Author: Nguyễn Huyền

  • IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/IAS-41-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-V%C3%80-NH%E1%BB%AENG-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-%C4%90%E1%BA%B6T-RA-CHO-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-C%E1%BB%A6A-VI%E1%BB%86T-NAM-HI%E1%BB%86N-NAY.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Đoàn Vân Anh

    Trường Đại học Thương mại

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 19/03/2019                         Ngày nhận lại:     05/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • iệt Nam là đất nước nông nghiệp với đa dạng các loại hoạt động nông nghiệp, tuy nhiên những khuôn mẫu kế toán hiện nay của Việt Nam chỉ đặt trọng tâm cho các doanh nghiệp hoạt động sản

    xuất kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại, sản xuất, dịch vụ, xây lắp nói chung, gần như chưa có những khuôn mẫu về kế toán trong hoạt động nông nghiệp, những nội dung đã có thì quá sơ sài và không phù hợp với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán nông nghiệp. Hệ quả là việc xử lý, ghi nhận và trình bày thông tin không đảm bảo tính trung thực, đúng đắn, phù hợp với đối tượng kế toán là các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp cũng như tình hình và kết quả của quá trình hoạt động nông nghiệp của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam.

     

     

    Từ khóa: IAS 41, kế toán nông nghiệp.

     

    1.   Tổng quan nghiên cứu về kế toán nông nghiệp ở Việt Nam

     

    Về nghiên cứu kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp, đến nay có thể không nhiều các nghiên cứu đã công bố liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên cứu đã công bố cũng chỉ tập trung chủ yếu cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong nông nghiệp, có thể hệ thống các nghiên cứu đã công bố

     

    • Việt Nam về vấn đề này như sau: Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thái “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp” nghiên cứu CFSX và giá thành sản phẩm nói chung
    • khách thể nghiên cứu là các HTX nhỏ lẻ áp dụng theo hình thức khoán hộ thực hiện theo mô hình hợp tác xã; nghiên cứu của Đoàn Đình Thiêm “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước” tập trung vào nghiên cứu hoạt động chăn nuôi gia súc là lợn và bò ở các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các nghiên cứu này được thực hiện dựa trên nền của chế độ kế toán hiện đã không còn hiệu lực về pháp lý và khách thể nghiên cứu cũng đã có quá nhiều thay đổi về cơ chế vận hành cũng như

    quản lý tài chính. Nghiên cứu của Ngô Chí Giang “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn”, luận văn đã giải quyết được vấn đề bất cập trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn bằng các đề xuất liên quan đến những xử lý về kế toán đối với chi phí sản xuất giai đoạn chăn nuôi đàn gà bố mẹ trong thời kỳ hậu bị và đàn bố mẹ sau khi kết thúc giai đoạn hậu bị cũng như kế toán tập hợp chi phí sản xuất giai đoạn gia công gà thương phẩm. Các đề xuất này đều dựa trên khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “Tồn kho” nên chưa thực sự giải quyết được vấn đề một cách khoa học. Nghiên cứu của Thái Thị Thái Nguyên “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc”, đây là nghiên cứu tính thời sự hơn cả vì cũng đã tiếp cận đến quy định khuôn mẫu của quốc tế IAS 41 “Nông nghiệp” và được nghiên cứu cụ thể trong hoạt động chăn nuôi gia súc, tuy nhiên các đề xuất hoàn thiện của luận án vẫn dựa trên mô hình giá gốc để giải quyết

     

     

    khoa học

     
       

    63

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    63

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    trong hầu hết các vấn đề. Nghiên cứu của ThS. Hoàng Thụy Diệu Linh “Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế”, trong nghiên cứu này đã tổng hợp các khái niệm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về nông nghiệp (NN), tổng hợp một số các hướng dẫn kế toán của Việt Nam trong lĩnh vực trồng trọt, so sánh các quy định hiện hành với khuôn mẫu quốc tế và đưa ra các giải pháp cho kế toán hoạt động trồng trọt ở Việt Nam trên cơ sở đề xuất Việt Nam cần ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và cần phải sửa đổi quy định của Thông tư 200/2014 phù hợp với xu hướng quốc tế. Tuy nhiên nghiên cứu này được thực hiện ở cấp độ cần phân loại cây trồng thành cây mang sản phẩm (bao gồm cây lâu năm và cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần) và cây để tiêu thụ (cây ngắn ngày), bài viết chưa rõ những giải pháp cụ thể gì cho kế toán nông nghiệp Việt Nam.

     

    Nghiên cứu trên góc độ tổ chức thì có nghiên cứu của NCS Nguyễn Quốc Thắng, ĐHKTQT-2011 “Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam”, đây là nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực cây trồng, dưới góc độ tổ chức kế toán quản trị nên cũng không gắn với việc nghiên cứu khuôn mẫu chung của kế toán nông nghiệp.

     

    Trong chương trình hội thảo về chủ đề “Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam” do Bộ Tài chính tổ chức vào 22/2/2019 tại Hà Nội, Cục Quản lý giám sát Kế toán kiểm toán của Bộ tài chính trong “Báo cáo tổng hợp sự khác biệt cơ bản giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam, cơ chế tài chính và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS” đã tóm tắt sự khác biệt về

     

    có thể thấy các nghiên cứu thường chỉ tập trung cho hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và dựa trên nền tảng của nguyên tắc kế toán “giá gốc”, các nghiên cứu hoặc đã quá lỗi thời hoặc ít có tính kế thừa trong nghiên cứu này vì không tập trung giải quyết vấn đề khuôn mẫu nhằm hội nhập, hội tụ cao với quốc tế trong kế toán nông nghiệp hoặc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán IAS 41 “Nông nghiệp”, đồng thời nghiên cứu những quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp nói chung, từ đó thấy được những tồn tại trong kế toán Việt Nam hiện nay, hiểu được những vấn đề đặt ra, cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp ở Việt Nam là hoàn toàn cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

     

    2.   Khái quát về chuẩn mực kế toán quốc tế số 41 “Nông nghiệp”

     

    Chuẩn mực kế toán Quốc tế số 41 “Nông nghiệp” (IAS 41) được ban hành lần đầu bởi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) vào năm 2000, chuẩn mực kế toán này được đưa vào áp dụng tháng 1 năm 2003. Mục đích của chuẩn mực này là đưa ra các quy định phương pháp kế toán và trình bày thông tin liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Chuẩn mực này áp dụng để hạch toán các khoản liên quan đến hoạt động nông nghiệp là tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp vào thời điểm thu hoạch và trợ cấp của Chính phủ liên quan đến tài sản sinh học.

     

    Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản mục liên quan đến hoạt động nông nghiệp gồm tài sản sinh học; nông sản tại thời điểm thu hoạch; và trợ cấp chính phủ. Chuẩn mực này áp dụng cho sản phẩm nông nghiệp được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp và chỉ tại thời điểm thu hoạch.

     

    phương pháp ghi nhận đối với

    (1) Taøi saûn sinh hoïc

    (2) Saûn phaåm sinh hoïc

    (3) SF cheá bieán

     

    tài sản sinh học giữa Việt Nam

    Boø

    Söõa

    Phomai

     

    và quốc tế, từ đó nêu ra sự cần

    thiết Việt Nam phải ban hành

    Heo

    Thòt heo

    Xuùc xích

     

    chuẩn kế toán này để giúp các

    Caây cao su

    Muû cao su

    Goã

     

    doanh nghiệp hoạt động trong

    Caây nho

    Traùi nho

    Röôïu nho

     

    lĩnh vực nông nghiệp phản

           

    ánh đầy đủ, trung thực tài sản của mình theo thông

    Phạm vi của IAS 41 điều chỉnh cho các đối

    lệ quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ dừng lại

    tượng thuộc (1) và (2); còn (3) thuộc đối tượng điều

    ở việc nêu vấn đề có tính định hướng mở đường cho

    chỉnh của chuẩn mực kế toán khác liên quan như

    Việt Nam ban hành chuẩn mực kế toán “Nông

    chuẩn mực tồn kho,…

    nghiệp” trong tương lai.

    Trong đó:

    Từ những nghiên cứu tổng quan về các nghiên

    Hoạt động nông nghiệp là hoạt động quản lý bởi

    cứu đã công bố liên quan đến kế toán nông nghiệp,

    một doanh nghiệp trong lĩnh vực biến đổi sinh học

    64

    khoa học

     

    thương mại

       

    Sè 128/2019

             

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ

    Sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp.

     

    Thu hoạch là việc tách sản phẩm khỏi tài sản sinh học hoặc chấm dứt chu trình sống của sản phẩm sinh học.

     

    Tài sản sinh học là vật nuôi và cây trồng còn sống. Nhóm tài sản sinh học là một tập hợp các cây

    trồng và vật nuôi tương tự nhau và còn sống

     

    Biến đổi sinh học bao gồm các quá trình tăng trưởng, suy thoái, sản xuất và sinh sản mà tạo ra các thay đổi về chất lượng hoặc số lượng trong tài sản sinh học.

     

    Hoạt động nông nghiệp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, như chăn nuôi, trồng rừng, trồng cây hàng năm hay lâu năm, trồng cây ăn quả và cây công nghiệp, trồng hoa, nuôi trồng thủy sản. Các hoạt động nông nghiệp này có 3 đặc điểm cơ bản, đó là:

     

    Khả năng thay đổi: Động vật sống và thực vật có khả năng biến đổi về mặt sinh học như lớn lên, sản sinh ra động vật hay cây trái

     

    Quản lý sự thay đổi: Doanh nghiệp phải chủ động quản lý được sự thay đổi của các tài sản sinh học. Việc quản lý tạo ra sự biến đổi về mặt sinh học, ổn định và tạo các điều kiện cần thiết cho quá trình biến đổi sinh học diễn ra.

     

    Đo lường được sự thay đổi: Doanh nghiệp phải giám sát và đo lường được sự thay đổi về chất lượng hoặc số lượng phát sinh do quá trình biến đổi sinh học hoặc hoạt động thu hoạch diễn ra trong kì.

     

    Nội dung cốt lõi của chuẩn mực kế toán này quy định 5 vấn đề cơ bản sau:

     

    Thứ nhất, về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn sau:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản một cách tin cậy.

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận ban đầu tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    • Tài sản sinh học được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau ghi nhận ban đầu,

    tài sản sinh học được đánh giá theo giá trị hợp lý trừ chi phí để bán. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

     

    • Sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp sẽ được xác định theo các chuẩn mực kế toán liên quan tùy thuộc vào việc phân loại chúng như thế nào. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu của sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

    Trong đó, Chi phí bán hàng là chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc đưa sản phẩm đến tay người mua, không bao gồm chi phí tài chính và thuế thu nhập. Giá trị hợp lý là giá sẽ nhận được khi bán một tài sản hoặc được thanh toán một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có trật tự giữa các thành phần tham gia thị trường tại ngày xác định.

     

    Thứ ba, về đo lường giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp có thể được thực hiện bằng cách gộp những tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp theo nhóm căn cứ vào các thuộc tính quan trọng của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp đó; ví dụ như, căn cứ vào tuổi hay chất lượng. Doanh nghiệp lựa chọn các thuộc tính phù hợp với các thuộc tính được sử dụng trên thị trường làm cơ sở định giá. Các hợp đồng bán các tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp tại một ngày trong tương lai thì giá hợp đồng không là căn cứ để xác định giá trị hợp lý bởi giá trị hợp lý phản ánh các điều kiện thị trường hiện tại. Nếu tồn tại thị trường hoạt động của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, tại địa điểm và điều kiện hiện tại, giá niêm yết trên thị trường là căn cứ thích hợp để xác định giá trị hợp lý cho loại tài sản này. Nếu thị trường hoạt động không tồn tại, doanh nghiệp sử dụng giá giao dịch gần nhất hoặc giá thị trường của tài sản tương tự với điều chỉnh phù hợp để xác định giá trị hợp lý.

     

    Ngoài ra, chi phí trong một vài trường hợp có thể dùng để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp, cụ thể khi:

     

    (a) Khi có sự biến đổi sinh học rất ít kể từ khi phát sinh chi phí ban đầu – như cây ăn quả được trồng ngay trước thời điểm kết thúc kỳ báo cáo.

     

     

    khoa học

     
       

    65

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    • Khi tác động của biến đổi sinh học đến giá được coi là không trọng yếu – như thời kỳ tăng trưởng đầu của những cây được trồng có vòng đời dài.

    Đối với các tài sản sinh học gắn liền với đất, ví dụ như cây trồng sinh trưởng trên cánh đồng, khi không có thị trường riêng biệt cho tài sản sinh học gắn liền với đất, có thể tồn tại một thị trường năng động cho nhóm tài sản, tức là cho tài sản sinh học, đất và công tác cải tạo đất. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin về nhóm tài sản để xác định giá trị hợp lý cho tài sản sinh học. Theo đó, giá trị hợp lý của tài sản sinh học có thể bằng giá trị hợp lý của nhóm tài sản trừ đi giá trị hợp lý của đất và công tác cải tạo đất.

     

    Khi không thể xác định được giá trị hợp lý của các tài sản sinh học thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế. Sau đó khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng. Khi xác định giá gốc, hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế, doanh nghiệp cần xem xét những yêu cầu của IAS 2, IAS 16 và IAS 36 – Suy giảm giá trị tài sản.

     

    Thứ tư, về ghi nhận lãi lỗ:

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Một khoản lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu có thể xảy ra vì chi phí bán hàng đã được trừ đi khi xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học. Ngược lại, một khoản lãi cũng có thể phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu (ví dụ khi một con bê được sinh ra).

     

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với sản phẩm nông nghiệp được xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với nông sản có thể phát sinh từ việc thu hoạch.

     

    Thứ năm, về trình bày thông tin

     

    Doanh nghiệp phải trình bày và công bố thông tin trên các BCTC theo từng nhóm tài sản sinh học

    trên BCĐKT, thông tin về tổng lãi, lỗ phát sinh trong kỳ hiện hành khi ghi nhận ban đầu của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp và khi có sự thay đổi trong giá trị hợp lý trừ chi phí để bán của tài sản sinh học.

     

    3.   Khuôn mẫu kế toán và những bất cập hiện nay trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp của Việt Nam

     

    Nghiên cứu những quy định mang tính khuôn mẫu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, có thể nói những quy định hiện hành quá sơ sài, đơn giản và thiếu những cơ sở đo lường cần thiết cho những ghi nhận của kế toán nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán nông nghiệp: Việt Nam chưa ban hành

     

    Thứ hai, về hướng dẫn kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp:

     

    Chưa có chế độ kế toán hướng dẫn riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện kế toán nông nghiệp chỉ được hướng dẫn lồng ghép trong các hướng dẫn của chế độ kế toán doanh nghiệp nói chung. Cụ thể :

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, hiện chỉ có 2 nội dung quy định liên quan đến vấn đề nông nghiệp, đó là:

     

    – TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” áp dụng trong ngành nông nghiệp, quy định về một số nguyên tắc hạch toán trong ngành nông nghiệp cần chú ý như:

     

    + Tài khoản 154 áp dụng trong ngành nông nghiệp dùng để tập hợp tổng chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các hoạt động nuôi trồng, chế biến sản phẩm hoặc dịch vụ nông nghiệp. tài khoản này phải được hạch toán chi tiết theo ngành kinh doanh nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến,…), theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, đội sản xuất,…), chi tiết theo từng loại cây con và từng loại sản phẩm, từng sản phẩm hoặc dịch vụ.

     

    + Chi phí sản xuất ngành trồng trọt được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng như Cây ngắn ngày (lúa, khoai, sắn, cà chua, ngô,…); Cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần (nho, đu đủ…); Cây lâu năm (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn quả,…).

     

    • Chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí thì phải phân bổ vào giá thành của các loại sản phẩm liên quan như chi phí tưới tiêu nước, chi phí chuẩn bị đất và trồng mới năm đầu của những

    66

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    cây trồng một lần, thu hoạch nhiều lần (chi phí này không thuộc vốn đầu tư XDCB).

     

    Trên cùng một diện tích canh tác, nếu trồng xen từ hai loại cây nông nghiệp ngắn ngày trở lên thì những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến loại cây nào thì tập hợp riêng cho loại cây đó (như: hạt giống, chi phí gieo trồng, thu hoạch,…), chi phí phát sinh chung cho nhiều loại cây (chi phí cày bừa, tưới tiêu nước,…) thì được tập hợp riêng và phân bổ cho từng loại cây theo diện tích gieo trồng, hoặc theo một tiêu thức phù hợp.

     

    Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm nông nghiệp được xác định vào cuối vụ thu hoạch, hoặc cuối năm. Sản phẩm thu hoạch năm nào thì tính giá thành trong năm đó nghĩa là chi phí chi ra trong năm nay nhưng năm sau mới thu hoạch sản phẩm thì năm sau mới tính giá thành.

     

    Riêng đối với cây lâu năm thì ghi nhận như quá trình đầu tư xây dựng cơ bản và phản ánh vào TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Tuy nhiên, nội dung của TK 241 không đề cập gì đến vấn đề này.

     

    • Chi phí sản xuất ngành chăn nuôi được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng chăn nuôi như trâu, bò, lợn… súc vật con của đàn súc vật cơ bản sau khi tách mẹ phải mở sổ chi tiết theo dõi riêng theo giá thành thực tế; đối với súc vật cơ bản khi đào thải chuyển thành súc vật nuôi lớn, nuôi béo được ghi nhận vào TK 154 theo giá trị còn lại của súc vật cơ bản. Đối tượng tính giá thành trong ngành chăn nuôi là 1kg sữa tươi, 1 con bò tiêu chuẩn, giá thành của 1kg thịt tăng, giá thành của 1kg thịt hơi…

    – TK 211 “Tài sản cố định” quy định TK 2115 phản ánh “Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm”. Tài khoản này phản ánh giá trị các loại TSCĐ là các loại cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật nuôi để lấy sản phẩm. Đối với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con súc vật thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định đều được coi là một tài sản cố định hữu hình.

     

    Về xác định giá trị đối với TSCĐ là súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật từ lúc hình thành đến khi đưa vào khai thác, sử dụng và các chi phí khác trực tiếp có liên quan.

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư 133/2016/TT-BTC quy định hoàn toàn tương tự như trong TT 200/2014/TT-BTC. Tuy nhiên, TK 211 không quy định mở chi tiết cho

    đối tượng kế toán là TSCĐ Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm trong nông nghiệp.

     

    Trong chế độ kế toán áp dụng cho hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC. Hệ thống kế toán áp dụng cho các Hợp tác xã Nông nghiệp được hướng dẫn trong Thông tư này trên cơ sở Chế độ kế toán doanh nghiệp Nhỏ và Vừa ban hành kèm theo Thông tư 133/2016/TT-BTC và có sửa đổi bổ sung một vài tên gọi của TK để phù hợp với đặc thù hoạt động của HTX. Thông tư có hướng dẫn kế toán một số nội dung đặc thù của hợp tác xã như giao dịch giữa HTX với xã viên, giữa HTX với doanh nghiệp thuộc HTX, nội dung chi phí sản xuất của một số ngành nghề nông nghiệp, trong đó có sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Đối với các HTX có quy mô lớn, có nhiều giao dịch mà Thông tư này không có quy định thì được lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư số Thông tư 133/2016/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).

     

    Từ nghiên cứu về những khuôn mẫu kế toán nông nghiệp đã hệ thống ở trên, có thể thấy được những khác biệt trong kế toán sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam so với khuôn mẫu của quốc tế. Những khác biệt có tính trọng yếu này thể hiện những bất cập trong kế toán của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, được thể hiện trên các nội dung sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán:

     

    Việt Nam hiện chưa ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực liên quan đến giá trị hợp lý như chuẩn mực về “Giá trị hợp lý”, “Suy giảm giá trị tài sản”, “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của Chính phủ”. Bất cập này dẫn đến chưa có khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp cũng như thiếu những cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp; thiếu những khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý và khi được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận:

     

    Sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau

     

     

    khoa học

     
       

    67

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp. Việc sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” là không thích hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp bởi các thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã có thể ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, đã tạo ra những thu nhập hay chi phí (lãi/lỗ) cho doanh nghiệp. Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” khiến cho một doanh nghiệp nông nghiệp có thể không có bất cứ một khoản thu nhập nào được trình bày trên báo cáo cho đến khi thu hoạch sản phẩm (ví dụ như doanh nghiệp trồng rừng thu hoạch gỗ sau 30-40 năm).

     

    Thứ ba, về thông tư hướng dẫn kế toán trong nông nghiệp

     

    Hiện Việt Nam chưa có những hướng dẫn đủ cần thiết cho kế toán để ghi nhận các đối tượng kế toán và các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp, trong khi loại hoạt động này chứa đựng quá nhiều yếu tố đặc thù, phức tạp và nhiều rủi ro.

     

    • Không có khái niệm tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là sẽ không xác định được các đối tượng kế toán phù hợp phải được xử lý, ghi nhận theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Không quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là không phản ánh được kịp thời, đúng đắn và đầy đủ các tài sản của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đo lường các đối tượng kế toán trong nông nghiệp dựa trên chi phí thực tế phát sinh, không ghi nhận sự thay đổi giá trị do sự thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã phát sinh thu nhập, chi phí. Hệ quả không phản ánh đúng được tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra tên gọi của tài khoản phản ánh cho đối tượng kế toán là vườn cây, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, không có hướng dẫn kế toán về ghi nhận ban đầu, sau ghi nhận ban đầu, phương pháp khấu hao tài sản cố định cho đối tượng kế toán này. Hệ quả dẫn đến xử lý tùy tiện của kế toán, không đảm bảo tính thống nhất trong xử lý giao dịch giữa các doanh nghiệp nông nghiệp cùng loại hình.
    • Đối với hoạt động sản xuất trong nông nghiệp: Hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra những hướng dẫn

    chung cho tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà không có những hướng dẫn cụ thể thể hiện được tính đặc thù trong từng loại hoạt động cụ thể. Trên TK 154 quy định không rõ ràng, không phân biệt các hoạt động trong hoạt động chăn nuôi, các hoạt động trong hoạt động lâm nghiệp… hình thành nên những loại tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khác nhau, cách phân bổ những chi phí chung, chi phí nào được vốn hóa và chi phí nào không được vốn hóa vào tài sản sinh học. Hệ quả làm cho việc tính toán, đo lường, ghi nhận không phù hợp với bản chất của giao dịch, làm sai lệch thông tin về giá trị tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp.

     

    • Các khoản trợ cấp của Chính phủ trong các hoạt động nông nghiệp không được ghi nhận và cung cấp thông tin rõ ràng. Hệ quả không đo lường được thực tế kết quả hoạt động của doanh nghiệp do bản thân doanh nghiệp tạo ra hay từ những khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.
    • Về trình bày thông tin trên BCTC: Không quy định riêng về trình bày và thuyết minh thông tin đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp. Hệ quả người đọc báo cáo tài chính không có thông tin về những chính sách kế toán mà một doanh nghiệp nông nghiệp áp dụng đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp, cơ sở của những thông tin trình bày, công khai trên báo cáo tài chính nhưng đã không được công khai cho những người sử dụng thông tin.

    4. Những vấn đề cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay

     

    Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của nền kinh tế, theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, nông nghiệp Việt Nam đóng góp 15,34% vào GDP của cả nước. Với tính trọng yếu của ngành nông nghiệp, lĩnh vực kế toán nông nghiệp ngày càng trở nên quá quan trọng, cùng với những bất cập hiện nay trong kế toán nông nghiệp của Việt Nam, các khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp cần phải được sớm hoàn thiện để hội nhập quốc tế và dẫn đến hội tụ với các quy định khuôn mẫu kế toán nói chung.

     

    Từ những khác biệt có tính trọng yếu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay như sau:

     

    68

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    Thứ nhất, Ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực kế toán khác liên quan

     

    Bộ Tài chính Việt Nam cần sớm ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp để kế toán toàn bộ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được thực hiện theo khuôn mẫu từ quá trình ghi nhận, trình bày báo cáo và thuyết minh thông tin, đảm bảo phù hợp và hội tụ với thông lệ quốc tế. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” của quốc tế để ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” cho Việt Nam sẽ là cơ sở khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Và để có đủ các cơ sở pháp lý cho việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán nông nghiệp thì Việt Nam cần nghiên cứu và ban hành chuẩn mực kế toán liên quan đến giá trị hợp lý, đó là chuẩn mực về “Xác định giá trị hợp lý” làm căn cứ, cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời ban hành chuẩn mực “Suy giảm giá trị tài sản” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý thì tài sản sinh học được xác định theo giá gốc trừ đi hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế; chuẩn mực “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý khi doanh nghiệp được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, đề xuất áp dụng nguyên tắc ghi nhận theo “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp

     

    Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp là không phù hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp. Việt Nam sau khi đã ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp thì nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” sẽ được áp dụng trong kế toán nông nghiệp, theo đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ phản ánh trung thực và đầy đủ tài sản, quá trình hoạt động kinh doanh theo đúng thông lệ quốc tế.

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài

    sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    • Tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán áp dụng khi ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu trong quá trình tăng trưởng, suy thoái và sinh sản đến thời điểm thu hoạch sản phẩm nông nghiệp (trừ khi giá trị hợp lý không thể xác định một cách đáng tin cậy tại thời điểm ghi nhận ban đầu).
    • Sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán tại thời điểm thu hoạch.
    • Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong kì và phản ánh vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.
    • Toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

    Việc đo lường giá trị hợp lý trong nông nghiệp thường sẽ được thực hiện theo phương pháp tiếp cận thị trường vì các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp thông thường sẽ có giá tham chiếu trên thị trường ở từng thời điểm giao dịch.

     

    Thứ ba, về ban hành thông tư hướng dẫn kế toán nông nghiệp

     

    Việt Nam cần có những hướng dẫn cần thiết cho kế toán để phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán và ghi nhận các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp. Khi Việt Nam chưa ban hành được chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” thì cần có những hướng dẫn chi tiết cụ thể theo hướng tiếp cận với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán trong nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    (1) Về khái niệm và phân loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    • Bổ sung trong hướng dẫn kế toán các khái niệm có liên quan trong nông nghiệp như khái niệm tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, thu hoạch, biến đổi sinh học….từ đó sẽ xác định rõ ràng các đối tượng kế toán nào chịu sự điều chỉnh theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Cần phải phân loại các tài sản sinh học, trên cơ sở đó xác định được các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp để đưa ra những quy định về ghi nhận kế
     

    khoa học

     
       

    69

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    toán đối với từng loại tài sản sinh học, đảm bảo phản ánh đúng bản chất của giao dịch và tính khoa học của vấn đề. Cụ thể như sau :

     

    Đối với tài sản sinh học, căn cứ vào vòng đời sử dụng của tài sản có thể chia thành:

     

    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì không còn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó nữa. Ví dụ như cây lúa, cây rau, các vật nuôi lấy thịt…
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được. Ví dụ như trồng cây sau 20-30 năm để lấy gỗ, sau khi lấy gỗ thì không tồn tại cây trồng đó nữa.
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì vẫn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó. Ví dụ cây cam, cây bưởi, cây cao su, nuôi bò lấy sữa, bò sinh sản…

    (2) Xác định các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp với từng loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    Từ những phân loại tài sản sinh học nêu trên, có thể xác định các chuẩn mực kế toán chi phối để có những hướng dẫn kế toán phù hợp

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được thì khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và chỉ thu hoạch tài sản sinh học sau rất nhiều năm thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch (ví dụ cây bắt đầu cho trái theo tiêu chuẩn, bò bắt đầu cho sữa theo tiêu chuẩn…) thì các tài sản sinh học này nếu thỏa mãn

    các điều kiện là một tài sản cố định thì từ thời điểm đó phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”, xác định đơn vị tài sản hữu hình phù hợp với từng loại, từng nhóm vật nuôi cây trồng, ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu phù hợp với quy định của chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”.

     

    Đối với sản phẩm nông nghiệp: các sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” tại thời điểm thu hoạch. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp nếu đem vào chế biến hoặc tiêu thụ thì áp dụng chuẩn mực kế toán “tồn kho”, “Doanh thu và thu nhập khác”…

     

    • Quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Bổ sung quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở thỏa mãn điều kiện ghi nhận một tài sản nói chung trong VAS 01 “Chuẩn mực chung”. Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp một cách tin cậy.

    (4) Hướng dẫn về xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    Ban hành những quy định về các phương pháp xác định giá trị hợp lý, hạ tầng thông tin để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp phải xác định giá trị của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng vì giá trị hợp lý của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch thông thường có thể xác định một cách đáng tin cậy.

     

    Nếu không có giá niêm yết trên thị trường cho tài sản sinh học và các phương pháp đo lường giá trị hợp lý khác cho tài sản sinh học được coi là không tin cậy thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm

     

    70

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    lũy kế. Sau đó, khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng.

     

    • Hướng dẫn về ghi nhận kế toán tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    5.1. Ghi nhận kế toán đối với tài sản sinh học

     

    – Ghi nhận ban đầu tài sản sinh học: căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của tài sản sinh học, kế toán ghi tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập.

    – Sau ghi nhận ban đầu:

     

    + Các chi phí bỏ ra trong quá trình nuôi, trồng kế toán ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

     

    + Thay đổi giá trị hợp lý so với thời điểm ghi nhận ban đầu trừ đi chi phí bán hàng, nếu chênh lệch tăng lên kế toán tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập, nếu chênh lệch giảm xuống kế toán ghi giảm giá trị tài sản sinh học và tăng chi phí trong kỳ. Thu nhập và chi phí này được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.

     

    5.2. Ghi nhận kế toán đối với sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học

    Căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch, kế toán ghi tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp và tăng thu nhập.

     

    5.3 Ghi nhận kế toán đối với hoạt động nông nghiệp

     

    – Kế toán phải tách hoạt động chế biến ra khỏi những hướng dẫn kế toán liên quan đến hoạt động nông nghiệp vì hoạt động chế biến được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Tồn kho” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá gốc” để đo lường chi phí hình thành nên sản phẩm, trong khi các hoạt động nông nghiệp được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá trị hợp lý” để đo lường sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp.

     

    – Trong kế toán hoạt động nông nghiệp, cần có những hướng dẫn về ghi nhận đối với các loại hoạt động nông nghiệp khác nhau, cụ thể như ghi nhận chi phí đối với hoạt động chăn nuôi phải phân biệt

    giữa gia súc và gia cầm, xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại gia súc; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động lâm nghiệp phải phân biệt giữa cây ngắn ngày và cây lâu năm; xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại cây lâu năm; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản phải xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai…

     

    • Ghi nhận kế toán đối với các khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp

    Các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp nhằm mục tiêu khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này tham gia tích cực và có hiệu quả, hoặc thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực hoạt động nông nghiệp. Các khoản trợ cấp này có thể có điều kiện hoặc không có điều kiện. Việc ước tính, đo lường, xác định giá trị khoản trợ cấp của chính phủ cũng như cách thức ghi nhận khoản trợ cấp của chính phủ phải được tuân thủ dựa trên cơ sở áp dụng chuẩn mực kế toán “Trợ cấp của chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ”.

     

    Khi phát sinh các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp, căn cứ vào giá trị của các khoản trợ cấp, kế toán ghi tăng tài sản và ghi tăng thu nhập của doanh nghiệp.

     

    • Cần có những hướng dẫn về xác định mức dự phòng rủi ro và ghi nhận kế toán đối với dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp

    Những rủi ro trong hoạt động nông nghiệp là vô cùng nhiều do hoạt động nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên tai, dịch bệnh. Vấn đề dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải đặt ra như một vấn đề cần thiết khách quan. Cơ chế dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải được thiết lập, những xử lý về mặt kế toán cần được xây dựng đảm bảo phù hợp với khuôn mẫu chung.

     

    • Về trình bày và công bố thông tin đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên báo cáo tài chính

    Bổ sung vào quy định về trình bày và công bố thông tin đối với doanh nghiệp nông nghiệp những thông tin sau:

     

     

    khoa học

     
       

    71

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    – Thông tin trình bày tài sản sinh học:

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần thì phải được trình bày ở mục tài sản ngắn hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được và nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch thì phải được trình bày ở mục tài sản dài hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.

    – Công bố thông tin về phương pháp, căn cứ xác định giá trị hợp lý của các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp ở thời điểm thu hoạch.

     

    Kết luận:

     

    Trên đây là những nghiên cứu về khuôn mẫu của quốc tế và quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, từ đó trao đổi về những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp Việt Nam hiện nay, nhằm đưa kế toán Việt Nam nói chung và kế toán nông nghiệp nói riêng hội nhập, dần hội tụ với thông lệ chung của quốc tế về kế toán. Bài viết này sẽ tiếp nối cho nhiều nghiên cứu tiếp theo của bản thân tác giả và cho những ai quan tâm đến lĩnh vực kế toán nông nghiệp.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2000, IAS 41 Agriculture, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2014, Amendments to IAS 16 and IAS 41, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. Quốc Hội, Luật Kế toán số 88/2015/QH13.

     

    1. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 200/2014.
    2. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 133/2016.
    3. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC.
    1. Nguyễn Quốc Thái, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1983 “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp”.
    1. Đoàn Đình Thiêm, Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1995.
    1. Nguyễn Quốc Thắng, Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-2011.
    1. Ngô Chí Giang, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn, Luận văn cao học, ĐH Thương mại-2017.
    1. Thái Thị Thái Nguyên, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐH Thương mại – 2019.
    1. Hoàng Thụy Diệu Linh, Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán (5/2018)
    1. Bộ Tài chính, Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam, tài liệu hội thảo ngày 22/2/2019
    1. Tổng cục thống kê, Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội năm 2017, http://www.gso.gov.vn.

    Summary

     

    Vietnam is an agricultural country with a variety of agricultural activities; however, the current accounting patterns of Vietnam only focus on busi-nesses operating in the commercial, production, service, construction fields in general, there are almost no accounting standards in agricultural activities, the existing contents are too sketchy and do not conform to international standard of agricul-tural accounting. Consequently, the processing, recording and presentation of information does not guarantee the truthfulness, correctness, and rele-vance to the accounting objects of biological assets, agricultural products as well as the situation and results of agricultural operations of Vietnamese agricultural enterprises.

     

    khoa học

     

    72   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-T%C3%8DCH-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-NH%C3%82N-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-T%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-T%C3%81I-C%C6%A0-C%E1%BA%A4U.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

     

    Lê Thanh Phương

     

    Trường đại học Hàng hải Việt Nam

     

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận:  19/02/2019                        Ngày nhận lại:     06/03/2019               Ngày duyêt đăng: 12/03/2019

     

    • ài báo đi sâu phân tích một số nhân tố bên trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể tác động tới hiệu quả sinh lời của các ngân hàng trong giai đoạn tái

    cơ cấu. Sử dụng mô hình hồi quy với dữ liệu từ 2011 đến 2015, tác giả chỉ ra các nhân tố bao gồm cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, mức độ nợ xấu và quy mô tài sản có tác động đáng kể tới khả năng sinh lời các ngân hàng. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống NHTM.

     

    Từ khóa: hiệu quả tài chính, tái cơ cấu, ngân hàng thương mại.

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Các ngân hàng thương mại Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt đối với khu vực tài chính nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Hệ thống các NHTM đã và đang là trụ cột của hệ thống tài chính khi là kênh huy động và cung ứng vốn chủ đạo phục vụ tăng trưởng kinh tế. Theo chiến lược phát triển thị trường tài chính đến năm 2020, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu phải đạt mức 70% GDP, tuy nhiên tính đến cuối năm 2015 mới đạt 34%. Đến năm 2020, dư nợ thị trường trái phiếu phải đạt 38% GDP nhưng tính đến năm 2015 mới đạt mức 24,6%. Với sự phát triển

    thiếu cân bằng của thị trường tài chính, đến nay hệ thống ngân hàng cùng với các tổ chức tín dụng khác đang chiếm tới 96% tổng giá trị tài sản của hệ thống tài chính (UBGSTCQG, 2016). Do đó, hiệu quả hoạt động khu vực ngân hàng đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia. Giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO chứng kiến sự phát triển nóng của toàn hệ thống song không đi liền với nâng cao hiệu quả và chất lượng quản trị. Hệ quả là chất lượng tài sản và tín dụng các ngân hàng thương mại giảm sút, nợ xấu tăng cao.

     

     

    khoa học

     
       

    15

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Nhận thức được tính cấp thiết của việc cơ cấu lại hệ thống TCTD, NHNN đã chủ động yêu cầu toàn ngành Ngân hàng phát huy nội lực để triển khai các biện pháp cơ cấu lại ngay khi Đề án được ban hành. NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 454/QĐ-TTg ngày 13/03/2013 và Quyết định 363/QĐ-TTg ngày 11/03/2014 thành lập Ban chỉ đạo liên ngành triển khai Đề án. Về phía ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2012 về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng, làm cơ sở để triển khai thực hiện Đề án. Trên cơ sở đó và trước áp lực từ phía thị trường, bản thân các NHTM cũng chủ động xây dựng và triển khai đề án tái cơ cấu cho riêng mình.

     

    Giai đoạn 2011-2015, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực hiện đề án tái cơ cấu theo quyết định 254 ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ với nhiều biện pháp như: yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng vốn; đưa các ngân hàng cổ phần yếu kém vào diện kiểm soát và bảo đảm thanh khoản; cho phép sáp nhập và mua lại; NHNN mua lại các ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng; xử lý nợ xấu và thành lập công ty quản lý tài sản (VAMC). Các biện pháp đã nêu có tác động lớn tới hệ thống NHTM trong ngắn hạn cũng như dài hạn, đặc biệt là khả năng sinh lời của các ngân hàng. Các biện pháp tái cơ cấu đòi hỏi các NHTM phải tuân thủ các quy định chặt chẽ hơn trong cho vay, giới hạn tăng trưởng tín dụng bị giảm, nợ xấu phải được giải quyết dựa trên cơ sở trích lập dự phòng rủi ro tín dụng… chính những điều này tác động không nhỏ tới lợi nhuận và khả năng sinh lời các NHTM.

     

    Nghiên cứu các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của NHTM sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách bao gồm Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đề ra các chính sách nhằm gia tăng năng lực hoạt động và khả năng sinh lời của các ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng giúp các nhà quản trị ngân hàng nhận biết các nhân tố bên trong hệ thống NHTM có thể tác động tới hoạt động và khả năng sinh lời, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả tài chính hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay.

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

    Nghiên cứu về hệ thống ngân hàng Việt Nam thu hút tương đối nhiều các tác giả với các nội dung liên quan tới tác động của tự do hóa tài chính đến các NHTM, nghiên cứu về năng suất và hiệu quả hệ thống, tác động của rủi ro tín dụng tới hoạt động các ngân hàng.

     

    Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2007) về hiệu quả và năng suất của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ 2001 – 2003 với 13 ngân hàng. Sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu, tác giả phát hiện hiệu quả chi phí trung bình là 60.6%. Chỉ số năng suất Malmquist giảm qua các năm. Các kết quả dựa trên quy mô mẫu tương đối nhỏ và khung thời gian ngắn, do đó độ tin cậy trong các kết quả không cao.

     

    Nguyễn Hồng Vinh (2012) sử dụng kỹ thuật phân tích bao dữ liệu giản đơn để đo lường hiệu quả và năng suất của các ngân hàng giai đoạn 2007-2010, sử dụng mẫu gồm 20 ngân hàng. Tác giả cho rằng hiệu quả liên tục tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Tuy nhiên, phần phân tích các nhân tố tác động tới hiệu quả và năng suất các ngân hàng chưa được đề cập.

     

    16

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    Tác giả Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2013) ước lượng hiệu quả của khu vực ngân hàng Việt Nam sử dụng mẫu gồm 32 ngân hàng giai đoạn 2001-2005. Sử dụng mô hình Slack-based DEA với giả thiết hiệu suất thay đổi theo quy mô (VRS). Điểm hiệu quả trung bình ở mức 80% và có xu hướng tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Bên cạnh đó một số nhân tố tác động tới hiệu quả các ngân hàng bao gồm: dạng sở hữu, quy mô, chất lượng lao động và thị phần, được xem xét thông qua mô hình hồi quy Tobit.

     

    Võ Xuân Vinh (2015) phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) và hiệu quả quy mô (SE) theo biến số tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng hiệu quả theo quy mô có tác động đáng kể tới tỷ suất sinh lời của cổ phiếu.

     

    Nguyễn Phương Anh và Michel Simioni (2015) sử dụng chỉ số Färe-Primont để đo lường năng suất khu vực ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2008-2012. Kết quả chỉ ra rằng khu vực ngân hàng chịu sự suy giảm năng suất mặc dù có nhiều đổi mới công nghệ quan trọng. Sự suy giảm về hiệu quả theo qui mô và hiệu quả theo phạm vi là nguyên nhân cơ bản dẫn tới suy giảm năng suất của các ngân hàng.

     

    Các nghiên cứu về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng:

     

    Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hướng tới ba mục tiêu bao gồm: 1) tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống; 2) cải thiện năng lực của các tổ chức tài chính và 3) phục hồi niềm tin của công chúng (Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, 2014). Các nghiên cứu về quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân

     

    hàng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.

     

    William và Nguyễn Nghĩa (2005) nghiên cứu tác động của thay đổi quản trị lên hiệu quả ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn từ 1990 đến 2003, giai đoạn chứng kiến quá trình tự do hóa hệ thống ngân hàng, khủng hoàng tài chính Châu Á và các chương trình tái cấu trúc. Nghiên cứu khẳng định tác động tích cực của chương trình tư nhân hóa và sở hữu nước ngoài lên hiệu quả các ngân hàng.

     

    Banker và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của cải cách hệ thống ngân hàng lên năng suất các ngân hàng tại Hàn Quốc giai đoạn 1996-2005. Nghiên cứu chỉ ra rằng những thay đổi liên quan tới cấu trúc vốn và quản lý rủi ro tác động khác nhau tới năng suất hệ thống và những thay đổi này có tác động đáng kể tới các ngân hàng có ưu thế về vốn và nhận ưu đãi từ phía chính phủ.

     

    Hệ thống ngân hàng Việt Nam được tái cấu trúc từ năm 2011 theo Quyết định 254 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của chương trình tái cấu trúc còn rất hạn chế và chỉ dừng ở mức định tính (như nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, 2014). Đề xuất nghiên cứu của chúng tôi đi tiên phong trong việc đánh giá một cách định lượng với bằng chứng khoa học về tác động của các biện pháp tái cấu trúc lên hoạt động của hệ thống ngân hàng. Kết quả của nghiên cứu sẽ mang đến cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý ngân hàng và công chúng một đánh giá khách quan về tác động của các biện pháp tái cấu trúc đã thực hiện.

     

     

    khoa học

     
       

    17

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    3. Các nhân tố tác động tới hiệu quả tài chính các NHTM

     

    Các biện pháp trong giai đoạn tái cơ cấu tác động đáng kể tới hoạt động NHTM, làm thay đổi cấu trúc nguồn vốn và cơ cấu nợ của NHTM. Bên cạnh đó, cấu trúc tài sản, quy mô tài sản của NHTM cũng thay đổi đáng kể khi mà hoạt động cho vay bị kiểm soát chặt chẽ hơn, do đó việc đa dạng hóa danh mục tài sản nhằm giảm tỷ trọng tài sản cho vay và tăng khả năng sinh lời là hướng ưu tiên của các ngân hàng.

     

    Những thay đổi kể trên trong hoạt động của hệ thống ngân hàng tác động ra sao tới khả năng sinh lời của các ngân hàng? Điều này cần phải được làm rõ thông qua xây dựng các biến đại diện (proxy) và mô hình hồi quy thích hợp (regression models).

     

    Để phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, hai biến bao gồm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) được sử dụng trong nghiên cứu. Các biến đại diện cho sự thay đổi trong hoạt động của các ngân hàng giai đoạn tái cơ cấu bao gồm:

     

    (1) Thay đổi trong cấu trúc vốn (Equity on Asset ratio_EA): biến đại diện EA cho biết trong tổng quy mô nguồn vốn, bao nhiêu phần trăm thuộc về chủ sở hữu ngân hàng. Khi giá trị EA tăng thì khả năng chống đỡ với những rủi ro mất vốn cũng tăng lên, tuy nhiên biến này chịu ảnh hưởng lớn từ biến động trên thị trường chứng khoán. Nếu thị trường tăng trưởng tốt, các NHTM sẽ phát hành thêm cổ phiếu và việc gia tăng EA sẽ dễ dàng hơn và ngược lại. Mối quan hệ giữa EA và khả năng sinh lời được xem là thuận chiều, bởi khi EA tăng sẽ có nhiều cổ đông tham gia vào ngân

     

    hàng do đó làm gia tăng sự kiểm soát đối với hoạt động của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc, từ đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động điều hành ngân hàng.

     

    • Thay đổi trong cấu trúc tài sản (Loan on Asset ratio_LA): biến đại diện LA cho biết trong tổng quy mô tài sản có bao nhiêu phần trăm là các khoản cho vay. Hoạt động cho vay được xem là hoạt động kinh doanh truyền thống của NHTM, tuy nhiên phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động này nhằm tạo lợi nhuận sẽ dẫn tới gia tăng rủi ro về nợ xấu. Các biện pháp tái cơ cấu đòi hỏi các ngân hàng phải thận trọng hơn trong cho vay đồng thời đi kèm các biện pháp kiểm soát và xử lý các khoản nợ xấu. Các ngân hàng trong giai đoạn tái cơ cấu nếu đa dạng hóa danh mục tài sản và từ đó làm giảm tỷ lệ LA được kỳ vọng sẽ có khả năng sinh lời cao hơn.
    • Tỷ trọng chi phí trích lập rủi ro tín dụng trên tổng quy mô nợ (Loan-loss Provisioning Cost on Total Loan_LP): biến LP cho biết mức độ nợ xấu trên tổng quy mô cho vay của ngân hàng. Ngân hàng có mức độ nợ xấu càng cao thì tỷ lệ LP càng lớn và làm xói mòn khả năng sinh lời của các NHTM.
    • Quy mô tài sản (Log of Total Asset_LogA): biến logA phản ánh quy mô tài sản dưới dạng logarit. Theo lý thuyết kinh tế về hiệu suất theo quy mô, quy mô tài sản càng lớn khả năng sinh lời càng cao do tiết kiệm các khoản định phí. Bên cạnh đó, trong hoạt động ngân hàng quy mô tài sản càng lớn thì khả năng đa dạng hóa danh mục cho vay sẽ tốt hơn và do đó làm giảm rủi ro tín dụng. Vậy biến LogA được kỳ vọng có

    18

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM.

     

    Căn cứ vào các biến đại diện được xác

     

    định ở trên, các mô hình hồi quy được xây

     

    dựng như sau:

     

    Mô hình 1:

     

    ROE=a+αEA+βLA+γLP+δLogA+ε

     

    Mô hình 2:

     

    ROA=b+κEA+λLA+μLP+νLogA+ε

     

    Để ước lượng mô hình 1 và 2, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS.

     

    4. Dữ liệu

     

    Trong giai đoạn tái cơ cấu 2011-2015, hệ thống NHTM nước ta có những thay đổi đáng kể. Một số ngân hàng quy mô nhỏ, hoạt động không hiệu quả buộc phải sáp nhập với ngân hàng lớn, như ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long sáp nhập với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam; ngân hàng Phát triển nhà Hà Nội sáp nhập với ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiến hành mua lại một số ngân hàng hoạt động quá yếu kém, không có khả năng tái cơ cấu, bao gồm ngân hàng Dầu khí toàn cầu, ngân hàng Đại Dương và ngân hàng Xây dựng. Tính đến cuối năm 2018, hệ thống ngân hàng của Việt Nam bao gồm 7 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối, 31 ngân hàng cổ phần, 09 ngân hàng nước ngoài và 02 ngân hàng liên doanh.

     

    Để phân tích tác động của các nhân tố tới hiệu quả tài chính hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn tái cơ cấu, tác giả thu thập dữ liệu của 28 ngân hàng trong giai đoạn từ 2011 đến 2015. Các dữ liệu được sàng lọc và lựa chọn dựa trên các bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập chi phí của các ngân hàng. Thống kê mô tả về các biến giải thích

     

    và biến độc lập được trình bày trong Bảng 1. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời có sự biến động đáng kể giữa các ngân hàng trong giai đoạn 2011-2015. Cụ thể, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng đạt mức cao nhất 41.47% trong khi đó ngân hàng đạt mức lợi nhuận thấp nhất là 0,01%. Điều này cho thấy, trong giai đoạn tái cơ cấu vẫn có những ngân hàng làm ăn tốt, trong điều kiện các biện pháp tái cơ cấu tác động đáng kể tới chi phí và khả năng sinh lời các

     

    ngân hàng.

     

    Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản trung bình ở mức 11,38%, về cơ bản đạt yêu cầu của NHNN. Tuy nhiên, ở nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn thì tỷ lệ này không đạt.

     

    Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản đạt ở mức 53,16%, đặc biệt có những ngân hàng tỷ lệ này còn cao ở mức trên 75%. Điều này cho thấy các ngân hàng chưa thật sự đa dạng trong cấu trúc tài sản và rủi ro tín dụng vẫn còn tiềm ẩn.

     

    Tỷ lệ chi phí trích lập dự phòng rủi ro trên tổng quy mô nợ ở mức trung bình là 1,57%. Tỷ lệ này khá cao nếu so sánh với thời kỳ trước, cá biệt có những ngân hàng chi phí dự phòng chiếm đến gần một nửa tổng quy mô nợ. Chính sách mới về trích lập dự phòng rủi ro tác động rất lớn đến chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng và là yếu tố cơ bản quyết định lợi nhuận các ngân hàng. Cho dù các ngân hàng bán tài sản cho VAMC song vẫn phải trích lập dự phòng trên cơ sở số nợ xấu đã bán.

     

    Quy mô tài sản các ngân hàng có sự biến động khá lớn giữa các nhóm ngân hàng. Các

     

     

    khoa học

     
       

    19

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    NHTM thuộc sở hữu nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối có quy mô rất lớn lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng, trong khi đó các ngân hàng nước ngoài hay cổ phần thì giá trị tài sản đôi khi chỉ ở mức vài nghìn tỷ đồng. Các ngân hàng với quy mô tài sản nhỏ gặp khó khăn trong đa dạng hóa danh mục tài sản và dễ bị rủi ro. Do đó, sáp nhập các ngân hàng nhỏ lại với nhau là biện pháp thích hợp giúp hạn chế rủi ro, giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh (bảng 1).

     

    (ROE). Như vậy, các ngân hàng có mức độ an toàn về vốn cao hơn lại đạt mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp hơn.Điều này được giải thích là do yêu cầu tăng tỷ lệ an toàn vốn từ phía NHNN trong bối cảnh thị trường chứng khoán đi xuống, buộc các NHTM phải tăng vốn bằng lợi nhuận để lại.

     

    Hai là, tỷ trọng tài sản cho vay trên tổng tài sản (LA) càng cao thì tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hoặc tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao. Phát hiện này cho

     

    Bảng 1: Thống kê mô tả các biến độc lập và biến giải thích

     

    Teân bieán

    Kyù

    Min

    Max

    Trung bình

    Ñoä leäch

     

    hieäu

    chuaån

     
           

    Bieán ñoäc laäp

               

    Tyû suaát sinh lôøi treân voán chuû sôû

    ROE

    0,0001

    0,4147

    0,1083

    0,0841

     

    höõu

               

    Tyû suaát sinh lôøi treân taøi saûn

    ROA

    0,000

    0,0369

    0,0110

    0,0086

     
                 

    Bieán giaûi thích

               
                 

    Tyû leä voán chuû sôû höõu treân toång

    EA

    0,0421

    0,7983

    0,1138

    0,0786

     

    taøi saûn

               

    Tyû leä taøi saûn cho vay treân toång

    LA

    0,1982

    0,8095

    0,5316

    0,1329

     

    taøi saûn

               

    Tyû troïng chi phí döï phoøng tín duïng

    LP

    0,0086

    0,5397

    0,0157

    0,0450

     

    treân toång quy moâ nôï

               

    Quy moâ taøi saûn (ÑVT: trieäu ñoàng)

    A

    2.337.884

    741.815.049

    101.421.243

    153.082.576

     
                 

    (Nguồn: Bảng cân đối tài sản, báo cáo thu nhập – chi phí các ngân hàng)

     

     

    5. Phân tích kết quả

     

    Bảng 2 trình bày kết quả hồi quy với hai biến độc lập phản ánh khả năng sinh lời của các NHTM trong giai đoạn tái cơ cấu (2011-2015) với một số kết quả đáng chú ý như sau.

     

    Một là, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn (EA) có quan hệ ngược chiều với biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

    thấy vai trò của cấu trúc tài sản đối với khả năng sinh lời hệ thống NHTM Việt Nam. Trong đó, các ngân hàng vẫn phụ thuộc đáng kể vào các khoản cho vay để tạo ra lợi nhuận. Đa dạng hóa danh mục tài sản và tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận bền vững cho các ngân hàng.

     

    20

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

             

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

                 
       

    Bảng 2: Kết quả hồi quy

                 
     

    ROE

     

    ROA

    EA

    -0,1923**

       

    0,0102

     
     

    (0,1023)

       

    (0,01)

     

    LA

    0,0847*

       

    0,0155***

     
     

    (0,0543)

       

    (0,005)

     

    LP

    -0,1223

       

    -0,0147

     
     

    (0,1557)

       

    (0,0151)

     

    Log(A)

    0,0024

       

    -0,002***

     
     

    (0,0006)

       

    (0,0006)

     

    Trong đó: ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu; ROA là tỷ suất sinh lời trên tài sản; EA là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản; LA là tỷ lệ tài sản cho vay trên tổng tài sản; LP là tỷ trọng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ; Log(A) là log của tổng tài sản. Ký hiệu *, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.

     

     

    (Nguồn: Tính toán của tác giả)

     

    Ba là, tỷ trọng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ các ngân hàng có mối quan hệ nghịch chiều với các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời. Tuy về mặt thống kê mối quan hệ tương quan này không có ý nghĩa, song về mặt thực tiễn lại có ý nghĩa đáng kể. Cụ thể là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng là nhân tố tác động lớn tới hai chỉ tiêu ROE và ROA. Các chính sách của chính phủ trong việc tăng cường kiểm soát rủi ro và yêu cầu các NHTM trích lập đầy đủ chi phí dự phòng đã phát huy tích cực. Ngân hàng nào cho vay nhiều song không quản lý tốt rủi ro sẽ dẫn tới tăng chi phí dự phòng và hệ quả làm giảm lợi nhuận cũng như khả năng sinh lời.

     

    Bốn là, kết quả với biến Log(A) trong Bảng 2 chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô tài sản và khả năng sinh lời của tài sản. Điều này một lần nữa cho thấy chất lượng tài sản mới là yếu tố quyết định khả năng tạo lợi nhuận của các NHTM. Nếu chất lượng tài sản không tốt, nhiều nợ xấu thì càng

     

    tăng quy mô tài sản thì càng làm tăng các khoản chi phí dự phòng; hệ quả là lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận giảm.

     

    6. Kết luận và kiến nghị

     

    Sau giai đoạn tăng trưởng nóng và thiếu bền vững, hệ thống NHTM Việt Nam bước vào giai đoạn tái cơ cấu với mục tiêu ổn định và phát triển bền vững. Hàng loạt biện pháp tái cơ cấu được triển khai như sáp nhập và mua lại với các ngân hàng yếu kém, thành lập công ty mua bán nợ (VAMC), tăng cường các tiêu chuẩn hoạt động… Các biện pháp này tác động lớn tới toàn hệ thống cũng như khả năng sinh lời của các ngân hàng trong giai đoạn tái cơ cấu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đi sâu phân tích bốn nhân tố cơ bản có thể tác động tới lợi nhuận của các NHTM, bao gồm: cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tác động của nợ xấu và quy mô tài sản. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: (1) tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có tác động nghịch chiều với lợi nhuận; (2) tỷ trọng tài sản cho vay trên

     

     

    khoa học

     
       

    21

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    tổng tài sản tác động cùng chiều với khả năng sinh lời; (3) Nợ xấu tác động tiêu cực tới lợi nhuận và (4) quy mô tài sản tác động nghịch chiều với khả năng sinh lời trên tài sản.

     

    Từ những kết quả và phân tích được trình bày ở trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam. Một là gia tăng sự đóng góp vốn của các cổ đông nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn về vốn. Hai là các ngân hàng cần đa dạng hóa danh mục tài sản, trách phụ thuộc quá nhiều vào tài sản cho vay. Ba là chất lượng tài sản mới là yếu tố quyết định tới khả năng sinh lời của ngân hàng, do đó NHNN cũng như các NHTM cần chú trọng công tác quản lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, nhằm nâng cao chất lượng các khoản nợ.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Trúc, L. T., & Danh, V. T. (2012), Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 21, 158-168.
    1. Đình Bảo, Hồ., & Thanh Tùng, Nguyễn (2016), Ứng dụng phương pháp bao dữ liệu trong đánh giá và phân loại hiệu quả – Rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2008-2012, Tạp chí Kinh tế
    • Phát triển, 199, 46-52.
    1. Tô Ngọc Hưng (2017), Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, Tạp chí Ngân hàng.
    1. Le, Phuong Thanh, Charles Harvie, and Amir Arjomandi. (2017), Testing for differ-ences in technical efficiency among groups

    khoa học

    within an industry, Applied Economics Letters, vol 24 no 3, pp 159-162.

     

    1. Le, Thanh Phuong, and Minh Thuy Do. (2017), A productivity analysis of the Vietnamese banking sector using non-per-forming loans as a bad output, Scholars Journal of Economics, Business and Management vol 8B, no 4: pp 532-540.
    1. Vietnam National Assembly Economic Commission (NAEC) (2012), From Macroeconomic Turbulent to Restructuring, (Giau, NV, Chairperson), Hanoi.
    1. Vo Tri, T & Nguyen Anh, D (2009), Vietnam after Two Years of Wto Accession: What Lessons Can Be Learnt?, ASEAN Economic Bulletin, vol. 26, no. 1, pp. 115-123.

    Summary

     

    The article analyzes some of the internal factors within Vietnamese commercial bank-ing system that may affect the profitability of banks during the restructuring period. Using regression model with data collecting from 2011 to 2015, the author points out factors which have significant impacts on the prof-itability, including asset structure, capital structure, bad debt level and asset scale. Since then, the author proposed a number of solu-tions to improve the profitability of the com-mercial banking system.

     

    22     thương mại                                                                                                                                   Sè 127/2019

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-h%E1%BB%97-tr%E1%BB%A3-ra-quy%E1%BA%BFt-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-vay-c%E1%BB%A7a-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-doanh-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-c%C3%A1c-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-phi-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 13 – 17

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    GIẢI PHÁP HỖ TRỢ RA QUYẾT ĐỊNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC

     

    KHOẢN VAY CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP CÁC YẾU TỐ PHI TÀI CHÍNH

     

    Đỗ Năng Thắng

    Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực tế đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ – tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro từ phía khách hàng gây ra. Chính vì vậy, một công cụ hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc cảnh báo rủi ro tín dụng là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên mỗi công trình đều chỉ phát huy thế mạnh ở một khía cạnh nào đó và chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Với tính cấp thiết như vậy, bài báo đề xuất một phương pháp kết hợp giữa chấm điểm các yếu tố phi tài chính với xếp hạng tín dụng của S&P, từ đó giúp ngân hàng thương mại có thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết định tín dụng hạn chế rủi ro.

     

    Từ khóa: Rủi ro tín dụng; mô hình cảnh báo; mô hình chấm điểm; hệ số phi tài chính; xếp hạng tín dụng.

     

    Ngày nhận bài: 28/3/2019; Ngày hoàn thiện: 19/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    SOLUTIONS TO SUPPORT THE CREDIT DECISION FOR LOANS OF ENTERPRISES IN VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS CASE STUDY: NON-FINANCIAL FACTORS

     

    Do Nang Thang

    TNU – Information and Communication Technology University

     

    ABSTRACT

     

    Economists often call the Bank a “risky business”. In fact, it has proved that there is no industry that has the potential to lead to big risks such as in the field of currency trading – credit. The Bank has to bear the risks not only due to its subjective causes, but also the risks of its customers. Therefore, a tool can support commercial banks in warning credit risks is necessary, especially in the context of fierce competition like today. In the world there have been some researches related to this issue. However, each project only develops its strengths in a certain aspect and is not really suitable with the actual conditions in Vietnam. With such urgency, the paper proposes a method of combining the scoring of non-financial factors with the credit rating of S&P, thereby helping commercial banks has more one tool for support in credit decision.

     

    Keywords: Credit risk; warning model; scoring model; non-financial coefficient; credit ratings.

     

    Received: 28/3/2019; Revised: 19/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           13

     

     

    Đỗ Năng Thắng                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 13 – 17

     

    1. Giới thiệu

     

    Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 đã nhen nhóm lại các nguyên nhân và triệu chứng của cuộc khủng hoảng tài chính tiềm năng. Nếu những triệu chứng này có thể được phát hiện trước, chính phủ có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn cuộc khủng hoảng hoặc ít nhất là để giảm thiểu tác động bất lợi của khủng hoảng đối với nền kinh tế trong nước. Việt Nam đang thực hiện cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, thực tế hội nhập trong khu vực và trên thế giới mang lại cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức và rủi ro ở mức cao hơn. Các yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và cần có giải pháp phòng ngừa kịp thời. Việc xây dựng một giải pháp hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc ra quyết định tín dụng là rất cần thiết đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Hiện nay trên thế giới đã có một số công trình tiêu biểu về cảnh báo rủi ro tín dụng như mô hình Merton (1974) có vai trò mang tính khai sáng trong quản trị rủi ro tín dụng như là vai trò của mô hình Black-Scholes trong định giá quyền chọn [1]. Tuy nhiên hạn chế của mô hình dựa trên giả định doanh nghiệp chỉ có một khoản nợ duy nhất và trả nợ tại một thời điểm duy nhất. Mô hình điểm số Z do E.I.Altman khởi tạo năm 1977 và thông thường được sử dụng xếp hạng tín nhiệm đối với các doanh nghiệp [2]. Mô hình này dùng để đo xác suất vỡ nợ của khách hàng thông qua các đặc điểm cơ bản của khách hàng. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với người vay và phụ thuộc vào các yếu tố tài chính của người vay. Mô hình CreditMetrics, được J.P. Morgan giới thiệu vào năm 1997 [3], là một mô hình được sử dụng phổ biến trong thực tiễn. Mô hình này có thể xem là có nguồn gốc từ mô hình Merton, tuy nhiên có một điểm khác biệt cơ bản giữa mô hình CreditMetrics với Merton là ngưỡng phá sản trong mô hình CreditMetrics được xác định từ xếp hạng tín dụng chứ không phải từ các khoản nợ. Do đó, mô hình này cho phép xác định cả xác suất vỡ nợ và

     

    xác suất suy giảm tín dụng. Ở Việt Nam có một số công trình như công trình của tác giả Lê Văn Tuấn năm 2016 “Khám phá sự thú vị của phần mềm R trong định lượng rủi ro tín dụng” trong nghiên cứu tác giả đã nghiên cứu và ứng dụng mô hình KMV vào cảnh báo rủi ro tín dụng [4] hay công trình nghiên cứu thứ 2 của tác giả Lê Văn Tuấn “Ứng dụng mô hình Merton trong giảng dạy rủi ro tín dụng và định giá trái phiếu cho sinh viên ngành tài chính” công trình nghiên cứu này đã làm rõ mô hình Merton và ứng dụng trong cảnh báo rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam [5]. Công trình nghiên cứu Nguyễn Phi Lân “Mô hình cảnh báo sớm và chính sách hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô”, theo tác giả việc cảnh báo sớm rủi ro kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tiền tệ được tác giả xây dựng dựa trên mô hình cảnh báo sớm (EWS) tham số [6]. Tuy nhiên các mô hình trên đều khá phức tạp và khó áp dụng phù hợp với tình hình thực tế tại các NHTM ở Việt Nam. Mặt khác các mô hình trên chỉ tập trung phân tích các yếu tố tài chính mà không đề cập đến các yếu tố phi tài chính. Xuất phát từ nguyên nhân đó, bài báo đề xuất giải pháp kết hợp giữa chấm điểm các yếu tố phi tài chính với xếp hạng tín dụng của S&P, từ đó giúp NHTM có thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết định tín dụng.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài báo sử dụng giải pháp kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính là chủ yếu. Xuất phát từ nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các tiêu chí chấm điểm phi tài chính của một số NHTM lớn, từ đó bài báo tiến hành thu thập các thông tin liên quan đến các yếu tố phi tài chính của một doanh nghiệp cụ thể như: Trình độ quản lý, Quan hệ của khách hàng với ngân hàng, các nhân tố bên ngoài, đặc điểm khác… và tiến hành chấm điểm các yếu tố đó dựa trên cơ sở xác định trọng số của chúng, trong đó trọng số của các yếu tố phi tài chính lại được quyết định bởi mức độ ảnh hưởng của chúng đến khả năng trả nợ của khách hàng, hoạt động này được thực hiện dựa trên phương pháp Chuyên gia. Ngoài ra bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp đối với các yếu tố phi tài chính dựa trên lý thuyết xếp hạng tín

     

    14                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

     

    Đỗ Năng Thắng

     

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 13 – 17

     
                     
     

    dụng của S&P, từ đó hỗ trợ các NHTM có

    3.2. Bảng kết quả tính điểm các chỉ tiêu phi

     

    thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết

     

    tài chính

           
     

    định tín dụng.

                 
                     

     

    3. Kết quả và bàn luận

    Dựa trên mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố

     

    3.1. Mô hình phân tích

    phi tài chính (chỉ tiêu chính) đến khả năng

                 

    trả  nợ  của  khách  hàng  doanh  nghiệp,  bài

             

    Trình độ quản lý

     
               

    báo tiến hành xác định trọng số của từng

       

    Điểm

           
               
           

    Quan hệ với ngân hàng

     

    yếu tố đó và trong mỗi chỉ tiêu chính, bài

     

    phi tài

         
       

    chính

       

    Các nhân tố bên ngoài

     

    báo đưa ra các chỉ tiêu phụ cũng như trọng

                 

    số của chúng và tiến hành chấm điểm dựa

                 
             

    Đặc điểm khác

     
               

    trên các thông tin thực tế thu thập được, cụ

                 
     

    Hình 1. Mô hình chấm điểm các yếu tố phi tài chính

    thể như bảng 1.

           
             

    Bảng 1. Kết quả chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính DNB

         
                       
     

    STT

    Trọng số

     

    Các chỉ tiêu phi tài chính

    Giá trị

    Điểm

    Điểm cuối

                           
     

    I

     

    30%

     

    Trình độ quản lý

             
                           
     

    1

    1.1

    5%

    Lý lịch tư pháp của người đứng đầu doanh nghiệp

    Lý lịch tư

    100

    5

     
     

    pháp tốt

     
                         
                         
     

    2

    1.2

    7%

    Kinh nghiệm chuyên môn của người đứng đầu doanh nghiệp

    15 năm

    100

    7

     
                           
     

    3

    1.3

    7%

    Trình độ học vấn của người quản lý

     

    Đại học

    60

    4,2

     
                         
     

    4

    1.4

    6%

    Năng lực điều hành của người trực tiếp lãnh đạo doanh nghiệp

    Rất tốt

    100

    6

     
                         
     

    5

    1.5

    5%

    Cơ cấu tổ chức và môi trường kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp

    Rất tốt

    100

    5

     
                           
     

    II

     

    30%

    Quan hệ với ngân hàng

             
                           
     

    6

    2.1

    4%

    Lịch sử trả nợ của khách hàng trong 12 tháng qua

    Luôn trả nợ

    100

    4

     
     

    đúng hạn

     
                         
                         
     

    7

    2.2

    4%

    Số lần cơ cấu lại thời gian trả nợ trong 12 tháng qua

    0 lần

    100

    4

     
                         
     

    8

    2.3

    3%

    Số lần các cam kết ngoại bảng mất khả năng thanh toán

    0 lần

    100

    3

     
                         
     

    9

    2.4

    3%

    Tình hình cung cấp thông tin yêu cầu của ngân hàng

    Luôn đầy đủ

    100

    3

     
                         
     

    10

    2.5

    4%

    Mức độ sử dụng các dịch vụ của ngân hàng

    Lớn nhất

    100

    4

     
                           
     

    11

    2.6

    4%

    Tỷ trọng chuyển doanh thu qua ngân hàng

     

    80%

    80

    3,2

     
                           
     

    12

    2.7

    3%

    Thời gian quan hệ với ngân hàng

     

    5 năm

    100

    3

     
                           
     

    13

    2.8

    3%

    Tình trạng nợ quá hạn tại các ngân hàng

     

    Không có nợ

    100

    3

     
       

    quá hạn

     
                         
                         
     

    14

    2.9

    2%

    Định hướng quan hệ với khách hàng trong thời gian tới

    Phát triển

    100

    2

     
                           
     

    III

     

    25%

    Các nhân tố bên ngoài

             
                           
     

    15

    3.1

    4%

    Triển vọng phát triển của ngành

     

    Cao

    100

    4

     
                         
     

    16

    3.2

    4%

    Khả năng sản phẩm của doanh nghiệp bị thay thế bởi các sản

    Khó

    100

    4

     
     

    phẩm khác

       
                     
                           
     

    17

    3.3

    5%

    Nguồn cung ứng

     

    Ổn định

    60

    3

     
                           
     

    18

    3.4

    2%

    Mức độ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên

     

    Không nhiều

    60

    1,2

     
                         
     

    19

    3.5

    4%

    Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành

    Bình thường

    60

    2,4

     
                         
     

    20

    3.6

    2%

    Khả năng ra nhập mới của các doanh nghiệp trong ngành

    Khó

    100

    2

     
                         
     

    21

    3.7

    4%

    Nhu cầu trên thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp

    Lớn

    100

    4

     
                           
     

    IV

     

    15%

    Các đặc điểm khác

             
                           
     

    22

    5.1

    1%

    Sự phụ thuộc vào một số ít nhà cung cấp

     

    Bình thường

    60

    0,6

     
                           
     

    23

    5.2

    1%

    Số năm hoạt động của doanh nghiệp

     

    10 năm

    100

    1

     
                           
     

    24

    5.3

    4%

    Tốc độ tăng trưởng doanh thu

     

    20%

    67

    2,68

     
                           
     

    25

    5.4

    4%

    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận

     

    125%

    100

    4

     
                           
     

    26

    5.5

    1%

    Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp

     

    Toàn quốc

    60

    0,6

     
                           
     

    27

    5.6

    1%

    Triển vọng phát triển của doanh nghiệp

     

    Phát triển

    100

    1

     
                           
     

    28

    5.7

    1%

    Lợi thế kinh doanh

     

    Thuận lợi

    80

    0,8

     
                           
     

    29

    5.8

    2%

    Quy mô của doanh nghiệp

     

    Lớn

    100

    2

     
                         
     

    Tổng cộng

    100%

               

    89,68

     
                           

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            15

     

     

    Đỗ Năng Thắng                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 13 – 17

     

    3.3. Xếp hạng tín dụng theo S&P

     

    Bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng đối với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp của ngân hàng (đối tượng vay vốn với kỳ hạn dài vừa mang lại doanh thu ổn định cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro). Để giúp NHTM có thêm các thông tin cụ thể và trực quan hơn về chất lượng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp, bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng doanh nghiệp dựa trên lý thuyết của Standard & Poor’s, là một công ty dịch vụ tài chính có trụ sở tại Hoa Kỳ. Đây là một công ty con của McGraw-Hill. Standard & Poor’s là một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới (hai công ty còn lại là Moody’s Fitch Ratings). S&P đánh giá người vay từ mức AAA cho tới D [7]. Số liệu cụ thể được thể hiện trong bảng 2.

     

    3.4. Kết quả xếp hạng tín dụng theo S&P

     

    Bảng 3. Xếp hạng các chỉ tiêu phi tài chính của DNB theo S&P

     

    Điểm  Thang đo     S&P               Giải thích

     

    Chất                      lượng       tín           dụng

    89,68                                                                  84,8-92,3  AA          cao, mức độ rủi ro thấp,

     

    khả năng trả nợ cao

     

    Thông qua kết quả chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính và các chỉ tiêu tài chính theo mô hình điểm số Z, ta thấy doanh nghiệp DNB có chất lượng tín dụng cao, mức độ rủi ro thấp, khả năng trả nợ cao.

     

    4. Một số kiến nghị đối với các NHTM

     

    Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay đối với lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, các NHTM không nên chỉ tập trung vào việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính mà còn cần phân tích kết hợp với các chỉ tiêu phi tài chính để có thông tin đầy đủ và chính xác hơn. Tuy nhiên khi phân tích các chỉ tiêu phi tài chính (các chỉ tiêu không thể hiện bằng con số cụ thể nên thường dễ bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, cảm tính), các ngân hàng cần lưu ý một số vấn đề sau:

     

    Một là, khi chấm điểm các yếu tố phi tài chính, ngân hàng cần thành lập Hội đồng chuyên gia và điểm chấm là điểm của cả Hội đồng chứ không phải của cá nhân;

     

    Hai là, khi tiến hành chấm cần tuân thủ đúng theo thang điểm, tỷ trọng của từng yếu tố;

     

    Ba là, khi tiến hành chấm điểm phải dựa vào các minh chứng số liệu cụ thể, không dựa vào cảm tính chủ quan của người chấm;

     

    Bảng 2. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp theo S&P

     

    Điểm

     

    • 92,3

    84,8 – 92,3

     

    77,2 – 84,7

     

    69,6 – 77,1

     

    62,0 – 69,5

     

    54,4 – 61,9

    S&P                                                                     Nội dung

     

    AAA    Chất lượng tín dụng cao nhất, có độ rủi ro thấp nhất, có khả năng trả nợ cao nhất

     

    AA      Chất lượng tín dụng cao, mức độ rủi ro thấp, khả năng trả nợ cao

     

    Đạt trên mức trung bình các nhân tố về đảm bảo khả năng trả nợ ngắn và dài hạn

     

    • chưa thật chắc chắn nhưng vẫn đạt độ tin cậy cao. Do đó được xếp hạng có khả năng trả nợ

    Đạt mức trung bình, mức an toàn và rủi ro không cao nhưng cũng không thấp.

     

    • Khả năng trả nợ gốc và lãi hiện thời không thật chắc chắn nhưng không có dấu hiệu nguy hiểm
    • Đạt mức dưới trung bình, khả năng trả nợ gốc và lãi không thật chắc chắn và mức

     

    độ an toàn như BBB

     

    • Đối tượng này thiếu sự hấp dẫn cho đầu tư. Sự đảm bảo về hoàn trả gốc và lãi trong tương lai là rất nhỏ

     

     

    46,8 – 54,3

    CCC

    Khả năng trả nợ thấp, dễ xảy ra vỡ nợ

    39,2 – 46,7

    CC

    Rủi ro rất cao, thường bị vỡ nợ

    31,6 – 39,1

    C

    Đối tượng trong tình trạng sắp phá sản

    < 31,6

    D

    Khả năng phá sản là gần như chắc chắn

    Nguồn: S&P

     

    16                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đỗ Năng Thắng                                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                201(08): 13 – 17

     

    Bốn là, khi có một số yếu tố thay đổi bất thường nhất thiết phải tiến hành chấm và xếp loại tín dụng lại đối với các khách hàng doanh nghiệp;

     

    Năm là, khi tính điểm phi tài chính của doanh nghiệp cần đối chiếu với xếp hạng tín dụng theo S&P để biết được cụ thể chất lượng tín dụng của doanh nghiệp hiện nay;

     

    Sáu là, cần tính điểm các yếu tố phi tài chính kết hợp với chấm điểm các yếu tố tài chính để đưa ra kết quả một cách chính xác nhất;

     

    Bảy là, cần thu thập thông tin cả trong và ngoài doanh nghiệp để có thể nắm được thông tin một cách chính xác và khách quan nhất.

     

    1. Kết luận

    Rủi ro tín dụng mang lại hậu quả rất lớn cho các ngân hàng. Tuy nhiên việc đối mặt với nó là tất yếu đối với mọi ngân hàng đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Bài báo cung cấp một công cụ có thể phân tích và nhận biết những khách hàng có và không có nguy cơ mất khả năng trả nợ, từ đó hỗ trợ cho các NHTM trong việc ra quyết định tín dụng một cách chính xác hơn và hạn chế được rủi ro. Tuy nhiên khía cạnh nghiên cứu của bài báo là các yếu tố phi tài chính, cho nên các ngân hàng cần chấm điểm một cách khách quan nhất, dựa trên cơ sở minh chứng cụ thể.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Merton, Robert C., “On the pricing of corporate debt: The risk structure of interest rates”,

    Journal of Finance, vol. 29, pp. 449-470, 1972.

     

    • Altman, Edward   ,   “Financial   Ratios,

    Discriminant Analysis and the Prediction Of

     

    Corporate Bankruptcy”, Journal of Finance, vol. 23, no. 4, pp. 589-609, 1968.

     

    • P. Morgan,  “Introduction  to  CreditMetrics”,

    13/08/2010,https://vi.scribd.com/document/3582 1973/Intro-to-Credit-Metrics-JP-Morgan, truy cập ngày 10/01/2019.

     

    • Lê Văn Tuấn, “Khám phá sự thú vị của phần mềm R trong định lượng rủi ro tín dụng”,

    05/06/2016,https://tuanvanle.wordpress.com/20 16/06/05/kham-pha-su-thu-vi-cua-phan-mem-r-trong-dinh-luong-rui-ro-tin-dung, truy cập ngày 17/01/2019.

     

    • Lê Văn Tuấn, “Ứng dụng mô hình Merton trong giảng dạy rủi ro tín dụng và định giá trái phiếu cho sinh viên ngành tài chính”,

    11/11/2016,https://tuanvanle.wordpress.com/2 016/11/11/ung-dung-mo hinh-merton-trong-giang-day-rui-ro-tin-dung-va-dinh-gia-trai-phieu-cho-sinh-vien-nganh-tai-chinh, truy cập ngày 17/02/2019.

     

    • Nguyễn Phi Lân, “Mô hình cảnh báo sớm và chính sách hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô”,

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, T. 2, S.3, tr. 27-32, 2011.

     

    • S&P, “S&P Global Rating Definitions”,31/10/2018,

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

    Phát triển hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

    Phát triển hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-tr%C3%AAn-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-ph%C3%A1i-sinh-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 191 – 197

    e-ISSN: 2615-9562

     

    PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG

    CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM

     

    Đào Thị Hồng, Nguyễn Thị Thùy Dung*

    Trường Đại học Lâm nghiệp

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu này nhằm khái quát các lý luận căn bản về thị trường chứng khoán phái sinh và các giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh, đồng thời phản ánh thực trạng thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam qua hơn 1 năm triển khai và hoạt động. Trên cơ sở những hạn chế chỉ ra, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp phát triển thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam: (1) Đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài; (2) Tiếp tục tăng cường hàng hóa cho TTCKPS; (3) Tăng cường công tác giám sát, xử lý vi phạm trên thị trường; (4) Nghiên cứu và triển khai các cơ chế khuyến khích về phí, thuế hợp lý để tăng tính hấp dẫn khi tham gia TTCKPS.

     

    Từ khóa: Thị trường chứng khoán; thị trường chứng khoán phái sinh; giao dịch; cổ phiếu; sở giao dịch chứng khoán.

     

    Ngày nhận bài: 09/5/2019; Ngày hoàn thiện: 20/6/2019; Ngày duyệt đăng: 21/6/2019

     

    DEVELOPING ACTIVITIES IN THE DERIVATIVE

    STOCK MARKET IN VIETNAM

     

    Dao Thi Hong, Nguyen Thi Thuy Dung*

    Vietnam national university of forestry

     

    ABSTRACT

     

    This study aims to generalize the basic arguments about derivative securities market and transactions in derivative market in Vietnam and reflect the current situation of derivatives stock market in Vietnam over 1 years of deployment and operation. Based on the limitations pointed out, the study offers a number of solutions to develop derivative securities market in Vietnam: (1) Promoting attracting investors, especially institutional investors and foreign investors; (2) Continue to strengthen goods for derivatives market; (3) Strengthening the supervision and handling of violations in the market; (4) Research and implement reasonable incentive and tax incentive mechanisms to increase attractiveness when participating in derivatives market.

     

    Key words: Securities market; derivative securities market; transaction; stock; stock exchange.

     

    Received: 09/5/2019; Revised: 20/6/2019; Approved: 21/6/2019

     

     

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         191

     

    Đào Thị Hồng Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 191 – 197

     

    1. Mở đầu

     

    Sau 17 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Tổng vốn hóa thị trường chứng khoán hiện nay khoảng 3,9 triệu tỷ đồng, tương đương 173,4 tỷ USD, bằng khoảng 71,6% GDP năm 2018. Từ 2 mã cổ phiếu niêm yết và giao dịch đầu tiên là REE và SAM, tính đến hết tháng 2/2019, toàn thị trường đã có đến 1.565 mã cổ phiếu được niêm yết và giao dịch trên cả 3 sàn (376 cổ phiếu niên yết trên sàn HOSE, 378 cổ phiếu niêm yết trên HNX và 811 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên UpCom). Mặc dù đã có những bước phát triển mạnh nhưng các sản phẩm giao dịch mới bao gồm cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và trái phiếu chưa có tính phòng ngừa rủi ro mặc dù đây là các công cụ tạo lợi nhuận. Từ những thực tiễn trên cho thấy việc ra đời các công cụ chứng khoán phái sinh để phòng ngừa rủi ro là cần thiết và thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) chính thức thực hiện giao dịch đầu tiên tại Việt Nam ngày 10/8/2017.

     

    Có thể khẳng định TTKCPS ra đời, đi vào hoạt động là một dấu mốc quan trọng của TTCK Việt Nam, góp phần hoàn thiện cấu trúc TTCK Việt Nam, gia tăng hàng hóa đầu tư và thúc đẩy thanh khoản trên thị trường cơ sở. Sau hơn một năm hoạt động, TTCKPS đã trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn, đồng thời là công cụ để nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro khi tham gia đầu tư trên thị trường cơ sở, được công chúng đầu tư đón nhận và tham gia ngày càng tích cực. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, thị trường chứng khoán phái sinh đã bộc lộ một số điểm hạn chế. Bài viết này với mục tiêu chỉ ra những mặt hạn chế và đưa ra một số giải pháp phát triển TTCKPS Việt Nam trong thời gian tới.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    • Nội dung nghiên cứu

     

    – Một số vấn đề cơ bản về TTCKPS;

     

    • Thực trạng hoạt động trên TTCKPS tại Việt Nam;
    • Một số giải pháp phát triển hoạt động trên TTCKPS Việt Nam.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản và quy định của Nhà nước đối với giao dịch chứng khoán phái sinh, số liệu công bố trên website của Sở giao dịch chứng khoán TP. Hà Nội kết hợp với phỏng vấn thông tin tại các công ty chứng khoán.

     

    2.2.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

     

    Đề tài sử dụng các phương pháp để đưa ra kết quả cho đối tượng phân tích như sau:

     

    • Phương pháp thống kê kinh tế: Thống kê khối lượng và giá trị giao dịch
    • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh kết quả giao dịch chứng khoán phái sinh qua các quý từ quý 3/2017 đến quý 1/2019.

    3. Kết quả và thảo luận

     

    3.1. Một số vấn đề chung về thị trường chứng khoán phái sinh

     

    3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của TTCKPS trên thế giới và tại Việt Nam

     

    Các giao dịch phái sinh trên nông phẩm đầu tiên diễn ra vào khoảng thế kỷ XVII tại Nhật Bản, Hà Lan và bắt đầu giao dịch tại Mỹ vào thế kỷ XIX. Đến những năm 1980, cùng với quá trình hiện đại hóa công nghệ, kết nối thị trường vượt ra khỏi các rào cản về địa lý, TTCKPS đã đạt đến đỉnh cao khi ra đời các sản phẩm phái sinh trên tài sản tài chính như cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu và các kim loại quý, năng lượng.

     

    Đối với Việt Nam, giao dịch phái sinh trên hàng hóa đã hình thành và phát triển từ những năm 2000 như: Giao dịch phái sinh trên điều thô (2002), trên thủy sản (2004), trên cà phê (2004),.. Đến giai đoạn 2007-2009, giao dịch phái sinh trên cổ phiếu (chủ yếu là quyền chọn cổ phiếu) đã được các công ty chứng khoán giao dịch trực tiếp với khách hàng. Đến ngày 10/8/2017, TTCKPS Việt Nam chính thức được ra đời với sản phẩm phái sinh là hợp đồng tương lai chỉ số VN30.

     

    Với sự kiện này, Việt Nam là quốc gia thứ năm có TTCKPS trong khu vực ASEAN bên cạnh Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan và là quốc gia thứ 42 trên thế giới có thị trường tài chính bậc cao.

     

    192                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Hồng Đtg

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 191 – 197

     

    3.1.2. Các thị trường chứng khoán phái sinh chủ yếu

     

    TTCKPS là thị trường phát hành và giao dịch các chứng từ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán cơ sở, bao gồm 2 nhóm:

     

    • Thị trường giao dịch tập trung: Chứng khoán phái sinh được giao dịch tại các Sở giao dịch. Sản phẩm trên thị trường là Hợp đồng tương lai và Hợp đồng quyền chọn, được chuẩn hóa về các điều khoản theo quy định của Sở giao dịch.
    • Thị trường giao dịch phi tập trung (OTC): Giao dịch tại thị trường này không diễn ra tại Sở hay tại bất cứ một địa điểm tập trung nào mà được thỏa thuận qua điện thoại và các phương tiện thông tin liên lạc khác. Các sản phẩm giao dịch trên TTCK phái sinh phi tập trung: Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng quyền chọn, Hợp đồng hoán đổi.

    3.2. Thực trạng thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam

     

    3.2.1. Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam

     

    1. Cơ quan, tổ chức quản lý, điều hành và giám sát thị trường
    • Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán Nhà nước có vai trò ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; cấp phép hoạt động cho các

    tổ chức cung cấp dịch vụ; thực hiện chức năng quản lý.

     

    • Sở giao dịch chứng khoán (GDCK) đóng vai trò xây dựng các quy chế giao dịch; tổ chức vận hành thị trường, giám sát thị trường.
    • Trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ có vai trò xây dựng các quy chế, các hệ thống phục vụ bù trừ, đảm bảo cơ chế thanh toán cho các giao dịch phái sinh.
    1. Các nhà phát hành, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ

    Sở GDCK đóng vai trò tạo ra sản phẩm giao dịch bằng cách xây dựng các chỉ số làm tài sản cơ sở (Chỉ số VN 30 index) cho Hợp đồng tương lai.

     

    Các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại, các tổ chức kinh doanh đủ điều kiện cung cấp các dịch vụ như: Dịch vụ môi giới, tư vấn, bảo lãnh phát hành, tự doanh chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ.

     

    Hiện tại, TTCK Việt Nam có 13 công ty chứng khoán là thành viên giao dịch chứng khoán phái sinh của HNX và thành viên bù trừ thanh toán của VSD. Thị phần môi giới của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán phái sinh năm 2018 được tổng hợp trong bảng 1.

     

    Bảng 1. Thị phần môi giới của các công ty chứng khoán

    trên thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam năm 2018

         

    Đơn vị tính: %

    STT

    Tên Thành viên

    Thị phần

     
             

    1

    Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT

    23,92

     

    2

    Công ty Cổ phần Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

    22,40

     

    3

    Công ty Cổ phần Chứng khoán MB

    16,57

     

    4

    Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI

    14,53

     

    5

    Công ty Cổ phần chứng khoán NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng

    13,61

     

    6

    Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    4,16

     

    7

    Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt

    0,02

     

    8

    Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

    0,01

     

    9

    Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt

    0,51

     

    10

    Công ty Cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam

    0,40

     

    11

    Công ty TNHH Chứng khoán ACB

    0,25

     

    12

    Công ty TNHH Chứng khoán Mirae Asset

    0,002

     

    13

    Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT

    0,0003

     
           
       

    (Nguồn: https://derivatives.hnx.vn)

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          193

     

       

    Đào Thị Hồng Đtg

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 191 – 197

     
             
       

    Bảng 2. Tỷ trọng giao dịch của các nhà đầu tư trên TTCKPS Việt Nam

       
                   

    Đơn vị tính: %

                         
         

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

         

    3.2017

    4.2017

    1.2018

    2.2018

    3.2018

    4.2018

    1.2019

     
       

    NĐT cá nhân

    99,8

    97,68

    98,01

    97,42

    99,45

    98,82

    97,63

     
       

    NĐT tổ chức trong nước

    0,15

    2,21

    1,81

    2,46

    0,42

    1

    2,11

     
       

    NĐT nước ngoài

    0,05

    0,11

    0,18

    0,12

    0,13

    0,18

    0,26

     
       

    Tổng

    100

    100

    100

    100

    100

    100

    100

     

    (Nguồn: https://derivatives.hnx.vn)

     

     

    1. Các nhà đầu tư

    Các nhà đầu tư (NĐT) trên TTCKPS Việt Nam hiện tại gồm: Nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong nước, nhà đầu tư nước ngoài. Số liệu tổng hợp về tỷ trọng giao dịch của các nhà đầu tư được tổng hợp qua bảng 2.

     

    Như vậy, sau hơn một năm giao dịch, NĐT cá nhân trong nước vẫn là chủ thể đầu tư chính tham gia thị trường, luôn chiếm trên 97% khối lượng giao dịch. Sự tham gia của các NĐT tổ chức trong nước vẫn còn rất hạn chế và chủ yếu là khối tự doanh của một số các công ty chứng khoán. Tỷ trọng giao dịch của nhóm NĐT nước ngoài có sự gia tăng qua từng quý. Tuy nhiên, mức tăng cũng như tỷ trọng giao dịch còn rất thấp.

     

    3.2.2. Sản phẩm giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam

     

    Hợp đồng tương lai VN30 là sản phẩm phái

    sinh giao dịch đầu tiên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là sản phẩm phái sinh dựa trên tài sản cơ sở là chỉ số VN30 – Index.

     

    Trước khi Việt Nam sử dụng chỉ số cổ phiếu là tài sản cơ sở cho sản phẩm phái sinh, đã có một số thị trường chứng khoán trên thế giới áp dụng, được thể hiện cụ thể trong bảng 3.

     

    Tại Việt Nam, VN30-Index đại diện cho 30 cổ phiếu niêm yết trên sàn HOSE, có vốn hóa thị trường và thanh khoản cao nhất cùng các yếu tố kỹ thuật khác, chiếm 80% tổng giá trị vốn hóa và 60% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường. Hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index sẽ có 4 “tháng” đáo hạn bao gồm tháng hiện tại, tháng kế tiếp và 2 tháng cuối 2 quý gần nhất, tức là sản phẩm sẽ có 4 mã chứng khoán tương ứng. Ngày giao dịch cuối cùng của các mã chứng khoán phái sinh là ngày thứ 5 lần thứ 3 trong tháng đáo hạn.

     

    Bảng 3. Các sản phẩm phái sinh trên chỉ số áp dụng trên thế giới

     

     

    TT

    Thị trường

    Tên chỉ số

    Năm ra mắt HĐTL

    Năm ra mắt HĐQC

     

    trên chỉ số

    trên chỉ số

           
     

    1

    Mỹ

    S&P 500

    1982

    1983

     

    2

    Úc

    All Ordinaries

    1983

    1983

     

    3

    Hàn Quốc

    Kospi 200

    1996

    1997

     

    4

    Hồng Kông

    Hang Seng

    1986

    1993

     

    5

    Canada

    TSE 300

    1984

    1984

     

    6

    Thái Lan

    SET 50

    2006

    2007

     

    7

    Đài Loan

    TAIEX

    1998

    2004

     

    8

    Ba Lan

    WIG 20

    1998

    2003

     

    9

    Nhật (Osaka)

    Nikkei 225

    1986

    1989

     

    10

    Tây Ban Nha

    IBEX 35

    1992

    1992

     

    11

    Anh

    FTSE 100

    1984

    1984

               

    (Nguồn: https://derivatives.hnx.vn)

     

    194                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Hồng Đtg

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 191 – 197

     
    • Thời gian giao dịch hợp đồng tương lai VN30 là từ 8h45-14h45
    • Thời gian thanh toán của giao dịch hợp đồng tương lai VN30 là T+0 ghi nhận sở hữu vị thế, T+1 tiền về tài khoản.
    • Phương thức giao dịch: Thỏa thuận và khớp lệnh.
    • Khối lượng hợp đồng giao dịch: Khối lượng giao dịch tối thiểu/ lệnh là 1 hợp đồng; khối lượng giao dịch tối đa/ lệnh là 500 hợp đồng/ lệnh; khối lượng nắm giữ tối đa với nhà đầu tư cá nhân là 5.000 hợp đồng, tổ chức là 10.000 hợp đồng, nhà đầu tư chuyên nghiệp là 20.000 hợp đồng.
    • Đơn vị yết giá/ bước giá của giao dịch hợp đồng tương lai VN30 tính theo điểm chỉ số cơ sở của hợp đồng. Bước giá tối thiểu của hợp đồng tương lai chỉ số VN30 là 0,1 điểm chỉ số. Biên độ dao động giá của giao dịch hợp đồng tương lai VN30 là 7%.
    • Giá tham chiếu là giá thanh toán cuối ngày của hợp đồng tương lai trong ngày giao dịch liền trước. Ngày giao dịch đầu tiên là giá lý thuyết (do VSD tính toán và công bố).
    • Chính sách thuế: Áp dụng thuế Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp dành cho tổ chức nước ngoài là 0,1% giá chuyển nhượng từng lần.

     

    • Phí giao dịch:

    Theo thông tư số 127/2018/TT-BTC của Bộ

    Tài chính quy định giá dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán áp dụng tại Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm quản lý và lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD), ngoài việc trả phí giao dịch cho các công ty chứng khoán, nhà đầu tư còn phải bổ sung phí trả cho HNX và VSD. Mức phí cụ thể như sau:

     

    • Phí giao dịch cho công ty chứng khoán (mức phí do từng công ty quy định, có công ty đang miễn phí, có công ty thu 3.000 đồng/ hợp đồng, có công ty thu cao hơn)
    • Phí giao dịch chứng khoán phái sinh nộp cho HNX là 3.000 đồng/hợp đồng
    • Phí quản lý vị thế nộp cho VSD là 3.000 đồng/hợp đồng/ngày (tính cả ngày nghỉ).
    • Phí quản lý tài sản ký quỹ là 0,003% giá trị lũy kế số dư tài sản ký quỹ/tài khoản/tháng, tối đa là 2 triệu đồng/tài khoản/tháng, tối thiểu là 400.000 đồng/tài khoản/tháng (nộp vào ngày làm việc cuối cùng của tháng).
    • Phí khi nộp/rút tiền ký quỹ (mức phí do từng công ty quy định, có công ty đang miễn phí, nhưng có công ty thu 5.500 đồng/lần).

    3.2.3. Kết quả giao dịch chứng khoán phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 8/2017 – 3/2019

     

    Thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam chính thức khai trương và đi vào hoạt động từ ngày 10/8/2017. Kết quả thống kê về giao dịch được thể hiện cụ thể qua bảng 4.

     

    Bảng 4. Tổng hợp kết quả giao dịch chứng khoán phái sinh (Từ tháng 8/2017 – 3/2019)

     

         

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

    Quý

    Tốc độ

     

    STT

    Chỉ tiêu

    Đơn vị

    PTBQ

     

    3.2017

    4.2017

    1.2018

    2.2018

    3.2018

    4.2018

    1.2019

         

    (%)

     
                       
    • Khối lượng giao Hợp đồng 347 916.006 1.350.182 4.187.579 6.230.552 7.929.451 7.166.549 183,07 dịch

    2

    Khối lượng giao

    Hợp

    5.287

    14.092

    22.884

    65.431

    97.352

    121.992

    121.467

    168,60

     

    dịch bình quân

    đồng/phiên

                       
     

    Khối

    lương

    hợp

                       

    3

    đồng

    đang

    lưu

    Hợp đồng

    3.275

    8.077

    9.362

    11.812

    14.615

    21.653

    23.876

    139,25

     
     

    hành cuối kỳ (OI)

                       

    4

    Số

    lượng

    tài

    Tài khoản

    9.698

    17.116

    25.072

    35.275

    46.556

    57.677

    67.387

    138,14

     
     

    khoản mở

                         

    (Nguồn: https://derivatives.hnx.vn)

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          195

     

    Đào Thị Hồng Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 191 – 197

     

    Qua số liệu ở bảng 4 cho thấy: Xét trên mọi khía cạnh từ số lượng tài khoản được mở, khối lượng hợp đồng giao dịch đến giá trị giao dịch đều có sự gia tăng vượt bậc qua từng quý, từng năm. Việc duy trì sự tăng trưởng này thể hiện dòng tiền tiếp tục xu hướng đổ vào thị trường phái sinh. Tính trung bình có khoảng 164 tài khoản phái sinh được mở mới mỗi ngày. Tuy nhiên, hoạt động giao dịch hiện tại tập trung chủ yếu ở các NĐT cá nhân trong nước, tiềm năng tăng trưởng sẽ mạnh mẽ hơn trong những năm tới khi các nhà đầu tư là tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu rộng hơn vào thị trường. Khối lượng hợp đồng đang lưu hành cuối kỳ (OI) tăng liên tục qua các quý, tuy nhiên đây vẫn là mức tương đối thấp so với khối lượng giao dịch. Điều này chứng tỏ các NĐT tham gia trên TTCKPS tại Việt Nam chủ yếu đầu tư ngắn hạn, chưa tập trung đầu tư nhiều vào xu hướng dài hạn của thị trường.

     

    3.3. Đánh giá hoạt động trên TTCKPS tại Việt Nam

     

    3.3.1. Những mặt đạt được

     

    • Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ thị trường vận hành thông suốt, ổn định và an toàn, không phát sinh sự cố lớn. Thông tin, dữ liệu hoạt động thị trường hiển thị đầy đủ, kịp thời và chính xác trên trang thông tin điện tử của Sở, góp phần đảm bảo tính công khai, minh bạch, đáp ứng tốt nhất nhu cầu truy cập và khai thác thông tin của nhà đầu tư.
    • Công tác giám sát trên TTCKPS được triển khai và thực hiện tốt với đầy đủ hệ thống các tiêu chí giám sát. Ngoài ra, các Sở giao dịch đã cùng phối hợp để xây dựng cơ chế giám sát liên thị trường nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp tác động, thao túng trên thị trường cơ sở để hưởng lợi trên TTCKPS và ngược lại.
    • TTCKPS giúp NĐT có nhiều cơ hội tìm kiếm lợi nhuận khi thị trường giảm cũng như thị trường tăng. Đây là giải pháp hữu hiệu để giữ chân NĐT, tránh tình trạng họ tháo chạy khỏi TTCK khi thị trường cơ sở sụt giảm. Cụ

    thể, thống kê tại các thị trường quốc tế cho thấy, khi thị trường cở sở giảm điểm mạnh thì thanh khoản trên thị trường phái sinh tăng mạnh; ngược lại, khi thị trường cơ sở tăng điểm trở lại thì thanh khoản trên thị trường phái sinh giảm.

     

    3.3.2. Một số hạn chế

     

    • Các nhà đầu tư trên TCKPS Việt Nam chủ yếu là NĐT cá nhân nhỏ lẻ, số lượng các NĐT tổ chức quá ít. Hiện gần như tuyệt đại đa số (trên 97%) tham gia TTCKPS là NĐT cá nhân, dù theo định hướng phát triển của nhà quản lý, cũng như thông lệ phát triển của thị trường quốc tế, NĐT tổ chức thường chiếm đại đa số trên TTCKPS. Nguyên nhân chính do thiếu cơ chế phát triển nhà đầu tư tổ chức, cộng với bối cảnh thị trường chưa thuận lợi khiến các NĐT tổ chức chưa mặn mà với việc tham gia TTCKPS.
    • TTCKPS hiện mới có một sản phẩm dựa trên VN30, trong khi chỉ số tiềm ẩn rủi ro bị “bóp méo” do lượng cổ phiếu trong rổ ít, có những cổ phiếu thanh khoản thấp nhưng lại có vốn hóa lớn và có tính chi phối cao đến chỉ số. Việc TTCKPS mới có một sản phẩm đã gây ra hạn chế trong việc đáp ứng đa dạng nhu cầu của nhà đầu tư. Quá trình triển khai sản phẩm chứng khoán phái sinh thứ hai là Hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ (TPCP) đã không đạt được trong năm 2018 và trong cả quý I/2019.
    • TTCKPS Việt Nam chưa có cơ chế khuyến khích về phí, thuế như cách các thị trường quốc tế đã triển khai trong giai đoạn phát triển TTCK phái sinh ban đầu. Đây được coi là “nút thắt” kìm hãm sự phát triển của TTCKPS. Số liệu dẫn chứng cho thấy nhà đầu tư mất tới 5 loại phí và thuế thu nhập cá nhân khi giao dịch trên TTCKPS trong khi hầu hết các quốc gia như Mỹ, Hàn Quốc, Hồng Kông, Thái Lan và nhiều quốc gia khác miễn hoàn toàn thuế ở giai đoạn như tại Việt Nam.
    • Công tác quản trị rủi ro trên hệ thống các CTCK Việt Nam còn yếu do số lượng các

    196                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Hồng Đtg

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 191 – 197

     

    CTCK lớn hơn nhiều so với quy mô vốn hóa thị trường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tính cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, sự an toàn về tài chính của mỗi CTCK cũng như toàn hệ thống, đặc biệt là đối với những CTCK có quy mô nhỏ hoặc những công ty mới đi vào hoạt động trên thị trường. Số lượng CTCK có hoạt động không hiệu quả vẫn chiếm tỷ lệ lớn, năm 2017 có 14 CTCK có vốn chủ sở hữu thấp hơn vốn điều lệ tối thiểu theo quy định (chiếm 17,7%), 18 CTCK hoạt động không có lãi (chiếm 22,8%), 39 công ty có lỗ lũy kế (chiếm 49,4%), trong đó có 9 công ty lỗ lũy kế lớn hơn 50% vốn điều lệ.

     

    3.4. Giải pháp phát triển TTCKPS Việt Nam

     

    • Đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư theo hướng tập trung thu hút mạnh NĐT tổ chức trên cơ sở khung pháp lý đã ban hành. Đối với NĐT cá nhân, cần tăng cường thực hiện các chương trình đào tạo cho họ khi tham gia TTCKPS nhằm tăng tính chuyên nghiệp.
    • Tiếp tục đa dạng hàng hóa cho TTCKPS, trước mắt là cần triển khai ngay sản phẩm hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ. Đây sẽ là sản phẩm giao dịch hầu như chỉ dành cho nhà đầu tư tổ chức nên sẽ tăng dần tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức tham gia TTCKPS. Ngoài ra, cần triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm, phát triển thêm các chỉ số cơ sở để làm tài sản cơ sở cho phái sinh.
    • Tăng cường công tác giám sát, xử lý vi phạm, bảo đảm tính toàn vẹn và kỷ luật thị trường, đặc biệt là phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi thao túng thị trường.
    • Cần đưa ra cơ chế khuyến khích về phí, thuế hợp lý để tăng tính hấp dẫn khi tham gia TTCKPS nhằm thu hút thêm các nhà đầu tư

    và phát triển thị trường trong thời gian tới.

     

    • Thu hẹp số lượng các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các công ty chứng khoán có hoạt động yếu kém, không hiệu quả; kiện toàn mô hình hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán theo thông lệ quốc tế; nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tại các tổ chức này dựa trên các chỉ tiêu về vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn tài chính.
    1. Kết luận

    Sau lộ trình 5 năm chuẩn bị, thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam đã chính thức triển khai hoạt động từ ngày 10/8/2017. Sự ra đời của thị trường chứng khoán phái sinh sẽ mở ra tiềm năng phát triển mới cho TTCK trên nhiều khía cạnh như: Phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới; cung cấp nguồn hàng mới; hình thành lớp nhà đầu tư mới… TTCK phái sinh ra đời đáp ứng đa dạng nhu cầu của nhà đầu tư, qua đó sẽ huy động được một lượng vốn lớn tham gia thị trường.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%81C-NH%C3%82N-T%E1%BB%90-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-%C4%90%E1%BA%BEN-S%E1%BB%B0-H%C3%80I-L%C3%92NG-C%E1%BB%A6A-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-C%C3%81-NH%C3%82N-%C4%90%E1%BB%90I-V%E1%BB%9AI-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-T%E1%BA%A0I-EXIMBANK-TP.-HCM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

     

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

     

    Nguyễn Ngọc Chánh *

     

    TÓM TẮT

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòngcủa khách hàng đối với chất lượngdịch vụ tại Eximbank – TP.HCM.Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 300 khách hàng đang sử dụng dịch vụ tại ngân hàng (NH). Các phương pháp kiểm định Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình hồi qui tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đếnmức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại NH là sự tin cậy, sự đáp ứng, hình ảnh và giá cả. Trong đó, nhân tố giá cả có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ hài lòng của khách hàng.

     

    Từ khóa: khách hàng, mức độ hài lòng, chất lượng dịch vụ

     

    TITLE: FACTORS AFFECTING THE CUSTOMER SATISFACTION TOWARDS SERVICE QUALITY OF EXIMBANKIN HO CHI MINH CITY

     

    ABSTRACT

     

    This study aims at determining the factors that affect customer satisfaction towards service quality of Eximbank in Ho Chi Minh City. Research data was collected from 300 customers,who have been using the services in the bank. Cronbach’s Alpha test, Exploratory Factor Analysis (EFA) and Linear Regression Analysis were used in the study. Research results have identiied the factors affecting the customer satisfaction for banking services are the reliability, responsiveness, imagineand price. In particular, the price are the most powerful inluence on customer satisfaction.

     

    Key words: customer , satisfaction, service quality

     

    * ThS. Giảng viên Khoa Tài chính – Ngân hàng, trường Đại học Văn Lang, Tp. HCM

     

     

    18

     

    Các nhân tố . . .

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Với số dân khoảng hơn 90 triệu người, cùng với mức thu nhập cũng như trình độ dân trí của người dân ngày càng cao VN đang được đánh giá là thị trường rất tiềm năng dành cho dịch vụ NH bán lẻ. Tuy các NH trong nước vẫn chiếm tới 90% thị phần bán lẻ ở VN thế nhưng các NH nước ngoài đang nỗ lực thu hẹp thị phần này bằng cách tung ra những tiện ích, dịch vụ công nghệ cao mà nhiều NH trong nước không có. Mục tiêu chính của các NH ở đây lại chính là các khách hàng cá nhân (KHCN), chiến lược kinh doanh hướng đến KHCN đang trở thành chiến lược quan trọng hàng đầu của các NH. Làm thế nào để đem đến cho khách hàng sự hài lòng tốt nhất luôn là vấn đề mà các NH cố gắng thực hiện với tất cả khả năng của mình. Vì vậy, nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại NH là một công việc quan trọng phải thực hiện thường xuyên và liên tục để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của họ. Từ đó NH có thể phục vụ khách hàng tốt hơn, làm cho họ luôn được thỏa mãn khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của NH. Ngân hàng nào dành được mối quan tâm và sự trung thành của khách hàng NH đó sẽ thắng lợi và phát triển. Từ đó nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại Eximbank

     

    – TP. HCM” được tác giả thực hiện nhằm giúp NH thấy được các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng cho khách hàng để có những đề xuất, giải pháp thích hợp nhằm duy trì và gia

    tăng lượng khách hàng cũng như gia tăng lợi nhuận cho NH.

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Theo Kotler (dẫn từ Lin, 2003), sự hài lòng hay sự thất vọng của một người bắt nguồn từ sự so sánh cảm nhận với mong đợi về chất lượng một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó. Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ sau:

     

    – Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không hài lòng.

     

    – Nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận hài lòng.

     

    – Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là hài lòng hoặc thích thú.

     

    Còn Zeithalm & Bitner (2000) thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm,chất lượng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân. Theo Parasuraman, Zeithaml, Berry (1991), có 5 nhân tố ảnh hưởNG đếN sự hài lòng của khách hàNG đối với dịchvụ:

     

    • Độ tin cậy (Reliability), (2) Mức độ đáp ứng (Responsivaness), (3) Sự đảm bảo (Assurance), (4) Sự cảm thông (Empathy), và

     

    • Phương tiện hữu hình(Tangible).

     

    Thông qua lược khảo tài liệu, đồng thời tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóM (nghiên cứu định tính) với 10 khách hàNG

     

    đang sử dụng dịch vụ tại ngân hàng để thảo luận và xác định 24 tiêu chí được xem là có khả năng ảnh hưởNG đến mức độ hài lòng của khách hàng. (Bảng 1)

     

     

         

    Bảng 1: Các tiêu chí ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng

           

    TT

    MH

    DIỄN GIẢI

           
         

    ĐỘ TIN CẬY

           

    1

    TC1

     

    NH hứa sẽ thực hiện một điều gì đó vào khoảng thời gian cụ thể NH sẽ thực hiện

           

    2

    TC2

     

    NH thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên

           

    19

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    3

    TC3

     

    NH sẵn sàng quan tâm và giải quyết thỏa đáng những vấn đề mà khách hàng gặp phải

           

    4

    TC4

     

    NH cung cấp dịch vụ đúng như thời gian họ đã hứa

           

    5

    TC5

     

    NH thông báo chính xác cho khách hàng khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện

           
         

    ĐÁP ỨNG

           

    6

    DU1

     

    Nhân viên NH thực hiện dịch vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng

           

    7

    DU2

     

    Nhânviên NH luôn luôn sẵn lòng giúp đỡ khách hàng

           

    8

    DU3

     

    Nhânviên NH không bao giờ tỏ ra quá bận rộn để không đáp ứng yêu cầu của KH

           
         

    NĂNG LỰC PHỤC VỤ

           

    9

    PV1

     

    Hành vi của nhânviên NH ngàycàngtạosựtintưởngđốivớikhách hàng

           

    10

    PV2

     

    Khách hàngcảmthấyantoànkhithực hiện giao dịch với ngân hàng

           

    11

    PV3

     

    Nhânviên NH baogiờcũngphục vụ khách hàng tận tình, chu đáo

           

    12

    PV4

     

    Nhânviên NH có đủ kiếnthứcchuyênmônđể trả lời các câu hỏi của KH

           
         

    SỰ ĐỒNG CẢM

           

    13

    DC1

     

    NH có các chương trình thể hiện sự quantâmđếnKH

           

    14

    DC2

     

    Nhânviên NH chủ động quan tâmđến từng KH

           

    15

    DC3

     

    NH luôn lấy lợi ích của khách hàng làm tâm niệm

           

    16

    DC4

     

    Nhânviên NH hiểurõnhucầu cụ thể củaKH

         
     

    PHƯƠNG TIỆN HỮU HÌNH

           

    17

    HH1

     

    Cơ sở vật chất ,trangthiếtbị của NH rất hiệnđại

           

    18

    HH2

     

    Các tiện nghi phục vụ khách hàng tốt ( nơi để xe thuận tiện, nhà vệ sinh, khu vực

     

    đợi ,nước uống …)

         

    19

    HH3

     

    Nhânviêncủa NH có trangphụcgọngàng,lịchsự

           

    20

    HH4

     

    NH bốtrí thờigianlàmviệcthuậntiện

           

    21

    HH5

     

    NH có các tài liệu, sách ảnh giới thiệu về dịch vụ NH rất cuốn hút

           
         

    GIÁ CẢ

           

    22

    GC1

     

    NH áp dụngmức lãi suất cạnh trạnh

           

    23

    GC2

     

    Chi phí giao dịch của NH là hợp lý

           

    24

    GC3

     

    NH có chính sách giá linh hoạt

           
         

    SỰ HÀI LÒNG CHUNG

           
     

    HL1

     

    Nhìn chung u6ng/ bà hoàn toàn hài lòng khi giao dịch với NH

           
     

    HL2

     

    Ông/ bà sẵn sàng giới thiệu NH cho những người khác

           
     

    HL3

     

    Trong thời gian tới ông/bà vẫn tiếp tục sử dụng dịch vụ của NH

           

    Mô hình nghiên cứu lý thuyết được tác giả đề xuất (Hình 1)

     

     

    20

     

    Các nhân tố . . .

     

    Độ tin cậy

     

    Đáp ứng         Sự Hài Lòng

     

    Năng lực phục vụ    Chất lượng dịch vụ

     

    Sự đồng cảm                                            Giá cả

     

    Phương tiện hữu hình

     

    Hình 1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết đặt ra

     

     

    Việc định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng gồm 3 bước: (1) Bước 1: Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm định mức độ chặt chẽ và sự tương quan giữa các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu. (2) Bước 2: Sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng và nhận diện các nhân tố được cho là phù hợp với mức độ hài lòng. (3) Bước 3: Sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến để phân tích ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ của ngân hàng đồng thời cho biết mức độ tác động của từng biến nghiên cứu.

     

    Số liệu của nghiên cứu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các khách hàng đã và đang sử dụng dịch của NH theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp với ngẫu nhiên. Hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu, vấn đề kích thước mẫu là bao nhiêu, như thế nào là đủ lớn vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hơn nữa, kích thước mẫu còn tùy thuộc vào các phương pháp ước lượng sử dụng trong nghiên cứu cụ thể. Theo một số nghiên cứu, tính đại diện của số lượng mẫu được lựa chọn khảo sát sẽ thích hợp nếu kích thước mẫu là 5 mẫu cho một ước lượng. Mô hình khảo sát tác giả đề xuất có 24 biến quan sát. Do đó, số lượng mẫu cần thiết là từ 24×5=120 mẫu trở lên. Vậy số

    lượng mẫu dùng trong khảo sát là n= 300 nên tính đại diện của mẫu được đảm bảo cho việc khảo sát. Thực tế tác giả đã tiến hành điều tra 335 khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ của Eximbank – TP.HCM trong khoảng thời gian từ (2/2014 – 5/2014) sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ 300 phiếu được đưa vào khảo sát.

     

    3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

     

    Để kiểm định mô hình nghiên cứu và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hành đối với việc sử dụng dịch vụ của NH, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để hỗ trợ phân tích, kết quả thực hiện mô hình nghiên cứu như sau:

     

    Bước 1: Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s alpha

     

    Cronbach’s alpha là công cụ giúp loại đi những biến quan sát, những thang đo không đạt yêu cầu. Các biến quan sát có hệ số tương quan biến-tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi hệ số Cronbach alpha là từ 0,6 trở lên (Nunnally & Burnstein 1994). Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS 2, NXB Hồng Đức-2008) cho rằng nhiều nhà nghiên cứu đồng

    • cronbach anpha từ 0.80-1 là một thang đo lường tốt, từ 0.70 đến 0.80 là sử dụng

     

     

    21

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    được. Cũng có nhà nghiên cứu đề nghị rằng Cronbach’ Alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả

     

    lời trong bối cảnh nghiên cứu (Hair 1998). Kết quả cho thấy tất cả các biến đều phù hợp và được sử dụng trong phân tích nhân tố tiếp theo. (Bảng 2)

     

     

    Bảng 2. Bảng tóm tắt phân tích Cronbach’s Alpha

     

     

    Thành phần

    Số biến

    Độ tin cậy

    Đánh giá

     

    quan sát

    (Cronbach’anpha)

         
     

    Độ tin cậy

    5

    0.887

     

    Chất

    Đáp ứng

    3

    0.85

     

    lượng

    Năng lực phục vụ

    4

    0.84

     

    dịch vụ

    Sự đồng cảm

    4

    0.882

    Đạt yêu cầu

     

    Hữu hình

    5

    0.85

     

    Giá cả cảm nhận (GC)

    3

    0.87

     

    Sự Hài Lòng Chung (HL)

    3

    0.864

     
     

    Nguồn: Xử lý dữ liệu điều tra năm 2014

    Bước 2: Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

     

    Khi phân tích nhân tố khám phá, các

    Mộng Ngọc, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với

    nhà nghiên cứu thường quan tâm đến hệ số

    SPSS 2, NXB. Hồng Đức- 2008).

    KMO≥0,5, mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett

    Khi phân tích EFA sử dụng phương pháp

    ≤ 0,05, hệ số tải nhân tố (factor loading) ≥ 0,5.

    trích Principal Component Analysis với phép

    Nếu biến quan sát nào có hệ số tải nhân tố <

    xoay Varimax và điểm dừng khi các yếu tố có

    0,5 thì phân tích nhân tố có khả năng không

    eigenvalue lớn hơn 1. (Kết quả được thể hiện

    thích hợp (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn

    ở bảng 3)

    Bảng 3: Bảng kết quả phân tích EFA các biến chất lượng dịch vụ

     

       

    Thành phần

     

    Các yếu tố

           

    Hình

    Đáp

    Độ tin

     
     
     

    ảnh

    ứng

    cậy

     

    NH hứa thực hiện sẽ thực hiện

       

    .788

     

    NH thực hiện đúng ngay từ đầu tiên

       

    .787

     
       

    NH sẵn sàng quan tâm giải quyết các vấn đề khách hàng

       

    .688

     
       

    NH cung cấp dịch vụ đúng hạn

       

    .651

     
       

    NH thông báo chính xác cho khách hàng khi thực hiện dịch vụ

       

    .611

     
       

    Nhân viên NH thực hiện dịch vụ nhanh chóng

     

    .617

       
         

    Nhân viên NH sẵn lòng giúp đỡ khách hàng

     

    .657

       
         

    Nhân viên NH không tỏ ra bận rộn

     

    .594

       
         

    Hành vi của nhân viên NH ngày càng được tin tưởng

     

    .624

       
         

    Khách hàng cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch

     

    .630

       
         

    Nhân viên NH phục vụ tận tình, chu đáo

     

    .735

       
         

    Nhân viên NH đủ kiến thức chuyên môn

     

    .671

       
         
             

    22

     

    Các nhân tố . . .

     

    Có chương trình quan tâm khách hàng

    .620

       

    Chủ động quan tâm KH

         

    .659

       

    Lấy lợi ích KH làm tâm niện

         

    .652

       

    Nhân viên NH hiểu rõ nhu cầu KH

         

    .646

       

    Cơ sở vật chất, trang thiết bị NH hiện đại

         

    .699

       

    Các tiện nghi phục vụ khách hàng tốt

         

    .638

       

    Nhân viên NH có trang phục gọn gàng, lịch sự

         

    .738

       

    Thời gian làm việc thuận tiện

    .721

       
       

    Tài liệu, sách ảnh về dịch vụ NH rất cuốn hút

    .612

       
           
     

    Nguồn: Xử lý dữ liệu điều tra năm 2014

    Kết quả cho thấy hệ số KMO= 0.934, kiểm

    khả năng sử dụng 3 nhóm này để giải thích

    định Barlett có mức ý nghĩa là 0.00 thể hiện

    cho 21 biến quan sát ban đầu là 63.411%. Kết

    các biến quan sát có tương quan với nhau xét

    quả được nhóm lại thành 3 nhân tố (độ tin cậy,

    trên phạm vi tổng thể. Do đó, phân tích nhân tố

    sự đáp ứng, hình ảnh) và mô hình nghiên cứu

    phù hợp. Với mức giá trị Eigenvalue là 1.101,

    được thiết lập lại Nhân tố 1: Hình ảnh gồm

    ta thấy 21 biến quan sát được nhóm thành 3

    9 biến, Nhân tố 2: Sự đáp ứng gồm 7 biến,

    nhóm với phương sai trích là 63.411%, tức là

    Nhân tố 3: Độ tin cậy gồm 5 biến (Hình 2)

    Độ tin cậy

         

    Sự đáp ứng

    Chất lượng

       
     

    Sự Hài Lòng

     

    Hình ảnh

    dịch vụ

       
     

    Hình 2: Mô hình nghiên cứu được thiết lập lại

    Giá cả

     
         

    Bước 3 : Phân tích hồi quy tuyến tính

     

    Tiến hành phân tích hồi quy bội để kiểm tra quan hệ nhân quả, sự tác động của 4 biến độc lập (điểm số nhân tố của các biến độ tin cậy, sự đáp ứng, hình ảnh, giá cả) đến biến phụ thuộc (điểm số nhân tố của thỏa mãn của khách hàng-HL). Kết quả thể hiện ở bảng 4

     

    Bảng 4: Kết quả phân tích hồi quy

     

    Mô hình

    Hệ số chưa chuẩn hóa

    Hệ số đã

       

    Thống kê cộng tuyến

     

    chuẩn hóa

    t

    Sig.

               
     

    B

    Sai số

    Hệ số

    Độ chấp

    Hệ số

     
         
     

    chuẩn

    Beta

       

    nhận

    VIF

     
           

    Hằng số

    -8.564E-17

    .036

     

    .000

    1.000

     

    1.366

     

    Hình ảnh (NT1)

    .289

    .043

    .289

    6.786

    .000

    .732

    1.286

     

    Sự đáp ứng (NT2)

    .206

    .041

    .206

    4.999

    .000

    .778

    1.178

     

    Độ tin cậy (NT3)

    .228

    .040

    .228

    5.763

    .000

    .849

    1.830

     

    Giá cả (GC)

    .433

    .049

    .433

    8.794

    .000

    .547

       
           

    Nguồn: Xử lý dữ liệu điều tra năm 2014

     

     

     

    23

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Hệ số tương quan r=0.78, vậy độ chặt chẽ của quan hệ tuyến tính của các biến trong mô hình cao. Giá trị kiểm định d = 2.049 của Durbin-Watson (trong khoảng 1-3) nên ta tin tưởng giả thiết không có sự tương quan ở đây. R2 = 0.609, phân tích ANOVA có giá trị Sig = 0.00 ≤ 0.05 nên mô hình hồi quy này hoàn toàn phù hợp với tổng thể. Hệ số phóng đại phương sai của các biến trong mô hình VIF < 5 nên mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập.

     

    Với kiểm định t các biến độc lập trong mô hình, thì có 4 biến (NT1, NT2, NT3, GC) có giá trị Sig ≤0.05, vậy các biến này có ý nghĩa thống kê trong mô hình.

     

    Như vậy phương trình hồi quy được viết như sau:

     

    HL = 0.289*(NT1) + 0.206*(NT2) + 0.228*(NT3) + 0.433*(GC)+ (-8.564E-17)

     

    Điều này có nghĩa là khi một trong các nhân tố tác động từ hình ảnh, sự đáp ứng, độ tin cậy, giá cả, tăng thêm 1% thì sự hài lòng của khách hàng lần lượt tăng thêm 0,289%, 0,206%, 0,228%, 0,433%. Cũng theo đó, cho thấy rằng giá cả là yếu tố đang được khách hàng cá nhân quan tâm nhất tiếp đến là hình ảnh, độ tin cây, sự đáp ứng.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    Kết quả phân tích cho thấy có 4 biến tác động đến sự hài lòng chung của khách hàng bao gồm: hình ảnh, sự đáp ứng, độ tin cậy, giá cả. Trong đó biến giá cả có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng. Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại Eximbank – TP.HCM như sau:

     

    Đối với chính sách giá cả:

     

    Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay cần phải được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với

     

    cung cầu vốn trên thị trường ở từng thời kì, sử dụng lãi suất làm công cụ để điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu đầu tư tín dụng cho phù hợp, áp dụng lãi suất ưu đãi cho những khách hàng có lượng tiền gửi lớn hay giảm phí giao dịch đối với những khách hàng có số dư lớn, những khách hàng truyền thống của ngân hàng.

     

    Tiến hành khảo sát về giá dịch vụ và lãi suất ở một số ngân hàng cùng địa bàn để xem xét lại chính sách giá cả và lãi suất của ngân hàng mình. Cập nhật thông tin về biến động thị trường cũng như giá cả giao dịch để cũng cố lòng tin của khách hàng về tính cạnh tranh về giá của ngân hàng.

    Đối với việc xây dựng hình ảnh NH:

     

    Ngân hàng cần chú trọng công tác tuyển dụng nhân sự. Để có những dịch vụ tốt thì trước tiên ngân hàng cần tuyển dụng nhân viên tốt. Các nhân viên này có ngoại hình dễ nhìn, năng nổ trong giao tiếp, có kĩ năng diễn đạt và thuyết phục tốt, biết cách ứng xử khéo léo, luôn giữ được nụ cười trên môi, sau đó hãy tạo cho họ những kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết.

     

    Trụ sở ngân hàng cần phải được bố trí đẹp, dễ nhận biết đối với các quầy giao dịch, có logo và cam kết đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Bên cạnh đó, đối với vị trí đặt máy ATM, tránh việc đặt ở nơi không thuận tiện, không an toàn, không phục vụ tốt cho khách hàng mỗi khi đến giao dịch. Ngoài ra, việc mặc đồng phục và tác phong giao dịch của nhân viên cũng cần phải chú trọng. Điều này sẽ khiến cho khách hàng có cảm giác thân thiện và yên tâm hơn khi giao dịch với ngân hàng.

     

    Tờ rơi, panô và các bộ băng ron quảng cáo trước các điểm giao dịch phải được bố trí phù hợp với không gian, có chỗ giữ xe an toàn, nhân viên bảo vệ phải lịch sự, vì đây là yếu tố

     

     

    24

     

    Các nhân tố . . .

     

    cảm nhận đầu tiên khi khách hàng giao dịch với ngân hàng.

     

    Đối với độ tin cậy:

     

    Ngân hàng cần phải thực hiện dịch vụ đúng, giải quyết thỏa đáng nhu cầu của khách hàng cũng như NH cần phải xây dựng nên một quy trình xử lý nghiệp vụ thật nhất quán, thông suốt giữa các phòng để rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng. Đồng thời, cần đặt ra tiêu chuẩn về thời gian thực hiện một giao dịch với khách hàng nhằm đảm bảo mọi giao dịch đều được thực hiện một cách nhanh chóng, an toàn, chính xác, tạo lòng tin nơi khách hàng.

     

    Đối với sự đáp ứng:

     

    NH cần đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp có đầy đủ kiến thức chuyên môn để đáp ứng, trả lời thắc mắc cho khách hàng phục vụ khách hàng một cách tận tình chu đáo.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trao đổi thông tin với khách hàng để hiểu và đáp ứng kỳ vọng của khách hàng. Thông qua đó, ngân hàng truyền tải đến khách hàng thông tin về sản phẩm, dịch vụ, xử lý các yêu cầu của khách hàng, đồng thời thu thập các ý kiến phản hồi cũng của khách hàng liên quan đến các mặt hoạt động ngân hàng. Ngân hàng cũng cần thiết lưu trữ dữ liệu thông tin tập trung khách hàng để có chính sách chăm sóc kịp thời.

     

    NH cần phân khúc thị trường nhằm đảm bảo tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Từ đó, ngân hàng sẽ có chính sách ưu đãi đặc biệt để nâng cao chất lượng phục vụ phù hợp với từng đối tượng khách hàng.Góp phần tạo dựng niềm tin, nâng cao sự thỏa mãn của KH đối với chất lượng dịch vụ của NH.

     

     

    • Cronin, J. J., & Taylor, S. A. (1992). Measuring service quality: A Reexamination and extension. Journal of Marketing, 56, 55-68.

     

    • Gronroos, C, A, (1984), Service Quality Model and Its Marketing Implications, European, Journal of Marketing, 18 (4): 36-44.Hall, USA.

     

    • Hair, Black,Babin,Anderson (2006). Multivariate Data Analysis,Prentical – Hall International.Inc .

     

    • Hoàng Trọng- Chu Nguyễn Mộng Ngọc, (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức.

     

    • Kotler, P., & Keller, K.L. (2006), Marketing Management, Pearson Prentice.

     

    • Nguyễn Đình Thọ,(2011).Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh.NXB Lao động xã hội.

     

    • Nguyễn Thị Mai Trang,(2006). Chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành đối với siêu thị tại TP.HCM. Tạp chí Phát triển KH&CN, tập 9, Số 10-2006.

     

    • Nguyễn Đình Thọ – Nguyễn Thị Mai Trang (2008), Nghiên cứu khoa học Marketing – Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP.HCM.

     

    • Nguyễn Viết Hải, 2011. Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum. Luận văn Thạc sĩ. Đại Học Đà Nẵng.
    • Nunnally,J.(1978), Psycometric Theory ,New York, McGraw- Hill .

     

    • Parasuraman .A., V.A. Zeithaml, & L.L Berry (1985), A conceptual model of service quality and its implications for future, Journal of Marketing, 49 (Fall): 41-50

     

    • Parasuraman, A., V.A Zeithaml, & L. L. Berry (1988), Servqual: a multiple-item scale for measuring

     

    consumer perceptions of service quality, Journal of Retailing, 64(1): 12 – 40

     

    • Parasuraman, A., L. L. Berry, & V. A. Zeithaml (1991),Reinement and Reassessment of the SERVQUAL Scale, Journal of Retailing, 67 (4): 420-450.

     

    • Philip Kotler , (1999). Marketing căn bản.Nhà xuất bản Thống kê.

     

     

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-T%C3%80I-KH%C3%93A-V%C3%80-T%C4%82NG-TR%C6%AF%E1%BB%9ENG-KINH-T%E1%BA%BE-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-NH%E1%BB%AENG-N%C4%82M-G%E1%BA%A6N-%C4%90%C3%82Y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    Chính sách tài khóa . . .

     

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

     

    Huỳnh Xuân Hiệp*

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2014 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở châu Âu chưa được giải quyết dứt điểm. Nền kinh tế thế giới vẫn còn nhiều gam màu tối đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước. Trước tình hình này, Chính phủ chủ trương tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm thông qua nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 (Nghị quyết 01) về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2014. Ngoài việc phân tích thực trạng nền kinh tế và chính sách tài khóa tại Việt Nam để từ đó đưa ra các kiến nghị, đề tài đã cố gắng trả lời câu hỏi về tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế. Đề tài xem xét tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế thông qua ước lượng mô hình bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế . Tuy nhiên kết quả vẫn không tìm ra bằng chứng thực nghiệm nào.

     

    Từ khóa: tăng trưởng kinh tế, chính sách tài khóa, ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách

     

    FISCAL POLICY AND ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM

     

    IN RECENT YEARS

     

    ABSTRACT

     

    In 2014, Vietnamese Social and Economy is still affected by the instability of the world economy because the world inancial crisis and the public debt of European Countries have not been resolved deinitively. The economy still has many dark sides and it affected the production and business activities of residents and companies in Viet Nam. In order to solve problem, Vietnamese Government continued to implement tighten iscal policy, radical saving policy through resolution No 01/NQ-CP date 02/01/2014 (resolution 01). The resolution gives out tasks, main solutions, implementations of economic development plans and estimation of national budget in 2014. In addition to the analysis of economic policy and iscal policy in Viet Nam in order to give recommendation, the paper tried to answer questions about the impact of iscal policy to economic growth. This activity is considered by estimating national budget deicit and economic growth models. However, the result did not ind any empirical evidence.

     

    Keywords: economic growth, iscal policy, national budget, budget deicit.

     

    • Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. HCM

    11

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Mục tiêu tổng quát hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam năm 2014 là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng, lãng phí, cải thiện môi trường kinh doanh. Bảo đảm quốc phòng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

     

    Một vấn đề đặt ra là liệu chính sách tài khóa sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chính sách tài khóa được Chính phủ thực hiện thông qua công cụ thuế và chi tiêu công. Do đó, ảnh hưởng của thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế cho thấy tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế. Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện để trả lời câu hỏi này. Theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) và Swan (1956), câu trả lời chủ yếu là “không”. Trong các mô hình này, thuế và chi tiêu ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm hoặc ưu đãi đầu tư vào vốn vật chất hay vốn con người, cuối cùng ảnh hưởng đến tỷ lệ cân bằng chứ không phải là tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu theo mô hình tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư vào vốn con người và vốn vật chất ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng ổn định, và do đó thuế và chi tiêu công có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Kể từ những đóng góp tiên phong của

     

    Barro (1990), King và Rebelo (1990), Lucas (1990), một số bài nghiên cứu đã mở rộng việc phân tích thuế, chi tiêu công và tăng trưởng, chứng minh các biến số tài khóa có thể ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng dài hạn trong các điều kiện khác nhau (ví dụ: Jones và cộng sự, 1993;. Stokey và Rebelo, 1995; Mendoza và cộng sự, 1997.).

     

    Lý thuyết là khá rõ ràng, tuy nhiên, có rất ít hoặc chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động của thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế. Theo Stokey và Rebelo (1995), ‘’những ước tính gần đây về tăng trưởng tiềm tàng từ tác động của việc cải cách thuế rất khác nhau, dao động từ không đến tám điểm phần trăm’’. Do đó để điều hành chính sách tài khóa có hiệu quả, rất cần thiết có một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chính sách tài khóa đến sự tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    2.1. Cơ sở lý thuyết

     

    Chính sách tài khóa là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Hai công cụ của chính sách tài khóa là hệ thống thuế và chi tiêu công của chính phủ.

     

    Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn.

     

    –  Chính sách trung lập

     

    Là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêu công của chính phủ, T: thu nhập từ thuế). Chi tiêu công của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế

     

     

    12

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính đến các hoạt động kinh tế.

     

    –  Chính sách mở rộng

     

    Là chính sách tăng cường chi tiêu công của chính phủ (G > T) thông qua chi tiêu công của chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

     

    –  Chính sách thu hẹp

     

    Là chính sách trong đó chi tiêu công của chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu công hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn hơn so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam trong những năm vừa qua.

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính toán thông qua tốc độ tăng trưởng GDP. Chính sách tài khóa được thể hiện thông qua thuế T và chi tiêu công G. Số liệu thứ cấp được thu thập từ tổng cục thống kê từ năm 2005 đến năm 2013.

     

    Để nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, đề tài thực hiện hồi quy OLS với biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến độc lập là bội chi ngân sách nhà nước.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thực trạng nền kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam

     

    3.1.1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam Với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong bối

    cảnh khủng hoảng kinh tế, Việt Nam đã duy trì tăng trưởng ở tốc độ 6,24% năm 2011, 5,25% năm 2012, và ở mức 5,42% năm 2013. Dù tốc độ tăng trưởng trong ba năm này thấp hơn mức trung bình trong cả thập kỷ trước, nhưng đây được coi là thành công bởi những áp lực bất lợi từ khủng hoảng kinh tế thế giới là rất lớn.

     

     

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP được tính theo giá so sánh năm 2010)

     

    Đơn vị tính: %

     

     

     

    Tốc độ tăng trưởng này được nhìn nhận một phần là do tác động của chính sách tài khóa mở rộng thông qua các gói kích cầu và chính sách tiền tệ mở rộng. Thực tế cho thấy,

     

     

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

     

    khi các gói kích cầu tài khóa đã dừng lại vào năm 2010 thì chính sách tiền tệ mở rộng tiếp tục được duy trì là nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy đạt được những thành quả

     

     

    13

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    đáng kể nhưng đến nay Việt Nam liên tục phải đương đầu với những bất ổn kinh tế do sự kéo dài và thiếu nhất quán của các chính sách vĩ mô. Hậu quả đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế như lạm phát, thiếu thanh khoản, nợ công tăng nhanh, trong đó nợ nước ngoài tăng đáng kể, thâm hụt ngân sách cao và tình trạng nhập siêu kéo dài.

     

    3.1.2. Chính sách tài khóa của Việt Nam Trong giai đoạn trước 2011, chính sách tài khóa (CSTK) được mở rộng đáng kể, thể hiện ở việc tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2006-2010 cao gấp 2,3 lần so với giai đoạn 2001-2005. Việc thực thi CSTK mở rộng, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, đã tác động tích cực tới duy trì tốc độ tăng trưởng và

     

    giúp Việt Nam sớm thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, việc mở rộng CSTK nhanh

     

    cũng góp phần khiến lạm phát tăng cao trở lại và làm bội chi ngân sách, nợ công tăng nhanh.

     

    Từ sau năm 2011, các giải pháp và các quyết sách của Chính phủ tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội đã được thực hiện đồng bộ, kịp thời và quyết liệt. Thu nội địa năm 2011 đạt 425.000 tỷ đồng, vượt 11,3% so với dự toán, tăng 19,9% so với thực hiện năm 2010, đến năm 2013 con số này là 545.500 tỷ đồng, tăng 28,35% so với năm 2011. Tất cả các mục thu đều thực hiện vượt dự toán.

     

    Bội chi NSNN đã tăng từ mức trung bình là 4,0% GDP giai đoạn 1996-2000 lên 4,9% GDP giai đoạn 2001-2005, giai đoạn 2006-2010 là 5,5% GDP, và giai đoạn 2011-2013 là 5,81% GDP. Năm 2011, bội chi NSNN ở mức thấp nhất trong giai đoạn 2011-2013 nhưng đã là một con số đáng kể, do đó phải có biện pháp cắt giảm hơn nữa tronh những năm tiếp theo để đảm bảo sự bền vững tài khóa trong trung và dài hạn.

     

     

    Bội chi ngân sách ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2013                                                Đơn vị tính: tỷ đồng

     

     

     

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

     

    3.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác      của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh

     

    động của chính sách tài khóa đối với tăng            tế tại thị trường Việt nam, tác giả sử dụng hồi

     

    trưởng kinh tế.                                                                       quy đơn theo phương pháp OLS với biến phụ

     

    Dựa trên các nghiên cứu đã được tiến          thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến độc

     

    hành trên thế giới. Để xác định ảnh hưởng        lập là bội chi ngân sách nhà nước. Mô hình

     

     

    14

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    nghiên cứu như sau:

     

    Trong đó:

     

    y là tốc độ tăng trưởng kinh tế BC là bội chi ngân sách nhà nước Thu thập dữ liệu.

     

    Dữ liệu về Tổng sản phẩm quốc nội tính theo giá so sánh với năm 2010 được thu thập từ tổng cục thống kê.

     

    Việc tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế dựa trên tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) qua các năm.

     

    Trong đó:

     

    y là tốc độ tăng trưởng kinh tế

     

    GDPt+1 là GDP năm (t+1) tính theo giá so sánh năm 2010

     

    GDPt là GDP năm t tính theo giá so sánh năm 2010

    Dữ liệu về thu chi NSNN được thu thập từ tổng cục thống kê và cổng thông tin điện tử chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bội chi NSNN được tính toán thông qua công thức sau:

     

    BC = Tổng chi – Tổng thu

     

    Trong đó: BC là bội chi ngân sách nhà nước.

     

    Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

     

     

       

    Bảng kết quả hồi quy mô hình

     
               
     

    Hệ số hồi quy

     

    Hệ số hồi quy

    Thống kê t

    Sig.

     

    chưa chuẩn hóa

    đã chuẩn hóa

       

    Hệ số

    Sai số chuẩn

           

    Hằng số

    .107

    .033

     

    3.225

    .018

    LN(BC)

    -.004

    .003

    -.495

    -1.396

    .212

    (Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm SPSS 16.0)

     

    Kiểm định hệ số hồi quy.

     

    Hệ số hồi quy của biến độc lập ln(BC) có Sig. = 0,212 > mức ý nghĩa 5% nên không có ý nghĩa thống kê hay biến độc lập ln(BC) không có ảnh hưởng đến biến phụ thuôc y là tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hay nói cách khác với dữ liệu thu thập được trên thị trường Việt Nam, chưa đủ cơ sở để kết luận CSTK có tác động đến tăng trưởng kinh tế.

     

    Bảng mức độ giải thích của mô hình.

     

    Model

    R

    R2

    R2 hiệu chỉnh

    Sai số chuẩn của ước lượng

    1

    .495a

    .245

    .119

    .0069272

             

    (Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm SPSS 16.0)

     

     

    Hệ số R2 = 24,5% rất thấp, cho thấy biến độc lập ln(BC) chỉ giải thích được 24,5% sự biến thiên của tốc độ tăng trưởng kinh tế.

     

    Như vậy 1 – R2 = 75,5% mức độ biến thiên của tốc độ tăng trưởng kinh tế được giải thích bởi các yếu tố ngoài mô hình. Hay nói cách

    khác tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác chứ không phải từ CSTK.

     

    Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn từ 2005 – 2013 cho thấy, CSTK biểu hiện thông qua bội chi NSNN không tác đông đến tăng trưởng

     

     

    15

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    kinh tế. Điều này có thể lý giải bằng kiến thức kinh tế vĩ mô, tác động của thuế và chi tiêu ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm hoặc ưu đãi đầu tư vào vốn vật chất hay vốn con người, cuối cùng ảnh hưởng đến cân bằng sản lượng của nền kinh tế chứ không phải là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Điều này cũng phù hợp với kết luận mà các nhà nghiên cứu Solow (1956) và Swan (1956) thu được khi nghiên cứu về CSTK và tăng trưởng kinh tế.

     

    4. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

     

    4.1. Kiến nghị về chính sách tài khóa tại Việt Nam

     

    Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ (CSTT)

     

    Một là, giữa Bộ tài chính và Ngân hàng Nhà Nước cần phải cung cấp, trao đổi thông tin thường xuyên trong việc xây dựng, hoạch định và thực thi CSTK, CSTT trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.

     

    Hai là, CSTK và CSTT cần có sự gắn kết chặt chẽ hơn để góp phần thực hiện cùng một lúc hai mục tiêu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn kịp thời tình trạng số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng. Trong dài hạn, CSTK phải sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội, CSTT cần kiên trì theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát.

     

    Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm trong năm 2014

     

    Bằng cách thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết 01/NQ-CP của chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2014. Trong đó, nêu rõ trong năm 2014 tiếp tục thực hiện CSTK chặt chẽ, triệt để tiết kiệm. Bội chi NSNN không quá 5,3%

     

    GDP, thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính. Kiểm soát ngân sách nhà nước

     

    Thiết lập cơ chế thu ngân sách nhà nước ổn định. Tăng cường chỉ đạo công tác thu, quản lý NSNN, chống thất thu, gian lận thuế, giảm các khoản nợ đọng thuế. Thực hiện thu đầy đủ, kịp thời các khoản thu năm 2010, 2011, 2012 được gia hạn sang năm 2013. Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách thuế và thu ngân sách mới như luật quản lý thuế, luật sửa đổi và bổ sung luật thuế thu nhập cá nhân.

     

    Quản lý chi Ngân sách Nhà Nước hiệu quả. Tăng cường quản lý chi NSNN theo hướng tiết kiệm, hiệu quả trên cơ sở thực hiện rà soát lại các khoản chi NSNN và trong từng khoản chi cần rà soát lại các nội dung chi để xác định đúng thứ tự ưu tiên chi NSNN. Ưu tiên chi an sinh xã hội; bố trí chi đầu tư phát triển gắn với tái cơ cấu đầu tư công, bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công ngiệ, y tế, văn hoá, môi trường, kiên quyết cắt, giảm, hoãn, lùi thời gian chi đối với các khoản chi chưa thực sự cần thiết.

     

    Cần có cơ chế giám sát đầu tư công. Chi tiêu cho đầu tư công cầ được tiếp tục cắt giảm mạnh và có chọn lọc. Cắt giảm đầu tư công sẽ giúp giảm nợ công và tiến tới giảm bội chi ngân sách. Các dự án đầu tư công cần cắt giảm và có bước cải cách mạnh mẽ trong khâu thẩm định, ra quyết định đầu tư, hết sức tránh đầu tư tràn lan và kéo dài thời gian thi công xây dựng..

     

    Tiếp tục rà soát lại hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách sửa đổi. Cần bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế theo hướng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho thị trường. Định hướng chính sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở rộng đối tượng chịu thuế, tăng thuế

     

     

    16

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu và các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất đối với thuế xuất khẩu các sản phẩm từ khai thác tài nguyên.

     

    4.2. Kết luận

     

    CSTK là công cụ đắc lực trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Tuy nhiên lựa chọn thực hiện CSTK nào lại là một vấn đề rất khó khăn đòi hỏi Chính phủ phải cân nhắc trên nhiều khía cạnh để thực hiện tốt nhất các chức năng và nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Nhà nước.

    Nghiên cứu đã tóm tắt được các vấn đề tổng quan về CSTK cũng như phân tích thực trạng nền kinh tế và CSTK của Việt Nam trong những năm vừa qua, thông qua đó đưa ra các đánh giá và các kiến nghị.

     

    Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về vấn đề tác động của CSTK đến tăng trưởng kinh tế trên thị trường Việt Nam. Do đó, cần một nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn, được đầu tư tài chính và thời gian nghiên cứu đủ dài để có thể đưa ra được câu trả lời chính xác cho vấn đề liệu có hay không ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Barro, R., 1990. Government spending in a simple model of endogenous growth. Journal of Political Economy 98 (1), s103–117.
    • King, R., Rebelo, S., 1990. Public policy and economic growth: Developing neoclassical implications. Journal of Political Economy 98 (1), s126–151.
    • Solow, R.M., 1956. A contribution to the theory of economic growth. Quarterly Journal of Economics 71 (1), 65–94.
    • Swan, T.W., 1956. Economic growth and capital accumulation. Economic Record 32(3),334–361.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-suy-ngh%C4%A9-v%E1%BB%81-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%99ng-v%C3%A0-%C4%91i%E1%BB%81u-h%C3%A0nh-l%C3%A3i-su%E1%BA%A5t-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ . . .

     

    Nghiên cứu – Trao đổi

     

    MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ

     

    BIẾN ĐỘNG VÀ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT HIỆN NAY

     

    Nam Phương*, Đỗ Linh Hiệp**

     

    TÓM TẮT

     

    Thị trường tiền tệ trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua, đã chứng kiến nhiều sự kiện biến động về lãi suất và những hoạt động có liên quan. Bên cạnh những dấu hiệu của sự biến động tích cực, liệu có tiềm ẩn những gì khiến chúng ta cần quan tâm suy nghĩ ? Trên cơ sở đó có thể giúp cho việc điều hành công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, thực sự đạt được mục tiêu cuối cùng như mong đợi. Nói cách khác, cần có giải pháp gì để hỗ trợ đồng bộ với điều hành công cụ lãi suất, nhằm tăng tính hiệu quả của nó, đối với mục tiêu kích cầu tín dụng, kích thích khả năng phục hồi và tăng trưởng kinh tế nói chung.

     

    Đây là bài viết có nội dung tương đối chuyên sâu về một lĩnh vực (tiền tệ-ngân hàng). Vì vậy, để tiện việc theo dõi của đọc giả, trước hết chúng tôi muốn giới thiệu đôi nét sơ lược, về một số vấn đề có tính chất nguyên lý cơ bản trực tiếp liên quan. Trên cơ sở đó, sẽ phân tích diễn biến, nhận định và đề xuất ý kiến giải quyết vấn đề.

    Từ khoá: Biến động, điều hành, lãi suất

     

    SOME THOUGHTS ABOUT PRESENT INTEREST CHANGE AND MANAGEMENT

    ABSTRACT

     

    Banking market for the irst days of May changed a lots in interest and its related activities. Besides the signs of active changes, is there any implicit that makes us think? Based on that can help to manage interest method of State Bank gain the last purpose as expected. In other words, what solutions to comprehensive assist/ support with manage interest method which raises its effectiveness for the goal of demand stimulation credit, in general, stimulate rehabilitate capacity and economic development. This essay which has promptly content about one aspect ( banking – monetary). First of all, we would like to introduce cursorily some basic principles which directly related so the readers easily monitor. Based on that, we will analyze the happenings, consider and put forward ideas for solving problems.

     

    Key word: Change, manage, interest

     

    • GVC. Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh
    • TS. Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Bình Dương

     

     

    51

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1.   Tìm hiểu những nguyên lý cơ bản về công cụ lãi suất

     

    Trên phương diện lý thuyết, lãi suất được hiểu một cách chung nhất, đó chính là một loại giá phải trả, để có được quyền sử dụng, một khoản vốn tiền tệ không thuộc sở hữu của mình, trong một khoảng thời gian nhất định. Chẳng hạn, khi ta gửi một khoản tiền vào ngân hàng, tức là đã nhường quyền sử dụng khoản tiền đó cho ngân hàng, trong thời hạn thỏa thuận giữa hai bên. Đổi lại, ta sẽ nhận được khoản tiền lãi, theo lãi suất tiền gửi của ngân hàng. Sau đó, ngân hàng sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ của ta để cho vay, cũng có nghĩa là họ đã bán lại quyền sử dụng khoản vốn tiền tệ này cho người khác (doanh nghiệp chẳng hạn). Đương nhiên, ngân hàng sẽ bán lại với mức giá (tức lãi suất cho vay) cao hơn khi ta bán cho họ; bởi lẽ về nguyên lý, lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ tạo ra khoản thu, mà khoản thu này phải đủ để bù đắp lại chi phí mua vốn, các khoản chi phí quản lý phát sinh trong kinh doanh và đương nhiên phải bao gồm cả lợi nhuận của ngân hàng nữa chứ! Như vậy ta có thể hiểu một cách dễ dàng và đơn giản là khi ngân hàng mua vốn (nhận tiền gửi)với giá cao, thì cũng sẽ phải bán vốn ra (cho vay) với lãi suất cho vay cao. Đó cũng là vấn đề hiển nhiên và hoàn toàn phù hợp với nguyên lý chung của hạch toán kinh tế mà thôi!

     

    Cũng cần tìm hiểu sâu thêm một chút, về lãi suất mà người gửi tiền được hưởng: trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, tức là có sự mất giá của đồng tiền, lãi suất tiền gửi chỉ thực sự đem lại thu nhập cho người gửi tiền, khi mức lãi suất này lớn hơn tỷ lệ lạm phát. Giả sử lãi suất tiền gửi (công bố của ngân hàng hay còn gọi là lãi suất danh nghĩa) là 7% /năm; tỷ lệ lạm phát cũng là 7%/năm, thì thực

    sự người gửi tiền cũng không có lợi gì. Bởi vì khoản lãi ngân hàng trả cho họ, cũng chỉ vừa đủ để bù đắp lại cái mà họ đã bị mất đi (vì sự mất giá của đồng tiền do lạm phát), trong thời gian họ nhường quyền sử dụng khoản vốn tiền tệ của mình cho ngân hàng. Điều đó có thể diễn đạt tóm tắt qua công thức:

     

    Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát

     

    Với công thức trên ta thấy rõ, người có dư tiền sẽ chỉ sẵn sàng gửi tiền vào ngân hàng, khi lãi suất thực đạt được là số dương và đạt được ở giới hạn kỳ vọng của họ.

     

    Một vấn đề khác có liên quan tới phạm trù lãi suất, cũng cần được đề cập tới trước khi bàn về thực trạng của nó hiện nay. Như ta đã biết, trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng được tổ chức và vận hành theo mô hình hệ thống 2 cấp; trong đó cấp 1 là ngân hàng Trung ương (ở Việt Nam gọi là Ngân hàng Nhà nước), thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mọi hoạt động về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng nói chung; không có chức năng kinh doanh tiền tệ. Còn hệ thống cấp 2 là ngân hàng trung gian (bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chuyên doanh,… ) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.

     

    Để thực hiện chức năng của mình, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ đạo điều hành thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu của chính sách này, thông qua các công cụ như chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá, chính sách tín dụng,… Tùy tình hình thực tế của nền kinh tế ở mỗi thời kỳ, NHNN sẽ sử dụng những biện pháp cụ thể của từng công cụ đó, nhằm đạt được mục tiêu chung của chính sách tiền tệ đã dự kiến. Chẳng hạn, trong thời kỳ cần đẩy mạnh tăng

     

     

    52

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    trưởng kinh tế, NHNN thực thi chính sách tiền tệ mở rộng, tức là chủ trương tăng cung ứng lượng tiền trong lưu thông. Để thực hiện được chủ trương này, NHNN sẽ chủ động hạ lãi suất tái cấp vốn, tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại (NHTM), được nhận các khoản vay từ NHNN với lãi suất thấp. Do vậy, các NHTM sẽ có điều kiện để hạ lãi suất cho vay, kích thích mở rộng tín dụng cho nền kinh tế. Hoặc giả sử có tình huống ngược lại, khi muốn hạn chế tình trạng tăng trưởng tín dụng quá nóng của nền kinh tế; đồng thời kiềm chế khả năng lạm phát có thể xẩy ra, NHNN có thể: hoặc chủ động nâng lãi suất tái chiết khấu, gây áp lực tăng lãi suất cho vay của các NHTM, từ đó dẫn tới hệ quả thu hẹp tín dụng trong nền kinh tế. Hoặc NHNN có thể quy định trần lãi suất huy động ở mức giới hạn thấp, buộc các NHTM không được huy động tiền gửi cao hơn giới hạn này, từ đó hạn chế khả năng mở rộng nguồn vốn, mở rộng tín dụng trong nền kinh tế. Đó cũng chính là một vài nội dung đơn giản về cơ chế điều hành công cụ lãi suất của NHNN, nhằm đạt được mục tiêu chung của chính sách tiền tệ quốc gia.

     

    2.   Câu chuyện phức tạp về lãi suất thực tế hiện nay

     

    Hãy tạm gác lại những vấn đề lý luận cơ bản nêu trên, bởi dù sao chúng cũng đã hoàn thành vai trò của mình, tạo cơ sở ban đầu giúp ta có điều kiện dễ dàng, theo dõi diễn biến của những câu chuyện thực tế đa dạng và phức tạp hiện nay, trên thị trường tiền tệ, tín dụng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế-xã hội nói chung.

     

    Chủ đề mà ta đang muốn tìm hiểu và bàn luận ở đây cũng là một vấn đề thực tiễn, có liên quan và ảnh hưởng sâu rộng, đối với hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế-xã hội;

    trong đó đương nhiên bao gồm cả chúng ta. Đó chính là câu chuyện diễn biến của lãi suất tiền gửi hiện hành qua những tín hiệu thông tin thị trường.

     

    2.1. Trần lãi suất huy động tiền gửi vẫn còn khả năng hạ tiếp

     

    Nếu những ai quan tâm theo dõi thì chắc hẳn còn nhớ rằng, khoảng tháng 9/2012, các NHTM trong đó khởi đầu là ACB, đã tạo một đợt sóng đẩy lãi suất tiền gửi tiết kiệm (loại kỳ hạn trên 1 năm) lên 13%/năm. Tiếp theo là các NHTM khác cũng đồng loại tăng theo. Có thể biện giải cho hiện tượng bất bình thường này là do, một số NHTM muốn đảm bảo cho thanh khoản trong dài hạn được dồi dào để phòng hờ rủi ro; một số NHTM khác vẫn còn trong tình trạng thiếu thanh khoản, do vậy phải đẩy lãi suất huy động lên để có hy vọng thu hút thêm được nguồn vốn huy động, bù đắp lỗ hổng thiếu hụt thanh khoản đã xuất hiện, do tồn tại các khoản nợ xấu. Hoặc tại một số NHTM khác quá xa đà vào việc cấp tín dụng, dẫn đến tình trạng tỷ trọng số tiền cho vay /vốn huy động quá cao, hơn nữa có những khoản tiền cho vay nhưng không thu hồi được nợ, xuất hiện tình trang nợ xấu gia tăng, từ đó cũng phải vào cuộc theo đà nâng lãi suất huy động tiền gửi để có thêm thanh khoản. Một số NHTM có được những dự án đầu tư lớn, có hiệu quả; tuy nhiên vốn huy động chưa đáp ứng yêu cầu cho vay và thế là họ cũng sẵn sàng chấp nhận lao vào cuộc đua tăng lãi suất huy động…

     

    Để lập lại trật tự lãi suất tiền gửi trong nền kinh tế, cuối tháng 12/2012, NHNN đã chỉ đạo hạ trần lãi suất huy động tiền gửi xuống còn 8%/năm. Bước sang năm 2013, từ 26/03, NHNN quy định giảm trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn từ 8%/năm xuống 7,5%/năm. Tiếp theo, ngày 10/05 vừa qua trên cơ sở các

     

     

    53

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    yếu tố điều hành kinh tế vĩ mô, với thực trạng diễn biến lạm phát được kiểm soát trong giới hạn cho phép, cũng như tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng, ngày 10/05/2013, NHNN đã công bố quyết định cắt giảm 1% đối với các lãi suất chủ chốt (được coi là các lãi suất điều hành). Cụ thể: Với lãi suất tái cấp vốn giảm từ 8%/năm xuống 7%/năm; lãi suất chiết khấu từ 6%/năm xuống 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN, đối với các ngân hàng từ 9%/năm xuống 8%/năm. Còn với trần lãi suất tiền gửi, vẫn được giữ nguyên ở mức hiện hành 7,5%/năm. Cùng với việc đưa ra quyết định giảm lãi suất điều hành chủ chốt, giữ nguyên trần lãi suất tiền gửi, NHNN cũng có đưa ra quy định, về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND, của các tổ chức tín dụng, đối với các nhu cầu tín dụng thuộc các đối tượng được ưu đãi như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, …giảm từ 12%/năm xuống 11%/năm.

     

    Thông qua việc giảm các loại lãi suất điều hành như trên cho thấy, định hướng hỗ trợ lãi suất đầu vào của NHNN đối với các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM có điều kiện thực hiện giảm lãi suất đầu ra, với các khách hàng có nhu cầu tín dụng.

     

    Đối với lãi suất huy động tiền gửi, NHNN chủ trương vẫn tiếp tục duy trì trần lãi suất ở mức 7,5%/năm, với lý giải rằng căn cứ vào các yếu tố điều hành kinh tế vĩ mô, diễn biến kiểm soát lạm phát với mức kỳ vọng trong năm 2013 là khoảng 6,5% – 7%, do vậy mức trần lãi suất huy động ngắn hạn ở mức 7,5%/ năm vẫn được duy trì và được cơ quan quản lý vĩ mô coi là hợp lý.

    Chúng tôi đề xuất giảm trần lãi suất xuống 6,5%/năm

     

    Có ý kiến cho rằng, nên giảm tiếp trần lãi suất tiền gửi xuống mức 7%/năm với lý do, để có thể tiếp tục giảm thêm lãi suất cho vay, kích thích tăng trưởng tín dụng mạnh hơn. Chúng tôi cho rằng, trong điều kiện hiện nay, việc giảm trần lãi suất tiền gửi xuống 7%/năm cũng sẽ không có hiệu ứng gì khác hơn. Thật vậy, thực tế cho thấy, ngay trước khi có quy định trần lãi suất tiền gửi giảm từ 8%/năm xuống 7,5%/năm, một số ngân hàng lớn đã chủ động cắt giảm lãi suất xuống dưới mức trần quy định. Cụ thể như Vietcombank hạ lãi suất kỳ hạn 1 tháng xuống 6%/năm, 2 tháng 6,5%/ năm, 3 tháng 6,8%/năm và kỳ hạn 6-9 tháng chỉ còn 7%/năm. Vietinbank với lãi suất kỳ hạn 1-12 tháng là 7%/năm. Tại BIDV tình hình cũng tương tự, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3-12 tháng chỉ còn 7%/năm;…Hiện nay, tình trạng các ngân hàng huy động tiền gửi, với mức lãi suất dưới trần quy định, đã trở thành khá phổ biến trên thị trường tiền tệ.Thực ra hiện tượng này cũng không có gì đáng ngạc nhiên lắm. Nó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, song có điều chắc chắn là các ngân hàng này đang trong tình trạng dư thừa thanh khoản, chưa tìm được dự án khả thi để đầu tư (‘đầu vào” đang lớn hơn “đầu ra”).

     

    Tuy nhiên, cũng không nên từ thực trạng nêu trên, để có thể tùy tiện đưa ra quyết định tiếp tục giảm trần lãi suất tiền gửi thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn. Bởi lẽ, khi hạ trần lãi suất tiền gửi quá giới hạn hợp lý, người gửi tiền sẽ cảm thấy băn khoăn khi tiền lãi tiết kiệm ngày càng ít đi, họ sẽ sẵn sàng rời bỏ “sân chơi tiền gửi” để đến với “sàn vàng”, hay dự trữ USD,…Khi đó trình trạng khó khăn về vốn, thiếu hụt thanh khoản của các NHTM sẽ có thể lại xuất hiện và sẽ trở nên

     

     

    54

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    trầm trọng, khi tăng trưởng tín dụng có cơ hội quay trở lại. Chúng tôi cho rằng, cần nghiên cứu để điều chỉnh hạ trần lãi suất tiền gửi xuống 6,5%/năm. Điều này hoàn toàn phù hợp thực trạng điều hành chỉ tiêu lạm phát và yêu cầu kéo giảm lãi suất cho vay hiện nay.

     

    2.2. Lời giải nào cho bài toán kích cầu tín dụng

     

    Câu chuyện lãi suất bây giờ không chỉ dừng lại ở lãi suất huy động tiền gửi, mà điều cần quan tâm nhiều hơn chính lại là lãi suất cho vay, nếu như muốn tìm lời giải cho bài toán kích cầu tín dụng. Xét trên giác độ vĩ mô, tăng trưởng tín dụng không phải là mục tiêu cuối cùng, song chính nó lại là một trong những công cụ rất quan trọng và là mục tiêu trung gian, góp phần đưa nền kinh tế đạt mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế.

     

    2.2.1. Giảm lãi suất cho vay phải được coi là nhiệm vụ cấp bách hiện nay

     

    Chúng ta đã bình luận khá nhiều về lãi suất huy động tiền gửi, song hãy đừng quên rằng mục tiêu của huy động là để cho vay. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, việc giảm lãi suất huy động chính là tiền đề trực tiếp và rất quan trọng để hướng tới mục tiêu giảm lãi suất cho vay. Tuy nhiên, diễn biến lãi suất thực tế cho thấy, lãi suất cho vay vẫn còn ở mức cao so với trần lãi suất huy động. Hiện nay lãi suất cho vay đối với các ngành được ưu đãi như nông nghiệp-nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và ứng dụng công nghệ cao mới được hưởng mức lãi suất 9-11%/năm; còn lại các lĩnh vực khác từ 12-15%/năm. Chưa kể, với các khoản dư nợ cũ còn tồn tại của một số doanh nghiệp, hiện vẫn phải tiếp tục chịu đựng với lãi suất trên 15%.

     

    • Lãi suất cho vay cao, ngân hàng “ế vốn”

     

    Theo số liệu báo cáo của NHNN về tình

     

    hình hoạt động tín dụng của các NHTM, tính

    đến ngày 23/4/2013, huy động vốn tăng 5,34% so

     

    với cuối năm 2012, cao hơn gấp 1,5 lần mức tăng của cùng kỳ năm 2012, trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 1,44%. Số liệu thống kê này, trong một mức độ nhất định, cho thấy hệ thống ngân hàng đang trong tình trạng “ế vốn”. Vậy điều gì sẽ xẩy ra khi tình trạng “tồn kho” tiền của các ngân hàng cứ tiếp tục kéo dài và gia tăng? Trước hết nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của ngân hàng và đồng thời ảnh hưởng tới họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế-xã hội. Để có thể tháo gỡ khó khăn này, cần nhận diện những nguyên nhân của tình trạng trên. Chúng tôi cho rằng hiện tượng ế vốn như trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân; song trước hết có thể lý giải là do lãi suất cho vay quá cao, so với khả năng chịu đựng của các doanh nghiệp. Thật vậy, lãi suất tiền vay cấu thành trong giá thành sản phẩm. Khi các yếu tố khác không đổi, lãi suất vay càng cao thì giá thành sản phẩm sẽ càng cao. Nếu doanh nghiệp muốn có lãi thì phải bán sản phẩm giá cao. Đương nhiên người tiêu dùng sẽ không chấp nhận. Kết cục là doanh nghiệp không vay và vốn của ngân hàng cũng không có đầu ra. Điều nguy hại hơn là khi doanh nghiệp không bán được hàng, tồn kho tăng lên, sản xuất sẽ không thể tiếp tục; đồng thời khi doanh nghiệp không trả được vốn vay, nợ xấu của ngân hàng cũng sẽ tiếp tục gia tăng.

     

    • Câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao lại có tình trạng lãi suất cho vay cao như vậy?

     

    Nhiều ý kiến cho rằng, các ngân hàng thương mại (NHTM) lâu nay đã và đang hưởng khoản chênh lệch phần trăm giữa lãi suất huy động và cho vay gọi là tỷ lệ lãi biên (NIM) khá lớn. Theo tính toán của VnEconomy, năm 2012 NIM của 6 NHTMCP

     

     

    55

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    hàng đầu, niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, đạt trung bình ở mức 4,1%, thấp hơn mức trung bình 4,3% của năm 2011, nhưng cao hơn mức 3,6% và 3,5% của các năm 2010 và 2009. Như vậy, nếu lấy lãi suất cho vay trung bình là 12,5% và trần lãi suất tiền gửi là 7,5% thì NIM hiện nay là 5%. Đây rõ ràng là một vấn đề bất hợp lý; tuy nhiên việc tìm giải pháp xử lý mang tính thuyết phục cũng không phải là đơn giản; bởi lẽ lâu nay các NHTM đã quen kinh doanh trong điều kiện NIM khá thoải mái.

     

    • Đề xuất quy định trần lãi suất cho vay 10%/năm

     

    Với tầm nhìn vĩ mô, các cơ quan quản lý nhà nước cần suy nghĩ, để có giải pháp xử lý hiệu quả trong việc điều hành giảm lãi suất cho vay. Đồng thời NHNN cần coi đây là trách nhiệm, là nhiệm vụ cấp bách chứ không thể chỉ hô hào chung chung, kêu gọi các NHTM phấn đấu trong năm 2013, đưa lãi suất cho vay xuống 13%/năm (!). Chúng tôi cho rằng NHNN cần quy định trần lãi suất cho vay của các NHTM trong điều kiện hiện nay chỉ ở mức 10%/năm và sẽ tiếp tục giảm tùy tình hình thực tế. Đương nhiên với một số NHTM, việc áp dụng mức trần lãi suất cho vay này sẽ gặp những khó khăn nhất định; đặc biệt là những ngân hàng có tình trạng nợ xấu nhiều, năng lực tài chính yếu và công tác quản trị không tốt. Với những ngân hàng này, có thể quy định lộ trình cụ thể và đây cũng được xem là bước thử thách, trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã và đang được triển khai.

     

    2.2.2. Khẩn trương triển khai biện pháp xử lý nợ xấu

     

    Lãi suất vay cao cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng, dẫn đến tình trạng giá thành sản phẩm cao, hàng hóa khó

    tiêu thụ, tồn kho ngày càng nhiều, nợ vay không trả được, tình trạng “nợ xấu” tại các NHTM xuất hiện ngày càng nhiều.

     

    Cho đến thời điểm hiện nay con số nợ xấu chính xác là bao nhiêu cũng đang là một vấn đề chưa rõ ràng vì nhiều lý do. Có nhiều con số về nợ xấu trong nền kinh tế được công bố nhưng thiếu độ tin cậy. Tại Diễn đàn kinh kinh tế mùa xuân tháng 4/2013, PGS,TS.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện nay có có nhiều thứ còn xấu hơn cả nợ xấu…Việc không biết chính xác số nợ xấu, còn xấu hơn cả nợ xấu, bởi không có số liệu đáng tin cậy thì không thể xây dựng chiến lược đúng để giải quyết vấn đề.

     

    Nhiều ý kiến cho rằng, nợ xấu tại các NHTM đến nay ước khoảng 500.000 tỷ đồng. Một khối lượng vốn không nhỏ đang nằm bất động đang tạo ra một lực cản rất lớn đối với dòng vốn tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Vì vậy cùng với việc tích cực áp dụng các biện pháp khả thi của mỗi NHTM trong việc giải quyết nợ xấu đã phát sinh, không để nợ xấu mới phát sinh thêm, Nhà nước cần sớm triển khai hoạt động có hiệu quả đối với Công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC), góp phần đẩy nhanh quá trình giải quyết tình trạng nợ xấu, góp phần khơi thông dòng chảy tín dụng trong nền kinh tế, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đương nhiên cần xác định trách nhiệm giải tỏa nợ xấu trước hết và chủ yếu vẫn thuộc về cả hệ thống ngân hàng cũng như phía các doanh nghiệp, song vai trò điều hành vĩ mô của Nhà nước để phối hợp hành động lúc này là vô cùng quan trọng.

     

    2.2.3. Giải cứu tình trạng doanh nghiệp phá sản

     

    Như đã nêu trên, điểm mấu chốt để giải quyết vấn đề kích cầu tín dụng không chỉ

     

     

    56

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    là lãi suất cho vay của ngân hàng. Một vấn đề cũng hết sức quan trọng, đó là khả năng hấp thụ, là sức cầu tín dụng của các doanh nghiệp hiện nay ra sao. Cũng lại có hiện tượng tương tự như vấn đề nợ xấu, đó là con số doanh nghiệp phá sản, tính đến thời điểm hiện nay hiện nay là bao nhiêu? Có lẽ không ai có câu trả lời chính xác! Con số được nhiều người nhắc đến là hơn 50.000 doanh nghiệp phá sản. Thế nhưng, tại phiên họp ngày 14/05/2013 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn sinh Hùng cho rằng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát,tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn , tỷ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”. Có thể coi đây là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng đối với vấn đề phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế. Rõ ràng thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay, dù lãi suất cho vay có giảm thì khả năng tăng trưởng tín dụng với chỉ tiêu điều hành là 12% trong năm 2013 cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi. Nhiều doanh nghiệp đã phát biểu rằng, trong thời gian gần đây, tuy lãi suất cho vay của một số ngân hàng đã giảm chút ít, song doanh nghiệp cũng không không muốn vay vì không biết vay để làm gì khi hàng tồn kho còn quá nhiều. Hoặc với một số doanh nghiệp khác, nợ xấu còn đè nặng trên vai, nên cũng rất khó tiếp cận với khoản vay mới, dù có nhu cầu.

     

    Khôi phục tình hình hoạt động của các doanh nghiệp là vấn đề cực kỳ khó khăn và đòi hỏi phải xử lý đồng bộ nhiều giải pháp, kể cả vi mô và vĩ mô. Từng doanh nghiệp phải nỗ lực song sự hỗ trợ từ giải pháp vĩ mô cũng vô cùng quan trọng. Nhà nước cần áp dụng các giải pháp cần thiết như :

     

    • Xem xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Cùng với việc giảm lãi suất cho vay, việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp lúc này sẽ tạo cơ hội lớn cho doanh nghiệp có lợi nhuận, có động cơ cần thiết kích thích sản xuất. Việc xem xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thể sẽ là quyết định không dễ chấp nhận đứng trên giác độ cân đối ngân sách trong thời gian trước mắt. Tuy nhiên, hãy vì mục tiêu lâu dài giải cứu doanh nghiệp để cứu cả nền kinh tế đang lâm nguy, chúng ta rất cần áp dụng giải pháp này.

     

    • Áp dụng các giải pháp cần thiết liên quan tới kích cầu tiêu dùng.

     

    Thời gian qua sức tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp rất thấp, dẫn tới tình trạng giá trị hàng tồn kho trong nền kinh tế ngày càng gia tăng và hệ quả đáng lo ngại của nó, chính là con số các doanh nghiệp phá sản lên tới hàng trăm ngàn như hiện nay. Vì vậy Nhà nước cần nghiên cứu để sớm đưa ra giải pháp kích cầu tiêu dùng, tương tự như kích cầu mua nhà ở xã hội vừa được triển khai. Điều này là hoàn toàn cần thiết và có thể khả thi, bởi lẽ với điều kiện thực tế đã 3 tháng liên tục (3,4,5/2013), CPI tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều giảm và tính chung CPI tháng 5/2013 cả nước giảm 0,06%.

     

    Kết luận

     

    Để có thể biến chỉ tiêu định hướng tăng trưởng kinh tế 5,5% trong năm 2013 thành hiện thực, trong bối cảnh nền kinh tế đang trong tình trạng vô cùng khó khăn như hiện nay, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó công cụ lãi suất cần được điều hành hết sức hợp lý, theo hướng tạo điều kiện hỗ trợ tối đa, để các doanh nghiệp phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Riêng với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2013 dự kiến 12%, cho đến thời điểm

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-T%C3%81I-C%E1%BA%A4U-TR%C3%9AC-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-CH%E1%BB%A8NG-KHO%C3%81N-T%E1%BB%AA-G%C3%93C-NH%C3%8CN-V%C4%A8-M%C3%94.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    Giái pháp . . .

     

    GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

     

    Lê Thị Tuyết Hoa*

     

    TÓM TẮT

     

    Gần 13 năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) đã gặt hái được những thành tựu nhất định trong việc phát huy vai trò quan trọng trong kênh huy động vốn đầu tư, góp phần tăng trưởng kinh tế và từng bước hoàn thiện hệ thống thị trường tài chính Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, TTCKVN cũng còn bộc lộ khá nhiều vấn đề bất cập về mọi mặt, ảnh hưởng tới việc phát triển bền vững và ổn định của thị trường.

     

    Bởi vậy, việc nghiên cứu xây dựng và tổ chức triển khai dự án tái cấu trúc thị trường chứng khoán (TTCK) đang là một vấn đề bức xúc hiện nay và cần được tiến hành một cách đồng bộ, toàn diện, bao gồm: Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa và sản phẩm dịch vụ; Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư; Hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm; Tổ chức thị trường; Cơ sở hàng hóa cho TTCK. Bài viết này muốn trao đổi về một số giải pháp từ góc nhìn vĩ mô, nhằm giải quyết vấn đề này, với mục tiêu hướng tới là gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng và đa dạng sản phẩm hàng hóa trên TTCK.

    Từ khóa: Giải pháp tái cấu trúc, thị trường chứng khoán, vĩ mô

    SOLUTIONS FOR RECONSTRUTING

     

    THE STOCK MARKET FROM MACRO VIEW

     

    ABSTRACT

     

    Over the past 13 years, VN stock market has obtained certain achivements in developing its crucial roles in atracting investment, enhancing economics growth and step- by- step completing VN stock market system. Beside impressive achivements, VN stock market has also revealed quite many imperfections in all aspects, which affect the duration and sustainability of the market.

     

    Therefore, the research of reconstrcting and implementing reconstrution projects of the stock market is an impulsing matter and needs carrying out syatematically and perfectly, including

     

    • reconstructing goods production base and services, reconstructing investors, systematising stock market organisations and insurance companies, organising market and goods production base for stock market. This paper aims at exchanging some solutions through a micro view and suggesting solutions to the problem with the purpose of increasing the quatity, quantity and variety of products.

    Key words: reconstructing solutions, stock market, macro.

     

    • Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

     

     

    15

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1.   Những tín hiệu pháp lý của tái cấu trúc TTCK Việt Nam

     

    Trước những bất cập trên TTCK trong thời gian qua, cho chúng ta thấy rõ trên giác độ vĩ mô, cần mạnh dạn lập lại một “trật tự mới”, để có thể gia tăng tính hiệu lực, hiệu quả, trong quản lý và điều hành hoạt động của một TTCK ổn định bền vững. Những thay đổi hợp lý trên phương diện quản lý vĩ mô, có ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính quyết định cho phương án tái cấu trúc. Chính vì vậy, bàn luận về những giải pháp tái cấu trúc TTCK một cách đồng bộ và toàn diện, từ giác độ quản lý vĩ mô là câu truyện không chỉ bức xúc mà còn rất phức tạp hiện nay.

     

    Có thể nói rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam đã bắt đầu chính thức triển khai quá trình tái cấu trúc trong thời gian gần đây, trên cơ sở các văn bản pháp lý của Chính phủ. Cụ thể là:

     

    Ngày 01 tháng 03 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 252/ QĐ-TTg, phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 -2020”. Tiếp theo đó, trên cơ sở chiến lược phát triển này, ngày 06 tháng 12 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm”. Nội dung chủ yếu của đề án bao gồm: mục tiêu, định hướng và quan điểm tái cấu trúc; các giải pháp và lộ trình thực hiện. Đây chính là một cơ sở pháp lý quan trọng, là định hướng cho việc triển khai hoạt động tái cấu trúc TTCK Việt Nam, giai đoạn từ nay đến năm 2020.

     

    Toàn bộ nội dung đề án như một bức tranh toàn cảnh, miêu tả những nội dung cần thực hiện, để hướng tới những thay đổi rất cơ bản và toàn diện, về phương diện cơ cấu tổ

    chức, cũng như các mặt hoạt động của TTCK Việt Nam, trong những năm sắp tới. Khi đó, những bất cập từ khâu quản lý điều hành vĩ mô trong thời gian qua, về cơ bản sẽ được loại bỏ. Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đi vào hoạt động ổn định hơn, với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững hơn. Chỉ trên cơ sở đó, TTCK Việt Nam mới có thể xứng tầm là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ đạo của nền kinh tế; đồng thời phát huy vai trò hỗ trợ tích cực cho thị trường tiền tệ, trong quá trình tái cơ cấu ngân hàng và các định chế tài chính tín dụng nói chung.

     

    Tuy nhiên, từ ý tưởng đến hiện thực luôn tồn tại một khoảng cách nhất định. Khoảng cách đó dài hay ngắn, một phần rất quan trọng, tùy thuộc nội dung phương án triển khai và quá trình chỉ đạo thực hiện đề án. Đương nhiên, những yếu tố vĩ mô liên quan tới toàn bộ nền kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế nói chung, cũng có tác động ảnh hưởng nhất định và rất cần được dự báo chính xác.

     

    Tái cấu trúc TTCK chỉ có thể đạt kỳ vọng trên cơ sở xây dựng và triển khai thực hiện một cách đồng bộ, các giải pháp toàn diện cả trên phương diện vĩ mô và vi mô.

     

    Trong phạm vi bài này, người viết muốn nêu ý kiến cá nhân, tập trung bàn luận về một giải pháp triển khai, thực hiện đề án tái cấu trúc TTCK trên giác độ vĩ mô, đó là giải pháp tái cấu trúc cơ sở hàng hóa của TTCK.

     

    2.   Về giải pháp tái cấu trúc cơ sở hàng hóa của TTCK

     

    Hàng hóa trên TTCK bao gồm các loại sản phẩm tài chính (như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các loại chứng khoán phái sinh,…). Các loại hàng hóa này chủ yếu do các chủ thể như các doanh nghiệp cổ phần, chính phủ, quỹ đầu tư,…cung cấp cho thị trường.

     

     

    16

     

    Giái pháp . . .

     

    Yêu cầu đặt ra đối với tái cấu trúc cơ sở hàng hóa của TTCK, xuất phát từ một trong những tồn tại khá cơ bản của TTCK Việt Nam hiện nay, đó là tình trạng hàng hóa trên thị trường chưa đáp ứng yêu cầu. Những biểu hiện của tồn tại thể hiện trên cả 3 khía cạnh: vừa ít về số lượng, vừa kém về chất lượng và lại vừa nghèo nàn về chủng loại. Vì vậy giải pháp về hàng hóa cho TTCK cần hướng tới việc giải quyết đồng bộ, để có thể đồng thời đạt cả 3 mục tiêu chủ yếu: tăng số lượng, nâng chất lượng và đa dạng mặt hàng.

     

    2.1. Làm gì để thực hiện mục tiêu gia tăng số lượng cổ phiếu niêm yết?

     

    Có lẽ không ít người nghĩ rằng, về mục tiêu tăng số lượng cổ phiếu niêm yết, có thể thực hiện một cách dễ dàng và nhanh chóng. Họ lập luận qua một ví dụ đơn giản như sau: giả sử một người chăn nuôi gà đẻ, nếu như đàn gà có 100 con, mỗi con đẻ 1 trứng/ ngày, hàng ngày họ sẽ có 100 trứng cung cấp cho thị trường. Vậy muốn có 200 trứng cung cấp cho thị trường thì chỉ việc tăng gấp đôi số lượng gà đẻ. Tương tự như vậy, giả sử trung bình mỗi công ty cổ phần niêm yết 20 triệu cổ phiếu trên sàn giao dịch. Để có 200 triệu cổ phiếu giao dịch, sẽ phải có 10 công ty cổ phần niêm yết. Giả định các công ty cổ phần này đều không có phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, vậy nếu muốn TTCK tăng thêm 200 triệu cổ phiếu niêm yết, nền kinh tế chỉ cần có thêm 10 công ty cổ phần mới ra đời (đương nhiên là các công ty này phải đủ điều kiện và sẵn sàng niêm yết).

     

    Cứ cho rằng, bài toán số học này có thể áp dụng vào TTCK một cách đơn giản như vậy, thì phương án dựa vào việc thành lập mới các công ty cổ phần (CTCP), để tăng thêm số lượng cổ phiếu niêm yết, lại không đơn giản chút nào; đặc biệt là trong điều kiện

    tăng trưởng kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay! Có thể thấy, ở một khía cạnh khác, chúng ta không loại trừ tình huống thực tế là một số CTCP hiện đang tồn tại với quy mô nhỏ, chưa đủ điều kiện niêm yết. Nếu họ thực hiện phương án sáp nhập hay hợp nhất với nhau, sẽ tạo ra khả năng hình thành thêm những CTCP, làm xuất hiện khả năng cung cấp thêm, khối lượng chứng khoán cho thị trường.

     

    Bên cạnh các phương án nêu trên, một phương án có ý nghĩa rất quan trọng, khả thi và do đó cần quan tâm chỉ đạo nhiều hơn, để có thể đạt mục tiêu làm tăng thêm số lượng CTCP, đó chính là giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

     

    Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (CPHDNNN) như “một mũi tên trúng nhiều đích”: Trước hết, tiến hành CPHDNNN cũng chính là thực hiện được chủ trương tái cấu trúc hệ thống các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Hai là nhà nước sẽ bớt được gánh nặng “bao cấp” cho các doanh nghiệp, vốn dĩ hoạt động kém (thậm chí không có) hiệu quả. Đồng thời thu hút thêm nguồn vốn đầu tư (kể cả nguồn vốn ngoài nước) cho nền kinh tế. Ba là sẽ nhanh chóng tạo thêm các CTCP, có điều kiện hoạt động hiệu quả, có lợi cho nền kinh tế; đồng thời tạo khả năng cung cấp thêm hàng hóa cho TTCK…

     

    Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chủ trương lớn, chứa đựng nhiều ý nghĩa quan trọng như vậy. Tuy nhiên, nhìn lại hoạt động này thời gian qua, đặc biệt từ 2011 đến nay, lại rất “ì ạch” và gần như bị “đóng băng”. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, song trước hết cần thấy rõ, những bất cập ngay trong cơ chế chính sách. Tuy đã được tháo gỡ qua một số văn bản chỉ đạo như Nghị định Chính phủ (59/2011) và Quyết

     

     

    17

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    định Chính phủ (21/2012), song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề trong chỉ đạo thực hiện, cần được tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ, để có thể “phá băng” trong công tác quan trọng này.

     

    Ngoài ra, cũng cần nhìn nhận một lý do thực tế, đó là tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế và sự hoạt động thiếu ổn định của TTCK thời gian qua, sự sụt giảm lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với thị trường, đã tạo ra những trở ngại nhất định, đối với việc xúc tiến quá trình CPHDNNN. Cứ như vậy, cổ phần hóa chờ TTCK phát triển và ngược lại, TTCK chờ cổ phần hóa để có cơ hội gia tăng số lượng hàng hóa. Ở đây cần khẳng định về nguyên tắc, cổ phần hóa có mục tiêu chủ đạo là tái cơ cấu hệ thống các doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, trong mọi tình huống CPH DNNN đều cần phải được triển khai theo lộ trình kế hoạch; không nên vì chờ đợi cơ hội TTCK phát triển thuận lợi, để rồi bỏ lỡ mất mục tiêu chính yếu và quan trọng này. Để làm tốt công tác này cũng cần chú trọng nâng cao chất lượng tư vấn cổ phần hóa và đặc biệt là yếu tố minh bạch, công bằng trong quá trình đấu giá; đồng thời cần kết hợp chào bán ra công chúng với đăng ký niêm yết giao dịch tập trung trên sàn.

     

    Được biết, theo dự kiến kế hoạch, trong năm 2013 sẽ có hàng loạt tổng công ty lớn như :tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), tổng công ty Công nghiệp ôtô Việt Nam (Vietnamotor), tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex),…sẽ tiến hành cổ phần hóa. Đây sẽ là những đơn vị đầy tiềm năng về phương diện cung cấp cho TTCK, một khối lượng lớn cổ phiếu với chất lượng tốt.

     

    2.2 Cần quan tâm đầy đủ hơn tới chất lượng cổ phiếu niêm yết

     

    Song song với biện pháp tăng khối lượng cổ phiếu niêm yết, một khía cạnh khác cũng

    cần đặc biệt quan tâm và xử lý triệt để, đó là việc nghiên cứu áp dụng những giải pháp thiết thực, nhằm nâng cao chất lượng của loại hàng hóa chủ lực này. Thực tế đã minh chứng, một trong những nguyên nhân quan trọng, dẫn đến tình trạng bất ổn và khá ảm đạm của TTCK thời gian qua, cũng chính xuất phát từ yếu tố chất lượng của cổ phiếu niêm yết. Chất lượng hàng hóa không tốt, nhà đầu tư sẽ rời bỏ thị trường.

     

    Để giải quyết yêu cầu về chất lượng cổ phiếu niêm yết, trên phương diện vĩ mô, trước mắt cần chú trọng một số nội dung sau đây:

     

    2.2.1 Từng bước nâng cao chất lượng báo cáo thông tin công khai của các công ty niêm yết

     

    Chất lượng của cổ phiếu niêm yết là yếu tố tổng hợp, phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh của công ty niêm yết. Trong thực tế, các chủ thể tham gia TTCK có thể tìm hiểu chất lượng cổ phiếu qua những kênh thông tin khác nhau. Tuy nhiên, về phương diện lý thuyết, nguồn thông tin chính thức và có độ tin cậy cao, dùng làm cơ sở phân tích đánh giá chất lượng cổ phiếu, chính là các báo cáo thông tin công khai của đơn vị niêm yết.

     

    Từ kết quả phân tích đánh giá chất lượng cổ phiếu thông qua các báo cáo thông tin công khai, giúp các nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn, hạn chế được rủi ro. Còn với các cơ quan quản lý giám sát TTCK, với những loại cổ phiếu không còn duy trì điều kiện chất lượng theo chuẩn mực quy định, họ sẽ áp dụng biện pháp xử lý theo từng mức độ như cảnh báo, tạm đình chỉ giao dịch hoặc loại khỏi danh sách niêm yết,… đảm bảo chất lượng hàng hóa cho thị trường.

     

    Sự minh bạch của các thông tin được phản ánh trong báo cáo công ty chính là điều

     

     

    18

     

    Giái pháp . . .

     

    kiện cần thiết, để đánh giá chất lượng cổ phiếu của công ty niêm yết. Ta có thể ví nó tương tự như nguyên liệu để sản xuất ra hàng hóa. Nguyên liệu tốt là điều kiện cần để có sản phẩm tốt.

     

    Vì vậy, cùng với việc tăng cường kiểm tra giám sát chất lượng của báo cáo, cần nghiên cứu để từng bước áp dụng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về nghiệp vụ kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính công ty.Trên cơ sở đó, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng báo cáo, đáp ứng kịp thời, đầy đủ các thông tin cần thiết, giúp cho việc đánh giá chất lượng cổ phiếu của công ty niêm yết, một cách thuận tiện và chính xác hơn. Đây cũng chính là một trong những biện pháp cần thiết, để sàng lọc cổ phiếu đang niêm yết và giao dịch trên các sàn chứng khoán hiện nay.

     

    2.2.2. Sẽ không có hàng hóa tốt, nếu không nâng cao yêu cầu về các tiêu chuẩn và điều kiện niêm yết

     

    Để giải quyết mục tiêu đảm bảo chất lượng cổ phiếu niêm yết và cũng là bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán, cùng với biện pháp nâng cao chất lượng báo cáo thông tin công khai như đã nêu trên, cần quan tâm xử lý tốt, ngay từ khâu đưa ra các quy định có liên quan, theo hướng: nâng cao yêu cầu về tiêu chuẩn và điều kiện niệm yết; trong đó cần đặc biệt chú trọng tới các tiêu chuẩn định lượng như: mức vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, lỗ lũy kế, tình trạng nợ xấu và thời gian hoạt động.

     

    Thứ nhất, về mức vốn chủ sở hữu:

     

    Với quy định hiện hành, tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), đơn vị niêm yết cổ phiếu phải đạt mức vốn điều lệ từ 80 tỷ VNND trở lên. Còn tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội là 10 tỷ VND trở lên.

    Trải qua hơn một thập niên, từ khi TTCK chào đời, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, trong đó có yếu tố quy mô trung bình của các doanh nghiệp đã gia tăng, sức mua của VND cũng đã có biến động nhất định theo hướng suy giảm, mức độ cạnh tranh ngày càng gia tăng trong tiến trình hội nhập quốc tế, … và đặc biệt là yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết trên TTCK, đòi hỏi phải nâng điều kiện về quy mô vốn điều lệ đối với công ty cổ phần niêm yết.

     

    Về nguyên tắc, có thể khẳng định đây là định hướng đúng đắn, hiện đang được cơ quan chức năng nghiên cứu, trình Chính phủ quyết định để triển khai áp dụng trong thời gian sắp tới. Tuy nhiên, quy định mức khởi điểm là bao nhiêu cho phù hợp?

     

    Có ý kiến cho rằng, nên nâng mức khởi điểm về vốn điều lệ của công ty cổ phần niêm yết tại sàn HOSE lên 120 tỷ VND và tại sàn HNX lên mức 30 tỷ VND. Nếu áp dụng tiêu chuẩn này trong thời điểm hiện tại, tính chung cả hai sàn giao dịch sẽ có hơn 25%, số doanh nghiệp đang niêm yết không đạt chuẩn (một tỷ lệ không nhỏ).

     

    Bởi vậy, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị như sau:

     

    a/ Nên quy định mức khởi điểm là 100 tỷ VND đối với doanh nghiệp lớn (hiện tại là 80 tỷ VNĐ) và 20 tỷ VND đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (hiện tại là 10 tỷ VNĐ) thì phù hợp hơn trong điều kiện hiện nay. Đương nhiên mức khởi điểm cũng cần được xem xét, để điều chỉnh nâng lên sau từng thời kỳ, tương ứng với mức độ phát triển của nền kinh tế.

     

    b/ Cần có quy định cụ thể, theo hướng phân loại đối tượng áp dụng: với những doanh nghiệp đang và sẽ làm thủ tục niêm yết, tại

     

     

    19

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    thời điểm áp dụng quy định, bắt buộc phải đạt chuẩn. Còn với các doanh nghiệp hiện đang niêm yết, sẽ cho phép một thời gian cần thiết để có thể “hội nhập”(nhưng không quá 3 năm), sau khi áp dụng chuẩn mới, sẽ phải hội đủ điều kiện này.

     

    c/ Ngay cả sau khi đã thực hiện tái cấu trúc mô hình tổ chức thị trường chứng khoán theo hướng cả nước chỉ có 01 Sở giao dịch chứng khoán duy nhất, cũng sẽ tồn tại 2 loại mức quy định phù hợp từng loại hình doanh nghiệp.

     

    Thứ hai, về điều kiện chỉ tiêu “Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với vốn chủ sở hữu” (ROE).

     

    Sẽ là một thiếu sót lớn, khi đánh giá tiêu chuẩn chất lượng của một doanh nghiệp niêm yết, nhưng lại bỏ qua điều kiện về chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế so với vốn chủ sở hữu, bởi lẽ đây chính là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động của một doanh nghiệp.

     

    Vì vậy, không chỉ dừng lại ở chỉ tiêu về khối lượng vốn điều lệ, sắp tới các công ty cổ phần muốn đăng ký niêm yết sẽ phải thỏa mãn thêm một chỉ tiêu định lượng nữa: chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với vốn chủ sở hữu (ROE). Đây là một tiêu chuẩn mới, nhằm trực tiếp thẩm định chất lượng hoạt động của doanh nghiệp cổ phần có nhu cầu niêm yết. Yêu cầu cụ thể về tiêu chuẩn tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, trong năm gần nhất tối thiểu phải đạt mức mà một doanh nghiệp trung bình phải thực hiện được là 5%.

     

    Trên thực tế, trong điều kiện hiện nay, vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp chưa đạt đến chuẩn mức này. Vì vậy, nếu tổng hợp cả điều kiện về vốn điều lệ và chỉ tiêu ROE, hiện tại trên cả 2 sàn giao dịch HOSE và HNX, số doanh nghiệp chưa đạt điều kiện lên tới gần

    50%! Một con số khiến tất cả những ai quan tâm tới lĩnh vực TTCK, không thể không suy nghĩ về chất lượng cổ phiếu niêm yết hiện nay. Rõ ràng, đây cũng chính là một trong những lý do dẫn tới tình trạng, chất lượng hàng hóa trên TTCK thời gian qua thiếu ổn định.

     

    Quan điểm của chúng tôi cho rằng, khi xem xét chấp thuận cho doanh nghiệp niêm yết, điều kiện về chỉ tiêu ROE là rất cần thiết và không thể nhân nhượng, bởi lẽ nó phản ánh trực tiếp chất lượng hoạt động của tổ chức niêm yết và cũng là chất lượng hàng hóa trên TTCK. Trái lại, về điều kiện vốn điều lệ, có thể cho phép một dung sai nào đó (thấp hơn quy định 15% chẳng hạn).

     

    Ngoài ra, một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cổ phiếu, thông qua chất lượng hoạt động của công ty niêm yết được quy định như hiện nay, vẫn cần được tiếp tục duy trì như : hoạt động kinh doanh 2 năm liền, trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi và không có lỗ lũy kế, tính đến năm đăng ký niêm yết; không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng,…

     

    2.3. Xúc tiến các phương án đa dạng hóa sản phẩm niêm yết trên TTCK

     

    Hàng hóa lưu thông trên TTCK bao gồm các sản phẩm tài chính nói chung; trong đó thành phần chủ lực là các loại cổ phiếu. Liên quan tới việc gia tăng số lượng và nâng cao chất lượng loại hàng hóa này, chúng ta đã đề cập ở phần trên.

     

    Đa dạng hóa sản phẩm niêm yết, một mặt góp phần trực tiếp làm gia tăng tổng số lượng hàng hóa niêm yết. Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng hơn nhiều của các giải pháp theo định hướng này, cũng sẽ nhắm tới mục tiêu hỗ trợ phân tán và phòng ngừa rủi ro biến động giá cho các nhà đầu tư, thu hút thêm các

     

     

    20

     

    Giái pháp . . .

     

    đối tượng tham gia giao dịch và làm gia tăng tính sôi động của TTCK trong tương lai. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu cần hướng tới của hoạt động tái cấu trúc cơ sở hàng hóa cho TTCKVN.

     

    Về nguyên lý cũng như thực tiễn tại TTCK các nước phát triển, một khi trên thị trường đã lưu thông các loại chứng khoán “gốc” như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chỉ số chứng khoán,…thì tất yếu cũng sẽ xuất hiện các loại sản phẩm phái sinh với nhiều chủng loại như chứng quyền, quyền tiên mãi, quyền lựa chọn,… trong lưu thông.

     

    TTCKVN đã có tuổi đời hơn 12 năm, tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, bộ phận TTCK phái sinh chưa xuất hiện chính thức trên TTCK. Thực ra, thời gian qua một số loại sản phẩm phái sinh cũng đã có xuất hiện và lưu thông một cách phi chính thức như: giao dịch ký quỹ (Margin Trading), quyền tiên mãi, quyền chọn mua, quyền chọn bán, bán khống…trong đó mới chỉ có sản phẩm margin được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho phép lưu hành có giới hạn.

     

    Rõ ràng, sự xuất hiện và lưu thông không chính thức các sản phẩm phái sinh trên thị trường, đã thể hiện nhu cầu khách quan, bức thiết của nhà đầu tư đối với loại công cụ này. Tuy nhiên, các sản phẩm phái sinh đã xuất hiện và giao dịch trên thị trường trong thời gian qua còn mang tính tự phát, thiếu sự quản lý của nhà nước và tiềm ẩn khả năng rủi ro cao.

     

    Với những nét đặc thù của chứng khoán phái sinh, các loại hàng hóa này cần được lưu thông trên một thị trường có tính chuyên môn hóa cao. Điều này đặt ra yêu cầu khách quan, cần sớm thiết lập một thị trường giao dịch các chứng khoán phái sinh, với cơ chế pháp lý đầy đủ và được vận hành dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước.

    Việc triển khai xây dựng TTCK phái sinh cũng chính là một hoạt động đồng bộ nằm trong các giải pháp tái cấu trúc mô hình tổ chức TTCK. Cụ thể là trên cơ sở hợp nhất hai sở giao dịch chứng khoán hiện hữu, thành một sở duy nhất với 3 sàn giao dịch; trong đó có sàn giao dịch chứng khoán phái sinh, cùng song hành với sàn giao dịch cổ phiếu và sàn giao dịch trái phiếu.

     

    Để TTCK phái sinh có thể đi vào vận hành, Chính phủ cần sớm ban hành một văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức Nghị định Chính phủ, nhằm cụ thể hóa những quy định về mô hình thị trường này và tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai vận hành TTCK phái sinh tập trung.

     

    Mô hình hoạt động của TTCK phái sinh khá phức tạp và hoàn toàn mới mẻ với Việt Nam. Do vậy, nội dung Nghị định cần chứa đựng đầy đủ các quy định về mô hình tổ chức, cơ chế vận hành, thành phần tham gia hoạt động và điều kiện hành nghề kinh doanh chứng khoán phái sinh, về hàng hóa trên thị trường, cũng như những quy định liên quan tới nghĩa vụ thuế, phí, về công bố thông tin,… để bảo đảm một hành lang pháp lý cần thiết, giúp cho thị trường này vận hành ổn định và hiệu quả ngay từ đầu.

     

    Cùng với việc tái cơ cấu thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, việc hình thành thị trường chứng khoán phái sinh chính cũng là giải pháp làm gia tăng khối lượng và đa dạng hóa sản phẩm lưu thông trên TTCK nói chung; góp phần hoàn thiện mô hình TTCKVN.

     

    3.  Kết luận

     

    Nhìn từ góc độ vĩ mô ta có thể khẳng định, tái cấu trúc TTCK Việt Nam là vấn đề bức xúc hiện nay. Việc tái cấu trúc cần được tiến hành đồng bộ để giải quyết nhiều vấn

     

     

    21

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    đề bất cập. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, trước hết cần triển khai sớm phương án tái cấu trúc cơ sở hàng hóa cho thị trường; trong đó nghiên cứu áp dụng các biện pháp khả thi và có hiệu quả, nhằm tăng khối lượng, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm lưu thông trên TTCK. Điều đó cũng rất tự nhiên, bởi lẽ xây dựng một cái “chợ” là để tạo ra nơi

    mua – bán hàng hóa. Nhưng nếu ở đó lượng hàng quá ít, thiếu đa dạng, phong phú; đồng thời chất lượng lại chưa tốt, thì người đến chợ chắc chắn sẽ thưa dần…Và cho đến một ngày nào đó, người ta sẽ phải “tái cấu trúc lại cơ sở hàng hóa”, nếu như không muốn nó hoàn toàn bị dẹp bỏ, trong đời sống thường nhật của tất cả những ai quan tâm./.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển TTCKVN giai đoạn 2011-2020;
    • Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tái cấu trúc TTCK và các doanh nghiệp bảo hiểm;
    • Thị trường chứng khoán: vượt khó, tạo tiền đề mới phát triển- TS. Vũ Bằng; tạp chí Tài chính số 01/2013;
    • Các trang thông tin điện tử: baomoi.com; WWW.tinnhanhchungkhoan.vn; WWW.ckvn.com; WWW.stockchart.vn; …

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-%C3%9D-KI%E1%BA%BEN-V%E1%BB%80-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-B%C3%81O-C%C3%81O-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-C%E1%BB%A6A-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-NH%E1%BB%8E-V%C3%80-V%E1%BB%AAA-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    Một số ý kiến . . .

     

    Kinh tế – Xã hội

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

     

    Võ Văn Nhị *

     

    Trần Thị Thanh Hải **

     

    TÓM TẮT

     

    Vấn đề chất lượng Báo cáo tài chính (BCTC) đã được trình bày, nghiên cứu ở nhiều tài liệu và các công trình nghiên cứu nhưng chỉ tập trung vào doanh nghiệp nói chung, chủ yếu là doanh nghiệp lớn và các công ty niêm yết. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thì việc nghiên cứu còn rải rác, chưa có hệ thống và chưa có tính chuyên biệt. Bài viết này tập trung tìm hiểu đánh giá chất lượng báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay và đưa ra một số giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng BCTC DNNVV nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng của các đối tượng khác nhau trong điều kiện nền kinh tế phát triển và hội nhập sâu rộng.

     

    Từ khóa: Chất lượng báo cáo tài chính, doanh nghiệp nhỏ và vừa

     

    SOME OPINION ABOUT THE FINANCIAL REPORT QUALITY OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRICES IN VIETNAM

     

    ABSTRACT

     

    The inancial reporting quality issue has been a controversial topic for many years. However,most of the debate has focused on large and listed companies rather than small and medium-sized enterprises (SMEs). The purpose of this paper is to seeks to provide an overview of the quality of SMEs’ inancial reporting in recent times. The study gives some solutions that will contribute to enhance the quality of SME inancial reporting. As a result, it helps to better satisfy the need of users in the context of quick development and deep intergration of Vietnamese economy.

     

    Keywords: inancial report quality, small and medium sizes enterprices

     

     

    1.   Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính (BCTC DNNVV)

    DNNVV ở Việt Nam được định nghĩa: là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba

     

    *   PGS.TS. Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

     

    • GV. Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

    cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

     

     

    3

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Quy mô

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp nhỏ

    Doanh nghiệp vừa

     

    siêu nhỏ

    Khu vực

    Số lao động

    Tổng

    Số

    Tổng

    Số

     

    nguồn vốn

    lao động

    nguồn vốn

    lao động

     
       
                 

    I. Nông, lâm nghiệp

    10 người trở

    20 tỷ đồng

    từ trên 10

    từ trên 20

    từ trên 200

     

    người đến

    tỷ đồng đến

    người đến

     

    và thủy sản

    xuống

    trở xuống

    200 người

    100 tỷ đồng

    300 người

     
         

    II. Công nghiệp và

    10 người trở

    20 tỷ đồng

    từ trên 10

    từ trên 20

    từ trên 200

     

    người đến

    tỷ đồng đến

    người đến

     

    xây dựng

    xuống

    trở xuống

    200 người

    100 tỷ đồng

    300 người

     
         

    III. Thương mại và

    10 người trở

    10 tỷ đồng

    từ trên 10

    từ trên 10 tỷ

    từ trên 50

     

    người đến

    đồng đến 50

    người đến

     

    dịch vụ

    xuống

    trở xuống

    50 người

    tỷ đồng

    100 người

     
         

    Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ

     

     

    DNNVV ở Việt Nam bao gồm các loại hình kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân và cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp này luôn đóng góp một phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách quốc gia, tạo ra một lượng việc làm lớn, khai thác và huy động mọi tiềm năng của các địa phương, tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn. Báo điện tử của chính phủ Việt Nam đầu năm 2011 còn đưa ra tính toán: Các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP và nếu tính cả 130.000 hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể, mức đóng góp tương đương 60% GDP.

     

    Tuy nhiên, các DNNVV còn một số mặt hạn chế. Ở khía cạnh tài chính, có thể thấy quy mô tài chính nhỏ, phụ thuộc khá nhiều vào vốn vay nên chưa có tính chủ động với các chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Thêm vào đó, khuynh hướng các doanh nghiệp này thường quản lý theo kinh nghiệm, quan hệ hợp tác trong kinh doanh còn thiếu và yếu. (Đỗ P.T., 2012)

     

    Doanh nghiệp nhỏ không chỉ đơn giản là phiên bản thu nhỏ của một doanh nghiệp lớn mà các nghiên cứu cho thấy các DNNVV có những điểm khác biệt hẳn so với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt liên quan đến nguồn lực, thị trường, mức độ linh hoạt, lãnh đạo và

     

    cơ cấu tổ chức.(Banham Heather C., 2010). Đặc biệt, DNNVV có những đặc điểm chi phối tới việc ban hành các quy định về kế toán như: Các doanh nghiệp này thường không phải là công ty đại chúng. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán của các DNNVV tập trung vào chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng. Do vậy nghĩa vụ pháp lý công bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp này có những giới hạn nhất định và đơn giản hơn so với các công ty đại chúng quy mô lớn. Bên cạnh đó, do các nguồn lực và yêu cầu đặt ra đối với công tác kế toán có giới hạn nên việc đầu tư vào trang thiết bị, nguồn nhân lực cho công tác kế toán ở nhiều DNNVV gặp nhiều hạn chế. Ngoài ra, Lĩnh vực kinh doanh của các DNNVV thường tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các doanh nghiệp này thường là những nghiệp vụ cơ bản gắn liền với hoạt động kinh doanh chủ yếu. Các quan hệ kinh tế, tài chính phức tạp thường hiếm khi xảy ra. Những đặc điểm này ảnh hưởng quan trọng trong tiến trình nghiên cứu ban hành, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp lý về kế toán cho DNNVV cũng như tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp này.

     

     

    4

     

    Một số ý kiến . . .

     

    Qua quá trình phân tích ở trên, có thể thấy DNNVV có những đặc điểm riêng về : Nguồn cung cấp tài chính, cách thức tổ chức quản lý, đối tượng sử dụng BCTC,…điều này dẫn đến những điểm khác biệt giữa thông tin trình bày trên BCTC của DNNVV so với báo cáo của các doanh nghiệp lớn. Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đã cho thấy mối quan hệ này. Cressy và Olofsson (1997) đã trích từ nghiên cứu của Hughes cũng trong năm này rằng tồn tại sự khác biệt lớn về tổ chức kế toán giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV, chính xác hơn là khác biệt về nguồn tài chính của doanh nghiệp (entities inances), mà điều này ảnh hưởng trực tiếp đến ý kiến của các bên liên quan chủ yếu (idea of typical stakeholders) và yêu cầu với từng BCTC cụ thể. Theo nghiên cứu của Holmes

     

    • Nicholls (1989) (về thông tin kế toán ở các doanh nghiệp nhỏ nên được lập bởi bản thân doanh nghiệp hay kế toán thuê ngoài), trong đó nghiên cứu này đã chứng minh được các yếu tố như: quy mô doanh nghiệp (business size), số năm doanh nghiệp hoạt động dưới sự điều hành của bộ máy quản lý hiện tại (the number of years the business has been operating under existing management), lĩnh vực hoạt động (industrial sector), và tư duy của chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý (the education of owner/manager of a business) có tác động lớn đến việc trình bày thông tin kế toán.(được trích bởi Asuman Atik). Theo đó, nhìn chung quy định của các quốc gia đều cho phép các DNNVV công bố thông tin ít hơn các doanh nghiệp lớn nhằm làm giảm gánh nặng quản trị cho các chủ doanh nghiệp (Cressy

     

    • Olofsson, 1997; Collis & Jarvis, 2002).

    Với những đặc điểm về quy mô và quản lý của DNNVV, dẫn đến thông tin trình bày trên BCTC của các doanh nghiệp này nhìn chung đơn giản, ngắn gọn hơn. Theo quy định hiện nay ở Việt Nam, thông tin trình bày

    trên BCTC của DNNVV trên cơ sở mẫu biểu trong quyết định 48/2006/QĐ-BTC có một số điểm khác biệt với BCTC của các doanh nghiệp nói chung, cụ thể như sau:

     

    Bảng cân đối kế toán:

     

    Bảng cân đối kế toán của DNNVV theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC vẫn chứa đựng những thông tin về cơ bản giống như bảng cân đối kế toán dành cho các doanh nghiệp nói chung đã trình bày ở mục 1.1.3, tuy nhiên với các doanh nghiệp này bảng cân đối kế toán đơn giản, ngắn gọn và ít chỉ tiêu hơn, chỉ bao gồm 64 chỉ tiêu.

     

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Nội dung Báo cáo kết quả hoạt động kinh

     

    doanh của DNNVV tương tự như báo cáo này tại các doanh nghiệp nói chung, chỉ khác

     

    • chỗ theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC báo cáo này gồm 19 chỉ tiêu, trong khi theo chế độ kế toán dành cho DNNVV trong quyết định 48/2006/QĐ-BTC, báo cáo này rút gọn lại còn 16 chỉ tiêu.

    Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

     

    Đối với DNNVV, Quyết định 48/2006/ QĐ-BTC cho phép các doanh nghiệp này lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ một cách tự nguyện chứ không bắt buộc.

     

    Thuyết minh BCTC

     

    Mẫu Bản thuyết minh BCTC cho DNNVV theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC được thiết kế vẫn khá đầy đủ các mục theo như Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, tuy nhiên nội dung các mục được đơn giản hóa, rút gọn hơn so với bản thuyết minh của các doanh nghiệp lớn.

     

    Bảng cân đối tài khoản

     

    Đây là báo cáo được yêu cầu thêm đối với DNNVV theo quy định tại quyết định số 48/2006/QĐ-BTC. Báo cáo này có thể lập cho tài khoản cấp 1 hoặc cả tài khoản cấp 1

     

     

    5

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    và tài khoản cấp 2, trong đó báo cáo số dư đầu năm, số phát sinh trong năm và số dư cuối năm của các tài khoản. Bảng cân đối tài khoản chỉ gửi cho cơ quan thuế để làm cơ sở cho việc kiểm tra số liệu khi quyết toán thuế và giúp cho công tác quản lý chặt chẽ hơn.

     

    2.   Các đặc điểm chất lượng của Báo cáo tài chính (BCTC)

     

    Chất lượng BCTC là vấn đề rất được quan tâm, từ các nhà nghiên cứu, soạn thảo văn bản cho đến chủ doanh nghiệp, người làm công tác kế toán và các đối tượng sử dụng thông tin khác.

     

    BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để lập và trình bày BCTC trung thực và hợp lý, doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với các quy định; Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu; Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.(Đoạn 9 & 11 của chuẩn mực kế toán 21 “Trình bày BCTC”)

     

    Ngoài ra trong đoạn 12 của chuẩn mực này cũng nên rõ: BCTC phải cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:

     

    1. Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;

     

    1. Đáng tin cậy, khi:

    Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;

     

    –  Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ

    đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;

     

    –  Trình bày khách quan, không thiên vị;

     

    –  Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;

     

    Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.

     

    Để đánh giá chất lượng BCTC, sau đây sẽ xem xét cụ thể dựa trên từng yêu cầu của chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày BCTC”, bao gồm:

     

    –  Tính trung thực, hợp lý

     

    –  Tính thích hợp

     

    –  Tính đáng tin cậy

     

    –  Tính dễ hiểu

     

    Để đạt được các yêu cầu trên, khi lập và trình bày BCTC cần tuân thủ các nguyên tắc: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ và có thể so sánh được. Việc tuân thủ một cách hài hòa các nguyên tắc trên sẽ giúp đảm bảo các đặc điểm chất lượng của BCTC, nâng cao tính hữu ích cho các thông tin trình bày trên BCTC, hỗ trợ đắc lực cho người sử dụng trong việc ra quyết định.

     

    3.           Các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC của DNNVV

     

    Hiện tại quy định pháp lý về BCTC và chất lượng BCTC DNNVV ở Việt Nam đã được xây dựng theo từng cấp độ: chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và văn bản pháp lý có liên quan. Tuy nhiên nội dung các văn bản này còn chưa hoàn chỉnh, tồn tại nhiều bất cập, đồng thời cũng do một số nguyên nhân khác xuất phát từ nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp, trình độ của người làm kế toán và yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin nên BCTC DNNVV ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế về mặt chất lượng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng thông tin để thực hiện việc đánh giá, kiểm soát và

     

     

    6

     

    Một số ý kiến . . .

     

    ra quyết định của các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế. Qua quá trình tìm hiểu và phân tích, chúng tôi có thể tổng hợp thành hai nhóm nhân tố chính tác động đến chất lượng BCTC DNNVV: các nhân tố tác động từ bên trong và các nhân tố tác động từ bên ngoài.

     

    3.1 Các nhân tố bên trong:

     

    Công tác tổ chức quản lý

     

    Cách thức tổ chức quản lý và triết lý quản trị của ban giám đốc các DNNVV có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng BCTC của các doanh nghiệp này. Qua tìm hiểu của chúng tôi thấy rằng tình hình chung hiện nay, hầu như các DNNVV chưa chú trọng đến kiểm soát nội bộ và đầu tư cho hệ thống kiểm soát nội bộ, do đó các khâu thu thập, xử lý thông tin để lên báo cáo chưa được kiểm soát đúng mức, hệ quả là tính đáng tin cậy của chất lượng BCTC chưa đảm bảo.

     

    Bên cạnh đó, một điều đáng mừng là xu hướng hiện nay các nhà quản lý đã dành sự quan tâm hơn cho nội dung thông tin trình bày trên BCTC. Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy ở một số doanh nghiệp BCTC được sử dụng trong công tác quản trị tại doanh nghiệp. Một khi ban giám đốc sử dụng thông tin từ BCTC thì chất lượng thông tin sẽ dần được cải thiện.

     

    Người làm công tác kế toán

     

    Thực trạng tại các DNNVV hiện nay cho thấy, những người làm công tác kế toán (nếu có) chỉ mang tính chất như là người ghi chép sổ sách (bookkeepers) chứ không phải là kế toán thực thụ (accountants). Bộ phận kế toán mới chỉ làm công việc tập hợp chứng từ, ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh chứ chưa thực hiện công việc kiểm tra kế toán và phân tích hoạt động kinh doanh thông qua những thông tin kế toán cung cấp. Chính đều này đã làm cho việc phát hiện và điều chỉnh, sửa

    chữa, xử lý sai sót khó thực hiện được hoặc thực hiện chậm trễ, thiếu hiệu quả.

     

    Bên cạnh đó, khá nhiều các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ ở Việt Nam có xu hướng thuê dịch vụ kế toán thay vì tuyển dụng và đào tạo nhân sự cho bộ máy này. Điều này vừa đảm bảo tính chuyên nghiệp vừa giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, đạt được lợi ích kinh tế, tuy nhiên thông tin kế toán không đáp ứng tính kịp thời do thông thường, các kế toán dạng này chỉ nhận chứng từ vào cuối tháng để tổng hợp. Sản phẩm của kế toán là BCTC lúc này hầu như chỉ là để đối phó với các cơ quan chức năng quản lý, đặc biệt là cơ quan thuế; số liệu trên báo cáo không thực sự hữu ích cho việc ra quyết định. Ngoài ra, điều này có thể dẫn tới việc thiếu sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa người làm công tác kế toán đối với doanh nghiệp.

     

    3.2 Các nhân tố bên ngoài:

     

    Khung pháp lý về kế toán cho DNNVV Hiện nay khung pháp lý về kế toán cho

     

    DNNVV có nhiều hạn chế. Các quy định trọng luật kế toán chưa lưu ý đến đặc điểm riêng của các doanh nghiệp này. Về chuẩn mực, việc tinh giản bớt yêu cầu áp dụng bộ chuẩn mực kế toán chung chỉ là giải pháp tạm thời trước mắt, chưa có cơ sở khoa học. Chế độ kế toán đã được ban hành riêng cho DNNVV nhưng thực chất cũng là cắt xén từ chế độ kế toán theo quyết định 15 và tính pháp lý của văn bản này không cao nên việc đưa vào áp dụng trên thực tế còn hạn chế. Sự cộng hưởng từ các yếu tố này mang lại BCTC với chất lượng thông tin chưa thỏa mãn nhu cầu người sử dụng.

     

    Đối tượng sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin

     

    Người sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin của họ tác động lên chất lượng thông tin

     

     

    7

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    kế toán cung cấp. Nếu đa dạng hóa đối tượng sử dụng và đưa ra yêu cầu thông tin có chất lượng cao thì vấn đề chất lượng này sẽ được quan tâm và trở nên quan trọng. (Cătălin Nicolae ALBU and Nadia ALBU, Szilveszter Fekete , 2010).

     

    Từ thông tin thu thập, chúng tôi thấy rằng đối với DNNVVthì đối tượng sử dụng thông tin thực sự họ phải cung cấp là cơ quan quản lý nhà nước, trong đó đặc biệt là cơ quan thuế; có những doanh nghiệp cần cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp, ngân hàng, chủ nợ theo yêu cầu về đặc điểm thông tin riêng, tuy nhiên cơ quan nhà nước lại có được những cách thức để áp đặt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ để phục vụ cho nhu cầu quản lý của các cơ quan này, như là nội dung thông tin trình bày qua mẫu biểu báo cáo thống nhất, thời gian công bố thông tin theo quy định,…chính vì thế mà cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ quan thuế luôn được xem là đối tượng quan trọng nhất mà doanh nghiệp cần phải đối phó. Mặc dù vậy, các đối tượng này không đưa ra yêu cầu rõ ràng về chất lượng thông tin. Chính những yếu tố này đã không tạo ra động lực để doanh nghiệp cải thiện chất lượng thông tin kế toán.

     

    4.  Một số giải pháp

     

    Để góp phần nâng cao chất lượng BCTC của DNNVV hiện nay cũng như về lâu dài, theo chúng tôi, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

     

    • Hoàn thiện các quy định pháp lý về về lập và trình bày BCTC

    Hiện nay các quy định pháp lý về trình bày và công bố thông tin trên BCTC chưa được chuẩn hoá, thiếu tính đồng bộ và hợp lý. Về chuẩn mực kế toán, các DNNVV áp dụng đầy đủ 7 chuẩn mực kế toán thông dụng, áp dụng không đầy đủ 12 chuẩn mực

    và không áp dụng 7 chuẩn mực kế toán do không phát sinh ở DNNVV hoặc do quá phức tạp không phù hợp với DNNVV.Việc lược bỏ nói trên làm giảm tính hệ thống và nhất quán của chuẩn mực kế toán và chính sách kế toán áp dụng tại các doanh nghiệp. Việc ban hành một bộ chuẩn mực riêng cho các DNNVV sẽ đảm bảo tốt hơn tính logic và hệ thống giữa nhu cầu thông tin, mục tiêu cung cấp thông tin với các quy định trong chuẩn mực kế toán. Điều này phù hợp với quan điểm của Hội đồng soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) khởi xướng từ đầu những năm 2000 và nhận được sự đồng thuận của nhiều chuyên gia, tổ chức trên thế giới. Xét ở góc độ DNNVV, việc tuân thủ hệ thống chuẩn mực kế toán riêng với các quy định đơn giản hơn, phù hợp hơn sẽ tạo điều kiện đảm bảo việc tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp này được tinh gọn, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả công việc. Xét ở góc độ đối tượng sử dụng thông tin kế toán DNNVV, các quy định kế toán đơn giản và phù hợp với quy mô doanh nghiệp sẽ cho ra sản phẩm BCTC đáng tin cậy, dễ hiểu, hữu ích và tiết kiệm chi phí cho người sử dụng trong việc phân tích dữ liệu để lấy thông tin.

     

    Bên cạnh đó, cũng cần rà soát lại nội dung chế độ kế toán cho DNNVV vì văn bản này được ban hành từ năm 2006, đến nay bối cảnh kinh tế đã có những thay đổi đáng kể nên nhiều nội dung thông tin quy định trong chế độ này chưa phù hợp. Ngoài ra, cần tăng cường tính pháp lý của văn bản này, không để như hiện nay doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng giữa hai chế độ kế toán làm ảnh hưởng đến khả năng so sánh của thông tin và gây khó khăn cho người sử dụng. Hơn nữa, doanh nghiệp không nằm yên một chỗ mà luôn có sự vận động, chuyển đổi quy mô nên hệ thống

     

     

    8

     

    Một số ý kiến . . .

     

    BCTC cũng cần phải được chuyển hoá. Do vậy, theo chúng tôi để thuận lợi cho công việc quản lý của các cơ quan chức năng, cũng như để thuận lợi cho doanh nghiệp trong tổ chức thực hiện công tác kế toán, đặc biệt là trong điều kiện có sự chuyển đổi quy mô doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì không nên quy định cùng một lúc hai chế độ kế toán như hiện nay mà cần hợp nhất để ban hành thống nhất một chế độ kế toán áp dụng thống nhất cho tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trên cơ sở đó, tùy theo từng cấp độ quy mô mà hướng dẫn doanh nghiệp có những điều chỉnh thích ứng nhằm thực hiện mục tiêu đa dạng hoá BCTC trên cơ sở mẫu BCTC chuẩn (Võ Văn Nhị, 2012). Mẫu BCTC chuẩn này có thể được thiết kế trên cơ sở hệ thống BCTC theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh BCTC nhưng tùy theo quy mô và loại hình doanh nghiệp mà số lượng chỉ tiêu trình bày tăng giảm khác nhau. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể linh hoạt khi vận dụng và thuận tiện khi thu hẹp cũng như mở rộng quy mô, giúp tiết kiệm chi phí đáng kể. Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ, để dễ áp dụng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có thể chỉ cần lập theo phương pháp trực tiếp.

     

    Ngoài ra, hệ thống tài khoản kế toán là bộ phận quan trọng trong chế độ kế toán, được quy định để thực hiện việc phân loại và xử lý thông tin từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để phản ánh một cách có hệ thống số hiện có và tình hình biến động của các đối tượng kế toán trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.Để có thể trình bày BCTC trên mẫu biểu thống nhất, chỉ gia gảm số lượng chỉ tiêu theo quy mô doanh nghiệp thì hệ thống tài

    khoản kế toán cũng cần được quy định thống nhất áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế và có hướng dẫn sử dụng cho các cấp độ doanh nghiệp khác nhau. Điều rõ ràng là các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ thường hoạt động kinh doanh đơn giản nên chỉ sử dụng một số tài khoản thông dụng, phổ biến; Với các doanh nghiệp vừa sẽ sử dụng nhiều tài khoản hơn và đương nhiên hệ thống tài khoản kế toán này sẽ bao trùm lên toàn bộ các hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các loại hình hoạt động khác nhau. Hiện tại, có thể lấy hệ thống tài khoản kế toán cấp 1 hiện hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC để áp dụng chung, thống nhất cho các doanh nghiệp, còn tài khoản cấp 2 trở đi doanh nghiệp tự mở theo yêu cầu quản lý và thực tế phát sinh ở bản thân từng đơn vị, có chăng chỉ cần gợi ý thêm tài khoản được áp dụng hoặc có thể áp dụng cho lĩnh vực hoạt động nào, cấp độ quy mô doanh nghiệp nào; thông tin của tài khoản được sử dụng để lập các loại báo cáo kế toán nào. Điều này giúp tạo ra hệ thống tài khoản có tính linh hoạt cao và việc phản ánh vào tài khoản phù hợp với đặc điểm hoạt động và cấp độ quy mô doanh nghiệp.

     

    • Tăng cường vai trò quản trị doanh nghiệp trong kiểm soát và đánh giá chất lượng Báo cáo tài chính

     

    Trong điều kiện yêu cầu thông tin cho các bên liên quan và theo học thuyết kinh tế cơ bản thì BCTC chất lượng cao là kết quả tất yếu của việc giám sát và quản trị hợp tình hợp lý (equity monitoring and governance) (Deaconu, 2012 trích từ Beuselinck & Manigart, 2007). Do đó, việc tăng cường vai trò quản trị doanh nghiệp trong kiểm soát và đánh giá chất lượng BCTC là hết sức quan trọng. Nếu như các doanh nghiệp lớn, các

     

     

    9

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    công ty đại chúng có kiểm toán nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng hêt sức bài bản để đảm bảo sự tuân thủ từ khâu thu thập, xử lý và cung cấp thông tin. Thì với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, họ chưa có đủ tầm và lực để có thể tổ chức tương tự. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là không có biện pháp để mang lại BCTC có chất lượng cao nhất. bắt đầu từ những vấn đề đơn giản, tưởng chừng như không liên quan như thiết lập các quy định, chính sách (ngay cả chính sách bán chịu, chính sách thu hồi công nợ – ảnh hưởng đến khoản mục Nợ phải thu trên bảng cân đối kế toán, chính sách về mua và dự trữ hàng tồn kho); cho đến việc đưa ra các quy trình xử lý tối ưu, chặt chẽ. Hiện nay nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng hệ thống kiểm soát nội bộ có thể được chia thành hai nhánh: kiểm soát kế toán (accounting control) và kiểm soát quản trị (administrative control). Nếu làm tốt cả hai nhánh này sẽ mang lại thông tin đáng tin cậy cho người sử dụng.

     

    Việc cung cấp thông tin kịp thời, đáng tin cậy phục vụ ngay cho công tác quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng cần lưu ý là hiện nay, khả năng sử dụng BCTC của lãnh đạo doanh nghiệp còn thấp. Để có thể kiểm soát và nâng cao chất lượng BCTC, đòi hỏi người quản lý, chủ doanh nghiệp cũng cần phải trang bị những kiến thức nhất định về kế toán để có thể tham gia vào quy trình kiểm soát nội bộ.

     

    Cũng cần cân đối giữa chi phí và lợi ích khi thiết kế và duy trì các thủ tục kiểm soát nội bộ do đặc thù về quy mô của các DNNVV, không thể đòi hỏi các doanh nghiệp này tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ hoành tráng với quy trình, thủ tục phức tạp. Việc tinh giản bộ máy, thủ tục, việc vi phạm nguyên tắc bất

    kiêm nhiệm là vấn đề không thể tránh khỏi tại các doanh nghiệp này.

     

    • Nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm của bộ phận kế toán

    Như đã phân tích ở trên, vấn đề con người là vấn đề then chốt trong quá trình nâng cao chất lượng BCTC. Do vậy, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa nói riêng cần chú trọng vào công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn của bộ phận kế toán, nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân tham gia công tác kế toán trong đơn vị. Doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho kế toán viên tham gia các lớp cập nhật kiến thức, bồi dưỡng nghiệp vụ để có đủ năng lực thu thập, xử lý và cung cấp thông tin. Có như vậy mới mong tạo ra sản phẩm là BCTC với chất lượng cao, thích hợp với nhu cầu người sử dụng báo cáo. Đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, việc không tổ chức bộ máy kế toán mà chỉ thuê ngoài có thể là một giải pháp kinh tế hơn. Tuy nhiên cũng cần lưu ý khi thuê ngoài các đối tượng thực hiện dịch vụ kế toán thì cần xem xét lựa chọn cá nhân có đủ năng lực, trách nhiệm và có chứng chỉ hành nghề theo quy định; hoặc tổ chức thì phải có chức năng kinh doanh dịch vụ này; và phải ký kết hợp đồng để ràng buộc trách nghiệm.

     

    • Mạnh dạn trong đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và công tác kế toán

     

    Không chỉ các doanh nghiệp lớn mà các DNNVV cũng cần mạnh dạn đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, đặc biệt là trong công tác kế toán. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, cụ thể là sử dụng ERP, hoặc phần phần kế toán, hay sử dụng kỹ thuật web,…sẽ giúp cải thiện tất cả các khâu từ thu thập thông tin, quá trình xử lý, cũng như lập

     

     

    10

     

    Một số ý kiến . . .

     

     

    BCTC và công bố các thông tin này ra bên ngoài. Việc ứng dụng này không chỉ nhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin trên BCTC bắt buộc mà nó còn giúp thiết lập các báo cáo quản trị để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nhà quản lý. Các báo cáo quản trị được lập trực tiếp từ phần mềm, hoặc thông qua công nghệ web phù hợp với dữ liệu được thu thập và xử lý tính đến thời điểm đó. Bên cạnh đó, từ phần mềm có thể chiết xuất thông tin để cung cấp thêm một số báo cáo chi tiết, báo cáo phân tích bổ sung đính kèm bên cạnh hệ thống BCTC theo quy định mà không làm tặng gánh nặng cho bộ phận kế toán, nhờ đó nâng cao tính hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Để người sử dụng dễ dàng tiếp cận được thông tin kế toán, cần yêu cầu bắt buộc BCTC phải được công bố trên trang web của doanh nghiệp. Đây là phương thức công bố thông tin đơn giản, kịp thời mà hiệu quả nhất. Một khi công ty công bố thông tin trung thực và đầy đủ sẽ tạo ra và duy trì niềm tin của người sử dụng đối với công ty, từ đó giúp tăng giá trị thị trường của công ty. Cũng lưu ý rằng không phải tất cả các báo cáo đều được công bố hay cần phải công bố mà một số báo cáo sẽ được giới hạn đối tượng sử dụng để phục vụ cho yêu cầu quản lý. Việc phân quyền trên phần mềm hay trên web được thiết kế hoàn toàn dễ dàng. Công tác bảo mật được đảm bảo và việc lưu trữ tài liệu trên web vô cùng đơn giản.

     

    Tuy nhiên vấn đề nào cũng có tính hai mặt của nó. Khi nghiên cứu đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức công tác kế toán cần đảm bảo được tính cân đối lợi ích – chi phí, so sánh hiệu quả mang lại với chi phí bỏ ra để quyết định đầu tư đến mức độ nào cho phù hợp.

    • Kiểm soát và đánh giá chất lượng thông

    tin

     

    Chất lượng thông tin BCTC của doanh nghiệp không chỉ do bản thân doanh nghiệp quyết định mà còn chịu sự chi phối của các cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm. Lâu nay, vấn đề kiểm soát và đánh giá chất lượng BCTC DNNVV gần như bỏ ngỏ. Các cơ quan chức năng đã ban hành các quy định pháp lý liên quan về lập và trình bày BCTC, các đặc điểm chất lượng thông tin trên BCTC. Nếu như BCTC của doanh nghiệp nhà nước, các công ty niêm yết thường xuyên chịu sự giám sát của cơ quan chủ quản, sở giao dịch chứng khoán,..thì việc DNNVV thực thi quy định pháp luật về kế toán tới đâu, tuân thủ quy định tới mức độ nào, công bố BCTC ra sao vẫn chưa được giám sát chặt chẽ, chủ yếu việc kiểm tra chỉ thực hiện thông qua cơ quan thuế, mà thuế chỉ là một trong rất nhiều đối tượng kế toán cung cấp thông tin. Cơ quan này lại chịu sự chi phối của các văn bản pháp luật ngành thuế nên chỉ xem xét việc nộp báo cáo đúng hạn, việc tính toán và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí cho Nhà nước theo quy định còn các đặc điểm chất lượng của thông tin trên BCTC không thuộc phạm trù xem xét của cơ quan thuế. Ngoài ra còn có những biện pháp răn đe được quy định trong điều 10 Nghị định số 185/2004/NĐ-CP được Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán góp phần ngăn ngừa hành vi không tuân thủ trong việc công bố thông tin kế toán. Tuy nhiên những mức xử phạt quy định trong văn bản này hết sức nhẹ nhàng nên chưa đủ tính răn đe. Hiện nay Bộ Tài chính đang tổ chức lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính

     

     

    11

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập để trình Chính phủ ban hành. Nghị định quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, mức phạt, thẩm quyền xử phạt và dự kiến Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2013. Mặc dù văn bản này chưa được ban hành nhưng theo nhận định chủ quan của nhóm tác giả những quy định trong Chương II “Hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và mức xử phạt trong lĩnh vực kế toán”, điều 9 liên quan đến BCTC thì mức phạt cao nhất chỉ là 30 triệu đồng thì chưa tương xứng với hậu quả mà các hành

     

    • này mang lại nên hiệu quả của văn bản này trong việc đảm bảo tính tuân thủ có thể không đạt được như mong đợi. Theo chúng tôi cần có những biện pháp xử lý nghiêm khắc và mạnh tay hơn đối với các doanh nghiệp có hành vi vi phạm.

     

    Bên cạnh đó, Luật kiểm toán độc lập đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 và Nghị định số 17/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập, tuy nhiên theo nội dung các văn bản này thì các DNNVV nếu không phải là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hay kinh doanh lĩnh vực đặc thù,…nhìn chung không thuộc diện kiểm toán bắt buộc mà chỉ khuyến khích. Như vậy trên thực tế việc kiểm soát chất lượng BCTC các doanh nghiệp này gần

    như thả nổi. Trong thời gian tới, một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng BCTC DNNVV đó là cần chú trọng khâu kiểm soát và đánh giá chất lượng thông tin thông qua công tác kiểm toán. Kiểm toán BCTC hàng năm có thể không khả thi với các DNNVV do áp lực về chi phí, tuy nhiên ít nhất cũng cần quy định bắt buộc soát xét BCTC năm đối với các doanh nghiệp này để đánh giá tính trung thực hợp lý của BCTC, bảo vệ quyền lợi người sử dụng thông tin.

     

    5.  Kết luận

     

    Tăng cường chất lượng BCTC DNNVV là nhu cầu cấp thiết để nâng cao vị trí cũng như tăng cường trách nhiệm xã hội của các DNNVV trong nền kinh tế hội nhập và phát triển.

     

    Việc từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, tăng cường vai trò quản trị trong kiểm soát và đánh giá chất lượng BCTC cũng như từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức công tác kế toán đã giúp cho hệ thống BCTC có những cải tiến đáng kể và phần nào đã đáp ứng được yêu cầu thông tin đa dạng cho nhiều đối tượng. Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế phát triển nhanh chóng và hội nhập sâu rộng như hiện nay, thông tin cung cấp từ các BCTC vẫn chưa theo kịp với nhu cầu của người sử dụng. Do đó vấn đề nâng cao chất lượng thông tin kế toán nói chung nâng cao chất lượng BCTC của DNNVV nói riêng cần được các cơ quan ban ngành và bản thân doanh nghiệp cùng phối hợp giải quyết.

     

     

     

    12

     

    Một số ý kiến . . .

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Tiếng Anh

     

    • Banham Heather C. (2010): External Environmental Analysis For Small and medium enterprises,

     

    Journal of Bussiness & Economics Research, Vol. 8, No.10: 19:25.

     

    • Cătălin Nicolae ALBU and Nadia ALBU, Szilveszter Fekete (2010): The context of the possible IFRS for SMEs implementation in Romania, An exprolatory Study. Accounting And Management Information Systems, vol 9, No.1: 45-71.

     

    • Collis J., Jarvis R. (2002): Financial information and the management of small private entities, Journal of Small Business and Enterprise Development, 9(2):100-110.

     

    • Cressy R.,Olofsson C. (1997) European SME inancing: an overview, Small Business Economics,

     

    9: 87-96.

     

    • Deaconu A., Buiga A., Strouhal J. (2012): SMEs inancial reporting: Attitudes towards IFRS for

     

    SMEs, Studia UBB, Oeconomica, Volume 57, Issue 1: 101-122.

     

    • Evans L.,Di Pietra R., Gebhardt G.,Hoogendoorn M., Marton J., Mora A., Thinggard F., Vehmanen P., Wagenhofer A. (2005): Problems and opportunities of an International Financial Reporting Standard for small and medium-sized entities, the EEA FRSC’s Comment on the IASB’s Discussion paper, Accounting in Europe, 2: 23-45.

     

    • Hana Bohusova (2011), Adoption of IFRS for SMEs over the world, The Business Review * Cambridge ,Vol.18 No.2, December 2011: 208-214.
    • Ha van Wyk & J Rossouw (2009): IFRS for SMEs in South Africa: a giant leap for accounting, but

     

    too big for smaller entities in general, Meditari Accountancy Research Vol.17 No.1: 99-116.

     

    • International Accounting Standard Boars (2009). International Financial Reporting Standard for Small and Madium- size Entities.
    • Sian S.,Roberts C. (2009) UK small owner-manager businesses:accounting and inancial reporting needs, Jounal of Small Business and Enterprise Development, 16(2): 289-305.
    • Veneziani, M. & Teodori, C. (2008): The International Accounting standards and Italian non-listed companies:perception and economic impact, The results of an empirical survey, paper presented

    at 31st Annual Congress of the European Accounting Association, 23-25 April, Rotterdam, the Netherlands.

     

    [12].http://search.proquest.com/pqcentral/docview/451581686/abstract/13BEF0C13D33AB22067/13? accountid=63189 access 30/01/2013

     

    [13].http://search.proquest.com/pqcentral/docview/863130188/fulltext/13BEF1473521DF9B196/6?ac countid=63189 access 30/01/2013.

     

    Tiếng Việt

     

    • Bộ tài chính (2006), Chế độ kế toán cho DNNVV, theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006, Bộ tài chính, Hà Nội.
    • Đỗ Phương Thảo (2012): Tìm hướng đi cho DNNVV của Việt Nam trước ngưỡng cửa năm 2015, Tạp chí Khoa học Thương Mại, Số 50, tháng 10/2012: Trang 56-59.
    • Lưu Đức Tuyên (2012): Áp dụng chuẩn mực kế toán cho các DNNVV, Tạp chí nghiên cứu Tài chính Kế toán, Số 11 (112), 2012: Trang 41-44.
    • Trần Thị Thanh Hải (2012), Đánh giá hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp hiện hành và định hướng cho việc thiết lập chuẩn mực kế toán áp dụng cho DNNVV ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp trường, CS-2011-54.

     

    • Võ Văn Nhị & các tác giả (2012), Hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam để nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Mã số B.2010-09-102.

     

    • Vụ chế độ kế toán và kiểm toán (2008): Nội dung và hướng dẫn 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội, 2008.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-th%C3%A0nh-c%C3%B4ng-hay-th%E1%BA%A5t-b%E1%BA%A1i-khi-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-th%E1%BA%BB-%C4%91i%E1%BB%83m-c%C3%A2n-b%E1%BA%B1ng-BSC-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    NHỮNG YẾU TỐ THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI KHI ÁP DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BSC) TẠI VIỆT NAM

     

    Nguyễn Quang Đại *

     

    TÓM TẮT

     

    Theo khảo sát của Vietnam Report thì tính đến tháng 1/2009, trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam có 7% đã áp dụng và 36% đang có kế hoạch áp dụng Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC). Tuy nhiên, cho đến thời điểm 2014 này, có bao nhiêu doanh nghiệp đã áp dụng thành công hay thất bại, chúng ta chưa có con số cụ thể. Cũng từ thời gian đó, nhiều tổ chức đã tổ chức các cuộc hội thảo về việc áp dụng BSC. Hầu hết các cuộc hội thảo này đều nêu lên những lợi điểm khi áp dụng BSC. Nhưng khi áp dụng, nhiều doanh nghiệp đã thất bại. Nguyên nhân những thất bại này do những yếu tố nào. Bài báo này trình bày cụ thể những nguyên nhân đưa đến những thất bại tại Việt Nam. Đồng thời, bài báo cũng trình bày cụ thể những yếu tố cần phải có để có thể áp dụng thành công BSC.

     

    Từ khóa: Thẻ điểm cân bằng, chỉ số đo lường kết quả hoàn thành chủ yếu

     

    FAILURE AND SUCCESS FACTORS IN APPLICATION OF THE BALANCED SCORECARD IN VIETNAM

     

    ABSTRACT

     

    By January 2009, of all 500 biggest enterprises in Vietnam 7% have applied the Balanced Scorecard (BSC) and 36% have a plan to apply it as well, according to the survey in Vietnam Report). At this time in 2014, however, we haven’t had speciic data on how many enterprises have applied it successfully. Many conferences on the balanced scorecard application have been held by different organizations since then. Most of the conferences highlighted advantages in application of the balanced scorecard, but many enterprises have failed to apply it in reality. What are factors for the failure? This paper analyzes causes of failures in the BSC application in Vietnam. In addition, the paper also presents speciically factors that are really necessary to get success in the BSC application.

     

    Keywords: Balanced Scorecard (BSC), Key performance indicators (KPI)

     

    * Thạc sĩ, C48 Bộ Công an. NCS. Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

     

     

    46

     

    Những yếu tố . . .

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Khảo sát của Vietnam Report (tháng 1/2009) đã công bố những con số ấn tượng liên quan đến 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp. Đó là có 7% đã áp dụng và 36% đang có kế hoạch áp dụng Thẻ điểm cân bằng

     

    . Từ đó đến nay, đã có thêm nhiều doanh nghiệp áp dụng. Tuy nhiên, chúng ta chưa có con số thống kê đầy đủ. Và cũng từ năm 2009 đến 2013, các tổ chức như Câu lạc bộ VNR500 (VNR500 Club), Viện Marketing và Quản Trị, và mới đây (tháng 12/2013) Viện Kinh tế và Thương mại Quốc tế thuộc Trường Đại học Ngoại thương liên tục tổ chức các cuộc hội thảo về việc áp dụng BSC. Trong cuộc hội thảo này, các doanh nghiệp nêu lên một số khó khăn hay thất bại khi triển khai BSC.

     

    • kiến của Nguyễn Tuân gây được nhiều chú ý: “Ở Việt nam, việc áp dụng BSC và KPI gặp rất nhiều khó khăn bởi nhiều nguyên nhân, một trong các nguyên nhân chủ chốt là thiếu chuyên gia hiểu sâu về công cụ KPI và có kinh nghiệm thực tế, vì vậy các doanh nghiệp trong nước thường thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài bởi họ có nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên xây dựng BSC và KPI không thể ngày một ngày hai mà phải làm liên tục, xuyên suốt từ trên xuống dưới. Do vậy việc hệ thống đánh giá KPI trở nên không chính xác, thậm chí đổ vỡ sau một thời gian khi đơn vị tư vấn nước ngoài kết thúc hợp đồng trở về nước vì các chỉ số không còn phù hợp và doanh nghiệp không tự xây được hệ thống mới”.

     

    1. VÀI NÉT VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BALANCED SCOREDCARD)

    Thẻ điểm cân bằng ra đời dựa trên khái niệm “Chiến lược” do Michael Porter triển khai. Porter lập luận rằng cốt lõi của việc thiết lập ra một chiến lược cạnh tranh ở chỗ nó liên hệ công ty với các lực trong ngành mà nó cạnh tranh. Thẻ Điểm Cân Bằng chuyển dịch viễn cảnh (vision) và chiến lược của một đơn vị kinh doanh thành các mục tiêu và các biện pháp đo lường trong bốn lãnh vực mà hai ông gọi là triển vọng (perpectives): Triển vọng (TV) tài chánh, TV khách hàng, TV tiến trình kinh doanh nội bộ, và TV học hỏi-phát triển. Triển vọng tài chánh xác định công ty mong muốn cổ đông của mình thấy tình hình tài chánh tăng trưởng như thế nào. Triển vọng khách hàng xác định công ty mong muốn khách hàng của mình thấy hình ảnh của công ty như thế nào. Triển vọng tiến trình kinh doanh nội bộ diễn tả quy trình hoạt động trong công ty phải thích ứng thế nào để thoả mãn cổ đông và khách hàng của mình. Triển vọng học hỏi và phát triển bao gồm việc công ty phải nhận thức cần phải thay đổi và cải tiến thế nào để biến viễn cảnh thành hiện thực.

     

    Chiến lược là một bộ các giả thiết (a set of hypotheses) về nhân-quả (cause-and-effect). Hệ thống đo lường sẽ làm cho những mối liên hệ giữa các mục tiêu và biện pháp đo lường trong số những triển vọng đó được rõ ràng. Mối dây nhân- quả đó nên thấm nhập vào tất cả bốn triển vọng của BSC.

     

    Hình 1 sau đây minh họa tổng thể sự chuyển dịch từ sứ mạng (mission), giá trị cốt lõi (core values), và viễn cảnh (vision) đến các kết quả chiến lược mong đợi.

     

     

    47

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Hình 1. Sự chuyển dịch từ sứ mạng đến các kết quả chiến lược mong đợi.

     

     

     

     

     

     

    Nguồn: Robert S. Kaplan and David P. Norton (2001), The strategy focused organisation: How Balanced Scorecard companies thrive in the new business environment, Harvard Business School Press, Boston, Mass, .

     

     

    Các đơn vị đo lường được sử dụng trong BSC thường được gọi là KPI (key performance indicators = chỉ số đo lường kết quả hoàn thành chủ yếu), bởi vì chúng đo lường tổ chức đó hoàn thành thế nào so với các mục tiêu (goals) và chỉ tiêu (targets) đã đề ra. Có hai loại chỉ số KPI: đó là chỉ số định hướng (leading indicators) và chỉ số hồi đo (lagging indicators). Chỉ số định hướng đo lường các hoạt động có tầm ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành trong tương lai, trong khi

    đó chỉ số hồi đo, chẳng hạn như các đơn vị đo lường (metrics) tài chánh, đo lường đầu ra của hoạt động trong quá khứ. Chỉ số định hướng là các biện pháp đo lường (measures) có tác động mạnh, bởi vì nó giúp cho cấp quản trị có nhiều thời gian tác động đến kết quả.

     

    3.           CÁC VẤN ĐỀ CẦN PHẢI TRÁNH KHI ÁP DỤNG BSC

     

    Paul R Niven với tư cách là người thực hành và là người đứng đầu về tư vấn lấp dần khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế

     

     

    48

     

    Những yếu tố . . .

     

    ứng dụng Thẻ điểm Cân bằng của giáo sư Robert S. Kaplan và David Norton. Ông đã xuất bản cuốn sách có cùng tên là “Balanced Scorecard” vào năm 2006 , được coi như là bản đồ chỉ dẫn cách thực hành Thẻ điểm Cân bằng. Với nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tư vấn, Paul R Niven đã khéo léo chuyển tải mô hình Thẻ điểm Cân bằng thành cuốn cẩm nang hướng dẫn thực hiện từng bước, và nhờ đó các tổ chức trên toàn thế giới có thể dễ dàng triển khai và áp dụng vào thực tế của doanh nghiệp mình.

     

    Trong cuốn sách này, Paul R. Niven đã cố gắng cung cấp một hướng dẫn toàn diện và chi tiết về những gì cần thiết để áp dụng thành công Thẻ điểm Cần bằng. Ông tin rằng, bằng cách tuân theo những lời khuyên này, tổ chức của các công ty có thể tránh khỏi rất nhiều cạm bẫy nguy hiểm đối với Thẻ diềm. Tuy nhiên, một số lĩnh vực có quá nhiều vấn đề đến nỗi chúng cần được chú ý và xem xét nhiều hơn trước khi doanh nghiệp bắt đầu chiến dịch của doanh nghiệp. Dưới đây là 10 vấn đề hàng đầu mà doanh nghiệp cần lưu ý và nên tránh khi áp dụng Thẻ điểm1.

     

    1. Không có sự hỗ trợ của cấp quản trị. Đây là vấn đề hàng đầu. Mặc dù truyền đạt và đào tạo rất quan trọng, nhưng có sự ủng hộ vững chắc của cấp lãnh đạo còn quan trọng hơn. Nếu dự án Thẻ điểm Cân bằng có sự gắn kết của cấp quản trị cao cấp, thì dự án đó vẫn có thể thành công mặc dù sự thiếu sự tập huấn
    • giai đoạn đầu. Ngược lại, không có sự ủng hộ vững chắc của cấp lãnh đạo, thì nỗ lực này có nhiều khả năng tàn lụi.

     

    1. Thiếu các hoạt động truyền đạt và đào tạo để áp đụng Thẻ điểm Cân bằng. Thường thì sự đơn giản của Thẻ điểm làm cho mọi người dễ mắc phải sai lầm rằng hoạt động đào tạo chuyên sâu là không cần thiết. Nếu cảm

    thấy rằng Thẻ điểm có thể được quản trị một cách dễ dàng thì tổ chức sẽ chỉ hỗ trợ tập huấn ban lãnh đạo cấp cao và sau đó tin vào khả năng kinh doanh của các nhân viên để thúc đẩy phát triển các biện pháp đo lường thành tích mới và mạnh. Cái giá phải trả cho quyết định này chính là những Thẻ điểm được thiết kế kém, ít được sử dụng và thiếu sự nhất quán trong tổ chức.

     

    1. Không có chiến lược. Chúng ta sẽ gặp khó khăn khi áp dụng một hệ thống quản trị chiến lược mà không có một chiến lược. Ở vị trí cốt lõi của khái niệm, Thẻ điểm là chiến lược của tổ chức, nó định hướng tất cả các hành động và quyết định, đảm bảo sự nhất quán từ trên xuống dưới.

     

    1. Không có lý do cơ bản cho chương trình Thẻ điềm Cân bằng. Nếu chương trình Thẻ điểm không có những mục tiêu được tuyên bố rõ ràng thì nó có thể dễ dàng bị hiểu nhầm và cuối cùng bị “xếp vào ngăn kéo” cho đến khi không ai còn ngó ngàng gì đến nó nữa.

     

    1. Không báo kết quả Thẻ điểm Cân bằng. Niven cho rằng nếu các tổ chức hi vọng đạt được những thành công lớn từ sự đầu tư của mình vào Thẻ điểm Cân bằng nhưng không dành thời gian và công sức để báo cáo, thảo luận các kết quả, chẳng khác gì việc họ đang hy vọng trúng xổ số trong khi không mua lấy một tấm vé.

     

    1. Quản trị một cách mâu thuẫn, không cân bằng. Nhiều tổ chức khuyến khích làm việc theo nhóm và tinh thần hợp tác – nét quan trọng mang lại thành công, trong khi lại dễ dàng khen thưởng các cá nhân bằng cách chỉ dựa trên thành tích của từng người. Việc sử dụng hiệu quả Thẻ điểm Cân bằng sẽ bắt buộc các tổ chức phải cam kết phát triển và tham gia vào các quy trình quản trị phù hợp với những mục tiêu mang tính toàn diện vốn có trong bản thân Thẻ điểm.

     

     

    49

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1. Không có các biện pháp đo lường mới. Những yếu tố định hướng giá trị của một Thẻ điểm Cần bằng, chính là các biện pháp đo lường mới và quên sự tác động lẫn nhau của chúng với những chỉ số khác. Có thể một công ty nào đó đang có nhiều biện pháp đo lường cần thiết để thể hiện chiến lược. Nhưng trong đa số các trường hợp, chúng phải được bổ sung bằng những biện pháp đo lường mới và hiện đại hơn đẻ đảm bảo việc thực hiện chiến lược.

     

    1. Hoạt động phát triển nhóm không hiệu quả. Thẻ điểm Cần bằng sẽ phát triển mạnh mẽ trong một môi trường nhóm, nơi mà những nền tảng và chuyên môn chức năng được đưa hết vào những cuộc tranh cãi sôi nổi và những cuộc thảo luận có sự chuẩn bị trước với mục đích phát triển một Thẻ điểm phản ánh toàn bộ tổ chức.

     

    1. Thiếu các hoạt động phân tầng. Bất kỳ tổ chức nào có quy mô đáng kể đều phải phân tầng Thẻ điểm từ trên xuống dưới nếu họ hy vọng có được những lợi thế mà hệ thống này mang lại. Chỉ bằng cách phân tầng Thẻ điểm

    xuống tất cả các cấp bậc và cho phép toàn bộ nhân viên mô tả cách thức họ sẽ đóng góp vào thành công chung thì tổ chức mới thực sự tạo được sự nhất quán.

     

    1. Những mối liên hệ thiếu vững chắc với những quy trình quản trị. Việc gắn Thẻ điểm vào các quy trình quản trị như dự toán ngân sách, chế độ đãi ngộ và kiểm soát doanh nghiệp cho phép các tổ chức khai thác được những tiềm năng đầy đủ của khung làm việc năng động này. Tuy nhiên, nếu những nỗ lực tạo ra mối liến hệ trên chưa thực sự chín muồi thì chúng có thể giảm đáng kể đà thành công của Thẻ điểm. Thủ phạm chính ở đây là mối liên hệ của các biện pháp đo lường (measures) của Thẻ điểm với chế độ đãi ngộ.

     

    4.           NHỮNG TRỞ NGẠI KHI ÁP DỤNG

    BSC

     

    Mặc dù giáo sư Kaplan và giáo sư Norton mô tả nhiều cách thực hiện thành công Thẻ điểm Cân bằng, tuy nhiên hai giáo sư cũng nêu lên nhiều nguồn gây tắc nghẽn hoặc trở ngại cho việc áp dụng BSC. Bảng 1 sau đây sẽ minh hoạ đầy đủ và chi tiết các yếu tố này.

     

     

    Bảng 1. Những trở ngại và các yếu tố cốt lõi trong việc thực hiệc BSC.

     

    Các tác giả/

       

    Yếu tố chủ yếu/

     

    phương pháp

    Các trở ngại

    Mô tả

    cốt lõi

     

    nghiên cứu

       
           
             
       

    Như đã đề cập trước đây, một BSC tốt nên

       
       

    có sự phối hợp một cách thích hợp giữa

       
       

    các kết quả (chỉ số hồi đo) với các định

    Đạt được sự cân bằng

     
     

    Quá ít các biện pháp

    hướng hoàn thành (chỉ số định hướng)

    giữa các chỉ số định

     
     

    của chiến lược doanh nghiệp. Do đó,

    hướng với chỉ số hồi

     

    1. Kaplan and

    đo lường (hai hoặc ba)

    khi tổ chức xây dựng quá ít biện pháp

    đo

     

    Norton

    cho mỗi triển vọng

    đo lường (measures) cho mỗi triển vọng,

       
     

    (perspectives)

       
     

    thì nó không tạo được sự cân bằng giữa

       
           
       

    các chỉ số định hướng với chỉ số hồi đo

       
       

    hoặc chỉ số phi tài chánh với chỉ số phi

       
       

    tài chánh.

       
             
       

    Trong trường hợp này, tổ chức đó sẽ mất

    Chỉ chấp nhận các

     

    2. Kaplan and

    Tổ chức áp dụng quá

    chỉ số phản ánh CL

     

    Norton

    nhiều chỉ số

    tập trung và không thể tạo được sự nối kết

    và là những chỉ số

     
       

    giữc các chỉ số

    quan trọng

     
         
             

    50

     

         

    Những yếu tố . . .

             
             
       

    Điều này xảy ra khi tổ chức cố gắng áp

    Chỉ chọn lọc những

     
     

    Các biện pháp đo

    dụng tất cả các chỉ số KPI vào mỗi triển

     
     

    lường (measures)

    vọng mà không chọn lọc kỹ những biện

    biện pháp đo lường

     

    3. Kaplan and

    được lựa chọn cho

    pháp đo lường (measures) nào gắn kết với

    nào gắn kết với

     

    Norton

    BSC không phản ánh

    chiến lược mà thôi. Do đó chiến lược của

    chiến lược của doanh

     
     

    chiến lược của doanh

    tổ chức không chuyển dịch thành hành

    nghiệp.

     
     

    nghiệp.

    động, và tổ chức đó không đạt được lợi

       
       

    ích của BSC.

       
             
       

    Các biện pháp đo lường tài chánh là các

       
       

    biến số phụ thuộc và hồi đo. Một số tổ

       
     

    Nỗ lực kết nối định

    chức cố gắng làm cho việc kết nối này có

    Không nối kết định

     
     

    thể đo lướng được, nhưng thời gian hồi

    lượng giữa các chỉ

     

    4.Schneiderman

    lượng giữa các chỉ số

     

    tưởng lại khó tiên đoán nhiều yếu tố có

    số định hướng phi tài

     

    và Norreklit

    định hướng với kết

     

    thể ảnh hưởng đến kết quả, cho nên không

    chánh với các kết quả

     
     

    quả tài chánh kỳ vọng.

     
     

    thể kết nối đuợc . Do đó họ không nên

    tài chánh mong đợi.

     
       

    nối kết định lượng giữa các chỉ số phi tài

       
       

    chánh với các kết quả tài chánh mong đợi.

       
             
       

    Sự uỷ thác dự án SBC cho cấp quản trị

       

    5. Kaplan and

     

    trung cấp và định nghĩa dự án đó như là

    Cấp quản trị cao cấp

     
     

    một biện pháp đo lường (measure) kết quả

    nên hỗ trợ và lãnh

     

    Norton,

       

    Thiếu sự gắn kết của

    hoàn thành (performance) được coi như

    đạo việc xác định dự

     

    Braam and

     

    cấp quản trị cao cấp.

    là một những nguyên nhân phổ biến nhất

    án là biện pháp đo

     

    Nijsen (impirial),

     
     

    dẫn đến thất bại vì bỏ mất trọng tâm và

    lường kết quả hoàn

     

    and Schneiderman

       
     

    sắp xếp hoàn thành chiến lược. Đây là

    thành.

     
         
       

    tiến trình chỉ có thể được lãnh đạo từ trên.

       
             
       

    Nhóm lãnh đạo cao cấp phải làm việc

       
       

    chung với nhau để xây dựng và hỗ trợ

    Nhóm lãnh đạo cao

     

    6. Kaplan và

    Quá ít các cá nhân

    việc thực hiện BSC, bao gồm việc đề ra

    cấp phải làm việc

     

    mục tiêu, biện pháp đo lường, và chỉ tiêu.

    chung với nhau để

     

    Norton

    tham gia

     

    Nếu không, sẽ không có sự gắn kết đồng

    xây dựng và hỗ trợ

     
         
       

    chia sẻ (shared commitment) cần thiết

    việc thực hiện BSC

     
       

    cho việc sắp xếp tổ chức.

       
             
       

    Để cho có hiệu quả, BSC bao gồm việc

       
       

    đề ra chiến lược và hành động hỗ trợ thực

       

    7. Kaplan and

     

    hiện, cuối cùng phải được chia sẻ với mọi

       
     

    thành viên của tổ chức (xem hình 1). Nếu

       

    Norton,

    Duy trì SBC trên bàn

    Toàn bộ tổ chức đều

     

    không có hệ thống triển khai phân tầng từ

     

    Schneiderman,

    của cấp quản trị cao

    mục tiêu thứ bậc cao xuống thứ bậc thấp

    tham gia vào tiến

     

    and Andersen et

    cấp.

    nơi có các hoạt động cải tiến thực sự, thì

    trình thực hiện.

     

    ali

     

    các cải tiến quy trình quan trọng khắp tổ

       
           
       

    chức không phát sinh được kết quả từ cấp

       
       

    bậc thấpiv.

       
             
         

    Hỗ trợ cho việc nối

     
         

    kết lương bổng với

     
     

    Đưa BSC vào áp

    Hỗ trợ cho việc nối kết lương bổng với

    các biện pháp đo

     

    8. Kaplan and

    các biện pháp đo lường chiến lược chỉ có

    lường chiến lược khi

     

    dụng chỉ để cho lương

     

    Norton

    hiệu quả khi nó là một phần của tiến trình

    nó là một phần của

     
     

    bổng và đãi ngộ.

    chuyển dịch chiến lược trong tổ chức.

    tiến trình chuyển dịch

     
         
         

    chiến lược trong tổ

     
         

    chức.

     
             

    51

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Khi thực hiện dự án Thẻ điểm Cân bằng (BSC), chúng ta hãy lưu ý những vấn đề mà đa số các doanh nghiệp thường gặp phải sau đây:

     

    1. Quá ít các biện pháp đo lường (hai hoặc ba) cho mỗi triển vọng (perspectives).

     

    1. Tổ chức áp dụng quá nhiều chỉ số

     

    1. Các biện pháp đo lường (measures) được lựa chọn cho BSC không phản ánh chiến lược của doanh nghiệp.

     

    1. Nỗ lực kết nối định lượng giữa các chỉ số định hướng với kết quả tài chánh kỳ vọng.

     

    1. Thiếu sự gắn kết của cấp quản trị cao cấp.

     

    1. Quá ít các cá nhân tham gia

     

    1. Duy trì SBC trên bàn của cấp quản trị cao cấp.

     

    1. Đưa BSC vào áp dụng chỉ để cho lương bổng và đãi ngộ.

    5.           CÁC YẾU TỐ CỐT LÕI GIÚP ÁP DỤNG BSC THÀNH CÔNG

     

    Jake Barkdoll và John Kamensky đã đúc kết 44 cuộc họp hàng tháng về BSC ở trụ sở Balanced Scorcard Interest Group tại Washington DC. Tại các cuộp họp này, các thành viên đã phản ánh các bài học rút ra khi giới thiệu và sử dụng BSC. Và dựa vào nhiều năm kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân khi thuyết trình cho rất nhiều cơ quan liên bang Hoa Kỳ về BSC, hai ông đã đúc kết 10 vấn đề hàng đầu giúp cho việc áp dụng BSC thành công.

     

    Triển khai BSC đòi hỏi phải giải quyết ba vấn đề thách thức sau đây: 1) Tạo dựng một tiến trình thiết kế, quản trị, báo cáo, và phân tách các đơn vị đo lường (metrics); 2) giải quyết những thay đổi về văn hoá và hành vi ứng xử có sẵn trong phương pháp này; 3) bảo đảm các khía cạnh kỹ thuật thu thâp dữ kiện, sự trung thực và chất lượng. Danh sách “Mười

    vấn đề hàng đầu” (The Top Ten) xuyên suốt mỗi giai đoạn của bốn giai đoạn cốt lõi trong nỗ lực bảo đảm BSC thành công sau đây: thiết kế, triển khai, thực hiện, và duy trì (hoặc định chế hoá (institutionalize) cách sử dụng nó. Bốn giai đoạn này sẽ được trình bầy sau phần “mười yếu tố hàng đầu”. Tất cả các yếu tố cốt lõi nêu trong Bảng 1 “Những trở ngại và các yếu tố cốt lõi trong việc thực hiệc BSC” đều hiện diện trong mười yếu tố hàng đầu sau đây:v

     

    1. Hãy tranh thủ được sự hỗ trợ của cấp quản trị cao cấp. Điều này rất giúp ích nếu có “sự tranh luận nảy lửa” đòi hỏi cần phải thay đổi.

     

    1. Hãy đo lường những cái/việc đúng (measure the right things) – những cái mà khách hàng, những bên có liên quan (stakeholders), và nhân viên thấy có giá trị – chứ không phải tất cả mọi thứ.

     

    1. Hãy tạo nên một quy trình điều hành lôi kéo những bên có liên quan.

     

    1. Hãy thiết kế hệ thống theo dõi công việc thực sự của tổ chức.

     

    1. Hãy bắt đầu triển khai các biện pháp đo lường ở cả cấp trên và cấp dưới của tổ chức, và phân bổ chúng ở cả hai phía.

     

    1. Hãy tạo nên một chiến dịch truyền thông giải thích cho mọi người biết BSC vừa phản ánh vừa định hướng tập trung vào sứ mạng (mission).

     

    1. Hãy sắp xếp các hệ thống: hãy ràng buộc các hệ thống này vào các chu kỳ hoạch định, đo lường, và ngân sách của tổ chức.

     

    1. Hãy đảm bảo tính đáng tin cậy (khả tín) của tiến trình và sự trung thực trong báo cáo.

     

     

    52

     

    Những yếu tố . . .

     

    1. Hãy tạo nên sự minh bạch của thông tin càng đúng thời điểm càng tốt. Đây là chìa khoá của tính khả tín và hữu ích cho cả cấp quản trị cao cấp lẫn cấp quản trị cơ sở.

     

    1. Hãy nối kết và sắp xếp các khích lệ, khuyến khích: hãy nối kết phần thưởng với việc hoàn thành công tác qua việc đánh giá hiệu quả và đánh giá hoàn thành công tác.

    Mười vấn đề hàng đầu này xuyên suốt bốn giai đoạn của nỗ lực thực hiện BSC. Sau đây chúng ta hãy nghiên cứu chi tiết bốn giai đoạn này.

     

    Thiết kế. Tạo nên một BSC thành công không phải là một kỳ công về mặt kỹ thuật. Thách thức thật sự là ở chỗ lôi kéo các vị lãnh đạo, các nhà quản trị, nhân viên, khách hàng, và các bên có liên quan tham gia vào tiến trình thiết kế. Trong khi nỗ lực là do nhân viên tạo nên và đạt được sự tiến bộ, thì những nỗ lực thành công thật sự bắt đầu từ sự hỗ trợ của cấp lãnh đạo cao cấp. Với sự hỗ trợ của cấp lãnh đạo cao cấp, thì điểm chủ yếu là đo lường những cái đúng – những cái mà khách hàng, những bên có liên quan (stakeholders), và nhân viên thấy có giá trị – chứ không phải tất cả mọi thứ.

     

    Yếu tố chủ chốt khác trong việc thiết kế là dành cho hệ thống để thực hiện thêm công việc đã hoàn tất. Chẳng hạn như hệ thống thư viện tại Đại Học Virginia Hoa Kỳ đã thu thập dữ kiện trong nhiều năm. Chỉ sau khi triển khai BSC kết nối dữ kiện với cái mà thư viện đó đã thực hiện, thì dữ kiện đó mới thực sự trở nên hữu dụng.

     

    Triển khai. Một phương pháp được sử dụng là bắt đầu triển khai các biện pháp đo lường của tổ chức tại cấp trên và cấp dưới của tổ chức và phân bổ các kết quả phải đạt được

    • cấp bậc trung cấp. Chẳng hạn như, tại Trung Tâm Devices and Radiological Health Hoa Kỳ, trong việc quản trị thực phẩm và dược phẩm, cấp lãnh đạo đưa ra khung biện pháp đo lường tổng quát, nhưng cũng khuyến khích trưởng các đơn vị chi nhánh tự triển khai đơn vị đo lường của mình. Ban đầu có một số trùng lắp, nhưng các cuộc đàm thoại chọn lọc biện pháp đo lường đã tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau hơn từ hai phía.

     

    Việc tạo nên một chiến dịch truyền thông giải thích cho mọi người biết BSC vừa phản ánh vừa định hướng tập trung vào sứ mạng rất quan trọng để đạt được sự hỗ trợ của cấp quản trị và nhân viên cho việc thu thập và báo cáo những biện pháp đo lường mới. Khi các nhà quản trị và nhân viên thấy được giá trị của thông tin, thì nội dung của các cuộc đàm thoại sẽ thay đổi.

     

    Thực hiện. Triển khai và báo cáo kết quả các biện pháp đo lường của BSC không nghĩa lý gì nếu chúng không nối kết với các hệ thống hành chánh đã được thiết lập trước đây mà nhân viên sử dụng thường xuyên, như chu kỳ hoạch định, triển khai và thực hiện ngân sách . Chẳng hạn như Sở Dịch Vụ thuộc Bộ Tài Chánh và Kế Toán và Sở Vận Chuyển thuộc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đều sử dụng các biện pháp đo lường của BSC như một phần của chiến lược thường xuyên và hệ thống triển khai và thực hiện ngân sách của mình. Văn phòng Cung ứng thuộc Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ nhận thấy rằng BSC giúp bộ này chuyển dịch khỏi “các hoạt động đánh giá chương trình” sang “quản trị chương trình”. Tính khả tín (đáng tin cậy) của tiến trình và tính chân thật trong báo cáo cũng là các yếu tố quan trọng.

     

    Duy trì. Thách thức lớn nhất trong đa số các nỗ lực của BSC là duy trì nỗ lực đó lâu

     

     

    53

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    dài, đặc biệt khi người hỗ trợ các sáng kiến hành động (initiavives) ra đi. Một cách để bảo đảm tính liên tục và hỗ trợ tính khả tín của các dữ kiện là tạo nên sự minh bạch của thông tin càng sát với thời điểm cáng tốt. Điều này cũng làm cho thông tin của BSC hữu ích cho cả cấp quản trị cao cấp lẫn cấp cơ sở. Thay vì thu thập và báo cáo dữ kiện hoàn thành hàng năm, thì chẳng hạn như Tổng Nha Địa Ốc, Sở Tài Nguyên Thiên Nhiên, và Sở Địa Ốc Hoa Kỳ tất cả đều thu thập thông tin kết quả hoàn thành gần sát thời điểm thực tế có sẵn trên mạng nội bộ (intranet) dành cho nhân viên để họ có thể so sánh kết quả hoàn thành và học tập ở bạn đồng nghiệp cách cải tiến hoạt động của mình.

     

    Một động lực thúc đẩy chủ yếu khi sử dụng thông tin BSC là gắn nó với các các phần thưởng khích lệ. Chẳng hạn như Sở Địa Ốc Hoa Kỳ gắn BSC với chỉ tiêu hoàn thành công tác đã được thương lượng trước trong mỗi vùng. Nếu vùng nào hoàn thành chỉ tiêu, thì vùng đó sẽ nhận được phần thưởng.

     

    Ngoài “Mười Yếu Tố Hàng Đầu” đã nêu trên đây, những người tham dự các cuộc họp tại Washington D.C nêu trên đây đã đưa ra những đề xuất thêm để thành công khi áp dụng BSC. Trước hết, họ đề nghị hãy liên kết với các tổ chức khác đang triển khai SBC. Có nhiều bài học đáng được học tập một cách bán chính thức. Thứ hai, họ cảm thấy rằng phương pháp BSC được coi như một công cụ học tập, chứ không phải chỉ đơn thuần là hệ thống các biện pháp đo lường. Họ cảm thấy rằng BSC tạo nên một khung, một kỷ cương, và một tiếng nói chung trong phạm vi một tổ chức, và khi nó tiến triển, thì văn hoá của tổ chức đó bắt đầu thay đổi hướng về kết quả hoàn thành hơn (more performance oriented), dựa vào dữ kiện hơn (more fact-based) và

    hướng về khách hàng hơn (more customer-centric). Và sau cùng, kinh nghiệm của các đơn vị sử dụng BSC ở Hoa Kỳ đã nhận thấy rằng bởi vì văn hoá của họ thay đổi, cho nên họ ít nhấn mạnh BSC như là một phương pháp đo lường và xem nó như là một cách khác truyền thông với nhau.

     

    Trong cuộc hội thảo về ứng dụng BSC và KPI trong quản trị doanh nghiệp vào giữa tháng 12 năm 2013, các chuyên gia của Viện Kinh tế và Thương mại Quốc tế trực thuộc Trường Đại Học Ngoại Thương sau rất nhiều thất bại từ việc thử nghiệm công cụ BSC và KPI từ chính doanh nghiệp của mình, đã đúc kết và rút ra ba kinh nghiệm sâu sắc. Các doanh nghiệp nào muốn áp dụng phải nắm rõ ba yếu tố này thì việc xây dựng KPI mới có thể thành công. Các yếu tố này hầu như đã được trình bày ở phần trên đây. Ba yếu tố đó là.

     

    Thứ nhất, Xây dựng BSC và KPI phải phù hợp với văn hoá Việt Nam.

     

    Thứ hai, Hệ thống BSC và KPI phải được thực hiện chậm rãi, không nôn nóng, và phải hiểu rằng đây là công cụ quản lý để công việc tốt hơn chứ không phải hệ thống quy trách nhiệm.

     

    Thứ ba, Có sự quyết tâm của toàn công ty, lãnh đạo phải hiểu rõ công cụ, có nhóm hạt nhân xây dựng hệ thống, rồi từ từ lan toả ra toàn bộ công ty.

     

    Chúng ta đã nghiên cứu qua những trở ngại chính khi áp dụng Thẻ điểm Cân bằng cũng như những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công hay thất bại khi áp dụng Thẻ điểm Cân bằng, còn một điểm then chốt cần nhấn mạnh là khi xâydựng BSC và KPI ở Việt Nam phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề sao cho phù hợp với nền văn hóa của một dân tộc có bề dày hàng ngàn năm lịch sử.

     

     

    54

     

    Những yếu tố . . .

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    [1]. Thẻ Điểm Cân Bằng (The Balanced Scorecard), [Online, accessed, Dec, 2013], URL

     

    http://www.facebook.com/ permalink.php? story_fbid=233394716700482&id   =128992350452485

     

    [2]. Thẻ Điểm Cân Bằng (The Balanced Scorecard ), [Online, accessed, Dec, 2013],             URL:https://www.

     

    facebook.com/permalink.php?story_fbid=233394716700482&id=128992350452485.

     

    • Robert S. Kaplan and David P. Norton (1996), Balanced Scorecard: Translating Strategy into Action. Harvard Business School Press, Boston, MA, p.37.

     

    • Robert S. Kaplan and David P. Norton (1996), Balanced Scorecard: Translating Strategy into Action. Harvard Business School Press, Boston, MA, pp.30-31.

     

    • Beer Molleman, The challenge of Implementing the Balanced Scorecard, [Online,

    accessed,  Dec. 8, 2013], URL: hppt://www [email protected]

     

    • Paul R. Riven (2009), Thẻ Điểm Cân Bằng, Trần Phương và Thu Hiền Dịch, NXB Tổng Hợp TP.HCM, tr. 548-556.
    • Schneiderman, A.M (1999), Sách đã dẫn.

     

    • John M. Kamensky (2005), Top Ten List: Keys Factors that Makes a Balanced Scoredcard Successful [Online, accessed, Dec. 8, 2013],

    URL: hppt:// www.businessofgovernment.org/…/top-ten- list-key-factor.

     

    • Nguyễn Tuân, Thất Bại Khi Áp Dụng BSC & KPI, [online, accessed Jan.2, 2014]. URL: http://ieit.edu.vn/vi/dao-tao/item/209-tong-hop-cac-chuong-trinh-dao-tao-tu-van-bsc-va-kpi-trong-nam-2013-cua-ieit

     

     

     

     

    55


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]