Category: Thương Mại – Marketing

  • TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-M%E1%BB%90I-QUAN-H%E1%BB%86-GI%E1%BB%AEA-V%E1%BA%ACT-CH%E1%BA%A4T-V%C3%80-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-TRONG-VI%E1%BB%86C-X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-N%E1%BB%80N-KINH-T%E1%BA%BE-M%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TA-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA ————————

    LỜI NÓI ĐẦU

    Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới

    .Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã được tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng .Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội .

    Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao ,mà điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt .

    Trước tình hình đó ,cũng với xu thế phát triển của thời đại ,Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt ,giữ vai trò chủ đạo

    .Đồng thời đổi mới kinh tế là một vấn đề cấp bách ,bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ,giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh .

    Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay”.

    2

    Tiểu luận triết học

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

    2.1.Vật chất

    1. Định nghĩa vật chất

    Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó .Nhưng theo Lênin định nghĩa :”vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “.

    Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất.Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập vật chất với ý thức ,hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,vật chất tồn tại độc lập với cảm giác ,ý thức, còn cảm giác ,ý thức phụ thuộc vào vật chất ,phản ánh khách quan.

    Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học ,Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là khái niệm rộng nhất ,muốn phân biệt tư cách là phạm tù triết học ,là kết quả của sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể ,với những” hạt nhân cảm tính”.Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được .Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

    Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có ,không thể tiêu diệt được ,nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác ,ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan.Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ ,”thượng đế”của tôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng

    3

    Tiểu luận triết học

    siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó ,trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và do đó các các đối tượng vật chất có thật ,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác ,và nhờ đó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắm bắt sự vật này .Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học .

    Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với vật chất ,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.

    Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội ,có ý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới

    • mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động.
    1. Các đặc tính của vật chất

    *Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất .

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng ,vận động là sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian

    .Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất ,là thuộc tính cố hữu của vật chất,gồm tất cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,một hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình

    4

    Tiểu luận triết học

    thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng không thể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.

    Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của nó .Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.

    Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.

    Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.

    Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng phong phú và đa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng ,trong sự ổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là

    5

    Tiểu luận triết học

    tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .

    *Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

    Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có hình thức kết cấu ,có độ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện tượng.

    Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động ,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động .Không gian và thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất biến ,không thể đứng ngoài vật chất ,không có không gian trống rỗng ,mà nó có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động .

    Tính thống nhất vật chất của thế giới

    CNDT coi ý thức,tinh thần có trước ,quyết đinh vật chất ,còn duy vật thì ngược lại .Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất ,có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức ,lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất ,do đó nó tồn tại vĩnh cửu ,không do a sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó ,không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hoá lẫn nhau ,là nguyên nhân và kết quả của nhau.

    Tiểu luận triết học

    2. ý thức

    1. kết cấu của ý thức

    Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thưc theo các trường phái khác nhau . Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ .Mác nhấn mạnh rằng tinh thần

    • thức là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin …Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng

    .Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.

    Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tự ý thức là

    • thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra

    7

    Tiểu luận triết học

    .Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân .

    Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh thói quen ,có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức.Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động

    .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen ,có vai trò quan trọng trong đời sống .

    1. Nguồn gốc của ý thức

    Nguồn gốc tự nhiên

    • thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc .Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn .Tuy nhiên không thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh .Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh ,nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên .Sự xuất hiện của xã hộ loài người đưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hộ

    Nguồn gốc xã hội

     

    8

    Tiểu luận triết học

    Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH.

    Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên ,thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người .Nhờ nó mà con người và xã hội loài người mới hình thành và phát triển

    .Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người ,đồng thời ngay từ đầu đã liên kết con người với nhau trong mối quan hệ khách quan ,tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu”cần phải nói với nhau một cái gì”. Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy ,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác .Nhờ có nó mà con người có thể giao tiếp ,trao đổi ,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội ,và ngược lại. Chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức ,chính nhờ nó mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật ,hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.

    1. Bản chất của ý thức

    Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .

    Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị nội dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan.

    • thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể

    9

    Tiểu luận triết học

    thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của

    • thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động ,tác động vào thế giới đó.

    Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời ,không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sáng tạo .Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin ,là sự thống nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.

    • thức chỉ được nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội.Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện
    • tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.

    3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

    Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là cái có sau . Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối .Như vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời cái nào có trước cái nào quyết định .Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bản trong triết học ,lẫn giữa

    10

    Tiểu luận triết học

    vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tương đối như là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức.

    Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng

    11

    Tiểu luận triết học

    hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống . Hơn nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có .khẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần ,tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất ,cũng không thể thay đổi được những quy luật vận động của nó . Do đó ,trong quá trình hoạt động của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép .

    II.               Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế nước ta hiện nay .

    1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị :

    Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau .Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức có tác động trở lại nhân tố ý thức. Nhân tố vật chất trong nhiều trường hợp

    • thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của con người.Điều này thể hiện rõ trong các đường lối chủ trường,chính sách đổi mới kinh tế của Đảng .Vai trò tích cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động ,theo đó ý thức phải biến đổi phù hợp với nó ,nếu tiêu cực thì sớm muộn cũng bị đào thải ,nhưng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định .Và ta thấy nếu kinh tế của một nước giàu ,xã hội phát triển cao nhưng chính trị mất ổn định ,luôn đấu tranh giai cấp …thì đất nước đó không thể yên ấm hoà bình được và cuộc sống người dân tuy đầy đủ ,sung túc nhưng sẽ luôn

    12

    Tiểu luận triết học

    lo âu .Do đó nếu chính trị ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng một xã hội phát triển ,đất nước giàu mạnh.

    Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế CXNT-CHNL-PK-TBCN-CNXH .Trình độ tổ tổ chức quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống của xã hội ,bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội đời sống tinh thần của xã hội .hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị ,nhà nước pháp quyền,đạo đức ,khoa học ,tôn giáo…đều hình thành biến đổi gắn liền với kinh tế và sản xuất nhất định .Trong đó theo Mác quan hệ sản xuất giữa người với người là cơ bản quyết định tất cả các quan hệ khác .

    Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất khi tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con người ,thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội . Sản xuất vật chất môi trường tự nhiên ,điều kiện xã hội…đòi hỏi thể lực ,trí tuệ và nhân cách con người phải phát triển thích ứng với nó .Yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế ,sản xuất cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện .Đó chính là cơ sở quyết định sự hoàn thiện của con người ,chính trị ,xã hội ,là nhân tố qaun trọng hàng đầu của LLSX

    .Sự phong phú đa dạng của vật chất sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất là cơ sở nảy sinh sự phát triển năng lực tinh thần của con người .Nói cho cùng nhu cầu của con người về vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định vì con người trước hết phải ăn mặc ,ở rồi đến vui chơi giải trí .Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống và cuộc sống của con nguươì phụ thuộc vào nhu cầu vật chất và những điều kiện hiện có.

    13

    Tiểu luận triết học

    Nền kinh tế của một nước là nền tảng để cho nước đó tiếp tục phát triển các chủ trương biện pháp trong việc phát triển kinh tế vào công cuộc bảo vệ xây dựng đất nước .Căn cứ vào tình hình kinh tế mà có những chính sách phù hợp nhằm đem lại lợi ích cao cho xã hội và cho nhân dân .Tác dụng ngược lại thể chế chính trị ,ý thức của một nước rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn định chính là điều kiện phát triển kinh tế ,mọi doanh nghiệp cũng như nhân dân ,các công ty các tổ chức đem hết sức mình tạo lợi ích cho bản thân và xã hội.

    Nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối QHBC giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét các sự vật từ thực tế khách

    quan ,tránh chủ nghĩa chủ quan duy ý động sáng tạo của ý thức ,phát huy nỗ người .

    chí,đồng thời phát huy vai trò năng lực chủ quan và hoạt động của con

    2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rtong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.

    Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nước ,nền kinh tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng.Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém,cơ cấu kinh tế mất cân đối ,năng suất lao động thấp…sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho dân ,nguyên liệu cho công nghiệp ,hàng hoá cho xuất khẩu ,ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mĩ .ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn ,nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng…

    Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5 năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh tế 1975 phấn đấu dạt 21tr tấn lương thực 1tr tấn cá biển ,1tr ha khai hoang , 1tr200ha rừng mới 10tr tấn than sạch …ngoài ra còn đề xuất xây dựng thêm các cơ sở mới về công nghiệp như cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo XHCN ở miền nam .Những chủ trương chính sách sai lầm đó đã gây tổn

    14

    Tiểu luận triết học

    hại đến nền kinh tế cuộc sóng nhân dân…đến hết 1980 ,nhiều chỉ tiêu đề ra chỉ đạt được 50-60%, nền kinh tế tăng trưởng chậm ,tổng sản phẩm xã hội bình quân là 1,5% công nghiệp tăng 2,6% nông nghiêp giảm 0,15% .

    Đại hội Đảng lần V vẫn chưa tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ ,đồng thời cũng chưa đề ra các chính sách mới cho nền kinh tế 1981-1985 . Chúng ta chưa khắc phục chủ quan trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế ,cảI tạo XHCN và quản lý kinh tế lại phạm những sai lầm mới rong lĩnh vực phân phối lưu thông .Nhìn chung vẫn chưa đạt được mục tiêu đại hội V đề ra .

    Tất nhiên ngoài những yếu tố chủ quan còn có yếu tố khách quan dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế do chiến tranh ,bối cảnh quốc tế … song chúng ta vẫn mắc sai lầm chủ quan trong việc quản lý cán bộ ,phát triển LLSX .

    Nhắc lại thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất ,thấy rõ tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới

    .Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải .

    Trước tình hình kinh tế đó ,Đảng và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu ,phân tích tình hình ,lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế .Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có:phải luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan .Đảng đã đề ra đường lối đổi mới ,mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở nước ta .

    Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình ,tìm ra đúng nguyên nhân khủng hoảng kinh tế xã hội và đã đề ra nhiều phương hướng nhiệm vụ trong việc đổi mới ,nhất là về kinh tế ,thực hiện chương trình kinh tế với 3 mục tiêu : lương thực -thực phẩm ,hàng tiêu dùng ,xuất khẩu ,hình thành nền kinh tế nhiêu thành phần ,thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân ,đổi mới cơ chế quản lý .Trong quá trình thực hiện

    15

    Tiểu luận triết học

    nghị quyết của Đảng ,những diễn biến quốc tế đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta nhưng Đảng ,nhà nước và nhân dân đã nỗ lực khắc phục những khó khăn và tìm tòi khai phá ra đường lối đổi mới . Tại đại hội VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị của nước ta sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới đã đạt được các bước tiến quan trọng .Tình hình hình chính trị ổn định nên nền kinh tế có điều kiện phát triển bươc đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo sự quản lý của nhà nước ,LLSX huy động tốt hơn ,tránh được lạm phát ,đời sống của người dân được cải thiện ,cuộc khủng hoảng đã giảm bớt ,sinh hoạt dân chủ ngày càng phát huy .

    Qua các dẫn chứng trên ta thấy sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức ,giữa kinh tế và chính trị ,nhờ có đường lối đổi mới ,nền kinh tế ngày càng phát triển ,cuộc sống của người dân ngày càng ổn định đã góp phần to lớn trong việc phát huy dân chủ trong xã hội . Ngoài mặt tích cực còn có tiêu cực như : lạm phát vẫn còn cao ,nhiều cơ sở đình đốn kéo dài ,lao động thiếu việc làm tăng lên ,và rong quản lý còn nhiều lúng túng sơ hở… đặc biệt đại hội cũng xác định “về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị phải tập trung sức đổi mới kinh tế đáp ứng được nhu cầu cấp bách của nhân dân về việc làm ,và các nhu cầu xã hội khác ,xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ,coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị.”

    Đảng ta đã vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới đất nước cả về kinh tế lẫn chính trị .Đại hội VIII đã chỉ ra các mục tiêu cần đạt được ,cụ thể là phương châm chỉ đạo trong 5 năm 1991-1995 ,trong đó nổi cộm nhất là phương châm kết hợp động lực kinh tế và động lực chính trị ,phương châm tiếp tục đổi mới đã đI vào chiều sâu với bước đi vững chắc ,lấy đổi mới làm nền để thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển.

    16

    Tiểu luận triết học

    Trong báo cáo của Đảng về công cuộc đổi mới đã nhận xét :”nét nổi bật là trong Đảng đã có sự đổi mới tư duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo. Đảng ta cụ thể hoá và phát triển nghị quyết đại hội VII ,bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm ,nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta “.

    Sau đại hội ban chấp hành TƯ Đảng đã đề ra các nghị quyết giải quyết các vấn đề đối nội đối ngoại . Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì đã đánh giá cao trong trong quá trình khắc phục khủng hoảng kinh tế … khắc phục được nhiều tồn tại trong 3 năm qua .Lạm phát được đẩy lùi .Tổng sản phẩm GDP tăng bình quân 8.2% so với mức đề ra năm 91-95 là 5,5-5,6%.Sản xuất nông nghiệp tương đối toàn diện sản lượng lương thực 26% so với 5 năm trước đó ,tạo đIều kiện thuận lợi để cuộc sống đầy đủ ,phát triển được nhiều ngành nghề .Vấn đề lương thực đã được giải quyết tốt

    .Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá ,thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng , nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ,tăng kim ngạch xuất khẩu 91-95 là 17 tỉ USD so với kế hoạch là 12-

    • tỉ USD. Khoa học công nghệ có bước phát triển lớn phục vụ cho việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng ,lĩnh vực văn hoá tinh thần được nâng cao ,đời sống nhân dân được cải thiện ,quốc phòng an ninh được giữ vững.

    Hội nghị đại biểu toàn quốc chỉ nêu lên thành tựu tiếp tục giữ vững và củng cố ổn định chính trị ,mở rộng quan hệ đối ngoại ,tạo đIều kiện cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc .

    Như vậy , cũng thấy rõ tác động của kinh tế với chính trị và xã hội ,đối với công tác đối ngoại ,quốc phòng ,an ninh…đổi mới kinh tế nhưng các nhân tố chính trị xã hội ,đối ngoại…cũng tác động tích cực trở lại đối với kinh tế .Vận dụn đúng đắn các mối quan hệ biện chứng duy vật . tại hội nghị đại biểu toàn quốc đã vạch ra những điểm yếu kém ,vấn đề kinh tế

    17

    Tiểu luận triết học

    như “nền kinh tế vẫn còn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu ,công nghiệp nhỏ bé ,kết cấu hạ tầng kém phát triển,kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất chất lượng hiệu quả còn kém …” và vẫn còn những tồn tại về mặt văn hoá ,xã hội…để có những thay đổi tốt hơn ,Đảng đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,chăm lo đến các vấn đề văn hoá xã hội , đảm bảo an ninh -quốc phòng, xây dựng nhà nước văn hoá của dân ,do dân và vì dân đổi mới chỉnh đốn đảng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân .

    Sau đại hội TƯ Đảng (khoá VII) ra nghị quyết phát triển công nghiệp mới đến 2000 theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước.Cải cách nền hành chính nhà nước với nội dung của hội nghị TƯ lần thứ VIII ,có thể coi đã cụ thể hoá một bước cương lĩnh và chiến lược phát triển khoa học xã hội mà đại hộiVIII đã thông qua.

    Với thành công trong những năm qua ta thấy đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với nền kinh tế thị trường mà trước đây ta đã phủ nhận đẻ hướng tới CNXH bỏ qua CNTB . Đảng đã phạm sai lầm đó là vội cải tạo CNXH xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần duy trì lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp.Có nhiều sai sót việc quản lý tiền tệ cũng như quản lý về giai cấp lãnh đạo. Nước ta đã nghiên cứu các mặt mạnh và hạn chế của CNTB để tận dụng một cách tổng hợp vào tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay để đưa Việt Nam theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các bước phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

    Trên tinh thần đó cùng với các kinh nghiệm đại hội VIII lần này đã đánh giá được khó khăn chung để chủ động nắm lấy thời cơ để vươn lên đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ xuất phát từ tình hình trên . Đảng đã đề ra cương lĩnh cần tiếp tục nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Từ nay đến 2000 ra sức để trở thành nước công nghiệp.

    18

    Tiểu luận triết học

    Với những chính sách phát triển thích hợp chúng ta đã được một số bước tiến quan trọng ,bình thường hoá quan hệ Việt -Mĩ ,là thành viên của khối Asean ,đặc biệt 1998 nước ta đã trở thành thành viên của khối APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương)… Từ chỗ bị bao vây cấm vận đến nay nước ta đã quan hệ ngoại giao với 167 nước ,quan hệ thương mại với 120 nước ,phát triển quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng .Đó là ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững môI trường hoà bình ổn định ,là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao ,1996 là 9,3%,1997 là 8,2% 1998 là 5,8% ,lạm phát chiếm dưới 10%.Tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn là hai con số…đời sống nhân dân càng ổn định tăng cao .

    Công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng đắn ,chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận triết học toàn diện Mác-Lênin .Mối quan hệ kinh tế biện chứng giữa kinh tế và chính trị ngày càng rõ nét ,đơn cử từ việc thiếu ăn bây giờ Việt Nam trở thành nước thứ 3 xuất khẩu gạo trên thế giới. Lòng tin của nhân dân ngày càng tăng cao .Ngoài ra còn tăng truởng về tổng sản phẩm quốc dân ,về tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài ,về xuất khẩu …

    Đổi mới là khó khăn nhưng nhờ có chính sách và đường lối đúng đắn và có sự tìm tòi học hỏi từ nền kinh tế tư bản của nhiều nước ,cùng các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,những biến dộng nhiều mặt của đất nước càng đòi hỏi lòng kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn để thích ứng kịp thời với sự biến đổi từng ngày từng giờ.

    Người cán bộ kinh tế phảI quán triệt sâu sắc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin ,tư tưởng Hồ Chi Minh là phải nghiên cứu đề xuất và áp dụng đúng đắn các chủ trương và chính sách kinh tế để đưa nền kinh tế nước ta vượt qua tình trạng nghèo đói và kém phát triển ,tránh khỏi nguy cơ tụt hậu so với kinh tế thế giới .Trong việc xoá bỏ quan liêu bao cấp

    19

    Tiểu luận triết học

    nghĩa là đòi hỏi người làm công tác quản lý phải sáng tạo ,năng động nắm bắt được thực tế để vận dụng và phát triển nó .Từ kinh nghiệm thực tế chỉ cần không nhận định đúng một vấn đề ,1 chủ trương ,1 thông tin ,1 từ ngữ trong bản hợp đồng kinh tế ,1 hành động chậm trễ hay vội vã là có thể lớn về nền kinh tế .Ngược lại nếu biết nắm bắt kịp thời 1 thông tin dù nhỏ vẫn có thể dẫn tới một thắng lợi lớn.Nên sự kết hợp giữa thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan ,kết hợp giữa tình cảm và trí tuệ phải thật nhuần nhuyễn ,các bộ quản lý phải có phẩm chất tốt đẹp,phải trung thực ,chính xác kịp thời ,phải biết nắm bắt và đề ra giải pháp dúng đắn cho mọi tình huống .Cần đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí ,tư tưởng nóng vội phưu lưu ,bất chấp mọi quy luật .Ngoài ra cần rèn luyện tính kiên nhẫn chăm chỉ ,dám nghĩ dám làm ,chủ động sáng tạo ,giành lấy thời cơ .Rèn luyện được các phẩm chất ấy người quản lý sẽ đứng vững trên vị trí lãnh đạo của mình , ngoài ra còn có thể vươn lên cao hơn để trở thành nhà kinh doanh giỏi.

    20

    Tiểu luận triết học

    Kết luận

    Xây dựng CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp rất khó khăn ,phức tạp ,nó như cuộc chiến đấu kháng chiến trường kì của Đảng và nhà nước.

    Với những bién động trước tình hình kinh tế của nhiều nước trên thế giới đòi hỏi Đảng và nhà nước phảI kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn ,đồng thời phải tỉnh táo ,nhạy bén thích ứng kịp thời với thực tế biến đổi từng ngày từng giờ.

    Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ,vận dụng thành thạo phép BCDV vào việc nghiên cứu và quản lý kinh tế ,phát huy mạnh mẽ quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc dân ,nhất định chúng ta sẽ trở thành những nhà quản lý giỏi góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước,tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam phát triển cao ,từ đó nâng cao vị trí Việt Nam trên chính trường quốc tế ,góp phần củng cố sự ổn định về chính trị của đất nước .Đó là lương tâm của những người làm công tác quản lý kinh tế chính trị.

    21

    Tiểu luận triết học

    Tài liệu tham khảo

    1. Giáo trình triết học Mác-Lênin tập 2 CNXB chính trị quốc gia 1997

     

    1. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VI

     

    1. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VII

     

    1. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VIII

     

    1. Kinh tế 1998 -1999 Việt Nam và thế giới(thời báo kinh tế Việt Nam )

     

    1. Thời báo kinh tế Việt Nam

     

    1. Tạp chí nghiên cứu kinh tế.

     

    22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-kh%C3%B3-kh%C4%83n-c%E1%BB%A7a-T%E1%BB%95ng-C%C3%B4ng-ty-may-%C4%90%E1%BB%93ng-Nai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập một số khó khăn của Tổng Công ty may Đồng Nai

    LỜI CẢM ƠN

    Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến quý Thầy, Cô trường Cao đẳng Cao đẳng Công nghệ & Quản trị Sonadezi, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em, đó chính là những nền tảng cơ bản, là những hành trang vô cùng quý giá, là bước đầu tiên cho em bước vào sự nghiệp sau này trong tương lai. Đặc biệt là Thầy Hồ Văn Khôi – một người Thầy đã cho em rất nhiều kiến thức và niềm đam mê ngành quản trị mà em đã chọn. Cảm ơn Thầy đã tận tình, quan tâm, giúp đỡ em trong một tháng qua, giải đáp những thắc mắc trong quá trình kiến tập. Nhờ đó, em mới có thể hoàn thành được bài báo cáo thực tập này.

    Bên cạnh đó, em cũng xin được gởi lời cảm ơn chân thành tới Trưởng phòng, các anh chị trong Công ty CP Tổng Công ty May Đồng Nai đã tạo cơ hội giúp em có thể tìm hiểu rõ hơn về môi trường làm việc thực tế của một doanh nghiệp mà ngồi trên ghế nhà trường em chưa được biết. Em chân thành cảm ơn chú Phạm Hữu Úy – Trưởng phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu, dù chú rất bận rộn với công việc nhưng vẫn dành thời gian chỉ bảo, hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để em có thể tìm hiểu và thu thập thông tin phục vụ cho bài báo cáo này.

    Trong quá trình thực tập và làm báo cáo, vì chưa có kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào lý thuyết đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên bài báo cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía quý Thầy, Cô cũng như Chú, các anh chị trong Tổng Công ty để kiến thức của em ngày càng hoàn thiện hơn và rút ra được những kinh nghiệm bổ ích có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả trong tương lai.

    Kính chúc mọi người luôn vui vẻ, hạnh phúc, dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Lời mở đầu

    Ngành dệt may đang có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia vì nó phục vụ nhu cầu tất yếu của con người, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động xã hội và tạo điều kiện cân bằng xuất nhập khẩu. Ở Việt Nam, ngành dệt may cũng đã sớm phát triển và trong các năm qua được quan tâm đầu tư, mở rộng năng lực sản xuất, trải qua những bước thăng trầm do những diễn biến của thị trường quốc tế và cơ chế quản lý trong nước, đến nay, ngành dệt may đã tạo được sự ổn định và tạo điều kiện cho bước phát triển mới.

    Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đồng Nai là một trong những doanh nghiệp may mặc thu hút và tạo việc làm cho nguồn lao động trong tỉnh Đồng Nai. Là một doanh nghiệp có bề dày trên 35 năm kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh hàng may mặc xuất khẩu và tiêu thụ nội địa; kinh doanh các thiết bị, phụ tùng và các sản phẩm của ngành dệt may; đã tạo được uy tín về năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm trong những năm qua. Tuy nhiên, Tổng Công ty còn gặp rất nhiều khó khăn hiện nay, vì thế em mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu một số khó khăn của Tổng Công ty May Đồng Nai đang gặp phải và hướng giải quyết” làm đề tài báo cáo kiến tập của mình và để thuận tiện làm nền tảng cho đề tài tốt nghiệp vào năm sau.

    Bài báo cáo gồm 4 chương:

    Chương 1:  Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Chương 2: Tổng quan về Tổng Công ty May Đồng Nai

    Chương 3: Thông tin của phòng kế hoạch xuất nhập khẩu

    Chương 4: Tình hình chung của Tổng Công ty May Đồng Nai, một số khó khăn và hướng giải quyết.

    Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian, trình độ, nguồn số liệu nên chắc chắn bài viết của em sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được những góp ý, phê bình và nhận xét của quý Thầy Cô và các Cô Chú trong toàn Công Ty để em rút kinh nghiệm và bài báo cáo tốt nghiệp có cơ hội được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

     

    CHƯƠNG MỘT

    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    CỦA TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI

    I.                   Lịch sử hình thành và phát triển:

    Công ty Cổ phần may Đồng Nai trước đây là QUỐC TẾ SẢN XUẤT Y TRANG (Internation Garment Manufacture) gọi tắt là IGM do 14 cổ đông là các chủ nghĩa tư bản người Đài Loan thành lập ngày 17 tháng 12 năm 1974.

    Nhà xưởng sản xuất của công ty đặt tại Khu kĩ nghệ Biên Hòa (nay là  Khu công nghiệp Biên Hòa 1), với số vốn ban đầu 300 triệu (tiền chế độ cũ), 367 máy móc thiết bị và khoảng 300 công nhân; văn phòng của công ty đặt tại số 2-đường Công Lý-Sài Gòn. Dự định của IGM là sản xuất áo chemise và các loại Jean để xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á và một số nước châu Mỹ.

    Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, vào tháng 5/1975 QUỐC TẾ SẢN XUẤT Y TRANG được tiếp quản và đổi tên là NHÀ MÁY QUỐC TẾ Y TRANG. Sau đó căn cứ vào quyết chuyển sở hữu số: 673/CNn-TSQL ngày 05/09/1977 Quốc tế y trang được chuyển thành XÍ NGHIỆP MAY ĐỒNG NAI là một đơn vị quốc doanh, trực thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp May. Trong quá trình hình thành và phát triển, đến tháng 6/1992: Xí nghiệp được nâng cấp thành CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI- Theo quyết định của Bộ Công Nghiệp nhẹ số 491/CNn-TCLĐ ngày 22/06/1992 và năm 1993 Bộ Công Nghiệp Nhẹ ra quyết định số: 415/CNn-TCLĐ ngày 24/04/1993 thành lập công ty May Đồng Nai thuộc liên hiệp các Xí nghiệp May. Năm 1995 Công ty May Đồng Nai trở thành thành viện hạch toán độc lập của Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam (“VINATEX”) – Nay là Tập đoàn Dệt May Việt nam của Thủ tướng Chính phủ, số 253/TTg, ngày 29/04/1995.

    Đến năm 2001, thực hiện chủ trương sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước của Đảng và Nhà nước, Công ty May Đồng Nai được tiến hành cổ phần hóa – Theo Quyết định số: 640/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/5/2001 Công ty đã chuyển thành CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐỒNG NAI. Sau đó các đại biểu cổ đông của Công ty đã tiến hành Đại hội đồng cổ đông thành lập vào ngày 13/8/2001. Hiện nay, Donagamex là thành viên liên kết của Tập đoàn Dệt May Việt Nam – Vinatex, theo Hợp đồng số: 1405/HĐ-TĐDMVN, ngày 29/6/2006.

    Ngày 29/6/2007 Công ty chính thức là Công ty đại chúng thứ 455 được đăng ký với Ủy ban chứng khoán Nhà nước với mức vốn điều lệ là 13 tỷ đồng, đến nay là: 39,84 tỷ đồng.

    Hàng năm Công ty May Đồng Nai ký hợp đồng tham gia thành viên Tập đoàn Vinatex, (Hợp đồng mới nhất số: 525/HĐ-TĐDMVN, ngày 12/6/2009, hiệu lực đến 31/12/2010 – đang tiếp tục gia hạn).

    Năm 2010, đánh dấu 35 năm hình hình và phát triển, kể từ ngày 01/7/2010 Công ty CP May Đồng Nai đã chuyển đổi mô hình hoạt động lên thành Tổng Công ty May Đồng Nai theo Quyết định số 278/QĐ-ĐHCĐ ngày 29/6/2010 và giấy CN.ĐKKD sửa đổi lần 6, số 3600506058, hoạt động theo loại hình Công ty cổ phần và sản xuất kinh doanh đa ngành nghề trong các lĩnh vực: May mặc; bất động sản; cho thuê nhà xưởng, phương tiện vận tải; nhựa bao bì; vải không dệt; đầu tư, xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị, khu nghỉ dưỡng, mua bán, đại lý mua bán máy móc, thiết bị y tế…

    II. Thành tích nổi bật Tổng Công ty May Đồng Nai đã đạt qua các thời kì:

    – Các danh hiệu, khen thưởng cấp Nhà nước:

    Trong lịch sử hình thành và phát triển, Tổng Công ty đã được Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng ba – năm 2007, Huân chương Lao động hạng nhất – năm 1999, Huân chương Lao động hạng nhì – năm 1986 và 1991, Huân chương Lao động hạng ba – năm 1981, Cờ thi đua suất sắc của Chính phủ năm 2008 – 2009 và nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Dệt May Việt Nam. Năm 2010 được UBND Tỉnh Đồng Nai tặng Danh hiệu “Doanh nghiệp tiêu biểu 3 năm” (2007-2009).

    Với thành tích và bề dày kinh nghiệm sản xuất kinh doanh nhiều năm Tổng Công ty đã đạt được các Giải thưởng và danh hiệu quý giá như: Sao vàng đất Việt – năm 2004, 2006, 2009; Cúp vàng thương hiệu và Huy chương vàng hàng công nghiệp Việt Nam – năm 2005, 2006; 6 năm liền là Doanh nghiệp tiêu biểu toàn diện ngành Dệt May Việt Nam – năm 2005 – 2010; Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín Việt Nam từ 2004 – 2009; Doanh nghiệp phát triển bền vững – năm 2008; Thương hiệu nổi tiếng Việt Nam, Doanh nghiệp văn hóa UNESCO – năm 2009; Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam từ năm 2007 đến nay. Top 100 nhà cung cấp đáng tin cậy Việt Nam năm 2010 và nhiều giải thưởng, danh hiệu, cúp, chứng nhận có giá trị khác…

    – Các Chứng nhận về hệ thống quản lýchất lượng, trách nhiệm xã hội được cấp:

    Ngay từ những năm 2000 đến nay, Tổng Công ty đã xây dựng, đạt chứng nhận và duy trì vận hành hệ thống hoạt động sản xuất kinh doanh và trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 và SA 8000, cũng như đáp ứng các yêu cầu đánh giá của khách hàng trước khi đặt hàng sản xuất tại các thành viên trong Tổng Công ty. Nhiều năm qua Tổng Công ty đã sản xuất được nhiều loại sản phẩm cao cấp (Jacket, Sơ-mi, Quần, Bộ đồng phục…) cho các nhãn hiệu nổi tiếng, như: Cabela’s, Asics, Xebec, DKNY, Lucky, Port Authority …

    – Giấy chứng nhận ISO 9001:2000 – Số: HT 791.04.04, ngày 27/9/2004

    – Giấy chứng nhận TNXH – SA 8000:2001 – Số: 0605-2003-ASA-RGC-SAI, ngày 27/7/2003

     

    Chứng chỉ ISO 9001:2000       Huân chương Độc Lập Hạng Ba          Chứng chỉ SA 8000:2001

    Cúp “Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt”


    Cúp “Vàng Hội chợ Thời Trang”     Cúp “Thời Trang Việt Nam”          Cúp “Thời Trang Việt Nam”

     

    CHƯƠNG HAI

    TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI

    I.                   Giới thiệu sơ lược về Tổng Công ty may Đồng Nai:

    1.     Những thông tin chung về Tổng Công ty:

    Tên công ty: CÔNG TY CP TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI

    Thương hiệu:

    Tên viết tắt: DONAGAMEX

    Tên giao dịch: DONGNAI GARMENT CORPORATION

    Ngành hàng: Dệt may

    Địa chỉ: Đường 2, phường An Bình, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

    Địa phương: Đồng Nai

    Điện thoại: 061-3836151

    Fax: 061-3836141

    Email: [email protected]

    Website: http://www.donagamex.com.vn

    Tổng Giám đốc: Bùi Thế Kích

    Vốn điều lệ: 39.844.850.000đ

    Khối lượng phát hành cổ phiếu: 3.984.485 cp

    • Sơ đồ vị trí:

    2.     Ngành nghề kinh doanh:

    • Sản xuất, mua bán hàng may mặc các loại.
    • Mua bán các mặt hàng: thiết bị phụ tùng ngành dệt may, các sản phẩm của ngành dệt may, giấy, bao bì giấy, bao bì nhựa; nguyên liệu sản xuất giấy và sản xuất bao bì giấy; hạt nhựa và nguyên liệu sản xuất bao bì nhựa.
    • Xuất nhập khẩu trực tiếp.
    • Môi giới bất động sản, dịch vụ nhà đất, kinh doanh nhà.
    • Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi.
    • Cho thuê nhà xưởng, kho bãi, nhà ở.
    • Mua bán mỹ phẩm, nước giải khát, rượu, bia.
    • Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa.
    • Vận tải hành khách đường bộ theo hợp đồng.
    • Vận tải hàng hóa đường bộ. Kinh doanh nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ dưỡng.
    • Đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị.
    • Bổ sung: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê (6810). Bán buôn tổng hợp (4690). Bán lẻ trong các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, bán lẻ trong siêu thị, trung tâm thương mại (4719). Bán buôn gạo (4631). Bán buôn thực phẩm (4632)./. (theo Số: 279 / MĐN-BCTN)

    3.     Quy mô hoạt động của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Hiện Tổng Công ty May Đồng Nai có trên 4.000 cán bộ công nhân viên làm việc tại Tổng Công ty và 4 Công ty con thành viên, 1 Công ty thành viên liên kết, 11  Xí nghiệp trực thuộc và đang tiếp tục đầu tư phát triển mở rộng sản xuất ra các vùng xa trung tâm thành phố lớn.

    • Cơ sở vật chất, nguồn nhân lực:
    • Tổng số lao động:

    + Trên 4.000 cán bộ, công  nhân viên. Trong đó: Trên 3.000 công nhân may lành nghề.

    • Tổng số máy móc thiết bị:

    + Trên 4000 máy móc, thiết bị hiện đại, chuyên dùng được sản xuất từ Nhật, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan.

    • Số nhà máy sản xuất:

    + 11 xí nghiệp may khép kín từ khâu cắt đến hoàn thành.

    + 1 xưởng thêu vi tính và chần gòn.

    + 1 xưởng ép keo.

    • Diện tích đất đai công ty: 80.000m2. Trong đó:

    + Diện tích nhà xưởng: 45.000m2. Trong đó gồm một khu công nghệ cao với tòa nhà 4 tầng diện tích sử dụng: 8.000m2.

    + Đường nội bộ, sân bãi: 16.000m2

    + Diện tích  cây xanh, đất trống: 27.000m2

    • Sản phẩm chính của Công ty gồm:
    • Áo Jacket và Áo khoác nam nữ các loại.
    • Bộ Vest nữ.
    • Bộ thể thao.
    • Bộ bảo hộ lao động
    • Áo sơ mi và quần nam nữ các loại.
    • Đầm, váy…
    • Khả năng sản xuất hàng năm:
    • 000.000 Áo sơmi
    • 000.000 Quần
    • 000.000 Áo Jacket, Áo Khoác.
    • 000 Bộ Vest nữ.
    • 000 Bộ đồng phục.
    • 000 Sản phẩm thời trang khác.
    • 000.000 Bộ thể thao, Bộ bảo hộ lao động

    Sản phẩm và thương hiệu DONAGAMEX đã tạo được niềm vui của khách hàng vì chất lượng cao, giá cả hợp lý, đảm bảo giao hàng đúng hẹn.

    Tại Donagamex, chúng tôi thấu hiểu “Niềm tin của khách hàng tạo nên sự thành công”.

    Nhiều năm nay, sản phẩm của Công ty đã có mặt tại thị trường các nước: NHẬT, MỸ, CHÂU ÂU, CANADA, HỒNG KÔNG, ĐÀI LOAN, HÀN QUỐC, ÚC, và NGA…

    • Tình hình hoạt động:

    Kể từ ngày chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần (ngày ĐKKD 21/8/2001) đến nay công ty đều phát triển mạnh, bền vững; mức tăng trưởng hàng năm khá cao; tình hình tài chính lành mạnh; hiệu quả kinh doanh cao, tỷ lệ lợi nhuận và thu nhập cán bộ công nhân viên (“CB.CNV”) luôn vượt kế hoạch; đời sống vật chất, tinh thần của CB.CNV và cổ tức của cổ đông luôn đảm bảo và nâng cao.

    Tổng Công ty tiếp tục tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng may mặc (Sản phẩm chủ yếu: Áo Jacket, Áo Khoác, Áo Sơ-mi, Quần Jeans, Quần Âu, Bộ Vest nữ, Bộ đồng phục BHLĐ, Bộ quần áo thể thao …); đồng thời, từng bước mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực khác để đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh mang lại hiệu quả cao, như: kinh doanh nhà xưởng bán và cho thuê, sản xuất ngành nhựa, sản xuất vải không dệt ….

    4.     Định hướng phát triển

     Mục tiêu chủ yếu của Tổng Công ty:

    – Tốc độ tăng trưởng hàng năm (GTSXCN, Doanh thu) bình quân 20 – 30%.

    – Hiệu quả hoạt động SXKD (Khấu hao, lợi nhuận, thu nhập người lao động…) hàng năm luôn cao hơn năm trước.

    – Phát triển thị trường nội địa hàng năm tăng thị phần trên doanh thu từ 15 – 20%.

    – Hoạt động theo mô hình Tổng Công ty hiệu quả đạt doanh thu hàng năm trên 1000 tỷ đồng.

    – Đầu tư mở rộng sản xuất, bình quân mỗi năm thêm 1 nhà máy mới.

    Chiến lược phát triển trung và dài hạn:

    – Tiếp tục kinh doanh ngành may mặc làm nền tảng, trên cơ sở:

    + Chuyển hướng mạnh sang kinh doanh hàng xuất khẩu bán đứt (FOB); chủ động nguồn NPL và mẫu mã để phát triển kinh doanh nội địa và phục vụ kinh doanh FOB xuất khẩu.

    + Đầu tư mở rộng sản xuất ra các vùng xa trung tâm thành phố lớn để tăng năng lực, đầu tư nâng cấp và đổi mới công nghệ cho các khu sản xuất hiện hữu tại Biên Hòa.

    – Phát triển thành Tổng Công ty kinh doanh đa ngành nghề, trên cơ sở:

    + Chuyển hướng dần sang công nghiệp dịch vụ (Khách sạn, nhà hàng), khu đô thị, thương mại tại các Khu A và B ở Biên Hòa.

    + Mở rộng mỗi khu vực sản xuất và mỗi lĩnh vực ngành nghề Tổng Công ty đang kinh doanh để giao cho một Công ty thành viên trực thuộc Tổng Công ty tổ chức quản lý, điều hành.

    + Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành may mặc và các ngành công nghiệp sản xuất khác.

    1. Quy trình sản xuất sản phẩm của Tổng Công ty May Đồng Nai:

     

     

    II.               Cơ cấu tổ chức và trách nhiệm , quyền hạn của các phòng ban

    ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
    Tổng Giám đốc
    HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
    BAN KIỂM SOÁT
    P. Tổng GĐ
    P. Tổng GĐ
    P. Tổng GĐ
    P. Tổng GĐ
    VP Tổng hợp (TC-HC-NS
    Phòng kinh doanh
    Phòng tài chính- kế toán
    P. Kế hoạch -Xuất nhập khẩu
    P. Kỹ thuật sản xuất
    KHU A

     

    XN May 1

    XN May 2

    XN May 3

    XN May 4

    KHU B

     

    XN May 5

    XN May 6

    XN May 7

    CTY. MAY ĐỊNH QUÁN

     

    XN Đồng Phú

    XN Đồng Lợi

    CT. ĐỒNG XUÂN LỘC

     

    XN May

    VĂN PHÒNG CHI NHÁNH TẠI TP.HCM & CN TẠI HÀ NỘI
    • Cơ cấu tổ chức Tổng Công ty May Đồng Nai

     

    2.     Diễn giải sơ đồ:

    • Đại hội đồng cổ đông:

    Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn được Điều lệ Công ty và Pháp luật liên quan quy định. Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nhiệm vụ sau:

    • Thông qua, sửa đổi, bổ sung Điều lệ.
    • Thông qua kế hoạch phát triển Công ty, thông qua Báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo của HĐQT, Ban kiểm soát và của Kiểm toán viên.
    • Quyết định số Thành viên HĐQT.
    • Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thành viên HĐQT, Ban kiểm soát.
    • Các quyền khác được quy định tại Điều lệ Công ty.
      • Hội đồng quản trị:

    Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị của Công ty có 05 thành viên, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông. HĐQT có các quyền sau:

    • Quyết định cơ cấu tổ chức, bộ máy của Công ty.
    • Quyết định chiến lược đầu tư, phát triển của Công ty trên cơ sở các mục đích chiến lược do ĐHĐCĐ thông qua.
    • Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, giám sát hoạt động của Ban Giám đốc.
    • Kiến nghị sửa đổi bổ sung Điều lệ, báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm, Báo cáo tài chính, quyết toán năm, phương án phân phối lợi nhuận và phương hướng phát triển, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và ngân sách hàng năm trình ĐHĐCĐ.
    • Triệu tập, chỉ đạo chuẩn bị nội dung và chương trình cho các cuộc họp ĐHĐCĐ.
    • Đề xuất việc tái cơ cấu lại hoặc giải thể Công ty.
    • Các quyền khác được quy định tại Điều lệ.
      • Ban Kiểm soát

    BKS do ĐHĐCĐ bầu ra gồm 03 thành viên, thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty. BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ và Pháp luật về những công việc thực hiện theo quyền và nghĩa vụ như:

    • Kiểm tra sổ sách kế toán và các Báo cáo tài chính của Công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính Công ty, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của HĐQT.
    • Trình ĐHĐCĐ báo cáo thẩm tra các báo cáo tài chính của Công ty, đồng thời có quyền trình bày ý kiến độc lập của mình về kết quả thẩm tra các vấn đề liên quan tới hoạt động kinh doanh, hoạt động của HĐQT và Ban Giám đốc.
    • Yêu cầu HĐQT triệu tập ĐHĐCĐ bất thường trong trường hợp xét thấy cần thiết.
    • Các quyền khác được quy định tại Điều lệ.
    STT Họ và tên Chức vụ
    I)                  HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ  
    1 Ô. Bùi Thế Kích Chủ tịch HĐQT
    2 B. Nguyễn Thị Thanh Vân Thành viên HĐQT
    3 Ô. Hứa Trọng Tâm Thành viên HĐQT
    4 Ô. Vũ Đức Dũng Thành viên HĐQT
    5 Ô. Nguyễn Thanh Hoài Thành viên HĐQT
    II)              BAN KIỂM SOÁT  
    1 B. Phạm Ngọc Ánh Trưởng Ban Kiểm soát
    2 Ô. Phạm Hữu Úy Thành viên BKS
    3 B. Vũ Lan Thương Thành viên BKS

     

    • Ô. Bùi Thế Kích – Tổng Giám đốc

    Tổng Giám đốc  phân công nhiệm vụ cho các Phó Tổng Giám đốc chủ động giải quyết và tự chịu trách  nhiệm về các vấn đề hoặc các đơn vị đã được giao phụ trách.

    Các vấn đề chưa được phân công sẽ do Tổng Giám đốc giải quyết hoặc các vấn đề lớn quan trọng sẽ do Tổng Giám đốc trực tiếp chỉ đạo, quyết định, ký duyệt.

    • Phụ trách chung, chịu trách nhiệm toàn diện trước HĐQT và tập thể CB.CNV về các hoạt động của Công ty.
    • Xác định chính sách, mục tiêu và chiến lược phát triển của Công ty.
    • Đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lực cho các bộ phận.
    • Chịu trách nhiệm trước khách hàng về vấn đề chất lượng của Công ty.
    • Điều hành các cuộc họp xem xét của lãnh đạo về Hội đồng quản lí chất lượng, Hội đồng quản lí trách nhiệm xã hội.
    • Phân công trách nhiệm và quyền hạn cho các trưởng bộ phận.

    Ngoài ra, trong công tác điều hành, Tổng giám đốc chỉ đạo trực tiếp các hành động sau:

    • Công tác tổ chức cán bộ, kế hoạch thị trường, đầu tư phát triển, tiền lương, tài chính, công tác kinh doanh, giá cả, thi đua khen thưởng.
    • Phê duyệt các dự án đầu tư, các phương án giá cả, các phương án sản xuất – kinh doanh, các hợp đồng xuất – nhập khẩu, các chi phí ngoài quy chế.
    • Phụ trách ký:
      • Các nội quy, quy chế, quyết định và quy phạm điều hành nội bộ.
      • Các chứng từ kế toán, hợp đồng tín dụng, thuế ước Ngân hàng.
      • Các hợp đồng lao động, thử việc với nhân viên các phòng ban, văn phòng khu.
      • Các hợp đồng nguyên tắc, biên bản xem xét hợp đồng và các hợp đồng mua bán thiết bị.
      • Các loại giấy tờ, chứng từ khác do TGĐ chủ động giải quyết.
    • Nguyễn Thị Thanh Vân – Phó Tổng Giám đốc thường trực
      • Phụ trách phòng Kế hoạch- Xuất Nhập khẩu, phòng Kỹ thuật-Sản xuất và khu A, B, D
      • Công tác kế hoạch sản xuất, chất lượng sản phẩm và giao hàng trong Tổng Công ty.
      • Quản lý chi phí sản xuất, các định mức kinh tế kĩ thuật, đơn giá CM trong Tổng Công ty.
      • Quản lý các hợp đồng gia công trong nước.
      • Thực hiện các nhiệm vụ khác do TGĐ phân công.
    • Phụ trách ký:
      • Ký hợp đồng gia công trong nước.
      • Các phiếu nhập xuất vật tư, sản phẩm.
      • Kế hoạch làm thêm giờ, đơn đặt hàng chỉ-bao bì, xác nhận chất lượng hàng hóa xuất khẩu và nội địa  tại khu A, B, D.
      • Các đơn đặt hàng trong nước.
      • Phê duyệt các dự trù vật tư, chi phí sản xuất, chi phí quản lý trong Tổng Công ty.
      • Phê duyệt định mức NPL, kế hoạch bổ sung thiết bị trong Tổng Công ty.
      • Điều động thiết bị trong Tổng Công ty.
      • Phê duyệt điều tiết đơn giá CMPT trong Tổng Công ty
      • Bảng tổng hợp lương Tổng Công ty và bảng lương khu A, B, D.
      • Điều tiết đơn giá công đoạn, quỹ lương và phương án lương khu A, B, D.
    • Khi vắng mặt: Giao cho ông Phạm Hữu Úy Trưởng phòng kế hoạch-xuất nhập khẩu ký các chứng từ nhập, xuất vật tư, sản phẩm.
      • Ô. Vũ Đức Dũng – Phó Tổng Giám đốc
        • Phụ trách phòng kinh doanh và chi nhánh TP.HCM, chi nhánh Hà Nội.
        • Chịu trách nhiệm chính về công tác kinh doanh nội địa, phát triển thương hiệu.
        • Các hợp đồng xuất-nhập khẩu, gia công xuất nhập khẩu.
        • Các thủ tục quyết toán, thanh toán, thanh lý các hợp đồng xuất khẩu; các yêu cầu của khách hàng; các thủ tục xuất-nhập khẩu liên quan đến hải quan, VCCI, giải quyết công nợ với khách hàng.
        • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc phân công.
      • Phụ trách ký:
        • Các hợp đồng XNK (FOB, gia công); các hóa đơn GTGT.
        • Các chứng từ XNK của các đơn hàng, các bản sao phục vụ cho XNK.
        • Phương án kinh doanh nội địa, giá thành, giá bán-mua sản phẩm kinh doanh nội địa; chứng từ cửa hàng, các đại lý và hệ thống phân phối hàng kinh doanh nội địa.
      • Ô. Hứa Trọng Tâm – Phó Tổng Giám đốc
        • Phụ trách văn phòng tổng hợp, công tác Đảng, đoàn thể trong Tổng Công ty.
        • Công tác bảo vệ trật tự, an ninh nội chính, PCCC, môi trường, an toàn lao động.
        • Công tác xây dựng cơ bản, quản lý các công trình xây dựng trong Tổng Công ty.
        • Chỉ đạo công tác nâng bậc lương, công tác chế độ lao động và bảo hiểm.
        • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc phân công.
      • Phụ trách ký:
        • Ký phương án lương chung và bảng lương khối gián tiếp trong Tổng Công ty.
        • Quyết định điều động, bổ nhiệm lao động đến cấp tổ trưởng sản xuất tại khu A, B, D.
        • Ký hợp đồng lao động, hợp đồng thử việc, hội nghề, tập nghề với công nhân trực tiếp sản xuất tại khu A, B, D.
        • Ký giấy tờ xác nhận cho CB.CNV, các chứng từ BHXH, BHYT, bản sao phục vụ cho sản xuất-kinh doanh.
        • Các phương án bảo vệ lễ Tết, PCCC, Dân quân tự vệ trong Tổng Công ty.
      • Khi vắng mặt: Giao cho Ô. Phạm Xuân Tâm- Chánh văn phòng ký các chứng từ BHXH, BHYT, giấy giới thiệu và bản sao giấy tờ.
        • Ô. Vũ Đình Hải – Phó Tổng Giám đốc
          • Phụ trách công ty Đồng Xuân Lộc, Cty CP Đông Bình, chỉ đạo sản xuất, giao hàng, chất lượng hàng hóa tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Theo dõi quản lý công ty CP Đông Bình.
          • Đại diện lãnh đạo hệ thống ISO, SA và chỉ đạo, quyết định về đánh giá sự phù hợp.
          • Thực hiện các nhiệm vụ khác do TGĐ phân công.
        • Phụ trách ký:
          • Kế hoạch làm thêm giờ, đơn đặt hàng chỉ-bao bì, xác nhận chất lượng hàng hóa xuất khẩu và nội địa tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Ký hợp đồng lao động, hợp đồng thử việc, hội nghề, tập nghề với công nhân trực tiếp sản xuất tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Quyết định điều động, bổ nhiệm lao động đến cấp Tổ trưởng sản xuất tại công ty Đồng Xuân Lộc.
          • Điều tiết đơn giá công đoạn, quỹ lương, phương án lương và bảng lương công ty Đồng Xuân Lộc.
        • Trách nhiệm thi hành và chế độ báo cáo:

    + Các Phó Tổng Giám đốc được phân công và ủy quyền nêu trên:

    • Chịu trách nhiệm trực tiếp trước Tổng Giám đốc và pháp luật về quyết định của mình.
    • Hàng tháng phải xây dựng phương án, kế hoạch cụ thể đối với công việc do mình phụ trách để báo cáo cho Tổng Giám đốc và để chỉ đạo thực hiện.
    • Thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ báo cáo thỉnh thị ý kiến với TGĐ trước, trong và sau khi thực thi các công việc trong phạm vi phân công, phải tuân thủ đúng các quy định của hệ thống quản lý trong Tổng Công ty.

    + Căn cứ vào phân công nhiệm vụ trong lãnh đạo Tổng Công ty yêu cầu các đơn vị trong Tổng Công ty có trách nhiệm báo cáo, thỉnh thị đúng người phụ trách, trình ký theo phân công. Nếu phát hiện có vấn đề chưa phù hợp phải phản ánh ngay với các đồng chí lãnh đạo trực tiếp phê duyệt hoặc Tổng Giám đốc để xử lý trong thời hạn không quá 1 ngày.

    3.     Chức năng, trách nhiệm của các phòng ban:

    • Phòng Văn phòng tổng hợp
      1. Chức năng:

    Văn phòng công ty là đơn vị giúp việc cho TGĐ, có chức năng điều phối các hoạt động chung trong công ty đảm bảo tính thống nhất, liên tục và có hiệu chung trong các hoạt động của công ty; tham mưu cho TGĐ trong công tác lãnh đạo, điều hành và quản lý về công tác tổ chức-lao động-tiền lương, công tác quản trị hành chính và công tác văn thư, lưu trữ, điều hành, kiểm tra, công tác bố trí trạm, điều động xe và công nhân lái xe đưa đón công nhân viên: công tác sửa chữa bảo trì bảo dưỡng xe.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn
    • Về công tác tổ chức, lao động-tiền lương:
    • Lập phương án, kế hoạch hoặc xây dựng phương án, kế hoạch đổi mới về tổ chức bộ máy, tổ chức cán bộ, tuyển dụng lao động, đào tạo, theo dõi các diễn biến lao động.
    • Tổ chức, thực hiện công tác tuyển dụng lao động trong toàn bộ công ty.
    • Tổ chức, thực hiện công tác đào tạo: đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, đào tạo bổ sung, bồi dưỡng tay nghề…
    • Tiếp nhận, quản lý và chịu trách nhiệm về toàn bộ hồ sơ cá nhân của người lao động trong công ty.
    • Lập các thủ tục giúp TGĐ ký kết hợp đồng lao động với người lao động, xây dựng Thỏa ước lao động tập thể với đại diện người lao động; quản lý, theo dõi thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể.
    • Triển khai công tác điều động và thuyên chuyển nhân sự theo sự chỉ đạo của TGĐ; theo dõi diễn tiến lao động trong toàn công ty.
    • Thực hiện các chế độ về BHXH, BHYT, BH thương mại khác đối với người lao động, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dan lao động.
    • Xác định các phương án kế hoạch về tiền lương, tiền thưởng và các chế độ phúc lợi khác đối với người lao động; triển khai thực hiện các phương án, kế hoạch đó khi được duyệt.
    • Tổ chức thực hiện các công việc về nâng bậc lương đối với người lao động toàn công ty.
    • Theo dõi diễn biến tiền lương, tiền thưởng và thu nhập của người lao động; quản lý các hồ sơ nghiệp vụ về lương lao động của công.
    • Triển khai các quy định khác của luật lao động đối với người lao động.
    • Hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị thành tiền về công tác lao động tiền lương.
    • Thực hiện công tác báo cáo, thống kê về tình hình quản lý lao động, tiền lương trong công ty và đề xuất, kiến nghị và các hoạt động nghiệp vụ lên cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
    • Thực hiện các nghiệp vụ khác về công tác lao động tiền lương theo sự chỉ đạo của TGĐ.
    • Về công tác quản trị – hành chánh.
    • Tổ chức thực hiện và quản lý công tác bảo vệ công ty; các hoạt động quân sự – an ninh quốc phòng, phòng chống nổ nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và tài sản của công ty.
    • Thực hiện công tác bảo vệ nội bộ trong công ty.
    • Tổ chức trang bị, quản lý, bố trí sử dụng và sữa chữa cơ sở vật chất, kỹ thuật, các thiết bị phương tiện, tiện nghi phục vụ văn phòng đảm bảo an toàn, kịp thời và hiệu quả.
    • Quản lý, điều động xe ô tô con đi lại hợp lý và kịp thời; quản lý, tổ chức xe đưa đón công nhân viên đúng giờ, đúng trạm.
    • Tổ chức, thực hiện và quản lý công tác y tế, khám chữa bệnh, cấp phát thuốc; bảo hộ lao động khác, an toàn vệ sinh – lao động, vệ sinh phòng dịch, vệ sinh môi trường làm việc, tạp vụ .
    • Tổ chức phục vụ tốt bữa ăn giữa ca cho người lao động, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
    • Quản lý nguồn nước sinh hoạt, nước công nghiệp, nước phòng cháy chữa cháy…trên toàn công ty; phối hợp với P.KT-SX quản lý các nguồn và hệ thống điện sinh hoạt trong công ty.
    • Tổ chức thực hiện và theo dõi việc xác định, sữa chữa nhỏ, sữa chữa thường xuyên; duy trì, bảo quản đất đai, các công trình nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các công trình công cộng khác (nếu có).
    • Tổ chức, thực hiện, theo dõi, đánh giá công tác thi đua, khen thưởng, sáng kiến. cải tiến trong toàn công ty.
    • Xác định các chương trình, kế hoạch công tác chung của công ty chuẩn bị và tổ chức thực hiện, phục vụ lễ- hội, tiếp tân, giao lưu, tham gia du lịch; chuẩn bị các nội dung và tham gia các cuộc họp giao ban của công ty.
    • Tổ chức, thực hiện và duy trì mới quan hệ công tác chung giữa công ty với các cơ quan nhà nước hữu quan, cơ quan thông tấn, báo chí để đảm bảo phục vụ lợi ích và hoạt động của công ty.
    • Hướng dẫn chuyên môn các nghiệp vụ công tác quản trị hành chính cho các đơn vị trong công ty.
    • Thực hiện các báo cáo thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu của Tổng Giám đốc về công tác quản trị – hành chính.
    • Thực hiện các nghiệp vụ khác về quản trị – hành chính theo sự chỉ đạo của TGĐ.
    • Về công tác pháp chế doanh nghiệp.
    • Tập hợp hóa và hệ thống các văn bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước (kể cả của địa phương và của ngành) cũng như các thông lệ quốc tế có liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty để triển khai thực hiện trong công ty.
    • Soạn thảo các dự thảo văn bản quy phạm nội bộ, một số văn bản hành chánh trong công ty; phối hợp và kiểm tra tính pháp lý đối với các văn bản của các đơn vị trong công ty.
    • Tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền, công bố hoặc phân phối và kiểm tra giám sát việc thực hiện về các nội quy, quy phạm nội bộ của công ty và các quy định của các cơ quan quản lý Nhà nước áp dụng trong công ty.
    • Tham gia theo dõi và quản lý các loại hợp đồng (HĐ kinh tế và các loại hợp đồng khác ), thông báo giá hạn ngạch XNK; tham gia về mặt pháp lý với các đơn vị trong việc giao dịch, đàm phán, soạn thảo, ký kết thực hiện và thanh lý các loại hợp đồng.
    • Tiến hành các hoạt động nghiệp vụ để đại diện về mặt tố tụng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công ty; trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, hành chánh, dân sự và các tranh chấp khác trước các tranh chấp khác trước các cơ quan pháp luật.
    • Thụ lý, xác định các đơn thư, khiếu nại, tố tụng, kiện tụng có liên quan đến hoạt động, uy tín công ty để tham mưu cho Tổng Giám đốc giải quyết các loại vụ việc này.
    • Quản lý các loại hồ sơ, giấy tờ pháp lý về công ty, thực hiện công tác thư ký cho một số cuộc họp;
    • Lập các báo cáo định kì hoặc đôt xuất theo yêu cầu của cơ quan TGĐ về công tác thực hiện pháp luật, điều lệ về các quy phạm nội bộ trong công ty.

    Thực hiện các nghiệp vụ khác về pháp chế DN theo sự chỉ đạo của TGĐ.

    • Về công tác tổ chức thực hiện công tác văn thư lưu trữ.
    • Tiếp nhận, xử lý và trình giải quyết hay giải quyết theo thẩm quyền tất cả các hoạt động công văn, giấy tờ, báo chí đến công ty (thông qua các phương tiện).
    • Tổ chức soạn thảo, đánh máy, in ấn, sao chép tài liệu;biểu mẫu, trình duyệt và trình ký các loại công văn, giấy tờ, giải quyết các loại giấy tờ ra khỏi công ty.
    • Lập hồ sơ, tiến hành lưu trữ hồ sơ và khai thác hồ sơ lưu trữ theo đúng quy định của nhà nước và quy định của công ty.
    • Quản lý và sử dụng con dấu pháp nhân của công ty theo đúng quy định của nhà nước và công ty, quản lý sử dụng các con dấu nghiệp vụ khác.
    • Tổ chức ghi chép, biên tập, thu âm, thu hình,…làm tư liệu (nếu cần ) về các cuộc họp, hội nghị, lễ hội của công ty; truyền đạt hay quản lý các loại văn bản ấy theo chế độ nghiệp vụ văn thư.
    • Quản lý, cấp và sử dụng các loại giấy tờ nghiệp vụ: giấy giới thiệu, giấy xác nhận công nhân viên.
    • Cập nhật về công tác văn thư – lưu trữ sổ sách riêng để quản lý.
    • Thực hiện công tác báo cáo thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu của TGĐ về công tác văn thư – lưu trữ.

    Thực hiện các công tác, nghiệp vụ văn thư – lưu trữ khác theo sự chỉ đạo của TGĐ.

    • Phòng Kinh doanh
    1. Chức năng

    Phòng kinh doanh là phòng chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc cho Tổng Giám đốc trong các hoạt động quản lý và điều hành về công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh phục vụ cho kinh doanh nội địa của công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn:
    • Lập phương án kế hoạch, tìm hiểu, phát triển thị trường và khách hàng cho sản phẩm của công ty.
    • Tổ chức thực hiện các hoạt động tiếp thị, nghiên cứu, đánh giá thị trường trong nước để thực hiện các phương án chiến lược cạnh tranh.
    • Xác định các mục tiêu chiến lược và kế hoạch cụ thể về kinh doanh hàng nội địa.
    • Xác nhận hệ thống cửa hàng, đại lý tiêu thụ sản phẩm của công ty, quản lý hệ thống cửa hàng kinh doanh của công ty, theo dõi hoạt động kinh doanh tại các đại lý.
    • Hạch toán tình hình kinh doanh nội địa, thống kê, báo cáo và đề xuất kịp thời về tình hình kinh doanh nội địa.
    • Kiểm tra các hàng hóa tồn kho của Tổng Công ty.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác sản xuất kinh doanh theo sự chỉ đạo cũa Tổng Giám đốc.
      • Phòng Tài chính- Kế toán
    1. Chức năng

    P.KT- TC là phòng chuyên môn nghiệp vụ, có chức năng tham mưu và giúp việc cho TGĐ trong các hoạt động quản lý, tổ chức về tài chính, kế toán và báo cáo, thống kê trong công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn
    • Công tác quản lý tài chính và các loại quỹ theo quy định hiện hành.
    • Giao nhận vốn và tài sản khác.
    • Lập các phương án huy động vốn và các nguồn tín dụng khác, các phương án đầu tư tài chính.
    • Quản lý tiền mặt và thu chi tài chính, thanh toán, quyết toán tiền hàng.
    • Quản lý các quỹ trích lập; theo dõi việc sử dụng phân phối các loại quỹ.
    • Lập phương án và tổ chức thực hiện phân phối các loại quỹ.
    • Trích nộp các nghĩa vụ tài chính với nhà Nhập Khẩu.
    • Thực hiện các nghiệp vụ khác về quản lý tài chính.
    • Công tác nghiệp vụ kế toán theo chế độ kế toán hiện hành.
    • Kế toán tài sản cố định, công cụ lao động và đầu tư dài.
    • Kế toán tiền lương, tiền thưởng, BHXH, BHYT, BHTM khác.
    • Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
    • Kế toán bán hàng và kế quả kinh doanh
    • Kế toán tổng hợp và kiểm tra
    • Kế toán thanh toán, Quốc tế và trong nước
    • Kế toán vật tư, hàng hóa và công cụ.
    • Kế toán nguồn vốn và các quỹ doanh nghiệp
    • Thực hiện các nghiệp vụ kế toán khác theo quy định
    • Thực hiện chế độ tổng kết, báo cáo về tình hình tài chính – kế toán, báo cáo thuế và các nghĩa vụ tài chính khác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định công bố, công khai về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh theo qui định
    • Thực hiện công tác kế toán thống kê, hoạch toán kinh tế đưa ra các giải pháp tham mưu cho tổng giám đốc về công tác điều hành kinh doanh, lập phương án tài chính cho năm sau.
    • Thực hiện chế độ độc lập và quản lý hệ thống, so sánh, tài liệu, chứng từ kế toán – thống kê, báo cáo tổng giám đốc và trình hệ thống sổ sách, tài liệu chứng từ kế toán cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy định khi thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
    • Hướng dẫn kiểm tra, nhiệm vụ kế toán – tài chính cho các bộ phận, nghiệp vụ kế toán – thống kê tại các đơn vị thành viên theo đúng nguyên tắc và chế độ kế toán hiện hành.
    • Phối hợp với văn phòng công ty tiến hành tổ chức bởi những nghiệp vụ cho nhân viên của phòng và các nhân viên của bộ phận liên quan đến tài chính, kế toán – thống kê và quản lý tài chính theo sự chỉ đạo của tổng giám đốc.
      • Phòng Kế hoạch – Xuất Nhập khẩu
    1. Chức năng

    Phòng Kế hoạch- Xuất nhập khẩu là phòng chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc cho Tổng Giám đốc trong các hoạt động quản lý và điều hành về công tác kế hoạch, điều độ sản xuất kinh doanh phục vụ cho mục tiêu kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn:
    • Xây dựng chiến lược cũng như kế hoạch xuất nhập khẩu của toàn công ty phù hợp với chiến lược phát triển của ngành dệt may.
    • Tiến hành các hoạt động tiếp xúc, đàm phán, thỏa thuận, ký kết hợp đồng với các khách hàng trong và ngoài nước có liên quan đến công tác xuất nhập khẩu.
    • Trực tiếp theo dõi và triển khai thực hiện các hợp đồng gia công, hợp đồng mua nguyên phụ liệu bán sản phẩm (FOB) xuất nhập khẩu; triển khai thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu, các hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng chuyển giao công nghệ với nước ngoài.
    • Chịu trách nhiệm tổ chức huấn luyện, triển khai các hoạt động xuất nhập khẩu của công ty theo đúng quy định của Nhà nước và của Công ty.
    • Thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu bao gồm: làm thủ tục đăng ký (hợp đồng, tờ khai); lập bộ hồ sơ chứng từ xuất nhập khẩu; giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, tiến hành thanh lý các hợp đồng xuất nhập khẩu với khách hàng và với cơ quan hải quan, thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu khác.
    • Lập chứng từ và thực hiện các thủ tục thanh toán quốc tế.
    • Thực hiện công tác thống kê, lập báo cáo về hoạt động xuất nhập khẩu của công ty theo quy định.
    • Thực hiện công tác quản lý hạn ngạch được giao; đảm bảo việc phân bổ và quản lý hạn ngạch hợp lý, thống kê, báo cáo về tình hình thưc hiện hạn ngạch được giao.
    • Tiếp xúc, giao dịch và tạo mối quan hệ với Hải quan và các cơ quan hữu quan để phục vụ cho công tác nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
    • Tổ chức, tham gia hội nghị khách hàng, hội chợ triển lãm.
    • Chuẩn bị nội dung các cuộc họp giao ban về nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, kịp thời đề xuất các giải pháp kinh doanh xuất nhập khẩu.
    • Phối hợp phòng tài chính-kế toán lập các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, kiến thiết cơ bản, kế hoạch trang bị máy móc thiết bị trong công ty cho hoạt động sản xuất; triển khai thực hiện các dự án đầu tư và kế hoạch phát triển đã được duyệt.
    • Xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án đầu tư (đầu tư cơ bản, đầu tư phát triển, mở rộng, đầu tư ngành nghề khác…) liên doanh, liên kết với các tổ chức, đơn vị kinh tế trong và ngoài nước.
    • Công tác kế hoạch  điều độ, cung ứng, triển khai sản xuất:
    • Lập kế hoạch sản xuất hàng tháng, hàng quý, 6 tháng và cả năm căn cứ vào các hợp đồng kinh tế đã được triển khai.
    • Định mức các nguồn lực phục vụ sản xuất: Lao động, nguyên phụ liệu, nhiên liệu, vật tư, máy móc thiết bị.
    • Lập kế hoạch chi tiết để triển khai sản xuất đối với từng mã hàng cho các đơn vị sản xuất, số lượng đơn hàng, đơn giá, thời gian sản xuât, tiến độ giao hàng, doanh thu hiệu quả, lợi nhuận…và triển khai thực hiện kế hoạch được duyệt.
    • Cân đối, điều độ và cung ứng các nguồn lực đã định mức, đảm bảo phục vụ kịp thời cho sản xuất.
    • Làm việc với khách hàng về các công tác phát sinh trong quá trình sản xuất.
    • Theo dõi, báo cáo và giải quyết kịp thới các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai sản xuất theo sự chỉ đạo của TGĐ.
    • Công tác quản lí kho tàng, giao nhận hàng hóa.

    Quản lý mặt bằng kho: Kho NPL,…kho thành phẩm và các hoạt động xếp dỡ, lưu kho, bảo quản hàng hóa trong kho hay bến bãi.

    • Quản lý hoạt động xuất nhập kho: thực hiện các nghiệp vụ kế toán kho.
    • Quản lý, điều động lực lượng bốc xếp, vận chuyển hàng háo nội bộ, điều động xe tải.
    • Phối hợp với phòng xuất – nhập khẩu trong công tác giao nhận hàng hóa xuất – nhập khẩu.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác kế hoạch xuất nhập khẩu theo sự chỉ đạo của TGĐ giao.
      • Phòng kĩ thuật – sản xuất
    1. Chức năng

    Phòng kĩ thuật – sản xuất là phòng chuyên môn nghiệp vụ của công ty có chức năng tham mưu cho Tổng Giám đốc trong công tác nghiên cứu, phương pháp và đổi mới kỹ thuật – công nghệ và môi trường; quản lý máy móc thiết bị, thực hiện các yêu cầu về mẫu phục vụ cho công tác sản xuât và kinh doanh của công ty.

    1. Nhiệm vụ và quyền hạn
    • Nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các chương trình quản lý vào sản xuất kinh doanh;
    • Xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư phương pháp về kỹ thuật khoa học – công nghệ và môi trường trong công ty.
    • Chú ý quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm của công ty: nghiên cứu cải tiến, đổi mới hoặc áp dụng những quy định công nghệ hiện đại khác vào sản xuất, tiếp thụ chuyển giao kỹ thuật công nghệ vào công ty.
    • Thiết kế các mẫu, mã, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp,…để đưa vào sản xuất kinh doanh; đăng ký và sở hữu công nghiệp ( nếu có).
    • Quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động sáng kiến, cải tạo kỹ thuật – công nghệ.
    • Quản lý, triển khai kĩ thuật và mẫu mã (FOB) chuẩn bị cho sản xuất.
    • Làm việc với khách hàng về các vấn đề kĩ thuật phát sinh trong sản xuất.
    • Xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương theo quy định.
    • Quản lý máy móc thiết bị và hệ thống cung cấp điện sinh hoạt, sản xuất trong toàn công ty.
    • Quản lý theo dõi và kiểm tra số lượng, chất lượng các máy móc thiết bị, phụ tùng, công cụ gác lăng. Lập kế hoạch và hướng dẫn các xí nghiệp thành viên về công tác sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng, sữa chữa máy móc thiết bị, lưu trữ hồ sơ về thiết bị cơ – điện.
    • Xây dựng và ban hành các quy đinh về việc sử dụng , vận hành , chế biến an toàn, bảo trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị.
    • Thực hiện các công tác về bảo hộ lao động; nghiên cứu đánh giá tác động môi trường; bảo vệ môi trường trong công ty theo quy định;
    • Tham gia công tác đào tạo về kỹ thuật, tay nghề cho người lao động.
    • Quản lý hoạt động của tổ thêu và chân gòn , tổ ép keo phục vụ cho sản xuất.
    • Chuẩn bị nội dung các cuộc họp chuyên đề với các xí nghiệp thành viên bên về công tác kỹ thuật, khoa học – công nghệ.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác về công tác kỹ thuật, khoa học – công nghệ theo sự chỉ đạo của Tổng Giám đốc.
      • Các xí nghiệp may
    1. Chức năng:

    Các Xí nghiệp thành viên là đơn vị sản xuất trực thuộc của Tổng Công ty, không có tư cách pháp nhân. Có chức năng trực tiếp quản lý sản xuất phù hợp với kế hoạch hay nhiệm vụ do Tổng Công ty giao. Các xí nghiệp thành viên nhận kế hoạch tổ chức sản xuất và giao nộp sản phẩm theo kế hoạch và quy định của Tổng Công ty. Mọi hoạt động điều hành của xí nghiệp đều phải tuân thủ các quy định của Nhà nước và điều lệ, quy chế, cũng như các văn bản hướng dẫn của Tổng Công ty.

    1. Nhiệm vụ, quyền hạn:
    • Quản lý và thực hiện về kế hoạch, kỹ thuật sản xuất
    • Nhận kế hoạch sản xuất do Tổng Công ty giao; triển khai kế hoạch sản xuất của Tổng Công ty đến các tổ sản xuất.
    • Tiếp nhận và quản lý NPL đã được giao cho sản xuất theo kế hoạch của Tổng Công ty.
    • Tổ chức thực hiện các hoạt động triển khai kỹ thuật phục vụ sản xuất.
    • Điều hành quá trình sản xuất theo kế hoạch được giao; giải quyết hoặc phối hợp với p.kế hoạch-xuất nhập khẩu, p.kĩ thuật giải quyết các vấn đề phát sinh trong sản xuất.
    • Quản lý, sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng các loại máy móc thiết bị có hiệu quả.
    • Giao hàng theo kế hoạch; nhập kho thành phẩm và các loại NPL, vật tư thừa (nếu có) sau sản xuất về kho Tổng Công ty theo quy định.
    • Tổ chức thực hiện hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo quy định của Tổng Công ty; chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty về chất lượng sản phẩm do đơn vị mình sản xuất.
    • Quản lý và thực hiện công tác lao động và tiền lương
    • Tham gia công tác hoạch định nguồn lao động, phân tích công việc và định mức lao động, đơn giá tiền lương tại đơn vị.
    • Tiếp nhận và quản lý lao động do văn phòng Tổng Công ty tuyển dụng: tổ chức, tuyển dụng hoặc tham gia cùng văn phòng Tổng Công ty thực hiện công tác tuyển dụng lao động theo phương án đã được duyệt.
    • Tổ chức thực hiện công tác đào tạo, huấn luyện công nhân công nghệ; xác định nhu cầu và giới thiệu công nhân viên của mình tham gia các khóa đào tạo do Tổng Công ty tổ chức.
    • Tổ chức điều chuyển đánh giá, sắp xếp, đề bạt công nhân viên và giải quyết các mối quan hệ về nhân sự khác (kỷ luật, cho thôi việc…) theo phân cấp quản lý lao động trong đơn vị.
    • Tổ chức thực hiện việc trả công lao động thông qua chế độ tiền lương theo quy định của Tổng Công ty: thực hiện việc xét duyệt các danh hiệu thi đua, khen thưởng, nâng bậc lương và cho người lao động trong xí nghiệp theo quy định và phân cấp của Tổng Công ty.
    • Tổ chức thực hiện các công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, y tế các công tác về vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, quang cảnh tại đơn vị.
    • Thực hiện các chế độ BHXH, BHYT đối với công nhân viên tại đơn vị theo quy định và phân cấp quản lý của Tổng Công ty.
    • Quản lý và thực hiện công tác văn phòng và quản trị hành chính
    • Quản lý các văn thư hành chính đến và đi của xí nghiệp.
    • Ban hành văn bản về nội quy, lề lối làm việc của xí nghiệp không trái với quy định của Tổng Công ty, trình TGĐ công ty phê duyệt cho thực hiện; tham gia góp ý các dự thảo quy phạm nội bộ của Tổng Công ty tiếp nhận và chuyển tiếp đơn thư khiếu nại, tố cáo của công nhân viên lên Tổng Công ty theo quy định.
    • Thực hiện hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền trong xí nghiệp.
    • Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ xí nghiệp theo quy định phân cấp của Tổng Công ty và hướng dẫn nghiệp vụ của văn phòng Tổng Công ty.
    • Quản lý và thực hiện công tác hạch toán nội bộ, thống kê báo cáo
    • Xí nghiệp thực hiện hạch toán nội bộ theo sự hướng dẫn của các phòng nghiệp vụ về:
    • Về doanh thu, tiền lương, thưởng, lợi nhuận xí nghiệp
    • Các khoản thu, chi khác theo quy định và phân cấp của Tổng Công ty.
    • Nhận khoán một số khoản chi phí theo quy định của Tổng Công ty.
    • Thực hiện công tác thống kê về các chi tiêu do xí nghiệp thực hiện theo phân cấp quản lý của Tổng Công ty và sự hướng dẫn của các phòng nghiệp vụ.
    • Thực hiện công tác báo cáo thường xuyên, định kì hoặc đột xuất về các chỉ tiêu, các nhiệm vụ đơn vị đã thực hiện theo yêu cầu của Tổng giám đốc và sự hướng dẫn của các phòng nghiệp vụ.

    III.            Nhận xét, kiến nghị về cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty May Đồng Nai:

    Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Tổng Công ty May Đồng Nai đang áp dụng là cơ cấu tổ chức trực tuyến-chức năng. Cơ cấu này là sự kết hợp của cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng. Theo đó mối liên hệ giữa cấp dưới và lãnh đạo là một đường thẳng, còn những bộ phận chức năng (phòng Tài chính-Kế toán, phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu, phòng Kinh doanh, phòng Kỹ thuật-Sản xuất, phòng Văn phòng tổng hợp) chỉ làm nhiệm vụ chuẩn bị những lời chỉ dẫn, những lời khuyên và kiểm tra sự hoạt động của các cán bộ trực tuyến (Tổng Giám đốc, Phó tổng Giám đốc, trưởng phòng).

    Những kết quả đạt được:

    • Theo cơ cấu này Tổng Giám đốc được sự giúp sức của các Phó Tổng Giám đốc để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định.
    • Công tác chỉ đạo sản xuất rất kịp thời, phát huy tối đa lợi thế của mô hình tổ chức thông qua sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban chức năng và ban giám đốc .
    • Việc phân chia quyền hạn, nhiệm vụ của các phòng ban chức năng khá rõ ràng không những giúp tạo ra sự linh hoạt trong giải quyết đề mà còn thống nhất hành động, không tạo ra sự chồng chéo trong mệnh lệnh và quá trình thực thi mệnh lệnh đó .
    • Theo mô hình cơ cấu trực tuyến, ban lãnh đạo có thể quan sát một cách tổng thể và chi tiết toàn bộ hoạt động của công ty, từ đó có những điều chỉnh hợp lý và kịp thời trước những biến động của môi trường, tạo ra sự ổn định trong sản xuất, công nhân yên tâm hơn về công việc và thu nhập của họ.

    Những hạn chế:

    • Cơ cấu phức tạp, nhiều vốn, cơ cấu này đòi hỏi người lãnh đạo tổ chức phải thường xuyên giải quyết các mối quan hệ giữa các bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng.
    • Do các chức năng là rất khác nhau nên không có những tiêu chuẩn chung cho các chức năng, vì thế cấu trúc trực tuyến chức năng tạo ra sự khó khăn, phức tạp trong việc kiểm soát, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các chức năng.
    • Việc trao đổi thông tin, sự truyền thông giữa các phòng ban chức năng bị hạn chế làm giảm sự gắn kết trong toàn bộ công ty. Do đó không tạo ra sự thống nhất hành động cao và rất khó để quy kết trách nhiệm cụ thể khi có sự cố xảy ra .
    • Một cách tổng quan, với thị trường kinh doanh hiện nay và tình hình sản xuất hiện tại của Tổng Công ty, mô hình trực tuyến-chức năng là phù hợp với quy mô hoạt động của Tổng Công ty.

     

    CHƯƠNG BA

    SƠ LƯỢC PHÒNG KẾ HOẠCH-XUẤT NHẬP KHẨU

    I.                   Giới thiệu sơ lược phòng kế hoạch- xuất nhập khẩu

    1.     Sơ đồ tổ chức:

    TRƯỞNG PHÒNG
    PHÓ PHÒNG
    PHÓ PHÒNG
    PHÓ GĐ CHI NHÁNH
    Cân đối
    Điều độ
    Thống kê
    Kho NPL
    Kho TP
    Vận chuyển
    Thủ tục
    Giao nhận
    Gia công
    Thanh lý

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.     Chức năng, quyền hạn của thành viên trong P.KH-XNK

    • Ông Phạm Hữu Úy – Trách nhiệm, quyền hạn của Trưởng phòng
      • Vị trí: Trưởng phòng
      • Báo cáo: Tổng giám đốc

    2.1.3   Trách nhiệm:

    • Đề xuất các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự không phù hợp đồi với công việc, quy trình và hệ thống chất lượng.
    • Phát hiện vả lập hồ sơ mọi vấn đề về công việc, quá trình và hệ thống chất lượng.
    • Đề xuất, kiến nghị hoặc cung cấp các giải pháp theo các kênh đã định.
    • Thẩm tra xác nhận việc thực hiện các giải pháp.
    • Kiểm soát việc xử lý tiếp theo thực hiện hoặc chỉnh sửa công việc không phù hợp cho đến khi khiếm khuyết hoặc điều kiện không thỏa mãn được khắc phục.
    • Điều hành và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề trong đơn vị của mình phụ trách.
    • Phân công và huấn luyện nhân viên trong đơn vị thực hiện công việc được giao, điều hành trực tiếp nhóm kinh doanh FOB.
    • Cung cấp nguồn lực cho nhân viên trong đơn vị thực hiện công việc.
    • Phối hợp, hỗ trợ các bộ phận/đơn vị khác.
    • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao.
    • Được quyền yêu cầu đảm bảo cung cấp đầy đủ các nguồn lực để thực hiện công việc được giao.
    • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc phụ trách và các công việc khác đã phân công cho phó phòng khi cần thiết.
      • Bà Nguyễn Thị Hằng – Trách nhiệm, quyền hạn của Phó trưởng phòng
        • Vị trí: Phó trưởng phòng
        • Báo cáo: Trưởng phòng
        • Trách nhiệm:
      • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác cung ứng vật tư phục vụ sản xuất.
      • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác quản lý kho, giao nhận hàng hóa; quản lý đội xe vận tải; đội xe con, đội xe đưa rước công nhân.
      • Tham mưu, đề xuất và điều hành trực tiếp nhóm Điều độ, nhóm kỹ thuật sản xuất, tổ Cơ điện.
      • Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Giám đốc giao hoặc trưởng phòng phân công.
      • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc được phân công và các công việc khác được Trưởng phòng ủy quyền khi vắng mặt.
        • Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Phó trưởng phòng
          • Vị trí: Phó phòng
          • Báo cáo: Trưởng phòng
          • Trách nhiệm:
        • Trực tiếp phụ trách các hoạt động sau:
        • Tham mưu, đề xuất và lập kế hoạch sản xuất tháng, quý cho toàn Công ty.
        • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác cân đối, điều độ và chuẩn bị sản xuất
        • Tham mưu, đề xuất và điều hành trực tiếp nhóm Điều độ, nhóm Kỹ thuật sản xuất, tổ cơ điện.
        • Triển khai, thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự chỉ đạo của Tổng giám đốc hoặc phân công của Trưởng phòng.
        • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc được phân công và các công việc khác được Trưởng phòng ủy quyền khi vắng mặt.
          • Ông Nguyễn Văn Diệu- Phó GĐ Chi nhánh TP.HCM
        • Tham mưu, đề xuất và điều hành công tác chứng từ XNK, giao nhận hàng hóa thanh khoản hợp đồng với Hải quan.
        • Triển khai, thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự chỉ đạo của Tổng giám đốc
        • Ký các chứng từ, giấy tờ liên quan đến phạm vi công việc được phân công và các công việc khác được TGĐ ủy quyền.
          • Trách nhiệm, quyền hạn của nhân viên
            • Vị trí: Nhân viên
            • Báo cáo: Trưởng hoặc Phó phòng trực tiếp quản lý
            • Trách nhiệm:
          • Tuân thủ chính sách chất lượng.
          • Tuân thủ các thủ tục, các chỉ dẫn công việc để thực hiện tốt công việc của mình.
          • Được quyền yêu cầu cung cấp đủ nguồn lực để thực hiện công việc được giao.

    II.               Quy trình công việc của phòng

    1.     Quy trình công việc của P.KH-XNK (có kèm theo tài liệu dẫn chứng)

    CHI TIẾT CÁC BƯỚC CÔNG VIỆC ĐỐI VỚI HÀNG “FOB”

    1. Tóm Tắt Các Bước Công Việc
    • Tiếp nhận yêu cầu khách hàng
    • Xác định giá gia công (CMPT), định mức nguyên phụ liệu (NPL), may mẫu
    • Xác định giá NPL & chào giá FOB
    • Đàm phán và ghi nhận kết quả đàm phán
    • Lập Hợp đồng bán FOB
    • Bên mua (KH) tiến hành mở L/C cho bên bán (DGM), kiểm tra L/C
    • Đặt mua NPL
    • Thanh toán tiền mua NPL
    • Làm thủ tục Nhập NPL
    • Nhập NPL
    • Kiểm tra NPL
    • Cân đối NPL (SX)
    • Lệnh SX & cấp phát NPL
    • Triển khai kỹ thuật
    • Đặt chỉ, bao bì
    • Nhập kho, kiểm tra, cấp phát
    • Kiểm tra chất lượng thành phẩm
    • Kiểm tra tiến độ SX
    • Thông báo giao hàng
    • Làm thủ tục xuất hàng
    • Đóng gói, nhập kho TP
    • Kiểm tra chất lượng
    • Xuất hàng
    • Bộ chứng từ xuất
    • Thanh toán
    • Quyết toán NPL, thanh lý Hợp đồng
    1. Diễn Giải Chi Tiết

    Hàng “FOB” là các đơn hàng chúng ta mua NPL, SX và bán thành phẩm cho khách hàng (KH).  Trong đó bên mua có thể chỉ định các nhà cung cấp NPL hoặc chúng ta tự tìm nhà cung cấp NPL.

    • Tiếp nhận yêu cầu khách hàng:

    Các thông tin đặt hàng nhận được từ khách hàng qua nhiều hình thức khác nhau như: E-mail, fax, điện thoại, hoặc làm việc trực tiếp… Đối tượng nhận thông tin này là TGĐ, P.TGĐ, P.KH-XNK, P.KT-SX.

    Khi có nhu cầu đặt hàng của khách hàng (KH), các thông tin về đơn hàng được thể hiện trên BM-KH-18-“Phiếu xem xét yêu cầu khách hàng” (có mẫu kèm)

    • Xác định giá CMPT, tính định mức (Đ/M) NPL, may mẫu:
    1. Xác định giá CMPT: Căn cứ vào áo mẫu, tài liệu kỉ thuật (TLKT), số lượng, màu/cỡ, thị trường xuất khẩu, thời gian sản xuất, quy cách đóng gói…, để xác định giá CMPT.
    • Đơn vị thực hiện: KT-SX
    • Yêu cầu thời gian thực hiện
    • Người duyệt giá CMPT trước khi báo khách hàng
    • Đơn vị nhận báo giá CMPT KH; KH-XNK
    1. Tính Đ/M NPL: Căn cứ vào mẫu rập, áo mẫu, TLKT, số lượng, tỉ lệ màu/cỡ, sẽ xác định và lập Đ/M NPL của mỗi mã hàng (có mẫu kèm)
    • Đơn vị thực hiện: KT-SX
    • Yêu cầu thời gian thực hiện:
    • Đơn vị nhận bản Đ/M NPL: KH-XNK

    (Đối với hàng FOB do khách hàng chỉ định NPL, khách hàng đã có Đ/M NPL, P.KT-SX có nhiệm vụ kiểm tra lại Đ/M NPL & làm việc với KH nếu Đ/M tăng).

    1. May mẫu: khi có đủ các điều kiện để may mẫu (mẫu rập, NPL may mẫu, TLKT,…), Kh sẽ yêu cầu may mẫu đối để kiểm tra. Mỗi mã hàng trước khi vào sản xuât, chúng ta phải may mẫu để KH duyệt trước khi sản xuất (gọi là mẫu PP). Đây cũng là cơ sở để đối chiếu về chất lượng hàng sản xuất hàng loạt sau này.
    • Đơn vị thực hiện: KT-SX
    • Yêu cầu thời gian thực hiện:
    • Đơn vị nhận mẫu: KH

    *Lưu ý:  Đối với các đơn hàng FOB mà NPL do KH chỉ định, nếu mục a) không được xác nhận, có nghĩa là đơn hàng sẽ không được thực hiện. Do đó không cần làm tiếp các mục b) và c).

    P.KT-SX sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các loại mẫu mà KH yêu cầu (mẫu đối, mẫu catalog, mẫu PP…, kể cả mẫu chào hàng (salesman). Trường hợp nếu số lượng mẫu salesman nhiều mà P.KT-SX không là được hết thì P.KT-SX phải báo cho P.KH-XNK số lượng  không làm được để bố trí sản xuất tại các XN.

    • Xác định giá NPL, chào giá FOB:
    1. Xác định giá NPL
    • Đối với hàng FOB KH chỉ định NPL, giá NPL KH đã có sẵn
    • Đối với hàng FOB do ta cung cấp NPL, trên cơ sở yêu cầu của KH, ta phải tìm nhà cung cấp, yêu cầu nhà cung cấp gửi mẫu NPL và báo giá NPL. (Các mẫu NPL này sẽ được dùng may mẫu đối và gửi KH duyệt).
    1. Chào giá FOB:

    Trên cơ sở giá NPL, sẽ lập bảng chiết tính giá thành (có mẫu  kèm) đã xác định giá FOB cho từng mã hàng.

    • Đơn vị thực hiện: KH-XNK
    • Yêu cầu thời gian thực hiện
    • Người duyệt giá FOB trước khi báo khách hàng
    • Đơn vị nhận báo giá FOB KH

    Cơ cấu đơn giá FOB:

    Giá FOB = (Trị giá NPL 1sp)*(P%)+ (Giá gia công CMPT)

    Giá FOB trên có thể được công thêm các chi phí khác như giá thêu, wash, in… Tùy theo thỏa thuận giữa hai bên lúc đàm phán.

    + Trị giá NPL 1 sp: Là toàn bộ chi phí NPL của một sp mà bên bán phải mua (không  kể phần bao bì và chỉ đã tính trong CMPT. Lưu ý là chỉ tính NPL chúng ta mua. Vì có thể một số NPL do bên mua cung cấp miễn phí => phần này sẽ không tính vào giá FOB.

    (Trị giá NPL = Đ/M NPL (có % hao hụt) * đơn  giá NPL)

    + P% trên đây gọi là “Handling tharge”: Là phần lợi nhuận và phần bù đắp các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện đơn hàng của bên bán được hưởng. Các chi phí phát sinh như lãi vay Ngân hàng, phí giao dịch và các chi phí khác trong quá trình NPL, cũng như trong quá trình thực hiện đơn giá nói chung. Tỉ lệ P% này có thể thay đổi tùy theo lúc đàm phán giá (thường từ 5%-8% chi phí NPL).

    • Đàm phán và ghi nhận kết quả đàm phán:

    Quá trình đàm phán nói chung nhằm mục đích thống nhất về giá cả & thời gian giao hàng. Dụa trên các thông tin ban đầu của BM-KH-18 và giá FOB đã chào cho khách hàng, hai bên sẽ tiến hành đàm phán để đi đến thống nhất về tất cả các vấn đề liên quan đến đơn hàng: Giá FOB, ngày giao hàng, phương thức thanh toán… để đi đến việc ký kết hợp đồng.

    Đối tượng tham gia vào quá trình đàm phán gồm: TGĐ, P.TGĐ, P.KH-XNK, P.KT-SX.

    Sau khi kết thúc đàm phán, các thông tin về đơn hàng được thông báo đến các đơn vị liên quan (P.KH-XNK, P.KT-SX…) để triển khai các công việc tiếp theo. Nhân viên theo dõi đơn hàng của P.KH-XNK sẽ lập  bảng tổng hợp các đơn hàng theo từng khách hàng để theo dõi.

    • Lập Hợp đồng bán FOB/Proforma Invoice:

    Dựa vào kết quả đàm phán, hợp đồng bán FOB sẽ được lập theo mẫu (có mẫu kèm).

    • Đơn vị thực hiện: KH-XNK
    • Yêu cầu thời gian thực hiện
    • Người duyệt HĐ FOB trước khi ký KH-XNK
    • Đơn vị nhận HĐ: KH(3), BP XNK(2), P.KT-TC(1), P.KH-XNK(1copy lưu)

    Một số KH yêu cầu làm Proforma Invoice (P/I) để làm cơ sở mở garment L/C.

    • Yêu cầu KH mở L/C; kiểm tra các điều kiện L/C:

    Sau khi ký kết hợp đồng, phải yêu cầu KH mở L/C TP (garment L/C) theo các điều kiện quy định trong hợp đồng hay P/I (có mẫu L/C kèm).

    Cần yêu cầu KH gửi bản nháp L/C để kiểm tra, nếu phát hiện điểm nào không phù hợp hoặc bất lợi thì đề nghị KH chỉnh lại trước khi KH mở L/C chính thưc để tránh phải tu chỉnh gây phát sinh chi phí. Các điều kiện L/C cần kiểm tra chủ yếu như sau:

    • Tên & địa chỉ người thụ hưởng (Beneficiary name & address)
    • Tên hàng, số lượng, đơn giá, trị giá
    • Ngày giao hàng, ngày hết hiệu lực của L/C
    • Các chứng từ yêu cầu
    • Thời hạn trình chứng từ
    • Quy định về phí ngân hàng

    P.KT-TC sẽ nhận L/C bản gốc từ ngân hàng. Sau đó L/C bản gốc sẽ được chuyển cho BP.XNK của P.XNK, BP.CĐ-ĐĐ của P.KH-XNK & P.KT-TC giữ bản sao.

    BP.XNK sẽ kiểm tra các quy định về chứng từ yêu cầu, thời hạn trình chứng từ, ngày giao hàng, thời hạn hiệu lực L/C.

    P.KT-TC sẽ kiểm tra các quy định về phí ngân hàng, chứng từ, thời hạn trình chứng từ, thời hạn hiệu lực L/C.

    BP.CĐ-ĐĐ sẽ kiểm tra các phần còn lại của L/C, liên lạc với KH.

    Thời gian kiểm tra từ lúc nhận L/C: Tối đa 7 ngày.

    Một số trường hợp đặc biệt KH sẽ không thanh toán bằng L/C, mà thanh toán bằng T/T tùy thuộc sự thỏa thuận giữa hai bên lúc đàm phán và được thực hiện trên hợp đồng. Trường hợp này mục 6) sẽ không thực hiện.

    • Đặt mua NPL cho SX:

    BP.CĐ-ĐĐ sẽ tiến hành cân đối, tính số lượng nhu cầu NPL để đặt mua. Cơ sở tính toán là bảng Đ/M NPL, bảng chiết tính giá thành, TLKT, áo mẫu, số lượng chi tiết của mã hàng… Cần tính toán chính xác S/L nhu cầu đặt mua.

    Sau khi tính toán được nhu cầu NPL cần mua, tiến hành đặt mua NPL:

    Lập các đơn đặt hàng (P/O) hoặc hợp đồng mua NPL theo từng nhà cung cấp (có mẫu kèm)

    Kiểm tra lại các thông tin trên P/O hay HĐ mua và gửi cho các nhà cung cấp (thường bằng email hoặc fax).

    Trên các P.O phải thể hiện đầy đủ chi tiết tên hàng, quy cách, màu sắc, số lượng, ngày giao hàng, phương thức thanh toán…

    Sau khi các nhà cung cấp nhận các P.O này, họ sẽ phát hành các P/I (Proforma Invoice) hay Sales Confirmation (S/C) (áp dụng đối với các nhà  cung cấp ngoài nước) để ta xác nhận. Một số nhà cung cấp trong nước họ sẽ làm  hợp đồng.

    Sau khi nhận các P/I (S/C hay hợp đồng), ta phải kiểm tra lại nội dung các thông tin về hàng hóa, số lượng, đơn giá, ngày giao hàng, điều kiện thanh toán…xem có đúng với nội dung trên các P.O đặt hàng không. Nếu có điều kiệu nào bất lợi thì tiếp tục thương lượng để đạt được thỏa thuận tối ưu, nhất là giá cả và ngày giao hàng.

    Khi đã kiểm tra các P/I…, phải trình kí xác nhận (TGĐ) và gửi lại các nhà cung cấp NPL ngay để họ tiến hành SX (một số nhà cung cấp, nếu không được xác nhận của ta thì họ sẽ không sản xuất). Lưu ý là các P/I, S/C…này có giá trị như hợp đồng và là cơ sở để làm thủ tục thanh toán sau này.

    Phải lập bảng theo dõi đặt mua NPL cho từng đơn hàng để theo dõi tiến độ đặt mua NPL, như số lượng các P.O cần đặt, ngày giao hàng…

    • Đ/Vị thực hiện KH_XNK(Nhóm FOB)

    *Lưu ý: Chỉ sau khi nhận được garment L/C của KH ta mới tiến hành đặt mua NPL, nếu không phải có ý kiến của lãnh đạo.

    • Làm thủ tục thanh toán tiền mua NPL:

    Dựa theo các P/I, S/C hay các hợp đồng mua NPL với các nhà cung cấp, tiến hành làm thủ tục thanh toán theo như thỏa thuận.

    Các hình thức thanh toán phổ biến la L/C và T/T.

    1. Thanh toán bằng L/C: (Đề nghị thanh toán bằng L/C cho các đơn hàng có trị giá >5000USD).

    *Các chứng từ cần có để mở L/C: (P.KH-XNK cung cấp cho P.KT-TC)

    1. Giấy đề nghị mở L/C (có mẫu)
    2. P/I hay S/C hay Hợp đồng mua NPL hay P.O có ký xác nhận hai bên (có mẫu kèm)
    3. Bảng dự trù vật tư & chi phí (có mẫu)
    4. Hợp đồng bán FOB thành phẩm

    Căn cứ vào các chứng từ trên, P.KT-TC sẽ làm thủ tục mở L/C cho nhà cung cấp NPL.

    Thời gian yêu cầu phải mở L/C: chậm nhất 15 ngày trước khi xuất NPL.

    • Lưu ý: Khi mở L/C mua NPL, trong phần chứng từ xuất hàng, ta cần yêu cầu nhà cung cấp gửi trực tiếp cho ta 1 bộ c/từ (Invoice, P.list, B/L), 2 bộ c/từ gốc còn lại nhà cung cấp sẽ trình qua ngân hàng.
    1. Thanh toán bằng T/T: (Đề nghị thanh toán bằng T/T cho các đơn hàng có trị giá <5000USD).

    Thường có hai trường hợp là T/T trước khi xuất hàng và T/T sau khi xuất hàng tùy theo thỏa thuận trong P/I, S/C hay hợp đồng giữa hai bên.

    *Các chứng từ cần có để thanh toán T/T: (P.KH-XNK cung cấp cho P.Kế toán)

    1.Giấy đề nghị thanh toán

    2.P/I hoặc S/C hoặc P.O hay hợp đồng mua có xác nhận hai bên

    1. Bằng dự trù vật tư & chi phí
    2. Hợp đồng bán FOB thành phẩm

    Nếu là T/T sau khi xuất hàng, chừng từ thanh toán cần phải có chứng từ nhập kèm theo (B/L, Invoice, P.list, TKHQ nhập NPL bản gốc).

    Trường hợp T/T trước khi xuất hàng, sau khi đã nhập hàng xong, P.KH-XNK phải cung cấp các chứng từ nhập cho P.Kế toán (Invoice, P.List, B/L), trong đó có TKHQ bản gốc để hoàn tất thủ tục thanh toán với Ngân hàng.

    *Trường hợp NPL mua trong nước, chứng từ thanh toán gồm:

    1. Giấy đề nghị thanh toán
    2. Hợp đồng mua NPL
    3. Hóa đơn GTGT
    4. c) Thanh toán bằng D/P:

    Một số ít trường hợp có thể áp dụng thanh toán bằng D/P (thanh toán nhờ thu hay chấp nhận thanh toán đổi chứng từ gốc).

    • Làm thủ tục nhập NPL:

    Sau khi hoàn tất công việc đặt mua NPL với các nhà cung cấp, phải theo dõi chặt chẽ tiến độ thanh toán & giao hàng căn cứ thỏa thuận đã xác nhận trên P/I, S/C, hợp đồng mua NPL…

    Sau khi nhận chứng từ xuất hàng từ các nhà cung cấp, phải kiểm tra đối chiếu với các P.O đặt hàng, các P/I, S/C hay các hợp đồng mua NPL về chủng loại, màu sắc, số lượng… xem có đúng với các thông tin đã đặt mua không kịp thời yêu cầu nhà cung cấp trước khi phát hành chứng từ chính thức.

    *Bộ chứng từ cần có để nhận hàng khi hàng về cảng/sân bay gồm:

    • B/L hay AWB (bản gốc)
    • Invoice (bản gốc)
    • List (bản gốc)
    • Hợp đồng mua NPL
    • Bản sao L/C mua NPL (nếu thanh toán bằng L/C)

    Đối với trường hợp thanh toán bằng L/C: Nhà cung cấp sẽ gửi bộ chứng từ gốc cho chúng ta theo quy định trong L/C. Thường chứng từ các lô hàng thanh toán bằng L/C, B/L yêu cầu giao hàng theo lệnh của ngân hàng, nên phải có ký hậu của ngân hàng trên B/L mới nhận được hàng. (P.KH-XNK làm c/văn  đề nghị ký hậu (kèm bộ chừng từ gốc), P.KT-TC gửi ngân hàng ký hậu & gửi lại P.KH-XNK để làm thủ tục nhận hàng). Đối với trường hợp hàng xuất Air thì một chứng từ sẽ được gửi kèm theo hàng.

    Đối với trường hợp thanh toán T/T (nước ngoài): Chứng từ gốc các nhà cung cấp sẽ gửi trực tiếp cho ta bằng phát chuyển nhanh.

    *Khi có đủ các chứng từ, bộ phận chứng từ P.KH-XNK tiến hành các thủ tục nhận hàng:

    • Xuất trình B/L cho đại lý vận chuyển để lấy lệnh giao hàng (D/O)
    • Lập TKHQ nhập (theo mẫu TK nhập SXXK)
    • Khai HQ
    • Nhập NPL:

    Sau khi làm xong các thủ tục nhận hàng, giao-nhận P.KH-XNK sẽ nhận hàng.

    Bộ phận giao-nhận P.KH-XNK phải lập kế hoạch dự kiến nhận hàng gửi lãnh đạo Phòng và các bộ phận liên quan (Kho NPL, nhóm FOB) để theo dõi và bố trí nhận hàng. LĐ phòng sẽ xác định các lô hàng cần ưu tiên nhất, bố trí phương tiện vận chuyển,  khó tiếp nhận NPL.

    Khi nhận hàng xong, BP giao-nhận P.KH-XNK phải gửi TKHQ nhập (bản sao)  kèm theo hàng khi vận chuyển về kho. Kho NPL sẽ chuyển TKHQ này cho nhóm FOB của phòng. Tất cả các bản sao TKHQ nhập phải gửi về cho nhóm FOB đầy đủ để làm cơ sở làm ĐMHQ sau này.

    • Kiểm tra NPL:

    Sau khi nhận NPL,

    • Kho NPL tiến hành mở kiện, kiểm tra số lượng, chất lượng NPL theo P.List hoặc đơn đặt hàng.

    Việc kiểm tra chất lượng NPL sẽ được phối hợp với P.KT-SX để  tiến hành kiểm tra. Số lượng kiểm tra bắt buộc là 10% cho vải chính, nếu phát hiện chất lượng không đạt, kho NPL báo lãnh đạo phòng & KH để có hướng xử lý  tiếp theo.

    • Kho NPL lập biên bản mở kiện gửi NV mặt hàng P.KH-XNK chậm nhất 7 ngày kể từ ngày nhận về.

    Trong quá trình SX, nếu có phát sinh về vấn đề chất lượng NPL, XN phải báo cho P.KT-SX, P.KH-XNK để có hướng xử  lý.

    • Cân đối NPL:

    Sau khi NPL nhận về kho, NV mặt hàng P.KH-XNk sẽ lập bảng cân đối NPL. Cập nhật các số liệu thực tế NPL nhận về (theo biên bản mở kiện của kho NPL), đối chiếu với nhu cầu NPL theo bảng cân đối và báo cáo lãnh đạo phòng.

    NV mặt hàng nhóm FOB sẽ báo cho các nhà cung cấp biết để có xu hướng xử lý nếu có vấn đề về chất lượng  hay số lượng NPL thực tế nhận về.

    • Ban hành lệnh sản xuất & bảng cấp phát NPL:

    Sau khi đã cân đối xong NPL, nhóm CĐ-ĐĐ P.KH-XNK sẽ lập lệnh SX & bảng cấp phát NPL (có mẫu) gửi đến các XN SX & kho NPL.

    Cơ sở lập bảng cấp phát NPL: Đ/M NPL (đã xác nhận với KH), số lượng mã hàng.

    Đ/M cấp phát gồm Đ/M gốc x 1.01 (1% hao hụt)

    Tùy từng KH, mã hàng, P.Kh-XNK có thể cấp phát với % hao hụt cao hơn. Việc tăng % hao hụt nhằm tăng số lượng cắt dư để có thể xuất dư số lượng so với kế hoạch. Nếu có thể xuất dư S.L, hiệu quả sẽ rất cao. NV CĐ-ĐĐ sẽ cân đối & điều chỉnh % hao hụt và yêu cầu S.L cắt dư cho từng mã hàng khi cấp phát NPL cho XN.

    • Triển khai kĩ thuật:

    Sau khi có đủ NPL, các XN kết hợp với P.KT-SX triển khai sản xuất.

    P.KT-SX: Cung cấp cho XN áo mẫu, TLKT, mẫu rập, bảng màu NPL, các góp ý của khách hàng…

    XN: Triển khai may mẫu, chuẩn bị rập, sơ đồ…

    • Đặt chỉ, bao bì:
    1. Đặt chỉ: Căn cứ vào số lượng đơn hàng, bảng mẫu, XN tính nhu cầu chỉ & lập phiếu đặt chỉ (có mẫu đặt hàng) & gửi P.KH-XNK để gửi nhà cung cấp chỉ.
    2. Đặt bao bì: Căn cứ số lượng mã hàng, quy cách đóng gói của KH, XN tính nhu cầu bao bì & lập phiếu đặt bao bì (theo mẫu) & gửi P.KH-XNK để gửi nhà cung cấp bao bì.

    *Lưu ý:

    • Việc đặt chỉ cần tiến hành trước khi vào SX 1 tuần.
    • Các đơn hàng đưa g/c ngoài, P.KH-XNK sẽ tính toán & đặt chỉ.
    • Nhập kho, kiểm tra, cấp phát chỉ, bao bì:

    Sau khi nhận chỉ, bao bì, kho kiểm tra số lượng, quy cách theo các đơn đặt hàng và cấp phát cho các XN theo đúng định mức từng mã hàng.

    • Kiểm tra chất lượng:

    Chất lượng sản phẩm sẽ dựa theo mẫu PP đã được KH duyệt.

    P.KT-SX sẽ kiểm tra chất lượng SP đầu tiên may ra, kiểm hàng trên chuyền (kiểm Inline).

    • Kiểm tra tiến độ SX:

    Nhân viên CĐ-ĐĐ P.KH-XNK theo dõi sát tiến độ SX hàng ngày, giải quyết các vấn đề phát sinh, báo cáo lãnh đạo kịp thời.

    Cần theo dõi sát tiến độ cắt, may, giao là, đóng gói, (có biểu mẫu theo dõi), đảm bảo đúng tiến độ giao hàng đã thỏa thuận với KH.

    • Thông báo giao hàng:

    Nhân viên CĐ-ĐĐ lập bảng thông báo giao hàng gửi các XN & BP.XNK trước 1 tuần ngày giao hàng.

    • Làm thủ tục xuất hàng:

    Nhân viên CĐ-ĐĐ lập P.List, nhân viên FOB lập bảng ĐMHQ gửi P.XNK, P.List & ĐMHQ phải gửi cho BP.XNK chậm nhất 3 ngày (đối với hàng xuất bằng tàu), 5 ngày (đối với hàng  xuất bằng máy bay) trước ngày xuất hàng.

    1. C/từ P.XNK liên hệ đại lý vận chuyển đặt chỗ (booking). Sau khi đại lý vận chuyển xác nhận, đại lý vận chuyển sẽ gửi lại bảng xác nhận đặt chỗ cho BP XNK.

    BP C/từ P.XNK làm TKHQ xuất.

    1. C/từ P.XNK đăng ký HQ, C/từ để đăng ký gồm: TKHQ xuất, hợp đồng bán FOB, Invoice, P.List.
    • Đóng gói, nhập kho TP:

    Các XN đóng gói & nhập kho TP.

    • Kiểm tra chất lượng:

    P.KT-SX kiểm tra chất lượng TP (kiểm final), phối hợp với KH kiểm final, lập biên bản kiểm hàng gửi P.KH-XNK.

    • Xuất hàng (sau khi làm xong các thủ tục ở mục 20)

    BP.XNK liên hệ với đại lý vận tải để thống nhất thời gian, địa điểm đóng hàng & báo BP.CĐ-ĐĐ để sắp xếp phương tiện chở hàng ra cảng/sân bay hay đóng hàng tại công ty.

    • Bộ chứng từ xuất hàng:

    BP.XNK lập bộ chứng từ xuất hàng theo quy định trong L/C hay trong hợp đồng. Nếu xuất bằng tàu, chứng từ xuất hàng sẽ được lập hoàn chỉnh sau khi tàu chạy. Nếu là hàng xuất máy bay, chứng từ phải lập trước và một bộ sẽ gửi kèm theo hàng.

    Bộ chứng từ xuất  hàng gồm:

    • Commercial Invoice
    • P/List
    • B/L hay AWB
    • C/O
    • Visa (nếu có)
    • Các chứng từ khác theo yêu cầu L/C.

    Cần lưu ý yêu cầu thời gian trình chứng từ trong L/C tránh bị trễ hạn.

    • Thanh toán:

    Một bộ chứng từ đầy đủ (theo quy định của L/C) sẽ chuyển cho P.KT-TC, P.KT-TC sẽ kiểm tra lại các chứng từ này trước khi trình ngân hàng theo đúng trình tự thanh toán L/C.

    Sau khi nhận được tiền từ KH, ngân hàng sẽ gửi giấy báo có cho P.KT-TC. Điều này xác nhận tiền thanh toán của KH đã được chuyển  vào TK của C.ty, kết thúc việc thanh toán cho một lô hàng xuất.

    • Quyết toán NPL, thanh lý hợp đồng:
    1. Quyết toán NPL với XN: Sau khi xuất hàng, các XN sẽ gửi quyết toán NPL cho NV CĐ-ĐĐ bảng quyết toán NPL.
    • Mục đích: Quyết toán NPL giữa XN và C.ty. Xác định hiệu quả sử dụng NPL tại các XN, làm cơ sở để công ty xét thưởng tiết kiệm NPL cho các XN hàng tháng.
    • Cơ sở số liệu: Bảng cấp phát NPL, số lượng xuất-nhập kho NPL.
    • Thời gian XN gửi quyêt toán NPL cho P.KH-XNK: 7 ngày sau khi giao hàng.
    1. Quyết toán NPL với KH: NV nhóm FOB sẽ lập bảng quyết toán NPL với KH (áp dụng đối với các mã hàng mà một số NPL do KH cung cấp miễn phí).
    • Mục đích: Quyết toán NPL với KH để xác định phần NPL thừa của KH.
    • Cơ sở số liệu: Bảng cân đối NPL theo Đ/M mà hai bên đã xác nhận, số lượng NPL nhập, số lượng TP xuất hàng.
    • Thời gian gửi quyết toán NPL cho KH: 7 ngày sau khi xuất hàng.
    1. Quyết toán NPL với Hải quan: NV chứng từ BP.XNK quyết toán NPL với Hải quan sau khi xuất hàng.
    • Mục đích: Quyết toán NPL với HQ
    • Cơ sở số liệu: TKHQ nhập, bảng ĐMHQ, TKHQ xuất TP.
    • Thời gian hoàn tất quyết toán: 3 tuần sau khi xuất hàng.

    *Lưu ý: Thời gian gia hạn nộp thuế tối đa là 275 ngày cho các TKHQ nhập SXXK. Tuy nhiên cần tiến hành thanh lý NPL với HQ sớm, tránh để bị quá hạn bị  cưỡng chế làm ảnh hưởng việc xuất-nhập hàng.

    C- NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý:

    1. Về giá CMPT & Đ/M NPL
    • Giá CMPT được hiểu bao gồm gái gia công thuần túy (CM) và các chi phí về bao bì đóng gói (P) và chỉ may (T). Khi làm giá, cần biết rõ các yêu cầu của khách hàng về quy cách đóng gói (số lượng sản phẩm sẽ đóng trong 1 carton, các thông tin về túi nylon, in ấn trên bao bì, băng keo dán thùng, bìa lưng, kẹp nhựa, giấy lót..) cũng như quy định về loại chỉ may sẽ được sử dụng.
    • Về Đ/M NPL: việc xác định chính xác & kịp thời Đ/M NPL là yêu cầu rất quan trọng để làm cơ sở cho việc xác định giá FOB cũng như đặt mua NPL cho SX. Để xác định Đ/M NPL cho 1 mã hàng cần có Mẫu rập, thông số KT, áo mẫu & TLKT. Một số khách hàng họ có sẵn Đ/M NPL, nên P.KT-SX chỉ cần kiểm tra lại tính chính xác cùa Đ/M này. Đ/M các loại NPL có đơn vị tính bằng đơn vị chiều dài Met/Yard là Đ/M bình quân và Đ/M này phụ thuộc vào cơ cấu số lượng của từng size/cỡ và từng màu của 1 mã hàng.
    1. Lập bảng chiết khấu giá thành: Bảng chiết khấu tính giá thành (costing sheet ) là bảng kê chi tiết các khoản mục chi phí về NPL, giá CMPT, % handing…tạo nên giá FOB của một mã hàng. Một số NPL có Đ/M nhỏ, do đó khi lập bảng chiết khấu cần tăng tỷ lệ tiêu hao hợp lý nhằm tránh tình trạng phát sinh thiếu trong SX mà không thể hoặc rất khó có thể mua bổ sung. Một số phụ liệu như Băng dính, Nhãn giấy…, thường các nhà cung cấp chỉ bán theo số lượng tối thiểu hay tròn cuộn, không bán lẻ, do đó cần lưu ý để tăng tỷ lệ hao đối với các số liệu này hợp lý để tránh phát sinh thêm chi phí ngoài giá thành.
    2. Vấn đề “dung sai”cho phép về số lượng xuất hàng của các nhà cung cấp (vải): Thường trên hợp đồng với các nhà cung cấp vải họ yêu cầu chúng ta chấp nhận tỷ lệ dung sai về số lượng xuất hàng trong khoảng 2%~3% (có khi 5%) nhiều hơn hoặc ít hơn số lượng đặt hàng ban đầu. Điều này xuất phát từ đặc điểm riêng của mặt hàng này là không thể đảm bảo số lượng xuất hàng tuyệt đối đúng như yêu cầu được, và buộc chúng ta phải chấp nhận. Do đặc điểm này mà khách hàng của chúng ta cũng phải chấp nhận một tỷ lệ dung sai tương ứng cho số lượng TP xuất và điều này phải được thể hiện trên L/C cũng như trên hợp đồng. Như vậy sau khi nhận NPL& tiến hành SX, cần tính toán khả năng cắt tăng thêm số lượng (hoặc giảm số lượng nếu thiếu vải) hợp lý để có thể xuất tối đa số lượng TP nhằm đạt hiệu quả thuận lợi tối đa.
    3. Tên NPL trên TKHQ nhập: nhóm CĐ-ĐĐ sẽ phối hợp với BP. Chứng từ XNK để thống nhất tên NPL bằng tiếng việt để thể hiện trên TKHQ nhập. Cần lưu ý khi cùng 1 loại NPL nhưng nhập nhiều lần, thì các lần nhập sau phải thống nhất tên NPL của TK nhập đầu.
    4. ĐMHQ: Khi lập bảng ĐMHQ để làm thủ tục xuất hàng, cần lập cho tất cả các mã hàng sử dụng NPL đã nhập về để cân đối trước tình hình thừa thiếu của từng loại NPL. Nên lập bảng tổng hợp NPL nhập theo từng TK nhập, rồi trừ lùi cho từng số lượng sử dụng của từng mặt hàng. Mục đích là triệt tiêu hết NPL đã nhập, tránh để thừa NPL phải nộp thuế NK khi thanh lý NPL với HQ sau này.

    Tên NPL trên bảng ĐMHQ phải thống nhất với tên NPL trên TKHQ nhập.

    Phải thể hiện đúng và đầy đủ số TKHQ nhập & ngày tháng năm của từng TK nhập trên cột “ ghi chú” của bảng ĐMHQ.

    Sau mỗi đợt xuất hàng, BP.XNK cần gửi cho BP.CĐ-ĐĐ các bảng ĐMHQ chính thức để cập nhật lại các Đ/M nếu có thay đổi khi làm thủ tục xuất hàng.

    NV CĐ-ĐĐ cần lưu ý trường hợp số lượng cắt thực tế không đủ số lượng KH để điều chỉnh lại Đ/M trong bảng ĐMHQ cho phù hợp, tránh để thừa NPL (trên số liệu HQ).

    1. Kiểm soát thời gian trong toàn bộ các khâu của quá trình SX:

    Cần kiểm soát chặt chẻ tiến độ thực hiện công việc theo từng mốc thời gian của mỗi khâu trong quá trình SX từ lúc ký kết hợp đồng (nhận đơn hàng) cho đến khi giao hàng.

    Thường thời gian cho phép từ khi kí hợp đồng (nhận đơn hàng) cho đến khi giao hàng TP là khoảng 90 ngày (leadtime).

    Trong đó:

    • Thời gian từ lúc đặt mua NPL đến khi giao NPL: 30~40 ngày
    • Thời gian vận chuyển NPL (từ cảng bên cung cấp NPL đến cảng HCM):7 ngày
    • Thời gian triển khai SX & xuất hàng (cắt, may, đóng gói, giao hàng): 36~ 40 ngày

    Cần phải kiểm soát tiến độ thực hiện công việc trên cơ sở các mốc thời gian này để đảm bảo không ảnh hưởng đến KH SX & giao hàng.

    Trong khoảng thời gian 30~40 ngày đầu, cần phải hoàn tất công việc chuẩn bị (may mẫu, duyệt mẫu, mở L/C mua NPL, theo dõi chứng từ gửi hàng của các nhà cung cấp…) để có thể nhận nhanh NPL, và khi nhận NPL về là có thể tiến hành SX ngay.

    Một vấn đề rất quan trọng là trước khi đặt mua NPL, cần phải có Đ/M NPL chính xác (từ P.KT-SX ) để tiến hành đặt nua NPL. Do đó cần phối hợp tốt giữa P.KT-SX & BP.FOB để có được Đ/M NPL kịp thời & chính xác.

    2.     Mô tả việc đã làm tại phòng KH-XNK (nhật ký thực tập)

    • Quan sát các anh, chị trong phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu làm việc trong Công ty.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    III.            Ưu, nhược điểm của Phòng KH-XNK

    1.     Ưu điểm

    • Đội ngũ nhân viên:
      • Đội ngũ nhân viên trẻ, năng động, hứa hẹn nhiều năng lực phát triển lâu dài của công ty (tuổi bình quân 26-35 tuổi)
      • Các nhân viên nắm bắt được môi trường làm việc của Tổng Công ty, xử lý kịp thời những tình huống khó khăn trong công việc.
      • Tác phong làm việc tốt, tuân thủ đúng mọi quy định của Tổng Công ty đề ra.
      • Rất nhiệt tình tham gia các phong trào, văn hóa của Tổng Công ty đề ra. Tham gia tích cực các lớp học nâng cao trình độ, tay nghề.
      • Có Trưởng phòng, phó phòng tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ, khéo léo xử lý các công việc.
    • Hiệu quả công việc
      • Luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức năng, hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng đạt được yêu cầu cấp trên đề ra.
      • Sáng tạo, dễ thích nghi với những biến đổi quan trọng của Tổng Công ty.
      • Làm việc với tinh thần tự giác, không cần nhắc nhở, sự có mặt của Trưởng phòng.
      • Các cá nhân, nhóm biết phối hợp đồng bộ với nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
    • Mục tiêu của phòng
      • Tập trung hàng FOB, phấn đấu 100% là hàng xuất khẩu.
      • Tiết kiệm chi phí cho nguồn nguyên phụ liệu (tìm nguồn cung cấp ở trong nước, chất lượng), giảm định mức sử dụng.
      • Giao hàng đúng hẹn, giữ uy tín với khách hàng.
      • Chủ động tìm đến khách hàng.

    2.     Nhược điểm

    • Kinh nghiệm
      • Do đội ngũ còn trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm chuyên sâu, còn thiếu nhiều kĩ năng xử lý, dễ mắc sai lầm.
      • Có nhiều nhân viên mới không có nhiều kinh nghiệm.
      • Mất thời gian và chi phí đào tạo.
      • Mất cân đối lao động về cơ cấu lao động về trình độ, tay nghề.
    • Nguyên phụ liệu
      • Còn phụ thuộc rất nhiều vào nhà cung ứng nguyên phụ liệu (chất lượng, thời gian giao hàng).
      • Giá nguyên phụ liệu còn biến động thất thường, khó xác định giá gia công.
      • Nguyên phụ liệu còn phải nhập khẩu của nước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc), còn gặp nhiều khó khăn.
    • Ngoài ra, còn rất nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến quá trình làm việc của phòng như thiết bị máy móc, tiến độ làm việc của phòng ban khác, thời gian… nên phòng Kế hoạch-Xuất nhập khẩu chưa phát huy hết khả năng làm việc của mình.

    IV.             Nhận xét cá nhân về phòng ban nơi thực tập

    Trong quá trình kiến tập một tháng tại phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu (P.KH-XNK) của Tổng Công ty May Đồng Nai. Với những hiểu biết của mình và những gì em đã được tìm hiểu về phòng, em mạnh dạn nêu lên một số nhận xét của cá nhân với hy vọng nó có ý nghĩa thực tiễn của phòng:

    • Thứ nhất: P.KH-XNK là một phòng ban quan trọng nhất của Tổng Công ty, bao gồm các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu cho Tổng Công ty. Các quy trình được thực hiện một cách logic, trình tự, đúng tiến độ. Mỗi nhân viên có ý thức trách nhiệm, vai trò của mình trong Tổng Công ty.
    • Thứ hai: Các anh, chị làm việc rất nhiệt tình, chu toàn trách nhiệm, hăng say với công việc. Có sự kết hợp giữa đồng nghiệp với nhau tạo nên môi trường làm việc thân thiện, năng động trong công việc để đảm bảo chính xác và đòi hỏi trong công việc.
    • Tuy nhiên, những yếu tố bên trong và bên ngoài cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến các nhân viên, đôi lúc các mối quan hệ căng thẳng do thời gian gấp gáp, trình độ, kinh nghiệm, ngôn ngữ, tiến độ hoàn thành, các nhà cung ứng,… Nhìn chung, P.KH-XNK đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ, vai trò của mình trong công việc được giao.

     

    CHƯƠNG BỐN

    TÌNH HÌNH CHUNG CỦA TỔNG CÔNG TY MAY ĐỒNG NAI, MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

    I.                   Những kết quả đạt được của Tổng Công ty năm 2010

    • Hiệu quả kinh doanh đạt cao – tăng 36% cùng kỳ.
    • Vẫn giữ được khách hàng lớn và thị trường truyền thống (thị phần xuất khẩu trên doanh thu cho các thị trường Hoa Kỳ đạt 43%, Nhật đạt 46% và EU đạt 11%) năm 2010.
    • Lao động bình quân có mặt chỉ bằng 90% so cùng kỳ nhưng năng suất vẫn đạt khá, nhất là tại Định Quán năng suất đã tăng mạnh, có triển vọng phát triển.
    • Đầu tư, xây dựng, thành lập và đưa vào hoạt động Công ty Đồng Xuân Lộc tại ấp 3, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
    • Tiếp tục tổ chức được nhiều khóa đào tạo nghề cho công nhân lao động theo chương trình hỗ trợ của Khuyến công để tuyển dụng vào làm việc ngay cho Công ty Đồng Xuân Lộc mới đầu tư đã có lao động ngay để hoạt động.
    • Giữ được đội ngũ lao động có kinh nghiệm, tay nghề và đoàn kết gắn bó với Tổng Công ty. Tổng Công ty vẫn đảm bảo chăm lo tốt đến đời sống vật chất, tinh thần của người lao động, thể hiện qua: Mức thu nhập bình quân tăng 23%, (Khu vực Biên Hòa tăng 30%), tăng lương cơ bản theo mức lương tối thiểu mới của Nhà nước quy định, thực hiện đầy đủ chế độ BHXH, BHYT, BHTN; đầu năm tổ chức cho cán bộ và CSTĐ đi tham quan nghỉ mát trong nước và ngoài nước; xét khen thưởng với nhiều hình thức: Thưởng danh hiệu thi đua, thưởng hoàn thành kế hoạch, thưởng hiệu quả SXKD, thưởng cuối năm (tháng 13) trên 2 lần lương bình quân năm ….
    • Công tác đầu tư đã đúng định hướng phát triển mở rộng ra các vùng xa trung tâm như: Mở rộng đầu tư ra Bắc Ninh, Định Quán, Xuân Lộc … để tăng năng lực sản xuất.
    • Máy móc thiết bị chuyên dùng, tự động đã được đầu tư trang bị kịp thời phục vụ sản xuất góp phần đảm bảo tăng năng suất, đảm bảo chất lượng sản phẩm.
    • Bước đầu đã đầu tư phát triển hoạt động kinh doanh nội địa bằng việc củng cố tổ chức bộ máy, phát triển mạng lưới tiêu thụ, đầu tư vào nguồn nhân lực, mẫu mã và xây dựng hình ảnh, thương hiệu …
    • Với những kết quả trên, trong năm 2010 Tổng Công ty tiếp tục đạt danh hiệu Doanh nghiệp tiêu biểu của ngành Dệt May Việt Nam, Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín,…. và được Bộ Công Thương tặng cờ thi đua đơn vị xuất sắc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2010 trong ngành Dệt May Việt Nam.

    1.     Tình hình sản xuất kinh doanh trong những năm gần đây

    Như ta đã biết, trong thời gian qua dệt may Việt Nam đã có những sự phát triển nhảy vọt, đóng góp to lớn vào sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước. Với hơn 35 năm tồn tại và phát triển tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong công ty không ngừng nỗ lực xây dựng công ty ngày càng lớn mạnh có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Thêm vào đó, Tổng Công ty luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, ban ngành đoàn thể mà đặc biệt là Tập đoàn Dệt-May Việt Nam (“VINATEX”). Do đó công ty đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong sản xuất kinh doanh. Điều này được minh họa qua báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm:

    BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SXKD NĂM 2007-2010

    STT Chỉ tiêu ĐVT 2007 2008 2009 2010
    1 Giá trị SXCN (GTTSL) Tỷ Đ 284,609 405,285 326,697 509,0
    2 Doanh thu. Trong đó: Tỷ Đ 339,167 487,152 394,719 619,0
      – DT xuất khẩu Tỷ Đ 326,167 475,810 381,970 602,6
      – DT nội địa Tỷ Đ 13,0 11,348 12,751 16,4
    3 Doanh thu CMPT USD 6.250.000 7.220.130 6.598.050 7.798.094
    4 Sản lượng nhập kho Chiếc 5.200.000 4.765.000 3.970.000 4.867.000
    5 Kim ngạch XK.TT USD 32.609.000 31.054.000 28.495.000 36.798.000
    6 Kim ngạch NK.TT USD 21.079.000 19.250.000 15.905.000 24.801.000
    7 Lao động B/Q Người 2.810 2.436 2.347 2.351
    8 Thu nhập B/Q ng/th 2.130.000 2.512.000 2.748.000 3.253.000

    (Qua BCTN qua các năm 2007, 2008, 2009, 2010)

    Qua biểu trên ta thấy: Nhìn chung kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong các năm qua đều đạt chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước, doanh thu không ngừng tăng. Tuy nhiên trong năm 2009 doanh thu có giảm do Tổng Công ty chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, đơn hàng giảm, việc cung cấp nguyên phụ liệu không đồng bộ (thông qua sản lượng nhập khẩu, Kim ngạch XK, NK của các năm), chậm tiến độ, lao động biến động giảm (giảm 3,65% so với năm 2008) và khách hàng chuyển sang hình thức gia công thay vì kinh doanh FOB xuất khẩu. Nhưng sang năm 2010 doanh thu của công ty lại tiếp tục tăng trong năm 2010. Điều này thể hiện công ty đã vượt qua được những khó khăn trong năm 2009 và nguyên nhân doanh thu tăng trong năm 2010 cũng thể hiện bước phát triển đầu tiên khi chuyển đổi sang mô hình Tổng Công ty và chỉ đạo sát sao việc đẩy mạnh hình thức kinh doanh xuất khẩu bán đứt (FOB), chiếm đến 94% tổng doanh thu xuất khẩu.

    Mặt khác, tổng số vốn công ty đưa vào sản xuất kinh doanh liên tục tăng mạnh qua các năm, điều này chứng tỏ công ty không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường mục tiêu, tạo ra nhiều việc cho người lao động, nâng cao mức sống bằng việc tăng thu nhập bình quân lên tới 3.253.000đ /1 tháng trong năm 2010 (tăng 18,377% so với năm 2009).

    Để đạt được những thành tựu to lớn đó trước hết phải kể đến sự lãnh đạo sáng suốt của Ban điều hành Tổng Công ty và tập thể CB.CNV trong việc thực hiện các biện pháp để khắc phục khó khăn, tiết kiệm và giảm tối đa chi phí trong thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế, đặc biệt hiệu quả của việc kinh doanh hàng FOB xuất khẩu vẫn đạt khá cao.

    Hằng năm, Tổng Công ty đều vạch ra kế hoạch phát triển trong tương lai để cho phấn đấu cho toàn công ty. Sau đây là biểu đồ kế hoạch doanh thu trong giai đoạn năm 2006-2011

    1. Đối tác

    Để đạt được những thành tích trong những năm qua, Tổng Công ty đã nỗ lực phát huy, xây dựng được rất nhiều các mối quan hệ hợp tác với các khách hàng trong và ngoài nước. Một số thương hiệu nổi tiếng trên thế giới là người bạn đồng hành cùng Tổng Công ty May Đồng Nai trong suốt thời gian qua.

    Sau đây là các thương hiệu thời trang đồng hành cùng Tổng Công ty:

     

    2.     Một số thị trường trọng điểm của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Sau hơn 35 năm hoạt động, sản phẩm của Tổng Công ty May Đồng Nai đã có được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Các thị trường chủ yếu là Nhật, Mỹ, EU. Ngoài ra, các nước Canada, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Nga,…là những khách hàng tiềm năng cần khai thác.

    Tổng quan chung về thị trường xuất khẩu của Tổng Công ty được thể hiện trong hình sau trong những năm gần đây.

    • Thị trường Mỹ: (chiếm 45%)

    Mỹ là là nơi tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế giới. Thị trường lại đa dạng, phong phú, có nhiều cấp độ. Điều này rất phù hợp với hoàn cảnh, trình độ sản xuất của Việt Nam. Hiện nay, quan hệ hai bên đã được bình thường hoá. Hiệp định thương mại song phương và hiệp định hàng dệt may được ký kết. Đó chính là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường này.

    Với tiềm năng như vậy, Mỹ được coi là thi trường hấp dẫn, thu hút nhiều quốc gia xuất khẩu hàng dệt may.

    • Thị trường Nhật Bản: (chiếm 35%)

    Nhật Bản là thị trường rất lớn, tiêu thụ nhiều nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Đây cũng là thị trường phi hạn ngạch (Free-quota). Nhật Bản nhập khẩu chủ yếu theo phương thức mua đứt bán đoạn.

    Giống EU, thị trường Nhật bản cũng đòi hỏi quy định rất khắt khe, nghiêm ngặt về chất lượng, cũng như thời hạn giao hàng. Các thương gia Nhật Bản đều khẳng định rằng: “Người tiêu dùng Nhật không dùng sản phẩm có bất kì một khuyết tật nào, hàng may mặc sai quy cách, thủng, không vừa, ố phai màu…đều không bao giờ được chấp nhận”.

    Tuy nhiên, sản phẩm Việt Nam xuất sang Nhật Bản còn hạn chế về chủng loại, mẫu mã, chất lượng. Giá cả chỉ đạt mức trung bình, chưa có mặt hàng cao cấp. Nhưng nếu được đầu tư, chất lượng cao hơn, mẫu mã phù hợp, giá cạnh tranh…ta sẽ có khả năng thâm nhập sâu và phát triển được thị trường to lớn này.

    • Thị trường Châu Âu (EU) (chiếm 15%)

    EU có lịch sử phát triển công nghiệp dệt may lâu đời, là trung tâm mốt thời trang với nhiều công ty tạo mốt thời trang nổi tiếng thế giới như Fendi, Piere – Cardin, Christian Dior, Yves Saint – Laurent,… Đây là nơi có nhiều thông tin nhất về thời trang. EU có kỹ thuật sản xuất những sản phẩm may mặc cao cấp truyền thống với các loại sợi thiên nhiên như len, tơ tằm, sợi tổng hợp…Sự mở rộng ngành dệt may EU dưới các hình thức liên kết sản xuất ở nước ngoài đang ngày càng tăng, nhất là với các nước Châu Á. Ngoài ra, hình thức gia công ở nước ngoài (OPT – Oversea Processing Trade) cũng phát triển mạnh.

    EU là thị trường rộng lớn, có nhu cầu tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất, sản phẩm đa dạng, phong phú và tinh tế. Sau 10 năm hợp tác, EU là thị trường quen thuộc. Đây là thị trường đòi hỏi chất lượng cao, điều kiện thương mại nghiêm ngặt, mức bảo hộ đặc biệt cao. EU nổi tiếng là khách hàng khó tính về mẫu mã, chất lượng, thời gian giao hàng. Mặt khác, mối quan hệ truyền thống lâu đời giữa EU với 50 bạn hàng khác trên thế giới đã thẩm định tính nghiệt ngã này. Đây là bức tường thành cản trở sự thâm nhập của ta vào thị trường này. Nếu xem xét kỹ, thì nó cũng mở ra một thị trường rộng lớn để các doanh nghiệp có cơ hội vươn lên thích ứng và phát triển. Qua đó sẽ cải thiện được năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, mẫu mã, chủng loại, phương thức kinh doanh, tiếp thị.

    • Ngoài ra, các thị trường khác cũng chiếm tỷ lệ xuất khẩu gần khoảng 5%, như Canada, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Nga… là những thị trường tiềm năng phát triển.

    II.               Những thế mạnh của Tổng Công ty May Đồng Nai

    Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.894,73 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Tổng Công ty May Đồng Nai nằm ở Khu Công nghiệp Biên Hòa 1 (trước đây là khu kỹ nghệ Biên Hòa) nằm ở phường An Bình, thành phố Biên Hòa, giáp sông Đồng Nai. Vị trí này rất thuận lợi cho Tổng Công ty, gần Tp.HCM, gần hệ thống tuyến đường huyết mạch quốc lộ 1A, quốc lộ 51; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế của Tổng Công ty. Tuy nhiên, do khu công nghiệp Biên Hòa 1 được xây dựng từ năm 1963 là khu công nghiệp được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam, nên đến nay hệ thống hạ tầng kĩ thuật tại đây đang xuống cấp nghiêm trọng. Do vậy, tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương thay đổi công năng của KCN Biên Hòa 1 thành khu đô thị-trung tâm thương mại-dịch vụ. Để biến KCN này thành khu đô thị hiện đại, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp sẽ được hỗ trợ di dời về KCN Giang Điền. Tổng Công ty May Đồng Nai đang xúc tiến dự án đầu tư cụm công nghiệp 75 ha tại Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, nhằm chuẩn bị từng bước cho chuyển đổi công năng Khu CN Biên Hòa 1 theo chủ trương của tỉnh Đồng Nai.

    Mặt khác, Việt Nam đang được xem là ứng viên tốt nhất vì giá nhân công hợp lý. (Với lương trung bình 49 USD/tháng, lương của lao động Việt Nam chỉ nhỉnh hơn Campuchia một chút, là 47,36 USD, theo Phòng Thương mại Âu châu tại Việt Nam.

    Trong khi công nhân tại Indonesia được trả 82 USD/tháng, Trung Quốc 117 USD/tháng, Thái Lan 156 USD/tháng, Philipines 167 USD/tháng, Malaysia 336 USD/tháng, Ðài Loan 540 USD/tháng, Hàn Quốc 830 USD/tháng, Singapore 1.146 USD/tháng và Nhật 1.810 USD/tháng).

    Ông Bùi Thế Kích-TGĐ Donagamex thì nhận định, trong năm 2010 các DN may mặc chủ động được đơn hàng sản xuất. Tổng Công ty có thế mạnh hàng FOB chiếm tỷ trọng lớn, đạt 95% tổng doanh thu xuất khẩu. Chất lượng hàng hóa, sản phẩm của Tổng Công ty được các nước nhập khẩu được đánh giá cao, mặt hàng đa dạng so với các nước Campuchia, Lào, Bangladesh.

    Tổng Công ty đang dần chú trọng và có kế hoạch đầu tư nâng cao năng lực thiết kế, năng suất lao động, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm giảm lãng phí về nguyên phụ liệu.

    III.            Những khó khăn, thử thách của Tổng Công ty May Đồng Nai

    • Ông Bùi Thế Kích, Tổng giám đốc Công ty Donagamex cho rằng, khó khăn trước mắt đối với DN may không phải đơn hàng, mà là chi phí sản xuất tăng cao (chi phí điện, nước, xăng dầu, vận chuyển) và sự tăng vọt của nguyên phụ liệu nhập khẩu. “Nếu không tính toán kỹ hoặc đàm phán cụ thể với các nhà nhập khẩu để đưa ra hợp đồng linh hoạt, thì sẽ rất khó cho các nhà sản xuất nếu giá nguyên liệu cùng các chi phí khác tiếp tục tăng cao hơn so với thời điểm ký hợp đồng”, ông Kích nhấn mạnh (www.baomoi.com/det-may-tu-tin-vao-xuat-khau). Nguyên phụ liệu được nhập khẩu từ nước ngoài chủ yếu là Trung Quốc do giá NPL rẻ, dồi dào, chất lượng ổn định hơn NPL trong nước, mặt khác giá NPL trong nước thường cao hơn hàng nhập khẩu ít nhất là 5%, kèm theo đó là nguồn cung cấp lẫn chất lượng không ổn định.
    • Tổng Công ty tiếp tục phải đối mặt trong năm là thiếu lao động phổ thông và lao động có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Mức độ ổn định của nguồn lao động trong Tổng Công ty không cao khiến Tổng Công ty phải quan tâm đến việc tuyển dụng lao động mới, khiến tốn thời gian và chi phí đào tạo (ở các khu và ở Xuân Lộc, Định Quán).
    • Còn chủ yếu thực hiện may gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nên giá trị gia tăng của ngành may còn thấp.
    • Chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho ngành may của Tổng Công ty tại thị trường nước ngoài.
    • Thị trường nội địa còn gặp rất nhiều khó khăn, chưa tạo được uy tín, được nhiều người tiêu dùng trong nước chú ý và quan tâm.
    • Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt hàng của phía nước ngoài để xuất khẩu.
    • Các thủ tục xuất nhập khẩu còn gặp rất nhiều trắc trở, phải trải qua rất nhiều thủ tục, gây mất thời gian.

    IV.             Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu và giải quyết khó khăn cho Tổng Công ty:

    1.     Về phía doanh nghiệp:

    • Kế hoạch và phát triển trong tương lai (năm 2011)

    *Tình hình và đặc điểm chung:

    Năm 2011 sẽ có nhiều cơ hội cho Tổng Công ty phát triển vì tình hình hàng hóa đầy đủ, thị trường tiêu thụ hàng may mặc đã hồi phục sau khủng hoảng. Hiện Tổng Công ty đã có kế hoạch đơn hàng đấn hết tháng 9/2011.

    Bên cạnh đó năm 2011 cũng sẽ được dự báo tăng chi phí rất mạnh do tình hình lạm phát ngay từ đầu năm, lãi suất cho vay của Ngân hàng tăng, giá cả đầu vào (điện, nước, xăng dầu, vận chuyển…) đều tăng, chi phí nhân công tăng mạnh ở tất cả các mặt lương, BHXH, BHYT, lương lễ-tết, phép năm…

    Trước tình hình đó, Tổng Công ty đề ra kế hoạch như sau:

    1/ Chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2011:

    STT Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch năm 2011 Tỷ lệ/

     

    2010

    Ghi chú
    1 Giá trị SXCN (GTTSL) Tỷ Đ 650 127  
    2 Doanh thu. Trong đó Tỷ Đ 800 129 Phấn đấu 1.000 tỷ
      -DT xuất khẩu Tỷ Đ 780 129  
      -DT nội địa Tỷ Đ 20 138  
    3 Giá vốn hàng bán Tỷ Đ 770 130  
    4 Lợi nhuận  trước thuế Tỷ Đ 30 100 Phấn đấu 40 tỷ
    5 Doanh thu CMPT USD 9.200.000 118  
    6 Sản lượng nhập kho Ch 6.000.000 123  
    7 Kim ngạch XK.TT USD 40.000.000 111  
    8 Kim ngạch NK.TT USD 28.000.000 116  
    9 Lao động B/Q Ng 2.700 115  
    10 Thu nhập B/Q ng/th 3.650.000 112  

    (theo BCTN năm 2010)

    2/ Các giải pháp định hướng phát triển trong thời gian tới:

    –               Tiếp tục phát triển phương thức kinh doanh hàng FOB, nhưng phải tìm nguồn Nguyên phụ liệu cung ứng đầy đủ, kịp thời, chủ động và chi phí hợp lý.

    –           Tập trung phát triển thị trường nội địa, đầu tư cho sản phẩm và quảng bá thương hiệu. Trong năm 2011 tiếp tục thành lập thêm cửa hàng có quy mô lớn, chuyên nghiệp hơn ở Tp.HCM, Biên Hòa và Hà Nội.

    –           Tập trung đầu tư MMTB chuyên dùng, tự động cao; sản xuất hàng xuất khẩu có giá trị cao, thương hiệu lớn, sẵn sàng đầu tư cải tiến hệ thống để có đơn hàng của khách hàng lớn.

    –           Cải tiến hệ thống quản lý, tổ chức bộ máy; thành lập các công ty thành viên trực thuộc tại Khu A và Xuân Lộc; tiếp tục liên doanh, liên kết để mở rộng sản xuất và thu hút vốn đầu tư của đối tác, khách hàng.

    –           Kiên quyết sắp xếp lại cơ cấu, quy mô một số đơn vị và vị trí công việc của cá nhân để phù hợp với năng lực từng người. Cải tiến cơ bản về tiền lương để thu hút lao động.

    –           Tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng tình hình phát triển của Tổng Công ty.

    2. Một số giải pháp từ phía Nhà nước

    Cần đơn giản hóa thủ tục nhập nguyên phụ liệu, nhập hàng mẫu, nhập bản vẽ để thực hiện các hợp đồng gia công xuất khẩu hiện vẫn còn rườm rà, mất nhiều thời gian gây nhiều khó khăn cho Doanh nghiệp đặc biệt là các hợp đồng gia công xuất khẩu có thời hạn ngắn.

    “Doanh nghiệp rất cần sự tiếp sức của Nhà nước có thể giảm, tạm không thu trong ngắn hạn và dài hạn thuế thu nhập DN 20% để DN lấy khoản chi này chăm lo đời sống, giữ chân người lao động. Đây cũng là một cách để ngành may thu hút lao động.” (theo Ông Phạm Xuân Hồng, Tổng Giám đốc Công ty CP May Sài Gòn 3 trên http://vietstock.vn)

    Nhà nước hỗ trợ tư vấn cho các Doanh nghiệp với lãi suất ưu đãi, thủ tục vay đơn giản, gọn nhẹ, đưa ra những chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích sử dụng nguyên phụ liệu sản xuất trong nước.

     

    NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

    Qua một tháng kiến tập tại Công ty CP Tổng Công ty May Đồng Nai, sau khi tìm hiểu về Tổng Công ty nói chung và phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu nói riêng. Trên cơ sở đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế, tôi xin đưa ra một số nhận xét và kiến  nghị sau:

    NHẬN XÉT

    • Về Tổng Công ty

    Tổng Công ty là một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, luôn chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ quy định của Nhà nước, có cơ cấu tổ chức phù hợp với quy mô và hoạt động hiện tại của công ty cùng với đội ngũ công nhân viên có năng lực về chuyên môn, năng động, được đào tạo chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và trách nhiệm cao.

    Tổng Công ty hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (TP Biên Hòa, Xuân Lộc, Định Quán,..) là nơi có nguồn lao động năng lực, hấp dẫn, do đó công ty có thể mở rộng năng lực sản xuất. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Tổng Công ty đã luôn cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, uy tín của mình.

    Tổng Công ty đã không ngừng hoàn thiện công tác quản lý và cố gắng không ngừng khắc phục những khó khăn còn tồn tại với mục tiêu là mang kết quả tốt nhất  và hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, công ty còn có những chiến lược, kế hoạch đúng đắn trong tương lai, đồng thời cũng luôn quan tâm đến nguồn lực, không ngừng nâng cao, bồi dưỡng trình độ quản lý cũng như năng lực chuyên môn của công nhân viên chính vì vậy sẽ giúp Tổng Công ty ngày càng phát triển hơn nữa trong tương lai.

    Tổng Công ty đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO

    • ISO 9001 : 2000
      1. Tổng Công ty May Đồng Nai được giấy chứng nhận ISO 9001 : 2000, Tổng Công ty đã thực hiện tốt việc quản lý chất lượng, giúp nâng cao năng lực quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng Công ty. Giúp điều hành nội bộ và kiểm soát công việc tốt hơn, áp dụng tốt HTQLCL sẽ nâng cao uy tín, hình ảnh của Tổng Công ty với khách hàng và các bên liên quan. Tuy nhiên, HTQLCL thường hay phát sinh nhiều tài liệu, hồ sơ, biểu mẫu…mà có nhiều trường hợp là không cần thiết. Dẫn đến Tổng Công ty khó cập nhật tài liệu mới, sửa và bổ sung tài liệu lỗi thời.
    • SA 8000

    Việc thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn SA 8000 mang lại lợi ích cho từ người lao động đến công ty và các bên hữu quan khác có thể phân loại như sau:

    1. Lợi ích đứng trên quan điểm của người lao động, các tổ chức công đoàn và tổ chức phi chính phủ
    • Tạo cơ hội để thành lập tổ chức công đoàn và thương lượng tập thể.
    • Là công cụ đào tạo cho người lao động về quyền lao động.
    • Nhận thức của công ty về cam kết đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường lành mạnh về an toàn, sức khoẻ và môi trường.
    1. Lợi ích đứng trên quan điểm của khách hàng:
    • Có niềm tin về sản phẩm được tạo ra trong một môi trường làm việc an

    toàn và công bằng

    • Giảm thiểu chi phí giám sát
    • Các hành động cải tiến liên tục và đánh giá định kỳ của bên Thứ Ba là cơ sở để chứng tỏ uy tín của công ty
    1. Lợi ích đứng trên quan điểm của chính doanh nghiệp:
    • Cơ hội để đạt được lợi thế cạnh tranh, thu hút nhiều khách hàng hơn và xâm nhập được vào thị trường mới có yêu cầu cao
    • Nâng cao hình ảnh công ty, tạo niềm tin cho các bên trong “Sự yên tâm về mặt trách nhiệm xã hội”
    • Giảm chi phí quản lý các yêu cầu xã hội khác nhau.
    • Có vị thế tốt hơn trong thị trường lao động và thể hiện cam kết rõ ràng về các chuẩn mực đạo đức và xã hội giúp cho công ty dễ dàng thu hút được các nhân viên giỏi, có kỹ năng. Đây là yếu tố được xem là “Chìa khoá cho sự thành công” trong thời đại mớ
    • Tăng lòng trung thành và cam kết của người lao động đối với công ty.
    • Tăng năng suất, tối ưu hiệu quả quản lý.
    • Có được mối quan hệ tốt hơn với khách hàng và có được các khách hàng

    trung thành.

    • Về phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu

    Phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu là một trong năm phòng ban quan trọng, có tính chất quyết định đến khâu sản xuất, xuất nhập khẩu, đơn đặt hàng trong Tổng Công ty.

    Tất cả các nhân viên trong phòng Kế hoạch-Xuất nhập khẩu đều có kiến thức vững vàng, có sự phân công rõ ràng. Luôn có sự phối hợp nhịp nhàng, liên hệ, kiểm tra, đối chiếu lẫn nhau tạo điều kiện luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Tuy nhiên, phòng Kế hoạch-Xuất Nhập khẩu cũng gặp một số khó khăn như về thời gian, sự chậm trễ của các bên, phòng ban, các nhà cung ứng nguyên phụ liệu.

    KIẾN NGHỊ

    + Thường xuyên xem xét, cập nhật và sửa đổi hệ thống tài liệu cho phù hợp với môi trường kinh doanh, tình hình hoạt động sản xuất của Tổng Công ty.

    + Các phòng ban phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với nhau để luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ và đạt hiệu quả cao trong kinh tế.

    + Luôn cải thiện, nâng cao trình độ chuyên môn cho các đội ngũ nhân viên trong các phòng (P.KH-XNK) để đáp ứng nhu cầu hiện tại của Tổng Công ty.

     

    • Các yêu cầu cần kiểm soát của tiêu chuẩn ISO 9001: 2000

    1- Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ 
    Kiểm soát hệ thống tài liệu nội bộ, tài liệu bên ngoài, và dữ liệu của công ty
    2- Trách nhiệm của lãnh đạo
    – Cam kết của lãnh đạo
    – Định hướng bỡi khách hàng
    – Thiết lập chính sách chất lượng, và mục tiêu chất lượng cho các phòng ban
    – Xác định trách nhiệm quyền hạn cho từng chức danh
    – Thiết lập hệ thống trao đổi thông tin nội bộ
    – Tiến hành xem xét của lãnh đạo
    3- Quản lý nguồn lực
    – Cung cấp nguồn lực
    – Tuyển dụng
    – Đào tạo
    – Cơ sở hạ tầng
    – Môi trường làm việc
    4- Tạo sản phẩm
    – Hoạch định sản phẩm
    – Xác định các yêu cầu liên quan đến khách hàng
    – Kiểm soát thiết kế
    – Kiểm soát mua hàng
    – Kiểm soát sản xuất và cung cấp dịch vụ
    – Kiểm soát thiết bị đo lường

    5- Đo lường phân tích và cảI tiến
    – Đo lường sự thoả mãn của khách hàng
    – Đánh giá nội bộ
    – Theo dõi và đo lường các quá trình
    – Theo dõi và đo lường sản phẩm
    – Kiểm soát sản phẩm không phù hợp
    – Phân tích dữ liệu
    – Hành động khắc phục
    – Hành động phòng ngừa

    • Các yêu cầu của SA 8000

    SA 8000 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc làm việc trong các công ước của ILO và Tuyên bố toàn cầu của Liên Hợp Quốc về Quyền con người và Công ước về Quyền của Trẻ em. Các yêu cầu của tiêu chuẩn bao gồm:

    1. Lao động trẻ em: Không có công nhân làm việc dưới 15 tuổi, tuối tối thiểu cho các nước đang thực hiện công ước 138 của ILO là 14 tuổi, ngoại trừ các nước đang phát triển; cần có hành động khắc phục khi phát hiện bất cứ trường hợp lao động trẻ em nào.
    2. Lao động bắt buộc: Không có lao động bắt buộc, bao gồm các hình thức lao động trả nợ hoặc lao động nhà tù, không được phép yêu cầu đặt cọc giấy tờ tuỳ thân hoặc bằng tiền khi được tuyển dụng vào.
    3. Sức khoẻ và an toàn: Đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, có các biện pháp ngăn ngừa tai nạn và tổn hại đến an toàn và sức khoẻ, có đầy đủ nhà tắm và nước uống hợp vệ sinh.
    4. Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể: Phản ảnh quyền thành lập và gia nhập công đoàn và thương lượng tập thể theo sự lựa chọn của người lao động.
    5. Phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, đẳng cấp, tôn giáo, nguồn gốc, giới tính, tật nguyền, thành viên công đoàn hoặc quan điểm chính trị
    6. Kỷ luật: Không có hình phạt về thể xác, tinh thần và sỉ nhục bằng lời nói.
    7. Giờ làm việc: Tuân thủ theo luật áp dụng và các tiêu chuẩn công nghiệp về số giờ làm việc trong bất kỳ trường hợp nào, thời gian làm việc bình thường không vượt quá 48 giờ/tuần và cứ bảy ngày làm việc thì phải sắp xếp ít nhất một ngày nghỉ cho nhân viên; phải đảm bảo rằng giờ làm thêm (hơn 48 giờ/tuần) không được vượt quá 12 giờ/người/tuần, trừ những trường hợp ngoại lệ và những hoàn cảnh kinh doanh đặc biệt trong thời gian ngắn và công việc làm thêm giờ luôn nhận được mức thù lao đúng mức.
    8. Thù lao: Tiền lương trả cho thời gian làm việc một tuần phải đáp ứng được với luật pháp và tiêu chuẩn ngành và phải đủ để đáp ứng được với nhu cầu cơ bản của người lao động và gia đình họ; không được áp dụng hình thức xử phạt bằng cách trừ lương.
    9. Hệ thống quản lý: Các tổ chức muốn đạt và duy trì chứng chỉ cần xây dựng và kết hợp tiêu chuẩn này với các hệ thống quản lý và công việc thực tế hiện có tại tổ chức mình.

     

    Kết luận

    Trong công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, với những đặc điểm kinh tế kĩ thuật riêng phù hợp với tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay, công nghiệp Dệt-May được đánh giá là ngành có triển vọng phát triển sản xuất và xuất khẩu đem lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế trước mắt cũng như lâu dài.

    Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Tổng Công ty May Đồng Nai đã đạt nhiều thành công, đưa công ty lớn mạnh và phát triển như ngày nay. Tuy nhiên, cùng với những tác động của môi trường, chính sách và các nhân tố khác gây một số khó khăn cho Tổng Công ty May Đồng Nai nói riêng và ngành may mặc Việt Nam nói chung. Thực tế đòi hỏi Ban lãnh đạo công ty cần có những điều chỉnh kịp thời và chính xác nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn tại và phát triển đi lên.

    Qua thời gian thực tập tại công ty, với sự giúp đỡ của Chú Trưởng phòng, anh chị trong Công ty giúp em tìm hiểu được nhiều kiến thức bổ ích trong thực tế mà  sách vở chưa triệt để nhắc đến. Do trình độ hiểu biết có hạn, lại chưa có kinh nghiệm nên bài báo cáo này chắc chắn còn  nhiều thiếu sót. Em mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của thầy cô Trường Cao đẳng Công nghệ & Quản trị Sonadezi, Ban lãnh đạo và các cô chú, anh chị trong Tổng Công ty May Đồng Nai.

    Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và đặc biệt là Thầy Hồ Văn Khôi, Chú Phạm Hữu Úy, các anh chị trong Tổng Công ty đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.

    Sinh viên thực tập

    Lư Thị Hoàng Vang

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tài liệu kham thảo

    1. Giáo trình “Kinh tế và Quản trị doanh nghiệp” của TS Ngô Xuân Bình-TS. Hoàng Văn Hải
    2. Các báo cáo của CTCP Tổng Công ty May Đồng Nai
    3. Tài liệu của Tổng Công ty do phòng KH-XNK cung cấp.
    4. Tổng hợp tài liệu trên các tạp chí điện tử:

    + http://www.donagemex.com.vn

    + http://www.baomoi.vn

    + http://diachidoanhnghiep

    Và một số tạp chí điện tử khác!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo thực tập cơ khí


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-ph%E1%BB%A5c-v%E1%BB%A5-t%E1%BA%A1i-b%E1%BB%99-ph%E1%BA%ADn-nh%C3%A0-h%C3%A0ng-kh%C3%A1ch-s%E1%BA%A1n-v%C6%B0%E1%BB%9Dn-th%E1%BB%A7-%C4%91%C3%B4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập tốt nghiệp Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn vườn thủ đô

    PHẦN 1

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong thời gian thực tập tại khách sạn Vườn Thủ Đô, qua những tìm hiểu cùng những thực tế tại khách sạn tôi đã học hỏi và thu thập được nhiều thông tin, cũng như những nhiệm vụ cần thiết phục vụ cho bản báo cáo thực tập của mình cũng như công việc sau này của mình.

    Từ những thực tế tôi đã thu được trong chuyến thực tập về hoạt động kinh doanh, tổ chức của bộ phận nhà hàng nói riêng và khách sạn Vườn Thủ Đô nói chung, bài báo cáo thực tập của tôi với mục đích tìm hiểu để đánh giá về cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh doanh tại bộ phận nhà hàng, phục vụ ăn uống cho khách. Nó còn nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin cũng như những hiểu biết nhất định về nghiệp vụ tổ chức, phục vụ nhà hàng tạ khách sạn Vườn Thủ Đô.

    Bài báo cáo còn nhiều hạn chế về lượng thông tin, tài liệu tham khảo nên còn nhiều thiếu xót mong bạn đọc góp ý để bài báo cáo được tốt hơn tôi xin chân thành cảm ơn.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 2

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    PHẦN HAI

    PHẦN NỘI DUNG

    Chương 1: Tổng quan về khách sạn Vườn Thủ Đô

    1.1 Quá trình hình thành khách sạn

    Nói đến Khách sạn người ta thường hình dung ra những công trình nguy nga lộng lẫy, những món ăn sang trọng phong cách phuc vụ hoàn hảo, lợi nhuận trong kinh doanh cao.Chính vì vậy hoat động kinh doanh khách sạn đã thu hút đông đảo số lượng người tham gia vào hoạt động kinh doanh này.

    Khi nhắc đến hoạt động kinh doanh khách sạn, người ta thường nói đến việc kinh doanh dịch vụ lưu trú.Ngoài dịch vụ cơ bản này ngành khách sạn còn tổ chức các dịch vụ bổ sung khác như dịch vụ phục vụ ăn, uống, phục vụ vui chơi giải trí, phục vụ các nhu cầu có liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của khách như (điện thoại, fax, giặt là, chữa bệnh…)

    Không nằm ngoài những quy luật chung của hoạt động kinh doanh, khách sạn Vườn Thủ Đô được coi là khách sạn có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí cũng như trật tự an ninh. Khách sạn đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về xếp hạng khách sạn.

    Có vị trí kiến trúc

    Trang thiết bị tiện nghi phục vụ Dịch vụ và mức độ phục vụ

    Nhân viên phục vụ

    Vệ sinh

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn trên khách sạn Vườn Thủ Đô đã được công nhận là khách sạn 3 sao với trang thiết bị tiện nghi phục vụ hiện đại, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn nghỉ, sinh hoạt, giải trí theo tiêu chuẩn 3 sao, phù hợp tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

    Khách sạn Vườn Thủ Đô nằm trên đường 48A – Láng Hạ – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. Là khách sạn liên doanh với Hồng Kông được xây dựng và đi vào hoạt động năm 1995, khách sạn được xây dựng theo kiểu kiến trúc Châu Âu giống như một khu vườn nhỏ giữa lòng thủ đô. Khách sạn có tổng số 70 phòng, các phòng đều được trang trí những thiết bị nội thất tốt,chất

    lượng cao. Bao gồm các loại phòng, giá phòng như sau:  
    Room  Types Single Occupancy Double
    Occupancy      
    Superior US$ 79.00 US$ 89.00
    Duluxe US$ 89.00 US$ 99.00
    Executive Deluxe US$ 99.00 US$ 109.00
    Executive Suite US$ 129.00 US$ 139.00
    Roll-away bed for 3rd person     US$ 10.00

    Với tiện nghi trang bị cho các phòng đều rất đầy đủ, trong phòng đều có các trang thiết bị và dịch vụ rất tiện nghi như, minibar, ti vi, điện thoại, điều hòa, phòng tắm, phòng tiếp khách.

    Trong khách sạn đều có sẵn và luôn sẵn sàng phục vụ khách với các dịch vụ như:

    Phòng hội nghị gồm 2 phòng lớn và nhỏ, phòng nhỏ có sức chứa 30 người, còn phòng họp lớn chứa khoảng từ 120-150 người.Giá phòng cho thuê có mức giá là khoảng 150USD/ ngày, khách sạn thường có rất đông các cơ

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    quan tổ chức, các phái đoàn trong và ngoài nứơc chọn làm địa điểm họp và tổ

    chức các diễn đàn, các hội nghi…

    Các dịch vụ như soạn thảo văn bản, thư tín điện tử trong và ngoài nước, giặt là, Thai masage, thu đổi ngoại tệ,dịch vụ internet…đều đựơc phục vụ tận tình và chu đáo.

    Khách sạn còn có một đội xe chuyên chở phuc vụ nhu cầu đi lại của quý khách để phục vụ các chuyến hội nghị xa và nhu cầu đi lại của nhân viên trong khách sạn.

    Ngoài những dịch vụ kể trên khách sạn còn có các phòng ban với đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, làm việc tận tình và luôn làm hài lòng nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.

    Những nhân tố kể trên đã làm cho khách sạn trở thành điểm dừng chân lí tưởng, an toàn, tin cậy của du khách quốc tế và nội địa. Hàng năm khách sạn thu hút tới hàng nghìn lượt khách tới nghỉ, giải trí và ăn uống.

    2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của khách sạn Vườn Thủ Đô

    Việc xây dựng được một cơ cấu tổ chức khách sạn tối ưu và chính xác là một nhiệm vụ quan trọng với các cấp quản lí của khách sạn. Khách sạn Vườn Thủ Đô cũng đã nghiên cứu học hỏi, nhằm đưa ra được một cơ cấu tổ chức phù hợp nhất để đưa khách sạn đứng vững trên thị trường kinh doanh và đưa lại nhiều lợi nhuận cho khách sạn. Đó là một cơ cấu tổ chức theo kiểu hỗn hợp, nhưng hài hòa.

    Cơ cấu tổ chức này có sự kết hợp giữa cơ cấu tổ chức trực tuyến và cơ cấu chức năng. Người chỉ đạo và ban hành các quyết định chính là Hội đồng quản trị, dưới đó là Tổng Giám Đốc, các phòng ban đều có các cấp lãnh đạo trực tiếp và giám sát công việc của cấp dưới đảm bảo công việc đựơc thực thi và đạt hiệu quả tốt nhất. Các bộ phận cấp dưới cũng nhận rõ trách nhiệm và

    công việc của mình, với cơ cấu tổ chức này giúp cho từng bộ phận trong

    khách sạn phát huy lợi thế và quyền lợi của bộ phận mình.

    sơ đồ

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 7

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Từ cơ cấu tổ chức bộ máy của khách sạn nói trên, căn cứ vào bản chất của ngành khách sạn và tổ chức các hoạt động kinh doanh trong khách sạn, các nhà quản lý khách sạn Vườn Thủ Đô đã chia ra làm 2 khối ngành chính để sản suất và kinh doanh.

    Khối thứ nhất: kinh doanh dịch vụ lưu trú và các dịch vụ bổ sung khác.

    Khối thứ hai: kinh doanh dịch vụ nhà hàng và các dịch vụ bổ sung khác.

    Việc phân ra thành 2 khối ngành kinh doanh trên nhằm mục đích phân

    định rõ ràng, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi khối, mỗi bộ phận, mỗi tổ trong quá trình kinh doanh phục vụ của khách sạn. Nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng tổ chức công tác hạch toán kinh tế cũng như xác định các mục tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh của từng khối. Với việc xác định rõ mục tiêu và định hướng kinh doanh, khách sạn Vườn Thủ Đô đã thu được nhiều lợi nhuận từ kinh doanh và tăng doanh thu cao trong mỗi năm, đó là việc mà không phải khách sạn nào cũng làm đựơc.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 8

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Chương 2: Giới thiệu về họat động kinh doanh của bộ phận nhà hàng tại Khách sạn Vườn Thủ Đô

    Trong khoảng thời gian thực tập tại khách sạn Vườn Thủ Đô, căn cứ vào nghành nghề đào tạo của trường cùng sức hấp dẫn của ngành kinh doanh dịch vụ ăn uống tôi đã xin thực tập tại bộ phận nhà hàng của khách sạn với mục đích tìm hiểu, học hỏi và bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cho nghề nghiệp của mình.

    Như nhiều ngành nghề kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh nhà hàng, phục vụ ăn uống rất phong phú và đa dạng nó đã và đang thu hút được đông đảo các nhà kinh doanh tham gia vào lĩnh vực này, mà trong khách sạn thì đây được coi là bộ phận quan trọng.

    2.1 Giới thiệu chung về bộ phận nhà hàng- khách sạn Vườn Thủ Đô

    Bộ phận nhà hàng hay còn gọi là bộ phận phục vụ ăn uống, có vai trò quan trọng trong đới sống xã hội và nhất là trong các khách sạn. Nó thỏa mãn một trong những nhu câu thiết yếu của khách, đưa du khách đến với một nền văn hóa ẩm thực, tạo sự hấp dẫn và uy tín cho du khách. Hoạt động này góp phần đáng kể vào sự thành công của công tác đối ngoại, ngoại giao, sự ổn định kinh tế, chính trị, và văn hóa.

    Với chức năng kinh doanh tạo ra sản phẩm và bán sản phẩm, góp phần tạo ra lợi nhuận, tăng doanh thu.Hoạt động kinh doanh này mang lại doanh thu cho khách sạn( chiếm xấp xỉ khoảng 50% doanh thu của khách sạn)

    Đây là bộ phận thu hút đông đảo lực lượng lao động và góp phần chung vào việc giải quyết các khó khăn trong đời sống xã hội nói chung.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                                 9

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    2.2. Tìm hiểu hoạt động chung của bộ phận nhà hàng-Khách sạn Vườn Thủ Đô.

    2.2.1.Cơ cấu tổ chức quản lý, hoạt động của bộ phận nhà hàng

    Giống như nhiều bộ phận khác trong khách sạn bộ phận phục vụ ăn uống của khách sạn Vườn Thủ Đô chiếm tỉ trọng doanh thu cao trong tổng số thu nhập của khách sạn, đem lại cho khách sạn những lợi nhuận đáng kể. Dưới đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của bộ phận ăn uống.

    Giám đốc bộ phận ăn uống

    Trợ lý giám đốc

    Trưởng bộ phận bàn   Trưởng bộ phận bar   Bếp trưởng
             
    Phụ trách nhà hàng   Phụ trách quầy bar   Phụ trách bếp trưởng
             
    Nhân viên bàn   Nhân viên quầy bar   Nhân viên bếp
             

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của bộ phận ăn uống,

    nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              10

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Với cơ cấu tổ chức trên, người đứng đầu là Giám đốc nhà hàng, người trực tiếp điều hành quản lý cả 3 bộ phận, 3 bếp và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Ban giám đốc khách sạn về toàn bộ hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của bộ phận ăn uống trong khách sạn. Xây dựng và hoạch định chiến lựơc kinh doanh của bộ phận, tham gia tổ chức hoạt động sản xuất, chế biến. Tuy giám đốc không phải là người tham gia vào quá trình chế biến, nhưng lại tham gia vào quá trình giám sát công việc. Nhiệm vụ này được cụ thể hóa trong một số việc.

    Tư vấn, duyệt thực đơn nhà hàng, quầy bar

    Lên kế hoạch, kiểm soát nhập nguyên liệu, đồ uống

    Tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, chế biến, quản lý việc sử dụng tiêu hao vật chất.

    Giám đốc của nhà hàng có chức năng tổ chức giới thiệu và bán sản phẩm, lập kế hoạch nghiên cứu và tiếp cận thông tin, tìm hiểu nhu cầu của khách để giới thiệu các sản phẩm của bộ phận, xây dựng các chương trình tiếp thị quảng cáo nhằm tư vấn kích thích tiêu dùng của khách. Nắm vững ngân sách, quản lý chặt chẽ doanh thu và chi tiêu của bộ phận, hoạch toán lỗ lãi hoạt động kinh doanh.

    Bố trí và quản lý lao động, tham gia vào công tác tuyển dụng nhân viên bộ phận trực tiếp chịu trách nhiệm huấn luyện đào tạo nhân viên mới, bồi dưỡng kĩ thuật nghiệp vụ cho nhân viên đang làm tại bộ phận. Bố trí phân công lao động hợp lý và căn cứ vào năng lực, thực tế của nhân viên và tính chất, đặc điểm công việc. Xây dựng các tiêu chuẩn, quy trình phục vụ, tổ chức quản lý và thường xuyên giám sát công việc của nhân viên. Quyết định và có vai trò tư vấn cho Ban lãnh đạo khách sạn trong việc thưởng, phạt, cất nhắc, thăng tiếp đối với nhân viên bộ phận.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              11

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Quản lý chất lượng sản phẩm, phát huy tích cực vai trò quản lý chất lượng đầu vào, nguyên vật liệu tươi sống … chất lượng đầu ra(chất lượng phục vụ của nhân viên.Quản lý và đảm bảo an toàn cho hệ thống cơ sở vật chất.

    Trợ lý Giám đốc có trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của giám đốc và giúp việc cho giám đốc nhà hàng, có tinh thần trách nhiệm và tổ chức kỷ luật cao trong công việc, khẳng định chuyên môn nghiệp vụ của mình và hỗ trợ cho cấp lãnh đạo quản lý tốt bộ phận nhà hàng.

    Đối với từng bộ phận cụ thể trong nhà hàng đều được tổ chức và phân công công việc cụ thể, nhằm chuyên môn hóa công việc trong từng bộ phận.

    Đối với bộ phận bàn, đứng đầu bộ phận này là trưởng bộ phận bàn, chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý mọi hoạt động liên quan đến việc phục vụ bàn.

    Phụ trách nhà hàng (Dining- room manager) Restaurant Supervisor, có trách nhiệm giám sát hoạt động ăn uống của một nhà hàng, đưa ra thực đơn, định giá và một số việc khác, đón tiếp các đoàn khách.

    Trưởng ca (a.m/p.m Shift Supervisor) quản lý giám sát các nhân viên trong ca, có mặt khi khách ăn để kiểm tra mức độ phục vụ nhân viên, độ hài lòng của khách.

    Nhân viên bộ phận bao gồm nhân viên đón tiếp, nhân viên ghi phiếu, nhân viên phục vụ tại bàn, nhân viên tiếp món, nhân viên thu ngân, nhân viên phục vụ tại phòng, nhân viên phục vụ tiệc.

    Bộ phận bar gồm trưởng bộ phận bar(Bar maneger), phụ trách quầy bar( Bar Supervisor), nhân viên bộ phận (nhân viên đón tiếp, nhân viên đứng quầy, nhân viên pha chế(Bartender), nhân viên phục vụ(wai staff)).

    Bộ phận bếp có bếp trưởng là người phụ trách bếp( Executive Chef),bếp trưởng là người quyết định thực đơn của nhà hàng, khách sạn trên cơ sở có sự

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              12

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    tham gia của các trưởng bộ phận và phụ trách các nhà hàng.Phân công điều phối công việc trong bộ phận bếp, giám sát các hoạt động dưới quyền và của các nhân viên, kiểm soát kỹ thuật chế biến chất lượng các món ăn, lên kế hoạch về nguyên vật liệu, tư vấn về mua sắm thiết bị.Phổ biến kinh nghiệm cách chế biến cũng như nghệ thuật trang trí món ăn cho các đầu bếp.

    Phụ trách bếp bộ phận( Sous Chef), được coi là xương sống củ bộ phận

    bếp.

    Nhân viên bộ phận gồm:Đầu bếp (Chef/Cook), nhân viên vệ sinh(Dish-Washer)

    Trong bộ phận phục vụ ăn uống của nhà hàng-Khách sạn Vườn Thủ Đô, luôn có sư phối hợp chặt chẽ giữa ba bộ phận, nhà hàng- bar- bếp. Đó là sự phối hợp giữa nhiều nhân viên, nhiều nguồn nhân lực, nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất. Phối hợp về mặt nhân lực, trong đó giám đốc bộ phân hay trưởng các bộ phận điều phối, bố trí lại lao động trong các bộ phận vào từng thời điểm nhất định. Phối hợp về mặt thông bằng cách cung cấp cho khách hàng những dịch vụ, phục vụ mang tính chuyên nghiệp đồng thời tạo ra sự dãn đọan mặt thông tin.Chính vì vậy nhân viên trong bộ phận nhà hàng luôn chính xác và truyền đạt thông tin rõ ràng để tránh những sai xót hoặc nhầm lẫn trong công việc.

    Để công việc kinh doanh đạt hiệu quả và thu hút được đông đảo lượng khách đến, cấp quản lý bộ phận nhà hàng cũng rất chú trọng tới những yêu cầu đối với nhân viên trong bộ phận. Nhân viên phải đảm bảo yêu cầu về sức khỏe và vệ sinh cá nhân, yêu cầu về tư cách đạo đức, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, lịch sự xã giao, yêu cầu về trang phục đông phục. Nhân viên bộ phận phải chấp hành và đạt những yêu cầu trên.

    2.2.2.Quy mô, hình thức hoạt động kinh doanh của bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              13

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    2.2.2.1.Quy mô hoạt động bộ phận nhà hàng

    Bộ phận nhà hàng khách sạn Vườn Thủ Đô, điểm đến của đông đảo du khách trong và ngoài nước.Với 3 nhà hàng lớn sẵn sàng phục vụ và đón tiếp du khách, nơi đây là môt điểm thưởng thức văn hóa ẩm thực với nhiều mầu sắc phong phú và đa dạng.

    Nhà hàng Âu(Anytime) mở cửa từ 6h sáng đến 2h đêm phục vụ khách với món phở CaLi nổi tiếng đến từ Caliphornia của Mỹ, ngoài ra nhà hàng Âu còn phục vụ khách ăn theo thực đơn chọn món với nhiều món ăn nổi tiếng. Món phở CaLi nổi tiếng được ông Tôn Lâm Tổng Giám Đốc khách sạn Vườn Thủ Đô người đã sống và học tập tại Mỹ chọn phục vụ tại nhà hàng, ông nói, nó có nguồn gốc tại Việt Nam nhưng vượt qua nửa vòng trái đất vào Nam rồi qua Mỹ nó vẫn giữ được cái gốc đặc trưng của Việt Nam và lại có thêm hương vị mới. Đó chính là điều đặc biệt thu hút khách tới ăn tại nhà hàng, tô phở CaLi có một đặc điểm rất…Mỹ là lớn hơn nhiều so với phở Hà Nội. Ở Mỹ không phải ai cũng dám kêu một tô phở “xe lửa”(tô lớn bằng cái bánh xe lửa). Phở CaLi khi có mặt tại nhà hàng Âu của khách sạn mặc dù đã “giảm kí rất nhiều so với nguyên bản nhưng còn rất bự”. Món phở được làm theo phong cách của Caliphorlia, thịt bò dùng cho món phở sẽ được để trên đĩa, đưa ra cho khách hàng tự nhúng trong tô sao cho vừa với nhu cầu của bản thân. Một điểm nữa cũng khác nhiều so với các quán phở Hà Nội là đồ dùng như(tô, thìa, đĩa…)của phở CaLi rất sạch, tất cả sau khi rửa đều được tiệt trùng và sấy nóng trong lò, khi nào dùng mới lấy ra.Và một điều hơn hẳn các quán phở khác, phở CaLi không dùng mì chính. Nếu món phở ở Caliphornia phải dùng bánh phở khô(do ở Mỹ không có nơi sản xuất bánh phở) thì phở CaLi tại khách sạn Vườn Thủ Đô lại có bánh phở xịn do đặt làm riêng.

    Phở CaLi được phục vụ ăn sáng tại nhà hàng Âu của khách sạn Vườn Thủ Đô, khi mới được khai trương vào đầu năm 2004 giá của mỗi tô là 15

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              14

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    000nghìn VND nhưng đến nay giá của mỗi tô phở đã thay đổi lên đến 25 000 một tô và với mỗi tô phở đặc biệt là 30 000 mức giá này không phải là cao so với nhưng người sành ăn đã từng ăn phở CaLi.

    Tại nhà hàng Âu còn có một quầy bar phục vụ đồ uống cho khách, coktail, các loại rượu nổi tiếng và mở cửa song song cùng với nhà hàng Âu.

    Nhà hàng Á phục vụ từ 6h sáng đến 10h đêm, có một quầy bar phục vụ đồ uống cho khách với loại Cafe Rendezvous. Phục vụ khách ăn sáng, chủ yếu là khách phòng với các món ăn tự chọn, buffet các món ăn của Nhật Bản, Trung Quốc,và Châu Á. Buổi trưa cơm công sở tự chọn với nhiều món ăn Việt Nam và Hàn Quốc.Tối phục vụ lẩu tự chọn, lẩu hải sản từ thứ 2- đến tối thứ 6.

    Nhà hàng Nhật khai trương tháng 6 năm 2005, phòng ăn đẹp, lịch sự theo phong cách của Nhật mở cửa từ 11giờ sáng đến 12giờ đêm. Phục vụ khách ăn theo thực đơn, thức ăn phong phú với các món Shashimi, gỏi cá hồi, cá ngừ, mực bạch tuộc…Trong nhà hàng Nhật còn có phòng Karaoke, phục vụ nhu cầu giải trí của khách, 2phòng ăn phục vụ khách ăn theo đoàn.

    Bộ phận nhà hàng còn có quầy vịt nướng, do những đầu bếp nổi tiếng chế biến và bán tại quầy hàng bên ngoài khách sạn gồm các món vịt nướng, quay, xa xíu, sườn nướng.

    2.2.2 Hình thức hoạt động kinh doanh của bộ phận nhà hàng

    Bộ phận nhà hàng ra đời cùng với sự ra đời của ngành kinh doanh nhà hàng khách sạn, tại nhà hàng phục vụ bữa sáng với 2 hình thức.

    Nhà hàng Á phục vụ bữa sáng theo kiểu tự chọn, kiểu Alacarter(ăn sáng chọn món), ăn tại phòng.

    Với kiểu ăn sáng tự chọn đồ ăn thức uống được bày trên các dãy bàn, được quy hoạch thành các khu riêng, đồ nóng riêng, đồ nguội riêng, rất bắt mắt.Thông thường các bữa ăn sáng này nằm trong giá phòng, nếu như khách muốn mời bạn ở ngoài vào thì phải trả thêm tiền.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              15

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Còn kiểu ăn sáng chọn món, nhà hàng xây dựng thực đơn điểm tâm số lượng thức ăn ít hay nhiều tùy vào số lượng khách.

    Ăn sáng tại phòng khách là đáp ứng những yêu cầu của khách qua điên thoại, hoặc ghi vào các phiếu yêu cầu để ở ngoài cửa phòng.

    Còn bữa chính ở nhà hàng Á gồm có bữa trưa cơm công sở tự chọn bắt đầu từ11giờ trưa đến 1giờ chiều, cơm công sở phục vụ mọi đối tượng khách, buổi tối lẩu tự chọn kiểu Hồng Kông.Tối thứ7 buffet quốc tế, phong phú và đa dạng.Chủ nhật từ 11giờ đến 14 giờ Dimsum Buffet, do đầu bếp Trung Quốc đảm nhiệm, tối chủ nhật buffet Âu- Á (có góc món ăn Sài Gòn).

    Dưới đây là bảng giá đồ ăn phục vụ tại bộ phận nhà hàng

    *Phở Cali: 25.000/bát

    *Dimsum Chiên US$ 1.00++ -Hấp US$ 1.20++ *Cơm công sở- tư chọn : 60 000 VND /người

    Tối thứ 2 đến thứ 6:           * Lẩu tự chọn – kiểu Hồng Kông

    US$ 8.90++/ người lớn

    US$ 4.90++/ trẻ em

    Tối thứ 7

    * Buffet Quốc tế

    US$ 10.00++/ người lớn

    US$ 6.50++/trẻ em

    Chủ nhật(11h-14h)            * Dim Sum Buffet (đầu bếp Trung Quốc)

    US$ 6.00++/ người lớn

    US$ 4.00++/trẻ em

    Tối chủ nhật                           * Buffet Âu – Á

    US$ 6.50++/người lớn

    US$ 4.00++/ trẻ em

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              16

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Với mức giá trên thực sự chỉ có ở nhà hàng khách sạn Vườn Thủ Đô,với phương châm tạo sự hài lòng, ngon miệng cho khách hàng nhà hàng đã không ngừng tạo ra những phong cách ẩm thực đặc trưng và mới lạ để phục vụ quý khách hàng.

    Nhà hàng Âu với Phở CaLi hấp dẫn sẽ làm cho bạn cảm giác ngon miệng trong bữa sáng với tô phở to, ngon, hấp dẫn trong cách chế biến và phục vụ đã thu hút đông đảo khách trong nước, mở cửa phục vụ khách hàng từ 6h sáng đến 2h đêm.

    *Phở CaLi :giá 25 000Đ/bát

    Các món ăn kiểu Âu phục vụ theo kiểu chọn món đầy hấp dẫn và phong phú, từ cách chế biến đến phong cách phục vụ sẽ tạo cho khách một không khí thưởng thức ẩm thực châu Âu ngay giữa lòng thủ Đô.

    Nhà hàng Nhật với nhừng món ăn Nhật Bản mới lạ Shashimi(gỏi cá hồi,cá ngừ, mực và bạch tuộc…), nhà hàng sẽ phục vụ theo đúng kiểu Nhật và bạn sẽ được ăn món Nhật theo phong cách Nhật. Một phòng Karaoke ngay trong khuôn viên nhà hàng phục vụ nhu cầu giaỉ trí cho khách.

    Với hai quầy bar, lớn ở nhà hàng Âu phục vụ các loại rượu nổi tiếng, rượu vang, coktail, nước hoa quả, sinh tố. Quầy bar nhỏ trong nhà hàng Á phục vụ các loại cafe, trà…Quầy bar với không khí nhạc nhẹ tạo sự thoải mái, và phong cách thưởng thức đồ uống thật lí thú và thoải mái.

    Bộ phận nhà hàng còn mở quầy hàng vịt quay phục vụ khách với các món

    Vịt quay: 160.000VND/kg

    Xa xíu, sườn nướng: 60.000VND/kg

    Quầy vịt mới đựơc đưa vào sử dụng nhưng đã thu hút đông đảo khách hàng doanh thu mỗi ngày đạt từ 10triệu VND trở lên, mở cửa từ 2h chiều đến7h tối để phục vụ.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              17

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Hai phòng hội thảo dành cho các hội nghị hội thảo, các sự kiện trong và ngoài nước thuê làm địa điểm với giá từ 120-150USD/ ngày. Nơi đây cũng làm nơi tổ chức tiệc trà, phục vụ tiệc giải lao, ăn nhẹ cho các đoàn khách.

    Bộ phận nhà hàng còn có dịch vụ tổ chức tiệc cưới, chiêu đãi… thời điểm đông khách nhất diễn ra từ tháng 4- tháng 9 và những tháng cuối năm.

    Giá cho tiệc cưới là:700,000VND/ mâm trở lên (khuyến mại bánh cưới, xe đưa đón, tháp sâm panh với tiệc từ 30 mâm trở lên)

    Phục vụ cartering, out side ngoài trời đến tận các công ty đơn vị đặt ăn với giá cả phù hợp, phục vụ tận tình, chu đáo.

    Với những phương thức kinh doanh riêng và đáp ứng nhu cầu phong phú và đa dạng về các loại tiệc, các loại hình phục vụ ăn uống nhà hàng đã thường xuyên có chương trình khuyến mại, giảm giá và có những mức độ ưu đãi nhất định với khách đoàn, khách Vip…với phương thức kinh doanh yếu tố chất lượng và sự ngon miệng, hài lòng của khách hàng được đặt lên hàng đầu nên khách hàng đã tới đây ngày một đông và càng đông nhất vào những ngày cuối tuần.Theo ước tính của bộ phận lãnh đạo nhà hàng cho biết doanh thu của nhà hàng, mỗi tháng đạt khoảng 100,000 USD$ /tháng. Ngoài ra bộ phận còn tiến hành đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận bếp, bar, bàn hàng tháng hàng quý dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ sản xuất kinh doanh, năng suất lao động, các hình thức phục vụ khách, tỷ trọng giữa “sản phẩm tự chế và số hàng hóa chuyên bán, chất lượng phục vụ. Mục tiêu của nhà hàng đặt ra luôn nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, các nhà quản lý bộ phận thường sử dụng các biện pháp kinh tế để điều hòa lợi ích, khuyến khích từng cá thể.

    Ví dụ: Nếu nhân viên phục vụ bàn, phục vụ khách tốt sẽ được thưởng tiền .Số tiền thưởng này sẽ được phân chia thỏa đáng cho bộ phận bếp .Vì nếu như không có món ăn có chất lượng, mỹ thuật thì không thể làm cho khách hài lòng được.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              18

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Vì vậy bộ phận nhà hàng đã và đang khẳng định được uy tín và chỗ đứng của mình trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống và ngày càng thu được nhiều lợi nhuận.

    2.2.3 Công tác tổ chức đón tiếp, quy trình phục vụ khách tại bộ phận nhà hàng Hoạt động sản xuất kinh doanh các dịch vụ phục vụ ăn uống của bộ phận

    nhà hàng là phong phú và đa dạng, khối này bao gồm những bộ phận sản xuất kinh doanh sau:

    Bộ phận bếp “sản xuất” ra các món ăn phục vụ khách

    Bộ phận phục vụ bàn :phục vụ khách các món ăn do bộ phận bếp “sản xuất” và chế biến

    Bộ phận bar: chế biến và phục vụ các đồ uống cho khách, đồng thời bán

    một số hàng hóa khác như: thuốc lá bánh ngọt…

    Nhà hàng đã vạch rõ kế hoạch tổ chức đón tiếp khách trong từng bộ phận và mỗi bộ phận phải làm tốt công việc của bộ phận mình. Mỗi bộ phận đều có ngưòi lãnh đạo và chỉ đạo rõ ràng phân công đúng công việc, mỗi ca đều có người giám sát đó là ca trưởng(Captian) chịu trách nhiệm giám sát công việc, chỉ đạo, nhắc nhở từng cá nhân.

    Đối với việc phục vụ khách dùng bữa hay phục vụ các loại tiệc chiêu đãi, hội nghị… các bộ phận của nhà hàng đều tuân theo quy trinh phục vụ khách như sau.

    Chuẩn bị trước giờ phục vụ

    Đón tiếp khách

    Giớ thiệu thực đơn

    Tiếp nhận yêu cầu

    Phục vụ khách

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch 19

    Làm thủ tục thanh toán

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Sơ đồ quy trình phục vụ khách dùng bữa

    Bước 1: Với quy trình phục vụ khách trên bao giờ trước giờ phục vụ các nhân viên và Ban quản lý nhà hàng cũng phải tiến hành hội ý phân công công việc.

    Ví dụ như có 200 khách đặt tiệc trong nhà hàng, trước đó trưởng bộ phận tiến hành trao đổi, rút kinh nghiệm từ tiệc trước, đồng thời chỉ ra thiếu xót, khắc phục…Cung cấp thông tin về đối tượng khách hàng (quốc tịch,…) sắp xếp bàn ghế sao cho thuận lợi cho buổi tiệc, kiểm tra hình thức, thực đơn của nhân viên.

    Chuẩn bị nhà hàng, phòng ăn chu đáo, kê bàn trải bàn trước buổi tiệc, bày bàn ăn, xếp ghế, chuẩn bị đồ dùng và các mẫu phiếu cần thiết, chuẩn bị dụng cụ quay vòng.Bày bàn ăn thì căn cứ vào số lượng khách nhiều hay ít để kê cho hợp lí thường kê theo kiểu hình tròn, hinh chữ U, hình kim đồng hồ, kê từ trong ra ngoài…Nếu là khách đặt trước thì chuẩn bị bàn ăn trước cho khách, sau đó phải tiến hành kiểm tra.

    Với bước 2 đón tiếp khách, bao giờ cũng bố trí nhân viên đứng mở cửa cho khách, chào khách, tìm hiểu yêu cầu của khách, xem khách đã đăt trước hay chưa, dẫn khách đến bàn ăn, nhân viên giúp khách cất các vật dụng (áo

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              20

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    khoác, túi xách),bàn giao khách cho nhân viên trong bàn. Nhân viên trong nhà hàng bao giờ cũng được lưu ý vễ vấn đễ tìm hiểu tâm lý khách để bố trí bàn.

    Bước 3:Giới thiệu thực đơn cho khách thực đơn có định sẵn các món ăn, hoặc thực đơn đã đặt trước của khách.Đưa thực đơn từ bên phải đầu hơi cúi, đưa thực đơn cho khách nữ trước, khách nam sau. Khi tiếp nhận yêu cầu của khách nhân viên đứng bên phải khách, giải thích mô tả về thành phần, cách chế biến các món ăn trong thực đơn, giới thiệu các món ăn đặc sản, tư vấn về số lượng, chất lượng, thành phần dinh dưỡng của thực đơn.Tiếp nhận yêu cầu theo trình tự bữa ăn, ghi lại yêu cầu của khách về cách thức chế biến. Kiểm tra lại các yêu cầu của khách.

    Bước 4: Phục vụ khách, trải khăn ăn cho khách, phục vụ trước cho khách một loại đồ uống đặc trưng của nhà hàng.Nhân viên bàn nhận món ăn từ bộ phận bếp kiểm tra xem có đúng vơi thực đơn không, sau đó đem lại bàn cho khách. Phục vụ khách trong khi dùng bữa, giúp khách hoàn thiện món ăn(nếu cần) như nướng, cắt, xé nhỏ, bóc vỏ…Phục vụ món ăn cho từng khách, rót thêm rượu, tiếp thêm đồ uống cho khách, khéo léo quan sát, dự đoán tâm lý nhu cầu của khách, điều chỉnh tốc độ chế biến và tiếp món ăn. Tiếp nhận yêu cầu về món tráng miệng và đồ uống tiêu vị, thu dọn, thay đặt dụng cụ mới khi chuyển món hay khi có yêu cầu của khách.

    Bước 5: Làm thủ tục thanh toán(nhân viên thu ngân hoặc nhân viên phục vụ tại bàn) tham khảo nhận xet đánh giá của khách. Nhân viên bàn thông báo cho nhân viên thu ngân chuẩn bị hóa đơn thanh toán, kiểm tra lại hóa đơn rồi đưa cho khách. Dành thời gian cho khách kiểm tra hóa đơn, thực hiện thanh toán cho khách.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              21

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Bước 6: Tiễn khách và thu dọn, nhân viên kéo ghế cho khách, đưa lại cho khách những vật dụng cần thiết, cám ơn và đưa card nhà hàng cho khách. Tiễn khách ra khỏi nhà hàng và chào khách.

    Trên đây là quy trình phục vụ khách dùng bữa theo kiểu thực đơn chọn món còn đối với quy trình phục vụ tiệc, phục vụ buffet, quầy bar cũng giống như trên nhưng có một số điểm đáng lưu ý sau:

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              22

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Đối với phục vụ tiệc quy trình phục vụ tiệc cũng bao gồm 6 bước

    Chuẩn bị trước giờ phục vụ

    Đón tiếp khách

    Mời khách đồ uống khai vị

    Phục vụ khách

    Làm thủ tục thanh toán

    Tiễn khách

    Quy trình phục vụ tiệc của khách sạn Vườn Thủ Đô

    Bước1: Chuẩn bị trước giờ phục vụ, trang trí phòng tiệc, trang trí sân khấu, chủ đề bữa tiệc nội dung bữa tiệc, kê bàn tiệc, trải khăn, bày biện và trang trí bàn tiệc, xếp ghế, chuẩn bị đồ ăn thức uống theo thực đơn. Hội ý phân công công việc, kiểm tra lại công việc chuẩn bị.

    Bước 2 và bước 3 giống với quy trình phục vụ dùng bữa theo thực đơn. Bước 4 phục vụ khách dùng bữa :bao giờ nhân viên cũng được nhắc nhở và lưu ý các vấn đề sau khi phục vụ như, số lượng khách thường đông, đồ uống nhiều nên cần phục vụ chính xác, đầy đủ các món ghi trong thực đơn.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              23

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Tiệc có khách long trọng đòi hỏi nhân viên có thao tác nhanh nhẹn, có kinh nghiệm, trình độ phục vụ cao hơn khách thông thường. Trong mỗi phòng tiệc đều được có người chỉ huy, tiệc phục vụ đó được các nhân viên luôn hoàn thành tốt.

    Bước 5: Làm thủ tục thanh toán: Nhà hàng thực hiện thanh toán sau khi khách ra về hóa đơn được đưa cho chủ tiệc tránh không để khách biết.

    Quy trình phục vụ tại quầy bar: Bao gồm đón tiếp khách, giới thiệu thực đơn, tiếp nhận đồ ăn nhẹ, đồ uống. Sau đó nhân viên đứng quầy pha chế mang cho khách đồ uống đóng hộp, đặt cốc trên bàn rót mời khách. Làm thủ tục thanh toán, tiễn khách.

    Quy trình phục vụ tiệc Buffet: Với kiểu phục vụ này thức ăn được bày trên các dãy bàn, được quy hoặch thành các khu riêng, đồ nóng riêng nguội riêng. Mỗi khu vực bày đồ ăn thức uống có từ 2 đến 3 nhân viên phục vụ, có nhân viên rót trà và cà phê cho khách

    Việc tuân thủ đảy đủ quy trình nghiệp vụ phục vụ khách trong nhà hàng khách sạn luôn được các nhân viên và cấp lãnh đạo của nhà hàng tuân thủ và thực hiên đúng nhằm làm khách hàng hài lòng và chất lượng phục vụ tốt nhất

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              24

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Chương 3: Trình bày công việc thực tập tại bộ phận

    nhà hàng và những kết quả thu được.

    3.1 Những công việc được phân công và việc vận dụng lí thuyết đã học vào công việc thực tập tại nhà hàng khách sạn Vườn Thủ Đô

    3.1.1.Những công việc được phân công trong bộ phận nhà hàng

    Trong thời gian thực tập tại nhà hàng của khách sạn những công việc mà tôi được phân công đều rất cần thiết cho nghề nghiệp của tôi sau này,những công việc mà tôi làm tôi đều có khái quát trong nhật kí thực tập.Nhưng để hiểu rõ hơn về những công việc mà một sinh viên năm cuối đi thưc tập phải khẳng định chuyên môn nghiệp vụ của mình như thế nào, tôi muốn trình bày rõ về công việc mình thực tập tại bộ phận nhà hàng của khách sạn.

    Với bất kì một sinh viên năm cuối nào đều muốn chọn cho mình một nghề nghiệp ổn định và có thu nhập cao, đúng và phù hợp với ngành nghề mình học.Với sinh viên thời gian thực tập chính là để khăng định và rèn luyện mình để rồi khi ra trường sẽ vững vàng hơn bước vào nghề. Không chọn công ty lữ hành, hay những chỗ thực tập khác tôi xin thực tập tại khách sạn. Xác định và luôn nghĩ công việc sẽ có nhiều khó khăn, nhưng để quen với công việc thì dù thế nào cũng phải cố gắng. Những dư luận xã hội cho rằng sinh viên đại học chuyên ngành du lịch thì không thể lại đi làm công việc phục vụ bàn….Nhưng với tôi một nghề dù nhỏ hay có thể bị cho rằng không phù hợp

    với ngành mình học thì đó cũng là một cơ hội để mình thử sức và học hỏi Hàng ngày 8h sáng tôi đến khách sạn, thay đồng phục nhân viên nhà

    hàng bắt đầu vào công việc như các nhân viên đang làm, tôi phải bắt đầu học từ những công việc nhỏ nhất như cách đi đứng chào hỏi, đầu tóc búi gọn gàng và luôn phải đứng trong các nhà hàng mà không được phép ngồi. Ngày đầu

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    tiên tôi phải học cách làm quen công việc từ tên nhà hàng, các số bàn, các quy cách phục vụ khách, cách bưng đồ uống, bê và phục vụ đồ ăn.Tôi phải quan sát các nhân viên khi họ làm và học dần, rồi cái gì không rõ tôi phải hỏi để được chỉ dẫn.Tuy rằng khi trên giảng đường tôi đã được học môn Nghiệp vụ lễ tân khách sạn, có được học về quy trình phục vụ khách trong bộ phận nhà hàng nhưng số lượng thông tin thì lại không nhiều.Với công việc thực tập tại bộ phận nhà hàng, hầu hết mọi công việc tôi đều phải làm và học hỏi dần, từ việc đón chào khách,dẫn khách vào bàn ăn…Nhưng quy trình phục vụ khách tôi phải nắm được và làm quen dần với công việc của một nhân viên chứ không phải là một sinh viên nữa.

    Nhưng ngày đầu học, nhìn và có sự hướng dẫn của các anh chị đội trưỏng trong bộ phận và cùng với việc đưa những kiến thức mình đã học trong trường vào thực hành tôi cũng làm quen và thấy yêu thích công việc. Buổi sáng sau khi phục vụ bữa sáng cho khách, tôi vừa làm vừa học cách phục vụ để quen và nắm được chính xác các cách phục vụ, cả công việc mình phải làm.Tại nhà hàng Á tôi cùng các nhân viên bày bàn ăn và chuẩn bị dụng cụ phục vụ cho cơm công sở tự chọn buổi trưa như kê bàn, bày bàn ăn, gấp khăn ăn, các dụng cụ phục vụ cho cơm trưa. Buổi trưa bắt đầu khách ăn trưa tư 11h trưa đến 1h chiều tôi đứng tại các bàn ăn thu don dụng cụ ăn của khách khi khách chuyển món hoặc khách yêu cầu, ghi yêu cầu( oder) đồ uống cho khách mang sang quầy bar để pha chế…Hết quy trình phục vụ khách tôi cùng các nhân viên tiễn khách và thu dọn bàn và bày bàn ăn cho món lẩu buổi tối.Ca buổi sáng của tôi bắt đầu từ 8h sáng cho đến 2h chiều thì nghỉ, nếu như lịch làm ca tối sẽ bắt đấu từ 3h chiều đến 9h tối.

    Công việc thường có sự quay vòng trong các nhà hàng của bộ phận bắt đầu làm tại nhà hàng Á thì ngày hôm sau sẽ là tại nhà hàng Âu, rồi đến nhà hàng Nhật.

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Công việc tại nhà hàng Âu phục vụ món phở Cali và các món ăn chọn theo thực đơn hoặc đặt trước.Tôi được giao sẽ đón chào khách, dẵn kháh vào bàn, ghi và tiếp nhận các yêu cầu của khách về đồ ăn, và có lúc thì phục vụ phở cho khách, phục vụ đồ uống. Công việc phục vụ cũng được quay vòng chứ không phải chỉ làm một công việc mà thường đan xen và có sự phối hợp giũa các nhân viên với nhau để tránh sự phân biệt và các nhân viên có thể học hỏi giúp đỡ nhau.

    Trong nhà hàng Nhật thì thường là khách Vip, khách nước ngoài nên mức độ phục vụ cao thường đòi hỏi có ngoại ngữ và chuyên môn nghiệp vụ tốt.Từ những ngày đầu tôi quan sát công việc tỉ mỉ và học dần cách phục vụ và tạo điều kiện tiếp xúc khách trong các công việc phục vụ bằng vốn ngoại ngữ tiếng Anh của mình.Tôi phục vụ đồ uống theo chỉ dẫn của nhân viên và dần tới phục vụ khách, có thể tìm hiểu tâm lý khách để phục vụ đúng yêu cầu sở thích của khách.

    Nhìn chung công việc của tôi tại bộ phận nhà hàng được giao là phục vụ bàn và ghi yêu cấu của khách về chọn món cho khách nhưng tôi thường làm cả nhưng công việc khác để có thêm hiểu biết và va chạm dần với công việc.

    3.2.2 Việc vận dụng lí thuyết vào công việc thực tập

    Với những kiến thức và nghiêp vụ được học tại trường, tôi đều mang vào để vận dụng và làm cơ sở nền tảng cho nhưng quy trình phục vụ khách tại nhà hàng.Viêc nắm chắc các kiến thức và lí thuyết về những bộ môn trong nhà trường như: Quản trị khách sạn, Nghiệp vụ Ngoại giao, Nghiệp vụ Lễ tân khách sạn…đó là nhưng môn học giúp tôi có nhưng kiến thức để áp dụng vào trong công việc thực tập và có cơ hội trau dồi, học thêm để làm phong phú lượng kiến thức của mình. Những môn học trên cho tôi các kiến thức nền tảng vê các quan hệ ngoại giao, các hiểu biết về ngành kinh doanh khách sạn và

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    dịch vụ phục vụ đồ ăn thức uống trong nhà hàng.Tuy rằng việc vận dụng lí thuyết đã học vào trong công việc thực tế không phải là việc dễ dàng mà đòi hỏi chúng ta phải có tư duy và lô gíc để vận dụng đúng kiến thức đã học một cách hiệu quả và chính xác nhất.

    Người ta thưòng nói công việc thường đi đôi với thực hành nên tôi đã rất cố gắng, vận dụng những kiến thức đã học vào trong công việc phục vụ khách tại bộ phận nhà hàng, kinh doanh đồ ăn thức uống và làm thật tốt công việc tại đây, tôi vừa làm vừa quan sát để có thể làm mà tránh xảy ra sai xót trong công việc phục vụ, làm hài lòng khách và khách sẽ còn quay trở lại vào lần sau.

    3.2 Những nhận xét, đánh giá và kết quả thu được trong thời gian thực tập Công việc thực tập tại khách sạn đã cho tôi cơ hội tiếp xúc và hiểu

    được những giá trị trong cuộc sống, bước vào một ngành kinh doanh dịch vụ đòi hỏi nhiều nghiệp vụ phục vụ, khả năng nhanh nhẹn và xử lý tốt các tình huống hay các sai xót xảy ra trong nhà hàng. Bộ phận phục vụ đồ ăn thức uống của nhà hàng thực sự là phát triển và đóng góp nhiều cho sự phát triển của xã hội.Với gần 3 tháng thực tập tôi đã được thực hành băng khả năng, vận dụng kiến thức của mình vào công việc một lĩnh vực kinh doanh phong phú và đa dạng, hấp dẫn với nhiều loại hình kinh doanh khác nhau.

    Học du lịch có thể khong chỉ làm hướng dẫn, làm lữ hành, làm nghiên cứu… mà chúng ta có thể làm kinh doanh khách sạn trong đó có thể học được nhưng nghề dù có thể được coi là không cao không sang như nghề phục vụ. Nhưng chúng ta phải biết rằng mọi thành công bao giờ cũng phải đi lên từ những cái nhỏ, vì vậy làm nhà hàng hay nhân viên phục vụ chúng ta sẽ có cơ hội để thử thách, cọ sát công viêc và khẳng định bản thân. Nếu bạn làm tốt và luôn có ý trí vươn lên bạn sẽ có cơ hội để vươn cao.

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Chuyến thực tập đã giúp tôi có được những hiểu biết cụ thể, chính xác về bộ phận nhà hàng phục vụ đồ ăn thức uống.Tôi đã thu được nhưng kinh nghiệm trong việc đón tiếp các đoàn khách, cách thức phục vụ tiệc, rượu, đồ uống và pha chế đồ uống các chuyên thực tế vế hoạt động outside…Đây là cơ hội để tôi thực hành và làm công việc mà tôi chỉ đựợc học qua lí thuyết trứơc kia không được tìm hiểu sâu.Tôi còn được thưởng thức và tìm hiểu các món ăn từ truyền thống đến đặc sản, từ trong nước cho đến quốc tế để có thể có hiểu biết về công việc sau này của minh.

    Nếu ai hỏi bạn thực tập trong khách sạn bạn có thấy thích và tốt không, tôi sẽ trả lời rằng tôi rất thích và tôi đã học được từ công việc thực tập rất nhiều kinh nghiệm nghề nghiêp, cách sống và cư xử, cả vốn ngoại ngữ của tôi cũng được trau dồi và tích lũy. Những văn hóa ẩm thực, pha trộn nét hiện đại đều được tìm thấy tại đây. Một môi trường mới với những con người mới, nhưng cách làm việc thì đầy nhiệt tình, năng động và sáng tạo đã thực sự làm tôi thấy cần học tập về phong cách làm việc đúng giờ, chính xác và cả những thái độ cư xử ân cần, lịch sự xã giao và luôn có lòng yêu nghề, yêu công việc.Nhiều con người đến từ nhiều vùng đất khác nhau mang theo những nền văn hóa mới là dịp để tôi có thể quan sát, va trạm với mọi đối tượng khách, để rồi khi ra trường đi làm khách sạn, hướng dẫn hay công việc khác tôi cũng có những hiểu biết nhất định về giao tiếp và về cách xử lí công việc. Ngành du lịch nói chung và trong đó có ngành khách sạn, mà những người làm nghề này được coi là nghề làm dâu trăm họ, vậy thì tôi đã được thử thách, được học hỏi và được cả nhìn và làm bằng chính sức mình bằng thực tế đó là một điều bổ ích và lí thú.

    Khi thực tập tại khách sạn tôi có đựơc các anh chị nhân viên hỏi công việc vất vả không? tôi thường cười và trả lời em thấy bình thường, tôi biết rằng họ cũng đang làm tốt công việc đó hơn cả tôi mà tôi thấy nụ cười và

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    gương mặt họ luôn rạng rỡ và thái độ lúc nào cũng ân cần, lịch thiệp vậy thì với tôi những tấm gương đó phẩi là một động lực để tôi theo và học tâp. Để nói về những kết quả mà tôi thu được chắc sẽ rất dài vì ông cha ta thường nói “đi một ngày đàng học một sàng khôn” đúng vậy, tôi đã học đã trải ngiệm từ lí thuyết đến thực hành, thực tế và thấy “khôn” ra rất nhiều mà trước kia tôi chưa được biết đến.

    3.3 Những kiến nghị của bản thân vễ công việc của bộ phận nhà hàng-Khách sạn Vườn Thủ Đô và khoa Du Lịch

    Đứng trên phương diện của một sinh viên Du Lịch đã thực tập và làm tại bộ phận nhà hàng Khách sạn Vườn Thủ Đô tôi thấy công việc của bộ phận nhà hàng rất phát triền, khách đến rất đông và công việc kinh doanh cũng đang dần khẳng định chỗ đứng trên thị trường kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhưng một bộ phận bao giờ cũng tồn tại song song những ưu điểm và nhưng nhược điểm hay những măt thiếu xót mà người làm kinh doanh, nhà kinh doanh đều không thể tránh khỏi.Tôi xin được đưa ra một số kiến nghị sau nhằm làm cho bộ phận có thể khắc phục và rút kinh nghiệm cho hoạt đông kinh doanh của bộ phận nhà hàng nói riêng và khách sạn nói chung.

    Khách sạn phải đặt yếu tố chất lượng phục vụ lên hàng đầu để khách hàng thấy yên tâm, tin tưởng vào các dịch vụ họ sử dụng và tiêu dùng,không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ trong nhà hàng, khách sạn.

    Ví dụ :Nếu tại bộ phận nhà hàng hay bất kì một bộ phận nào mà nhà quản lý luôn thực hiện đúng việc đặt chất lượng phục vụ khách hàng trong việc ăn uống giải trí lên hàng đầu, nhằm tạo sự hài lòng cho khách hàng sẽ là điều kiện thúc đẩy cho khách sạn thu nhiều lợi nhuận và tăng uy tín cho khách sạn.

    Không ngừng nâng cao trình độ quản lý cho các bộ phận lãnh đạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho nhân viên trong từng

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    bộ phận để có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách và làm khách hài lòng.Vì nếu như khách sạn là 3 sao nhưng nhân viên chỉ có trinh độ nghiệp vụ phục vụ trong khách sạn 2 sao thì sẽ làm giảm uy tín và kìm hãm sự phát triển của khách sạn. Ngoài ra yếu tố ngoại ngữ của nhân viên nhà, quản lý phải được nâng cao, nhìn chung tai bộ phận nhà hàng tôi thực tập nhân viên còn yếu về mặt ngoại ngữ, khả năng giao tiếp còn hạn chế.

    Nhà quản lý phải có các chiến lựơc kinh doanh và cập nhật thông tin trên thi trường chính xác và nhanh nhạy, không ngừng học hỏi từ các bạn hàng các nhà kinh doanh khách sạn khác để rút kinh nghiệm, tạo mối quan hệ tốt.

    Tiến hànhh kiểm tra, rút kinh nghiệm và khắc phục những thiếu xót, hạn chế trong các tuần, tháng, quý. Có thái độ phê bình khen thưởng, kỷ luật hay khuyến khích sự thăng tiến của cá nhân và nhân viên trong bộ phận kịp thời và chính xác.

    Thường xuyên đôn đốc kiểm tra, giám sát các công việc và bồi dưõng chuyên môn cho từng bộ phận, cá nhân.

    Đó là những kiến nghị với khách sạn, cũng từ công việc thực tập của mình tôi xin được đưa ra một vài kiến nghị cho khoa Du Lich.

    Kết hợp việc học lí thuyết và thực hành cho sinh viên, để sinh viên không còn bỡ ngỡ khi đến làm hay thực tập tại các cơ quan đơn vị. Rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng nghiệp vụ nhất định về chuyên ngành, để họ có thể không bị thiếu hụt kiến thức chuyên môn.

    Những chuyến thực tế, thực hành trong các môn học tại nhà trường, và các chuyến đi khảo sát cho sinh viên năm cuối để thực tập các nghiệp vụ là cần thiết nhằm tạo cho họ cơ hội cọ xát với thực tế và ngoài môi truờng xã hội.

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Lượng kiến thức chuyên ngành du lịch còn chưa nhiều vì số tiết học các môn chuyên ngành còn ít, chưa đủ đáp ứng với công việc sau này.Sinh viên muốn được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác với các phương tiên thông tin hiện đại ngay trên giảng đường.

    Tôi hi vọng rằng rng những kiến nghị trên đây của tôi, sẽ giúp ích cho khách sạn Vườn Thủ Đô trong việc nâng cao chất lượng phục vụ, tăng doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh. Còn với khoa du lịch sẽ nâng cao chất lưọng giảng dạy và đào tạo ra những cử nhân chuyên ngành du lịch thật giỏi, năng động.

    Phần 3: Phần kết luận

    Bản báo cáo thực tập của tôi với tiêu đề “Hoạt động tổ chức phụ vụ tại bộ phận nhà hàng- khách sạn Vườn Thủ Đô” nhằm khái quát về các hoạt động tổ chức của khách sạn và của bộ phận nhà hàng,với các hình thức kinh doanh và quy trình phục vụ ăn uống của bộ phận nhà hàng. Đồng thời giới thiệu, trình bày về các công việc mình đã làm tại khách sạn, qua đó đưa ra những nhận xét đánh giá về kết quả công việc và những kiến nghị cho khách sạn, khoa du lịch. Qua bản báo cáo này tôi xin chân thành cám ơn Khách sạn Vườn Thủ Đô, bộ phận nhà hàng cùng Ban quản lý nhà hàng đã giúp đỡ tôi hoàn thành thời hạn thực tập một cách tốt đẹp và đã cung cấp cho tôi những thông tin tư liệu, cùng những thắc mắc về khách san, nhà hàng…để tôi có thể viết được báo cáo. Tôi cũng chân thành cám ơn Phó giáo sư Tiến sĩ Phạm Quốc Sử đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành bài báo cáo này. Bài báo cáo còn nhiều thiếu xót rất mong nhận được sư giúp đỡ góp ý của bạn đọc và thầy giáo, để tôi có thể hoàn thiện hơn bài báo cáo của mình.Tôi xin chân thành cám ơn.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              32

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              33

    Hoạt động tổ chức phục vụ tại bộ phận nhà hàng – khách sạn Vườn Thủ Đô

    Tài liệu tham khảo

    1. Trịnh Xuân Dũng – Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn.

     

    1. Giảng viên Nguyễn Ngọc Dung – Bài giảng nghiệp vụ lễ tân khách sạn.

     

    1. Tạp chí Du lịch Việt Nam số 2, 3, 4, 5, 6,7 năm 1998 về kinh doanh nhà hàng khách sạn.
    1. Tài liệu tham khảo của Khách sạn Vườn Thủ đô.

    Nguyễn Thị Sao – Lớp: K47 Du lịch                                                                                              34


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Một số kinh nghiệm trong công tác quản lý Tài chính – Tổ chức nhân sự trường học


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-CHI-NHA%CC%81NH-C%C3%94NG-TY-TNHH-M%C3%94%CC%A3T-THA%CC%80NH-VI%C3%8AN-HA%CC%80-THA%CC%80NH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH

    LỜI CẢM ƠN

    Để hoàn thánh bài báo cáo tốt nghiệp này là kết quả của sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô Khoa Thương Mại Du Lịch – Trường Đại Học Công Nghiệp TP. HCM cùng với sự quân tâm chỉ bảo giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám Đốc, các cô chú, anh chị tại chi nhánh  Công Ty TNHH Một Thành Viên Hà Thành.

    Trong thời gian qua, ở trường tôi đã nhận được sự giúp đỡ dìu dắt của quý thầy cô Khoa Thương Mại Du Lịch. Thầy Cô đã đem đến cho tôi hành trang để bước vào cuộc sống. Ở công ty thực tập tôi có điều kiện được tiếp xúc với thực tế, trao dồi kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc cho bản thân, tất cả những điều ấy đều nhờ sự quan tâm từ ban lãnh đạo, cô chú và các anh chị ở chi nhánh công ty.

    Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Thương Mại – Trường Đại Học Công Nghiệp Tp. Hồ Chí Minh đặc biệt thầy Nguyễn Viết Bằng người đã hướng dẫn tôi hoàn thành bài báo cáo này, cùng với lòng biết ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo, cô chú anh chị ở Chi Nhánh Công Ty TNHH Một Thành Viên Hà Thành.

    Trong bài báo cáo, không thể không có sai sót, kính mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và quý công ty.

    Xin chân thành cảm ơn!

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Sau thời gian 4 tháng thực tập tại đây, em đã hoàn thành “Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH” với:

    • Mục đích của bài báo cáo.

    Bài báo cáo được thực hiện với mục đích tìm hiểu về thực trạng hoạt động kinh doanh tại CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại công ty.

    • Đối tượng báo cáo.

    Đối tượng của bài báo cáo là tình hình hoạt động của CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH qua các năm 2009-2011.

    • Phạm vi báo cáo.

    Về không gian: Các hoạt động tại công ty CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH .

    Về thời gian: từ năm 2009 đến 2011.

    • Phương pháp báo cáo.

    Bài báo cáo sử dụng các phương pháp báo cáo như: phương pháp so sánh đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty qua các năm, phương pháp tổng hợp – phân tích, thống kê…

    Bên cạnh đó, báo cáo cũng sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, đó là phương pháp định tính và định lượng để thực hiện báo cáo, phương pháp thu thập dự liệu và thông tin từ sổ sách các phòng ban của công ty – đây là phần số liệu chủ yếu phục vụ cho việc làm báo cáo, xử lý các thông tin đã thu thập được bằng những kiến thức đã học.

    • Kết cấu báo cáo.

    Với sự hướng dẫn tận tình của Thầy Nguyễn Viết Bằng, khoa Thương mại – Du lịch trường Đại Học Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh và các anh chị trong CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em củng cố lại những kiến thức đã học và vận dụng vào thực tế. Qua thời gian thực tập em đã tìm hiểu về những hoạt động của công ty và hoàn thành bài báo cáo với nội dung gồm 3 phần:

    + Phần 1: Thực trạng hoạt động của chi nhánh công ty TNHH một thành viên Hà Thành.

    + Phần 2:Một số nhận xét và ý kiến đề xuất đối với chi nhánh công ty TNHH một thành viên Hà Thành.

    + Phần 3:Những kiến thức và kinh nghiệm thu được trong quá trình thực tập.

     

    PHẦN1: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN HÀ THÀNH.

    1.1. Giới thiệu khái quát về doanh nghiệp.

    1.1.1.   Tên, trụ sở và lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

    Tên: Công ty Hà Thành – Bộ Quốc Phòng.

    Tên giao dịch quốc tế: HA THANH COMPANY

    Trụ sở chính đặt tại: 99 Lê Duẩn, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

    Điện thoại: 04 7320644

    Fax: 047320646

    Mã số thuế: 0100108529

    Website: http://www.cktqp.gov.vn

    Tổng số vốn ban đầu được cấp: 4.053.000.000 đồng.

    Ngành nghề sản xuất kinh doanh:

    Sản xuất kinh doanh hàng may, đồ gỗ, lâm sản, gốm sứ mỹ nghệ, các loại tinh dầu, bao bì, nhựa, thực phẩm, đại lý bán hàng.

    Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, nguyên liệu, hàng tiêu dùng phục vụ sản xuất của công ty.

    Sản xuất sản phẩm cơ khí.

    Sản phẩm truyền thống:

    Sản xuất kinh doanh hàng may, đồ gỗ, lâm sản, gốm sứ mỹ nghệ, các loại tinh dầu, bao bì, nhựa, thực phẩm, đại lý bán hàng, xuất nhập khẩu.

    Sản phẩm truyền thống:

    Sản xuất kinh doanh hàng may, đồ gỗ, lâm sản, gốm sứ mỹ nghệ, các loại tinh dầu, bao bì, nhựa, thực phẩm, đại lý bán hàng, xuất nhập khẩu.

    1.1.2.   Quá trình hình thành và phát triển của công ty Hà Thành.

    Lúc ban đầu khi vừa mới được thành lập công ty mang tên công ty Thăng Long chính thức thành lập theo quyết định 406/QĐQP ngày 07/05/1994, chịu sự điều hành trực tiếp của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô (Bộ Quốc Phòng). Và căn cứ vào quyết định số : 245/2003-QĐ-BQP ngày 29/09/2003 của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng về việc trao đổi tên công ty Thăng Long thành công ty Hà Thành thuộc Quân Khu Thủ Đô.

    • Công ty Hà Thành được thành lập do sự sáp nhập của các doanh nghiệp:
    • CÔNG TY THĂNG LONG
    • CÔNG TY LONG GIANG
    • XÍ NGHIỆP 99
    • XÍ NGHIỆP GỐM SỨ MĨ NGHỆ
    • XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ 81
    • XÍ NGHIỆP 56
    • Với mong muốn mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng kinh doanh mới, công ty đã mạnh dạn mở thêm 2 chi nhánh nữa là:
    • Chi nhánh tại Quảng Ninh: 45 Trần Hưng Đạo, TP Quảng Ninh.

    Thành lập ngày 01/01/1996

    Công ty Hà Thành là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán độc lập, có tài khoản tại Ngân Hàng, có con dấu riêng và có giấy phép hoạt động kinh doanh chủ yếu ở lĩnh vực Xuất Nhập Khẩu.

    1.1.3.   Chức năng và nhiệm vụ.

    • Chức năng.

    Là doanh nghiệp quân đội làm kinh tế thời bình, tận dụng cơ sở sản xuất sẵn có để sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên quốc phòng, góp phần đem lại lợi ích cho toàn xã hội.

    • Nhiệm vụ.

    Hoạt động chính của công ty là kinh doanh mua bán , xuất nhập khẩu trong và ngoài nước.

    Xuất khẩu: Các mặt hàng nông sản, kinh doanh may mặc, đồ gỗ, hàng mỹ nghệ, gốm sứ, hàng tiêu dùng, hàng nhựa, lắp ráp xe máy, đại lý bán hàng dịch vụ khách sạn và bán hàng tại khách sạn…

    Nhập khẩu: Các loại xe máy móc phục vụ cho nông nghiệp, các loại công cụ phục vụ cho sản xuất, xây dựng, các loại xe máy, xe tải xe chuyên dụng…

    Đến năm 1997, do nhu cầu mở rộng thị trường cùng với việc mở rộng quan hệ ngoại giaohợp tác trao đổi với các bạn hàng trong và ngoài nước cộng với chủ trương mở rộng quy mô hoạt động chuẩn bị một bước phát triển mới trong tương lai, công ty Hà Thành đã đăng ký mở rộng thêm một số ngành nghề kinh doanh sau:

    Theo giấy đăng ký mở rộng kinh doanh ngày mùng 7/1/1997 các mặt hàng được bổ sung như sau: vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, thiết bị tin học, đồ điện.

    Theo giấy mở rộng đăng ký kinh doanh ngày 15/05/1997 các mặt hàng được bổ sung như sau: vật liệu xây dựng, thiết bị văn phòng, nguyên vật liệu sản xuất, nệm Mouse, kinh doanh chất đốt.

    1.1.4.   Đặc điểm cơ cấu tổ chức của công ty.

    • Sơ đồ bộ máy quản lý.

    Công ty Hà Thành chịu sự quản lý của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô. Bộ máy tổ chức văn phòng của công ty có 60 nhân viên với 2 chi nhánh ( Thành Phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh.)

    PHÓ GIÁM ĐỐC
    PHÒNG KINH DOANH XNK
    PHÒNG TIẾP THỊ ĐẦU TƯ
    PHÒNG KẾ TOÁN
    CHI NHÁNH TẠI TP. CHM
    CHI NHÁNH TẠI QUẢNG NINH
     

     

    GIÁM ĐỐC

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    • Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban.
    • Giám đốc:

    Là người lãnh đạo cao nhất của công ty, có quyền quyết định mọi hoạt động và có trách nhiệm trước nhà nước về kết quả hoạt động kinh doanh.Giám đốc là người giữ vai trò chỉ huy với chức trách quản lý, sử dụng toàn bộ vốn, đất đai, nhân lực và các nguồn lực của công ty

    • Phó Giám Đốc

    Trợ lý cho Giám Đốc trong việc điều hành tổ chức quản lý quá trình hoạt động của công ty , lập kế hoạch kinh doanh, phụ trách lĩnh vực công tác kinh doanh, hành chính, quản trị, đời sống. Điều phối lao động và duy trì kĩ thuật cho toàn công ty. Đồng thời tổ chức sắp xếp bố trí hợp lý lực lượng lao động. Đề suất và tham gia bồi dưỡng về năng lực cho nhân viên. Khi Giám Đốc vắng mặt , ủy quyền cho Phó Giám Đốc chỉ huy điều hành mọi hoạt động của công ty.

    • Phòng Kế toán:
    • Có nhiệm vụ sử dụng và quản lý vốn một cách hiệu quả, cân đối nguồn vốn phù hợp với chế độ, nhu cầu hoạt động kinh doanh, sản xuất của công ty.
    • Tổ chức hạch toán công ty, theo dõi và thực hiện các chức năng thanh toán tài chính theo định kỳ.
    • Thực hiện công tác ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo tài chính theo định kỳ.
    • Tổ chức kinh doanh và thu hồi công nợ kịp thời.
    • Chịu trách nhiệm báo cáo tình hình tài chính của công ty cho ban lãnh đạo hàng tháng và định kỳ.
    • Phòng Tiếp Thị Đầu Tư:
    • Chuyên về khảo sát nghiên cứu thị trường có thể nắm bắt được những thay đổi trên thị trường về kinh doanh và đầu tư.
    • Cung cấp những thông tin cần thiết về thị trường cho các chi nhánh biết và đề ra các phương hướng chiến lược kinh doanh cho từng thời kì, từng giai đoạn cụ thể.
    • Các chi nhánh:
    • Thực hiện chức năng xuất nhập khẩu theo chức năng và quyền hạn được giao.

     

     

    1.2. Giới thiệu chung về Chi nhánh công ty Hà Thành tại TP.HCM.

    1.2.1.   Quá trình hình thành và phát triển chi nhánh công ty Hà Thành.

    Sau một thời gian hoạt động do lượng giao dịch ngày càng tăng đặc biệt là các bạn hàng ở các tỉnh phía nam, tháng 1/2006 công ty Hà Thành đã quyết định kịp thời thành lập chi nhánh ở TP. HCM, đây là quyết định đúng đắn và kịp thời, vì trong tương lai TP HCM sẽ là một khu đô thị sầm uất, là cơ sở cho việc khai thác tiềm năng rộng lớn của thị trường phía nam.

    Thông tin chi tiết về chi nhánh công ty Hà Thành:

    • Tên giao dịch: Chi nhánh công ty Hà Thành ( BQP) tại TP HCM
    • Địa chỉ đăng ký kinh doanh : 237 Nguyễn Trãi – Q1, TP. HCM
    • Nơi đăng ký kinh doanh: 168/63 D2 – P.25 – Q. Bình Thạnh, TP. HCM
    • Điện thoại: 082944052
    • Fax: 5122435
    • Mã số thuế: 01001085229006
    • Ngành nghề kinh doanh: chi nhánh công ty chuyên xuất nhập khẩu các mặt hàng: nông sản, thực phẩm, các mặt hàng tiêu dùng, vải sợi thủ công mỹ nghệ, máy móc nông ngư nghiệp, các loại xe chuyên dụng: xe ủi, xe nâng, ô tô các loại, xe máy, đồ nội thất,…

    1.2.2.   Chức năng và nhiệm vụ của chi nhánh công ty Hà Thành.

    • Chức năng.

    Xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng nông sản , thực phẩm, các mặt hàng tiêudùng, vải sợi, thủ công mĩ nghệ…

    Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất như: sơn sợi, máy móc nông ngư cơ, thuốc lá, các loại xe chuyên dụng như xe ủi, xe nâng, xe xúc, xe ô tô các loại, hàng tiêu dùng như: gạch, xeluloze…

    Bên cạnh đó công ty còn tiến hành làm dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu cho các đơn vị khác.

    • Nhiệm vụ.

    Tự tạo vốn kinh doanh, sử dụng hiệu quả nguồn vốn được cấp

    Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch công ty mẹ đưa ra, tạo nguồn vốn kinh phí cho công ty và quân khu, tạo công ăn việc làm cho người lao động và góp một phần vào phúc lợi xã hội.

    Thông qua xuất nhập khẩu để mở rộng hàng hóa cho các nước, mở rộng thị trường, góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của công ty ngày càng phát triển, hội nhập với nền kinh tế thế giới.

    Để tăng thêm lợi nhuận, ngoài việc tích lũy vốn từ việc xuất nhập khẩu trực tiếp, chi nhánh còn thu thêm một khoản lợi nhuận từ việc hưởng phí ủy thác.

    Bên cạnh đó, chi nhánh đã mở rộng quy mô hoạt động bằng việc thành lập được một cửa hàng Thăng Long, một trạm kinh doanh  xuất nhập khẩu, giúp cho chi nhánh mở rộng việc kinh doanh và giao dịch với khách hàng.

    1.2.3.   Các yếu tố nguồn lực của công ty.

    • Tình hình vốn sản xuất kinh doanh.

    Tổng số vốn ban đầu cấp là : 50.000.000 triệu đồng vốn cố định, 200.000.000 đồng vốn lưu động ( 1/1996) , cho đến nay nguồn vốn kinh doanh đã không ngừng gia tăng và đạt được tổng vốn cố định : 300.000.000 đồng và 969.000.00 đồng vốn lưu động ( 1/2012).

    Qua con số nguồn vốn kinh doanh thể hiện được công ty không ngừng mở rộng lĩnh vực kinh doanh và phát triển. Nhiều mặt hàng được bổ sung vào kinh doanh xuất nhập khẩu,gia tăng lợi nhuận mở rộng thị trường trong và ngài nước

    • Tình hình lao động.

    Chi nhánh công ty Hà Thành tại TP HCM có đa số nhân viên tốt nghiệp Đại Học, Cao Đẳng. Công ty khoảng 35 nhân viên rất năng động và nhiều kinh nghiệm, thích ứng nhanh với môi trường, có trình độ lao động và tay nghề cao, có tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng

    Bảng1: Trình độ học vấn của nhân viên trong chi nhánh công ty Hà Thành.

     

    Trình độ học vấn Số lượng Công việc Tỷ trọng (%)
    Đại Học 20 Văn phòng 57.14
    Cao Đẳng 13 Kĩ thuật 37.14
    Trung Cấp 2 Kĩ thuật 5.72

    (Nguồn: phòng kế toán 2011)

    Qua số liệu bảng ta thấy số lượng nhân viên văn phòng chiếm đại đa số, tuy nhiên công việc của họ là làm văn phòng, yêu cầu trình độ học vấn và khả năng làm việc cao.  Còn công việc liên quan tới kĩ thuật nguồn nhân lực chủ yếu là các nhân viên có trình độ Trung cấp và Cao Đẳng.  Với nguồn nhân lực như vậy, đây là thế mạnh cho chi nhánh công ty ngày càng mở rộng và phát triển.

    1.2.4.   Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ.

    Nhiệm vụ chính của chi nhánh là xuất nhập khẩu, đo đó công việc văn phòng thủ tục hành chính là chủ yếu. Bên cạnh đó là các thủ tục Hải Quan Xuất Nhập Khẩu. Công ty cũng đáp ứng đầy đủ nhu cầu về trang thiết bị máy móc phục vụ cho từng phòng ban.

    Đối với thiết bị văn phòng, công ty mua đầy đủ theo yêu cầu của công việc,

    Do đó ở mỗi phòng ban, cho mỗi vị trí của nhân viên đều có điện thoại và máy tính để bàn riêng.Riêng phòng Giám Đốc và Phòng kinh doanh Xuất Nhập Khẩu được trang bị thêm máy in và máy Fax để phục vụ cho công việc được thuận tiện ( nhận và gửi hồ sơ xuất nhập khẩu, làm thủ tục liên quan nghiệp vụ XNK…)

    Thêm vào đó , tại trạm kinh doanh XNK, cửa hàng Thăng Long, và bãi xe được trang bị thiết bị camera, máy tính để phục vụ việc bán hàng và bảo quản hàng.

    Cơ sở hạ tầng: đáp ứng đủ điều kiện cho nhân viên làm việc trong môi trường tốt nhất, an toàn thuận tiện.

    1.2.5.   Cơ cấu tổ chức.

    Bộ phận nhân sự khá gọn nhẹ tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến. Giám Đốc là quản lý cao nhất và quyết định mọi hoạt động của công ty.

    • Sơ đồ bộ máy quản lý.
    Giám Đốc
    Trạm Kinh Doanh XNK
    Cửa Hàng
    Phòng Kế Toán
    Phó Giám Đốc
    Bãi Xe
    Phòng Kinh Doanh

     

    XNK

    • Chức năng nhiệm vụ các phòng ban.
    • Giám Đốc

    Đoàn Thanh Hải- Q. Giám Đốc chi nhánh công ty hà Thành tại TP. HCM. Điều hành mọi hoạt động của chi nhánh công ty.Do tính chất đặc thù của chi nhánh, Giám Đốc công ty mẹ ủy quyền cho Giám Đốc chi nhánh và các Phó Giám Đốc chi nhánh thay mặt Giám Đốc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

    • Phó Giám Đốc

    Nguyễn Đình Lợi- đề suất và thực hiện các phương án chiến lược kinh doanh do công ty đề ra, đồng thời điều hành mọi hoạt động của chi nhánh TP. HCM. Ngoài ra Phó Giám Đốc có thể trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng của khách hàng, chịu trách nhiệm trước nhà nước Giám Đốc và Đảng Ủy công ty.

    • Phòng Tài Chính Kế Toán

    Có 5 người- trong đó có 1 Kế Toán trưởng , 1 Kế Toán Tiền Mặt, 1 Kế Toán Ngân Hàng, 2 Kế Toán Hàng Hóa chịu trách nhiệm về việc Tài Chính và hạch toán kinh tế cho chi nhánh cũng như những nhiệm vụ luân chuyển tuần hoàn vốn và đề suất các biện pháp giải quyết nhu cầu về vốn của đơn vị

    • Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu

    Gồm 7 người- 1 trưởng phòng và 6 nhân viên. Nhiệm vụ chính là thực hiện các nghiệp vụ giao nhận hàng hóa nxk, phân phối và bán hàng hóa tại các đầu mối.

    • Cửa hàng Thăng Long

    Gồm 5 người- 1 cửa hàng trưởng, 1 nhân viên kế toán theo dõi bán hàng và 3 nhân viên bán hàng. Công việc của cửa hàng là tiêu thụ các mặt hàng như: gạch, đá hoa cương, các thiết bị điện, hàng hóa tiêu dùng khác nhập khẩu từ nước ngoài và sản xuất trong nước, đồng thời bán kết hợp các mặt hàng kim khí điện máy.

    • Bãi xe

    Gồm 8 người- 2 bãi trưởng, 4 thợ sửa máy, 2 nhân viên bán hàng. Bãi xe là khu mặt bằng thuê dọc tuyến xa lộ hà nội, là nơi trực tiếp giao dịch các loại xe, máy móc thiết bị nhập khẩu.

    1.3. Thực trạng kinh doanh của công ty.

    1.3.1.   Tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty TNHH MTV HÀ Thành.

    Được ra đời vào những tháng cuối năm 1996 nhưng chính thức đi vào hoạt động năm 1997, hoạt động của chi nhánh diễn ra khá sôi nổi và hiệu quả. Chi nhánh tại TP. HCM áp dụng phương thức kinh doanh hỗn hợp có sự linh hoạt giữa kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp và các hoạt động XNK ủy thác. Kim ngạch XNK trong vòng 2 năm 2010-2011 không ngừng gia tăng.

    Trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty Hà Thành đã thực hiện việc giao dịch thông qua ngân hàng EXIMBANK để đảm bảo việc giao dịch  được an toàn.

    Do cơ cấu hiện nay vẫn nghiêng về XNK là chủ yếu nhưng không vì thế mà các hoạt động khác bị trì trệ. Trong những năm qua các hoạt động như vận tải vừa có mặt trong lĩnh vực sản xuất, vừa có mặt trong lĩnh vực kinh doanh của chi nhánh, sản xuất tại phân xưởng tại TP. HCM đang được đẩy manh.

    Cơ cấu thị trường được mở rộng, ngày nay, các mặt hàng xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng, quy trình giao nhận hàng hóa được đảm bảo. Đồng vốn được sử dụng linh hoạt trong những năm vừa qua thể hiện được chi nhánh đi vào hoạt động theo đúng phương hướng phát triển của công ty đề ra.

    1.3.2.   Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2009- 2011.

    Với sự nỗ lực của toàn thể chi nhánh công ty, kết quả đạt được trong 3 năm vừa qua như sau:

    + Doanh thu năm 2009 đạt 526927 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2010 đạt 586493 triệu đồng

    + Doanh thu năm 2011 đạt 627185 triệu đồng

    (Trích lược báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty Hà Thành từ năm 2009 đến  năm 2011)

    Bảng 2 : Bảng kết quả kinh doanh của Công ty( 2009- 2011)

    (Đơn vị : triêu đồng)

               Năm

     

    Chỉ tiêu

    2009 2010 2011

    Doanh thu

    526927 586493  

     

    655438

    Chi phí

    526846 586408  

     

    655278

    Lợi nhuận trước thuế

    46 85 160

    Lợi nhuận sau thuế

    35 64 120

    Nguồn: Phòng Kế toán

     

     

    Hình 1 –  Biểu đồ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2009 đến năm 2011.

    v Qua bảng số liệu ta thấy doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty không ngừng tăng trưởng. Cụ thế :

    Doanh thu năm 2010 so với năm 2009 tăng 11,3% tương ứng 59566 triệu đồng.

    Doanh thu năm 2011 so với  năm 2010 tăng 11,76% tương ứng 68945 triệu đồng.

    àSo sánh tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009 với năm 2010 ta nhận thấy tỷ lệ tăng doanh thu năm 2010 tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng doanh thu năm 2009.

    v Nguyên nhân làm cho tỷ lệ tăng doanh thu năm 2010cao hơn năm 2009 là do:

    Nền kinh tế nước ta năm 2010 mới được phục hồi, tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty vẫn hạn chế.

    Các mặt hàng xuất nhập khẩu năm 2011 được mở rộng cả về quy mô lẫn số lượng.

    Chính sách mở rộng thị trường, tìm kiếm thêm khách hàng của chi nhánh công ty yêu cầu việc buôn bán được mở rộng theo từng năm

    v Về vấn đề chi phí cũng có xu hướng tăng theo từng năm.

    Chi phí năm 2010 cao hơn so với  năm 2009 là: 595562 triệu đồng.

    Chi phí năm 2011 cao hơn so với năm 2009 là: 655278 triệu đồng.

    à Nhìn chung tốc độ tăng chí phí bình quân tăng dần qua các năm.

    Nguyên nhân là do năm 2009- 2011 công ty đã đầu tư một khoản chi phí lớn  hoạt động nghiên cứu và mở rộng thị trường trong và ngoài nước nâng cao thị phần của công ty.

    Mặt khác, tình hình lạm phát ngày càng gia tăng qua các năm, cụ thể: chỉ số lạm phát 3 năm liên tiếp 2009-2011 là 6,88%; 11,5%; 18,13%.

    v Về lợi nhuận thì công ty tăng ở mức cao.

    Năm 2010 so với 2009 tăng 29 triệu đồng chiếm tỷ lệ 82,85% .

    Năm 2011 so với 2010 tăng 56 triệu đồng chiếm tỷ lệ 87,5%.

    Dù rằng chịu nhiều tác động và ảnh hưởng kinh tế song công ty vẫn đảm bảo được lợi nhuận  cho hoạt động của mình. Điều này chứng minh  tầm nhìn, chiến lược và hoạch định mà Ban Lãnh đạo của công ty vạch ra là rất đúng đắn.

    1.3.3.   Tình hình kinh doanh những năm gần đây.

    • Mặt hàng xuất nhập khẩu.
    • v Mặt hàng xuất khẩu.

    Chi nhánh công ty xuất khẩu chủ yếu 2 mặt hàng : đậu phộng ( xuất khẩu trực tiếp) và vải ( xuất khẩu ủy thác)

    Đậu phộng là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của chi nhánh công ty. Với chất lượng cũng như giá cả cạnh tranh đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty. Công ty xuất khẩu đậu phộng với những đặc điểm sau:

    v Hàng hóa: 

    Đậu phộng nhân Việt Nam

    Giá FOB: Vui lòng liên hệ với chúng tôi để có giá tốt nhất

    Cảng: Hồ Chí Minh

    Số lượng đặt hàng tối thiểu: 19 tấn

    Khả năng cung cấp:1000 tấn/ tháng

    Hình thức thanh toán: L/C,T/T,D/P

    v Sơ lược:

    Loại:Đậu phộng

    Hình thức trồng trọt: thông thường

    Quy trình chế biến: còn nguyên chất

    Trạng thái: khô

    Phân loại: Super/I/II/III/IV

    Màu sắc: màu tự nhiên

    Đóng gói: bao PP hoặc bao đay

    Giám định: Vinacontrol

    Thương hiệu: THAPHIMEX

    Xuất xứ: Việt Nam

    v Specifications:

    Mặt hàng: Đậu phộng nhân

    Phân loại: Super/I/II/III/IV

    Số lượng: 180-200/200-220/220-240 hạt/100 grams

    Độ ẩm: 8.5% Tối đa

    Tạp chất: 1% Tối đa

    Hạt không hoàn chỉnh: 8% Tối đa

    Năm thu hoạch: năm hiện tại

    Chi tiết đóng gói: 12.5/25/50/60 Kg trong bao PP hoặc bao đay,17/19 trên 1 Container 20′

    Chi tiết vận chuyển: 7-20 ngày

    Mặt hàng vải là mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, đây cũng là mặt hàng công  ty nhận xuất khẩu ủy thác cho các công ty khác.

    v Mặt hàng nhập khẩu.

    Các mặt hàng công ty nhập khẩu :máy móc, đồ dùng nội thất, xe máy, sợi vải, bánh kẹo, gạch, keo dán, kem không sữa, dung cụ cầm tay…

    Bảng 3: Cơ cấu sản phẩm nhập khẩu ( 2011)

    Thị trường

     

     

    Sản phẩm

    Đài Loan Trung Quốc Nhật Hàn Quốc Thái Lan Malaysia Tây Ban Nha

     

     

    Tổng cộng
    Máy móc 8%   6%           14%
    Đồ dùng nội thất   9%             9%
    Xe máy             7% 4% 11%
    Sợi, Vải 14%     11%         25%
    Bánh kẹo           12%     12%
    Gạch             8%   8%
    Keo dán         8%       8%
    Kem không sữa         4%       4%
    Dụng cụ cầm tay 4% 5%             9%

    Nguồn: Phòng Kế toán

    Hình 2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu sản phẩm xuất khẩu.( 2011)

     

     

     

    • Qua biểu đồ ta có thể thấy được:
    • Các sản phẩm được công ty nhập nhiều: vải sơi ( 25%), máy móc (14%),tiếp đó là bánh kẹo 12% và xe máy 11%. Các mặt hàng này đòi hỏi vốn rất cao và chi phí lớn, tuy nhiên đó là những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho ngành công nghiệp dệt may, cơ khí, và tiêu dùng ở nước ta. Do đó, khi nhập hàng về dễ phân phối và không bị tồn kho nhiều. Các mặt hàng này mang lại lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp
    • Hàng hóa vốn thấp như keo dán, gạch, kem không sữa thì nhập rất ít. Đây là các mặt hàng cạnh tranh trên thị trường cả về giá cả và chất lượng. Phần trăm lợi nhuận của các loại hàng hóa này cũng khá thấp.
    • Mặt hàng nhập khẩu của chi nhánh chiếm trọng lượng không đồng đều và không đa dạng về sản phẩm. Hàng nhập khẩu không tập chung ngành nghề nào mà theo cầu của khách hàng nội địa.
    • Thị trường và sản phẩm nhập khẩu trực tiếp chưa được khai thác về chiều sâu cũng như chiều rộng
      • Nhà cung cấp.

    v  Nhà cung cấp hàng hóa cho các sản phẩm xuất khẩu:

    Mặt hàng vải xuất khẩu: các công ty kinh doanh và sản xuất sản phẩm may mặc

    Công Ty TNHH MTV Kim Xương Long

    Ngành nghề: Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh.

    Chuyên kinh doanh, mua bán các loại vải như: Vải jean, vải kaki, vải áo gió, vải sợi, v.v..
    Với “Mẫu mã đa dạng – Chất lượng hoàn hảo – Giá thành cạnh tranh”– Kim Xương Long đảm bảo mang lại sự hài lòng tuyệt đối cho quý khách hàng.

    Địa chỉ: 87/6 Hẻm 73 Đỗ Công Tường, P. Tân Quy, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại: 08-38474951
    Hotline: 0908709038

    Thịnh Đạt Phong – Công Ty TNHH Công Nghiệp Thịnh Đạt Phong

    Ngành nghề:Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh

    Địa chỉ: 154/43 Nguyễn Kim, P. 6, Q. 10, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại:08-39572945

    Minh Tùng Vi Na – Công Ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Dịch Vụ Minh Tùng Vi Na

    Ngành nghề: Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh

    Chuyên cung cấp các mặt hàng vải sợi , tư vấn thiết kế các mẫu đồng phục cơ quan, xí nghiệp, trừơng học…

    Địa chỉ: 91A Dương Khuê, P. Hiệp Tân, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh

    Điện thoại: 08-38606894
    Hotline: 0909 113 309

    Trân Danh – Công Ty TNHH Trân Danh

    Ngành nghề: Vải Sợi – Sản Xuất & Kinh Doanh

    Chuyên cung cấp vải DENIM, vải sợi cao cấp.

    Địa điểm: Số 16 Đường 44, P. Tân Phong, Q. 7, Tp. Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 08-54332927

    Hotline:0909 325656

    Nhà cung cấp cho hàng đậu phộng xuất khẩu: những công ty chuyên về sản xuất và kinh doanh mặt hàng nông sản, ngoài ra còn từ vùng chuyên canh trồng đậu phộng, từ các chợ nông sản nơi cung cấp đậu phộng với số lượng lớn và chất lượng:

    Chợ nông sản Thủ Đức

    Vùng chuyên canh sản xuất đậu phộng huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, TP.Trà Vinh và một số tỉnh ở đồng bằng Sông Cửu Long.

    v Nhà cung ứng cho các sản phẩm nhập khẩu:

    Là các công ty đối tác nước ngoài chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng nhập khẩu do chi nhánh công ty kinh doanh: điển hình có các bạn hàng ở các nước:Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Tây Ban Nha.

    v Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp máy móc.

    1, Công ty: Oriental Victor Group

    Sản phẩm: máy móc

    Điện thoại:886 – 4 – 23506666

    Fax:886 – 4 – 23503397

    Địa chỉ:5F NO.108 SAI HSI ROAD TAICHUNG Taiwan

    Quốc gia :Đài Loan

    2, Công ty:Marusan Shoji Co., Ltd.

    Sản phẩm: máy móc thiết bị

    Điện thoại:(03)3271-1516

    Fax:(03)3271-1577

    Địa chỉ: 16-9 Nihonbashi 2-chom,Chuo-ku.Tokyo[103-0027]

    Quốc gia:Nhật bản

    v Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng đồ dùng nội thất:

    1, Công ty: Công Ty Tnhh Yiming

    Điện thoại: 86-757-28836154, 28913732

    Fax:86-757-28916096

    Web:

    Địa chỉ:Liangjiao Industrial Area,Shunde District,Foshan          GuangdongChina[Zip/Postal Code:528315]

    Quốc gia: Trung Quốc

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng vải sợi:

    1, Công ty:Công Ty Tnhh Dệt Young Sun

    Điện thoại:82 – 2 – 6630159,0160

    Fax:82 – 2 – 6639603

    Địa chỉ:202-15 Sangpyung-Dong Chinju-City Gyeongsangnam-do 660-340 Korea

    Quốc gia: Hàn Quốc

    2, Công ty:  Tnhh Kuang Yung Enterprise

    sản phẩm: sợi, vải.

    Điện thoại:886 – 4 – 25691393

    Fax:886 – 4 – 25691392

    Web:http://www.kytextile.com.tw/

    Địa chỉNo.165 Da-Lin Rd.Daya ShiangTaichung County 428 Taiwan

    Quốc gia: Đài Loan

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng dụng cụ cầm tay

    1, Công ty:Tnhh Shyang Yun

    sản phẩm: dụng cụ cầm tay

    Điện thoại:886-4-24610088

    Fax:886-4-24615856

    Địa chỉ:No. 15-6 Shi Pyng South Lane. 40750. Taichung.Taiwan

    Quốc gia: Đài Loan

    2, Công ty:Thiên Tân Kilews Tools & Thiết Bị Co, Ltd

    Điện thoại:86-22-27836077

    Fax:86-22-27836051

    Web:http://www.kilews-tj.com/kilews/index123.asp

    Địa chỉ:No. 12 Baojixidao,Tianjin,China[Zip/Postal Code:]

    Quốc gia: Trung Quốc

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng bánh kẹo:

    1, Công ty:Rich Enterprise

    Điện thoại:60 – 12 – 3090601

    Fax:60 – 3 – 79835273

    Địa chỉOld Klang Road-Happy Garden Kuala Lumpur 58200

    Quốc gia: Malaysia

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xe máy

    1, Công ty:Motorhispania, S.L.

    Điện thoại:+34-954-47.56.87

    Fax:+34-954-40.91.22

    Web:http://www.motorhispania.es/

    Địa chỉc/ Parsi 3-nº 10. 41016 SEVILLE-SPAIN

    Quốc gia: Tây Ban Nha

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng keo dán:

    1, Công ty:Numwattana (Thế Giới)

    Điện thoại:+66875902873

    Fax:+6628172300

    Địa chỉ:104/1 3 4-6 Moo 19-Suksawat 64-Suksawat Rd.-Bangphung-Phrapradaeng-Samutprakarn-10130 Thailand

    Quốc gia: Thái Lan

    Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp mặt hàng gạch:

    1, Công ty:Todagres

    Điện thoại:34-626-021002

    Fax:34-964-534501

    Địachi:CTRA.DEONDAKM.5-VILA-REAL-CASTELLON-Spain(Zip/Postal:12540)

    Quốc gia: Tây Ban Nha

    2, Công ty:Hispania Ceramica S.A.

    Điện thoại:34-964-231658

    Fax:34-964-964776540

    Địa chỉ:Camino viejo Castellon- Onda S/n P.O Box 170

    Quốc gia:Tây Ban Nha

    • Khách hàng.
      • Khách hành trong nước.

    Khách hàng trong nước mua hàng tại chi nhánh công ty chủ yếu là các mặt hàng nhập khẩu từ nước ngoài và một phần sản xuất trong nước. Mỗi khách hàng có nhu cầu hàng hóa khác nhau về hàng hóa. Ta có chia nhóm khách hàng thành 3 nhóm chính sau :

    • Dân lao động phổ thông :

    Khả năng chi trả thấp

    Nhu cầu chất lượng sản phẩm ở mức độ trung bình.

    Mua hàng số lượng nhỏ lẻ, chất lương không đồng đều.

    Chủ yếu là nhân dân lao động ở TP.HCM

    Mặt hàng họ muốn có đó là những sản phẩm : máy móc phục vụ nông, lâm ngư nghiệp, thiết bị điện,hàng hóa tiêu dùng.

    Sản phẩm phù hợp là sản phẩm được sản xuất trong nước với chi phí thấp, giá cả phù hợp với túi tiền của người lao động.

    Lợi nhuận thu được từ việc bán hàng cho dân lao động phổ thông thấp.

    • Cá nhân và gia đình có thu nhập cao :

    Họ chủ yếu là những cá nhân gia đình thuộc TP.HCM và các tỉnh lân cận.

    Họ sẵn sàng chi trả sản phẩm họ muốn với mức giá cao

    Yêu cầu chất lượng và mẫu mã sản phẩm cao

    Mua hàng số liệu nhỏ lẻ, chất lượng thường là cao.

    Họ thường mua những mặt hàng ở chi nhánh: Xe máy, gạch, đá hoa cương được nhập khẩu từ nước ngoài với mẫu mã đẹp và chất lượng đảm bảo phục vụ cho nhu cầu đi lại và xây dựng nhà cửa của họ.

    Lợi nhuận thu được từ viêc bán hàng cho nhóm khách hàng này ở mức độ trung bình.

    • Doanh nghiệp, xí nghiệp kinh doanh, sản xuất :

    Nhóm khách hàng này bao gồm tất cả công ty, xí nghiệp ở mọi miền trên đất nước Việt Nam.

    Mua hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng đồng đều.

    Nhu cầu về hàng hóa đa dạng ( nhiều loại mặt hàng)

    Tùy theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực sản xuât,kinh doanh mà doanh nghiệp ( xí nghiệp ) có thể mua những mặt hàng khác nhau.

    • Doanh nghiệp thuộc ngành may mặc : mua các loại máy móc phụ vụ sản xuất công nghiệp, các thiết bị điện, vải, sợi…

    +  Doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng : mua các loại gạch, đá hoa cương, đồ nội thất..

    + Doanh nghiệp kinh doanh sản xuất nông sản : mua thiết bị máy móc nông nghiệp.

    + Doanh nghiệp kinh doanh buôn bán thủy sản : mua các thiết bị máy móc phục vụ ngư nghiệp

    + Doanh nghiệp thuộc ngành cơ khí : mua những thiết bị kim khí điện máy

    • Doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ : mua các mặt hàng tiêu dùng là chủ yếu.

    Lợi nhuận thu được từ việc bán hàng cho nhóm khách hàng này cao.

    Bảng 4. Thị phần khách hàng trong nước 

      Khách hàng

     

     

    Sản phẩm

    Lao động phổ thông Gia đình cá nhân thu nhập cao Doanh nghiệp, xí nghiệp sản xuất kinh doanh
    Máy móc 18% 11% 71%
    Đồ dùng nội thất 2% 23% 75%
    Xe máy 8% 25% 67%
    Sợi, Vải 1% 2% 97%
    Bánh kẹo 7% 10% 83%
    Gạch 4% 37% 59%
    Keo dán 2% 8% 90%
    Kem không sữa 6% 17% 87%
    Dụng cụ cầm tay 38% 7% 55%
    Tỉ trọng 9% 15% 76%

    Nguồn: Phòng Kế toán 2011

    Hình 3:Biểu đồ thể hiện thị phần khách hàng trong nước :

    • Qua biểu đồ có thể thấy đuợc các mặt hàng của công ty chủ yếu phân phối cho khách hàng doanh nghiệp, xí nghiệp là chủ yếu ( 76%), tiếp đó là cá nhân, hộ gia đình với thu nhập cao (15%) cuối cùng là dân lao động phổ thông (9%).
    • Lợi nhuận thu chủ yếu được phần lớn từ việc bán hàng cho doanh nghiệp xí nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước.

    v  Khách hàng nước ngoài

    Công ty xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Malaysia , xuất khẩu ủy thác qua 3 thị trường : Campuchia, Malaysia, Myanmar. Do đó, khách hàng nước ngoài của chi nhành công ty tập chung ở nước : Campuchia, Malaysia, Myanmar.

     

    Bảng 5 :Nhà nhập khẩu

                          Thị trường

     

    Sản phẩm

    Campuchia Malaysia Myanmar
    Vải ( xk ủy thác) 27% 19% 23%
    Đậu phộng (xk trựctiếp)   31%  

    Nguồn: Phòng Kế toán 2011

    • Khách hàng là các doanh nghiệp ở CamPuChia :
    • Mặt hàng họ mua chỉ có vải do công ty xuất khẩu ủy thác.
    • Số lượng mua chiếm tỉ lệ tương đối chiếm 23%
    • Danh sách các doanh nghiệp ở CamPuChia nhập khẩu vải :
     
     
       
       
    • Công ty :M&V INT’L MANUFACTURING LTD.

    Sản phẩm kinh doanh: quần áo trẻ em

    Tel:+ 852 3549 3300

    ADDRESS: RM 2601-6, 26/F, Billion Plaza,8 Cheung Yue St.,Cheung Sha Wan, Kowloon

    • Công ty: SANTEX INDUSTRIAL ( CAMBODIA ) LIMITED

    Sản phẩm kinh doanh: ba lô, cặp vải

    Tel : 012 810 529

    ADDRESS: National Road 4,Phum Trapeang Chhoeu Neang, Khum Poeuk, Srok Angsnoul, Kandal Province

    • Công ty: JIN CHAN ( CAMBODIA ) CLOTHING CO.,LTD.

    Sản phẩm kinh doanh: áo khoác, mũ nón

    Tel : (855) 23 368 438

    ADDRESS: No.18 Rue 528, Sangkat Beoungkok, Khan Toulkok, Phnom Penh, Cambodia

    • Khách hàng là các doanh nghiệp ở Myanmar:
    • Mua vải của chi nhánh.
    • Khối lượng giao dịch ở mức trung bình ( 23%) trong tổng số các mặt hàng xuất khẩu của chi nhánh.
    • Danh sách các khách hàng ở Myanmar :

    Công ty:  Aung Si Garment (Success Drum Garment)

    Sản phẩm kinh doanh: quần áo thời trang công sở

    Tel : (95-1) 517 656, 401 992
    Fax: (95-1) 524 295

    ADDRESS: 1/D, Padonmar St., IndustrialZone, (Nga) Ward,NOKA.

    • Công ty: Charminh Garmenta manufacturing Co.,Ltd

    Sản phẩm kinh doanh: quần áo nam giới

    Tel : (95-1) 684126,684229

    ADDRESS: 82, Twin Thin Tike Wun U Tun Nyo St.,           IndustrialZone(1),HLTA

    • Công ty : Lucky flowers

    Sản phẩm kinh doanh: áo sơ mi, áo vet Nam

    Tel : (95-1 543675

    ADDRESS: 707, 708(Rm 101), 1st Flr, Kamahtan St., Myittar Nyunt Ward,TMW.

    • Khách hàng là các doanh nghiệp ở Malaysia.
    • Công ty:Empire Golden Nine Enterprise

    Sản phẩm kinh doanh: các loại đầm phụ nữ

    Điện thoại: +60126916622

    Fax: +603-51624124

    Web: http://www.uniformspecialist.blogspot.com/

    Địa chỉ:No 8A Jalan PJS 10/32, Bandar Sri Subang,46000 Petalin Jaya,Selangor Darul Ehsan

    • Công ty:Burhani Thương Mại

    Sản phẩm kinh doanh: hàng may mặc trẻ em

    Điện thoại:60 – 3 – 26983562

    Fax:60 – 3 – 26933326

    Địa chỉ:61 Jalan Tuanku Abdul Rahman,Kuala Lumpur 50100

    • Công ty: Image Glow Merchandising (M) Sdn Bhd

    Sản phẩm kinh doanh: quần jean, quần tây, áo sơ mi.

    Điện thoại: 60 – 07 – 4326660

    Fax:60 – 07 – 4326662

    Web: http://www.image-glow.com/

    Địa chỉ:WISMA IGM, 43-1C JALAN PENJAJA 3,BATU PAHAT JOHOR 83000

    • Đối thủ cạnh tranh.

    Công ty kinh doanh mặt hàng tổng hợp, vì thế mà số lượng đối thủ cạnh tranh về các mặt hàng rất lớn. Hơn nữa khi tham gia vào thị trường kinh tế thế giới, Việt Nam là thành viên tổ chức WTO. Các doanh nghiệp phải đối đầu với cả đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.

     

    v Đối thủ cạnh tranh trong nước.

    Ngành kinh doanh xuất nhập khẩu là một trong những ngành kinh tế chủ đạo của nền kinh tế nước ta. Theo con số của tổng cục thống kê từ năm 2005 – 2010 trị giá xuất nhập khẩu có xu hướng tăng dần :xuất khẩu tăng từ  4265 triệu USD (2005) lên đến 7460 triệu USD năm 2010, nhập khẩu tăng từ 4450 triệu USD (2005) lên đến 9921triệu USD năm 2010. Qua đó ta có thể thấy được lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng được mở rộng và phát triển. Những công ty kinh doanh xuất nhập khẩu được thành lập ngày càng nhiều, đối thủ cạnh tranh của công ty dần xuất hiện với số lượng lớn. Một số đôi thủ cạnh tranh lớn của công ty về lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu có thể kể đến như : Công ty cổ phần xuất nhập khẩu  Petrolimex, Tổng công ty sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (PiSiCo),Công ty Xuất nhập khẩu Intimex… Đây là 3 công ty lớn chiếm thị phần khá lớn ở thị trường Việt Nam.

    • Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Petrolimex
    • Những nét chính về công ty:
    • Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩuPetrolimex (PITCO) là thành viên của Tổng Công ty xăng Dầu Việt Nam(PETROLIMEX). Từ khi được thành lập năm 1999 đến nay, PITCO phát triển nhanh chóng, trở thành một trong những doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lớn của Bộ Công thương, khẳng định vị thế và thương hiệu, giữ vững sự tín nhiệm của các đối tác trong và ngoài nước.
    • Văn Phòng Chính:
      Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Petrolimex    
      Địa chỉ: 54-56 Bùi Hữu Nghĩa, phường 5, Quận 5, Tp Hồ Chí Minh
      ĐT  : (08) 383 83 400
      Fax : (08) 383 83 500
      Email : [email protected]
    • Ngành nghề kinh doanh:

    Kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa nông lâm thủy hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị ngành công nghiệp, nông nghiệp, phương tiện vận tải, vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng.

    Mua bán, sản xuất, gia công, chế biến, xuất nhập khẩu khoáng sản hàng hóa, kim loại màu. Kinh doanh tạm nhập, tái xuất chuyển khẩu xăng dầu, các sản phẩm hóa dầu.

    Kinh doanh vận tải xăng dầu; đại lý kinh doanh xăng dầu.

    Dịch vụ giao nhận; đại lý, sản xuất, gia công, chế biến hàng hóa xuất nhập khẩu.

    Kinh doanh, đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà.

    Sản xuất, mua bán các loại thẻ từ, thẻ vi mạch, thẻ điện thoại.

    Sản xuất, mua bán sơn và nguyên liệu, sản phẩm ngành sản xuất sơn.

    • Thành tích – Giải thưởng

    Huân chương lao động hạng III;

    Được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen do có thành tích xuất sắc từ năm 2001 – 2005;

    Liên tục 05 năm (2000-2004) Công ty được Bộ Thương Mại tặng bằng khen về việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh và tăng trưởng xuất nhập khẩu;

    Được Bộ Công Thương bình chọn là doanh nghiệp xuất khẩu uy tín 05 năm liền (2004-2008);

    Công ty được Bộ Thương Mại tặng Cờ thi đua xuất sắc năm 2006;

    Công ty được tặng Bằng khen của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn do có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển của ngành hàng hồ tiêu năm 2007, 2008;

    Doanh nghiệp tiêu biểu của 11 lĩnh vực Thương mại Dịch vụ – TOP TRADE SERVICES 2007 do Bộ Công Thương bình chọn;

    Sao vàng đất Việt 2008-2009 (Top 100);

    Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam;

    Được Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà Nước xếp hạng tín dụng AAA;

    Được nhận giải thưởng “2006 BUSINESS EXCELLENCE AWARDS” do Ủy ban Quốc gia về hợp tác Kinh tế Quốc tế phối hợp với 53 Thương vụ Việt Nam tại các nước, vùng lãnh thổ tổ chức xét chọn và trao tặng;

    Đạt thương hiệu “Việt Nam tốt nhất” trong lĩnh vực xuất nhập khẩu năm 2007 do báo điện tử Việt Nam Net phối hợp cùng đài truyền hình Việt Nam tổ chức;

    Là thành viên kim cương của Cổng Thương mại điện tử quốc gia (ECVN); được Hải quan TP.HCM chọn là 1 trong những đơn vị đầu tiên được thông quan điện tử;

    Được trao Cúp vàng và Giải thưởng Doanh nhân tiêu biểu ASEAN năm 2007;

    Giải thưởng “Doanh nghiệp thanh toán xuất nhập khẩu tốt nhất năm 2007” do Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trao tặng;

    Top 100 Thương Hiệu Mạnh Xuất Nhập Khẩu Uy Tín Và Hiệu Quả 2008;

    Cúp vàng – Giải thưởng “Thương hiệu chứng khoán uy tín” và “Công ty Cổ phần hàng đầu Việt Nam 2008, 2009”.

    • Đánh giá :

    Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Petrolimex (PITCO) là đối thủ cạnh chính về các mặt hàng: tiêu dùng, máy móc nhập khẩu, nông lâm thủy sản.

    • Tổng công ty sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (PiSiCo).
    • Những nét chính về công ty:

    Chủ Tịch Hội Đồng Thành Viên: Ông Nguyễn An Điềm

    Tổng Giám Đốc:  Ông Lê Văn Hồng

    Địa chỉ: 99 Tây Sơn, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

    Điện thọai: 056.3947066      Fax: 056.3947029

    Mã số Doanh nghiệp: 4100258987

    Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam: 43520

    Năm thành lập: 1985

    Vốn điều lệ: 221,343 tỷ đồng

    Nhân viên: 5.000 nhân viên

    • Ngành nghề kinh doanh:

    Trồng và khai thác rừng; Tư vấn thiết kế công trình lâm sinh; Kinh doanh nguyên liệu giấy; Khai thác, chế biến và mua bán hàng nông, lâm, thủy sản;

    Sản xuất và mua bán hàng công nghiệp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, may mặc, giày da;

    Thăm dò, khai thác, chế biến mua bán tài nguyên khoáng sản các loại;

    Mua bán máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên phụ liệu cho ngành nông, lâm, thủy sản và vật liệu xây dựng;

    Mua bán máy móc, phương tiện vận tải, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu;

    Kinh doanh truyền hình cáp và vật tư, thiết bị viễn thông;

    Kinh doanh dịch vụ Cảng biển;

    Kinh doanh khách sạn và dịch vụ ăn uống;

    Dịch vụ cho thuê kho, bãi, giao nhận và bảo quản hàng hóa; Sản xuất các loại bao bì, sản phẩm tiêu dùng từ chất dẻo;

    Đầu tư hạ tầng; Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, cơ sở hạ tầng và kinh doanh bất động sản;

    Đầu tư tài chính vào các Doanh nghiệp.

    • Thành tích – Giải thưởng

    Huân chương lao động hạng I cho tập thể Tổng Công ty đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2000 đến năm 2004.

    Huân chương lao động hạng II cho tập thể Tổng Công ty năm 1996.

    Huân chương lao động hạng III cho 2 cá nhân là: lãnh đạo Tổng Công ty  qua các thời kỳ 1996 và 2000.

    Chính phủ, Bộ  NNo &  PT Nông Thôn, Bộ Thương Mại, Bộ Tài chính, Tổng cục thuế, UBND tỉnh Bình Định, Tổng Liên đoàn Lao động, Liên đoàn lao động  tỉnh Bình Định ngành tặng cờ thi đua và nhiều danh hiệu thi đua khác  cho tập thể, cá nhân, cán bộ Tổng Công ty qua các thời  kỳ.

    • Đánh giá :

    Tổng công ty sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (PiSiCo) là đối thủ cạnh tranh mạnh về các mặt hàng: nông, lâm , thủy sản và các loại máy móc phụ vụ ngành này. Ngoài ra còn có sản phẩm ngành may mặc, giày da, đây là những sản phảm thế mạnh của công ty này.

    • Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex
    • Những nét chính về công ty:

    Tên gọi trước đây là Công ty Cổ phần XNK Intimex chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 07 năm 2006. Intimex Hochiminh được hình thành trên cơ sở cổ phần hóa Chi nhánh Công ty XNK Intimex tại TPHCM được thành lập năm 1995 và trực thuộc Bộ Công Thương.

    Tổng tài sản của Intimex Hochiminh đã lên đến trên 2.200 tỷ đồng, đó chính là cơ sở quan trọng cho sự phát triển mới của Công ty trong giai đoạn tiếp theo.

    Trụ sở chính: 61 Nguyễn Văn Giai, Đakao, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh.
    Điện thoại : 38201754 – 38201998 – 38203033 – Fax: 08. 38201997.
    Website: www.intimexhcm.com
    E-mail : [email protected]

    • Ngành nghề kinh doanh:

    Xuất khẩu: hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ, gạo, hồ tiêu, cơm dừa, hạt tiêu

    Nhập khẩu: máy móc thiết bị, đồ điện gia dụng.

    • Thành tích – Giải thưởng

    v Năm 2006      
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Thương mại trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp đã có thành tích xuất sắc trong tổ chức xuất khẩu Hồ tiêu 2006 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu xuất sắc 2006 do Ủy ban Quốc gia & Hợp tác Kinh tế và Báo Thương mại cấp.
     Năm 2007   
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Công Thương bầu chọn.
    – Bằng khen Doanh nghiệp đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2007 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng.
    – Giải thưởng Thương mại dịch vụ Việt Nam – Top Trade Services 2007 do Bộ Công Thương, Báo Công Thương trao tặng.
    v Năm 2008  
    – Giải thưởng Top 15 Doanh nghiệp Thương mại Dịch vụ xuất sắc năm 2008 do Bộ Công Thương, Báo Công Thương tổ chức.
    – Là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ 05 ở Việt Nam năm 2008 theo bảng  xếp hạng VNR 500 do Báo Vietnamnet và Vietnam Report công bố.
    – Giải thưởng “Doanh nghiệp phát triển bền vững năm 2008 do Bộ Công Thương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín  do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong công tác kinh doanh, xuất khẩu và hoạt động phát triển ngành hàng Hồ tiêu năm 2008 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 do Bộ Công Thương trao tặng.
    vNăm 2009   
    – Chứng nhận Top Doanh nghiệp tiêu biểu 3 năm liên tiếp đoạt giải thưởng Thương mại Dịch vụ Việt Nam (2007-2008-2009) do Bộ Công Thương, Báo Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ 10 ở Việt Nam năm 2009 theo bảng  xếp hạng VNR 500 do Báo Vietnamnet và Vietnam Report công bố.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành xuất sắc trong công tác kinh doanh, xuất khẩu và hoạt động phát triển ngành hàng Hồ tiêu năm 2009 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao tặng.
    – Năm 2010        
    – Chứng nhận Top 10 Doanh nghiệp Thương mại Dịch vụ xuất sắc 2010 do Bộ Công Thương tổ chức.
    – Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen Doanh nghiệp có thành xuất sắc trong công tác kinh doanh, xuất khẩu và hoạt động phát triển ngành hàng Hồ tiêu năm 2010 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao tặng.
    – Là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ 13 ở Việt Nam năm 2010 theo bảng  xếp hạng VNR 500 do Báo Vietnamnet và Vietnam Report công bố.
     Năm 2011   
    – Bằng khen do có thành tích trong công tác đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, kiểm soát nhập khẩu năm 2011 do Bộ Công Thương trao tặng.
    – Bằng khen do Thủ tướng Chính phủ trao tặng cho ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty.
    – Huân chương Lao động Hạng ba do Chủ tịch nước trao tặng cho tập thể Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex và cá nhân ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty.
    – Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex nhận Cờ truyền thống của UBND TPHCM và cá nhân ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty, được nhận Huy hiệu công dân tiêu biểu của TPHCM.

    • Đánh giá :

    Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex là một đối thủ cạnh tranh mạnh về sản phẩm về nông sản và đồ điện gia dụng, với lịch sử hình thành lâu đời và những thành tích đạt được trong thời gian qua chi nhánh công ty cần xem xét đánh giá đúng đối thủ cạnh tranh của mình ở vị trí nào và đưa ra chính sách về giá cả và dịch vụ cho phù hợp với thị trường.

    v Đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

    Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vươn ra xe thị trường thế giới. Tuy nhiên vấn đề gặp phải là sự gia tăng cạnh tranh trên trường quốc tế.Trên thị trường quốc tế, những công ty xuất khẩu mặt hàng về đậu phộng ( nông sản) và vải ( sản phẩm may mặc ) rất nhiều. Và những công ty ở những thị trường : Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, đặc biệt là những công ty ở thị trường mà chi nhánh xuất khẩu qua : Malaysia, Campuchia và Myanmar là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp với công ty.

    • Công ty xuất nhập khẩu hàng may mặc và sản phẩm nông sản ở Trung Quốc :

    Lợi thế :

    Giá nhân công và nguyên vật liệu rẻ.

    Về sản phẩm may mặc: Đa dạng mẫu mã, mỗi món hàng đều có hoạ tiết trang trí làm bằng tay tỉ mỉ, chất liệu và hoa văn vải lạ, không đụng hàng thị trường. đem lại sự khác biệt biệt hóa về sản phẩm. Tạo ưu thế cạnh tranh.

    Về mặt hàng nông sản: yếu tố giá cả cạnh tranh,khó có thị trường nào giá rẻ hơn ở thị trường này.

    Nhược điểm:

    Người tiêu dùng trên thế giới khi dùng sản phẩm hàng trung quốc lo ngại về vấn đề an toàn sức khỏe. Yêu cầu chặt chẽ về nguồn gốc sản phẩm khi mua hàng ở thị trường này.

    Một vài doanh nghiệp ở Trung Quốc có uy tín và chiếm được thị phần lớn ở các nước Malaysia, Myanmar và Campuchia:

    Công ty:Hongye Co., Ltd.

    Điện thoại:86 – 020 – 36403995

    Fax:86 – 020 – 36403995

    Địa chỉ:Room 602,Buildiing no 6,Lane 9 South Street,ChenTianCun,baiyun District,GuangZhou city,guangdong         Guangzhou Guangdong 510420 China.

    Sản phẩm kinh doanh: may mặc quần áo thời trang.

    Công ty:Shandong Sinh Hóa Co, Ltd

    Điện thoại:+86 156 0633 0617

    Fax:+86 633 5889929

    Địa chỉ:NO.52 YANHE ROAD.WULIAN COUNTY, SHANDONG, CHINA

    Sản phẩm kinh doanh: mặt hàng nông sản

    • Các công ty ở các thị trường nội địa:
    • Ưu thế:

    các sản phẩm sản xuất trong nước giảm bớt được chi phí nhập khẩu

    + có sự trợ giúp từ nhà nước.

    • Bất lợi:

    + sản phẩm với chất lượng không đồng đều.

    + chi phí nhân công cao.

    • 1 vài công ty kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu của công ty tại các thị trường nội địa.
    • Thị trường Malaysia.

    +  Công ty:Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Tyc

    Điện thoại:6-019-8440488

    Fax:6-086-330035

    Địa chỉ:JLN MASJID,BINTULU,SARAWA,(Zip/Postal:97008)

    sản phẩm kinh doanh: phụ kiện và sản phẩm may mặc

    +  Công ty:Nagajati Thực Phẩm Sdn Bhd

    Điện thoại:60-03-60916827

    Fax:60-03-60916829

    Địa chỉ:Lot 3881,Jalan Raya, Sungei Choh Industrial Area, 48000 Rawang, Selangor Darul Ehsan.

    Sản phẩm kinh doanh: các loại đậu

    • Thị trường Myanmar

    + Công ty Aung Si may

    Địa chỉ: 1 / D, Padonmar St, IndustrialZone, (Nga) Phường, NOKA

    Sản phẩm kinh doanh: hàng May công nghiệp

    SDT: 690003,095008520

    Email:[email protected]

    + công ty TNHH Myawaddy.

    Loại hình doanh nghiệp: Công ty Thương mại

    Sản phẩm / Dịch vụ : gạo trắng, toàn bộ toor, matpe đen, đậu xanh, đường, ngô vàng , đậu phộng.

    Địa chỉ: No.189/181 Mahabandoola street.

    Website công ty: www.myawaddytrade.com

    • Thị trường Campuchia

    + Công ty Thương mại Alantic.

    Loại hình doanh nghiệp. Công ty thương mại

    Sản phẩm kinh doanh: các mặt hàng nông sản: Gạo , đậu xanh, ngô, đậu phộng…

    Địa chỉ: 6A distreet, Phnom Phenh, CamPuChia.

    Điện thoại : 855-11-909558

    + Công ty Lucky Star.

    Loại hình kinh doanh: Kinh doanh xuất nhập khẩu.

    Sản phẩm  kinh doanh:  phụ kiện, quần áo thời trang.

    Địa chỉ: 128 blvd monivong, dong anoung, phnom Phenh, Cambodia.

    Điện thoại: 855-9835-9864

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng xuất nhập khẩu của chi nhánh Công ty Hà Thành.
    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng xuất khẩu của chi nhánh Công ty Hà Thành.

     

    Bảng 6: Tình hình kinh doanh giao nhận hàng FCL xuất khẩu

    Chỉ tiêu Năm
    2009 2010 2011
    Tổng doanh thu 526927 586493

    655438

    Doanh thu  giao nhận hàng xuất khẩu đường biển. 131731,75 176768,99 242446,516
    Tỷ trọng doanh thu hàng xuất khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 25% 30,14% 36,99%

     

    Nguồn: Bộ phận  kinh doanh 2011

    Hình 4:Biểu đồ thể hiện doanh thu giao nhận hàng xuất khẩu.

     

    • Qua số liệu bảng và biểu đồ trên ta thấy doanh thu giao nhận hàng hóa xuất khẩu đường biển tăng theo từng năm theo doanh thu và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng.
    • Tỉ trọng doanh thu hàng xuất khẩu gia tăng theo từng năm : năm 2010 tăng 4,86% so với năm 2009. Năm 2011 tăng 6,85% so với năm 2010. Do đó, có thể đưa ra nhận xét số lượng giao dịch mặt hàng xuất khẩu ngày càng gia tăng về số lượng kèm theo đó là thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng.

     

    • Tình hình kinh doanh giao nhận hàng nhập khẩu của chi nhánh Công ty Hà Thành.

    Bảng 7:  Tình hình kinh doanh giao nhận hàng  nhập khẩu

     

    Chỉ tiêu Năm
    2009 2010 2011
    Tổng doanh thu 526927 586493 655438
    Doanh thu  giao nhận hàng nhập khẩu đường biển. 200864,57 253658,223 329554,226
    Tỷ trọng doanh thu hàng nhập khẩu bằng đường biển trên tổng doanh thu. 38,12% 43,25% 50,28%

    Nguồn:Bộ phận kinh doanh

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 5:Biểu đồ thể hiện doanh thu giao nhận hàng nhập khẩu

    • Qua bảng số liệu và biểu đồ ta có thể thấy:
    • Doanh thu giao nhận hàng hóa nhập khẩu ở con số lớn.
    • Có sự gia tăng doanh thu theo các năm: tăng 52,79 triệu từ năm 2009-2010, tương ứng gia tăng về tỉ trọng 5,13 %, năm 2010-2011 tăng 75,89 triệu tương ứng gia tăng 7,03%.
    • Sự gia tăng ở con số nhỏ hơn 10%( không cao) thể hiện thị trường nhập khẩu dao dộng ở mức nhỏ.tương đối ổn định.
    • Dự đoán năm 2012 sự gia tăng cao vì thị trường mở rộng theo đà những năm trước đó.
      • Qua 2 bảng số liệu cung cấp trên ta có thể đưa ra biểu đồ thể hiện doanh thu của chung toàn công ty sau:

     

     

     

     

     

    Hình 6:Biểu đồ thể hiện tỉ trọng doanh thu chi nhánh công ty Hà Thành 2011

     

    Nhận xét:

    • Tỷ trọng của hoạt động giao nhận hàng FCL xuất – nhập khẩu bằng đường biển chiếm con số khá cao trong tổng doanh thu.

    + Doanh thu hàng nhập khẩu chiếm đa số trong tổng doanh thu ( 50%) tiếp theo đó là hàng xuất khẩu (37%) tiếp đó là các hoạt động khác chiếm rất nhỏ trong tổng doanh thu ( 13%).

    + Cán cân xuất nhập khẩu bị thâm hụt

    1.3.4.   Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu.

    • Cơ cấu thị trường xuất khẩu.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 7. Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu.

     

    Qua biểu đồ ta thấy:

    • Thị trường giao dịch xuất nhập khẩu bị giới hạn với 3 thị trường chính: Malaysia, Campuchia và Myanmar
    • Thị trường chi nhánh chọn hợp tác là Malaysia, với tỉ trọng giao dịch tương đối lớn 54%
    • Thị trường Campuchia và Myanmar tỉ trọng giao dịch ở con số trung bình lần lượt là 21% và 25%.
    • Thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Trung Quốc …còn bỏ ngỏ.
      • Cơ cấu thị trường nhập khẩu.

    Bảng8: Thị trường nhập khẩu:

     

    Thị trường

     

     

    Đài Loan Trung Quốc Nhật Hàn Quốc Thái Lan Malaysia Tây Ban Nha
    Máy móc 8%   6%          
    Đồ dùng nội thất   9%            
    Xe máy             7% 4%
    Sợi, Vải 14%     11%        
    Bánh kẹo           12%    
    Gạch             8%  
    Keo dán         8%      
    Kem không sữa         4%      
    Dụng cụ cầm tay 4% 5%            
    Tổng 26% 14% 6% 11% 12% 12% 15% 4%

     Nguồn Phòng Kế toán

    Hình8 : Biểu đồ cơ cấu thị trường nhập khẩu của chi nhánh

    • Qua biểu đồ ta nhận thấy:
    • Thị trường nhập khẩu đa dạng, chi nhánh giao dịch với nhiều nước trên thế giới với nhiều loại mặt hàng.
    • Thị trường Đài Loan tỉ trọng giao dịch chiếm số lượng lớn 26%. Đây là thị trường mà chi nhánh giao dịch từ lâu.với chi phí giao dịch ở mức độ trung bình
    • Các thị trường có khối lượng giao dịch trung bình:Tây Ban Nha ( 15%) , Trung Quốc (14%), tiếp theo là Malaysia, Thái Lan ( 12%) và Hàn Quốc ( 11%).
    • Thị trường có tỉ trọng giao dịch ít là Nhật Bản ( 6%) và Ý (4%). Tuy nhiên ở thị trường này tỉ trọng giao dịch ít nhưng chi phí và vốn cho lô hàng nhập khẩu ở các thị trường này tương đối cao, bởi chất lượng hàng hóa ở 2 thị trường này rất tốt.

     

    1.4. Phương hướng hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian tới.

    Trong tình hình kinh tế thế giới đang dần dần có những biến đổi khởi sắc tốt hơn trong thời gian khủng hoảng vừa qua. Là một công ty xuất nhập khẩu hàng hóa tổng hợp, ban lãnh đạo công ty đã đề ra các phương án sau:

    • Tiếp tục triển khai mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu: củng cố mối quan hệ với các đối tác đã thiết lập làm ăn lâu dài với công ty, tìm kiếm thêm thị trường xuất khẩu tiềm năng.
    • Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại thị trường trong nước bằng việc củng cố chất lượng bán háng và dịch vụ cho khách hàng tại các điểm: trạm kinh doanh xuất nhập khẩu, cửa hàng Thăng Long và Bãi xe của chi nhánh công ty.
    • Tìm kiếm các nguồn nhập khẩu nguyên liệu có giá cả thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng để giảm chi phí nguyên vật liệu.
    • Tiết kiệm năng lượng từ các văn phòng chính để giảm chi phí cho công ty.

     

     

    PHẦN2:  MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI CHI NHÁNH CÔNG TY HÀ THÀNH TRONG THỜI GIAN TỚI.

    1.5. Tổng quan thị trường kinh tế Việt Nam 2011,dự đoán tình hình kinh tế 2012.

    • Tình hình kinh tế 2011.

    Năm 2011 tình hình kinh tế- xã hội nước ta phát triển trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức. Đầu năm, giá các hàng hóa và vật tư chủ yếu trên thị trường thế giới biến động theo chiều hướng tăng. Một số nền kinh tế lớn mặc dù vừa phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn đang tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và bất ổn. Tình trạng vỡ nợ công ở Hy Lạp và một số nước khu vực đồng Euro, bất ổn ở Bắc Phi, Trung Đông đã tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam ở các mức độ khác nhau. Ở trong nước, lạm phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, một số vấn đề xã hội còn nhiều bất cập….

    • Dự đoán năm 212:

    Năm 2012, dự báo tình hình kinh tế-xã hội nước ta phát triển trong bối cảnh khó khăn và thuận lợi đan xen nhau.
    –  Về khó khăn: Kinh tế thế giới và khu vực vẫn phục hồi chậm, nhất là các nước EU, Mỹ, Trung Quốc.. là những thị trường lớn của nước ta. Khu vực Trung Đông, Bắc Phi vẫn chưa ổn định nên khả năng ổn định thị trường xuất khẩu hàng hóa và lao động nước ta tiếp tục gặp khó khăn. Ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi. Giá cả thị trường năm 2011 cao, tỷ giá ngoại tệ, vàng vẫn biến động và phụ thuộc lớn vào thị trường thé giới, thị trường bất động sản vẫn trầm lắng, chứng khoán giảm.
    – Về thuận lợi: Sự hồi phục của nền kinh tế có nhiều tiềm năng ở khu vực Đông Nam Á và Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản sẽ tác động tích cực đến kinh tế- xã hội Việt Nam. Thị trường xuất khẩu đã mở rộng trong những năm gần đây nên khả năng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của nước ta là rất khả quan. Vốn FDI thực hiện, ODA, và kiều hối năm 2011 khá lớn. (trên 26 tỷ USD). Ở trong nước, nguồn lực năm 2011 tạo ra về vốn, cơ sở hạ tầng, nhân lực và kinh nghiệm tích luỹ của 25 năm đổi mới là những yếu tố thuận lợi, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế năm 2012.

     

    1.  

    1.6. Đánh gia chung về chi nhánh công ty Hà Thành.

    1.6.1.   Điểm mạnh.

    • Sự lãnh đạo đúng đắn.

    Với kim chỉ nam là “Đầu tư đa dạng, phát triển bền vững”, chi nhánh công ty Hà Thành tại TP. HCM  đã quy tụ được Ban Lãnh đạo có bề dày kinh nghiệm trong các lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển, kết hợp với đội ngũ nhân viên trẻ, năng động và chuyên nghiệp tạo lên thế mạnh nòng cốt của công ty để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.
    Hơn nữa, chi nhánh lựa chọn phát triển những sản phẩm thiết yếu đưa vào xuất nhập khẩu  tạo sự cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như nước ngoài.

    • Thiết lập mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp

    Qua quá trình phát triển, bên cạnh việc thiết lập được một hệ thống đối tác nước ngoài đến từ các doanh nghiệp lớn Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Tây Ban Nha., có thế mạnh trong các lĩnh vực:xuất nhập khẩu hàng máy móc, tiêu dùng, xe máy, nội thất, nông sản, may mặc đó là những sản phẩm chủ lực xuất nhập khẩu của công ty … Chi nhánh công ty còn thiết lập được mối quan hệ tin cậy với các đối tác trong nước là các Tổ chức tài chính, các Quỹ đầu tư và các Ngân hàng thương mại cùng đồng  hành trên con đường phát triển.

    • Tạo cơ sở niềm tin cho khách hàng trong nước.

    Trong suốt quá trình 15 năm hoạt động, từ năm 1997 cho đến nay,thị trường trong và ngoài nước không ngừng gia tăng. Đối với thị trường trong nước công ty chiếm được thị phần khá cao và là nguồn cung cấp hàng hóa không thể thiếu đối với các doanh lớn kinh doanh trong ngành: may mặc, xây dựng và tiêu dùng.

    • Kinh nghiệm xuất nhập khẩu:

    Kể từ khi đi vào hoạt động, với 15 năm kinh nghiệm trong ngành kinh doanh xuất nhập khẩu. Hàng hóa xuất nhập khẩu luôn đảm bảo về chất lượng, cũng như số lượng. Quan trọng nhất thời gian giao hàng và nhận hàng luôn kịp thời. Tạo niềm tin cho khách hàng là tiền đề cho sự phát triển lâu dài và bền vững của doanh nghiệp

    • Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và có bề dày kinh nghiệm.

    Với đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm nhiều năm trong ngành xuất nhập khẩu, là nền tảng cho công ty mở rộng và phát triển trong thời gian tới.

    1.6.2.   Điểm yếu.

    • Thương hiệu của công ty chưa được biết đến nhiều

    Ở các thị trường mà doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, có rất nhiều đối thủ cạnh tranh với những thương hiệu mạnh đến từ Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan… Việc tạo dựng thương hiệu ở các thị trường xuất khẩu rất khó khăn. Việc tạo dựng được  hình ảnh tốt đẹp thì doanh nghiệp không những chỉ cạnh tranh với các thương hiệu mạnh đến từ nước ngoài mà ngay cả những thương hiệu lớn trong nước việc cạnh tranh vô cùng khốc liệt.

    • Nguồn vốn cho mở rộng và phát triển thị trường còn hạn hẹp.

    Là  1 doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn cung cấp cho việc nghiên cứu và mở rộng thị trường của công ty còn rất eo hẹp. Việc nghiên cứu và mở rộng thị trường cũng như sản phẩm mới xuất khẩu còn chưa được quan tâm đúng mức.

    • Sản phẩm và thị trường xuất khẩu bị giới hạn.

    Sản phẩm của công ty đem xuất khẩu chỉ có 2 loại sản phẩm: đậu phộng và vải. Cùng với đó thị trường xuất khẩu bị giới hạn trong 3 thị trường : Malaysia, Myanmar và CamPuchia. Nhiều thị trường lớn bị bỏ ngỏ: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… một phần là sản phẩm còn chưa đáp ứng được nhu cầu và một phần doanh nghiệp vẫn chưa kết nối được với đối tác tiềm năng.

    1.6.3.   Cơ hội.

    • Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu.

    Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới, các thành viên WTO sẽ phải bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may và nông sản Việt Nam. Điều này tạo cơ sở thuận lợi cho doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng lợi thế của mình sang các thị trường lớn. Đặc biệt là thị trường Mỹ , Nhật, EU và một số thị trường khác: Đài Loan, Hàn Quốc và các nước Asean. Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước có cơ hội được hợp tác làm ăn với các đối tác lớn về tiềm năng khai thác những mặt hàng nhập khẩu.

    • Giảm chi phí xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh cho mặt hàng xuất khẩu

    Việc phân bổ hạn ngạch theo Hiệp định ATC đã làm tăng chi phí xuất khẩu cho doanh nghiệp. Chi phí này chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí xuất khẩu và đối với Việt nam, chi phí do hạn ngạch sinh ra đối với mặt hàng dệt xuất khẩu sang US/Canada chiếm 6.9% tổng chi phí, đối với mặt hàng may mặc vào 2 thị trường này là 7.1% và chi phí do hạn ngạch sinh ra khi xuất khẩu sang EU đã là 7.5% đối với mặt hàng dệt và 7.2% đối với mặt hàng may mặc. Như vậy, với việc Việt Nam là  thành viên WTO, bỏ hạn ngạch đối với một số ngành ở Việt Nam: mặt hàng  dệt may xuất khẩu, nông sản… sẽ. Do đó có điều kiện giảm giá xuất khẩu do không phải mất chi phí do việc cấp hạn ngạch gây ra.

    • Thuận lợi thủ tục xuất nhập khẩu, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Cải cách trong thủ tục hải quan: khai báo hải quan điện tử, xóa bỏ hạn ngạch, mức thuế xuất nhập khẩu giảm giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn vào đầu tư xuất nhập khẩu. Các mặt hàng xuất nhập khẩu được tăng cả về số lượng cũng như chất lượng hàng hóa, từ đó đẩy mạnh kim ngạch xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

    1.6.4.   Thách thức.

    Bên cạnh cơ hội dành cho doanh nghiệp thì cũng có rất nhiều thách thức được đặt ra trong bối cảnh kinh tế hiện tại:

    • Nguy cơ bị áp dụng các biện pháp tự vệ.

    Với việc xâm nhập vào thị trường lớn rất khó khăn, đối với những sản phẩm doanh nghiệp xuất khẩu, dễ bị thị trường áp dụng các biện pháp tự vệ để bảo về ngành sản xuất trong nước: chống bán phá giá hay yêu cầu về chất lượng, nguồn gốc … Những biện pháp này sẽ làm giảm số lượng xuất khẩu của doanh nghiệp.

    • Nguy cơ cạnh tranh ngày càng cao

    Tham gia thị trường thế giớidoanh nghiệp phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, đối với các mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, trong đó có may mặc và nông sản thì những đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc và Ấn Độ là những đối thủ cạnh nhất về cả giá cả cũng như chất lượng sản phẩm. Nếu không có chính sách giá cả, chất lượng hợp lý thì doanh nghiệp rất dễ bị loại khỏi thị trường.

    Bên cạnh đó, ở các thị trường xuất nhập khẩu, với các biện pháp tự vệ được áp dụng, doanh nghiệp muốn xâm nhập thì sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp ở thị trường xuất khẩu nhắm tới.

    Ở thị trường trong nước, những công ty xuất nhập khẩu ngày càng nhiều, sự cạnh tranh trở nên ngày càng khốc liệt hơn, công ty cần đưa ra những sách lược đúng đắn để có thể tồn tại được ở cả thị trường trong và ngoài nước.

    • Yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng cao

    Khi tham gia vào thị trường thế giới, chất lượng sản phẩm luôn ở vị trí hàng đầu, các sản phẩm Việt Nam khi tham gia vào thị trường thế giới thường bị ép giá cả về chất lượng, và nguồn gốc xuất sứ. Việc muốn cải thiện về doanh thu cũng như kim ngạch xuất nhập khẩu cần thiết phải chú ý và đặt lên hàng đầu về chất lượng sản phẩm. Có vậy, sản phẩm mới có đủ khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế được.

    1.7. Một số ý kiến và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh công ty Hà Thành.

    1.7.1.   Các yếu tố nguồn lực của công ty.

    • Tình hình vốn sản xuất kinh doanh.
    • Yếu tố vốn của doanh nghiệp nhà nước cho việc sản xuất kinh doanh còn hạn chế, tuy nhiên doanh nghiệp cần tăng mức vốn sản xuất sản kinh doanh để có thể nâng cao hiệu quả về chất lượng, dịch vụ của sản phẩm. Để sản phẩm có được chất lượng tốt nhất. Bên cạnh đó, việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì yếu tố vồn là yếu tố quan trọng hàng đầu. Doanh nghiệp nên xem xét và phân bổ thêm vào nguồn vốn sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả nhất.
      • Tình hình lao động.
    • Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực làm việc cho nhân viên:

    + nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu với những nhân viên mới

    + Đưa nhân viên học các khoa kĩ năng mềm, nâng cao chất lượng phục vụ cho khách hàng tại các địa điểm kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu.

    + Nâng cao tay nghề sửa chữa cho các nhân viên tại các trạm bán máy móc trang thiết bị, xe máy…tạo điều kiện cho họ phát triển

    • Có thêm chế độ khen thưởng cho các đơn vị, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
      • Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ.
    • Kiểm tra và bảo dưỡng các loại máy móc theo định kỳ, sửa chữa và thay thế kịp thời.
    • Tại các địa điểm kinh doanh, cần sắp xếp và trang trí gian hàng để có thể tạo được sự quan tâm chú ý của khách hàng.
    • Hỗ trợ thêm hệ thống máy tính tại các điểm kinh doanh cho việc quản lý và bán hàng.

     

    • Cơ cấu tổ chức.
    • Hỗ trợ cho các nhân viên trong công ty trong việc trau dồi ngoại ngữ để thuận lợi trong việc giao dịch với đối tác nước ngoài. Đồng thời giúp ích cho việc tìm kiếm được những thông tin hữu ích liên quan tới viêc xuất nhập khẩu.
    • Các phòng ban, địa điểm kinh doanh thường phản hồi và đưa ra những ý kiến giúp phát triển phòng ban nói riêng và chi nhánh công ty nói chung.
    • Tổ chức những buổi họp theo định kì nhằm đánh giá hoạt động, giải đáp thắc mắc của các phòng ban để có hướng giải quyết thích hợp.

    1.7.2.   Tình hình hoạt động kinh doanh.

    • Mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu.
      • Mặt hàng xuất khẩu.
    • Nâng cao chất lượng của 2 mặt hàng xuất khẩu chính của doanh nghiệp: đậu phộng và vải.
    • Tiêu chuẩn hóa 2 mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của công ty theo tiêu chuẩn quốc tế để sản phẩm của công ty đưa đi xuất khẩu có thể xâm nhập vào các thị trường lớn và khó tính như : Mỹ và EU.
    • Dựa trên các đối tác làm ăn quốc tê, kiều bào trên thế giới để thể mở rộng và đưa thêm sản phẩm đi xuất khẩu: các mặt hàng nông sản, hàng may mặc… đó là những sản phẩm mà nước ta có nhiều lợi thế cạnh tranh khi gia nhập WTO.
      • Mặt hàng nhập khẩu.
    • Nhận thấy các mặt hàng nhập khẩu không đồng đều về cơ cấu, sản phẩm không có sự đa dạng. Với nhu cầu ở thị trường hiện tại công ty nên có sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm nhập khẩu và chiến lược cho sản phẩm xuất khẩu:
    • Giảm tỉ trọng nhập khẩu các mặt hàng có chi phí về vốn lớn nhưng lợi nhuận đem lại không cao, hoặc thời gian bán hết mặt hàng đó kéo dài dẫn đến ứ đọng vốn: đồ nội thất, máy móc.
    • Nâng cao tỉ trọng các mặt hàng có chi phí vốn ít hơn nhưng đem lại lợi nhuận cao hoặc là các mặt hàng dễ tiêu thụ tại thị trường Việt Nam: gạch, bánh kẹo.
    • Mở rộng thêm mặt hàng nhập khẩu, là các mặt hàng mà xu hướng thị trường hướng tới. Tùy thời điểm cụ thể mà có thể nhập mặt hàng nào.
    • Các mặt hàng nhập khẩu nên mua từ các nhà cung cấp uy tín và có thương hiệu,chất lượng đảm bảo. Do đó mà tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm nhập khẩu của công ty.
      • Nhà cung cấp.
        • Nhà cung cấp cho sản phẩm xuất khẩu.
      • Cần đưa ra những tiêu chuẩn để lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất: giá cả, chất lượng,thời gian giao giao hàng, chất lượng dịch vụ…
      • Lựa chọn những nhà cung cấp đảm bảo sản phẩm phải đủ tiêu chuẩn quốc tế để khi đưa ra thị trường thế giới dễ được chấp nhận.
      • Thiết lập tạo mối quan hệ lâu dài, tạo niềm tin với những nhà cung cấp đạt đủ tiêu chuẩn, song song với việc tìm kiếm những nhà cung cấp mới đáp nhu cầu tốt hơn.
      • Tạo được mối quan hệ với nhiều đối tác cung cấp để luôn chủ động trong công tác xuất khẩu khi cần có hàng.
        • Nhà cung cấp cho sản phẩm nhập khẩu.

    Mỗi một mặt hàng nhập khẩu của công ty thì luôn có nhiều đối tác cung cấp, việc lựa chọn đối tác cung cấp sẽ là nhân tố quyết định đến lợi nhuận mà doanh nghiệp có được. Vì thế khi lựa chọn nhà cung cấp cho sản phẩm nhập khẩu cần chú ý:

    • So sánh giá cả, chất lượng của nhiều nhà cung cấp, tiếp đến thời hạn giao hàng đưa ra quyết định lựa chọn nhà cung cấp thích hợp nhất.
    • Dựa vào nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng trong nước để có thể lựa chọn nhà cung cấp phù hợp:

    Vd: Về loại mặt hàng máy móc, người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng sản phẩm của Nhật và Đài Loan. Vì tâm niệm đó là các sản phẩm với chất lượng tốt.Tuy nhiên mức giá của thị trường Nhật cao hơn mặc dầu chất lượng có thể ngang nhau. Do đó,quyết định mua hàng máy móc ở 2 thị trường Nhật và Đài Loan chứ không phải thị trường khác, nhưng tỉ trọng máy móc mua ở thị trường Nhật ít hơn ở thị trường Đài Loan.

    • Luôn cập nhật thông tin về đối tác để có thể tìm được những thông tin hữu ích cho doanh nghiệp trong việc đàm phán với các nhà cung cấp.
    • Duy trì và thiết lập các nhà cung cấp tiềm năng. Tạo cơ sở niềm tin là nền tảng cho việc làm ăn lâu dài giữa 2 doanh nghiệp.
    • Luôn có nhiều sự lựa chọn giữa các cung cấp, tùy theo nhu cầu thị trường hiện tại mà lựa chọn. Cùng với đó giữ được thế chủ động trong việc nhập khẩu hàng hóa mà không bị phụ thuộc vào bất cứ nhà cung cấp nào.
      • Khách hàng.
        • Khách hàng trong nước.
      • Nghiên cứu, khảo sát nhu cầu của khách hàng trong nước, để đưa ra sản phẩm phụ hợp với nhu cầu của người tiêu dùng: mẫu mã, chất lượng,giá cả, dịch vụ hậu mãi.
      • Khách hàng lớn: kèm theo mức giá ưu đãi hoặc có những dịch vụ sau khi bán hàng,làm tăng mức thỏa mãn về sản phẩm của doanh nghiệp.
      • Lựa chọn từng phân khúc đề ra kế hoạch bán hàng cho khách hàng ở từng phân khúc khác nhau: về giá, về chất lượng

    Vd:  phân phúc khách hàng lớn sẽ có chiến lược bán hàng khác với phân khúc khách hàng là cá nhân: về số lượng lớn hơn sẽ được hưởng mức giá ưu đãi hơn hoặc tỉ lệ chiết khấu nhất định.

    • Duy trì tốt mối quan hệ với khách hàng quen thuộc, tìm kiềm những khách hàng tiềm năng thông qua việc quảng bá hình ảnh của công ty.
      • Khách hàng nước ngoài.
    • Đáp ứng tốt nhất những nhu cầu mà khách hàng đặt ra, tạo cơ sở niềm tin và hình ảnh tốt đẹp về công ty.
    • Các khách hàng ở các nước khác nhau sẽ có nhu cầu về sản phẩm khác nhau, công ty chú ý đến mẫu mã của sản phẩm sao cho phù hợp với từng khách hàng ở từng thị trường riêng biệt.
    • Thông qua việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm những khách hàng mới tiềm năng.
    • Thiết lập mối quan hệ với những khách hàng mới thông qua Kiều Bào hoặc người đại diện ở thị trường mà doanh nghiệp hướng tới.
      • Đối thủ cạnh tranh.
        • Đối thủ cạnh tranh trong nước.
      • Cần nghiên cứu về chiến lược Marketting của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp ở thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế.
      • Đưa ra những chiến lược phù hợp để có thể cạnh tranh với mặt hàng và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.

    Ví dụ: công ty chấp nhận lợi nhuận thấp với mức giá thấp hơn để có thể cạnh tranh với mặt hàng của đối thủ cạnh tranh.

    • Tránh xung đột trực tiếp với các đối thủ cạnh tranh mạnh vì tổn thất lớn thuộc về doanh nghiệp chúng ta.
      • Đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
    • Tìm hiểu và nắm rõ thông tin về đối thủ cạnh tranh: chiến lược marketting, phát triển sản phẩm… từ đó thấy được điểm mạnh điểm yếu của đối thủ cạnh tranh.
    • Tìm lợi thế của doanh nghiệp mình, đưa ra chiến lược Marketting phù hợp.
    • Ngoài những đối thủ cạnh tranh trực tiếp, còn nhiều đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có thể dành thị phần của công ty trên thị trường xuất khẩu. Công ty cần lưu ý tới những đối thủ tiềm ẩn như vậy.
      • Thị trường xuất nhập khẩu.
        • Thị trường xuất khẩu.
      • Công ty nên mở rộng thị trường xuất khẩu tới những thị trường tiềm năng về sản phẩm may mặc và nông lâm thủy sản: Nhật, Mỹ, Úc…
      • Chi thêm tiền đầu tư vào việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường thích hợp để công ty có thể mở rộng thị trường trong thời gian tới.
      • Xây dựng thương hiệu công ty ở các thị trường mà công ty đã xuất khẩu : Malaysia, Myanmar, Campuchia, đồng thời tạo dựng những hình ảnh ban đầu tốt đẹp tới các thị trường mà công ty muốn hướng tới.
      • Đưa hình ảnh và thông tin về công ty tới nhiều khách hàng trên thế giới biết đến thông qua các trang web thương mại điện tử: google.com hoặc alibaba.com v.v…
      • Bước đầu xâm nhập thị trường mới công ty cần chấp nhận mức lợi nhuận thấp để đạt được mục tiêu tạo dựng mối quan hệ làm ăn với đối tác.
        • Thị trường nhập khẩu.
      • Cần tìm được những mặt lợi ở từng thị trường để có thể xác định thị trường nào là thị trường tiềm năng cung cấp sản phẩm nhập khẩu.
      • Cần nghiên cứu về mức giá cả, chất lượng, dịch vụ ở từng thị trường để có thể mua hàng với chi phí thấp nhất và chất lượng đảm bảo.
      • Cần thay đổi cơ cấu thị trường nhập khẩu, nên mở rộng thị trường nhập khẩu, san sẻ thị phần ở các thị trường nhập khẩu lớn cho những thị trường mới hoặc thị trường có thị phần nhở hơn mà có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ chất lượng. Cụ thể có thể giảm bớt thị phần của thị trường Đài Loan, Trung Quốc.

     

     

    Phần 3: NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KINH NGHIỆM TIẾP THU ĐƯỢC TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP TẠI CÔNG TY.

    1.  

    1.8. Những kiến thức và kinh nghiệm tiếp thu trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại công ty.

    • Nắm bắt được quy trình thực tế giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại biển của công ty.
    • Học hỏi được kinh nghiệm sống, cách giao tiếp trong công sở.
    • Cách thức làm việc có kế hoạch, cụ thể từng ngày, từng tuần và từng quý.
    • Làm việc theo lợi ích tập thể không chỉ vì lợi ích của bản thân.
    • Trong thời gian này thực tập, em xác định mình phù hợp với công việc gì, và đề ra mục tiêu để phấn đấu trong tương lai. Đó là Sale.

    1.9. Một số ý kiến đề xuất đối với các bạn sinh viên, khoa Thương mại – Du lịch và trường Đại học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh.

    1.9.1.   Đối với trường Đại học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh.

    • Tổ chức nhiều hơn những hội chợ việc làm tại trường, liên kết các công ty với nhà trường để tiếp nhận sinh viên thực tập…
    • Tổ chức những buổi hội thảo hướng nghiệp cho sinh viên để họ có một hướng đi đúng ngay từ khi bước chân vào nhà trường.
    • Tạo những sân chơi mới giúp sinh viên năng động và cung cấp những kiến thức bổ ích làm hành trang trong cuộc sống.

    1.9.2.   Đối với khoa Thương mại – Du lịch.

    • Liên kết với doanh nghiệp trong nước nhiều hơn nữa để có thể hỗ trợ tối đa địa điểm thực tập cho sinh viên.
    • Tư vấn và đưa ra lời khuyên cho các sinh viên thực tập đúng ngành nghề.

    1.9.3.   Đối với các bạn sinh viên

    • Xác định rõ mục tiêu đi thực tập: lấy kinh nghiệm, tìm kiếm cơ hội việc làm cho tương lai…
    • Đề ra các việc cần phải làm và thực hiện chúng.
    • Trong thời gian thực tập, các bạn sinh viên cần nỗ lực học hỏi từ các anh chị, các bạn đồng nghiệp tại công ty mình đang thực tập.
    • Cố gắng thiết lập mối quan hệ với càng nhiều đồng nghiệp trong công ty càng tốt để công việc được thuận lợi hơn nếu các bạn được nhận vào làm nhân viên chính thức.
    • Nếu có thể, các bạn nên đàm phán với công ty để trở thành nhân viên chính thức của công ty.
    • Trong lúc thực tập công việc được giao tại công ty, các bạn cố gắng tìm hiểu tất cả những công việc khác trong công ty nhằm so sánh, tìm kiếm công việc mà mình yêu thích và có khả năng làm được.
    • Phải hoạch định cho mình một chiến lược làm việc rõ ràng để không bị mất phương hướng nếu có bất kỳ trở ngại nào trong công việc

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÁO CÁO MÔN THỰC TẬP THỰC TẾ TẠI NHÀ THUỐC THIÊN ÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-kinh-doanh-m%E1%BB%9F-qu%C3%A1n-cafe-n%C4%83m-2018-v%C3%A0-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Kế hoạch kinh doanh mở quán cafe năm 2018 và 2019

    Bài viết này sẽ lập cho mọi người 1 kế hoạch kinh doanh mở quán cafe, kinh nghiệm mở quán cafe cần bao nhiêu vốn, làm sao để duy trì kinh doanh và phát triển quán cà phê lớn mạnh hơn.

    Mở quán cafe là một ý tưởng kinh doanh phổ biến, có nhiều người tham gia vào ngành nghề này bằng cách đi học pha chế đồ uống 4-7 tháng, có người đi làm thuê 1 năm, 2 năm để có kinh nghiệm rồi mới tự mở quán riêng. Phần lớn quán cà phê mở ra và chỉ kinh doanh khoảng 4 tháng thì đóng cửa tiệm.

    Vì vậy trước khi chúng ta nghiên cứu kế hoạch cho quán cà phê, bạn cần xác định rằng mô hình này có sức cạnh tranh rất cao, tham gia kinh doanh cà phê rất dễ và phá sản cũng nhanh, lý do là những vấn đề cơ bản như thế này:

    – Sức cạnh tranh lớn làm thị trường bị thu hẹp, từ đó khiến lượng khách hàng thực tế của mỗi quán cà phê giảm đi

    – Vốn đầu tư lớn làm những người ít vốn không thể cạnh tranh theo cách “ngựa đua đường dài”

    – Kinh doanh nhỏ lẻ, không có kế hoạch rõ ràng dẫn đến thất bại

    – Suy nghĩ đơn giản: Cứ mở tiệm và có tên quán cafe đẹp, không gian đẹp là có khách hàng

    Lý do thứ 4 là vấn đề rất phổ biến không ở đâu giống như người Việt Nam kinh doanh theo lý do này. Tư duy “ Cứ mở quán là có khách hàng” chỉ đúng khi bạn độc quyền ngành hàng hóa của thị trường và khách hàng bắt buộc phải dùng sản phẩm đó, nhưng ngay cả trường hợp độc quyền sản phẩm thì cũng có những sản phẩm thay thế rất tốt, chẳng hạn bạn có 1 công thức chế biến cà phê và mua lại thương hiệu từ Nhật Bản về Việt Nam phát triển cửa hàng, trong nước có rất nhiều sản phẩm đồ uống khác nhau, chẳng có lý do gì để khách hàng nhất định phải uống cà phê độc quyền của bạn.

    Pháp luật quy định người bán không được phép ép buộc người mua phải thực hiện giao dịch hàng hóa và ngược lại, mua bán dựa trên bản chất tự nguyện từ 2 bên. Người ta thích thì vào quán cà phê của bạn, chúng ta không có quyền để ép họ, thế nên tại sao lại nghĩ rằng “ Cứ mở quán là có khách mua” ?

    Cho nên trước khi bắt đầu kinh doanh bạn cần tư duy khoa học rằng : Kinh doanh chắc chắn sẽ thất bại nếu như bạn không đủ nguồn lực và chiến lược tốt, và bạn có thể tự tin hiện nay trên thị trường có rất nhiều quán cafe kinh doanh chộp giật.

    Bản kế hoạch kinh doanh mở quán cafe

    1. Kế hoạch phát triển quán cà phê

    a. Kế hoạch doanh thu

    Doanh thu có từ hoạt động bán hàng và các công việc khác ngoài bán hàng, nhiều người kinh doanh cà phê tự đặt ra mức doanh thu mà không căn cứ vào hiện trạng thị trường, tức là mục tiêu đặt ra lớn hơn khả năng thực thi, đây cũng là một trong số lý do dẫn tới kinh doanh thất bại.

    Doanh thu được ước lượng dựa trên quy mô thị trường, nếu bạn kinh doanh cafe ở nông thôn thì không thể đặt mục tiêu 4.000.000 VNĐ/ ngày vì đó là doanh thu từ 1 quán cà phê ở Thành phố. Doanh thu được ước tính có thể tăng dần theo thời gian và phải dựa trên những thông tin đánh giá thị trường mới đi đến quyết định.

    Đặt mục tiêu doanh thu sai với tiềm lực thị trường sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động Marketing và đặc biệt là tốn nhiều chi phí đầu tư tài sản cố định, nguyên vật liệu chế biến cà phê. Cho nên doanh thu không thể xác lập theo cảm tính hay sở thích, mong muốn, tham vọng mà phải dựa trên đặc trưng và hiện trạng thị trường.

    b. Kế hoạch mua hàng (không áp dụng cho nhượng quyền cafe)

    Dựa trên doanh thu ước tính và hoạt động bán hàng để xác lập kế hoạch mua hàng phục vụ hoạt toàn bộ quá trình kinh doanh, vì vậy mục tiêu kinh doanh phải rất rõ ràng có tính khả thi so với thực tế.

    Để lập được kế hoạch mua hàng bạn phải phân tách rõ ràng những nguyên liệu và dụng cụ cần có, một ly cà phê nếu bán với giá 50.000 VNĐ, nhiệm vụ của bạn là phải xác định sẽ phải mua bao gram cà phê nguyên chất, bao nhiêu gram đường, bao nhiêm sữa, đá lạnh, cần 1 chiếc ly với chất liệu gì, bao nhiêu tiền, cần thêm những hương vị nào…

    Từ những thông chi tiết này bạn lập kế hoạch tính toán số lượng nguyên liệu cần sử dụng trong ca làm việc, 1 ngày làm việc, 1 tuần, 1 tháng. Càng rõ ràng bạn sẽ biết được số lượng nguyên liệu và hàng hóa cần phải đặt mua từ đối tác.

    Ngoài ra bạn còn phải xác định chu kỳ nhập hàng đầu vào, để làm điều này phải thống kê số lượng tách cà phê bán ra trong 1 khoảng thời gian nhất định, đánh giá xem kinh doanh có hiệu quả không , có nhất thiết phải tăng tần suất nhập nguyên liệu trong 1 tháng không, làm tốt công tác phân tích số liệu bạn sẽ tiết kiệm được một khoản lớn chi phí vận chuyển.

    c. Quản lý nhân viên

    Bạn cần tuyển 1 người quản lý có năng ổn và sở hữu cách quản lý quán cafe hiệu quả để giúp bạn quản lý hoạt động kinh doanh của toàn cửa hàng, đối với nhân viên pha chế và nhân viên phục vụ khác nên tuyển dụng những người đã có am hiểu hoặc và ít nhiều kinh nghiệm về cafe, điều này giúp bạn cắt giảm khoản thời gian đào tạo.

    Đối với một nhân viên bạn cần 1 kế hoạch bao gồm: Tuyển dụng, đào tạo nghiệp vụ, Bố trí và sử dụng nhân lực sau đào tạo sao cho phù hợp, trả tiền lương, thực hiện chính sách đãi ngộ… Làm sao bảo đảm nhân viên làm việc cho bạn cảm thấy họ nhận được nhiều lợi ích so với làm việc ở nơi khác.

    d. Kế hoạch tài chính

    Mục đích của kế hoạch tài chính là để biết được hạng mục chi tiêu nào sinh lợi nhiều hơn cả, đồng vốn nào không sinh lời, thông qua đó bạn sẽ cắt giảm chi phí cho hoạt động công việc không cần thiết cũng như phải đầu tư thêm tiềm cho những công việc quan trọng.

    Kế hoạch tài chính phải kết hợp chặt chẽ với hoạt động Marketing mặc dù Marketing nghe có vẻ to tát so với 1 quán cà phê, nhưng bạn nhất định phải làm tốt hoạt động tiếp thị. Về vấn đề chi tiêu sẽ viết trong phần 3, còn bây giờ chúng ta nghiên cứu sang phần hai.

    2. Chiến lược Marketing cho kinh doanh mở quán cafe hiệu quả

     

    a. Phân tích cạnh tranh ngành

     

    Mô thức Cạnh tranh Pichael Porter chỉ ra 5 yếu tố cạnh tranh lớn nhất trong ngành thì đối với quán cafe yếu tố : Đối thủ tiềm năng, đối thủ cạnh tranh đang kinh doanh trên khu phố hiện tại, Đồ ăn và thức uống có liên quan đến cạnh tranh với Cà phê như : Trà sữa, đồ ăn vặt, sinh tố hoa quả…

    Phân tích ngành là để biết rằng bạn có thể mở cửa hàng ở nơi đó hay không, có bao nhiêu đối thủ và những người nào thực sự là đối thủ đáng gớm với bạn, những người này là đối thủ mà bạn không thể đánh bật họ ra khỏi thị trường dễ dàng.

    Do vậy nhiệm vụ của việc phân tích là để biết được rằng có bao nhiêu quán cà phê tại khu vực kinh doanh, vốn đầu tư của họ nhiều đến cỡ nào, dịch vụ kinh doanh cà phê của họ khác biệt ở đâu… thông qua những thông tin này chúng ta khắc phục điểm yếu của mình và tập trung phát triển nhiều hơn thế mạnh

    b. Kế hoạch thúc đẩy bán hàng

    Đặc điểm của quán cà phê là kinh doanh theo vị trí cửa hàng, nếu địa điểm kinh doanh mới chỉ có 1-2 quán thì không nhiều và có thể san sẻ doanh thu/lợi nhuận. Nhưng nếu lợi ích nhiều thì chắc chắn sẽ có càng nhiều hơn đối thủ, tức là chúng ta phải hành động để thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Bởi vậy thúc đẩy bán hàng chắc chắn là việc sẽ phải làm, có nhiều cách thúc đẩy bán hàng như: Khuyến mại, tặng kèm sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng quen, tặng quà, giảm giá bán, tặng thêm tách cà phê cho một số khách hàng đáp ứng yêu cầu của 1 Game do cửa hàng tổ chức…

    c. Kế hoạch Xúc tiến cho hoạt động kinh doanh mỗi ngày

    Bạn có thể tổ chức 1 cuộc thi kéo dài trong nhiều tháng, đương nhiên là khách hàng sẽ được nhận giải thưởng như 1 chiếc điện thoại, vài vé xem phim, hoặc 1 món đồ dùng nào chẳng hạn. Cuộc thi giúp kết nối khách hàng và đối với những cặp đôi đang yêu nhau thì có thể bạn sẽ chính là những người kết nội họ gần lại với nhau hơn, họ rất có thể sẽ là khách hàng lâu dài của bạn trong tương lai.

    d. Tạo 1 công thức đồ uống mới

     

    Nếu bạn có am hiểu hoặc đã tham gia khóa học pha chế đồ uống thì bạn nên tự sáng tạo 1 công thức làm đồ uống mới, đặc biệt chưa xuất hiện trên thị trường, chúng ta giữ bí quyết này để thu hút được nhiều khách hàng hơn và họ chỉ có thể đến quán của bạn mới được thưởng thức hương vị đồ uống đó, đó sẽ là điểm khác biệt giúp bạn xây dựng thương hiệu trước khi chúng ta mở rộng thêm cửa hàng.

    3. Vốn dự trù cho ý tưởng setup quán cà phê

    a. Chi phí thuê mặt bằng để mở quán

    Mặt bằng được đánh giá lợi thế cạnh tranh đóng góp một phần vào việc phát triển cửa hàng để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Khi chúng ta thuê mặt bằng mở quán cà phê bạn cần phải lập hợp đồng và trong hợp đồng cần thể hiện những yếu tố sau:

    Địa chỉ thuê mặt bằng, diện tích, phong cách và kết cấu không gian, chi phí thuê mặt bằng, phương thức thanh toán, thời gian trả tiền thuê mặt bằng, không nên thuê với thời hạn quá lâu vì rất có thể bạn đã đánh giá sai tiềm năng thị trường tại khu vực, sau một thời gian kinh doanh bạn có thể sẽ phải đóng cửa tiệm vì hoạt động không hiệu quả. Trong trường hợp bạn chắc chắn rằng bạn đã khảo sát và quyết định thị trường đó rất tiềm năng thì có thể thuê mặt bằng với thơi hạn khoảng 3-4 năm hoặc lâu hơn.

    • khu vực nội thành của Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng bạn có thuê một cửa hàng với diện tích khoảng 40m2-80m2 tùy vào số nhiều hay ít của bạn.

    Chi phí dự tính để thuê một không gian cho quán cafe nhỏ đẹp ở khu vực thành phố rộng 50m2: 10.000.000 VNĐ – 20.000.000 VNĐ tùy vào vị trí đặt cửa hàng ở trung tâm Quận hay khu vực bên ngoài Quận.

    b. Chi phí thiết kế và thi công quán cà phê

    Đối với vấn đề này có 2 khâu tách biệt: Thuê người làm thiết kế không gian sau đó thuê thợ thi công lắp đặt nội thất không gian theo bản thiết kế hoặc thuê 1 công ty vừa làm thiết và cả thi công.

    Hiện nay giá thiết kế và thi công trên thị trường khoảng: 220.000 VNĐ/ m2 không gian, 50m2

    thì tổng chi phí bằng: 11.000.000 VNĐ, còn nếu bạn chỉ thuê thiết không gian quán thì chi phí

    này khoảng : 130.000 VNĐ/m2.

    Khi thuê thiết kế và thi công bạn cần tìm hiểu và đặt vấn đề với đối tác là sử dụng loại chất liệu thi công nào, màu sắc, bố cục không gian, phù hợp với đối tượng khách hàng của bạn. Có nhiều bạn muốn kinh doanh quán cafe bình dân, hoặc lập kế hoạch kinh doanh quán cafe sinh viên, cafe cóc cũng có người muốn đầu tư theo mô hình cao cấp dành cho doanh nhân, giới văn phòng…

    Một số kiến thức cơ bản về cách trang trí quán cafe nhỏ

    Thiết kế quán cà phê bao gồm thiết kế bên trong và bên ngoài quán. Đối với bên ngoài bạn cần tìm hiểu về biển hiệu và chất liệu tường, màu sơn tường hoa văn và thiết kế mỹ thuật trên tường. Đối với bên trong quán bạn sử dụng tường kính hay tường sơn, các loại rèm, chất liệu lót tường bằng gỗ hay bằng những chất liệu khác.

    Ngoài ra bạn còn phải tính toán đến thảm lót sàn, đèn chùm, đèn thả, những vật dụng trang trí trên không gian.

    c. Chi phí cho Đồ dùng , vật dụng làm tài sản cố định khi kinh doanh cà phê

    Bạn cần chuẩn bị những loại dụng cụ sau:

    – Bàn, ghế các loại ( bàn đơn, bàn đôi, bàn nhiều người), giá đỡ: Chi phí dự tính khoảng 40.000.000 VNĐ

    – Giàn âm thanh cho cửa hàng: Chi phí dự tính khoảng 7.000.000 VNĐ

    – Bàn pha chế, các thiết bị rửa chén: 10.000.000 VNĐ

    – Ly, cốc, máy làm nước chà ( dùng làm nước trang miệng, uống nhấp môi)…: Dự tính chi phí khoảng 3.000.000 VNĐ.

    – Mãy làm cà phê tự động: Có nhiều loại máy pha cà phê khác nhau nhưng bạn có thể mua loại

    với giá: 20.000.000 VNĐ, hoặc nếu sản lượng bán hàng ít thì mua máy nhỏ với giá khoảng : 7.000.000 VNĐ.

    – Máy xay cà phê: 4.000.000 VNĐ

    – Máy xay sinh tố, máy làm đá bào: Dự tính chi phí 5.000.000 VNĐ

    d. Chi phí cho tiền hàng lưu động

    Bao gồm hạt cà phê, cà phê đã qua xay, sữa, chà, hoa quả, ước tính chi phí cho thời gian hoạt động ban đầu khoảng: 10.000.000 VNĐ

    e. Chi phí cho hoạt động Marketing

    Bao gồm chi phí quảng cáo, tiền viết bài Pr, tiền làm SEO, phát tờ rơi, khuyến mại, giảm giá bán….: Tổng chi phí này trong thời gian đầu dự tính khoảng 12.000.000 VNĐ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-c%C3%B4ng-ty-PepsiCo-v%C3%A0-b%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-kinh-nghi%E1%BB%87m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong thế kỷ 21, giao thương quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thế giới. Thế giới đang trở nên phẳng hơn một thế kỷ trước đó, nhờ đó cũng mở ra nhiều cơ hội và cả thách thức cho các quốc gia mong muốn hội nhập.

    Trước tình hình đó, sự ra đời của các tập đoàn đa quốc gia đã phần nào rút tạo ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển tiến lên một nền sản xuất cao hơn, đưa đất nước sánh ngang cùng các cường quốc. Pepsi là một trong số đó. Ra đời cách đây hơn 1 thế kỷ, Pepsi từ lâu đã trở thành thứ nước uống quen thuộc với mọi người trên toàn thế giới, đã và đang từng bước khẳng định chính mình bằng cách vươn xa hơn, mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn thế giới. Nắm bắt được những cơ hội, tập đoàn này đã thực sự khẳng định được chính mình trên sân chơi kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, không một vấn đề gì cũng hoàn hảo tuyệt đối. Tập đoàn Pepsi cũng không ngoại lệ, bên cạnh những thành công cũng có những thất bại trong quá trình hoạt động kinh doanh trên toàn cầu. Và đồng thời cũng là những bài học kinh nghiệm kinh điển cho sự phát triển vươn xa hơn của công ty trong tương lai.

    Nhóm học viên cao học chúng em gồm:

    • Giang Việt Anh
    • Đỗ Mạnh Hà
    • Bùi Thúy Hồng
    • Vũ Văn Lưu
    • Nguyễn Sỹ Quyết
    • Nguyễn Thị Thu Thủy
    • Vũ Quang Tuyến

    đã được giao đề tài “Nghiên cứu công ty PepsiCo và bài học kinh nghiệm” Qua một thời gian tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng cùng với sự hướng dẫn của cô giáo, chúng em đã hoàn thành xong đề tài này.

    Chúng em chân thành cám ơn!

    Nhóm học viên

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY PEPSICO

    I. Lịch sử hình thành và phát triển chung.

    Năm 1886, Bradham – một dược sĩ sinh năm 1867 tại Chinquabin, Duplin County, North Carolina – đã pha chế ra một loại nước uống dễ tiêu làm từ nước cacbonat, đường, vani và một chút dầu ăn. Nó được bán trong khu vực dưới tên “Nước uống của Brad”.

    Đến năm 1893, Bradham đổi sang một cái tên mới “Pepsi-Cola”, nghe thú vị, khoẻ khoắn, mạnh mẽ hơn và chuẩn bị đưa ra bán một cách rộng rãi hơn.

    Năm 1898 – Tập đoàn Pepsi thành lập, trụ sở chính tại thành phố Purchase, bang New York, Mỹ.

    Năm 1902 – Thương hiệu PepsiCola được đăng ký.

    Công ty đã từng hai lần phá sản vào thế chiến thứ nhất và vào năm 1931 trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933. Sau đó, Charles Guth, chủ tịch Loft Industries – hệ thống các cửa hàng bán kẹo và nước soda, đã mua lại công việc kinh doanh chính của Pepsi và đưa nó vào bán ở trong các cửa hàng của ông ta.

    Năm 1934 – Doanh số của PepsiCola tăng vọt tại Mỹ.

    Năm 1941 – Thâm nhập châu Âu.

    Năm 1947 – Mở rộng sang Phillipines và Trung Đông.

    Năm 1964 – Diet Pepsi – nước giải khát dành cho người ăn kiêng đầu tiên trên thị trường.

    Năm 1965 – Pepsi mua lại tập đoàn Frito-Lay.

    Năm 1998 – PepsiCo hoàn tất việc mua lại Tropicana với trị giá $ 3.3 tỉ Năm 1998, Pepsi kỉ niệm 100 năm và đưa

    ra logo mới cho thiên niên kỉ mới – hình cầu với 3 màu xanh, trắng, đỏ trên nền màu xanh lạnh, điểm thống nhất của thiết kế biểu tượng Pepsi trên toàn thế giới.

    Hiện nay PepsiCo là:

    • Công ty nước giải khát và thực phẩm hàng đầu thế giới.
    • Công ty hoạt động trên gần 200 quốc gia với hơn 185,000 nhân viên trên toàn cầu.
    • Công ty có doanh số hàng năm 39 tỷ đô la.
    • Công ty nước giải khát và thực phẩm phát triển nhanh nhất thế giới.

    PepsiCo cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu và sở thích đa dạng của người tiêu dùng, từ những sản phẩm mang tới sự vui nhộn, năng động cho đến những sản phẩm có lợi cho sức khỏe và lối sống lành mạnh.

    Công ty bao gồm Pepsi đồ uống Bắc Mỹ (PepsiCo Americas Beverage -PAB), Pepsi đồ ăn Bắc và Nam Mỹ (PepsiCo Americas Foods), Pepsi Châu Âu (PepsiCo

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Europe), Pepsi Châu Á Trung Đông và Châu Phi (PepsiCo Asia, Middle East and Africa).

    Sản phẩm chính: Bên cạnh thương hiệu Pepsi trị giá hàng tỉ USD, tập đoàn này còn sở hữu nhiều thương hiệu nước giải khát lừng danh khác như Mirinda, 7 UP, Mountain Dew hay nước khoáng Aquafina.

    II. Lịch sử hình thành của công ty tại Việt Nam.

    Ngày 24/12/1991 – Công ty Nước giải khát Quốc tế (IBC) được thành lập do liên doanh giữa SP.Co và Marcondray-Singapore với tỷ lệ vốn góp 50% – 50%.

    Năm 1994 – Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam. PCI được thành lập với 2 nhãn hiệu: Pepsi và

    7Up, liên doanh với số vốn góp của PI là 30%. Năm 1998 – PI mua 97% cổ phần, SPCo 3%,

    tăng vốn đầu tư lên 110 triệu đôla.

    Năm 2003 – PepsiCola Global Investment mua

    3% còn lại, đổi tên thành Công ty Nước giải khát Quốc tế PepsiCo Việt Nam. Có thêm các nhãn hiệu: Aquafina, Sting, Twister, Lipton Ice Tea.

    Năm 2005 – Chính thức trở thành công ty có thị phần về nước giải khát lớn nhất Việt Nam.

    Năm 2006 – Tung ra sản phẩm Foods đầu tiên (Snack Poca).

    Năm 2007 – Phát triển thêm ngành hàng sữa đậu nành.

    Năm 2008 – Khánh thành nhà máy sản xuất thực phẩm đóng gói tại Bình Dương. Tung sản phẩm Snack Poca Khoai Tây Cao Cấp, được chế biến cắt lát từ những củ khoai tây tươi nguyên chất được trồng tại Lâm Đồng

    III. Mục tiêu và nguồn lực của công ty PepsiCo Việt Nam.

     

    1.     Mục tiêu:

    Trở thành công ty hàng đầu về sản xuất hàng tiêu dùng, tập trung chủ yếu vào thực phẩm tiện dụng và nước giải khát, không ngừng tìm kiếm và tạo ra các hiệu quả tài chính lành mạnh cho các nhà đầu tư, tạo cơ hội phát triển và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho nhân viên, các đối tác kinh doanh và cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động. Chúng tôi luôn phấn đấu hoạt động trên cơ sở trung thực, công bằng và chính trực trong mọi hành động của mình. Hiện nay mục tiêu của Pepsico là đa dạng hóa sản phẩm và đa dạng hóa thị trường.

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    2. Nguồn lực.

    Pepsico là hãng sản xuất nước ngọt lớn thứ 2 trên thế giới với nguồn lực tài chính vững mạnh. Thông báo lợi nhuận của hàng trong năm 2009 là 1.19 tỉ USD, tăng lên từ mức 1.06 tỉ USD năm ngoái.

    Pepsico có thị phần lớn nhất trong lĩnh vực nước giải khát, với các nhà máy sản xuất lớn, dây chuyền hiện đại.

    Pepsi luôn có những sáng kiến mới để tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.

    Pepsi sở hữu đội ngũ nhân viên có năng lực, làm việc hiệu quả.

    Hệ thống phân phối và bán hàng rộng khắp toàn quốc.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 7
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN II: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY

    I.                   Môi trường vĩ mô.

     

    1.                 Môi trường chính trị luật pháp.

    Trong quá trình toàn cầu hoá, hàng loạt các quốc gia thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và theo đó hệ thống luật pháp không ngừng hoàn thiện và cải tiến. “Nhượng quyền” được xem là một hình thức kinh doanh mang lại hiệu quả cao cho các công ty trong ngành phân tán. Các công ty muốn tham gia vào hình thức này phải tìm hiểu kỹ hệ thống luật pháp của nước đó về lĩnh vực nhượng quyền thương mại như giấy phép chuyển nhượng thương hiệu, luật thương mại … Ở Mỹ, kinh doanh nhượng quyền dược xem là “ kinh tế lót bạc” …

    2. Môi trường kinh tế.

    Theo dự báo của các cơ quan nghiên cứu kinh tế trên toàn thế giới như IMF, WB và OECD thì sự tăng trưởng kinh tế thế giới có xu hướng phục hồi. Trong “Thế giới mới” Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tiếp tục đi lên, Châu Âu cũng khởi sắc là một nền kinh tế gọn nhẹ và hiệu quả. Khu vực Châu Á được dự đoán là khu vực tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng GDP trung bình khoảng 5,5%/ năm. Sự tăng trưởng kinh tế góp phần nâng cao đời sống của người dân, dẫn dến sự gia tăng về chi tiêu, làm cho Châu Á, Mỹ Latinh trở thành thị trường đầy tiềm năng và hấp dẫn.

    3. Môi trường văn hoá xã hội.

    Sự gia tăng tính đa dạng về văn hoá, dân tộc và giới đang đặt ra hàng loạt cơ hội và thách thức liên quan đến các vấn đề như cách thức kết hợp tốt nhất các phong cách lãnh đạo truyền thống của nam giới và nữ giới để thúc đẩy sự đóng góp của họ có lợi cho doanh nghiệp. Những thay đổi về thực hành quản trị và cấu trúc tổ chức cần được tiến hành để trách tồn tại của các rào cản tinh vi gây bất lợi cho tổ chức. Trong nền kinh tế phát triển mọi người có xu hướng tiết kiệm thời gian dành cho các công việc nội trợ, gia đình và đây chính là điều kiện tạo cơ hội thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kĩ nghệ thức ăn và đồ uống tiện lợi. Đặc biệt các nước Châu Âu và Châu Mỹ có một tác phong làm việc công nghiệp nên thời gian đối với họ rất quan trọng và những bữa ăn nhanh, đồ uống ngon miệng, đảm bảo dinh dưỡng là giải pháp tối ưu. Và đây là các nôi nuôi dưỡng ngành công nghiệp thức ăn và đồ uống tiện lợi, là địa điểm đầu tiên của hầu hết các tập đoàn chế biến thức ăn nhanh và đồ uống tiện lợi lớn nhất thế giới: Cocacola, McDonalds, KFC….Bên cạnh đó

    lượng cola cần thiết cho họ nhiều hơn so với phương đông điều này là vấn đề quan trọng cho sự cải tiến thể tích chai lọ của Pepsico. Ngược lại những quốc gia Châu Á, với nền kinh tế Á Đông những bữa ăn gia đình là đặc điểm nổi bật của nguời dân nên thức ăn nhanh và đồ uống tiện lợi chưa phát triển rộng khắp. Tuy nhiên, trong

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 8
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    những năm gần đây thức ăn nhanh và đồ uống tiện lợi dần dược chấp nhận với nhiều tập đoàn lớn: Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ … cho thấy người dân đã thay đổi trong cách nhìn nhận để theo kịp với cuộc sống mới.

    Một xu hướng mới cần phải đề cập ở đây là việc chú trọng đến sức khoẻ người tiêu dùng. Cùng với sự gia tăng nguồn thu nhập, khách hàng ngày càng quan tâm đến sức khoẻ của mình nhiều hơn. Do đó, cải tiến sản phẩm hạn chế chất béo là một vấn đề quan trọng nhằm đáp ứng khách hàng.

    4. Môi trường công nghệ.

    Mỗi năm các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra các hàng triệu phát minh về khoa học công nghệ, mang lại tiện ích thật sự cho cuộc sống mội người. Công nghệ là một người chèo lái PepsiCo và PepsiCo đang luôn luôn tìm kiếm những cách thức để cung cấp dịch vụ và thông tin với chất lượng và hiệu quả cao

    Quy mô công nghệ được áp dụng ở Pepsi rất khổng lồ và không ngừng phát triển. Công ty là một trong những tổ chức có đội ngũ bán hàng với những chiếc Laptop, và bây giờ đang khám phá những công nghệ như RFID – Radio Frequency Identification (Nhận dạng tần số sóng vô tuyến). Hiệu quả và hiệu lực là những mục đích của công nghệ ở PepsiCo, một công nghệ được triển khai và sử dụng đều được thử nghiệm và kiểm tra. Quan điểm trên bảo đảm rằng người bán lẻ sẽ được

    Công nghệ của PepsiCo được củng cố, cung cấp những dịch vụ tới tất cả những bộ phận của nó. Công nghệ là yếu tố hàng đầu, ngày càng trở thành nhân tố then chốt quyết định sự thành bại của công ty …

    5. Môi trường nhân khẩu.

    Hiện nay dân số thế giới đang gia tăng nhanh chóng, năm 2007 tổng cộng dân số thế giới đã là 7 tỷ người, tỷ lệ tăng trưởng hằng năm là 1,1%, khu vực kém phát triển chiếm đến 76% dân số thế giới và đang tăng vọt với tốc độ 2%/năm và các nước phát triển dân số tăng 0,6%/năm. Tốc độ tăng trưởng dân số nhanh dẫn đến nhu cầu tăng nhanh, do đó Pepsi có khả năng phát triển, nhất là hiện nay hơi thở cuộc sống rất gấp gáp, sản phẩm vừa đảm bảo dinh dưỡng và tiện lợi rất cần thiết, đó là cơ hội cho Pepsi.

    Giới trẻ là đối tượng phục vụ chính của ngành này. Nhưng sự già hoá dân số ở các nước phát triển và trẻ hoá tại các nước phát triển tạo nên một làn sóng chuyển dịch đầu tư khai thác thị trường lao động dồi dào, giá rẻ và thị trường tiêu thụ tiềm năng hiện đang còn bỏ ngõ này. Một thay đổi khác đáng chú ý này trong thập niên vừa qua, nền kinh tế Mỹ đã xuất hiện những dấu hiệu giảm sút, tình trạng thất nghiệp gia tăng nhanh 4% vào tháng 6 năm 2000. Thị trường bị thu hẹp khi sự tăng trưởng lao động trong nước giảm xuống đột ngột thách thức thị trường này đòi hỏi nguồn lao động lớn. Bên cạnh đó những người tham gia vào thị trường lao động này phần lớn là tuổi vị thành niên. Do đó vấn đề chiêu mộ, huấn luyện và nắm giữ

     

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    những con người đòi hỏi tập đoàn phải mất một chi phí lớn kết hợp với hình thức quản lý đa dạng nhằm đáp ứng sự thay đổi của nguồn lao động.

    II. Môi trường vi mô.

     

    1.     Các điểm mạnh (Strengths).

    –  Đa dạng hóa sản phẩm.

    Sản phẩm của Pepsi rất đa dạng về chủng loại và phong phú về mẫu mã bao gồm các sản phẩm trà, nước trái cây, nước uống đóng chai, ngũ cốc, thức ăn nhẹ…

    • Môi trường kinh doanh quốc tế.

     

    • Kênh phân phối.

    Công ty cung cấp sản phẩm của mình trực tiếp từ các nhà máy sản xuất đến kho của khách hàng và tới các cửa hàng bán lẻ. Mạng lưới kênh phân phối bao gồm cả nhân viên giao hàng trực tiếp tại các cửa hàng đồ ăn nhẹ và đồ uống…

    –  Sức mạnh của Thương hiệu.

    Thương hiệu của Pepsi đươc xếp hạng thứ 26 trong số 100 thương hiệu toàn cầu năm 2008. Sức mạnh của những thương hiệu khiến cho Pepsi ngày nay đã và đang hiện diện trên gần 200 quốc gia trên toàn thế giới. PepsiCo có thị phần lớn nhất trong thị trường nước giải khát tại Mỹ ở mức 39%, và thị trường thực phẩm ăn nhẹ

    • mức 25%. Giá trị của thương hiệu này góp phần vào việc đảm bảo doanh số bán hàng đồng thời đóng góp đến hơn $ 15 triệu trong doanh thu hàng năm của công ty.

    2.                 Những điểm yếu (Weknesses).

    • Một số sản phẩm khác nhau được cung cấp bởi Pepsi thường không có tên của Pepsi đi kèm
    • Quá phụ thuộc vào thị trường Mỹ

    Mặc dù đã có sự mở rộng thị trường ra nhiều nước trên thế giới nhưng cho đến nay 52% doanh thu của Pepsi vẫn bắt nguồn từ Mỹ.

    • Chi phí dành cho quảng cáo, marketing cao, dẫn đến lợi nhuận giảm.

     

    3. Những cơ hội: (Opportunities).

     

    • Lối sống của người tiêu dùng.

    Theo thời gian, Pepsi luông đặt phương châm “Better for you” – “Good for you”. Điều này đã khiến cho Pepsi luôn duy trì và ngày càng chiếm được thị phần trên thị trường.

    Hương vị của Pepsi có sự thay đổi phù hợp với từng phân khúc thị trường: thích ứng với thị hiếu của từng địa phương.

    –  Mở rộng thị trường quốc tế.

    Pepsi đã có mặt, hoạt động và có thị phần trên gần 200 quốc gia trên thế giới Những thị trường hiện đang phát triển của Pepsi bao gồm các nước Trung Quốc,

    Ấn Độ, Nga, Mexico, Brazil…

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Thị trường một số nước phát triển: ngoài Hoa Kỳ, Pepsi cũng chú trọng phát triển thị trường đồ ăn nhẹ lành mạnh hướng đến nhu cầu của các nước phát triển khác. Trung Quốc và Brazil sẽ là 2 thị trường quốc tế lớn nhất cho sản phẩm đồ ăn nhẹ trong những năm tới đây.

    –  Tiềm năng tăng trưởng của các thị trường.

    Hiện nay Pepsi vẫn tiếp tục duy trì tăng cường lượng tiêu thụ của sản phẩm nước đóng chai tại Mỹ. Bên cạnh đó tiếp tục gia tăng lượng tiêu thụ đối với sản phẩm đồ ăn nhẹ (kỳ vọng: sẽ tăng trưởng 27% vào năm 2013). Pepsi mở rộng các sản phẩm: Ngoài thị trường Mỹ rộng lớn, Pepsi luôn hướng tới các thị trường nước ngoài tiềm năng như Myanmar, Ấn Độ, Brazil…

    4. Những thách thức (Threats).

    –  Những nhận thức của người tiêu dùng.

    Những nhận thức của người tiêu dùng về sức khỏe, hàm lượng đường, muối trong các bữa ăn. Điều này dẫn đến sự sụt giảm về lượng bán các loại đồ uống có Ga. Dự kiến trong năm 2012 mặt hàng nước ngọt có ga sẽ giảm 2,7% tương đương với giá trị là $ 63.459 triệu USD.

    –  Một số tác động tiêu cực của các quy định của chính phủ.

    Các rào cản pháp lý ảnh hưởng lớn đến việc thâm nhập vào các thị trường mới: rào cản bảo hộ… Những luật pháp liên quan đến môi trường, sức khỏe và an toàn… cũng có thể có tác động không nhỏ đến sự phát triển của các tổ chức đặc biệt là những tổ chức hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm.

    –  Sự cạnh tranh gay gắt.

    Ngành công nghiệp đồ ăn nhanh: với giá cả cạnh tranh khốc liệt trong khi đó lợi nhuận thấp. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh đặc biệt mạnh mẽ giữa các công ty toàn cầu (Coca-Cola, Nestlé, Danone, Kraft Foods …). Nguy cơ ảnh hưởng đến giá cả, quảng cáo, quy trình xúc tiến bán hàng…

    –  Tình trạng bất ổn lao động.

    Thực tế cho thấy, trong năm 2008 xảy ra một cuộc đình công tại Ấn Độ đã khiến cho Doanh nghiệp phải đóng cửa san xuất trong vòng 1 tháng.

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN 3: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY

    I.                   Chiến lược kinh doanh quốc tế và phương thức thâm nhập thị trường quốc tế.

    Ngày nay, Pepsi đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Theo khảo sát thì cứ trong bốn sản phẩm nước uống có ga được bán trên thế giới thì có một sản phẩm của Pepsi, tổng cộng là một ngày Pepsi bán được hơn 200 triệu sản phẩm và con số này còn tiếp tục tăng. Tính trên toàn thế giới thì khách hàng chi khoảng 32 tỉ đô la cho các mặt hàng nước giải khát của Pepsi-Cola. Hàng năm, một người tiêu dùng ở Mỹ uống khoảng 55 ga-lông nước có ga, điều khiến cho Mỹ trở thành quốc gia có lượng tiêu thụ nước giải khát lớn nhất thế giới.

    Pepsi thiết lập việc bán hàng, và thiết lập một chuẩn mực cảm xúc khách hàng trong ngành công nghiệp nước giải khát qua việc quảng cáo, phân phối, marketing để mở rộng hoạt động. Pepsi-Cola có một mạng lưới phân phối rộng nhất cho sản phẩm nước giải khát của mình với hơn 900 công ty đang vận hành và các nhà máy nhượng quyền thương mại đóng chai trên thế giới. Pepsi củng cố hệ thống phân phối để nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng tốt hơn cho những người bán lẻ nước giải khát. Hơn nữa, việc mở rộng mạng lưới phân phối còn tạo ra một lợi thế cạnh tranh trong việc đưa sản phẩm mới nhanh chóng ra thị trường.

    1.  Phân khúc tiêu dùng.

    Tập đoàn PepsiCo đã sử dụng chiến lược cạnh tranh phân khúc tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh, cụ thể là đã hoạt động trong ba phân khúc hàng tiêu dùng chính:

    • Nước giải khát (Pepsi-Cola).
    • Chuỗi nhà hàng (Taco Bell, gà rán hiệu KFC, và Pizza Hut).
    • Đồ ăn nhẹ (snack food như Frito-Lay).

    Để đạt được lợi thế cạnh tranh trong từng phân khúc, tập đoàn Pepsi đã xây dựng 3 bức tranh chiến lược sau:

    • Thương hiệu chính giữ vị trí đứng đầu, phát triển thị trường.
    • Hệ thống hoạt động hiệu quả.
    • Mở rộng các dòng tiền với rủi ro thấp, tiền đầu tư lớn trong mỗi phân khúc. Phân khúc “ nước giải khát”

    Phân khúc nước giải khát là phân khúc lâu đời và rộng nhất trong danh mục của PepsiCo. Công ty nước giải khát Pepsi-Cola sản xuất và bán ra thị trường các loại nước giải khát, bao gồm: Pepsi-Cola, Mountain Dew, và Slice.

    Công ty Pepsi-Cola là công ty nước giải khát lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Coca-Cola. Các sản phẩm dán nhãn của Pepsi-Cola là: Pepsi, Pepsi dành cho người ăn kiêng (Diet Pepsi), Mountain Dew, 7UP. Pepsi thiết lập việc bán hàng và

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 12
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    thiết lập một chuẩn mực cảm xúc khách hàng trong ngành công nghiệp nước giải khát qua việc quảng cáo, phân phối, marketing để mở rộng hoạt động.

    Pepsi sử dụng 4 chiến lược quan trọng để tăng doanh số bán hàng.

    • Chiến lược thứ nhất: Một trong những chương trình quảng cáo nổi tiếng nhất là chiến dịch “Pepsi – một thế hệ mới”

     

    • Chiến lược thứ 2 là chiến lược tập trung mạnh vào sản phẩm Pepsi dành cho người ăn kiêng với tên gọi Diet Pepsi, và tập trung mở rộng thị trường nước giải khát dành cho người ăn kiêng.

     

    • Chiến lược thứ 3 là mở rộng thị trường cho sản phẩm Mountain Dew, nhãn hiệu nước giải khát lớn thứ 7 ở Mỹ. Trong 2 thập kỷ, Pepsi chú trọng đến việc phát triển mùi vị và hình ảnh cho sản phẩm.

     

    • Chiến lược thứ 4 là mở rộng việc bán hàng thông qua việc phát triển các sản phẩm mới và các dịch vụ chăm sóc nhóm khách hàng khác nhau. Các sản phẩm mới kể đến như là Diet Pepsi, Diet Mountain Dew, H2oh!, Pepsi-AM và Mountain Dew Sport. Pepsi-Cola có một mạng lưới phân phối rộng nhất cho sản phẩm nước giải khát của mình với hơn 900 công ty đang vận hành và các nhà máy nhượng quyền thương mại đóng chai trên thế giới, có một hệ thống phân phối hiệu quả từ bán buôn đến bán lẻ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi đưa sản phẩm mới ra thị trường toàn cầu. Để nâng cao hiệu quả hoạt động, Pepsi đã phát triển mối quan hệ dài hạn với các nhà cung cấp, đưa vào hoạt động các nhà máy sản xuất mới và kỹ thuật kho hàng để tiết kiệm chi phí (khoảng 25 nghìn USD). Năm 1989, Pepsi-Cola còn phân chia các nhà máy sản xuất nước giải khát ở Mỹ theo 4 khu vực. Trên thế giới Pepsi-Cola cũng phân chia làm 6 khu vực để nâng cao, phát triển thêm cơ hội trong những khu vực đó.

     

    Đánh giá: Đối với phân khúc thị trường “Nước giải khát” của tập đoàn PepsiCo thì tập đoàn đã lựa chọn 4 chiến lược kể trên để thõa mãn với nhu cầu của khách hàng nhằm mục đích tăng doanh số và phát triển tập đoàn.

     

    • Về chiến lược thứ nhất “Pepsi – một thế hệ mới” thì ngoài việc thõa mãn nhu cầu của khách hàng để tăng lợi nhuận cho tập đoàn thì tập đoàn còn đưa ra 1 thông điệp là Pepsi sẽ tạo ra 1 thế giới mới, 1 cuộc sống mới.

     

    • Về chiến lược thứ 2 thì khách hàng mà tập đoàn nhắm đến là những người ăn kiêng. Cuộc sống ngày càng phát triển nên số người béo đã tăng lên nhanh chóng do vậy con người có xu hướng ăn kiêng, nắm bắt được nhu cầu này thì PepsiCo đã cho ra đời sản phẩm Diet Pepsi để phục vụ nhu cầu của nhóm khách hàng này. Đây được coi là một chiến lược makerting hiệu quả của PepsiCo.

     

    • Khi đã có một thị trường nhất định thì tập đoàn PepsiCo đã không ngường mở rộng thị trường của mình, điều này thể hiện ở chiến lược thứ 3 và thứ 4. Đây là hai chiến lược mở rộng thị trường để lấp đầy dòng sản phẩm ngoài mục đích tăng doanh thu thì còn một mục đích nữa là phủ kín dòng sản phẩm hay còn gọi là lấp đầy dòng sản phẩm để ngăn cản đối thủ cạnh tranh gia nhập vào phân khúc thị trường mà
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 13
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    mình đang kinh doanh. Đây là một chiến lược cạnh tranh hiệu quả và phù hợp khi PepsiCo đã có một thị trường nhất định và đã có vị thế của mình trên phân khúc thị trường “Nước giải khát”. Với những chiến lược kể trên thì tập đoàn PepsiCo đã rất thành công trên phân khúc thị trường “Nước giải khát”.

    1. Nhóm kinh doanh nhà hàng.

    Nhóm nhà hàng bao gồm 3 hệ thống nhượng quyền thương mại lớn trên thế giới là: Pizza Hut, Taco Bell, và gà rán hiệu KFC. Nhóm nhà hàng của tập đoàn PepsiCo là hệ thống nhà hàng lớn nhất thế giới năm 1990.

    • Gà rán KFC được tập đoàn PepsiCo mua lại vào tháng 10/1986. KFC đã mở rộng hoạt động trong 57 nước và suốt năm 1989, KFC mở thêm 3000 đơn vị ở nước ngoài, trở thành chuỗi nhượng quyền thương mại ra nước ngoài lớn nhất của Mỹ.

     

    • Pizza Hut được PepsiCo mua lại vào năm 1977, là một chuỗi sản xuất Pizza lớn nhất thế giới. Trong suốt những năm

     

    1984-89, Pizza Hut trở thành nhà hàng phát triển nhượng quyền thương mại nhanh nhất thế giới.

     

    • Taco Bell được mua lại vào năm 1978 – đứng đầu thế giới trong phân khúc thực phẩm Mexico, với rất ít các đối thủ cạnh tranh. PepsiCo tiếp tục mở rộng Taco Bell ra thế giới thông qua việc tiếp tục đầu tư.

     

    Chiến lược: PepsiCo sử dụng nhiều vũ khí cạnh tranh để nâng cao vị thế trong ngành công nghiệp nhà hàng.

     

    • Để theo kịp ngành công nghiệp thức ăn nhanh và xu hướng thực phẩm đảm bảo sức khỏe và dịch vụ tốt, PepsiCo bắt đầu cung cấp cho người tiêu dùng những thực đơn có giá trị. Thực đơn giá trị của Taco Bell đưa ra vào năm 1988, đã giúp tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận.

     

    • Thứ 2, PepsiCo nhấn mạnh giá trị sức mạnh của thương hiệu và sản phẩm mới (như cánh gà rán nóng KFC) đã kích thích việc bán hàng.

     

    • Quảng cáo là 1 phần quan trọng trong chiến lược, trong suốt 1986-87. Pepsi chi 70 triệu USD để thực hiện chiến dịch quảng cáo trong nước cho Taco Bell với cái tên “chữa bệnh cho bữa ăn”

     

    • Mở rộng việc phân phối qua các phương pháp mới để tìm kiếm người tiêu dùng mới trong những khu vực khác nhau để tăng doanh số bán hàng và tăng thị phần. Mục tiêu của công ty là biến nhà hàng PepsiCo ngày càng phát triển rộng ra trên thế giới.

     

    1. Phân khúc thực phẩm nhẹ (Snack food).

    PepsiCo mua lại Frito-Lay vào năm 1965. Các sản phẩm của Frito-Lay nổi tiếng trên thế giới bao gồm: Doritos, Ruffles, Lay’s, Fritos, và Chee-tos. Công ty

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 14
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    không phải đối mặt với đối thủ lớn nào nhưng phải cạnh tranh từ nhiều hãng trong khu vực, đặc biệt về giá cả.

    Chiến lược: PepsiCo thực hiện các chiến lược để phát triển việc bán hàng:

    • Phát triển mở rộng loại sản phẩm bằng việc giới thiệu mùi vị mới. Mùi vị này thay đổi theo mùa đã thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng trong các khu vực khác nhau. Việc mở rộng này không chỉ là mùi vị mới mà còn có cả sản phẩm mới.

     

    • Tạo ra sản phẩm mới và tạo ra phân khúc đồ ăn nhẹ để đáp ứng nhu cầu khách hàng.
    • Mở ra thị trường mới qua bao gói và phân phối. Ví dụ khoai tây rán được đóng trong hộp, và được bán chủ yếu qua các cửa hàng.

     

    • Quảng cáo là 1 chiến lược quan trọng, Frito-Lay chi 60.2 nghìn đo la cho quảng cáo năm 1985 và con số này tiếp tục tăng lên qua các năm.

     

    • Frito-Lay tiếp tục nâng cao việc quản lý. Suốt những năm 1989, Frito-Lay phân chia các công ty trong nước Mỹ vào 4 phân khúc để nâng cao hiệu quả và tăng ảnh hưởng địa phương. Frito-Lay là công ty đầu tiên áp đưa vào sử dụng hệ thống máy tính cho việc bán hàng, điều này cho phép người quản lý nắm bắt tình hình bán hàng trong ngày hay trong tháng, và trong một khu vực, thành phố nào đó, …dựa trên những số liệu nhập vào hệ thống máy tính đó. Nó giúp cho các giám đốc bán hàng giải quyết các vấn đề xảy ra và phản ứng một cách nhanh chóng với điều kiện cạnh tranh.

     

    • Frito-Lay phát triển lợi thế cạnh tranh thông qua mạng lưới phân phối của mình với hơn 10.000 nhân viên bán hàng.

     

    • Frito phân phối trực tiếp từ nhà máy sản xuất tới các cửa hàng riêng của mình, cho phép tiết kiệm chi phí trong hoạt động lưu kho bãi.

     

    Vị trí “công ty nước giải khát toàn diện” của Pepsi là một lí do lớn nhất dẫn tới thành công trên toàn cầu. Ở Mỹ, công ty Pepsi-Cola có rất nhiều các thương hiệu sản phẩm như Pepsi, Diet Pepsi, Pepsi ONE, Mountain Dew, Wild Cherry Pepsi, Aquafina… Công ty còn sản xuất và bán các loại trà và cà phê uống liền qua các liên doanh với Lipton và Starbucks. Các sản phẩm chính của Pepsi được bán toàn cầu còn có cả Pepsi Max, Mirinda và 7-Up.

     

    Các sản phẩm của Pepsi-Cola đều có chất lượng và giá trị tuyệt hảo. Làm sao mà mọi người có thể tin rằng tất cả các chai và lon Pepsi luôn luôn có mùi vị tuyệt vời và sảng khoái? Quy trình này bắt đầu từ việc đưa ra chính xác nhất các thành phần. Sau đó, các thành phần này đươc pha chế với quy trình công nghệ hiện đại. Tiếp theo, việc chuẩn hoá quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm và hệ thống phân phối của từng địa phương được sắp xếp một cách hoàn chỉnh để đảm bảo việc mở một chai/lon Pepsi ở nhà cũng khiến người uống cảm thấy mát mẻ, sảng khoải, thích thú giống như uống ngay lúc mua. Nghe thì có vẻ hơi khó tin nhưng điều đó là sự thật.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 15
         
         
     
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    2.  Chiến lược đa quốc gia.

    Khi thâm nhập thị trường quốc tế, PepsiCo đã sử dụng chiến lược đa quốc gia, tức là Pepsi sẽ thực hiện từng chiến lược riêng biệt cho từng quốc gia nơi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của mình. Tương tự như các công ty làm về lĩnh vực thực phẩm khác, do phụ thuộc đặc biệt vào thị hiếu, sở thích tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau, pepsi lựa chọn chiến lược này nhằm mục đích phù hợp với thị hiếu và sở thích tiêu dùng đặc thù của từng quốc gia cũng như đảm bảo phương pháp tiếp cận thị trường phù hợp với văn hóa từng quốc gia một.

    Pepsi hoạt động trên lĩnh vực sản xuất thực phẩm, chịu sức ép cao từ việc phải thích nghi và điều chỉnh theo các yêu cầu của địa phương và không gặp phải sức ép từ việc phải cung cấp sản phẩm tại thị trường nước ngoài với chi phí thấp. Doanh nghiệp này cho rằng chỉ những người tại thị trường nước sở tại mới hiểu rõ thị trường đó nhất, chỉ họ mới hiểu rõ thị hiếu, thói quen tiêu dùng cũng như văn hóa tại nước sở tại để từ đó nghiên cứu cải biến đưa ra các sản phẩm phù hợp cũng như có các chiến lược marketing tiếp cận người tiêu dùng thích hợp.

    Để thực hiện chiến lược này, Pepsi đã thành lập các công ty con độc lập, hoặc các liên doanh tại các thị trường khác nhau (ví dụ như tại thị trường Việt Nam). Các công ty con hay liên doanh này sẽ thực hiện cả công đoạn nghiên cứu, phát triển sản phẩm, sản xuất và marketing sản phẩm tại thị trường địa phương. Chiến lược đa quốc gia của PepsiCo tỏ ra thích hợp với việc hoạt động trong ngành mà thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng ở các quốc gia có sự khác biệt.

    Pepsi là một công ty có tính thích nghi cao, bởi vì họ luôn tìm kiếm được các ý tưởng mới, sang tạo ở nước sở tại và đảm bảo thay đổi kịp với biến đổi tại thị trường đấy, đồng thời các sản phẩm của nó vẫn phát triển theo vòng đời sản phẩm. Pepsi là một tổ chức phi tập trung hóa với các quyết định điều hành từ các công ty riêng biệt, nhưng luôn phải tuân thep các chính sách của tập đoàn.

    Thương hiệu Pepsi, thắng lợi của sự khác biệt hóa:

    Tạo hình ảnh tươi mới, trẻ trung đối lập nét cổ điển của Coca-cola

    Quảng cáo nhằm vào danh tiếng và sự hài hước, đối lập với Coca-cola nhằm vào những giá trị vượt thời gian

    Bí quyết thành công trước hết của thương hiệu này là tạo dựng sự mập mờ giữa giống và khác so với Coca Cola, giống để có thể tận dụng được những lợi thế mà Coca Cola đã có được trên thị trường và trong tâm lý của người tiêu dùng, khác để thể hiện và khai thác triệt để bản sắc riêng. Coca Cola và Pepsi Cola rất giống nhau mà cũng rất khác nhau. Chất pepsin là chất có trong hạt coca. Nghe đến coca, có thể không phải ai cũng nghĩ ngay tới Pepsin, nhưng nghe tới Pepsin không ai lại không liên tưởng đến ngay hạt coca. Đi sau núp bóng, nhưng lớn dần lên trong từng bước theo sau ấy.

    Bí quyết thành công tiếp theo của Pepsi là tận dụng tác động to lớn của chính trị. Ở Mỹ, Coca Cola có truyền thống hậu thuẫn cho Đảng Dân chủ còn Pepsi thường

    16

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    đứng sau Đảng Cộng hòa. Năm 1941, để thể hiện tinh thần yêu nước, Pepsi sử dụng ba màu đỏ, trắng, xanh trên nền quốc kỳ Mỹ làm màu chai hộp đựng. Hồi ấy, quân đội Mỹ tổ chức theo màu da và Pepsi chỉ được sử dụng trong những đơn vị lính da đen, cho nên đã từng bị gọi là thứ “đồ uống của người da đen”. Thậm chí, tổ chức phân biệt chủng tộc khét tiếng nhất nước Mỹ là Ku Klux Klan còn tiến hành chiến dịch tẩy chay Pepsi trên khắp nước Mỹ.

    Cựu tổng thống Mỹ Richard Nixon là một trong những người hậu thuẫn Pepsi chinh phục thi trường trong và ngoài nước Mỹ mạnh mẽ và hiệu quả nhất. Năm 1959, khi đó là phó tổng tống Mỹ, không biết cách gì mà Nixon thuyết phục được nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrutshev đồng ý cho chụp ảnh đang uống Pepsi. Quyết định đầu tiên của Nixon trên cương vị tổng thống Mỹ là dỡ bỏ tất cả máy bán Coca Cola tự động trong Nhà Trắng và thay thế bằng máy bán Pepsi tự động. Năm 1972, Pepsi là một trong những tập đoàn đa quốc gia đầu tiên được phép sản xuất ở Liên Xô. Coca Cola vốn luôn là nhà tài trợ chính cho đội tuyển thế vận hội của Mỹ và việc Mỹ tẩy chay Thế vận hội ở Moscow năm 1980 đã giúp Pepsi chinh phục được gần như toàn bộ thị trường Liên Xô và Đông Âu.

    3.  Chiến lược truyền thông, quảng cáo.

    Trong quảng cáo và tiếp thị, Pepsi chủ định không nhấn mạnh vào trong thức uống có gì và tác động vật chất của nó ra sao mà đi vào định hướng và tạo nên cảm nhận chung cho cả thế hệ.

    Đối tượng Pepsi nhằm vào thế hệ trẻ vì thế hệ ấy mới đông đảo, thích khám phá và phô trương, thích chứng tỏ đẳng cấp và dễ bị cuốn hút. Chủ điểm trong quảng cáo và tiếp thị của Pepsi là người trẻ sử dụng Pepsi và phải uống Pepsi thì mới chứng tỏ và được công nhận là trẻ.

    Một chiến lược quảng cáo hiệu quả sử dụng bởi PepsiCo là liên minh giữa người hãng này và chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh KFC. Mặc dù KFC đã được tách ra từ PepsiCo trong tháng 10 năm 1997, hai nhãn hiệu này vẫn còn hợp tác chặt chẽ. PepsiCo cung cấp tất cả các đồ uống soda trong KFC và KFC chỉ được sử dụng sản phẩm của PepsiCo mà thôi.

    PepsiCo đã sử dụng một chiến lược vô cùng hiệu quả là sử dụng những ngôi sao nổi tiếng gần gũi với giới trẻ để quảng cáo sản phầm cho mình. Ví dụ như Michael Jackson, David Beckham, Ronaldinho, Thierry Henry, Raul Gonzalez, Jay Chou, Jolin Tsai

    • Đây là một chiến lược vô cùng hiệu quả và đã mang lại cho Pepsi những con số lợi nhuận lớn.
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 17
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Ví dụ những “sao” đại sứ Pepsi như Mỹ Tâm, Kasim Hoàng Vũ … cũng chính là những đại diện cho một thế hệ trẻ trung, yêu thích khám phá, tràn đầy sáng tạo hiện nay. Bạn trẻ ngày nay luôn muốn vượt qua chính mình, vượt qua thử thách đạt đến thành công và Pepsi mong muốn là người đồng hành cho sức trẻ tràn đầy, vươn mình vượt ra biển lớn của những người Việt Nam trẻ.

    4.  Chiến lược xâm nhập thị trường mới.

    Những phương thức kinh doanh cũ đã không còn hiệu quả khi mà hầu hết các phân khúc thị trường hiện hữu đều đang tiệm cận sự bão hòa trong tương lai không xa. Tấn công vào các thị trường mới nổi là một hướng đi đúng đắn nhưng Pepsi không chỉ đơn thuần cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới mà muốn đưa vào thử nghiệm một mô hình kinh doanh mới. Mô hình này dựa trên mạng lưới đối tác địa phương và hệ thống sản phẩm, dịch vụ có lợi cho sức khỏe chất lượng cao, phù hợp với đa số dân cư. Ví dụ điển hình là thị trường Ấn Độ.

    Để thực hiện mô hình này, Tập đoàn đa quốc gia Pepsi –  
    PepsiCo tập trung phát triển và tiêu thụ các sản phẩm có lợi  
    cho sức khỏe như Tropicana và Quaker, thay cho các sản  
    phẩm đồ ăn nhanh như nước giải khát Pepsi và khoai tây  
    chiên Frito Lay. Thực chất, các kế hoạch của Pepsi đã được  
    âm thầm tiến hành từ nhiều năm nay tại một trong những thị  
    trường đông dân nhất thế giới nhưng nguồn tài nguyên đang  
    cạn kiệt rất nhanh này.  
    Từ năm 2006, PepsiCo đã hợp tác với Đại học nông  
    nghiệp Punjab của Ấn Độ cùng phát triển một giống lúa  
    mới, giảm 30% tỷ lệ sử dụng nước và 70% khí cacbonic và  
    đã được thử nghiệm ở một vài vùng. Công ty này hiện đang  
    lên kế hoạch để xuất khẩu giống lúa này sang những thị  
    trường khan hiếm nguồn nước khác. PepsiCo cũng bắt tay  
    với hãng trà Tata, thuộc tập đoàn công nghiệp Tata lớn nhất  
    Ấn Độ để cùng phát triển một loạt các loại thực phẩm có lợi  
    cho sức khỏe.  
    Việc chuyển đổi từ một nhà cung cấp sản phẩm đồ uống  
    và ăn nhanh truyền thống thành một nhà cung cấp các giải  
    pháp về sức khỏe, đồng thời tạo động lực thúc đẩy kinh tế,  
    môi trường phát triển bền vững hứa hẹn mang lại cho  
    PepsiCo một thị trường tiêu thụ rộng lớn trong tương lai.  
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 18

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Người tiêu dùng tại các thị trường mới nổi sẽ tiếp cận mô hình kinh doanh thân thiện với môi trường và sức khỏe này nhanh hơn nhiều so với người tiêu dùng Châu Âu hoặc Mỹ, giống như sự bùng nổ trong việc sử dụng điện thoại di động đã từng xảy ra ở khu vực này trước đó. Pepsi sử dụng các thị trường mới nổi như Ấn Độ để thí điểm mô hình kinh doanh mới vì những thị trường này có tỷ lệ tiêu thụ thực phẩm đóng gói vẫn còn thấp và cạnh tranh không gay gắt như Mỹ hay Châu Âu.

    1. Pepsico đã dựng nên các thương hiệu riêng biệt. Thương hiệu Pepsi-Cola.

    Pepsi đã mang lại niềm vui và tươi mới cho người tiêu dùng trong hơn 100 năm. Thương hiệu của các đồ uống này đã đáp ứng được nhu cầu trên toàn thế giới. Pepsi-Cola Bắc Mỹ là đơn vị đồ uống giải khát PepsiCo, như ở Hoa Kỳ và Canada. Thương hiệu tại Mỹ của nó bao gồm Pepsi, Mountain Dew, Sierra Mist, SoBe, AMP Energy, IZZE, Naked Juice, Propel, Mug, và Aquafina,…. Công ty này cũng bán

    chạy nhất trà và cà phê đá trên thị trường Bắc Mỹ đồng thời thông qua liên doanh với Lipton và Starbucks.

    Từ khởi đầu khiêm tốn của mình hơn một thế kỷ trước đây, Pepsi-Cola đã phát triển để trở thành một trong những sản phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất trên toàn thế giới. Hiện nay, công ty đang luôn tiếp tục đổi mới, tạo ra các sản phẩm mới, hương vị mới và các gói mới trong hình dạng và kích cỡ khác nhau để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cho sự tiện nghi và sự lựa chọn lành mạnh. Pepsi liên tục cập nhật theo các cách khác nhau để đảm bảo người tiêu dùng của họ sẽ có được những sản phẩm mà họ muốn, khi họ muốn và nơi họ muốn.

    1. Thương hiệu Frito-Lay.

    Sử dụng hơn 48.000 người và mang lại hơn 13 tỷ USD kinh doanh, danh mục đầu tư của Frito-Lay tiếp thêm sinh lực của PepsiCo sản phẩm với nhiều món ăn ngon và ‘vui vẻ’. Frito-Lay Bắc Mỹ đạt được 13 tỷ đô trong kinh doanh thực phẩm của PepsiCo. Trong hơn 75 năm, Frito Lay đã được hưởng những món ăn nhẹ tốt nhất trên trái đất bắt đầu với các thành phần đơn giản.

    Frito-Lay cũng được dành riêng cho người tiêu dùng một phạm vi rộng lớn hơn của sự lựa chọn lành mạnh. Họ cung cấp chip vị tuyệt vời với ít chất béo thông qua cách thức nướng của họ, đường và đồ ăn nhẹ làm từ các thành phần tự nhiên, không chứa màu nhân tạo, hương vị hay chất bảo quản với đường tự nhiên của họ. Tất cả các chip snack của họ có chứa 0 gam chất béo.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 19
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    1. Thương hiệu Tropicana.

    Tropicana, thương hiệu mạnh nhất trong các loại nước ép, mở rộng danh mục đầu tư PepsiCo của các thương hiệu với nhiều dinh dưỡng, chất lượng cao, hương vị. Sản phẩm Tropicana – một bộ phận của PepsiCo là nhà sản xuất hàng đầu thế giới và tiếp thị của nước ép trái cây có thương hiệu. Thị trường Tropicana Mỹ dưới nhiều tên thương hiệu, bao gồm Tropicana từ tập trung các loại nước: Dole nước trái cây và nước trái cây pha trộn; Tropicana Nước trái cây, Trop50 và Tropicana Twister đồ uống nước trái cây.

    1. Thương hiệu Quaker.

    Thương hiệu Quaker đã được khoảng hơn một thế kỷ. Họ là những biểu tượng chất lượng tuyệt vời của hương vị và dinh dưỡng. Giữ vị trí số 1 trong các chuyên mục tương ứng của họ yêu thích như Quaker Oats, Quaker Rice Cakes, Chewy Granola Bars và Rice-A-Roni . Với thương hiệu Aunt Jemima, Quaker cũng là một nhà sản xuất xi-rô và hỗn hợp bánh. Nó là một trong bốn nhà sản xuất lớn nhất các loại ngũ cốc lạnh với các thương hiệu nổi tiếng như Cap’n Crunch và Cuộc sống.

    1. Thương hiệu Gatorade.

    Có sẵn tại hơn 80 quốc gia, Gatorade có dòng đồ uống hơn 45 năm về nước và dinh dưỡng thể thao. Gatorade cung cấp các sản phẩm sinh ra từ phòng thí nghiệm.

    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện trong phòng thí nghiệm công thức khoa học một carbohydrate mới chính xác cân bằng điện phân nước giải khát sẽ thay thế đầy đủ các thành phần quan trọng bị mất do người chơi thể thao thông qua mồ hôi và tập thể dục. Họ được gọi là “Gatorade.” Sau vài

    thập kỷ nghiên cứu sâu về khoa học thể dục, thể thao, hydrat hóa, dinh dưỡng, đến năm 1983, Gatorade đã trở thành thức uống chính thức của các môn thể thao của NFL – một tiêu đề giữ cho đến ngày nay. Gatorade cũng là thức uống chính thức của NBA và WNBA, Major League Baseball, Major League Soccer, sử dụng tại hơn 70 trường cao đẳng, và ưu tú và các tổ chức nghề nghiệp và các đội khác rất nhiều.

    Tăng lên đến những thách thức mới: sau nhiều năm nghiên cứu cẩn thận bởi các nhân viên tại GSSI vào nhu cầu của các vận động viên tham gia vào các nhu cầu đào tạo và cạnh tranh cao, Gatorade ra mắt Series Performance Gatorade, một tinh hoa của dòng sản phẩm dinh dưỡng thể thao vào năm 2001. Những sản phẩm này bao

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 20
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    gồm Năng lượng Nước uống Gatorade, Bar Năng lượng Gatorade, và dinh dưỡng Shake Gatorade. Bốn năm sau GSSI đã phát triển Formula Gatorade Endurance. Với nồng độ cao của chất điện phân natri chủ yếu được tìm thấy trong giải khát gốc và bốn điện giải khác bị mất mồ hôi, Gatorade Endurance trở thành một trụ cột trên đường đua trên thế giới.

    Năm 2010, Gatorade tái tập trung và bắt đầu tham gia một cách tiếp cận toàn diện hơn để hydrat hóa và dinh dưỡng thể thao. Kết quả là dòng G, được phát triển bởi GSSI với hai mới tập trung trong tâm trí: cơ thể sẵn sàng cho việc tập thể dục và giúp cơ thể phục hồi sau đó. Mỗi phần của loạt bài này được thiết kế để giúp các vận động viên cạnh tranh trước, trong và sau khi sự kiện thể thao.

    6.  Slogan qua các thời kỳ.

    Nhắc đến Pepsi không thể không nghĩ đến hình ảnh trẻ trung, năng động, đầy sức sống của tuổi trẻ. Chính vì vậy, các slogan của Pepsi luôn gắn liền với lối sống trẻ qua từng thời kỳ, xu hướng của thế giới và thể hiện triết lý kinh doanh của hãng.

    • Năm 1906: “The Original Pure Food Drink” (Nước giải khát tinh khiết đến tự nhiên)

     

    • Năm 1909-1939: Delicious and Healthful (Tuyệt hảo và dinh dưỡng)
    • Năm 1939: “Twice as Much for a Nickel” (Cùng một giá nhưng hai lần nhiều hơn)

     

    • Năm 1950: “More Bounce to the Ounce” (Uống nhiều hơn giá không đổi)
    • Năm 1958: “Be Sociable, Have a Pepsi” (Cùng Pepsi thắt chặt tình bạn bè)
    • Năm 1961: “Now It’s Pepsi for Those Who Think Young” (Pepsi nước uống của tuổi trẻ)

     

    • Năm 1963: “Come Alive, You’re in the Pepsi Generation” (Sảng khoái với Pepsi thế hệ mới)

     

    • Năm 1967: “(Taste that beats the others cold) Pepsi Pours It On” (Pepsi – Hương vị mát lạnh đánh bật tất cả)

     

    • Năm 1969: “You’ve Got a Lot to Live, Pepsi’s Got a Lot to Give” (Bạn trải nghiệm cuộc sống để hưởng thụ, Pepsi sáng tạo để bạn tận hưởng)

     

    • Năm 1973: “Join the Pepsi people (feeling free)” (Gia nhập thế hệ Pepsi)
    • Năm 1975: “Have a Pepsi day” (Tận hưởng một ngày cùng Pepsi)
    • Năm 1979: “Catch that Pepsi spirit” (Cảm nhận tinh thần Pepsi)
    • Năm 1981: “Pepsi’s got your taste for life” (Pepsi – hương vị tuyệt vời cho cuộc sống của bạn)

     

    • Năm 1983: “Pepsi’s Now!” (Khởi nguồn cùng Pepsi)
    • Năm 1984: “The Choice of a New Generation” (Sự lựa chọn của thế hệ mới)
    • Năm 1991: “Gotta Have It” (Trải nghiệm cùng Pepsi)
    • Năm 1995: “Nothing Else is a Pepsi” – (Không gì ngoài Pepsi)
    • Năm 1997: “GeneratioNext” (Thế hệ mới)
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 21
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    • Năm 1999: “Ask for More”/”The Joy of Pepsi-Cola” (Khát khao hơn/Sôi động hơn với Pepsi)

     

    • Năm 2003: “It’s the Cola”/”Dare for More” (Hương vị cola chính hiệu/Thách thức hơn)

     

    • Năm 2007: “More Happy” (Ngất ngây hơn)

    Hình ảnh minh họa cho logo của Pepsi qua các thời kỳ

    Hoạt động kinh doanh cũng như chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế của tập đoàn PepsiCo dựa trên cơ sở triết lý kinh doanh như sau:

    • PepsiCo là công ty toàn cầu, kinh doanh nước giải khát và thực phẩm đã hoạt động kinh doanh trên 100 năm nay. PepsiCo cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu và sở thích đa dạng của người tiêu dùng, từ những sản phẩm mang tới sự vui nhộn, năng động cho đến những sản phẩm có lợi cho sức khỏe và lối sống lành mạnh.

     

    • Trụ sở chính PepsiCo được đặt tại Purchase, New York, khoảng 45 phút đường bộ từ Thành phố New York.

     

    • Sứ mệnh PepsiCo đề ra là: “Trở thành công ty hàng đầu về sản xuất hàng tiêu dùng, tập trung chủ yếu vào thực phẩm tiện dụng và nước giải khát. Chúng tôi không ngừng tìm kiếm và tạo ra các hiệu quả tài chính lành mạnh cho các nhà đầu tư, tạo cơ hội phát triển và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho nhân viên, các đối tác kinh doanh và cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động. Chúng tôi luôn phấn đấu hoạt động trên cơ sở trung thực, công bằng và chính trực trong mọi hành động của mình.”
    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 22
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    7.  Quá trình thâm nhập thị trường Việt Nam.

    Khoảng đầu thập niên 90, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường thì trong nước hầu như không có một thương hiệu nước ngọt nào được “cầu chứng” ngoài thương hiệu “xá xị” có từ trước 1975 và sau này có thêm thương hiệu Tribeco (một hãng nước ngọt liên doanh với Ðức), còn lại là các nhãn hiệu nhỏ lẻ với thị phần không đáng kể.

    Ngày 24/12/1991: Công ty nước giải khát quốc tế (IBC) được thành lập do liên doanh giữa SP.Co và Marcondray – Singapore với tỉ lệ vốn góp 50% – 50%. Khi đó Pepsi chính thức thâm nhập thị trường Việt Nam, với thế lực hùng hậu của mình, Pepsi ngay lập tức thống lĩnh thị trường Việt Nam từ Nam ra Bắc chỉ cần với một chiêu thức đơn giản là “khuyến mãi đại hạ giá”. Việt Nam khi đó còn rất yếu kém về mặt quản lý kinh tế nên hầu như không kịp trở tay trước chiêu thức đơn giản đó của Pepsi dẫn đến làm tan vỡ hầu hết các cơ sở sản xuất nước ngọt trong nước. Với giá quá rẻ, cộng thêm uy tín chất lượng hàng đầu thế giới, Pepsi đè bẹp các đối thủ Việt Nam trong vòng không quá một tháng. Riêng hãng nước ngọt Tribeco cũng đành chấm dứt thời hoàng kim ngắn ngủi của một hãng liên doanh với Ðức để chuyển sang sản xuất nước uống sữa đậu nành để tránh phải đối đầu với Pepsi.

    Sau khi đã chiếm lĩnh được thị trường, Pepsi tiến tới thiết lập hệ thống phân phối trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ngoài các đại lý và tổng đại lý, Pepsi còn tiếp cận hầu hết các quán cà phê – nơi quảng bá và tiêu thụ một lượng rất lớn nước ngọt của Pepsi.

    Trên phạm vi toàn cầu, Coca-cola luôn chiếm ưu thế so với Pepsi nhờ chiến lược tiếp thị và quảng cáo của họ. Riêng thị trường Việt Nam, Pepsi không những có được một hệ thống phân phối tốt trên toàn lãnh thổ nhờ tới trước mà họ còn có được những nhà quản lý và điều hành giỏi. Những người Việt không những am hiểu công nghệ tiếp thị mà đồng thời họ cũng rất am hiểu tâm lý của người Việt – điều này rất quan trọng. Nhờ vậy, Pepsi luôn đẩy lui bất cứ đợt phản công giành giật thị trường nào của Coca-cola. Ví dụ, đánh vào tâm lý yêu thích bóng đá và tâm lý tự hào dân tộc của người Việt, Pepsi tổ chức “Ngày hội bóng đá” thông qua show quảng cáo trên truyền hình, với hình ảnh cầu thủ bóng đá Việt Nam được yêu thích nhất thời bấy giờ, biểu diễn cùng với các danh thủ hàng đầu thế giới và đồng thời tung ra khẩu hiệu: “Uống Pepsi là ủng hộ đội tuyển quốc gia Việt Nam vươn ra đấu trường quốc tế”. Lập tức doanh số bán ra của Pepsi tăng vọt (nhất là trong các giải cầu của Ðông Nam Á, hoặc Châu Á có đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự) đồng thời tình cảm của dân chúng đối với Pepsi cũng được gia tăng.

    Tóm lại, thành công của Pepsi trên thị trường Việt Nam phải nhắc đến đầu tiên là do sự nhanh nhạy khi tiếp cận với một thị trường mới còn sơ khai, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh và tiếp đó là nhờ thu hút được một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, am hiểu văn hóa bản địa đã đưa ra được những chiến lược kinh doanh rất hiệu

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 23
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    quả. Hai điều trên là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc Pepsi trở thành thương hiệu nước giải khát hàng đầu tại Việt Nam ngày nay.

    II. Cơ cấu tổ chức.

    Tập đoàn đã sử dụng mô hình quản lý phân cấp và phụ trách theo khu vực địa lý. Gia đình Pepsi bao gồm 4 bộ phận: Pepsi đồ uống Bắc Mỹ (PepsiCo Americas Beverage – PAB), Pepsi đồ ăn Bắc và Nam Mỹ (PepsiCo Americas Foods), Pepsi Châu Âu (PepsiCo Europe), Pepsi Châu Á Trung Đông và Châu Phi (PepsiCo Asia, Middle East and Africa).

    1.  PepsiCo Americas Beverage (PAB).

    Pepsi được sáng lập năm 1898 bởi Cableb Bradham. Ngày nay, thương hiệu Pepsi là một trong các thương hiệu đồ uống phát triển lớn mạnh nhất, bao gồm đồ uống có các-bô-nát, nước hoa quả, trà uống liền (ready-to-drink tea), cà phê, các đồ uống cho người chơi thể thao, nước uống đóng chai và nước uống tăng cường khoáng chất. PAB được biết đến với các thương hiệu như Mountain Dew, Diet pepsi, Gatorade, Tropicana Pure Premium, Aquafina, Sierra Mist, Mug …

    Năm 1992, PAB hợp tác cùng công ty Thomas J. Lipton để bán “trà uống liền” vào Mỹ. Pepsi cũng bán cà phê “uống liền” Frappuccino với sự hợp tác cùng Starbucks.

    Tropicana được sáng lập vào năm 1947 bởi Anthony Rossi với lĩnh vực đóng gói hoa quả. Năm 1954, Rossi đi tiên phong trong việc xử lý tiệt trùng theo phương pháp Pasteur cho nước cam. Lần đầu tiên, người tiêu dùng có thể thưởng thức vị cam tươi nguyên chất đựng trong một cái hộp chứa. Nước hoa quả, Tropicana Pure Premium, trở thành con chim đầu đàn của công ty. Pepsi mua lại Tropicana vào năm 1998.

    SoBe trở thành một phần của PAB vào năm 2001. SoBe sản xuất và kinh doanh dòng thức uống cách tân bao gồm đồ uống hoa quả hỗn hợp, nước tăng lực, sữa, trà nhập khẩu và các loại đồ uống khác có hương liệu thực vật.

    Gatorade – đồ uống giải khát cho người chơi thể thao, mua từ công ty “The Quaker Oats” vào năm 1983 và trở thành một phần của gia đình Pepsi, Gatorade là thức uống bão hòa đâu tiên trên thế giới với sự hỗ trợ của 40 năm nghiên cứu. Được sáng chế vào năm 1965 bởi các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Florida cho các đội bóng của các trường học. “The Gators” hay Gatorade giờ đã trở thành thức uống dành cho thể thao hàng đầu.

    Công ty Pepsi Beverages (Pepsi Beverage Company – PBC): Vào ngày 26 tháng 2 năm 2010, Pepsi hoàn tất việc sáp nhập với PAS và PBG để tăng cường lĩnh vực kinh doanh thức uống thị trường Bắc Mỹ. Các hoạt dộng đóng chai của PAS và PBG ở Bắc Mỹ giờ được thực hiện tại một thành viên của Pepsi, là công ty Pepsi Beverages. PBC hoạt động ở Mỹ, Canada và Mêhicô và chiếm 75% lượng tiêu thụ đồ uống của Pepsi ở thị trường Bắc Mỹ. Các thức uống của PBC rất đa dạng, bao

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    gồm một số thương hiệu rất nổi tiếng trên toàn thế giới như Pepsi, Mountain Dew, Sierra Mist, Aquafina, Gatorade, SoBe, Lipto và Amp Energy. PBC còn sản xuất và phân phối các sản phẩm của các hãng khác tại các thị trường sở tại như Dr Pepper, Crush, Rock Star và Muscle Milk. Trụ sở của đơn vị này đóng tại hạt Westchester, NewYork.

    2.  PepsiCo Americas Foods (PAF).

    Là bộ phận kinh doanh thức ăn và đồ ăn nhẹ của Pepsi tại thị trường Bắc và Nam Mỹ. Các bộ phận kinh doanh bao gồm Frito-Lay Bắc Mỹ, Quaker Foods & Snacks, Sabritas, Gamesa and Latin America Foods.

    –  Frito-Lay North America:

    Năm 1932, C.E. Doolin vô tình bước vào một quán cà phê nhỏ ở San Antonio và mua một gói chíp ngô. Ông cũng không ngờ rằng loại chip mặn này có thể trở thành loại đồ ăn nhẹ nổi tiếng nhất thế giời. Doolin nhận ra rằng người chủ này rất háo hức nếu bán được cửa hàng này, do đó ông đã mua công thức và bắt đầu bán FRITOS ® Corn Chips từ mô hình T Ford của ông.

    Cũng tại thời điểm đó, Herman W. Lay bắt đầu kinh doanh chip khoai tây tại Nashville bằng cách phân phối các đồ ăn nhẹ. Không lâu sau đó, ông Lay đã mua nhà máy này, và H.W. Lay & Company được thành lập. H.W. Lay & Company trở thành một trong những hãng kinh doanh đồ ăn nhẹ lớn nhất ở Đông Á, và thương hiệu khoai tây chíp vẫn được ưa thích nhất ở Mỹ.

    Mấy năm sau, năm 1961, Công ty Frito và công ty H.W sáp nhập và trở thành tập đoàn Frito-Lay. Ngày nay, Frito-Lay Bắc Mỹ sản xuất một số thức ăn nhẹ nổi tiếng nhất ở Mỹ, bao gồm chip khoai tây LAYvà RUFFLES, chip bắp ngô DORITOS, TOSTITOS, đồ ăn nhẹ hương phô mai CHEETOS, chip ngô FRITOS, ROLD bánh quy cây GOLD, đồ ăn nhẹ nhiều loại hạt SUNCHIPS, bỏng ngô bọc đường CRACKER JACK®.

    –  Quaker Foods North America:

    Công ty Quaker Oats được sáng lập vào năm 1901 khi một vài người Mỹ tiên phong trong việc xay yến mạch phối hợp thành lập công ty. Ở Ravenna, Ohio, Henry D. Seymour và William Heston đã lập công ty Quaker Mill.

    • Cedar Rapids, Iowa, John Stuart và con trai, Robert, và đối tác của họ, George Douglas, điều hành nhà máy xay ngũ cốc lớn nhất lúc đó. Ferdinand Schumacher, được biết đến như “Ông vua yến mạch”, đã sáng lập công ty German Mills American Oatmeal vào năm 1856.

    Kết hợp công ty The Quaker Mill với The Stuart and Schumacher tạo thành công ty “The Quaker Oats”.

    Aunt Jemima Mills là công ty đầu tiên thu mua công ty này năm 1926, và giờ đây trở thành nhà sản xuất bánh đa trộn và si rô trộn hàng đầu. Gatorade được thu mua vào năm 1983.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 25
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Pepsi sáp nhập với “The Quaker Oats” vào năm 2001.

    –  Sabritas:

    Đóng đô tại thành phố Mê xi cô, Sabritas là hãng kinh doanh hàng đầu về đồ ăn nhẹ tại thị trường này. Được sáng lập năm 1943, Sabritas được cải tổ về chất lượng, độ đa dạng và hương liệu và dẫn đầu trong các sản phẩm của Pepsi Frito-Lay tại đây, chẳng hạn Cheetos, Fritos, Doritos và Ruffles. Đây cũng là tên thương hiệu của các dòng khoai tây chip. Ngoài ra, hãng này còn sản xuất và kinh doanh một số thương hiệu tại đây như Crujitos, Poffets, Rancheritos và Sabritones. Sabritas kiểm soát khoảng 80% thị trường đồ ăn nhanh ở Mê hi cô. Pepsi thu mua Sabritas vào năm 1966.

    –  Gamesa:

    Đóng đô ở Monterrey, Mexico, Gamesa là hãng toàn cầu hàng đầu về bánh quy, và là sản xuất bánh quy lớn nhất của Mê xi cô với các sản phẩm chất lượng cao với nhiều phong cách, và được sản xuất tại năm bang ở Mê xi cô. Một số sản phẩm nổi tiếng bao gồm Marías Gamesa, Emperador, Arcoiris, Mamut, Chokis, và Maizoro. Năm 1990, Pepsi đã thu mua công ty này.

    –  Latin Americas Foods:

    Kinh doanh tại Brazil, Argentina, Colombia, Peru và Venezuela. Các thương hiệu nổi tiếng bao gồm Lay’s, Cheetos, Fritos and Doritos, cũng như các sản phẩm tại địa phương như đồ ăn nhẹ Lucky ở Brazil.

    3.  PepsiCo Europe.

    Chi nhánh Pepsi tại Châu Âu là một trong những công ty về đồ ăn và thức uống hàng đầu tại khu vực này, với hơn 60000 lao động và với thị trường 900 triệu người, 11 vùng và 45 nước, vùng kinh doanh kéo dài từ phía tây nước nga cho đến Bồ Đào Nha, Bắc Thổ Nhĩ Kì và Nauy.

    Với doanh thu ước tình tầm 13 tỉ đô la Mỹ, Pepsi đã đem đến đây những sản phẩm Quaker Oats, Tropicana, Gatorade, Walkers, Lay’s và Pepsi-Cola cũng như các đồ ăn thức uống được yêu thích tại đây chẳng hạn Walkers, Fruktovy Sad, Ya, Tonus, Hrusteam, Russky Dar, Yedigun, Alvalle, Kas, Matutano, Benenuts, Star Chips, Duyvis và Sandora.

    Pepsi cũng chú trọng vào sự phát triển bền vững tại khu vực, đầu tư lớn vào Đông Âu, tấn công thị trường 350 triệu người tại nga, Đông Âu và thị trường Châu Á.

    Với việc thu mua Wimm-Bill-Dann, hãng đồ ăn thức uống lớn nhất của Nga với giá 5.4 tỉ đô la đã đưa Pepsi trở thành công ty ăn uống lớn nhất tại Nga.

    Pepsi đưa vào sản xuất dòng khoai tây chip mới Marbo tại một nhà máy tại Backi Maglic, Serbia vào năm 2010, với lượng đầu tư 20 triệu Euro.

    Vào tháng 2/2010, Pepsi tuyên bố đầu tư 50 triệu Euro tại nhà máy Grodzisk Mazowiecki Tomaszow Mazowiecki tại Ba Lan.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 26
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    4.  PepsiCo Asia, Middle East and Africa (AMEA)

    Trong gia đình Pepsi, thành viên này sản xuất và kinh doanh các loại đồ ăn nhẹ hàng đầu như Lay’s, Kurkure, Chipsy, Doritos, Smith’s, Cheetos, Red Rock Deli và Ruffles, thông qua các công ty phụ thuộc. Hơn nữa, dù độc lập hay thông qua các nhà máy sản xuất, AMEA sản xuất và kinh doanh nhiều sản phẩm ngũ cốc và đồ ăn nhẹ Quaker. AMEA cũng sản xuất và kinh doanh các loại nước uống như Pepsi, Mirinda, 7UP và Mountain Dew. Những sản phẩm này được bán dưới cho các hãng đóng chai ủy quyền, các nhà phân phối và bán lẻ. Tuy nhiên, ở một số thị trường, AMEA tự đóng chai và phân phối. Ngoài ra, AMEA cũng cấp giấy phép cho phép một số hãng đóng chai với sản phẩm Aquafina. Với sản phẩm trà “uống liền”, AMEA cũng liên kết với một số nhà máy hoặc tự sản xuất mặt hàng này và tiêu thụ thông qua công ty quốc tế Unilever (dưới thương hiệu Lipton).

    Sản phẩm của tập đoàn Pepsico được phân phối tại gần 200 quốc gia trên toàn cầu. Pepsico là một tập đoàn dẫn đầu thị trường thế giới về thực phẩm và nước giải khát với danh mục sản phẩm đa dạng lên tới 22 thương hiệu với doanh thu hơn 1 tỷ USD hàng năm bán lẻ.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 27
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    PHẦN IV: CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM

    I.  Thành công về chiến lược sản phẩm và cơ cấu sản phẩm.

    Một là không ngừng nỗ lực cải tiến, chinh phục và sáng tạo. Với sự phát triển sau, nhưng Pepsi đã biết đi tắt đón đầu, bước từng bước hết sức ổn định đã dần theo kịp vị thế đứng đầu của Cocacola và bỏ xa các đối thủ cạnh tranh khác trong cuộc đua giành thị phần.

    PepsiCo có 22 thương hiệu lớn từng tạo ra 1 tỷ USD trở lên vào năm 2011 trong doanh số bán lẻ hàng năm. Số lượng các thương hiệu hàng tỷ USD trong danh mục đầu tư của chúng tôi phát triển đáng kể từ năm 2000. Trong thực tế, Pepsi đã tăng gấp đôi số lượng trong 11 năm qua, đồng thời cũng liên doanh hợp tác với Unilever và Starbucks, tương ứng.

    Hãng nước ngọt Pepsi được thành lập gần một thế kỷ trước, lượng tiêu thụ và danh tiếng đều kém xa Coca Cola. Nhưng đến những năm đầu của thập niên 90, Pepsi đã vinh dự được xếp hàng thứ bảy trong số 10 tập đoàn lớn nhất nước Mỹ, trở thành đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ nhất của Coca Cola.

    Cơ cấu sản phẩm của PepsiCo đã có sự thay đổi. Theo đó nước giải khát lúc này không còn vị trí độc tôn gần như tuyệt đối trong các mặt hàng của PepsiCo như trước nữa. Lúc này PepsiCo đã chi ra 14 tỷ USD để mua lại tập đoàn Quaker Oats – một trong những đối thủ cạnh tranh chính của PepsiCo. PepsiCo ngay sau đó đã có thêm 8% thị phần của sản phẩm nước uống Gatorade dành cho người tập thể thao.

    Ngoài ra PepsiCo còn có thêm các loại nước ép trái cây với thương hiệu Tropicana. Các thương hiệu bánh quy, bánh mặn của Quaker Oats cũng đã góp phần đáng kể làm thay đổi cơ cấu sản phẩm của tập đoàn PepsiCo. Hơn thế nữa, để cạnh tranh với tập đoàn Coca-Cola, tập đoàn PepsiCo đã mở rộng hoạt động kinh doanh trong ba phân khúc hàng tiêu dùng chính bao gồm:

    Một là phân khúc nước giải khát: là phân khúc lâu đời và rộng nhất trong danh mục của PepsiCo. Bên cạnh thương hiệu Pepsi trị giá hàng tỷ USD, tập đoàn này còn sở hữu nhiều thương hiệu nước giải khát lừng danh khác như Mirinda, 7 UP, Mountain Dew, Pepsi dành cho người ăn kiêng (Diet Pepsi), hay nước khoáng Aquafina.

    Hai là chuỗi nhà hàng bao gồm 3 hệ thống nhượng quyền thương mại lớn trên thế giới đó là: Pizza Hut (được PepsiCo mua lại vào năm 1977), Taco Bell (được PepsiCo mua lại vào năm 1978) , và gà rán hiệu KFC (được tập đoàn PepsiCo mua lại vào tháng 10/1986). Để theo kịp ngành công nghiệp thức ăn nhanh và xu hướng thực phẩm đảm bảo sức khỏe và dịch vụ tốt, PepsiCo đã cung cấp cho người tiêu dùng những thực đơn có giá trị dinh dưỡng. Thực đơn giá trị của Taco Bell đưa ra vào năm 1988, đã giúp tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận.

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Ba là phân khúc thực phẩm nhẹ (Snack food): Nă m 1995 PepsiCo đã thực hiện thành công thương vụ mua lại Frito-Lay. Các sản phẩm của Frito-Lay nổi tiếng trên thế giới bao gồm: Doritos, Ruffles, Lay’s, Fritos, và Chee-tos.

    Hiệu quả kinh doanh tăng rõ rệt. Không chỉ quy mô doanh thu của PepsiCo đã vượt Coca Cola mà lợi nhuận của tập đoàn cũng nhiều hơn trước đáng kể. Nhờ đó mà giá cổ phiếu của PepsiCo trên thị trường chứng khoán tăng 15,2% lên hơn 41 USD cho mỗi cổ phiếu. Chính trong năm 2002 này, cổ phiếu của PepsiCo đã tăng vùn vụt và đã đạt điểm cao nhất trong lịch sử hơn 100 năm thành lập của mình với giá 53,5 USD.

    Hai là cần phải xác định ưu thế của mình, và sau đó là biết chọn sân chơi phù

    hợp

    Không chỉ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới mà Pepsi đang hướng tới các giải pháp về sức khỏe. Tấn công vào các thị trường mới nổi là một hướng đi đúng đắn nhưng Pepsi không chỉ đơn thuần cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới mà muốn đưa vào thử nghiệm một mô hình kinh doanh mới. Mô hình này dựa trên mạng lưới đối tác địa phương và hệ thống sản phẩm, dịch vụ có lợi cho sức khỏe chất lượng cao, phù hợp với đa số dân cư.

    Để thực hiện mô hình này này, Tập đoàn đa quốc gia PepsiCo tập trung phát triển và tiêu thụ các sản phẩm có lợi cho sức khỏe như Tropicana và Quaker, thay cho các sản phẩm đồ ăn nhanh truyền thống trước đây như nước giải khát Pepsi và khoai tây chiên Frito Lay.

    Việc chuyển đổi từ một nhà cung cấp sản phẩm đồ uống và ăn nhanh truyền thống thành một nhà cung cấp các giải pháp về sức khỏe, đồng thời tạo động lực thúc đẩy kinh tế, môi trường phát triển bền vững hứa hẹn mang lại cho PepsiCo một thị trường tiêu thụ rộng lớn trong tương lai.

    Người tiêu dùng tại các thị trường mới nổi sẽ tiếp cận mô hình kinh doanh thân thiện với môi trường và sức khỏe này nhanh hơn nhiều so với người tiêu dùng Châu Âu hoặc Mỹ, giống như sự bùng nổ trong việc sử dụng điện thoại di động đã từng xảy ra ở khu vực này trước đó. Pepsi sử dụng các thị trường mới nổi như Ấn Độ để thí điểm mô hình kinh doanh mới vì những thị trường này có tỷ lệ tiêu thụ thực phẩm đóng gói vẫn còn thấp và cạnh tranh không gay gắt như Mỹ hay Châu Âu.

    II.  Thành công về Chiến lược truyền thông.

    Một là tạo sự khác biệt so với người đứng đầu Cocacola bằng chiến lược “Generation Next”.

    Pepsi đã triệt để sử dụng sự tương phản, sự khác biệt của mình so với đối thủ Coca-Cola. Là một sản phẩm mới toanh trên thị trường, Pepsi đề cao khẩu hiệu: “Generation Next”. Chiến lược quảng bá của họ là sự góp mặt của hàng loạt các ngôi sao ca nhạc, bóng đá, phim ảnh trẻ trung. Với chiêu bài quảng bá đó, Pepsi đã

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 29
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    khẳng định mình là thức uống dành cho những thế hệ tiếp nối, những thế hệ năng động, trẻ trung.

    Việc quảng bá như vậy cũng đồng nghĩa với việc “chê” Coca Cola là sản phẩm của thế hệ trước, thế hệ già cỗi. Lập tức Pepsi trở thành một hình ảnh tương phản của Coca Cola. Trong quảng bá thì được coi là đối thủ của một hãng lớn cũng đã là một thành công lớn vì nó gây được sự chú ý của mọi người. Cứ vậy Pepsi lớn mạnh và có vị thế rất ổn định trong ngành nước uống như ngày hôm nay.

    Hai là không ngừng nỗ lực tạo dựng hình ảnh tới người tiêu dùng bằng việc dùng các ngôi sao nổi tiếng cho chiến lược quảng cáo sản phẩm.

    Năm 1994: Siêu sao Michael Jackson đã trở thành phát ngôn viên của hãng Pepsi. Năm 1985, Trương Quốc Vinh đã trở thành phát ngôn viên ở thị trường châu

    • Khi Trung Quốc đang cuồng nhiệt với bóng đá, Pepsi Cola đã có David Beckham, Ronaldinho, Thierry Henry và Raul Gonzalez đều mặc màu xanh, màu Pepsi.
    • Hồng Kông thì có diễn viên Louis Koo, ca sĩ Đài Loan F4.Jay Chou, Jolin Tsai, Alan Luo đã trở thành biểu tượng của hãng. Trong năm 2007, nam diễn viên Huang Xiao Ming đã trở thành ngôi sao đại lục đầu tiên để nói chuyện cho Pepsi Cola. Hãng thậm chí hợp tác với Thượng Hải Madame Tussauds để chứng minh sự quyến rũ không thể cưỡng lại của nó. PepsiCo có nhiều ngôi sao khác nhau cho thị trường châu Á khác nhau.

    II.               Thất bại về Chiến lược thiết kế sản phẩm mới.

    Một là mở rộng nhưng vẫn phải giữ những điểm cốt lõi.

         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    Vào khoảng đầu những năm 90, nhu cầu về nước tinh khiết của người tiêu dùng tăng rất cao. Evian và Perrier luôn là những lựa chọn hàng đầu.

    Trước thực tế đó, Pepsi đã cho tiến hành hàng loạt nghiên cứu thị trường để tìm ra một thức uống “tinh khiết” mới nhằm chen chân vào thị phần đầy hấp dẫn này. Kết quả là sau những thử nghiệm này, năm 1992 Pepsi tự hào giới thiệu với cả thế giới loại cola trong suốt đầu tiên mang tên Crystal Pepsi. Sai lầm của hãng này nằm

    • chỗ, nếu một sản phẩm mới được bán ra với cái tên Pepsi thì ít nhất nó phải có vị tưong tự như Pepsi chứ không phải là một thứ nước uống nhàn nhạt khác. Trên thực tế, không một ai biết chính xác được mùi vị các sản phẩm mới này như thế nào.

    Hai là xác định đúng nhu cầu của khách hàng.

    Pepsi là một thương hiệu lớn và luôn là người dẫn đầu thị trường cùng với Coca-Cola. Do đó công ty không nên cho rằng phải lấp hết những chỗ trống trên thị trường mà phải nên chọn cho mình đúng chỗ trống nào cần lấp mà thôi và phải tiến hành nghiên cứu thị trường và tâm lý khách hàng thật kỹ trước khi tung ra sản phẩm mới để tránh lặp lại tình trạng “chết yểu” như các sản phẩm Pepsi Max, Pepsi ONE, Pepsi Lemon…

    IV.  Một số kiến nghị.

    Pepsi nên sử dụng chiến lược nhãn hiệu mới cho những sản phẩm mới. Vì như vậy vừa có thể đa dạng hoá sản phẩm vừa tránh ảnh hưởng xấu, giảm uy tín cho những sản phẩm vốn đã thành công trước đó nếu sản phẩm mới bị thất bại hoặc xảy ra sự cố nào đó.

    Nên tiến hành nghiên cứu và cải thiện hương vị cũng như kiểu dáng, bao bì, màu sắc,… sản phẩm để phù hợp hơn với nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của từng nhóm khách hàng, từng vùng miền của thị trường tiêu thụ.

    Pepsi có những sản phẩm giữ được sự khác biệt và thành công trên thị trường thì cần gìn giữ và làm mới những dòng sản phẩm này đề tạo sự đặc trưng riêng của công ty, có thể về giá cả, hương vị, kiểu dáng hay những giá trị vô hình mà công ty muốn gắn kết với sản phẩm để mang lại cho khách hàng: như Sting, Aquafina,….

    Công ty luôn luôn phải có sự đổi mới sản phẩm cũ và nghiên cứu phát triển sản phẩm mới để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người tiêu dùng ngày một đa dạng trong tình hình hiện nay.

    §Ò tµi: Nghiªn cøu c«ng ty PepsiCo vµ bµi häc kinh nghiÖm 31
         
         

    TiÓu luËn kinh doanh quèc tÕ – nhãm 1

    KẾT LUẬN

    Hơn một thế kỉ xây dựng và phát triển của Pepsi không thể không nhắc đến những sóng gió mà tập đoàn này đã trải qua có những thất bại và thành công đã đi vào lịch sử để từ đó có được Pepsi từng trải và đầy kinh nghiệm hôm nay.Những yếu tố đã giúp pesico vững chắc trên thị trường đó là tập trung xây dựng và phát triển các nhãn hàng lớn mạnh, có khả năng đột phá tạo ra những sản phẩm khác biệt, và có 1hệ thống bán hàng và phân phối vững mạnh.

    Tuy đã thất bại lớn vì đã vội lắp lỗ hỏng của thị trường bằng việc sản xuất ra sản phẩm khác biệt nhưng không hợp với cái tên Pepsi đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề,thế nhưng không làm nản chí Pepsi đã nghiên cứu tìm hiểu kĩ và cho ra đời sản phẩm đúng với nhu cầu tiêu dùng đã củng cố lại vị trí của Pepsi trên thị trường toàn cầu. Tiếp nối thành công hơn nữa khi Tập đoàn Pepsico nhắm tới giới trẻ và được gọi là “Thế hệ Pepsi” chiến lược này đã tạo sự khát biệt và mang lại nhiều thành công cho Pepsico.

    Với triết lí vì cuộc sống cộng đồng được thể hiện qua tầm nhìn chiến lược : “Trách nhiệm của PepsiCo là không ngừng cải thiện mọi mặt cuộc sống cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động – môi trường, xã hội, kinh tế – góp phần tạo nên một ngày mai tốt đẹp hơn hôm nay” đã mang lại cho Tập đoàn này sự thành công đáng kể và ngày càng vững chắc hơn.

    Và với sự thành công của PepsiCo đã mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào môi trường kinh doanh quốc tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-kinh-doanh-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-cho-c%C3%B4ng-ty-TNHH-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-M.K-t%E1%BA%A1i-TP.HCM_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    LỜI MỞ ĐẦU

    1.     Tính cấp thiết

    Thị trường hiện nay là một thị trường toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ chịu sự cạnh tranh gay gắt trên quy mô quốc tế mà còn diễn ra mạnh mẽ tại thị trường trong nước nơi mà có rất nhiều người bán với một lượng khách hàng hạn chế. Sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài với nguồn tài chính, công nghệ quản lý tiên tiến cùng với những thay đổi liên tục trong nhu cầu, thói quen của người tiêu dùng đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc giữ vững và phát tiển thị trường. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, đổi mới các phương thức bán hàng truyền thống và tiếp cận các phương thức bán hàng tiên tiến và hiệu quả hơn.

    Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang có những chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả bán hàng thông qua hoạt động quản trị bán hàng song hiệu quả chưa cao. Do đó để thành công trong hoạt động bán hàng các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng một hệ thống quản trị bán hàng với những mục tiêu, chính sách và cách thức bán hàng hiệu quả phù hợp với năng lực cũng như nguồn lực của mình. Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh hoạt động quản trị bán hàng đang được quan tâm đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập WTO và mở của thị trường bán lẻ. Trên đây là những nguyên nhân chính cho thấy sự cấp thiết về việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại các doanh nghiệp Việt Nam và cũng là nội dung được nói đến trong bài luận văn này.

    2. Mục tiêu nghiên cứu

    Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm tìm hiểu, phân tích quy trình thực hiện việc quản trị bán hàng trong công ty, đồng thời khảo sát, phân tích những ý kiến, đánh giá của khách hàng và nhân viên bán hàng về hoạt động quản trị bán hàng của công ty. Trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét đánh giá về hiệu quả hoạt động bán hàng tại công ty cũng như đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty M.K.

    3.     Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng chính được nghiên cứu trong đề tài bao gồm các đối tượng sau:

    Thứ nhất: hệ thống, quy trình quản trị bán hàng trong công ty nhằm tìm hiểu,

    phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống và quy trình đó.

    Thứ hai: Nhân viên bán hàng của công ty nhằm tìm hiểu cách thức thực hiện và triển khai quy trình bán hàng cũng như mức độ hài lòng về công tác quản trị bán hàng của công ty.

    Thứ ba: Nghiên cứu khách hàng của công ty nhằm thu thập thông tin, ý kiến phản ánh về các hoạt động bán hàng của công ty.

    4.     Phạm vi nghiên cứu

    Phạm vi nghiên cứu chủ yếu trong nội bộ công ty mà đối tượng chính là bộ phận bán hàng trong công ty và đối tượng khách hàng của công ty. Bên cạnh đó phạm

    • nghiên cứu cũng được mở rộng một phần với việc nghiên cứu một số yếu tố môi trường hoạt động bên ngoài của công ty.

    5.     Phương pháp nghiên cứu

    Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp gồm: Phương pháp tiếp cận thực tế hiện trường, Phương pháp thống kê, Phương pháp khảo sát và điều tra hiện trường. Ngoài ra bài viết còn dùng một số phương pháp như: phương pháp phân tích tổng hợp số liệu, phương pháp logic biện chứng, phương pháp dùng bảng, sơ đồ nhằm đánh giá thực trạng vấn đề.

    6.     Bố cục đề tài

    Bố cục của đề tài bao gồm 3 chương:

    Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị bán hàng

    Chương 2:Thực trạng về hoạt động quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K trong thời gian qua

    Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH Thương Mại M.K tại Tp.HCM

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ BÁN HÀNG

    1.1. Các khái niệm cơ bản

    1.1.1. Khái quát về hoạt động bán hàng

    1.1.1.1. Khái niệm về bán hàng

    Theo James.M.Comer thì “Bán hàng là một hoạt động mang tính cá nhân trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và đáp ứng những nhu cầu hay ước muốn của người mua nhằm thỏa mãn quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của hai bên”.

    Từ đó, có thể hiểu hoạt động bán hàng hiện đại như là một hoạt động giao tiếp mà người bán khám phá nhu cầu hoặc làm phát sinh nhu cầu của đối tượng đồng thời khẳng định khả năng đáp ứng nhu cầu đó bằng lợi ích của sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của cả khách hàng và công ty.

    1.1.1.2. Các hình thức bán hàng chủ yếu

    Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu của ngày càng thay đổi của con người đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều phương thức bán hàng mới và hiệu quả. Sau đây là một số hình thức bán hàng chủ yếu hiện nay:

    Hình thức bán lẻ

    Bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính thương mại.

    Hình thức bán buôn

    Bán buôn là hình thức bán hàng nói chung, thường nhằm thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hay tìm kiếm lợi nhuận của khách hàng.

    Bán hàng trực tiếp

    Bán hàng trực tiếp là hoạt động của những nhân viên bán hàng thực hiện những giao dịch trực tiếp với khách hàng có thể là cá nhân hay tổ chức.

    Bán hàng theo hợp đồng

    Bán hàng theo hợp đồng là hình thức bán hàng trong đó các giao dịch mua bán giữa hai bên được thực hiện thông qua việc ký kết hợp đồng.

    Bán hàng qua điện thoại

    Bán hàng qua điện thoại là hình thức bán hàng mà các giao dịch mua bán trao đổi giữa người bán và mua được thực hiện thông qua điện thoại.

    Bán hàng qua Internet

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          13                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Bán hàng qua Internet là hình thức bán hàng qua mạng. Thông qua quảng cáo, giá, thông tin về sản phẩm mà khách hàng có thể điện thoại hoặc trực tiếp đăng ký mua hàng trên mạng.

    1.1.1.3. Vai trò của hoạt động bán hàng

    Bán hàng là khâu cuối cùng trong toàn bộ quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động bán hàng không chỉ có ý nghĩa với các mặt hàng tiêu dùng mà còn cả với các sản phẩm công nghiệp. Vai trò của hoạt động bán hàng được thể hiện ở những điểm sau:

    Bán hàng đem lại sự thỏa mãn cho cả người bán lẫn người mua thông qua chức năng đáp ứng nhu cầu và kích hoạt nhu cầu.

    Bán hàng giúp cho hàng hóa, tiền tệ lưu thông một cách hiệu quả trong nền kinh tế từ đó kích thích đầu tư và mở rộng sản xuất.

    Bán hàng giúp cho tính chuyên môn hóa ngày càng cao, nhà sản xuất có thể tách rời với việc bán hàng. Nhờ đó nhà sản xuất có thể tập trung sản xuất và những nhà bán hàng chuyên nghiệp sẽ đảm nhận việc tiêu thụ.

    Những nhà bán hàng chuyên nghiệp sẽ là trung gian trong việc tìm hiểu nhu cầu thị trường, cung cấp những thông tin quan trọng cho nhà sản xuất. Ngoài ra người bán hàng còn là cầu nối liên kết khách hàng và nhà sản xuất.

    Như vậy, nhìn chung bán hàng là một chuỗi các hoạt động mang tính độc lập nhằm thiết lập các quan hệ và truyền tin về sản phẩm và dịch vụ một cách hiệu quả tới khách hàng với mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của cả người bán và người mua.

    1.1.2. Quản trị bán hàng

    1.1.2.1. Khái niệm về quản trị bán hàng

    Quản trị bán hàng là hoạt động quản trị của những người thuộc lực lượng bán hàng của doanh nghiệp hoặc những người hỗ trợ cho lực lượng bán hàng bao gồm những hoạt động chính như lập kế hoạch, phân tích, dự báo, thực hiện và kiểm tra hoạt động bán hàng.

    Như vậy, quản trị bán hàng là một tiến trình kết hợp chặt chẽ từ việc thiết lập mục tiêu, chiến lược bán hàng đến việc tuyển dụng, huấn luyện, giám sát và đánh giá kết quả công việc của nhân viên bán hàng.

    1.1.2.2. Mục tiêu của hoạt động quản trị bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          14                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Hoạt động của lực lượng bán hàng mang ý nghĩa quan trọng giúp cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhằm thuyết phục khách hàng mua, sử dụng và trung thành với sản phẩm. Các công ty thành công trong lĩnh vực bán hàng đều có những mục tiêu rõ ràng trong quản trị bán hàng và chiến lược để đạt được mục tiêu đó. Mục tiêu quản trị bán hàng ở từng giai đoạn, từng ngành hàng là khác nhau song chủ yếu nhắm đến hai mục tiêu sau:

    Mục tiêu về nhân sự

    Mục tiêu này liên quan đến quá trình tuyển chọn nhân sự với những tiêu chuẩn được xây dựng rõ ràng, kỹ lưỡng nhằm xây dựng một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, năng động, hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng như khả năng sáng tạo trong bán hàng. Do đó nhiệm vụ của nhà quản trị bán hàng phải tuyển dụng và đào tạo một đội ngũ bán hàng hiệu quả, có chính sách khen thưởng hợp lý, xây dựng mối quan hệ bền vững với nhân viên. Sự phối hợp nhịp nhàng và tinh thần làm việc tập thể với năng suất cao sẽ đem lại thành công cho bộ phận bán hàng.

    Mục tiêu về doanh số, lợi nhuận

    Mục tiêu tiếp theo mà nhà quản trị bán hàng hướng đến là mục tiêu về doanh số, lợi nhuận. Mục tiêu về doanh số được thể hiện bằng giá trị, doanh số hay thị phần… Mục tiêu về doanh số và lợi nhuận là thước đo thực tế đánh giá năng lực và hiệu quả trong công tác quản trị bán hàng. Để đạt được mục tiêu về doanh số thì ngay từ người giám sát ở cấp thấp nhất cũng phải đôn đốc nhân viên và có chiến lược hành động cụ thể. Bên cạnh đó người quản trị cấp cao cần có những cách thức kiểm soát cho các cấp dưới. Như vậy, mục tiêu chung của công ty về doanh số và lợi nhuận mới được phát huy hiệu quả qua từng thời kỳ.

    1.1.2.3. Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng

    Ngày nay, quản trị bán hàng trở thành một yếu tố quan trọng tạo nên thành công cho các công ty bán hàng. Vai trò của hoạt động bán hàng được thể hiện qua một số vấn đề sau:

    Quản trị bán hàng giúp bộ phận bán hàng phối hợp hoạt động với các bộ phận khách như: marketing, sản xuất nhằm hoàn thành chiến lược tổng thể của cả công ty.

    Thông qua hoạt động quản trị bán hàng giúp công ty xây dựng các mục tiêu và các chiến lược bán hàng hiệu quả.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          15                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Quản trị bán hàng giúp công ty vận hành và kiểm soát hệ thống bán hàng của mình một cách hiệu quả, hướng nguồn lực vào việc hoàn thành mục tiêu đề ra.

    Quản trị bán hàng là một trong những biện pháp hữu hiệu khuyến khích nhân viên sáng tạo và năng động trong bán hàng thông qua các biện pháp kiểm tra, giám sát và khen thưởng.

    Ngoài ra, quản trị bán hàng còn góp phần xây dựng một lực lượng bán hàng hiệu quả, xây dựng mối quan hệ với khách hàng thông qua việc chăm sóc khách hàng và hoạt động hiệu quả của kênh phân phối.

    1.2. Một số khái niệm cơ bản khác

    1.2.1. Khái niệm thị trường

    Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm năng cùng chung một nhu cầu hay ước muốn nào đó và mong muốn cũng như có khả năng tham gia vào giao dịch để thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn đó.

    Theo quan điểm của nhà hoạt động Marketing: thị trường là một tập hợp những người mua thực tế và tiềm năng về một loại sản phẩm nào đó.

    Thị trường thực hiện chức năng trung gian giữa người bán và người mua và chức năng thông tin. Ngoài ra thị trường còn là nơi kích thích các nhà sản xuất hoàn thiện sản phẩm của mình ngày càng tốt hơn.

    1.2.2. Khái niệm về sản phẩm

    Sản phẩm là tất cả những gì thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, mua sử dụng hay tiêu dùng. Sản phẩm có thể là những vật thể, hàng hóa hữu hình hay vô hình.

    Mỗi sản phẩm gồm có những đặc điểm và thuộc tính hữu hình cũng như vô hình. Tổng thể của một sản phẩm là sự kết hợp của nhiều yếu tố như: sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hiện thực, sản phẩm mở rộng. Sự kết hợp các yếu tố nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước muốn ngày càng cao của người tiêu dùng.

    1.2.3. Khái niệm nhu cầu và cầu sản phẩm

    Nhu cầu hay ước muốn là trạng thái cần thỏa mãn, cần đạt được trong tâm thức. Cầu sản phẩm là trạng thái cần đạt được, cần thỏa mãn trong tâm thức và sẵn sàng hành động để đạt được. Như vậy nhu cầu hay mong muốn chỉ dừng lại trong tâm thức còn cầu sản phẩm phản ánh sự sẵn sàng hành động để thỏa mãn do có động lực và khả năng.

    Theo quan điểm Marketing thì nhu cầu bao gồm: Nhu cầu được phát biểu, nhu cầu không được phát biểu, nhu cầu thực, nhu cầu bí mật.

    Quá trình phân tích nhu cầu và cầu sản phẩm của khách hàng giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu khách hàng và tác động đến nhu cầu đó dẫn tới cầu sản phẩm và thỏa mãn cầu sản phẩm đó bằng lợi ích sản phẩm của doanh nghiệp.

    1.2.4. Khái niệm về khách hàng

    Khách hàng là người (có thể là cá nhân, tập thể, tổ chức…) thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, các cửa hàng.

    Theo quan điểm Marketing thì khách hàng là những cá nhân hay tổ chức có điều kiện ra quyết định mua sắm mà doanh nghiệp đang hướng các nỗ lực Marketing vào.

    Khách hàng bao gồm nhiều đối tượng và mỗi ngành nghề kinh doanh, sản phẩm sẽ có một đối tượng khách hàng khác nhau. Tuy nhiên khách hàng thường được phân loại thành hai nhóm chính:

    Khách hàng tiêu dùng: Là những cá nhân mua sản phẩm, dịch vụ với mục dích thỏa mãn nhu cầu cho bản thân hoặc gia đình và mua hàng không mang tính chất thương mại.

    Khách hàng công nghiệp: là những tổ chức mua hàng nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng như để phục vụ cho các phòng ban trong tổ chức.

    Mỗi nhóm khách hàng có nhu cầu và cách thức mua hàng khác nhau. Do đó doanh nghiệp cần tìm hiểu nhu cầu, cách thức mua hàng cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới từng nhóm khách hàng để nắm bắt và thỏa mãn nhu cầu riêng của từng dối tượng khách hàng.

    1.3. Cơ sở nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng

    1.3.1. Chiến lược tổng thể công ty

    Chiến lược tổng thể phản ánh những đánh giá của công ty về điều kiện và những cơ hội của thị trường để từ đó đưa ra những chính sách đáp ứng thị trường một cách hiệu quả. Chiến lược tổng thể sẽ tạo ra hướng phát triển mà công ty phải đi theo trong môi trường kinh doanh cụ thể, đồng thời hướng dẫn cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý và đưa ra cách thức phối hợp giữa các bộ phận trong một công ty để cùng đi đến mục tiêu. Giữa chiến lược tổng thể và quản trị bán hàng có mối tương

    quan chặt chẽ. Để xây dựng và phát triển hệ thống quản trị bán hàng thì cấp quản lý phải nắm rõ chiến lược tổng thể và cách thức tham gia vào chiến lược chung của công ty. Chiến lược quản trị bán hàng là một phần trong toàn bộ chiến lược chung của toàn công ty. Do đó chiến lược tổng thể có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả trong việc quản trị bán hàng và là một trong những cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng. Một chiến lược tổng thể được đưa ra một cách khoa học, hợp lý và phối hợp được toàn bộ nguồn lực công ty để thực hiện chiến lược sẽ là tiền đề và là cơ sở cho các chiến lược cấp chức năng thực hoàn thiện trong đó có hoạt động quản trị bán hàng.

    1.3.2. Phân tích môi trường

    Hoạt động quản trị bán hàng không thể tách rời giữa con người với tổ chức, doanh nghiệp với môi trường kinh doanh. Nhìn chung, khi doanh nghiệp hoạt động tại các thị trường cụ thể, nó sẽ chịu sự tác động từ các yếu tố của môi trường như chính sách pháp lý, dân số, khoa học công nghệ. Do vậy các hoạt động quản trị bán hàng phải được thiết lập và tiến hành theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất. Môi trường hoạt động quản trị bán hàng được mô tả bằng hình sau:

    Hình 1.1: Môi trường quản trị bán hàng (J.M.Comer, Quản trị bán hàng, 2005, trang 10)

    Xã hội Môi trường bên ngoài   Cạnh tranh
      Môi trường nội bộ    
    Kinh tế Quản trị bán hàng      
           
              Xây dựng    
      Phát       lực lượng    
               
      triển       bán hàng   Thực
    Mục tiêu          
    quản           hiện
      trị       Quản trị    
              lực lượng    
                 
              bán hàng    
                 
                   

    Pháp lý                                                                                                                          Chính trị

    Nhìn vào sơ đồ ta thấy hoạt động quản trị bán hàng chịu sự tác động bởi môi trường bên ngoài và bên trong. Yếu tố bên ngoài bao gồm các yếu tố như chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa, tình hình cạnh tranh. Việc thay đổi trong chính sách pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh và ngành hàng sẽ làm cho doanh nghiệp cũng phải

    thay đổi theo và từ đó tác động đến chính sách quản trị bán hàng. Yếu tố bên trong bao gồm các phòng ban trong công ty và mối quan hệ ngay trong nội bộ doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là bộ phận bán hàng. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng như phòng nhân sự, phòng kế toán, bộ phận sản xuất… với phòng bán hàng sẽ làm tăng khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách bán hàng. Do đó việc phân tích môi trường sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng chính sách bán hàng, xây dựng và quản lý lực lượng bán hàng và cũng là một trong những cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng.

    1.3.3. Kỹ thuật phân tích ma trận SWOT

    Ma trận SWOT là một ma trận tổng hợp các cơ hội và đe dọa từ bên ngoài, điểm mạnh và điểm yếu của công ty nhằm xây dựng các phương án chiến lược hành động. Phương pháp phân tích SWOT dựa trên việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự logic dễ hiểu, dễ trình bày và dễ đưa ra các quyết định. Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức nào.

    Mô hình phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng của công ty thông qua việc phân tích tình hình bên trong (Strengths, Weakness) và bên ngoài (Opportunities, Threats) công ty. Xây dựng ma trận SWOT và các chiến lược hành

    động được mô tả theo bảng sau:

    Bảng 1.1. Bảng phân tích ma trận SWOT

      Môi trường bên ngoài   O: Những cơ hội T: Những nguy cơ
          Liệt kê những cơ hội Liệt kê những nguy cơ
        1. ….. 1. ……
    Môi trường bên trong .…… ………
      S: Những điểm mạnh   Các chiến lược – SO Các chiến lược – ST
    Liệt kê những điểm mạnh Phát huy điểm mạnh để tận Phát huy điểm mạnh để
    1. ….   dụng cơ hội hạn chế nguy cơ
    2. ….. 1. …. 1. …..
    ……. …….. ……..
      W: Những điểm yếu   Các chiến lược – WO Các chiến lược – WT
    Liệt kê những điểm yếu Tận dụng cơ hội để khắc Khắc phục điểm yếu và
    1. …….   phục điểm yếu hạn chế nguy cơ
    2. …… 1. ……. 1. ……
    ………… ………. ………

    Nguồn: Lê Đăng Lăng, Kỹ năng và quản trị bán hàng

    Việc xây dựng ma trận SWOT không chỉ giúp công ty nhận ra những tác động ảnh hưởng có lợi là các cơ hội và ảnh hưởng bất lợi là nguy cơ từ môi trường bên ngoài đồng thời giúp công ty nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Trên cơ sở đó hình thành các chiến lược hành động nhằm phát huy điểm mạnh, tận dụng cơ hội, khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ. Trong hoạt động quản trị bán hàng thì việc áp dụng ma trận SWOT sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng các chiến lược nhằm khai thác những cơ hội thị trường, hạn chế áp lực cạnh tranh từ đối thủ, hoàn thiện các quy trình bán hàng cũng như nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    1.3.4. Một số kỹ năng quản trị bán hàng hiệu quả

    Để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng thì bên cạnh chiến lược tổng thể công ty, phân tích môi trường thì cần phải có những kỹ năng trong việc quản trị bán hàng một cách hiệu quả. Một số kỹ năng cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng là:

    Kỹ năng hoạch định

    Hoạch định là một kỹ năng quan trọng trong hoạt động quản trị bán hàng. Hoạch định giúp cho nhà quản trị vạch ra những kế hoạch và chương trình hành động cũng như biết được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc một cách hiệu quả. Bên cạnh đó hoạch định còn giúp cho nhà quản trị xây dựng các chiến lược hành động cũng như nắm bắt được toàn bộ quy trình nhằm thực hiện mục tiêu bán hàng đề ra.

    Kỹ năng quản lý địa bàn

    Trong kinh doanh mà đặc biệt là trong khâu tổ chức bán hàng thì việc xác định địa bàn và quản lý địa bàn là nhiệm vụ quan trọng ảnh hưởng tới doanh số bán hàng cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng của mỗi khu vực. Hoạt động quản trị bán hàng bao hàm trong đó là quản trị từng khu vực địa bàn. Mỗi khu vực địa bàn bao gồm: khách hàng là nguồn tạo ra doanh số và đối thủ là người cạnh tranh với công ty. Việc quản lý địa bán hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý khách hàng tức là quản lý nguồn doanh thu của công ty đồng thời giám sát những đối thủ nhằm có những chính sách đề phòng và ứng phó kịp thời trước sự cạnh tranh đến từ đối thủ.

    Kỹ năng lãnh đạo và động viên

    Bên cạnh kỹ năng quản trị thì kỹ năng lãnh đạo cũng góp phần quan trọng trong việc quản lý hiệu quả tổ chức bán hàng. Nếu như các kỹ năng quản trị thiên về các

    nguyên tắc, hành động, kết quả và thực hiện theo những kế hoạch đề ra còn lãnh đạo là quan hệ với con người và thích ứng với sự thay đổi. Hai kỹ năng này không xung khắc mà nó hỗ trợ bổ sung cho nhau giúp vận hành một tổ chức bán hàng hoạt động một cách hiệu quả vừa theo quy trình vừa thay đổi để thích ứng.

    1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị bán hàng

    1.4.1. Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô

    Sự ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô gồm các yếu tố: môi trường kinh tế, xã hội, chính trị, luật pháp, dân số, khoa học công nghệ. Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô mang tính gián tiếp song lại rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động quản trị bán hàng của công ty mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ công ty. Môi trường kinh tế thuận lợi sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và việc bán hàng sẽ thuận lợi ngược lại khi môi trường kinh tế khó khăn đặc biệt là khủng hoảng kinh tế sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc têu thụ sản phẩm và đòi hỏi những nỗ lực lớn trong hoạt động bán hàng. Ảnh hưởng từ môi trường luật pháp có thể làm tăng hoặc giảm mức độ cạnh tranh hay sự phát triển khoa học công nghệ kéo theo những hình thức bán hàng mới ra đời buộc các công ty phải có những thay đổi lớn trong quản trị bán hàng nếu không muốn trở nên lạc hậu và kém cạnh trang so với đối thủ.

    Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập kéo theo đó là những thay đổi lớn về môi trường kinh tế, luật pháp, khoa học kỹ thuật. Những thay đổi đó sẽ ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp cũng như trong hoạt động bán hàng. Việc theo dõi phân tích ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô không chỉ giúp các doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi mà còn nhận ra nhiều cơ hội phát triển và mở rộng kinh doanh.

    1.4.2. Ảnh hưởng từ môi trường vi mô

    Nếu môi trường vĩ mô ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt động quản trị bán hàng thì môi trường vi mô lại ảnh hưởng trực tiếp, liên tục và thường xuyên đòi hỏi công ty luôn chủ động đối phó. Những yếu tố từ môi trường vi mô ảnh hưởng rõ nét nhất là các yếu tố:

    Sự cạnh tranh gay gắt từ cách đối thủ cạnh tranh đặc biệt là trong hoạt động bán hàng. Các đối thủ cạnh tranh luôn xây dựng hững chiến lược bán hàng mới nhằm mở rộng thị trường thậm chí là lôi kéo khách hàng của công ty. Điều này ảnh hưởng rất lớn và đe dọa tới thị trường và khách hàng của công ty.

     

    Ngày nay sức mạnh của khách hàng ngày càng tăng đây là một điều dễ thấy khi mà thị trường đang cạnh tranh khốc liệt với nhiều người bán và thị trường hạn chế. Điều này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi công ty đặc biệt là trong việc quản trị bán hàng. Nhà quản trị sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng cũng như đảm bảo lợi ích của công ty đồng thời phải tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ.

    Đây là những yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất tới hoạt động bán hàng của công ty. Bên cạnh đó còn một số yếu tố cũng ảnh hưởng không nhỏ như: ảnh hưởng từ sức mạnh nhà cung cấp làm cho giá sản phẩm trở nên cao hơn, những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẵn sàng cạnh tranh với nguồn lực và công nghệ được chuẩn bị tốt…

    Sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường vi mô đòi hỏi công ty không ngừng đổi mới và hoàn thiện trong hoạt động bán hàng, theo sát thị trường và chủ động đối phó nhằm bảo vệ thị trường và phát triển lâu dài.

    1.4.3. Ảnh hưởng từ môi trường nội bộ

    Môi trường nội bộ doanh nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng. Tình hình tài chính không ổn định sẽ ảnh hưởng tới ngân sách bán hàng, quá trình triển khai bán hàng cũng như các chương trình hỗ trợ bán hàng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động bán hàng như: tình hình tài chính ổn định, phòng sản xuất luôn hoàn thành nhiệm vụ về thời gian và chất lượng sản phẩm thì sẽ hạn chế những khó khăn do khiếu nại cho bộ phận bán hàng. Ngược lại tình hình tài chính không ổn định, sự phối hợp hoạt động giữa các phòng không hiệu quả sẽ ảnh hưởng không tốt cho hoạt động bán hàng cũng như ảnh hưởng tới toàn công ty.

    Tóm lại việc nghiên cứu môi trường hoạt động cũng như các nhân tố ảnh hưởng từ môi trường tới hoạt động bán hàng sẽ giúp công ty chủ động đối phó với những khó khăn thách thức cũng như tận dụng các cơ hội thị trường nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như hạn chế những tác động ảnh hưởng bất lợi từ môi trường.

    1.5. Quy trình thực hiện quản trị bán hàng

    Quản trị bán hàng là một quá trình phức tạp với nhiều công việc và cách thực hiện khác nhau. Việc xây dựng một quy trình quản trị bán hàng hoàn thiện sẽ là một

     

    nhân tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi khi triển khai các kế hoạch bán hàng. Quy trình quản trị bán hàng có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:

    Xây dựng mục   Hoạch định chiến   Xây dựng cấu trúc tổ
    tiêu bán hàng   lược bán hàng   chức lực lượng bán hàng
             
    Giám sát, đánh giá   Phân bổ chỉ tiêu,   Tuyển dụng và đào tạo
    hiệu quả bán hàng   triển khai bán hàng   nhân viên bán hàng
             

    Sơ đồ 1.1: Quy trình quản trị bán hàng (Lê Đăng Lăng, Kỹ năng và quản trị bán hàng)

    1.5.1. Xây dựng mục tiêu bán hàng

    Xây dựng mục tiêu bán hàng là một trong những công việc đầu tiên và quan trọng nhất trong hoạt động quản trị bán hàng. Xây dựng mục tiêu bán hàng thường xoay quanh ba mục tiêu chính sau:

    Mục tiêu về doanh số – sản lượng

    Mục tiêu về thị phần

    Mục tiêu về lợi nhuận

    Bên cạnh đó người ta còn xây dựng các mục tiêu tổng hợp như: mục tiêu doanh số và lợi nhuận, mục tiêu thị phần và sản lượng. Việc xây dựng mục tiêu bán hàng phải rõ ràng, phù hợp với tình hình thực tế và đặc biệt mục tiêu phải mang tính khả thi.

    1.5.2. Hoạch định chiến lược bán hàng

    Việc hoạch định chiến lược bán hàng sẽ giúp công ty hoàn thành mục đích, mục tiêu đã đặt ra một cách hiệu quả nhất thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn lực, phối hợp sự tham gia của mọi người và tạo sự khác biệt so với đối thủ. Một số chiến lược bán hàng phổ biến là:

    Chiến lược bán hàng cá nhân

    Chiến lược bán hàng theo nhóm

    Chiến lược bán hàng tư vấn

    Chiến lược gia tăng giá trị

    Bên cạnh đó các nhà quản trị còn sử dụng một số chiến lược khác như: chiến lược bán hàng thương thảo, bán hàng liên kết…Việc hoạch định chiến lược bán hàng còn tùy thuộc vào trình độ, năng lực của lực lượng bán hàng và ngân sách dành cho chiến lược bán hàng.

    1.5.3. Xây dựng cấu trúc tổ chức lực lượng bán hàng

    Cơ cấu tổ chức lực lượng bán hàng là sự phân bổ, sắp xếp nhân sự bán hàng một cách hợp lý căn cứ vào khả năng, kinh nghiệm, tính cách nhân viên nhằm thực hiện chiến lược bán hàng một cách hiệu quả mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Một số dạng cơ cấu tổ chức bán hàng thường dùng là:

    Cơ cấu tổ chức bán hàng theo khách hàng

    Cơ cấu tổ chúc theo địa bàn

    Cơ cấu tổ chức bán hàng theo sản phẩm

    Cơ cấu tổ chức bán hàng hỗn hợp

    Trong thực tế kinh doanh, tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, địa bàn hoạt động cụ thể mà nhà quản trị lựa chọn cơ cấu tổ chức phù hợp, có thể phối hợp nhiều cơ cấu tổ chức hoặc không theo một khuân mẫu nào.

    1.5.4. Tuyển dụng và đào tạo nhân viên bán hàng

    Tuyển dụng và đào tạo nằm trong mục tiêu về nhân sự trong quản trị bán hàng. Mục tiêu là xây dựng một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, hiệu quả và không ngừng đào tạo nhằm nâng cao năng lực đội ngũ nhân viên và thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Do đó nhà quản trị phải xây dựng một quy trình tuyển dụng nhân viên sao cho có thể tìm được những nhân viên có khả năng và lên chương trình đào tạo có trọng tâm và phù hợp với tình hình mới.

    1.5.5. Phân bổ chỉ tiêu và triển khai kế hoạch bán hàng

    Đây chính là phần triển khai toàn bộ những mục tiêu, chiến lược thông qua lực lược bán hàng hướng vào thị trường. Để triển khai một kế hoạch bán hàng thành công cần phải làm một số công việc sau:

    Phân bổ chỉ tiêu bán hàng như: doanh số, thị phần, sản lượng hợp lý Xây dựng chiến lược kênh phân phối hiệu quả

    Tổ chức bán hàng qua kênh phân phối

    Động viên tinh thành nhân viên

    Để triển khai kế hoạch bán hàng thành công thì không chỉ làm theo những gì đã được xây dựng, hoạch định từ trước mà phải luôn thích ứng với thị trường. Trong thực tế có rất nhiều tác nhân ảnh hưởng tới kết quả mà doanh nghiệp không biết trước được. Do đó một mặt doanh nghiệp phải thực hiện theo những chiến lược mục tiêu đề ra

    nhưng cũng có những thay đổi kịp thời phù hợp với từng hoàn cảnh. Có như vậy việc triển khai kế hoạch bán hàng mới đem lại hiệu quả cao nhất.

    1.5.6. Giám sát đánh giá hiệu quả bán hàng

    Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng là một trong những nhiệm vụ chính của nhà quản trị bán hàng. Việc giám sát và đánh giá nhằm đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng, đồng thời đánh giá mức độ thành công trong công tác bán hàng. Bên cạnh đó việc giám sát còn nhằm phát hiện ra những tình huống bất lợi, các tình huống chưa phù hợp nhằm kịp thời khắc phục. Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng thường được thực hiện thông qua các biểu mẫu, các báo cáo từ nhân viên trên cơ sở phân tích doanh thu, mức độ hài lòng của khách hàng, thị phần. Tóm lại mục đích chính của công tác giám sát và đánh giá chính là đánh giá kết quả bán hàng so với mục tiêu đề ra.

    1.5.7. Chăm sóc khách hàng

    Ngày nay chăm sóc khách hàng không chỉ là thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm, xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng mà chăm sóc khách hàng còn là một công cụ làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Do đó việc chăm sóc khách hàng cần phải thực hiện nghiêm túc và có kế hoạch. Để làm được điều này nhà quản trị bán hàng cần xây dựng các chính sách, chương trình chăm sóc khách hàng và đo lường sự thỏa mãn mãn khách hàng để có những điều chỉnh phù hợp. Doanh nghiệp cần không ngừng hoàn thiện chương trình chăm sóc khách hàng, đồng thời không ngừng đổi mới để tạo sự khác biệt và tốt hơn so với đối thủ. Điều này sẽ là một yếu tố quan trọng nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng.

    Tóm lại một quy trình quản trị bán hàng hiệu quả không chỉ là thực hiện đầy đủ các nội dung mà còn phải liên tục hoàn thiện và thực hiện một cách tốt nhất . Để mang lại hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng mỗi doanh nghiệp cần xây dựng những mục tiêu, các chiến lược để hoàn thành mục tiêu đó một cách hiệu quả nhằm đạt được hai mục tiêu quan trọng đó là mục tiêu con người và mục tiêu lợi nhuận qua đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và công ty.

     

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI M.K TRONG THỜI GIAN QUA

    2.1. Giới thiệu khái quát về công ty

    2.1.1. Tìm hiểu chung

    Tên công ty: Công ty TNHH Thương Mại M.K

    Tên giao dịch: MK BUSINESS CO.,LDT

    Tên viết tắt: M.K CO.,LDT

    Địa chỉ trụ sở chính (theo giấy đăng ký kinh doanh): 215B/12 Phan Đăng Lưu, Phường 1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM.

    Địa chỉ hiện tại: 1/25 Đoàn Thị Điểm, P.1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM.

    Văn phòng giao dịch: 61/4 Đường Số 20, P.6, Quận Gò Vấp, Tp.HCM.

    Số điện thoại: 39846446 – 39846447 – 22165217 – 22165218. Fax: 39846449

    Email: [email protected]

    Loại hình công ty: Công ty TNHH có hai thành viên trở lên.

    Vốn điều lệ: 6.980.000.000 đ (Sáu tỷ chín trăm tám mươi triệu đồng).

    (Trong đó: Hiện kim: 5.780.000.000 đ; Hiện vật: 1.200.000.000 đ).

    Nhà máy sản xuất: Tổ 10, ấp 3, xã Phú An, huyện Bến Cát, Bình Dương.

    2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

    2.1.2.1. Quyết định thành lập

    Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hiện đại. Sự phát triển của những ngành công nghiệp chính kéo theo đó là sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp chính và thay thế hàng nhập khẩu. Mặc dù ngành công nghiệp phụ trợ nước ta còn yếu kém song lĩnh vực sản xuất bao bì, nhãn mác, in ấn và quảng cáo lại phát triển nhanh và một trong những nguyên liệu chính trong lĩnh vực sản xuất bao bì, nhãn mác, in ấn và quảng cáo là giấy Decal.

    Nắm bắt được cơ hội thị trường và sự phát triển trong tương lai, công ty TNHH Thương Mại M.K chính thức được thành lập vào tháng 12 năm 2001 theo giấy đăng ký kinh doanh số: 4102007879 do phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế Hoạch – Đầu Tư

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          26                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Tp.HCM cấp ngày 26/12/2001 với lĩnh vực hoạt động chính là sản xuất kinh doanh các mặt hàng giấy Decal.

    2.1.2.2. Quá trình phát triển

    Công ty TNHH Thương Mại M.K chính thức được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 12 năm 2001 trụ sở chính tại 215B/12 Phan Đăng Lưu, Phường 1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM với 100% sản phẩm nhập khẩu từ Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc. Sau 2 năm hoạt động, công ty đã dần đi vào ổn định và thị trường đang tăng nhanh. Đến năm 2003 do nhu cầu ngày càng tăng và lượng khách hàng ngày càng nhiều công ty đã rời trụ sở chính đến 1/25 Đoàn Thị Điểm, P.1, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM lớn hơn và có vị trí thuận lợi trong việc giao dịch với khách hàng. Vào đầu năm 2004 công ty tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất tại Bình Dương nhằm thay thế hàng ngoại nhập hoàn chỉnh mà chỉ nhập nguyên liệu góp phần làm giảm giá thành sản phẩm và đến tháng 9/2004 nhà máy chính thức đi vào hoạt động. Bên cạnh đó công ty đã tạo ra cho mình một thương hiệu riêng đó là “Decal 3 ngôi sao” đã được cục sở hữu công nghiệp cấp bằng chứng nhận ngày 20/6/2003. Bước sang 2005 công ty đã dần tạo được chỗ đứng trong thị trường giấy decal tại Tp.HCM và bước đầu mở rộng thị trường sang các tỉnh thành khác đồng thời thành lập một văn phòng giao dịch chính thức tại địa chỉ 61/4 Đường Số 20, P.6, Quận Gò Vấp, Tp.HCM. Trải qua gần 10 năm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã đi vào ổn định, doanh thu liên tục tăng qua các năm và thu nhập của công nhân ngày càng tăng. Với những thành tựu đã đạt được và những bước đi đúng hướng công ty sẽ ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu lớn trong tương lai.

    2.1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ

    Chức năng

    Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tp.HCM cấp thì chức năng hoạt động của công ty bao gồm những lĩnh vực sau: Mua bán vật tư – nguyên vật liệu ngành in; giấy, giấy decal, lương thực – thực phẩm, bánh kẹo. Dịch vụ thương mại. Đại lý ký gửi hàng hóa. Dịch vụ tư vấn môi trường. Gia công bế hộp, giấy và màng decal. Sản xuất giấy decal từ giấy cuộn (không tái chế phế thải giấy, sản xuất bột giấy, không in). Trong đó lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty là sản xuất – kinh doanh giấy decal.

    Nhiệm vụ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          27                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Công ty TNHH Thương Mại M.K hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh giấy decal với những nhiệm vụ cơ bản sau:

    Sản xuất kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký và phù hợp với mục tiêu thành lập công ty.

    Nghiên cứu, thiết kế những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của thị trường.

    Sử dụng hiệu quả các nguồn lực và khai thác tốt tiềm năng của công ty.

    Tạo ra nguồn vốn ổn định, duy trì hoạt động liên tục đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường.

    Ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, không ngừng nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm.

    Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên, trả lương hợp lý và quan tâm tới nhân viên.

    Thực hiện những cam kết về uy tín, chất lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng với mức giá hợp lý.

    Trên đây là những chức năng và nhiệm vụ chính đặt ra trong quá trình hoạt động của công ty. Việc thực hiện tốt những chức năng và nhiệm vụ đề ra sẽ góp phần vào thành công chung, tạo sự ổn định và phát triển lâu dài cho công ty trong tương lai.

    2.1.3. Cơ cấu tổ chức

    Mọi công ty dù lớn hay nhỏ đều phải xây dựng cho mình một cơ cấu tổ chức đảm bảo cho sự vận hành thông suốt và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau đây là sơ đồ mô tả cơ cấu tổ chức tại công ty TNHH Thương Mại M.K:

    Giám đốc

    P. Giám đốc   P. Giám đốc
         
    Phòng   Phòng     Phòng     Nhà máy  
    kế   bán     gia công     sản  
    toán   hàng     sản xuất     xuất  
                   
      Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH Thương Mại M.K
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 28 SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Nhìn sơ đồ ta thấy cơ cấu tổ chức của công ty khá đơn giản nhưng góp phần quan trọng vào sự hoạt động ổn định và phát triển của công ty hiện nay. Trong đó chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong công ty được phân rõ như sau:

    Giám đốc công ty

    Giám đốc là người đứng đầu công ty với những chức năng và công việc:

    Tổ chức bộ máy quản lý, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Xây dựng các mục tiêu, chính sách và đề ra các chiến lược để hoàn thành các mục tiêu và chính sách đã đề ra.

    Kiểm tra, giám sát và đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giám đốc xây dựng mục tiêu chính sách cho năm tới.

    Là người đại diện cho công ty trước pháp luật và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.

    Phó giám đốc

    Tư vấn và tham mưu cho giám đốc trong việc xây dựng các mục tiêu chính sách cho công ty.

    Nhận lệnh trực tiếp từ giám đốc và truyền đạt những chính sách, mục tiêu cũng như những chiến lược bán hành động xuống cấp dưới.

    Chịu trách nhiệm trong việc chỉ đạo, đôn đốc cấp dưới hoàn thành chỉ tiêu về kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty.

    Thay mặt giám đốc điều hành công ty khi giám đốc đi vắng.

    Phòng kế toán

    Phòng kế toán có nhiệm vụ theo dõi tất cả các khoản tài sản và nguồn vốn của công ty một cách chi tiết và đầy đủ.

    Bảo vệ các thông tin tài chính công ty, bảo quản các loại chứng từ, sổ ghi chép và các tài liệu liên quan tới hoạt động của công ty.

    Lập các báo cáo tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những số liệu trong báo cáo.

    Cung cấp thông tin và cáo cáo cho cấp trên về những bất ổn trong quá trình sản xuất kinh doanh để giám đốc kịp thời xem xét và khắc phục.

    Phòng bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          29                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Hoàn thành chỉ tiêu và kế hoạch bán hàng được giao, thu hồi công nợ từ khách hàng, báo kết quả cho cấp trên và quản lý khách hàng tại khu vực mình.

    Tìm hiểu thị trường, thực hiện tiếp xúc chào hàng khách hàng mới.

    Thực hiện những giao dịch với khách hàng, không ngừng quảng bá và nâng cao uy tín của công ty trước khách hàng.

    Phòng gia công sản xuất

    Có trách nhiệm sản xuất, gia công sản phẩm đúng quy cách, chủng loại theo yêu cầu của khách hàng.

    Thực hiện công tác bảo trì, kiểm tra máy móc thiết bị đảm bảo cho hoạt động sản xuất ổn định.

    Thực hiện đúng tiêu chuẩn về an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy.

    Nhà máy sản xuất

    Nhà máy sản xuất có chức năng nhiệm vụ sản xuất cung cấp các loại giấy cuộn, đảm bảo sản xuất hiệu quả và cung ứng hàng kịp thời cho phòng gia công sản xuất.

    2.1.4. Các sản phẩm chính của công ty

    Hoạt động chính tại công ty M.K là sản xuất và kinh doanh các sản phẩm giấy decal. Sản phẩm của công ty bao gồm nhiều chủng loại và kích thức khác nhau. Sau đây là bảng tổng hợp chi tiết về các sản phẩm chính của công ty:

    Bảng 2.1: Các sản phẩm chính của công ty

    Tên sản phẩm Tên sản phẩm
           
    Decal AL Super Alsuper-0 Decal PL nhám (đế xanh) PLBL-0
           
    Decal AL (ba ngôi sao đỏ) ALY-0 Decal PL nhám(đế trắng) HPL-0
           
    Decal AL bóng mờ (ba ngôi sao đỏ) ALW-0 Decal PL nhám(đế vàng) PLY-0
           
    Decal AL bóng mờ (Star bạc) ALS-0 Decal PL nhám không logo PLBS-0
           
    Decal AL bóng mờ (không logo) ALYK-0 Decal MCL bóng(đế xanh) MCLBL-0
           
    Decal AL bóng mờ (đế xanh) ALBL-0 Decal MCL bóng(đế trắng) MCLY-0
           
    Decal AL bóng mờ Super HALsuper-0 Giấy cảm nhiệt-gián tiếp HTLM-0
           
    Decal AL bóng mờ (đế trắng) HAL-0 Giấy cảm nhiệt- trực tiếp BTLM-0
           
    Decal PL nhám Super Plsuper-0    
           

    2.2. Phân tích tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của công ty

    2.2.1. Vận dụng ma trận SWOT vào tình hình hoạt động của công ty

     

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp luôn ẩn chứa nhiều cơ hội và nguy cơ, những điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình. Do đó việc tìm hiểu, phân tích những cơ hội, thách thức, điểm mạnh cũng như điểm yếu sẽ góp phần quan trọng trong việc tận dụng các cơ hội thị trường, tránh các nguy cơ, phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu. Ma trận SWOT sau đây sẽ phản ánh những cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại M.K.

    Bảng 2.2: Phân tích ma trận SWOT về hoạt động kinh doanh của công ty

    Hoàn cảnh nội bộ   ĐIỂM MẠNH – S ĐIỂM YẾU – W
      1. Tình hình tài chính ổn 1. Cơ sở hạ tầng còn nhỏ,
      định thiếu  máy  móc  thiết  bị
      2. Sản phẩm thay thế hàng chuyên nghiệp.
      ngoại nhập. 2. Sản xuất đạt hiệu quả
      3. Lực lượng bán hàng hiệu chưa cao.
      quả. 3. Uy tín thương hiệu chưa
      4. Sự liên kết và hợp tác đủ để tạo ra động lực thúc
      hiệu quả giữa các phòng đẩy việc bán hàng.
      ban. 4. Nguồn lực còn thiếu đặc
      5. Thị  trường  sản  phẩm biệt là nguồn lực tài chính.
      liên tục tăng trưởng và mở 5.  Phụ  thuộc  nhiều  vào
    Môi trường bên ngoài rộng. nguồn nguyên liệu  ngoại
          nhập.
    CƠ HỘI – O CÁC CHIẾN LƯỢC CÁC CHIẾN LƯỢC
    1. Nền kinh tế liên tục tăng SO WO
    trưởng cao. 1. Chiến lược phát triển thị 1. Chiến  lược phát triển
    1. Thị trường bao bì, in ấn, trường để thâm nhập thị thương hiệu (W3, O1, O2, quảng cáo phát triển rất trường nội địa (S3, S5, O1, O3).
    nhanh. O2).  
    3. Nhiều cơ hội xuất khẩu   2. Chiến lược đổi mới công
    khi  Việt  Nam  gia  nhập 2. Chiến lược tăng trưởng nghệ (W1, W4, O4, O5)
    WTO. ổn định dựa vào năng lực  
    4. Chính phủ chủ trương cốt lõi (S1, S2, S4, O4, 3.  Chủ  động  về  nguồn
         
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 31 SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    khuyến  khích  sản  xuất O5). nguyên liệu đặc biệt là các
    trong nước thay thế hàng   nguồn  nguyên  liệu  trong
    ngoại. 3. Chiến lược đẩy mạnh nước.
    5. Thị trường tài chính phát bán hàng (S1, S2, S3, O2,  
    triển mạnh, cơ hội tiếp cận O3, O4)  
    được  nhiều  nguồn  tài    
    chính.    
         
    NGUY CƠ – T CÁC CHIẾN LƯỢC CÁC CHIẾN LƯỢC
    1. Sự cạnh tranh ngày càng ST WT
    gay gắt, đặc biệt là từ nước 1. Chiến lược đa dạng hóa 1. Chiến lược huy động tài
    ngoài. sản phẩm (S2, S3, S4, T1, chính (W4, T5).
    2. Sản phẩm thay thế. T2).  
    3. Khủng hoảng  kinh  tế   2.  Chiến  lược  hội  nhập
    ảnh hưởng đến nguyên liệu 2. Chiến lược phát triển sản phía sau (W5, T3, T4).
    nhập khẩu. phẩm (S1, S2,S4, T1, T2). 3.  Đổi  mới  công  nghệ,
    4. Nguồn nguyên liệu phụ 3. Xây dựng các chiến lược nâng cao hiệu quả sản xuất,
    thuộc nhiều vào nhập khẩu. cạnh  tranh:  bảo  vệ  thị chủ động đối phó với biến
    5.  Thay  đổi  công  nghệ trường hiện tại, thâm nhập động thị trường đặc biệt là
    không kịp trình độ chung. thị trường mới. nguồn nguyên liệu  ngoại
        nhập.
         

    Trên đây là ma trận SWOT phản ánh thực trạng về những điểm mạnh, điểm yếu cũng như nguy cơ và thách thức cũng như một số phương án kết hợp để khắc phục những mặt hạn chế như:

    Chiến lược SO: Phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội

    Chiến lược được thực hiện nhằm phối hợp giữa điểm mạnh và cơ hội là chiến lược phát triển thị trường nhằm tìm kiếm và mở rộng thị trường mới với khu vực mới và khách hàng mới. Với ưu thế là mặt hàng thay thế hàng ngoại nhập, thị trường trong nước đang phát triển nhanh. Do đó với chiến lược phát triển thị trường sẽ thì thị trường của công ty sẽ mở rộng và tạo ra sự tăng trưởng cao trong tương lai.

    Chiến lược ST: Phát huy điểm mạnh, hạn chế nguy cơ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          32                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Với những nguy cơ ảnh hưởng tới công ty thì chiến lược đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược phát triển sản phẩm là những chiến lược có thể giúp công ty phát huy diểm mạnh và hạn chế nguy cơ. Đa dạng hóa và phát triển sản phẩm giúp công ty tăng khả năng phục vụ nhu cầu khách hàng cũng như nâng cao chất lược sản phẩm góp phần tăng năng lực cạnh tranh của công ty so với các đối thủ đặc biệt là đối thủ nước ngoài.

    Chiến lược WO: Tận dụng cơ hội khắc phục điểm yếu

    Với những cơ hội từ thị trường công ty có thể khắc phục các điểm yếu của mình thông qua chiến lược phát triển thương hiệu và chiến lược đổi mới công nghệ. Thị trường tài chính đang phát triển sôi động. Doanh nghiệp có thể tận dụng việc huy động các nguồn tài chính trong việc đổi mới công nghệ nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả giảm giá thành sản phẩm là một động lực cạnh tranh hiệu quả.

    Chiến lược WT: Khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ

    Việc thực hiện phối hợp các chiến lược trong việc khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ thường khó hơn so với việc phối hợp các chiến lược khác. Những chiến lược được thực hiện như: chiến lược huy động tài chính và chiến lược hội nhập phía sau. Việc tạo ra nguồn tài chính dồi dào và ổn định có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là đối phó với những bất ổn thị trường.

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không nhất thiết là phối hợp tất các các chiến lược là thành công đôi khi ta chỉ cần thực hiện một trong các chiến lược như: chiến lược phát huy điểm mạnh hoặc tận dụng cơ hội là đã thành công. Sự thành công không chỉ thể hiện ở việc xây dựng nhiều chiến lược mà ở chỗ là xây dựng một chiến lược hiệu quả và thực thi một cách tốt nhất với tất cả nguồn lực của công ty.

    2.2.2. Phân tích kết quả kinh doanh

    Trong sản xuất kinh doanh, việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quan trọng không chỉ cho ta biết về mức độ biết động tăng giảm của các chỉ tiêu mà còn cung cấp thông tin quan trọng giúp ta nhận biết những biến động bất lợi cho công ty, là căn cứ cho việc xây dựng mục tiêu và chiến lược cho năm tới. Nhằm đánh giá sự biến động kết quả kinh doanh của công ty cũng như nguyên nhân của sự biến động đó. Bảng tổng hợp sau đây cho ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH Thương Mại M.K trong 3 năm trở lại đây.

    Bảng 2.3: Trích báo cáo kết quả kinh doanh (nguồn BCTC công ty M.K 2007 – 2009)

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          33                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Đơn vị tính: ngàn đồng

    Chỉ tiêu   Năm   Tăng trưởng (%)
               
      2007 2008 2009 08/07 09/08
               
    Doanh thu thuần 52.483.555 59.710.430 62.466.487 13,76% 4, 61%
               
    Giá vốn hàng bán 47.611.102 53.545.179 55.745.844 16,66% 4,1%
               
    Lợi nhuận gộp 4.872.453 6.165.251 6.720.643 26,53% 9 %
               
    Lợi nhuận trước thuế 2.524.391 3.022.465 2.777.943 19,730 – 8,09%
               
    Thuế thu nhập 709.629 846.290 694.485 19,25% -17,93%
               
    Lợi nhuận sau thuế 1.814.761 2.176.175 2.083.457 19,91% – 4,26%
               

    Nhìn vào bảng trích trên ta thấy rõ trong năm 2009 các chỉ tiêu quan trọng chỉ tăng ít và một số chỉ tiêu lại giảm. Để thấy rõ hơn sự biến động này ta lần lượt phân tích các chỉ tiêu quan trọng sau:

    Doanh thu thuần: Chỉ tiêu này trong năm chỉ tăng 4,61% so với năm 2008 trong khi đó năm 2008 lại tăng 13,76% so với năm 2007. Sự giảm sút này lại phù hợp với sự khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng nước ta và gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp. Một số khách hàng lớn của công ty giảm số lượng đặt và một số khách hàng đã ngưng sản xuất. Tuy nhiên với những nỗ lực của công ty trong việc tìm kiếm khách hàng thậm chí nhận cả những đơn hàng nhỏ đã góp phần làm cho doanh thu năm 2009 không giảm mà lại tăng 4,61%. Tuy nhiên việc tăng này lại kéo theo sự tăng chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty năm 2009 tăng 33% so với năm 2008.

    Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế: Mặc dù doanh thu tăng lên song chỉ tiêu lợi nhuận thuần lại giảm 8,09% so với năm 2008. Mới nhìn thì thấy không hợp lý, tuy nhiên để tạo ra sự tăng trưởng về doanh thu thì công ty đã nỗ lực rất nhiều trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là bán hàng. Nhằm khắc phục khó khăn công ty đã nhận và vận chuyển những đơn hàng khá nhỏ. Vì chi phí giao hàng được tính vào chi phí quản lý nên chi phí này tăng đến 33%. Chính sự tăng mạnh về chi phí quản lý nên chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế lại giảm đi so với năm 2008.

    Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế: Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế năm 2009 giảm 4,26% so với năm 2008, sự giảm này nhỏ hơn so với sự sụt giảm 8,09% về chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế. Đồng thời thuế thu nhập năm 2009 giảm đi 17,93% trong khi lợi nhuận trước thuế năm 2009 chỉ giảm 8,09%. Điều này được giải thích vì ngày 1/01/2009 luật

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          34                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    thuế thu nhập doanh nghiệp mới chính thức có hiệu lực với thuế suất mới là 25% thay cho thuế suất 28% trước kia. Do đó báo cáo tài chính năm 2009 tính thuế thu nhập là 25%. Sự giảm thuế suất thuế thu nhập đã làm cho thuế thu nhập năm 2009 giảm đi 17,93% và góp phần làm cho lợi nhuận sau thuế chỉ giảm 4,26%. Điều này cũng giải thích tại sao mà năm 2009 có lợi nhuận trước thuế cao hơn năm 2007 nhưng lại đóng thuế ít hơn do năm 2007 đóng theo thuế suất 28% trong khi năm 2009 đóng theo thuế suất 25%. Một số chỉ tiêu tổng hợp cũng có những biến động theo bảng sau:

    Bảng 2.4: Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp về doanh thu và lợi nhuận

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Chỉ tiêu   Năm   % trên doanh thu thuần
                 
      2007 2008 2009 2007 2008 2009
                 
    Doanh thu thuần 52.483 59.710 62.466
                 
    Giá vốn hàng bán 47.611 53.545 55.745 90,72% 89,67% 89,25%
                 
    Lợi nhuận gộp 4.872 6.165 6.720 9,28% 10,33% 10,75%
                 
    Chi phí quản lý 1.960 2.384 3.171 3,73% 3,99% 5,07%
                 
    Lợi nhuận trước thuế 2.524 3.022 2.777 4.8% 5,06% 4,44%
                 
    Lợi nhuận sau thuế 1.814 2.176 2.083 3,45% 3,64% 3,33%
                 

    Dựa vào bảng trên ta lần lượt phân tích một số chỉ tiêu tổng hợp như sau:

    Chỉ tiêu giá vốn hàng bán / doanh thu: Nhìn vào bảng ta thấy giá vốn hàng bán chiếm tỷ lệ rất cao trong doanh thu xấp xỉ khoảng 90%. Mặc dù chỉ tiêu này có giảm qua 3 năm song mức giảm là không đáng kể. Chỉ tiêu này cho thấy chi phí sản xuất chiếm tỷ lệ rất cao và công ty đang cố gắng hạ thấp tỷ lệ này nhưng hiệu quả rất ít. Nhận xét về vấn đề này sở dĩ giá vốn hàng bán cao là do hầu hết các nguyên liệu công ty phải nhập khẩu từ nước ngoài như: Thái Lan, Đài loan, Trung Quốc… với giá nhập khẩu khá cao. Để thu hút khách hàng và cạnh tranh nên công ty chấp nhận một mức giá với lợi nhuận không cao. Trong thời gian gần đây công ty đang cố gắng tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong nước và bước đầu đã có dấu hiệu tích cực bằng việc tỷ lệ giá vốn trên doanh thu có xu hướng giảm nhẹ.

    Chỉ tiêu chi phí quản lý / doanh thu: Chỉ tiêu liên tục tăng qua các năm các năm đặc biệt là trong năm 2009 tăng 1,08% so với năm 2008 và chiếm 5,07% trong doanh thu. Với việc tính chi phí vận chuyển giao hàng tính vào chi phí quản lý nên số lượng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          35                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    đơn hàng, doanh số tăng đồng nghĩa với việc tăng chi phí quản lý nên làm cho chi phí quản lý ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong doanh thu.

    Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế / doanh thu: Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ sinh lợi của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cho ta biết trong một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận hay nói cách khác cho ta biết mức độ sinh lợi chiếm bao nhiêu phần trăm doanh thu thuần. Nhìn vào bảng ta thấy trong năm 2009 chỉ tiêu này giảm 0,31% so với năm 2008 và cho ta biết mức độ sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chiếm 3.33% trên doanh thu thuần. Chỉ tiêu này giảm một phần là do mức độ tăng doanh thu trong năm 2009 chỉ đạt 4,61% trong khi các khoản chi phí trong năm tăng đáng kể đặc biệt là chi phí quản lý tăng tới 33% trong năm 2009.

    Tóm lại, dựa vào phân tích khái quát một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ta thấy được những nỗ lực và cố gắng của công ty trong việc hoàn thành chỉ tiêu sản xuất kinh doanh trong năm 2009 đầy biến động và khó khăn. Với những gì đã đạt được trong năm 2009 sẽ là tiền đề để công ty gặt hái được những thành công trong năm 2010 khi mà nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng cao.

    2.3. Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

    2.3.1. Phân tích môi trường vĩ mô

    Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới đã tạo ra những biến đổi lớn trong nền kinh tế Việt Nam ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có công ty TNHH Thương Mại M.K. Sự tác động này thể hiện rõ nét nhất ở những khía cạnh sau:

    Dễ thấy nhất là sự tác động của luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới tới công ty M.K như phân tích ở trên. Chỉ sự thay đổi nhỏ từ thuế suất 28% xuống 25% đã ảnh hưởng nhiều đến các chỉ tiêu của công ty đặc biệt là chỉ tiêu thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận sau thuế.

    Kế đến là chính sách khuyến khích sản xuất trong nước của Chính phủ, với chính sách này vừa đem lại cho công ty M.K khả năng tìm kiếm các nguồn nguyên liệu trong nước thay thế hàng nhập khẩu giảm tỷ lệ giá vốn hàng bán trong doanh thu mặt khác lại tạo ra nhiều đối thủ cạnh tranh đối với công ty. Việc Việt Nam gia nhập WTO và mở cửa thị trường đặc biệt là thị trường bán lẻ ngày 01/01/2009 đã đặt ra cho

    các doanh nghiệp nhiều khó khăn thách thức với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nước ngoài.

    Ngoài ra còn một chính sách nữa ảnh hưởng không nhỏ tới doanh nghiệp là các gói kích thích kinh tế, các chương trình tín dụng ưu đãi vay vốn với lãi suất 4% cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhằm đối phó với những ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế thế giới. Nhờ đó mà các doanh nghiệp đảm bảo được nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Cùng với quá trình hội nhập là những biến đổi sâu sắc môi trường kinh doanh Việt Nam đã và đang mở ra nhiều cơ hội phát triển cũng như rất nhiều khó khăn thách thức. Do đó việc theo dõi những thay đổi và tận dụng các cơ hội đó sẽ giúp công ty chủ động đối phó và phát triển ổn định trong thời gian tới.

    2.3.1. Phân tích tình hình cạnh tranh

    Thành phố Hồ Chí Minh là một thị trường lớn không chỉ đối với công ty M.K mà cả với các đối thủ cạnh tranh. Một thực tế cho thấy hầu hết các đối thủ chính của công ty đều có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh đã và đang cạnh tranh gay gắt với công ty trên thị trường này. Một số đối thủ chính có thể kể tên như: Công ty TNHH một thành viên Hoàn Vũ với trụ sở tại 37-39 Đường 25 P.10, Quận 6, Tp.HCM, công ty Decal Thảo Nhân tại 83/47 Phạm Văn Bạch, P.15, Q.Tân Bình, công ty TNHH công nghệ mã vạch Kỷ Nguyên tại 238 Bình Quới, Phường 28, Quận Bình Thạnh, Công Ty TNHH TM DV Vũ Hoàng Minh địa chỉ Lô III-29, Nhóm CN3, Đường 19/5A, KCN Tân Bình, P.Tây Thạnh, Q.Tân Phú. Những công ty kể trên được đánh giá là có tiềm lực và vị thế về sản phẩm decal trên thị trường đặc biệt là tại thị trường TP. HCM. Trong đó đối thủ mạnh nhất với cũa công ty M.K là công ty Vũ Hoàng Minh là một công ty hàng đầu trong lĩnh vực decal với khoảng 40% thị phần tại Tp.HCM và 80% thị phần Hà Nội. Ngoài ra công ty Thảo Nhân cũng là một đối thủ cần lưu ý, họ có vị trí tài chính vững mạnh, nếu đầu tư thỏa đáng, hiệu quả sẽ có những bước phát triển lớn và một số đối thủ cạnh tranh khác. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ một mặt công ty phải duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường chính này chiếm hơn 75% doanh thu của công ty một mặt tích cực tìm kiếm và mở rộng thị trường các tỉnh nhằm nỗ trợ cho thị trường chính đang cạnh tranh gay gắt từ đối thủ.

    Việc phân tích môi trường vĩ mô và môi trường cạnh tranh cho ta thấy được những tác động từ những môi trường này lên công ty. Mặc dù môi trường vĩ mô chỉ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          37                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

     
    tác động gián tiếp song ảnh hưởng rất lớn tới công ty. Do đó công ty cần phải phân tích kỹ lưỡng đặc biệt là với những thay đổi để chủ động thích nghi. Với môi trường cạnh tranh sự chủ động là rất cần thiết nhằm đối phó với những phương thức cạnh tranh mới từ đối thủ để bảo vệ thị trường chính đồng thời không ngừng tìm kiếm mở rộng thị trường mới.
    2.4. Thực trạng về tổ chức hoạt động quản trị bán hàng tại công ty
    2.4.1. Cơ cấu tổ chức hoạt động quản trị bán hàng trong công ty
    Cơ cấu tổ chức hoạt động quản trị bán hàng trong công ty được mô tả theo sơ
    đồ dưới đây:
    Giám đốc
    P.Giám đốc
    Phòng bán hàng

     

    Nhân viên   Nhân viên
         

     

    Sơ đồ 2.2: Cơ cấu quản trị bán hàng của công ty

     

    Trong đó việc xây dựng các mục tiêu, chính sách, tổ chức lực lượng bán hàng, triển khai, giám sát bán hàng đều do giám đốc hoặc do phó giám đốc thực hiện. Phòng bán hàng được tổ chức ngang cấp mỗi nhân viên sẽ độc lập với nhau có chức năng và nhiệm vụ ngang nhau. Các nhân viên bán hàng nhận lệnh và chịu sự giám sát trực tiếp từ ban giám đốc. Bên cạnh đó nhân viên bán hàng chỉ báo cáo kết quả bán hàng, những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai cho ban giám đốc mà không phải thông qua bất kỳ thành viên nào của phòng bán hàng trong công ty.

     

    2.4.2. Xây dựng mục tiêu bán hàng

     

    Mục tiêu bán hàng của công ty được giám đốc trực tiếp xây dựng và phân bổ cho các nhân viên bán hàng trong cuộc họp đầu năm. Những mục tiêu bán hàng này được xây dụng chủ yếu trên ý kiến chủ quan của giám đốc và dựa vào một số căn cứ như: mức tăng trưởng những năm gần đây, doanh số bán hàng năm trước, nguồn lực, vị trí cạnh tranh và tình hình thị trường.

     

    Trong kế hoạch bán hàng, mục tiêu bán hàng trong công ty thường được xây dựng với mục tiêu ngắn hạn và liên tục thay đổi, điều chỉnh qua các năm. Mục tiêu bán hàng trong công ty chủ yếu xoay quanh mục tiêu về doanh số tức là tổng giá trị hàng

     

     

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          38                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    hóa bán ra trong một năm khi tiến hành những nỗ lực bán hàng. Thuận lợi khi xây dựng mục tiêu về doanh số là giúp công ty dễ dàng do lường được kết quả, dễ dàng phân bổ cho các nhân viên. Đồng thời các nhân viên biết được chỉ tiêu của mình để có kế hoạch và chiến lược để hoàn thành chỉ tiêu bán hàng. Tuy nhiên việc xây dựng mục tiêu theo doanh số cũng có hạn chế khó khăn trong việc hiểm soát chi phí cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng so với chi phí bỏ ra trong quá trình bán hàng.

    2.4.3. Chiến lược bán hàng

    Với phần lớn lượng khách hàng của công ty là khách hàng công nghiệp và một số nhà bán buôn. Do đó chiến lược bán hàng chủ yếu được áp dụng trong công ty là chiến lược bán hàng cá nhân. Trong chiến lược này mỗi nhân viên bán hàng sẽ quản lý một khu vực địa bàn riêng và tiếp xúc trực tiếp với từng khách hàng. Khi áp dụng chiến lược này nhân viên bán hàng có quyền chủ động cao và sự thành công trong công tác bán hàng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và kinh nghiệm của nhân viên.

    Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả cho chiến lược bán hàng cá nhân là vận dụng các kỹ năng bán hàng, các bước bán hàng chuyên nghiệp. Một trong những điểm tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược bán hàng cá nhân của công ty là công ty M.K có một lực lượng bán hàng tuy không nhiều song lại năng động, có nhiều kinh nghiệm và am hiểu thị trường ngoài ra giá sản phẩm không cao và chủ yếu phục vụ khách hàng công nghiệp.

    2.4.4. Chiến lược tiếp xúc khách hàng và chào hàng

    Việc thực hiện chiến lược tiếp xúc khách hàng và chào hàng được thực hiện bởi chính những nhân viên bán hàng và chỉ báo cáo lại kết quả cho giám đốc. Nhân viên bán hàng thông qua kinh nghiệm, các mối quan hệ và cả thu thập thông tin thị trường nhằm xác định khách hàng tiềm năng và chuẩn bị chào hàng. Việc tiếp xúc khách hàng và chào hàng được thực hiện theo cả hai chiều thuận và nghịch.

    Theo chiều thuận thì nhân viên bán hàng thực hiện với sơ đồ sau:

      Khám phá   Đánh giá   Gửi đơn chào hàng,  
      nhu cầu   tiềm năng   điện thoại gặp mặt  
                 
               
      Theo dõi kết   Kết thúc   Tiếp xúc và chào  
      quả   bán hàng   hàng  
                 
      Sơ đồ 2.3: Quy trình tiếp xúc chào hàng theo chiều thuận

    Trong đó việc khám phá nhu cầu khách hàng đòi hỏi nhân viên phải nỗ lực tìm hiểu nhu cầu khách hàng và thị trường. Trong một số trường hợp thì những khách hàng mới này do chính người thân quen hay khách hàng cũ giới thiệu. Tuy nhiên việc đánh giá tiềm năng khách hàng sẽ quyết định đến việc có thực hiện việc tiếp xúc chào hàng hay không. Nhân viên bán hàng đánh giá tiềm năng khách hàng thông qua các chỉ tiêu như: tư cách pháp nhân hoặc có cơ sở đáng tin cậy, tiềm năng về doanh số, khả năng tài chính và có thể làm ăn lâu dài và những kết quả khi thỏa thuận chào hàng.

    Theo chiều ngược thì quy trình tiếp xúc khách hàng được thực hiện như sau:

    Khách hàng thông   Xem xét đánh giá     Chuẩn bị tiếp xúc
    báo nhu cầu đặt hàng   khách hàng       khách hàng
                       
                 
    Theo dõi chăm     Kết thúc bán     Trao đổi tư vấn thêm về sản
    sóc       hàng       phẩm với khách hàng
                         

    Sơ đồ 2.4: Quy trình tiếp xúc chào hàng theo chiều ngược

    Tương

    tự các bước trong quy trình chào hàng thuận nhưng chào hàng nghịch có một số thuận lợi hơn khi khách hàng đã chủ động thông báo nhu cầu và tỏ ý muốn đặt hàng từ công ty. Mặc dù việc chào hàng trong trường hợp này thuận lợi hơn nhưng vẫn đòi hỏi những nỗ lực từ nhân viên bán hàng nhằm đạt được kết quả cuối cùng là bán hàng và xây dựng mối quan hệ lâu dài. Tuy nhiên trong trường hợp này thì việc đánh giá xem xét cũng được thực hiện như trường hợp ban đầu nhằm xác định những khách hàng tiềm năng nhất và quyết định tới những bước sau.

    2.4.5. Quy trình tiếp nhận và xử lý đơn đặt hàng

    Tại công ty hầu hết các đơn đặt hàng đều được thực hiện thông qua điện thoại hoặc fax và một số đặt hàng thông qua đơn đặt hàng. Các đơn hàng được gửi đến công ty và được tiếp nhận theo hai cách:

    Cách thứ nhất:

    Khách hàng gọi điện thoại hoặc gửi fax đặt hàng trực tiếp tới công ty. Sau đó chị Trang nhân viên phòng kế toán có nhiệm vụ tiếp nhận và ghi lại tất cả các đơn đặt hàng, xem xét thời gian giao hàng. Tiếp đó chị Trang sẽ xuất một hóa đơn gọi là “phiếu đặt hàng nội bộ” xuống phòng sản xuất và gia công theo đơn hàng. Sau đó bộ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          40                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    phận sản xuất căn cứ vào số lượng, quy cách sản phẩm tiến hành sản xuất đơn hàng đó và cuối cùng là giao hàng cho khách hàng.

    Cách thứ hai: Khách hàng đặt hàng thông qua nhân viên bán hàng quản lý khu của khách hàng đó. Sau khi nhân viên nhận được đơn hàng sẽ gửi đơn hàng xuống cho chị Trang có nhiệm vụ thu thập các đơn hàng và công việc tiếp theo được thực hiện như cách thứ nhất.

    Ngoài ra đối với các khách hàng lớn đặt hàng với số lượng lớn và giao hàng theo tùng chu kỳ thì chỉ đặt hàng một lần và theo từng thời điểm công ty sẽ giao hàng như công ty in số văn hóa Sài Gòn là một khách hàng lớn và nửa tháng thì công ty M.K giao hàng một lần cho tới khi kết thúc số lượng hàng đặt từ đầu và thực hiện đơn đặt hàng mới.

    Các đơn hàng sẽ được ghi lại và theo dõi từng ngày thông qua bảng “tổng hợp đơn hàng theo ngày”. Việc ghi lại các đơn hàng theo ngày nhằm mục đích theo dõi và đánh giá mức độ biến động các đơn hàng và để tiện cho việc giao hàng đúng thời hạn cũng như thu tiền hàng.

    2.4.6. Tổ chức lực lượng bán hàng

    Việc tổ chức lực lượng bán hàng trong công ty nhằm mục đích tìm kiếm khách hàng mới, xúc tiến bán hàng, thu thập thông tin và cung cấp các dịch vụ khách hàng. Ở nhiều công ty thì lực lượng bán hàng thường được chia làm 3 loại: lực lượng công ty, đại lý hợp đồng và lực lượng hỗn hợp. Với những đặc điểm riêng và để phù hợp với cơ cấu tổ chức nên lực lượng bán hàng tại công ty M.K chỉ gồm những người trong công ty. Lực lượng bán hàng này vừa hoạt động bên trong công ty theo phòng ban vừa hoạt động bên ngoài trực tiếp đi gặp khách hàng và chào hàng. Dựa vào chức năng và phương hướng hoạt động thì cơ cấu tổ chức bán hàng trong công ty là tổ chức bán hàng theo địa bàn, khu vực theo sơ đồ sau:

    Giám đốc

    1. Giám đốc
      Nhân viên bán hàng     Nhân viên bán hàng   Nhân viên bán hàng  
      đồng thời quản lý khu     đồng thời quản lý khu   đồng thời quản lý  
      vực A     vực B   khu vực C  
                 
      Sơ đồ 2.5: Tổ chức lực lượng bán hàng trong công ty
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 41   SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Trong cơ cấu tổ chức này nhân viên bán hàng vừa thực hiện nhiệm vụ bán hàng vừa thực hiện quản lý đối tượng khách hàng trong khu vực của mình. Mọi giao dịch từ khâu tiếp xúc, bán hàng, chăm sóc khách hàng và thu hồi công nợ trong mỗi khu vực đều thông qua nhân viên bán hàng quản lý khu vực đó. Ngoài ra nhân viên bán hàng còn đóng vai trò đại diện công ty kinh doanh tất cả các sản phẩm cho tất cả các đối tượng khách hàng trong khu vực mình quản lý. Việc tổ chức cơ cấu bán hàng theo địa bàn sẽ đảm bảo không có một khách hàng nào được chào hàng hai lần qua đó giúp công ty tăng khả năng tiếp xúc khách hàng và chào hàng. Thành công của cơ cấu tổ chức này giúp công ty mở rộng thị trường bao gồm: Thị trường Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng, Bình Dương… và trọng điểm là thị trường TP. Hồ Chí Minh.

    2.4.7. Triển khai kế hoạch bán hàng

    Quá trình triển khai hoạt động bán hàng của công ty được thực hiện theo 2

    bước:

    Bước 1: Phân bổ chỉ tiêu bán hàng cho các nhân viên

    Như đã phân tích thì giám đốc là người xây dựng các mục tiêu doanh số bán hàng và phân bổ trực tiếp cho các nhân viên. Giám đốc đặt ra mục tiêu về tổng doanh số bán hàng mà công ty hướng tới trong năm. Sau đó chỉ tiêu này sẽ được phân bổ cho từng nhân viên. Mỗi nhân viên sẽ nhận được một bản chi tiết về chỉ tiêu bán hàng với những nhiệm vụ và yêu cầu như sau:

    Bảng 2.5: Phân bổ chỉ tiêu bán hàng trong công ty

          CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI M.K  
          CHỈ TIÊU BÁN HÀNG NĂM 20…        
      Khu vực: ………………………….                
      Nhân viên phụ trách: ………………                
      Tổng chỉ tiêu:………………………                
      Chỉ tiêu từng quý:                    
        Quý I Quý II Quý III     Quý IV  
                           
        Doanh số Doanh số   Doanh số       Doanh số    
        Khách hàng Khách hàng Khách hàng số Khách hàng    
        mới Doanh s   Doanh   mới    
        mới   mới hàng    
          Khách hàng   Khách      
          mới   mới          
        Yêu cầu: Hoàn thành đúng và vượt chỉ tiêu              
        Thu hồi nợ đúng hạn   Ngày…..tháng….năm……  
                 
        Nhân viên ký tên   Giám đốc ký tên, đóng dấu  
                         
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 42     SVTH: Nguyễn Vũ Phương

    Chỉ tiêu bán hàng phân bổ cho các nhân viên tùy theo các tiêu chí như: báo cáo bán hàng năm trước, địa bàn hoạt động, mức độ thuận lợi, số lượng khách hàng, tiềm năng thị trường. Theo đó những nhân viên quản lý khu vực có số lượng khách hàng nhiều và khách hàng lớn, thuận lợi và nhiều tiềm năng sẽ nhận chỉ tiêu về doanh số cao hơn so với các nhân viên quản lý các khu vực ít thuận lợi hơn. Trên cơ sở chỉ tiêu bán hàng được phân bổ, mỗi nhân viên bán hàng sẽ tự xây dựng mục tiêu và chiến lược nhằm hoàn thành chỉ tiêu bán hàng.

    Bước 2: Tổ chức kênh phân phối

    Tổ chức kênh phân phối của công ty chủ yếu là kênh phân phối trực tiếp theo sơ

    đồ sau:   Công ty  
               
               
              Nhân viên bán hàng
               
      Khách hàng    
               

    Sơ đồ 2.6: Tổ chức kênh phân phối

    Theo cấu trúc kênh phân phối này, công ty thiết lập quan hệ trực tiếp với khách hàng hiện tại cũng như tiềm năng thông qua lực lượng bán hàng chính của công ty. Sản phẩm của công ty là sản phẩm công nghiệp với khách hàng chính là công ty và các nhà bán buôn. Do đó những giao dịch trực tiếp với khách hàng để chào hàng và bán hàng là rất quan trọng đặc biệt là khách hàng lớn. Sau khi nhận đơn hàng và sản xuất công ty sẽ giao hàng trực tiếp cho khách hàng thông qua phương tiện và nhân viên của chính công ty. Đối với những khách hàng ở khu vực Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận thì công ty trực tiếp vận chuyển tới và công ty chịu hoàn toàn chi phí vận chuyển. Đối với khách hàng ở xa như Hà Nội, Đà Nẵng thường thì công ty gửi tới bằng máy bay hoặc xe tải và chi phí vận chuyển thường do khách hàng trả ngay hoặc tính phí vào giá thành sản phẩm. Việc tổ chức kênh phân phối trực tiếp đảm bảo cho công ty linh hoạt và chủ động trong việc tìm kiếm và giao dịch với khách hàng.

    2.4.8. Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng

    Việc thực hiện công tác kiểm tra giám sát bán hàng trong công ty được thực hiện định kỳ dựa theo những báo cáo bán hàng của các nhân viên. Do đó việc kiểm tra giám sát không chỉ là việc của cấp trên mà chính nhân viên bán hàng cũng phải thực hiện. Mỗi nhân viên sẽ lập các kế hoạch làm việc theo tháng, quý với các mục tiêu về

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          43                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    doanh số, lượng khách hàng và mức thu hồi nợ cũ dựa theo chỉ tiêu được phân bổ và chỉ liên hệ với giám đốc khi cần thêm sự hỗ trợ hoặc báo cáo kết quả. Hàng tháng mỗi nhân viên sẽ lập một bảng báo cáo về kết quả bán hàng tại khu vực mình cho giám đốc. Hệ thống bảng báo cáo trong công ty gồm các loại như: Báo cáo theo nhân viên / khách hàng theo tháng, quý năm. Sau đây là bảng trích tổng hợp báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng Lưu Minh Mẫu, phụ trách khu vực các tỉnh, thành khác như sau:

      Bảng 2.6: Bảng báo cáo bán hàng theo nhân viên / khách hàng  
        Từ ngày: 01/01/2009 Đến ngày: 31/12/2009  
                   
    Ngày   Tên khách hàng   Số lượng Đơn Doanh
    tháng   KH     m2 giá/m2 số
                 
    Nhân viên: Lưu Minh Mẫu        
                   
    4-08   ANNH0002 Cty An Nhân        
        000PLBL Decal PL đế xanh   16.84 7,125 115,708
          Tổng cộng khách hàng 16.84   115,708
                   
    3-08   ANTH0003 Anh Thy        
        0ALSuper DecalAL Super   123.00 8,190 959,400
          Tổng cộng khách hàng 123.00   959,400
                   
    ….   …………… ……………..   ………. …… ………
                   
        Tổng cộng   …. ….  
                   

    Thông qua các báo cáo bán hàng gửi về giám đốc sẽ đánh giá kết quả của từng nhân viên bán hàng so với chỉ tiêu được phân bổ để cũng như nắm bắt được tình hình thị trường khu vực. Bên cạnh đó báo cáo bán hàng còn là căn cứ khen thưởng bán hàng. Vì nhân viên bán hàng hưởng theo lương cố định không có hoa hồng bán hàng, do đó việc thưởng theo kết quả bán hàng không căn cứ vào doanh số mà căn cứ trên lương của nhân viên. Thông thường tiền thưởng bán hàng là 20% trên lương căn bản của nhân viên. Ngoài ra báo cáo bán hàng còn là căn cứ để xây dựng chỉ tiêu cho năm sau.

    2.4.9. Chính sách bán hàng và chăm sóc khách hàng

    Hiện tại công ty dang áp dụng chính sách bán hàng linh động với những chính sách sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          44                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Chính sách bán chịu: bán chịu là một phần không thể thiếu trong bán hàng đặc biệt là hàng hóa công nghiệp. Với chính sách này công ty chưa có một chính sách chung mà được thực hiện tùy vào đối tượng khách hàng và thỏa thuận khi chào hàng giữa nhân viên và khách hàng. Đối với khách hàng nhỏ, lẻ, ít thông tin cũng không rõ ràng về cơ sở hay địa điểm kinh doanh thì công ty thường thu tiền ngay khi giao hàng. Đối với những khách hàng cũ làm ăn lâu năm, uy tín đặc biệt là khách hàng lớn thì việc thu tiền có thể kéo dài tuy nhiên không quá hai tháng kể từ khi giao hàng. Ngoài ra tùy vào những thỏa thuận khác khi chào hàng với khách hàng thì chính sách này lại phụ thuộc vào những gì đạt được giữa hai bên.

    Chính sách giảm giá: Việc giảm giá được công ty thực hiện trong những trường hợp sau: những khách hàng mua với số lượng lớn, khách hàng trả tiền ngay, hoặc mục hàng theo khổ chuẩn (mua cả cuộn mà không được gia công cắt theo ý muốn, khách hàng tự làm). Thông thường mức giảm giá, chiết khấu dao động từ 0.5% – 3% trên giá bán (giá có VAT). Ngoài ra những trường hợp hàng bán bị trả lại mà lỗi thuộc về công ty thì công ty cũng có chính sách giảm giá tùy theo mức độ thiệt hại và khả năng sửa chữa gia công lại.

    Chăm sóc khách hàng: Sản phẩm của công ty chủ yếu là giấy decal đây sản phẩm công nghiệp song giá trị không cao, sử dụng một lần và không có bảo hành. Do đó việc chăm sóc khách hàng không nặng và không thực hiện một cách thường xuyên như các sản phẩm khách như: thiết bị, dây chuyền công nghiệp. Phần lớn những việc chăm sóc khách hàng được thực hiện thông qua nhân viên bán hàng như: tư vấn sử dụng, cách tranh trí, giao hàng tận nơi… Ngoài ra vào những dịp lễ lớn hay đối tác khai trương những cơ sở mới thì công ty thường tặng lịch năm mới, hoa, bia, nước ngọt…

    Trên đây là toàn bộ quy trình quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K. Một quy trình quản trị bán hàng hiệu quả không chỉ làm tốt một vài công đoạn là được mà phải thực hiện tốt tại mọi khâu và thực hiện một cách thường xuyên. Sự thành công trong hoạt động quản trị bán hàng sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thành mục tiêu kế hoạch công ty đặc biệt là với doanh nghiệp thương mại. Ngày nay khoa học về quản trị bán hàng ngày càng phát triển với nhiều phương thức mới hơn và hiệu quả hơn. Do đó để thành công trong lĩnh vực bán hàng đòi hỏi mỗi doanh nghiệp

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          45                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    không ngừng đổi mới và hoàn thiện những quy trình, phương pháp bán hàng tốt nhất đối với khách hàng và khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.

    2.5. Khảo sát thực tế về hiệu quả quản trị bán hàng

    Hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng không chỉ được xem xét thông qua kết quả bán hàng mà thông qua những đánh giá và nhận xét của chính khách hàng và lực lượng bán hàng. Cuộc khảo sát dưới đây với khách hàng và lượng lượng bán hàng trong công ty sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng của công ty.

    2.5.1. Khảo sát từ phía khách hàng

    Hoạt động quản trị bán hàng chính là nhằm đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất qua đó làm thỏa mãn nhu cầu của doanh nghiệp đó là doanh số và lợi nhuận. Cuộc khảo sát được thực hiện với 100 khách hàng thường xuyên và chiếm tỷ lệ doanh thu cao nhất đối với công ty thông qua bảng câu hỏi. Sau đây là tổng hợp ý kiến từ một số câu hỏi:

    Về tiêu chí đánh giá lựa chọn nhà cung cấp

    Lựa chọn nhà cung cấp

     

    tiêu chí khác

    thuận lợi

    giá cả

    khả năng cung ứng

    chất lượng

    uy tín

    4.84%

    12.90%

    6.45%

    19.35%

    27.42%

    29.03%

    0.00% 5.00% 10.00%15.00%20.00%25.00%30.00%

    Biểu đồ 2.1: Đánh giá về tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh việc đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo sản xuất ổn định và phát triển bền vững. Qua biểu đồ 2.1 ta thấy ba yếu tố hàng đầu khi lựa chọn nhà cung cấp đó là: uy tín với 29,03% doanh nghiệp lựa chọn, chất lượng là 27,42% và khả năng cung ứng là 19,35% và một số tiêu chí khác cũng được đánh giá với kết quả như sau: yếu tố thuận lợi với 12,9%, giá cả là 6,45% và các tiêu chí khác là 4.48% trong đó phần lớn khách hàng đánh giá cao về sự đa dạng mẫu mã. Nắm bắt được điều này doanh nghiệp cần phải có những chiến lược phù hợp đặc biệt là trong việc tạo dựng uy tín, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cung ứng, phát triển

    sản phẩm tạo sự đa dạng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Thành công trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu và chất lượng sản phẩm của công ty sẽ góp phần quan trọng trong hoạt động bán hàng như thuận lợi cho việc tìm kiếm khách hàng, việc chào hàng, bán hàng đặc biệt là việc tiếp cận với những khách hàng lớn.

    Đánh giá về chất lượng sản phẩm của công ty

    Như đã phân tích ở biểu đồ 2.1, ta thấy cùng với uy tín thương hiệu thì chất lượng cũng là yếu tố hàng đầu khi các công ty lựa chọn nhà cung cấp. Biểu đồ dưới đây cho ta thấy những đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm của công ty:

    Chất lượng sản phẩm

    60% 47% 40%  
    40% 10%    
    20% 3%  
     
    0%      

    Chất     Khá tốt      Trung

    Chất

    lượng tốt

    bình

    lượng

    kém

    Biểu đồ 2.2: Đánh giá về chất lượng sản phẩm của công ty

    Qua biểu đồ trên cho thấy khách hàng đánh giá khá cao về chất lượng sản phẩm công ty với 57% khách hàng cho sản phẩm của công ty từ khá tốt đến tốt trong đó 10% đánh giá tốt và 47% cho là khá tốt. Điều này là một tín hiệu tích cực khi sản phẩm của công ty ngày càng được khách hàng đánh giá cao và tín nhiệm. Tuy nhiên cũng có một tỷ lệ khách hàng khá cao với 40% chỉ đánh giá sản phẩm của công ty ở mức trung bình và đặc biệt có một tỷ lệ nhỏ 3% cho là sản phẩm của công ty có chất lượng kém. Do đó doanh nghiệp cần không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm hiểu những nguyên nhân, thiếu sót trong quá trình sản xuất nhằm đảm bảo các mặt hàng của công ty khi giao cho khách hàng luôn đạt chất lượng và đảm bảo răng sẽ không có sản phẩm kém chất lượng giao cho khách hàng. Để làm được điều này công ty cần thực hiện kiểm tra chặt chẽ và thực hiện đúng các tiêu chuẩn chất lượng đề ra.

    Đánh giá về phong cách bán hàng của công ty

    Ngày nay sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và gay gắt nơi mà rất nhiều người bán cùng bán hàng cho một đối tượng tiêu dùng. Do đó để bán được hàng không chỉ dựa vào yếu tố chất lượng, thương hiệu, giá cả mà còn dựa vào những nỗ lực bán hàng và trong nhiều trường hợp thì nhân tố quyết định tới hành vi mua hàng đó là những tác

    động từ chính người bán hàng. Biểu đồ sau cho chúng ta thấy được những đánh giá của khách hàng về hoạt động bán hàng của công ty:

            phong cách hán hàng    
    50%       46%        
    45%                    
    40%                    
                       
    35%                    
                       
    30%                    
              22%      
    25%                
      18%           14%  
    20%                  
    15%                    
    10%                    
                       
    5%                    
                       
    0%                    
                       

    Chuyên            Khá chuyên

    Chưa

    Bình thường

    nghiệp

    nghiệp

    chuyên

    nghiệp

    Biểu đồ 2.3: Đánh giá về phong cách bán hàng của công ty

    Biểu đồ trên cho thấy công ty đã xây dựng được một phương thức bán hàng hiệu quả và được khách hàng đánh giá cao. Trong đó có 18% đánh giá của khách hàng cho là phương thức bán hàng của công ty là chuyên nghiệp và 46% khách hàng đánh giá là khá chuyên nghiệp. Đây thực sự là những phần thưởng cho những nỗ lực của công ty trong hoạt động bán hàng và là động lực thúc đẩy giúp cho doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn trong việc bán hàng. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn một số hạn chế khi có tới 22% ý kiến cho là chưa chuyên nghiệp và 14% ý kiến lại cho rằng hoạt động bán hàng của công ty chỉ ở mức bình thường, không có gì đặc biệt. Do đó công ty cần hoàn thiện các phương thức bán hàng hiện tại và tiếp cận các phương thức bán hàng mới đem lại hiệu quả. Ngoài ra nhân viên bán hàng cần nỗ lực sáng tạo trong việc thỏa mãn và làm hài lòng khách hàng trong mọi tình huống nhất là trong khâu chào hàng. Có như vậy công ty mới chiếm được lòng tin của khách hàng bởi sự chuyên nghiệp và tính hiệu quả góp phần không nhỏ làm tăng lòng tin của khách hàng đặc biệt là khâu tiếp xúc chào hàng.

    Đánh giá về giải quyết khiếu nại

    Giải quyết khiếu nại

    Không giải quyết       7%              
                       
          10%              
    Giải quyết không thỏa đáng           28%          
                     
                     
    Giải quyết chậm trễ                 55%
                 
    Giải quyết ngay                  
                           
                         
    0.00% 20.00% 40.00% 60.00%
                               

    Biểu đồ 2.4: Đánh giá về việc giải quyết kiếu nại của công ty

     

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không thể tránh khỏi những thiếu sót đặc biệt là những khiếu nại và phàn nàn của khách hàng. Khảo sát khách hàng về những khiếu nại cho thấy phần lớn những khiếu nại của khách hàng được công ty giải quyết ngay với 55% khách hàng. Bên cạnh một số khách hàng cho biết công ty thường giải quyết chậm trễ với 28%, 10% khách hàng cho là công ty giải quyết không thỏa đáng và 7% cho là công ty không giải quyết. Việc giải quyết tất cả các khiếu nại một cách tốt nhất là rất khó. Vì vậy trong hoạt động sản xuất kinh doanh công ty cần có những chính sách về chất lượng, giá cả, giao hàng cũng như thông báo đầy đủ cho khách hàng nhằm hạn chế những khiếu nại không cần thiết. Bên cạnh đó công ty cần nỗ lực giải quyết ngay có thể những khiếu nại hoặc thông báo cho khách hàng nếu cần thời gian giải quyết và cần hạn chế tới mức thấp nhất việc giải quyết không thỏa đáng hoặc không giải quyết vì điều này sẽ làm giảm uy tín công ty sẽ là cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh. Có như vậy công ty mới tạo được uy tín và chiếm được lòng tin từ khách hàng, tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài.

    Đánh giá của khách hàng với các hoạt động bán hàng của công ty

    Đánh giá về các hoạt động bán hàng

    35.00%   32.32%   27.85%       29.75%    
               
    30.00%   25.61%                  
                       
                               
    25.00%       19.51%   20.89%            
                             
                             
    20.00%                                  
          12.66%           13.41%               Hài lòng
    15.00%                               Không hài lòng
          8.86%         9.15%    
    10.00%                                
                                           
    5.00%                                        
                                           
    0.00%                                        
      Chào hàngPhân phối Giá cả Chất lượng Chăm sóc
       
                                  khách hàng

    Biểu đồ 2.5: Đánh giá chung về một số hoạt động bán hàng của công ty

    Biểu đồ trên cho ta thấy mức độ hài lòng và không hài lòng của khách hàng về một số hoạt động bán hàng của công ty. Qua đó ta thấy khách hàng đánh giá cao và hài lòng nhất là khâu phân phối và giao hàng với 32,32% khách hàng hài lòng. Điều này cho thấy hoạt động phân phối của công ty khá hiệu quả mà thực tế cho thấy có 90% khách hàng được hỏi thì 90% cho biết công ty thường giao hàng trước hạn và đúng hạn trong đó giao trước hạn là 10% và đúng hạn là 80%. Một số tiêu chí khác cũng được khách hàng đánh giá cao như chào hàng với hơn 25,61% khách hàng hài lòng,

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          49                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    chất lượng là 13,41%, chất lượng là 19,51% và thấp nhất là chăm sóc khách hàng với chỉ hơn 9,15% hài lòng. Đây thực sự là những thông tin quan trọng cho công ty trong việc phát huy những thành tựu đã đạt được và những nỗ lực trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Bên cạnh những hoạt động được khách hàng đánh giá cao và hài lòng ta cũng cần quan tâm tới những gì khách hàng không hài lòng trong hoạt động bán hàng của công ty.

    Cũng qua biểu đồ ta thấy phần lớn khách hàng không hài lòng về hoạt động chăm sóc khách hàng của công ty với 29,75% khách hàng. Bên cạnh đó yếu tố về giá cả và chất lượng cũng có tỷ lệ khá cao với ý kiến lần lượt là 27,85% và 20,89%. Mặc dù hoạt động chăm sóc khách hàng của công ty thường không nhiều và quan trọng như với mặt hàng cao cấp song việc chăm sóc khách hàng không chỉ là thực hiện sau khi bán hàng mà có thể thực hiện ngay cả trước khi bán hàng đặc biệt là trong khâu chào hàng thông qua sự hỗ trợ tư vấn về sản phẩm, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để khách hàng đặt hàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó công ty cần nâng cao chất lượng sản phẩm, quản trị chi phí hiệu quả nhằm xây dựng mức giá cạnh tranh so với yêu cầu thị trường.

    2.5.2. Khảo sát từ lực lượng bán hàng

    Mặc dù lực lượng bán hàng trong công ty không nhiều với khoảng 10 người nhưng lại là lực lượng quan trọng trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty đồng thời cũng là một trong hai mục tiêu của hoạt động quản trị bán hàng đó là mục tiêu con người. Hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty cũng chính là những hiệu quả trong hoạt động quản trị con người chính là lực lượng bán hàng trong công ty. Cuộc khảo sát với tất cả nhân viên bán hàng của công ty được một số kết quả quan trọng như sau:

    Đánh giá về cơ cấu quản lý

                Cơ cấu quản lý            
                                       
          0%                      
      Không hiệu quả                          
                        30%          
      Chưa đạt hiệu                          
                                   
      quả cao                           50%  
      Khá hiệu quả                            
                                 
      Hiệu quả             20%                
                                   
                               
      0.00% 10.00%  20.00%  30.00% 40.00%  50.00%  
                                   
    Biểu đồ 2.6: Đánh giá của nhân viên bán hàng về cơ cấu quản lý bán hàng
    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng 50         SVTH: Nguyễn Vũ Phương

    Một cơ cấu quản lý hiệu quả sẽ là tiền đề cho việc thực hiện thành công những mục tiêu, chiến lược quản trị bán hàng. Nhận xét đánh giá về cơ cấu tổ chức quản lý bán hàng trong công ty ta thấy có 20% nhân viên cho rằng cơ cấu quản lý bán hàng đang hoạt động hiệu quả, 50% cho rằng hoạt động là khá hiệu quả. Dựa vào những nhận xét trên ta thấy cơ cấu quản lý bán hàng trong công ty được tổ chức khá tốt góp phần quan trọng cho việc triển khai các kế hoạch bán hàng. Bên cạnh đó cũng có 30% nhân viên cho rằng cơ cấu quản lý trong công ty là chưa hiệu quả cao so với tình hình thực tế và chưa đáp ứng yêu cầu quản lý khi thị trường ngày càng phát triển. Do đó để đáp ứng nhu cầu ngày càng mở rộng thị trường và hướng tới xuất khẩu công ty cần tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị bán hàng sao cho phát huy được tiềm năng và hiệu quả của tổ chức bán hàng.

    Đánh giá về quy mô lực lượng bán hàng

    Quy mô lực lượng bán hàng

    Chưa đáp ứng nhu cầu Đáp ứng một phần nhu cầu

    Đáp ứng phần lớn nhu cầu Đáp ứng đầy đủ nhu cầu

    10%

    60%

    20%

    10%

    0%   10% 20% 30% 40% 50% 60%

    Biểu đồ 2.7: Nhận xét của nhân viên về quy mô lực lượng bán hàng

    Xét về quy mô lực lượng bán hàng trong công ty thì phần lớn các đánh giá cho rằng lực lượng bán hàng trong công ty còn khá ít chưa đáp ứng hoặc đáp ứng không đủ yêu cầu khi lượng khách hàng công ty đang tăng nhanh. Trong đó có tới 60% nhân viên cho rằng lực lượng hiện nay chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, 20% đáp ứng phần lớn nhu cầu đặc biệt là có 10% cho rằng chưa đáp ứng nhu cầu trong khi chỉ có 10% là cho rằng đã đủ yêu cầu. Hiện nay lượng khách hàng của công ty đang tăng nhanh cùng với đó là rất nhiều công việc mà nhân viên bán hàng phải thực hiện như: chào hàng, quản lý địa bàn, lập báo cáo, thu nợ… đang gây nhiều khó khăn cho nhân viên bán hàng. Do đó công ty cần xem xét về tình hình khách hàng như số lượng, mức tăng trưởng, quy mô địa bàn trong việc bố trí và xác định số lượng nhân viên một cách phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường.

    Về hoạt dộng giám sát hiệu quả bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          51                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Giám sát bán hàng

    Chưa hiệu quả 10%     50%
    Hiệu quả trung bình       30%
    Khá hiệu quả        
    Hiệu quả 10%      
    0% 10% 20% 30% 40% 50%

    Biểu đồ 2.8: Đánh giá của nhân viên về hoạt động giám sát bán hàng

    Việc giám sát bán hàng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá kết quả bán hàng và so sánh quá trình thực hiện với mục tiêu đề ra. Một hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả sẽ giúp cho việc thực hiện đúng với kế hoạch đề ra. Nhận xét về hoạt động giám sát của công ty chỉ có 10% nhân viên đánh giá là hiệu quả, 30% cho là khá hiệu quả trong khi đó có tới 50% cho là hiệu quả trung bình và 10% cho là chưa hiệu quả. Từ kết quả trên cho thấy công ty hiệu quả của hoạt động giám sát bán hàng của công ty chưa cao, chưa phát huy vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực thúc đẩy những nỗ lực bán hàng và chăm sóc khách hàng. Do đó nhà quản trị cần nỗ lực hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt giám sát bán hàng bằng cách xây dựng các bảng biểu, báo cáo, áp dụng khoa hoặc kỹ thuật đặc biệt là các phần mềm quản lý bán hàng.

    Về chính sách khen thưởng

        Chính sách khen thưởng
            60%    
    60.00%                    
                     
                         
    40.00%       30%        
                         
    20.00%     10%           0%  
                     
                       
    0.00%                    
                     
      Rất hài Hài lòng Tạm hài Không
       
        lòng     lòng hài lòng

    Biểu đồ 2.9: Đánh giá nhân viên về chính sách khen thưởng của công ty

    Khen thưởng là một chính sách quan trọng không chỉ góp phần làm cho nhân viên nỗ lực trong việc bán hàng mà còn là một nguồn động viên tinh thần. Tuy nhiên khi hỏi về việc hài lòng với việc khen thưởng của công ty thì chỉ có 40% nhân viên là thấy hài lòng song có tới 60% nhân viên là chưa hoàn toàn hài lòng và tỷ lệ nhân viên

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          52                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    không hài lòng là 0%. Do đó trong hoạt động bán hàng công ty cần có những chính sách phù hợp đặc biệt là việc động viên tinh thần trong đó chính sách khen thưởng cần phải thực hiện một cách hiệu quả và công bằng góp phần nâng cao hiệu quả cũng như tinh thần làm việc của nhân viên.

    Tóm lại những kết quả thu được từ ý kiến khách hàng và từ nhân viên bán hàng sẽ là những ý kiến đánh giá quan trọng và thực tế nhất về hiệu quả quản trị bán hàng của công ty. Qua kết quả khảo ta thấy bên cạnh những đánh giá tích cực về hoạt động bán hàng của công ty còn có những hạn chế nhất định. Điều này sẽ góp phần quan trọng giúp công ty ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bán hàng góp phần làm thỏa mãn nhu cầu của cả công ty và khách hàng

    2.6. Nhận xét và đánh giá về hiệu quả quản trị bán hàng tại công ty

    Qua quá trình phân tích, tìm hiểu quy trình thực hiện quản trị bán hàng trong công ty cũng như phân tích ý kiến đánh giá của khách hàng và nhân viên bán hàng, sau đây là một số ý kiến nhận xét và đánh giá về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K

    2.6.1. Những thành tựu và kết đạt được

    Những thành tựu và hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty

    TNHH Thương Mại M.K được thể hiện qua những điểm sau:

    Bước đầu đã xây dựng và vận hành quy trình quản trị bán hàng với những mục tiêu, chính sách bán hàng góp phần quan trọng giúp công ty tìm kiếm và mở rộng thị trường. Đây là tiền đề quan trọng cho công ty tạo nền tảng cho sự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bán hàng cũng như sự mở rộng và phát triển thị trường sau này.

    Giữ vững và ổn định thị trường đặc biệt là thị trường T.p Hồ Chí Minh trước sự cạnh tranh từ các đối thủ. Quản trị bán hàng giúp tạo lập lòng tin, duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng cũ chiếm hơn 80% doanh thu của công ty đồng thời không ngừng nỗ lực tìm kiếm khách hàng mới với mức tăng trưởng cao.

    Thị trường công ty không ngừng mở rộng ra các tỉnh bên ngoài như: Bình Dương, Hà Nội, Đà Nẵng… cùng với đó là doanh thu không ngừng tăng cao đặc biệt là những nỗ lực bán của công ty trong năm 2009 khi mà kinh tế trong nước và thế giới đang bị khủng hoảng.

    Hoạt động quản trị bán hàng góp phần quan trọng trong việc quảng bá và phát triển thương hiệu. Thông qua sự năng động của nhân viên bán hàng trong việc tìm hiểu nhu

     

    cầu khách hàng và chào hàng làm cho thương hiệu về sản phẩm của công ty được khách hàng biết đến và thực tế cũng cho thấy phần lớn khách hàng biết tới công ty là do sự chào hàng từ nhân viên bán hàng của công ty.

    Đội ngũ nhân viên bán hàng của công ty rất hiệu quả là hạt nhân trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty. Nhân viên bán hàng của công ty rất năng động không chỉ làm nhiệm vụ bán hàng mà còn thực hiện nhiều chức năng như: quản lý địa bàn, tìm hiểu nhu cầu, chào hàng, tư vấn khách hàng. Hoạt động quản trị bán hàng đặc biệt là quản trị nhân viên bán hàng đã giúp công ty có thể quản lý một lượng khách hàng lớn với hơn 1000 khách hàng trong khi nhân viên bán hàng chỉ khoảng 10 nhân viên.

    Những thành tựu và kết quả đạt được trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty đã và đang góp phần quan trọng vào sự thành công chung của doanh nghiệp.

    2.6.2. Những hạn chế trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty

    Bên cạnh những thành tựu và hiệu quả thì hoạt động quản trị bán hàng của công ty còn có một số hạn chế nhất định sau:

    Thứ nhất: Công ty đã bước đầu xây dựng và thực hiện quản trị bán hàng song chỉ là những hoạt động phải thực hiện và mức độ liên kết không cao. Hoạt động quản trị bán hàng của công ty còn hạn chế và sơ sài thiếu những cải tiến, những đột phá, chưa tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và phương pháp quản trị bán hàng hiện đại. Hoạt động dự báo bán hàng, nghiên cứu thị trường, xây dựng hạn ngạch, lập ngân sách bán hàng của công ty không được chú trọng thậm chí không được thực hiện trong khi đó đây là những nội dung quan trọng trong quản trị bán hàng và góp phần quan trọng tạo điều kiện thuận lợi khi triển khai các kế hoạch bán hàng.

    Thứ hai: Cơ cấu quản trị bán hàng chưa tách khỏi cơ cấu quản trị công ty khi mà giám đốc công ty đồng thời là nhà quản trị bán hàng. Bên cạnh đó việc phân cấp trong phòng bán hàng theo nguyên tắc ngang cấp và mỗi người quản lý một địa bàn làm hạn chế khả năng phối hợp và trao đổi kinh nghiệm cũng như hỗ trợ giữa các nhân viên trong quá trình bán hàng.

    Thứ ba: hoạt động bán hàng chủ yếu dựa vào nỗ lực của bộ phận bán hàng trong việc tìm kiếm khách hàng và quảng bá thương hiệu chưa có sự hỗ trợ vai trò của hoạt động marketing như: quảng cáo, chiêu thị, khuyến mại…

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          54                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Thứ tư: Uy tín và sự phổ biến thương hiệu của công ty không cao không hỗ trợ nhiều cho hoạt động quản trị bán hàng đặc biệt là trong việc tiếp xúc khách hàng và chào hàng. Điều này làm cho việc chào hàng của công ty rất khó khăn khi khách hàng không biết về công ty, sản phẩm, chất lượng thậm chí còn không quan tâm tới đơn

    chào hàng và gặp mặt nhân viên bán hàng.

    Thứ năm: Nhân viên bán hàng trong công ty thực hiện quá nhiều chức năng

    như: tìm kiếm khách hàng, chào hàng, quản lý địa bàn, bán hàng, nhận đơn hàng thậm

    chí là thu nợ khách hàng. Việc thực hiện quá nhiều công việc sẽ hạn chế thời gian và

    công sức của nhân viên dành cho nhiệm vụ chính và làm trở ngại trong việc hoàn

    thành chỉ tiêu bán hàng.

    Thứ sáu: Lực lượng bán hàng của công ty trong khi lực lượng bán hàng chỉ khoảng 10 người với nhiều chức năng và nhiệm vụ khác nhau hoạt động hiệu quả song lại đang quá tải và ngày càng thiếu so với nhu cầu phát triển thị trường. Khách hàng công ty hiện nay hơn 1000 khách hàng và không ngừng tăng một mặt sẽ gây ra những khó khăn cho nhân viên trong việc quản lý và hạn chế những cơ hội mở rộng thị trường.

    Thứ bảy: Nhìn chung chất lượng sản phẩm công ty chưa cao cũng như chưa thực sự tạo ra ưu thế trong cạnh tranh và động lực làm tăng hiệu quả hoạt động bán hàng. Hiệu quả quản trị bán hàng không chỉ là nỗ lực của bộ phận bán hàng mà còn cần đến sự hỗ trợ gián tiếp từ các nguồn lực trong công ty như: sự hợp tác của các phòng ban, thương hiệu, chất lượng sản phẩm… Vì vậy yếu tố chất lượng sản phẩm sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng.

    Thứ tám: Ngày nay bán hàng qua mạng và quản trị bán hàng bằng các phần mềm chuyên nghiệp đang phát triển nhanh. Nhiều công ty thành công và phát triển thương hiệu chính là nhờ bán hàng qua mạng. Mặc dù vậy việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng của công ty còn hạn chế như: công ty không có trang web chính thức một công cụ hữu hiệu không chỉ quảng bá thương hiệu mà còn là cách thu hút khách hàng và bán hàng. Bên cạnh đó phần lớn các hoạt động báo cáo, giám sát được thực hiện thủ công và máy tính chỉ dùng để nhập và in tài liệu mà không có các phần mềm quản trị bán hàng hiệu quả.

    Tóm lại bên cạnh những thành tựu và kết quả đạt được trong quản trị bán hàng của công ty cũng còn một số hạn chế nhất định. Do đó để nâng cao hiệu quả quản trị

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          55                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    bán hàng công ty cần không ngừng nỗ lực hoàn thiện quy trình, nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt công ty cần luôn duy trì và phát triển nguồn nhân lực đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển và mở rộng thị trường.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          56                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

    HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ BÁN HÀNG CHO CÔNG TY TNHH

    THƯƠNG MẠI M.K TẠI TP.HCM

    3.1. Hoàn thiện quy trình

    Hoàn thiện quy trình là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm xây dựng một quy trình quản trị bán hàng một cách đầy đủ và hiệu quả nhằm phối hợp các hoạt động trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và công ty. Để hoàn thiện quy trình quản trị bán hàng cần xây dựng và hoàn thiện ở những vấn đề sau:

    Xây dựng mục tiêu bán hàng bên cạnh mục tiêu về doanh số công ty cần xây dựng các mục tiêu khác như: mục tiêu về lợi nhuận, thị phần, mức tăng trưởng. Việc xây dựng các mục tiêu tổng hợp giúp công ty có thể kiểm soát chi phí với mục tiêu về lợi nhuận, phối hợp các nguồn lực nhằm đạt mức tăng trưởng với mục tiêu tăng trưởng. Công ty nên xây dựng các mục tiêu cho từng khu vực địa lý nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng khách hàng. Ngoài ra công ty cần xây dựng và đặt ra các mục tiêu dài hạn nhằm định hướng phát triển cho công ty cũng như thấy được quy mô và thành công mà công ty muốn đạt được trong tương lai.

    Sử dụng chiến lược bán hàng tư vấn bên cạnh chiến lược bán hàng cá nhân sẽ làm tăng hiệu quả bán hàng và chăm sóc khách hàng cũng như là thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tối ưu và hài lòng nhất.

    Phối hợp các chương trình marketing như: thu thập thong tin thị trường,quảng cáo, khuyến mại, tham gia triển lãm hội trợ… các chương marketing sẽ góp phần quan trọng và hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động bán hàng.

    Quản trị thông tin hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên bán hàng dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin về các chiến lược bán hàng cũng như những chính sách mới. Bên cạnh đó nhà quản trị cần tích cực hỗ trợ nhân viên bán hàng hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu bán hàng.

    Tổ chức công tác dự báo bán hàng, nghiên cứu thị trường làm căn cứ để xây dựng hạn ngạch bán hàng cũng như lập ngân sách bán hàng. Dự báo bán hàng giúp nhà quản trị phân phối các chỉ tiêu bán hàng, phân công lực lượng bán hàng một cách hiệu quả hơn. Một số phương pháp dự báo hiệu quả như: dự báo bình quân di động hay dự báo san bằng số mũ cho những kết quả dự báo khá chính sác. Bên cạnh đó

    công ty cần lập ngân sách bán hàng nhằm giúp cho các hoạt động như: chào hàng, khuyến mại, tặng quà khách hàng được thuận lợi và nhanh chóng đồng thời ghi nhận vào chi phí bán hàng thay vì chi phí quản lý. Nhờ đó công ty dễ dàng đánh giá hiệu quả bán hàng so với chi phí bỏ ra và kiểm soát chi phí một cách hiệu quả.

    Tổ chức những nhân viên có nhiệm vụ quản lý và thu hồi công nợ. Những nhân viên thu hồi công nợ một mặt sẽ làm giảm áp lực thu hồi nợ cho nhân viên bán hàng giúp nhân viên bán hàng tập trung vào nhiệm vụ chính một mặt có thể quản lý, tập trung thu hồi các khoản nợ thay vì mỗi nhân viên bán hàng thu từng khoản nợ.

    Tổ chức hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên thông qua các cuộc họp (tuần, tháng, quý, năm) và theo dõi chặt chẽ quá trình triển khai bán hàng. Bên cạnh đó khi kết thúc chu kỳ bán hàng nhà quả trị cần yêu cầu nhân viên nộp báo cáo về kết quả đạt được, tình hình khách hàng, những thuận lợi và khó khăn cũng như những thông tin về thị trường, đối thủ cạnh tranh. Như vậy nhà quản trị không những theo sát toàn bộ quá trình triển khai bán hàng mà còn nắm được những thông tin từ thị trường làm cơ sở đưa ra những quyết định và chính sách cho từng giai đoạn triển khai kế hoạch bán hàng.

    Xây dựng và hoàn thiện các chính sách bán hàng đặc biệt là các chính sách như: bán chịu, thời hạn thu hồi nợ, về việc giao hàng. Việc xây dựng các chính sách giúp công ty chủ động trong hoạt động chào hàng, giao hàng và thu nợ, cũng như khách hàng biết được chính sách của công ty tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên khi thực hiện giao dịch.

    Về việc chăm sóc khách hàng công ty cần thường xuyên gọi điện trao đổi với khách hàng đặc biệt là khách hàng lớn nhằm tạo sự liên kết, xây dựng mối quan hệ làm ăn tốt đẹp tạo thuận lợi dễ dàng giải quyết các khiếu nại phát sinh đồng thời ngăn cản những đối thủ tiếp cận khách hàng của công ty.

    3.2. Duy trì và phát triển nguồn nhân lực

    Việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và then chốt trong sự hoàn thành các mục tiêu và sự phát trển của doanh nghiệp. Hiện tại công ty có một lực lượng bán hàng rất năng động và hiệu quả song lại đang thiếu so với sự phát triển của thị trường. Vì vậy công ty cần chủ động trong việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực bán hàng trong đó chú trọng những việc sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          58                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Duy trì nguồn nhân lực hiện có vì đây là lực lượng bán hàng nòng cốt và hiệu quả của doanh nghiệp. Đảm bảo nguồn nhân lực sẽ giúp công ty luôn duy trì mức sản xuất và kinh doanh tránh được những biến động do sự thiếu hụt nguồn nhân lực. Việc duy trì nhân viên bán hàng không chỉ là tăng lương, thưởng mà là xây dựng một bầu không khí thân thiện, làm việc hăng say, luôn quan tâm đời sống, động viên tinh thần và xây dựng tình đoàn kết trong toàn công ty.

    Việc tuyển dụng nhân viên bán hàng có năng lực, trình độ phù hợp với yêu cầu công việc giữ vai trò quan trọng và phải thực hiện một cách hiệu quả nhằm tìm kiếm và lực chọn những nhân viên bán hàng bổ sung cho lực lượng bán hàng hiện tại. Do đó để đảm bảo được nguồn nhân lực nhà quản trị bán hàng cần xây dựng một quy trình tuyển dụng với đầy đủ các tiêu chuẩn từ khi nhận dạng nhu cầu, đánh giá, tuyển dụng, bố trí một cách hợp lý nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng đảm bảo yêu cầu và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Tổ chức các chương trình đào tạo, huyến luyện kỹ năng và các phương thức bán hàng hiện đại nhất là đối với nhân viên mới, những sản phẩm mới, hay chiến lược kinh doanh mới. Đào tạo nhân viên là một công việc quan trọng. Do đó công ty cần phải có kế hoạch chi tiết và thực tiễn chương trình nhằm phát huy được hiệu quả của chương trình đào tạo.

    Ngoài ra công ty cần xây dựng một chính sách khen thưởng hợp lý nhằm phát huy tinh thần làm việc của nhân viên và cũng là cách để ghi nhận những cố gắng của nhân viên trong việc bán hàng. Theo đó những nhân viên bán hàng hoàn thành đúng chỉ tiêu đề ra sẽ thưởng căn cứ trên lương nhân viên như hiện nay. Những nhân viên hoàn thành vượt chỉ tiêu với một mức nhất định thì vừa thưởng căn cứ theo lương như hiện nay đồng thời thưởng theo doanh số vượt theo quy định. Tuy nhiên việc thưởng theo doanh số không được vượt quá mức lương căn bản của nhân viên đó và không thấp hơn mức thưởng theo lương. Có như vậy không những mức thưởng cho nhân viên không quá cao với tỷ lệ hợp lý mà còn khuyến khích nhân viên hoàn thành các chỉ tiêu bán hàng mà còn nỗ lực vượt chỉ tiêu bán hàng.

    3.3. Tổ chức cơ cấu quản trị bán hàng

    Như đã phân tích ở phần trước thì cơ cấu quản trị bán hàng của công ty chưa tách khỏi cơ cấu quản trị chung của công ty khi mà giám đốc công ty chính là nhà quản trị bán hàng. Điều này sẽ làm giảm đi tính hiệu quả trong quản trị bán hàng vì

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          59                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    giám đốc phải thực hiện rất nhiều công việc chung cho toàn công ty nên không thể nắm bắt rõ ràng và giải quyết ngay những vấn đề phát sinh trong hoạt động bán hàng. Do đó để hoạt động quản trị bán hàng hiệu quả hơn và phù hợp với tình hình công ty việc hoàn thiện cơ cấu quản trị là rất cần thiết. Theo đó bộ phận bán hàng nên tổ chức theo cơ cấu có tổ trưởng, tổ phó thay vì tổ chức theo từng nhân với chức vụ và nhiệm vụ như nhau. Tổ trưởng, tổ phó vẫn thực hiện những chức năng như một nhân viên bán hàng trước đây nhưng lại có nhiệm vụ như một trưởng phòng, phó phòng như: tiến hành họp phòng định kỳ, giám sát tình hình chung của bộ phận, phối hợp hoạt động và tăng cường sự hỗ trợ giữa các nhân viên, tổng hợp các số liệu về tình hình khách hàng, thị trường, giải quyết một số vấn đề phát sinh trong quá trình bán hàng và báo cáo lại cho giám đốc.

    Ngoài ra lương, thưởng cho tổ trưởng, tổ phó sẽ nhỉnh hơn so với các nhân viên khác do phải thực hiện nhiều công việc cũng như trách nhiệm cao trong công việc. Hoạt động của tổ trưởng, tổ phó sẽ giúp ích cho giám đốc rất nhiều trong việc quản lý, giám sát và điều hành và giúp cho giám đốc trong việc xây dựng các chiến lược, mục tiêu bán hàng hiệu quả hơn.

    3.4. Xây dựng và phát triển thương hiệu

    Xây dựng và phát triển thương hiệu đã trở thành một động lực quan trọng nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc thu hút khách hàng cũng như lợi thế trong cạnh tranh. Một thương hiệu mạnh, uy tín và được nhiều người biết đến sẽ góp phần quan trọng trong hoạt động bán hàng của công ty. Do đó đòi hỏi công ty cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu không chỉ góp phần nâng cào hiệu quả bán hàng mà còn tạo chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trên thị trường.

    Chiến lược xây dựng thương hiệu phải nằm trong một chiến lược marketing tổng thể, xuất phát từ nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, xác định đối tượng khách hàng là mục tiêu, kết hợp với chiến lược phát triển sản phẩm, quảng bá, chính sách giá cả, phân phối hợp lý, nhằm tạo cho doanh nghiệp và các sản phẩm dịch vụ của họ một hình ảnh riêng trong tâm trí và nhận thức của khách hàng trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh.

    Trước tiên việc xây dựng thương hiệu đối với công ty cần chú trọng vào các yếu tố sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          60                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Cấu trúc nền móng thương hiệu “decal ba ngôi sao”: cấu trúc nền móng thương hiệu bao gồm các yếu tố như: chất lượng, logo, biểu tượng, hình ảnh và tất cả những làm nên thương hiệu decal ba ngôi sao.

    Định vị thương hiệu: đâu sẽ là hình ảnh nổi bật nhất của thương hiệu decal ba ngôi sao nhằm khắc họa và chiếm một vị trí quan trọng trong tâm trí khách hàng. Chẳng hạn khi nhắc tới “decal ba ngôi sao” người ta nghĩ ngay tới công ty M.K và ngược lại.

    Xây dựng và giữ gìn mối quan hệ mật thiết với khách hàng, tạo sự gắn bó giữa thương hiệu và khách hàng. Doanh nghiệp cần phải đi vào chiều sâu, tạo sự đặc biệt so với đối thủ cạnh tranh. Không ngừng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    Không ngừng quảng bá thương hiệu: việc xây dựng thương hiệu phải đi đôi với quảng bá thương hiệu một số công cụ hỗ trợ cho việc quảng bá thương hiệu như: quảng cáo, tham gia hội chợ, triển lãm, quảng bá thông qua trang web…

    Xây dựng thương hiệu sẽ là tiền đề cho sự phát triển thương hiệu. Trong chiến lược phát triển thương hiệu thì công ty nên phát triển thượng theo chiến lược “ thương hiệu theo nhóm”. Bởi vì các sản phẩm của công ty có cùng thuộc tính, chức năng, chỉ khác nhau về mẫu mã và quy cách sản phẩm. Do đó sử dụng chiến lực thương hiệu theo dãy sẽ giúp tránh đươc sự loãng thông tin bằng cách tập trung vào một tên gọi “decal ba ngôi sao”. Việc tạo dựng và phát triển thương hiệu luôn gắn liền với các cam kết về chất lượng, uy tín, an toàn… mà doanh nghiệp gửi tới khách hàng. Việc thực hiện tốt những cam kết của mình tới khách hàng sẽ giúp sản phẩm dễ dàng được khách hàng đón nhận, trung thành với sản phẩm và góp phần nâng cao giá trị thương hiệu trong tâm trí khách hàng.

    3.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm

    Ngày nay chất lượng sản phẩm là một trong những tiêu chí hàng đầu trong việc lựa chọn sản phẩm của khách hàng đặc biệt là khách hàng công nghiệp. Nhìn chung chất lượng sản phẩm của công ty còn nhiều hạn chế và không được đánh giá cao so với các mặt hàng ngoại nhập. Do đó để giữ vững và phát triển thị trường hạn chế sự cạnh tranh từ các đối thủ công ty cần hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm trong đó công ty cần chú trọng vào một số vấn đề sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          61                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Nhiều khách hàng phàn nàn về keo dính của giấy decal như: thiếu keo, keo phủ không đều, có hiện tượng chảy keo khi trời nóng hay độ dính không cao. Do đó trong quá trình sản xuất cần tập trung kiểm tra điều chỉnh máy móc tạo sự ổn định nhằm phân phối keo một cách đầy đủ và phân phối đều khắp mặt giấy. Bên cạnh đó trong quá trình sản xuất công ty cần sử dụng các loại keo có chất lượng cao đảm bảo tiêu chuẩn trong quá trình sản xuất.

    Cải thiện độ bóng của mặt giấy decal, tăng khả năng chịu ướt cũng như giữ được độ bóng trong thời gian dài. Bên cạnh đó một số mặt hàng như giấy chịu cảm nhiệt cũng cần đảm bảo về khả năng chịu và hấp thụ nhiệt.

    Một khâu quan trọng nữa là phải thực hiện kiểm tra chặt chẽ về chất lượng sản phẩm trước khi giao cho khách hàng. Trong hoạt động sản xuất cần thực hiện theo nguyên tắc “làm đúng ngay từ đầu” bắt đầu từ đảm bảo khâu nguyên liệu cho tới khi giao hàng đều thực hiện một cách chính sác nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt nhằm hạn chế những khiếu nại từ khách hàng và tránh lãng phí nguồn lực.

    Bên cạnh đó công ty cần không ngừng hoàn thiện các dòng sản pẩm cũ và phát triển sản phẩm mới đặc biệt là những sản phẩm mà thị trường chưa đáp ứng và đối thủ chưa có.

    3.6. Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán bán hàng

    Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là máy tính và công nghệ thông tin đã tạo ra nhiều phương thức quản lý và bán hàng hiệu quả hơn. Do đó để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng và năng lực bán hàng thì việc tiếp cận khoa học kỹ thuật là rất cần thiết.

    Trước tiên công ty cần xây dựng một trang web chính thức nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm, thương hiệu công ty tới khách hàng tiềm năng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó trang web còn là nơi nhận đặt hàng và bán hàng cho khách hàng mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp chào hàng. Việc xây dựng trang web phải tạo được ấn tượng, mới lạ và làm nổi bật thương hiệu của công ty. Ngoài ra trang web cần phải liên tục cập nhật và đổi mới nội dung, hình thức, có chiến lược quản lý hiệu quả.

    Tiếp theo công ty nên sử dụng các phần mềm quản trị bán hàng chuyên nhiệp nhằm giúp cho hoạt động giám sát, quản lý khách hàng, doanh thu và công nợ được dễ dàng và chính xác. Một số phần mềm quản lý bán hàng khá hiệu quả như: SMIS (Sale

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          62                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Management Support Information System) là phần mềm hỗ trợ việc quản lý các thông tin cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá, dịch vụ với các chức năng quan trọng như: Quản lý các thông tin giao dịch của khách hàng, thông tin của khách hàng, thông tin đơn đặt hàng, thông tin số lượng hàng hóa bán ra, quản lý doanh thu, quản lý chi tiết hàng hóa và công nợ của khách hàng theo các tiêu thức quản trị tùy chọn. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng là rất cần thiết và góp phần làm tăng hiệu quả quản trị bán hàng của công ty.

    Trên đây là một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K. Theo đó để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng trong thời gian tới công ty cần tiếp tục hoàn thiện quy trình quản trị bán hàng đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu, tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực cũng như ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng. Thị trường luôn biến đổi không ngừng với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng của khách hàng. Sự thành công và hiệu quả trong quản trị bán hàng sẽ là một nhân tố quan trọng giúp công ty không những hoàn thành những mục tiêu đề ra mà còn là một cách thức nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng đáp ứng nhu cầu luôn biến đổi của khách hàng.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          63                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    KẾT LUẬN

    Hoạt động quản trị bán hàng tại các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém về trình độ và công nghệ chưa tạo ra động lực cạnh tranh hiệu quả và do đó không thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực tài chính và các phương thức bán hàng tiên tiến cả trên quy mô quốc tế và thị trường trong nước. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp nước ngoài khi mà nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mới các phương thức bán hàng và hoàn thiện hoạt động quản trị bán hàng.

    Qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Thương Mại M.K với việc tập trung nghiên cứu tìm hiểu công tác quản trị bán hàng của công ty. Bài luận văn đã đạt được hai nội dung quan trọng sau:

    Tìm hiểu và phân tích một số nội dung quan trọng trong hoạt động bán hàng của công ty làm cơ sở cho đánh giá và nhận xét về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty.

    Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị bán hàng trong công ty.

    Với những gì đã đạt được trong bài luận văn này mong rằng sẽ đóng góp một phần nhỏ giúp công ty hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong quản trị bán hàng. Để đạt được thành công và phát triển trong tương lai thì công ty cần phải nỗ lực rất nhiều đặc biệt là trong việc bán hàng. Với những gì đã và đang được thực hiện trong công ty sẽ là tiền đề để công ty tiếp tục hoàn thiện hoạt động quản trị bán hàng.

    Để hoàn thiện bài luận văn này em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy hướng dẫn là thầy Trần Phi Hoàng và các anh chị trong công ty TNHH Thương Mại M.K. Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe tới thầy, các anh chị trong công ty. Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng hoàn thiện bài luận văn song vì thời gian, năng lực cũng như lần đầu tiếp cận trực tiếp tại công ty nên bài luận văn còn rất nhiều hạn chế cũng như thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các anh chị trong công ty để bài làm được hoàn thiện hơn.

    Xin chân thành cảm ơn

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-Kinh-t%E1%BA%BF-Trung-Qu%E1%BB%91c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế phát triển: Kinh tế Trung Quốc

    LỜI MỞ ĐẦU

    Việt Nam và Trung Quốc đang trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (ở Việt Nam) và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc (ở Trung Quốc); thực hiện chính sách mở cửa với nhiều đặc điểm phát triển và vấn đề tương tự nhau; đang trong giai đoạn phát triển thị trường, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Với lợi thế là nước tiến hành cải cách sau, Việt Nam có cơ hội để học tập và tận dụng những bài học thành công cũng như không thành công của Trung Quốc, tránh những tác động tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình chuyển đổi.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến bốn vấn đề chủ yếu:

    • Những nét cơ bản về Cộng hoà chủ nhân dân Trung Hoa;
    • Kinh tế Trung Quốc qua các giai đoạn phát triển;
    • Những thành tựu và hạn chế của kinh tế Trung Quốc sau 30 năm cải cách m ở cửa;
    • Những bài học từ cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đối với Việt Nam.

    Với những thông tin, đánh giá được trình bày trong bài viết, nhóm thảo luận chúng tôi hy vọng sẽ giúp cho các bạn sinh viên cũng như những người quan tâm khác hiểu biết đầy đủ hơn về những chính sách quan trọng tạo nên sự thành công của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc trong tương quan so sánh với Việt Nam. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho mỗi cá nhân để tiếp tục tham gia đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta.

    1

    CHƯƠNG I: MỘT VÀI NÉT CƠ BẢN VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRUNG HOA

    1.1. VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

    Trung Quốc nằm ở phía đông Châu Á, bờ tây Thái Bình Dương, có diện tích lãnh thổ rộng lớn với 9,6 triệu km2, là nước có diện tích lớn thứ ba trên thế giới, chỉ sau Nga và Canađa.

    Biên giới đất liền của Trung Quốc dài hơn 20000 km, phía đông giáp Triều Tiên, phía đông bắc giáp Nga, phía bắc giáp Mông Cổ, phía tây bắc giáp Nga, Kazacxtan, phía tây giáp Kyrgyzstan, Tajikistan, Afganistan, Pakistan, phía tây nam giáp Ấn Độ, Nepal, Butan, phía nam giáp Mianmar, Lào và Việt Nam. Đông và đông nam trông ra biển. Trung Quốc có đường bờ biển dài, bằng phẳng, có nhiều hải cảng đẹp, phần lớn quanh năm không đóng băng. Phía bên kia bờ biển là các nước láng giềng: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Brunei, Malaysia và Inđônêxia.

    1.2. VỀ DÂN SỐ:

    Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất trên thế giới, hiện có tổng số dân 1,28453 tỷ người (tính đến 12/2002, không bao gồm Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan). Trong đó số dân ở thành thị là 502,12 triệu, số dân nông thôn là 782,41 triệu.

    Trung Quốc là một nước đa dân tộc thống nhất, có 56 dân tộc. Trong đó người Hán nhiều nhất, chiếm khoảng 92% dân số cả nước, dân tộc Choang có hơn 15 triệu người, tiếp sau là Mãn, Hồi, Duy Ngô Nhĩ, Di, Thổ Gia, Mông Cổ, Tạng, Bố Y, Dao, Triều Tiên, Bạch, Hà Nhì, Ca-dắc, Lê, và Thái, dân số đều lớn hơn một triệu. Những dân tộc ít người nhất chỉ có vài nghìn người như dân tộc Ngạc Luân Xuân và Ngạc Ôn Khắc.

    Sự phân bố của các dân tộc Trung Hoa có đặc điểm là vừa tập trung vừa phân tán, vừa có khuynh hướng sống pha tạp, vừa có khuynh hướng sống tụ họp thành nhóm nhỏ, đan xen phân bố. Người Hán phân bố ở khắp nơi trên đất nước, chủ yếu tập trung ở lưu vực 3 con sông lớn là Hoàng Hà, Trường Giang, Châu Giang và đồng bằng Tùng Liêu, còn lại là phân tán ở các địa phương, sống chung với các dân tộc khác.

    Các dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc, tây bắc và khu vực biên giới phía tây nam, còn lại là phân bố rải rác ở khắp nơi trong cả nước. Người Hán và các dân tộc thiểu số vừa cư trú một cách tập trung vừa cư trú tương đối pha tạp, đã xúc tiến sự giao lưu

    văn hoá và học tập lẫn nhau giữa các dân tộc, hình thành nên một mối quan hệ tương hỗ mật thiết không thể tách rời.

    Hiến pháp Trung Quốc quy định: Tất cả các dân tộc nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đều bình đẳng, tất cả các dân tộc đều là anh em thân mật trong một đại gia đình thống nhất.

    1.3. VỀ CHÍNH TRỊ:

    Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là một nước Xã hội Chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Lấy liên minh công nông làm nền tảng. Chế độ Xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản của Trung Quốc. Chuyên chính nhân dân là thể chế của nhà nước.

    Cơ cấu Nhà nước bao gồm Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc Hội), Chủ tịch nước, Quốc Vụ viện, Uỷ ban Chính trị Hiệp thương toàn quốc (gọi tắt là Chính Hiệp, tương tự Mặt trận tổ quốc của ta), Uỷ ban Quân sự Trung ương, Đại hội Đại biểu Nhân dân và Chính phủ các cấp ở địa phương, Toà án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân.

    Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 1-7-1921, hiện có hơn 60 triệu Đảng viên. Bộ Chính trị có 25 người, trong đó có 9 Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng có 8 người. Ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 đảng phái khác nhau đều thừa nhận sự lãnh đạo của ĐCS trong khuôn khổ mà Trung Quốc gọi là “Hợp tác đa đảng dưới sự lãnh đạo của ĐCS”: Hội Cách mạng dân chủ, Liên minh dân chủ, Hội kiến quốc dân chủ, Hội xúc tiến dân chủ, Đảng dân chủ nông công, Đảng Chí công, Cửu tam học xã và Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan.

    1.4. VỀ LỊCH SỬ:

    Triều đại đầu tiên tồn tại là nhà Thương, định cư dọc theo lưu vực sông Hoàng Hà, vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 12 TCN. Nhà Thương bị nhà Chu chiếm (thế kỷ 12 đến thế kỷ 5 TCN), đến lượt nhà Chu lại bị yếu dần do mất quyền cai quản các lãnh thổ nhỏ hơn cho các lãnh chúa; cuối cùng, vào thời Xuân Thu, nhiều quốc gia độc lập đã trỗi dậy và liên tiếp giao chiến, và chỉ coi nước Chu là trung tâm quyền lực trên danh nghĩa. Cuối cùng Tần Thủy Hoàng đã thâu tóm tất cả các quốc gia và tự xưng là hoàng đế vào năm 221 TCN, lập ra nhà Tần, quốc gia Trung Quốc thống nhất về thể chế chính trị, chữ viết và có m ột ngôn ngữ chính thống đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Trước khi nhà Tần thống nhất vào năm 221 TCN, “Trung Quốc” chưa hề tồn tại như một thực thể gắn kết. Văn minh Trung Quốc hình thành từ

    nhiều văn minh các nước khác nhau, các nước này do các vương (王), công (公), hầu (侯),

    hay bá (伯) trị vì. Mặc dù vẫn có một ông vua nhà Chu nắm giữ quyền lực trung ương trên

    danh nghĩa, và chủ nghĩa bá quyền đôi lúc có ảnh hưởng nhất định, trên thực tế mỗi nước là một thực thể chính trị độc lập. Đây cũng là thời điểm mà triết lý Nho giáo cũng như tư tưởng của các triết gia khác có ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng chính trị – triết lí Trung Quốc.

    Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, khi đó người đứng đầu Trung Quốc được gọi là hoàng đế và một hệ thống hành chính trung ương tập quyền quan liêu được thiết lập. Sau khi nhà Tần sụp đổ, Trung Quốc lại có khoảng 13 triều đại khác nhau tiếp tục hệ thống các vương quốc, công quốc, hầu quốc, và bá quốc. Lãnh thổ Trung Quốc khi đó mở rộng hoặc thu hẹp theo sức mạnh của mỗi triều đại. Hoàng đế nắm quyền lực tối thượng, toàn năng và là người đứng đầu về chính trị và tôn giáo của Trung Quốc. Hoàng đế cũng thường tham khảo ý kiến các quan văn võ, đặc biệt là quan đại thần. Quyền lực chính trị đôi khi rơi vào tay các quan lại cao cấp, hoạn quan, hay họ hàng hoàng đế. Tuy nhiên, triều đại này không tồn tại lâu do nó quá độc đoán và tàn bạo.

    Sau khi nhà Tần sụp đổ vào năm 207 TCN thì đến thời nhà Hán kéo dài đến năm 220 CN. Sau đó lại đến thời kỳ phân tranh khi các lãnh tụ địa phương nổi lên, tự xưng Thiên tử và tuyên bố Thiên mệnh đã thay đổi. Vào năm 580, Trung Quốc tái thống nhất dưới thời nhà Tùy. Vào thời nhà Đường và nhà Tống, Trung Quốc đã đi vào thời hoàng kim của nó. Trong một thời gian dài, đặc biệt giữa thế kỷ thứ 7 và 14, Trung Quốc là một trong những nền văn minh tiên tiến nhất trên thế giới về kỹ thuật, văn chương, và nghệ thuật. Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào quân xâm lược Mông Cổ năm 1279. Vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên. Về sau một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chương đánh đuổi chính quyền người Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh, kéo dài tới năm 1644. Sau đó người Mãn Châu từ phía đông bắc kéo xuống lật đổ nhà Minh, lập ra nhà Thanh, kéo dài đến vị vua cuối cùng là Phổ Nghi thoái vị vào năm 1911.

    Đặc điểm của phong kiến Trung Quốc là các triều đại thường lật đổ nhau trong bể máu và giai cấp giành được quyền lãnh đạo thường phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để duy trì quyền lực của họ và kiềm chế triều đại bị lật đổ. Chẳng hạn như nhà Thanh (người Mãn Châu) sau khi chiếm được Trung Quốc thường áp dụng các chính sách hạn chế việc người Mãn Châu bị hòa lẫn vào biển người Hán vì dân họ ít. Tuy thế, những biện pháp đó đã tỏ ra không hiệu quả và người Mãn Châu cuối cùng vẫn bị văn hóa Trung Quốc đồng hóa.

    Vào thế kỷ thứ 18, Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ đáng kể về công nghệ so với các dân tộc ở Trung Á mà họ gây chiến hàng thế kỷ, tuy nhiên lại tụt hậu hẳn so với châu Âu. Điều này đã hình thành cục diện của thế kỷ 19 trong đó Trung Quốc đứng ở thế phòng thủ

    4

    trước chủ nghĩa đế quốc châu Âu trong khi đó lại thể hiện sự bành trướng đế quốc trước Trung Á. Trước khi xảy ra nội chiến này cũng có một số cuộc khởi nghĩa của những người theo đạo Hồi, đặc biệt là ở vùng Trung Á. Sau đó, một cuộc khởi nghĩa lớn cũng nổ ra mặc dù tương đối nhỏ so với nội chiến Thái Bình Thiên Quốc đẫm máu. Cuộc khởi nghĩa này được gọi là khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn với mục đích đuổi người phương Tây ra khỏi Trung Quốc. Tuy đồng tình thậm chí có ủng hộ quân khởi nghĩa, Thái hậu Từ Hi lại giúp các lực lượng nước ngoài dập tắt cuộc khởi nghĩa này.

    Năm 1911, sau hơn hai nghìn năm dưới quyền lãnh đạo của các hoàng đế, Trung Quốc lật đổ hệ thống chính trị triều đại và chuyển sang một nền cộng hoà. Nhà Thanh đã suy yếu, Trung Quốc vừa trải qua một thế kỷ bất ổn định, cả với những cuộc nổi dậy bên trong cùng với chủ nghĩa đế quốc từ bên ngoài. Các nguyên tắc Tân Khổng giáo, cho tới thời điểm đó, đã duy trì hệ thống triều đại bị nghi ngờ và sự biến mất của lòng tin cá nhân bị cho là nguyên nhân khiến tới 40 triệu người Trung Quốc sử dụng thuốc phiện năm 1900 (khoảng 10% dân số. Tới khi bị các lực lượng viễn chinh của các cường quốc trên thế giới thời ấy đánh bại

    trong cuộc đàn áp Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, nhà Thanh đã gần như chính thức chấm dứt, vì không có chế độ khác thay thế nên sự tồn tại của nó vẫn được tính kéo dài tới tận năm 1912 Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiến Trung Quốc cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thành lập Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Ba

    thập kỷ sau đó là giai đoạn không thống nhất — thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranh
    Trung-Nhật, Nội chiến Trung Quốc. Nội chiến Trung Quốc chấm dứt vào năm 1949 và
    Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm được đại lục Trung Quốc. ĐCSTrung Quốc lập ra một nhà

    nước cộng sản—nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) — tự xem là nhà nước kế tục của Trung Hoa Dân Quốc. Trong khi đó, chính quyền THDQ do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thì rút ra đảo Đài Loan, nơi mà họ tiếp tục được khối phương Tây và Liên Hiệp Quốc công nhận là chính quyền hợp pháp của toàn Trung Quốc mãi tới những năm 1970, sau đó hầu hết các nước và Liên Hiệp Quốc chuyển sang công nhận CHNDTH.

    1.5. VỀ VĂN HOÁ – XÃ HỘI:

    Người Trung Quốc vẫn luôn tự hào bởi họ có lịch sử và nền văn hoá lâu đời. Trung

    quốc là một trong những nền văn minh lớn của nhân loại, là đại diện cho một phần ý thức hệ của người phương Đông. Chúng ta có thể kể đến một số những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử…với những triết lý đạo đức và giáo lý căn bản đã ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức hệ của người Trung Quốc.

    Trong suốt chiều dài    lịch sử, qua mỗi chiều đại thì nền văn hoá Trung quốc lại phát

    triển thêm những nấc thang mới. Từ đời nhà Tần với bộ chữ viết đầu tiên, với công trình kiến

    5

    trúc nổi tiếng là Vạn Lý Trường Thành cho đến thời Đường, Minh với sự phát triển toàn diện trên cả lĩnh vực tư tưởng và văn hoá nghệ thuật. Và tiếp tục phát triển qua triều đại nhà Thanh cho đến ngày nay. Theo dòng xoáy của lịch sử dân tộc, các giá trị truyền thống, các loại hình văn hóa nghệ thuật…vẫn luôn được bảo tồn phát huy. Trong buổi khai mạc Olympic 2008, chúng ta đã thấy được toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nền văn hoá Trung Quốc và thấy rõ người tự hào về nó như thế nào.

    Trung Quốc là một nước đa dân tộc thống nhất, có 56 dân tộc. Trong đó người Hán nhiều nhất, chiếm khoảng 92% dân số cả nước. Sự phân bố của các dân tộc Trung Hoa có đặc điểm là vừa tập trung vừa phân tán, vừa có khuynh hướng sống pha tạp, vừa có khuynh hướng sống tụ họp thành nhóm nhỏ, đan xen phân bố. Các dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc, tây bắc và khu vực biên giới phía tây nam, còn lại là phân bố rải rác ở khắp nơi trong cả nước. Người Hán và các dân tộc thiểu số vừa cư trú một cách tập trung vừa cư trú tương đối pha tạp, đã xúc tiến sự giao lưu văn hoá và học tập lẫn nhau giữa các dân tộc, hình thành nên một mối quan hệ tương hỗ mật thiết không thể tách rời.

    Trung Quốc là một nước đa tôn giáo, số người có tín ngưỡng lên tới hơn 100 triệu người. Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo và Cơ đốc giáo đều được truyền bá tại Trung Quốc. Ngoài ra còn một tôn giáo đặc thù Trung Quốc là Đạo giáo, và một số tôn giáo khác như Samman giáo, Đông chính giáo, Đông ba giáo…

    Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Cơ đốc giáo, Đạo giáo đều thiết lập những đoàn thể mang tính toàn quốc hoặc địa phương. Các đoàn thể tôn giáo mang tính toàn quốc gồm Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc, Hiệp hội Hồi giáo Trung Quốc, Giáo đoàn Thiên chúa giáo Trung Quốc, Ủy ban vận động Ái quốc Tam tự Cơ đốc giáo Trung Quốc, Hiệp hội Cơ đốc giáo Trung Quốc… Các đoàn thể này tiến hành tuyển cử theo điều lệ riêng của mình để bầu ra cơ cấu lãnh đạo và người lãnh đạo, giải quyết các vấn đề liên quan đén tôn giáo của mình một cách tự chủ, độc lập, mở các trường đào tạo về tôn giáo, in ấn phát hành sách kinh, xuất bản báo chí tôn giáo, thực hiện các hạng mục công ích xã hội.

    6

    CHƯƠNG II: KINH TẾ TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

    2.1. GIAI ĐOẠN 1 (Từ khi thành lập nước năm 1949 đến trước cải cách – mở cửa năm

    1978)

    2.1.1. Về thể chế kinh tế:

    Kinh tế Trung Quốc thời kỳ này hoàn toàn theo chế độ công hữu đơn nhất tức là hoàn toàn thuộc sở hữu công cộng. Chỉ hình thành một khu vực kinh tế là khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế cá thể và tư nhân không được khuyến khích phát triển, khu vực này vốn chỉ được coi là nguồn bổ sung cho kinh tế công hữu công hữu. Chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần bị coi là sản phẩm của CNTB. Chính vì vậy, các mặt hàng sản xuất theo kế hoạch và do Nhà Nước định giá, kế hoạch m ang tính pháp lệnh, với sự hạn chế trong kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như quyền tự mua bán sản phẩm. Thể chế kinh doanh ngoại thương theo kiểu tập trung cao độ, Nhà nước luôn đứng ra bù lỗ.

    2.1.2. Các chính sách phát triển:

    2.1.2.1. Thời kỳ khôi phục kinh tế (1949 – 1952)

    Sau ngày giải phóng, nền kinh tế Trung Quốc đang đứng trước nhiều khó khăn, sản xuẩt công thương nghiệp trong tình trạng giảm sút nghiêm trọng. Do vậy, công cuộc khôi phục kinh tế đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực kinh tế.

    Năm 1950, nông thôn Trung Quốc đã tiến hành cải cách ruộng đất và đến năm 1952 cải cách ruộng đất đã cơ bản hoàn thành. Kết quả 46 triệu ha ruộng đất được chia cho 36 triệu nông dân. Do vậy, quan hệ kinh tế – xã hội trong nông thôn đã có sự thay đổi, quan hệ sản xuất phong kiến đã bị thủ tiêu, sản xuất nhỏ trở thành cơ sở cho sự phát triển của nông nghiệp.

    Trung Quốc bước đầu xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp, năm 1951 có 300 hợp tác xã đến năm 1952 đã tăng lên 4000 hợp tác xã.

    Về công thương, bắt đầu tiến hành quốc hữu hoá các cơ sở công thương nghiệp của tư bản nước ngoài và tư sản mại bản. Trên cơ sở ấy, các cơ sở kinh tế quốc doanh đã hình thành và nhà nước nắm giữ mạch máu của nền kinh tế. Cuối năm 1952 kinh tế quốc doanh chiếm 50% giá trị sản lượng, 95% trong tổng số chu chuyển hàng hoá và vật tư.

    Sau 3 năm tiến hành khôi phục kinh tế Trung Quốc đã thu được những thắng lợi cơ bản. Năm 1952, tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp đạt 177.5% so với năm 1949. Tình

    hình tài chính, giá cả và tiền tệ cũng đi vào ổn định, đời sồng nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, sản phẩm tính bình quân đầu người còn thấp do vậy để từng bước xoá bỏ tình trạng thấp kém và lạc hậu của nền kinh tế Trung Quốc tiến hành triền khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957).

    2.1.2.2. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953- 1957)

    Năm 1952, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra đường lối chung cho thời kì qua độ: “Trong một thời kì dài, dần dần thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản theo hướng xã hội chủ nghĩa”

    Bước vào kế hoạch 5 năm, Trung Quốc tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn, từ thành thị tới nông thôn với tất cả các đối tượng như nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và công thương nghiệp tư bản tư doanh. Công cuộc cải tạo diễn ra với tốc độ nhanh và cơ bản hoàn thành vào nửa đầu năm 1956.

      Năm 1952 1957
    Thành phần kinh tế  
         
           
    Kinh tế quốc doanh   19% 33%
           
    Kinh tế hợp tác xã   1,5% 56%
           
    Kinh tế công tư hợp doanh   0,7% 8%
           
    Kinh tế cá thể   73% 3%
           
    Kinh tế tư bản tư doanh   7% 0,1%
           

    Bảng 1: sự đóng góp của các thành phần kinh tế của Trung Quốc (1952-1957) (nguồn:

    www.chinaeconomy_info.com.cn)

    Về phát triển kinh tế, Trung Quốc chủ trương thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với phương trâm xây dựng và phát triển công nghiệp nặng làm trung tâm gồm ngành điện lực, gang thép, hoá chất… Tốc độ của sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18%.

    Về sản xuất nông nghiệp, phong trào cải tiến kĩ thuật và xây dựng các công trình thuỷ lợi đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Nhịp độ tăng hàng năm của nông nghiệp đạt 4.5%. Do vậy, sản lượng lương thực năm 1957 đạt 185 triệu tấn.

    8

    Việc thực hiện đạt được những thành tựu: Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập phổ biến và được xác định đóng vai trò chủ đạo trong phát triển của nền kinh tế. Sản xuất công nông nghiệp đều có những tiến bộ đáng kể.

    Ngoài ra còn có những mặt hạn chế: Cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lao động thủ công là phổ biến, năng suất lao động thấp, trình độ quản lý vẫn bộc lộ nhiều yếu kém.

    2.1.2.3. Kinh tế từ năm 1958 đến năm 1978

    2.1.2.3.1. Thời kỳ “đại nhảy vọt” (1958 – 1965)

    Vào tháng 9/1956, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc đã họp và khẳng định lại đường lối xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đại hội còn đề ra những chỉ tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1958-1962) như tổng sản lượng sẽ tăng 75% so với năm 1957 trong đó công nghiệp tăng gấp 2 lần, nông nghiệp tăng 35%. Nhưng sau đó tình hình không diễn ra như vậy. Tư tưởng Mao Trạch Đông chi phối toàn bộ đường lối phát triển của Trung Quốc nên những mục tiêu của kế hoạch 5 năm đã được chỉnh sửa lại như nâng sản lượng công nghiệp lên 6.5 lần, sản lượng nông nghiệp lên 2.5 lần.

    Trung Quốc phát động phong trào 3 ngọn cờ hồng: “Đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân”

    Trong công nghiệp, Trung Quốc tập chung cao độ để phát triển công nghiệp nặng như luyện kim, chế tạo máy, hoá chất, điện lực… Bên cạnh đó còn phát động phong trào toàn dân làm công nghiệp, toàn dân làm gang thép. Sản xuất được nâng lên 80-100 triệu tấn. Do tập trung phát triển công nghiệp nặng, Trung Quốc đã rơi vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa công nghiệp – nông nghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ.

    Về nông nghiệp, Trung Quốc đã xây dựng các công xã nhân dân, mỗi công xã có khoảng 5000 hộ nông dân. Cuối năm 1958, tất cả các nông dân đã được đưa vào các công xã. Trung Quốc tiến hành mở rộng tập trung tư liệu sản xuất của nông dân, kinh tế phụ gia đình bị xoá bỏ và thực hiện chính sách phân phối bình quân theo phương châm “cả nước ăn chung một nồi cơm to, cả nước cùng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, càng nghèo càng cách mạng”.

    Với tư tưởng phát triển kinh tế nhanh đã đưa Trung Quốc đến những hậu quả kinh tế nghiêm trọng: thu nhập quốc dân hàng năm giảm 3% trong đó sản lượng các mặt hàng công nghiệp đều giảm sút, sản lượng lương thực năm 1960 tụt xuống còn 160 triệu tấn và hàng năm Trung Quốc phải nhập khối lượng lương thực bằng 1/3 tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu. Chính vì vậy, gây ra đảo lộn trong đời sống kinh tế – xã hội.

    9

    Hội nghị Trung ương 9 (1/1961) của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đề ra những biện pháp điều chỉnh nhằm phục hồi nền kinh tế. Trong công nghiệp chủ trương giảm bớt các hạng mục xây dựng cơ bản, chuyển hướng chú trọng sản xuất nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Nông thôn, các công xã nhân dân được củng cố lại, các chợ địa phương và kinh tế phụ gia đình đã được phục hồi. Những chính sách và biện pháp đã kịp thời giải quyết những khó khăn bất cập của nền kinh tế. Sản lượng nông nghiệp năm 1965 đạt 200 triệu tấn.

    2.1.2.3.2. Giai đoạn “Đại cách m ạng văn hoá vô sản” (1966-1976)

    Trong giai đoạn này,những chính sách kinh tế tả khuynh vẫn tiếp tục được áp dụng và gây ra những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển của nền kinh tế.Trung Quốc lại tiếp tục đầu tư cho công nghiệp đặc biệt là công nghiệp quân sự.

    Trong nông nghiệp, các công xã nhân dân lại quay trở về với chính sách tăng cường xã hội hoá tư liệu sản xuất, sức lao động. Kinh tế phụ gia đình của nông dân lại bị xoá bỏ. Hoạt động tài chính nhà nước được tăng cường thông qua đẩy nhanh tích luỹ từ nông nghiệp nên đời sống của nông dân càng gặp nhiều khó khăn. Chính sách lao động mang tính cưỡng bức và phân phối bình quân ở các công xã khiến nông dân không còn hứng thú với sản xuất.

    Với chính sách kinh tế tả hữu trên đã khiến cho sức sản xuất bị giảm sút nghiêm trọng đồng thời còn gây nên những sáo trộn về kinh tế – xã hội và nền kinh tế lại rơi vào tình trạng khủng hoảng. Ba năm của thời kì “Đại cách mạng văn hoá” sản lượng của các loại sản phẩm công nghiệp đều giảm sút hoặc không tăng.

    Bảng 2: một số sản lượng công nghiệp chủ yếu.

          Đv: triệu tấn
             
    Chủng loại sp Năm 1966 Năm 1967 Năm 1968  
    Phân bón 9.6 8.1 9.5  
             
    Thép 13.0 10.0 14.0  
             
    Xi măng 17.0 14.0 17.0  
             
    Lương thực 212.0 218.0 212.0  
             

    Nguồn: www.chinaeconomy_info.com .cn

     

    10

    Tiềm lực công nghiệp của Trung Quốc trong một số ngành so với một số nước trên thế giới rất thấp kém. Sản lượng điện bình quân đầu người Trung Quốc kém Mỹ 67 lần, kém Liên Xô 28 lần; về thép kém Nhật Bản 32 lần, Mỹ 19 lần…

    Sản xuất nông nghiệp ngày càng trì trệ, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng yếu kém. Công nghiệp cũng giảm sút nhanh chóng, năm 1971 kim ngạch ngoại thương chỉ bằng năm 1959 là 4.4 tỷ USD.

    Những thảm hoạ kinh tế nói trên là hậu quả của những chính sách và biên pháp kinh tế coi thường các quy luật kinh tế khách quan. Một số chính sách đề ra chưa đúng hoàn cảnh, tình hình như chế độ phân phối bình quân trong điều kiện sản xuất xã hội còn thấp kém nên không kích thích lợi ích đối với người lao động. Chính xu hướng trên đã đẻ ra cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp gây trì trệ cho nền kinh tế. Kết quả cuối cùng là chính trị, xã hội rối loạn, lòng dân ly tán.

    2.1.2.3.3. Kinh tế giai đoạn “Bốn hiện đại hoá”(1976 – 1978)

    Năm 1976, Trung Quốc chủ trương thực hiện “Bốn hiện đại hoá”: công nghiệp, nông nghiệp, khoa học – kỹ thuật và quốc phòng. Mục tiêu của “Bốn hiện đại hoá” thể hiện những tham vọng rất lớn.Trong giai đoạn đầu, phải tiến tới đạt được sản lượng thép 60 triệu tấn, sản lượng lương thực 400 triệu tấn.

    Thực hiện chủ trương trên, Trung Quốc cố gắng tăng nhanh tích luỹ, đẩy mạnh nhập khẩu thiết bị và vay vốn nước ngoài. Tỷ lệ tích luỹ trong thu nhập quốc dân tăng lên tới 36.5%. Trung Quốc tăng cường đầu tư cho xây dựng cơ bản, năm 1978 là 45 tỷ nhân dân tệ bằng 1.5 lần năm 1977. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào công nghiệp hiện đại.

    Những diễn biến kinh tế từ 1976-1978 phản ánh sự nôn nóng, là quá trình tiếp nối chủ trương “Đại nhảy vọt”. Do vậy, dẫn tới những ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế, giai đoạn 1976 – 1978 Trung Quốc phải nhập một lượng lương thực và thực phẩm chiếm 20% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu.

    Trong công nghiệp, việc tập trung đầu tư cho công nghiệp nặng đã gây ra mất cân đối nghiêm trọng với công nghiệp nhẹ. Năm 1978, vốn đầu tư cho công nghiệp nặng chiếm 55.7% trong khi đó công nghiệp nhẹ chỉ có 5.7%.

    Như vậy, chủ trương “Bốn hiện đại hoá” mà Trung Quốc đưa ra không phải là bài toán dễ dàng thực hiện. Trung Quốc đã nhận thức được chính sách nôn nóng không thể đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn.

    11

    2.2. GIAI ĐOẠN 2 (Thời kỳ cải cách – mở cửa từ năm 1978 đến nay)

    Có thể nói thành tựu của công cuộc cải cách mở cửa 30 năm qua của trung quốc đó là những thành tựu to lớn phi thường làm nức lòng nhân dân trong nước và được cả thế giới ngưỡng mộ. Thực lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp và địa vị kinh tế của trung quốc được nâng cao rõ rệt. Sau đây là một vài sự thay đổi:

    2.2.1. Sự thay đổi hệ thống kinh tế

    Trước cải cách Trung Quốc quan niệm phát triển kinh tế XHCN chỉ dựa trên 1 chế độ sở hữu: chế độ công hữu hoàn toàn. Cuộc cải cách 30 năm qua đã được thực hiện trên 1 quan niệm mới với sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Ngoài công hữu cần phải phát triển cả kinh tế cá thể, liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Sau cải cách năm 1978, Trung quốc hoàn thiện hệ thống kinh tế cơ bản của nền kinh tế với chế độ công hữu là chủ thể trong khi chấp nhận việc cùng tồn tại các hình thức sở hữu khác; về vai trò của các chế độ sở hữu liên quan đến các thành phần kinh tế được khẳng định:cải cách mở cửa của Trung Quốc đặt trên cơ sở phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó chế độ công hữu làm chủ thể và coi chế độ phi công hữu là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Thực tế 30 năm mở cửa, lực lượng kinh tế phi công hữu đã đóng góp rất tích cực vào thành tựu chung đối với phát triển kinh tế Trung Quốc:

    • Thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; đẩy mạnh sự phối hợp phát triển giữa các khu vực khác nhau; thiết lập một hệ thống thị trường hiện đại có trật tự, mở cửa và thống nhất; hoàn thiện hệ thống tạo việc làm, phân phối thu nhập và an sinh xã hội;
    • Và thiết lập một cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội bền vững. Và cho kinh tế thị trường vừa phục vụ CNTB vừa phục vụ CNXH, đồng thời chế độ công hữu là chính nhưng các hình thức khác cùng tồn tại và phát triển, và cuối cùng là chế độ phân phối theo lao động là chính nhưng các hình thức phân phối khác cùng song song tồn tại.
    • Tại Viện kinh tế thuộc Viện hàn lâm khoa học phân định hiện nay Trung Quốc có 8 loại hình kinh tế:
    1. Kinh tế quốc hữu (co doanh nghiệp cạnh tranh va phi cạnh tranh)
    1. Kinh tế tập thể(theo quan niệm mới về công hữu)
    1. Kinh tế cá thể(cá nhân gia đình hay thuê<8 lao động)
    1. Kinh tế cổ phần(bao gồm công ty TNHH và công ty cổ phần)
    1. Kinh tế góp vốn hợp tư (liên doanh)
    1. Đầu tư nước ngoài
    1. Kinh tế Ma Cao và Hồng Kông
    1. Kinh tế tư nhân (cá nhân thành lập doanh nghiệp và thuê > 8 lao động)

    Trong đó khẳng định kinh tế quôc hữu giữ vai trò chủ đạo, nhưng chủ đạo không phải là lắm số lượng lớn mà là giữ huyết mạch.

    + Tại trường đại học Trung Sơn (Quảng Đông)

    Cho rằng: việc phân ra 8 loại hình chỉ là tương đối vì trong thực tế chúng luôn đan xen với nhau. Theo thống kê toàn Trung Quốc có 315.000 xí nghiệp quốc hữu với tổng số vốn chiếm trên 60% vốn xí nghiệp tòa xã hội thu hút 67% lực lượng lao động xã hội, số xí nghiệp này là các công ty tập đoàn còn lại tới 80% là xí nghiệp quốc hữu nhỏ (trước cải cách tới 99% là của công hữu).

    Việc khẳng định chế độ công hữu làm chủ thể của nền kinh tế cùng với việc đề cao tính phổ biến của chế độ công hữu thì đồng thời Trung Quốc vẫn kiên trì thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế quốc hữu. Giờ đây quan niệm về chủ đạo đã thay đổi: không phải năm tuyệt đối về lượng mà là khả năng chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân thông qua việc nắm các huyết mạch chủ yếu

    Thủ tướng Trung Quốc nói rằng đây là phương hướng cải cách hệ thống kinh tế của Trung Quốc và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy chính sách cải cách, mở cửa cũng như công cuộc hiện đại hóa của nước này. Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh: “Chỉ có đẩy mạnh cải cách mới có thể cải thiện được hệ thống kinh tế thị trường XHCN và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã hội khá giả”.

    2.2.2. Những thay đổi lớn về thể chế kinh tế

    Sau cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc từ chế độ công hữu đơn nhất chuyển sang chế độ lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều loại sở hữu xùng phát triển.

    Trước cải cách gần như hoàn toàn thuộc sở hữu công cộng chiếm tới 99,1% tổng sản phẩm trong nước vào năm 1978. Cùng với tiến trình cải cách nhận thức về công hữu ngày càng có sự thay đổi sâu sắc, đã tiến tới khẳng định rằng nguồn vốn trong chế độ công hữu không chỉ thể hiện ở số lượng mà còn ở chất lượng.Với chủ trương nhiều loại hình kinh tế cùng phát triển, không chỉ có các doanh nghiệp cá thể mà còn có các doanh nghiệp “3 loại vốn”, các doanh nghiệp theo chế độ sở hữu hỗn hợp như chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần.

    Kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân được khuyến khích cùng phát triển nên đến cuối năm 1979 số hộ đăng ký kinh doanh là 29,47 triệu với 67,97 triệu lao động. Sự lớn mạnh của các

    13

    loại hình này ngày càng có tác dụng tích cực rõ trong việc đáp ứng đòi hỏi về đời sống cho nhân dân, làm cho đời sống kinh tế xã hội của cả nước thêm sôi động, từ chỗ được coi là bổ xung cho kinh tế công hữu, nay các loại hình kinh tế này đã được Quốc hội Trung Quốc dự kiến đua vào Hiến pháp sửa đổi, quy định đó “là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN” được Nhà Nước bảo hộ quyền lợi và lợi ích hợp pháp. Điều đó cho phép các loại hình kinh tế phi công hữu này sẽ phát huy được tiềm năng to lớn của mình trong phát triển kinh tế.

    Các doanh nghiệp 3 loại vốn đã phát triển rất nhanh. Đến cuối năm 1979 đã lên tới 236 ngàn xí nghiệp đã đưa vào đất nước nguồn vốn còn thiếu va những quan niệm mới và kinh nghiệm quản lý mới.

    Chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần trước đây bị coi là sản phẩm của CNTB nay đã được cho phép hình thành và cho vào nề nếp. Đến cuối năm 1997 trong cả nước có 680 ngàn doanh nghiệp thí điểm thực hiện chế độ này với số vốn đăng kí là 1730.2 tỷ NDT.

    Đến cuối năm 1979 tỷ trọng của các loại hình phi công hữu trong tổng sản phẩm trong nước đạt từ 0.9% tới 24.2% còn mức giảm tương ứng của kinh tế công hữu từ 99.1% tới 75.8%.

    Bước đàu hình thành bộ khung thể chế thị trường kinh tế XHCN, chức năng của thị trường tăng lên mạnh mẽ: Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp từ thấp đến cao nhằm chuyển dần vai trò điều tiết trực tiếp của kế hoạch sang điều tiết gián tiếp thông qua thị trường:

    Trước hết thu hẹp các mặt hàng sản xuất theo kế hoạch và do Nhà Nước định giá, giảm kế hoạch pháp lệnh, xóa bỏ sự hạn chế trong kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quyền tự mua bán sản phẩm.

    Đã cải cách chế độ buôn bán lẻ trong thương nghiệp cho phép kinh tế phi quốc hữu được tham gia buôn bán, lập ra các chợ bán buôn và các trung tâm mậu dịch, hình thành dần thị trường hàng hóa,nối liền thành thị với nông thôn. Cho đến nay ở trung quốc có khoảng 95% hàng tiêu dùng và 80% hàng đầu tư là do quan hệ cung cầu trên thị trường định giá.

    Hai là xây dựng và phát triển thị trường vốn bằng việc hoàn thiện thị trường tín dụng, khôi phục và hình thành thị trường cổ phiếu, quốc trái bị ngừng hoạt động đã nhiều năm.

    Ba là, thị trường lao động được hình thành qua việc cho phép người lao động nông thôn được di chuyển vào thành phố.

    14

    Ngoài ra các thị trường khoa học kỹ thuật, thông tin , văn hóa cũng không ngừng phát triển. Việc cải cách thể chế phân phối đã bước đầu đi theo hướng lấy phân phối theo lao động làm chủ thể, nhiều hình thức phân phối cùng tồn tại.

    Điều này thể hiện trước hết trong việc gắn thu nhập với kết quả sản xuất của người lao động: ở nông thôn chế độ trách nhiệm khoán đến hộ gia đình đã xóa bỏ cách làm ăn cũ” làm việc chỉ gào to, phân phồi thì dàn đều”, nay người nông dân làm nhiều thì hưởng nhiều làm ít thì hưởng ít. Ở thành phố các xí nghiệp đã có quyền tự chủ trong việc sử dụng công nhân và quêng phân phối lợi ích, việc tuyển dụng và trả lương cho họ là căn cứ vào kết quả kinh doanh chứ không phải do cáp trên quy định như trong thể chế cũ.

    • Tích cực đẩy mạnh xí nghiệp nhà nước: xí nghiệp nha nước chiếm 17% tổng số doanh nghiệp công nghiệp hạch toán độc lập nhưng chiếm 59.9 tổng giá trị tài sản, 46.25% thu nhập kinh doanh, 49.6%giá trị gia tăng của công nghiệp, 49,6% thuế lợi tức và đóng góp 60% ngân sách Nhà nước.
    • Cố gắng thực hiện cải cách thể chế đầu tư: đa dạng hoá các hình thức đầu tư
    • Cải cách thể chế ngoại thương theo hướng đa nguyên hóa thành phần kinh doanh, mở rộng quyền tự chủ: cùng với công cuộc cải cách thể chế kinh tế và sự phát triển của thị trường, thể chế kinh doanh ngoại thương kiểu tạp trung cao độ đã dần dần được xóa bỏ, các đơn vị ngoại thương được tự do hơn trong kinh doanh và đóng vai trò chủ thể của thị trường, tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi. Năm 1996 Trung Quốc đã thí điểm hợp doanh với nước ngoài kinh doanh ngoại thương tại khu phố mới tại khu phố mới Phố Đông thượng hải vag đặc khu kinh tế Thâm Quyến.

    2.2.3. Các chính sách phát triển thời kỳ này

    2.2.3.1. Giai đoạn đầu cải cách (1979 – 1984)

    Năm 1978, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng cộng sản Trung Quốc (12/1978) quyết định cải cách và mở cửa kinh tế. Đây là cuộc cải cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy lý luận đến hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sở hữu tài sản tới cơ chế quản lý kinh tế, từ điều hành nền sản xuất tới phân phối thu nhập…

    Năm 1979: Trung Quốc quyết định xây dựng các đặc khu kinh tế, gồm ba đặc khu kinh tế là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu tại tỉnh Quảng Đông và đặc khu kinh tế Hạ Môn tại tỉnh Phúc Kiến. Việc quyết định xây dựng đặc khu nhằm mở rộng hợp tác kỹ thuật và giao lưu kinh tế với nước ngoài, tận dụng FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài), đưa khoa học kỹ thuật tiên tiến vào Trung Quốc. Từ năm 1978-2007, FDI tích lũy vượt 760 tỉ USD, đứng đầu thu hút FDI tại các nước đang phát triển và đứng thứ hai thế giới.

    15

    Năm 1982, Trung Quốc thực hiện khoán sản lượng hoặc khoán toàn bộ đến hộ nông dân. Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã mang lại bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn. Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 – 1985, gấp 3,5 lần giai đoạn 1953 – 1980.

    • 3.2. Cải cách về hành chính – kinh tế ở các thành phố, xí nghiệp quốc doanh là nhiệm vụ trọng tâm và cải cách ở m ột số lĩnh vực khác (1985 – 1992)

    Năm 1986, Trung Quốc khởi động cải cách doanh nghiệp nhà nước. Năm 1993, Trung Quốc hiện đại hóa khu vực kinh tế nhà nước gồm tổ chức các tập đoàn lớn, đổi mới kỹ thuật, áp dụng phương pháp quản lý khoa học. Các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ có quyền lựa chọn hình thức tổ chức và hoạt động như cổ phần hóa, cho thuê, chuyển thành sở hữu tập thể hoặc bán cho tư nhân. Đến cuối năm 2007, 1.550 doanh nghiệp lên sàn chứng khoán.

    Năm 1992, Trung Quốc xác lập mục tiêu “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Mở đầu thị trường hóa trong lĩnh vực y tế và nhà ở thị trường hóa từ năm 1992 – 1994. Kết quả điển hình của thị trường hóa là doanh thu trong lĩnh vực kinh doanh ăn uống tăng gấp 225 lần; bình quân năm tăng 20,53%.

    • 3.3. Giai đoạn xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế (1992 đến nay)

    Thực tế cho thấy năm 1998 Trung Quốc mở rộng nội nhu thông qua tăng cường đầu tư. Tuy nhiên không thể lạm dụng tăng mức đầu tư cao quá 25%, bởi song song với nó là quá trình điều chỉnh cơ cầu. Theo các chuyên gia, nguồn tài chính mà Chính phủ Trung Quốc khống chế chiếm 22% GDP. Chính sách tài chính tích cực mà chính phủ Trung Quốc luôn chú ý điều chỉnh chính sách tín dụng, phát triển thị trường vốn, đặc biệt tăng vốn đầu tư trực tiếp và thực hiện doanh nghiệp hóa ngân hàng thương mại, trao trả ngân hàng thương mại chức năng vốn có của nó, không ép ngân hàng thương mại đầu tư vốn vào các công trình thuộc cơ sở hạ tầng thu hồi vốn chậm, vì bản thân ngân hàng thương mại không có đủ nội lực. Đầu tư cho các hạng mục đó phải huy động nguồn vốn trong dân và vốn đầu tư nước ngoài, chính vì vậy nó đã thúc đẩy nhanh tốc độ cải cách hệ thống tài chính của Trung Quốc. Trung Quốc đã nhận rõ một nước lớn như Trung Quốc thì việc ngân hàng có yêu cầu nhất định trong cơ chế cho vay là hoàn toàn phù hợp. Đầu tư cơ sở hạ tầng cần phân chia thành hai loại là dịch vụ công cộng và dịch vụ kinh doanh. Hiện ở Trung Quốc xuất hiện tình trạng đầu tư xây dựng đường cao tốc vốn lớn mà thu hồi chậm, nguyên nhân là do lượng xe lưu hành trên đường cao tốc thấp hơn so với dự đoán ban đầu, có thể là do thói quen, song chủ yếu vẫn là do không muốn nộp phí đường cao tốc mà xe cộ lưu hành vẫn thích đi đường cũ.

    16

    Nhu cầu tiêu dùng là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, là mục đích, kết quả phát triển lực lượng sản xuất. Vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc hiện nay là là thay đổi xu thế hạn chế và coi nhẹ tiêu dùng. Then chốt là tìm ra nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nhu cầu tiêu dùng cuả người dân.

    Đinh Ninh Ninh – chuyên gia Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc Vụ Viện Trung Quốc cho rằng “Tăng đầu tư về cơ bản không thể giải quyết tận gốc vấn đề nhu cầu tiêu dùng. Những dự tính xã hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tiêu dùng…” các biện pháp cải cách nhà ở gần đây được tiến hành ồ ạt làm cho hầu hết cán bộ viên chức, những người làm công ăn lương phải dùng hết số tiền tích lũy của họ, thậm chí đi vay để giải quyết vấn đề chỗ ở. Chính sách y tế, chữa bệnh chưa được ban hành làm cho người dân chưa yên tâm, đó là những yếu tố kìm hãm sức tiêu dùng. Nếu chính phủ đưa ra một số khuôn mẫu cải cách hệ thống bảo hiểm thì người dân sẽ yên tâm hơn và diều này sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng.

    Thị trường ở Trung Quốc hiện nay thuộc về người mua, song nhìn chung mức tiêu dùng còn tương đối thấp. Đó là sự thể hiện mâu thuẫn về kết cấu tiêu dùng (kết cấu cung cầu). Để giải quyết vấn đề này cần khuyến khích tạo ra nhu cầu mới, mở rộng thị trường, tạo ra không gian lựa chọn lớn cho người tiêu dung.

    Năm 2001, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên WTO. Đến năm 2002, các ngân hàng nước ngoài đã mở 175 công ty với tổng số vốn 31,7 tỉ USD; chín công ty bảo hiểm nước ngoài thuộc tám nước đã mở 12 công ty tại Trung Quốc. Các tổ chức tài chính thu hút vốn FDI tập trung tại các thành phố và đặc khu như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến, Hạ Môn, Chu Hải, Thiên Tân…

    Năm 2004, Trung Quốc cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh; đưa điều khoản bảo hộ tài sản tư hữu vào Hiến pháp. Căn cứ theo số liệu của tạp chí Forbes, Trung Quốc có 10 tỉ phú USD năm 2005 trong số 691 tỉ phú USD của thế giới.

    Năm 2005, Trung Quốc bãi bỏ thuế nông nghiệp; đưa ra nhiệm vụ lịch sử xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. Nông dân chiếm hơn 70% dân số Trung Quốc thoát nghèo, một số người và khu vực dần giàu lên. Từ năm 1978 – 2007, người nghèo ở nông thôn từ 250 triệu người giảm còn 14,79 triệu người.

    Năm 2007: Luật về quyền tài sản tư ra đời. Theo Nhân dân nhật báo, tiền dự trữ trong dân tăng gấp 700 lần trong 30 năm. Theo con số thống kê của tạp chí Forbes tháng 3.2008, số lượng tỉ phú USD của Trung Quốc là 42 người; cộng thêm 26 tỉ phú của đặc khu Hongkong, Trung Quốc vượt qua Nhật Bản trở thành nước có nhiều tỉ phú nhất châu Á. Ngoài ra, Trung Quốc còn là một trong những nước có nhiều triệu phú nhất thế giới.

    17

    Trong 30 năm, GDP (tổng giá trị sản phẩm nội địa) bình quân tăng 9,7%, lần lượt vượt qua Ý, Pháp và Anh vào các năm 2004, 2005, 2006 và đang dần tiếp cận với Đức.

    2.2.4. Một số vấn đề về văn hoá – xã hội

    Theo kết quả nghiên cứu về phân tích và dự đoán tình hình xã hội Trung Quốc 2004-

    2005 vừa được Viện Khoa học xã hội Trung Quốc công bố đầu năm này thì Trung Quốc đang bước vào thời kỳ phát triển kinh tế khả quan nhất, đồng thời cũng tồn tại bảy vấn đề xã hội nghiêm trọng cần phải cảnh giác.

    Mâu thuẫn xã hội gia tăng

    Năm 2004, số vụ khiếu nại của nông dân Trung Quốc lên cấp trên gia tăng, trong đó một bộ phận nông dân kiện vì bị mất đất canh tác nhưng chưa được bồi thường công bằng và ổn định cuộc sống thỏa đáng.

    Theo số liệu dự tính, hiện Trung Quốc có khoảng 40 triệu nông dân bị mất đất. Thế nhưng pháp luật về trưng dụng đất chưa theo kịp tiến trình phát triển, mức bồi thường chưa thỏa đáng nên số vụ khiếu kiện lên cấp trên gia tăng trong năm 2004.

    Phân hóa giàu – nghèo có xu hướng mở rộng

    Theo một kết quả điều tra xã hội trên 50.000 hộ dân ở các TP, thị trấn Trung Quốc,

    • nhóm người có mức thu nhập cao nhất thì mức thu nhập bình quân đầu người sáu tháng đầu năm 2004 là 13.322 NDT (khoảng 26 triệu đồng), bằng 2,8 lần mức thu nhập bình quân cả nước; trong khi đó nhóm người thu nhập thấp nhất chỉ đạt mức bình quân 1.397 NDT, bằng 29% mức thu nhập Tỉ lệ giữa mức thu nhập cao nhất và thấp nhất năm 2003 là 9,1:1, năm 2004 tăng lên 9,5:1. Phân hóa thu nhập vùng, nhất là vùng duyên hải giàu có và vùng miền Tây nghèo khó cũng có xu hướng tương tự. Chủ trương để một số khu vực, cá nhân có điều kiện giàu lên trước rồi kéo theo các đối tượng khác giàu sau tuy có

    khuyến khích một số vùng, dân cư giàu lên nhanh chóng, góp phần tăng trưởng kinh tế nhưng lại mở rộng thêm phân hóa giàu nghèo.

    Phân hóa giàu nghèo mở rộng và giá thực phẩm tăng cao trong vài năm gần đây đã dẫn đến sự mất thăng bằng về tâm lý trong một số dân cư. Theo một điều tra, hai năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc nhanh hơn nhưng mức độ hài lòng và lòng tin của tầng lớp thu nhập thấp lại giảm.

    Giảm nghèo vẫn là nhiệm vụ nặng nề trong thế kỷ mới đối với Trung Quốc

    Qua 25 năm cải cách mở cửa, số người nghèo khổ ở Trung Quốc từ 250 triệu người giảm xuống còn 29 triệu người, đó là bước thành công lớn. Nhưng hiện nay đối với nông

    18

    thôn Trung Quốc, tiêu chuẩn nghèo khổ mới ở mức thu nhập bình quân đầu người cả năm dưới 625 NDT, thấp hơn mức 900 NDT theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc.

    Nạn thất nghiệp

    Hằng năm ở các TP và thị trấn Trung Quốc, số lao động mới trưởng thành cộng với số thất nghiệp lên đến con số 24 triệu người, bằng dân số của một nước trung bình, nhưng mỗi năm Trung Quốc chỉ tạo ra được 9 triệu việc làm mới.

    Chống tham nhũng

    Những năm qua nguồn nhân lực và vật lực của các cơ quan kiểm tra kỷ luật, giám sát, kiểm sát, kiểm toán nhà nước… của Trung Quốc đổ vào việc chống tham nhũng rất lớn. Tuy hàng loạt quan tham đã bị đưa ra ánh sáng và bị xử lý nghiêm minh nhưng những vụ tham nhũng lớn và nghiêm trọng vẫn xuất hiện.

    Chi phí chống tham nhũng cao đòi hỏi phải hoàn thiện chế độ; từng bước cải cách thể chế chính trị; công khai và công bằng trong bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; xây dựng chế độ khai báo tài sản và thẩm tra tài sản khi thôi việc đối với công chức.

    Hạn chế về nguồn tài nguyên, năng lượng và m ôi trường

    Nguồn tài nguyên tính theo đầu người của Trung Quốc tương đối thấp. Về dầu mỏ Trung Quốc phải tìm nguồn khắp nơi trên thế giới, không những với Nga, Trung Cận đông… mà còn sang cả Brazil xa xôi để ký hợp đồng đổi công trình lấy dầu mỏ. Lượng tiêu hao các loại vật tư cơ bản của Trung Quốc cũng rất lớn.

    Năm 2003, lượng tiêu thụ gang thép, ximăng của Trung Quốc chiếm 1/3 toàn cầu. Ngoài ra, còn vấn đề môi trường, chất ô nhiễm thải ra vượt xa năng lực làm sạch môi trường, tình trạng môi trường sinh thái bị phá hoại ở một số khu vực đang rất nghiêm trọng..

    Đời sống – văn hoá

    Từ sau khi cải cách kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn, làm cho thu nhập của mọi người dân tăng lên, và đời sống vật chất ngày càng được nâng cao. Nhưng do chính sách phát triển trước năm 2000 là phát triển vùng trọng điểm, làm chênh lệch thu nhập giữa các vùng, và khoảng cách giầu nghèo ngày càng gia tăng.

    Quá trình đô thị hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm mờ nhạt các bản sắc vốn có

    • một bộ phận người dân thành thị. Các giá trị truyền thống cũng dần bị mai một, một bộ phận giới trẻ theo trào lưu phương Tây đã dần đánh mất đi những giá trị đạo đức truyền thống.

    19

    Tóm lai, chạy theo tăng trưởng, xem nhẹ phát triển bền vững về mặt xã hội, văn hoá và môi trường, Trung Quốc không phải là mô hình tốt cho Việt Nam học tập. Nhưng ngay cả sau khi phải trả những cái giá nhất định về những khía cạnh đó để đạt cho kỳ được mục tiêu tăng trưởng trong ba thập kỷ liên tục thì quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc vẫn còn phải chấp nhận những cái giá lớn hơn nữa.

    20

    CHƯƠNG III. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

    3.1. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHẢI ĐỐI MẶT

    Trong nửa thế kỷ tồn tại của nước CHND Trung Hoa, chỉ từ khi đất nước thực hiện quốc sách chiến lược cải cách – mở cửa từ Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc (họp tháng 12-1978) vạch ra, Trung Quốc mới thực sự bước vào con đường xây đựng và phát triển ổn định, tiến tới hiện đại hoá, thực hiện dân giàu nước mạnh, đạt được nhiều thành tựu huy hoàng và để lại những bài học sâu sắc cho các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi.

    Cuộc cải cách mở của của Trung Quốc có một ý nghĩa to lớn, được đánh giá cao trong nước và trên quốc tế, vì nó đã đem lại cho Trung Quốc những biến đổi lịch sử quan trọng.

    Có thể nói thành tựu của công cuộc cải cách – mở cửa gần 30 năm qua của Trung Quốc đã được thể hiện rực rỡ nhất trong thời kỳ Kế hoạch 5 năm (2001-2005) lần thứ 10 của nước này, đó là những thành tựu to lớn phi thường, làm nức lòng nhân dân trong nước và được cả thế giới ngưỡng mộ.

    Trung Quốc đã khống chế có hiệu quả những nhân tố không ổn định, không lành mạnh trong quá trình phát triển, ứng phó thành công với những biến đổi sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Thực lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp và địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao rõ rệt.

    Từ những thành tựu nổi bật

    Về kinh tế: Trung Quốc đã liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Giá trị tổng sản lượng quốc nội (GDP) tăng trưởng bình quân 8,8% mỗi năm.

    Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm

    Đơn vị tính: Tỷ nhân dân tệ

      Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
                 
    1. GDP theo giá thị trường thực tế 12033,3 13582,3 15987,8 18386,8 20940,7
                 
    2. GDP theo giá so sánh 2000 11722,7 12895,0 14197,4 156373,9 17351,0
       
                 

    (Nguồn số liệu: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADP 2007. Niên giám thống kê 2007 – TCTK)

    GDP bình quân đầu người tăng liên tục qua các năm và Trung Quốc đã thoát khỏi nước có thu nhập thấp.

    Bảng 4: GDP bình quân đầu người theo giá thực tế:

    Đv tính: đô la Mỹ – USD

    Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006
               
    GDP bình quân đầu người 1.135,5 1.273,6 1.490,3 1.720,1 2.016,1
               

    (Nguồn số liệu: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADP 2007. Niên giám thống kê 2007 – TCTK)

    Lợi nhuận xí nghiệp công nghiệp từ mức 439,3 tỷ Nguyên (đơn vị tiền Nhân dân tệ), tăng lên tới mức 1.134,2 tỷ Nguyên.

    Lĩnh vực công nghệ với tiến trình công nghiệp hoá, tin học hoá được đẩy nhanh. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp giai đoạn này đạt bình quân 10,7%. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế từ 43,6% năm 2001 tăng lên 45,9% năm 2004. Sản lượng các sản phẩm quan trọng đều gấp hơn hai lần như: thép thô tăng 144 triệu tấn, thép thành phẩm tăng 165,77 triệu tấn, xe hơi tăng 3 triệu chiếc, xi măng tăng 373 triệu tấn, tăng 62%; điện lực tăng 831,4 tỷ kWh, tăng 61,3%.

    Bảng 5: Giá trị sản xuất một số ngành công nghiệp

    Đvtính: Tỷ nhân dân tệ

    Năm 2002 2003 2004 2005 2006  
    Ngành
               
                 
    Công nghiệp (khai khoáng, chế 4.786,8 5.399,5 6.020,5 6.718,8 7.558,7  
    biến, điện, khí đốt và nước)
               
                 

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Sự phát triển thành thị – nông thôn được cân đối hơn. Nhà nước đã thi hành chủ trương miễn thuế nông nghiệp, trực tiếp bù trợ cho nông dân trồng lương thực, sản xuất nông nghiệp có sự chuyển biến quan trọng, sản lượng lương thực năm 2004 đạt gần 469,5 triệu tấn.

    22

    Bảng 6: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

    Đvtính: Tỷ nhân dân tệ

      Năm 2002 2003 2004 2005 2006
    Ngành  
               
                 
    Nông nghiệp   1.556,7 1.595,6 1.696,1 1.784,3 1.873,6
                 

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Thể chế quản lý mở rộng: Kinh tế được cải cách, đặc biệt là cải cách xí nghiệp quốc hữu. Trong tổng số 2.903 xí nghiệp quốc hữu hoặc nhà nước chiếm cổ phần khống chế, đến cuối năm 2004 có 1.464 xí nghiệp được chuyển đổi thành xí nghiệp loại hình công ty cổ phần. Thể chế giám sát quản lý vốn quốc hữu bước đầu được hình thành. Các ngành trọng điểm thông tin điện tử, hàng không dân dụng, điện lực được đẩy nhanh cải cách thể chế. Việc cải cách thuế thu ở nông thôn đạt được tiến bộ lớn, thị trường thu mua lương thực được mở cửa toàn bộ, trở thành thị trường kinh doanh nhiều luồng mạch.

    Lĩnh vực mở cửa với bên ngoài đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xuất nhập khẩu hàng hoá liên tục đạt mức tăng trưởng cao; đưa Trung Quốc từ vị trí thứ 8 vượt lên đứng vị trí thứ ba thế giới về thương mại. Cơ cấu hàng xuất khẩu được cải thiện, sản phẩm cơ điện và sản phẩm công nghệ cao chiếm 54,5% và sản phẩm mới chiếm 27,9% trong cơ cấu hàng xuất khẩu.

    Bảng 7: Giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu

    Đvtính: Triệu đô la Mỹ

      Năm 2002 2003 2004 2005 2006
    Ngành  
               
                 
    Xuất khẩu   325.600 438.230 593.320 761.950 969.073
                 
    Nhập khẩu   295.170 412.760 561.230 659.950 791.610
                 
    Cán cân thương mại   30.430 25.470 32.090 102.000 177.463
                 

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Năm 2005 mức thu nhập, chi dùng của dân cư thành thị đạt trên 10.000 Nguyên, tăng 59% so với năm 2000; thu nhập của nông dân vào

    23

    khoảng 4.000 Nguyên, tăng 45% so với năm 2000. Số người nghèo khó ở nông thôn từ 32,09 triệu năm 2000 giảm xuống còn 26,1 triệu năm 2004.

    Các sự nghiệp phúc lợi xã hội phát triển nhanh. Nhà nước tăng mạnh ngân sách và sự trợ giúp cho khoa học công nghệ, giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục thể thao. Các công trình khoa học công nghệ cơ sở quan trọng được xây dựng nhiều. Các kế hoạch nghiên cứu công nghệ cao, then chốt, các kế hoạch nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ cơ bản trọng điểm nhà nước tiến triển thuận lợi. Thành tựu lớn tiêu biểu cho sự tiến bộ về khoa học công nghệ của Trung Quốc là việc phóng thành công con tầu vũ trụ Thần Châu-6 trong đó lần đầu tiên hai phi công vũ trụ Trung Quốc đã bay nhiều ngày trong vũ trụ. Sự nghiệp giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề đều phát triển nhanh. Quy mô giáo dục bậc cao liên tục mở rộng.

    Việc xây dựng pháp chế dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng văn minh tinh thần được chú trọng và tăng cường. Sinh hoạt dân chủ ở cơ sở được mở rộng, các thể chế thôn xóm tự quản, phường tự quản, công khai việc xóm, công khai việc xí nghiệp, công khai việc hành chính từng bước được xúc tiến.

    Những tồn tại và khó khăn cần tiếp tục giải quyết:

    Sau 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu huy hoàng, nhưng cũng còn gặp rất nhiều khó khăn mâu thuẫn. Lúc giao thời giữa hai thế kỷ, trong tình hình cạnh tranh gay gắt và diễn biến phức tạp trong nền kinh tế thế giới, Trung Quốc càng gặp nhiều thách thức cần xử lý. Những khó khăn, mâu thuẫn, tiêu cực đó, có thể chia ra thành bốn loại vấn đề như sau:

    • Những vấn đề mới nảy sinh sau khi giải quyết các vấn đề cũ. Sau khi phá bỏ chủ nghĩa bình quân “ăn cơm nồi to”, đã động viên được tính tích cực chủ động của người lao động. Cơ chế thị trường đi vào nền kinh tế, cả xã hội trở nên năng động và đầy sức sống. Đó là kết quả quan trọng mà cuộc cải cách đã đem lại. Song đồng thời lại nảy sinh ra một loạt vấn đề mới. Trước hết là khoảng cách về thu nhập giữa các cá nhân, ngành nghề, và khu vực bị mở rộng. Nếu như khoảng cách về thu nhập hình thành do sự khác biệt về thái độ lao động, về số lượng và chất lượng lao động, thì có khoảng cách ấy là hợp lý, cần thiết và không thể tránh khỏi. Về

    mặt chính sách, chủ trương cho phép một số người, một số vùng giàu lên trước là có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội do tác dụng kích thích động viên của nó.

    Tuy nhiên, trong quá trình cải cách đã xuất hiện tình trạng quá chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân, ngành nghề, khu vực, không tương ứng với sự khác nhau về lao động; đặc biệt thu nhập do làm ăn phi pháp đẻ ra m ột lớp người phất lên quá nhanh; nạn tham ô hối lộ lan tràn, vừa phá hoại sự phát triển bình thường của nền kinh tế, vừa ảnh hưởng đến tính tích

    24

    cực của người lao động và sự ổn định xã hội. Đó là vấn đề nghiêm trọng đẻ ra trong cải cách Hai là, quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã tạo ra nạn dư thừa lao động, thất nghiệp, trong điều kiện việc cải cách thể chế bảo hiểm xã hội trì trệ. Trước đây ở Trung Quốc nạn dư thừa lao động và thất nghiệp được che dấu bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ bao cấp. Thực hiện cải cách, chuyển đổi kinh tế, những vấn đề này bộc lộ và ngày càng nặng nề. Trung Quốc là nước nghèo, tiến trình cải cách diễn ra không lâu, do đó chế độ bảo hiểm xã hội chưa kiện toàn, chưa có được tác dụng giảm sức ép của nạn thất nghiệp, giảm sự khốc liệt của nạn dư thừa nhân công. Đây là thách thức rất lớn đối với Trung Quốc. Vấn đề bảo hiểm ở Trung Quốc, vẫn là khâu yếu, một mặt do kinh phí không cho phép, mặt khác do hậu quả của thể chế cũ, diện hưởng bảo hiểm quá lớn; mặt khác nữa, diện hưởng bảo hiểm mấy năm gần đây mở rộng, kết quả của cuộc cải cách xí nghiệp Nhà nước. Ba là, các vấn đề đạo đức, văn minh tinh thần, giáo đục, phạm tội, chuyển dịch lao động … nảy sinh ra trong tiến trình cải cách, có nguy cơ làm băng hoại cơ sở xã hội, rối loạn đời sống, cũng là những tiêu cực mà Trung Quốc đang phải xử lý.

    • Những vấn đề của bản thân cuộc cải cách đòi hỏi giải quyết sâu sắc và triệt để hơn. Điển hình nhất là sự trì trệ của cái cách xí nghiệp Nhà nước. Các xí nghiệp này hiện nay vấp phải ít nhất “5 cái khó” trong chuyển đổi cơ chế kinh doanh: xí nghiệp khó phá sản, công nhân khó cho thôi việc, chính quyền và xí nghiệp khó tách rời, sức sống khó bốc dậy, sức cạnh tranh thị trường khó tăng cường. Hoặc vấn đề chu kỳ kinh tế, lặp đi lặp lại hiện tượng “nới lỏng thì loạn, thắt vào thì chết”. Trung Quốc đã trải qua nhiều cơn “sốt” về kinh tế, sau đó lại xuất hiện sự tiêu điều. Ví dụ nửa đầu năm 1993 khi tổng sản phẩm trong nước tăng trên 15%, đã xuất hiện tình trạng “4 cao 2 loạn”, đó là đầu tư cao, lượng tiền trong lưu thông cao, giá cả cao, nhập khẩu cao, và thị trường tiền tệ hỗn loạn, trật tự thị trường tư liệu sản xuất hỗn loạn.

    Nhờ biện pháp thắt thật tiền tệ, nâng cao lãi suất, các cơn sốt đã giảm dần, nạn lạm phát nhẹ đi, giá cả hạ thấp. Song sau khi nền kinh tế Trung Quốc “tiếp đất an toàn” từ đầu năm 1996, với mức tăng giá cả 6,1%, thì từ cuối năm 1997 đến nay đã có hiện tượng đình trệ. Năm 1997 giá hàng tiêu dùng chỉ tăng 2,8%, năm 1998 lại giảm 0,8% so với năm 1997. Hàng hoá ứ thừa tràn ngập trong các kho khiến Nhà nước phải ngừng sản xuất một số mặt hàng, điều đó một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á đối với hàng xuất khẩu Trung Quốc, một phần do sản xuất trùng lặp, việc sử dụng công cụ tài chính để điều tiết kém tác dụng.

    • Những khó khăn vốn có của Trung Quốc càng nổi bật cùng với quá trình hiện đại hoá kinh tế. Đó là những vấn đề nợ tài nguyên, con người, lương thực, điều kiện tự nhiên… Về tài nguyên, tính theo đầu người, Trung Quốc là nước nghèo. Do đó việc tiết kiệm tài nguyên như đất, năng lượng cùng các loại tài nguyên khác là vấn đề rất lớn. Việc hạn chế sinh đẻ theo kế

    25

    hoạch của Trung Quốc đã thu được kết quả rõ rệt, song những vấn đề về gia đình và xã hội cũng nảy sinh cùng với việc chỉ cho phép có một con, đồng thời Trung Quốc còn đang đứng trước cửa ải cần vượt qua là vấn đề xã hội bị lão hoá .Trung Quốc là một nước dân đông, đất ít, sản xuất lương thực luôn luôn là vấn đề nóng bỏng vì có liên quan đến sự tồn tại của số dân bằng 1/4 loài người. Vậy mà nông nghiệp Trung Quốc lại chưa phát triển, chưa thoát khỏi cảnh “nhờ trời mới có miếng ăn” do đầu tư vào cơ sở hạ tầng còn ít ỏi, khả năng phòng chống thiên tai còn hạn chế. Theo các nhà khoa học, chất lượng điều kiện tự nhiên của Trung Quốc tương đối thấp, kém ổn định, bởi vì đây là một quốc gia nhiều thiên tai vào loại nhất thế giới. Mỗi năm Trung Quốc bị thiệt hại tới 100 tỷ NDT do thiên tai. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự phá hoại của con người đối với môi trường tự nhiên cũng tăng lên. Người ta đã khẳng định, nguyên nhân của nạn lụt lớn năm 1998 không phải chỉ do thiên tai mà còn do nhân hoạ gây ra.

    • Thách thức đi đôi với cơ hội trong giao lưu quốc tế. Xu hướng toàn cầu hoá đang ngày càng rõ rệt, giao lưu và hợp tác kinh tế giữa các nước ngày càng chặt chẽ. Nền kinh tế Trung Quốc đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới. Thế giới cần Trung Quốc, mà Trung Quốc cũng không thể tách rời thế giới. Nhưng sự nhất thể hoá kinh tế vừa trợ giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển, mà cũng mang lại những khó khăn cho nước này. Cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh mẽ đang làm thay đổi những ngành nghề truyền thống và phương thức sản xuất truyền thống. Trung Quốc có thể nhờ đó mà phát huy thế mạnh của nước đi sau, tận dụng thành quả khoa học tiên tiến của thế giới, song cũng có thể tụt hậu so với trình độ quốc tế nếu như không vượt qua được sức ép cạnh tranh. Mặt khác nền tài chính tiền tệ thế giới đang ngày càng linh hoạt, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước, song cũng có thể mang lại rủi ro cho các nước. Điều này có thể thấy rõ qua những ảnh hưởng bất lợi đó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ mang lại cho

    nền kinh tế Trung Quốc hai năm vừa qua, như đầu tư nước ngoài giảm, xuất khẩu sụt, giá từ đồng tiền thực tế bị lung lay ít nhiều . . .

    3.2. GIẢI PHÁP

    • Kích cầu nuôi cầu trong nước: Việc đẩy nhanh và giữ vững mức tăng trưởng kinh tế là cơ sở cho việc mở rộng các cơ hội việc làm, cải thiện đời sống người dân và duy trì ổn định xã hội, và cũng là điều kiện quan trọng để đẩy mạnh việc điều chỉnh kết cấu và đi sâu cải cách.
    • Tăng nhanh phát triển kinh tế nông thôn, nỗ lực nâng cao thu nhập cho người nông dân, phát triển sức sản xuất nông nghiệp, nâng cao sức mua của người nông dân, là khâu quan trọng trong việc nuôi cầu và kích cầu trong nước, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân và duy trì ổn định xã hội.

    26

    • Tích cực đẩy mạnh điều chỉnh kết cấu kinh tế và cải cách thể chế kinh tế, giải quyết những nhân tố hạn chế sự phát triển kinh tế như mâu thuẫn về kết cấu trong nền kinh tế và chướng ngại về thể chế. Đây là những biện pháp căn bản để duy trì phát triển kinh tế, nâng cao tố chất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
    • Thích ứng với những tình hình mới sau gia nhập WTO, nâng cao toàn diện m ức mở cửa ra bên ngoài: Trung Quốc gia nhập WTO đánh dấu một giai đoạn mới về mở cửa ra bên

    ngoài. Trung Quốc sẽ tham gia hợp tác và cạnh tranh quốc tế ở phạm vi rộng hơn và sâu hơn.

    • Tiếp tục tập trung chỉnh đốn và quy phạm hóa trật tự kinh tế thị trường: đây là yêu cầu bức thiết của việc kích cầu trong nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định, là một chọn lựa tất yếu khi gia nhập WTO, và cũng là biện pháp quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN.
    • Thực thi chiến lược chấn hưng quốc gia bằng khoa học kỹ thuật và chiến lược phát triển bền vững, tăng cường xây dựng văn minh tinh thần, đẩy m ạnh tiến bộ và sáng tạo trong khoa học kỹ thuật. Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống sáng tạo quốc gia. Tăng cường nghiên cứu cơ sở và ngiên cứu những công nghệ mới, hiện đại có ý nghĩa chiến lược, tăng cường năng lực tự chủ sáng tạo, đẩy nhanh việc ứng dụng những thành quả kỹ thuật mới vào thực tiễn.
    • Chuyển biến hơn nữa chức năng của chính phủ, tăng cường xây dựng tác phong làm việc: Nhằm thích ứng tình hình mới sau cải cách mở cửa, cần xây dựng một bộ máy liêm khiết, làm việc có hiệu quả. Tập trung làm tốt ba mặt : Đẩy nhanh chuyển biến về chức năng của chính phủ, tăng cường thiết thực việc xây dựng tác phong làm việc, kiên quyết phản đối xa xỉ lãng phí.

    3.3. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CUỘC CẢI CÁCH – MỞ CỬA CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

    Như bên trên đã nói, Trung Quốc không phải là nước duy nhất thực hiện cải cách kinh tế, xoá bỏ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cũ, song nước này đã gặt hái được nhiều thành công khiến cho các nước khác phải ngưỡng mộ. . Ngay từ những ngày đầu, cải cách của Trung quốc đã cải thiện về kinh tế và cuộc sống cho nhân dân, và cho đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao”. Vì sao lại như vậy, và có thể rút ra được những bài học gì từ “cuộc cách mạng thứ hai” này của người Trung Quốc

    1. Cải cách toàn diện, song phải coi cải cách thể chế kinh tế là trọng điểm

    Ngay từ đầu, Trung Quốc đã chủ trương cải cách toàn điện. Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, người được coi là kiến trúc sư của công cuộc cải cách của Trung Quốc nói:

    27

    “Cải cách là toàn diện, bao gồm cải cách thể chế kinh tế, cải cách thể chế chính trị và cải cách các lĩnh vực tương ứng khác”. Trung Quốc tuy chủ trương cải cách toàn diện, song khi thực hiện phải có trọng điểm để tập trung sức lực. Trọng điểm chính là cải cách thể chế kinh tế. Sở dĩ Trung Quốc cải cách thành công vì trong khi cải cách tất cả các lĩnh vực, họ đã kiên trì coi cải cách kinh tế làm trọng điểm. Một số quốc gia khác cải cách thất bại, bởi vì cải cách kinh tế chưa có kết quả gì rõ rệt, đã vội vã chuyển trọng điểm sang lĩnh vực khác, làm cho chính trị không ổn định, mà cải cách kinh tế cũng bị buông lỏng, kết quả là cả kinh tế lẫn chính trị đều bị rối loạn.

    2. Kiên trì về lựa chọn thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thay thế cho thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống.

    Thực hiện cải cách – mở cửa, những người lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn thể chế kinh tế thị trường, nền kinh tế được thúc đẩy và phồn vinh, được nhân dân tiếp nhận. Quá trình lựa chọn và tiếp nhận thể chế kinh tế thị trường ở Trung Quốc có thể chia làm 4 giai đoạn:

    • Từ năm 1979 đến năm 1984 là thời kỳ thể hiện sự quay lại tôn trọng quy – luật giá trị, mở rộng tác dụng của cơ chế thị trường. Các biện pháp cải cách áp dụng đầu tiên ở nông thôn đã khiến nông nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển, tạo ra sức thuyết phục để đông đảo người dân tiếp nhận cuộc cải cách theo hướng thị trường
    • Năm 1984, Hội nghị Trung ương 3 khoá XII xác nhận kinh tế XHCN là kinh tế hàng hoá có kế hoạch. Nhận thức của mọi người đã được nâng lên, hiểu rõ hơn về vấn đề phát triển

    kinh tế hàng hoá là giai đoạn không thể bỏ qua.

    • Năm 1987, Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XITI đưa ra mô hình “Nhà nước điều tiết thị trường, thị trường dẫn dắt xí nghiệp” đã làm nổi bật tác dụng của thị trường và có thể coi đó là giai đoạn quá độ từ thuyết kinh tế hàng hoá XHCN sang thuyết kinh tế thị trường XHCN.

    3. Kiên trì sách lược cải cách kiểu tiến dần từng bước.

    Ngay tứ khi mới bắt đầu cải cách, Trung Quốc đã xác định không dùng phương án cải cách kiểu “bùng nổ”, mà đã kiên trì phương án “dò đá qua sông”, áp dụng phương châm trước dễ sau khó, tiến dần từng bước, giảm bớt rủi ro. Thực tiễn chứng minh cách làm này là phù hợp với Trung Quốc, mang lại kết quả rõ rệt, tránh được những va chạm xã hội lớn và sự phân hoá hai cực quá nhanh như đã xẩy ra ở Liên Xô cũ và các nước Đông âu do thực hiện “liệu pháp sốc” Cải cách kiểu tiến dần phải trả giá nhất định như thời gian cải cách tương đối dài,

    28

    tác đụng tiêu cực của thể chế cũ kéo dai dẳng, song cuộc cải cách được thúc đẩy trong điều kiện xã hội tương đối ổn định, tuyệt đại đa số nhân dân được hưởng lợi ích của cải cách.

    Cải cách theo phương thức tiến dần của Trung Quốc thể hiện ở mấy phương diện quan trọng sau:

    • Sau khi cải cách ở nông thôn thu được những kết quả thực tế mới mở rộng ra thành phố, đến năm 1984 cuộc cải cách mới lấy thành phố làm trung tâm.
    • Ra sức thúc đẩy sự phát triển kinh tế không thuộc sở hữu Nhà nước, biến nó thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế 20 năm qua; sau đó thực hiện có trọng điểm

    cuộc cải tổ chiến lược khu vực kinh tế Nhà nước và cải cách các xí nghiệp Nhà nước.

    • Trong việc xây dựng hệ thống thị trường, thì trước hết phát triển thị trường hàng hoá tiêu dùng rồi đến hàng hoá tư liệu sản xuất, sau đó mới chú ý phát triển thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, sức lao động, kỹ thuật, thông tin v.v..
    • Cải cách giá cả, được coi là mấu chốt, quan hệ đến sự thành bại của toàn bộ cải cách thể chế kinh tế, vì vậy đã được tiến hành rất thận trọng, kết hợp giữa điều chỉnh và thả lỏng, điều chỉnh trước, thả lỏng sau, sau đó mới gắn với giá cả của thị trường quốc tế. Trong nền kinh tế kế hoạch, mọi sản phẩm đều không được thể hiện chính xác giá cả của nó; cuộc cải cách giá trước hết thực hiện thị trường hoá giá cả các hàng hoá hiện vật và các dịch vụ, rồi dần dần thực hiện thị trường hoá giá các yếu tố sản xuất
    • Về kế hoạch hoá các khâu sản xuất, lưu thông, giá cả…, thì trước hết cho phép một phần tồn tại ngoài kế hoạch, rồi dần dần mở rộng ra; phần theo kế hoạch thì thu hẹp lại dần. Khi điều kiện đã chín muồi thì thực hiện sự điều tiết của thị trường. Việc từng bước hợp nhất chế độ hai giá của tư liệu sản xuất là ví dụ nổi bật về sự quá độ yên ổn từ thể chế cũ sang thể chế mới một cách tiệm tiến
    • Trong mở cửa đối ngoại, mở đầu là xây dựng các đặc khu kinh tế, các thành phố ven biển, sau đó dần dần mở cửa sâu vào nội địa, và đến nay mới hình thành cục diện mở cửa ra mọi hướng, mọi cấp độ.

    4. Xử lý đúng đắn quan hệ biện chứng giữa cải cách, phát triển và ổn định.

    Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cải cách của Trung Quốc tương đối thành công là trong tiến trình cải cách đã coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định. Kinh nghiệm 30 năm phát triển kinh tế của Trung Quốc cho thấy, muốn xử lý đúng đắn ba mặt trên, người Trung Quốc đã chú trọng mấy điểm sau: Trước hết, phải duy trì được tốc đã phát triển kinh tế thích hợp. Nhiều học giả cho rằng kinh tế Trung Quốc

    29

    hiện đang ở giai đoạn cất cánh, cần tăng trưởng với tốc độ cao, nhưng không thể quá cao. Bởi vì hiện nay nền kinh tế của Trung Quốc vẫn theo phương thức tăng trưởng theo chiều rộng là chính, vẫn phải dựa vào đầu tư; nếu đòi hỏi tăng trưởng cao, sẽ xuất hiện cơn sốt đầu tư, lạm phát tăng, vật giá leo thang, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế. Điều đó đã diễn ra vào các năm 1992, 1993. Để hạ sốt, giảm lạm phát, ắt sẽ phải xiết chặt tiền tệ, hạ nhanh tốc độ tăng trưởng, làm cho nền kinh tế bị dao động lớn, gây mất ổn định. Cũng không thể duy trì tốc độ phát triển quá thấp, vì sẽ không có lợi cho vấn đề việc làm, vấn đề thua lỗ của các xí nghiệp Nhà nước, vấn đề thu nhập tài chính. Các học giả Trung Quốc cho rằng tốc độ phát triển kinh tế hàng năm 8 – 9% là thích hợp với đất nước này

    Thứ hai, phải giữ cho mức độ tăng hàng năm của vật giá bán lẻ ở mức được 10%. Tình hình Trung Quốc một số năm cho thấy, một khi giá cả tăng trên 10% là nhân dân đã kêu ca, bất bình, là có tới 20% cư dân ở thành phố bị hạ thấp thu nhập, do đó ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nếu giá cả xuống thấp quá cũng không phải là điềm lành, nó chứng tỏ nền kinh tế đã bị ép giảm quá mức độ, hàng hoá đã thừa, sản xuất sút kém, không có lợi cho sự hoạt động bình thường của nền kinh tế và sự linh hoạt của thị trường

    Thứ ba, việc thực hiện các biện pháp cải cách cần tính toán đầy đủ đến sự ổn định về tiêu dùng của người dân. Có rất nhiều lĩnh vực cần cải cách có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân như vấn đề nhà ở, chữa bệnh, bảo hiểm, dưỡng lão, giáo dục, lao động tiền lương… Thực hiện những cải cách này, đặc biệt là thực hiện dồn dập rất để vượt quá sức chịu đựng của người dân, làm cho họ không dám tiêu dùng hoặc tiêu dùng ít, dẫn đến chỗ thị trường tiêu điều, ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.

    Thứ tư, giữ vững chủ trương cùng giầu có, đề phòng và giảm bớt mức chênh lệch quá lớn giữa các cá nhân, các đơn vị, các địa phương. Từ khi cải cách, giữa các tầng lớp dân cư và các địa phương, giữa thành thị và nông thôn đều có hiện tượng chênh lệch thu nhập tăng lên, vấn đề phân phối không công bằng ngày càng bộc lộ và nổi cộm. Chính sách của Chính phủ Trung Quốc luôn luôn theo hướng thu nhỏ khoảng cách chênh lệch. Biện pháp đánh thuế thu nhập, kết nghĩa giữa tỉnh giàu với tỉnh nghèo, trích ngân sách để xoá đói giảm nghèo…. đã có

    tác dụng tất trong việc giữ gìn ổn định và xã hội.

    5. Kết hợp chặt chẽ giữa cải cách trong nước với mở cửa ra thế giới.

    Trung Quốc coi cải cách và mở cửa là hai mặt của một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa hai mặt này là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công của cải cách

    Một thời kỳ dài trước đây, Trung Quốc đã thực hiện bế quan toả quốc, hậu quả là không thành công trong việc hiện đại hoá kinh tế, trì trệ lạc hậu kéo dài, không tiếp thu được thành

    30

    quả văn minh của loài người, không tận dụng được nguồn vốn bên ngoài, không tham gia được vào sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế. Rút bài học cay đắng đó, từ thập kỷ 80 Trung Quốc thay đổi cách nghĩ, nhận thức lại là CNXH phải tiếp thu mọi thành quả văn m inh của nhân loại, đặc biệt là của các nước phát triển phương Tây; CNTB là một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng của tiến trình phát triển lịch sử của loài người, nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần mà nó sáng tạo ra trong mấy trăm năm vượt qua tất cả những gì mà loài người đã tạo ra trước đó. Trung Quốc xây dựng CNXH trên cơ sở kinh tế văn hoá lạc hậu, càng phải thực hiện mở cửa, tiếp thu thành quả văn minh của thế giới, do đó không những phải cải tạo thể chế cũ xây đựng thể chế mới, mà cỏn phải tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến và phương pháp quản lý kinh doanh của các nước tư bản phát triển. Trong quá trình đó, Trung Quốc đã có chọn lọc để không tiếp thu những mặt không tốt của các nước này.

    Tóm lại, những bài học rút ra từ quá trình cải cách không chỉ giúp ích cho sự phát triển tiếp theo của Trung Quốc trên con đường tiến vào thế kỷ mới mà còn có giá trị tham khảo bổ ích cho các quốc gia đang có hướng phát triển tương tự.

    31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Kh%E1%BB%A7ng-ho%E1%BA%A3ng-n%E1%BB%A3-c%C3%B4ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Khủng hoảng nợ công

    I.                  KHÁT QUÁT CHUNG

    1.1      Nợ công

    a.      Nợ công: Theo Luật Quản lý nợ công ngày 17/6/2009 của Quốc hội khóa 12:

    Nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương – được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Như vậy, các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công.

    Và nợ công bao gồm:

    • Phân loại theo chủ thể vay: gồm Nợ chính phủ, Nợ được Chính phủ bảo lãnh, Nợ chính quyền địa phương.

     

    • Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước (phát hành trái phiếu, vay của Ngân hàng), nước ngoài (các thể chế siêu quốc gia (Quỹ tiền tệ Quốc tế – IMF), được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ

    hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo

    quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà

    nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

    Nợ Chính phủ thường được vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nên nói cách khác,

    nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung

    quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần

    trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

    Nợ Chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công của một Quốc gia.

    • Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.

     

    • Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.

     

    Nợ của chính quyền địa phương thường không chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công, vì

    ngân sách địa phương chủ yếu từ trung ương hỗ trợ, chi trả; và pháp luật luôn quy định

    chặt chẽ tỷ lệ nợ chính quyền địa phương được vay so với ngân sách được cấp, hay chỉ

    Trang 2

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    được vay từ nguồn nào và để dùng vào khoản gì (VD: VN chính quyền địa phương chỉ được vay để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn tại địa phương; nguồn vay: thông qua phát hành, uỷ quyền phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, không được trực tiếp vay nước ngoài mà chỉ được vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương).

    • Phân loại theo nguồn vay: gồm vay trong nước và vay nước ngoài.

     

    • Vay trong nước: Chính phủ vay thông qua phát hành công cụ nợ. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh vay để đầu tư phát triển kinh tế xã hội thông qua phát hành, uỷ

    quyền phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

    • Vay nước ngoài là khoản vay ngắn hạn, trung – dài hạn phải trả lãi hoặc không phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức khác của Việt Nam vay của chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức

    và cá nhân nước ngoài.

    • Phân loại theo thời gian vay: gồm vay ngắn hạn, vay trung – dài hạn.

     

    • Khoản vay ngắn hạn là khoản vay có kỳ hạn dưới một năm

     

    • Khoản vay trung – dài hạn là khoản vay có kỳ hạn từ một năm trở lên Và các hình thức phân loại nợ công khác theo các tiêu chỉ khác nhau.

     

    Về mặt cơ bản, tỷ lệ nợ của Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công nói chung, và gây ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế

     

    b. Tiêu chí đo lường nợ công

    Việc xác định nợ công ở mức an toàn hay không an toàn sẽ được xác định dựa trên:

    • Tỷ lệ của nợ công/GDP (tổng thu nhập quốc dân).

     

    • Thực chất nợ công/cơ cấu nợ công nước ngoài so với nợ công trong nước

     

    • Tình trạng sức khỏe của nền kinh tế.

     

    • Các tiêu chí có mức chi phối không nhỏ: khoản nợ ngầm (các khoản nợ ngân hàng, nợ doanh nghiệp của Nhà nước vay mà Chính phủ phải bảo lãnh.

    Trang 3

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Đây là những yếu tố tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với nền kinh tế (VD: Một số nhà phân tích, khi phân tích nợ công của Nhật Bản đã cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công của Hy Lạp, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân nước này nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ. Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao)); và tiêu chí độ nhạy với các cú sốc (mức nợ cho dù có nhỏ hơn ngưỡng, nhưng vẫn có những cú sốc không dự báo được. Ví dụ lạm phát có thể cao hay tỷ giá có thay đổi thì có thể làm thay đổi hoàn toàn dự báo. Một điều rất then chốt là cần phải có thông tin chính xác để đưa ra quyết định đúng và tạo niềm tin cho thị trường);

    Theo công trình nghiên cứu năm 2010 của Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), được khảo sát trên 44 quốc gia, cho ra kết quả: khi tỷ lệ nợ/GDP vượt ngưỡng 90% thì nó tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế và làm giảm đi 4% trong tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó. Đặc biệt, đối với các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam thì ngưỡng nợ/GDP là 60%, tỷ lệ nợ vượt quá ngưỡng này sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 2%. Và khi vượt tỷ lệ này báo hiệu Nợ công của quốc gia đang trong tình trạng mất an toàn. Và theo Ngân hàng Thế giới – WB – ngưỡng an toàn đối với các nước đang phát triển là tỷ lệ nợ nước ngoài dưới 40%/GDP.

    Tuy nhiên, có một số quốc gia, tỷ lệ nợ/GDP tới 200% nhưng vẫn không bị vỡ nợ (vì nợ công của Nhật có nguồn chính là từ vay trong nước (phát hành trái phiếu) nên áp lực trả nợ của bên ngoài không cao, Chính phủ vẫn có thể cân đối). Và cũng có quốc gia tỷ lệ nợ/GDP là 60% năm 2001 nhưng đã rơi vào khủng hoảng nợ công là Argentina (nợ công Argentina lại tăng rất nhanh, từ mức 35% GDP vào năm 1995 lên 65% năm 2001. Từ năm 1990 đến năm 2001, nợ bên ngoài (nợ của công ty và chính phủ đối với các chủ nợ nước ngoài) cũng tăng rất mạnh, từ mức 44%GDP lên 51%GDP, và từ mức chiếm 421% xuất khấu lên 471%. Vì nợ bên ngoài tăng lên rất nhanh trong vòng 1 thập niên cộng với khủng hoảng thể chế đã đẩy Argentina vào tình trạng khủng hoảng nợ công điển hình của Châu Âu vào thời điểm đó. Sau 04 năm cải cách, Argentina đã cơ bản thoát được khủng hoảng)

    Trang 4

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    c. Vai trò, tác động của Nợ công với nền kinh tế

    Trong giới hạn nợ công ở mức an toàn, tác động của nó đối với nền kinh tế một Quốc gia:

    • Mặc tiêu cực:
    • Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai. Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt, thì đến một thời điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (mà hậu quả là lạm phát tăng tốc); do đó, người ta tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá.
    • Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:

    Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.

    Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư.

    Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.

    • Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên).

    Trang 5

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    • Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái

    phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu.

    • Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn. Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu chính phủ (nhờ phát hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát).

    Nhìn chung: Nợ công không phải là xấu trong mọi trường hợp, nhưng cần phải tính toán đến đến hai yếu tố: hiệu quả từ những đồng vốn vay và hệ quả lâu dài nếu không giải quyết được dứt điểm vấn đề nợ chẳng hạn như tạo ra lạm phát, gây nóng cho nền kinh tế.

    1.2      Khủng hoảng nợ công

    a. Khái niệm:

    Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia. Nhu cầu chi nhiều quá, trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ. Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng.

    b.     Tác động của khủng hoảng nợ công:

    Do tỷ trọng Nợ Chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công và có tác động mạnh mẽ, rõ ràng nhất với nền kinh tế nên lấy Nợ chính phủ làm đại diện để xem xét.

    Trang 6

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    CÁN CÂN NGÂN

    ↓ Chi tiêu SÁCH THÂM
     
    ↑ Thuế HỤT
     
    Thất nghiệp Đầu tư ↓ Đầu tư gián tiếp
       
        (chứng khoán) ↓

    Nợ/GDP ↑                GDP ↓

    Giá TP

    Huy Phát hành  
    động Trái Phiếu  
    vốn    
    In Lãi suất  
    TP ↑  
    nềti
       
    Lạm phát ↑    

    Khủng hoảng nợ công tác động đến nền kinh tế thông qua các chỉ số sau:

    • Cán cân ngân sách thâm hụt

     

    • Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng

     

    • Lạm phát tăng

     

    • Các doanh nghiệp hạn chế đầu tư, tốc độ tăng trưởng GDP giảm.

     

    • Thất nghiệp tăng

    Khủng hoảng nợ công, cán cân ngân sách thâm hụt , Chính phủ cần huy động để trả nợ buộc phải vay của công chúng bằng cách phát hành trái phiếu, vay mượn ở ngân hàng trung ương hoặc cầu viện cứu trợ từ các nước khác, từ các tổ chức quốc tế như IMF…hoặc tăng thuế để bù đắp thâm hụt ngân sách bên cạnh đó phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” để giảm chi tiêu. Việc phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, lãi suất trái phiếu tăng vì chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huy động được người mua. Khi cán cân ngân sách thâm hụt, ngân hàng trung ương sẽ tài trợ thâm hụt bằng cách phát hành thêm tiền làm tăng khối cung tiền gây ra áp lực lạm phát.

    Bên cạnh đó, việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư trực tiếp, kìm hãm kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng (thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP giảm sút à

    Trang 7

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    chỉ số nợ/GDP tăng). Việc giảm chi tiêu, giảm đầu tư sẽ dẫn đến tình trạng việc làm giảm, thất nghiệp gia tăng.

    Mặt khác, cán cân ngân sách thâm hụt đã gây ra sự mất lòng tin của người dân và của nhà đầu tư mới đối với các nền kinh tế quốc gia khiến đồng tiền quốc gia sụt giá. Điều đó có thể dẫn tới một đợt tháo chạy với quy mô lớn trên thị trường trái phiếu và cổ phiếu làm giá chứng khoán bị sụt giảm

    Trang 8

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    II.               Thực trạng khủng hoảng nợ công ở EU

    2.1      Giới thiệu về EU

    Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) hiện bao gồm 27 nước thành

    viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Anh, Ai Len, Đan Mạch, Hy Lạp,

    Tây Ban  Nha,  Bồ  Đào  Nha,  Áo,  Thụy Điển,  Phần  Lan,  Séc,  Hungary,  Ba  Lan,

    Slovakia, Slovenia, Latvia, Estonia, Malta, Litva, Cyprus , Bulgaria và Romania

    Diện tích: 4.422.773 km2( nước có diện tích lớn nhất là Pháp với 554.000 km2  và nhỏ

    nhất là Malta với 300 km2

    Dân số: Khoảng 500 triệu người, chiếm 7.3% toàn thế giới ( Thành viên có dân số lớn nhất là Đức với 82 triệu, ít nhất là Malta với 0.4 triệu)

    GDP(EU 27) 17,57 nghìn tỷ USD

    Thu nhập bình quân 32,900 USD/người/năm

    2.2      Thực trạng khủng hoảng nợ công ở EU

    2.2.1   Tỷ lệ nợ công trên GDP

    Theo Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat), trong quí II năm 2012, tổng số nợ công tại 17 nước thành viên Eurozone đã tăng lên 90% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), so với mức 88,2% trong 3 tháng đầu năm 2012. Trong khi đó, mức nợ công mà toàn bộ 27 nước thành viên EU đang gánh chịu cũng đã tăng từ 83,5% GDP lên 84,9%.

    Theo qui định của EU, các nước thành viên không được phép để tổng mức nợ công vượt quá 60% GDP và thâm hụt ngân sách quá 3% GDP, tuy nhiên, nhiều nước đã vi phạm quy định này khi “cơn bão” nợ công ập tới.

    Để đối phó, nhiều nước đã buộc phải áp dụng chính sách “thắt lưng buộc bụng”, song cho tới nay, biện pháp này vẫn chưa phát huy hiệu quả như mong muốn.

    Tính đến hết quý II – 2012, đứng đầu danh sách những quốc gia mắc nợ nhiều nhất là Hy Lạp với “núi nợ” lên tới 150,3% GDP. Các vị trí tiếp theo thuộc về Italy (126,1%), Bồ Đào Nha (117,5%), Ireland (111,5%)…. Các nước như Estonia (7,3%), Bulgaria

    (16,5%) và Luxembourg (20,9%) là những quốc gia có mức nợ công thấp nhất trong EU./.

    Trang 9

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.2.2   Tình trạng thâm hụt ngân sách:

    Theo số liệu mà Viện Nghiên cứu Kinh tế Đức (IW) đưa ra, Tây Ban Nha đã giảm thâm hụt mậu dịch từ -5,8% năm 2008 xuống +0,5% trong năm 2011. Bồ Đào Nhà và Hy Lạp cũng giảm gần 50% thâm hụt mậu dịch của nước mình trong cùng một khoảng thời gian.

    [10/2012] Theo dự báo của IMF, thâm hụt ngân sách của Pháp vào khoảng 4,7% GDP trong năm nay và 3,5% GDP vào cuối năm 2013. Pháp đã cam kết giảm thâm hụt ngân sách xuống 3% GDP vào năm 2013.

    Tháng trước, chính phủ của tổng thống François Hollande cũng đã công bố gói thắt lưng buộc bụng, bao gồm việc đánh thuế 75% đối với những cá nhân có thu nhập vượt quá 1 triệu bảng nhằm đạt được mục tiêu thâm hụt ngân sách.

    IMF dự báo, thâm hụt ngân sách của Italia trong năm tới là 1,8%, cao hơn so với mục tiêu thâm hụt 0,5% GDP mà nước này đề ra.

    Trong khi đó, IMF cho biết Tây Ban Nha sẽ không đạt mục tiêu thâm hụt ngân sách 2012, 2013 và nợ của nước này sẽ vượt 90% GDP do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.

    Trang 10

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.3      Nguyên nhân khủng hoảng nợ công khu vực Eurozone

    Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu với Hy Lạp là nước đầu tiên đứng trước nguy cơ vỡ nợ và cần phải viện đến sự trợ giúp của ECB và IMF. Tiếp sau là các nước Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia cũng đứng trước nguy cơ vỡ nợ, và nợ công đang có nguy cơ lan dần đến trung tâm của châu Âu, kể cả các nước mạnh nhất trong khu vực đồng Erozone là Đức và Pháp.

    Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu hiện nay có chung nguyên nhân chủ yếu như là hệ quả của việc tăng chi, giảm thu ngân sách nhà nước (do cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu khởi đầu từ Mỹ năm 2008) và hiện vẫn đang tiếp diễn với nhiều động thái đầy kịch tính.

    Hơn nữa, cuộc khủng hoảng này còn có nét chung như là tác động nhân quả của chính sách chi tiêu công thiếu kiểm soát chặt chẽ và thiếu minh bạch trong từng quốc gia, cũng như của những khuyết tật bộc phát ngay trong cơ chế nội bộ của tổ chức liên kết kinh tế-tiền tệ khu vực vốn được coi là lớn mạnh và thành công nhất hành tinh này.

    Những bất đồng về nhận diện nguyên nhân, sự chưa thống nhất về quan điểm, chính sách giải cứu và lo ngại về nợ công và triển vọng Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã khiến các thị trường Mỹ, châu Âu và toàn thế giới thăng trầm khó lường với xu hướng suy giảm ngày càng đậm nét.

    2.3.1   Nguyên nhân khủng hoảng nợ: Nhìn từ quá khứ

    Mỗi khi nền kinh tế suy thoái thì nợ công bắt đầu tăng vọt. Và mỗi khi có bầu cử, nợ công cũng leo thang. Lý do là chính phủ không nhìn nhận và tìm giải pháp lâu dài cho vấn đề nợ công, mà chỉ chú tâm vào những giải pháp nhất thời, miễn sao qua được kỳ bầu cử là được rồi.

    Năm 1973:Các nước OPEC ngừng xuất dầu sang các nước ủng hộ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur chống lại Ai Cập và Syria (Gồm Mỹ, Nhật, Tây Âu), tạo nên cuộc khủng hoảng dầu mỏ đẩy kinh tế Âu Mỹ đã chìm vào suy thoái. Đó cũng là lúc Âu Mỹ tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển hướng từ sản xuất mới nổi.

    Năm 1990:Ngành tài chính dịch vụ phát triển mạnh mẽ nhưng hầu hết đều dựa trên kế hơ của thị trường, thiên về đầu cơ tài chính làm thổi phồng những “bong bóng tài sản” tạo ra viễn cảnh giàu có “ảo” cho nền kinh tế Âu Mỹ. Hậu quả làm nảy sinh nhiều bất ổn trong cơ cấu ngành nghề, phân khúc giàu nghèo và số người thất nghiệp tăng lên và

    Trang 11

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sống nhờ vào sự hỗ trợ của chính phủ. Kết quả là tình trạng nợ công ngày càng chồng chất, và tiếp theo là cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu. Chính phủ đành vay tiền để mua thời gian, cầm chừng qua cơn hấp hối.

    Năm 2008:Thế giới lại khủng hoảng, và chính phủ các nước lại tiếp tục áp dụng kế sách cũ: huy động tiền để hỗ trợ các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và trợ giúp khối lao động thất nghiệp. Trong khi đó, trái phiếu của các lần phát hành trước đó đã đến hạn phải trả cả vỗn lẫn lãi, khiến cho gánh nặng nợ nần tích tụ suốt mấy chục năm qua tiếp tục chồng chất.

    Dù nhận thức được bất hợp lý trong việc chuyển sang mô hình kinh tế thiên về tài chính dịch vụ, nhưng các chính phủ vẫn “ngựa quen đường cũ” với nền kinh tế ảo, chỉ giải quyết tạm thời bằng cách vay nợ mớii gối đầu trả nợ cũ và ném phao cứu hộ cho những ngân hàng đang sắp chết đuối.

    Trang 12

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.3.2 Nguyên nhân tiêu biểu của khủng hoảng nợ công châu Âu, nhìn từ Hy Lạp:

    Thứ nhất, tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công. Thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp chỉ ở mức 11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha và đang có xu hướng sụt giảm nhanh chóng. Do vậy, đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài. Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu EU (năm 1981) và làn sóng bán tháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy Hy Lạp đã để vuột khỏi tay một kênh huy động vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công.

    Thứ hai, chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách. Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 4,3% (2001 – 2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone là 3,1%. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87% trong khi mức thu của chính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách thâm hụt vượt quá mức cho phép 3% GDP của EU.

    Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản lý công trong tổng số chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so với các nước thành viên OECD khác trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ không được cải thiện nhiều. Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các ngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp. Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm 2009. Kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh. Trong khi đó Hy Lạp lại phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh tế. Tính đến tháng 01/2010, nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế đạt mức 130% GDP.

    Sự già hóa dân số và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vực châu Âu của Hy Lạp cũng được coi là một trong những gánh nặng cho chi tiêu công. Ước tính tổng số tiền chi trả cho lương hưu khu vực công của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24% (2050).

    Thứ ba, nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm hụt

    ngân sách và gia tăng nợ công. Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là

    nhân tố làm giảm nguồn thu ngân sách. Theo đánh giá của WB, kinh tế không chính

    Trang 13

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    thức ở Hy Lạp chiếm tới 25 – 30% GDP(so với mức 15,6% GDP của Việt Nam; 13,1% GDP của Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của Nhật Bản). Hệ thống thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế và kinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp.

    Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ lệ tham nhũng cao nhất trong EU. Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã chi tới 750 triệu EUR tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vực công và khu vực tư, trong đó có bác sĩ là những người đòi nhiều tiền hơn cho các cuộc phẫu thuật; các nhà quy hoạch thành phố và các quan chức ở địa phương cũng liên quan đến những vụ việc nhận hối lộ… Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou thừa nhận “tham nhũng mang tính hệ thống” là vấn đề cơ bản nhất dẫn đến tình trạng nợ công Hy Lạp. Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào khoảng 8% GDP. Tham nhũng không chỉ gây ra trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ, nhắm tới duy trì mức lương cao cho công chức và thực hiện các dự án có vốn đầu tư lớn thay vì nhắm vào các dự án tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động. Mức lương cao không chỉ tạo ra gánh nặng ngân sách mà còn làm cho tính cạnh tranh của nền kinh tế Hy Lạp yếu đi. Lương cao, đồng euro tăng giá từ mức 1 euro đổi hơn 0,8 USD lên đến 1 euro đổi 1,6 USD trong suốt giai đoạn từ 2000-2008 khiến sức cạnh tranh của hàng hóa Hy Lạp yếu và hệ quả tất yếu là một cán cân thương mại thâm hụt triền miên.

    Thứ tư, sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả. Bên cạnh đó, việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế với việc sử dụng một đồng tiền được những nền kinh tế lớn như Đức và Pháp bảo đảm cùng với sự quản lý chính sách tiền tệ của Ngân hàng TƯ châu Âu (ECB). Nhờ việc gia nhập Eurozone Hy Lạp nghiễm nhiên có được hình ảnh ổn định cao và chắc chắn trong mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp. Gần một thập kỷ qua, Chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ USD. Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Tuy nhiên, chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ.

    Trang 14

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Thứ năm, thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư. Sự thiếu minh bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin của các nhà đầu tư mà quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là một thành viên của Eurozone và nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng của Hy Lạp, đẩy quốc gia này vào tình trạng khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường vốn quốc tế. Sự phụ thuộc vào nguồn tài chính nước ngoài đã khiến cho Hy Lạp trở nên rất dễ bị tổn thương trước những thay đổi trong niềm tin của giới đầu tư. Trong thời đại hội nhập, thì minh bạch luôn là một đòi hỏi lớn của các nhà đầu tư. Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp do chính phủ không minh bạch các số liệu, cố gắng vẽ nên bức tranh sáng, màu hồng về tình trạng ngân sách về những chính sách sắp ban hành để khắc phục những khó khăn về ngân sách hay vấn đề kinh tế vĩ mô do vậy, hiệu lực của những chính sách đó sẽ bị hạn chế nhiều.

    2.3.3   Nguyên nhân chủ yếu của nợ công châu Âu: nợ nước ngoài.

    Yếu tố thực sự gây ra khủng hoảng ở châu Âu không phải là nợ công mà là những khoản nợ nước ngoài khổng lồ đang ngày càng gia tăng.Vấn đề hiện nay ở khu vực châu Âu được biết đến trên toàn thế giới như là cuộc khủng hoảng nợ công. Nhưng cuộc khủng hoảng thực sự đang xảy ra chính là khủng hoảng nợ nước ngoài.

    Tầm quan trọng của nợ nước ngoài có thể được minh họa bằng trường hợp của Bồ Đào Nha.Ở quốc gia này, mặc dù nợ công và tỷ lệ thâm hụt khá cao nhưng cũng chỉ tương tự như của Pháp. Vấn đề quan trọng nhất mà Bồ Đào Nha đang phải đối mặt, không phải là chính sách tài chính, mà là các khoản nợ nước ngoài cao của khu vực tư nhân: các ngân hàng và các doanh nghiệp Bồ Đào Nha.

    Tầm quan trọng của các khoản nợ công cũng chỉ ở mức nhất định đối với một quốc gia, ví dụ như ở Ý và Bỉ. Cả 2 nước này có tỷ lệ nợ trên GDP cao hơn nhiều so với Bồ Đào Nha, nhưng mức phí bảo hiểm rủi ro mà họ phải trả lại thấp hơn nhiều so với nước này. Lý do chính là họ nợ nước ngoài rất ít, Bỉ thậm chí còn thặng dư tài khoản vãng lai.

    Trong khủng hoảng, các khoản nợ tư có xu hướng chuyển thành nợ công.Và điều quan trọng trên thị trường tài chính khi nhìn vào nợ công 1 quốc gia là ai là chủ nợ của chúng.

    Trang 15

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Tại các quốc gia khu vực đồng Euro, điều quan trọng là đảm bảo được hoạt động thu thuế. Với những quốc gia có nợ công cao nhưng nợ nước ngoài thấp, nợ công chủ yếu do người dân nắm giữ, và Chính phủ luôn luôn có thể giải quyết vấn đề nợ công bằng một số hình thức thu thuế. Vì thế, nợ nước ngoài là thành phần chủ yếu gây ra những vấn đề trong khả năng thanh toán nợ của một quốc gia. Trường hợp ngoại lệ trong vấn đề này chính là Mỹ, giống như những gì được gọi là “đặc quyền cắt cổ” của nền kinh tế lớn nhất thế giới: nợ nước ngoài của Mỹ lại chính bằng đồng USD, giúp Chính phủ Mỹ có thể linh hoạt giải quyết các vấn đề nợ công.

    Một điều phức tạp hơn nữa là, một quốc gia có nợ nước ngoài cao, trong khi cư dân của họ cũng nắm giữ một lượng tài sản lớn của nước ngoài.Trong trường hợp này, Chính phủ phải đối mặt với trường hợp, quốc gia có thể vỡ nợ trong khi người dân của mình vẫn có thể hưởng lợi nhuận từ tài sản nước ngoài.Ngay cả khi điều này xảy ra, Chính phủ có thể giải quyết bằng cách, kêu gọi người dân bán tài sản nước ngoài và mua trái phiếu Chính phủ trong nước thay thế.

    Một ví dụ đặc trưng là trường hợp của của Argentina năm 2001.Nợ nước ngoài ròng mà Argentina nắm giữ là không lớn, chỉ tương đương với số tài sản nước ngoài mà khu vực tư nhân trong nước nắm giữ. Mặc dù vậy, Chính phủ Argentina đã phá sản, bởi vì tầng lớp người giàu thì nhanh chóng bán tài sản ra nước ngoài, trong khi những người dân nghèo từ chối trả các khoản thuế cần thiết để giúp Chính phủ thanh toán nợ nước ngoài.

    Đối với Hy Lạp, điều chỉnh hệ thống tài chính là vấn đề quan trọng và cần thiết.Tuy nhiên, với Bồ Đào Nha, vấn đề then chốt là sự gia tăng thâm hụt nước ngoài của khu vực tư nhân.Ireland lại là một trường hợp khác, vì nước này có rất ít nợ nước ngoài và sẽ sớm đạt được thặng dư tài khoản vãng lai.Chính phủ Ireland sẽ không cần tới tài trợ bên ngoài nữa nếu họ huy động được tiết kiệm từ người dân.Giống như trường hợp của Lativa trước đó, nếu huy động được vốn từ người dân, rủi ro sẽ giảm xuống rất nhanh. Trong ngắn hạn, việc điều chỉnh hệ thống tài chính là cần thiết nhưng không đủ giúp các nước này thoát khỏi một cuộc khủng hoảng nợ.Huy động tiết kiệm trong nước, và khuyến khích người dân mua trái phiếu Chính phủ thay vì nắm giữ tài sản của nước ngoài mới là điều quan trọng nhất.

    Trang 16

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Sau tất cả những lý do nói trên, dường như việc nợ nần nhiều của chính phủ là nguyên nhân chính gây nên khủng hoảng nợ công. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ mà Nhật Bản là tiêu biểu

    Tại sao Nhật Bản không vỡ nợ?

    So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ với quy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản, nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ vỡ nợ kỹ thuật, trong khi nợ công của Nhật Bản được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, lên tới 10.000 tỷ USD (2010, tương đương khoảng 229% GDP), nhưng nợ công của Nhật Bản vẫn được đánh giá ở ngưỡng an toàn. Những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ công Nhật Bản, đó là:

    Thứ nhất, trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế.Từ đầu thập niên 1990, khi ngân sách Chính phủ Nhật Bản bắt đầu thâm hụt, Nhật Bản đã bù đắp cho khoản thâm hụt này bằng cách phát hành trái phiếu để vay nợ, chủ yếu từ nguồn tiền tiết kiệm nội địa lên tới 17 nghìn tỷ USD. Sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của Nhật Bản với nợ công của Hy Lạp, thể hiện:

    Khác biệt thứ nhất, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân Nhật Bản nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ;

    Khác biệt thứ hai, lợi tức trái phiếu Nhật Bản chỉ chạm mức cao nhất là 1,4%, trong khi đó Hy Lạp đã tiếp cận ngưỡng 8%.

    Khác biệt thứ ba, phần lớn trái phiếu chính phủ hướng tới người mua là dân chúng Nhật Bản (chiếm tới 95% trái phiếu chính phủ). Khoảng 50% tài sản chính trị (khoảng 1.400 nghìn tỷ yen) được tích trữ dưới dạng tiền mặt và gửi ngân hàng (tỷ lệ này ở Mỹ chỉ là 14%), trong đó, phần lớn được đầu tư vào trái phiếu chính phủ thông qua hệ thống ngân hàng.

    Những sự khác biệt này cho thấy, Nhật Bản vẫn có thể đảo ngược tình thế để tránh nguy cơ vỡ nợ. Nhờ dư nợ trái phiếu chính phủ được nắm giữ bên ngoài Nhật Bản rất nhỏ (chỉ khoảng gần 6%) nên việc đảo nợ cũng được thực hiện dễ dàng mà không phụ thuộc nhiều vào tình hình cung cầu trên thị trường quốc tế.

    Theo đánh giá của Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s (S&P), triển vọng đối với trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định và Nhật Bản “không quá gần” với khủng hoảng, ít nhất là trong ngắn hạn, nhờ 3 yếu tố cơ bản: (1) Cán cân

    Trang 17

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối hơn 1000 tỷ USD; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân vẫn lớn hơn nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ. Do ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế, nên Chính phủ Nhật Bản sẽ chỉ gặp thách thức trong vấn đề vay nợ khi các nhà đầu tư trong nước không còn mặn mà với trái phiếu Nhật Bản. Những thế mạnh này đã giúp Nhật Bản giữ được thị trường trái phiếu bình ổn.

    Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá bằng đồng yên. Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ. Do đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (B0J) trở thành người bảo lãnh hiệu quả cho tất cả các khoản nợ của chính phủ Nhật Bản. Trong trường hợp xảy ra bán tháo trên thị trường trái phiếu chính phủ Nhật Bản, B0J có thể can thiệp và mua toàn bộ số trái phiếu bằng cách in thêm tiền. Khả năng tiền tệ hóa số nợ của B0J là không hạn chế.Hạn chế duy nhất đó là mức độ lạm phát mà Nhật Bản muốn duy trì.Tuy nhiên, khi mà Nhật Bản vẫn trong tình trạng giảm phát thì khả năng bảo vệ thị trường trái phiếu của B0J là có thể.

    Thứ hai, phần lớn nợ công Nhật Bản nằm trong tay các nhà đầu tư nội địa.

    Phần lớn nợ công của Nhật Bản (khoảng 95%) nằm trong tay các nhà đầu tư trong nước, nên Nhật Bản vẫn chưa phải trải qua những gì như ở Hy Lạp (năm 2010) và tránh được tác động bất lợi từ những biến động thất thường của thị trường tài chính thế giới. Bởi vậy, việc Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s (S&P) cắt giảm điểm tín nhiệm nợ công của Nhật Bản sẽ không có nhiều tác động xấu tới tình hình tài khóa của nước này, trừ khi Nhật Bản phải huy động vốn từ thị trường quốc tế. Khi đó, Nhật Bản buộc phải trả mức lãi suất cao hơn để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và lãi suất vay nợ chính phủ cao sẽ kéo theo mức lãi suất cao mà các công ty và người tiêu dùng Nhật Bản phải trả. Lúc đó, điểm tín nhiệm nợ công sẽ có tác động mạnh hơn tới Nhật Bản, thay vì hầu như không có ảnh hưởng gì trong thời điểm hiện tại.Hơn nữa, Nhật Bản cũng là “chủ nợ” của nhiều nước. Theo số liệu cuối năm 2008 của Quỹ Tiền tệ quốc tế, tổng tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản trị giá khoảng 5.700 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức nợ nước ngoài là 3.200 tỷ USD. Trong vị thế là nước cho vay, Nhật Bản đã giúp tăng lòng tin của nhà đầu tư và giảm các nguy cơ về tiền tệ. Nếu Nhật Bản khó khăn trong việc huy động tài chính trong nước thì họ có thể

    Trang 18

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sử dụng tài sản ở nước ngoài làm nguồn tài chính bổ sung. Thực tế thì Nhật Bản cũng thặng dư tài khoản vãng lai trong nhiều năm, qua đó, giúp dự trữ ngoại tệ tăng lên

    Thứ ba, lãi suất thấp nên chi phí nợ thấp hơn nhiều so với các nước khác.

    Điều này có được một phần là do chính sách tiền tệ của Nhật Bản. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) hạ lãi suất qua đêm liên ngân hàng (OCR) xuống mức 0,1% từ cuối năm 2008 để đối phó với cuộc khủng hoảng. Thậm chí cả trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu diễn ra, để kích thích nhu cầu, BOJ cũng đã giữ OCR ở mức bằng 0% hoặc gần bằng 0% trong nhiều năm. Trong 10 năm qua, OCR của Nhật Bản chưa bao giờ vượt quá mức 0,5%, một mức rất thấp so với hầu hết các nước.

    Thứ tư, hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật Bản hiệu quả và nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh. Mặc dù tỉ lệ nợ công của Nhật Bản cao hơn 200% GDP, song chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của Nhật Bản chỉ vào khoảng 3,0, do vậy khả năng trả nợ không quá khó. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản cũng ở mức rất cao.Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, dự trữ quốc gia của Nhật Bản là 1.046,873 tỉ USD (tháng 5/2011). Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế./.

    2.4  Thực trạng khủng hoảng nợ công ở Mỹ

    2.4.1   Thực trạng khủng hoảng nợ công ở Mỹ

    Các chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới đã lên tiếng cảnh báo về nợ công của Mỹ sau khi Bộ Tài chính Mỹ vào ngày 4/9/2012 thông báo khoản nợ quốc gia của nước này đã lần đầu tiên vượt ngưỡng 16.000 tỷ USD (tương đương 104% GDP).

    Trang 19

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Đây là con số đáng báo động vì đã gần chạm mức 16.390 tỷ USD, trần nợ công mà chính quyền Mỹ hồi năm ngoái đã rất khó khăn mới tăng lên được.

    Nợ công tăng đã khiến mỗi người dân Mỹ phải gánh khoản nợ hơn 50.000 USD và đây là năm thứ tư liên tiếp ngân sách liên bang nước này bị thâm hụt trầm trọng. Thực trạng này đã trở thành đề tài nóng trên các mặt báo khi các đối thủ đảng Cộng hòa công kích khả năng điều hành nền kinh tế của ông chủ Nhà Trắng Barack Obama.

    1. Tỷ lệ nợ công trên GDP

    Theo Ủy ban Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), tỷ lệ nợ trên GDP của nước Mỹ sẽ có xu hướng tăng trong những năm tới.

    Trong báo cáo triển vọng dài hạn, CBO dự báo, đến cuối năm 2012, nợ sẽ chiếm tương đương 70% GDP của Mỹ, cao nhất kể từ Thế chiến thứ II. Thậm chí, tỷ lệ nợ trên GDP của Mỹ sẽ lên 109% vào năm 2026, và gần 200% vào năm 2037, CBO nhận định. Nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo, khi nợ công vượt GDP, nó có thể gây ra khủng hoảng tài chính tương tự như châu Âu hiện nay. Khi đó, chính phủ sẽ phải cắt giảm chi tiêu, sa thải lao động, tăng lãi suất.

    Tuy nhiên, CBO cũng chỉ ra, Inếu các chính sách hiện thời tiếp tục được triển khai, trong đó có nâng thuế suất từ thời Tổng thống Bush, nợ sẽ tăng lên 73% trong năm nay, nhưng giảm dần xuống 61% vào năm 2022 và 53% năm 2037

    Trang 20

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công     Nhóm 4 – Đêm 3 – K22
                       
                       
    Bảng thống kê nợ một số quốc gia trên thế giới    
                       
        Quốc gia   Tổng nợ (USD) Nợ trên   Nợ bình quân Thay đổi so với  
          GDP   đầu người (USD) năm trước  
                 
                       
    1   Nhật Bản   12.642.984.699.454 220%   100.158,71 2%  
                       
    2   Mỹ   11.110.645.901.639 72%   35.433,93 14%  
                       
    3   Đức   2.795.357.923.497 83%   34.227,90 0%  
                       
    4   Italy   2.490.597.814.208 121%   40.893,97 -1%  
                       
    5   Pháp   2.316.762.295.082 89%   36.471,97 4%  
                       
    6   Anh   2.161.772.131.148 89%   34.307,32 11%  
           
                       
    7   Canada   1.516.260.109.290 87%   43.837,30 5%  
                       
    8   Brazil   1.302.275.956.284 54%   6.708,45 9%  
                       
    9   Trung   1.267.922.950.820 16%   955,61 17%  
      Quốc      
                     
                       
    10   Tây   Ban   998.658.469.945 72%   21.587,91 7%  
      Nha      
                     
                       
    11   Ấn Độ   942.687.431.694 49%   776,22 13%  
                       
    12   Hy Lạp   423.741.530.055 159%   37.501,57 -7%  
                       
    13   Australia   394.522.950.820 27%   17.334,49 7%  
                       
    14   Indonesia   217.795.081.967 25%   880,44 12%  
                       
    15   Thái Lan   170.985.792.350 47%   2.491,43 15%  
                       
    16   Malaysia   162.098.360.656 56%   5.612,28 16%  
                       
    17   Nga   156.985.245.902 8%   1.111,03 13%  
                       
    18   Nam Phi   141.275.409.836 36%   2.890,74 11%  
                       
    19   Philippine   121.373.224.044 50%   1.176,11 9%  
           
      s      
                     
                       
    20   Việt Nam   67.588.524.590 50%   756,92 11%  
                       
    21   Lybia   2.061.202.186 3%   343,63 -18%  
                       
    22   Estonia   1.538.797.814 7%   1.182,71 25%  
                       

    Trang 21

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Nếu xét trên tổng nợ quốc gia, Nhật Bản là nước dẫn đầu với hơn 12.642 tỷ USD, theo sau là Mỹ với trên 11.110 tỷ USD. Các nước châu Âu, đặc biệt là khu vực đồng euro, đều có mức nợ công cao như Đức (2.795 tỷ USD), Pháp (2.316 tỷ USD), Italy (2.490 tỷ USD) hay Anh (2.161 tỷ USD).

    1. Nợ nước ngoài của Mỹ

    Mỹ hiện đang thiếu nợ các đồng minh hơn 5 nghìn tỷ USD, đây cũng là số nợ nhiều nhất trong lịch sử mà Mỹ từng vay các đồng minh của mình.

    Theo thống kê do Bộ Tài chính Mỹ công bố, tính đến tháng 6/2012, Mỹ mắc nợ hầu hết các quốc gia lớn trên thế giới và các khoản nợ cũng đang tăng gấp đôi chỉ trong vòng vài năm.

    Tính đến tháng 6, lượng trái phiếu kho bạc Mỹ do các chủ nợ nước ngoài nắm giữ đã lên tới 5,3 nghìn tỷ USD, trong đó bao gồm 1.164,3 tỷ USD từ Trung Quốc và 1.119,3 tỷ USD từ Nhật Bản. Danh sách các nước từng cho Mỹ vay nợ còn kéo dài với những cái tên lớn như: Brazil, Đài Loan, Nga và Anh. Ngoài ra, Ấn Độ, Italia, Nam Phi và Peru cũng nằm trong danh sách này.

    Theo số liệu của Bộ tài chính Mỹ vừa công bố, tính đến tháng 10, nợ nước ngoài của chính phủ nước này lập kỷ lục mới hơn 5.482 tỷ USD, so với 5.476 tỷ USD tháng 9. Trung Quốc vẫn là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ với hơn 1.161 tỷ USD. Những năm qua, Trung Quốc giảm dần lượng nắm giữ nợ của Mỹ, từ 1.256 tỷ USD cuối tháng 10/2011. Chủ nợ nước ngoài lớn thứ 2 là Nhật Bản với lượng nắm giữ nợ Mỹ là hơn 1.134 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái.

    Số tiền 5,3 nghìn tỷ USD mà Mỹ đang nợ các quốc gia bên ngoài hiện đã lớn hơn số tiền mà Washington cho các nước khác vay nợ, tính từ thời điểm tổng thống Barack Obama đặt chân vào Nhà Trắng. Chỉ 3,5 năm từ khi ông Obama nhậm chức, số nợ mà Mỹ vay nước ngoài đã tăng thêm 2,2 nghìn tỷ USD, hay 72,3%.

    Theo dự đoán của Bộ Tài chính, trong vài năm tới, số nợ mà Mỹ vay các đồng minh có thể lên tới hơn 9 nghìn tỷ USD. Theo hãng tin AP, nhu cầu vay nợ của Mỹ tăng mạnh trong thời gian qua chủ yếu do những lo ngại về tình hình tài chính của Liên minh châu Âu có thể xấu đi và không tránh khỏi nguy cơ sụp đổ.

    Chủ nợ lớn nhất của chính phủ Mỹ vẫn là Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) với gần 1.620 tỷ USD.

    Trang 22

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    1. Tình trạng thâm hụt ngân sách

    Hiện Mỹ đang phải đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách tương đương với 11% tổng sản phẩm quốc nội GDP trong năm 2011, một tỷ lệ lớn nhất trong nhóm G20.Cán cân thu chi ngân sách của chính phủ liên bang Mỹ trong tháng 10/2012 tăng khá mạnh, báo hiệu năm thứ năm liên tiếp thâm thủng ngân sách liên bang vượt quá 1.000 tỷ USD. Thông báo này được đưa ra đúng ngày Quốc hội Mỹ khóa 112 tái họp trong mâu thuẫn khi chỉ còn hơn hai tháng sẽ phải chuyển giao quyền lực cho Quốc hội khóa 113 vừa được bầu lên ngày 6/11/2012.

    Báo cáo ngày 13/11/2012 của Bộ Tài chính Mỹ cho biết trong tháng 10/2012, tháng đầu tiên của tài khóa 2013, tổng thu ngân sách của Chính phủ Mỹ đạt 184,3 tỷ USD, tăng 13% so với mức thu 163 tỷ USD cùng kỳ năm trước.

    Trong khi đó, tổng chi ngân sách trong tháng tăng tới 16,4%, lên 304,3 tỷ USD so với mức chi 262 tỷ trong tháng 10/2011. Như vậy, cán cân thu chi ngân sách trong tháng bị thâm hụt 120 tỷ USD, cao hơn mức dự báo 114 tỷ USD của các chuyên gia kinh tế và tăng tới 22% so với mức thâm hụt 98 tỷ USD cùng tháng năm 2011.

    Với tốc độ tăng mạnh của tháng đầu tiên, các chuyên gia dự báo tổng thâm hụt ngân sách của Mỹ trong tài khóa 2013, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/10/2012, cũng sẽ ở mức trên 1.000 tỷ USD. Đây sẽ là năm thứ 5 liên tiếp, cán cân thu chi ngân sách của Mỹ vượt 1.000 tỷ USD, đổ thêm gánh nặng vào khoản nợ quốc gia đã sắp vượt trần 16.400 tỷ USD.

    Tổng thâm hụt ngân sách của Mỹ tài khóa 2012, vừa kết thúc ngày 31/9/2012, là 1.089 tỷ USD so với 1.297 tỷ USD của tài khóa 2011 và 1.410 tỷ USD năm 2009 khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền nhiệm kỳ đầu tiên.

    Biểu đồ dưới đây thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP với tỷ lệ thất nghiệp:

    Trang 23

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Trong 3 thập kỷ qua, các chính sách thuế và chi tiêu đã thay đổi rất nhiều.Tuy nhiên, điều này không quan trọng.Khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, tỷ lệ thâm hụt/GDP cũng giảm và ngược lại.

    Nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công ở Mỹ:

    Nợ công của Mỹ đang tiến dần đến mức 16.390 tỷ USD, mức trần nợ công mà Chính phủ Mỹ đã phải rất chật vật mới nâng lên được vào năm 2011. Sau công bố của Bộ Tài chính Mỹ, ngày 9/9/2012, nhà kinh tế trưởng của tổ chức Blackhorse Asset Mgmt, cựu chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), ông Richard Duncan đã lên tiếng cảnh báo khoản nợ trên đang đẩy nước Mỹ vào một tình thế nguy hiểm, có thể dẫn tới một cuộc khủng hoảng mới nghiêm trọng tới mức khó kiểm soát.

    Trên thực tế, vấn đề này cũng đang được Đảng Cộng hòa tận dụng để chỉ trích đương kim Tổng thổng Barack Obama trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Đảng Cộng hòa cho rằng ông B. Obama không có khả năng điều hành kinh tế, rằng chính các gói kích cầu của tổng thống đang làm quả bóng nợ phình to, khiến cho nền kinh tế kiệt quệ. Tuy nhiên, nói một cách công bằng thâm hụt ngân sách, nợ công không phải bắt đầu từ

    Trang 24

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    nhiệm kỳ của ông Obama mà có nguồn gốc thời Tổng thống George Bush (với chính sách cắt giảm thuế mạnh tay cho người giàu trong suốt hai nhiệm kỳ và sau đó là chi phí khổng lồ cho hai cuộc chiến tại Afghanistan, Iraq). Thâm hụt ngân sách của Mỹ thực chất đã bắt đầu từ năm 2000. Tám năm sau đó, Chính phủ nước này tăng chi tiêu tới 6,6%, trong khi nguồn thu ngân sách chỉ tăng có 2,8%. Đến khi B. Obama lên nhậm chức, chi tiêu công tăng 6,2% còn thu ngân sách giảm 0,5% – do hậu quả của suy thoái kinh tế.

    Khi ông B.Obama tiếp quản Nhà Trắng, nợ công của Mỹ đã đạt 10.600 tỷ USD.Trong bốn năm cầm quyền của ông Obama (từ 2008 đến 2012), đã có tới ba năm kinh tế toàn cầu rơi vào suy giảm trầm trọng.Chính quyền của Tổng thống Obama đã phải viện đến các gói cứu trợ dành cho giới công nghiệp và giới tài chính Phố Wall.Tuy nhiên, các biện pháp này đã không giúp cải thiện tình hình. Kinh tế Mỹ vẫn không hề khởi sắc và nợ công thì liên tục tăng (đã tăng thêm 5,4 nghìn tỷ USD nữa).

    Giải pháp khắc phục tình trạng nợ công ở Mỹ:

    Nền kinh tế lớn nhất thế giới đang cận kề nguy cơ chạm mức trần nợ công ngay trong năm 2012. Giải pháp cấp bách hiện tại để giảm mức thâm hụt ngân sách là thông qua việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế hoặc kết hợp cả hai phương án trên. Tuy nhiên, nhìn từ mọi góc độ thì nhiệm vụ trên là hết sức nặng nề. Nguồn thu ngân sách của Chính phủ phải tăng từ 20-30% trong khi chi tiêu cũng phải được cắt giảm ở mức tương đương.

    Thực tế, có 45% số hộ gia đình tại Mỹ không phải đóng thuế và có 3% số người thu nhập cao đóng góp tới 52% tổng số các loại thuế. Do đó, một cuộc “đại phẫu” về chính sách thuế là cần thiết. Tuy nhiên, cải cách chính sách thuế sẽ là một phương án không khả thi khi các chính trị gia đang ra sức lấy lòng cử tri.

    Giới phân tích nhận định, nợ công leo thang đồng nghĩa với việc các nhà hoạch định chính sách cũng như bất cứ ứng cử viên nào, cho dù người của Đảng Dân chủ – Tổng thống B.Obama, hay người của Đảng Cộng hòa – ứng viên Mitt Romney, giành được chiến thắng trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng sắp tới, cũng sẽ phải thông qua đạo luật nâng mức trần nợ công của Chính phủ Mỹ vào cuối năm nay. Trong trường hợp Quốc hội nước này không thống nhất được việc nâng trần nợ công, thì một loạt “biện

    Trang 25

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    pháp đặc biệt” sẽ được thực thi nhằm tránh nguy cơ buộc Chính phủ phải ngừng hoạt động, ít nhất cho đến đầu năm 2013.

    2.4.2   Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công Mỹ:

    Cũng tương tự châu Âu, chính quyền Mỹ đã ‘vung tay quá trán’ và tạo nên cuộc khủng hoảng nợ công. Ngay từ thời cựu Tổng thống George W. Bush, số nợ đã hơn 10.000 tỷ USD; thời của Tổng thống Obama con số này đã là 13.600 tỷ USD.

    Về nguyên nhân cụ thể, ngoài Chương trình cải tổ hệ thống y tế quốc gia, nước Mỹ còn phải chịu gánh nặng về bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm vỡ nợ, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008. Chi tiêu cho các gói kích thích kinh tế với hơn 900 tỷ USD nhưng không mấy hiệu quả, trong khi nguồn thu vẫn bị thu hẹp do tác động từ suy thoái kinh tế cũng là nguyên nhân làm bội chi ngân sách.

    Mặt khác phải kể đến là chi tiêu cho các cuộc chiến ở Iraq, Afghanishtan, Libya cũng tác động không nhỏ đến nợ công và sự phục hồi kinh tế của Mỹ. Chỉ tính riêng chi tiêu cho hai cuộc chiến ở Iraq, Ápganixtan, Mỹ đã tốn gần 4 tỷ USD. Bội chi ngân sách, mức trần nợ công dâng lên đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế: Đồng USD mất giá làm cho các chỉ số niềm tin cả trong và ngoài nước suy giảm, đồng USD không đi vào sản xuất kinh doanh mà tìm nơi trú ẩn là vàng, làm cho giá vàng tăng vọt… Như vậy, lạm phát, giá cả tăng, thất nghiệp luôn ở mức cao, số việc làm tạo ra không đáp ứng nhu cầu, đời sống nhân dân giảm sút, uy tín quốc tế của Mỹ suy giảm… đó là hậu quả mà nền kinh tế Mỹ đang phải gánh chịu.

    2.5      Tác động nợ công của Mỹ

    2.5.1   Đối với nền kinh tế Mỹ

    Nợ công tăng đã khiến mỗi người dân Mỹ phải gánh khoản nợ hơn 50.000 USD và đây là năm thứ tư liên tiếp ngân sách liên bang nước này bị thâm hụt trầm trọng. Thượng nghị sĩ Jeff Sessions thuộc Ủy ban Ngân sách thượng viện cho biết: “Đây thực sự là bước ngoặt nghiệt ngã với nước Mỹ”. Ước tính, mỗi ngày nợ Mỹ tại tăng thêm 3,5 tỷ USD, tương đương 2 triệu USD mỗi phút, ông Sessions cho biết. Năm 2012 cũng là năm thứ 4 liên tiếp ngân sách nước Mỹ thiếu hụt 1 nghìn tỷ USD. Cố vấn hàng đầu của tổng thống Obama, ông David Axelrod, mới đây cho biết mặc dù người đứng đầu nước Mỹ đang khẩn cấp lên kế hoạch thích hợp để ổn định nợ, song cũng không thể làm giảm nó.

    Trang 26

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Giám đốc điều hành tổ chức phi chính phủ Concord Coalition, ông Robert Bixby, cho biết: “Nợ quốc gia như một quả bom hẹn giờ, nếu không thể đưa ra cách giải quyết, nó sẽ nổ tung. Nước Mỹ hiện nay đang phải chi khoảng 200 tỷ USD để trả lãi. Số tiền đó thậm chí còn nhiều hơn các hoạt động tại Afghanistan hay cho dịch vụ y tế”.

    Nền kinh tế lớn nhất thế giới đang cận kề nguy cơ chạm mức trần nợ công ngay trong năm 2012. Giải pháp cấp bách hiện tại để giảm mức thâm hụt ngân sách là thông qua việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế hoặc kết hợp cả hai phương án trên. Tuy nhiên, nhìn từ mọi góc độ thì nhiệm vụ trên là hết sức nặng nề. Nguồn thu ngân sách của Chính phủ phải tăng từ 20-30% trong khi chi tiêu cũng phải được cắt giảm ở mức tương đương. Thực tế, có 45% số hộ gia đình tại Mỹ không phải đóng thuế và có 3% số người thu nhập cao đóng góp tới 52% tổng số các loại thuế. Do đó, một cuộc “đại phẫu” về chính sách thuế là cần thiết.

    Với tình hình khủng hoảng nợ công như hiện nay, nước Mỹ sẽ rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toán, vỡ nợ, lãi suất trái phiếu liên bang tăng cao, đồng USD tiếp tục mất giá, lạm phát, giá cẩ tăng, thất nghiệp luôn ở mức cao, kinh tế suy thoái, bộ máy công quyền đình trệ, phúc lợi xã hội và lương hưu không được chi trả kéo theo mất ổn định chính trị xã hội nội bộ, đời sống nhân dân giảm sút… Đồng thời, vị thế của nước Mỹ trên thế giới sẽ bị suy giảm do đó việc bị đánh tụt thứ hạng xếp bậc tín nhiệm là không tránh khỏi. Dù các hãng xếp hạng tín dụng của Mỹ đều giữ mức tín nhiệm của nền kinh tế Mỹ là AAA nhằm trấn an thị trường Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, nhưng hãng xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Trung Quốc Dagong cho biết đã hạ mức tín nhiệm của Mỹ sau khi trần nợ công của nền kinh tế lớn nhất thế giới này được nâng lên. Theo đó, chỉ số tín nhiệm của Mỹ đã bị hạ từ mức A+ xuống mức A cùng triển vọng tiêu cực.

    Nợ công cũng đã làm suy giảm uy tín, vị thế của nước Mỹ trong thời gian gần đây. Việc Standard & Poor’s hạ mức tín nhiệm AAA của Mỹ xuống còn AA+ đã gây ra nhiều hệ lụy đối với nền kinh tế Mỹ. Hệ quả trực tiếp đối với thị trường đầu tư Mỹ là việc tăng lãi suất tín dụng và giảm giá của trái phiếu, điều này đồng nghĩa với việc lợi nhuận của trái phiếu sẽ giảm theo. Như vậy, về dài hạn, các nhà đầu tư rất có thể sẽ không còn thấy sức hấp dẫn của trái phiếu từ đó chuyển tiền đầu tư vào trái phiếu Mỹ sang một kênh đầu tư khác hiệu quả hơn. Việc mất hạng tín nhiệm AAA sẽ kéo theo

    Trang 27

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sự mất điểm xếp hạng của cơ quan phát hành trái phiếu khác vẫn được đánh giá AAA như các bang, hạt, bệnh viện, các trường đại học của Mỹ… Thêm vào đó là việc định giá lại các tài sản của Mỹ, dẫn đến hệ quả là khả năng vay tiền với lãi suất thấp của Mỹ sẽ giảm mạnh trong khi đa số các khoản vay của Mỹ là từ nước ngoài.

    2.5.2   Đối với nền kinh tế thế giới

    Vấn đề nợ công của nước Mỹ còn có thể tác động sâu rộng hơn thế rất nhiều bởi vì Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và mọi biến động ở đó dù theo chiều hướng nào thì cũng đều tác động mạnh mẽ tới các nền kinh tế khác và tới kinh tế thế giới nói chung. Mặt khác đồng đô la Mỹ vẫn có vai trò của đồng tiền chủ đạo trên thị trường tài chính và tiền tệ, trong quan hệ thương mại và trong tiêu dùng không chỉ ở Mỹ nên mọi chiều hướng tăng hay giảm giá của nó cũng kéo theo hậu quả và hệ lụy đối với tất cả các khu vực khác trên thế giới.Vấn đề nợ công ở Mỹ và châu Âu đang bao phủ “những đám mây đen” trên bầu trời kinh tế thế giới. Kinh tế thế giới bị ảnh hưởng theo, nhịp độ phục hồi và tăng trưởng kinh tế bị giảm, thị trường tài chính mất ổn định. Nhiều nhà kinh tế còn lo ngại rằng hậu quả và tác động của việc này còn tai hại hơn nhiều so với cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua. Cụ thể là:

    Phát biểu tại một trại hè thanh niên ở gần thủ đô Moscow ngày 2-8-2011, Thủ tướng Nga Vladimir Putin buộc tội Mỹ là một “kẻ ăn bám” đối với nền kinh tế toàn cầu. Ông Putin chỉ trích: “Họ (nước Mỹ) đã chi tiêu quá đà và sau đó chuyển một phần gánh nặng của họ lên nền kinh tế thế giới. Nợ Mỹ đang treo trên đầu thế giới”. Ông nhấn mạnh: “Nếu Mỹ gặp trục trặc hệ thống, điều này sẽ ảnh hưởng đến tất cả các nền kinh tế khác”.

    Trước đó, giới chức ở Anh và Nhật Bản cũng cho rằng nước Mỹ vỡ nợ có thể ảnh hưởng xấu đến các hộ gia đình và doanh nghiệp trên toàn thế giới.Các thị trường có thể rơi vào hỗn độn như khi Ngân hàng Đầu tư Lehman Brothers sụp đổ vào tháng 9-2008.Các quan chức Nhật Bản còn hy vọng, Mỹ sẽ ưu tiên thanh toán lãi suất cho các trái chủ quốc tế nhằm hạn chế tác động trực tiếp lên các thị trường.

    Với khoảng 3000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ nắm giữ dưới hình thức trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, trong đó riêng Trung Quốc và Nhật Bản đã sở hữu tổng cộng trên 2000 tỷ USD, rõ ràng châu Á sẽ là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu Mỹ rơi vào tình trạng vỡ nợ. Đối với Trung Quốc, quốc gia “chủ nợ” lớn nhất của Mỹ, tiếp tục mua thêm

    Trang 28

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    7,3 tỷ USD trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ trong tháng 5 vừa qua, đánh dấu tháng tăng thứ hai liên tiếp sau 5 tháng sụt giảm. Giới chuyên gia cho rằng, chính Trung Quốc đã tự đẩy mình vào “thế khó” để bảo vệ quyền lợi kinh tế của riêng mình.

    Cơ quan xếp hạng tín dụng S&P đã hạ mức tín nhiệm AAA của Mỹ xuống hạng AA+, do lo ngại về thâm hụt ngân sách, nâng trần nợ công của nền kinh tế lớn nhất thế giới.Không những thế S&P còn giảm mạnh dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ xuống còn 2% hoặc ít hơn trong nửa cuối năm nay, so với mức dự báo 3,5% GDP cách đây một tháng, đồng thời đánh giá nguy cơ kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái mới là hơn 30%. Ðây là lần đầu kể từ năm 1941 đến nay, một tuyên bố của S&P đã tạo ra một cú sốc kinh tế lớn, đe dọa vỡ nợ tại Mỹ (khối lượng công trái Mỹ đã lên tới 9.340 tỷ USD; nợ chính phủ theo đồng hồ đo nợ đã lên hơn 14.000 tỷ USD). Phản ứng dây chuyền tiếp theo là thị trường chứng khoán châu Á, châu Âu giảm mạnh; chỉ số Dow Jones sụt giảm 643,76 điểm trong ngày, hơn 5%; giá dầu tụt giảm sâu, giá vàng tăng chóng mặt, tăng trưởng GDP thế giới đối diện với nguy cơ suy thoái trở lại… đang thổi bùng lên các cuộc tranh luận về nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng toàn cầu mới.

    Trong bối cảnh không thuận lợi về kinh tế vĩ mô, hầu hết các TTCK trên thế giới đã đi vào giai đoạn suy giảm đáng kể trong năm 2011. Các chỉ số chính trên thị trường đạt tới mốc ngang bằng với thời điểm đầu năm 2008 – ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế trên quy mô rộng. Tuy nhiên, những tác động từ cuộc khủng hoảng nợ công trong nước và ở châu Âu, yếu kém của nền kinh tế Mỹ và hậu quả của các sự kiện chính trị – xã hội tại Bắc Phi, Trung Á và Nhật Bản đã khiến giá cổ phiếu trên TTCK Mỹ chuyển sang giai đoạn suy giảm trong cả tháng 5 và tháng

    1. Trong tháng 5 và 6, các chỉ số chính trên TTCK Mỹ đều giảm từ 4-5%. Có thể nhận thấy, hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Mỹ đang có xu hướng suy giảm và là rào cản đối với triển vọng phục hồi của nền kinh tế Mỹ. Tương tự như thị trường Mỹ, diễn biến TTCK châu Âu trong quý II cũng có 3 giai đoạn biến động với một giai đoạn tăng trưởng xen kẽ giữa hai giai đoạn suy giảm. Trong cả quý II, chỉ số Euro Stoxx 50 giảm 8,1%. Đến cuối quý III, chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 4,04% so với đầu tháng; chỉ số CAC 40 của Pháp giảm 6,5% và chỉ riêng chỉ số DAX của Đức tăng 1,37%. Vấn đề lớn nhất đối với thị trường châu Âu trong thời gian qua lại không phải là những yếu kém về tăng trưởng kinh tế mà lại nằm ở nguy cơ của cuộc khủng hoảng nợ công tại

    Trang 29

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    các nước trong khu vực. Khác với thị trường Mỹ và châu Âu, thị trường các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương lại có xu hướng đi ngang hoặc điều chỉnh giảm ngay từ đầu quý II.. Trong đó, các thị trường suy giảm mạnh nhất là Ấn Độ, Trung Quốc và Úc với nguyên nhân chính là suy giảm tăng trưởng và lạm phát có xu hướng tăng cao.

    Ngày 2-8-2011, Mỹ thống nhất nâng trần nợ công lên 16,4 nghìn tỷ USD và kèm theo, Tổng thống Barack Obama phải cam kết cắt giảm khoảng 4 nghìn tỷ USD để chỉnh đốn tài khóa. Việc nâng trần nợ công có thể tránh một cuộc đổ vỡ cho Mỹ nhưng lại làm trầm trọng thêm thâm hụt ngân sách và nợ nần.Điều này đồng nghĩa với việc Mỹ tiếp tục xả thêm USD ra thị trường, khiến cho đồng tiền này mất giá so với các tài sản khác…Những tác động trên khiến nhà đầu tư phải tìm hướng trú ẩn tài sản vào vàng, khiến giá vàng thế giới phục hồi rất nhanh đồng thời động thái này làm cho giá vàng trong nước trong năm 2011 diễn biến bất thường, có thời điểm còn tăng mạnh cao hơn giá vàng thế giới. Khi trần nợ công của Mỹ được nới lên, giá vàng từ 1.680 USD/oz tụt xuống dưới 1.650 USD/oz, nhiều người cứ nghĩ là vàng sẽ xuống 1.600 USD/oz, nhưng thực sự là nó đã lại lên 1.700 USD/oz.Trên sàn Comex, Giá vàng giao ngay tại Mỹ tăng 17,82 USD tương đương 0,9% lên 1.900,7 USD/oz. Trước đó giá chạm 1.903,52 USD/oz, chỉ kém 10 USD/oz so với giá kỷ lục đạt được ngày 23/8. Trong

    phiên giá có lúc lên tới 1.908,4 USD/oz.

    Trang 30

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.6 Tác động của cuộc khủng hoảng nợ công khu vực đồng tiền chung Châu Âu.

    2.6.1   Tác động đến các nước trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu

    Tỷ lệ thất nghiệp đạt mức kỷ lục: Theo cơ quan thống kê Liên minh châu Âu công bố ngày 8/1/2013, tỷ lệ thất nghiệp tại Khu vực đồng tiền chung châu Âu trong tháng 11/2012 đã tăng lên mức cao kỷ lục là 11,8%, khoảng 19 triệu người, tăng hơn 2 triệu người so với cùng kỳ năm 2011.

    Trang 31

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Tỷ lệ thất nghiệp Eurozone giai đoạn tháng 8/2002 đến 8/2012

    Tây Ban Nha là quốc gia có số người thất nghiệp cao nhất trong số các nước Eurozone với tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 11 lên tới 26,6%, tăng 3,6% so với cả năm 2011 và còn cao hơn cả Hy Lạp.

    Tỷ lệ thất nghiệp tại Italia cũng duy trì ở mức cao kỷ lục 11,1% – tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2011, trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở giới trẻ cũng chạm đỉnh ở mức 37%. Áo là quốc gia có số người thất nghiệp thấp nhất với 4,5%, tiếp đó là Lúcxămbua 5,1% và Đức 5,4%.

    Như vậy, tình trạng thất nghiệp tại Eurozone hiện vẫn tồi tệ hơn so với tại Mỹ và Nhật Bản. Trong tháng 11 vừa qua, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ là 7,8%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản là 4,1%

    Trang 32

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Tỷ lệ thất nghiệp ở Eurozone Qúy 2/2012

    Tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ gây ra nhiều bất bình trong xã hội, ảnh hưởng tới chính trị và gây những phản ứng bất lợi cho các thị trường tài chính.

    Đồng Euro mất giá: Cuộc khủng hoảng nợ công ở Eurozone đã làm cho đồng Euro liên tục mất giá, tính đến ngày 1/8/2012 đồng euro giao dịch ở mức 1,2291 USD đổi 1 euro.

    Nguyên nhân khiến đồng Euro mất giá kỷ lục so với đồng USD là do chính sách lãi suất thấp mà Ngân hàng trung ương châu Âu ECB đang thực hiện và việc khu vực châu Âu đang tung vào thị trường hàng tỷ euro cho các gói cứu trợ tài chính. Bên cạnh đó, trên thực tế các thị trường vẫn hoài nghi về mức độ thành công của giải pháp ngăn ngừa cuộc khủng hoảng nợ lan rộng ra khu vực đồng tiền chung.

    Sự xuống dốc của đồng Euro là một dấu hiệu cho sự đổ vỡ của khối Eurozone. Doanh nghiệp nhập khẩu sẽ gặp khó khăn bởi chi phí nhập hàng hóa sẽ tăng, nhất là với nguyên vật liệu sản xuất. Bên cạnh đó nó cũng có những dấu hiệu tích cực cho Eurozone như là:

    Trang 33

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Các doanh nghiệp xuất khẩu của châu Âu sẽ được hưởng lợi. Giá cả các mặt hàng xuất khẩu sẽ giảm trên thị trường, qua đó củng cố sức cạnh tranh của hàng hóa. Khi bán được hàng, hệ quả tiếp theo sẽ là có thêm nhiều việc làm cho người dân châu Âu. Các nền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, như Đức, sẽ nâng cao được tính cạnh tranh.Tương tự như vậy, các quốc gia mà ngành công nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn, nhất là Italia (chiếm khoảng 17% GDP), cũng gia tăng được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    Giúp hạ chi phí sản xuất: Đó có thể là những điểm hấp dẫn các nhà đầu tư tiếp tục làm ăn và mở rộng kinh doanh

    Lạm phát tăng cao: Theo cơ quan thống kế của Liên minh châu Âu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của 17 nước thuộc khu vực đồng euro (eurozone) trong tháng 9 tăng 2,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Kinh tế trưởng khu vực eurozone tại UniCredit Global Research, ông Marco Valli, cho biết: “Lạm phát tăng mạnh hơn so với dự đoán, chủ yếu do giá cả hàng hóa tăng cao và hoạt động đánh thuế gián tiếp”.

    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): của Eurozone đã giảm liên tiếp trong hai quý cuối năm 2011 và quý đầu năm 2012, lần lượt ở mức 0,3% và 0,2%. Ðức – nền kinh tế số một Eurozone, tuy tăng trưởng 0,1% trong quý 1/2012, nhưng vẫn không đủ bù đắp cho sự sụt giảm của toàn khu vực.

    Tình hình thất nghiệp và lạm phát tăng cao, đồng Euro mất giá, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực tế người dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh.

    Thâm hụt Ngân sách nhà nước và chi tiêu công, cũng như sự mất giá của trái phiếu chính phủ, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đã làm tổn thất hàng ngàn tỷ USD thu nhập tài chính của các nước thành viên EU, làm suy giảm nặng nề thêm nền kinh tế khu vực, cũng như thị trường tài chính-tiền tệ khu vực và thế giới, khiến nhiều chính trị gia mất ghế, gây nhiều tranh cãi và những chi phí giải cứu tốn kém hàng trăm tỷ Euro.

    Khủng hoảng ngân hàng trở thành nỗi lo mới: khủng hoảng ngân hàng đã nổi lên là nguy cơ mới đối với sự liên kết của khu vực đồng euro và Liên minh châu Âu (EU).

    Trang 34

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.6.2 Tác động đến các nước trên thế giới Tốc độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại.

    Khủng hoảng nợ công ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty trên toàn cầu. Suy thoái kinh tế đã ảnh hưởng tới ít nhất 8 trong 17 nước trong khu vực đồng tiền chung euro là nguyên nhân chính làm suy giảm nhu cầu đối với tất cả các loại hàng hóa. Việc giảm biên chế khoảng 150.000 việc làm trong khu vực nhà nước và cắt giảm tới 11,5 tỷ euro (14,5 tỷ USD) ngân sách nhà nước đã kiềm chế chi tiêu của cả người tiêu dùng lẫn các doanh nghiệp. Đó là nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận của các công ty trên toàn cầu sẽ giảm.

    Làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các đối tác thương mại của các nước trong khối eurozone điển hình như các nước Bắc Âu: Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển.

    Châu Á: Nền kinh tế toàn cầu bị trì trệ làm cho giá cả hàng hóa giảm và việc xuất khẩu sang khu vực Châu Âu của các nước bị thiệt hại đặc biệt là khu vực Châu Á, do Châu Âu là khách hàng lớn của các nước trong khu vực Châu Á.

    Các dòng chảy tài chính cũng sẽ bị ngưng đọng. Với thực tế rằng khu vực Đông Nam Á phụ thuộc khá lớn vào dòng đầu tư nước ngoài để tăng trưởng, nên việc các nền kinh tế phát triển trên thế giới áp dụng chính sách khắc khổ sẽ đẩy khu vực vào tình trạng khan hiếm về vốn đầu tư.

    Mỹ: Các ngân hàng thương mại ở Mỹ có sự liên kết chặt chẽ với các ngân hàng

    • châu Âu và do đó phải đối diện với các nguy cơ lây lan trực tiếp từ các ngân hàng EU. Chính những định chế tài chính lớn nhất Hoa Kỳ lại đang sở hữu hàng tỉ USD nợ

    xấu từ cả năm quốc gia đang gặp khốn đốn bao gồm Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Ý và Tây Ban Nha

    Khối eurozone từ lâu đã là một thị trường xuất khẩu lớn nhất đối với Mỹ. Do khủng hoảng nên nhu cầu đối với các sản phẩm từ Mỹ sẽ giảm. Khủng hoảng nợ công của Châu Âu cũng làm ảnh hưởng đến thị trường tài chính của Mỹ. Giá cổ phiếu Mỹ đã sụt giảm đáng kể từ đầu tháng 5 năm nay, chính là bắt nguồn từ những lo ngại gia tăng về tương lai của Eurozone.

    Trang 35

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2.6.3   Tác động đến Việt Nam

    1. Xuất khẩu giảm

    Theo những số liệu tính toán từ mô hình ước lượng cho thấy, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu sẽ có những tác động tiêu cực đến xuất khẩu và tăng trưởng GDP của Việt Nam, với mức suy giảm khoảng 1,7% GDP trong năm 2010.

    Cần có những chính sách phản ứng kịp thời hỗ trợ xuất khẩu thì triển vọng trung hạn đối với xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.

    1. Chi phí cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam giảm: do lãi suất ở

    các nước thấp, lãi xuất ở Việt Nam cao.

    Do lo ngại tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ công, nhiều ngân hàng trung ương các nước phát triển vẫn duy trì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm kích thích sự phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định. Lãi suất cơ bản tiệm cận 0% hầu hết các nước: FED (Mỹ): 0,25%; ECB (EU): 1%; BOE (Anh): 0,5%; Nhật Bản 0,1%. Ngược lại ở Việt Nam, lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao.

    1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài suy giảm

    Khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra hai tác động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu. Trong những quốc gia có trình độ phát triển tương đương với các nước thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI sẽ dịch chuyển từ châu Âu sang các quốc gia này khi nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại các quốc gia châu Âu.

    Ngược lại, các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam lại hoàn toàn không được hưởng lợi từ việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự chênh lệch quá lớn về trình độ công nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư châu Âu vào các quốc gia này giảm sút do cuộc khủng hoảng nợ.

    1. Giá vàng bùng nổ hút vốn đầu tư

    Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với đồng tiền giấy, sau khi nhiều cá nhân và tổ chức ở châu Âu, châu Á đua nhau mua vàng, mua bạch kim và bạc.

    Trang 36

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Việc giá vàng tăng cùng với xu hướng tăng mạnh của đồng USD là điều ít khi xảy ra. Rất có thể sẽ tăng tới một kỷ lục mới trong thời gian tới và tạo sự tách biệt hoàn toàn giữa giá tài sản vàng và các tài sản khác.

    Điều này sẽ tác động xấu đến đầu tư toàn thế giới và Việt Nam bởi một khi vàng chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của các tổ chức thì cũng đồng nghĩa với việc các danh mục khác như cổ phiếu, trái phiếu sẽ bị giảm mạnh.Như vậy, luồng vốn đầu tư gián tiếp càng trở nên hạn chế.

    1. Bảo hiểu rủi ro tín dụng (CDS) xu hướng tăng lên

    Vấn đề Hy Lạp đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận trọng hơn với các quốc gia có vấn nạn tương tự: 3 số liệu cảnh báo bao gồm: nợ quá nhiều, thể hiện ở tỷ lệ nợ trên GDP cao; chi tiêu quá mức, thể hiện ở mức thâm hụt ngân sách lớn so với GDP; và tốc độ tăng trưởng GDP sụt giảm.

    Hệ quả là Việt Nam với tỷ lệ nợ cao, thâm hụt ngân sách triền miên đang bị các tổ chức tài chính quốc tế xếp vào mục rủi ro cao, với mức CDS là 263, xếp ngay trên Hy Lạp (321) và Iceland (466). Điều này sẽ là một cản trở rất lớn trong việc thu hút các luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và cho vay từ nước ngoài.

    1. Tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá

    Khủng hoảng nợ châu Âu cũng tạo ra những biến động khó lường về tỷ giá. Đồng USD và đặc biệt là đồng Yên sẽ tiếp tục đà tăng mạnh so với đồng Euro do tính an toàn từ phía các đồng tiền này. Từ khi cuộc khủng hoảng có dấu hiệu nghiêm trọng, đồng Euro mất giá tương đối so với USD.

    Sang tháng 6,/2010, tỷ giá USD/Euro chỉ còn 1,19, rất thấp so với mức xấp xỉ 1,4 của đầu tháng 3, do đó sẽ tạo ra những rủi ro nhất định trong việc vay, trả ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như cho hoạt động ngoại hối của các ngân hàng thương mại.

    Ngoài ra, đồng USD tăng giá mạnh trong khi thâm hụt thương mại của Việt Nam đang gia tăng, cộng với thời điểm đáo hạn của các khoản vay tín dụng ngoại tệ, sẽ gia tăng sức ép tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá vào các tháng cuối năm 2010.

    Trang 37

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    • Thực trạng nợ công ở Việt Nam và giải pháp

    3.1 Thực trạng nợ công ở Việt Nam

    3.1.1  Nguy cơ vượt ngưỡng an toàn và những rủi ro tiềm ẩn

    Nợ công theo chuẩn quốc tế được hiểu là nợ của chính phủ cộng thêm nợ do chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Trong cách tính của Việt Nam lại không coi nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một phần của nợ công, do vậy mà một khoản nợ lớn của khối này đã không được tính vào nợ quốc gia.

    Để đo lường quy mô nợ công của một quốc gia, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu % so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và từ đó tiến hành những phân tích về tính bền vững và hiệu quả của chúng.

    Theo công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist, tỷ lệ nợ công năm 2011 của Việt Nam là 50,9% GDP, dự kiến năm 2012 tỷ lệ này là 55,4%. Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 60% GDP theo cách tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ công trên GDP của Liên hiệp quốc) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến được khuyến cáo ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và so với một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (25,6%).

    Bảng 1: Tỷ lệ nợ công/GDP từ năm 2001 đến năm 2012

    Năm 2001 2002 2003     2004 2005   2006 2007 2008 2009   2010 2011 2012
                                                                                                                (f)
                                                                                                             
    %GDP 36 38.2 41.1     42.7 44       45.9 49.7 47.9     51       56.7   50.9 55.4
                             
    Nguồn: EIU                                                                                                          
                                                                                                       
                Tỷ lệ nợ công/GDP Việt Nam qua các năm                                    
                                                                                                         
        60%                                                       56.70% 50.90% 55.40%        
                                                              51%                  
                                        49.70% 47.90%                                        
                                                                               
                                                                                         
        50% 36% 38.20% 41.10% 42.70%   44% 45.90%                                                                  
                                                                           
                                                                           
                                                                                     
        40%                                                                                        
                                                                                               
                                                                                                       
                                                                                                               
                                                                                                               

    30%

    20%

    10%

    0%

    2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012

    (f)

    Năm

    Trang 38

      Đề tài: Khủng hoảng nợ công       Nhóm 4 – Đêm 3 – K22
                       
                         
      Bảng 2:Nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2002-2011    
                         
      Năm GDP Nợ chính phủ Nợ được CP   Tổng nợ NNCP  
        (Tỉ đồng)     bảo lãnh        
                         
          Tốc độ (%) Tốc độ (%)   Tốc độ (%)  
          tăng năm GDP tăng năm GDP   tăng GDP  
          sau so với   sau so với     năm    
          năm trước   năm     sau so    
          (%)   trước (%)     với    
                    năm    
                    trước    
                    (%)    
                         
      2002 535.762 26,0 0,9   26,9  
                         
      2003 613.443 20,3 27,3 96,4 1,7   23,0 28,9  
                         
      2004 715.307 17,7 27,6 48,7 2,1   19,5 29,7  
                         
      2005 839.211 7,0 25,1 -4,9 1,7   6,2 26,9  
                         
      2006 974.266 11,2 22,7 14,7 1,7   11,4 24,4  
                         
      2007 1.143.715 18,9 25,1 93,2 2,8   23,7 27,9  
                         
      2008 1.480.038 11,9 21,0 16,5 2,5   11,4 23,5  
                         
      2009 1.658.389 31,9 24,8 13,4 2,5   31,0 27,3  
                         
      2010 1.980.914 26,9 26,4 9,52 2,3   25,3 28,7  
                         
      2011 2.250.100 20,4 25,0 13,1 2,3   19,8 27,3  
                         

    (Nguồn: Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê)

    Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2011 là 638,55 USD, dự kiến 2012 tăng lên 698,71 USD. Nếu so sánh với 817,22 USD (Trung Quốc), 808,52 USD (Indonesia), 4.626,4 USD (Malaysia), 1.195,29 USD (Philippines), 2.261,78 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao.

    Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 6 lần, cho thấy gánh nặng nợ tương lai đổ lên đầu người dân ngày càng tăng.

    Tính ra từ năm 2007 đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam đã tăng khoảng 25% (trung bình 5%/năm). Với khoản nợ này, căn cứ vào thời điểm đáo hạn thì từ nay đến

    Trang 39

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    2015 mỗi năm Việt Nam phải trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài gần 1,5 tỉ USD và mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD.

    Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng, rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách. Theo đó, những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam. Cụ thể, khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước không được chính phủ bảo lãnh chiếm 11,1% GDP. Ngoài ra, nợ trong nước của khu vực DNNN theo ghi nhận trong Đề án Tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính năm 2012 cũng chiếm xấp xỉ khoảng 16,5%.

    Tính đến các con số kể trên, nợ công Việt Nam đã vượt xa so với ngưỡng an toàn (60% GDP) được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) hay Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF).

    3.1.2   Phân tích nợ công VN và những áp lực trong việc hoàn trả.

    1. Về cơ cấu nợ

    Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng cao nhất. Với việc dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ quá lớn trong cơ cấu vốn đầu tư, nền kinh tế Việt Nam sẽ rất dễ bị tổn thương một khi kinh tế thế giới ngưng trệ, dòng vốn đầu tư nước ngoài bị suy giảm.

    Bảng 3: Tình hình vay nợ, tính đến 31/12/2012

    Khoản mục Số liệu Ghi chú
         
    Tổng số vốn vay ODA và vay 71.7 tỷ USD  
    ưu đãi nước ngoài    
         
    Tổng  số  vốn  cam  kết  vay 4.08 tỷ USD  
    thương mại nước ngoài    
         
    Dư nợ các dự án cho vay lại của 10.3 tỷ USD Tương  đương  8.5%
    Chính phủ   GDP
         
    Số lượng các dự án cho vay lại 580 dự án 55 dự án nợ quá hạn
         
    Tổng số dư nợ công 55.4% Giảm  1.9%  so  với
        2010
         

    Trang 40

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    Nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoản vay ODA, được tài trợ từ trái phiếu trong nước. Nhiều khoản vay ODA có thời gian vay rất dài với lãi suất ưu đãi, chẳng hạn vay WB thời hạn là 40 năm, ân hạn 10 năm và lãi suất chỉ có 0,75% hay vay ADB thời hạn là 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất 1%, vay Nhật Bản thời hạn vay 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất từ 1% – 2%, thông thường là 1% còn một số khoản cao hơn chỉ 2%.

    Các điều khoản ưu đãi của ODA đã giúp Việt Nam giảm bớt được áp lực nợ công; tuy nhiên, các khoản vay ưu đãi lại thường đi kèm với các điều khoản có liên quan đến những ràng buộc về chính trị và kinh tế khác. Nợ càng nhiều, ràng buộc về kinh tế, chính trị cũng lớn hơn. Khủng hoảng nợ Argentina (2001) và sự bất ổn của Hy Lạp hiện nay là minh chứng điển hình cho tác động tiêu cực của nguồn nợ công từ nước ngoài.

    1. Về tính thanh khoản của các khoản nợ

    Các món vay nợ nước ngoài của Việt Nam phần lớn là vay nợ dài hạn và tính thanh khoản nợ công hiện vẫn khá tốt vì các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp chiếm tới 80% (nghĩa vụ trả nợ đến năm 2013 chiếm khoảng 10% dự trữ ngoại hối quốc gia và nợ nước ngoài chiếm 20% dự trữ ngoại hối hiện nay). Mặc dù vậy, nợ công của Việt Nam vẫn có thể xảy ra những rủi ro về tính thanh khoản, khi thời hạn trả nợ bị xáo trộn (khoản nợ từ trung hạn và dài hạn có thể chuyển thành ngắn hạn – trong trường hợp các chủ nợ gặp khó khăn hay khủng hoảng kinh tế trong nước). Đặc biệt, tính thanh khoản của những khoản nợ nước ngoài trong ngắn hạn cũng tiềm ẩn những rủi ro khi tỷ lệ dự trữ ngoại hối của Việt Nam/tổng dư nợ ngắn hạn đã và đang sụt giảm với tốc độ rất nhanh, từ mức 100 lần năm 2007 xuống còn 28 lần vào năm 2008, còn 3 lần vào năm 2009 và chỉ còn gấp khoảng 2 lần trong năm 2010.

    Bên cạnh đó, nghĩa vụ trả nợ nội địa trong ba năm tới được ước tính trên số lượng trái phiếu Chính phủ đã phát hành và sẽ đáo hạn trong vòng 3 năm tới, ước khoảng 215.000 tỷ đồng, tương đương 20% dự toán thu NSNN của thời điểm đó (2014). Con số này khá lớn và ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách tài khóa, lạm phát và các chính sách liên quan của Việt Nam trong giai đoạn tới.

    Trang 41

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    1. Về chi phí vay nợ

    Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp, trong đó chủ yếu là ở mức 1% – 2,99%. Tuy nhiên so với các năm trước, năm 2010, các khoản vay của Việt Nam có lãi suất cao hơn và khoản vay với lãi suất thả nổi đang ngày càng tăng lên, gây thêm áp lực nợ cho Chính phủ. Trong 25,097 tỷ USD tổng nợ nước ngoài của Chính phủ, có 19,313 tỷ USD có lãi suất từ 1 – 2,99%; trên 1,678 tỷ USD chịu lãi suất từ 3 – 5,99% (tăng 176 triệu USD so với 2009) và có tới 1,888 tỷ USD ở mức lãi suất 6- 10%, tăng hơn gấp đôi so với 2009. Ngoài ra, các khoản vay với lãi suất thả nổi cũng tăng 6,66 triệu USD so với 2009.

    Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm. Hơn nữa cần lưu ý là các khoản vay ưu đãi lãi suất thấp cũng sẽ giảm đi khi Việt Nam gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình, thay vào đó là vay thương mại có lãi suất cao hơn nhiều. Với thực trạng này, rõ ràng chi phí trả lãi đang trở thành gánh nặng ngày càng gia tăng của Chính phủ.

    1. Về tiền vay nợ

    Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. Trên lý thuyết, điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế cơ cấu này cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới. Tỷ trọng cao của các khoản vay bằng USD (22,16%) và JPY (38,83%)gây nguy cơ gia tăng khoản chi gốc và lãi khi tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng; và JPY đang lên giá so với USD (Năm 2006: 1USD=116,3 Yên, năm 2010: 1USD=84,11979 Yên).

    Như vậy khi đến kỳ trả nợ, Việt Nam sẽ phải dành một lượng USD lớn hơn nhiều để mua đồng Yên trả nợ. Và chỉ riêng biến động này này đã làm gia tăng tổng số nợ nước ngoài và nợ công của chúng ta.

    Như vậy, mặc dù mức nợ công so với GDP của Việt Nam vẫn được đánh giá là an toàn nhưng nợ công đang ẩn chứa nhiều rủi ro. Khi nợ công quá cao, bên cạnh những hậu quả về mặt kinh tế, quốc gia còn phải đối mặt với nguy cơ suy giảm chủ quyền, khi phải chịu những áp lực to lớn từ phía các chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế, nguy cơ bất ổn về xã hội khi Nhà nước không đảm bảo được những vấn đề về an sinh xã hội

    Trang 42

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    cho người dân. Thông thường, đó là những sức ép về việc thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội, khó khăn trong giải quyết thất nghiệp..và xa hơn nữa là những yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thay đổi các định hướng kinh tế theo hướng tự do hoá nhiều hơn. Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệ song phương cũng như đa phương với các đối tác là các nước chủ nợ.

    Mặt khác, mối quan ngại về sự già hóa dân số sẽ làm cho nợ công tăng vọt trong những thập kỷ tới. Nguyên nhân là do lực lượng lao động bị thu hẹp sẽ làm cho nguồn thu thuế của chính phủ bị sụt giảm, trong khi đó số người nghỉ hưu tăng lên sẽ gây áp lực cho việc tăng chi tiêu chính phủ trong các khoản lương hưu và chăm sóc sức khỏe…do vậy, quản lý nợ công thế nào cho hiệu quả là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu tại Việt Nam hiện nay.

    3.1.3 Thâm hụt ngân sách và sự thiếu hiệu quả trong vấn đề sử dụng và quản lý nợ công ở Việt Nam

    Chúng ta đều biết, nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công bền vững đó là nợ công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai. Nhưng thực tế tại Việt Nam, thâm hụt ngân sách đã trở thành kinh niên và mức thâm hụt đã vượt xa ngưỡng “báo động đỏ” 5% theo thông lệ quốc tế (bảng 3), đe dọa đến tính bền vững của nợ công.

    Bảng 4: Thâm hụt ngân sách của Việt Nam qua các năm (%GDP)

    Thâm hụt ngân sách của Việt Nam diễn ra liên tục trong khoảng hơn một thập kỉ qua và có mức độ ngày càng gia tăng. Cụ thể, thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giai đoạn 2003 – 2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng

    Trang 43

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7% GDP trong giai đoạn 2008 – 2012. Sự gia tăng thâm hụt này càng làm cho tính bền vững của nợ công Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng.

    Mặt khác, trong khi vốn vay ngày càng lớn thì hiệu quả đầu tư của nền kinh tế Việt Nam lại đang giảm thấp đến mức báo động với chỉ số ICOR tăng mạnh trong giai đoạn 1991 – 2009. Nếu như trong giai đoạn 1991 – 1995, hệ số ICOR là 3,5 thì đến giai đoạn năm 2007 – 2008, hệ số này là 6,15; năm 2009, hệ số ICOR tăng vọt lên 8; năm 2010 hệ số này là 6,2; nhưng vẫn cao hơn nhiều so với khuyến cáo của WB đối với nước đang phát triển, ICOR ở mức 3 là đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững. Và điều đáng nói ở đây nếu hệ số ICOR chung của nền kinh tế là 8, thì ICOR của khu vực kinh tế Nhà nước lên tới 12. Khu vực công sử dụng vốn chủ yếu từ đi vay nhưng việc sử dụng lại không có hiệu quả, đầu tư dàn trải, thất thoát lãng phí. Phải kể đến đó chính là hàng loạt các dự án do khu vực công đầu tư với số vốn đầu tư khổng lồ, chi phí bỏ ra quá lớn như dự án Đường cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây và cảng nước sâu Thị Vải – Cái Mép được coi là hai dự án điển hình của lĩnh vực giao thông, một lĩnh vực nặng gánh nợ công và vẫn có nhu cầu rất lớn về đầu tư công. Chi phí đầu tư quá cao khiến một dự án dù có hiệu quả kinh tế nhưng vẫn nguy cơ khó trả nợ và tạo thêm gánh nặng nợ nần.

    Ngoài ra còn phải kể đến những doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trì trệ, làm ăn thua lỗ, Nhà nước phải đứng ra trả nợ thay như Tập đoàn Vinashin là một ví dụ điển hình. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài sẽ là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Nguồn vốn sử dụng không hiệu quả thì khả năng trả nợ sẽ là khó khăn. Do vậy nguy cơ bất ổn về kinh tế rất có thể xảy ra nếu Việt Nam không tính toán khéo để có đủ khả năng trả nợ trong tương lai, đồng thời có thể kéo theo những bất ổn về mặt xã hội khi người dân mất lòng tin vào sự điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.

    3.2      Nợ công tăng cao gây ra nhiều hậu quả

    Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng trong nước giảm sút

    Nếu nợ trong nước lớn thì Chính phủ phải tăng thuế để trả nợ lãi vay gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội. Tăng thuế còn làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền

    Trang 44

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng.lạm phát khó kiềm chế ở mức thấp, nợ công tăng cao cũng làm cho nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.

    3.3 Giải pháp quản lý nợ công ở Việt Nam:

    Vay nợ để đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều bình thường, diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới. Tuy vậy, nợ bao nhiêu là an toàn lại là một bài toán khó. Vấn đề mấu chốt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là phải vay mượn trong và ngoài nước, nhất là vay vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức để tạo nguồn vốn cho tăng trưởng và phải sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó.

    Trước bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua và trong xu thế phát triển hiện nay, chính phủ thực hiện nhiều biện pháp kích cầu kinh tế, tuy có phần nới lỏng kiểm soát tín dụng nên đã làm cho việc nợ vay của Chính phủ từ Trung Ương đến địa phương tăng lên nhanh chóng. Con số nợ công của Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt là nợ nước ngoài đã trở thành mối lo ngại đến an ninh tài chính quốc gia. Do đó, Chính phủ cần có biện pháp để tính toán kiểm soát mức dư nợ phù hợp với nền kinh tế và kiểm soát tốt quá trình sử dụng nguồn vốn vay, bằng cách xây dựng chiến lược và hệ thống giải pháp khoa học, khả thi về quản lý nợ công.

    3.3.1   Xây dựng chiến lược về vay nợ công:

    Trên cơ sở phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch thu, chi Ngân sách Nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ, cần xác định rõ mục đích vay (vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân sách, tái cơ cấu nợ và cho vay lại hoặc vay tài trợ cho các chương trình, dự án đầu tư quan trọng, hiệu quả, vay nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia), mức huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo từng đối tượng vay trong nước và ngoài nước, với hình thức huy động vốn và lãi suất thích hợp. Chiến lược về vay nợ công cũng cần chỉ rõ đối tượng sử dụng các khoản vay; hiệu quả dự kiến; xác định chính xác thời điểm vay, số vốn vay từng giai đoạn, tránh tình trạng tiền vay không được sử dụng trong thời gian dài hoặc chưa thực sự có nhu cầu sử dụng. Thông thường, vốn vay nước ngoài được các nước đang phát triển đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để tạo đà cho tăng trưởng nhưng cần tính toán, cân đối giữa chính các dự án cơ

    Trang 45

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sở hạ tầng. Nếu dùng nợ công để phát triển thì các dự án phải tạo ra công ăn việc làm, tạo lợi nhuận.

    Bên cạnh đó, cần chú ý đến yếu tố đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công cũng như khả năng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí. Bằng cách, thiết lập ngưỡng nợ công an toàn, phù hợp với tình hình kinh tế của Việt Nam; thường xuyên đánh giá các rủi ro phát sinh từ các khoản vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu Ngân sách Nhà nước, tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để trả nợ.

    Đồng thời, Việt Nam cần quan tâm đến huy động vốn trong nước, thay vì chú trọng vào các khoản ngoại tệ thu được từ các đối tác cho vay. Giảm sự lệ thuộc quá nhiều vào vốn vay nước ngoài, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài. Vì trên thực tế, nguồn ngoại tệ giúp cân bằng cán cân thanh toán, nhưng nợ nước ngoài mang lại nhiều rủi ro.

    3.3.2   Công khai và minh bạch thông tin trong quản lý nợ công

    Nợ công là nợ của Quốc gia, do vậy Chính phủ cần công khai và minh bạch quy mô và cơ cấu nợ công. Nghị định 79/2010/NĐ-CP ngày 14/7/2010 của Chính Phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công cũng đã đề cập tới yêu cầu công khai minh bạch nợ công và dự trù ngân sách nhà nước để trả nợ dần. Thông tin chính xác giúp nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những chính sách quản lý đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế. Bên cạnh đó, công khai và minh bạch hóa nhằm tăng cường trách nhiệm trong quản lý, sử dụng các khoản nợ công và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nợ công. Hơn nữa, nói cho cùng, nợ công cũng chỉ là khoản nợ mà người dân phải trả thông qua việc đóng thuế cho nhà nước. Do đó, Chính phủ cần tính toán và công bố chính xác cho nhân dân được biết. Mặt khác, đối với sử dụng nợ công, cũng cần phải minh bạch hóa, có cơ chế chặt chẽ và cụ thể để người dân và xã hội giám sát được các công trình sử dụng vốn ODA, điều này cũng giúp cho nguồn vốn ODA nói chung và vốn vay từ nợ công nói riêng được sử dụng hợp lý và hiệu quả.

    3.3.3   Nâng cao vai trò của hệ thống kiểm tra giám sát tài chính

    Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, thực hiện kiểm tra việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài

    Trang 46

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    sản nhà nước. Vì vậy, Kiểm toán Nhà nước kiểm tra việc quản lý và sử dụng các khoản nợ công là điều cần thiết, đảm bảo tính minh bạch trong quản lý và sử dụng các khoản nợ công cũng như tính bền vững của Ngân sách nhà nước.

    Tuy nhiên, trên thực tế do nợ công gồm nhiều loại hình khác nhau, mỗi loại nợ lại có đặc thù về quản lý đồng thời liên quan đến nhiều cơ quan quản lý, đối tượng sử dụng; do vậy, để kiểm toán nợ công có hiệu quả, hàng năm Kiểm toán nội bộ phải kiểm toán các báo cáo thường niên về nợ công, đồng thời tăng cường số lượng và chất lượng các cuộc kiểm toán chuyên đề về nợ công, như chuyên đề kiểm toán vay nợ nước ngoài của Chính Phủ, vay nợ trong nước, các khoản nợ Chính Phủ bảo lãnh, chi phí vay nợ…

    3.3.4 Nhìn nhận và đánh giá lại hiệu quả đầu tư các dự án để tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay từ nợ công

    Để đảm bảo khả năng trả nợ và tính bền vữa của nợ công, Chính phủ phải tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, vốn được Chính phủ bảo lãnh và các khoản vốn Chính phủ vay về cho doanh nghiệp vay lại.

    Chính phủ là người vay nợ nhưng không phải là người sử dụng cuối cùng các khoản vay vốn, mà là các chủ dự án, các đơn vị thụ hưởng ngân sách, doanh nghiệp, và các cá nhân; trong mọi trường hợp, Ngân sách Nhà nước phải gánh chịu hậu quả, rủi ro trong toàn bộ quá trình vay nợ. Các khoản vay và bảo lãnh này thực chất là nghĩa vụ ngân sách dự phòng, làm nảy sinh nguy cơ Ngân sách nhà nước phải trang trải các khoản nợ của khu vực doanh nghiệp trong tương lai, khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc mất khả năng thanh toán. Nguy cơ này sẽ còn cao hơn nữa khi Chính phủ vay và phát hành bảo lãnh không dựa trên những phân tích thận trọng về mức độ rủi ro cũng như năng lực trả nợ của doanh nghiệp. Do đó, quyết định vay về cho vay lại và bảo lãnh của Chính phủ cần được kiểm soát chặt chẽ và thực hiện hết sức thận trọng, chỉ nên ưu tiên cho các chương trình, dự án trọng điểm của Nhà nước hoặc thuộc các lĩnh vực ưu tiên cao của quốc gia và các dự án có mức độ khả thi và tính hiệu quả cao; không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn; vay thương mại nước ngoài chỉ sử dụng cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và bảo đảm khả năng trả nợ. Song song với việc đó, cần phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên quá trình sử dụng các khoản vay nợ, các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, nhất là tại các đơn vị sử dụng trực tiếp vốn vay như: Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Ngân hàng

    Trang 47

    Đề tài: Khủng hoảng nợ công                                                                                  Nhóm 4 – Đêm 3 – K22

    thương mại, các dự án lớn với mục đích đầu tư cơ sở hạ tầng. Tránh tình trạng lãng phí vốn đầu tư, từng bước giảm hệ số ICOR. Có như vậy, nguồn vốn do Chính phủ vay nợ hoặc bảo lãnh cho vay mới được sử dụng một cách có hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ.

    3.3.5   Giảm thiểu thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân vãng lai

    Thâm hụt tài khoản vãng lai có thể được hiểu là một khoản vay nước ngoài của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Chính phủ Việt Nam. Để bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, Chính phủ lại phải vay nợ thêm qua các kênh huy động vốn trong nước và quốc tế, như trái phiếu Chính phủ với lãi suất cao hơn. Trong khi nguồn vốn chảy vào quốc gia chưa bền vững, dự trữ ngoại hồi lại có xu hương thu hẹp làm giảm khả năng chống đỡ của nền kinh tế trước các cú sốc tài chính và tạo áp lực lên nợ công và tỷ giá.

    Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam nên học tập từ bài học thắt lưng buộc bụng ở Châu Âu khi đối phó với khủng hoảng hồi đầu năm 2010. Họ tăng cường tiết kiệm, giảm trợ cấp, tăng thuế đối với người thu nhập cao, thoái vốn tại những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả…

    3.3.6   Đẩy mạnh hợp tác quốc tế:

    Cần kể tới một bất lợi đối với Việt Nam là hệ số rủi ro còn ở mức cao, lại thêm tính thanh khoản thấp, tần suất vay ít nên khi đi vay bao giờ Việt Nam cũng phải vay với lãi suất cao. Trong khi đó, các nước trong khu vực như Indonesia hay Philippines tuy cũng có hệ số rủi ro tương đương Việt Nam nhưng họ vẫn được ưu đãi hơn khi đi vay nhờ tính thanh khoản cao hơn và tích cực hơn trong hợp tác quốc tế.

    Việt Nam vẫn đang là một quốc gia có nền kinh tế đang đang phát triển trong khu vực, đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới cơ cấu kinh tế xã hội nên hiệu quả đầu tư không thể đánh giá trong một sớm, một chiều, và càng không thể được nhận định chung cho cả một thời kỳ phát triển của Việt Nam. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng chung của toàn cầu làm ảnh hưởng khá lớn đến nền kinh tế nhỏ bé của Việt Nam, nên việc vay nợ nước ngoài để củng cố và phát triển kinh tế Việt Nam là điểu hiển nhiên. Như vậy, thay vì lo ngại, Chính phủ nên tập trung thực hiện các giải pháp như đã nêu trên để tăng cường việc quả lý, sử dụng hiệu quả và bền vững Ngân sách Nhà nước. Từ đó, tạo lòng tin của người dân đối với Chính phủ, tạo động lực cho quá trình phát triển của đất nước.

    Trang 48


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-T%E1%BB%95ng-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%99i-GDP-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-1995-2011.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế lượng: Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Chương 1: TỔNG QUAN

    1. Lý do chọn đề tài:

    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiêu có tính cơ sở phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, quy mô kinh tế, trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế và sự thay đổi mức giá cả của một quốc gia. Bởi vậy, GDP là một công cụ quan trọng, thích hợp được dùng phổ biến trên thế giới để khảo sát sự phát triển và sự thay đổi trong nền kinh tế quốc dân. Nhận thức chính xác và sử dụng hợp lý chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng trong việc khảo sát và đánh giá tình trạng phát triển bền vững, nhịp nhàng, toàn diện nền kinh tế. Bất cứ một gia quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể cho những nổ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, các yếu tố ảnh hưởng đến GDP giúp chính phủ có thể thay đổi các chính sách để đạt được những mục tiêu đề ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những vấn đề vĩ mô mà ai hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đều quan tâm. Đó là lý do nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011”

    2. Mục tiêu nghiên cứu:

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố: Đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    3. Phạm vi nghiên cứu:

    Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    4. Kết cấu của bài tiểu luận:

     

    Chương 1: Tổng quan

     

    Chương 2: Cơ sở lý luận

     

    Chương 3: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu.

     

    Chương 4: Kết quả nghiên cứu

     

    Chương 5: Kết luận

    Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    • hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều không phân biệt khuynh hướng chính trị, mổi quốc gia đều tự xác định riêng cho mình một chiến lược riêng để phát triển kinh tế – xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến

    bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Không riêng một đất nước nào cả, ở Việt Nam cũng vậy luôn xem việc phát triển kinh tế là một nhiệm vụ rất bức thiết. Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, đã có những bước phát triển đáng kể, đất nước ta từ nền kinh tế thời bao cấp trì trệ đã chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổng thu nhập quốc dân hằng năm đã tăng lên. Hơn thế nữa đất nước chúng ta hiện nay gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu WTO, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một bước tiến rất quan trọng và mở ra cho nền kinh tế nước nhà nhiều hứa hẹn. Tăng trưởng kinh tế diễn ra nó biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP ngày càng cao và ổn định trong thời gian dài, nền kinh tế sẽ có nhiều thành tựu to lớn. Như vậy thu nhập và mức sống của người dân càng ổn định thì đất nước càng phát triển. Chính vì vậy mà việc tăng trưởng kinh tế được xem như là vấn đề hấp dẫn trong nghiên cứu kinh tế, nó chính là tiêu điểm để phản ánh sự thay đổi bộ mặt nền kinh tế quốc gia. Để đánh giá nền kinh tế của một quốc gia, các nhà kinh tế đánh giá qua tổng sản phẩm quốc nội GDP.

    2.1.  Khái niệm:

    Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia.

    Đầu tư: trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai.

    Xuất khẩu: là những hàng hoá được sản xuất ra ở trong nước được bán ra nước ngoài (lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài – làm tăng GDP).

    Nhập khẩu: là những hàng được sản xuất ra ở nước ngoài, nhưng được mua để phục vụ nhu cầu nội địa (lượng tiền trả cho nước ngoài do mua hàng hóa và dịch vụ – làm giảm GDP)

    2.2. Nguồn gốc của mô hình từ lý thuyết:

    Có phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP): có 3 phương pháp

    2.2.1. Phương pháp tính theo luồng sản phẩm:

    Hàng năm dân cư của mỗi nước tiêu thụ rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng như: gạo, thịt, cam, táo, xoài…;c hăm sóc y tế, thương mại và du lịch… những hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng mua và sử dụng. Toàn bộ các khoản chi tiêu tính bằng tiền để mua các sản phẩm cuối cùng, sẽ có được toàn bộ GDP của nền kinh tế hàng hóa đơn giản này.

    Như vậy, trong nền kinh tế giản đơn, ta có thể dể dàng tính được thu nhập hay sản phẩm quốc dân bao gồm tổng số hàng hóa cuối cùng cộng với dịch vụ.

    Vậy, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của luồng sản phẩm cuối cùng mà một quốc gia tạo ra. GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ mua và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong thời gian một năm. Được thể hiện như sau:

    GDP = C + I + X – Z – Te = C + I + G +NX – Te Trong đó: GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

    C: Tiêu dùng của hộ gia đình

    I: Đầu tư của các nhà sản xuất

    • Xuất khẩu
    • Nhập khẩu

    Te: Thuế gián thu

    NX: Xuất khẩu ròng

    • Chi tiêu của Chính phủ

    2.2.2. Phương pháp tính theo tiền thu nhập hoặc chi phí:

    Đây là phương pháp thứ hai tương tự để tính GDP trong một nền kinh tế giản đơn. Các ngành kinh doanh thanh toán tiền công, tiền lãi, tiền thuê nhà và lợi nhuận. Đó là các khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật dùng để sản xuất ra luồng sản phẩm.

    GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất. GDP cũng bao gồm nhiều thuế gián thu và khấu hao mà chúng không phải là thu nhập của các yếu tố. Tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất bao gồm:

    • Tiền lương và các khoản tiền thưởng mà người lao động được hưởng: (W)
    • Thu nhập của người cho vay: Tiền lãi (i)
    • Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác: Tiền thuê (R)
    • Thu nhập của các doanh nghiệp: Lợi nhuận (r)
    • Thuế gián thu (Te)

    Trang 3

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Khấu hao (De)

    Như vậy, Tổng sản phẩm quốc nội cũng có nghĩa là tổng tiền thu nhập về các yếu tố sản xuất (lương, tiền lãi cho vay, thuê nhà và lợi nhuận), dùng làm chi phí sản xuất ra những sản phẩm cuối cùng của xã hội. GDP theo tiền thu nhập được thể hiện như sau:

    GDP = W + i + R + r + Te + De

    Tóm lại, việc tính toán bằng nhiều phương pháp đều cho những kết quả giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế có những chênh lệch nhất định do những sai sót từ những con số, thống kê hoặc tính toán.

    Trang 4

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.2.3. Mô hình nghiên cứu :

    Thiết bị

    Cơ sở hạ tầng

    Công nghệ

    Trình độ

    Nguồn lao động

    Xuất khẩu

    Giới tính

    Vốn chủ sở hữu

    Vốn

    Vốn vay

    Giá

    Nhu cầu tiêu dùng

    Thu nhập cá nhân

    GDP   Nhập khẩu

    Chính sách nhà nước

        Tín dụng
         
         
    Kinh tế nhà nước   Tài khóa
         
         
        Tiền tệ
         

    Thu nhập dân cư

    Đầu tư

    Kinh tế ngoài nhà nước                 Lạm phát

    Tỷ giá

    K.Vực có vốn đầu tư

    nước ngoài

    Trang 5

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.3. Lý thuyết đưa các biến phụ thuộc vào mô hình:

    Theo PGS – TS Nguyễn Văn Công, GDP chính là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nước trong thời kỳ nhất định. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của GDP gồm các nhân tố chủ chốt sau:

    Thứ nhất, nguồn nhân lực. Một số quan điểm cho rằng con người là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế. Con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có nhiệt huyết, động lực, nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Thứ hai, vốn đầu tư. Để sản xuất hàng hóa, để mua máy móc thiết bị, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao tay nghề cho công nhân viên, chúng ta cần có vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu lên mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế với công thức ICOR, đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng GDP. Thứ ba, tài nguyên thiên nhiên. Các nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Không những có thể khai thác đưa vào sản xuất mà còn có thể phục vụ xuất khẩu, mua về những hàng hóa cần thiết.

    Thứ tư, tri thức công nghệ. Khoa học kỹ thuật luôn là chìa khóa thần kỳ mở cánh cổng bước vào tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất và hiệu suất sản xuất, có thể khiến sản lượng tăng đột biến.

    Thứ năm, đó là xuất khẩu ròng. Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mở, tham gia vào nền kinh tế thế giới và có quan hệ với các nước khác thông qua thương mại và tài chính.Chúng ta xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất rẻ nhất trong nước và nhập khẩu những hàng hóa mà các nước khác có lợi thế về chi phí. Khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu là xuất khẩu ròng. Xuất khẩu ròng tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế, vì nó là một phần của hàng hóa dịch vụ sản xuất ra. Xuất khẩu ròng tăng sẽ thúc đẩy sản xuất sản phẩm nhiều hơn.

    Tuy nhiên, trong tất cả các yếu tố trên, được quan tâm nhắc đến nhiều nhất, vẫn là vốn đầu tư và xuất khẩu ròng (xuất khẩu và nhập khẩu). Vì hai yếu tố trên chịu ảnh hưởng tác động nhiều nhất của các chính sách kinh tế, và cũng do hai nhân tố trên dễ thống kê với số liệu chính xác hơn nên thường xảy ra bàn cải xoay quanh các chính sách về hai nhân tố này. Do tính thời sự của hai nhân tố này, chúng tôi quyết định đưa đầu tư, xuất khẩu và nhập khẩu vào mô hình, nghiên cứu mối quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế của nhóm. Qua đó sẽ thấy được mối tương quan, độ ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố này tăng trưởng kinh tế.

    Trang 6

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 3: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    3.1. Xây dựng mô hình kinh tế lượng

    Mô hình gồm 4 biến:

    • Biến phụ thuộc : Tổng sản phẩm quốc nội GDP (Đơn vị tính: tỷ đồng )
    • Biến độc lập :
    • Đầu tư I (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Xuất khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Nhập khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng )

    GDP = β1 + β2 I +β3XK + β4NK + V

    3.2. Dự đoán kỳ vọng giữa các biến:

    • β2 dương : Khi Đầu tư tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β3 dương : Khi giá trị xuất khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β4 âm : Khi giá trị nhập khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP giảm.

    3.3. Mô tả số liệu

    • Số liệu bao gồm: Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.
    • Số liệu tìm được từ tổng cục thống kê Việt Nam.
    • Bảng số liệu :
    STT Năm GDP Đầu tư I Xuất khẩu NX Nhập khẩu NX
               
    1 1995 228677 72447.0 5448.9 8155.4
               
    2 1996 269654 87394.0 7255.9 11143.6
               
    3 1997 308600 108370.0 9185.0 11592.3
               
    4 1998 352836 117134.0 9360.3 11499.6
               
    5 1999 392693 131171.0 11541.4 11742.1
               
    6 2000 435319 151183.0 14482.7 15636.5
               
    7 2001 474855 170496.0 15029.2 16218.0
               
    8 2002 527056 200145.0 16706.1 19745.6
               

    Trang 7

    GVHD : Trương Bích Phương

    9 2003 603688 239246.0 20149.3 25255.8
               
    10 2004 701906 290927.0 26485.0 31968.8
               
    11 2005 822432 343135.0 32447.1 36761.1
               
    12 2006 951456 404712.0 39826.2 44891.1
               
    13 2007 1108752 532093.0 48561.4 62764.7
               
    14 2008 1436955 616735.0 62685.1 80713.8
               
    15 2009 1580461 708826.0 57096.3 69948.8
               
    16 2010 1898664 830278.0 72236.7 84838.6
               
    17 Sơ bộ 2011 2415204 877850.0 96905.7 106749.9
     
               

    (Đơn vị tính : tỷ đồng)

    3.4. Mô hình hồi quy

    • Mô hình hồi quy tổng thể :

    (PRF)    GDP =      1+  2 I+  3 XK+ β4NK +Vi

    • Mô hình hồi quy mẫu:

    (SRF) GDP =     1  +     2  I+ ˆ 3 XK +       4 NK+ ei  ( ei là ước lượng của Vi)

    Trang 8

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    4.1. Xác định mô hình hồi quy và đọc ý nghĩa các hệ số :

    • Kết quả chạy mô hình từ phần mềm Eviews
    • Từ kết quả trên ta có mô hình hồi quy như sau:

    (SRF)  GDP = 80485,27 + 1,147315I + 31,03140XK – 16,21289NK + ei

    • Ý nghĩa của các hệ số hồi quy:

    Đối với  1 = 80485,27 có ý nghĩa là tổng giá trị Đầu tư, Xuất khẩu, Nhập khẩu đồng thời

    bằng 0 thì GDP đạt giá trị trung bình là 80485,27 tỷ đồng/ năm.

    Đối với  2 = 1,147315 có ý nghĩa là khi Xuất khẩu, Nhập khẩu NX không đổi, tổng giá trị

    Đầu tư tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 1,147315 tỷ đồng /năm.

    Đối với 3 = 31,03140 có ý nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Nhập khẩu không đổi và nếu Xuất khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 31,03140 tỷ đồng /năm.

    Đối với 4 = 16,21289 có nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Xuất khẩu không đổi, Nhập khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP giảm (tăng) 16,21289 tỷ đồng /năm.

    Trang 9

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.2. Kiểm định giả thiết và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình

    4.2.1. Hệ số thu được từ hàm hồi quy có phù hợp với lý thuyết kinh tế không ?

    – Kiểm định giả thiết : H 0 : 1 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 1    0

    Ta thấy β1 có giá trị kiểm định t = 4,01689 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0015< α=0,05

    • Bác bỏ H01 ≠ 0 Khi I=XK=NK=0 thì GDP ≠ 0 .
    – Kiểm định giả thiết: H 0 : 2 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 2 0

    Ta thấy β2 có giá trị kiểm định t = 4,029686 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0014< α=0,05

    • Bác bỏ H02 ≠ 0 Đầu tư ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý
    thuyết kinh tế.          
    – Kiểm định giả thiết: H 0 : 3 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 3 0

    Ta thấy β3 có giá trị kiểm định t = 6,911423 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0000< α=0,05

    • Bác bỏ H03 ≠ 0 Xuất khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP   Phù hợp với lý
    thuyết kinh tế          
    – Kiểm định giả thiết H 0 : 4 0
        với mức ý nghĩa α=0,05
      H1 4 0

    Ta thấy β4 có giá trị kiểm định t = -3,806839 mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0022< α=0,05

    à Bác bỏ H0 4 ≠ 0 Nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý thuyết kinh tế

    4.2.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình

    – Kiểm định giả thiết :   H 0 : R 2 0 với mức ý nghĩa α=0,05
     
       
      H1 : R2 0  

    ( H0 : Mô hình không phù hợp ; H1 : Mô hình phù hợp )

    Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,995305 có xác suất Pvalue = 0,000000 < α=0,05

    Trang 10

    GVHD : Trương Bích Phương

    Bác bỏ H0 , tức là mô hình hồi quy là phù hợp

    4.3. Kiểm định và khắc phục các hiện tượng trong mô hình hồi quy

    4.3.1. Kiểm định sự tồn tại của đa cộng tuyến:

    4.3.1.1. Nhận biết đa cộng tuyến

    1. Xét hệ số tương quan giữa các biến I, XK, NK: với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên cho thấy:

    • Hệ số tương quan giữa I và XK là 0,984396 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa I và NK là 0,987254 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa XK và NK là 0,994846 > 0,8
    • Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
    1. Hồi quy phụ I theo XK và NK:

    Mô hình hồi quy phụ:

    Ii =     1 +      2 XKi3NKi+Vi

    – Kiểm định giả thiết: Ho: R2 = 0

    H1: R2 ≠ 0, với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 11

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Từ kết quả trên ta thấy F= 274,74 có xác suất Pvalue= 0,000000 nên ta bác bỏ giả thiết Ho:

    R2 = 0. Tức mô hình hồi quy phụ phù hợp. Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

    4.3.1.2. Biện pháp khắc phục:

    1. Sử dụng sai phân cấp 1:
    • Hồi quy D(GDP) theo D(I), D(NK) và D(XK), ta được kết quả như sau:
    • Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,916563, các Pvalue ứng với các hệ số hồi quy của 3 biến D(I), D(XK), D(NK) rất thấp (<0,05). Do đó, cách khắc phục này là hợp lý.
    1. Loại bỏ biến I hoặc XK hoặc NK khỏi mô hình ban đầu.

    Hồi quy lại mô hình trong đó loại bỏ biến I:

    Trang 12

    GVHD : Trương Bích Phương

    Mô hình hồi quy đã loại bỏ XK :

    Mô hình hồi quy đã loại NK :

    • So sánh R2 ở 3 mô hình hồi quy lại ta thấy R2loại XK < R2loại I < R2loại NK. Vậy ta có thể loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.

    4.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi: (Dùng kiểm định White)

    Kiểm định giả thiết: Ho: Phương sai không thay đổi, với mức ý nghĩa α=0,05.

    4.3.2.1. Kiểm định phương sai thay đổi mô hình ban đầu:

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 13

    GVHD : Trương Bích Phương

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 12,13429 có xác suất Pvalue= 0,2058 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng hương sai thay đổi.

    Trang 14

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.3.2.2 Kiểm định phương sai thay đổi mô hình sau khi đã loại bỏ biến

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 10,13299 có xác suất Pvalue= 0,0716 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.

    Trang 15

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 5: KẾT LUẬN

    5.1. Kết luận:

    • Tổng giá trị vốn đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011.
    • Mô hình lựa chọn phù hợp với lý thuyết kinh tế
    • I, XK, NK giải thích được 99,5 % sự biến động của GDP, còn 0,5% là các yếu tố khác chưa biết, chưa đưa vào mô hình.
    • Mô hình ban đầu có hiện tượng đa cộng tuyến và đó là hiện tượng đa cộng tuyến không hoàn hảo, khắc phục bằng cách loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.
    • Mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi
    • Có thể bỏ biến NK ra khỏi mô hình trong trường hợp cần thiết.

    5.2. Kiến nghị:

    • Để tăng GDP trong một nước thì phải tăng cường thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư, tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
    • Chú trọng thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án lớn, công nghệ cao, kết cấu hạ tầng, tạo bước chuyển biến trong tái cơ cấu, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và tạo điều kiện cho DN trong nước phát triển.
    • Để tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu:
    • Ở cấp độ nhà nước đó là sự ổn định về chính trị- xã hội, quan hệ quốc tế tốt đẹp, hành lang pháp lý hoàn chỉnh rõ ràng, minh bạch và theo phương hướng ổn định; bộ máy điều hành nhanh nhậy, cơ chế chính sách, các công cụ điều hành vĩ mô hợp lý, trong đó có lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
    • Nâng cao khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là khả năng không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhanh nhậy nắm bắt tình hình cung – cầu (cả lượng lẫn chất) trên thị trường thế giới cả sản xuất và kinh doanh. Các mặt hàng và loại hình dịch vụ thì khả năng cạnh tranh được thể hiện trước hết ở giá thành hạ, chất lượng cao, mẫu mã, bao bì phù

    hợp với thị hiếu của người tiêu dùng được tiếp thị rộng rãi.

    5.3. Hạn chế của bài

    • Có thể đưa thêm một số biến nữa vào mô hình để độ phù hợp của mô hình tăng lên, tuy nhiên làm như vậy mô hình sẽ phức tạp hơn, có thể sẽ có nhiều khuyết tật hơn gây khó khăn trong việc kiểm định .

    Trang 16

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Do năng lực bản thân của mỗi thành viên trong nhóm còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận được những đóng góp ý kiến và phê bình của thầy cô và các bạn để chúng tôi kịp thời nắm bắt và củng cố kiến thức.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]