

    • Các khách hàng không phải ký quỹ mở L/C là những khách hàng tài khoản tiền gửi lớn tại Ngân hàng, Hoạt động kinh doanh ổn định, coa tín nhiệm cao trong thanh toán
    • Các khách hàng ký quỹ 10% – 30% giá trị L/C là trường hợp phổ biến nhất
    • Các khách hàng ký quỹ 100% giá trị L/C là những khách hàng lần đầu đến giao dịch tại Ngân hàng hay tình hình tài chính gần đây không tốt.

    + Bất tiện

    Bộ chứng từ trước khi tới tay nhà nhập khẩu phải được giao cho ngân hàng gửi chứng từ, ngân hàng mở L/C. Tuy nhiên trên thực tế hàng hóa thường tới trước bộ chứng từ gửi hàng và do vậy với quy định trên sẽ dẫn đến khó khăn, thiệt hại cho nhà nhập khẩu do có thể phải chịu chi phí lưu kho nhưng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Đây là môi quan hệ mà Ngân hàng cần quan tâm xem xét để hoàn thiện quy trình thanh toán hàng nhập và nâng cao hiệu quả của công tác trên.

    Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    1. Kiến nghị đối với doanh nghiệp nhập khẩu

    * Thận trọng trong việc lựa chọn đối tác

    Thu thập thông tin về đối tác qua các nguồn khác nhau như ngân hàng, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, báo chí, qua phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.

    * Nâng cao nghiệp vụ ngoại thương và nghiệp vụ thanh toán quốc tế để có thể đảm bảo hiệu quả khi ký kết các hợp đồng ngoại thương.

    * Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tế

    + Đối với nhà nhập khẩu để giảm bớt rủi ro khi mở L/C cần bám sát hợp đồng, ghi rõ ràng cụ thể trách nhiệm giao hàng cung cấp hàng của người bán, đặc biệt điều khoản về hàng hoá, chủng loại, phảm chất, đơn giá phải ngắn gọn, rõ ràng tránh để người bán cố tình hiểu sai.

    1. Kiến nghị với NHTM

    * Ngân hàng có thể giới thiệu cho khách hàng một bộ mẫu chuẩn, đẹp để họ căn cứ vào vào đó lập theo tránh chứng từ sai sót, trình bày lộn xộn, tránh gây phiền hà cho ngân hàng (chỉ càn giới thiệu một làn, sau đó họ có thể tự lập).

    * Khi Ngân hàng  mở L/C thường trước khi bên bán rút tiền theo chứng từ ngân hàng nên liên hệ với người mua để năm vững thông tin bên bán đã giao hàng như thế nà, bên mua có chấp nhận trả tiền không để đè phòng rủi ro. Muốn làm được như vậy Ngân hàng trong vòng 7 ngày phải chỉ ra lỗi chứng từ và thông báo ngay. Đó chính là thời gian Ngân hàng nhận chỉ thị từ người mua.

    * Vận đơn được coi là chứng từ quan trọng của bộ chứng từ. Do đó cần chú trọng với việc kiểm tra và từ chối trong các trường hợp sau: Bảo lãnh xuất trình muộn, không sạch nội dung không đúng quy định, người ký không chỉ rõ năng lực, do công ty vận tải không có tư cách phát hành…

    Trên đây là những giải pháp chung và những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thanh toán xuất nhập khẩu bằng thư tín dụng tại Ngân hàng.

    Kết luận :

    Việc hoàn thiện để phát triển hoạt động TTQT có một ý nghĩa hết sức thiết thực, hoạt động TTQT là một dịch vụ thuần tuý làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng, trên cơ sở đó ngân hàng tăng được quy mô hoạt động của mình, giúp cho ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó tạo được niền tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể khai thác được nguồn vốn tài trợ của ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng phát triển được nghiệp vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ khác. Nếu hoạt động TTQT được đẩy mạnh thì sẽ đẩy mạnh được hoạt động tín dụng tài trợ XNK cũng như tăng cường được nguồn vốn huy động do tạm thời quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT qua ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng tăng thu nhập và tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời nó giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với hệ thống ngân hàng thế giới.

    Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu bộ chứng từ. Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng. Làm cho việc nhập khẩu của các doanh nghiệp thanh toán thong qua trung gian ngân hàng sẽ trở nên đơn giản và thuận tiện hơn bao giờ hết .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-%C4%91i%E1%BB%81u-ch%E1%BB%89nh-c%C3%A1n-c%C3%A2n-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-Vi%E1%BB%87t-Nam..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    +

    Chương 3: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam.

    3.1 Phương hướng điều chỉnh cán cân thanh toán

    Các chuyên gia kinh tế cho rằng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam chưa tới mức nghiêm trọng mà vẫn có thể kiểm soát được. Vì các lý do khác nhau mà cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam vẫn chưa bị coi là tình trạng báo động. Lý do thứ nhất, là do các món nợ ngắn hạn của Việt Nam vẫn có thể được trả đúng hạn. Mức độ dự trữ hiện nay là cao hơn so với các năm trước và vì có ít yêu cầu trả các khoản nợ nhỏ ngắn hạn, nên không có thúc bách lớn cần phải dự trữ quốc tế trong ngắn hạn và trung hạn. Các dự trữ đủ lớn với kim ngạch nhập khẩu và sự mất cân đối thương mại của Việt Nam đã có dấu hiệu chứng tỏ được phục hồi. Hơn nữa, các dòng vốn quốc tế được dự báo sẽ trở lại xu thế như trước đây, khi nền kinh tế thế giới khởi sắc trở lại vào năm 2010. Điều quan trọng là Việt Nam vẫn giữ được niềm tin đối với nền kinh tế, đảm bảo làm giảm thiểu sự di chuyển vốn.

    Thứ nhất, Việt Nam có thể xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu cao về nhập khẩu của một số nước, việc áp các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ làm mất tính cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai, việc áp dụng chính sách thương mại thay đổi như vậy có thể dẫn đến tình trạng một số dự án đầu tư có vốn trực tiếp nước ngoài sẽ rút về hoặc đóng băng, vì những dự án này cần nhập khẩu cho đầu vào hoặc công nghệ của họ. Thứ ba, những biện pháp như vậy có thể gây mất lòng tin của nhà đầu tư đối với viễn cảnh kinh tế của Việt Nam. Điều này có thể sẽ dẫn đến tình trạng di chuyển vốn và tạo ra áp lực làm mất giá đồng tiền Việt Nam.

    Tiến sĩ Võ Trí Thành – chuyên gia kinh tế khi nhìn nhận về viễn cảnh kinh tế và tầm nhìn chính sách Việt Nam 2010 cho rằng: Cần phải tính đến việc can thiệp của chính sách vĩ mô trong giai đoạn của khủng hoảng và rút lui ra khỏi khủng hoảng như thế nào ? Vấn đề mất cân đối có mang tính chất bền vững không ? Không có nền kinh tế nào có thể cân đối cả bên trong và bên ngoài, trong nền kinh tế có mức độ đôla hóa như của Việt Nam các chính sách tài khóa và tiền tệ rất khó thống nhất điều này tạo điều kiện cho các nhà đầu cơ tài chính. Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam có vấn đề, nợ nước ngoài tăng nhanh… trong 2 năm qua Việt Nam đã sử dụng quá nhiều biện pháp hành chính nên đặt nền kinh tế hiện tại trong một trạng thái rất khó. Ví dụ: trần lãi suất, trần về thâm hụt ngân sách… các mất cân đối đang diễn ra nghiêm trọng và có xu hướng tăng. Các giải pháp: thắt chặt chính sách tiền tệ, đồng Việt Nam phải được bảo vệ bằng cách tăng lãi suất, nhưng vấn đề đặt ra là tiến độ chính sách là ngay lập tức hay từ từ ?

    Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều mặt hạn chế như áp lực lạm phát tăng cao, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam về hàng hóa xuất khẩu còn kém, mức tiết kiệm trong nước còn rất thấp, thiếu vốn đầu tư, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nhập siêu vẫn kéo dài… Tuy cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam đã thặng dư và sẽ tiếp tục thặng dư song cán cân thương mại ngày càng thâm hụt do nhập siêu. Sự thặng dư ở đây là do nguồn đầu tư vào trong nước ngày càng tăng và lượng kiều hối chuyển về nước cũng tăng mạnh. Mà đối với một nước luôn nhập siêu như Việt Nam hiện nay thì việc cán cân thanh toán thặng dư do thặng dư cán cân vốn bù đắp cho thiếu hụt cán cân vãng lai thì chưa chắc đã là một dấu hiệu tốt. Nếu Việt Nam sử dụng vốn đầu tư ( vốn vay) kém hiệu quả thì nợ quốc gia sẽ nhanh chóng trở thành gánh nặng, gây áp lực phải trả nợ rất lớn đối với Ngân sách Nhà nước. Như vậy, mức thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam có thể tài trợ đư,ợc nhưng chính phủ cũng nên có các biện pháp tích cực để cải thiện cán cân vãng lai nhàm đảm bảo cân đối bên ngoài một cách vững chắc. Nhiệm vụ chính của các chính sách kinh tế Việt Nam hiện nay là phải đảm bảo thiết lập được cả cân đối bên trong và cân đối bên ngoài. Định hướng điều chỉnh cán cân thanh toán của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

    –    Tăng cường hơn nữa thu hút vồn đầu tư nước ngoài bằng cách nâng cao hiệu quả sư dụng vốn nhằm cải thiện cán cân thanh toán, tăng cường dự trữ ngoại tệ và phục vụ cho phát triển kinh tế.

    –    Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam không thể đảm bảo cân bằng cán cân vãng lai và phải chấp nhận sự thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng vấn đề là phải duy trì được khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai. Tức là phải duy trì khả năng thanh toán của quốc gia. Một yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam là phải tạo ra thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai (không bao gồm các khoản trả lãi) đủ để hoàn trả các khoản nợ hiện tại. Nhưng sự đảo ngược trong các chính sách kinh tế (như một sự thắt chặt đột ngột) kèm theo một sự khó khăn vĩ mô như giảm mạnh các hoạt động kinh tế và tiêu dùng thì sự thiếu hụt cán cân vãng lai của Việt Nam trong hiện tại mới được coi là có khả năng chịu đựng.

    Như vậy trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần phải hạn chế mức độ thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng không để ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và việc làm. Đồng thời cố gắng duy trì và nâng cao khả năng chịu đặng thiếu hụt cán cân vãng lai để không xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán bằng cách cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô trên.

    3.2 Những biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán Quốc tế của Việt Nam

    3.2.1 Những biện pháp khuyến khích xuất khẩu

    Chính sách khuyến khích xuất khẩu nhằm mục đích chuyển dịch chi tiêu nước ngoài vào các sản phẩm nội địa. Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu bao gồm: mở rộng thị trường xuất khẩu, giảm và bỏ thuế xuất khẩu, xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu, cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất khẩu… Tác dụng của các biện  pháp này là làm tăng khối lượng xuất khẩu, làm giảm thâm hụt cán cân thương mại và đồng thời còn làm tăng khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai. Nó cho pháp cán cân vãng lai thiếu hụt lớn mà không dẫn đến một cuộc khủng hoảng bên ngoài nào. Đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng kinh tế hiện nay, khuyến khích xuất khẩu lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

    Đẩy mạnh xuất khẩu là cách tốt nhất để Việt Nam có thể cải thiện được cán cân thương mại, đẩy lùi được tình trạng nhập siêu và có nguồn vốn để trả nợ nước ngoài. Hơn nữa vẫn đảm bảo được mục tiêu cân đối bên trong như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và giải quyết việc làm.Trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần phải đảm bảo tốc độ tăng xuất khẩu lớn hơn tốc độ tăng nhập khẩu để có thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.Chính vì vậy, Chính phủ cần quan tâm đến các biện pháp nhằm khuyến khích xuất khẩu.

    Trong thực tế,hoạt động nhập khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với một số trở ngại.Trở ngại lớn nhất đối với xuất khẩu là các chính sách thuế nhập khẩu,hạn ngạch nhập khẩu..làm mất đi các lợi thế xuất khẩu của Việt Nam. Do hệ thống thuế và hệ thống quản lý thương mại là nhằm sản xuất thay thế hang nhập khẩu và sản xuất các loại hàng hóa,dịch vụ thương mại dẫn đến việc bảo hộ cho những ngành không có hiệu quả. Còn những ngành có lợi thế và khả năng xuất khẩu thì không được đầu tư các nguồn lực thích đáng.Hơn nữa,khi vực kinh tế tư nhân có nhiều tiềm năng xuất khẩu thì không được đầu tư các nguồn lực thích đáng. Hơn nữa,khu vực kinh tế có nhiều tiềm năng xuất khẩu thì chưa được chú ý phát triển. Thêm vào đó, thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới đang bị cạnh tranh gay gắt mà sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thì yếu, thì trường thương mại dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của xuất khẩu,tình trạng gian lận trong buôn bán vẫn còn xảy ra. Trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của của Việt Nam thì tỷ trọng hàng thô và sơ chế còn cao, hàng gia công chiếm tỷ trọng lớn.. khiến cho giá trị xuất khẩu chưa cao và không có sức cạnh tranh.Mặt khác,các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn nhiều hạn chế về kỹ thuật kinh doanh, chưa am hiểu đầy đủ về luật pháp và thông lệ quốc tế,chưa có độ nhanh nhạy nắm bắt thông tin thị trường nên dẫn đến việc bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh có lợi,phải chịu những thiệt hại không đáng có trong hoạt động sản xuất..Vậy nên,Chính phủ cần có những biện pháp vừa giải quyết được những khó khăn trở ngại trong hoạt động xuất khẩu lại vừa đẩy nhanh tốc độ tăng xuất khẩu nhằm cải thiện được tình trạng thâm hụt thương mại hiện nay.

    Một số biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới:

    – Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển,cải tiến chế độ phân phối,chế độ xuất nhập khẩu,tạo ra một sự phân phối nhịp nhàng,chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cùng làm nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu với cùng một ngành hàng,không phân biệt đó là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Bên cạnh đó,trong tiến trình hội nhập,Việt Nam cần phấn đấu thực hiện những mục tiêu như: đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ thuật trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi với tất cả quốc gia trên mọi lĩnh vực,thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng các biện pháp giảm bớt thuế,dần tiến tới phi thuế;hủy bỏ việc cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; tăng năng suất lao động,giảm bớt chi phí sản xuất hàng hóa để tăng sức mạnh về giá;đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu,thủ tục đầu tư,thủ tục hải quan,ngoại hối,ngân hàng..

    – Tăng cường đầu tư nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.Tập trung các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất các mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu.Đặc biệt chú trọng những ngành hàng có khả năng tăng trưởng ổn định ,sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu trong nước,đặt yêu cầu năng cao tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa lên hàng đầu,gắn sản xuất với yêu cầu của thị trường về chất lượng và mẫu mã sản phẩm…Đồng thời chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư theo hướng tăng đầu tư Nhà nước để phát triển các ngành dịch vụ và một số ngành sản xuất với công nghệ cao nhằm đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế dịch vụ và kinh tế tri thức.

    – Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu,phát triển và đa dạng hóa với những mặt hàng chủ lực,gắn yêu cầu của thị trường đối với tường loại sản phẩm chính.Về đổi mới cơ cấu hàng xuất, Việt Nam cần phải chuyển nhanh và mạnh sang phần lớn hàng chế biến,giảm mức tối đa xuất hàng nguyên liệu và hàng sơ chế.

    – Chính phủ cần quan tâm đến việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân có tiềm năng,nhất là các doanh nghiệp trong các ngành chế tạo có định hướng xuất khẩu cao.Hỗ trợ nhiều hơn cho các tổ chức ,doanh nghiệp và cá nhân để phát triển các mặt hàng mới và thị trường mới.

    – Việt Nam cần mở rộng thị trường xuất khẩu.Thực hiện phương châm đa dạng hóa,đa phương hóa thị trường và đối tác,hạn chế việc xuất khẩu một mặt hàng bị phụ thuộc vào một số thị trường,chú trọng các thị trường có sức mua lớn như : Mỹ,EU,Nhật Bản,Trung Quốc,Đông Nam Á..đồng thời tìm cách thâm nhập và gia tăng sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam ở các thị trường châu Phi,Mỹ La tinh;tăng cường các hình thức buôn bán hàng đổi hàng…

    – Chính phủ cũng nên tăng cường rà soát và xác định cụ thể những nguyên nhân làm chậm trễ hoặc cản trở việc thực hiện các chính sách hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu để xử lý kịp thời.Đồng thời thực hiện bổ sung,sửa đổi các cơ chế,chính sách,quy định chưa hợp lý;tiếp tục cải cách hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.

    3.2.2 Những biện pháp nhằm điều tiết nhập khẩu

    Chính sách hạn chế nhập khẩu nhằm mục đích cố gắng dịch chuyển chi tiêu nội địa từ nước ngoài và hàng hóa trong nước. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu bao gồm: thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, yêu cầu bắt buộc kết hối ngoại tệ, cấm nhập khẩu, yêu cầu cấp giấy phép nhập khẩu… Tác dụng của biện pháp này là làm giảm số lượng hay giá trị nhập khẩu trong một khoảng thoài gian nhất định. Do đó, ban đầu nó có tác động trược tiếp cải thiện cán cân thương mại nói riêng và cán cân vãng lai nói chung. Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ có tác dụng làm giảm thiếu hụt cán cân vãng lai lúc ban đầu. Nhưng sau đó, do giảm suất khẩu, người tiêu dùng trong nước sẽ quay sang mua hàng hóa sản xuất trong nước làm tăng tổng cầu đối với nền kinh tế dẫn đến sản lượng và thu nhập quốc dân tăng lên. Thư nhập quốc dân sẽ làm cho nhập khẩu tăng và cuối cùng làm cho sự cải thiện cán cân vãng lai ban đầu giảm đi.

    Song trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, do luồng vốn đầu tư vào trong nước ngày càng tăng mạnh kèm thao nhu cầu nhập khẩu lớn để tăng trưởng kinh tế nên Chính phủ đã phải thực hiện một số nới lỏng trong chính sách hạn chế nhập khẩu. Thêm nữa, Việt Nam đang tăng cường chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nên việc sử dụng các hạn chế thương mại sẽ dần dần được loại bỏ. Như vậy, trong tương lai, việc sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ rất khó thực hiện và có thể không thể thực hiện nữa.

    Để vừa đảm bảo các mục tiêu kinh tế, vừa giảm bớt được tình trạng nhập siêu trong giai đoạn hiện nay,Việt Nam cần thực hiện các việc sau:

    • Ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    • Khuyến khích gia tăng sử dụng vật tư, thiết bị trong nước đã sản xuất được để tiết kiệm ngoại tệ và pháy triển hàng hóa sản xuất trong nước.
    • Thúc đẩy phát triển sản xuất nguyên liệu thay thế nhập khẩu như bông, nguyên liệu thuốc lá, ngô, đậu tương, đa nguyên liêu…và áp dụng các công cụ thuế mới nhằm giảm kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này
    • Hạn chế tối đa việc nhập khẩu hàng tiêu dùng và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu ô tô và linh kiện xe hai bánh gắn máy.
    • Thực hiện chính sách giảm chi ngoại tệ nhập khẩu đối với một số ngành dịch vụ có nhập khẩu các loại trang thiết bị chuyên dụng, thiết bị và vật liệu rẻ tiền nhanh hỏng mà tập trung tạo điều kiện sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu…

    Nói chung, những biện pháp hạn chế nhập khẩu chỉ là tạm thời, hiệu quả không cao và có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. trong tình thế hiện nay, để giảm được thâm hụt thương mại, Việt Nam có thể tập trung vào các biện pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu thay vì việc tập trung để giảm nhập khẩu thay vì việc tập trung để giảm nhập khẩu như trước đây.

    3.2.3 Biện pháp thu hút chuyển tiền nước ngoài

    Do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,thị trường trong nước và thị trường ngoài nước được mở rộng và gắn kết với nhau nên lượng người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài và lao động xuất khẩu ngày càng tăng lên. Và thực tế cho thấy,số tiền do những người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước luôn là nguồn tài trợ quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra, nguồn kiều hối gửi về Việt Nam đã bị giảm sút do phần còn lại của thế giới cũng lâm vào tình trạng khó khăn. Để có thể khai thác triệt để nguồn ngoại tệ này, Chính phủ cần có những biện pháp nhằm khắc phục một số vướng mắc hiện tại. Các biện pháp có thể áp dụng như thiết lập thêm mấy kênh chuyển tiền mới  giúp cho kiều bào an tâm chuyển tiền,nâng cao chất lượng dịch vụ chuyển tiền,đơn giản hóa các thủ tục có liên quan tới hệ thống ngân hàng,cải thiện môi trường đầu tư,khuyến khích kiều bào tăng cường đầu tư vào thị trường trong nước,tiếp tục thực hiện chính sách thu hút kiều hối thông thoáng…

    Các biện pháp kiểm soát trực tiếp nêu trên đếu có tác dụng làm giảm thiếu hụt cán cân thương mại ,tăng khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai nên Việt Nam cần phải chú trọng tới những biện pháp này. Nhất là trong tình hình hiện nay thì việc đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút tối đa luồng kiều hối là hết sức quan trọng. Nó không những cải thiện cán cân vãng lai trong hiện tại mà còn đảm bảo thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai giúp thanh toán những khoản nợ nước ngoài,đảm bảo ổn định nền kinh tế.

    3.2.4 Những biện pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nước ngoài

    Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đứng trước hai vấn đề quan trọng có liên quan đến vốn đầu tư để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững:

    • Tỷ lệ huy động vốn trong nước thông qua kênh tiết kiệm và các khoản thu của Nhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư.
    • Tình trạng nhập siêu không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa đất nước dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai và sự thiếu hụt ngoại tệ trong một thời gian dài.

    Cả 2 vấn đề này có thể giải quyết bằng cách thu hút vốn ngoài nước, trong đó có FDI và ODA. Cho nên để tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai, cải thiện cán cân thanh toán, Chính phủ nên thu hút các luồng vốn này. Tuy việc thu hút các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sẽ có tác dụng làm tăng sản lượng, tạo việc làm và tài trợ cho thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng cũng sẽ làm tăng thiếu hụt cán cân vãng lai do tăng nhập khẩu và tăng các khoản trả lợi nhuận, lãi vay cho nước ngoài.Do vậy, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng xuất khẩu giải quyết việc làm, Việt Nam phải chấp nhận thâm hụt cán cân vãng lai trong giới hạn khả năng chịu đựng để không dẫn đến cuộc khủng hoảng bên ngoài.

    3.2.4.1   Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)

    Trong các luồng vốn nước ngoài vào,đầu tư nước ngoài vào,đầu tư trực tiếp được coi là luồng vốn không tạo ra dư nợ nên Chính phủ cần tập trung khai thác luồng vốn này.Để thu hút được nhiều vốn FDI, Chính phủ có thể thực hiện có biện pháp sau:

    • Tìm kiếm thị trường và đối tác mới: trong khi vẫn coi trọng các thị trường và đối tác hiện nay, mà chủ yếu là Châu Á và các doanh nghiệp vừa,cần mở rộng việc thu hút FDI từ thị trường mới nhất là Mỹ – một nước có tiềm năng lớn và có quan hệ thương mại gia tăng mạnh mẽ với nước ta trong những năm qua.
    • Nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường thế giới: trên cơ sở thường xuyên quan tâm đến việc xếp hạng của các tổ chức quốc tế về năng lực cạnh tranh trong đầu tư của từng nước, cũng như sự đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài đối với nước ta để sửa đổi,bổ sung những nhân tố có liên quan làm cho vị thế nước ta ngày càng cao hơn trong bảng xếp hạng của thế giới.
    • Tạo lập môi trường đầu tư tốt nhất: đảm bảo tính minh bạch và ổn định của luật pháp để các nhà đầu tư có thế tính được xu thế phát triển của dự án đầu tư.Cải cách cơ bản thủ tục hành chính theo nguyên tắc hoạt động đầu tư thuộc quyền của các doanh nghiệp.
    • Nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể thu hút vốn FDI phù hợp và gắn liền với quy hoạch ngành, lãnh thổ, lĩnh vực ưu tiên, mặt hàng chủ lực, khả năng thu hút lao động cao… từ đó lựa chọn dự án khả thi, dự án ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đã được cấp phép triển khai nhanh hoạt động xử lý linh hoạt chuyển đôi các hình thức đầu tư. Ngoài các dự án không cấp phép đầu tư do yêu cầu an ninh quốc gia, cần mở rộng danh mục các dự án cho phép nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn các hình thức đầu tư xuất phát từ hiệu quả kinh doanh.
    • Đáp ứng đủ nguồn vốn đối ứng: Khả năng tiếp cận FDI của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng là nhân tố quyết định đến hiệu quả đầu tư. FDI chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi Việt Nam có khả năng tiếp năng tiếp nhận vốn và ngược lại sẽ bị phụ thuộc vào nước ngoài. Để tiếp nhận hiệu quả vốn FDI đòi hỏi phải có một tỉ lệ vốn đối ứng hợp lý.

    3.2.4.2  Quản lý, sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức(ODA)

    So với FDI, Việt Nam sẽ tiếp nhận nguồn vốn ODA sớm hơn. Nhưng thực chất nguồn vốn ODA là nguồn vốn ưu đãi.vì chỉ có khoảng 10-15%  là viện trợ không hoàn lại. Vì vậy, việc quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn này là hết sức cần thiết.

    Các biện pháp cụ thể là:

    • Sức hấp dẫn của ODA nằm ở chỗ khâu lập hồ sơ nhanh chóng, sát với nhu cầu thực tế, các chủ dự án có năng lực cao. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần giải quyết các vấn đề này để thu hút thêm nhiều ODA phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Công tác vận động vốn ODA cần được đổi mới cơ bản về nội dung và phương pháp thực hiện, chú trọng khâu lập dự án nghiên cứu khả thi bảo đảm chất lượng trước khi đàm phán. Trong quá trình vận động tổ chức vốn cần xuất phát từ lợi ích tổng thể quốc gia, hiệu quả công việc trên cơ sở nâng cao tính chủ động của phía Việt Nam với bên nước ngoài, cần mạnh dạn chối bỏ các nguồn vốn không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
    • Thực hiện nghiêm chỉnh các nghi quyết của Đảng và Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cả những côngty lớn trong hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt. Một khi chính những công ty nhà nước đã thực hiện đa sở hữu hóa thì đây chính là một động lực để thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn ODA.
    • Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn quan trọng này, bao gồm cả yêu cầu về giải ngân, Chính phủ cần đổi mới công tác tổ chức điều hành các dự án công trình quan trọng quốc gia có sử dụng nguồn vốn ODA. Đối với những công trình, hạng mục công trình quan trọng nên tổ chức đấu thầu chọn chủ dự án, công trình, mà tốt nhất là doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa hay công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước. Vốn đối ứng để thực hiện dự án công trình, ngoài ngân sách nhà nước, cần huy động thêm từ xã hội thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu công trình.
    • Nâng cao nhận thức và thống nhất quan điểm về vốn ODA. Nếu coi là nguồn viện trợ thuần túy thì dẫn đến sử dụng kém hiệu quả, lãng phí, không tră được nợ và cuối cùng bị lệ thuộc vào bên ngoài. Viện trợ không hoàn lại cần đựoc quản lý như đối với nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho đầu tư phát triển, phần vay ưu đãi được hạch toán bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, kiên quyết không vay cho chi thường xuyên.
    • Để cải thiện tình hình giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA, chính phủ cũng cần tiếp tục cải thiện cơ sở pháp lý nhằm tạo môi trường rõ ràng hơn và thuận lợi hơn cho quản lý và sử dụng ODA.

    3.2.5 Tăng tiết kiệm

    Như phần trên đã phân tích, chúng ta biết rằng thiếu hụt cán cân vãng lai bằng lỗ hổng tiết kiệm và đầu tư của 1 quốc gia. Đối với Việt Nam thì lỗ hổng này chủ yếu xuất phát từ khu vực tư nhân. Chính vì vậy, để giảm thâm hụt cán cân vãng lai đòi hỏi chính phủ phải có các biện pháp nhằm tăng cường tiết kiệm quốc gia, đặc biệt là tiết kiệm tư nhân. Mặt khác, nếu chính phủ thu hút được nguồn vốn này để phục vụ cho đầu tư trong nước thì sẽ giảm đựoc vay vốn nước ngoài. Giảm vay vốn đầu tư nước ngoài sẽ giảm được nhập khẩu, do đó giảm được thâm hụt thương mại và giảm bớt các khoản nợ nước ngoài.

    Hiện tại, Việt Nam chủ yếu thu hút các nguồn tiết kiệm tư nhân thông qua hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm. Song lượng tiền gửi vào chưa nhiều và phần lớn các luồn tiền gửi vào ngân hàng là tiền gửi ngắn hạn. Kết quả là trong thực tế, Việt Nam là thiếu vốn trung và dài hạn đầu tư cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, ngân hàng cần tích cực thu hút các luồng vốn trung và dài hạn bằng cách khuyến khích phát triển thị trường trái phiếu.

    Để đạt được ti lệ tích lũy cao hơn, Chính phủ cần phải cải thiện môi trường tổng thể sao cho thuận lợi hơn, cải thiện khuôn khổ các biện pháp khuyến khích và cần có 1 chiến lược phát triển dựa trên xuất khẩu để tăng mức thu nhập. Ngoài ra, nâng cao vai trò quan trọng ccủa nhà nước trong việc duy trì môi trường với lãi suất thực dương; đảm bảo về mặt pháp lý cho tính chất toàn vẹn lâu dài của các quyền về tài sản và sở hữu của caỉ vật chất; điều chỉnh tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý để cho người gửi tiền tiết kiệm có thể yên tâm về giá trị lâu dài của đồng tiền; xây dựng 1 hệ thống ngân hàng an toàn và lành mạnh để người dân yêu tâm gửi tiền; và một hệ thống thuế công bằng, hợp lý không de dọa tịch thu tiết kiệm và của cải trong tương lai.

    3.2.6 Giảm chi tiêu

    3.2.6.1 Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

    Ngoài những biện pháp kiểm soát trực tiếp, để điều chỉnh cán cân thanh toán,các chính phủ còn có thể sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Chính sách tiền tệ liên quan đến cung tiền của NHTƯ của một nước và chính sách tài khóa liên quan đến những thay đổi trong chi tiêu Chính phủ và thuế quan. Việc sử dụng hai chính sách này vẫn đảm bảo được cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế. Tuy nhiên, để có thể phát huy một cách có hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô cho việc thiết lập cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế,yêu cầu phải có thị trường tài chính và đặc biệt phải tự do hóa về tài chính.

    Theo quan điểm của Mundell ,trong điều kiện tự do hóa thương mại và tài chính với chế độ tỷ giá cố định,cân đối bên trong và bên ngoài có thể đạt được thông qua chính sách tiền tệ và tài khóa hợp lý. Như vậy là chính sách tài khóa được phân cho mục tiêu cân đối bên trong và chính sách tiền tệ được phân cho mục tiêu cân đối bên ngoài (vì chính sách tiền tệ có lợi thế tương đối trong thực hiện cân đối bên ngoài và chính sách tài khóa có lợi thế tương đối trong thực hiện cân đối bên trong). Trên cơ sở đó, Mundell đã đưa ra một số gợi ý chính sách điều chỉnh như sau:

    Chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm thiết lập cân đối bên trong và bên ngoài.

    Trạng thái nền kinh tế Chính sách tiền tệ Chính sách tài khóa
    Thất ngiệp và thặng dư

     

    Lạm phát và thặng dư

    Lạm phát và thâm hụt

    Thất nghiệp và thâm hụt

    Mở rộng

     

    Mở rộng

    Thắt chặt

    Thắt chặt

    Mở rộng

     

    Thắt chặt

    Thắt chặt

    Mở rộng

    NHTW điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ điều chỉnh như: nghiệp vụ thị trường mở,tỷ lệ dự trữ bắt buộc ,lãi suất triết khấu… Chính phủ điều hành chính sách tài khóa thông qua biện pháp tăng hoặc giảm chi tiêu của chính phủ và thuế.

    Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng tức là tăng cung tiền bằng cách mua vào các trái phiếu trên thị trường mở,dẫn đến giá trái phiếu tăng và mức lãi suất giảm; lãi suất giảm kích thích đầu tư tăng;đầu tư tăng làm tăng thu nhập quốc dân; thu nhập quốc dân tăng làm tăng nhập khẩu. Như vậy ,chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm cho cán cân thanh toán xấu đi.

    Ngược lại, khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt tức là giảm cung tiền bằng cách bán ra các trái phiếu trên thị trường mở, dẫn đến giá trái phiếu giảm và mức lãi suất tăng : lãi suất tăng kìm hãm đầu tư; đầu tư giảm làm giảm thu nhập quốc dân ; thu nhập quốc dân giảm làm giảm nhập khẩu. Như vậy ,chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm cho cán cân thanh toán được cải thiện.

    Còn khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng tức là tăng chi tiêu của chính phủ bằng cách bán ra trái phiếu trên thị trường mở, dẫn đến tăng thu nhập thông qua thừa số chi tiêu của chính phủ. Tuy nhiên ,chính sách tài khóa mở rộng cũng không hẳn làm cho cán cân thanh toán xấu đi. Do chính phủ bán trái phiếu ra nên giá trị trái phiếu giảm và lãi suất tăng;lãi suất tăng dẫn đén giảm đầu tư;điều này phần nào làm giảm đi hiệu ứng tăng thu nhập thông qua thừa số chi tiêu của Chính phủ ;đồng thời lãi suất tăng sẽ kích thích luồng vốn chảy vào làm cho cán cân thanh toán được cải thiện. Tương tự ,khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt cũng vậy,nó không hẳn làm cho cán cân thanh toán được cải thiện. Do việc khó xác định được chính xác ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên cán cân thanh toán cho nên tùy thuộc vào từng thời kỳ cụ thể mà các nước cần có sự kết hợp hài hòa giữa các chính sách tài khóa và tiền tệ .

    Đối với tình hình Việt Nam hiện nay,các chính sách tiền tệ và tài khóa cần phải đảm bảo cả mục tiêu cân đối bên trong và mục tiêu cân đối bên ngoài. Do đó,Chính phủ có thể áp dụng các chính sách cụ thể như sau:

    Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là mở rộng tiền tệ. Việc tăng cung tiền sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua tăng dự trữ quốc tế (do cán cân thanh toán thặng dư) và tăng số nhân tiền bằng cách thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc .Kết hợp vói giảm lãi suất để duy trì cung tiền bằng cầu tiền. Cụ thể:

    • Tăng dự trữ quốc tế phù hợp với yêu cầu tăng nhập khẩu phục vụ phát triển kinh tế ,đồng thời có tác dụng hạn chế việc tăng giá đồng Việt Nam khi thu hút vốn nước ngoài và hạn chế được tốc độ tăng lạm phát.
    • Giảm lãi suất để hạn chế thu hút vốn ngắn hạn và tăng vốn đầu tư trong nước.
    • Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc có ý nghĩa là giảm thuế đánh vào hệ thống ngân hàng, có tác dụng giảm lãi suất nội địa và giảm chênh lệch lãi suất cho vay. Do đó ,nó đảm bảo vừa tăng được đầu tư vừa khuyến khích được tiết kiệm trong nước.

    Chính sách tài khóa mở rộng hiện nay là: Giảm thuế suất và mở rộng diện nộp thuế;tăng chi tiêu đầu tư và xã hội để xây dựng cơ sở hạ tầng,xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục đồng thời hạn chế chi tiêu thường xuyên .Thiếu hụt NSNN được bù đắp bằng cách Chính phủ bán công trái và trái phiếu kho bạc .Cụ thể:

    –      Mở rộng diện thu thuế là cần thiết để tăng thu ngân sách vì Việt Nam còn nhiều nguồn thu bị bỏ qua như thu thuế,phí từ thị trường đất đai,bất động sản,thu nhập cá nhân…

    –      Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,việc để thuế giá trị gia tăng,thuế suất nhập khẩu cao là không hợp lý làm triệt tiêu động lực của sản xuất ,giảm sức cạnh tranh.Việc giảm thuế này về dài hạn sẽ thu lại nguồn thu lớn nhờ sản xuất được mở rộng.

    –       Để phát triển kinh tế bền vững lâu dài,cần tăng chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ,giáo dục,xóa đói,y tế,môi trường… Đồng thời trong ngắn hạn đây cũng là một biện pháp làm tăng tổng cầu và giải quyết việc làm.

    –     Bán công trái và trái phiếu kho bạc sẽ có tác dụng thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân làm tăng tiết kiệm tư nhân.

    Mặc dù tác động cải thiện cán cân vãng lai không rõ ràng nhưng chính sách tiền tệ và tài khóa lại có tác dụng cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô đảm bảo cho khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai để tránh không gây ra một cuộc khủng hoảng bên ngoài như chỉ số: tỷ lệ xuất khẩu/GDP tăng ;tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa/GDP tăng ,tỷ giá đồng nội tệ giảm phù hợp với tỷ giá thực…

    3.2.6.2 Biện pháp điều chỉnh tỷ giá

    Thực tế cho thấy, các hệ số co giãn nhu cầu hàng xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia phụ thuộc vào cơ cấu hàng xuất khẩu của quốc gia đó. Qua phân tích, chúng ta thấy rằng cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là những mặt hàng thô, sơ chế, những mặt hàng chế biến chiếm tỷ trọng nhỏ. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đều phụ thuộc vào nhu cầu trên thị trường thế giới và giá cả do thị trường thế giới quyết định. Do đó, Việt Nam có giảm giá các mặt hàng này cũng không thể tăng được số lượng xuất khẩu và tăng giá thì không xuất khẩu được. Còn những mặt hàng  công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam thì chủ yếu là hàng gia công, nguyên liệu đầu vào phàn lớn phải nhập khẩu và có giá trị gia tăng thấp. Do đó nếu Việt Nam phá giá đồng nội tệ thì cũng không giảm được giá xuất khẩu đối với những mặt hàng này. Có thể nói, hệ số co giãn nhu cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam là rất thấp và gần như không co giãn nên việc phá giá sẽ không làm tăng được doanh thu xuất khẩu của Việt Nam. Đối với hàng nhập khẩu của  Việt Nam cũng vậy, hệ số co giãn nhu cầu nhập khẩu là rất thấp, thậm chí là không co giãn ở Việt Nam. Vì hiện nay Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nên rất cần nhập khẩu các máy móc thiết bị, phụ tùng và nguyên nhiên liệu ( trong nước không sản xuất được). Đây cũng chính là những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam. Do đó, việc phá giá đồng nội tệ cũng không thể giẩm bớt những chi phí nhập khẩu của Việt Nam.

    Như vậy là việc phá giá đồng nội tệ ở Việt Nam hoàn toàn không có tác dụng cải thiện can cân thương mại cả trong ngắn hạn và dài hạn, không đẩy nhanh được tốc độ tăng trưởng kinh tế, không giải quyết được thất nghiệp. Không những thế,  phá giá đồng nội tệ còn làm cho lạm phát ở Việt Nam tăng cao. Vì vậy, khi xem xét vấn đề phá giá đồng Việt Nam cho việc thanh toán các khoản nợ nước ngoài, ảnh hưởng không tốt đến quá trình công nghiệp hóa đất nước( do hạn chế nhập khẩu)… Trong bói cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chính phủ không nên phá giá đồng nội tệ.

    Một số biện pháp về chính sách tỷ giá trong thời gian tới mà Việt Nam cần thực hiện là:

    • Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.
    • Ổn định tỷ giá trên mối tương quan cung cầu trên thị trường xuất khẩu,kích thích xuất khẩu,hạn chế nhập khẩu,cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trự ngoại tế.
    • Từng bước nâng cao uy tín VNĐ,tạo điều kiện cho VNĐ có thể trở thành đồng tiền chuyển đổi.
    • Phối hợp với chính sách ngoại hối để chống hiện tượng đô la hóa.

    Ngoài ra ,Chính phủ cần hoàn thiện hơn chính sách ngoại hối để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế vừa thúc đẩy các hoạt động thương mại,dịch vụ,du lịch,kiều hối,đầu tư,…nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam, thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-theo-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-ch%E1%BB%A9ng-t%E1%BB%AB.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    LỜI CẢM ƠN

     

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Mai Thanh Quế và tập thể cán bộ phòng thanh toán quốc tế tại SGD I – NHĐT&PTVN đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

     

     

     

    Sinh viên

     

     

    Đỗ Thị Thúy Mai

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng mở rộng. Sự giao lưu buôn bán hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày một lớn đã  đòi hỏi qúa trình thị trường hàng hoá xuất nhập khẩu phải nhanh chóng thuận tiện cho các bên.

    Sau thời gian thực tập tại phòng Thanh toán quốc tế – Sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (SDG I – NHĐT&PTVN), em nhận thấy tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến nhất hiện nay.  Bởi lẽ nó đáp ứng được nhu cầu của hai phía: Người bán hàng đảm bảo nhận tiền, người mua nhận được hàng và có trách nhiệm trả tiền. Đây là  phương thức tín  dụng quốc tế được áp dụng phổ biến và an toàn nhất hiện nay, đặc biệt là trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu.

    Trong năm qua SGD I – NHĐT&PTVN đã không ngừng đổi mới và nâng  cao các nghiệp vụ thanh toán của mình để phục vụ  tốt cho khách hàng, đáp ứng  nhu cầu thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng. Cùng với chính sách kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng, thông thoáng của Chính phủ, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển. Do đó, hình thức thanh toán tín  dụng chứng từ ngày càng được phát triển và hoàn thiện hơn.

    Xuất phát từ vấn đề nêu trên, Em muốn đi sâu  nghiên cứu đề  tài: “Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ” (Nghiên cứu tại SGD I – NHĐT&PTVN) nhằm tìm hiểu thêm về hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I – NHĐT&PTVN. Đồng thời tìm ra giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD I.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 3 chương:  Chương 1: Tổng quan về thanh toán quốc tế và tín dụng chứng từ.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng

    chứng từ tại SGD I – NHĐT&PTVN.

    Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I –

    NHĐT&PTVN.

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

     

    1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ.

    1.1.1 Khái niệm:

    Với sự phát triển của thương mại, nhu cầu trao đổi không chỉ dừng lại ở một số nước mà hoạt động mua bán đã lan rộng ra khắp các nước, các khu  vực trên  toàn thế giới. Vì vậy, một nghiệp vụ mới ra đời đáp ứng được đòi hỏi đó. Đó là: “ Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”.

    Như vậy,thanh toán quốc tế là việc chi trả cá nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trong các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế, giữa các hãng, các cá nhân của các quốc gia khác nhau.

    1.1.2. Các điều kiện thanh toán quốc tế.

    Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quy định lại thành những điều kiện gọi là: Điều kiện thanh toán quốc tế.

    Mặt khác, nghiệp vụ Thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện Thanh toán quốc tế. Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền giữa các nước, của các hợp đồng mua bán ngoại thương ký kết giữa người mua và người  bán.

    Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm: Điều kiện tiền tệ, điều  kiện  về địa điểm, điều kiện về thời gian, điều kiện về phương thức thanh toán.

    Điều kiện tiền tệ:

    Trong thanh toán quốc tế các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của một nước nào đó. Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định tiền tệ. Điều kiện này quy định việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán trong hợp đồng

    ngoại thương và hiệp định ký kết giữa các nước. Đồng thời điều kiện này cũng quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động. Người ta có thể chia thành hai loại tiền sau:

    • Đồng tiền tính toán (Account Currency): Là loại tiền được dùng để thể

    hiện giá cả và tính toán tổng giá trị hợp đồng.

    • Đồng tiền thanh toán (Payment Currency): Là loại tiền để chi trả nợ nần, hợp đồng mua bán ngoại thương. Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền của  nước nhập khẩu, của nước xuất khẩu hoặc có thể là đồng tiền quy định thanh toán của nước thứ

    Điều kiện về địa điểm thanh toán:

    • Địa điểm thanh toán được quy định rõ trong hợp đồng ký kết giữa các bên. Địa điểm thanh toán có thể là nước nhập khẩu hoặc nước người xuất khẩu hay có thể là một nước thứ
    • Tuy nhiên, trong TTQT giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tại nước mình, lấy nước mình làm địa điểm thanh toán. Sở dĩ như vậy vì thanh toán tại nước mình thì có nhiều điểm thuận lợi hơn.Ví dụ như có thể đến ngày mới phải chi tiền, đỡ đọng vốn nếu là người nhập khẩu, hoặc có thể thu tiền về nhanh nên luân chuển vốn nhanh nếu là người xuất khẩu, hay có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ nước mình trên thế giới…
    • Trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán là sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyết định, đồng thời còn thấy rằng dùng đồng tiền của nước nào thì địa điểm thanh toán là nước ấy.

    Điều kiền về thời gian thanh toán:

    Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ với  việc luân chuyển  vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán. Do đó, nó là vấn đề quan trọng và thường xẩy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng.

    Thông thường có 3 cách quy định về thời gian thanh toán:

    • Trả tiền trước là việc bên nhập khẩu trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay một phần tiền hàng sau khi hai bên ký kết hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn đặt hàng của bên nhập khẩu.
    • Trả tiền ngay là việc người nhập khẩu trả tiền sau khi người xuất khẩu hoàn hành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặc  sau khi người nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định.
    • Trả tiền sau là việc người nhập khẩu trả tiền cho gnười xuất khẩu sau một

    khoảng thời gian nhất định kể từ khi giao hàng.

    Điều kiện về phương thức thanh toán:

    Đây là điều kiện quan trọng nhất trong hoạt động thanh toán quốc  tế.  Phương thức thanh toán là cách mà người mua trả tiền và  người bán thu tiền về  như thế nào. Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Tuỳ từng điều  kiện cụ thể mà người mua và người bán có thể thoả thuận để xác định phương thức thanh toán cho phù hợp.

    1.1.3. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại.

    a.     Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại (KTĐN).

    Thanh toán quốc tế là khâu then chốt, cuối cùng để khép kín một chu trình mua bán hàng hoá hoạc trao đổi dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.

    Thanh toán quốc tế là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nếu  không có hoạt động thanh toán quốc tế thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại. Thanh toán quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Việc tổ chức Thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tam và đẩy mạnh hoạt động XNK của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.

    Đồng thời, hoạt động Thanh toán quốc tế góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý các đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả năng thanh

    toán của người mua gặp nhiều khó khăn. Nếu tổ chức tốt công tác Thanh toán quốc tế thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.

    Tóm lại, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có mở rộng được hay không một phần nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế có tốt hay không. Thanh toán quốc tế  tốt sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá.

    b.     Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.

    Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí quan trọng. Nó không chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một mặt hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

    • Trước hết, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng thu hút thêm được khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát triển  thêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
    • Thứ hai, thông qua hoạt động Thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ Thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
    • Thứ ba, giúp Ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ đó Ngân hàng có thể phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác.
    • Thứ tư, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng tăng tính thanh khoản thông qua lượng tiền ký quỹ.Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từng khách hàng cụ thể. Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát  sinh một cách thường xuyên và ổn định.Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán,

    ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, thậm

    chí có thể sử dụng để kinh doanh,đầu tư ngắn hạn để kiếm lời.

    • Hơn thế nữa, hoạt động thanh toán quốc tế còn giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín của Ngân hàng.

    Có thể nói, trong xu thế ngày nay hoạt động Thanh toán quốc tế có vai trò  hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động KTĐN nói chung. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trang để có biện pháp thực hiện nghiệp vụ Thanh toán quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn cho công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam.

    1.1.4. Các phương thức thanh toán quốc tế.

    a.     Phương thức chuyển tiền.

    • Định nghĩa:

    Phương thức chuyển tiền là phương thức trong đó khách hàng (Người trả  tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người  khác (Người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển  tiền cho khách hàng theo yêu cầu.

    *   Các bên tham gia

    • Người yêu cầu chuyển tiền(Remitter): là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Họ thườg là người nhập khẩu, mắc nợ hoắc có nhu cầu chuyển vốn.
    • Người thụ hưởng (Beneficicary): là người nhận được số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng. Họ thường là gười xuất khẩu, chủ nợ hoặc nói chung là người yêu cầu chuyển tiền chỉ định.
    • Ngân hàng nhận uỷ nhiệm chuyển tiền (Remitting bank): là ngân hàng phục vụ người chuyển tiền.
    • Ngân hàng trả tiền (Paying bank):là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng.Thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh ngân hàng chuyển tiền và ở nước người thụ hưởng.

    *   Quy trình thực hiện

    Sơ đồ 1: trình tự nghiệp vụ chuyển tiền

     

           
           
     
    NH Đại lý
    NH Chuyển tiền

    (3)

    (2)                                                                                                                   (4)

    Người hưởng
    Người chuyển

    (1)

    (1): Giao dịch thương mại.

    (2): Người mua sau khi nhận hàng tiến hành viết đơn yêu cầu chuyển tiền ( bằng thư hoặc bàng điện)cùng với uỷ nhiệm chi(nếu có tài khoản mở tại ngân hàng) gửi đến ngân hàng phục vụ mình.

    (3): Ngân hàng chuyển tiền kiểm tra chứng từ nếu thấy hợp lệ thì tiến hành chuyển tiền qua ngân hàng dại lý.

    (4): Ngân hàng đại lý tiến hành chuyển tiền chongười hưởng lợi.

    *  Trường hợp áp dụng.

    • Phương thức chuyển tiền được áp dụng trong trường hợp trả tiền hàng hoá xuất khẩu nước ngoài, thường là khi nhận đầy đủ hàng hoá hoặc chứng từ gửi hàng.
    • Thanh toán hàng hoá trong lĩnh vực thương mại và các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá, chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư hoặc chi tiêu thương mại, chuyển kiều hối

    *  Các yêu cầu về chuyển tiền.

    • Muốn chuyển tiền phải có giấy phép của Bộ chủ quản hoặc Bộ Tài chính, hợp đồng mua bán ngoại thương, giấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu, bộ chứng từ, UNC ngoại tệ và phí chuyển tiền.
    • Trong đơn chuyển tiền càn ghi đầy đủ tên, địa chỉ của người hưởng lợi,số tài khoản nếu người hưởng lơi yêu cầu,số ngoại tệ,loại ngoại tệ,ý do chuyển tiền và những yêu cầu khác ,sau đó ký tên và đóng dấu.

    b.     Phương thức nhờ thu.

    • Định nghĩa:

    Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng sẽ uỷ thác cho Ngân hàng của mình thu hộ số tiền từ người mua trên cơ sở chứng từ lập ra.

    Đây là phương thức thanh toán an toàn hơn so với phương thức chuyển tiền. Tuy nhiên phương thức này có thể mang lại rủi ro cho người bán trong trường hợp người mua có thể đơn phương huỷ hợp đồng. Ngân hàng thu không chịu trách nhiệm trong trường hợp này. Họ chỉ việc chuyển chứng từ thông báo cho  người  bán trong trường hợp người mua không trả tiền. Chính vì vậy, phương thức thanh toand này không được sử dụng phổ biến , nó chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể.

    *  Trường hợp áp dụng.

    Thứ nhất, người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ liên doanh với nhau, hoặc giữa công ty mẹ công ty con, hoặc giữa các chi nhánh của cùng một công ty với nhau.

    Thứ hai, hàng mua bán lần đầu mang tính chất chào hàng. Thứ ba, hàng ứ đọng khó tiêu thụ.

    *  Các bên tham gia gồm 4 bên:

    • Người nhờ thu là bên giao chỉ thị nhờ thu cho một ngân hàng, thông thường là người xuất khẩu, cung ứng dịch vụ.
    • Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng mà người nhờ thu đã giao chỉ thị nhờ
    • Ngân hàng thu là bất kỳ một ngân hàng nào ngoài ngân hàng chuyển tiền

    thực hiện quá trình nhờ thu.

    • Người trả tiền là người mà chứng từ xuất trình đòi tiền anh ta,là người nhập

    khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung ứng( người mua).

    * Các hình thức của phương thức nhờ thu.

    Theo loại hình người ta có thể chia thành nhờ thu phiếu trơn, và nhờ thu kèm chứng từ.

    – Nhờ thu phiếu trơn:

    Đây là phương thức thanh toán trong đó người người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ  gửi hàng thì gửi thẳng cho cho người mua không qua Ngân hàng.

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu phải trải qua các bước sau:

    (1): Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mu, họ sẽ lập một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu.

    (2): Ngân hàng phục vụ người bán kiểm tra chứng từ, sau đó  gửi thư uỷ thác  nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền.

    (3): Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu trả tiền ngay)

    hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu mua chịu).

    (4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán thông qua ngân hàng chuyển chứng từ. Nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên.

    Sơ đồ 2 : Trình tự nhờ thu phiếu trơn.

     

     

     
       
    NH thu & xu ất trì nh ch ứng từ
    NH Chuyển chứng từ

    (2)

    (4)

    (1)                (4)                                                                  (4)                  (3)

           
           

    Gửi hàng & Chứng từ

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn chỉ áp dụng trong các trường hợp người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc là có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty

    mẹ, công ty con hoặc chi nhánh của nhau. Hoặc trong trường hợp thanh toán về

    các dịch vụ có liên quan tới xuất khẩu hàng hoá.

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn không áp dụng thanh toán nhiều trong mậu dịch và nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán. Đối với người mua, áp dụng phương thức này cũng gặp nhiều bất lợi, vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không.

    Nhờ thu kèm chứng từ:

    Đây là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ và bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì Ngân hàng mới trao toàn bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.

    Sơ đồ 3: Trình tự nhờ thu kèm chứng từ

     

     

    NH thu & xu ất trì nh ch ứng từ
    NH Chuyển chứng từ

    (2)

           
           

    (4)

    (1)              (4)                                                                    (4)                 (3)

    Người mua
    Người bán

    Gửi hàng

     
       

    (1): Người bán sau khi gửi hàng cho người mua, lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo.

    (2): Ngân hàng phục vụ người bán uỷ thác cho ngân hàng đai lý của mình ở  nước người mua nhờ thu tiền.

    (3): Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền. Ngân hàng chỉ trao chứng từ

    gửi hàng cho người mua nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu.

    (4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho nguời bán thông qua ngân hàng chuyển chứng từ.

    Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bàn ngoài việc nhờ thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải đối với người mua.  Với cách  khống chế này thì quyền lợi người bán được đảm bảo hơn.

    Tuy nhiên, nó có nhược điểm là người bán không khống khế được việc trả tiền của người mua, người mua có thể kéo dài thời gian tả tiền  khi thấy tình hình  thị trường bất lợi cho họ hay việc trả tiền tiến hành quá chậm chạp.Mặt khác, Ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thu tiền hộ, chứ không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.

    c.  Thanh toán biên giới.

    * Định nghĩa.

    Thanh toán biên giới là hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tại khu

    vực biên giới đường bộ các nước.

    Đặc điểm của thanh toán biên giới.

    Thanh toán biên giới có những đặc điểm sau:

    • Đồng tiền sử dụng trong thanh toán biên giới là đồng nội tệ, đồng tiền của nước có chung biên giới và đồng ngoại tệ mạnh.
    • Phương thức giao dịch được sử lý trực tiếp giữa hai Ngân hàng, không phải sử dụng thanh toán quốc tế qua mạng.
    • Ngân hàng được phép hoạt động thanh toán biên giới được trực tiếp giao dịch mở tài khoản, thực hiện các nghiệp vụ liên quan với Ngân hàng nước có  chung biên giới.

    Điều kiện của thanh toán biên giới.

    • Ngân hàng được thực hiện thanh toán biên giới trên cơ sở các điều kiện

    sau:

    • Chính phủ, ngân hàng Nhà nước đã cho phép ngân hàng đó thanh toán biên

    giới với nước bạn.

    • Đã có hiệp định hoặc văn bản pháp lý được ký kết chính thức giữa ngân hàng đó với ngân hàng nước bạn.
    • Ngân hàng đó có đủ cán bộ có trình độ cần thiết về chuyên môn, ngoại ngữ

    và công cụ phương tiện làm việc giao dịch với ngân hàng bạn.

    d.  Tín dụng chứng từ (L/C).

    Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại Ngân hàng thương mại hiện nay. Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Document Credit. ở Việt Nam ngoài tên là tín dụng chứng từ còn có các tên khác như L/C, thư tín dụng …Trước đây, thư tín dụng còn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dụng nữa mà thông dụng nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ.

    Vậy tín dụng chứng từ là gì?

    1.2. TÍN DỤNG CHỨNG TỪ – PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU

    VÀ QUAN TRỌNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    1.2.1. Định nghĩa:

    Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một  Ngân  hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người  yêu cầu  mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.

    1.2.2. Các bên tham gia.

    Các bên tham gia vào quá trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng

    từ gồm 4 bên.

    Thứ nhất là người yêu cầu mở L/C (Applicant): là người mua, người nhập

    khẩu hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác.

    Thứ hai là người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán, người xuất khẩu.

    Thứ ba là ngân hàng phát hành (Issuing Bank): là Ngân hàng phát hành L/C, là Ngân hàng phục vụ người mua.

    Thứ tư là ngân hàng thông báo (Advising Bank): là Ngân hàng ở nước người hưởng lợi.

    Ngoài ra, trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số ngân hàng khác như: Ngân hàng xác nhận (Congiring Bank), Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank), Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank)…

    1.2.3. Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C.

    Sơ đồ 1. Trình tự nghiệp vụ thanh toán L/C.

    Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
    Ngân hàng phát hành (Issing Bank)

    (3)

     
       

    (6)

    (7)

    (2)        (8)        (9)                                        (4)          (6)      (7)

    (1)

    Người yêu cầu mở

    L/C

    (5)

    Người thụ hưởng

    (Benificiary)

    • : Trong quá trình thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, người xuất khẩu và người nhập khẩu ký hợp đồng thương mại với nhau. Nếu người xuất khẩu yêu cầu thanh toán hàng hoá theo phương thức tín dụng chứng từ thì trong hợp đồng thương mại phải có điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
    • : Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại lập đơn xin mở L/C

    tại Ngân hàng phục vụ mình.

    • : Ngân hàng phát hành sẽ kiểm tra xem đơn mở thư tín dụng đó đã hợp lệ hay chưa. Nếu đáp ứng đủ yêu cầu Ngân hàng sẽ mở L/C và thông báo qua Ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu về việc mở L/C và chuyển 1 bản gốc cho người xuất khẩu.
    • : Khi nhận được thông báo về việc mở L/C và 1 bản gốc L/C, Ngân hàng thông báo chuyển L/C cho người thụ hưởng.
    • : Người xuất khẩu khi nhận được 1 bản gốc L/C, nếu chấp nhận nội dung L/C thì sẽ tiến hành giao hàng theo đúng quy định đã ký kết trong hợp đồng. Nếu không họ sẽ yêu cầu Ngân hàng chỉnh sửa theo đúng yêu cầu của mình rồi mới tiến hành giao hàng.
    • : Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo quy định của L/C và gửi đến Ngân hàng phát hành thông  qua Ngân hàng thông báo để yêu cầu được thanh toán. Ngoài ra, người xuất khẩu cũng có thể xuất trình bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng được chỉ định thanh toán được xác định trong L/C.
    • : Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp  với quy định trong L/C thì tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Nếu Ngân hàng thấy không phù hợp thì sẽ từ chối thanh toán và trả hồ sơ  cho người xuất khẩu.
    • : Ngân hàng phát hành giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người xuất

    khẩu và yêu cầu thanh toán.

    • : Người phát hành kiểm tra lại bộ chứng từ và tiến hành hoàn trả tiền cho

    ngân hàng.

    • Trên đây là toàn bộ trình tự nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức

    tín dụng chứng từ.

    1.2.4. Thư tín dụng.

    a.     Khái niệm:

    Thư tín dụng là một phương tiện rất quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ. Nếu không mở thư tín dụng thì phương thức thanh toán này không thể xác lập được và người xuất khẩu sẽ không giao hàng cho người nhập khẩu.

    Vậy thư tín dụng là gì?

    Thư tín dụng là một bức thư do Ngân hàng lập ra trên cơ sở yêu cầu của khách hàng, trong đó Ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu họ xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thư tín dụng.

    b.  Vai trò.

    Thư tín dụng là một văn bản mang tính pháp lý nó là căn cứ pháp lý để Ngân hàng quyết định việc trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu, là cơ sở  để  người mua có trả tiền cho Ngân hàng hay không. Ngoài ra thư tín dụng là một công cụ hiệu quả trong việc cụ thể, chi tiết, hoàn thiện hoá những nội dung mà hợp đồng chưa bàn tới, khắc phục những sai sót, những điều khoản không có lợi trong hợp đồng nếu xét thấy việc huỷ hợp đồng là có lợi.

    Thư tín dụng có vai trò rất quan trọng như vậy vì tuy được thành lập trên cơ sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi được mở nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.Điều này có nghĩa là khi thanh toán, các ngân hàng chỉ căn cứ vào các bộ chứng từ phù hợp mà thôi. Tính chất độc lập tương đối của thư tín dụng đã  chi  phối toàn bộ các khâu của quá trình thanh toán, quy định toàn bộ nghĩa vụ của các bên tham gia.

    Bản thân phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn so với những phương thức khác, song nó không phải là phương thức đảm bảo tránh được rủi ro cho các bên tham gia, trong đó có Ngân hàng.

    c.  Nội dung của thư tín dụng.

    Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán. Một thư tín dụng có thể có những điều khoản sau:

    • : Số hiệu, địa điểm, và ngày mở L/C.
    • : Tên và địa chỉ của những người có liên quan tới phương thức tín dụng

    chứng từ.

    • : Số tiền của L/C.

    Số tiền của L/Cvùa được nghi băng số ,vừa được nghi bằng chữ và phải  thống nhất với nhau. Đồng thời, tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng.

    • : Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C.

    Thời hạn hiệu lực

    Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp  với những điều kiện ghi trong L/C.Thời hạn hiệu lựuc L/C bắt đầu tính từ  ngày mở  L/C đến ngày hết hiệu lực L/C.

    Thời hạn trả tiền của L/C

    – Là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền sau. Điều này hoàn toàn phụ thuộc  quy định của hợp đồng.

    Thời hạn trả tiền có thể nằm trong hoặc ngoài thời hạn hiệu lực của L/C.

    Thời hạn giao hàng.

    Thời hạn giao hàng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định.Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.

    • : Những nội dung về hàng hoá như: Tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả,

    quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu…cũng được ghi trong L/C.

    • : Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng (FOB, CIF, CFR…), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng.
    • : Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là một nội dung then

    chốt của L/C, bởi vì bộ chứng từ quy định trong L/C là một bằng chứng của

    người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định của L/C. Do vậy, Ngân hàng phải tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C.

    • : Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở L/C, đây là nội dung cuối cùng của L/C. Nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C. Ngân hàng cam kết sẽ trả tiền khi người xuất khẩu trình đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ.
    • : Những điều khoản đặc biệt khác.

    (10): Chữ ký của Ngân hàng mở L/C.

    L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vây, người ký  nó cũng phải là  người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật.

    d.   Hình thức thư tín dụng (L/C).

    Có rất nhiều cách phân loại thư tín dụng. Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau người ta có thể phân loại khác nhau.

    • Theo loại hình người ta có thể chia làm hai loại là L/C có thể huỷ ngang

    và L/C không huỷ ngang.

    L/C có thể huỷ ngang.

    • Đây là loại L/C mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị Ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ xung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo trước cho người hưởng lợi biết (Đương nhiên là việc huỷ bỏ phải được thực hiện trước khi L/C thanh toán).
    • Như vậy, L/C có thể huỷ ngang thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, loại thư tín dụng này không đảm bảo được quyền lợi của người bán vì người mua có thể đơn phương huỷ bỏ L/C. Chính vì vậy ngày nay loại L/C này ít được sử dụng trong thương mại quốc tế.

    L/C không thể huỷ ngang.

    Đây là loại L/C  mà sau khi  mở  thì mọi  việc liên quan đến sửa đổi, bổ  xung

    hoặc huỷ bỏ nó Ngân hàng phát hành chỉ có thể tiến hành trên cơ sở có sự thoả

    thuận của các bên có liên quan. Vì thế quyền lợi của người bán được đảm bảo. Tuy nhiên, L/C không thể không thể huỷ ngang không có nghĩa không thể huỷ bỏ.  Trong trường hợp các bên đồng ý huỷ bỏ L/C thì nó được công nhận là không còn giá  trị thực hiện. Đây là loại L/C được sử dụng nhiều nhất trong thương mại quốc  tế ngày nay.

    • Theo phương thức sử dụng người ta phân chia L/C thành nhiều loại khác

    nhau.

    L/C không huỷ ngang có giá trị trực tiếp.

    Đây là loại L/C mà chứng từ được yêu cầu xuất trình trực tiếp để thanh toán tại Ngân hàng phát hành. Do vậy, thời hạn hiệu lực sẽ kết thúc tại Ngân hàng phát hành.

    Trong thư tín dụng này sẽ không thể hiện điều khoản chiết khấu và chỉ định ngân hàng chiết khấu. Mặc dù thư tín dụng không có giá trị chiết khấu và cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ có giá trị duy nhất đối với người hưởng, ngân hàng chuyển chứng từ cũng có thể ứng tiền cho khách hàng nếu chứng từ  hoàn toàn hợp lệ.Sau khi nhận được chứng từ hợp lệ,ngân hàng phát hành chuyển trả tiền cho người hưởng theo chỉ dẫn của ngân hàng chuyển chứng từ.Vai trò của ngân hàng chuyển chứng từ là bảo vệ quyền lợi của người hưởng và cũng chính là bảo vệ quyền lợi của chính mình nếu họ đã chiết khấu chứng từ.

    L/C không huỷ ngang, miễn truy đổi.

    • Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi thụ hưởng sẽ được hoàn tiền thì Ngân hàng mở không có quyền đòi lại tiền trong bất kỳ tình huống nào.
    • Khi sử dụng loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu

    “Miễn truy hồi người ký phát” đồng thời thư tín dụng cũng phải ghi như vậy.

    L/C không huỷ ngang và có xác nhận.

    Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được một Ngân hàng khác đảm

    bảo trả tiền cho người thụ hưởng theo yêu cầu của Ngân hàng mở thư tín dụng đó.

    Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán, và đương nhiên phải thanh toán một khoản phí nhất định đối với ngân hàng xác nhận.Trên thực tế, nhu cầu thư tín dụng này phụ thuộc nhiều yếu tố song chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm và tình hình tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng.

    L/C tuần hoàn.

    Đây là loại L/C mà sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực lại có

    giá trị như cũ và được trực tiếp sử dụng sau một thời gian nhất định.

    Thư tín dụng tuần hoàn được chỉ rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng,số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó.Đồng thời, cũng phải quyđịnh số dư của hạn nghạch L/C dùng chưa hết lần trước được hay lhông được cộng dồn vào hạn nghạch  L/C  sử dụng lần kế tiếp.

    L/C với điều kiện “Đỏ”.

    Đây là loại L/C mà theo đó người mở L/C cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay sau khi thư tín dụng được mở. Hai bên đối tác phải có quan hệ làm ăn lâu dài và uy tín. Phía nhập khẩu phải là công ty đủ vốn, phía xuất khẩu phải có nguồn  hàng hoá, sản xuất nhưng thiếu vốn.

    Với điều kiện Đỏ, ngân hàng phát hành cam kết ứng một số tiền nhất định( khoảng 30 hoặc 50% trị giá L/C)khi nhận được các chứng từ, thông thường là: hối phiếu của số tiền ứng trước,hoá đơn, cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng và các chứng từ khác tuỳ theo thoả thuận.

    L/C dự phòng.

    Là loại thư tín dụng được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo vệ

    quyền lợi cho bên mua.

    Bên mua yêu cầu bên bán thông qua ngân hàng phục vụ mình mở thư tín dụng dự phòng cho bên mua hưởng.Trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng thương mại đã ký kết gây thiệt hại cho họ thì ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán đền bù những thiệt hại đó.

    L/C chuyển nhượng.

    Là loại L/C không thể huỷ ngang mà Ngân hàng trả tiền được phép hoàn trả toàn bộ một phần số tiền của thư  tín dụng cho một người hay nhiều người theo  lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.

    Một thư tín dụng muốn chuyển nhượng được phải có lệnh đặc biệt của ngân hàng mở, trên thư tín dụng phải ghi”có thể chuyển nhượng được”.Lưu ý rằng việc chuyển nhượng chỉ được thực hiệnmột lần cho thư tín dụng đó.

    L/C giáp lưng.

    Là loại thư tín dụng được mở trên số tiền của một thư tín dụng khác đã được mở trước.Loai thư tín dụng này thường được sử dụng nhiều lần trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu.Vieeecj vận hành nói chung khá phức tạp,đặc biệt là những điều kiện về thời hạn,về bộ chứng từ…

    L/C đối ứng.

    Là loại L/C không thể huỷ ngang chỉ bắt đầu có giá trị hiệu lực khi L/C đối ứng với nó đã được mở ra, thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, ngoài ra không loại trừ khả năng dùng trong phương thức gia công.Tuy nhiên việc sử dụng trong gia công có nhiều phức tạp.

    1.2.6. Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ.

    a.  Ưu điểm.

    Đối với người mua.

    Phương thức thanh toán L/C giúp người mua  có thể mở rộng nguồn cung  cấp hàng hoá cho mình mà không phải tốn thời gian, công sức trong việc tìm đối  tác uy tín và tin cậy. Bởi lẽ, hầu hết các giấy tờ chứng từ đều được Ngân hàng đối tác kiểm tra và chịu trách nhiệm hoàn toàn về sai sót này. Người mua được đảm  bảo về mặt tài chính rằng bên bán giao hàng thì mới phải trả tiền hàng. Ngoài ra,  các khoản ký quỹ mở L/C cũng được hưởng lãi theo quy định.

    Đối với người bán.

    Người bán hoàn toàn được đảm bảo thanh toán với bộ chứng từ hợp lệ. Việc thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu. Người bán sau khi giao hàng tiến hành lập bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C  sẽ được thanh toán bất kể trường hợp người mua không có khả năng thanh toán. Do vậy, nhà xuất khẩu sẽ thu hồi vốn nhanh chóng, không bị ứ đọng vốn trong thời gian thanh toán.

    Đối với Ngân hàng phát hành.

    Thực hiện nghĩa vụ thanh toán này, Ngân hàng thu được các khoản phí thủ tục, ngoài ra, Ngân hàng còn thu hút được một khoản tiền khá lớn (Khi có ky quỹ). Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng còn thực hiện được một số  nghiệp vụ  khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận, mua bán ngoại tệ… Hơn nữa, thông qua nghiệp vụ này uy tín và vai trò của Ngân hàng trên thị trương tài chính quốc tế được củng cố và mở rộng.

    b.  Nhược điểm.

    Có thể nói, thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ là hình thức  thanh toán an toàn và phổ biến nhất trong thương mại quốc tế hiện nay. Hình thức này có nhiều ưu việt hơn hẳn các hình thức thanh toán quốc tế khác. Tuy nhiên, nó cũng không tránh khỏi những nhược điểm.

    • Nhược điểm lớn nhất của hình thức thanh toán này là quy trình thanh toán rất tỷ mỷ, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và kiểm tra chứng từ. Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra chứng từ cũng là nguyên nhân để từ chối thanh toán. Đối với Ngân hàng phát hành, sai sót trong  việc kiểm tra chứng từ cũng dẫn đến hậu quả rất lớn.
    • Với các phương thức thanh toán quốc tế đề cập ở trên, việc lựa chọn phương thức nào trong hoạt động thanh toán quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các Ngân hàng thương mại. Hiện nay, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện hầu hết các hình thức nêu trên. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế khách quan cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức mà phương  thức thanh toán theo tín dụng chứng từ hiện là phương thức thanh toán phổ biến tại các Ngân hàng thương mại Việt

    v

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

    TẠI SGDI-NGÂN HÀNG ĐT&PT VN

     

     

    2.1.  GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGDI-NGÂN HÀNG ĐT&PT VN

    2.1.1.   Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của SGDI-ngân hàng

    ĐT&PT VN

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam ( NHĐT&PTVN ) là một trong  bốn ngân hàng quốc doanh lớn nhất Việt Nam với 100 chi nhánh tại các tỉnh thành phố, gần 5000 cán bộ, quan hệ đại lý với hơn 500 ngân hàng trong và ngoài nước, cùng với 45 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung và sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng VN nói riêng.

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt  Nam với tư cách là một NHTM của  Nhà nước được thành lập để thực hiện chức năng nhiệm vụ Nhà nước giao. Vì vậy cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Ngân hàng đã có những bước thay đổi có tính chất lịch sử nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ mới đề ra. Ngày 26/4/1957, theo quyết định số 177- TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập với nhiệm vụ chính là cấp phát vốn xây dựng đầu tư cơ bản theo kế hoạch Nhà nước.

    Năm 1981, với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý vốn xây dựng đầu tư cơ bản, Chính phủ ra quyết định 259- CP chuyển Ngân hàng  Kiến  thiết trực thuộc Bộ Tài Chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng  Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được thành lập. Nhiệm vụ của Ngân hàng là cho  vay vốn đầu tư cho các công trình XDCB không do NSNN cấp và cho vay vốn lưu động đối với các tổ chức kinh doanh trong lĩnh  vực XDCB, bên cạnh hoạt động  cho vay từ nguồn vốn do Ngân sách cấp.

    Năm 1990 cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế đất nước, Ngân hàng đổi

    mới theo mô hình đa năn và chính thức lấy tên là Ngân hàng Đầu tư và

    phát triển Việt Nam ( BIDV ) với chức năng nhiệm vụ sau:

    • Huy động vốn trung dài hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển.
    • Nhận vốn ngân sách cấp để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.
    • Kinh doanh lĩnh vực tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh

    vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.

    Từ năm 1995 hoạt động cấp phát vốn đầu tư xây dựng được giao hoàn toàn cho Tổng Cục đầu tư bên cạnh nghiệp vụ cho vay đầu tư XDCB theo kế hoạch Nhà Nướcl

    Ngày 28/3/1996 theo quyết định 186- TTg cho phép Ngân hàng hoạt

    động như một doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Quyết  định này chính thức đưa NHĐT&PT chính thức trở thành một bộ phận trong hệ thống NHTM, tạo điều kiện cho Ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như các hình thức huy động vốn để đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như các hình thức huy động vốn để tăng khả năng cạnh tranh, củng cố vị thế của mình trên thị trường góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

    Đến nay, sau 45 năm xây dựng và trưởng thành gắn liền với các giai đoạn lịch sử của đất nước, NHĐT&PTVN trở thành Ngân hàng có uy tín lớn trong nước và quốc tế, ngày càng khẳng định vị thế một trong bố  NHTM chủ chốt của nền  kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như sự phát triển và thành đạt của các doanh nghiệp VN nói riêng.

    SGD I là đại diện pháp nhân của NHĐT&PTVN , hạch toán nội bộ trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, trụ sở đặt tại tầng 1 và tầng 2 toà nhà số 53 phố Quang Trung, Hà Nội.

    Sở giao dịch I được thành lập theo thông báo 572 TCBB/ĐT ngày  26/12/1990 của vụ tổ chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy Ngân

    hàng ĐT & PT và theo quyết định349 QĐ/NH5 ngày 16/10/1997 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về điều lệ phê chuẩn tổ chức hoạt động của NHĐT&PTVN.

    Các chức năng chủ yếu của Sở giao dịch I:

    SGD I được huy động vốn trung và dài hạn , ngắn hạn bằng VNĐ và  ngoại  tệ từ nguồn trong và ngoài nước dưới các hình thức chủ yếu sau:

    –    Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh

    toán của tất cả các tổ chức, dân cư.

    –    Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu dưới tên Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và các loại giấy tờ có giá khác.

    • Vay vốn của các Tổ chức tín dụng trên các thị trường.

    Các nghiệp vụ tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu Sở giao dịch I

    thực hiện là:

    • Cho vay ngắn trung dài hạn theo cơ chế tín dụng hiện hành.
    • Chiết khấu các hình thức có giá.
    • Các nghiệp vụ bảo lãnh.

    Trực tiếp thực hiện hoặc làm đại lý cho thuê tài chính theo sự  uỷ  nhiệm của Tổng giám đốc hoặc Công ty cho thuê Tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    • Mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ ngoại hối.
    • Dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước.
    • Tham gia đấu thầu mua trái phiếu, tín phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân hàng Nhà nước tổ chức khi được Giám đốc cho phép.
    • Dịch vụ tư vấn cho khách hàng.

    SGD I là nơi thử nghiệm đầu tiên cho những cơ chế chính sách, dịch vụ mới của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam. Từ khi thành lập  SGD không ngừng  phát triển góp phần không nhỏ vào sự thành công cũng như mở rộng uy tín về hệ thống ngân hàng.

    2.1.2.    Mô hình hoạt động kinh doanh của SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN.

     

    Về cơ cấu tổ chức, hiện nay SGDI có trụ sở chính tại 53 Quang Trung – Quận Hai Bà Trưng-HN. Có 14 phòng ban với hơn 200 cán bộ công nhân viên và 14 đơn vị trực thuộc. Ban giám đốc gồm giám đốc và 3 phó giám đốc.

    SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC SGDI – NHĐT&PT VIỆT NAM:

     
       

     

    2.1.3.   Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2003 của SGDI-Ngân hàng

    ĐT&PT VN.

    Năm 2002 là một năm có nhiều biến động đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế đất nước nói riêng.Trước tình hình đó, NHĐT&PTVN đã có định hướng hoạt động phát triển cho toàn ngành như tích cực cơ cấu lại tài sản Nợ

    – Có theo hướng bền vững, xử lý nợ quá hạn tồn đọng, chú trọng phát triển dịch vụ Ngân hàng và huy động vốn…

    Với tinh thần nỗ lực phấn đấu theo định hướng của ngành , năm 2002, SGD đã đạt được những kết quả chính sau:

    a. Hoạt động nguồn vốn-Huy động vốn.

    Công tác nguồn vốn đã trở thành một công cụ điều hành quan trọng giúp ban giám đốc quản lí sử dụng nguồn vốn hợp lí, hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo an toàn, sinh lợi. Bước đầu thực hiện việc kinh doanh tiền tệ nhằm tăng thêm thu nhập cho Ngân Hàng.

    Tổng nguồn vốn huy động cuối năm 2001 đạt 3.193.859 triệu đồng, trong đó tiền gửi khách hàng và phát hành kì phiếu, trái phiếu đạt 1.007.182 triệu, chiếm 21% nguồn vốn của SGD.

    Năm 2002, nhờ có chính sách huy động vốn tương đối nhạy bén, linh hoạt  tổng nguồn vốn huy động của sở đạt 5.339.022 triệu, tăng 67.2% so với năm 2001, Trong đó, tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm 35.6%. Trong năm, cùng với toàn hệ thống, Sở Giao Dịch đã thực hiện phát hành trái phiếu đợt 3 năm 2002 theo chỉ  định của NHĐT&PTVN với tổng số huy động được gần 397 tỉ đồng (USD là 93%) chiếm gần 30% số trái phiếu huy động đợt 3 của toàn nghành, đưa số dư huy động trái phiếu đạt hơn 1265 tỉ VND (bao gồm cả ngoại tệ qui đổi), tăng 5.2%  so  với đầu năm, cải thiện cơ cấu kì hạn của nguồn vốn huy động.

    Đến 31/12/2003, nguồn vốn huy động là 6.650.856 triệu, tăng 24.6% so với năm 2002, trong đó huy động vốn dân cư tăng 17.8%, tiền gửi khách hàng tăng

    31.5% giữ vững được thị phần huy động vốn của sở, góp phần tạo một nền vốn tương đối ổn định cho hoạt động Ngân Hàng .

    b.  Hoạt động tín dụng

    Trên cơ sở nguồn huy động vốn như trên Sở cũng đã thực hiện hàng loạt  danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính  chất của một Ngân hàng hiện đại, đáp  ứng phần nào nhu cầu vốn, của các doanh nghiệp, của nền kinh tế. Ví dụ tín dụng ngắn, trung, dài hạn, cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay uỷ thác, làm trung gian giải ngân vốn ODA, FDI, cho vay đồng tài trợ.

    Tình hình tín dụng của Sở giao dịch I

    (Đơn vị: tỷ đồng)

    Chỉ tiêu Năm

     

    2001

    Năm 2002 Năm 2003
    Dư nợ ± (%) Dư nợ ± (%)
    1.Cho vay NH 565 939 374 166 1.310 371 140
    2.Cho vay T-DH 547 726 179 133 1.813 1.087 250
    3.Cho vay KHNN 2.147 2.491 344 116 1.027 -1.464 41
    4.Cho vay uỷ thác ODA 409 357 -48 87 388 31 109
    5.Cho vay TCTD khác 10 43 33 430 381 338 888
    6.Cho vay đồng tài trợ 381 342 41 90 305 -37 89
    Tổng 4.059 4.897 838 121 5.224 327 107

    ( Nguồn: Phòng Nguồn vốn kinh doanh, SGDI-NHĐT&PTVN)

    Với nguồn vốn huy động được tăng đều qua các năm. Sở giao dịch cũng đã thực hiện tốt công tác sử dụng và quản lý vốn, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng. Tính đến 31/12/2003, dư nợ tín dụng là 5224 tỷ, tăng 7% so với 31/12/2002 tương đương với 327 tỷ đồng.

    Trong tổng số dư nợ đó thì lượng nội tệ đạt 2.677 tỷ đồng chiếm 51.25% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ bằng ngoại tệ (đổi sang VND) là 2547 tỷ VND chiếm  48,75% tổng số dư nợ cho vay.

    + Tín dụng ngắn hạn: đều tăng nhanh qua các năm, nhất là nội tệ. Doanh số cho vay trong năm 2003 là 1310 tỷ. Trong năm ngân hàng đặc biệt chú trọng đến công tác Marketing, phục vụ tốt khách hàng sẵn có, mở rộng tìm kiếm khách hàng mới, chú trọng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đến 31/12/2003 dư nợ  tín dụng ngắn hạn ngoài quốc doanh đạt 117 tỷ VND. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng thực hiện chính sách khách hàng trên cơ sở các chỉ tiêu phân loại đánh giá khách

    hàng, xây dựng và thực hiện cho vay theo hợp đồng khung, hợp đồng hạn mức tín dụng thường xuyên cả bằng VND và ngoại tệ đối với các tổng công ty, các khách hàng có quan hệ thường xuyên, giảm thiểu hồ sơ thủ tục vay vốn nhưng vẫn bảo đảm an toàn tín dụng, áp dụng nhiều hình thức cho vay linh hoạt, cải tiến và nâng cao chất lượng giao dịch.

    Kết quả là có nhiều khách hàng có doanh số và dư nợ thường xuyên lớn như: PETROLIMEX, công ty dệt Hà Nội, công ty FPT, LILAMA, tổng công ty cơ khí xây dựng…

    + Tín dụng trung và dài hạn thương mại:

    Xác định đây là hoạt động chủ yếu của Sở giao dịch khi tín dụng T-D hạn  giảm dần, ngay từ đầu năm 2003, Sở giao dịch đã triển khai tích cực công tác tín dụng đầu tư, chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, tiếp xúc và làm việc với các doanh nghiệp nhanh chóng làm hoàn thiện hồ sơ để có thể ký hợp đồng tín dụng. Doanh số cho vay trong năm 2003 đạt gần 2000 tỷ VND, trong đó doanh số cho  vay bằng VND đạt gần gấp 3 lần và doanh số cho vay ngoại tệ đạt gần gấp 4 lần doanh số cho vay trong năm 2002 đưa số dư tín dụng trung và dài hạn thương mại chiếm gần 42% tổng dư nợ. Các dự án lớn như: nhà máy xi măng CHINFON Hải Phòng, tổng công ty Sông Đà…

    +Tín dụng kế hoạch nhà nước:

    Ta thấy rằng tín dụng kế hoạch nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho thị trường, nó chiếm đến hơn 50 % vào các năm 2001,2002 nhưng sang năm 2003 thì dư nợ tín dụng đối với kế hoạch  nhà nước chỉ còn 1027 tỷ VND giảm 1464 tỷ VND hay giảm 59% so với năm 2002 và chiếm 20%.

    + Phần tín dụng với các tổ chức tín dụng khác cũng tăng một cách đáng kể. Năm 2001 đạt 10 tỷ VND chiếm 0,25% trong tổng tín dụng sang năm 2002 dư nợ này tăng lên 43 tỷ VND tốc độ tăng đến 330 % chiếm 0,88%, sang năm  2003 dư  nợ đạt 381 tỷ VND tăng 788% chiếm 7,3%.

    + Với các khoản cho vay đồng tài trợ ta thấy: doanh số giảm liên tục qua các năm. Cụ thể năm 2001 đạt 381 tỷ VND, sang năm 2002 chỉ còn 342 tỷ VND giảm 10%, sang năm 2003 đạt 305 tỷ VND giảm 11% so với năm 2002

    c.  Hoạt động Thanh toán quốc tế .

    Năm 2003, SGDI tiếp tục mở rộng các nghiệp vụ Thanh toán quốc tế. Cuối năm 2003 ngân hàng đã có quan hệ đại lý và thanh toán với hơn 690 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài.Tuy nhiên, hoạt động thanh toán XNK năm  2003 lại có chiều hướng giảm so với năm 2002.

    Bảng 3: Doanh số Thanh toán xuất nhập khẩu của SGDI:

    Nội dung Số phát sinh tăng
    Năm2001 Năm 2002 Năm 2003
    Sốmón Doanh số

     

    ( 1000 USD)

    Số món Doanh số

     

    ( 1000 USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    I. L/Cnhập khẩu 850 165,000 1.200 290,000 750 123,000
    II. L/C xuất khẩu 550 35,000 800 75,000 700 ,47,500
    Doanh số Thanh toán quốc tế 550,000 680,000 650,000
    Doanh số XNK 360,000 400,000 450,000

    Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2001,2002,2003 của SGDI – NHĐT&PTVN

    Về nhập khẩu, năm vừa qua ngân hàng đã mở được 750 L/C trị giá 123 triệu

    USD,giảm 57% so với năm 2002.

    Về xuất khẩu, ngân hàng đã gửi chứng từ đòi tiền và thanh toán được 700

    món, trị giá 47,5 triệu USD, giảm 36% so với năm 2002.

    Về hình thức nhờ thu, ngân hàng đã thu 230 món, trị giá 6,2 triệu USD, giảm

    72% so với năm 2002.

    Như vậy, trong năm 2001, doanh số Thanh toán Quốc tế Sở đã đạt được 550triệu USD, tăng 18%. Năm 2002, doanh số đó đã tăng 23%, tức là đạt được 680 triệu USD.Bước sang năm 2003 doanh số Thanh toán quốc tế chỉ đạt 650 triệu  USD, giảm 4,4% so với năm 2002, nhưng doanh số XNK lại tăng 12,5% so với  năm 2002.

    Năm 2003, tỷ giá giữa đồng USD, đồng EURO và đồng VN  không ngừng  tăng trong khi giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng giảm mạnh như cà phê,gạo và các mặt hàng nông sản khác làm cho xuất khẩu chậm. Bên cạnh đó, bài học Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá Basa và Tôm đông lạnh cộng với việc các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trươc thách thức và sức ép cạnh tranh với hàng hoá ngoại  nhập gây tâm lý cho nhiều doanh nghiệp không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng làm cho nguồn ngoại tệ vốn đã khan hiếm từ năm 2002 thì sang năm 2003 lại càng khó khăn hơn.Thấu hiểu những khó khăn của doanh nghiệp cũng là khó khăn của ngân hàng nhất là trong Thanh toán quốc tế nên SGD đã tìm nhiều biện pháp khắc phụcnhằm cung ứng đủ lượng ngoại tệ cần thiết cho doanh nghiệp thanh toán nhập khẩu.Do đó phần lớn các nhu cầu về ngoại tệ trong năm đều được đáp ứng đầy đủ, không để xảy ra tình trạng thanh toán chậm.

    Kết quả trong năm qua, doanh số XNK của SGD đã tăng từ 400 Triệu USD năm 2002 lên 450 Triệu USD (tăng 12.5%). Có được kết quả khả quan như vậy là nhờ có sự cố gắng của toàn thể cán bộ nhân viên và ban Giám đốc SGD.Bên cạnh đó,SGD đã phát hành nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ(kể cả nhân dân tệ)và tổ chức   thanh toán mậu biên nhằm đảm bảo thuận lợi cho khách hàng có qua hệ với Trung Quốc.

    2.1.4.   Hoạt động của phòng Thanh toán quốc tế.

    Cùng xu thế phát triển mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của các  doanh nghiệp, đầu năm 1999 phòng Thanh toán Quốc tế trước đây trực  thuộc Trung  Ương đã tách ra thành trực thuộc SGD I. Bước đầu phòng đã gặp rất nhiều  khó khăn do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế, máy móc thiết bị lạc hậu, thêm vào đó, bản thân các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu cũng chưa có những cán bộ am hiểu về Thanh toán Quốc tế cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức thanh toán này. Vì  vậy, để hoạt động Thanh toán quốc tế của ngân hàng diễn ra  một cách an toàn, hiệu quả và  tuân thủ những quy định của pháp luật về Thanh  toán quốc tế, bản thân SGD đã tự xác định hoạt động Thanh toán quốc tế phải phù hợp với thông lệ về thanh toán do phòng thương mại quốc tế(ICC) ban hành như

    UCP500, URR525, URC522 cùng các quy định của pháp luật, Chính phủ, NHNN Việt Nam và các hiệp định, thoả thuận quốc tế mà tổng giám đốc  NHĐT&PTVN đã ký kết.

    Tuy nhiên, do hoạt động trên địa bàn Hà Nội, một địa bàn đầy khó khăn  phức tạp với sự tồn tại của nhiều ngân hàng thương mại trong và ngoài nước nên hoạt động Thanh toán quốc tế của SGD vấp phải sức ép cạnh tranh rất lớn. Song  với quan điểm cho rằng cạnh tranh là động lực của sự phát triển nên trong quá trình hoạt động ban lãnh đạo Ngân hàng đã chỉ đạo sát sao mọi nghiệp vụ ngân hàng,  một mặt không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng như tư vấn miễn  phí cho khách hàng khi mở L/C, giảm thiểu các thủ tục không cần thiết  gây phiền hà cho khách hàng khi thực hiện các dịch vụ Thanh toán Quốc tế, mặt khác Ngân hàng còn không ngừng nâng cao trình độ cho cán bộ thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn , dài hạn về ngoại ngữ, nghiệp vụ Thanh toán Quốc tế, tăng số lượng cán bộ của phòng lên 13 người để xử lý công việc được nhanh hơn, không ngừng đầu tư phát triển hệ thống Thanh toán Điện tử, củng cố và mở rộng các quan hệ đại lý với các Ngân hàng nước ngoại trong khu vực và trên Thế giới. Do đó, hoạt đông Thanh toán quốc tế dần được củng cố và hoàn thiện.

    Nhiệm vụ chính của phòng là thực hiện các hoạt động thanh toán Quốc tế và thực hiện Bảo lãnh nước ngoài. Trong đó hoạt động thanh toán theo phương thức Tín dụng chứng từ vẫn chiếm ưu thế hơn so với nhưng phương thức khác. Có thể nói,tuy hoạt động chưa lâu nhưng với tinh thần phục vụ hết mình cho khác hàng  nên phòng Thanh toán quốc tế –SGDI NHĐT&PTVN rất được khác hàng tín nhiệm.Hàng năm đội ngũ cán bộ của phòng đã đóng góp một phần không nhỏ vào thành quả chung của toàn SGD.

    2.2.  THỰC TRẠNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SGDI-NHĐT&PTVN.

    Năm 2003, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,24%, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 17 tỷ, tăng 12% so với năm 2002.

    Nhập khẩu đạt trên 20 tỷ đồng, tăng 20,1% so với năm 2002.

    Cùng với sự phát triển nền kinh tế đất nước, trong những năm qua , SGDI đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán, đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán L/C để phục vụ tốt cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu  cầu thanh toán hàng hoá XNK qua SGD, từ đó ngân hàng đã thu dược nhiều kết  quả đáng khích lệ.

    2.2.1.   Thực trạng thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng

    chứng từ.

    Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ cho hàng hoá nhập khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN không những đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng mà còn góp phần nâng cao uy tín của hệ thống NHĐT&PT Việt Nam.

    Thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đang là một hoạt động chủ yếu của phòng thanh toán quốc tế Chi nhánh NHNN & PTNT Hà Nội.Bởi lẽ:

    • Trước hết, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức Thanh toán quốc

    tế phổ biến và an toàn nhất trong điều kiện hiện nay.

    • Thứ hai, hầu hết khách hàng có giao dịch thanh toán với SGD chỉ chuyên kinh doanh hàng nhập khẩu.
    • Thứ ba, do đặc điểm kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay đã có những bước

    phát triển mới, giao lưu thương mại quốc tế đã tăng lên nhiều lần.

    Hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI được diễn ra theo một trình tự nhất định theo quy định của NHĐT&PTVN.

    a.  Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI –NHĐT&PTVN.

    Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.

    Khi khách hàng có nhu cầu thanh toán hàng hoá nhập khẩu bằng phương  thức tín dụng chứng từ yêu cầu ngân hàng mở L/C thì phải gửi đến ngân hàng một bộ hồ sơ bao gồm:

    • Thư yêu cầu mở L/C. Trong thư khách hàng phải điền đầy đủ, chính xác

    các thông tin phù hợp với thư yêu cầu của mình.

    • Bản sao có xác nhận sao y bản chính của khách hàng ( ký, đóng

    dấu).Khách hàng chịu trách nhiệm pháp lý về việc sao y từ văn bản chinhd .

    • Hợp đồng nhập khẩu .
    • Văn bản cho phép nhập khẩu của bộ thương mại hoặc cơ quan chủ quản

    quản lý chuyên nghành.(đối với ngành hàng kinh doanh có điều kiện)

    • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số XNK.(đối với khách hàng giao dịch lần đầu tiên
    • Vào bìa hồ sơ L/C.

    Sau khi tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, thanh toán viên tiến hành kiểm  tra hồ sơ mở L/C, kiểm tra nội dung thư yêu cầu mở L/C. Nếu nộidung không rõ ràng, các điều kiện, chỉ thị có sự mâu thuẩn, thanh toán viên sẽ hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh trước khi mở L/C. Thanh toán viên không tự đông sửa chữa hoặc bổ sung các chi tiết thay khách hàng. Thư yêu cầu mở L/C phải có đầy đủ chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng.

    Khi kiểm tra hồ sơ xong nếu thấy phù hợp thanh toán  viên sẽ  tiến hành xác định mức ký quỹ.

    -Đối với khách hàng có quan hệ tín dụng, cán bộ tín dụng theo dõi khách hàng sẽ đề suất mức ký quỹ, phụ trách phòng tín dụng ký và trình lãnh đạo duyệt.

    -Đối với khách hàng không có quan hệ tín dụng thì Giám đốc sẽ giao cho phòng tín dụng hoặc phòng Thanh toán quốc tế đề suất mức ký quỹ,sau đó trình lãnh đạo duyệt .

    Sau khi xác định mức ký quỹ, khách hàng phải chuyển đủ số tền vào tài khoản ký quỹ trước khi mở L/C. Trưởng phòng kế toán sẽ xác định số tiền ký quỹ và ký tên.

    Tiếp theo thanh toán viên sẽ tiến hành kiểm tra nguồn vốn thanh toán L/C.

    -Nếu khách hàng đề nghị thanh toán  L/C hoàn toàn bằng vốn tự có với mức

    ký quỹ thấp hơn 100% trị giá l/C, cán bộ tín dụng hoặc thanh toán viên sẽ xem xét

    và đề xuất với lãnh đạo( trong truờng hợp khách hàng có quan hệ tín dụng). Sau đó phụ trách phòng tín dụng hoặc phòng Thanh toán quốc tế ký và trình duyệt lãnh  đạo trên cơ sở các điều kiện cụ thể.

    -Nếu khách hàng đề nghị vay vốn ngân hàng để thanh toán L/C số tiền còn  lại sau khi ký quỹ bằng vốn tự có:

    + Phòng tín dụng sẽ xét duyệt mức cho vay theo chế độ tín dụng hiện hành của Tổng giám đốc NHĐT&PTVN.

    +Nếu đồng ý vay ngân hàng và khách hàng sẽ ký sẵn đơn xin vay, giấy nhận nợ nhưng để trống ngày nhận nợ. Ngày ngân hàng thanh toán bộ chứng từ là ngày hạch toán nhận nợ vay và được ghi vào giấy nhận nợ.

    +Trong hồ sơ thanh toán bằng vốn tín dụng phải có đơn xin vay, khế ước nhận nợ. Lưu ý rằng, khách hàng mở L/C chính là người ký đơn xin vay, giấy nhận nợ để thanh toán L/C đó.

    Mở L/C nhập khẩu .

    Khi hồ sơ của khách hàng đã có đầy đủ các diều kiện, thanh toán viên sẽ tién

    hành mở L/C theo trình tự.

    -Đăng ký số tham chiếu L/C.

    -Chọn ngân hàng thông báo/ ngân hàng thương lượng.

    -Đưa dữ liệu vào máy vi tính để mở thư yêu cầu của khách hàng.

    -L/C phải dẩn chiếu UCP500 nếu mở băng Telex hoặc thư. Nếu mở bằng

    SWIFT thì không cần.

    -Hạch toán nội bảng số tiền ký quỹ hoặc lập phiếu báo nợ gửi tới bộ phận kế toá, nhập ngoại bảng số tiền mở L/C, thu phí mở L/C theo quy định hiện hành của NH ĐT&PTVN.

    -Chuyển toàn bộ hồ sơ cùng điện mở L/C trình phụ trách phòng, báo cáo  trình lãnh đạo ký duyệt.

    -Giao một bảng gốc cho khách hàng có dấu chữ ký của lãnh đạo SGD.

    Sửa đổi L/C.

    Trong quá trình giao dịch, nếu khách hàng có nhu cầu cần sửa đổi một số nội dung trong L/C thì họ sẽ xuất trình thư yêu cầu sửa đổi L/C( theo mẫu in sẵn của ngân hàng ) kèm theo văn bản thoả thuận giữa người mua và người bán(nếu có).

    Căn cứ theo yêu cầu của khách hàng thanh toán viên phát hành sửa đổi  và  gửi ngân hàng thông báo.

    Trong trường hợp có ý kiến của người hưởng lợi về sửa đổi L/C, trong nội dung phảo ghi rõ:”Trong vòng 2 ngày làm việc nếu không nhận được ý kiến gì từ phía các Ngài, sửa đổi này coi như được chấp nhận”.Nếu phí sửa đổi do người hưởng lợi chịu, trong sửa đổi L/C phải ghi rõ :” phí do người hưởng lợi chịu và sẽ được trừ khi thanh khoản”.

    Sau đó thanh toán viên sẽ chuyển hồ sơ cùng điện sửa đổi L/C trình  phụ  trách phòng, báo cáo lãnh đạo ký duyệt và giao một bản gốc cho khách hàng.

    .Xử lý điện đòi tiền của ngân hàng nước ngoài.

    Sau khi nhận được L/C và các sửa đổi có liên quan, người bán sẽ tiến hành giao hàng và lập bộ chứng từ thanh toán gửi đến ngân hàng thông qua ngân hàng của người bán. Tại SGD sau khi nhận điện, in bảng kê điện đã nhận, phụ trách phòng xem xét rồi giao cho thanh toán viên. Thanh toán viên kiểm  tra điện đòi  tiền.

    +Nếu phù hợp, thanh toán viên kiểm tra nguồn tiền thanh toán L/C đồng thời thông báo ngay cho khách hàng và gửi phòng tín dụng ( nếu thanh toán bằng vốn tín dụng) về việc ngân hàng nước ngoài đòi tiền để cho vay, hạch toán ngày nhận nợ.

    Tiếp theo thanh toán viên trả tiền bằng điện SWIFT rồi trích ký quỹ, thu phí , hạch toán xuất ngoại bảng số tiền thanh toán, rút số dư trên bìa hồ sơ L/C. Thanh toán viên chuyển toàn bộ điện trả tiền, các chứng từ liên quan và hồ sơ L/C trình phụ trách phòng ký duyệt.

    +Nếu điện báo không phù hợp, thanh toán viên phải gửi thông báo cho khách hàng kèm một bản sao điện của ngân hàng nước ngoài thông báo chứng từ không phù hợp, yêu cầu khách hàng trong vòng 3 ngày làm việc phải có ý kiến bằng văn bản để SGD trả lời ngân hàng nước ngoài.Nếu khách hàng chấp nhận sai sót và

    đồng ý thanh toán thì ngân hàng tiến hành thanh toán. Nếu khách hàng không chấp nhận sai sót, ngân hàng sẽ lập điện từ chối thanh toán theo mẫu SWITF, trình phụ trách phòng báo cáo lãnh đạo SGD ký gửi ngân hàng nước ngoài.

    Việc hạch toán thu phí dịch vụ được thự hiện thống nhất theo quy định

    thông nhất của NHĐT&PTVN, cụ thể như sau:

    Phí sửa đổi L/C                                                    :10$

    Phí bảo lãnh nhận hàng không kèm vận đơn  :30$

    (Thu thêm 20$ nếu không hoàn trả bảo lãnh sau một tháng kể từ ngày ký) Phí huỷ L/C                                                                               :10$

    Phí phạt trả chậm                                                :150% lãi sất vay ngoại tệ /số

    ngày trả chậm.

    b.  Hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI-NHĐT&PTVN.

    Thanh toán hàng nhập khẩu là một trong những nghiệp vụ rất được SGDI_NHĐT&PTVN quan tâm và dần hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của hoạt động này.Mặc dù quy mô còn nhỏ bé nhưng SGD đã thực sự  khẳng định được vị  trí và chỗ đứng vững chắc của mình trong quá trình thực hiện nghiệp vụ này.

    Để có thể thấy được những kết quả mà SGDI-NHĐT&PTVN đã đạt được trong năm qua, chúng ta hãy cùng xem xết tình hình thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng này.

    Bảng 4: Giá trị L/C được mở qua các năm 2001-2002-2003.

     

     

     

     

    Nội dung

    Phát sinh tăng
    Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    L/C nhập khẩu 850 165,000 1,200 290,000 750 123,000
    1.Trả ngay 760 85,000 1,120 265,000 700 120,000
    2. Trả chậm dưới 1 năm 60 75,000 80 25,000 50 3,000

    Nguồn: Báo cáo thường niên của SGD I – NHĐT&PTVN trong năm

    2001, 2002,2003

    Năm 2001 là năm mà hoạt động Thanh toán quốc tế tại SGD đã có những thay đổi đáng kể.SGD đã vượt qua mhững khó khăn do dư âm của cuộc khủng khoảng tài chính- tiền tệ năm 1997.Vì thế, cùng với sự cố gắng của đội ngũ cán bộ phòng Thanh toán quốc tế mà số lượng L/C dược mở là 850 món với tổng trị giá là 165 triệu USD, trong đó L/C trả ngay là 760 món, trị giá 85 triệu USD chiếm  51.5% tổng số L/C nhập khẩu.Điều này cho thấy rằng ngay trong thời kỳ khó khăn ngân hàng vẫn duy trì được một doanh số giao dịch tương đối ổn định.

    Bước sang năm 2002, hoạt động thanh toán  hàng hoá nhập khẩu bằng L/C  có sự gia tăng đột biến, số món L/C được mở là 1200 món với tổng trị giá là 290 triệu USD, tăng 75.7% so với năm 2001.Trong đó số L/C nhập khẩu trả ngay tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2001, chiếm 91% trong tổng số L/C nhập khẩu. Đây quả là một kết quả rất đáng khích lệ với ngân hàng.

    Tuy nhiên, năm 2003 doanh số thanh toán hàng hoá nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ lại có sự giảm sút lớn. Số món L/C được mở giảm xuống còn 750 món, trị giá 123 triệu USD, giảm 167 triệu USD( giảm 57%) so với năm 2002. Phần lớn kết quả của những biến động này xuất phát từ sự thay đổi bất thường trong doanh số giao dịch của khách hàng. Các doanh nghiệp đã co hẹp hoạt động nhập khẩu do có nhiều biến động trên thế giới về chính trị, kinh tế.

    Mặt khác, trên thực tế, các khách hàng của ngân hàng khi kinh doanh hàng nhập khẩu chỉ có nhu cầu sử dụng các loại L/C không huỷ ngang, L/C không huỷ ngang có xác nhận, còn các loại hìn L/C khác vẫn chưa được sử dụng nhiều. Điều này có thể do đặc điểm kinh doanh chưa cần thiết hoặc chưa phù hợp để sử dụng các hình thức đó.

    Một tiêu thức nữa giúp chúng ta có thể nhận thức đầy đủ hơn về tình hình thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN là xem xét doanh số XNK mà sở đã đạt được trong năm qua.

    Biểu đồ 1: tỷ trọng thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI.

     

     

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy, hoạt động Thanh toán Quốc tế qua hình th

     

    Nhi

    Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu chiếm một tỷ trọng lớn trong hoạt động thanh toán XNK. Trong 3 năm qua hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu có sự thay đổi đáng kể. Năm 2001 doanh số L/C nhập khẩu đạt 165 triệu USD chiếm 45,8% trong tổng doanh số XNK.

    Bước sang năm 2002, hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của ngân hàng thực sự có hiệu quả. Đây là một kết quả rất khả quan, để có được thành công này ngân hàng đã không ngừng đổi mới trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho quá trình thanh toán. Ngân hàng đã cho lắp đặt Internet để khai thác tin tức kinh tế thương mại, pháp luật qua mạng ;lắp đặt mạng thanh toán SWIFT với các ngân hàng trên thế giới. Kết quả là, năm 2002 doanh số thanh toán tăng từ 165 triệu  USD năm 2001 lên 290 triệu USD. Bên cạnh đó doanh số XNK cung tăng lên đáng kể, đạt  400 triệu USD. Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu chiếm 72,5% tổng doanh số XNK, gấp hơn 1.5 lần so với năm 2001.

    Tuy nhiên, năm 2003 lại cho thấy một kết quả không mấy khả quan trong hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của sở. Năm 2003 doanh số thanh toán L/C nhập khẩu giảm mạnh từ 290 triệu USD năm 2002 xuống còn 123 triệu USD, giảm 57,5% so với năm 2002. Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu tuy có giảm mạnh nhưng bên cạnh đó doanh số XNK vẫn tăng đều qua các năm, năm 2003 tăng

    12,5% so với năm 2002. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do ảnh hưởng của các chính sách thắt chặt với các doanh nghiệp kinh doanh XNK như giới hạn mức Quata một mặt hàng. Một nguyên nhân nữa đó là trong năm nay hoạt động chuyển tiền của sở đã dược thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiệ, an toàn với chi phí thấp nên rất nhiều doanh nghiệp đã chuyển sang lựa chọn phương thức này.

    Như vậy, có thể nói hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đã đạt đựợc những thành tựu đáng kể , đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và cho khách hàng. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều những hạn chế  mà SGD cần khắc phục để đưa hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ ngày một phát triển, có thể sánh ngang với  các  ngân hàng truyền thống trong lĩnh vực này như ngân hàng Ngoại thương  Việt  Nam.

    2.2.2.   Thực trạng hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức

    tín dụng chứng từ tại SGDI-NHĐT&PTVN.

    Song song với hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ, SGDI-NHĐT&PTVN cũng rất quan tâm tới việc mở rộng hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu theo  phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên,  do khách hàng của Ngân hàng chủ yếu là kinh doanh hàng nhập khẩu nên hoạt  động thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng còn có nhiều hạn chế. Đây được coi là một thị trường tiềm năng để phát triển trong thời gian tới.

    Mặc dù vậy, trình tự thực nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ vẫn được thực hiện theo đúng quy định của NHĐT&PTVN.

    a.  Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C xuất khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN.

    SGDI-NHĐT&PTVN là đầu mối thực hiện các giao dịch với ngân hàng  nước ngoài, tất cả các L/C do ngân hàng nước ngoài gửi về trước khi chuyển đến chi nhánh đều phải được sở giao dịch kiểm tra xác thực. Sau khi SGD kiểm tra  xong sẽ gửi chuyển xuống cho các chi nhánh ngân hàng của SGD.

    Tiếp nhận, thông báo L/C đến chi nhánh.

    Khi nhận được L/C, sửa đổi L/C do ngân hàng nước ngoài gửi về thanh toán

    viên có trách nhiệm:

    -Trước hết thanh toán viên phải kiểm tra tính xác thực của L/C. Đồng thời,

    thanh toán viên kiểm tra L/C phải có dẫn chiếu UCP500.

    -Tiếp theo thanh toán viên đăng ký số tham chiếu của L/C vào sổ theo dõi thông báo L/C, nhập dữ liệu vào máy tính để theo dõi.

    -Lập thông báo cho khách hàng, hoặc cho ngân hàng chi nhánh. Thư thông

    báo L/C, sửa đổi L/C lập thành 02 bản, lưu một bản tại hồ sơ L/C.

    -Lập phiếu thu dịch vụ, chuyển kế toán hạch toán.

    Sau đó, phụ trách phòng hoặc kiểm soát viên có trách nhiệm kiểm tra nội dung L/C hoặc nội dung sửa đổi L/C trước khi chuyển cho lãnh đạo hoặc người được uỷ quyền ký duyệt.

    -Sau khi hoàn tất việc kiểm tra, kiểm soát ( lưu ý L/C gốc phải đóng dấu và ghi ngày ký), ngân hàng sẽ giao một bản gốcL/C cho người thụ hưởng. Thanh toán viên theo dõi việc thông báo cho khách hàng. Đông thời thanh toán viên thông báo cho ngân hàng phát hành về việc nhận được L/C, sửa đổi L/C hoặc ý kiến của  khách hàng về sửa đổi L/C nếu được yêu cầu.

    Kiểm tra chứng từ.

    -Thanh toán viên tiếp nhận bộ chứng từ của khách hàng xuất trình bao gồm bản gốc L/C,các sửa đổi L/C có liên quan(nếu có )cùng thư thông báo L/C,sửa đổi L/C có xác nhận chữ ký m.

    -Thanh toán viên tiến hành kiểm tra sơ bộ chứng từ, số hiệu của từng loại chứng từ và thư yêu cầu thanh toán của khách hàng. Sau đó thanh toán viên ký  nhận chứng từ, phải ghi rõ ngày giờ nhận chứng từ trên thư yêu cầu thanh toán của khách hàng.

    -Tiếp theo thanh toán viên tiến hành kiểm tra sự phù hợp về nội dung, số lượng chứng từ so với các kiều kiện, điều khoản quy định trong L/C và sửa đổi liên

    quan (nếu có). Kiẻm tra sự phù hợp giữa các chứng từ với nhau, kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với UCP500.

    -Khi kiểm tra xong, thanh toán vien phải ghi ý kiến của mình  trên phiếu  kiểm tra chứng từ và chuyển toàn bộ hồ sơ, chứng từ liên quan đén kiểm soát viên hoặc phụ trách phòng.Kiểm soát viên sẽ kiểm tra lại toàn bộ chứng từ, các ý kiến của thanh toán viên và ghi rõ ý kiến của mình trên phiếu kiểm tra chứng từ, ký tên và chuyển lại cho thanh toán viên.

    -Sau khi có ý kiến của phụ trách phòng về tình trạng bộ chứng từ, nếu chứng

    từ có sai sót, thanh toán viên phải thông báo ngay cho khách hàng.

    Gửi chứng từ và đòi tiền.

    -Trong tất cả các trường hợp thanh toán viên chỉ lập điện, thư đòi tiền theo quy định của L/C khi có ý kiến của kiểm soát viên hay phụ trách phòng.

    Sau khi kiểm tra chứng từ, nếu chứng từ phù hợp, không có sai sót, ngân  hàng sẽ lập thư gửi chứng từ và lệnh đòi tiền bằng thư hoặc bằng điện rồi gửi cho ngân hàng nhận chứng từ được chỉ định trong L/C.Điện đòi tiền và thư đòi  tiền  kèm bộ chứng từ trước khi gửi đi phải được kiểm soát viên hay phụ trách phòng trình lãnh đạo ký duyệt, ký hậu hối phiếu nếu cần thiết.

    Tiếp theo đó, thanh toán viên nhập ngoại bảng trị giá bộ chứng từ đã gửi đi  để theo dõi.

    Thanh toán, chấp nhận thanh toán L/C xuất khẩu.

    Khi nhận được thông báo của ngân hàng nước ngoài thanh toán viên thực  hiện như sau:

    -Chuyển kế toán báo có cho khách hàng sau khi đã khấu trừ chiết khấu ( nếu

    có), lãi chiết khấu và thu phí theo quy định hiện hành của SGDI-NHĐT&PTVN.

    -Hạch toán suất ngoại bảng số tiền ngân hàng nước ngoài thanh toán.

    -Hạch toán xuất ngoại bảng số dư L/C sử dụng không hết.

    Việc hạch toán thu phí dịch vụ được thực hiện theo quy định của SGDI- NHĐT&PTVN.

    Phí thông báo L/C                        :15$ Thông báo sửa lỗi                                                             :10$

    Đòi tièn theo bộ chứng từ           :0.2%/giá trị bộ chứng từ.

    b.   Hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN.

    Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI_NHĐT&PTVN tuy chưa thật đều đặn, an toàn và  hiệu quả,song đã  góp một phần nhỏ bé vào sự tăng trưởng của hoạt động thanh toán quốc tế nói  chung & hoạt động thanh toán L/C nói riêng của Ngân hàng.

    Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của cuộc  khủng hoảng kinh tế –  Tài chính khu vực, sự thay đổi của tỷ giá, sự khan hiếm ngoại tệ nên doanh số  thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN có nhiều thay đổi đáng kể.

    Bảng 5: Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng

    chứng từ tại Chi nhánh NHNN & PTNT Hà Nội.

    Đơn vị: USD.

    Năm Thanh toán xuất khẩu bằng L/C Doanh số TT

     

    XNK bằng L/C

    Tỷ trọng

     

    XK/NK (%)

    Doanh số +/- (%)
    1999 1.370.000 70.760.000 1.93
    2000 2.642.000 +92.8 101.225.000 2.61
    2001 2.359.051 -10.7 110.014.402 2.14
    2002 1.589.830 -32.6 90.709.327 1.75

    (Nguồn: Báo cáo TTQT – NHNN & PTNT Hà Nội).

    Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 đã ảnh hưởng kéo dài tới những năm sau.Hơn nữa, do kinh nghiệm trong hoạt động thương mại nước ta còn ít nên thị trường xuất khẩu nước ta chủ yếu là các nước Châu á ( theo số lượng ước tính thì 70% kinh nghạch mậu dịch của Việt Namlà với các nước Đông Nam  á). Thậm chí, có khi muốn xuất khẩu sang các nước Châu âu, ta  phải đưa hàng  sang các nước Châu á rồi từ đó hàng mới có thể đi tiếp. Chính vì thế kim nghạch xuất khẩu của nước ta còn thấp.

    Bắt đầu từ năm 1999, chính sách của Đảng và nhà nước cho phép mọi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu nếu có khả năng, do đó, số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đã có sự thay đổi đáng   kể. Năm 2001 doanh số thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đạt 35 triệu USD.

    Sang năm 2002, nhờ sự cố gắng của cán bộ, nhân viên cùng sự quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn của ban lãnh đạo SGD nên doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD đã tăng đột biến, đạt 75 triệu USD, tăng 114,2% so với năm 2002.Tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu chiếm 18,7% trong  tổng số doanh số XNK. Như vậy, chúng ta có thể thấy năm 2002 là một năm rất thành công của SGD trong hoạt động thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ.

    Tuy nhiên, bước sang năm 2003 doanh số hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu lại giảm rõ rệt. Năm 2003, doanh số chỉ đạt 47,5 triệu USD, giảm 36,6% so với năm 2002 kéo theo tỷ trọng hàng xuất khẩu cũng giảm xuông 10,5 % so với năm 2002. Sở dĩ có sự giảm sút đáng kể như vậy, một mặt là do sự biến động của thị trường làm cho tỷ giá thay đổi  , khan hiếm ngoại tệ…Khi đồng Việt Nam bị  phá giá ở mức cao đã tạo sức ép đối với hàng nhập khẩu Việt Nam sang thỉtường thế giới phải giảm giá, nếu không họ sẽ không nhập hàng xuất khẩu của ta. Do vậy nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá đã giảm bớt do giá xuất khẩu giảm làm cho các

    doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có thể phải ngừng sản xuất vì doanh thu

    không đủ để trang trải các yếu tố đầu vào.

    Mặt khác trong năm qua chúng ta liên tiếp phải đối mặt dịch bệnh :dịch SARS, cúm gà …cùng với bài học Mỹ kiện Việt Nam  bán phá giá cá Basa  và Tôm  đông lạnh cộng với việc các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trươc thách thức  và sức  ép cạnh tranh với hàng hoá ngoại nhập, đã tạo nên lý e dè trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho doanh   số L/C xuất khẩu trong năm qua giảm mạnh đến như vậy.

    Bảng 6: Trị giá đòi tiền L/C xuất khẩu qua các năm tại SGDI-

    NHĐT&PTVN.

     

     

     

     

     

     

     

    Chỉ tiêu

    Năm 2002 Năm 2003
    Số món Trị giá

     

    (Triệu$)

    +/- (%)

     

    /2001

    Số món Trị giá

     

    (Triệu$)

    +/- (%)

     

    /2002

    Thông báo 270 36 +227.2 250 25 -30.5
    Thanh toán 530 39 +62.5 450 22.5 -42.3

    (Nguồn :Báo cáo tổng kết hoạt động Thanh toán quốc tế tại SGDI_NHĐT&PTVN)

    Nhìn vào số liệu trên ta thấy số món và trị giá thanh toán hàng xuất  khẩu  theo phương thức tín dụng chứng từ nhỏ hơn rất nhiều so với số món và trị giá  thanh toán hàng nhập khẩu. Nếu như năm 2002, số món gửi chứng từ  đòi tiền là 270 món với trị giá là 36 triệu USD thì năm 2003, số món gửi đòi tiền giảm xuống 250 món với giá trị chỉ đạt 25 triệu USD, giảm 30.5% so với nam 2002. Điều này bắt nguồn từ những khó khăn mà ngân hàng phải đối mặt.

    Có thể nói, tình hình thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI còn thấp. Câu hỏi đặt ra là làm như thế nào để thúc đẩy nhanh hoạt động thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ

    tạiSGDI-NHĐT&PTVN luôn là nỗi bức xúc của toàn thể cán bộ công nhân viên Ngân hàng. Đây thực sự là bài toán khá hóc búa của Ngân hàng trong tương lai.

    Như vậy, từ thực trạng nghiệp vụ thanh toán hàng hoá XNK tại SGDI_NHĐT&PTVN, trên nền một số thành quả nhất định là một loạt vấn đề nổi cộm, cần tìm được nguyên nhân giải quyết.

    2.2.3.   Đánh giá thành quả đạt được và những hạn chế.

    a.   Thành quả đạt được.

    Sau hơn 6 năm thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tại SGDI- NHĐT&PTVN đã thu được những kết quả đáng khích lệ.

    • Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu tại SGDI-ngân hàngĐT&PT VN.Điều gì đã giúp SGDI có được kết quả đó? Lý do ở chỗ, nghiệp vụ thanh toán ngày càng rút ngắn về thời gian, độ chính xác an toàn cao, đạt được sự tín nhiệm của khách hàng. Mặt khác, trong thời gian qua tại Chi nhánh chưa xảy ra một trường hợp nào bị từ chối thanh toán do bộ chứng từ có lỗi hay có tranh chấp xảy ra.Hay có thể nói, SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN hoàn toàn có uy tín tốt trong Thanh toán quốc tế.
    • Để làm được điều này phải kể đến đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi. Hầu hết nhân viên phòng thanh toán quốc tế đều có trình độ đại học, trình độ tiếng Anh, sử dụng thành thạo mạng Swift với các Ngân hàng trên thế giới. Phong cách giao dịch với khách hàng tận tình, văn minh, lịch sự, sẵn sàng hướng dẫn khách hàng giải quyết mọi vướng mắc trong khâu dự thảo,ký hợp đồng hay tư vấn cho khách hàng về các điều khoản trong thư tín dụng sao cho có lợi cho khách hàng nhất.
    • Đặc biệt, Ngân hàng còn xúc tiến tăng cường mối quan hệ đại lý với các Ngân hàng trên thế giới, do vậy, quan hệ thanh toán được mở rộng. Mạng lưới Ngân hàng rộng khắp đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh toán của Ngân hàng. Cho đến nay ngân hàng đã có quan hệ đại lý với hơn 690 ngân hàng, và có quan hệ đại lý với hơn 70 nước. Điều đó chứng tỏ uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng lên trên thị trường quốc tế và trong lòng khách hàng. Chính điều đó đã

    giúp ngân hàng từng bước thâm nhập thị trường quốc , từng bước mở rọng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ Thanh toán quốc tế theo phương  thức tín dụng chứng từ nói riêng.

    • Ngoài ra, với biểu phí dịch vụ hấp dẫn nên NHNN & PTNT Hà Nội có khả năng thu hút được nhiều khách hàng.

    -Với phương châm “nhanh chóng, chính xác, an toàn” trong tất cả các lĩnh vựchoạt động,công tác Thanh toán quốc tế của ngân hàng đã được tổ chức chặt chẽ,bỏ đi các khâu trung gian phiền hà, rắc rối mất nhiều thời gian cho khách hàng.Đồng thời quy trình thanh toán được cải tiến và phù hợp, đảm bảo thông tin nhanh chóng kịp thời cho khách hàng, kiểm tra chính xác, kịp thời, nhanh  chóng.Tất cả đều là kết quả, là thành công nỗ lực của bản thân ngân hàng trong  hoạt động kinh doanh.

    • Những kết quả mà NHNN & PTNT Hà Nội đã đạt được thật đáng biểu dương, khích lệ. Song cũng rất thiếu sót nếu không đề cập đến những hạn chế tồn tại.Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng hoàn thiện mình để trong tương lai không xa  sẽ vươn tới đỉnh cao trong hoạt đông kinh danh đối ngoại.

    b.   Hạn chế.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN vẫn còn nhiều hạn chế làm kìm hãm tốc độ tăng trưởng của hoạt động thanh toán hàng xuất nhập khẩu qua Ngân hàng.

    Từ số liệu thực tế cho thấy kinh doanh thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tạiSGDI-NHĐT&PTVN chưa mở rộng diện phục vụ. Số lượng khách hàng đến tham gia thanh toán tại Ngân hàng chưa nhiều, đặc biệt số lượng khách hàng thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ còn ít.

    c.  Nguyên nhân.

    Sở dĩ hoạt đông thanh toán hàng XNK theo phương thức tín dụng chứng từ

    còn nhiều hạn chế do nhiều nghuyên nhân khác nhau,cả khách quan lẫn chủ quan.

    Nguyên nhân khách quan.

    • Môi trường pháp lý:

    Cho đến nay,chính sách của Nhà nước và các văn bản của các nghành chưa đồng bộ và chưa phù hợp với tình hình phát triển của công tác thanh toán.Các văn bản pháp quy của nghành ngân hàng cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế chưa đáp ứng kịp thời hoăc đầy đủ.

    Trong thời kỳ mở cửa lợi dụng kẽ hở của hành lang pháp lý và cán bộ kém năng lực, nhiều doanh nghiệp  vay vốn Ngân hàng sử dụng trái mục đích, đồng  thời không trả được nợ Ngân hàng dẫn đến các Ngân hàng không dám đầu tư, hoạt động thanh toán quốc tế giảm sút.

    • Sự cạnh tranh của Ngân hàng khác.

    Năm 2002, sau khi thực hiện đề án chấn chỉnh lại hoạt động NHTMCP trên địa bàn HN có 36 NHCP trong đó có 21NHCP đô thị và 15  NHCP nông thôn. Chính vì vậy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra ngày càng quyết liệt.Các ngân hàng này thường có vốn điều lệ lớn nên được cho phép vay dự án lớn, nhờ  vậy có điều kiện ràng buộc người vay thanh toán qua họ.Như vậy, với số lượng đông đảo các ngân hàng trên địa bàn chật hẹp, việc chia sẻ khách hàng, phân tán nghiệp vụ là điều không thể tránh khỏi.Hơn nữa, các ngân hàng nước ngoài lại có lợi thế về công nghệ thông tin hiện đại,thủ tục tín dụng đơn giản,có kinh nghiệm trong chính sách khách hàng. Chính ví vậy,SGDI không thể tránh khỏi những khó khăn trong việc thu hút khách hàng.

    • Trình độ kinh nghiệm của khách hàng :

    Mặc dù số lượng khách hàng được phép trực tiếp kinh doanh  XNK ngày  càng tăng nhưng kinh nghiệm trong thanh toán XNK vẫn chưa có, trình độ am hiểu về công tác Thanh toán quốc tế còn hạn chế gây không ít khó khăn cho ngân hàng

    Hầu hết các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam rất yếu về các nghiệp vụ ngoại thương. Ngoài ra các doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ luật kinh tế , thủ tục tố tụng nên trong trường hợp có tranh chấp thì không khiếu nại kịp thời,đúng chỗ mà chỉ biết khiếu nại ngân hàng. Từ chỗ không nắm vững được luật pháp sẽ dẫn  đến những sơ hở về mặt pháp lý trong việc ký hợp đồng thương mại.

    • Ngân hàng luôn đối phó với những hành vi lừa đảo: Là một trung gian thanh toán nên Ngân hàng luôn phải đối đầu với các hành vi lừa đảo có thể xuất phát từ ngươì xuất khẩu, người nhập khẩu hoặc người vận chuyển. Đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều công ty ma, với nhiều thủ thuật lừa đảo ngày càng tinh vi. Do đó Ngân hàng cần có cơ chế quản lý giám sát chặt chẽ để tránh mọi rủi ro có thể xảy

    Nguyên nhân chủ quan:

    Thứ nhất, Công tác Marketing chưa được vận dụng một cách triệt để trong

    hoạt động thanh toán của Ngân hàng .

    Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng số lượng khắch  hàng mà  phòng Thanh toán quốc tế thu hút không nhiều.Ngân hàng chưa có chương trình công tác cụ thể theo đuổi các mục tiêu chung trong chiến lược khách hàng tại ngân hàng.

    Mặt khách tuy đã ứng dụng Marketing vào quá trình cung ứng dịch vụ Thanh toán quốc tế nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Trong quá trình giao dịch với khách hàng,thái độ nhân viên rất đúng mực,lịch sự,có tinh thần trách nhiệm với khách hàn,không gây phiền hà, không để khách hàng khiếu nại.Song đến nay ngân hàng vẫn chưa có phòng Marketing riêng.

    Hơn nữa, hoạt đông thanh toán hàng xuất khẩu chưa thực sự  được quan  tâm đúng mức.Thực tế cho thấy,thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ còn rất hạn chế so với thanh toán hàng nhập khẩu.Hầu hết khách hàng của ngân hàng đều là những doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu hoặc một số khách hàng có kinh doanh cả hàng hoá xuất khẩu nhưng lại thanh toán hàng xuất ở ngân hàng khác, do vậy không thúc đẩy hoạt động Thanh toán quốc tế.

    • Thứ hai, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban, đặc biệt là giữa phòng kinh doanh và thanh toán quốc tế trong công tác tìm hiểu khách hàng.

    Điều này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động của phong Thanh toán quốc  tế  tại SGDI-NHĐT&PT VN.Nếu thực hiện được điều này công tác thanh toán  L/C  nói riêng sẽ tiết kiệm được rất nhiều về cả thời gian và nhân sự. Không chỉ có vậy, thông qua sự phối hợp này,mọi hợp đồng L/C sẽ có được hàng rào bảo hiểm trước

    rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tác nghiệp- loại rủi ro cơ bản của nghệp vụ thanh

    toán L/C.

    • Thứ ba, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ nhân viên còn nhiều hạn

    chế.

    Mặc dù ngân hàng đã thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn cho đội

    ngũ cán bộ bằng việc tạo điều kiện đi khảo sát và trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ với các chi nhánh thực hiện Thanh toán quốc tế trong hệ thống cũng như học tập nghiệp vụ ngân hàng hiện đại tại các ngân hàng đại lý song vẫn còn thua kém  những ngân hàng nước ngoài. Họ có chiến lược khách hàng hợp lý, theo dõi khách hàng sát sao, áp dụng triệt  để Marketing ngân hàng trong hoạt động kinh doanh  nên tác phong của họ phần nào cũng năng động hơn.

    • Thứ tư, hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị và giờ làm việc.

    Mặc dù trụ sở SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN khá đủ điều kiện và  tiên nghi khá tốt. Tuy nhiên, diện tích phòng làm việc thì lại nhỏ. Điều này gây cho khách hàng tâm lý chưa thoải mái trong giao dịch tại ngân hàng.Hơn nữa cũng ảnh hưởng tới điều kiện làm việc của cán bộ ngân hàng.

    Mặt khác, trang thiết bị của ngân hàng dù đã được trang bị khá hiện đại song

    vẫn còn nhiều hạn chế, điều này làm chậm tiến trình giao dịch với khách hàng.

    Giờ làm việc của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN cũng không thể cạnh tranh  với các ngân hàng nước ngoài. Trong khi các ngân hàng nước ngoài mở cửa làm việc đến 18h thì ngân hàng đóng cửa vào lúc 16h30.Điều này làm hạn chế lượng khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.

    • Thứ năm, hạn chế về Ngân hàng đại lý.

    Với số lượng ngân hàng đại lý như hiện nay, SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN vẫn chưa đủ khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác( chẳng hạn ngân hàng Ngoại thương VN có 1600 ngân hàng đại lý).

    Hơn nữa,ngân hàng chưa nắm bắt được các chính sách, quy định của các ngân hàng đại lý ở nước ngoài trong các giao dịch thanh toán với các ngân hàng

    VN, chưa khai thác tối đa dịch vụ ngân hàng do họ cung cấp để đáp ứng nhu cầu

    giao dịch với khách hàng.

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG

    CHỨNG TỪ TẠI SGDI – NGÂN HÀNG ĐT&PTVN

    VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

     

     

    3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA SGDI-NGÂN HÀNG

    ĐT&PTVN TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trải qua 46 năm xây dựng và phát triển từ một cơ quan cấp phát vốn ngân sách, đến nay NHĐT&PTVN đã trở thành một trong bốn NHTM quốc doanh có  ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường tài chúnh NH Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ tốt cho đầu tư phát triển  kinh tế xã hội Những kết quả đạt được trong suốt thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước công nhận bằng việc trao tặng những phần thưởng cao quý, bạn hàng tin tưởng và hợp tác.Cho đến tháng tư này kỷ niện 46 năm ngày truyền thống của ngân hàng , tổng tài sản của NHĐT&PTVN đã vượt qua con số 80.000 tỷ đồng. Đây là điều rất đỗi tự hào song cũng là trách nhiệm nặng nề của BIDV và nhiệm vụ này càng nặng nề hơn khi đất nước đang trong tiến trình CNH_HĐH  đất nước, từng bước hội  nhập kinh tế quốc tế.

    Nhận thức được những thời cơ và thách thức, quán triệt chủ trương và đường lối của Đảng và Chính phủ SGDI_NHĐT&PTVN đã đề ra định hướng phát triển hoạt động Thanh toán quốc tế trong giai đoạn tới như sau:

    Thứ nhất, một mặt củng cố và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ, mặt khác phát triển đồng bộ các  phương  thức thanh toán khác nhau như phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền,thanh toán mậu biên…đáp ứng nhanh chóng chính xác nhu cầu giao dịch thanh toán của khách hàng.

    Thứ hai, hoàn thiện hơn các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, đáp ứng đủ nhu cầu

    ngoại tệ cho khách hàng trong thanh toán hàng hoá XNK.

    Thứ ba, mở rộng có hiệu quả mạng lưới ngân hàng đại lý và cơ cấu tiền gửi hợp lý. Đây là nhiệm vụ chiến lược trong việc phát triển và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế ở ngân hàng.Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải cân đối nguồn ngoại tệ dự trữ để cho hoạt động Thanh toán quốc tế đạt hiệu quả cao.

    Thứ tư là hiện đại hoá công nghệ thanh toán ngân hàng theo hướng hội nhập

    với cộng đồng thế giới.

    Thứ năm, phối hợp tác nghiệp hơn nữa giữa các phòng nghiệp vụ chuyên  môn để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu Thanh toán quốc tế.

    Thứ sáu,tiếp tục đào tạo trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác Thanh toán quốc tế, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm và thái độ văn minh trong  giao dịch với khách hàng.

    Thứ bảy, tổ chức thanh toán quốc tế tại các chi nhánh ngân hàng quận.

    3.2. Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán L/C tại chi nhánh NHNN

    & PTNT.

    Với những gì đã nghiên cứu ở trên, chúng ta thấy việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN là một định hướng hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề đặt ra là phải tiếp cận định hướng đó bằng cách nào để biến nó thành hiện thực? Sau đây em xin mạnh  dạn đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN. Cơ cấu lại phòng Thanh toán quốc tế theo hướng nghiệp vụ thanh toán đa năng.

    3.1.1. Phát triển tổ chức nhân sự, đào tạo mở rộng phạm vi hoạt động.

    Con người là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Việc xây dựng một mẫu hình con người có nhân cách tốt, biết lấy lợi ích chung làm mục tiêu hành động sẽ tạo nên nhân tố mấu chốt cho sự phát triển nhanh chóng bền  vững của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN.

    Để quy trình thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ được nhanh chóng, có hiệu quả và tránh được nhiều rủi ro,thanh toán viên phải có

    khả năng xử lý nghiệp vụ một cách thuần thục, chính xác, phù hợp với các thông lệ quốc tế.Muốn vậy thanh toán viên không chỉ có trình độ về công tác Thanh toán quốc tế mà còn cần các kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực ngoại thương và các thị trường mà mình phụ trách.Do đó,SGDI cần tiêu chuẩn hoá  đội ngũ cán bộ bằng  các biện pháp sau:Thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, học tập kinh nghiệm lẫn nhau để nâng cao trình độ hiểu biết về các nghiệp vụ ngoại thương, bảo hiểm

    ,vận tải.Đồng thời, trang bị kiến thức về pháp luật cho cán bộ,mời các chuyên gia giỏi về đào tao nghiệp vụ,đào tạo và âng cao trình độ ngoại ngữ của các thanh toán viên.

    Về vấn đề đạo đức, Ngân hàng cần tăng cường công tác tư tưởng, rèn luyện đạo đức Ngân hàng cho cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, có năng lực, kịp thời thay thế các cán bộ yếu kém về năng lực, thoái hoá về phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ cho cán bộ Ngân hàng đặc biệt là nâng cao trình độ tin học, trình độ lập trình quản lý cho cán bộ kỹ thuật.

    Ngoài ra, ngân hàng cần thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý và điều hành kinh doanh,phát huy tính chủ động sáng tạo của từng cán bộ nhân viên.

    3.1.2. Cải tiến kỹ thuật công nghệ:

    Trước hết Ngân hàng cần sử dụng hiệu quả mạng thanh toán SWIFT. Việc ngân hàng tham gia mạng SWIFT không chỉ đơn thuần nhằm phục vụ nhu cầu phát triển nghiệp vụ Thanh toán quốc tế mà còn nhằm chuẩn bị các điều kiện tham  gia thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán quốc tế. Do đó, ngân hàng cần giải quyết tốt vấn đề luân chuển chứng từ Đi-Đến trong nội bộ ngân hàng bằng cách phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, tự động hoá các giao dịch trong nước, chuẩn hoá nghiệp vụ.

    Hơn nữa, ngân hàng cần cải tiến đầu tư kỹ thuật và trang thiết bị công nghệ phục vụ thanh toán. Trong  những năm tới, Ngân hàng cần tiếp tục đầu tư trang  thiết bị máy tính có công suất lớn, đọc và xử lý chứng từ một cách tự động, đồng

    thời cần đầu tư thực hiện các chương trình phần mềm cho đồng bộ với việc đầu tư phần cứng nhằm nâng cao tính an toàn trong thanh toán.Mặt khác, phải tiếp tục chương trình cải tiến và hoàn thiện hạch toán kế toán ngân hàng.

    3.1.3. Đẩy mạnh tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu.

    Hiệu quả của hoạt động thanh toán hàng hoá XNK bằng phương thức tín  dụng chứng từ phụ thuộcvào tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá XNK. Nếu các doanh nghiệp này được tài trợ nguồn vốn sẽ kinh doanh có hiệu quả, có uy tín từ đó giúp đẩy mạnh họt động thanh toán hàng hoá XNK.

    Thực trạng của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN là yếu kém về mảng thanh toán L/C xuất khẩu và sự chênh lệnh nhau quá lớn giữa thanh toán nhập khẩu và thanh toán xuất khẩu gây mất cân đối ngoại tệ. Điều này cho thấy giải  pháp hữu hiệu  nhất hiện nay là Ngân hàng cần cân đối hoạt động tài trợ cho các doanh nghiệp  kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu .

    3.1.4. Xây dựng chính sách khách hàng phù hợp, phân tích đối thủ cạnh

    tranh và áp dụng Marketing vào hoạt động TTQT.

    -Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt bởi sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần,nhất là sự có mặt của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài,SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN cần có chính sách khách hàng hấp dẫn, linh hoạt và hiệu quả.

    -Trước hết ngân hàng cần chủ động tìm kiếm khách hàng.Đây là hoạt đông không thể thiếu nhằm giúp ngân hàng mở rộng và nâng cao số lượng khách hàng đến với mình.

    -Thưa hai,ngân hàng cần nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, tăng cường công tác tư vấn và đẩy mạnh công tác tiếp thị quảng cáo để củng cố khách hàng truyền thống và mở rộng khách hàng tiềm năng.

    – Bên cạnh những biện pháp trên, Ngân hàng  cần phân tích và nắm rõ các đối

    thủ cạnh  tranh  của  mình.  Từ  đó đưa ra  các biện pháp  hơn hẳn  để thu hút khách

    hàng. Đồng thời Ngân hàng cũng cần phải tự xét thấy các mặt ưu nhược điểm của

    mình để phát huy đồng thời khắc phục những yếu kém còn tồn tại.

    3.1.5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát.

    Để đảm bảo hoạt động Thanh toán quốc tế đặc biệt là hoạt động thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ đi đúng định hướng phát triển và theo đúng hành lang pháp lý của Nhà  nước,của ngân hàng ĐT&PTVN,SGDI  cần tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát.

    Trước hết, Ngân hàng cần lựa chọn cán bộ tham gia kiểm tra kiểm soát là những người công tư phân minh, thiết tha với sự nghiệp phát triển của Ngân hàng. Các cán bộ kiểm tra, kiểm soát phải phát hiện, uốn nắn kịp thời nâng cao nhận thức toàn diện cho nhân viên. Hơn nữa trong thời gian tới, Ngân hàng cần đẩy mạnh công tác kiểm toán nội bộ cho các lĩnh vực như: kiểm toán báo cáo tài chính…

    3.1.6. Đa dạng hoá các ngoại tệ trong kinh doanh và dịch vụ.

    Cùng với sự khôi phục lại của nền kinh tế các nước Châu á sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, thị trường Châu á đang dần chiếm lại niềm tin đối với các đối tượng Phương Tây và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng sẽ có cơ hội tăng trưởng, nhu cầu về ngoại tệ sẽ tăng lên. Do đó, Ngân hàng cần khai thác các nguồn vốn ngoại tệ mạnh để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu  thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng.

    3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    3.3.1.Đối với cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự  quản lý  ĩ mô của nhà nước,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò điều khiể vĩ mô Nhà nước ngày càng được khẳng định. Hơn nữa, xu thế quốc tế hoá nền kinh tế của thế  giới đã  đem lại cho mỗi quốc gia những cơ hội đồng thời cũng là những  thách  thức lớn.Lức này, cần phải có bàn tay định hướng của Nhà nước để đưa đất nước đi  đúng mục tiêu của mình.

    Đối với hoạt động Thanh toán quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán

    hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng trong mỗi thời kỳ rất

    cần đến sự lãnh đạo và định hướng của chính phủ để ngày càng mở rộng và phát triển, đồng thời tránh các rủi ro có thể xảy ra cho các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp kinh doanh XNK.

    Như vậy, với thực trạng hệ thống pháp luật chưa đồng bộ như nước ta hiện nay, Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp luật cho giao dịch thanh toán XNK, như các văn bản luật, dưới luật quy định và hướng dẫn giao dịch thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, trong đó quy định rõ quyền lợi và  nghĩa vụ của người mua và người bán trong hợp đồng ngoại thương cũng như quyền và lợi ích của các ngân hàng tham gia trong giao dịch thanh toán tín dụng chứng từ.

    Hiệu quả của hoạt động thanh toán hàng hoá XNK bằng phương thức tín  dụng chứng từ chịu sự ảnh hưởng của chất lượng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XNK.Do đó, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong chính sách tiền tệ để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động XNK.

    Mặt khác, để đẩy mạnh hoạt động XNK, Nhà nướccần có chính sách đẩy mạnh công tác đối ngoại, đặc biệt là công tác thương mại với các thị trường mới như Nhật Bản,Mỹ, các nước trong khối ASEAN…, tham gia tổ chức thương mại  thế giới WTO.

    Ngoài ra,Nhà nước cần củng cố và phát triển Hiệp hội ngân hàng VN, tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại VN hợp tác tìm hiểu khách hàng và đối tác,giúp đở và tương trương trợ lẫn nhau trong quá trình hoà nhập vào cộng đồng thế giới, cùng nghiên cứu trao đổi, hạn chế bớt rủi ro.

    Hơn nữa, cần cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chín trong quản lý XNK, tinh giảm thủ tục hải quan.Tăng cường hơn nữa công tác chống buôn lậu  và  quản lý thị  trường nội địa nhằm tăng thu ngân sách, bảo hộ nền sản xuất trong nước,  tăng cường ngoại tệ thanh toán qua ngân hàng.

    Hiện nay, tỷ giá giữa đồng VND $ USD, EURO liên tục biến động đã tác động tới tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp XNK. Vì vây, ngân  hàng cân có chính sách điều tiết tỷ giá thích hợp theo hướng tự do hoá với những bước đi thích hợp nhằm kích thích xuất khẩu và bảo hộ nhập khẩu trong nước.

    3.3.2. Đối với ngân hàng Nhà nước.

    a.    NHNN cần có những biện pháp hoàn thiện và phát triển thị trường

    mua bán ngoại tệ liên ngân hàng.

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường nhằm giải quyết các quan hệ trao đổi, cung cấp ngoại tệ giữa NHNN với các ngân hàng thương mại và giữa các ngân hàng thương mại với nhau.

    Vì vậy, để SGDI_NHĐT&PTVN mở rộng quan hệ thanh toán quốc tế, phục vụ  tốt cho hoạt động XNK hàng hoá thì việc phát triển thị trường ngoại tệ liên  ngân hàng là rất cần thiết.

    Trong thời gian tới, để hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, ngân hàng Ngân hàngà nước và các đối tượng có liên quan cần thực hiện các công việc sau:

    Thứ nhất, cần giám sát và buộc các NHTM phải xử lý trạng thái ngoại hói  của mình trong ngay bằng việc mua bán ngoại tệ trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng.

    Thứ hai, mở rộng đối tượng tham gia vào thị truờng.

    Thứ ba, phát triển các nghiệp vụ vay mượn ngoại tệ, nghiệp vụ đầu cơ và các

    hình thức mua bán ngoại tệ như mua bán kỳ hạn, hợp đồng tương lai…

    b.   Ngân hàng Nhà nước nên thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thích

    hợp sao cho tỷ giá luôn dảm bảo có lợi cho các nhà XNK.

    NHNN với vai trò tham mưu cho Chính Phủ đưa ra những chính sách quản   lý ngoại tệ có hiệu quả nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động XNK.

    3.3.3. Đối với SGDI-NHĐT&PTVN.

    SGD cần chú trọng tới công tác đào tạo và tái đào tạo các thanh toán  viên,  tạo cơ hội cho họ cập nhật những kiến thức mới trong lĩnh vực Thanh toán quốc tế. Hơn nưa, ngân hàng nên thành lập quỹ đào tạo, liên hệ với các ngân hàng đại lý cử cán bộ đi học hỏi kinh nghiệm và thực tế ở nước ngoài.

    Mặt khác, đội ngũ cán bộ thanh toán viên của ngân hàng còn thiếu, đặc biệt  là ở các chi nhánh. Một cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, giải quyết công việc đôi khi bị chồng chéo. Do đó, NHĐT&PTVN cần bổ xung nhân  lực cho các chi nhánh, nhất là cán bộ có kiến thức chuyên môn, giỏi ngoại ngữ và am hiểu tin học.

    Bên cạnh đó NH nên đa dạng hoá các hình thức cho vay tai trợ, nâng cao  mức chiết khấu bộ chứng từ và có chính sách cho vay ưu đãi đối với các khách  hàng có uy tín, có nguồn trả nợ bảo đảm.

    Hơn thế nữa, NH nên tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại, phù hợp đảm bảo cạnh tranh, hội nhập, mở rộng thị phần, nhất là ở những địa bàn trọng điểm.

    Cuối cùng, NH cần quan tâm mở rộng mạng lưới quan hệ đại lý với các NH đại lý trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Thanh toán quốc tế. Từ  đó nâng cao chất lượng và phạm vi hoạt  động Thanh toán quốc tế theo phương  thức tín dụng chứng từ.

    KẾT LUẬN

     

    Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường và hội nhập vào nền kinh tế mậu dịch thế giới từ cuối thập niên 80. Hoạt động thương mại và Ngân hàng đang ngày một sôi động và phát triển, nhất là khi có sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu không những tăng lên về kim ngạch mà tăng lên cả về quy mô và chất lượng.

    Cùng với sự phát triển đó, hoạt động của các Ngân hàng thương mại trong nước ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng vấp phải rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt với các Ngân hàng liên doanh, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. SGDI_NHĐT&PTVN cũng là một trong số các Ngân hàng thương mại nước ta đang đứng trước thực trạng đó. Để đứng vững duy trì và phát triển uy tín của mình trên thị trường quốc tế thì  việc nâng cao chất lượng thanh  toán hàng hoá theo phương thức tín dụng chứng từ là yêu cầu bức thiết với Ngân hàng.

    Em hy vọng với chừng mực nào đó, những nghiên cứu và giải pháp nêu trên sẽ giúp ích đối với công việc của cán bộ thanh toán quốc tế, góp  phần mở  rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN .

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo TS. Mai Thanh Quế và các anh chị phòng Thanh toán quốc tế – SGDI- NHĐT&PTVN để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

    Em xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

    GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

    GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/GI%E1%BA%A2I-B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-M%C3%94N-TI%E1%BB%80N-T%E1%BB%86-THANH-TO%C3%81N-QU%E1%BB%90C-T%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

    Họ và tên: Huỳnh Bá Học   Lớp:  CĐ QTVP K32C

    GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ

      NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN:

    Câu 1.

    Giả sử tại một ngân hàng thương mại có bảng niêm yết giá như sau:

    USD/VND: 17.650 – 71 GBP/USD: 1,6568 – 00 AUD/USD: 0,7894 – 24
    USD/JPY: 114,81 – 00 EUR/USD: 1,2692 – 12  

    Chỉ ra tỷ giá mà ngân hàng sẽ áp dụng khi khách hàng muốn:

    a) Mua USD bằng VND b) Bán EUR lấy USD c) Bán USD lấy EUR
    d) Bán JPY lấy USD e) Bán GBP lấy USD f) Bán USD lấy AUD.

    BÀI GIẢI

    a) Khách hàng: Mua USD bằng VND → Ngân hàng: Bán USD mua VND;

    Vậy ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/VND = 17.671.

    b) Khách hàng: Bán EUR lấy USD → Ngân hàng: Mua EUR bán USD;

    Vậy ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua EUR/USD = 1,2692.

    c) Khách hàng: Bán USD lấy EUR → Ngân hàng: Mua USD bán EUR;

    Vậy ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán EUR/USD = 1,2712.

    d) Khách hàng: Bán JPY lấy USD → Ngân hàng: Mua JPY bán USD;

    Vậy ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/JPY = 115,00.

    e) Khách hàng: Bán GBP lấy USD → Ngân hàng: Mua GBP bán USD;

    Vậy ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá mua GBP/USD = 1,6568.

    f) Khách hàng: Bán USD lấy AUD → Ngân hàng: Mua USD bán AUD;

    Vậy ngân hàng sẽ áp dụng tỷ giá bán AUD/USD = 0,7924.

    Câu 2.

    Giả sử tại một ngân hàng thương mại có bảng yết giá như sau:

    USD/VND: 16.850 – 71 USD/JPY: 114,81– 00 GBP/USD: 1,6568 – 00
    EUR/USD: 1,2248 – 98 AUD/USD: 0,6894 – 24  

    Xác định tỷ giá và đối khoản tương ứng khi khách hàng muốn thực hiện các giao dịch sau:

    a) Khách hàng muốn mua 120.000 USD bằng VND?

    b) Khách hàng muốn bán 960.000 EUR lấy USD?

    c) Khách hàng muốn bán 92.500 USD lấy EUR?

    d) Khách hàng bán 12.358.000 JPY lấy USD?

    e) Khách hàng muốn mua 28.320 GBP bằng USD?

    f) Khách hàng muốn bán 56.900 USD lấy AUD?

    BÀI GIẢI

     

    a) Khách hàng muốn mua 120.000 USD bằng VND

    Phân tích:         Khách hàng bán VND mua 120.000 USD

    Ngân hàng mua VND bán 120.000 USD

    Ngân hàng bán 120.000 USD nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/VND = 16.871.

    Vậy khi khách hàng muốn mua 120.000 USD, số VND phải trả:

    16.871 x 120.000 USD = 2.024.520.000 VND

    b) Khách hàng muốn bán 960.000 EUR lấy USD

    Phân tích:         Khách hàng bán 960.000 EUR mua USD

    Ngân hàng mua 960.000 EUR bán USD

    Ngân hàng mua 960.000 EUR nên sẽ áp dụng tỷ giá mua EUR/USD = 1,2248

    Vậy khi khách hàng muốn bán 960.000 EUR lấy USD, số USD khách hàng có được:

    1,2248 x 960.000 EUR = 1.175.808 USD

    c) Khách hàng muốn bán 92.500 USD lấy EUR

    Phân tích:         Khách hàng bán 92.500 USD mua EUR

    Ngân hàng mua 92.500 USD bán EUR

    Ngân hàng bán EUR nên sẽ áp dụng tỷ giá bán EUR/USD = 1,2298

    Vậy khi khách hàng muốn bán 92.500 USD lấy EUR, số EUR khách hàng có được:

    92.500 USD / 1,2298 = 75.215 EUR

    d) Khách hàng bán 12.358.000 JPY lấy USD

    Phân tích:         Khách hàng bán 12.358.000 JPY mua USD

    Ngân hàng mua 12.358.000 JPY bán USD

    Ngân hàng bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/JPY = 115,00

    Vậy khi khách hàng muốn bán 12.358.000 JPY lấy USD, số USD khách hàng có được:

    12.358.000 JPY / 115,00 = 107.461 USD

    e) Khách hàng muốn mua 28.320 GBP bằng USD

    Phân tích:         Khách hàng bán USD mua 28.320 GBP

    Ngân hàng mua USD bán 28.320 GBP

    Ngân hàng bán GBP nên sẽ áp dụng tỷ giá bán GBP/USD = 1,6600

    Vậy khi khách hàng muốn mua 28.320 GBP bằng USD, số USD khách hàng phải trả:

    28.320 GBP x 1,6600 = 47.011,2 USD

    f) Khách hàng muốn bán 56.900 USD lấy AUD

    Phân tích:         Khách hàng bán 56.900 USD mua AUD

    Ngân hàng mua 56.900 USD bán AUD

    Ngân hàng bán AUD nên sẽ áp dụng tỷ giá bán AUD/USD: 0,6924

    Vậy khi khách hàng muốn muốn bán 56.900 USD lấy AUD, số AUD khách hàng có:

    56.900 USD/0,6924 = 82.178 USD

    Câu 3.

    Giả sử vào ngày 4/8/200x, trên thị trường ngoại hối quốc tế có bảng yết giá như sau:

    USD/VND: 16.888 – 90 USD/CHF: 1,2541– 11 GBP/USD: 1,7651 – 91
    EUR/USD: 1,2248 – 98 USD/JPY: 114,81 – 00 AUD/USD: 0,7681 – 27

    Xác định tỷ giá và đối khoản tương ứng khi khách hàng muốn thực hiện các giao dịch sau:

    a) Khách hàng A: mua 20.000 GBP bằng CHF?

    b) Khách hàng B: bán 20.000 GBP lấy CHF?

    c) Khách hàng C: mua 28.000 EUR bằng VND?

    d) Khách hàng D: bán 28.000 EUR bằng VND?

    e) Khách hàng E: mua 40.000 AUD bằng VND?

    f) Khách hàng F: Bán 40.000 AUD lấy VND?

    g) Khách hàng G: Bán 12 triệu JPY lấy VND?

    h) Khách hàng H: Mua 12 triệu JPY bằng VND?

    i) Khách hàng I: bán 30.000 GBP lấy AUD?

    j) Khách hàng J: mua 30.000 GBP bằng AUD?

    BÀI GIẢI

     

    a) Khách hàng A: mua 20.000 GBP bằng CHF

    Phân tích:

    Khách hàng bán CHF mua USD; khách hàng bán USD, mua 20.000 GBP

    Ngân hàng mua CHF bán USD; ngân hàng mua USD, bán 20.000 GBP

    Ngân hàng bán USD mua CHF nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CHF: 1,2611

    Ngân hàng mua USD, bán 20.000 GBP nên sẽ áp dụng tỷ giá bán GBP/USD: 1,7691

    Tính tỷ giá bán GBP/CHF (b):

    Vậy khi khách hàng A mua 20.000 GBP bằng CHF, số CHF khách hàng phải trả:

    20.000 GBP x GBP/CHF(b) = 20.000 x 2,2310 = 44.620 CHF

    b) Khách hàng B: bán 20.000 GBP lấy CHF

    Phân tích:

    Khách hàng bán 20.000 GBP mua USD; khách hàng bán USD, mua CHF

    Ngân hàng mua 20.000 GBP bán USD; ngân hàng mua USD, bán CHF

    Ngân hàng mua 20.000 GBP bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua GBP/USD: 1,7651

    Ngân hàng mua USD, bán CHF nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/CHF: 1,2541

    Tính tỷ giá mua GBP/CHF (m):

    Vậy khi khách hàng B bán 20.000 GBP lấy CHF, số CHF khách hàng có:

    20.000 GBP x GBP/CHF(m) = 20.000 x 2,2136 = 44.272 CHF

     

    c) Khách hàng C: mua 28.000 EUR bằng VND

    Phân tích:

    Khách hàng bán VND mua USD; khách hàng bán USD, mua 28.000 EUR

    Ngân hàng mua VND bán USD; ngân hàng mua USD, bán 28.000 EUR

    Ngân hàng bán USD mua VND nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/VND: 16.890

    Ngân hàng bán 28.000 EUR, mua USD nên sẽ áp dụng tỷ giá bán EUR/USD: 1,2298

    Tính tỷ giá bán EUR/VND (b):

    Vậy khi khách hàng C mua 28.000 EUR bằng VND, số VND khách hàng phải trả:

    28.000 EUR x EUR/VND (b) = 28.000 x 20.771 = 581.588.000 VND

    d) Khách hàng D: bán 28.000 EUR bằng VND

    Phân tích:

    Khách hàng bán 28.000 EUR mua USD; khách hàng bán USD, mua VND

    Ngân hàng mua 28.000 EUR bán USD; ngân hàng mua USD, bán VND

    Ngân hàng mua USD bán VND nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/VND: 16.888

    Ngân hàng mua 28.000 EUR, bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua EUR/USD: 1,2248

    Tính tỷ giá mua EUR/VND (m):

    Vậy khi khách hàng D bán 28.000 EUR bằng VND, số VND khách hàng có:

    28.000 EUR x EUR/VND (m) = 28.000 x 20684,4224 = 579.163.827,2 VND

     

    e) Khách hàng E: mua 40.000 AUD bằng VND

    Phân tích:

    Khách hàng bán VND mua USD; khách hàng bán USD, mua 40.000 AUD

    Ngân hàng mua VND bán USD; ngân hàng mua USD, bán 40.000 AUD

    Ngân hàng bán USD mua VND nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/VND: 16.890

    Ngân hàng bán 40.000 AUD, mua USD nên sẽ áp dụng tỷ giá bán AUD/USD: 0,7727

    Tính tỷ giá bán AUD/VND (b):

    Vậy khi khách hàng E mua 40.000 AUD bằng VND, số VND khách hàng phải trả:

    40.000 AUD x AUD/VND (b) = 40.000 x 13.050,903 = 522.036.120 VND

    f) Khách hàng F: Bán 40.000 AUD lấy VND

    Phân tích:

    Khách hàng bán 40.000 AUD mua USD; khách hàng bán USD, mua VND

    Ngân hàng mua 40.000 AUD bán USD; ngân hàng mua USD, bán VND

    Ngân hàng mua USD bán VND nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/VND: 16.888

    Ngân hàng mua 40.000 AUD, bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua AUD/USD: 0,7681

    Tính tỷ giá mua AUD/VND (m):

    Vậy khi khách hàng F bán 40.000 AUD lấy VND, số VND khách hàng có:

    40.000 AUD x AUD/VND (m) = 40.000 x 12.971,6728 = 518.866.912 VND

     

    g) Khách hàng G: Bán 12 triệu JPY lấy VND

    Phân tích:

    Khách hàng bán 12 triệu JPY mua USD; khách hàng bán USD, mua VND

    Ngân hàng mua 12 triệu JPY bán USD; ngân hàng mua USD, bán VND

    Ngân hàng bán USD mua 12 triệu JPY nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/JPY: 115,00

    Ngân hàng mua USD, bán VND nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/VND: 16.888

    Tính tỷ giá mua JPY/VND (m):

    Vậy khi khách hàng G bán 12 triệu JPY lấy VND, số VND khách hàng có:

    12.000.000 JPY x JPY/VND (m) = 12.000.000 x 146,852 = 1.762.224.000VND

     

    h) Khách hàng H: Mua 12 triệu JPY bằng VND

    Phân tích:

    Khách hàng bán VND mua USD; khách hàng bán USD, mua 12 triệu JPY

    Ngân hàng mua VND bán USD; ngân hàng mua USD, bán 12 triệu JPY

    Ngân hàng bán USD mua VND nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/VND: 16.890

    Ngân hàng mua USD, bán 12 triệu JPY nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/JPY: 114,81

    Tính tỷ giá bán JPY/VND (b):

    Vậy khi khách hàng H mua 12 triệu JPY bằng VND, số VND khách hàng phải trả:

    12.000.000 JPY x JPY/VND (b) = 12.000.000 x 147,1126 = 1.765.351.200 VND

     

    i) Khách hàng I: bán 30.000 GBP lấy AUD

    Phân tích:         Khách hàng bán 30.000 GBP mua USD; khách hàng bán USD, mua AUD

    Ngân hàng mua 30.000 GBP bán USD; ngân hàng mua USD, bán AUD

    Ngân hàng mua 30.000 GBP bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua GBP/USD: 1,7651

    Ngân hàng bán AUD, mua USD nên sẽ áp dụng tỷ giá bán AUD/USD: 0,7727

    Tính tỷ giá mua GBP/AUD (m):

    Vậy khi khách hàng I bán 30.000 GBP lấy AUD, số AUD khách hàng có:

    30.000 GBP x GBP/AUD(m) = 30.000 x 2,2843 = 68.529 AUD

     

    j) Khách hàng J: mua 30.000 GBP bằng AUD?

    Phân tích:         Khách hàng bán AUD mua USD; khách hàng bán USD, mua 30.000 GBP

    Ngân hàng mua AUD bán USD; ngân hàng mua USD, bán 30.000 GBP

    Ngân hàng bán 30.000 GBP mua USD nên sẽ áp dụng tỷ giá bán GBP/USD: 1,7691

    Ngân hàng mua AUD, bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua AUD/USD: 0,7681

    Tính tỷ giá bán GBP/AUD (b):

    Vậy khi khách hàng J mua 30.000 GBP bằng AUD, số AUD khách hàng phải trả:

    30.000 GBP x GBP/AUD(b) = 30.000 x 2,3032 = 69.096 AUD

    Câu 4.

    Một công ty lữ hành A từ hoạt động kinh doanh nhận khách thu được 450.000 CNY. Với số tiền này công ty A muốn dùng để thanh toán 500.000 JPY cho hoạt động gởi khách. Số tiền còn lại công ty chuyển thành EUR. Hãy xác định số EUR mà công ty A sẽ có. Biết rằng các tỷ giá được công bố như sau:

    USD/CNY = 8,2745/80

    USD/JPY = 118,20/119,60

    EUR/USD = 1,3125/45

    BÀI GIẢI

    Phân tích:

    A bán 450.000 CNY mua USD; A bán USD, mua 500.000 JPY

    Ngân hàng mua 450.000 CNY bán USD; ngân hàng mua USD, bán 500.000 JPY

    Tổng số CNY để mua 500.000 JPY?

    Ngân hàng bán USD mua 450.000 CNY nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CNY = 8,2780

    Ngân hàng mua USD bán 500.000 JPY, nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/JPY = 118,20

    Tính tỷ giá mua CNY/JPY (m):

    Gọi X là số CNY mà công ty A dùng để mua 500.000 JPY:

    X = 500.000/14,2788 = 35.017 CNY

    Gọi Y là số CNY còn lại của công ty A:

    Y = 450.000 CNY – X = 450.000 – 35.017 = 414.983 CNY

    Phân tích:

    Số tiền còn lại (Y) công ty chuyển thành EUR.

    A bán 414.983 CNY mua USD; A bán USD, mua EUR

    Ngân hàng mua 414.983 CNY bán USD; ngân hàng mua USD, bán EUR

    Tổng số EUR?

    Ngân hàng bán USD mua 414.983 CNY nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CNY = 8,2780

    Ngân hàng bán EUR mua USD, nên sẽ áp dụng tỷ giá bán EUR/USD = 1,3145

    Tính tỷ giá bán EUR/CNY (b):

    Vậy sau khi chuyển số tiền còn lại (Y) thành EUR, số EUR công ty có:

    414.983/10,88 = 38.141,8 EUR

    Câu 5.

    Doanh nghiệp lữ hành Y nhận khách thu được 5.000 CHF. Với số tiền này, doanh nghiệp Y thanh toán 600.000 JPY cho hoạt động gởi khách. Số tiền còn lại doanh nghiệp Y đổi thành USD. Xác định số USD tương ứng?

    Biết tỷ giá:

    USD/JPY = 95,5284/96,853; USD/CHF = 1,1164/1,2352.
    BÀI GIẢI

    CÁCH 1:

    Y bán CHF mua USD; Y bán USD, mua 600.000 JPY

    Ngân hàng mua CHF bán USD; ngân hàng mua USD, bán 600.000 JPY

    Theo đề bài:

    Ngân hàng bán USD mua CHF nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CHF = 1,2352

    Ngân hàng mua USD bán 600.000 JPY, nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/JPY = 95,5284

    Tính tỷ giá mua CHF/JPY (m):

    Gọi X là số CHF mà công ty Y dùng để mua 600.000 JPY:

    X = 600.000/77,338 = 7.758 CHF

    Gọi A là số CHF còn lại của công ty Y:

    A = 5.000 CHF – X = 5.000 – 7.758 = -2.758 CHF

    (Công ty Y nợ 2.758 CHF)

    Số tiền còn lại (A) công ty chuyển thành USD.

    Y bán 2.758 CHF mua USD

    Ngân hàng mua 2.758 CHF bán USD

    Tổng số USD?

    Ngân hàng bán USD mua 2.758 CHF nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CHF = 1,2352

    Vậy sau khi chuyển số tiền còn lại (A) (số tiền công ty nợ) thành USD, số USD công ty nợ:

    2.758/1,2352 = 2.232,8 USD

    CÁCH 2:

    Y bán 5.000 CHF mua USD; Y bán USD, mua JPY

    Ngân hàng mua 5.000 CHF bán USD; ngân hàng mua USD, bán JPY

    Theo đề bài:

    Ngân hàng bán USD mua 5.000 CHF nên sẽ áp dụng tỷ giá bán USD/CHF = 1,2352

    Ngân hàng mua USD bán JPY, nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/JPY = 95,5284

    Tính tỷ giá mua CHF/JPY (m):

    Vậy khi công ty Y bán 5.000 CHF thì tổng số JPY mà công ty nhận được:

    5.000 x 77,338 = 386.690 JPY

    Tổng số tiền công ty Y cần phải thanh toán nốt: 600.000 – 386.690 = 213.310 JPY

    Y bán 213.310 JPY mua USD

    Ngân hàng mua 213.310 JPY bán USD

    Tổng số USD?

    Ngân hàng mua USD bán 213.310 JPY nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/JPY = 95,5284

    Vậy sau khi đổi 213.310 JPY lấy USD, số USD công ty nợ:

    213.310/95,5284 = 2.232,9 USD

    Câu 6.

    Một khách du lịch A cần phải thanh toán 370 USD. Người này muốn thanh toán bằng 80 EUR và số còn lại sẽ thanh toán nốt bằng GBP. Hãy xác định số GBP mà người khách du lịch A cần phải thanh toán nốt. Biết rằng các tỷ giá được công bố như sau:

    EUR/USD = 1,3125/45 GBP/USD = 1,8135/65
    BÀI GIẢI

    Phân tích:

    Tổng số USD mà khách du lịch A phải trả: 370 USD

    A bán 80 EUR mua USD → Ngân hàng mua 80 EUR bán USD

    Theo đề bài: Ngân hàng mua EUR bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua EUR/USD = 1,3125

    Với 80 EUR, số USD tương ứng khách du lịch A thanh toán được: 1,3125 x 80 = 105 USD

    Tổng số USD còn lại mà khách du lịch A phải trả nốt: 370 USD – 105 USD = 265 USD

    A bán GBP mua 265 USD để thanh toán nốt số tiền còn lại

    A bán GBP mua 265 USD → Ngân hàng mua GBP bán 265 USD

    Tổng số GBP?

    Ngân hàng mua GBP bán 265 USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua GBP/USD = 1,8135

    Vậy số GBP khách hàng cần phải thanh toán nốt: 265/1,8135 = 146,1 GBP

    Câu 7.

    Một khách du lịch A cần phải thanh toán 5.400.000 VND. Người này muốn thanh toán bằng 50 GBP số còn lại sẽ thanh toán nốt bằng EUR. Hãy xác định số EUR mà người khách du lịch A cần phải thanh toán nốt. Biết rằng tỷ giá được công bố như sau:

    EUR/USD = 1,3125/45 GBP/USD = 1,8135/65 USD/VND = 16.810/16.830
    BÀI GIẢI

    Tổng số VND mà khách du lịch A phải trả: 5.400.000 VND

    A bán 50 GBP mua USD, bán USD mua VND

    Ngân hàng mua 50 GBP bán USD, mua USD bán VND

    Ngân hàng mua GBP bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua GBP/USD = 1,8135

    Ngân hàng mua USD bán VND nên sẽ áp dụng tỷ giá mua  USD/VND = 16.810

    Xác định tỷ giá mua GBP/VND (m)

    Với 50 GBP, số VND tương ứng khách du lịch A thanh toán được:

    30.484,935 x 50 = 1.524.246,75 VND

    Tổng số VND còn lại mà khách du lịch A phải trả nốt:

    5.400.000 VND – 1.524.246,75 VND = 3.875.753,25 VND

    A phải bán EUR mua 3.875.753,25 VND để thanh toán nốt số tiền còn lại.

    A bán EUR mua USD, A bán USD mua 3.875.753,25 VND

    Ngân hàng mua EUR bán USD, ngân hàng mua USD bán 3.875.753,25 VND

    Tổng số EUR?

    Ngân hàng mua EUR bán USD nên sẽ áp dụng tỷ giá mua EUR/USD = 1,3125

    Ngân hàng mua USD bán VND nên sẽ áp dụng tỷ giá mua USD/VND = 16.810

    Xác định tỷ giá mua EUR/VND (m)

    Vậy số EUR khách hàng cần phải thanh toán nốt:

    3.875.753,25/22.063,125 = 175,67 EUR


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây 


  • Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%C3%ACnh-h%C3%ACnh-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    &

    Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay,khi hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra ngày càng nhiều và các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng trở nên phổ biến, việc thanh toán giữa người bán và người mua ở những vị trí địa lí cách xa nhau, với những rào cản về ngôn ngữ, thói quen mua bán, luật lệ…không hề đơn giản.Dẫn tới nhu cầu cần thiết phải có các phương tiện để thanh toán tiện lợi, ít rủi ro. Do đó các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phổ biến.

    Với mỗi phương thức thanh toán khác nhau, người mua phải trả tiền bằng cách nào, người bán sẽ nhận tiền ra sao, họ giao nhận trực tiếp hay thông qua trung gian…Giữa các hình thức thanh toán đa dạng, tại sao công ty A lại áp dụng loại này, công ty B áp dụng kiểu kia…

    Tất cả những thắc mắc trên sẽ được giải đáp phần nào trong bài tiểu luận này.

    A.Các Loại Phương Thức Thanh Toán Quốc Tế ở

     Việt Nam.

    I. Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection):

    Nghiệp vụ thanh toán nhờ thu được hướng dẫn theo “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” do Phòng Thương mại quốc tế sửa đổi và ban hành theo xuất bản số 522 năm 1995, có hiệu lực thực hiện từ 01/01/1996 (The Uniform Pules for Collection-ICC Pub. No 522-1995 Revision).

    1. Khái niệm:

    Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ giao hàng thì lập hối phiếu gửi đến ngân hàng nhờ thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Trong trường hợp này ngân hàng đóng vai trò trung gian giúp thu hộ tiền và được hưởng tỷ lệ phần trăm trên số tiền thu được.

    2. Chúng từ trong phương thức nhờ thu:

    • Chứng từ tài chính (financial documents): hối phiếu đòi nợ (bill of exchange), hối phiếu nhận nợ (promissory note), séc (cheque),…
    • Chứng từ thương mại (commercial documents): hoá đơn thương mại (invoice), chứng từ vận tải (transport documents), chứng từ sở hữu hoặc các chứng từ khác có giá trị tương đương, hoặc chứng từ khác không phải là chứng từ tài chính.

    3. Các hình thức thanh toán nhờ thu:

    • Nhờ thu trơn (clean collection): là phương thức nhờ thu mà sau khi người bán (nhà xuất khẩu) giao hàng hoá hoặc thực hiện dịch vụ sẽ gửi chứng từ tài chính nhờ ngân hàng đòi tiền người mua (nhà nhập khẩu) mà không kèm theo chứng từ thương mại.

    Sơ đố nhờ thu phiếu trơn

    Giải thích sơ đồ:

    • Người bán giao hàng lập bộ chứng từ gửi thẳng người mua.
    • Người bán ký hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu đó.
    • Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.
    • Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua và yêu cầu trả tiền.
    • Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của họ. Nói chung sau khi nhận hàng người mua mới trả tiền.
    • Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.
    • Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

     

    *Trường hợp áp dụng:

    • Hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng trong nội bộ công ty với nhau.
    • Dùng đề thanh toán cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức,…
    • Phương thức này chỉ áp dụng cho hình thức trả ngay và trả sau.
    • Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection): là phương thức nhờ thu mà sau khi người bán giao hàng hoặc thực hiện dịch vụ sẽ nhờ ngân hàng đòi tiền người mua dựa trên:
      • Chứng từ thường mại + chứng từ tài chính, hoặc
      • Chứng từ thương mại.

    Tuỳ theo thời hạn trả tiền ta chia phương thức này làm 2 loại:

    • Nhờ thu trả tiền đổi chúng từ (deliver documents against payment-D/P): người mua phải thanh toán ngay khi nhận bộ chứng từ.

    Ví dụ thực tế: ta có bảng hợp đồng nhờ thu sau

    Hợp đồng ngoại thương này được ký kết bởi:

                      Nhà xuất khẩu: Bình đông Fisheries Joint stock Company, địa chỉ: đường 49 bến Bình Đông, phường 11, quận 8, Tp,HCM

                      Và nhà nhập khẩu:

    Effegi Service S.P.A, địa chỉ: Via Spallanzani, 2  46100 Mantova, Italy.

    Theo hợp đồng, sẽ tiến hành thanh toán bằng phương thức  D/P trả ngay ,theo đó Công ty Bình đông Fisheries Joint stock sẽ sản xuất và giao hàng lên tàu, sau đó làm BCT  đưa lên ngân hàng Đông Á, ngân hàng Đông Á sẽ gửi BCT tới ngân hàng người mua và ngân hàng này sẽ giao BCT cho Effegi Service S.P.A với điều kiện Công ty này phải trả tiền thanh toán ngay.

    • Nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ (deliver documents against acceptance-D/A): người mua khộng phải thanh toán ngay khi nhận bộ chứng từ mà phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu và sẽ thanh toán vào ngày đáo hạn.

    =>So với phương thức nhờ thu phiếu trơn thì phương thức nhờ thu kèm chứng từ có tính an toàn trong thanh toán cao hơn vì ngân hàng thay mặt người bán dùng bộ chứng từ khống chế người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Tuy nhiên , nhờ thu kèm chứng từ cũng không phải là phương thức thanh toán an toàn tuyệt đối với người xuất khẩu vì việc nhờ ngân hàng thu hộ tiền chỉ diễn ra sau khi người xuất khẩu đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng.

    4.Nhận Xét:

    Ưu điểm:

    An toàn cho cả người mua và người bán (đối với hình thức D/P)

    • Người mua:
    • Chủ động trong việc thanh toán
    • Nguời bán:
    • Đảm bảo việc thanh toán từ người mua (đối với hình thức D/P).

    Nhược điểm:

    • Người mua:
    • Nhận BCT giả.
    • Không đảm bảo về số lượng và chất lượng của lô hàng.
    • Người bán:
    • Tốc độ thanh toán chậm.
    • Không bảo đảm quyền lợi cho người mua vì việc thanh toán tuỳ thuộc vào ý thiện chí của người mua.
    • Người mua không nhận hàng.

    => Trong phương thức thanh toán này người bán chịu rủi ro co nhất.

    Giải pháp: nhằm giảm rủi ro cho người bán:

    • Người mua đặt cọc trước số tiền thanh toán.
    • Người mua mở L/C dự phòng nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bán.
    • Đối với trường hợp người mua không nhận hang: người bán coá thể đàm phán với người mua để giảm giá, hay kiếm đối tác khác để bán.

     

     

    5.Giới thiệu nguồn pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức nhờ thu-URC (Unifprm Rules for Collection):

    URC do ICC (Phòng thương mại quốc tế trực thuộc Liên Hiệp quốc) ban hành vào năm 1956.

    Mục đích ra đời:

    • Thống nhất cách hiểu về phương thức nhờ thu.
    • Làm cơ sở giải pháp tranh chấp (nếu có).

    Do sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế , URC đã sửa đổi 3 lần . Gần đây nhất là URC 522  theo xuất bản số 522 năm 1995, có hiệu lực thực hiện từ 01/01/1996. Gồm 7 phần và 26 điều khoản:

    • Những điều khoản và định nghĩa chung.
    • Hình thức và cấu trúc của nhờ thu.
    • Hình thức nhờ thu.
    • Trách nhiệm và nghĩa vụ.
    • Thanh toán.
    • Lãi, phí và các chi phí khác.
    • Các điều khoản khác.
    • Văn bản này mang tính tuỳ ý.

     

    II. Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance):

    1. Khái niệm:

    Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu, người mắc nợ…) uỷ nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển cho một người khác (người bán, người xuất khẩu, chủ nợ,…) ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.

    2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền:

    Quy trình thanh toán chuyển tiền ứng trước (toàn bộ):

     

     

     

    Giải thích qui trình:

    • Người mua đến ngân hàng viết lệnh chuyển tiền và nộp các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của ngân hàng (hợp đồng ngoại thương một bản chính, một bản sao, giấy phép nhập khẩu nếu có…).
    • Nhân viên ngân hàng sau khi kiểm tra hồ sơ của nhà nhập khẩu thì thực hiện chuyển tiền bằng điện (TT) hoặc bằng thư (MT) cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài, đồng thời thông báo cho nhà nhập khẩu biết lệnh chuyển tiền của họ đã được chấp thuận (2b).
    • Ngân hàng dịch vụ đại lý báo cho người bán.
    • Người bán giao hàng theo hợp đồng ngoại thương đã ký.

    Quy trình thanh toán chuyển tiền trả ngay hoặc trả chậm:

     
       

    Giải thích quy trình:

    • Sau khi thoả thuận đi đến ký hợp đồng mua bán ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người nhập khẩu, đồng thời chuyển giao toàn bộ chứng từ cho người nhập khẩu.
    • Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ, hoá đơn… viết lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình.
    • Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền, gửi giấy báo nợ và giấy báo đã thanh toán cho nhà nhập khẩu.
    • Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng thư hay điện báo) cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài để chuyển tiền trả cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu (trực tiếp hoặc gián tiếp qua ngân hàng khác) và gửi giấy báo cho đơn vị đó.

     

    3.Hình thức chuyển tiền:

    Hình thức điện báo (telegraphic transfer-T/T)

    Ngân hàng chuyển tiền thực hiện việc chuyển tiền theo cách ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi.

    Ví dụ thực tế: Ta có bảng hợp đồng ngoại thương sau

    Giải thích:

    Hợp đồng ngoại thương giữa:

                      Nhà xuất khẩu: Công ty Phong Cách Việt. địa chỉ: 16/38 đường 304, phường 25, quãn Bình Thạnh, Tp.HCM.

                      Và nhà nhập khẩu: Carmen Wallstein, địa chỉ: 8 Steen Lane, Somerset West 7129 Capetown, South Africa.

    Theo qui định hợp đồng áp dụng phương thức thanh toán T/T theo qui định hợp đồng, Carmen Wallstein sẽ trả trước 50% giá trị của hợp đồng tức là số tiền 549 USD, phần còn lại sẽ được trả sau khi Carmen Wallstein nhận được bản B/L qua fax từ Công ty Phong Cách Việt.

    Hình thức thư chuyển tiền (mail transfer-M/T):

    Ngân hàng chuyển tiền thực hiện việc chuyển tiền theo cách gửi thư ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi.

    =>Trong hai hình thức trên thì hình thức chuyển tiền bằng điện có lợi chi nhà xuất khẩu vì nhận tiền nhanh nhưng điện phí cao.

    4. Nhận xét:

    Ưu điểm:

    • Qui trình đơn giàn, dễ thực hiện.
    • Chi phí rẻ.
    • Thủ tục nhanh chóng.
    • Hạn chế sử dụng tiền mặt.

    Nhược điểm:

    Người mua:

    • Trả ngay khi nhận BCT: không yên tâm về chất lượng, số lượng hàng hoá.
    • Trả trước: Người bán không giao hang, giao hang thiếu.

    Người  bán:

    Không nhận được tiền thanh toán từ người mua.

    III. Phương thức đổi chứng từ trả tiền (Cash against documents-CAD)

    1. Khái niệm:

    Đây là phương thức thanh toán mà người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoả ký thác (Trust Account) để thanh toán tiền cho ngừơi xuất khẩu khi người xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu.

    Phương thức thanh toán này rất được ưa chuộng và khá phổ biến trên thế giới vì nhận tiền nhanh trong ngày và thủ tục ít phức tạp.

    Sơ đồ qui trình CAD:

    3.Nhận xét:

    Ưu điểm:

    Ngừơi bán: Nhà xuất khẩu thanh toán bằng phương thức này rất có lợi.

    • Giao hàng xong là lấy được tiền ngay và bộ chứng từ xuất trình đơn giản.
    • Đảm bảo vịêc thanh toán từ người mua.

    Người mua:

    • Không sợ BCT giả.
    • An tâm về việc giao hang của người bán vì đã sự giám sát của người đại diện.

    Nhược điểm:

    • Người mua: Không chắc đủ số lượng, chất lượng và người bán giao hang không đúng thời hạn.
    • Người bán: Người mua nhận được BCT nhưng chưa chắc họ trả tiền liền.

    3. Điều kiện áp dụng:

    • Người mua và người bán có quan hệ mua bán tốt, tin tưởng lẫn nhau.
    • Áp dụng trong mua bán những mặt hàng khan hiếm, bán chạy, thị trường ở bên người xuất khẩu.
    • Áp dụng cho phương thức trả tiền ngay, không áp dụng cho phương thức trả tiền chậm.

    IV. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (documentary credit):

    1. Khái niệm:

    Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngừơi thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp những quy định đã đề ra trong thư tín dụng.

     

     

    2.. Thư tín dụng (Letter of credit-L/C):

    a.Khái niệm:

    Thư tín dụng là một bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người nhập khẩu (người mở tín dụng thư) cam kết trả tiền cho người xuất khẩu ( người hưởng lợi) số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong lá thư đó.

                      Theo UCP 600:Thư tín dụng là bất cứ sự thoả thuận nào,dù được gọi hay mô tả như thế nào thì nó cũng không huỷ ngang và vì vậy tạo thành cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho bộ chứng từ hợp lệ.

    Thư tín dụng là một văn bản pháp lý quan trọng của phương thức tín dụng thư.

    Tín dụng thư hoạt động theo 2 nguyên tắc:

    • Độc lập:

    Theo điều 4 UCP 600:

    Một thư tín dụng về bản chất là những giao dịch độc lập với hợp đồng thương mại hay các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở cho thư tín dụng. Ngân hàng không có ràng buộc với hợp đồng như vậy,ngay cả khi trong thư tín dụng có dẫn chiếu đến những hợp đồng này.Vì thế,cam kết của ngân hàng về việc thanh toán,chiết khấu hay thực thi bất cứ nghĩa vụ nào của Thư tín dụng không phụ thuộc vào sự khiếu nại hay biện hộ của người mở phát sinh từ mối quan hệ của người mở với ngân hàng phát hành hoặc với người hưởng.

    Bất kì trường hợp nào,người hưởng không được lợi dụng quan hệ giữa các ngân hàng hay giữa người mở với ngân hàng phát hành.

    Một ngân hàng phát hành không khuyến khích bất kì cố gắng nào của người mở để đưa những bản hợp đồng tiềm ẩn,hoá đơn tạm va những cái tương tự như vậy vào thư tín dụng như một bộ phận không thể tách rời.

    Theo điều 5 UCP600:

      Chứng từ và hàng hoá,dịch vụ hay các giao dịch khác ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ chứ không phải hàng hoá,dịch vụ hay giao dịch khác mà chứng từ đó có thể liên quan.

    • Tuân thủ nghiêm ngặt

    Ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ giao hàng hoàn toàn phù hợp với L/C, đúng với các chỉ dẫn của người mua.

    b.Các loại thư tín dụng.

    Trong thanh toán quốc tế có những loại L/C thông dụng sau:

    b.1. Thư tín dụng có thể hủy bỏ( Revocable Letter of Credit):

    Nhận dạng loại L/C này:

    • Theo UCP -400, nếu L/C không ghi rõ chữ “Irrevocable” hoặc ghi rõ chữ “Revocable” thì đều là các loại L/C có thể hủy bỏ.
    • Nhưng theo UCP -500, trên L/C phải ghi rõ “Revocable L/C” thì mới coi là loại L/C có thể hủy bỏ.

    Đây là loại L/C mà ngân hàng mở L/C có thể sửa đổi, bổ sung hoặc có thể hủy bỏ L/C bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Loại L/C có thể hủy bỏ này trong thanh toán quốc tế ít được sử dụng bởi vì L/C có thể hủy bỏ thực chất chỉ là lời hứa trả tiền chứ không phải là sự cam kết.

    Những trường hợp áp dụng L/C có thể hủy bỏ :

    Người mua mở L/C có thể hủy bỏ để người bán có cơ sở xin phép giấy phép xuất khẩu. Sau khi nhận được giấy phép xuất khẩu, có 2 trường hợp:

    • Thư tín dụng có thể hủy ngay tự động có hiệu lực như một thư tín dụng không thể hủy ngang. Điều này cần phải định rõ trong L/C .
    • Người mua yêu cầu ngân hàng mở tín dụng không thể hủy ngang có nội dung tương tự như thư tín dụng hủy ngang đã mở.

    Các hợp đồng mua bán được kí kết qua điện thoại, telex, fax, email thường không được tin cậy và không đầy đủ để thực hiện hợp đồng. Do đó người mua thường mở thư tín dụng có thể hủy ngang để dễ dàng bổ sung và hoàn thiện. Khi người bán chấp nhận thư tín dụng này thì người mua mở thư tín dụng không thể hủy ngang cho người bán .

    Đối với thư tín dụng có thể hủy ngang, ngân hàng mở thư tín dụng vẫn có một số trách nhiệm như sau:

    • Hoàn trả tiền cho chi nhánh hoặc ngân hàng khác khi nơi này đã thanh toán những khoản tiền thanh toán ngay, chấp nhận hoặc chiết khấu theo đúng các điều khoản của thư tín dụng trước khi nhận được thông báo của ngân hàng phát hành về việc sửa đổi hoặc hủy bỏ thư tín dụng đó.
    • Hoàn lại tiền cho chi nhánh hoặc ngân hàng khác khi nơi này đã thanh toán những khoản trả chậm theo đúng các điều khoản của thư tín dụng trước khi nhận được thông báo của ngân hàng phát hành về việc sửa đổi hoặc hủy bỏ thư tín dụng đó.

    b.2 Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C)

    • Việc hủy bỏ hay sửa đổi L/C phải được chấp thuận của Người thụ hưởng, ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận (nếu có).
    • Được sử dụng phổ biến rộng rãi nhất trong thanh toán quốc tế bởi vì nó đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu.
    • Theo UCP500, nếu tín dụng thư ghi không rõ có thể hủy ngang hay không hủy ngang thì được coi là không thể hủy ngang.
    • Theo UCP600, thư tín dụng là bất cứ sự thỏa thuận nào, dù được gọi hay mô tả như thế nào thì nó cũng không hủy ngang và vì vậy tạo thành cam kết chắc chắn của Ngân hàng phát hành về việc thanh toán Bộ chứng từ hợp lệ.

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ KHÔNG HỦY NGANG

     

    Giải thích sơ đồ:

    (1) Người nhập khẩu và người xuất khẩu ký kết hợp đồng thương mại với điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.

    (2) Người nhập khẩu làm giấy đề nghị mở tín dụng thư gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu.

    (3) Căn cứ vào yêu cầu và giấy đề nghị mở tín dụng thư, ngân hàng phát hành một thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo.

    (4) Ngân hàng thông báo nhận được bản gốc thư tín dụng sẽ thông báo ngay cho nguời xuất khẩu.

    (5) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng. Nếu không chấp nhận thì đề nghị người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng và tiến hành giao hàng.

    (6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của thư tín dụng. Tuỳ theo nội dung L/C mà người xuất khẩu sẽ xuất trình đến ngân hàng được quy định trong L/C.

    (7) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì tiến hanh trả tiền cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo. Nếu thấy không phù hợp ngân hàng từ chối thanh toán và có thể gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu.

    (8) Ngân hàng mở thư tín dụng giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người nhập khẩu và yêu cầu thanh toán bồi hoàn.

    (9) Người nhập khẩu hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng.

    Ví dụ thực tế, ta có hợp đồng ngaọi thương sau:

    Giải thích bảng hợp đồng ngoại thương trên:

    Hợp đồng ngoại thương giữa:

    Nhà nhập khẩu:

    Công ty Phương Đông, địa chỉ :107 Võ Trần Toản, Phường 2, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

    Và nhà xuất khẩu:

    B.Q  Plast Public Company Limited, địa chỉ: 19/111 Moo 7 Thkarm Rd, Samaedam Bangkhuntien, Bangkok 10150, Thailand.

    Theo hợp đồng sẽ thanh toán bằng phương thức L/C trả ngay không hủy ngang giá trị hóa đơn. Theo đó ngày 12/3/09, Công ty Phương Đông đến ngân hàng Đông Á đề nghị mở L/C trị giá 37400USD. Ngân hàng Đông Á sau khi xem xét và tiến hành mở L/C dựa trên hợp đồng số PN 387 ngày 07/03/09.

    Sau đó ngân hàng Đông Á gửi L/C đến ngân hàng người thụ hưởng là Bankok bank publicCo.,LTD, khi nhận được L/C, ngân hàng này sẽ thông báo đến BQ. Plast Public Company Limited; nếu không tu chỉnh thì nhà xuất khẩu sẽ tiến hành giao hàng theo qui định trong hợp đồng. Tiếp theo nhà xuất khẩu sẽ hoàn chỉnh bộ chứng từ và đem đến cho Bankok bank publicCo.,LTD kiểm tra và nhận tiền .

     b.3 Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C):

    Là loại L/C không thể hủy ngang và được một ngân hàng có uy tín đảm bảo thanh toán theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C.

    Loại L/C này được yêu cầu khi người bán không hiểu rõ khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành. Ngân hàng đảm bảo này được gọi là ngân hàng xác nhận (Confirming bank). Phí xác nhân rất cao, gấp 3 lần phí mở L/C.

     

    Ký kết hợp đồng ngoại thương
    Nhà xuất khẩu
    Nhà nhập khẩu

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ XÁC NHẬN

           
         
     
       

    b.4 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

    • Là L/C không hủy ngang, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
    • Người thụ hưởng đầu tiên chỉ được chuyển nhượng cho một hoặc nhiều người thụ hưởng thứ hai.
    • Có thể chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C .
    • Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu.

     

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ CHUYỂN NHƯỢNG

    b.5 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C):

    Là L/C không hủy ngang, trong đó quy định rằng khi L/C sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy L/C tuần hoàn đến khi nào hoàn tất giá trị hợp đồng. Loại L/C này được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu, nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không đổi.

    • L/C tuần hoàn chia làm 2 loại
      • Loại L/C tuần hoàn có tích lũy : là loại L/C cho phép chuyển kim ngạch đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau
      • Loại L/C tuần hoàn không tích lũy: là loại L/C không cho phép chuyển số dư của đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau
    • L/C có thể chia ra làm 3 cách tuần hoàn
      • L/C tuần hoàn tự động : hết hạn đợt giao hàng trước thì đợt giao hàng sau tự động có giá trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C
      • L/C tuần hoàn không tự động: đợt giao hàng sau muốn có giá trị, phải có sự thông báo của ngân hàng mở L/C .
      • L/C tuần hoàn bán tự động: nếu sau ngày kể từ ngày mở L/C, trước thời hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị L/C mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C sau sẽ tự động có hiệu lực

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ TUẦN HOÀN

     
       

    b.6 Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C) :

    • Là loại L/C mở dựa vào một L/C khác . Nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng mình mở một L/C khác dựa vào L/C gốc cho nhà cung cấp hàng hóa với nội dung gần giống như L/C ban đầu  (master L/C) .L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng.
    • Loại L/C này thường áp dụng đối với trường hợp mua bán qua trung gian
    • Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc
    • Kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc.
    • Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc.

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ GIÁP LƯNG

     

    b.7.Thư tín dụng dự phòng (Stand-by letter of credit):

    • L/C quy định ngân hàng thanh toán thay cho người xuất khẩu/ nhập khẩu nếu họ không thực hiện theo cam kết như L/C quy định .
    • Trị giá của L/C Stand-by khoảng 2%-15% trị giá hợp đồng ngoại thương.
    • Thường áp dụng đảm bảo cho nghiệp vụ thanh toán tiền ứng trước , hoàn tiền đặt cọc , đảm bảo giao hàng…
    • Loại L/C này được áp dụng phổ biến ở Anh và Mỹ.

     

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ DỰ PHÒNG

     

     

     

    b.8 Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red-clause L/C):

    Là một sự ủy quyền của ngân hàng mở L/C đối với ngân hàng chiết khấu ,ứng trước một khoản tiền cho người được hưởng, để giúp người này có thê nguồn vốn giao hàng cho L/C đã mở. Theo L/C này khi nhận tiền thanh toán người được hưởng chỉ nhận được số tiền bằng số tiền  của hóa đơn trừ đi số tiền đã ứng trước theo điều khoản đỏ.

    L/C này được chia làm 2 loại:

    • L/C điểu khoản đỏ không đảm bảo: là khoản tiền ứng trước không được đảm bảo đối với ngân hàng mở L/C.
    • L/C điều khoản đỏ có đảm bảo: là bên cạnh các giấy tờ trên, người xuất khẩu còn phải xuất trình thêm chứng từ có giá trị như bảo lãnh của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu hay giấy nhập kho.

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ ĐIỂU KHOẢN ĐỎ

     

     

     

     

    b.9 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C):

                      Là loại L/C được qui định là chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra. Nghĩa là khi người xuất khẩu nhận được L/C do người nhập khẩu mở, thì mở lại một L/C tương ứng thì mới có giá trị.

                      L/C ban đầu thường có ghi: “L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để chỉ người mở L/C này hưởng” và trong L/C đối ứng phải ghi câu “L/C này đối ứng với L/C số…ngày…qua ngân hàng…”.

                      L/C đối ứng thường được sử dụng trong việc mua bán trên cơ sở đổi hàng (Barter), ngoài ra không loại trừ khả năng dùng để thanh toán trong những phương thức gia công quốc tế có nhiều phức tạp.

    Sơ đồ qui trình nghiệp vụ thư tín dụng đối ứng:

     

     

     

     

     

     

     

    Ngoài ra còn có các loại thư tín dụng đặc biệt khác:

    • Thư tín dụng thanh toán (payment credits)
    • Thư tín dụng chấp nhận (acceptance credits)
    • Thư tín dụng thương lượng (negotiation credits)
    • Thư tín dụng nhờ thu (collection credits)
    • Thư tín dụng có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện (TTR credits)
    • Thư tín dụng không có điều khoản bồi hoàn bằng điện (non-TTR credits)

    3. Ưu và nhược điểm:

    • Ưu điểm:
    • Rất an toàn cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu
      • Nhược điểm:
        • Chi phí cao
        • Thời gian thanh toán chậm.
        • Phức tạp
        • Tuy an toàn nhưng vẫn tồn tại một số rủi ro.

     

    4. Rủi ro và cách phòng tránh:

    Đối với nhà xuất khẩu:

                      Phương thức thanh toán L/C là phương thức thường được áp dụng nhiều nhất vì nó đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu trong thanh toán. Tuy nhiên đây không phải là phương thức an toàn tuyệt đối cho nhà xuất khẩu. Sau đây là một số rủi ro mà nhà xuất khẩu thường  gặp:

    Nguồn gốc rủi ro Nội dung của rủi ro Biện pháp hạn chế rủi ro
    1. Rủi ro từ phía ngân hàng phát hành L/C không có uy tín thanh toán. Ngân hàng không giữ đúng cam kết thanh toán
    1. Lựa chọn ngân  ngân hàng đích danh có uy tín ngay từ khâu ký kết hợp đồng.
    2. L/C được xác nhận bởi ngân hàng được nêu đích danh hoặc chi nhánh của ngân hàng phát hành tại nước xuất khẩu.
    2. Rủi ro doanh nghiệp xuất khẩu không thực hiện được đúng những điều kiện mà L/C quy định a. Thời gian giao hàng chậm so với quy định củ L/C.

     

    b. Chuyên chở hàng hóa không đúng qui định của L/C.

    c. Giao hàng không đúng cơ cấu yêu cầu.

    Dùng kinh nghiệm thực tế để lập bảng chiết tính thời gian, gồm hai bảng:

     

    • Thời gian thu mua và chuẩn bị hàng hóa
    • Thời gian đưa hàng lên tàu

    Nếu không thỏa mãn với khung thời gian cho phép trong L/C thì phải tu chỉnh ngay.

    Trường hợp chuyển tải:

    −    Điều tra từ trước về tuyến đường vận tải

    −    Xem hãng tàu mạnh ở tuyến nào.

    −    Thuê tàu chuyến nếu tàu lớn.

    −    Tu chỉnh rồi mới giao hàng nếu không giải quyết vấn đề chuyển tải được.

    Trường hợp giao hàng từng phần, nhà xuất khẩu đọc kỹ L/C và đề nghị tu chỉnh khi cần.

    −    L/C cho phép giao hàng mấy lần

    −    Thời gian, khối lượng của từng lần giao hàng

    o   Đọc kỹ L/C và chuẩn bị hàng hóa theo đúng qui định.

    o   Đề nghị tu chỉnh L/C khi cần.

    3. Rủi ro trong khâu thanh toán Người xuất khẩu lập BCT lập không đúng quy định của L/C.
    • Bố trí nhân sự giỏi về nghiệp vụ ở khâu lập BCT.
    • Lụa chọn đối tác nhập khẩu có thiện chí.
    • Đọc nghiên cứu kỹ qui định của L/C đối với BCT.
    • Nghiên cứu kỹ những rủi ro sai sót thường gặp đối với từng chứng từ lập và cách khắc phục.

    Thỏa thuận ngay với nhà nhập khẩu từ khâu ký hợp đồng ngoại thương về các chứng từ cần xuất trình khi thanh toán.

    Đề nghị tu chỉnh L/C khi cần.

     

    Đối với nhà nhập khẩu:

    Nguồn gốc rủi ro Nội dung rủi ro Biện pháp hạn chế rủi ro
    1. Từ phía nhà xuất khẩu Không cung cấp được hàng hóa theo đúng qui định của L/C mặc dù người nhập khẩu đã khuynh loát vốn cho L/C. o Tìm hiểu kỹ bạn hàng

     

    o Tham vấn ý kiến ngân hàng về lịch sử kinh doanh của người cung cấp.

    o Quy định trong hợp đồng điều khoản Penalty, trong đó quy định phạt bên nào khọng thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ.

    o Yêu cầu kí quỹ cả hai bên tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.

    o Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như: Standby letter of credit, Bank Guaratee, Performance bond…để bảo vệ quyền lợi nhà nhập khẩu.

    2. Thanh toán dựa trên chứng từ mà thôi o Chứng từ giả

     

    o Chứng từ không trung thực

    o Mâu thuẫn giữa hàng hóa và chứng từ

    o Yêu cầu về nội dung chứng từ và hình thức chứng từ phải rất chặt chẽ, không yêu cầu chung chung.

     

    o Những chứng từ phải do các cơ quan đáng tin cậy cấp.

    o Vận đơn do hãng tàu đích danh lập với lô hàng nhập khẩu lớn. Khi xếp hàng hóa phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu  để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu.

    o Đề nghị nhà xuất khẩu gởi ngay 1/3 bộ vận đơn gốc thẳng tới nhà nhập khẩu.

    o Hóa đơn thương mại có thể được đòi hỏi phải có sự xác nhận  của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của phòng thương mại hoặc đòi hẳn hóa đơn lãnh sự.

    o Giấy chứng nhận số lượng, chất lượng phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc đại diện của thương mại Việt Nam.

    o Cung cấp giấy chứng nhận, kiểm tra.

    3. Các rủi ro khác Hãng tàu không tin cậy

     

    Hư hỏng hàng hóa

    o Giành quyền chủ động thuê tàu(nhập khẩu theo điều kiện nhóm F)

     

    o Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhà nhập khẩu.

    o Mua bảo hiểm cho hàng hóa.

    o Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed…

    4. Rủi ro từ phía ngân hàng mở L/C Ngân hàng này không đảm bảo khả năng thanh toán. o Yêu cầu mở L/C tại các ngân hàng uy tín, có tên tuổi

     

    o Ngân hàng xác nhận được chỉ đích danh hay là ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành L/C tại nước xuất khẩu.

     

     

    5.Giới thiệu “Qui tắc và thực hiện thống nhất về tín dụng chứng từ”

    1. UCP 500:

                      UCP 500 – Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ là những quy định được soạn thảo bởi Phòng thương mại quốc tế( (Paris) có hiệu lực từ 01/01/1994, nhưng được coi là “luật” quốc tế về ngân hàng trong giao dịch tín dụng chứng từ và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

    UCP 500 gồm 7 phần, 49 điều khoản:

    Quy định chung và định nghĩa                                                Từ điều 1 đến điều 5

    Hình thức và thông báo tín dụng thư                                     Từ điều 6 đến điều 12

    Nghĩa vụ và trách nhiệm                                                         Từ điều 13 đến điều 19

    Chứng từ                                                                                 Từ điều 20 đến điều 38

    Những quy định khác                                                             Từ điều 39 đến điều 47

    Tín dụng thư chuyển nhượng                                                 Điều 48

    Chuyển nhượng tiền hàng xuất khẩu                                      Điều 49

    a.1 Phạm vi áp dụng:

    • Áp dụng tất cả các tín dụng chứng từ, kể cả tín dụng thư dự phòng, nếu tín dụng thư có dẫn chiếu áp dụng bản quy tắc này.
    • Trừ khi tín dụng thư quy định khác, bảng quy tắc ràng buộc tất cả các bên liên quan.

     

     

     

    b.UCP 600:

    b.1 Lý do chỉnh sửa UCP 500:

    • Nhằm giảm thiểu về các tranh chấp trong giao dịch tín dụng chứng từ giữa các quốc gia do các điều khoản của UCP 500 không rõ ràng.
    • Nhằm giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp trong việc tranh cãi các chứng từ không phù hợp với L/C.
    • Nhằm đơn giản hóa, giải thích rõ nghĩa các quy tắc của UCP 500.
    • Nhằm chuẩn hóa các điều khoản L/C phù hợp với thực tế trong giao dịch thương mại quốc tế.

    b.2 Những điều khoản thay đổi của UCP 600:

    • UCP 600 gồm 39 điều khoản và đã loại bỏ 8 điều khoản của UCP 500.
    • Các điều khoản giải thích rõ ràng dễ hiểu.
    • Xác định rõ ràng về mối quan hệ giữa tín dụng thư và hợp đồng, trách nhiệm ngân hàng phát hành về tu chỉnh L/C.
    • Quy định tiêu chuẩn kiểm chứng từ, từ chối và thông báo chứng từ bất hợp lệ.
    • Quy định cụ thể các chứng từ liên quan vận tải, bảo hiểm.

    Hiệu lực của UCP 600

    Có hiệu lực từ 01/07/2007.

    V. Phương thức thanh tóan ghi sổ ( Open Account):

    1. Khái niệm:

    Là phương thức thanh toán mà trong đó người xuất khẩu sau khi thực hiện giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu, thì mở một tài khoản (hoặc 1 cuốn sổ) ghi nợ cho người mua và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện sau một thời hạn nhất định do 2 bên mua bán thỏa thuận trước.

    Phương thức này chỉ thực hiện khi người xuất khẩu tin tưởng hoàn toàn vào khả năng tài chính của người mua vào ngày đáo hạn và đây cũng là hình thức cấp tín dụng thương mại của người xuất khẩu cho người nhập khẩu.

    2. Quy trình thanh toán ghi sổ:

    (1)              người bán giao hàng và gửi bộ chứng từ cho người mua.

    (2)              người bán gửi giấy báo nợ cho người mua.

    (3)              người mua đến ngân hàng làm thủ tục chuyển tiền trả cho người bán.

    (4)              ngân hàng nhập khẩu chuyển tiền trả cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng dịch vụ người xuất khẩu.

    (5)              ngân hàng báo có cho người xuất khẩu.

    3. Nhận xét:

    • Ưu điểm:
      • Ngân hàng không tham xử lý các chứng từ và can thiệp vào quá trình thanh toán nên các thủ tục được giảm nhẹ, tiết kiệm được chi phí thanh toán.
      • Đối với người xuất khẩu: đây là hình thức khuyến mãi bán chịu, tăng khả năng bán hàng, thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài đối với bên mua.
      • Đối với người mua: đây là phương thức thanh toán rất có lợi, thường bán xong hàng mới trả tiền. quyền định đoạt về hàng hóa và thanh toán do người mua quyết định.
    • Nhược điểm:
      • Đây là phương thức thanh toán không có lợi đối với người xuất khẩu: rủi ro trong thanh toán cao, vốn lưu động bị ứ đọng.

    4. Điều kiện áp dụng:

    Khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam nên áp dụng trong các trường hợp:

    • Là nhà nhập khẩu.
    • Áp dụng thanh toán giữa công ty mẹ và các công ty con có trụ sở đóng ở các nước.
    • Người bán và người mua có quan hệ tin cậy, người bán khống chế được sự trả tiền của người mua.

    VI. Mua bán đối lưu( Counter Trade):

    1.Khái niệm:

    Thực chất đây là phương thức thanh toán không sử dụng tiền làm phương tiện toán, mà dùng hàng hóa đổi lấy hàng hóa.

    Có 2 hình thức mua bán đối lưu cơ bản

    • Barter: hàng đổi hàng, người bán đồng thời là người mua, người mua đồng thời là người bán: Giao gạo để lấy phân bón, bán phân bón để mua gạo
    • Buy-Back: là hình thức người bán cung cấp máy móc, thiết bị, công nghệ…và người mua sử dụng chúng để làm ra sản phẩm giao lại cho người bán.

    2.Nhận xét:

    • Ưu điểm của hình thức thanh toán hàng đổi hàng là mở rộng khả năng xuất khẩu sang thị trường thiếu ngoại tệ mạnh để mua hàng. Giảm được sự rủi ro trong thanh toán, khi có sự biến động về tỉ giá hối đoái.
    • Nhược điểm: thực hiện thanh toán và đảm bao hàng đổi hàng phức tạp đặc biệt trong trường hợp nhu cầu về trao đổi hàng hai bên mua bán khác nhau: ví dụ bán gạo để mua phân bón nhưng người mua phân bón cần café.

    VII. Trả tiền mặt ( by cash):

    Người mua thanh toán tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp nhận đơn đặt hàng của người mua.

    Phương thức thanh toán này tuy đơn giản nhưng hiện nay ít được áp dụng trong thanh toán quốc tế vì rủi ro cao và hiệu quả thấp.

     

    B. Tình Hình Sử Dụng các Phương Thức Thanh Toán Của Một Số Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn Thành Phố:

    1. Công ty Bắc Sinh. (Nguồn: do chị Dương Thị An Ry, nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty Bắc Sinh cung cấp)
    • Địa chỉ: 170 QL1A, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, TP.HCM
    • Lĩnh vực kinh doanh: Công ty chuyên về lĩnh vực gia công hàng may mặc xuất khẩu.
    • Thị trường xuất khẩu: Châu Âu nhưng chủ yếu là Mỹ.
    • Phương thức thanh toán quốc tế mà Công ty áp dụng: do là một đơn vị gia công nên Công ty sử dụng phương thức thanh toán chuyển tiền bằng hình thức T/T

                      Do Công ty làm ăn dựa trên sự tin tưởng với khách hàng và giá trị hợp đồng không cao => khả năng xảy ra rủi ro thấp . Vì vậy theo Công ty, nhà nhập khẩu không cần đặt cọc truớc số tiền thanh toán

    1. Công Ty Cổ Phần Thủ Công Mỹ Nghệ Phong Cách Việt – Viet Style Handicrafts Corporation.(Nguồn: do chị Lê Thị Trúc Mai, nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty Phong Cách Việt cung cấp)
    • Địa chỉ: 16/38 đường 304, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Lĩnh vực kinh doanh: Công ty chuyên về lĩnh vực xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: tranh sơn mài, các loại bàn ghế bằng mây, tre…
    • Thị trường xuất khẩu chủ yếu là châu âu.
    • Các phương thừc thanh toán quốc tế mà Công ty thường sử dụng trong các hợp đồng:
    • Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

    Đối với những trường hợp: giá trị đơn đặt hàng lớn, bảo đảm đúng thời gian cho nhà nhập khẩu …, những khách hàng mà Công ty không tin tưởng vào  khả năng thanh toán của họ (Châu Phi) =>  Công ty thường áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Các bước thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ của công ty và nhà nhập khẩu hoàn toàn tương tự như lý thuyết đã nêu ở mục A. Ngân hàng thông báo của Công ty là ngân hàng Vietcombank. Loại L/C mà Công ty thường áp dụng là L/C không huỷ ngang.

    • Phương thức thanh toán chuyển tiền bằng hình thức điện báo (T/T) (thường áp dụng nhiều nhất):

    Đối với phương thức thanh toán bằng T/T,  đa phần khách hàng của Công ty phải đặt cọc 40% số tiền thanh toán. Sau khi Công ty hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và fax B/L cho nhà nhập khẩu thì nhà nhập khẩu sẽ chuyển 60% số tiền thanh toán còn lại cho Công ty và Công ty sẽ gửi bộ chứng từ cho người bán.

    Công ty chọn giải pháp đặt cọc tiền để tránh trường hợp nhà nhập khẩu không nhận hàng hoặc nếu có thì thiệt hại sẽ được giảm bớt.Trong trường hợp đối tác là khách hàng tin cậy, làm ăn lâu năm, Công ty sẽ giảm số tiền đặt cọc xuống. Công ty thường áp dụng phương thức này đối với những hợp đồng có giá trị không cao chỉ vào khoảng 5-10 triệu USD.

    Phân tích mô hình Swot về vấn đề lựa chọn phương thức thanh toán T/T:

    Điểm mạnh Điểm yếu
    o Việc nhà nhập khẩu đặt cọc 40% số lượng tiền thanh toán giúp cho Công ty giảm thiểu được rủi ro trong việc thanh toán

     

    o Nhận được tiền thanh toán nhanh giúp cho Công ty có thể xoay vòng vốn nhanh.

    o Thủ tục nhanh chóng, đơn giản, chi phí thấp.

    o Việc nhận hàng phụ thuộc vào ý muốn của nhà nhập khẩu. Do đó Công ty dễ gặp rủi ro nếu nhà nhập khẩu không thanh toán 60% số tiền thanh toán còn lại.

     

    o Hàng hóa bị tồn đọng do nhà nhập khẩu không nhận hàng, gây khó khăn cho Công ty

    Cơ hội Thách thức
    o Nhà nhập khẩu đặt cọc trước 40% :

     

    ·   Sẽ làm gia tăng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của Công ty, do đó tránh được tình trạng vay ngân hàng khi Công ty thiếu vốn

    ·   Tạo điều kiện cho Công ty thực hiện tốt hợp đồng nhằm tạo uy tín cho Công ty, nhờ vậy nhận được nhiều hợp đồng hơn.

    o Công ty cần tạo sự tin tưởng cho bên mua vì có những trường hợp nhà xuất khẩu nhận tiền đặt cọc nhưng không chịu sản xuất.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Các phương thức thanh toán quốc tế trong kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-b%E1%BA%B1ng-LC-t%E1%BA%A1i-Sacombank.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Phần 1: Cơ Sở Lý Luận Về Thanh Toán Quốc Tế

    I.             Khái quát chung:

    Trong kinh doanh ngày nay, thanh toán quốc tế đang ngày trở nên phổ biến. Những phương thức thanh toán truyền thống như tiền mặt đã dần được thay thế bằng những phương thức thanh toán hiện đại hơn, nhanh chóng hơn.

    Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại thương đối với các nước tư bản chủ nghĩa có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: phương thức thanh toán chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ…Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm, thể hiện thành mâu thuẫn quyền lợi giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Vì vậy việc vận dụng phương thức thanh toán thích hợp,  phải được hai bên bàn bạc thống nhất ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương.

    II.           Một số phương thức thanh toán quốc tế

    1.    Phương thức chuyển tiền: (Remittance-Remise)

    Phương thức chuyển tiền là phương thức đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người nhập khẩu) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác ( người thụ hưởng, người xuất khẩu) ở một địa điểm xác định và trong một thời gian nhất định.

    Trong phương thức chuyển tiền có các bên liên quan

    • Người phát lệnh chuyển tiền,
    • Ngân hàng nhận thực hiện việc chuyển tiền(ngân hàng nơi đơn vị chuyển tiền mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ).
    • Ngân hàng chi trả, chuyển tiền (ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền).
    • Người nhận chuyển tiền (người bán, tổ chức xuất khẩu)

    Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai cách:

    • Chuyển tiền bằng điện (T/T Telegraphic Transfer): ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.
    • Chuyển tiền bằng thư (M/T Mail Transfer): ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách gửi thư ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Trong phương thức chuyển tiền Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thực hiện việc thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng thủ tục phí(hoa hồng) và không bị ràng buộc gì cả. Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua do đó nếu dùng phương thức này quyền lợi của tổ chức xuất khẩu không đảm bảo. Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường…

    2.    Phương thức ghi sổ (Open account-Compte Ouvert)

    Phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán mà trong đó tổ chức xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện trong thời kỳ nhất định (hàng tháng, quý).

    Khi thực hiện phương thức này, tức là tổ chức xuất khẩu đã thưc hiện một tín dụng thương mại. Thông thường phương thức này chỉ áp dụng trong thanh toán giữa hai đơn vị quan hệ thường xuyên và tin cậy lẫn nhau.

    3.    Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment-Encaissement)

    Phương thức thanh toán nhờ thu được thực hiện theo “quy tắc thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu” do phòng thương mại quốc tế ban hành số xuất bản 522-1995 có giá trị hiệu lực kể từ ngày 1/1/1996 (The uniform rules for collection-ICC- PUB N-522-1995 Revision).

    Phương thức nhờ thu là nghiệp vụ xử lý của ngân hàng đối với các chứng từ quy định theo đúng chị thị nhận được nhằm để:

    • Chứng từ đó được thanh toán hoặc được chấp nhận.
    • Chuyển giao khi chứng từ được thanh toán hoặc chuyển giao khi chứng từ được thanh toán hoăc được chấp nhận
    • Chuyển giao chứng từ theo đúng các điều khoản và điều kiện khác.

    Chứng từ (Documents) bao gồm:

    • Chứng từ tài chính (financail documents): hối phiếu, lệnh phiếu, séc…
    • Chứng từ thương mại (commercail documents):hóa đơn, vận đơn, giấy chứng nhận số lượng, chất lượng, phiếu đóng gói,….

    Người xuất khẩu sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hoá cho người nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.

    Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:

    • Người xuất khẩu
    • Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
    • Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (đó là ngân hàng quốc gia của người nhập khẩu)
    • Người nhập khẩu

    Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau:

    1. Nhờ thu trơn (Clean Collection): Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra, không kèm theo một điều kiện nào cả của việc trả tiền.

    Phương thức thanh toán này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần, thu được hay không thì ngân hàng cũng thu thù tục phí, Ngân hàng không chịu trách nhiệm nếu bên nhập khẩu không chịu thanh toán. Vì vậy nếu là tổ chức xuất khẩu ta chỉ sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu trơn trong trường hợp là tín nhiệm hoàn toàn tổ chức nhập khẩu, hoặc là giá trị xuất khẩu nhỏ, thăm dò thị trường, hàng hóa ứ đọng khó tiêu thụ…

    1. Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): là phương thức trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không những chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá, gửi kèm theo với điều kiện là người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn, thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng hoá để đi nhận hàng.

    Như vậy trong trường hợp đơn vị nhập khẩu không đồng ý trả tiền, thì ngân hàng không giao bộ chứng từ tức là hàng hóa đã cung ứng qua nước nhập khẩu vẫn thuộc quyền sở hữu của nước nhập khẩu.

    Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ có hai trường hợp:

    • Nếu là nhờ thu trả tiền ngay (D/P- Documents against payment) thì tổ chức nhập khẩu phải trả tiền thanh toán ngay, ngân hàng mới gia bộ chứng từ gốc để nhân hàng.
    • Nếu là nhờ thu chấp nhận trả tiền theo chứng từ (D/A- Documents against acceptance) thỉ tổ chức nhập khẩu chỉ cần ký chấp nhận lên hối phiếu, Ngân hàng sẽ giao bộ chứng từ.

    Theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ này ngân hàng không chỉ là người thu hộ tiền mà còn là người khống chế bộ chứng từ hàng hoá. Vai trò Ngân hàng được nâng cao thêm trách nhiệm.Với cách khống chế này quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo hơn.

    III.          Phương thức tín dụng chứng từ:

    Trong các phương thức thanh toán đã trình bày ở phần trước, chúng ta thấy rằng ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong thanh toán mà  không hề có cam kết gì về việc chắc chắn thu được tiền cho nhà xuất khẩu, cho nên, quyền lợi của nhà xuất khẩu vẫn chưa được đảm bảo. Muốn có sự cam kết thu được tiền từ phía ngân hàng, nhà xuất khẩu nên dùng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

    1.    Sơ lược về ICC-UCP 500

    Nội dung phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản “Quy tắc và thực hành  thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP-Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) do Phòng Thương Mại Quốc Tế (ICC- International Commercial of Chamber) ban hành. Văn bản đầu tiên được xuất bản năm 1933 sau đó được sửa đổi và bổ sung qua các năm 1951,1962,1974,1983 (thường gọi là UCP 400) và năm 1993 (UCP 500) có giá trị hiệu lực kể từ ngày 1/1/1994. Gần đây nhất là ngày 25/10/2006 ICC đã công bố UCP 600 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2007.

    UCP là một văn bản pháp lý quốc tế không mang tính chất bắt buộc các bên mua bán quốc tế phải áp dụng. Do đó nếu áp dụng UCP thì phải dẫn chiếu điều ấy trong thư tín dụng của mình. Đến nay đã có hơn 160 nước trên thề giới công nhận và tuyên bố áp dụng UCP. Điều đáng lưu ý là các văn bản ra đời sau không hủy bỏ các văn bản trước đó, cho nên các văn bản đều có giá trị thực hành trong thanh tóan quốc tế.

    Ngoài ra UCP 500 còn nhân mạnh đến việc thanh toán chỉ dựa vào chứng từ, đồng thời đa dạng hóa việc sử dụng thư tín dụng (L/C) ngoài việc dùng chủ yếu trong thương mại, nay còn có thể sử dụng các hoạt động phi thương mại như đầu tư, dịch vụ du lịch…UCP500 chỉ áp dụng trong thanh toán quốc tế không áp dụng trong thanh toán nội địa

    Nội dung của UCP500 gồm 49 điều khoản chia ra làm 7 phần:

    • Phần A gồm 5 điều (1-5) các quy định chung và định nghĩa
    • Phần B gồm 7 điều (6-12) quy định các hình thức và thông báo thư tín dụng
    • Phần C gồm 7 điều (13-19) quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của ngân hàng, các trường hợp miễn trách.
    • Phần D gồm 19 điều (20-38) quy định về các loại chứng từ, chủ yếu là chứng từ vận tải, bảo hiểm, hóa đơn thương mại.
    • Phần E gồm 9 điều (39-47) các quy định khác như thời hạn hiệu lực, dung sai, số lượng, số tiền, thời gian xuất trình.
    • Phần F gồm 1 điều (48) quy định về việc chuyển nhượng số tiền thu được của người hưởng lợi.
    • Phần G gồm 1 điều (49) quy định nhượng tiền thu được

    Khi thực hiện phương thức tín dụng chứng từ cần tham khảo thêm:

    Bản Quy tắc thống nhất hoàn trả liên bang theo tín dụng chứng từ (The Uniform Rules For Bank-To-Bank Reimbursement Under Documentary Credits-URR 525-1995-ICC) có giá trị từ 1/7/1996.

    Phụ bản của UCP: bao gồm UCP 500.1 và UCP 500.2

    UCP 500.1 hay còn gọi là eUCP (The Supplement To The Uniform And Practice For Documentary Credits For Electronic Presentation) xuất bản 1/2002 áp dụng cho xuất trình chừng từ điện tử theo L/C. eUCP co 12 điều khoản.

    UCP 500.2 hay còn gọi là ISBP 645 (The International Standard Banking Pratice For Examination For Documents Under Documentary Credits). Thực hành nghiệp vụ ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ theo L/C xuất bản 10/2002

    • Một số điểm khác nhau cơ bản giữa UCP 500 và UCP 600:

    Thứ nhất, về hình thức, UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP 500), trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500. Chẳng hạn, điều 2 “Definitions” (Định nghĩa) của UCP 600 đã nêu ra một loạt định nghĩa như: Advising bank, Applicant, Beneficiary, Complying presentation, Confirmation, Confirming bank, Credit, Honour, Negotiation, Presentation…

    Thứ hai, UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking days). ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời gian hợp lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng từ và thông báo chứng từ bất hợp lệ.

    Thứ ba, UCP 600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trong L/C.

    Thứ tư, theo UCP 600, ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ và giao bộ chứng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ của họ.

    2.    Khái niệm về tín dụng chứng từ

    Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng-mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ

    Qua khái niệm phương thức tín dụng chứng từ, ta có thể thấy các bên tham gia gồm có:

    • Người xin mở L/C ( Applicant): thông thường là người mua, tổ chức nhập khẩu.
    • Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán hay là người xuất khẩu.
    • Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (The Issuing Bank): là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhâp khẩu và xuất khẩu thỏa thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng thương mại. Nếu không có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn.
    • Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The Advising Bank): là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu, thông báo cho nhà xuất khẩu biết thư tín dụng đã mở. Ngân hàng này thường là ở nước người xuất khẩu và có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thư tín dụng

    Ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này, bao gồm:

    • Ngân hàng xác nhận (The Confirming Bank): là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho bên xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu. Thường là một ngận hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế.
    • Ngân hàng thanh toán (The Paying Bank): có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác do ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền hay chiết khấu hối phiếu cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng thương lượng (The Negotiating Bank): là ngân hàng đứng ra thương lượng bộ chứng từ và thường cũng là ngân hàng thông báo L/C. Trường hợp L/C quy định thương lượng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng là ngân hàng thương lượng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một ngân hàng nhất định.
    • Ngân hàng chuyển nhượng (The Transfering Bank), Ngân hàng chỉ định (The Nominated Bank), Ngân hàng hoàn trả (The Reimbursing Bank), Ngân hàng đòi tiền (The Claiming bank), Ngân hàng chấp nhận (The Accepting Bank), Ngân hàng chuyển chứng từ (The Remitting Bank). Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng.

    3.    Nội dung thư tín dụng (L/C):

    Mặt khác khái niệm tín dụng chứng từ còn cho chúng ta thấy rằng tín dụng thư hay còn gọi là thư tín dụng là văn bản quan trọng nhất trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Vậy thư tín dụng là gì?

    • Thư tín dụng (Letter of Credit) gọi tắt là L/C là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng đứng ra cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định nếu người này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định đã nêu trong văn bản đó

    Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại, tức là phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng. Nhưng sau khi đã được mở, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa là khi thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào nội dung thư tín dụng mà thôi.

    Nội dung thư tín dụng gồm có các phần sau:

    • Số hiệu mở L/C:

    Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó. Tác dụng của số hiệu là dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C. Số hiệu của L/C còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/C.

    • Địa điểm mở L/C:

    Là nơi ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Địa điểm này có liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng, giải quyết xung đột, bất đồng xảy ra (nếu có).

    • Ngày mở L/C:

    Là ngày bắt đầu phát sinh vá có hiệu lực về sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người thụ hưởng, là ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu. là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhâp khẩu có thực hiện việc mở L/C đúng thời hạn như trong hợp đồng không.

    • Loại thư tín dụng:

    Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của những người liên quan cũng rất khác nhau. Do đó khi mở thư tín dụng, người có nhu cầu cần phải xác định cụ thể loại thư tín dụng cần mở.

    • Tên và địa chỉ của những người liên quan:

    Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo L/C…

    • Số tiền của thư tín dụng:

    Là một nội dung rất quan trọng. vì vậy việc quy định nó trong L/C cũng rất chặt chẽ, thể hiện qua việc vừa ghi bằng số vừa ghi bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải rõ ràng, cụ thể. Theo điều 39 UCP 500 thì các từ “vào khoảng”, “xấp xỉ”, “độ chừng” được hiểu là cho phép dung sai 10%.

    • Thời hạn hiệu lực của L/C:

    Là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp với những điều đã quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C. Ngày mở L/C trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý.

    • Thời hạn trả tiền của L/C:

    Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của hợp đồng. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong  thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả ngay) hoặc có thề nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả chậm).

    • Thời hạn giao hàng:

    Được ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng thương mại quy định. Đấy là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực. thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lục của thư tín dụng.

    • Điều khoản về hàng hóa:

    Gồm có tên hàng, số lượng và trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký hiệu…

    • Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa:

    Điều kiện, cơ sở giao hàng (FOB, CIF, C&F), nơi gởi hàng, nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng…cũng được ghi vào L/C. Thông thường điều kiện giao hàng tùy thuộc vào khả năng cng ứng hàng của nhà xuất khẩu, khả năng nhận hàng của nhà nhập khẩu, khả năng vận chuyển của phương tiện vận tải. Nếu nhận thấy những điều kiện giao hàng ghi trong L/C không thể thực hiện được thì người xuất khẩu có thể đề nghị điều chỉnh L/C.

    • Các chứng từ phải xuất trình:

    Yêu cầu về việc ký phát các loại chứng từ cần phải được nêu rõ ràng cụ thể và chặt chẽ trong L/C. Các yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm của hàng hóa, của phương thức vận tải, của công tác thanh toán và tín dụng, của tính chất hợp đồng và các nguồn pháp lý có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng đó.

    • Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C:

    Là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối với L/C này.

    • Những điều kiện đặc biệt khác như:

    Phí ngân hàng được tính cho bên nào, điều kiện đặc biệt hướng dẫn đối với ngân háng chiết khấu, dẫn chiếu số UCP áp dụng…

    • Chữ ký của ngân hàng mở L/C:

    L/C thực chất là một khế ước dân sự. Do đó người ký L/C cũng phải là người có năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia vào thực hiện một quan hệ dân luật. Nếu gởi bằng Telex, Swift thì không có chữ ký, khi đó căn cứ vào mã khóa (textkey).

    4.    Các loại thư tín dụng chủ yếu là:

    1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): Đây là loại thư tín dụng mà sau khi đã được mở thì việc bổ sung sửa chữa hoặc huỷ bỏ có thể tiến hành một cách đơn phương.
    2. Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở thì việc sữa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ chỉ được ngân hàng tiến hành theo thoã thuận của tất cả các bên có liên quan. Trong thương mại quốc tế thư tín dụng này được sử dụng phổ biến nhất.
    3. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (Confirmed irrevocavle L/C): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tín dụng.
    4. Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả hoàn toàn hay trả một phần của thư tín cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.

    Và còn nhiều loại khác nữa. Tuy nhiên, hiện nay thì các ngân hàng thường sử dụng L/C không thể hủy bỏ có xác nhận. Nhưng cần lưu ý nếu L/C không ghi rõ là L/C “irrevocable” hay “revocable” thì đó là Irrevocable tức là không được hủy bỏ. Tương tự như vậy, nếu L/C không ghi rõ là L/C “confirmed” thì đó là L/C “inconfirmed” tức là không có xác nhận.

    5.    Quy trình phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

     
       

     

     

     

     

     

     

    • Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký hợp đồng thương mại.
    • Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người xuất khẩu thụ hưởng.
    • Ngân hàng mở L/C mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết.
    • Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở.
    • Dựa vào nội dung của L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu.
    • Người xuất khẩu sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân hàng thông báo để được thanh toán.
    • Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở L/C xem xét trả tiền.
    • Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán.
    • Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhâp khẩu.
    • Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ để người nhâp khẩu có thể nhận hàng.

    Qua nội dung và trình tự các bước tiến hành thanh toán như trên, chúng ta thấy rằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò chủ động trong thanh toán chứ không phải chì làm trung gian đơn thuần như những phương thức thanh toán khác. Chính vì vậy, hiện nay phương thức này được sử dụng nhiều nhất trong thanh toán quốc tế.

    6.    Đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ.

    1. Phương thức thanh toán chứng từ liên quan đến hai quan hệ hợp đồng độc lập:

    Đó là quan hệ giữa người mở thư tín dụng với ngân hàng phát hành và quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu.

    Thỏa thuận xin mở thư tín dụng giữa người mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành là một hợp đồng kinh tế dịch vụ. Người nhập khẩu phải làm đơn yêu cầu mở thư tín dụng, trả một khoản lệ phí mở thư tín dụng và ký quỹ một số tiền nhất định tùy theo quy định của ngân hàng. Ngân hàng căn cứ vào đó mở thư tín dụng cho người xuất khẩu và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người xuất khẩu trình. Nếu chứng từ hoàn toàn phù hợp với nội dung điều kiện của L/C thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, sau đó ngân hàng thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ cho người nhập khẩu đi lấy hàng.

    1. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có 2 nguyên tắc cơ bản:

    Nguyên tắc độc lập của thư tín dụng: tuy thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng mua bán giữa người xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng khi ra đời, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại hay bất kỳ một hợp đồng nào khác làm cơ sở cho thư tín dụng. Thay vào đó, nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình các chứng từ phù hợp với thư tín dụng của nhà xuất khẩu. Ngân hàng mở thư tín dụng không thể từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán với lý do người xuất khẩu đã giao hàng kém chất lượng, hay vì một lý do tương tự. Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho người hưởng lợi miễn là người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với yêu cầu của L/C.

    Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ: khi kiểm tra các chứng từ xuất trình, các ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng từ này tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu của thư tín dụng.

    1. Các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa:

    Các chứng tử xuất trình là căn cứ duy nhất để ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán cho người hưởng lợi thư tín dụng, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về số phận thật sự của hàng hóa mà bất cứ chứng từ nào đại diện. Như vậy trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có một tầm quan trọng to lớn, nó là minh chứng cho giá trị hàng hóa mà người bán đã giao và là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toán tiền hàng và cũng là cơ sở để ngân hàng chấp nhận hay thanh toán cho người xuất khẩu.

    1. Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo một cách tương đối quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động ngoại thương.

    Trong quan hệ mua bán, người mua luôn muốn nhậ được hàng hóa rồi mới trẻ tiền, còn người bán lại muốn giao hàng xong là được thanh tóan ngay. Trong ngoại thương. Việc giải quyết mối quan hệ này gặp nhiều khó khăn hơn so với mua bán nội địa do khoảng cách về không gian giữa người mua và người bán. Do đó, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức đáng tin cậy nhất: khi người bán lập được bộ chứng từ xem như đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, còn người mua nhận được bộ chứng từ có thể yên tâm là hàng hóa đã được giao.

    1. Ngân hàng phát hành L/C là người phải thanh toán cho người hưởng lợi:

    Khi quyết định việc mở L/C, ngân hàng mở L/C phải hiểu rằng chính ngân hàng mở L/C là người thanh toán cho người hưởng lợi khi họ thực hiện đúng các quy định trong L/C cho dù người mở L/C có tiền hay không có tiền, còn tồn tại hay phá sản. Do đó ngân hàng mở L/C phải đánh giá khả năng kinh doanh, tài chính của người mở. Đặc biệt là hiệu quả của phương án nhập hàng.

    Phần 2:Giới Thiệu Tổng Quan Về Ngân Hàng Thương Mại Cố Phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)

    I.             Giới thiệu về ngân hàng Sacombank

    Tên ngân hàng:

    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

    Tên giao dịch quốc tế:

    SAIGON THUONG TIN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK

    Tên viết tắt:  SACOMBANK

    Hội sở : 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

    Điện thoại:(84-8) 9320 420

    Fax:(84-8) 9320 424

    Website: www.sacombank.com.vn

    Logo

    Vốn điều lệ: 4.449.000.000.000 đồng

    Giấy phép thành lập:Số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 của UBND TP.HCM

    Giấy phép hoạt động:Số 0006/GP-NH ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Giấy CNĐKKD: Số 059002 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP. HCM cấp

    (đăng ký lần đầu ngày 13/01/1992, đăng ký thay đổi lần thứ 24ngày 10/04/2006)

    Tài khoản: Số 4531.00.804 tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM

    Mã số thuế:0301103908

    Ngành nghề kinh doanh:

    • Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi;
    • Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;
    • Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn;
    • Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá; Hùn vốn và liên doanh theo pháp luật;
    • Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
    • Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế;
    • Huy động vốn từ nước ngoài và các dịch vụ khác

    II.           Lịch sử hình thành và phát triển

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập theo.Quyết định số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 của Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh và hoạt động theo Quyết định số 0006/NH-GP ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sacombank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 21/12/1991, trên cơ sở chuyển thể
    Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp và sáp nhập 03 Hợp tác xã tín dụng Tân Bình-Thành Công – Lữ Gia. Vào thời điểm đó, cả 04 đơn vị này đều trong giai đoạn cực kỳ khó khăn về tài chính.

    Giai đoạn 1991 – 1995, khởi đầu với số vốn điều lệ ban đầu chỉ có 3 tỷ đồng, mạng lưới hoạt động chủ yếu ở các quận ven, phạm vi kinh doanh đơn điệu, Sacombank đã tạo được những điểm son đáng ghi nhận trong những năm đầu thành lập thông qua các quyết sách, chủ trương như tập trung xử lý các khoản nợ khó đòi, mở rộng mạng lưới, phát hành kỳ phiếu, thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh, …

    Giai đoạn 1995 – 1998, Sacombank tập trung cho nhiệm vụ hoạch định và phát triển song song với việc tiếp tục củng cố và chấn chỉnh. Với sáng kiến phát hành cổ phiếu đại chúng, vốn điều lệ của Sacombank đã tăng từ 23 tỷ đồng lên 71 tỷ đồng, qua đó bước đầu xác lập được năng lực tài chính đối với quá trình phát triển của Sacombank.

    Giai đoạn 1999 – 2001, vốn điều lệ từ 71 tỷ đồng tăng lên 190 tỷ đồng; xây dựng Hội sở khang trang tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nâng cấp trụ sở các Chi nhánh trực thuộc; mở rộng mạng lưới đến hơn 20 tỉnh thành và các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời xác lập quan hệ với hơn 80 chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên khắp thế giới. Đồng thời, Sacombank trở thành thành viên của Hiệp Hội Viễn Thông Liên Ngân Hàng toàn cầu (SWIFT), Visa và Master Card

    Giai đoạn 2001 – 2005, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế và mục tiêu phát triển đề ra cho thời kỳ kế hoạch 5 năm. Đặc biệt với sự tham gia góp vốn của 03 cổ đông nước ngoài là  các tổ chức tài chính – ngân hàng mạnh trên thế giới và khu vực đã hỗ trợ Sacombank tiếp cận công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản trị điều hành hiện đại, chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, Ngân hàng bước đầu phát triển thành công mô hình hợp tác liên doanh, liên kết thông qua việc góp vốn thành lập Công ty liên doanh quản lý quỹ – Công ty chứng khoán – Công ty bảo hiểm, …

    Giai đoạn 2006: Cổ phiếu của Sacombank được niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.

    Qua hơn 15 năm hoạt động, Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, tăng từ 190 tỷ đồng năm 2001 lên 4.449 tỷ đồng vào tháng 12/2007. Mạng lưới hoạt động với trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch trải rộng từ Bắc vào Nam, đội ngũ nhân viên gồm 6.000 người, quan hệ với trên 9.700 đại lý thuộc 250 ngân hàng tại 91 quốc gia trên thế giới. Sacombank còn là ngân hàng TMCP có số lượng cổ đông đại chúng lớn nhất Việt Nam với hơn 37000 cổ đông, các cổ đông chiến lược của Sacombank là các tập đoàn tài chính và ngân hàng lớn trên thề giới như:

    • Dragon Financial Holdings thuộc Anh Quốc
    • International Financial Company (IFC) trực thuộc World Bank
    • Tập đoàn Ngân hàng Australia và Newzealand (ANZ)

    Cùng với những thành quả đạt được, Sacombank hướng đến mục tiêu trở thành một ngân hàng bán lẻ đa năng – hiện đại – tốt nhất Việt Nam và có quy mô lớn trong khu vực

    I)      Cơ cấu tổ chức

     

    III.          Chức năng và nhiệm vụ:

    1. Khối doanh nghiệp

    Quản lý, phát triển, tiếp thị sản phẩm truyền thống cho KH doanh nghiệp.

    Quản lý công tác chăm sóc, xây dựng chính sách KH doanh nghiệp

    Quản lý công tác TTQT, chuyển tiền quốc tế.

    Quản lý hệ thống Swift

    Thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các định chế tài chính.

    Quản lý ngân hàng đại lý.

    Quản lý tài khoản Nostro

    1. Khối cá nhân

    Quản lý, phát triển và tiếp thị sản phẩm truyền thống cho KH cá nhân.

    Xây dựng, quản lý và điều phối chỉ tiêu bán hàng theo các sản phẩm cụ thể.

    Tiếp thị và phát triển kinh doanh.

    Quản lý mạng lưới ATM.

    1. Khối tiền tệ

    Kinh doanh trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ.

    Quản lý và điều hành thanh khoản của ngân hàng

    Thực hiện kinh doanh ngoại tệ,vàng

    Xây dựng và phát triển các sản phẩm của khối tiền tệ

    1. Khối đầu tư

    Đầu mối tiếp nhận thông tin về dự án đấu tư. Dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác để cho vay hợp vốn.

    Thẩm định các dự án ngân hàng tài trợ

    Quản lý hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần bằng nguồn vốn tự có của Ngân hàng

    1. Khối điều hành

    Tham mưu xây dựng và triển khai chiến lược phát triển của Ngân hàng

    Tổng hợp báo cáo hoạt động của toàn Ngân hàng.

    Công tác mở rộng mạng lưới.

    Quản lý chính sách tín dụng

    Quản lý quy trình chất lược, công tác pháp chế, cơ cấu tổ chức bộ máy.

    Công tác xây dựng và kiểm tra chế độ tài chính kế toán.

    Tham mưu xây dựng các chính sách về quản lý rủi ro.

    Quản lý thu hồi nợ, rủi ro tín dụng và phi tín dụng.

    Tái thẩm định hồ sơ cấp tín dụng vượt hạn mức phán quyết của các chi nhánh liên quan đến khách hàng và thẩm định các hồ sơ theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.

    1. Khối hỗ trợ

    Quản lý và phát hành văn thư, công tác hành chính phục vụ

    Quản lý chi phí điều hành.

    Quản lý hoạt động quan hệ công chúng.

    Quản bá thương hiệu

    Quản lỳ công tác xây dựng cơ bản

    Đào tạo theo kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng.

    Quản lý công tác thanh toán nội địa.

    Quản lý công tác ngân quỹ,thực hiện hỗ trợ cho họat động khối tiền tệ

    1. Khối CNTT

    Công tác quản trị mạng

    Công tác an toàn và bảo mật thông tin

    Phân tích và mô tả các yêu cầu về sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng, về khai thác hệ thống thông tin, dữ liệu trên hệ thống ngân hàng lõi, về xây dựng các ứng dụng phần mềm ngoài hệ thống ngân hàng lõi

    Phân tích thiết kế và lập trình các phân hệ phần mềm để thực hiện các yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, và để khai thác hệ thống thông tin, dữ liệu trên hệ thống ngân hàng lõi và các ứng dụng phần mềm ngoài hệ thống ngân hàng lõi

    1. Kiểm tra, kiểm soát nội bộ

    Kiểm tra, giám sát tuân thủ các quy định cảu pháp luật và các quy chế, quy trình nghiệp vụ, quy định nội bộ của Ngân hàng.

    Đánh giá kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ

    1. Nhân sự

    Tuyển dụng nhân sự.

    Quản lý nhân sự.

    Xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng.

    Quản lý cơ chế tiền lương và chính sách đãi ngộ nhân sự

    IV.         Các sản phẩm của Sacombank

    1.    Cá nhân

    j)      Sản phẩm tiền vay

    Cho vay tiêu dùng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho vay sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho  vay  cầm  cố  chứng  từ  có  giá,  vàng, ngoại tệ

    Cho vay phục vụ đời sống

    Cho vay liên kết mua xe ô tô

    Cho vay mua chứng khoán

    Cho vay liên kết chuyển nhượng bất động sản

    Cho vay liên kết mua nhà, sửa chữa nhà

    Cho vay cán bộ nhân viên

    Cho vay lãi cấn trừ bất động sản

    Cho vay tiểu thương chợ

    Cho vay sản xuất kinh doanh

    Cho vay cầm cố thẻ tiền gửi

    Cho vay sản xuất kinh doanh mở rộng tỷ le đảm bảo

    Cho vay nông nghiệp

    Cho vay du học

    k)    Tiền gửi :

    Chứng chỉ huy động vàng và VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng

    Tiết kiệm không kỳ hạn

    Tiết kiệm bậc thang

    Tiền gửi thanh toán

    Tiết kiệm tích lũy

    Tiết kiệm có kỳ hạn

    Tài khoản Âu Cơ

    l)       Thẻ

    Thẻ  Ladies First

    Thẻ  thanh  toán  quốc  tế  Sacombank  Visa

    Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa Credit

    Thẻ đồng thương hiệu VNPAY

    Thẻ tín dụng nội địa SacomPassport

    Thẻ thanh toán nội địa SacomPassport

    m) Chuyển tiền

    Chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam

    Chuyển tiền nhanh tận nhà

    Chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài

    Chuyển tiền trong nước

    Chuyển tiền bằng BankDraft

    n)    Khác:

    Dịch vụ giữ hộ tài liệu

    E-banking

    Mobile Banking

    Phone Banking

    Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ

    Dịch vụ bảo lãnh

    Dịch vụ hỗ trợ du học

    Cho thuê ngăn tủ sắt

    2. Doanh nghiệp:

    1. Sản phẩm tiền vay:

    Cho vay SXKD đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho vay bằng nguồn vốn RDF II

    Cho vay bằng nguồn vốn SMEDF

    Cho vay kinh doanh trả góp doanh nghiệp vừa và nhỏ

    Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng từ có giá

    Cho vay dự án – đầu tư

    Cho vay sản xuất kinh doanh

    1. Sản phẩm tiền gửi:

    Tiền gửi định kỳ doanh nghiệp

    Tiết kiệm tích lũy thưởng

    Tiền gửi có kỳ hạn

    Tiền gửi thanh toán

    1. Khác:

    Dịch vụ chi trả hộ lương cho CB-CNV

    Dịch vụ thấu chi tài khoản

    Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ

    Dịch vụ thu chi hộ

    Dịch vụ thanh toán quốc tế

    Dịch vụ bảo lãnh

    Bao thanh toán nội địa

    V.          Kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank từ 2005-2007

    2)    Các chỉ số tài chính chủ yếu: (đơn vị: Tỷ đồng)

    (Bản Tin Sacombank 2008)

    3)    Tình hình tăng trưởng qua các năm

    Tổng tài sản của Sacombank tăng đều qua các năm từ 2002-2005 và tăng vọt trong năm 2007 lên đến con số ấn tượng 63.484 tỷ đồng đạt mức tăng trưởng 156% so với năm 2006. dự kiến trong năm nay đạt kế hoạch 93.000 tỷ đồng. Sacombank là một trong những ngân hàng TMCP có tổng tại sản lớn nhất Việt Nam hiện nay.

    Năm 2007 vừa qua là năm thứ 16 Sacombank liên tục có lãi và cũng là năm đạt lợi nhuận cao nhất từ trước đến giờ, lợi nhuận trước thuế đạt 1452 tỷ đồng đạt mức tăng trưởng 167% so với năm 2006. Tổng vốn huy động quy VNĐ đạt 54.777 tỷ đổng , tăng 155%  và dư nợ cho vay tăng gần 136% đạt mức 34.317 tỷ đồng. Nhìn chung tình hình huy động vốn và cho vay của Sacombank đạt ở mức cao, tốc độ tăng trưởng cao hơn bình quân ngành (cả nước trung bình cho vay 38% và huy động vốn đạt 37.5%)

    VI.         Chiến lược phát triển dài hạn của Sacombank

    Mục tiêu chiến lược thời kỳ 2007-2010 là quyết tâm xây dựng Sacombank trở thành Ngân hàng bán lẻ, hiện đại, đa năng, đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực và từng bước hình thành một Tập đoàn tài chính đa chức năng, trong đó Sacombank là đơn vị hạt nhân trong giai đoạn 2011-2020.

    • Về năng lực tài chính

    Tiếp tục tăng nhanh vốn tự có bằng việc tăng cường tích lũy thông qua việc phát triển mạnh các quỹ dự trữ và dự phòng, phấn đấu đến cuối năm 2010 vốn tự có đạt khoảng 16.000 – 16.500 tỷ đồng (tương đương 1 tỷ dollars Mỹ). Trong đó, vốn điều lệ tính đến năm 2010 đạt khoảng trên 11.500 tỷ đồng chủ yếu bằng phương thức tái đầu tư từ cổ tức của cổ đông hiện hữu.

    • Về tổng tài sản

    Tổng tài sản của Sacombank đến năm 2010 dự kiến sẽ đạt mức tối thiểu 155.000 tỷ đồng tăng gấp gần 10,5 lần so với cuối năm 2005. Trong đó, giai đoạn 2007-2010 nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng bình quân 60-65%.

    • Về hoạt động tín dụng

    Tổng dư nợ cho vay đến cuối năm 2010 dự kiến sẽ đạt 82.000 – 85.000 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 65% – 70% trên tổng nguồn vốn huy động, tăng bình quân mỗi năm khoảng 55% -60% so với năm trước. Trong đó, dư nợ cho vay nhỏ, phân tán phải chiếm tỷ trọng 55% -60%. Nợ quá hạn chiếm tỷ trọng dưới 2%/ tổng dư nợ tín dụng.

    • Về kinh doanh dịch vụ

    Trong thời kỳ kế hoạch 2006 – 2010, Sacombank sẽ tập trung hết sức vào quá trình phát triển mở rộng các dịch vụ ngân hàng; quan tâm đặc biệt đến các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng quốc tế. Dự kiến đến năm 2010 thu nhập phi tín dụng phải chiếm tỷ trọng khoảng 32% – 35% trên tổng thu nhập của ngân hàng.

    • Về lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính

    Trong những năm 2007 – 2010 đảm bảo lợi nhuận trước thuế tăng bình quân mỗi năm 55% – 60% so với năm trước. Tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài sản vào năm 2010 dự kiến đạt 1,7% -1,9% và tỷ suất sinh lời/ vốn vào năm 2010 đạt 22% – 23%.

    • Về mạng lưới hoạt động

    Phấn đấu đến cuối năm 2010, mạng lưới chi nhánh của Sacombank sẽ có mặt tại tất cả các tỉnh, thành miền Nam, miền Trung và tại tất cả các tỉnh thành kinh tế trọng điểm miền Bắc. Dự kiến mạng lưới hoạt động của Sacombank vào năm 2010 sẽ đạt trên 320 điểm. Đồng thời tiến hành thành lập các chi nhánh tại các quốc gia lân cận, văn phòng đại diện tại Mỹ, Châu Âu và Châu Úc.

    • Về hệ thống công nghệ thông tin

    Mục tiêu đặt ra Sacombank phải là một trong những ngân hàng có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và tiên tiến nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại trong cả nước.

    • Về phát triển nguồn nhân lực

    Nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố cốt lõi để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Dự kiến đến năm 2010 đội ngũ CBNV của Ngân hàng đạt trên 5.800 người, Sacombank sẽ khẩn trương xây dựng Trung tâm đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo căn bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo nâng cao và đào tạo cán bộ quản lý điều hành các cấp.

    • Về tái cấu trúc tổ chức và hoạt động của Ngân hàng

    Hoàn thiện bộ máy điều hành theo dòng sản phẩm hướng về khách hàng, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên theo hướng chuyên nghiệp hóa, tăng cường kỹ năng quản trị – điều hành – giám sát, đồng thời trong năm 2007 hoàn tất chương trình chuẩn mực hóa, mô hình hoá các quy trình tác nghiệp để nâng cao năng suất lao động và chăm sóc tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng.
    Phần 3: Quy Trình Thanh Toán Bằng L/C Nhập Khẩu  Tại Sacombank

    I.             Những thủ tục cần thiết khi mở L/C tại Sacombank.

    • Giấy yêu cầ mở L/C (theo mẫu).
    • Hợp đồng ngoại thương (bản sao y).
    • Hợp đồng bảo hiểm (nếu có).
    • Giấy phép nhập khẩu (mặt hàng nhập khẩu theo giấy phép).
    • Hợp đồng bảo lãnh (L/C trả chậm).
    • Bản sao hồ sơ pháp lý (đối với khách hàng giao dịch lần đầu tiên).
    • Tờ trỉnh tín dụng được duyệt, phương án vay ốn (nếu ngân hàng có tài trợ).
    • Đơn xin mua ngoại tệ.
    • Giấy ủy quyền cử người đại diện giao dịch với ngân hàng.
    • Văn bản cam kết lịch thanh toán (L/C trả chậm).

    II.           Quy trình phương thức thanh toán bằng L/C nhập khẩu tại Sacombank

    1.    Quy trình phát hành L/C

    1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ khách hàng theo các tiêu chí sau:

    Hồ sơ đủ loại chứng từ từ

    Chứng từ có chữ ký thẩm quyền

    Giấy yêu cầu mở L/C không thiếu các chi tiết quan trọng, nếu có chỉnh sửa phải có dấu xác nhận chỉnh sửa của đơn vị.

    Nội dung HĐ bảo hiểm phù hợp với nội dung L/C yêu cầu mở.

    1. Lập tờ trình:

    Trên tờ trình cần thể hiện:

    Hàng hóa nhập khẩu: mãi lực, mức độ chuyên dùng và mục đích sử dụng tại đơn vị nhập khẩu có thuộc diện cấm nhập hoặc nhập khẩu có điều kiện không.

    Nhà cung cấp là đối tác quen thuộc của nhà nhập khẩu, có uy tín trên thương trường quốc tế.

    Trường hợp có tài trợ thì hồ sơ tài trợ được lập và lưu theo đúng cơ chế cho vay sản xuất kinh doanh hiện nay.

    1. Thực hiện ký quỹ, xuất nhập ngoại bảng, soạn và in điện L/C:

    Tiến hành các bước trong giao dịch mở L/C của phân hệ tài trợ thương mại- Smartbank để thực hiện ký quỹ, nhập ngoại bảng, soạn điện L/C và in bản thảo điện MT700 từ Smartbank. Căn cứ có giá trị pháp lý duy nhất để soạn thảo L/C là giấy yêu cầu phát hành L/C của khách hàng, HĐ chỉ có giá trị tham khảo.

    Kiểm tra nội dung bản thảo điện L/C.

    1. Trình ký và trình duyệt điện phát hành L/C

    Trình toàn bộ hồ sơ vừa thực hiện ở bước trên cho kiểm soát/trưởng phòng kiểm tra, có ý kiến và trình tiếp cho giám đốc.

    Trình ban lãnh đạo chi nhánh duyệt ký quỹ và và ký duyệt điện phát hành L/C để chuyển điện L/C lên hội sở.

    • Lưu ý:

    Trường hợp có tài trợ khách hành thanh toán L/C: phải hoàn tất hồ sơ vay song song với hồ sơ L/C để trình ban lãnh đạo chi nhánh duyệt một lần, L/C chỉ được phát hành khi tờ trình L/C được duyệt.

    Trường hợp bảo lãnh thanh toán trả chậm: việc phát hành L/C chỉ được thực hiện khi hoàn tất hồ sơ cầm cố/ thế chấp tài sản để ngân hàng bảo lãnh và không được hoàn lại vì bất cứ lý do gì.

    Trường hợp trình phát hành L/C vượt hạn mức phán quyết của GĐCN, GĐCN phải có ý kiến đế xuất, trình Ban Tổng Giám Đốc.

    1. Hội sở tiếp nhận, kiểm tra và xử lý hồ sơ từ chi nhánh:

    Trường hợp 1: Hồ sơ phát hành thuộc hạn mức GĐCN

    Kiểm tra nội dung L/C để đảm bảo các điều khoản quy định rõ ràng, hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Nếu có mâu thuẫn giữa bản thảo và đơn xin mở thì căn cứ vào bản thảo đã có chữ ký của GĐ để điều chỉnh.

    Kiểm tra và xác định lại ngân hàng nhận điện L/C

    Trình kiểm soát viên / trưởng phòng hội sở ký

    Đối chiếu file điện MT700 chi nhánh gửi lên bằng smartbank và bản thảo điện GĐCN đã ký duyệt. Nếu có sai biệt thì căn cứ vào bản thảo điện MT700 để điều chỉnh.

    Trường hợp 2: Hồ sơ vượt hạn mức phát hành của GĐCN

    Thực hiện các bước như trường hợp 1

    Có ý kiến đề xuất trên tờ trình về việc phát hành L/C vượt hạn mức chi nhánh

    Trình KSV hội sở/ TP hội sở ký

    Trình Ban Tổng Giám Đốc ký duyệt tờ trình.

    1. Hội sở chuyển điện Swift ra nước ngoài:

    Sau khi hồ sơ phát hành L/C được duyệt, tiến hành duyệt điện từ Smartbank qua Swift.

    Vào Swift duyệt bước 1.

    Duyệt điện swift bước 2.

    Duyệt điện swift bước 3.

    Trả điện về chi nhánh

    1. Hoàn tất hồ sơ phát hành:
    • Tại hội sở:

    In điện Swift

    Mở bìa lưu hồ sơ

    • Tại chi nhánh:

    Nhận điện 700 hội sở chuyển về

    In điện từ Smartbank, trình ký GĐCN.

    Giao điện L/C cho khách hàng.

    Mở bìa lưu hồ sơ.

    2.    Quy trình tu chỉnh L/C

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:

    Tiếp nhận giấy yêu cầu tu chỉnh của khách hàng.

    Kiểm tra nội dung yêu cầu tu chỉnh. Nếu yêu cầu tu chỉnh chưa hợp lệ, yêu cầu khách hàng chỉnh sửa.

    1. Xử lý hồ sơ:

    Thực hiện ký quỹ, hạch toán ngoại bảng (TH tu chỉnh tăng tiền).

    Thực hiện các bước trong giao dịch tu chỉnh L/C-phân hệ TTTM, Smartbank và soạn điện MT707. Căn cứ duy nhất để soạn điện tu chỉnh là giấy yêu cầu tu chỉnh của khách hàng.

    In điện tu chỉnh từ Smartbank.

    1. Trình ký và trình duyệt điện Smartbank chuyển lên hội sở

    Trình toàn bộ hồ sơ vừa thực hiện cho KSVCN/TP kiểm tra, có ý kiến để trình tiếp GĐCN.

    Trình GĐCN ký duyệt, đóng dấu lên bản thảo điện tu chỉnh

    Trình GĐCN duyệt điện tu chỉnh trên Smartbank

    Chuyển điện lên hội sở

    1. Hội sở tiếp nhận và xử lý hồ sơ từ chi nhánh:

    Kiểm tra nội dung tu chỉnh để đảm bảo các điều khoản tu chỉnh rõ ràng, hợp lý không gây bất lợi cho ngân hàng. Nếu có bất hợp lý trên bản thảo điện thì căn cứ vào bản thảo điện có chữ ký của GĐCN để điều chỉnh.Trình kiểm soát/TP ký trên bản thảo điện.

    Nếu tu chỉnh tăng tiền vượt hạn mức CN, trình hồ sơ qua lãnh đạo phòng có ý kiến trước khi trình ban TGĐ.

    Đối chiếu file điện MT707 chi nhánh gửi lên bằng smartbank và bản thảo điện GĐCN đã duyệt. nếu có sai biệt thì căn cứ vào bản thảo điện MT707 để điều chỉnh.

    1. Duyệt và chuyển điện Swift ra:

    TTVHS duyệt trên Smartbank căn cứ trên các chỉnh sửa trên bản thảo có đầy đủ chữ ký của GĐCN và TP TTQT, chuyển điện từ Smartbank qua Swift.

    Duyệt điện Swift bước 1, bước 2, bước 3

    Trả điện về chi nhánh.

    1. Hoàn tất hồ sơ tu chỉnh:
    • Tại hội sở:

    In điện Swift, Mở bìa lưu hồ sơ.

    • Tại chi nhánh:

    In điện, giao điện tu chỉnh cho khách hàng, mở bìa lưu hồ sơ

    3.    Quy trình xử lý L/C

     

    1. Tiếp nhận BCT từ nước ngoài gửi về

    Mở bì thư, đóng dấu Chứng Từ Đến.

    Lưu lại một bộ photo các chứng từ cùng chỉ dẫn thanh toán (cover letter) của ngân hàng nước ngoài.

    1. Kiểm tra BCT:

    Cơ sở kiểm tra:

    • L/C do Sacombank phát hành
    • UCP theo qui định trong L/C

    Thông báo BCT đã về cho khách hàng bằng phương tiện nhanh nhất trong vòng 24h để khách hàng chuẩn bị nguồn thanh toán

    `Cập nhật dữ liệu chứng từ về vào Smartbank để theo dõi ngày đến hạn thanh toán và cập nhật lên bìa hồ sơ 2 chi tiết chính: ngày chứng từ về, trị giá BCT

    Nếu BCT hợp lệ, yêu cầu khách hàng nộp tiền thanh toán và trao toàn bộ BCT gốc cho khách hàng (trừ Cover Letter gốc).

    Nếu BCT bất hợp lệ, chuyển lên hội sở bản gốc Cover Letter, bản sao Hối Phiếu, Invoice, B/L và các chứng từ khác có bất hợp lệ

    1. Xử lý chứng từ BHL:
    • Gửi thông báo BHL:

    Soạn điện thông báo BHL trên Smartbank, in điện trình KSVCN/TPCN kiểm tra và trình tiếp GĐCN ký và duyệt trên Smartbank.

    Gửi thông báo cho phòng TTQT: ngày Fax thông báo BHL cho P.TTQT chậm nhất 16h ngày làm việc thứ 5 kể từ ngày chứng từ đến chi nhánh, ghi rõ các điểm sai biệt.

    Thông báo cho khách hàng, chi nhánh chỉ được thông báo các BHL cho khách hàng bằng văn bản sau khi đã thống nhất với P.TTQT.

    P.TTQT tiếp nhận hồ sơ từ chi nhánh và kiểm tra hồ sơ

    Trình lãnh đạo phòng ký

    Duyệt điện trên Smartbank chuyển vào Swift

    Duyệt Swift bước 1, bước 2, bước 3

    Kết nối Swift, chuyển điện ra nước ngoài.

    Chuyển điện về chi nhánh, chí nhánh in điện giao cho khách hàng

    • Gia hạn thanh toán:

    Việc gia hạn thanh toán phải được hoàn tất trước ngày đáo hạn L/C

    Nhận văn bản của KH

    Thực hiện các bước trên Smartbank, soạn điện đề nghị nước ngoài gia hạn thanh toán.

    Trình KSVCN/TPCN có ý kiến và trình tiếp GĐCN ký bản thảo và duyệt điện trên Smartbank chuyển về hội sở.

    TTVHS duyệt điện trên Smartbank trình KSVHS/TPHS ký

    Duyệt điện Smartbank qua Swift. Kết nối chuyển điện ra nước ngoài và chuyển điện về chi nhánh

    Chi nhánh thông báo cho khách hàng kết quả khi nhận điện của hội sở.

    Cập nhật ngày thanh tóan mới nếu được gia hạn

    • Giảm giá trị thanh toán:

    Thực hiện giống như gia hạn thanh toán trừ trường hợp ngân hàng chuyển chứng từ chủ động gởi điện đồng ý giảm giá trị thanh toán.

    • Hoàn trả BCT:

    Việc từ chối thanh toán và việc hoàn trả BCT chỉ được thực hiện khi có văn bản chính thức của khách hàng với điều kiện:

    BCT bất hợp lệ

    Có điện yêu cầu ngân hàng hoàn trả chứng từ

    Xác định thương vụ có tích chất lừa đảo

    Nhận văn bản của KH, lập phiếu đề nghị, trình KSVCN/TPCN và GĐCN ký rồi chuyển BCT và 2 văn bản này lên P.TTQT.

    TTVHS bảo quản toàn bộ BCT nghiêm ngặt

    Lập Cover Letter hoàn trả BCT khi nhận diện có mật mã đồng ý thu hồi lại BCT của ngân hàng chuyển BCT, trình KSVHS/TPHS và ban TGĐ ký.

    Photo toàn bộ bản gốc BCT lưu hồ sơ

    Chi nhánh thu phí phát sinh

    Cập nhật phát sinh vào chương trình Smartbank và bìa hồ sơ.

    1. Ký hậu vận tải đơn/ phát hành thư bảo lãnh nhận hàng:

    Chi nhánh chỉ được ký hậu vận tải đơn cho KH khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng (nộp đủ tiền thanh toán, hoàn tất thủ tục cầm cố, thế chấp và quản chấp hàng hóa-nếu có yêu cầu tài trợ).

    Trích chuyển tiền tập trung thanh toán vào tài khoản ký quỹ hoặc phong tỏa phần tiền chờ thanh toán nếu BCT chưa về đến nhằm tránh tình trạng tài khoản không đủ số dư thanh toán.

    Giao vận đơn và BCT bản chính cho KH ký nhận

    Lưu bản sao vận đơn đã được GĐCN ký hậu vào hồ sơ L/C

     

    4.    Quy trình thanh toán L/C

     

     

     

    1. L/C trả ngay

    BCT hợp lệ: phải thanh toán trong vòng 7 ngày làm việc(đp61i với UCP 500) và 5 ngày (đối với UCP 600) từ ngày nhận chứng từ.

    BCT có BHL: khi thanh toán phải phiếu đề nghị ký hậu vận đơn đã có chữ ký xác nhận của GĐCN.

    GDVCN cho khách hàng ký quỹ bổ sung và, xuất ngoại bảng,lập phiếu thanh toán theo mẫu 02-TTQT. GDVTK xác nhận số dư hạch toán.

    Tiến hành soạn điện MT202, MT576, MT999(nếu có) trên chương trình Smartbank, in điện trình ký kiểm soát ở các bước 1 và 3 qua KSCVN/TPCN, trình tiếp toàn bộ hồ sơ và B/L (ký hậu) cho GDCN. Duyệt điện chuyển lên hội sở đồng thời chuyển bản thảo điện, phiếu thanh toán có chữ ký GĐCN và phiếu chuyển khoản về hội sở.

    Hội sở căn cứ vào điện MT202 chỉnh sửa cho đúng ký thuật thanh toán, duyệt điện Smartbank vào Swift và chuyển điện ra nước ngoài. Sau đó chuyển điện đã duyệt về cho chi nhánh.

    Cập nhật và mở bìa lưu hồ sơ.

    Chi nhánh nhận điện từ hội sở, in điện, giao điện cho khách hàng, tách chứng từ giao kế toán và lưu hồ sơ.

    1. L/C trả chậm:

    Sau khi nhận hối phiếu đã được khách hàng ký chấp nhận thanh toán, chi nhánh chuyển phiếu đề nghị đi điện chấp nhận thanh toán lên hội sở, đến ngày đáo hạn mới thực hện thanh toán như trên.

    1. L/C xác nhận:

    Việc phát hành, tu chỉnh, thanh toán sẽ được xử lý theo từng trường hợp tùy theo yêu cầu cụ thể của khách hàng và của ngân hàng xác nhận.

    5.    Quy trình hủy L/C

    1. Hủy L/C còn hiệu lực
    • Điều kiện:

    L/C không hủy ngang chỉ được hủy khi có sự đồng ý của các bên tham gia.

    Chỉ được thực hiện yêu cầu hủy L/C của KH khi BCT chưa được xuất trình hoặc đã thanh toán hết các BCT đã xuất trình.

    • Người mở yêu cầu hủy L/C:

    GDVCN tiếp nhận, kiểm tra điều kiện hủy.

    Tiến hành các bước trên smartbank, soạn điện hủy L/C gửi đến ngân hàng người thụ hưởng yêu cầu họ thông báo đến cho người thụ hưởng và điện xác nhận lại cho Sacombank.

    Trình KSVCN/TPCN kiểm soát và trình tiếp GĐCN duyệt.

    Chuyển bản thảo và truyền điện lên P.TTQT

    P.TTQT kiểm tra và duyệt điện theo nội dung bản thảo rồi kết nối chuyển điện ra nước ngoài.

    Sau khi nhận được điện trả lời từ nước ngoài xác nhận người thụ hưởng đồng ý hủy L/C. P.TTQT giao điện cho chi nhánh.

    GDVCN tiến hành giải tỏa tiền ký quỹ cho KH, đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và đóng hồ sơ.

    • Ngân hàng thông báo yêu cầu hủy L/C:

    GDVCN nhận điện từ P.TTQT, thông báo ngay cho người mở L/C và đề nghị trả lời bằng văn bản.

    Sau khi nhận được văn bản trả lời từ KH, nếu ngân hàng nước ngoài yêu cầu, chi nhánh phải soạn điện phúc đáp, trình KSVCN/TPCN ký, rồi chuyển bản thảo và file điện lên P.TTQT để gửi ngân hàng nước ngoài.

    TTVHS kiểm tra nội dung bản thảo điện, trình ký KSVHS+TPHS.

    Tiến hành duyệt điện Smartbank và đẩy điện ra nước ngoài qua Swift.

    Nếu L/C được hủy, GDVCN tiến hành giải tỏa tiền ký quỹ cho KH đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và đóng hồ sơ.

    1. Hủy L/C đã hết hạn hiệu lực

    GDVCN tiến hành giải tỏa ký quỹ cho KH đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và thông báo cho hội sở đóng hồ sơ với điều kiện.

    L/C đã hết hạn hiệu lực sau 15 ngày, KH phải yêu cầu hủy bằng văn bản.

    L/C hết hạn hiệu lực chưa đến 15 ngày, KH phải cam kết đảm bảo thanh toán nếu sau khi rút tiền ký quỹ, có chứng từ gửi đến phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C.

    Trường hợp L/C hết hạn hiệu lực 3 tháng trở lên và không nhận được văn bản đề nghị của KH. Chi nhánh lập văn bản thông báo cho KH, đề nghị KH có ý kiến về việc đóng hồ sơ. Nếu KH đồng ý đóng hồ sơ, GDVCN thu phí, xuất ngoại bảng đồng thời thông báo cho Hội sở.

    6.    Đánh giá quy trình thực hiện:

    1. Thuận lợi:

    Quy trình thực hiện phương thức thanh toán chứng từ nhập khẩu của Sacombank được chuẩn hóa theo một mô hình và tiêu chuẩn hợp lý từ giai đoạn phát hành L/C cho đến giai đoạn kết thúc.

    Thời gian phát hành một L/C cho khách hàng nhanh chóng, thủ tục đơn giản.

    Mỗi giai đoạn của một quy trình luôn luôn được thực hiện qua hai bước kiểm duyệt từ cấp chi nhánh và một bước kiểm duyệt từ hội sở để đảm bảo độ chính xác và hạn chế rủi ro cho cả phía khách hàng lẫn ngân hàng Sacombank.

    Sử dụng hệ thống xử lý Smartbank online trên toàn hệ thống, giao diện thân thiện, dễ sử dụng, luôn luôn cập nhật kịp thời số dư tài khoản của khách hàng để đảm bảo thanh toán kịp thời cho các khách hàng.

    Trình độ nhân viên giao dịch cao,làm việc chuyên nghiệp. trong quá trình kiểm tra bộ chứng từ chính xác và nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng là các doanh nghiệp nhậu khẩu.

    Việc thanh toán phí được thực hiện theo từng giai đoạn rõ ràng cho khách háng dể hiểu và thuận tiện cho việc kiểm toán về sau.

    Việc lưu hồ sơ khách hàng được phân chia nhằm quản lý những khách hàng giao dịch thường xuyên và khách hàng mới để có những chính sách cũng như ưu đãi đối với từng loại khách hàng.

    1. Hạn chế:

    Hệ thống xử lý Smartbank vẫn còn nhiều bất cập, thường xuyên xảy ra tình trạng treo hệ thống, quá trình tạo báo cáo mất nhiều thời gian dẫn đến công tác thực hiện của các giao dịch viên bị chậm trễ,  mất thời gian chờ đợi của khách hàng.

    Chưa áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO

    Việc trình ký nhiều lần cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tiến độ thực hiện bị gián đoạn.

    Chứng từ kế toán còn nhiều loại.

    III.          Tình hình hoạt động của phòng TTQT qua các năm

    1.   Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua

    Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, tuy không giống ngân hàng ngoại thương (Vietcombank) có bề dày kinh nghiệm và mạng lưới khách hàng xuất nhập khẩu rộng lớn, nhưng được sự quan tâm của ban lãnh đạo ngân hàng, cùng với sự vươn lên của bản thân, hoạt động TTQT của Sacombank cũng như dịch vụ thanh toán bằng L/C nhập khẩu đã từng bước trưởng thành và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường TTQT Việt Nam vô cùng sôi động và cạnh tranh quyết liệt.

    Tình hình xuất nhập khẩu trong những thời gian qua:

    (tốc độ tăng trưởng so với năm trước)

    Đơn vị: tỷ USD

      Kim ngạch XNK Tốc độ tăng trưởng Xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng Nhập khẩu Tốc độ tăng trưởng
    2005 69.42 18.8% 32.44 22.4% 36.98 15.7%
    2006 84.7 22% 39.8 22.8% 44.9 21.4%
    2007 111.2 31.3% 48.5 21.9% 62.7 40%

    (Tổng cục hải quan www.gso.gov.vn)

    Trong 3 năm vừa qua, kim ngạch xuất nhập khẩu đều tăng, đặc biệt trong năm 2007, với việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 111.2 tỷ USD đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay với 31.3%, trong đó nhập khẩu luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhâp khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu tăng gần 40% so với năm 2006. Việc mới tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, hợp tác với nhiều đối tác mới nước ngoài thì việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ là phổ biến nhất. Việc tốc độ tăng trưởng hàng nhập khẩu tăng đồng nghĩa với việc thanh toán với đối tác nước ngoài là khá lớn. Do đó đây vừa là một cơ hội cho bộ phận thanh toán quốc tế vừa là một áp lực cho ngân hàng Sacombank nói riêng và hệ thống các ngân hàng nói chung.

    2.    Những kết quả  tích cực:

     

    • Doanh số TTQT (Đơn vị: tỷ USD)
      2005 2006 2007
    Tổng DT TTQT 1.52 1.92 3.1
    Tăng trưởng 25% 26% 60%

    ( Báo cáo thường niên Sacombank 2005, 2006, 2007)

     

    Doanh số của Sacombank trong lĩnh vực hoạt động thanh toán quốc tế tăng đều qua các năm. Trong năm 2007 doanh số từ hoạt động này đạt gần 3.1 tỷ USD, tăng gần 60% so với năm 2006.

    Cùng với sự tăng trưởng của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước ta, sự gia tăng doanh số của phòng TTQT , đặc biệt trong năm 2007 doanh số TTQT tăng đến gần 60% cho thấy Sacombank đã có được tầm nhìn xa, biết nắm lấy thời cơ, cơ hội của sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và có những chiến lược phát triển đúng đắn, những chính sách tài trợ thương mại hiệu quả cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đã lôi kéo được nhiều khách hàng về Ngân hàng. Doanh số tăng đồng nghĩa với việc ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của Ngân hàng và giá trị thanh toán ngày càng lớn, đây là một thành tựu đáng khích lệ.

    Cùng với việc đạt được doanh số TTQT cao, tính từ đầu năm 2007, đã 4 lần Sacombank nhận giải thưởng lớn về thanh toán quốc tế từ các ngân hàng danh tiếng trên thế giới gồm: HSBC, Wachovia, Standard Chartered và American Express.

    • Tổng số tiền của thư tín dụng quy đổi VND còn hiệu lực cho đến cuối năm:

    (ĐVT: triệu VND)

    Năm 2005 2006 2007
    L/C trả ngay 1. 119.224 2.103.415 5.873.117
    L/C trả chậm 83.389 119.213 265.046

    (Báo cáo thường niên Sacombank 2005, 2006, 2007)

    Cho đến cuối năm 2007 vừa qua , tổng số dư thanh toán toán bằng LC trả ngay quy đổi còn hiệu lực lên đến con số 5.873.117 triệu VND, trong khi L/C trả chậm chỉ đạt 265.046 triệu VND, sự chênh lệch này cho thấy việc thanh toán bằng L/C trả ngay chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá tri thanh toán bằng L/C, con số này còn nói lên hoạt động phương thức thanh toán bằng L/C chiếm một tỷ trọng khá lớn trong hoạt động TTQT nói chung của Sacombank

    Tổng giá trị quy đổi của dịch vụ thanh toán bằng L/C tăng đều qua các năm, đặc biệt việc tăng nhanh từ con số 2.103.415 triệu VND lên đến 5.873.117 triệu VND trong một năm cho thấy hoạt động thanh toán bằng LC của Sacombank chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong các phương thức thanh toán như D/P, D/A, TTR  và đã đạt được một kết quả khả quan nhất định, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt của các hệ thống ngân hàng với nhau.

     

    • Mạng lưới đại lý ngân hàng ngày càng được mở rộng:
    Năm 2005 2006 2007
    Số đại lý 6500 8900 9700

    (Báo cáo thường niên Sacombank 2007)

    Việt Nam gia nhập WTO đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp mở rộng quan hệ mua bán với nhiều đối tác nước ngoài trên thế giới. nắm bắt được cơ hội đó cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đại lý trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, từ năm 2005 đến nay, Sacombank không ngừng mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài. Số lượng ngân hàng đại lý và số nước thiết lập quan hệ đại lý với Sacombank ngày càng nhiều. Từ chỗ hoàn toàn không có quan hệ với nước ngoài trong những năm đầu, đến năm 2007, Sacombank đã có hơn 9700 đại lý thuộc 250 ngân hàng tại 91 quốc gia trên toàn thế giới.

    • Thương hiệu của Sacombank ngày càng được nâng cao:

    Cùng với việc thiết lập nhiều mối quan hệ đại lý với các ngân hàng lớn trên thế giới, Sacombank đang ngày càng khẳng định mình trên con đường hội nhập quốc tế, ngày càng được nhiều đối tác lớn nước ngoài biết đến, đó cũng là một trong những tiền đề giúp cho Sacombank ngày càng phát triển vững mạnh hệ thống TTQT.

    Đối với một nước có truyền thống nhập khẩu lớn như Việt Nam thì việc chọn một ngân hàng có nhiều đại lý trên thế giới là một ưu tiên hàng đầu của các doanh nhiệp nhập khẩu, giúp họ hạn chế tối đa về mặt chi phí khi không phải thông qua nhiều trung gian ngân hàng khác. Và Sacombank được biết đến như là một trong những ngân hàng có mạng lưới đại lý rộng khắp

    Việc xây dựng hoàn thành Trung tâm dữ liệu lớn nhất trong hệ thống ngân hàng đầu năm 2008 vừa qua cũng là một thành tựu to lớn góp phần vào việc phát triển hệ thống TTQT nói riêng và toàn bộ hệ thống xử lý giao dịch của Sacombank nói chung.

    3.    Những mặt hạn chế:

    Bên cạnh những kết quả khả quan thì hoạt động TTQT của Sacombank cũng bộc lộ những hạn chế nhất định.

    Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên đến 111.2 tỷ USD trong năm 2007, mà doanh số thanh toán quốc tế của Sacombank chỉ đạt được 3.1 tỷ USD, chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, trong khi đó, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank đạt 26.32 tỷ USD, chiếm hơn 23% mặc cho sự cạnh tranh khốc liệt về tỷ giá, lãi suất chiết khấu; phí thanh toán, thủ tục thanh toán; dịch vụ chăm sóc, phục vụ khách hàng v.v ..Điều này cho thấy hoạt động TTQT của Sacombank chỉ chiếm một thị phần nhỏ trong toàn hệ thống ngân hàng chưa xứng đáng với quy mô cũng như mạng lưới hoạt động của Sacombank.

    Xét trên phạm vi toàn quốc, thị phần TTQT nói chung và thị phần thanh toán hàng nhập nói riêng của Sacombank không thực sự cạnh tranh lắm.

    Sacombank chưa áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, chưa tạo được lòng tin tuyệt đối từ phía khách hàng.

    Phí dịch vụ chưa mang tính cạnh tranh cao (phí ký hậu vận đơn tại Sacombank là 5 USD, trong khi tại ACB chỉ có 2 USD)

    Dịch vụ thanh toán quốc tế tại Sacombank chưa mang tính cạnh tranh cao, chưa có tiêu chí phân loại khách hàng rõ ràng để có những ưu đãi cho từng đối tượng khách hàng cụ thể, điều này có thể làm giảm mức tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng

    Chưa xây dựng cơ sở đánh giá năng lực làm việc của nhân viên thực sự cụ thể, nên không có tác dụng kích thích nhân viên phấn đấu hơn trong công việc.

    Sự cạnh tranh về doanh số so với các ngân hàng khác trong hệ thống chưa cao: VCB có doanh số thanh toán xuất nhập khẩu lớn nhất với khách hàng là các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, Ngân hàng Đông Á đứng đầu về doanh số chi trả kiều hối và có nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ phát triển; ACB với chiến lược marketing rất chuyên nghiệp.

    Công nghệ ngân hàng chưa cao: hiện nay Sacombank sử dụng chương trình Smartbank do FPT cung cấp để quản lý và xử lý các giao dịch phát sinh hàng ngày. Chương trình Smartbank vẫn còn nhiều bất cập khi số lượng truy cập hệ thống cùng lúc lớn , trong khi đó ACB và EAB đã có những hệ thống xử lý giao dịch có khả năng xử lý lớn hơn (ACB sử dụng chương trình TCBS, còn EAB sử dụng chương trình Flexcube như giải pháp ngân hàng lõi)

     

    Phần 4: Giải Pháp Và Đề Xuất Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Thanh Toán Tín Dụng Chứng Từ Nói Riêng Và Hoạt Động TTQT Nói Chung Tại Sacombank

    I.             Mục đích việc đưa ra các giải pháp

    Với mục tiêu chiến lược là quyết tâm xây dựng và phát triển  Sacombank trở thành một Ngân hàng bán lẻ hiện đại đa năng đạt mức tiên tiến trong khu vực, được biết đến với chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt và phong cách phục vụ chuyên nghiệp. Với định hướng như vậy, Sacombank cần phải nổ lực hoàn thiện mình từng trong từ khâu, từng lĩnh vực để có thể thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng, kể cả khách hàng khó tính nhất, tạo cho khách hàng sự hài lòng tuyệt đối, có lòng tin vào dịch vụ mà Sacombank cung cấp. Đặc biệt trong  lĩnh vực TTQT, một trong những mũi nhọn đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng

    II.           Giải pháp về quy trình thanh toán bằng L/C nhập khẩu

    Quy trình thanh toán cần luôn luôn được cập nhật, bổ sung, sửa đổi trực tiếp từ các qui trình thực tế của các giao dịch viên, cũng như từ những thay đổi về các điều lệ và quy định của ICC cho phù hợp với quy trình thanh toán của thế giới.

    Cần nâng cấp và cải tiến phần mềm quản lý Smartbank, tránh tình trạng hệ thống thường xuyên bị treo làm chậm tiến độ thực hiện.

    Nên áp dụng theo một tiêu chuẩn thanh toán quốc tế để tạo và nâng cao niềm tin cũng như sự tin tưởng của khách hàng.

    Có những chính sách ưu đãi dành cho những khách hàng lớn và thường xuyên thanh toán bằng thư tín dụng thông qua hệ thống ngân hàng.

    Bộ phận TTQT cần giữ quan hệ chặt chặt chẽ và mật thiết với bộ phận tín dụng để luôn luôn cập nhật và bổ sung hồ sơ của khách hàng một cách thường xuyên.

    Hạn chế và giảm thiểu những chứng từ kế toán không cần thiết hoặc kết hợp chung để giảm tính phức tạp, tiết kiệm thời gian nhân viên giao dịch làm thay công việc kế toán.

    Đặc điểm kinh doanh của Sacombank trong hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động nhập khẩu chiếm một tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với hoạt động xuất khẩu, do đó gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối nguồn ngoại tệ.. Vì vậy Ngân hàng cần có những chính sách, chương trình phù hợp để thu hút khách hàng có nguồn thu ngoại tệ lớn nhằm tái tạo và cân bằng nguồn ngoại tệ.

    Nhu cầu nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, đa số thanh toán bằng vốn vay. Do đó khi sử dụng hết hạn mức vay tại ngân hàng này, khách hàng sẽ tìm đến một ngân hàng khác xin cấp một hạn mức tín dụng khác để nhập khẩu, đó cũng là tình trang chung hiện nay của các doanh nghiệp nhập khẩu. Vì vậy Sacombank cần có những chính sách ưu đãi về hạn mức tín dụng đối với những khách hàng lớn và tiềm năng, thường xuyên giao dịch với ngân hàng. Để thực hiện tốt việc này, phòng TTQT cần kết hợp với phòng tín dụng, cán bộ tín dụng cần làm tốt công tác thẩm định dự án, quản lý tài sản đảm bảo đánh giá chính xác năng lực tài chính doanh nghiệp, xếp loại chất lượng tín dụng cho từng khách hàng, trên cơ sở đó xây dựng những hạn mức mở L/C, hạn mức chiết khấu bộ chứng từ.

    Xác lập những chi nhánh Ngân hàng hoạt động tốt, có doanh số cao để nâng cao hạn mức mở L/C cấp chi nhánh, tạo điều kiện cho việc thanh toán nhanh chóng, tiện lợi.

    Vì thanh toán bằng L/C nhập khẩu là một trong những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Sacombank trong hoạt động thanh toán quốc tế, do đó cần tăng cường các công tác kiểm tra kiểm soát hoạt động, quy trình một cách thường xuyên nhằm đản bảo thực hiện đúng quy trình, pháp luật, phù hợp thông lệ quốc tế, nhanh chóng phát hiện ra sai sót để xử lý kịp thời.

    III.          Giải pháp về hoạt động TTQT tại Sacombank:

    SWOT O

     

    ·Việt Nam là thành viên tổ chức WTO.

    ·Tổng giá trị kim ngạch XNK Việt Nam lớn.

    ·Chính sách XNK ngày càng thông thoáng.

    T

     

    ·Nhiều ngân hàng 100% vốn nước ngoài đang thâm nhập vào VN.

    ·Cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng trong nước.

    S

     

    ·Có hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới.

    ·Mạng lưới hoạt động rộng lớn.

    ·Trình độ NV TTQT cao

    S1/O1

     

    S3/O2, O3

    S2, S3/ T1, T2
    W

     

    ·Chiến lược Marketing còn yếu.

    ·Hệ thống phần mềm giao dịch còn nhiều vấn đề

    W1/O1,O2 W1/T1,T2

    Kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu của Sacombank với các cơ hội và đe dọa từ môi trường bên ngoài, có thể đưa ra một số giải pháp sau:

    • Kết hợp S/O

    Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO trong năm vừa qua là một cơn hội lớn cho các tổ chức tài chính nói chung và Sacombank nói riêng, tranh thủ sự kiện đó Sacombank cần kết hợp những điểm mạnh của mình như thiết lập thêm nhiều quan hệ đại lý với các ngân hàng có uy tín trên thế giới. việc mở rộng quan hệ đại lý sẽ cho ta học hỏi được phong cách làm việc và các phương thức TTQT hiện đại của các ngân hàng lớn trên thế giới. Từng bước thâm nhập vào thị trường tài chính tiền tệ thế giới bằng cách mở các văn phòng đai diện tại nước ngoài, mà việc thành lập văn phòng đại diện tại Trung Quốc trong năm vừa qua là một bước khởi đầu.

    Luôn luôn nâng cao kiến thức chuyên môn và thực tiễn cho nhân viên giao dịch TTQT cho phù hợp với tiến độ phát triển của thế giới.

    • Kết hợp S/T

    Đi cùng với những cơ hội to lớn khi Việt Nam gia nhập WTO là những thách thức và đe dọa không nhỏ. Với một hệ thống mạng lưới rộng lớn sẵn có,  Sacombank cần tiếp tục mở rộng hệ thống chi nhánh trong cả nước, phù hợp với mục tiêu chiến lược là có mạng lưới hoạt động trải dài từ Bắc vào Nam, vừa tranh thủ được lộ trình thâm nhập vào Việt Nam của các tổ chức tài chính lớn trên thế giới để phát huy thế mạnh và chiếm một thị phần lớn, vừa nâng cao vị thế cạnh tranh của Sacombank đối với các ngân hàng trong nước.

    Việc mở rộng hệ thống chi nhánh sẽ tạo cơ hội cho Sacombank tiếp cận được nhiều hơn với các doanh nghiệp và hoạt động TTQT cũng sẽ được đẩy mạnh hơn.

    • Kết hợp W/O, W/T

    Xây dựng chiến lược Marketing bài bản, chuyên nghiệp, quảng bá hình ảnh Sacombank không chỉ trong nước và khu vực mà còn mở rộng ra toàn thế giới.

    Kết hợp với những chương trình khuyến mãi để thu hút thêm nhiều khách hàng nhằm nâng cao thị phần TTQT của Sacombank so với các ngân hàng khác.

    Cần nâng cấp hệ thống phần mềm giao dịch, cải tiến quy trình làm việc cho chuyên nghiêp, phù hợp với trình độ chung của thế giới, nhăm nâng cao năng lực của Sacombank so với các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới khi họ thâm nhập vào Việt Nam.

    Đa dạng hóa sản phẩm dịch TTQT, tìm hiểu và phát triển những phương thức thanh toán còn mới ở Việt Nam.

    1.    Giải pháp về quản lý đào tạo.

    Để hạn chế đa các rủi ro trong thanh toán bằng thư tín dụng nhập khẩu, các cán bộ phòng TTQT phải thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức về pháp luật quốc gia và quốc tế. Nắm vững các quy định quy chế có liên quan đến hoạt động thanh toán bằng chứng từ nhập khẩu của Ngân hàng nhà nước.

    Các giao dịch viên luôn nắm vững các quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán nhập khẩu, các thao tác xử lý và vai trò của mình trong từng giao dịch, thực hiện tuân thủ chặt chẽ các bước trong quy trình nghiệp vụ.

    Chủ động thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề, phối hợp với các cơ quan tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ có liên quan đến TTQT, gửi cán bộ đi đào tạo nghiệp vụ tại các ngân hàng lớn trên thế giới.

    Tiêu chuẩn hóa các cán bộ làm công tác TTQT: bố trí các cán bộ đủ năng lực trình độ chuyên môn và ngoại ngữ phù hợp với công việc.

    Thường xuyên cập nhật những thông tin quốc tế nhằm tạo điều kiện cho cán bộ bắt kịp tình hình biến động của thế giới.

    Cần thiết lập cơ sở đánh giá năng lực làm việc của nhân viên một cách rõ ràng, cụ thể. Thanh toán quốc tế là một lĩnh vực khó có thể xác định những tiêu chí để đánh giá đúng năng lực của nhân viên, vì thế bộ phận nhân sự nên có những chỉ tiêu nhằm đánh giá khả năng làm việc của nhân viên.

    Có cơ chế chính sách khuyến khích bằng cách hình thức vật chất hoặc khen thưởng cho các cán bộ TTQT tự học để nâng cao trình độ phù hợp với cương vị được giao.

    2.    Giải pháp về công nghệ.

    Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng theo trình độ của một tập đoàn tài chính lớn trong khu vực., điều này không chỉ nâng cao chất lược dịch vụ TTQT tại Sacombank mà còn cung cấp cho ngân hàng một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động TTQT trong toàn hệ thống. Việc xây dựng Trung tâm dữ liệu ở tỉnh Bình Dương vừa qua được xem như là bước đi đầu tiên trong việc hiện đại hóa công nghệ.

    Hiện đại hóa ngân hàng với sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế trong toàn hệ thống Sacombank.

    Phát triển và nâng cao các hệ thống, chế độ bảo mật các phòng ban, nâng cao mức độ chính xác an toàn, bảo mật trong giao dịch, hạn chế được nguy cơ bị xâm nhập hệ thống.

    Song song với việc hiện đại hóa công nghệ, Sacombank cần nghiên cứu, tìm hiểu và mở rộng các phương thức thanh tóan quốc tế để áp dụng tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các các ngân hàng khác trong cùng khối.

    3.    Giải pháp về Marketing

    Tìm hiểu hoạt động thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng lớn trên thế giới để học tập và cải tiến những điều mà Sacombank còn yếu kém trong nghiệp vụ và tổ chức quản lý.

    Tìm hiểu chiến lược cạnh tranh mà các Ngân hàng khác đang áp dụng để có chiến lược phù hợp-trước mắt là các Ngân hàng trong nước và dài lâu là những ngân hàng nước ngoài.

    Xây dựng một phòng quan hệ khách hàng hoàn chỉnh và hiệu quả, là cầu nối giữa Sacombank và khách hàng. Cán bộ là TTQT luôn bận rộn với việc giải quyết những nghiệp vụ phát sinh hàng ngày nên không có nhiều thời gian hướng dẫn và tìm hiểu tâm tư khách hàng. Trong khi đó vẫn có rất nhiều khách hàng cần được hướng dẫn và giúp đỡ ở mức độ khác nhau. Do đó phòng quan hệ khách hàng đóng vai trò khá quan trọng trong việc tìm hiểu và tìm kiếm khách hàng.

    Xây dựng lại biểu phí hợp lý mang tính cạnh tranh cao

    Cần phải lưu ý đến vai trò của các dịch vụ bổ sung trong chính sách sản phẩm của mình. Những dịch vụ cộng thêm này không nhằm mục đích sinh lời cho ngân hàng, nhưng trong trong điều kiện môi trường cạnh tranh như ngày nay, chúng sẽ giúp ngân hàng duy trì được lượng khách hàng hiện hữu, làm tăng sự trung thành của họ và thu hút thêm khách hàng mới. Với việc thực hiện những dịch vụ bổ sung có hiệu quả sẽ là một lợi thế cạnh tranh của ngân hàng so với các đối thủ trên thị trường.

    Từ việc tiếp xúc với khách hàng thường xuyên, phòng quan hệ khách hàng sẽ có được những thông tin phản hồi tốt nhất từ khách hàng để tham mưu cho ban lãnh đạo và phòng TTQT để có những chính sách khách hàng hợp lý, tăng khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng về dịch vụ TTQT của Sacombank.

    Xây dựng một chiến lược Marketing bài bản và chuyên nghiệp, góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu Sacombank trong khu vực và quốc tế.

    Cần áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000, vì ISO 9000 là một trong các tiêu chuẩn thương mại quan trọng và như một chứng chỉ để tham gia vào thị trường quốc tế và đặc biệt quản lý hướng vào khách hàng, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Những ngân hàng không có được chứng nhận ISO, sức cạnh tranh kém và sẽ chịu nhiều thua thiệt

    Từng bước thiết lập quan hệ và mở các văn phòng đại diện tại các nước trong khu vực để tìm hiểu và thâm nhập vào thị trường tài chính tiền tệ thế giới, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và góp phần thúc đẩy Sacombank trở thành một tập đoàn tài chính lớn.

    4.    Giải pháp về việc lựa chọn và phát triển các ngân hàng đại lý

    Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động TTQT, củng cố mối quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý nước ngoài.

    Tiếp tục mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng nước ngoài theo định hướng lựa chọn các ngân hàng, các đối tác nước ngoài có uy tín, phù hợp trong từng lĩnh vực để xây dựng các mối quan hệ ngân hàng đại lý chặt chẽ.

    Những thuận lợi của việc sử dụng mối quan hệ với các ngân hàng đại lý là chi phí thâm nhập thị trường nước ngoài thấp, học hỏi được những kinh nghiệm cũng như công nghệ của họ.

    Việc mở rộng quan hệ đại lý còn là một trong những yếu tố giúp lôi kéo khách hàng về Sacombank do chi phí thanh toán và trung gian cho việc thanh toán nước ngoài thấp hơn so với một ngân hàng trong nước không có quan hệ đại lý với nước ngoài.

    Định kỳ đánh giá, cập nhật thông tin về ngân hàng đại lý để có sự điều chỉnh quan hệ đại lý phù hợp với tình hình vận động của thế giới.

    Đánh giá uy tín của các ngân hàng nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm lực chọn những ngân hàng đại lý có uy tín cao trên thị trường quốc tế. việc đánh giá này phải dựa vào những tài liệu của các tổ chức quốc tế có uy tín,có độ tin cậy cao.

    Một số tiêu chí đánh giá uy tín của các ngân hàng đại lý:

    Môi trường kinh tế toàn cầu

    Những thành tựu đạt được.

    Uy tín, thương hiệu

    Phần 5: Một Số Kiến Nghị

    I.             Một số kiến nghị với Nhà nước:

    Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TTQT và kinh doanh tiền tệ đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, minh bạch, phù hợp với các thông  lệ quốc tế.

    Ban hành các chính sách và cơ chế thích hợp vừa phù hợp với lộ trình thực hiện cam kết của WTO  trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng vừa bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước trước sự tham gia ngày càng rộng lớn của các tập đoàn tài chính lớn nước ngoài.

    Ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các ngân hàng trong việc đầu tư nhằm hiện đại hóa ngân hàng.

    Công tác xúc tiến thương mại cần được củng cố và duy trì thường xuyên, thông qua các tham tán thương mại của Việt Nam ở nước ngoài, giới thiệu các ngân hàng trong nước đến nước ngoài, đồng thời cung cấp các thông tin về các ngân hàng nước ngoài cho các ngân hàng trong nước.

    Ngoài ra, Hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành, trực tiếp phục vụ công tác dự báo kinh tế chưa có tính thống nhất. Hiện tại. các thông tin kinh tế thường của Việt Nam bị phân tán và thiếu chuẩn hóa thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý. Cần phải khắc phục và hoàn thiện

    Nhà nước cần có những chính sách quản lý, dự báo hợp lý để vận hành tốt thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung, tránh tình trạng xảy ra lạm phát cao như năm nay, ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động của hệ thống ngân hàng trong nước.

    II.           Một số kiến nghị với Ngân hàng trung ương

    Trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành, Ngân hàng nhà nước cần phải có các văn bản dưới luật hướng dẫn các nghiệp vụ thanh toán quốc tế.

    Cần phải có văn bản quy định mối quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm quyền lợi của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và các ngân hàng tham gia sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C trên cơ sở luật quốc gia

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường trao đổi cung cấp các loại ngoại tệ nhằm giải quyết các mối quan hệ ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau. Vì vậy việc hoàn thiện và phát triển thì trường này của ngân hàng nhà nước Việt Nam  vừa là một trong những điều kiện quan trọng để các ngân hàng thương mại mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh vừa là cơ sở cho việc hình thành thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam .

    Xây dựng cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với thực tế.

    Ngân hàng nhà nước cần nâng cao dự trữ ngoại tệ tương ứng với nhịp độ phát triển của kim ngạch xuất nhập khẩu, xác định cơ cấu dự trữ trên cơ sở đa dạng hóa rổ ngoại tệ mạnh, không nên neo giữ đồng VND và USD trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ có nhiều biến động lớn.

    Cần phải có tầm nhìn chiến lược dài hạn về thị trường tài chính tiền tệ quốc tế cũng như trong nước, tránh tình trạng như năm vừa qua việc Ngân hàng nhà nước yêu cầu các Ngân hàng TMCP mua tín phiếu bắt buộc làm ảnh hưởng đến nguồn vốn hoạt động của các Ngân hàng kéo theo hậu quả là việc tài trợ thương mại bị giảm sút vì các Ngân hàng TMCP không đủ nguồn vốn cho vay.

    Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước còn cần phải có những quy định về các phương thức thanh toán quốc tế hiện đại như Factoring, Forfeighting (Factoring và Forfeiting cũng gần gần giống nhau nghĩa là đều là dạng tài trợ những khoản phải thu nhưng Factoring dành cho những khoản tài trợ ngắn hạn còn Forfeiting dành cho những khoản trung và dài hạn và withour recourse.), Packing Credit (tài trợ pre shipment), Bill Purchase…vốn đã rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là một dịch vụ còn rất mới ở Việt Nam..

    Không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm tín dụng Ngân hàng nhà nước (CIC)

    III.          Một số kiến nghị với Sacombank.,

    Về việc xây dựng lại biểu phí hợp lý mang tính cạnh tranh hơn: những phí còn thấp so với các ngân hàng khác thì nên tăng lên nhằm tăng doanh thu , chẳng hạn việc tính phí cho một BCT có BHL chỉ là 40$ trong khi các ngân hàng quốc tế khác phí bất hợp lệ cao hơn nhiều.

    Cần nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn về sản phẩm của Ngân hàng cho nhân viên quan hệ khách hàng nói riêng và toàn bộ nhân viên Ngân hàng nói chung, tránh tình trạng khi khách hàng cần tư vấn thì nhân viên không đủ nghiệp vụ và chuyên môn, làm khách hàng phàn nàn.

    Cần xây dựng một hệ thống tuyển dụng nhân sự bài bản, chuyên nghiệp, đưa ra được những nhu cầu, tiêu chỉ tuyển dụng rõ ràng. Tránh tình trạng tuyển dụng không mục đích làm gia tăng chi phí. Cần học hỏi những kiến thức từ các ngân hàng khác trong cùng hệ thống ngành.

    Nên áp dụng một hệ thống đo lường tiêu chuẩn nhất định để chuẩn hóa quy trình hoạt động của hệ thống ngân hàng Sacombank nói chung và phòng thanh toán quốc tế nói riêng vừa nhằm nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên, vừa tạo được uy tín, niềm tin nơi khách hàng.

    Cũng như việc tuyển dụng nhân sự, Sacombank cần có một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá ngân hàng đại lý nhằm mở rộng những đại lý nước ngoài có uy tín và chấm dứt quan hệ những đại lý hoạt động không hiệu quả.

    Vì phòng TTQT và phòng kinh doanh ngoại tệ có quan hệ mật thiết với nhau, do đó phòng kinh doanh ngoại tệ cần phải có những chích sách và chiến lược kinh doanh đúng đắn và phù hợp nhằm hạn chế việc không đủ nguồn ngoại tệ cho việc tài trợ thương mại, dẫn đến việc khách hàng sẽ tìm kiếm một ngân hàng khác.

    Phát triển đa dạng các loại hình thanh toán quốc tế nhăm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]