Author: Nguyễn Huyền

  • VĂN MẪU BÀ HUYỆN THANH QUAN, NGƯỜI ĐI DỌC NHỮNG ĐÈO NGANG

    VĂN MẪU BÀ HUYỆN THANH QUAN, NGƯỜI ĐI DỌC NHỮNG ĐÈO NGANG

    VĂN MẪU BÀ HUYỆN THANH QUAN, NGƯỜI ĐI DỌC NHỮNG ĐÈO NGANG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: VĂN MẪU BÀ HUYỆN THANH QUAN, NGƯỜI ĐI DỌC NHỮNG ĐÈO NGANG

    KIẾN THỨC LỚP 9

    BÀ HUYỆN THANH QUAN, NGƯỜI ĐI DỌC NHỮNG ĐÈO NGANG

    BÀI LÀM

    Bà Huyện Thanh Quan là người không chỉ bị cuốn hút bởi sự suy tàn, mà còn thấy được cả vẻ đẹp của suy tàn. Điều này thường trực trong thi phẩm đến mức thành ám ảnh. Ám ảnh đó ẩn chứa một xung năng vô thức mạnh mẽ mà phân tâm học gọi là bản năng chết (thanatos).

    Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

    Một mảnh tình riêng ta với ta

    Bà Huyện Thanh Quan

    Cảnh Đèo Ngang.

    1. Năm 1802, sau khi thống nhất cả nước, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long và định đô ở Huế. Từ đó, Thăng Long mất địa vị đầu não của đất nước về chính trị và văn hóa. Thậm chí, chữ long trong tên gọi Thăng Long vốn là rồng, biểu tượng vương quyền và lý do chọn đô của Lý Thái Tổ, cũng bị đổi thành chữ long là thịnh.

    Sự hạ thấp này hẳn làm đau lòng dân chúng Bắc Hà, nhất là các sĩ phu, những người từng ăn lộc nhà Lê như

    Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, thầy học của Nguyễn Lý, thân sinh Bà Huyện Thanh Quan. Nỗi đau ấy, về sau, hẳn còn gia tăng khi cố đô Thăng Long bị đổi thành tỉnh Hà Nội vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831): Kinh thành ngày ấy tỉnh bây giờ!

    Năm 1813, trên đường đi sứ Trung Hoa, qua Thăng Long, chứng kiến những đổi thay nơi mình đã từng sống suốt tuổi hoa niên, Nguyễn Du cảm khái:

    Thiên niên cự thất thành quan đạo Nhất phiến tân thành một ố cung (Nhà lớn nghìn năm thành đường cái Một mảnh tân thành mất cung xưa)

     

    Nhìn Thăng Long bây giờ, thi nhân nhớ về một Thăng

    Long ngày xưa. Một nỗi nhớ với từng chi tiết cụ thể, đối lập nhau như nhà/đường, thành/cung, mới/xưa. Và nỗi nhớ càng chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì càng chứng tỏ nỗi đau mất biểu tượng ấy lớn bấy nhiêu. Đó là nguồn gốc và cũng là nội dung của một tâm thức chung về sau được gọi là tâm sự hoài Lê mà một lớp người đã từng sống với hoàng triều đeo đẳng.

    1. Bà Huyện Thanh Quan (1) là người Thăng Long chính

    gốc, dù bản thân chưa từng sống với nhà Lê, nhưng hít thở cái tâm thức chung ấy của thời đại, hẳn cũng không tránh khỏi cái tâm sự hoài Lê. Một lần, Qua chùa Trấn Bắc

    (2), thi nhân thấy:

    Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau

     

    Một tòa sen rớt hơi hương ngự

    Năm thức mây phong nếp áo chầu

    Sóng lớp phế hưng coi như rộn

    Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

    Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?

    Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu. (3)

    Trấn Bắc là một hành cung cũ đời Hậu Lê, xưa chúa Trịnh thường đem văn võ bá quan, hoặc cung nữ, tới thưởng ngoạn cảnh Hồ Tây và bày những trò vui nhộn. Vậy mà nay đã trở nên tiêu điều, vắng vẻ, cỏ dãi dầu. Từ đó, thi nhân chạnh nghĩ về nhà Lê Trịnh, như một niềm cố quốc. Chữ chạnh ở đây chỉ là nhân mà nghĩ, do điều gì đó gợi ra mà nghĩ chứ không phải lúc nào cũng đau đáu như những cựu thần nhà Lê. Hơn nữa, thi nhân cũng không nghĩ về chính cái nước cũ ấy, mà chỉ nghĩ đến nó như một niềm,

    một tâm sự.

    Đọc thơ Thanh Quan, nhiều người thắc mắc, sao thi nhân

    đang sống trên đất nước mình mà lại luôn luôn nói về cố

    quốc (“Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau”), luôn nhớ nước

    (“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”)? Có vẻ như có một

    mâu thuẫn logic nào đó. Thực ra, về mặt xã hội, Bắc Hà

    (Đàng Ngoài) luôn được coi như một “nước” so với Nam

    Hà (Đàng Trong) (Xem Hoàng Lê nhất thống chí). Hơn

    nữa, về mặt tâm lý, cùng một thực tại mà không cùng một

    khoảnh thời gian thì thực tại đó chưa hẳn đã như nhau.

    Bởi thế, Nguyễn Bính mới “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự

    Viên”.

    Và, cũng bởi thế, Bà Huyện Thanh Quan nhìn hiện tại mà nhớ đến quá khứ. Thậm chí, nỗi nhớ làm con người như

    rơi vào ảo giác. Thi nhân thấy quá khứ: một toà sen thơm hơi hương vua còn rớt và năm thức mây lưu lại nếp áo chầu. Sự hoài niệm đã xáo trộn thời gian, biến quá khứ thành hiện tại. Đây là một nét đậm, một nhịp mạnh trong thơ Thanh Quan. Nó không chỉ tạo ra một cảm hứng thế sự, mà còn tạo ra cái nhìn thế giới và cái nhìn nghệ thuật trong thơ bà.

    Bà Huyện Thanh Quan sống trong một thời đại (lớn) đầy biến động. Nhà Lê/Mạc, chúa Trịnh/Nguyễn, Tây Sơn/Nguyễn Ánh liên tiếp xuất hiện và liên tiếp sụp đổ. Nguyễn Du, một chứng nhân của thời đại ấy, đã phải thốt lên: “Cổ kim bất kiến thiên niên quốc” (Xưa nay chưa từng thấy triều đại nào tồn tại nghìn năm cả). Bà Huyện Thanh Quan cũng sống trong một không gian nhiều đổi thay. Đó là Thăng Long. Theo quy luật động học văn hóa, trung

    tâm bao giờ cũng thay đổi nhanh hơn và nhiều hơn ngoại biên. Hơn nữa, ở Việt Nam, mỗi triều đại mới lên ngôi thường phá hủy những công trình của triều đại trước để làm lại từ đầu. Trong một không – thời gian biến dịch như vậy, từ một cảnh quan cụ thể là chùa Trấn Bắc, Bà Huyện Thanh quan dễ khái quát lên thành một quy luật xã hội:

    Sóng lớp phế hưng coi đã rộn

    Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

    Quy luật này không chỉ chi phối một cảnh quan nào đó

    của Thăng Long, mà Toàn bộ Thăng Long và qua đó toàn bộ non sông đất nước. Đây là sự thăng hoa của thơ Thanh Quan và càng ở những bài thơ sau thì sự thăng hoa này càng lớn. Vì thế, trong Thăng Long thành hoài cổ, tâm sự hoài Lê trong Bà Huyện Thanh Quan đã trừu

    tượng hóa thêm một bậc nữa:

    Tạo hóa gây chi cuộc Lý Trường? Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương, Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.

    Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

    Thi nhân trách con tạo (gây chi) biến cuộc đời thành sàn diễn của những đổi thay. Thoạt tiên vẫn những đối lập xưa/nay ấy: Xưa là lối xe ngựa đi về nhộn nhịp thì nay chỉ có cỏ thu phủ dày; xưa là lâu đài đường bệ mà nay chỉ còn trơ lại nền cũ dưới ánh chiều tà. Rồi xuất hiện thêm

    một đối lập khác nữa tự nhiên/nhân tạo. Ngày tháng (tuế nguyệt) trôi đi kéo theo những đổi thay (tang thương), nhưng đó là những đổi thay của thế giới nhân tạo, thế giới người, còn tự nhiên (đá, nước) thì vẫn bất biến (trơ gan, cau mặt). Soi vào tấm gương vĩnh hằng của tự nhiên, đời sống nhân tạo từ xưa đến nay (kim cổ) càng trở nên giả tạm và thoáng chốc. Con người đối diện với cảnh tượng này (cảnh đấy, người đây) được thức nhận, tỉnh táo hơn so với con người ảo giác ở chùa Trấn Bắc. Nhưng, vì thế, cũng đau khổ hơn.Và cô đơn hơn.

    Đến đây, có thể nói, cái chữ tâm sự hoài Lê ở Bà Huyện Thanh Quan, nếu có thì cũng đã dần dần trở nên rỗng nghĩa, mất nội dung cụ thể. Thăng Long thời Lê chỉ còn là một biểu tượng của một quá khứ vàng son đã một đi không trở lại. Thậm chí chỉ còn là biểu tượng của một dĩ vãng chung chung một hoài niệm, một nỗi nhớ về nỗi nhớ.

    Nỗi nhớ cấp hai này tạo thành nội dung sống của Bà Huyện Thanh Quan.

    1. Được gọi vào Huế làm Cung Trung Giáo Tập, Bà

    Huyện Thanh Quan giã từ Thăng Long. Những tưởng

    rằng sự thay đổi không gian sẽ làm thay đổi thời gian. Van lạy không gian xóa những ngày (Hàn Mạc Tử). Nhưng hóa ra phong cảnh không lay chuyển được tâm cảnh, mà, ngược lại, còn bị tâm cảnh nhuộm màu. Điều này có thể thấy rõ khi thi nhân Qua Đèo Ngang:

    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

    Cỏ cây chen đá lá chen hoa

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác ven sông chợ mấy nhà

    Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

     

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

    Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

    Một mảnh tình riêng ta với ta.

    Cảnh Đèo Ngang thật khác xa với cảnh Thăng Long.

    Nhiều thiên nhiên hơn, ít nhân tạo hơn. Nhìn gần, thi nhân thấy thiên nhiên cũng chen chúc. Một mặt, cái hữu sinh (cỏ cây) lấn át cái vô sinh (đá), mặt khác, trong giới, hữu sinh, cái thô lậu hơn (lá) lại lấn át cái tinh tế hơn (hoa). Còn nhìn xa: vạn vật thu nhỏ như trong hòn non bộ. Con người thì nhỏ nhoi, cực nhọc (Lom khom dưới núi tiều vài chú), nơi “vui như chợ”, “đông như chợ” thì cũng lại thưa thớt (Lác đác ven sông chợ mấy nhà). Thật khác xa với cảnh chen chúc của thiên nhiên. Thực ra, cảnh Đèo Ngang rất hùng vĩ, nhưng trong con mắt tâm trạng của nhà thơ đã trở thành cảnh mọn, thậm chí tiêu điều. Chẳng

    khác gì sự tiêu điều của Thăng Long. Nội tâm đã chi phối ngoại cảnh.

    Đứng trên đỉnh Đèo Ngang, nghe tiếng cuốc kêu, Bà Huyện Thanh Quan nhớ đến nước; nghe chim da da (đa đa, bát cát quả cà, bắt cô trói cột…) kêu, thi nhân thấy thương nhà. Niềm hoài cổ luôn chờ chực sẵn, còn sự đồng âm kia (cuốc là chim và quốc là nước, da da là chim và gia là nhà) chỉ là một cái cớ. Đến đây, thiên nhiên vốn chen chúc tạo thành một hợp thể ở chân đèo, rã ra thành những yếu tố riêng rẽ: trời, non, nước. Và con người cũng trở thành một yếu tố đơn lẻ, ngậm một mảnh tình riêng mà chỉ biết chia sẻ với chính mình (ta với ta).

    Bà Huyện Thanh Quan, như vậy, đã vượt qua được một Đèo Ngang địa lý mà không qua nổi một Đèo Ngang tâm

    lý. Tâm tình hoài cổ vẫn là hành trang của bà trên đường vào Huế. Thậm chí, hành trang ấy càng đi xa càng trở thành một gánh nặng. Nỗi nhớ Thăng Long, nhớ về nỗi nhớ Thăng Long đè nặng tâm hồn người lữ thứ, trở thành nỗi nhớ nhà mỗi khi chiều về trên con đường thiên lý:

    Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

    Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn

    Gác mái ngư ông về viễn phố

    Gõ sừng mục tử lại cô thôn

    Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

    Dặm liễu sương sa khách bước dồn

    Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ

    Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.

     

    Chiều hôm nhớ nhà là một tâm trạng cố hữu, thường

    hằng của động vật, của con người. Mỗi khi ngày hết, mọi sinh linh đều tìm về nhà, tổ ấm, chốn nương thân để được che chở nghỉ ngơi. Bằng những động tác dứt khoát, sảng khoái (gác mái, gõ sừng), ngư ông và mục tử ra về. Và tuy là bến xa (viễn phố) và thôn lẻ (cô thôn), nhưng họ còn có nơi để mà về. Còn con người lữ thứ kia, giống như con chim bạt gió, mặc dù đang dồn bước nhưng không có nhà để mà về. Chỉ có sự nhớ nhà, sự nhớ về sự nhớ nhà. Bởi thế, đường đi không bao giờ kết thúc. Bởi thế lữ khách trở thành một trường lữ, một người đi.

    1. Nếu lâu đài ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương được xây

    dựng bởi những động từ chỉ hành động, tính từ chỉ phẩm chất, và trạng từ chỉ cách thức và mức độ thì tháp (ngà) thơ Bà Huyện Thanh Quan lại chỉ được kiến tạo bằng những danh từ mà phần lớn lại là danh từ Hán Việt: tạo

    hóa, hý trường, tinh sương, thu thảo, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường, cố quốc, phế hưng, hoàng hôn, ngư ông, mục tử, viễn phố, cô thôn, chương đài, lữ thứ, khoáng dã, bình sa… Nhiều câu thơ của Thanh Quan dường như chỉ là sự ghép lại của những danh từ:

    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

    Danh từ chỉ sự vật ở cấp độ khái niệm. (Ví dụ, nói đến từ bàn, ta hình dung đó là một mặt phẳng, có chân, được dùng để làm gì đó. Còn nếu biết cái bàn đó như thế nào thì phải thêm vào những định ngữ như cái bàn vuông, màu xanh, bằng gỗ, để viết…). Làm thơ bằng những danh từ, nghĩa là Bà Huyện nhìn sự vật ở những bản chất của

    nó, bỏ qua tất cả những gì là cụ thể, sông động. Một người như thế là giữ một khoảng cách với cuộc sống, xa lánh cuộc đời, lẩn trốn hiện tại. Khoảng cách đó ở nhà thơ còn được nhân lên một lần nữa, bởi các danh từ của Thanh Quan toàn là danh từ Hán Việt.

    Cùng chỉ một loài thực vật, nhưng cỏ (thuần Việt) và thảo (Hán Việt) gieo vào tâm trí bạn đọc những cảm xúc và tưởng tượng khác nhau. Cỏ bao giờ cũng gợi nhắc đến một thứ cỏ cụ thể nào đó. Nó đánh thức trong ta những kỷ niệm. Còn thảo thì chỉ là một âm vang xa xôi, trang trọng và nhoè nghĩa. Như vậy, sự khác nhau giữa từ thuần Việt và từ Hán Việt không đơn thuần ở sắc thái ngữ nghĩa, ở độ âm vang của con chữ, mà còn ở một cách nhìn.

    Bà Huyện Thanh Quan thường nhìn cảnh vật vào mùa

    thu: Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, bằng tấm-lòng-con-mắt-thu: Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu. Thậm chí, ngay cả khi thi phẩm không có chữ thu nào, thì bạn đọc vẫn cảm nhận được cảnh ấy, vật ấy đang thu: cỏ dãi dầu, toà sen rớt, thức mây phong, ngàn mai gió cuốn, dặm liễu sương sa, còi mục thét trăng, chài ngư tung gió… Một hồn thu ngấm trong từng con chữ phả vào hồn người đọc: Hơi thu lạnh lẽo khí thu loà (Đỗ Phủ).

    Cảnh thu ấy còn được thi nhân nhìn vào buổi chiều, trong bóng chiều tà. Trong 5 bài thơ chắc chắn là của Bà Huyện Thanh Quan thì có đến 4 bài có những từ khác nhau chỉ bóng chiều tà:

    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà (Qua Đèo Ngang)

    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương (Thăng Long thành hoài cổ)

    Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn (Chiều hôm nhớ nhà)

    Vàng tỏa non tây bóng ác tà

    (Nhớ nhà)

    Với tần số xuất hiện cao như vậy, lại ở vào một vị trí đặc biệt (hầu hết đều ở cuối câu mở đầu thi phẩm), có thể nói, bóng chiều tà chính là từ-chìa khóa để mở vào những tòa lâu đài thơ Thanh Quan. Bóng chiều tà chính là lăng kính để thi nhân nhìn cuộc đời. Dưới bóng chiều tà, cảnh vật mùa thu vốn đã tiêu điều đổ nát càng thêm đổ nát tiêu

    điều. Nhưng cũng trong ánh chiều tà ấy, sự vật lại bừng sáng lên lần cuối cùng cái huy hoàng của tàn tạ, để rồi vĩnh viễn lịm tắt.

    Bà Huyện Thanh Quan không chỉ giữ một khoảng cách

    với cuộc đời, mà còn giữ khoảng cách với cả chính mình. Khi trên đỉnh Đèo Ngang, thi nhân nói với ta với ta là đã có sự phân thân. Ta tự chia ta thành một cái ta khác để chia sẻ mảnh tình riêng cho bớt cô đơn. Nhưng dẫu sao chữ ta này cũng vẫn là nhân xưng ngôi thứ nhất. Tuy nhiên, điều này chỉ diễn ra một lần, khi cảm xúc của thi nhân lên đến đỉnh điểm. Còn ở tất cả những trường hợp khác, Bà Huyện Thanh Quan đều tự gọi mình ở ngôi thứ ba số ít. Một cách tự xa lạ hóa mình. Đó là người (“Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường”); “Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ”), kẻ (“Mấy kẻ tình chung có thấu là…”, đặc

    biệt là khách (“Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”; “Dặm liễu sương sa khách bước dồn”; “Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà”).

    Tự nhận mình là khách, Bà Huyện Thanh Quan không chỉ gián cách mình với mình, mà, quan trọng hơn, gián cách mình với cuộc đời. Bà khẳng định mình chỉ là một người khách đến với cuộc đời này. Đến rồi đi không có gắn bó gì hết. Nhất là ở đây và bây giờ. Điều này còn được thể hiện rõ một lần nữa qua nhan đề các bài thơ của thi nhân. Hai nhan đề có từ qua (Qua Đèo Ngang, Qua chùa Trấn Bắc), hai có từ nhớ (Chiều hôm nhớ nhà, Nhớ nhà), một có từ hoài (cổ), cũng là nhớ (Thăng Long thành hoài cổ). Như vậy, khoảng cách giữa thi nhân và cuộc đời được thiết lập

    • cả ba cạnh khía: qua : không gian; hoài cổ: thời gian và nhớ nhà: tâm lý. Nghĩa là, người lữ khách ấy chỉ có đi qua

    cuộc đời, không ghé lại đây để rồi chỉ có nhớ, hoài, nhớ hoài, hoài nhớ.

    1. Mùa thu là mùa tàn của một năm

    Chiều tà là giờ tàn của một ngày.

    Thơ Bà Huyện Thanh Quan là thơ mùa thu và chiều tà. Thời gian tàn tạ ấy lại gắn với không gian đổ nát: một tòa thành cổ, một ngôi chùa hoang vắng, lối xưa nền cũ của những lâu đài cung điện, một cảnh đèo heo hút, hoang vu, một bến sông xa, một bãi cát rộng, một con đường…

    Cảnh vật trong không – thời gian ấy đều hướng tới một sự suy tàn, tiêu vong. Mặc dù buồn về những cảnh tượng như vậy, nhưng thi nhân vẫn thấy được vẻ đẹp của sự tiêu vong. Thậm chí, càng tàn tạ càng bừng lên một vẻ đẹp khó hiểu. Tâm trạng này cũng giống như cái nhìn của

    Tản Đà sau này: “Lá sen tàn tạ trong đầm/Lặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa” (Cảm thu tiễn thu). Tâm lý như vậy hẳn ẩn sâu bên trong một xung năng vô thức nào đó.

    Thơ Bà Huyện Thanh Quan còn là sự lặp đi lặp lại dài dài những vấn đề tư tưởng nghệ thuật ở cả phương diện vĩ mô lẫn phương diện vi mô. Trước hết là sự trùng lặp về chủ đề: cả 5 bài thơ đều là sự hoài niệm quá khứ. Cảnh tượng, phong cảnh đều là mùa thu và chiều tà. Tâm cảnh đều là sự nhớ nước, thương nhà. Nhân vật trữ tình bao giờ cũng là người đi. Sau đó là sự lặp lại của từ ngữ như thu, bóng xế tà, kim cổ (gương cũ soi kim cổ chuông hồi kim cổ), cỏ (cỏ dãi dầu; cỏ cây chen đá)…

    Đặc biệt là sự lặp lại với tần số cao những từ chỉ tâm

    trạng của tác giả: niềm cố quốc, nhớ nước, thương nhà, nỗi hàn ôn, kẻ tình chung, mảnh tình riêng… Như vậy, Bà

    Huyện Thanh Quan là người không chỉ bị cuốn hút bởi sự suy tàn, mà còn thấy được cả vẻ đẹp của suy tàn. Điều này thường trực trong thi phẩm đến mức thành ám ảnh. Ám ảnh đó ẩn chứa một xung năng vô thức mạnh mẽ mà phân tâm học gọi là bản năng chết (thanatos).

    Đến đây, người ta bỗng thấy ý nghĩa sâu xa, nhiều tầng lớp trong nỗi buồn, sự hoài niệm quá khứ, sự cách vời cuộc sống hiện tại của Bà Huyện Thanh Quan. Căn cốt của nỗi buồn đó là sự cuốn hút của thi nhân về phía thanatos, sự nghỉ ngơi vĩnh cửu, sự yên tĩnh đời đời. Còn nỗi buồn về thế sự đổi thay, mọi thứ đều giả tạo, mong manh, thoáng chốc chỉ là “bản chất hàng hai”, nói theo ngôn từ của triết gia Trần Đức Thảo. Như vậy, cái “tâm sự hoài Lê” kia chỉ là tấm áo khoác, là duyên cớ, hay “bản chất hàng ba”, cái trên cùng, bề mặt.

    1. Như vậy, với sự hướng về bản năng chết, Thanh Quan càng là một đối tượng của Hồ Xuân Hương. Sự đối trọng trên mọi cấp độ. Thơ Xuân Hương, như đã nói, được kiến tạo bằng những động từ chỉ hành động, thậm chí hành động cơ bản nhất của con người như đạp, móc, xuyên…, bằng tính từ chỉ phẩm chất, trạng từ chỉ cách thức và mức độ cùng cực. Hồ Xuân Hương, bởi thế, là người áp sát với đời sống, người không khoảng cách với cuộc đời, người nhìn cuộc đời trong sự chuyển động, sự vận động không ngừng của nó, trong màu sắc, hình khối, kích thước, âm thanh của nó. Đó là một thi nhân yêu sự sống, tôn sùng sự sống. Hồ Xuân Hương là người có một bản năng sống (éros) mạnh mẽ.

    Hồ Xuân Hương, bởi thế, không chịu nằm yên trong

    khuôn khổ thơ Đường, một thể loại thơ trang nghiêm, hài

    hòa đến tuyệt đối. Thi nhân đưa vào thơ mình vô vàn

    những chi tiết tỉ mỉ, cụ thể, thậm chí sống sít của đời sống,

    những từ láy đôi láy ba hết sức thừa thãi, những từ vận

    hiểm hóc, thách đố, đặc biệt những cặp câu thực và luận,

    mặc dù đối vần rất chỉnh, nhưng ít nhiều đã ngả sang đối

    xứng để ám chỉ những chuyện tính giao nam nữ như:

    Trai du gốc hạc khom khom cột Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng (Đánh đu)

    Hai chân đạp xuống năng năng nhắc Một suốt đêm ngang thich thích mau (Dệt cửi)

    Toàn bộ thơ Hồ Xuân Hương nhìn chung, vừa tuân theo những nguyên tắc, luật lệ của thơ Đường vừa chống lại nó. Bà đã phá vở tính đơn giản, kiệm từ, trang trọng cách vời của nó. Tuy nhiên, đó chỉ là sự phá vỡ cái hài hòa cục bộ, tức nội bộ bài thơ, để sau đó lại thiết lập nên một hài hòa mới, rộng hơn, giữa bản thân bài thơ và vũ trụ quanh bài thơ đó. Vì thế, Hồ Xuân Hương đã sáng tạo ra một thứ thơ Đường luật mới.

    Đó là tinh thần éros.

    1. Bà Huyện Thanh Quan, ngược lại, vẫn trung thành với

    thể thơ luật Đường chính thống. Thơ Thanh Quan được làm bằng những danh từ, lại là danh từ Hán Việt, nên tạo ra được một sự sang trọng, cách vời, thấm chí uy nghi đường bệ. Thơ bà hoàn toàn không có các nối từ, “từ

    nước”, mà toàn những từ “đặc”. Phép tính lược được vận dụng đến mức tối đa. Không gian và thời gian thống nhất với nhau. Con người và vũ trụ thống nhất với nhau. Mỗi bài thơ là một thế giới thống nhất, biệt lập, tự trị. Năm bài thơ cũng tạo thành một thế giới thống nhất biệt lập và tự trị. Một Ngũ Hành Sơn trên cánh đồng thơ Việt.

    Thơ Đường Bà Huyện Thanh Quan, điều quan trọng là vẫn giữ được hồn Đường. Đây là điều ít nhà thơ đạt được, kể cả những thi nhân Trung Hoa sau Đường. Bởi vậy, nếu nói về việc làm thơ nôm Đường chuẩn nhất, Đường nhất ở Việt Nam thì thứ nhất phải kể đến Bà Huyện Thanh Quan. Sự Việt hóa thơ Đường ở thi nhân, nếu có, chính là việc nhà thơ kín đáo để lộ nữ tính của mình vào bài thơ. Thi nhân nói nhiều đến mai, liễu vốn là những từ chỉ phụ nữ trong thi liệu Đông phương.

    Nguyễn Du đã từng khen chị em Thuý Kiều là mai cốt cách tuyết tinh thần, rồi Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh. Đặc biệt hơn, Bà Huyện Thanh Quan khi dùng chữ kẻ chốn Chương Đài thì đã nói về liễu Chương Đài, về người phụ nữ. Ngoài ra, thơ Thanh Quan cũng nói nhiều đến cỏ, thứ thực vật rất gần với thân phận phụ nữ. Chính nữ tính này của thi nhân đã làm mềm hóa, thân mật hóa thể thơ Đường luật vốn trang nghiêm, đôi lúc đến lạnh lùng.

    Nét riêng nữa của thơ Đường Thanh Quan là xuất hiện thực hiện người lữ thứ. Người-đi-đường-chứng-kiến kể lại những “điều trông thấy” của mình, cảm xúc của mình, nỗi buồn nhớ của mình bằng một giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, thỉnh thoảng lại xen tiếng thở dài, nhưng cũng không hiếm

    khi có sự nồng ấm của thân xác (như khi gọi niềm tâm sự của mình là nỗi hàn ôn!). Thơ Đường, do ảnh hưởng của Thiền học, vốn là một thứ mỹ học tĩnh. Nhưng với sự xuất hiện con người lữ thứ, thơ Đường Thanh Quan đã bắt đầu có sự chuyển dịch, tuy còn rụt rè về phía động. Đó là ảnh xạ của ý thức cá nhân đã bắt đầu thức tỉnh trong lớp người tài tử đương thời.

    Tuy số lượng bài để lại không nhiều, nhưng, có thể nói, thơ Thanh Quan là những dấu son của thơ Việt Nam trung đại. Nghĩ đến Bà Huyện Thanh Quan tôi cứ nghĩ tới bức chân dung Người đàn bà xa lạ của họa sĩ Nga Kramskoi; ngồi bất động trên xe ngựa và sau lưng là kinh thành Peterburg mù sương. Cũng đẹp một vẻ đẹp sang trọng, đài các và cách vời như thế. Còn nghĩ đến thơ bà, tôi mường tượng đến một chiều thu, khi mặt trời đã tắt,

    nhưng còn hắt lên nền trời những dải sáng vàng rực,

    thuần khiết, và người thợ trời nào đã cắt dải sáng đó

    thành những bài thơ Bà Huyện Thanh Quan.

  • Văn mẫu Về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan

    Văn mẫu Về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan

    Văn mẫu Về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đọc hiều văn bản QUA ĐÈO NGANG


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan

    Ôn thi vào 10

    Về bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” của bà Huyện Thanh Quan

    BÀI LÀM

    Trong nền văn học Việt Nam trung đại, số nữ sĩ còn đứng lại với thời gian không phải là nhiều. Chúng ta thường nhắc đến 3 gương mặt tiêu biểu là Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan. Ba nữ sĩ này, mỗi người một vẻ, mỗi người có một đóng góp riêng cho thơ văn nước nhà. Trong 3 nữ sĩ đó, Bà huyện Thanh Quan khiêm nhường đứng riêng một chiếu với chùm thơ khoảng 5 – 6 bài (có bài vẫn còn gây

    tranh cãi, bị xem là của nhà thơ khác) trong đó thường được nhắc đến hơn cả là bài thơ Chiều hôm nhớ nhà. Bài thơ Nôm Đường luật này diễn tả nỗi nhớ nhà của người nữ sĩ khi cô đơn thân gái dặm trường:

    Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

    Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn

    Gác mái ngư ông về viễn phố

    Gõ sừng mục tử lại cô thôn

    Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

    Dặm liễu sương sa khách bước dồn

    Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ

    Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

    Bài thơ đưa chúng ta vào một không – thời gian tưởng như cụ thể nhưng lại khá mơ hồ. Thời điểm “trời chiều” được cụ thể hoá trong sự “bảng lảng” của “bóng hoàng hôn” mang đến cho ta một buổi chiều như bao buổi chiều khác trong thơ ca xưa. Có nỗi nhớ của người con xa quê:

    Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều (Ca dao)

    Buồn trông cửa bề chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa (Truyện Kiều)

    Câu phá đề gợi cho ta một cảm giác mệt mỏi và chậm rãi của thời gian ban chiều, một thời điểm mang tính ám ảnh văn hoá trong thơ xưa. Câu thơ bắt đầu bằng “trời chiều” và khép lại bằng “bóng hoàng hôn” như muốn hắt cả ánh vàng của nắng chiều lên con người và cảnh vật. Thời điểm chiều hôm là lúc con người trở về sum họp, quây quần cùng gia đình nhưng dường như nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn tạm nghỉ chân trên hành trình xa xôi và vắng vẻ. Ở không gian đó con người có thể nghe thấy “tiếng ốc xa đưa” và tiếng “vẳng trống đồn”. Những âm thanh này vốn không xa lạ nhưng khi đặt vào khung cảnh đất khách quê người thì lại gợi lên sự bâng khuâng, se buồn trong lòng người lữ khách. Hai

    âm thanh đan quyện vào nhau như muốn báo hiệu sự vội vã của thời gian đang đổ dần về tối. Thời điểm “trời chiều” cùng sự báo hiệu của tiếng ốc và tiếng trống sẽ làm nền cho hai câu thực:

    Gác mái ngư ông về viễn phố

    Gõ sừng mục tử lại cô thôn

    Đến hai câu thơ này ta mới thấy hiện ra một cách rõ nét hơn những mã nghệ thuật của thơ ca nhà nho xưa (dù Nguyễn Thị Hinh có là một nữ sĩ nhưng khi sáng tác bà vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm văn học Nho gia). Xuân Diệu đã từng gọi bà là “Bà chúa hoàng hôn”. Đọc hai câu thực chúng ta sẽ cảm nhận rõ hơn lời khen ngợi của “nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới”. Vẫn là hình tượng quen thuộc của ngư ông và mục tử (trong bộ tứ “ngư – tiều – canh – mục”) trong thơ xưa, vẫn là động tác “gác mái”, “gõ sừng” ấy gắn liền với hai biểu tượng này. Nó nhắc ta nhớ tới những câu thơ như:

    Ngư lão buông câu ngồi mép bến

    Mục đồng té nước tắm đầu sông

    hay:

    Viễn tự chung thanh thôi khách bộ

    Mục đồng xung địch dẫn ngưu qui

    Nhà nho xưa quan niệm giống nhau về một cuộc sống thanh sạch gắn với nông thôn và thiên nhiên trong các nghề ngư – tiều – canh – mục. Đó là những hình ảnh đẹp mãi có sức cuốn hút đối với họ. Nó mang âm hưởng từ những vần thơ từ xa lắm, tận thời Đường ở bên Tàu với những:

    Cô chu soa lạp ông

    Độc điếu hàn giang tuyết

    (Liễu Tông Nguyên)

    hay:

    Tá vấn tửu gia hà xứ hữu

    Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn

    (Đỗ Mục)

    Tuy nhiên giữa mảng lưới văn hoá đầy hình tượng, điển tích… đó cái còn lại của Thanh Quan là gì? Đó có phải là cách dùng những từ Hán Việt “ngư ông”, “viễn phố”, “mục đồng”, “cô thôn” tạo cho bài thơ sự trang trọng và cổ kính đầy hấp dẫn? Điều này chỉ đúng một phần. Cái còn lại của dòng thơ, dấu ấn của Thanh Quan chính là ở hai tiếng “cô”, “viễn” tưởng như vô tình nhà thơ đặt theo niêm luật đăng đối ở tiếng thứ 6 của hai câu thực. Nhà thơ đâu có biết “ngư ông” và “mục tử” nghĩ gì và cũng

    đâu có biết họ đi về đâu. Với cái nhìn đầy màu sắc chủ quan, nhân vật trữ tình đã phổ cảm xúc của mình vào hai hình tượng đó. Con người lẻ loi trên hành trình thiên lý tự dưng lại cảm nhận về cảnh vật quanh mình như cảm nhận về thân phận của mình, thấy chúng cũng trở nên “cô”, “viễn” như thường. Chúng ta lại nhớ tới cảm xúc của người chinh phụ cô đơn ngồi trong đêm vắng tủi buồn với cả trăng – hoa vô tri, vô giác:

    Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm

    Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông

    Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng

    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau.

    Dấu ấn chủ quan của nhân vật trữ tình thoáng hiện ra rồi lại chìm khuất đi giữa mịt mù thiên nhiên:

    Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

    Dặm liễu sương sa khách bước dồn

    Sự tương phản trong bức tranh thơ gợi lên mộtchút gì nhỏ nhoi mà yếu đuối của cánh chim và hình ảnh người khách giữa chiều tà. Vẫn là “ngàn mai” ấy, ngàn mai từng nở trắng trong thơ xưa (Tuyết mai trắng bãi, phù dung đỏ bờ – Chinh phụ ngâm) nhưng đặt cạnh hình ảnh “gió cuốn” đã gợi lên sự rộng lớn của không gian như muốn nuốt chìm cánh chim nhỏ

    nhoi vào trong đó, như cánh “chim hôm thoi thót về rừng” trong Truyện Kiều và xa hơn nữa là hình ảnh:

    Chúng điểu cao phi tận

    Cô vân độc khứ nhàn

    trong thơ Lí Bạch xưa. Con người luôn thấy nhỏ bé trước thiên nhiên. Đứng trước thiên nhiên, người xưa muốn mình là một tiểu vũ trụ cố gắng hoà hợp (và cả hoà tan) vào trong đại khối, đại vũ trụ vô cùng đang bao bọc quanh mình. Người “khách” đang “bước dồn” qua “dặm liễu” kia liệu lòng có còn thôi ám ảnh về:

    Tóc ai trao chửa bạc màu

    Liễu ai bẻ tặng bên cầu còn tươi

    (Nguyễn Bính)

    hay điển tích “Bá kiều chiết liễu” cùng hình ảnh “Hoa dương sầu sát độ giang nhân” (Trịnh Cốc) hay kí ức về:

    Sông Tần một dải xanh xanh

    Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan

    ở chốn quê nhà, nơi ly biệt, lưu luyến người thân mà “Tiễn đưa một chén

    quan hà – Xuân đình thoắt đã dạo ra Cao đình” (Truyện Kiều). Con

    người – nhân vật trữ tình (hay là một dạng phân thân của hình tượng này: “khách”) – như muốn giấu mình đi. Đó là đặc trưng phi ngã, vô ngã của thơ ca trung đại. Con người không xuất hiện trong vai trò cá nhân. Nó chỉ thể hiện mình trong các mối quan hệ cộng đồng, làng xóm, họ mạc, gia đình. Con người có khi là “khách” trên chính quê hương mình như trong thơ Hạ Tri Chương:

    Nhi đồng tương kiến bất tương thức

    Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?

    hay trở thành “Càn khôn nhất hủ nho” hoặc “Giang Hán tư quy khách” trong thơ Đỗ Phủ. Sự đơn chiếc, cô lẻ đã thấm sâu trong nó một nỗi buồn khôn tả. Nhịp “bước dồn” chỉ là vẻ bề ngoài che đi nỗi lòng nặng trĩu ưu tư của nhân vật trữ tình. Tình cảm được dồn nén và bật ra thành câu hỏi:

    Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ

    Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

    Thơ ca nhà nho xưa thường hướng tới các vấn đề thế sự, đạo lý, hay than thở về thế đạo nhân tâm, tránh nói đến tình cảm cá nhân riêng tư trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên thơ ca nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu

    thế kỷ XIX mang trong nó sắc thái chủ tình rõ rệt, chủ trương bày tỏ những cảm xúc vốn bị đạo đức Nho giáo chế ngự bấy lâu nay. Có lẽ tiếng nói tiền khu mang tính tiên phong của Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương… đã là tiền đề cho hai câu kết này. Qua điển tích “Chương Đài” cùng cặp đại từ nhân xưng “người – kẻ” chúng ta có thể thấy người mà nhân vật trữ tình hướng tới là nửa kia của mình. Câu chuyện về bài thơ “Chương Đài liễu, Chương Đài liễu – Tích nhật thanh thanh kim tại phủ? – Túng sử trường điều tự cựu thuỳ – Giả ưng phan chiết tha nhân thủ” còn đó như minh chứng cho khao khát đoàn viên, sống trong hạnh phúc lứa đôi của người lữ thứ. Chính vì cảnh lữ thứ mà khát khao mong gặp người chia sẻ, “kể nỗi hàn ôn” càng da diết hơn. Nhu cầu sẻ chia đó vẫn thường trực trong mỗi con người tự ngàn xưa.

    Bài thơ gói gọn trong thể Đường luật thất ngôn bát cú nhưng nó đã nói được tiếng lòng của người nữ sĩ. Cảm giác nhớ nhà của con người khi “Lòng còn gửi áng mây vàng” (Truyện Kiều) là điều dễ hiểu. Trong không gian tha hương thời trung đại, con người thấy lẻ loi, yếu đuối khi bị bứt ra khỏi không gian quê nhà quen thuộc nên chỉ ra khỏi nhà mười dặm đã có cảm giác “lữ thứ, hoàng hoa” là thế. Đó không chỉ là một mã nghệ thuật mà còn phản ánh một phần sự thực của tâm trạng con người.

  • Đọc hiều văn bản QUA ĐÈO NGANG

    Đọc hiều văn bản QUA ĐÈO NGANG

    Đọc hiều văn bản QUA ĐÈO NGANG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích Bài thơ Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đọc hiều văn bản QUA ĐÈO NGANG

    Tiết 29. Đọc hiều văn bản:

    QUA ĐÈO NGANG

    A.Mục tiêu cần đạt:

    • Hình dung cảnh tượng đèo Ngang, tâm trạng cô đơn của
    • Bước đầu hiểu về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

    B.Chuẩn bị :

    Thầy : Tham khảo thêm một số bài văn mẫu .

    Trò : Soạn bài , thảo luận một số vấn đề.

    C.Các hoạt động dạy và học:

    1. Ổn định:

     

    1. Kiểm tra: Em đã được học về thể thơ Đường luật nào? Đọc một bài thơ tiêu biểu
    2. 3. Bài mới.
    Hoạt động của Thầy Hoạt động của trò Nội dung cần
    đạt
    Hoạt động 1 I. Đọc, chú thích
    H.S: – Đọc 1. Đọc:
    – Gọi Hs đọc. 2. Chú thích

    – tìm hiểu chú thích.

    Giới thiệu về thể loại thất ngôn bát cú.

    ? Bài thơ cần đọc với giọng như thế nào?

    • Chú thích từ khó
    • Cảm nhận của em sau khi

    đọc xong bài thơ

    Hoạt động

    • Tác giả giới thiệu cảnh ở

    đâu?

    • Những từ nào gợi tả cảnh sắc đất trời Đèo Ngang?
    • Từ “bóng xế tà” gợi cho em thấy điều gi?

    H.S: Nhận dạng thể thơ của bài thơ.

    – Buồn

    • Cảnh đèo Ngang
    • Bóng xế tà, cỏ cây, đá, lá,

    hoa

    • Thời điểm  Bà  đến  Đèo

    Ngang: Mặt trời đã ngả về Tây, ngày sắp tàn, đêm

    • Tác giả
    • Tác phẩm
    • Giaỉ từ

    II.Tìm hiểu văn

    bản

    1. Hai câu đề

    Cảnh buổi chiều buồn với vẻ đẹp hoang sơ ở Đèo

    xuống đ Ngang
    • Em có nhận xét gì về cách – Điệp từ “chen” gợi hình tả cây, cỏ Đèo Ngang qua ảnh rậm rịt, hoang vu của
    các từ lặp, vần, nhịp ngắt? thiên nhiên
    ?  Cảnh  hoang  vu  lại  đặt
    trong  thời  điểm  chiều  tà – Buồn đ cảm xúc chủ đạo
    bóng  xế  gợi  cho  em  cảm xuyên suốt bài thơ
    giác gì?
    * Giảng: Nếu ở 2 câu đầu * HS: – Đọc 2 câu thơ 2. Hai câu thực:
    chỉ là cảnh thiên nhiên, thì – Từ  láy tượng hình “Lom –  Hình  ảnh  con
    đến 2 câu thực con người Khom”, ” Lác đác”, gợi sự người không
    xuất hiện thưa thớt, ít ỏi khiến  cho  bức
    ? Tìm những từ ngữ miêu tả – “Tiều vài chú”, “chợ máy tranh tự nhiên
    cảnh  sống  ở  Đèo  Ngang. nhà” sinh động thêm
    Nhận xét về những từ ngữ – Đảo ngữ cho thấy dạng vẻ mà trái lại càng
    đó? Cảm nhận về cuộc sống nhỏ  nhoi  heo  hút  của  sự khiến  cho  cảnh
    ở đây sống… thêm hoang vắng,
    –  Thấp thoáng buồn tẻ chìm tiêu điều.
    trong khung cảnh hoang sơ,

    ? 2 câu thực tả vài nét về cuộc sống ở Đèo Ngang đã thể hiện cảm xúc sâu kín gì của nhà thơ?

    • Ngoài cảnh vật tác giả còn nghe âm thanh gì?

    tĩnh lặng.

    • Tâm trạng buồn trước cảnh vật hoang vu, thiếu sức sống…

    * HS: – Đọc 2 cầu 5,6

    • Tiếng chim cuốc, chim đa đa thường vang lên nơi

    hoang vắng, khắc khoải da diết, tiếp chim gọi buồn đ lấy động tả tĩnh, chơi chữ, điển tích. Tiếng chim cuốc đa đa nhớ nước thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước.

    • Câu thơ như 1 tiếng thở

    dài.

    1. Hai câu luận

    Tâm trạng nhớ quê, nhớ nhà, nhớ nước (tiền lệ) đ Tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ.

    • Nhận xét cách ngắt nhịp của câu thơ 7? Cách ngắt nhịp ấy khắc hoạ hình ảnh

    con người như thế nào?

    • Em hiểu “Mảnh tình riêng” là gì?

    “Ta với ta” là ai với ai? Cụm từ ấy gợi cho em cảm xúc gì của nhà thơ.

    • Bài thơ đã nêu bật cảm xúc nhớ thương rất sâu lắng da diết với bút pháp riêng: Trang nhã, điêu luyện.
    • Bài thơ là 1 văn bản biểu cảm. Tác giả đã sử dụng

    phương thức biểu đạt nào để bộc lộ cảm xúc?

    * HS: – Đọc 2 câu kết. 4. Hai câu kết

    – Con người nhỏ bé, lẻ loi đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn.

    • Ẩn dụ từ vựng: Thế giới – Tâm trạng cô nội tâm, nỗi buồn và sự cô đơn, trống vắng,

    đơn    thăm    thẳm      của       con  lẻ loi 1 mình đối

    người. diện với chính – Ta với ta: 1 nỗi buồn, 1 nỗi mình.

    cô đơn không có cai chia sẻ, 1 con người nhỏ bé đơn chiếc ôm 1 mảnh tình riêng trước cả trời mây non nước hoang vắng lạnh lẽo nơi đỉnh đèo xa lạ trong ánh hoàng hôn đang tắt dần đ Nữ sĩ cô đơn đ Lần đầu tiên trong thơ cổ trung đại Việt Nam cái “tôi” cá nhân được bộc lộ

    trực tiếp và chân thật  như
    vậy.
    – Gián tiếp + trực tiếp đ Tả
    cảnh ngụ tình. Tả cảnh để tả
    tình, tình  lồng  trong cảnh,
    cảnh đạm hồn người. Cảnh
    tình hoá quyện trong 1 bài
    thơ  Đường  mực  thước  cổ
    điển, lời chữ trang nhã, điêu
    luyện mang đậm phong cách
    đài  các  của  nữ  sĩ  Thăng
    Long
    * HS: Đọc ghi nhớ SGK
    Hoạt động 3 III. Luyện tập
    ?  Nêu  nét  thành  công  về – Tả cảnh ngụ tình, chơi chữ,
    nghệ thuật của bài thơ? dùng từ đặc sắc, chơi chữ.

    D* Về nhà: – Viết 1 đoạn

    văn ngắn nêu cảm nhận của

    em sau khi học xong bài thơ

    – Học thuộc lòng “Qua đèo

    Ngang”

    • Soạn “Bạn đến nhà chơi”
  • Văn mẫu Phân tích Bài thơ Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan

    Văn mẫu Phân tích Bài thơ Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan

    Văn mẫu Phân tích Bài thơ Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích Bài thơ Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan

    Văn phân tích tác phẩm

    văn học lớp 12

    Phân tích Bài thơ Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan

    BÀI LÀM

     

    Bước tới đèo ngang bóng xế tà

    Cỏ cây chen đá lá chen hoa

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lái đác bên sông chợ mấy nhà

    Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

    Dừng chân đứng lại trời non nước,

    Một mảnh tình riêng ta với ta.

    Mình chỉ đưa ra 1 số hình ảnh và từ ngữ để bạn phân tích

    Bạn phân tích h/a cỏ cây đá lá hoa và đ.t chen . Cỏ cây, hoa lá phải “chen” với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng. Điểm nhìn đã thay đổi: đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiểu phu, nhưng chỉ có “tiều vài chú”. Hoạt động là “lom khom” vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ rong thơ cổ (ngư, tiều, canh, mục) nhưng rất thần tình, tinh tế trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. chỉ mấy cáilèu chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi “chợ mấy nhà” để gieo vần mà thôi: “tà” – “hoa” – “nhà”. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà.

    Tiếp theo nữ sĩ tả âm thanh tiếng chim rừng: chim gia gia, chim cuốc gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái gia gia” tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách.

    Lấy cái động (tiếng chim rừng) để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đỉnh đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong thi pháp cổ. Phép đối và đảo ngữ vận dụng rất tài tình:

    “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gai”.

    Nghe tiếng chim rừng mà “nhớ nước đau lòng”, mà “thương nhà mỏi miệng’ nỗi buồn thấm thía vào 9 tầng sâu cõi lòng, toả rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương. Sắc điẹu trữ tình dào dạt, thiết tha, trầm lắng. Lữ khách là một nữ sĩ nên nỗi “nhớ nước”, nhó kinh kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhó chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết!

    Bốn chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: “Trời non nước”; nhìn xa, nhìn gần, nhìn cao, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại “một mảnh tình riêng”. Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của “trời non nước” tương phản với cái nhỏ bé của “mảnh tình riêng”, của “ta” với “ta” đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khác khi đứng trên cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trang nhớ quê, nhớ nhà:

    “Dừng chân đứng lại trời non nước,

    Một mảnh tình riêng ta với ta”.

    “Qua Đèo Ngang” là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tuyệt bút. Thế giới thiên nhiên kỳ thú của Đèo Ngang như hiển hiện qua dòng thơ. Cảnh sắc hữu tình thấm một nỗi buồn man mác. Giọng thơ du dương, réo rắt. Phứp đối và đảo ngữ có giá trị thẩm mỹ trong nét vẽ tạo hình đầy khám phá. Cảm

    hứng thiên nhiên trữ tình chan hoà với tình yêu quê hương đất nước đậm đà qua một hồn thơ trang nhã. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” là tiếng nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời mà mãi mãi, bài thơ Non Nước.

    các từ tượng hình trong bài như : lom khom , lác đác NT ngắt nhịp và nt đối lập

    Cảm nghĩ về tác phẩm “Cảnh khuya”-Hồ Chí Minh

    Hồ Chủ Tịch (1980-1969). Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tác nhiều bài thơ hay, Người không chỉ là vị cha già của dân tộc mà còn là một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà thơ lớn. Một trong những số đó là bài “Cảnh Khuya” mà người đã sáng tác ở chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng ***g cổ thụ bóng ***g hoa

    Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ

    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa”

    Dòng đầu gợi ra thời điểm làm thơ: đêm đã vào sâu, im ắng lắm, trong im ắng ấy nỗi lên một âm thanh trong trẻo, êm dịu của tiếng suối, càng làm cho đêm sâu thanh tĩnh cùng với tiếng côn trùng ở khu rừng Việt Bắc đả làm cho Người nghe ra từ êm dịu ví như tiếng hát xa đưa lại. Cách Bác ví âm thanh

    như tiếng hát xa càng làm cho tiếng suối trở nên có hồn và càng chứng tỏ

    rằng giữa con người với thiên nhiên đã có sự gần gũi với nhau. Vần “a” được

    gieo ở cuối dòng như một tiếng ngân vô tận vào lòng người, tạo nên một

    không gian vời vợi và sâu lắng. Vậy mà Người đã nghe tiếng suối ở khu

    rừng Việt Bắc như thế đấy.

    Dòng tiếp theo Bác tả ánh trăng:

    “Trăng ***g cổ thụ bóng ***g hoa”

    Nếu như dòng đầu Bác nghe được tiếng suối trong đêm thì lần này Bác tả

    cảnh người nhìn thấy trong đêm. Bác như hòa quyện vào ánh trăng để người

    đọc thấy không chỉ có nhạc mà còn có hoa đó là ánh trăng ***g vào vòm lá

    cây cổ thụ đang xen nhau tầng tầng lớp lớp tạo thành những mảnh sáng_tối,

    đậm_nhạt, trắng_đen,… gợi lên cảnh chập chồng của bóng trăng, bóng cây,

    bóng hoa.

    Tiếp theo đó:

    “Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ

    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

    Linh hồn và bức tranh phong cảnh Việt Bắc là một bức tranh của một con người đang thao thức. Thao thức nên Người thấy được cảnh đẹp của trăng núi gió ngàn chăng?Bác đang mượn cảnh vật trước đêm khuya thanh tĩnh để bộc lộ cảm xúc của chính mình càng làm nỗi bật thêm con người Bác với thiên nhiên. Sâu xa hơn, nó có thể là sự thống nhất giữa phần mộng mơ và sự tĩnh táo, giữa chất lãng mạn của thi nhân và tấm lòng ưu ái của một vị chủ tịch. Có thể nói Bác đang thức cùng suối, cùng trăng, cùng cổ thụ, cùng hoa lá, Bác đang thức cùng non sông đất nước Việt Nam. Bác đamg nặng lòng vì nước, vì dân. Bác Hồ làm bài thơ này ở chiến khu Việt Bắc năm 1947. Lúc đó cuộc kháng chiến khó khăn, gian khổ chỉ mới bắt đầu, với Bác có bao nhiên vấn đề quốc gia, dân tộc đặt ra cần Bác giải quyết. Qua bài thơ

    này ta càng hiểu rằng trong hoàn cảnh nào, Bác vẩn giữ được thái độ bình tĩnh chủ động như vậy, mặc dù ẩn trong phong thái ung dung tự tại ấy là “nỗi lo cho nước. nỗi thương dân”.

    Trong cuộc đời 79 năm, Bác Hồ có biết bao đêm không ngủ như vậy?”trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành” vì nhiều lẽ nhưng điều khiến chúng ta cảm phục vô hạn đó là ý thức. trách nhiệm của Bác trước vận mệnh nước nhà. Ý thức ấy ở Bác không chút nào xao lãng. Lúc nào cũng lo cho dân vì dân chưa lần nào Bác nghĩ đến mình.

    Cảm nghĩ về thầy, cô giáo, những “người lái đò” đưa thế hệ trẻ “cập

    bến” tương lai

    Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai

    vâng,đúng như lời Bác Hồ đã nói trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước nhưng ai sẽ là người dìu dắt các em từ những cậu cô bé trở thành chủ nhân của đất nước vào ngày mai.Ngoài các bâc phụ huynh,những ngướ sinh thành thì hình ảnh của các thầy cô là ko thể thiếu như câu: Sang sông phải bắc cầu Kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    Mỗi người thầy ngưới cô có vai trò vô cùng quan trọng đến tương lai của đất nước.Từ hồi mẫu giáo ta được các thầy cô dạy hát, học múa rồi lên lớp một lại đc thầy cô uốn nắn cho từng chữ một.Rồi mai đây có lớn hơn có chững chạc hơn thì các thầy cô vẫn mãi bên cạnh giúp đỡ ta.Thầy cô cung giống như nhưng người lái,đưa chúng ta cập đến những bến chi thức để rồi cứ sau mỗi chặng đường ta lại đc mở rộnh kiến thức.Vì thế đã có biết bao bài thơ,

    bài hát ca ngợi nghề nhà giáo nhưng có bài nào thể hiện hết đc công lao to lớn của các thầy các cô.Nhưng các bạn đã đền đáp nó như thế nào.Tặng quà ư?ko tôi ko nghĩ như vậy việc học tập tốt,nghe lời kính trọng thầy cô là món quà lớn nhất và kính trọng nhất đến các thầy các cô.

  • Văn mẫu Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang

    Văn mẫu Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang

    Văn mẫu Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG cùng thiết bị điều khiển bật tắt theo giờ mặt trời tích hợp GSM


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang

    Ôn thi vào 10

    Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang

    BÀI LÀM

    Bài thơ “Qua đèo ngang” được bà Huyện Thanh Quan vận dụng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật . Với cách sử dụng ở luật thơ nghiêm ngặt về số câu, số tiếng, bố cục, gieo vần, luật đối liên song tác giả vẫn giúp người đọc hiểu được tình cảm sâu sắc kín đáo qua những hình ảnh thơ , tứ thơ .

    Trong lòng văn thơ cổ VN có 2 nữ thi sĩ đc nhiều người biết đến đó là Hồ Xuân Hương và bà Huyện Thanh Quan . Nếu như thơ văn của Hồ Xuân Hương sắc sảo, trịch thượng, góc cạnh thì phong cách thơ của bà Huyện Thanh Quan lại trầm lắng, sâu kín, hoài cảm … Chẳng vậy mà khi đọc bài thơ “Qua đèo ngang ” người đọc có thể thấu hiếu bức tranh vịnh cảnh ngụ tình sâu sắc , kín đáo của nhà thơ . Bằng cách sử dụng ngôn từ trang nhã, điêu luyện nhà thơ đã tả được bức cảnh thiên nhiên đèo ngang khi bà ta từ đàng ngoài vào đàng trong . Đồng thời lời thơ đã hàm ẩn tình cảnh hoài cổ, phủ nhận thực tại của nhà thơ

    Mở đầu bài thơ , tác giả đã giới thiệu cảnh quan nơi đèo ngang qua những vần

    thơ

    (2 câu đề ) “Bước tới đèo ngang bóng xế tà

    Cỏ cây chen đá lá chen hoa ”

    Câu thơ đã giới thiệu ko gian, thời gian để bắt đầu bước vào thế giới tâm hồn của chính nhà thơ . Cảnh đèo ngang đáng với ý nghĩa tên gọi của nó đầy hiểm trở, hoang sơ . Cảnh tượng ấy gợi lên trong con người cái nhìn heo hút , hiu quạnh . Cảnh tượng ấy lại còn được nói tới vào thời điểm vào lúc “bóng xế tà” . Đây là những lúc dễ dàng gợi lên trong tâm hồn tình cảm của con người giọt buồn, giọt nhớ …. Đúng vậy !

    Nhà thơ vừa mới bước tới Đèo Ngang thì bóng đã xế tà . Khái niệm của “bóng xế tà” như muốn biểu hiện 1 trạng thái tịch dương . Trời đã xế chiều, bóng đã dần tàn … cảnh tượng ấy rất phù hợp với tâm trạng của bà Huyện Thanh Quan lúc này . Đối với bà, việc đí từ đất thủ đô Thăng Long để đến vùng đất Cố Đô Huế là 1 sự thay đổi, là 1 bước ngoặt từ chế độ này sang chế độ khác . Song phải dã từ nhà Lê, để vào nhận chức Trung giáo tộc đây là 1 điểm bà ta phủ nhận nhưng vì hoàn cảnh xh nên bà Huyện Thanh Quan phải từ miền Bắc vào trong miền Nam là như thế . Có lẽ, cảnh chiếu hôm rất phù hợp với tâm cảm của nhà thơ . Cho dù bà ta có đến Đèo Ngang vào giấc bình minh hoặc giữa ban trưa thì ý thơ của tác giả rất phù hợp với tâm cảm của chính bà . Do vậy, đc đọc bài thơ “Chiều hôm , Nhớ nhà ” chúng ta cũng thấy bà Huyện Thanh Quan cũng nói đến cảnh buổi chiều như “chiều rời bản làng bóng hoàng hôn” tiếng thơ của bà Huyện Thanh Quan chỉ có thời điểm buổi chiều hay nói đúng hơn chỉ có buổi chiều mới biểu hiện đúng tình cảm của nhà thơ . Đó là 1 nỗi hoài, gợi buồn trước sự đổi thay của xh . Thế nên nhà thơ Nguyễn Du cũng đã nói :

    “Cảnh nào cảnh chẳng gieo sầu

    Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ”

    Từ cái nhìn thực tại ấy, cảnh quan trc’ mắt hiện lên trg tầm ngắm của nhà thơ. Để rồi nhà thơ mới nhận định tổng thể cảnh đèo Ngang. Lời thơ: “Cỏ cây chen đá lá

    chen hoa” Với cách sử dụng điệp từ và hiệp vần “Cỏ cây chen đá” và “lá chen hoa” cảnh vật ở đây cũng thật sinh động đấy chứ! Có cả cỏ với cây điểm thêm lá và hoa nhưng tất cả n~ thực vật ấy lại đc hiển hiện trg 1 hoạt động “chen chúc”. Như vậy, cảnh tượng ở đây cho ta thấy là hoang vu, ko có bàn tay con ng` chăm sóc, vun tưới. Do vậy, sự vật ở đây trở nên sô bồ, hỗn độn, mọi vật cố gắng ngoi lên, chen lẫn để duy trì sự sống. Đứng trc’ cảnh tượng đó khiến cho con ng` càng gợi lên sự hoang mang, khiếp hãi. Cảnh vật thì bao la làm cho tâm hồn con ng` đã hiu quặng, đơn chiếc càng thêm sự cô đơn, vắng lặng gần như hoàn toàn trống trãi.. Mới bước vào thế giới thơ ca của Bà HTQ ta đã cảm thụ đc 1 nỗi buồn của 1 thời đại đổi thay. Thời đại của nhà Lê. Vốn thuộc dòng tộc nên nhà thơ đã trung thành với triều đình. Nhưng làm sao có thể trung thành mãi đc 1 triều đại mục nát như thế. Hiểu đc hoàn cảnh đó ta mới thấu tỏ đc nỗi lòng của nhà thơ trg lúc này. Chẳng thế mà ng` ta vẫn thường khẳng định bước vào bài thơ của bà HTQ như bước vào 1 ngôi chùa cổ kính, thật tĩnh lặng nhưng cũng chất chứa rất n` nỗi niềm sâu kín.

    Đến 2 câu thực, nhà thơ đã thể hiện cảnh sinh hoạt nơi đèo Ngang = n~ câu

    thơ:

    “Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”

    • 2 câu này, tác giả đã thực sự đứng trên vị trí đỉnh của đèo Ngang. Từ vị trí này, nhà thơ mới có thể quan sát tổng thể cảnh sinh hoạt nơi đây. Tác giả đã dùng thị giác để nhìn nhận n~ h. ảnh vài chú tiều, mấy nhà chợ cùng với n~ t/c lom khom, lác đác.

    Với cách sử dụng nghệ thuật đảo ngữ: “ lom khom- lác đác, dưới núi- bên sông, tiều vài chú-chợ mấy nhà” nhằm để tạo sự nhấn mạnh, nổi bật ý thơ. Ngoài ra với cách nói đảo ngữ, tác giả đã thay đổi trật tự của câu thơ. Đúng ra câu thơ phải đc sắp xếp:

    “Vài chú tiều lom khom dưới núi

    Mấy nhà chợ lác đác bên sông.”

    Thế nhưng, nhà thơ đã đưa vị ngữ lên trên đầu câu để nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt.

    Với cách sử dụng n~ từ láy gợi hình “lom khom”, dáng vẻ thu gọn, gập ng`; “lác đác” tạo sự thưa thớt, vắng vẻ. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng n~ số từ “ vài-mấy” làm cho ng` đọc hiểu rằng cảnh sinh hoạt ở đây chỉ có 1 vài chú tiều trg dáng vẻ tiều tụy, bé nhỏ; thêm vào đó 1 vài ngôi nhà nằm rải rác ở bên ven sông. Cảnh sinh hoạt thật buồn vắng. Chính cảnh tượng ấy càng tạo cho nhà thơ n~ cảm giác hiu quặng, tẻ nhạt, trống trải.

    Từ cảnh quan sinh hoạt đìu hiu, quặng quẽ ấy, nhà thơ đã bàn luận thêm cảnh quan nơi đèo Ngang qua n~ câu thơ:

    “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

    • giác quan thính giác, nhà thơ đã lắng nghe âm thanh của cảnh đèo ngang . Đc thể hiện = lối nói đối ngữ : nhớ nước – thương nhà; đau lòng – mỏi miệng; con cuốc cuốc – cái gia gia . T/giả đã tạo sự cân đối về nội dung ý nghĩa nhằm nhấn mạnh , nổi bật nội dung .

    Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng cách nói đảo ngữ, trật tự, bình thường của

    câu :

    “Con cuốc cuốc đau lòng nhớ nước

    Cái gia gia mỏi miệng thương nhà”

    Tuy nhiên, nhà thơ đã đưa những từ ngữ : nhớ nước , thương nhà lên đầu câu nhằm để nhấn mạnh nỗi niềm nhớ nước, tấm lòng thương nhà

    Với cách sử dụng nghệ thuật nhân hóa : con cuốc cuốc mà cũng nhớ nước đau lòng, loài gia gia mà cũng thương nhà mỏi miệng . Trong thơ ca, nghệ thuật này thường dùng để mang ý hàm ẩn . Đó ko phải là tiếng kêu của loài chim cuốc, chim gia . Hay nói đúng hay đó chính là tiếng lòng của nhà thơ . Vì sao vậy ?

    • cách nghệ thuật chơi chữ dựa vào hiện tượng đồng âm : cuốc = quốc , hiện tượng đồng nghĩa : gia = nhà . Qua đó, giúp ta có thể hiểu đó là sự đau lòng, thương nhớ về đất nước , nỗi niềm mỏi miệng , suy nghĩ về quê nhà . Làm sao mà ko nhớ nước đến đau lòng , ko mỏi miệng vì thương nhà đc ? Bởi vì trong cách sử dụng điển tích , nhà thơ mượn hình ảnh loài chim cuốc muốn gợi sự tiếc nuối về quá khứ , triều đại nhà Lê thời kì vàng son,hưng thịnh nay ko còn nữa mà đó là 1 triều đại nhà Lê mục rỗng, thối nát . Gia tộc của t/giả vốn trung thành với nhà Lê nhưng ko thể nào theo 1 chế độ bất tài , chác đáng trước hiện thực đáng lên án như thế này . Thêm vào đó, đây là lần đầu tiên có lẽ nhà thơ xa nhà 1 bước ngoặt đổi đời . Vì vậy , với cách dùng h/ảnh cái gia gia để gợi về thủy chung, thương nhớ về quê nhà

    Với tất cả những gì thấy đc và nghe đc đã tạo ra cảm xúc của t/giả trước thực tại, cảnh vật vắng lặng , đơn chiếc, xót xa , buồn bã . Càng làm cho nhà thơ mỗi lúc nỗi buồn hoài cảm càng tăng . Tình cảm này đc đúc trong 2 câu thơ cuối :

    “Dừng chân đứng lại trời non nc

    Một mảnh tình riêng ta với ta ”

    Với nhóm từ “dừng chân đứng lại” đọc lên ta nghe như thừa vì khi dừng chân thì sẽ đứng lại . Nhưng ko, cách sử dụng từ ở đây muốn thể hiện trạng thái tĩnh gần như tuyệt đối của nhà thơ . Cả thân xác lẫn tâm linh của nhà thơ hoàn toàn tĩnh lặng để rồi nhìn bao quát nơi Đèo Ngang : 1 bầu cao xa, cả dãy núi trùng điệp , dòng sông trải đầy . Như vậy, thế giới thiên nhiên nơi đây thật rộng khoáng, bao la . Trong khi đó, con người chỉ là “một mảnh tình riêng” . Cách sử dụng từ của t/giả thật điêu luyện

    • đã ít vì chỉ có “một ” , lại còn rất nhỏ “mảnh” và cách dùng từ “tình riêng” càng cho ta thấy tâm trạng cô đơn, trống vắng hoàn toàn của bà Huyện Thanh Quan . Sau đó lại sử dụng nhóm từ kết hợp “ta với ta” tưởng như có thêm tâm hồn con người nào khác , nhưng ko đây chỉ là 1 con người : thân xác, tâm hồn của nhà thơ . Như vậy thiên nhiên với con người hoàn toàn đối lập với nhau để nhấn mạnh, nổi bật ý nghĩa , tâm trạng cô đơn, phủ nhận thực tại của nhà thơ .

    Qua đèo ngang là 1 bài thơ trữ tình đặc sắc . Với cách sữ dụng ngôn từ trang nhã nhưng rất điêu luyện đã giúp người đọc thấy đc bức tranh vịnh cảnh ngụ tình sâu kín . Cảnh đèo ngang thật buồn vắng, tội nghiệp phù hợp với tâm trạng con người cô đơn hoài cảm . Từ bài thơ , cảm thụ tâm cảm của nhà thơ , ta càng cảm thông nỗi lòng của t/giả và kính phục tài năng thi ca của bà Huyện Thanh Quan . Đúng là lượng thơ của t/giả rất ít, song cái khiêm tốn đó cũng đủ để tạo ấn tượng đó làm lay động lòng người . Có lẽ ai ai cũng biết đến bài thơ khi đọc hiểu về bà Huyện Thanh Quan . Thơ là tình cảm , là cảm xúc của con người là thế đấy .

  • TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG cùng thiết bị điều khiển bật tắt theo giờ mặt trời tích hợp GSM

    TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG cùng thiết bị điều khiển bật tắt theo giờ mặt trời tích hợp GSM

    TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG cùng thiết bị điều khiển bật tắt theo giờ mặt trời tích hợp GSM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Mạch tự động điều khiển đèn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/TI%E1%BA%BET-KI%E1%BB%86M-N%C4%82NG-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-c%C3%B9ng-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-%C4%91i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-b%E1%BA%ADt-t%E1%BA%AFt-theo-gi%E1%BB%9D-m%E1%BA%B7t-tr%E1%BB%9Di-t%C3%ADch-h%E1%BB%A3p-GSM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG cùng thiết bị điều khiển bật tắt theo giờ mặt trời tích hợp GSM

    TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG

    TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG cùng

     

    thiết bị điều khiển bật tắt theo giờ

    mặt trời tích hợp GSM

    BÀI LÀM

     

    Tiết kiệm năng lượng hiện nay đã và đang trở thành chủ để nóng bỏng của đất nước, có rất nhiều phương pháp có thể giúp chúng ta tiết kiệm năng lượng như vận động theo ý thức, thay đổi chủng loại thiết bị điện tiêu hao ít năng lượng, …

    Công ty Cổ phần TECHPAL vừa đưa ra giải pháp phát triển thiết bị điều khiển bật tắt đèn chiếu sáng theo giờ mặt trời tích hợp khả năng điều khiển tập trung qua mạng điện thoại di động.

    Trong chiếu sáng công cộng trước nay giải pháp được sử dụng chủ yếu là bật tắt theo cảm

    biến ánh sáng hoặc timer dẫn đến tồn tại một số điểm bất cập như: khi quang trở (cảm biến ánh sáng) bị bụi hoặc sử dụng lâu ngày sẽ dẫn đến việc bật tắt không đúng, đối với timer thì thời gian bật tắt luôn luôn cố định không có độ mềm dẻo thực

    sự cần theo theo từng giai đoạn trong mỗi mùa và từng mùa trong năm, … Diện tích được chiếu sáng hay công suất tiêu thụ điện năng của đèn chiếu sáng trên một phạm vi rộng là rất lớn. Năm 2010, chiếu sáng chiếm 25,3% điện năng thương phẩm của Việt Nam, chiếu sáng công cộng chiếm một phần mười tổng lượng điện chiếu sáng hay chiếm 2% của tất cả các mức tiêu thụ điện (Theo http://oif.gov.vn) như vậy nếu đưa ra giải pháp tối ưu về thời gian bật tắt đèn chiếu sáng công cộng sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất lớn.

    Công ty Cổ phần TECHPAL đã hợp tác cùng đối tác IPNet cho phát triển thành công thiết bị điều khiển bặt tắt thông minh theo giờ mặt trời. Từ quy luật ánh sáng mặt trời tại nơi thiết bị chiếu sáng được lắp đặt phần mềm sẽ tính ra chu kỳ giờ sáng tối của mặt trời theo từng ngày trong năm từ đó đưa ra giờ bật tắt phù hợp nhất. Dữ liệu về thời gian được lưu bộ nhớ và Chip xử lý chính sẽ đọc dữ liệu lưu từ phần mềm để

    bật tắt cho từng ngày từ đó mang lại tối ưu về khoảng thời gian bật tắt giúp tiết kiệm năng lượng tối đa.

    Thiết bị bật tắt theo giờ

    Bằng khen của Ngân

    mặt trời bản đủ chức

    hàng Thế giới

    năng

    Với tính năng điều khiển giám sát từ xa qua mạng điện thoại di động GSM, thiết bị cho phép điều khiển nóng từ trung tâm cho từng đầu cuối thông qua tin nhắn SMS hoặc qua việc mở đường truyền kết nối GPRS. Tính năng này giúp đơn vị quản lý bật/tắt cưỡng chế đèn chiếu sáng từ trung tâm đối với những nơi không được ưu tiên cao trong những ngày thiếu điện trầm trọng hoặc bật những ngày lễ lớn, … Cũng với khả

    năng này, trung tâm có thể quản lý tình trạng mất điện (nhờ nguồn ắc quy dự trữ) hay tình trạng hoạt động bình thường của thiết bị đầu cuối ngay khi xảy ra sự cố qua những bản tin gửi về trung tâm. Việc kết hợp tính năng điều khiển từ xa và tính năng điều khiển bật tắt theo giờ mặt trời tạo ra khả năng linh hoạt và tiết kiệm điện tối ưu. Sản phẩm hoàn toàn được nghiên cứu phát triển trong nước giúp giảm giá thành tối đa và chất lượng đảm bảo.

    Với tính hữu ích và tính khả thi của thiết bị, vừa qua Ngân hàng Thế giới cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trao tặng giải thưởng “Ngày sáng tạo Việt Nam 2011” cho nhóm nghiên cứu phát triển ý tưởng. Đồng thời ủng hộ tài chính triển khai thử nghiệm thiết bị trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn sắp tới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây 


  • Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch tự động điều khiển đèn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nghĩa tình thái về đạo nghĩa trong câu văn tác phẩm Tắt đèn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/M%E1%BA%A1ch-t%E1%BB%B1-%C4%91%E1%BB%99ng-%C4%91i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-%C4%91%C3%A8n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch điện gồm có một bộ nhớ nhỏ mà có thể tự động mở và tắt đèn như mong

    muốn. Mạch điện dùng 2 LDR ( điện trở phụ thuộc ánh sáng ) mà chúng được đặt

    theo thứ tự trước sau (cách nhau khoảng 50cm), vì vậy chúng có thể nhận biết một

    cách riêng biệt một người bước vào phòng hoặc là đi ra khỏi phòng. Sau khi xử

    ly,đầu ra của 2 bộ cảm biến LDR được sử dụng để phối hợp với những trạng thái

    của LED màu khi một người bước vào phòng thì LED sẽ phát ra màu xanh và khi

    người đó đi ra khỏi phòng thì LED sẽ phát ra màu đo. Những ngõ ra này sẽ đồng

    thời được đưa đến 2 bộ đếm số. Một trong số 2 bộ đếm số sẽ đếm lên: +1, +2, +3

    …vv khi có nhiều người lần lượt bước vào phòng và bộ đếm kia sẽ đếm ngược lại:

    -1, -2, -3 …vv khi có nhiều người đi ra khỏi phòng. Những bộ đếm này sử dụng IC

    CD4017. Tầng tiếp theo bao gồm 2 IC logic mà chúng có thể kết hợp những ngõ ra

    của 2 bộ đếm và xác định xem liệu có còn người nào đó vẫn còn trong phòng hay

    không. Khi sử dụng LDR trong mạch điện thì phải cẩn thận tránh để chúng bị ảnh

    hưởng bởi ánh sáng. Nếu muốn thì có thể sử dụng cảm biến có giá trị thay đổi

    được để thay thế cho LDR. Những bộ cảm biến này được lắp đặt sao cho khi có

    người đi vào hoặc đi ra khỏi phòng thì người đó sẽ chắn ngang ánh sáng theo thứ

    tự cảm biến này sau cảm biến kia. Khi một người đi vào phòng, thì trước tiên

    người đó sẽ ngăn cản ánh sáng từ LDR1, tiếp đến là LDR2. Khi một người đi ra

    khỏi phòng thì nó sẽ thay đổi trạng thái. Trong trường hợp bình thường thì cả 2

    LDR đều bị giảm cường độ ánh sáng, và như vậy trở kháng của chúng rất thấp

    (khoảng 5 kilo Ohm). Như vậy cuối cùng, chân ra của cả 2 bộ đếm thời gian (IC1

    và IC2), mà được định dạng như là những mạch flip-flop đơn ổn, đều bị chốt gần

    với điện áp cấp vào là +9V. Khi sự giảm cường độ sáng của LDR được ngăn cản

    thì trở kháng của chúng tăng lên rất lớn và điện thế ở chân 2 của nó gần như bằng 0

    (nối đất), khi đó mạch flip-flop bắt đầu hoạt động. Những tụ điện được mắc vào

    giữa chân 2 và đất để chống nhiễu. Khi một người đi vào phòng, LDR1 hoạt động

    trước và đó là kết quả trong sự hoạt động của IC1 đơn ổn. Phía trước cực B của cặp

    transitor T1-T2 xuất hiện 1 xung ngắn ở ngõ ra nhanh chóng nạp điện cho tụ C5.

    Nhưng ngay khi đó cực C của transistor T1 và T2 lại ở trạng thái có trở kháng cao

    bởi vì chân 3 của IC2 có điện thế thấp và diode D4 không dẫn điện. Nhưng khi vẫn

    là người đó đi qua LDR2, thì IC2 đơn ổn được khởi động. Chân 3 chuyển lên mức

    cao và điện thế này đi qua diode D4 và được đưa đến cặp transistor T1-T2. Kết quả

    là cặp transistor dẫn điện bởi vì tụ C5 giữ lại điện tích trong một lúc và thời gian

    nó xả hết được điều khiển bởi điện trở R5. Vì thế cho nên LED xanh được phát

    sáng một cách tức thời. Giống như vậy, ngõ ra cũng được đưa đến IC3 mà nó có

    hoạt động như một đồng hồ đếm. Ứng với mỗi ngõ vào của mỗi người vào sẽ làm

    ngõ ra của IC3 ( đang ở mức cao) sẽ tăng lên theo. Ơ tầng này, cặp transistor T3-

    T4 không dẫn điện bởi vì ngõ ra chân 3 của IC1 không còn ở mức dương nữa vì

    vậy độ rộng xung ở ngõ ra ngắn hơn và do đó cực C của transistor tiến gần đến

    mức cao. Khi có người đi ra khỏi phòng, thì LDR2 được hoạt động trước và sau đó

    là LDR1 hoạt động. Khi một nữa phần dưới của mạch cũng giống như nữa phần

    trên, lúc này với sự sai lệch của mỗi người sẽ làm cho LED đỏ phát sáng một cách

    tức thời và ngõ ra của IC4 cũng được tăng lên giống như trong trường hợp của IC3.

    Ngõ ra của IC3 và của cả IC4 ( sau khi được đảo bởi cổng đảo N1 đến N4 ) được

    hợp lại bởi cổng AND ( A1 đến A4 ) sau đó là cổng OR ( sử dụng diode D5 đến

    D8 ). Hiệu ứng thực đó là khi có người đi vào phòng, ngõ ra có it61 nhất một cổng

    AND ở mức cao, vì transistor T5 dẫn điện và cấp năng lượng cho RL1. Bóng đèn

    được nối với tiếp điểm chính N/O của rờ le RL1 cũng được phát sáng. Khi mọi

    người đi ra khỏi phòng, và đến khi không còn ai trong phòng thì dây nối của ngõ ra

    OR vẫn tiếp tục trả về mức cao có nghĩa là bóng đèn vẫn còn sáng, tới khi tất cả

    mọi người đi vào đã đi ra hết khỏi phòng. Số người tối đa mà mạch điện này có thể

    kiểm soát được là 4, một khi thiết bị nhận được xung thứ 5 thì nó sẽ trả lại trạng

    thái như ban đầu. Tuy nhiên mạch cũng có thể dễ dàng đếm đến 9 người bằng cách

    thay đầu nối của chân 1 với chân trả về trạng thái ban đầu (15) và sử dụng ngõ ra

    từ Q1 đến Q9 của bộ đếm CD4017 và có thể thêm vào các cổng AND và diode .

    mạch điều khiển đèn bằng ánh sang

    MẠCH TẮC ĐÈN LÀM TRỄ ĐIỀU KHIỂN BẰNG ÁNH SÁNG HOẶC ÂM

     

    THANH:

    Hình 1:

    1.Ứng dụng:

    Mạch điện này dùng để tự động điều khiển các đèn cầu thang, các đèn chiếu sáng trong nhà vệ sinh và các lối đi.

    2.Nguyên lý mạch điện:

    Mạch điện được cấu tạo như hình1. SK-II là một IC điều khiển bằng âm thanh, là một IC chuyên dụng. Bên trong nó trừ mạch điện chính là một trigger hai trạng thái ổn định còn có một bộ khuếch đại đảo pha 3 cực có thể thoả mãn các yêu cầu ở các trường hợp khác nhau. Trong mạch này chỉ sử dụng 2 tần 2 cấp trong số đó.

    Bình thường chân 9 của SK-II nằm ở mức thấp, transistor Q1 do thiên trị cực gốc không có nên ngưng dẫn, chân 2 đầu kích của mạch tích hợp gốc chuẩn thời gian 555 vẫn ở mức cao, chân 6 đầu trị số ngưỡng cũng như vậy. Chân 7 phóng điện cũng ở mức cao, nên đầu ra chân 3 của nó cũng sẽ ở mức thấp, Triac silic điều khiển 2 chiều không có dòng điện kích nên ngưng dẫn, đèn H không sáng. Khi microphone MIC tiếp thu âm thanh vỗ tay, bên trong SK-II bộ trigger trạng thái ổn sẽ lật, chân 9 đưa ra mức cao, transistor Q1 dẫn thông đồng thời bão hoà, điện áp trên cực góp của nó là 0, đồng thời điện áp chân 2 đầu kích của mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 thấp chừng 1/3 Vcc, mạch điện bên trong lật, đầu ra chân 3 mức cao, Triac sẽ kích dẫn thông, đèn

    H phát sáng. Đồng thời điện áp 12V qua điện trở R4 nạp vào tụ C4, cho tới khi điện áp 2 đầu C4 đạt tới 2/3 Vcc.Mạch điện bên trong của mạch gốc chuẩn thời gian 555 một lần nữa sẽ lật, chân 3 đầu ra sẽ chuyển thành mức thấp, Triac một lần nữa sẽ ngưng dẫn. Thời gian làm trễ dài hay ngắn được quyết định bởi trị số của điện trơ R4 và của tụ C4, dựa vào các số liệu trong hình vẽ nó sẽ có thời gian khoảng chừng 2 phút. Ngoài ra mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 có bị kích lật hay không còn bị sự điều khiển bởi điện áp

    • chân 4 đầu phục vị, ban ngày do ánh sáng chiếu tới transistor quang Q3 làm điện trở giảm thấp, transistor Q2 dẫn thông, mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 đầu phục vị chân 4 vẫn ở mức thấp, mạch kích bên trong bị khoá, tức là làm cho điện áp chân 2 đầu kích thấp hơn 1/3 Vcc, mạch điện 555 cũng không lật. Chỉ khi nào bắt đầu trời tối, do transistor quang Q3 không có ánh sáng chiếu vào nên có điện trở cao, transistor Q2 ngắt, chân 4 đầu phục vị của mạch điện 555 vẫn ở mức cao, lúc đó chỉ cần trên mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 có đầu vào là xung âm, mạch đơn ổn bên trong nó sẽ lật. Như vậy IC điều khiển bằng âm thanh chọn dùng hệ SK-II. Micro MIC chọn dùng loại độ nhạy cao, cũng có thể dùng loại tinh thể gốm áp điện MTD-27A để thay. Mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 chọn dùng loại NE55, LM555 hoặc 5G1555. Tụ C4 chọn dùng loại tụ điện rò càng nhỏ càng tốt. Các linh kiện còn lại chọn dùng theo thông số được ghi trên sơ đồ.

    3. Điều chỉnh các giá trị:

    Khi điều chỉnh kiểm tra, trước tiên để transistor Q3 nằm dưới ánh sáng tự nhiên, điều chỉnh R6 làm cho transistor Q2 dẫn thông, điện áp chân 4 đầu phục vị của mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 thấp hơn 1V, khi cần thiết có thể dùng transistor có hệ số khuếch đại lớn hơn. Sau đó điều chỉnh R1, làm cho điện áp ở đầu dưới R1 gần tới 6V. Nói chung, điều chỉnh R1 ở khoảng 10KW là được. Khi thay đổi điện dung C5 nằmgiữa chân 4 và 5 chủa IC điều khiển bằng âm thanh, trong hình vẽ dùng loại 0.1mF, mạch điện sẽ tương đối nhạy với tần số lân cận 1KHz, chẳng hạn như tiếng vỗ tay


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Nghĩa tình thái về đạo nghĩa trong câu văn tác phẩm Tắt đèn

    Nghĩa tình thái về đạo nghĩa trong câu văn tác phẩm Tắt đèn

    Nghĩa tình thái về đạo nghĩa trong câu văn tác phẩm Tắt đèn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Làm sáng tỏ ý kiến với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghĩa tình thái về đạo nghĩa trong câu văn tác phẩm Tắt đèn

    Số 5 (223)-2014                               NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG                                                                11

    NGÔN NGỮ HỌC VÀ VIỆT NGỮ HỌC

    NGHĨA TÌNH THÁI VỀ ĐẠO NGHĨA TRONG CÂU VĂN TÁC PHẨM TẮT ĐÈN (NGÔ TẤT TỐ)

    DEONTIC MODALITY IN TAT DEN (TURN OFF THE LIGHT) (NGO TAT TO)

    NGUYỄN THỊ NHUNG

    (TS; Đại học Sư phạm, ĐH Thái Nguyên)

    PHAN THỊ THƯƠNG

    (Đại học Sư phạm, ĐH Thái Nguyên)

    Abstract: Analysis regarding various aspects of structure, meanings, functions of means of deontic modality in Ngo Tat To’s Tat den. Accordingly, we draw a conclusion on different ways of choosing and using means of language to express deontic modality, of using sentences containing deontic modality to express Tat den’s subject and the author’s style.

    Key words: deontic modality; permit; exclude; oblige; prohibit; Tat den; Ngo Tat To.

    1. Tình thái về đạo nghĩa (TTĐN) – một bộ phận trong nghĩa tình thái chủ quan của câu đã được các nhà nghiên cứu như Palmer, Lyon, Lê

    Quang Thiêm, Nguyễn Văn Hiệp, … đề cập tới trong các công trình của mình. Đó là phần tình thái thể hiện thái độ, ý chí, mức độ áp đặt của người nói đối với hành động do một người nào

     

    đó hoặc chính người nói thực hiện có liên quan đến tính hợp thức về đạo đức hay chuẩn mực xã hội. Tính chủ quan của TTĐN thể hiện ở thái độ, ý chí, mong muốn của người nói đối với hành động. Người nói cho rằng hành động là được phép hay được miễn trừ, là bắt buộc hoặc cấm đoán. Qua đó, người nói thể hiện mong muốn người nghe thực hiện hành động hoặc tự mình cam kết hành động.

     

    Tắt đèn, in lần đầu 1937 là một tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất Tố – một nhà văn vốn được mệnh danh là nhà văn của dân quê.

     

    Mà người dân quê đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam vốn trọng tình cảm, đạo đức, ưa sự tế nhị, hài hòa, luôn khát khao một cuộc sống thái bình ổn

     

    định, an cư lạc nghiệp. Trong giai đoạn cuối của những năm 30 thuộc thế kỉ XX, khi mà mối mẫu thuẫn giữa giai cấp thống trị với người dân lao động đang bị đẩy lên đến mức độ không thể dung hòa thì nhiều nét văn hóa dân tộc bị chà

    đạp nhưng những khao khát chân chính càng trở nên cháy bỏng. Vậy trong Tắt đèn, có thể thấy những vấn đề nói trên qua nghĩa TTĐN của câu ra sao và điều ấy có vai trò gì? Đó là điều mà chúng tôi muốn làm sáng tỏ qua bài báo này.

    1. Theo thống kê của chúng tôi, tác phẩm Tắt

     

    đèn có 44 phương tiện biểu thị TTĐN, các phương tiện này xuất hiện 179 lần. Trong đó, xin (22 lần), phải (16 lần), đừng (13 lần), lạy (12 lần), van (12 lần), hãy (9 lần), làm phúc (8 lần), cấu trúc nếu … thì (11 lần) là những phương tiện có tần số sử dụng cao.

     

    Về cấu tạo, phương tiện biểu thị TTĐN có cấu tạo là từ không nhiều (có 16 từ, chiếm 36,4% tổng số phương tiện) nhưng được sử dụng với tần số cao nhất (112 lần, chiếm 62,6% số lần xuất hiện của tất cả các phương tiện).

     

    Phương tiện là tổ hợp từ có số lượng phong phú hơn (21 tổ hợp, chiếm 47,7%), nhưng tần xuất sử dụng lại không cao (49 lần, chiếm 27,4%). Phương tiện là kiểu câu chiếm số lượng nhỏ nhất (7 cấu trúc, 15,9%) và cũng ít được sử dụng nhất (18 lần, 10,0%).

     

    Về mặt từ loại, các phương tiện cấu tạo là từ biểu thị TTĐN trong Tắt đèn chỉ thuộc bốn tiểu loại: động từ (ĐT), kết từ (KT), phó từ (PT) và tình thái từ (TTT). Trong đó, có 8 ĐT (xin, phải,

     

    12                                                           NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG                         Số 5 (223)-2014

    lạy, van, nhờ, giúp, nhớ, muốn), được sử dụng 67 lần; 5 PT (đừng, cứ, hãy, không, tha hồ), sử dụng 37 lần; 2 KT (để, thà), sử dụng 3 lần; 1 TTT (đi), sử dụng 5 lần.

    Về tổ hợp từ thì ngoài các quán ngữ như: làm phúc, làm ơn, làm phúc làm đức, liệu mà, ai cho, không phải tội thì các tổ hợp từ còn lại thường có ít nhất một hư từ (phó từ hoặc kết từ) như: tha cho, không cho, không được, không được phép, không khiến, không phải, không dám, đâu dám, có dám, hãy cho, hãy để, cũng không, cũng được, mới được, còn phải, hay là.

    Về chức vụ ngữ pháp, có 111 lần (tức 61,3%) phương tiện biểu thị TTĐN được sử dụng vào chức vụ vị ngữ. Ví dụ:

    • Thôi, tôi xin ông cai! (tr.28)

     

    • Chị phải ở nhà với em! (tr.69)

     

    • Thằng bếp còn bận việc khác, nó không phải hầu chúng bay! (tr.34)

     

    • Bẩm cụ, chúng con không dám nói

    dối,(…) (tr.74)

    Có khi vị ngữ này nằm trong cụm chủ vị giữ chức vụ bổ tố của ĐT trong nòng cốt câu:

    • Tôi đã dặn bà phải gọi nó là mợ…(tr.38) Có 40 lần (tức 22,1%) trường hợp phương

    tiện biểu thị TTĐN được sử dụng vào chức vụ bổ tố – thành tố phụ cho ĐT.

    • U đừng về vội! (tr.80)

     

    • Đứa nào chưa có sưu hay chưa có thuế thì cứ trói cổ lại (…) (tr.15)
    • Bà có gọi con gái bà là mợ, cũng không quá lạm kia mà! (tr.38)

    Cũng có khi, ĐT thành tố chính bị tỉnh lược.

    • Con không! (tr.90)

     

    • Con không mai kia! (tr.90)

    Có 5 (2,7%) trường hợp sử dụng TTT, 2 trường hợp sử dụng quán ngữ tình thái thì các trường hợp này đều là bộ phận tình thái ngữ của câu:

    • Cầm lấy rá cơm ăn đi, kẻo phí của trời.

     

    (tr.78)

     

    • Thôi, liệu mà vay mượn bán chác mau lên…(tr. 50)

     

    Có 3 trường hợp dùng KT và 18 trường hợp dùng kiểu câu thì những phương tiện này đều

    được sử dụng để nối kết giữa các vế câu, hay giữa các thành phần câu.

    • Nếu quan đòi mà không lên hầu thì

    được tra chân vào cùm lập tức.(tr.143)

     

    • Có bán  thì  bán  cái  Tỉu  này  này!

    (tr.66)

     

    • Nếu ông không thương, con không lấy đâu được tiền nộp sưu.(61)

     

    • Không việc gì đến bàchõ mõm vào đấy. (tr.126)

     

    Như vậy, phương tiện được dùng phổ biến để thể hiện TTĐN là từ, phần lớn là ĐT, chức vụ chủ yếu mà các phương tiện đó đảm nhiệm là thành phần vị ngữ của câu.

     

    1. Các phương tiện trên có thể biểu thị được cả bốn sắc thái của nghĩa TTĐN

     

    Sắc thái khả năng hiện thực (được phép) được thể hiện 96 lần (chiếm 53,6%) bằng các từ, tổ hợp từ: cứ, hãy, hãy cứ, tha hồ, cũng được, thà, xin, lạy, van, nhờ, làm ơn, muốn, nhớ, liệu mà, đi, giúp, tha cho, hãy cho, hãy để, hay là,… và kiểu câu điều kiện. Ví dụ:

     

    • Tha hồ đánh, tha hồ trói, trai làng thằng nào bướng bỉnh…đánh chết vô tội vạ. (tr.49)

     

    • Em chỉ cho chị Tý đi một lúc thôi.

     

    (tr.71)

     

    • bán thì bán cái Tỉu này này. (tr.66)

     

    • Sáng mai con xin đi sớm. (tr.70)

     

    • Bạn nghèo với nhau, bác nói khéo với ông lí giúp tôi. (tr.106)

     

    • Ông tha cho cháu… (Chúng nó hãy còn bé bỏng). (tr.28)

     

    Nhóm này biểu thị rằng, hành động được nêu trong câu là hành động đang được cho phép (ví dụ 17, 18, 19), đang xin phép (ví dụ 20), đang nhờ hay đề nghị được thực hiện (ví dụ 21, 22). Cái được cho là cơ sở của những sự tự cho phép, cho phép, xin phép hay đề nghị trên có thể là thứ luật pháp của kẻ áp bức, là tình cảm gắn bó trong gia đình, là sự vị tha với trẻ thơ. Trong tác phẩm có một số câu phối hợp hai phương tiện.

     

    Sắc thái khả năng phi hiện thực (được miễn trừ) biểu thị 12 lần (chiếm 6,7%) bằng

    Số 5 (223)-2014                               NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG                                                                13

    các tổ hợp như: không phải tội, không phải, không khiến,… Ví dụ:

    • Con không phải tội mà bới khoai nữa.

    (tr.19)

     

    • Con không khiến u mang con đi đái.

    (tr.95)

     

    • Ăn bốc cũng được, không phải đũa bát.

     

    (tr.78)

     

    Sự miễn trừ ở đây là tự miễn trừ (ví dụ 23) hoặc miễn trừ cho người khác (ví dụ 24, 25). Nhóm này biểu thị hành động nêu trong câu được phép không thực hiện vì theo người nói thì về mặt đạo lí, chủ thể nêu trong câu không phải có trách nhiệm thực hiện điều đó. Cơ sở để cậu bé Dần tự miễn trừ trách nhiệm bới khoai là ở quyền của trẻ nhỏ phải được cha mẹ chăm sóc, nuôi nấng; cơ sở của việc miễn trừ sự giúp đỡ từ người mẹ lại là sự giận dỗi với mẹ và thói quen được chị giúp đỡ việc đó. Còn sơ sở để mụ nghị miễn trừ việc được ăn cơm bằng đũa bát của cái Tý lại là cái ác và quyền thế của đồng tiền.

     

    Sắc thái tất yếu hiện thực (bắt buộc) được xuất hiện 37 lần (20,7%) do các phương tiện như: phải, mới được, còn phải, …và kiểu câu

     

    điều kiện biểu thị. Ví dụ:

     

    • Tôi hạn từ giờ đến tối phải thu cho đủ.

    (tr.12)

     

    • Phải cố ăn đi mới được, bác ạ! ( tr.125)

     

    • Nếu không có tiền sưu nộp cho ông bây giờ, thì ông sẽ dỡ cả nhà mày đi, chửi mắng thôi à! (tr.110)

     

    • Bảo không nghe thì ông tống cổ xuống nhà vuông bây giờ. (tr.137)

     

    Nhóm này biểu thị rằng hành động nêu trong câu buộc phải thực hiện vì về mặt đạo lí, chủ thể được nói tới trong câu phải có trách nhiệm thực hiện điều đó. Trách nhiệm ấy trong những câu dùng phương tiện từ, tổ hợp từ (ví dụ 26, 27) là việc phải tôn trọng quy định, pháp luật nhà nước hay quy luật cuộc sống mà mọi người đều biết. Trong những trường hợp dùng kiểu câu điều kiện (ví dụ 28, 29) thì trách nhiệm là để tránh những điều không hay rất cụ thể

    được nêu ngay ở vế sau của câu đó.

    Sắc thái tất yếu phi hiện thực (cấm đoán) biểu thị 34 lần (19,0%) bằng đừng, không, không cho, không được, không dám, đâu dám, có dám, cũng không… Ví dụ:

    • (Im cái mồm.) Đừng giở con cà con kê

    ra đây: mấy cháu mặc kệ nhà mày! (tr.74)

     

    • Ai cho chúng mày đú đởn với nhau ở

    đấy. (tr.50)

     

    • Thưa cụ, thật quả cháu đã lên bảy,…chúng con không dám nói dối cửa cụ. (tr.38)

     

    • Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ! (tr.111)

     

    • Em không cho bán chị Tý nào! (tr.66) Nhóm này biểu thị rằng điều nêu trong câu bị

    người nói cho là không thể được thực hiện hay không được diễn ra vì về mặt đạo lí, chủ thể được nói tới trong câu (có thể là chính người nói) phải có trách nhiệm buộc không thực hiện hành động đó hay không để điều đó diễn ra. Trong những câu trên, lí do của sự cấm đoán có thể bởi phạm vi trách nhiệm (ví dụ 30), bởi sự trang nghiêm của chốn công đường (ví dụ 31), bởi sự tôn trọng, lòng tự trọng (ví dụ 32), hoặc tình yêu thương và quyền được sống, được chăm sóc, được hạnh phúc (ví dụ 33, 34).

    Như vậy, trong bốn sắc thái, sắc thái khả năng hiện thực được thể hiện nhiều hơn cả, thứ đến là tất yếu hiện thực, ít được thể hiện nhất là sắc thái khả năng phi hiện thực.

    1. Những câu văn mang nghĩa TTĐN trong tác phẩm Tắt đèn đã góp phần phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám; ngợi ca, đề cao phẩm chất người nông dân và thể hiện phong cách nhà văn Ngô Tất Tố.

     

    • Ngô Tất Tố từng sống trong xã hội nông thôn nên có thể nhìn thấy rất rõ thực trạng cuộc sống cùng quẫn, thê thảm của người nông dân và nguyên nhân của nó.

     

    Trong Tắt đèn, nguyên nhân những nỗi thống khổ của người nông dân chủ yếu bắt nguồn từ chính sách sưu thuế nặng nề. Đó là thứ thuế thân vô nhân đạo đánh vào sự tồn tại của con người, và dã man hơn nữa là đánh vào cả người đã không biết chọn lúc để chết:

    14                                                           NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG                         Số 5 (223)-2014

    • Nếu nó chết chẵn năm tây thì mới được trừ. (tr. 107)

     

    Và vào hùa với cái chính sách tàn độc đó là cả một lũ có quyền, có thế vô cùng hống hách, tham lam, nhẫn tâm, dâm dục.

     

    Đó là lão lí trưởng hả hê vì được tha hồ

     

    đánh, tha hồ trói (ví dụ 17), và trắng trợn tự cho phép mình thu lạm thuế. Lão còn bằng mọi cách nhay nát thêm tấm áo rách của dân nghèo:

    • Đủ một đồng bạc thì ông sẽ đóng triện cho. (tr. 60)

     

    • Mỗi đồng phải các ba xu, bỏ luôn ra

     

    đây, tao nhận cho. (tr. 82)

     

    Và luôn bất chấp mọi nỗi niềm của người dân:

     

    • Nếu mà tiền sưu chưa đủ, ông trời xuống đây cũng không tháo được cái thừng ở tay thằng Dậu. (tr. 55)

     

    Cái lí của mọi hoạt động ở hắn đều chỉ là tiền và tiền.

     

    Kẻ giàu có như vợ chồng Nghị Quế thì rởm hợm, tham lam và nhẫn tâm. Ví dụ 5, 8 đã tố cáo sự rởm hợm của chúng. Sự tham lam, nhẫn tâm thể hiện ở việc một đàn chó đáng 3 đồng rưỡi mà chúng chỉ trả cho chị Dậu một đồng, thêm cả tiền bán đứa con người ta đã bảy năm nuôi nấng nữa mới là 2 đồng 2. Rồi chúng còn bắt chiết tiền giấy tờ, và nỡ tâm trả thiếu tiền bằng cách cho phép không đếm nhưng thực chất là không cho người ta được đếm lại:

     

    • (Bằng lòng thì lên nói với ông giáo làm văn tự cho). Và phải trả ông ấy hai hào giấy mực. (tr.42)

     

    • Không ai thèm làm thiếu đồng nào! Không phải đếm chác gì nữa! (tr.80)

     

    Chúng đang tâm để khách đến nhà bị chó cắn (ví dụ 3), đang tâm hạ nhục đứa trẻ khốn khổ trước mặt người mẹ, bắt nó ăn cơm thừa của chó:

     

    • Bà truyền đời báo danh cho mày, từ giờ

     

    đến mai, phải ăn hết cái rá cơm ấy, rồi mới được ăn cơm khác! (tr.79)

     

    Cái “lí” của mụ nghị này chỉ là sự vô lí mà kẻ giàu có, quyền thế tự cho mình cái quyền đưa ra để chèn ép người dân nghèo.

    Quan phủ hay quan cụ chức trọng, tuổi cao trên thành phố cũng chỉ là những kẻ bẩn thỉu, dâm dục. Chúng không từ một cơ hội nào có thể lợi dụng, ức hiếp người phụ nữ khốn cùng, bất chấp những lời van xin có cơ sở đạo lí đáng trân trọng trong truyền thống văn hóa dân tộc:

    • Con lạy quan lớn, chúng con là gái có chồng, quan lớn tha..

     

    • Không được! (Có chồng mặc kệ có chồng…)

     

    Vì chính sách thuế và những giàu có, kẻ chức dịch, hay quan lại đó mà vào mùa thuế, cả làng phải sống trong không khí xáo trộn, căng thẳng:

     

    • Ông Lý đã bảo thuế còn thiếu nhiều, không cho một con trâu, con bò nào ra đồng hết thảy. (tr.5)

     

    • Đứa nào chưa có sưu hay chưa có thuế, thì cứ trói cổ lại và điệu ra đây, để tôi cho chúng nó một trận. (tr.15)

     

    Cái được phép là sự hành hạ người nghèo thiếu thuế, cái không được phép là nhịp sống yên ổn hằng ngày.

     

    Với gia đình mà hoàn cảnh đã nghèo khó, nhân lực chính lại bị ốm đau như gia đình Dậu thì mùa sưu thuế còn đáng sợ hơn nữa.

     

    Cả nhà – gồm một người đang nuôi con nhỏ, một người ốm, mấy đứa trẻ nhỏ đều chỉ còn mấy nhánh rễ khoai để ăn bởi khoai phải đem bán làm cái “nghĩa vụ” với Nhà nước:

     

    • Tiền bán khoai còn phải để dành đóng sưu cho ông Lý chứ. (Dễ được đem mà mua gạo

    đấy hẳn?) (tr.19)

     

    Một đứa con gái còn nhỏ đã phải chịu để mẹ bán cho nhà người, phải chịu sự hạ nhục, chị em thì cùng phải chịu những nỗi đau chia lìa:

     

    • Con van thầy! Con van u! Thầy u đừng

     

    đem bán con.(tr.25)

     

    • Em không nào! Em không nào! Em không cho bán chị Tý nào! (tr.25)

     

    • (Con bé kia!) Cầm lấy ra cơm ăn đi, kẻo phí của trời. Ăn bốc cũng được, không phải

    đũa bát. (tr.78)

     

    Những lời van xin, đòi hỏi hay cấm đoán của hai đứa trẻ nhỏ có cơ sở rất vững vàng từ quyền

    Số 5 (223)-2014                               NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG                                                                15

    con người. Nhưng đó chỉ là những khả năng không bao giờ thành hiện thực bởi chính sách thuế thân man rợ. Cái mà chúng được yêu cầu, được cho phép là ăn thứ cơm thừa của những con vật, và theo cái cách chẳng phải của con người!

    Người đàn ông cột trụ trong gia đình đang ốm và đói thiết tha xin hoãn thuế, xin xót thương:

    • Thưa ông, vì tôi đau ốm, nên chưa lo kịp, xin ông thư cho đến mai.(tr.27)

     

    (51)(Nhưng tôi đau quá…) Xin ông hãy nới lỏng ra cho tôi một tí. (tr.28)

     

    Vợ con cũng hết lời mềm, rắn van xin:

     

    • Cháu lạy hai ông! Hai ông tha cho thầy cháu. Hai ông đừng trói thầy cháu!. (tr.27)
    • Có đánh thì ông cứ đánh tôi đây này.

     

    Bao nhiêu tôi xin chịu cả. (Chồng tôi đau ốm chẳng làm gì nên tội). (tr.29)

     

    Vậy mà tất cả chỉ rơi vào vô vọng.

     

    Nhưng mọi nỗi khổ trên đều khó sánh được với nỗi vất vả, đau đớn, tủi nhục của người phụ nữ trong gia đình ấy. Các câu nói dẫn ra trên đã góp phần dựng lên một chị Dậu bụng không hạt cơm, con nhỏ tay bồng tay mang, lòng dạ tan nát, héo hắt vì lo sưu thuế (ví dụ 28), vì nỗi dằn vặt phải để con đói khổ (ví dụ 23), phải bán con (ví dụ 18, 34), chồng đã ốm đau lại bị hành hạ (ví dụ 38). Hơn thế nữa, chị còn phải trải bao ức chế trước những kẻ nhẫn tâm chỉ mưu toan đục nước béo cò (ví dụ 36, 37, 39, 40), rồi phải chịu

     

    đòn oan, phải liều sức với những kẻ đàn áp chồng con, phải một mình chống chọi với mấy con quỷ dâm dục (ví dụ 42, 43).

     

    4.2. Bên cạnh việc phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám, nghĩa tình thái đạo nghĩa của các câu văn trong Tắt

    đèn còn hé mở với chúng ta một thế giới tâm hồn đáng trân trọng của những người nông dân.

     

    Khi gia đình chị Dậu chẳng còn biết trông cậy vào đâu, khốn quẫn đến cùng cực, thì may thay, họ vẫn có một người làng giềng sẵn sàng sẻ chia:

     

    • Cứ để tôi ôm cháu cho. Bác gái có đi làm gì, cứ đi. (tr 123)

    (55)(Bên kia còn nửa nồi gạo nữa, tôi ăn chưa đến. Lát nữa bác đem thúng sang, tôi hãy cho vay.) Khi nào bác trai khỏe mạnh trả tôi cũng được .(tr.126)

    Trong lúc hoạn nạn, bà lão láng giềng đã giúp đỡ bằng việc làm, bằng vật chất không chút đắn đo. Và rồi, giúp hàng xóm bằng lời nói trước lão lí trưởng hống hách, vô nhân bà cũng chẳng từ nan:

    • (Bác ấy vừa ở đình về, làm gì đã có?) Ông hãy làm ơn để cho người ta đến mai. (tr.126)

     

    Qua tác phẩm, người đọc hẳn cũng bị ấn tượng bởi một cô bé Tý còn nhỏ tuổi mà hết sức chăm chỉ, đảm đang, ngoan ngoãn. Tý mới bảy tuổi mà biết chăm cả hai em, giúp bố mẹ việc cơm nước. Khi bố bị người ta bắt trói, em biết chạy đến van xin:

     

    • Cháu lạy hai ông! Hai ông tha cho thầy cháu. Hai ông đừng trói thầy cháu! (tr.27)

    Vậy mà số phận vẫn khiến em phải rời những người thân yêu của mình, chịu thân phận của một thứ có thể bán mua. Bao sợ hãi, lo lắng, tủi nhục đến với em. Nhưng vì thấu hiểu hoàn cảnh gia đình, vì thương bố mẹ mà cuối cùng, em chỉ dám xin:

     

    • (Con nhớ em quá!) Hay là u hãy cho con ở nhà một đêm nay nữa, để con ngủ thêm với em, để con nói chuyện với em. Sáng mai con xin đi sớm. (tr.70)

     

    Khi bị bắt ăn cơm thừa của chó, em hẳn muốn phản ứng quyết liệt. Nhưng vì thương mẹ bị quở, thương cha bị đày đọa mà em đã đưa tay đón lấy rá cơm – chấp nhận sự hạ nhục.

     

    Cô bé bảy tuổi này quả có một sự sâu sắc

     

    đáng trọng.

     

    Nhưng đó mới là cái nền để Ngô Tất Tố làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của chị Dậu- một người vợ, người mẹ cần cù thông minh, đảm đang tháo vát, yêu chồng thương con, giàu đức hi sinh và luôn giữ gìn phẩm chất ngay thẳng, trong sạch.

     

    Tình thương yêu sâu nặng với chồng đã cho chị sức dẻo dai để van xin, để chịu đòn thay anh:

    16                                                           NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG                         Số 5 (223)-2014

    • Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho! (tr.110)

     

    • Có đánh thì cứ đánh tôi đây này. Bao nhiêu tôi xin chịu cả. (Chồng tôi đau ốm chẳng làm nên tội.) (tr. 29)

     

    Tình cảm ấy cũng cho chị sức mạnh để cự lại bằng lời nói và bằng cả hành động với những kẻ đang tâm hành hạ người chồng đau ốm của mình:

     

    • Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ! (tr.111)

     

    Từ thế của một người phải xin phép, chị nhanh chóng chuyển sang thế của một người có quyền cấm đoán kẻ khác. Rồi chị thách thức kẻ thù, và bắt buộc chính mình:

     

    • Thà ngồi tù. Để chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được. (tr.86)

     

    Tình thương yêu ấy khiến chị dịu dàng, ngọt ngào với chồng bao nhiêu thì lạnh lùng trong lời nói, quyết liệt trong hành động trước những con quỷ dâm dục bấy nhiêu. Chị lịch thiệp, nhã nhặn:

     

    • Con lạy quan lớn, chúng con là gái có chồng, quan lớn tha cho… (tr. 145)

     

    nhưng mạnh mẽ, kiên quyết chống trả những kẻ dâm ô để bảo vệ phẩm giá của mình và giữ trọn tình nghĩa vợ chồng thủy chung.

     

    Với con, chị cảm thông, trân trọng. Trước tâm trạng buồn đau của lũ trẻ bởi cảnh chia lìa, chị lạy, chị xin từ cái Tý tới thằng Dần:

     

    • U van con, u lạy con, con có thương thầy, thương u thì con cứ đi với u, đừng khóc lóc nữa, u đau ruột lắm. (tr. 68)

     

    • U van Dần, u lạy Dần! Dần hãy cho chị Tý đi với u, đừng giữ chị nữa.(Chị nó có

     

    đi,  u mới có tiền nộp sưu, thầy Dần mới

     

    được về với Dần chứ!). (tr. 70)

     

    Tình thương yêu đằm thắm đã khiến chị dứt khoát nhường con, cho phép cái Tý ăn thật no bữa cơm khoai cuối cùng:

     

    • (Thôi u không ăn, để phần cho con. Con chỉ được ăn ở nhà bữa này nữa thôi.) U không muốn ăn tranh của con, con cứ ăn thật no, không phải nhường nhịn cho u. (tr. 66)

    4.3. Cùng với việc phản ánh xã hội và đề cao, ca ngợi phẩm chất của người nông dân, TTĐN còn giúp ta thấy rõ hơn phong cách nghệ thuật của nhà văn Ngô Tất Tố.

    4.3.1. Trước hết, nghĩa TTĐN phần nào giúp nhà văn thể hiện được một thế giới nhân vật đa dạng, sinh động, độc đáo.

    Vợ chồng Nghị Quế trong Tắt đèn không gian hùng, tàn độc như Bá Kiến (trong Chí Phèo) của Nam Cao, không khôn ngoan lọc lõi che dấu bản chất ăn người với vẻ ngoài đạo đức như bà Tuần (trong Hé! Hé! Hé!) của Nguyễn Công Hoan. Qua cách ứng xử thô bạo, độc ác với mẹ con chị Dậu (từ chuyện để chị Dậu bị chó cắn xé, bắt con chị ăn cơm thừa của chó, đến chuyện ăn quỵt tiền trắng trợn) hai nhân vật này đã hiện lên với một bộ mặt thật không chút che đậy.

    Chị Dậu trong Tắt đèn thì không tha hóa như Chí Phèo, cu Lộ (trong Chí PhèoTư cách ) của Nam Cao, không biến chất bởi lối sống tây hóa như Cúc Nương, Bích Nga (trong Tết ăn mày Con người điêu trá) của Vũ Trọng Phụng. Dù phải chịu cực nhọc, đày đọa trăm đường, nhân vật chính của Tắt đèn vẫn không hề để mất nhân phẩm của mình, luôn giữ được sự đảm đang, thật thà, trong sạch và tình nghĩa. Có thể nói, một chân dung người nông dân mang vẻ đẹp hoàn thiện cả về hình thức và nội tâm là đóng góp đáng khẳng định của Ngô Tất Tố vào nền văn học dân tộc.

    4.3.2. Tác giả của Tắt đèn còn thể hiện rõ tài năng sử dụng phương tiện biểu đạt nghĩa TTĐN để khắc họa chính xác các lớp nhân vật.

    Nhằm tạo nên hình tượng những người nông dân với thân phận bề tôi, với cuộc sống luôn bị đè nén, luôn gặp trắc trở, Ngô Tất Tố đã đặt vào trong ngôn ngữ của họ một tỉ lệ rất cao các từ, tổ hợp từ biểu thị sắc thái xin phép đầy nhún nhường: xin, lạy, van, làm phúc, làm ơn. Nếu có dùng sắc thái bắt buộc, thì đó chỉ là lời của đứa trẻ ngây thơ (ví dụ 18, 19) hay lời họ dùng để bắt buộc chính mình (con không dám nói dối cửa cụ; cháu là đàn bà con gái đâu dám giở lí sự với các ông). Khi phải buộc phải dùng sắc

    Số 5 (223)-2014                               NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG                                                                17

    thái cấm đoán, Ngô Tất Tố cho họ dùng đừng (biểu thị ý khuyên ngăn). Trong 13 lần sử dụng đừng, có đến 12 lần từ này được đặt ở miệng người nông dân (đừng đem bán con; đừng trói thầy cháu; đừng giữ chị nữa, …). Trong sự nhún nhường của người nông dân, ta thấy có cái văn hóa của những con người có hiểu biết, trung thực, khiêm nhường.

    Còn khi khắc họa hình tượng bọn chức dịch, địa chủ, quan lại, nhà văn lại lựa chọn và dùng nhiều lần những từ ngữ, cách diễn đạt biểu thị sự lạnh lùng, trịch thượng, hách dịch. Đó là việc để các nhân vật này dùng phổ biến từ phải biểu thị ý bắt buộc (phải thu cho đủ, phải đánh mỗi mâm một bát tiết canh; phải ăn hết rá cơm ấy,…), và cách dùng kiểu nói trống không.

    4.3.3. Bức tranh tinh thần của làng quê đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam dưới thời thực dân phong kiến trong mùa sưu thuế được hiện lên chân thực trong tác phẩm một phần cũng bởi tác giả đã chọn dùng một tỉ lệ cao các câu mang sắc thái nghĩa khả năng hiện thực. Điều này rất phù hợp với việc biểu thị một thời đoạn mà người nông dân đang bị áp chế cao độ. Để tồn tại, tất yếu họ phải tìm mọi cách nới bớt sự áp chế. Mà với thân phận tôi đòi, họ chỉ có thể biểu lộ nhu cầu ấy của mình bằng hành vi xin phép (những lời xin, van, nài).

    Sắc thái tất yếu hiện thực (bắt buộc) và tất yếu phi hiện thực (cấm đoán) được dùng phổ biến gần như nhau cũng phản ánh rất đúng không khí ngột ngạt đầy những mệnh lệnh, sự ép buộc, cấm đoán bủa vây những người dân thấp cổ bé họng.

    Sắc thái miễn trừ được thể hiện ít nhất càng phản ánh một sự nhạy cảm sâu sắc của tác giả Tắt đèn. Nói đến sự miễn trừ, người ta thường nghĩ tới một điều may mắn, một không khí dễ thở. Nhưng sự thật ở đây là sự miễn trừ xuất hiện 12 lần, ngoài sự tự miễn trừ và lời nói giận dỗi của cậu bé Dần ngây thơ (ví dụ 23, 24) thì chẳng có một sự miễn trừ nào đem lại điều tốt đẹp cho những

    người nghèo khổ. Bởi đó chỉ là sự miễn trừ trách nhiệm đuổi chó cho thằng bếp để chị Dậu bị lũ chó cắn xé, miễn trừ việc đếm tiền để chị Dậu bị mụ nghị ăn quỵt, miễn trừ việc dùng bát đĩa khi ăn để mẹ con chị Dậu bị hạ nhục mà thôi.

    1. Tóm lại, chúng tôi đã trình bày những kết quả khảo sát về nghĩa TTĐN trong câu văn của tác phẩm Tắt đèn ở các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa và chức năng. Những điều đã trình bày trên có thể cho chúng ta thấy rằng để biểu thị nghĩa TTĐN, có thể sử dụng các từ, tổ hợp từ, kiểu câu. Từ có thể thuộc các từ loại ĐT, PT, KT, TTT và được dùng vào các chức vụ vị ngữ, bổ tố, tình thái ngữ hoặc dùng vào chức năng liên kết trong nội bộ câu. Tuy nhiên, bộ phận cơ bản nên sử dụng là các ĐT với chức vụ vị ngữ. Những khảo sát nói trên cũng cho biết mỗi sắc thái của TTĐN có thể được biểu thị bằng các phương tiện nào. Nhưng điều quan trọng hơn cả là các kết quả khảo sát đã giúp chúng ta thấy được vai trò quan trọng của nghĩa TTĐN trong việc thể hiện giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm Tắt đèn và bộc lộ phong cách, tài năng của nhà văn Ngô Tất Tố. Ngòi bút của Ngô Tất Tố không chỉ đem lại những gợi ý có giá trị về cách sử dụng các phương tiện biểu thị nghĩa TTĐN để khắc họa nhân vật, thể hiện chủ đề tác phẩm mà còn gợi lên trong người đọc niềm tự hào sâu sắc về nét văn hóa tinh tế, nhã nhặn, trọng tình nghĩa của những người dân Việt Nam chân chính.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

    1. Nguyễn Văn Hiệp (2007), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb GD.
    1. Lê Quang Thiêm (2006), Ngữ nghĩa học, Nxb GD.
    1. Lions J (1995), Ngữ nghĩa học dẫn luận, bản dịch của Nguyễn Văn Hiệp, Nxb GD, 2005.
    1. Ngô Tất Tố (tái bản- 1995), Tắt đèn, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

    (Ban Biªn tËp nhËn bµi ngµy 17-03-2014)

  • Làm sáng tỏ ý kiến với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn

    Làm sáng tỏ ý kiến với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn

    Làm sáng tỏ ý kiến với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Bình luận “Tắt đèn, việc làng, lều chõng” của Ngô Tất Tố


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Làm sáng tỏ ý kiến với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn

    Ôn thi vào 10

    Làm sáng tỏ ý kiến với Tắt đèn, Ngô Tất

    Tố đã xui người nông dân nổi loạn

    BÀI LÀM

    Tắt đèn có nhiều nét giống Lão Hạc,Chí Phèo…Tất cả đều viết về quá trình bần cùng hóa của người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng tháng tám.Ở đó ,người nông dân mỗi người mỗi cảnh bị bóc lột theo mỗi kiểu khác nhau.Thế nhưng cuối cùng hậu quả của sự bóc lột lại giống nhau:họ đều mất heat chẳng còn gì.Tuy nhiên không phải lúc nào người nông dân cũng cuối đầu cam chịu.Trong Tức nước vỡ bờ có những lúc họ đã vùng lean.Tất nhiên có sự “nổi day” được nhà văn sắp đặt.Chẳng thế mà có người đã đưa ra nhân xét vô cùng xác đáng “Với tác phẩm Tắt đèn,Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn” (Nguyễn Tuân).

    Thực ra khái niệm “nổi loạn”ở nay phải hiểu khá là linh hoạt.Về cơ bản đó chỉ là những cuộc vùng lean tự phát theo kiểu “con giun xéo mãi cũng quần”,theo kiểu “tức nước” thì “vỡ bờ”.Sự nổi loạn ấy chưa phải là sự đấu tranh được tính toán kỹ càng mà chỉ là sự phản ứng khi bị nay đến đường cùng.Thực tế đã cho thấy các tác phẩm văn học hiện thực của Việt Nam trong giai đoạn này đã dựng lên hàng loạt cuộc đời với sự vùng lên như vậy.

    Vậy ra cái sự “xui” của tác giả ở tác phẩm này liên quan rất nhiều đến nhận thức xã hội của nhà văn.Tuy rất đau xót trước cảnh người nông dân bị chèn ép và vô cùng câm giận sự tàn bạo của những kẻ cường quyền nhưng nhà văn vẫn chưa nhìn ra con đường tất yếu-con đường đấu tranh cách mạng-chưa đẩy nhân vật của mình vào được cái guồng máy đấu tranh chung.

    Riêng các sự “xui” ở tác phẩm Tắt đèn như lời nhận xét của Nguyễn Tuân,chúng ta lại cũng phải nhìn trong cái tương quan với những điều đã nêu trên.Chúng ta biết nhân vật là của nhà văn nhưng không phải trong quá trình sáng tạo,ta muốn đặt vào nhân vật điều gì theo ý muốn chủ quan cũng được.Nhân vật cũng giống như con người ngoài cuộc sống.Họ phải va chạm với các tính cách khác trong một môi trường nhất định.Ở tác phẩm này,chị Dậu được đặt trong tương quan với nhiều nhân vật nhưng đặc biệt là mối quan hệ với vợ chồng Nghị Quế và bọn tay sai,quan lại ở làng Đông Xá.Đó là những mối tương quan nghẹn thou và không phải cứ muốn là có thể “nổi loạn” dễ dàng như cái anh chàng say Chí Phèo kia được.Vậy ở đây,Ngô Tất Tố muốn “xui” nhân vật của mình phá phách nghĩa là phải tạo ra nay đủ những tiền đề (những mâu thuẫn giàu kịch tính) để nhân vật buộc phải bộc lộ cái bản năng sống trong hoàn cảnh quẫn cùng.

    Cái “xui” ấy được nhà văn sắp xếp dàn trải và tăng cấp.Nhưng có thể nói lần nổi loạn của chị nông dân làng Đông Xá ở đoạn trích Tức nước vỡ bờ là lần ghê gớm nhất.

    Thuế thân,hai tiếng vừa cất lên đã khiến nhiều người phải rùng mình.Nhà chị Dậu cũng hãi hùng khi nghe đến hai từ kinh sợ ấy.Nhà chị nghèo lại kèm năm sáu miệng ăn.Ở trong cái làng Đông Xá ấy có đi làm thêm cả cái nghề kẻ cướp cũng

    chẳng đủ ăn chứ nhà chị làm ăn hiền lành thì khổ lame.Mùa sưu thuế đến,nhà chị bán sạch sành sanh cũng chẳng đủ một suất thuế thân.Anh Dậu chồng chị vì thế mà bị bọn nha dịch lôi ra đình đánh cho nhừ tử.Chị Dậu đau long xót ruột gửi đám con nheo nhóc chạy vay khắp nơi.May thay chị kiếm đủ tiền lo suất sưu cho anh chồng đương sắp chết.Nhưng khốn nạn thay,suất của chồng vừa mới gón gém lo xong lại sinh ra suất sưu của chú Hợi.Mà chú ấy thì chết đã lâu,chỉ vì cái sự nhập nhằng giữa lịch Ta lịch Tây mà chị Dậu lạ thêm một phen phải lao đao.Tiền nộp sưu không có,cứ thế là những đợt roi thước lại đổ liên hồi trên cái bộ xương của anh Dậu.Ôi! Còn cái đau dớn nào hơn với một người vợ khi cứ nhìn tận mắt cái cảnh chồng mình bị hành hạ đến chết mòn.

    May thay bọn nha dịch lại cho phép anh về.Chị Dậu cõng anh về rồi nấu ngay nồi cháo (có được là nhờ long thong của bà hàng xóm).Nhưng cháo chưa kịp húp thị bọn nha dịch tay dao tay thước lại rầm rập xông vào.Thế là căn nhà rách nát của chị Dậu ầm lên tiếng kêu xin,tiếng chửi mắng,tiếng đấm đá bùm bụp.Chị Dậu vẫn kiên nhẫn kêu xin nhưng sự chịu đựng chỉ có hạn.Khi tên cai lệ cứ vừa thụi vào ngực chị,vừa tát vào mặt chị lại còn sấn sổ lao vào anh Dậu thì cái giới hạn của sự chịu đựng rất mong manh kia òa vỡ.Chị Dậu vùng lên quyết liệt và khỏe mạnh.Chị túm,chị dúi,chị lẳng tên nha dịch bằng sức của đàn bà lực điền và bằng cả sự tức giận của còn giun xéo lâu ngày.Ngay lúc ấy chị không can thiết phải nể sợ ai.Lúc ấy trong chị,sự tức giận trùm lấy đi tất cả.Chị vùng lên và “nổi loạn”.

    Như vậy ở trong cả truyện Tắt đèn và nhất là đoạn trích Tức nước vỡ bờ,Ngô Tất Tố đã dựng lên được một chuỗi những tình huống mâu thuẫn giàu kịch tính.Các tình huống ấy đã đẩy chị Dậu vào cái thế quẫn cùng mà vùng lên “nổi loạn”.Sự nổi

    loạn ấy hoàn toàn tự phát.Đó là sự vùng lên rất tự nhiên của con người khi cái giới

    hạn chịu đựng đã bị phá vỡ.

  • Văn mẫu  Bình luận “Tắt đèn, việc làng, lều chõng” của Ngô Tất Tố

    Văn mẫu Bình luận “Tắt đèn, việc làng, lều chõng” của Ngô Tất Tố

    Văn mẫu Bình luận “Tắt đèn, việc làng, lều chõng” của Ngô Tất Tố

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Vẻ đẹp người chiến sĩ trong tác phẩm bài thơ về tiểu đội xe không kính và những ngôi sao xa xôi


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Bình luận “Tắt đèn, việc làng, lều chõng” của Ngô Tất Tố

    ÔN THI VÀO 10

    Bình luận “tắt đèn, việc làng, lều

    chõng” của Ngô Tất Tố

    BÀI LÀM

    1. VIỆC LÀNG

    Những năm 1900 – 1945 là thời kỳ nở rộ của thể loại phóng sự. Có

    thể nói, nhiều tờ báo và tạp chí đã không ngần ngại vung tìên ra để có

    được những phóng sự hấp dẫn. Phóng sự đã gây được sự chú ý của công

    chúng. Các nhà làm báo như Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Nguyễn

    Đình Lập, và Ngô Tất Tố là những cây bút nổi tiếng trong làng văn, làng

    báo và trong lòng độc giả. Nói chung, phóng sự thời kỳ này là những

    phác thảo nghệ thuật về những vấn đề, những hoàn cảnh bức xúc của đời

    sống hiện thực.

    Thiên phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố đăng trên Hà Nội tân văn từ tháng 3 năm 1940, xuất bản năm 1941. Gồm 17 chương, mỗi chương dựng lại một câu chuyện thương tâm về lệ làng – mối tai họa đối với người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Cách khai thác các tuyến nhân vật, các sự kiện và cách tố cáo, phê phán trong “Việc làng” hoàn toàn mới. Thiên phóng sự đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa của câu tục ngữ “Phép vua thua lệ làng”, tố cáo những hủ tục cổ hủ của chốn làng quê, nơi mà người nông dân phải nai lưng ra làm việc, kiếm tiền không phải để nuôi sống gia đình, mà là để cung phụng cho bọn quan làng “cái ăn”.

    Thông qua tác phẩm, Ngô Tất Tố đã phê phán những tệ lậu của bọn

    phong kiến địa chủ gieo rắc ở nông thôn, chúng đã đặt ra và duy trì

    những hủ tục ấy, dựa vào đó để kiếm lợi, củng cố quyền lực trên mồ hôi,

    nước mắt, thậm chí cả xương máu của dân đen, con đỏ…..và chúng cố

    che đậy dưới nước sơn hào nhoáng được gọi với cái tên” thuần phong mỹ tục”.

    Chắc chắn làng quê Việt Nam thơ mộng, hiền hòa với ráng chiều ửng

    đỏ, gió đồng nội nhẹ mát mang theo hương lúa non ngào ngạt cùng

    những cô thôn nữ má đỏ, môi hồng dịu dàng, và sẽ vẫn còn đẹp mãi nếu

    như không bị ách thống trị của ách thực dân phong kiến, không bị chi

    phối bởi những hủ tục thối nát, lạc hậu và người nông dân là kẻ hứng

    chịu hậu quả.

    “Những tục lệ quái gở, mọi rợ tự do kế tiếp nhau chồng chất trên vai chúng tôi. Nhiều lúc, chúng tôi muốn hất cái gánh nặng ấy đi nhưng sức một mình không thể làm nổi, đành phải è cổ mà chịu….Một người chăm

    chỉ, cần kiệm lao lực như tôi chỉ vì một tệ tục đè ép, đến nỗi suốt đời không ngóc đầu được, bây giờ gánh tệ tục còn đè ép chưa tha”. Đó là lời của một người nông dân khổ cực trăn trối trước khi chết, chết vì gánh nặng “lệ làng” đè trên đôi vai.

    Các hủ tục ấy đã bóp nghẹt cuộc sống của người nông dân. Hàng năm, bất cứ lễ hội gì diễn ra trong làng từ tết nhất, lễ tế thần Thành hoàng, lễ thượng điền, lệ hạ điền… thì bọn kỳ mục trong làng lại lơij dụng mọi cơ hội để mà bày mâm cỗ xôi gà để chè chén no say với nhau. Ngoài ra,

    chúng còn tự tạo nên các lễ như lễ mua nhiêu, lễ mua ấm, lễ xin vào làng, lễ khao….để có cớ bắt nông dân đóng góp, phục dịch để chúng

    được ăn uống phè phỡn với nhau. Vì thế, làng nào có bọn kỳ mục càng xấu thì lại càng sinh ra nhiều thủ tục tệ hại, người dân lại sống lầm than, đói khổ. Trong “Việc làng”, tác giả đã minh họa thêm cho cảnh sống đau thương của người dân bị đè nén bởi hủ tục của làng bằng cái chết của cụ Thượng làng Lão Việt với hình ảnh đầy châm biếm: “Hết câu đó, cụ bỗng trợn ngược hai mắt, đờm trong cổ kéo lên khò khè, cả nhà nhớn nhác xúm lại. Trong lúc người nhà im lặng bỏ tiền và gạo vào miệng người chết thì ở ngoài vườn, người ta cũng hò reo để vật con trâu”.

    Bức tranh xám màu về nông thôn cứ hiện dần qua từng trang phóng sự, từng câu chuyện gắn với số phận của những người nông dân. Dân làng có hai hạng: chính cư và ngụ cư. Dân chính cư là những người từ nơi khác đến sống và kiếm ăn tại làng mới, và ở làng mới này họ bị khinh bỉ, bạc đãi, luật lệ của làng rất hà khắc đối với họ. Cuộc sống của họ ở làng mới rất long đong, cực khổ. Trong “Một đám vào ngôi”, nhà văn Ngô Tất Tố đã nói lên cảnh khổ cực của lớp người ấy: “Theo lệ nhà quê, những người ngụ cư ba đời mới được “thành tổ”. Nghĩa là được ngang hàng với mọi người khác…vì thế, anh tôi và tôi cũng như ông thân chúng tôi đều không có ngôi ở đình. Chắc ông cũng biết ở làng mà không có ngôi thật là một sự nhục nhã. Những lúc tứ quý kỳ phúc, người ta thì phần ăn phần ngồi, mình thì chẳng có miếng gì. Những lúc hội hè, đình đám, người ta rước cờ, rước quạt, mình chỉ đóng vai khiêng chiêng.

    Như thế cũng đã khổ rồi. Hơn nữa, lỡ có cha già mẹ héo, làng giáp có chôn cho đâu!”. Đối với người nông dân, chết mà không được làng chôn cất là một điều đau đớn. Bọn kỳ mục, cường hào trong làng đã nắm bắt tâm lý ấy để ép người dân phải đóng góp cho chúng thật nhiều mới cho vào làng. Để xin vào làng, người dân phải góp tiền cho các cụ chánh hội, chưởng lễ, lý trưởng…rồi phải làm mâm cỗ để các vị chức sắc trong làng ăn uống, cùng với các món giải trí như thuốc phiện, tổ tôm, chủ nhà đều phải cung ứng. Do vậy mà cuộc sống của họ thêm túng thiếu, cơ cực.

    “Góc chiếu giữa đình” đã tố cáo hủ tục thối nát ở nông thôn, tố cáo bọn cường hào, ác bá trong làng đã lợi dụng tình trạng mê muội của nông dân để bóc lột họ. Ngô Tất Tố đã vẽ nên một cảnh thương tâm của một người chỉ vì ham muốn một chút chức vị mà phải sa sút, nghèo đói. Hai vợ chồng, vợ đi ở vú, chồng đi cày thuê, họ rất hiền lành, chăm chỉ. Khi thấy họ đã gây được một chút vốn liếng, bọn lí dịch liền tìm cách đục khoét bằng cách bán cho người chồng một cái chức gọi là “lý cựu”. Chúng đánh vào sự ham muốn địa vị trong làng của đôi vợ chồng chất phác. Vậy là để có được cái chức “lý cựu” ấy, họ đã phải bán cả trâu và ruộng để lấy trăm bạc mua chức. Hơn nữa, họ còn phải khao làng thì mới được mọi người thừa nhận, thế là vị lý cựu ấy phải bỏ thêm một số tiền lớn ra để khao làng. Và truyện có kết cục mang ý vị hài hước nhưng bi thảm, rất thấm thía, đau xót : bà Cựu ngày hôm sau lại cắp nón đi ở vú để tiếp tịc kiếm tiền trả nợ bữa khao làng!.

    Thông qua phóng sự, Ngô Tất Tố còn phê phán hiện tượng tiêu cực trong tâm lý, tư tưởng người nông dân, đó là bệnh chuộng hư danh, trọng ngôi thứ. Họ mong ước một cái hư danh ảo trong làng để không chịu nhục trước dân làng trong những ngày lễ mà không biết rằng bám vào đó, bọn kỳ mục trong làng đục khoét đồng tiền họ vất vả làm ra để phục vụ cho việc ăn uống, chơi bời của chúng.

    “Cỗ oản tuần sóc” miêu tả cuộc sống bần cùng của ông lão Phúc, một lão nông nghèo khổ, ốm yếu nhưng vẫn phải chịu tác hại của những tục lệ hà khắc. Vợ chồng ông Phúc cày sâu cuốc bẫm làm ăn, nhưng khi bà Phúc bị ốm và chết thì món tiền tiêu vào việc cúng giỗ ma chay làm ông Phúc lâm nợ. Ở thôn quê, những lễ nghi về ma chay, cưới hỏi rất phiền phức và tốn kém. Các tục lệ ấy là gánh nặng cho người nông dân, khiến họ phải mang công mắc nợ. Ông Phúc phải làm nghề gánh mướn để bươn chải cho cuộc mưu sinh, cái nghề ấy khiến đôi vai ông thịt dập nát, sưng u lên, vai sưng, đau nhức nhưng ông vẫn gánh để kiếm tiền nuôi con. Và cuộc sống thêm khó khăn hơn khi ông Phúc lên ngôi ông trùm. Với cái ngôi vị ấy, ông phải sửa oản chuối để cúng thần. Cỗ tuần sóc thứ nhất, ông Phúc đã phải dỡ nhà ra bán để lấy tiền làm oản cúng thần. Vậy mà người ta vẫn kéo đến ăn uống vui mừng trong căn nhà trống hoác của ông Phúc, họ khen ông tháo vát, biết chăm lo việc cúng thần, khen mâm cỗ cúng thần mà ông chuẩn bị rất ngon…Đó đều là một lũ người vô lương tâm! Không biết đến cỗ tuần sóc thứ hai, ông Phúc sẽ phải làm thế nào?

    Ngô Tất Tố còn lên tiếng phê phán sự ngu muội, mê tín của người nông dân qua câu chuyện “Nén hương sau khi chết”. Bà Tư Tỵ góa chồng từ rất sớm, trong nhà nghèo túng, không có một hạt thóc. Nhờ chăm chỉ làm aw, dành dụm, bà có một ít vốn, mặc dầu vậy, bà vẫn sống rất kham khổ, thiếu thốn, “suốt đời ăn cơm với muối, bữa nào hoang lắm mới dám mua một mớ rau”. Vậy mà, bọn cường hào trong làng vẫn không tha cho bà. Thằng con thừa tự thông đồng với hào lý, bàn với bà nên xin đặt hậu ở làng, nghĩa là cúng cho làng một số ruộng, và một số tiền sau khi chết, làng sẽ cúng giỗ, cúng Tết mãi mãi. Bà ưng ý ngay. Sau khi làm đơn xin thì bọn lý dịch mới bắt đầu giở ngón xoay tiền. Biết mình không kham nổi, bà đã xin thôi, nhưng chúng dọa nếu lừa dối thì khi chết làng sẽ không khiêng. Không có tiền, bà đành phải gán ruộng cho chúng. Vậy là, cả gia tài mà người đàn bà góa chồng dành dụm, chắt chiu đã bị bọn lý dịch trong làng cùng với những hủ tục đánh vào tâm lý mê tín, tư tưởng “sống nhờ làng, chết nhờ làng” của bà mà khoét mòn dần hết. Với truyện “Một tiệc ăn vạ”, nhà văn đã tố cáo gay gắt sự bóc lột của bọn quan lại, chức dịch trong làng dã khiến người nông dân lâm vào cảnh túng quẫn, đến nỗi họ phải tự tử. Việc ăn vạ trong làng là để phạt vạ một người nào đó mắc tội với làng. Làng ăn vạ có nghĩa là làng cứ việc mua lợn, mua gạo, mua rượu, ra đình ăn uống, phí tổn bao nhiêu thì người mắc tội sẽ phải chịu.