Author: Nguyễn Huyền

  • Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình phê bình văn học

    Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình phê bình văn học

    Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình phê bình văn học

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu CHỮ MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình phê bình văn học

    KIẾN THỨC LỚP 9

    Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê

    bình phê bình văn học

    BÀI LÀM

    Khi nghe bàn về Truyện Kiều chắc có người nói: “Lại vẫn vấn đề truyện Kiều!”. Sự kiện truyện Kiều luôn luôn giữ được tính cách thời sự không những trong phạm vi văn chương, mà còn cả trong phạm vi văn hoá qua các thế hệ là một bằng chứng nói lên giá trị bất hủ của một tuyệt tác, một thiên tài có sức quyến rũ mãnh liệt.

    Cũng như bất cứ tác phẩm vĩ đại nào, Truyện Kiều là một khu rừng muôn ngả, một vườn hoa muôn màu cửa mở rộng; ai nấy được tự do ra vào để khai thác, thưởng thức, mỗi người đã vào đều muốn tìm ra một lối nhìn bao quát mong lĩnh hội được vẻ đẹp toàn diện của vườn hoa, nhưng khi ra về, vẻ đẹp vẫn còn nguyên vẹn và người du khách đến sau cũng lại mang theo tham vọng nhìn bao quát, rốt cuộc, mỗi người thật ra cũng chỉ nhìn thấy một vài khía cạnh của chân lý toàn diện, nghĩa là đã chỉ đề nghị một lối nhìn nào đó, khám phá được một vài nét mới của vẻ đẹp muôn bề đó

    thôi.

    Bây giờ tôi cũng xin làm một người du khách của vườn hoa đẹp đó. Có lẽ tôi đã đến sau nhiều người, nhưng không hề gì, vì truyện Kiều vẫn còn đó, bất diệt; hơn nữa tôi có nhiều điều kiện thuận lợi hơn những người đi trước vì có thể lợi dụng kinh nghiệm, những lối nhìn của họ để tự tìm cho mình một lối nhìn. Lối nhìn riêng biệt đó dĩ nhiên không bao hàm một giá trị phổ quát, độc nhất, vì có lẽ nó cũng chỉ là một lối nhìn trong nhiều lối nhìn khác. Không ai có quyền bắt ai phải nhìn theo lối của mình vì cửa vườn hoa mở rộng, tự do ra vào; mỗi người phải tự tạo cho mình một lối nhìn tuy có thể đề nghị với người khác để hỏi ý kiến trong tinh thần trao đổi, đối thoại.

    Từ khi Truyện Kiều ra đời, rất nhiều nhà văn học đã tham gia tranh luận, phê bình, góp ý kiến một cách suy nghĩ. Người khen, kẻ chê. Phái ca tụng, phái kết án hoặc về phương diện văn chương, hay luân lý triết lý.

    Nhưng ta tự hỏi: các bậc học giả đó nhân danh cái gì để phê bình lên án hay cổ võ Truyện Kiều? Nói cách khác, thái độ phê bình của các nhà văn học đó đều bao hàm một lập trường phê bình, một lý thuyết phê bình. Vậy những lập trường phê bình đó có ý nghĩa gì, và đặt trên cơ sở nào?

    Trả lời những câu hỏi đó tức là làm công việc phân tích, nhận định về những lối nhìn đã đề nghị về Truyện Kiều đồng thời phê bình văn học nói chung, vì Truyện Kiều là nơi gặp gỡ gần đầy đủ mọi lối phê bình văn học. Công việc nhận định đó sẽ giúp chúng ta những yếu tố xây dựng một lối nhìn mới mẻ về truyện Kiều nói riêng và văn học nói chung.

    *

    Chúng ta có thể xếp tất cả những người, những nhóm đã phê bình Truyện

    Kiều vào hai loại lớn:

    1. Phê bình chủ quan;
    1. Phê bình khách quan.

    Loại phê bình khách quan gồm hai khuynh hướng:

    1. Khuynh hướng phê bình luân lý chia thành hai phái: phái chủ trương
    1. Khuynh hướng phê bình khoa học chia thành những phái phê bình giáo khoa, phê bình bằng xã hội học hay tâm lý học.

    Chúng ta lần lượt khảo sát qua những khuynh hướng trên.

    Phê bình chủ quan

    Gồm những người như Đào Duy Anh, Hoài Thanh… (thời trước Cách mạng tháng Tám). Theo ông Đào Duy Anh: “Chúng ta sở dĩ yêu chuộng Truyện Kiều không phải vì nó có thể làm quyển sách luân lý cho đời, mà chỉ vì trong sách ấy Nguyễn Du đã dùng những lời văn thần diệu để rung động tâm hồn ta”. Mà cái lời văn thần diệu ấy theo ông Đào “không ai là không cảm thấy. Nhưng hiểu biết cho hết cái hay ấy là một điều rất khó, mà giải thích cho ra hết cái tinh vi uẩn khúc ấy là điều khó nữa”.

    Hoài Thanh cũng đồng ý với ông Đào Duy Anh, nhận định: “Chất thơ bàng bạc trong truyện cần phải được cảm thấy một cách hồn nhiên. Cứ phân tích, giảng giải nó sẽ tan đi. Đến đây phải im hơi, phải nhẹ bước mới hòng nhận thấy cái đẹp khi dịu dàng thùy mị, khi tráng lệ huy hoàng”.

    Tôi gọi khuynh hướng Đào Duy Anh, Hoài Thanh là chủ quan vì mục đích

    của phê bình văn học không phải là đi vào tác phẩm tìm hiểu ý nghĩa, giá trị khách quan của nó, nhưng là ghi lấy những phản ứng chủ quan của người đọc với tác phẩm. Ý hướng nhận định không phải để đạt tới cái chủ quan của người khác, nhưng là đạt tới cái chủ quan của mình nhờ cái chủ quan của người khác. Nói khác đi, người phê bình đi tìm mình trong tác phẩm của người khác và giá trị tác phẩm là ở chỗ gặp gỡ giữa tác phẩm và chủ quan của mình như Anatole France đã nói: “Nhà phê bình giỏi là người kể lể những cuộc phiêu lưu của lòng mình qua các tuyệt phẩm” (Le bon critique est ce qui raconte les aventures de son âme ân sủng milieu des chefs-d’neuvre).

    Hoài Thanh đã không muốn cắt nghĩa Truyện Kiều, vì Truyện Kiều không

    phải cuốn truyện đã được xây dựng để có thể cắt nghĩa được bằng những

    lý do này, lý do kia, nhưng để tạo nên nơi người đọc một cảm giác khoái

    lạc về tinh thần hay nghệ thuật. Cắt nghĩa một tác phẩm tức là tiêu diệt cái

    cốt yếu: vẻ hồn nhiên, say sưa, dịu dàng của tác phẩm.

    Như thế, phê bình chủ quan bao hàm một thái độ hưởng thụ, thưởng ngoạn có tính cách tư riêng cá nhân. Do đó không còn phải là phê bình vì chủ đích của người phê bình là chỉ muốn nói về mình thôi.

    Nhưng người phê bình chủ quan cũng nói: tác phẩm này hay, tác phẩm kia

    dở. Nghĩa là không tránh được căn cứ vào một nguyên tắc phê bình để

    xác định giá trị một tác phẩm. Nguyên tắc đó là: một tác phẩm hay khi nó

    tạo được một rung cảm, một khoái lạc nghệ thuật. Nhưng đã rõ nguyên tắc

    đó hoàn toàn chủ quan, vì sự rung cảm nghệ thuật chỉ lệ thuộc vào mỗi

    chủ quan. Như thế không có một nền tảng khách quan để phê bình, vì mỗi

    người tự đặt nguyên tắc cho mình, có những sở thích, năng khiếu riêng, vì

    có bao nhiêu người thì có bao nhiêu lối hưởng thụ, gặp gỡ với tác phẩm.

    Lối phê bình chủ quan không phải là một phê bình theo nghĩa thông thường của nó vì một đằng người phê bình lấy chủ quan của mình làm nguyên tắc và cứu cánh phê bình, do đó sự phê bình chỉ có giá trị với chính mình, đằng khác sự phê bình đó không thể diễn tả được nhưng phải dùng trực giác mà lãnh hội tác phẩm để thưởng thức, hưởng thụ bên trong thôi.

    Phê bình khách quan

     

    Tôi gọi là phê bình khách quan những khuynh hướng không lấy cái chủ

    quan tư riêng làm nguyên tắc và cứu cánh phê bình nhưng căn cứ vào

    những thực tại khách quan như Luân lý, Xã hội, Tâm lý để phê bình Truyện

    Kiều.

    1. Trước hết là khuynh hướng phê bình luân lý

    Ở đây hai phái chủ trương đối lập nhau. Phái khen Truyện Kiều có luân lý gồm những người như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long… Theo họ, Kiều là một gương mẫu điển hình của luân lý đặt cơ sở trên những nhân, nghĩa, trí, tín, đáng được kính trọng, thương mến. Phái chê Truyện Kiều là vô luân lý gồm những nhà Nho nghiêm khắc như Ngô Đức kế, Huỳnh Thúc Kháng. Theo các cụ Nho “văn dĩ tải đạo”, nói cách khác, văn chương phục vụ luân lý. Vậy chỉ có một văn chương là Tứ thư Ngũ kinh hay tất cả những gì có tính chất Tứ thư Ngũ kinh, còn tiểu thuyết, thơ, không phải là văn chương và chỉ là một loại tiêu khiển phù phiếm, trống rỗng, không giá trị.

    Trong viễn tượng đó, ông Ngô Đức Kế lên án Truyện Kiều là “ai dâm sầu

    oán đạo dục tăng bi”, ông Huỳnh Thúc Kháng: “Là một chuyện phong tình hối dâm không dùng làm sách dạy, gieo các nọc gió trăng hoa liễu trong các thiếu niên nam nữ ta”.

    Nhưng chúng ta có thể hỏi: người nói Truyện Kiều có hay không có luân lý, nhân danh cái gì mà quả quyết như vậy? Căn cứ vào thứ luân lý nào để lên án hay ca tụng Truyện Kiều? Dĩ nhiên ở đây là luân lý Nho giáo. Nhưng luân lý Nho giáo có phải là luân lý phổ quát, độc nhất hay chỉ là một quan niệm về luân lý trong muôn vàn quan niệm khác? Đặt những câu hỏi đó, ta thấy những phán đoán luân lý thường bao hàm một tham vọng coi luân lý của mình là luân lý nghĩa là tượng trưng cho luân lý phổ quát tuyệt đối. Nhưng đã rõ luân lý Nho giáo cũng chỉ là một quan niệm luân lý. Có thể nhiều điểm của quan niệm Nho giáo phản ảnh một giá trị phổ quát, nhưng cái gì trong Nho giáo là phổ quát, cái gì không? Lầm lẫn Nho giáo cũng như nhiều hệ thống luân lý khác đều có một nội dung phức tạp gồm những nguyên tắc trừu tượng, cả những lễ nghi, phong tục, tập quán, tất cả thành một tổng hợp, một thế giới riêng biệt.

    Vậy khi người ta phán đoán; hành động này có hay không có luân lý, chúng ta có quyền hỏi: Anh nhân danh luân lý gì để phán đoán như thế? Ví

    dụ: Hành động đó là vô luân lý, bất hiếu v.v… Ta có thể hoài nghi giá trị của câu phán đoán đó, vì rất có thể thái độ vô luân lý kia chỉ vô luân lý với một thứ luân lý nào đó, và chưa chắc đã là vô luân lý với luân lý khách quan, phổ quát tuyệt đối. Hơn nữa nhiều khi chính thái độ vô luân lý đó lại là một cách biểu lộ và tôn trọng luân lý đích thực; vì rất có thể cái luân lý người ta đưa ra để kết án không phải là luân lý phổ quát đích thực, nhưng chỉ là những quy ước, tập quán, luật lệ, hình thức, đôi khi thiển cận, chật hẹp, lỗi thời. Vô luân lý ở đây nghĩa là không tôn trọng những luật lệ, tập quán đó. Nhưng như người ta thường nói: Luân lý đích thực bất chấp luân lý (la vraie morale se moque de la morale) nghĩa là đôi khi hành động bị gán là vô luân lý, bất kính v.v… không nhằm đả phá tinh thần luân lý như một thứ tục lệ, luân lý hình thức giả tạo nào đó; do đó sự vô luân lý, bất kính là một cách biểu lộ tôn trọng luân lý đích thực. Như nhà văn hào Jacob đã nói: “Nền luân lý cao nhất là một luân lý bắt đầu bằng sự bất kính hoàn toàn” (La moralité la plus haute est celle qui a pour point để départ un irrespect universel). Cũng như về tôn giáo, người có tinh thần tôn giáo đích thực gớm ghét tất cả những người đội lốt tôn giáo chỉ giữ cái đạo bề ngoài, vụ lợi, thiển cận; cho nên người thánh, như Jacques Maritain nói, là một người vô thần hoàn toàn (le saint est un athée intégral) vô thần theo nghĩa chống lại mọi hình thức xuyên tạc tôn giáo như một tinh thần để tỏ lòng tôn

    trọng tôn giáo đích thực.

    Vậy nếu chúng ta có quyền có những luân lý khác luân lý Nho giáo tất

    nhiên những phê bình đứng ở lập trường Nho giáo chỉ có giá trị tương đối,

    với những người chấp nhận luân lý đó. Trong một thế giới loài người có

    nhiều quan niệm khác nhau về luân lý (Phật giáo, Công giáo, Nhân bản vô

    thần, v.v…) và không ai đồng ý với ai về nền tảng sau cùng đời người (vì

    luân lý cuối cùng phải đặt trên một siêu hình học, nghĩa là một quan niệm

    về cuộc đời và đời người), quả quyết luân lý, tôn giáo của mình là tuyệt

    đối, độc nhất có lẽ sẽ gây nên những phản ứng khó chịu. Chúng ta không

    còn sống trong vũ trụ quan Nho giáo, thời đại mà luân lý, triết lý Nho giáo

    xuất hiện như một luân lý, một triết lý độc tôn, duy nhất như đạo Công giáo

    thời Trung cổ bên Âu châu, nhưng trong một thế giới tự do được chấp

    nhận nhiều triết lý, tôn giáo kỹ nghệ hoá. Sự kiện đó làm cho chúng ta thận

    trọng dè dặt khi phê bình vì bất cứ một phán đoán nào cũng đều đặt trên

    một cơ sở lý thuyết (luân lý và triết lý) và ta không được quyền trước mặt

    người khác, quyết đoán và bó buộc công nhận lập trường của ta như là

    chân lý tuyệt đối. Cần nhấn mạnh rằng tôi không có ý phê bình Nho giáo

    hay từ chối có một luân lý phổ quát, nhưng tôi chỉ muốn nói: có một luân lý

    phổ quát nhưng rất khó xác định; nên có nhiều quan niệm khác nhau về

    luân lý phổ quát đó, như vậy khi phê bình rất khó xác định xem lời phê bình có phản ảnh luân lý đích thực, phổ quát hay chỉ phản ảnh một quan niệm về luân lý phổ quát, và do đó rất khó nói một hành động này là có luân lý hay vô luân lý.

    Chúng ta còn không thể phê phán một hành động là có hay không có luân lý, một cách chính xác, tuyệt đối khi nghiên cứu hành động đó như thể hiện một thái độ trước một hoàn cảnh nhận định.

    Thế nào là một hành động vô luân lý? Hành động là vô luân lý khi trái với những nguyên tắc của luân lý – ví dụ ăn trộm là trái luân lý. Nhưng định nghĩa như thế là chỉ nhìn vấn đề trong phạm vi lý thuyết, tổng quát; và ở trong phạm vi lý thuyết, chân lý đơn giản quá: ai chả công nhận ăn trộm là trái luân lý. Nhưng nếu phải xác định giá trị luân lý của một hành động (ăn trộm) trong một hoàn cảnh nhất định, vấn đề sẽ trở nên phức tạp. Tại sao tôi ăn trộm, vì bị bóc lột, túng thiếu, thất nghiệp? Tại sao có thất nghiệp? Hoàn cảnh sinh sống của tôi thế nào? Gia đình, xã hội có trách nhiệm trong hoàn cảnh đó không? Bất cứ hành động luân lý nào cũng bao hàm một ý thức và tự do. Tôi có khả năng nhận định dúng được ý nghĩa điều mình làm, tôi có tự do lựa chọn và chấp nhận hay bị bó buộc lựa chọn?

    Trong những trường hợp nhất định (hic et nune) trong hoàn cảnh này, trong hoàn cảnh kia, con người hành động đôi khi không thấy rõ con đường đi tới, và hành động theo nhận thức bấp bênh có thể đúng có thể sai đó. Trong đời sống thật sự; trước những trường hợp cụ thể, luân lý phải trái không xuất hiện rõ ràng như ban ngày ban đêm, nhưng như tranh tối tranh sáng, phức tạp, nghi vấn (problématique). Kiều bán mình chuộc cha, hy sinh chữ tình, bảo vệ chữ hiếu. Nhưng đó có phải là con đường duy nhất? Bảo vệ chữ Hiếu có lý; nhưng bảo vệ chữ tình cũng không phải là vô lý. Cho nên trong đời sống, chân lý không đơn giản nhưng phức tạp, có cái có lý trong cái vô lý và cái vô lý trong cái có lý.

    Sự nhận định đã không thể chính xác một cách tuyệt đối, sự thực hiện bằng hành động cũng chỉ có tính cách một ván bài, một cuộc phiêu lưu, một dấn thân liều mình, nghĩa là trong cái không vững chắc, cái có thể đúng, có thể sai; cái có thể thất bại, có thể thành công.

    Trong thực tế, con người phải luôn luôn đi tìm một con đường chỉ dẫn

    bằng lần mò như trong đêm tối, và có thể sa ngã, nhầm lẫn, thất bại. Đó là thân phận con người, không có gì là sẵn đấy, rõ ràng, chắc chắn. Mọi sự phải đi tìm, tạo ra, khám phá ra. Đời là một phiêu lưu pha trộn may rủi, tình

    cờ, cái tốt cái xấu, mà mỗi lúc con người phải lựa chọn trong lo lắng, băn

    khoăn với những khả năng của mình và theo những điều kiện bên ngoài.

    Người ta trách Kiều là gái điếm vì đã lăn lộn trong các thanh lâu, lấy hết

    người này đến người kia: nhìn một cách trừu tượng, sự bất trung, dâm

    đãng là một điều xấu, vô luân lý. Nhưng Kiều có hoàn toàn trách nhiệm

    những hành động ấy không? Dĩ nhiên có thể nói Kiều trách nhiệm những

    hành động ấy vì đã chấp nhận cuộc phiêu lưu khi bằng lòng bán mình.

    Nhưng tại sao Kiều phải bán mình? Tại sao có bất công, oan trái, tại sao

    có những thanh lâu, những gian ác, ích kỷ? Nói cách khác, tại sao có

    những hoàn cảnh xấu trong đó con người phải quyết định lựa chọn? Ai gây

    ra những hoàn cảnh đó? Nếu cuộc đời là định mệnh, con người sẽ là trò

    chơi của số mệnh và không ai phải chịu trách nhiệm, vì đã không có tự do

    hành động. Vậy cuộc đời do con người tạo ra và có cái tốt cái xấu pha

    trộn. Cuộc đời đó mọi người chịu trách nhiệm, không ai hoàn toàn vô tội,

    nhưng cũng không ai hoàn toàn có tội vì một hành động dù tư riêng cũng

    một phần do những yếu tố bên ngoài gây nên đồng thời do chính người đó

    quyết định lựa chọn; cho nên ta trách nhiệm hành động của ta, và người

    khác cũng trách nhiệm hành động đó như ta trách nhiệm một phần hành

    động của họ. Mọi người liên đới nhau cùng hành động và tạo ra cuộc đời

    xấu tốt. Cuối cùng không ai hoàn toàn oan nhưng cũng không hoàn toàn

    có tội: như Karl Jaspers nói “Tội lỗi ở ngay tại sự chấp nhận hiện hữu, nghĩa là khởi điểm, nguồn gốc cuộc đời”. Khi ta vào đời, chấp nhận cuộc đời là như mang trong mình tình cảm có tội rồi.

    Những phân tích trên đưa ta đến hai nhận xét này:

    1. Không thể phê bình thái độ nhất định là có hay không có luân lý bằng cách trừu tượng hoá con người toàn diện và hơn nữa trừu tượng hoá con người đó ở trong hoàn cảnh đời. Khi ông Huỳnh Thúc Kháng, ông Ngô Đức Kế phê bình Kiều là người dâm ô, hai ông đã không nhìn hành động của Kiều như một hành động trong một hoàn cảnh và chỉ nhìn nó một cách trừu tượng như tội dâm ô nói chung.
    1. Không thể phê bình một thái độ sống thật đứng ở lập trường luân lý phổ quát trên quan điểm của một người “có bàn tay sạch” không bao giờ sai

    lầm, có tội, nghĩa là trên quan điểm Thượng Đế; vì như trên đã nói, không ai hoàn toàn vô tội: con người thiết yếu liên đới nhau. Vậy thái độ nguời và người chỉ có thể là thái độ của kẻ có tội với người có tội, không thể là thái độ của người không bao giờ có tội với người có tội. Như thế chỉ Thượng Đế (nếu tầng trời tin có) mới có quyền lên án người ta. Thái độ kết án luân

    lý, nơi con người bao hàm một tự phụ mình trong sạch, nghĩa là một giả hình [3] .

    Do đó phê bình một hành động, một tác phẩm trên phương diện luân lý là một điều rất khó và nguy hiểm vì ta không nắm được đầy đủ những yếu tố phức tạp quyết định hành động, thái độ đó. Nhận định đó đòi hỏi chúng ta một tinh thần thận trọng đến nỗi không còn dám lên án phê bình nhưng chỉ muốn tìm hiểu và thông cảm. Phúc âm có nói “không nên xét đoán vì sẽ bị xét đoán”. Tâm lý học và siêu hình học hiện đại đã chứng minh chân lý đó: nghĩa là những yếu tố cấu tạo một hành động phức tạp, ẩn kín người ngoài không thể lĩnh hội được và do đó sự phán đoán chỉ có thể là sai lầm.

    1. Khuynh hướng phê bình khoa học

    Ông Nguyễn Bách Khoa trong hai cuốn khảo luận về Truyện Kiều đã trình bày một quan điểm phê bình mệnh danh là khoa học. Ta có thể tóm lược quan điểm đó như sau: muốn hiểu một tác phẩm, phải hiểu tác giả, và muốn hiểu tác giả, phải hiểu hoàn cảnh lịch sử của tác giả. Văn chương là sản phẩm của con người; nhưng con người không phải một cá nhân trừu

    tượng, độc lập, nhưng là “những ảnh hưởng xã hội kết tinh lại” nghĩa là con người thuộc về một giai cấp xã hội và xung đột với những giai cấp khác. Ý thức cá nhân phản ảnh ý thức giai cấp và ý thức giai cấp phản ảnh những xung đột giữa các giai cấp trong xã hội. Văn chương bộc lộ ý thức hệ của một giai cấp.

    Vậy muốn hiểu tác phẩm, phê bình văn học có nhiệm vụ:

    1. Khảo sát dòng họ, huyết thống tác giả, nghĩa là ảnh hưởng gia đình, thị

    tộc nơi tác giả đó sinh trưởng, hành động.

    1. Khảo sát tâm lý, nguyện vọng, vai trò lịch sử của giai cấp tác giả.
    1. Khảo sát những ảnh hưởng do những cuộc xung đột giữa giai cấp tác

    giả với các giai cấp khác nơi tác giả.

    Theo quan niệm khoa học đó, Truyện Kiều là một sản phẩm của con người Nguyễn Du và Nguyễn Du là sản phẩm của một thời đại. Thời đại Nguyễn Du là một thời đại suy tàn, giai cấp của Nguyễn Du là giai cấp đang suy tàn, thất bại, nên con người Nguyễn Du cũng chỉ có thể là con người suy tàn và do đó văn chương Truyện Kiều cũng phản ảnh một cái gì tàn tạ, sầu oán, chiến bại…

    Tại sao gọi quan niệm trên là một quan niệm phê bình khoa học? Là vì tham vọng muốn áp dụng phương pháp thực nghiệm dùng trong khoa học vật lý vào trong phạm vi văn chương. Nhưng vấn đề là ta có được phép áp dụng phương pháp khoa học vào những phạm vi không còn đối tượng nghiên cứu là vật chất thuần tuý không? Chúng ta biết rằng đối tượng của khoa học là sự vật, vật chất; nhà khoa học quan sát sự vật, đặt giả thuyết, thí nghiệm và chứng nghiệm, xây định luật khoa học. Nền tảng giá trị khoa học là tất định thuyết (déterminisme) nghĩa là mối tương quan thiết yếu giữa hai sự kiện (nếu có đủ điều kiện ở A tất nhiên có B. Ví dụ nếu có kim khí, nhiệt độ đủ, áp lực đủ, tất nhiên hiện tượng co giãn sẽ xảy ra). Nhà khoa học cắt nghĩa hiện tượng co giãn bằng những điều kiện, nguyên nhân của nó. Nhưng trong phạm vi văn chương nghệ thuật, một tác phẩm, một bản nhạc, một bức hoạ không còn phải là một sự vật thuần tuý nữa; vì nó chứa đựng một linh hồn, một tình cảm, một nỗi niềm, một ý nghĩa, nghĩa là những cái không thể giản lược vào vật chất được.

    Vậy muốn lĩnh hội một sự kiện nghệ thuật, không thể đứng ở quan điểm khoa học được. Vì thái độ khoa học là nhằm cắt nghĩa sự vật mà cắt nghĩa (expliquer), tức là giản lược điều cắt nghĩa vào cái khác nó (nhà khoa học

    cắt nghĩa sự kiện co giãn bằng cách trình bày những sự kiện khác cấu tạo nó, đồng thời những sự kiện khác nó cắt nghĩa đầy đủ sự kiện co giãn).

    Nhà phê bình khoa học cũng cắt nghĩa một tác phẩm văn chương bằng sự kiện khác nó, như bằng những yếu tố tâm lý, kinh tế, xã hội và cho rằng tác phẩm hoàn toàn chỉ là những yếu tố đó.

    Nhưng nếu như vậy, không còn văn chương nữa. Cái nhầm của thái độ khoa học áp dụng trong lĩnh vực văn chương là đã không coi văn chương có một cứu cánh tự tại, tương đối biệt lập, nhưng chỉ là phản ảnh của một thực tại khác nó.

    Vậy đã không lĩnh hội được một tác phẩm với tư cách là một tác phẩm văn nghệ.

    Khi ta nghe một bản nhạc, nếu nghe với thái độ của nhà khoa học ta chỉ

    lãnh hội được một tổng số âm thanh lần lượt phát hiện, mà không tiếp

    nhận được ý nghĩa bản nhạc đó, nghĩa là bản nhạc không còn phải là bản

    nhạc có một cơ cấu riêng, một ý nghĩa, một tình cảm nữa.

    Do đó, muốn lĩnh hội một tác phẩm nghệ thuật, phải có thái độ nghệ thuật. Tôi ngắm một bức hoạ, dĩ nhiên bức hoạ đó phải có một cơ cấu riêng xác định nó là bức hoạ không phải cái bảng đen, quyển sách. Nhưng đồng thời tôi cũng phải có thái độ muốn lĩnh hội bức hoạ đó như một bức hoạ. Nếu khi nhìn bức hoạ, tôi chỉ để ý quan sát kích thước, chiều bề hay xem bức hoạ làm bằng những chất gì, lúc đó bức hoạ xuất hiện với tôi là một nhà toán học hay vật lý học, như một sự vật gồm những đường có thể đo lường hay một đối tượng vật lý gồm những chất nọ chất kia có thể phân tích được, và bức hoạ đã biến mất, nghĩa là đã mất cái ý nghĩa là một bức hoạ. Do đó sự vật xuất hiện trước ý hướng lĩnh hội của ta thế nào (se dévoile) là tùy theo thái độ của ta lúc đó. Ta xác định một thái độ trước sự vật và sự vật xuất hiện với ta theo thái độ đó.

    Vậy nếu ý hướng lĩnh hội của ta khi nghiên cứu một tác phẩm văn chương, như Truyện Kiều chẳng hạn là một ý hướng khoa học, muốn cắt nghĩa bằng những yếu tố kinh tế, lịch sử, xã hội v.v… Truyện Kiều không còn xuất hiện (se dévoile) như một tác phẩm văn chương nữa, nhưng là một tổng hợp những yếu tố xã hội, kinh tế, lịch sử của một thời đại.

    Như thế, muốn lĩnh hội Truyện Kiều nói riêng hay một tác phẩm văn nghệ

    nói chung, phải nhìn với con mắt văn nghệ, nghĩa là vào trong tác phẩm, tìm khai triển ý nghĩa của ý hướng văn nghệ sơ thủy của tác giả.

    Nhưng ý hướng văn nghệ sơ thủy đó phát sinh từ những hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định và bộc lộ bằng những phương tiện diễn tả của thời đại. Nói cách khác, không thể quan niệm một văn chương ở ngoài khía cạnh văn hoá, xã hội của nó. Ta không thể hiểu được một văn chương đồng ruộng ở giữa đời sống thị thành ồn ào. Người nghệ sĩ sáng tác bằng những tài liệu và với những phương tiện do hoàn cảnh chung quanh cung cấp cho. Nhưng không thể nói văn chương đồng ruộng là một sản phẩm của kinh tế nông nghiệp hay truyện Kiều là sản phẩm của giải đáp quan lại thoái trào suy tàn, vì nếu hoàn cảnh tạo nên tác phẩm một cách tất yếu như trong lược đồ nhân quả khoa học (điều kiện nhiệt độ áp lực tạo nên hiện tượng co giãn) tại sao chỉ có Truyện Kiều của Nguyễn Du văn sĩ, trong bao nhiêu Nguyễn Du quan lại thoái trào khác? Việt Nam phản ảnh một phần nào hoàn cảnh vì con người văn nghệ cũng là người ở đời với người khác trong một thời đại, nhưng hoàn cảnh chỉ là chất liệu mà nhà văn nghệ là người thợ sử dụng để xây dựng một cái gì. Vậy chất liệu chỉ là điều kiện cần thiết không phải điều kiện đầy đủ; vì cái cốt yếu trong công trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật là nhờ ở ý hướng tác tạo tự do

    của con người văn nghệ. Đặt vấn đề như thế, chúng ta thấy ngay ý nghĩa và giới hạn của mọi khuynh hướng khoa học hoặc nhuộm màu mác-xít hay chỉ có tính cách giáo khoa. Nhà phê bình khoa học sẽ khảo sát nguồn gốc, xuất xứ tác phẩm, nghiên cứu ảnh hưởng đời sống gia đình, hoàn cảnh xã hội của thời đại với tác phẩm về phạm vi tư tưởng hay phạm vi nghệ thuật; khảo sát những kỹ thuật sáng tác hành văn nhằm mục đích phân loại, khuynh hướng, môn phái theo văn học sử. Nhưng những công việc đó mới dừng lại ở bên ngoài tác phẩm, chưa đi vào chính cơ cấu, ý nghĩa sâu xa, nguyên ủy của tác phẩm. Khai thác những ý nghĩa đó vượt phạm vi cắt nghĩa khoa học.

    Nhưng thế nào là ý hướng của một tác phẩm văn chương? Ý hướng văn chương biểu lộ một cách thế ở đời (manière d’être au monde) của tác giả trong một tương quan thiết yếu với người khác. Như vậy, bất cứ tác phẩm nào cũng bao hàm một lối nhìn về cuộc đời và đời người, cũng gói ghém kín đáo những nỗi niềm tin tưởng sâu xa của tác giả. Những nỗi niềm tin tưởng đó biến thành những “đề tài ưu đãi” (thèmes privilégiés) là một tự thú của tác giả; một tự thú giãi bày cuộc phiêu lưu một đời người và ý hướng chỉ đạo bao hàm một thái độ trước thân phận con người nhìn trong viễn tượng toàn diện của nó.

    Vậy nhiệm vụ của phê bình là khai triển, bày tỏ cái ẩn kín, bao hàm trong tác phẩm một cách khách quan, nghĩa là người phê bình phải tự xoá đi để hoà mình với ý hướng sáng tác của tác giả, mong lãnh hội được đúng ý nghĩa tác giả muốn nói, không phải bắt tác phẩm theo ý riêng của mình.

    Phê bình khoa học của Nguyễn Bách Khoa và nhiều người khác… có tính cách võ đoán vì đã có sẵn một hệ thống, một quan niệm về cuộc đời trước khi phê bình và phê bình tác giả theo hệ thống, quan niệm của mình; hễ điểm nào trong tác phẩm hợp với hệ thống của mình là có giá trị và không hợp, hay thiếu sót là không có giá trị.

    Vậy một phê bình văn học vượt phê bình khoa học có nhiệm vụ bày tỏ lời gửi của tác giả (message) cho độc giả, ý nghĩa sự tra hỏi về cuộc đời của tác giả trong tác phẩm. Nhưng phê bình đó căn cứ vào đâu để xác định giá trị một tác phẩm, một lời gửi, một tra hỏi về cuộc đời của tác giả? Phê bình

    • nghĩa hay phê bình triết lý này đưa đến một phê bình phê bình văn học,

    nghĩa là những nguyên tắc căn bản xác định giá trị lời gửi và cách biểu

    diễn lời gửi đó. Phê bình phê bình văn học đó gồm một phân tích thực chất của ý hướng văn nghệ, gồm một thẩm mỹ học xác định ý nghĩa và vai trò

    của những văn ảnh, những chữ và những quá trình phối hợp của những văn ảnh trở thành những chữ, những chữ thành những cơ cấu, hình thức đặc biệt theo những định luật nhất định.

    Như thế, có thể xác định giá trị của một tác phẩm, về hình thức, ở chỗ tác phẩm đó biết sử dụng khéo léo những quy ước của thẩm mỹ học và về nội dung ở tính cách “chân thật” (authenticité) lời gửi của tác giả là một “chứng nhân” trong mọi hoàn cảnh.

    Một tác phẩm đạt tới đích khi nó tạo được một rung cảm nghệ thuật (joie esthétique) và giá trị thẩm mỹ và tính cách chân thật lời gửi chứa đựng trong tác phẩm.

    Tác phẩm là một tiếng gọi và nó thành công khi được đáp lại, nghĩa là khi gây được một thông cảm nơi người tiếp nhận nó.

    *

    Tôi thiết tưởng rằng Truyện Kiều đã đạt tới mục đích đó, nghĩa là đã xứng

    đáng là một tác phẩm văn chương và hơn nữa là một tuyệt tác vì hai điểm:

    1. Nguyễn Du đã đề nghị một lối nhìn về cuộc đời như một phiêu lưu của

    một tự do, luôn luôn phải nhận định một hướng đi trong cái phức tạp, mơ hồ của hoàn cảnh, không biết đâu là con đường sáng, đâu là con đường bế tắc và luôn luôn phải lựa chọn trong lo lắng, xao xuyến, trước cái bấp bênh may rủi của tương lai, của tình cờ… Cuộc đời trong Truyện Kiều không phải là an nghỉ, thanh bình, thân ái, trật tự kinh hoàng nhìn nó trên lý thuyết, luân lý của nhà triết học hay nhà luân lý nhưng là một thân phận, một cái kiếp con người, long đong ba chìm bảy nổi, không có gì là vững chắc, lâu dài, nhưng éo le, dễ vỡ, phức tạp, gian khổ… Truyện Kiều đã có một khả năng truyền cảm mãnh liệt vì nó động đến những khía cạnh sâu xa, bi đát của hiện hữu, của con người nhập thể và thiết thực trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta thích Truyện Kiều vì ai cũng bắt gặp mình ít nhiều trong cuộc phiêu lưu của Kiều, nghĩa là trong thân phận làm người có những lúc lo lắng, băn khoăn trước một tương lai mờ mịt; có những chán nản, uất ức trước những cái vô lý cuộc đời, có những lúc tin tưởng hy vọng muốn bám víu lấy cuộc sống vì tha thiết tuy đôi khi chỉ là những tia hy vọng mỏng manh, hay là ảo vọng.

    1. Nguyễn Du đã thành công trong việc sử dụng những kỹ thuật diễn tả

    cuộc đời như là một phiêu lưu của con người tự do đó.

    Về nội dung, Nguyễn Du đã nói lên được những khía cạnh sâu xa phổ biến nhất của thân phận con người trong trần gian. Một tác phẩm càng phổ biến trường tồn bất hủ, nếu càng đạt được cái phổ quát. Qua truyện Kiều, chúng ta đã tìm thấy những nét điển hình nhất của con người định nghĩa như một dự phóng (un projet), một tự do.

    Nhưng Nguyễn Du còn biết diễn tả những cái phổ biến đó bằng những

    phương tiện thông cảm phổ biến nhất, là những văn ảnh bình dân chữ

    nôm tầm thường. Những truyện của Tự lực Văn đoàn đã gây một thông

    cảm lớn lao, nhưng đều có tính cách hoàn cảnh, thời đại rõ rệt. Cốt truyện

    dựng trong một xã hội nhất định, phản ảnh những vấn đề, thắc mắc của

    thời đại và dùng những kỹ thuật riêng của xã hội, thời đại đó. Ngày nay,

    không còn những ông Án, bà Phán, cũng không còn những lối sống của xã

    hội phong kiến pha trộn trưởng giả Âu châu và con người thế hệ này đã

    thấy mình ở ngoài một phần nào những hình ảnh dĩ vãng đó.

    Trái lại Truyện Kiều vẫn rất “thời sự”, rất gần chúng ta, rất gần mọi lớp

    người, mọi thời đại, vì nó đã bày tỏ những cái chung của thân phận con

    người bằng những phương tiện chung của dân tộc; của mọi giai cấp xã

    hội. Trong đời sống, không có cái gì là tầm thường, tẻ nhật; một lá cỏ, một

    ánh nắng, một cử chỉ bắt tay, tất cả đều có thể chứa một nỗi niềm say sưa

    hay chỉ là những cái vô hồn, máy móc. Tình yêu làm cho chúng sống động,

    và nghệ thuật là ở chỗ thực hiện được cái sống động đó lên.

    Nguyễn Du đã thành công trong việc đó. Thơ của Nguyễn Du như những bức hoạ có sức thực hiện ngay lên một khung cảnh sống và gieo vào khung cảnh sống đó một tình yêu, một niềm tin, hay một chua xót, thương tâm… bằng những hình ảnh, danh từ quen thuộc tầm thường ai cũng hiểu và lĩnh hội, đồng thời ai cũng có thể rung cảm được. Mỗi chữ đều chứa một nội dung tình cảm tâm lý; khi gợi lên, toàn thể nội dung đó cũng xuất hiện theo. Vì nếu chữ đó với ta là xa lạ, tất nhiên không gợi lên được nội dung tình cảm kia và do đó, năng lực truyền cảm của nó sẽ nghèo nàn, nhỏ bé (ví dụ những chữ, kiểu nói chỉ thông dụng trong một vùng, một giới).

    Theo thiển ý, tôi thiết nghĩ đó là hai đặc điểm xác định giá trị Truyện Kiều là một tuyệt tác; Truyện Kiều không phải là một tác phẩm triết lý hay luân lý;

    có triết lý luân lý trong Truyện Kiều, nhưng đó là những thái độ, hành động không phải dưới hình thức một hệ thống để chứng minh cái gì; Nguyễn Du viết Truyện Kiều không có ý chứng minh một tư tưởng, vì nếu có ý chứng minh, tại sao có những mâu thuẫn trong hành động của Kiều? Một quan niệm vẫn được công nhận là coi Truyện Kiều như một chứng minh thuyết định mệnh. Nhưng gần đây ông Nguyên Sa trong Sáng tạo số tháng 12/1957 đã chủ trương trái lại (Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do) đưa ra những lập luận vững chắc chứng minh Kiều luôn luôn hành động như một tự do quyết định và lựa chọn, và nếu có định mệnh thì chính Kiều đã chọn định mệnh: Tự do của Kiều đã đẻ ra định mệnh vì nếu nàng không tự ý bán mình chuộc cha, còn đâu là định mệnh.

    Nếu xã hội Truyện Kiều là một chứng minh định mệnh, nghĩa là Kiều và tất cả những nhân vật khác chỉ là lá bài, trò chơi của số mệnh, không ai trách nhiệm vì không có tự do hành động; tại sao có đền ơn báo oán, vì những Tú bà, Hoạn Thư, Mã Giám Sinh chỉ làm những việc mà định mệnh bắt phải làm, thì có tội gì? Nếu số Kiều đã phải khổ, thì không có Tú bà này đã có Tú bà khác, tại sao lại báo oán, phạt những người sinh ra để thi hành bản án của sổ đoạn trường? Tại sao Kiều đã không lấy Kim Trọng lúc tái ngộ nếu nàng chỉ là nạn nhân của định mệnh, tại sao nàng có thể từ chối

    mọi thúc đẩy của số mệnh? Vì nàng đã hành động tự do, nên đã không chấp nhận đề nghị “kết tóc xe tơ” cùng Kim Trọng. Nếu chấp nhận là phủ nhận mọi hy sinh có suy tính cẩn thận trước đây của nàng, và bằng lòng làm quân cờ của định mệnh.

    Vậy Truyện Kiều chỉ có thể là bài thơ, cuốn truyện thuật lại cuộc đời phiêu lưu của một tự do băn khoăn lo lắng, lựa chọn trước những hoàn cảnh cuộc đời pha trộn may rủi, tốt xấu.

    Nếu có định mệnh đi nữa, nhưng con người ý thức được sự định mệnh đó và sự ý thức đó bộc lộ con người có tự do; vì con người vừa ở trong cái tất yếu, vừa không phải là tất yếu mới ý thức tất yếu, định mệnh; nếu con người chỉ là định mệnh, đồng hoá hoàn toàn với định mệnh như vật giới, làm sao con người biết được định mệnh? Cái khả năng biết được đó ta gọi là tự do. Rất có thể Nguyễn Du không ý thức được rõ rệt về tự do như thế, nhưng thái độ của Cụ, thái độ của Kiều luôn luôn biểu lộ những thắc mắc, lo lắng và những phản kháng, những lựa chọn bao hàm con người Nguyễn Du, nàng Kiều là những Tự do.

    Đọc Truyện Kiều, ta không thấy không khí đạo đức của một Lục Vân Tiên

    hay Hoa Tiên. Sự kiện đó có nghĩa là Nguyễn Du đã không muốn áp dụng

    tôn chỉ “Văn chở đạo” vì nếu Nguyễn Du có ý giảng dạy luân lý bằng văn

    chương, tại sao Truyện Kiều có thể gây nên những phản đối dữ dội của

    những người đại diện luân lý? Như thế có nghĩa là Nguyễn Du chỉ muốn kể

    lể một câu truyện, mô tả một cuộc đời phiêu lưu và kể như một nghệ sĩ.

    Tất nhiên cuộc đời ấy bao hàm những thái độ triết lý, luân lý; nhưng chúng

    là những thái độ sống, bao hàm trong những hành động được thực hiện

    dưới một hình thức văn chương. Chính vì Truyện Kiều trước hết là một tác

    phẩm văn chương nghĩa là những ý tưởng triết lý, luân lý và những thái độ

    sống phức tạp mà người ta chia rẽ nhau vì không thể xác định một cách

    dứt khoát, rõ ràng giá trị luân lý của những hành động cụ thể đó.

    Nhưng dù sao, những thái độ sống đó cũng là những thái độ luân lý cần phải được xác định đúng hay sai, vô luân lý hay có luân lý.

    Ở đây phải phân biệt hai phạm vi:

    1. Xác định giá trị luân lý một thái độ sống trong hoàn cảnh nhất định.
    1. Xác định giá trị luân lý một thái độ tổng quát, một cách khách quan.

    Ví dụ việc Kiều sang chơi hát đêm bên nhà Kim Trọng. Khách quan mà xét, nghĩa là trừu tượng hoá những hoàn cảnh, thái độ đi chơi đêm với trai như thế bao giờ cũng là một thái độ nguy hiểm, không đứng đắn. Nhưng nếu xét trong trường hợp cụ thể (hic et nunc), nghĩa là xét hành động trong một hoàn cảnh, ta có thể hiểu và tha thứ, cũng như không khí thanh lâu, khách quan, sự kiện đó bao giờ cũng đều xấu; nhưng trong những hoàn cảnh cụ thể, mà những con người vì những lý do phức tạp phải lẫn lộn trong đó, có lẽ họ không có tội, mà có thể là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh v.v…

    Thiết tưởng phải căn cứ vào sự phân biệt trên để xác định những hành động bao hàm một thái độ luân lý của những nhân vật trong truyện Kiều, vì nếu không sưu tranh luận sẽ cứ bế tắc mãi. Người chê truyện Kiều là vô luân lý vì đứng ở quan điểm luân lý khách quan và sự kiện tổng quát; còn người bênh truyện Kiều vì đứng ở phạm vi xét đoán theo hoàn cảnh. Hai bên cùng không nhận ra khuyết điểm lập trường phê bình của mình. Một giáo sư trong lớp nói: “Ối chà, Kiều sang chơi bên nhà Kim Trọng có tội gì, thanh niên bây giờ làm thế là thường”. Nói như thế là lẫn lộn phạm vi, đã biện chính một thái độ xét theo hoàn cảnh và mặc cho nó một thập giá luân lý khách quan. Nhưng thật ra, nếu giáo sư đó có con gái, chắc ông sẽ

    không dám cho con gái mình đi tự do như thế. Thái độ đó chứng tỏ nhầm

    lẫn nguy hiểm hai phạm vi phê bình nói trên.

  • Văn mẫu CHỮ MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU

    Văn mẫu CHỮ MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU

    Văn mẫu CHỮ MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du-trao duyên


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu CHỮ MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU 

    CHỮ MỆNH TRONG TRUYỆN KIỀU – QUÁ

    TRÌNH BIẾN HÓA CỦA VIỆT NHO –phần1

    1.     Luận đề của Truyện Kiều: Ðịnh mệnh và tu tâm hay siêu việt biện chứng?

    1.1. Ðịnh mệnh

    Truyện Kiều không phải chỉ là một câu truyện của một người

    thiếu nữ tài hoa Thúy Kiều, song là một tích sự (epic), hay nói

    theo kiểu ngôn ngữ của hậu hiện đại, một tích truyện (narrative)

    về định mệnh của con người. Thế nên, chúng ta không lấy làm lạ

    khi Nguyễn Du chọn Ðoạn Trường của Thanh Tâm Tài Nhân,

    soạn lại với tựa đề Ðoạn Trường Tân Thanh. Sổ đoạn trường ghi

    chép và quy định số phận con người. Sổ đoạn trường không phải

    chỉ là một biểu tượng, và tích truyện của nàng Kiều không phải là

    dụ ngôn. Theo Nguyễn Du, tích truyện của Thúy Kiều là một sự

    lập lại của chính định mệnh. Ðó chính là một quy định, một quy

    định thật sự, từng ghi chép minh bạch trong một cái sổ gọi là

    đoạn trường bởi ông Trời, mà con người chúng ta, dù tài hoa tới

    đâu cũng không thể thay đổi. Thúy Kiều chỉ lập lại Ðạm Tiên,

    giống hệt như Ðạm Tiên chỉ là một tích sự tiêu biểu cho tất cả mọi

    số mệnh của những kỳ nữ tương tự. Nói theo ngôn ngữ của triết

    gia Friedrich Nietzsche, định mệnh con người lập đi lập lại trong

    vòng luân hồi vĩnh cửu (ewige Wiederkehr des Gleichen).

    1.2. Bi Kịch của thân phận con người

    Thế nên, trong tích truyện, tính chất bi đát (tragic) cũng như phi lý (absurd) của con người được Nguyễn Du diễn đạt trong sự mâu thuẫn, hay trong biện chứng đối lập giữa tài và mệnh:

    “Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau,”

    hay:

     

    “Chữ Tài liền với chữ Tai một vần.”

    • chí con người, ước vọng tự nhiên của chúng sinh như tình ái (Kim Trọng, Thúc Sinh), cũng như tài hoa (Thúy Kiều), và quyền

    lực (Từ Hải) vẫn không thể thắng định mệnh: mưu sự tại nhân song thành sự tại thiên. Sự bất lực của con người được diễn đạt bởi niềm tin vào định mệnh là một sự bi đát vượt khỏi những bi thương thường nhật. Tính chất bất tự do của thân phận làm người là một bi đát vượt xa cái bi thảm “thường tình” của con người như: sinh, lão, bệnh, tử, tức cái nghiệp mà đức Thích-Ca khám phá trước khi giác ngộ đạo. Thật vậy cái nghiệp mà cụ Nguyễn diễn tả là một định mệnh bi đát, vượt khỏi luật nhân quả thường tình của ác giả ác báo, tức định luật mà Phật giáo xác tín như trồng dưa đạt dưa, trồng đậu đạt đậu. Do đó, đối với cụ, sự việc chấp nhận định mệnh giống như hành động chấp nhận một điều phi lý mà con người không thể hiểu. Sự chấp nhận định mệnh không theo luận lý của nhân quả, song theo cái đạo của mệnh, tức phi lý. Chính vì sự phi lý của mệnh mà Nguyễn Du,

    giống như Nietzsche, biểu tả tâm tư của ông một cách vừa phẫn uất vừa nhẫn nhục (ressentiment) qua miệng Kiều:

    “Ðã mang lấy nghiệp vào thân,”

    hoặc:

    “Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.”

    Nhưng khác với ông tổ hiện sinh vô thần, cụ Nguyễn Du không gào thét đòi giết Thượng Ðế, cụ cũng không giống Cao Bá Quát mạt sát kiếp người:

    “Ba hồi trống giục đù cha kiếp

    Một lát gươm rơi đéo mẹ đời.”

    Cụ nhẫn nhục an phận theo mệnh:

    “Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”

    Chính vì vậy, nàng Kiều của Nguyễn Du đã khám phá ra bí mật của cái mệnh, đó chính là thân phận làm người, đó chính là định

    mệnh. Ðịnh mệnh này vượt khỏi cái nghiệp (Karma) của Phật giáo. Nói cách khác, đó chính là một cái nghiệp mà con người có thể thắng vượt. Cái nghiệp mà cụ Nguyễn nói đến chính là định mệnh: “Ðã mang lấy nghiệp vào thân,” tức chính hữu thể tự thân của mình.

    1.3. Ðồng tính và dị tính trong định mệnh và mệnh

    Thoạt nhìn, Nguyễn Du mô tả truyện nàng Kiều như là một tích truyện, lập lại định mệnh của Ðạm Tiên. Mà ngay cả Ðạm Tiên, theo cụ, cũng chỉ là một câu truyện mẫu mực (proto-type) cho những tích truyện tương tự về định mệnh:

    “Vâng trình hỏi chữ xem tường,

    Mà xem trong sổ đoạn trường có tên.

    Âu đành qủa kiếp nhân duyên,

    Cũng người một hội, một thuyền đâu xa!”

     

    Nhưng nếu Kiều chỉ là một sự lập lại của Ðạm Tiên, cũng giống như Ðạm Tiên chỉ là một sự lập lại của những kiều nữ tài hoa khác như Tây Thi, Ðiêu Thuyền, Trần Nguyên Nguyên vân vân, thì nàng Kiều trong Nguyễn Du đâu có khác chi những quốc sắc giai nhân khác. Thực ra, Ðạm Tiên không phải Thúy Kiều, cũng như Tây Thi không phải là Ðiêu Thuyền. Tương tự, Phạm Lãi không giống Từ Hải, mà Từ Hải cũng chẳng giống chi Hạng Võ. Cái chết anh hùng của một Trần Bình Trọng càng khác xa cái chết ngu xuẩn của Từ Hải, một người hữu dõng song dại gái, thiếu tri, thiếu nhân và vô mưu. Một cái chết anh hùng song hữu dõng vô mưu của Hạng Võ cũng khác hẳn với cái chết khôn ngoan nhưng lãng nhạt của Phạm Lãi mà sự khôn ngoan của Phạm Lãi càng không bì được với những cái chết anh hùng của Socrates hay của Ðức Ki-Tô.

    Nếu Kiều không chỉ là một sự lập lại chính định mệnh của mình, vậy thì Kiều chỉ là một sự tái hiện dưới những hình thức khác nhau, tức theo luật luân hồi (Karma) mà cụ Nguyễn dùng danh từ

    Phật học gọi là cái nghiệp. Hoặc suy tư theo Arthur Schopenhauer, triết gia đại biểu của thuyết bi quan, thì tất cả những tích truyện của Kiều hay Ðạm Tiên, thực ra chỉ là những biểu tượng (Vorstellungen) của chính cái mệnh mà thôi.

    Song nhận định như vậy tức là đã chối bỏ tính chất cá biệt của nàng Kiều. Thực ra, định mệnh mà cụ Nguyễn Du muốn nói, không chỉ là một biểu hiện, hay cái nghiệp, của những người như Kiều hay Ðạm Tiên. Cái mệnh mà Tố Như tiên sinh muốn diễn đạt chính là định mệnh, hay thân phận làm người. Thế nên, “đã mang lấy nghiệp vào thân” đồng nghĩa với “đã là con người, và như là con người.” Song, nói theo Martin Heidegger, “con người” chỉ nói nên đồng tính (Gemeinsamkeit) và nguyên tính (Ursprunglichkeit) của một giống, một loại, chứ không thể xác quyết sự đồng nhất (unity), nhất là một sự đồng nhất theo lượng tính của chúng ta. Nói cách khác, chúng ta cũng có một mệnh tức thân phận con người (đồng tính), song mệnh của chúng ta không đồng nhất (tài nữ Thúy Kiều không phải là kỳ nữ Ðạm Tiên.)

    Nhận định như vậy, cái hữu thể của Kiều là một hữu thể tách biệt (distinct), và cá biệt (particular) không hoàn toàn lập lại cái định mệnh của Ðạm Tiên. Cái hữu thể có thể nói lên đồng tính, song phản đối đồng nhất, được cụ Nguyễn diễn đạt như định mệnh qua lời Ðạm Tiên nói với Kiều:

    “Chị sao phận mỏng đức dầy,

    Kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai.”

    Ðây là một nhãn quan về định mệnh hoàn toàn khác với lối nhìn thường tình của nàng Kiều khi chưa tự giác:

    “Ma đưa lối, qủy đưa đường,

    Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.

    Hết nạn nọ đến nạn kia,

    Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”

     

    Thực ra, định mệnh Kiều, tuy nằm trong sổ đoạn trường, vẫn

    không phải là định mệnh của Ðạm Tiên như cô Kiều ngây thơ

    từng hiểu lầm: “Cùng người một hội một thuyền đâu xa.” Ðịnh

    mệnh của Kiều nằm ngay trong tay nàng, tức nằm ngay trong chữ

    tâm của nàng, tức nằm ngay trong hữu thể tự thức của nàng. Một

    khi nàng khám phá ra rằng “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài,” và

    một khi nàng thực hiện chữ tâm đó: “Một niềm vì nước vì dân,”

    hay “bán mình là hiếu, cứu người là nhân,” thì chắc chắn là “tâm

    thành đã thấu đến trời,” và “đoạn trường sổ rút tên ra” ngay. Ðó

    chính là sự tự cứu rỗi qua quá trình biện chứng của lịch sử Kim

    Vân Kiều.

  • Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du-trao duyên

    Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du-trao duyên

    Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du-trao duyên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trích Truyện Kiều của Nguyễn Du


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều – Nguyễn Du-trao duyên

    Kiến thức lớp 10

    Truyện Kiều – Nguyễn Du-phần 10

    TRAO DUYÊN

    I)VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH

    Sau khi Thuý Kiều và Kim Trọng thề thốt với nhau ,cùng nhau đính ước thì tai biến xảy đến cho gia đình nàng .Kiều phải hy sinh tình yêu với Kim Trọng , bán mình chuộc cha. Đây là đoạn miêu tẢ tâm trạng nàng sau khi quyết định trao duyên cho Thuý Vân . Đoạn trích này được trích từ câu 711 đến câu 757 trong tác phẩm “Truyện Kiều”

    II)CHỦ ĐỀ

    Trong đoạn trích này Nguyễn Du khắc hoạ nổi bật tình cảm thuỷ

    chung , son sắt của Thuý Kiều đối với Kim Trọng .Ngoài ra Nguyễn Du còn cho ta thấy Thuý Kiều là một người con gái giàu lòng hy sinh , vị tha , biết quên mình vì hạnh phúc của kẻ khác . Đồng thời , qua đoạn thơ này Nguyễn Du cũng đã tố cáo sự bất nhân tàn bạo của xã hội phong kiến đã vùi dập tình yêu đôi lứa , chà đạp , làm tan vỡ hạnh phúc và quyền sống của con người lương thiện .

    III) PHÂN TÍCH

    1)Tâm trạng của Thuý Kiều khi trao duyên cho em :

    Kiều cứ ngại cho Kim Trọng về việc đính hôn , thề hẹn không thành :

    “Rằng lòng đương thổn thức đầy.

    Tơ duyên còn vướng mối này chu xong

    Hở môi ra cũng thẹn thùng

    Để lòng thì phụ tấm lòng với ai”

    Đây là tâm trạng phân vân của Thuý Kiều, nói hay không nói điều sâu kín trong lòng mình? Nói ra thì thẹn vói Thuý Vân, mà không nói ra thì phụ tấm lòng với Kim Trọng. Đây quả là một tâm trạng dằn vặt , khó xử .

    Từ cái tâm trạng dằn vặt khó xử đó . Kiều khi đã đi đến quyết định phải nói , vì không còn cơ hội nào khác . Ngày mai nàng phải theo Mã Giám Sinh về Lâm Truy rồi . Nhưng trước khi nói nàng đã quỳ xuống và lạy Thuý Vân :

    “Cậy em, em có chịu lời

    Ngồi lên cho chi lạy rồi sẽ thưa”

    Đây là một thái độ trân trọng của Thuý Kiều đối vói Thuý Vân và đó cũng chính là sự trân trọng với tình mình với người yêu . Hơn nữa Kiều sợ rằng điều mình nói ra không được Thuý Vân chấp

    thuận .

    Lời Kiều nói với Thuý Vân là những lời đau đớn , tuyệt vọng:

    “Ngày xuân em hãy còn dài

    xót tình máu mủ thay lời nước non”

    Ngày xuân của Thuý Vân còn dài có nghĩa là ngày xuân của Thuý Kiều đã hết . Và Kiều đã thốt lên lời tuyệt mệnh, sự hy sinh của nàng đến mức thảm hại :

    “Chị dù thịt nát xương mòn

    Ngậm ngùi chín suối hãy còn thơm lây”

    Bi kịch dã lên đến cao điểm , Kiều trao duyên cho em nhưng tình nàng vẫn giữ . Thế là hết , một nỗi tái tê dâng ngập hồn nàng , nàng đành vĩnh biệt người yêu

    • Tâm trạng của Thuý Kiều sau khi trao duyên cho em

    Sau khi đã nói điều mình muốn nói , Kiêù càng cảm thấy thương mình , nghĩ đến ngày mai tăm tối mà mình phải trải qua .

    “ Dù em nên vợ nên chồng

    Xót người mệnh bạc , ắt lòng chẳng quên”

    Trong hai câu thơ này Nguyễn Du đã dùng hai hình ảnh đối lập “nên vợ nên chồng “,”người mệnh bạc” để gợi nỗi thương tâm , chua xót của Kiều .

    Đã trao duyên cho em rồi , nhưng Kiều vẫn còn băn khoăn vì một lời thề chưa trọn và nàng quyết tâm làm tất cả , chịu đựng tất cả để trả nghĩa cho người yêu :

    “Hồn còn mang nặng lời thề

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”

    Ở đây chính là sự thuỷ chung son sắt trong tình yêu của Thuý Kiều . Lòng nàng đã “mang nặng lời thề” nên làm sao nàng quên được Kim Trọng , nàng không đau đớn sao được khi chưa thực hiên được lời thề . Và đó cũng chính là nỗi thương mình vô hạn của nàng .

    Sự chia ly đã bày ra trước mắt , tình yêu nàng vừa đưa tay ra đón đã đổ vỡ tan tác , khiến nàng phải kêu lên những tiếng kêu đứt ruột :

    “Bây giờ trâm gãy , bình tan

    Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”

    Với hai hình ảnh “trâm gãy” “bình tan” cùng với cách dùng câu cảm “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân !”

    Nguyễn Du đã khắc sâu thêm cái hoàn cảnh đáng thương của Kiều .

    Quá đau đớn xót xa cho tình mình ;quá lo lắng cho người yêu , Kiều như quên mất Thuý Vân trước mặt , hình ảnh của Kim Trọng lại hiện ra và nàng thốt lên những lời thật bi thiết :

    “Trăm nghìn lạy gởi tình quân

    Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

    Phận sao phận bạcnhư vôi

    Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang !

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !”

    • đây Nguyễn Du đã dùng liên tiếp những câu cảm thán , những điệp từ (“phận”, “Kim Lang”)

    Cùng với từ láy “thôi , thôi” ở câu cuối đã làm nổi bật sự oán than bi thiết của Kiều . Nguyễn Du đã đồng cảm sâu xa với nhân vật của mình . Ta cảm nhận được nỗi đau của Kiều cũng là nỗi đau

    của Nguyễn Du .

    IV)TỔNG KẾT :

    Nếu trong tình cảm tai biến của gia đình , Kiều đã quyết định bán mình để chuộc cha , đem lại sự yên ổn cho gia đình là một sự hy sinh ở nàng với tấm lòng hiếu thảo thì nổi đau khổ , ái ngại vì lời hẹn ước không tròn với Kim Trọng và trao duyên cho em là một biểu hiện của lòng vị tha , hi sinh rất đáng trọng , là tấm lòng chung thuỷ sắt son hiếm c ó trước sự bất lực của hoàn cảnh .

  • Văn mẫu Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

    Đề bài:

    Phân tích đoạn trích “Chí khí anh hùng” trích Truyện Kiều của Nguyễn Du.
    Bài làm
    Truyện Kiều không chỉ xuất sắc về ngôn ngữ nghệ thuật mà còn về nội dung ý nghĩa độc đáo,sâu sắc.Nguyễn Du đã phản ánh một hiện thực xã hội bất công ,tàn bạo chà đạp nên quyền sống của con người biệt là những người phụ nữ.Điều ấy khiến Truyện Kiều thấm đượm tinh thần nhân đạo.Và khi đưa Tù Hải-người anh hùng đầu đội trời,chân đạp đất vào như một nét sáng tạo trong cốt truyện Nguyễn Du đac thể hiện giấc mơ về một xã hội công bằng tự do.Vẻ đẹp, phẩm chất anh hùng hiên ngang của Từ Hải được thể hiện rõ qua đoạn trích “Chí khí anh hùng”.
    Sau khi bị rơi vào lầu xanh lần hai,cuộc đời Thúy Kiều tưởng như bế tắc hoàn toàn .Giữa lúc nỗi buồn đang dâng nên cao trào thì Từ Hải đột nhiên xuất hiện .Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều như tìm đến với tri âm ,tri kỉ.Trong vũng  lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh ,Từ Hải đã tinh tương nhận ra phẩm chất cao quý của Thúy Kiều với con mắt tinh đời.Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên Kiều đã thầm khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan tình cho mình.Sau cuộc gặp gỡ đặc biệt ,Kiều và Hải đã tìm thây sự hòa hợp về tâm hồn của nhau .Hai khoảng trống về tâm hồn đã được lấp đầy, san sẻ cho nhau bằng tình yêu.Sự tương xứng ấy đã tạo nên một kết thúc có hậu:
    Trai anh hùng gái thuyền quyên
    Phi nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.
    Cuộc sống đôi lứa vừa mới chớm nở được “nửa năm” thì Từ Hải ra đi thực hiện nghiệp lớn:
    Nửa năm hương khói đương nồng
    Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương
    Trông vời trời bể mênh mang
    Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.
    Mặc dù trong thời gian sáu tháng ,tình yêu của họ luôn mặn nồng ,hạnh phúc “nửa năm hương khói đương nồng”nhưng tâm chí Từ Hải luôn suy nghĩ đến việc lớn lao,khát khao lập công danh nghiệp lớn .Vì thế Từ Hải “thoát đã động lòng bốn phương” là hợp lý. “Lòng bốn phương” ở đây là hình ảnh ước lệ tượng trưng cho chí nguyện lập công danh ,sự nghiệp của Từ Hải tạo nên tầm vóc lớn lao phi thường cho người chàng.Có thể nói tình yêu hay bất cứ một thứ gì khác cũng không ngăn nổi bước chân của chàng.Trong 3254 câu Kiều ,Nguyễn Du chỉ dành duy nhất một từ “trượng phu” cho Từ Hải để khẳng định sự trân trọng,kính phục của ông đối với Từ Hải.Nguyễn Du xây dựng hình ảnh Từ Hải song song,sánh ngang với hình ảnh trời đất.Nhắc đến Từ Hải là thấy hình ảnh cao rộng của trời đất vũ trụ .Những từ láy,từ biểu cảm chỉ độ rộng ,độ cao càng khắc họa rõ hơn tư thế của Từ Hải. Cái nhìn của chàng không phải là cái nhìn bình thường mà là “trông vời”-cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt và suy nghĩ phi thường.Hình ảnh “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”diễn tả phong thái ung dung ,hiên ngang không vướng bận của người anh hùng trên đường ra đi gây dựng sự nghiệp.
    Đối với Thúy Kiều ,Từ Hải không chỉ như một người chồng mà còn như một vị ân nhân ,một tri âm tri kỉ .Vì vậy ,trước quyết tâm ra đi thực hiện nghiệp lớn của chồng mình ,Thúy Kiều đã xin đi theo để chăm sóc ,nâng khăn sửa túi cho chàng:
    Nàng rằng : Phận gái chữ tòng
    Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.
    Kiều biết Từ Hải ra đi trong cảnh “bốn bể không nhà” nhưng vẫn nguyện đi theo.Chữ “tòng” không chỉ đơn giản như trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải “xuất giá tòng phu” mà còn bao hàm ý thức chia sẻ nhiệm vụ ,đồng lòng tiếp sức cho Từ khi gặp khó khăn trong cuộc sống.
    Trước lời xin đi theo của Kiều , Từ Hải như khiển trách :
    Từ rằng : Tâm phúc tương tri
    Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình.
    Từ Hải nói rằng Kiều chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình  vừa là lời khiển trách vừa  mong Kiều cứng cỏi hơn vừa là lời dặn dò và niềm tin Từ Hải gửi gắm nơi Thúy Kiều.Đã là “tâm phúc tương tri”
    thì Kiều phải hiểu ,động viên ,chia sẻ ,là chỗ dựa tinh thần vững chắc , từ đó vượt qua sự bịn rịn của nữ nhi thường tình để Hải có thể yên tâm lên đường ra đi thực hiên nghiệp lớn .Để rồi một ngày nào đó Từ Hải trong sự nghiệp vẻ vang đón Kiều về nhà chồng trong danh dự:
    Bao giờ mười vạn tinh binh
    Tiếng chiêng dậy đất ,bóng râm rợp đường
    Làm cho rõ mặt phi thường
    Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
    Qua lời hứa với Thúy Kiều , ta thấy được lý tưởng lớn lao của Từ Hải.Nguyễn Du đã sự dụng một loạt các từ ngũ thuộc phảm trù không gian như “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất “…gợi nên khát vọng lớn lao ,mang tầm vóc vũ trụ của người anh hùng.Khát vọng “ làm cho rõ mặt phi thường “ chính là khát vọng xây dựng một sự nghiệp ,công danh lẫy lừng ,xuất chúng,hơn người.Thành công ấy sx chính là sính lễ để Từ Hải rước người tri kỉ “nghi gia”.Những lời nói của Từ Hải vào khoảnh khắc tiễn biệt này càng làm rõ chí khí anh hùng của nhân vật này ,thay vì những lời nói thể hiện sự bịn rịn ,quyên luyến khi chia tay thì là những ước mơ ,sự khẳng định nhất định sẽ thành công của chàng.
    Từ Hải còn thể hiện chí khí anh hùng của mình ở việc cho rằng Thúy Kiều đi theo sẽ “càng thêm bận” nhưng sâu thẳm bên trong là sự lo lắng cho Kiều khi đi theo sẽ phải chịu khổ cực ,nay đây mai đó :
    Bằng nay bốn bể không nhà
    Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
    Đành lòng chờ đó ít lâu
    Chầy chăng là một năm sau vội gì!
    Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay bình thường khác, Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình. Lời chia tay mà cũng là lời hứa chắc như đinh đóng cột; là niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong một tương lai rất gần. Hai câu thơ cuối đoạn đã khẳng định thêm quyết tâm ấy:
    Quyết lời dứt áo ra đi,
    Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
    Nguyễn Du mượn hình ảnh phim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường tượng trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, muốn làm nên sự nghiệp lớn lao để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc chia tay, niềm tin vào thắng lợi… tất cả đều bộc lộ chí khí anh hùng của Từ Hải. Đã đến lúc chim bằng tung cánh bay lên cùng gió mây chín ngàn dặm trên cao.Hình ảnh: gió mây bằng đã đến kì dặm khai là mượn ý của Trang Tử tả chim bằng khi cất cánh lên thì như đám mây ngang trời và mỗi bay thì chín vạn dậm mới nghỉ, đối lập với những con chim nhỏ chỉ nhảy nhót trên cành cây đã diễn tả những giây phút ngáy ngất say men chiến thắng cùa con người phi thường lúc rời khỏi nơi tiễn biệt.
    Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét tính cách đẹp đẽ, sinh động.Từ Hải hiện nên như một vị anh hùng đầy phóng khoáng ,dứt khoát ,nhanh nhẹn và oai nghiêm,có lý tưởng công danh lớn,rạch ròi giữa lý tưởng và tình cảm. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tô đậm tính cách của người anh hùng Từ Hải – nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào qua đó cho thấy giấc mơ về một xã hội tự do,công bằng của Nguyễn Du.

  • Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

    Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

    Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc Chuyện người con gái Nam Xương)


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

    Phân tích Chuyện Người Con Gái Nam Xương của

    Nguyễn Dữ để nêu bật giá trị tố cáo xã hội và giá trị nhân

    đạo sâu sắc của tác phẩm này

    Đề bài: Em hãy phân tích Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ để nêu bật giá trị tố cáo xã hội và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm này.

    Bài làm

    Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện hay trong Truyền kì mạn lục, một tác phẩm văn xuôi bằng chữ Hán ở Việt Nam thế kỉ XVI. Truyện được Nguyễn Dữ viết trên cơ sở một truyện dân gian Việt Nam, cốt truyện và nhân vật gắn liền với một không gian cụ thể, một chứng tích cụ thể để phản ánh một vấn đề bức thiết của xã hội đương thời, đó là thân phận con người nói chung, người phụ nữ nói riêng trong xã hội phong kiến.

    Truyện kể về cuộc đời và số phận bi đát của Vũ Nương, người con gái huyện Nam Xương nết na, thuỳ mị. Chồng nàng là Trương Sinh con nhà giàu có, nhưng ít học, vốn tính đa nghi, đối với vợ thường phòng ngừa quá mức. Khi chồng đi lính, nàng sinh con trai và hết lòng dạy con, chăm sóc mẹ chồng. Khi giặc tan, Trương Sinh

    trở về thì mẹ đã qua đời, con trai đang học nói. Đứa con nhất Định không chịu nhận chàng là bố vì bố nó “đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Nghe con nói, chàng ngờ vợ thất tiết, đánh đuổi nàng đi. Uất ức quá, nàng gieo mình xuống sông mà chết. Được các nàng tiên cứu, nàng sống thuỷ chung cùng vợ vua Nam Hải. Một lần gặp người làng là Phan Lang cũng được tiên cứu, nàng nhờ Phan Lang về nói với chồng lập đàn giải oan cho nàng. Trong lễ giải oan nàng hiện về và ngỏ lời từ biệt chàng vĩnh viễn.

    Câu chuyện chỉ là một vụ ghen tuông bình thường trong một gia đình cũng bình thường như trăm nghìn gia đình khác, nhưng có ý nghĩa tố cáo xã hội vô cùng sâu sắc. Một người phụ nữ nết na lấy phải một anh chồng hay ghen lại độc đoán. Và chỉ vì một chuyện bông đùa với con khi xa chồng, vì chồng nàng quá tin lời con trẻ, nghĩ oan cho nàng, tàn nhẫn đối với nàng khiên nàng phải tìm cái chết trên bến Hoàng Giang. Nỗi oan tày đình của nàng đã vượt ra ngoài phạm vi gia đình, là một trong muôn vàn oan khốc trong xã hội vùi dập thân phận con người, nhất là người phụ nữ. Sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy oan trái, bất công, quyền sống con người không được đảm bảo, người phụ nữ với số phận bèo dạt, mây trôi, có thể gặp bao nhiêu tai họa giáng xuống đầu mình vào bất cứ lúc nào vì những nguyên cớ vu vơ không thể tưởng tượng được. Rõ ràng xã hội phong kiến suy tàn đã sinh ra những Trương Sinh đầu óc nam quyền độc đoán, đã là nguyên nhân sâu xa của những đau khổ của người phụ nữ. Vì vậy, khi sống ở thuỷ cung, nàng đã có lúc định trở về quê cũ. Nhưng tại lễ giải oan, mặc dù nặng lòng với quê hương, lỗi lầm xưa của chồng, nàng cũng đã tha thứ, nhưng nàng vẫn dứt áo ra đi, đánh phải sống ở cõi chết: “Đa tạ tình chàng, thiếp chàng thể trở về nhân gian được nữa”.

    Chi tiết mang tính chất truyền kì này đã nói lên thái độ phủ định của Vũ Nương, của người phụ nữ đương thời đối với “nhân gian”, đối với xã hội phong kiến thối nát vì ở đó họ không tìm thấy niềm vui, không tìm thấy hạnh phúc.

    Bên cạnh giá trị tố cáo xã hội phong kiến suy tàn, Chuyện người con gái Nam Xương còn đề cao phẩm chất giá trị của người phụ nữ. Khi còn sống, Vũ Nương là người vợ đảm dâu hiếu. Lúc sống bên chồng, nàng “giữ gìn khuôn phép”, không lúc nào để vợ chồng thất hoà. Lúc chồng đi lính, một mình nàng quán xuyến mọi việc, nuôi con, phụng dưỡng mẹ chồng đau ốm và khi mẹ chồng mất, nànglo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.

    Còn đối với chồng, nàng một dạ thuỷ chung. Sa khi chết, được sống ở thuỷ cung nguy nga, lộng lẫy, khi Phan Lang gợi đến quê hương, nàng xúc động “ứa nước mắt khóc”. Nàng giãi bày tâm sự :”Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây mãi để mang tiếng xấu xa. Vả chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày”. Đọc đến đây, không ai không xúc động được trước tấm lòng nặng nghĩa nặng tình với quê hương bản quán của nàng. Tuy vừa được cứu sống, tuy được sống trong nhung lụa, bên cạnh có những nàng tiên tốt bụng và là ân nhân của mình, nhưng lòng nàng lúc nào cũng nhớ đến quê cha đất cũ và tâm niệm sẽ có ngày tìm về. Vũ Nương dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ lúc sống ở trần thế với cuộc sống đời thường cũng như khi làm tiên ở thuỷ cung lộng lẫy đều là một người phụ nữ đẹp, đẹp cả về hình dáng, cả về phẩm giá, về tâm hồn. Người phụ nữ đó lẽ ra phải sống cuộc đời hạnh phúc. Nhưng tiếc thay xã hội phong kiến đã chà đạp lên cuộc đời nàng.

    Như phần trên đã nói, viết Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã lấy cốt truyện trong dân gian. Nhưng rõ ràng với tấm lòng yêu thương con người sâu nặng, bằng bút pháp kể chuyện giá dặn, với tình tiết lúc thì chân thật đời thường, lúc thì kì ảo hoang đường, ông đã xây dựng được hình tượng nhân vật vô cùng sống động, mang ý nghĩa xã hội cao. Do đó tác phẩm của ông đã giáo dục chúng ta lòng yêu thương con người sâu sắc, lòng quyết tâm sống chiến đấu vì quyền sống và hạnh phúc con người.

  • Văn mẫu Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc Chuyện người con gái Nam Xương)

    Văn mẫu Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc Chuyện người con gái Nam Xương)

    Văn mẫu Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc Chuyện người con gái Nam Xương)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc Chuyện người con gái Nam Xương)

    VĂN HỌC LỚP 9

    Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương”)

    BÀI LÀM

    am Xương nữ tử lục (Chuyện người con gái Nam Xương) là một

    kiệt tác trong kho tàng truyện ngắn Việt Nam(1). Dựa trên sự kiện có thật,

    được tiểu thuyết hóa qua bút pháp truyền kỳ, truyện trở thành một tác phẩm

    văn chương đích thực. Thế nên, để có thể đi sâu hơn nữa vào cái đẹp của

    áng văn này, thiết tưởng truyện nên được chiêm nghiệm và hân thưởng

    trong thế giới văn chương (đặc biệt với motif chiếc bóng). Hơn thế nữa, sau

    khi được gửi đến độc giả qua tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Tự

    (Dữ)(2). Chuyện người con gái Nam Xươngkhông ngừng được phân giải và

    tái trứ tác trong những cấu trúc duy lý hơn, trở thành kịch bản sân khấu,

    ngọc phả, truyện thơ Nôm, cũng như truyện ngắn hiện đại. Với những tác

    phẩm cải tác này, xét từ góc độ “độc giả hồi đáp” (reader’s response), các lý

    luận “lấp đầy khoảng trống” (filling the gap) và “tiếp cận liên văn bản”

    (intertextual approach) tỏ ra hữu hiệu trong việc tìm hiểu quá trình tiếp nhận

    thiên truyện ngắn xuất sắc của dân tộc qua các thế hệ và các kênh truyền

    thông khác nhau.

    Nói chuyện cái bóng trong văn chương, hẳn phải nhắc đến Người mất bóng(3) của Adelbert von Chamisso (1781-1838). Nhân vật chính của truyện

    • Peter Schlemihl, do tối mắt vì tiền vàng, trong khoảnh khắc đã vội đổi bóng mình cho quỷ. Được hắt sáng, mọi thực thể đều lộ bóng: bóng là minh chứng hiện hữu của thực thể. Con người là một thực thể xã hội sống,

    được quy định bởi những thiết chế đạo đức nhất định. Chiếc bóng sinh

    động của con người âm thầm song hành với chủ nhân của nó qua những

    hành vi mang giá trị đạo đức – xã hội, đồng thời khẳng định giá trị thực thể

    của chủ nhân. Việc đổi chác của Schlemihl chính là đánh mất thực-thể-

    đạo-đức của chính mình trong phút chốc, và một khi đã đánh mất, không dễ

    dàng gì vãn hồi được.

    Cái bóng có lúc lại trở thành một phân thân nổi loạn chống lại chủ nhân của nó, như trong truyện cổ của Hans Christian Andersen (1805-1875)(4), hay trong “William Wilson” của Edgar Allan Poe (1809-1849).

    Trong mỗi con người đều tồn tại nhiều “tiếng nói” khác nhau, thậm chí đối

    lập nhau, của ý thức (consciousness) và tiềm thức (subconsciousness).

    Nhân cách tiềm thức được hình tượng hóa thành phân thân(5). Nhân vật

    Wilson trong truyện đã chỉ ra điểm khác biệt duy nhất giữa mình và phân

    thân, “Đối thủ của tôi có sự yếu đuối ở các cơ quan thanh hầu và yết

    hầu, bất kỳ lúc nào cũng cản trở hắn không cất được giọng cao hơn những

    lời thì thầm rất khẽ(6). Qua hình tượng phân thân, Andersen và Poe như

    cùng gửi một thông điệp triết lý: ý thức không phải lúc nào cũng ở vị trí chủ

    đạo; tiềm thức có lúc chiếm thế ưu thắng và điều khiển hành vi con người

    trong vô thức (unconsciousness).

    Chính do có thể được dùng như hình tượng văn học để thể hiện con người với tư cách một thực-thể-đạo-đức, cùng những quan hệ biện chứng giữa ý thức và tiềm thức của nó, cái bóng tỏ ra rất hiệu quả trong việc diễn tả những ngóc ngách tâm lý, tình cảm, đặc biệt là cái ghen. Viết cách đây hơn mười thế kỷ, bộ tiểu thuyết Nhật Bản kiệt xuất Genji

    monogatari (Nguyên thị vật ngữ) có một chương rất hay về sự ghen tuông (Chương 9, “Aoi” hay “Quỳ Cơ”). Nàng Rokujo (Lục Điều) đánh mất sự yên bình trong tâm tưởng vì quá ghen với Aoi (Quỳ Cơ), người đã chiếm trọn lòng sủng ái của chàng Genji (Nguyên Thị). Tệ hơn thế nữa, Rokujo rơi vào một trạng thái tâm lý dị thường:

    Chỉ âu lo với niềm bất hạnh của chính mình, nàng chẳng hề muốn

    gieo tai họa cho ai khác. Thế nhưng lại nghe nói là khi người trầm uất thì

    hồn phách cũng phiêu du. Nàng cũng nhận thấy khả năng là hồn phách

    nàng đã lạc vào mê lộ (…). Có thể vì thế mà đến giờ, mỗi khi chợp mắt,

    thậm chí ngay lúc nghỉ trưa, nàng thường sống với một giấc mộng hồi quy.

    Nàng thấy mình đến một thanh cung tráng lệ, dường như của Aoi, nhập vào

    chủ nhân của nó, và hung mãnh, bạo liệt đánh đập người nọ – một hành

    động hoàn toàn xa lạ với bản ngã của nàng khi tỉnh thức. Đã nhiều lần nàng

    cảm thấy không còn là chính mình nữa, rồi tự hỏi “Lẽ nào hồn đã xuất khỏi

    thân ta? Ta hiểu, con tim không chỉ đơn giản là một vật chỉ biết làm theo ý

    ta muốn”(7).

    Trạng thái bán tín bán nghi này cuối cùng cũng được giải tỏa. Aoi lâm trọng bịnh, thuốc thang không giảm, phải cầu phép trừ tà. Trong ngày ấy, dù ở xa nơi hành lễ, Rokujo hoàn hồn thức giấc, thấy toàn thân và y phục mình đẫm hương giới tử (được đốt trong các buổi trừ tà ma), không sao tẩy gội hết!(8). Tuy không nói thành lời, không thể hiện trực tiếp qua hành động, lòng ghen tuông cực độ của Rokujo chính là thủ phạm gây nên cái chết của Aoi. Khi viết truyện ngắn “Kage” (“Ảnh”), Akutagawa Ryunosuke (1892-

    1927) dường như đã kế thừa và phát triển motif rất ấn tượng này. Tựa như

    Rokujo, chàng thương nhân Trung Hoa lập nghiệp trên đất Phù Tang –

    Chen Cai, trong vô thức, đã để cái bóng (tiềm thức ghen tuông man dã) của

    mình trỗi dậy, thảm sát người vợ vô tội Fusako. Truyện chuyển rất nhanh:

    khi còn chưa hết sững sờ với việc Chen Cai đối mặt với thủ phạm, cái bóng

    phân thân của mình, ngay trên hiện trường tội ác, người đọc đã lại ngẩn

    ngơ trước ánh đèn vụt sáng của rạp chiếu phim, để kịp nhận ra rằng những

    điều vừa rồi chỉ là bóng ảnh trên màn bạc. Thêm lời ai đó thoảng qua mà ý

    vị: câu chuyện ảnh ảo nọ mỗi người trong chúng ta ít nhiều đều đã có lần

    chiêm nghiệm(9). Chuyện ghen tuông của Rokujo, của Chen Cai như lời

    cảnh báo, “Vẻ quyến rũ toàn bích của cuộc sống ở đời này luôn bị phủ bóng

    bởi những thế lực – nội tại và ngoại tại – có khả năng cướp đi tất cả”(10).

    Trong văn chương, cái bóng không chỉ là phân thân, mà còn là phản thân tự xét mình. Ở chuyện Bóng hình đánh mất, E. T. A. Hoffman (1776-1822) kể về chàng trai Đức Erasmus Spikher trong thời gian lưu ngụ ở Ý đã gặp và yêu nàng Giulietta, quên đi vợ, con đang chờ đợi nơi quê nhà. Chung cuộc, trong phút chia phôi định mệnh, cả hai cố tìm lấy một nối kết mong manh trong cực cùng tuyệt vọng: Riết chặt Erasmus hơn nữa vào ngực nàng, Giuletta thầm thì: “Anh yêu của em, hãy để lại cho em hình bóng của anh phản chiếu trên gương. Nó sẽ chẳng khi nào bỏ em mà đi”. Và giữa lúc Erasmus còn đang phân vân, “Sao? Anh thậm chí còn không dành được cho em ảnh mộng của chính anh hiện trong gương à?” nàng than vãn, “Anh đã thề rằng anh thuộc về em cả xác lẫn hồn! Thế mà sao anh không để được hình ảnh của anh ở lại với em, để cùng em bè bạn suốt quãng đời còn lại, một quãng đời mà em biết rõ từ nay trở đi sẽ không còn lạc thú và tình yêu, bởi lẽ anh đã phụ rẫy em?”. Suối lệ tuôn trào từ đôi mắt đen kiều diễm của nàng. Xao xuyến cùng cực bởi thương cảm và ái tình, Erasmus ta thán: “Anh phải xa em ư? Thế thì hãy để ảnh chiếu của anh ở cùng em mãi mãi(11).

    Đoạn thoại trên hé lộ một điều: khi đã dành trọn cho tình yêu cả tâm

    hồn lẫn thân xác, dù phải biệt ly, lưu ảnh của mình vẫn trường tồn trong

    lòng người mình yêu. Người thật và cái bóng trong gương đến đây là một,

    ranh giới giữa thực và ảo bị xóa bỏ. Lấy ảnh chiếu làm người thực cũng

    chẳng phải là điều lạ lẫm trong văn chương Việt Nam. Câu thơ bi thống

    khóc bạn tình, “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng – Xếp tàn y lại để dành hơi” thể

    hiện tuyệt đẹp trạng huống cực bi, tâm thái bức xúc, cố thắp lên chút hy

    vọng cuối cùng trong tột cùng vô vọng, nhằm vãn hồi và bảo lưu dư ảnh, dư

    hương của một trân bảo – con người đã mất(12). Vì quá yêu, Erasmus đã để

    lại hình bóng mình cho nhân tình. Khi trở về chốn xưa, mọi người dễ dàng

    nhận ra việc chàng không còn ảnh chiếu trong gương. Vợ chàng cáo buộc:

    “Anh biết rằng khi không còn ảnh chiếu nữa, anh sẽ chỉ là một trò cười, và

    anh không thể nào là một người cha đúng nghĩa trong gia đình, người có

    khả năng khơi dậy lòng kính trọng nơi vợ con”(13). Mấy lời trên khiến ta liên

    tưởng đến một đoản văn của M. Bakhtin (1895-1975), Người trong

    gương: Trong bản thân và các quan hệ hỗ tương của bản thân, không khỏi

    để thấu lộ những điều hư ngụy và những lời hoang ngôn. Tư tưởng, tình

    cảm được ngoại hóa qua hình tượng, tâm linh cũng được ngoại hóa qua

    hình tượng. Không phải là ta dùng con mắt của chính mình từ nội tại xem

    xét thế giới, mà chính là ta dùng con mắt của thế giới, con mắt của người

    khác để xem xét chính bản thân. Ta bị tha nhân khống chế. Ở đây không có

    cái tính chất hoàn chỉnh ấu trĩ nọ của việc nội tại và ngoại tại kết hợp lẫn

    nhau. Trộm xét đâu lưng lại với hình tượng bản thân được cấu thành. Trong

    ảnh chiếu trên gương, bản thân và tha nhân là một sự nhào trộn ấu trĩ.

    Không có điểm nhìn để xem xét bản thân từ bên ngoài, ta không cách nào

    tiếp cận hình tượng nội tâm của chính mình. Đấy là dùng con mắt người

    khác thấu qua con mắt ta mà thị sát(14).

    Con người có thể xem xét bộ phận cơ thể mình, nhưng để nhìn được tổng thể, phải cần gương soi, một “con mắt” ngoại tại, tiếp nhận và phản ảnh thực thể soi chiếu vào nó. Ở cấp độ nội tâm cao hơn, con người có được cái nhìn phản thân thông qua nhãn quan đạo đức không ngừng kiến tạo và chuyển hóa từ những quan hệ trong môi trường sống và từ tha nhân

    • những người vun đắp nên các mối quan hệ nọ. Việc Erasmus mất ảnh chiếu trong gương có thể được đọc như một lối nói hình tượng, cho thấy người đàn ông ngoại tình này đã đánh mất hình ảnh người chồng, người cha như thế nào khi trở lại soi chiếu mình trong cộng đồng thân thuộc cố

    hữu. Cũng chính trong môi trường sống của mình, con người đảm nhiệm

    nhiều chức trách khác nhau, tự nhận biết và được nhận biết thông qua

    những thiết chế, quy ước (công khai hoặc ngấm ngầm) xã hội – đạo đức

    của cộng đồng mình sống. Truyện Người nuôi bóng mìnhcủa Lêônihác

    Báclátta (Argentina) lại là một minh họa khác. Nhân vật chính trong truyện

    là Hoan Ma-ri-nô, một người chuyên giúp vui cho các đám tiệc nhờ biệt tài

    tách mình khỏi bóng, khiến bóng mình biến hóa muôn hình vạn trạng, khi là

    kỵ sĩ vượt chướng ngại, khi là thỏ ăn bắp cải, khi lại là sơn dương leo núi.

    Thế nhưng sau những tràng pháo tay tán thưởng giữa đám tiệc xa hoa là

    một cuộc sống khốn quẫn, nhọc nhằn mưu sinh: tất cả những gì Ma-ri-nô

    làm chỉ là để nuôi ba đứa con và chính mình. Truyện không có lời nào về

    vợ, hay mẹ của anh, những người đảm đương công việc nội trợ trong nhà.

    Chỉ có một đoạn (cũng là đoạn kết) tả Ma-ri-nô, sau khi đã lo cho các con

    ấm bụng với những thức ăn nhặt từ bữa tiệc và dỗ chúng yên giấc, ngồi

    trầm ngâm trong căn gác ọp ẹp của gia đình: Ánh đèn điện lấp loáng trên

    khuôn mặt thiểu não, gầy gò của anh, còn bóng đen in nghiêng trên tường

    giống như hình dáng mờ ảo của một người đàn bà với kiểu tóc đã lỗi thời,

    đang âu yếm tựa vào vai anh thì thầm trò chuyện(15)… Tựa như kép Tư Bền

    của Nguyễn Công Hoan, Ma-ri-nô trong đám tiệc là nhà ảo thuật kỳ tài, hóa

    thân muôn cách, sống trong những cảnh huống dị thường: đó là sự phân

    lập giữa người (thực) và bóng (ảo) dưới ánh đèn hoa lệ. Nhưng khi quay về

    mái ấm của mình, con người ấy lại lo tròn chức trách của người cha, người

    mẹ đối với con cái, sống qua những hình bóng của vợ (của mẹ?) vĩnh hằng

    trong tâm tưởng: ấy phải chăng là duyên do để bóng anh hắt lên tường như

    bóng một người đàn bà đang trìu mến vỗ về?

    Bi kịch từ sự gián cách của các kênh thông báo

     

    Cuộc hôn nhân giữa nàng Vũ “mắt mũi nết na”, “thẳm lặng ngay lành, gồm có tư chất lạ” và chàng Trương “chẳng học thi thư”, lại thêm “nhiều ngờ, ngừa giữ quá lắm(16) đã sinh hạ bé Đản. Căn cứ theo tự nghĩa, tên chữ của đứa trẻ, “Đản,” vừa có nghĩa “đản sinh, nuôi dưỡng”, cũng vừa có nghĩa “hoang đản, dối lừa”. Tất cả tựa như sắp bày sẵn cho một bi kịch.

    Biên cương bị ngoại xâm, chàng Trương phải sung binh ra miền quan

    ải, chẳng kịp thấy mặt con. Nàng Vũ ở lại nhà, tròn phận nàng dâu hiếu

    nghĩa, chinh phụ tiết trinh, mẹ hiền tần tảo. Mẹ chồng và con trẻ là hai

    chứng nhân khả tín nhất cho tấm lòng son sắc của nàng. Thế nhưng, mẹ

    già sớm quy tiên, thác nguyện chỉ một điều, “Xin Trời xanh kia chớ phụ dâu

    mới, bằng dâu mới chưng chẳng phụ mẹ già vậy(17). Lời trối chăng của

    người mẹ cũng là lời chứng cho đức hạnh của nàng khi chồng đồn thú biên

    viễn xa xăm. Đáng tiếc, lời trối ấy chỉ mình nàng nghe, và người chết sẽ

    thôi không nói được nữa. Nhân chứng thân thiết duy nhất còn lại nay là bé

    Đản.

    Khi chàng Trương xuất ngũ trở về, “thời mẹ già đã từ nhà, con trẻ đã

    học nói vậy(18). Bé Đản – nhân chứng nay sẽ là người để chàng Trương

    thực hiện vế sau của câu “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Dắt con ra thăm mộ

    mẹ là việc chàng làm trước tiên, “Hỏi mồ mẹ thửa ở đâu. Dắt con một mình

    đi, con bèn kêu khóc chẳng khứng đi(19). Sững sờ khi thấy Đản không nhận

    mình là cha, chàng Trương gạn hỏi nguồn cơn. Đản bảo chàng chẳng

    giống người nó từng gọi là cha, người chỉ đến lúc đêm về, lặng thinh theo

    mẹ không rời: “Ngươi chỉn hay nói, khác chẳng bằng cha thuở nọ lặng vậy,

    bằn bặt vậy(20), “Mẹ Đản đi thời cũng đi, mẹ Đản ngồi thời cũng ngồi. Song

    chửa từng đến cùng con là Đản này dắt ẵm vậy(21). Mấy lời miêu tả thơ

    ngây của Đản tựa như những câu thai đố mà chàng Trương phải giải. Chỉ

    có điều do hướng giải đoán không rõ, cả người “đố” lẫn người “giải” đều

    chăm chắm vào một con người nào đấy có thực (xuất nhân): với Đản, đó là

    cha; với chàng Trương, đấy hẳn phải là gian phu(22). Trong tình huống đặc

    biệt này, kiến văn hạn hẹp cùng tính cả ghen của Trương đã khiến chàng

    lạc lối. Trương tri giác, lý giải sai lầm tình huống nọ, ngỡ mình là nạn nhân,

    là người bị bội phản “Đến khi nghe lời con nói, thời chưng ngờ sự cuốn đay

    xin lửa kia rễ bám càng sâu gắn mà chẳng khả cởi vậy(23). Chàng thụ khổ,

    quy hết tội tình cho vợ. Kênh giao tiếp song phương giữa hai vợ chồng bị

    cắt đứt, chỉ còn là đơn tuyến. Trương nhiếc móc vợ, “sỉ nhục nhiều

    phương, đòi thời ruồng đuổi”; nhưng khi nàng Vũ “xin giãi lòng ấy, mặc cởi

    lo ngờ(24), Trương nín lặng, tự dằn vặt mình và làm khổ người, “song dõi

    hỏi thửa lời ấy bởi đâu chưng lại, thời giấu lời con chẳng nói” “láng giềng

    chưng bảo, họ hàng chưng nói, chẳng nghe vào tai vậy(25). Đến đây, lẽ ra

    bé Đản – người phát ngôn của thông tin tày trời nọ – phải được xét hỏi “ba

    mặt một lời” để vãn hồi sự câu thông cần thiết giữa hai vợ chồng. Không ai

    hỏi đến, Đản lặng thinh như chưa từng nói ra chi tiết oan khiên nọ. Đản,

    nhân chứng cuối cùng, giờ như một kênh thông báo vô hiệu hóa, tắt sóng

    lặng câm. Sự im lặng và khinh bạc của chàng Trương đã đẩy nàng Vũ đến

    cực điểm bi phẫn. Trước kia, cả thời gian dài, nàng vò võ với một chiếc

    bóng, dẫu câm lặng, nhưng vẫn là nguồn động viên, an ủi nàng sống. Dẫu

    bóng câm lặng, đối thoại tưởng tượng giữa người và bóng vẫn có thể thiết

    lập được, dựa trên cơ sở hợp nhấtphân thân: Thiếp với chàng tuy hai

    mà một; vậy nên, nhìn bóng mình thiếp tưởng dáng ai trên tường. Thế

    nhưng, sự im lặng của chồng nay đẩy nàng đến quyết định quyên sinh. Và

    cũng như Rokujo trongNguyên thị vật ngữ, hay Chen Cai trong “Cái bóng,”

    thái độ ghen tuông cay nghiệt và mù quáng của chàng Trương đã giết chết

    người vợ đoan chính đáng thương.

  • Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

    Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

    Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

    Giá trị nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

    BÀI LÀM

    Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có tư dung tốt đẹp, tính tình thuỳ mị, nết na. Khi lấy chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng phải thất hoà dù Trương Sinh vốn có tính hay ghen. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm yêu thương, mong nhớ của mình đối với người chồng sẽ đi xa, rồi bày tỏ nỗi lo lắng trước những gian lao nguy hiểm mà người chồng sẽ trải qua, niềm mong ước được đoàn tụ … làm mọi người trong tiệc đều ứa hai hàng lệ.

    Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son sắt, thuỷ chung,

    “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”, mong đợi chồng về trong cô đơn

    mòn mỏi “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì

    nỗi buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được”. Hơn nữa, nàng

    là một người con dâu hiếu kính, tận tuỵ chăm sóc khi mẹ chồng còn

    sống, chôn cất mẹ chồng khi mẹ qua đời (lo liệu như đối với mẹ đẻ

    mình).

    Rồi đằng đẳng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó … mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh

    vực và biện bạch, Trương Sinh vẫn không tin. Bất đắc dĩ Vũ Nương thống thiết: “Thiếp sỡ dĩ nương tựa vào chàng … đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đó là hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng giờ đây tan vỡ. Tình yêu không còn, cả nỗi đau khổ chờ chồng giờ đây hoá đá….

    Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khuất tày trời không phương giải bày, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình. lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Nga Mĩ. Nhựợc bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ

    …” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa – con người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh chứng dám.

    Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên dòng nước cho thoả lòng nhớ chồng, con. Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, …. lẽ ra phải được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.

    Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi,

    ghen tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ nữ.

    Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng “nam quyền”, hơn nữa Trương Linh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.

    Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một tâm trạng nặng

    nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ kích động tính hay ghen của Trương Sinh: “trước đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến…”

    Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương.

    Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong “Truyện Kiề”u của Nguyễn Du, người cung nữ trong “cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương, …

    Phải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn đầu tiên viết bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện ra với tất cả nét thảm khốc.

    “Thắt nút” truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kị trong một đầu óc nam quyền độc đoán, thiếu trí tuệ ; bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm. Bão tố oan khiên phá nát cuộc đời của một người con gái trong trắng, phải kết thúc bi thảm trêm một dòng sông.

    “Gỡ nút” cũng bất ngờ bằng một câu nói trẻ thơ non dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách: “cha Đản lại đến kia kìa” thì bao nhiêu oan khiên gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.

    Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc hoạ diễn biến tâm lí và tính cách nhân vật ; lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân hậu, từng trải ; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lí, có tình – lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính ; lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.

    Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn “gỡ nút” truyện, chàng Trương Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng chốc. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, Nguyễn

    Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích để nâng truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới. Điều đó, làm tăng thêm sức hấp dẫn của truyện và hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương, thoả mãn ước mơ của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, ngưởi tốt sẽ được đền bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở phần sau của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang cứu, Vũ Nương được ở lại Thuỷ Cung, rồi hiện về với kiệu hoa rực rỡ trên sông… đó là những tình tiết kì ảo, không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ thuật lung linh huyền ảo.

  • Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương

    Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương

    Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện Chuyện người con gái Nam Xương

    Phân tích truyện “Người con gái

    Nam Xương” của Nguyễn Dữ

    BÀI LÀM

    BÀI VIẾT THAM KHẢO:

    Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn

    học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi

    bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. Truyện “ Chuyện

    người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong

    tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của

     

    Nguyễn Dữ.

    Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở

    huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ

    đoan chính, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, hầu

    hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian

    chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây

    thơ của con trẻ, người chồng nghi ngờ nàng thất tiết

    nên đánh mắng đuổi đi. Không thể phân giải được

    oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm

    động vì lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua

    biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người

     

    chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan

    cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong chốc lát

    rồi trở lại Long Cung.

    Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có

    tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan

    tày trời vì một chuyện vờ ghen vớ vẩn của người

    chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết

    để giải nỗi oan tình.

    Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh

    khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp

    của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có

     

    tư dung tốt đẹp, tính tình thuỳ mị, nết na. Khi lấy

    chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ

    chồng phải thất hoà dù Trương Sinh vốn có tính hay

    ghen. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy

    tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm

    yêu thương, mong nhớ của mình đối với người chồng

    sẽ đi xa, rồi bày tỏ nỗi lo lắng trước những gian lao

    nguy hiểm mà người chồng sẽ trải qua, niềm mong

    ước được đoàn tụ … làm mọi người trong tiệc đều ứa

    hai hàng lệ.

    Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son

     

    sắt, thuỷ chung, “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”,

    mong đợi chồng về trong cô đơn mòn mỏi “mỗi khi

    thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi

    buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được”.

    Hơn nữa, nàng là một người con dâu hiếu kính, tận

    tuỵ chăm sóc khi mẹ chồng còn sống, chôn cất mẹ

    chồng khi mẹ qua đời (lo liệu như đối với mẹ đẻ

    mình).

    Rồi đằng đẳng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về,

    cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần

    để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ

     

    khó … mong chàng đừng một mực nghi oan cho

    thiếp”. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ

    chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm

    cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị

    tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh vực và biện

    bạch, Trương Sinh vẫn không tin. Bất đắc dĩ Vũ

    Nương thống thiết: “Thiếp sỡ dĩ nương tựa vào chàng

    … đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đó là hạnh

    phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng giờ

    đây tan vỡ. Tình yêu không còn, cả nỗi đau khổ chờ

    chồng giờ đây hoá đá….

     

    Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khuất tày trời

    không phương giải bày, cứu chữa nàng đành mượn

    cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình.

    lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết:

    “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng,

    vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm

    cỏ Nga Mĩ. Nhựợc bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối

    chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm

    cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ

    …” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa – con

    người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để

     

    tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh

    chứng dám.

    Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà,

    nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ

    gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên

    dòng nước cho thoả lòng nhớ chồng, con.

    Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với

    những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định

    những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt

    Nam – một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền

    thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ

     

    chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng,

    hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, …. lẽ ra phải

    được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách

    oan uổng, đau đớn.

    Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa,

    bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong

    kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ

    thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen

    tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của

    chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ

    nữ.

     

    Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có

    phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được

    nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng

    “nam quyền”, hơn nữa Trương Linh lại có tính đa

    nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi

    tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của

    Trương Sinh sau này.

    Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một

    tâm trạng nặng nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng

    buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ

    kích động tính hay ghen của Trương Sinh: “trước đây,

     

    thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến…”

    Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của

    Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu

    vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của

    vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không

    chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại

    mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và

    hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái

    chết oan nghiệt của Vũ Nương.

    Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của

    Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận

     

    người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc

    chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử

    bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh.

    Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác

    phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam

    xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người

    phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong

    “Truyện Kiề”u của Nguyễn Du, người cung nữ trong

    “cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, người

    phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương, …

    Phải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn đầu tiên viết

     

    bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành

    công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng

    những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây

    dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy

    kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện

    ra với tất cả nét thảm khốc.

    “Thắt nút” truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói

    ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây

    chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kị trong một đầu

    óc nam quyền độc đoán, thiếu trí tuệ ; bão tố bất hoà

    dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm.

     

    Bão tố oan khiên phá nát cuộc đời của một người con

    gái trong trắng, phải kết thúc bi thảm trêm một dòng

    sông.

    “Gỡ nút” cũng bất ngờ bằng một câu nói trẻ thơ non

    dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách:

    “cha Đản lại đến kia kìa” thì bao nhiêu oan khiên gây

    thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.

    Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình

    của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu

    chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc hoạ diễn

    biến tâm lí và tính cách nhân vật ; lời nói của bà mẹ

     

    Trương Sinh nhân hậu, từng trải ; lời lẽ của Vũ Nương

    bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lí,

    có tình – lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính ;

    lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.

    Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn “gỡ nút”

    truyện, chàng Trương Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan

    của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ

    Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng

    chốc. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”,

    Nguyễn Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích để nâng

    truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới.

     

    Điều đó, làm tăng thêm sức hấp dẫn của truyện và

    hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương, thoả mãn

    ước mơ của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, ngưởi tốt

    sẽ được đền bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong

    truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở phần sau

    của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang

    cứu, Vũ Nương được ở lại Thuỷ Cung, rồi hiện về với

    kiệu hoa rực rỡ trên sông… đó là những tình tiết kì ảo,

    không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ

    thuật lung linh huyền ảo.

    Số phận và cuộc đời thực sự vẫn là thực xưa nay.

     

    Yếu tố hoang đường truyền kì không thể cứu được

    cuộc đời Vũ nương với số phận bi thảm của nàng. Vũ

    Nương muốn sống lại mà không được sống, muốn trở

    về với chồng con và quê hương mà không thể trở về

    được.

    Truyện “Người con gái Nam Xương” có giá trị hiện

    thực tố cáo và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ

    Nương và biết bao thân phận người phụ nữ khác

    trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác

    phẩm văn học cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc

    sống của những người phụ nữ Việt Nam trong một xã

     

    hội tốt đẹp hôm nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc

    đời, sống bình đẳng, hạnh phúc với chồng con và

    được đề cao nhân phẩm trong xã hộ, xã hội của thời

    đại mới.

  • Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương

    Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương

    Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Giá trị nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương

    Giá trị nhân đạo trong “Chuyện

    người con gái Nam Xương” của

    Nguyễn Dữ

    BÀI LÀM

    A- Mở bài:

    • Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận cong người trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác phẩm văn chươngngày càng phát triển phong

    phú và sâu sắc.

    • Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập truyền kì, “chuyện người con gái Nam Xương” là một

    trong những tác phẩm tiêu biểu cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Dữ.

    B- Thân bài:

    1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một phụ nữ bình dân
    • Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn

    người khá đặc biệt của tư tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.

    • Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ

    mị, nết na. Đối với chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối

    với mẹ chồng rất mực hiếu thảo, hết lòng phụ dưỡng; đói với con rất mực yêu thương.

    • Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả thể hiện khát vọng về con người, về hạnh phúc gia đình, tình yêu đôi lứa:
    • Nàng luôn vun vén cho hạnh phúc gia đình.
    • Khi chia tay chồng đi lính, không mong chồng lập công hiển hách để được “ấn phong hầu”, nàng chỉ mong chồng bình yên trở về.
    • Lời thanh minh với chồng khi bị nghi oan cũg thể hiện rõ khát vọng đó: “Thiếp sở dĩ nương tựa và chàng vì có cái thú vui nghi gai nghi thất”

    Tóm lại : dưới ánh sáng của tư tưởng nhân vănđã xuất hiện nhiều trong văn chương, Nguyễn Dữ mới có thể xây dựng một nhân vật phụ nữ bình dân mang đầy đủ vẻ đẹp của con người. Nhân văn là đại diện cho tiếng nói nhân văn của tác giả.

    1. Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu thì càng

    đau đớn trước bi kịch cuộc đời của nàng bấy nhiêu.

    • Đau đớn vì nàng có đầy đủ phẩm chất đáng quý và lòng tha thiết hạnh phúc gia đình, tận tuỵ vun đáp cho hạnh phúc đó lại chẳng được hưởng

    hạnh phúc cho xứng với sự hi sinh của nàng:

    • Chờ chồng đằng đẵng, chồng về chưa một ngày vui, sóng gió đã nổi

    lên từ một nguyên cớ rất vu vơ (Người chồng chỉ dựa vào câu nói ngây

    thơ của đứa trẻ đã khăng khăng kết tội vợ).

    • Nàng hết mực van xin chàng nói rõ mọi nguyên cớ để cởi tháo mọi

    nghi ngờ; hàng xóm rõ nỗi oan của nàng nên kêu xin giúp, tất cả đều vô ích. Đến cả lời than khóc xót xa tột cùng “Nay đã bình rơi trâm gãy,… sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió,… cái én lìa đàn,…” mà người chồng vẫn không động lòng.

    • Con người ttrong trắng bị xúc phạm nặng nề, bị dập vùi tàn nhẫn, bị đẩy đến cái chết oan khuất

    Bi kịch đời nàng là tấn bi kịch cho cái đẹp bị chà đạp nát tan, phũ phàng.

    1. Nhưng với tấm lòng yêu thương con người, tác giả không để cho con người trong sáng cao đẹp như nàng đã chết oan khuất.
    • Mượn yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, diễn tả Vũ Nương trở về để được rửa sạch nỗi oan giữa thanh thiên bạch nhật, với vè đẹp còn lộng

    lẫy hơn xưa.

    • Nhưng Vũ Nương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực : nàng vẫn khát vọng hạnh phúc trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói

    lời vĩnh biệt “thiếp chẳng thể về với nhân gian được nữa”.

    • Hạnh phúc vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn (hạnh phúc gia đình tan vỡ, không gì hàn gắn được).
    1. Với niềm xót thương sâu sắc đó, tác giả lên án những thế lkực tàn

     

    ác chà đạp lên khát vọng chính đáng của con người.

    • XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu bất công. Hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù quáng, vũ phu.
    • Thế lực đồg tiền bạc ác (Trương Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra

    100 lạng vàng để cưới Vũ Nương). Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con người.

    Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trương, cho nó mạng dáng dấp của thời đại ông, XHPKVN thế kỉ XVI.

    C- Kết bài:

    • “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính

    nhân văn. Truyện tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người phị nữ trong chế độ phong kiến.

    • Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó

    khá sâu sắc.

    1/Phân tích truyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

    Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta

    • thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. Truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

    Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ đoan chính, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, hầu hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, người chồng nghi ngờ nàng thất tiết nên đánh mắng đuổi đi. Không thể phân giải được oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm động vì lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong chốc lát rồi trở lại Long Cung.

    Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan tày trời vì một chuyện vờ ghen vớ vẩn của người chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan tình.

  • Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận Văn học lớp 9 có hiệu quả


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11

    I.                   LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Theo thống kê kết quả kiểm tra, thi những năm gần đây bài kiểm tra môn Ngữ Văn đạt điểm cao rất ít, phần lớn dưới điểm trung bình, thậm chí điểm 0 cũng có. Trong đó nhiều bài làm của học sinh khiến người chấm chưa hài lòng vì những sai sót quá cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, lỗi diễn đạt, suy diễn theo cảm tính, viết mà không hiểu những gì mình đã viết,… Đặc biệt khả năng lập luận trong văn nghị luận của học sinh hiện nay rất yếu, nhiều em tỏ ra rất lúng túng, thậm chí chưa xác định được một hệ thống luận điểm, luận cứ một cách rõ ràng và xác đáng.

    Có một điều khá phổ biến của học sinh THPT hiện nay là khi làm văn xong không thể tự mình rút kinh nghiệm, tự mình đánh giá xem bài làm có chỗ nào được, chỗ nào chưa được. Và có nhiều học sinh chưa nắm vững được quy trình làm một bài văn, chưa làm chủ được các thao tác lập luận, các công việc cần thiết của tiến trình xây dựng một văn bản, học sinh thường chỉ lo khâu bước vào bài và cảm thấy khó khăn ở bước nhập đề. Cứ nghĩ nhập đề xong thế là viết được bài. Ở đây, tôi không bàn đến cảm hứng sáng tạo mà chỉ nói đến ý thức trong đầu óc của người cầm bút về ý đồ thông báo, về nội dung thông báo, về cách thức thông báo, về cách dùng từ, diễn đạt. Chỗ yếu cơ bản này của học sinh phản ánh tình trạng mù mờ về lí thuyết mà giáo viên THPT chúng ta lâu nay thường mắc phải. Đa số học sinh THPT làm văn theo cảm tính, học sinh chưa có thói quen suy nghĩ về đề, về yêu cầu của đề, về cách tìm ý, sắp xếp các ý, về kết cấu văn bản sắp hình thành. Hiện tượng học sinh lạc đề, xa đề, viết lan man, kết cấu lộn xộn, trùng lặp, đứt mạch, mất cân đối, hoặc bài văn kết cấu không đầy đủ, không biết triển khai luận điểm ở từng phần hay không biết khai thác tư liệu,… Đó là những thiếu sót phổ biến trong kĩ năng làm văn nghị luận của học sinh hiện nay. Có nhiều cách lí giải hiện tượng này, nhưng có một nguyên nhân chính, đó là sự non kém về ý thức làm văn của học sinh hay nói đúng hơn là sự non kém về văn hóa làm văn.

    Hơn nữa, đối tượng mà tôi nghiên cứu trong chuyên đề này là học sinh lớp 11, cụ thể là học sinh lớp 11A4, 11A5, 11A6 của trường THCS và THPT Bàu Hàm – một ngôi trường vùng sâu vùng xa, mà phần lớn học sinh là người dân tộc, lực học rất yếu, đặc biệt là rất yếu khi làm văn.

    Điều đó đã phản ánh một thực tế: hiệu quả học và làm văn ngày càng sa sút và đang ở mức báo động đòi hỏi cần phải đưa ra những giải pháp thích hợp để đổi mới quy trình dạy và học môn Ngữ Văn hiện nay, đặc biệt phân môn làm văn, trong đó có bài văn nghị luận. Với suy nghĩ trên, tôi xin giới thiệu cùng các thầy cô giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 11 chuyên đề: Rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11. Mong rằng chuyên đề này sẽ góp một phần nhỏ vào quy trình đổi mới phương pháp dạy và học môn Ngữ Văn ở các trường trung học phổ thông vùng sâu, vùng xa trên địa bàn huyện Trảng Bom và các trường trung học phổ thông hiện nay.

    II.               TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

     

    1. Cơ sở lý luận:

     

    Xuất phát từ phương châm “Học đi đôi với hành, lí luận phải gắn liền với thực tiễn”, do đó ngoài việc cung cấp kiến thức mới, giáo viên cần hướng dẫn học sinh áp dụng các kiến thức đã học vào làm văn ở các kiểu bài, các dạng đề có liên quan đến những kiến thức đã học, nhằm nâng cao kiến thức cũng như khả năng vận dụng các kiến thức vào thực tế cuộc sống. Có như vậy học sinh mới phát huy tư duy một cách toàn diện và sâu sắc nhất.

    Trong thực tế giảng dạy nếu giáo viên chỉ cung cấp kiến thức mới mà không có các bài làm văn liên quan đến những kiến thức đã học thì học sinh chỉ thu nhận một cách thụ động. Vì vậy, qua các bài làm văn học sinh sẽ đánh giá kết quả học tập của mình cũng như giáo viên dựa vào kết quả đó để thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp.

    Trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn, giáo viên không chỉ là người dạy, cung cấp kiến thức mà là người hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức; còn học sinh thì không thụ động lĩnh hội kiến thức (được đơn giản hóa). Bởi trên thực tế, vì sự thụ động của học sinh, có những giáo viên viết thay học sinh phần mở bài, thân bài hay kết bài mà học sinh gọi đó là văn mẫu, mà học sinh phải tự mình (dưới sự hướng dẫn của giáo viên và năng động của tư duy) tìm tòi, phát hiện, tiếp nhận, giải mã, rồi biết vận dụng những kiến thức vào làm văn. Vì vậy, giáo viên phải linh hoạt trong từng dạng bài làm văn nhằm đạt được kết quả cao nhất.

    Quá trình làm văn là một quá trình chuyển hóa kiến thức đã học thành một sản phẩm kiến thức mới của chủ thể sáng tạo, của từng cá nhân học sinh. Chính vì vậy có thể khái quát rằng: Làm văn là quá trình sáng tạo của cá nhân học sinh, là một cơ hội để học sinh bộc lộ được rõ nét nhất, tập trung nhất vốn hiểu biết về nhiều mặt cùng những phẩm chất và năng lực của học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, năng lực hoạt động ngôn ngữ.

    Hơn nữa, văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy logíc, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống.

    Và xuất phát từ thực tế, trong năm năm giảng dạy tại trường THCS và THPT Bàu Hàm, tôi cũng thẳng thắn đưa ra những thuận lợi và khó khăn khiến tôi trăn trở, quyết tâm thực hiện chuyên đề này:

    • Trước hết, về bản thân giáo viên được đào tạo đúng chuyên môn, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phù hợp với xu thế đổi mới hiện nay và tình hình học tập của học sinh trường THCS và THPT Bàu Hàm.
    • Còn học sinh luôn chuẩn bị tâm thế tiếp thu bài.
    • Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối đầy đủ cho việc giảng dạy môn Ngữ Văn.
    • Tài liệu tham khảo trong thư viện của nhà trường cũng khá nhiều, giúp ích cho công tác giảng dạy và nghiên cứu, tham khảo cho cả thầy và trò.

    Bên cạnh đó phải kể đến những khó khăn như:

    • Về đối tượng học sinh của trường THCS và THPT Bàu Hàm – đối tượng học sinh vùng sâu vùng xa, người dân tộc nhiều (chủ yếu là người Hoa) lực học rất yếu, đặc biệt yếu môn Văn, trong đó có phân môn làm văn. Hơn thế học sinh hiện nay có xu thế xem nhẹ môn Văn dẫn đến chất lượng học tập rất thấp.
    • Mặt khác, yêu cầu chất lượng của nhà trường giao cho mỗi năm cần phải nâng lên và giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường nhằm nâng cao kết quả nhận thức và học tập của học sinh.
    • Tuy nhiên, bản thân tôi và các đồng nghiệp trong trường cũng thấy còn hạn chế trong việc không thể “cầm tay” hướng dẫn cho từng cá nhân học sinh và giáo viên cũng không thể đọc và sửa hết bài của các em tại lớp trong 1 – 2 tiết làm văn,…

    2.                 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:

     

    Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Muốn vậy, người viết phải biết trình bày ý kiến của mình và đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục, nghĩa là phải biết lập luận.

    • chương trình Ngữ Văn lớp 11 trong phân môn làm văn, trong đó có kiểu bài văn nghị luận học sinh sẽ đi sâu vào hai dạng đề: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Sau đây tôi xin lần lượt rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp 11:

    2.1 Kĩ năng phân tích đề:

    Phân tích đề là công việc trước tiên trong quá trình làm một bài văn nghị luận nhưng lại là khâu mà phần lớn học sinh bỏ qua. Bởi theo các em nghĩ nếu phân tích đề sẽ mất thời gian làm bài. Thực tế cho thấy, một bài văn làm trong 45 – 90 phút, học sinh chỉ mất khoảng 5 – 10 phút phân tích đề.

    Khi phân tích đề cần đọc kĩ đề bài, chú ý những từ ngữ then chốt để xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận, phạm vị tư liệu cần sử dụng.

    Trước tiên, phương pháp tôi đã vận dụng để phân tích đề là phương pháp nêu vấn đề. Phương pháp này được tiến hành thông qua việc giáo viên (hoặc học sinh) đưa ra một tình huống có vấn đề nảy sinh trong bài học hoặc trong cuộc sống. Nó giúp học sinh biết cách giải quyết vấn đề và rèn kĩ năng tư duy.

    Mục tiêu của phương pháp này mà tôi áp dụng là rèn kĩ năng phát hiện, nhận biết và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập, đặc biệt khi làm văn và trong cuộc sống của học sinh.

    Sau đây là ví dụ về việc sử dụng tình huống nêu vấn đề khi phân tích đề văn nghị luận xã hội và đề văn nghị luận văn học:

    Đề 1:Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay?

    Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II).

    Trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề và dùng thước gạch chân những từ ngữ then chốt:

    VD: Đề 1: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay. Đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II).

    • Hoạt động 1: Học sinh đọc kĩ đề và cho biết đề nào có định hướng cụ thể, đề nào đòi hỏi người viết phải tự xác định hướng triển khai?

     

    Dự kiến học sinh trả lời:

     

    + Đề 1 là “đề đóng” vì đây là dạng đề định hướng rõ nội dung nghị luận.

     

    + Đề 2: là “đề mở” yêu cầu bàn về tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình (bài II), nhưng chưa rõ, vì vậy đòi hỏi người viết phải tự xác định hướng triển khai.

    • Hoạt động 2: Giáo viên đặt câu hỏi: Vấn đề nghị luận của mỗi đề là gì?

    Dự kiến học sinh trả lời:

    Đề 1: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.

    Đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II).

    Nhưng học sinh chưa hiểu: Vấn đề nghị luận nêu ở đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) đó là tâm sự gì?

    Giáo viên tiếp tục sử dụng phương pháp gợi mở. Đây là phương pháp dẫn dắt học sinh từng bước tìm hiểu vấn đề bằng những câu hỏi gợi mở:

    Đề 2: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) là tâm sự về vấn đề gì? Tâm sự đó được bộc lộ qua diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài

    Tự tình (bài II) ra sao? Và được biểu hiện trong bài thơ Tự tình (bài II) như thế nào?

    Dự kiến học sinh trả lời:

    Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) là tâm sự về tình duyên, về hạnh phúc lứa đôi. Tâm sự đó được bộc lộ qua diễn biến tâm trạng: cô đơn, buồn tủi, chán chường, đau khổ và cả sự phẫn uất, phản kháng.

    • Hoạt động 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định nội dung nghị luận của mỗi đề?

     

    Dự kiến học sinh trả lời:

     

    Đề 1: Từ vấn đề nghị luận trên có thể thấy: Thực phẩm hiện nay phong phú và đa dạng, bên cạnh những thực phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn thì cũng có nhiều loại thực phẩm không an toàn, kém chất lượng đang được toàn xã hội quan tâm. Đồng thời cần đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng trên.

     

    Đề 2: Nêu cảm nghĩ của mình về tâm sự và diễn biến tâm trạng của Hồ Xuân

     

    Hương: cô đơn, chán chường, đau khổ, phẫn uất, khát khao được sống hạnh phúc,…

     

    • Hoạt động 4: Giáo viên vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp nêu vấn đề, gợi mở đề cho mỗi đề: Phạm vi bài viết đến đâu? Dẫn chứng, tư liệu thuộc lĩnh vực đời sống xã hội hay văn học? Học sinh nghe và lượt lượt trả lời cá nhân, cả lớp nghe và nhận xét, góp ý. Giáo viên nghe và nhận xét, chốt ý.

     

    Dự kiến học sinh trả lời:

     

    Phạm vi nghị luận:

     

    Đề 1: Bài viết chỉ xoay quanh vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.

     

    Đề 2: Bài viết xoay quanh tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình (bài II).

     

    Nếu học sinh không xác định được điều này, khi viết sẽ rơi vào tình trạng xa đề, viết lan man hay viết mà không hiểu những gì mình đang viết,…

     

    Dẫn chứng, tư liệu:

     

    Đề 1: Học sinh lấy dẫn chứng, tư liệu từ cuộc sống và kinh nghiệm của bản thân khi lựa chọn, sử dụng, chế biến thực phẩm, điều này sẽ giúp học sinh có cách nhìn nhận đúng vấn đề.

     

    Đề 2: Học sinh lấy dẫn chứng trong bài thơ Tự tình (bài II) và từ chính cuộc đời của Hồ Xuân Hương cũng như những bài thơ khác của bà có liên quan.

     

    • Hoạt động 5: Giáo viên tiếp tục yêu cầu học sinh hãy xác định thao tác nghị luận sẽ sử dụng trong bài viết?

    Yêu cầu về phương pháp:

    Đề 1: Sử dụng thao tác lập luận bình luận, giải thích; dùng dẫn chứng từ thực tế xã hội là chủ yếu.

    Đề 2: Sử dụng thao tác lập luận phân tích kết hợp với nêu cảm nghĩ; dẫn chứng lấy trong bài thơ Tự tình (bài II) là chủ yếu.

    Như vậy, sau khi giáo viên hướng dẫn, học sinh đã có kĩ năng phân tích đề và biết cách phân tích đề khi gặp bất kì dạng đề, kiểu đề nào. Nghĩa là học sinh đã hiểu các bước phân tích đề cho mỗi đề.

    2.2 Kĩ năng lập dàn ý:

    Lập dàn ý là công việc lựa chọn và sắp xếp những nội dung cơ bản dự định triển khai vào bố cục ba phần của văn bản theo trình tự logíc. Lập dàn ý giúp người viết bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận đểm, luận cứ cần triển khai,

    phạm vi và mức độ nghị luận,…nhờ đó mà người viết không bỏ sót những ý quan trọng, đồng thời loại bỏ được những ý không cần thiết, hay tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý. Hơn nữa, có dàn ý người viết sẽ phân phối thời gian làm bài hợp lí, không bị rơi vào tình trạng “đầu voi đuôi chuột” như đã thấy trong khá nhiều bài làm văn ở nhà trường.

    • Quy trình lập dàn ý bao gồm:

     

    • Xác lập luận điểm, luận cứ.
    • Sắp xếp luận điểm, luận cứ theo một trình tự logíc, chặt chẽ.
    • Dàn ý chi tiết:

    MB: Giới thiệu và định hướng triển khai vấn đề.

    TB: Triển khai lần lượt các luận điểm, luận cứ và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí, chặt chẽ.

    KB: Khẳng định, nhấn mạnh hoặc mở rộng vấn đề.

    Để rèn kĩ năng lập dàn ý, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

    • Phương pháp thảo luận nhóm.

    Phương pháp này được tiến hành như sau:

     

    + Trước tiên, giáo viên nêu vấn đề, xác định các yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi nhóm. Cụ thể ở đây, giáo viên yêu cầu học sinh xác lập luận điểm, luận cứ và sắp xếp luận điểm, luận cứ theo trình tự hợp lí, logíc.

     

    + Giáo viên tổ chức chia lớp thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm: Hoạt động 1: Hãy xác lập luận điểm, luận cứ cho đề 1.

     

    + Các nhóm tiến hành thảo luận trong 5 – 10 phút.

     

    Trong quá trình học sinh thảo luận, giáo viên theo dõi, quan sát và bao quát các nhóm để lắng nghe ý kiến thảo luận của học sinh, nhắc nhở những học sinh thiếu tập trung tham gia thảo luận nhóm,…

    • Phương pháp gợi mở: khi thấy học sinh chưa biết tìm ý, giáo viên có thể gợi ý bằng một số câu hỏi gợi mở:

     

    (1) Thực phẩm hiện nay có nhiều loại, phong phú và đa dạng như thế nào? Nhưng tại sao vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang được toàn xã hội quan tâm?

     

    (2) Như thế nào thì được coi là thực phẩm chất lượng, an toàn? Thực phẩm chất lượng, đảm bảo an toàn đem lại những lợi ích gì?

     

    (3) Những thực phẩm không an toàn, kém chất lượng ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe người sử dụng?

     

    (4) Làm thế nào để vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm không còn là nỗi lo đối với người sử dụng?

     

    Như vậy khi học sinh trả lời được những câu hỏi trên tức là học sinh đã hiểu cần triển khai bài viết gồm những luận điểm nào và trong mỗi luận điểm đó có bao nhiêu luận cứ.

     

    • Đến đây giáo viên kết hợp sử dụng phương pháp thuyết trình. Mỗi nhóm cử đại diện lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình. Các nhóm khác theo dõi, có thể chất vấn, trao đổi, nhận xét, bổ sung ý kiến.

    Tiếp đến, giáo viên tổng hợp các ý kiến của học sinh, liên kết các ý kiến khác nhau lên bảng.

    Sau đó giáo viên sử dụng bảng phụ có viết sẵn luận điểm, luận cứ để học sinh đối chiếu với kết quả của nhóm mình. Đến đây giáo viên nhấn mạnh những luận điểm quan trọng, bổ sung những luận điểm, luận cứ cần thiết.

    Hoạt động 2: Học sinh dựa vào các luận điểm, luận cứ vừa tìm, hãy sắp xếp chúng theo trình tự hợp lí, logíc?

    Học sinh làm việc cá nhân.

    Giáo viên tiếp tục sử dụng phương pháp thuyết trình yêu cầu học sinh đứng lên trình bày.

    Học sinh trả lời, giáo viên cho lớp nhận xét, bổ sung, góp ý. Cuối cùng giáo viên treo bảng phụ ghi sẵn dàn ý chi tiết để chốt ý cho phần lập dàn ý:

    Lập dàn ý đề 1:

    MB: Giới thiệu vấn đề nghị luận và định hướng triển khai vấn đề.

    TB: Học sinh lần lượt sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo trình tự sau:

    • LĐ1: Thực trạng của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay:

     

    • Thực phẩm hiện nay có nhiều loại, phong phú và đa dạng như rau, củ, quả, thịt, cá, trứng, sữa,…
    • Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang được toàn xã hội quan tâm bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người sử dụng.
    • LĐ2: Thực phẩm an toàn, chất lượng:
    • Thực phẩm an toàn, chất lượng là những thực phẩm được sản xuất, chế biến hợp vệ sinh, được rửa sạch, nấu chín, đã qua kiểm định, có ghi rõ nơi sản xuất, chế biến, ngày tháng năm sản xuất và hạn sử dụng,…
    • Thực phẩm an toàn, chất lượng đem lại những lợi ích: thơm ngon, bổ dưỡng, đem lại sức khỏe tốt cho người sử dụng.

    – LĐ3: Thực phẩm không an toàn, kém chất lượng:

    • Thực phẩm ôi thui, nấm mốc, không rõ nguồn gốc, không ghi ngày sản xuất, nơi sản xuất, hạn sử dụng; sản xuất, chế biến không đảm bảo vệ sinh an toàn, sử dụng chất bảo quản, chất phụ gia, thuốc kích thích, thuốc tăng trưởng,… được coi là thực phẩm không an toàn, kém chất lượng.
    • Thực phẩm không an toàn, kém chất lượng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng: gây ngộ độc thực phẩm, tiêu chảy cấp, là nguyên nhân của nhiều căn bệnh: ung thư, tiểu đường, các bệnh về đường ruột, thậm chí có thể dẫn đến tử vong.

    – LĐ4: Cần nâng cao ý thức vệ sinh an toàn thực phẩm:

    • Đối với người sản xuất, chế biến thực phẩm cần phải làm gì trước vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm?
    • Đối với người tiêu dùng nên lựa chọn và sử dụng những thực phẩm như thế nào là vệ sinh an toàn?

    Cách 2: Sơ đồ hóa dàn ý:

    MB: Luận điểm trung tâm
    Luận điểm 1 Luận điểm 2
    TB:
    Luận cứ 1 Luận cứ 2 Luận cứ 1 Luận cứ 2
    Dẫn chứng Dẫn chứng Dẫn chứng Dẫn chứng
    minh họa minh họa minh họa minh họa
    Chốt ý Chốt ý
    KB Khẳng định, nhấn mạnh hoặc mở rộng vấn đề.

    Cách thực hiện dàn ý trên cho một đề văn cụ thể:

    Cảm nghĩ của anh (chị) về giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự – Lê Hữu Trác).

     

    MB: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự – Lê Hữu
    Trác).

    TB:        LĐ1: Sự cao sang, quyền uy cùng cuộc sống hưởng lạc đến cực điểm của nhà chúa.

    LĐ2: Thái độ và những suy nghĩ của tác giả về sự cao sang, quyền uy nơi phủ chúa:

     

    Luận cứ 1: Quang cảnh trong phủ chúa

    Luận cứ 2: Cung trong Luận cứ 1: Thái Luận cứ 2: Những suy nghĩ, nhận
    phủ chúa cách sinh hoạt. độ của tác giả xét của tác giả:
    Vào phủ Vườn Khuôn Đến Trong Cách Vào Mặc dù khen cái
    chúa trong viên nội phủ xưng khám đẹp, sự giàu
    phải phủ: phủ cung người hô: gọi bệnh cho sang nơi phủ
    qua cây chúa có của thế giữ cửa chúa thế tử: chúa, song thái
    mấy lần cối um cái tử phải truyền Trịnh phải quỳ độ  tác giả: coi
    cửa” với tùm, điếm qua báo rộn lạy , xin thường danh lợi,
    “những chim “hậu năm ràng,… Thánh phép; không đồng tình
    dãy kêu ríu sáu lần ”. thượng xem trước cuộc sống
    hành rít, quân trướng ”, thế xong viết quá no đủ, tiện
    lang danh túc gấm… tử tờ khải nghi ấy.
    quanh hoa đua trực”, Đông dâng lên.
    co,….” thắm, cung
    ”. thế tử”
    Đứng Khi Đường Bệnh
    trước được vào nội của thế
    cảnh phủ mời ăn cung tử:  “
    chúa: sáng: thế  tử, ở trong
    “Bước mâm chốn
    chân vào vàng, trong màn
    đây mới chén tối om, che
    hay cảnh bạc, đồ không trướng
    giàu ăn toàn thấy phủ, ăn
    sang của của cửa quá no,
    vua chúa ngon ngõ  gì mặc
    ….” vật cả,…” quá
    lạ….” ấm,…”
    èBức tranh chân thực, sinh động về cuộc sống xa hoa,  quyền uy
    è Đó là những suy nghĩ, nhận xét rất chân thực, qua đó
    nơi phủ chúa Trịnh được ghi lại khá tỉ mỉ,… bộc lộ thái độ coi thường danh lời của tác giả.

    KB:              Khẳng định vấn đề và bộc lộ thái độ cảm thông, đồng tình với thái độ coi thường danh lợi của tác giả.

     

    2.3 Kĩ năng viết đoạn văn:

    Để rèn kĩ năng viết đoạn văn, tôi đã triển khai tổ chức giờ làm văn viết và giờ làm văn miệng.

    1. Giờ làm văn viết:

    Khi rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận, tôi không ôm đồm trong một tiết yêu cầu học sinh phải viết xong cả bài văn mà chủ yếu hướng các em tập viết tốt từng ý, từng đoạn, xong ý này, đoạn này tôi mới chuyển sang ý khác, đoạn khác. Hơn nữa, khi các em viết đoạn văn, tôi thường hướng dẫn các em viết đoạn văn theo nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp diễn dịch, quy nạp hay song hành để có những đoạn văn khác nhau cho cùng một luận điểm và cần chú ý những câu chuyển ý, liên kết đoạn để các ý, các đoạn trong bài viết không bị rời rạc.

    Cụ thể:

    Bước 1: Trước hết, giáo viên giới thiệu cho học sinh phương pháp diễn dịch, quy nạp là gì?

    Diễn dịch là từ tiền đề chung, có tính phổ biến suy ra những kết luận về những sự việc, hiện tượng riêng.

    Có thể khái quát phương pháp này như sau:

    Câu chốt

    Câu 1          Câu 2            Câu 3       Câu n

    Quy nạp là từ cái riêng suy ra cái chung, từ những sự vật cá biệt suy ra nguyên lí phổ biến.

    Có thể khái quát phương pháp này như sau:

    Câu 1       Câu 2          Câu 3     Câu n

    Chốt ý

    Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn theo hai phương pháp trên.

    Bước 3: Giáo viên giao một vấn đề (một luận điểm) yêu cầu học sinh thực hiện theo nhóm. Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm viết theo một phương pháp.

    Ví dụ giáo viên cho luận điểm: Thực trạng của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.

    Yêu cầu học sinh thực hiện theo nhóm, mỗi nhóm viết theo một phương pháp trên.

    Giáo viên chuẩn bị sẵn đoạn văn cho từng phương pháp:

    • Đoạn văn diễn dịch:

    Vấn đề vệ sinh thực phẩm ở nước ta hiện nay còn nhiều tồn tại (1). Bởi các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và ngoài nước nhập vào với nhiều chủng loại (2). Việc sử dụng chất phụ gia trong chế biến thực phẩm trở nên phổ biến (3). Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng (4). Những móm ăn chế biến sẵn như thịt, giò, chả,… được bày bán trên thị trường chưa qua kiểm dịch (5). Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, hóa chất kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản không theo đúng quy định vẫn còn tồn dư trong

    thực phẩm (6). Hay bảo quản thực phẩm không đúng cách cũng tạo điểu kiện cho

    • khuẩn, nấm mốc phát triển… dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm cấp tính vẫn thường xuyên xảy ra ở các thành phố cũng như ở nông thôn và có chiều hướng tăng năm sau cao hơn năm trước (7). Đó là chưa kể đến sự ngộ độc do tích lũy độc chất trong cơ thể và phát sinh những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư (8).

    (Ghi chú: Câu 1 là câu chủ đề, nêu ý chính của đoạn văn. Các câu còn lại triển khai làm rõ câu chủ đề).

    – Đoạn văn quy nạp:

    Trên thị trường hiện nay, các loại thực phẩm được sản xuất, chế biến trong nước và ngoài nước nhập vào ngày càng nhiều chủng loại (1). Việc sử dụng các chất phụ gia trong chế biến thực phẩm trở nên phổ biến (2). Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng (3). Những món ăn chế biến sẵn đang được bày bán công khai trên thị trường chưa qua kiểm dịch (4). Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, hóa chất kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản không đúng quy định vẫn còn tồn dư trong thực phẩm (5). Hay bảo quản thực phẩm không đúng cách cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển… dẫn đến các vụ ngộ độc cấp tính vẫn thường xuyên xảy ra ở thành phố cũng như ở nông thôn và có chiều hướng gia tăng (6). Đó là chưa kể đến sự ngộ độc do tích lũy độc chất trong cơ thể và phát sinh những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư (7). Điều đó cho thấy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta rất cần sự quan tâm của toàn xã hội ngay hôm nay (8).

    (Ghi chú: Câu 8 là câu chốt đoạn từ các câu trước đó triển khai). Bước 4: Học sinh trình bày đoạn văn trước lớp theo nhóm.

    Nhóm 1 trình bày đoạn văn viết theo phương pháp diễn dịch:

    Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay là vấn đề được nhắc đến thường xuyên (1). Vì đây là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe của người dân nhưng chưa được giải quyết đến nơi đến chốn (2). Theo thống kê của Bộ y tế thì trong năm qua có hơn 900 người bị ngộ độc thực phẩm và trong đó có tới 7 người tử vong (3). Mỗi năm cứ đến khoảng mùa nóng bắt đầu thì vấn đề vệ sinh thực phẩm lại được nhắc đến và “ tháng an toàn thực phẩm” lại được phát động (4). Từ các cơ quan đến toàn xã hội đều rung lên hồi chuông cấp báo về tình trạng mất an toàn thực phẩm từ rau quả cho đến thức ăn, đồ uống (5). Vấn đề quan trọng là ý thức của mỗi người (6). Phần nữa nhà nước cần có một đội ngũ kiểm tra thường xuyên, nếu chỉ làm từng đợt thì hễ có kiểm tra thì người ta làm tốt còn không thì thôi (7). Và khi phát hiện đơn vị vi phạm, cũng không kiên quyết xử lí (8). Và một nguyên nhân nữa là chưa có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan chức năng với các địa phương (9).

    Nhóm 2 trình bày đoạn văn viết theo phương pháp quy nạp:

    Thực phẩm trên thị trường hiện nay có nhiều loại như rau, củ, quả, thịt, cá, trứng,…(1) Nhưng nhiều năm trở lại đây người tiêu dùng liên tục nghe những tin dữ như rau bị phun thuốc sâu, thuốc tăng trưởng nhiều, gia cầm bị dịch cúm, gia sức bị dịch bệnh (2). Xuất phát từ lòng tham, từ sự ích kỉ tư lợi quá xem nhẹ tính mạng, sự sống của người khác nên nhiều cá nhân, doanh nghiệp trong sản xuất,… đã không tuân thủ yêu cầu về chất lượng thực phẩm (3). Họ vẫn giết mổ, bày bán những con gia súc, gia cầm chưa qua kiểm dịch (4). Thậm chí, gần đây trong nhiều loại nước chấm, gia vị các cơ quan chức năng còn phát hiện dấu hiệu quá liều lượng cho phép của một vài loại chất độc như MC3D, chất bảo quản, phẩm màu,…

    (5). Nhưng hàng ngày con người vẫn phải ăn, phải uống nên nguy hiểm từ nguồn

    thực phẩm như lưỡi gươm treo lơ lửng trên mỗi mái nhà (6). Vì thế, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là việc làm cần giải quyết ngay để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và nâng cao chất lượng cuộc sống (7).

    Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét chéo nhóm.

    Cuối cùng giáo viên nhận xét, chốt ý đúng và rút kinh nghiệm cho học sinh.

    Với phương pháp hoạt động trên sẽ giúp học sinh trên mọi đối tượng tự giác phát huy được kĩ năng viết đoạn văn theo nhiều phương pháp và các đoạn văn được xây dựng trong bài viết sẽ linh hoạt, đa dạng phong phú hơn cách viết một chiều theo một phương pháp gây nhàm chán, không lôi cuốn người học, người đọc.

    Như vậy chắc chắn sẽ có nhiều điều thú vị hơn trong giờ viết văn, đặc biệt đoạn văn học sinh trình bày sẽ có nhiều cách lập luận khác nhau.

    1. Giờ làm văn miệng:

     

    Trong khó khăn chung của việc giảng dạy làm văn ở phổ thông, việc giảng dạy

    giờ làm văn miệng thường bị bỏ qua, thay vào đó là những giờ làm văn viết kéo dài, hoặc có chăng chủ yếu cũng chỉ là việc đơn điệu: giáo viên ra một đề văn và học sinh chuẩn bị trong 15 – 20 phút rồi giáo viên chỉ định một vài học sinh lên trình bày, cả lớp nhận xét, phản biện,… Cuối cùng giáo viên nhận xét, góp ý, chỉnh

    sửa và cho điểm,…và giờ làm văn viết kết thúc. Thì giờ làm văn miệng có những đặc thù riêng. Thời gian học sinh chuẩn bị tương đối ít. Học sinh phải trực tiếp với một đối tượng giao tiếp hiện diện, khoảng cách giữa hai tư duy và ngôn ngữ rút ngắn, đòi hỏi sự nhanh nhạy, linh hoạt cơ động trong sự lựa chọn từ, sắp xếp ý và diễn đạt sao cho mạch lạc, rõ ràng và có sức thuyết phục. Đã thế, trong giờ làm văn miệng, học sinh cần phải huy động những yếu tố cần thiết khi làm văn mà còn phải vận dụng nhiều yếu tố đặc thù của lời nói kết hợp với những hoạt động hình thể. Đó là đặc trưng của giờ làm văn miệng mà giờ làm văn viết không có được.

    Trong giờ làm văn miệng hiệu quả lao động của học sinh được cảm nhận trực tiếp. Không khí giờ làm văn miệng rất sinh động, hấp dẫn dễ kích thích hứng thú hoạt động của cả lớp.

    Đành rằng giờ làm văn miệng phải chú ý đến yêu cầu rèn luyện ngôn ngữ nói của học sinh. Qua cách trình bày, diễn đạt, qua phong cách, qua điệu bộ của học sinh, qua bản trình bày hay ý kiến phát biểu của học sinh,… giáo viên có cơ hội uốn nắn về mặt ứng xử, đồng thời bổ sung, điều chỉnh những kiến thức khác cho học sinh. Như vậy giờ làm văn miệng có ý nghĩa giáo dục toàn diện học sinh, đặc biệt rèn luyện ngôn ngữ nói, phương pháp tư duy và nghệ thuật giao tiếp.

    Tùy thuộc vào điều kiện chuẩn bị của học sinh theo hướng dẫn của giáo viên, hoạt động của giờ làm văn miệng có thể có những hình thức khác nhau:

    • Giáo viên cho một vấn đề để cả lớp cùng chuẩn bị ở nhà và giáo viên yêu cầu một vài học sinh (không nhất thiết phải là học sinh khá) chuẩn bị kĩ hơn và trình bày trước lớp đoạn văn đã giao. Trong khi bạn trình bày, cả lớp sẽ trao đổi cùng làm rõ vấn đề.

    Ví dụ: Bàn về một vẻ đẹp của bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn

    Khuyến.

    Học sinh có thể chọn viết đoạn văn về vẻ đẹp của bức tranh mùa thu ở nông thôn Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ hoặc vẻ đẹp tâm hồn thi nhân.

    • Giáo viên có thể ra một đề bài tại lớp, học sinh chuẩn bị trong 15 phút rồi phát biểu trao đổi và chọn một trong các luận điểm vừa tìm được để viết đoạn văn + đoạn văn tại chỗ.

    Ví dụ: + Đọc sách đối với trí tuệ giống như thể dục đối với cơ thể.

    • Đọc cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn thông minh.

    Học sinh sau khi viết xong, lên bảng trình bày trước lớp. Giáo viên sẽ chọn những đoạn văn hay làm văn mẫu để cả lớp cùng học tập và làm tư liệu trong quá trình làm văn.

    III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:

    Theo phân phối chương trình Ngữ Văn 11 năm nay của tổ dưới sự chỉ đạo của nhà trường, việc sắp xếp các tiết làm văn sau bài học cung cấp kiến thức mới, học sinh có thời lượng làm văn cũng tương đối nên giáo viên cũng đã tận dụng được điểm này để tăng cường luyện tập, hướng dẫn học sinh làm văn một cách triệt để. Kết quả học sinh đã có kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý và viết đoạn văn, bài văn nghị luận với những kiểu bài, dạng đề có liên quan đến những kiến thức đã học vào làm văn cũng như việc vận dụng những kiến thức ấy vào thực tế cuộc sống.

    • Số liệu thống kê trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm:
    Lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
    số
    SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
    % % % % %
    11A4 41 0 0.0 0 0.0 2 4.8 18 44.0 21 51.2
    11A5 43 0 0.0 0 0.0 3 7.0 12 27.9 28 65.1
    11A6 42 0 0.0 0 0.0 2 4.8 11 26.2 29 69.0
    • Kết quả sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này như sau:
    Lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
    số
    SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
    % % % % %
    11A4 41 1 2.4 10 24.3 22 54.0 7 17.0 1 2.4
    11A5 43 3 7.0 12 28.0 18 41.8 10 23.2 0 0.0
    11A6 42 0 0.0 9 21.4 19 45.2 12 28.6 2 4.8
    1. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:

    Việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11 là việc làm cần thiết trong quá trình giảng dạy môn Ngữ Văn.

    Học sinh được rèn luyện thường xuyên và có phương pháp cụ thể sẽ giúp các em có bản lĩnh vững vàng, biết cách lập luận, thuyết phục người khác nghe theo ý kiến của mình, tránh được việc những người quen suy nghĩ, diễn đạt bằng những ý vay mượn, những lời có sẵn,…

    Kiến thức đã học lưu giữ trong đầu các em lâu dài và tránh được cách giảng dạy áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của giáo viên tới học sinh.

    Mặt khác, giúp các em chủ động, sáng tạo trong học tập làm cho các em mạnh dạn hơn khi đưa ra ý kiến của mình thuyết phục người khác.

    Bên cạnh giáo viên lưu giữ lại những bài viết tốt, lập luận chặt chẽ, biết triển khai vấn đề, trình bày rõ ràng, đủ ý,… để làm mẫu cho các bạn cùng lớp học tập.

    Ngoài ra, việc giáo viên sửa bài cho học sinh nếu chỉ đọc rồi sửa bài viết của một số học sinh thì những học sinh khác không thể biết bạn mình viết như thế nào và chỗ nào chưa đạt. Vì vậy mong nhà trường sắm thêm máy overhead để tiện cho việc sửa bài của học sinh. Từ đó, mỗi học sinh có thể tự rút kinh nghiệm và tự sửa bài cho mình.

    Có thể nói đây là một chuyên đề tuy không mới mẻ ở các trường THPT nhưng đối với đối tượng học sinh của trường THCS và THPT Bàu Hàm – một ngôi trường mà phần lớn là học sinh vùng sâu vùng xa, người dân tộc nhiều lại non kém khi làm văn, đặc biệt là văn nghị luận thì tôi thấy sau khi thực hiện chuyên đề này học sinh đã có được kĩ năng làm văn và kết quả học tập cũng được nâng lên.

    Trong quá trình xây dựng chuyên đề, do hạn chế về tư liệu cũng như kinh nghiệm còn non nớt nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong quý thầy cô trong tổ Văn, các bạn đồng nghiệp, Hội đồng khoa học các cấp xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm này góp ý, bổ sung thêm để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn chỉnh, để có thể áp dụng sớm vào giảng dạy rèn kĩ năng làm văn nghị luận lớp 11 có hiệu quả hơn ở các trường THPT vùng sâu, vùng xa không chỉ ở huyện Trảng Bom mà còn ở các trường học khác.

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
    • Sách giáo khoa lớp 11, tập 1 – Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên). NXB GD năm

    2006.

    • Sách giáo viên lớp 11, tập 1 – Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên). NXB GD năm 2008.
    • Sách giáo khoa lớp 10, tập 2 – Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên). NXB GD năm 2006.
    • Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh – Bộ giáo dục và đào tạo.
    • Tài liệu Phương pháp dạy học Văn – Phan Trọng Luận (Chủ biên). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 1998.

    Xin chân thành cảm ơn!

    NGƯỜI THỰC HIỆN

    BÙI THỊ THỦY

    SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI              CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Đơn vị: Trường THCS và THPT Bàu Hàm Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    Bàu Hàm, ngày  tháng  năm 20

    PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2011 – 2012

    Sáng kiến kinh nghiệm

    RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN LỚP 11

    Họ và tên tác giả: BÙI THỊ THỦY   Chức vụ: Giáo viên
    Đơn vị: Trường THCS và THPT Bàu Hàm
    Lĩnh vực:
    – Quản lý giáo dục – Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn
    – Phương pháp giáo dục – Lĩnh vực khác:
    Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
    1. Tính mới:
    • Có giải pháp hoàn toàn mới
    • Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
    1. Hiệu quả:

    – Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao

    • Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
    • Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
    • Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả
    1. Khả năng áp dụng:
    • Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
    Tốt Khá Đạt
    • Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
    và dễ đi vào đời sống: Tốt Khá Đạt
    • Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
    quả trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt
    XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
    (Ký tên và ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng
    dấu)