Author: Nguyễn Huyền

  • Văn mẫu Vẻ đẹp người chiến sĩ trong tác phẩm bài thơ về tiểu đội xe không kính và những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Vẻ đẹp người chiến sĩ trong tác phẩm bài thơ về tiểu đội xe không kính và những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Vẻ đẹp người chiến sĩ trong tác phẩm bài thơ về tiểu đội xe không kính và những ngôi sao xa xôi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Vẻ đẹp người chiến sĩ trong tác phẩm bài thơ về tiểu đội xe không kính và những ngôi sao xa xôi

    ÔN THI VÀO 10

    Vẻ đẹp người chiến sĩ trong tác phẩm bài thơ về tiểu đội xe không kính và những ngôi sao xa xôi

    BÀI LÀM

    Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm. Thế nhưng, những ký ức về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc, ký ức về những con người anh hùng trong một thời đại anh hùng thì vẫn tươi mới, nguyên vẹn mỗi khi ta đối diện từng trang sách trong những tác phẩm văn học của thời kỳ này.

    Bằng cảm hứng lãng mạn, kết hợp với khuynh hướng sử thi, văn học Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước đã xây dựng trong văn thơ tượng đài những chiến sĩ anh hùng. Họ là những “Thạch Sanh của thế kỷ XX”. Chiến công của họ đẹp và phi thường như huyền thoại.

    Có hai tác phẩm được coi là tiêu biểu cho cảm hứng ngợi ca người chiến sĩ anh hùng của văn học thời kỳ này, đó là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. Mỗi tác phẩm là một bức tranh đẹp về hình tượng người chiến sĩ điển hình cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh.

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969, rút từ tập thơ “Vầng trăng, quầng lửa” là một bài thơ độc đáo trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969-1970. Bài thơ khắc họa vẻ đẹp người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn ác liệt. Vẻ đẹp độc đáo được thể hiện ngay trong tên gọi của bài thơ. Đó là sự thống nhất giữa hai sự vật tưởng như tương phản gợi ấn tượng về chất thơ lãng mạn và sự trần trụi khốc liệt.

    Khai thác đề tài chiến tranh, tác giả không chỉ tô đậm tính chất ác liệt, tàn khốc nhằm làm nổi bật sự phi thường của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam mà Phạm Tiến Duật đã có cách nhìn, cách cảm khá mới lạ và thú vị. Từ trong sự tàn khốc ấy, chất thơ vẫn cứ tuôn trào !

    Câu thơ mở đầu như một lời tự sự xen lẫn miêu tả:

    Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

    Nó có tác dụng vừa lý giải sự bất thường của hình ảnh chiếc xe độc đáo “không có kính” vừa tô đậm sự ác liệt của chiến trường “bom giật, bom rung…” Đây là hình ảnh vừa lạ vừa chân thực. Lạ là vì trong thơ, người ta thường chọn những sự vật hoàn thiện, hoàn mỹ để miêu tả nhằm tạo thiện cảm với người cảm nhận nó. Với những chiếc xe cũng vậy! Phải sang trọng, bóng loáng chứ sao lại trần trụi, méo mó, biến dạng thế này !

    Không có kính rồi xe không có đèn,

    Không có mui xe, thùng xe có xước

    Nhưng đấy là sự thật. Không phải một chiếc như thế mà tác giả nhìn thấy cả một tiểu đội xe như thế! Bởi vì thời điểm mà bài thơ ra đời có thể nói là ác liệt nhất trong thập niên 60 của thế kỷ XX.

    Đường Trường Sơn – nơi vận chuyển vũ khí lương thực vào chi viện Miền Nam

    • những năm tháng này là “túi bom, chảo lửa”. Và trên nền hiện thực tàn khốc ấy đã xuất hiện hình ảnh đẹp đẽ, phi thường của người chiến sĩ lái xe. Làm chủ những phương tiện ấy, người chiến sĩ không hề nản chí hay run sợ mà trái lại, lại bình tĩnh đến lạ thường:

    Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

    Vẻ đẹp kiêu hùng được toát ra từ tư thế ngồi “ung dung” đến cái nhìn “nhìn thẳng”. Các từ láy “ung dung” cùng với nhịp thơ nhanh, đều, dứt khoát 2/2/2 diễn tả vẻ đẹp khoan thai, thản nhiên, tự tin của người chiến sĩ. Điệp từ “nhìn” gợi lên sự nối tiếp liên tục của những hình ảnh chiến trường như một đoạn phim đang quay chậm:

    Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái

    Các thủ pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ đã góp phần làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động. Tưởng rằng làm chủ những chiếc xe không kính, người chiến sĩ chỉ thấy những khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng không! Nó đã làm tăng những cảm giác mới mẻ mà chỉ có người chiến sĩ khi ngồi trên những chiếc xe như thế mới cảm nhận được một cách rõ ràng, mãnh liệt… Hình ảnh “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường

    chạy thẳng vào tim” tạo ấn tượng độc đáo. Chiếc xe như đang trôi bồng bềnh trong thiên nhiên hoang dã của núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Chất thơ cùng với vẻ đẹp lãng mạn toát lên từ đó. Nhưng có thể nói đẹp nhất là thái độ, tinh thần dũng cảm bất chấp gian khổ để chiến đấu và chiến thắng:

    Không có kính, ừ thì có bụi,

    Bụi phun tóc trắng như người già

    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

    Vẻ đẹp được toát lên từ lời thơ giản dị, giàu “chất lính”, hình ảnh thơ mộc mạc. Điệp ngữ “ừ thì”, “chưa cần” vang lên như một lời thách thức, chủ động chấp nhận gian khổ. Một giọng thơ tự tin, ngang tàng. Một tiếng cười “ha ha” hồn nhiên. Tất cả đã toát lên vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe.

    Đời sống chiến trường gian khổ là thế. Sự sống và cái chết ở đây chỉ là gang tấc. Thế nhưng tình yêu thương đồng chí, đồng đội vẫn tỏa sáng lạ thường.

    Những chiếc xe từ trong bom rơi

    Đã về đây họp thành tiểu đội

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

    Có thể nói rằng, khai thác chất liệu nghệ thuật của đời sống chiến tranh, Phạm Tiến Duật đã rất thành công trong việc khắc họa người chiến sĩ lái xe Trường Sơn bằng những hình ảnh, chi tiết vừa chân thực, gân guốc, mộc mạc vừa lãng mạn nên thơ.

    “Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước:

    Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

    “Trái tim” ở đây chính là trái tim chứa chan tình yêu Tổ quốc đã giúp người chiến sĩ lái xe làm nên những kỳ tích phi thường. Vẻ đẹp hào hùng của họ tỏa sáng cả bài thơ; đủ làm sống lại trong lòng chúng ta một thời oanh liệt của anh bộ đội cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt tạo nên vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

    Cùng với chủ đề ngợi ca vẻ đẹp người chiến sĩ, nhưng khác với nhà thơ Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhà văn Lê Minh Khuê trong “Những ngôi sao xa xôi” đã đi tìm và khai thác vẻ đẹp ấy qua hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong.

    Truyện viết về cuộc sống và chiến đấu vô cùng gian khổ của những nữ thanh niên xung phong – những cô gái “Ba sẵn sàng” trên tuyến đường Trường Sơn chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc. Mặc dù cốt truyện đơn giản, nhưng tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa vẻ đẹp người nữ chiến sĩ qua miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo và tinh tế.

    Nổi bật trong truyện là ba gương mặt đẹp của tổ trinh sát mặt đường. Họ có những nét tính cách chung của người nữ thanh niên xung phong Trường Sơn thời chống Mỹ nhưng ở mỗi nhân vật lại lấp lánh vẻ đẹp riêng. Hoàn cảnh sống và chiến đấu nơi tuyến lửa đã gắn bó họ thành một khối đoàn kết, yêu thương, gan dạ và dũng cảm.

    Họ đóng quân trong một cái hang giữa trọng điểm “túi bom, chảo lửa” trên tuyến đường Trường Sơn. Công việc hàng ngày của họ là đếm bom, rồi lao ra trọng điểm sau những trận bom để đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí

    bom rơi và phá những quả bom chưa nổ. Một khối lượng công việc vừa đồ sộ vừa nguy hiểm. Cái chết rình rập họ từng phút, từng giờ. “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang âm ỉ xa dần, thần kinh căng như chảo, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng chung quanh còn nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ…”. Họ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, dù chỉ có ba người (lại là ba phụ nữ); họ phân công nhau phá bằng hết những quả bom chưa nổ mà không cần đến sự trợ giúp của đơn vị “như mọi lần chúng tôi sẽ giải quyết hết”.

    Trong chiến đấu họ gan dạ, dũng cảm, quyết đoán là thế, nhưng trong cuộc sống họ là những cô gái trẻ trung, yêu đời, dễ rung cảm, lắm ước mơ. Là phụ nữ, họ rất thích cái đẹp và thích làm đẹp cho cuộc sống.

    Nếu như nhân vật Nho “mát mẻ như một que kem trắng”, thích ăn kẹo như một đứa trẻ, giàu mơ ước (Nho ước mơ trở thành công nhân nhà máy điện và trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy) thì nhân vật chị Thao lại dạn dày, từng trải trong cuộc sống; thích thêu thùa; thích làm đẹp “tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm” nhưng trong công việc thì “ai cũng gờm chị: cương quyết, táo bạo” (dũng cảm, táo bạo nhưng lại sợ nhìn thấy máu chảy).

    Còn Phương Định, nhân vật chính của truyện là con người hồn nhiên, nhạy cảm, lãng mạn và mơ mộng. Là con gái Thủ đô, cô thường sống với kỷ niệm quê hương. Nơi ấy có một thời học sinh trong trắng, hồn nhiên, vô tư. Nơi ấy có mẹ, có căn gác nhỏ của cô… Những kỷ niệm yêu dấu ấy là liều thuốc tinh thần quý giá động viên cô, tiếp thêm sức mạnh để cô sống đẹp và chiến đấu anh dũng nơi tuyến lửa.

    • chiến trường, Phương Định luôn dành cho đồng đội tình yêu thương thắm thiết. Cô yêu quý đồng đội trong “tổ trinh sát mặt đường” của cô và cảm phục các anh

    bộ đội “những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ”. Trong mắt cô, đó là những “người đẹp nhất, thông minh nhất”. Phương Định rất nhạy cảm. Cô biết mình có “cái nhìn sao mà xa xăm” như lời các anh lái xe nhận xét nhưng cô lại không biểu lộ tình cảm và thích kín đáo giữa đám đông. Cô thích nhạc và mê ca hát. Thậm chí tự đặt lời theo một điệu nhạc nào đó và hát để thấy mình rất buồn cười v.v… Thế nhưng với Phương Định, sự nhạy cảm về tâm hồn có lẽ được biểu hiện tinh tế nhất ở chỗ, chỉ một cơn mưa đá bất ngờ vụt qua trên cao điểm, cũng đủ đánh thức trong cô những ký ức về quê hương, gia đình, khơi dậy trong cô khát khao sum họp đến cháy bỏng.

    Một cô gái Hà Nội chính gốc, lãng mạn và mơ mộng như thế, nhưng trong chiến đấu lại dũng cảm, gan dạ đến tuyệt vời. Một mình phá bom trên đồi “quang cảnh vắng lặng đến dễ sợ” nhưng tinh thần cô không hề nao núng. Đáng lẽ cô phải “đi khom” nhưng sợ mấy anh chiến sĩ “có cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt” nhìn thấy, nên cô “cứ đàng hoàng mà bước tới”.

    Khi ở bên quả bom, tử thần có thể cướp đi mạng sống của cô bất cứ lúc nào, nhưng cô vẫn bình tĩnh thao tác một cách chính xác và chạy đua với thời gian để vượt qua cái chết.

    “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Những cảm giác tinh tế ấy không chỉ là sự nhạy cảm mà còn là kinh nghiệm của sau bao nhiêu lần phá bom ở tuyến lửa và chỉ những người nữ thanh niên xung phong dạn dày như Phương Định, Nho, chị Thao mới có được !

    Với tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”, ngòi bút của Lê Minh Khuê đã miêu tả sinh động, chân thực tâm lý nhân vật; làm hiện lên một thế giới nội tâm rất phong phú nhưng không phức tạp, rất đời thường, giản dị nhưng vô cùng trong sáng và cao thượng của những nữ thanh niên xung phong.

    Vẻ đẹp của những “cô gái mở đường” Trường Sơn cùng với vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe trong các tác phẩm văn học chống Mỹ nói chung và trong các tác phẩm của Phạm Tiến Duật và Lê Minh Khuê nói riêng đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về ý chí, tâm hồn và nhân cách của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

  • Văn mẫu Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

    Văn mẫu Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

    Văn mẫu Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH TRONG HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

    KIẾN THỨC LỚP 9

    Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không

    kính của Phạm Tiến Duật

    BÀI LÀM

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…

    Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng. “Bài thơ về tiểu đội không kính” (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.

    Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió – hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ. Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả “anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp” của Chính Hữu

    trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận, giải thích về “những chiếc xe không kính” thật đơn giản, tự nhiên :

    Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

    Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng : không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật.

    Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.

    Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh.

    Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ :

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

    Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa như ùa vào buồng lái.

    Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ “gió”,”con đường” đến cả “sao trời”, “cánh chim”. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng.

    Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, có tính cách ngang tàng:

    Không có kính, ừ thì có bụi,

    Bụi phun tóc trắng như người già

    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

    Không có kính, ừ thì ướt áo

    Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

    Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

    Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi.

    Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại “tiếng hát át tiếng bom”, họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. Câu thơ “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy.

    Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình :

    Những chiếc xe từ trong bom rơi

    Đã về đây họp thành tiểu đội

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

    Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

    Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

    Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    “Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. “Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một

    động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc :

    Không có kính rồi xe không có đèn

    Không có mui xe, thùng xe có xước

    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.

    Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra : xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước …

    Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh “trong xe có một trái tim” .

    Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở “trái tim” gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta

    :sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu

    • chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ, nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi :

    Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí

    Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung

    Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng

    Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 – 1975.

  • Văn mẫu PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH TRONG HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

    Văn mẫu PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH TRONG HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

    Văn mẫu PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH TRONG HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Lòng yêu nước trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH TRONG HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

    KIẾN THỨC LỚP 9

    PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH TRONG HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

    BÀI LÀM

    Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống. Và có lẽ vì thế nên mỗi bài thơ đều mang đến sự đồng điệu giữa cảm xúc của người đọc, người nghe và tâm hồn thi sĩ của tác giả. Đặc biệt, những bài thơ gắn liền với hình ảnh người lính trong hai thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ lại càng khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống chiến đấu gian khổ của dân tộc hơn. Tuy nhiên, hình ảnh người lính mỗi thời kì lại có những nét tương đồng và khác biệt, nên những bài thơ trong mỗi thời kì cũng khắc hoạ hình ảnh hai người lính khác nhau, mà tiêu biểu là bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “bài thơ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.

    Sự khác biệt đầu tiên của họ là hoàn cảnh chiến đấu và xuất thân. Những vần thơ của bài “Đồng chí” được Chính Hữu dùng ngòi bút của mình viết nên vào tháng 5.1948. Đây là những năm tháng đầu tiên giặc Pháp quay trở lại xâm lược nước ta sau cách mạng tháng 8, nên cuộc sống vô cùng khó khăn vất vả, nhất là đối với hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề ở chiến khu. Hiểu được nỗi đau của dân tộc, những người nông dân nghèo ở mọi nẻo đường đất nước đã bỏ lại sau lưng ruộng đồng, “bến nước gốc đa” để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

    “Quê hương anh nước mặn đồng chua

    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    Khác với Chính Hữu, Phạm Tiến Duật – một nhà thơ trẻ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước cho ra đời “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” vào tháng 5.1969. Thời gian này là cột mốc đánh dấu cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang trong thời khốc liệt nhất. Anh giải phóng quân bước vào chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ ra đi khi vai còn vươn cánh phượng hồng, lòng còn phơi phới tuổi thanh xuân. Những anh hùng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy chẳng màng đến tương lai đang rộng mở đón chào, đôi chân họ bị níu chặt nơi mặt trận vì hai từ “yêu nước”.

    Và vì hoàn cảnh, xuất thân khác nhau nên dẫn đến lí tưởng chiến đấu và ý thức giác ngộ cũng không tránh khỏi khác nhau. Trong bài “đồng chí”, nhận thức về chiến tranh của người lính còn đơn giản, chưa sâu sắc. Họ chỉ biết chiến đấu để thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, giành lại tự do, giành lại quyền làm người mà thôi. Trong tim họ, tình đồng chí đồng đội là món quà thiêng liêng, quý giá nhất mà họ nhận được trong suốt quãng thời gian dài cầm súng.

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

    Đồng chí!”

    Còn trong thời chống Mĩ, khái niệm về tinh thần yêu nước, thống nhất nước nhà đã khắc sâu vào tâm trí mỗi con người nơi chiến khu. Họ hiểu được điều ấy là vì giai đoạn này, khi miền Bắc đã đi vào công cuộc xây dựng CNXH thì miền Nam lại tiếp tục chịu đựng khó khăn bởi sự xâm lược của đế quốc Mĩ. Và “thống nhất” trở thành mục tiêu quan trọng hàng đầu của dân tộc ta. Trong trái tim chảy dòng máu đỏ của người Việt Nam, những người lính Trường Sơn mang trong mình tinh thần lạc quan, ý chí quyết thắng giải phóng miền Nam cùng tình đồng chí đã hình thành từ thời kháng chiến chống Pháp.

    “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

    Thật thiếu sót nếu như so sánh hai bài thơ mà không nói về vẻ đẹp của chúng. “Đồng chí” là hiện thân của vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc. Tình đồng chí được thể hiện thật tự nhiên hoà huyện trong tinh thần yêu nước mãnh liệt và chia sẻ giữa những người bạn với nhau. Còn “bài thơ về tiểu đội xe không kính” là sự khắc hoạ nổi bật của nét trẻ trung, tinh thần lạc quan, dũng cảm với tinh thần yêu thần yêu nước rừng rực cháy trong tim. Khát vọng và niềm tin của họ được gửi vào những chiếc xe không kính, thứ đưa họ vượt dãy Trường Sơn thẳng tiến vì miền Nam yêu dấu.

    Thế nhưng, những người lính ấy, dù trong thời kì nào thì cũng có những nỗi nhớ không nguôi về quê nhà. Sống giữa chiến trường với tình đồng chí thiêng liêng, lòng những người nông dân bỗng quặng thắt mỗi khi hình ảnh mẹ già, vợ dại, con thơ hiện về. họ cảm thấy thật xót xa khi nghĩ đến ruộng đồng bỏ không cỏ dại, gian nhà trống vắng lại càng cô đơn.

    “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,

    Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay,

    Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.”

    Người lính chống Mĩ lại khác, nỗi nhớ của họ là sự vấn vươn nơi mái trường, là sự nuốc tiếc những trang vở còn tinh tươm. Họ buồn vì phải khép lại ước mơ rực rỡ trên hành trình đi đến tương lai. Nhưng họ hiểu rằng trách nhiệm với quê hương vẫn còn đó, nên họ quyết tâm chiến đấu hết mình. Họ biến con đường ra trận thành ngôi nhà chung gắn kết những trái tim vì tinh thần chống giặc ngoại xâm làm một.

    “Bếp hoàng cầm ta dựng giữa trời,

    Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy.”

    Bàn về nghệ thuật của hai bài thơ, ta không khó để thấy rằng chúng có nét khác biệt tương đối rõ ràng. Chính Hữu dùng bút pháp lãng mạn, xây dựng trong thơ của mình biểu

    tượng nên thơ của tình đồng chí: “đầu súng trăng treo”. Cảm hứng dâng trào lên rồi lại lắng đọng trong tâm hồn, hoá thành hình ảnh của chiến đấu và hoà bình, mang đến cho đời một bài thơ đầy chất trữ tình nhưng cũng không kém phần hấp dẫn. Ngược lại, Phạm Tiến Duật xây dựng hình ảnh người lính bằng những gì có thực trong cuộc sống chiến đấu gần gũi nhất: “xe không kính”. Hình ảnh thơ này thật sự quá độc đáo, khiến người đọc nhiều lần ngỡ ngàng vì sự phá cách và nét đơn giản nhưng cũng ngập tràn chất thơ của “bài thơ về tiểu đội xe không kính”.

    Nhưng dù khác nhau từ hoàn cảnh, xuất thân cho đến lí tưởng chiến đấu, họ vẫn cùng chung một mục tiêu duy nhất: chiến đấu vì hoà bình, độc lập, tự do của tổ quốc. Họ lấy quyết tâm làm nền tảng, tinh thần làm cơ sở để vững bước đến tương lai được dựng nên bởi tình đồng chí. Dù biết rằng trong cuộc chiến một sống một còn ấy, đã có không ít những người phải hi sinh, nhưng đó lại là động lực lớn hơn chắp cánh cho ước mơ của những người chiến sĩ bay xa, bay cao. Hình tượng người lính ở hai thời kì đều chất chứa những phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ mà chúng ta cần phải trân trọng và yêu quý.

    Nói tóm lại, người lính mãi mãi là biểu tượng tươi đẹp và sinh động nhất của chiến tranh, dù là thời kì chống Pháp hay chống Mĩ. Họ hiện lên quá đỗi gần gũi và thân thương, với nghĩa tình đồng đội ấm áp đã, đang và sẽ mãi mãi ấp ủ trong trái tim. Họ là những cây xương rồng rắn rỏi, cố gắng vươn lên giữa xa mạc mênh mông khô cằn. Họ là ngọn đèn thắp sáng con đường của quê hương chúng ta, đưa đất nước đi đến hoà bình và phát triển như ngày hôm nay.

  • Văn mẫu  Lòng yêu nước trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    Văn mẫu Lòng yêu nước trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    Văn mẫu Lòng yêu nước trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Vẻ đẹp người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Lòng yêu nước trong tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    KIẾN THỨC LỚP 9

     

    Lòng yêu nước trong tác phẩm “Bài

    thơ về tiểu đội xe không kính”

    BÀI LÀM

    Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ

    trẻ những năm kháng chiến chống Mĩ. Bản thân là anh bộ đội Trường

    Sơn, tác giả cảm thông và hiểu rõ tâm tình người lính, nhất là người

    chiến sĩ vận tải dọc Trường Sơn chở vũ khí, quân trang từ hậu phương

    lớn ra tiền tuyến lớn. Cùng với thế hệ thanh niên hăng hái “Xẻ dọc

    trường sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai” Phạm Tiến

    Duật mang niềm vui hăm hở của tuổi trẻ ra chiến trường. Nhà thơ đã tạo

    cho mình một giọng điệu thơ rất lính : khỏe khoắn, tự nhiên, tràn đầy

    sức sống, tinh nghịch tươi vui mà giàu suy tưởng. Bài thơ về tiểu đội xe

    không kính là tác phẩm tiêu biểu nhất của giọng thơ ấy, của hồn thơ ấy.

    Kết cấu của bài thơ là hành trình của con đường ra trận. Hành trình đó có những lúc dãi dầu nắng mưa, có những ngày vượt suối băng đèo và có tiếng reo cười trong tình thân chan hòa đồng đội, trong một mái ấm gia đình giữa đất trời bao la. Kết cấu đó trước hết thể hiện qua số lượng chữ trong câu :

    Mở đầu chặng đường hành quân là những khó khăn. Vì vậy khổ 1, câu thơ đầu dài ra 10 chữ và kết thúc bằng thanh trắc – hoàn toàn trái quy luật phối thanh bình thường của thơ vần nhịp. Nó là điệu nói :

    Không có kính không phải vì xe không có kính

    Ba câu tiếp theo, khó khăn dần rút lại, tạo nên sự ung dung phong thái đỉnh đạc với số lượng chữ rút dần xuống và đằm lại về thanh điệu : 8- 6-6, bằng- bằng – trắc.

    Hai câu thơ cuối khổ, thanh bằng chiếm tỉ lệ nhiều hơn, khoảng 2/3. Chính sự thắng thế của thanh bằng đã tạo nên sự thanh thản, ung dung cho khổ thơ mặc dù kết thúc của nó lại là thanh trắc. Chính thanh trắc này lại mở đường cho xe đi tới : Nhìn thẳng.

    Năm khổ thơ tiếp theo, số lượng câu chữ trở lại bình thường, hoán đổi đều đặn ở hai kiểu kết hợp : 7- 8- 8- 7- và 7- 7- 8- 7 . Đường ra trận đẹp lắm, nên xe không kính cứ chạy bon bon, người lái xe đã nhìn thấy, nhìn thấy và thấy. Thấy gió xoa mắt đắng, thấy con đường chạy thẳng vào tim. Quan trọng nhất, thấy được nụ cười rạng rỡ của nhau. Ấy cũng chính là thấy được lòng dũng cảm tiềm ẩn đằng sau những câu đùa vui và hành động tếu táo :

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

    Khổ thơ có một sự thay đổi đặc biệt so với toàn bài ở số lượng chữ trong câu thơ : 8- 8- 8- 8. Bốn câu thơ 32 chữ chia đều nhau thanh điệu bằng trắc ở bốn chữ cuối và trở lại kiểu phối âm bình thường bằng- trắc- trắc-bằng. Câu kết của bài thơ mở rộng bằng thanh bằng :

    Chỉ cần trong xe có một trái tim

    Đây là câu thơ mấu chốt của cả khổ thơ và cả bài thơ. Hóa ra tất cả khó khăn thử thách ở phía trên kia chẳng là gì cả, dù cho bom rơi, pháo thả, dù xe không kính, dù đường ra mặt trận có khi đồng nghĩa với cái chết thì người lính lái xe ra trận cũng luôn cảm thấy bình yên, an toàn bởi vì có một trái tim. Đó là trái tim biết thức vì Miền Nam, biết khát khao chân lí, hòa bình. Hành trang ra trận cần biết bao một trái tim như thế.

    Bài thơ đã khắc họa đậm nét hình ảnh người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam : Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi. Bài thơ không chứa đựng một ẩn ý sâu xa nào khiến người đọc phải suy luận, nêu giả thiết hoặc là thế này hoặc là thế kia. Tạo dựng hình ảnh thơ bằng ngôn ngữ thô mộc của đời sống thường nhật, không sử dụng các loại mĩ từ, mĩ cảm, ẩn dụ, hình ảnh thơ thể hiện đạt tới độ chân thực cao mà vẫn rất

    thơ, đó là tài nghệ của Phạm Tiến Duật trong lao động sáng tạo. Bài thơ có đầy đủ yếu tố cách tân và hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc của thơ ca dân tộc, nối tiếp truyền thống của thơ ca cách mạng viết về anh bộ đội trong hai cuộc trường chinh cứu nước vĩ đại của dân tộc ở thế kỉ XX

    PHẠM TIẾN DUẠT VÀ SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

    Phạm Tiến Duật, tên thật mà cũng là bút danh, sinh ngày 14-1-1941. Quê gốc: thị xã Phú Thọ. Tốt nghiệp đại học sư phạm Vãn, chưa đi dạy ngày nào, ông nhập ngũ (1965). Mười bốn nãm trong quân đội thêm tám nãm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói: Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài

    Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng Trường Sơn. Chiến tranh đã qua một phần tư thế kỷ, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ anh viết hôm nay vẫn còn vang ngân lắm

    hình bóng của Trường Sơn.

    Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được, dù hồi đó đã thấy vài người mô phỏng. Khó vì giọng đùa đùa, tinh nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm con người. Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa. Điều đáng nói là giọng thơ ấy đã tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó. Kháng chiến chống xâm lược Mỹ là cuộc chiến tranh ác liệt, nhất là ở Trường Sơn. Hy sinh lớn, gian khổ nhiều. Thơ cần phản ánh chân thật thực tiễn ấy, nhưng lại không được gây bi lụy, xót thương. Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của lòng người. Nhưng cũng không được lên gân, cao giọng hay cắt bớt nét dữ dằn của thực tế chiến tranh. Đây là một thử thách với tất cả các nhà thơ hồi ấy. Nhiều người không vượt được. Phạm Tiến Duật vượt được, trước hết nhờ vào cái giọng đó:

    style=”margin: 5px 0pt 15px 20px;”>Cạnh giếng nước có bom từ trường

    Em không rửa ngủ ngày chân lấm

    Ngày em phá nhiều bom nổ chậm

    Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà.>Con gái thế thì đoảng quá: đêm ngủ không rửa chân, nằm mơ thì nói ông ổng. Đây lại là lời kể của cô bạn cùng đơn vị thanh niên xung phong nói với bạn trai của cô gái. Hại thế. Nhưng không, anh bạn nghe lại ứa nước mắt: Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa. Thương em, thương em, thương em biết mấy. Trong một câu có tới

    ba động từ thương. Rửa chân trước khi đi ngủ là quyền lợi của mọi người trên mặt đất. Nhưng ở đây, để đòi được quyền lợi nhỏ bé đó có thể phải đổi cả mạng người. Phá bom là việc làm đối diện với cái chết, không ai nói tài được. Con người có phần tự vệ bản nãng nên phải hồi hộp lo âu. Nhưng vì lý tưởng, ý chí đã vượt lên bản năng, họ làm mà không sợ hãi. Đêm về, ý thức của vỏ não đã bị giấc ngủ ức chế, chỉ còn tiềm thức dưới vỏ não hoạt động, nỗi sợ hãi bản nãng trỗi dậy thành cơn mê hoảng. Đêm đêm mê hoảng nhưng sáng sáng lại ra mặt đường tiếp tục phá bom. Phẩm chất anh hùng cao cả đã thành nếp sống hàng ngày. Chất thơ chân thực, do vậy mà sâu xa, nó kết tinh từ sự từng trải của tác giả, chứ không phải từ thứ chế tạo trên trang giấy để biểu dương tuyên truyền. Giọng thơ Phạm Tiến Duật rất gần với câu nói thường ngày. Câu nói khác câu thơ là không du dương trau chuốt, nó thô mộc như chỉ có nhiệm vụ thông tin. Phạm Tiến Duật dùng chức nãng thông tin ấy mà tạo thơ. Ông đặt thông tin nọ cạnh thông tin kia, như ngẫu nhiên, như có sao nói vậy, không bình luận móc nối gì, mà thành ra tình cảm, ra nghĩa lý sự đời. Bài thơ Công việc hôm nay , viết khoảng nãm 1966- 1967, giống như vãn bản tinThông tấn xã:

    style=”margin: 5px 0pt 15px 20px;”>Cục Tác chiến báo sang tin cuối cùng

    Về số máy bay rơi và tàu chiến cháy

    Nha Khí tượng, tin cơn bão tan

    Bộ Nông nghiệp, tình hình vụ cấy…>Trong những tờ trình Thủ tướng ký

    đọc trong đêm Còn có việc hoàn thành bộ thông sử đầu tiên Chính cái

    chất bản tin ấy đã tạo nên thơ: giữa bao nhiêu việc gấp gáp của đời sống

    chiến tranh, chúng ta vẫn dành sức lo cho lâu dài (bộ sử). Điều đó không

    chỉ là sự bình tĩnh mà còn là niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Phạm

    Tiến Duật muốn để sự kiện tự nói. Ông tinh tế trong quan sát, lại giàu có

    khi liên tưởng nên mới bắt chi tiết tự nói được như vậy. Với Phạm Tiến

    Duật, chi tiết nào của đời cũng có thể thành thơ, từ độ cao vật lý bảy

    trãm mét, một nghìn mét, tám nghìn mét đến dáng vẻ các loài hoa, loài

    cây, rồi xe không kính, rồi xoong nồi xủng xoảng, rồi nằm ngửa nằm

    nghiêng… Đây là một bước tiến dài trong sự “tiêu hóa” của thơ. Đâu cứ

    phải mây gió trãng hoa mà tất tật, thượng vàng hạ cám của đời đi qua

    tâm hồn Phạm Tiến Duật đều thành thơ. Ông đã kế thừa truyền thống

    “tạp thực” của thơ đội viên kháng chiến chống Pháp và xa nữa là Tú

    Xương đầu thế kỷ.

    Vật liệu xây dựng nên bài thơ là việc thật của đời sống chiến tranh, còn nguyên lấm láp cát bụi chiến hào, không sơ chế tái chế gì, giọng thơ thì tếu, vui, nhưng cảm xúc lại là trữ tình thấm thía, tình cảm sâu và rộng: style=”margin: 5px 0pt 15px 20px;”>Cũng vương tóc rối chân gà Cũng tiếng chó sủa chiều tà sau cây Cũng quần áo ướt phơi dây

    Cũng gàu múc nước. Ô hay, cũng làng>Thắm một hình ảnh làng đến vậy là nỗi lòng người lính ở Trường Sơn những năm chiến tranh, khi mà

    không khí thanh bình làng quê xứ sở đã thành niềm xa lắc. Phạm Tiến Duật không trực tiếp nói nỗi lòng ấy nhưng người đọc lại thấy được rất rő. Đằng sau giọng thơ, cái lői cảm xúc này mới là chính yếu làm nên chất thơ chiến tranh Phạm Tiến Duật. Nhân vật thơ thường hòa vào tác giả. Ở Phạm Tiến Duật không, hoặc ít, phân biệt chủ thể, khách thể. Có lẽ khách chủ cũng đều là bộ đội nên họ dễ dàng thành một.

    Phạm Tiến Duật thật sự là người đã mở rộng phạm vi cái nên thơ, giúp thơ trực tiếp với đời sống và giúp đời sống trực tiếp bước vào thơ.

  • Văn mẫu  Vẻ đẹp người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    Văn mẫu Vẻ đẹp người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    Văn mẫu Vẻ đẹp người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu VĂN HÓA ỨNG XỬ NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TÌNH YÊU KIM – KIỀU (TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU)


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Vẻ đẹp người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    KIẾN THỨC LỚP 9

    Vẻ đẹp người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính

    BÀI LÀM

    Trong nền văn học nước nhà, thơ ca Cách Mạng Việt Nam luôn được coi là tài sản vô giá của dân tộc, bởi chúng phản ánh cả một giai đoạn lịch sử đấu tranh hào hùng của đất nước và con người Việt. Đặc biệt trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, với cảm hứng tươi trẻ và lãng mạn, thi ca đã thực sự hun đúc nên tượng đại của những chiến sĩ anh hùng, những “Thạch Sanh của thế kỉ XX”. Nhắc đến đây, hẳn chúng ta đều bỗng nhớ đến một tác phẩm của nhà thơ Phạm Tiến Duật, một câu chuyện về những người lính lái xe Trường Sơn, đó chính là Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

    Vẻ đẹp của những người lính giữa sự khốc liệt của chiến tranh đã hiện lên thật cao cả qua những vần thơ lãng mạn. Ta có thể cảm nhận được hiện thực tàn khốc của cuộc chiến ngay từ những câu thơ mở đầu:

    Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

    Dữ dội làm sao ôi những làn mưa bom đạn. Ấy vậy mà những người lính dường như không hề chùn bước, họ luôn mang trong mình sự tự chủ lạ kì.

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

    Vẻ đẹp phi thường của những người lính lái xe được toát lên qua tư thế hiên ngang ung dung và tự chủ. Cùng với nhịp thơ nhanh, đều, dứt khoát và điệp từ “nhìn”, hình ảnh người chiến sĩ hiện lên thật ngạo nghễ, không thẹn với đất trời, mặc cho bao thử thách của cuộc chiến. Dù cho phía trước là con đường chông gai đầy gian khổ hiểm nguy, những người lính vẫn giữ cho tâm hồn mình luôn tươi sáng và lạc quan để thưởng thức những vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời.

    Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa như ùa vào buồng lái.

    Những câu thơ tả thực tới từng chi tiết. Dường như ở phía trước, cả không gian đất trời thu vào tầm mắt của họ, như ùa vào với họ qua những ô cửa kính đã vỡ. Gió, con đường, sao trời và cánh chim vừa thực mà vừa thơ, chính là những cái thi vị giản đơn nảy sinh trên con đường bom rơi đạn nổ. Phải là những con người với một tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, với một nghị lực phi thường và thái độ bất chấp hiểm nguy mới có thể tìm thấy bên trong những tiếng nổ ì ầm trời đất bao nét thơ mộng của thiên nhiên.

    Nhưng không chỉ là tư thế tự chủ và tĩnh tại hiện rõ trong những anh lính lái xe, mà ở họ còn ngời lên tâm hồn sôi nổi của tuổi trẻ.

    Không có kính, ừ thì có bụi,

    Bụi phun tóc trắng như người già

    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

    Không có kính, ừ thì ướt áo

    Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

    Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

    Mưa ngừng, gió lùa khô ngay thôi.

    Đây phải chăng chính là khúc nhạc vui của tuổi mười chín đôi mươi hồn nhiên nông nổi, gợi cho người đọc một cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản, và trong chốc lát khiến ta quên đi những khó khăn đang đợi chờ phía trước. Với việc sử dụng đảo ngữ và cụm từ “ừ thì”, những câu thơ đầy chất lính đã diễn tả vừa chính xác cụ thể, vừa khôi hài gợi cảm hiện thực khó khăn của cuộc chiến. Họ phải không ngừng đối mặt với hiểm nguy nơi “túi bom chảo lửa”, phải sống trong làn gió bụi mịt mù và những cơn mưa rừng xối xả, phải đương đầu với bao vất vả giữa chốn núi rừng Trường Sơn. Nhưng bụi mù và mưa tuôn không thể khiến họ sờn lòng nản chí, không thể làm mất đi vẻ đẹp của một lối sống hồn nhiên, sẵn sàng vượt qua mọi gian nan thử thách một cách nhẹ nhàng. Thấp thoáng trong câu chữ chính là những tâm hồn dung dị đầy chất lính với vẻ đẹp ngang tàng và tinh nghịch thật đáng mến.

    Kì diệu làm sao, khi sự khốc liệt đến tê tái lòng người của chiến tranh lại tạo nên những tiểu đội xe không kính. Dọc theo con đường giải phóng miền Nam, họ càng đi càng có thêm bạn, thứ tình cảm tuy mộc mạc mà gắn bó keo sơn.

    Những chiếc xe từ trong bom rơi

    Đã về đây họp thành tiểu đội

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.

    Những cái bắt tay qua ô cửa đã vỡ, thật thoải mái, chân thành mà đằm thắm tình đồng đội. Chỉ cần một cái bắt tay thôi cũng đủ ấm lòng, đủ động viên nhau và truyền cho nhau cả sự cảm thông đặc biệt. Đến đây, những câu thơ này chợt khiến chúng ta nhớ tới những cái nắm tay của người lính trong đêm đông giá rét trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu. Chỉ qua một cử chỉ nhỏ bé ấy thôi, những người lính kiên cường có thể sẻ chia với nhau cả tâm hồn, tinh thần, nghị lực và sức mạnh vô song.

    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

    Tình đồng chí đồng đội sâu sắc ấy dần dần đã trở nên thắm thiết như gia đình.

    Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

    Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

    Một cách định nghĩa gia đình mới tếu hóm và kì lạ làm sao. Không phải là những con người chung huyết thống, những con người ruột thịt. Mà gia đình, chính là những con người với bao cái chung, chung bát, chung đũa, chung nắm cơm, bếp lửa, chung hoàn cảnh và chung những gian nguy đang đợi chờ phía trước. Họ xích lại gần nhau trong khó khăn thử thách, tình cảm của họ được tôi luyện qua lửa đạn và sẽ trở thành vĩnh cửu. Họ còn chia sẻ với nhau cả những giờ phút nghỉ ngơi ngắn ngủi của mình trong hoàn cảnh thiếu thốn đầy gian khó.

    Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    Từ láy ‘’chông chênh”, vừa gợi hình, vừa gợi cảm, cho ta cảm nhận được cái chông chênh của cuộc đời người lính, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mong

    manh như ngọn đèn trước gió. Nhưng dù có chông chênh đến bao nhiêu thì ý chí chiến đấu, khí phách và nghị lực của họ vẫn luôn vững vàng, kiên định. “Lại đi, lại đi”, bánh xe của họ sẽ không ngừng lăn.

    Mọi ý chí, mọi quyết tâm của họ đều hướng về cái đích duy nhất, đó chính là sự nghiệp giải phóng miền Nam, là động lực mạnh mẽ tạo nên sức mạnh phi thường để những người lính vượt qua mọi nguy nan, mọi sự hủy diệt và tàn phá.

    Không có kính, rồi xe không có đèn

    Không có mui xe, thùng xe có xước,

    Xe vấn chạy vì miền Nam phía trước:

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.

    Với việc sử dụng phép liệt kê và điệp từ “không có”, những câu thơ trên đã tái hiện được sự thiếu thốn đến trần trụi của những chiếc xe và hiện thực khốc liệt của cuộc chiến. Nhưng điều phi thường, là không bom đạn nào, không hiểm nguy nào có thể ngăn cản những chiếc xe tiếp tục tiến lên phía trước. Bởi cái tiêu phía trước là miền Nam yêu dấu đã luôn khích lệ họ. Bởi trong xe luôn vẹn nguyên một trái tim người lính yêu thương, can trường. Một trái tim nồng cháy, một lẽ sống cao đẹp là hình ảnh hội tụ của tâm hồn và phẩm chất những người cầm lái. Trái tim người chiến sĩ sẽ mãi tỏa sáng rực rỡ, mái gợi nhớ ta về một thế hệ trẻ thời kì kháng chiến chống Mỹ oanh liệt.

    Chiến tranh đã qua đi hơn ba mươi năm nay, nhưng hình ảnh những người anh hùng trong thời đại anh hùng của dân tộc sẽ sống mãi với đất nước. Họ đã tạo nên vẻ đẹp của những anh bộ đội Cụ Hồ dũng cảm, kiên cường, và mãi mãi được người đời vinh danh. Với họ, chính là ý chí khát vọng chiến đấu để giải phóng miền Nam, là

    lòng yêu nước nồng nàn, là nhiệt huyết của tuổi trẻ đã tạo nên sức mạnh và niềm tin

    vững chắc của chiến thắng kì diệu.

  • Văn mẫu VĂN HÓA ỨNG XỬ NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TÌNH YÊU KIM – KIỀU (TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU)

    Văn mẫu VĂN HÓA ỨNG XỬ NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TÌNH YÊU KIM – KIỀU (TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU)

    Văn mẫu VĂN HÓA ỨNG XỬ NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TÌNH YÊU KIM – KIỀU (TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu VĂN HÓA ỨNG XỬ NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TÌNH YÊU KIM – KIỀU (TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU)

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                                Lê Thu Yến

    _____________________________________________________________________________________________________________

    VĂN HÓA ỨNG XỬ NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TÌNH YÊU KIM – KIỀU (TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU)

    LÊ THU YẾN*

    TÓM TẮT

    Bài viết đặt ra vấn đề văn hóa ứng xử theo truyền thống thông qua mối tình cụ thể là tình yêu Kim – Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Có kết hợp phân tích so sánh chi tiết giữa Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện để thấy những nét ứng xử khác biệt giữa 2 tác phẩm. Đó cũng là nét đẹp nhân văn tạo nên sức sống lâu bền của tác phẩm.

    Từ khóa: văn hóa Việt, ứng xử, Nguyễn Du, Truyện Kiều.

    ABSTRACT

    Vietnamese culture of behavior presented in Kim Trong – Thuy Kieu’s love story

    in Nguyen Du’s Tale of Kieu

    The article is about the matter of traditional culture of behavior in Kim Trong – Thuy Kieu’s love in Nguyen Du‘s Tale of Kieu. By analyzing and contrasting between the details of The Tale of Kieu by Nguyen Du and the ones of The Tale of Jin Yun Qiao (Jinyunqiaozhuan) by a Chinese writer – Qinjin Cairen, we can find out the differences in culture of behavior in these two works. They are also the humanistic beauty that makes a long-lasting vitality of the two works.

    Keywords: Vietnamese cultural, behavior, Nguyen Du, The Tale of Kieu.

    Tự thuở nào tình yêu đã lên tiếng, đã mời gọi, đã ru lòng người bằng bao cung bậc bổng trầm. Có một mối tình đẹp đi qua cuộc đời đó là vạn phúc, đó là hương hoa, đó là thơ dâng trào, đó là nhạc vút cao… Ai chưa nếm trải chưa phải là người sâu sắc tình đời. Nguyễn Du đã mang một trái tim yêu đi suốt cuộc đời để gieo rắc nỗi sầu cho nhân thế, để cắt cứa thêm lòng đau, để dài thêm nhung nhớ nhưng cũng để cho khúc hát tình yêu tuyệt vời tiếp tục vút cao, vang xa…

    Như một người đi trước thời đại, Nguyễn Du không nói chuyện cao đạo,

    • PGS TS, Trường Đại học Sư phạm TPHCM

    không theo khuôn lồng chật hẹp của Nho giáo phong kiến, ông một mình vẽ ra một chân trời mới, một hướng bay mới. Chân trời mới ấy, hướng bay mới ấy cũng lênh đênh, gập ghềnh, cũng khúc khuỷu nhục vinh, cũng cay đắng tình đời… nhưng quan trọng là con đường ấy đi đến yêu thương và ở đó có những con người với những ứng xử sâu sắc, với những nghĩ suy cao thượng, với những cảm xúc nhiệt thành. Kết thúc của tình yêu có thể buồn, có thể không hạnh phúc nhưng tình yêu dẫn con người đến hạnh phúc, đến cách sống cao đẹp ở đời. Có lẽ đó cũng là nét đẹp ngàn đời của truyền thống văn hóa Việt mà thế giới ngày nay dù có hiện đại đến đâu cũng không thể làm phai mờ.

    103

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                      Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    Buổi đầu hội ngộ của tình yêu lứa đôi thường là những hình ảnh thăng hoa trong thơ ca. Ca dao xưa đã mời gọi tình yêu bằng những lời lẽ hết sức trang trọng, hết sức tin yêu:

    • Cô kia đứng ở bên sông

     

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho

    sang

    Mời gọi và bày tỏ cảm xúc của

    mình

    • Người về em vẫn trông theo

     

    Trông nước nuớc chảy, trông bèo

    bèo trôi

    • Nhìn em chẳng dám nhìn lâu Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.

    Táo bạo, hóm hỉnh, duyên dáng để

    tiến tới một dự định nào đó:

    –   Yêu nhau một cái lá đa

    Nửa nằm nửa đắp hơn nhà năm

    gian.

    • Tình cờ anh gặp em đây

     

    Như cá gặp nước như mây gặp

    rồng.

    Mây gặp rồng mây lồng cuồn cuộn

    Cá gặp nước con ngược con xuôi.

    Chồng Nam vợ Bắc anh ơi!

    Sao anh chẳng lấy một người như

    em ?

    Tình yêu trong Truyện Kiều cũng có cái dịu dàng, đằm thắm: “Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa/ Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha” nhưng cũng có cái mãnh liệt táo bạo “Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường/ Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, có cái ngập ngừng e thẹn “Thưa rằng đừng lấy làm chơi”, nhưng cũng có cái hồn nhiên bản năng “Sóng tình dường đã xiêu xiêu/

    Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”, rồi cũng có cái khôn ngoan giữ gìn “Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh/ Còn thân còn một đền bồi có khi”…

    Tình yêu trong Kim Vân Kiều truyện nghiêm chỉnh và khắt khe hơn. Mọi vấn đề đặt ra dường như đã được định sẵn, khuôn sẵn, nhân vật chỉ cần phát ngôn theo định hướng đó mà thôi. Tuy nhiên cũng có những chỗ dường như mâu thuẫn trong xây dựng tính cách nhân vật. Ví dụ một số chi tiết: Kiều lớn tiếng trách cứ Kim Trọng khi chàng “lách mình qua khe núi giả ôm gọn Thúy Kiều” cho bõ những ngày tơ tưởng tưởng tơ, nhưng lại tự nhiên khóc nức nở “nằm ngả vào lòng chàng khi tâm sự với chàng về phận bạc, về việc trời xanh ghét ghen tài sắc… Nằm ngả vào lòng chàng trai mới quen e rằng không phải là điệu bộ, cử chỉ của một cô gái gia phong, nề nếp. Và cô cũng không ngần ngại chiều chuộng một kẻ không ra gì như Sở Khanh “trai tham gái luyến dắt nhau lên giường cùng vào giấc mộng mây mưa say tỉnh”. Với chi tiết này dễ khiến người đọc thấy tâm lí “không còn gì để mất” của Kiều, và như thế thì phải xem lại tư cách cô gái “Tường đông ong bướm đi về mặc ai”. Còn với Thúc Sinh, một khi nàng đã có quá nhiều kinh nghiệm trong chốn lầu xanh thì “ân ái đêm đó chắc sẽ mặn nồng”. Và ở đoạn cuối khi Kim Kiều hội ngộ, chúng ta cũng thấy mâu thuẫn lộ ra khi Thanh Tâm tài nhân đã để cho Kiều đồng ý (hay nói cách khác là không phản ứng) khi Kim “khẽ tay nới rộng đai lụa, cởi hộ

     

    104

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                                Lê Thu Yến

    _____________________________________________________________________________________________________________

    áo là, đỡ nàng vô màn uyên ương, bàn tay xoa xát tới chỗ tình nồng, dần dần tỏ ý tham hương tiếc nhụy” rồi sau đó lại căng thẳng với chàng, lên giọng đạo đức về chữ trinh. Lạ thật, người Việt chắc không hành xử như vậy.

    Cũng không phải chỉ trong Kim Vân Kiều truyện mà trong những tác phẩm khác của Trung Quốc như Kim Bình Mai (quan hệ giữa Tây Môn Khánh với Phan Kim Liên và nhiều phụ nữ khác..), Hồng lâu mộng (chuyện tình của chàng Bảo Ngọc với các cô gái, chuyện Vương Hy Phượng và Giả Thụy…), Liêu trai chí dị (Truyện Thanh Phượng, Truyện Hoa Cô Tử), Tiễn đăng tân thoại (Chiếc đèn Mẫu đơn, Lầu Liên Phượng, Cô gái áo xanh, Chiếc thoa vàng hình chim phượng…),… Quan hệ nam nữ trong những tác phẩm này hầu như rất cởi mở, rất thoáng theo nghĩa quá tự do không có giới hạn, nhất là không cần gìn giữ. Có vẻ như những mối quan hệ này không phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của người Việt. Văn học Việt Nam ta ảnh hưởng văn học Trung Quốc nhiều nhưng những gì thuộc về truyền thống, về bản sắc thì người dân Việt vẫn cố gắng duy trì; hay nói khác hơn, cái gì thuộc về tâm thức thì khó có sự thay đổi. Chính điều đó làm nên sự khác biệt về lối suy nghĩ, cách thể hiện, thói quen hành động… nói chung là ứng xử văn hóa giữa hai dân tộc. Tất nhiên sự khác biệt này phải nhìn lâu mới thấy, nó chỉ là những lằn ranh vô cùng mong manh, có nghiền ngẫm kĩ mới thấu hết được.

    Ngay từ buổi bình minh của chế độ phong kiến, có quá nhiều những điều cấm kị, những điều ràng buộc nhưng người ta vẫn có cách để thể hiện tình yêu

    Thụy khởi khải song phi

    Bất tri xuân dĩ quy

    Nhất song bạch hồ điệp

    Phách phách sấn hoa phi

    (Xuân hiểu – Trần Nhân Tông) (Ngủ dậy mở cửa sổ ra xem/ Không biết xuân đã về rồi/ Một đôi bươm bướm

    trắng/Vỗ cánh bay sấn tới cành hoa)

    Cảnh gợi tình hay lòng người đang

    đuổi theo giấc mơ tình yêu sóng đôi. Bươm bướm đang vờn hoa hay hoa đang làm nền cho không gian thêm đầy thi hứng để đón bướm đa tình? Người đọc cũng sẽ mở lòng ra để đón nhận khung cảnh tự tình và say sưa dõi theo lứa đôi đang tình tự. Cái chính ở đây là cách bộc lộ tình yêu nhẹ nhàng, sâu lắng, kín đáo… qua lớp rào chắn ngôn ngữ bác học

    Nguyễn Trãi, một ông quan mẫu mực nghiêm chỉnh cũng không tránh khỏi có lúc để lòng mình xao động vì một tàu lá chuối non:

    Tự bén hơi xuân tốt lại thêm Đầy buồng lạ mầu thâu đêm Tình thư một bức phong còn kín Gió nơi đâu gượng mở xem

    (Cây chuối)

    Nhưng cái xao động kia nấp dưới

    cây lá, nấp dưới sự chuyển động của gió,

    của xuân. Tàu lá chuối non kia sẽ mãi mãi chỉ là lá chuối non nếu không có ai viết lên nó bức thư tình còn tươi nguyên nét mực và gió cũng sẽ mãi chỉ là gió nếu không có động tác gượng nhẹ sẽ sàng

    105

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                      Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    nhón giở từng chút một cái bức thư tình e ấp thẹn thùng kia. Cho nên, tàu lá chuối non tơ và chàng gió thanh lịch tạo điều kiện cho người đọc tưởng tượng thêm. Và Nguyễn Trãi ngoài những điều ai cũng biết: một nhà chính trị lỗi lạc, nhà ngoại giao tài tình… ông còn là một khách đa tình. Con người đa tình ấy không phải ai cũng dễ nhận biết vì những lời thơ đã được che chắn cẩn thận bằng những hình ảnh ví von, ẩn dụ… thanh thoát, mang nét đẹp thẩm mĩ Việt.

    Nguyễn Du cũng vậy, dù tư tưởng hết sức mới, ông đã đi trước thời đại một cách đáng kính phục nhưng ông vẫn để cho nhân vật của mình thể hiện những tư tưởng mới đó dưới hình thức kín đáo, tế nhị chứ không hề quá lố hay kệch cỡm đến mức thô vụng

    Trong buổi đi chơi thanh minh, Kim, Kiều đã gặp nhau và tiếng sét ái tình đã đánh trúng họ, nhưng ánh mắt của người quốc sắc cũng chỉ dám nhìn theo hút bóng kẻ thiên tài dù “Tình trong như đã …” chứ không hề có một cử chỉ kém tao nhã hoặc một lời nói bóng gió xa xôi nào.

    Trong lần Kiều sang nhà Kim tình tự, hai người đã có những kiểu cách ứng xử phù hợp. Chàng Kim “xem trong âu yếm có chiều lả lơi” thì cũng là một điều tự nhiên, bởi lẽ chàng Kim nếu không “xiêu xiêu” thì người ta có thể tưởng nhầm chàng có “vấn đề” trong hoàn cảnh “Dải là hương lộn bình gương bóng lồng” đầy gợi tình như thế. Và Kiều, với cách Kiều nói trước đây “Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha”, “Trẻ thơ đã biết đâu mà

    dám thưa” thì không thể nào Kiều không can ngăn chàng Kim dù nàng cũng yêu chàng cháy bỏng không kém. Nhưng quan trọng là những lời ngăn đón ấy lại là những lời hết sức chân tình chứ không phải là những lời rao giảng đạo đức cứng nhắc như cô Kiều của Thanh Tâm tài nhân. Và điều đó cũng phù hợp với cách nhìn, cách nghĩ, cách ứng xử theo truyền thống của dân tộc Việt. Chuyện hệ trọng cả đời người không dễ gì đổi trao mà không đắn đo suy tính. Tự ngàn xưa người Việt đã suy nghĩ như vậy, làm như vậy thì các thế hệ sau cũng được truyền dạy như vậy.

    Kiều được xây dựng như một mẫu người yêu đương tự do, nhưng không phải tự do quá trớn. Bước chân của nàng đến với tình yêu rất hồn nhiên, rất mạnh bạo nhưng rất biết giữ gìn. Việc giữ gìn ấy người con gái nào cũng phải biết, với một nàng Kiều luôn có ý thức càng thấy rõ hơn ai hết. Cho nên dù Kiều mạnh bạo vượt rào sang nhà người yêu nhưng ai cũng nể phục nàng khi nàng biết nói những lời từ chối mà không làm chạm tự ái chàng Kim.

    Nỗi nhớ nhung trong tình yêu cũng là một điều đáng quan tâm. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm hơn ai hết ngân nga tiếng lòng chờ mong, hoài vọng, trăn trở, xót xa, ai oán… để gửi hết tâm tư vào hình ảnh của người chồng thương yêu đang ở ngoài xa vạn dặm, đồng thời cũng trút hết nỗi niềm khát khao cháy bỏng vào cuộc đời đầy biến động đang có khả năng gây ra những đau thương, mất mát, chia lìa… cho hạnh

    106

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                                Lê Thu Yến

    _____________________________________________________________________________________________________________

    phúc của cô. Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc cũng mong chờ đấng quân vương, người tình trong mộng của nàng một lần trở lại để cùng với nàng hát khúc tương phùng nối tiếp cái quá khứ vàng son một thuở “Bóng dương lộng bóng trà mi trập trùng” dù đó là điều khó có thể trở thành hiện thực. Những cung bậc nhớ thương ấy nào dễ gì được bày tỏ trong xã hội phong kiến khi mà đạo đức Nho giáo dạy phụ nữ phải phu xướng phụ tùy, phải cử án tề mi

    Nỗi nhớ của người bình dân có phần mạnh mẽ và cụ thể hơn

    • Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

     

    Nhớ người quân tử khăn điều vắt

    vai

    • Anh đi đường ấy xa xa

     

    Để ai ôm bóng trăng tà năm canh

     

    • Nước non một gánh chung tình Nhớ ai ai có nhớ mình chăng ta

     

    • Gió sao gió mát sau lưng

     

    Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này

     

    • Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống

    than

    • Đêm qua ba bốn lần mơ

     

    Chiêm bao thì thấy dậy sờ chiếu

    không

    Nguyễn Trãi cũng thể hiện nỗi nhớ bằng những lời thơ nồng nàn, không kém phần cồn cào da diết.

    Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng Ngoài ấy dầu còn áo lẻ

    Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng

    (Tích cảnh)

    Trong tình yêu Kim, Kiều, những đoạn Kiều nhớ nhà suốt mười lăm năm lưu lạc làm mủi lòng người đọc. Kiều nhớ gia đình, nhớ người thân và nhất là không lúc nào nguôi quên hình bóng người con trai “Hài văn lần bước dặm xanh. Một vùng như thể cây quỳnh cành dao” của buổi đầu. Tự bao giờ trái tim yêu của Kiều đã khắc ghi hình ảnh ấy.

    Nhớ lời nguyện ước ba sinh

    Xa xôi ai có thấu tình chăng ai…

    …Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

    Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng

    Lời thơ đơn giản tưởng chỉ là nỗi nhớ nhưng vọng từ trong sâu thẳm là một nỗi niềm khao khát dâng trào.

    Kim Trọng cũng thế, chàng chẳng đã là người tình tri âm tri kỷ của nàng Kiều đó sao? Nỗi nhớ của chàng về người yêu đã ra đi biền biệt suốt mười mấy năm trời cũng có kém gì nàng. Sống với Thúy Vân mà chưa lúc nào chàng nguôi quên Kiều (Đây cũng là chỗ mà người đời thương Vân và nói nhiều đến cảnh đồng sàng dị mộng trong cuộc sống vợ chồng của Vân)

    Nỗi nàng nhớ đến bao giờ

    Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng Có khi vắng vẻ thư phòng

    Đốt lò hương giở phím đồng ngày

    xưa

    Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ

    Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm

    Dường như trên nóc bên thềm

    Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm

    mơ màng

    Đây là nỗi nhớ của chồng đối với vợ, của tình nhân đối với tình nhân, của

    107

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                      Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    người “Đã quen thuộc nết càng dan díu tình”. Cho nên chàng nhìn đâu cũng thấy nàng “bên nóc, bên thềm”, “bóng xiêm mơ màng” lúc ẩn lúc hiện. Càng xa càng nhớ, “Tương kiến thời nan biệt diệc nan” (Khó gặp nhau càng khó biệt nhau – lời thơ của Lý Thương Ẩn). Và không chỉ là nỗi nhớ của tình yêu trai gái mà còn trắc ẩn một niềm thương nhân thế: thương nàng phải bước lưu li, thương nàng chịu nhiều oan khuất, thương nàng bèo nước nổi trôi…“Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu li/Xót thương chiếc lá bơ vơ/Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng”. Cũng chính vì thế dù yêu Kiều đến đâu, tha thiết muốn gắn bó vợ chồng với nàng đến đâu, Kim cũng sẵn mối tương giao để chiều theo ý nguyện của nàng, làm yên lòng nàng, khi thấy nàng đã quyết tâm đem tình cầm sắt đổi duyên cầm kì. Yêu không có nghĩa là cùng sống chung trong một mái nhà, cùng ăn, cùng ngủ… mới là yêu. Những toan tính thấp hèn không thể có mặt trong tình yêu, lại càng không được đem những tham vọng riêng tư để chiếm hữu người mình yêu. Yêu là cho chứ đâu phải chỉ có nhận? Trong Kim Bình Mai, Liêu trai chí dị, Hồng lâu mộng của Trung Quốc… hầu như vắng bóng tình yêu kiểu này, ở đấy chỉ toàn là những chiếm hữu về mặt thân xác, những khát vọng nhục cảm… Có lẽ do thị hiếu thẩm mĩ của từng địa phương chăng?

    Tính cao thượng trong tình yêu cũng là một đặc tính nổi trội trong ứng xử của người Việt. Tình yêu trọn vẹn là đủ

    đầy cả hai yếu tố vật chất lẫn tinh thần nhưng đôi khi điều đáng quý trọng lại nằm trong cách hành xử của con người chứ không phải ở xác thân vật chất. Điều này được Nguyễn Du thể hiện rõ qua hình ảnh lí tưởng Kim, Kiều.

    Kim hoàn toàn xem nhẹ chữ trinh của lễ giáo phong kiến, chàng nghĩ chữ trinh có ba bảy đường và chỉ riêng lòng hiếu cũng đủ để thay thế chữ trinh rồi. Huống chi dân gian ta từng nói:

    Nàng nói với ta nàng còn son

    Ta đi qua cửa thấy con nàng bò….

    Chàng trai trong câu ca dao mới đáng yêu làm sao khi có hành động mà chắc gì chàng quân tử thắm nhuần đạo đức phong kiến nào dám làm:

    Con nàng những trấu cùng tro Ta đi lấy nước tắm cho con mình

    (Ca dao)

    Và cũng trong dân gian, có một

    quan niệm rất lạ và rất mới có lẽ xuất

    phát từ cái tâm bao la, bồ tát:

    Giữa đường nhặt cánh hoa rơi Hai tay nâng lấy cũ người mới ta

    (Ca dao)

    Suốt  từ  khi  gặp  lại  nàng  Kiều,

    người đọc chưa thấy bất cứ một lời trách

    móc nào của chàng Kim về chuyện quá

    khứ của nàng (trừ lúc trách nàng quên lời

    thề,  hay  không  còn  yêu  chàng  nữa:

    Khách qua đường để hững hờ chàng

    Tiêu…). Chàng chỉ muốn dang rộng tay

    đón người cũ chứ chưa bao giờ có ý coi

    khinh nàng:

    Hoa tàn mà lại thêm tươi

    Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa

     

    108

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                                Lê Thu Yến

    _____________________________________________________________________________________________________________

    Bởi lẽ, Kim theo cách của dân gian mà nhìn nhận sự việc: “Mà trong lẽ phải có người có ta”. Đó chính là lẽ phải của người dân Việt. Lẽ phải đó có khi trùng hợp với lễ giáo phong kiến nhưng thực ra nó thuộc về truyền thống văn hóa Việt. Thế nào là lẽ phải? Lẽ phải dựa trên nguyên tắc làm người, thiện ác, tốt xấu, phải trái phân minh và đã thành chân lí “Nói phải củ cải cũng nghe”. Đồng ý là trong Kim Vân Kiều truyện chàng Kim cũng nói những lời này nhưng đó chỉ để biện hộ và cốt làm nổi bật một cô Kiều “không phải là hạng yếm khăn, mà là một người trong đám hào kiệt”. Còn Nguyễn Du thì không hề có ý định để Kiều nổi bật theo hướng này.

    Hồi kết cuộc “Tình nhân lại gặp tình nhân…”, Kiều lặng lẽ “Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa” là để đắn đo thuyết phục Kim lần cuối nên ngay trong cách nói, thái độ, dáng vẻ… vẫn thấy nàng luyến lưu thực sự “Mười lăm năm mới bây giờ là đây/ Tình duyên ấy hợp tan này/ Dưới đèn tỏ dạng má đào thêm xuân”… Yêu nhau từ mười lăm năm trước đến bây giờ mới thấy đây, bây giờ mới được tự do cận kề, tay trong tay, mắt chìm trong mắt. Không gian ấy là không gian hạnh phúc. Trái hạnh phúc đang treo trước mắt chờ đón Kiều, có lẽ nào Kiều không còn chút tình cảm với Kim? Có lẽ nào “Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặt đã ưa nâu sồng/ Sự đời đã tắt lửa lòng…”? Chẳng qua đó chỉ là cách nói. Còn nhiều lắm, đong đầy hơn bao giờ hết, Kiều đã già đâu để phải đi tu? Nhưng cũng chính vì thế mà Kiều

    buộc mình phải từ chối. Còn đâu nữa cái thời xuân sắc, còn đâu nữa cái trong ngọc trắng ngà, còn đâu nữa buổi đầu e ấp, thân xác nàng bây giờ đã là “hoa dưới đất, hương cuối mùa”, còn yêu nhau nữa “là thù đấy thôi” là “người yêu ta xấu với người”… Đó là điều “buồn cả ruột, dơ cả đời”, và “hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi”? Cho nên tại sao không giữ gìn một chút gì còn sót lại?

    Những cảm xúc ngất ngây buổi đầu, những xao xuyến cứ buộc vào xao xuyến khi ánh mắt chạm nhau, lời thề trăm năm có vầng trăng chứng giám, sự trân trọng dấu yêu nắng giữ mưa gìn… Quá khứ vàng son ấy sao nỡ vùi lấp nó bằng một thân xác hoa tàn? Kiều xót xa lắm, đau đớn lắm, đau đến đứt ruột khi phải chôn chặt trái tim yêu tận đáy lòng để cầm cho vững một chút trinh còn sót lại. Đó là bi kịch sâu thẳm nhất nhưng cũng là đáng trân trọng nhất. Sự tin yêu, thấu hiểu nhau, kính trọng nhau đặt vào đúng cái tâm cao thượng của nàng Kiều. Nàng chối từ hạnh phúc, chìm ngập trong niềm đau chất ngất nhưng người đọc nâng niu nàng như báu vật, bởi vì nàng chính là hiện thân của hạnh phúc, nàng đã chỉ ra hạnh phúc cho bao người. Nguyễn Du cũng đứt từng khúc ruột khi để cho nàng Kiều trở thành cái bóng suốt đời đi bên cạnh hạnh phúc của Kim và Vân nhưng ông không thể làm khác được. Muốn nâng cao giá trị nàng Kiều ông đành phải để cho nàng đi theo cái tâm cao thượng và đó cũng là con đường tự nhiên nhất, hợp lí nhất theo lối ứng xử của người Việt.

    109

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                      Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    Trong con mắt của mọi người trong gia đình, Kiều là người biết nghĩ, biết hi sinh và cái hi sinh này quá lớn. Bán mình không chỉ mười lăm năm mà là cả cuộc đời và đó là nỗi đoạn trường mà Kiều phải theo cho đến hết kiếp. Trong con mắt người đọc chúng ta, cái tên Đoạn trường tân thanh mà tác giả cố tình đặt cho đứa con tinh thần của mình quả là đã chuyển tải được hết điều mà Nguyễn Du muốn gửi gắm. Người đã từng bênh vực cho Dương Quý Phi mà mắng cả triều đình “…như phỗng đứng” (Dương phi cố lí), đã từng xót xa cho người phụ nữ vọng phu hóa đá phải “một mình đứng trên đầu núi hàng nghìn năm, để muôn kiếp không biết tới giấc mộng mây mưa…”(Vọng phu thạch) thì không thể bằng lòng để cho người con gái đa tình, đa sầu, đa cảm, hiếu nghĩa đủ đường kia phải chôn đời mình giữa tiếng mõ hồi kinh khi khép lại Truyện Kiều. Nguyễn Du kết thúc Truyện Kiều theo kết thúc của Thanh Tâm tài nhân nhưng đằng sau trái tim đau đời của ông hình ảnh một nàng Kiều nhan sắc chưa bao giờ nhạt phai và tiếng khóc của nàng Kiều cũng chưa bao giờ dứt. Hậu thế vẫn dõi theo nàng. Cánh cửa phòng thu khép lại rồi nhưng lối thiên thai thuở nọ vẫn còn kia, am nhỏ vẫn mỗi

    ngày vọng về tiếng chuông sâu thẳm, nhưng con đường tu chắc gì đón được bước chân hăm hở say mê yêu đời (xăm xăm, thoăn thoắt) thuở nào, đàn đã cuốn dây rồi đấy nhưng âm thanh réo rắt của buổi đầu trao nhau làm sao dứt được, duyên đôi lứa đã thành duyên bạn bầy rồi đấy nhưng khối tình đã tan được chưa?… Trong khi đó “Thừa gia chẳng hết nàng Vân”. Tất cả mọi thứ đều thuộc về Vân, chồng là chồng của Vân, con là con của Vân, hạnh phúc còn nguyên đó là hạnh phúc của Vân… Kiều có còn gì đâu ngoài tâm hồn mong manh, vật vờ như khói, như sương… khác gì Đạm Tiên?

    Thương cảm nàng Kiều người đọc cũng đau đứt ruột cùng Nguyễn Du. Thương mà cảm, cảm để rồi bái phục, bái phục sự cao thượng cũng như cách ứng xử tuyệt vời của nàng Kiều, bái phục Nguyễn Du cái tài “dĩ tâm truyền tâm”, tài lấy đi không biết bao nhiêu nước mắt người đời, tài tạc tượng Kiều trong mắt bao thế hệ. Người đời khóc thương Kiều, tương giao tương cảm cùng Nguyễn Du cũng chính bởi Nguyễn Du đã từ lòng dân tộc mà xây dựng nên Kiều, khóc Kiều bằng chính con tim, khối óc, bằng cách ứng xử truyền đời của dân tộc.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phạm Đan Quế (2003), Truyện Kiều đối chiếu, Nxb Giáo dục.
    1. Trần Thúy Anh (2004), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao tục ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
    2. Lê Thị Bừng (1998), Tâm lí học ứng xử, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
    1. Lê Văn Quán (2007), Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt Nam, Nxb Trẻ.

    (Ngày Tòa soạn nhận được bài: 03-10-2011; ngày chấp nhận đăng: 24-10-2011)

     

    110

  • Văn mẫu HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

    Văn mẫu HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

    Văn mẫu HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                     Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

    NGUYỄN THỊ THANH THỦY*

    TÓM TẮT

    Hội thoại trong Truyện Kiều thực tế chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo để nhìn thấy được rõ hơn tính cách nhân vật và tài năng của Nguyễn Du. Kết quả của quá trình nghiên cứu các cuộc thoại tiêu biểu trong số 73 cuộc thoại dưới ánh sáng của ngữ dụng học cho chúng ta thấy cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn về nhân vật và tác giả của Truyện Kiều.

    Từ khóa: hội thoại, Truyện Kiều, ngữ dụng.

    ABSTRACT

    Conversation in Nguyen Du’s Tale of Kieu

    Conversation in Tale of Kieu has not been studied thoroughly to know more clearly about characters’ personalities and Nguyen Du’s talents. The results investigating typical conversations among 73 ones in the light of pragmatics show us more profound and multidimensional insights of characters and of the author of Tale of Kieu.

    Keywords: conversation, Tale of Kieu, pragmatics.

    1.     Đặt vấn đề

     

    Truyện Kiều của Nguyễn Du đã

    được tìm hiểu, nghiên cứu ở nhiều phương diện, từ thời điểm sáng tác, tựa đề… cho đến ngôn ngữ, hình tượng nhân vật… Nhưng chúng ta đã thực sự hiểu hết những điều tinh túy trong Truyện Kiều chưa? Ví dụ như Thúy Vân có phải là người con gái dịu dàng, hiền lành và cam chịu như trước nay mọi người vẫn nghĩ hay không? Trong buổi đoàn viên, Vân bảo chị hãy còn kịp se duyên cùng chàng Kim:

    Quả mai ba bảy đương vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì. Không biết Vân vô tình hay hữu ý

    khi đưa ra phát ngôn trên. Nhưng rõ ràng, nàng đã đe dọa thể diện âm tính của Thúy Kiều. Vì đối với xã hội phong kiến, ở vào

    • HVCH, Trường Đại học Sư phạm TPHCM

    lứa tuổi của Kiều thì người ta ngại không nói đến chuyện lập gia đình. Vậy mà Vân còn cho rằng chị hãy “đương vừa” để lập thành gia thất. Từ đó, ta thấy Thúy Vân “người” hơn. Chúng ta chỉ có thể hiểu được điều đó dưới góc độ hội thoại. Hướng nghiên cứu áp dụng những kiến thức ngữ dụng vào những tác phẩm văn chương là một hướng đi mới, một cách tiếp cận mới. Chúng tôi muốn tìm hiểu Truyện Kiều dưới góc độ này để thấy hội thoại được vận dụng trong tác phẩm văn chương như thế nào.

    2.     Truyện Kiều dưới góc nhìn hội

    thoại

     

    Trong phần này, ngoài phần giới thuyết về lí thuyết hội thoại, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu sự thể hiện của một số quy tắc hội thoại chủ yếu ở một số đoạn thoại tiêu biểu trong truyện Kiều của Nguyễn Du.

     

    • Giới thuyết về lí thuyết hội thoại

     

    92

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                               Nguyễn Thị Thanh Thủy

    _____________________________________________________________________________________________________________

    Hội thoại có thể được hiểu là việc sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp. Có rất nhiều vấn đề liên quan đến lí thuyết hội thoại, nhưng trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến các quy tắc hội thoại chủ yếu, là “những quy tắc làm cơ sở, đứng đằng sau sự vận hành của hội thoại” [2, tr.226]. Đó là:

    Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời. Quy tắc này quy định trong một cuộc thoại bình thường thì mỗi lần chỉ có một người nói, trật tự (nói trước, nói sau) của những người nói không cố định mà luôn thay đổi. Thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị giẫm đạp lên nhau.

    Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại. Quy tắc này chủ yếu thể hiện sự cộng tác trong hội thoại. Nguyên tắc cộng tác gồm có bốn phương châm là phương châm về lượng (cung cấp lượng tin đúng như đòi hỏi, đừng làm cho lượng tin lớn hơn đòi hỏi), phương châm về chất (nói những điều mình tin rằng đúng và có bằng chứng xác thực), phương châm quan hệ (nói những điều có liên quan với ngữ cảnh), phương châm cách thức (không nói tối nghĩa, mập mờ mà cần nói ngắn gọn và có trật tự)

    Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự. Quan hệ liên cá nhân là quan hệ giữa các vai giao tiếp. Phép lịch sự là bày tỏ sự nhận thức được những nhu cầu thể diện về hình-ảnh-ta trước công chúng của một con người. Thể diện là một hình-ảnh-ta trước công chúng của một con người. Nó bao gồm thể diện dương tính và thể diện âm tính.

    Thể diện dương tính là sự cần thiết được giao kết, được thuộc vào cùng một nhóm người nào đó. Nhu cầu được độc lập, không bị áp đặt bởi người khác là thể diện âm tính. Nhu cầu thể diện là những điều mong đợi của con người giúp cho cái hình-ảnh-ta trước công chúng của họ sẽ được tôn trọng. Phát ngôn hay hành động tiềm tàng sự đe dọa cái hình-ảnh-ta trước công chúng của một con người là hành động đe dọa thể diện (Face Threatening Acts – FTA).

    2.2. Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời trong màn báo ơn, báo oán

    Đa thoại trong màn báo ơn báo oán có rất nhiều người (12 người) nhưng tham thoại thì chỉ có ba người (Thúy Kiều, Hoạn Thư và Giác Duyên). Trong đó, Kiều là nhân vật có thời gian tham thoại nhiều nhất, có đến 8 lượt lời. Hoạn Thư và Giác Duyên mỗi người chỉ có một lượt lời và thời gian tham thoại cũng không nhiều. Vì sao một người phụ nữ biết điều hơn lẽ thiệt như Kiều lại giành lấy lãnh địa hội thoại nhiều như vậy? Vì sao các nhân vật khác không có tham thoại nào? Qua đó, tác giả muốn gởi đến cho độc giả thông điệp gì về nhân vật, về quan niệm và tư tưởng của mình?

    Trong đa thoại này, Kiều đóng vai chủ tọa. Cho nên xét trên trục quyền uy thì nàng có vị thế giao tiếp cao, còn xét quan hệ giữa các nhân vật trên trục khoảng cách thì tất cả đã biết nhau. Nhưng mức độ xa lạ hay thân tình với Thúy Kiều thì phải xét xem họ đến đây để được báo ơn hay bị báo thù.

    Khi Kiều đối thoại với Thúc Sinh, lượt lời của nàng dài. Kiều rất biết ơn

    93

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                     Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    Thúc Sinh đã đưa nàng ra khỏi chốn nhơ bẩn – lầu xanh của mụ Tú Bà – và cho nàng một danh phận, dù là phận vợ lẽ. Trong tham thoại với Thúc Sinh, Kiều tỏ lòng biết ơn Thúc Sinh đã một thời tình nghĩa mặn nồng và tặng cho chàng “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”. Những lời nói đầy nghĩa tình của Kiều trong giao tiếp với Thúc Sinh càng khẳng định rằng Kiều là một người biết lễ nghĩa.

    Nhưng Thúc Sinh không có tham thoại hồi đáp trước những lời cảm tạ của Kiều. Từ đấy, độc giả nhận thấy Thúc là một người nhút nhát đến mức không thể nói được gì khi nhận được lời cảm ơn. Không chỉ dừng lại ở đó, tính cách nhút nhát đến mức bạc nhược của Thúc Sinh càng được khẳng định sau lời đe dọa Hoạn Thư của Kiều:

    Vợ chàng quỷ quái, tinh ma,

    Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau.

    Kiến bò miệng chén chưa lâu,

    Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho

    vừa

    Khi Kiều nói về Hoạn Thư với những hành động ngôn ngữ mang tính chất đe dọa thể diện và sinh mạng của vợ mình thì chàng Thúc vẫn lặng im. Thúc Sinh là người nhu nhược. Nhưng nhu nhược đến mức trước cảnh sống chết của vợ mình mà chàng cũng im lặng thì tưởng không còn có gì có thể cứu vãn nổi cho tính cách của chàng Thúc nữa. Từ những lẽ đó, người đọc có thể thấy “Nguyễn Du đã miêu tả rất đúng tâm trạng của Thúc Sinh: mừng cho Kiều, lo cho Hoạn, nhưng chủ yếu là mừng cho mình được thoát nạn và run rẩy không nói ra lời trước cảnh gươm đao súng ống”

    [9, 97]. Điều này càng làm tôn thêm vai trò của lí thuyết hội thoại trong cách nhìn và phân tích một tác phẩm văn chương. Qua đó, thiên tài của Nguyễn Du càng được khẳng định và ngợi ca.

    Thúy Kiều chẳng phải là người không “lịch sự” và không biết cách giao tiếp. Nhưng vì sao Nguyễn Du lại để cho nàng có nhiều tham thoại trong màn báo ơn báo oán này? Thiết nghĩ, việc này cũng bộc lộ nhiều ý nghĩa của nó.

    Xét cuộc thoại trong tiệc mừng Thúc Sinh trở về của Hoạn Thư, trong cuộc thoại này chỉ Hoạn Thư tham thoại. Ngoài việc giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư

    • hai vị thế giao tiếp khác nhau: chủ – tớ, thì người đọc cũng có thể thấy được nỗi lòng đau đớn, phải ngậm đắng nuốt cay khi Kiều không nói lời nào trong cuộc thoại này. Bao nhiêu tủi nhục khi bị Hoạn Thư hành hạ, Kiều có muốn thốt ra lời cũng không được, vì Hoạn Thư ở vị thế giao tiếp cao, luôn hăm dọa và chửi mắng nàng. Vả lại, việc Kiều không có tham thoại nào trong những cuộc thoại khi bị mắng chửi, hành hạ sẽ khiến cho chúng ta hình dung ra những thế lực đen tối chỉ biết đàn áp, ức hiếp phận hồng nhan, thân cô thế cô như Kiều. Kiều chỉ biết nín lặng hoặc nói ít trong những cuộc thoại như thế là vì những lẽ trên. Còn trong cuộc thoại báo ân báo oán thì khi Kiều vừa dứt lời, Hoạn Thư đã ngay lập tức lựa điều kêu ca. Thế nhưng, trong cuộc thoại này, Kiều dù đang ở vị thế giao tiếp cao nhưng nàng không mắng chửi Hoạn Thư một cách sỗ sàng mà thậm chí còn tha bổng cho nàng ta. Như vậy, qua xây dựng cuộc thoại và sự tham thoại của các nhân

    94

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                               Nguyễn Thị Thanh Thủy

    _____________________________________________________________________________________________________________

    vật, Nguyễn Du phải chăng muốn tố cáo bản chất của những con người xấu xa, tàn độc, dựa vào vị thế giao tiếp cao (nhờ quyền lực, tiền bạc,…) ức hiếp người lương thiện, tài hoa như Kiều.

    Nguyễn Du vĩ đại là vì ông đã chú ý đến cả những chi tiết nhỏ như thế.

    Như chúng ta đã biết, trong phiên tòa báo ân báo oán, Kiều luôn giữ vai nói, nàng chủ động khi đối thoại với tất cả mọi người. Chưa một ai dám lên tiếng. Nhưng khi tham thoại của Kiều với Hoạn Thư chấm dứt thì Hoạn Thư đã lên tiếng “lựa điều kêu ca”. Lượt lời của Hoạn Thư bộc lộ tính cách gian – ngoan rất đáo để của nàng ta. Với Hoạn Thư thì việc phải “khấu đầu dưới trướng” vẫn không khiến cho nàng mất bình tĩnh.

    Trong những kẻ có tội đến phiên tòa này để bị báo oán thì chỉ có một mình Hoạn Thư là tên tội phạm dám lên tiếng. Thông qua việc này, ngoài việc người đọc đã một lần nữa chứng kiến sự sắc sảo, thông minh của Hoạn Thư thì còn có thể thấy được bản chất, tính cách và phẩm chất của những tên tội phạm còn lại. Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh trước đây đã từng mắng chửi, dọa nạt Thúy Kiều bằng những lời lẽ “đao to búa lớn”. Việc Nguyễn Du không để cho họ có tham thoại phải chăng cũng thể hiện ước mơ về lẽ phải công lí của nhân dân ta? Họ là những kẻ xấu xa, là cặn bã của xã hội đáng phải xử tội chết thì sẽ chạy tội bằng cách nào đây? Thiết nghĩ, việc Nguyễn Du để cho họ không có tham thoại trong cuộc thoại này là vì những lẽ như thế.

    Trước cảnh máu đổ đầu rơi không một ai dám lên tiếng vì hồn kinh phách rời, chỉ một mình Giác Duyên nói. Tham thoại của Giác Duyên với Kiều chính là lời tiên tri cho khoảng thời gian còn lại trong biến cố 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều. Và qua lượt lời của Giác Duyên, người đọc cũng thấy cả tư tưởng Phật giáo của nhân dân ta, đó là duyên số, là nhân quả trong cõi nhân sinh này:

    Mới hay tiền định chẳng lầm,

    Đã tin điều trước, ắt nhằm việc sau.

    Còn nhiều ân ái với nhau,

    Cơ duyên nào đã hết đâu, vội gì? Giác Duyên là một người tu hành,

    mà người của nhà Phật thì đâu màng gì chuyện được trả ơn sau khi đã ra tay giúp đỡ một ai đó. Hơn nữa, lượt lời của vãi Giác Duyên chính là thể hiện của thuyết nhân quả. Sau cùng, tham thoại của Giác Duyên còn là lời tiên tri cho năm năm còn lại trong cuộc đời lưu lạc của Kiều. Nhìn chung, chỉ với hai cặp câu lục bát khi tham thoại, vãi Giác Duyên đã cho người đọc thấy rõ tính cách, những nghĩ suy của mình. Đó là một người điềm đạm, sâu sắc và nhân hậu.

    Như vậy, qua việc khảo sát quy tắc điều hành luân phiên lượt lời trong cuộc thoại báo ân báo oán ta thấy được ước mơ công lí của Nguyễn Du (Kiều là chủ tọa phiên tòa và có quyền quyết định cuộc giao tiếp với tham thoại dài hơn những nhân vật khác), bộc lộ rõ hơn bản chất, tính cách của các nhân vật (Kiều thì ân oán phân minh, Hoạn Thư khôn ngoan sắc sảo, Thúc Sinh hèn nhát, ích kỉ, vãi Giác Duyên hiền lành, bọn buôn thịt bán người thì đê hèn, xấu xa,…). Qua đó, tài

    95

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                     Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    năng của Nguyễn Du càng được khẳng định.

    2.3. Quy tắc điều hành nội dung hội thoại trong Truyện Kiều

    2.3.1. Nguyên tắc cộng tác trong các cuộc thoại của Truyện Kiều

    Chúng ta hãy xem lại lượt lời của Hoạn Thư trong phiên tòa báo ân báo oán. Rõ ràng lượt lời của Hoạn Thư còn dài hơn lượt lời đe dọa mà Kiều đã thực hiện với nàng. Những thông tin mà Hoạn Thư cung cấp không phải là Kiều không biết:

    Thứ nhất: “Tôi chút dạ đàn bà; Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”. Hoạn Thư đã đưa ra một lí lẽ thật hiển nhiên, thật bình thường trong cuộc sống: đã là đàn bà thì phải ghen. Ca dao xưa từng có câu: “Ớt nào là ớt chẳng cay; Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng”. “Có lẽ không chỉ tôi mà cả cô cũng phải biết chứ !”.

    Thứ hai: “Nghĩ cho khi các viết kinh”. Hoạn Thư đã nhắc lại việc đã giúp đỡ Kiều. Khi xưa Kiều là thân phận nô tì, đáng lí ra Kiều phải hầu hạ làm đúng bổn phận của mình nhưng Hoạn Thư đã cho Kiều ra Quan Âm các tu hành, chẳng phải nhàn hạ hơn hay sao? “Và tôi, phần thiệt hại đã về tôi đấy chứ !”.

    Thứ ba: “Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”. “Cô bỏ đi lấy theo chuông vàng khánh bạc, tôi cũng chẳng đuổi theo. Đấy là tôi đã thương tình và ngầm giúp đỡ cô rồi !”.

    Thứ tư: “Lòng riêng riêng cũng kính yêu” Hoạn Thư đã khéo léo nhắc lại rằng nàng cũng kính yêu và trân trọng tài năng của Kiều: “Giá này dẫu đúc nhà

    vàng cũng nên” và “Nghìn vàng cũng thật nên mua lấy tài”.

    Thứ năm: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Kiều cũng là vợ lẽ Thúc Sinh, tức là cũng từng sống trong cảnh chồng chung. Dĩ nhiên, Kiều cũng phải hiểu tâm lí và những nghĩ suy của người chịu cảnh chồng chung: không thể chia sẻ tình yêu thương được.

    Đó là những lẽ thường, Kiều không thể không biết. Vậy mà Hoạn Thư vẫn nói lại. Như vậy, phải chăng Hoạn Thư đã vi phạm phương châm về lượng (cung cấp một lượng thông tin lớn hơn đòi hỏi của Kiều)? Như đã nói, bất kì sự vi phạm phương châm nào cũng tạo ra hàm ngôn. Hoạn Thư đã khéo léo đưa cuộc thoại đến đích mà nàng đã định sẵn: biện minh để chạy tội. Và sự vi phạm phương châm về lượng của Hoạn Thư đã đạt được kết quả (hay nói khác đi là Hoạn Thư đã đạt đích giao tiếp mà mình đặt ra) khiến Kiều băn khoăn “Tha ra thì cũng may đời; Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen” và quyết định tha bổng cho Hoạn Thư: “Truyền quân xuống lệnh trướng tiền tha ngay”.

    Trong một thoại trường đặc biệt, có tính chất trang nghiêm với “nghiêm quân, tuyển tướng”, với “gươm lớn, giáo dài”, Hoạn Thư vẫn là Hoạn Thư. Nàng không hề đánh mất bản lĩnh của mình. Mặc dù lúc này Hoạn Thư và Thúy Kiều ở hai vị thế giao tiếp cao – thấp khác nhau nhưng Hoạn Thư vẫn tham thoại. Thậm chí nàng còn khéo léo (cố tình) vi phạm phương châm về lượng trong tham thoại của mình để chạy tội. Chỉ bấy nhiêu thôi ta cũng đủ thấy Hoạn Thư là một người phụ nữ thật đáo để. Dù trong bất kì hoàn cảnh giao

    96

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                               Nguyễn Thị Thanh Thủy

    _____________________________________________________________________________________________________________

    tiếp nào cũng vẫn giữ được bản lĩnh của mình. Thế nên, chàng Thúc mới phải “ra người bó tay”.

    Không phải bất kì một sự vi phạm phương châm về lượng nào cũng cho thấy nhân vật hội thoại không biết cách giao tiếp. Như Thúy Kiều và Hoạn Thư chẳng hạn, hai người có phải là những người tầm thường, hời hợt đâu? Cả hai đều rất ý tứ, rất sâu sắc khi phạm phương châm về lượng.

    2.3.2. Lí thuyết quan yếu trong một số cuộc thoại của Truyện Kiều

    2.3.2.1. Lí thuyết quan yếu trong đoạn báo ơn báo oán

    Mặc dù tham thoại của Hoạn Thư trong phiên tòa báo ân báo oán đã được khảo sát ở nhiều bình diện nhưng người viết nhận thấy vẫn còn có thể khảo sát tham thoại này ở một số phương diện của lí thuyết quan yếu: quan yếu về hứng thú (phát ngôn được xem là quan yếu khi những thông tin mà nó cung cấp có một hứng thú, gây được một sự quan tâm nào đó với người nghe), quan yếu về ngữ dụng (phát ngôn quan yếu về ngữ dụng khi nó có những hệ quả đối với hành động, cách xử sự của những người tham gia hội thoại), quan yếu về lập luận (phát ngôn có thể làm cơ sở để người nghe rút ra được những suy ý làm thay đổi hiểu biết tín điều của mình, hoặc để dẫn tới một lập luận nào đó cho dù phát ngôn có lượng tin hay không).

    Rằng: “Tôi chút dạ đàn bà,

    Ghen tuông thì cũng người ta thường tình !

    Nghĩ cho khi các viết kinh,

    Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng

    theo.

    Lòng riêng, riêng cũng kính yêu,

    Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

    Trót lòng gây việc chông gai,

    Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”

    Phát ngôn của Hoạn Thư quan yếu về ngữ dụng bởi nó tạo ra hệ quả đối với hành động xử sự của Kiều. Kiều đã phải “truyền quân xuống lệnh trướng tiền tha ngay” sau khi Hoạn Thư tham thoại. Như vậy, phát ngôn của Hoạn Thư đã tạo ra hệ quả đối với cách xử sự của Kiều. Từ việc dự định trừng phạt Hoạn Thư, Kiều đã quyết định tha bổng nàng tiểu thư họ Hoạn.

    Phát ngôn của Hoạn Thư cũng quan yếu cả về lập luận, bởi phát ngôn của Hoạn Thư đã đưa ra 6 luận cứ:

    Thứ nhất, “Sự ghen tuông cũng là những lẽ thường của phận đàn bà. Cả tôi và cô đều là đàn bà nên dĩ nhiên cô cũng sẽ hiểu cho nỗi lòng của tôi chứ!”.

    Thứ hai, “Tôi đã cho cô ra các viết kinh. Nghĩa là tôi đã nhận phần thiệt hại về mình. Cô là người hầu nhưng tôi không để cho cô làm việc nhà, cô không phải hầu hạ phục vụ tôi mà còn được tự do tu hành, tụng kinh niệm Phật. Như vậy là tôi đã giúp cho cô rất nhiều rồi”.

    Thứ ba, “Tôi đã không đuổi theo cô khi cô “dứt tình” ra khỏi cửa với chuông vàng khánh bạc. Rõ ràng, tôi vừa mất của, vừa mất người nhưng tôi vẫn không xót của mà bắt cô ở lại tiếp tục làm thân phận tôi đòi”.

    Thứ tư, “Tôi cũng biết tài năng của cô và rất trân trọng tài năng của cô. Như

    97

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                     Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    vậy, tôi cũng xứng đáng là tri âm tri kỉ của cô rồi”.

    Thứ năm, “Cô cũng đã từng chịu cảnh chồng chung. Dĩ nhiên là cô cũng phải hiểu cho tâm trạng của tôi chứ”.

    Thứ sáu, “Tôi đã trót gây ra việc chông gai, nay tôi đã ăn năn, hối hận về những việc đã gây ra” (khi Hoạn Thư nói “trót” nghĩa là đã hàm ý diễn tả thái độ hối hận của mình).

    Vì Hoạn Thư hiểu Kiều cho nên cô đã nêu ra những luận cứ quan trọng để hỗ trợ cho lập luận của mình, mặc dù chúng ta biết rằng Hoạn Thư để cho Kiều ra Quan Âm các viết kinh là nhằm mục đích cách li Thúc Sinh và Thúy Kiều. Và khi Kiều ra đi thì Hoạn Thư rõ ràng chẳng cần phải nơm nớp lo sợ Thúc Sinh và Thúy Kiều lại đến với nhau thì tội gì mà Hoạn Thư lại đuổi theo bắt về. Như vậy, những việc làm đó trước tiên là có lợi ích thiết thân cho Hoạn Thư trước đấy chứ! Nhưng Hoạn Thư vẫn khéo léo sử dụng nó như một trong những luận cứ chắc chắn nhất cho lập luận của mình. Để từ đó, Kiều đã phải băn khoăn là nên tha hay không tha cho Hoạn Thư. Việc Kiều đem Hoạn Thư là tên tội phạm phải tra xét trước thì ta hiểu Kiều muốn xử tội Hoạn Thư. Nhưng sau khi tham thoại của Hoạn Thư chấm dứt, Kiều đã phải băn khoăn suy xét lại. Như vậy, tham thoại của Hoạn Thư đã quan yếu về lập luận vì làm cho Thúy Kiều thay đổi dự tính ban đầu của mình. Bởi vì, nếu không tha cho Hoạn Thư thì Kiều sẽ là người nhỏ nhen (mà mọi người sẽ dễ dàng nhận thấy). Còn nếu tha cho Hoạn Thư thì chỉ sẽ trái với dự tính trừng phạt Hoạn của Kiều mà

    thôi (mà điều này thì chỉ có mình Kiều biết).

    Phát ngôn của Hoạn Thư không chỉ quan yếu về ngữ dụng, quan yếu về lập luận mà còn quan yếu về cả hứng thú nữa. Rõ ràng, Kiều đã rất quan tâm tới những thông tin này nên nàng đã cân nhắc: “Tha ra thì cũng may đời; Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”.

    Chỉ với một phát ngôn mà Hoạn Thư đã thực hiện được nhiều sự quan yếu đến thế. Như vậy, độc giả sẽ càng thấy rõ hơn tính cách đáo để, sâu sắc của Hoạn Thư. Một người có thể vận dụng cùng một lúc và linh hoạt nhiều quy tắc hội thoại thì sẽ dễ dàng thành công trong giao tiếp. Và Hoạn Thư là một người như thế. 2.3.2.2. Lí thuyết quan yếu trong đoạn Kiều khuyên Từ Hải

    Có thể nói lời khuyên Từ Hải ra hàng của Kiều cũng là một phát ngôn có tính quan yếu cao.

    Thoại trường của cuộc thoại mở ra khi Kiều và Từ Hải đều băn khoăn, trăn trở về tương lai. Từ Hải đã từng nghĩ đến cảnh về với triều đình:

    Bó thân về với triều đình

    Hàng thần lơ láo, phận mình ra

    đâu?

    Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? Và quyết định “Sao bằng riêng một

    biên thùy”. Còn Thúy Kiều:

    Nghĩ mình mặt nước cánh bèo;

    Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.

    Bằng nay chịu tiếng vương thần, Thênh thênh đường cái thanh vân

    hẹp gì?

     

    98

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                               Nguyễn Thị Thanh Thủy

    _____________________________________________________________________________________________________________

    Chính vì hai người có hai đích giao tiếp khác nhau như thế nên phát ngôn của Thúy Kiều phải quan yếu về nhiều phương diện cùng một lúc để đạt được đích giao tiếp do mình đặt ra.

    Phát ngôn của Kiều có tính quan yếu về ngữ dụng khi nó có hệ quả đối với hành động, cách xử sự của Từ Hải “Thế công Từ mới trở ra thế hàng”.

    Phát ngôn của Thúy Kiều có nhiều lí lẽ để phục vụ cho lập luận của nàng :

    Thứ nhất, “Ân đức của nhà vua cao như trời biển. Nhà vua luôn chăm lo cho dân cho nước. Như vậy, nhà vua cũng đáng để cho chàng kính nể lắm chứ!”

    Thứ hai, “Từ ngày chàng dựng cờ khởi nghĩa, mở riêng một cõi biên thùy thì làm sao tránh khỏi đầu rơi máu chảy. Vả lại, từ xưa đến nay nào có ai khen những tướng giặc dựng cờ khởi nghĩa chống lại triều đình đâu”.

    Thứ ba, “Nếu chàng về với triều đình thì chẳng những tài năng của chàng được trọng dụng mà thiếp cũng được hưởng phú quý cùng chàng. Đó là một tương lai ổn định và chắc chắn đấy chứ”.

    Kiều đã đưa ra 3 luận cứ để phục vụ cho lập luận của mình. Chính những luận cứ mà Kiều đưa ra là cơ sở để cho Từ phải đắn đo suy nghĩ và cuối cùng đi đến quyết định: “Thế công Từ mới trở ra thế hàng”.

    Phát ngôn này của Kiều cũng quan yếu về hứng thú. Nói thế bởi vì nó tạo được sự quan tâm đối với người nghe là Từ Hải. Tuy không có tham thoại trong cuộc thoại này nhưng Từ vẫn tích cực tham gia vào cuộc thoại đấy chứ! Bằng chứng là Nguyễn Du đã để cho Từ Hải có

    nhận xét về tham thoại của Kiều: “Nghe lời nàng nói mặn mà”.

    Tóm lại, phát ngôn Thúy Kiều khuyên Từ Hải ra hàng rất phù hợp với ngữ cảnh, nghĩa là có tính quan yếu cao. Nguyễn Du đã dày công xây dựng và tạo ra một hình tượng mang tính lí tưởng cao cả, đẹp đẽ nhất trong xã hội phong kiến. Nhưng xã hội phong kiến vào thời kì mục nát ấy không thể dung chứa một tính cách đẹp đẽ, lớn lao như Từ. Bên cạnh đó, do thế giới quan và thời đại, Nguyễn Du không thể đi xa hơn. Để khuyên được anh hùng Từ Hải thì nhất định đó phải là một người khéo léo. Quả vậy, việc làm cho phát ngôn của mình phù hợp với ngữ cảnh, đánh vào đúng tâm lí của Từ Hải và có sức thuyết phục cao, Kiều xứng đáng để được ngợi khen là một người phụ nữ khôn ngoan, sắc sảo.

    2.4. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự của các cuộc thoại trong Truyện Kiều

    2.4.1. Quy tắc lịch sự của R. Lakoff và Leech trong Truyện Kiều

    1. Lakoff nêu ra ba quy tắc lịch sự. Trong đó, quy tắc thứ nhất (quy tắc lịch sự quy thức) và quy tắc thứ ba (quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè) là hai quy tắc bị phạm nhiều và được thể hiện rõ qua các cuộc thoại của Truyện Kiều.

    Quy tắc lịch sự quy thức quy định người có vị thế giao tiếp cao không được áp đặt đối với người có vị thế giao tiếp thấp bằng các hành động ngôn ngữ. Nhưng Tú Bà, Hoạn bà, Hoạn Thư, Sở Khanh… luôn mắng chửi và áp đặt Kiều.

    Mụ Tú Bà bỏ tiền ra mua Kiều về. Mụ biết và xác định trên trục quyền uy

    99

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                     Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    mình có vị thế giao tiếp cao và Kiều chỉ là một món hàng nên có vị thế giao tiếp thấp. Khi mắng chửi Kiều là mụ đã không tôn trọng thể diện của người có vị thế giao tiếp thấp hơn mình. Do vậy, mụ đã đẩy khoảng cách của mụ và Thúy Kiều về cực xa lạ qua đoạn thoại này. Tương tự Tú Bà còn phải kể đến Sở Khanh, Hoạn bà với sự vi phạm trắng trợn quy tắc này khi đe dọa và mắng chửi Kiều (xem các cuộc thoại từ câu 1170 đến câu 1184 và cuộc thoại từ câu 1728 đến câu 1736). Do quy tắc thứ nhất bị vi phạm nên quy tắc thứ ba (quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè) sẽ không còn nữa. Chính bọn chúng đã đẩy một cô gái ngây thơ như Kiều đến sự cô đơn, bơ vơ tột đỉnh. Cả một bọn người vô tâm, độc ác.

    Hoạn Thư cũng đã không tuân thủ những quy tắc này. Cuộc thoại trong tiệc mừng Thúc Sinh trở về giữa Hoạn Thư và Thúc Sinh đã thể hiện rõ điều đó. Hoạn Thư đã khéo léo sắp đặt cho Thúy Kiều và Thúc Sinh gặp nhau trong một hoàn cảnh dở khóc dở cười: “Làm ra con

    • chúa nhà đôi nơi!”. Từ đây trở đi, cả ba người (Thúy Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh) đã biết nhau tận tường. Đó là xét về quan hệ bên trong, còn quan hệ bên ngoài thì Hoạn Thư vờ như chưa biết Kiều và Thúc dan díu với nhau, Thúc Sinh làm ra vẻ không biết Kiều, còn Kiều cũng làm như không quen Thúc. Đau đớn nhất cho Kiều là phải gặp lại Thúc lang trong thân phận một Hoa nô. Thoại trường là bữa tiệc giữa hai vợ chồng được Hoạn Thư khéo léo sắp đặt. Trong cuộc thoại chỉ có ba lượt lời của Hoạn Thư. Khi mới bước vào bữa tiệc, Thúc Sinh chỉ có một lượt

    lời duy nhất để che đậy cho sự ngỡ ngàng khi gặp Kiều. Riêng Thúy Kiều thì không có tham thoại. Các hành động ngôn ngữ của Hoạn Thư là dọa nạt, thét mắng Thúy Kiều bằng các ngôn từ thô lỗ, suồng sã như: “Con Hoa”, “ăn đòn”, “ngươi”, “ta”,… Hoạn Thư hô gọi bằng “con” và xưng “ta” một cách sỗ sàng ngạo mạn. Hoạn Thư thực hiện mệnh lệnh bằng các hành động ngôn ngữ rất tỉnh táo, minh mẫn. Ngược lại, các hành động phi ngôn ngữ của Hoạn Thư: “Cười nói tỉnh say”, “chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi” lại cố tình làm cho mọi người lầm tưởng là nàng đang lẫn lộn tỉnh say, không thể bắt bẻ nàng được. Do vậy, Hoạn Thư cay nghiệt, độc ác, khác người là ở chỗ đó.

    2.4.2. Chiến lược lịch sự trong Truyện Kiều

    Chúng ta hãy lắng nghe cuộc thoại giữa Kim Trọng và Thúy Kiều trong vườn Thúy. Trước khi về nhà lấy “Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông” thì Kim Trọng đã dùng chiến lược lịch sự âm tính để Kiều chấp nhận ở lại và nghe những lời bày tỏ nỗi lòng của chàng Kim:

    Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là

    Khi Kim Trọng ngỏ lời nhờ (đề nghị) Kiều “dừng chân” lại có nghĩa là chàng đã đe dọa vào thể diện âm tính (nhu cầu được độc lập, không muốn bị can thiệp, mong muốn được hành động tự do theo cách mình đã lựa chọn) của Thúy Kiều. Nhưng Kim Trọng đã khéo léo dùng lối nói giảm nhẹ hiệu lực FTA (Face Threatening Acts – hành động đe dọa thể diện) của hành động ở lời đối với Thúy Kiều. Đó là Kim Trọng đã sử dụng

    100

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                               Nguyễn Thị Thanh Thủy

    _____________________________________________________________________________________________________________

    biện pháp dịu hóa với cách giảm thiểu hiệu quả xấu bằng từ “chút”, “gọi là”.

    Như vậy, bằng cách khảo sát cách thực hiện chiến lược lịch sự âm tính của Kim Trọng, người đọc sẽ càng thấy rõ hơn tính cách của người mà Nguyễn Du đã từng giới thiệu: “Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”.

    Cách bày tỏ lối nói trắng rằng mình mang ơn đối tác hoặc nói trắng rằng đối tác không phải chịu ơn mình vì sự giúp đỡ của mình cũng là một biểu hiện của chiến lược lịch sự âm tính. Kiều đã tạ ơn Từ Hải sau khi chàng đã lập phiên tòa báo ân báo oán để cho nàng thỏa được nỗi lòng phải đeo mang bấy lâu. Cuộc thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều từ câu 2421 đến câu 2436 cho ta thấy rõ chiến lược lịch sự mà Kiều và Từ Hải đã vận dụng.

    Kiều bày tỏ một cách chân thành, thẳng thắn rằng Kiều biết ơn Từ Hải. Vì chàng đã giúp Kiều giải tỏa được nỗi lòng của mình. Lời bày tỏ của Kiều đã hướng vào thể diện âm tính của Từ Hải. Lời cảm ơn của Kiều đã bù đắp, giảm nhẹ hiệu lực của FTA mà nàng đã thực hiện đối với Từ Hải. Đó là việc nhờ Từ Hải mà nàng đã cất được nỗi lòng canh cánh bấy lâu nay. Còn Từ Hải, một người anh hùng “dẫu thấy bất bằng mà tha” thì xem việc đó như là một lẽ thường, không cần phải tạ ơn. Từ việc khảo sát chiến lược lịch sự âm tính của Kiều và Từ Hải, người đọc có thể thấy rõ hơn tính cách của cả hai người. Thúy Kiều vẫn là một người phụ nữ nề nếp, có lễ nghĩa. Qua cuộc thoại này, ta thấy Từ Hải không chỉ là anh hùng biết “động lòng bốn phương”

    mà chàng còn biết quan tâm đến những sự việc nhân nghĩa, bình dị trong đời thường. Từ đó, độc giả cảm nhận hình tượng Từ Hải mà Nguyễn Du xây dựng gần gũi hơn, sống động hơn, và sức sống của hình tượng nhân vật Từ Hải trong lòng độc giả vững bền hơn. Vì thế, người ta không xem Từ Hải là một “tướng giặc” với đúng nghĩa của từ này. Qua hội thoại, rõ ràng người đọc sẽ nhận thấy, khám phá những nét đẹp trong tính cách của nhân vật một cách sâu hơn, đúng đắn hơn và toàn diện hơn.

    Nói về chiến lược lịch sự trong giao tiếp của các nhân vật trong Truyện Kiều thì hình như Hoạn Thư là một người khôn ngoan, khéo léo nhất. Trong màn báo ơn báo oán, Hoạn Thư đã sử dụng chiến lược lịch sự trong tham thoại của mình khi đối thoại với Thúy Kiều. Hoạn Thư đã tự đe dọa thể diện dương tính và cả thể diện âm tính của mình. Tự nhận mình là một người ích kỉ (Tôi chút dạ đàn bà) và thú nhận mình đã hành động sai lầm (Trót lòng gây việc chông gai), Hoạn Thư đã tự ăn năn, hối hận, khơi gợi một sự liên thông giữa Kiều và mình trong đối thoại. Bên cạnh đó, Hoạn Thư còn khéo léo tôn vinh thể diện dương tính của Thúy Kiều bằng cách tạo lập sự thân tình, rút ngắn khoảng cách giữa hai người để đi đến sự thành công trong giao tiếp:

    Trót lòng gây việc chông gai,

    Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?

    Hoạn Thư đã nói quá sự tán dương, thiện cảm của mình đối với đối tác bằng lối hô gọi tôn vinh thể diện Thúy Kiều “lượng bể”. Hoạn Thư cũng nói lên sự

    101

    Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM                                                                     Số 32 năm 2011

    _____________________________________________________________________________________________________________

    thiện cảm của mình đối với Thúy Kiều qua tham thoại:

    Lòng riêng riêng cũng kính yêu

    Hoạn Thư rõ ràng rất hiểu tâm lí của Thúy Kiều. Hơn nữa, trong giao tiếp, Hoạn Thư đã khéo léo tránh sự bất đồng giữa hai người để chạy tội bằng cách sử dụng hàng loạt chiến lược giao tiếp. Từ đó, bản lĩnh và tính cách của Hoạn Thư ngày càng được khẳng định. Độc giả từ bao đời nay đều nể sợ một tính cách có một không hai như Hoạn Thư.

    1. Kết luận

     

    Các cuộc thoại trong Truyện Kiều

    đã được nhìn dưới một góc độ mới – góc độ hội thoại, đặc biệt là các quy tắc hội thoại. Những quy tắc hội thoại đã được làm rõ trong một số cuộc thoại quan trọng của Truyện Kiều. Từ đó, người viết rút ra được rất nhiều ý nghĩa. Đầu tiên, thái độ, trình độ văn hóa, cách cư xử của các nhân vật được bộc lộ rõ hơn. Do vậy, cái nhìn về nhân vật được sâu sắc hơn, đa

    diện hơn, nhiều chiều hơn. Các nhân vật sẽ gần gũi hơn và sinh động hơn qua hội thoại, qua lời ăn tiếng nói của mình, vì giao tiếp cũng là một cách bộc lộ mình. Điều thứ hai, ta có thể thấy rõ ràng tư tưởng, quan niệm của Nguyễn Du, vì Nguyễn Du chính là người có quyền quyết định để cho nhân vật nào phát ngôn, nói như thế nào, nói cái gì… trong một cuộc thoại cụ thể. Như vậy, qua nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát các quy tắc hội thoại trong Truyện Kiều, cái nhìn về nhân vật, về tác giả được đặt dưới một góc độ khác. Từ góc độ đó, tư tưởng tác giả, tính cách, nhân phẩm của nhân vật được nhìn nhận một cách toàn diện hơn. Do vậy, sức sống của nhân vật, cũng như Truyện Kiều và Nguyễn Du lâu bền hơn trong lòng độc giả. Đề tài này cũng là một hướng ứng dụng Ngôn ngữ học để tìm hiểu, làm rõ một tác phẩm văn chương cụ thể.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Đào Duy Anh (1989), Từ điển Truyện Kiều, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
    1. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 “Ngữ dụng học”, Nxb Giáo dục.
    2. Nguyễn Đức Dân (2001), Ngữ dụng học, tập 1, tái bản lần 2, Nxb Giáo dục.
    1. Trịnh Bá Đĩnh (tuyển chọn, giới thiệu) (2002), Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, tái bản lần 3, Nxb Giáo dục.
    2. Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (2002), Truyện Kiều – Nguyễn Du, Nxb Đà Nẵng.
    1. Đặng Thanh Lê (2002), Giảng văn Truyện Kiều, tái bản lần 5, Nxb Giáo dục.
    1. Phạm Đan Quế (2002), Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều, Nxb Giáo dục.
    2. Vũ Tiến Quỳnh (1995), Nguyễn Du, tái bản lần 1, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh.
    1. Trần Đình Sử (2002), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục.
    1. Lê Thu Yến (chủ biên) (2001), Văn học trung đại Việt Nam – những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục.

    (Ngày Tòa soạn nhận được bài: 31-8-2011; ngày chấp nhận đăng: 12-9-2011)

     

    102

  • Văn mẫu Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều

    Văn mẫu Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều

    Văn mẫu Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần1


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều

    KIẾN THỨC LỚP 9

     

    Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và “Truyện Kiều”

    BÀI LÀM

    Nguyễn Du-thiên tài văn học Dân tộc,là nhà văn tài hoa nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam.Nhắc đến ông ta không thể không nhắc đến “Truyện Kiều “-một kiệt tác nghệ thuật của nền văn học nuóc nhà.

    Nguyễn Du sống ỏ cuối thế kỉ 18 nủa đầu thế kỉ 19.Đây là giai đoạn lịch sủ đầy bão táp

    và sôi động vói nhũng biến cố lón lao :bộ máy chính quyền suy thoái , trang quyền đoạt

    lọi ,nạn quân Thanh xâm luọc khiến đòi sống nhân dân cục khổ ,điêu đúng .Khắp noi diễn

    ra các cuộc khỏi nghĩa mà tiêu biểu là khỏi nghĩa Lam Son .Tất cả đã tác động mạnh mẽ

    vào nhận thúc và tình cảm của Nguyễn Du để ông huóng ngòi bút của mình phản ánh

    “nhũng điều trông thấy mà đau đón lòng”

    Sinh ra và lón lên trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và văn chuong,đó là điều may mắn cho Nguyễn Du .Cha là Nguyễn Ngiễm tùng là tể tuóng,anh trai là Nguyễn Khảm làm quan to duói triều Lê .Chính gia đìng là cái nôi nghệ thuật để uom nên mầm xanh tài năng của ông.

    Mặc dù thi đỗ nhung ông có 10 măm phiêu bạt trên đất Bắc (1786 đến 1796).sau đó ông về ản tại làng Tiên Điền (năm 1796 đến năm 1802).Ông đã chúng kiến nhiều cuộc đòi số phận bất hạnh của nông dân .Vì vậy cho Nguyễn Du một vốn sống ,vốn hiểu biết phong phú tạo tiền đề để ông sáng tác nên “Truyện Kiều”sau này

    Nguyễn Du không còn nhung sụ nghiệp sáng tác đồ sộ của ông cùng tập “đại hành ngôn

    ngũ Dân Tộc Truyện Kiều” sống mãi trong lòng bạn đọc hôm nay,mai sau và mãi mãi

    Thuyết minh Nguyễn Du

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều.

    Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1866 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ.

    Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.

    Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người. Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

    Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.

    Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra

    rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân./.

    Nguyễn Du và kiệt tác truyện Kiều

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều.

    Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1866 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ.

    Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.

    Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô

    gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người. Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

    Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.

    Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của

    bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân./. .

  • Văn mẫu  NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần1

    Văn mẫu NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần1

    Văn mẫu NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần1

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du- điển cổ trong truyện kiều


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần1

    KIẾN THỨC LỚP 9

    NỘI DUNG XÃ HỘI “TRUYỆN KIỀU”-phần1

    BÀI LÀM

    Tính chất, tác dụng chống phong kiến là giá trị nhân đạo của Truyện Kiều. Nhưng tính chất và tác dụng đó bắt nguồn từ đâu, thực hiện lập trường nào và đạt được mức độ nào? Giải quyết vấn đề này là quy định thái độ thông cảm, nhận định phần đóng góp thực sự của thơ Nguyễn Du trong công cuộc đấu tranh của chúng ta bây giờ.

    Tính chất và tác dụng chống phong kiến căn cứ vào nội dung xã

    hội được diễn tả. Nội dung xã hội không phải chỉ là những sự việc

    được kể, nhưng là nội dung mâu thuẫn, ý nghĩa của những sự

    việc ấy đối với cuộc đấu tranh giai cấp đương thời, ý nghĩa đó thể

    hiện trong cách trình bày của tác giả, trong nghệ thuật văn

    chương.

    Đây là điểm căn bản định nghĩa tính chất sáng tạo trong Truyện Kiều. Sở dĩ Nguyễn Du, tuy chỉ kể lại những sự việc đã có trong cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân, mà lại tạo ra được

    một trước tác hoàn toàn mới, đó không phải chỉ là do nghệ thuật

    thi văn, nhưng căn bản là do nội dung xã hội, rất lù mờ và lệch

    lạc trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà

    được nổi bật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Vai trò nàng

    Kiều trong cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân là vai trò

    một cô gái tài sắc rất mực, nhưng tính tình khá tầm thường, thậm

    chí đôi khi lại có những cử chỉ sỗ sàng. Do đấy nội dung mâu

    thuẫn giữa tài và mệnh rất là nông nổi, không bộc lộ thực chất bất

    công, vô nhân đạo của chế độ xã hội đương thời. Trái lại trong

    Truyện Kiều của Nguyễn Du, Kiều là một điển hình lý tưởng, đủ

    đức lẫn tài, giữ được phẩm giá cao quý, tinh thần trong sạch

    trong những hoàn cảnh hết sức nhục nhã. Đây, mâu thuẫn giữa

    lý tưởng và thực tế được diễn tả một cách thấm thía, làm cho

    chúng ta cảm thấy những mâu thuẫn thực tại chia xé xã hội

    phong kiến suy đồi, những mâu thuẫn ấy không thể nào giải

    quyết một cách khác hơn là bằng mộc cuộc khởi nghĩa của nông

    dân. Những sự việc nói chung thì đã được kể trong Thanh Tâm

    Tài Nhân, nhưng chỉ có trong Nguyễn Du nó mới mang được một

    • nghĩa sâu sắc. Đó là nội dung chân chính mà Nguyễn Du đã sáng tạo, phản ánh thực tại tiến hoá của xã hội Việt Nam đời Lê mạt – Nguyễn sơ. Cảm hứng chủ đạo của thi sĩ là nhằm nội dung ấy, mà cũng chính do đấy mà đạt được một hình thức văn nghệ

    tuyệt diệu. Giá trị chân lý, tính chất và tác dụng chống phong kiến của Truyện Kiều xuất phát từ nội dung cùng với hình thức phản ánh thực chất của xã hội phong kiến trong quá trình đấu tranh và tiến hoá của nó. Vấn đề lập trường và mức độ chống phong kiến là vấn đề lập trường và mức độ phản ánh thực tế khách quan ấy.

    I – Tài, Mệnh và Tình

    Gia đình viên ngoại họ Vương thuộc về thành phần trung gian trong xã hội phong kiến. Kiều đã được luyện tập trong mọi nghề phong lưu: thi, hoạ, ca, nhạc. Nhưng phương thức sinh hoạt còn giản dị: ngày hội Đạp Thanh, ba chị em “bộ hành chơi xuân”, trong khi bọn giàu có thì “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”.

    Thậm chí phụ nữ trong nhà còn có phần tham gia lao động, và

    hôm bọn sai nha đến cướp phá thì chúng đã làm “Rụng rời khung

    cửi, tan tành gói may”. Tuy nhiên, trước ngày sa sút, không ai

    trong gia đình phải sản xuất để sinh sống, vậy họ Vương chắc

    cũng có ruộng phát canh, nhưng phần này không thể có nhiều, vì

    đến lúc có việc lễ quan, thì không thấy đặt vấn đề bán ruộng và

    sau đấy cả nhà lại tìm cách sinh nhai trong nghề thủ công: “Thuê

    may bán viết, kiếm ăn lần hồi”. Chúng ta có thể nhận định: Kiều

    xuất thân ở tầng lớp tiểu phong kiến, có thể là vào hạng dưới.

    Đối với những tầng lớp trung gian dưới chế độ phong kiến suy đồi, từ thương nhân, chủ thủ công đến thừa lại, tiểu địa chủ [1], mâu thuẫn giữa tài và mệnh xuất phát từ kinh nghiệm thực tế xã hội. Họ có phương tiện để rèn luyện cá nhân, xây dựng tài năng, nhưng lại không được sử dụng cái tài năng ấy một cách xứng đáng, vì bị bọn quý tộc, quan liêu đàn áp, có khi biến cái tài năng ấy thành một cái tai vạ. Ví dụ như một trong những lý do cản trở sự phát triển của những nghề thủ công, là những chủ thợ giỏi

    thường phải giấu nghề và trốn tránh để khỏi bị bắt đi làm cho nhà nước phong kiến với một chế độ bán nô lệ. Tiểu phong kiến thì là một tầng lớp trong giai cấp phong kiến, tức là trong giai cấp thống trị nói chung, nhưng bản thân họ lại không ở cương vị thống trị.

    Đứng về mặt ngôi thứ trong toàn bộ xã hội, họ cũng chỉ là một thành phần trung gian. Và họ cũng bị những thành phần thống trị, quý tộc quan liêu, đàn áp: bằng chứng chính là những nhà nho bất mãn với thời thế đã đứng ra lãnh đạo những phong trào nông dân khởi nghĩa (Nguyễn Tuyển, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Nhạc, v.v…). Mâu thuẫn giữa tiểu phong kiến và phong kiến thống trị là mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp phong kiến, đồng thời cũng là nơi phản ánh toàn bộ mâu thuẫn của xã hội phong kiến, nơi phân hoá giai cấp phong kiến. Cái bạc mệnh của những phần tử tiểu phong kiến bị đàn áp bắt nguồn từ hoàn cảnh giai cấp. Đối với họ, nó xuất hiện như là một quy luật chung.

    Ở những tầng lớp trung đại phong kiến, cũng có những trường hợp thất bại, nhưng thân phận chung thì tất nhiên vẫn là sung

    sướng. Ví dụ như nếu Kiều sinh trưởng trong một gia đình phú quý thì cũng có thể là nàng bị mắc nạn, nhưng đó lại chỉ có thể coi là một ngoại lệ, vì đã ở thành phần thống trị thì “lời bạc mệnh” không phải là “lời chung” cho phận hồng nhan. Hoạn thư, con nhà đại phong kiến, đã thấy rõ điểm này:

    “Ví chăng có số giàu sang

    Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên”.

    Nhưng vì gia tư họ Vương là “thường thường bậc trung”, chỉ một buổi quấy lộn của bọn sai nha là đủ để làm tan nát, tài hoa của Kiều đã có điều kiện để xây dựng, nhưng lại sẽ làm một mồi hấp dẫn cho bọn thống trị dầy vò và biến thành một công cụ hưởng lạc cho chúng. Cái bạc mệnh này không phải là trường hợp cá biệt, mà là điển hình cho cả một số thành phần quan trọng trong xã hội phong kiến: “Làm gương cho khách hồng quân thử soi”. Tư tưởng tài mệnh tương đố phản ánh trong chủ quan cá nhân tình trạng thực tế của những tầng lớp trung gian bị bọn thống trị

    đe doạ, đàn áp; người nào có phần đặc sắc thì bị lợi dụng một cách vô nhân đạo:

    “Anh hoa phát tiết ra ngoài,

    Nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa”.

    Đây còn là phần giới hạn hẹp hòi của mâu thuẫn giữa tài và mệnh. Nhưng đồng thời nó lại có một ý nghĩa rộng rãi hơn. Vì chính cái số phận bội bạc của những thành phần trung gian chỉ là phản ánh trong phạm vi cục bộ mâu thuẫn chung giữa nhân dân, người sáng tạo ra mọi giá trị chân chính trong lịch sử, và giai cấp thống trị kìm hãm và đàn áp công trình sáng tạo ấy. Cuộc đấu tranh giữa nhân dân và giai cấp thống trị có tính cách cụ thể, trực tiếp và quyết liệt, chứ không phải chỉ là mâu thuẫn xa xôi giữa tài và mệnh. Nhưng sở dĩ những phần tử trung gian có năng lực đạt được tài hoa, tài hoa này cũng có giái trị thực sự, đó là vì họ còn gốc rễ trong quần chúng, được ảnh hưởng của quần chúng, mà cũng vì thế mà họ lại vấp phải chế độ áp bức của bọn thống trị.

    Vậy tư tưởng tài mệnh tương đố, với giới hạn của nó, cũng có

    phần ý nghĩa phổ cập. Trực tiếp thì nó xuất phát từ hoàn cảnh

    của những thành phần trung gian, nhưng nó không đóng khung

    trong những thành phần ấy, vì đồng thời nó cũng phản ánh gián

    tiếp trình trạng chung của nhân dân, vậy phần nào cũng được

    quần chúng thông cảm. Tiếng đàn của Kiều gợi sầu, vì nó bộc lộ

    tâm trạng của tầng lớp tiểu phong kiến bị đe doạ, nhưng đồng

    thời nó cũng nhắc lại những nỗi gian khổ của nhân dân bị áp bức

    bóc lột, và nó là một tiếng kêu phản đối, trong một phạm vi nhất

    định, chế độ phong kiến thống trị. Phạm vi này mới là phạm vi tài

    hoa cá nhân, oán trách bạc mệnh, nhưng vì nội dung mối sầu

    cũng còn có ý nghĩa phổ cập, tiếng đàn đã đạt được một giá trị

    nghệ thuật sâu sắc, làm cho thiên hạ cảm thấy một cách thấm

    thía bản chất bất nhân, bầu không khí nghẹn thở của chế độ xã

    hội đương thời:

    “Khúc nhà tay lựa nên chương

    Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”.

     

  • Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du- điển cổ trong truyện kiều

    Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du- điển cổ trong truyện kiều

    Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du- điển cổ trong truyện kiều

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình phê bình văn học


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du- điển cổ trong truyện kiều

    Kiến thức lớp 10

    Truyện Kiều – Nguyễn Du-phần 3

    NGUYỄN DU DÙNG ĐIỂN CỐ TRONG

    TRUYỆN KIỀU

    Người xưa làm thơ viết văn thường sử dụng điển cố, điển tích. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng sử dụng nhiều điển cố. Vậy Nguyễn Du sử dụng điển cố như thế nào?

    Điển cố trong Truyện Kiều thường được lấy ở nhiều nguồn. Nhưng đậm đặc hơn cả vẫn là trong lịch sử và văn học Trung Quốc. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du, các điển cố ấy trở nên sinh động và hàm súc.

    Trong cảnh đoàn viên ở màn “Tái hồi Kim – Kiều” cuối Truyện

    Kiều, Kim – Kiều gặp nhau sau 15 năm lưu lạc, trong “tiệc hoa

    sum vầy” mà mọi người đều mừng mừng tủi tủi, “tàng tàng chén

    cúc dở say” đó, Thúy Vân đã đứng lên giãi bày: Trước kia, anh và

    chị “hai bên gặp gỡ một lời kết giao”, “trăm năm thề chẳng ôm

    cầm thuyền ai”, trải qua tai biến, bây giờ gặp lại, tuy không được

    như xưa nữa, và dù chị đã lớn tuổi nhưng việc lấy chồng nay vẫn

    còn kịp. Và Thúy Vân đã khuyên:

    Quả mai ba bảy đương vừa

    Đào non sớm liệu xe tơ kịp thời

    Nói “quả mai ba bảy” tức là lấy ý từ Kinh Thi. Bài “Phiếu hữu mai”

    có đoạn: “Phiếu hữu mai kỳ thực thất hề- Phiếu hữu mai kỳ thực

    tam hề- Cầu ngã thứ sĩ- Đãi kỳ kim hề”. Nghĩa là: cây mai đã có

    quả rụng (nói quả là ngụ ý chỉ người con gái), mười phần còn

    bảy. Những chàng trai lành, ai người muốn lấy ta, nên tìm ngày

    tốt mà làm lễ cưới đi thôi. Cây mai đã có quả rụng, mười phần chỉ

    còn ba. Những chàng trai lành ai người muốn lấy ta, ngày hôm nay đến xin làm lễ cưới đi thôi.

    Mục đích cuối cùng của việc dùng điển này, ở trong Truyện Kiều lẫn Kinh Thi, là để đi đến cái việc làm lễ cưới xin, nên vợ nên chồng…

    Cái hay, cái tài của Nguyễn Du là: thuyết phục thì phải dồn dập, phân minh, xác đáng và súc tích. Rõ ràng, Thúy Kiều có ưu thế hơn người phụ nữ kia trong Kinh Thi.

    Chưa hết, câu tiếp lại còn dùng đến “đào non”. Kinh thi có bài

    Đào yên (Cây đào tơ) như sau: “Đào tơ rực rỡ lá hoa. Cô về hòa

    thuận cửa nhà chồng cô. Đào tơ lá tốt rườm rà. Cô về hòa thuận

    người nhà chồng cô”. Người con gái trong Kinh Thi đang mơn

    mởn sức sống, yêu đời, về nhà chồng sống hòa thuận, ấm êm thì

    cũng thường tình. Còn nói Kiều đang độ “đào non” như cô gái

    trong điển trên quả là bạo bút và thần tình. Tuy nhiên, đưa điển

    ấy vào trong lời khuyên của Thúy Vân mới đắt, mới dễ thuyết phục và quả là đã xiêu lòng chị. Chị mà xe tơ với chàng Kim là êm ấm, hòa thuận cho cả gia đình đấy chị ơi!

    Còn đây là cách dùng điển khác của Nguyễn Du. Khi Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm nàng Kiều, thì ôi thôi không thấy nàng đâu cả:

    Trước sau nào thấy bóng người

    Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

    Thôi Hộ đời Đường, tư chất thông minh, phong nhã, nhân tiết Thanh Minh, một mình đi chơi về phái Nam thành đô, thấy một ấp trại, xung quanh trồng hoa đào, Thôi Hộ gõ cửa xin nước uống. Một người con gái mở cổng, hỏi tên họ rồi bưng nước đến. Người con gái đó có sắc đẹp đậm đà và duyên dáng, tình ý dịu dàng và kín đáo. Năm sau, cũng vào tiết Thanh Minh, Thôi Hộ lại

    tìm đến người cũ, thì thấy cửa đóng, then cài, nhân đó mới đề trên cánh cửa bên trái một bài thơ:

    Khứ niên kim nhật thử môn trung

    Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

    Nhân diện bất tri hà xứ khứ?

    Đào hoa y cựu tiếu đông phong

    (Năm ngoái, trong cổng này, mặt người và hoa đào màu hồng ánh lẫn nhau, năm nay, mặt người không biết ở chốn nào, chỉ còn hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ).

    Nguyễn Du đã dùng điển này, và Xuân Diệu đã khen: “Đúng Nguyễn Du là tay thầy, “Chẳng biết mặt người đâu vắng vẻ. Hoa đào như cũ cười gió đông”. Mình chỉ lấy cái tứ “Hoa đào còn nở đó, người đã đi đâu” của người ta, cho nên Nguyễn Du để “Trước sau nào thấy bóng người”, như thế là thanh thoát, thanh nhã.”

    Rõ ràng là trong khi sử dụng điển, Nguyễn Du đã linh hoạt tước

    bỏ đi những chi tiết cụ thể, chỉ lấy cái tứ mà viết nên những câu

    thơ mới lạ, thanh thoát thanh nhã đến như vậy. Câu thơ nhẹ

    nhàng thoắt trước thoắt sau, bay bổng trong không gian vắng

    lặng bóng người, cùng với làn gió từ phương đông thổi tới (chứ

    không phải gió mùa đông lạnh giá, bởi mùa xuân-gió đông-thì hoa

    đào mới nở, trong tiết Thanh Minh mà), là để diễn tả một nỗi lòng

    nặng trĩu, lo âu của chàng Kim khi không gặp Thúy Kiều.

    Nói là dịch thoát cũng được! Nhưng cần phải thấy rằng, đưa điển này vào đây, với câu thơ lục bát, người ta vẫn có thể hiểu được ý tác giả muốn nói gì. Chứ không phải trơ trơ như hai câu thơ trong truyện Nôm Hoa Tiên, diễn tả cùng một ý đó:

    Mừng xuân đào mới ngậm cười

    Vẻ hồng trơ đó mặt người nào đâu

     

    Hoa Tiên cứ bị động khi viết “mặt người nào đâu”, rõ là không thanh, câu thơ nham nhám thô tháp thế nào ấy. “Đào mới ngậm cười” là đào mới nở, hàm tiếu, dùng chữ “trơ” là không hợp, vì không nên buồn người năm ngoái vắng mà thấy hoa đào đến nỗi trơ ra, thì chẳng còn gì là nhân tình nữa.

    Chỉ hai ví dụ trên, ta thấy Nguyễn Du dùng điển như thế nào. Trong Truyện Kiều còn có nhiều chỗ được dùng điển cũng không kém phần linh hoạt và thanh nhã. Điều đó, một phần có được là tài bút của Nguyễn Du. Nhưng điều chắc chắn là ông am hiểu sâu sắc lịch sử và văn hóa Trung Quốc, hiểu rõ cảnh tình của nhân vật một cách sâu sắc, như sống cùng với nhân vật của mình.

    Truyện Kiều là một sự tái tạo lại “điển cố” lớn là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân mà nên. Truyện Kiều toàn mỹ, toàn bích hơn nhiều so với nguyên tác là lẽ đó.

    Đây là cái lý mà Nhữ Bá Sĩ (1788-1867) đã bình luận:

    Kỳ tài diệu bút

    Thanh Tâm viễn quá Thanh Tâm (Với ngòi bút tài năng đặc biệt Thanh Hiên vượt quá Thanh Tâm)

    Thanh Hiên là hiệu của Nguyễn Du. Thanh Tâm là nói đến Thanh Tâm tài nhân vậy.