Author: Nguyễn Huyền

  • Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-m%C3%B4-h%C3%ACnh-kinh-t%E1%BA%BF-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-do-ph%E1%BB%A5-n%E1%BB%AF-l%C3%A0m-ch%E1%BB%A7-t%E1%BA%A1i-t%E1%BB%89nh-Tr%C3%A0-Vinh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 109 – 113

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH

    KINH TẾ HỢP TÁC DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ TẠI TỈNH TRÀ VINH

     

    Hà Minh Tuân1*, Mai Thị Huyền Trang2, Nguyễn Minh Tuấn1,

    Vũ Thị Hải Anh1, Kiều Thị Thu Hương1, Nguyễn Thị Hiền Thương1

    1Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên

    • Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

    TÓM TẮT

     

    Bài viết nhằm mục đích đánh giá thực trạng phát triển, những khó khăn, tồn tại của mô hình kinh tế hợp tác (KTHT), và đặc điểm của các hợp tác xã (HTX) và tổ hợp tác (THT) do phụ nữ làm chủ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của KTHT tại địa phương. Phương pháp triển khai gồm thu thập tài liệu thứ cấp từ các đơn vị liên quan, phỏng vấn cá nhân đại diện của Liên minh HTX, khảo sát và thảo luận nhóm của đại diện các HTX và THT do nữ làm chủ. Kết quả cho thấy, đa số các HTX và THT của tỉnh còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý, do đó hoạt động tổ chức sản xuất và kinh doanh còn kém hiệu quả, hoạt động gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn yếu. Số lượng HTX và THT do nữ làm chủ còn thấp, năng lực quản lý, vận hành và quy mô sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Các khó khăn/rào cản chính gồm thiếu vốn, thị trường đầu ra, sự hạn chế về năng lực khoa học kỹ thuật. Ngoài ra, chính quyền địa phương hiện cũng chưa có các chính sách hỗ trợ đặc thù cho các HTX và THT do nữ làm chủ. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm khắc phục những khó khăn để nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình KTHT do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh.

     

    Từ khóa: Kinh tế hợp tác; hợp tác xã; phụ nữ; tổ hợp tác; Trà Vinh.

     

    Ngày nhận bài: 02/5/2019; Ngày hoàn thiện: 16/5/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    IMPROVING THE EFFECTIVENESS OF WOMEN-OWNED COOPERATIVE ECONOMICS MODEL IN TRA VINH PROVINCE

     

    Ha Minh Tuan1*, Mai Thi Huyen Trang2, Nguyen Minh Tuan1,

    Vu Thi Hai Anh1, Kieu Thi Thu Huong1, Nguyen Thi Hien Thuong1

    1TNU – University of Agriculture & Forestry

    2TNU – University of Economics & Business Administration

     

    ABSTRACT

     

    This research aims to evaluate the current situation, shortcomings and challenges of cooperative economics models, and characteristics of women-owned cooperatives and farmer groups in Tra Vinh province. The analyses were used to formulate rational recommendations for improving the role and effectiveness of coop economics in the research area. The methodology included destop studies of existing documents from relevant departments and organisations, personal interviews with leaders of the local cooperative alliance, survey and focus group discussions with representative leaders of women-owned cooperatives and coop groups. Results of this study showed that most of the cooperatives and farmer groups still have limited capacity in management and thus ineffective operation of their production and businesses. Limited linkages between production and markets were also found. In addition, the proportion of women-led cooperatives and farmer groups is rather small, coupled with their limited capacity in management and operation of production and businesses. Their stated key challenges and/or barriers include shortage of capital, market outlets and lack of science & technology. Besides, the local government has not issued specific support policies in favour of women-owned cooperatives and farmer groups. Recommendations for addressing the defined challenges are discussed.

     

    Keywords: Cooperative economics; cooperative; women; farmer groups; Tra Vinh.

     

    Received: 02/5/2019; Revised: 16/5/2019; Approved: 06/6/2019

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         109

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 109 – 113

     

    1. Giới thiệu

     

    Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long [1], với tổng diện tích tự nhiên là 2.358,2 km2, và mật độ dân số bình quân là 441 người/km2 [2]. Tính đến cuối năm 2017, tổng dân số của toàn tỉnh là 1.046.121 người. Trong đó, dân số sống tại khu vực nông thôn chiếm 82,3%, và dân số là người dân tộc thiểu số chiếm 31,0%, chủ yếu là người Khmer

     

    • Tổng số lao động đang làm việc là 615,658 người (chiếm 58,9% dân số toàn tỉnh). Trong đó, tỷ lệ số lao động đã qua đào tạo chiếm 55,0% [3]. Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, toàn tỉnh có 274.064 hộ dân, tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo còn khá lớn, chiếm tỷ lệ lần lượt là 8,66 và 8,34% [4].

    Là một tỉnh nghèo, sinh kế của nhiều hộ dân của tỉnh Trà Vinh phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Chính vì thế, các mô hình kinh tế hợp tác (KTHT) thông qua HTX (hợp tác xã) và THT (tổ hợp tác) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của toàn tỉnh. Trong đó, số lượng HTX và THT do nữ làm chủ còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ (với tổng số 3 HTX và 26 THT) trong tổng số HTX và THT trên toàn tỉnh [5]. Hiện nay, chính quyền địa phương đang trú trọng đến vấn đề bình đẳng giới và dân tộc trong các hoạt động phát triển KT-XH của tỉnh. Do đó, nghiên cứu được triển khai nhằm mục đích đánh giá thực trạng của KTHT của toàn tỉnh và đặc điểm của các HTX và THT do nữ làm chủ, cũng như những khó khăn và thách thức hiện tại, nhằm đưa ra những kiến nghị, đề xuất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của các mô hình KTHT cho tỉnh Trà Vinh nói riêng và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.1. Phương pháp thu thập thông tin

     

    Nhóm nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập thông tin định tính và định lượng thông qua nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phỏng vấn cá

     

    nhân và thảo luận nhóm. Số liệu được sử dụng dựa trên 2 nguồn:

     

    • Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tỉnh Trà Vinh, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Trà Vinh, Tổng cục thống kê, Liên Minh HTX Trà Vinh, và Bộ KH&ĐT, …
    • Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp gồm 02 lãnh đạo của Liên minh HTX tỉnh Trà Vinh, đồng thời điều tra, khảo sát và thảo luận nhóm với 12 đại diện THT và 03 HTX do phụ nữ làm chủ năm 2018.

    Nội dung nghiên cứu gồm: thực trạng của KTHT tại tỉnh Trà Vinh; đặc điểm của các HTX và THT do phụ nữ làm chủ; phân tích những khó khăn, tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh của các mô hình KTHT cho tỉnh Trà Vinh.

     

    2.2. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu định lượng được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS (phiên bản 20, SPSS Inc., Chicago, IL, USA).

     

    3. Kết quả và bàn luận

     

    3.1. Khái quát về tình hình kinh tế hợp tác tại tỉnh Trà Vinh

     

    Số lượng HTX tại tỉnh Trà Vinh có xu hướng tăng lên qua các năm, năm 2017 thành lập mới 28 HTX với 1.849 thành viên (TV). Tổng số HTX của tỉnh là 121 HTX, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau với số lượng HTX tăng dần như sau: Điện (2 HTX, với 43 TV), tiểu thủ công nghiệp (6 HTX, 52 TV), thương mại, dịch vụ (7 HTX, 151 TV), vận tải (9 HTX, 481 TV), xây dựng (11 HTX, 95 TV), thuỷ sản (12 HTX, 1.218 TV), quỹ tín dụng (16 HTX, 20.807 TV), và nông nghiệp (58 HTX, 3.280 TV). Tổng số vốn điều lệ của HTX tỉnh Trà Vinh tính đến 31/12/2017 là 134.521.400 đồng, trong đó HTX hoạt động trong lĩnh vực xây dựng có vốn cao nhất (chiếm 22,5%), và ít nhất là lĩnh vực điện (chiếm 0,54%).

     

    110                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                   Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 109 – 113

     

    Kết quả phân loại về hiệu quả hoạt động của 93 HTX năm 2017 (không tính đến 28 HTX mới thành lập) cho thấy, có 35 HTX khá (chiếm 37,63%), HTX giỏi không có, còn lại là trung bình (34,41%) và kém (27,96%). Kết quả trên phần nào phản ánh về hiệu quả hoạt động của các HTX trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế.

     

    Về THT, tính đến cuối năm 2017 toàn tỉnh Trà Vinh có tới 1.841 THT với 37.344 thành viên (TV) tham gia (35.497 THT nông-lâm-ngư-diêm nghiệp và 1.847 THT phi nông nghiệp), trong đó có tới 136 THT được thành lập mới, với 1.677 TV.

     

    Trong các lĩnh vực hoạt động của THT thì hoạt động động trong lĩnh vực trồng trọt/cây ăn quả là nhiều nhất, với 1.175 THT (63,8%), tiếp đến là THT chăn nuôi (252 THT, 13,4%), thủy sản (172 THT, 9,3%) và THT hoạt động trong lĩnh vực Thương mại và tiểu thủ công nghiệp chiếm ít nhất với 69 THT (3,8%). Còn lại là các THT hoạt động ở các lĩnh vực khác (173 THT, 9,4%) [5].

     

    Kết quả cho thấy, đa số các HTX và THT trên địa bàn tỉnh hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản. Số lượng THT gấp nhiều lần so với số lượng HTX, qua đó đã góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ gia đình tại địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của cả HTX và THT nhìn chung còn thấp. Đặc biệt, hoạt động của THT còn mang tính đơn lẻ, chưa có sự liên kết vững chắc, thiếu sự hướng dẫn, tư vấn của chính quyền cơ sở, chính sách hỗ trợ cho THT còn rất ít. Do đó, hoạt động chưa đạt hiệu quả cao. Trong năm 2017 toàn tỉnh có tới 196 THT nông – lâm – ngư – diêm nghiệp (với 1.931 TV) đã bị giải thể.

     

    3.2. Đặc điểm của HTX và THT do nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

     

    Trong tổng số 15 đơn vị do phụ nữ làm chủ được phỏng vấn (gồm 3 HTX và 12 THT), có 3 phụ nữ là người Khmer (chiếm 20%). Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh của HTX và THT do nữ làm chủ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp – thủy sản (chiếm 71,4%).

     

     

    Hình 1. Lĩnh vực ngành nghề sản xuất, kinh

    doanh của HTX và THT

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả năm 2018.

     

    Ghi chú: NN-TS: Nông nghiệp & Thủy Sản; CN-XD:

    Công nghiệp & xây dựng; TM-DV: Thương mại &

    dịch vụ. Đơn vị tính: %.)

     

    Nhìn chung, trình độ học vấn của lãnh đạo các HTX và THT còn hạn chế, với 85,7% có trình độ học vấn từ cấp 1 đến cấp 3. Chỉ có 14,3% có trình độ Trung cấp và Đại học. Đồng thời, tỷ lệ lãnh đạo HTX và THT đã được tham gia các khóa đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ quản lý HTX/THT còn thấp, mới chiếm 42,9%.

     

    Trong số HTX và THT được điều tra, có tới 86,7% đơn vị mới được thành lập và vận hành trong vòng 1-3 năm. Khi được hỏi về lý do thành lập HTX và THT, chỉ có 33,3% đơn vị trả lời là thành lập trên tinh thần tự nguyện và tự thành lập; 26,7% thành lập theo chỉ đạo và hỗ trợ của cơ quan/tổ chức địa phương; và có tới 40,0% thành lập do có sự hỗ trợ của tổ chức phi chính phủ và tài trợ vốn nước ngoài. Kết quả này cho thấy, phụ nữ có năng lực và chủ động thành lập các HTX/THT còn rất hạn chế, phần lớn vẫn còn được hỗ trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước. Ngoài ra, tỷ lệ HTX/THT có thành viên tham gia tự nguyện có góp vốn chỉ chiếm 60,0%, còn lại là không góp vốn (20,0%) hoặc có sự hỗ trợ vốn từ bên ngoài (chính quyền địa phương hoặc tổ chức phi chính phủ).

     

    Các HTX và THT do nữ làm chủ có quy mô và trình độ kinh doanh còn nhiều hạn chế, với số hộ tham gia còn ít, trung bình 18,8 (± 3,0) hộ thành viên tham gia. Đồng thời, tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh còn rất thấp, trung bình 117,7 (± 44,0) triệu đồng/năm.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          111

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 109 – 113

     
             
       

    Bảng 1. Các thông tin chung về các HTX và THT do phụ nữ làm chủ tại Trà Vinh

       
                   
     

    TT

    Thông tin chung của HTX/THT

    Trung bình

    S.E.

    Tối thiểu

    Tối đa

     

    1

    Số người trong ban quản lý (người)

    3,0

    0,195

    2

    5

     

    2

    Số thành viên nữ trong ban quản lý (người)

    2,3

    0,300

    1

    4

     

    3

    Số hộ tham gia (hộ)

     

    18,8

    3,029

    9

    52

     

    4

    Số thành viên được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ (người)

    12,3

    2,168

    0

    32

     

    5

    Tổng doanh thu/năm (triệu đồng)

    117,7

    44,016

    36

    300

     

    Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả năm 2018.

     

    (Ghi chú: n = 15; S.E là sai số chuẩn của trung bình mẫu; thành viên nữ không nằm trong ban quản lý

     

    nhưng nếu có vốn điều lệ từ 51% trở lên vẫn được coi là HTX/THT do nữ làm chủ).

     

    3.3. Phân tích những khó khăn, tồn tại của HTX và THT tại tỉnh Trà Vinh

     

    3.3.1. Khó khăn, tồn tại của HTX và THT

     

    Theo nhận định của lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh Trà Vinh, mặc dù HTX và THT có xu hướng tăng cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên số đơn vị hoạt động thực sự hiệu quả và bền vững còn thấp, tỷ lệ HTX và THT giải thể hàng năm cũng còn khá cao. Trên toàn tỉnh, chỉ có khoảng 6 HTX là vận hành có hiệu quả thực sự theo mô hình doanh nghiệp nông nghiệp. Điều này có thể cho thấy, trình độ quản lý và vận hành của các HTX hiện nay còn rất hạn chế. Tỷ lệ HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu kém còn cao, vốn tự có thấp, đồng thời chưa có nhiều HTX xây dựng được thương hiệu sản phẩm.

     

    Mặc dù hoạt động theo hình thức tự chủ, tự nguyện tham gia HTX và THT, song nội lực vẫn chưa phát huy tối đa, vẫn còn nhiều đơn vị có tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

     

    Nhìn chung, trình độ cán bộ quản lý HTX tuy được nâng lên, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, tỷ lệ cán bộ quản lý HTX và THT chưa qua đào tạo nghiệp vụ còn khá cao. Các đơn vị còn nhiều lúng túng trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất, kết nối chuỗi giá trị, và phát triển thị trường.

     

    Hoạt động kinh doanh, dịch vụ của HTX và THT là đa ngành nghề, tuy nhiên quy mô hoạt động còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng của các loại hình chưa đồng đều, chưa tạo được sự liên kết bền vững.

     

    3.3.2. Khó khăn và tồn tại của THX, THT do phụ nữ làm chủ

     

    Năng lực nội tại của các HTX và THT do nữ làm chủ của tỉnh Trà Vinh còn nhiều hạn chế, thể hiện ở trình độ học vấn, năng lực quản lý, quy mô sản xuất và hiệu quả kinh doanh.

     

    Các khó khăn của các HTX và THT do nữ làm chủ ở tỉnh Trà Vinh thể hiện ở các khía cạnh sau theo trình tự ưu tiên:

     

    1. Thiếu thị trường đầu ra cho sản phẩm;
    1. Nguồn vốn và tiếp cận vốn phục vụ sản xuất và kinh doanh còn khó khăn;
    1. Giá cả thị trường thấp và không ổn định;
    1. Kiến thức về khoa học, kỹ thuật của các thành viên HTX và THT còn yếu;
    1. Phương tiện vận chuyển vật tư và sản phẩm chưa chủ động.

    Ngoài ra, năng lực cạnh tranh các sản phẩm của HTX và THT do nữ làm chủ còn yếu, đầu vào phục vụ sản xuất (vật tư, trang thiết bị, giống,…) chưa chủ động, thời tiết bất thường dẫn đến nhiều rủi ro trong sản xuất, trình độ của các TV không đồng đều, quan điểm bất đồng giữa các TV, thủ tục thành lập HTX và THT còn phức tạp.

     

    Hơn nữa, các yếu tố về giới là một trong những hạn chế và rào cản đối với phụ nữ làm chủ HTX và THT. Kết quả thảo luận nhóm cho thấy, các hạn chế sau của phụ nữ so với năm giới:

     

    • Yếu tố năng lực tài chính: không có vốn;
    • Yếu tố văn hóa và giới: chăm sóc gia đình và con cái; nam giới quyết định mọi việc trong gia đình;

    112                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                   Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 109 – 113

     

    • Năng lực và đặc điểm phụ nữ: trình độ bản thân; ngại va chạm và thiếu tự tin trong giao tiếp; sợ rủi ro trong kinh doanh và vay nợ; và yếu tố sức khỏe.

    Mặt khác, cơ chế, chính sách hỗ trợ HTX/THT cũng chưa thực thông thoáng và khuyến khích HTX/THT phát triển tại địa phương. Đây cũng là những khó khăn trở ngại cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình kinh tế này.

     

    Bảng 2. Quan điểm về chính sách ưu tiên HTX/THT do phụ nữ và phụ nữ người dân tộc làm chủ

     

    Quan điểm

    Số người

    Tỷ lệ (%)

     

    trả lời

         
     

    Hoàn toàn đồng ý

    2

    13,3

     

    Đồng ý

    3

    20,0

     

    Đồng ý một phần

    7

    46,7

     

    Không đồng ý

    3

    20,0

     

    Tổng

    15

    100,0

    (Nguồn: Tổng hợp điều tra của tác giả, 2018)

     

    Mặc dù tỉnh đã có chủ trương khuyến khích vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, tuy nhiên vẫn chưa có các chính sách đặc thù trong việc hỗ trợ các HTX/THT do nữ làm chủ và nữ là người dân tộc làm chủ tại địa phương.

     

    4. Kết luận

     

    Với đặc thù là tỉnh có tới 82,3% dân số sống

     

    • nông thôn, hoạt động sản xuất nông nghiệp thông qua các mô hình KTHT đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển KT-XH của toàn tỉnh. Số lượng HTX và THT trên toàn tỉnh có xu hướng tăng lên về số lượng, do đó chứng minh vai trò của KTHT ở Trà Vinh ngày càng cao. Tuy nhiên, đa số HTX và THT hiện nay còn hạn chế nhiều về năng lực quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh, hoạt động gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn mang tính thụ động và hiệu quả chưa cao.

    HTX và THT do nữ làm chủ chiếm tỷ lệ còn rất thấp so với tổng số HTX và THT trên toàn tỉnh. Trình độ học vấn, năng lực quản lý, vận hành và quy mô sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Đồng thời, các HTX và THT do nữ làm chủ còn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn sản xuất, thị trường đầu ra cũng như năng lực về

     

    khoa học kỹ thuật. Các chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương còn ít, đồng thời chưa có những chính sách đặc thù cho nhóm phụ nữ và phụ nữ người dân tộc.

     

    Do đó, chính quyền địa phương cần có những chính sách và hình thức hỗ trợ sau nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của KTHT trong phát triển KT-XH và bình đẳng giới tại địa phương:

     

    • Nâng cao năng lực quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh cho các HTX và tổ hợp tác trên địa bàn. Đồng thời, tăng cường các hỗ trợ về chuyển giao khoa học công nghệ và trang thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Tìm kiếm và kết nối thị trường đầu ra cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh, đồng thời hỗ trợ xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm địa phương.
    • Xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới nhằm nâng cao chất lượng các HTX hiện có, đồng thời khuyến khích các THT phát triển thành các HTX.
    • Tạo cơ chế, chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn, và các chính sách đặc thù hỗ trợ và khuyến khích các HTX và THT do nữ làm chủ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • MPI, “Giới thiệu tổng quan về tỉnh Trà Vinh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư”, http://www. gov.vn/Pages/tinhthanhchitiet.aspx?idTin hThanh=17, 2017.
    • GSO, Dữ liệu thống kê về diện tích tự nhiên và mật độ dân số bình quân tỉnh Trà Vinh năm 2016, Tổng cục Thống kê, 2016.
    • Sở KH&ĐT, Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2017 và Kế hoạch 2018 (Số 08/BC-UBND tỉnh Trà Vinh, ngày 18/1/2018),
    • GSO, Dữ liệu thống kê về dân số, lao động tỉnh Trà Vinh năm 2017, Tổng cục Thống kê, 2017.
    • LM HTX TV, Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã và hoạt động của LM HTX tỉnh Trà Vinh năm 2017, nhiệm vụ trọng tâm năm 2018, Báo cáo số

    138-BC-LMT ngày 29/12/2017, 2017.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          113

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    114                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Kinh-t%E1%BA%BF-t%C6%B0-nh%C3%A2n-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BB%8Bnh-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 165 – 169

    e-ISSN: 2615-9562

     

    KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

     

    Ngô Cẩm Tú

    Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Sau hơn 30 năm đổi mới, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế tư nhân ở nước ta còn bộc lộ một số hạn chế. Để nghiên cứu rõ hơn về kinh tế tư nhân, bên cạnh việc chỉ ra những thành tựu cơ bản của khu vực kinh tế tư nhân, trong bài viết này, tác giả tập trung đánh giá những hạn chế của kinh tế tư nhân trong những năm qua. Từ đó bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

     

    Từ khóa: Kinh tế tư nhân; thành tựu; hạn chế; kinh tế thị trường; định hướng XHCN.

     

    Ngày nhận bài: 08/5/2019; Ngày hoàn thiện: 17/6/2019; Ngày duyệt đăng: 18/6/2019

     

    THE PRIVATE ECONOMY IN THE SOCIALIST MAKET

    ECONOMY IN VIETNAM TODAY

     

    Ngo Cam Tu

    TNU – University of Information Technology and Communication

     

    ABSTRACT

     

    After more than 30 years of renovation, the private economy in Vietnam has been constantly developing, making a valuable contribution to the country’s renovation and socio-economic development. However, compared to the requirements of the period of accelerating industrialization and modernization associated with the development of knowledge economy and international economic integration, the private economy in the country also reveals some limitations. In order to study the private economy thorougly, besides generalizing the process of innovation of the Party’s thinking about the private economy, the author focused on assessing the status of the private economy in recent years. Since then, several initial solutions are proposed to overcome the limitations so that the private economy really becomes the driving force of the socialist-oriented market economy in Vietnam today.

     

    Keywords: Private economy; achievements; limit; market economy; socialist orientation.

     

    Received: 08/5/2019; Revised: 17/6/2019; Approved: 18/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         165

     

    Ngô Cẩm Tú                                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 165 – 169

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân. Việc thừa nhận sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một bước phát triển trong tư duy của Đảng. Trước thời kỳ đổi mới, kinh tế tư nhân được coi là kinh tế phi xã hội chủ nghĩa không có vai trò động lực thúc đẩy nền kinh tế, là đối tượng bị cải tạo và xóa bỏ. Việc nóng vội xóa bỏ kinh tế tư nhân là một trong những nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất và dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Bắt đầu từ Đại hội VI (12-1986), nền kinh tế nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong văn kiện Đảng. Từ năm 1986 đến năm 1998, Đảng ta đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế tư nhân, tuy nhiên về chính sách và luật pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế này vẫn còn nhiều hạn chế. Đại hội IX (1-2001), Đảng ta khẳng định “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.[1] Đại hội X, Đảng có những khẳng định mới: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”[2]. Đại hội XI (năm 2011) xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân. Đại hội XII (năm 2016) của Đảng khẳng định “một động lực quan trọng” của nền kinh tế và nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”[3].

     

    Như vậy, để phát triển kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế cần nghiên cứu, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài báo được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số phương pháp như: phân tích, tổng hợp… để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu.

     

    3. Nội dung

     

    3.1. Khái quát những thành tựu cơ bản của kinh tế tư nhân trong thời gian qua

     

    • Một là, trong những năm qua kinh tế tư nhân đã không ngừng phát triển và có những đóng góp ngày càng lớn mạnh vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100.000 doanh nghiệp thành lập mới. Trong hai năm 2017 – 2018 có gần 259.000 doanh nghiệp được thành lập mới. Kinh tế tư nhân đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; các doanh nghiệp mở rộng thị trường, liên kết đầu tư sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
    • Hai là, kinh tế tư nhân phát triển trên nhiều phương diện; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, Việt Nam có một số những doanh nghiệp tư nhân với quy mô rất lớn như: Trường Hải, Vinamilk, Hòa Phát, Vingroup… với những bước tiến mạnh mẽ về đầu tư và công nghệ. Ví dụ như: Tập đoàn SunGroup đầu tư xây dựng sân bay quốc tế Vân Đồn hay tập đoàn Vinfast cho ra mắt dòng sản phẩm xe hơi đầu tiên ở Việt Nam…

    166                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Ngô Cẩm Tú                                    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 165 – 169

     

    • Ba là, kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá và chiếm tỷ trọng 39-40% GDP; năm 2018 đóng góp 42,1% GDP của nền kinh tế. Sự tăng trưởng và mở rộng ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp to lớn vào quá trình phát triển đất nước.
    • Bốn là, kinh tế tư nhân tạo công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống cho nhân dân đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động trong nước và quốc tế. Thêm vào đó, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân còn đóng góp to lớn vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, các công trình phúc lợi xã hội… góp phần đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.

     

    • Năm là, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp.

    3.2. Những hạn chế cơ bản của kinh tế tư nhân

     

    Bênh cạnh những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, kinh tế tư nhân còn có một số những hạn chế, những đóng góp của kinh tế tư nhân chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Biểu hiện cụ thể như sau:

     

    • Thứ nhất, mặc dù khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nhưng chưa có có sự thay đổi như kỳ vọng. Trong những năm qua, Nhà nước ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân và có khá nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp dân doanh nhưng sức sống của doanh nghiệp tư nhân khá èo uột. Hàng năm có gần một trăm ngàn doanh nghiệp được thành lập mới nhưng khoảng 50% số đó bị giải thể hoặc phá sản. Theo Báo cáo thường niên doanh nghiệp năm 2017/2018 của Phòng Công nghiệp và thương

    mại Việt Nam (VCCI): năm 2017 có 126.859 doanh nghiệp doanh nghiệp đăng ký thành lập thì có 60.553 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 47.8%; năm 2018 có trên 131.200 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thì có 90.651 doanh nghiệp (chiếm 69%) tạm ngừng hoạt động, trong đó 27.126 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 63.525 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể. Tỷ trọng của kinh tế tư nhân trong GDP gần như không tăng lên trong suốt giai đoạn 2000 – 2016, thậm chí còn có xu hướng giảm (Bảng 1).

     

    • Thứ hai, quy mô của kinh tế tư nhân phổ biến là nhỏ và siêu nhỏ. Do đó, năng lực đầu tư cho công nghệ và khả năng cạnh tranh còn hạn chế. Nếu tính cả các hộ kinh doanh cá thể thì có tới 90% cơ sở kinh tế tư nhân có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng. Riêng trong khối doanh nghiệp thì lượng vốn bình quân 1 doanh nghiệp tư nhân khoảng 27 tỷ đồng, trong khi vốn của doanh nghiệp nhà nước là 2.616 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 372 tỷ đồng.
    • Thứ ba, năng lực quản lý và tổ chức sản xuất còn lạc hậu, không chuyên nghiệp, mang nặng tính gia đình; chưa thực sự theo hướng hiện đại để bắt kịp xu thế của sản xuất kinh doanh trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

     

    • Thứ tư, chất lượng sản phẩm, dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đa số là đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước. Các doanh nghiệp của Việt Nam hiện chưa thực sự mạnh dạn đầu tư công nghệ, kinh doanh với công nghệ thô sơ mang tính tự phát do đó sức cạnh tranh về giá cả và chất lượng của sản phẩm Việt Nam còn hạn chế so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia…

    Bảng 1. Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong GDP giai đoạn 2000 – 2016

    Đơn vị tính: %

    Năm

    2000

    2005

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    Kinh tế Nhà nước

    Kinh tế tập thể

    Kinh tế tư nhân

     

    Kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài

     

    38,52

    37,62

    29,34

    29,01

    29,39

    29,01

    28,73

    28,69

    28,50

    8,56

    6,65

    3,99

    3,98

    4,00

    4,03

    4,04

    4,01

    3,95

    39,62

    41,47

    38,97

    39,89

    40,62

    39,49

    39,29

    39,13

    39,40

    13,28

    15,16

    15,15

    15,66

    16,04

    17,36

    17,89

    18,07

    18,20

    Nguồn: Kinh tế 2016 – 2017: Việt Nam và thế giới, Thời báo kinh tế Việt Nam, tr.102

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          167

     

    Ngô Cẩm Tú                                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 165 – 169

     

    • Thứ năm, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp: Hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA), hiệu suất sinh lời trên vốn (ROE), hiệu suất sinh lời trên doanh thu (ROS) của doanh nghiệp tư nhân chỉ bằng ¼ so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bằng ½ so với doanh nghiệp nhà nước. Các chỉ số trên trong năm 2015 như sau:

    Bảng 2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh

    của DN theo loại hình kinh tế

     

    Đơn vị tính: %

    Chỉ số

    Kinh tế tư

    Kinh tế

    Kinh tế có

     

    nhân

    nhà nước

    vốn ĐTNN

    ROA

    2,9

    6,6

    12,9

    ROE

    5,7

    13,9

    24,8

    ROS

    4,6

    8,0

    10,6

    Nguồn: Tạp chí Lý luận chính tri, số 9/2017, tr.77

     

    • Thứ sáu, có nhiều yếu tố văn hóa mà đội ngũ các chủ doanh nghiệp tư nhân còn thiếu: thiếu tính liên kết, tính cộng đồng, hỗ trợ nhau trong kinh doanh; thiếu tầm nhìn dài hạn; trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh chưa được coi trọng; thiếu tinh thần tự tôn dân tộc trong kinh doanh. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII (Nghị quyết số 10-NQ/TW) đã chỉ rõ: “Tình trạng vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến. Việc sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lận thương mại… diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểm xã hội, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, trốn thuế và nợ thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành “lợi ích nhóm”, gây hậu quả xấu về kinh tế – xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”.

    3.3. Nguyên nhân của những hạn chế Về phía nhà nước:

     

    • Môi trường kinh doanh còn hạn chế, khu vực kinh tế tư nhân còn nhiều rào cản. Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), năm 2019 môi trường kinh doanh của Việt Nam

    xếp hạng 69/190 nền kinh tế được khảo sát.

     

    • Hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự hiệu quả; chưa làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động.

    Về nội tại khu vực kinh tế tư nhân:

     

    • Nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực quản lý có trình độ thấp. Phần lớn các chủ doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về lĩnh vực quản lý và quản trị doanh nghiệp.
    • Thiếu vốn: Các cơ sở kinh tế tư nhân chủ yếu hoạt động nhờ vốn đi vay nhưng lại không đủ các điều kiện vay vốn từ các ngân hàng thương mại do không có chiến lược kinh doanh dài hạn, không đủ uy tín với các tổ chức, tín dụng, thủ tục vay vốn phức tạp, lãi suất cao.
    • Trình độ công nghệ lạc hậu: Hiện nay, máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất mà các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam đang sử dụng tụt hậu so với mức trung bình của thế giới khoảng 40 – 50 năm. Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ thấp, hệ số công suất sử dụng máy móc, thiết bị chỉ đạt khoảng

    25 – 30%.

     

    • Chủ thể sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân chưa có triết lý kinh doanh sáng rõ; thiếu tinh thần tự tôn dân tộc.

    3.4. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

     

    Về phía nhà nước:

     

    • Hoàn thiện môi trường thể chế, chính sách, môi trường tâm lý xã hội trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân.
    • Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật. Đảm bảo cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường.

    168                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Ngô Cẩm Tú                                    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 165 – 169

     

    • Khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động.
    • Tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực đất đai, vốn, công nghệ. Bên cạnh đó, Chính phủ cần thay đổi chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài.
    • Hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
    • Thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
    • Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực.
    • Xây dựng tiêu chuẩn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
    • Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
    • Đổi mới nội dung, phương thức tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân.
    • Các cấp ủy đảng tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về chủ trương nhất quán trong phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả, công khai, minh bạch các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân.
    • Cùng với việc quán triệt, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các địa phương đều xác định lấy hiệu quả hoạt động để vận động, thuyết phục chủ doanh nghiệp và người lao động tích cực tham gia vào tổ chức, thành lập và duy trì hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể chính trị – xã hội.

    Về phía các chủ thể kinh tế tư nhân:

     

    • Trước hết, các chủ thể kinh tế tư nhân cần nhận thức rằng: động lực của mọi sự phát triển nằm ở bên trong sự vật. Vì vậy để phát triển thì các chủ thể phải tự thân vận động, không nên trông chờ vào sự hỗ trợ ngày càng lớn từ phía nhà nước. Môi trường vĩ mô tác động tới khu vực kinh tế tư nhân là yếu tố khách quan và bình đẳng với mọi chủ thể trong cùng khu vực kinh tế. Vì vậy chỉ có những chủ thể thông minh, bản lĩnh mới có thể tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường.
    • Thứ hai, phải rất coi trọng việc học tập nâng cao trình độ mọi mặt: về lý luận chính trị, về chuyên môn nghề nghiệp, về kỹ năng quản lý và về các kỹ năng mềm khác (kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, khả năng ngoại ngữ…).
    • Thứ ba, phải xây dựng cho mình một triết lý kinh doanh thông thái, phù hợp với thời đại và phải kết hợp hài hòa lợi ích của bản thân, của doanh nghiệp với việc thực hiện trách nhiệm xã hội.

    4. Kết luận

     

    Kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Để phát huy vai trò đích thực của kinh tế tư nhân cần đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế trong những năm qua và nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó. Mặt khác phải có sự đồng tâm, nhất trí của tất cả các lực lượng xã hội để thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, phần II, tr. 25.
    • Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.
    • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

    XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội,

    2016, tr. 108.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          169

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    170                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-kinh-t%E1%BA%BF-trong-th%E1%BB%9Di-k%E1%BB%B3-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%C3%B3a-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-h%C3%B3a-qua-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-t%E1%BB%89nh-B%E1%BA%A1c-Li%C3%AAu.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 199 – 203

    e-ISSN: 2615-9562

     

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

    (QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TỈNH BẠC LIÊU)

     

    Đào Thị Bích Hồng

    Trường Đại học Bách khoa – ĐH Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

     

    TÓM TẮT

     

    Một trong những nội dung cốt lõi của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế cả nước nói chung và mỗi địa phương nói riêng. Bạc Liêu là một tỉnh ven biển, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có ưu thế trong phát triển nông nghiệp. Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bạc Liêu đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Quá trình đó đã đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế. Từ góc độ lịch sử kinh tế, bài viết này nhằm làm sáng tỏ những yếu tố tác động và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu từ năm 1997 đến năm 2018, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương khác trong cả nước.

     

    Từ khóa: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; kinh tế; công nghiệp hóa; hiện đại hóa; tỉnh Bạc Liêu.

     

    Ngày nhận bài: 08/5/2019; Ngày hoàn thiện: 22/6/2019; Ngày duyệt đăng: 24/6/2019

     

    SHIFTING THE ECONOMIC STRUCTURES IN THE PERIOD OF INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION (RESEARCH BASED ON EMPIRICAL EVIDENCES IN BAC LIEU PROVINCE)

     

    Dao Thi Bich Hong

    VNUHCM – University of Science and Technology

     

    ABSTRACT

     

    One of the core contents regarding the process of developing social-economy and enhancing the industrialization and modernization is the economic structure formation and transformation of the country, in general and of each local, in particular. Bac Lieu is a coastal province belonging to the Mekong Delta area, which posseeses remarkable advantages in agricultural development. In the process of industrialization and modernization, Bac Lieu has gradually and effectively shifted its economic structure, especially the agricultural economic structure. The process has achieved some certain results. However, several limitations are still remained. From an economic – historical perspective, this article aims to clarify the factors affecting as well as the process of the economic restructuring in Bac Lieu province from 1997 to 2018, and eventually remark some prominent and noteworthy experiences for the economic restructuring of the country.

     

    Keywords: Shifting the economic structures; economic; industrialization; modernization; Bac Lieu province.

     

    Received: 08/5/2019; Revised: 22/6/2019; Approved: 24/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         199

     

    Đào Thị Bích Hồng                      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 199 – 203

     

    1.   Đặt vấn đề

     

    Bạc Liêu là một tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Tổ quốc, được tái lập (ngày 1-1-1997). Nền kinh tế của Bạc Liêu trước ngày tái lập tỉnh mang nặng tính chất thuần nông, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, kết cấu hạ tầng yếu kém, hệ thống giao thông nông thôn, nguồn lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp… Đó là đặc điểm quy định sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Bạc Liêu phải bắt đầu từ nông nghiệp.

     

    2. Phƣơng pháp nghiên cứu

     

    Để làm rõ quá trình tỉnh Bạc Liêu tiến hành chuyến dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2018, trên cơ sở khảo cứu tài liệu, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước, bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận lịch sử và các phương pháp phân tích chính là thống kê mô tả, tổng hợp để làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu bao gồm những yếu tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những thành tựu, hạn chế; và rút ra một số kinh nghiệm lịch sử làm cơ sở cho các nhà khoa học và các cấp quản lý tham khảo đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi địa phương và trong cả nước.

     

    3. Kết quả và bàn luận

     

    3.1. Từ chủ trương phát triển nền nông nghiệp toàn diện đến thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững

     

    Xuất phát từ thực tiễn Bạc Liêu những năm đầu mới được tái lập, Đại hội lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu (1997) xác định nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện để đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Phát triển nhanh, vững chắc và toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trên cơ sở gắn chặt với thị trường và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh” [1].

     

    Do xuất phát điểm thấp, lại là một tỉnh thuần nông nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bạc Liêu trong những năm 1997-2000 là tập trung vào phát triển nông nghiệp, xem đây là mặt trận quan trọng nhất để thúc đẩy sản xuất. Biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là vừa khai hoang, mở rộng diện tích, vừa tăng vụ, thâm canh tăng năng suất, áp dụng tiến bộ của khoa học – công nghệ vào sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị diện tích. Coi nông nghiệp là hướng chính để tạo bước chuyển biến cho nền kinh tế là sự lựa chọn đúng. Song với một tỉnh ven biển, để khai thác được lợi thế của từng vùng, bên cạnh trồng lúa thì nuôi trồng thủy sản cũng là sự lựa của tỉnh Bạc Liêu: “Tỉnh Bạc Liêu không thể tiến nhanh, tiến mạnh nếu chỉ độc canh cây lúa nước mà phải nhanh chóng chuyển đổi từ cây lúa, cây màu và những cây không có giá trị kinh tế cao sang nuôi trồng thủy sản” [2]. Nhận thức rõ về tầm quan trọng của kinh tế thủy sản trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đại hội lần thứ XII (2001) và XIII (2006) của Đảng bộ tỉnh đều khẳng định: Tập trung chỉ đạo, đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạng hóa các loại thủy sản, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, bảo đảm phát triển bền vững và hiệu quả…” [3].

     

    Gắn với sự phát triển bền vững, theo chiều sâu cùng với khai thác hiệu quả hơn nữa lợi thế của địa phương, Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV (2011) đặt ra mục tiêu tập trung “đầu tư khai thác theo chiều sâu tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là kinh tế biển, du lịch, sản xuất nông nghiệp; đẩy nhanh phát triển công nghiệp, đặc biệt là những dự án trọng điểm để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh” [4].

     

    Để thực hiện khai thác theo chiều sâu tiềm năng, thế mạnh của Bạc Liêu, nhất là kinh tế biển và sản xuất nông nghiệp, Đại hội Đảng bộ lần thứ XV (2016), đặc biệt lưu ý đến giải pháp: “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng

     

    200                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Bích Hồng                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 199 – 203

     

    dịch vụ, công nghiệp; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại; phát triển mạnh dịch vụ – du lịch; phát triển đô thị hài hòa với nông thôn” [5].

     

    Như vậy, nếu như những năm 1997-2000, hướng chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chủ yếu tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng vừa khai hoang, mở rộng diện tích, vừa tăng vụ, thâm canh, tăng năng suất; trong những năm 2001-2010, hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là từng bước đưa ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; đến những năm 2011-2015, phát triển kinh tế biển được ưu tiên hàng đầu; thì những năm 2015-2020, chủ trương thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế của Bạc Liêu theo hướng phát huy tối đa lợi thế, phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng hiệu quả, bền vững, xây dựng Bạc Liêu thành tỉnh có nền nông nghiệp công nghệ cao.

     

    3.2. Tập trung phát triển kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, tạo sự phát triển hiệu quả cho kinh tế Bạc Liêu

     

    Trên cơ sở ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò quan trọng kinh tế tư nhân, các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội XII (2016) đều chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Đại hội X của Đảng (năm 2006) khẳng định: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” [6]. Đặc biệt, Đại hội XII (năm 2016) nhấn mạnh chủ trương: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế” [7].

     

    Bạc Liêu là một tỉnh với xuất phát điểm sản xuất nhỏ, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy việc phát triển các thành phần kinh tế, khai thác mọi nguồn lực cho sự phát triển

     

    kinh tế của tỉnh là yêu cầu cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn của Bạc Liêu, Đảng bộ tỉnh khẳng định: “Nhà nước khuyến khích mọi người có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, quản lý, kinh doanh tự đầu tư hoặc liên kết, liên doanh dưới mọi hình thức để phát triển ngành, nghề dịch vụ, công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế trang trại, sử dụng nhiều lao động” [8].

     

    Xác định là một tỉnh nằm xa các trung tâm kinh tế lớn, nên việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, trong những năm qua, Bạc Liêu xem việc phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của địa phương.

     

    Tạo điều liện cho kinh tế tư nhân phát triển, tỉnh Bạc Liêu đã tích cực cải cách hành chính, rà soát, loại bỏ những thủ tục không phù hợp, không cần thiết; áp dụng cơ chế “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện giao dịch.

     

    Để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số cạnh tranh, phát huy nguồn nội lực, ngày 28-6-2012, Ban Thường vụ tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 13-CT/TU về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; ngày 15-8-2012, ban hành Kết luận số 09-KL/TU về một số chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao chỉ số cạnh tranh của tỉnh năm 2012 và những năm tiếp theo… Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, Bạc Liêu đã có tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh; cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh hấp dẫn, thông thoáng, đơn giản hóa các hồ sơ, thủ tục hành chính; tháo gỡ khó khăn, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

     

    Nhờ quyết tâm khai thác mọi nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt thu hút nguồn lực từ kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân của tỉnh

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          201

     

    Đào Thị Bích Hồng                      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 199 – 203

     

    có sự chuyển biến mạnh mẽ. Chỉ số cạnh tranh tăng lên hàng năm. Thu hút đầu tư trong những năm 2010-2015 tăng 55 lần so với những năm 2006-2010*.

     

    3.3. Phát triển kinh tế biển, khai thác lợi thế của Bạc Liêu là bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng

     

    Bạc Liêu là tỉnh có đường bờ biển khoảng 56 km, vùng lãnh hải rộng hơn 40 nghìn km2, diện tích đất nuôi trồng thủy sản lớn, tài nguyên từ biển, tiềm năng gió… Vì vậy phát triển kinh tế biển cũng là lợi thế của Bạc Liêu. Để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế từ biển, phấn đấu trở thành một tỉnh mạnh về kinh tế biển và làm giàu từ biển, ngày 24-4-2012, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra Nghị quyết 04-NQ/TU về phát triển kinh tế biển và vùng phía Nam Quốc lộ 1A đến năm 2015 và những năm tiếp theo. Nghị quyết nhấn mạnh những nhiệm vụ Bạc Liêu cần tập trung vào giải quyết như: (1) Đầu tư xây dựng các công trình, dự án động lực để làm đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội toàn vùng và cả tỉnh; (2) Phát triển nuôi trồng thủy sản; (3) Khai thác, đánh bắt hải sản; (4) Phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ phát triển kinh tế biển… [9].

     

    Nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, sự đồng thuận của người nông dân, tình hình phát triển phát triển kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn luôn duy trì ở mức cao. Năm 2017, GDP thực tế (GRDP) nông, lâm, thủy sản đạt 10.545 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), chiếm 42% GRDP toàn tỉnh. Từ một nền nông nghiệp độc canh cây lúa, mang tính “tự cung tự cấp”, Bạc Liêu đã hình thành vùng sản xuất mà chủ lực là cây lúa gồm 68.000 ha

     

    • Trong năm 2011-2015, Bạc Liêu thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 98 dự án về phát triển kinh tế – xã hội, tổng số vốn đầu tư hơn 20 ngàn tỷ đồng. Tăng gấp 55 lần so với 2006-2010 (Tỉnh ủy Bạc Liêu, (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XV, lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Bạc Liêu, tr. 127).

    và vùng sản xuất tôm nước lợ với hơn 124.000 ha; chuyển đổi gần 2/3 diện tích đất sản xuất, trong đó chuyển đổi gần 60.000 ha đất lúa sang nuôi trồng thủy sản để thích ứng biến đổi khí hậu. Nhiều mô hình sản xuất mang lại hiệu quả rất cao như mô hình nuôi tôm “sạch”, nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính, nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, quảng canh cải tiến kết hợp tôm – cua – cá, mô hình lúa – tôm… Qua đó, sản phẩm sạch trong sản xuất nông nghiệp đã đáp ứng được đòi hỏi khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng.

     

    Những chuyển biến tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần nâng cao đời sống cho người dân Bạc Liêu. Năm 2018, thu nhập bình quân đầu người ở vùng nông thôn đạt 50 triệu đồng/năm; kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ở nông thôn được quan tâm đầu tư khá đồng bộ; chính sách an sinh xã hội và công tác giảm nghèo được quan tâm thực hiện tốt, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4,3% [10].

     

    Bên cạnh những ưu điểm và thành công, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại tỉnh Bạc Liêu cũng còn một số hạn chế nhất định:

     

    • Trong quá trình thực hiện quy hoạch sản xuất đang bộc lộ một số bất hợp lý giữa thực tế sản xuất với quy hoạch được duyệt; (2) Sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản của tỉnh còn ở trình độ thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu bền vững do ảnh hưởng của thời tiết diễn biến bất lợi, dịch bệnh gây hại trên cây trồng, vật nuôi, thị trường không ổn định, giá cả nông sản, thực phẩm luôn biến động bất lợi cho người dân; (3) Sản xuất nhiều loại sản phẩm nhưng lại phân tán, manh mún, không gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản, thực phẩm chưa cao, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo; tình trạng bơm chích tạp chất vào nguyên liệu thủy sản chưa giải quyết triệt để; nguồn lợi thủy sản bị khai thác quá mức, ngày càng cạn kiệt; (4) Nhiều tiến bộ kỹ thuật chậm triển khai nhân rộng như công nghệ sau thu hoạch (máy gặt, máy sấy lúa,…), san phẳng mặt ruộng bằng tia laser, dụng cụ sạ

    202                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Bích Hồng                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 199 – 203

     

    hàng, máy cấy; (5) Cơ cấu lao động chuyển dịch không đáng kể, quan hệ sản xuất chậm đổi mới, quá trình đô thị hoá nông thôn diễn ra chậm…

     

    Thực tiễn tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu, mà chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, với tất cả ưu điểm và hạn chế, thành công và chưa thành công, để lại một số kinh nghiệm quý báu, cụ thể như sau:

     

    Một là, phải xuất phát từ thực tiễn của địa phương, chủ động khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế và tiềm năng, đề ra chủ trương, giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả.

     

    Hai là, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp với xây dựng, củng cố và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.

     

    Ba là, phải phát huy ý thức tự lực, tự cường, sáng tạo, huy động sức dân, dựa vào dân để tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng phát triển theo hướng hiện đại.

     

    Bốn là, phải luôn chú trọng nghiên cứu, ứng dụng kịp thời tiến bộ khoa học công nghệ vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương.

     

    Năm là, quan tâm công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi nghề cho người lao động, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm trong ngành nông nghiệp.

     

    Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp hài hòa với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững.

     

    Bảy là, chăm lo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, xác định đúng chủ trương, biện pháp; xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt quy hoạch, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

     

    1. Kết luận

    Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, vấn đề chuyển dịch cơ cấu

     

    kinh tế và mở cửa chủ động hội nhập quốc tế ngày càng quan trọng trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1997 – 2018 đã đạt được những kết quả nhất định; khẳng định trong thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng bộ với tinh thần chủ động và sáng tạo; khẳng định quyết tâm của nhân dân Bạc Liêu ra sức phấn đấu đến năm 2020, Bạc Liêu đứng vào tốp các tỉnh khá trong khu vực và trung bình khá của cả nước. Đó là những yếu tố rất quan trọng để tỉnh Bạc Liêu tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

     

    Lời cám ơn

     

    Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG – HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số C2017-20-07. Tác giả chân thành cảm ơn sự tài trợ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho nghiên cứu này.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XI, 1997, tr. 7.
    • Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu, Niên giám thống , 2008.
    • Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XIII, 2006, tr. 45.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XIV, 2011, tr. 33.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XV, 2015, tr. 79.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 107-108.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Kế hoạch số 14-KH/TU thực hiện Nghị quyết 06 của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, 1999, tr. 7-8.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Nghị quyết số 04-NQ/TU về phát triển kinh tế biển và vùng phía Nam Quốc lộ 1A tỉnh Bạc Liêu đến năm 2015 và những năm tiếp theo, 2012.
    • Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu, Thực trạng kinh tế – xã hội Bạc Liêu (1997-2001), 2002.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/CHUY%E1%BB%82N-D%E1%BB%8ACH-C%C6%A0-C%E1%BA%A4U-KINH-T%E1%BA%BE-T%E1%BB%88NH-TH%C3%81I-NGUY%C3%8AN-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-1997-%E2%80%93-2017.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 45 – 50

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh1*, Hoàng Thị Mỹ Hạnh2

    1 Khoa Ngoại Ngữ – ĐH Thái Nguyên

    2 Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Đông Bắc. Hòa nhập với sự phát triển của đất nước, từ sau ngày tái lập tỉnh (1/1/1997) đến năm 2017, Thái Nguyên đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với vị trí địa lí thuận lợi, đất đai, tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch về nguồn hấp dẫn, tỉnh Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi mà nhiều tỉnh miền núi phía Bắc không có, giúp cho Thái Nguyên có tiềm năng phát triển, không chỉ hiện tại, mà cả trong tương lai. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã có những chủ trương hợp lý, đúng đắn cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Thái Nguyên đang từng bước hòa nhập với nền kinh tế thị trường của cả nước và thế giới trong thế kỉ XXI.

     

    Từ khóa: Thái Nguyên; nguồn lực; kinh tế; chuyển dịch; cơ cấu.

     

    Ngày nhận bài: 06/03/2019; Ngày hoàn thiện: 23/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    THAI NGUYEN ECONOMIC STRUCTURE TRANSFORMATION

    THE PERIOD 1997 – 2017

     

    Nguyen Thi Thu Oanh1*, Hoang Thi My Hanh2

    1 TNU – School of Foreign Languages

     

    2 TNU – College of Education

     

    ABSTRACT

     

    Thai Nguyen is one of the political, economic and culture of the Northeast. Integrated with the development of the country, since after the re-establishment (1/1/1997) to 2017, Thai Nguyen has gradually economic restructuring towards industrialization and modernization.With its favorable geographical location, land, diverse mineral resources, rich, eco-tourism potential, tourism, history, tourist attractions, the province of Thai Nguyen has many favorable conditions thatmany northern mountainous provinces, help to Thai Nguyen has the potential to develop, not only now, but also in the future. Thai Nguyen Provincial Party has advocated Rational and proper for the sustainable development of the province. Thai Nguyen is gradually integrated with the market economy of the country and the world in the XXI century.

     

    Keyword: Thai Nguyen; resources; economy; transition; structure.

     

    Received: 06/03/2019; Revised: 23/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           45

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    1.   Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

     

    • Vị trí địa lý

    Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du – miền núi Đông Bắc, diện tích tự nhiên 3.526,20 km2 nằm trong hệ tọa độ địa lý từ 21o19’ đến 22o03’ vĩ độ bắc và 105o29’ đến 106o15’ kinh độ đông [1]. Thái Nguyên phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn; phía Đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang.

     

    Thái Nguyên có rất nhiều cơ sở kinh tế, văn hóa, quốc phòng có tầm chiến lược của đất nước: Khu công nghiệp Gang thép, Khu công nghiệp Sông Công, 8 trường Đại học, các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, Bộ Tư lệnh Quân khu I. Nằm kề phía Bắc thủ đô Hà Nội, Thái Nguyên còn có lợi thế rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội cả hiện tại và trong tương lai. Tỉnh có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các mối liên kết về du lịch, dịch vụ với các địa phương lân cận trong và ngoài vùng (Hà Nội, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Giang…).

     

    Quốc lộ 3 nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với các tỉnh khác trong cả nước, đồng thời chạy qua huyện Phú Lương lên Bắc Kạn, Cao Bằng để có thể tới biên giới Việt – Trung.

     

    Ngoài ra, các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh. Tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều và tuyến đường sắt Thái Nguyên – Uông Bí là mạch giao thông quan trọng giữa Thái Nguyên với đồng bằng và vùng Đông Bắc.

     

    Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là một trung tâm kinh tế, trung tâm văn hóa, trung tâm đào tạo lớn của đất nước.

     

    1.2. Khí hậu

     

    Cũng như các địa phương khác thuộc miền Bắc Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa biến tính, có hai mùa rõ rệt: mùa khô lạnh mát, mùa mưa nóng ẩm. Nhiệt độ bình quân là 230C, độ ẩm bình quân là 80%.

     

    1.3. Hệ thống sông, suối, hồ và trữ lượng nước

     

    Thái Nguyên có một hệ thống sông ngòi khá dày. Nguồn nước mặt của Thái Nguyên chủ yếu do hệ thống sông ngòi cung cấp. Hệ thống sông gồm có: Sông Cầu, sông Chu, sông Đu, sông Công, sông Nghinh Tường, sông Khe Mo

     

    – Huống Thượng. Đại bộ phận lãnh thổ thuộc hệ thống sông Cầu, cứ 1 km2 có 0,93 km sông; sông Công 1,2 km sông/km2; sông Nghinh

    Tường 1,05 km sông/km2. Bên cạnh nguồn nước mặt, Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn, khoảng 3 tỷ m3, nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế [1].

     

    1.4. Địa hình, đất đai

     

    Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 352.621,50 ha [2], Thái Nguyên có các loại đất sau: Đất Feralit đỏ vàng chiếm phần lớn đất đồi núi của tỉnh. Đất thích hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp; đất đá vôi; đất đầm lầy; đất ruộng lúa (đất có nguồn gốc từ đất Feralit, đất đá vôi, hoặc đất phù sa các sông Cầu, sông Công, sông Chu… Mặc dù là một tỉnh trung du miền núi, nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác. Đây cũng là một thuận lợi của tỉnh trong việc phát triển kinh tế – xã hội nói chung mà nhiều tỉnh trung du miền núi khác không có.

     

    Thái Nguyên có 165,1 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 104,8 nghìn ha và rừng trồng có trên 60 nghìn ha. Rừng phòng hộ có diện tích gần 55,6 nghìn ha, rừng đặc dụng gần 28,2 nghìn ha và rừng kinh tế 81,4 nghìn ha. Tổng diện tích đất chưa sử dụng có trên 49 nghìn ha, trong số này có trên 39 nghìn ha có khả năng phục vụ mục đích lâm nghiệp [2].

     

    Về tính đa dạng sinh học, có thể thấy Thái Nguyên khá đa dạng về các loài động thực vật, đặc biệt có nhiều loại cây con dược liệu quý có thể phát triển ở quy mô sản xuất hàng hóa.

     

    1.5. Tài nguyên rừng và khoáng sản

     

    Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương. Hiện đã phát hiện

     

    46                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và Đtg           Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 45 – 50

     

    177 điểm quặng và mỏ khoáng sản với hơn 30 loại hình khoáng sản khác nhau phân bố tập trung ở các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai… [3]. Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa trong phạm vi cả nước như quặng, sắt, than (đặc biệt là than mỡ). Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển các ngành công nghiệp như luyện kim, khai khoáng, sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng…

     

    1.6. Tài nguyên du lịch

     

    Tài nguyên du lịch của Thái Nguyên rất đa dạng. Trong đó, hồ Núi Cốc với diện tích 25 km2 cùng nhiều đảo lớn nhỏ trong lòng hồ đã mở ra tiềm năng du lịch lớn nhất tỉnh. Khu du lịch Hồ Núi Cốc cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía tây, với phong cảnh sơn thủy hữu tình đã trở thành khu du lịch lớn nhất của tỉnh, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, kéo theo sự phát triển của các loại hình dịch vụ du lịch, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương, đồng thời mang lại cho tỉnh khoản thu không nhỏ. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có bãi đá cổ Thần Sa, Mái Đá Ngườm, nơi được coi là cái nôi của người tiền cổ. Cùng với đó, hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, thác Mưa Roi (huyện Võ Nhai), thác bảy tầng, cây đa nghìn tuổi (huyện Định Hóa)… là những tiềm năng du lịch lớn của tỉnh [3].

     

    Thái Nguyên còn có tài nguyên du lịch nhân văn khá lớn với nhiều di tích lịch sử, công trình kiến trúc, nghệ thuật, phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số… Thái Nguyên là nơi có truyền thống cách mạng lâu đời, thủ đô kháng chiến – “Thủ đô gióa ngàn” trong kháng chiến chống thực dân Pháp. An toàn khu (ATK) với nhiều địa danh như: đồi Tỉn Keo – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc; khu nhà làm việc của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng là những di tích lịch sử vô cùng quý giá. Bên cạnh đó, với vị trí là trung tâm văn hóa của các dân tộc thiểu số miền núi, có Bảo tàng văn hóa của các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên có lợi thế lớn để phát triển đa dạng các loại hình du lịch.

     

    Với vị trí địa lí thuận lợi, đất đai, tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch về nguồn hấp dẫn, tỉnh Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi mà nhiều tỉnh miền núi phía Bắc không có, giúp cho Thái Nguyên có tiềm năng phát triển, không chỉ hiện tại, mà cả trong tương lai.

     

    2.   Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

     

    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung

    Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên tăng trung bình 40,4%/năm. Năm 2000 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chung đạt 1526,57 tỷ đồng (theo giá thực tế) đến năm 2010 tăng gấp 5,04 lần đạt 7696,58 tỷ đồng. Trong đó, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng nhanh nhất từ 1445,13 tỷ đồng lên 7368,58 tỷ đồng (2000 – 2010); giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2010 tăng 3,19 lần so với năm 2000; giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2000 là 30,80 tỷ đồng tăng lên 166,30 tỷ đồng năm 2010. Đến năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,75% (cao nhất trong vùng và cao gấp gần hai lần mức bình quân chung cả nước); cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp – xây dựng, thương mại và dịch vụ. Năm 2017, khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 55,4%; khu vực dịch vụ chiếm 32%; khu vực nông – lâm – thủy sản chiếm 12,6%.

     

    Cơ cấu giá trị nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 – 2017 đã có sự chuyển dịch, tuy nhiên chưa rõ nét và ổn định do chịu nhiều tác động của yếu tố thị trường và dịch bệnh bùng phát trong những năm gần đây. Nhìn chung, trong cơ cấu giá trị ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ngành nông nghiệp giữ vị trí chủ yếu luôn chiếm trên 90% giá trị sản xuất. Điều này được lý giải do trong những năm vừa qua tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng đầu tư vào một số mặt hàng chủ yếu (cây trồng, vật nuôi) tạo năng suất và sản lượng cao, tạo dựng thương hiệu mạnh trên thị trường trong và ngoài tỉnh như: chè Tân Cương, gạo Bao Thai – Định Hoá,…

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            47

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    2.2. Ngành nông – lâm – thủy sản

     

    Đây là ngành giữ vai trò chủ đạo trong ngành kinh tế của tỉnh. Nhìn chung nông nghiệp và nông thôn Thái Nguyên trong những năm vừa qua có những chuyển biến tích cực, sản phẩm lương thực tăng nhanh và cơ bản bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ. Cơ cấu kinh tế trồng trọt, chăn nuôi và khai thác, dịch vụ nông-lâm-thủy sản đang từng bước chuyển đổi tích cực và sản xuất thêm nhiều mặt hàng, tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao đời sống cho nhân dân. Tỷ trọng nông – lâm -thủy sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giảm từ 33,68% (2000) xuống còn 21,73% năm 2010 và đến năm 2017 chiếm 12,6%.

     

    Tiềm năng phát triển nông – lâm nghiệp của tỉnh khá dồi dào. Năm 1997, diện tích trồng rừng là 2.175 ha, tăng 3,1%, đến năm 2017, đã tăng lên 6.684 ha [2]. Thái Nguyên tích cực triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, từng bước chuyển đổi mô hình theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, an toàn (tỉnh đang triển khai thí điểm việc dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn…,) phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại. Trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một trong những điểm mới của Thái Nguyên là sự hình thành kinh tế trang trại. Năm 2017, toàn tỉnh có hơn 1.000 trang trại, với quy mô vừa và nhỏ. Ngành thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị nông – lâm – thuỷ sản của tỉnh.

     

    Có thể nói, từ năm 1997 – 2017, nông – lâm – thủy sản là những ngành kinh tế sản xuất quan trọng của tỉnh. Ngành này đang từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hoá. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của tỉnh là thóc, chè, lạc, đậu tương, gia súc, gia cầm, hoa quả tươi. Cơ cấu sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi được chuyển dịch phù hợp với nhu cầu thị trường.

     

    2.3. Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

     

    Trong thời kỳ 1997 – 2017, GDP ngành tăng bình quân hằng năm 38,6%. Tỷ trọng của ngành trong GDP toàn tỉnh liên tục tăng lên

     

    qua các năm. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, từng bước khẳng định xu thế đúng đắn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.

     

    Công nghiệp có bước phát triển vượt bậc. Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh tính theo giá so sánh 1994 đạt 4.760 tỷ đồng năm 2005. Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) trên địa bàn là 9.912 tỷ đồng, bằng 99,6% kế hoạch đầu năm và bằng 101,66% kế hoạch điều chỉnh, tăng 13,3% so với năm 2008. Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân năm 2017 đạt hơn 571 nghìn tỷ đồng (đứng thứ 7 trong số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước). Giá trị xuất khẩu bình quân năm 2017 tăng 23% đạt 23,563 tỷ USD (chiếm khoảng 11% giá trị xuất khẩu chung của cả nước). Khu vực kinh tế Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong ngành công nghiệp tỉnh và thường xuyên đóng góp trên 70% cho giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh [2].

     

    Đến năm 2017, toàn tỉnh có trên 10.452 cơ sở sản xuất công nghiệp. Trong số các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn, điển hình là Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty vật liệu xây dựng, Điện lực Thái Nguyên, Công ty phụ tùng máy số I, Công ty Natsteel Vina… Tỉnh Thái Nguyên đã tập trung đầu tư phát triển hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trong đó tập trung đẩy mạnh việc hoàn thành giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Sông Công 2. Đồng thời, quan tâm, chú trọng tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp (35%), cụm công nghiệp còn lại (74,7%); ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ; chú trọng phát triển công nghiệp địa phương gắn với công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; ưu tiên hình thức liên doanh, liên kết sản xuất với các doanh nghiệp địa phương, hỗ trợ dẫn dắt các doanh nghiệp địa phương cùng phát triển.

     

    • Các ngành tiểu thủ công nghiệp

    Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của Thái Nguyên còn nhỏ bé, tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công,

     

    48                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và Đtg           Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 45 – 50

     

    huyện Đồng Hỷ và huyện Phổ Yên. Trong những năm gần đây, một số lĩnh vực sản xuất và một số nghề đã từng bước được khôi phục và có chiều hướng phát triển như đan lát (cót, rổ rá, rọ tôm); sản xuất mía đường; chế biến mì, bún bánh và thêu ren.

     

    Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh về các loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh đối với một số sản phẩm. Sự phát triển tiểu thủ công nghiệp đã góp phần thúc đẩy tiến trình đô thị hoá nông thôn, hình thành thêm các thị trấn, thị tứ trên cơ sở hình thành những ngành nghề mới tại các xã và cụm xã, góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.

     

    2.4. Ngành thương mại, dịch vụ, du lịch

     

    Nhìn chung, lĩnh vực dịch vụ tỉnh có mức tăng trưởng cao kể từ khi tách tỉnh đến nay (đạt bình quân 10,5% thời kỳ 1997 – 2005, năm 2005 tăng 10,7% so với năm 2004, tăng bình quân cho cả giai đoạn 2007-2017 là trên 21,1%).

     

    Dịch vụ thương mại

     

    Dịch vụ thương mại đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1997 – 2017 tăng nhanh. Phân ngành này luôn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong ngành dịch vụ tỉnh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội của Thái Nguyên tăng bình quân trên 12,3% trong cả thời kỳ 1997 – 2017.

     

    Mạng lưới thương mại trên địa bàn tỉnh phát triển rộng khắp. Thương mại miền núi được quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn trong những năm gần đây.

     

    Dịch vụ du lịch – khách sạn – nhà hàng

     

    Điểm đáng lưu ý là mặc dù ngành du lịch được xác định là một ngành kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển của tỉnh và được quan tâm đầu tư nhiều hơn trong những năm qua nhưng tỷ trọng ngành này trong GDP dịch vụ tỉnh lại không tăng lên trong suốt giai đoạn 2000 – 2002 (chiếm 4,7%) và giảm đáng kể từ sau đó. Năm 2005 phân ngành này chỉ chiếm 3,74% GDP

     

    toàn ngành dịch vụ.

     

    Từ năm 2000 đến nay, lượng khách du lịch tăng liên tục với tốc độ bình quân 58,6%/năm (riêng năm 2001 tăng gần 2,2 lần so với năm 2000). Năm 2005 đạt 507 nghìn lượt (trong đó khách nước ngoài có trên 12,2 nghìn lượt). Doanh thu du lịch cũng tăng nhanh (bình quân 15%/năm). Năm 2010 đạt trên 27,2%. Đến năm 2017, du lịch Thái Nguyên đã duy trì ổn định tốc độ tăng trưởng du lịch đảm bảo mục tiêu đặt ra. Tổng số lượt khách đến Thái Nguyên là 2.229.700 lượt, tăng 8% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 66.297 lượt tăng 3,5% so với cùng kỳ, khách do cơ sở lưu trú phục vụ đạt 947.625 lượt tăng 5% so với cùng kỳ, khách du lịch đến các điểm tham quan 1.172.075 lượt tăng 10% so với cùng kỳ, khách do các công ty lữ hành phục vụ 110.000 lượt tăng 15% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu từ các doanh nghiệp du lịch đạt 310 tỷ đồng tăng 24% so với cùng kỳ [2].

     

    2.5. Xây dựng cơ sở hạ tầng

     

    Để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế – xã hội phát triển, tỉnh Thái Nguyên rất coi trọng việc xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng.

     

    Trong những năm 1997 – 2017, Thái Nguyên huy động mọi nguồn vốn đầu tư cho xây dựng và sửa chữa các tuyến đường giao thông do địa phương quản lý. Mặt khác, tỉnh cũng tranh thủ tối đa các nguồn vốn viện trợ, vốn vay ODA (Quỹ giúp đỡ phát triển nước ngoài), đóng góp các tổ chức kinh tế, xã hội và sức dân để phát triển mạnh giao thông nông thôn. Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn tiếp tục được hiện đại hóa, đảm thông tin

     

    • trong nước và quốc tế thông suốt. Mạng lưới điện cũng được mở rộng tới phần lớn các xã trên địa bàn, góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Hệ thống cấp nước ở đô thị và các khu công nghiệp được cải tạo nâng cấp. Những năm 1997 – 2017, tỉnh đã đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước các thị trấn, thị tứ theo dự án; tiếp tục thực hiện chương trình nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường…

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            49

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    3.   Một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế tỉnh thái nguyên trong giai đoạn tiếp theo

     

    • Giải pháp về vốn đầu tư
    • Đối với vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cần phải phân định rõ thành phần vốn của Nhà nước, của nhân dân đóng góp.
    • Đối với vốn đầu tư phát triển các ngành sản xuất cần có chính sách đẩy mạnh hơn nữa quá trình tích lũy tập trung các nguồn vốn vào các ngành mũi nhọn và các khu vực trọng điểm [4].

    Như vậy, phương châm là huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn để tạo ra sức bật cho ngành kinh tế toàn tỉnh.

     

    3.2. Phát triển nguồn nhân lực

     

    Nhìn chung, nguồn nhân lực của tỉnh Thái Nguyên rất dồi dào. Để tận dụng được nguồn nhân lực đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho sự phát triển kinh tế, xã hội thì Thái Nguyên cần phải có những biện pháp đào tạo, nâng cao hiệu quả, sử dụng lao động theo những hướng sau:

     

    • Nâng cao dân trí và trình độ học vấn cho nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa trong tỉnh bằng các hình thức thông tin đại chúng, văn hóa, thông tin tuyên truyền.
    • Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, dạy nghề, nâng cấp chất lượng các cấp học, phát triển các loại hình liên kết đào tạo.
    • Phát triển các ngành dịch vụ để giải quyết việc làm cho người lao động, dạy nghề cho con em đồng bào dân tộc nhằm mục đích sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ.
    • Ưu tiên đào tạo cán bộ là người dân tộc, tạo điều kiện tiếp xúc với khoa học công nghệ, qua các lớp tập huấn.

    3.3. Nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường

     

    • Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào mọi lĩnh vự sản xuất và các khâu quản lý.
    • Từng bước đồng bộ hóa công nghệ tiên tiến vào những ngành công nghiệp tạo sản phẩm

    mũi nhọn xuất khẩu như: chè, vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản.

     

    • Ứng dụng công nghệ sinh học vào quá trình chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi. Phát triển mô hình nông – lâm kết hợp để tăng hiệu quả sử dụng, bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.

    3.4. Đổi mới cơ chế quản lý

     

    Cần thực hiện triệt để việc cải cách hành chính, sắp xếp lại bộ máy quản lý của tỉnh sao cho gọn nhẹ và điều hành có hiệu lực, phù hợp với cơ chế quản lý mới. Phát huy hiệu quả vai trò của trung tâm giáo dục thường xuyên và trường chính trị để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của tỉnh, đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng có trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và trình độ chuyên môn cao [4].

     

    4. Kết luận

     

    Hòa nhập với sự phát triển của đất nước, Thái Nguyên đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh đã đạt được những kết quả bước đầu đáng phấn khởi: cơ sở vật chất tăng cường, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, trong cơ cấu nền kinh tế hiện nay của tỉnh, nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn. Để phản ánh đúng điều kiền và tiềm năng, tương xứng với sự đầu tư và các lợi thế của địa phương, Thái Nguyên cần có nhiều giải pháp hơn nữa để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát huy nguồn lực sẵn có của mình, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Tỉnh ủy – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Địa chí Thái Nguyên, Nxb

    Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.22, tr.68, 2009.

     

    • Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên -Thai Nguyen Statistical YearBook, Thái Nguyên, 20, tr.195, tr.271, tr.303, 2017, 2018.
    • Thái Nguyên – Thế và lực mới trong thế kỉ XXI,

    Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.25 – 29, 2005.

     

    • Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, tr.121 – 136, 5/2007.

    50                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-NG%C3%80NH-C%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-PH%E1%BB%A4-TR%E1%BB%A2-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

     

    Vũ Văn Thực*

     

    TÓM TẮT

     

    Những năm qua, ngành công nghiệp phụ trợ là một trong những ngành quan trọng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư phát triển, đây là một trong những ngành đã và đang được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, thời gian qua các doanh nghiệp phụ trợ của Việt Nam dường như vẫn loay hoay tìm đường cho phát triển. Bài viết này sẽ phân tích thực trạng công nghiệp phụ trợ ở nước ta nhằm tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém mà ngành này đang gặp phải, từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển ngành này trong thời gian tới.

     

    Từ khóa: công nghiệp phụ trợ, phát triển

     

    INDUSTRY DEVELOPMENT IN VIETNAM ACCESSORIES

     

    ABSTRACT

     

    In the few years, the supporting industry is becoming an important sector of the economy and is being supported by Party and State. It is promised that this part of the economy will have grown into one of the most important factor to boost the industry strengh as well as the fate of Vietnam’s economy in the next stage. In spite of the fact above, those enterprises in this sector seems struggling to achive their success. The objective of this article is to analyze what the dificulty of supporting industries in Vietnam is facing in oder to ind out the root of the problem; from there we will propose some answers to develop this industry in the future.

     

    Keywords: supporting industry, development

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Khách quan mà nói, thời gian qua, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam đã gặt hái được một số thành quả nhất định, đặc biệt là một số ngành như sản xuất xe gắn máy hay điện gia dụng đã có bước phát triển nhanh, có tỷ lệ nội địa hoá cao. Tuy nhiên thực tế cho thấy, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam vẫn được coi là một trong những ngành chậm

     

    phát triển, quy mô ngành công nghiệp phụ trợ trong nước còn nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất ra các linh kiện có chi tiết giản đơn, giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực đối với yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu. Do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp của đất nước, đặc biệt là những ngành có hàm lượng công nghệ kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn. Công nghiệp phụ trợ

     

     

    * TS. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, CN Tân Bình

     

     

    45

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    chậm phát triển đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài; trước đây lợi thế của Việt Nam chủ yếu dựa vào mặt bằng và giá nhân công rẻ, nhưng ngày nay những tiêu chí trên không phải là tiêu chí quyết định đến đầu tư của các nhà đầu tư mà các nhà đầu tư còn nhắm đến những thị trường có thể đáp ứng tốt nhất cho việc sản xuất ra các sản phẩm của họ. Vì vậy, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ được coi là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư, cũng như giúp kinh tế đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn trong giai đoạn tới.

     

    2. Thực trạng của một số ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

     

    Theo tính toán của các cơ quan chức năng, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện còn lệ thuộc vào phần lớn nguồn nguyên liệu nhập khẩu, điều đó cho thấy mục tiêu đặt ra cho ngành công nghiệp phụ trợ chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Dưới đây là thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ của một số ngành điển hình ở Việt Nam:

     

    Ngành ô tô: nhằm giúp ngành ô tô phát triển, từng bước theo kịp với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, những năm vừa qua, các cấp, các ngành đã đưa ra nhiều chính sách để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào ngành này, cho đến nay đã có rất nhiều hãng ô tô nổi tiếng đã và đang tham gia sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam như: Toyota, Ford, Kia v.v . Theo kế hoạch, các hãng sản xuất ôtô ở trong nước phải tăng dần tỷ lệ nội địa hoá các linh kiện, giảm nhập khẩu từ nước ngoài, song cho đến nay khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp phụ trợ còn nhiều hạn chế, nhất là các linh kiện, phụ kiện đòi hỏi tính chính xác cao. Theo tính toán của các doanh nghiệp sản xuất xe ô tô, một doanh nghiệp ôtô cần phải có tối thiểu 20 nhà

     

    cung cấp các loại linh kiện khác nhau phục vụ cho việc sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh, nhưng cho đến nay chưa một doanh nghiệp sản xuất ôtô nào tại Việt Nam có được 20 nhà cung cấp linh kiện. Trên thực tế, các doanh nghiệp lắp ráp ôtô chỉ có khoảng từ 2 đến 3 nhà cung cấp linh kiện trong nước và như vậy các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở trong nước vẫn phụ thuộc vào phần lớn linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài khiến giá thành sản phẩm đứng ở mức cao, khó có khả năng cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, chưa đáp ứng được mong mỏi của người tiêu dùng trong nước. Số liệu tính toán gần đây cho thấy, hiện nay Việt Nam có 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô, song chỉ có khoảng trên 60 doanh nghiệp cung cấp linh kiện, nhưng chủ yếu là những linh kiện có giá trị thấp như vỏ, ruột, kiếng, khung xe v.v, số lượng doanh nghiệp như trên được cho là khá thấp so với các nước trong khu vực, chẳng hạn như ở Malaysia là 385 doanh nghiệp và ở Thái Lan là 2.500 doanh nghiệp[4].

     

    Ngành xe máy: Việt Nam được coi là một quốc gia có số lượng xe máy lớn nhất hành tinh, theo số liệu thống kê của Bộ Giao thông vận tải, tính đến cuối năm 2013, số lượng xe máy của cả nước là trên 37 triệu xe, vượt xa con số mà Chính phủ đã qui hoạch đến năm 2020 là 36 triệu xe [5]. Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào thị trường sản xuất, lắp ráp xe gắn máy, trong đó các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản chiếm phần lớn thị phần, nổi bật trong số đó là hãng Honda Việt Nam, có được điều này chính là sản phẩm của hãng Honda có chất lượng ổn định, mẫu mã đẹp và giá cả cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại khác. Có thể nói, công nghiệp phụ trợ ngành xe gắn máy là một trong những ngành có bước phát triển nhanh nhất, từ chỗ phải nhập khẩu 100%

     

     

    46

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    từ nước ngoài, song cho đến nay ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp xe máy của Việt Nam đã có thể tự sản xuất được trên 70% các loại linh kiện, phụ tùng, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, giảm giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh; nổi bật trong số các doanh nghiệp phụ trợ cho ngành xe máy, có doanh nghiệp Mạnh Quang là đơn vị sản xuất các loại nhông, đĩa, xích, và các loại phụ tùng khác, chiếm gần 20% thị phần cung cấp sản phẩm cho các công ty sản xuất và lắp ráp xe máy trên toàn lãnh thổ Việt Nam, là đối tác của nhiều hãng sản xuất lớn như Honda, SYM, SuFat, Detech, Lifan [7].

     

    Ngành dệt may: là ngành thu hút lực lượng lao động lớn, có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tuy nhiên cho đến nay ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn nhiều bất cập, yếu kém; đặc biệt là khả năng cung cấp các sản phẩm cơ khí còn khá nhỏ bé so với nhu cầu của ngành này và thực tế cho thấy, các doanh nghiệp dệt may trong nước vẫn phải nhập khẩu từ 70 đến 80% nguyên phụ liệu từ nước ngoài phục vụ cho sản xuất. Cho đến nay, chỉ có một số ít các doanh nghiệp như Công ty cổ phần phụ liệu may Nha Trang, Công ty may Việt Tiến, Công ty dệt vải công nghiệp và các công ty tư nhân đã tự sản xuất được một số phụ liệu như khóa kéo, tấm lót, cúc, chỉ v.v. nhưng sản lượng sản xuất ra cũng còn khá khiên tốn, chỉ đáp ứng được khoảng từ 20 đến 25% nhu cầu của ngành [6].

     

    Ngành da giày: công nghiệp phụ trợ cho ngành da giày chưa thực sự phát triển, điều đó có thể thấy ngay ở TP. Hồ Chí Minh, một địa phươNG đứng đầu cả nước về cung ứng sản phẩm da giày (chiếm hơn 80% sản phẩm của cả nước) nhưng cũng chỉ có khoảng 10

    doanh nghiệp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho ngành này, trong đó chỉ có 2 doanh nghiệp là có sản phẩm đủ chất lượng đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Lý giải về vấn đề này, các doanh nghiệp cho rằng, giá nguyên liệu sản xuất ở trong nước còn khá cao, chất lượng kém nên chưa được thị trường các nước như Mỹ và EU chấp nhận. Do đó, cho đến nay tỷ lệ nội địa hóa của da tổng hợp đạt 40%, các loại phụ liệu trang trí cũng chỉ đạt gần 45%. Theo dự báo của các cơ quan chức năng, tỷ lệ nội địa hóa các nguyên liệu cơ bản cho ngành da giày như da thuộc, da tổng hợp, đế giày có thể đạt 50% vào năm 2020 và tăng lên 70% vào 2025 [8].

     

    Ngành điện tử, điện máy: là một trong những ngành có hàm lượng công nghệ cao được khá nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước sớm đầu tư vào sản xuất, tuy nhiên cho đến nay, các doanh nghiệp điện tử trong nước hầu như chỉ sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng kém, chưa có khả năng cạnh tranh so với hàng hóa ngoại nhập, sức tiêu thụ thấp, ước tính giá trị gia tăng chỉ đạt từ 5 đến 10%/ năm. Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành điện tử, điện máy đang phải chịu áp lực giảm chi phí linh, phụ kiện để giảm giá thành sản phẩm, gia tăng sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, để thực hiện được điều đó phải có những doanh nghiệp sản xuất hàng phụ trợ linh, phụ kiện trong nước cung cấp nhiều sản phẩm có giá cả phải chăng, tuy nhiên trên thực tế doanh nghiệp phụ trợ có thể đáp ứng được yêu cầu này là rất ít. Do đó, hầu hết các doanh nghiệp ngành điện, điện tử phải nhập khẩu linh kiện, phụ kiện từ các nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc hay Trung Quốc. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam, các

     

     

    47

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có “tên tuổi” đều phải nhập khẩu trên 90% linh kiện của nước ngoài, thậm chí có doanh nghiệp nhập khẩu 100% như Công ty Fujitsu Việt Nam [6]. Điều này vừa thiệt thòi cho ngành công nghiệp Việt Nam, khiến Việt Nam khó thoát khỏi tình trạng gia công, lắp ráp, vừa giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng điện tử trong nước do phải nhập khẩu phần lớn những linh, phụ kiện quan trọng. Việc thiếu vắng các nhà cung cấp linh, phụ kiện cũng khiến nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực này có xu hướng ngại đầu tư vào Việt Nam và đây là điểm yếu căn bản trong thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện – điện tử.

     

    Ngành cơ khí chế tạo: là một ngành được coi là xương sống cho ngành công nghiệp của mỗi quốc gia, nhưng ngành này lại là một ngành khá lạc hậu so với các nước phát triển trên thế giới, theo tính toán của ngành cơ khí chế tạo ở Việt Nam thì công nghệ của ngành này có trình độ công nghệ lạc hậu, có khoảng cách từ 2 đến 3 thế hệ so với các nước trong khu vực. Ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực chế tạo máy Việt Nam được đánh giá là khá yếu kém, đang có một lỗ hổng lớn

    • “chân móng”, sản phẩm thép dùng để chế tạo chưa hề có mặt tại Việt Nam, việc kết hợp trong công tác nội địa hóa còn thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp cơ khí trong nước dẫn đến thiếu thông tin kịp thời và cụ thể cho việc cung cấp các sản phẩm. Số liệu thống kê cho thấy, khoảng 80% giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam dành cho nguyên liệu đầu vào, thiết bị và máy móc phục vụ sản xuất trong nước, điều đó cho thấy ngành công nghiệp phụ trợ của ngành cơ khí chế tạo còn khá yếu kém [6].

     

    3.           Nguyên nhân hạn chế

     

    • Chưa xây dựng được chiến lược phát

    triển công nghiệp phụ trợ để các doanh nghiệp dựa vào đó xây dựng chiến lược phát triển cho riêng mình, từ đó các doanh nghiệp mới có thể yên tâm đầu tư.

     

    • Chưa có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là chính sách về vốn vay, lãi suất ưu đãi, chính sách thuế v.v, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ.

     

    • Mặc dù ngành công nghiệp phụ trợ đã được qui hoạch tổng thể nhưng việc qui hoạch lại chưa được thực hiện cho từng vùng miền, từng địa phương, do đó việc phát triển công nghiệp phụ trợ còn mang tính tự phát, chưa có sự gắn kết giữa phát triển công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng.

     

    • Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu, trình độ công nghệ kỹ thuật của các doanh nghiệp phụ trợ còn khiêm tốn, khó có khả năng chuyển giao công nghệ, đặc biệt là những ngành có hàm lượng công nghệ, kỹ thuật cao.

     

    • Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ chưa được thực hiện nhiều, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) muốn tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ của Việt Nam nhưng còn thiếu thông tin và cơ hội.

     

    • Chưa thành lập cơ quan độc lập của nhà nước để có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận những tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp lớn để những doanh nghiệp sản xuất hàng phụ trợ có điều kiện tiếp cận, học hỏi, giao lưu và ký kết hợp đồng cung ứng sản phẩm.

     

    • Cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp phụ trợ còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

     

     

    48

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    • Hiện nay các trường, viện nghiên cứu trong nước được thành lập khá nhiều nhưng chất lượng nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học đối với những sản phẩm phụ trợ nói riêng còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp trên thế giới.

    4. Một số khuyến nghị nhằm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

     

    Một là, xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ: nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triền ngành công nghiệp phụ trợ để định hướng cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Bên cạnh đó, cần thường xuyên tổ chức các cuộc gặp mặt giữa các doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với các doanh nghiệp trong nước (nhà nước và tư nhân) có điều kiện gặp gỡ, tìm hiểu và hợp tác làm ăn với nhau.

     

    Hai là, qui hoạch ngành công nghiệp phụ trợ: thực hiện công tác qui hoạch ngành công nghiệp phụ trợ theo từng ngành, vùng và từng địa phương. Theo đó, phải qui hoạch từng vùng, miền, từng địa phương cần đầu tư phát triển ngành phụ trợ nào, số lượng doanh nghiệp là bao nhiêu và phải gắn kết giữa việc qui hoạch các ngành công nghiệp và công nghiệp phụ trợ đi kèm, không nên coi nhẹ vai trò của công nghiệp phụ trợ đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp nói chung.

     

    Ba là, xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ: nhằm khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư ngành công nghiệp phụ trợ, nhà nước cần xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ, chính sách đó cần được thực hiện đồng bộ trên các mặt: ưu đãi về thuế, thuê đất, thủ tục hành chính, được miễn thuế đối với phần lợi

    nhuận để tái đầu tư và xây dựng hệ thống bảo lãnh tín dụng…nên chú trọng ưu đãi đối với những ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và những ngành thu hút nhiều lao động cho xã hội.

     

    Bốn là, có chính sách ưu đãi về vốn cho các doanh nghiệp phụ trợ: để các doanh nghiệp phụ trợ có đủ tiềm lực tài chính đầu tư cho sản xuất, thiết nghĩ nhà nước nên có chính sách cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp phụ trợ thông qua ngân hàng phát triển Việt Nam như: cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi đối với các doanh nghiệp phụ trợ; bảo lãnh cho các doanh nghiệp phụ trợ vay vốn tại các tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Đối với những ngành quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và an ninh quốc gia, nhà nước có thể cho vay ưu đãi với lãi suất bằng 0, việc cho vay ưu đãi cần được thực hiện một cách công bằng, công khai, minh bạch từ đó sẽ thu hút được các doanh nghiệp thực sự có năng lực tham gia đầu tư.

     

    Năm là, chính sách ưu đãi về chuyển giao công nghệ: để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong và ngoài nước, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp phụ trợ, thiết nghĩ nhà nước cần có chính sách thông thoáng về chính sách nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ cho sản xuất công nghiệp phụ trợ; nhà nước cần có chính sách miễn, giảm các loại thuế nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu v.v cho các doanh nghiệp nhập khẩu dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ cho công nghiệp phụ trợ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ cũng cần phải chủ động tìm kiếm và lựa chọn đối tác chuyển giao công nghệ, lựa chọn dây chuyền

     

     

    49

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    công nghệ tiên tiến để tạo ra những sản phẩm có chất lượng, giá cả cạnh tranh so với các doanh nghiệp ngoài nước.

     

    Sáu là, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề phụ vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ: nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng đối với sự thành bại của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp phụ trợ nói riêng. Để ngành công nghiệp phụ trợ phát triển thì việc đào tạo cung ứng nguồn lao động có chất lượng cao cho các doanh nghiệp là một yêu cầu bức thiết đang đặt ra hiện nay. Do vậy, nhà nước cần định hướng cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và viện nghiên cứu đào tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật có đủ năng lực trình độ phục vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ; bên cạnh đó các doanh nghiệp nên chủ động đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân lành nghề của mình để phục vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ phát triển.

     

    Bảy là, xây dựng mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước: để tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ trong nước cần đẩy mạnh liên kết với những doanh nghiệp nước ngoài để sản xuất linh, phụ kiện phụ trợ cung ứng sản phẩm cho ngành công nghiệp trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu.

     

    Tám là, nhà nước thành lập cơ quan chuyên trách hỗ trợ các doanh nghiệp phụ trợ: giao cho cơ quan quản lý nhà nước, có thể là Bộ công thương thành lập một đơn vị chuyên trách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để làm cầu nối cung cấp linh, phụ kiện cho các doanh nghiệp công nghiệp, việc làm này sẽ có ý nghĩa tích cực, giúp các doanh nghiệp sản

     

    xuất hàng phụ trợ có nhiều cơ hội hơn để mở rộng thị trường, ổn định sản xuất.

    Chín là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học: cần có chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học của một số viện, trường đại học trọng điểm, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu về các ngành công nghiệp, công nghiệp phụ trợ để nghiên cứu ra những sản phẩm có chất lượng cho ngành công nghiệp phụ trợ, đồng thời làm cầu nối giữa nghiên cứu, thiết kế ứng dụng và sản xuất để giúp doanh nghiệp phụ trợ phát triển; khuyến khích các cơ sở đào tạo nghiên cứu khoa học mở rộng liên doanh, liên kết quốc tế để nghiên cứu ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu cho các ngành công nghiệp.

     

    Mười là, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp phụ trợ: để thực hiện được điều này, trước hết nhà nước cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông như đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường cao tốc, đặc biệt là các tuyến quốc lộ, đường cao tốc ở các tỉnh thành có các khu, cụm công nghiệp lớn, kế đến là đầu tư nâng cấp và đầu tư mới các cảng

     

    • một số tỉnh thành có lợi thế phát triển về cảng biển, cảng hàng không; tập trung xây dựng một số khu, cụm chuyên sản xuất công nghiệp phụ trợ có dây chuyền máy móc thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại để phục vụ cho ngành công nghiệp chuyên ngành của một số vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.

     

    Mười một là, giải pháp về nguyên liệu: liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trong nước để xây dựng hệ thống liên kết sản xuất và cung ứng nguyên liệu trong chuỗi sản xuất sản phẩm, từ đó giúp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh so với các sản phẩm nhập khẩu, từng bước chiếm lĩnh thị trường, thị phần đối với ngành công nghiệp phụ trợ.

     

     

    50

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    Tóm lại: để các ngành công nghiệp thực sự phát triển nhanh và bền vững, sớm đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020 thì phát triển công nghiệp phụ trợ là yêu cầu hết sức bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Hy vọng rằng những giải pháp đã đề xuất nếu được triển khai và áp dụng đồng bộ

    thì trong một thời gian không xa, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam sẽ phát triển tốt, đáp ứng yêu cầu cho ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu, từng bước đưa ngành công nghiệp nước ta sánh vai cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Phạm Duy Hiếu (2009). Công nghiệp phụ trợ và sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Tạp chí Thương mại số 20.
    • Khánh Hòa (2007). Công nghiệp phụ trợ-Vì sao chậm phát triển. tạp chí Châu á Thái Bình Dương số 44(187).
    • Bộ công thương. Quyết định phê duyệt tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
    • http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/nang-luong-cong-nghiep-khai-khoang;jsessionid

     

    • http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/so-luong-xe-may-da-vuot-quy-hoach-nam-2020-2659172.html

     

    • http://www.ncseif.gov.vn/sites/en/Pages/thuctrangvagiaiphapphat-nd-6112.html

    [7].http://www.doanhnhansaigon.vn/chuyen-lam-an/nhat-banh-vun-cua-nhung-nguoi-khong-lo/1078770/

     

    [8].http://www.itpc.gov.vn/exporters/news/tintrongnuoc/2014-01-02.667760/2014-10-01.177720/ phat_trien_nganh_cong_nghiep_phu_tro_tai_viet_nam_t10_2014

     

    [9]. http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/84037/vuot-mat-hang-ty-usd-vi-cong-nghiep-phu-tro-kem.html

     

     

     

     

    51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%E1%BB%97-tr%E1%BB%A3-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-th%E1%BB%B1c-ti%E1%BB%85n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

     

    PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM – NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN

     

    Hoàng Xuân Sơn, Hồ Thị Thanh Trúc∗∗

     

    TÓM TẮT

     

    Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế. Đồng thời góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trong nước, tạo ra sản phẩm xuất khẩu có tính cạnh tranh, giá trị gia tăng cao. Bên cạnh đó, công nghiệp hỗ trợ còn góp phần phát triển thị trường nội địa, đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế bền vững, đưa nền kinh tế sản xuất hàng hóa hội nhập với chuỗi giá trị toàn cầu.Vì vậy, để phát triển bền vững, hội nhập quốc tế trong thời gian tới và góp phần thực hiện được mục tiêu “tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, Việt Nam nhất thiết phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ.

     

    Từ khóa: phát triển, công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam, nhận thức, thực tiễn.

     

    INDUSTRIAL DEVELOPMENT ASSISTANCE IN VIETNAM –

     

    AWARENESS AND PRACTICE

     

    ABSTRACT

     

    Industry support role is particularly important in economic development. At the same time contribute to attracting foreign direct investment (FDI), promote the development of enterprises in the domestic industry, create products export competitiveness, high added value. Besides, supporting industries also contribute to the development of domestic markets, ensuring economic growth and sustainable economic development, bringing the economy to produce goods of integration with the global value chain. So, for sustainable development, international integration in the future and contribute to the goal “to create a platform by 2020 our country to become an industrialized country towards a modern”, Vietnam necessarily promote the development of supporting industries.

     

    Key words: development, industrial support, Vietnam, cognitive, practical.

     

    • Giảng viên Trường ĐH Kinh tế Tp.HCM

     

    • Giảng viên Trường Cao đẳng Tài chính – Hải quan

     

     

    38

     

    Phát triển công nghiệp . . .

     

    1.   Chủ trương khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

     

    Công nghiệp hỗ trợ (supporting industries

     

    – SI) là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, phụ kiện, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, chế biến, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm có: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất tại Việt Nam để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ: là dự án đầu tư tại Việt Nam (kể cả đầu tư mới và đầu tư bổ sung) để sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

     

    Với bối cảnh hiện nay, trong quá trình phát triển của một nền kinh tế, công nghiệp hỗ trợ chính là khu vực chuyển giao, tiếp nhận mau lẹ công nghệ mới, đồng thời là khu vực mà lao động thực sự được khuyến khích sáng tạo để không ngừng cạnh tranh, “chen chân” được vào chuỗi cung ứng cho các nhà lắp ráp.

     

    Mặt khác, công nghiệp hỗ trợ là khu vực sử dụng nhiều công nghệ, ít hao tốn tài nguyên và dễ sử dụng các giải pháp sản xuất thân thiện với môi trường, rất phù hợp với chiến lược “tăng trưởng xanh và bền vững”. Vì vậy, nếu có định hướng đúng, công nghiệp hỗ trợ được phát triển trong các khu công nghiệp chuyên môn hóa, tổ chức liên kết trong các cụm, nhóm sản phẩm thì có thể góp phần rất lớn để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, góp phần giải quyết vần đề tài nguyên, nhân công giá rẻ đang dần không còn là thế mạnh của Việt Nam.

     

    Trước khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu (từ đầu năm 2008), chính xuất khẩu liên tục qua các năm với tốc độ tăng trưởng

     

    GDP trung bình 7-8% mỗi năm đã góp phần đưa nước ta vươn lên thành một nước đang phát triển với thu nhập trung bình thấp. Tuy nhiên, những sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam lại phụ thuộc phần lớn vào các nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài đã dẫn đến tình trạng Việt Nam nhập siêu trong thời gian qua. Cũng chính nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài đã làm khó cho Việt Nam khi kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, khi mà xuất khẩu ngày bị thu hẹp, nhưng giá nguyên liệu nhập khẩu lại gia tăng đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn, đỉnh điểm là phá sản và thất nghiệp, cụ thể là năm 2012 có khoảng 55.000 doanh nghiệp bị phá sản, năm 2013 số doanh nghiệp bị phá sản cao hơn nhiều, khoảng 65.000 doanh nghiệp.

     

    Trước thực trạng nêu trên, đòi hỏi Việt Nam phải có những biện pháp nhằm tăng cường sự chủ động của nền kinh tế và tái cấu trúc mô hình phát triển, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ. Phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp các ngành sản xuất trong nước chủ động được nguồn nguyên vật liệu đầu vào, chủ động lựa chọn nhà cung cấp, giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành từ đó tăng năng lực cạnh tranh. Đây chính là vấn đề cốt lõi nhằm phát triển một nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, góp phần thực hiện mục tiêu “tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” hay xa hơn là “từ nay đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa”1.

     

    Mặt khác, phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng làm gia tăng năng lực cạnh tranh của ngành và quốc gia, góp phần bù đắp cho lợi thế nhân công rẻ của Việt Nam đang ngày một suy giảm.

     

    Nhận thấy vai trò quan trọng và to lớn của công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, Đại hội

     

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG-ST, HN, 2011, tr.71

     

     

    39

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    XI của Đảng (2011), trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020, xác định: “Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ”2 và chủ trương: “tham gia ngày càng nhiều và có hiệu quả vào những khâu, công đoạn có hàm lượng khoa học, giá trị gia tăng cao trong mạng sản xuất và phân phối toàn cầu”3, “ưu tiên phát triển và hoàn thành những công trình then chốt về cơ khí chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị thay thế nhập khẩu cho công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng; công nghiệp công nghệ cao sản xuất linh kiện điện tử, máy tính, công nghiệp dầu khí, điện, than, khai khoáng, hóa chất, luyện thép, xi măng, phân, đạm… , công nghiệp hỗ trợ…”4.

     

    Ngành công nghiệp hỗ trợ đang được các nhà đầu tư trong và ngoài nước rất quan tâm, đặc biệt là các nhà đầu tư có nhiều cơ sở sản xuất, lắp ráp các sản phẩm ôtô, xe máy, hàng may mặc, điện tử, da giày… Tuy nhiên, tỉ lệ cung ứng hàng hóa (giá trị nội địa hóa) trong chế tạo các sản phẩm trên ở Việt Nam còn rất thấp, phần lớn các linh kiện và nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, lắp ráp các sản phẩm này đều phải ngoại nhập nên đẩy chi phí sản xuất tăng cao, không thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam kí kết Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì sẽ mất lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

     

    Hiện nay, các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình phát triển như thiếu chính sách thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sản xuất trong nước. Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ là điều kiện cần thiết cũng như bước đi quan trọng trong định hướng công nghiệp hóa, hiện đại

     

    • Sđd, tr.112

     

    3 Sđd, tr.192

     

    4 Sđd, tr.193

     

    hóa đất nước trong thời gian tới. Đặc biệt, khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và Việt Nam tham gia kí kết Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì Việt Nam cần nâng cao doanh nghiệp trong nước để tồn tại, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ để giảm chi phí, hạ giá thành, tăng năng lực cạnh tranh hiệu quả với hàng hóa nhập khẩu và các đối thủ cạnh tranh toàn cầu.

     

    Để thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, ngày 24-2-2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ, trong đó xác định:

     

    1. Về khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ. Cụ thể:

     

    Khuyến khích đối với phát triển thị trường: dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được quảng cáo, giới thiệu miễn phí sản phẩm trên trang thông tin điện tử của Bộ Công Thương và các Sở Công Thương. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được ưu tiên xem xét hỗ trợ nguồn kinh phí của các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư theo quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện các chương trình đó. Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được Nhà nước tạo điều kiện tham gia hình thành mạng lưới cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

    Khuyến khích về hạ tầng cơ sở: các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được ưu tiên hỗ trợ và dành quỹ đất thích hợp cho dự án về diện tích, vị trí, tiền thuê đất. Các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sử

     

     

    40

     

    Phát triển công nghiệp . . .

     

    dụng đất trong khu cụm công nghiệp được sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, các dịch vụ công cộng và các dịch vụ khác trong khu, cụm công nghiệp; được hỗ trợ và tạo điều kiện trong việc tuyển dụng, đào tạo lao động; được hưởng các chính sách hỗ trợ khác theo quy định tại Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp. Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách khuyến khích về mặt bằng sản xuất theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được áp dụng chính sách khuyến khích về đất đai theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

    • Khuyến khích về khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực: dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem xét, hỗ trợ một phần kinh phí từ nguồn vốn Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các quỹ khác liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ đối với các chi phí chuyển giao công nghệ, mua bản quyền thiết kế, mua phần mềm, thuê chuyên gia nước ngoài. Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách khuyến khích nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật và chính sách trợ giúp phát triển nguồn nhân lực theo quy định của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo nhân lực từ nguồn vốn ngân sách nhà

    nước theo quy định hiện hành. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được áp dụng chính sách khuyến khích về phát triển nguồn nhân lực theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

    • Cung cấp thông tin: các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông qua Cổng thông tin điện tử thường xuyên cung cấp thông tin cập nhật về các văn bản pháp luật liên quan đến việc phát triển công nghiệp hỗ trợ và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật của Nhà nước đối với các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Chủ đầu tư các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách về cung cấp thông tin, tư vấn theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ vừa trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

     

    • Tài chính: dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được hưởng ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem xét vay một phần vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định hiện hành. Chủ đầu tư các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách trợ giúp tài chính theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được xem xét, cho hưởng các chính sách về thuế theo theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

     

    41

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. Về ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ: các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được xem xét áp dụng cơ chế ưu đãi thích hợp. Chủ đầu tư xây dựng dự án theo quy định hiện hành, trong đó đề xuất cụ thể các cơ chế ưu đãi thích hợp, trình Hội đồng thẩm định dự án phát triển công nghiệp hỗ trợ xem xét, báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định5.

     

    2.           Thực trạng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam thời gian qua

     

    Nhìn tổng quát chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chủ trương phát triển công nghiệp hỗ trợ của nước ta còn rất hạn chế và công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam hiện nay cũng còn rất nhỏ bé, manh mún, kém phát triển. Cụ thể là các ngành sản xuất, lắp ráp ôtô (mới nội địa hóa khoảng 5% – 10%); cơ khí (mới tham gia sản xuất được một phần sản phẩm phi tiêu chuẩn, chiếm khoảng 20% trong tổng giá trị thiết bị); điện tử (lĩnh vực sản xuất linh phụ kiện điện tử chỉ chiếm 21,5% tổng vốn đầu tư của ngành)6; đặc biệt là ngành may mặc (thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam, hiện chiếm vị trí thứ 5 trong số các nước xuất khẩu lớn trên thế giới với cơ hội thấy rõ khi Việt Nam đã và đang tích cực tham gia đàm phán các Hiệp định Thương mại tự do song phương và đa phương, Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, để được hưởng các ưu đãi như giảm, miễn thuế từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và sắp tới là Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), thì nguyên tắc xuất xứ về sợi và vải luôn được các đối tác đặt ra khắt khe, nhất là tiêu chuẩn vải, sợi phải có xuất xứ từ trong nước hoặc nhập khẩu từ các quốc

     

    gia thành viên TPP) có tới 80% – 85% tỷ lệ nguyên, phụ liệu phải nhập khẩu. Trong số các ngành công nghiệp hỗ trợ hiện nay ở Việt Nam, có lẽ công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho ngành xe máy được coi là thành công nhất với việc hình thành một hệ thống các nhà cung ứng ngay trong nội địa. Trong quá trình hợp tác, đã có sự chuyển giao công nghệ từ các công ty lắp ráp nước ngoài đến các doanh nghiệp Việt Nam cung ứng linh kiện. Tỷ lệ nội địa hoá các loại xe gắn máy do trong nước sản xuất đã đạt khoảng 85 – 90%. Hầu hết các linh kiện của xe số, kể cả linh kiện động cơ, đều đã được sản xuất trong nước. Các sản phẩm chính trong xe máy hầu hết đã được sản xuất với số lượng lớn, đạt tiêu chuẩn của các nhà lắp ráp và tạo thành hệ thống cung ứng khá hiệu quả. Tuy nhiên, những linh kiện, phụ kiện này phần lớn do doanh nghiệp FDI sản xuất, cò tỉ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sản xuất còn hạn chế.

     

    Một thực tế khác, đó là các doanh nghiệp Nhật Bản đang có động thái rõ rệt dịch chuyển đầu tư về Việt Nam (trong bối cảnh tình hình không ổn định về chính trị ở Thái Lan và chanh chấp ở Trung Quốc), tiêu biểu là khu công nghiệp Thăng Long, một cứ điểm đầu tư Nhật Bản ở Hà Nội. Để đi vào hoạt động thì chi phí nhiên liệu chiếm 60% chi phí sản xuất nên để giảm giá thành thì các doanh nghiệp sẽ phải giảm chi phí nhiên liệu này. Thế nhưng, việc mua được nguyên vật liệu từ Việt Nam lại là vô cùng khó khăn. Tỷ lệ nội địa hóa ở Việt Nam vẫn còn quá thấp, chỉ chiếm 32,2%, trong khi tỷ lệ này tại Trung Quốc là 64%, Thái Lan 53%, Malaysia 42%, Indonesia 41%7. Vì vậy ở Việt Nam, để phục vụ cho sản xuất của mình, “vệ tinh” phụ trợ

     

     

    • http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=99177
    • Cần đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp hỗ trợ (dangcongsan.vn)

     

    • Phạm Huyền: Ngán Trung Quốc, sợ Thái Lan: Vốn Nhật về Việt Nam. (vef.vn)

     

     

    42

     

    Phát triển công nghiệp . . .

     

    cho các doanh nghiệp Nhật Bản phần lớn là từ các doanh nghiệp nước ngoài khác, hoặc chính doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, chiếm hơn 60%. Số nguyên vật liệu vật tư mà doanh nghiệp mua từ Việt Nam chỉ chiếm có 13,2% nhu cầu của họ.

     

    Nguyên nhân của thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ nêu trên là do đa số doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ, máy móc cũ, lạc hậu, vì vậy, chưa đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của nhà lắp ráp, đặc biệt là những linh kiện, phụ liêu của công nghệ cao.

     

    Do sản xuất trong nước còn khá hạn chế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chủ yếu là các doanh nghiệp FDI. Năm 2012, có 1.631 doanh nghiệp FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ với số vốn đăng ký lên tới trên 22,8 tỷ USD, chiếm 13,2% số dự án và 20,8% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp. Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ thu hút được nhiều vốn FDI là điện – điện tử với số vốn thu hút trên 10 tỷ USD, cơ khí: 5,2 tỷ USD, dệt may: 5,1 tỷ USD…8.

     

    Ngoài ra, nhân lực phục vụ công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng.

     

    Để đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam trong thời gian tới theo chúng tôi, Việt Nam cần phải đẩy mạnh thực hiện:

     

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức về công nghiệp hỗ trợ. Để nâng cao nhận thức về công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam cần xây dựng các chương trình quảng bá quy mô và chuyên nghiệp về sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh hệ thống mô hình đề xuất, kêu gọi hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước với vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân tham gia sản xuất công nghiệp hỗ trợ, dần dần phát triển thành

     

    các tập đoàn lớn chuyên cung ứng và xuất khẩu chi tiết, linh kiện không chỉ cho trong nước mà còn cho thị trường quốc tế.

     

    Thứ hai, khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực sản xuất các ngành công nghiệp hỗ trợ, với sự hỗ trợ đặc biệt về vốn và những ưu đãi đặc biệt về thuế. Mặc dù mặc cho đến nay Việt Nam đã có các văn bản, quyết định chỉ đạo điều hành quan trọng như: Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN năm 2007 của Bộ Công Thương, phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định về chính sách phát triển một số ngành CNHT số 12/2011/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22/2/2011; Quyết định số 1556/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 về việc phê duyệt Đề án “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ”. Tuy nhiên, những văn bản này vẫn chưa thật cụ thể để khuyến khích tư nhân đầu từ vào công nghiệp hỗ trợ nên khó thu hút vốn của tư nhân đầu tư vào lĩnh vực quan trọng này.

     

    Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong công nghiệp hỗ trợ, kêu gọi các tập đoàn sản xuất các sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ xây dựng nhà máy sản xuất ở Việt Nam. Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp hỗ trợ thì Nhà nước cần phải đưa ra những chính sách ưu đãi cao hơn, đủ sức hấp dẫn, tạo thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

     

    Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp hỗ trợ. Hiện nay, nguồn nhân lực giá rẻ không còn là một lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút FDI của Việt Nam khi mà các thỏa thuận về miễn giảm thuế nhập khẩu chính thức được thực hiện. Vấn đề

     

     

    • Phạm Tất Thắng: Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Một số vấn đề đặt ra. (tapchicongsan.org.vn)

     

     

    43

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    cần phải quan tâm là làm thế nào để sản xuất được các mặt hàng vừa có chất lượng tốt, vừa có giá thành rẻ. Bởi sản phẩm rẻ nhưng chất lượng kém hay sản phẩm tốt nhưng giá thành cao về lâu dài đều rất khó có thể cạnh tranh được trước các sản phẩm nhập khẩu. Vì thế, điều cốt yếu hiện nay là cần phải đào tạo được nguồn nhân lực có khả năng quản lý, khả năng ứng dụng và có tính sáng tạo để sản xuất ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Mặt khác, để có được nguồn nhân lực chất lượng cao chúng ta phải đào tạo cho được những kỹ sư có đủ trình độ về kỹ thuật thực hành và thực tiễn, trang bị cho họ kiến thức cần thiết về công nghệ hiện đại; mở rộng sự liên kết trong đào tạo giữa các trường đại học trong nước và các trường đại học có uy tín trên thế giới. Đồng thời, cần có sự đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo, từ các trường đại học cho đến các trường nghề. Ngoài ra, việc cử người đi đào tạo ở những quốc gia có truyền thống mạnh về phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    việc phát triển công nghiệp hỗ trợ của nước ta cũng là cần thiết.

     

    3. Kết luận

     

    Tóm lại, công nghiệp hỗ trợ là một công cụ cho quá trình hội nhập về mặt chất của nền công nghiệp của một quốc gia, hội nhập từ trong quá trình hợp tác sản xuất công nghiệp. Công nghiệp hỗ trợ tạo cơ sở cho việc tái cơ cấu nền công nghiệp theo hướng bền vững. Xét trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, đang trong quá trình đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, thì phát triển công nghiệp hỗ trợ là cực kỳ cấp thiết và phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng góp phần giúp cho Việt Nam tránh được bẫy thu nhập trung bình, hội nhập sâu hơn với khu vực và quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa. Mặt khác, hệ thống công nghiệp hỗ trợ cũng là cơ sở để cơ cấu lại nền công nghiệp cả nước về cơ cấu ngành, cơ cấu quy mô, tái cơ cấu bản thân doanh nghiệp, đặc biệt nó còn là một quan hệ kinh doanh mới theo nguyên tắc hợp đồng sẽ dần hoàn thiện.

     

     

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.CTQG, HN

     

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG-ST, HN

     

    1. Nguyễn Văn Thạo – Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên) (2011), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, Nxb.CTQG-ST, HN

     

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG-ST, HN

     

    1. Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp: Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (chinhphu.vn)

     

    1. Quyết định số 12/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ (chinhphu.vn)

     

    1. Phạm Tất Thắng: Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Một số vấn đề đặt ra. (tapchicongsan.org.vn)

     

    1. Phạm Huyền: Ngán Trung Quốc, sợ Thái Lan: Vốn Nhật về Việt Nam. (vef.vn)

     

    1. Nguyễn Thị Kim Đoan, Ths. Phạm Quốc Tuấn: Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. (khucongnghiep.com.vn)

     

    1. Trần Vũ Nghi-Lê Nguyên Minh: Công nghiệp phụ trợ: “Đứa con không chịu lớn”. (tuoitre.vn)

     

    1. Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam: Công nghiệp phụ trợ 10 năm vẫn chưa lớn. (vcci.com.vn)

     

    1. Tuấn Phát: Phát triển công nghiệp phụ trợ cần một mạng lưới. (Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 12/1/2011)

     

    1. Cần đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp hỗ trợ (dangcongsan.vn)

     

     

    44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-quan-h%E1%BB%87-kinh-t%E1%BA%BF-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-v%C3%A0-hi%E1%BB%87n-t%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Các phương thức . . .

     

    CÁC PHƯƠNG THỨC QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ – LỊCH SỬ VÀ HIỆN TẠI

     

    Trần Đăng Thịnh*

     

    TÓM TẮT

     

    Trong quá trình phát triển, nền kinh tế thế giới trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, tuỳ theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ xã hội. Xét một cách tổng thể có thể phân kỳ phát triển nền kinh tế thế giới với các giai đoạn như sau: Giai đoạn xuất hiện nền kinh tế thế giới; giai đoạn tồn tại nền kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thống nhất trên phạm vi toàn thế giới; giai đoạn nền kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thống nhất bị phá vỡ do sự xuất hiện của nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và giai đoạn hiện nay. Theo đó, quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng, nền kinh tế thế giới nói chung trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau với những phương thức quan hệ kinh tế quốc tế khác nhau và được thể hiện qua sự khái quát của các nhà kinh tế học.

    Từ khóa: Phương thức quan hệ, kinh tế quốc tế, lịch sử, hiện tại

    MODES OF INTERNATIONAL ECONOMICS RELATION-PAST AND PRESENT

     

    ABSTRACT

     

    During the development, the economy worldwide experienced several stages, depending on the development of production forces and social relations. In general, we can divide the world economy into the following stages: the appearance of the world economy, worldwide capitalist economy, and worldwide capitalist economy was broken due to the appearance of the irst socialist economy country and the present stage. Accordingly, international economics relations in particular and the world economy in general experienced different stages of development with the different methods of international economics relations and are summarised by various generalisations of Economists.

     

    Key words: Modes of relation, international economic, history, present

     

     

    1.   Phương thức quan hệ kinh tế quốc tế trong lý luận của các nhà kinh điển

     

    Theo phân kỳ lịch sử hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới, giai đoạn xuất hiện nền kinh tế thế giới rơi vào thời kỳ tư

     

    bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giai đoạn phát triển thứ hai của nền kinh tế thế giới ở vào thời kỳ chủ nghĩa đế quốc bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, theo đó lý luận của các nhà kinh điển mácxít về quan hệ kinh tế quốc tế cũng

     

     

    *   TS. GVC. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh

     

     

    67

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    được phản ánh một cách tập trung trong thời kỳ phát triển này của nền kinh tế thế giới.

     

    • thời kỳ đầu của nền kinh tế thế giới, phân công lao động quốc tế từ chỗ còn mang tính chất sử dụng những sự khác biệt của điều kiện tự nhiên đã phát triển thành phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa được thực hiện thông qua buôn bán quốc tế. Dần dần, ngày càng nhiều nước và khu vực tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế. Tuy vậy, trong giai đoạn này, các quan hệ kinh tế quốc tế vẫn chưa mang tính chất thế giới một cách đầy đủ. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất ở một số nước gắn liền với những cố gắng mở rộng thị trường và nơi tiêu thụ hàng hoá nhằm đạt lợi nhuận cao nhất. Đồng thời, phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa đã làm tăng nhanh sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản, làm sâu sắc thêm sự cách biệt trình độ phát triển kinh tế giữa một nhóm nhỏ các nước công nghiệp phát triển với phần còn lại của thế giới.

     

    Sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, phân công lao động quốc tế thế hiện trước hết là sự thống trị thị trường trong nước và ngoài nước của các liên minh độc quyền thế giới mạnh nhất. V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: Giữa liên minh các nhà tư bản, đã được lập nên một số quan hệ nào đó dựa trên sự phân chia thế giới về mặt kinh tế, song song và tương đương với tình trạng đó, liên minh chính trị giữa các nhà nước với nhau, cũng được thành lập nên một số quan hệ nào đó dựa trên việc phân chia lãnh thổ thế giới, dựa trên cuộc đấu tranh giành thuộc địa, dựa trên cuộc đấu tranh thống nhất kinh tế.

     

    Trên cơ sở cuộc đấu tranh thống nhất kinh tế giữa các liên minh độc quyền, giữa các nước đế quốc, các phần còn lại của thế giới được lôi cuốn vào nền kinh tế thế giới và sự

    phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc, đế quốc mạnh nhất cũng kết thúc và gia nhập các khu vực của thế giới vào một hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thống nhất trên cơ sở quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa. Các quan hệ thực dân này đã khiến cho các cường quốc công nghiệp phát triển liên hệ chặt chẽ với lãnh thổ hải ngoại rộng lớn mà ở đó trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn rất thấp và tính chất của quan hệ sản xuất này mang tính chất của phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản.

     

    Trong giai đoạn này, trong các nước tư bản công nghiệp phát triển đã diễn ra quá trình tập trung sản xuất vào tay các tổ chức độc quyền, gắn liền với việc tăng nhanh chóng cấu tạo hữu cơ tư bản và năng suất lao động. Sản xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa tăng lên nhanh chóng. Ngoài nước Anh, một số trung tâm sản xuất công nghiệp máy móc đã hình thành ở Pháp, Đức, Mỹ và một số nước Châu Âu khác. Ngược lại, ở một số nước thuộc địa và phụ thuộc cũng diễn ra quá trình lạc hậu và ngừng trệ về trình độ phát triển kinh tế như một hình thức đặc trưng của mâu thuẫn giữa tư bản và lao động trên phạm

     

    • toàn thế giới. Theo đó, giai đoạn này xuất hiện một đặc trưng nổi bật trong quan hệ kinh tế quốc tế, trong nền kinh tế thế giới là xuất khẩu tư bản, trước hết là xuất khẩu tư bản từ chính quốc vào thuộc địa.

     

    Như vậy, có thể nói trong hệ thống lý luận của các nhà kinh điển mácxít, quan hệ kinh tế quốc tế hay nói rộng hơn là nền kinh tế thế giới được phản ánh trong giai đoạn tự do cạnh tranh và độc quyền của chủ nghĩa tư bản, với các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế phổ biến là thương mại quốc tế – chủ yếu là xuất, nhập khẩu hàng hoá (giai đoạn tự do cạnh tranh) và xuất khẩu tư bản (giai đoạn

     

     

    68

     

    Các phương thức . . .

     

    độc quyền). Xuất khẩu hàng hoá là đem hàng hoá ra nước ngoài để bán/tiêu thụ nhằm thực hiện giá trị và giá trị thăng dư, nhưng thực chất là nhằm tối đa hoá lợi nhuận của những hàng hoá đã được sản xuất trong nước thông qua việc khai thác những lợi thế trong quan hệ thương mại quốc. Xuất khẩu tư bản là hoạt động đầu tư tư bản ra nước ngoài nhằm nâng cao tỷ suất và khối lượng lợi nhuận. Hay nói cách khác xuất khẩu tư bản là hoạt động tìm kiếm nơi đầu tư có lợi nhuận cao nhất cho mỗi một giá trị tư bản. Những phương thức quan hệ kinh tế quốc tế này vẫn tiếp tục phát triển cho đến hiện nay, song đa dạng hơn về hình thức thực hiện để tối đa hoá lợi ích từ các quan hệ kinh tế quốc tế hiện hành.

     

    2.   Phương thức quan hệ kinh tế quốc tế theo quan điểm hiện nay

     

    Dưới sự tác động trực tiếp của khoa học

     

    • công nghệ và quá trình quốc tế hoá – toàn cầu hoá kinh tế (mà trực tiếp là sự chi phối mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và các tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế), nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phát triển mới – nền kinh tế toàn cầu hoá, xu thế này xuất hiện từ 50 năm cuối thế kỷ XIX đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, mặc dù quy mô và phạm vi còn hạn chế nhiều so với những giai đoạn sau này. ở giai đoạn này, xu thế toàn cầu hóa gắn liền với sự bành trướng thị trường của các nước tư bản chủ nghĩa thông qua việc xâm chiếm, giành giật thuộc địa…, hình thành những khối thị trường khác nhau, biệt lập gồm chính quốc và thuộc địa. Trong thời kỳ từ Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hóa kinh tế bị suy giảm do tác động nặng nề của hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933. Từ thập niên 50 đến cuối thập

    niên 70 của thế kỷ XX đã diễn ra sự bùng nổ xu thế toàn cầu hóa và rồi lại có phần lắng xuống vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, do sự tác động của cuộc khủng hoảng dầu lửa và kinh tế đầu những năm 70. Và, xu thế toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu hoá kinh tế thực sự bùng lên mạnh mẽ từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay. Cùng với sự kết thúc „chiến tranh lạnh” và sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, thế giới đã có sự chuyển biến lớn: so sánh quyền lực giữa các trung tâm quyền lực đã có thay đổi – từ một trật tự thế giới hai cực với hai hệ thống chính trị – xã hội đối lập trước đây chuyển sang cục diện mới „nhất siêu, đưa cường”, không còn sự đối đầu trực tiếp giữa hai hệ thống chính trị – xã hội đối lập. Xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển trở thành xu thế lớn của tình hình thế giới, đương nhiên trong đó có đấu tranh; hợp tác và đấu tranh đan xen lẫn nhau.

     

    Toàn cầu hóa trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế là sự dịch chuyển tự do các yếu tố của quá trình tái sản xuất từ nước này sang nước khác trên phạm vi toàn cầu bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫn đến hình thành nền kinh tế toàn cầu. Theo đó, xuất hiện các quan niệm mới, cách tiến cận mới sáng tạo hơn, thích hợp hơn trong quan hệ kinh tế quốc tế, điển hình là xuất hiện xu hướng thừa nhận tính chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và thừa nhận „tính chất phẳng/ tính thống nhất” của nền kinh tế thế giới. Do đó, các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế cũng không ngừng được phát triển mở rộng và đa dạng hơn. Điều đó được thể hiện ở chỗ:

     

    • Các dòng hàng hóa, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân lực… ngày càng vượt qua

     

     

    69

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    biên giới các quốc gia, chúng lưu thông trên phạm vi toàn cầu ngày càng tự do hơn.

     

    • Sự liên kết chặt chẽ kinh tế của các nước trên thế giới thành các luồng phân phối lưu thông, các nguồn lực kinh tế toàn cầu; cầu nối này ngày càng ảnh hưởng và kết hợp chặt chẽ với nhau.

     

    • Nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập với nhau. Sự phát triển của kinh tế các nước trên thế giới và sự vận động của toàn bộ nền kinh tế thế giới ngày càng ảnh hưởng và chế ước lẫn nhau. Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành nền kinh tế toàn cầu. Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan.

     

    Hiện thực này cũng đã từng được C.Mác dự báo là đã đến giai đoạn „lịch sử biến thành lịch sử thế giới”. Xuất phát điểm của toàn cầu hóa là toàn cầu hóa kinh tế.

     

    Từ những biến chuyển trong vận động của nền kinh tế thế giới , có thể khái quát phương thức quan hệ kinh tế hiện nay bao gồm các phương thức cơ bản như: Mậu dịch quốc tế; đầu tư quốc tế; hợp tác phân công lao động quốc tế; hợp tác đầu tư, chuyển giao khoa học

     

    • công nghệ quốc tế; tài chính – tiền tệ quốc tế; Liên kết kinh tế quốc tế và các tổ chức kinh tế

     

    • tài chính quốc tế.

    Thứ nhất, Quan hệ kinh tế quốc tế về trao đổi hàng hoá (hay còn gọi là mậu dịch quốc tế). Đây là hình thức di chuyển hàng hoá quốc tế – một trong những hình thức quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu, trong đó diễn ra việc di chuyển hàng hoá từ nước ngày sang nước khác và ngược lại. Di chuyển hàng hoá quốc tế được thực hiện thông qua hình thức buôn bán quốc tế. Trên thị trường thế giới người ta thường chia hàng hoá trao đổi giữa các nước thành hai nhóm: hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình.

    Thứ hai, Quan hệ kinh tế quốc tế về di chuyển vốn đầu tư (hay đầu tư quốc tế). Đầu tư quốc tế là hiện tượng di chuyển các phương tiện đầu tư từ nước này sang nước khác nhằm thu lợi nhuận cao. Đầu tư quốc tế thực chất là di chuyển các yếu tố sản xuất trên quy mô toàn thế giới. Trong đó, chiếm tỷ trọng đáng kể là sự di chuyển quốc tế về vốn.

     

    Sự di chuyển quốc tế về vốn là sự vận động của tiền tệ và tài sản giữa các quốc gia nhằm điều chỉnh tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất tạo điều kiện cho các nền kinh tế riêng biệt của từng quốc gia phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế toàn cầu tăng trưởng. Sự di chuyển quốc tế về vốn bao gồm các hình thái: vay mượn vốn, viện trợ, đầu tư giữa các quốc gia.

     

    Hiện nay nhiều nước trên thế giới vừa là người đầu tư, vừa là người nhận đầu tư. Nghĩa là trong cùng một thời gian tại quốc gia có cả hai dòng chảy vốn xảy ra. Nói cách khác quốc gia cùng một lúc mang hai sắc thái: vừa là người đi đầu tư vừa là người tiếp nhận đầu tư.

     

    Thứ ba, Quan hệ kinh tế quốc tế về hợp tác phân công lao động là quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn ra việc di chuyển sức lao động từ nước này sang nước khác trên phạm vi toàn thế giới thông qua các hợp đồng xuất khẩu lao động, hợp đồng hợp tác trao đổi chuyên gia…

     

    Quá trình di chuyển lao động diễn ra vì các lý do kinh tế hoặc phi kinh tế. Di chuyển lao động vì lý do phi kinh tế là những đợt di cư do áp lực của tôn giáo, chính trị hoặc chiến tranh. Trái lại di chuyển lao động vì lý do kinh tế là do động cơ thu nhập hay môi trường làm việc thúc đẩy. Xu hướng chung trên thế giới hiện nay là di chuyển lao động từ Đông qua Tây; từ Nam lên Bắc; từ các nước đang phát triển qua các nước phát triển.

     

     

    70

     

    Các phương thức . . .

     

    Nguồn nhân lực của các quốc gia khác nhau về quy mô và chất lượng, không cân xứng với nguồn lực vốn; do vậy dẫn đến tình trạng tiền lương (giá cả sức lao động) tại các quốc gia rất khác nhau. Chính sự chênh lệch về giá cả của sức lao động giữa các quốc gia là nguyên nhân cơ bản hình thành thị trường lao động. Xu hướng toàn câu hoá cùng với sự phát triển của các công ty đa quốc gia dẫn đến nhu cầu sử dụng lao động trên lĩnh vực toàn cầu.

     

    Di chuyển quốc tế sức lao động cũng được coi như di chuyển hàng hóa quốc tế, nhưng đó là một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động, trên thị trường đặc biệt – thị trường sức lao động. Đây là quan hệ kinh tế quốc tế dẫn đến sự phân bổ lại nguồn lực lao động và trong chừng mực nhất định đưa đến việc di dân trên phạm vi thế giới.

     

    Thứ tư, hợp tác đầu tư nghiên cứu – chuyển giao công nghệ là quan hệ kinh tế quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ, bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để tiến hành cùng nhau nghiên cứu, sáng chế, thiết kế, thử nghiệm, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin về khoa học công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học

     

    • công nghệ mới vào thực tiễn sản xuất. Hợp tác đầu tư nghiên cứu – chuyển giao công nghệ trong quan hệ kinh tế quốc tế đảm bảo cho quá trình liên kết khoa học với sản xuất đươcvj nhanh chóng và thuận lợi, tiết kiệm vốn đầu tư nghiên cứu và áp dụng thành tựu khoa học-công nghệ, tiết kiệm thời gian tránh sự trùng lặp không cần thiết trong nghiên cứu khoa học – công nghệ, tạo điều kiện khai thác triệt để những sản phẩm trí tuệ của con người. Trong điều kiện hiện nay, hình thức này được thể hiện phổ biến dưới dạng chuyển giao công nghệ: buôn bán Licence, Know-how, Engineering…

    Thứ năm, tài chính-tiền tệ quốc tế là một loại quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó diễn ra sự di chuyển các phương tiện tài chính-tiền tệ từ nước này sang nước khác trên quy mô quốc tế.

     

    Quan hệ tài chính tiền tệ giữa các quốc gia có nguồn gốc từ quan hệ thương mại. Trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia phải thông qua tiền tệ khác nhau, tất yếu dẫn đến mối quan hệ tài chính tiền tệ và hình thành hệ thống tài chính-tiền tệ quốc tế.

     

    Hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới là hệ thống các quy tắc, thể lệ nhằm tác động đến các mối quan hệ tài chính – tiền tệ giữa các quốc gia. Hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới hoạt động nhằm điều chỉnh các mối quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia phục vụ cho thương mại, đầu tư trên thế giới. Hoạt động của hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới gắn liền với cơ chế của tỷ giá hối đoái. Lịch sử phát triển của hệ thống tài chính-tiền tệ quốc tế gắn liền ba hệ thống tỷ giá hối đoái: i/Cơ chế tỷ giá Bản vị vàng;ii/ Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do hoàn toàn, tức là tỷ giá hối đoái thay đổi (tăng giảm) phụ thuộc vào quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường ngoại hối;iii/ Tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý của chính phủ, có nghĩa là căn cứ tình hình cụ thể của thị trường ngoại hối và nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng thời kỳ cũng như chính sách ngoại thương;

     

    Chính phủ can thiệp vào thị trường ngoại hối để tỷ giá có lợi nhất cho nền kinh tế.

     

    Hệ thống tài chính-tiền tệ quốc tế bao gồm hai bộ phận lớn là: hệ thống thanh toán quốc tế và hệ thống tỷ giá hối đoái.

     

    • Hệ thống thanh toán quốc tế: bao gồm bốn hạng mục chủ yếu sau: a/ Thanh toán vãng lai (Tài khoản vãng lai); b/ Hạng mục tư bản (Tài khoản vốn); c/ Sự khác nhau

     

     

    71

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    về mặt thống kê; d/ Kết toán chính thức.

     

    a/ Tài khoản vãng lai (cán cân thanh toán vãng lai)

     

    Tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán ghi lại những luồng hàng hóa và dịch vụ quốc tế và những khoản thu nhập ròng khác từ nước ngoài. Hiệu số giữa tổng số xuất khẩu về hàng hóa và dịch vụ với tổng số nhập khẩu về hàng hóa dịch vụ gọi là cán cân thanh toán vãng lai Trong cán cân thanh toán vãng lai phần quan trọng là cán cân thương mại. Cán cân thương mại bao gồm hai bộ phận: thương mại hữu hình và thương mại vô hình.

     

    Thương mại hữu hình là những hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như vật chất nguyên liệu, nhiên liệu, ô tô, sắt thép v.v… Thương mại vô hình là những hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu các hoạt động dịch vụ như: vận chuyển, du lịch, ngân hàng v.v…

     

    Nếu giá trị hàng xuất khẩu lớn hơn giá trị hàng nhập khẩu thì người ta gọi là ‘’Cán cân thương mại thuận lợi’’ (xuất siêu).

     

    Ngược lại, nếu giá trị hàng xuất khẩu nhỏ hơn giá trị hàng nhập khẩu người ta gọi là ‘’Cán cân thương mại không thuận lợi’’ (nhập siêu).

     

    Cán cân thương mại và cán cân thanh toán vãng lai không trùng khớp với nhau. Trong cán cân thanh toán vãng lai ngoài bộ phận chủ yếu là cán cân thương mại còn có những khoản như: viện trợ nước ngoài, chi phí quân sự ở nước ngoài, lãi tín dụng, lãi cổ phần, lãi đầu tư v.v…

     

    b/ Tài khoản vốn

     

    Trong cán cân thanh toán ghi lại những giao dịch quốc tế về các tài sản tài chính. Đó là những khoản vốn của tư nhân hoặc chính phủ cho vay hoặc vay của tư nhân hoặc chính phủ nước ngoài. Quyết định khoản mục nào có và khoản mục nào là Nợ trong tài khoản

    vốn (hạng mục tư bản) được tuân thủ theo nguyên tắc sau: khi vay của nước ngoài để tài trở cho một khoản thâm hụt trong tài khoản vãng lai sẽ được ghi vào khoản có. Nếu cho nước ngoài vay để tài trợ cho một công trình nào đó trường hợp này ghi vào khoản nợ.

     

    c/ Sự khác nhau về mặt thống kê (Hạng mục cân đối)

     

    Hạng mục này là một khoản Điều chỉnh có tính chất thống kê. Nó sẽ bằng 0 nếu tất cả các hạng mục trước đó đã dược tính chính xác Nó phản ảnh tình trạng không thể ghi lại hết được những giao dịch bằng những số liệu thống kê chính thức.

     

    d/ Kết toán chính thức (Tài trợ chính thức)

     

    Khoản mục này luôn bằng về trị số và ngược dấu với cán cân thanh toán. Tài trợ chính thức biểu thị những giao dịch quốc tế mà chính phủ tiến hành để Điều chỉnh tất cả những giao dịch khác được ghi trong các hạng mục của cán cân thanh toán.

     

    Như vậy, khi tính cả tài trợ chính thức, tổng các hạng mục trong cán cân thanh toán phải bằng 0. Điều này giống như thị trường ngoại hối phải cân bằng khi tính cả sự can thiệp của ngân hàng trung ương qua việc sử dụng khoản dự trữ ngoại hối. Một khoản thặng dư trong tài khoản vãng lai được bù vào khoản thâm hụt trong tài khoản vốn hoặc dùng để tăng dự trữ ngoại hối. Ngược lại một khoản thâm hụt tài khoản vãng lai phải được bù lại bởi lột khoản thặng dư trong tài khoản vốn hoặc nó sẽ làm hao hụt dự trữ ngoại hối. Hay một khoản thặng dư trong tài khoản vãng lai cần phải được cân đối bằng một khoản gia tăng, tài sản của quốc gia ở nước ngoài. Ngược lại một khoản thâm hụt trong tài khoản vãng lai được cân đối bằng việc giảm bớt tài sản của quốc gia tại nước ngoài.

     

     

    72

     

    Các phương thức . . .

     

     

    • Hệ thống tỷ giá hối đoái

    Sự phát triển thương mại quốc tế đã hình thành hệ thống tiền tệ và hối đoái quốc tế. Ngược lại, hệ thống tiền tệ một vai trò then chốt trong việc làm trơn các bánh xe thương mại quốc tế và đảm bảo sự hoạt động nhịp nhành của nền kinh tế thế giới.

     

    Thị trường ngoại hối là thị trường tiền tệ quốc tế tại đó đồng tiền của các quốc gia khác nhau có thể trao đổi được với nhau. Thị trường ngoại hối là nơi thực hiện, trao đổi mua bán các ngoại tệ và phương tiện chi trả có giá trị như ngoại tệ được xác định trên cơ sở cung cầu.

     

    Quy mô cung, cầu ngoại tệ của quốc gia thay đổi liên tục có lúc hòa với nhau nhưng có những lúc không hài hòa và gây ra sự biến động của tỷ giá có thể dẫn đến những xáo trộn tình hình sản xuất, xuất khẩu của quốc gia. Trước tình hình đó Chính phủ phải có những biện pháp can thiệt vào thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

     

    Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác. Hay mức giá mà hai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì được gọi là tỷ giá hối đoái.

     

    Ngày nay, tiền tệ biểu hiện nội dung và tình trạng kinh tế của mỗi quốc gia. Kinh tế của quốc gia tăng trưởng thì giá trị của đồng tiền cũng tăng, ngược lại kinh tế của quốc gia suy thoái thì giá trị của cua đồng tiền sẽ giảm. Sự thay đổi giá trị của tiền tệ sẽ ảnh hưởng rất lớn đền nhà nền kinh tế ở những mặt sau:

     

    Thứ nhất, đối với ngoại thương; tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm cho giá trị hàng hóa của các quốc gia có thương mại qua lại với

    nhau thay đổi. Điều này sẽ làm thay đổi cán cân thương mại giữa hai quốc gia, bởi vì sự thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ tác động trực tiếp đến xuất nhập khẩu của quốc gia. Chính vì vậy, hiện nay nhiều chính phủ đã dùng chính sách tỷ giá làm công cụ hữu hiệu nhằm thay đổi tương quan thương mại của hai quốc gia.

    Thứ hai, trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài; sự thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ tác động trực tiếp đến lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Nó ảnh hưởng đến thu nhập và tài sản của nhà đầu tư nước ngoài tại nước tiếp nhận đầu tư. Chẳng hạn, việc phá giá tiền tệ của Chính phủ đã làm cho môi trường đầu tư về tài chính xấu đi. Cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu á năm 1997 là bài học thực tế rất bổ ích về chính sách tỷ giá hối đoái đối với đầu tư nước ngoài.

     

    Thứ ba, tỷ giá hối đoái và vấn đề thanh toán nợ nước ngoài; trong nền kinh tế thế giới hiện đại, các quốc gia vừa đi vay đồng thời vừa cho vay. Do vậy, Chính phủ phải có chính sách tỷ giá phù hợp để có lợi cho quốc gia. Khi tỷ giá thay đổi thì gánh nặng nợ nước ngoài cũng thay đổi. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và thanh toán nợ nước ngoài là mối quan hệ ngược chiều.

    Vai trò của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế là rất quan trọng; do vậy chính sách về tỷ giá là một trong những chính sách quan trọng của Chính phủ trong vai trò can thiệp vào nền kinh tế nói chung và quan hệ kinh tế quốc tế mà trực tiếp là hoạt động ngoại thương nói riêng.

     

    Thứ tư, Liên kết kinh tế quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế

     

    Liên kết kinh tế quốc tế đáp ứng yêu cầu phân công lao động quốc tế có hiệu quả giữa các quốc gia để khai thác lợi thế và khắc phục hạn chế, đồng thời như là một sự cần thiết

     

     

    73

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    cho việc bảo hộ thị trường kinh doanh trong và ngoài nước của các thành viên. Quá trình liên kết tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế, trước hết là nhằm đạt tới lợi ích kinh tế cao hơn cho các bên, sau đó là tăng cường sức mạnh quân sự và vị trí chính trị xã hội trong nền kinh tế thế giới.

     

    Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế rất phong phú và đa dạng, song về cơ bản có hai cách tiếp cận phân loại sau:

     

    • Căn cứ vào đối tượng và nội dung liên kết của liên kết có thể chia làm 5 hình thức liên kết đó là: Khu vực mậu dịch tự do; Liên minh thuế quan; Thị trường chung; Liên minh kinh tế; Liên minh tiền tệ.

     

    • Căn cứ vào phương thức điều chỉnh của liên kết, chia liên kết thành các liên kết kinh tế – thương mại chung (GATT, WTO, UNCTAD, ICC); các liên kết kinh tế – thương mại khu vực (ASEAN, APEC, EU, NAFTA,

    MERCOSUR, ANCOM); các liên kết kinh tế

     

    • thương mại chuyên ngành (IATA, FIATA, ICJ, ISCID, WIPO, IMF, UNCITRAL, UNIDO, FAO, OPEC,ADB, CDB…)

     

    Các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế:

     

    Nhằm hướng tới sự điều chỉnh một cách có hiệu quả quan hệ kinh tế quốc tế, các tổ chức kinh tế – tài chính quốc tế đã được hình thành theo tiến trình phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng, sự vận hành của nền kinh tế thế giới nói chung. Các thể chế kinh tế – tài chính quốc tế quan trọng đã được thiết lập và được coi là những công cụ quản lý kinh tế quan trọng đối với sự vận hành nền kinh tế thế giới và điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế có thể kể tới trong lịch sử gồm: Kế hoạch Marshall, hệ thống tỷ giá hối đoái Bretton Woods, Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB); Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Paul R.Krugman- Maurice Obstfeld (1995): “ Kinh tế học quốc tế- Lý thuyết và chính sách ”, tập 1 và 2, Nxb CTQG.
    • .Margaret P.Karn & Karen Mingst (2007): Bài giảng Between Theory and Practice International Relations in the Beginning of the 21 st Century, [Quan hệ quốc tế đầu thế kỷ 21: Giữa lý thuyết và

    thực tiễn], Khoa Quốc tế học – Trường Đại học KHXH&NV.Hạ Long.

     

    • “Kinh tế và chính trị thế giới: Vấn đề và xu hướng tiến triển”, Nxb Lao động, H 2008;

     

    • Lê Bộ Lĩnh (2002), “Chủ nghĩa tư bản hiện đại: Khủng hoảng kinh tế và điều chỉnh”, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
    • Hoàng Khắc Nam “Tổ chức quốc tế và chủ thể phi quốc gia”- Viện Kinh tế và chính trị thế giới

     

     

     

    74


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-t%C3%A1i-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-ng%C3%A0nh-kinh-t%E1%BA%BF-%C4%91%E1%BA%BFn-chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-v%C3%A0-t%C4%83ng-n%C4%83ng-su%E1%BA%A5t-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của . . .

     

    Kinh tế – Xã hội

    TÁC ĐỘNG CỦA TÁI CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

     

    ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG,

     

    TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

     

    Nguyễn Quốc Tế (*)

     

    Nguyễn Thị Đông (**)

     

    TÓM TẮT

     

    Mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua và cho đến nay chủ yếu vẫn là tăng trưởng theo số lượng và phát triển theo chiều rộng, có nghĩa là tăng trưởng nhờ vào vốn đầu tư và số lượng lao động. Việc tăng trưởng theo chất lượng, phát triển theo chiều sâu dựa vào năng suất lao động chưa nhiều. Tái cơ cấu ngành kinh tế sẽ tác động đến dịch chuyển lao động từ các ngành, nhóm ngành có năng suất lao động thấp sang ngành, nhóm ngành có năng suất lao động cao, từ đó đáp ứng được chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực canh tranh của nền kinh tế.

     

    Nghiên cứu của bài viết sử dụng phương pháp vector để phân tích “góc chuyển dịch” của cơ cấu ngành kinh tế tác động đến cơ cấu lao động của các ngành, đồng thời tác giả sử dụng phương pháp hệ số co dãn để tính toán hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh đến dịch chuyển cơ cấu lao động, tăng năng suất lao động của Việt nam trong thời gian qua.

     

    Từ khoá: Tái cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng năng suất lao động

     

    THE EFFECT OF THE ECONOMY RECONSTRUCTION TO THE MOVEMENT OF THE LABOR FORCE AND THE LABOR PRODUCTIVITY GROWTH

     

    ABSTRACT

     

    So far, Vietnamese model of economic development has been mainly developed in quantity and grown by width. It means the development bases on investment and the labor force. Qualitative growth as well as deep development have not been achieved much. Economic reconstruction would affect the labor force from all areas or low productivity sectors and move them to high ones, as a result would meet the demand of converting economic development models to increase the labor productivity growth and competitive likeability of the economy.

     

    • TS. Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh ** ThS. GV Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên

     

     

    3

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    This research uses vector method to analyze the “triangle shift “of the economic structure toward the labor force in all areas. At the same time, the author also uses “elasticity method” to estimate the effect of movement of economic sectors to the movement of the labor force structure, increase productivity of the labor force in Vietnam for the past few years.

     

    Key words: economic sectors, movement of the labor force structure, labor productivity

     

    growth

     

     

    Đặt vấn đề

     

    Chuyển dịch cơ cấu lao động để tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế là một vấn đề nghiên cứu đã được các nhà khoa học quan tâm trong các giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy vậy, đánh giá đúng vai trò, thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn luôn là một trong những đề tài hấp dẫn từ nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau. Bài viết phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành dưới góc độ của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Hai yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, chuyển dịch cơ cấu kinh tế định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Nhưng để cơ cấu kinh tế chuyển dịch thành công nhất thiết phải có sự chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp, vì một cơ cấu lao động không phù hợp sẽ làm nảy sinh các vấn đề tiêu cực như thất nghiệp, khoảng cách giàu nghèo, mất cân đối, mất bình đẳng trong xã hội.

     

    1.   Tái cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động

     

    Cơ cấu ngành kinh tế được hiểu là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Xuất phát từ yêu cầu phát triển, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi cơ cấu của ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn

    thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung, 2011).

     

    Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn với sự phát triển kinh tế. Mặt khác, nhịp độ phát triển và tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế.

     

    Tái cơ cấu ngành kinh tế sẽ kéo theo cơ cấu lao động thay đổi, lao động được phân bổ và ngành, vùng sẽ khác nhau. Ở các nước đang phát triển, khi tiến hành CNH, HĐH nhất thiết phải thay đổi cơ cấu kinh tế, trong đó cơ cấu ngành có vị trí quan trọng. Việc đầu tư cho các ngành thuộc khu vực CN, XDCB và DV, TM sẽ dịch chuyển lao động từ các ngành có năng suất lao động thấp như nông, lâm nghiệp-thuỷ sản sang các ngành có năng suất lao động cao như : CN, XDCB và TM-DV. Theo nhà kinh tế Dương Ngọc, trong năm 2012, năng suất lao động của các ngành

     

     

    4

     

    Tác động của . . .

     

    nông, lâm nghiệp – thủy sản thấp xa so với năng suất lao động của toàn nền kinh tế và so với các nhóm ngành khác. Cụ thể: của toàn bộ nền kinh tế là 57,1 triệu VND/người, tương tự ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản là 26 triệu; CN, XDCB là 110,2 triệu và của TM, DV là 68,4 triệu.(Thời báo: Kinh tế 2012-2013 Việt nam và thế giới)

     

    Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình phân bổ, bố trí lao động theo những quy luật, những xu hướng tiến bộ nhằm mục đích sử dụng đầy đủ và có hiệu quả cao các nguồn lực để tăng trưởng và phát triển (Nguyễn Tiệp, 2007). Đây được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng, phản ánh thực nhất mức chuyển biến của nền kinh tế. Ở một số quốc gia vẫn tồn tại hiện tượng lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong khi cơ cấu GDP lại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều. Lý giải vấn đề này, các nhà kinh tế học đã chỉ ra tình trạng méo mó về giá cả, nhất là trong các trường hợp có sự chênh lệch giá giữa sản phẩm công nghiệp và dịch vụ so với sản phẩm nông nghiệp khiến cho cơ cấu GDP giữa các ngành không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Lúc này, vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành được nâng cao, đặc biệt các nhà kinh tế học ở Trung Quốc còn xem đây như là chỉ tiêu quyết định nhất để chỉ ra thực trạng nền kinh tế đang tồn tại ở Trung Quốc đầu thế kỷ 21: (1) Kinh tế nông nghiệp, tạo việc làm cho gần 50% lao động, tương đương với các nước Mỹ, Pháp, Đức năm 1870. (2) Kinh tế công nghiệp, xây dựng, sử dụng 20% lao động đang làm việc.

     

    • Kinh tế dịch vụ, sử dụng 22% lao động.

     

    • Kinh tế tri thức, bao gồm giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật – công nghệ, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, tạo việc làm cho 5% lao động (Hồ An Cương, 2003).

    Tái cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động có mối quan hệ tác động qua lại với nhau: tái cơ cấu ngành kinh tế vừa là tiền đề, cơ sở nhưng đồng thời lại vừa là kết quả có được từ quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động.

     

    Trước hết, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch theo sự chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế, phục vụ và đáp ứng các yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò là đầu tàu, định hướng và dẫn dắt quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động. Fisher đã phân tích, theo xu thế phát triển của khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ có khả năng thay thế lao động nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao năng suất lao động. Kết quả là để đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho xã hội thì không cần đến một lực lượng lao động như cũ nên tỷ lệ lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần trong cơ cấu ngành kinh tế. Trong khi đó ngành công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế hơn nông nghiệp do tính chất phức tạp hơn của việc sử dụng công nghệ kỹ thuật mới, đồng thời sản phẩm công nghiệp thường có độ co giãn của cầu tiêu dùng là lớn hơn 0, vì vậy theo sự phát triển của kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp có xu hướng tăng lên. Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra nó, rào cản cho sự thay thế kỹ thuật này rất cao, trong khi đó độ co giãn của nhu cầu sản phẩm dịch vụ khi nền kinh tế ở trình độ phát triển cao là lớn hơn 1, do đó tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng nhanh và ngày càng tăng khi nền kinh tế càng phát triển (Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung, 2011)

     

     

    5

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Như vậy, trong nghiên cứu của Fisher, một ngành phát triển sẽ kéo theo nhu cầu về lao động của ngành đó tăng lên, khẳng định rằng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một định hướng cho chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, nếu cơ cấu lao động được chuyển dịch thuận lợi, nó lại tạo điều kiện cho cơ cấu kinh tế phát triển và thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn. Nhà kinh tế học A. Lewis cho rằng nếu như lao động ở khu vực nông nghiệp với năng suất thấp dịch chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ với năng suất cao hơn sẽ làm tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế, đồng nghĩa với việc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh (E. Wayne Nafziger, 1998).

     

    2.   Lượng hóa tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam bằng phương pháp vector và hệ số co giãn

     

    2.1 Phuơng pháp tính toán

     

    Phương pháp vector (hay hệ số Cos) do các chuyên gia ngân hàng thế giới đề xuất được dùng để đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu giữa các thời kỳ (Công Văn Dị, 2008). Nghiên cứu này sử dụng phương pháp vector để tính góc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và góc chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành.

     

    Theo đó ta có thể tính toán như sau:

     

    y Hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành:

     

    /

    N

           

    CODESM {O =

    I =1 B I ( T0 ), B I (T1)

    ( 1 )

    / N

     

    B 2I

    ( T0 ), /N

    B2I (T1)

     

    I = 1

     

    I =1

       

    Trong đó:

     

    –  βI(t0) là tỷ trọng giá trị sản lượng của

     

    ngành i trong GDP tại thời điểm t0

     

    –  βI(t1) là tỷ trọng giá trị sản lượng của

     

    ngành i trong GDP tại thời điểm t1

     

    • là góc hợp bởi hai vector cơ cấu βI(t0) và

    βI(t1). Khi cosφ = 1 thì góc giữa hai vector này bằng 00, điều đó có nghĩa là hai cơ cấu đồng nhất; còn khi cosφ = 0 thì góc giữa hai vector này bằng 900 thể hiện các vector cơ cấu là trực giao với nhau. Như vậy, cosφ càng lớn bao nhiêu thì các cơ cấu càng gần nhau bấy nhiêu và ngược lại, nên giá trị của φ sẽ nằm trong đoạn 0o φ ≤ 900 , với φ = 00 thì không có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế; và φ = 900 thì cơ cấu kinh tế dịch chuyển hoàn toàn.

     

    Từ đó suy ra tỷ lệ chuyển dịch k của cơ cấu kinh tế ngành sẽ là:

    {

    LDE=M O90 * 100 (2)

     

    Công thức tính tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu theo ngành này cũng được áp dụng để đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ hoặc theo thành phần kinh tế, lúc đó tỷ trọng ngành i (βI) sẽ được thay bằng tỷ trọng vùng i hay tỷ trọng thành phần kinh tế i.

     

    • Hệ số chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành:
     

    /

    N

    SI (T0 ) .SI (T1)

       

    COS A =

    I =1

     

    (3 )

    /N

    S I2

    (T0 ), /N

    S I2

     

    D E M  O

    (T1)

     

    I =1

     

    I =1

         

    Trong đó:

     

    SI(t0) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng lao động đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm t0

    –  SI(t1) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng lao động đang làm việc

     

    trong nền kinh tế tại thời điểm t1 Tương tự như công thức tính mức độ

    chuyển dịch cơ cấu kinh tế, α cũng là góc hợp bởi hai vector cơ cấu SI(t0) và SI(t1). Do đó, tỷ lệ chuyển dịch l của cơ cấu lao động theo ngành sẽ là:

     

    LD =EM

    A

    * 100 (4)

    O

    90

     

    6

     

    Tác động của . . .

     

    Kết hợp tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo ngành để đánh giá hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động thông qua các hệ số co giãn sau:

    • LK = LK (5 )
    • LK là hệ số co giãn của chuyển dịch cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đo lường độ nhạy cảm của chuyển dịch việc làm khi cơ cấu kinh tế chuyển dịch 1%. Nếu hệ số này dương, có nghĩa chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động thuận chiều đến chuyển dịch việc làm, kết

    quả của chuyển dịch là phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trường hợp ngược lại, nền kinh tế có thể bị rơi vào tình trạng tăng truởng âm, do cơ cấu kinh tế chuyển dịch không phù hợp.

     

    2.2 Kết quả tính toán

     

    Ứng dụng phương pháp vector và hệ số co giãn trình bày ở trên, sử dụng bộ số liệu thống kê của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cùng số liệu thống kê Việt Nam để tính tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đến tạo việc làm trong nền kinh tế giai đoạn 1994 – 2012, kết quả có được như sau:

     

     

    Bảng 1: Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hệ số cosφ

     

    Thời gian

    Mức độ

    hệ số cosφ

    Độ chuyển

    Tỷ lệ chuyển dịch cơ

     

    chuyển dịch

     

    dịch φ (độ)

    cấu kinh tế k (%)

     

    NN – CN

    0.992523

    4.206591

    4.67399

    1994 – 1997

    CN – DV

    0.997999

    2.175326

    2.417029

     

    CHUNG

    0.996428

    2.906371

    3.229301

     

    NN – CN

    0.998441

    1.919746

    2.133052

    1997 – 2000

    CN – DV

    0.998096

    2.121802

    2.357558

     

    CHUNG

    0.998281

    2.016091

    2.240101

     

    NN – CN

    0.994654

    3.556169

    3.951299

    2000 – 2004

    CN – DV

    0.997869

    2.244516

    2.493906

     

    CHUNG

    0.996547

    2.857598

    3.175109

     

    NN – CN

    0.996921

    2.698422

    2.998246

    2004 -2008

    CN – DV

    0.999783

    0.716462

    0.796069

     

    CHUNG

    0.998306

    2.001152

    2.223502

     

    NN – CN

    0.999492

    1.095982

    1.217758

    2008 – 2012

    CN – DV

    0.999906

    0.470415

    0.522684

     

    CHUNG

    0.999524

    1.060308

    1.178121

     

    NN – CN

    0.924136

    13.47691

    14.97434

    1994 – 2012

    CN – DV

    0.980571

    6.787691

    7.541879

     

    CHUNG

    0.959838

    9.775995

    10.86222

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    7

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Nghiên cứu này phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo 5 giai đoạn của thời gian, dựa vào những biến động về mặt kinh tế – xã hội trong nước và trên thế giới.

     

    Giai đoạn 1994 – 1997 được coi là giai đoạn phát triển thành công của Việt Nam bởi cả về quyết định chuyển sang kinh tế thị trường và đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát, tạo nên sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mạnh nhất cho đến nay, với góc chuyển dịch cơ cấu chung là 2,90, đạt 3,23%. Mức chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp cũng đạt cao nhất ở thời kỳ này (4,67%).

     

    Sự kiện khủng hoảng tài chính châu Á bùng nổ vào năm 1997 đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam ở giai đoạn tiếp theo (1997

     

    – 2000), khiến tăng trưởng GDP đang ở mức 9,3% năm 1996 đã bị kéo tuột xuống mức 5,8% vào năm 1998 và năm 1999 là 4,8%. GDP sụt giảm là nguyên nhân khiến cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chạp ở mức 2,24% với góc chuyển dịch là 20.

     

    Sau khủng hoảng, đã có những chuyển biến thực sự về tư duy kinh tế với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2000 và hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ được ký kết vào năm 2001, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2004 đã tăng trưởng ổn định ở mức bình quân 7,1%/năm, cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp dịch chuyển 3,9%, công nghiệp

     

    – dịch vụ 2,5%, mức dịch chuyển chung của nền kinh tế đạt 3,18%. Nhìn nhận đà tăng trưởng này, các nhà kinh tế dự đoán Việt Nam có thể trở thành “con hổ” kinh tế trong tương lai gần. Tuy nhiên, xét về nội lực của sự phát triển, Việt Nam đã chậm phát triển về chiều sâu tạo nên sức cạnh tranh kinh tế yếu, cộng với tình trạng lãng phí thất thoát vốn và tài sản công diễn ra nghiêm trọng, Việt Nam bắt

    đầu đối diện với nỗi lo về sự bất ổn vĩ mô được biểu hiện thông qua dấu hiệu lạm phát có xu hướng tăng dần: 9,5% cho năm 2004 đến 12,63% của năm 2007 và 19,89% vào năm 2008 (Tổng cục Thống kê, 2013). Sự bất ổn này đã bộc lộ rõ hơn khi nền kinh tế tài chính Mỹ lâm vào khủng hoảng, ảnh hưởng xấu đến cả xuất khẩu và đầu tư của Việt Nam khiến tốc độ tăng GDP Việt Nam 2008 chỉ đạt xấp xỉ 6,23%, kéo theo đó là chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang dịch vụ giai đoạn 2004

     

    – 2008 chỉ còn ở mức 0,79% và đạt 2,22% tính cho toàn bộ quá trình chuyển dịch.

     

    Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lạm phát cao và tăng trưởng thấp. Tốc độ tăng trưởng GDP 2009 tụt xuống còn 5,32% và năm 2012 là 5,03%, thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phản ánh đúng thực trạng của quá trình tăng trưởng, số liệu tính toán cũng cho thấy giai đoạn này có độ chuyển dịch nhỏ nhất trong tất cả các kỳ nghiên cứu, với góc chuyển dịch là 1,060, đạt 1,18%.

     

    Như vậy, kinh tế Việt Nam trong gần

     

    20 năm qua tuy có rất nhiều biến động nhưng nhìn chung cơ cấu kinh tế ngành vẫn có chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ với mức chuyển dịch chung là 10,86%, trong đó nông nghiệp – công nghiệp dịch chuyển gần 15% và công nghiệp – dịch vụ dịch chuyển hơn 7,5%. Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Số lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Sự thay đổi này được thể hiện trong bảng 2.

     

     

    8

     

             

    Tác động của . . .

                 
     

    Bảng 2: Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành theo hệ số cosα

                 
     

    Thời gian

    Mức độ

    hệ số cosα

    Độ chuyển

    Tỷ lệ chuyển dịch cơ

     
       

    chuyển dịch

     

    dịch α (độ)

    cấu lao động l (%)

     
       

    NN – CN

    0.999989

    0.161436

    0.179373

     
     

    1994 – 1997

    CN – DV

    0.999875

    0.542763

    0.60307

     
       

    CHUNG

    0.999988

    0.167365

    0.185961

     
       

    NN – CN

    0.999599

    0.973876

    1.082085

     
     

    1997 – 2000

    CN – DV

    0.999565

    1.013658

    1.126286

     
       

    CHUNG

    0.995915

    3.108553

    3.453947

     
       

    NN – CN

    0.991514

    4.481724

    4.979693

     
     

    2000 – 2004

    CN – DV

    0.967427

    8.798447

    9.776052

     
       

    CHUNG

    0.992607

    4.182763

    4.647515

     
       

    NN – CN

    0.997688

    2.338342

    2.598158

     
     

    2004 -2008

    CN – DV

    0.999416

    1.17528

    1.305867

     
       

    CHUNG

    0.992778

    4.134218

    4.593576

     
       

    NN – CN

    0.997951

    2.201163

    2.445737

     
     

    2008 – 2012

    CN – DV

    0.999964

    0.290161

    0.322401

     
       

    CHUNG

    0.995651

    3.207156

    3.563507

     
       

    NN – CN

    0.956674

    10.15654

    11.28505

     
     

    1994 – 2012

    CN – DV

    0.980144

    6.862111

    7.624568

     
       

    CHUNG

    0.931898

    12.76044

    14.17826

     

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    Tính toán ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang công nghiệp qua các giai đoạn có chịu ảnh hưởng của quá trình tăng trưởng kinh tế. Riêng giai đoạn 1994 – 1997, trong khi tăng trưởng kinh tế ở mức cao thì sự chuyển dịch còn diễn ra chậm chạp, chỉ đạt gần 0,18%, sự chậm chạp này đánh giá đúng thực trạng của một nền nông nghiệp truyền thống, nơi mà người nông dân đã trải qua bao đời trên đồng ruộng, luôn có tư tưởng “bám đất, bám làng” và tự bằng lòng với những gì mà thiên nhiên ban tặng, cho nên việc chấp nhận thay đổi nghề nghiệp đối với người nông dân không thể diễn ra nhanh được. Chỉ sau khi họ nhìn thấy sự chênh lệch về mức

     

    sống giữa lao động công nghiệp và lao động nông nghiệp ngày càng tăng cao, thì lao động lúc này mới chuyển dịch mạnh mẽ: nếu giai đoạn 1997 – 2000 chỉ mới ở ngưỡng 1,08% thì giai đoạn tiếp theo sau (2000 – 2004) đã tăng lên thành 4,98%. Những năm 2006 đến nay, kinh tế tăng trưởng chậm lại khiến quá trình chuyển dịch cũng giảm theo. Bên cạnh đó, số liệu tính toán ở bảng 1 và bảng 2 cũng chứng minh rằng cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ có mối tương quan rất chặt chẽ với cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ theo hướng thuận chiều, chứng tỏ giữa lao động công nghiệp và lao động dịch vụ có sự tương đồng về tính chất, trình độ, kỹ năng, nên một sự thay đổi về cơ

     

     

    9

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    cấu kinh tế giữa hai khu vực này sẽ dễ dàng dẫn đến thay đổi về cơ cấu lao động.

     

    Xem xét tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành cho thấy cả hai sự chuyển dịch này đều có tương quan chặt chẽ với nhau, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì chưa thể đánh giá

     

    được mức hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự thay đổi về cơ cấu lao động. Do đó, để định lượng một cách cụ thể mối quan hệ này, nghiên cứu sử dụng hệ số co giãn của cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Kết quả tính toán được biểu diễn ở hình 1.

     

     

     

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    Hệ số co giãn của cơ cấu lao động phản ánh sự thay đổi về tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ứng với mỗi phần trăm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Hệ số co giãn càng cao thể hiện khả năng chuyển dịch cơ cấu lao động càng cao, chứng tỏ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tạo thêm được nhiều việc làm hơn cho người lao động.

     

    Hệ số co giãn của cơ cấu lao động nông nghiệp – công nghiệp qua các giai đoạn chuyển biến theo xu hướng tích cực mặc dù kinh tế có lúc tăng trưởng chậm. Sự chuyển biến tích cực này chứa đựng tín hiệu đáng mừng về trình độ của người lao động thuộc khu vực nông thôn rằng họ đã có sự chuẩn bị tốt về các kỹ năng cần thiết để có thể kịp thời đáp ứng được việc làm ở khu vực công nghiệp. Ngược lại với sự tăng lên này theo thời gian, thì hệ số co giãn cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ biến thiên rất lớn qua các giai đoạn. Trong giai đoạn 2004 – 2008, nếu cơ cấu kinh tế hai ngành này chuyển dịch 1% sẽ kéo theo cơ cấu lao động

     

    dịch chuyển đến hơn 5,4%, thì đến giai đoạn 2008 – 2012 hệ số co giãn chỉ còn lại gần 0,62. Như đã phân tích ở trên, lao động công nghiệp và dịch vụ có nhiều tính chất giống nhau, nhưng mức lương trung bình ở khu vực dịch vụ cao hơn so với khu vực công nghiệp, nên một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ sẽ mở ra nhiều hy vọng cho những lao động công nghiệp muốn chuyển đổi ngành nghề. Mặt khác, giai đoạn 2008 – 2012 là giai đoạn kinh tế thế giới khủng hoảng, và ngành dịch vụ lại chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng này, thất nghiệp tăng cao khiến người lao động e ngại chuyển đổi công việc, đây cũng có thể là nguyên nhân làm hệ số co giãn cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ trở nên thấp. Như vậy, trong 19 năm qua, cứ trung bình 1,31% cơ cấu lao động dịch chuyển khi cơ cấu kinh tế ngành dịch chuyển 1%. Tính chung trong toàn bộ các ngành, chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra nhanh hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

     

     

    10

     

    Tác động của . . .

     

    1. Khuyến nghị chính sách và giải pháp. sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế, cho thấy

    Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động

    sự chuyển dịch này đã giải quyết được nhiều

    luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tái cơ

    việc làm hơn, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp

    cấu ngành kinh tế thay đổi kéo theo sự thay

    trong tổng số lao động xã hội, tạo điều kiện

    đổi của cơ cấu lao động. Nghiên cứu chỉ ra

    thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện

    sự thay đổi cơ cấu lao động cao hơn so với

    đại hóa đất nước.

    Bảng 3: Hệ số co giãn cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số nước khu vực Châu Á.

         

    CDCC

    CDCC lao

    Hệ số

    Nền kinh tế

    Giai đoạn

     

    động ngành

     
         

    kinh tế ngành

     

    co giãn

    Việt Nam

    1994

    – 2012

    10.86222

    14.23328

    1.310348

    Thái Lan

    1994

    -2010

    3.42654

    10.35742

    3.022707

    Indonesia

    1994

    – 2011

    4.90006

    6.81190

    1.390166

    Trung Quốc

    1994

    – 2010

    8.08365

    13.5034

    1.670464

    Hàn Quốc

    1994

    – 2011

    1.15170

    5.58004

    4.845033

    Nguồn: tính toán từ số liệu thống kê ADB cho các nước Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Hàn Quốc.

     

     

    Nếu so sánh với một số nước thuộc khu vực châu Á theo từng yếu tố chuyển dịch cơ cấu như bảng 3, nhận thấy Việt Nam là quốc gia có tốc độ dịch chuyển cả về cơ cấu kinh tế lẫn cơ cấu lao động mạnh mẽ nhất trong gần 20 năm qua, điều này vừa chứng tỏ kinh tế Việt Nam đang thực sự khơi dậy và phát huy được những nguồn lực còn tiềm tàng trong xã hội, vừa thể hiện đây là quốc gia mới bước vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tốc độ dịch chuyển thường rất nhanh. Tuy nhiên, hệ số co giãn ở cột cuối cùng của bảng 3 mới là yếu tố được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu, thì tính toán lại chỉ ra rằng Việt Nam là nước có mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đạt thấp nhất: bằng 0,94 lần so với Indonesia, 0,78 lần so với Trung Quốc, 0,43 lần so với Thái Lan và 0,27 lần

     

    so với Hàn Quốc. Cơ cấu lao động chậm chuyển dịch là dấu hiệu của một quốc gia có quá nhiều lao động trình độ thấp. Theo kết quả khảo sát “Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam” do Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) phối hợp với tập đoàn Manpower tiến hành tại 6.000 doanh nghiệp thuộc 9 lĩnh vực kinh tế tại 9 tỉnh, thành phố ở Việt Nam, các doanh nghiệp đánh giá chất lượng lao động Việt Nam nằm trong nhóm 10% thấp nhất của khu vực. Trong tổng số các doanh nghiệp tham gia khảo sát, có đến 1/4 doanh nghiệp cho rằng lao động Việt Nam thiếu hiểu biết về công nghệ và khả năng sáng tạo; 1/5 nhận xét lao động Việt Nam thiếu khả năng thích nghi với công nghệ mới; 1/3 doanh nghiệp không tìm được lao động có kỹ năng mà họ cần; và 2/5 giám đốc điều hành gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động (Dũng Hiếu, 2012). Do đó, để

     

     

    11

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    đáp ứng được nhu cầu nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các ngành công nghiệp hiện đại, Việt Nam nên tập trung vào việc đổi mới nhanh chóng hệ thống giáo dục theo hướng phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo; bồi dưỡng tác phong công nghiệp, tăng tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần hợp tác, tính tự trọng, lòng tin, tính cộng đồng, lương tâm và trách nhiệm công dân. Cần phải xác định đây là việc làm rất khó khăn, không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, song nhất thiết phải thực hiện và cần phải thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, bền bỉ, kiên trì, sâu rộng ngay từ trong giáo dục mầm non, tiểu học đến cả trung học phổ thông, đại học sao cho những đức tính đó ngấm dần một cách tự nhiên và trở thành thói quen tự giác của mọi người. Không những thế, Việt Nam còn cần có chiến lược và tư duy đúng đắn về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới toàn cầu hóa trên cơ sở xây dựng và điều chỉnh các chính sách hướng nghiệp, dạy nghề; chính sách dự báo nhu cầu lao động và cân đối lao động theo ngành nghề, cấp trình độ; chính sách thu hút các thành phần kinh tế tích cực tham gia vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước; chính sách chi ngân sách đào tạo nguồn nhân lực; chính sách bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho nhân dân lao động…

     

    Ngoài ra, như đã đề cập, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Vậy nên cơ cấu lao động chậm chuyển dịch cũng được giải thích bởi nguyên nhân từ phía cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch chưa phù hợp với tiềm năng vốn có của đất nước. Nhìn nhận lại thời gian qua, để đạt được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, nhiều ngành công nghiệp như: sản xuất

    • tô, sắt thép, đóng tàu… đã được đầu tư hay trợ cấp thông qua ưu đãi thuế nhiều tỷ đô-la, tuy nhiên chưa có một số liệu thống kê nào chứng tỏ rằng đây là những thế mạnh và hứa hẹn của Việt Nam trong tương lai, bởi việc phát triển những ngành công nghiệp này trong thời gian qua chưa thực sự dựa vào nội lực của đất nước mà còn do những yếu tố khác. Trong khi đó, sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ khai thác thế mạnh của mình, Việt Nam đã là “nước lớn” về xuất khẩu nông sản và các mặt hàng gia dụng như hồ tiêu, gạo, cà phê, chè, cao su, thủy sản, dệt may, da giày và đồ gỗ. Hơn thế, đây chính là những ngành giúp giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho phần lớn người dân Việt Nam, thế nhưng các mặt hàng này mới chỉ dừng ở mức sơ chế hoặc gia công, việc đầu tư vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn dường như chưa được chú trọng đúng mức. Do đó cần phải cơ cấu lại các ngành, nghề, sản phẩm theo hướng ưu tiên lựa chọn phát triển các sản phẩm tiếp theo dựa trên những sản phẩm hiện có, nhất là các sản phẩm xuất khẩu nhằm phát huy năng lực sẵn có của quốc gia. Đồng thời, để việc cơ cấu lại ngành nghề, sản phẩm diễn ra thuận lợi, Chính phủ cần thay đổi cơ cấu đầu tư theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất và thu hoạch nông sản, công nghiệp bảo quản sau thu hoạch, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm với trình độ công nghệ cao và sạch nhằm tăng sức cạnh tranh, thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động về địa bàn nông thôn để góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động.

     

    Nói tóm lại, sau hơn 25 năm phát triển kinh tế theo đường lối đổi mới, Việt Nam đã có những chuyển đổi tiến hóa của tư duy mới

     

     

    12

     

    Tác động của . . .

     

    về CNH, HĐH khiến cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động tuy chuyển dịch chậm nhưng đúng hướng, đã thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Do đó, nếu Việt Nam tạo ra được các điều kiện thuận lợi và ứng dụng được các biện pháp cần thiết để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ có đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế thời gian tới. Hai lĩnh vực chính sách có thể tác động để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động là chính sách đào tạo nguồn nhân lực

    và tái cơ cấu ngành kinh tế. Bằng phương pháp vector và hệ số co giãn, qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như tính toán của tác giả đã phản ánh phần nào thực trạng về mối quan hệ giữa tái cơ cấu ngành kinh tế kéo theo sự dịch chuyển của cơ cấu lao động, tăng năng lao động để tăng trưởng và phát triển kinh tế qua thời gian. Song, phương pháp này ít có tính dự báo cho tương lai, do vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ này theo nhiều cách tiếp cận khác.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • ADB (2012), Key indicators for Asia and the Paciic 2012, adb.org/statistics, truy cập ngày 14/03/2013.

     

    • Tổng cục Thống kê (2013), Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 12 so với cùng kỳ năm trước,http://www.gso.gov.vn.
    • Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung (2011), Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
    • Công Văn Dị (2008), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 361, tr40-45.
    • Hồ An Cương (2003), Trung Quốc những chiến lược lớn, NXB Thông Tấn, Hà Nội.

     

    • Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB. Lao động – Xã hội, Hà Nội.

     

    • Wayne Nafziger (1998), Kinh tế học của các nước đang phát triển, NXB Thống Kê, Hà Nội.

     

    • Dũng Hiếu (2012), Năng suất lao động tại Việt Nam thuộc hàng đáy khu vực, vneconomy.vn, truy cập ngày 14/03/2013
    • Thời báo kinh tế Việt Nam (2013), Kinh tế 2012-2013 Việt nam & thế giới.

     

     

     

     

    13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI

    TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI

    TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C4%82NG-TR%C6%AF%E1%BB%9ENG-KINH-T%E1%BA%BE-VI%E1%BB%86T-NAM-%E2%80%93-30-N%C4%82M-NH%C3%8CN-L%E1%BA%A0I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI

     

    VIETNAM ECONOMIC GROWTH – 30 YEARS LOOK BACK

     

     

    TÓM TẮT

     

    Đại hội toàn quốc c̉a đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đã đề ra đừng lối đổi ḿi toàn diện và lĩnh vực c̉a nền kinh tế. Sự nghiệp đổi ḿi c̉a Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một cục diện, trật tự thế gíi ḿi đang h̀nh thành, trong đó các nức có chế độ ch́nh trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác v́i nhau. Đảng đã nhận thức rõ rằng bối cảnh đó là điều kiện đ̉ chúng ta phát trỉn đừng lối đối ngoại độc lập, tự ch̉ và rộng mở. Trong những năm đổi ḿi, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, song kinh tế phát trỉn ṽn chưa tương xứng v́i tiềm năng và yêu cầu, chưa thật sự bền vững, đặc biệt trong 10 năm gần đây. Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia c̉a nền kinh tế còn thấp. Th̉ chế kinh tế thị trừng định hứng xã hội ch̉ nghĩa chậm được hoàn thiện, hệ thống thị trừng h̀nh thành và phát trỉn chưa đ̀ng bộ; chất lượng ngùn nhân lực còn nhiều hạn chế, kết cấu hạ tầng chưa đ̀ng bộ và hiện đại đang cản trở sự phát trỉn; việc tạo nền tảng đ̉ trở thành một nức công nghiệp theo hứng hiện đại còn chậm và gặp nhiều khó khăn.

    Nguyễn Thị Thu Trang (*)

     

    ABSTRACT

     

    National Congress of the Vietnam Communist Party of the sixth (1986) has set out a comprehensive renovation guidelines and deeper every sector of the economy. The innovation of Vietnam was conducted in an international context has many profound changes and a local area, the new world order is taking shape, in which countries with different political regimes has struggled recently work together. Party was well aware that this context is the condition for us to develop a foreign policy of independence, self-reliance and. In years of innovation, economic growth is quite, but economic development remains not commensurate with the potential and requirements, not really sustainable, especially in the last 10 years. Quality, eficiency, labor productivity and national competitiveness of the economy is still low. Institutional socialist-oriented market economy slowly improving, the market system formation and development is not uniform; quality of human resources are limited, the infrastructure is not uniform and is hampering modern development; creating the foundation to become an industrialized country toward modernization has been slow and dificult.

     

     

    Từ khoá: lý thuyết, tăng trưởng kinh tế, Việt Nam

     

    1.   LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

     

    Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Đó cũng là sự tăng lên

     

    Keywords: theory of economic growth, Vietnam

     

    về quy mô GDP ở một quốc gia của năm sau so với năm trước.

     

    Mô hình tăng trưởng kinh tế, có thể hiểu một cách nôm na, đó là cách thức tổ chức huy động và sử dụng các nguồn lực để đảm bảo có sự tăng

     

     

    • GV. NCS. Trừng Đại ḥc Ngân Hàng TP.HCM

    36

     

    Tăng trưởng kinh tế . . .

     

    trưởng về kinh tế qua các năm, với một tốc độ hợp lý. “Cách thức” nói ở đây là rất đa dạng, bao gồm cả đầu vào (là gia công, sản xuất, chế biến hay dịch vụ là chủ yếu); đầu ra (hướng nội hay hướng ngoại là chủ yếu); phát triển các vùng, miền, các loại hình doanh nghiệp, tập đoàn; sự phối hợp giữa Nhà nước và thị trường trên từng lĩnh vực… Lựa chọn theo cách nào, áp dụng mô hình nào là tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm, tình hình cụ thể ở mỗi nước trong mối quan hệ với thế giới đương đại và được quyết định bởi ý chí chủ quan của lãnh đạo mỗi nước.

     

    2.   CHẶNG ĐƯỜNG 30 NĂM TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

     

    Nhờ có đường lối phát triển kinh tế đúng đắn và giải pháp phù hợp, trong gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế gây ấn tượng, được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên nhiều. Sau 10 năm đổi mới (1996) đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội; sau 25 năm đổi mới (năm 2010) đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình. Trong giai đoạn 2001- 2010, kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26 lần so với năm 2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1168 USD, năm 2014 ước tính khoảng 1900 USD/ người. Trong 5 năm 2011-2015, do sự tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, suy thoái kinh tế toàn cầu nên nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng GDP bị giảm sút. Tuy vậy, tốc độ tăng GDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt 5,8%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấn hớn 1,3 lần so

     

    với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 17,5%. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm xuống. Năm 2010, trong cơ cấu GDP, khu vực công nghiệp chiếm 41,1%, khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khu vực nông nghiệp chiếm 20,6%. Kết cấu hạ tầng ngày càng được xây dựng hiện đại, đồng bộ; nguồn nhân lực qua đào tạo ngày càng tăng lên (năm 2013 là 49%), đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.

     

    Nếu như tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1986 – 1990 chỉ đạt 4,4%/năm thì bình quân thời kỳ 1991 – 2011 đạt 7,34%/năm. Đặc biệt, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,46% (là mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Do ảnh hưởng từ những biến động của nền kinh tế thế giới, tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 – 2013 giảm xuống còn 5,6%. Ngoài ra, có thể nói thành tựu về tăng trưởng kinh tế được nhìn nhận một cách rõ ràng nhất là đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và ra khỏi danh sách các nước kém phát triển sau 30 năm đổi mới. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng trung bình của giai đoạn 2001 – 2010 là 7,25%. Trong đó, tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001 – 2005 là 7,51% và giai đoạn 2006 – 2010 lại bị tụt lùi, còn 7%, đến nay chỉ còn khoảng 5%. Chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn thấp và chưa đạt được độ bền vững. Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, tính hiệu quả của kinh tế thấp, đồng thời, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Hiện nay ở Việt Nam, các vấn đề về xã hội như lao động – việc làm, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội… đều đang là những vấn đề bức xúc, còn môi trường đang ở mức báo động. Theo tính toán của các chuyên gia, thiệt hại môi

     

     

    37

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    trường do các hoạt động kinh tế gây ra chiếm khoảng 5,5% GDP hàng năm.

     

    Có rất nhiều nguyên nhân tác động tới chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề mấu chốt tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu là năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn vật chất và năng lượng thấp. Với mức tăng 5,13% trong giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam được cho là thấp so với các nước trong khu vực khi Trung Quốc gấp trên 2 lần so với Việt Nam; Thái Lan gấp 4,5 lần; Malaysia gấp 12 lần và Hàn Quốc gấp 23,5 lần.

     

    Về hiệu quả sử dụng vốn, trong suốt thời gian vừa qua, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mới chỉ tập trung vào chiều rộng, tăng trưởng nhờ tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sức lao động chứ chưa tập trung vào tăng trưởng chiều sâu.

     

    Theo tính toán, tỷ trọng đầu tư toàn xã hội đã tăng liên tục trong vòng hơn một thập kỷ qua từ mức 28,4% của GDP năm 1996 đến mức cao kỷ lục là 43,1% năm 2007 và 42,2% năm 2008. Nếu năm 1997, chỉ với mức đầu tư chiếm 28,7% GDP Việt Nam đạt được mức tăng trưởng 8,2% thì năm 2008 chúng ta đạt tốc độ tăng trưởng tương tự 8,5% nhưng với lượng vốn đầu tư tới 43,1% GDP. Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu, từ năm 1986 đến nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng đều qua các năm. So với năm 1986 (kim ngạch xuất khẩu đạt 789,1 triệu USD) thì kim ngạch xuất khẩu năm 2013 tăng gấp khoảng 167 lần (132,2 tỷ USD). Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường 220 nước và vùng lãnh thổ, hầu hết các châu lục. Nước ta có vị thế ngày càng lớn trong xuất khẩu hàng hóa toàn cầu và được xếp vào nhóm 30 nền kinh tế xuất khẩu hàng hóa hàng đầu thế giới. Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất, nhập khẩu, thậm chí là có xuất siêu. Năm 2012, Việt

     

    Nam đã xuất siêu 287 triệu USD, năm 2013 xuất siêu 9 triệu USD và 10 tháng đầu năm 2014 xuất siêu 1,9 tỷ USD.

     

    Đồng thời, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp và hầu như không được cải thiện từ năm 2001 đến nay. Năm 2009, Việt Nam bị tụt 5 hạng so với năm 2008, trong khi các nước trong khu vực lại cải thiện được vị thế cạnh tranh của mình trong bảng xếp hạng. Bên cạnh đó, cấu trúc đầu vào của tăng trưởng, những bất ổn về môi trường và hệ số co giãn giảm nghèo đang giảm dần và bất bình đẳng đều có xu hướng tăng mạnh… cũng là những nguyên nhân tác động không nhỏ tới chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

     

    Đi vào thực chất của vấn đề thì phải thấy rằng những gì chúng ta coi là thành tích chỉ mới là so sánh giữa kết quả của chúng ta hôm nay với kết quả của chúng ta hôm qua và cũng chỉ trên số tương đối (% vốn chỉ là chỉ tiêu có tính hai mặt, dễ bị cường điệu hóa). Nếu đem so sánh kết quả đạt được của chúng ta hôm nay với các nước trong khu vực, trên cả mặt số lượng và chất lượng tăng trưởng thì sẽ thấy rõ hơn, thực chất hơn về những nguy cơ hiện hữu và tiềm ẩn trong mô hình tăng trưởng kinh tế của nước ta hiện nay. Đó là: Chất lượng tăng trưởng của nước ta ngày càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thể hiện ở chỉ số ICOR và sự gia tăng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ở các vùng miền trong cả nước. Xét về chỉ số ICOR, nhiều số liệu đã tính toán cho thấy: năm 2006 là khoảng 5, năm 2007 là hơn 5,2, năm 2008 là gần 7 và năm 2009 là 8, trong khi ở các nước trong khu vực, kể cả Trung Quốc, thì trong cùng thời gian chỉ số này đều dưới 4. Những con số này cho thấy nguy cơ là tăng trưởng kinh tế ở nước ta đắt hơn nhiều lần so với các nước và đang có xu hướng ngày càng đắt thêm lên. Như vậy làm sao có thể trụ vững trong thế giới cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Nói nôm na là chúng ta đi buôn nhưng

     

     

    38

     

                                           

    Tăng trưởng kinh tế . . .

                                                     

    đều mua đắt, bán rẻ thì tất yếu dẫn đến mất vốn,

         

    Chất lượng cuộc sống ngày càng xuống cấp

    nói gì đến lãi. Xét về sự gia tăng thu nhập giữa

    thể hiện khá rõ trên những lĩnh vực chủ yếu như

    các tầng lớp dân cư ở các vùng miền trong cả

    giáo dục, y tế, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi

    nước thì càng thấy nguy cơ về sự ổn định xã

    trường, tệ nạn xã hội đã đến mức báo động và

    hội hiện nay là khó bền vững. Tăng trưởng kinh

    đang có xu hướng tăng cao.

             

    tế chỉ bền vững khi nó mang lại thu nhập ổn

         

    Thu chi Ngân sách Nhà nước (NSNN) ngày

    định cho đại bộ phận dân nghèo ở khắp các vùng

    càng thâm hụt lớn. Thu chi NSNN là chỉ tiêu tổng

    miền trong cả nước. Thu nhập bình quân chung

    hợp phản ánh chất lượng và sự bền vững của mô

    của cả nước thì có tăng qua các năm, nhưng nếu

    hình tăng trưởng kinh tế. Thâm hụt Ngân sách ở

    so sánh mức thu nhập của 20% số người có thu

    nước ta từ năm 2000 đến nay trung bình là trên

    nhập cao với mức thu nhập của 20% số người

    5% GDP/năm, năm 2009 là gần 7% và dự kiến

    có thu nhập thấp trong cả nước thì con số này ở

    năm 2010 chưa xuống dưới 6,5%. Nợ Chính phủ

    nước ta hiện nay không dưới 20 lần, là khá cao

    đã lên tới khoảng 40% GDP. Một đặc điểm nổi

    và đang có xu hướng tăng lên. Một thực tế nữa

    lên trong thu, chi NSNN là trong suốt 25 năm

    là tuy đứng vào hàng đầu của các quốc gia xuất

    đổi mới vừa qua, thu NSNN năm nào cũng hoàn

    khẩu gạo, nhưng không phải ở nước ta đã không

    thành vượt mức kế hoạch đề ra, số thu năm sau

    còn những mảnh đời đói khổ do không có thu

    đều tăng cao so số thu năm trước, có năm tăng tới

    nhập. Đây là nguy cơ chính dễ dẫn đến mất ổn

    gần 30% như năm 2006, 2007. Nhưng chi ngân

    định nhất.

                       

    sách còn tăng cao hơn nên thâm hụt ngày càng

                           

    lớn và chưa có hướng bù đắp cho đủ.

         
             

    THÂM HỤT NGÂN SÁCH CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM (%GDP)

             
                       
     

    2001

    2002

       

    2003

       

    2004

    2005

     

    2006

     

    2007

    2008

     

    2009

     

    2010

     

    2011

    2012F

     

    MOF1

           

    -4,9

       

    -4,9

    -4,9

     

    -5,0

     

    -5,7

    -4,6

     

    -6,9

     

    -5,6

     

    -4,9

    -4,8

       

    MOF2

           

    -1,8

       

    -1,1

    -0,9

     

    -0,9

     

    -1,8

    -1,8

     

    -3,7

     

    -2,8

     

    -2,1

    -3,1

       

    MOF1: thâm hụt gồm cả chi

    trả nợ gốc,

                           

    Nguồn: MoF

             

    MOF2: thâm hụt không gồm chi trả nợ gốc.

                                   
                 

    NỢ CÔNG VIỆT NAM QUA CÁC NĂM (% GDP)

               

    NGƯỠNG 2015

       
                                 

    Tổng nợ công

       

    2004

    2005

    2006

     

    2007

       

    2008

     

    2009

     

    2010

     

    2011

           
                                 

    52,6

     

    57,3

       

    58,7

       

    65

         

    Nợ công nước ngoài

     

    29,9

    27,8

    26,7

     

    28,2

         

    25,1

     

    29,3

     

    31,1

                     

    Nợ nước ngoài

       

    37,2

    32,2

    31,4

     

    32,5

         

    29,8

     

    39

     

    42,2

       

    41,5

       

    50

         

    Ngưỡng nợ công và nợ

     

    nước ngoài được đề xuất bởi

     

    bộ Tài

     

    chính

                             
                                   

    Nhập siêu ngày nghiêm trọng và chưa có

    hơn 2 lần, với mức trên 14 tỷ USD, năm 2008

    dấu hiệu dừng lại. Trong suốt 25 đổi mới hầu

    nhập siêu gần 20 tỷ USD. Trong đó nhập siêu

    như nước ta luôn luôn nhập siêu. Nhập siêu giai

    lớn nhất lại từ các nước Châu Á, là các nước có

    đoạn trước năm 2005 bình quân gần 5 tỷ đô la

    công nghệ thấp.

                       

    Mỹ một năm, nhưng đến năm 2007 đã tăng gấp

                                     

    39

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

     

    Với mô hình hiện nay thì càng tăng trưởng thì lại càng có nhiều ách tắc và mất cân đối lớn. Những ách tắc lớn nhất mà ở tầm quốc gia chúng ta đã nhận xét, đánh giá là: hạ tầng cơ sở yếu kém chưa tạo thuận lợi cho đầu tư phát triển, kể cả ở thành thị, nông thôn và miền núi, nguồn nhân lực đông đảo nhưng kỹ năng, tay nghề kém, không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển trước mắt và lâu dài; thể chế kinh tế còn nhiều yếu kém, chưa tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư. Với những ách tắc cơ bản đó, nhiều nguy cơ đã được cảnh báo từ trước chẳng những không được đẩy lùi mà còn có xu hướng gia tăng, như nguy cơ chệch hướng, tụt hậu, tham nhũng lãng phí và diễn biến hòa bình.

    Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) vừa công bố báo cáo Dự báo về tình hình kinh tế – xã hội giai đoạn 2016 – 2020. Các dự báo đều cho thấy trong giai đoạn 2016-2020, mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Việt Nam khó có khả năng vượt mức 6% do động lực tăng trưởng không có nhiều cải thiện. Theo VEPR, nếu nền kinh tế không nhận được động lực tăng trưởng mới từ sự cải thiện yếu tố năng suất lao động tổng hợp, trong khi đó các nguồn lực cơ bản là vốn và lao động không có nhiều khả năng cải thiện đột biến, sẽ dẫn đến nhiều khả năng tăng trưởng khó thoát khỏi khuynh hướng suy giảm dài hạn. Nhóm nghiên cứu cho rằng, tín dụng tăng trưởng khoảng 12-15% là mức bảo đảm để lạm phát duy trì trong mức mục tiêu 6%. Còn mức tăng trưởng tín dụng khoảng 20%, nguy cơ lạm phát tăng trở lai (vượt 10%) là cao, tạo ra nguy cơ phá vỡ các cân bằng vĩ mô.

     

    Tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới là một

     

    trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm trong Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020. Không phải là lần đầu tiên được đề cập, song việc tìm kiếm một mô hình tăng trưởng mới phù hợp hơn trong giai đoạn tiếp theo đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, cũng như giới chuyên gia kinh tế, nhất là trong thời gian khi Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đang trong quá trình hoàn tất. Các khuyến nghị đầu tiên liên quan tới vấn đề này đã được các chuyên gia của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đề xuất: “Việt Nam cần phải đạt được sự cân bằng tốt hơn giữa chất và lượng của tăng trưởng kinh tế. Sự theo đuổi tăng trưởng kinh tế cao theo nghĩa hẹp chắc chắn sẽ không bền vững về lâu dài và có thể sẽ mang lại những tác động tiêu cực về mặt xã hội và môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế trong tương lai.”

     

    Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua vẫn bị chi phối bởi các ngành sản xuất (nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp) là chủ yếu (chiếm tới 2/3 GDP), còn phần đóng góp của khu vực thương mại, dịch vụ được đánh giá là thấp, 37,7% (giai đoạn 2001-2005) và 40% (giai đoạn 2006-2010). Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực, như: Singapore (65%), Hàn Quốc (62%), Thái Lan (50%), Philippine (53,5%). Thực tế cho thấy, Việt Nam đang dựa quá nhiều vào khu vực nguyên khai (hay còn gọi là Khu vực I), gồm khai thác khoáng sản và các ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Tuy khu vực công nghiệp chế tạo có phát triển, nhưng chủ yếu là gia công sử dụng nhiều lao động, ít kỹ năng. Xét dưới góc độ bậc thang trong dây chuyền giá trị gia tăng khu vực và toàn cầu thì nền kinh tế của Việt Nam nằm ở giai đoạn thấp, do đó thu được ít giá trị gia tăng. Nếu tiếp tục khai thác những lĩnh vực trên thì sẽ làm tăng chi phí và làm mất lợi thế ở các khu vực khác.

     

     

    40

     

    Tăng trưởng kinh tế . . .

     

    Hiện nay, khu vực DNNN được trao sứ mệnh đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế. Khu vực này (đặc biệt là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty lớn với tư cách là “những quả đấm thép”) được hưởng rất nhiều ưu đãi về thể chế và tài nguyên, song lại hoạt động không hiệu quả. Tổng tài sản của 1.309 DNNN chiếm tới 45% tổng tài sản cố định và đầu tư toàn xã hội, nhưng chỉ đóng góp được 35% tổng GDP cả nước trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010. Còn theo thống kê của WB tại Việt Nam, thì các DNNN chiếm đến 60% vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng và ngân hàng, nhưng cũng chính các tập đoàn này lại gây ra tới hơn 70% số nợ xấu trong cả nước. Điều này dẫn đến nguy cơ tạo cơn bão tài chính làm lung lay hệ thống ngân hàng và tạo ra một lỗ hổng lớn đẩy một số ngân hàng đến bờ vực phá sản. Đây cũng chính là lý do giải thích tại sao chỉ số ICOR của Việt Nam luôn ở mức cao tới 4,89 (giai đoạn 2000-2005) và tiếp tục tăng cao tới 7,17 (giai đoạn 2006-2010), so với mức chỉ 2 đến 3 ở các nước trong khu vực. Cải cách hay tổ chức lại khu vực DNNN, trước hết là “các quả đấm thép đang tan chảy”, là một đòi hỏi lớn đối với nước ta nhằm làm cho mô hình tăng trưởng trở nên tốt hơn.

     

    Ngoài ra, sự liên kết giữa các khu vực, ngành, hay thành phần kinh tế của nước ta đang rất yếu. Điều này thể hiện ở chỗ những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam thường không liên quan đến nhau (thủy sản, dệt, đồ nội thất, may mặc, giày dép…). Do đó, không tạo được hiệu ứng “tràn ngập” tại các thị trường lớn là EU, Nhật Bản hay Mỹ như các sản phẩm của Trung Quốc. Thậm chí, còn xảy ra tình trạng xung đột lợi ích giữa các nhóm lợi ích mặc dù trong cùng một ngành. Sự xung đột này có thể nhận thấy khá rõ ở các thành phần kinh tế, ở đó có sự phân biệt giữa khu vực DNNN và ngoài quốc doanh.

     

    Còn xét từ góc độ thể chế, chiều cạnh thể chế thể hiện vai trò của Nhà nước và hệ thống các luật chơi trong nền kinh tế, cũng như các

     

    chính sách kinh tế vĩ mô (gồm loại chính sách vĩ mô và cách làm chính sách vĩ mô). Chiều cạnh này thể hiện cách thức vận hành nền kinh tế của Nhà nước. Nói một cách hình tượng, chiều cạnh thể chế được xem như là phần mềm điều hành nền kinh tế mà phần cứng của nó có thể được xem là cấu trúc của nền kinh tế.

     

    Mặc dù đã qua khoảng hơn hai thập kỷ đổi mới, mở cửa và cải cách loại bỏ chế độ quan liêu bao cấp và kế hoạch hoá tập trung, song vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam vẫn được xem là rất trực tiếp và ôm đồm. Bằng chứng rõ rệt là cách thức điều hành và quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế vẫn còn mang nặng tính quản lý hành chính, “cai trị” hơn là phục vụ, thân thiện và tạo điều kiện cho kinh doanh.

     

    Sự ưu tiên thái quá của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp công đã tạo ra sự phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế còn lại. Điều đó cũng có nghĩa là chưa thực sự có sân chơi công bằng đối với các thành phần tham gia trong nền kinh tế. Điều này, một mặt làm mất động lực phát triển của các khu vực ngoài nhà nước, mặt khác gây ra sự phân bổ tài nguyên kém hiệu quả trong nền kinh tế do những tín hiệu của thị trường đã bị bóp méo.

     

    Một yếu tố khác ở phương diện thể chế là chính sách kinh tế vĩ mô và cách thức làm chính sách vĩ mô. Chính sách vĩ mô của Việt Nam không ổn định. Cách thức ra các quyết định chính sách thường vẫn xuất phát chủ yếu từ góc độ và quan điểm của những người quản lý, của quan chức các bộ, ngành, chưa lôi kéo được sự tham gia tích cực của các đối tác khác (như giới học thuật, báo chí, giới kinh doanh, lao động và người tiêu dùng). Do đó, các chính sách đó thường thiếu tính thực tế, tính dự báo và không nhất quán. Đây là nguyên nhân quan trọng làm khó cho doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác, gây bất ổn và kém hiệu quả cho nền kinh tế.

     

     

    41

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    3.   ĐÂU LÀ HƯỚNG ĐI MỚI CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM?

     

    Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đã được khẳng định trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020: “Từ ch̉ yếu phát trỉn theo chiều rộng sang phát trỉn hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú tṛng chất lượng hiệu quả. Từ ch̉ yếu dựa vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ sang tăng cừng áp dụng tiến bộ khoa ḥc, công nghệ, ngùn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; từ ch̉ yếu là công nghiệp gia công, lắp ráp sang đẩy mạnh công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp phụ trợ; từ ch̉ yếu xuất khẩu tài nguyên khoáng sản, nguyên liệu, sản phẩm thô sang tăng tỷ tṛng xuất khẩu sang chế biến, chế tạo. Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, phát trỉn dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Phát trỉn và khai thác tối đa thị trừng trong nức, mở rộng thị trừng xuất khẩu. Gắn kết chặt chẽ giữa phát trỉn kinh tế v́i giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trừng.”

     

    Trước hết, phải thực sự cởi trói, mở cửa, phát huy mọi nguồn lực của đất nước cho đầu tư phát triển, chấn hưng đất nước. Muốn vậy, có hai điểm quan trọng, một là trong mọi chủ trương phát triển kinh tế – xã hội phải đặt tiêu chí năng suất, chất lượng, hiệu quả lên trên hết. Ai xin làm cũng được, miễn là phải năng suất, chất lượng, hiệu quả thì mới mang lại tăng trưởng thực sự. Ngay cả với những lĩnh vực mà trước đây hay đề cao vai trò của hiệu quả xã hội, như giáo dục, y tế, văn hóa, kể cả từ thiện… cũng phải coi trọng hiệu quả về kinh tế thì mới có hiệu quả xã hội thực sự. Hai là chủ trương nói trên phải được thể chế hóa thành pháp luật cụ thể thì mới vận hành được trong cơ chế thị trường. Phải cải cách một cách căn bản lĩnh vực thu – chi NSNN. Thu NSNN không nên vượt quá chỉ tiêu mà các Đại hội Đảng đã rất cân nhắc và quyết định là vào

     

    khoảng 21-22% GDP. Với số dân ngày một tăng lên và mức thu nhập còn thấp so với các nước, mức động viên vào NSNN không thể tới 1/4 số GDP làm ra hàng năm. Có như vậy mới khuyến khích tinh thần hăng say lao động và mới tạo điều kiện cho nhân dân tiết kiệm để đầu tư. Chi NSNN trước hết tập trung vào vấn đề an sinh xã hội để khắc phục kịp thời mặt trái của kinh tế thị trường đang trực tiếp tác động tới phần lớn nhân dân có thu nhập thấp đang dễ bị tổn thương, nhất là ô nhiễm môi trường nặng như hiện nay. Một phần quan trọng của chi NSNN là khẩn trương cải cách chế độ tiền lương để tạo tiền đề cho cải cách hành chính; để tạo điều kiện cho việc khôi phục lại lòng tự trọng, tính nhân văn và tinh thần trách nhiệm, ý chí cách mạng trong số đông cán bộ, bộ đội, công nhân, trí thức và người lao động trên mặt trận đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Hạn chế đến mức thấp nhất việc lấy NSNN để cấp vốn cho doanh nghiệp, để đầu tư phát triển kinh tế.

     

    Một điểm quan trọng và mang tính bao trùm đó là việc cải cách thể chế cần phải đạt được môi trường cạnh tranh hơn, tránh tình trạng độc quyền (nhất là độc quyền của các DNNN sở hữu). Xét từ góc độ các yếu tố sản xuất (đầu vào), rõ ràng việc trông cậy vào sử dụng nhiều lao động, tài nguyên đã đến tới hạn của nó. Do đó, cần phải có những thay đổi theo hướng gia tăng yếu tố công nghệ để có thêm phần giá trị gia tăng và có vị trí tốt hơn, cao hơn trong chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu và khu vực. Để làm được điều này, cần phải có một chiến lược phát triển công nghệ quốc gia rõ ràng với hệ thống các chính sách nhằm khuyến khích nhập, tiếp thu, ứng dụng và phát triển công nghệ trong sản xuất. Điều này có ý nghĩa rất lớn, vì nó sẽ tự động giải tỏa áp lực tăng trưởng phải dựa nhiều vào vốn, một nhược điểm lớn trong mô hình tăng trưởng của nước ta hiện nay. Thêm vào đó là việc phát triển và ứng dụng công nghệ sẽ giúp cải thiện được cấu trúc của nền kinh tế dựa chủ yếu vào các lĩnh vực nguyên khai (khai khoáng và nông nghiệp). Đồng thời,

     

     

    42

     

    Tăng trưởng kinh tế . . .

     

    tạo dựng và phát triển được lĩnh vực công nghiệp chế tạo, một cơ sở quyết định cho tăng trưởng bền vững trong tương lai. Điều này sẽ giúp Việt Nam tránh được cái gọi là “bẫy” thu nhập trung bình. Một vấn đề nữa ở phương diện đầu vào là phải chú trọng xây dựng và phát triển các cụm ngành để có mối liên kết ngành, nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho các ngành công nghiệp và hy vọng sớm tạo được hiệu ứng “tràn ngập” hàng Việt Nam trên các thị trường quốc tế và khu vực. Rõ ràng ai cũng thấy yếu tố quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia trong thời đại ngày nay không phụ thuộc nhiều vào những gì đã có, mà phụ thuộc chủ yếu vào cách thức lựa chọn mô hình tăng trưởng phù hợp với lợi thế riêng có để vươn lên khỏi cái bẫy thu nhập trung bình như đã thấy ở nhiều nước. Để có được một mô hình tăng trưởng có nhiều điểm tốt hơn, Việt Nam cần phải có nhiều nỗ lực cải cách mạnh mẽ trong tương lai. Những nỗ lực này phải bao gồm những thay đổi sao cho có được một thể chế tốt hơn với các chính sách vĩ mô ổn định và một hệ thống luật chơi công bằng hơn.

     

    Phải tập trung sức và đổi mới lĩnh vực thể chế đường lối phát triển kinh tế ở nước ta. Chủ trương đường lối nhất quán của Đảng ta là “ dân giàu , nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh: và Nhà nước ta là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” cho nên nhiệm vụ cốt yếu của bộ máy nhà nước của nước ta trong thời gian tới là đổi mới cách thức ban hành một hệ thống luật pháp phù hợp với tình hình mới, nhằm vào

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • David Begg, Kinh tế học, NXB Giáo dục, Hà nội.
    • Gregory Mankiw, Macroeconomics second edition, Worth publishers.

     

    • Paul A.Samuelson, William D.Nordgans (1989), Kinh tế học, Viện Quan hệ quốc tế

    việc thực hiện các mục tiêu nói trên. Trong đó chú trọng vấn đề đồng bộ, kịp thời, nhất quán và nhằm vào khắc phục những khiếm khuyết của thời gian qua như vấn đề sở hữu, vấn đề thành phần kinh tế, vấn đề đầu tư và thu hút đầu tư, vấn đề đất đai, tài nguyên, vấn đề lao động và việc làm. Đây là vấn đề hết sức quan trọng nhằm biến thách thức thành cơ hội, phát huy lợi thế của nước đi sau là tranh thủ tận dụng những thành quả của nhân loại về mọi mặt, trong đó có khoa học và công nghệ.

     

    Khu vực DNNN cần phải có những cải tổ mạnh mẽ theo hướng giảm bớt ưu đãi và buộc phải hoạt động hiệu quả hơn. Đồng thời, cần khuyến khích và tạo thêm dư địa cho khu vực tư nhân phát triển. Từ góc độ đầu ra cho thấy rằng chiến lược hướng về xuất khẩu của nước ta là hoàn toàn đúng đắn. Khai thác thị trường toàn cầu là yếu tố quan trọng để phát huy hết tiềm năng của nền kinh tế. Tuy nhiên, chế độ tỷ giá hiện nay chưa thực sự thể hiện rõ ý đồ này, tỷ giá cần phải được điều chỉnh cao hơn nữa, nhằm khuyến khích xuất khẩu và giảm dần nhập khẩu. Đồng thời, với việc tiếp tục khai thác tốt hơn các thị trường nước ngoài, cũng cần hướng mạnh vào việc mở rộng và khai thác thị trường nội địa. Đầu tư công cũng cần được thay đổi theo hướng tạo sự cân bằng giữa khu vực công và khu vực tư nhân, có như vậy mới tạo thêm dư địa và khuyến khích đầu tư tư nhân. Giảm đầu tư công cũng sẽ dẫn tới giảm áp lực phải thu ngân sách hiện nay được cho là khá cao.

     

    • Nguyễn Văn Ngọc (2009), Lý thuyết chung về tài chính, ngân hàng và chính sách tiền tệ, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội.

     

    • Một số văn bản pháp luật.

     

    • Website của tổng cục thống kê, viện nghiên cứu kinh tế và chính sách,…..

     

     

    43


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-kh%C3%A1ch-s%E1%BA%A1n-TCVN-5065-1990.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

    TCVN 5065:1990

    KHÁCH SẠN – TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ
    Hotel – Design standard

    Nhóm H

     

    Tiêu chuẩn này áp dụng để thiết kế xây dựng mới hoặc cải tạo các khách sạn.

    Khách sạn là cơ sở kinh doanh phục vụ khách nước ngoài và trong nước lưu trú trong thời gian ngắn, đáp ứng nhu cầu về các mặt ăn uống, nghỉ ngơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác.

    Tiêu chuẩn này thay thế 20 TCVN 54: 1972 “Khách sạn quốc tế – tiêu chuẩn thiết kế”. Giới hạn của tiêu chuẩn:

    1. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các cơ sở ăn nghỉ du lịch khác như: Biệt thự du lịch, camping bungalow, làng du lịch…
    2. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các khách sạn nội địa, nhà nghỉ phục vụ cán bộ, công nhân viên, xã viên…
    3. Khi thiết kế khách sạn có yêu cầu đặc biệt, theo luận chứng kinh tế kĩ thuật riêng.

    1. Quy định chung

    1.1. Căn cứ vào chức năng sử dụng, khách sạn là nơi đón tiếp và phục vụ du lịch, thăm quan, công tác, giao dịch, thương mại, thăm viếng và nghỉ ngơi.

    1.2. Khi thiết kế khách sạn, phải áp dụng TCV N 439 1: 1986 “Khách sạn du lịch- Xếp hạng”.

    Khách sạn thường được thiết kế với các quy mô từ 50 đến 500 giường.

    Chú thích:

    1) Quy mô khách sạn tính theo số giường, một giường đôi tính như hai giường một (đơn).

    2) Trong trường hợp dặc biệt, có thề xây dựng khách sạn có quy mô trên 500 giường, theo luận chứng kinh tế kĩ thuật riêng.

    1.3. Các công trình khách sạn được thiết kế với cấp công trình I, có yêu cầu.

    – Chất lượng sử dụng: Bậc I (đáp ứng yêu cầu cao trang thiết bị hiện đại).

    – Chất lượng xây dựng: có độ bền vững bậc I (Niên hạn sử dụng trên 100 năm) và  bậc chịu lửa I.

    Chú thích: Các ngôi nhà phụ của khách sạn như: Nhà để xe ôtô, nhà kho, xưởng sửa chữa, khi thiết kế nếu tách khỏi ngôi nhà chính phải thiết kề với cấp công trình thấp hơn.

    2. Yêu cầu về khu đất xây dựng

    2.1. Khách sạn phải được xây dựng trên khu đất tại nơi có nhu cầu đón tiếp khách như: Thành phố, thị xã, thị trấn, các điểm trên tuyến du lịch, các khu du lịch…

    Khi chọn đất xây dựng khách sạn phải tuân theo các quy định trong TCVN 4491: 1987 “Quy hoạch xây dựng đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế”.

    1. a) Thuận tiện cho việc đi lại đồng thời cần xét đến tác dụng về đô thị của công trình khách sạn trong việc tổ chức trung tâm công cộng, quảng trường thành phố hay điểm dân cư.
    2. b) Có khí hậu tốt, thiên nhiên và cảnh quan phong phú, không bị ô nhiễm môi trường
    3. c) Tiết kiệm đất xây dựng.

    2.2. Khu đất xây dựng khách sạn phải có bãi để xe ôtô ngoài trời và sân phục vụ. Diện tích bãi để xe tính 25m2 cho một xe nhỏ và 50m2 cho một xe lớn. Số lượng xe tính theo luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    2.3. Khối ngủ của khách sạn cần đặt cách xa chỉ giới xây dựng, không nhỏ hơn 10m tính từ mặt ngoài ngôi nhà.

    2.4. Diện tích đất xây dụng khách sạn tính từ 15 đến 20m2 cho một giường.

    3. Nội dung công trình và những yêu cầu về giải pháp kiến trúc

    3.1. Khách sạn quốc tế có 3 khối sau:

    1. a) Khối ngủ
    2. b) Khối công cộng
    3. c) Khối hành chính quản trị.

    3.2. Các khối trong khách sạn phải được bồ trí theo dây chuyền hoạt động và theo sơ đồ vận chuyển bên trong khách sạn thuận tiện, hợp lí và ngắn nhất. Đồng thời phải đảm bảo sự cách li về mặt bằng và không gian, không ảnh hưởng lẫn nhau về trật tự vệ sinh và mĩ quan.

    Chú thích: Lối đi nội bộ của nhân viên phục vụ, đường vận chuyển hàng hoá. thực phẩm, dụng cụ, rác, phế liệu… phải riêng biệt với đường đi của khách.

    3.3. Các phòng ngủ của khách sạn được bố trí từ tầng hai trở lên, trong trường hợp phải đặt ở tầng một, cần có biện pháp chống ồn và bảo vệ cho các phòng ngủ.

    Các kho để hành lí xách tay, một số phòng phục vụ công cộng… được phép đặt ở tầng chân tường.

    3.4. Các phòng thuộc khu bếp, các phòng đặt máy móc, thiết bị, các phòng thang máy, ống đứng và ngăn dẫn rác và thải bụi tập trung, không cho phép đặt trực tiếp trên và dưới các buồng ngủ, cũng như xen kẽ những giữa các phòng ngủ của khách. Nếu đặt phải có biện pháp xử lí cách âm, cách nhiệt tuyệt đối.

    3.5. Khi xây dựng thang máy, ống đựng thải rác và thải bụi tập trung, máy bơm nước và mô tơ cần phải được cách âm và chống truyền chấn động đến các phòng ngủ, phòng ăn và các phòng công cộng khác.

    3.6. Buồng ngủ của khách sạn chia làm bốn hạng theo quy định tại bảng 1.

    Bảng 1- Các hạng buồng ngủ và diện tích

    Hạng buồng ngủ của khách sạn

    Số phòng trong buồng

    Số giường trong buồng

    Diện tích (m2)

    Buồng ngủ

    Khu vệ sinh

    Đặc biệt

    2

    2

    24 – 28

    5 – 6

    3

    2

    36 – 42

    I

    1

    1

    12 – 14

    4 – 5

    1

    2

    16 – 20

    II

    1

    1

    10 – 12

    3,5 – 4,5

    1

    2

    14 – 18

    III

    1

    2

    18 – 24

    3 -4,5

    1-2

    4

    24 – 28

    3.7. Các khách sạn phải có sảnh đón tiếp, sảnh tầng và buồng ngủ phải có phòng đệm.

    3.8. Mỗi tầng của khối ngủ phải có phòng trực của nhân viên gồm có phòng ngủ, tủ để đồ vải sạch, chỗ là quần áo, kho để đồ vải bẩn, kho để dụng cụ vệ sinh, diện tích tính từ 24- 32m2. Nếu tầng ngủ có trên 20 buồng cần bố trí hai phòng trực.

    3.9. Nội dung và diện tích các bộ phận của khối công cộng quy định trong bảng 2 (đơn vị tính bằng m2).

    Bảng 2

    Tên các bộ phận

    Khách sạn có quy mô

    Ghi chú

    150 giường

    300 giường

    500 giường

    1

    2

    3

    4

    5

    Nhóm sảnh

           

    – Sảnh tiếp đón

    1,00

    0,08

    0,60

     

    – Sảnh tầng

    0,40

    0,35

    0,30

     

    – Các phòng tiếp khách và sinh hoạt chung

    0,30

    0,25

    0,20

     

    – Nơi tiếp đón

    0,20

    0,16

    0,12

     

    – Nơi gửi tiền, đồ vật

    0,12

    0,10

    0,08

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Nơi đổi tiền

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

     

    – Cửa hàng bách hoá mĩ nghệ

    0,40

    0,40

    0,30

    Tính theo số giường

    – Cắt tóc nam

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Uốn tóc nữ

    8 m2/chỗ

    8 m2/chỗ

    8 m2/chỗ

    nt

    – Phòng y tế

    12 m2

    24 m2

    24 m2

    nt

    – Quầy bưu điện

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Tổng đài điện thoại

    12 m2

    12 m2

    18 m2

    nt

    – Buồng điện thoại

    1 m2

    1 m2

    1 m2

    nt

    – Quầy sách báo

    16 m2

    16 m2

    24 m2

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng hội nghị

    1,8 m2/chỗ

    1,8 m2/chỗ

    1,8 m2/chỗ

    nt

    Nhóm ăn uống

           

    – Phòng ăn

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    Tính 70-100 số giường

    – Phòng trực

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    Tính 10 – 20% số giường

    – Phòng ăn đặc sản

    2 m2/chỗ

    2 m2/chỗ

    2 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Bar giải khát

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Tính 20% số giường

    – Tiệm cà phê

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Sàn nhảy, có bar đêm

    1 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    nt

    Nhóm bếp

           

    – Kho các loại lương thực thực phẩm, lạnh, dụng cụ nhà bếp, phục vụ rau quả rượu bia, nước ngọt, nhiên liệu, phế liệu…

    1 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,6 m2/chỗ

    Tính theo số chỗ trong phòng ăn, giải khát

    – Bộ phận gia công (gia công thô, kĩ, nấu hấp cơm, bánh, nấu thức ăn, pha chế,rửa đĩa, xoong nồi…)

    1,2 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    nt

    – Nơi soạn và phục vụ nhà bàn

    0,5 m2/chỗ

    0,3 m2/chỗ

    0,2 m2/chỗ

    nt

    – Các phòng quản lí sinh hoạt. (Nơi làm việc của bếp trưởng, kiểm nghiệm thức ăn, kế toán, thay quần áo nghỉ của nhân viên…)

    0,4 m2/chỗ

    0,3 m2/chỗ

    0,2 m2/chỗ

    nt

    Nhóm giải trí thể thao

           

    – Phòng chiếu phim Video

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng đọc sách báo

    1,2 m2/chỗ

    1,2 m2/chỗ

    1,2 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Bóng bàn

    45 m2/chỗ

    45 m2/chỗ

    45 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Cờ, bi-a

    – Bể bơi

    – Sân bóng các loại

    20 m2/chỗ

    20 m2/chỗ

    20 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    Bảng 3

    Tên các bộ phận

    Khách sạn có quy mô

    Ghi chú

    Dưới 150 giường

    Dưới 300 giường

    Dưới 500 giường

    1

    2

    3

    4

    5

    Nhóm hành chính quản trị

           

    – Phòng làm việc của chủ nhiệm khách sạn

    18

    24

    24

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng làm việc của phó chủ nhiệm khách sạn

    16

    16

    20

     

    – Phòng tiếp khách

    – Phòng ăn của nhân viên khách sạn

    24

    24

    24

    36

    36

    54

     

    – Phòng nghỉ

    – Phòng nghỉ trực ban của chủ nhiệm khách sạn

    4 m2/chỗ

    12

    4 m2/chỗ

    12

    4 m2/chỗ

    12

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng tài chính kế toán

    – Phòng nghiệp vụ kĩ thuật

    – Phòng hành chính quản trị

    – Phòng tổ chức cán bộ

    – Phòng các đoàn thể

    – Phòng trực, bảo vệ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    12

    8

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    16

    12

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    20

    16

    nt

    nt

    nt

    Theo luận chứng KTKT

    Nhóm kho

    – Kho đồ vải, chăn màn

    – Kho đồ gỗ

    – Kho đồ sứ thuỷ tinh

    – Kho vật tư thiết bị

    0,4

    0,4

    0,3

    0,3

    0,3

    0,25

    0,25

    0,2

    0,25

    0,20

    0,20

    0,1

    Theo số giường

    nt

    nt

    nt

    Nhóm phục vụ

    – Xưởng sửa chữa

    – Nhà để xe ô tô của khách

    – Kho xăng dầu

    – Nhà để xe đạp, xe máy

    – Chỗ nghỉ cho công nhân viên phục vụ, lái xe

    24

    25 m2/chỗ

    16

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    54

    25 m2/chỗ

    20

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    60

    25 m2/chỗ

    24

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    Theo luận chứng

    KTKT

    nt

    nt

    nt

    – Trạm sửa chữa giày dép

    – Phòng giặt và phơi sấy

    – Phòng may vá

    – Phòng cho thuê xe, thuê dụng cụ thể thao

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    nt

    nt

    nt

    – Trạm bơm áp lực

    – Trạm cung cấp nước

    – Điều hoà trung tâm và nơi đặt các thiết bị điều hoà

    – Phòng điện

    Các phòng phục vụ khác

         

    nt

    nt

    nt

    3.10. Chiều cao các phòng tuân theo quy định trong TCVN 3905: 1984 “Nhà và công trình công cộng – Thông số hình học”.

    1. a) Từ 3,0 đến 3,3 cho các phòng ngủ, phòng tiếp khách, phòng làm việc.
    2. b) Từ 3,6 đến 4,5m cho các phòng ăn, phòng tiệc, sảnh, bếp, trong trường hợp bếp hoặc các phòng của khối công cộng cần có tầng lửng, chiều cao có thể thông 2 tầng.
    3. c) Chiều cao tầng hầm tối thiểu phải là 2,2m.

    4. Yên cầu về chiến sáng tự nhiên chiếu sáng nhân tạo và thiết bị điện

    4.1. Các phòng ngủ của khách. Các phòng sinh hoạt công cộng cần được chiếu sáng tự nhiên.

    4.2. Thiết kế chiếu sáng tự nhiên các buồng trong phòng khách sạn phải áp dụng TCXD 29 “ Tiêu chuẩn và quy phạm thiết kế chiếu sáng tự nhiên trong công trình kiến trúc”

    4.3. Khi thiết kế hành lang giữa:

    1. a) Nếu chiếu sáng tự nhiên trực tiếp từ một đầu hồi thì chiều dài hành lang không quá 20m.
    2. b) Nếu chiếu sáng tự nhiên trực tiếp từ hai đầu hồi thì chiều dài hành lang không quá 40m.
    3. c) Khi chiều dài hành lang quá những quy định trên cần phải có chiếu sáng tự nhiên bổ sung bằng cách thiết kế các khoang lấy ánh sáng, mỗi khoang có chiều rộng lớn hơn 1/2 bề sâu (bề sâu của kho ang tự nhiên tường ngoài tới mép hành lang).

    Khoảng cách giữa hai khoang lấy ánh sáng không được quá 20m. Khoảng cách giữa khoang lấy ánh sáng ngoài cùng tới đầu hồi không dài quá 30m.

    Chú thích: Các buồng thang hở cũng được coi như khoang lấy ánh sáng.

    4.4. Thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài và bên trong khách sạn tuân theo TCXD 95:

    1983 “Tiêu chuẩn thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài công trình xây dựng dân dụng” và tcxd 16: 1986”. Chiếu sáng nhân tạo trong công trình dân dụng”

    4.5. Trong khách sạn phải có đủ các hệ thống và thiết bị điện như sau:

    – Hệ thống và thiết bị điện dùng cho sản xuất và thang máy.

    – Hệ thống và thiết bị điện chiếu sáng.

    – Hệ thống thiết bị điện yếu.

    – Hệ thống và thiết bị điện chiếu sáng sự cố

    – Hệ thống máy phất điện dự phòng

    – Hệ thống đóng ngắt điện tự động.

    4.6. Việc lắp đặt các thiết bị điện và đường dây dẫn điện trong khách sạn áp dụng tiêu chuẩn hiện hành.

    4.7. Khi thiết kế mạng lưới điện trong khách sạn phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    1. a) Hệ thống chiếu sáng độc lập với hệ thống điện máy và thiết bị điện.
    2. b) Phải dùng dây dẫn ruột đồng. Không dùng dây dẫn ruột nhôm.
    3. c) Mạng điện ngoài nhà phải đặt cáp ngầm.
    4. d) Phải nối đất cho các thiết bị, máy móc, dụng cụ chiếu sáng và sinh hoạt.

    4.8. Phải thiết kế hệ thống điện nhẹ: Điện thoại nội bộ, hệ thống chuông báo phòng ngủ và cả khu vệ sinh hệ thống telex và telefax.

    4.9. Phải thiết kế hệ thống ăng ten vô tuyến và truyền hình.

    4.10. Thiết kế chống sét áp dụng TCXD 46: 1984 “Chống sét cho nhà và công trình”.

    5. Yêu cầu về thiết bị vệ sinh, cấp thoát nước và điều hoà không khí

    5.1. Thiết bị vệ sinh của khách sạn áp dụng TCVN 4391: 1986 “Khách sạn du lịch – Xếp hạng”.

    5.2. Thiết kế khách sạn phải có đầy đủ hệ thống cấp nước lạnh, cấp nước nóng, thoát nước, thông gió, hệ thống thải rác và phế liệu.

    5.3. Về cấp nước phải đảm bảo đầy đủ suốt ngày đêm cho về sinh, sinh hoạt và phòng chữa cháy.

    Đối với các khách sạn cha có hệ thống cấp nước công cộng, phải có thiết bị lọc đảm bảo chất lượng nước dùng quy định. ‘

    Các khách sạn đã có cấp nước nhng không ổn định phải có hệ thống bể nước dự trữ bơm.

    5.4. Thời gian cấp nước nóng phục vụ trong khách sạn phải đảm bảo yêu cầu sử dụng, theo TCVN 4391: 1986.

    5.5. Thiết kế cấp nước, áp dụng theo tiêu chuẩn hiện hành:

    Cấp nước – Mạng lưới bên ngoài và công trình – Tiêu chuẩn thiết kế TCXD 33: 1985.

    Thoát nước – Mạng lưới bên ngoài và công trình – Tiêu chuẩn thiết kế TCXD 51: 1984.

    5.6. Thiết kế thoát nước, áp dụng theo tiêu chuẩn hiện hành.

    5.7. Những phòng hành chính của khách sạn phải đảm bảo thông gió tự nhiên. Tuỳ theo nhu cầu các buồng phòng cần có hệ thống thông gió cưỡng bức, hệ thống hút hơi và điều hoà không khí.

    5.8. Các thiết bị điều hoà không khí trong khách sạn thiết kế theo yêu cầu của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    6. Yêu cầu về phòng cháy chữa cháy

    6.1. Thiết kế về phòng cháy và chữa cháy của khách sạn áp dựng theo TCVN 2622:1978 “Phòng cháy và chữa cháy cho nhà và công trình – Yêu cầu thiết kế”.

    6.2. Phải có thiết bị báo cháy tự động đặt trong các khách sạn.

    6.3. Các đường xe ra vào phục vụ cho khách sạn có bề ngang trên 18m, phải có đường hoặc lối vào cho xe chữa cháy tiếp cận được với mọi vị trí quanh ngôi nhà.

    Chú thích:

    1) Khi ngôi nhà có sân trong khép kín, cần bố trí lối đi thuận tiện để kéo vòi chữa cháy từ phía ngoài nhà vào phía trong sân dễ dàng.

    2) Đường cho xe chữa cháy xuyên qua ngôi nhà, qua cổng hay hành lang phải có chiều rộng thông thuỷ ít nhất là 3,5m và chiều cao thông thuỷ ít nhất là 4,5m.

    6.4. Các cửa đi, lối đi, hành lang và cầu thang trong ngôi nhà phải kết hợp làm lối đi và đường thoát khi có cháy xẩy ra. Không thiết kế cầu thang xoáy ốc và bậc thang hình rẻ quạt trên đường thoát nạn.

    Chú thích: Chiều rộng tổng cộng cửa thoát nạn ra ngoài, cửa về thang hay là đường thoát nạn phải tính theo số người ở tầng đông nhất không kể tầng một và được quy định như sau:

    – Nhà 1 – 2 tầng: tính 0,8m cho 100 người

    – Nhà 3 tầng trở lên: tính 1m cho 100 người.

    – Phòng khán giả tính 0,55m cho 100 người.

    6.5. Trong mỗi ngôi nhà, ít nhất phải có 2 lối thoát nạn ra khỏi nhà, các lối đi phải bố trí hợp lí để phân tán người nhanh nhất.

    6.6. Trong khách sạn, khoảng cách xa nhất từ các phòng có người ở đến lối đi gần nhất quy định như sau:

    – 40m từ những gian phòng ở giữa hai buồng thang hay 2 lối thoát nạn

    – 25m từ những phòng có lối ra hành lang cụt hay lối thoát duy nhất.

    6.7. Cửa đi trên đường thoát nạn phải mở ra phía ngoài nhà, không cho phép theo chiều ngang hay chiều thẳng đứng trên đường thoát nạn.

    6.8. Các ngôi nhà cao trên 10m tính từ mép vỉa hè đến mép dưới máng nước bố trí thang chữa cháy bằng sắt ở bên ngoài nhà. Khi mái nhà có độ cao thì phải có thang chữa cháy nối các phần mái đó, số lượng, chiều rộng của thang theo quy định của TCVN 2622: 1978.

    6.9. Không bố trí các nồi hơi, trạm điện, các kho chứa chất cháy, chất ngủ hay dưới các phòng thường xuyên có tới 50 người. Các phòng bố trí riêng biệt, có lối ra ngoài trực tiếp và tuân theo các quy định an toàn phòng cháy, phòng nổ.

    6.10. Trong khách sạn cao từ 10 tầng trở lên, phải thiết kế buồng thang và đảm bảo không

    tụ khói khi cháy. Để thoát khói từ hành lang giữa hai sảnh phải có hệ thống thông gió và van mở ở tường của từng hệ thống và van này phải mở tự động khi có cháy.

    6.11. Khách sạn cao trên 10 tầng, không cho phép đặt cầu thang liên hệ trực tiếp giữa các tầng có khách ở với tầng chân tường, tầng hầm.

    6.12. Trong khách sạn, ngoài hệ thống cấp nước chữa cháy cần trang bị các bình chữa cháy cầm thay bằng hoá chất (như bình CO2, bình bọt…) bố trí ở các tầng nhà và các khu vực cần thiết khác, vị trí và cách đặt bình phải đảm bảo các yêu cầu thẩm mĩ và thuận tiện khi sử dụng.

    7. Yêu cầu về công tác hoàn thiện

    7.1. Khách sạn phải được thiết kế hoàn chỉnh các bộ phận bên trong và bên ngoài nhà.

    Chú thích: Trong trường hợp phải thiết kế và thi công từng phần cần lập hồ sơ thiết kế toàn bộ đến giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công.

    7.2. Các bộ phận bên ngoài công trình chính như: Công trình kĩ thuật hạ tầng, cổng, tường rào, bãi để xe, sân vườn, đường nội bộ, cây xanh… phải được thiết kế đồng bộ theo nội dung của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    7.3. Thiết bị bên trong và trang trí nội thất phải theo quy định trong TCVN 4391: 1986.

    Việc sử dụng vật liệu để thiết kế ốp lát và trang trí quy định như sau:

    Các khách sạn ở cấp công trình I, sử dụng vật liệu cao cấp để ốp lát, trang trí hoàn thiện bên trong và bên ngoài theo yêu cầu sử dụng và thẩm mĩ.

    Các công trình khác sử dụng vật liệu theo yêu cầu của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]