Author: Nguyễn Huyền

  • Bài giảng Kế toán giao dịch ngoại tệ

    Bài giảng Kế toán giao dịch ngoại tệ

    Bài giảng Kế toán giao dịch ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-gi%E1%BA%A3ng-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-giao-d%E1%BB%8Bch-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài giảng Kế toán giao dịch ngoại tệ

    7/30/2012

    Bài giảng Kế toán giao dịch ngoại tệ

      MỤC TIÊU  
      1. Nhận biết các giao dịch bằng ngoại tệ.  
      2. Hiểu được những nguyên tắc và phương pháp kế toán
        những ảnh hưởng do thay đổi tỷ giá hối đoái trong  
        trường hợp doanh nghiệp có các giao dịch bằng ngoại
        tệ được chuyển sang đơn vị tiền tệ kế toán của doanh
        nghiệp.  
      3. Thực hiện việc ghi chép kế toán trong lĩnh vực thu, chi
        ngoại tệ, hoạt động xuất nhập khẩu khi ghi nhận ban
        đầu và báo cáo các khoản mục có gốc ngoại tệ tại ngày
        lậpBảng cân đối kế toán.  
      4. Thực hiện việc ghi chép kế toán trong trường hợp  
        doanh nghiệp có thành lập hàng hóa kho bảo thuế.  
    VAS 10 – ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 5. Trình bày thông tin về các khoản chênh lệch tỷ giá hối
      1 đoái trên báo cáo tài chính. 2
       

    MT1: Nhận biết các giao dịch bằng ngoại tệ

    Thuật ngữ trong VAS 10:

    • Đơn vị tiền tệ kế toán : Là đơn vị tiền tệ được sử dụng chính thức trong việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
    • Ngoại tệ : Là đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán của một doanh nghiệp.
    • Tỷ giá hối đoái : Là tỷ giá trao đổi giữa hai đơn vị tiền tệ.

    3

    Tỷ giá tại ngày giao dịch

    • Doanh nghiệp có thể sử dụng tỷ giá xấp xỉ với tỷ giá hối đoái thực tế tại ngày giao dịch.
    • Ví dụ tỷ giá trung bình tuần hoặc tháng có thể được sử dụng cho tất cả các giao dịch phát sinh của mỗi loại ngoại tệ trong tuần, tháng đó.
    • Nếu tỷ giá hối đoái giao động mạnh thì doanh nghiệp không được sử dụng tỷ giá trung bình cho việc kế toán của tuần hoặc tháng kế toán đó.

    5

    Ghi nhận ban đầu

     

    các giao dịch bằng ngoại tệ

    • Một giao dịch bằng ngoại tệ phải được hạch toán ban đầu theo đơn vị tiền tệ kế toán bằng việc áp dụng tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch. Tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch được coi là tỷ giá giao ngay.
    • Ngày giao dịch là ngày đầu tiên mà nghiệp vụ kinh tế phát sinh đủ điều kiện ghi nhận theo chuẩn mực kế toán

    4

    6

    MT2: Nguyên tắc kế toán chênh lệch tỷ

     

    giá

    Chênh lệch tỷ giá phát sinh Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại  
    các khoản mục tiền tệ  
     
    Øcòn gọi là chênh lệch tỷ • còn gọi là chênh lệch tỷ  
    giá đã thực hiện: hình giá chưa thực hiện: hình  
    thành khi thực hiện các thành khi đánh giá lại các  
    nghiệp vụ thanh toán hay khoản mục tiền tệ theo tỷ  
    thu hồi các khoản nợ có giá cuối kỳ.  
    gốc ngoại tệ    

    1

    Thuật ngữ trong VAS 10:

    • Các khoản mục tiền tệ : Là tiền và các khoản tương đương tiền hiện có, các khoản phải thu, hoặc nợ phải trả bằng một lượng tiền cố định hoặc có thể xác định được.
    • Tiền, tương đương tiền
    • Phải thu khách hàng
    • Phải trả nhà cung cấp
    • Trái phiếu đầu tư

    7

    7/30/2012

    Thuật ngữ trong VAS 10:

    • Các khoản mục phi tiền tệ : Là các khoản mục không phải là các khoản mục tiền tệ.
    • Hàng tồn kho
    • TSCĐ
    • Chi phí trả trước
    • Cổ phiếu đầu tư

    8

    Tại ngày lập Bảng cân đối kế toán :

    • Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phải được báo cáo theo tỷ giá hối đoái cuối kỳ ;
    • Các khoản mục phi tiền tệ có gốc ngoại tệ phải được báo cáo theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch ;

    Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản

    mục tiền tệ theo tỷ giá cuối kỳ

    9

    Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái

    • Trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh, kể cả việc đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp đang hoạt động:

    Chênh lệch tỷ giá hối đoái được ghi nhận là thu nhập, hoặc chi phí trong năm tài chính (ngoại trừ chênh lệch tỷ giá hối đoái quy định trong đoạn 12c, 14, 16 trong VAS 10)

    11

    Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái

    • Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập:

    Chênh lệch tỷ giá hối đoái được phản ánh luỹ kế, riêng biệt trên Bảng Cân đối kế toán.

    10

    12

    CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ

    Giai đoạn   Giai đoạn
    trước hoạt động   sản xuất kinh doanh
         
         
    BCĐKT   BCKQHĐKD
         

    2

    MT3: Thực hiện việc ghi chép kế toán

    • Ghi nhận ban đầu: theo tỷ giá giao dịch
    • Khi thanh toán: có thể phát sinh chênh lệch tỷ giá
    • Đánh giá các khoản mục tiền tệ vào cuối kỳ: có thể phát sinh chênh lệch tỷ giá

    ØTheo dõi chi tiết các khoản tiền và các khoản thanh toán có gốc ngoại tệ (cho từng ngoại tệ, từng ngân hàng hoặc từng đối tượng)

    13

    Khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ       15
                           
            TK Tiền      
        (­) TGTT     (¯)TGTT trên sổ KT  
            (pp: BQGQ, FIFO,LIFO)  
                 
                     
          TK phải thu  
                       
        (­) TGTT     (¯) TG trên sổ KT  
                 
          TK phải trả  
                   
      (¯) TG trên sổ KT     (­) TGTT  
                           
                           

    Ví dụ

    • Doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản, đầu kỳ tồn 2.000 USD tiền gởi ngân hàng, Tỷ giá ghi trên sổ kế toán là 19.500

    VND/USD.

    • Vài ngày sau, doanh nghiệp bán bớt 1.200 USD cho ngân hàng và thu tiền đồng Việt Nam nhập quỹ. Tỷ giá thực tế mua của ngân hàng là 19.550

    VND/USD

    • Cuối kỳ, tỷ giá là 19.520 VND/USD

    17

    7/30/2012

    • Tk 4131 – CLTGHĐ đánh giá lại cuối năm tài chính
    • Tk 4132 – CLTGHĐ trong giai đoạn đầu tư XDCB

    14

    16

    Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn XDCB trước hoạt động

    Chênh lệch   Chênh lệch tỷ giá do
    tỷ giá phát   đánh giá lại các
    sinh   khoản mục tiền tệ
         

    Tk 4132

    DTHĐTC (Tk 515) / CPTC (Tk 635)

    18

    Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh

    Chênh lệch   Chênh lệch tỷ giá do
    tỷ giá phát   đánh giá lại các
    sinh   khoản mục tiền tệ
         

    TK 4131

    Bù trừ

    DTHĐTC (Tk 515) / CPTC (Tk 635)

     

    3

    Ví dụ

    • SD đầu tháng 12 của TK 1122: 200.000.000

    (10.000 USD x20.000)

    • Ngày 2/12 nhập khẩu hàng chưa trả tiền $10.000; TGGD 20.000đ/USD
    • Ngày 25/12 chi TGNH 8.000USD trả nợ tiền hàng;TGGD 20.500đ/USD
    • Ngày 31/12 đánh giá lại khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, TGBQLNH: 20.800đ/USD

    19

    Ví dụ (tt)

    • Tài liệu bổ sung:
    • Tỷ giá xuất ngoại tệ theo phương pháp BQGQ.
    • TGBQLNH 31/12 là 20.626đ/USD.
    • SD ngày 1/12: Tk 1112: 0, Tk 1122: 0, Tk 331

    (USD) là 100.000.000đ (5.000USD).

    21

    Thông tư 201/2009/TT-BTC ngày 15/10/09

    Giai đoạn HĐSXKD Chênh lệch tỷ giá do đánh giá  
          lại các khoản mục tiền tệ  
                       
                       
      Chênh lệch                
      tỷ giá phát Công     Tiền, Công  
      sinh nợ dài     nợ ngắn  
        hạn     hạn  
             
        TK 4131          
            TK 4131    
                     
        Bù trừ Có thể hoãn     – Đầu năm    
        lỗ £ 5năm        
                  sau ghi    
    DTHĐTC (Tk 515) / CPTC (Tk 635)     đảo    
                       

    7/30/2012

    Ví dụ

    Trong tháng 12, phòng KT Cty A có các tài liệu sau:

    1. Ngày 1/12 nộp TM VND vào NH để mua 5.000USD với tỷ giá giao dịch : 20.620đ/USD.
    1. Ngày 5/12 chuyển 4.000USD gửi NH th/toán cho nhà cung cấp, tỷ giá giao dịch thực tế:

    20.622đ/USD

    1. Ngày 15/12 vay ngắn hạn nhập quỹ TM số tiền là 2.000USD, TGTT: 20.625 đ/USD
    1. Ngày 25/12 chi 550USD tiền mặt mua một công cụ nhập kho (giá thanh toán),TGTT: 20.624đ/USD
    1. Ngày 31/12 đánh giá lại khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ.

    20

    22

    Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh

    Chênh lệch   Chênh lệch tỷ giá do
    tỷ giá phát   đánh giá lại các
    sinh   khoản mục tiền tệ
         

    TK 4131

    Bù trừ

    DTHĐTC (Tk 515) / CPTC (Tk 635)

    VAS 10 hay TT 201/2009 TT-BTC?

    CV 322/UBCK-QLPH ngày 4/2/2012 do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước – Bộ Tài chính ban hành

    24

     

    4

    7/30/2012

    KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUT NHP KHU

    1. Đặc điểm kinh doanh nhập khẩu
    • Ký kết hợp đồng ngoại thương.
    • Mở L/C (Letter of Credit): nếu Hợp đồng ngoại thương quy định trả tiền hàng bằng thư tín dụng.
    • Thanh toán tiền hàng: khi nhận bộ hồ sơ nước ngoài, kiểm tra đúng => báo NH Ngoại thương thanh toán tiền hàng.

    (Bộ hồ sơ gồm: HĐNT, HĐ (Invoice), Phiếu đóng gói (Packing List), Vận đơn đường biển (Bill of Lading), Hoá đơn bảo hiểm (Insurance policy), 1 số chứng từ khác (Giấy chứng nhận xuất xứ, Giấy chứng nhận phẩm chất, trọng lượng, Giấy chứng nhận kiểm dịch vệ sinh,…)

    25

    26

     

    Đặc điểm kinh doanh nhập khẩu

    • Hàng về đến cửa khẩu: Cơ quan giao thông cảng kiểm tra việc niêm phong hàng hóa khi bốc hàng khỏi phương tiện vận tải (nếu hàng thiếu hụt, hư hỏng phải có Biên bản kết toán với đơn vị vận tải)
    • Giao nhận hàng hoá, khai báo hải quan: khi nhận hàng hóa phải làm thủ tục khai báo Hải quan, xuất trình hàng hóa cho cơ quan Hải quan kiểm tra và tính thuế nhập khẩu, cho cơ quan kiểm dịch nếu hàng hoá là động, thực vật
    • Nộp 1/ thuế nhập khẩu, 2/ thuế tiêu thụ đặc biệt, 3/ VAT hàng nhập khẩu

    27

    Ví dụ

    • Cty tính thuế GTGT theo pp khấu trừ
    • SDĐK TK 1122 (EUR): 52.000.000 (2.000 EUR). Ngoại tệ xuất theo pp bình quân gia quyền liên hoàn.
    1. Ngày 10/2, chuyển 1000 EUR ký quỹ mở L/C. TGTT: 26.500
    1. Ngày 9/3 nhận được bộ hồ sơ hàng nhập khẩu của lô hàng hóa gồm 1.000 đvị X 5 EUR/đvị.
    1. Ngày 10/3 hàng đã về cảng và nhập kho đủ, thuế nhập khẩu phải nộp là 5% giá nhập, thuế TTĐB 20%, VAT10%. TTGTT 27.000 VND/EUR; Công ty đã nộp các loại thuế bằng tiền mặt VND. Chi phí lưu kho, kiểm dịch, bốc vác công ty đã chi bằng tiền tạm ứng 8.400.000đ (trong đó VAT 400.000đ)
    1. Ngày 29/3 chuyển chuyển tiền trả nhà cung cấp 5,000 EUR (1000 EUR ký quỹ và 4000 EUR). Thủ tục phí NH 0,1% và

    VAT 10%, TGTT: 27.300 VND/EUR.

    29

    111,112,… KT nhập khẩu trực tiếp 152,156,211,…
               
      144 331      
                                             
      (1a)Ký quỹ   (3)Trả tiền   (2a)Nhập hàng    
      CLTG     CLTG                    
                         
                3333,3332 Thuế nhập    
                            (2b)      
                            khẩu,thuếTTĐB    
                33312     133  
                            (2c) VAT hàng        
                            NK              
                                  152,1562,211
      (2d) Chi phí nhập hàng              
                                               
                                  28  
                                               
    1. Đặc điểm hoạt động xuất khẩu

    – Ký kết hợp đồng ngoại thương.

    – Nhận được thông báo của Ngân hàng là bên mua đã mở L/C (nếu thanh toán bằng tín dụng thư), kiểm tra lại bộ chứng từ.

    – Thủ tục xuất khẩu:

    • Xin giấy phép xuất khẩu.
    • Thuê phương tiện vận tải.
    • Đóng B/hiểm (bán giá CIF)
    • Lập bảng kê chi tiết đóng gói.
    • Giấy chứng nhận xuất xứ, phẩm chất và trọng lượng
    • Giấy chứng nhận kiểm dịch.
    • Khai báo hải quan, nhận thông báo nộp thuế xuất khẩu (nếu có)
    • Giao nhận hàng với đơn vị vận tải, nhận vận đơn.
    • Gửi bộ hồ sơ trên cho Ngân hàng xin thanh toán tiền hàng.

    30

     

    5

    Kế toán hoạt động xuất khẩu trực tiếp

    • Khi đủ điều kiện ghi nhận doanh thu: Nợ TK 131 (+TS)

    Có TK 511 (+DT, +VCSH)

    • Thuế GTGT hàng xuất khẩu: 0%
    • Thuế xuất khẩu

    Nợ TK 511 (-DT, -VCSH)

    Có TK 3333 (+ NPTRA)

    31

    7/30/2012

    32

    Kế toán DT xuất khẩu hàng trực tiếp

    3333       511     131, 1122
                           
      Thuế XK       DThu  
      phải nộp                
                     
                 
      641          
    CP bán hàng            
                             

    Ví dụ

    • Cty tính thuế GTGT theo pp khấu trừ
    1. Ngày 10/8 xuất kho 5.000 hàng hóa A (giá xuất 15.000đ/đvị) xuống cảng cho cty Nhật theo hợp đồng đã ký với giá 150JPY/đvị/FOB. Chi phí thuê kho đã trả bằng tiền mặt là 500.000đ.
    1. Ngày 15/8 hàng đã giao xuống tàu do người mua chỉ định. Đã đủ điều kiện ghi nhận doanh thu. Các chi phí khác phục vụ cho việc xuất khẩu chi bằng tiền mặt 2.2 trđ (trong đó VAT 10%). Thuế xuất khẩu 5%. Đã chi tiền mặt VND nộp thuế XK.
    1. Ngày 30/8 nhận được giấy báo của NHNT về số tiền do công ty Nhật thanh toán, đồng thời đã bị trừ ngay khoản thủ tục phí

    NH là 750JPY và VAT 10%.

    • Tài liệu bổ sung: TGTT ngày 10/8: 250 đ/JPY; ngày 15/8: 260 đ/JPY; ngày 30/8:255 đ/JPY

    33

    Kế toán nhập khẩu ủy thác

    Đơn vị (giao) uỷ thác nhập khẩu (bên thật sự mua hàng):

    – Ký kết Hợp đồng ủy thác với đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu.

    – Chuyển tiền cho đơn vị nhận uỷ thác mở L/C (nếu Hợp đồng quy định đơn vị nhận ủy thác thanh toán tiền hàng với nước ngoài).

    – Cùng đơn vị nhận uỷ thác làm thủ tục nhập khẩu.

    – Chịu các chi phí : chi phí mua hàng, thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu (hoặc thuế TTĐB hàng nhập khẩu), hoa hồng uỷ thác (HĐ GTGT của đơn vị nhận ủy thác nhập )

    – Nhận hàng khi có thông báo của đơn vị nhận uỷ thác.

    – Hàng về kiểm nhận nhập kho, lập Biên bản kiểm nghiệm và PNK kèm HĐ GTGT/ PXKKVCNB của đơn vị nhận ủy thác nhập.

    34

    Đơn vị (giao) ủy thác nhập khẩu

    331nhận UTNK 152,156,211
       

    (2a)Nhận hàng

    Trên HĐ GTGT của bên NUTNK

    ghi giá mua (Inv.)+ thuế NK

    133

    (2b) VAT (nếu

    nhờ nộp hộ)

    152,156,211

    (3)Phí ủy thác+ khoản chi hộ

    35

    Kế toán nhập khẩu ủy thác

    Đơn vị nhận ủy thác nhập (Bên mua hộ):

    Hưởng hoa hồng ủy thác (lập HĐ GTGT phần hoa hồng)

    – Ký kết hợp đồng ủy thác với đơn vị giao ủy thác; hợp đồng ngoại thương.

    – Thực hiện toàn bộ công việc của đơn vị nhận ủy thác.

    36

     

    6

      Đơn vị nhận ủy thác nhập khẩu     37  
               
        Nhận ngoại tệ của ĐVGUT để mở L/C  (1)  
    112   144331-n.ngoài     131-GUT  
                                       
    Mở L/C Th/toán   Hàng giao thẳng (3a*)  
    (2)     hộ (7)             156    
        Hàng n/kho   Xuất trả  
                         
                              (3a)  
        3333/33312    
              hàng  
                      Thuế (3b)        
                      Thuế nộp hộ (3b*)  
                               
        511,33311                
                      Hoa hồng ủy thác(5)  
                                       

    Thu tiền (phí ủy thác, khoản chi hộ(6)

    7/30/2012

    Ví dụ:

    Cty TMại ABC KT HTK theo pp KKTX, tính VAT khấu trừ, Trong thg 6 có tình hình ủy thác cho cty Hoa Mai nhập khẩu lô vật liệu:

    1. Chuyển TGNH VND tương đương 10.000USD cho đvị nhận ủy thác nhập khẩu mở L/C (TG chuyển đổi: 16.020 VND/USD)
    1. Chi tiền mặt chuyển cho đơn vị nhận ủy thác nhập để nộp hộ thuế nhập khẩu 8trđ &VAT 15trđ

    38

    Ví dụ (tt):

    1. Nhận hàng nhập khẩu đã nhập kho đủ kèm HĐ(GTGT) của hàng nhập khẩu do đơn vị nhận ủy thác phát hành gồm giá nhập 10,000USD, thuế nhập khẩu 8trđ, VAT 15trđ ,TGTT:

    16.010đ/USD.

    1. Chi phí kiểm dịch, bốc dỡ,… thanh toán bằng tiền tạm ứng 500.000đ (gồm VAT là 20.000đ).
    1. Nhận thông báo đơn vị nhận ủy thác đã trả tiền mua vật liệu cho nước ngoài; Cty chi TGNH VND thtoán hoa hồng ủy thác 2% giá nhập và VAT 10%, TG thỏa thuận ghi trên HĐơn 16.012đ/USD.

    39

    Đối với đơn vị (giao) ủy thác XK (UTXK) 41
    155,156   157   632
      (1)       (2b)  
                   
                   

    Kế toán xuất khẩu ủy thác

    • Đơn vị giao ủy thác xuất (Bên thật sự bán hàng)
    • Ký kết hợp đồng ủy thác
    • Khi xuất hàng giao cho bên nhận ủy thác xuất sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm Lệnh điều động nội bộ. Khi hàng đã thực xuất khẩu có xác nhận của cơ quan Hải quan, căn cứ vào các chứng từ đối chiếu, xác nhận về số lượng, giá trị xuất khẩu của bên nhận ủy thác xuất, bên giao ủy thác xuất sẽ lập HĐ GTGT (HĐBH) để giao cho bên nhận ủy thác xuất.
    • Cùng bên nhận ủy thác làm thủ tục xuất khẩu.
    • Chịu chi phí ủy thác, thuế xuất khẩu (nếu có), chi phí bán hàng.

    40

    Kế toán xuất khẩu ủy thác

    Đơn vị nhận ủy thác xuất (bên bán hộ):

    3333     511   131 NUTXK  
           
    Thuế XK     (2a)
    ph/nộp          
    • 641
    (4) Phí ủy thác 133
     
    • TK 131: theo dõi tiền hàng phải thu
    • TK 3388: theo dõi các khoản bên nhận UTXK nộp hộ

    ØKhông ghi doanh thu đối với giá trị hàng bán hộ

    ØKhông ghi tài sản là hàng bán hộ

    – Ký kết hợp đồng ngoại thương, hợp đồng ủy thác.

    – Cùng với đơn vị giao ủy thác lập thủ tục xuất khẩu.

    – Doanh thu dịch vụ: phí ủy thác (chứng từ: HĐ GTGT giao cho đơn vị ủy thác).

    42

     

    7

      Đối với bên nhận ủy thác xuất 43
                               
          TK 003                
      (1) Nhận hàng (2b) Xuất khẩu    
                    131-      
                         
          331 GUTXK          
            nước ngoài    
                   
      Thuế nộp hộ (3a)                
                     
            Thu hộ            
            tiền                
            hàng (2a)        
                 
    • 131 GUTXK

    Phí ủy thác

    33311             (5)       bù trừ (7)

    VAT

    MT4: Hàng hóa kho bảo thuế

    • Kho bảo thuế chỉ được thành lập tại các doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư) chủ yếu để sản xuất hàng xuất khẩu (xuất khẩu ít nhất 50% sản phẩm)
    • Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp được đưa vào lưu giữ tại kho bảo thuế chưa phải tính và nộp thuế nhập khẩu và các loại thuế liên quan khác.
    • Kho bảo thuế phải được đặt ở khu vực thuận lợi cho việc quản lý, giám sát của Hải quan

    45

    47

    331Xuất HH trả 158

    7/30/2012

    Ví dụ:

    Cty ABC KT HTK theo KKTX, nộp VAT khấu trừ. Trong tháng 6 có tình hình ủy thác cho cty Hoa đào xuất khẩu như sau:

    1. Xuất kho SP Y chuyển cho đvị nhận ủy thác xuất để tập kết ra cảng chuẩn bị xuất hàng cho Cty Mỹ giá bán 10,000USD,TGTT: 15.920đ/USD; giá xuất kho 110tr
    1. Nhận thông báo của đơn vị nhận ủy thác xuất đã hoàn tất thủ tục xuất khẩu, phí uỷ thác phải trả 2% giá xuất (gồm VAT 10%), thuế xuất khẩu phải nộp (giả sử) 2% giá xuất khẩu – TGTT: 16.000đ/USD. Cty đã chi tiền mặt (VND) nhờ nộp hộ thuế xuất khẩu và đã nhận được Biên lai nộp thuế.
    1. Đơn vị nhận ủy thác chuyển tiền hàng cho Cty bằng VND qua NH sau khi trừ hoa hồng uỷ thác được hưởng

    – TG chuyển đổi : 16.080đ/USD.

    44

    • Hàng hóa nhập khẩu đưa vào Kho bảo thuế không được bán vào thị trường Việt Nam.
    • Trường hợp đặc biệt Bộ thương mại chấp thuận cho phép bán tại thị trường Việt Nam, doanh nghiệp phải nộp thuế nhập khẩu và các loại thuế khác theo quy định

    46

    MT5: TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH

     

    • Nhập NVL,VT để SX SP xuất khẩu & gia công hàng XK

    155,156

    • Xkho TP/HH xuất khẩu đưa vào kho bảo thuế
    • Tái nhập HH không xuất khẩu từ kho bảo thuế

    621

    (2)Xuất NVL,VT để SX SP xuất khẩu & GC hàng XK

    632

    (4)Xuất khẩuHH kho bảo thuế

    / hủy HH trg kho bảo thuế

    155,156,632

    (5)Bán/sdg tại thị trường VN

    333

    (5) Phải nộp thuế

    Doanh nghiệp phải trình bày trong báo cáo tài chính:

    • Khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đã được ghi nhận trong lãi hoặc lỗ thuần trong kỳ;
    • Chênh lệch tỷ giá hối đoái đã được phân loại như vốn chủ sở hữu (theo đoạn 12a, đoạn 14) và phản ảnh là một phần riêng biệt của vốn chủ sở hữu và phải trình bày cả khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đầu kỳ và cuối kỳ.
    • Khi đơn vị tiền tệ báo cáo khác với đồng tiền của nước sở tại mà doanh nghiệp đang hoạt động, doanh nghiệp phải trình bày rõ lý do, kể cả khi thay đổi đơn vị tiền tệ báo cáo.

    48

     

    8


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-g%C3%B3p-ph%E1%BA%A7n-th%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A9y-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-C%C3%B4ng-th%C6%B0%C6%A1ng-%C4%90%E1%BB%91ng-%C4%90a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    LỜI CẢM ƠN

     

     

    Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Ninh, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bản chuyên đề này. Xin cám ơn các anh chị đã giúp đỡ em trong đợt thực tập tại ngân hàng Công thương Đống Đa. Xin cám ơn tất cả các bạn những người đã động viên, khuyến khích và đóng góp ý kiến cho bản chuyên đề của tôi được đầy đủ hơn và hoàn thiện hơn.

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thực hiện chính sách mở cửa, với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, hoạt động kinh doanh  đối ngoại này được mở rộng, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh trong đó có sự đóng góp tích cực của hệ thống ngân hàng thương nmại. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động của các ngân hàng thương mại đã đang dạng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, nền kinh tế quốc dân trong đó có nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ ngày càng mở rộng  và phát triển

    Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại  Ngân hàng công thương Đống Đa trong thời gian qua đã  phần nào đáp ứng được nhu cầu nào trong kinh doanh. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có những vấn đề nổi lên cần phải xử lý tiếp như quan hệ mua bán giữa các loại ngoại tệ, giữa ngoại tệ và nội tệ, giữa huy động và sử dụng,.. Do đó đòi hỏi phải tìm kiếm các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ .

    Với ý nghĩa đó thông qua hoạt động thực tế tại ngân hàng Công thương Đống Đa, em xin được chọn đề tài: “Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa“, mong được góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc của thực tiễn và có ý nghĩa lâu dài.

     

    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    Bản chuyên đề được nghiên cứu một cách tổng hợp những vấn đề cơ bản của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại.

    Từ những  nghiên cứu cơ bản đó, đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động tại ngân hàng Công thương Đống Đa từ đó đánh giá kết quả, những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này, phân tích những nguyên nhân của hạn chế đó và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị của tác giả nhằm tháo gỡ những hạn chế trên và thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng.

    1/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    + Đối tượng nghiên cứu là mảng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng Thương mại cùng các hình thức giao dịch của nó cũng như các điều kiện để thực hiện các hình thức này.

    + Phạm vi nghiên cứu là chi nhánh ngân hàng Công thương Đống Đa

    2/ Kết cấu:

    Tên đề tài nghiên cứu”Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa”

    3/ Bố cục

    Lời mở đầu

    Chương I: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Chương III: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa.

    Lời kết

    Hà nôi, ngày    tháng    năm 2001

    Sinh viên

    Nguyễn Mạnh Thắng

     

    CHƯƠNG I

    NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

     

    1. NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối

    Thế  nào là thị trường ngoại hối. Sự ra đời và phát triển của thị trường ngoại hối gắn liền với sự phát triển của ngoại thương. Các giao dịch trong ngoại thương liên quan đến nhiềuloại đồng tiền của nhiều quốc gia khác nhau. Chẳng hạn chúng ta không thể thu mua nông sản bằng USD để xuất khẩu và cũng không thể nhập phân bón từ nước ngoài bằng VND. Do đó cần có sự chuyển đổi USD và VND khi xuất nhập khẩu. Đó chính là thị trường ngoại hối.

    Như vậy, thị trường ngoại hối là thị trường thực hiện các giao dịch trao đổi các ngoại tệ. Thị trường này bắt nguồn từ sự hình thành và phát triển của ngoại thương, do đó sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của ngoại thương. Có rất nhiều các trung tâm giao dịch ngoại hối lớn trên thế giới như London, Newyork, Tokyo., Frankfurk… điều hành và phát triển thịnh vượng gắn liền với sự phát triển của các trung tâm thương mại sầm uất với đầy đủ các giao dịch buôn bán trong và ngoại nước.

    1.1.1 Đặc điểm của thị trường ngoại hối

    Vì là thị trường mua bán các loại hàng hoá đặc biệt – đồng tiền của các nước – nên thị trường ngoại hối có đặc điểm riêng sau:

    – Thị trường ngoại hối là thị trường mang tính quốc tế, phạm vi hoạt động không chỉ trong một quốc gia mà trên khắp toàn cầu để phục vụ cho nhu cầu giao dịch ngoại tệ.

    – Thị trường ngoại hối là thị trường hoạt động liên tục trong một ngày. đặc điểm này xuất phát từ sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực địa lý khác nhau khiến cho thị trường ngoại hối quốc tế nói chung luôn mở cửa, các giao dịch được thực hiện nhờ vào các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như: Điện thoại, FAX, hệ thống giao dịch và thông tin tài chính, ngân hàng quốc tế khiến cho các giao dịch luôn được thực hiện.

    – Các hoạt động giao dịch trên thị trường ngoại hối chủ yếu là các loại ngoại tệ mạnh, có khả năng chuyển đôỉ cao: USD, DEM,JPY,GBP,… Các thị trường ngoại hối quốc tế giao dịch chủ yếu là USD và thường dùng nó làm dự trữ ngoại tệ của nước mình. Do đó thông thường giá trị của các đồng tiền khác được biểu hiện thông qua USD.

    – Thị trường ngoại hối là thị trường vô hình nhưng hoạt động rất sôi động các đồng  tiền không phải được mua bán tại các sàn giao dịch mà được tổ chức thành thị trường qua tay, tại đó hàng năm các nhà kinh doanh ngoại hối chủ yếu là các ngân hàng sẵn sàng mua và bán các loại tiền gửi ghi bằng ngoại tệ. Thị trường ngoại hối mang tính chất cạnh tranh  cao và việc mua bán giữa các Công ty, ngân hàng, chính phủ, thườngdiễn ra thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại.

    1.1.2 Cấu trúc thị trường ngoại hối

    Về cấu trúc thị trường ngoại hối không phức tạp lắm. Nếu căn cứ vào hình thức tổ chức, thị trường gồm hai loại: thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức, có thể mô tả bằng sơ đồ sau:

    Nếu căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh, thị trường ngoại hối có thể bao gồm nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao ngay. Thị trường có kỳ hạn, thị trường giao sau, thị trường quyền chọn và thị trường hoán đổi ngoại tệ.

    Sơ đồ:

    Cơ cấu của thị trường ngoại hối

    Các bên tham gia  thị trường ngoại hối được xác định bằng luật lệ của nhiều quốc gia khác nhau. Tại phần lớn các nước luật lệ này được các  chủ thể thực hiện các giao dịch thông qua các trung gian được uỷ quyền có hay không có trách nhiệm kiểm soát và là những thành viên chính tham gia thị trường ngoại hối, đó là các NHTM và NHTW, các nhà môi giới, các Công ty xuất nhập khẩu. Chúng ta xem xét vai trò của các thành viên trên thị trường ngoại hối

    NHTM và ngân hàng đầu tư.

    Nhóm này bao gồm tất cả các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư tham gia  mua bán ngoại tệ cho chính họ khi thực hiện mục tiêu kinh doanh hay mua bán thay cho khách hàng khi thực hiện vai  trò môi giới. Ngày nay, thị phần ngoại tệ liên ngân hàng lớn hơn rất nhiều so với hoạt động trên cơ sở hoạt động khách  hàng. Theo thống kê, hoạt động ngoại tệ liên ngân hàng chiếm từ 70- 90% tổng doanh số hoạt động kinh doanh đối ngoại.

    Hoạt động trên cơ sở nghiệp vụ khách hàng: Các ngân hàng thương mại đảm nhận hầu hết các hoạt động chuyển hoá trên thị trường ngoại hối với tư cách là người bán hoặc mua. Những ngân hàng lớn có nhiều khách hàng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, họ thương xuyên có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh tóan tiền hàng nhập khẩu hoặc có nhu cầu bán ngoại tệ để lấy nôị tệ chi tiêu trong nước, lúc này NHTM sẽ tham gia vào thị trường ngoại hối với tư  cách là trung gian thay mặt cho khách hàng của mình để thực hiên các giao dịch. Khi thực hiện các hợp đồng thanh toán bằng ngoại tệ trước hoặc sau các NHTM đều phải thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Bên cạnh những giao dịch phục vụ thanh toán, hầu hết các ngân hàng còn hoạt động kinh doanh ngoại tệ theo hình thức liên ngân hàng, có nghĩa các ngân hàng trực tiếp mua bán với nhau bằng chính số dư tài khoản ngoại tệ của mình.

    Ngân hàng Trung ương

    Ở hầu hết các nước NHTW là người đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành và ổn định sự hoạt động của thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá hối đoái. Ngân hàng trung ương có 2 chức năng trên thị trường ngoại hối  đó là một mặt phục vụ khách hàng của mình ( chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước, các ngân hàng thương mại nước ngoài, các tổ chức tiền tệ quốc tế,. Mặt khác trung ương giám sát các hoạt động của thị trường, theo dõi, tỷ giá và trong trường hợp cần can thiệp thì có thể một mình hoặc cùng các ngân hàng trung ương khác để tác động tới một đồng tiền này hay một đồng tiền khác. Sự can thiệp của ngân hàng thương mại nhằm cân bằng nhu cầu ngoại tệ để giữ cho tỷ giá hối đoái tránh được những biến động. Khi can thiệp trên thị trường ngoại hối, ngân hàng trung ưong thường sử dụng quý dự trữ bình ổn tỷ giá và thực hiện chính sách hoạt động công khai. Ngân hàng trung ương dùng nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều chỉnh cung cầu thị trường. Trong trường hợp cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, ngân hàng trung ương buộc phải mua ngoại tệ bằng đồng bản tệ và bán ngoại tệ trong trường hợp ngược lại với giá cả do ngân hàng thương mại quy định trong trường hợp ngược lại với giá cả ngân hàng trung ương. Thông qua nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là những biện pháp rất quan trọng của nhà nước để ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, đây là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá. Bên cạnh đó, các ngân hàng trung ương cũng thường ký thoả thuận vay dự trữ và thoả thuận này cho phép các ngân hàng trung ương vay dự trữ ngoại tệ trong thời gian ngắn để bình ổn tỷ giá.

    Là những người tham gia trên thị trường với tư cách là trung tâm trong giao dịch mua bán hoặc mua bán thay cho người khác nhằm thu hoa hồng trong  từng chuyến giao dịch. Họ có thể là trung gian giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau để tạo điều kiện cho cung cầu ngoại tệ.

    Cơ sở hoạt động của các nhà mối giới là việc tổ chức bằng điện thoại hoặc mạng vi tính với các ngân hàng, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nhiệm vụ của người môi giới là tìm ra một tỷ giá có lợi nhất cho khách hàng của mình thông qua việc sử dụng hệ thống thông tin. Các nhà môi giới luôn có các hợp đồng mua bán ngoại tệ với ngân hàng cộng tác với họ, các họp đồng này thường xuyên ấn định mức chính từ các hợp đồng, tất nhên tuỳ từng ngân hàng tuỳ từng hợp đồng đã thoả thuận trước giá mua tối đa và giá bán tối thiểu, đã tạo cho các nhà môi giới những cơ hội lớn để tìm đến đối tác có nhu cầu.

    Từ đó tỷ giá hối đoái của thị trường được các nhà môi giới xác định trên cơ sở tham gia cung cầu thị trường

    Các Công ty

    Việc tham gia vào thị trường ngoại hối  của Công ty bắt nguồn từ thị trường quốc tế đầu tư trực tiếp. Thương maị quốc tế gắn liền với việc thanh toán bằng ngoại tệ, do vậy việc mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối của các Công ty, trước hết để thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, sau nữa nhằm tự bảo hiểm đối với các rủi ro do những biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái gây ra

    Các giao dịch mua bán ngoại tệ  giưã các Công ty và ngân hàng chỉ chiêm một tỷ lệ nhỏ trong các giao dịch trên thị trường ngoại hối. Tuy nhiên hiện nay vai trò của các Công ty lớn, đặc biệt là các Công ty quốc gia ngày càng phát triển trên thị trường ngoại hối.  Nguyên nhân  do các Công ty đa quốc gia thi hành chính sách mở cửa rộng các nguồn dự trữ ngoại tệ, giảm bớt nguy cơ thiệt hại do sự mất giá của các nguồn vốn tính bằng tiền không ổn định, đồng thời tích cực chạy đua vì lợi nhuận trên cơ sở thu chênh lệch giá. Nếu như tỷ giá của  một đồng tiền nào đó có xu hướng giảm thì các Công ty sẽ chuyển nguồn vốn của mình  sang đồng tiền ổn định hơn.

    Tuy nhiên, các Công ty có nhu cầu về mua bán ngoại tệ  đều tiến hành giao dịch với các ngân hàng và không chỉ căn cứ vào giá mua bán do ngân hàng chào mà còn dựa vào khả năng cung cấp, việc đánh giá các thông tin về kinh tế ở các nước mà họ đang hoạt động, khả năng đưa ra dự báo tỷ giá trong tương lai.

    Qua phân tích cơ cấu tổ chức của thị trường ngoại hối, chúng ta thấy các ngân hàng thương mại là những thành viên chính tham gia thị trường ngoại hối, sau đây chúng ta xem xét họ sẽ thực hiện các nghiệp vụ gì trên thị trường này.

    1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    Thực tế cho thấy, bất kỳ loại hình kinh doanh nào mang lại lợi nhuận lớn thì rủi ro mà nó đem lại cũng không phải là nhỏ và kinh doanh ngoại tệ cũng không nằm ngoài quy luật đó.  Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối:

    + Rủi ro tỷ giá hối đoái

    + Rủi ro trạng thái ngoại hối

    + Rủi ro tỷ lệ SWAP ( tỷ lệ chuyển đổi)

    + Rủi ro thực hiện

    + Rủi ro chuyển đổi và kinh doanh

    Để hạn chế các rủi ro người ta áp dụng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái.

    Tuy nhiên, các nghiệp vụ này không chỉ đơn thuần là hạn chế phòng ngừa rủi ro mà trong quá trình thực hiện, nó còn mang lại một phần lợi nhuận đáng kể trong tổng lợi nhuận. Do đó, nó cũng là các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trong chính sách đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh cuả ngân hàng. Mục đích kinh doanh của ngân hàng là: phòng ngừa rủi ro, kinh doanh kiếm lời và kinh doanh mang tính chất dịch vụ để thu phí.

    1.2.1.Nghiệp vụ hối đoái giao ngay

    Thị trường hối đoái giao ngay là một bộ phận của thị trường hối đoái, doanh số hoạt động của nó  chiếm khoảng 58 % tổng số doanh số thương mại ngoại hối, trong khi thị trường kỳ hạn và thị trường theo quyền chọn chỉ chiếm tương ứng là 40% và 20%.

    Nghiệp vụ hối đoái giao ngay được thực hiện bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay trong đó việc cung ứng các đồng tiền  chuyển đổi được thực hiện chậm nhất là hai ngày làm việc kể từ khi hợp đồng được ký kết.

    Tỷ giá thanh toán ngay (sau hai ngày làm việc) trong thương mại quốc tế gọi là SPORT-RATE, nếu một nhà kinh doanh ngoại tệ muốn thay đổi thời hạn thực hiện hai ngày thành ba ngày thì có thể đề nghị bạn hàng của mình thực hiện tỷ giá SPORT-NEXT, nếu muốn đổi thời hạn thực  hiện từ hai ngày thành một ngày thì đề nghị tỷ giá TOMOROW-NEXT,

    Kỹ thuật giao dịch có thể thực hiện bằng điện thoại, hệ thống màn hình ( Computer), bằng điện báo và trên các sở giao dịch chứng khoán. Thực hiện bằng kỹ thuật màn hình  thực chất là thực hiện qua hệ thống thông tin điện tử, tức là việc thoả thuận hay các hợp đồng được thực hiện thông qua hệ thống “ Money dealing”. Thông qua hệ thống này,  các ngân hàng có thể trực tiếp liên hệ với nhau và thoả thuận các hợp đồng thương mại. Việc chuyển thông tin được thực hiện bằng bàn phím với những ký tự điện tử và thông tin sẽ xuất hiện trên màn hình, đồng thời một máy in được nối mạng với hệ thống sẽ in lại thành biên bản thông tin được chuyển đi. Hệ thống này có ưu điểm so với hình thức điện thoại là việc ghi nhận các thoả thuận bằng văn bản, khắc phục các lỗi nhầm thường gặp trong giao dịch điện thoại như nghe nhầm, viết nhầm, vì thế hệ thống “ Money dealing” được sử dụng rộng rãi.

    Tỷ giá giao ngay (SPORT-RATE) được niêm yết trên các báo kinh tế hàng ngày ở các quốc gia. Thực tế hiện nay, tỷ giá của hầu hết các loại ngoại tệ được trao đổi đều được tính toán so với USD  mà không được tính toán trực tiếp với nhau nữa. Đồng USD được sử dụng như một  loại ngoại tệ trung chuyển ( transport), đồng thời tỷ giá giữa hai đồng tiền không thông dụng, người ta sử dụng tỷ giá tính chéo sau:

    Tỷ gía giao ngay: USD/FRF: 4.8240-60

    Tỷ gía giao ngay: USD/JPY: 125.25-36

    Tỷ gía giao ngay: USD/JPY được tính như sau:

    * Tỷ giá mua:

    + Bán 1 FRF thu được 1/4.8240 USD

    + Bán 1/4.8240 USD thu được 1/4.8240×125.25 JPY, tức là  thu được 25.9639 JPY.

    Vậy tỷ giá mua FRF là 25.9639

    * Tỷ giá bán

    + Mua 1 FRF cần có 1/4.8260 USD

    + Muốn có số USD trên cần có 125.35×1/4.8260 JPY, tức là cần có 25.9739 JPY.

    Vậy tỷ giá bán FRF là 25.9739

    Ta có tỷ giá tính chéo là: 25.9639  –  25.9739

    Điều kiện thực hiện nghiệp vụ hối đoái giao ngay là:

    + Trước hết, phải có nhu cầu của khách hàng, thông thường nghiệp vụ giao ngay phát sinh khi có nhu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện nghiệp vụ này để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    + Nghiệp vụ giao ngay còn được thực hiện trong hoạt động đầu cơ của ngân hàng, dự toán tỷ giá của một đồng tiền trong thời gian tới, ngân hàng sẽ mua đồng tiền đó theo hợp đồng giao ngay với ngân hàng khác. Khi tỷ giá thay đổi theo đúng dự toán, ngân hàng có thể bán trao ngay số tiền đầu cơ đó và thu chênh lệch. Ngoài ra, nghiệp vụ trao ngay được sử dụng kết hợp với các nghiệp vụ khác trong các đầu cơ chênh lệch lãi suất.

              1.2.2 Nghiệp vụ ARBITRAGE:

    Nghiệp vụ ARBITRAGE là nghiệp vụ kinh doanh của bản thân ngân hàng, theo ý nghĩa nguyên thuỷ cuả nó, nghiệp vụ này là việc lợi dụng sự chênh lệch về tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lời thông qua hoạt động mua và bán. Do đó, nó còn có tên gọi là nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá hay kinh doanh giao ngay. Đó là việc tiến hành mua bán ngoại tệ đồng thời trên các thị trường hối đoái theo nguyên tắc mua ở nơi rẻ và bán ở nơi đắt. Nghĩa là mua với tỷ giá thấp và bán với tỷ giá cao.

    Nghiệp vụ này được thể hiện dưới hai dạng: kinh doanh giản đơn và kinh doanh phức tạp. Kinh doanh giản đơn là việc mua bán ngoại tệ được thực hiện ở hai thị trường khác nhau trong cùng một thời điểm. Kinh doanh phức tạp là việc mua bán ngoại tệ thông qua nhiều thị trường, từ 3 thị trường trở lên. Dù là giản đơn hay phức tạp, nghiệp vụ này chỉ áp dụng giao dịch giữa ngân hàng với ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của các nhà kinh tế có thu chi ngoại tệ vẫn diễn ra thường xuyên, để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng các loại ngoại tệ, họ đã yêu cầu ngân hàng sử dụng kỹ thuật ARBITRAGE để dịch vụ cho họ. Khi đó,ngân hàng với tư cách là người phục vụ khách hàng và thu phí.

    Khi thực hiện nghiệp vụ này, người ta áp dụng tỷ giá giao ngay, là tỷ giá áp dụng tại thời điểm giao dịch (J) nhưng ngày giá trị của nó là sau hai ngày việc (J+2). Trong trường hợp khách hàng cần giao dịch với hai đồng ngoại tệ thì ngân hàng phải xác định tỷ giá chéo của hai loại đồng tiền thông qua đồng tiền trung gian thứ ba.

    Để thấy được lợi ích cuả nghiệp vụ này, ta xét ví dụ sau:

    Ngày 4/7/1998, Công ty XNK Việt nam nhận được 100.000 DEM từ lô hàng xuất khẩu sang Đức, đồng thời lại phải thanh toán cho lô hàng nhập khẩu từ  Pháp là : 500.000 FRF, tỷ giá trên các thị trường:

    USD/DEM = 2.1525/40

    USD/FRF   = 5.6410/30

    USD/VND  = 12960 – 980

    Nếu thực hiện nhiệm ARBITRAGE : Ngân hàng sẽ phục vụ cho khách hàng bằng cách bán DEM lấy FRF, số FRF còn thiếu sẽ được mua bằng VND.

    Vì đây là giao dịch giữa hai đồng ngoại tệ nên ta phải xác định tỷ giá chéo. Theo ví dụ: số DEM của khách hàng không đủ để mua số FRF nên chiều yết giá sẽ là DEM/FRF.

    + Xác định tỷ giá bán: DEM/FRF

    Bán DEM theo tỷ giá 1 USD = 2,1540 DEM

    Mua FRF theo tỷ giá  1 USD = 5,6410 FRF

    Tỷ giá cần tìm là DEM/FRF, do DEM là đồng tiền yết giá và FRF là đồng định giá. Vậy ta có: 1 DEM = 5,6410/2,1540 = 2,6188 FRF

    + Số FRF mua được từ 100.000 Dem:

    100.000 x 2,6188 = 261.880 FRF

    + Số FRF còn thiếu: 500.000 – 261880 = 238.120 FRF

    * Mua số FRF còn thiếu bằng VND:

    + Tỷ giá mua FRF/VND

    Mua FRF theo tỷ giá 1 USD = 5,6410 FRF

    Bán VND theo tỷ giá 1 USD = 1.0980 VND

    Vậy 1 FRF =  12980/5,6410 = 2301 VND

    + Số VND dùng để mua 238.120 FRF:

    23812         0 x 2301 = 547.914.120 VND

    Nếu thực hiện nghiệp vụ ARBITRAGE:

    Công ty sẽ bán toàn bộ số DEM lấy VND, sau đó dùng VND để mua 500.000 FRF:

    + Bán DEM lấy VND: Tỷ giá bán DEM/VND:

    Bán theo tỷ giá: 1 USD = 2,1540 DEM

    Mua VND theo tỷ giá: 1 USD = 12960 VND

    Vậy 1 DEM = 12960/2,1540 = 6016,71 VND

    + Số VND thu được do bán DEM:

    100000 x 6016,71 = 601671000 VND

    + Mua 500000 FRF bằng VND: 500000 x 2301 = 1150500000 VND

    Số VND công ty phải bỏ ra để thực hiện thanh toán:

    1.150.500.000 – 601.671.000 = 548.829.000 VND

    Như vậy, so sánh hai kết quả trong hai trường hợp trên ta thấy rằng:

    Thông qua hai dịch vụ ARBITRAGE của ngân hàng, công ty sẽ tiết kiệm được số tiền là:

    548.829.000 – 547.914.120 = 914.880 VND

    Nếu là giao dịch với khối lượng ngoại tệ lớn sẽ tạo ra một khoản chênh lệch đáng kể cho khách hàng. Sở dĩ có khoản chênh lệch này là do có sự chênh lệch khác nhau giữa rty giá mua và tỷ giá bán của các đồng tiền. Trước đây,nghiệp vụ này rất phát triển chiếm tới đến 40 % lợi nhuận kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng nhưng ngày nay, trên cơ sở những thông tin hiện đại, các thị trường ngoại hối trở nên thông suất nhiệp vụ ARBITRAGE trê không cón ý nghĩa lới trong kinh doanh ngoại hối.

    Khái niệm nghiệp vụ ARBTRAGE ngày nay được hiểu là việc mua bán ngoại tệ để nhằm thu lợi nhuận tư sự chênh lệch tỷ giá mua tỷ giá bán, nhưng hai hoạt động đối ứng này không phát sinh cùng một thời điểm mà thông thường liên quan tơí những phát sinh  khi cân đối ngoại tệ.

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ ARBITRAGE  là :

    Trước hết, Ngân hàng phải là thành viên của hện thống thông tin điện tử, ở đó Ngân hàng có thể thường xuyên theo dõi biến động tỷ giá các thị trường khác nhau trên thế giới, đồng thời có thể đưa ra tỷ giá chào mua, chào bán của mình.

    Thứ hai, cán bộ kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng cần có trình độ, phản ứng linh hoạt với thị trường. Anh tay phải biết thông thi kinh tế chính trị, xã hội phải dự đoán được phản ứng của thi trường trước những thông tin đó, đưa ra được mức tỷ giá thực tế luôn biến động ( ví dụ : Khi nhận được thông báo thu từ nước ngoài vào Pháp giảm nhẹ trong tháng qua, dự đoán xuất khẩu giảm sẽ dẫn tới giảm cung USD trong tương lai, lập tức cán bộ ngân hàng Pháp ấn định tỷ giá của mình tăng cao một chút để tránh những thiệt hại xẩy ra. Một ngân hàng Đức có 3 triệu USD chưa cân đối được sau một hợp đồng bán FRF với khách hàng, nhận thấy cố thể thu lợi từ tỷ giá chào mua vừa tăng của ngân hàng Pháp, lập tức bán 3 triệu USD này cho ngân hàng Pháp.

    Như vậy, các ngân hàng liên tục thay đổi tỷ giá, liên tục giao dịch ngoại tệ trong ngày nhằm tránh rủi ro trước những biến động tỷ giá và thu lơị nhuận ARBITRGE. Lợi nhuận này có thể thấp hơn lợi nhuận tính theo khoảng cách giữa tỷ giá mua vào và bán ra của ngân hàng.

              1.2.3. Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn (FORWARD): 

    Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn được thực hiện bằng hợp đồng mua bán bằng ngoại tệ kỳ hạn, trong đó việc hoàn tất nghiệp vụ này được thực hiện vào một thời điểm nhất định sau đó, vơéi tỷ giá nhất định đã được quy định trong hợp đồng tại thời điểm ký kết.

    Khác với nghiệp vụ mua bán giao ngay là kinh doanh chênh lệch giá kiếm lời, nghiệp vụ mua bán kỳ hạn chủ yếu là phòng ngừa rủi ro do biến động của tỷ giá tại thời điểm chuyển đổi quyền sở hữu về tài sản hữu hình của các chủ thể kinh tế trong nước và nước ngoài với tỷ giá tại thời điểm thanh toán các giao dịch trong tương lai.

    Đối với ccác nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, họ luôn có nguồn thu chi về ngoại tệ trong nước cũng như nứoc ngoài và họ không thể tránh khỏi rủi ro do các đồng ngoại tệ đem lại , vì nó luôn biến động theo chiều hướng tăng hoặc giảm. Chính vì vậy các nhà xuất nhập khẩu, thực hiện hợp đồng với nước ngoài về xuất khẩu một loại hàng hoá nào nhưng việc thanh toán không xẩy ra ngay sau khi giao hàng mà nó xảy ra vào một ngày ấn định trong tương lai. Trong khi đó tỷ giá các đồng ngoại tệ có thể thay đổi theo chiều hướng giảm , nghĩa là đồng ngoại tệ bị mất giá và đến ngày thanh toán nhà xuất khẩu nhận được số tiền bản tệ “ít hơn” so với lúc giao hàng. Vì vậy, để giảm bớt rủi ro, Anh ta ký với ngân hàng một hợp đồng gọi là hợp đồng có kỳ hạn với đúng bằng thời hạn thanh toán của người nứơc ngoài. Ngược lại các nhà nhập khẩu, để tránh khỏi rủi ro khi tỷ giấ tăng họ cũng có thể ký hợp đồng mua với ngân hàng.

    “Hợp đồng mua bán kỳ hạn” là một hợp đồng trao đổi một đồng tiền này với một đồng tiền khác, tỷ giá trao đổi trong tuơng lai được ấn định ngày ký hợp đồng (J), việc giao vốn đựoc thực hiện ở một ngày xác định trong tương lai (J+N)

    Thị trường hối đoái giao ngay và thị trường hối đoái kỳ hạn có những đắc điểm chung về phạm vi nhân sự tham đự và tổ chức thị trường, kỹ thuật ký kết hợp đồng, ưu thế giao dịch của đồng USD. Điểm khác lớn nhất giữa chúng thể hiện ở chỗ : Trên thị trường kỳ hạn , tỷ giá giao dich ít phụ  thuộc vào mức độccung cầu thời hạn mà phụ thuộc lớn vào mức chênh lệch lãi suất giữa haiđồng tiền giao dịch .

    Cách xác định tỷ giá kỳ han :

    * Cách xác định hướng giao dịch :

    Ngân hàng luôn là người mua rẻ , bán đắt và khách  hàng là người mua đắt bán rẻ . Khi ngân hàng mua bán trên thi trường với ngân háng khác thì cũng có thể với tư cách là khác hàng chịu thiệt thòi về tỷ giá ( Nếu ngân hàng là người hỏi gía)

    * Cách xác điịnh tỷ giá kỳ hạn :

    Tỷ giá ky hạn của gân hàng là tỷ giá kỳ hạn của khách hàng và ngược lại . Ngân hàng khi xác định tỷ giá mua bán kỳ hạn thì ngân hàng đứng ra với tư cách là khách hàng mua bán hoặc vay, cho vay với ngân hàng khác.

    *Cách xác điịnh tỷ giá mua kỳ hạn của ngân hàng :

    Bước 1: Xác điịnh tỷ giá bán giao ngay đồng yết giá đối khoản là đồng định giá (C), bao giờ cũng là giá thấp, vì trên thi trương ngân hàng đang đóng vai trò là khách hàng.

    Bước 2: Cho vay đồng định giá với lãi suất thấp(t2)

    Bước 3: Đi vay đồng yết giá với lãi suất cao(t+1)

    Bước 4: Xác định chênh lệch lãi suất :

    Nếu t2>t1 thì At là điểm gia tăng

    Nếu t2<t1 thì At là điểm khấu trừ.

    Bước 5: Xác định tỷ giá kỳ hạn ;

    Nếu t2>t1 : Tỷ giá kỳ hạn =C+At

    Nếu t2 < t1: Tỷ gía kỳ hạn =C+At

    *Cách xác định tỷ giá bán kỳ hạn của ngân hàng :

     Bước 1: Xác định tỷ giá mua giao ngay đồng yết giá với đối khoản là đồng định giá, tỷ giá cao (C).

    Bước 2: Cho vay đồng yết giá với lãi suất thấp (t1)

    Bước 3: Đi vay đồng định giá với lãi suất cao (t2)

    Bước 4: Xác định chênh lệch lãi suất :

    Bước 5 : Xác định tỷ giá kỳ hạn (CAT)

    Nếu t2>t1 :CAT=C+At

    Nếu t2< t1: CAT=C+At

    *Ví dụ : Một nhà kinh doanh XNK của Pháp có nguồn thu ngoại tệ do XK  hàng hoá là 1000000 USD với thời hạn 3 tháng . Để phòng ngừa rủi ro , nhà kinh doanh này kỳ kết hợp đồng bán kỳ hạn với ngân hàng .

    Tỷ giá bán giao ngay : USD/FRF=5,1420/60

    Lãi suất USD (Thời hạn 3 tháng ) : 7%-8%

    Lãi suất FRF (thời hạn 3 tháng ) 6% -6,5%

    *Xác định tỷ giá mua kỳ hạn của ngân hàng :

    + Tỷ giá bán giao ngay :USD / FRF=5,1420

    + Để có bán, giao ngay, ngân hàng sẽ phải thực hiện :

    Cho vay đồng FRF với lãi suất thấp 6%, đi vay đồng USD với lãi suất cao 8%, lúc đó ngân hàng sẽ lỗ2%.

    Cêch lệch trên thị trường tiền tệ sẽ bù lại cên lệch tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn trên thi trường hối đoái.

    + Vậy tỷ giá kỳ hạn của USD / FRF 3 tháng là :

    CAT=5,1420 – 0,0257=5,1163

    Sau 3 tháng nhà XNK Pháp bán cho ngân hàng với tỷ giá :

    USD/FRF = 5,1163, nhà XK đã hạn chế được rủi ro.

    * Giả sử sau ba tháng tỷ giá bán trên thi trường là 5,1110. Nếu xét ở góc độ là nhà XNK không ban kỳ hạn cho ngân hàng tớc là chỉ chờ cho hợp đồng thanh toans của nước ngoài đến hạn. Số ngoại tệ thu về, nhà XNK bán ngay cho ngân hàng với giá thi trường thì lúc đó nhà XNKbị mất mồi . USD là 0,005 FRF so với tỷ giá kỳ hạn (Nếu như bán kỳ hạn cho ngân hàng ). Tuy nhiên, xét ở mức độ sâu xa hơn thì nhà XNK còn mất nhiều hơn nếu ta đem so sánh tỷ giá lúc giao hàng với tỷ già tại thời điểm được thanh toán.

    Với ví dụ kể trên, nhà XNK mất mồi USDlà 0,035(tức là 5,1460 – 5,1110).

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ kỳ hạn là:

    + Các quy định của pháp luật phải cho phép, tạo điều kiện cho các ngân hàng qua các quy định về xác định tỷ giá kỳ hạn, phí hợp đồng…

    + Khách hàng biết đến nghiệp vụ này của ngân hàng và có yêu cầu thực hiện nó nhằm tránh nhưỡng biến động tỷ giá ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động kinh doanh của khách hàng.

    + Khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Nếu ngân hàng chỉ thực hiện một nghiệp vụ kỳ hạn đơn lẻ, ngân hàng có thể phải gánh chịu một rủi ro hối đoái thay cho khách hàng của mình. Vậy khả năng, mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng khác, với các ngân hàng bạn trong nước và thế giới là yếu tố quan trọng để ngân hàng thực hiện được các nghiệp vụ đối ứng, loại trừ rủi ro trên. Hơn nữa, ngân hàng còn có khả năng đưa ra mức tỷ giá kỳ hạn hấp dẫn với khách hàng hơn các ngân hàng khác.

    1.2.4.Nghiệp vụ hồi đoái tương lai (FUTURE):

    Đây là một nghiệp vụ hối đoái mới, đưa vào các giao dịch ngoại tệ từ đầu những năm 80. Nghiệp vụ này cũng được thực hiện theo hợp đồng kỳ hạn,trong đó quy định tránh nhiệm mua hoặc bán một khối lượng ngoại tệ nhất định vào thời điểm ấn định và theo tỷ giá thoả thuận từ trước. Điểm khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hoá, cụ thể như sau:

    * Số đồng tiền giao dịch chỉ giới hạn ở một số ít đồng tiền cò lưu lượng giao dịch lớn.

    * Quy mô của từng giao dịch :Được quy định là bội chuẩn theo từng loại đồng tiền giao dịch.

    * Thời điểm tất toán : Được quy định là một số thời điểm nhất định trong năm, bất kể hợp đồng được ký kết vào các thời gian khác nhau.

    *Phương thức đánh dấu thị trường :Các loại động trên thị trường hối đoái tương lai không tất toán trực tiếp giữa người bán và người mua.Việc ký kết mỗi một hoạt động là việc ký kết với quỹ cân đối :(clreaing house). Các hợp đồng dược đảm bảo thực hiện bằng giá trị nguồn đảm bảo tại quỹ cân đối, quỹ này sau mỗi ngày làm việc có trách nhiệm đánh giá lại các hợp đồng giao dịch cuối ngày. Nếu có sự thay đổi về giá so với hợp đồng đã ký kết,quỹ cân đối sẽ thực hiện ba hoạt động đó là; Chuyển tiền từ nguồn đảm bảo của bên bị thiệt hại sang bên được lợi, huỷ bỏ hợp đồng cũ và ký kết hợp đồng mới.

    * Khác với các giao dịch hối đoái kỳ hạn, các giao dịch hối đoái tương lai rất ít được duy trì cho tới thời điểm tất toán. Trong khi tỷ lệ hợp đồng kỳ hạn được thực hiện là 90% thì với giao dịch hối đoái chỉ khoảng 10%. Thông thường ở giao dịch tương lai, chỉ có các nghiệp vụ thanh toán chênh lệch tại thời điểm tất toán.

     

     

              1.2.5. Nghiệp vụ hoàn đổi ngoại tệ.

    Trong nghiệp vụ kinh doanh kỳ hạn, một ngân hàng chỉ hoạt động một giá để phục vụ khách hàng của mình, nghĩa là ngân hàng mua hoặc bán ngoại tệ theo tỷ giá kỳ hạn mà không đồng thời thoả thuận với khách hàng một nghiệp vụ đối ứng bán hoặc mua lại. Những nghiệp vụ như vậy được gọi là nghiệp vụ có kỳ hạn đơn phương pháp (SOLO) hoặc nghiệp vụ outright chỉ được các ngân hàng thực hiện với khách hàng hoặc theo sự uỷ nhiệm của khách hàng. Ngược lại, giữa các ngân hàng người ta sử dụng phổ biến nghiệp vụ SWAP,đó là nghiệp vụ mà cùng ví một bạn hàng, Ngân hàng đồng thời mua và bán hai loại ngoại tệ khác nhau theo tỷ giá giao ngay và theo tỷ giá kỳ hạn.

    * Nghiệp vụ SWAP thông thường:

    Nếu tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch có kỳ hạn nhằm hạn chế rủi ro do những biến động lớn về tỷ giá thì nghiệp vụ SWAP là nghiệ vụ được thực hiện nhằm giải quyết những nhu cầu tạm thời. Ví dụ : Mua đồng GBP bằng đồng USD theo thời hạn 3 tháng, đồng thời giao bàn ngay đồng GBP lấy USD thanh toán ngay sau 2 ngáy làm việc. Trạng thái ngoại hối trong giao dịch SWAP không thay đổi vì số lượng mua bán bằng nhau. Với nghiệp vụ này hai bên giao kỳ hanj và tỷ giá giao ngay gọi là điểm SWAP.

    công thức tính điểm SWAP:

    Nếu quy định hiện tại ta có công thức :

    Tỷ giá kỳ hạn tính căn cứ vào tỷ giá giao ngay và điểm SWAP (At):

    + Nếu >0 thì tỷ gía kỳ hạn = C+At

    + Nếu < 0 thì tỷ giá kỳ hạn =C+At

    Giao dịch này được áp dụng phổ biến trong giao dịch liên hàng, bởi vì nó suất phát từ mối quan hệ chăt chẽ giữa thị trường tiền gửi và hị trường giao ngay. Bất kỳ người nào có nhu cầu vay tiền hoặc cho vay tiền đều có thể thực hiện bằng ngoại tệ hoặc nội tệ. Nhưng thông thường thi trường ngoại tệ luôn chào đón với lãi suất ưu đãi hơn, chẳng hạn như lãi suất USD là 15%/năm, khi đó lãi suất bản tệ chỉ 9%/năm. Như vậy, nhà đầu tư có tiền gửi bản tệ sẽ mang USD đầu tư vào thi trường ngoại tệ USD với lãi suất 15% /năm.Một điều mạo hiểm với anh ta là nếu tỷ giá ở thời điểm anh ta đổi lại có biến động bất lợi so với tỷ giá lúc đổi đi, khi đó anh ta chỉ còn cách bù lỗ thông qualãi suất thu được. Tuy nhiên, để khác phụ rủi ro này, anh ta thực hiện giao dịch SWAP như sau:

    + Mua giao ngay USD đối khoan lá nội tệ.

    + Bán kỳ hạn USD đổi khoản là nội tệ với thời hạn bằng thời gian đầu tư trên thi trường tiền gửi.

    Như thế, anh ta đi đi vay nội tệ với lãi suất t2, cho vay ngoại tệ với lãi suất t1, thu được một khoản lãi mà không phải chịu rủi ro. Đay là ưu điểm cơ bản của nghiệp vụ SWAP.

    Ví dụ : Do dự thừa FRF, ngân hàng thoả thuận một giao dịch SWAP 500000 USD đối khoản FRF sau 3 tháng trên thi trường tỷ giá như sau:

    Lãi suất USD :USD= 6% – 6,125%/năm

    Lãi suất FRF : FRF=7,125 – 7,25%/năm

    Ngân hàng A này thực hiện các hợp đồng cùng một lúc như sau:

    + Mua USD/FRF trên thi trường giao ngay tỷ giá là 6,6540

    + Bán kỳ hạn USD/FRF sau 3 thàng như ngân hàn B.

    Muốn thực hiện giao ngay , giả sử ngân hang A không thừa FRF anh ta sẽ:

    + Vay FRF với lãi suất 7,25%/năm

    + Cho vay USD với lãi suất 6%/năm

    + Thời hạn n=3 tháng

    Điểm gia tăng :

    (Quy về hiện tại: At=0.0212/1+(6*92/36000)=0,0208 tỷ giá SWAP= 0,0208)

    Tỷ giá giao dịch kỳ hạn SWAP là : CAT = 6,7540 + 0,0208=6,6748.

    Như vậy, ngày ký hợp đồng (J) ngân hàng A sẽ nhận được 500.000USD đổi lấy :

    500.000USD x 6,6540 = 3.327.000FRF.

    Vào ngày giá trị ngân hàng sẽ nhận được số FRF là :

    500.000 USD x 6,6748 = 3.337.405FRF.

    Ngân hàng sẽ giao cho ngân hàng B 500.000USD, như vậy qua giao dịch này, ngân hàng A sẽ có một khoản lãi là :

    3.337.405 – 3.327.000 = 10.405FRF.

    * Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ SWAP cũng tương tự như với nghiệp vụ kỳ hạn, tuy nhiên SWAPcó những ưu điểm hơn so với kỳ hạn đối với một số đối tượng sau :

    + Một doanh nghiệp lớn vừa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Doanh nghiệp này vừa nhận được khoản thu ngoại tệ về xuất khẩu, anh ta muốn đổi nội tệ để sử dụng chi trả trong nước. Tuy nhiên, anh ta lại có nhu cầu ngoại tệ trong tháng tới để trả tiền hàng nhập khẩu. Thay vì ký kết hợp đồng bán ngoại tệ giao ngay và hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn, doanh nhiệp này sẽ sử dụng SWAP. Như vậy doanh nghiệp vừa đảm bảo tránh được rủi ro hối đoái vừa giảm được chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ ký kết SWAP, chứ không phải hai hợp đồng riêng biệt.

    + Đối với ngân hàng thương mại, SAP là công cụ hữu hiệu tạo ra trạng thái vốn của hai đồng tiền mà không làm ảnh hưởng tới trạng thái ngoại hối. Vì vậy, giao dịch này trong thực tế thường được các ngân hàng thợc hiện với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng một đồng tiền nhất định mà không phải đi vay trên thị trường. Nhiệp vụ SWAP còn giúp các ngân hàng cân bằng được sự mất cân đối về hối đoái trong các nghiệp vụ tiền gửi và tiền vay.

              1.2.6. Nghiệp vụ hối đoái theo quền chọn (OPTION) :

    Nghiệp vụ hối đoái theo quyền chọn là một sự thoả thuận bằng hựp đồng giữa người mua và người bán về quyền chọn mua (call-option) hoặc quyền chọn bán (put-option), một loại ngoại tệ nhất định, với số lượng cụ thể theo tỷ giá cố định và vào thời điểm cụ thể.

    Trong hợp đồng này, người mua quyền lựa chọn phải trả cho người bán một khoản tiền đảm bảo. Thông qua đó, người mua dành được quyền mua hoặc bán một loại ngoại tệ nào đó. Mặt khác, anh ta có thể từ chối bỏ quyền lựa chọn của mình khi thấy bất lợi. Rủi ro của người mua quyền lựa chọn chỉ giứi hạn ở số tiền phải trả cho quyền đó (option money). Ngược lại, người bán quyền chọn thu được một khoản tiền từ việc bán quyền nhưng trở thành đối tác thụ động, chịu rủi ro không hạn mức khi tỷ giá biến động không thuận lợi vớ anh ta. Như vậy, hợp đồng quyền chọn là một công cụ đảm bảo tỷ giá thực sự cho các nhà kinh doanh XNK, các nhà đầu tư tham gia vào thi trường quyền chọn, ngoài các ngân hàng các nhà XNK còn có các tổ chức kinh tế có ngoại tệ trên tài khoản, muốn tăng thu nhập bằng việc thu các lệ phí quyền và chấp nhận làm đối tác thụ động, hay các hãng đầu cơ tham dự với mục đích thu lợi nhuận chênh lệch.

    Nghiệp vụ này có ưu điểm hơn nghiệp vụ kỳ hạn là bên cạnh việc khắc phục rủi ro về tỷ giá bất lợi của nó còn tạo khả năng kiếm lời cho người muaquyền lựa chọn, khi tỷ giá biến động có lợi. Tuy nhiên, để có quyền lựa chọn các nhà kinh doanh hối đoái phải trả môt khoản phí đảm bảo quyền lựa chọn mua bán, phí này phụ thuộc vào các yếu tố sau :

    * Sự ổn định của tỷ giá các đồng giao dịch:Đây là yêú tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến mức phí, đối với đồng tiền có khẩ năng biến động giá mạnh thì mức phí cao và ngược lại những đồng tiền tương đối ổn định thì mức phí thấp.

    Miền hoạt động của các đồng tiền giao dịch: Với những đồng tiền của các quốc gia phát triển như  USD, FRF, GBP … có doanh số giao dịch lớn, có khả năng chyển đổi mạnh thì mức phí thấp và ngược lại những đồng tiền của những nước kém phát triển khó chuyển đổi và ngoại tệ mạnh thí mức phí cao.

    * Thời hạn hiệu lực của hợp đồng mua bán quyền lựa chọn : Thời hạn càng dài thì khẳ năng kiếm lời của nhà kinh doanh mua quyền chọn càng cao và tất nhiên với đối tác thụ động thì rủi ro càng nhiều. Vì vậy, phí cho thời hạn dài thường lớn hơn phí trong mua bán quyền lựa chọn với thời hạn ngắn rất nhiều.

    Mức lãi suất của đồng tiền dùng thanh toán phí mua bán quyền lựa chọn:Đối với đối tác thụ động coi đây là khoản phí tiền gửi không có lãi, do vậy lãi suất đồng tiền này cao thì phí càng cao và ngược lại.

    Thông thường, các ngân hàng là người bán các hợp đồng quyền lựa chọn cho khách hàng XNK của mình. Vì phải ngánh chịu rủi ro nên việc xác định mức tiền đảm bảo cho hợp đồng lựa chọn rất quan trọng. Có thể nói, khoản tiền đảm bảo là giá các của nghiệp vụ quyền chọn. Theo lý thuyết, gía cả của quyền lựa chọn được xác định theo công thức sau :

    Mức tiền đảm bảo của quyền mua ngoại tệ:

    Mức tiền đảm bảo quyền chọn bán ngoại tệ :

    Trong đó

    +^ : Tỷ giá lãi suất của hai đồng tiền dùng tính tiền đảm bảo ( theo thời hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng …)

    + T :Thời hạn hợp đồng ( trong vòng 1 năm)

    + F :Tỷ giá ngoại tệ có kỳ hạn theo hợp đồng

    + X : Giá cơ sở ( giá thoả thuận giữa hai bên quyết định )

    + @ : Độn lệch tiêu chuẩn.

    Công thức tính chỉ  có giá trị tham khảo về tham khảo về mặt lý thuyết. Trong thực tế, công thức tính mức tiền đảm bảo đã được chuyên gia điện toán lập thành chương trình máy tính điện tử.  Các ngân hàng có thể mua chương trình này để sử dụng được.

    1.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    1.3.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại các mục sau.

    Đây là một hoạt động dịch vụ để đảm bảo chắc chắn việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng giữa các nước một cách trôi chảy.

    Thực hiện phiệp vụ tiền gửi bằng ngoại tệ cho các khách hàng tại ngân hàng trong nước.

    Tạo cho các ngân hàng khả năng tránh rủi ro do biến động tỷ giá.

    Tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lẹch tỷ giá, lãi suất giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lợi nhuận.

    Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước ngoài, khai thác các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng, tổ chức tài chính bằng ngoại tệ tại ngân hàng trong nước.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ được hiểu trên các khía cạnh sau

    Về mặt định hướng: Trên thị trường hối đoái giao ngay thường diễn ra quan hệ mua bán ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng. Các ngân hàng thường không thu phí giao dịch hay hoa hồng mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua để trang trải chi phí, kể cả bù đắp rủi ro và thu lợi nhuận thoả đáng. Chênh lệch giá mua và giá bán của một ngoại tệ cao hay thấp tuỳ thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay rộng và mức độ biến động giá trị cuả ngoại tệ đó trên thị trường.

    Các loại ngoại tệ có thị trường giao dịch tương đối rộng như USD, GBP, DEM, JPY thường có chênh lệch giá mua bán ở mức 0,1%đến 0,5% trong khi các ngoại tệ mà thị trường giao dịch hẹp hơn có mức chênh lệch giá bán và mua vào rất thấp đối với USD trong khi lớn hơn nhiều đối với các ngoại tệ khác.

    Khả năng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng tại ngân hàng đó.

    Tuy nhiên, một khách hang đến giao dịch mua bán ngoại tệ với ngân hàng không phải chỉ vì giá ngoại tệ ở đó rẻ hơn ngân hàng khác mà còn xem ngân hàng đó có đáp ứng được mọi nhu cầu hợp lý của mình hay không. Nhu cầu đó bao gồm việc gửi vốn, vay trả nợ thuận tiện, việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng, các thông tin mà ngân hàng đó mang lại. Vậy trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ ngân hàng sẽ mua hết và khi có nhu cầu mua hợp lý thì ngân hàng sẽ bán đủ, từ đó nhà kinh doanh sẽ có được loại ngoại tệ mà mình mong muốn.

    Sử dụng phương tiện phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái.

    Qua giao dịch mua bán ngoại tệ với ngân hàng sẽ phòng ngừa được rủi ro về tỷ giá, sẽ có được thông tin hưũ ích cho hoạt động kinh doanh của mình. Trong một môi trường kinh tế không ổn định, tỷ giá thương xuyên biến động thì khách hàng luôn luôn chịu ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá. Đương nhiên là không và tốt hơn là nhà kinh doanh tập trung vào công việc thương mại của mình. Từ đó dẫn đến đòi hỏi của khách hàng và ngân hàng đối với ngân hàng là ngân hàng phải có nghiệp vụ nào đó để hạn chế bớt rủi ro về tỷ giá. Đây là một đòi hỏi cần thiết, hợp lý của khách hàng và ngân hàng khó có thể từ chối. Do ngại biến động tỷ giá các nhà xuất khẩu có nhu cầu bán ngoại tệ trong khi các nhà nhập khẩu có nhu cầu mua. Đây chính là cơ hội cho các ngân hàng thương mại sẽ đứng ra mua ngoại tệ có kỳ hạn từ nhà xuất khẩu cho nhà nhập khẩu và kiếm lợi nhuận và chênh lệch giữa giá bán và giá mu. Cơ hội kinh doanh này càng tốt khi tỷ giá biến động mạnh trên thị trường.

    Vậy kinh doanh ngoại tệ không chỉ giúp cho khách hàng phòng chống rủi ro về tỷ giá mà còn giúp cho chính bản thân ngân hàng.

    Để phòng chống rủi ro ngân hàng có thể sử dụng các phương pháp sau:

    Sử dụng hợp đồng có kỳ hạn: Nguyên tắc chung khi sử dụng hợp đồng có kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá là thông qua hợp đôngf mua bán ngoại tệ có kỳ hạn các đơn vị cố định tỷ giá mua hay tỷ giá bán ngoại tệ với ngân hàng, từ đó cố định các khoản phải thu hay khoản phải chi bằng nội tệ. Tuy nhiên hợp đồng có kỳ hạn chưa phải là cách phòng chống rủi ro hối đoái tốt nhất mặc dù các hợp đồng có kỳ hạn cố định trước các khoản thu nhập hay chi trả bất luận sự biến động của tỷ giá trên thị trường nhằm giúp công ty có thể xác định chắc chắn hiệu quả kinh doanh nhưng nó chưa hoàn toàn thuận lợi cho công ty nếu tỷ giá biến động ngược lại với dự kiến.

    Sử dụng hợp đồng quyền chọn: Phương pháp phòng chống rủi ro bằng hợp đồng có kỳ hạn trên đồng thời đánh mất cơ hôi kinh doanh kiếm lơị nhuận từ sự biến động tỷ giá. Hơn nữa chúng ta chỉ áp dụng được khi nào công ty chắc chắn mình chiếm được hợp đồng mua bán và trong kinh doanh đôi khi công ty không chắc chắn rằng minh có thể giành được hợp đồng hay không. Trong trường hợp này nên sử dụng hợp đồng quyền chọn bởi hợp đồng quyền chọn công ty có quyền, nhưng không bắt buộc, mua bán một só lượng ngoại tệ.

    Sử dụng hợp đồng hoán đổi ngoại tệ: Thông qua hợp đồng này, một mặt chúng ta có thể thoả mãn nhu cầu tiền tệ hiện tại của mình, mặt khác chúng ta có được sự cam kết của ngân hàng về số ngoại tệ sẽ nhân lại trong tương lai theo một tỷ giá biết trước.

    Như vậy ngân hàng luôn tìm mọi cách để hạn chế các rủi ro về tỷ giá hối đoái đến mức thấp nhất thông qua nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Các phương pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái chỉ thực hiện được khi nào có một thị trường tiền tệ phát triển và ngân hàng thương mại sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hay các hợp đồng vay và cho vay trên thị trường tiền tệ. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một thị trường tiền tệ phát triển nên các ngân hàng thương mại chưa thể cung cấp hợp đồng quyền chọn.

    Sự đa dạng hoá các loại ngoại tệ kinh doanh

    Ngoài việc sử dụng các phương pháp trên, việc mua bán nhiều loại ngoại tệ như USD, FTF, JPY, DEM đã tạo điều kiẹn cho ngân hàng dự trữ  nhiều loại ngoại tệ. Từ đó phân tán đều rủi ro, tránh gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng khi tỷ giá một loại ngoại tệ nào đó đột nhiên biến đôngj mạnh. Với việc đa dạng hoá các loại ngoại tệ mạnh một cách chủ động trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện đa dạng và phát triển thêm các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ khác nhau như quy đổi, điều chuyển vốn giữa các ngoại tệ với nhau trên các tài khoản tiền gửi ngân hàng tài các ngân hàng nước ngoài nhằm đảm bảo thanh toán xuất nhập khẩu, hưởng chênh lệch tỷ giá và lãi suất.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua hoạt động cho vay bằng ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Ví dụ một ngân hàng thương mại có vay của các tổ chức tài chính hoặc ngân hàng thương mại  nào đó bằng một loại ngoại tệ này, nhưng khi cho các doanh nghiệp vay lại bằng một ngoại tệ khác, hoặc khi cho các doanh nghiệp vay ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá, thiết bí nhưng khi thu tiền bán hàng lại bằng nội tệ, để có ngoại tệ trả nợ vay ngân hàng hầu hết các doanh nghiệp đều phải mua của các ngân hàng thương mại mà rất ít khi thu được qua hoạt đông xuất khẩu. Vậy hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua việc cho vay, thu nợ bằng ngoại tệ một cách thuận lợi, đúng thời hạn qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiệp vu cho vay.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua việc nó thúc đẩy công tác thanh toán quốc tế.

    Nhờ hoạt động kinh doanh ngoại tệ mà công tác thanh toán quốc tế được thuận lợi, trơn tru. Qua đó giúp khách hàng thực hiện nhanh chóng các thanh toán với nước ngoài, giúp khách hàng thực hiện nhanh chóng các thanh toán với nước ngoài, giúp ngân hàng tăng thu dịch vụ phí chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng. Bởi vì thanh toán quốc tế luôn đi liền với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tê, để có đủ các loại ngoại tệ (kể cả số lượng và chủng loại) trong thanh toán với khách hàng nước ngoài đúng thời hạn quy định thì không có con đường nào khách là pải có kinh doanh ngoại tệ.

    Tăng cường mở rộng quan hệ với các ngân hàng đại lý và với khách hàng.

    Hơn nữa qua kinh doanh ngoại tệ các ngân hàng thương mại còn có điều kiện mở mang quan hệ với các ngân hàng thương mại, tăng cường mối quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực với các ngân hàng trên toàn thế giới.

    Vậy hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ không chỉ được đánh giá qua chỉ tiêu lãi do hoạt động này mang lại mà còn đánh giá qua các nghiệp vụ phòng chống rủi ro về tỷ gía hối đoái và trong mối quan hệ tổng thể với các mặt nghiệp vụ khác như tín dụng, thanh toán quốc tê, là các quan hệ khác với các ngân hàng, khách hàng.

    Tóm lại hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi nhuận cho chính bản thân ngân hàng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội đặc biệt về kinh tế đối ngoại, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.

    1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại phức tạp và gắn chặt chẽ với nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân vì thế nó chịu tác động của nhiều nhân tố như:

    1. Sự phát triển của nền kinh tế

    Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tự cung tự cấp, khép kín với thị trường quốc tế và chia cắt giữa các địa phương trong nước. Quan điểm xây dựng một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh đã dẫn đến thừa thì bán, mà thiếu thì mua, trong quan hệ với thị trường nước ngoài. Cơ chế hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời kỳ này là cơ chế cứng nhắc theo Nghị định thư và Nhà nước độc quyền về ngoại thương. Buôn bán chủ yếu diễn ra với các nước xã hội chủ nghĩa, kim ngạch xuất khẩu thấp, đầu tư nước ngoài bị hạn chế. Đồng thời, trong điều tiết lợi ích, nhà nước thu bù chênh lệch ngoại thương nên tỷ giá hối đoái được ấn định trong một thời gian dài, nếu chi phí thực tế cao hơn hoặc thấp hơn tỷ giá thì ngân sách nhà nước sẽ cấp bù hoặc thu về. Tất cả những nhân tố trên có tác động tiêu cực đến kinh tế đối ngoại của Việt Nam, chẳng những kìm hãm tốc độ phát triển mà còn làm giảm sút hiệu quả của việc buôn bán và hợp tác quốc tế. Trong điều kiện như vậy, mọi yếu tố như cung cầu ngoại tê, các yếu tố tác động đến tỷ giá, sự biến động của tỷ giá và sự tồn tại của thị trường hối đoại là không cần thiết đối với các doanh nghiệp trong nưóc cũng như trong quan hệ kinh tế với nước ngoài. Và vì vậy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại không có môi trường, điều kiện để phát triển mở rộng cũng như nâng cao hiệu quả.

    Trong quá trình đổi mới hiện nay, việc phát triển nền kinh tế thị trường, đổi mới các chính sách kinh tế ngoại thương, ngoại hối, từ bỏ chế độ tỷ giá cố định là xu thế tất yếu khi nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ từ đó nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ này trong các ngân hàng thương mại. Tóm lại, qua phân tích trên cho thấy: Sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nền kinh doanh đối ngoại nói riêng là một ỵếu tố vĩ mô, có tác động chiến lược tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại.

    1. Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia.

    Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định pháp lý, những thể lệ của Nhà nước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc đá quý và các chứng từ có giá trị ngoại tệ cũng như đối với việc trao đổi sử dụng mua bán trên thị trường nội địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài.

    Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồng vận động ngoại hối từ nước ngoài vào và trong nước ta, có liên quan đến quan hệ ngoại thương cũng như các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ. Đồng thời, chính sách quản lý ngoại hối cũng quản lý và kiểm soát sự lưu thông ngoại hối (chủ yếu là vàng bạc, đá quý và đặc biệt là ngoại tệ) trong phạm vi mỗi quốc gia. Với việc thực hiện nội dung này, chính sách quản lý ngoại hối không những góp phần phát triển cán cân thanh toán quốc tế mà còn có vai trò quan trọng trong việc ổn định giá trị tiền tệ ràng buộc được pháp luật thừa nhận. Đặc biệt một chính sách quản lý ngoại hối đúng đắn và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia trong mỗi thời kỳ sẽ đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khích phát triển ngoại thương hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài qua đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    1. Sự biến động của tỷ giá hối đoái.

    Tỷ giá hối đoái mặc dù đã có lịch sử lâu dài trong các giai đoạn phát triển của nhân loại, nhưng cho đến nay vẫn còn là vấn đề hết sức phức tạp. Sự phức tạp của vấn đề tỷ giá thể hiện trên hai phương kiện: Một ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (tình hình kinh tế, thị trường tài chính quốc tế và chính sách can thiệp của các nước) các yếu tố này không nằm trong tầm khoong chế của một quốc gia. Hai là sự tương tác nhiều chiều của quá trình chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ ở mỗi nước. Hình thức biều hiện tổng hợp về sự tương tác từ hai phương diện trên chính là quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Nói chung có rất nhiều yếu tố tác động lên tỷ giá hối đoái, một số yếu tố cơ bản là.

    – Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nước hữu quan.

    – Trạng thái cán cân thanh toán quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu ngoại tệ thông qua đó tác động lên tỷ giá.

    – Chênh lệch lãi suất giữa các nước, giữa thị trường tín dụn nội địa và quốc tế.

    – Một số các nhân tố tác động lên cung cầu ngoại tệ qua đó ảnh hưởng đến tỷ giá như các cú sốc chính trị, thói quen tâm lý, các nhân tố xã hội.

    Bên cạnh đó bất kỳ một biến động nhỏ của tỷ giá hối đoái cũng tác động tới rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, tình hình lạm phát. Tất cả các nhân tố nàu lại ảnh hưởng, chi phối trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại nói riêng và thị trường ngoại hối nói chung. Do đó có thể nói biến động của tỷ giá có tác độn sâu, nhiều chiều, phức tạp tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    1. Các nghiệp vụ khác của ngân hàng thương mại có liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Các ngân hàng thương mại ngoài những nghiệp vụ có liên quan đến VNĐ còn có các hoạt động liên quan đến ngoại tệ như: Huy động vốn bằng ngoại tệ kinh doanh ngoại tệ. Có thể thấy rằng toàn bộ các nghiệp vụ này có mối quan, tác động qua lại lẫn nhau, phát triển nghiệp vụ này sẽ có điều kiện mở rộng và ơphát triển các nghiệp vụ khác. Trong đó hoạt động thanh toán và nhiều đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Cho vay ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ hay sản xuất thu hàng xuất khẩu thì cuối cùng cũng phát sinh nghiệp vụ mua ngoại tệ để trả nợ tiền vay, hoặc bán ngoại tệ lấy VNĐ. Vì vậy khi mở rộng cho vay thanh toán hàng xuất khẩu sẽ có điều kiện để phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiệp vụ này.

    Thanh toán quốc tế là việc thực hiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều bằng ngoại tệ. Vì vậy đều phải liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Tóm lại hai mặt nghiệp vụ này có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, các hoạt động này thường có tốc độ phát triển gần ngang nhau, theo chiều hướng tỷ lệ thuận.

    1.3.2.5 Một số nhân tố khác.

    Bên cạnh các yếu tố cơ bản kể trên, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay còn chịu tác động của một số nhân tố quốc tế như:

    Sự ra đời của các liên minh tín dụng, liên minh tiền tệ, như liên minh tiền tệ Châu âu (EMU)

    Sự xuất hiện của các đồng tiền tiêu chuẩn quốc tế khác bên cạnh các ngoại tệ khác như đồng EURO.

    Trên đây là một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương maị. Nhìn chung các nhân tố trên có quan hệ đan xen nhau, tác động tổng thể nhiều chiều tới cụ diện kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Do đó cần tiến hành phân tích tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng trên cũng như phải biết vận dụng cơ chế của nhà nước, chủ động nắm bắt sự biến động của cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, nghiên cứu thực trạng hoạt động của thị trường tài chính, ngoại hối trước khi quyết định thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh để vừa phục vụ được khách hàng, vừa đảm bảo có lãi trong kinh doanh ngoại tệ.

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ

    TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA

    1.1  Sự ra đời và phát triển của chi nhánh NHCT  Đống Đa

    Thực hiện nghị định số 53/HĐBT ngày 16/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp sang hai cấp trong đó phân định  rõ chức năng quản lý nhà nước của ngân hàng nhà nước và chức năng kinh doanh của hệ thống NHTM. Trong bối cảnh lịch sử đó, cùng với sự ra đời của NHCT Việt Nam ngày 1/7/1988 ,chi nhánh NHCT Đống Đa được thành lập

    Là chi nhánh trực thuộc của NHCT Nà Nội từ năm 1988 đến 1990 là thời kỳ chuyển đổi khó khăn của hệ thống ngân hàng nói chung và NHCT Đống Đa nói riêng cũng là thời kỳ hệ thống ngân hàng bắt đầu được chuyển sang cơ chế thị trường. Giai đoạn này có rất nhiều quỹ tín dụng kinh doanh không có hiệu quả, còn các ngân hàng thì nợ quá hạn, nợ khó đòi tăng lên mức kỷ lục. Sự kiện này không phải do bản thân hoạt động của ngân hàng tạo ra mà chính là do vòng xoáy của qúa trình chuyển đổi nền kinh tế mà ngân hàng là tấm gương phản chiếu toàn bộ nền kinh tế. nguyên nhân chính là do sự yếu kém của cơ chế tập trung bao cấp nhưng vẫn có hoạt động kinh doanh.

    Qua nhiều năm phát triển, từ một ngân hàng với cơ sở vật chất lạc hậu, gặp nhiều khó kăn về nguồn nhân lực ,về địa điểm giao dịch , với sự tiến bộ của toàn thể cán bộ công nhân viên ngân hàng, đồng thời được sự lãnh đạo cuả Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa , và NHCT Việt Nam, NHCT Đống Đa đã từng bước trưởng thành và đạt được các kết quả đáng khích lệ. NHCT Đống Đa đã tự đổi mới để tồn tại và phát triển, đứng vững trong cơ chế thị trường với địa thế nằm trên địa bàn rộng lớn, tập trung nhiều loại hình kinh tế nên khách hàng của ngân hàng rất phong phú và đa dạng. Mặt khác, ngân hàng cồn là một trong những đơn vị có đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực , năng động trong điều hành hoạt động kinh doanh, nội bộ đoàn kết thống nhất đã tạo điều kiện cho NHCT Đống Đa mở rộng qui mô, kinh  doanh trên lĩnh vực tiền tệ ,  tín dụng , thanh toán. Ngoài việc tích cực huy động tiền gửi trong dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế ,ngân hàng đã mở rộng các hình thức huy động khác như huy động tiền gửi ngoại tệ từ dân cư, huy động vốn ngoại tệ từ các tổ chức quốc tế và thực hiện một số công tác thanh toán qua ngân hàng cho các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn quận. Nguồn vốn kinh doanh mạnh đã giúp NHCT Đống Đa tự lực được vốn trong kinh doanh, đồng thời thường xuyên có lượng vốn thừa khá lớn điều hoà trong toàn nghành.

    Nguyên tắc hoạt động của NHCT Đống Đa là tự huy động vốn, tự bù đắp chi phí trang trải vốn và làm nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước . Nhờ có nguồn thu vốn lớn và ổn định, NHCT Đống Đa đã mở rộng đầu tư tín dụngcho các thành phần kinh tế trên địa bàn. NHCT Đống Đa cũng đa dạng hoá các nghiệp vụ cho vay nhằm nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng như: Cho vay ngoại tệ phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu , cho vay cầm cố , cho vay tiêu dùng , chiết khấu chứng từ có giá, cho vay theo các chương trình được tài trợ của các tổ chức quốc tế…

    Phục vụ sự phát triển kinh tế của cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, NHCT Đống Đa đã chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thường xuyên tăng cường cả nguồn vốn lẫn sử dụng vốn. Ngân hàng cũng rất chú trọng nâng cao trình độ cán bộ cả về chuyên môn lẫn ngoại ngữ. Cơ sở vật chất ngân hàng được hiện đại hoá, đặc biệt là công nghệ tin học, phù hợp với xu hướng hiện đại hoá ngân hàng nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh ngày một tốt hơn . Trong nhiều năm liên tục , ngân hàng đều kinh doanh có lãi, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, ổn định và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, kết quả kinh doanh năm sau cao hơn năm trước, đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng lớn, tạo được uy tín với khách hàng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau đây:

    • Huy động vốn
    • Hoạt động tín dụng
    • Thanh toán quốc tế
    • Kinh doanh ngoạI tệ
    • Các hoạt động dịch vụ khác

    1.2. Các hoạt động chính của NHCT Đống Đa

    1.2.1. Huy động vốn

    NHCT Đống Đa luôn chú trọng công tác huy động vốn bởi vì có nguồn vốn ổn định, mạnh mẽ sẽ giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh , với chính sách lãi suất, thời hạn linh hoạt, phù hợp với sự biến động của thị trường, NHCT Đống Đa đã thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguồn vốn nàyluôn tăng tưởng trong các năm:

                      Bảng 1: Nguồn vốn huy động qua các năm của NHCT Đống Đa

                                                                                                                 (Đơn vị :tỉ đồng)

    Năm 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000
    Chỉ tiêu Số tiền %(98/97) Số tiền %(99/98) Số tiền %(00/99)
    Tổng huy động vốn 1295,282 108,94% 1518,146 117,2% 1847 125%
    1.Có kỳ hạn 1036,225 80% 1211,898 80% 1421,654 86%
    2.Không kỳ hạn 259,056 2% 306,255 2% 359,128 2%
    3. Tiền gửi khác 295,713 22,83% 346,586 22,83% 325,412 23,51%
    4.Kỳ phiếu,trái phiếu 984,414 76% 1152,067 76% 1257,021 79%

                           (Số liệu : Báo cáo tổng kết của NHCT Đống Đa qua các năm 1998-2000)

    Ngân hàng căn cứ vào chiến phát triển kinh tế quốc dân trên phạm vi toàn quốc và trên địa bàn quận Đống Đa, đồng thời căn cứ vào nhịp độ phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn để xây dựng cho mình một cơ chế huy động vốn có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động huy động vốn làm cơ sở cho hoạt động cho vay phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, ngân hàng phải đánh giá cho đúng điểm mạnh, điểm còn hạn chế của từng loại vốn huy động, tập trung cao độ  nhất , nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất, an toàn nhất trong công tác huy động của mình. Ngày nay , đất nước ta đang còn trong thời kỳ đổi mới với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá . Nhu cầu vốn cho chiến lược này là vô cùng lớn. Tuy vậy, khi độ hội nhập của đất nước ra bên ngoài với cường độ ngày càng cao, quan hệ thương mại quốc tế, ngoại thương không ngừng tăng trưởng. Chúng ta phải nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ cho sản xuất kinh doanh để tránh lạc hậu so với thế giới. Hầu hết các chủ kinh tế, các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại  và thanh toán quốc tế đều có tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng. Bản thân xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của các đơn vị kinh tế trong nước, khi kết thúc hoạt động xuất khẩu, họ lại gửi ngoại tệ vào tài khoảncủa mình ở ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu nhập  khẩu có thể phát  sinh hoặc bán lại một phần hay toàn bộ ngoại tệ để trang trải chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh như: nguyên liệu , tiền công… Mặt khác, phục vụ cho khách hàng của mình trong nhu cầu nhập khẩu máy móc , công nghệ , trang thiết bị với lượng ngoại tệ mà ngân hàng huy động

    1.2.2. Hoạt động tín dụng

    Nhờ có nguồn vốn tăng trưởng ổn định, NHCT Đống Đa đã tích cực mở rộng đầu tư, đáp ứng mọi nhu cầu tín dụng  hợp lý của khách hàng . Tổng dư nợ của ngân hàng nói chung tăng đều. Đây là một kết quả khả quan của NHCT Đống Đa so với các ngân hàng khác trong bối cảnh kinh tế nước ta đang bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực.

    Bảng 2: Tổng dư nợ tín dụng giai đoạn1997-2000

                                                                                                           Đơn vị :tỷ đồng

    Năm
    Chỉ tiêu
    1997 1998 1999 2000
    Tổng dư nợ: 541 603,96 711,677 1.001
    Ngắn hạn 474 529,6 572,807 579
    Trung hạn và dài hạn 67 6774,535 121,628 422

    Như vậy tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ tín dụng của ngân hàng . Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, NHCT Đống Đa đã thu hút được số khách hàng đến giao dịch với ngân hàng ngày càng tăng

                1.2.3. Thanh toán quốc tế

    Đây là nghiệp vụ mới của ngân hàng , do phòng thanh toán quốc tế đảm nhiệm, được thành lập tháng 7 năm 1997. Tuy vậy , doanh số của hoạt động này ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ và cho vay ngoại tệ , đồng thời góp một phần  vào lợi nhuận hàng năm của ngân hàng

    Bảng 3: Doanh số thanh toán quốc tế  qua NHCT Đống Đa

    Năm
    Chỉ tiêu
    1997 1998 1999 2000
    1.Hàng nhập khẩu 25.028.178 18.983.589 20.700.000 22.042.000
    2.Hàng xuất khẩu 805.423 2.759.953 380.000 313.000
    3.Phí dịch vụ 1.242.379 5/191/027 9/084/297 9.841.297

              1.2.4. Kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHCT Đống Đa được thực hiện từ năm 1988. Tuy nhiên , nghiệp vụ này chỉ thực sự phát triển khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, trực tiếp cho vay ngoại tệ

    Bảng 4: Doanh số bán ngoại tệ từ năm 1997-2000

    Đơn vị : Quy đổi USD

    Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000
    1.Doanh số mua vào 27.166.850 17.542.742 29.694.710 28.200.000
    2.Doanh số bán ra 27.162.996 15.390.722 29.690.124 23.500.000

    ( Báo cáo kinh doanh ngoạI tệ từ năm 1997-2000)

    •  

    1.2.5. Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng

    – Công tác thanh toán:

    Ngân hàng luôn chú trọng đến việc thanh toán của khách hàng , đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại. Hiện nay, các hoạt động thanh toán , chuyển tiền của khách hàng cả trong và ngoài nước đều được thực hiện nhanh, chính xác , đảm bảo lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng

    – Công tác ngân quĩ

    Công tác này được nhanh chóng đổi mới và duy trì cùng công tác thnah toán, tiến hành thu đủ, nhanh , chính xác cho khách hàng . Ngoài ra, ngân hàng còn có dịch vụ thu tiền tại chỗ cho tất cả các doanh nghiệp có nguồn thu lớn và ổn định

    – Ngoài ra, ngân hàng còn mở rộng cịch vụ cầm đồ , với đối tượng chủ yếu là các kỳ phiếu, trái phiếu… do các ngân hàng thương mại quốc doanh, kho bạc Nhà nước phát hành , Dịch vụ này vừa đảm bảo cung ứng vốn cho khách hàng nhanh chóng, vừa đơn giản, vừa đảm bảo an toàn và hiệu quả cho kinh doanh ngân hàng

    2. BỐI CẢNH CHUNG TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NHCT  ĐỐNG ĐA

    Trong giai đoạn đầu mở cửa của nền kinh tế nước ta, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại là một trong những lĩnh vực hoạt động chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Vì hoạt động này rất “nhạy cảm”với hàng loạt chỉ số quan trọng của nền kinh tế như tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất… từ đó ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân GDP, thu nhập quốc dân theo đầu người,…Mặt khác, khi mà hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM Việt nam chủ yếu xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu khách hàng , thì kim nghạch xuất khẩu hàng năm , lực lượng đầu tư nước ngoài vào Việt nam cũng có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới hoạt động này. Bối cảnh chung của nền kinh tế xã hội với tác động của nó tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của hệ thống NHTM Việt nam được xem xét trên các mặt sau:

              2.1 Những thành tựu của nền kinh tế sau hơn 10 năm đổi mới

    Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt nam được coi như một điểm mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới cho nền kinh tế Việt nam . Từ đó cơ chế quản lý tập trung, quan liêu , bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, có sự đIều tiết, quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN , với chính sách mở cửa nền kinh tế , từng bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ và thực sự đạt được những thành tựu đáng kể

              a, Kim nghạch xuất khẩu tăng trưởng

    Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế , tận dụng những lợi thế so sánh của quốc gia trong xuất khẩu và khai thác những ưu thế từ bên trong nhập khẩu để phát triển kinh tế xã hội , kim nghạch xuất khẩu của Việt nam đã tăng nhanh qua các năm. Trong giai đoạn 1990-1999 , kim nghạch xuất khẩu tăng trung bình trên 20% /năm, nhu cầu nhập khẩu cũng tăng rất nhanh , có thời kỳ việc đáp ứng ngoại tệ cho thanh toán nhập khẩu khiến cho một số ngân hàng gặp nhiều khó khăn.

    Từ tháng 7/1997, khi cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan toả sang các nước trong khu vực thì tại Việt nam, đồng USD có chiều hướng tăng giá do dân chúng bắt đầu có xu hướng chuyển dịch từ đồng Việt nam sang đồng USD trong việc ký thác tiền gửi tại các NHTM . Mục đích của sự chuyển dịch này là để đề phòng sự mất giá của nội tệ và sự tăng giá của đồng USD như các nước khác trong khu vực . Hệ quả là mức cầu USD tăng nhanh trên thị trường và do đó giá USD sẽ tăng theo qui luật cung cầu. Nhất là khi ngân hàng Nhà nước có quyết định tăng biên độ mua bán ngoại tệ so  với tỷ giá chính thức (ngày 18/10/1997) thì đồng USD càng khan hiếm và tăng giá nhiều hơn

    Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới, năm 1998 và có thể trong một vài năm tới, kim nghạch xuất khẩu của Việt nam tăng trưởng chậm lại.Trong tình hình hiện nay, nếu chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu là đẩy tỷ giá lên cao sẽ gây những tác hại rất lớn. Chỉ cần nâng tỷ giá lên 10% thì tiềm lực tài  chính quốc gia sẽ bỗng chốc mất đi một khoản khổng lồ:12 tỷ USD nợ nước ngoài, cán cân nhập siêu năm 1997 = 2,2 tỷ USD , giá trị vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt nam 35,5 tỷ USD đều được tính tăng lên 10% , như vậy chúng ta tự nhiên mất đi một khoản tiền lớn 5 tỷ USD.

    Việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu không đơn thuần chỉ là việc hạ giá bán , mà giá hiện nay của ta cũng không cao so với các nước trong khu vực. Vấn đề cốt lõi là phải đổi mới công nghệ sản xuất, và gia công chế biến hàng xuất khẩu để chất lượng và giá cả hàng hoá của ta có sức hấp dẫn hơn. Mặt khác, thuế xuất nhập khẩu hiện nay tất yếu phải giãm xuống khi nước ta tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực và thế giới và điều này sẽ làm cho giá hàng xuất khẩu của ta giảm xuống. Song ,với chủ trương của nhà nước ta  khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu  ,.cải cách thủ tục xuất nhập khẩu, cải cách hệ thống xuất nhập khẩu,…cùng với xu hướng hội nhập, kinh tế Việt nam trong khu vực và thế giới, chắc chắn mọi hoạt động xuất nhập khẩu của ta sẽ có những chuyển hoá tích cực và tăng trưởng mạnh trở lậi

    Bảng 5:Tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt nam trong giai đoạn 90 – 99

                                                                                            Đơn vị tính:1.000.000 USD

                       Năm

     

    Chỉ tiêu

    1990 1992 1994 1996 1997 1998 1999
    1.Xuất khẩu 2404,0 2580,7 4054 7256 9000,0 9360 9820
    2.Nhập khẩu 2752,4 2540,8 5826 11144 11200 11390 12160

    b, Đầu tư nước ngoài

    Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ban hành ngày 29/12/1987, tạo ra những cơ sở pháp lý cơ bản đầu tiên cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại  Việt nam. Từ đó đến nay, Việt nam luôn được coi là một trong những nước có điều kiện khá thuận lợi cho đầu tư nước ngoài: Nguyên liệu và công nhân tại chỗ, giá rẻ càng với những nỗ lực của Chính phủ Việt nam trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài như: giảm giá thuê đất đai, cho phép chuyển lợi nhuận về nước, tổ chức các buổi gặp gỡ kiến nghị giữa chính phủ và các nhà đầu tư…

    Đầu tư nước ngoài vào Việt nam đã tích cực gia tăng, số dự án và số vốn dăng ký tăng nhanh qua các năm, tính đến năm 1999 , số dự án nước ngoài là 2198 dự án với số vốn đăng ký đạt 43 tỷ USD.

    Bảng 6: Đầu tư nước ngoài tại Việt nam giai đoạn 1988-1999

     

    Năm
    Chỉ tiêu
    1988 1990 1992 1994 1996 1997 1998
    1.Số dự án 37 108 197 343 325 336 295
    2.Tổng vốn đăng ký 372 839 2165 3766 8497 5609 4828
    3.Vốn pháp định 288 407 1418 1730 2941 3250 1900

    Như vậy, hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài gia tăng tại Việt nam đã và đang tạo ra những điều kiện thuận lợi, dồng thời là những thách thức cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở các NHTM . Nhu cầu ngoại tệ ngày càng lớn của khách hàng làm cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng phát triển tương đương cả về quy mô và chất lượng. Tại một thời đIểm nhất định, khi nhu cầu ngoại tệ gia tăng( do cần đáp ứng nhu cẩu trả nợ  khi đến kỳ hạn , nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ , nhu cầu nhập khẩu, những cơn sốt hang ngoại nhập…) làm gia tăng tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ và ngược lại. Bằng việc mua bán dự trữ ngoại tệ của mình trên thị trường ngoại hối trong nước , chính phủ có thể lập tức đIều tiết tỷ giá hối đoái như mong muốn. Song không phải ngân hàng nào cũng có thể thoả mãn nhu cầu phát triển cả về quy mô và chất lượng , bởi vì hoạt động này đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn cả về công nghệ và nhân lực. Nó thách thức các ngân hàng thương mạI Việt nam trong cạnh tranh thu hút khách hàng và tăng cao lợi nhuận cho ngân hàng

                c, Những thành công trong quan hệ đối ngoai

    Ba sự kiện nổi bật về lĩnh vực đối ngoại đánh dấu những thành công ngoại giao đầu tiên của nước ta(năm 1996) . Thứ nhất, nước Việt nam đã bình thường hoá quan hệ với Hoa kỳ, sự kiện này chấm dứt những năm tháng Việt nam bị bao vây , cô lập một cách phi lý, tạo ra những đIều kiện cho đầu tư nước ngoài vào Việt nam và thương mại quốc tế của Việt nam phát triển. Thứ hai,nước ta ký kết hiệp định khung hợp tác với liên minh Châu âu, mở ra thị trường mới với nhiều đối tác mới cho các doanh nghiệp Việt nam trong kinh doanh . Thứ ba, đó là sự kiện Việt nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, ASEAN là một khu vực kinh tế năng động, có nhịp độ tăng trưởng cao trên thế giới. Cùng với việc gia nhập ASEAN, Việt nam cùng tham gia khối mậu dịch tự do của ASEAN là AFTA và ký kết hiệp định ưu đãi thuế quan CEPT ( Common effective preferential tarriffs). AFTA với mục tiêu tự do hoá thương mại trong ASEAN bằng việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và rào phi thuế quan sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trong khu vực, đồng thời bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất , ASEAN sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực . Đó chính là những cơ hội mới cho Việt nam trong phát triển thương mại quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài.

          2.2 Cải cách cơ cấu tổ chức, đổi mới quản ký trong hệ thống ngân hàng  Việt nam

    1. Cải cách cơ cấu tổ chức và quản lý:

    Trong thời kỳ đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt nam đã có những chuyển biến sâu sắc cả về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động. Nghị định 53/HĐTB ngày 23/3/1988 và pháp lệnh ngân hàng ra đời bước đầu đã quán triệt các nguyên tắc kinh tế thị trường trong tổ chức vận hành hệ thống ngân hàng . Cụ thể , thiết lập một hệ thống ngân hàng theo mô hình hai cấp: Tách chức năng kinh doanh của ngân hàng thương mại với chức năng quản ký vĩ mô trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng  và ngân hàng của ngân hàng nhà nước. ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng của ngân hàng Trung Ương chấm dứt các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ. Các ngân hàng thương mại đóng vai trò các doanh nghiệp, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình. hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thực sự đã chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

    Hệ thống những văn bản pháp quy đã nêu ( NĐ161/HĐBT) ban hành “ đIều lệ quản lý ngoại hối” của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Ngày 15/3/1989 ngân hàng Nhà nước có thông tư số 33/NH – tiền tệ “Hướng dẫn thi hành đIều lệ quản lý ngoại  hối…”) , chứng tỏ rằng công tác quản lý ngoại hối đã được nhà nước ta thường xuyên quan tâm chỉ đạo. Vì vậy, so với trước khi có nghị định 161/HĐBT  những năm qua, việc quản lý ngoại hốỉ nước ta có những tiến bộ đáng kể. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nghành ngân hàng đã đổi mới từng bước công nghệ ngân hàng cả về kỹ thuật (phần cứng) và trình độ kiến thức của cán bộ. Các định chế, qui chế, hệ thống luật mới được ban hành để đIều chỉnh hoạt động của ngân hàng trong những điều kiện mới. Trong đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ tuy còn là nghiệp vụ mới mẻ đối với nhiều NHTM Việt nam, nhưng trước việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xu thế hội nhập kinh tế tiI chính trên thế giới đã hình thnàh phát triển trở thành một hoạt động không thể thiếu  của các ngân hàng thương mại . Vì vậy, các ngân hàng thương mại phải đổi mới cơ cấu tổ chức ngân hàng , đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ ngân hàng . Điều này tạo ra sức ép rất lớn về vốn đối với đại bộ phận ngân hàng hiện nay.

                  c, Đổi mới quản lý vĩ mô, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý ngoại hối và kinh doanh ngoại tệ :

                 –  Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái

    Tỷ giá hối đoái thể hiện mối tương quan giá trị (sức mua) giữa các đồng tiền khác nhau nên nó được coi là “tâm” của mọi hoạt động kinh doanh ngoại tệ . Vì vậy cơ chế đIều hành tỷ giá là một trong tác động tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM . Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái và việc quản lý ngoại hối được xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thương mại quốc tế trên cơ sở sản xuất , trao đổi vvà sử dụng những lợi thế so sánh của các nước khác nhau trong phân công lao động quốc tế ở nước ta, khi đề ra chính sách biện pháp quản lý thị trường ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, chúng ta luôn có sự đánh giá phân tích một cách khoa học  về các yếu tố khách  quan  và chủ quan ảnh hưởng đến thị trường hàng hoá, tiền tệ…Nhờ có những quyết sách đúng đắn, kịp nthời chúng ta đã hạn chế bớt những ảnh hưởng tiêu cực kìm hãm quả trình  đầu tư trong nước, hạn chế thâm hụt cán cân thanh   toán vãng lai về giá trị tương đối lẫn giá trị tuyệt đối , từng bước đẩy lùi tình trạng đôla hoá trong lưu thông, tiến tới làm cho đồng tiền Việt nam có giá trị chuyển đổi đầy đủ. Kể từ năm 1986 , cơ chế đIều hành tỷ giá hối đoái của nhà nước ta đã có những “thay đổi căn bản” , có thể chia thành mấy giai đoạn cụ thể sau:

                      Giai đoạI 1980-1988: Nước ta thi hành chế độ đa tỷ giá , mang nặng tính quan liêu bao cấp, tỷ giá hối đoái do nhà nước trực tiếp xác định mà không tính đến cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng  thời mang tính chất cố định giữa đồng Việt nam và các loại ngoại tệ theo 3 tỷ giá khác nhau: tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch, tỷ giá kết toán nội bộ

    Cung cầu ngoại tệ đóng vai trò quyết định tới biến động của tỷ giá hối đoái, đặc biệt là đối với moọt nước có nền kinh tế nhỏ bé như Việt nam, một đồng tiền không có giá trị chuyển đổi cả trên thị trường trong nước cũng như thị trường ngoài nước. Định hướng đIều chỉnh  tỷ giá cần bám sát cung cầu ngoại tệ (chủ yếu là USD) để sử dụng khoản dự trữ ngoại tệ như một cái neo an toàn , hay một vũ khí hiệu quả nhất.

                  Giai đoạn 1989-1998: Trước tình hình trên , ngày 3/3/1989 , Chủ tịch HĐBT ra Chỉ thị  số 43 đã xoá bỏ chế độ đa tỷ giá, duy trì chế độ một tỷ giá giữa đồng Việt nam và các ngoại tệ       khác, áp dụng cho mọi hình thức thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng , tỷ giá náy sẽ được điều chỉnh thường xuyên theo những biến động trên thị trường. Đến ngày20/9/1994, Quyết định số 205/QQĐ – NH7 củaThống đốc ngân hàng nhà nước quy định việc điều tiết tỷ giá như sau: ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày tỷ giá chính thức của đồng Việt nam so với một số ngoại tệ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tỷ giá này được các tổ chức tín dụng có giấy phép kinh doanh ngoại tệ dùng làm cơ sở xác định tỷ giá giao dịch trong một biên độ nhất định. Biên độ này được ngân hàng Nhà nước điều chỉnh qua các thời kỳ, phù hợp với chính sách tỷ giá hối đoái của ngân hàng Nhà nước. Từ đầu năm 1998 đến nay ngân hàng Nhà nước đã hai lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái VND/USD. Ngày  16/2 mức tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ 11.175đ/USD lên 11.800đ/USD (giá USD so với VND tăng 5,6%, đồng thời tăng biên dộ giao động , giới hạn chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán so với tỷ giá chính thức do ngân hàng Nhà nước công bố) từ =(-) 5% lên +(-) 10%. Mới đây, ngày 7/8 tỷ giá hối đoái chính thức VND/USD lại được ngân hàng nhà nước điều chỉnh từ 11.815đ/USD lên 12.998 (tăng 10%). Trong lần điều chỉnh thứ hai này, mức độ điều chỉnh tỷ giá tuy lớn hơn lần trước nhưng biên độ giao động tỷ giá mua, bán lại thu hẹp từ +(-)10% xuống +(-)7% và thay đổi cách thức công bố tỷ giá chính thức “lấy tỷ giá thực tế đang giao dịch trên thị trường liên ngân hàng làm tỷ giá cho ngày hôm sau”.

    Việc ngân hàng Nhà nước lấy mức tỷ giá hình thành trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng làm tỷ giá chính thức cho ngày giao dịch hôm sau là một thay đổi quan  trọng trong phương pháp điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng giảm sự áp đặt từ phía Nhà nước. Chủ trương này sẽ tạo điều kiện cho tỷ giá vận động theo sát biến động của cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Đương nhiên, điều này không hạn chế sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường ngoại tệ thông qua việc mua bán ngoại tệ nhằm có được mức tỷ giá mong muốn trong các phiên giao dịch . Nhưng sự can thiệp như vậy hoàn toàn mang nội dung kinh tế và phù hợp quy luật cũng như đúng với luật về các ngân hàng mới được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực trong thời gian tới.

    Như vậy bằng việc điều chỉnh một cách linh động biên độ giao dịch Ngân hàng Nhà nước có thể điều tiết tỷ giá linh hoạt, thực hiện mục tiêu ổn định đồng tiền Việt Nam, ổn định môi trường kinh tế xã hội. Điều chỉnh tỷ giá sẽ làm tăng thu nhập xuất khẩu, giảm chi tiêu cho nhập khẩu và cải thiện cân đối ngân sách Nhà nước.

    Tuy nhiên Ngân hàng Nhà nước không thể thay đổi biên độ giao động tỷ giá cho phép hàng được, trong khi việc thực thi chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái đòi hỏi phải điều hành hằng ngày. Hơn nữa tỷ giá chính thức trong giai đoạn này đã thể hiện rõ tính hành chính của nó. Tỷ giá giao dịch ngoại tệ thực tế trên thị trường có tổ chức hầu như tách rời tỷ giá chính thức ỏ mức độ tối đa cho phép, tất cả các đợt điều chỉnh tăng biên độ hay tỷ giá chính thức đều có chung một xu thế là sự giảm đến mức tối đa cho phép của tỷ giá đồng Việt Nam.

    Giai đoạn từ 25/2/1999 đến nay: Quyết định số 64/NĐ-NHNN được ban hành đã đánh dấu một sự thay đổi về chất trong cơ chế điều hành tỷ giá của nước ta, điều tiết trên cơ sở thị trường. Theo Quyết định này, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá giao dịch bình quân hằng ngày trên cơ sở giá thực tế bình quân hình thành ở thị trường liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất. Cơ chế này không có nghĩa là tỷ giá hoàn toàn thả nổi. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ giá giao dịch trên thị trường có tổ chức hằng ngày bị khống chế trong biên độ 0,1% so với tỷ giá bình quân do Ngân hàng Nhà nước công bố.

    Như vậy cơ chế điều tiết tỷ giá mới đã thể hiện đúng nguyên tắc: điều tiết theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tỷ giá công bố đã phản ánh trung thực tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ có tổ chức (chiếm tới 90%  doanh số hoạt động ngoại tệ trong nền kinh tế). Việc khống chế biên độ của tỷ giá sẽ giúp đồng Việt Nam tránh được những biến động đột xuất có thể xẩy ra và tâm lý sùng bái ngoại tệ còn cao của nền kinh tế nước ta hiện nay. Với chính sách điều hành tỷ giá mới này, sẽ giúp cho các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ, xác định được tỷ giá mua, bán ngoại tệ sát với cung cầu thị trường, có sự chủ động trong hoạt động kinh doanh, từ đó điều hành được nó theo đúng nghĩa. Thực tế sau một tháng áp dụng quyết định mới, việc mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại, giữa các ngân hàng với khách hàng được thực hiện thuận lợi, tỷ giá ngoại tệ giữa thị trường tự do và Ngân hàng Nhà nước công bố đã ít chênh lệch. Việc công bố một tỷ giá này là phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với chế độ hạch toán kinh tế của nước ta hiện nay. Nó sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng và làm cho các hoạt động này “ xích lại” gần hơn với trình độ của khu vực và của thế giới.

    1. Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước:

    Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước theo tinh thần đổi mới được thiết lập bằng “Điều lệ quản lý ngoại hối của nước CHXHCN Việt Nam” ban hành kèm theo Nghị định số 161/HĐBT ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng. Văn bản này được xem như một văn bản pháp quy về quản lý ngoại hối đầu tiên của nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước, mục đích bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ, thống nhất quản lý kinh doanh ngoại hối, góp phần củng cố và mở rộng các quan hệ kinh tế, chính trị văn hoá với nước ngoài. Từ đó đến nay liên tục đã có những văn bản mới điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam. Nghị định số 63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 17/8/1998 và sẽ có hiệu lực ngày 2/9/1998. Đây là lần đầu tiên trong vòng 10 năm qua, một văn bản pháp quy với những quy định  đầy đủ và thống nhất về quản lý ngoại hối được ban hành thay thế Điều lệ quản lý ngoại hối (ban hành ngày 18/10/1988) và hàng loạt các văn bản khác về lĩnh vực này, giải quyết những vướng mắc trong việc quản lý  và sử dụng ngoại hối. Nghị định về quản lý ngoại hối được ban hành với mục đích tạo chuyển biến mới trong việc biến VND thành đồng tiền chuyển đổi trong các giao dịch vãng lai, đồng thời giảm bớt sự tác động của tình trạng USD hoá đối với nền kinh tế Việt Nam, tăng cường sử dụng VND trong việc giao dịch buôn bán trên lãnh thổ Việt Nam.

    Cơ chế quản lý ngoại hối từng bước được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn kinh tế, chính sách quản lý ngoại hối cần được thiết kế trên  một số cơ sở như: đồng Việt Nam chưa chuyển đổi trên thị trường hối đoái quốc tế, thị trường tiền tệ và thị trường vốn chưa phát triển, tính hiệu quả tiền tệ (high yield of currency) của bản tệ đang suy giảm, chu chuyển trên tài khoản vốn thiếu vững chắc. Nhận thức được các đặc trưng nói trên để góp phần xây dựng một chính sách quản lý ngoại hối phù hợp với thực tiễn của Việt Nam là một việc làm rất có ý nghĩa. Hiện nay, Việt Nam thi hành chế độ quản lý chặt chẽ với những nội dung chính sau:

    – Quy định về mua bán và gửi ngoại tệ tại ngân hàng, mọi nguồn thu ngoại tệ của các tổ chức, đơn vị kinh tế đều phải gửi vào một tài khoản ngoại tệ mở tại ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam, được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản (theo quy định hiện nay là 20% nguồn thu vãng lai), còn lại toàn bộ phải bán cho ngân hàng. Khi đơn vị có nhu cầu, ngân hàng có trách nhiệm bán lại cho đơn vị tối thiểu bằng số ngoại tệ đã mua của đơn vị, mọi giao dịch mua bán vay mượn ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam nhất thiết phải có sự tham gia cuả ngân hàng với tư cách là người mua, người bán hoặc  người tài trợ.

    – Quy định về mở tài khoản tại nước ngoài: người cư trú là các tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tín  dụng tại Việt Nam được cấp giấy phép mở và sử dụng tài khoản ở nước ngoài nếu là hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: hoạt động kinh doanh quốc tế thuộc các ngành hàng không, hàng hải , bưu điện, bảo hiểm, du lịch, xuất khẩu lao động, nhận thầu các công trình ở nước ngoài, thực hiện vay và trả nợ nước ngoài, được cơ quan có thẩm quyền cho phép mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở nước ngoài, được phép hoạt động ngoại hối ở nước ngoài , các trường hợp khác được Chính phủ cho phép.

    – Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý và kinh doanh ngoại hối thông qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực này là các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ.

    Ngoài các ngân hàng này còn có một số ít các cá nhân, đơn vị được thu ngoại tệ do đặc điểm kinh doanh riêng, nhưng phải có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước, Nhà nước nghiêm cấm việc lưu thông ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.

    1. Hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng:

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập theo “ Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH” ban hành kèm theo Quyết định số 203/NĐ-NH13 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 20/9/1994. TTNTLNH do ngân hàng tổ chức và điều hành đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/10/1994 cho tới nay. Mục đích của việc thành lập TTNTLNH là nhằm hình thành thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức, làm cơ sở cho việc triển khai thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam.

    Tính hữu hiệu của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng: thị trường này được thiết lập với mục đích chính là hướng hoạt động mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng và trong tương lai với khách hàng vào quy củ với sự kiểm soát của Nhà nước. Qua các giao dịch tại đây, ngân hàng nhà nước sẽ có những điều chỉnh về chính sách tỷ giá cho ơhù hợp với thực tiễn và tình trạng ngoại hối của ngân hàng Việt Nam . cũng như sự phục vụ cho mục đích thanh toán đối nội và đối ngoại.

    Hiện nay, lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường  ngoại tệ liên ngân hàng đã chiếm tới 90% tổng  số giao dịch của cả nước, đạt tới 6 triệu USD/ngày, giữa ngân hàng với khách hàng đạt 47 triệu USD/ngay. Thị trường này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ giá thị trường giữa các NHTM. Qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, các NHTM đã đáp ứng được nhu cầu mua bán ngoại tệ của mình, từ đó đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại và thanh toán quốc tế. Khi mới thành lập chỉ có 23 thành viên tham gia thị trường, đến hết năm 1997 đã có tới 60  thành viên khiến cho hoạt động của thị trường sôi động lên nhiều, nhất là có sự tham gia của nhiều ngân hàng lớn như  Citibank, Standard Chartered…

    Gần đây với quy chế mới “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng” ban hành kèm theo quyết định số101/1999/QĐ-NHNN 13 ngày 16/31999 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, đã có quy định rộng hơn về điều kiện thành viên tham gia thị trường về loại đồng tiền trong giao dịch, về các loại hình giao dịch… Đây chính là điều kiện thuận lợi cho nhiều chi nhánh ngân hàng lớn như NHCT Đống Đa mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mình trên thị trường này.

    3. THỰC TRẠNG HOẠT  ĐỘNG  KINH DOANH NGOẠI  TỆ  TẠI CHI NHÁNH  NHCT ĐỐNG ĐA

    3.1. Các hoạt động chủ yếu liên quan tới kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh NHCT Đống đa

    Mọi hoạt động của ngân hàng đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau , chúng được coi như từng bộ phận của cỗ máy hoàn chỉnh, mà nó chỉ hoạt động tốt  khi các bộ phận đều hoạt động tốt. Đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ, có 3 lĩnh vực hoạt động liên quan mật thiết với nó là: huy động vốn, sử dụng vốn và trung gian thanh toán. Hoạt động của NHCT Đống đa được thể hiện trên 3 lĩnh vực sau:

    3.1.1. Huy động vốn

    Huy động vốn là một trong những khâu quan trọng nhất để duy trì sự ổn địnhvà phát triển của chính bản thân ngân hàng, ngân hàng phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế quốc dân trên phạm vi toàn quốc và trên địa bàn quận Đống Đa đồng thời căn cứ vào nhịp độ phát triển kinh tế qua từng thời kỳ, giai đoạn để xây dựng cho mình một cơ chế huy động vốn có hiệu quả. Các nguồn huy động và khai thông các nguồn đối với một chi nhánh  ngân hàng thương mại nói chung và chi nhánh ngân hàng công thương Đống đa nói riêng xuất phát từ:

    –  Các tài khoản tiền gửi của các chủ thể kinh tế tại ngân hàng đảm bảo công tác thanh toán, chi trả trong các hoạt động nội thương và ngoại thương

    –  Các tài khoản tiết kiệm của dân, của các tổ chức kinh tế , họ tin tưởng ngân hàng nên mang vốn đang trong giai đoạn “nhàn rỗi” của mình gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất.

    –  Là trung gian tiếp nhận các khonả vốn đầu tư của nước ngoài…

    Để đạt được hiệu quả  kinh tế cao trong hoạt động huy động vốn làm cơ sở cho hoạt động cho vay, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước và quận Đống Đa, ngân hàng phải đánh giá cho đúng điểm mạnh , điểm yếu hạn chế của từng loại vốn huy động, tập trung cao độ nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất và an toàn nhất trong công tác huy động của mình

                3.1.2. Sử dụng vốn

    – Cho các đơn vị kinh tế vay

    – Cho các ngân hàng khác vay để đảm  bảo khả năng thanh toán của họ hay đảm bảo giải quyết tình thế cấp bách

    – Đem đầu tư, góp vốn  liên doanh

    Cho vay ngoại tệ dể nhập khẩu hàng hoá hay để sản xuất, thu gom hàng xuất khẩu thì cuối cùng đều phát sinh nghiệp vụ mua bán ngoại tệ. Ngân hàng cần  mua ngoại tệ để thanh toán L/C đến hạn , khách hàng khi đến hạn phải mua ngoại tệ để trả nợ tiền vay, doanh nghiệp xuất khẩu cần bán ngoại tệ lấy VND để tiêu dùng trong nước . Cho vay ngoại tệ được triển khai ở ngân hàng công thương Đống đa từ năm 1988, tuy nhiên lúc đó ngân hàng không cho vay trực tiếp mà chỉ thẩm định dự án xin vay để trình  Ngân hàng Công thương Việt Nam quyết định. Doanh số cho vay trong thời kỳ này còn thấp, từ năm 1988 Ngân hàng Công thương Đống Đa thực hiện cho vay ngoại tệ trực tiếpđối với các doanh nghiệp, doanh số cho vay ngoại tệ ngày càng tăng, đến nay dư nợ ngoại tệ đã chiếm tỷ trọng hơn 20% tổng dư nợ của ngân hàng.

    Hoạt động cho vay ngoại tệ của NHCT Đống đa được thực hiện theo quyết định số17/QĐ-NHNN ngày 10/1/1998 của Hội đồng quản trị ngân hàng Công thương Việt nam, trong đó quy định rõ:

    – Đối tượng cho vay: Ngân hàng công thương cho khách hàng vay bằng ngoại tệ để thanh tiền nhập khẩu vật tư , hàng hoá, máy móc thiết bị và dịch vụ cho nước ngoài phục vụ hoạt động kinh doanh của khách hàng

    – Cách phát tiền vay: Ngoại tệ cho vay sử dụng để chuyển trả cho nước ngoài theo các phương thức thnah toán quốc tế và chế độ quản lý ngoại hối quy định: không cho vay chuyển vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ của khách hàng, không cho vay bằng ngoại tệ tiền mặt.

    – Trả nợ gốc và lãi:Vay bằng ngoại tệ nào thì trả bằng ngoại tệ đó, trưòng hợp khách hàng đề nghị trả nợ bằng ngoại tệ khác với ngoại tệ đã vay hoặc bằng VND thì phải được giám đốc  chi nhánh cho vay xem xét  , đồng ý và thoả thuận với khách hàng tỷ giá quy đổi theo đúng quy định hiện hành. Như vậy, ngân hàng không được phép cho vay bằng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp để: trả nợ ngân hàng khác (đảo nợ), trả nợ tiền vay, thanh toán tiền hàng cho các doanh nghiệp khác trong nước, đem bán lại cho ngân hàng thương mại, NHNN hoặc các doanh nghiệp khác…

    Hiện nay, NHCT Đống đa đã cho vay ngoại tệ chủ yếu là ngắn hạn để  nhập khẩu vật tư hàng hoá phục vụ cho sản xuất kinh doanh như: Sắt, thép xây dựng , nhựa , giấy…Khi một chủ thể kinh tế nhập khẩu máy móc, thiết bị, họ có thể dùng tài khoản ngoại tệ của mình tại ngân hàng để thanh toán cho đối tác nước ngoài , tuy nhiên nếu không có thì họ   vay ngoại tệ hoặc mua ngoại tệ của ngân hàng để đảm bảo cho việc thanh toán diễn ra tốt đẹp

    Ngoài cho vay ngắn hạn, ngân hàng cũng đầu tư trung hạn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các đơn vị, giúp đỡ đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế. Tuy vậy, cho vay trung hạn mới chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong dư nợ ngoại tệ.

    Việc thu nợ của ngan hàng đối với các doanh nghiệpchủ yếu từ doanh thu bán hàng, dịch vụ trong nước tính bằng VND. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải mua ngoại tệ để trả nợ cho ngân hàng , NHCT Đống Đa đảm nhận việc cung cấp số ngoại tệ này trong khả năng của ngân hàng theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm thu nợ. Chính vì vậy, ngân hàng phải chủ động khai thácnguồn ngoại tệ để phục vụ khách hàng. Doanh số cho vay ngoại tệ tăng nhanh hàng năm đã thúc đẩy rất nhiều quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ của ngân hàng

    Bảng 7: Tình hình cho vay ngoại tệ của NHCT Đống đa

    Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000
    I,Doanh số cho vay cả năm 1087 968 1132,567 1842
    Tỷ trọng so với tổng cho vay 22,63% 36% 47,2% 48,2%
    II,Doanh số thu nợ cả năm 948,3 986,24 1025,690 1346,702
    Lãi thu từ cho vay ngoại tệ 59,6 61,984 64,463 71,013
    III,Dư nợ ngoại tệ đến 31/12 113 99,881 116,861 360
    Trong đó:Ngắn hạn 1,033 15,208 27,043 29,421
    Tỷ trọngNQH/Tổng dư nợ 1,3% 1,7% 3,8% 3,9%

    (Báo cáo kết quả kinh doanh ngoại tệ từ 1997-2000)

    Những kết quả đạt được trong hoạt động cho vay ngoại tệ

    • Doanh số cho vay ngoại tệ tăng nhanh qua các năm, tỷ trọng của nó trong tổng cho vay của ngân hàng ngày càng cao chứng tỏ vai trò của tín dụng ngoại tệ đang ngày càng quan trọng trong tổng thể hoạt động của ngân hàng
    • Lãi thu từ cho vay ngoại tệ tăng nhanh qua các năm đã góp phần đáng kể vào thu nhập của ngân hàng , riêng năm 1997 doanh số thu nơj có giảm là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nên ngân hàng có gia hạn nợ ,đã trả được nợ cho ngân hàng, làm cho doanh số thu nợ và lãi thu ngày càng tăng rất cao, tạo nguồn thu nhập tốt cho ngân hàng và thúc đẩy mạnh mẽ quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ trong năm
    • Tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ đã giảm và ở mức tương đối thấp so với các ngân hàng thương mại khác trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay đang còn có dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực (năm 1997). Tuy nhiên , trong hoạt động cho vay vẫn còn có một số hạn chế
    • Cho vay ngoại tệ mới chỉ tập trung vào ngắn hạn , cho vay trung hạn và dài hạn còn ít. Nguyên nhân là do nguồn ngoại tệ huy động chủ yếu là ngắn hạn, lại phải chịu rủi ro hối đoái lớn do thời hạn tương đối dài đối với cả khách hàng và ngân hàng
    • Nợ quá hạn tại ngân hàng cần giảm đi , nếu không có thể ảnh hưởng tới kết quả hoạt động tín dụng ngoại tệ trong các năm

    3.1.3. Trung gian thanh toán

    Như đã nói và phân tích, các ngân hàng này luôn có lợi thế về trang thiết bị liên lạc, điện tử , điều này thể hiện rất rõ khi các ngân hàng ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới vào hoạt động của mình. Các trang thiết bị như điện thoại, TELEX, màn hình coputer hay cao hơn nữa là hệ thống truyền tin một cách nhanh chóng và chính xác, đạt hiệu quả kinh tế cao. Chính nhờ các thế mạnh về ứng dụng công nghệ hiện đại này mà vai trò trung gian thanh toán của ngân hàng ngày càng được nâng cao, cả về thanh toán trong nước cũng như nước ngoài.

    Công tác thanh toán quốc tế trong ngoại thương luôn được ngân hàng chú trọng với các hình thức chuyển tiền từ trong nước ra nước ngoài hay tiếp nhận từ nước ngoài vào trong nướcđều diễn ra hết sức nhịp nhàng. Khi phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu giữa một đơn vị kinh tế ở Việt nam với bên ngoài, không phải đơn vị kinh tế này chuẩn bị sẵn các “bao tiền” rồi đến điểm hẹn trao cho người xuất khẩu mà họ đến ngân hàng viết lệnh chi trả, kỳ phiếu thương mại  đề nghị ngân hàng có mối quan hệ làm ăn với ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu . Bằng việc truyền tin thông qua hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT, việc chi trả    trở nên vô cùng đơn giản nhưng lại rất chính xác, đem lại sự thoả mãn cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu, bởi vì xuất khẩu thì có tiền, nhập khẩu thì có hàng nhanh chóng

    Hiện nay, việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu được NHCT Đống đa thực hiện trực tiếp  cho nước ngoài thông qua sở kinh doanh hối đoái, nơi quản lý nguồn ngoại tệ  của toàn hệ thống ngân hàng công thương. Thực chất, việc thanh toán của NHCT Đống  đa cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài vẫn có tính chất trực tiếp , nội dung của nghiệp vụ thanh toán vẫn thuọc trách nhiệm của NHCT Đống Đa

    Qua đáp  ứng nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu,, mua ngoại tệ để trả nợ ngân hàng bán ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu, quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ đã tăng liên tục cùng với sự gia tăng doanh số quốc tế hàng năm qua  ngân hàng. Đến đây chúng ta đã thấy được ý nghĩa quan trọng của vị trí trung gian thanh toán khi hàng ngày, hàng giờ có hàng ngàn , hàng triệu quan hệ giao dịch thương mại quốc tế đều được tiến hành một cách suôn sẻ

    Bảng 8: Kim ngạch xuất nhập khẩu thanh toán qua NHCT Đống Đa

     

    Chỉ tiêu 1998 1999 2000
    Số món Trị giá Số món Trị giá 99/98 Số món Trị giá 00/99
    1.Hàng nhập khẩu bình quân

     

    một lần nhập

    332 18.983.589 390     286 22.024.000  
    2. Hàng xuất khẩu bình quân một lần xuất 35 2.759.953 25     20 313.000  
    3 Phí dịch vụ 1461 10.374.757 1476 10.478.504   1258 10.762.102  

            (Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT Đống đa từ 1998-2000)

    Qua số liệu trên, có thể đưa ra những nhận xét sau:

    Doanh số thanh toán quốc tế  qua ngân hàng hàng năm nhìn chung đều tăng. Số món thanh toán tăng nhanh từ năm 1998 đến 1999 đặc biệt là hàng nhập khẩu nhưng chỉ riêng năm 2000 thì có giảm hơn so với các năm trước . Điều này , do ảnh hưởng của chính sách Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu là  tăng cường xuất nhập khẩu những mặt hàng, trang thiết bị , công nghệ đang sản xuất và hạn chế xuất nhập khẩu đối với những mặt hàng đã sản xuất hoặc sản xuất lại cho nên lượng thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng có giảm trong năm. Tuy vậy, hoạt động ngân hàng vẫn đảm bảo có lãi, kim nghạch thanh toán quốc tế qua ngân hàng vẫn tăng.Đặc biệt, ngân hàng tích cực thu hút khách hàng xuất khẩu , tạo một  phần thuận lợi cho huy động  nguồn ngoại tệ của ngân hàng

    Một điều còn hạn chế của ngân hàng trong khai thác nguồn ngoại trực tiếp từ các   nhà xuất khẩu với tỷ giá thấp hơn so với mua lại từ các ngân hàng bạn bởi qua số liệu ta thấy doanh số hàng xuất khẩu ít hơn nhiều so với doanh số  hàng nhập khẩu

    3.2. Tình hình hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ

              3.2.1. Hiện nay, hoạt động mua bán ngoại tệ tại NHCT Đống Đa được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các văn bản pháp lý sau:

    – Quyết định 64/1999/QĐ-NHNN7 của thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc công bố tỷ giá   hối đoái của đồng Việt Nam với các ngoại tệ

    – Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dungj được phép kinh doanh ngoại tệ

    – Quyết định số 18/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/1/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về trạng thái ngoại tệ đối với các tổ chức được phép kinh doanh ngoại tệ

    – Nghị định 63/1998/ NĐ-CP về quản lý ngoại hối được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17/8/1998

    – Quyết định số: 173/1998/QĐ-TTg ngày 12/9/1998 của Thủ ướng Chính phủ về  nghĩa vụ mua bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức

    – Quyết định số 232/1998/QĐ-TTg ngày 1/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam sửa đổi khoản 1 và 2 điều 1 quyết định số 173/QĐ-TT

               3.2.2. Quy trình giao dịch tại NHCT Đống đa

    Hàng ngày, căn cứ vào trạng thái ngoại hối, vào nhu cầu thanh toán trong ngày, nhân viên giao dịch xác định nhu cầu mua bán trong ngày. Nhu cầu thanh toán được phòng thanh toán quốc tế lập và gửi cho cán bộ kinh doanh ngoại tệ trước một tuần, để cân đối ngoại tệ cho đơn vị  vào ngày phải thanh toán. Sau khi xác định được nhu cầu mua bán trong ngày, nhân viên giao dịchgọi điện đến các ngân hàng có quan hệ giao dịch thường xuyên để chào mua hoặc chào bán. Nếu chấp nhận về giá chào mua , bán và thoả thuận về khối lượng giao dịch, thời hạn, địa điểm chuyển tiền , hai bên nhận lại với nhau bằng FAX và thực hiện chuyển tiền vào thời hạn đã thoả thuận. Đối với giao dịch giao ngay, việc chuyển tiền thường được tiến hành ngay trong ngày làm việc.

    Các giao dịch doanh nghiệp thường được tiến hành bằng điện thoại, nếu thoả thuận được tỷ giá , khối lượng, hai bên sẽ ký kết hợp đồng mua bán ngoại tệ và thực hiện chuyển tiền. Tỷ giá mua bán ngoại tệ của ngân hàng được công bố hàng ngày và  dược coi là tỷ giá  cam kết  mua ,bán của ngân hàng đối với khách hàng khi phát sinh giao dịch. Hàng ngày, vào đầu giờ làm việc phòng kinh doanh đối ngoại nhận được tỷ giá từ NHCT Việt Nam qua mạng vi tính, tiến hành niêm yết giá và tiến hành giao dịch ngoại tệ với các tổ chức , cá nhân có nhu cầu. Các ngoại tệ giao dịch tại ngân hàng bao gồm:USD,FRF,DEM,JPY,… trong đó, đồng USD và DEM là chủ yếu . Khi có nhu cầu mua bán các loại ngoại tệ khác, NHCT Đống đa sẽ các định tỷ giá đó và Việt nam  đồng theo  tỷ giá giữa công bố của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, là ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn ( 70%) trong tổng giao dịch hối đoái ở  Việt nam và có mạng thông tin với thế giới

               3.2.3. Nguồn thu ngoại tệ của NHCT  Đống Đa

    Ngân hàng Công thương Đống Đa mua ngoại tệ từ các nguồn sau

    – Mua của trung tâm giao dịch ngoại tệ

    – Mua trong hệ thống Ngân hàng công thương

    – Mua ngoài hệ thống Ngân hàng công thương

    – Mua của các đơn vị, tổ chức kinh tế

    – Mua của các thành phần kinh tế khác

    – Mua do chi trả kiều hối

    Trong đó, lượng ngoại tệ mua của hệ thống Ngân hàng công thương Việt nam

    bao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất theo các năm và tháng. Năm 1999, mua trong hệ thống Ngân hàng công thương đối với các loại ngoại tệ:

    – DEM : 54,5%

    – USD : 47,6%

    – FRF :   87.2%

    – JPY : 56,6%

    Mua từ Ngân hàng công thương Việt nam: Đây là nguồn mua lớn của NHCT Đống đa, với tỷ giá thường thấp hơn so với tỷ giá trên thị trường ngoại tệ chính thức ( chênh lệch không đáng kể) . Tuy vậy , Ngân hàng công thương Việt nam cho NHCT Đống đa vào một số thời điểm nhất định và chỉ cung cấp thanh toán cho một số mặt hàng nhất  định mà  Chính phủ quy định. Còn lại, chỉ vào những thời điểm gay go , khan hiếm ngoại tệ , NHCT Đống đa mới mua được ngoại tệ từ Ngân hàng công thương Việt nam và chỉ thanh toán một số mặt hàng theo quy

    định.

    Mua từ các ngân hàng thương mại khác: Đây là nguồn chủ yếu của NHCT Đống đa, trong đó một phần quan trọng là  mua từ các ngân hàng chi nhánh của NHCT  Việt nam, nơi có nguồn thu ngoại tệ lớn. Còn lại, NHCT Đống đã mua của các ngân hàng thương mại khác hệ thống. Tuy vậy, chỉ những ngân hàng nào cân đối thừa ngoại tệ mới bán, và các ngân hàng này thường bán với giá kịch trần do Ngân hàng Nhà nước quy định . Vì vậy, NHCT Đống đa chỉ đóng vai trò trung gian mua hộ ngoại tệ cho khách hàng mà không hề được hưởng lãi qua giao dịch này, thậm chí có lúc còn chịu lỗ do phải chịu chi phí giao dịch của nhiều giao dịch mới mua đủ số ngoại tệ cần thiết cho khách hàng

    Mua từ các khách hàng xuất khẩu: Lượng ngoại tệ mua được từ các khách hàng xuất khẩucủa NHCT Đống đa rất ít ỏi, lý lo chủ yếu là trên địa bàn quận, thành phố, số doanh nghiệp xuất khẩu còn ít, doanh số còn rất thấp.

               3.2.4 Nguồn bán ngoại tệ của Ngân hàng Công thương Đống đa

    Đối tượng mà Ngân hàng Công thương Đống đa bán ngoại tệ là:

    – Bán trong hệ thống Ngân hàng Công thương

    – Bán ngoài hệ thống Ngân hàng Công thương

    – Bán cho các đơn vị kinh tế và các thành phần kinh tế khác

    Chủ yếu NHCT Đống đa bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hoá, thiết bị,.. để thanh toán cho nước ngoài. Trước kia, khi tình hình  ngoại tệ chưa khan hiếm, NHCT Đống đa cũng thực hiện bán ngoại tệ cho các ngân hàng bạn, tuy nhiên số lượng không nhiều. Hiện nay, nguồn mua vào ngoại tệ của NHCT Đống đa còn hạn chế nên ngân hàng chỉ bán ngoại tệ phục vụ cho khách hàng nhập khẩu

    Năm 1999, tỷ lệ ngoại tệ bán cho các đơn vị kinh tế là

    • USD :98,6%
    • DEM :88,2%
    • FRF : 100%
    • JPY :  93,7%

    Các nguồn bán trong và ngoài hệ thống Ngân hàng Công thương hiện nay được thực hiện rất ít. Như vậy, cơ cấu mua , bán ngoại tệ chi nhánh là không cân đối, thực chất trong kinh doanh ngoại tệ, NHCT Đống đa mới chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, còn các nghiệp vụ kinh doanh thuần tuý nhằm thu lợi nhuận cho ngân hàng chưa được thực hiện mạnh.

    3.2.5. Loại ngoại tệ và hình thức giao dịch ngoại tệ:

    Hiện nay, NHCT Đống đa chỉ mua bán chủ yếu là đồng USD và DEM , doanh số bán USD, DEM so với các ngoại tệ khác chiếm tỷ trọng khá cao so với tổng doanh số mua bán ngoại tệ .

    Chi nhánh NHCT Đống đa áp dụng hai nghiệp vụ mua bán ngoại tệ. Đó là: mua bán theo tỷ giá giao ngay (SPOT) và giao dịch kỳ hạn(FORWARD)

    • Hình thức giao dịch giao ngay: Là phổ biến , được thực hiện bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ trao ngay

    Mua bán giao ngay là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc kể từ khi thoả thuận hợp đồng mua bán. Hình thức này phát sinh trên cơ sở nhu cầu hợp lý về ngoại tệ của khách hàng trong thanh toán quốc tế ( có hợp đồng ngoại tệ và chứng từ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước) , và của các Ngân hàng thương mại khác cũng như của NHCT Đống đa trong mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng

         Ví dụ: Ngày 14/3/1999, Công ty Cơ điện Trần Phú xin mua của Ngân hàng Đống đa 35000USD để trả nợ vay ngắn hạn

    Tỷ giá giao ngay USD/VND =14525-14530

    Trình tự giải quyết như sau:

    • Công ty viết giấy xin mua ngoại tệ
    • Chi nhánh ngân hàng đồng ý bán sẽ ghi số tiền vào phần xác nhận bán và tính toán dựa trên tỷ giá bán mà NHCT Việt nam công bố. Ngân hàng xác nhận bán cho công ty 35000USD theo tỷ giá bán là 14530VND/USD

    Số tiền mà Công ty phải trả để mua USD là:

    14530 x 35000= 508.550.000 VND

    Mức phí Công ty phải trả cho giao dịch là:

    0,05% x 35000 x 14530=244.275 VND

    Chênh lệch tỷ giá mua bán :

    14530-14525=5

    Số tiền thu được từ chênh lệch giá mua bán :

    35000 x 5= 175.000 VND

    Vậy qua nghiệp vụ SPOT chi nhánh sẽ thu được :

    175.000+243.075=418.075 VND

    • Hình thức giao dịch kỳ hạn (FORWARD):

    Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà tại thời điểm chuyển giao ngoại tệ sẽ ddược thực hiện sau một thời gian nhất định kể  từ khi thoả thuận hợp đồng

    Hiện nay, tỷ giá giao dịch hối đoái kỳ hạn được ấn định trên cơ sở tỷ giá giao ngay và không vượt quá giới  hạn tối đa của tỷ giá giao ngay, tại thời điểm giao dịch cộng từng mức tỷ lệ % cụ thể so với mức giới hạn tối đa của tỷ giá giao ngay.

    Ví dụ : Ngày 3/3/2000, NHCT Đống đa ký thoả thuận mua bán ngoại tệ kỳ hạn với Công ty cơ khí Hà nội , thoả thuận như sau:

    • Bên mua là Công ty cơ khí Hà nội
    • Bên bán là Ngân hàng Công thương Đống đa
    • Số lượng ngoại tệ : 100.650,66 USD
    • Tỷ giá kỳ hạn thoả thuận giữa hai bên là 14.023 / VND/USD
    • Giá trị hợp đồng là :1.411.424.205 VND
    • Kỳ hạn : 33 ngày( từ ngày 13/3/00 đến 15/4/00)
    • Công ty cơ khí Hà nội vay để trả nợ ngân hàng
    • Đến thời hạn thanh toán (15/4/2000), Công ty cơ khí Hà nội sẽ chuyển VND cho chi nhánh NHCT Đống đa. Ngay sau khi nhận đủ số tiền VND như đã thoả thuận , NHCT Đống đa sẽ thanh toán số ngoại tệ tương ứng cho Công ty cơ khí Hà nội.

    Bảng 9. Tình hình mua bán ngoại tệ tại chi nhánh NHCT Đống Đa năm 1998-2000

                                                                                                       Đơn vị :1000đồng

    Chỉ tiêu 1998 1999 2000
    I.Doanh số mua vào

     

    –         USD

    –         DEM

    –         FRF

    –         JPY

    –         EUR

    18.656

     

    548

    165

    11.548

    _

    5.508

     

    45

    67

    8.548

    126

    27.400

     

    2.837

    981

    22.000

    105

    II.Doanh số bán ra

     

    –         USD

    –         DEM

    –         FRF

    –         JPY

    –         EUR

    17.694

     

    546

    166

    11.548

    _

    5.608

     

    40

    72

    7.947

    123

    22.000

     

    3.300

    918

    22.000

    105

    Bảng 10: Tình hình mua bán ngoại tệ phân theo đối tượng mua bán tại chi nhánh NHCT Đống Đa năm 2000.

                                                                                                             Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Mua vào Bán ra
    –         Trong hệ thống NHCT

     

    –         Ngoài hệ thống NHCT

    –         Các đơn vị kinh tế

    –         Các thành phần kinh tế

    –         Chi trả kiều hối

    19.500

     

    2000

    4.800

    770

    280

    _

     

    _

    21.000

    1000

    205

    Bảng 11 : Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa năm 1996

    Đơn vị :1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1996
      USD FRF JPY DEM
    Tồn 18.853     453
    * Mua vào

     

    +Mua TTGDNT

    +Muảtong hẹ thống NHCT

    +Mua ngoài hệ thống

    +Mua các đơn vị kinh tế

    +Mua từ các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

      474

     

    467

    7

    9.624

     

    9628

    2.397

     

    745

    110

    1.543

    * Bán ra

     

    +Bán cho TTGDNT

    + Bán cho NHNN

    + Bán trong hệ thống

    + Bán ngoài hệ thống

    +Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT khác

    36.128

     

    0,7

    35.460

    0,22

    467

     

    467

    9.628 2379

     

    1427

    0,9

    9628

    Ngoại tệ mua chưa bán 1.185 0,7   1,8

    Tổng lãi năm 1996:  298 triệu USD

                               (Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng năm 1996)

    Bảng 12: Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa 1997

     Đơn vị : 1000đ

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1997
    USD FRF JPY DEM
    * Mua vào

     

    + Mua của TTGDNT

    + Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của cccs đơn vị kinh tế

    + Mua từ các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

    27.166

     

    12.059

    11.459

    2.872

    752

    23

    1.722

     

    1.501

    17

    152

    9

    40

    4.805

     

    2.720

    2

    080

    4

    2.512

     

    1.319

    250

    55

    50

    835

    * Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    + Bán cho NHNN

    + Bán trong hệ thống NHCT

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT khác

    27.162

     

    370

    26.783

    9

    1.728

     

    1.728

    4.650

     

    287

    4.317

    3.527

     

    287

    0,1

    2.229

    0,8

    * Ngoại tệ mua chưa bán 1189   199 3

                                                            Tổng lãi :493 triệu

                ( Báo cáo kết quả kinh doanh của NHCT Đống Đa năm 1997)

    * Nhận xét : Mặc dù doanh số mua bán ngoại tệ giảm qua các năm, song chi nhánh NHCT Đống Đa vẫn kinh doanh có lãi, đáp ứng đủ nhu công cầu ngoại tệ của khách hàng, đảm bảo việc thanh toán hàng nhập khẩu của khách hàng thông qua các L/C mở tại chi nhánh. Nguồn ngoại tệ của chi nhánh chủ yếu là mua trng hệ thống ngân hàng và các NHTM khác, nguồn từ các đơn vị kinh tế khác …  Như vậy quy mô kinh doanh ngoại tệ tăng nhanh, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đang ngày càng được mở rộng. Nguồn ngoại tệ của chi nhánh là khá ổn định, song điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu của ngân hàng. Phần bán ra của ngân hàng chủ yếu là cho các đơn vị kinh tế để thanh toá L/C trả nợ, trong khi mua bán trực tiếp thì cũng còn hạn chế.

    * Năm 1996 và đầu năm 1997, tỷ giá giữa VND và USD tương đối ổn định, lãi suất vay USD lại thấp hơn lãi suất vây VND. Vì vậy, các đoanh nghiệp có xu hướng sử dụng  vay ngoại tệ  trong thanh toán hàng nhaapj khẩu. NHư vậy trong năm 1996 việc kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa tương đối ổn định, hầu hết các tháng trong năm đều đạt lãi cao thì năm 1997 doanh số mua bán các ngoại tệ đều giảm so với năm 1997.

    Sở dĩ có tình trạng này là do giữa năm 1997 xảy ra tình trạng khủng hoảng tiền tệ khu vựcở các nước đong Nam á làm cho VND hai lần sụt giá so với USD trên 10%, tỷ giá giữa USD /VND tăng mạnh từ 11.156 lên 12.293 ( vào cuối năm 1997 ) Những khách hàng nhập khẩu mở tài khoản và vay vốn tại ngân hàng bị thiệt hại do biến động tỷ giá lên đến hàng trăm tỷ đồng. Dân cư rút tiền gửi, mua ngoại tệ gửi ngân hàng vì lo sợ USD bị giảm giá. Những ảnh hưởng này gây nên tâm lý hoang mang và xuất hiện hiện tượng đầu cơ trong dân chúng cũng như các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, làm cho ngoại tệ trên thị trường khan hiếm hơn và khó mua. Ngân hàng cũng không thể bán ra ngoại tệ huy động vài phải bảo toàn vốn USD cho khách hàng và chấp nhận quy chế về trạng thái ngoại hối do NHNN quy định. Trong khi đó, số L/C thanh toán cho nước ngoài trong năm là26.273.298 USD. Thêm vào đó một số dơn vị mở L/C tại các ngân hàngkhác nhưng lại có tài khoản tiền gửi  tại chi nhánh đến mua ngoại tệ trước khi đến hạn thanh toán để hạn chế rủi ro, tỷ giá tăng đã tạo nên cầu về ngoại tệ tăng, gây sức ép với chi nhánh. Ngoài hình thức thanh toán bằng L/C, các đơn vị còn thanh thông qua hình thức chuyển tiền TTR. Do vậy, muốn giữ khách hàng truyền thống phải đáp ứng đa dạng hoá phương thức thanh toán của khách hàng.

    Việc chi trả kiều hối vẫn được đẩy mạnh. Năm 1998, chi nhánh trả 23751.33 USD và 9576 DEM, tăng 12% so với năm 1996. Tuy nhiên, một số khách hàng nhận kiều hối không muốn bán ngoại tệ cho chi nhánh như trước mà rút về cất trữ chờ tỷ giá tăng, do đó nguồn mua ngoại tệ từ kiều hối tương đối thấ, chỉ chiếm 0,3% doanh số mua vào.

    Đứng trước những khó khăn về nguồn mua ngoại tệ, chi nhánh đã chủ động đến các đơn vị có hàng xuất khẩu đóng trên địa bàn thành phố để liên hệ thanh toán L/C xuất, rồi quan hệ với các đơn vị khác ngoài địa bàn. Do vậy, chi nhánh đã khai thác được nguồn ngoại tệ đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán L/C mở cho khách hàng tại chi nhánh. Doanh số mua từ các khách hàng này chiếm 485 trong tổng doanh số mua vào, mua từ NHCT Việt Nam chiếm 45%. Điều này chứng tỏ chi nhánh đã cvó nỗ lực trong việc thu hút khách hàngtìm kiếm được nguồn ngoại tệ có giá trị hợp lý, lãi kinh doanh của ngân hàng & đạt 493 triệu VND, tăng 35% soa với năm 1996, lãi thu được từ hoạt động mua bán ngoại tệ cũng góp phần chung và thu nhập của ngân hàng. Điều quan trọng hơn la hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã ddaps ứng được nhu cầu ngoại tệ của khách hàng xuất nhậpkhẩu từ đó đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay ngoại tệ của ngân hàng, tạo nên sự hài hoà thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển giữa các hoạt động  ngân hàng.

    Năm 1998, thực hiệnchủ trường văn bản quản lý ngoại hối theo quết định 37/QĐ – TTg ngày 14/2/1998 của thủ tướng chính phủ về duy trì khoản ngoại tệ cho các doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ ddã tác động phần nào đến việc ổn định tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do. Mặt khác, các quyết định 173/1998/QĐ – NHNN7 , 418/1998 /QĐ của thống đốc NHNN Việt Nam về việc quy định các doanh nghiệp phải bán 80% lượng ngoại tệ thu về cho ngân hàng. Trong năm 1998, tỷ giá VND/USD có hai lần được điều chỉnh bởi NHNN Việt Nam làm chio tỷ giá biến động và luôn có xu hướng tăng. Lần điều chỉnh thứ nhất là ngày 16/2/1998 , tỷ giá công bố chính thức của NHNN từ 11.175VND/USD lên tới 11.800 VND/USD, với biên độ giao động cho phép là +(-) 10% . Lần điều chỉnh thứ hai là ngày 7/8/1998, tỷ giá chính thức đươc điều chỉnh đúng bằng thị trường liên ngân hàng là 11.998VND/USD, với biên độ giao động là +(-) 7%. Cả hai lần điều chỉnh đều dẫn đến sự  giảm tối đa mức cho phép của VND.

    Cơ chế chính sách tỷ giá được cải thiện theo quyết định số 17/1998/QĐ- NHNN7 của NHNN Việt Nam về việc ban hành quy chế  hoạt động giao dich hối đoái đã làm cơ sở để chi nhánh giao dịch với các ngân hàng và các khách hàng được thuận lợi. Việc quy định những tỷ giá cụ thể đối với từng kỳ hạn trong bối cảnh tỷ gía biến động như hiên này đã tạo cho khách hàng yên tâm hơn trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng cách ký hợp đồng kỳ hạn với ngân hàng để thanh toán L/C nhập. Từ đó chi nhánh cững có cơ sở để cân đối, điều chỉnh nguồn ngoại tệ, tạo thế chủ động trong kinh doanh.

    Bảng 13 Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa năm 1999

    Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1999
    USD FRF JPY DEM
    1 Tồn 1189 911 19 30
    2 Mua vào

     

    + Mua của TTGDNT

    Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của các hệ thống đơn vị kinh tế

    + Mua của các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

    18656

     

    7315

    8649

    2319

    314

    58

    165

     

    120

    4

    8

    31

    1154

     

    7

    1054

    3

    4

    548

     

    162

    0,35

    56

    295

    3 Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    +Bán cho NHNN

    + Bán cho các đơn vị kinh té

    + Bán trong hệ thống

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các  TPKT  khác

    17694

     

    17648

    30

    195

    166

     

    132

    30

    3

    1174

     

    7

    1154

    204

    3

    506

     

    307

    193

    5

    4 Ngoại tệ mua chưa bán 2125     44

                                                        Tổng lãi : 396 tiệu VND

    ( Báo cáo kết quả hoạt động của NHCT Đống Đa năm 1999)

    * Nhận xét : Doanh số mua bán USD trong năm 1999 giảm 52% so với năm 1997, 1998. Doanh số DEM cũng giảm 40%, doanh số bán cũng trong tình trạng giảm xuỗng, nhìn chung chi nhánh vẫn đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ của khách hàng trong năm, kinh doanh ngoại tệ vẫn lãi 396 triệu VND ( 75% so với năm 1997,1998 )

    Về chi trả kiều hối, chi nhánh đã trả 58 .754 USD và 3676 DEM tăng 50% so với nam 1998. Hầu hết số kiều hối này khách hàng đều bán lại cho ngân hàng . thông qua nghiệp vụ này chi nhánh vừa có cơ hội mua được ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán, vừa thu được chi phí, góp phần làm tăng lợi nhuận kinh doanh của toàn chi nhánh. Doanh số  mua vào thường lớn hơn doanh số bán ra. Điều này chi nhánh luôn  có trạng thái ngoại tệ dương . Trong xu thế đồng USD lên giá như hiện nay thì tình  trạng này luôn có lợi nhuận cho nhân hàng.

    Bảng 14 : Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đóng Đa năm 2000

    Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 2000
    USD FRF JPY DEM
    1 Mua vào

     

    + Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của các đơn vị kinh tế

    + Mua các TPKT

    + Mua do chi trả kiều hối

           
    2. Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    + Bán trong hệ thống NHCT

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT

    22.000

     

    21.000

    1000

    918

     

    3300

    588

    22.000

     

    22.000

    3.300

     

    3.200

    100

                                               Tổng lãi : 496 triệu VND

                ( Báo cáo kết quả hoat động của NHCT Đống Đa năm 2000)

    * Nhận xét :Ta thấy rằng tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa là tương đối phát triển, doanh số mua bánUSD tăng 47% so với năm 1999, doanh số mua bán DEM cũng tăng 39%. Đặc biệt, doanh số cuả hai loại ngoại tệ FRF và JPY tăng rất mạnh so với năm trước, đáp ứng đủ nhu cầu đa dạng ngoại tệ của khách hàng tạo cho ngâqn hàng có nguồn thu lãi 496 triệu VND ( 78% so với năm 1999)

    Về chi trả kiều hối, chi nhánh thực hiện rất tốt,tăng 53% so với năm 1999. Ngân hàng đã thu hút lượng ngoại tệ khá lớntừ nguồn kiều hối này cho nên ngân hàng có điều kiện thuận lợi kinh doanh cho toàn chi nhánh, thúc đẩy hoạt động này ngày càng hoàn thiện hơn.  Qua bảng ta thấy doanh số mua vào và bán ra có sự chênh lệch nhau không nhiều lắm cho nên điều này không dẫn đến số lượng ngoại tệ chưa bán còn tồn đọng, gây cho ngân hàng những trở ngại bất cập trong kinh doanh.

    4. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA :

    4.1. Kết quả đạt được :

    Tuy là một nghiệp vụ mới mẻ với ngân hàng Công thương Đống Đa nhưng kinh doanh ngoại tệ đã có được những kết quả khả quan sau :

    * Trong thời gian qua, ngoại tệ khan hiếm, chi nhánh tích cực khai thác bằng nhiều luồng để tăng khả năng thanh toán bằng ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập vật tư, hàng hoá của các doanh nghiệp, cũng như nhu cầu thanh toán kiều hối cho dân cư.

    Doanh số mua bán ngoại tệ tăng nhanh qua các năm, quy mô hoạt động được mở rộng, lãi thu từ kinh doanh ngoại tệ đã góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập hàng năm của ngân hàng. Hiện nay, ngoài mua bán USD và DEM là chủ yếu, ngân hàng còn kinh doanh các đồng tiền khác như JPY, SGD, FRF, … theo nhu cầu của khách hàng, mặc dù doanh số giao dịch này chưa lớn.

    * Kinh doanh ngoại tệ góp phần quan trọng mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay ngoại tệ của ngân hàng, bởi vì hai hoạt động này gắn liền với nhu cầu mua ngoại tệ thanh toán nhập khẩu và mua ngoại tệ trả nợ ngân hàng cũng như nhu cầu về bán ngoại tệ từ thu xuất khẩu… Nhờ chủ động ngoại tệ ngân hàng luôn thanh toán cho khách hàng đúng hạn, đảm bảo uy tín của ngân hàng đồng thời bảo vệ được lợi ích của khách hàng. Hoạt động này cũng góp phần mở rộng quan hệ của ngân hàng Đống Đa với các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng thương mại khác trong cả nước. Chi nhánh đã sử dụng quỹ ngoại tệ từ quỹ điều hoà của Trung ương cho vay có hiệu quả, tăng vòng quay vốn ngoại tệ, tạo môi trường giúp các nhà doanh nghiệp nhập nguyên liệu, máy móc thiết bị phát triển sản xuất kinh doanh.

    4.2. Nguyên nhân và hạn chế trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ hiện nay tại NHCT Đống Đa.

              4.2.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng mới chỉ dừng lại ở đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng xuất nhập khẩu, tức là hoạt động mua bán ngoại tệ chủ yếu trên cơ sở nghiệp vụ khách hàng. Ngân hàng chưa thực hiện các nghiệp vụ liên ngân hàng, thực hiện kinh doanh thu lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch tỷ giá thuần tuý.

    Nguyên nhân của hạn chế này :

    + Nguồn vốn ngoại tệ của ngân hàng còn nhỏ bé. Vì vậy, ngân hàng khó có thể chủ động trong các nghiệp vụ liên ngân hàng như đầu cơ, thực hiện nghiệp vụ AEBITRAGE, cơ cấu hợp lý cac ngoại tệ trong tổng nguồn…

    + Chính sách điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước ổn định và thống nhất, các ngân hàng thương mại chưa chủ động hoàn toàn xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ. Chính vì vậy, việc ban hành các quyết định về kinh doanh ngoại hối của nhà nước là hết sức hợp lý và kịp thời, góp phần cho ngân hàng nhà nước có một công cụ hữu hiệu để khống chế và xử lý linh hoạt chính sách tỷ giá trong bối cảnh thị trường hối đoái trong nước và trên thế giới đang có nhiều biến động.

    + Để thực hiện nghiệp vụ liên ngân hàng, ngân hàng cần phải trang bị những thiết bị hiện đại cho bộ phận kinh doanh ngoại tệ (hệ thống máy computer nối mạng với Internet, dịch vụ của hãng tin Reuter…) để theo dõi sự biến động tỷ giá thường xuyên trên thị trường hối đoái. Nhưng ở NHCT Đống Đa, hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn mang tính chất bán thủ công, chủ yếu thực hiện bằng điện thoại, ngân hàng chưa sử dụng nhiều các dịch vụ của hãng Reuters.

              4.2.2. Các nghiệp vụ hối đoái còn sử dụng đơn điều,  chủ yếu ngân hàng thực hiện nghiệp vụ giao ngay và nghiệp vụ kỳ hạn, còn nghiệp vụ hối đoái ngoại tệ thì đã được thực hiện nhưng rất ít.

    Quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường hối đoái luôn biến động, kéo theo tỷ giá của các đồng tiền cũng biến động, trong khi chúng ta vẫn áp dụng chế độ 6 trần tỷ giá kỳ hạn (từ 30 ngày đến 180 ngày, trong 15 ngày có một tỷ giá…) Nó giống như chỉ tiêu khống chế trong việc tính toán xác định tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch, vì vậy bên cạnh những lợi ích mà các quyết định đó đem lại, cho đến nay cũng đã bộc lộ những nhược điểm không phù hợp và gây ra không ít khó khăn đối với các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong quá trình vận dụng và thực hiện.

    – Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu của khách hàng về sử dụng loại hợp đồng kỳ hạn và hoán đổi chưa cao. Thực hiện quyết định số 16/1998/QĐ-NHNN7 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giới hạn biên độ tỷ giá kỳ hạn và hoán đổi, các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp còn nhiều vướng mắc trong việc tính toán tỷ giá mua bán kỳ hạn. Các doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ trong tươnglai cũng không muốn bán kỳ hạn cho ngân hàng vì kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng. Các doanh nghiệp nhập khẩu thì chấp nhận mua ngoại tệ với tỷ giá tại thời điểm phải thanh toán.

    – Theo điều 1 của quyết định này, cách xác định mức trần tỷ giá kỳ hạn dựa vào các yếu tố sau:

    + Dựa vào tỷ giá chính thức do ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm giao dịch.

    + Dựa vào biên độ của tỷ giá chính thức để xác định tỷ giá mua bán giao ngay của Ngân hàng thương mại.

    + Dựa vào tỷ lệ % theo các kỳ hạn khác nhau cộng vào tỷ giá giao ngay của các Ngân hàng thương mại.

    Đây là cơ sở cho việc xác định tỷ giá giao dịch của các Ngân hàng. Nhưng trong quá trình tính toán và đưa ra tỷ giá giao dịch với khách hàng thì không phải NHTM naò cũng thực hiện đúng quy định vì nó có nhiều điểm bất hợp lý, không phù hợp với thực trạng kinh doanh, để thấy rõ điều này chúng ta xét ví dụ sau:

    Xác định mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng vào ngày 5/8/1998, tỷ giá chính thức do NHNN công bố là 1USD = 11.816VNĐ. Khi đó, mức quy định của tỷ giá giao ngay tối đa với Ngân hàng thương mại sẽ là:

    1 USD = 11816 x (1 + 10%) = 12997,6 VNĐ

    Mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng sẽ là:

    1 USD = 12997,6 x (1 + 3,5%) = 13452,5 VNĐ

    Vậy theo điểm 1 (điều 11) của quyết định số 17/1998, đối với một giao dịch kỳ hạn là 6 tháng thì NHTM được Ngân hàng Nhà nước cho phép giao dịch kỳ hạn phải chấp hành chào giá cho khách hàng của mình không vượt quá 13452,5 VNĐ/USD. Khi bán ra và mua vào không vượt quá 13452,5 x (100% – 0,1%) = 13439 VNĐ/USD (mua bán chuyển khoản).

    Thế nhưng, điều gì xảy ra đối với một ngân hàng kinh doanh trong khi

    + Lãi suất USD 6 tháng là 5% – 8,5%

    + Lãi suất USD 6 tháng là 9% – 14,4%.

    + Tỷ giá giao ngay USD/VNĐ là 12997,6.

    Kết quả của ngân hàng:

    + Tỷ giá mua vào của ngân hàng:

    12977,6 + 12997,6 (9% – 8,5%) x 180 = 13028
    36000 + (8,5% x 180)  

    + Tỷ giá bán của ngân hàng:

    12997,6 + 12997,6 (14,4% – 5%) x 180 = 13028
    36000 + (5% x 180)  

    Với tỷ giá kỳ hạn của ngân hàng thương mại tính theo phương pháp lãi suất là : USD/VND = 13028 – 13593.

    Từ kết quả tính trên về mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng tại thời điểm giao dịch ngày 5/8/1998 đã xuất hiện mẫu thuẫn trong cách xử lý cũng như vận dụng vào thực tiễn :

    + Nếu ngân hàng thương mại vẫn thực hiện tốt việc chấp hành mức trần tỷ giá kỳ hạn nghĩa là ngân hàng chỉ đưa ra tỷ giá mua bán cho khách hàng xoay quanh mức trần tỷ giá, trong đó tỷ giá bán 1USD= 13452,5VND và tỷ giá mua trừ lùi đi 0.1% (áp dụng mua bán chuyển khoản). Như vậy, NHTM sẽ không chấp nhận bởi vì trong mua bán kỳ hạn, bản thân các NHTM đã không được gì và tất nhiên cũng không mất ở tỷ giá mà họ đã cung cấp cho khách hàng. Tỷ giá cân bằng là khi họ mua vào, bán ra với tỷ giá USD/VND = 13028 – 13593.

    + Nếi ngân hàng Thương mại hướng các hoạt động mua bán kỳ hạn của mình để không bị lỗ thì buộc phải bỏ qua yếu tố trần tỷ giá kỳ hạn. Đây là điều trăn trở đối với các NHTM trong giai đoạn hiện nay. Trên thực tế, mỗi ngân hàng đưa ra tỷ giá khác nhau, ngân hàng nào vì chiến lược khách hàng sẽ đưa ra tỷ giá thấp, do đó không có lãi thậm chí còn có nguy cơ lỗ, còn ngân hàng nào có thế lực sẽ đưa ra một tỷ giá cao hơn. Do vậy, gây nên tình trạng không phản ánh đúng cung cầu, gây khó khăn đối với một số ngân hàng trong khi giao dịch với khách hàng và đã có nhiều thắc mắc về tỷ giá từ phía khách hàng. Nhiều khi chính vì kháng hàng, chi nhánh NHCT Đống Đa phải giảm cho khách hàng từ hai đến ba giá, như ngân hàng Ngoại thương vẫn ưu tiên cho khách hàng của họ.

    Qua phân tích trên, NHCT Đống Đa nên có cách tính tỷ giá kỳ hạn phù hợp hơn để đẩy mạnh các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi giữa ngân hàng và khách hàng. Hiện nay, đồng USD vẫn là đồng tiền được sử dụng chủ yếu trong thanh toán quốc tế, vì vậy ngân hàng chỉ kinh doanh mua bán, dự trữ phần lớn USD, DEM. Ngân hàng chưa có chính sách về một cơ cấu ngoại tệ hợp lý, tránh quá phụ thuộc vào USD. Đó là vì : quỹ ngoại tệ của ngân hàng còn nhỏ, hơn nữa để làm được điều đó đòi hỏi trình độ cán bộ kinh doanh ngoại tệ cao và nhiều kinh nghiệm, phải theo dõi, nắm chắc thường xuyên biến động tỷ giá và trạng thái từng ngoại tệ của ngân hàng cũng như dự toán một cách nhanh nhạy hơn với thị trường.

              4.2.3 Nguồn mua ngoại tệ của NHCT Đống đa từ các khách hàng xuất khẩu rất hạn chế. Vì vậy, ngân hàng thường phải mua lại ngoại tệ từ các NHTM khác với tỷ giá khá cao, nên ngân hàng hoặc đóng vai trò mua hộ ngoại tệ cho khách hàng (không thu lãi), điều này sẽ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh ngoại tệ, hoặc bán với tỷ giá cao hơn một chút thì có thể gây ấn tượng không tốt với khách hàng và có khả năng mất khách hàng cho các NHTM khác.

    Nguyên nhân của hạn chế này là do số lượng khách hàng xuất khẩu đến với ngân hàng rất ít. Tuy nhiên, đây cũng là tình hình chung đối với nhiều NHTM khác trên địa bàn, vì nước ta chủ yếu xuất khẩu nông lâm hải sản và đều tập trung ở phía nam. Còn các Tổng công ty 90 và 91 đặc biệt là các đơn vị xuất khẩu trước đây có duy trì tài khoản taị ngân hàng công thương nay đều tất toán rút về mở tại Ngân hàng Ngoại thương nên nguồn mua ngoại tệ của NHCT giảm đáng kể. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ thanh toán L/C của khách hàng ngày một gia tăng. Sự mở rộng khoảng cách giữa cung cầu ngoại tệ đã làm cho ngân hàng Công thương Việt Nam mất chủ động trong cân đối ngoại tệ. Hơn nữa, mặc dù đã đóng tài khoản tiền gửi ngoại tệ nhưng họ vẫn duy trì tài khoản tiền gửi VNĐ và hoạt động vay trả với ngân hàng công thương Việt Nam vì ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu của họ. Sự bất cập này tạo nên lợi thế cho ngân hàng Ngoại thương và bất lợi cho ngân hàng Công thương, một số khách hàng lớn có giao dịch với NHCT Đống Đa nay cũng phải tập trung về một tài khoản. Thực tế này đã làm cho nguồn ngoại tệ của chi nhánh giảm dẫn đến kinh doanh ngoại tệ gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, việc giảm tỷ trọng mua ngoại tệ từ ngân hàng công thương Việt Nam đối với chi nhánh lại càng khó khăn hơn.

              4.2.4 Ngân hàng Công thương Đống Đa ít nhận được đầy đủ thông tin và những dự báo về biến động trên thị trường ngoại tệ, về biến động tỷ giá. Về thế khi tỷ giá lên xuống đột ngột đã xảy ra trong năm 1998, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đã bị ảnh hưởng lớn.

    Nhìn chung, thực trạng kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh ngân hàng Công thương Đống Đa trong những năm qua được đánh giá là có hiệu quả và khá thành công. Để đạt được những thành tựu đó, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao của cán bộ công nhân viên trong ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Muốn hoạt động kinh doanh  ngoại tệ của Ngân hàng phát triển, có vị trí và tầm quan trọng xứng đáng trong tổng thể hoạt động của một ngân hàng thương mại hiện đại trong thế kỷ 21, tất cả những hạn chế trên trong hoạt động này của NHCT Đống Đa đòi hỏi cần phải giải quyết, khắc phục bởi chính ngân hàng cũng như các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Chương III của luận văn này sẽ nêu ra một số ý kiến của tác giả về những vấn đề trên.

     

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI  CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐỐI NGOẠI CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2001

    Như chúng ta đã biết, NHCT khu vực Đống Đa được tách từ NHNN ngày 1/7/1988, kể từ ngày đó ngâ hàng thực hiện chế độ hoạch toán kinh doanh XHCN

    Theo cơ chế thị trrường. NHCT Đống Đa là một chi nhánh thực thuộc NHCT Việt Nam. Vì vậy, mọi định hướng hoạt động của NHCT Việt Nam đều có tác động tầm vĩ mô tới hoạt động của NHCT Đống Đa.

    Một trong những cơ sở quan trọng để đưa ra giải pháp và kién nghị nhằm thúc đảy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHCT Đống Đa, dó là định hướng hoạt động kinh doanh đối ngoại của NHCT Việt Nam  đến năm 2001.

    * Tăng cường khai thác các nguồn vốn vay nước ngoài cho các dự án trung và dài hạn của các doanh nghiệp dưới mọi hình thức như định chế tàI chính, uỷ thác vay vố từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân nước ngoài , thực hiện tốt các dự án vay dài hạn của các tổ chức quốc  tế như : Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á …

    *Chấp hành nghiêm chỉnh quy định của NHNN và yêu cầu của tổ chức cấp vốn vay.

    * Khai thác triệt để mọi khoản tàI trợ của tổ chức nước ngoàI, giúp đỡ về mặt kỹ thuật nhằm đổi mới công nghệ ngân hàng và đào tạo cán bộ.

    * Định hướng chiến lược Marketing ngân hàng nhằm mở rộng thị trường hoạt động, nâng cao uy tín của NHCT Việt Nam trên thương trường khu vực và quốc tế, tranh thủ mọi thuận  lợi đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro trong kinh doanh hối đoái và quan hệ đối tác với nước ngoài.

    * Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh đối ngoạI bao gồm: Thanh toán quốc tế, thanh toán biên giới, cho vay ngoại tệ và nhất là hoạt động mua bán ngoại tệ.

    * Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại bao gồm : Thanh toán quốc tế, mở rộng mạng lưới ngoại tệ cũng như thu đổi ngoạI tệ nhằm thu hút ngoại tệ trên thị trường vào ngân hàng.

     2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA.

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động tinh vi phức tạp và phải chịu nhiều ảnh hưởng của các biến cố kinh tế, chính trị, văn hoá… Chính vì vậy, nó đòi hỏi tất cả các ngân hàng thương mại, với chức năng tài chính, hỗ trợ phát triển cho toàn bộ nền kinh tế nói  chung và lĩnh vực kinh doanh đối ngoại nói riêng phảI cóa những chiến lược kinh doanh hợp lý thích hợp với từng thời kỳ mang lạI những thành công tốt đẹp hiệu quả kinh tế cao, các giải pháp cụ thể là:

              2.1. Đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh ngoại tệ sẽ giúp ngân hàng mở rộng quy mô kinh doanh, tạo sự tăng trưởng về lượng và chất trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ, đồng thời góp phần vào sự phát triển tổng thể các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

     2.1.1.  Đối với nghiệp vụ ngoại hối giao ngay: Ngân hàng cần tiếp tục mở rộng quy mô các loại hình nghiệp vụ này, với các biện pháp sau :

    1. Mở rộng quan hệ với các NHTM khác, các ngan hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài, luôn giữ uy tín trong quan hệ giao dịch thương mại.
    2. Thu hút số lượng khách hàng giao dịch ngoại tệ cới ngân hàng:

    – Hiện nay, ngân hàng đang quy định phí giao dịc là 0,05 % là mức tối đa cho phép của NHNN. Vì vậy, NHCT Đống Đa có thể hạ thấp các mức phí trong đIều kiện cho phép.

    – Luôn vì lợi ích của khách hàng thanh toán đúng hạn, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng, giữ uy tín với khách hàng .

    – Mở rộng giao dịch với các loại ngoại tệ khác như: SGD,CHF, FRF, JPY…

    1. NHCT cần phải chủ động nguồn vốn ngoại tệ để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng cũng như mọi nhu cầu phát sinh khác xẩy ra một cách kịp thời nhanh chóng.

               2.1.2. Đối với nghiệp vụ SWAP.

    1. Trước hết cần phải làm cho khách hàng hiểu rõ về nghiệp vụ này và lợi ích của chúng. Hiện nay nói chung những hiểu biết về giao dịch hối đoái nhằm phòng tránh rủi ro trên ở các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao. Vì vậy, nhu cầu sử dụng các giao dịch còn hạn chế. NHCT Đống Đa có vai trò quan trọng là hướng dẫn, giới thiệu về các nghiệp vụ cho khách hàng để họ có thể sử dụng chúng hiệu quả trong kinh doanh.
    2. Các cán bộ kinh doanh ngoại tệ cần được đào tạo một cách cơ bản và thường xuyên. Hơn nữa họ không chỉ giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước, nhằm tránh rủi ro cho ngân hàng và thu lợi nhuận nhiều nhất có thể cho ngân hàng.

    2.2  Chủ động trong khai thác các nguồn ngoại tệ .

    2.2.1. Tăng cương hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để chủ đôngj nhiều hơn trong khai thác nguồn ngoại tệ với quy mô lớn hơn, chi phí thấp và ngân hàng sẽ có điều kiện để phát triển nghiệp vụ liên ngân hàng của mình.

               2.2.2.  Chủ động thu hút nguồn ngoại tệ trên thị trường.

    1. Mở rộng và thu hút nguồn ngoại tệ tiền gửi của dân cư.
    2. Thu hút ngoại tệ từ nguồn kiều hối gửi về trong nước: Hiện nay nguồn kiều hối gửi về qua NHCT Đống Đa không nhiều, song với chính sách tỷ giá hiện hành, tỷ giá mua bán trên thị trường tự do đã chênh lệch không nhiều. Vì vậy, ngân hàng cần tạo sự tiện íc cho khách hàng để khách hàng có đIều kiện trực tiếp tiếp cận với ngân hàng hoặc bán cho ngân hàng nếu cần.

    2.3. Thúc đẩy hoạt động có liên quan tới kinh doanh ngoạI tệ của ngân hàng.

               2.3.1. Cho vay ngoại tệ.

    Hiện nay ngân hàng cho vay ngoại tệ chủ yếu với khách hàng nhập khẩu thời gian ngắn. Ngân hàng cần mở rộng hoạt động này với các biện pháp sau:

    1. Tiếp tục thực hiện chính sách khách hàng, tạo sự tin cậy với số lượng khách hàng quen thuộc có uy tín, có lãi suất ưu đãi.

    b Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ thẩm đinh tín dụng để họ không chỉ xem xét khả năng trả nợ cho khách hàng mà còn tư vấn cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của họ, ngân hàng cần phải phân công từng nhóm cán bộ  phụ trách từng bộ phận nhất định , ngoài ra, NHCT Đống Đa cũng thực hiệncho vay tài trợ xuất khẩu bằng cách chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất. Đây là hình thức tài trợ của ngân hàng đối với khách hàng xuất khẩu sau khi họ đã xuất được hàng.

    Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên phàn thực trạng lượng khách hàng xuất khẩu qua ngân hàng rất ít (20% ) nên ngân hàng khôngcó được nguồn ngoại tệ trực tiếp này. Vì vậy, để thu hút khách hàng xuất khẩu ngân hàng cần tài trợ từ giai đoạn sản xuất hoặc thu gom hàng xuất khẩu. Với hình thức này, ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, nên ngân hàng cần áp dụng một số bắt buộc đối với doanh nghiệp như: Cán bộ ngân hàng thường xuyên đến cơ sở để kiểm tiến độ sản xuất, mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng thanh toán hàng xuất nhập khẩu qua ngân hàng.

              2.3.2. Thanh toán quốc tế.

    Để hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng mở rộng, NHCT Đống Đa cần được có ccs biện pháp như sau :

    1. Có chính sách thu hút khách hàng xuất nhập khẩu giao dịch qua ngân hàng : Ngoài các biện pháp tài trợ xuất nhập khẩu ở trên ,ngân hàng cần phát huy hơn một số biện pháp như : giảm chi phí giao dịch cho khách hàng quen, có uy tín tư vấn cho khách hàng về thanh toán quốc tế phương thức thanh toán có lợi nhất cho khách hàng tổ chức thực hiện nghiệp vụ theo khoa học hợp lý, phục vụ nhu cầu giao dịch của khách hàng một cách nhanh chóng.
    2. Mở rộng quan hệ đối ngoại với các ngân hàng khác, nhất là các ngân hàng nước ngoài để trợ giúp đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn và khai thác các thông tin kinh tế.

     2.4. Đầu tư trang thiết bị phục vụ cho việc kinh doanh ngoại tệ và chính sách phát triển nhân lực .

    Trong điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công nghẹ ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu của toàn ngành ngân hàng. việc máy tính hoá các nghiệp vụ ngân hàng là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

    Thực trạng tại phòng kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh NHCT Đống Đa cho thấy hệ thống mạng mà phòng đang sử dụng đã khá cũ, không thuận tiện cho việc nắm bắt và xử lý thông tin ngày nay. Chính vì thế mà ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng cập nhật thông tin.

     2.4.1. NHCT Đống Đa cần trang bị những thiết bị, hệ thống thông tin hiện đại hơn, phục vụ cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Trong thời gian trước mắt, ngân hàng cần đầu tư để có sự liên kết mạng hệ thống thông tin với các ngân hàng khác trên trên TTNTLNH và NHNN một cách linh hoạt, nhánh chóng để hoạt động có hiệu quả trên thị trường này.

    2.4.2. Chính sách phát triển nhân lực trên hai hướng chính sau.

    1. Chính sách đào tạo: Kinh doanh ngoại tệ là một lĩnh vực mới , nhạy cảm và sẽ là một hoạt động ngày càng phát triển trong mô hình hiện đại. Vì vậy, NHCT Đống Đa cần có chính sách đầu tư thích đáng, tài trợ cho các ccán bộ chuyên môn đi học tập, nâng cao trình độ trong và ngoài nước, đào tạo đIều kiện khuyến khích các cán bộ đhược học trong khả năng, có chính sách đái ngộ xứng đáng với các cán bộ có năng lực.
    2. Chính sách tuyển dụng : Ngân hàng cần có chế độ tuyển dụng một cách khắt khe hơn, sắp xếp sử dụng cán bộ chuyên môn để tạo hiệu cao nhất trong công việc, một phong cách văn hoá giao tiếp cởi mở, văn minh lịch sử, thái độ phong cách giao tiếp chính là nghệ thuật giữ khách hàng có hiệu quả cao nhất trong Marketing ngân hàng hiên nay , các ngân hàng thường chú trọng về chính sách quảng cáo, khuyếch trương tạo sự tín nhiệm… giúp khách hàng hiểu biết về ngân hàng do quảng cáo không mang tính chất bền vững mà chính là do các hoạt động giao tiếp hàng ngày của ngân hàng. Bởi vậy, phong cách giao tiếp sẽ tạo tâm lý hài lòng thoả mái với khách hàng- người đến giao dịch với ngân hàng ngất là trong xu thế cạnh tranh thu hút khách hàng hiện nay cuả các ngân hàng.

    Trong thời gian tới NHCT Đống Đa cần chú trọng những vấn đề sau:

    +  Tổ chức hội nghị khách hàng thông qua giới thiệu cho họ về chính sách của nhà nước, các loại hình nghiệp vụ mới như mua bán kỳ hạn, hoán đổi và những lợi ích của chũng nhằm giúp họ nhận thức đúng đắn về các nghiệp vụ đó, một mặt hạn chế được rủi ro trong kinh doanh mặt khác phối hợp với ngân hàng thực hiên chính sách của nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

    + Điều trăn trở của các cánbộ nhân viên phòng kinh doanh đối ngoại tại NHCT Đống Đa là các anh chị nhận thức những thông tin và những dự báo về thị trường kinh doanh ngoại tệ trong nước và trên thế giới để có thể đIều chỉnh tham khảo trong kinh doanh ngoại tệ. Về vấn đề này phòng thanh toán quốc tế xin kiến nghị với hiệp hội ngân hàng và NHCT Việt Nam cần thường xuyên có các buổi hội thảo chuyên đề kinh doanh ngoạI tệ, các buổi nói chuyện về tình hình kinh tế chính trị của các nước trên thế giới, trong đó cung cấp những thông tin cần thiết và đáp ứng những thắc mắc của chi nhánh NHCT Đống Đa.

     3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

     3.1. Kiến nghị với NHCT Việt Nam.

    * Ngân hàng công thương Việt Nam nên cho phép các chi nhánh được mua bán ngoại tệ với nhau.

    * Tổ chức khai thác và cung cấp một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác cho toàn bộ hệ thống các tin kinh tế trong nước và ngoài nước, các tin về khách hàng nước ngoài … có liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    * Tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn nghiệp vụ về thanh toán quốc tế và các hội thảo giải đáp những vương mắc trong thanh toán quốc tế của chi nhánh.

    * NHCT Việt Nam cần có biện pháp cải tiến thông tin để thời gian chuyển bức điện từ chi nhánh sang nước ngoài được nhanh hơn.

    * Hàng năm NHCT Việt Nam cần tổ chức hội nghị tổng kết về hoạt động kinh doanh đối ngoại nhằm tạo đIều kiện cho các chi nhánh trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

    3.2. Kiến nghị với NHNN

    3.2.1. Chính sách tỷ giá hối đoái.

    Với ba quyết định số : 64/1999/ QĐ/NHNN7 về việc công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam so với các loạIingoại tệ, quyết định số 65/1999/QĐ/NHNN7 về quy định tỷ giá mua bán ngoạI tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ và quyết định 298/2000/QĐ/NHNN, cơ chế tỷ giá và đièu hành tỷ giá của nước ta được thay đổi cơ bản, tỷ giá công bố đã công bố phản ánh  một cách khách quan thị trường và quan hệ cung cầu trên thị trường, đồng thời NHNN vẫn thể hiện được vai trò nhất định trong điều kiện thị trường hối đoái nước ta chưa hoàn thiện. Thực tế cho thấy sự thay đổi này đã tạo thuận lợi hơn nhiều cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các ngân hàng.

    Tuy nhiên, để cơ chế trên phát huy có hiệu quả, NHNN cần tập trung hoàn thiện ccác vấn đề có tính chất then chốt sau đây:

    1. củng cố và phát triển TTNTLNH một cách căn bản để phát triển thị trường ngoại hối ở nước ta. TTNTLNH phải hoạt động thông suốt, liên tục, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian, số thành viên tham gia thị trường lớn tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh và sôi động trên thị trường.
    2. Củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ hoạt động của nó.
    3. NHNN cần nâng cao dự trữ ngoại tệ tương xứng với nhịp độ tăng trưởng của kim ngạch xuất nhập khẩu, từ đó NHNN đảm bảo được vai trò là người mua người bán cuối cùng trên TTNTLNH, đủ sức can thiệp vào thị trường khi tỷ giá thị trường có sự biến động ảnh hưởng tới nền kinh tế, cơ cấu đự trữ ngoại tệ cũng được tính toán hợp lý, giảm thiểu sự phụ thuộc vào đồng USD.

    3.2.2. Chính sách ngoại hối.

    1. NHNN cần xây đựng quy chế thông tin, thống kê hệ thống hoá kịp thời số liệu nguồn ngoại tệ ra vào trong nước từ đó có dự báo về quan hệ cung cầu trên thị trường làm căn cứ điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối kịp thời.
    2. Các quy định về quản lý ngoại hối hiện hành phải được thực hiện nghiêm chỉnh, có cơ sở nghiêm minh mọi nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế đều phảI được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng . NHNN tạo đIều kiện cho các loại ngoại tệ tự do song hành với thị trường chính thức, gây ra những bất ổn mà NHNN không kiểm soát được.

              3.2.3. Đầu tư hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

    Để có cơ hội  theo kịp các nước trong khu vực và thế giới, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam cần đảm bảo tương đối tốt vai trò mở đường và thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Muốn vây, nhu cầu cần thiết trước mắt phải là thường xuyên đầu tư, nâng cấp công nghệ ngân hàng. Chi phí thực hiện rất cao, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ, NHNN cần kêu gọi sự đầu tư, giúp đỡ của các tổ chức tài chính quốc tế, ciùng với sự nỗ lực của mỗi ngân hàng Việt Nam. Để nâng cao công nghệ hoạt động ngân hàng tránh sự tụt hậu đối với thế giới.

    3.2.4. Một số văn bản liên quan đến kinh doanh ngoại tệ của các NHTM. 

    1. Về kỳ hạn của hợp đồng giao dịch SWAP.

    Trong giao dịch SWAP ngoại tệ có hình thức giao dịch trong đó hai bên ngoài việc trao đổi tiền vốn gốc vào thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm kết thúc hợp đồng, hai bên còn trao đổi với nhau lãi suất của đồng tiền mình vay vào thời điểm thời hạn, trong khi SWAP còn có hiệu lực. Với các loại lãi suất thay đổi hay cố định được trao đổi theo SWAP, NHTM có thể thực hiện sử dụng hình thức này nhằm phòng tránh rủi ro về lãi suất có hiệu quả. Vậy NHNN nên quy định hình thức này vào ” Quy chế giao dịch hối đoái ” đồng thời  không nên quy định thời hạn tối đa của SWAP vì với SWAP có lãi suất cố định thì cần thời hạn tương đối dài.

    1. Về hình thức cho vay bằng ngoại tệ tài trợ xuất nhập khẩu : Hiện nay, NHNN không cho phép vay xuất khẩu bằng ngoại tệ. Tuy nhiên, hình thức này rất có lợi dựa vào các lý do sau:

    + Xét về khả năng thu hồi nợ khá đảm bảo nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu (trong khi cho vay để thanh toán L/C rất khó để tạo nguồn trả nợ lại bằng USD)

    + Hình thức cho này tạo cho khách hàng xuất khẩu có trạng thái ngoại tệ đóng tránh được rủi ro hối đoái. Bởi vì, ngoài USD, khách hàng còn vay ngoại tệ khác như : DEM, JPY, FRF …

    + Nhà xuất khẩu không chỉ sử dụng nhân công và nhiên liệu trong nước mà có khi phải nhập khẩu một số vật tư, thiết bị từ bên ngoài.

    1. Quy định tỷ giá kỳ hạn :

    NHNN hiện nay đang quy định cách tính tỷ giá kỳ hạn bằng cách khống chế mức tối đa được phép dựa trên tỷ giá giao ngay, được phép cộng với tỷ lệ % nào đó tuỳ theo từng kỳ hạn. Với quy định này, NHNN có thể kiểm soát chiều mất giá đồng Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ giá kỳ hạn thực chất được tính toán dựa trên cơ sở chênh lệch lãI suất giữa hai đồng tiền và stỷ giá giữa chúng tạI thời đIểm ký hợp đồng. Nếu một trong hai bên không tham gia sẽ bị thiệt hại, ĐIều mà không bên nào muốn. Vì vậy, để tiến dtới hoàn thiện thị trườnghối đoáI ở Việt Nam. NHNN nên quy định cách tính tỷ giá kỳ hạn một cách tổng quát dựa trên chênh lệch lãI suất thay vì cách tính có tính hành chính hiện nay.

    1. Ngoài ra, NHNN cần nghiên cứu đưa ra những quy định cụ thể hơn về chế độ hoạch toán kế toán mới. Một số nghiệp vụ khác như: Giao dịch tương lai, giao dịch lựa chọn … cũng cần được phát triển ngày càng hoàn thiện thị trường hối đoái ở Việt Nam.

    Trong nền kinh tế mở các hoạt  động liên quan đến một lượng ngoại tệ lớn và nhu càu mua bán trao đổi ngoại tệ của họ trên thị trường rất đa dạng. Trong khi đó, sự hiểu biết về thực chất cũng như lợi ích của các doanh nghiệp mua bán kỳ hạn hoán đổi còn thấp. Do vậy họ chỉ mua bán ngoại tệ với các NHTM dưới hình thức giao ngay hoặc chuyển khoỉan. Đây là điều khó khăn đối với ngân hàng trong việc mở rộng các loại hình dịch vụ.

    3.3. Một số kiến nghị khác.

    3.3.1. Việc niêm yết tỷ giá của NHCT Vệt Nam hiện nay đang gây trở ngại đối với khu vực Đống Đa nói riêng trong giao dịch với khách hàng. Nhiều khi khách hàng đến giao dịch với chi nhánh vì chưa có tỷ gía nên họ phải chờ đợi, điều này không những tạo tâm lý không tốt cho họ mà còn ảnh hưởng tới công viêc kinh doanh của họ. Chính sự hạn chế này đã đẩy họ đế quyết định không giao dịch với ngân hàng mà giao dịch trên thị trường tự do. Bên cạnh đó, sự giới hạn này đã hạn chế việc nhận thức và tính nhạy bén của chi nhánh đối với việc tỷ giá lên xuống hàng ngày. Trên thị trường giá USD và các loại ngoại tệ khác thay đổi thường xuyên nếu như không nắm bắt được thực trạng biến động của thị trường thì việc đưa ra quyết định là rất khó khăn. Do đó, đề nghị NHCT Việt Nam xem xét vấn đề này nhằm tạo điều kiện cho các chi nhánh trong việc thanh toán, phân tích và có quyết định đúng đắn. Từ đó góp phần vào thực hện mục tiêu chung của toàn hệ thống và các chi nhánh NHCT.

              3.3.2. Kiểm soát trạng thái ngoại tệ kinh doanh.

    Tuy NHCT Đống Đa không thuộc đối tượng báo cáo theo quyết định số 18/QĐ- NHNN7 nhưng việc kiểm soát trạng thái ngoại tệ đối với chi nhánh không phải là không quan trọng. Trong những năm qua, chi nhánh đã cố gắng thực hiện mục tiêu mua vào bao nhiêu bán hết bấy nhiêu để tránh xuất hiện trạng tháI ngoạI tệ. Vì vậy, để tiếp tục thực hiện mục tiêu này trong năm thán cuối cùng của năm 2000 và những năm tiếp theo chi nhánh cần có kế hoạch mua bán sát với nhu cầu để hạn chế trạng thái ngoại tệ tránh tình trạng hình thành trạng thái ngoại tệ theo xu thế dương. chỉ gồm các ngoại tệ xuống giá và trạng thái âm chỉ toàn những ngoại tệ đang lên giá.

    KẾT LUẬN

    Cùng với xu thế phát triển và hội nhập của nước ta hiện nay, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ đang trở thành bức thiết đối với các NHTM Việt Nam. Tiến tới mô hình ngân hàng hiện đại trong thế kỷ mới, đáp ứng được vai trò tiên phong cho các hoạt động kinh tế. Là một lĩnh vực còn rất mới mẻ, kinh doanh ngoại tệ không chỉ đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải đầu tư lớn về các thiết bị công nghệ hiện đại mà còn phải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có năng lực, trình độ cao, hiểu biết sâu sắc và tổng hợp về tài chính và tiền tệ. Vì vậy, những nghiên cứu và lý luận về hoạt động này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay

    Với  mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào các nghiên cứu đó, bản chuyên đề được hoàn thành với các nội dung cơ bản sau

    + Tổng những kiến thức cơ bản về kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, nhất là nghiệp vụ kinh doanh thực hiện và đIều kiện thực hiện chúng .

    + Phân tích thực trạng hoạt động này tại NHCT Đống Đa. Qua đó, đánh giá những kết quả và hạn chế còn tồn tại ở ngân hàng, phân tích những nguyên nhân của nó.

    + Đưa ra các giải pháp kiến nghị với NHCT Đống Đa để góp phần tháo gỡ những hạn chế, khó khăn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng, đồng thời có những kiến nghị với NHCT Việt Nam, NHNN để hỗ trợ cho việc thực hiện trên tại NHCT Đống Đa

    Với những hiểu biết còn hạn chế, em mong được nhiều ý kiến đóng quý báu của các thầy cô và độc giả để chuyên đề có điều kiện bổ sung và hoàn thiện hơn sau này.

    Một lần nữa em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn TS: Nguyễn Quang Ninh, người đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình viết báo cáo thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp. Xin cảm ơn các anh chị đã giúp đỡ em trong đợt thực tập tại Ngân Hàng Công Thương Đống Đa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. “Ngân hàng Thương mại” (Edward W. Reed, Ph.D và Edward.K.Gill Ph.D)

    Nhà xuất bản TP.Hồ Chí Minh (1993)

    1. “Thương mại và việc xác định tỷ giá trên thị trường hối đoái” (Peter Fischer)

    Văn phòng dự án Đức – Viện Ngân hàng 1993

    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (Fredenc S. Miskin)
    2. Các văn bản pháp luật ngân hàng từ năm 1990 – 2001.
    3. Tạp chí Ngân hàng năm 1996 -> 2001
    4. Các báo : Thời báo kinh tế Việt Nam, báo Đầu tư năm 1998 -> 2001.
    5. Quyết định 196 / QĐ – NH14 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam
    6. Quyết định 173 /QĐ – TTg của thủ tướng chính phủ ngày 12/9/1998
    7. Báo cáo kinh doanh đối ngoại của ngân hàng Công thương Việt Nam 1995 – 2000
    8. Báo cáo thường niên của ngân hàng Công thương Đống Đa 1996 – 2000
    9. Tiền và hoạt động ngân hàng. Lê Vinh Danh (Nhà xuất bản chính trị quốc gia)

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:LIỆU CÓ NÊN CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUA CỔ PHẦN BẰNG NGOẠI TỆ HAY KHÔNG?


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ho%C3%A1n-%C4%91%E1%BB%95i-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    LỞI MỞ ĐẦU

    Thị trường ngoại hối Việt Nam tuy đã được hình thành song còn ở mức sơ khai và chưa phát triển. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối còn nghèo nàn, đại đa số các NH chỉ tiến hành nghiệp vụ giao ngay phục vụ khách hàng trong việc thanh toán và kinh doanh tiền gửi trên thị trường quốc tế, chưa kinh doanh ngoại tệ kiếm lời một cách thực sự và chú trọng đến việc phòng ngừa rủi ro thông qua các công cụ ngoại hối phái sinh như hợp đồng kì hạn và hợp đồng hoán đổi.

    Trên thị trường ngoại hối quốc tế, các nghiệp vụ kinh doanh đã đạt đến một

    trình độ cao, ngoài giao dịch giao ngay còn bao gồm:

    • Giao dịch kì hạn
    • Giao dịch tương lai
    • Giao dịch hoán đổi
    • Giao dịch quyền chọn.

    Trong đó giao dịch hoán đổi được sử dụng như một công cụ chuyên nghiệp trong việc phòng ngừa rủi ro tỉ giá cũng như kinh doanh ngoại hối kiếm lời. Tại Việt Nam, do thị trường ngoại hối chưa hoàn thiện và còn kém phát triển cho nên các sản phẩm tài chính trên thị trường rất hạn chế và chật hẹp. Các công cụ ngoại hối phái sinh như giao dịch hoán đổi tuy đã được sử dụng nhưng rất ít và hiệu quả không cao, các NHTM chỉ sử dụng nó với tư cách là một biện pháp mang tính tạm thời với NHNN khi quá thiếu vốn VND. Mặc dù không thể phủ nhận rằng, nghiệp vụ này mang lại rất nhiều lợi ích cho các chủ thể khác nhau trên thị trường ngoại hối, đặc biệt phù hợp trong điều kiện của Việt Nam hiện nay khi mà các hoạt động kinh doanh XNK đang trên đà phát triển, các hoạt động đầu tư, tín dụng ngày một khởi sắc. Việc sử dụng một công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá, bảo đảm an toàn vốn mặt khác có thể xử lí trạng thái luồng tiền, gia tăng vốn ngắn hạn tạm thời mà không làm gia tăng những rủi ro kèm theo như hoán đổi ngoại hối là hết sức cần thiết. Song tại Việt Nam, đây còn là một nghiệp vụ khá mới mẻ. NHNN đã ra quyết định cho phép các NHTM, được phép tiến hành giao dịch hoán đổi với nhau và với khách hàng cũng

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 4

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    như là tiến hành với NHNN. Tuy nhiên thực tế quá trình tiến hành giao dịch còn nhiều

    yếu kém.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 5

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÁN ĐỔI

    1.1      Khái niệm

    Có nhiều loại hoán đổi khác nhau nên khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, nói chung một hoán đổi là một sản phẩm phái sinh tài chính bao gồm hai bên giao dịch thực hiện một chuỗi các thanh toán cho bên còn lại vào những ngày cụ thể.

    1.2 Các loại hoán đổi

    Dựa trên trạng thái của hàng hóa cơ sở thì có tất cả bốn loại hoán đổi cơ bản

    Hoán đổi tiền tệ: là chuỗi các thanh toán giữa hai bên mà cả hai tập hợp thanh

    toán đều dựa trên những đồng tiền khác nhau. Các khoản thanh toán này tương đương với các khoản thanh toán tiền lãi bởi vì chúng được tính toán như thể lãi suất được chi trả trên một số vốn khái toán cụ thể.

    Hoán đổi lãi suất: là chuỗi các thanh toán tiền lãi giữa hai phía. Mỗi tập hợp

    thanh toán được dựa trên lãi suất cố định hoặc thả nổi

    Hoán đổi chứng khoán: trong một hoán đổi chứng khoán tối thiểu một trong hai dòng tiền được xác định bởi giá của một chứng khoán, giá trị của một danh mục chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. Dòng tiền còn lại có thể được xác định bởi lãi suất cố định, lãi suất thả nổi chẳng hạn như LIBOR hoặc được xác định bởi giá trị của một chứng khoán, danh mục chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán khác.

    Hoán đổi hàng hóa: tối thiểu một khoản thanh toán phải được dựa vào giá cả

    của hàng hóa như dầu lửa, vàng. Khoản thanh toán còn lại thường được cố định nhưng cũng có thể được xác định dựa trên một vài loại tài sản có giá biến động.

    1.3      Các thuật ngữ được sử dụng trong một giao dịch hoán đổi

    Các hoán đổi luôn có một ngày bắt đầu, một ngày kết thúc và những ngày thanh toán

    Ngày thanh toán: là ngày mà việc thanh toán được thực hiện.

    Kỳ thanh toán: là khoản thời gian giữa các lần thanh toán.

    Không có các khoản thanh toán trước bằng tiền mặt từ một bên này cho bên kia.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 6

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Mỗi hoán đổi được cụ thể hóa bởi một số tiền giao dịch được gọi là vốn khái toán (notional principal).

    Các hoán đổi được chi tiết hóa một cách riêng biệt, nó là các công cụ OTC. Do đó hai bên tham gia thông thường bao gồm một nhà giao dịch, là một định chế tài chính cung cấp các hoán đổi trên thị trường và một người sử dụng cuối cùng. Khách hàng của nhà giao dịch thường là một doanh nghiệp, một quỹ hưu bổng, quỹ phòng ngừa rủi ro hoặc là một tổ chức nào đó. Đương nhiên, hoán đổi giữa các nhà giao dịch lẫn nhau cũng rất phổ biến.

    1.4 Hoán đổi tiền tệ

    1.4.1  Lịch sử của hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi tiền tệ ban đầu được hình thành vào những năm 1970 để phá vỡ kiểm soát ngoại hối ở Vương quốc Anh. Vào thời điểm đó, các công ty của Anh đã phải trả một khoản tiền cho vay bằng đô la Mỹ. Để tránh điều này, các công ty của Anh thiết lập các thỏa thuận vay trở lại với các công ty Mỹ có nhu cầu vay Sterling (đồng bảng Anh ngoài khu vực).

    Năm 1981, hoán đổi tiền tệ diễn ra giữa Ngân hàng Thế giới và IBM. WB muốn có franc Thụy Sĩ và nhãn hiệu của Đức bằng cách trao đổi lưu chuyển tiền tệ với IBM. Thỏa thuận này được môi giới bởi Salomon Brothers với một số lượng danh nghĩa của $ 210 triệu USD và thời hạn của hơn mười năm.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 7

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    U.S. Dollar

    World

    Bank

    Swiss Franc

    U.S. Dollar

    Payments to

    Investors

    Investors in U.S.

    dollar-denominated

    bonds issued by the

    World Bank

    IBM

    Swiss Franc

    Payments to

    Investors

    Investors in Swiss franc-denominated bonds issued by IBM

     

    World Bank-IBM Swap

    1.4.2  Khái niệm

    Hoán đổi tiền tệ là một chuỗi các thanh toán giữa hai bên mà cả hai tập hợp thanh toán đều dựa trên những đồng tiền khác nhau.

    Hợp đồng hoán đổi tiền tệ là một hợp đồng trao đổi những đồng tiền khác nhau, sau một khoảng thời gian nhất định số tiền đó sẽ được hoán đổi ngược trở lại như ban đầu. Một hợp đồng hoán đổi tiền tệ bao giờ được cấu thành từ 2 phần, bắt đầu là một vụ trao đổi tiền tệ (nhánh ngắn), và kết thúc bằng việc thực hiện một hợp đồng kì hạn.

    Hoán đổi tiền tệ có thể là hợp đồng ngắn hạn hoặc dài hạn, thời hạn của nó có thể kéo dài đến 10 năm hoặc hơn. Không giống như vay giáp lưng, theo luật kế toán của

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 8

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    một số nước, hợp đồng hoán đổi tiền tệ không được coi là một khoản vay, do đó nó không phản ánh trên bảng cân đối kế toán.

    1.4.3  Các loại hoán đổi tiền tệ

    Có tất cả bốn loại hoán đổi tiền tệ:

    Thanh toán cả hai đồng tiền theo lãi suất cố định. Cả hai thanh toán theo lãi suất thả nổi.

    Thanh toán đồng tiền đầu tiên theo lãi suất thả nổi và đồng tiền thứ hai theo lãi suất cố định.

    Thanh toán đồng tiền đầu tiên theo lãi suất cố định và đồng tiền thứ hai theo lãi suất thả nổi.

    1.4.4  Cấu trúc của một cấu trúc tiền tệ chuẩn

    Ví dụ :

    Reston thực hiện 1 hoán đổi tiền tệ với GSI theo nội dung công ty sẽ thực hiện một chuỗi các thanh toán tiền lãi mỗi nửa năm bằng Euro cho GSI với lãi suất 4,35% / năm, dựa trên số vốn khái toán là 10 triệu Euro.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 9

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    GSI sẽ trả cho Reston tiền lãi mỗi nửa năm bằng đồng USD với lãi suất 6,1%/năm trong vòng 2 năm, dựa trên số vốn khái toán là 9,804 triệu USD. Hai bên sẽ trao đổi vốn khái toán vào thời điểm bắt đầu và kết thúc của giao dịch.

    Ta có:

    Vào ngày bắt đầu hoán đổi:

    Reston trả cho GSI 9,804 triệu đôla

    GSI trả cho Reston 10 triệu euro

    Mỗi sáu tháng trong vòng hai năm

    Reston trả cho GSI: 0,0435x(180/360)x€10.000.000=€217.500

    GSI trả cho Reston: 0,061x(180/360)x$9.804.000=$299.022

    Vào ngày kết thúc của hoán đổi

    Reston trả cho GSI 10 triệu euro

    GSI trả cho Reston 9,804 triệu đôla.

    Dòng tiền của một hoán đổi tiền tệ từ quan điểm của Reston

    1.4.5  Những điểm khác biệt giữa hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Hoán đổi lãi suất dòng thanh toán chỉ tính trên một đồng tiền duy nhất, còn

    hoán đổi tiền tệ được tính toán dựa trên hai đồng tiền khác nhau.

    Trong một hoán đổi tiền tệ có hai vốn khoái toán, mỗi số vốn được định danh bằng một trong hai đồng tiền. Còn trong hoán đổi lãi suất chỉ có một vốn khoái toán.

    Trong hoán đổi lãi suất, số vốn khoái toán không bao giờ được thanh toán, còn

    hoán đổi tiền tệ số vốn khoái toán có thể được trao đổi vào thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc đời sống của hoán đổi tùy theo yêu cầu của các bên.

    1.4.6  Định giá và giá trị hoán đổi tiền tệ

    1.4.6.1 Các ký hiệu và công thức

     

    NPf

    NPh

    S0

    số vốn khoái toán định danh bằng đồng ngoại tệ số vốn khoái toán định danh bằng đồng nội tệ tỷ giá hối đoái tại thời điểm bắt đầu hoán đổi

    St             tỷ giá hối đoái tại thời điểm kết thúc hoán đổi

    Rf             lãi suất cố định của hoán đổi lãi vanilla thuần nhất định danh bằng

    đồng ngoại tệ

    Rh            lãi suất cố định của hoán đổi lãi vanilla thuần nhất định danh bằng

    đồng ngoại tệ

    (    ) giá trị của khoản thanh toán cố định (thả nổi) của số vốn khoái toán

    định danh bằng đồng ngoại tệ

    • (V ) giá trị của khoản thanh toán cố định (thả nổi) của số vốn khoái toán định danh bằng đồng nội tệ

    q               = số ngày/360

    ( )           lãi suất LIBOR n ngày vào ngày t

    • giá chiết khấu của trái phiếu zero coupon với lãi suất L (n)

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 11

     

    Hoán đổi ngoại tệ     GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng
                   
                   
    1   1 − ( )    
    =           (1)
      ( )
    = 1 + ( ) ∗     (2)  
             
    1 +  ( ) ∗ ( )/360
                             
    • ∗ ∗  (  ) +   (  ) (3)

    1.4.6.2 Định giá một hoán đổi tiền tệ

    Ta thấy rằng, việc hoán đổi tiền tệ cũng giống như việc một công ty phát hành một trái phiếu định danh bằng đồng tiền này, lấy số tiền đó mua lại một trái phiếu của một công ty khác định danh bằng đồng tiền khác. Trong thời gian còn hiệu lực của trái phiếu, công ty sẽ phải nhận lãi bằng đồng tiền này và trả lãi bằng đồng tiền kia. Nhưng sự thật thì công ty không hề phát hành hay mua bất kỳ một trái phiếu nào. Các công ty thực hiện giao dịch hoán đổi nhưng việc thanh toán lại diễn ra giống như giao dịch trái phiếu.

    Hoán đổi tiền tệ là một giao dịch với hai dòng tiền tệ, một dòng tiền bằng đồng tiền này và dòng tiền còn lại bằng một đồng tiền khác. Mỗi dòng tiền dựa trên một số vốn khoái toán khác nhau và mỗi dòng tiền có thể có lãi suất cố định hay thả nổi. Để xác định giá trị của hoán đổi tiền tệ chúng ta phải tìm được hiện giá của hai dòng tiền nay, cả hai được tính bằng một đồng tiền chung. Chúng ta lấy giá trị dòng tiền vào trừ cho giá trị của dòng tiền ra.

    Trong hoán đổi vanilla thuần nhất, chúng ta không hoán đổi vốn khoái toán nhưng trong hoán đổi tiền tệ thì hoán đổi vốn khoái toán có xảy ra. Hai bên giao dịch hoán đổi NPf và NPh vào thời điểm bắt đầu. Hoán đổi này không có giá trị vì hai khoản tiền này là tương đương (NPf = NPh /S0). Khi hoán đổi kết thúc, các bên sẽ đảo ngược lại

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 12

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hoán đổi vốn khoái toán ban đầu. Tuy nhiên, tại thời điểm này thì tỷ giá giao ngay không còn là S0 nữa vì vậy mà hoán đổi vốn khoái toán không còn giá trị tương đương.

    Trong hoán đổi, giả dụ rằng việc thanh toán được thực hiện bằng đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, trước hết chúng ta phải xác định lãi suất cố định của một đồng tiền nào đó (ngoại tệ hoặc nội tệ) mà nó làm cho hiện giá của khoản thanh toán bằng với số vốn khoái toán cơ bản (1 đồng nội tệ hoặc ngoại tệ). Ở đây chúng ta sẽ sử dụng lãi suất cố định của một hoán đổi lãi suất vanilla thuần nhất sử dụng cấu trúc kỳ hạn của ngoại tệ hay nội tệ .

    Mặc dù giá trị của hoán đổi bằng 0 vào thời điểm bắt đầu nhưng sau đó giá trị của nó sẽ thay đổi. Giá trị của hoán đổi tiền tệ được xác định bằng cách tìm hiện giá của hai dòng thanh toán trên một đơn vị khoái toán. Sau đó chúng ta sẽ điều chỉnh giá trị của dòng thanh toán ngoại tệ bằng vốn khoái toán thực tế theo ngoại tệ và sau đó chuyển sang nội tệ theo tỷ giá hối đoái mới.

    Ví dụ minh họa: ta có thể tóm tắt giao dịch hoán đổi giữa công ty XYZ và Ngân hàng

    ACB như sau:

    NPf = 100.000 USD

    NPh = 2.100.000.000 VND

    S0 = 21.000 VND/1USD

    St = 21.050 VND/1USD

    q = 180/360

    Các bước thực hiện

    Bước 1: Tìm lãi suất cố định của hai đồng tiền

    Các cấu trúc kỳ hạn, giá trái phiếu chiết khấu và kết quả lãi suất cố định của hoán đổi được cho như sau:

    Kỳ hạn Lãi suất của USD Giá trái phiếu chiết khấu ( )
           

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 13

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    180 ngày   4,2%                     1/(1+4,2%*(180/360)) = 0,9747      
                                                                                           
    360 ngày   4,2%                     1/(1+4,2%*(360/360)) = 0,9506      
                                                                                           
    540 ngày   5%                       1/(1+5%*(540/360)) = 0,9302      
                                                                                           
    720 ngày   5,3%                     1/(1+5,3%*(720/360)) = 0,9042      
                                                                                           
                                                                                       
        = 360                       1 0,9042               = 5,1%        
                                                                       
        180       0,9747 + 0,9506 + 0,9302 + 0,9042        
                             
                                                                                           
                                                                   
    Kỳ hạn                 Lãi suất của VND                 Giá trái phiếu chiết khấu ( )
                                                               
    180 ngày     12,1%                       1/(1+12,1%*(180/360)) = 0,9430  
                                                               
    360 ngày       12,3%                         1/(1+12,3%*(360/360)) = 0,8905  
                                                                 
    540 ngày       13%                           1/(1+13%*(540/360)) = 0,8368    
                                                               
    720 ngày       13,5%                         1/(1+13,5%*(720/360)) = 0,7874  
                                                                 
                                                           
                =     360                   1 0,7874                 = 12,3%      
                                               
                  180       0,9430 + 0,8905 + 0,8368 + 0,7874      
                                     
                                         
                                                                                           

    Bước 2: Định giá hoán đổi tiền tệ trong suốt đời sống của nó

    Hoán đổi của XYZ – ACB sau khi thực hiện được ba tháng (90 ngày), cấu trúc kỳ hạn mới và giá của trái phiếu zero-coupon của các đồng tiền:

    Kỳ hạn Lãi suất của USD Giá trái phiếu chiết khấu ( )  
             
    90 ngày 4,4% 1/(1+4,4%*(90/360)) = 0,9891    
             
    270 ngày 4,5% 1/(1+4,5%*(270/360)) = 0,9674    
           
             
           
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22 Trang 14  

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

      450 ngày         4.9%   1/(1+4,9%*(450/360)) = 0,9423
                                                 
      630 ngày         5,8%   1/(1+5,8%*(630/360)) = 0,9079
                                             
                                                 
        = (1 + 4,2% 180/360) * 0,9891 = 1,0099    
                                                 
                                     
          =   5,1%         ( 0,9891+ 0,9674 + 0,9423 + 0,9079) + 0,9079  
                     
                                                 
                                     
    = 1,0050                          
                                                 
      Kỳ hạn       Lãi suất của VND Giá trái phiếu chiết khấu ( )
                                               
      90 ngày     12,1%   1/(1+12,1%*(90/360)) = 0,9706  
                                               
      270 ngày     12,4%   1/(1+12,4%*(270/360)) = 0,9149  
                                               
      450 ngày     13,1%   1/(1+13,1%*(450/360)) = 0,8593  
                                               
      630 ngày     13,7%   1/(1+13,7%*(630/360)) = 0,8066  
                                             
                                         
      = (1 + 12,1% 180/360) * 0,9706 = 1,0293      
                                               
                                 
        =   12,3%         ( 0,9706+ 0,9149 + 0,8593 + 0,8066) + 0,8066    
                     
                                               
                                     
    = 1,0250                            
                                               

    Giá trị số vốn khái toán thực tế của hoán đổi:

    USD                                                               VND

    Thả nổi 100.000 * 1,0099 = 100.990 2.100.000.000 * 1,0293 =

    2.161.530.000

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 15

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Cố định 100.000 * 1,0050 = 100.500 2.100.000.000 * 1,0250 =
        2.152.500.000      
               

    Giá trị thuần của hai dòng tiền thực tế được chuyển giá trị của hai dòng tiền về một dòng tiền chung:

        USD      
               
        Thả nổi   Cố định  
               
      Thả 2.161.530.000/21.050 2.161.530.000/21.050 – 100.500  
      nổi 100.990 = 1.695,51 USD   = 2.185,51 USD  
           
    VND          
    Cố 2.152.500.000/21050 2.152.500.000/21050 – 100.500  
     
      định 100990 = 1.266,53 USD   = 1.756,53 USD  
           
               

    1.5 Ứng dụng hoán đổi tiền tệ

     

     

     

    Có thể thấy ứng dụng của giao dịch hoán đổi trong thực tế vô cùng phong phú và đa dạng, tuỳ điều kiện cụ thể mà mỗi nhóm chủ thể trên tham gia giao dịch hoán đổi với một hoặc nhiều mục đích khác nhau nhưng đều dựa trên đặc trưng của loại hình giao dịch này nhằm tránh được rủi ro tỉ giá.

    1.5.1 Tuần hoàn trạng thái luồng tiền trong thanh toán quốc tế

    Đối với các nhà XNK, việc bỏ vốn ra bằng đồng tiền này và thu về đồng tiền khác nếu không cân đối sẽ tạo ra trạng thái ngoại hối ròng và phát sinh rủi ro nếu tỉ giá tăng trong khi chuẩn bị phải thanh toán một hợp đồng nhập khẩu bằng ngoại tệ và ngược lại, nếu tỉ giá giảm khi một hợp đồng xuất khẩu sắp đến hạn.

    Trong thực tế, họ sử dụng hợp đồng mua bán ngoại tệ kì hạn một chiều (Outright forward), đến hạn cùng thời điểm giao hàng nhằm bảo hiểm cho các khoản thu chi trong kế hoạch. Họ chỉ sử dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối trong các trường hợp.

    Thứ nhất, trong hoạt động kinh doanh tổng hợp xuất – nhập khẩu, nếu có luồng tiền vào và ra đối với cùng một đồng tiền vào các thời điểm khác nhau, một hợp đồng

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 16

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hoán đổi ngoại hối kì hạn – kì hạn cũng tương đương với hai hợp đồng kì hạn riêng biệt ngược chiều và có giá trị bằng nhau.

    Thứ hai, không phải lúc nào việc giao hàng cũng đúng hẹn, đôi khi sớm hơn hoặc muộn hơn thoả thuận, làm phát sinh rủi ro lãi suất. Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối được sử dụng để tuần hoàn trạng thái tiền tệ trong khoảng thời gian chênh lệch đó.

     Kéo dài trạng thái tiền tệ

    Ví dụ: Công ty Toyota Việt Nam đã kí với Vietcombank một hợp đồng kì hạn 3 tháng mua JPY để bảo hiểm cho khoản linh kiện nhập khẩu dự tính từ Nhật. Tuy nhiên tàu chở hàng sẽ đến muộn một tháng, lúc này công ty phải xử lí rủi ro lãi suất, đồng thời kéo dài trạng thái JPY thêm 1 tháng mà không sợ rủi ro tỉ giá. Toyota có thể kí thêm một hợp đồng hoán đổi với VCB, trong đó công ty bán số JPY cho VCB tại thời điểm hợp đồng kì hạn cũ đáo hạn và mua lại sau 1 tháng để thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu. Các luồng tiền và trạng thái ngoại hối có thể biểu diễn đơn giản như sau:

    Thời     Trạng thái luồng tiền Trạng thái ngoại hối
      Giao dịch        
    điểm          
      USD VND USD VND
       
         
                 
        Trạng thái đầu ngày +    
    Hợp            
      Vế bán giao ngay USD + +
    đồng kỳ
    hạn đến          
    Vế mua kỳ hạn USD     +
    hạn            
        Trạng thái cuối ngày 0 0 0 0
                 
    Sau 1 Thực hiện mua kỳ hạn +    
    tháng   USD    
             
                 
        Trạng thái cuối ngày + 0 0
                 

    Nhìn vào bảng ta thấy, trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền sau 1 tháng là giống như trạng thái đầu ngày hôm nay. Nói khác đi chúng ta sử dụng nghiệp vụ hoán

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 17

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    đổi để tuần hoàn trạng thái tiền tệ và trạng thái ngoại hối của các đồng tiền. Nếu trong trường hợp trên thay vì nhập khẩu công ty xuất khẩu một lô hàng và nhận được khoản thanh toán hàng xuất khẩu trước hạn công ty cũng có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối tương tự .

     Rút ngắn trạng thái tiền tệ

    Các hợp đồng hoán đổi cũng được sử dụng để rút ngắn thời hạn các luồng tiền . Nếu ở trên công ty Toyota xuất khẩu 1 lô hàng và kí hợp đồng bán kì hạn JPY 3 tháng với VCB nhằm bảo hiểm cho khoản thu xuất khẩu. Theo dự tính, còn 1 tháng nữa công ty mới đuợc thanh toán, nhưng hôm nay công ty đã nhận được khoản tiền hàng . Do đó công ty muốn rút ngắn kì hạn hợp đồng kì hạn ngay ngày hôm nay, nghĩa là xử lí sao cho không có bất cứ luồng tiền nào xảy ra tại thời điểm sau 1 tháng, khi hợp đồng kì hạn đáo hạn . Công ty liền tiến hành 1 giao dịch swap ngay thời điểm ngày hôm nay, trong đó bán giao ngay JPY và mua lại kì hạn 1 tháng lượng JPY đó. Như vậy, thông qua nghiệp vụ hoán đổi các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu có thể kéo dài hay rút ngắn trạng thái các tiền tệ. Do tỉ giá giao ngay ảnh hưởng không đáng kể tới giá trị kinh tế của hợp đồng hoán đổi nên ngân hàng và khách hàng có thể thoả thuận áp dụng tỉ giá giao ngay trong hợp đồng kì hạn cũ cho hợp đồng hoán đổi, nhằm đơn giản hoá các khoản thanh toán, nhất là khi tỉ giá giao ngay trên thị trường có nhiều biến động.

          Trạng thái luồng tiền Trạng thái ngoại hối  
    Thời điểm Giao dịch            
    USD VND USD VND  
         
                     
        Vế bán giao ngay USD + +    
    Trước 1              
    Vế mua kỳ hạn USD     +    
    tháng          
                   
                     
        Trạng thái cuối ngày + 0 0    
                     
    Hợp đồng Trạng thái đầu ngày +        
                 
    kỳ hạn đến              
    Thực hiện  mua  kỳ hạn +        
                 
                     
                 
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22     Trang 18    

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hạn                      USD

    Trạng thái cuối ngày 0 0 0 0

    1.5.2 Ứng dụng trong các khoản đầu tư quốc tế

    Khi thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối không hoàn toàn đồng nhất, nhà đầu tư có thể tăng thu nhập khi chuyển đổi đồng tiền đầu tư, và họ có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối thay cho một giao dịch mua giao ngay và một bán kì hạn đồng tiền đầu tư. Nếu giá trị bán ra không bằng giá trị mua vào mà gồm cả khoản lãi thì gọi là giao dịch đầu tư hoán đổi (investment swap). Phương thức này nhiều khi có lợi do tránh được qui chế và phí tín dụng.

    Ví dụ: Tỉ giá giao ngay trên thị trường      S(USD/JPY) = 104,95 – 105,05

    RJPY = 2,2 – 2,8%/năm

    RUSD = 6,0 – 6,5%/năm

    F3t (USD/JPY) = 104,40-104,70

    Sau khi tính toán các mức tỉ giá giao ngay, kì hạn và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền, nhà đầu tư quyết định đầu tư bằng đồng USD bằng khoản vốn gốc JPY . Qui trình bảo hiểm khoản thu thông qua giao dịch hoán đổi mua giao ngay 1 USD và bán kì hạn gốc cùng lãi của 1 USD đó sau 3 tháng như sau:

    Thời điểm Nghiệp vụ giao dịch Trạng thái luồn tiền   Tỷ giá
          Lãi suất
    USD JPY  
         
                 
      1. Đi vay JPY   +105,5   2,8%  
    Hôm nay            
    2. Vế mua giao ngay USD +1 -105,5   105,05  
         
               
                 
               
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22   Trang 19  

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

      3. Đầu tư USD   6%
             
      Trạng thái cuối ngày 0 0  
             
      4. Thu về gốc+lãi USD +1,015    
             
      5. Vế bán kỳ hạn USD -1,015 +105,97 104,40
    Sau 3 tháng        
    6. và Trả gốc lãi JPY   -105,79  
         
             
      Trạng thái ròng   +0,18  
             

    Quan sát ta thấy kết quả cuối cùng cho trạng thái luồng tiền JPY ròng là dương 0,18 JPY. Cho thấy sức hấp dẫn của giao dịch hoán đổi đối với các nhà đầu tư quốc tế là nó có thể mang lại mức lãi suất cao hơn và nó có thể phòng ngừa được rủi ro về tỉ giá.

    1.6      Những rủi ro của giao dịch hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi tiền tệ về bản chất là một nghiệp vụ ngoại hối phái sinh, và được tiến hành giao dịch trên thị trường ngoại hối . Tuy nhiên bên cạnh đó, còn có rất nhiều nghiệp vụ hoán đổi khác đã ra đời như hoán đổi lãi suất, hoán đổi hàng hoá, hoán đổi chỉ số chứng khoán….Chúng là các sản phẩm phái sinh về ngoại hối, lãi suất, hàng hoá

    hay chứng khoán…nghĩa là mức giá cả của chúng biến động phụ thuộc vào tỉ giá, lãi suất, giá hàng hoá hay một số chỉ số khác…Ngoài những ứng dụng vào thực tế giúp nhà đầu tư quản trị được rủi ro của họ, giao dịch hoán đổi cũng tồn tại những hạn chế nhất định.

    1.6.1 Rủi ro tín dụng

    Rủi ro tín dụng trong giao dịch hoán đổi ngoại hối là khi vế giao dịch kì hạn bị huỷ bỏ không thực hiện, trạng thái luồng tiền không được xử lí, trạng thái ngoại hối ròng phát sinh, buộc ngân hàng phải nhanh chóng cân đối bằng một nghiệp vụ kì hạn một chiều hoặc giao ngay tương ứng. Rủi ro lãi suất thì có thể xử lí thông qua thị trường tiền tệ hoặc thị trường ngoại hối, nhưng rủi ro tín dụng chỉ có thể xử lí bằng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối mà thôi.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 20

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    1.6.2 Rủi ro về giá

    Ngoài ra, trong giao dịch hoán đổi ngoại hối cũng còn tồn tại rủi ro về giá, nghĩa là khả năng tỉ giá giao ngay trên thị trường vào thời điểm hợp đồng đáo hạn không biến động đúng như dự tính, và chênh lệch với tỉ giá kì hạn hoán đổi thoả thuận trong hợp đồng theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng. Tuy nhiên trên các thị trường tài chính phát triển, sự liên kết chặt chẽ giữa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, cùng với các hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm luôn đưa thị trường về trạng thái cân bằng và rủi ro này hầu như không có.

    1.7      Lợi ích

    Sử dụng hợp đồng hoán đổi có thể hạ thấp chi phí vay vốn cho các thành viên tham gia bằng nhiều cách như tận dụng ưu thế tương đối trong vay vốn, hạ thấp chi phí thông qua phòng ngừa rủi ro, khai thác sự chênh lệch thuế khóa.

    1.7.1 Tận dụng ưu thế tương đối

    Sự không hoàn hảo của thị trường gây ra sự chênh lệch chi phí vay vốn ở các thị trường khác nhau. Chẳng hạn, trên thị trường vốn nội địa các công ty trong nước thường có ưu thế tương đối hơn các công ty nước ngoài, do đó, có thể vay vốn với chi phí thấp hơn các công ty nước ngoài. Hơn nữa, sự đánh giá của ngân hàng và thị trường về uy tín trong vay vốn của các khách hàng vay cũng thường khác nhau. Điều này kích thích việc sử dụng hợp đồng hoán đổi để tận dụng ưu thế tương đối của từng khách hàng trong quan hệ vay vốn. Ví dụ nhờ có quan hệ tốt, công ty A có thể vay USD từ Ngân hàng A trong khi công ty B có thể vay JPY từ Ngân hàng B thấp 50 điểm so với lãi suất thị trường. Mặt khác công ty A đang cần JPY trong khi công ty B lại cần USD. Trong hoàn cảnh này, công ty A nên vay từ Ngân A và công ty B nên vay từ Ngân hàng B, sau đó sử dụng hợp đồng hoán đổi để có được đồng tiền mong đợi nhưng với một chi phí thấp hơn.

    1.7.2 Hạ thấp chi phí thông qua phòng ngừa rủi ro

    Phòng ngừa rủi ro có thể hạ thấp chi phí vay vốn bởi vì nó cắt giảm sự không chắc chắn của dòng tiền tệ và xác xuất thay đổi bất lợi của tài sản có và tài sản nợ, và do đó làm cho công ty uy tín hơn trong vay mượn. Hơn nữa, nhờ có phòng ngừa rủi ro và gia

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 21

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    tăng uy tín nên công ty có thể vay vốn với số lượng lớn. Điều này cũng góp phần hạ thấp chi phí nhờ tận dụng ưu thế về qui mô (economies of scale).

    1.7.3 Khai thác sự khác biệt về các qui định và thuế

    Điều này có thể minh họa bằng ví dụ sau đây. Một công ty Nhật muốn phát hành trái phiếu có lãi suất cố định với thời hạn 10 năm nhưng chính phủ áp dụng thuế lợi tức và qui định chặt chẽ hơn nếu trái phiếu phát hành trên thị trường Nhật và bằng JPY, trong khi đó nếu phát hành Eurobond bằng USD thì không phải chịu thuế lợi tức và thủ tục đơn giản hơn. Hơn nữa, Eurobond bằng USD dễ được thị trường chấp nhận hơn là trái phiếu bằng JPY. Trong trường hợp này, công ty nên phát hành Eurobond để tận dụng những ưu thế của thị trường Eurobond và tiến hành hợp đồng hoán đổi để có được JPY như mong muốn.

    CHƯƠNG II: THỰC TIỄN HOÁN ĐỔI TIỀN TỆ

    2.1 Tập đoàn Carton với hợp đồng hoán đổi đô la thả nổi lấy Swiss Francs cố định

    Thời điểm ban đầu

    Carlton huy động $10,000,000 bằng một khoản nợ với lãi suất thả nổi.

    Carlton có dòng thu bằng đồng Swiss Francs (sales contract), vì vậy Carlton mong muốn thực hiện hợp đồng hoán đổi tiền tệ bằng việc hoàn trả bằng đồng Swiss Francs với lãi suất cố định.

    Carlton ký kết hợp đồng có thời hạn 3 năm với điều kiện trả Swiss Francs và nhận về USD.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 22

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    NP$ = $10,000,000
    S0Sfr = 1.50000/ $
    Rask (Sfr) = 2.01%
    RBid ($) = 5.56%

    Carlton’s Currency Swap: Pay Swiss Francs and Receive U.S.Dollars

      Year 0 Year 1 Year 2 Year 3
              5.56% 5.56% 5.56%
      RBid ($) = 5.56%  
                 
                       
    $ 10,000,000                
        $556,000 $556,000 $10,556,000
             
      S0Sfr 1.5000/ $      
          2.01 % 2.01 % 2.01 %
             
      SSfr 15,000,000      
                   
                   
               
      Rask (Sfr)  = 2.01% SSfr 301,500 SSfr 301,500 SSfr 15,301,500
                       
                       

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Thời điểm tất toán hợp đồng trước hạn

    Hoán đổi tiền tệ đòi hỏi tính toán duy trì một dòng tiền dưới dạng một hợp đồng hoán đổi với mức lãi suất hiện tại, sau đó sẽ quy đổi ra loại tiền mục tiêu (Swiss Francs) sang bản tệ của Carlton (USD).

    Giả định sau 1 năm, hợp đồng bán hàng của Carlton hết hạn, Carlton sẽ chấm dứt hoặc mở rộng hoán đổi với thỏa thuận trước đó. Tại thời điểm tất toán hợp đồng hoán đổi, Carlton có 2 khoản phải trả trong hợp đồng hoán đổi là:

    Lãi: 301,5000fr

    Vốn và lãi: 15,301,500fr

    Với lãi suất đối với Sfr là 2%, hiện giá dòng tiền ký kết của Calton đối với Swiss Francs là:

    301,500                        15,301,500

    • (1.020) +   (1.020)=    15,002,912

    Cùng thời điểm đó, hiện giá của dòng tiền duy trì đối với USD trong hợp đồng hoán đổi với lãi suất 5.5%.

    ($) = $556,000 + $10,556,000 = $10,011,078
           
    (1.055)   (1.055)  
    Vậy Hiện giá dòng tiền vào: PV($) = $10,001,078.  
    Hiện giá dòng tiền ra : PV(Sfr) = Sfr 10,011,078
    Tỷ giá giao ngay SSfr   = 1.4650/$  
          15,002,912
    = $10,011,078 −   = ($229,818)
    1.4650/$

    Giá trị sổ sách của hợp đồng hoán đổi lúc này là: ($229,818), thể hiện việc hoán đổi này làm Calton lỗ một khoản là $229,818.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 24

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    2.2      Rủi ro đối tác

    Là khả năng một bên của hợp đồng tài chính khó thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với những điều kiện của hợp đồng tại thời điểm hiện tại.

    Là một trong những nhân tố chính dẫn đến việc sử dụng các hợp đồng phái sinh trên thị trường niêm yết chứ không phải thông qua thị trường OTC.

    Hầu hết các sở giao dịch, chẳng hạn như Philadelphia Stock Exchange hay Chicago Mercantile Exchange đều là đối tác cho tất cả giao dịch.

    Rủi ro thực tế nhất đối với một hoán đổi lãi suất hay tiền tệ không phải là khoản vốn khái toán mà là giá trị gắn với thị trường của những khoản chênh lệch thanh toán lãi suất.

    2.3      Kết luận

    Các công ty thường có nhu cầu nợ tại một vài thị trường, cho phép họ huy động vốn với mức lãi suất thấp hơn các thị trường khác.

    Do vậy, ngày càng nhiều các công ty phải đối mặt với các nghĩa vụ nợ bằng những đồng tiền khác nhau mà không đúng với hoạt động thông thường của họ.

    Kết quả của việc phát hành nợ thường đi kèm với các thỏa thuận hoán đổi.

    2.4 Liên hệ thực tiễn

    2.4.1 Hoán đổi tiền tệ trên thế giới

     Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, cơ cấu giao dịch hoán đổi tiền tệ được sử dụng bởi Hoa Kỳ thông qua Hệ thống Dự trữ Liên bang để thiết lập các giao dịch hoán đổi thanh khoản với ngân hàng trung ương. Mục đích của giao dịch hoán đổi thanh khoản của ngân hàng trung ương là “cung cấp thanh khoản bằng đô la Mỹ cho thị trường nước ngoài”. Trong khi các ngân hàng trung ương giao dịch hoán đổi thanh khoản và hoán đổi tiền tệ có cấu trúc, hoán đổi tiền tệ cùng một giao dịch thương mại được thúc đẩy bởi lợi thế so sánh, trong khi tính thanh khoản của ngân hàng trung ương chính là các giao dịch hoán đổi tiền tệ của các khoản vay khẩn cấp bằng đồng đô la Mỹ trên thị trường nước ngoài.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 25

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

     Trong tháng 5 năm 2011, Charles Munger của Berkshire Hathaway Inc cáo buộc các ngân hàng đầu tư quốc tế tạo điều kiện lạm dụng thị trường của các chính phủ quốc gia. Ví dụ như Goldman Sachs đã giúp Hy Lạp huy động khoảng 1 tỷ đồng kinh phí thể hiện trên bảng cân đối kế toán năm 2002 thông qua một trao đổi tiền tệ, cho phép chính phủ để che giấu nợ.

     Ngày 29/12/2011, Ấn Độ và Nhật Bản đã ký một thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá đến 15 tỉ USD nhằm thúc đẩy hợp tác tài chính song phương. Các giao dịch hoán đổi được kỳ vọng sẽ hỗ trợ đồng rupee của Ấn Độ vì đồng tiền này đang tiếp tục suy yếu so với đồng USD, khi khủng hoảng nợ công Châu Âu khiến xuất khẩu của Ấn Độ bị suy giảm đáng kể. Với thỏa thuận này, hai nước sẽ có thể đổi đồng tiền tệ quốc gia lấy đồng USD, cũng như được sử dụng quỹ dự trữ nước ngoài của nhau để làm giảm bớt các vấn đề về tiền mặt. Bước đi này mở ra cơ hội để các tập đoàn Ấn Độ có thể vay bằng yen với lãi suất thấp do ngân hàng Trung ương Nhật đã giữ lãi suất gần bằng 0 trong mười năm qua.

     Ngày 3/5/2012, 10 thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và ba nước đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO). Một trong những nhiệm vụ của AMRO là giám sát những ảnh hưởng có thể có của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tới khu vực này. Cùng với việc nghiên cứu và tham vấn cho các chính phủ về các chính sách kinh tế và tài chính, AMRO sẽ có các nhiệm vụ khác như nghiên cứu khả năng hoán đổi tiền tệ mang tính phòng ngừa) đã quyết định tăng gấp đôi quỹ hoán đổi tiền tệ ngăn ngừa khủng hoảng tài chính từ 120 tỷ USD lên 240 tỷ USD. Theo đó, Nhật Bản sẽ tăng phần đóng góp lên 76,8 tỷ USD (chiếm 32% quỹ), ngang với nước đóng góp nhiều nhất là Trung Quốc.

    Quyết định trên được đưa ra tại Hội nghị bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng ASEAN+3 lần thứ 15 diễn ra ở Manila (Philíppin) khi các đại biểu đều nhất trí rằng, nền kinh tế ASEAN+3 vẫn duy trì được mức tăng trưởng, song đang phải chịu nhiều tác động từ tình trạng lạm phát gia tăng và đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công ở Khu vực đồng euro (Eurozone). Theo Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc Pahk

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 26

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Jaewan, ASEAN+3 có thể phải sử dụng tới quỹ hoán đổi tiền tệ lần đầu tiên nếu cuộc khủng hoảng ở Eurozone dẫn tới tình trạng rút vốn ồ ạt khỏi châu Á.

    Quỹ hoán đổi tiền tệ nằm trong chương trình Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (CMIM), theo đó, khi xảy ra khủng hoảng, các nước gặp khó khăn có thể hoán đổi đồng nội tệ với đồng USD.

     Ngày 19/06/2012, Đài truyền hình NHK của Nhật Bản cho biết, nhóm 5 nền kinh tế mới nổi gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, gọi tắt là BRICS vừa đồng ý cung cấp cho nhau ngoại tệ trong trường hợp bất cứ thành viên nào trong nhóm hứng chịu tác động từ cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực các nước sử dụng đồng euro.

    Các nhà lãnh đạo BRICS đã đạt được sự đồng thuận trên tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi G20 tại thành phố biển Los Cabos của Mexico. Biện pháp hoán đổi tiền tệ như vậy được xem là cần thiết để giúp những nước thiếu hụt ngoại tệ có ngoại tệ dùng can thiệp vào thị trường.

    Ngoài ra, các nhà lãnh đạo BRICS còn xem xét việc thành lập một ngân hàng chung nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển ở châu Á cũng như ở những khu vực khác.

    Các nước phát triển trong G20 cho biết, họ cảm thấy ấn tượng trước sự hợp tác ngày càng năng động của BRICS.

     Kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối năm 2008, Trung Quốc đã phát động một chiến dịch mạnh mẽ với mục tiêu “ngoại giao hoán đổi tiền tệ” và ký kết khoảng 20 hiệp định tương tự như trên trong vòng 4 năm qua với các nước trên thế giới, từ Argentina đến Australia và các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất với tổng trị giá ít nhất 1.500 tỷ Nhân dân tệ (238 tỷ USD) để thúc đẩy thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nền kinh tế đó. Các giao dịch hoán đổi tiền tệ là những bước đầu tiên để đồng nhân dân tệ chuyển đổi sang một đồng tiền toàn cầu

    22/03/2012, Ngân hàng Trung ương Australia đã ký thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá 30 tỷ đô la Australia (31,2 tỷ USD) với Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, thêm

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 27

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    ví dụ cho thấy quá trình quốc tế hóa của đồng nhân dân tệ và liên kết thương mại ngày càng tăng giữa 2 nước.Thỏa thuận sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại và đầu tư, đồng thời hỗ trợ thanh thoán thương mại bằng nhân dân tệ

    21/06/2012, Brazil và Trung Quốc nhất trí xây dựng một thỏa thuận hoán đổi đồng nội tệ giá trị 30 tỷ USD. Theo thỏa thuận, Brazil có thể rút từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc số tiền trên bằng đồng Nhân dân tệ và sử dụng như nguồn dự trữ hoặc thanh toán hoạt động thương mại, và Trung Quốc tương tự cũng có thể thực hiện điều đó với Ngân hàng Trung ương Brazil

    Ngày 26/6/2012, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Quốc gia Ukraine đã ký thỏa thuận hoán đổi tiền tệ với tổng giá trị 15 tỷ nhân dân tệ, tương đương 2,38 tỷ USD. Thỏa thuận có thời hạn ban đầu là 3 năm và có thể gia hạn nếu hai bên nhất trí.

    2.4.2 Hoán đổi tiền tệ ở Việt Nam

    • Việt Nam giao dịch hoán đổi chính thức ra đời từ khi Ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998. Theo quyết định này, giao dịch hoán đổi là giao dịch hối

    đoái bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng.

    Ngày 11/10/2001, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã quyết định rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (SWAP) xuống còn 1 ngày làm việc, giảm 3 ngày so với trước đây. Động thái này được đưa ra sau khi nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài thông báo họ chưa sử dụng được nghiệp vụ SWAP do thủ tục xét duyệt và thời gian chuyển tiền của Ngân hàng Trung ương kéo dài.

    Tuy nhiên, quyết định trên chỉ áp dụng với các giao dịch hoán đổi ngoại tệ có giá trị đến 20 triệu USD. Trường hợp các giao dịch có giá trị trên 20 triệu USD, trong vòng 1 ngày làm việc, Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ trình Thống đốc xem xét, quyết định.

    Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng từ ngày 17/7, nhằm hỗ trợ các ngân hàng trong trường hợp thiếu hụt tạm thời vốn khả dụng.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 28

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Thông tư số 02/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 27/02/2012, Hướng dẫn giao dịch hối đoái giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

    Hiện tại có một số ngân hàng thương mại như BIDV, MHB, ACB…đã có giao dịch hoán đổi tiền tệ.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LIỆU CÓ NÊN CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUA CỔ PHẦN BẰNG NGOẠI TỆ HAY KHÔNG?

    LIỆU CÓ NÊN CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUA CỔ PHẦN BẰNG NGOẠI TỆ HAY KHÔNG?

    LIỆU CÓ NÊN CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUA CỔ PHẦN BẰNG NGOẠI TỆ HAY KHÔNG?

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LIỆU CÓ NÊN CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUA CỔ PHẦN BẰNG NGOẠI TỆ HAY KHÔNG?

    Liệu có nên cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ hay không?

    Để có thể trả lời câu hỏi này một cách thỏa đáng, cần phải đặt nó vào bối cảnh hiện tại của nền kinh tế vĩ mô và hỏi:

    việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ sẽ đưa đến những hệ quả gì đối với chính sách và sự ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam?

    Hệ quả đầu tiên,

    có thể nhìn thấy ngay là với giá chứng khoán đã trở về gần hơn với giá trị thực như hiện nay, cộng thêm với những đợt IPO rất lớn sắp tới, chính sách này sẽ khuyến khích các dòng ngoại tệ đổ thêm vào Việt Nam.

    Kinh nghiệm mới gần đây thôi cho thấy điều này sẽ tiếp tục gây áp lực làm tăng giá tiền đồng so với ngoại tệ, và nếu Chính phủ vẫn kiên trì chính sách ổn định tỷ giá thì Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục phải mua ngoại tệ vào.

    Hệ quả là cung tiền sẽ tiếp tục tăng, đẩy áp lực lạm phát lên cao. Cần phải nhấn mạnh thêm rằng cung tiền trong nền kinh tế không chỉ là cung tiền đồng mà còn là cung ngoại tệ, và khi người nắm giữ ngoại tệ có nhu cầu hoán đổi ra tiền đồng (hay ngược lại) thì việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu bằng ngoại tệ chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền đồng.

    Hệ quả thứ hai là

    biến động vào – ra, lên – xuống của dòng ngoại tệ đổ vào Việt Nam sẽ trở nên thất thường hơn. Thêm vào đó, nếu những giao dịch cổ phiếu bằng ngoại tệ này do các công ty và nhà đầu tư nước ngoài tự ý thực hiện thì Nhà nước sẽ rất khó kiểm soát lượng ngoại tệ vào – ra này.

    Việc dòng vốn vào ra trở nên thất thường và khó kiểm soát hơn khiến hoạt động điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước vốn đã khó khăn trở nên càng khó khăn hơn.

    Hệ quả thứ ba là

    chính sách này sẽ làm tăng mức độ đô la hóa của nền kinh tế. Mặc dù trong những năm qua Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng đô la hóa song tỷ lệ đô la hóa trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam hiện vẫn ở mức rất cao, vào khoảng 20% (theo số liệu của IMF).

    Bình thường, ngay cả khi chưa bị đô la hóa thì với chính sách tỷ giá (gần như) cố định như hiện nay thì Ngân hàng Nhà nước đã bị mất sự tự chủ và chỉ có thể phản ứng một cách thụ động trước sự lên xuống của dòng vốn nước ngoài (hiện tượng này được miêu tả bằng thuật ngữ “bộ ba bất khả thi”).

    Bằng chứng là trong thời gian qua chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn không có hiệu lực, đồng thời thay vì những biện pháp điều tiết gián tiếp thì Ngân hàng Nhà nước buộc phải sử dụng những biện pháp hành chính mệnh lệnh. Điều này cũng có nghĩa là nếu tình trạng đô la hóa trở nên xấu đi, đồng thời dòng vốn vào ra trở nên thất thường và khó kiểm soát hơn thì mức độ tự chủ và khả năng kiểm soát chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục bị xói mòn.

    Hệ quả thứ tư là

    khi khả năng kiểm soát chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước bị suy giảm thì để thực hiện một số nhiệm vụ điều tiết vĩ mô (như kích thích hay tiết chế cầu chẳng hạn), Việt Nam chỉ có thể sử dụng chính sách ngân sách. Bản thân việc thực thi chính sách ngân sách cũng lại có một số hạn chế nhất định. Chẳng hạn như nó chịu áp lực chính trị và tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi.

    Bên cạnh đó, chính sách ngân sách thường có độ trễ dài hơn so với chính sách tiền tệ. Ví dụ như tác dụng của việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế thu nhập cá nhân chỉ thể hiện rõ sau ít nhất là một năm, trong khi tác động của chính sách tiền tệ như tăng giảm cung tiền có thể được cảm nhận gần như ngay lập tức.

    Nói tóm lại, chính sách cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ có thể giúp thị trường chứng khoán tạm thời thoát khỏi cơn “tụt dốc” nhưng với cái giá là nền kinh tế vĩ mô sẽ trở nên bất ổn hơn, khả năng kiểm soát chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước bị xói mòn, công cụ điều tiết vĩ mô của Chính phủ bị hạn chế, và sức ép lạm phát tiếp tục gia tăng.

    Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, mục tiêu làm chủ chính sách và bình ổn kinh tế vĩ mô phải được đặt lên hàng đầu, và dứt khoát không nên đánh đổi những mục tiêu ngắn hạn không cơ bản với những mục tiêu dài hạn cơ bản.

    Vì những lý do này, không nên cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ.

  • Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    I. LÝ THUYẾT VỀ QUYỀN CHỌN VÀ QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ:

    1.     Khái niệm về quyền chọn:

    1.1. Định nghĩa về quyền chọn:

    • Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bị bắt buộc phải bán hoặc mua một tài sản cơ sở (underlying asset) nào đó ở một mức giá xác định (strike price hoặc exercise price) vào một ngày đáo hạn (expiration date) hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. Ngược lại, đối với người bán quyền chọn, họ bắt buộc phải mua hoặc bán một tài sản cơ sở nào đó ở một mức giá xác định vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai theo thỏa thuận giữa hai bên.

    1.2. Một số thuật ngữ liên quan:

    1.2.1. Thuật ngữ liên quan đến các đối tượng của Hợp đồng quyền chọn:

    • Người mua quyền (holders): là người bỏ ra chi phí để được nắm giữ quyền chọn và có quyền yêu cầu người bán thực hiện quyền chọn theo ý mình.
    • Người bán quyền (writer): là người nhận chi phí mua quyền của người mua quyền, có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn theo yêu cầu của người mua.
    • Tài sản cơ sở (underlying asset): là tài sản mà dựa vào đó quyền chọn được thực hiện, giá cả thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ xác định giá trị quyền chọn.
    • Tỷ giá thực hiện (strike price hoặc exercise price): là tỷ giá áp dụng nếu quyền chọn được thực hiện
    • Trị giá hợp đồng quyền chọn (volume): là trị giá được chuẩn hóa theo từng loại ngoại tệ và thị trường giao dịch.
    • Thời hạn quyền chọn (maturity): là thời hạn hiệu lực của quyền chọn, quá thời hạn thì hợp đồng vô giá trị.
    • Phí quyền chọn (premium): là chi phí mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền để sở hữu quyền chọn

    1.2.2. Thuật ngữ về giá trị nhận được của quyền chọn:

    Gọi T là thời điểm đáo hạn, ST là giá trị thị trường của tài sản cơ sở vào lúc đáo hạn, X là giá thực hiện và VT là giá trị nhận được của quyền chọn vào lúc đáo hạn

    5

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Ngang giá quyền chọn (at the money – ATM): Vào thời điểm đáo hạn hay bất kỳ thời điểm nào khi quyền chọn còn hiệu lực, nếu giá tài sản cơ sở bằng giá thực hiện (S=X) ta gọi là quyền chọn là hoà tiền
    • Được giá quyền chọn (in the money – ITM): Vào thời điểm đáo hạn hay bất kỳ thời điểm nào khi quyền chọn còn hiệu lực, nếu giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X) đối với quyền chọn mua ta gọi là quyền chọn mua có lời và ngược lại nếu giá tài sản cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S<X) đối với quyền chọn bán ta gọi là quyền chọn bán có lời.
    • Giảm giá quyền chọn (out of the money – OTM): Vào thời điểm đáo hạn hay bất kỳ thời điểm nào khi quyền chọn còn hiệu lực, nếu giá tài sản cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S<X) đối với quyền chọn mua ta gọi là quyền chọn mua không có lời và ngược lại nếu giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X) đối với quyền chọn bán ta gọi là quyền chọn bán không có lời.

    2.                 Phân loại Hợp đồng quyền chọn (Options):

    2.1. Theo quyền của người mua:

    2.1.1. Hợp đồng quyền chọn mua (Call options):

    • Mua quyền chọn mua: vào lúc đáo hạn, nếu thực hiện quyền, người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X. Nếu mua trên thị trường, người mua sẽ trả với giá ST. Trường hợp ST>X, nếu thực hiện quyền người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X, trong khi nếu ra thị trường thì phải mua với giá ST>X. Khoản lợi nhuận thu được là ST – X>0; như vậy nếu ST>X thì người mua quyền chọn sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = ST –X. Trong trường hợp ngược lại khi ST<= X, nếu thực hiện quyền người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X trong khi hoàn toàn có thể ra thị trường mua với giá ST<=X; như vậy nếu ST<=X thì người mua sẽ không thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = 0

    6

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người mua quyền chọn mua vào lúc đáo hạn là: VT = max[(ST – X);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên.

    Ví dụ: trong quyền chọn mua cổ phiếu IBM ở trên, giá thực hiện X = 50 USD. Nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền sẽ được lợi. Anh ta thực hiện quyền và mua 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD. Nếu không có quyền, anh ta sẽ phải mua trên thị trường với giá 60 USD. Khoản lợi mà anh ta thu được bằng ST – X = 10 USD trên 1 cổ phiếu IBM . Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD. Nếu thực hiện quyền, người nắm giữ quyền sẽ mua 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi nếu mua trên thị trường thì chỉ phải trả giá 40 USD. Như vậy, người giữ quyền sẽ không thực hiện quyền và giá trị anh ta nhận được bằng 0.

    • Bán quyền chọn mua: như đã trình bày, vào lúc đáo hạn, nếu ST > X thì người mua quyền chọn mua sẽ thực hiện quyền, tức là mua tài sản cơ sở. Trong trường hợp đó, người bán quyền chọn mua sẽ phải bán tài sản cơ sở cho người mua quyền ở mức giá X, trong khi lẽ ra có thể bán ra thị trường với giá ST. Người bán quyền chọn mua bị lỗ ST – X, hay nhận được giá trị VT = X – ST. Nếu ST <= X, người mua quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền và như vậy thì giá trị mà người bán quyền chọn mua nhận được là VT = 0.

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người bán quyền chọn mua vào lúc đáo hạn là: VT = min[(X – ST);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên.

    7

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Ví dụ: trong quyền chọn mua cổ phiếu IBM, nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền sẽ thực hiện quyền và được lợi 10USD/cổ phiếu. Ngược lại, người bán quyền sẽ bị thiệt 10 USD/cổ phiếu, do phải bán cho người mua với giá X=50 USD trong khi có thể bán ra thị trường với giá 60 USD. Còn nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD, thì người mua sẽ không thực hiện quyền. Người bán quyền nhận được giá trị bằng 0.

    2.1.2. Hợp đồng quyền chọn bán (Put options):

    • Mua quyền chọn bán: vào lúc đáo hạn, nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X. Còn nếu bán trên thị trường, thì mức giá là ST. Trường hợp ST >= X. Nếu thực hiện quyền người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X, trong khi nếu ra thị trường thì sẽ bán được với giá ST >=X. Như vậy, nếu ST >= X, người mua quyền chọn

    bán sẽ không thực quyền và nhận giá trị VT = 0. Trường hợp ST < X. Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X, trong khi ra thị trường thì phải bán với giá ST < X. Như vậy, nếu ST < X, người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = X – ST.

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người mua quyền chọn bán vào lúc đáo hạn là: VT = max[(X – ST);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên

    Ví dụ: Quyền chọn bán cổ phiếu IBM có giá thực hiện X = 50 USD. Nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền chọn bán sẽ không được lợi gì, vì nếu thực hiện quyền, anh ta sẽ bán 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi có thể ra thị trường để bán với giá 60 USD. Như vậy, quyền sẽ không được thực hiện và giá trị nhận được bằng 0. Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD. Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi nếu bán trên thị trường thì chỉ có thể bán với giá

    8

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    40 USD. Như vậy, người có quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và khoản lợi anh ta nhận được là 10 USD.

    • Bán quyền chọn bán: Nếu ST >= X, ta biết rằng người mua quyền chọn bán sẽ không thực hiện quyền và người bán quyền chọn bán cũng nhận giá trị VT = 0. Nếu ST < X, người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền, và người bán quyền chọn bán sẽ buộc phải mua tài sản cơ sở với giá X trong khi lẽ ra có thể mua trên thị trường với giá ST. Như vậy, nếu ST < X, người bán quyền chọn bán sẽ bị lỗ hay nhận được giá trị VT = ST – X.

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người bán quyền chọn bán vào lúc đáo hạn là: VT = min[(ST – X);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên.

    Ví dụ: Quyền chọn bán cổ phiếu IBM có giá thực hiện X = 50 USD. Nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền chọn bán sẽ không thực hiện quyền và cả người mua lẫn người bán quyền chọn bán nhận được giá trị bằng 0. Nếu giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD vào ngày đáo hạn thì người mua quyền chọn bán chắc chắn sẽ thực hiện quyền và người bán quyền chọn bán phải mua tài sản cơ sở với giá 50 USD, trong khi có thể ra mua trên thị trường với giá 40 USD. Như vậy, người bán quyền chọn bán sẽ bị lỗ 10 USD.

    *Phí của quyền chọn: Trong các trường hợp trên, ta thấy giá trị mà người mua quyền (chọn mua hay chọn bán) nhận được (VT) không bao giờ có giá trị âm, tức là không bao giờ bị lỗ. Còn giá trị người bán quyền nhận được không bao giờ có giá trị dương, tức là không bao giờ có lời. Điều này có vẻ như người mua quyền được lợi còn người bán quyền thì bị thiệt. Nhưng thực tế không phải như vậy. Vì quyền chọn là tài sản có giá trị đối với người nắm giữ nó nên để có được quyền, người mua quyền phải trả một khoản tiền (gọi là phí hay giá của quyền chọn) cho người bán quyền. Mức phí này được thanh toán ngay khi ký kết hợp đồng quyền chọn. Tính cả mức giá (C) này vào giá trị nhận được, thì 4 đồ thị ở trên sẽ có dạng như sau:

    9

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    2.2. Theo thời điểm thực hiện quyền chọn:

    • Quyền chọn kiểu Châu Âu (European options) là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận vào ngày đáo hạn.

     

    • Quyền chọn kiểu Mỹ (American options) là quyền chọn cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến hết ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận (trong thời gian hiệu lực của hợp đồng).
    • Quyền chọn kiểu Á (Asian options) là loại quyền chọn mà việc thanh toán phụ thuộc vào giá trung bình của những tài sản cơ sở trong một thời kì nhất định chứ không phải là thời điểm đáo hạn, nó còn được gọi là quyền chọn trung bình

    2.3. Theo thị trường giao dịch:

    • Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: là quyền chọn được tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn, được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thị trường chứng khoán New York…Do đó, tính

    10

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    minh bạch của thị trường rất cao, thể hiện ở chỗ giá cả, số lượng của hợp đồng giao dịch được công bố chi tiết vào cuối ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảo cho các ngày giao dịch tiếp theo hoặc cho nhiều mục đích khác. Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn này có thể được dễ dàng chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, điều này cho thấy tính thanh khoản cao của các hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên các thị trường tập trung kiểu này. Trên thế giới, thị trường giao dịch quyền chọn theo kiểu này chiếm tỉ trọng rất lớn, khoảng 98% tổng giá trị giao dịch quyền chọn của thế giới.

    • Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC): là thỏa thuận mua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một người mua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung. Hợp đồng thường được giao dịch giữa các đối tác liên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp. Do các hợp đồng quyền chọn không được chuẩn hóa, chi tiết của hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên, nên tính linh hoạt đối với các hợp đồng này là rất cao, đáp ứng được các nhu cầu cá biệt của các khách hàng. Dù vậy, các giao dịch quyền chọn phi tập trung kiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới.

    2.4. Theo tài sản cơ sở:

    Theo cách phân loại này thì có vô số loại hợp đồng quyền chọn, vì trên lý thuyết, bất kì một tài sản cơ sở nào cũng có thể phát sinh một quyền chọn dựa trên nó. Do đó, có thể phân thành các nhóm chính sau:

    – Đối với hàng hóa: bao gồm quyền chọn cà phê, vàng, xăng dầu, sắt, thép, ngũ cốc, khí

    đốt…

    • Đối với dịch vụ: gồm quyền chọn tiền taxi, tiền điện, cước viễn thông…
    • Đối với tài sản tài chính: gồm quyền chọn ngoại tệ, lãi suất, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chỉ số chứng khoán…

    Hiện nay, trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tài chính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… Bên cạnh đó, do là những hàng hóa đặc biệt quan trọng nên quyền chọn vàng và dầu cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn.

    3.                 Quyền chọn trên thị trường ngoại tệ:

    3.1. Khái niệm về quyền chọn ngoại tệ:

    • Quyền chọn mua ngoại tệ là kiểu hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua một số lượng ngoại tệ ở một mức giá và trong thời hạn được xác định trước.

    11

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Quyền chọn bán ngoại tệ là kiểu hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được bán một số lượng ngoại tệ ở một mức giá và trong thời hạn được xác định trước. Nếu tỷ giá biến động thuận lợi người mua sẽ thực hiện hợp đồng (exercise the contract), ngược lại người mua sẽ không thực hiện cho đến khi hợp đồng hết hạn.
    • Giá trị của quyền chọn tùy thuộc vào tỷ giá thực hiện (exercise or strike price) và sự biến động của tỷ giá trên thị trường. Tỷ giá biến động có thể làm cho quyền chọn trở nên sinh lợi (in-the-money), hòa vốn (at-the-money) hoặc lỗ vốn (out-of-the- money). Nếu đặt E là tỷ giá thực hiện và S là tỷ giá trên thị trường giao ngay, chúng ta có các trường hợp có thể xảy ra như sau đối với một hợp đồng quyền chọn
    • Quyền chọn mua:
    • S>E => Hợp đồng sinh lợi o S=E => Hợp đồng hoà vốn o S<E => Hợp đồng lỗ vốn

    Lãi (lỗ)

    Tỷ giá thực hiện(E) Người mua quyền
      chọn mua (A)
     

    Điểm hòa vốn

    Tỷ giá giao

    ngay (S)

    Phí quyền chọn

    Người bán quyền

    chọn mua (B)

    OTM                              ATM                                   ITM

    12

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Quyền chọn bán:
    • S<E => Hợp đồng sinh lợi o S=E => Hợp đồng hoà vốn
    • S>E => Hợp đồng lỗ vốn

    Lãi(l ) tỷ

    Tỷ giá thực hiện

    Phí quyền chọn

    Điểm hòa vốn

    Người bán quyền

    chọn bán (D)

    giá giao

    ngay (S)

    Người mua quyền

    chọn bán (C)

    ITM                           ATM                      OTM

    3.2. Định giá quyền chọn ngoại tệ:

    Như đã trình bày, quyền chọn là một chứng khoán phái sinh, nó là một tài sản có giá trị. Do đó, nó đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học về cách tính giá của quyền chọn, tức là tính phí quyền chọn. Ở giới hạn của bài thuyết trình và giới hạn về sự hiểu biết của mình, nhóm thuyết trình chỉ xin đi tìm hiểu các yếu tố của phí quyền chọn và các mô hình tính phí quyền chọn đã được phổ biến và sử dụng rộng rãi. Để nắm vững các yếu tố trong phí quyền chọn chúng ta tìm hiểu các khái niệm liên quan.

    13

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    3.2.1. Tỷ giá thực hiện ( Strike or exercise price):

    • Tỷ giá thực hiện ( ký hiệu là E) là tỷ giá sẽ được áp dụng trong mua bán ngoại tệ khi thực hiện hợp đồng quyền chọn. Giá quyền chọn( hay phí quyền chọn) phụ thuộc trước hết vào giá thực hiện này. Phí quyền chọn mua sẽ tăng khi giá thực hiện giảm, và ngược lại sẽ giảm khi giá thực hiện tăng. Đối với quyền chọn bán thì: giá quyền chọn bán sẽ tăng khi giá thực hiện tăng và giá thực hiện giảm thì giá quyền chọn bán giảm.

    3.2.2. Giá trị thời gian và giá trị nội tại của quyền chọn:

    • Trong cả hai trường hợp, chọn mua và chọn bán, chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện quyết định giá bán tối thiểu của quyền chọn. Thông thường giá trị quyền chọn bao gồm 2 phần: giá trị nội tạigiá trị thời gian.
    • Giá trị nội tại là lượng giá trị mà quyền chọn ở trạng thái cao giá – ITM (in the money):

    Giá trị nội tại = S – E

    Trong đó :

    S : giá giao ngay hiện tại

    E : giá thực hiện

    Nói rõ hơn, giá trị nội tại chính là giá trị quyền chọn ở trạng thái cao giá – ITM nếu như chúng ta thực hiện quyền chọn này ngay lập tức. Như vậy, trong trạng thái ITM càng lớn thì giá trị nội tại càng lớn. Và ngược lại, nếu ở trạng thái kiệt giá (OTM – out of the money) hay ngang giá (ATM – at the money) thì giá trị nội tại là 0. Chênh lệch giữa giá quyền chọn với giá trị nội tại của nó được gọi là giá trị thời gian của nó. Một quyền chọn sẽ được bán với giá tối thiểu bằng giá trị nội tại của nó vì vậy cho nên chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện quyết định giá bán tối thiểu của quyền chọn.

    • Giá trị thời gian: Trong suốt thời gian tồn tại của quyền chọn, tỷ giá luôn thay đổi. Có thể là thay đổi theo chiều hướng có lợi (tỷ giá tăng khi chúng ta mua quyền chọn mua hoặc giảm khi chúng ta mua quyền chọn bán) sao cho bạn sẽ thu được lãi nếu thực hiện quyền. Điều này có nghĩa là, một quyền chọn dang ở trang thái kiệt giá – OTM, theo thời gian có thể chuyển sang trạng thái cao giá hoặc nếu ở trạng thái cao giá rồi thì có thể chuyển sang trạng thái cao giá hơn nữa. Có khá nhiều cơ hội để một quyền chọn có lợi và có lợi lớn hơn theo thời gian. Mặt khác, đồng tiền luôn mất giá theo lạm phát, trong khi phí quyền chọn thì được trả ngay khi mua quyền chọn mà việc thực hiện quyền lại là trong tương lai do đó phí quyền chọn này cũng sẽ bị mất giá. Thứ ba là, chi phí cơ hội, vì khi thực hiện giao dịch này thì không thực hiện được giao dịch có thể có lợi hơn cho nên trong bản thân quyền chọn đã có mang cơ hội phí. Chính từ ba lý do trên mà trong phí quyền chọn ngoài giá trị nội tại của quyền chọn còn tồn tại một thành phần nữa là giá trị thời gian của quyền chọn.

    14

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Giá trị thời gian của quyền chọn có một số đặc điểm sau đây:

    Không giống như giá trị nội tại, giá trị thời gian của quyền chọn luôn luôn tồn tại cho dù quyền chọn đang ở trạng thái nào: kiệt giá, ngang giá hay mất giá.

    Một đặc điểm nổi bật của giá trị thời gian của quyền chọn là: một quyền chọn có thời gian càng dài thì giá trị thời gian càng lớn. Từ những phân tích ở trên, chúng ta dễ dàng nhận ra được điều này, thời gian càng dài, sự biến động của quyền chọn càng lớn, sự mất giá của đồng tiền càng tăng và cơ hội phí cũng tăng theo do đó giá trị thời gian tăng lên.

    Khi quyền chọn càng tiến gần về thời gian đáo hạn (expiry date) thì giá trị thời gian càng tiến gần tới 0.

    Giá trị quyền chọn kiểu Mỹ luôn lớn hơn giá trị nội tại của nó bởi vì giá trị thời gian luôn tồn tại. Và giá trị thời gian này cũng thay đổi bởi lẽ quyền chọn theo kiểu Mỹ có thể thực hiện bất kỳ lúc nào.

    Với quyền chọn kiểu châu Âu thì giá trị thời gian lại không thay đổi cho dù có tiến gần tới ngày đáo hạn. Bởi lẽ, với loại quyền chọn này chúng ta chỉ được quyền thực hiện vào ngày đáo hạn.

    15

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Giá trị quyền chọn mua trước ngày hết hiệu lực

    Tổng giá trị quyền

    chọn (đường chấm)

          6 tháng                
                                 
                 
      3 tháng       Giá trị thời gian  
                     
                               
                         
      1 tháng                
                                 
                                 
                            Giá trị nội tại  
                                     
                                     
                                     
                          Giá thực hiện   Giá trị giao ngay của
                                đồng tiền cơ sở
                               
    Kiệt giá – OTM     Ngang giá – ATM     Cao giá – ITM

    Bây giờ chúng ta kết hợp cả hai giá trị của quyền chọn lại ta sẽ được giá trị của quyền chọn. Trước khi đến hạn, một quyền chọn kiệt giá thì chỉ có giá trị thời gian nhưng nếu nó đang

    • trạng tháo cao giá thì nó có cả giá trị thời gian lẫn giá trị nội tại( tham khảo đồ thị). Ngay lúc hết hiệu lực thì quyền chọn chỉ còn giá trị nội tại mà thôi. Giá trị thời gian của quyền chọn thể hiện khả năng giá trị nội tại của nó sẽ tăng lên trước khi hết hiệu lực, khả năng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tính bất ổn của tỷ giá. Tính bất ổn càng cao thể hiện cơ hội xuất hiện tỷ giá ở hai trạng thái đối nghịch nhau càng lớn (cực cao hoặc cực thấp). Tác động của tỷ giá càng mang lại nhiều lợi nhuận thì giá trị quyền chọn càng cao. Một khía cạnh nữa của giá trị thời gian liên quan đến lãi suất. Khi lãi suất tăng lên sẽ làm tăng giá trị quyền chọn mua và làm giảm giá trị quyền chọn bán.

    16

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Bây giờ chúng ta tìm hiểu rõ hơn về giá trị tối thiểu của một quyền chọn kiểu Mỹ và kiểu châu Âu:
    • Với quyền chọn kiểu Mỹ: thường thì giá bán tối thiểu này sẽ cao hơn chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện. Bởi những yếu tố chúng ta đã đề cập ở trên. Ở đây chúng ta xem xét trường hợp: nếu như giá quyền chọn không tuân thủ theo nguyên tắc này thì sao? Thì chắc chắn các nhà đầu cơ trên quyền chọn tiền tệ sẽ có cơ hội cho kinh doanh chênh lệch. Chẳng hạn, tỷ giá thực hiện quyền chọn mua theo kiểu Mỹ là 17700VND cho 1USD, nếu tỷ giá giao ngay USD/VND là 18100 thì giá bán tối thiểu của quyền chọn phải là 400VND cho 1USD. Nếu không sẽ có cơ hội kinh doanh chênh lệch vì lúc đó người mua quyền có thể thực hiện quyền mua USD với giá 17700VND và bán lại trên thị trường với giá 18100VND và sẽ hưởng được phần chênh lệch. Công thức xác
    Giá quyền chọn Giá trị nội tại: số lượng giá trị Giá trị thời gian: số lượng giá trị  
    bằng tổng cộng mà quyền chọn ở trạng thái vượt giá trị nội tại  
    của:     cao giá      
               
          = S – E Bị tác động cùng chiều bởi sự gia  
          Trong đó: tăng trong:  
               
          S là giá giao ngay hiện tại Thời gian hết hiệu lực  
    Quyền chọn mua      
    E là giá thực hiện Tính bất ổn tỷ giá  
               
          Giá trị nội tại bằng 0 nếu Chênh lệch  lãi suất  trong  
            nước và nước ngoài  
             
          S–E <=0      
               
            Bị tác động cùng chiều bởi sự gia  
          = E – S tăng trong:  
          Thời gian hết hiệu lực  
    Quyền chọn bán Giá trị nội tại bằng 0 nếu
    Tính bất ổn tỷ giá  
          E-S<=0
          Chênh lệch lãi suất  trong  
           
              nước và nước ngoài  
                 

    định giá tối thiểu của quyền chọn kiểu Mỹ như sau:

    Ca(S,E) >= max(0,S -E) và Pa(S,E)>= max(0,E-S)

    Trong đó :          Ca: giá trị quyền chọn mua

    17

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Pa: giá trị quyền chọn bán

    • tỷ giá thực hiện
    • tỷ giá giao ngay
    • Với quyền chọn kiểu châu Âu: giá tối thiểu của quyền chọn không đơn thuần căn cứ vào chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện. Bởi như chúng ta tìm hiểu ở trên, giá quyền chọn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó yếu tố lãi suất là quan trọng. Công thức xác định giá tối thiểu của quyền chọn kiểu Âu như sau:
      Ce(S,T,E) >= max(0,S(1+b)-T-E(1+a)-T) và
      Pe(S,T,E)>= max(0,E(1+a)-T-S(1+b)-T)
    Trong đó: Ce: giá trị quyền chọn mua
      Pe: giá trị quyền chọn bán
      T: thời hạn hợp đồng ( năm)
      a: lãi suất phi rủi ro của đồng tiền A
      b: lãi suất phi rủi ro của đồng tiền B

    3.2.3. Thông số biến động tỷ giá kỳ vọng (Exprected Volatility):

    18

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Trong quá trình chúng ta đi tìm hiểu về phí quyền chọn cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến nó, chúng ta không thể không nhắc tới thông số biến động tỷ giá kỳ vọng. Như nhóm thuyết trình đã phân tích thì, một cặp tiền tệ có độ biến động càng mạnh thì phí quyền chọn sẽ càng cao. Chính thông số biến động tỷ giá kỳ vọng sẽ cung cấp cho chúng ta mức độ biến động kỳ vọng của tỷ giá. Đây là yếu tố khó lượng hóa nhất và nó tùy thuộc rất nhiều khả năng phán đoán của nhà dự báo và hầu như không có cách nào khác để lượng hóa chính xác thông số này. Nếu thiếu khả năng phán đoán thì nhà đầu tư thường dựa vào hai cách sau. Thứ nhất, là dựa vào các thông

    số biến động trong quá khứ( historical volatility), thông số này được xác định dựa vào phân tích số liệu lịch sử thu được. Thứ hai, dựa vào thông số biến động ngầm định( implied volatility) trong đó những thông tin hiện tại về giá trị quyền chọn và các thông tin khác sẽ kết hợp để đưa ra các dự đoán. Hiện nay, trên các sàn giao dịch, nhờ vào phương tiện kỹ thuật hiện đại và nguồn dữ liệu của quá khứ về biến động tỷ giá rất lớn thì bằng các thuật toán các chuơng trình sẽ cho ra các kết quả cụ thể của thông số náy. Ví dụ trên sàn Euronext trong bảng giao dịch điện tử về quyền chọn sẽ có các thông số liên quan như sau: ta thấy cột “ volatility” đó chính là giá trị của Expected Volatility. Ta thấy các giá trị của thông số biến động tỷ giá kỳ vọng đều nằm trong khoảng (0;1)

    3.2.4. Định giá quyền chọn theo mô hình Black-Scholes:

    • Công thức định giá quyền chọn vừa trình bày trên đây chỉ áp dụng trong điều kiện chắc

    chắn, nghĩa là khi nào tỷ giá giao ngay S được biết. Trên thực tế khi định giá quyền chọn chúng

    19

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    ta định giá của nó trong tương lai tức là định giá ở một thời điểm mà tỷ giá giao ngay chưa biết. Do đó chưa biết được quan hệ giữa S và E như thế nào. Định giá quyền chọn trong trường hợp này gọi là định giá trong môi trường ngẩu nhiên ở đó S chưa biết, do đó, chưa biết được quan hệ giữa S và E. Rõ ràng ở đây giá trị quyền chọn tùy thuộc vào xác suất xảy ra khả năng S lớn hơn hay nhỏ hơn E. Trong trường hợp này phải sử dụng mô hình định giá Black-Scholes.

    • Năm 1973, công thức nổi tiếng về định giá quyền chọn được đưa ra trên bài báo của hai giáo sư MIT, Fischer Black và Myron Scholes. Mô hình Black-Scholes nguyên thủy được xây dựng cho việc định giá quyền chọn mua theo kiểu châu Âu và áp dụng cho cổ phiếu không trả cổ tức (non-dividend-paying stock). Mô hình này được giới thiệu mở rộng áp dụng sang lĩnh vực tiền tệ từ các bài báo của Mark Garman và Steven Kohlhagen và bài của Orlin Grables vào năm 1983. Đối với quyền chọn mua theo kiểu châu Âu, mô hình Black-Scholes có thể diễn tả bởi công thức sau:

    Ce = Se-bTN(d1) – Ee-aTN(d2)

    Trong đó :

    Ce: là giá cả quyền chọn mua theo kiểu châu Âu

    • là tỷ giá giao ngay giữa đồng tiền A và đồng tiền B(A/B) E : tỷ giá thực hiện

    T : thời hạn hợp đồng tính bàng năm

    • lãi kép liên tục không có rủi ro của đồng tiền nước A( thường là lãi suất tín phiếu kho bạc của nước A)
    • lãi kép liên tục không có rủi ro của đồng tiền nước B( thường là lãi suất tín phiếu kho bạc của nước B)

    e = 2.71828 là hằng số Ne-pe

    • : là độ lệch chuẩn hằng năm của phần trăm thay đổi tỷ giá giao ngay. N(d1),N(d2): là giá trị hàm phân phồi sác xuất chuẩn. trong đó d1 và d2 được xác

    định như sau:

    d1 ln(S / E)  [a  b  (  2 / 2)]xT
               
          T  
    d2  d1      
    T  
    20  
                 

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Mô hình Black-Scholes cho thấy giá cả của quyền chọn mua theo kiểu châu Âu phụ thuộc vào tỷ giá thực hiện so với tỷ giá giao ngay, lãi suất phi rủi ro giữa hai quốc gia, thời hạn của hợp đồng và độ lệch chuẩn của sự thay đổi tỷ giá hai đồng tiền. Mô hình này được thực hiện dựa trên một số giả định như sau:
    • Lãi suất vẫn không thay đổi, lãi suất cho vay và đi vay là như nhau.
    • Không có thuế hay chi phí giao dịch.
    • Sự sai biệt tỷ giá tuân theo quy luật phân phối chuẩn.
    • Độ lệch chuẩn vẫn không thay đổi suốt hợp đồng
    • Chính những giả định này là không đúng trên thực tế và vì vậy mô hình này chưa hẳn sẽ đúng trên thưc tế. Song với giá trị là tiêu chuẩn và tốt nhất cho những mô hình tiến bộ hơn thì mô hình này vẫn được áp dụng rộng rãi, và giá trị quyền chọn của nó được lấy làm chuẩn để các nhà giao dịch hay các nhà kinh doanh dựa vào đó đánh giá được hợp đồng uyền chọn. Trong phạm vi nghiên cứu nhỏ hẹp của bài thuyết trình thì nhóm thuyết trình không tìm hiểu quá sâu mà chu yếu chú trọng vào cách áp dụng mô hình trong thực tế của chúng ta và cách để tính toán ra kết quả tốt nhất.
    • Cách áp dụng mô hình Black-Scholes bằng Excel:
    • Tỷ giá giao ngay (S) và tỷ giá thực hiện(E) : rất dễ dàng để có được hai loại tỷ giá này. Tỷ giá giao ngay chúng ta lấy tại thời điểm thỏa thuận giao dịch. Còn tỷ giá giao dịch do bên bán quyền đưa ra. Chúng ta cũng có thể dự đoán tỷ giá thực hiện này thông qua tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức:

    Fn=S + S(rb-ra)*n/(100*360)

    Trong đó:                  Fn: là tỷ giá kỳ hạn

    • tỷ giá giao ngay ra: lãi suất ở nước A rb: lãi suất ở nước B

    n: kì hạn cần tính(ngày)

    • Thời hạn hợp đồng: chính là thời hạn của quyền chọn. Tính bằng năm.
    • Lãi kép liên tục phi rủi ro của nước A và nước B: ta lấy lải suất của tín phiếu kho bạc nước A và nước B( thông tin này có ở các trang thông tin điện tử của kho bạc các nước).

    21

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Độ lệch chuẩn hàng năm của phần trăm thay đổi tỷ giá: trước tiên ta thu thập tỷ giá trong một năm của cặp tiền tệ đang xét. Thường thì chúng ta lấy 12 lần tỷ giá trong 12 tháng, nếu có nhiều hơn càng tốt. Sau đó chúng ta tính phần trăm thay đổi tỷ giá = [( tỷ giá kỳ sau- tỷ giá kỳ trước)/ tỷ giá kỳ trước]*100. Và khi có được phần trăm thay đổi tỷ giá rồi ta tính độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi tỷ giá( chú ý tất cả đều làm trong excel rất dễ dàng) bằng hàm thống kê sau:
    • STDEVP(dãy ô chứa phần trăm thay đổi tỷ giá giao ngay mà ta đã tính được ở trên)
    • N(d1) và N(d2): trước tiên ta tính d1 và d2 như công thức đã cho. Có thể viết trong excel như sau:

    d1:

    =(LOG10(S/E)+(a-b+POWER(α,2)/2))/ α *SQRT(T)

    d2:

    =d1- α *SQRT(T)

    N(d1):

    = NORMSDIST(d1)

    N(d2)

    = NORMSDIST(d2)

    Sau khi sử lý tất cả các bước trên ta viết công thức tính phí quyền chọn đơn giản bằng các thuật toán như sau:

    Ce:=S*POWER(e,(-b*T))*N(d1)-E*POWER(e,(-a*T))*N(d2)

    3.3. Các chiến lược kinh doanh hợp đồng quyền chọn:

    Như đã phân tích, hợp đồng quyền chọn giúp phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nó giúp ích rất nhiều cho các công ty đa quốc gia, các tập đoàn toàn cầu, các công ty xuất nhập khẩu và cả cá nhân có thu nhập từ ngoại tệ, song song với mục đích đó thì hợp đồng quyền chọn còn có thể giúp các nhà đầu cơ kinh doanh trên chính nó và mang lại lợi nhuận và người ta gọi đó là hoạt động đầu cơ trên hợp đồng quyền chon hay những chiến lược kinh doanh hợp đồng quyền chọn. Nhóm thuyết trình xin đưa ra một số chiến lược phổ biến nhất và cũng được xem là dễ hiểu nhất.

    3.3.1. Đầu cơ vị thế chênh lệch tiền tệ:

    • Vị thế chênh lệch cho phép nhà đầu cơ đánh cuộc trên chiều hướng diễn biến tỷ giá nhưng với giá phải trả thấp hơn so với giá đơn thuần mua quyền chọn mua hoặc mua quyền chọn bán. Để thực hiện chiến lược này, nhà đầu cơ sẽ thực hiện mua một quyền chọn với một giá thực hiện và bán một quyền chọn tương tự nhưng với giá thực hiện khác. Sự khác biệt trong hai giá thực hiện giúp hạn chế rủi ro cho nhà đầu cơ và giá phải trả là giới hạn của khoản lỗ mà nhà đầu tư có thể gặp phải. Tại sao lại như vậy? chúng ta cần tìm hiểu theo hai cách thực hiện sau:

    22

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Đầu cơ cho sự tăng giá của ngoại tệ, gọi là Chênh lệch giá lên. Ở trong trường hợp này ta thấy nhà đầu cơ sẽ mua 1 quyền chọn mua ở mức giá thấp và bán một hợp đồng quyền chọn mua tương tự với mức giá thực hiện cao hơn. Phí quyền chọn ròng sẽ dương bởi phí trả cho việc mua hợp đồng quyền chọn mua lớn hơn phí nhận được khi bán hợp đồng quyền chọn mua. Sở dĩ như vậy bởi vì giá thực hiện của việc mua là thấp hơn so với việc bán, mà phí quyền chọn sẽ càng cao khi giá thực hiện càng thấp trong hợp đồng quyền chọn mua. Vì rủi ro rơi vào trạng thái kiệt giá của người bán quyền cao hơn. Và trong trường hợp đầu cơ này, nếu tỷ giá giảm dưới mức ngang giá của hợp đồng thứ nhất thì nhà đầu tư chỉ bị lỗ khoản phí quyền chọn ròng mà thôi. Nếu tỷ giá tăng lên vượt qua điểm ngang giá của hợp đồng thứ nhất thì nhà đâu cơ bắt đầu có lợi nhuận và lợi nhuận này sẽ tăng đến một giá trị nhất định thì dừng lại cho dù tỷ giá có tăng lên đi nữa(xem đồ thị: đường nét đứt thể hiện khoản lỗ và lời của nhà đầu cơ). Ở đây, điều quan trọng nhất là khoản lỗ cũa nhà đầu cơ được giảm thiểu, còn khoản lời của nhà đầu cơ cũng được giới hạn ở một mức độ có thể đo lường được.

    Mua quyền chọn mua

    Chênh lệch

    giá lên

    Giá thực hiện mua

    quyền chọn mua

    Phí bán quyền

    chọn mua

    Giá thực hiện bán   Bán quyền chọn mua
    quyền chọn mua    
         
         

    Phí mua quyền

    chọn mua

    • Đầu cơ cho sự giảm giá của ngoại tệ, gọi là Chênh lệch giá xuống. Ở đây nhà đầu cơ đang đầu cơ giá xuống, vì vậy trước tiên nhà đầu cơ sẽ mua một hợp đồng quyền chọn

    23

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    bán ở mức giá cao, và bán một hợp đồng quyền chọn bán tương tự ở mức giá thấp hơn. Khoản lỗ giới hạn của nhà đầu cơ là phí quyền chon ròng còn khoảng lời cũng được giới hạn và có thể tính toán dễ dàng. Đầu cơ như vậy sẽ giúp hạn chế được rủi ro cho nhà đầu cơ

    Chênh lệch giá

    xuống

    Giá thực hiện mua

    quyền chọn bán

    Phí bán quyền

    chọn bán

    Lãi

     Lời (lỗ)

    Giá thực hiện bán

    quyền chọn bán

    Bán quyền

    chọn bán

    Phí mua quyền

    chọn bán

    24

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    3.3.2.Đầu cơ theo kiểu quyền chọn ghìm giá:

    • Một cách khác để đánh cuộc trên chiều hướng diễn biến của tỷ giá là sử dụng quyền chọn gìm giá. Một quyền chọn gìm giá cũng tương tự như các quyền chọn đã được tiêu chuẩn hóa chỉ khác ở chỗ quyền chọn gìm giá có thể bị hủy bỏ nếu diễn biến tỷ giá đạt được ở mức đã được thỏa thuận trước giữa hai đối tác gọi là giá thỏa thuận . Nếu tỷ giá đến mức chắn này thì người mua sẽ không thực hiện quyền chọn cho dù nó đang ở trạng thái được giá – ITM. Quyền chọn gìm giá còn được gọi là quyền chọn có rào chắn tốn ít chi phí hơn các quyền chọn tiền tệ tiêu chuẩn, bởi vì rủi ro cũng thấp hơn.
    • Có nhiều loại quyền chọn gìm giá, chẳng hạn quyền chọn mua gìm giá xuống theo thỏa thuận sẽ có kết quả có lãi cho người mua quyền chọn nếu tỷ giá lên nhưng nó cũng có thể bị hủy bỏ nếu đồng tiền yếu đến mức bằng với giá thỏa thuận trước đó. Ngược lại, một quyền chọn bán gìm giá xuống theo thỏa thuận có kết quả có lãi nếu tỷ giá xuống nhưng nó có thể bị hủy nếu đồng tiền yếu đến mức bằng với giá thỏa thuận trước đó. Ngoài lợi thế chi phí thấp thì quyền chọn gìm giá xuống còn hữu dụng cho nhà đầu cơ tin rằng nếu tỷ giá giảm xuống một mức nào đó thì sẽ không có khả năng thua lỗ. Còn quyền chọn gìm giá lên thì sẽ bị hủy bỏ nếu tỷ giá tăng lên đền một mức giá thỏa thuận trước đó.

    3.3.3. Đầu cơ hợp đồng quyền chọn theo kiểu hình bướm:

    • Nó bao gồm 4 hợp đồng quyền chọn: mua một quyền chọn mua với giá thực hiện X1 thấp, bán hai hợp đồng quyền chọn mua với giá thực hiện trung bình X2 và mua một quyền chọn mua với giá thực hiện cao X3. Tất cả các hợp đồng đều có thời gian hiệu lực bằng nhau.

    Lãi(l )

                    Giá giao
                    ngay của
    X1               đồng tiền
              X3  
                  cơ sở
                   
                       
                       
          X2          
                       

    25

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Lãi/l

    X2

    Giá giao

    X1                                          X3                      ngay của

    đồng tiền

    cơ sở

    • Như vậy, có thể thấy có rất nhiều mô hình đầu cơ trên hợp đồng quyền chọn, mỗi cách thức đều có những ưu nhược điểm khác nhau. Ngoài ra còn một số mô hình đầu cơ phức tạp khác như: đầu cơ theo kiểu mũi tên( straddle), theo kiểu kết hợp giữa các loại : strangle( quyền chọn gìm gia), strap( tạm dịch là dải băng), strip( tạm dịch là theo dải băng hẹp), condor…trong phạm vi bài thuyết trình của mình với trình độ hạn chế nhóm thuyết trình đã cố gắng tìm hiểu những mô hình đơn giản và dễ áp dụng nhất nhằm mang đến những cái nhìn ban đầu cơ bản nhất về các cách thức đầu cơ trên hợp đồng quyền chọn.

    Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch options trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới.

    II. GIỚI THIỆU VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN TRÊN THẾ GIỚI:

    1.     Đôi nét về các sàn giao dịch quyền chọn trên thế giới:

    1.1. Sàn giao dịch Chicago Board Options Exchange – CBOE:

    1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    • Tính đến thời điểm hiện tại, CBOE là sàn giao dịch quyền chọn lớn nhất thế giới cả về số lượng lẫn qui mô. Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường. Năm 2006 CBOE chính thức chuyển từ tổ chức hoạt động phi lợi nhuận trực thuộc Chính phủ sang hình thức doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận.

    26

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Ngày 26/04/1973 là ngày giao dịch đầu tiên sàn CBOE được đưa vào hoạt động với 911 hợp đồng quyền chọn mua được giao dịch dựa trên 16 loại chứng khoán cơ sở. Năm 1975, hệ thống yết giá được thiết kế trên chương trình máy tính, công thức Black-Scholes được áp dụng vào phương thức định giá quyền chọn, đồng thời thành lập công ty thanh toán bù trừ quyền chọn đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng. Vì vậy, người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán. Điều này khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn hơn đối với công chúng.
    • Tháng 06/1977 các hợp đồng quyền chọn bán đầu tiên được đưa vào giao dịch. Năm 1983 CBOE đã tạo nên một cuộc cách mạng mới trong ngành kinh doanh quyền chọn bằng cách đưa ra các hợp đồng quyền chọn dựa trên chỉ số chứng khoán như: CBOE-100, chỉ số S&P 100 (OEX) và chỉ số S&P 500 (SPX). Năm 1985 CBOE thành lập viện đào tạo quyền chọn để đào tạo cho các nhà đầu tư trên khắp thế giới về quyền chọn và áp dụng quyền chọn chỉ số chứng khoán NASDAQ.
    • Ngành kinh doanh này phát triển mạnh mẽ cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ nặng nề vào năm 1987. Bị tổn hại bởi cú sốc này, nhiều nhà đầu tư cá nhân sử dụng quyền chọn trước đây đã tránh xa thị trường này, và khối lượng giao dịch chỉ mới phục hồi ở mức năm 1987 trong thời gian gần đây.
    • Năm 1993, CBOE cho ra đời quyền chọn FLEX, với quyền chọn này đã phá đi những qui định đã được chuẩn hoá trước đây và cho phép nhà đầu tư có thể thiết lập hợp đồng quyền chọn FLEX rất linh hoạt bằng bất cứ mức giá thực hiện nào, cũng có thể có bất kỳ ngày đáo hạn nào.

    1.1.2. Về giao dịch và thanh toán:

    Về cơ bản sàn giao dịch CBOE có thể khái quát như sau:

    27

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Người

    mua

    (1a) (6a) (7a)  
    (6b) (7b) Môi
         
          giới
        trên sàn
    Môi (2a)
    giới   của
    của     người
    người (5a) môi
    mua    
         
           

    (8a)

    (8b)

    Công ty

    thanh

    toán của

    người                                          (9a)

    môi giới

    của người

    Người

    bán

    (1b)

        Môi    
        giới    
    SÀN GIAO   trên sàn    
        Môi
      của  
        (2b)
    DỊCH QUYỀN   người   giới
    CHỌN     của
      môi  
            người
         
            (5b)
         
            bán
             

    (4)

          Công ty
      Trung tâm
        thanh
      thanh toán   toán của
          người
    (9a)
          môi giới
          của
           

    (1a)(1b) Người mua và Người bán chỉ thị cho nhà môi giới riêng của mình tiến hành một giao dịch quyền chọn.

    (2a)(2b) Người môi giới của người mua và người bán yêu cầu nhà môi giới trên sàn của của công ty mình thực hiện giao dịch.

    • Các nhà môi giới trên sàn gặp gỡ trên sàn giao dịch quyền chọn và thống nhất giá cả.
    • Thông tin về giao dịch được báo cho trung tâm thanh toán bù trừ.

    (5a)(5b) Nhà môi giới trên sàn thông báo giá cho người môi giới của người mua và người bán.

    28

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    (6a)(6b) Người môi giới của người bán và người mua thông báo giá về cho người bán và người mua.

    (7a)(7b) Người mua (người bán) ký gửi phí quyền chọn cho người môi giới.

    (8a)(8b) Người môi giới của người mua và người bán ký gửi phí quyền chọn và tiền ký quỹ cho công ty thanh toán của mình

    (9a)(9b) Công ty thanh toán của người môi giới của bên mua và bên bán ký gửi phí quyền chọn và tiền ký quỹ cho trung tâm thanh toán bù trừ.

    • Năm 2002, CBOE đã chuyển đổi thành công từ hệ thống đấu giá thủ công sang hệ thống sàn giao dịch lai ghép (Hybrid Trading System), bằng phương thức này, các thành viên giao dịch trên sàn có thể sử dụng giao dịch điện tử tự động song song với phương thức đấu giá công khai thủ công.
    • Hệ thống giao dịch lai ghép được CBOE xây dựng một cách linh hoạt, nó có thể thích ứng với mọi nhu cầu và thay đổi của thị trường, dẫn đến khối lượng khách hàng và giao dịch qua hệ thống ngày một tăng cao.
    • Ngoài ra, CBOE cũng xây dựng thành công hệ thống tạo lập thị trường từ xa (Remote Market Making) và áp dụng giao dịch vào ngày 26/04/2005, cho phép tổ chức, hình thành các nhà tạo lập thị trường và tiến hành giao dịch qua mua bán hợp đồng quyền chọn từ khắp nơi trên thế giới, nhằm mục đích mở rộng qui mô giao dịch và thanh toán vượt ra khỏi khu vực. Trong năm 2005, hệ thống này đã thu hút hơn 197 thành viên tham gia và đạt được 20% khối lượng giao dịch mỗi ngày qua sàn CBOE.
    • Mỗi ngày, các phiên giao dịch sẽ được thực hiện thông qua các hệ thống sàn giao dịch điện tử tự động (Exchange’s Rapid Opening System) và sàn giao dịch ghép (Exchange’s Hybrid System) bởi các nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới trên sàn và nhân viên giữ sổ lệnh. Thời hạn giao dịch phải được đảm bảo song song với thị trường chứng khoán cơ sở. Trình tự giao dịch được sắp xếp theo thứ tự nguyên tắc ưu tiên theo thời gian đáo hạn gần nhất của các hợp đồng quyền chọn. Nguyên tắc khớp lệnh được ưu tiên cho giá tốt nhất, nếu các lệnh cùng giá thì ưu tiên cho lệnh giới hạn được đăng ký trong sổ của nhân viên giữ sổ lệnh, sau đó là thời gian đặt lệnh và 3 giờ 15 phút chiều đối với các hợp đồng quyền chọn chỉ số. Việc giao dịch khớp lệnh luôn được giám sát và xác nhận của các nhân viên điều hành sàn giao dịch.
    • Lệnh mua phải xác định nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới, mã chứng khoán cơ sở, loại hợp đồng quyền chọn, thời gian đáo hạn, giá thực hiện, giá chuyển nhượng, khối lượng giao dịch, tên công ty thanh toán và được cung cấp đến các thành viên giao dịch có liên quan trên sàn. Các thông tin này sẽ được công bố trên sàn trong vòng 90 giây.

    29

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Mọi thành viên trên sàn đều được thông báo đến công ty thanh toán bù trừ quyền chọn. Các thông tin bao gồm: loại hợp đồng, chứng khoán cơ sở, giá thực hiện, số lượng hợp đồng, thời gian đáo hạn, phí giao dịch, nhà môi giới, tài khoản giao dịch, thời gian mua bán, xác nhận của thành viên công ty thanh toán liên quan và một số thông tin khác.
    • Công tác giao nhận chứng khoán cơ sở, thanh toán hợp đồng quyền chọn đều phải thông qua công ty thanh toán bù trừ và tuân theo nguyên tắc giao dịch của công ty thanh toán bù trừ. Khi đến ngày đáo hạn hay người sở hữu hợp đồng yêu cầu thực hiện, Công ty đề nghị khách hàng bên mua nộp số tiền tương ứng với giá trị hợp đồng đối với quyền chọn mua cổ phiếu, hoặc chứng khoán cơ sở đối với hợp đồng quyền chọn bán, sau đó yêu cầu khách hàng bán quyền chọn nộp cổ phiếu cơ sở hay tiền mặt tương ứng để tiến hành chuyển giao. Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện chuyển giao hoặc thanh toán thì Công ty sẽ xử lý theo luật Chứng khoán và qui định của Cục dự trữ liên bang.

    1.2. Sàn giao dịch quyền chọn NYSE EURONEXT:

    1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    • Euronext là sàn giao dịch chứng khoán của nhiều nước châu Âu, đặt trụ sở ở Paris và có chi nhánh tại Bỉ, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh. Euronext được thành lập ngày 22/9/2000 sau vụ sáp nhập của Amsterdam Stock Exchange, Brussels Stock Exchange, và Paris Bourse, để tận dụng lợi thế từ sự nhất quán của thị trường tài chính EU. Tháng 12/2001 Euronext mua lại cổ phiếu của Sàn giao dịch hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai London (LIFFE).
    • Ngày 22 /06/2006 Euronext đã ký hợp đồng sáp nhập vào NYSE với giá 10,2 tỷ USD. Và vào 28/03/2007, một sàn giao dịch chứng khổng lồ xuyên Đại Tây Dương đã ra đời, sàn chứng khoán NYSE cuối cùng cũng đã giành quyền kiểm soát sàn giao dịch chứng khoán Châu Âu – Euronext, sàn giao dịch mới này trị giá tới 28 tỉ đô la, liên kết các sàn giao dịch tại 6 quốc gia lớn. NYSE Euronext cho phép giao dịch các loại chứng khoán và công cụ phái sinh trong suốt khoảng thời gian 21 giờ mỗi ngày.
    • Ngày 16/02/2011 NYSE Euronext và Deutsche Boerse chính thức sáp nhập Deutsche Boerse AG đã đồng ý chi ra 9,53 tỷ USD để mua lại Stock Exchange NYSE Euronext, tạo ra công ty điều hành sàn chứng khoán lớn nhất thế giới và có thể thúc đẩy một số sự hợp nhất bổ sung khác. Sau vụ mua lại, Deutsche Boerse sẽ sở hữu 60% của công ty sau sáp nhập, và các cổ đông của NYSE Euronext nắm giữ 40% cổ phần.Tính đến ngày 15/2/2011, NYSE có mức vốn hóa thị trường là 9,92 tỷ USD, và Deutsche Boerse có tổng giá trị cổ phiếu khoảng 15 tỷ USD.

    1.2.2. Cơ chế giao dịch quyền chọn thông qua sàn giao dịch NYSE Euronext:

    Bước l: Nhà đầu tư đến mở tài khoản tại một công ty môi giới. Sau đó nhà đầu tư có thể

    đặt lệnh mua hoặc bán quỵền chọn ngoại tệ với các thông tin cụ thể về: cặp ngoại tệ, phí quyền

    30

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    chọn, thời gian đáo hạn của hợp đồng, số lượng đơn vị hợp đồng căn cứ vào các lệnh mua, loại quyền chọn kiể châu Âu hay kiểu Mỹ bán trên hiện đang có trên bảng điện của sàn giao dịch thông qua hệ thống Internet hoặc đặt lệnh ngay tại công ty hoặc đến trực tiếp và đặt lệnh ngay tại sàn bằng phương thức truyền thống ( đưa ra lệnh bằng tay)

    Bước 2: Công ty môi giới kiểm tra và chuyển lệnh mua hoặc bán quyền chọn ngoại tệ của khách hàng cho đại diện của công ty đang có mặt tại sàn hoặc sẽ có người đứng tại sàn và trực tiếp ghi nhận lệnh giao dịch bằng tay của khách hàng .Sau đó người đại diện sẽ nhập lệnh vào hệ thống của sàn Euronext.

    Bước 3: Hệ thống điện tử sàn Euronext sẽ tự động khớp lệnh và thông báo kết quả giao dịch quyền chọn ngoại tệ cho công ty môi giới.

    Bước 4: Công ty môi giới sẽ thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư đồng thời sẽ trừ vào tài khoản của nhà đầu tư một số tiền là phí quyền chọn ( được tình bằng loại ngoại tệ có quy định sẵn trong hợp đồng) để gửi đến công ty môi giới quản lí tài khoản của đối tác thực hiện giao dịch với khách hàng mình.

    Bước 5: Đến ngày đáo hạn hợp đồng quyền chọn ngoại tệ ( đối với kiểu Châu Âu) hoặc bất kì thời điểm nào mà nhà đầu tư ( khách hàng) yêu cầu (đối với quyền chọn kiểu Mỹ) công ty môi giới sẽ tất toán giao dịch của nhà đầu tư và chuyển kết quả đó vào tài khoản cùa nhà đầu tư.

    1.3. Sàn giao dịch Chứng khoán Tokyo – TSE:

    1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    • Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE) được thành lập ngày 01/01/1878. Từ khi thành lập đến năm 1988, TSE chỉ giao dịch hàng hóa chứng khoán đơn thuần. Tới ngày 03/09/1988 TSE bắt đầu tiến hành giao dịch các hợp đồng tương lai và giao dịch các hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán Tokyo vào năm 1989. Ngày 18/07/1997, TSE đưa vào giao dịch các hợp đồng quyền chọn chứng khoán dựa trên 166 cổ phiếu cơ sở của các công ty Nhật.
    • Ngày 09/04/2001, TSE phối hợp với Công ty Standard & Poor, chọn ra 150 chứng khoán cơ sở có độ thanh khoản cao nhất thời bấy giờ làm danh mục chuẩn và tiến hành giao dịch các hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán S&P/TOPIX 150.
    • Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo được đánh giá là sàn giao dịch chứng khoán và các hợp đồng phái sinh hàng đầu Nhật Bản và Châu Á. Khối lượng giao dịch các hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai qua sàn TSE phát triển tăng vọt vào giữa thập niên 1990 và trở thành một trong những thị trường năng động với tính thanh khoản cao. Ngoài ra, TSE còn giao dịch các hợp đồng tương lai, quyền chọn tài sản.

    31

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    1.3.2. Cơ chế giao dịch quyền chọn thông qua sàn giao dịch TSE:

    • Các hợp đồng quyền chọn trên sàn TSE được giao dịch theo nguyên tắc đấu giá, kết quả giao dịch được xác định theo trình tự ưu tiên về giá và thời gian đặt lệnh. Có hai cách xác định giá giao dịch:
    • Xác định giá đóng cửa và mở cửa của các phiên giao dịch trên cơ sở xác định mức giá hợp lý nhất từ ghi nhận tập trung các lệnh giao dịch.
    • Giá giao dịch được xác định trong suốt các phiên giao dịch theo nguyên tắc ưu tiên về giá và thời gian đặt lệnh. Nếu không có lệnh mua nào được khớp thì TSE sẽ đề nghị các mức giá để các bên tham gia giao dịch.
    • Khách hàng phải mở tài khoản giao dịch tại các thành viên trên sàn TSE trước khi tiến hành giao dịch hợp đồng quyền chọn. Trước khi đặt lệnh, khách hàng phải ký quỹ vào tài khoản và ủy quyền cho các thành viên giao dịch thông qua tài khoản này. Nếu số tiền ký quỹ không đáp ứng được giá trị giao dịch hoặc nghĩa vụ thanh toán, khách hàng phải ký quỹ bổ sung ngay ngày hôm sau.
    • Tất cả các giao dịch hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai trên sàn TSE được thực hiện thông qua các Thành viên giao dịch tổng hợp. Tất cả các lệnh và quá trình khớp lệnh đều được thực hiện thông qua hệ thống giao dịch điện tử tự động (Computerized order Routing and Execution System for Futures and Options – CORES-FOP), các lệnh giao dịch sẽ được nhập vào hệ thống từ các máy trạm của các thành viên giao dịch thông qua hệ thống máy vi tính nối mạng với Sở giao dịch.
    • Đến thời hạn thanh toán, nếu khách hàng muốn thực hiện hợp đồng thì phải chỉ định cho các thành viên giao dịch trên sàn trước 16 giờ của ngày giao dịch, các thành viên có trách nhiệm thông báo việc thực hiện cho sàn giao dịch thông qua hệ thống CORES-FOP trước 16 giờ
    1. Sau đó, TSE sẽ chỉ định thành viên có liên quan trên sàn thực hiện chuyển giao chứng khoán và thanh toán tiền tương ứng vào ngay ngày hôm sau thông qua hệ thống thanh toán.
    1. Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ thế giới:

     

    • Doanh thu hợp đồng quyền chọn của 54 nước trên thế giới xét trong tháng 4 hàng năm tăng dần tính từ năm 1995 đến năm 2010. Trong 3 năm từ 2007 đến 2010 hoạt động quyền chọn diễn ra mạnh mẽ hơn, doanh thu tăng vọt, gấp đôi so với những năm trước đó, đặc biệt là ở Anh và Mỹ. Nhưng Anh chiếm tỷ trọng cao nhất là 106/253 năm 2007, và 135/247, tiếp theo đó là Mỹ, còn một số nước khác như Nhật Bản, Hồng Kông, Đan Mạch, Singapore, Pháp…cũng có mức tăng trưởng đáng kể. Nguyên nhân là do thị trường chứng khoán trong những năm này phát phát triển so với những năm trước cộng với việc mở rộng hoạt động ngoại thương của các tổ chức tài chính ở các quốc gia như: quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quỹ hỗ tương, công ty bảo hiểm, ngân hàng trung ương…

    32

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch trung bình hàng ngày về quyền chọn ngoại tệ của một số quốc gia từ 1995-2010

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    33

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    – Hiện nay, quyền chọn được thực hiện thông qua nhiều hình thức cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin ngày càng hiện đại như: giao dịch tại quầy với môi giới, các khách hàng giao dịch trực tiếp với nhau, giao dịch điện tử, giao dịch liên ngân hàng, giao dịch qua điện thoại. Thông qua bảng số liệu, ta thấy mức độ giao dịch diễn ra 1 ngày tính trung bình trong tháng 4-2010 thì doanh thu qua hình thức khách hàng giao dịch trực tiếp với nhau đạt mức cao nhất, còn giao dịch qua thị trường liên ngân hàng chiếm tỷ trọng thấp nhất. Như vậy, hình thức giao dịch trực tiếp được sử dụng phổ biến hơn. Đây là hình thức mà khách hàng thực hiện với đại lý hay khách hàng khác mà không qua trung gian, họ sẽ liên lạc với nhau qua điện thoại trực tiếp hoặc Reuters Conversational Dealing.

    Doanh số giao dịch trung bình hàng ngày về quyền chọn ngoại tệ thông qua các cách thức giao dịch

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    • Loại tiền tệ trong doanh thu của giao dịch quyền chọn đã có một ít thay đổi trong vòng ba năm 2004,2007,2010; với thị phần tương đối của các đồng tiền chính. Cụ thể thị phần của ba đồng tiền (đồng đô la Mỹ, Euro và đồng yên Nhật Bản) tăng 3%. Sự gia tăng lớn nhất được thấy rõ đối với đồng Euro và đồng Yên, và sự suy giảm lớn nhất là đồng bảng Anh.

    34

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tính theo một số loại tiền tệ trên thị trường OTC

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    • Nhìn vào biểu đồ ta thấy tổng giá trị quyền chọn dưới hoặc một năm chiếm tỷ trọng lớn khoản 72%. Đối với những quyền chọn thời hạn trên 5 năm khối lượng tương đối ít. Sự phân phối của doanh thu theo thời gian đáo hạn cho thấy quyền chọn ngắn hạn luôn chiếm ưu thế hơn so với các quyền chọn có thời gian dài vì càng dài càng rủi ro và phí quyền chọn càng cao. càng cao.

    35

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tính theo thời điểm đáo hạn hợp đồng trên thị trường OTC

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    • Qua các năm, tính từ cuối tháng 6/2004,2007 và 2010, ta thấy giá trị giao dịch quyền chọn tăng lên theo thời gian, đặc biệt là năm 2007 tăng hơn gấp đôi năm 2004, còn năm 2010 có sự sụt giảm nhẹ. Tương tự các hợp đồng quyền chọn vàng cũng tăng lên vào năm 2007 và sụt giảm ở năm 2010 so với năm 2004, nguyên nhân của sự biến động này là do những biến động bất thường của thị trường vàng thế giới với những mức giá kỷ lục liên tiếp được thiết lập

    36

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tính theo các mốc thời gian trên thị trường OTC (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    37

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    III. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ VIỆT NAM HIỆN NAY:

    1.     Cơ sở pháp lý:

    1.1. Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối:

    • Trong thời gian qua, thị trường ngoại hối phát triển với nhiều nghị định, quyết định, văn bản hướng dẫn… Trong đó, Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/1/2001 về quản lý ngoại hối, quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa NHTM với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, NHNN nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho các NHTM và TCTD, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.
    • Cơ chế điều hành tỷ giá cũng đã có những thay đổi đáng kể. Vào tháng 5/2004, NHNN đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi suất. Tháng 7/2006, NHNN bỏ biên độ giao dịch đô la Mỹ tiền mặt, cho Eximbank thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận.
    • Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, và gần đây nhất đã được nâng lên +/-3%. Việc nới lỏng biên độ tỷ giá góp phần phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.
    • Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM .

    1.2. Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn ngoại tệ:

    • Nhằm thúc đẩy giao dịch ngoại hối phát triển, ngày 10/01/1998 NHNN ban hành quyết định 17/1998/QĐ-NHNN ban hành quy chế giao dịch hối đoái. Quy chế này tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, tăng cường sự giám sát quản lý của NHNN về lĩnh vực ngoại hối. Tuy nhiên giao dịch ngoại hối mới chỉ được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi.
    • Ngày 12/02/2003 công văn 135/NHNN-QLNH về giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ ra đời, cho phép Eximbank là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm

    38

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ. Trong đó, công văn cũng quy định cụ thể phương thức thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng cũng như đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn sô dư…

    • Ngày 10/11/2004, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các TCTD ra đời, thay thế và khắc phục những hạn chế của quyết định 17, theo đó cho phép tất cả các TCTD được phép thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ mà không cần xin phép NHNN. Quyết định này cho phép TCTD và khách hàng tự thỏa thuận kỳ hạn giao dịch cũng như cho phép các cá nhân được tham gia giao dịch. Đây là sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý hoạt động ngoại hối giúp thị trường quyền chọn ngày càng đa dạng hơn.
    • Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN_QLNH cho phép ACB triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các NHTM khác dưới sự cho phép của NHNN.
    • Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.

    1.3. Cơ sở pháp lý về quyền chọn vàng:

    • Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 v/v kinh doanh vàng trên tài khoản
    • nước ngoài.
    • Quyết định số 11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/03/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN.
    • Thông tư số 01/2010/TT-NHNN Bãi bỏ Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài và Quyết định số 11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/03/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN.
    • Thông tư số 10/2010/TT-NHNN ngày 26/3/2010 về việc sửa đổi khoản 2, khoản 3 Điều 2 Thông tư số 01/2010/TT-NHNN ngày 06/01/2010 về việc bãi bỏ Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài và Quyết định số 11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/3/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN
    • Văn bản cho phép của NHNN số 458/CV – QLNH ngày 16/7/2004. Theo đó, kể từ ngày 15/12/2004, NHTMCP Á Châu bắt đầu cung cấp cho khách hàng là các cá nhân và tổ chức một sản phẩm mới, đó là quyền chọn mua và bán vàng, gọi tắt là quyền chọn vàng (gold option)

    39

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    nhằm mục tiêu chủ yếu đáp ứng nhu cầu bảo hiểm giá cho khách hàng khi sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán và đầu tư.

    1.4. Đánh giá chung về cơ sở pháp lý đối với giao dịch Quyền chọn ngoại tệ:

    Như vậy chúng ta có thể thấy các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành khá nhiều nhưng chưa cụ thể và đầy đù để có thể thúc đẩy các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, nó chỉ mang tính tức thời, bổ sung cho thị trường ngoại hối, chứ chưa có được một bộ luật hoàn chỉnh, cụ thể, có thể hỗ trợ các tổ chức tài chính ngân hàng và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư … trong việc hoạch định các chiến lược kinh doanh dài hạn trên thị trường.

    2.     Thực trạng hoạt động của thị trường quyền chọn ở Việt Nam trong thời gian qua:

    2.1. Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ:

    • Về phía các Ngân hàng tham gia giao dịch: Trong giai đoạn thí điểm, các NHTM muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ phải là ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu là 1 tỷ USD. Ngoài ra, NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc ngân hàng nhà nước (NHNN) chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm. Eximbank là ngân hàng đầu tiên thực hiện thí điểm. Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Viet Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Agribank.

     

    • Đặc điểm giao dịch: Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các doanh nghiệp và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện. Đặc biệt, quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu, trong đó:
    • Người mua quyền chọn là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.
    • Người bán quyền chọn là các NHTM .
    • Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
    • Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ hoặc Châu Âu.
    • Về doanh số giao dịch:
    • Tính đến tháng 6/2004, mặc dù lợi ích trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro đã thấy rõ như một nhu cầu cấp thiết, nhưng số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn 50 triệu USD của Eximbank ký

    40

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.

    • Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như Eximbank, Techcombank, còn lại các ngân hàng vẫn không có giao dịch.

    Bảng: Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại VCB-HCM

            Đơn vị tính: triệu đồng
               
    Năm Doanh  số quyền Tỷ lệ tăng % %  quyền  chọn  /
      chọn     tổng doanh số  
    2006 14.774   31,29 0,17  
    2007 18.244   23,07 0,16  
    2008 23.121   27,59 0,16  
    2009 32.814   26,33 0,17  

    Nguồn: Phòng kinh doanh ngoại tệ VCB

    • Doanh số quyền chọn của VCB tuy có tăng qua các năm với tốc độ cao nhưng vẫn chiếm một lượng quá nhỏ đối với tổng doanh số giao dịch của ngân hàng (chưa đến 0,2%).
    • Tại EIB, tổng giá trị của hợp đồng quyền chọn tiền tệ năm 2008 đạt 11.709 triệu đồng. Đến quý 1 năm 2010, tổng giá trị các hợp đồng mua tiền tệ mà EIB mua vào đạt 2.543 triệu đồng, tương đương với 15 triệu đồng tài sản trên bảng cân đối kế toán. Tổng giá trị các hợp đồng mua tiền tệ mà EIB bán ra đạt 2.584 triệu đồng tương đương với 31 triệu đồng công nợ trên bảng cân đối kế toán. Ngân hàng chỉ là trung gian trong các hợp đồng quyền chọn này, thực hiện mua bán với khách hàng và cân đối lại trên thị trường liên ngân hàng.
    • Sacombank cũng thực hiện mua bán quyền chọn tiền tệ. Năm 2008, tổng giá trị các giao dịch quyền chọn tiền tệ của ngân hàng này là 2.784 triệu đồng, giao dịch quyền chọn bán có tổng trị giá 2.411 triệu đồng.
    • Ngoài ra thì một số ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể.

    2.2. Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ):

    • Về phía các ngân hàng tham gia giao dịch: Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triển khai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ. ACB là ngân

    41

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụ này, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD và mức tối thiểu là 10.000 USD (quy đổi ngoại tệ khác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịch giữa các ngoại tệ khác và VNĐ). Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trị hợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ được thực hiện với quyền chọn Châu Âu. BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từ đây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank, GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này. Như vậy, tính đến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ.

    • Đặc điểm giao dịch: Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các NHTM muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được NHNN chấp nhận bằng văn bản. Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:
    • Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.
    • Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.
    • Doanh số giao dịch: Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các NHTM không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn. Qua kết quả thăm dò, các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể. Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động vẫn không cao. Tính trong năm 2006-2007 Vietcombank chỉ đạt khoảng 37,53 triệu USD (chiếm chưa đến 0,1% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ), Eximbank đạt 128,12 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% trong tổng số giao dịch ngoại tệ). Qua thực tế trên, chúng ta thấy rằng giai đoạn này giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ cũng chưa phát triển nhiều.

    2.3. Quyền chọn vàng:

    • Về phía ngân hàng tham gia giao dịch: Giao dịch quyền chọn vàng được ACB thực hiện thí điểm theo văn bản cho phép của NHNN số 458/CV – QLNH ngày 16/7/2004. Theo đó, kể từ ngày 15/12/2004, NHTMCP Á Châu bắt đầu cung cấp cho khách hàng là các cá nhân và tổ chức một sản phẩm mới, đó là quyền chọn mua và bán vàng, gọi tắt là quyền chọn vàng (gold option) nhằm mục tiêu chủ yếu đáp ứng nhu cầu bảo hiểm giá cho khách hàng khi sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán và đầu tư. Chúng ta đã biết tại Việt Nam giai đoạn này, vàng vẫn đang được coi là đơn vị tính toán để mua bán bất động sản. Sử dụng sản phẩm quyền chọn vàng người mua bất động sản có thể đảm bảo khả năng chi trả và tránh thua lỗ trước những biến động tăng của giá vàng mà vẫn có lợi khi giá vàng xuống, còn người bán thì một mặt luôn

    42

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    đảm bảo lợi nhuận khi giá vàng xuống, mặt khác sẽ có lãi nhiều hơn khi giá vàng tăng. Trong điều kiện nhu cầu nhà ở của người dân đang ngày càng tăng, đồng thời giá vàng liên tục có những biến động mạnh và khó dự báo như trong thời gian qua, sản phẩm quyền chọn vàng đã đáp ứng được nhu cầu của nhiều người và các thành phần kinh tế có giao dịch vàng trong kinh doanh. Do đó, sau ACB, các NHTM khác cũng bắt đầu triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn bằng vàng cho các khách hàng của mình, gồm: 3 NHTM nhà nước là Vietcombank, Agribank, BIDV, và một số NHTMCP gồm: Sacombank, Eximbank, Techcombank, VIB Bank, Việt Á, Phương Đông, Phương Nam…trong đó chủ yếu là đang trong giai đoạn nghiên cứu sản phẩm quyền chọn hoặc chuẩn bị triển khai thực hiện.

    Đặc điểm giao dịch:

    • Mục đích sử dụng: Khách hàng có nhu cầu có nhu cầu mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán để phòng ngừa rủi ro biến động giá vàng và kinh doanh sinh lợi theo xu hướng giá.
    • Thời hạn và quy mô giao dịch:
    • Đối với Eximbank: Quy mô tối thiểu 100 lượng vàng, thời hạn 3 ngày đến 365 ngày. Loại vàng được giao dịch là các loại vàng được Eximbank mua bán tại thời điểm giao dịch.
    • Đối với ACB: Quy mô tối thiểu 100 lượng vàng còn quy mô tối đa là 5.000 lượng vàng đối với khách hàng cá nhân và 10.000 lượng vàng đối với doanh nghiệp ngoài NH. Trong đó, tổng trị giá các hợp đồng còn tồn đọng được phép ký kết giữa NH với một khách hàng duy nhất tối đa không được vượt quá 20.000 lượng vàng. Về thời hạn giao dịch, tối thiểu là 2 tuần và tối đa là 6 tháng, trong đó chuẩn hoá các kỳ hạn như 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng.
    • Doanh số giao dịch:
    • Quyền chọn vàng tại ACB chủ yếu là các khách hàng cá nhân có nhu cầu phòng ngừa rủi ro biến động giá vàng cho các khoản thanh toán vàng trong tương lai, phục vụ cho các khoản thanh toán vàng trong mua bán nhà đất và trả nợ vay. Các quyền chọn này có quy mô tương đối nhỏ, dưới 200 lượng, có những quyền chọn có quy mô khá nhỏ, chỉ 50 lượng cho một quyền chọn, lợi nhuận mang lại từ nghiệp vụ này cho AC không cao.

    43

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Tổng hợp tình hình giao dịch quyền chọn vàng của NHTMCP Á Châu từ tháng 4 – 7/2006

      ACB bán option         ACB giao dịch với nước ngoài        
                                   
      Call     Put     Tổng Call     Put        
                  cộng                
        Quy Phí   Quy Phí   Quy     Quy      
          (triệu         Tổng  
    Tháng Số (triệu Số (triệu Số Phí Số Phí
    lượng (lượng) VND) lượng (lượng) VND) VND) lượng (oz) (USD) lượng (oz) (USD) cộng  
     
                                   
    4 5 440 187,4 2 350 120.5 307,9 4 540 10.569 2 420 6.688 17.257  
                                   
    5 6 660 807,1       807,1 5 820 46.635       46.635  
                                   
    6 6 500 472,7 1 120 75 492,7 6 690 21.282 1 150 2.526 23.808  
                                   
    7 3 210 205,5       205,5 3 280 11.910,6       11.910,6  
                                   
    Tổng                              
    cộng 20 1810 1672,7 3 470 195.5 1813,2 18 2330 90.396,6 3 570 55.849 99.610,6  
                                   

    (Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh vàng của NHTMCP Á Châu)

    • Theo số liệu từ NHTMCP Á Châu, ước tính mức lợi nhận từ hoạt động kinh doanh vàng của NH trong năm 2006 đem lại chiếm từ 9 – 10% tổng lợi nhuận của NH. Trong đó, lợi nhuận từ giao dịch quyền chọn vàng đem lại cho NH chỉ khoảng gần 2 tỷ VND. Đây là mức lợi nhuận chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong tổng mức lợi nhuận của ngân hàng hoặc mức lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh vàng tại ngân hàng trong năm qua nhưng cũng đã góp phần đáng kể trong việc gia tăng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Nếu tính trong bình diện chung của các NHTM cung cấp giao dịch quyền chọn vàng trên địa bàn TPHCM thì NHTMCP Á Châu có thể được xem là NH có lượng KH giao dịch nhiều nhất và có kết quả từ giao dịch này là tốt nhất.
    • Cụ thể là NHTMCP Sài gòn thương tín sau một thời gian cung cấp đã tạm ngưng sản phẩm này từ cuối tháng 12/2005 cho đến nay vì quy mô giao dịch quyền chọn vàng tại NH này khá cao, tối thiểu 100 lượng vàng nhưng tại một số thời điểm đã lên đến 800 lượng vàng và mức phí phải trả rất cao vì khi bán nghiệp vụ này NHTMCP Sài gòn thương tín phải mua đối ứng lại với NH nước ngoài và điều kiện của NH nước ngoài phải có từ 800 lượng vàng trở lên và mức phí được tính theo giá vàng thế giới, ở một số thời điểm lên đến 2,5%/doanh số, gần 30%/năm cho hợp đồng quyền chọn kỳ hạn 1 tháng. Dẫn đến tình trạng có rất ít khách hàng giao dịch tại ngân hàng, lợi nhuận có được không bao nhiêu so với chi phí đầu tư cho sản phẩm. Do đó, ngân hàng đã tạm thời ngưng cung cấp sản phẩm quyền chọn này cho đến nay.

    44

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Hoặc như NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, mặc dù giao dịch quyền chọn đã được triển khai từ đầu năm 2006 nhưng cho đến nay chỉ có 2 hợp đồng quyền chọn mua được ký kết giữa KH trong nước với NH, trị giá 200 lượng vàng. Trong khi đó, nghiệp vụ kỳ hạn lại thu hút đến 65 ngàn lượng vàng với 338 hợp đồng được ký kết dù nghiệp vụ này cũng mới được NH này áp dụng và cho phép KH của mình thực hiện vào đầu năm 2006.

    Như vậy, thông qua một vài số liệu về kết quả có được cũng như tình hình triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn vàng tại các NHTMVN trong thời gian qua đã cho thấy giao dịch quyền chọn vàng vẫn còn khá mới mẻ, chưa đem lại kết quả kinh doanh như bản thân những lợi ích có được từ giao dịch này cho bản thân các ngân hàng cung cấp và ngay cả các nhà đầu tư tại thị trường Việt Nam.

    2.4. Đánh giá chung về thực trạng sử dụng quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam trong thời gian qua:

    2.4.1. Những cơ hội của việc phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam:

    Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế đã có nhiều bước chuyển biến tích cực hơn, tiềm năng phát triển của nền kinh tế còn rất lớn. Để khai thác tiềm năng này, các yêu cầu về minh bạch, cơ chế, chính sách thông thoáng… ngày càng được chú trọng và thực hiện quyết liệt hơn.

    • Các yêu cầu ngày càng cao về công khai và minh bạch hóa thông tin: Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, tính cạnh tranh ngày càng cao, vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa thông tin thị trường, nền kinh tế ngày càng được đòi hỏi, yêu cầu cao hơn. Việc thành lập thị trường options nói chung và thị trường options ngoại tệ nói riêng ở Việt Nam sẽ giúp các hoạt động này diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường một cách công bằng hơn so với trước đây, chúng ta sẽ giảm được độc quyền, sự phân biệt và các giao dịch bí mật trong thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động quảng bá sản phẩm của các ngân hàng.
    • Cơ chế, chính sách thông thoáng hơn khi Việt Nam đã tham gia vào WTO: Ở Việt Nam, do chưa từng phải chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Do chính sách quản lý các giao dịch vốn những năm trước đây còn chủ yếu dựa vào cơ chế hành chính, tự phong toả là chính, mức độ tự do hoá rất hạn chế…, nên việc áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu còn chưa trở thành nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, đang có rất nhiều thay đổi về mặt chính sách. Mở cửa thị trường vào không gian WTO, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất đã được tự do hoá; lộ trình tự do hoá tài chính đã đi qua rất nhiều bước và trên thực tế, các luồng vốn đã tương đối tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam cả trực tiếp và gián tiếp với qui mô, tần suất ngày càng lớn; chính sách tỷ giá cũng từng bước linh hoạt theo tín hiệu thị

    45

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    trường… Những bối cảnh trên đã, đang là những nhân tố khách quan thúc đẩy các bên tham gia thị trường tài chính Việt Nam phải đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của thị trường phái sinh nói chung và thị trường options ngoại tệ nói riêng trong công tác phòng ngừa rủi ro của mình.

    • Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cả trong hiện tại và tương lai: Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây và nhất là trong những năm hậu WTO, chỉ riêng các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đưa vào Việt Nam một lượng vốn ngoại tệ khổng lồ để đầu tư. Trong số đó có không ít doanh nghiệp FDI chỉ bán hàng trong nước, thu tiền đồng. Họ phải bán ngoại tệ (chủ yếu vẫn là USD) thu VNĐ để thanh toán cho các chi phí, hoặc dùng lượng ngoại tệ này để nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước và cần dùng VNĐ mua ngoại tệ chuyển ra… Trong quá trình đó rủi ro tỉ giá là một điều luôn tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp này. Khi đó, công cụ options ngoại tệ sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tỷ giá nếu được sử dụng trong những trường hợp này, giúp các doanh nghiệp tránh được khoản thiệt hại do tăng hoặc giảm giá ngoại tệ (nếu có). Thế nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Vì vậy, việc phát triển thị trường option ngoại tệ chắc chắn sẽ tạo nhiều cơ hội cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Ngay NHNN Việt Nam cũng thường xuyên có một quĩ dự trữ ngoại hối khá lớn chưa được sử dụng hết, tăng trưởng tự nhiên và chủ yếu là dự trữ đồng USD đang yếu đi khá mạnh theo thời gian, nhưng chưa có một cơ chế đủ rõ ràng để trao quyền phán quyết cho nhà quản lý sử dụng thích ứng các công cụ options với các đối tác trong nước và nước ngoài trong quá trình quản lý và phát triển quĩ. Do đó, thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu sẽ là kênh đầu tư mới, tạo nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà đầu tư, ngay cả các cơ quan quản lý quỹ ngoại hối nhà nước.

    Tóm lại, Việt Nam đã tham gia vào sân chơi toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam ngày càng lớn, các yêu cầu, tiêu chuẩn về phát triển kinh tế ngày càng được đòi hỏi cao hơn, tự do hóa, sự công khai, minh bạch hóa ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu. Khi đó, yêu cầu đặt ra là phải cần những công cụ thị trường để thực hiện hóa, đẩy nhanh tiến trình theo yêu cầu từ bên ngoài và chính nội tại bên trong của nền kinh tế cũng như để ổn định hóa thị trường, nền kinh tế. Thị trường options, đặc biệt là options ngoại tệ và options cổ phiếu có lẻ là một trong những công cụ hiệu quả nhất để thực hiện, đón đầu các cơ hội này

    2.4.2. Những khó khăn, hạn chế của việc phát triển thị trường options ngoại tệ ở Việt Nam hiện nay:

    • Đối với tầm quản lý vĩ mô: Khó khăn trong việc điều chỉnh cũng như ban hành văn bản pháp luật phù hợp thị trường. Đối với cơ quan cấp vĩ mô nhà nước việc ban hành một văn bản pháp luật phù hợp và tạo tính thuận lợi dễ dàng khi thực hiện trong thực tế, để tạo sự yên tâm giao dịch cho các nhà đầu tư không phải là việc có thể thực hiện một sớm một chiều. Song trong thời gian qua, chúng ta đã có thời gian thí điểm chuẩn bị, chúng ta biết chúng ta đang đứng ở

    46

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    đâu, và chúng ta đang gặp thách thức, khó khăn nào, vậy tại sao chúng ta lại không bắt tay vào khắc phục những nhược điểm trên.

    • Đối với các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ (ngân hàng thương mại):
    • Khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ: Tương tự đối với các NHTM, việc trang bị các hệ thống kết nối, thông tin đến khách hàng khá là phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường… đều có giá rất cao, mà không phải ngân hàng nào cũng có thể trang bị được. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.
    • Khó khăn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực: Thị trường options Việt Nam hiện nay chưa phát triển, chúng ta chỉ đang cho phép áp dụng một số công cụ tài chính phái sinh như các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ tại ACB, Vietcombank, Sacombank…và quyền chọn vàng tại ACB. Vì vậy, nguồn nhân lực Việt Nam chưa được chuẩn bị kỹ về kiến thức và khả năng chuyên môn. Hầu hết các ngân hàng, công ty chứng khoán… chưa có đội ngũ nhân lực vững chuyên môn và kiến thức để phổ biến công cụ options đến các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Họ hầu như chỉ được thuyên chuyển qua từ các bộ phận khác. Hiện nay, số người biết, hiểu và sử dụng thành thạo các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu là rất ít. Chúng ta chỉ tổ chức các buổi hội thảo khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam áp dụng các công cụ options ngoại tệ để tự bảo vệ mình, nhưng hầu như chưa tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quyền chọn và phòng ngừa rủi ro đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư.
    • Đối với tâm lý của các doanh nghiệp Việt Nam: Về phía các doanh nghiệp sử dụng quyền chọn, có một thực tế đáng lo ngại ở nước ta. Ví dụ, một doanh nghiệp thậm chí biết rõ là sẽ có rủi ro khi tỉ giá có thể tăng mạnh do lạm phát tăng cao và biết rõ nếu ký mua một hợp đồng quyền chọn mua ngoại tệ sẽ đỡ thiệt hơn nhiều. Nhưng chỉ vì tư duy và cách làm ăn truyền thống, các doanh nghiệp sợ rằng nếu đưa ra quyết định này, nhưng chẳng may có một điều kiện khách quan nào đó làm cho tỉ giá thị trường giảm xuống trái với xu hướng ban đầu, gây thiệt hại một khoản phí quyền chọn ban đầu, không những uy tín, mà địa vị của người ra quyết định đó cũng bị lung lay. Còn nếu mọi dự báo đúng như thực tế thì bản thân người quyết định đó cũng không được lợi lộc gì. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện không qui định rõ ràng trách nhiệm, quyền lợi của lãnh đạo và nhân viên trong đơn vị. Trong khi trên thế giới, các công ty có chính sách quản lý rủi ro rất cụ thể, họ luôn qui định quyền phán quyết mức rủi ro tài chính rõ ràng với từng vị trí lãnh đạo và từng khu vực hay từng quốc gia nếu đó là công ty xuyên quốc gia. Chính điều này đã làm cho các giao dịch quyền chọn nói chung và các quyền chọn ngoại tệ còn rất hạn chế trong thực tế.

    47

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Đối với các nhà đầu tư: Là những rủi ro phải đối mặt trong việc dự đoán tỷ giá, giá cả chứng khoán và xu hướng thị trường. Các công cụ tài chính đều có hai mặt, một mặt các nhà đầu tư có thể phòng ngừa rủi ro, mặt khác đi kèm với nó là rủi ro. Ví dụ như mua một hợp đồng options ngoại tệ để bảo vệ đồng tiền thanh toán, hay mua quyền chọn một cổ phiếu, nhà đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không biết dự đoán tỷ giá đúng theo xu hướng thị trường. Việc thiếu hiểu biết về quyền chọn và khả năng phân tích sẽ gây ra rất nhiều khó khăn và rủi ro khi sử dụng của các nhà đầu tư, khi nhiều nhà đẩu tư gặp rủi ro thì có thể gây ra những bất ổn cho thị trường. Đây cũng là một trong những trở ngại lớn làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam, khi trình độ cũng như khả năng phân tích của các nhà đầu tư và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

    2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế:

    • Nguyên nhân từ thị trường: Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối, …của nước ta còn thấp, đôi khi nó nằm ngoài các rủi ro từ tầm tác động của các “cơn gió lớn”, “cơn bão” tài chính quốc tế. Cùng với đó là tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến. Trong thực tế, những biến động về tỷ giá được dự báo khá “chắc chắn” và giống nhau giữa các đối tượng có mặt trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự báo đó được các bên “cân đối” ngay vào giá của sản phẩm chính như tỷ giá, giá cả cổ phiếu.Việt Nam chưa phải chịu ảnh hướng lớn từ những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nên việc sử dụng các công cụ phái sinh chưa trở thành nhu cầu bức xúc. Tuy nhiên, nền kinh tế đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, mở cửa thị trường, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất được tự do hoá, các luồng vốn được tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam… các nhà lập chính sách về TTTC Việt Nam cần sớm bày tỏ quan điểm để xây dựng và đề xuất hệ thống chính sách khuyến khích phát triển thị trường các công cụ tài chính phái sinh “ăn theo” như quyền chọn ngoại tệ bên cạnh thị trường chính thức như thị trường ngoại hối, thị trường chứng khoán…

     

    Thêm vào đó, do mức độ hiệu quả của thị trường ngoại hối còn yếu nên các giao dịch quyền chọn nói chung không minh bạch và gây thiệt hại cho nhà đầu tư, doanh nghiệp nếu thiếu thông tin. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các nhà đầu tư còn dè dặt áp dụng đối với các công cụ quyền chọn ngoại tệ.

     

    • Nguyên nhân từ sự điều tiết tỷ giá USD/VNĐ: Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết từ phía NHNN khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến khích xuất khẩu. Với xu hướng tỷ giá này, các nhà đầu tư luôn muốn thực hiện quyền chọn mua ngoại tệ để kiếm lợi nhuận chứ không mua quyền chọn bán. Do đó, từ sự giao dịch một chiều này, sẽ tạo ra những rủi ro cho ngân hàng khi bán quyền chọn ngoại tệ. Để giảm rủi ro, ngân hàng phải tăng phí bán quyền chọn khiến cho quyền chọn càng không có điều kiện thực hiện và không còn muốn mua quyền chọn nữa. Vòng luẩn quẩn này gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và phía ngân hàng.

    48

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Nguyên nhân từ biên độ giao dịch USD: Đối với các giao dịch mua bán USD, do chính sách neo VNĐ vào đồng USD nên biên độ giao động giá của USD được NHNN qui định là +/-0.5%. Ngày 20-3-2008, biên độ giao động giá của USD đã được NHNN cho phép nâng lên là +/-1%, và gần đây nâng lên +/-2%. Biên độ dao động như vậy đồng nghĩa với rủi ro đối với tỉ giá giảm đi đáng kể, hạn chế phần nào tâm lý phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó, làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.
    • Nguyên nhân từ vấn đề hạch toán kế toán: Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm. Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh, cụ thể là một hợp đồng quyền chọn trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp. Thiết nghĩ, từ thực tế này, để giải quyết những rào cản hiện nay đối với công cụ phái sinh, cũng như quyền chọn, không chỉ xét từ góc độ từ các NHTM hay doanh nghiệp mà rất cần sự hợp lực từ phía các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính (tháo gỡ vướng mắc về thuế và chế độ ghi sổ kế toán) và của NHNN trong việc ban hành các văn bản pháp lý, tổ chức hội thảo hay hướng dẫn các nghiệp vụ cụ thể.
    • Nguyên nhân từ cách tính phí quyền chọn: Trên thị trường ngoại hối, đối với quyền chọn ngoại tệ, hiện nay hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam do một số hạn chế, vẫn chưa thể tự mình đứng ra phát hành hay cung cấp các quyền chọn ngoại tệ trực tiếp cho khách hàng, mà chỉ đóng vai trò như một trung gian môi giới quyền chọn giữa các ngân hàng lớn khác và khách hàng. Thường là theo yêu cầu của khách hàng, các ngân hàng sẽ liên hệ với các ngân hàng đối tác ở nước ngoài (thường là các ngân hàng lớn), hoặc thậm chí là một ngân hàng lớn trong nước để mua một quyền chọn rồi bán lại cho khách hàng của mình. Qui trình này dẫn đến một hệ quả là các ngân hàng muốn có lợi nhuận thì tiền phí (giá) của quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng phải theo công thức sau: Giá (phí) quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng = Giá phí quyền chọn ngoại tệ mua của các NH đối tác (trong và ngoài nước) + chi phí để phục vụ hợp đồng quyền chọn ngoại tệ này + khoảng chênh lệch lợi nhuận cho ngân hàng. Cách tính phí (giá) quyền chọn như trên đã làm đội chi phí thực hiện một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ của khách hàng, làm cho họ cảm thấy mua một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ không còn có lợi do chi phí qua cao, không hiệu quả. Điều này cũng đã trở thành một lực càn cho các giao dịch quyền chọn ngoại tệ cũng như thị trường quyền chọn phát triển ở Việt Nam trong hiện tại.
    • Nguyên nhân từ trình độ nhận thức của nhà đầu tư: Theo các chuyên gia tài chính, do sản phẩm quyền chọn khá phức tạp nên hiện nay, các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước vẫn ngại sử dụng. Thêm vào đó, hiểu biết của doanh nghiệp và nhà đầu tư về các sản phẩm này vẫn còn khá hạn chế. Trong khi đó, các tổ chức cung cấp, đặc biệt là ngân hàng vẫn còn yếu trong

    49

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    tuyên truyền, tiếp cận khách hàng. Tham gia thị trường tài chính Việt nam còn thiếu các doanh nghiệp và nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường quyền chọn còn quá ít trên thị trường tiền tệ, ngoại hối Việt Nam nên chúng ta chưa thể thúc đẩy họ tham gia mạnh mẽ vào thị trường quyền chọn này. Bản thân các khách hàng nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng còn dè dặt áp dụng công cụ quyền chọn. Chẳng hạn như N gân hàng HSBC mặc dù hoạt động tại Việt Nam đã hơn 6 năm với trên 1.000 doanh nghiệp là khách hàng “ruột”, nhưng sau 2 năm được phép sử dụng các công cụ options, mới chỉ có một vài doanh nghiệp trong số hàng ngàn doanh nghiệp khách hàng đó dám ứng dụng nghiệp vụ này. Chỉ riêng việc thực hiện một giao dịch hoán đổi giữa hai đồng tiền, ngân hàng này cũng mất tới nửa năm để giải thích, thoả thuận. Các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ cũng thường phải mất một vài tháng mới được ký kết. Theo HSBC, việc xúc tiến các dịch vụ phái sinh quản lý rủi ro cho khách hàng là doanh nghiêp vẫn đang được ngân hàng này tích cực khuyến khích. Với Techcombank, các nghiệp vụ quyền chọn vẫn còn ít được khách hàng áp dụng, thậm chí có công cụ chưa có khách hàng nào giao dịch. Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch quyền chọn trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới

    IV. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:

    1.     Giải pháp vĩ mô:

    Trước những thuận lợi, cơ hội cũng như khó khăn, thách thức. Thị trường quyền chọn cần những giải pháp đồng bộ để có thể tạo lập và phát triển. Mà trước tiên là các giải pháp vĩ mô từ các cơ quan nhà nước. Dưới góc độ những người tạo lập, quản lý, giám sát thị trường quyền chọn ngoại tệ và đặc biệt là NHNN cần phải phối hợp thực hiện một số giải pháp sau để có thể bước đầu định hình và phát triển thị trường này trong tương lai.

    1.1. Xây dựng, điều chỉnh khung pháp lý cho thị trường quyền chọn ngoại tệ:

    • Đồng bộ hóa các văn bản pháp lý liên quan: Hiện nay, các văn bản pháp lý quy định, chi phối các giao dịch quyền chọn không nhiều, thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện từ NHNN cũng như các văn bản pháp lý cấp cao nhằm chi phối, điều tiết, hướng dẫn thực hiện các giao dịch quyền chọn ngoại tệ. Đó là một trong những lý do khiến các nhà doanh nghiệp và nhà đầu tư không yên tâm khi tham gia vào thị trường này. Vì vậy, cơ quan ban hành các chính sách nhà nước cần ban hành những quy định pháp luật cụ thể cho việc sử dụng các công cụ quyền chọn ngoại tệ, một nghiệp vụ mới, phức tạp rất cần có sự hướng dẫn chi tiết từ phía NHNN trong thời gian tới.

    50

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Nới rộng các điều kiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ: Cho phép cả doanh nghiệp và cá nhân tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ, đặc biệt là quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Mở rộng kỳ hạn giao dịch và hạn mức doanh số giao dịch so với quy định thí điểm. Cho phép các tổ chức tín dụng khác ngoài ngân hàng thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ nhằm gia tăng số lượng các nhà cung cấp, nâng cao tính cạnh tranh cho thị trường. Trong thời gian tới, khi thị trường đạt đến một mức độ phát triển nhất định và VNĐ được tự do chuyển đổi thì NHNN nên cho phép các doanh nghiệp tham gia vào giao dịch với tư cách vừa là người mua vừa là người bán để góp phần thúc đẩy giao dịch quyền chọn phát.

    1.2. Nới lỏng vai trò điều hành của Nhà Nước vào thị trường tài chính:

    • Hoạt động giao dịch phải thật sự có ý nghĩa trong điều kiện tình hình biến động của thị trường hoàn toàn khách quan. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp, những người ngoại tệ,… dựa vào những phán đoán về diễn biến của thị trường, họ sẽ lựa chọn các phái sinh, quyền chọn thích hợp để thực hiện những mục tiêu cụ thể của mình là kinh doanh hay hạn chế rủi ro.
    • Trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay, theo lộ trình hội nhập mà nước ta đã cam kết với tổ chức thương mại hế giới (WTO), nhà nước cần nới lỏng dần chính sách can thiệp trực tiếp vào thị trường. Đối với thị trường ngoại hối, nhà nước nên dần thực hiện chính sách tự do hóa tỉ giá bằng cách dần dần nới rộng biên độ giao động của VNĐ với USD. Đến một thời điểm thích hợp, có thể xóa bỏ biên độ giao động tỉ giá hướng đến tự do hóa chuyển đổi tiền đồng Việt Nam.. Điều này sẽ phản ảnh đúng cung cầu trên thị trường. Khi đó, rủi ro đối với các giao dịch ngoại hối sẽ dần hiện rõ, gây ra những thiệt hại lớn hơn, buộc các doanh nghiệp, cá nhân, nhà đầu tư phải quan tâm đến các hợp đồng quyền chọn để bảo hiểm, giảm thiểu rủi ro cho chính mình.

    1.3. Hỗ trợ, phối hợp với các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ quyền chọn trong công tác nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, nhà đầu tư:

    • Công tác nâng cao trình độ và nhận thức của các đối tượng có nhu cầu sử dụng quyền chọn (nhà đầu tư, các nhà xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp…) cần được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, mục đích rõ ràng. Các cơ quan chính phủ cần hỗ trợ, phối hợp với các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn đề ra chiến lược phát triển thị trường để dần dần tiến tới chuyên nghiệp hóa các giao dịch quyền chọn, làm cho chúng trở thành những giao dịch quen thuộc và phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp, giới đầu tư và các TCTC. Cụ thể, các bộ ngành Giáo dục, Tài chính, Truyền thông cần phối hợp với nhau cũng như với các TCTC thực hiện các công việc sau:
    • Tuyên truyền, phổ biến cho các doanh nghiệp nhận thức một cách đầy đủ và chính xác những ảnh hưởng do biến động tỷ giá, giá cả, lãi suất gây ra thông qua các kênh thông tin như báo chí, truyền hình, internet…

    51

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề nghiên cứu bàn về rủi ro hối đoái, xây dựng và triển khai các khóa học đào tạo ngắn hạn cho các doanh nghiệp về sự cần thiết bảo hiểm rủi ro hối đoái …
    • Trong tương lai, cần đưa thêm các kiến thức về các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn nói riêng và các giao dịch của chúng cũng như các kiến thức về quản trị rủi ro vào giảng dạy tại các trường đại học, các cơ sở giảng dạy về tài chính…để trang bị cho các thế hệ tương lai nhận thức đầy đủ về việc sử dụng các công cụ phái sinh, quyền chọn vào các hoạt động quản trị rủi ro của mình

    1.4. Nâng cao hiệu quả thị trường thông qua việc công khai hóa và minh bạch hóa thông tin:

    • Thị trường tài chính Việt Nam mới chỉ tăng tốc phát triển trong một thời gian ngắn, vấn đề truyền thông tài chính cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của xã hội. Nhưng nhìn chung, truyền thông tài chính ở Việt Nam chỉ mới phát triển sơ khai, hầu như là mang tính tự phát, thiếu sự quản lý, ràng buộc trách nhiệm từ các cơ quan quản lý nhà nước. Với một TTTC bậc cao như thị trường options, thông tin càng đóng một vai trò quan trọng trong các quyết định đầu tư, phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp, nhà đầu tư…Do đó, để phát triển thị trường quyền chọn cần chấn chỉnh và thúc đẩy truyền thông tài chính phát triển. Thông tin tài chính cần được công khai, minh bạch hóa. Nhà nước cần tiếp tục ban hành các qui chế, thông tư, hướng dẫn…chi tiết hơn việc công bố thông tin ra thị trường ngoại hối n cũng như chế tài nghiêm khắc đối với các vi phạm về công bố thông tin.
    • Ngoài ra, cần thúc đẩy các nguồn thông tin đa dạng, đầy đủ và cần thiết đến với mọi đối tượng tham gia thị trường. Trước mắt, nên thành lập các tổ chức chuyên nghiên cứu phát triển các công cụ dự báo giá và công bố kết quả dự báo giá cả, đặc biệt là giá của một số mặt hàng quan trọng như ngoại tệ, cổ phiếu, vàng, xăng dầu… qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua các tạp chí chuyên ngành để các nhà đầu tư có cơ sở phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh hay phòng ngừa rủi ro cho riêng mình.

    1.5. Giải pháp để tiến tới thành lập một sàn giao dịch quyền chọn niêm yết tập trung:

    • Để thị trường quyền chọn thực sự phát triển và trở thành một trong những trụ cột của thị trường tài chính, khi thị trường quyền chọn và các giao dịch quyền chọn đạt đến độ chín mùi cần thiết, bên cạnh một thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC) vẫn đang tồn tại, nhà nước cần tiến hành tham khảo, học hỏi kinh nghiệm từ các sàn giao dịch quyền chọn lớn trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, để thành lập một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức (giống như một sàn giao dịch chứng khoán niêm yết tập trung) như ở các nước có TTTC phát triển, với các tài sản cơ sở ở đây có thể là cổ phiếu, trái phiếu, ngoại tệ, chỉ số chứng khoán, vàng, lãi suất… Điều này sẽ làm tăng tính thanh khoản, khối lượng giao dịch trên thị trường quyền chọn cũng như thị trường các tài sản cơ sở, thị trường ngoại hối dần dần tiến đến chuyên nghiệp hóa, tạo thuận tiện, phổ

    52

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    biến và đưa thị trường quyền chọn trở thành một một trong những thị trường thiết yếu trên TTTC.

    • Nói tóm lại, trên đây là một số giải pháp mang tính vĩ mô, đó là những công việc mà nhà nước, chính phủ và các cơ quan liên quan cần có kế hoạch triển khai để phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ, chủ yếu là trên thị trường phi tập trung ở Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, để thị trường ngày càng phát triển bền vững, an toàn và hiệu quả thì cần những nỗ lực của tất cả các chủ thể kinh tế, các doanh nghiệp, các TCTC, những chủ thể cung cấp và sử dụng sản phẩm quyền chọn. Vấn đề cốt lõi chính là nhận thức của chính các chủ thể tham gia trực tiếp chứ không phải là các chủ thể quản lý.

    2.                 Giải pháp vi mô:

    Bên cạnh các giải pháp vĩ mô của nhà nước, các tổ chức tài chính, đặc biệt là các NHTM. Dưới góc độ là người trực tiếp tham gia cung ứng, môi giới sản phẩm quyền chọn cho thị trường, cần tuân thủ theo các qui định của nhà nước và thực hiện một số giải pháp vi mô sau để góp phần vào sự hình thành và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ trên thị trường phi tập trung ở Việt Nam.

    2.1. Chủ động giới thiệu, quảng bá thông tin về các sản phẩm, dịch vụ quyền chọn đến khách hàng:

    • Ngày nay, thị trường tài chính cạnh tranh ngày một gay gắt. Các định chế tài chính chuyên nghiệp như NHTM cho ra đời ngày càng nhiều các sản phẩm phái sinh. Việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cơ bản của mỗi tổ chức tài chính là cần thiết để có thể thu hút các đối tượng khách hàng. Đối với công cụ options ngoại tệ là một trong những loại hình dịch vụ mới, khá phức tạp đối với khách hàng, việc làm này càng trở nên cần thiết, thiết thực hơn, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng, nhà phát hành và nhà hoạch định chính sách về công dụng, lợi ích và cách thức sử dụng các công cụ options, từ đó phát triển nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ options này.
    • Để thực hiện điều đó, các ngân hàng cần rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán các sản phẩm phái sinh nói chung và quyền chọn nói riêng, theo hướng là lựa chọn và huấn luyện kiến thức tiếp thị, bán hàng cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng. Ngoài ra, về lâu dài, các NHTM…cần lập ra bộ phận chuyên phân tích, tư vấn và hỗ trợ cho khách hàng tìm kiếm thông tin, cách thức sử dụng các công cụ options cho cả hai mục tiêu kinh doanh và hạn chế rủi ro.
    • Phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Truyền Thông, NHNN, UBCK…để tăng cường hơn nữa công tác quảng bá và giới thiệu sản phẩm quyền chọn đến các khách hàng doanh nghiệp và nhà đầu tư, trong đó chú trọng đầu tư cho hình thức quảng bá trên các website của các NHTM

    53

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Tổ chức các buổi tư vấn hướng dẫn thực hành tham gia vào giao dịch quyền chọn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Trong đó đưa ra cho các tình huống mẫu để khách hàng thử ứng dụng. Từ đó, phân tích cho các khách hàng thấy lợi ích của việc sử dụng công cụ quyền chọn trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá, giá cả chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận trong các hoạt động đầu tư của mình.

    2.2. Không ngừng cải tiến chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ quyền chọn tới khách hàng:

    • Theo thực trạng hiện nay tại các NHTM như Eximbank, Techcombank, BIDV…, các NHTM này chỉ mới đóng vai trò là nhà môi giới trung gian giữa các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ với các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Do đó, cần phải xem xét đến việc nghiên cứu ứng dụng các chiến lược kinh doanh như đứng tự đứng ra phát hành các quyền chọn thích hợp tới khách hàng nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động môi giới.
    • Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ, các NHTM, các tổ chức tài chính khác cần nhanh chóng chuẩn hóa tổ chức các phòng, ban kinh doanh liên quan đến quyền chọn của mình. Tăng thẩm quyền trực tiếp kinh doanh và thẩm quyền quyết định cho các cán bộ kinh doanh quyền chọn.
    • Ngoài ra, các NHTM nên tìm hiểu, nghiên cứu sâu các mô hình chiến lược liên quan đến giao dịch quyền chọn, cùng sự hỗ trợ từ những công cụ kỹ thuật như các phần mềm tiên tiến, cũng như bám sát diễn biến của thị trường để dự báo xu hướng biến động tỷ giá, lãi suất trong tương lai. Từ đó, vận dụng các chiến lược một cách chính xác trong từng trường hợp, để tư vấn, hỗ trợ khách hàng, giúp các khách hàng hiện tại ngày càng tin tưởng vào việc thực hiện hợp đồng options, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới tham gia giao dịch.
    • Bên cạnh đó, song song với việc triển khai các sản phẩm quyền chọn thuần nhất, các TCTC nên có những tiếp cận đối với các sản phẩm lai tạp, đặc biệt là lai tạp với quyền chọn như: quyền chọn hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock swaptions), quyền chọn hợp đồng kỳ hạn, tương lai ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock forwards options, futures options)… Từ đó, sẽ là cơ sở để có thể định giá các sản phẩm quyền chọn hiệu quả nhất.

    2.3. Thay đổi phí quyền chọn:

    • Như đã đề cập ở trên, đối với quyền chọn ngoại tệ, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ quyền chọn với tư cách là nhà môi giới, làm đại lý cho các ngân hàng nước ngoài, thực hiện tái bảo hiểm trên thị trường quốc tế, chỉ sử dụng phí quyền chọn của ngân hàng nước ngoài, cộng với phí dịch vụ để tính phí cho khách hàng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả các ngân hàng vì việc này đẩy phí quyền chọn lên cao ảnh hưởng đến lựa chọn của khách hàng và ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng. Do đó, việc thay đổi cách tính phí quyền chọn là cần thiết.

    54

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Dựa vào các điều kiện, khả năng của mình, các ngân hàng, nên tự đứng ra cung cấp và phát hành quyền chọn trực tiếp cho khách hàng, tìm hiểu và vận dụng mô hình Black-Scholes để tính phí quyền chọn cho khách hàng một cách hợp lý. Nhanh chóng triển khai ứng dụng các mô hình chiến lược kinh doanh quyền chọn, từ đó tạo nền tảng đề ra một mức phí mang tính cạnh tranh hơn.
    • Trong tình hình hiện tại, rất cần một số ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ đi tiên phong thử nghiệp các mô hình tính phí mới, từ đó giúp các ngân hàng, công ty chứng khoán khác đi sau học hỏi kinh nghiệm và tiến tới triển khai nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ có hiệu quả hơn.

    2.4. Nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ kinh doanh quyền chọn:

    • Trong mọi hoạt động dịch vụ, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Do bản chất của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn vốn là một công việc phức tạp, căng thẳng, chứa đựng nhiều rủi ro…Do đó, đòi hỏi cán bộ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ tại các tổ chức không chỉ có chuyên môn về các nghiệp vụ mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu thị trường tài chính, có khả năng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá, lãi suất…; đồng thời phải là những người có đạo đức nghề nghiệp,. trung thực trong kinh doanh.
    • Vì vậy, các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên ngành cho nhân viên của mình, thông qua các khóa học đào tạo ngắn hạn ở trong nước và nước ngoài để vừa nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa tạo cơ hội làm quen với môi trường kinh doanh sôi động và hiện đại của thị trường quyền chọn quốc tế. Ngoài ra, cần có những chính sách đãi ngộ thích đáng để thu hút và giữ chân nhân tài, tránh để xảy ra tình trạng chảy máu chất xám trong tổ chức của mình.

    2.5. Tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức tài chính khu vực và thế giới:

    • Các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan… có các điều kiện kinh tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam hay các nước như Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông…. thì có điều kiện phát triển vượt bậc so với chúng ta. Do đó, các NHTM và các TCTC khác cần mở rộng hợp tác, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm về trang bị hạ tầng kỹ thuật, công tác điều hành, quản lý thị trường quyền chọn, cũng như kiến thức chuyên môn cho đội ngũ nhân lực về lĩnh vực này với các ngân hàng lớn trong khu vực và thế giới trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ.
    • Nói tóm lại , trên đây có thể xem như là một số giải pháp cơ bản và thiết yếu mà các nhà cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ có thể thực hiện để góp phần vào sự phát triển thị trường quyền chọn phi tập trung ở Việt Nam. Tùy thuộc khả năng, chiến lược kinh doanh riêng của mỗi NHTM,… mà họ có thể ưu tiên thực hiện những giải pháp nào, chú trọng vào giải pháp nào hơn các giải pháp còn lại.

    55

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bank For International Settlement 2010), “ Triennial Central Bank Survey: Report on global foreign exchange market activity in 2010”
    1. Jeff Madura (2006), “International Financial Management”, Biên tập lần thứ 8 , NXB Thomson South-Western.
    1. John C.Hull (2003), “Fundamental of Futures and Options”, NXB Prentice Hall.
    1. Lê Thị Đào Anh, “Sử dụng hợp đồng quyền chọn”, Tạp chí công nghệ Ngân hàng, số 5/2005, trang 23-25
    1. Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (2007), Kỷ yếu hội thảo Khoa học “Giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam” , NXB Văn Hoá – Thông Tin.
    1. PGS-TS Bùi Kim Yến và TS. Thân Thị Thu Thuỷ (2010), “Thị trường tài chính”, NXB Thống Kê.
    1. PGS-TS Nguyễn Đăng Dờn (2011), “Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại (Commercial Banking”, NXB Thống Kê.
    1. PGS-TS Trần Hoàng Ngân và TS. Nguyễn Minh Kiều (2011), “Thanh toán quốc tế”, NXB Thống Kê
    1. Việt Bảo,´”Phát triển nghiệp vụ tài chính phái sinh ở Việt Nam”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 22/2007, trang 37-39.
    1. Nguyễn Minh Kiều (2006), Công trình nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.
    1. Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2011), “Bài giảng môn Quản trị rủi ro tài chính”, Đại học Kinh Tế TPHCM .
    1. Ngoài ra nhóm thuyết trình còn tham khảo tại các website: vneconomy.vn

    www.saga.vn www.asset.vn

    http://www.euronext.com/ www.cboe.com

    56

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    www.tse.or.jp

    www.foc.ueh.edu.vn www.lobs-ueh.net

    57

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    PHỤ LỤC

    A- MẪU HỢP ĐỒNG QUYỂN CHỌN NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

    Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

    Số:      / HD1/OPT/EIB/KD/06

    HỢP ĐỒNG QUYỀN LỰA CHỌN MUA-BÁN NGOẠI TỆ

    (Tham chiếu thỏa thuận chung số:……./TT/OPT/EIB/KD/06)

    TP.HCM, ngày  tháng  năm 2006

    Bên A: NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM (EXIMBANK)

    Địa chỉ: Số 7 Lê Thị Hồng Gấm, Quận I, TP. HCM

    Điện thoại: 8.21.22.55                                              Fax: 8.213.117

    Đại diện:………………………………             Chức vụ: ……………………………..

    Bên B: ………………………………………………………………………

    Mã số khách hàng (CIF No): ………………………………………

    Địa chỉ: ……………………………………………………………..

    Điện thoại: …………………………………………………………

    CMND số: ………………………………………………………….

    Qua bàn bạc thỏa luận, hai bên thống nhất thực hiện các điều khoản sau:

    1. Bên A đồng ý bán cho Bên B quyền lựa chọn ngoại tệ theo các chi tiết sau:

     

    • Loại quyền chọn: ……………………………………
    • Số lượng : ………………….

    (Bằng chữ: ………………………..)

    • Giá thực hiện: ………………………………………..
    • Tương đương :……………………………………

    58

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    (Bằng chữ: ………………………………………………………..)

    • Kiểu quyền chọn: ……………………………………..
    • Thời hạn hiệu lực: …… ,từ ngày:……  đến 11 giờ 00phút sáng, ngày

    ……………..

    • Phí quyền lựa chọn: ………….. Thuế VAT:…………..
    • Phí quyền lựa chọn đã bao gồm VAT: ………………….

    (Bằng chữ: …………………………………………………)

    1. Phương thức thanh toán:

     

    • Vào ngày ……….., Bên A trích số tiền: …………….. từ tài khoản của Bên B số

    : ……………….. tại Eximbank để thu phí quyền lựa chọn.

    • Bên A sẽ thực hiện hợp đồng theo đề nghị của Bên B căn cứ vào các điều khoản trong giấy đề nghị thực hiện hợp đồng.
    1. Điều khoản chung:

     

    • Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng. Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên sẽ cùng hoà giải hoặc thương lượng trên tinh thần hợp tác. Trong trường hợp không tự giải quyết được, tranh chấp giữa các bên sẽ được đưa ra Toà án có thẩm quyền tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định của pháp luật.
    • Hợp đồng được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản có giá trị pháp lý như nhau.

    ĐẠI DIỆN BÊN B                                                                                   ĐẠI DIỆN BÊN A

    Bước 3:

    Bộ phận đang giao dịch trực tiếp với khách hàng sẽ liên lạc với bộ phận Treasury (bộ phận ngân quỹ) ở hội sở và ghi nhận, thông báo các thông tin về tỉ giá, phí quyền chọn mà Treasury cung cấp cho khách hàng biết.

    Khách hàng có thể đồng ý hoặc không đồng ý với tỉ giá, phí quyền chọn mà Treasury đưa ra, khi đó bộ phận giao dịch với khách hàng sẽ tiếp tục làm trung gian chuyển đổi thông tin này cho đến khi cả 2 bên đồng ý 1 mức tỷ giá và phí quyền chọn.

    Bước 4:

    Sau khi khách hàng đã ghi đầy đủ thông tin vào hợp đồng chọn mua (hay chọn bán) thì bộ phận giao dịch sẽ kiểm tra chi tiết lệnh trong giấy đề nghị: tỉ giá ,loại quyền chọn số

    59

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    lượng ngoại tệ, ngày thực hiện v..v.. và đại diện bên ngân hàng và bên khách hàng kí kết hợp đồng này.

    Bước 5:

    Bộ phận đang giao dịch đưa ra biểu mẫu về “Thoả thuận chung về nghiệp vụ lựa chọn tiền tệ”, cả 2 bên đọc kĩ điều lệ trong bản này và người đại diện 2 bên cùng kí xác nhận.

    Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc Số: /TT1/OPT/EIB/KD/06

    THỎA THUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ QUYỀN LỰA CHỌN TIỀN TỆ

    ÁP DỤNG CHO NGOẠI TỆ VỚI NGOẠI TỆ

    TP.HCM, ngày………tháng……….             năm……..

    Bên A: NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM (EXIMBANK)

    Địa chỉ: Số 7 Lê Thị Hồng Gấm, Quận I, TP. HCM

    Điện thoại: 8.212.255                                                                            Fax: 8.213.117

    Đại diện:…………………. ……………………….           Chức vụ:………

    Bên B:  ……………………………………………………………………………………………………….

    Địa chỉ: ………………………………………………………………………………………………………

    Mã số khách hàng (CIF No): ………………………………………

    Điện thoại:………………………………………………………………………….. Fax:…………………………

    Đại diện: ………………………………………….. Chức vụ:……………………

    60

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    CMND số: ………………………………………………………….

    Qua bàn bạc thỏa luận, hai bên thống nhất thực hiện các điều khoản sau:

    Điều 1 :Những thuật ngữ được sử dụng trong nghiệp vụ Quyền chọn tiền tệ (Currency Option)

    Thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền lựa chọn tiền tệ (sau đây gọi tắt là thỏa thuận chung): là thỏa thuận được ký kết giữa bên mua và bên bán quyền chọn, theo đó hai bên cùng thỏa thuận và áp dụng thống nhất các quy ước chung của nghiệp vụ này. Thỏa thuận chung này được ký một lần vào lúc Bên B bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn đầu tiên và nó được sử dụng cho các lần giao dịch kế tiếp. Trong trường hợp có sự thay đổi các chi tiết của thỏa thuận chung này thì Bên A sẽ thông báo cho Bên B bằng văn bản để cả hai bên cùng bàn bạc và đi đến thống nhất ở bản thỏa thuận chung mới. Thỏa thuận chung phải được ký kết trước hoặc cùng lúc với hợp đồng giao dịch quyền chọn vào lần giao dịch đầu tiên.

    Hợp đồng giao dịch quyền chọn mua – bán ngoại tệ (sau đây gọi tắt là hợp đồng quyền chọn): là một thỏa thuận bằng văn bản giữa hai bên, theo đó bên mua quyền có quyền, nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ cụ thể, với tỷ giá thực hiện đã thỏa thuận trước vào một thời điểm xác định trong tương lai. Nếu bên mua quyền thực hiện quyền của mình thì, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước.

    Giấy đề nghị thực hiện hợp đồng là văn bản được Bên B gửi cho Bên A nhằm thực hiện hợp đồng quyền chọn (theo mẫu của Bên A)

    Quyền chọn mua (Call option): là quyền được mua ngoại tệ tại tỷ giá thỏa thuận trong một khoảng thời gian hoặc thời điểm đã xác định.

    Quyền chọn bán (Put option): là quyền được bán ngoại tệ với tỷ giá thỏa thuận trong một khoảng thời gian hoặc thời điểm đã xác định.

    Bên mua quyền lựa chọn: là người có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải thực hiện việc mua hoặc bán ngoại tệ theo tỷ giá đã thỏa thuận.

    Bên bán quyền lựa chọn: là người có nghĩa vụ phải thực hiện quyền lựa chọn theo hợp đồng đã ký kết với người mua quyền lựa chọn.

    Quyền lựa chọn kiểu Mỹ (American Style Option): Quyền lựa chọn có thể được thực hiện bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.

    61

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Quyền lựa chọn kiểu Châu Aâu (European Style Option): Quyền lựa chọn chỉ được thực hiện vào ngày đáo hạn của hợp đồng.

    Phí giao dịch (Premium): là khoản tiền người mua quyền lựa chọn phải trả cho ngân hàng (người bán quyền lựa chọn) để có được quyền lựa chọn.

    Tỷ giá thực hiện (Exercise/strike price): là tỷ giá được hai bên mua bán thỏa thuận và ấn định trong hợp đồng quyền lựa chọn.

    Điều 2: Thời hạn hiệu lực của hợp đồng giao dịch quyền chọn:

    Đây là khoảng thời gian quyền lựa chọn có thể được thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền được tính từ ngày ký hợp đồng cho đến trước 11h00 sáng (giờ Hà Nội) của ngày đáo hạn.

    Điều 3: Thời điểm thanh lý hợp đồng quyền chọn:

    Đây là thời điểm mà Bên B thực hiện hợp đồng hoặc hợp đồng quyền chọn hết thời hạn hiệu lực và các bên thực hiện hết các nghĩa vụ nêu trong hợp đồng.

    Điều 4: Ngày làm việc và giờ giao dịch :

    Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng giao dịch Quyền chọn, ngày làm việc của bên A là từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, trừ thứ bảy, chủ nhật và các ngày nghỉ lễ theo quy định của pháp luật Việt nam và ngày nghỉ của thị trường quốc tế với giờ giao dịch cụ thể như sau:

    Sáng : từ 07 giờ 30 phút đến 12 giờ 00 phút (giờ Hà Nội)

    Chiều : từ 13 giờ 00 phút đến 16 giờ 30 phút (giờ Hà Nội)

    Điều 5: Đồng tiền sử dụng trong giao dịch

    Bên A có thể cung cấp cho bên B hợp đồng giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ cho các đơn vị tiền tệ sau: USD, GBP, CHF, JPY, AUD, CAD, EUR.

    Điều 6: Phương thức thanh toán phí của nghiệp vụ Quyền chọn

    62

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch quyền chọn, Bên B phải thanh toán đầy đủ phí Bên A. Phí chỉ được thanh toán bằng VND hay ngoại tệ chuyển khoản và được trích trực tiếp từ tài khoản Bên B. Phí này chưa bao gồm thuế VAT.

    Phí quyền chọn sẽ không được hoàn lại dưới bất kỳ hình thức nào, bất kể là bên A thực hiện hay không thực hiện hợp đồng quyền lựa chọn.

    Điều 7: Thực hiện hợp đồng

    Khi muốn thực hiện hợp đồng thì Bên B gửi giấy đề nghị thực hiện hợp đồng cho Bên A. Bên B phải gửi giấy đề nghị thực hiện hợp đồng đến đúng nơi mà Bên B đã ký hợp đồng trong giờ giao dịch của ngày làm việc và trong thời gian hiệu lực của hợp đồng. Giấy đề nghị thực hiện hợp đồng phải được đại diện hợp pháp của Bên B ký tên và đóng dấu (nếu có).

    Khi Bên B gửi giấy đề nghị thực hiện hợp đồng cho Bên A thì hai bên sẽ tiến hành thực hiện các điều khoản đã nêu trong hợp đồng.

    Điều 8: Thanh lý hợp đồng quyền chọn

    Hợp đồng quyền chọn sẽ tự động được thanh lý trong những trường hợp sau đây:

    • Hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định trong hợp đồng quyền chọn.
    • Đến 11h00 sáng của ngày đáo hạn hợp đồng quyền chọn mà Bên A không nhận được giấy đề nghị thực hiện hợp đồng do Bên B gửi tới theo quy định của hợp đồng. Mọi chi phí và rủi ro bên B tự gánh chịu mà không ràng buộc bất cứ trách nhiệm và nghĩa vụ nào đối với bên A.

    Điều 9: Quyền và nghĩa vụ bên A

    Được hưởng phí trong mọi trường hợp cho dù Bên B có thực hiện hay không thực hiện hợp đồng.

    Có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng khi bên B yêu cầu trong thời gian hiệu lực của hợp đồng.

    Điều 10: Quyền và nghĩa vụ bên B

    Có quyền thực hiện hay không thực hiện hợp đồng giao dịch quyền chọn tiền tệ.

    Có nghĩa vụ thanh toán phí cho Bên A ngay khi ký kết hợp đồng quyền chọn.

    Có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ và đúng hạn khi thực hiện hợp đồng.

    63

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Điều 11: Các quy định chung

    Thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền lựa chọn này có hiệu lực trong vòng 365 ngày kể từ ngày ký.

    Mọi điều chỉnh và bổ sung trong thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền chọn cũng như hợp đồng quyền chọn phải được sự chấp thuận của hai bên và được lập thành văn bản có chữ ký xác nhận hữu quyền của các bên.

    Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng. Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên sẽ cùng hoà giải hoặc thương lượng trên tinh thần hợp tác. Trong trường hợp không tự giải quyết được, tranh chấp giữa các bên sẽ được đưa ra Toà án có thẩm quyền tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ này được lập thành 02 (hai) bản có giá trị pháp lý như nhau, mỗi bên giữ một bản để làm căn cứ thực hiện.

    Hai bên đã đọc kỹ và hiểu rõù tất cả các điều khoản trong thỏa thuận này.

    ĐẠI DIỆN BÊN B                                                                    ĐẠI DIỆN BÊN A

    Bộ phận đang giao dịch phải thông báo cho Treasury các thông số về tỉ giá, phí quyền chọn mà khách hàng đã chấp nhận.

    Bước 6:

    Khách hàng thanh toán phí quyền chọn cho ngân hàng thông qua chuyển trực tiếp ngoại tệ hay VND chuyển khoản cho ngân hàng.

    Bước 7:

    Bộ phận giao dịch chuyển kết quả giao dịch sang bộ phận hạch toán của ngân hàng.

    CHÚ Ý:

    Nếu khách hàng muốn thực hiện hợp đồng quyền chọn trước hoặc đúng ngày đáo hạn thì phải gửi giấy đề nghị đến đúng nơi mà khách hàng đã kí hợp đồng.

    64

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

    Số:     TH1/OPT/EIB/KD/06

    GIẤY ĐỀ NGHỊ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

    —– – Ù — —–

    Kính gửi : Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank)

    Căn cứ vào hợp đồng quyền lựa chọn mua-bán ngoại tệ số:  ……/HD/OPT/EIB/KD/06

    ngày……………….; Nay Bên B đề nghị Ngân hàng Xuất nhập Khẩu Việt Nam (Bên A)

    thực hiện các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, cụ thể theo các chi tiết sau:

    Loại quyền chọn:………………………………………… Số lượng ngoại tệ:………………………………………..

    (Bằng chữ:…………………………….)

    Tỷ giá:……………………………….. Tương đương:………..

    (Bằng chữ……………………………)

    Ngày thực hiện : ……………………………………………………………………………………

    Ngày……………Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam được phép:

    • Ghi nợ số tiền:……………………..
    • Từ tài khoản số: …………… của Bên B tại Eximbank
    • Ghi có số tiền:………………………
    • Vào tài khoản số:…………………..(số tài khoản ngoại tệ mua) của Bên B tại Eximbank .

    Giấy đề nghị này là một phần không thể tách rời với hợp đồng quyền lựa chọn mua-bán ngoại tệ số ………/HD/OPT/EIB/KD/…. và “Thoả thuận chung về nghiệp vụ quyền

    lựa chọn tiền tệ” số ……../TT/OPT/EIB/KD/ ….

    65

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7 GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ
       
       
      Ngày…..tháng……năm…..
      ĐẠI DIỆN BÊN B

    Khách hàng mua ngoại tệ bằng VND thông qua việc thực hiện hợp đồng Option với quyền chọn mua vào ngày đáo hạn hợp đồng phải xuất trình chứng từ thanh toán cho Ngân hàng theo các quy định quản lý ngoại hối hiện hành. Đối với các hợp đồng Option giữa ngoại tệ với ngoại tệ, không yêu cầu xuất trình chứng từ thanh toán.

    66

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    B- HƯỚNG DẪN CÁCH SỬ DỤNG MỘT PHẦN MỀM GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN THẾ GIỚI.

    Loading

    CORE Options AT A GLANCE

    DISCOVER CORE Options

    • User-friendly design .
    • One Touch – One Fill model.
    • Auto-execution on streaming prices for fixed expirations .
    • Request for prices on any date on any currency pair.

    ROBUST AND RELIABLE

    • Select between Limit or Market order types.
    • Mark to market “Live” statement values.
    • State of the art Risk Management.
    • Full disclosure on all option variables.
    • Flexible expiration dates and times (GMT, EST and CST).

    67

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Loading

    1. LOGIN SCREEN

    First of all, please make sure that you are connected to the internet. In order to access the CORE Options trading platform, you must have an internet connection.

    Once you double click the CORE Options icon, the Login Screen will be launched at your screen in a few seconds. Please type your username and password, then press the Login button .

    68

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    If you receive a “Wrong Username or Password” error message, please make sure that you re-enter your username and password properly.

    Loading

    1. MAIN SCREEN

    Once the Log-in process is completed successfully, the main frame of CORE Options will be launched at your screen.

    The main screen consists of three default windows: Quotes, Order Ticket and Order Status . On the top, located are the buttons of the

    69

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    “Quick Tool Bar” for Layouts, Quotes, Order Ticket, Order Status, Message Log, Statements, Intro Movie, User Manual, Option Chat, Log-Out and also the “Internet Connection Status Bar” where the green bars indicate the status of your internet connection. The option parity, market, bid/ask prices and high/low prices, expiration date and days to expire are located in the Quotes window .

    On the right side, bar are the buttons for Account Values, News and Messages.

    1. QUOTES

    This window is designed to give you the optimum information for you to execute optimal transactions. You can find here displayed: The Option contracts, Bid/Ask prices, High/ Low bid prices, Volatility, and Delta, all on real-time basis . Also on top you can see the parity selected and its Bid/ Ask prices, High/Low bidprices as well as the Expiration Date and Days to Expiry.

    Once you click on a contract, your selection will be highlighted making it easy to distinguish from the others. Together with that, the Order Ticket window will automatically adapt the corresponding contract in a Market Order type ticket. From then on, you

    70

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    can send your Market order just by clicking on Buy/Sell buttons … Another feature representing fast and reliable trading mission of CORE Options .

    You can enlarge the Quotes window, or drag it through the screen as you wish. If you right click anywhere on the window, and select “Price Details”, the Option Price Details window will be launched. On this window you can view the prices, volatility and delta, as well as the Theta, Gamma, Vega, Rho and the underlying parity prices for each contract of the auto-executable date.

    Loading

    1. EXPIRATION SETTINGS

    The Expiration Settings are located on the Quotes window. You can customize the underlying parity, expiration month and the contract type for the live quotes displayed in the Quotes Window. Besides it gives you a live summary on the bid, ask, high and low prices of the underlying parity for the options displayed in the Quotes window.

    71

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    In the Quotes window, you can select between 11 different parities, 12 months starting from the current month and ahead, and two options types: Call and Put. Your selections will be instantly reflected in the Q uotes window accordingly .

    1. ORDER TICKET

    This window is where you trade in CORE Options . Here, you can review and place your new order. It is located at the center of the Main Screen as the default location. It can also be displayed by clicking on the “Order Ticket” button located on the top, at the “Quick Tool Bar”.

    Menu

    Market Order

    Limit Order

    Request For Quote (RFQ)

    72

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Here is a quick summary o f where you can set some major parameters for your order:

    Underlying Parity: You can select the underlying parity out of 11 different parities from the Expiration Settings on the top of the Quotes window (see chapter 4).

    Option Type: You can set the option type to either Call or Put using the Contract Type pull-down menu located on the Expiration Settings on the top of the Quotes window (see chapter 4).

    Order Type: There are two types of orders to conduct: Market orders, and Limit Orders. In order to select one of these order types, use the Order Type pull-down menu located at the top-right of the Order Ticket window.

    Strike Price: You can either make your selection from the Quotes window for auto-execution; or you can type the desired value in the Strike Price box located at center-top of the Order Ticket window.

    Expiration Date: The contracts listed on the Quotes window are the ones which are available for auto-execution . However, you can select any expiration date from the Expiry Date pull-down calendar located on top-left of the Order Ticket window, and submit your order through RFQ.

    Premium: This is the box where you can enter your limit price for a Limit order. However, this box will not be active for a market order.

    Contract Size: You can arrange the contract size from the Amount pull -down menu located on the very top -right corner of Order Ticket window. You can select any size between 100K-1M.

    Buy/Sell $ Value: This is the total amount you have to pay (for “buy” orders); or the amount you will receive (for “sell” orders), once

    73

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    the order is executed.

    Margi n: This is the initial amount required to be deposited in your account in order to hold this position .

    5.1 Market Order

    A Market order is executed at the best possible market price.

    In order to conduct a Market order;

    1. Choose the underlying parity, e.g. EUR/USD, GBP/USD, you want to buy/sell from the Expiration Settings on the top of the Quotes window .
    2. Select the option type, i.e. Call or Put.
    1. Select the expiration month from the Expiration Settings on the top of the Quotes window.
    1. Click on the contract of interest on the Quotes window, and the Order Ticket will assume its prices automatically.
    1. If you wish another date than listed on the Quotes window, click on the Expiry Date calendar located on the Order Ticket window, select the date of your choice and proceed with RFQ.
    1. Select Market from the Order Type menu on the Order Ticket
    1. Make sure that the underlying parity, expiration date, option type, and the prices displayed on the BUY/SELL buttons represent your selections.

    For Market orders, the price will be fixed at the market price, and you won’t be able to adjust it . However, if you click the “Worse Limit” tick box, you will be able to set a safety margin increment or decrement for your order. This is a caution against instant price jumps/drops in the market.

    1. If you want to sell the contract(s), click the “SELL” button, or if you want to buy the contract(s) click the “BUY” button .
    1. CORE Options will ask for your confirmation. If you are sure about your order, click the “YES” button, otherwise click “NO“.

    An informative message(s) will appear on the right hand side of your platform once your order(s) is executed. You can also check your messages from the Messages tab on the right side-bar. You can check your order status from the Order Status window as well.

    74

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    One alternative way to give a Market order is a shortcut: If you click on the bid price of any contract on the Quotes window, you will receive a sell-at-the-market ticket as seen below. Please note that this is a quick order ticket, and the quantity is limited with 100K.

    If you double-click on the ask price of any contract on the Quotes window, you will receive a buy-at-the-market ticket as seen below . Please note that this is a quick order ticket, and the quantity is limited with 100K.

    Warning: Please keep in mind that, through quick-ticket orders, your order will be executed instantly once you click on buy/sell button. You will not be asked for another confirmation.

    75

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    5.2 Limit Order

    A “Lim it order” is an order to buy at the limit price or lower, or to sell at the limit price or higher.

    In order to conduct a Limit order;

    1. Choose the underlying parity, e.g. EUR/USD, GBP/USD, you want to buy/sell from the Expiration Settings on the Quotes window.
    1. Select the option type, i.e. Call or Put.
    1. Select the expiration month from the Expiration Settings on the top of the Quotes window.
    1. Click on the contract of interest on the Quotes window, and the Order Ticket will assume its prices automatically.
    1. If you wish another date than listed on the Quotes window, click on the Expiry Date calendar located on the Order Ticket window, select the date of your choice and proceed with RFQ.
    2. Select Limit from the Order Type menu on the Order Ticket window .
    1. Make sure that the underlying parity, expiration date, option type and the prices displayed on the BUY/SELL buttons represent your selections.

    For Limit orders, you can adjust your limit price using the Premium box on the Order Ticket window. This will give you the option to submit a working buy/sell order for this contract at this price.

    1. If you want to sell the contract(s), click the “SELL” button, or if you want to buy the contract(s) click the “BUY” button .
    1. CORE Options will ask for your confirmation. If you are sure about your order, click the “YES” button, otherwise click “NO“.

    Once your order(s) is submitted, you can track your Limit orders from the Working section of the Order Status window. Once executed, they will be moved to Filled orders section .

    76

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    5.3 Request For Quote (RFQ)

    RFQ is used for contracts with expiry dates which are out of the range of auto-execution, or for contracts with strike prices other than the ones listed. In order to perform an RFQ for a limit or market order;

    1. Click on the Expiry Date calendar located on Order Ticket window, select the date of your choice and Order Type from Market or Limit . Observe the BUY/SELL buttons changed to RFQ BUY/RFQ SELL.

    You generally have 60 seconds to submit your Market Order and 120 seconds for your Limit RFQ orders. In order to execute an order, you should either click on the Sell or Buy buttons . Please observe the RFQ prices located next to these buttons .

    77

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Once the order is submitted, you can track it from your Working Order window or Filled Order window if it is executed.

    1. ORDER STATUS

    The Order Status window shows the orders which were conducted by the user. Here, you can examine your Filled, Working, Cancelled, Rejected orders and Positions. In order to switch through these orders, click on the appropriate tab located at the top of the Order Status window.

    The Orders window can be enlarged, or dragged across the screen. Some abbreviations that you may come across in your ticket information are as follows:

    GTM means “Good Till Market”

    GTT means “Good Till Time”

    78

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    G TC means “Good Till Canceled”.

    6.1 Canceling or Editing a Working Order

    If you want to cancel or edit a working order, just right click anywhere on the order, under the Working Orders tab and use the options given in the Edit or Cancel Trade window.

    Here, you can modify your selections and then click on the Edit Order button, and your order will be updated accordingly in your Working Orders section. Or, to cancel your order, you can click on the Cancel Order button. Doing so, this order will be immediately cancelled and it will be moved to the “Canceled Orders” section of your Order Status window . If you would like to leave it as it is, then just click Quit button and close this window without any modification to your order.

    Please note that, you can only cancel or edit a contract as long as it is not executed yet.

    WARNING: The cancel request will be executed at once without asking any confirmation when you click on “Cancel Order“.

    Loading

    1. INTERNET CONNECTION STATUS BAR

    This Indicator allows you to view the status of your internet connection. The more the green bars, mean that the stronger is your connection.

    The green indicator simply tells that you are online and the program is getting live data via internet.

    79

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    If all the bars look faded, it means that your internet connection is lost. Then CORE Options may not operate properly. In such a case, please re-establish your internet connection.

    WARNING: Without a proper internet connection, you will NOT be able to get real-time quotes on the trading platform and will be banned from executing transactions and executing orders.

    1. ACCOUNT VALUE

    This window is located on the right to the main screen and provides the latest changes on your account values. That is, it displays a quick view and summary o f your account.

    The Beginning Balance represents the amount of your initial equity . The Long Option Premium is the total amount you gained/lost due to your long position contracts . The Short Option Premium is the total amount you gained/lost due to your short position contracts . The Net Option Premium is the summation of all your gains/losses from the total of your option positions.

    The Total Spot PL (Profit/Loss) is calculated from the positions that you have on spots. The Total Equity represents the summation of your beginning balance and the net option premium. The Net Option Value is the total market value of open options positions. The Liquidation Value represents the total value of the equity and net option value of your account. Account Excess is the available funds in your account, that is the amount once the Option Margin is dropped out of your total liquidation value.

    1. STATEMENTS

    This section provides you detailed reports on your, Daily Account Statement, Daily Account Summary, Monthly Statement, Monthly Statement, Journal Entry, All Trades, Wires and Account Group Statements.

    80

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Here, in this statement window, you can change your password as well. Just click on the “Change Password” button, located on the menu.

    Once the appropriate form is launched, enter your old password and your new password twice. When you’re done, click the “Submit” button . If the information is entered properly, you will receive the message “Your password has successfully been changed”.

    81

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Loading

    1. LEAVING CORE Options

    In order to exit CORE Options, just click on the “Log Out” button located on the Quick Tool Bar. A pop-up window will come up, asking whether you have checked all Working Orders and Open Positions. You can also save the changes you made to layout ‘Default’ if you prefer to by ticking the box.

    If you want to leave CORE Options click on the “Yes” button, or if you decide to return to the system click on the “No” button.

    82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-cho-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-B%C3%A0i-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng

    và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Theo cam kết gia nhập WTO mà Việt Nam đã tham gia vào đầu năm 2007, mở cửa thị trường là vấn đề tất yếu xảy ra, trong đó có thị trường tài chính. Mở cửa thị trường tài chính sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho nền kinh tế và thị trường tài chính phát triển.

    Tuy nhiên, nó cũng gây ra nhiều mặt trái, tác hại nghiêm trọng. Khi dòng vốn được tự do luân chuyển ra vào nền kinh tế, lưu lượng vốn ra vào nền kinh tế sẽ lớn hơn. Khi đó, bất kỳ sự chảy vào hay rút ra đột ngột của dòng vốn đều gây ra những rủi ro khôn lường cho thị trường tài chính cũng như nền kinh tế, đặc biệt gây tác hại đầu tiên và rõ ràng nhất là thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán. Do đó, vấn đề cần đặt ra là phải cần có những công cụ tài chính hữu hiệu để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro xảy đến cho nền kinh tế và thị trường tài chính trong tương lai, đặc biệt là thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán, đồng thời để làm cơ sở thúc đẩy sự phát triển bền vững của hai thị trường này cũng như toàn bộ thị trường tài chính Việt Nam.

    Một trong số đó là công cụ quyền chọn (options), một dạng của các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính rất phổ biến trên thế giới. Loạt bài viết “Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển” dưới đây xin giới thiệu tổng quan về quyền chọn, thực trạng cũng như giải pháp để phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán trong thời gian tới ở Việt Nam.

    Bài 1:Tổng quan về quyền chọn

    1.Khái niệm về quyền chọn (options)

    Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bị bắt buộc phải bán hoặc mua một tài sản cơ sở (underlying asset) nào đó ở một mức giá xác định (strike price hoặc exercise price) vào một ngày đáo hạn (expiration date) hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. Ngược lại, đối với người bán quyền chọn, họ bắt buộc phải mua hoặc bán một tài sản cơ sở nào đó ở một mức giá xác định vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai theo thỏa thuận giữa hai bên.

    Tài sản cơ sở (underlying asset) ở đây có thể là các loại hàng hoá (dầu, vàng, gạo, cà phê, ngũ cốc, sắt, thép…), dịch vụ (tiền điện, cước viễn thông…) hoặc các tài sản tài chính (trái phiếu, cổ phiếu, ngoại tệ, lãi suất, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi…).

    1. Phân loại hợp đồng quyền chọn (Options) a. Theo quyền của người mua

    Hợp đồng quyền chọn mua (Call options): Là một thỏa thuận giao dịch một lượng tài sản cơ sở nhất định, trong đó người mua call options (A) sẽ trả cho người bán call options (B) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (options premium) và A sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã được thoả thuận trước vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. B nhận được tiền từ A nên B có trách nhiệm phải bán lượng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện đã thỏa thuận vào ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi A muốn thực hiện quyền mua của mình.

    Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau khi xem xét với mức giá giao ngay của tài sản cơ sở ở ngày này, nếu thấy có lợi cho mình, tức giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện, A có thể thực hiện quyền của mình để được mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện, rồi ra thị trường bán lại với giá cao hơn để thu một khoản lợi nhuận. Nếu thấy giá của tài sản cơ sở dưới giá thực hiện, A có thể không cần phải thực hiện quyền mua của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.

    Hợp đồng quyền chọn bán (Put options): Là một thỏa thuận giao dịch một lượng

    tài sản cơ sở nhất định, theo đó người mua Put options (C) sẽ trả cho người bán

    Put options (D) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn bán hay phí Put options

    và C sẽ có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ phải bán lượng tài sản cơ sở đó

    theo một mức giá đã thỏa thuận trước (giá thực hiện) vào một ngày hoặc một

    khoảng thời gian xác định trong tương lai. D nhận được tiền từ C, nên có nghĩa vụ

    phải mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện vào ngày đáo hạn (nếu là

    quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký

    hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi C muốn thực hiện

    quyền được bán của mình.

    Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau khi xem xét giá giao ngay của tài sản cơ sở trên thị trường, nếu thấy có lợi cho mình, tức mức giá này nhỏ hơn giá thực hiện, C có thể thực hiện quyền của mình để được bán lượng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện sau khi đã mua được ở ngoài thị trường với giá thấp hơn để thu một khoảng lợi nhuận. Nếu thấy giá giao ngay cao hơn giá thực hiện, C có thể không cần phải thực hiện quyền chọn bán của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.

    1. Theo thời điểm thực hiện quyền chọn

     

    Quyền chọn kiểu Châu Âu (European options): Là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận vào ngày đáo hạn.

    Quyền chọn kiểu Mỹ (American options): Là quyền chọn cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến hết ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận (trong thời gian hiệu lực của hợp đồng).

    1. Theo thị trường giao dịch

    Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: Là quyền chọn được tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn, được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thị trường chứng khoán New York…Do đó, tính minh bạch của thị trường rất cao, thể hiện ở chỗ giá cả, số lượng của hợp đồng giao dịch được công bố chi tiết vào cuối ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảo cho các ngày giao dịch tiếp theo hoặc cho nhiều mục đích khác. Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn này có thể được dễ dàng chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, điều này cho thấy tính thanh khoản cao của các hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên các thị trường tập trung kiểu này. Trên thế giới, thị trường giao dịch quyền chọn theo kiểu này chiếm tỉ trọng rất lớn, khoảng 98% tổng giá trị giao dịch quyền chọn của thế giới.

    Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC): Là thỏa thuận mua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một người mua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung. Hợp đồng thường được giao dịch

    giữa các đối tác liên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp. Do các hợp đồng quyền chọn không được chuẩn hóa, chi tiết của hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên, nên tính linh hoạt đối với các hợp đồng này là rất cao, đáp ứng được các nhu cầu cá biệt của các khách hàng. Dù vậy, các giao dịch quyền chọn phi tập trung kiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới.

    1. Theo tài sản cơ sở

    Theo cách phân loại này thì có vô số loại hợp đồng quyền chọn, vì trên lý thuyết, bất kì một tài sản cơ sở nào cũng có thể phát sinh một quyền chọn dựa trên nó. Do đó, có thể phân thành các nhóm chính sau:

    Đối với hàng hóa: bao gồm quyền chọn cà phê, vàng, xăng dầu, sắt, thép, ngũ cốc, khí đốt…

    Đối với dịch vụ: gồm quyền chọn tiền taxi, tiền điện, cước viễn thông…

    Đối với tài sản tài chính: gồm quyền chọn ngoại tệ, lãi suất, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, chỉ số chứng khoán…

    Hiện nay, trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tài chính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… Bên cạnh đó, do là những hàng hóa đặc biệt quan trọng nên quyền chọn vàng và dầu cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn.

    Mặc dù các giao dịch quyền chọn phi tập trung chỉ chiếm khoảng 2% tổng giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, do thị trường quyền chọn còn khá mới mẻ, chưa phát triển nên các giao dịch quyền chọn phi tập trung chiếm một tỉ trọng tuyệt đối, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Kinh doanh ngoại tệ – Kiến thức căn bản

    ( Bình chọn: 8   —  Thảo luận: 8 —  Số lần đọc: 20578)

    Ngoại tệ đang là chủ đề nóng của giới ngân hàng hiện nay. Để những bạn có nhu cầu tìm hiểu về cách thức kinh doanh ngoại hối tôi xin tóm tắt một quy trình về kinh doanh ngoại tệ mà các ngân hàng đang áp dụng hiện nay.

    Trong thời gian gần đây thị trường tài chính tiền tệ luôn dậy sóng với những biến đổi thất thường của lãi suất liên ngân hàng, của tỷ giá đồng USD, ngay cả các ngân hàng cũng không lường hết được những thay đổi ấy. Để hiểu rõ cách thức kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng ra sao, theo tôi, cũng là vấn đề cần quan tâm của các bạn Saganors nói chung và các bạn đang làm trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Bằng những kinh nghiệm thực tế cũng như những tài liệu tham khảo của các ngân hàng tôi xin trình bày một quy trình cụ thể về kinh doanh ngoại tệ mà các ngân hàng trong nước hiện nay đang tiến hành.

     NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    1) Một số thuật ngữ liên quan khi giao dịch trên thị trường hối đoái

    Ngân hàng là Ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Trong bài này thì ngân hàng được hiểu như là ngân hàng đứng ra kinh doanh ngoại tệ với các tổ chức khác.

    Chi nhánh là phòng giao dịch, Chi nhánh cấp 1, 2 trực thuộc Ngân hàng

    Đối tác là các tổ chức tín dụng, tố chức tài chính, công ty ở nước ngoài có ký hợp đồng giao dịch ngoại hối với Ngân hàng hoặc có thỏa thuận bằng văn bản về hạn mức giao dịch ngoại hối với ngân hàng.

    Khách hàng là các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, tổ chức khác và cá nhân ở trong nước có nhu cầu mua bán ngoại tệ với Ngân hàng.

    Giao dịch hối đoái giao ngay (spot) là giao dịch mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỉ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán chậm nhất trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán.

    Giao dịch hối đoái kỳ hạn (forward) là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỉ giá xác định, và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai xác định.

    Giao dịch hối đoái hoán đổi (swap) là giao dịch bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán dùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỉ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Giao dịch quyền chọn (option) là giao dịch ngoại tệ trong đó bên mua có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải thực hiện giao dịch đã cam kết với bên bán, trong khi đó bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện giao dịch đã cam kết khi bên mua có yêu cầu theo tỉ giá đã thỏa thuận trước.

    Phí quyền chọn (premium) là mức phí mà bên mua quyền chọn phải trả cho bên bán quyền chọn khi mua quyền chọn

    Dealer là Giao dịch viên thuộc bộ phận nguồn vốn.

    Trạng thái mở (chưa cân bằng-open position) của ngoại tệ là trạng thái phát sinh trong giao dịch mua (hoặc bán) ngoại tệ nhưng chưa bán (hoặc mua) lại với số lượng tương ứng. Trạng thái phát sinh do mua gọi là dư thừa, còn phát sinh do bán gọi là dư thiếu.

    Trạng thái ngoại tệ chung của toàn ngân hàng là trạng thái ngoại tệ mở tối đa của toàn ngân hàng tại một thời điểm. Trạng thái này do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.

    Mức dừng lỗ (stop loss) là chênh lệch giá bất lợi tối đa giữa giá của trạng thái mở và tỉ giá thị trường tại một thời điểm. Trong trường hợp Dealer đang có một trạng thái mở với giá bất lợi so với giá hiện tại thì phải chuẩn bị một mức dừng lỗ hợp lý để hạn chế lỗ nhiều một khi giá biến động mạnh.

    Hạn mức giao dịch với đối tác và khách hàng là hạn mức giao dịch mà Ngân hàng thỏa thuận được với đối tác và khách hàng. Bộ phận nguồn vốn và Chi nhánh chỉ được phép giao dịch với các đối tác và khách hàng trong hạn mức giao dịch này. Danh sách hạn mức giao dịch với đối tác và khách hàng sẽ phải được xem xét, cập nhật định kỳ hàng năm hoặc khi cần thiết (ngoại trừ các Giao dịch quyền chọn, trong đó đối tác hoặc khách hàng là người mua quyền chọn và các giao dịch ngoại tệ mà đối tác/ khách hàng có đặt cọc cho Ngân hàng).

    Tỉ giá hối đoái là giá của một đồng tiền quốc gia này so với đồng tiền của một quốc gia khác. Tỉ giá hối đoái bao gồm tỉ giá giao ngay, tỉ giá kỳ hạn và tỉ giá thực hiện trong quyền chọn.

    • T ỉ giá giao ngay (áp dụng đối với giao dịch hối đoái giao ngay) là tỉ giá do Ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch hoặc do thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng hoặc đối tác nhưng phải đảm bảo phù hợp với thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định về tỉ giá giao ngay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm giao dịch.
    • Tỉ giá kỳ hạn (áp dụng đối với giao dịch hối đoái kỳ hạn) là tỉ giá do Ngân hàng và khách hàng hoặc đối tác tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo phù hợp với thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định về tỉ giá kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm giao dịch.
    • Tỉ giá thực hiện (áp dụng đối với giao dịch quyền chọn) là tỉ giá do người mua quyền chọn yêu cầu người bán quyền chọn thực hiện.

    2) Các hoạt động giao dịch hối đoái và phạm vi giao dịch

    Hoạt động giao dịch hối đoái của Ngân hàng bao gồm:

    • Mua và bán ngoại tệ với đối tác / khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu muốn mua và bán của đối tác/ khách hàng;
    • Mua và bán ngoại tệ với đối tác nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó của Ngân hàng để giảm thiểu rủi ro.
    • Mua và bán ngoại tệ giữa hội sở với Chi nhánh, phòng giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu muồn mua và bán của Chi nhánh, phòng giao dịch.

    Phạm vi giao dịch :  Bộ phận nguồn vốn được thực hiện toàn bộ các họat động giao dịch hối đoái. Chi nhánh, phòng giao dịch chỉ thực hiện họat động giao dịch hối đoái trong hạn mức trạng thái ngoại tệ của đơn vị mình và trong quy trình kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh, phòng giao dịch.

    Các loại hình giao dịch: Các loại hình giao dịch hối đoái được phép tiến hành bao gồm

    – Giao dịch hối đoái giao ngay

    – Giao dịch hối đoái kỳ hạn

    – Giao dịch hối đoái hoán đổi

    Đồng tiền giao dịch : Các giao dịch hối đoái được phép tiến hành giữa ngoại tệ với đồng Việt Nam hoặc giữa các loại ngoại tệ với nhau. Các loại ngoại tệ được phép giao dịch là các ngoại tệ được niêm yết trên Bảng tỉ giá công bố hàng ngày của Ngân hàng. Việc công bố loại ngoại tệ nào trên Bảng công bố tỉ giá hàng ngày do quy đinh của từng ngân hàng.

    Đặt cọc :   Để đảm bảo cho các giao dịch giao ngay, hoán đổi và kỳ hạn, Ngân hàng có thể  yêu cầu đối tác hoặc khách hàng đặt cọc cho Ngân hàng hoặc Ngân hàng có thể đặt cọc cho đối tác/ khách hàng. Quyền yêu cầu đặt cọc và thỏa thuận mức đặt cọc do quy đinh của từng ngân hàng. Số tiền đặt cọc và khoản lãi từ tiền cọc (nếu có) sẽ được hoàn trả lại cho đối tác hoặc khách hàng, hoặc Ngân hàng được nhận lại từ phía đối tác hoặc khách hàng khi các bên trong giao dịch đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.

    CÁC KỸ THUẬT GIAO DỊCH CỤ THỂ

    1) Nguyên tắc niêm yết tỉ giá và phí quyền chọn.

    • Bộ phận nguồn vốn là nơi lập Bảng niêm yết tỉ giá giao dịch hàng ngày áp dụng thống nhất cho toàn Ngân hàng. Tỷ giá niêm yết này được tính toán bằng các kỹ thuật sao cho vừa phù hợp với cung cầu thị trường vừa nằm trong biên độ giao động cho phép của ngân hàng nhà nước.
    • Bảng niêm yết tỉ giá đầu ngày phải được lập và cập  nhật vào hệ thống chương trình quản lý của Ngân hàng trên máy tính chậm nhất là đầu giờ làm việc của ngày làm việc. Tỷ giá cũng ngay lập tức phải chuyển đi các chi nhánh và phải nhập tỉ giá vào bảng điện tử của hội sở để các khách hàng có thể tham chiếu được ngay.
    • Trong ngày làm việc, nếu có phát sinh biến động lớn về tỉ giá của một loại ngoại tệ niêm yết nào đó thì phải lập  bảng niêm yết tỉ giá giao dịch mới và thực hiện công bố tỉ giá tương tự như việc công bố tỉ giá đầu ngày làm việc.
    • Chi nhánh khi nhận được Bảng niêm yết tỉ giá giao dịch phải cập nhật ngay vào Bảng niêm yết tỉ giá giao  tại quầy giao dịch trực tiếp với khách hàng và thông báo ngay cho các bộ phận có liên quan thuộc đơn vị mình.
    • Đối với giao dịch hối đoái giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi, có thể thực hiện giao dịch theo tỉ giá niêm yết hoặc tỉ giá thương lượng giữa Ngân hàng với khách hàng hoặc đối tác nhưng phải đảm bảo tỉ giá giao dịch phù hợp với tỉ giá của thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giao dịch về giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi.
    • Mức phí quyền chọn được thực hiện theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng

    hoặc đối tác khi thực hiện quyền chọn. Bộ phận nguồn vốn căn cứ vào mức phí quyền chọn trong giao dịch với đối tác trên thị trường quốc tế tại thời điểm giao dịch để quyết định phí quyền chọn cho khách hàng/ đối tác.

    2) Thực hiện giao dịch với đối tác hoặc khách hàng :

    Việc thực hiện giao dịch với đối tác /khách hàng do Dealer thực hiện. Các phương tiện được thực hiện trong giao dịch là: điện thoại, fax. Cần lưu ý rằng tất cả các giao dịch qua điện thoại được coi là hợp lệ khi giao dịch được thực hiện thông qua của Ngân hàng

    3) Tạo dữ liệu giao dịch:

    Sau khi hoàn tất việc thực hiện giao dịch  với đối tác/khách hàng.  Dealer phải nhập nội dung của giao dịch vào hệ thống quản lý giao dịch (trading system) và in ra  “Phiếu giao dịch” ngay lập tức để chuyển sang cho Bộ phận kiểm soát rủi ro.

    4) Kiểm soát giao dịch:

    Ngay sau khi nhận được giao dịch từ hệ thống quản lý giao dịch hoặc “Phiếu giao dịch cho Dealer chuyển sang, Bộ phận kiểm soát rủi ro phải thực hiện các bước sau:

    • Kiểm tra tỷ giá giao dịch có phải là tỷ giá công bố hoặc tỷ giá giao dịch của thị trường hay không;
    • Kiểm tra hạn mức của đối tác hoặc khách hàng;
    • Kiểm tra tiền cọc (nếu có);
    • Kiểm tra hạn mức giao dịch của Dealer.

    Trong trường hợp giao dịch không đảm bảo một trong các yêu cầu trên thì nhân viên kiểm soát rủi ro được quyền không duyệt, và phải tiến hành lập ngay biên bản vi phạm giao dịch, đồng thời báo cáo kịp thời cho cấp quản lý trực tiếp của bộ phận kiểm soát rủi ro để xử lý. Khi  giao dịch đảm bảo các điều kiện nêu trên thì nhân viên kiểm soát rủi ro tiến hành duyệt giao dịch trên hệ thống giao dịch hoặc ký tên trên “phiếu giao dịch” và chuyển sang cho bộ phận hỗ trợ giao dịch (back office)

    5) Xác nhận giao dịch:

    Việc thực hiện xác nhận do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện:

    • Đối với giao dịch hối đoái giao ngay (spot) chỉ cần xác nhận lại với đối  tác hoặc khách hàng bằng fax, văn bản hoặc điện xác nhận (swift);
    • Đối với giao dịch hối đoái kỳ hạn (forward), hoán đổi và quyền chọn thì ngân hàng và đối tác hoặc khách hàng phải ký kết hợp đồng chi tiết bằng văn bản hoặc điện xác nhận.

    Đối với các giao dịch được xác nhận bằng hợp đồng: ngân hàng và đối  tác/khách hàng phải ký hợp đồng ngay khi thực hiện giao dịch và hợp đồng phải được gửi đi trong ngày giao dịch (căn cứ vào dấu của bưu điện). Với các giao dịch được xác nhận bằng fax: hợp đồng phải gửi đi ngay sau khi Dealer tạo dữ liệu giao dịch hoặc sau khi nhận được hợp đồng do đối tác/khách hàng gửi đến. Tất cả giao dịch trong ngày phải được xác nhận hoàn tất trong ngày. Còn đối với các giao dịch được xác nhận bằng điện xác nhận: Xác nhận giao dịch phải gửi đi trong phiên kết nối vào hệ thống swift gần nhất. Tất cả các giao dịch trong ngày phải được xác nhận hoàn tất trong ngày.

    6) Thanh toán giao dịch:

    Việc thực hiện thanh toán giao dịch do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện.

    Giao dịch giao ngay: Việc thanh toán theo thỏa thuận cụ thể về thời điểm chuyển tiền đối với đối tác/khách hàng nhưng phải thực hiện và kết thúc chậm nhất trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán;

    Giao dịch kỳ hạn: Ngày thanh toán là ngày làm việc cuối cùng của kỳ hạn giao dịch và được ghi rõ trong hợp đồng đã đuợc ký kết.   Ngân hàng chỉ được phép chuyển tiền khi đến hạn thanh toán;

    Giao dịch hoán đổi:

    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm hai giao dịch giao ngay thì việc  thanh toán dựa trên ngưyên tắc đã quy định  đối với giao dịch giao ngay.
    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn thì việc thanh toán dựa trên nguyên tắc đã quy định đối với giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn.
    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm hai giao dịch kỳ hạn thì việc thanh toán dựa trên nguyên tắc đã quy định đối với giao dịch kỳ hạn.

    7) Thanh toán bù trừ: Thanh toán bù trừ là việc chỉ thanh toán phần chênh lệch giũa các giao dịch mua và các giao dịch bán có cùng cặp tiền tệ hoặc của một lọai tiền tệ  của nhiều cặp tiền tệ khác nhau, cùng ngày giá trị thanh toán giữa ngân hàng với đối tác/khách hàng. Để thực hiện thanh toán bù trừ, ngân hàng và đối tác khách hàng giao dịch phải có thỏa thuận thanh toán bù trừ bằng văn bản riêng.

    8) Theo dõi thanh toán đi và thanh toán đến : Việc theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đi và thanh toán đến do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện.

    • Theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đến: bao gồm theo dõi tất cả các   khoản tiền thanh toán đến trong ngày căn cứ vào các hợp đồng giao dịch đã thực hiện với đối tác hoặc khách hàng; đối chiếu nội dung nhận tiền, số tiền thực nhận với nội dung, số tiền trên hợp đồng giao dịch.
    • Theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đi: bao gồm theo dõi tất cả các khoản tiền phải thanh toán đi trong ngày căn cứ vào các hợp đồng giao dịch đã được thực hiện với đối tác/khách hàng; đối chiếu nội dung chuyển tiền, số tiền thực chuyển trên chứng từ thanh toán đi với nội dung, số tiền trên hợp đồng giao dịch.

    Quy trình nghiệp vụ cơ bản của kinh doanh ngoại tệ thì chỉ có như vậy. Tùy theo mỗi ngân hàng mà chia ra các phòng ban chức năng và nhân sự khác nhau. Tuy nhiên nói gì thì nói bộ phận kinh doanh ngoạiệ phải đảm bảo ba nhóm sau:

    • N hóm giao dịch kinh doanh (front office): gồm các Dealer kinh doanh được phép giũ  trạng thái ngoại tệ mở và các Dealer môi giới không được phép giũ trạng thái ngoại tệ mở;
    • Nhóm kiểm soát rủi ro (risk control): gồm các kiểm soát viên;
    • Nhóm nghiệp vụ (back office): gồm các nhân viên hỗ trợ giao dịch.

    Có điều cần chú ý là các ngân hàng luôn quy định phòng làm việc của bộ phận giao dịch phải tách biệt với bộ phận kiểm soát rủi ro và bộ phận hỗ trợ giao dịch và việc sử dụng các trang thiết bị thông tin cần phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt của mỗi ngân hàng.

    Quy trình này chưa đề cập đến công tác hạch toán trong kinh doanh ngoại tệ, cũng là một công việc khá phức tạp và khó trình bày. Tuy nhiên các bạn có thể tham khảo các văn bản sau để hiểu rõ cách thức hạch toán của các nghiệp vụ ngân hàng nói chung và nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ nói riêng:

    Quyết định 479/2004 QĐ-NHNN của thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành ngày 29/04/2004

    Quyết định 29/2006 QĐ-NHNN của thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành ngày 10/07/2006


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Sau khi có cái nhìn tổng quan về quyền chọn và thị trường quyền chọn, câu hỏi đặt ra là: Ở Việt Nam hiện nay, thị trường quyền chọn đã phát triển như thế nào? Bất kỳ thị trường nào muốn đi vào vận hành thị cũng cần có một hệ thống cơ sở pháp lý để chi phối, điều chỉnh và kiểm soát. Vậy hệ thống cơ sở pháp lý cho thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán đã phát triển như thế nào? Đã bao quát thị trường hết chưa hay vẫn còn thiếu hụt trầm trọng?

    1.Cơ sở pháp lý

     

     

    a. Đối với quyền chọn ngoại tệ

     

     

    • Cơ sở pháp lý liên quan chính sách quản lý ngoại hối

    Trong thời gian qua, thị trường ngoại hối phát triển với nhiều nghị định, quyết định, văn bản hướng dẫn… Trong đó, Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/1/2001 về quản lý ngoại hối, quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa NHTM với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, NHNN nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho

    các NHTM và TCTD, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.

    Cơ chế điều hành tỷ giá cũng đã có những thay đổi đáng kể. Vào tháng 5/2004,

    NHNN đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi

    suất. Tháng 7/2006, NHNN bỏ biên độ giao dịch đô la Mỹ tiền mặt, cho Eximbank

    thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận.

    Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, và gần đây nhất đã được nâng lên +/-3%. Việc nới lỏng biên độ tỷ giá góp phần phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.

    Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ

    Ngày 10/01/1998, trên cơ sở nhận thức sự cần thiết thúc đẩy giao dịch ngoại hối phát triển, thống đốc NHNN đã ký quyết định 17/1998/QĐ_NHNN ban hành quy chế giao dịch hối đoái (quyết định 17). Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại

    hối. Tuy nhiên, với quyết định này thì giao dịch ngoại hối chỉ mới được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay kỳ hạn và hoán đổi.

    Ngày 12/02/2003, công văn số 135/NHNN-QLNH về giao dịch quyền chọn ngoại tệ, trước tiên là quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ chính thức ra đời. Eximbank là NHTM đầu tiên thực hiện thí điểm nghiệp vụ này. Trong đó, công văn này đã quy định cụ thể nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng như về đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn số dư…

    Sau 7 năm đi vào hoạt động, đến cuối năm 2004, quyết định 17/1998/QĐ-NHNN

    (quyết định 17) đã phát sinh những hạn chế. Vì vậy, ngày 10/11/2004, thống đốc

    NHNN đã ký quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các

    TCTD để thay thế quyết định 17 và khắc phục những hạn chế này. Quyết định này

    có những điểm mới như chính thức cho phép tất cả các TCTD được phép thực

    hiện các giao dịch hối đoái đều được quyền thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại

    tệ mà không cần phải xin phép NHNN. Qua đó, thời điểm này NHNN đã chấm dứt

    thời gian thí điểm nghiệp vụ này. Đồng thời, quy định kỳ hạn của giao dịch quyền

    chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng tự

    thỏa thuận. Quy định này là một sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý các

    hoạt động giao dịch ngoại hối giúp thị trường quyền chọn nước ta ngày càng đa

    dạng hơn. Bên cạnh đó, quyết định này cho phép các cá nhân được phép tham gia

    ngoài các TCTD, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và NHNN. Đây thực sự là một cơ

    hội cho các nhà đầu tư cá nhân có thêm một sân chơi mới trên thị trường tiền tệ.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ

    Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN_QLNH cho phép ACB triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn

    này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các NHTM khác dưới sự cho phép của NHNN.

    Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.

    b. Đối với quyền chọn chứng khoán (Cụ thể là quyền chọn cổ phiếu)

    Từ khi thị trường chứng khoán ra đời ngày 20-7-2000, các văn bản pháp lý để tạo lập, vận hành và quản lý thị trường được các cơ quan nhà nước ban hành khá nhiều. Nhưng nhìn chung, những thiếu sót, bất cập vẩn còn rất lớn, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, đang trên con đường phát triển và trưởng thành. Ngày 29-6-2006, luật chứng khoán chính thức được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ 1-1-2007, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo một đường băng cất cánh cho thị trường.

    Đáng chú ý nhất là trong giai đoạn thị trường suy giảm mạnh từ khoảng cuối quí I đến thời gian gần đây, UBCK nhà nước đã lần lượt giảm biện độ dao động giá cổ phiếu, chứng chỉ quĩ xuống còn +/-1% đối với HOSE và +/-2% đối với HASTC.

    Sau một thời gian ngắn thị trường phục hồi nhẹ, UBCK đã cho phép nâng biên độ lên +/-2% đối HOSE và +/-3% đối với HASTC, sau đó lại tiếp tục được nâng lên +/-3% đối với HOSE và +/-4% đối với HASTC.

    Gần đây nhất, ngày 14/8/2008, UBCK nhà nước ban hành công văn số 1650/UBCK-PTTT về việc điều chỉnh biên độ giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ. Theo đó, biên độ giao dịch giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là +/-5% đối với HOSE và +/-7% đối với HASTC, điều này sẽ làm cho giá cả chứng khoán giao động mạnh hơn, phản ánh đúng cung cầu hơn, nhưng rủi ro cho các nhà đầu tư sẽ nhiều hơn, mở ra cơ hội cho việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như quyền chọn cổ phiếu để bảo hiểm cho các nhà đầu tư.

    Thế nhưng, cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý chính thức nào qui định, hướng dẫn hay cho phép thực hiện về quyền chọn cổ phiếu tất cả chỉ mới ở giai đoạn dự thảo, ngoại trừ một số công văn cho phép một số tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như VCBS…

    c. Đánh giá chung về cơ sở pháp lý

    Như vậy, có thể thấy, các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành là khá nhiều nhưng chúng vẫn chưa quy định cụ thể và thúc đẩy được các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, nó chỉ mang tính tức thời bổ sung cho thị trường ngoại hối, cũng giống như chúng ta chỉ ban hành văn bản luật khi thị trường cần thực hiện các giao dịch này trong ngắn hạn, chứ chưa đưa ra các bộ luật chuẩn quy định cụ thể, thống nhất như luật công cụ bảo hiểm phái sinh chẳng hạn. Như vậy, sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư… trong việc hoạch định các chiến lược dài hạn để kinh doanh trên thị trường.

    Đối với quyền chọn cổ phiếu chúng ta dường như chưa có văn bản pháp luật nào quy định, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện giao dịch quyền chọn trên thị trường chứng khoán, ngoại trừ một số công văn cho phép vài tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS)… Với yêu cầu cấp

    thiết hiện nay, những lúc thị trường chứng khoán giảm sâu, các nhà đầu tư hoang mang, bán đổ bán tháo cổ phiếu vì họ chưa thể áp dụng các công cụ để bảo vệ mình. Như vậy, việc ban hành các văn bản luật liên quan đến quyền chọn cổ phiếu và thành lập thị trường của chúng hiện nay đang là nhu cầu cấp thiết đòi hỏi các cơ quan chức năng sớm thực hiện .

    Nói tóm lại , cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các giao dịch quyền chọn ngoai tệ cũng như các quyền chọn cổ phiếu có một lỗ hổng lớn so với nhu cầu thực tế, mà không thể một sớm một chiều có thể khỏa lấp được. Các cơ quan chức năng cần tập trung nghiên cứu, tham khảo nhằm ban hành các văn bản pháp luật liên quan để dần xóa bỏ lỗ hổng pháp lý lớn này, đưa thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu vào đường băng của sự phát triển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Với sự hình thành bước đầu của thị trường quyền chọn, thì thực trạng triển khai quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu của các tổ chức tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Chúng đã trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro và đầu tư phổ biến cho thị trường hay chưa? (Bài viết thuộc loạt bài:”Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển trong tuơng lai”).

    2.Thực trạng triển khai options ngoại tệ và options cổ phiếu của các tổ chức tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua

    Thời gian qua ở Việt Nam, quyền chọn ngoại tệ dường như là công cụ phái sinh được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh tỷ giá luôn ở trạng thái tăng giảm liên tục. Trong khi đó, quyền chọn cổ phiếu chỉ mới được thí điểm bước đầu ở VCBS.

    a.Quyền chọn ngoại tệ

    Gồm quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ và quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ)

    Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ

    Về phía ngân hàng tham gia

     

    Trong giai đoạn thí điểm, các ngân hàng thương mại (NHTM) muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ phải là ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu là 1 tỷ USD. Ngoài ra, NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc ngân hàng nhà nước (NHNN) chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm.

    Theo công văn số 135/NHNN-QLNH, cho phép Eximbank là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ. Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Viet Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Argribank.

    Đặc điểm giao dịch

    Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các doanh nghiệp và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện. Đặc biệt, quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu, trong đó:

    Người mua quyền chọn là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.

    Người bán quyền chọn là các NHTM.

    Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.

    Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ hoặc Châu Âu.

    Về doanh số giao dịch

     

    Tính đến tháng 6/2004, mặc dù lợi ích trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm

    rủi ro đã thấy rõ như một nhu cầu cấp thiết, nhưng số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn 50 triệu USD của Eximbank ký với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.

    Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như Eximbank, Techcombank, còn lại các ngân hàng vẫn không có giao dịch.

    Với nghiệp vụ này, chắc chắn tương lai sẽ được mở rộng bởi khi đó VNĐ sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường tài chính thế giới. Vị thế của VNĐ và Việt Nam cũng qua đó mà tăng lên. Tuy nhiên, vì đang trong giai đoạn thí điểm nên các ngân hàng này bị giới hạn bởi thời gian thực hiện. Sau 4 năm hoạt động, công cụ phòng ngừa rủi ro đã có những bước phát triển nhưng vẫn chưa thu được kết quả như mong muốn, và hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa thiết tha với các nghiệp vụ này lắm. Dù gặp phải một số khó khăn trong việc áp dụng, song các công cụ này đang là nhu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp và là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.

    Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ)

    Về phía ngân hàng tham gia giao dịch

    Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triển khai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ. ACB là ngân hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụ này, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD và mức tối thiểu là

    10.000 USD (quy đổi ngoại tệ khác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịch giữa các ngoại tệ khác và VNĐ).

    Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trị hợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ được thực hiện với quyền chọn Châu Âu. BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từ đây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank, GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này. Như vậy, tính đến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ.

    Đặc điểm giao dịch

    Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các NHTM muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được NHNN chấp nhận bằng văn bản. Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:

    Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.

    Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.

    Doanh số giao dịch

    Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các NHTM không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn. Qua kết quả thăm dò, các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể.

    Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động vẫn không cao. Tính trong năm 2006-2007 Vietcombank chỉ đạt khoảng 37,53 triệu USD (chiếm chưa đến 0,1% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ), Eximbank đạt 128,12 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% trong tổng số giao dịch ngoại tệ).

    Qua thực tế trên, chúng ta thấy rằng giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ chưa phát triển. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng với kết quả ban đầu trong giai đoạn thí điểm này là một dấu hiệu đáng mừng góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển sau này.

    b.Quyền chọn chứng khoán (cổ phiếu)

    Trong giai đoạn thí điểm hiện nay, UBCK chỉ cho công ty chứng khoán VCBS thí điểm triển khai nghiệp vụ quyền chọn cổ phiếu, với đối tượng giao dịch là giữa VCBS và các nhà đầu tư (kể cả cá nhân và tổ chức). Thế nhưng, do là một nghiệp vụ mới nên rất ít các nhà đầu tư biết đến và sử dụng dịch vụ này, các con số về hợp đồng, doanh thu của tổ chức thực hiện VCBS hầu như là không đáng kể.

    c. Đánh giá chung về thực trạng sử dụng options ngoại tệ và cổ phiếu ở Việt

    Nam thời gian qua

    • Việt Nam, các nghiệp vụ phái sinh nói chung và options nói riêng mới bắt đầu được sử dùng từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên, các nghiệp vụ options này còn

    mang tính thí điểm và đơn lẻ. Số lượng giao dịch của các công cụ này còn hết sức khiêm tốn:

    • Về quyền chọn ngoại tệ: NHNN đã cho phép thực hiện thí điểm đối với Eximbank, VIB, Vietcombank; ACB, BIDV, Techcombank, NHTMCP Quân đội, nhưng doanh số về hoạt động này vẫn không đáng kể so với doanh số các hoạt

    động truyền thống. Mặc dù thị trường các công cụ tài chính phái sinh, quyền chọn ngoại tệ đã hình thành ở Việt Nam, nhưng còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến.

    • Về quyền chọn cổ phiếu: Thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra đời được 8 năm, nó đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm, thị trường lên xuống thất thường, rủi ro cho các nhà đầu tư là khá lớn, nhu cầu phòng ngừa rủi ro đã trở

    thành cấp thiết. Thế nhưng, quyền chọn cổ phiếu vẫn chưa chính thức được ra đời ở nước ta để hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Thị trường vẫn mới ở trong giai đoạn chuẩn bị, thí điểm nhỏ lẻ, những kết quả thu được hầu như chỉ là con số không.

    Như vậy, điểm lại những mốc chính xuất hiện của các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ở Việt Nam, dễ nhận thấy rằng nó chưa được thị trường đón nhận như là một công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi ro. Theo báo cáo tại hội thảo khoa học về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam” năm 2007, doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường giữa các ngân hàng với khách hàng ngày càng tăng lên: Năm 2004 tăng 30%, từ năm 2005-2007 trung bình tăng khoảng 20%/năm. Trong đó, các giao dịch giao ngay chiếm từ 90-95%, các giao dịch quyền chọn ngoại tệ chỉ chiếm từ 1-5%, một tỉ trọng rất nhỏ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-5.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

     

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Với những thực trạng hiện tại thì quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (cổ phiếu) sẽ phát triển ra sao trong tương lai? Vậy thuận lợi, cơ hội cũng như những khó khăn, hạn chế cho sự phát triển của các thị trường như thế nào? (Bài viết thuộc loạt bài:”Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển trong tương lai”).

    3. Đánh giá triển vọng thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam

    a. Những thuận lợi của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam

    Đối với quyền chọn ngoại tệ

    Về phía ngân hàng

    Theo kết quả khảo sát của NHNN Việt Nam – chi nhánh TP HCM năm 2006 thì 100% các ngân hàng đều thừa nhận rằng hiện tại họ rất quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá. Qua cuộc khảo sát này chúng ta nhận thấy rằng các ngân hàng ngày càng chú trọng đến sự phát triển cung cấp các giao dịch ngoại hối mặc dù NHNN vẫn can thiệp và giữ tỷ giá tương đối ổn định. Việc phát triển các nghiệp vụ này ngoài mục đích giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn đồng thời áp dụng các công cụ options để quản lý rủi ro, đây còn là cơ hội cạnh tranh cho các NHTM đa dạng hóa

    sản phẩm cung cấp, đồng thời đón trước được nhu cầu cấp thiết trong việc sử dụng các công cụ này trong thời gian tới của doanh nghiệp.

    Về phía doanh nghiệp

    Theo kết quả của công trình nghiên cứu khoa học tháng 12/2006 của sở khoa học

    và công nghệ TPHCM kết hợp trường ĐH Kinh Tế TPHCM với đề tài “ Hoàn

    thiện các giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế khu

    vực và thế giới” đã cho thấy: Trong số các doanh nghiệp khảo sát, có khoảng 5,3%

    doanh nghiệp chưa hề biết đến và chưa nhận thức đầy đủ về rủi ro tỷ giá, khoảng

    24% có nghe và biết đến nhưng hầu như không quan tâm, gần 30% chưa nhận

    thức được tầm quan trọng của rủi ro tỷ giá, 70% có nhận thức được vấn đề rủi ro

    tỷ giá nhưng trong đó chỉ có khoảng 30% là thực sự lo lắng về rủi ro tỷ giá.

    Kết quả này đã phản ánh thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian trước đây, còn ỷ lại vào sự che chở của cơ quan nhà nước, do vậy các doanh nghiệp đã không quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá đúng mức, nhưng trong thời gian hiện tại với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và những rủi ro trong quá trình hội nhập đã buộc các doanh nghiệp phải chú trọng quan tâm đến các công cụ phòng ngừa rủi ro như options để tự bảo vệ mình.

    Báo cáo tại hội thảo khoa học 2007 về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam (bảng 2.1)” cũng đã chỉ ra rằng: Có đến gần 80% doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ chưa hoặc ít tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ. Tỷ lệ doanh nghiệp có biết đến và sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ thường xuyên cũng vào khoảng 21%. Qua các con sổ trên, phần nào đã phản ánh chính xác về thực trạng sử dụng các giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam. Song song đó, điều này đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp bước đầu đã thấy được sự cần thiết trong việc áp dụng công cụ này.

    Bảng 2.1: Kết quả khảo sát về việc sử dụng công cụ options ngoại tệ

                 
      Doanh nghiệp   Doanh nghiệp ít Doanh nghiệp thường   Tổng
      chưa biết   sử dụng xuyên sử dụng   cộng
                 
               
    Quyền chọn 21%   58% 21%   100%
    ngoại tệ    
               
                 
                 

    Qua các khảo sát, có thể thấy rằng: Các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá và có nhu cầu sử dụng các sản phẩm phái sinh như quyền chọn ngoại tệ để bảo vệ chính mình. Bên cạnh đó, các NHTM cũng đang chuẩn bị mọi thứ có thể và sẵn sàng cạnh tranh đáp ứng nhu cầu sử dụng các cung cụ phái sinh của khách hàng, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển rất lớn của nghiệp vụ này trong tương lai khi vấn đề tỷ giá ngày càng được tự do hóa.

    Đối với quyền chọn cổ phiếu

    Quyền chọn cổ phiếu hiện vẫn chưa được phép áp dụng chính thức ở Việt Nam, UBCK chỉ cho phép thí điểm ở một vài tổ chức như VCBS…Nhưng trong bối cảnh TTCK suy giảm mạnh mẽ như thời gian qua, khi mà các nhà đầu tư đòi hỏi một sự ổn định, giảm thiểu rủi ro cho thị trường chứng khoán, bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ban hành quyết định số 745 về chương trình hành động thực hiện mục tiêu ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát năm 2008. Trong đó, Bộ Tài Chính cũng đã đưa 5 kế hoạch trọng tâm nhằm ổn định thị trường chứng khoán:

    Một là, thực thi các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán có tổ chức đồng thời với việc hạn chế rủi ro của thị trường tự do. Nghiên cứu ban hành quy định về phát hành chứng khoán riêng lẻ.

    Hai là, nghiên cứu để sửa đổi các quy định theo hướng nâng cao tiêu chuẩn đối với phát hành chào bán chứng khoán, cấp phép thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.

    Ba là, sửa đổi hoặc bổ sung các quy định liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, quy chế hoạt động và cung cấp dịch vụ; thành lập công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài, các biện pháp kiểm soát dòng vốn đầu tư nước ngoài.

    Bốn là, xây dựng đề án giải pháp, phòng ngừa rủi ro và xử lý khủng hoảng trên thị trường chứng khoán.

    Năm là, đổi mới cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác, cơ chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam, tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh để báo cáo và đề xuất với thủ tướng chính phủ các biện pháp tăng cường quản lý và hướng dẫn hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế.

    Rõ ràng, qua nỗ lực nhằm vực dậy TTCK, chúng ta thấy rằng UBCK nhà nước và các cơ quan chính phủ đang có xu hướng quan tâm đến việc xây dựng đề án giải pháp phòng ngừa rủi ro và xử lý khủng hoảng trên thị trường chứng khoán, và phương án thành lập thị trường phái sinh chứng khoán. Đặc biệt, việc thành lập thị trường quyền chọn cổ phiếu trong giai đoạn hiện nay đang là một giải pháp khả thi. Hiện nay, các thị trường toàn cầu nói chung và thị trường Việt Nam nói riêng, mọi người đều lo ngại về vấn đề quản lý rủi ro, và đây cũng là thời điểm tốt để một thị trường chứng khoán non trẻ, với nhiều biến động về giá trong thời gian qua như Việt Nam có thể xem xét đến việc áp dụng những hình thức giao dịch

    quyền chọn này. Việc triển khai quyền chọn cổ phiếu sẽ tạo cơ hội cho TTCK vực dậy trong những giai đoạn khó khăn như thời gian vừa qua.

    Hơn nữa, TTCK Việt Nam đã phát triển đủ lớn và đáp ứng những yêu cầu cơ bản cho việc áp dụng quyền chọn cổ phiếu: Đó là tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán ngày càng cao; hàng hóa tăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng; đã xuất hiện nhiều công ty cổ phần đại chúng lớn, sắp tới đây sẽ tiến hành cổ phần hóa gắn kết niêm yết trên thị trường chứng khoán các công ty hàng đầu, các tổng công ty lớn như: các ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, BIDV, Incombank…), tổng công ty bưu chính viễn thông (Vinaphone, Mobifone), tập đoàn dầu khí Petrolimex; biên độ giá đã được mở rộng trở lại (+/-5% đối với HOSE và +/-7% đối với HASTC), thị trường OTC dần được tập trung hóa, các dự thảo về việc “Cho phép một nhà đầu tư mở nhiều tài khoản giao dịch”, “Được mua bán nhiều lần một mã chứng khoán trong cùng một phiên”… đang được soạn thảo. Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng nhận được sự quan tâm và tham gia giao dịch rất lớn của các nhà đầu tư, các tổ chức lớn nước ngoài…

    Thiết nghĩ, đây là thời điểm chín muồi để triển khai quyền chọn cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam, là cơ hội tốt để áp dụng và phát triển thị trường này với sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước và các bộ ngành có liên quan. Việc áp dụng này rất phù hợp với xu thế chung của thế giới, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường chứng khoán nói riêng và TTTC Việt Nam nói chung.

    Có thể thấy, các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối cũng như thị trường chứng khoán đã ngày càng nhận thức rõ hơn về lợi ích của các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn nói riêng và sẵn sàng đón nhận đón nhận sự ra đời của một thị trường options hỗ trợ cho việc kinh doanh cũng như đầu tư của riêng mình. Thêm vào đó là sự quan tâm, hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước ngày càng cao đối với thị trường quyền chọn. Đây có thể xem như là thuận lợi lớn nhất cho sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu trong tương lai.

    b. Những cơ hội của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ

    phiếu ở Việt Nam

    Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế đã có nhiều bước chuyển biến tích cực hơn, tiềm năng phát triển của nền kinh tế còn rất lớn. Để khai thác tiềm năng này, các yêu cầu về minh bạch, cơ chế, chính sách thông thoáng… ngày càng được chú trọng và thực hiện quyết liệt hơn.

    Các yêu cầu ngày càng cao về công khai và minh bạch hóa thông tin

    Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, tính cạnh tranh ngày càng cao, vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa thông tin thị trường, nền kinh tế ngày càng được đòi hỏi, yêu cầu cao hơn. Việc thành lập thị trường options nói chung và thị trường options ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng ở Việt Nam sẽ giúp các hoạt động này diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường một cách công bằng hơn so với trước đây, chúng ta sẽ giảm được độc quyền, sự phân biệt và các giao dịch bí mật trong thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động quảng bá sản phẩm của các ngân hàng, công ty chứng khoán…

    Cơ chế, chính sách thông thoáng hơn khi Việt Nam đã tham gia vào WTO

    • Việt Nam, do chưa từng phải chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Do chính sách quản lý các giao dịch vốn những năm trước đây còn chủ yếu

    dựa vào cơ chế hành chính, tự phong toả là chính, mức độ tự do hoá rất hạn chế…, nên việc áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu còn chưa trở thành nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, đang có rất nhiều thay đổi về mặt chính sách.

    Mở cửa thị trường vào không gian WTO, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất đã được tự do hoá; lộ trình tự do hoá tài chính đã đi qua rất nhiều bước và

    trên thực tế, các luồng vốn đã tương đối tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam cả trực tiếp và gián tiếp với qui mô, tần suất ngày càng lớn; chính sách tỷ giá cũng từng bước linh hoạt theo tín hiệu thị trường… Những bối cảnh trên đã, đang là những nhân tố khách quan thúc đẩy các bên tham gia thị trường tài chính Việt Nam phải đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của thị trường phái sinh nói chung và thị trường options ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng trong công tác phòng ngừa rủi ro của mình.

    Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cả trong hiện

    tại và tương lai

    Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây và nhất là trong những năm hậu WTO, chỉ riêng các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đưa vào Việt Nam một lượng vốn ngoại tệ khổng lồ để đầu tư, đặc biệt là trong trong giai đoạn 2007-2008. Trong số đó có không ít doanh nghiệp FDI chỉ bán hàng trong nước, thu tiền đồng. Họ phải bán ngoại tệ (chủ yếu vẫn là USD) thu VNĐ để thanh toán cho các chi phí, hoặc dùng lượng ngoại tệ này để nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước và cần dùng VNĐ mua ngoại tệ chuyển ra… Trong quá trình đó rủi ro tỉ giá là một điều luôn tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp này. Khi đó, công cụ options ngoại tệ sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tỷ giá nếu được sử dụng trong những trường hợp này, giúp các doanh nghiệp tránh được khoản thiệt hại do tăng hoặc giảm giá ngoại tệ (nếu có). Thế nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Vì vậy, việc phát triển thị trường option ngoại tệ chắc chắn sẽ tạo nhiều cơ hội cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam.

    Tương tự, đối với thị trường chứng khoán, việc có một công cụ phòng ngừa rủi ro khi thị trường chứng khoán tăng giảm đột ngột sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài mạnh dạn hơn khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Qua đó, việc hình thành và phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu sẽ thúc đẩy dòng vốn đầu tư gián tiếp

    nước ngoài chảy vào Việt Nam nhanh và mạnh hơn thông qua kênh chứng khoán, khi mà các nguồn vốn FII này đã và đang khởi động để tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

    Ngay NHNN Việt Nam cũng thường xuyên có một quĩ dự trữ ngoại hối khá lớn chưa được sử dụng hết, tăng trưởng tự nhiên và chủ yếu là dự trữ đồng USD đang yếu đi khá mạnh theo thời gian, nhưng chưa có một cơ chế đủ rõ ràng để trao quyền phán quyết cho nhà quản lý sử dụng thích ứng các công cụ options với các đối tác trong nước và nước ngoài trong quá trình quản lý và phát triển quĩ. Do đó, thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu sẽ là kênh đầu tư mới, tạo nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà đầu tư, ngay cả các cơ quan quản lý quỹ ngoại hối nhà nước.

    Tóm lại, Việt Nam đã tham gia vào sân chơi toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam ngày càng lớn, các yêu cầu, tiêu chuẩn về phát triển kinh tế ngày càng được đòi hỏi cao hơn, tự do hóa, sự công khai, minh bạch hóa ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu. Khi đó, yêu cầu đặt ra là phải cần những công cụ thị trường để thực hiện hóa, đẩy nhanh tiến trình theo yêu cầu từ bên ngoài và chính nội tại bên trong của nền kinh tế cũng như để ổn định hóa thị trường, nền kinh tế. Thị trường options, đặc biệt là options ngoại tệ và options cổ phiếu có lẻ là một trong những công cụ hiệu quả nhất để thực hiện, đón đầu các cơ hội này.

    c. Những khó khăn, hạn chế của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay

    Đối với tầm quản lý vĩ mô

    Khó khăn trong việc điều chỉnh cũng như ban hành văn bản pháp luật phù hợp thị trường.

    Đối với cơ quan cấp vĩ mô nhà nước việc ban hành một văn bản pháp luật phù hợp và tạo tính thuận lợi dễ dàng khi thực hiện trong thực tế, để tạo sự yên tâm giao

    dịch cho các nhà đầu tư không phải là việc có thể thực hiện một sớm một chiều. Song trong thời gian qua, chúng ta đã có thời gian thí điểm chuẩn bị, chúng ta biết chúng ta đang đứng ở đâu, và chúng ta đang gặp thách thức, khó khăn nào, vậy tại sao chúng ta lại không bắt tay vào khắc phục những nhược điểm trên.

    Khó khăn bước đầu của UBCK nhà nước và các cơ quan quản lý là việc nắm bắt và đưa ra các luật lệ phù hợp để phát triển thị trường options. Hiện nay chúng ta chỉ mới có luật chứng khoán và một số văn bản quyết định việc thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, hoán đổi lãi suất, quyền chọn ngoại tệ… Các văn bản pháp luật này vẫn còn chưa đủ sức để quy định rõ và hướng dẫn các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư thực hiện các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu.

    Đối với các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu (ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán…)

    Khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ

    Trong thời gian qua, vấn đề công nghệ áp dụng tại các công ty chứng khoán rất khác nhau, chúng ta chưa có sự đồng bộ về công nghệ. Ví dụ như việc UBCK nhà nước quy định các công ty chứng khoán phải liên kết với các ngân hàng để quản lý tiền của nhà đầu tư, việc thực hiện này cũng tương đối chậm, vì việc trang bị hệ thống công nghệ rất tốn kém và qui định mới cũng gây ra một số khó khăn trong công tác quản lý tài khoản khách hàng. Đối với nghiệp vụ options, việc trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ càng phức tạp và tốn kém hơn, đặc biệt là khi muốn kết nối với sàn giao dịch quyền chọn tập trung sau này, nếu doanh nghiệp không tính toán kỹ, có thể gây ra thua lỗ lớn.

    Tương tự đối với các NHTM, việc trang bị các hệ thống kết nối, thông tin đến khách hàng khá là phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường… đều có giá rất cao, mà không phải ngân hàng nào cũng có thể trang bị

    được. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.

    Khó khăn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực

    Thị trường options Việt Nam hiện nay chưa phát triển, chúng ta chỉ đang cho phép áp dụng một số công cụ tài chính phái sinh như các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ tại ACB, Vietcombank, Sacombank…và quyền chọn vàng tại ACB. Vì vậy, nguồn nhân lực Việt Nam chưa được chuẩn bị kỹ về kiến thức và khả năng chuyên môn. Hầu hết các ngân hàng, công ty chứng khoán… chưa có đội ngũ nhân lực vững chuyên môn và kiến thức để phổ biến công cụ options đến các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Họ hầu như chỉ được thuyên chuyển qua từ các bộ phận khác.

    Hiện nay, số người biết, hiểu và sử dụng thành thạo các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu là rất ít. Chúng ta chỉ tổ chức các buổi hội thảo khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và các nhà đầu tư chứng khoán áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu để tự bảo vệ mình, nhưng hầu như chưa tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quyền chọn và phòng ngừa rủi ro đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

    Đối với tâm lý của các doanh nghiệp Việt Nam

    Về phía các doanh nghiệp sử dụng quyền chọn, có một thực tế đáng lo ngại ở nước ta. Ví dụ, một doanh nghiệp thậm chí biết rõ là sẽ có rủi ro khi tỉ giá có thể tăng mạnh do lạm phát tăng cao và biết rõ nếu ký mua một hợp đồng quyền chọn mua ngoại tệ sẽ đỡ thiệt hơn nhiều. Nhưng chỉ vì tư duy và cách làm ăn truyền thống, các doanh nghiệp sợ rằng nếu đưa ra quyết định này, nhưng chẳng may có một điều kiện khách quan nào đó làm cho tỉ giá thị trường giảm xuống trái với xu hướng ban đầu, gây thiệt hại một khoản phí quyền chọn ban đầu, không những uy tín, mà địa vị của người ra quyết định đó cũng bị lung lay. Còn nếu mọi dự báo đúng như thực tế thì bản thân người quyết định đó cũng không được lợi lộc gì. Đa

    số các doanh nghiệp Việt Nam hiện không qui định rõ ràng trách nhiệm, quyền lợi của lãnh đạo và nhân viên trong đơn vị. Trong khi trên thế giới, các công ty có chính sách quản lý rủi ro rất cụ thể, họ luôn qui định quyền phán quyết mức rủi ro tài chính rõ ràng với từng vị trí lãnh đạo và từng khu vực hay từng quốc gia nếu đó là công ty xuyên quốc gia. Chính điều này đã làm cho các giao dịch quyền chọn nói chung và các quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng còn rất hạn chế trong thực tế.

    Đối với các nhà đầu tư

    Là những rủi ro phải đối mặt trong việc dự đoán tỷ giá, giá cả chứng khoán và xu hướng thị trường. Các công cụ tài chính đều có hai mặt, một mặt các nhà đầu tư có thể phòng ngừa rủi ro, mặt khác đi kèm với nó là rủi ro.

    Ví dụ như mua một hợp đồng options ngoại tệ để bảo vệ đồng tiền thanh toán, hay mua quyền chọn một cổ phiếu, nhà đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không biết dự đoán tỷ giá, giá cổ phiếu đúng theo xu hướng thị trường. Thị trường chứng khoán vốn chẳng bao giờ dễ dự đoán, điều đó càng đúng với một thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ và chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn như hiện nay.

    Việc thiếu hiểu biết về quyền chọn và khả năng phân tích sẽ gây ra rất nhiều khó

    khăn và rủi ro khi sử dụng của các nhà đầu tư, khi nhiều nhà đẩu tư gặp rủi ro thì

    có thể gây ra những bất ổn cho thị trường. Đây cũng là một trong những trở ngại

    lớn làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ

    phiếu ở Việt Nam, khi trình độ cũng như khả năng phân tích của các nhà đầu tư và

    doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

    4.Nguyên nhân của những hạn chế

     

    a. Nguyên nhân từ thị trường

     

    Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối, chứng khoán…của nước ta còn thấp, đôi khi nó nằm ngoài các rủi ro từ tầm tác động của các “cơn gió lớn”, “cơn bão” tài chính quốc tế. Cùng với đó là tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến. Trong thực tế, những biến động về tỷ giá, giá chứng khoán được dự báo khá “chắc chắn” và giống nhau giữa các đối tượng có mặt trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự báo đó được các bên “cân đối” ngay vào giá của sản phẩm chính như tỷ giá, giá cả cổ phiếu.

    Việt Nam chưa phải chịu ảnh hướng lớn từ những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nên việc sử dụng các công cụ phái sinh chưa trở thành nhu cầu bức xúc. Tuy nhiên, nền kinh tế đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, mở cửa thị trường, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất được tự do hoá, các luồng vốn được tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam… các nhà lập chính sách về TTTC Việt Nam cần sớm bày tỏ quan điểm để xây dựng và đề xuất hệ thống chính sách khuyến khích phát triển thị trường các công cụ tài chính phái sinh “ăn theo” như quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu bên cạnh thị trường chính thức như thị trường ngoại hối, thị trường chứng khoán…

    Thêm vào đó, do mức độ hiệu quả của thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán còn yếu nên các giao dịch quyền chọn nói chung không minh bạch và gây thiệt hại cho nhà đầu tư, doanh nghiệp nếu thiếu thông tin. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các nhà đầu tư còn dè dặt áp dụng đối với các công cụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    b. Nguyên nhân từ sự điều tiết tỉ giá USD/VNĐ

    Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết từ phía NHNN khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến khích xuất khẩu. Với xu hướng tỷ giá này, các nhà đầu tư luôn muốn thực hiện quyền chọn mua ngoại tệ để kiếm lợi nhuận chứ không mua quyền chọn bán. Do

    đó, từ sự giao dịch một chiều này, sẽ tạo ra những rủi ro cho ngân hàng khi bán

    quyền chọn ngoại tệ. Để giảm rủi ro, ngân hàng phải tăng phí bán quyền chọn

    khiến cho quyền chọn càng không có điều kiện thực hiện và không còn muốn mua

    quyền chọn nữa. Vòng luẩn quẩn này gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và phía

    ngân hàng.

    c. Nguyên nhân từ biên độ giao dịch USD, cổ phiếu

    Đối với các giao dịch mua bán USD, do chính sách neo VNĐ vào đồng USD nên biên độ giao động giá của USD được NHNN qui định là +/-0.5%. Ngày 20-3-2008, biên độ giao động giá của USD đã được NHNN cho phép nâng lên là +/-1%, và gần đây nâng lên +/-2%.

    Tương tự, đối với thị trường chứng khoán, chính sách quản lý có xu hướng tránh biến động mạnh của TTCK. Do đó, trên các sàn giao dịch chứng khoán tập trung, biên độ dao động của giá cổ phiếu được giới hạn ở một mức cố định. Cụ thể, các cổ phiếu niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) có biên độ được qui định là +/-5% và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) là +/-7%. Biên độ này đôi khi còn được điều chỉnh thấp hơn khi thị trường suy giảm mạnh.

    Biên độ dao động như vậy đồng nghĩa với rủi ro đối với tỉ giá và giá cổ phiếu giảm đi đáng kể, hạn chế phần nào tâm lý phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó, làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    d. Nguyên nhân từ vấn đề hạch toán kế toán

    Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm.

    Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh, cụ thể là một hợp đồng quyền chọn trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp.

    Thiết nghĩ, từ thực tế này, để giải quyết những rào cản hiện nay đối với công cụ phái sinh, cũng như quyền chọn, không chỉ xét từ góc độ từ các NHTM hay doanh nghiệp mà rất cần sự hợp lực từ phía các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính (tháo gỡ vướng mắc về thuế và chế độ ghi sổ kế toán) và của NHNN trong việc ban hành các văn bản pháp lý, tổ chức hội thảo hay hướng dẫn các nghiệp vụ cụ thể.

    e. Nguyên nhân từ cách tính phí quyền chọn

    Trên thị trường ngoại hối, đối với quyền chọn ngoại tệ, hiện nay hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam do một số hạn chế, vẫn chưa thể tự mình đứng ra phát hành hay cung cấp các quyền chọn ngoại tệ trực tiếp cho khách hàng, mà chỉ đóng vai trò như một trung gian môi giới quyền chọn giữa các ngân hàng lớn khác và khách hàng. Thường là theo yêu cầu của khách hàng, các ngân hàng sẽ liên hệ với các ngân hàng đối tác ở nước ngoài (thường là các ngân hàng lớn), hoặc thậm chí là một ngân hàng lớn trong nước để mua một quyền chọn rồi bán lại cho khách hàng của mình. Qui trình này dẫn đến một hệ quả là các ngân hàng muốn có lợi nhuận thì tiền phí (giá) của quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng phải theo công thức sau:

    Giá (phí) quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng = Giá phí quyền chọn ngoại tệ mua của các NH đối tác (trong và ngoài nước) + chi phí để phục vụ hợp đồng options ngoại tệ này + khoảng chênh lệch lợi nhuận cho ngân hàng.

    Cách tính phí (giá) quyền chọn như trên đã làm đội chi phí thực hiện một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ của khách hàng, làm cho họ cảm thấy mua một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ không còn có lợi do chi phí qua cao, không hiệu quả. Điều này cũng đã trở thành một lực càn cho các giao dịch quyền chọn ngoại tệ cũng như thị trường quyền chọn phát triển ở Việt Nam trong hiện tại.

    f.Nguyên nhân từ trình độ nhận thức của nhà đầu tư

    Theo các chuyên gia tài chính, do sản phẩm quyền chọn khá phức tạp nên hiện nay, các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước vẫn ngại sử dụng. Thêm vào đó, hiểu biết của doanh nghiệp và nhà đầu tư về các sản phẩm này vẫn còn khá hạn chế.

    Trong khi đó, các tổ chức cung cấp, đặc biệt là ngân hàng, công ty chứng khoán vẫn còn yếu trong tuyên truyền, tiếp cận khách hàng. Lãnh đạo của một ngân hàng quốc doanh cho biết: “lý do một phần vì doanh thu của các sản phẩm quyền chọn ngoại tệ vẫn còn hạn chế nên các ngân hàng chưa quan tâm đúng mức tới việc quảng bá sản phẩm.”

    Tham gia thị trường tài chính Việt nam còn thiếu các doanh nghiệp và nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường options còn quá ít trên thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường chứng khoán Việt Nam nên chúng ta chưa thể thúc đẩy họ tham gia mạnh mẽ vào thị trường options.

    Bản thân các khách hàng nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng còn dè dặt áp dụng công cụ options. Như ví dụ từ Ngân hàng HSBC mặc dù hoạt động tại Việt Nam đã hơn 6 năm với trên 1.000 doanh nghiệp là khách hàng “ruột”, nhưng sau 2 năm được phép sử dụng các công cụ options, mới chỉ có một vài doanh nghiệp trong số hàng ngàn doanh nghiệp khách hàng đó dám ứng dụng nghiệp vụ

    này. Chỉ riêng việc thực hiện một giao dịch hoán đổi giữa hai đồng tiền, ngân hàng này cũng mất tới nửa năm để giải thích, thoả thuận. Các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ cũng thường phải mất một vài tháng mới được ký kết.

    Theo HSBC, việc xúc tiến các dịch vụ phái sinh quản lý rủi ro cho khách hàng là doanh nghiêp vẫn đang được ngân hàng này tích cực khuyến khích. Với Techcombank, các nghiệp vụ options vẫn còn ít được khách hàng áp dụng, thậm chí có công cụ chưa có khách hàng nào giao dịch.

    Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch options trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới.

    KẾT LUẬN:

    Thị trường quyền chọn ở Việt Nam mới chỉ ở điểm khới đầu của sự phát triển. Quyền chọn ngoại tệ dù đã ra đời gần 8 năm nhưng phát triển rất chậm. Hoạt động cung cấp dịch vụ quyền chọn của các TCTC vẫn còn nhỏ bé, chưa được sự quan tâm đúng mức. Quyền chọn cổ phiếu thì đến giờ vẫn chỉ nằm trên giấy.

    Dù nền kinh tế đã phát triển đến mức độ phù hợp cho sự ra đời của thị trường quyền chọn, nhưng cơ sở pháp lý cho thị trường còn nhiều lỗ hổng, khiếm khuyết, hạ tầng công nghệ vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển, nguồn nhân lực cho thị trường thì thiếu và yếu… Tuy nhiên, những thuận lợi cho việc phát triển thị trường này ở Việt Nam là rất lớn, khi nó nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các TCTC cũng như là của các ban ngành Trung Ương.

    Các cơ hội cũng ngày càng mở ra khi các cam kết về gia nhập WTO, hội nhập kinh tế thế giới đang dần được thực thi, tiềm năng phát triển kinh tế và TTTC vẫn

    rất lớn. Mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế từ chính sách, pháp luật nhà nước cũng như sự yếu kém của các đối tượng cung cấp và sử dụng quyền chọn, nhưng với những chính sách và giải pháp phù hợp, thị trường quyền chọn nói chung và quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh và vững chắc trong tương lai.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]