Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-N%E1%BB%A3-c%C3%B4ng-ch%C3%A2u-%C3%82u-v%C3%A0-b%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-cho-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Nợ công châu Âu và bài học cho Việt Nam

    1.    Tổng quan lý thuyết về nợ công

     

    1.1 Khái niệm

    Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB): Nợ công bao gồm tất cả các khoản nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương. Hiện tượng này xuất hiện khi thu không bù đủ chi.

    Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước (phát hành trái phiếu, vay của Ngân hàng), nước ngoài (các thể chế siêu quốc gia như Quỹ tiền tệ Quốc tế – IMF), được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ chính phủ thường được vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nợ chính phủ thường chiếm tỷ trọng lớn trong nợ công của một quốc gia và gây ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế.

    Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh.

    Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành. Nợ của chính quyền địa phương thường không chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công, vì ngân sách địa phương chủ yếu từ trung ương hỗ trợ, chi trả; và pháp luật luôn quy định chặt chẽ tỷ lệ nợ chính quyền địa phương được vay so với ngân sách được cấp, hay chỉ được vay từ nguồn nào và để dùng vào khoản gì.

    Ngoài ra có thể phân loại nợ chính phủ theo nguồn vay: gồm vay trong nước và

    vay nước ngoài, hoặc theo thời gian vay: gồm vay ngắn hạn, vay trung và dài hạn.

    Về mặt cơ bản, tỷ lệ nợ của chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong Nợ công nói chung, và gây ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế.

    Page 2

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    1.2 Nguyên nhân

    • Chính phủ chi tiêu ngân sách quá mức hoặc phải liên tiếp phát hành ngân sách để đảm bảo các nhu cầu an sinh xã hội, dẫn đến thâm hụt ngân sách trầm trọng.
    • Chính phủ giảm thuế trong khi tăng chi.
    • Các hoạt động ngầm trong nền kinh tế, trốn thuế gây thất thu ngân sách.
    • Chính phủ sử dụng các khoản vay không hiệu quả, tham nhũng và thiếu minh bạch trong quản lý làm cho nhà đầu tư mất niềm tin vào nền kinh tế.
    • Sự già hóa dân số.
    • Mức tiết kiệm trong nước giảm dẫn đến tình trạng phải vay mượn từ bên ngoài.

    1.3 Tác động đến kinh tế – xã hội

    Nợ công xảy ra trên quy mô lớn sẽ gây ra khủng hoảng trong xã hội. Thông thường chính phủ cần phải vay vốn để giải quyết nợ công, tuy nhiên những yêu cầu của các tổ chức tài chính quốc tế thường ngặt ngèo, tạo ra sức ép lên chính phủ buộc phải giảm các hoạt động trợ cấp, các chính sách an sinh xã hội. Bên cạnh đó, chính phủ còn tăng thuế để bù đắp lại vào ngân sách. Mặc khác những quốc gia này, tình trạng tham nhũng và không minh bạch thường phổ biến, dẫn đến sự “sói mòn” niềm tin của công chúng và nhà đầu tư vào chính phủ. Chính những điều đó có thể làm cho tình hình kinh tế

    • chính trị luôn trong tình trạng bất ổn tại bất cứ quốc gia nào đang xảy ra nợ công. Thậm chí làm cho chính phủ sụp đỗ.

    . Khi xảy ra nợ công, các tổ chức tín dụng sẽ hạ thấp bậc tín nhiệm của chính phủ và khi đó muốn huy động được vốn phải mất nhiều chi phí hơn, trái phiếu của chính phủ mất giá hoặc thậm chí là không được chấp nhận. Nền kinh tế trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.

    1.4 Giải pháp

    Có nhiều giải pháp để giải quyết nợ công, tùy tình hình cụ thể mà chính phủ các quốc gia có thể áp dụng, như vay nợ nguồn vốn từ trong nước và nước ngoài; hoàn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước; xây dựng chiến lược vay nợ công rõ ràng và theo một quy

    Page 3

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    trình dài hạn; minh bạch trong công bố thông tin và tăng cường cơ chế giám sát tài chính; tổ chức đánh giá mức độ hiệu quả các trường hợp đã vay nợ để rút kinh nghiệm trong tương lai; nâng cao hiệu quả sự dụng vốn và cuối cùng là đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

    2. Khủng hoảng nợ châu Âu

    2.1 Diễn biến khủng hoảng nợ công châu Âu

    Từ cuối năm 2009, lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ quốc gia gia tăng giữa các nhà đầu tư liên quan đến một số nước châu Âu, mối lo sợ này tăng lên vào đầu năm 2010. Các quốc gia có đề về nợ công trong khu vực châu Âu bao gồm các thành viên Hy Lạp, Ireland, Italia, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và cũng có một số khu vực châu Âu không thuộc Liên minh châu Âu (EU). Đặc biệt là từ Ireland, quốc gia mới bị cuộc ảnh hưởng tài chính lớn nhất trong năm 2008. các khoảng nợ công tăng mạnh cho các chính phủ EU do kế hoạch giải cứu ngân hàng. Tháng 11/2009. Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức 12,7% GDP, cao gấp đôi con số công bố trước đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ.

    Ngày 22/12/2009, Moody’s xếp hạng nợ công Hy Lạp từ A1 xuống mức A2 bởi thâm hụt ngân sách của nước này tăng cao. Đây là cơ quan thứ ba hạ xếp hạng tín dụng của Hy Lạp. Ngày 14/01/2010, Chính phủ Hy Lạp công bố kế hoạch bình ổn, tuyên bố muốn giảm thâm hụt ngân sách xuống mức 208% GDP vào năm 2012. Ngày 29/01/2010, Chính phủ Tây Ban Nha công bố kế hoạch tiết kiệm 50 tỷ euro tương tương 70 tỷ USD, trong đó tổng số tiền chi tiêu giảm tương đương 4% GDP. Lương lao động trong lĩnh vực công giảm 4%. Ngày 11/4/2010, Bộ trưởng tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu chấp thuận kế hoạch 30 tỷ euro dành cho Hy lạp, tuy nhiên Hy Lạp tuyên bố không cần. Ngày 23/4/2010, Hy Lạp cầu cứu EU và IMF. Ngày 02/5/2010, Thủ tướng Hy Lạp cho biết, chính phủ nước này đã đạt được thỏa thuận với EU và IMF để nhận được gói giải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu 30 tỷ euro trong 3 năm tới. Ngày 9/5/2010, IMF đơn phương chấp thuận trước một phần kế hoạch giải cứu, cung cấp lập tức 5,5 tỷ euro.

    Ngày 10/5/2010, các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch khẩn cấp trị giá 750 tỷ euro để hỗ trợ thị trường tài chính và vực dậy đồng euro, ngăn

    Page 4

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    đồng tiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp. Gói giải cứu bao gồm 440 tỷ euro từ các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu, 60 tỷ euro từ công cụ nợ của châu Âu. IMF đóng góp 250 tỷ euro, tổng số tiền lên đến 750 tỷ euro, tương đương khoảng gần 1.000 tỷ USD tính theo tỷ giá ở thời điểm đó. Gói giải cứu Hy Lạp nhận được bao gồm 110 tỷ euro trong 3 năm. Đây là nước đầu tiên tại khu vực đồng tiền chung châu Âu được hỗ trợ. Chính phủ Đức đồng ý góp 22,4 tỷ euro tương đương 30 tỷ USD cho kế hoạch cứu Hy Lạp.

    Ngày 27/5/2010, Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách nhằm tiết kiệm 15 tỷ euro tương đương 18,4 tỷ USD.

    Ngày 18/5/2010, Chính phủ Đức, trong nỗ lực ngăn hoạt động đầu cơ tài chính được coi như nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ, công bố cấm bán khống vô căn cứ cổ phiếu của 10 tổ chức tài chính lớn nhất tại Đức, trái phiếu chính phủ và hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng.

    Ngày 25/5/2010, Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết kiệm 24 tỷ euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách GDP từ mức 5,3% của năm 2009 về mức 2,7% GDP.

    Ngày 28/5/2010, Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể đến nợ công đang ở mức đáng báo động.

    Ngày 29/5/2010, hàng ngàn người biểu tình ở Lisbon – Bồ Đào Nha để phản đối kế hoạch thắt chặt ngân sách của Chính phủ.

    Ngày 7/6/2010, Đảng của Thủ tướng Đức chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách và thuế để hoàn thành mục tiêu đưa thâm hụt ngân sách của Đức về mức quy định của liên minh Châu Âu trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2013.

    Ngày 8/6/2010, Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh vực công không đi làm để thể hiện sự phản đối kế hoạch thắt chặt chi tiêu của Chính phủ. Tỷ lệ lạm phát của Hy Lạp tháng 5/2010 tăng 5,4%, vượt mọi kỳ vọng của các chuyên gia và lên mức cao nhất từ tháng 8/1997.

    Page 5

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Ngày 10/6/2010, thỏa thuận cải tổ thị trường lao động Tây Ban Nha sụp đổ. Chính phủ buộc phải áp dụng quy định tuyển dụng và sa thải lỏng lẻo hơn dù không có sự hỗ trợ của Nghiệp đoàn Lao động.

    Ngày 27/11/2011, lãi suất trái phiếu kì hạn 10 năm của chính phủ Tây Ban Nha tăng lên 6,78%, là mức cao nhất kể từ khi gia nhập EU.

    Ngày 21/12/2011, ông Rajoy nhậm chức thủ tướng Tây Ban Nha, hình thành nên chính phủ mới, đánh dấu sự sụp đỗ của chính phủ thứ 5 tại châu Âu sau Italia, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland do cuộc khủng hoảng.

    Ngày 14/01/2012, Standard & Poor’s hạ mức tín nhiệm của Pháp xuống 1 bậc (từ AAA xuống AA+) và Italia xuống BBB+ cùng với triển vọng tiêu cực.

    Ngày 6/2/2012 Chính phủ Romania là chính phủ thứ 6 ở châu Âu sụp đổ do khủng hoảng nợ.

    Ngày 25/6/2012, Cyprus chính thức trở thành nước thứ 5 trong khu vực các nước sử dụng đồng tiền chung euro phải xin cứu trợ từ Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu. Ngày 16/3/2013, các bộ trưởng bộ tài chính khu vực Eurozone và IMF đã đồng ý cung cấp cho Cyprus gói cứu trợ trị giá 10 tỷ euro.

    Theo Eurostat, tính chung trên toàn Liên minh châu Âu, tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 1 năm 2013 cũng tăng lên mức 10,8% so với 10,7% trong tháng 12 năm 2012. Tính đến thời điểm này, đã có 26,2 triệu người thất nghiệp tại 27 nước thành viên EU. Dự đoán tỷ lệ thất nghiệp năm 2013 sẽ vượt quá 12%.

    2.2 Nguyên nhân

    Có thể chia nguyên nhân xảy ra tình trạng nợ công do 2 nhóm chính là nguyên nhân bên trong và bên ngoài.

    2.2.1 Nguyên nhân bên trong

    Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ Hy Lạp: Chính phủ Hy Lạp phạm sai lầm trong quản lý và không trung thực khi thông báo số liệu kinh tế trong nhiều năm. Chính sự mất niềm tin làm cho Hy Lạp giải quyết khủng hoảng càng khó khăn. Bất kỳ quyết

    Page 6

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    định nào của chính phủ Hy Lạp về giải quyết vấn đề ngân sách đều bị hoài nghi, do đó càng khó cho giải quyết khủng hoảng. ngoài việc vốn đầu tư chạy khỏi Hy Lạp, khoảng 30% hoạt động của nền kinh tế nước này có gian lận, 90% những người có thu nhập cao khai thu nhập dưới 30.000 euro/năm nhằm tránh nộp thuế. Bên cạnh đó, việc Nhà thờ, một trong những chủ sở hữu quỹ đất lớn nhất quốc gia này, lại không phải trả một đồng thuế nào. Mặc dù các nhà dân chủ xã hội đã yêu cầu Nhà thờ phải trả thuế như mọi người khác, nhưng cho đến nay chưa thấy có biện pháp nào được đưa ra áp dụng.

    Các chính phủ thu không đủ chi: các nhà phân tích kinh tế đều cho rằng, khủng hoảng nợ công ở châu Âu là do chi tiêu của các chính phủ quá lớn. Việc chi tiêu quá lớn đã tạo ra thâm hụt ngân sách và khủng hoảng nợ công (lương cao cho các nhà chính trị, công chức, hệ thống an sinh xã hội và lao động, chế độ nghỉ hưu sớm).

    Vấn đề tổ chức tài chính và điều hành kinh tế của EU: Do vấn đề về cơ cấu nên EU có hạn chế về điều hành nền kinh tế của Khối, các chính sách tiền tệ không đi cùng với cải cách thu thuế và lao động. EU và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng phản ứng chậm với các nền kinh tế khi gặp khủng hoảng.

    Áp lực của các nhóm tài phiệt: Các nhà đầu cơ, các tổ chức tài chính lớn và các trung tâm quyền lực kinh tế kinh tế đã thuyết phục được các chính phủ chỉ điều chỉnh thể chế chứ không áp dụng các biện pháp cải cách các thể chế. Chính phủ các nước phải tốn nhiều tỷ euro hỗ trợ các ngân hàng và cho các chương trình hỗ trợ hoạt động kinh tế nhằm cứu ngân hàng và nền kinh tế không bị đổ vỡ. điều này không tránh khỏi việc nợ công gia tăng.

    Vấn đề chính sách kinh tế tự do mới: Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng cuộc khủng khoảng hiện nay là do chính sách kinh tế tự do gây ra. Do vậy, các quốc gia muốn thoát khỏi cần phải từ bỏ chính sách kinh tế tự do mới và chuyển sang chính sách kinh tế của Keynes, chính sách kích cầu.

    2.2.2. Nguyên nhân bên ngoài

    Chiến dịch tấn công làm suy yếu đồng euro: Ngay từ tháng 02/2010, Bộ trưởng xây dựng Tây Ban Nha José Blanco cho rằng có một chiến dịch tấn công đồng euro trên

    Page 7

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    các thị trường thế giới mà mục tiên nhằm vào Tây Ban Nha. Giới đầu cơ đang thực hiện các chiến dịch nhằm hạ thấp đồng euro và kiếm lời. Họ chủ yếu đầu cơ trong ngắn hạn. Cũng có một số nhà kinh tế cho rằng cuộc khủng hoảng này do Anh và Hoa Kỳ tạo ra để nhằm hạ đồng euro. Bởi theo họ, Anh luôi khó chịu với đồng euro, còn Hoa Kỳ thì cảm thấy bị đồng euro đe doạ, việc tấn công đồng euro cũng để chuyển hướng dư luận về sự yếu kém của đồng đô la Mỹ và đồng Bảng Anh.

    Các cơ quan đánh giá rủi ro trái phiếu vào thị trường tài chính: thị trường tài chính đóng vai trò gây bất ổn tình hình kinh tế vừa qua. Các cơ quan đánh giá Standard & Poor’s và Fitch bắt đầu đánh giá nợ của Hy Lạp, hạ thấp trái phiếu của nước này thành trái phiếu rác. Kể từ đó, lãi suất trái phiếu của chính phủ Hy Lạp không ngừng tăng, thị trường chứng khoán Hy Lạp liên tục giảm. Joseph Stiglitz cũng cho rằng, các cơ quan đánh giá rủi ro như Standard & Poors (S&P), Moody’s và Fitch là nhân tố góp phần vào sự bất ổn của các thị trường, đẩy các nước vào khủng hoảng.

    Hoạt động đầu cơ tài chính: Mục đính của đầu cơ là làm tăng lãi suất trái phiếu chính phủ cao nhất có thể để thu lời. Thực tế, nợ công được thương lượng thông qua các ngân hàng tư nhân và giá do các ngân hàng này ấn định. Các tổ chức tài chính như Alpha Bank, Bank of America-Merrill Lynch, ngân hàng thương mại như ING và société Genérale có nhiều cơ hội đầu cơ. Phát khai hỏa đầu tiên cho đầu cơ là việc IMF đưa ra báo cáo ngày 22/4/2010, theo đó nền kinh tế Bồ Đào Nha đang xấu đi. Kinh tế Bồ Đào Nha sẽ tăng trưởng thấp hơn dự báo và sẽ không giảm được thâm hụt: thâm hụt công sẽ là 7,5% GDP, dự báo trước đó là 6,6% thất nghiệp sẽ ở mức từ 10-11%. Hậy quả, các trái phiếu 10 năm của Bồ Đào Nha vược qua ngưỡng 4,77% và hiện Bồ Đào Nha cùng Hy Lạp, Ireland là những nước chắn chắn không thực hiện giảm nợ công, mặc dù nợ công của Bồ Đào Nha chỉ là 86% GDP.

    Môi trường quốc tế không thuận lợi: Mỹ đe doạ đưa ra các số liệu tiêu cực của các doanh nghiệp là cho thị trường chứng khoán Mỹ giảm. Để đối phó với khủng khoảng, các nhà đầu tư buộc phải rời khỏi các nước này, làm cho các nước rơi vào cảnh thiếu tiền. Vốn đầu tư bị rút khỏi Hy Lạp không ngừng tăng. Chỉ tính riêng trong tháng 1/2010 đã có

    Page 8

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    8 đến 10 tỷ euro bị rút khỏi Hy Lạp, con số này cao hơn số tiền trái phiếu mà chính phủ Hy Lạp đã phát hành lần gần đây nhất.

    Tóm lại, cuộc khủng hoảng nợ công của các nước châu Âu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả bên trong lẫn bên ngoài. Âm mưu và ý đồ của giới tài phiệt tiếp tục gây áp lực lên thị trường tài chính nhằm đầu cơ kiếm lời trong ngắn hạn. Gói cứu trợ 750 tỷ euro có tác dụng trong ngắn hạn, nhưng về trung hạn, nguy cơ tiềm ẩn vẫn còn cao, vẫn còn có nghi ngờ về các món nợ công và sự bất ổn tài chính. Tình hình này có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế châu Âu, nhưng cũng có thể gây ra hiệu ứng đối với cả thế giới.

    3. Nợ công tại Việt Nam

    3.1 Tình trạng nợ công tại Việt Nam

    Theo công bố của Tạp chí Kinh tế (The Economist), tỷ lệ nợ công năm 2011 của Việt Nam là 50,9% GDP, dự kiến năm 2012 tỷ lệ này là 55,4%. Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 60% GDP theo cách tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ công trên GDP của Liên hiệp quốc) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến được khuyến cáo ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và so với một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (25,6%).

    Hình 1: Tỷ lệ nợ công/GDP từ năm 2001 đến năm 2012

    Page 9

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Ngoài ra, cũng theo The Economist, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2011 là 638,55 USD, dự kiến 2012 tăng lên 698,71 USD. Nếu so sánh với 817,22 USD (Trung Quốc), 808,52 USD (Indonesia), 4.626,4 USD (Malaysia), 1.195,29 USD (Philippines), 2.261,78 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao.

    Khoản mục Số liệu Ghi chú  
           
    Tổng số vốn vay ODA và vay ưu 71,7 tỷ USD    
    đãi nước ngoài    
         
           
    Tổng số vốn cam kết vay thương 4,08 tỷ USD    
    mại nước ngoài    
         
           
    Dư nợ các dự án cho vay lại của 10,3 tỷ USD Tương đương 8.5% GDP  
    Chính phủ
         
           
    Số lượng các dự án cho vay lại 580 dự án 55 dự án nợ quá hạn  
           
    Tổng số dư nợ công 55.4% Giảm 1.9% so với 2010  
           

    Bảng 1: Tình hình vay nợ, tính đến 31/12/2012

    Tuy nhiên, nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thì trong vòng 10 năm, con số này đã tăng gấp 6 lần, cho thấy gánh nặng nợ tương lai đổ lên đầu người dân ngày càng tăng.

    Tính ra từ năm 2007 đến cuối năm 2011, nợ công của Việt Nam đã tăng khoảng 25% (trung bình 5%/năm). Với khoản nợ này, căn cứ vào thời điểm đáo hạn thì từ nay đến 2015 mỗi năm Việt Nam phải trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài gần 1,5 tỉ USD và mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD.

    3.2 Nguy cơ nợ công tại Việt Nam

    Xu hướng nợ công tại nước ta: Một thực tế đáng buồn đó là nợ công nước ta liên tục tăng chứ không giảm qua các năm. Cụ thể như giai đoạn 2001-2009 tốc độ tăng trung bình của nợ công nước ta là 18%/năm, gấp 3 lần tốc độ tăng GDP. Bên cạnh đó, Ngân sách nước ta cũng liên tục thâm hụt trung bình khoảng 5% GDP. Như vậy, rõ ràng hằng năm chúng ta không hề có dư để trả nợ mà phải vay thêm nợ mới để trả những món nợ đến hạn và lãi suất của những món nợ còn lại.

    Page 10

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Vay vốn nước ngoài: Trong những năm qua hệ số ICOR của Việt Nam có xu hướng tăng, điều đó có nghĩa là hiệu quả ở các lĩnh vực đầu tư công là không cao. Vốn vay không được sử dụng hợp lí, dàn trãi và gây thất thoát.

    Hình 2: Hệ số ICOR Việt Nam qua các giai đoạn

    Vay vốn nhưng lại không sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả, sinh ra lời để trả nợ, nếu xu hướng này không sớm được cải thiện, ta sẽ chẳng mấy chốc rơi vào khủng hoảng nợ công. Ví dụ điển hình là trường hợp Vinashin nợ 1 tỷ USD trái phiếu do chính phủ bảo lãnh.

    Tỉ giá tăng: Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. Trên lý thuyết, điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của chính phủ. Đến thời hạn trả nợ, tỉ giá tăng làm gia tăng tổng số nợ nước ngoài.

    Những khoảng nợ công tại doanh nghiệp của Việt Nam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách. Theo đó, những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam. Cụ thể, khoản nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước không được chính phủ bảo lãnh chiếm 11,1% GDP. Ngoài ra, nợ trong nước của khu vực doanh nghiệp nhà nước theo ghi nhận trong Đề án Tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính năm 2012 cũng chiếm xấp xỉ khoảng 16,5%.

    Page 11

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    3.3 Nợ công châu Âu ảnh hưởng đến Việt Nam

    Xuất khẩu giảm: Cuộc khủng hoảng nợ châu Âu kéo theo một loạt hệ quả tất

    yếu: tốc độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại, tình hình thất nghiệp và lạm phát tăng cao, đồng euro mất giá, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực tế người dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh. Điều này sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến xuất khẩu và tăng trưởng GDP của Việt Nam, với mức suy giảm khoảng 1,7% GDP trong năm 2010, cao thứ ba chỉ sau Trung Quốc (2,8%) và Anh (1,9%). Vì vậy, nếu không có những chính sách phản ứng kịp thời hỗ trợ xuất khẩu thì triển vọng trung hạn đối với xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.

    Lãi suất thấp ở các nước: trong khi ở Việt Nam lại cao sẽ bất lợi về chi phí cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Do lo ngại tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ công, nhiều ngân hàng trung ương các nước phát triển vẫn duy trì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm kích thích sự phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định. Lãi suất cơ bản tiệm cận 0% ở hầu hết các nước: FED (Mỹ) : 0,25%; ECB (EU) : 1%; BOE (Anh) : 0,5%; Nhật Bản 0,1%. Ngược lại ở Việt Nam, lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao. Các doanh nghiệp phải vay vốn với lãi suất khoảng 14-16%/năm với kỳ hạn ngắn và khoảng 14,5-17%/năm với kỳ hạn trung, dài hạn.Nếu tính đến lạm phát ước cho năm 2010 là dưới 10%, doanh nghiệp phải đạt mức tỉ suất lợi nhuận trên 24-27%, là mức cao so với tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của các ngành trong năm 2009 (khoảng 20%).

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm: Khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra tác động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu.

    Giá vàng bùng nổ: Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với đồng tiền giấy.

    Bảo hiểm rủi ro tín dụng xu hướng tăng lên: Vấn đề Hy Lạp đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận trọng hơn với các quốc gia có vấn nạn tương tự

    Page 12

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    .Điều này sẽ là một cản trở rất lớn trong việc thu hút các luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và cho vay từ nước ngoài.

    Biến động tỉ giá hối đoái rất khó lường

    3.4 Bài học rút ra từ nợ công châu Âu và giải pháp

    Bài học thứ nhất: sử dụng vốn hợp lý và có hiệu quả. Những nước đi vay nợ cần phải ý thức rằng đây là những đồng tiền đi vay mượn, cần phải sử dụng chúng sao cho hợp lý, có hiệu quả, cần phải làm cho “tiền đẻ ra tiền” như vậy mới mong trả được nợ và phát triển nền kinh tế nước mình, sử dụng nó để tạo ra động lực phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế đã phát triển, sử dụng những đồng tiền sinh lời này để trả nợ. Nếu sử dụng kém hiệu quả thì quốc gia đó sẽ gặp thất bại trong việc quản lý nợ và sớm bị vỡ nợ. Một khía cạnh khác trong vấn đề này, đó là không nên chạy theo những công trình dự án hào nhoáng, đồ sộ, không phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế như Hy Lạp cho Olympics Athen 2000. Chính sự vung tay quá trán của Hy Lạp lúc đó cũng là nguyên nhân khủng hoảng nợ công về sau.

    Đối với Việt Nam, chính phủ nên xem xét lại các dự án, công trình mang tính chất dài hạn, tiêu tốn nhiều tiền của. Thay vào đó chính phủ tập trung vào những dự án cấp thiết, đồng thời rà soát những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, đầu tư tràn lan để xứ lí kịp thời, hạn chế rủi ro và tổn thất khi bảo lãnh hoặc cứu trợ.

    Bài học thứ 2: quản lí về nợ công. Đây là bài học cho bất kì nền kinh tế nào. Nếu lơ là, nền kinh tế đó có thể sụp đổ và phải cẩn trọng trong chi tiêu. Vấn đề ở đây là không nên chi quá nhiều tiền, nhưng bao nhiêu cho đủ thì mỗi quốc gia lại một khác. Nếu cho rằng chi tiêu không nhiều thì không xảy ra khủng hoảng là không đúng (cuộc khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra năm 1997 khi Thái Lan chỉ nợ khoảng 15% GDP). Do đó vấn đề đặt ra là luôn ý thức và kiểm soát mực nợ phù hợp với nền kinh tế đất nước. Cơ hội được tiếp cận dễ dàng nguồn tín dụng rẽ khi gia nhập Eurozone làm cho chính phủ Hy Lạp chi tiêu quá tay mà quên nghĩa vụ phải trả nợ trong tương lai.

    Việt Nam hiện nay đã có Luật quản lý nợ công quy định rõ đối tượng, phạm vi điều chỉnh, hệ thống chi tiêu kiểm soát nợ,… Do đó, cơ quan quản lý đã có một cơ sở

    Page 13

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    pháp lý rõ ràng để thực hiện trách nhiệm của mình trong việc quản lý nợ công. Tuy nhiên, việc quản lý nợ công vẫn còn một số vấn đề như: quyền hạn quản lý còn chồng chéo, năng lực các bộ còn hạn chế, đối với các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước cần phải minh bạch hơn hoặc có cơ chế quản lý riêng, cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế,…

    Bài học thứ ba: minh bạch trong việc công bố các khoản vay, đã sử dụng các

    khoản vay, từ đó nâng cao niềm tin nhà đầu tư. Cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy Lạp. Nguyên nhân xuất phát từ việc gia nhập Eurozone, chính phủ Hy Lạp đã sử dụng một số thủ thuật để che giấu tình trạng nợ công của mình và đưa ra những con số phù hợp với tiêu chuẩn mà EU đề ra. Tuy nhiên, sau những lần công bố không khớp nhau, các nhà đầu tư bắt đầu hoài nghi về thâm hụt ngân sách Hy Lạp. Sau đó, đã có các cuộc điều tra tình hình nợ công của Hy Lạp. Khi sự thật được vén màn, một làn sóng rút vốn ồ ạt ra khỏi các ngân hàng Hy Lạp đẩy Hy Lạp vào tình trạng khó khăn trong việc huy động vốn trên trường quốc tế. Đây chính là hậu quả của việc không minh bạch, gian lận số liệu thống kê, kế toán.

    Đối với Việt Nam, tuy vấn đề chưa nghiêm trọng nhưng đã có một số mầm mống của sự thiếu minh bạch công khai của chính phủ về tình hình nợ công. Bộ Tài chính cũng là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và công bố số nợ công ở nước ta, tuy nhiên cơ quan này cũng chỉ mới đưa ra những con số nợ nước ngoài, chưa có một thống kê chi tiết về các khoản nợ công. Trong khi đó, việc tinh toán nợ công của mỗi cơ quan, đồng thời điểm lại có sự khác nhau, trong năm 2009 theo như Bộ Tài chính thì nợ công Việt Nam chiếm 44,7% còn theo một báo cáo khác cũng thuộc Bộ Tài chính con số đó là 52,6%. Đồng thời con số Bộ Tài chính đưa ra cũng chênh lệch so với con số của World Bank là 47,5%. Điều này xuất phát từ việc Việt Nam không nhất quán trong việc tính nợ công theo thông lệ quốc tế, nhiều khoảng nợ còn nhập nhằng với nhau. Ngoài ra cũng trong việc quản lý nợ doanh nghiệp nhà nước chính phủ không có cơ chế rõ ràng cho bộ phận này đễn đến chính phủ phải chịu hậu quả khi bộ phận này gặp khó khăn. Chính vì điều đó làm cho mức tín nhiệm của Việt Nam bị hạ thấp. Tuy nhiên, Việt Nam có lợi thế là độc lập trong chính sách điều tiết tiền tệ chứ không bị ép buộc như trong khối EU.

    Page 14

    Nhóm 3 môn Kinh tế vĩ mô

    Bài học thứ tư: xây dựng chiến lược, kế hoạch trả nợ. “Người khổng lồ” Hy Lạp chỉ vì lo chi tiêu mà quên đi nghĩa vụ trả nợ dẫn đến tình trạng nợ chồng chất. Để không phải chịu như Hy Lạp, chúng ta cần thiết phải thúc đẩy việc xây dựng kế hoạch trả lương như trong Luật Quản lý nợ công ban hành. Đó là việc xây dựng kế hoạch trả nợ bằng bốn công cụ:

    Thứ nhất, chiến lược dài hạn về nợ công gồm các nội dung như đánh giá thực trạng nợ cơng và công tác quản lý trong giai đoạn thực hiện chiến lược trước đó; mục tiêu, định hướng huy động sử dụng vốn vay và quản lý nợ công. Căn cứ để xây dựng chiến lược hài hạn về nợ công là kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm và 10 năm về các lĩnh vực, vùng lãnh thổ cũng như các nghị quyết, quyết định về chủ trương huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ của chính phủ.

    Thứ hai, chương trình quản lý nợ trung hạn gồm các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về huy động, sử dụng vốn vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý nợ trong giai đoạn 3 năm liền kề để thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ đã được Quốc hội xác định trong mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công.

    Thứ ba, kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của chính phủ có nội dung gồm: Kế hoạch vay trong nước (gồm kế hoạch huy động vốn cho ngân sách nhà nước và kế hoạch huy động vốn cho đầu tư phát triển); kế hoạch vay nước ngoài thông qua các hình thức như ODA, vay ưu đãi, vay thương mại; kế hoạch trả nợ được chi tiết theo chủ nợ và có kế hoạch trả nợ gốc, trả lãi, trả nợ trong nước, trả nợ nước ngoài.

    Thứ tư là các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công. Các chỉ tiêu giám sát nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm: nợ công so với GDP, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu,…

    Page 15


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-v%E1%BB%9Bi-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Chất lượng nguồn nhân lực với vấn đề tăng trưởng nền kinh tế ở Việt Nam

    Lời mở đầu

     

    Một câu hỏi được đặt ra là chất lượng nguồn nhân lực là gì? Trước hết ta cần trả lời câu hỏi thế nào là nguồn nhân lực?

    Trong thực tế đã chứng minh rằng :” Sự suy vong hay hưng thịnh của 1 quốc gia, một lãnh thổ phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực và đặc biết là chất lượng của của nguồn nhân lực này. Cũng cần nhấn mạnh nguồn nhân lực có chất mạnh đảm bảo trên tất cả các lĩnh vực hoạt động. Thật vây, một nhà quản lý yếu kém, quốc gia có thể suy vong; Nhà quản lý doanh nghiệp yếu, doanh nghiệp có thể phá sản; các nhà khoa học công nghệ yếu kém dẫn đến nền kinh tế trì trệ kém phát triển; Người lao dộng không đủ khả năng, công việc sẽ tồn đọng, thiếu hiệu quả.

    Vậy chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở 2 tiêu chí:

    • phẩm chất đạo đức
    • và năng lực hoạt động( năng lực tác nghiệp)

    Trong 2 tiêu chí trên, tiêu chí thứ 2 dù vất vả mới đạt được nhưn dễ dàng đánh giá và dễ hiệu chỉnh hơn. Còn tiêu chí thứ nhất tuy rất dễ nói nhưng rất khó lường, vì vậy cũng rất khó hiệu chỉnh. Sự khó khăn này nhân lên rất nhiều lần trong nền kinh tế thị trường và Đảng ta là Đảng cầm quyền.

     

    Ngày nay chất lượng nguồn nhân lực là một vấn đề cấp bách và rất quan trọng trog nền kinh tế và đặc biệt là đối với vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam. 

     

     

    1.Những quan điểm về chính sách phát triển nguồn nhân lực

      1.1 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực thực chất là phát triển nguồn vốn con người phải được quan tâm từ thời thơ ấu đến lúc trưởng thành và trong suốt cuộc đời của một cá nhân về mặt trí lực, tâm lực, thể lực, các phẩm chất đạo đức, nhân cách công dân, trình độ học vấn, chuyên môn và văn hóa…

      1.2 Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nhu cầu lao động kĩ thuật ngoài xã hội của thị trường lao động cả nước, quốc tế cũng như của từng ngành, từng vùng địa lý kinh tế

      1.3 Phát triển các hình thức đào tạo kết hợp giữa các trường chuyên nghiệp với các cơ sở sản xuất – dịch vụ, các doanh nghiệp.

    1.4 Giáo dục Đại học cần tiếp tục phát triển cả về qui mô và nâng cao chất lượng hiểu quả đào tạo song cần định rõ hai nhu cầu cơ bản: nhu cầu của xã hội về học vấn đại học và nhu cầu của nhà nước, của các tổ chức kinh tế – xã hội về nhân lực lao động kĩ thuật cao cấp

    1.5 Phát triển nguồn nhân lực là chính sách quan trọng của nhà nước với việc đề ra các chính sách quản lý nhà nước vĩ mô về nguồn nhân lực, xây dựng các chiến lược và các kế hoạch phát triển nhân lực trong phạm vi cả nước cũng như ở các ngành và các địa phương

    1.6 Cơ cấu lại hệ thống đào tạo nhân lực theo hướng đa dạng hóa, phát triển các loại hình đào tạo nhân lực chất lượng cao. Triển khai hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực

         Quản thật 6 quan điemr nêu ra của chiến lược phát trienr là một tổng thể mà óc thể hình dung nó như một con voi khổng lồ. Nhưng tại sao đi vào thực tiễn thường chúng ta chỉ thấy được từng bộ phận của nó. Nếu đem ráp lại thì ta có một con voi, nhưng lại không có sức mạnh thực sự của một con voi. Có lẽ bài toán nhân lực chưa có lời giải đồng bộ chăng?

    2. Vai trò đào tạo giáo viên kĩ thuật trong chính sách phát triển nguồn nhân lực

        Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét đánh giá trên hai tiêu chí: phẩm chất và trình độ năng lực tác nghiệp. Trong đó phẩm chất đạo đức của một người là kết quả của quá trình giáo dục từ lúc ấu thơ đến tuổi trưởng thành và trong quá trình hoạt động nghề nghiệp. Môi trường rèn luyện nhân cách cho mỗi con người bao gồm gia đình, nhà trường và xã hội. Trong thực tế hiện nay, cứ mỗi lần xuất hiện một sự việc thiếu lành mạnh trong lưa tuổi thanh niên , thì từ các gia đình, dư luận xã hội, thậm trí từ các nhà lãnh đạo, các chức trách chỉ đổ dồn vào phê phán, chỉ trích nhà trường, ngành giáo dục. Rất ít thấy có sự chia sẻ trách nhiệm một cách công bằng.

         Vế thứ hai của chất lượng nguồn nhân lực ( năng lực chuyên môn) tuy vẫn là kết quả giáo dục- đào tạo của cả cộng đồng song trách nhiệm lớn có tính chất quyết định thuộc về hệ thống giáo dục – đòa tạo nghề từ khâu đào tạo hướng nghiệp ở bậc phổ thong các trương công nhân kỹ thuật, các trường Trung học chuyên nghiệp , các trường Cao đảng kỹ thuật đến các trường Đại học. Hệ thống này phát triển rất nhanh về qui mô, về hình thức tổ chức quốc tế về lĩnh vực phát triển nghề nghiệp.

         Vậy mà, theo nhận định của một chuyên gia về giáo dục thì “ chất lượng đào tạo ở các cấp bậc học yếu kém trên nhiều mặt, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Hiệu quả “trong” của đào tạo thấp, thể hiện kết quả học tập và đào tạo thấp, lạc hậu so với trình độ thế giới. Hiệu quả “ngoài” của đào tạo chưa cao. Học sinh tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo còn rất lung túng khi bắt đầu làm việc. Đào tạo và sử dụng chưa ăn khớp, một số đáng kể người tốt nghiệp không làm đúng ngành nghề hoặc không chịu làm việc tại những nơi có nhu cầu. Khả năng thích nghi của người tốt nghiệp với thị trường làm việc yếu kém, thất nghiệp nhiều và các cơ sở sử dụng lao động phải tiếp tục đào tạo thêm”.

         Quả là bức tranh thực trạng này không sang sủa và lạc quan như nhiều báo cáo, tổng kết khen thưởng mà ta thường được nghe. Cũng qua bức tranh trên ta phần nào hình dung ra mối quan hệ chằng chịt giữa chủ trương chính sác vĩ mô, người được đào tạo, cơ sở đào tạo và nơi sử dụng lao động(thị trường lao động). Thoạt nghe chúng ta hình dung đây là mối quan hệ hàng hóa thị trường vì nó có hẳn nơi đặt hàng, nơi triển khai thực hiên(đào tạo), sản phẩm làm ra(người tốt nghiệp) và nơi sử dung(các doanh nghiệp,liên doanh)… Liệu đã có cơ quan nào,cấp nào qui định tính pháp luật cho mối quan hệ này chưa? Trong mối quan hệ hưu cơ, không thể thiếu nhưng lại mang tính tự phát hiện nay thì thực trạng trên cũng là điều dễ hiểu.

         Trước bức tranh yếu kém đó, trong phạm vi là một bộ phận cấu thành hệ thống các yếu tố chi phối chất lượng nguồn nhân lực – là cơ sở đào tạo, ta cần xác định xem cần phải đi từ mấu chốt nào để cơ sở đào tạo đóng góp thích cực nhất vào sự phát triển nguồn nhân lực.

          Hiện nay ta đang thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục. Nhiều người quan niệm mấu chốt của chủ trương này là cá nhân(gia đình) tự đóng tiền học để hoc vì vậy họ không mắc nợ ai cả, họ thuê người phục vụ cho họ theo cơ chế thị trường . Đồng thời trong đổi mới dạy và học, ta chủ trương chuyển trung tâm dạy và học từ người thầy sang người trò- lấy người học làm trung tâm. Điều này liệu có giống suy nghĩ: Khách hàng là thượng đé trong cơ chế thị trường?

          Nhiều sự việc ngang trái ngoài xã hội và trong nhà trường buộc ta phải suy nghĩ, phải điều chỉnh cả tư duy lẫn hoạt động.

     

     

     

     

     

     

     

    Chất lượng nguồn nhân lực – những vấn đề từ thực tiễn

    Nước ta có nguồn lao động dồi dào, chiếm trên 54% dân số cả nước, với 46,6 triệu lao động. Tuy nhiên, có đến gần 80% người lao động trong độ tuổi từ 20- 24 khi tham gia thị trường lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp

    Chất lượng lao động của nước ta tiếp tục thấp, cơ cấu lao động tiếp tục bất hợp lý ngay từ khi đào tạo khiến thị trường lao động tiếp tục phải tiếp nhận một nguồn nhân lực không đạt yêu cầu. Đây là thực tế đòi hỏi có giải pháp hữu hiệu để giải quyết.

    Chiến lược phát triển giáo dục quốc gia 2001-2010 đã khẳng định “ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế…”. 

    Thế nhưng, đến nay chất lượng lao động của nước ta tiếp tục thấp, cơ cấu lao động tiếp tục bất hợp lý ngay từ khi đào tạo khiến thị trường lao động tiếp tục phải tiếp nhận một nguồn nhân lực không đạt yêu cầu. Đây là thực tế đòi hỏi có giải pháp hữu hiệu để giải quyết.

    Nước ta có nguồn lao động dồi dào, chiếm trên 54% dân số cả nước, với 46,6 triệu lao động. Tuy nhiên, có đến gần 80% người lao động trong độ tuổi từ 20- 24 khi tham gia thị trường lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp. Các yếu tố như thể lực, trí lực, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật của người lao động cũng còn nhiều vấn đề đáng bàn… 

    Thực tế này làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là những ngành công nghiệp kỹ thuật cao, như cơ khí, điện tử… Ông Trần Quang Hùng-Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho rằng: Chúng ta cần phải thay đổi toàn bộ hình thức đạo tạo công nhân và kỹ sư. Hiện nay, chúng ta có nhiều thợ, nhiều kỹ sư, nhưng kỹ sư giỏi và thợ lành nghề ít vì vậy mà chúng ta chỉ có thể gia công. Kỹ sư của chúng ta mới quen làm việc theo công nghệ, mẫu mã của nước ngoài. Còn tự mình thiết kế sản phẩm, hoặc sáng tạo ra mẫu mã mới còn rất ít. Đây là thực tế đã kéo dài nhiều năm nay nhưng chưa có giải pháp khắc phục.

    Thực tế thiếu lao động chất lượng cao không chỉ là vấn đề của ngành điện tử, mà còn là tình trạng chung của nhiều ngành khác như theo thống kê của Hiệp hội Dệt may TPHCM, nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may hiện đang cần khoảng 40.000 lao động điều hành sản xuất ở các chức danh giám đốc, quản đốc, quản lý chất lượng, thiết kế… nhưng không tìm đâu ra. Ở ngành tin học cũng trong tình trạng tương tự khi ngành cần ngay khoảng 25.000 chuyên gia phần mềm và lập trình viên, nhưng hiện nay, hệ thống đại học chỉ có thể cung cấp 5.000 chuyên gia công nghệ thông tin mỗi năm vào làm việc ngành phần mềm.

    Doanh nghiệp “tìm không ra” nhưng nhân lực từ các trường đào tạo lại thừa. Theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM, số lao động tốt nghiệp ĐH chưa xin được việc làm hiện tại vào khoảng 8.000 đến 10.000 người, nhưng số sinh viên ra trường đáp ứng được việc làm cho các doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 25%, số còn lại phải làm công việc trái ngành nghề đã học hoặc phải chờ việc.

    Chất lượng đào tạo chưa đạt yêu cầu, cơ cấu lao động tiếp tục bất hợp lý chính là “điều kiện” khiến cho thị trường lao động luôn ở tình trạng thừa mà… thiếu. Chính vì vậy, để góp phần khắc phục tình trạng này, một trong những yêu cầu cơ bản đặt ra là bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo ở khu vực đại học, cũng cần có quy hoạch chi tiết và phát triển mạng lưới các trường dạy nghề, đảm bảo đồng bộ về quy mô, cơ cấu ngành nghề và cấp trình độ đào tạo với quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm, doanh nghiệp… 

    Ông Nguyễn Tiến Dũng- Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề cho rằng: “Để thực hiện chỉ tiêu Chính phủ đặt ra là nâng tổng số lao động qua đào tạo đến năm 2010 là 50%, trong đó dạy nghề là 30% thì phải có các giải pháp hết sức căn bản. Đặc biệt quan tâm đến chất lượng, kiên quyết chuyển đào tạo từ hướng cung sang hướng cầu; đẩy mạnh dạy nghề thường xuyên, thực hiện triển khai dạy nghề thường xuyên và tăng cường công tác quản lý Nhà nước với đào tạo nghề tại doanh nghiệp và tại nơi làm việc.”

    Hiện nay, thị trường lao động của nước ta phát triển tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, nơi có các khu công nghiệp, khu chế xuất, và ở 3 vùng kinh tế trọng điểm. Nhiều địa phương khác thì thị trường lao động còn ở mức sơ khai; quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành của các địa phương chưa có sự gắn kết với kế hoạch sử dụng lao động. 

    Đặc biệt, quy hoạch các khu công nghiệp, khu đô thị của nhiều địa phương chưa gắn với tạo việc làm ổn định cho người lao động. Giải pháp khắc phục tình trạng này, theo ông Nguyễn Đại Đồng – Vụ trưởng Vụ lao động việc làm – Bộ lao động thương binh xã hội, các địa phương cần có sự hoàn thiện về cơ chế chính sách liên quan đến thị trường lao động. 

    Hiện nay, Bộ Lao đọng thương binh và xã hội đang được Chính phủ giao nhiệm vụ chuẩn bị đề án về phát triển thị trường lao động để thị trường lao động phát triển phù hợp với quy luật thị trường nói chung và thị trường lao động nói riêng.

    Bài toán chất lượng nguồn nhân lực, hay nói cách khác, nghịch lý “cung thừa” “cầu thiếu”, đã được đề cập nhiều trong các diễn đàn. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Chúng tôi cho rằng, để nguồn nhân lực đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế, tránh tình trạng thiếu nhân lực có chất lượng, nhà trường và doanh nghiệp cần có sự “bắt tay chặt chẽ” ngay từ khâu đào tạo nhân lực. Khi đó, nhà trường sẽ có kế hoạch đào tạo đúng với nhu cầu của thị trường. Còn doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn nhân lực cho phát triển sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh.

                                                                                Theo  VOV

     

     

    Chất lượng nguồn nhân lực quá yếu

     

    Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, năm 2005, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát. Cơ cấu nguồn nhân lực tỉ lệ đại học (cử nhân, bác sĩ, kỹ sư)/trung học chuyên nghiệp/công nhân kỹ thuật trung bình ở nước ta (1:1,16: 0,92 ); còn trung bình của thế giới (1:4:10), như vậy nước ta nghiêng tỉ lệ thầy nhiều hơn thợ quá lớn.

    Chưa đáp ứng chuẩn mực đào tạo

    Theo thống kê của Bộ GDĐT, có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm. Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứng được công việc, không ít công ty phải mất 1-2 năm đào tạo lại. Bằng cấp đào tạo chưa được thị trường lao động quốc tế thừa nhận, tốt nghiệp đại học ở Việt Nam chưa hẳn ở nước ngoài đã được trả lương theo văn bằng.

    Năm 2007, số SV tốt nghiệp ĐH là 161.411. Theo ước tính, mỗi tấm bằng ĐH người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn Nhà nước đầu tư khoảng 30 triệu đồng. Như vậy, với tỉ lệ 63% sinh viên ra trường chưa có việc làm, có thể làm một phép tính để thấy kinh phí đã đầu tư rồi sinh viên vẫn thất nghiệp (161.411 SV x 63% x 70 triệu). Chỉ tính riêng năm nay ít nhất là 7.117 tỉ đồng (trong đó, 4.067 tỉ đồng của dân, còn là 3.050 tỉ đồng của Nhà nước).

    Hiện ta có 1.540.201 SV đại học và cao đẳng, so với dân số nước ta, tỉ lệ trung bình ở nước ta là 181 SV/vạn dân, SV dự kiến tăng tuyển sinh 10%, và đến 2020 sẽ có 600 trường ĐH&CĐ, gấp 2 lần số trường đã có hiện nay, mỗi huyện thị trung bình có 1 trường. Tỉ lệ ở thế giới là 100 SV/vạn dân, Trung Quốc là 140 SV/vạn dân. Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc gấp 2 lần thu nhập ở Việt Nam.

    Kinh tế, theo lịch sử, sẽ quyết định quy mô giáo dục. Năm nay Nhà nước dự kiến chi 4.000 tỉ đồng cho vay để học tập. Để duy trì quỹ vay này hoạt động thường xuyên, theo chuyên gia, con số này không phải là 4.000 tỉ đồng, mà phải là 15.000 tỉ đồng.

    Bất cập của hệ thống giáo dục chưa đáp ứng được chuẩn mực đào tạo trong ngoài nước. Rõ ràng, chúng ta đang ở trong vòng luẩn quẩn nghèo đói và lãng phí. Đào tạo không sử dụng được, thì sự lãng phí không thể đong đếm được, vì ngoài tiền của là thời gian, sức trẻ…?

    Những bất cập về cơ cấu và chất lượng

    Sự bất cập về cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực có nhiều, nhưng xin nêu ba nguyên nhân chính.

    Bậc đại học là bậc tự học. Muốn đào tạo có chất lượng, điều kiện tối thiểu phải có đầy đủ SGK và giáo trình (gọi chung là sách), theo một chương trình đạo tạo chuẩn mực ổn định. Hiện nay bậc phổ thông bội thực sách, còn ở bậc đại học đói sách phải học chay triền miên.

    Có lẽ vì lượng sách phổ thông in ấn hàng triệu bản, thu lãi cả triệu USD/môn học, thì bộ quản chặt, còn sách in hàng nghìn bản ở ĐH không mang lợi thì để các trường tự lo? Chương trình đào tạo được chỉ đạo trước đây sao chép chương trình của Đại học Chiềng Mai – Thái Lan, và hàng vạn cuộc họp được tổ chức suốt 20 năm qua, nhưng kết quả vẫn còn ở phía trước?

    Gần đây lại chỉ đạo “nhập khẩu” chương trình đào tạo của các nước tiên tiến với vốn vay hàng triệu USD từ nước ngoài. Một việc làm thật lạ với các nước, và chưa từng có tiền lệ, kể cả thời điểm sau hoà bình lập lại năm 1955, khi các trường ĐH mới được thành lập.

    Về tổ chức, ngoài tiêu chuẩn “xếp hàng”, từ năm 1987 đến nay, lãnh đạo ngành giáo dục còn có tiêu chí mới để chọn người, với danh nghĩa “dân chủ hoá” nhà trường bằng việc phổ thông đầu phiếu. Trong đó giáo sư và nhân viên có giá trị phiếu ngang nhau để cử vào các vị trí quản lý các cơ sở đào tạo, từ chủ nhiệm bộ môn đến hiệu trưởng. Người ứng cử là 51 tuổi đối với nữ, 55 tuổi đối với nam là tiêu chí bất thành văn trong ngành để chọn vào vị trí quản lý.

    Việc loại bỏ một nhà giáo, nhà khoa học có uy tín khỏi danh sách ứng cử viên hiệu trưởng ở các trường đại học lớn của nước ta, thật dễ dàng, chỉ cần kéo dài thời gian lấy phiếu tín nhiệm khoảng 2 tháng cho quá tuổi là xong.

    Việc bổ nhiệm Giám đốc ĐHQG cũng vậy, yêu cầu phải có hàm “thứ trưởng”, chứ đâu phải tài năng và học thuật. ĐHQG sau hơn 10 năm thành lập, vẫn thua kém ĐHTH Chulalongkon – Thái Lan 50 bậc! Thực tế, sau 20 năm, không ít các sở đào tạo, bộ máy quản lý được thiết lập những quy trình khó hiểu, “chẳng giống ai”, nên tạo ra những bộ máy hoạt động kém hiệu quả.

    Việc “thầy nhiều hơn thợ” bắt nguồn từ việc xoá bỏ Tổng cục Dạy nghề khi nhập vào Bộ ĐH-THCN năm 1987. Hệ thống giáo dục quốc dân vào năm 1993 đã bị biến dạng, hệ thống này được ví như cái kiềng hai chân, không thể liên thông được. Tại Trung Quốc, sau THCS, gần 60% HS vào trường nghề, chỉ hơn 40% vào THPT và học lên ĐH, ở Đài Loan 66% học nghề, 34% học tiếp.

    Thuỵ Sĩ là một nước giầu có, nhưng tỉ lệ vẫn giữ 1 thầy 4 thợ. Sự phân luồng ở đây 18% HS vào ĐH, 82% HS đi học nghề. Họ có 10 trường ĐH, nhưng có 72 trường dạy nghề. Dự kiến từ nay đến 2020 sẽ có 450 SV/vạn dân. Thiếu giảng viên đại học, lại có ngay một “chiến lược” ngẫu hứng 10 năm tới đào tạo 20.000 tiến sĩ! 

                                                                                                    MAI ĐÌNH

     

     

    Quyết định sự tăng trưởng bền vững: Nguồn nhân lực – yếu tố hàng đầu

    Theo đánh giá của các chuyên gia về lao động, trong xu thế toàn cầu hoá, nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, như duy trì tốc độ tăng trưởng cao, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống người lao động.

    Và trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, ưu thế sẽ luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một xã hội ổn định.   

    Trong xã hội hiện đại, sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn lực trí tuệ và tay nghề của con người, nguồn nhân lực là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất như trước đây. Thậm chí, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây cũng đã chỉ ra rằng, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người – nguồn nhân lực. Nhưng con người phải được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành “nguồn vốn – vốn con người, vốn nhân lực”.

    Nhìn vào thực tế, nguồn nhân lực của ta rất dồi dào, lên đến hơn 45 triệu lao động với đầy đủ các ưu thế như cần cù, khéo léo, thông minh. Tuy nhiên, hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là qua đào tạo nghề còn thấp, chỉ bằng 1/3 các nước và các nền kinh tế công nghiệp mới. Trong số lao động đã qua đào tạo nghề, chỉ có khoảng 25% là được đào tạo dài hạn, trình độ cao, số còn lại kỹ năng, tay nghề yếu. Cũng vì thế, khi cơn bão tài chính bùng phát trên phạm vi toàn cầu, hàng loạt doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động, khiến người lao động nhiều nơi lao đao, hoang mang. Tuy nhiên, đây không phải là lý do chính để doanh nghiệp giảm lao động. Ông Nguyễn Trung Chính, Giám đốc Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội và bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục phó Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB&XH cho rằng, bên cạnh nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm lao động cũng có không ít doanh nghiệp đang tuyển dụng nhiều lao động. Cụ thể như khu vực TP Hồ Chí Minh, khu vực Hà Nội, có doanh nghiệp đến thời điểm cận Tết vẫn cần tuyển dụng hàng nghìn công nhân.

    Nói như vậy không có nghĩa là cuộc suy thoái tài chính toàn cầu không ảnh hưởng đến người lao động trong nước. Nhưng vấn đề ở chỗ, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp đang cần lao động, nhất là những lao động ở trình độ cao, lao động được đào tạo và có kỹ năng nghề. Đối với những lao động có trình độ, được đào tạo bài bản, việc di chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác sẽ bớt khó khăn hơn.

    Để giải quyết những vấn đề đó, Bộ LĐ-TB&XH đã đưa ra nhiều giải pháp. Theo Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân, để từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong thời gian tới, bộ sẽ thực hiện nhiều biện pháp như: tăng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu dạy nghề theo yêu cầu của thị trường lao động; tạo nhiều việc làm, đi đôi với nâng cao chất lượng việc làm, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng sẽ chú ý phát triển thị trường lao động trên phạm vi cả nước trên cơ sở tăng lao động làm công ăn lương có tay nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao làm việc trong các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, ngành dịch vụ… sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, tạo động lực mới thông qua cải cách căn bản chính sách tiền lương. Cũng theo bà Ngân, để phát huy tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam, vấn đề quan trọng là phải tạo ra động lực mới thông qua chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ lao động. Chính sách đó phải là một chính sách phân phối theo lao động, theo tài năng; phải thực hiện sự công bằng trong phân phối và khuyến khích, tôn vinh lao động sáng tạo, trọng dụng nhân tài, phát triển nhân lực.

    Hàng loạt kế hoạch, chính sách đã được vạch ra. Thực hiện tốt được những đường hướng này, chắc chắn không chỉ chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, đời sống người lao động được bảo đảm, mà quan trọng nhất, đây còn là nhân tố quyết định cho sự phát triển và ổn định nền kinh tế của đất nước.

     

    Các vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam

    Kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao trong những năm qua nhưng có một số tồn tại trong nền kinh tế có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Trong giai đoạn hiện nay tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi của kinh tế thế giới và những giải pháp của chính phủ.

    Sau khi cải cách kinh tế, Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng vượt bậc, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên một cách nhanh chóng. Việt Nam cũng thu hút được nhiều quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, được thể hiện qua dòng vốn FDI và FPI chảy vào ngày càng lớn.

    Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn trên con đường phát triển kinh tế của Việt Nam. Gia nhập WTO không chỉ giúp kinh tế Việt Nam có điều kiện hội nhập, được hưởng những chính sách thương mại có lợi mà đây còn là một động lực để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy vậy, gia nhập WTO cũng là một thách thức thực sự khi những yếu kém kém trong nền kinh tế vẫn chưa được khắc phục. Chất lượng tăng trưởng thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, thể chế pháp luật còn nhiều hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Đây chính là những hạn chế mà Việt Nam phải vượt qua để duy trì được một tốc độ tăng cao và đưa đất nước thoát khỏi nhóm nước nghèo như hiện nay.

    Bài viết của chúng tôi đánh giá một số vấn đề trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Để từ đó đưa ra xu hướng về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai.

    1.Bối cảnh kinh tế thế giới

    Trong những năm gần đây kinh tế thế giới đã đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Những nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng cao. Sự phát triển công nghệ thông tin, thương mại và dịch chuyển dòng vốn các quốc gia trở nên gần gũi và phụ thuộc lẫn nhau hơn.

    Năm 2008, khủng hoảng tài chính từ Mỹ đã nhanh chóng lan rộng và gây ra ảnh hưởng nặng nề trên quy mô toàn cầu. Tăng trưởng sụt giảm, thậm chí nhiều nền kinh tế rơi vào suy thoái, hệ thống tài chính rối loạn. Các quốc gia và tổ chức như IMF, WB… không ngừng nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để đối phó song triển vọng kinh tế toàn cầu cho đến này vẫn không mấy sáng sủa. Theo dự báo của các chuyên gia và tổ chức, kinh tế thế giới còn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, khả năng phục hồi có thể chỉ bắt đầu từ cuối năm 2009. Hậu quả của cuộc suy thoái hiện nay sẽ còn kéo dài trong nhiều năm sắp tới.

    Trong bối cảnh như vậy, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động rất lớn do xuất nhập khẩu, vốn đầu tư nước ngoài và kiếu hối suy giảm. Các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ chịu sự cạnh tranh khốc liệt của hàng ngoại nhập. Sự ảnh hưởng này còn tăng thêm do kinh tế Việt Nam tồn tại một số yếu kém nên khó có những thay đổi kịp thời để thích nghi với tình hình mới.

    Bảng 1: Dự báo tăng trưởng kinh tế của WB tháng 11 năm 2008

    (Cuối năm 2008 dự báo của WB còn khá lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới. Dự báo mới nhất của WB vào tháng 4/2009 đã hạ mức dự báo tăng trưởng của các quốc gia. Kinh tế thế giới giảm khoảng 1.7%, các nước phát triển giảm 3%, tăng trưởng của Trung Quốc chỉ còn 6.5%, các nước Đông Nam Á, Singapore, Malaysia, Thái Lan tăng trưởng âm).

    2. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua

    Tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 2000 – 2007 đạt 7.6% [1]. Năm 2007, tăng trưởng 8.48%, đây cũng là mức tăng cao nhất từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm gần đây khá ấn tượng. Dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng đây không phải là một hiện tượng thần kỳ vì theo tính toán của các nhà kinh tế thì tăng trưởng của Việt Nam đang ở dưới mức tiềm năng.

    Năm 2008, chịu ảnh hưởng từ bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tài chính thế giới, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6.19% [2]. Tốc độ tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với năm 2007 và mục tiêu đã đề ra của chính phủ. Nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng giảm nhiều nhất là công nghiệp và xây dựng. Năm 2008, tăng trưởng của công nghiệp và xây dựng chỉ khoảng 6.33%, trong khi đó năm 2007 là 10.6%. Ngành xây dựng có mức suy giảm mạnh nhất từ mức 12.01% năm 2007 xuống 0.02% năm 2008. Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2008 tăng trưởng 3.79%, không biến động nhiều so với tỷ lệ 3.4% của năm 2007. Quý 1 năm 2009 tăng trưởng GDP đạt 3.1%, thấp hơn nhiều so với năm 2008 và những năm trước đó. Tăng trưởng công nghiệp chỉ còn 1.5%, dịch vụ 5.4%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0.4%. Điều này báo trước một năm 2009 là năm khó khăn với kinh tế Việt Nam.

    Hình 1: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư/GDP giai đoạn 1997 – Q1/2009

     

    • Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện qua tăng trưởng nhân tố

      Để xem xét chất lượng tăng trưởng ngoài phương pháp đánh giá dựa vào hệ số ICOR, chất lượng tăng trưởng còn được đánh giá thông qua đóng góp của các nhân tố cho tăng trưởng.

      Theo lý thuyết về tăng trưởng, phương trình tăng trưởng Cobb-Douglas có 3 nhân tố đóng góp vào tăng trưởng đó là vốn (K), lao động (L), TFP [5] (cải thiện công nghệ, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn). Nếu yếu tố TFP càng cao thì được xem như chất lượng tăng trưởng càng cao. Bảng 5 cho thấy mặc dù yếu tố cải thiện công nghệ ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong đóng góp vào tăng trưởng nhưng vẫn còn chiếm một tỷ lệ nhỏ. So sánh với các quốc gia khác, chẳng hạn tỷ trọng TFP thời kỳ 1980 – 2000 Hàn Quốc là 39.96%, Ấn Độ là 40.78%, yếu tố đóng góp cho tăng trưởng TFP của Việt Nam cũng thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á. Điều này cho thấy mức độ đóng góp của cải thiện công nghệ và tăng năng suất lao động cho tăng trưởng của Việt Nam vẫn còn thấp. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào tăng vốn đầu tư và tăng số lượng lao động.

      Nguyên nhân làm cho chất lượng tăng trưởng không cao

      Trên đây chúng ta vừa xem xét hai yếu tố cho thấy chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như :

    • Đầu tư khu vực nhà nước hiệu quả thấp
    • Phát triển ngành và các khu vực chưa hợp lý
    • Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu

    Chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học chưa cao

    Chất lượng nhân lực không cao và chậm áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ khiến cho năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh của hàng hóa kém, giá trị gia tăng của các sản phẩm chưa cao.

    Nguồn nhân lực giá rẻ không còn được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Chất lượng nguồn nhân lực thấp trở thành một rào cản phát triển kinh tế. Số người lao động qua đào tạo đang chiếm một tỷ lệ thấp, chất lượng cũng chưa đáp ứng được những công việc đòi hỏi kiến thức và kỹ năng. Đào tạo đại học và nghề chưa theo sát với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề nhân lực là một trở ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam.

    Chất lượng công trình nghiên cứu ứng dụng còn thấp và số lượng lại ít. Hàng năm, ngân sách nhà nước sử dụng một phần không nhỏ cho nghiên cứu phát triển nhưng hiệu quả thu được rất khiêm tốn.

    Chi phí nghiên cứu nhiều dự án của nhà nước lên đến hàng tỷ đồng nhưng tính thực tiễn thấp. Nhiều dự án báo cáo xong nhưng không được triển khai ứng dụng mà “xếp vào tủ”. Nghiên cứu ở các trường đại học dừng lại ở mức độ thử nghiệm, thiếu tính ứng dụng. Những công trình được công bố ở nước ngoài và được quốc tế công nhận chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Doanh nghiệp trong nước chưa quan tâm nhiều đến nghiên cứu phát triển và ứng dụng những tiến bộ về khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận kinh tế môi trường: Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-S%E1%BB%B1-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%95ng-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%99i-l%C3%A3i-su%E1%BA%A5t-v%C3%A0-m%E1%BA%ADt-%C4%91%E1%BB%99-d%C3%A2n-s%E1%BB%91-%C4%91%E1%BA%BFn-vi%E1%BB%87c-huy-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BB%91n-d%C3%A2n-c%C6%B0-t%E1%BA%A1i-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-v%C3%A0-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế lượng Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Như chúng ta đã biết, vốn là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Đối với Việt Nam của chúng ta có nền kinh tế phát triển chưa cao và khoa học kỹ thuật còn lạc hậu so với khu vực và thế giới. Chính vì vậy, vốn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước chúng ta đã nhận định không chỉ trông chờ vào nguồn vốn bên ngoài mà còn phải phát huy cao độ nội lực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Hiện nay trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng thì vốn được coi là nhân tố đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến sự hình thành và phát triển bền vững của ngân hàng. Trong đó, chủ yếu là nguồn vốn huy động từ các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, trong lượng tiền nhàn rỗi đó phải nói đến nguồn tiền của các tầng lớp dân cư. Đây là nguồn vốn dồi dào, là nguồn tiền gửi có tính ổn định, vững chắc và ngày một tăng lên. Kinh tế ngày càng phát triển thì thu nhập của mọi tầng lớp dân cư ngày càng tăng. Đây chính là lợi thế cho ngân hàng, cho Nhà nước trong việc huy động nguồn vốn phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội.

    Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn và đặc biệt là nguồn vốn huy động từ dân cư, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu một số nhân tố chính ảnh hưởng đến công tác huy động vốn từ dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Cụ thể tên đề tài là “Sự ảnh hưởng của tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số đến việc huy động vốn dân cư tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”

    Nhóm chúng tôi hy vọng rằng đề tài sẽ mang lại một số ý nghĩa thực tiễn chẳng hạn như khi chúng ta biết số liệu về tổng sản phẩm quốc nội hoặc lãi suất huy động của bất kỳ tỉnh nào thì bạn có thể dự đoán tương đối được nguồn vốn huy động từ dân cư tại tỉnh đó và sự biến động của các nhân tố này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến công tác huy động vốn của ngân hàng; hoặc trên cơ sở số liệu đã có chúng ta có thể dự báo tình hình huy động vốn từ dân cư cho các năm sau của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    2

    Tiểu luận kinh tế lượng

    PHẦN I

    KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    I. Đôi nét về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    Thành lập ngày 26/04/1957 với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. Qua nhiều lần đổi tên, ngày 14/11/1990 chuyển thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt

    Nam, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, đến nay Ngân hàng Đầu tư
    và Phát triển Việt Nam (BIDV) là Ngân hàng thương mại quốc doanh, kinh doanh đa
    ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng
    phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng,
    góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
      BIDV là ngân hàng lớn thứ hai của Việt Nam (sau Ngân hàng Nông nghiệp và
    Phát triển nông thôn Việt Nam) cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới
    hoạt động và số lượng khách hàng. Đến cuối 2007, BIDVcó 10.643 tỷ VNĐ vốn tự có
    theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổng tài sản: 201.382 tỷ VNĐ; 103 chi nhánh
    và gần 400 điểm giao dịch toàn quốc, có quan hệ với trên 8.000 doanh nghiệp và hộ sản
    xuất kinh doanh, trên mười triệu khách hàng giao dịch các loại.
                 

    Đồng thời, là ngân hàng đầu tư tích cực vào đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến. Hiện BIDVđã kết nối trên diện rộng mạng máy tính từ trụ sở chính đến 103 chi nhánh và gần 400 điểm giao dịch; và một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT. Đến nay, BIDV hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước.

    Là ngân hàng có mạng lưới ngân hàng đại lý lớn với trên 800 ngân hàng trên thế giới. Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội ngân hàng ASEAN, Hiệp hội các định chế tài chính phát triển Châu Á – Thái Bình Dương (ADFIAP), Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. Trong những năm qua, BIDV vinh dự được phục vụ cho các Hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt nam, đặc biệt trong đó có Hội Nghị APEC tổ chức tại Việt Nam vào năm 2006. Liên doanh với Ngân hàng Ngoại thương Nga thành lập Ngân hàng liên doanh Việt-Nga, với Ngân hàng Ngoại thương Lào thành lập Ngân hàng Liên doanh

    Tiểu luận kinh tế lượng

    Lào-Việt  và Public bank  của M alaysia thành lập Ngân hàng Liên doanh VID  Public

    bank. Tiếp nhận và triển khai có hiệu quả các dự án của các tổ chức tài chính tín dụng ngân hàng quốc tế đặc biệt là các dự án của WB (các dự án tài chính nông thôn 1,2 và 3), ADB và các tổ chức tài chính khác.

    Với vị thế là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam, BIDV đã nỗ lực hết mình, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ qua đó đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đất nước trong thời gian qua.

    II. Khái quát vấn đề nghiên cứu

    Trong quá trình học tập và nghiên cứu môn kinh tế lượng, chúng tôi phát hiện ra rất nhiều vấn đề hay và bổ ích cho công việc. Môn học đã giúp nhóm chúng tôi biết được một số phương pháp nghiên cứu quan trọng trong việc ứng dụng vào công việc thực tế mà trước đây chúng tôi thường xem nhẹ. Đặc biệt là những cán bộ ngân hàng chuyên nghiên cứu về lĩnh vực huy động vốn, chúng tôi thường hay đặt ra câu hỏi những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của ngân hàng. Trước đây, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc phân tích mang tính định tính là chủ yếu, hiểu vấn đề một cách khái quát nhưng sau khi học xong môn kinh tế lượng, chúng tôi có thể áp dụng một số phương pháp để đưa ra kết quả nghiên cứu thực tiễn hơn và mang tính định lượng. Chính điều này làm cho vấn đề nghiên cứu có tính thuyết phục hơn.

    Ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế, là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Cụ thể là ngân hàng huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư để cho các đơn vị có nhu cầu vay. Để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đi vay của các doanh nghiệp đòi hỏi nguồn vốn huy động của ngân hàng đặc biệt phải ổn định và phát triển. Nhưng chúng ta biết rằng nguồn vốn huy động được chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố chẳng hạn như lãi suất huy động, thu nhập của người dân, chính sách huy động của từng ngân hàng trên địa bàn, số lượng ngân hàng trên địa bàn, vị thế và uy tín của ngân hàng, lạm phát …. Có những nhân tố mang tính khách quan và những nhân tố khác mang tính

    chủ quan. Vấn đề ở đây là làm cách nào để có được dự đoán, nắm bắt các nhân tố khách quan và tác động, sử dụng vào các nhân tố chủ quan như là một công cụ chính trong công tác huy động vốn.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Tiểu luận kinh tế lượng

    Trong quá trình nghiên cứu, sử dụng nhiều mô hình, nhóm chúng tôi nhận thấy rằng mô hình sau là tương đối hợp lý nhất. Mô hình đó là nguồn vốn huy động từ dân cư phụ thuộc chủ yếu từ tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất và mật độ dân số. Nhóm chúng tôi sử dụng nguồn dữ liệu thu thập được tiến hành chạy thử mô hình. Bước đầu, đã thu được một số kết quả tương đối khả quan.

    Nhóm sử dụng số liệu năm 2007 về doanh số huy động vốn, tổng sản phẩm quốc nội của từng tỉnh thành theo mẫu quan sát, lãi suất huy động bình quân của các Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển trên từng địa bàn, mật độ dân số từng tỉnh thành.

    M ô hình nhóm đưa ra gồm có các biến sau:

    – Biến doanh số huy động vốn từ dân cư năm 2007 của 30 tỉnh thành tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (biến phụ thuộc-Y)

    • Biến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2007 của từng tỉnh thành (biến độc

    lập-X2)

    • Lãi suất huy động vốn năm 2007 của từng chi nhánh trên từng địa bàn (biến độc

    lập- X3)

    – Biến mật độ dân số của tỉnh, thành (người/km2)(biến độc lập-X4)

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    Tiểu luận kinh tế lượng

    PHẦN II

    SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI,

    LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN, MẬT ĐỘ DÂN SỐ

    ĐẾN HUY ĐỘNG VỐN

    I. Các giả thiết

    Để đưa ra mô hình, chúng ta giả thiết:

    • Mô hình là mô hình tuyến tính
    • Kỳ vọng của các sai số bằng không
    • Phương sai thuần nhất bằng nhau
    • Sai số tuân theo phân phối chuẩn

    II. Mô hình toán học

    Hàm hồi quy tổng thể có dạng

    Y =  12X2 + 3X3 + 3X4 +ui

    Trong đó:

    Y: Doanh số huy động vốn trung bình của 1 tỉnh, thành- Biến phụ thuộc

    X2: GDP (tỷ đồng)

    X3: Lãi suất (%/năm)

    X4: Mật độ dân số (người/km2)

    1: Hệ số chặn

    ui: Yếu tố ngẫu nhiên

    III. Thu thập số liệu

    Tình hình huy động vốn, GDP, lãi suất huy động bình quân năm 2007 của BIDV tại 30 tỉnh thành, mật độ dân số của 30 tỉnh thành:

         
         
         
                        Huy động             Mật độ dsố      
                  Tỉnh thành   vốn     GDP   Lãi suất (Người      
              TT         ( tỷ đồng)   (tỷ đồng)   (%/năm) /km2)      
            1 Bắc Ninh     1,682   5,913   8.28   1,250      
            2 Hà Tây     859   18,085   8.04   1,165      
            3 Hải Phòng     2,126   25,739   8.28   1,202      
            4 Thái Bình     568   5,967   8.04   1,208      
            5 Hải Dương     1,155   9,184   8.16   1,048      
            6 Nam Định     696   12,365   8.04   1,206      
            7 Cao Bằng     277   2,855   7.80   78      
            8 Bắc Giang     301   8,218   7.80   420      
            9 Thái Nguyên     924   7,544   8.04   321      
            10 Quảng Ninh     1,634   15,506   8.16   180      
            11 Thanh Hóa     833   24,614   8.04   332      
            12 Nghệ An     1,703   19,769   8.28   188      
            13 Hà Tĩnh     622   5,149   8.04   214      
            14 Quảng Bình     1,021   5,540   8.16   106      
            15 Quảng Trị     265   3,990   7.80   420      
            16 Đà Nẵng     983   13,501   8.04   641      
            17 Quảng Ngãi     405   5,388   8.04   250      
            18 Bình Định     539   11,052   8.04   261      
            19 Khánh Hòa     502   15,895   8.04   220      
            20 Gia Lai     567   737   8.04   75      
            21 Đắk Lắk     276   14,425   7.80   134      
            22 Lâm Đồng     302   11,071   7.80   123      
            23 Bình Dương     550   17,897   8.04   379      
            24 Đồng Nai     636   35,326   8.04   382      
            25 Bà Rịa – Vũng Tàu   1,411   34,966   8.16   476      
            26 Bến Tre     553   11,239   8.04   574      
            27 Vĩnh Long     242   9,234   7.80   718      
            28 Đồng Tháp     85   12,150   7.80   495      
            29 Cần Thơ     278   18,069   7.80   824      
            30 Tiền Giang     341   14,793   7.80   694      
          Kết quả mô hình (3 biến) được chạy bằng phần mềm SPSS        
                                             
                      Adjusted Std.       Change Statistics      
                  R   Error of                 Durbin-
      Model     R     R   R F   df1 df 2   Sig. F
    SummarybModel     Square   the   Square Change     Change Watson
            Square      
                      Estimate   Change              
                                         
              0.9129 0.833369   0.814142 223.6913   0.833369   43.34432   3 26 2.94E- 1.791
    1                 10
                                             

    a.Predictors: (Constant), X4, X2, X3

    Tiểu luận kinh tế lượng

          b.Dependent   Variable: Y                            
                            ANOVAb                          
                                                         
                    Sum of                                
      Model           Squares     df Mean Square   F   Sig.    
                                                     
      1   Regression     6506564.464     3 2168854.821   43.344   .000a    
          Residual       1300983.003     26     50037.808                
          Total       7807547.467     29                          
          a.Predictors: (Constant), X4, X2, X3                          
          b.Dependent   Variable: Y                            
                          Coefficientsa                      
                                               
              Unstandardized   Standardized                      
                  Coef ficients   Coeff icients               95% Confidence
        Model                           t Sig. Interval f or B
                                         
                                                       
                B     Std.   Beta               Lower   Upper
                    Error                 Bound   Bound
                                               
      1 (Constant)   -21010.3 2138.842           -9.8232 .0000 -25406.7   -16613.8
        X2     0.006153 0.005238   0.098426   1.174708 0.2508   -0.00461   0.016919
        X3     2700.201 271.023   0.862868   9.962997 .0000   2143.105   3257.297
        X4     0.073526 0.110915   0.05503   0.662906 0.5132   -0.15446   0.301514
          a.Dependent   Variable: Y                            
                        C orrelations                          
                                               
                        Y X1       X2   X3   X4      
      Pearson Correlation   Y     1.000   .   .357     .906     .291      
                  X1     . 1.000   .     .     .      
                  X2     .357   .   1.000     .295     .080      
                  X3     .906   .   .295     1.000     .265      
                  X4     .291   .   .080     .265     1.000      
      Sig. (1-tailed)     Y     . .000   .026     .000     .059      
                  X1     .000   .   .000     .000     .000      
                  X2     .026 .000   .     .057     .338      
                  X3     .000 .000   .057     .     .079      
                  X4     .059 .000   .338     .079     .      
      N         Y     30   30   30     30     30      
                  X1     30   30   30     30     30      
                  X2     30   30   30     30     30      
                  X3     30   30   30     30     30      
                  X4     30   30   30     30     30      

    Tiểu luận kinh tế lượng

    Từ kết quả trên cho ta mô hình toán sau:

    Y = -21,010.286 + 0.06 X2 + 2,700.201 X3 + 0.074 X4

    Từ mô hình này, ta thấy biến lãi suất là có ý nghĩa nhất. Khi lãi suất tăng 1% thì vốn huy động tăng 2,700.201%.Các biến tổng sản phẩm quốc nội, mật độ dân số ảnh hưởng rất ít đến huy động vốn của ngân hàng, cụ thể khi tổng sản phẩm quốc nội tăng lên 1% thì vốn huy động tăng lên 0.06%, mật độ dân số tăng lên 1% thì vốn huy động tăng lên 0.074%. Điều này cũng thật dễ hiểu vì vốn huy động còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như thu nhập khả dụng và tiết kiệm trong chi tiêu của người dân.

    IV. Tiến hành kiểm định

    1. Kiểm định sự phù hợp của hàm hồi quy

    Giả thiết:          H0:        i = 0, tức là X i không ảnh hưởng đến Y (i =2,3,4)

    H1:     i # 0, tức là X i có ảnh hưởng đến Y

    Tra bảng: F0,05(2; 27) = 3,49.

    Từ bảng Anova trên thì F = 43,344 và Sig = 0.000, ta thấy tham số F > F0,05(2;

    27), như vậy F thật sự có ý nghĩa. Tức là bác bỏ giả thiết H0. Ta kết luận Chấp nhận giả thiết H1, nghĩa là có ít nhất một yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn.

    2. Kiểm định giả thiết của các hệ số hồi quy riêng

    Kết quả SPSS cho ta :
    t2 = 1.175 sig2 = 0.251
    t3= 9.963 sig3 = 0.000
    t4 = 0.663 sig4 = 0.513
    Qua kết quả trên cho thấy biến X3  là rất có ý nghĩa với mô hình. Các biến X2 &

    X4 thật sự chưa có ý nghĩa nhiều tới mô hình.

    3. Khoảng tin cậy cho các hệ số hồi quy riêng:

    Đối với β2 :  ( – 0.005 ; 0.17 )

    • Đối với β3 : ( 2143.105 ; 3257.297 )

    Đối với β4 :  ( -0.154 ; 0.302 )

    Kết quả SPSS cho ta hệ số xác định bội R2 = 0.833, điều này có nghĩa là mô hình giải thích được 83,3% các quan sát. Phần còn lại do sai số.

    Dựa vào bảng kết quả trên cho ta thấy trong ba biến tổng sản phẩm quốc nội, mật độ dân số và lãi suất huy động thì biến lãi suất có ý nghĩa hơn. (Sig = 0.000 )

    Rõ ràng với các kết quả đã phân tích ở trên, nhóm chúng tôi thấy rằng mô hình đưa ra là tương đối phù hợp. Độ phù hợp của mô hình (R2 =0.833) tương đối cao. Tuy nhiên trong thực tế doanh số huy động vốn còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như chính sách chăm sóc khách hàng, chính sách khuyến mãi cho khách hàng, uy tín, vị trí và thương hiệu của ngân hàng cũng như đôi lúc còn phụ thuộc vào thói quen của khách hàng… Trong thực tế các biến này không mang tính định tính cho nên rất khó để xác định. Vì thế, nếu có thể thu thập, đánh giá để đưa ra số liệu cho mô hình, nhóm chúng tôi sẽ đưa thêm vào mô hình biến chính sách chăm sóc khách hàng của ngân hàng ( có thể coi đây là biến giả: Ngân hàng nào có chính sách chăm sóc khách hàng tốt luôn làm khách hàng hài lòng thì nhận giá trị 1; và ngược lại nhận giá trị 0 ). Tuy vậy, việc định lượng các giá trị này quả là không đơn giản vì thế nhóm chúng tôi chỉ dừng lại nghiên cứu mô hình trên.

    1. Phát hiện tự tương quan trong mô hình theo DW Kết quả chạy SPSS ta có DW=1.791

    Tra bảng DW với mức ý nghĩa 5% , k’ = 3, n = 30 ta có dl và du như sau:

    dl =1.214 ; du = 1.650 ; 4- du = 2.350

    Ta có: du = 1.650 < d = 1.791 < 4-du =2.350

    Kết quả trên cho thấy không có tự tương quan dương hoặc âm

    5. Phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến

    Sử dụng hệ số tương quan cặp để phát hiện đa cộng tuyến:

    Kết quả SPSS ở phần Pearson correlations ta thấy hệ số tương quan :

    rX2X3 = 0.295 < 0.8

    rX3X4 = 0.265 < 0.8

    rX2X4 = 0.080 < 0.8

    Chứng tỏ các biến không có hiện tượng đa cộng tuyến.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    10

    Tiểu luận kinh tế lượng

    PHẦN III

    Ý NGHĨA CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

    M ô hình trên giải thích được 83,3% các quan sát và nhóm xác định mô hình này

    có ý  nghĩa và có thể sử dụng trong công tác dự báo của ngân hàng. Mô hình cho thấy

    yếu tố lãi suất rất quan trọng, nhạy cảm và đúng thực tế hiện nay đó là các ngân hàng

    thương mại đang dùng công cụ lãi suất để cạnh tranh nhằm tăng khả năng huy động vốn. Tuy nhiên, công tác huy động vốn còn ảnh hưởng vào yếu tố khác ngoài ba yếu tố trong mô hình như: giá vàng, lạm phát, thương hiệu, khuyến mãi…và đây cũng là điều

    khó khăn cho nhóm chúng tôi trong việc lựa chọn các yếu tố để đưa vào mô hình ( do tính bảo mật, cạnh tranh nên việc thu thập thông tin gặp khó khăn ). Qua việc phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn nói trên là một gợi ý để các ngân hàng tham khảo và xây dựng riêng cho mình một mô hình thích hợp trong công tác dự báo.

    Việc xây dựng mô hình trên của nhóm dựa trên ý chí của tập thể cả nhóm và mô hình thực nghiệm đã sử dụng số liệu về huy động vốn tại các tỉnh thành của BIDV, các số liệu về GDP, mật độ dân số của các tỉnh thành tương ứng. Tuy nhiên, đây là nỗ lực rất lớn của cả nhóm trong việc thu thập xử lý dữ liệu để xây dựng mô hình và nếu có điều kiện nhóm sẽ thu thập thêm số liệu, bổ sung một số biến vào mô hình để xem xét mức độ ảnh hưởng của nó đến công tác huy động vốn của ngân hàng.

    Theo nhóm chúng tôi, mô hình có ý nghĩa thực tiễn tương đối cao, không những trong phạm vi hệ thống BIDV mà còn có thể nhân rộng ra các hệ thống ngân hàng khác vì có thể dự đoán tình hình huy động vốn qua các năm tới một cách tương đối thông qua nắm bắt được hai nhân tố đó là:

    • Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với nhân tố này, ngân hàng có thể dễ dàng tìm hiểu thông qua các chỉ tiêu, kế hoạch của tỉnh, thành phố nơi mà ngân hàng đóng tại địa bàn đó. Tình hình kinh tế tăng trưởng thì tổng sản phẩm quốc nội tăng, đời sống người dân được nâng cao thì nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư tăng vì thế ngân hàng có thể huy động được nhiều hơn. Ngược lại, nguồn vốn huy động từ dân cư nhiều sẽ tạo điều kiện

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    11

    Tiểu luận kinh tế lượng

    cho ngân hàng cung cấp vốn nhiều hơn cho các doanh nghiệp hoạt động. M à chúng ta biết rằng vốn là điều kiện rất quan trọng cho mỗi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp có nhiều dự án kinh doanh rất khả thi nhưng lại không có vốn vì thế ảnh hưởng rất lớn đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp, kéo theo đời sống kinh tế của người dân, tăng trưởng kinh tế của đất nước bị ảnh hưởng theo. Rõ ràng cho chúng ta thấy rằng các vấn đề này có quan hệ chặt chẽ với nhau.

    • Lãi suất huy động vốn, đây là nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến doanh số huy động vốn. Nhân tố này mang tính chủ quan có nghĩa là do chính sách huy động của ngân hàng. Ngân hàng căn cứ vào lãi suất huy động trên địa bàn, lãi suất trần do Ngân hàng trung ương quy định, căn cứ vào chính sách khách hàng … để đưa ra lãi suất huy động hợp lý cho từng thời kỳ sao cho đạt hiệu quả nhất vừa đảm bảo đủ nguồn vốn để cho vay vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Lãi suất rất nhạy cảm với biến động của thị trường do người gửi tiền thường quan tâm nhất là lãi suất huy động của ngân hàng nào cao để mang lại cho họ nhiều lợi nhuận từ việc gửi tiền.

    Tuy nhiên để hỗ trợ đắc lực cho công cụ lãi suất, thường các ngân hàng thường sử dụng chính sách như: tiết kiệm dự thưởng, hội nghị khách hàng … các nhân tố này không kém phần quan trọng trong việc tăng doanh số huy động vốn và tạo mối quan hệ tốt với khách hàng.

    Tóm lại, mô hình nghiên cứu mà nhóm chúng tôi đã đưa ra sẽ giúp ngân hàng khi phân tích hay tìm hiểu những nguyên nhân làm cho doanh số huy động vốn biến động sẽ thuyết phục hơn bởi vì các ngân hàng thường phân tích dựa trên định tính nhưng nếu sử dụng mô hình này sẽ giúp các ngân hàng phân tích mang tính định lượng. Điều này sẽ giúp cho việc phân tích có tính khoa học hơn, thuyết phục hơn. Đây chính là thành quả mà nhóm chúng tôi muốn đề cập đến.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh

    Nhóm 4 – Cao học KTPT khóa 1, 2008-2010

    Tiểu luận kinh tế lượng

    KẾT LUẬN

    Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập, chúng tôi rất vui mừng

    chứng kiến thay đổi qua từng ngày nhưng bên cạnh đó cũng nhận thức rằng những thách

    thức, khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt quả là không nhỏ. Làm thế nào để biến những

    cơ hội mang lại sự thành công và giải quyết tốt những khó khăn thử thách mà chúng ta
    phải đối mặt.      
    M ột trong những ngành sẽ gặp khó khăn, thách thức lớn nhất khi Việt Nam gia
    nhập  WTO là ngành tài chính ngân hàng. Bởi vì, nguồn vốn của các ngân hàng trong
    nước còn hạn chế và rất nhỏ, công nghệ thanh toán chưa phát triển mạnh, trình độ quản
    lý chưa cao…so với các ngân trên thế giới. Khi các ngân hàng nước ngoài nhảy vào thị

    trường tài chính Việt Nam thì họ rất mạnh về công nghệ, nguồn vốn lớn, ưu thế về trình độ quản lý. Cho nên, thời gian đến các ngân hàng trong nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

    Nước ta trong giai đoạn này sẽ cần rất nhiều vốn để phục vụ cho phát triển. Rõ ràng nhân tố vốn là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Chức năng chính của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, nghĩa là ngân hàng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn này để cho vay. Để đáp ứng được nguồn vốn mà nền kinh tế đất nước đang cần đòi hỏi các ngân hàng phải nổ lực cố gắng để huy động tối đa nguồn vốn trong đó có nguồn vốn từ dân cư. Vì vậy, nhóm chúng tôi hy vọng rằng mô hình mà nhóm đưa ra sẽ góp phần hỗ trợ ngân hàng kiểm soát cũng như dự đoán nguồn vốn có thể huy động được trong tương lai.

    Giảng viên : PGS.TS Trương Bá Thanh


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Kinh Tế Lượng

    Tiểu Luận Kinh Tế Lượng

    Tiểu Luận Kinh Tế Lượng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Kinh-T%E1%BA%BF-L%C6%B0%E1%BB%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Kinh Tế Lượng

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ LƯỢNG

    1.1. Lịch sử hình thành của kinh tế lượng

    Hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu kinh tế, các doanh nghiệp, chính phủ các quốc gia, các tổ chức kinh tế sử dụng công cụ toán học để lượng hóa các vấn đề kinh tế nhằm làm sáng tỏ chân lý của các lý thuyết kinh tế hiện đại. Từ đó, các lý thuyết này ứng dụng vào cuộc sống một cách thiết thực. Công việc này được gọi là kinh tế lượng.

    “Kinh tế lượng” được dịch từ chữ “Econometrics” có nghĩa là “Đo lường kinh tế”. Thuật ngữ này do A.K.Ragnar Frisch (Giáo sư kinh tế học người Na Uy, được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1969) sử dụng lần đầu tiên vào khoảng năm 1930.

    Năm 1936, Tinbergen, người Hà Lan trình bày trước hội đồng kinh tế Hà Lan một mô hình kinh tế lượng đầu tiên, mở đầu cho một phương pháp nghiên cứu mới về phân tích kinh tế. Năm 1937, ông xây dựng một số mô hình tương tự cho nước Mỹ…

    Năm 1950, nhà kinh tế được giải thưởng Nobel là Lawrance Klein đã đưa ra một số mô hình mới cho nước Mỹ và từ đó kinh tế lượng được phát triển trên phạm vi toàn thế giới.

    Kinh tế lượng trước đây thường dùng công cụ toán học thuần túy để đo lường các mối quan hệ kinh tế, công việc này rất phức tạp. Ngày nay, với xu thế phát triển công nghệ thông tin các nhà nghiên cứu kinh tế lượng đã sử dụng các phần mềm ứng dụng để giải bài toán kinh tế này. Do đó bài toán trở nên rất đơn giản dù nó mối quan hệ phức tạp tới đâu đi nữa.

    • Việt Nam, những năm gần đây kinh tế lượng cũng được xem là công cụ hữu hiệu để đo lường kinh tế. Các nhà khoa học, doanh nghiệp, chính phủ đều sử dụng công cụ này để thực hiện các nghiên cứu nhằm định lượng các mối quan hệ kinh tế

    để đưa ra các quyết định chính và nhằm giảm thiểu các rủi ro, cũng như đem lại hiệu quả cao cho các quyết định của nhà làm chính sách.

    Riêng đối sinh viên ngành kinh tế – đối tượng quản lý kinh tế trong tương lai, chúng ta phải tiếp cận với môn học này nhằm trang bị cho công việc sắp tới.

    1.2 Bản chất của kinh tế lượng

    Kinh tế lượng có nghĩa là đo lường kinh tế. Mặc dù đo lường kinh tế là một nội dung quan trọng của kinh tế lượng nhưng phạm vi cơ bản của kinh tế lượng rộng hơn nhiều. Điều đó được thể hiện thông qua một số định nghĩa sau:

    • Kinh tế lượng bao gồm việc áp dụng thống kê toán cho các số liệu kinh tế để

    củng cố về mặt thực nghiệm cho các mô hình do các nhà kinh tế toán đề xuất và để tìm ra lời giải bằng số.

    • Kinh tế lượng có thể được định nghĩa như là sự phân tích về lượng các vấn đề

    kinh tế hiện thời dựa trên việc vận dụng đồng thời lý thuyết và thực tế được thực hiện bằng các phương pháp suy đoán thích hợp.

    • Kinh tế lượng có thể được xem như một khóa học xã hội trong đó các công cụ

    của lý thuyết kinh tế, toán học và suy đoán thống kê được áp dụng để phân tích các vấn đề kinh tế.

    • Kinh tế lượng quan tâm đến việc xác định các luật kinh tế.

    Có những định nghĩa, quan niệm khác nhau về kinh tế lượng bắt nguần từ thực tế: các nhà kinh tế lượng trước hết và phần lớn họ là các nhà kinh tế có khả năng sử dụng lý thuyết kinh tế để cải tiến việc phân tích thực nghiệm về các vấn đề mà họ đặt ra. Họ đồng thời là các nhà kinh tế kế toán_mô hình hoá lý thuyết kinh tế theo cách làm cho lý thuyết kinh tế phù hợp với việc kiểm định giả thiết thống kê. Họ cũng là những nhà kế toán_tìm kiếm, thu nhập các số liệu kinh tế, gắn các biến kinh tế lý thuyết với các biến quan sát được. Họ cũng là các nhà thống kê thực hành sử dụng kỹ thuật tính toán để ước lượng quan hệ kinh tế hoặc dự báo các hiện tượng kinh tế.

    Trên các lĩnh vực khác nhau, người ta có quan niệm khác nhau về kinh tế lượng. Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy cũng như đúc kết các kinh nghiệm, tác giả xin đưa ra khái niệm của kinh tế lượng như sau: “Kinh tế lượng là mô hình hóa toán học các mối quan hệ kinh tế từ đó dùng nó để đưa ra

    chính sách kinh tế trong tương lai”. Như vậy, một người muốn nghiên cứu kinh tế lượng phải hội đủ những điều kiện sau:

    Trước hết, phải biết được các mối quan hệ kinh tế: Nhà nghiên cứu phải có kiến thức về kinh tế để từ đó nhà nghiên cứu xây dựng các mối quan hệ đó. Nếu một nhà nghiên cứu chưa vững về lý thuyết kinh tế hiện đại chưa nắm vững các mối quan hệ trong kinh tế sẽ dẫn đến sai lầm trong nghiên cứu.

    Thứ hai, trên cơ sở hiểu biết về lý thuyết nắm bắt các mối quan hệ. Nhà nghiên cứu phải biết các phương pháp thống kê kinh tế: công việc này liên quan đến quá trính thu thập, xử lý số liệu, kiểm tra và đánh giá được số bộ số liệu. Trong quá trính này nhà nghiên cứu phải làm việc hết mình và thật trung thực khi thống kê số liệu.

    • Số liệu theo thời gian: (Time – Series Data): số liệu của một hay nhiều biến ở cùng một doanh nghiệp hay một địa phương theo thời gian: ngày, tuần,

    tháng, năm.

    • Số liệu chéo (Cross – Sectional Data): bao gốm các quan sát cho nhiều

    đơn vị kinh tế tại một thời điểm cho trước. Các đơn vị kinh tế có thể là cá nhân, các hộ gia đình, các hãng, các tĩnh thành, các quốc gia…

    • Số liệu dạng bảng (Panel Data): là sự kết hợp giữa số liệu theo chuỗi thời gian và số liệu chéo hay kết hợp các quan sát của đơn vị kinh tế về một chỉ tiêu

    nào đó theo thời gian.

    Thu thập số liệu

    Số liệu trong kinh tế lượng là dữ liệu thực tế gồm dữ liệu tổng thể và dữ liệu mẫu. Số liệu tổng thể là số liệu của toàn bộ các đối tượng ta nghiên cứu, còn là số liệu tập hợp con của số liệu tổng thể.

    Để ước lượng mô hình kinh tế mà một nhà nghiên cứu đưa ra, cần có mẫu dữ liệu về các biến phụ thuộc và biến độc lập. Nhà nghiên cứu thường căn cứ vào dữ liệu mẫu hơn là dựa vào dữ liệu điều tra của tổng thể, Vì vậy, trong những cuộc điều tra chuẩn này sẽ có yếu tố bất định:

    • Các mối quan hệ ước lượng không chính xác
    • Các kết luận từ kiểm định giả thiết hoặc là phạm vào sai lầm do chấp nhận một giả thiết sai, hoặc sai lầm do bác bỏ một giả thiết đúng.
    • Các dự báo dự vào các mối liên hệ ước lượng thường không chính xác.

    Để giảm mức độ bất định, một nhà kinh tế lượng sẽ luôn luôn ước lượng nhiều mối quan hệ khác nhau giữa các biến nghiên cứu. Sau đó, họ sẽ thực hiện một loạt các kiểm tra để xác định mối quan hệ nào mô tả hoặc dự đoán gần đúng nhất hành vi của biến số quan trọng trong kinh tế lượng.

    Thứ ba, nhà nghiên cứu kinh tế lượng phải đưa ra mô hình toán học và giải bài toán cho các mối quan hệ, sau đó phải kiểm định mô hình có phù hợp hay không bằng nhiều phương pháp kiểm định toán học.

    Thứ tư, sau khi có kết quả mô hình toán nhà nghiên cứu phải sử dụng chúng để dự báo và đưa ra chính sách cho kỳ kế tiếp.

    Chúng ta có thể tóm tắt các điều kiện thực hiện nghiên cứu kinh tế lượng như sau:

    Đưa ra lý thuyết kinh tế

    Thống kê, xử lý số liệu

    Xây dựng mô hình toán

    Dự báo

    Đưa ra chính sách

    Việc xây dựng và áp dụng mô hình kinh tế lượng được tiến hành theo các

    bước sau đây:

    1) Nêu vấn đề lý thuyết cần phân tích và các giả thiết về các mối quan hệ giữa các biến kinh tế.

    • Thiết lập các mô hình toán học để mô tả quan hệ giũa các biến kinh tế. Lý thuyết kinh tế cho biết quy luật về mối quan hệ giữa các biến kinh tế, nhưng không

    nêu cụ thể dạng hàm. Kinh tế lượng phải dựa vào các học thuyết để định dạng các mô hình cho các trường hợp cụ thể.

    • Thu thập số liệu: Khác với mô hình kinh tế dạng tổng quát, các mô hình kinh tế lượng được xây dựng xuất phát từ số liệu thực tế. Trong thống kê toán và kinh tế lượng, người ta phân biệt số liệu của tổng thể và số liệu mẫu. Số liệu của tổng thể là số liệu toàn bộ đối tượng ta nghiên cứu. Số liệu mẫu là số liệu về một tập hợp con của tổng thể.

     

    • Ước lượng của thông số mô hình: các ước lượng này có giá trị thực nghiệm của tham số trong mô hình. Chúng không những cho những giá trị bằng số

    mà còn thỏa mãn điều kiện, các tính chất mà mô hình đòi hỏi. Để ước lượng các tham số, trong các trường hợp đơn giản, ta sử dụng phương pháp bình phương cực tiểu thông thường (OLS). Trong các trường hợp phức tạp hơn ta phải sử dụng các phương pháp khác, chẳng hạn như: phương pháp bình phương cực tiểu có trọng số, phương pháp bình phương cực tiểu hai giai đoạn…

    • Phân tích kiểm định mô hình: Dựa vào các lý thuyết kinh tế, kinh nghiệm và các ngiên cứu trước đây đã phân tích, kiểm tra kết quả thu được có phù hợp lý thuyết kinh tế và điều kiện thực tế của vấn đề đang nghiên cứu hay không. Nếu phát hiện mô hình không phù hợp thì ta cần quay lại một trong những bước đã nêu

     

    • trên tùy theo sai sót của mô hình do bước nào. Nếu sau khi phân tích, kiểm định ta kết luận được mô hình là phù hợp thì ta có thể sử dụng mô hình để dự báo và

    đưa ra quyết định.

    • Nếu mô hình phù hợp với lý thuyết kinh tế thực tế của vấn đề nghiên cứu thì ta có thể sử dụng mô hình để đưa ra dự báo các chỉ tiêu kinh tế.
    Nhóm TH: 10 7

    Lớp: DHQT5TC

    Bài tiểu luận kinh tế lượng                                                           GVHD: MBA. Nguyễn Tấn Minh

    Lý thuyết hoặc giả thiết

    Thiết lập các mô hình

    Thu thập số liệu

    Ước lượng của thông số mô hình

    Phân tích kiểm định mô hình

    không Mô hình ước lượng  
    có tốt không  
     

    Sử dụng mô hình:

    Dự báo, ra quyết định

    Hình 1.1: Các bước xây dựng và áp dụng mô hình kinh tế lượng

    1.3 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế lượng.

    Theo quan điểm của tác giả, có thể chia xã hội thành ba đối tượng chính trong hoạt động kinh tế gồm: Chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân (hộ gia đình). Trên cơ sở này các đối tượng thường hay nghiê cứu kinh tế lượng ứng dụng như sau:

    • Đối với chính phủ: Chính phủ các quốc gia muốn đánh giá tác động của các chính sách tiền tệ, tài chính, tỷ giá đến các biến quan trọng như thất nghiệp, thu nhập, xuất nhập khẩu, lãi suất. tỷ lệ lạm phát, và thâm hụt ngân sách… như:
    • Thu nhập quốc gia : GDP = C + I + G + X – M
    • Chi tiêu : C = C0 + MPC.Yd
    • Hàm nhập khẩu: M = M0 + Mm.Yd

    Từ kết quả này, Chính phủ dự đoán những con số như thu nhập, chi tiêu, lạm phát, thất nghiệp, thâm hụt ngân sách và thương mại. Chính phủ dự đoán nhu cầu về năng lượng để có chiến lược đầu tư xây dựng hoặc các thỏa thuận mua năng lượng từ bên ngoài cần được kí kết.

    • Đối với doanh nghiệp: Các nhà phân tích thường quan tâm xem nhu cầu có giảm theo giá và theo thu nhập không? Các công ty cũng muốn xác định xem chiến lược quảng cáo của mình có thực sự tác động đến việc tăng doanh thu hay

    không? Công ty muốn biết lợi nhuận tăng hay giảm theo quy mô hoạt động? Đối với doanh nghiệp ước lượng các mối quan hệ kinh tế như các ví dụ dưới đây:

    • Hàm cầu: Qd – (1/2)P + 120
    • Hàm cung: Qs  = 20P + 10
    • Doanh thu: TR = P.Q = 120 – 100Q – 2Q2
    • Chi phí: TC = FC + VC = 100 + 12Q + 3 Q2

    Từ đó công ty dự báo doanh thu, lợi nhuận, chi phí sản xuất, dự báo các chỉ số thị trường chứng khoán và giá cổ phiếu….

    1.4 Công cụ sừ dụng nghiên cứu của kinh tế lượng

    1.4.1. Mô hình hồi quy

    Hồi quy là phương ppháp chính trong kinh tế lượng, lần đầu tiên phương pháp này được thực hiện do nhà khoa học Franicis Galton, năm 1886 ông sử dụng nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao của người cha và người con trai. Thuật

    ngữ Regression to Mediocrity (quy về giá trị trung bình) do Galton dùng cho đến nay các nhà nghiên cứu kinh tế gọi là phân tích hồi quy.

    • Về toán học: phân tích hồi quy nói lên mối quan hệ phụ thuộc giữa một biến với một hay nhiều biến khác.
    • Biến phụ thuộc vào biến khác gọi là biến phụ thuộc: biến Y
    • Biến xác định sẵn, giá trị cho trước gọi là biến giải thích: biến X
    • Về kinh tế: phân tích hối quy nói lên mối quan hệ giữa một yếu tố kinh tế bị tác động với một hay nhiều nhân tố tác động.
    • Yếu tố bị tác động: biến Y
    • Các nhân tố tác động: biến X
    • Về kỹ thuật: phân tích hàm hồi quy là:
    • Ước lượng giá trị trung bình của biến phụ thuộc với giá trị đã cho của biến

    độc lập nhằm tìm ra các hệ số hồi quy.

    • Kiểm định các kết quả hồi quy tìm được như kiểm định hệ số hồi quy, kiểm

    định hàm số hồi quy.

    1.4.2. Hai mô hình hồi quy.

    1.4.2.1. Mô hình hồi quy tổng thể PRF (Population Regression function):

    Cho biết giá trị trung bình của biến Y thay đổi khi các biến X thay đổi.

    Hàm tổng thể có một biến X thì gọi là hàm hồi quy đơn, nếu có nhiều biến X gọi là hàm hồi quy bội.

    Trong thực tế nghiên cứu, chúng thường thấy hàm hồi quy ở dạng tuyến tính và dạng phi tuyến tính.

    Dưới đây là dạng tuyến tính đơn:

    ( P R F  ) :   1             2             i

    Trong đó:

    • 1 , 2  gọi là các hệ số hồi quy
    • 1 là hệ số tự do (hệ số tung độ gốc): giá trị trung bình của biến phụ

    thuộc Y khi biến độc lập X bằng 0

    • 2 : giá trị trung bình của biến phụ thuộc (Y) sẽ thay đổi (tăng, giảm) bao

    nhiêu đơn vị giá trị X tăng 1 đơn vị (các yếu tố khác không đổi).

    vUi : sai số ngẫu nhiên, có thể có giá trị âm hoặc dương.

    • Ui : đại diện cho tất cả các biến không đưa vào mô hình.
    • Ngoài các biến đã giải thích còn có một số biến khác ảnh hưởng đến mô hình, nhưng có ảnh hưởng rất nhỏ.
    • Cần một mô hình đơn giản nhất có thể được, dùng Ui để thay thế cho các biến có thể loại bỏ khỏi mô hình.
    • Sai số ngẫu nhiên hình thành từ nguyên nhân
    • Bỏ sót biến giải thích
    • Sai số khi đo lường biến phụ thuộc
    • Dạng hàm hồi quy không phù hợp
    • Các tác động không tiên đoán được

    1.4.2.2. Mô hình hàm hồi quy mẫu SRF (Sample Regresstion Function)

    Trong thống kê số liệu ở phần trên chúng ta có đề cập đến số liệu mẫu và số liệu tổng thể. Một nghiên cứu kinh tế lượng có lúc chỉ xuất hiện một mẫu duy nhất như nghiên cứu doanh thu, chi phí số lượng,…Tại các doanh nghiệp thông thường có một mẫu .

    Một nghiên cứu khác lại xuất hiện nhiều mẫu như nghiên cứu giữa thu nhập với chi tiêu của hộ gia đình mỗi nhà nghiên cứu cho một kết quả khác nhau. Hiện nay, ở Việt Nam theo số liệu thống kê các chỉ tiêu kinh tế của quốc gia có khác nhau giữa tổng cục thống kê và các tổ chức kinh tế có uy tín như ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), cơ quan điều tra liên bang Mỹ (CIA).

    Hàm hồi quy mẫu được xây dựng trên cơ sở chúng ta thống kê số liệu ngẫu nhiên, số liệu mẫu.

    Hàm hồi quy mẫu sẽ giải thích hàm hồi quy tổng. Chúng ta có dạng hàm hồi quy mẫu tuyến tính đơn như sau:

    Yi        ˆ1    ˆ2 * X i    ei

    Trong đó :

    Nhóm TH: 10 11

    Lớp: DHQT5TC

    Bài tiểu luận kinh tế lượng                                                           GVHD: MBA. Nguyễn Tấn Minh

    Yi là ước lượng của Yi

    1 là ước lượng của         1

    2 là ước lượng của  2

    ei là ước lượng của Ui

    1.4.3. Phân biệt hồi quy với các quan hệ khác

    Phân biệt hồi quy và quan hệ hàm số

    • Phân tích hồi quy là phân tích sự phụ thuộc của biến phụ thuộc vào một hay nhiều biến độc lập.

    Biến phụ thuộc (hay còn gọi là biến được giải thích): là đại lượng ngẫu nhiên có phân bố xác suất.

    Biến độc lập (hay còn gọi là biến giải thích): là giá trị được xác định trước.

    • Quan hệ hàm số: biến phụ thuộc không phải là đại lượng ngẫu nhiên, ứng với một giá trị của biến độc lập ta xác định được duy nhất một biến phụ thuộc.

    Hàm hồi quy và quan hệ nhân quả

    • Phân tích hồi quy là nghiên cứu quan hệ một biến phụ thuộc với một hay nhiều biến độc lập, điều này không đòi hỏi giữa biến độc lập và biến phụ thuộc phải có mối quan hệ nhân quả.
    • Quan hệ nhân quả là một biến phụ thuộc vào một hay nhiều biến độc lập,

    điều này đòi hỏi giữa biến độc lập và biến phụ thuộc phải có mối quan hệ nhân quả.

    Phân tích hồi quy và phân tích tương quan

    + Phân tích hồi quy với mục đích ước lượng hoặc dự báo một hay nhiều biến trên cơ sở giá trị đã cho của một hay nhiều biến khác. Còn về kỹ thuật thì không có tính.

    • Phân tích tương quan với mục đích đo lường mức độ kết hợp tuyến tính giữa 02 biến. Về kỹ thuật, chúng có tính đối xứng.

    1.4.4. Các phần mềm ứng dụng

    Ngày nay việc nghiên cứu kinh tế được mở rộng cho số liệu lớn nên việc giải bài toán kinh tế lượng tìm các hệ số của hàm hồi quy khá phức tạp có thể là không

    thực hiện được. Nhưng do sự phát triển của khoa học đặc biệt là công nghệ thông tin nhà nghiên cứu kinh tế lượng có thể sử dụng các phần mềm ứng dụng để giải bài toán. Khi sử dụng phần mềm ứng dụng bài toán có phức tạp đến đâu cũng thực hiện được đồng thời cho kết quả rất nhanh.

    Hiện nay có rất nhiều phần mềm chuyên dùng cho kinh tế lượng hoặc hỗ trợ xử lý kinh tế lượng.

    Excel: phần mềm bảng tính thông dụng nhất hiện nay là Excel, nằm trong bộ Office của hãng Microsoft. Do tính thông dụng của Excel nên mặc dù có một số hạn chế trong việc ứng dụng tính toán kinh tế lượng, giáo trình này có sử dụng Excel trong tính toán ở ví dụ minh họa và hướng dẫn giải bài tập.

    Phần mềm chuyên dùng cho kinh tế lượng: hướng đến việc ứng dụng các mô hình kinh tế lượng và các kiểm định giả thuyết một cách nhanh chóng và hiệu quả. Chúng ta phải quen thuộc với ít nhất một phần mềm chuyên dùng cho kinh tế lượng. Hiện nay có rất nhiều phần kinh tế lượng như:

    EVIEWS Quantitative Micro Software SPSS SPSS Ine

    STATPROPenton Sofware Ine

    Trong số này có hai phần mềm được sử dụng tương đối phổ biến ở các trường đại học và Viện nghiên cứu ở Việt Nam là SPSS và EVIEWS.

    SPSS rất phù hợp cho nghiên cứu thống kê và cũng tương đối thuận tiện cho tính toán kinh tế lượng, trong khi EVIEWS được thiết kế chuyên cho phân tích kinh tế lượng

    CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Như chúng ta đã biết, giá cả là một trong những vấn đề nhạy cảm và để xác định giá một tài sản đó là một yếu tố không dễ. Và vấn đề giá phòng trọ rất được sinh viên quan tâm và nhất là sinh viên ở khu vực Quận Gò Vấp.

    Khi nghiên cứu vấn đề này, dựa trên cơ sở các lý thuyết hành vi người tiêu dùng và chi phí lợi ích của người cung ứng chúng tôi đã đưa ra những biến ảnh hưởng tới giá phòng trọ. Bên cạnh đó, để không làm mất đi tính thực tiễn và vì mỗi khu nhà trọ ở một nơi lại có những đặc tính riêng nên chúng tôi sau khi đã nghiên cứu, đến một số phòng trọ đã rút ra được một số yếu tố sau:

    Trước khi đề cập đến giá phòng khu vực Quận Gò Vấp, chúng tôi sẽ nói về các yếu tố ảnh hưởng đến giá nhà trọ nói chung. Đó là:

    • Diện tích: diện tích càng rộng, giá càng cao hơn. Đây là điều dễ hiểu bởi không gian càng rộng thì chúng ta càng thấy dễ chịu hơn, thoáng hơn, thoải mái

    hơn và dĩ nhiên chi phí xây dựng cao hơn.

    • Số người trong phòng: sự gia tăng số người sẽ dẫn tới gia tăng giá cả hoặc

    không. Điều này phụ thuộc vào cảm nhận chủ quan của người cho thuê.

    • Đặc điểm vị trí: trong ngõ hẻm hay ở ngoài mặt đường.
    • Khoảng cách so với trung tâm Thành phố: một điều chúng ta dễ nhận thấy là giá phòng ở các quận 1, quận 3, hay quận 10… đó là những nơi có mức sống cao và nhộn nhịp thì giá cả bao giờ cũng cao hơn những vùng xa xôi như thủ đức, quận 2…
    • Ngập nước hay không: ở Thành phố Hồ Chí Minh việc triều cường hay ngập

    nước do mưa ở vùng trũng xảy ra là không phải ít, nó gây trở ngại cho việc đi lại.

    Do đó việc lựa chọn chỗ khô ráo là điều cần thiết.

    • An ninh: như tình hình trộm cắp, nghiện hút, mại dâm, ma túy…

    Tuy nhiên với đề tài chỉ trong phạm vi là khu vực Quận Gò Vấp, do vậy mà khi lựa chọn biến chúng tôi chỉ chọn những biến đặc trưng, và ảnh hưởng rõ ràng nhất ở khu vực này.

    • Vì chỉ xét trong có một khu vực nhỏ nên về khoảng cách so với trung tâm thành phố là như nhau, không khác nhau giữa các phòng trọ. Vì thế mà nó không có ý nghĩa giải thích trong trường hợp này.
    • Về đặc điểm vị trí : theo thực tế mà nhóm chúng tôi quan sát thấy là hầu hết các khu nhà tọ đều nằm trong ngõ hẻm à không có sự khác biệt.
    • Về vấn đề ngập nước: địa hình như nhau nên chẳng có gì đặc trưng.

    Sau khi đã xem xong, chúng tôi quyết định đi đến nghiên cứu các biến sau:

    • Thứ nhất, X2 (m2) là diện tích phòng trọ. Đây là biến quan trọng ảnh hưởng lớn tới giá phòng (điều này hầu như ai cũng biết).
    • Thứ hai, X3 (người) là số người thuê phòng đó. Kinh nghiệm tìm hiểu thông tin về giá nhà trọ của nhóm, nhóm nhận thấy rằng số người ở trọ càng đông thì giá càng cao.
    • Thứ ba, X4 (phút) là thời gian đi học từ chỗ trọ đến trường đại học gần nhất. Chỗ trọ của chúng ta càng gần các trường thì giá càng cao vì lúc đó họ nghĩ là

    chúng ta đi học sẽ thuận lợi hơn, dù có thể xa trường của chúng ta.

    • Thứ tư, X4 (đo theo mức độ) là an ninh khu trọ. Các mức độ được quy ra

    thang điểm như sau: rất tệ (1điểm); tệ (2 điểm); bình thường (3 điểm); tốt (4 điểm); rất tốt ( 5 điểm).

    Do các phòng trọ tại Quận Gò Vấp phòng đều có nhà vệ sinh, do vậy chúng tôi khônng đưa biến này vào mô hình. Giá điện, nước, mạng internet cùng nột số dịch vụ khác được trả hàng tháng, không tính vào giá phòng, do vậy chúng tôi không đưa các biến này vào mô hình.

    Biến được giải thích là Y (VNĐ): giá phòng trọ.

    CHƯƠNG 3: SỐ LIỆU

    3.1.     Phạm vi thu thập số liệu:

    Số liệu được thu thập tại khu vực quận Gò Vấp trong tháng 06/2012.

    3.2.     Nguồn số liệu:

    Nhóm đã tiến hành điều tra số liệu tại các dãy nhà trọ cho sinh viên ở khu vực quận Gò Vấp.

    3.3.     Số liệu:

      STT   Y X1 X2 X3 X4  
      1   1,500,000 15 3 5 5  
      2   1,000,000 12 4 15 3  
      3   900,000 13.5 3 10 4  
      4   800,000 18 4 30 2  
      5   1,200,000 15 5 20 3  
      6   2,500,000 40 10 15 4  
      7   500,000 9 2 10 3  
      8   400,000 9 2 15 1  
      9   700,000 11.25 3 15 2  
      10   1,600,000 20 6 15 3  
      11   750,000 15 4 10 1  
      12   700,000 12 3 15 3  
      13   450,000 9 1 5 2  
      14   500,000 12 2 5 1  
      15   1,100,000 20 4 10 4  
      16   1,600,000 30 7 10 4  
      17   600,000 10 2 5 5  
      18   800,000 12 3 10 3  
      19   800,000 12 3 10 3  
      20   1,000,000 20 3 15 3  
      21   750,000 12 2 5 4  
      22   700,000 9 3 15 4  
      23   500,000 13 3 30 1  
      24   500,000 15 2 10 2  
      25   600,000 9 3 15 2  
      26   300,000 9 2 10 1  
      27   500,000 8 3 25 2  
      28   500,000 6 2 10 3  
                       
      29 300,000   6 2   25 1  
      30 400,000   9 2   15 4  
      31 650,000   16 4   20 2  
      32 600,000   14 3   10 3  
      33 400,000   9 1   5 4  
      34 1,200,000   12 4   10 3  
      35 500,000   20 2   20 2  
      36 350,000   16 2   15 2  
      37 300,000   12 1   5 1  
      38 400,000   10 1   10 3  
      39 600,000   21 2   5 2  
      40 450,000   10 3   30 3  
      41 600,000   14 2   10 3  
      42 700,000   22.5 2   15 2  
      43 600,000   12 3   15 1  
      44 500,000   14 2   5 2  
      45 300,000   12 2   10 1  
      46 400,000   20 2   25 2  
      47 700,000   16 4   15 2  
      48 800,000   12 5   30 3  
      49 600,000   12 2   10 5  
      50 600,000   16 2   5 2  
      51 500,000   12 2   10 1  
      52 400,000   9 2   10 3  
      53 600,000   12 2   15 4  
      54 700,000   18 4   25 2  
      55 900,000   12 4   15 3  
      56 600,000   10 3   10 3  
      57 650,000   12 4   15 2  
      58 750,000   12 4   5 3  
      59 1,100,000   18 4   10 1  
      60 300,000   10 1   10 3  
      61 500,000   20 2   15 2  
      62 500,000   20 1   10 3  
      63 600,000   9.6 3   10 3  
      64 600,000   18 2   10 3  
      65 600,000   17.5 2   25 3  

    CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT

    4.1.     Mô hình nghiên cứu bao gồm các biến:

    Các biến đưa vào mô hình bao gồm: ký hiệu của các biến đã đề cập:

    • Y: giá 1 phòng trọ dành cho sinh viên.
    • X2: diện tích 1 phòng trọ
    • X3: số người ở trong 1 phòng trọ
    • X4: thời gian từ nơi trọ đến trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề… gần nhất
    • X5: an ninh khu trọ

    Mô hình dự kiến:

    Yˆ      ˆ1     ˆ2 X 2     ˆ3 X 3     ˆ4 X 4     ˆ5 X 5    U

    4.2.     Nhóm điều tra 65 mẫu, nhóm sử dụng 65 mẫu để ước lượng mô hình,

    kết quả ước lượng thể hiện trong mô hình sau:

    Coefficients

        Unstandardized Standardized     95% Confidence Interval for B
      Model Coefficients Coefficients t Sig.
         
        B Std. Error Beta     Lower Bound Upper Bound
    1 (Constant) -106950.990 68793.657   -1.555 .125 -244558.792 30656.812
      Dien tich 14913.684 3678.309 .223 4.054 .000 7555.970 22271.398
      Nguoi thue 184942.263 14425.433 .746 12.821 .000 156087.100 213797.426
      Thoi gian -9888.971 2574.278 -.183 -3.841 .000 -15038.293 -4739.649
      An ninh 72820.177 16063.027 .210 4.533 .000 40689.340 104951.014

    a.Dependent Variable: Gia phong tro

    ANOVA

      Model Sum of Squares df   Mean Square F Sig.
    1 Regression 7761758078145.580   4 1940439519536.395 113.654 .000a
      Residual 1024395768008.267   60 17073262800.138    
      Total 8786153846153.840   64      
    1. Predictors: (Constant), An ninh, Dien tich, Thoi gian, Nguoi thue
    1. Dependent Variable: Gia phong tro

    Model Summary

          Adjusted Std. Error of the Change Statistics
    Model R R Square R Square  
    R Square Estimate F Change
              Change  
    1 .940a .883 .877 130664.696074 .883 113.654
    1. Predictors: (Constant), an ninh, dien tich, thoi gian, nguoi thue
    1. Dependent Variable: gia phong tro

    Phương trình hồi quy gốc:

    • = -990 + 14913.684X2 + 184942.263X3 – 9888.971X4 + 72820.177X5

    N = 65, ESS = 7761758078145.580 , RSS = 1024395768008.267 TSS = 8786153846153.840 , R2 = 0.883, F = 113.654

    • nghĩa: Nhận thấy R2 = 0.883 > 0.8 chứng tỏ hàm hồi quy mẫu có ý nghĩa.

    4.3.     Tìm khoảng tin cậy:

    Với độ tin cậy là 95%                 100%    95%    5%

    Với           0,05       t 0,025;60        2

    ˆ1 t(       ; n  5) * Se( ˆ1 )   1     ˆ1   t(   ; n  5) * Se( ˆ1 )
                   
      2               2            
      -244558.792 ≤ β1   30656.812    
    ˆ2 t(     ;n  5) * Se( ˆ 2 )   2     ˆ2 t(   ; n  5) * Se( ˆ 2 )
               
      2               2          
      7555.970   ≤ β2 22271.398    
    ˆ3 t(   ;n  5) * Se( ˆ3 )   3     ˆ3 t(   ; n  5) * Se( ˆ 3 )
           
      2             2          
      156087.100   ≤ β3   213797.426    
    ˆ4 t(   ;n  5) * Se( ˆ 4 )   4     ˆ4 t(   ; n  5) * Se( ˆ 4 )
           
      2               2          
      -15038.293 ≤ β4   -4739.649    
    ˆ5 t(   ; n  5) * Se( ˆ 5 )   5     ˆ5 t(   ; n  5) * Se( ˆ 5 )
       
      2               2          
      40689.340   ≤ β5 104951.014    
                                                   
    • nghĩa:

     

    • Khi X2, X3,  X4,  X5  bằng  0  thì  Y sẽ  được  trong  khoảng

    (-244558.792 ; 30656.812)

    • Khi X2 giảm 1 đơn vị thì Y sẽ giảm tương ứng trong khoảng

    (7555.970 ; 22271.398)

    • Khi X3 tăng 1 đơn vị thì Y sẽ tăng tương ứng trong khoảng

    (156087.100 ; 213797.426)

    • Khi X4 giảm 1 đơn vị thì Y sẽ giảm tương ứng trong khoảng

    (-15038.293 ; -4739.649)

    • Khi X5 tăng 1 đơn vị thì Y sẽ tăng tương ứng trong khoảng

    (40689.340 ; 104951.014)

    4.4.     Kiểm định giả thiết hệ số hồi quy:

    Coefficients

        Unstandardized Standardized     95% Confidence Interval for B
      Model Coefficients Coefficients t Sig.
         
        B Std. Error Beta     Lower Bound Upper Bound
    1 (Constant) -106950.990 68793.657   -1.555 .125 -244558.792 30656.812
      Dien tich 14913.684 3678.309 .223 4.054 .000 7555.970 22271.398
      Nguoi thue 184942.263 14425.433 .746 12.821 .000 156087.100 213797.426
      Thoi gian -9888.971 2574.278 -.183 -3.841 .000 -15038.293 -4739.649
      An ninh 72820.177 16063.027 .210 4.533 .000 40689.340 104951.014
    1. Dependent Variable: Gia phong tro

    Với ý nghĩa 5%: α = 0.025 => t(0.025;60) = 2

    • Kiểm định β1:

    Giả thiết: H0: β1 = 0

      H1: β1 ≠ 0
      ˆ1
    t =   = -1.555
     

    Se( ˆ1 )

    t(0.025;60) = 2

    Vì t = -1.555 € (-2;2) è chấp nhận giả thiết H0: β1 = 0 nhìn vào khoảng β1 (-244558.792 ; 30656.812) è chấp nhận β1

    • Kiểm định β2:

    Giả thiết: H0: β2 = 0

    H1: β2 ≠ 0

    t = ˆ2   = 4,054  
    Se( ˆ 2 )
         

    t(0.025;60) = 2

    Vì t > t0.025; (85) è chấp nhận giả thiết H1: β2 ≠ 0 nhìn vào khoảng β2 (7555.970 ; 22271.398) è chấp nhận β2

    • Kiểm định β3:

    Giả thiết: H0: β3 = 0

    H1: β3 ≠ 0

    t = ˆ3   = 12.821  
    Se( ˆ 3 )
         

    t(0.025;60) = 2

    Vì t > t0.025; (85) è chấp nhận giả thiết H1: β3 ≠ 0 nhìn vào khoảng β3 (156087.100 ; 213797.426) è chấp nhận β3

    • Kiểm định β4:

    Giả thiết: H0: β4 = 0

    H1: β4 ≠ 0

    t = ˆ4   = -3.841  
    Se( ˆ 4 )
         

    t(0.025;60) = 2

    Vì t < – t0.025; (85) è chấp nhận giả thiết H1: β4 ≠ 0 nhìn vào khoảng β4 (-15038.293 ; -4739.649) è chấp nhận β4

    • Kiểm định β5:

    Giả thiết: H0: β5 = 0 H1: β5 ≠ 0

    t = ˆ5 = 4.533  
       
    Se( ˆ5 )
         
    t(0.025;60) = 2    
    Vì t > t0.025; (85) è chấp nhận giả thiết H1: β5  ≠ 0 nhìn vào khoảng β5  
             

    (40689.340 ; 104951.014) è chấp nhận β5

    4.5.     Kiểm định giả thiết đồng thời các hệ số hồi quy:

    Model Summary

          Adjusted Std. Error of the Change Statistics
    Model R R Square R Square  
    R Square Estimate F Change
              Change  
    1 .940a .883 .877 130664.696074 .883 113.654
    1. Predictors: (Constant), an ninh, dien tich, thoi gian, nguoi thue
    1. Dependent Variable: gia phong tro

    Giả thiết: H0: β1 = β2 = β3 = β4 = β5 = 0    R2 =0

    H1: β1 ≠ 0, β2 ≠ 0, β3 ≠ 0, β5 ≠ 0, β5 ≠ 0.

    F = 113,420

    F0.05 (4;60) = 2.53

    Vì F > F0.05 (4;60) è bác bỏ H0 tức là các biến X2, X3, X4 hoặc X5 thật sự có ảnh hưởng đến Y è chấp nhận hàm hồi quy.

    CHƯƠNG 5: DỰ BÁO

    Để dự báo điểm cho các giá trị trung bình của biến phụ thuộc Y thì nhóm chúng

    2 em đã quyết định lấy 1 mẫu ngẫu nhiên có giá trị như sau: X1 = 15 m , X2 = 5 người , X3 = 25 phút, X4 = 5 điểm

    Yˆ      ˆ1     ˆ2 X 2     ˆ3 X 3     ˆ4 X 4     ˆ5 X 5    U

    Coefficients

                  Unstandardized   Standardized         95% Confidence Interval for B
      Model       Coefficients   Coefficients t   Sig.
                               
                  B     Std. Error   Beta         Lower Bound Upper Bound
    1 (Constant)   -106950.990 68793.657         -1.555   .125 -244558.792     30656.812
      Dien tich   14913.684 3678.309     .223 4.054   .000 7555.970     22271.398
      Nguoi thue   184942.263 14425.433     .746 12.821   .000 156087.100     213797.426
      Thoi gian   -9888.971 2574.278     -.183 -3.841   .000 -15038.293     -4739.649
      An ninh   72820.177 16063.027     .210 4.533   .000 40689.340     104951.014
    a.  Dependent Variable: Gia phong tro                                  
                              ANOVA                        
      Model       Sum of Squares     df   Mean Square   F   Sig.
    1 Regression       7761758078145.580   4   1940439519536.395   113.654   .000a
      Residual       1024395768008.267   60   17073262800.138            
      Total       8786153846153.840   64                          
    a. Predictors: (Constant), An ninh, Dien tich, Thoi gian, Nguoi thue                    
    b. Dependent Variable: Gia phong tro                                  
                          Model Summary                    
                          Adjusted Std. Error of the   Change Statistics      
          Model     R   R Square   R Square              
                R Square Estimate     F Change      
                                          Change              
        1       .940a   .883   .877 130664.696074   .883   113.654      
          a. Predictors: (Constant), an ninh, dien tich, thoi gian, nguoi thue            
          b. Dependent Variable: gia phong tro                            

    Phương trình hồi quy gốc:

    • = -106950.990 + 14913.684X2 + 184942.263X3 – 9888.971X4 + 72820.177X5 Với dự báo: X1 = 15 m2 , X2 = 5 người , X3 = 25 phút , X4 = 5 điểm

    Ta có kết quả dự báo điểm như sau: 1,652,791 đồng.

    CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    6.1.     Mô hình tối ưu:

    • = -990 + 14913.684X2 + 184942.263X3 – 9888.971X4 + 72820.177X5

    6.2.     Ý nghĩa kinh tế của mô hình:

    • Với các yếu tố khác không đổi, nếu diện tích tăng lên 1 m2 thì giá phòng trọ tăng thêm 684 đồng.
    • Với các yếu tố khác không đổi, nếu tăng thêm một người, giá phòng trọ tăng thêm 263 đồng.
    • Với các yếu tố khác không đổi, nếu bớt đi một phút, giá phòng trọ tăng thêm 971 đồng.
    • Với các yếu tố khác không đổi, nếu an tăng lên 1 đơn vị thì giá phòng trọ tăng lên 177 đồng.

    6.3.     Ứng dụng mô hình:

    Với mô hình này, chúng ta có thể xây dựng biểu giá phòng trọ của khu vực Quận Gò Vấp. Trong đó, giá phòng trọ được xếp hạng theo mức độ từ thấp đến cao cùng với các tiêu chuẩn: diện tích, số người ở tối đa cho phép, thời gian đi bộ đến một trường đại học gần nhất, và mức độ an ninh do chính người ở trọ đánh giá. Biểu giá này sẽ do trung tâm hỗ trợ sinh viên cung cấp miễn phí cho sinh viên, nhất là sinh viên năm nhất. Việc làm này nhằm ngăn chặn tình trạng các chủ phòng trọ lợi dụng sinh viên năm nhất còn bỡ ngỡ, lạ lẫm trước môi trường mới nâng giá phòng trọ lên một cách bất hợp lý. Các sinh viên có thể chiếu những nhu cầu mong muốn của mình vào bảng này để tìm ra được căn phòng phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng chi trả của mình.

    6.4.     Kiến nghị:

    Từ kết quả nghiên cứu giá phòng trọ của khu vực Quận Gò Vấp với 45.5% số người được hỏi cho rằng giá phòng trọ như vậy là chưa hợp lý, chúng tôi có một số kiến nghị sau:

    Một số phòng trọ hiện nay không đáp ứng được những tiêu chuẩn cần thiết như: diện tích trên một người ở. Đơn cử, trong quá trình đi điều tra, chúng tôi thấy có phòng 3 người ở trong một căn phòng rộng 8 m2. Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải có một tổ chức đề ra những tiêu chuẩn chung cho các chủ nhà trọ và bắt buộc họ thực hiện theo. Nếu vi phạm sẽ bị chính quyền địa phương xử lý.

    Về an ninh, trật tự. Nhìn chung những người được hỏi cho rằng các vụ mất trộm xe máy, điện thoại di động, áo quần, giày dép… thường xuyên xảy ra ở khu trọ của mình. Vấn đề chỉ là ai cẩn trọng hơn và có thể nói là may mắn hơn những người khác thì chưa bị mất mà thôi. Do đó, cần tăng cường đội ngũ tuần tra ban đêm. Đội ngũ này có thể bao gồm công an, dân quân, sinh viên tình nguyện… Đội ngũ này làm việc theo ca và thay nhau tuần tra tại những điểm nóng về tệ nạn trộm cắp tại khu vực này. Bên cạnh đó, cần lắp đặt thêm hệ thống đèn đường .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Văn Mẫu Nghị luận về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-n%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-%E1%BB%9F-%C4%91%E1%BB%93ng-b%E1%BA%B1ng-S%C3%B4ng-C%E1%BB%ADu-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    «««

    PHẦN MỞ ĐẦU

     

    1.     Lý do chọn dề tài

    Hàng hóa nông sản đóng vai trò quyết định trong chiến lược tăng tốc nền kinh tế của cả nước nói chung và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng. Tuy nhiên, thời gian qua ĐBSCL chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh vốn có của hàng hóa nông sản. Nông dân luôn trong tình trạng được mùa lại rớt giá mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp.

    2.     Mục đích nghiên cứu

    Thông qua nghiên cứu thực trạng sản xuất cũng như tiêu thụ nông sản của vùng ĐBSCL nhằm tiềm kiếm những biện pháp giúp nâng cao chất lượng nông sản. Giúp cho nông sản ở ĐBSCL có đầu ra ổn định, đời sống của nông dân ngày càng được nâng cao.

    3.     Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các khái niệm lý thuyết sản xuất nông sản.

    Phương pháp nghiên phi thực nghiệm: quan sát thực tế thu thập và phân tích số liệu.

    4.      Phạm vi nghiên cứu

    Thời gian nghiên cứu: từ năm 2005 đến 2008

    Không gian: vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc Trung Ương.

     

     

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    Chương 1: Điều kiện tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long

    1.1.          Vị trí địa lý

    Đồng bằng sông Cửu Long nằm tiếp giáp với TP Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông (khu vực kinh tế năng động nhất Việt Nam), biên giới với Campuchia, và được bao bọc bởi biển Đông, biển Tây – vịnh Thái Lan.

    Đồng bằng sông Cửu Long, một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam á và thế giới, là một vùng đất quan trọng, sản xuất lương thực lớn nhất nước, là vùng thuỷ sản và vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của cả nước.

    1.2.          Điạ hình

    Đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa hình bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố dày, rất thuận lợi phát triển cả giao thông thủy và bộ. Ngoài ra với bờ biển dài 700km là nhân tố quan trọng để vùng này phát triển kinh tế biển, du lịch, hàng hải và thương mại.

    1.3.          Khí hậu:

    ĐBSCL có một nền nhiệt độ cao, ổn định trong toàn vùng, trung bình là 280 C. Chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm 2.226 – 2.709 giờ. Một năm chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4.

    Những đặc điểm khí hậu trên đã tạo ra ở ĐBSCL những lợi thế riêng mà các nơi khác khó có được. Đây cũng là nơi ít xảy ra thiên tai do khí hậu đặc biệt là bão.

    1.4.          Nguồn nước:

    ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mêkông và nước mưa. Cả hai nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt. Sông Mekông, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, qua Vân Nam – TQ, Mianma, Thái Lan, Lào, Cambodia chảy vào Việt nam bằng hai nhánh, Tiền giang và Hậu giang (Bassac), chiều dài từ biên giới Việt Nam – Campuchia, đến cửa biển là 230km, lượng nước bình quân của sông Mêkông chảy qua nơi đây hơn 460 tỷ m3 ,vận chuyển khoảng 150 – 200 triệu tấn phù sa. Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi bổ lâu dài đã tạo nên Đồng bằng châu thổ phì nhiêu ngày nay.

     

    Chương 2: Tình hình sản xuất nông sản và những khó khăn

    2.1 Các nhóm nông sản chủ lực

    • Lúa

    ĐBSCL hiện trồng khoảng 3,6 đến 3, 7 triệu hécta lúa, tương ứng với lượng giống cần gieo sạ ít nhất là 500.000 tấn. Sản lượng lúa năm 2005 đạt 19 triệu tấn, chiếm 53% sản lượng lúa gạo của cả nước.

    Các vụ chính trong năm: Vụ đông xuân, vụ hè thu, vụ thu đông. Trong đó vụ Đông xuân đạt năng xuất cao nhất theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), vụ đông xuân 2008, sản lượng lúa ĐBSCL đạt trên 10 triệu tấn

     

    • Rau màu

    ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ 2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng rau của cả nước. Hàng ngày, toàn vùng ĐBSCL tiêu thụ bình quân gần 3.000 tấn rau, màu các loại.

    Thực trạng hiện nay là các loại cây trồng cạn cũng chỉ được phát triển ở dạng trồng luân canh với lúa. ĐBSCL chưa thật sự có vùng quy hoạch riêng để phát triển các loại cây màu trồng cạn. Do chưa có chính sách tạo vùng nguyên liệu cho cây trồng cạn nên nông dân trồng một cách tự phát, rải rác… dẫn đến diện tích không cao, sau đó sẽ gặp khó khăn trong thu gom sản phẩm và tìm thị trường tiêu thụ. Các địa phương nên định hướng chỉ đạo đầu tư khuyến khích nông dân phát triển hơn nữa diện tích cây trồng cạn, chú trọng về giống cho nông dân (nghiên cứu giống mới; phục tráng giống cũ…); chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân, để phát triển các loại cây màu.

    • Cây ăn trái

    Nổi tiếng với nhiều loại trái cây đặc sản như nhãn, xoài, sầu riêng, măng cụt,với sản lượng 3,3 triệu tấn/ năm (năm 2006), nhưng số lượng xuất khẩu được còn ít, do năng suất thấp, thiếu đồng đều về chủng loại, hệ thống canh tác manh mún, kỹ thuật lạc hậu. Và cứ đến mùa vụ chính, trái cây ĐBSCL cứ lặp đi lặp lại tình trạng “trúng mùa lại rớt giá” đặc biệt là tình trạng không cạnh tranh nổi với trái cây ngoại. Vì vậy rất cần đầu tư từ hệ thống canh tác, kỹ thuật trồng trọt đến bảo quản, bao gói và chế biến. Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam cho rằng: “Muốn có trái ngon phải tổ chức nhiều cuộc thi để chọn”. Những năm qua, các địa phương ĐBSCL đã và đang làm nhưng hiệu quả chưa cao. Trái cây ĐBSCL còn chạy theo số lượng hơn là chất lượng; diện tích manh mún nhỏ lẻ, không theo quy hoạch vùng.

    Tổng diện tích vuờn cây ăn trái toàn vùng ĐBSCL xấp xỉ 300.000 ha, trong đó có khoảng 120.000 ha trồng các loại cây đặc sản như xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng, bưởi da xanh, bưởi Năm Roi… tập trung nhiều ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang…

     

    • Thủy sản

    ĐBSCL có diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2, chiếm 37% tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế của cả nước và hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc hai ngư trường trọng điểm là đông và tây Nam bộ. Năm 2006, sản lượng khai thác của vùng ĐBSCL đạt khoảng 850.000 tấn, bằng khoảng 40% tổng sản lượng khai thác cả nước, trong đó trên 80% khai thác từ biển.

    Nuôi trồng: Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 400.000ha mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hằng năm lên đến hơn 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước (riêng cá tra, basa diện tích nuôi toàn vùng gần 5.000ha, tổng sản lượng năm 2007 khoảng 1 triệu tấn).

    Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2006 các địa phương trong vùng ĐBSCL đạt khoảng 2 tỷ USD, bằng 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Riêng tỉnh Cà Mau đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản gần 580 triệu USD. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chế biến xuất khẩu thủy sản, chế biến và tiêu thụ nội địa cũng là thế mạnh của ĐBSCL. Nơi đây chính là “vựa cá” lớn nhất cung cấp sản phẩm thủy sản cho TP. Hồ Chí Minh, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.

    2.2.  Những khó khăn

    Thứ nhất là sản xuất manh mún nhỏ lẽ, khó khăn trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật. Do đó năng suất và chất lượng nông sản thấp.

    Thứ hai là vấn đề chế biến, bảo quản nông sản.

    Thứ ba là vấn đề thị trường cho nông sản của ÐBSCL.

    Thứ tư là nông sản mua rẻ, bán đắt và  phân phối nông sản có quá nhiều trung gian. Có thể thấy, chuỗi tiêu thụ nông sản hiện nay tồn tại quá nhiều nghịch lý. Nông dân phải bán với giá rẻ, còn người tiêu dùng lại mua với giá cao hơn gấp 2 – 3 lần. Nguyên nhân là do việc phân phối nông sản phải qua nhiều khâu trung gian. Mặc dù Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng đã ra đời được 6 năm nhưng quan hệ giữa các “nhà” vẫn “ông chẳng bà chuộc”. Như bưởi Năm Roi ở Mỹ Hoà (Bình Minh – Vĩnh Long) vào cuối tháng 10/2008 được thương lái mua tại vườn giá 2.500 – 3.000 đồng/kg tuỳ loại. Anh Nguyễn Minh Hoàng Em có 10 công bưởi cho biết: “Với giá này, người trồng bưởi lỗ nặng”. Trong khi đó, tại cửa hàng bưởi Năm Roi Hoàng Gia cách vườn nhà anh Minh hơn 5km, giá bưởi loại 1 lên tới 8.000 đồng/kg. Và từ đây, nếu hàng được đưa đi siêu thị hoặc tiêu thụ tại các chợ đầu mối, giá có thể lên tới 12.000 – 15.000 đồng/kg.

     

    Chương 3: Nâng cao chất lượng nông sản của vùng

    3.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp

    3.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất nông sản

    Nền nông nghiệp nước ta vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, nông dân sản xuất theo tập quán lạc hậu nên nông sản làm ra không có số lượng lớn, không đồng đều về giống, mẫu mã, chất lượng, dẫn đến giá thành cao và giảm khả năng cạnh tranh.

    Cần xây dựng những vùng sản xuất tập trung phù hợp với tiềm năng và lợi thế về khí hậu, đất đai…Không để nông dân sản xuất một cách tự phát theo phong trào, hình thành những vùng sản xuất theo quy hoạch chung.

    Đơn cử một số vùng chuyên canh đạt hiệu quả tốt: HTX vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Châu Thành – Tiền Giang) cũng vừa ký hợp đồng xuất khẩu 50 tấn vú sữa sang Nga và Đức. Theo đó, vú sữa phải đạt chứng nhận GlobalGap. Ông Cao Văn Hùng, nông dân trồng vú sữa cho biết: “Chúng tôi phải đáp ứng đủ 144 yêu cầu, hiện đã thực hiện được 128 tiêu chuẩn. Vú sữa Vĩnh Kim được đánh giá là tuyệt đối an toàn, quy trình sản xuất thân thiện với môi trường”. Nhờ thế, giá xuất khẩu đạt 32.000 – 40.000 đồng/kg, cao gấp 1,5 lần so với giá bán ở thị trường nội địa. Ông Nguyễn Văn Ngàn, Chủ nhiệm HTX cho biết: “HTX có 47ha vú sữa được trồng theo tiêu chuẩn GlobalGap, sản lượng bình quân 15 tấn/ha và sẽ cung cấp đủ cho Công ty Metro xuất khẩu theo hợp đồng đã ký. Từ lâu, HTX đã ký hợp đồng cụ thể với từng hộ, nếu sản xuất theo đúng yêu cầu, chúng tôi sẽ thu mua toàn bộ. Vì vậy, sản phẩm của chúng tôi luôn có giá cao, tiêu thụ ổn định”. Được biết, HTX vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim đang có kế hoạch mở rộng thêm 40ha đạt chứng nhận GlobalGap.

    3.1.2 Xây dựng hệ thống thủy lợi

    Tăng cường công tác quản lý, khai thác các công trình thuỷ lợi, đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ. Xây dựng các phương án quy hoạch thuỷ lợi, hỗ trợ việc chống sạt lở khu vực giáp biên giới với Campuchia và các khu vực sạt lở ven sông Tiền và sông Hậu, bảo đảm an toàn và sử dụng hiệu quả nguồn nước sông Mê Kông trong điều kiện có những thay đổi bất lợi trên thượng nguồn.

    Tiếp tục xây dựng mới các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất phù hợp với quy hạch các vùng chuyên canh, đồng thời sữa chửa hay loại bỏ những công trình không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện nay.

    Hệ thống thủy lợi phải cung cấp đủ nước cho sản xuất vào mùa khô và đảm bảo không bị ngập lụt vào mùa mưa. Xây dựng những công trình chống ngập mặn, nhiễm phèn.

    • Hệ thống giao thông vận tải

    Để phát triển theo kịp vận tải đa phương thức trong khu vục và trên thế giới, vận tải thủy nội địa ĐBSCL phải được phát triển toàn diện về hạ tầng cơ sở và phương tiện vận tải. Vận tải thủy ở ĐBSCL là phương tiện vận tải quan trọng nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh phía Đông – Nam, bao gồn 5 tuyến vận tải: TP Hồ Chí Minh – Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh – Long Xuyên, TP Hồ Chí Minh – Mộc Hóa, TP Hồ Chí Minh – Kiến Lương, TP Hồ Chí Minh – Cà Mau trong đó TP Hồ Chí Minh – Cà Mau và TP Hồ Chí Minh – Kiên Lương là hai tuyến quan trọng nhất.

    Phát triển đồng bộ giữa luồng tuyến, cảng bến, đội tàu vận tải, đồng thời đảm bảo sự cân đối, đảm bảo sự thống nhất giữa vận tải thủy nội địa với các phương thức vận tải khác, tạo thành mạng lưới vận tải đa phương thức liên hoàn thông suốt, hiện đại. Có như thế hàng hóa nông sản mới vận chuyển dễ dàng. Xây dựng, mở rộng nhiều sông, ngòi, phấn đầu tàu 10.000 DWT vào được cảng Cần Thơ; Tận dụng năng lực cơ sở hạ tầng hiện có. Tập trung nâng cấp, cải tạo các luồng tuyến chính, tận dụng điều kiện tự nhiên kết hợp với cải tạo để khai thác các tuyến khác, đặc biệt là các tuyến liên vận quốc tế; đầu tư tập trung các tuyến luồng chính, các cảng đầu mối, cảng khu vực.

    3.2 Ứng đụng công nghệ cao vào sản xuất

     Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất là mối quan tâm của các nhà khoa học tâm huyết với đồng bằng sông Cửu Long. Theo họ, nếu nhìn nhận và triển khai phát triển nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đồng bằng sông Cửu Long sẽ bắt kịp với các trung tâm, đô thị lớn trong nước và trong khu vực…

    Do tốc độ đô thị hóa cao, mỗi năm diện tích đất sản xuất của khu vực kinh tế trọng điểm về nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng bị thu hẹp. Chỉ tính riêng đất sản xuất lúa, mỗi năm đều giảm khoảng 70 ngàn ha. Vì vậy, đòi hỏi năng suất và hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích phải tăng vượt bậc. Và điều đó chỉ có thể giải quyết bằng một qui trình sản xuất khép kín mà mỗi công đoạn đều được ứng dụng máy móc, thiết bị, sản phẩm sinh học… là kết quả của nền công nghiệp hiện đại. Về việc cần thiết phải phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao ở đồng bằng sông Cửu Long, Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu – Viện trưởng viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam khẳng định: “Nếu chúng ta làm nông nghiệp bình thường như hiện nay thì tốc độ tăng trưởng 4% mỗi năm sẽ không còn nữa mà giảm dần còn 3% rồi 2%… bắt buộc chúng ta phải làm nông nghiệp công nghệ cao để có năng suất cao hơn, giá thành rẻ hơn, chất lượng tốt hơn, thị trường ổn định hơn…”

    Năm đối tượng cụ thể để khuyến khích doanh nghiệp áp dụng mô hình này là: chăn nuôi kết hợp với chế biến, thủy sản, hoa cắt cành nhiệt đới, rau an toàn và trái cây đặc sản theo qui trình nông sản sạch GAP. Để phát triển mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao nếu thiếu vốn có thể vay, thiếu máy móc có thể liên kết chuyển giao công nghệ, nhưng với điều kiện của một vùng trũng về giáo dục như đồng bằng sông Cửu Long thì điều khiến các nhà khoa học lo ngại nhất chính là nguồn nhân lực chưa thích ứng.

    Đội ngũ những nhà khoa học nổi tiếng hiện nay hầu hết đã hoặc sắp đến tuổi về hưu trong khi lực lượng trẻ thay thế còn mỏng. Tốc độ nhân tài đào tạo ở nước ngoài về cũng còn chậm và điều kiện đãi ngộ kém hấp dẫn. Bên cạnh sự hụt hẫng nguồn nhân lực là cơ sở vật chất chưa hoàn chỉnh như phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu công nghệ thông tin, cầu, đường, sân bay quốc tế… cần có sự tiếp tục đầu tư đặc biệt của chính phủ. Vẫn còn thiếu rất nhiều điều kiện để có thể xây dựng một nền nông nghiệp công nghệ cao ở ĐBSCL. Nhưng, mới đây, chính quyền và các nhà khoa học tâm huyết đã khởi động vấn đề bằng một hội thảo khoa học đặc biệt bàn về định hướng công nghệ cao cho khu vực tại thành phố Cần Thơ. Không lâu nữa, nhiều điểm trũng của đồng bằng sẽ dần được bù đắp khi sân bay quốc tế Trà Nóc, cầu Cần Thơ và các quan hệ liên kết giáo dục quốc tế phát triển…

    3.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

    Làm nông nghiệp không thể đứng yên một chỗ mà cần phải đầu tư nhiều chất xám hơn để chủ động trước thị trường. ĐBSCL là “vùng trũng” của ngành giáo dục Việt Nam. 80% lao động nông nghiệp chưa được đào tạo mà chỉ dựa vào kinh nghiệm theo kiểu “cha truyền con nối”. Do đó, khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã nảy sinh nhiều bất cập.

    Phát triển nguồn nhân lực phải được làm đồng bộ từ nâng cao dân trí, tăng số lượng và nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp, phát triển các hình thức đào tạo ngành nghề phong phú, phù hợp với từng đối tượng, từng ngành nghề cần phát triển ở mỗi địa phương, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ doanh nhân có năng lực và có cơ chế, chính sách thoả đáng để thu hút nhân tài, cán bộ khoa học – kỹ thuật có trình độ cao. Thường xuyên bổ sung và có chính sách sử dụng hiệu quả cán bộ của cơ quan, doanh nghiệp trung ương đóng trên địa bàn tăng cường cho tỉnh, huyện và lấy cán bộ huyện tăng cường cho xã; thực hiện luân chuyển cán bộ nòng cốt.

     

    Chương 4: Giải quyết đầu ra cho nông sản

    4.1 Sự can thiệp của chính phủ

    • Cung cấp tín dụng và hỗ trợ người sản xuất

    Ngân hàng nông nghiệp khuyến khích  nông dân mở rộng đầu tư sản xuất bằng cách cho nông dân vay vốn ưu đãi với lãi xuất thấp. Hỗ trợ nông dân khi mua vật tư nông nghiệp như miễn thuế khi nông dân mua những máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hỗ trợ về giống cây trồng,vật nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…

    Thực hiện giảm thuế đối với các mặt hàng nông sản nhất là các sản phẩm xuất khẩu. Chính phủ cần có sự hỗ trợ đầu tư với lãi suất bằng không cho nông dân để tăng cường năng lực dự trữ. Hệ thống dự trữ quốc gia sẽ bao gồm dự trữ của Nhà nước và dự trữ của nông gia. Điều này sẽ giúp người nông dân được hưởng lợi nhiều hơn khi giá lúa tăng và giảm bớt bất lợi bởi yếu tố mùa vụ.

    Khả năng dự trữ của nông dân bị hạn chế bởi thiếu kho chứa và nhu cầu tiền mặt để hoàn trả các khoản nợ chi phí sản xuất, vì thế một hệ thống tín dụng tốt ở nông thôn có thể giúp cho việc này. Ngay cả trong thời kỳ lạm phát, biện pháp trợ cấp trực tiếp cho người nghèo cũng không hiệu quả bằng việc cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng nông nghiệp và hàng hóa dịch vụ đến được khu vực nông thôn một cách thuận lợi.

    Hỗ trợ người sản xuất: cung cấp vật tư nông nghiệp như: phân hóa học, thuốc trừ sâu, hướng dẫn thâm canh, tăng năng suất trong trồng trọt và chăn nuôi…

    • Xây dựng nền tài chính Vi mô

    Hoạt động tài chính vi mô đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường, mở rộng tiếp cận tài chính cho khu vực nông thôn. Đây thực sự là kênh tài chính có ý nghĩa bởi không chỉ cung cấp vốn, tài chính vi mô còn hướng dẫn kỹ thuật, phổ biến kinh nghiệm làm ăn hiệu quả cho người nghèo.

    Phát triển tài chính vi mô cũng là mục tiêu của Chính phủ. Cho dù có nguồn tín dụng nhiều đến đâu hay hệ thống cho vay tốt đến mức nào, Nhà nước cũng không thể giải quyết hết các vấn đề tín dụng của nhân dân. Chính các tổ chức tài chính vi mô là kênh tín dụng hiệu quả cho người nghèo, đồng thời là giải pháp tốt nhất cho chính sách xã hội của Nhà nước. Hiện nay, ở Việt Nam có cả ngàn tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động, trong đó có khoảng 60 là tổ chức phi chính phủ.

    Do đó, Nhà nước luôn dành sự quan tâm cho hoạt động tài chính vi mô. Chính phủ đã ký và ban hành Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 9/3/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam và Nghị định số 165/NĐ-CP điều chỉnh và bổ sung một số điều trong Nghị định 28. Điều này một lần nữa khẳng định sự cam kết của Chính phủ đối với việc phát triển ngành tài chính vi mô bền vững theo khuôn khổ pháp lý của Nhà nước. Đây là bước ngoặt quan trọng và là nền tảng thúc đẩy sự phát triển của ngành tài chính vi mô trong tương lai.

     

    • Ổn định giá nông sản

    Chính phủ định giá sàn: nhằm bảo vệ người sản xuất đảm bảo cho người sản xuất có lợi nhuận và duy trì sản xuất. Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện mua nông sản thừa của nông dân khi cung về hàng hóa nông sản vượt cầu tuy nhiên chỉ mua những mặt hàng có chất lượng cao. Và như thế cũng khuyến khích người sản xuất chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm.

     

    4.2 Thành lập hợp tác xã nông nghiệp

    Thứ nhất: Để giúp các hộ nông dân cải thiện điều kiện sống và phát triển sản xuất, cần phải liên kết các hoạt động đầu ra, đầu vào cho họ dưới hình thức tốt nhất là hợp tác xã, nông nghiệp. Bởi vì theo tôn chỉ của hợp tác xã từ trước đến nay thì hợp tác xã có thể mang đến nhiều điều lợi cho nông dân như:

         + Bán hàng cho nông dân với giá phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng.

         + Giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá dễ dàng, có kế hoạch với chi phí giảm, giá cả hợp lý, buôn bán văn minh, tiêu chuẩn hoá sản phẩm ở mức cao.

         + Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân cả khi mua và khi bán hàng hoá.

         + Liên kết nông dân sử dụng hết công suất máy móc, chi phí sản xuất thấp.

         + Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên tiến cho nông dân.

           Tuy nhiên, các giá trị trên chỉ có được khi hợp tác xã thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ, hiệu quả hoạt động cao, có sự tương trợ lẫn nhau.

    Thứ hai: để hợp tác xã nông nghiệp ra đời và phát triển tốt rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về các mặt: tạo khuôn khổ luật pháp; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn nhất là đường giao thông, điện, nước; tuyên truyền, khuyến khích, quảng bá cho các hợp tác xã. Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã thực thi kiểm soát bằng các chế định luật hạn chế ban lãnh đạo hợp tác xã lũng đoạn, trá hình doanh nghiệp tư nhân dưới lốt hợp tác xã để hưởng ưu đãi.

    Thứ ba: tiêu thụ được sản phẩm cho hộ nông dân với giá phải chăng và chi phí thấp chính là sự hỗ trợ đáng giá mà các hộ nông dân Việt Nam đang cần. Để làm được điều này các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam phải đáp ứng được ba điều kiện:

           + Ban quản lý hợp tác xã phải có tâm huyết với mục tiêu giúp nông dân làm giàu hơn là dùng hợp tác xã để làm giàu cho cá nhân mình hay để tích luỹ lợi nhuận cho hợp tác xã.

           + Người nông dân hiểu được hợp tác xã chính là tổ chức tự họ giúp họ nên hợp tác với ban quản lý nhằm thiết lập được chế độ hoạt động tối ưu cho hợp tác xã.

           + Chính quyền địa phương không được can thiệp vào công việc của hợp tác xã nhưng phải tạo điều kiện cho các mục tiêu xã hội của hợp tác xã có thể thực hiện dễ dàng nhất.

           Thứ tư: hợp tác xã nông nghiệp phải được tổ chức ở những khâu nào mà hợp tác xã làm thì tốt hơn hộ gia đình, tốt hơn tư nhân, thậm chí tốt hơn cả doanh nghiệp Nhà nước. Do đó lựa chọn khâu nào để hợp tác xã làm là hết sức quan trọng. Kinh nghiệm của Nhật Bản chỉ ra rằng bốn khâu: cung ứng vật tư, hàng hoá tiêu dùng, tín dụng tương hỗ, tiêu thụ sản phẩm và khuyến nông là rất phù hợp với hợp tác xã [1]. Nhưng để chiến thắng tư nhân thì hợp tác xã nên tổ chức theo kiểu đa năng và tuyển chọn người giỏi làm giám đốc để quản lý, điều hành. Cán bộ là khâu rất quan trọng, có tính chất quyết định đến sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của hợp tác xã.

           Thứ năm: theo kinh nghiệm của Nhật Bản cần đề cao vấn đề giáo dục đào tạo nhân lực cho hợp tác xã. Các tổ chức Liên hiệp hợp tác xã tỉnh, quốc gia đều coi trọng nhiệm vụ này. Nếu làm tốt nhiệm vụ này thì phong trào hợp tác xã sẽ phát triển bền vững. Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ tư vấn cho hợp tác xã và nông dân. Đặc biệt các hợp tác xã cần coi trọng hoạt động khuyến nông, coi đây là phương tiện cơ bản giúp nông dân vượt khó, xoá nghèo để vươn lên làm giàu. Hợp tác xã nông nghiệp phải coi cải tạo tư tưởng phong cách, lề lối, tập quán sản xuất của nông dân là mục tiêu của mình thì mới giúp ích nhiều cho nông dân và giúp hộ nông dân phát triển lực lượng sản xuất để cạnh tranh hiệu quả với nông dân thế giới trong nền kinh tế toàn cầu và chắc chắn 100% nông dân sẽ trở thành xã viên của hợp tác xã như ở Nhật Bản.

    Hợp tác xã vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), đơn vị duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long và là đơn vị thứ hai trên cả nước vừa được cấp chứng chỉ Global GAP sau khi đáp ứng được 141 yêu cầu khắt khe đối với hợp tác xã và xã viên thỏa mãn được 236 yêu cầu do Global GAP đưa ra.

    4.3 Mở rộng thị trường tiêu thụ

    Trong kinh doanh, điều người ta quan tâm nhất là đầu ra của sản phẩm và lợi nhuận thu được. Đây cũng là yếu tố quyết định sự thành bại của mỗi mô hình kinh tế. Tuy nhiên, trước hàng loạt khó khăn, bất cập như mua bán trôi nổi, không qua hợp đồng, có quá nhiều trung gian, thiếu sự liên kết… khiến việc tiêu thụ nông sản của nông dân gặp khó khăn. Đã đến lúc, vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi tiêu thụ nông sản phải đi vào thực chất hơn.

    Thị trường tiêu thụ của chúng ta không thể chỉ ở trong nước mà cần phải tìm kiếm những thị trường ngoài nước để xuất khẩu. Bên cạnh đó giữ vững thị trường trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu từ Thái Lan và Trung Quốc với chất lượng tốt  và giá rẻ hơn các mặt hàng nông sản của chúng ta.

     

    4.4 Thiết lập hệ thống thông tin thị trường

    Nhằm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin thị trường, giá cả nông sản, Trung tâm Tin học Bộ NN&PTNT đang triển khai dự án xây dựng mạng lưới thông tin thị trường nông nghiệp.

    Thông tin thị trường nông sản ngày càng trở nên quan trọng không chỉ đối với nông dân mà với cả các tác nhân khác trong hệ thống ngành hàng như người thu gom, bán buôn và các doanh nghiệp (DN)…

    Việc phổ biến thông tin thị trường kịp thời sẽ giảm được các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giúp hộ nông dân và các tác nhân ra quyết định đúng đắn nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành hang

    Thông tin thị trường là cơ sở để đưa ra các quyết định sản xuất và marketing, giúp người nông dân và các tác nhân khác- trong chuỗi cung ứng xác định các hoạt động đem lại lợi nhuận và giảm bớt các rủi ro đi kèm với các chiến lược sản xuất và marketing được áp dụng.

    Nông dân sẽ có thể biết được tình hình giá cả nông sản, thời tiết, các thông tin về thị trường nông sản trong nước và thế giới cũng như có thể tham khảo thông tin khoa học và công nghệ nông nghiệp tiên tiến trên thế giới. Hơn thế, nông dân cũng có thể nhờ nhân viên điều hành trung tâm điền các mẫu văn bản hành chính trực tuyến giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại.

    Mở rộng hệ thống thông tin thị trường là cần thiết không chỉ đối với nông dân mà cả đối với DN và cán bộ quản lý. Tuy nhiên để thực hiện các bước này thì việc xây dựng và phát triển các phương pháp tiến hành điều tra thu thập thông tin là hết sức cần thiết quyết định sự thành công của hệ thống thông tin nói chung và hệ thống thị trường nông sản nói riêng. Bên cạnh đó là kênh phổ biến thông tin, cần thiết phải kết hợp các kênh truyền thông (tivi, đài, báo, bản tin, mạng điện thoại di động…). Sử dụng kết hợp các phương pháp hoặc các kênh truyền thông sẽ bổ sung hỗ trợ để việc thu thập thông tin và phổ biến thông tin thị trường, xúc tiến thương mại trong nông nghiệp. Để thông tin nông nghiệp sẵn sàng chia sẻ hỗ trợ miễn phí  cho nông dân, cần thiết phải có sự quan tâm, hỗ trợ từ ngành nông nghiệp và của tỉnh.

     

    4.5 Sự liên kết trong sản xuất nông nghiệp

    Trong những năm gần đây ĐBSCL, mô hình liên kết “bốn nhà”: Nhà nước-nhà doanh nghiệp- nhà nông- nhà khoa học, đã mang lại những hiệu quả tích cực trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.

    Để có thể hạn chế những khó khăn, thúc đẩy nông dân tham gia vào mô hình sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng, từ đó có thể hưởng lợi từ chuỗi giá trị nông nghiệp, cần một số giải pháp một số giải pháp:

    • Cần tạo dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn để khuyến khích nhiều doanh nghiệp (cả trong và ngoài nước) đầu tư kinh doanh nông sản. Nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường sẽ tạo ra tính cạnh tranh cần thiết giúp khai thác triệt để và nâng cao năng lực sản xuất của nông dân.
    • Cần cải thiện môi trường pháp lý, đặc biệt là các điều khoản về tính ràng buộc và chế tài xử phạt của hợp đồng để nâng cao hiệu quả ký kết và thực hiện hợp đồng.
    • Cần tiếp tục hỗ trợ để các tổ chức liên kết của nông dân phát triển hơn nữa, tạo nên kênh liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp và nông dân.
    • Khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp và tổ chức hợp tác xã của nông dân liên kết nâng cao chất lượng sản phẩm, tiến đến xây dựng thương hiệu cho từng mặt hàng nông sản.

    4.6 Bảo hiểm nông sản

    Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp lớn, 60 – 70% dân số sống ở nông thôn, nếu nhìn về diện rộng thì bảo hiểm nông nghiệp có một thị trường rất lớn. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác. Cho đến nay, có rất ít diện tích cây trồng và vật nuôi được bảo hiểm. Con số điều tra năm 2001 là khoảng từ 0,05 – 0,3% tham gia bảo hiểm và từ đó đến nay, thị trường này vẫn không có sự chuyển biến nào đáng kể.

    Bảo hiểm trong nông nghiệp sẽ giảm được rủi ro trong sản xuất như thiên tai,dịch bệnh, … Nhưng hiện nay các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp triển khai không đáng kể. Chỉ có một số dịch vụ dành cho cây công nghiệp như cao su. Các dịch vụ khác không triển khai vì rủi ro lớn, người dân không có khả năng tham gia và việc quản lý rủi ro rất khó khăn. Vì vậy cần có những doanh nghiệp mạnh dạng đầu tư vào thị trường này và có những quy định rõ ràng về bảo hiểm nông sản.

    • Xây dựng thương hiệu nông sản

    Vấn đề xây dựng và bảo vệ thương hiệu nông sản vốn được nói đến từ lâu. Tuy vậy, Việt Nam vẫn chưa có những thương hiệu thực sự mạnh dù có nhiều đặc sản giá trị. Xây dựng thương hiệu không đơn giản chỉ là gắn cho sản phẩm một cái tên mà còn phải đặt nền móng cho nó phát huy hết giá trị. Nhưng xem ra những gì chúng ta làm cho thương hiệu nông sản vẫn chỉ dừng lại ở bước… khởi đầu.

    Việc làm đầu tiên là phải sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao và an toàn nhằm tăng sức cạnh tranh khi xuất khẩu sang nước ngoài .

    Đảm bảo lượng nông sản cung cấp liên tục cho thị trường.

    Xây dựng thương hiệu đi đôi với việc quảng bá và phát triển thương hiệu ngày càng vững mạnh trên thị trường trong nước và ngoài nước. Một số trái cây ở ĐBSCL đã xây dựng được thương hiệu thành công được người tiêu dùng ưa chuộng. Đơn cử như “Thanh Long Chợ Gạo” (Tiền Giang) đã xuất sang các thị trường khó tín như Mỹ và Châu Âu ; “Bưởi năm roi” (Vĩnh Long) ;…

    Việc xây dựng thương hiệu cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước bằng những chính sách cụ thể không để người nông nân tự sản xuất và tự tiêu thụ sản phẩm mà mình làm ra.

    4.8.          Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng hóa

    Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động nông dân, doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác thực hiện các hình thức tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, gắn sản xuất với chế biến, nhất là ở vùng sản xuất nguyên liệu tập trung. Nâng cao nhận thức trong việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng.

    Tăng cường đầu tư, hỗ trợ xây dựng vùng sản xuất quy mô lớn, vùng nguyên liệu tập trung để thúc đẩy các hình thức liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ.

    Trong quy hoạch, cần tạo điều kiện để nông dân, các HTX và tổ hợp tác cùng tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến và thực hiện.

    Hỗ trợ các hình thức kinh tế hợp tác của nông dân, các hiệp hội, ngành hàng để các tổ chức này có đủ khả năng cung cấp dịch vụ tiêu thụ nông sản cho nông dân, hạn chế tình trạng độc quyền, ép giá…

    Hỗ trợ pháp lý cho nông dân và các bên liên quan trong việc ký hợp đồng.

    Tăng cường sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, các cơ quan liên quan.

    Tăng cường hợp tác quốc tế. (Nguồn: Cục Hợp tác xã và PTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT))

     

     

    Chương 5: Các mô hình sản xuât kết hợp hiệu quả

    5.1 Mô hình trang trại

    Mô hình kinh tế trang trại đã tạo ra bước chuyển cơ bản về giá trị sản phẩm hàng hóa, và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so với kinh tế hộ. Đơn cử, năm 2004, tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ của các trang trại ước tính 70.047 tỷ đồng, bình quân 1 trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất 980 triệu đồng, gấp 6-8 lần so với bình quân giá trị sản xuất của một hộ nông nghiệp.
    Tại vùng Tây Nguyên, giá trị sản phẩm hàng hóa của trang trại còn đạt cao hơn, bình quân gần 1,1 tỷ đồng/trang trại/năm. Riêng loại hình trang trại có giá trị hàng hóa cao nhất vẫn là trang trại nuôi trồng thủy sản, đạt bình quân từ 1,2 đến 1,5 tỷ đồng/trang trại/năm, cá biệt có trang trại đạt trên 10 tỷ/năm (như trang trại của Vietfram Hùng Tiến ở Bình Quới, TPHCM)… Số DN hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông- lâm- thủy sản, mặc dù số lượng chưa nhiều, mới chỉ có 3.376 DN, nhưng lại là những DN có đóng góp nhiều nhất trong việc phát triển các loại hình dịch vụ nông nghiệp.Có thể nói, kinh tế trang trại phát triển đã tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, tạo động lực thúc đẩy công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phát triển mạnh. Báo cáo của các địa phương cho thấy, mặc dù giá trị sản xuất của trang trại trên cả nước chưa cao lắm nhưng so với giá trị sản xuất bình quân của kinh tế nông nghiệp đã tăng gấp gần 2 lần.
    – Điển hình cho mô hình trang trại và DN nông thôn thành đạt là Công ty TNHH Thang Nguyên (TP Buôn Ma Thuột-tỉnh Đắc Lắc) của ông Trần Văn Nguyên. Với ngành nghề sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trồng trọt, chăn nuôi trên địa bàn Đắc Lắc, công ty đã có thu nhập (lãi) hàng năm trên 1 tỷ đồng. Hay như ông Vũ Đức Bằng, Giám đốc Nhà máy Chè Bằng An, tỉnh Lai Châu, với ngành nghề đầu tư sản xuất nguyên liệu và chế biến chè, ông Bằng đã đạt doanh thu hàng năm trên 8,8 tỷ…
          Tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn
    Việc phát triển kinh tế trang trại và DN nông thôn đã góp phần tích cực trong giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân. Đa số các chủ trang trại, DN đều có nhu cầu sử dụng lao động rất lớn tùy loại hình và quy mô sản xuất. Theo số liệu thông kê chưa đầy đủ, hiện nay, kinh tế trang trại đã thu hút, tạo việc làm cho hơn 60.000 lao động, góp phần giảm bớt áp lực thiếu việc làm ở nông thôn, đồng thời giúp cho thu nhập của người lao động được đảm bảo ở mức ổn định từ 400.000 – 600.000/tháng (với lao động thời vụ, tiền công cũng phổ biến ở mức 20.000/ngày).

    Riêng các DN nông thôn đã giải quyết cho trên 1 triệu lao động có việc làm trong các xí nghiệp, nhà máy với thu nhập bình quân từ 700.000 – 1.000.000/tháng.

    Trên thực tế, đời sống của bà con nông thôn hiện nay tuy còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng đã có những đổi thay sâu sắc, đã cơ bản xóa được đói, giảm được nghèo. Trong thành quả và đóng góp chung đó, có vai trò rất tích cực của các trang trại và DN nông thôn.
    Nhiều trang trại, DN đã ủng hộ hàng trăm triệu đồng giúp xây dựng trường học, xóa nhà tạm, hỗ trợ trẻ mồ côi… góp phần giảm tỷ lệ đói, nghèo của cả nước xuống còn khoảng 10%. Có thể nói, những thành quả nêu trên chứng tỏ mô hình kinh tế trang trại và DN nông thôn đã thực hiện khá tốt đường lối chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước.
    Mô hình này đã có những kết quả vượt trội so với kinh tế hộ nông dân về khai thác tiềm năng lao động, đất đai, huy động vốn đầu tư trong dân, áp dụng KHKT vào sản xuất để hình thành nên những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung…
    Đây cũng chính là mô hình tạo nên nhiều nhân tố mới ở nông thôn, tạo động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tiến tới xây dựng nên những vùng, miền nông thôn mới văn minh hiện đại.

    5.2 VAC

    Đồng Bằng Sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều ao hồ. Vì vậy, cùng với nhà ở, một số nông dân còn có cả vườn và ao với cách bố trí: vườn trồng rau, cây ăn trái, ao nuôi cá, chuồng nuôi gia súc, gia cầm. Theo quan điểm của chúng ta ngày nay, đây là một hệ sinh thái nông nghiệp (VAC: Vườn-ao-chuồng).

    + VAC là một hệ thống canh tác mà trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động làm vườn, nuôi cá và chăn  nuôi gia súc, gia cầm:

    Vườn: kết hợp trồng nhiều loại cây theo nhiều tầng . Vườn trồng cây ăn trái có thể kết hợp trồng các loại rau, đậu, một số cây gia vị, cây làm thuốc…

    + Ao: trong ao nuôi cá thường kết hợp nhiều giống cá để tận dụng thức ăn. Quanh bờ ao trồng khoai nước; một phần mặt ao thả bèo dùng làm thức ăn cho lợn. Trên mặt ao có thể trồng bầu bí, mướp…

    + Chuồng: nuôi gia súc, gia cầm (thường là lợn, gà, vịt).

    Tiền Giang: Làm giàu từ mô hình VAC ở vùng nhiễm mặn ven biển Gò Công

    Gò Công Đông là huyện biển của tỉnh Tiền Giang và là vùng đất nhiễm mặn, phèn, thời tiết bất lợi. Trước đây, đất đai canh tác mỗi năm 1 vụ lúa mùa năng suất thấp, bấp bênh, đến kỳ giáp hạt đa phần người dân phải đi tha hương làm thuê làm mướn kiếm sống. Đến nay, bà con đã an cư lạc nghiệp, đời sống ổn định và đi lên bền vững nhờ phát huy dự án thủy lợi ngọt hóa Gò Công, xây dựng mô hình kinh tế VAC (vườn – ao – chuồng) theo hướng hàng hóa, chất lượng nông sản cao và qui mô trang trại.
    Theo ông Nguyễn Văn Re, Phó Giám đốc sở Khoa học Công nghệ tỉnh, trên 80% số hộ dân Gò Công Đông sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, ngoài điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, hạn chế về nông nghiệp trước đây, nhưng sau khi dự án thủy lợi ngọt hóa Gò Công hoàn thiện tạo cơ hội mới cho nông dân tăng mùa, chuyển vụ, thay đổi tư duy và tập quán cũ đi lên theo hướng sản xuất hàng hóa qui mô lớn. Ngành nông nghiệp – phát triển nông thôn và các đơn vị hữu quan địa phương đã triển khai dự án “Mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển nông thôn xã Kiểng Phước” do Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ. Dự án kết thúc vào năm 2002 nhưng đã được trang bị những kiến thức khoa học mới về thâm canh lúa chất lượng cao, lập vườn trồng cây ăn quả trong điều kiện đất đai từ nhiễm mặn chuyển sang ngọt hóa, phát triển chăn nuôi gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa….
    Tùy theo điều kiện của từng gia đình, bà con áp dụng mô hình VAC trên qui mô và định hướng sản xuất phù hợp với thực tế. Những hộ có vốn, có trình độ khoa học công nghệ cao đều đầu tư theo hướng khép kín hoặc mở rộng qui mô làm ăn kiểu trang trại kinh doanh tổng hợp vừa có thu nhập cao vừa tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn tại chỗ. Đất lúa một vụ bà con chuyển sang hai vụ lúa chất lượng cao. Đất trồng cây tạp chuyển sang trồng cây ăn quả đặc sản có giá trị: xoài cát Hòa Lộc, sơ ri, táo, mãng cầu, sapôchê kết hợp với chăn nuôi lợn lai hướng nạc, nuôi dê, nuôi trồng thủy sản xuất khẩu…Chưa kể việc trồng rau màu hoặc trồng xen canh, chăn nuôi lồng ghép kiểu lấy ngắn nuôi dài là động lực giúp cho nhiều hộ nghèo khó nhanh chóng thoát nghèo và làm giàu. Thực tế cho thấy, mặc dù đất hẹp, người đông, nhiều hộ chỉ 1 đến 2 công đất (1.000 m2 đến 2.000 m2) nhưng nhờ áp dụng mô hình VAC nên sau vài vụ bội thu đã thoát nghèo, mua sắm tư liệu sản xuất, tậu thêm đất đai, cất nhà cửa khang trang. Hiện huyện Gò Công Đông đã định hình được vùng trồng cây ăn trái đặc sản 2.500 ha, 5.500 ha rau màu, hơn 1.000 ha mặt nước nuôi thủy sản lồng ghép trong các mô hình. Hàng năm, huyện thu hoạch đạt sản lượng trên 27.500 tấn trái cây các loại, 88.000 tấn rau màu, 6.500 tấn thịt gia súc, gia cầm và trên 4.000 tấn thủy sản các loại. Nhiều nông sản chủ lực của Gò Công Đông như: xơ ri, tôm càng xanh, tôm sú, gà ta thả vườn, lúa chất lượng cao…đang trở thành mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của tỉnh, mang lại nguồn ngoại tệ lớn.

    5.3 VACR

    Phát triển nông nghiệp hữu cơ từ mô hình kinh tế VACR trong phạm vi nông hộ/trang trại, sản xuất nông nghiệp đã tận dụng tối đa những phế phẩm của các hoạt động sản xuất khác nhằm giảm thiểu việc sử dụng phân hoá học và thuốc sát trùng. Đây là một trong những lộ trình tiến tới nền nông nghiệp hữu cơ mang tính khả thi cao, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

    Đã có nhiều đề tài khoa học liên quan đến vấn đề này, trong đó nổi bật là dự án “ứng dụng mô hình sản xuất tích hợp nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng – vật nuôi cho vùng sản xuất có nhiều khó khăn” của sở Khoa học – Công nghệ Bạc Liêu và Trà Vinh. Cảm nhận đầu tiên của chúng tôi khi đến thăm gần 10 mô hình thuộc dự án là không còn mùi hôi khai của phân gia súc, gia cầm.

    Anh Lâm Hố ở xã Vĩnh Trạch (thị xã Bạc Liêu) cải thiện mô hình canh tác của gia đình hướng theo mục tiêu của nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Từ chỗ nuôi 4 con bò cái, tới nay gia đình anh có thêm 2 con bê, nếu chỉ như vậy thì chẳng có gì đáng nói. Điều đặc biệt là những con bò này được coi như là “nhà máy” sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, đạm sinh học; phân và nước tiểu bò được khử mùi hôi khai bằng chế phẩm EM, được chế biến thành thức ăn cho trùn (giun) quế. Anh Hố nuôi trùn quế dưới lán lá rộng 60m2, chia thành 16 ô để thu hoạch luân phiên. Bên cạnh đó, anh còn nuôi 200 con gà Lương Phượng; 9 ao nuôi tôm sú, 1 ao nuôi cá bống tượng với tổng diện tích gần 4ha. Theo anh Hố thì cách nuôi trùn quế sinh sản, “chế biến” trùn thành thức ăn chăn nuôi cũng như cách khử mùi hôi bằng EM rất dễ thực hiện. Anh Ngọc, cộng tác viên kỹ thuật của dự án giải thích: Nếu trước đây mua bổ sung đạm cho tôm, gà phải mất gần 200.000 đồng/lượt, nhưng nay nhờ nuôi bằng trùn nên chỉ mất khoảng 50.000 đồng. Không chỉ tận dụng để nuôi trùn, phân bò còn là phân bón sạch, rất tốt cho rau, hoa quả. Từ khi tham gia dự án, doanh thu của gia đình anh Hố đạt 600 triệu đồng/năm, lãi gần 20%

    Dùng chế phẩm sinh học EM không những giúp môi trường sống trong lành, tránh ô nhiễm mà còn xây dựng được tập quán tận thu phân, nước tiểu gia súc làm phân sạch. Trung tâm Khuyến nông (Sở Nông nghiệp và PTNT Bạc Liêu) cho biết, tỉnh vừa khảo sát và tổng kết 20 mô hình canh tác có doanh thu tương đối cao trong năm 2007, trong đó có mô hình chuyên màu (đạt 60-90 triệu đồng/ha); mô hình lúa – màu (55-75 triệu đồng/ha); lúa – cá (55-70 triệu đồng/ha); tôm-cua-cá (50-80 triệu đồng/ha); cá bống tượng và VACR được xếp hàng đầu, vì đều vượt 100 triệu đồng/ha.

    Có nhiều loại đề tài, dự án chuyển giao kỹ thuật mới vào sản xuất, mỗi loại có những ưu điểm riêng, nhưng đề tài tác động đến hệ thống VACR đáp ứng được nhu cầu mà nông dân cần, vì tác động vào các hoạt động sản xuất của nông hộ, nâng cao trình độ sản xuất cũng như tăng thu nhập nhanh hơn, bền vững hơn.

    Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã tổng kết công tác khoa học và công nghệ năm 2007, theo đó, số vốn đầu tư cho công tác khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp lên tới 484 tỷ đồng và đã có một số kết quả nổi bật như chọn tạo ra nhiều giống lúa, ngô, đậu đỗ, rau… năng suất cao, chất lượng khá, sản xuất ra các loại vắc – xin, chế phẩm sinh học có tính ứng dụng rộng. Nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2008 được xác định là phải tập trung hơn nữa đến tính ứng dụng của các công trình khoa học và giúp ích cho bà con nông dân. Đề tài “ứng dụng mô hình sản xuất tích hợp nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi…” do sở Khoa học và Công nghệ Bạc Liêu và Trà Vinh đang thực hiện hẳn là một trong những hướng hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2008.

    5.4 VACB

    Khí sinh học Biogas là một hỗn hợp các loại khí được sản sinh trong quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trong môi trường yếm khí, trong đó, thành phần chủ yếu là khí mê-tan. Biogas đốt cháy sinh ra nhiệt lượng cao. công trình “Sản xuất Biogas bằng công nghệ lên men kỵ khí” thì đốt cháy 1m3 Biogas có thể thu được nhiệt lượng từ 5.200 – 5.800 kCal. Do đó, chúng ta có thể sử dụng Biogas thay thế các chất đốt truyền thống như rơm rạ, than, dầu, điện… Ứng dụng công nghệ sản xuất khí sinh học sẽ mang lại cho con người nhiều lợi ích như: tạo nguồn năng lượng tái sinh rẻ và sạch; góp phần đáng kể trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường; tăng thu nhập cho các hộ gia đình thông qua việc giảm chi phí về nhu cầu chất đốt, đặc biệt là trong tình hình giá chất đốt đang gia tăng một cách chóng mặt như hiện nay; tạo nguồn phân bón hữu cơ vi sinh góp phần cải tạo đất trồng nâng cao năng suất cây trồng và nuôi cá trong hệ thống VAC gia đình; góp phần giảm sức lao động của phụ nữ trong công việc nội trợ. Với vốn đầu tư ban đầu ít, loại thể tích phù hợp nhất hiện nay chỉ hết 3,5 triệu đồng có độ bền sử dụng từ 20 –25 năm, một năm trung bình tiết kiệm được 1 triệu đồng tiền chất đốt. Như vậy, giá trị thu được từ khí gas sinh học gấp khoảng 7 lần vốn đầu tư ban đầu. Bã thải sinh học là nguồn phân bón sạch, có giá trị dinh dưỡng cao cho cây trồng và nuôi thuỷ sản, nếu xử lý và chế biến tốt, nó còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc gia cầm, cá nuôi ít bị bệnh và không bị chết như bón phân tươi. Công nghệ khí sinh học góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, thúc đẩy chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, có hiệu quả theo mô hình kinh tế V.A.C.B (Vườn – Ao – Chuồng – Biogas), chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Giải quyết một phần chất đốt và nguyên liệu phục vụ sinh hoạt đời sống, bảo vệ môi sinh, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn văn minh, sạch đẹp, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nông dân.

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    KẾT LUẬN

    Việc sản xuất nông sản ở ĐBSCL có quá nhiều bất cập từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Nông dân không chỉ sản xuất mà phải tự tiêu thụ hàng hóa mà mình làm ra.

    Nông dân còn luôn trong vòng luẩn quẩn được mùa mất giá, được giá lại mất mùa

    Vùng chưa có những sản phẩm nông nghiệp bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng để có thể cạnh tranh với khu vực và thế giới trong xuất khẩu. Các vùng trồng lúa tuy nhiều, nhưng lúa đặc sản, chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu chưa phát triển; các vùng trồng cây chuyên canh, hàng hóa xuất khẩu… còn nhỏ và manh mún. Vì thế, hướng đi cho nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long là tập trung vào công nghệ sinh học, tạo ra các vùng chuyên canh sản phẩm hàng hóa đủ tiêu chuẩn, chất lượng và có khối lượng lớn, có sức cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

     

    KIẾN NGHỊ

    Sau khi nghiên cứu tình hình sản xuất cũng như tiêu thụ nông sản của vùng ĐBSCL nhóm chúng tôi có những kiến nghị mong có thể giúp nông sản vùng ĐBSCL phát triển bền vững và đời sống của người nông dân được cải thiện hơn.

    Giữ ổn định diện tích đất trồng lúa có điều kiện thuỷ lợi để thâm canh tăng năng suất; đưa vào trồng đại trà các giống lúa có chất lượng cao dành cho xuất khẩu. Phát triển mạnh trồng cây ăn quả, rau và hoa, cây cảnh ở những nơi có điều kiện, hình thành vùng chuyên canh cây ăn quả, hoa, cây cảnh có giá trị xuất khẩu.

    Chủ động đầu tư máy móc thiết bị của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo, người nông dân chú trọng hơn trong khâu chọn giống, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, hạn chế sử dụng thuốc hóa học…

    Xây dựng các nhà máy chế biến,  các ngành công nghiệp chế biến để chế biến nông sản.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Marketing-c%C4%83n-b%E1%BA%A3n-D%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-gia-s%C6%B0-T%C6%B0%C6%A1ng-Lai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xu hướng không ngừng đổi mới nền giáo dục như hiện nay thì chương trình học các cấp tại trường đang là nỗi lo của các bậc phụ huynh và các em học sinh, với khối lượng kiến thức quá nhiều mà lại không đảm bảo đủ thời gian học trên lớp, các em tiếp thu không kịp và phải tự học ở nhà để hiểu bài. Nhiều em học sinh đã bị “stress” nặng dẫn đến kết quả học tập không khả quan sau các kỳ kiểm tra và các đợt thi cuối kỳ. Nhưng việc tự học ở nhà không phải em nào cũng tự giác được vì các em đang ở tuổi ăn tuổi chơi,cuộc sống hiện đại lại có nhiều cám dỗ khiến các em không tập trung cho việc học. Ở trường học cũng mở nhiều lớp dạy thêm ngoài giờ nhưng lại đại trà không chất lượng, nhiều em chỉ đi học vì sợ thầy cô ghét hay đề thi thường ra chỗ mà thầy cô dạy thêm. Nhiều em còn lợi dụng giờ học thêm ngoài giờ để đi chơi,tụ tập bạn bè…. Trước tình hình này, các bậc làm cha mẹ cũng lâm vào tình trạng căng thẳng không kém vì vừa phải lo công việc mưu sinh vừa phải quan tâm, theo dõi quá trình học tập của con em mình. Theo xu hướng phụ huynh đã dần tìm đến các trung tâm gia sư uy tín, chất lượng với mong muốn tìm được những gia sư giỏi chuyên môn, tận tình với nghiệp giảng dạy để hỗ trợ phụ huynh theo dõi quá trình học tập của học sinh và giúp đỡ các em cải thiện trình độ học vấn, mở mang kiến thức toàn diện.

    Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI ra đời với sứ mệnh “ Cung cấp dịch vụ gia sư đa dạng với ba kết hợp hàng đầu là chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp sẽ đem lại sự hài lòng cho bạn khi đến với dịch vụ của chúng tôi. “

    Viễn cảnh mà chúng tôi đem đến: “ Trong tương lai, Trung tâm chúng tôi sẽ là địa chỉ đáng tin cậy, là người bạn đồng hành tốt nhất của các bạn trên chặng đường chinh phục tri thức. “

    Điều gì để chúng tôi có thể khẳng định điều đó, tất cả là nhờ đội ngũ gia sư giỏi uy tín là các giáo viên, sinh viên được chúng tôi tuyển chọn, đó là đội ngũ giàu kinh nghiệm và nhiệt tình để giúp các bạn học sinh yếu củng cố kiến thức căn bản, đồng thời các học sinh khá giỏi có điều kiện để nâng cao trình độ. Trung tâm gia sư chúng tôi cam kết cung cấp nguồn gia sư trình độ chuyên môn cao, đáp ứng mọi nhu cầu học tập của học sinh các cấp trên khắp các quận, huyện trong địa bàn thành phố Đà Nẵng.

    Với sứ mệnh của mình, là nơi cung cấp dịch vụ gia sư và giảng dạy tại Trung tâm theo ba tiêu chí kết hợp “chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp”  chúng tôi sẽ đem đến sự hài lòng cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi.

     

     

     

     

     

     I. PHÂN ĐOẠN VÀ ĐỊNH VỊ THỊ TRƯỜNG:

     1. Phân đoạn thị trường:

    Cũng như các doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh, việc phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu là khâu quan trọng đối với Trung tâm gia sư của chúng tôi. Việc phân đoạn thị trường là bước đầu tiên cơ bản trong quá trình làm marketing mục tiêu. Chúng tôi phân đoạn thị trường như sau:

    1.1, Phân đoạn thị trường theo yếu tố địa lí:

    Theo thống kê năm 2012 nước ta có tổng số 14747078 trong đó có7202767 học sinh tiểu học, 4869839 học sinh trung học cơ sở và 2674472 học sinh trung học phổ thông tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị nhất là ở địa bàn các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng , Tp Hồ Chí Minh …

    Ở nông thôn số lượng học sinh ,thu nhập của người dân tương đối thấp hơn so với khu vực thành thị, chủ yếu các em học ở trường và đi học thêm đại trà.

    Trung tâm gia sư Tương Lai chúng tôi tập trung vào khai thác thị trường ở khu vực thành thị đặc biệt là ở các thành phố lớn như Đà Nẵng, Hà Nội, Hồ Chí Minh. Trong đó chúng tôi chọn thị trường trọng điểm là thành phố Đà Nẵng – trụ sở chính của trung tâm.

    1.2,  Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học:

    • Theo lứa tuổi: Ở nước ta theo như nghiên cứu thì có hơn 86% phụ huynh bắt con em mình phải đi học thêm vì nhiều lí do khác nhau. Số lượng học sinh đi học thêm rất nhiều. Chúng tôi phân ra thành các đoạn thị trường: bậc Tiểu học (từ 6-12 tuổi) , bậc Trung học cơ sở (từ 13-15 tuổi), bậc Trung học phổ thông (từ16-18 tuổi) và đoạn thị trường dành cho các sĩ tử ôn thi Đại học và Cao đẳng.
    • Theo thu nhập: Việt Nam là 1 nước đang phát triển có thu nhập bình quân trên đầu người thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Những người có thu nhập khá và ổn định là đoạn thị trường mà trung tâm chúng tôi chú trọng. Hầu hết những người trong đoạn thị trường này đều tất bật với công việc công sở ít có thời gian để dạy con học nhưng họ lại rất quan tâm đến kết quả học tập và chất lượng của con em mình. Họ sẵn sàng đầu tư để đem lại kết quả tốt nhất do đó nhu cầu thuê gia sư của họ sẽ thường xuyên hơn.

    1.3, Phân đoạn theo tâm lí:

    Các bậc phụ huynh khi có nhu cầu tìm gia sư cho con mình đều có tâm lí thích người ở cùng nơi sinh sống với mình, có giọng nói dễ nghe, khả năng sư phạm khá tốt và kiến thức vững để có thể hỗ trợ con họ một cách tốt nhất. Và họ thường tìm đến những Trung tâm gia sư có uy tín cao, lâu năm , độ tin cậy lớn. Trong nội thành Đà Nẵng vốn có rất nhiều trung tâm gia sư nhưng trong số đó cũng có không ít những trung tâm giả mạo hoạt động vì tiền mà chất lượng kém, hay xuất hiện những trung tâm lừa đảo sinh viên lấy phí.  Trung tâm gia sư Tương Lai chúng tôi luôn đảm bảo ưu tiên chất lượng giảng dạy là hàng đầu, với tiêu chí uy tín và chuyên nghiệp sẽ luôn đem lại cảm giác an toàn cho khách hàng đến với dịch vụ của Trung tâm.

    Hầu hết các em học sinh thích gia sư tại nhà vì theo tâm lí học sinh nào có gia sư chứng tỏ gia đình có tiền,các em sẽ được thoải mái hỏi những điều mà mình chưa biết hoặc đưa ra ý kiến của mình mà không sợ bạn bè chê cười.

    1.4, Phân đoạn theo hành vi:

    • Lí do tìm đến dịch vụ gia sư: trước tình hình học quá tải của con cái, chất lượng học ngày càng không khả quan các bậc làm cha mẹ cũng lâm vào tình trạng căng thẳng không kém vì vừa phải lo công việc mưu sinh vừa phải quan tâm, theo dõi quá trình học tập của con em mình. Theo xu hướng thời đại, phụ huynh đã dần tìm đến các trung tâm gia sư uy tín, chất lượng với mong muốn tìm được những gia sư giỏi chuyên môn có thể theo dõi và hỗ trợ cho con em họ học tập tố hơn.
    • Lợi ích tìm kiếm: các bậc phụ huynh muốn tìm các gia sư giỏi chuyên môn, tận tình với nghiệp giảng dạy để hỗ trợ phụ huynh theo dõi quá trình học tập của con mình và giúp đỡ các em cải thiện trình độ học vấn, mở mang kiến thức toàn diện. Nhiều nghiên cứu cho biết các em khi học gia sư ở nhà có kết quả khả quan hơn khi học thêm ở ngoài, các em tự tin nói những điều mình chưa biết để khắc phục chứ không như học ở bên ngoài sợ bạn bè chê cười.

    2. Đánh giá các đoạn thị trường:

    Qua sự phân đoạn thị trường như trên,chúng tôi thấy đó đều là những đoạn thị trường hấp dẫn có khả năng phát triển tốt trong tương lai.

    Đoạn thị trường bậc Tiểu học : Đoạn này có quy mô không lớn, các em ở độ tuổi này còn nhỏ cần sự quan tâm từ cha mẹ nhiều, họ sát sao theo dõi và dạy dỗ con họ từng ngày. Mức tăng trưởng cũng không cao và sức hấp dẫn không nhiều. Nhu cầu tìm gia sư ở đoạn này thường ít, mục tiêu của trung tâm chủ yếu là các nhà có điều kiện và tập trung ở các em 10-12 tuổi.

    Đoạn thị trường bậc Trung học cơ sở: Quy mô ở đoạn này khá hơn đoạn 1, các em bắt đầu học nhiều môn hơn, khối kiến thức rộng và khó hơn. Mức tăng trưởng của đoạn thị trường này rất hứa hẹn vì giai đoạn này nhu cầu học thêm cao nhất là các em 15 tuổi cuối cấp phải thi lên lớp 10. Trường cấp 3 giờ rất phân loại phải học tốt và thi tốt thì mới vào được những trường danh tiếng có chất lượng cao nên nhu cầu tìm gia sư rất nhiều đối với đoạn thị trường này.

    Đoạn thị trường bậc Trung học phổ thông: Quy mô đoạn thị trường này khá lớn, vì là ba năm cuối cấp nên các em cần phải đặt nền tảng cho mình ngay từ khi bước vào lớp 10 và định hướng cho tương lai nên thi vào trường Đại học, Cao đẳng nào, khối nào, ngành gì. Giai đoạn này các bậc phụ huynh cũng rất lo lắng, công việc tất bật con em họ đang ở tuổi dậy thì tuổi ăn tuổi chơi nên cần phải được theo dõi. Nhiều em giai đoạn này lơ là việc học, lợi dụng việc học thêm để đi chơi. Nhu cầu tìm gia sư cũng rất cao,nhất là những gia sư uy tín chất lượng.

    Đoạn thị trường ôn thi Đại học, Cao đẳng: Đây là đoạn thị trường tiềm năng khi kì thi này là bước ngoặt đối với mỗi sĩ tử. Nhu cầu cao và mục đích của khách hàng hàng đầu chính là chất lượng giảng dạy và chương trình giảng dạy được khách hàng rất quan tâm khi lựa chọn tại các trung tâm.

    3. Lựa chọn thị trường mục tiêu:

    Qua các đánh giá trên chúng tôi nhận thấy đoạn thị trường bậc Trung học cơ sở, bậc Trung học phổ thông và đoạn thị trường ôn thi Đại học, Cao đẳng là các đoạn thị trường nhiều tiềm năng nhất , đó là đoạn thị trường của các em học sinh cấp 2, cấp 3 và một phần nhỏ bộ phận ôn thi lại Đại học, Cao đẳng. Đây cũng là thị trường mục tiêu mà Trung tâm chúng tôi lựa chọn để phục vụ. Khách hàng ở đoạn này có nhu cầu lớn, Trung tâm chúng tôi có thể đáp ứng tốt nhu cầu của các khách hàng nằm trên những đoạn thị trường này, ưu thế nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh, bên cạnh đó trung tâm sẽ có những dịch vụ mới lạ và đa dạng phục vụ tận tình hơn với quý khách hàng. Chúng tôi lấy phương châm “ uy tín hàng đầu chất lượng là cốt lõi ”, cam kết đem lại chất lượng tốt nhất mà quý vị phụ huynh mong đợi.

    4. Định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu :

    Có thể thấy định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu là một bước chiến lược chung nhất cho phối chương tình marketing. Những chiến lược mà Trung tâm gia sư chúng tôi sẽ áp dụng trong hoạt động:

          4.1, Tạo hình ảnh cụ thể cho sản phẩm, thương hiệu trong tâm trí khách hàng ở thị trường mục tiêu:

    Hình ảnh trong tâm trí khách hàng là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá của khách hàng về doanh nghiệp và sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng .Nó là một tập hợp các ấn tượng cảm giác và khái niệm khách hàng có được về sản phẩm và thương hiệu đó.Hình ảnh của trung tâm của chúng tôi đucợ hình thành dựa trên:

    Sự thiết kế và truyền bá những hình ảnh mà trung tâm đã lựa chọn: Trung tâm gia sư chúng tôi hướng đến hình ảnh một trung tâm với chất lượng tốt nhất, phong cách làm việc chuyên nghiệp nhất và tạo được lòng tin, sự uy tín trong các bậc phụ huynh và các em học sinh với các dịch vụ tiện ích,hỗ trợ tốt nhất mà chỉ Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI có. Một hình ảnh thân thiện, gần gũi và là người bạn đồng hành đáng tin cậy của các bạn học sinh. Chúng tôi thiết kế các kênh thông tin trên mạng cung cấp rất đầy đủ thông tin và những dịch vụ mà quý vị phụ huynh cần. Chúng tôi thiết lập các đường dây nóng để sẵn sàng hỗ trợ ,tư vấn cho quý vị mọi lúc và sẽ có một bộ phận phụ trách tại của trung tâm có nhiệm vụ đến tận nhà của quý vị để khảo sát tình hình hiện tại của các em nếu nhận được yêu cầu từ khách hàng để có thể khảo sát được chất lượng hiện tại của các em và đưa ra được phương pháp giảng dạy phù hợp. Chúng tôi đảm bảo sẽ đem đến cho khách hàng sự phục vụ tận tình và chu đáo nhất với dịch vụ của mình.

    4.2, Lựa chọn vị thế của sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu:

    Nếu chỉ dừng lại ở việc xây dựng hình ảnh cụ thể cho sản phẩm thương hiệu thì một sản phẩm dịch vụ ,thương hiệu không thể tồn tại và đứng vững lâu dài. Công việc của một chiến lược định vị không chỉ dừng lại ở việc tạo dựng được một hình ảnh mà còn phải lựa chọn cho hình ảnh đó một vị thế trên thị trường mục tiêu .Vị thế đó do khách hàng nhìn nhận và hình thành thái độ như thế nào khi khách hàng tiếp cận với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

    Khi mới thành lập thì Trung tâm sẽ gặp phải các đối thủ cạnh tranh lớn đặc biệt là trung tâm gia sư TRÍ VIỆT. TRÍ VIỆT đã xâm nhập thị trường dich vụ gia sư khá lâu với nhiều kinh nghiệm và được mệnh danh là trung tâm gia sư số 1 tại Đà Nẵng: có đội ngũ giáo viên chất lượng,  trình tuyển chọn giáo viên kỹ lưỡng và các chương trình học tập hiệu quả….Khi xâm nhập vào thị trường dich vụ này, để tồn tại và phát triển Trung tâm chúng tôi có những chiến lược cạnh tranh trực tiếp những sản phẩm dịch vụ có ưu điểm tốt hơn và sẽ có khai thác những đoạn thị trường mà trung tâm gia sư TRÍ VIỆT chưa sở  hữu. Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI cần xây dựng một hình ảnh mới mẻ hơn và nhiều dịch vụ hữu ích hơn, tập trung chú trong tới chất lượng dịch vụ để từng bước xây dựng cho mình một vị thế vững chắc trên thị trường dịch vụ gia sư Đà Nẵng.

    4.3, Tạo được sự khác biệt cho thương hiệu dịch vụ:

    4.3.1, Tạo điểm khác biệt cho dịch vụ:

    Trung tâm chúng tôi xây dựng các dịch vụ nhằm phục vụ quý vị phụ huynh và em học sinh một cách tận tình nhất ngoài chất lượng giảng dạy luôn được đảm bảo.

    • Quản lý điểm số, đánh giá chất lượng học tập của học sinh, có “ Bảng Tổng Kết Tình Hình Giảng Dạy ” trong từng tháng, đảm bảo về thông tin và chất lượng giảng dạy của gia sư.
    • Khi gia sư giảng dạy không đạt hiệu quả mong muốn, khách hàng có quyền yêu cầu trung tâm  đổi gia sư (miễn phí).
    • Chúng tôi hàng kì sẽ có những đợt kiểm tra, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh, nhằm đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên và sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình học tập tại trung tâm.
    • Khách hàng có quyền yêu cầu trung tâm gia sư TƯƠNG LAI  cung cấp tài liệu học tập và các đề thi từ  thư viện trực tuyến của trung tâm.
    • Đặc biệt trung tâm sẽ cung cấp tài liệu và đề thi và các công cụ hỗ trợ tốt nhất cho các em cuối cấp sắp thi đại học.
    • Ngoài ra trung tâm còn tổ chức các lớp học trực tuyến qua mạng để có thể tiết kiệm thời gian và chi phí hơn cho các em và có thể mở rộng phạm vị cung cấp dịch vụ ra các tỉnh lân cận.

    4.3.2, Tạo điểm khác biệt về nhân sự:

    Chúng tôi luôn cam kết đáp ứng mọi nhu cầu về chất lượng dạy và học, cũng như mọi mong muốn của quí phụ huynh – học sinh. Chúng tôi đặt trọng tâm vào chất lượng dạy và học, điểu này sẽ tạo nên thương hiệu của Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI .Và để đạt được điều đó ban Quản lý trung tâm phải quan tâm tới chất lượng phục vụ là trên hết. Một khi dạy tốt, học sinh tiến bộ sẽ tạo dựng được niềm tin trong lòng người học và nâng cao uy tín của trung tâm.

    Chúng tôi luôn cung ứng gia sư là các giáo viên và sinh viên tốt, nhiều kinh nghiệm, luyện thi vào các trường chuyên, các trường Đại học danh tiếng với điểm đầu vào khắt khe. Quy trình tuyển chọn giảng viên chúng tôi  rất chú ý. Chọn những giáo viên giỏi có nhiều kinh nghiêm trong giảng dạy và những sinh viên có kết quả cao trong các kì thi đại học ở các trường công lập. Đầu vào sinh viên trung tâm chúng tôi sẽ có các bài kiểm tra để thử năng lực của các bạn trước khi đuợc nhận chính thức vào Trung tâm chúng tôi.

    Ngoài ra chúng tôi còn có mời các giáo sư có tiếng trong giảng dạy về tập huấn trao đổi với đội ngũ gia sư của trung tâm để trau dồi và mở những buổi thảo luận nhằm giúp đội ngũ giảng dạy của Trung tâm nâng cao được nghiệp vụ nhằm tìm ra được những phương hướng giảng dạy tốt nhất.

    Đội ngũ giảng viên được bố trí theo đúng công việc và nhiệm vụ và được trang bị những công cụ hỗ trợ tốt nhất để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Trung  tâm còn bố trí các tư vấn viên và đội ngũ giáo viên để tư vấn mọi thắc mắc và khảo sát tình hình hiện tại của các em học sinh để tìm ra phương pháp dạy và họ tốt nhất.

    Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI phân công Điều hành viên, chuyên trách thực hiện hoạt động chăm sóc khách hàng, đại diện cho trung tâm làm việc với khách hàng về các vấn đề: tài chính, chất lượng học và giảng dạy của học sinh và gia sư. Bộ phận nhân viên tư vấn trong Trung tâm được đào tạo làm việc một cách chuyên nghiệp sẽ phục vụ khách hàng với thái độ thân thiện, niềm nở nhất. Sẽ giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng về dịch vụ của trung tâm cũng như mọi thắc mắc liên quan đến học phí và thời gian gảng dạy.

    4.3.3, Tạo sự khác biệt về hình ảnh:

    Khi các sản phẩm và dịch vụ giống nhau thì khách hàng vẫn có phản ứng khác nhau với hình ảnh của doanh nghiệp hay thương hiệu. Công cụ để tạo ra hình ảnh và đặc điểm nhận dạng bao gồm logo, tên gọi, biểu tượng…

    Chúng tôi thiết lập ra một trang web riêng của trung tâm trên đó có ghi đầy đủ thông tin về trung tâm như đội ngũ gia sư ,các lớp dạy, phần dành cho ý kiến phản hồi của phụ huynh, diễn đàn xoay quanh vấn đề học tập….Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức các lớp học trực tuyến qua mạng để tiết kiệm thời gian và chi phí do đó giá thành sẽ rẻ hơn. Hình ảnh chính mà trung tâm tạo dựng là sự uy tín và chất lượng cốt lõi,cam kết đem lại kết quả mà quý vị mong đợi.

    II. CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM:

    2.1, Các cấp độ dịch vụ:

    Dịch vụ Trung tâm tương tự như một sản phẩm cũng có ba cấp độ cấu thành:

    • Lớp lợi ích: Chính là giá trị cốt lõi của dịch vụ mà trung tâm cung cấp. Dịch vụ gia sư do trung tâm chúng tôi cung cấp đảm bảo chất lượng tốt.  Với đội ngũ giáo viên và sinh viên chất lượng đuợc tuyển chọn đầu vào, khách hàng có thể yên tâm về chất lượng chuyên môn cũng như thái độ phục vụ của chúng tôi.
    • Lớp vật chất: Ngoài chất lượng chuyên môn giảng dạy tốt, trung tâm chúng tôi còn có được sự hợp tác và tư vấn bởi nhiều giáo sư có tiếng tăm. Ngoài ra đội ngũ giảng dạy của chúng tôi còn có những gương mặt tiêu biểu giáo viên dạy giỏi, đối với sinh viên, chúng tôi tổ chức những đợt kiểm tra kiến thức đầu vào để tuyển chọn chất lượng, cũng như được hướng dẫn nghiệp vụ sư phạm giảng dạy. Đây chính là tiềm năng về chuyên môn mà chúng tôi thu hút cũng như có được. Trung tâm chúng tôi có website riêng thường xuyên cập nhật những tin tức giảng dạy, kết quả giảng dạy cũng như những ưu đãi được thông báo tới toàn bộ khách hàng.
    • Lớp tăng thêm: Đối với những đợt lớp học mới, trung tâm chúng tôi có thêm những khuyến mãi giá trị hấp dẫn đối với các khách hàng. Tùy theo từng đợt, có thể đó sẽ là việc khách hàng được tặng phiếu giảm mức học phí; khách hàng được tư vấn miễn phí và được sử dụng vụ thử nghiệm mà nếu không vừa lòng có thể ngưng khóa học và không mất phí.. Ngoài ra nếu có kết quả tốt trong học tập (đối với khóa học tại trung tâm), chúng tôi sẽ có những món quà thú vị dành tặng các bạn học sinh như những chuyến du lịch ngắn ngày hay vé xem phim và vé dự các hội thảo về nâng cao kĩ năng mềm hấp dẫn.

    Đây chính là những nét khác biệt về sản phẩm dịch vụ mà trung tâm chúng tôi tạo ra để có thể cạnh tranh và vượt trội trên thị trường.

    2.2,  Phân loại dịch vụ tại trung tâm:

    Dịch vụ trung tâm chúng tôi cung  cấp được phân loại theo hai loại chính :

    • Đối với dịch vụ môi giới gia sư dành cho các cấp Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông : Trung tâm chúng tôi tuyển chọn những bạn sinh viên giỏi và giao những suất dạy phù hợp với yêu cầu của các bạn với mức phí giao nhận nhất định do trung tâm quy định trước. Nhưng trong quá trình giảng dạy vẫn có sự theo dõi của trung tâm về khóa dạy của các bạn để kịp thời xử lý những yêu cầu của hai bên.
    • Đối với dịch vụ dạy học tại Trung tâm: chúng tôi có mở các lớp ôn thi Đại học, cao đẳng ngay tại trung tâm. Có những khóa học ôn thi Đại học, Cao Đẳng các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Anh, Văn, Địa Lý, Lịch Sử cùng đội ngũ giáo viên giỏi và được tuyển chọn sẽ phục vụ việc giảng dạy tốt nhất.

     

    2.3,  Các quyết định về dịch vụ tại trung tâm :

    Quyết định về dịch vụ đơn lẻ:

    *  Đặc tính dịch vụ

    – Chất lượng dịch vụ: chúng tôi cam kết đem đến chất lượng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng với phong cách làm việc uy tín và chuyên nghiệp nhất theo tiêu chí 3 kết hợp: “chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp”.

    – Tính năng:  Cung cấp nguồn chất lượng gia sư tốt nhất, là địa chỉ đáng tin cậy để gửi gắm con em vào việc ôn thi Đại học và Cao đẳng.

    **  Quyết định về thương hiệu:

    • Biển hiệu và địa chỉ rõ ràng.
    • Nơi uy tín phải là nơi công khai mọi người đều biết đến và có thể tìm tới gặp trực tiếp chứ không phải là một trung tâm địa chỉ lập lờ.
    • Thông tin trên website trung thực.
    • Thông tin gia sư trung thực đầy đủ.
    • Website thiết kế uy tín.
    • Phong cách làm việc chuyên nghiệp.
    • Các sinh viên và giáo viên của trung tâm phải mang thẻ do trung tâm cấp khi đi dạy .
    • Tổ chức tặng quà cho các đầu năm cho 1 số khách hàng than thiết.
    • Ghi nhận các phản ảnh và ý kiến của các học sinh cũng như sinh viên của trung tâm từ đó thay đổi để hoàn thiện.

    ***  Nhãn hiệu:

    Logo của Trung tâm :

    (hình ảnh)

      2.4, Các quyết định về hệ hàng:

    *  Hệ hàng: Nhận thấy để tận dụng những nguồn lực dồi dào từ các đoạn thị trường còn lại, trung tâm chúng tôi có mở thêm nhiều dịch vụ tiện ích phục vụ khách hàng như:

    – Dịch vụ luyện chữ đẹp: ngoài dịch vụ gia sư cho các em từ bậc tiểu học tới trung học phổ thông, chúng tôi có thêm dịch vụ luyện viết chữ đẹp tại trung tâm dành cho các em tiểu học lớp 1,2,3 cho nhu cầu.

    – Dịch vụ dạy thiết kế đồ họa: đối với những ai yêu thích đồ họa, trung tâm sẽ có liên kết mở lớp dạy đồ họa.

    – Dịch vụ dạy Tiếng anh bao gồm: Tiếng anh giao tiếp, tiếng anh chuyên ngành  hướng đến các bạn sinh viên và những người đang đi làm cho nhu cầu. Tiếng anh thiếu nhi cho các bé mới bắt đầu với môn Tiếng anh.

    **  Các quyết định về hệ hàng:

    Quyết định về chiều dài mặt hàng:

    Trung tâm sẽ phát triển các hệ hàng bằng cách kết hợp giữa phát triển hướng xuống dưới và hướng lên trên. Các dịch vụ sẽ được phục với mức giá thấp hơn như dịch vụ dạy kèm một buổi theo yêu cầu, gia sư giá rẻ hướng đến những khách hàng không có điều kiện cao. Bên cạnh đó là nâng cao và phát triển thêm một số dịch vụ với mức giá cao hơn nhưng chất lượng cũng đuợc nâng lên trông thấy. Những bước đi này sẽ tiếp cận được tới từng yêu cầu cụ thể của khách hàng và đem lại sự hài lòng về dịch vụ đến cho họ.

    Quyết định tạo đặc trưng của hệ hàng:

    Các dịch vụ gia sư như dạy một buổi nhận tiền ngay (dành cho những học sinh không có điều kiện học thêm muốn chuẩn hóa lại kiến thức để phục vụ thi cử); thường xuyên tổ chức các buổi gặp mặt trao đổi kiến thức và kinh nghiệm cho gia sư và học sinh; gia sư dạy thêm qua skype giá rẻ (dành cho các bộ môn ngoại ngữ). Với những dịch vụ mới lạ này nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho gia sư và học sinh chắc chắn trung tâm sẽ tạo được vị thế của mình đối với khách hàng.

    Quyết định hiện đại hóa mặt hàng:

    Trao đổi tài liệu và giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng một cách nhanh nhất qua internet sẽ là bước đi mà chúng tôi cần phải quan tâm đúng mức.  Điều này sẽ tạo ra sự bứt tốc đối với các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó Trung tâm sẽ cố gắng tổ chức các chương trình bổ trợ miễn phí về kĩ năng mềm và kĩ năng vi tính cho khách hàng. Trên wesite của Trung tâm chúng tôi có mục đón nhận ý kiến từ khách hàng, chúng tôi sẽ có những phần quà xứng đáng cho những khách hàng gửi những lời đóng góp ý kiến đúng đắn, xác thực về chất lượng cũng như hoạt động của Trung tâm. Đây là những bước đi mang tầm chiến lược của Trung tâm, điều này giúp các khách hàng cảm thấy được quan trọng và hơn nữa những góp ý chuẩn xác sẽ giúp trung tâm cải thiện những mặt còn yếu kém và đẩy mạnh chất lượng cũng như tốc độ phát triển của Trung tâm. Điều này sẽ là một điểm khác biệt rất mới của Trung tâm chúng tôi.

    2.5,  Kế hoạch chu kỳ sống của sản phẩm:

    Bất kì sản phẩm nào cũng phải trải qua một chu kì sống với đầy đủ các giai đoạn  giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. Ở mỗi giai đoạn công ty phải có những chiến lược khác nhau để đứng vững trên thương trường. Với sản phẩm là dịch vụ gia sư chúng tôi có những kế hoạch về chu kì sống như sau:

    * Giai đoạn giới thiệu:

    Ở giai đoạn này với việc  đưa mới sản phẩm vào thị trường, trung tâm sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với khách hàng. Dịch vụ  gia sư là một sản phẩm rất phổ biến trên địa bàn Đà Nẵng, chính vì vậy để chứng tỏ thương hiệu với khách hàng về trung tâm không phải là một điều đơn giản. Trong giai đoạn đầu tiên ra mắt, trung tâm sẽ đầu tư tập trung vào những dịch vụ trọng tâm của mình là môi giới gia sư và ôn luyện thi ĐH – CĐ, chấp nhận đầu tư  vào các khâu marketing cho sản phẩm như tăng cường quảng cáo, tập trung vào nhóm khách hàng mục tiêu, thực hiện chiến lược xâm nhập chớp nhoáng bằng cách khởi đầu đưa ra một mức giá thấp so với mặt bằng chung của thị trường nhằm thu hút đối với khách hàng,  ngoài ra mức phí môi giới sinh viên gia sư cho trung tâm cũng  thấp khoảng từ 15% – 20%  khoản phí nhận suất. Tập trung vào nhóm khách hàng tiềm năng với dịch vụ là học sinh từ C1- C3, các sĩ tử đang ôn luyện thi.  Mở rộng quảng bá bằng tờ rơi, truyền đơn, qua internet và áp dụng nhiều ưu đãi với những khách hàng ban đầu. Với chiến lược marketing này trung tâm kêt hợp với khả năng và chất lượng dịch vụ của mình chắc chắn sẽ dễ dàng chiếm được thiện cảm của khách hàng và bước đầu tạo được vị thế của mình.

    ** Giai đoạn phát triển:

    Mức tiêu thụ của dịch vụ bắt đầu tăng nhanh, lợi nhuận trong giai đoạn này của trung tâm sẽ bắt đầu tăng.  Đây là giai đoạn quan trọng nhất và để duy trì và phát triển một cách bền vững trung tâm sẽ tiếp tục mở rộng xúc tiến cổ động và tăng cường quảng cáo thông tin mạnh mẽ tới công chúng. Ngoài ra áp dụng thay đổi chính sách khuyến mãi như việc đăng kí học theo từng nhóm 5 người sẽ được giảm giá khóa học tại trung tâm. Tăng chi phí cho khoản mục kích thích tiêu thụ. Bên cạnh đó sẽ dần tăng mức phí và giá theo thị trường ở đợt mở lớp  sau. Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về dịch vụ và xâm nhập ra những vùng thị trường mới để mở rộng địa bàn trên thành phố Đà Nẵng. Sẽ cố gắng kéo dài giai đoạn này càng dài càng tốt.

    *** Giai đoạn bão hòa:

    Đến lúc này tốc độ  tiêu thụ dịch vụ của trung tâm sẽ có dấu hiệu bị chững lại. Lý do là bởi dịch vụ của trung tâm bắt đầu đã tràn ngập trên các kênh lưu thông và hàm chứa có một sự canh tranh gắt gao của các đối thủ trên thị trường. Để tiếp tục duy trì trung tâm  thực hiện những biện pháp cải biến thị trường, cải biến sản phẩm, tăng cường công tác quảng cáo, đưa ra cách chọn lọc mới để chất lượng gia sư được tốt, thực hiện chế độ đãi ngộ tốt hơn đối với gia sư,  sẽ có nhưng món quà mang ý nghĩa tinh thần dành cho gia sư nếu kết quả học tập của lớp được cải thiện. Đối với khách hàng, nếu có kết quả học tập tốt dựa theo bảng điểm thi đua của trung tâm cũng sẽ nhận được những phần thưởng như : vé xem film cuối tuần, vé dự buổi thảo luận về kĩ năng mềm, những buổi hội thảo về phương pháp học tốt… Ngoài ra trung tâm sẽ tích cực tìm kiếm thêm thị trường mới trên địa bàn Đà Nẵng. Tìm kiếm thị trường mới như môi trường giáo dục mầm non sẽ là cánh cửa mới lúc này với việc dạy cho bé biết chữ, luyện chữ đẹp..

    **** Giai đoạn suy thoái:

    Giai đoạn này xuất hiện khi mức tiêu thụ dịch vụ của trung tâm bắt đầu giảm sút. Do sự canh tranh gay gắt của các trung tâm khác trên địa bàn Đà Nẵng và thị hiếu của khách hàng đã thay đổi, khách hàng bị hấp dẫn bởi những chính sách và dịch vụ của những đối thủ cạnh tranh. Để giải quyết khó khăn trong giai đoạn này trung tâm sẽ dự định thực hiện các biện pháp sau: rút gọn thị trường cung ứng dịch vụ môi giới gia sư đối những thị trường không hiệu quả về mặt lợi nhuận, thu hẹp phạm vi môi giới tập trung vào những phân đoạn lứa tuổi dễ đem lại lợi nhuận cho trung tâm, từ bỏ thị trường nhỏ, cắt giảm chi phí khuyến khích đồng thời hạ giá nhiều hơn. Ngoài ra còn có thêm những chính sách ưu đãi đối với những khách hàng than quen của trung tâm. Trung tâm cần quan sát cụ thể từng chuyển biến mới của dịch vụ để kịp thời điều chỉnh tránh để gây ra những thiệt hại về uy tín cũng như doanh thu trong giai đoạn này.

    III. CHÍNH SÁCH ĐỊNH GIÁ

     

    3.1, Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá là:

    3.1.1, Môi trường bên trong:

    a, Định vị sản phẩm và mục tiêu marketing, marketing mix:

    Trung tâm chúng tôi hoạt động lấy chất lượng và uy tín làm gốc.

    Vì vậy với các mục tiêu marketing, giá cả của trung tâm cũng sẽ có những điều chỉnh thay đổi nhất định.

    Việc ra các quyết định về giá cần phải có sự phối hợp với các chữ P khác theo sơ đồ:

    Chiến lược định vị -> Lựa chọn 4Ps -> Quyết định về giá.

    Giá và các chiến lược marketing mix đưa ra phải có sự hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện chiến lược định vị và mục tiêu marketing đã chọn. Cụ thể:

    – Mục tiêu xây dựng thị phần: để xây dựng thị phần tốt thì trung tâm sẽ xây dựng mức giá thấp và có khả năng cạnh tranh lớn nhất với thị trường.

    –  Mục tiêu chất lượng cao: Trung tâm  ấn đinh mức giá cao so với thị trường  nhưng đổi lại khách hàng sẽ nhận được những gói dịch vụ chất lượng nhất. Cặp quan hệ chất lượng – giá cả sẽ gây ảnh hưởng tới sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng cao mà dịch vụ mang lại.

    –  Mục tiêu đảm bảo sống sót:  định giá đủ để cầm cự, trang trải kinh phí duy trì hoạt động của doanh nghiệp và chờ cơ hội mới.

    b, Chi phí:

    Khoảng cách giữa giá và chi phí là lợi nhuận. Một đồng chi phí tăng thêm là một đồng lợi nhuận giảm xuống khi mức giá bán được ấn định.

    Kiếm soát được chi phí sẽ giúp trung tâm giành thế chủ động trong việc thay đổi giá thành được lợi thế cạnh tranh tránh mạo hiểm.

    c, Đặc điểm Doanh nghiệp:

    Nó được biểu hiện thông qua mục tiêu của chính sách giá đặt ra, khả năng về kỹ thuật, tài chính, tiếp thị và về Marketing của doanh nghiệp. Những ràng buộc về mục tiêu chính sách giá đòi hỏi giá bán sản phẩm của trung tâm  phải đảm bảo những mục tiêu đề ra về khối lượng, lợi nhuận… nhưng vẫn phải bù đắp những chi phí bỏ ra.

    3.1.2, Môi trường bên ngoài:

    • Chủ yếu là đặc điểm của thị trường và nhu cầu của khách hàng.
    • Thị trường gia sư ở nước ta ngày càng nở rộ,nhất là ở các thành phố lớn.vì vậy sẽ có rất nhiều khách hàng tiềm năng.
    • Nhu cầu khách hàng về gia sư rất lớn,vì nhà nhà đều muốn con mình giỏi hết nên việc đưa ra 1 mức giá hợp lí để tạo sư tin tưởng ở khách hàng.
    • Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lí,nhận biết khách hàng về giá mà sản phẩm mình đang quảng bá:
    • Khách hàng sẽ so sánh vs mức giá của các đối thủ cạnh tranh.
    • Khách hàng sẽ chú ý đến những giá tâm lí,giá rẻ (dù ở đây các mức giá chênh lệch không bao nhiêu).
    • Giá của đổi thủ cạnh tranh và chiến lược maketing của họ cũng ảnh hưởng đến việc đinh giá của chúng ta.Một chiến lược đinh giá cao,thu lời cao thì sẽ thu hút sức cạnh tranh,còn chiến lức định giá thấp mức lời thấp thì sẽ làm nản đối thủ cạnh tranh.
    • Biết giá cả và chất lượng của đối thủ cạnh tranh để từ đó xác định chất lượng và mức giá hợp lí cần đưa ra để có khả năng cạnh tranh và đem lại lợi nhuận cho công ty.
    • Các yếu tố bên ngoài như giá xăng tăng, lạm phát hay suy thoái kinh tế đều có ảnh hưởng ít nhiều đến việc định giá sản phẩm.

    3.2, Các phương pháp xác định giá được trung tâm sử dụng.

    Có nhiều phương pháp định giá của sản phẩm như:

    • Định giá dựa vào chi phí
    • Định giá dựa vào khách hàng
    • Định giá vào đối thủ cạnh tranh.

    Công ty sử dụng phương pháp định giá theo chi phí và định giá theo đối thủ cạnh tranh.

    *  Xác định giá theo chỉ tiêu chi phí:

    Phương pháp định giá này chỉ áp dụng cho dịch vụ dạy tại trung tâm. Đối với dịch vụ môi giới gia sư, trung tâm áp dụng mức phí (%)  trên số tiền khách hàng sẵn sang chi trả cho suất dạy.

    Tổng chi phí cố định (FC):  là tổng chi phí đầu vào cố định, nó không thay đổi trong việc bán dịch vụ.

    Tổng chi phí biến đổi (AVC): là tổng chi phí đầu vào được biến đổi, nó thay đổi cùng với sản lượng.

    Tổng chi phí ( C ) =  Tổng chi phí cố định (FC)+ Tổng chi phí biến đổi(AVC)

    Giá thành sản phẩm được xác định theo CT:

    Giá thành đơn vị sản phẩm =  Tổng chi phí/Sản lượng.

    Sử dụng phương pháp định giá cộng vào chi phí:

    P = C+k.C

    Trong đó C: tổng chi phí , k: hệ số kê lời

    Trung tâm sử dụng phương pháp tính giá này để giảm thiểu sự cạnh tranh về giá, chi phí sản xuất có thể kiểm soát được và xác định được lợi nhuận thu về chắc chắn.

    **  Xác định giá theo đối thủ cạnh tranh:

    Ngoài sử dụng phương pháp định giá theo chi phí, tùy theo từng giai đoạn tồn tại của sản phẩm mà trung tâm có thể thay đổi cách định giá cho phù hợp và linh hoạt với điều kiện hiện tại. Đối với phương pháp này trung tâm áp dụng:

    – Áp dụng hình thức giá ngang bằng với giá sản phẩm cạnh tranh: áp dụng với các hệ hàng : dịch vụ dạy thiết kế đồ họa, dịch vụ luyện chữ đẹp.

    – Áp dụng hình thức giá cao hơn giá của sản phẩm cạnh tranh:  áp dụng với dịch vụ tiềm năng của trung tâm, có nét đặc biệt và hoàn toàn có nét vượt trội so với đối thủ cạnh tranh: dịch vụ ôn luyện thi ĐH, CĐ.

    – Áp dụng hình thức giá thấp hơn giá của sản phẩm cạnh tranh:  áp dụng với những khách hàng nhạy cảm về giá, trung tâm áp dụng với dịch vụ môi giới gia sư bằng cách thu mức phí thấp hơn so với mặt bằng chung của thị trường.

    3.3, Các chiến lược định giá.

    3.3.1, Định giá cho sản phẩm mới:

    Nhận thấy thị trường này khá nhạy cảm về giá nên trung tâm áp dụng chiến lượt định giá của  là “bám chắc thị trường” với mục đích nắm giữ thị phần lớn, lâu dài và có được lợi nhuận trong dài hạn.  Hình thức này ban đầu đưa sản phẩm mới vào với mức giá thấp nhằm thâm nhập thị trường, chiếm giữ thị phần. Trung tâm tiếp tục khai thác hiệu quả quy mô để giảm được chi phí dẫn đến giá giảm mà vẫn thu được khoản lợi mong muốn. Giá hạ không thu hút thêm đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.

    3.3.2, Định giá cho phối thức sản phẩm:

    Định giá hệ hàng

    Dịch vụ TG 1 khóa học Mức phí cả khóa học Ghi chú
    Luyện chữ đẹp 3 tháng 1.000.000đ  
    Dạy thiết kế đồ họa 5 tháng 1.500.000đ  
    Dạy Tiếng anh
    – TA giao tiếp
    – TA chuyên ngành
    – TA thiếu nhi
    9 tháng
    9 tháng

     

     

    6 tháng

    4.200.000đ

    4.000.000đ

    2.500.000đ

     

    3.3.3, Chiến lược điều chỉnh giá.

    * Chiếu khấu:  Đối với tất cả các dịch vụ dạy tại trung tâm

    • Chiết khấu thanh toán nhanh: Khách hàng thanh toán trong một lần cho toàn bộ khóa học được giảm 3%.
    • Chiết khấu số lượng: Khách hàng đăng kí theo nhóm: trên 5 người giảm 3% học phí cho mỗi khách hàng, trên 10 người giảm 5% cho mỗi khách hàng.
    • Chiết khấu theo mùa: trong hè khách hàng đăng kí được giảm 2% học phí mỗi khách hàng.

    **  Chiến lược giá phân biệt: đối với những khách hàng quen thuộc trung tâm sẽ áp dụng chính sách bớt giá : miễn phí 3 buổi học đầu tiên trong khóa học.

    *** Chiến lược giá khuyến mãi:

    Khách hàng sử dụng dịch vụ dạy học tại trung tâm có thể yêu cầu hoàn tiền trong vòng 3 buổi học đầu nếu thấy chất lượng giảng dạy không hài lòng.

    3.4, Quyết định thay giá đổi sản phẩm:

    3.4.1, Phản ứng trước sự thay đổi giá:

    Sự thay đổi giá là cần thiết trong từng giai đoạn tồn tại của sản phẩm dịch vụ. Nếu ở giai đoạn phát triển giá dịch vụ tăng nhưng tới giai đoạn suy thoái dịch vụ cần giảm giá để có thể tiếp tục được khách hàng nhạy cảm với giá lựa chọn.

    3.4.2, Tăng giá:

    Nếu giá cả trung bình của thị trường tăng, trung tâm điều chỉnh tăng giá theo để có thể thu thêm lợi nhuận trong trường hợp chi phí phát sinh không thay đổi hoặc ít thay đổi.

    Chi phí phát sinh tăng đột biến cũng dấn đến việc tăng giá.

    Với những dịch vụ trung tâm đầu tư thêm những nét đặc thù khác biệt khiến dịch vụ có chất lượng tốt hơn hấp dẫn  khách hàng, trung tâm sẽ tăng giá để tạo hiệu ứng chất lượng cáo – giá cao nhằm khẳng định thương hiệu của mình.

    IV. CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI

    Phân phối là một hoạt động rất quan trọng để marketing cho sản phẩm. Nó giải quyết vấn đề hàng hóa,dịch vụ được đưa đến tay người tiêu dùng như thế nào. Các quyết định về phân phối rất phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Ngày nay thì phân phối được xem là nhân tố tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường. Hiểu được tầm quan trọng của nó, chúng tôi những thành viên sáng lập Trung Tâm Gia Sư Tương Lai có những hoạch định như sau:

    4.1, Hệ thống trung gian phân phối:

    4.1.1, Bán lẻ:

    Với quy mô của trung tâm chúng tôi sẽ thiết lập mối quan hệ với các trường đại học, các trường THCS,THPT; các trung tâm tư vấn du học và các trung tâm gia sư khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:  như đặt thỏa thận với các phòng công tác sinh viên và quan hệ doanh nghiệp ở các trường đại học, tạo mối quan hệ tốt đẹp đôi bên cùng có lợi với các trung tâm gia sư khác…nhằm đưa dịch vụ đến gần hơn với khách hàng. Chúng tôi sẽ đưa ra trước mức học phí và mức phí môi giới đối với sinh viên để các bên được rõ qua đó để họ có thể nắm được và đem dịch vụ đến tận tay của khách hàng, trung tâm sẽ trích hoa hồng thích hợp cho các nhà bán lẻ.

    4.1.2, Bán sỉ:

    Vì là trung tâm gia sư mang tính chất của một sản phẩm dịch vụ cho nên chúng tôi sẽ ít chú trọng đến phân phối ra các đại lí bán sỉ. Và hoạt động chúng tôi làm ở đây là tìm đến các trung tâm môi giới việc làm có uy tín để kí hợp đồng và đặt thỏa thuận về việc phân phối sản phẩm của mình. Trung tâm môi giới có thể bán lại cho các trung tâm môi giới khác để kiếm hoa hồng( nhà bán sỉ) hoặc môi giới công việc này cho các sinh viên mới ra trường chưa tìm được việc làm( nhà bán lẻ).

    Với các địa chỉ  tin cậy như ở trên đã nêu chúng tôi tự  tin rằng sản phẩm mang ý nghĩa trồng người này sẽ lan rộng ra đối với toàn thể học sinh, sinh viên và các thầy cô giáo một cách nhanh chóng nhất. Và sẽ đem lại lợi ích rất nhanh cho trung tâm.

    4.2, Kênh phân phối:

    Nhân tố giúp doanh nghiệp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng với đúng mức giá họ có thể mua, đúng chủng loại họ cần, đúng thời gian và địa điểm mà họ yêu cầu.

    4.2.1, Các cấp độ kênh phân phối:

    Trung Tâm Gia sư Tương Lai
               
               
     
     
     
     

    NHÀ BÁN SỈ: các trung tâm môi giới việc làm.

               
         
           
     
    KHÁCH HÀNG

    Trung tâm chúng tôi sử dụng 3 kênh phân phối:

    +Kênh trực tiếp: trung tâm trực tiếp giao nhận công việc với các gia sư và học viên không qua các trung gian. Điều này đem đến sự an toàn và giảm chi phí cho trung tâm.

    +Kênh một cấp: có thêm người bán lẻ. Trung tâm nhượng quyền bán sản phẩm dich vụ của mình cho các nhà bán lẻ. Phương thức này tuy làm phát sinh chi phí nhưng nó lại giúp cho tên tuổi trung tâm lan truyền nhanh hơn và số học viên cũng như gia sư đến với trung tâm dễ dàng hơn.

    +Kênh 2 cấp: Có thêm nhà bán sỉ. Phương thức này trung tâm rất ít sử dụng. Bởi vì nó đem lại chi phí cao và tên tuổi công ty dễ bị tác động xấu.

    Khi sử dụng các kênh phân phối này trung tâm sẽ phân phối chon lọc tức là trung tâm bán sản phẩm của mình qua một số trung gian được chọn lọc theo những tiêu chuẩn nhất định ở mổi cấp độ phân phối.

    4.2.2, Tổ chức kênh phân phối:

    Chúng tôi sẽ tổ chức kênh phân phối liên kết dọc tức là các kênh phân phối có chương trình trọng tâm và quản lí chuyên nghiệp được thiết kế để đạt hiệu phân phối và ảnh hưởng tối đa đến thị trường. Các thành viên trong kênh có sự liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động như một thể thống nhất, vì mục tiêu thỏa mãn nhu cầu thị trường của cả hệ thống kênh. Việc lựa chọn kênh phân phối theo chiều dọc sẽ giúp chúng tôi kiểm soát hoạt động của kênh và chủ động ngăn ngừa, giải quyết các xung đột, đạt được hiệu quả theo quy mô trong phân phối. Ngoài ra các kênh liên kết dọc sẽ giúp chúng tôi đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu tốt hơn do có khả năng thu nhậ thông tin phản hồi trực tiếp từ thị trường.

    Bên cạnh đó chúng tôi sẽ phát triển thêm kênh phân phối theo chiều ngang tức là liên kết với các tổ chức khác để theo đuổi một cơ hội tiếp thị mới. Ở khía cạnh trung tâm sẽ bắt tay với công ty du lịch Vietravel để tặng thưởng những chuyến du lịch ngắn ngày dành cho học viên đạt điểm cao trong kì thi đại học hoặc là liên kết với các trung tâm rèn luyện về kĩ năng mềm để thường xuyên mời các diễn giả về trung tâm thuyết giảng.

    Với 2 cách tổ chức phân phối này chúng tôi tin chắc rằng những thông tin của trung tâm sẽ đến với học sinh, sinh viên một cách nhanh nhanh chóng nhất.

    4.3, Các quyết định về kênh phân phối:

    4.3.1,  Thiết kế kênh phân phối:

    Phân tích nhu cầu của người tiêu dùng: trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay việc học hành của con em được các bậc phụ huynh đưa lên hàng đầu. Học ở lớp thôi là chưa đủ bởi trong một khoảng thời gian hạn hẹp giáo viên không thể truyền dạy được hết tất cả các kiến thức chứ chưa kể đến kĩ năng là bài cho học sinh. Chính vì vậy học thêm được xem là giải pháp tối ưu nhất để có thể học tập tốt được. Hiểu được điều này chúng tôi đã đưa ra kế hoạch xây dựng một trung tâm gia sư lấy chất lượng tốt làm trọng yếu. Và việc giao hàng càng nhanh, chủng loại sản phẩm càng đa dạng, dịch vụ kèm theo càng phong phú thì tầng dịch vụ phân phối của kênh càng xuất sắc.

    Xác định những mục tiêu và rằng buộc của kênh: Mục tiêu của kênh phân phối sẽ là hướng đến thị trường các đối tượng học sinh trên địa bàn Đà Nẵng và hướng đến mức độ phục vụ một cách tốt nhất (đảm bảo nguồn gia sư chất lượng cao).

    Các ràng buộc sẽ đến từ các nhân tố như người khách hàng mục tiêu, sản phẩm, cạnh tranh, môi trường, trung tâm, trung gian.

    + Khách hàng mục tiêu: đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh.Những yếu tố quan trọng cần xem xét về đặc điểm của khách hàng là quy mô, cơ cấu, mật độ và hành vi khách hàng. Chúng tôi sẽ bố trí kênh càng dài ở những nơi phân tán về địa lí khách hàng( như muốn tìm kiếm khách hàng ở Hòa Khánh…); mật độ khách hàng trên đơn vị diện tích càng cao càng nên sử dụng kênh phân phối trực tiếp( ở gần trụ sở của trung tâm).

    +Sản phẩm: Với đặc tính của sản phẩm là dịch vụ gia sư thì kênh phân phối nên là bán trực tiếp.

    +Trung gian thương mại: Cần phải xem xét kĩ các điểm mạnh điểm yếu của các trung gian trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ. Để trung tâm có thể lựa chọn trung gian thich hợp cho kênh phân phối của mình( các trung tâm tư vấn du học…)

    +Đối thủ cạnh tranh: Trung tâm cần phải lựa chọn kênh phân phối có thể mang lại lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Nhìn chung cạnh tranh càng mạnh thì trung tâm càng cần những kênh có sự liên kết chặt chẽ.

    +Bản thân trung tâm: Quy mô của trung tâm sẽ quyết đinh thị trường và khả năng của doanh nghiệp tìm được các trung gian thương mại thích hợp.( chúng tôi xây dựng một trung tâm với quy mô khá lớn vì thế thị trường sẽ khá rộng và các trung gian thương mại tương đối nhiều trên địa bàn Đà Nẵng)

    +Môi trường: Khi thiết kế kênh phân phối cần phải quan tâm đến vấn đè môi trường như  kinh tế, pháp lí…(thời điểm này kinh tế đang trên đà phục hồi trung tâm trung tâm sẽ chú trọng các kênh ngắn để bỏ bớt các dịch vụ không cần thiết nhằm giảm giá bán sản phẩm.

    Xác định những lựa chọn chủ yếu: Những nhân tố được đề cập ở đây là hình thức và cấp số kênh, kiểu trung gian, số lượng trung gian. Những nhân tố này đã được chúng tôi trình bày rất kĩ ở trên.

    Đánh giá lựa chọn kênh chính: Trung tâm xác định kênh chính trong phân phối sản phẩm sẽ là kênh trực tiếp. Bởi các lí do sau:

    + Tiêu chuẩn kinh tế: phương thức này cho chí phí rất thấp qua đó đem lại lợi nhuân lớn hơn cho trung tâm.

    +Tiêu chuẩn kiểm soát: phương thức này sẽ giúp trung tâm kiểm soat được một cách chặt chẽ quá trình cung ứng.

    +Tiêu chuẩn thích nghi: thích nghi tốt trong môi trường hiện nay.

    4.3.2, Quản trị kênh phân phối:

    Sau khi kênh phân phối đã được lựa chọn, vấn đề quan trọng là phải quản lí điều hành hoạt động của chúng.

    + Tuyển chọn: Trung tâm sẽ lựa chọn nhưng trung gian có thâm niên và làm ăn có uy tín trên thị trường

    +Kích thích: Các thành viên trong kênh phải thường xuyên được khuyến khích để làm việc tốt nhất. Trước hết, trung tâm sẽ phải tìm hiểu nhu cầu và các mong muốn của các thành viên trong kênh và sẽ cố gắng đáp ứng nó nếu có thể. Trung tâm sẽ sư dụng các phương pháp để khuyến khích thành viên kênh hoạt động như: hợp tác, thiết lập quan hệ thành viên và xây dựng chương trình phân phối.

    +Đánh giá: Trung tâm phải định kì đánh giá hoạt động của các thành viên kênh theo những tiêu chuẩn như: mức mô giới thành công cho trung tâm, mức độ hợp tác trong các chương trình quảng cáo và huấn luyện gia sư cũng như học viên.

    Như đã trình bày rất cụ thể ở trên về cách phân phối sản phẩm của trung tâm chúng tôi rất hi vọng sẽ chiếm được cảm tình của khách hàng và đưa đến sự thành công của trung tâm. Để trung tâm có thể tiệp tục và duy trì lâu dài sự nghiệp trồng người cho đất nước.

    V. CHÍNH SÁCH TRUYỀN THÔNG CỔ ĐỘNG

    5.1 Tiến trình truyền thông cổ động:

    5.1.1,  Định dạng đối tượng:

    Định dạng khán giả mục tiêu

    • Khách hàng hiện tại: là khách hàng đang sử dụng dịch vụ của trung tâm
    • Khách hàng mục tiêu: những khách hàng mục tiêu mà trung tâm đang muốn hướng đến.
    • Nhóm: các nhóm khách hàng có nhu cầu về dịch vụ gần giống nhau
    • Người ảnh hưởng: những khách hàng đã biết và sử dụng dịch vụ của trung tâm và có tầm ảnh hưởng đến những khách hàng khác.
    • Người ra quyết định mua: là người có quyền quyết định trong việc sử dụng dịch vụ.

    Mỗi một loại hình khán giả đều có những nét đặc điểm riêng biệt nên việc định dạng đối tượng giúp cho việc xây dựng và thực hiện truyền thông cổ động chính xác và hiệu quả hơn rất nhiều.

    5.1.2, Xác định mục tiêu truyền thông:

    Khi xây dựng một chương trình truyền thông thì  một điều không thể thiếu là doanh nghiệp sẽ phải xác định những mục tiêu truyền thông. Vì vậy nhiệm vụ truyền thông của công ty trong thời gian đến ngoài việc cần thiết phải xây dựng sự nhận biết của khách hàng tiềm năng đối với trung tâm  mà còn phải làm sao để lôi kéo cũng như kích thích nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng, đưa khách hàng đến trạng thái sẵn sang mua cao hơn. Ngoài nhiệm vụ kích thích khách hàng, truyền thông cổ động còn giúp xây dựng và củng cố hình ảnh của trung tâm và một bộ phận đối tượng khách hàng cần sự củng cố quan hệ của trung tâm với họ. Thường đối tượng khác ở đây là các khách hàng thân quen, khách hàng đang sử dụng dịch vụ của đơn vị.

    Để xác định được mục tiêu truyền thông , trung tâm cần hiểu rõ và phân thích được 6 trạng thái sẵn sàng mua hàng khác nhau của khách hàng là:

    Nhận biết -> Hiểu -> Thích -> Ưa chuộng -> Tin tưởng -> Hành động mua.

    6 trạng thái trên được rút gọn thành ba mức độ là nhận thức – cảm thụ – hành vi mua. Khách hàng không nhất thiết phải trải qua 3 giai đoạn của tiến trình từ nhận thức đến cảm thụ và hành vi, mà có thể nhảy vọt từ nhận thức sang hành vi và bỏ đi giai đoạn cảm thụ. Dựa vào tâm lý của khách hàng khi sử dụng dịch vụ du lịch chiến lược truyền thông của trung tâm sẽ bỏ qua giai đoạn cảm thụ của khách hàng mà tiến tới kích thích giai đoạn hành vi.

    5.1.3, Lựa chọn phương tiện truyền thông:

    Kênh lựa chọn: kênh truyền thông không trực tiếp (kênh truyền thông đại chúng) bao gồm những phương tiện truyền thông đại chúng để quảng bá trung tâm gia sư Tương Lai như: internet, tờ rơi,… quá trình quảng cáo thông qua internet làm mấu chốt và trong thời gian dài, còn đối với quảng cáo thông qua tờ rơi sẽ định kỳ 2 lần một tuần. Đối với internet, chúng tôi sẽ tiến hành lập một trang web riêng của trung tâm địa chỉ: https//:wwww.giasutuonglai.com.vn , để quảng bá thương hiệu đối với tất cả tầng lớp trong xã hội. Đối với quảng cáo thông qua tờ rơi, chúng tôi quyết định quảng cáo tại các địa điểm trường học, các trung tâm giáo dục,…từ đó sẽ góp phần mang đến hiệu quả truyền thông cao nhất có thể, để đem đến thông tin chính xác nhất có thể đến với từng khách hàng, các bậc phụ huynh và học sinh. Song song với đó, chúng tôi quyết định đầu tư chi phí quảng cáo thông qua việc kí hợp đồng quảng cáo trên các phương tiện báo chí, cụ thể là các báo: Công an TP Đà nẵng, báo điện tử: www.baodanang.vn ,…

    5.1.4, Lựa chọn thông điệp:

    Sau khi đã xác định được mục tiêu truyền thông công việc tiếp tiếp theo là thiết kế thông điệp truyền đạt đến cho khách hàng. Hiện nay khách hàng sử dụng dịch vụ giáo dục đa số đều quan tâm đến yếu tố chất lượng, chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với khách hàng kế đến là yếu tố thuận tiện trong quá trình sử dụng. Yếu tố giá cả tưởng chừng như đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua dịch vụ nhưng vào thời buổi hiện nay khi mà thu nhập của người dân ngày một tăng cao thì giá cả chỉ được xếp hàng thứ 3. Yếu tố thứ 4 là yếu tố Thương hiệu…  Mới nhất  và cuối cùng là Tiếp thị sản phẩm của công ty.  Vì vậy trong nội dung thông điệp truyền thông của mình trung tâm tập trung và cũng như nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng, yếu tố chất lượng phải luôn đặt lên hàng đầu sau đó là yếu tố thuận tiện dễ dàng trong quá trình sử dụng tiếp theo mới là yếu tố giá cả. Nội dung thông điệp cụ thể như sau:

    “ Trung tâm Gia sư Tương Lai – chất lượng hàng đầu, sự lựa chọn tối ưu dành cho bạn. “

    -Dịch vụ và chất lượng đảm bảo, giá cả phải chăng, đội ngũ gia sư giàu kinh nghiệm, phục vụ ân cần chu đáo. Và luôn đem lại sự thoải mái và tiện lợi nhất cho khách hàng.

    5.2,  Xác định và phân chia ngân quỹ:

    5.2.1, Xác định kinh phí:

    Để tổ chức truyền thông  mỗi doanh nghiệp cần phải có  một lượng ngân sách nhất định. Thông thường ngân sách này là một phần ngân sách dành cho hoạt động marketing. Để tăng cường cạnh tranh các trung tâm cần phải tính toán chi ra một nguồn vốn ngân sách nhất định cho việc truyền thông cổ động. Dựa vào điều kiện kinh tế trung tâm ta có cách xây dựng ngân sách hợp lí như sau:

    Xây dựng ngân sách cho truyền thông trên cơ sở khả năng điều kiện tài chính cho phép của doanh nghiệp. Phương pháp này không tính đến mục tiêu của doanh nghiệp trong tương lai: nó cho phép doanh nghiệp chủ động về tài chính để tổ chức xúc tiến cổ động  và nó thường được sử dụng trong những doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng có ưu điểm là đơn giản dễ tính toán và phù hợp với điều kiện tài chính của công ty.

    Phương pháp tính tỷ lệ phần trăm trên doanh số, phương pháp này định kinh phí cổ động theo theo một tỷ lệ phần trăm nhất định dựa trên doanh số thu nhập của công ty. Ngân sách cổ động thay đổi tùy theo múc độ mà công ty có thể chi tiêu được, nó sẽ làm cho các nhà quản trị hài lòng vì họ cảm thấy chi phí cổ động gắn liền gắn liền với sự thay đổi doanh số của công ty trong chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên phương pháp này xem doanh thu như là một nguyên nhân hơn là kết quả của việc cổ động, việc phụ thuộc của ngân sách cổ động vào sự biến động của doanh số mỗi năm làm cản trở việc lập kế hoạch cổ động dài hạn.

    Vì vậy, sự cần thiết kết hợp cả 2 cách thức trên sẽ là tiền đề cho công ty sẽ đề ra những mục tiêu cần đạt được qua quá trình truyền thông, nó rất hợp lý cho tình hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp hiện nay. Và sẽ mạng lại những hiệu quả nhất định trong kinh doanh của doanh nghiệp.

    5.2.2,  Phân chia kinh phí:

    Trong quá trình tiến hành công tác truyền thông cho trung tâm, chúng tôi quyết định chiến dịch marketing trong tháng đầu tiên như sau:

    + Chi phí in ấn tờ rơi:

    *giấy in màu: 500.000đ (5000đ x100 tờ)

    *giấy in trắng đen: 200.000đ (200đ x 1000 tờ)

    + Chi phí nhân viên phát tờ rơi: 40h x 2 nhân viên x 50.000đ/1h/1 nhân viên = 4.000.000 đ.

    +chi phí bồi dưỡng nhân viên quản trị website: 500.000đ/1 tháng/ 1 nhân viên

    +chi phí lập website: 500.000đ

    +chi phí phát sinh: 500.000đ

    +CP quảng cáo qua báo chí:

    (theo bản tham khảo giá)

    Chúng tôi quyết định chọn quảng cáo dòng nội dung với kích thước 1/16 trang, trắng đen, chi phí là: 1.300.000đ

    Tổng cộng: 6.200.000 đ

    5.3, Trình bày kế hoạch truyền thông cổ động cụ thể:

    Vì lý do các trường học trên địa bàn đều hầu hết bắt đầu học chính thức trong nửa cuối tháng 8 trở đi. Do đó, chúng tôi quyết định thực hiện chiến lược trong tháng 9/2013.

    *  Giai đoạn 1: chuẩn bị cho chiến lược  từ 15/8/2013-31/08/2013

    Công việc 1: thành lập ban tổ chức, ban truyền thông, ban tài chính và ban hậu cần. ban tổ chức tiến hành giao công việc cho các ban còn lại và thiết lập nội dung cụ thể cho chương trình chính.

    Công việc 2: ban tổ chức công bố trực tiếp toàn trung tâm về chương trình.

    Công việc 3: ban truyền thông thực hiện công việc in ấn tờ rơi, lập website, …

    Công việc 4: ban hậu cần kết hợp ban tổ chức thực hiện việc ký hợp đồng với các tổ chức báo chí và xin phép được truyền tin quảng cáo cho trung tâm tại các trường học.

    Công việc 5: ban tổ chức quyết định chương trình khuyến mãi trong chương trình:

    Cụ thể: sẽ giảm giá 10% trên tất cả các suất học đăng kí trong quá trình chuyến dịch diễn ra 1/9/2013 – 30/09/2013.

    **  Giai đoạn 2: thực hiện chiến lược chương trình chính: từ 1/9/2013 đến 30/09/2013

    Các ban trong chương trình kết hợp nhân viên phát tờ rơi thực hiện.

    KẾT LUẬN

    Với những chính sách về thâm nhập thị trường, chính sách về sản phẩm, giá cả, chính sách phân phối cũng như truyền thông cổ động của Trung tâm chúng tôi, nhất định trong tương lai Trung tâm Gia sư Tương Lai sẽ là thương hiệu được nhắc đến hàng đầu trong lĩnh vực môi giới gia sư và đào tạo ôn thi Đại học, Cao đẳng.

    Hãy đến với chúng tôi, nơi có chất lượng phục vụ tốt nhất, nơi uy tín nhất và phong cách làm việc chuyên nghiệp nhất sẽ làm hài lòng tất cả các bạn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-TPP-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-M%E1%BB%B9-trong-TPP-v%C3%A0-l%E1%BB%A3i-%C3%ADch-c%E1%BB%A7a-TPP-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ng%C3%A0nh-Logistics-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Từ cuối thập kỉ 90 cho đến nay, ở hầu hết các châu lục, hàng loạt các liên minh kinh tế khu vực hoặc liên khu vực dưới dạng khu vực thương mại tự do, liên minh về thuế quan, … đã ra đời khiến việc thành lập các liên kết kinh tế trong khu vực và liên kết giữa nhiều khu vực trở thành một trong các đặc điểm của kinh tế thế giới hiện nay. Hơn nữa, khi mà xu thế quốc tế hóa kinh tế toàn cầu ngày một gia tăng thì chính phủ các nước sử dụng phương pháp ký kết các điều ước và hiệp định mậu dịch để thực hiện mục tiêu của mình trong thương mại quốc tế. Không ai có thể phủ nhận lợi ích to lớn mà các liên kết kinh tế, điều ước hay hiệp định mậu dịch mang lại cho nền kinh tế của quốc gia. Trong thời gian qua, Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (hay còn được gọi là TPP) chính là một trong nhiều vấn đề “nóng hổi” của kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới.

    Chính vì vậy mà em đã chọn lựa đề tài này cho Bài Tập Lớn Môn Logistics Toàn Cầu của mình. Đề tài có 3 chương:

    Chương 1: Cơ sở lý thuyết của các hiệp định thương mại tự do.

    Chương 2: Giới thiệu về TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam.

    Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp.

    Em xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam và Cô Trần Thị Minh Trang – giảng viên trực tiếp hướng dẫn học phần Logistics Toàn Cầu đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.

    Tuy nhiên, do bản thân vẫn còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tế, bài viết của em sẽ không tránh khỏi những sai sót về cả hình thức và nội dung. Em mong sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp và chỉ bảo của thầy cô.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO.

     

     

    Kể từ cuối thập kỉ 90, nhất là sau khi Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) được ra đời năm 1995, xu hướng các quốc gia trên thế giới ký kết các hiệp định mậu dịch đã có rất nhiều bước phát triển mới cũng như đã có những thay đổi không hề nhỏ về chất. Những dấu hiệu đáng chú ý của trào lưu này là số lượng các hiệp định mậu dịch được ký kết trên thế giới đã tăng vô cùng mạnh kể từ sau năm 1995.

    Ngày nay, khi mà xu thế quốc tế hóa kinh tế trên toàn cầu gia tăng thì để thực hiện các mục tiêu của trong thương mại quốc tế, chính phủ các nước sử dụng hình thức ký kết các điều ước và hiệp định mậu dịch. Một minh chứng cụ thể là chỉ tính đến năm 2002, trên toàn thế giới có khoảng 168 hiệp định mậu dịch được ký kết với quá nửa số đó là ra đời sau năm 1995. Phần lớn các quốc gia có kinh tế tương đối phát triển đều chủ động tham gia vào hoạt động ký kết các hiệp định mậu dịch (hoặc bị lôi kéo tham gia), kể cả những nước mà từ trước tới nay không mấy mặn mà với các hiệp định về thương mại tự do như Trung Quốc và Hàn Quốc.

    1.1.          Hiệp định mậu dịch (hiệp định thương mại tự do).

    1.1.1. Hiệp ước mậu dịch.

    1.1.1.1 Khái niệm.

    Hiệp ước mậu dịch là văn bản được ký kết giữa hai hay nhiều nước có chủ quyền, bao gồm quy định về các quan hệ kinh tế lẫn nhau của các pháp nhân, công dân của các bên tham gia. Nó thể hiện các nguyên tắc cơ bản, phạm vi pháp lý chung. Trên cơ sở đó, các hiệp định kinh tế và mậu dịch ở mức độ thấp hơn được ký kết. (Bài giảng Quan hệ Kinh tế thế giới, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, 2014, trang 40)

    1.1.1.2 Đặc trưng.

    Hiệp ước mậu dịch có các đặc trưng sau đây:

    • Được ký kết ở mức cao nhất:

    Hiệp định mậu dịch phải do người đứng đầu nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn và Quốc hội phải thông qua mới được gọi là có hiệu lực.

    • Có tính chất chung:

    Tức là, không chỉ đề cập đến các quan hệ buôn bán mà còn đến nhiều lĩnh vực quan hệ kinh tế như vận tải, địa vị pháp lý của các pháp nhân và công dân của các bên ký hiệp ước.

    • Có tính chất giới hạn:

    Tức là chỉ xác định những nguyên tắc đối xử lẫn nhau của các bên tham gia.

    • Thời hạn và hiệu lực dài, hiệu lực có thể kéo dài một cách tự động.

    1.1.2. Hiệp định mậu dịch.

    1.1.2.1 Khái niệm.

    • Hiệp định mậu dịch là một văn bản đã ký kết giữa hai nước hoặc nhiều nước nhằm cụ thể hóa những biện pháp thực hiện các hiệp ước mậu dịch mà chính phủ các bên đã ký kết. (Bài giảng Quan hệ Kinh tế thế giới, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, 2014, trang 41)
    • Hiệp định thương mại tự do (FTA) là hiệp định song phương hoặc đa phương (tức là được ký kết giữa 2 nước hoặc giữa nhiều nước) trong đó các nước tham gia ký kết thỏa thuận dành cho nhau những ưu đãi về việc loại bỏ các hàng rào thương mại kể cả thuế quan và phi thuế quan, song mỗi quốc gia thành viên vẫn được tự do quyết định những chính sách thương mại riêng và độc lập của mình đối với các nước không phải là thành viên của hiệp định. (Website của Tạp chí Cộng Sản, 2009)

    Dù là được ký kết giữa hai nước hay nhiều nước thì hiệp định mậu dịch vẫn  đem lại những lợi ích vô cùng to lớn cho nước thành viên trong việc thúc đẩy các hoạt động thương mại và tận dụng được lợi thế so sánh của mình cũng như của đối tác. Hơn nữa, do có phạm vi sâu rộng, hiệp định mậu dịch còn giúp xúc tiến sự tự do hóa trong đầu tư, chuyển giao dây chuyền công nghệ, nâng cao hiệu suất làm các thủ tục hải quan cùng với nhiều dịch vụ khác.

    1.1.2.2 Đặc điểm.

    Đặc điểm của hiệp định mậu dịch:

    • Do các cơ quan nhà nước ký không cần quốc hội phê chuẩn.
    • Trong hiệp định thỏa thuận về các vấn đề rất cụ thể liên quan đến kinh tế và quan hệ mậu dịch giữa các bên. Ví dụ: số tiền viện trợ; hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm; điều kiện thanh toán; …
    • Nó xác định nguyên tắc buôn bán giữa các bên nếu hiệp định được ký mà chưa ký hiệp ước mậu dịch giữa chính phủ các bên tham gia.
    • Thời gian hiệu lực của hiệp định thường ngắn (từ 2 đến 3 năm).

    Các nước trên thế giới thường ký hiệp ước và hiệp định mậu dịch cùng với các biện pháp khác để thực hiện các mục tiêu trong chính sách ngoại thương đặt ra cho mỗi nước. Có nhiều vấn đề mà từ xưa tới nay chưa từng xuất hiện trong các hiệp định mậu dịch thì nay đã xuất hiện như: đầu tư; sức lao động; trợ cấp; mua sắm và tiêu dùng từ Chính phủ; môi trường; …

    Để tránh bị các nước khác phân biệt đối xử hay để giữ vị thế và địa vị của mình, một nước rất có thể buộc phải ký kết và tham gia vào một (hay nhiều) hiệp định mậu dịch với một (hay nhiều) quốc gia khác, ngay cả khi nước đó chưa hoàn toàn sẵn sàng.

    Mục đích của Việt Nam khi đàm phán ký kết các hiệp định mậu dịch cũng tương tự như các quốc gia khác đó là tăng cường hoạt động xuất khẩu, tạo ra sự hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư từ nước ngoài, nâng cao địa vị và xây dựng hình ảnh của đất nước đối với quốc tế. Hiệp định mậu dịch còn có các tác dụng khác như tăng sức ép nhằm đổi mới và nâng cao khả năng cạnh tranh.

    1.2.          Ví dụ về một hiệp định mậu dịch mà Việt Nam đã ký kết.

    1.2.1.   Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (Việt – Mỹ).

    Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết vào ngày 13/7/2000 là một nấc thang quan trọng trong công cuộc bình thường hóa và phát triển quan hệ kinh tế – thương mại của Việt Nam và Hoa Kỳ, là tiền đề cho việc thúc đẩy tiến trình Việt Nam tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế đa phương và hội nhập kinh tế thế giới.

    • Nội dung của hiệp định.

    Hiệp định thương mại Việt – Mỹ bao gồm 4 nội dung chính:

    • Chương 1: Thương mại hàng hóa.

    Chương này bao gồm 9 điều nói về nguyên tắc đối xử quốc gia; nguyên tắc tối huệ quốc; những nghĩa vụ chung của thương mại; thúc đẩy và mở rộng thương mại; văn phòng thương mại chính phủ; hành động được coi là khẩn cấp đối với nhập khẩu; tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân trong thương mại; thương mại nhà nước và các định nghĩa chung về công ty, xí nghiệp.

    Những nội dung chính của chương thương mại hàng hóa là:

    • Ngay lập tức và không điều kiện, các doanh nghiệp của Việt Nam được quyền tổ chức và phân phối hàng hóa vào thị trường Mỹ; hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam đưa sang Mỹ sẽ được hưởng ưu đãi theo nguyên tắc tối huệ quốc.
    • Chính phủ Việt Nam cam kết tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho mọi doanh nghiệp tới từ các thành phần kinh tế được quyền tự do trong hoạt động kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu.
    • Theo lộ trình, Chính phủ Việt Nam cam kết sẽ bãi bỏ các rào cản phi thuế quan đã và đang gây ra trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu như hạn ngạch, giấy phép, …
    • Nhà nước ta sẽ áp dụng các phương pháp, cách thức nhằm giảm bớt sự độc quyền trong kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thuộc khu vực thương mại nhà. Trừ các doanh nghiệp của nhà nước hoạt động trong một số ngành phi lợi nhuận, các doanh nghiệp nhà nước khác phải tiến hành mọi hoạt động theo cơ chế thị trường.
    • Chương 2: Quyền sở hữu trí tuệ.

    Đây là hiệp định mậu dịch song phương đầu tiên mà Việt Nam đưa quyền sở hữu trí tuệ trở thành một chương riêng với 18 điều khoản giải thích và qui định về các định nghĩa chung; nguyên tắc đối xử quốc gia; quyền tác giả, gồm cả cho tác phẩm viết, phần mềm máy tính, bộ sưu tập nguồn dữ liệu, băng ghi âm và ghi hình; các tín hiệu được truyền dẫn qua vệ tinh; nhãn hiệu của hàng hóa; quyền sáng chế; thiết kế bố trí trong mạch tích hợp; bí mật thương mại; kiểu dáng trong công nghiệp; thực thi các quyền sở hữu trí tuệ, … Trong hiệp định này có tám đối tượng được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là: quyền tác giả; những tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được con người mã hóa; nhãn hiệu của hàng hóa; quyền sáng chế; thiết kế các mạch tích hợp; thông tin bí mật thương mại; kiểu dáng trong công nghiệp; các loại giống thực vật.

    • Chương 3: Thương mại điện tử.

    Đây là hiệp định mậu dịch song phương mà Việt Nam đưa riêng chương trình thương mại dịch vụ một cách độc lập; có thể nói đó là lần đầu tiên trong một hiệp định mậu dịch song phương mà nước ta đã ký kết với các nước có qui định về thương mại và dịch vụ thành một chương riêng. Chương thương mại và dịch vụ của hiệp định chứa đựng 11 điều là  phạm vi, định nghĩa của thương mại dịch vụ; đối xử tối huệ quốc; vấn đề hội nhập trong kinh tế; pháp luật của quốc gia; độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền; tiếp cận thị trường; nguyên tắc đối xử quốc gia; các thỏa thuận bổ sung; lộ trình cụ thể; vấn đề khước từ lợi ích; định nghĩa kèm 2 phụ lục F và G để giải thích cũng như cụ thể hóa thương mại nội địa dịch vụ giữa 2 nước.

    Nội dung chính của chương này là ngay lập tức và không điều kiện, các doanh nghiệp Việt Nam có thể thực hiện việc kinh doanh các loại hình dịch vụ ở thị trường Mỹ; theo lộ trình được nhắc tới trong phụ lục G, chính phủ Việt Nam sẽ mở cửa thị trường về dịch vụ của mình cho các công dân và công ty đến từ Hoa Kỳ hoạt động trên nguyên tắc đãi ngộ dân tộc và nguyên tắc tối huệ quốc.

    • Chương 4: Phát triển mối quan hệ đầu tư.

    Chương này bao gồm 15 điều quy định về các định nghĩa; nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc đối xử tối huệ quốc; giải quyết các tranh chấp phát sinh; tính minh bạch; chuyển giao quy trình công nghệ; nhập cảnh, tạm trú của lao động nước ngoài; tuyển dụng người lao động nước ngoài; bảo đảm các quyền; tước quyền sở hữu; bồi thường các thiệt hại gây ra bởi chiến tranh; các biện pháp trong đầu tư thương mại; việc áp dụng vấn đề này đối với các doanh nghiệp của nhà nước; đàm phán về các Hiệp định đầu tư song phương khác trong tương lai; việc áp dụng đối với các khoản đầu tư theo Hiệp định này và từ chối lợi ích. Ngoài ra, mối quan hệ về đầu tư còn được nhắc tới trong phụ lục H; thư trao đổi giữa đại diện của hai bên tham gia ký kết hiệp định thương mại về cấp giấy phép đầu tư và ở điều 1, điều 4 của chương 7 trong hiệp định.

    • Lợi ích và khó khăn cuả Việt Nam khi ký kết hiệp định.
    • Thuận lợi:
    • Phát triển mối quan hệ thương mại với Mỹ theo hướng tăng cường xuất khẩu.
    • Việt Nam có thể tăng trưởng kinh tế thông qua tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ do được hưởng nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc ngang bằng quốc gia.
    • Khuyến khích sự cạnh tranh và hoạt động cải cách trong nước; hiện đại hóa; xây dựng hệ thống tài chính vững mạnh và hiệu quả; chuẩn hóa công tác kế toán.
    • Được tiếp cận nguồn đầu tư lớn và khoa học công nghệ hiện đại.
    • Các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển sẽ tạo ra khối lượng việc làm lớn hơn.
    • Người lao động sẽ được tiếp xúc với công nghệ mới và hiện đại; phương thức quản lý được cải thiện; có nhiều cơ hội hơn để phát triển công việc của mình và học tập nhiều kinh nghiệm từ chuyên gia nước ngoài.
    • Thu hút đầu tư nước ngoài.
    • Nâng cao chất lượng của cuộc sống cho nhân dân.
    • Là tiền đề cho việc thúc đẩy tiến trình gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế của Việt Nam.
    • Giúp Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới.
    • Khó khăn:
    • Các doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ đầu tư ồ ạt vào nước ta nhưng lại không chú trọng đến việc bảo vệ môi trường gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở một vài khu công nghiệp hoặc nhà máy.
    • Các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn hạn chế về rất nhiều mặt cũng như vốn ít nên gặp phải không ít khó khăn khi bị bắt buộc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ.
      • Lợi ích của Mỹ.
    • Việt Nam ta có vị trí về địa lý vô cùng thuận lợi tạo ra nhiều khả năng để phát triển các hoạt động như tạm nhập tái xuất hay chuyển khẩu hàng hóa sang các khu vực lân cận nên sẽ giúp Mỹ dễ dàng và thuận tiên hơn trong việc mở rộng mối quan hệ hợp tác với các quốc gia khác. Hơn nữa, hợp tác với nước ta cũng là một bước quan trọng để Mỹ xây dựng vị thế cuả mình trong khu vực.
    • Việt Nam có nguồn lao động trẻ, dồi dào, giá nhân công lại rẻ mà bản chất cần cù, chịu khó mặc dù còn hạn chế về trình độ, kinh nghiệm.

    CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH TPP; VAI TRÒ CUẢ MỸ TRONG TPP VÀ LỢI ÍCH CỦA TPP ĐỐI VỚI NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM.

     

    2.1 Giới thiệu chung về TPP.

    2.1.1 Định nghĩa TPP.

     

    Hình 2.1: TPP.

                                                                                     Nguồn: Internet.

    Theo website của Đời sống Pháp luật, TPP, viết tắt của từ Trans Pacific Partnership hay đầy đủ hơn là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Ngọc Anh, 2015).

    Theo Trung tâm WTO của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP) là một Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương (Phạm Tú, 7/12/2010).

    2.1.2 Các thành viên của TPP.

     

    Thành viên của TPP bao gồm 12 quốc gia là: Hoa Kỳ, Austraylia, Nhật Bản, Bru-nây, Mê-xi-cô, Canada, Malaysia, Singapore, Chi-lê, Việt Nam, Peru, New Zealand.

    Ngoài ra, một số nước và vùng lãnh thổ khác như: Hàn Quốc, Colombia, Đài Loan, Phi-líp-pin, Thái Lan, … cũng đã bày tỏ mối quan tâm và ý muốn tham gia TPP.

    Hình 2.2: Các quốc gia thành viên của TPP.

                                                                                                                          Nguồn: Internet.

     

    2.1.3 Lịch sử hình thành của TPP.

     

    Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết từ ngày 3/6/2005; có hiệu lực kể từ 28/5/2006 với 4 nước ban đầu là Bru-nây, Chile, Singapore, New Zealand. Vì vậy, ban đầu Hiệp định này được gọi là TPP4.

    Đến tháng 9/2008, Mỹ bày tỏ ý muốn đàm phán để gia nhập TPP. Hai tháng sau đó, ba quốc gia là Việt Nam, Austraylia, Peru cũng bày tỏ ý muốn tương tự. Tháng 10 năm 2010, Malaysia bày tỏ ý muốn tham gia TPP.

    Từ tháng 3 năm 2010, các nước thành viên đã tổ chức nhiều cuộc đàm phán cấp cao, đàm phán giữa kỳ và cả các cuộc đàm phán có quy mô nhỏ hơn. Đến tháng 11/2010, Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia vào hiệp định này với tư cách cuả một thành viên đầy đủ.

    Ngày 5/10/2015, 12 nước thành viên đã chính thức hoàn tất đàm phán TPP tại Atlanta.

    2.1.4 Mục đích của TPP.

    Ngay từ Chương 0: Chương Mở đầu trong Toàn văn nội dung Hiệp định TPP, các bên tham gia ký kết hiệp định đã đề cập đến mục đích của nó, bao gồm:

    • Thành lập hiệp định mậu dịch khu vực mang tính toàn diện, phục vụ cho việc thúc đẩy hội nhập kinh tế nhằm tự do hóa thương mại và đầu tư, đem lại sự tăng trưởng cho nền kinh tế và lợi ích cho xã hội, tạo ra nhiều cơ hội mới cho người lao động và doanh nghiệp, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, quan tâm hơn đến những lợi ích của người tiêu dùng, giảm nghèo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
    • Thắt chặt mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Nhà nước, Chính phủ và nhân dân của các quốc gia tham gia vào hiệp định.
    • Xây dựng dựa vào quyền, nghĩa vụ tương ứng theo Hiệp định Marrakesh về thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế.
    • Thừa nhận những sự khác biệt về mức độ đa dạng của các nền kinh tế.
    • Củng cố khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước mình trên thị trường thế giới và tăng cường năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế bằng biện pháp tạo ra các cơ hội cho doanh nghiệp, bao gồm cả việc thúc đẩy phát triển và tăng cường các chuỗi cung ứng trong khu vực.
    • Hỗ trợ tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách tăng cường khả năng của doanh nghiệp trong việc tham gia và được hưởng lợi từ các cơ hội mà TPP đem lại.
    • Thành lập khuôn khổ pháp lý và thương mại để có thể dự đoán cho thương mại và đầu tư trên nguyên tắc tất cả các bên đều có lợi.
    • Tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của khu vực bằng cách khuyến khích các nền kinh tế áp dụng các quy trình, thủ tục hải quan hiệu quả và minh bạch nhằm tiết kiệm hơn về chi phí và đảm bảo khả năng dự báo cho nhà xuất nhập khẩu của các quốc gia.
    • Thừa nhận quyền điều chỉnh, giải quyết sẵn có của các nước để bảo đảm sự linh hoạt của các bên tham gia hiệp định nhằm hình thành các ưu tiên về quy phạm pháp luật, giữ gìn lợi ích của cộng đồng và bảo vệ các mục tiêu của phúc lợi công cộng hợp pháp, ví dụ như y tế công cộng, môi trường, tài nguyên thiên nhiên có khả năng bị cạn kiệt, sự toàn vẹn cũng như ổn định trong hệ thống tài chính kinh tế cùng với đạo đức trong xã hội.
    • Công nhận quyền duy trì, tiếp tục áp dụng hoặc sửa chữa và thay đổi hệ thống chăm sóc cho sức khỏe của các thành viên.
    • Khẳng định doanh nghiệp nhà nước cũng có thể đóng vai trò hợp pháp trong đa dạng kinh tế của các thành viên, công nhận rằng việc cung cấp các lợi thế không công bằng và minh bạch cho các doanh nghiệp nhà nước sẽ làm suy yếu hoạt động thương mại và đầu tư, thiết lập nguyên tắc cho các doanh nghiệp nhà nước nhằm xây dựng nên một sân chơi hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân.
    • Thúc đẩy vấn đề bảo vệ môi trường thông qua thực hiện có hiệu quả pháp luật môi trường, đẩy mạnh mục tiêu của vấn đề phát triển bền vững thông qua hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại và các chính sách, hoạt động của môi trường.
    • Bảo vệ và thực hiện quyền lợi cuả người lao động, nâng cao chất lượng của điều kiện lao động và mức sống, tăng cường hợp tác về những vấn đề trong lao động.
    • Thúc đẩy minh bạch, quản trị và pháp quyền của pháp luật, loại bỏ hiện tượng tham nhũng, hối lộ trong đầu tư và thương mại.
    • Thừa nhận công việc quan trọng mà cơ quan của các nước thành viên đang thực hiện nhằm tăng cường và cải thiện hợp tác vĩ mô.
    • Thừa nhận sự quan trọng của khác biệt văn hóa giữa các thành viên, công nhận đầu tư và thương mại có thể tạo ra các cơ hội để làm đa dạng hơn văn hóa trong nước mà vẫn giữ gìn được bản sắc của văn hóa nước mình.
    • Đóng góp cho những phát triển của thương mại thế giới, kích thích hợp tác khu vực và thế giới rộng hơn.
    • Thiết lập cơ sở giải quyết những vấn đề về đầu tư và thương mại trong tương lai.
    • Mở rộng các quan hệ đối tác bằng cách khuyến khích việc tham gia của các nước và vùng lãnh thổ khác nhằm nâng cao hơn nữa sự hội nhập kinh tế khu vực, thiết lập nền tảng của một Khu vực thương mại tự do Châu Á – Thái Bình Dương.

    2.1.5. Nội dung của TPP.

    Toàn văn nội dung của Hiệp định TPP gồm 31 chương trong đó Chương 0 là Chương mở đầu đề cập tới mục đích của TPP, Chương 30 là Chương các điều khoản thi hành của TPP còn 29 chương còn lại là nội dung thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên về các vấn đề, lĩnh vực hợp tác.

    • Chương 1: Quy định và định nghĩa chung. Chương này gồm ba điều và một phụ lục đề cập tới mục tiêu lớn nhất là thiết lập một khu vực thương mại tự do theo đúng với các quy định của Hiệp định theo Điều XXIV của GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, trong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO) 1994 và Điều V của GATS (Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ, trong Phụ lục 1B của Hiệp định WTO); mối quan hệ của TPP với các hiệp định khác mà các nước thành viên đã ký kết và định nghĩa chung của các thuật ngữ, khái niệm xuất hiện trong hiệp định.
    • Chương 2: Việc tiếp cận thị trường và nguyên tắc đối xử quốc gia. Gồm 34 điều trong đó Điều khoản 2.1 và 2.2 là định nghĩa của các thuật ngữ như: giao dịch lãnh sự, ấn phẩm quảng cáo, … cùng với phạm vi áp dụng. Điều 2.3 quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia. Các điều từ 2.4 đến 2.20 đề cập đến việc mở cửa thị trường hàng hóa với những quy định về xóa bỏ thuế quan, tạm nhập hàng hóa, hàng tái sản xuất, …. Điều khoản từ 2.21 đến 2.29 là những quy định cho ngành nông nghiệp như trợ cấp xuất khẩu nông sản, an ninh lương thực, …. Điều khoản từ 2.30 đến 2.34 là quản lý hạn ngạch thuế quan.
    • Chương 3: Quy tắc và thủ tục về xuất xứ. Bao gồm 32 điều và ba phụ lục trong đó 18 điều khoản đầu tiên (từ 3.1 đến 3.18) là các quy tắc xuất xứ hàng hóa như hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, …. 13 điều khoản tiếp theo (từ 3.19 đến 3.31) là quy định về thủ tục xuất xứ hàng hóa. Điều 3.32 là Uỷ ban về Quy tắc xuất xứ và thủ tục xuất xứ. Ba phụ lục đề cập tới các thỏa thuận khác, yêu cầu dữ liệu tối thiểu và các trường hợp ngoại lệ của Điều 3.11: Hàm lượng không đáng kể.
    • Chương 4: Dệt may. Bao gồm 9 điều, quy định về các vấn đề đối với hàng dệt may như: hợp tác, giám sát, xác minh, bảo mật, Uỷ ban về Hàng dệt may, ….
    • Chương 5: Tạo thuận lợi trong thương mại và quản lý hải quan. Bao gồm 12 điều, thỏa thuận về quản lý hải quan, tạo thuận lợi trong thưowng mại như: phối hợp về hải quan, phán quyết trước, tự động hóa, ….
    • Chương 6: Phòng vệ thương mại. Bao gồm 9 điều, trong đó từ 6.1 đến 6.7 là các biện pháp tự vệ như biện pháp tự vệ toàn cầu, biện pháp tự vệ chuyển tiếp, … và từ 6.8 đến 6.9 là thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp.
    • Chương 7: Biện pháp kiểm dịch và vệ sinh. Bao gồm 18 điều, quy định về biện pháp kiểm dịch và vệ sinh như các cơ quan có thẩm quyền, phân tích rủi ro và khoa học, kiểm tra, ….
    • Chương 8: Rào cản kỹ thuật của thương mại. Gồm 12 điều, quy định về các vấn đề thuộc rào cản kỹ thuật của thương mại như mục tiêu, đánh giá hợp quy, quy chuẩn kỹ thuật, ….
    • Chương 9: Đầu tư. Bao gồm 29 điều, đề cập đến các nội dung của đầu tư như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, hoạt động chuyển nhượng, các biện pháp không tương thích, ….
    • Chương 10: Thương mại dịch vụ xuyên biên giới. Bao gồm 13 điều, quy định về thương mại dịch vụ xuyên biên giới như xâm nhập thị trường, quy định trong nước, ….
    • Chương 11: Dịch vụ tài chính. Bao gồm 22 điều, đề cập tới các vấn đề như dịch vụ tài chính mới, xâm nhập thị trường của các tổ chức tài chính, ….
    • Chương 12: Nhập cảnh tạm thời đối với doanh nhân. Bao gồm 10 điều khoản quy định về thủ tục xin phép nhập cảnh, đi lại công tác, cung cấp thông tin, ….
    • Chương 13: Viễn thông. Gồm 26 điều quy định các vấn đề như chuyển vùng quốc tế, bảo vệ tính cạnh tranh, bán lại, kết nối với nhà cung cấp chính, ….
    • Chương 14: Thương mại điện tử. Bao gồm 18 điều giải quyết các vấn đề như mã nguồn, hợp tác, tin nhắn thương mại điện tử, ….
    • Chương 15: Mua sắm công. Bao gồm 11 điều đề cập tới các vấn đề như năng lực nhà cung cấp, đấu thầu hạn chế, thông tin mua sắm, ….
    • Chương 16: Chính sách cạnh tranh. Bao gồm 9 điều quy định về các vấn đề: hợp tác, hợp tác kỹ thuật, bảo vệ khách hàng, ….
    • Chương 17: Các doanh nghiệp nhà nước và đơn vị độc quyền. Bao gồm 15 điều quy định về các vấn đề: thẩm quyền được giao phó; tòa án cùng các cơ quan hành chính; trợ giúp phi thương mại; ….
    • Chương 18: Sở hữu trí tuệ. Bao gồm 83 điều quy định về các vấn đề: hợp tác, nhãn hiệu, tên nước, chỉ dẫn địa lý, ….
    • Chương 19: Lao động. Gồm 15 điều giải quyết các vấn đề: hội đồng lao động, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, hợp tác, ….
    • Chương 20: Môi trường. Bao gồm 23 điều khoản quy định về các vấn đề như: hàng hóa và dịch vụ về môi trường; bảo tồn và thương mại; khai thác thủy sản biển; các loài ngoại lai xâm hại; ….
    • Chương 21: Hợp tác và nâng cao năng lực. Gồm 6 điều thỏa thuận về các vấn đề: nguồn lực; lĩnh vực hợp tác và nâng cao năng lực; ….
    • Chương 22: Tạo thuận lợi cho kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Bao gồm 5 điều đề cập về Uỷ ban về năng lực cạnh tranh và tạo thuận lợi cho kinh doanh; chuỗi cung ứng; sự gắn kết với những người quan tâm; ….
    • Chương 23: Phát triển. Gồm 9 điều quy định về một số vấn đề như: khuyến khích phát triển; tăng trưởng kinh tế trên diện rộng; phụ nữ và tăng trưởng kinh tế; ….
    • Chương 24: Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bao gồm 3 điều là: chia sẻ thông tin; Uỷ ban về doanh nghiệp vừa và nhỏ; miễn áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp.
    • Chương 25: Sự đồng nhất trong quản lý. Gồm 11 điều quy định về các vấn đề như: qúa trình, cơ chế điều phối và đánh giá; quy chế thực hành quản lý tốt; Uỷ ban về sự đồng nhất trong quản lý; ….
    • Chương 26: Chống tham nhũng và sự minh bạch. Bao gồm 12 điều thoả thuận về các vấn đề: Luật phòng chống tham nhũng, tăng cường tính liêm chính trong công chức; các biện pháp chống tham nhũng; ….
    • Chương 27: Quy định hành chính và thể chế. Gồm 7 điều quy định về các vấn đề: Uỷ ban Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Uỷ ban TPP); quy tắc về thủ tục của Uỷ ban; đầu mối liên lạc; ….
    • Chương 28: Giải quyết các tranh chấp. Bao gồm 22 điều khoản về giải quyết tranh chấp như lựa chọn tòa án tư pháp; trung gian hòa giải; … và thủ tục tố tụng trong nước; giải quyết tranh chấp thương mại tư nhân.
    • Chương 29: Trường hợp ngoại lệ và quy định chung. Gồm 7 điều quy định về ngoại lệ về an ninh; biện pháp kiểm soát thuốc lá; biện pháp về thuế; ….

    Một điều đặc biệt trong nội dung của TPP là nếu một quốc gia thành viên đưa ra các điều luật hay chính sách không phù hợp hoặc đi ngược lại với tiêu chí và nội dung của TPP thì các doanh nghiệp nước ngoài có thể kiện Chính phủ của các quốc gia đó ra tòa án của TPP.

    2.2. Vai trò của Mỹ trong TPP.

    Đối với Hoa Kỳ, TPP là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện chính sách “ xoay trục” sang khu vực Châu Á sau nhiều năm tự giữ chân mình ở Trung Đông và đối trọng lại những ảnh hưởng ngày càng to lớn của Trung Quốc trên thế giới. Chính vì vậy, Nhà Trắng đã có những đóng góp không hề nhỏ trong sự thành công của TPP.

    Ngay từ những ngày đầu đàm phán, Hiệp định TPP đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ ngay trong nội bộ của nền kinh tế lớn nhất thế giới với những trở lực to lớn như: sự lo ngại, e sợ của các thành phần kinh tế trong nước; sự phản đối của một bộ phận người dân; sự phân hóa trong Quốc hội Hoa Kỳ; …. Để đạt được thành công của cuộc đàm phán tháng 10 vừa qua, Tổng thống Barrack Obama đã phải trải qua một chặng đường dài và đầy gian nan, nhất là thời điểm ông yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ gia hạn Quyền xúc tiến thương mại (TPA) hay còn được gọi với cái tên khác là Quyền đàm phán nhanh để có thể toàn quyền đàm phán các thỏa thuận thương mại toàn cầu mà Quốc hội chỉ có thể thông qua hoặc bác bỏ toàn bộ chứ không có quyền sửa đổi.

    Theo lời chia sẻ của Ông Ron Kirk, một đại diện của Hoa Kỳ: “ Đàm phán TPP rất cam go vì các bên tham gia sẽ phải thảo luận và đưa ra nhiều quyết định khó khăn vì tất cả các vấn đề được thảo luận đều liên quan đến tương lai của đất nước mình.” Để đạt được Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương, phía Hoa Kỳ đã có nhứng nhượng bộ ở hai vấn đề lớn là dược phẩm có nguồn gốc từ sinh học và công nghệ xe hơi. Ví dụ về nhượng bộ của Hoa Kỳ trong vấn đề dược phẩm có nguồn gốc sinh học đó là trong danh mục các loại thuốc mà TPP bàn cãi có hơn ba ngàn loại thuốc được nghiên cứu và chế biến bởi các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều yêu cầu Hoa Kỳ rút ngắn thời hạn khai thác trước khi nó trở thành dược phẩm được các doanh nghiệp khác chế biến trên cơ sở thành phần gốc của doanh nghiệp nghiên cứu ra từ 12 năm xuống còn từ 5-7 năm nhằm nhanh chóng có thuốc rẻ cho người nghèo. Kết quả, Mỹ đã nhượng bộ bằng một số quy định nhập nhằng về kỳ hạn 5 năm và 8 năm.

    Với vị thế là nền kinh tế lớn nhất thế giới, việc Hoa Kỳ tham gia vào Hiệp định TPP đã góp phần nâng cao vị trí, vai trò cũng như tầm ảnh hưởng của TPP đối với kinh tế toàn cầu. Việc Hoa Kỳ tham gia ký kết hiệp định này cũng như nhận thức được những mục đích của Hoa Kỳ khi tham gia TPP, chính Trung Quốc – một quốc gia từ trước đến nay không mấy mặn mà với các hiệp định thương mại tự do cũng phải quan tâm nhiều hơn đến TPP.

    Trong TPP, vì là nền kinh tế số một toàn cầu nên Mỹ giữ vai trò vô cùng quan trọng. Đối với 11 thành viên còn lại của hiệp định, Hoa Kỳ như người anh cả, như cánh chim đầu đàn dẫn dắt các nước khác đặc biệt là các quốc gia đang phát triển tìm thấy con đường và cách thức để phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững. Không chỉ trong vấn đề kinh tế, khi TPP đã được ký kết tức là chính sách “xoay trục” của Tổng thống Obama bước đầu được thực hiện thì với tiềm lực quân sự lớn mạnh  của mình, Hoa Kỳ cũng sẽ trợ giúp các nước thành viên mỗi khi trong khu vực xảy ra những tranh chấp về vấn đề lãnh thổ. Cùng với đó, các quốc gia thành viên sẽ nhận được những giúp đỡ của Mỹ về phát triển và nâng cao trình đọ khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; ….

    2.3. Lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam.

    Theo các thống kê từ Hiệp hội Logistics, chi phí dành cho logistics ở nước ta chiếm khoảng 25% GDP hàng năm, cao hơn nhiều so với các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, …. Một khi TPP chính thức được phê duyệt và có hiệu lực với rất nhiều dòng thuế chỉ còn 0% hứa hẹn mang đến sự sôi động, náo nhiệt cho hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng khi TPP được ký kết thì ngành logistics là ngành được hưởng lợi đầu tiên do sự bùng nổ về giao thương. Đây thực sự là một cơ hội để ngành logistics Việt Nam tiếp tục phát triển và hoàn thiện mình.

    Vậy những lợi ích hay cơ hội của ngành logistics Việt Nam khi tham gia TPP là:

    • Các doanh nghiệp logistics Việt Nam sẽ được hưởng lợi một cách gián tiếp khi mà dòng chảy của thương mại mạnh lên sẽ kéo theo các nhu cầu về vận tải và dịch vụ logistics tăng cao.
    • Với những quy định về cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường hàng hóa, thương mại dịch vụ xuyên biên giới, tự do hóa thương mại và đầu tư, … chính là cơ sở để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cuả nước ta và qua đó tạo điều kiện để mở rộng nhu cầu vận chuyển, khả năng cung ứng và đầu tư thêm cho hệ thống kho bãi.
    • Do sản lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng cao nên các hoạt động thuộc dịch vụ logistics sẽ được đẩy mạnh, logistics Việt Nam sẽ chú trọng hơn lĩnh vực đầu tư cho cơ sở vật chất từ đó nâng cao chất lượng của cơ sở vật chất ngành logistics.
    • Được tham gia vào chuỗi cung ứng khu vực, được tiếp cận thị trường logistics rộng lớn với nhiều ưu đãi về thương mại để năng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ là cơ hội để ngành logistics Việt Nam phát triển hơn nữa.
    • Khi tham gia TPP, ngành logistics Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp logistics đến từ các nước thành viên khác. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp logistics của nước ta có thể thấy được khả năng thực sự của mình và tự mình tìm ra những bước đi đúng đắn hơn để hoàn thiện chính mình.
    • Cạnh tranh với các ngành logistics phát triển hơn, ngành logistics Việt Nam sẽ có điều kiện để học hỏi các kinh nghiệm về tổ chức, quản lý doanh nghiệp; thu hút khách hàng; nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ; … và nỗ lực hơn nữa để mang đến cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với chi phí hợp lý nhất.
    • Theo những thỏa thuận trong TPP, các nước thành viên có thể thực hiện và tăng cường các hoạt động hợp tác và hỗ trợ nhau nâng cao năng lực trong một số ngành cụ thể trong đó có logistics. Các bên cũng công nhận rằng công nghệ và đổi mới sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho hoạt động hợp tác và năng cao năng lực. Vì vậy, các doanh nghiệp logistics Việt Nam sẽ được hỗ trợ kỹ thuật để thúc đẩy và tạo điều kiện xây dựng, đào tạo năng lực; chia sẻ kinh nghiệm về thiết lập, thực hiện chính sách và thủ tục; trao đổi về chuyên gia, thông tin và công nghệ.
    • Cũng theo thỏa thuận của TPP, các quốc gia thành viên sẽ thông qua hoặc duy trì các thủ tục hải quan rút gọn và đơn giản hóa để phục vụ cho việc vận chuyển tốc hành, giải phóng hàng hóa hiệu quả nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa hai bên nên ngành logistics sẽ rút ngắn được thời gian thực hiện đối với nhiều hoạt động của mình.
    • Các chuỗi cung ứng sẽ được thúc đẩy phát triển và được tăng cường để tích hợp sản xuất, tạo thuận lợi cho thương mại và giảm chi phí kinh doanh trong khu vực thương mại tự do.
    • Các doanh nghiệp logistics sẽ được hỗ trợ để tham gia vào chuỗi cung ứng của khu vực thương mại tự do.

     

    CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP.

     

    Vào năm 2014, Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) đã quyết định đưa những vấn đề có liên quan đến TPP vào cuộc khảo sát về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để tìm hiểu những quan tâm của các doanh nghiệp Việt Nam đối với Hiệp định TPP. Theo kết quả nhận được từ cuộc khảo sát này, 70% trong số hơn 40000 doanh nghiệp của nước ta và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã biết đến TPP nhưng mức độ hiểu biết còn rất hạn chế. Không nhiều doanh nghiệp đã và đang theo dõi quá trình đàm phán của TPP cũng như những tác động của hiệp định đối với nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của chính mình trong tương lai. Thậm chí, vẫn còn một lượng nhỏ doanh nghiệp không hề biết đến sự tồn tại cuả TPP khi được nhóm nghiên cứu hỏi về vấn đề này.

    Vì vậy, để thực sự tận dụng được những lợi ích to lớn mà TPP mang lại, Đảng, Nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề.

    3.1 Về phía Đảng, Nhà nước và Chính phủ.

    Đảng, Nhà nước và Chính phủ ta cần phải:

    • Nâng cao sự hiểu biết của các doanh nghiệp, người dân về TPP bằng các biện pháp như tuyên truyền, giới thiệu, ….
    • Tổ chức và thực hiện việc thành lập công đoàn riêng độc lập với công đoàn của nhà nước cho công nhân theo đúng thỏa thuận trong TPP.
    • Tìm mọi biện pháp, phương thức có thể để nâng cao hàm lượng nội địa trong tất cả các sản phẩm của mình.
    • Nhanh chóng soạn thảo và đề xuất khung pháp luật phù hợp hơn với TPP; sửa đổi những bất cập vẫn đang tồn đọng trong luật pháp hiện giờ; nhất là đối với thủ tục hải quan.
    • Chú trọng hơn đến việc đào tạo và nâng cao chất lượng của nguồn lao động, cải cách, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của thể chế kinh tế thị trường.
    • Thúc đẩy việc thiết lập một môi trường đầu tư và thương mại mang tính minh bạch và cạnh tranh một cách công bằng để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài và phân bổ có hiệu quả các nguồn đầu tư.
    • Cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, nhất là đối với hệ thống giao thông.
    • Thúc đẩy tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp, tăng cường tổ chức các buổi trao đổi hay đối thoại với các doanh nghiệp, hiệp hội để đưa ra các bước đi đúng đắn nhất.
    • Rút ra kinh nghiệm và sửa chữa những sai lầm từ thời ký gia nhập WTO như chưa có những đường lối, ứng xử đúng đắn trong chính sách vĩ mô hay chưa có những cải cách cần thiết, kịp thời ngay từ bên trong quốc gia.

    3.2 Về phía doanh nghiệp.

    Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải:

    • Nâng cao hiểu biết của mình về TPP, những tác động tích cực của nó đến nền kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp mình; cả những khó khăn, thách thức khi tham gia TPP để đề ra hướng đi phù hợp và tận dụng hiệu quả nhất hiệp định này.
    • Chú trọng đầu tư cho đào tạo và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực; cải thiện, đổi mới và tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại; đầu tư thiết bị, máy móc hiện đại nhằm nâng cao năng suất lao động.
    • Quan tâm hơn nữa đến vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình.
    • Tăng cường hợp tác, thiết lập mối quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước.
    • Đổi mới phương pháp tổ chức, quản lý găn liền với việc hoàn thành các nghiã vụ của doanh nghiệp đối với xã hội và chú trọng đến văn hóa trong kinh doanh.
    • Nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
    • Học hỏi cách thức, phương pháp, kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp khác, tìm kiếm các cơ hội kinh doanh cho mình trên cơ sở những thỏa thuận của TPP và lợi thế so sánh của chính mình.
    • Tận dụng mọi nguồn lực, tiềm năng, khả năng có thể có của doanh nghiệp.
    • Quan tâm hơn nữa đến hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ nhằm tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới mẻ và có sức cạnh tranh cao hơn.

    KẾT LUẬN.

    Sự thành công bước đầu trong quá trình đàm phán ký kết Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã đánh dấu một cột mốc vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới của Việt Nam.

    Ngoài ra, khi tham gia ký kết TPP, kinh tế Việt Nam nhận được rất nhiều cơ hội để phát triển đặc biệt với những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp không hề nhỏ vào GDP hàng năm như: dệt may, nông nghiệp, ….

    Bên cạnh những cơ hội, lợi thế đó thì nước ta cũng vấp phải những thách thức và khó khăn để có thể thực hiện tốt những vấn đề đã được thỏa thuận trong TPP. Vì vậy, cả Chính phủ và các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn phải nỗ lực rất nhiều nếu không muốn bị loại bỏ.

    Dưới vai trò là một sinh viên chuyên ngành Logistics, em vô cùng mong muốn những tìm hiểu của mình về TPP sẽ có đóng góp sự phát triển của kinh tế Việt Nam và ngành logistics.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-H%C3%A0ng-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tìm ra những ý tưởng mới và các dự án đầu tư mới. Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó. Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra. Lúc đó các doanh nghiệp cần phải tìm nguồn tài trợ cho dự án bằng cách đi vay vốn.

    Mặt khác, NHTM là một trung gian tài chính lớn. Chính vì vậy các doanh nghiệp (các nhà đầu tư) sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn tài trợ cho các dự án đầu tư của mình. Để có thể cho vay theo dự án đầu tư (vốn lớn, thời gian dài) thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắn THTM có thể thu hồi lại được khoản cho vay. Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc làm hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các NHTM. Với những suy nghĩ trên, đồng thời trong quá trình thực tập em nhận thấy công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư có vai trò sức quan trọng đối với các doanh nghiệp và NHTM nên em đã chọn đề tài

    “Thẩm định dự án đầu tư của NHTM”

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo: PSG.TS Vương Trọng Nghĩa đã giúp đỡ em rất nhiều về mặt kiến thức và đặc biệt là về mặt tinh thần để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

    1.    ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    1.1 Đầu tư và dự án đầu tư.

    1.1.1 Hoạt động đầu tư.

    Lí thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ thống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:

    • =f(C,T,L,R)
    • khả năng phát triển của một quốc gia C:khả năng về vốn
    • công nghệ

    L:lao động

    R: tài nguyên thiên nhiên

    Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư.

    Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết qủa ở đây chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian …và lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (tức là đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể không lượng hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội …). Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Song dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, chúng ta đều nhìn thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kĩ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu qủa mong muốn. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được trạng thái mong muốn. Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ.

    1.1.2 Dự án đầu tư.

    Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Và đây cũng là phương tiện mà các chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục nhằm nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về mặt tài chính, từ phía chính phủ, các tổ chức chính phủ, các tổ chức tài chính.

    Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

    Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải mang tính cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, tức là phải thể hiện được các nội dung chính sau:

    3

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu

    Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nhất định và khoảng thời gian nhất định.

    Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng. Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.

    • Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.

     

    • Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều mang lại kết quả tương ứ

    *Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án.

    Phân loại dự án đầu tư

    Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự án đầu tư. Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:

    Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ.

    Theo phạm vi: trong nước quốc tế.

    Theo thời gian: ngắn, trung, dài hạn, nhưng thường các dự án là trung dài hạn.

    Theo nội dung và theo tính chất loại trừ.

    Với dự án của doanh nghiệp thường quan tâm đến hai cách phân loaị

    cuối.

    • Theo nội dung có:

    Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới những

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    khoản đầu tư mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sản xuất cũ.

    Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhà máy, phân xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêm những sản phẩm cùng loại cho thị trường.

    Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ, tạo ra một công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ.

    Theo tính chất loại trừ:

    Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án này không liên quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia. Các dự án được coi là phụ thuộc khi chấp nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giới hạn về nguồn lực hoặc sự liên quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môi trường …Tuy nhiên tính độc lập hay phụ thuộc của một dự án. Ví dụ một dự án đối với doanh nghiệp (nguồn lực giới hạn) là phụ thuộc (nếu thực hiện thì sẽ loaị bỏ dự án khác). Nhưng đối với Ngân hàng thì vấn đề đó không cần đặt ra bởi khả năng cho vay lớn, không vì cho vay một dự án này mà loại trừ cho vay đối với dự án khác.

    Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư dù thuộc loại nào cũng phải trải qua các giai đoạn nhất định (còn gọi là chu kì của dự án đầu tư). Có nhiều góc độ tiếp cận chu kì dự án. Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ xung cho nhau nhằm nâng cao dần độ chính xác của các kết quả nghiên cứu ở các bước tiếp theo.

    Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tư thì một dự án phải trải qua ba giai đoạn:

    Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các

    công việc cụ thể như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu

    5

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    tiền khả thi sơ bộ chọn dự án, nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật) đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)

    Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.

    Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các năm cuối cùng thanh lí và đánh giá.

    Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau. Mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu không thể thiếu được trong chu kì của một dự án đầu tư. Trước hết là đối với chủ đầu tư để có một quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư.

    Do đặc điểm của dự án đầu tư có sự phức tạp về mặt kĩ thuật, thời gian đầu tư tương đối dài nên khi tiến hành đầu tư thì Ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc để tránh những sai lầm không đáng có xảy ra.

    1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.

    Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định trước hết thường là quyết định tài chính. Đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn, đồng thời đặc điểm của các dự án đầu tư là thường yêu cầu một lượng vốn lớn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, các dự án thường bị lạc hậu ngay từ lúc có ý tưởng đầu tư. Sai lầm trong việc dự toán vốn ban đầu có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định có tính chiến lược, đòi hỏi cần phải được phân tích và cân nhắc kỹ lương trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

    6

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Là hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian dài.

    Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.

    Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.

    1.3. Thẩm định dự án đầu tư.

    1.3.1. Khái niệm, vai trò:

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình phân tích và làm sáng tỏ một loạt các vấn đề liên quan đến tính khả thi trong việc thực hiện dự án như: công suất, kỹ thuật, thị trường, tài chính, tổ chức… Với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết được sử dụng trong quá trình lập dự án đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có đạt được mục tiêu xã hội hay không? Có hiệu quả kinh tế, tài chính không?

    Hoạt động này trước hết là phục vụ chính cho nhà đầu tư, nhà tài trợ rồi đến cơ quan quản lý Nhà nước.

    – Đối với chủ đầu tư:

    Lập kế hoạch phối hợp giữa chính sách tài chính, marketing, nhân sự, tác nghiệp một cách chính xác nhất có thể để lựa chọn phương án tốt nhất và qua đó chủ đầu tư sẽ đạt được hiệu quả của tài chính mong muốn.

    • Với cơ quan Nhà nước: Giúp cho cơ quan nhà nước quyết định cho phép, chấp nhận dự án đó đi vào thực hiện có phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành, vùng, lãnh thổ?
    • Với nhà tài trợ: Có thể vay được lãi cao, thu hồi vốn gốc đúng hạn và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài.
    • Với Ngân hàng: Cho vay theo dự án có đặc điểm đem lại nguồn lợi tức lớn vì dự án thông thường là có thời hạn dài, quy mô lớn, tình tiết phức tạp.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Bên cạnh đó, thông tin về dự án đều do người chủ đầu tư (đi vay ngân hàng) lập nên, cung cấp nên không khỏi có những ý kiến chủ quan nhất định “rộng” với dự án. Điều đó buộc NH phải tự mình tiến hành thẩm định dự án một cách toàn diện về lợi ích cũng như rủi ro khi tham gia dự án của khách hàng để quyết định có nên cho vay hay không?

    Khi tiến hành cho vay vốn, Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro. Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn và bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường. Những con số tính toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dự án) chỉ là những dự kiến, bởi vậy chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Người lập dự án ở đây có thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập dự án, cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên gốc độ hẹp để nhìn nhặn các vấn đề của dự án. Có thể không tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ qua một số các yếu tố hoặc làm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt được sự ủng hộ, tài trợ của các bên có liên quan. Rõ ràng chủ đầu tư thẩm định dự án trước hết vì quyền lợi của mình song họ đứng trên quan điểm riêng.

    Do vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như các pháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp cho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh. Thẩm định dự án đầu tư trong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng. Như vậy trên góc độ người tài trợ, các Ngân hàng, tổ chức tài chính đánh giá dự án chủ yếu trên phương diện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu nợ của Ngân hàng.

    8

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án được xem xét và đánh giá trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước.

    Một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về thẩm định dự án đầu tư như sau:

    Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnh của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ.

    Thực tế người thẩm định dự án sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá từng phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi (thường chỉ với bản nghiên cứu khả thi – hay còn gọi là luận chứng kinh tế kĩ thuật) trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp chủ dự án và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động. Thẩm định dự án có ý nghĩa thể hiện ở việc giúp các dự án tốt không bị bác bỏ và dự án tồi không được chấp nhận. Tuy nhiên nhận định “tồi “, “khả thi “, “hiệu quả”… ở khía cạnh nào đó còn phụ thuộc vào góc độ của người thẩm định và khi đó họ sẽ đạt được những mục tiêu nhất định khi tiến hành thẩm định.

    NHTM với tư cách là “Bà đỡ” về mặt tài chính cho các dự án sản xuất đầu tư thường xuyên thực hiện công tác đầu tư. Việc thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của dự án còn nhằm xác định rõ hành lang an toàn cho các nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng cho các dự án. Vì vậy hiểu về sự cần thiết phải thẩm định dự án là một việc không thể thiếu được

    1.3.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư * Về phía nhà đầu tư

    Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tử phải cân nhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn. Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề,

    9

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    những chi tiết kỹ thuật… của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế, chính trị, xã hội mới. Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn.

    * Về phía Ngân hàng

    Việc cho vay trải qua ba giai đoạn:

    • Xem xét trước khi cho vay
    • Thực hiện cho vay
    • Thu gốc thu lãi

    Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ý nghĩa nhất định ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay.

    Để có một khoản vay chất lượng là điều mong muốn và mục tiêu hoạt động của NHTM. Nhưng nó là một điều cực kỳ khó khăn và NHTM vẫn thất bại khi cho vay vì thực tế vận động xã hội và thị trường luôn tồn tại không cân xứng về thông tin đầy đủ về nhau, do đó dẫn đến những hiểu biết sai lệch. Giữa NHTM và người vay cũng xảy ra tình trạng như vậy. Ngân hàng không có những thông tin đầy đủ về khách hàng dẫn đến Ngân hàng có thể thực hiện những khoản cho vay sai lầm. Đứng trước những rủi ro đó thì NHTM phải luôn cân nhắc đắn đo, xem xét và bằng những nghiệp vụ phải xác định những khách hàng tốt, khoản xin vay có chất lượng khi quyết định cho vay hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

    Do vậy trong ba giai đoạn trên, việc xem xét trước khi cho vay (bao gồm quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng) có ý nghĩa

    10

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    cực kì quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả các khoản vay và các hoạt của giai đoạn sau. Giai đoạn này được Ngân hàng tiến hành rất kĩ lưỡng với nhiều phương pháp nghiệp vụ đặc thù để đảm bảo, an toàn chất lượng.

    Hơn nữa, với chức năng quản lí và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, hoạt động Ngân hàng có tính chất đặc thù riêng mà các ngành khác không có được. Như đã nói ở trên, so với kinh doanh của các ngành kinh tế khác thì hoạt động Ngân hàng có nhiều rủi ro hơn cả. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, ngành Ngân hàng phải huy động và tạo mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Việc Ngân hàng cho vay không thể không cần biết doanh nghiệp sử dụng vốn làm gì, quan niệm đơn giản là chỉ cần trả nợ, hoàn toàn là một quan niệm sai lầm và thụ động. Theo quan niệm kinh doanh hiện nay thì Ngân hàng và doanh nghiệp là bạn hàng. Mà đã là bạn hàng của nhau thì khi xác lập quan hệ phải tìm hiểu và thăm dò lẫn nhau, đặt ra cho nhau những điều kiện đảm bảo lợi ích cho cả đôi bên. Chính vì vậy, mà NHTM trước khi quyết định cho vay phải luôn đối mặt với hàng loạt câu hỏi khác nhau:

    Cho ai vay?

    Vay như thế nào?

    Cho vay trong thời gian bao lâu?

    Quản lí các khoản vay như thế nào? Thu gốc và lãi ra sao?

    Bên cạnh đó một nguồn vốn quan trọng được Ngân hàng sử dụng cho vay là tiền gửi của khách hàng. Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển thì bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, Ngân hàng còn phải đảm bảo an toàn và thanh khoản tức là phải hoạt động có trách nhiệm với những đồng tiền của khách hàng và phải thoả mãn bất cứ một nhu cầu rút tiền nào của khách hàng vào bất cứ thời điểm nào.

    Đây là bài toán phức tạp mà Ngân hàng cần phải tìm lời giải đáp.

    11

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Quá trình tìm lời giải đúng cho bài toán này chính là công tác thẩm định các khoản cho vay.

    Trong quan hệ tín dụng, vấn đè cơ bản mà Ngân hàng phải quan tâm để đưa ra một quyết định cho vay là hiệu quả và an toàn vốn của Ngân hàng.

    Nói đến dự án đầu tư là nói đến một số lượng vốn lớn và thời gian dài, do vậy quyết định đầu tư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thuận lợi và phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải dự án nào cần vốn Ngân hàng cũng đáp ứng. Ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có khả thi, tính đựơc khả năng sinh lời của dự án… Muốn vậy Ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp vào Ngân hàng dự án đầu tư trên cơ sở dự án đầu tư cùng với các nguồn thông tin khác, Ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án để đưa ra quyết định về tính khả thi của dự án.

    Chính vì vậy việc thẩm định đúng đắn dự án đầu tư có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với các tổ chức tín dụng nó thể hiện:

    Giúp các tổ chức tín dụng nhìn nhận một cách lôgíc tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại, dự án xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trên cơ sở đánh giá chính xác đối tượng được đầu tư để có đối sách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

    Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp để xem xét xu hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Đây là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn.

    Thế nhưng muốn xem xét hiệu quả thực sự cho hoạt động tín dụng thì Ngân hàng không chỉ cần dừng lại ở giai đoạn kiểm tra trước mà phải tiếp

    12

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    tục kiểm tra trong, sau quá trình cho vay, đảm bảo vốn của Ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, đem lai hiệu quả thực sự.

    * Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan

    Chúng ta biết rằng vấn đề thiếu vốn đang rất phổ biến ở nước ta. Trong điều kiện hiện nay cơ sở hạ tầng còn rất nghèo nàn, lạc hậu như hiện nay thì việc đầu tư là rất cần thiết. Tuy nhiên, với nguồn vốn hạn hẹp, số lượng các dự án đầu tư lại rất lớn thì quyết định vốn cho dự án nào là rất quan trọng và khó khăn muốn có quyết định này người ta phải tiến hành kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư là dự án mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội. Hiệu quả được nhắc đến ở đây không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường.

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả.

    Tóm lại, vài nét nêu trên đã phần nào khắc hoạ được vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư. Chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một công việc hết sức quan trọng. Nó có vai trò trên cả tầm vĩ mô (xã hội) và tầm vi mô (Ngân hàng, doanh nghiệp). Bởi lẽ nếu làm tốt công tác thẩm định không những đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho Ngân hàng mà khi nhìn vào đó, các Ngân hàng, tổ chức tài chính, các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ an tâm hơn khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thông qua các Ngân hàng trong nước, đặc biệt là NHTM quốc doanh. Chính các yếu tố đó đòi hỏi Ngân hàng phải tiếp tục đổi mới và không ngừng nâng cao quy trình thẩm định dự án đầu tư.

    13

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    2.    PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.

     

    2.1   Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    2.1.1 Các bước thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    Bước1: Thu thập số liệu thông tin về đơn vị vay vốn và về các khía cạnh liên quan đến dự án đầu tư:

    • Đơn vị sẽ lập hồ sơ vay vốn rồi nộp cùng hồ sơ pháp lý của mình, của dự án, và các báo cáo tài chính…
    • Ngân hàng sẽ tra cứu thu thập các thông tin pháp lý báo cáo của cơ quan ngành báo chí về doanh nghiệp, thông tin do trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp cung cấp.

    Bước2: Xử lý và đánh giá thông tin.

    Như xem xét tính chính xác của thông tin, tính toán các chỉ tiêu, so sánh chỉ tiêu, hỏi ý kiến chuyên gia tư vấn về những lĩnh vực cán bộ NHTM chưa rõ…để có kết quả thẩm định tối ưu.

    Bước3: Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng cho ý kiến của mình rồi trình bày giám đốc, phó giám đốc NHTM có cho vay hay không? Nếu có thì các điều khoản như thế nào?

    2.1.2 Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư.

    Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế, người ta thường phải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây).

    * Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)

    Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Công thức tính:

    NPV = Co + PV

    Trong đó:

    NPV là giá trị hiện tại ròng

    Co là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu

    tư)

    PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại

    trong thời gian hữu ích của nó. PV được tính      
    PV = C1 + C2 + C3 + . . . . . + Ct  
             
    (1 +r) (1+r)2 (1+r)3 (1+r)t  
           

    Ct là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án

    • nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xác minh chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn. người ta có thể lấy bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường là chi phí bình quân của vốn. Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biến động lãi suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khi thực hiện dự án…

    Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án đầu tư theo nguyên tắc:

    Nếu các dự án đầu tư thì tuỳ thuộc theo quy mô nguồn vốn, các dự án có NPV≥0 đều được chọn (Sở dĩ dự án NPV=0 vẫn có thể chọn vì khi đó có nghĩa là các luồng tiêu thụ của dự án vừa đủ để hoàn vốn đầu tư và cung cấp một tỷ lệ lãi suât yêu cầu cho khoản vốn đó). Ngược lại NPV< 0 ⇒ bác bỏ dự án

    15

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Nếu các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV≥ 0 và lớn nhất thì được chọn.

    Sử dụng phương pháp NPV để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư có ưu nhược điểm sau:

    Ưu điểm:

    Phương này tính toán dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu (tức là hiện tại hoá dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.

    Lựa chọn dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án nào có làm tối đa hoá sự giàu có của chủ đầu tư.

    Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãi suất mà tại các luồng có tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó là giả định thích hợp nhất.

    Nhược điểm:

    Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn. Cụ thể: r càng nhỏ ⇒NPV càng lớn và ngược lại. Trong khi đó, việc xác định đúng r là rất khó khăn.

    Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu).

    Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa. Muốn so sánh được, phải giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau. Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các thời gian dự án. Đây là việc tính toán phức tạp mất thời gian.

    * Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)

     

    16

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án. Về mặt kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV=0, tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư. đối với dự án đầu tư có thời gian là T năm, ta có công thức:

      C1     C2   CT
    NPV = C0   +     +     +…. +     = 0
         
    (1 +IRR)   (1+IRR)2 (1+IRR)T
    • nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn thiết của dự án. IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh.

    Người ta sử dụng hai cách:

    Tính trực tiếp: Đầu tiên chọn 1 lãi suất chiết khấu bất kì, tính NPV. Nếu NPV>0, tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu và ngược lại. Lặp lại cách làm trên cho tới khi NPV= 0 hoặc gần bằng 0, khi đó mức lãi suất này bằng IRR của dự án đầu tư.

    Phương pháp nội suy tuyến tính:       thường được sử dụng. Đầu tiên

    chọn 2 mức lãi suất chiết khấu sao cho: Với r1 ⇒ có NPV1> 0

    Với r2⇒ có NPV2< 0

    Áp dụng công thức:

    IRR = r1 + NPV 1 (r1 r2)  
    NPV 1 NPV 2  
       

    Chênh lệch giữa r1 và r2 không quá 0.05 thì nội suy IRR mới tương đối đúng.

    Sử dụng IRR để đánh giá, lựa chọn dự án sau :

    17

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Trước hết lựa chọn một mức lãi suất chiết khấu làm IRRĐM (IRR định mức thông thường đó chính là chi phí cơ hội)

    So sánh nếu IRR ≥ IRRĐM thì dự án khả thi thi về tài chính, tức là: nếu là các dự án đầu tư là độc lập tuỳ theo quy mô nguồn vốn, các dự án có IRR ≥ IRRĐM được chấp nhận.

    Nếu các dự án đầu tư loại trừ nhau: chọn dự án có IRR ≥ 0 và lớn

    nhất.

    Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của tiền. Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả vốn đầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác.

    Phản ánh hiệu quả sinh lời của một đồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sử dụng so sánh chi phí sử dụng vốn. IRR cho biết mức lãi suất tiền vay tối đa mà dự án có thể chịu được. Giải quyết được vấn đề lựa chọn các dự án khác nhau.

    Nhược điểm: Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án, sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm. Với dự án có những khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị, và như vậy việc áp dụng IRR không còn chính xác.

    Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỉ lệ tái đầu tư.

    Ngoài ra còn tính theo phương pháp tỉ lệ hoàn vốn nội bộ điều chỉnh (MIRR) MIRR là tỉ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của chi phí đầu tư bằng giá trị hiện tại của tổng giá trị tương lai của các luồng tiền ròng thu từ dự án với giả định luồng tiền này được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất bằng chi phí vốn. Đây cũng chính là điểm ưu việt của phương pháp MIRR so với phương pháp IRR.

    18

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Về mặt toán học, phương pháp tính NPVvà IRR luôn cùng đưa đến quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án đói với những dự án độc lập. Tuy nhiên có thể có hai kết luận trái ngược cho những dự án loại trừ. Trong trường hợp có sự xung đột giữa hai phương pháp, việc lựa chọn dự án đầu tư theo phương pháp NPVcần được coi trọng hơn bởi những phân tích đã chỉ ra rằng: phương pháp NPV ưu việt hơn phương pháp IRR.

    • Thời gian hoàn vốn: (P.P:Payback Peried)

    Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu.

    Có hai cách tính chỉ tiêu này: thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không tính đến giá trị thời gian của tiền) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu (quy tất cả các khoản thu nhập chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn).

    19

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Công thức tương tự nhau

      Số năm trước năm   Số năm ngay trước  
      các luồng tiền  
    Thời gian hoàn vốn =   năm các  
    của DA đáp ứng +
      Luồng tiền thu được  
      được chi phí  
        trong năm  
         

    Việc tính toán có thể được thực hiện trên cơ sở lập bảng:

    Công thức tính thời gian hoàn vốn cung cấp một thông tin quan trọng rằng vốn của công ty bị trói buộc vào mỗi dự án là bao nhiêu thời gian. Thông thường nhà quản trị có thể đặt ra khoảng thời gian hoàn vốn tối đa và sẽ bác bỏ dự án đầu tư có thời gian hoàn vốn lâu hơn.

    Sử dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư theo nguyên tắc: Dự án có thời gian hoàn vốn càng nhỏ càng tốt, chọn dự án có thời gian hoàn vốn nhỏ nhất trong các dự án loại trừ nhau.

    Ưu điểm: của phương pháp này:

    Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc. Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết. Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong một tương gần thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án.

    Việc thấy rõ được thời gian thu hồi vốn cho phép đề xuất những giải pháp để rút ngắn thời hạn đó.

    Hạn chế: Tuy nhiên phương pháp thời gian hoàn vốn có một số hạn chế mà có thể dẫn tới những quyết định đó là: thời gian hoàn vốn không chiết khấu không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ không được đề cập. Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được

    20

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    hiệu quả tài chính của cả đời dự án. Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét và đánh giá. Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu.

    * Phương pháp tỷ số lợi ích / chi phí (Benefit-Cost Ratio: BCR)

    Phản ánh khả năng sinh lời của dự án trên mỗi đơn vị tiền tệ vốn đầu tư (quy về thời điểm hiện tại).

      Bi i  
      n      
           
    BCR = i=0 (1+r)  
    Ci i  
      n      

    i=0 (1+r)

    Bi: Luồng tiền dự kiến năm i

    Ci: Chi phí năm i

    Nguyên tắc đánh giá: nếu có dự án có BCR ≥ 1. Suy ra được chấp nhận (khả thi về mặt tài chính).

    BCR là chỉ tiêu chuẩn để xếp hạng các dự án theo nguyên tắc dành vị trí cao hơn cho dự án có BCR cao hơn.

    Ưu điểm: nó cho biết lợi ích thu được trên một đồng bỏ ra, từ đó giúp chủ đầu tư lựa chọn, cân nhắc các phương án có hiệu quả.

    Nhược điểm: là một chỉ tiêu tương đối nên dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, vì thông thường các dự án có BCR lớn thì có NPV nhỏ và ngược lại.

    * Phương pháp điểm hoà vốn:

    Điểm hoà vốn là điểm tại đó mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn (không lỗ, không lãi).

    21

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Điểm hoà vốn có thể được thể hiện bằng mức sản lượng hoặc doanh

    thu:

    Sản lượng hoà vốn: Qhv

    Q   = FC  
    HV P V  
       

    Trong đó:   FC: là tổng chi phí

    P : giá bán đơn vị sản phẩm

    • : chi phí biến đổi một sản phẩm (P-V. lãi gộp một đơn vị sản phẩm) Doanh thu hoà vốn
    RHV = QHV × P = P × FC = FC  
    P V    
      1− V  
      P  
             

    Trường hợp sản xuất một loại sản phẩm

    Nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì tính thêm trọng số của từng loại sản phẩm.

    RHV = FC
    n
      ∑(1− V i ) × wi

    i=1          Pi

    Thông thường người ta chọn một năm đặc trưng để tính. Dự án có điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt.

    Khả năng thu lợi nhuận càng cao ⇒ Khả năng thua lỗ càng nhỏ (hay vùng an toàn cao).

    22

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Sau khi có điểm hoà vốn, có thể xác định thêm chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn. Tính:

      Doanh thu hoà vốn
    Mức hoạt động hoà vốn =   x 100%
     

    Doanh thu lý thuyết

    Doanh thu lí thuyết là doanh thu tính theo công suất thiiết kế. Mức hoạt động vốn cho thấy khả năng phát triển của dự án.

    Điểm hoà vốn chỉ xét riêng cho từng dự án cụ thể vì thực tế dự án thuộc các ngành khác nhau, có cơ cấu vốn đầu tư khác nhau.

    Nếu cùng một dự án mà có nhiều phương án khác nhau thì có thể nên ưu tiên cho những phương án có điểm hoà vốn nhỏ hơn.

    Ưu điểm: của phân tích điểm hoà vốn

    Đưa ra những chỉ tiêu về mức độ hoat động tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có lợi nhuận.

    Nó cho biết sản lượng hoà vốn là bao nhiêu, do đó lầm chủ đầu tư tìm cách đạt đến điểm hoà vốn trong thời gian ngắn nhất.

    Hạn chế: Điểm hoà vốn không cho biết quy mô lãi ròng của cả đời dự án cũng như hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra.

    Mặt khác, việc phân tích trở nên phức tạp và tính chính xác không cao khi có đầu tư bổ sung thay thế.

    Một yếu tố không kém phần quạn trọng cần được xem xét là.

    * Độ nhạy của dự án:

    Môi trường xung quanh thường xuyên tác động tới dự án đầu tư trên nhiều mặt cấp độ khác nhau. Do vậy khi xem xét dự án ngoài cách xem xét dự án qua các chỉ tiêu ở trạng thaí tĩnh, cần phải đặt dự án đầu tư ở trạng thái động trong xu thế biến động của các yếu tố bên ngoài.

    23

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Để có một cách đánh giá khách quan toàn diện hơn về dự án, thông thường để xem xét độ nhạy người ta thường tính toán thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR khi có sự biến đổi của một số nhân tố:

    +Giá bán sản phẩm.

    • Giá đầu vào thay đổi. +Vốn đầu tư.

    +Tỷ giá lên xuống.

    Trên thực tế khi tính độ nhạy cảm của dự án, người ta cho các biến số thay đổi 1% so với phương án lựa chọn ban đầu và tính NPV và IRR thay bao nhiêu %.

    • nghĩa của việc phân tích độ nhạy của dự án là giúp cho ngân hàng có thể khoanh được hành lang cho sự đầu tư của doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, thẩm định dự án còn tiến hành thêm phân tích tài chính dự án đầu tư trong đó thường sử dụng các phương pháp phân tích sau.

    Phân tích diễn biến nguồn vốn sử dụng.

    Phân tích luồng tiền mặt.

    Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian.

    Kết hợp giữa đánh giá hiệu quả tài chính với phân tích tài chính dự án trong thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ cho Ngân hàng một kết qủa chính xác hơn, toàn diện hơn và bao quát hơn được toàn bộ dự án vừa xem xét trên từng góc độ cấp khác nhau.

    Như vậy mỗi chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư có những ưu nhược điểm nhất dịnh. Tuy nhiên mức độ không như nhau. Mỗi chỉ tiêu thẩm định dư án sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chấp nhận dự án nhất định (có thể do nội tại chỉ tiêu mang lại hoặc tiêu

    24

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    chuẩn qua so sánh chỉ tiêu khác). Kết quả thẩm định thông qua những chỉ tiêu sau khi so sánh với giá trị tiêu chuẩn sẽ nói lên ý nghĩa của từng mặt vấn đề. Như vậy qua việc thẩm định bằng một hệ nhiều chỉ tiêu, kết luận chung, cuối cùng về dự án đầu tư phải là kết luận mang tính tổng hợp, khái quát, thậm chí phải nhờ vào sự cho điểm có phân biệt tầm quan trọng khác nhau của chỉ tiêu đánh giá. Mặt khác, kết luận chung đôi khi cũng cần tính linh hoạt, tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và sự ưu tiên khía cạnh nào đó của dự án.

    Song mặt quan trọng nhất ở đây, là phải dự kiến và xác định chính xác luồng tiền ra vào bởi các phương pháp trên đều dựa trên cơ sở các dòng lợi ích, chi phí của dự án.

    Thuế thu nhập cũng ảnh hưởng đến các dự án không giống nhau nên số liệu về các dòng tiền liên quan đến mỗi dự án đưa và để tính toán, đánh giá dự án phải là số liệu sau thuế. Không đưa chi phí trả lãi vay vào dòng tiền mặt của dự án vì khi chiết khấu ta đã tính đến giá trị theo thời gian của tiền, nếu đưa vào nghĩa là đưa chi phí vay tiền mà không tính tới lợi ích vay vốn mang lại. Bên cạnh đó cần chú ý rằng, thu nhập ròng hàng năm của dự án bao gồm lợi nhuận sau thúe và khấu hao tài sản cố định vào năm cuối dự án có thêm vốn lưu động ròng thu hồi và giá trị thanh lí tài sản cố định. Khi thẩm định Ngân hàng phải kiểm tra tính hợp lí của phương pháp khấu hao do chủ đầu tư đưa ra vì khấu hao là một khoản thu trong nội bộ dự án để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trước kia.

    Xử lí vấn đề lạm phát trong phân tích tài chính dự án: Lạm phát tác động tới tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo những hướng khác nhau. Lạm phát là thay đổi các biến số tài chính trong bản báo cáo tài chính và đó tác động đến tính toán các chỉ tiêu thẩm định. Tuy nhiên việc phân tích dự án trong điều kiện có lạm phát dự tính vẫn theo nguyên tắc cơ bản như trường hợp không có rủi ro lạm phát, có thể dùng dòng tiền danh

    25

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    nghĩa hoặc dòng tiền theo sức mua nhưng phải được thực hiện một cách nhất quán (nghĩa là sử dụng tương ứng với tỉ suất chiết khấu danh nghĩa và tỉ suất chiết khấu thực). Trong thực tế, thường giá cả các yếu tố đầu vào, ra trong thời gian hoạt động của dự án được điều chỉnh theo một diễn tiến mà người thẩm định giả định cho các thời kì tương lai, phần nào nêu lên chiều hướng thay đổi tương đối của giá trong tương lai cũng như dự đoán được tác động của lạm phát. Một yếu tố không kém phần quan trọng mà ta cần phải nói tới đó là độ nhạy của dự án.

    2.2      Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định.

    2.2.1 Nhân tố chủ quan.

    Chất lượng thẩm định bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cơ bản có thể phân ra nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về nội bộ mà Ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được.

    • Nhân tố con người.

    Con người được coi là động lực của sự phát triển xã hội với ý nghĩa họ chính là chủ thể đồng thời là đối tượng phục vụ mà các hoạt động xã hội hướng tới. Nhân tố con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi công việc. Trong hoạt động thẩm định, chính con người xây dựng quy trình với những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết định cả những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau. Song ở đây, ta chỉ tập trung đề cập đến nhân tố con người dưới giác độ là đối tượng trực tiếp tổ chức, thực hiện thẩm định dự án đầu tư (cán bộ thẩm định).

    Kết quả của thẩm định tài chính dự án là kết quả của việc phân tích đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của người thẩm định song phải dựa trên cơ sở khoa học, trang thiết bị hiện đại …sẽ là không

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    có ý nghĩa nếu cán bộ thẩm định không thể không cố gắng sử dụng chúng một cách có hiêụ quả.

    Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định phải kể đến các khía cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức của người thẩm định. Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần mà bao gồm hiểu biết về khoa học – kinh tế – xã hội. Kinh nghiệm là những cái được tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và khả năng nắm bắt xử lí công việc trên cơ sở các tri thức đã tích luỹ. Như vậy, trình độ cán bộ thẩm định ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng như thẩm định dự án nói chung là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần là việc tính toán theo những mẫu biểu sãn có. Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say mê với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định cố phẩm chất đạo đức không tốt sẽ ảnh hướng tới tiến độ công việc, mối quan hệ Ngân hàng – khách hàng … đặc biệt những nhận xét đánh giá đưa ra sẽ bị chi phối bởi những nhân tố không phải từ bản thân dự án, do đó tính khách quan, hoàn toàn không tồn tại và ý nghĩa của việc thẩm định.

    Những sai lầm trong thẩm định dự án tài chính đầu tư từ nhân tố con người dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hậu quả: đánh giá sai lệch hiệu quả, khả năng tài chính cũng như khả năng hoà trả vốn vay Ngân hàng, do đó Ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ, nghiêm trọng hơn là nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh.

    • Quy trình thẩm định:

    Quy trình thẩm định của mỗi Ngân hàng là căn cứ cho cán bộ thẩm định thực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ. Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nội dung, phương pháp thẩm định và trình tự tiến hành những nội dung đó. Quy trình thẩm định được xây

    27

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    dựng một cách khoa học, tiên tiến và phù hợp với thế mạnh và đặc trưng của Ngân hàng sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài chính. Nội dung thẩm định cần đề cập đến tất cả các vấn đề về tài chính dự án đứng trên giác độ Ngân hàng: vấn đề vốn đầu tư (tổng, nguồn, tiến độ …) hiệu quả tài chính khả năng tài trợ và rủi ro dự án. Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá.

    Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chính của dự án cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng. Phương pháp hiện đại, khoa học giúp các bộ thẩm định, phân tích tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn.

    Thực tế những năm vừa qua, các Ngân hàng thương mai Việt Nam đẫ chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được áp dụng rất lâu từ các nước phát triển.

    Các nội dung thẩn định tài chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, lôgic sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc phân tích các klhía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức thuyết phục hơn.

    * Phương pháp thẩm định:

    Đội ngũ cán bộ thực hiện quy trình thẩm định: Trình độ chuyên môn, hiểu biết các lĩnh vực liên quan tới dự án đầu tư như: Quản trị kinh doanh, kỹ thuật, đạo đức của cán bộ… đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả thẩm định. Thiếu hiểu biết sẽ làm công tác này mất thời gian, chi

    28

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    phí cho cả ngân hàng, doanh nghiệp ( có thể mất cơ hội kinh doanh, rồi có thể gặp rủi ro nợ không trả được…)

    * Nội dung thẩm định:

    Thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp, tình hình tài chính quá khứ, tài sản đảm bảo…kiểm soát sau vay đều ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án.

    • Các nhân tố khác:

    Vấn đề thông tin và xử lý thông tin

    Thực chất thẩm định là xử lí thông tin để đưa ra nhũng nhận xét, đánh giá về dự án. Nói một cách khác thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Do đó số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định.

    Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ bản nhất cho việc thẩm định. Nếu thấy thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ tín dụng có thể yêu càu chủ đầu tư cung cấp thêm hoặc giải trình về những thông tin đó. Tuy nhiên như đã đề cập ở phần trước, dự án được lập ra phần nào mang tính chủ quan của dự án, hoặc không nhìn nhặn thấu đáo mọi khía cạnh, hoặc cố ý làm cho kế hoạch rất khả thi trước Ngân hàng, do vậy không phải là nguồn thông tin duy nhất để Ngân hàng xem xét. Ngân hàng cần chủ động, tích cực tìm kiếm, khai thác một cách tốt nhất những nguồn thông tin có thể được từ Ngân hàng Nhà nước, viện nghiên cứu, báo chí … Tuy vậy, việc thông tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ sở cho phân tích. Để phục vụ tốt cho công tác thẩm định chung cũng như thẩm định tài chính nói riêng, các thông tin thu thập được đảm bảo tính chính xác, kịp thời.

    Nếu thông tin không chính xác thì phân tích là không có ý nghĩa cho dù là có sử dụng phương pháp hiện đại đến mức nào. Đánh giá trong điều

    29

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    kiện thông tin không đầy đủ cũng có thể dẫn đến những sai lầm như trường hợp thông tin không chính xác. Như vậy, cần phải thu thập đầy đủ thông tin.

    Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao độ hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập các thông tin cần thiết sẽ ảnh hưởng đến chấtt lượng thẩm định, quan hệ Ngân hàng – khách hàng và có thể mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt.

    Vai trò của thông tin rõ ràng là quan trọng, song để có thể thu thập, xử lí lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kĩ thuật. Công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngành Ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lí, lưu trữ thông tin đầy đủ, nhanh chóng. Như vậy các thông tin đầu vào đầu ra của việc thẩm định dự án sẽ được cung cấp đầy đủ kịp thời.

    Tổ chức điều hành

    Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận đó trong việc thực hiện, cần có sự phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học và tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện nhưng không cứng nhắc, tạo gò bó nhằm đạt được tính khách quan và việc thẩm định được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện mà vẫn bảo đảm chính xác. Như vậy việc tổ chức, điều hành hoạt động thẩm định nếu xây dựng được một hệ thống mạnh, phát huy tận dụng được tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và sức mạnh tập thể sẽ nâng cao được chất lượng thẩm định.

    2.2.2 Nhân tố khách quan.

    Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể khắc phục và thích nghi.

    * Từ phía doanh nghiệp

     

    30

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Hồ sơ dự án mà chủ đầu tư trình lên là cơ sở quan trọng để Ngân hàng thẩm định do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của Ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính toán, thu nhập thêm thông tin… đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khả năng quản lí cũng như tiềm lực tài chính rất hạn chế rủi ro dự án tạo hoạt động không hiệu quả như dự kiến càng lớn với Ngân hàng – người cho vay phần lớn vốn đầu tư vào dự án.

    Mặt khác tính trung thực của thông tin do chủ đầu tư cung cấp cho Ngân hàng về: tình hình sản xuất kinh doamh và khả năng tài chính hiện có, những thông số trong dự án… cũng như mọi vấn đề.

    * Môi trường kinh tế

    Mức độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm năng lực phổ biến của chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô… đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế…Đồng thời các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành… chưa được xây dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích, chấp nhận hay phê duyệt dự án.

    * Môi trường pháp lí

    Những khiếm khuyết trong tính hợp lí đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lí của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định (cũng như kết quả hoạt động của dự án). Ví dụ sự mâu thuẫn chồng chéo của các văn bản, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đỏi liên tục những văn bản về quy chế quản lí tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống

    31

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    kê… làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian cũng như khó khăn cho Ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong thu thập những thông tin chính xác (ví dụ như một doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau).

    3.    THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

     

    3.1   Khái quát về Ngân hàng thương mại.

    3.1.1   Khái niệm về Ngân hàng thương mại.

    Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi như là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người, được ví như “sự phát minh ra lửa” hay “sự phát minh ra bánh xe”…

    Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu thuẫn là: có những người thiếu vốn và có những người thừa vốn, những người có cơ hội đầu tư sinh lời nhưng không có tiền và những người có tiền nhưng không có cơ hội sử dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng như tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối được sự khác biệt về không gian và thời gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa những người tiết kiệm và người đầu tư), đưa đồng vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu, đồng thời giảm được chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm như vậy các NHTM đã góp phần nâng cao được năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư thông qua hai con đường: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính). Và NHTM cũng không phải là trung gian tài chính duy nhất.

    Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trường tài chính qua sơ đồ sau:

    Vốn

    -Người cho vay

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    -Chính phủ

    -Người nước ngoài

    Các trung gian tài chính.

    NHTM, Công ty tài chính,

    bảo hiểm

    -Người cho vay

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    Vốn                                   -Chính phủ

    -Người nước ngoài

    Các thị trường tài

    chính

    Song trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ được vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm cũng như những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế chưa phát triển như Việt Nam.

    Vai trò to lớn của hoạt động Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc trưng của hoạt động Ngân hàng. NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại

    • lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ

    33

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.

    3.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại.

    3.1.2.1. Huy động vốn.

    Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đồng thời trong những trường hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

    * Huy động bằng tiền gửi

    – Tiền gửi không kỳ hạn:

    Thực chất là tiền gửi giao dịch của tổ chức, cá nhân. Với NH đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại có quy mô lớn thường là trên dưới 20% tổng nguồn huy động.

    Người sử dụng tài khoản loại này phần lớn để thanh toán cho khách hàng bằng cách phát hành séc hay rút tiền mặt. Đây vừa là tài sản có của khách hàng vừa là tài sản nợ của NH và NH có trách nhiệm hoàn trả lại cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó giúp cho NH huy động được lượng vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng, qua đó thu chi phí dịch vụ và sử dụng tài sản này của khách hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh với chi phí rất thấp. Nhưng nó cũng yêu cầu NH phải dự trữ thường xuyên lớn nên nhiều khi bỏ qua cơ hội kinh doanh, ngược lại nếu dự trữ ít thì sẽ phải đi vay với chi phí cao.

    34

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Tuy nhiên với xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến nhờ ưu điểm an toàn, tiện lợi, chi phí lưu thông thấp và mục tiêu quan trọng nhất: Kiểm soát tốt hơn lượng tiền cung ứng thì tài khoản tiền gửi ở các NHTM Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.

    – Tiền gửi tiết kiệm:

    Là tài khoản có thời hạn cố định hoặc mức giới hạn về số tiền, tài khoản này đáp ứng nhu cầu của dân cư, hộ gia đình kinh doanh là chủ yếu vì họ có những món tiền nhỏ bé gửi vào rút ra bất thường.

    • Khác với hai loại trên tiền gửi có kỳ hạn là loại tài khoản có xác

     

    định trước số tiền gửi vào và thời gian rút ra. Về mức lãi có thể cố định hoặc giao động tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. ở Mỹ, tính trung bình thì khoản tiền gửi định kỳ này chiếm khoảng 30% tiền gửi NH. Có thể chia ba loại:

    • Tiền gửi có kỳ hạn ngắn ( dưới 1 năm)
    • Tiền gửi trung hạn ( từ 1-5 năm)
    • Tiền gửi dài hạn ( từ 5 năm trở lên)

    Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng lớn.

    Hai loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lợi chứ không phải để giao dịch như tài khoản không kỳ hạn. Vì vậy, nó có những ưu nhược điểm:

    Ưu điểm:

    • Tiền gửi tiết kiệm mang lại nguồn vốn lớn nhất trong các nguồn vốn huy động được, có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn.
    • Tiền gửi kỳ hạn là nguồn mang tính ổn định do hoạt động của NH, giúp NH chủ động trong ký kết hợp đồng tín dụng về lãi suất, thời hạn.

    Nhược điểm:

     

    35

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Tiền gửi tiết kiệm có chi phí cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và NH phảI dự trữ lượng tiền lớn để chi trả và đôi khi mất đi cơ hội kinh doanh.

    +Nếu lãi suất của loại tiền gửi kỳ hạn biến động lớn thì cũng gây khó khăn cho NH trong việc huy động cũng như cho vay.

    * Huy động bằng cách đi vay:

    • Đầu tiên các NH thường xét đến việc đi vay các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là các NH khác. Khi mà họ cần cấp tín dụng với số lượng lớn cho khách hàng. Vì các tổ chức tín dụng thường xuyên có quan hệ giao dịch, thanh toán, hỗ trợ nhau để cùng tồn tại và phát triể
    • Vay trực tiếp bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ( nhưng thường là kỳ phiếu ở Việt Nam ).
    • Bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng bằng các chứng chỉ tiền gử Ngoài ra, còn có thể bán nợ.
    • Vay ngân hàng trung ương ( ở Việt Nam là ngân hàng Nhà Nước), bằng tái chiết khấu thương phiế Hiện nay ở Việt Nam chỉ có hình thức cho vay tái cấp vốn cho các NHTM.

    * Nhận các quỹ uỷ thác đầu tư của Chính phủ, các tổ chức quốc tế để cho vay đối tượng đã được lựa chọn.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cường cho vay đầu tư khi huy động được nguồn vốn dồi dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tư của Ngân hàng thường sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này như thanh toán chuyển tiền. Ngược lại, chất lượng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư …

    Ngân hàng có thể tạo nguồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là từ tiền gửi các cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ quan theo các loại hình thức khác nhau: ngắn, trung, dài hạn…Bên cạnh đó là hoạt động vay từ cá nhân, tổ chức… hoặc ngân hàng phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay vay từ các hình thức khác.

    3.1.2.2. Sử dụng vốn.

    Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:

    Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thường không sinh lời.

    Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân

    37

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    hàng nắm giữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận.

    Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng.

    Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng được lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.

    Tuy nhiên, các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về trầm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay theo dự án.

    Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương

    mại.

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xưởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều đặn và phát triển thì cần được đáp

    38

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không những phải duy trì mà còn phải thường xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lượng vốn đầu tư cũng cần phải được tăng lên gấp bội.

    Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ.

    Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như: vật tư kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu tư. Xét theo đối tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động (gọi là vốn lưu động). Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, hướng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư phát triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được sử dụng vaò các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản cố định. Là một nước đang phát triển,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Đó là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số sống

    39

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá là phải tạo ra cho được những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những thành quả đạt được trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao và tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực thì một trong những vấn đề đang được quan tâm là nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

    Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/người vào năm 2005, tức là đạt trên 450USD/người.

    Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nước thì để đạt được mục tiêu trên, nước ta phảỉ huy động được từ 45-50 tỷ USD cho đầu tư trong đó vốn trong nước phải đảm bảo từ 20 – 25 tỷ USD.

    Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nước ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài.

    Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần có một lượng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Như trên đã nói chúng ta có thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng

    40

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp.

    Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trường và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được đòi hỏi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn.

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có

    41

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ưu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh được các chi phí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lượng vốn rất lớn. Nhu cầu này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cư, vay nước ngoài. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các NHTM dưới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi, bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chương trình đầu tư, do vậy các NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vì Ngân hàng có thể tư vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết.

    Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò như trên đã đề cập. Vậy chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích như thế nào?

    Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại * Đối với các doanh nghiệp.

    Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

    Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh.

    42

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xưởng, mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do:

    Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí. bảo hiểm.

    Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn không còn cần nữa.

    Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình. Do vậy lãi suất tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh tranh.

    Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình. Thay vào đó, họ thường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng. Chính những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. Ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn sơ khai. Ngân hàng luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn. Còn đối với một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng vưng trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất kinh doanh

    44

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    sao cho có hiệu quả.

    * Đối với Ngân hàng.

    Các khoản cho vay trung – dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó được thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau. Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Khi xác định mở rộng cho vay trung – dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ. Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn. Về phía các Ngân hàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp.

    Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung – dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiện đại.

    Đối với nền kinh tế.

     

    45

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội.

    Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho ngân sách nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách. So với hình thức cấp phát từ ngân sách. Hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn. Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cũng nhue của doanh nghiệp. Đối với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho doanh nghiệp, đưa ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời. Còn với doanh nghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn. Do vậy tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh.

    Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay. Ngân hàng huy động các khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biến thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao. Do vậy, tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế.

    Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngân hàng là động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đối chiếu thực tế hiện nay, vốn

    46

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    trong nước và nước ngoài được thu hút qua kênh tín dụng Ngân hàng đã đầu tư các tổ chức kinh tế mua vật tư hàng hoá, trang thiết bị và đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo việc làm. Xây dựng nhà xưởng …Đều có vốn Ngân hàng tham gia

    Với những vấn đề chung về lí thuyết tín dụng đã được nêu ra ở trên. Song quan trọng hơn mà chúng ta cần quan tâm là hoạt động cho vay theo dự án của NHTM.

    Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dài hạn trước đây. Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng

    Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm

    Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn

    Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định.

    Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chính phủ.

    Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

    Hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế cũng như đối với Ngân hàng. Bởi hoạt động cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Một khoản cho vay từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thường theo trình tự sau đây (đối với Ngân hàng).

    Kiểm tra thẩm định xét                              Kiểm tra sử dụng vốn vay                        Kiểm tra xử lí, thu

    duyệt cho vay        trong khi cho vay       hồi nợ

    47

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Sự thất bại của khoản cho vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trầm trọng hơn có thể đe doạ sự tồn tại của Ngân hàng khi mà những yêu cầu rút tiền của người gửi không được đáp ứng. Với quan niệm về khoản cho vay gặp phải rủi ro không phải chỉ là việc Ngân hàng mất vốn mà đúng hơn là người vay không hoàn trả gốc và lãi theo đúng hạn đã cam kết (Nếu ngân hàng thường xuyên phải ra hạn nợ cho khách hàng thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng, không như dự kiến) rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các giai đoạn đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích cân nhắc kĩ lưỡng để đưa ra quyết định: cho ai vay, vay bao nhiêu, vay như thế nào … nhằm đảm bảo có khoản cho vay an toàn hiệu quả. Tuy nhiên giai đoạn xem xét trước khi cho vay (còn gọi là phân tích tín dụng) vẫn là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề thẩm định dự án đầu tư (đặc biệt là thẩm định tài chính) là khâu tối quan trọng mà Ngân hàng phải quan tâm trước một quết định cho vay.

    3.2      Thẩm định dự án đầu tư của khách hàng.

    Để đạt được hiệu quả cao trong công tác thẩm định, các dự án đầu tư cần được nghiên cứu phân tích và kiểm tra một cách khoa học, theo các kinh nghiệm quản lý thực tế và theo một trình tự nhất định. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rằng cácn bộ thẩm định không làm lại toàn bộ công tác của người lập dự án, tìm hiểu những nhược điểm, tồn tại của dự án để từ đó có quyết định về việc nên bỏ vốn đầu tư hay không hoặc đề suất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh đối với dự án trước khi tiến hành thẩm định. Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộthẩm định chính.

    Bước thẩm định sơ bộ.

    • Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu caauf chủ đầu tư bổ xung hoàn, tất kịp thời.

    48

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng loại, còn đối với các doanh nghiệp sản suất thì phải xem họ có phải là những nhà sản suất có uy tín và thành công trên thị trường hay không ?
    • Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự án.
    • Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suất kinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).

    Bước thẩm định chính thức.

    A.THẨM ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP VAY VỐN.

    1. THẨM ĐỊNH PHI TÀI CHÍNH.

    Mục đích của việc Ngân hàng thẩm định doanh nghiệp vay vốn là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng cũng như khả năng trả nợ cho Ngân hàng hay không khi thẩm định chủ đầu tư cần xem xét những vấn đề sau. Xem xét nguyện vọng của chủ đầu tư. Nguyện vọng của chủ đầu tư có chính đáng không ?

    Xem xét về cách pháp nhân của chủ đầu tư như: quyết định thành lập, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, biên bản bầu hội đồng quản trị, điều lệ hoạt động… Để biết chủ doanh nghiệp có khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không.

    Phân tích về uy tín của chủ đầu tư. Uy tín của chủ đầu tư rất quan trọng về những người chủ đầu tư có uy tín lớn họ sẵn sàng tìm đủ mọi cách

    49

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    để trả nợ Ngân hàng. Các quan hệ của chủ đầu tư đã và đang có với các doanh nghiệp khác, với các Ngân hàng khác và với Ngân hàng mình.

    Khi đánh giá những vấn đề này, cần phải tiến hành một cách chính xác nếu đánh giá sai đối tượng khách hàng thì sẽ làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc Ngân hàng sẽ không thu hồi được khoản nợ vay khi cho khách hàng làm ăn không có hiệu quả vay.

    2.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

    * Đánh gía tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít nhất là 3 năm trở về đây) cán bộ tín dụng phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:

    Quan hệ vay vốn và uy tín của doanh nghiệp trong những năm gần đây.

    Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không? (Về lợi nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm? Tình hình kiểm soát còn nợ).

    Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào (Đi lên hay đi xuống) nguyên nhân? Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp như thế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?

    Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cần phải đánh giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức độ cạnh tranh.

    Cuối cùng Ngân hàng tiến hành phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng để chi trả khi cần thiết.

    50

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    * Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

    Căn cứ vào các văn bản, số liệu về tình hình sản xuất và tài chính của doanh nghiệp như quyết toán tài chính, định kỳ được duyệt, bảng tổng kết tài sản, báo cáo lỗ lãi, biên bản kiểm kê và trích nộp khấu hao, các số liệu về tình hình tài chính khác để xây dựng được khả năng của doanh nghiệp như: Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng hay không? Quản lý tài sản(tình hình xử dụng tài sản cố định,tài sản lưu động như thế nào? tình hình kho tàng, máy móc, nhà xưởng, thiết bị ra sao?) Phân tích hiệu qủa tài chính: xác định cá hiệu qủa về tài chính, khả năng thanh toán, hiệu qủa kinh doanh, tình hình thực hiện ngân sách…

    Sau đây là nhưng chỉ tiêu cụ thể mà cán bộ tín dụng cần phải thẩm định.

    +Khả năng tự cân đối về tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng các khoản nợ phải thông qua các chỉ tiêu: hệ số tài trợ và năng lực đi vay.

    Hệ số =   Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp
    tài trợ    
    Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đang sử dụng.

    Trong đó: Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp là vốn tự có.

    Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng bao gồm tổng tài sản nợ của doanh nghiệp.

    Hệ số tài trợ kỳ này mà lớn hơn kỳ trước và lớn hơn 0,5 là tốt. Nó thể hiện doanh nghiệp có sự tự chủ cao về tài chính.

    Năng lực đi vay: Là khả năng xin vay vốn của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao thường có năng lực đi vay vốn.

    Năng lực = Nguồn vốn hi ện có của doanh nghiệp  
    đi vay Vốn thường xuyên.  
     

    51

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Là lượng tiền có thể có để chi trả các khoản nợ bao gồm: nợ vay Ngân hàng, nợ khách hàng, nợ cán bộ công nhân viên. Trong một thời điểm nhất định. Khả năng thanh toán liên quan tới tổng số vốn có thể có bao gồm: Tiền mặt,vốn vay hoặc những tài sản có thể bán thu tiền ngay một cách dễ dàng để thanh toán các khoản nợ cấp bách.

    Khả năng thanh toán được phản ánh trên báo cáo tài chính và bản dự kiến luân chuyển tiền mặt. Nó được đánh giá dựa trên 3 chỉ tiêu: Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh, và khả năng thanh toán cuối cùng. Đây là nhóm chỉ tiêu tập trung sự chú ý nhiều nhất của Ngân hàng. Bởi vì thông qua đó, Ngân hàng có thể biết được số tiền doanh nghiệp dùng để thanh toán và số tiền doanh nghiệp phải thanh toán.

    52

      Chuyên đề thực tập   Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B
                   
        TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NHGIỆP
        TỪ NĂM 2000-2002
                 
        Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
      I. Tình hình sản xuất kinh          
      doanh          
      1.Giá trị tổng sản lượng          
      2.Giá trị sản lượng hàng hoá          
      tiêu thụ          
      Sản phẩm A          
      Sản phẩm B          
      3. Tổng chi phí          
      4. Kết quả SXKD          
      II.Tình hình tài chính          
      1.Vốn tự có          
      2.Vốn huy động          
      3.Vốn vay          
      Vay ngắn hạn          
      Vay trung- dài hạn          
      4.Các khoản phải thu          
      Trong đó: nợ khó đòi          
      5.Các khoản phải trả          
      6.Tổng tài sản lưu động          
      8.Số lượng lao động          
      9.Thu nhập bình quân          
      III. Các chỉ tiêu kinh tế.          
                   
    • Khả năng thanh toán chung: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình về khả năng thanh toán của doanh nghiệp
    Khả năng thanh toán chung Số tiền dùng để thanh toán
    =
      Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán

    Trong đó:

    ÖSố tiền để thanh toán gồm vốn bằng tiền và các khoản có thể chuyển hoá thành tiền (các khoản phải thu, thành phẩm, hàng hoá tồn kho đã

    Chuyên đề thực tập                                                                                       Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    loại trừ các khoản nợ khó đòi và hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển, kém, mất phẩm chất)

    • Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm các khoản phải trả người bán, người mua, các khoản phải trả công nhân, các khoản nợ Ngân hàng, nợ các tổ chức kinh tế, các khoản phải trả khác.
    Khả năng =  Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu ngắn hạn và có khả năng phải
           
    thu Thanh toán nhanh Các khoản nợ đến hạn
             

    Các hệ số hơn 1 là bình thường và càng cao càng tốt. Nếu nhỏ hơn một là khả năng thanh toán yếu và càng nhỏ càng yếu. Riêng hệ số khả năng thanh toán nhanh lớn hơn 0.5 là tốt.

    Khả năng

    TT cuối cùng

    Tài sản   Tài  sản   Chênh lệch tỷ
    có lưu + thiếu chờ + giá và chỉ số
    động xử lý giá chưa xử lý
         

    =

    Nợ ngắn hạn Ngân Các khoản
    hàng và các tổ chức + nợ phải trả
    kinh doanh khác  

    Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp rất xấu.

    • Các chỉ tiêu về sinh lãi: Ngoài các chỉ tiêu đã được xem xét trong bảng kết quả sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cần quan tâm một số chỉ tiêu sau:
    Doanh lợi = Lợi nhuận sau thuế  
    Tổng tài sản có.  
    vốn  

    Đây là chỉ tiêu để đánh gía xem doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản có sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Các doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu này để so sánh với chi phí vốn(lãi tiền vay) khi xem xét cơ cấu

    54

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    của mình để sử dụng nguồn vay có lợi hơn hay kinh doanh vốn tự có lợi hơn.

    Doanh thu

    Tổng tài sản có

    Đây là chỉ tiêu để doanh nghiệp đánh giá khả năng kinh doanh khi bỏ ra một đồng tài sản có sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

    Bên cạnh việc đánh gía khả năng tự cân đối tài chính và khả năng tự thanh toán, việc xác định công nợ đòi hỏi sự thẩm định của cán bộ tín dụng: Cán bộ tín dụng phải xem xét và đánh giá tình hình quan hệ thẩm định, tình hình thanh toán với người mua, người bán và tình hình thực hện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của đơn vị xin vay vốn để từ đó đánh giá tính trung thực và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, uy tín trong quan hệ thanh toán.

    Thẩm định và phân tích chu đáo phần trên đây sẽ góp phần đảm bảo cơ sở vững chắc để dự án được đầu tư có hiệu quả và đơn vị có khả năng trả nợ Ngân hàng theo cam kết. Bản thẩm định này chính là cơ sở để cán bộ thẩm định tiếp tục thẩm định vào phần quan trọng nhất. Thẩm định dự án đầu tư. Nếu ở phần này Ngân hàng không hài lòng về tư cách của người xin vay thì Ngân hàng sẽ không đánh giá tiếp các yếu tố còn lại.

    B THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

    Mỗi dự án là một mắt vùng hay lãnh thổ. Mặt khác, không nhỏ đến thị trường, cụ động đến hoạt động xuất nhập quan trọng.

    xích quan trọng chương trình phát triển của việc một dự án được đầu tư sẽ có ảnh hưởng thể là tác động đến cung cầu hàng hoá, tác khẩu khác. Vì vậy việc thẩm định dự án là rất

    Cán bộ tín dụng cần phải thẩm định những nội dung sau.

    55

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    1.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH THỊ TRƯỜNG

    Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra cho sản phẩm của dự án. Với thị trường đầu vào, cần kiểm tra phân tích khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho dự án (chính, phụ trong và ngoài nước). Đối với những nguyên vật liệu mang tính thời vụ, cần tính toán dự trữ hợp lý để đảm bảo cung cấp thường xuyên tránh lãng phí không nên quá phụ thuộc vào một nhà cung cấp để tránh bị ép giá. Cũng cần xem xét nguồn cung cấp, điện, nước, lao động… Nói tóm lại theo yêu cầu của dự án, xác định các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ tính thời vụ, điều kiện giao thông …), trên cơ sở đó chỉ ra được sự đảm bảo và phù hợp hay không của các phương án, xử lý nhân tố đó. Bên cạnh đó, thẩm định thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng phải được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học bởi đây là khâu hết sức quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành bại của dự án.

    Cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án tại thời điểm hiện tại và tương lai, xác định thị trường chủ yếu của sản phẩm, so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án cới giá cả thị trường hiện nay, tương lai dự báo những biến động về giá cả thị trường trong nước, ngoài nước … Nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, các hợp đồng tiêu thụ, bao nhiêu sản phẩm cùng các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơn đặt hàng biên bản đàm phán…

    Nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân tố tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công xuất thích hợp

    Phân tích dự đoán thị trường là công việc hết sức phức tạp nhưng quan trọng. Để có được những đánh giá toàn diện, chính xác về khía cạnh này cần phải thu nhập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp, tình hình thực tế với

    56

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    số liệu thống kê cũng như các chính sách của nhà nước, ngành và địa phương về các vấn đề liên quan.

    1. THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT.

    Phân tích quy mô dự án công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như sử dụng trang thiết bị hợp lý. Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án. Để có thể có đầu ra như dự kiến, những yếu tố rủi ro, bất định trong thiết kế dự án và cách giải quyết hoạch quản lý, kiểm tra tính hợp lý của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơ bản…

    Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên viên kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án.Thẩm dịnh mặt này nhằm trả lời câu hỏi liệu dự án có thể thực hiện về mặt kỹ thuật hay không? Mức độ công nghệ kỹ thuật trong việc đạt được mục tiêu dự kiến về sản phẩm dịch vụ.

    3.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ:

    Đây là công việc cần thiết bởi chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức, quản lý trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, với dự án đầu tư, nó tác động đến tiến độ thực hiện dự án và kiểm soát quy mô, phạm vi dự án… Điều đó đòi hỏi phải kiểm tra, xem xét về số lượng, chất lượng lao động xem có thể đáp ứng cho việc vận hành có hiệu quả không, đánh giá tính hợp lý của bộ máy quản lý hành chính, hệ thống phòng ban, phân xưởng.

    Thẩm định về mặt lựa chọn địa điểm xây dựng dự án: để xem xét địa điểm xây dựng xem địa điểm xây dựng dự án có thuận tiện hay không?

    4.THẨM ĐỊNH KINH TẾ – XÃ HỘI

    Đây là một nội dung mà các cơ quan quản lý nhà nước rất quan tâm, xem xét lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và tìm cách tối đa hoá lợi

    57

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    ích đó. Nguyên tắc thẩm định cũng giống như thẩm định tài chính, đó là so sánh giữa lợi ích và chi phí của dự án. Song điểm khác biệt ở đây là quan niệm về lợi ích và chi phí trên góc độ xã hội: lợi ích và những đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi chung của quốc gia, chi phí là những khoản tiêu hao nguồn lực thực sự của nền kinh tế. Do đó khi lấy những chi tiêu từ thẩm định tài chính phải có những điều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế… Bên cạnh đó phải đánh giá một cách đầy đủ, ngiêm túc tác động của môi trường – xem mức độ gây ô nhiễm môi trường có thể chấp nhận được hay không và khả năng, giải pháp cải thiện nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững.

    5.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH:

    Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

    Sau 5 bước thẩm định trên Ngân hàng sẽ đi vào thẩm định tài chính dự án đầu tư với các nội dung cụ thể sau:

    Thứ nhất:

    +Xác định tổng nhu cầu về vốn đầu tư bao gồm về vốn cố định và vốn lưu động.

    +Xác định phần vốn mà Ngân hàng cần tài trợ.

    + Xác định tiến độ cần bỏ vốn.

    Khi một dự án đầu tư mang đến Ngân hàng xin vay vốn thì dự án đầu tư đó đã được nhều cấp, ngành phê duyệt. Tổng vốn đầu tư được xác định. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn tiến hành xem xét laịi trên cơ sở những kết quả thẩm định khác của Ngân hàng. Điều này rất quan trọng vì vốn đầu tư sẽ

    58

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    giúp cho các dự án thực hiện một cách thuận lợi, nâng cao hiệu quả dự án đầu tư.Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho hoạt động đầu tư.

    Ngược lại thừa vốn đầu tư sẽ gây lãng phí vốn làm giảm hiệu qủa của dự án. Tổng vốn đầu tư được xác định trên tổng các chi phí:

    • Chi phí lập dự án.
    • Chi phí thuê gia sư tư vấn soạn thả
    • Chi phí mua thông tin, tài liệ
    • Chi phí khảo sát thăm dò.
    • Chi phí hành chính.

    Chi phí đầu tư tài sản cố định.

    • Chi phí xây dựng nhà xưở
    • Chi phí mua máy móc.
    • Chi phí lắp đặt, vận hành chạy thử. -Chi phí thuê chuyên gia, công nghệ.
    • Chi phí tài sản lưu động.

    Trên cơ sở vốn đầu tư đó Ngân hàng xem xét các nguồn tài trợ cho dự án đầu tư.Một dự án đầu tư có hai nguồn cung cấp chính:

    • Nguồn bên trong do chủ dự án cung cấ
    • Nguồn bên ngoài:

    +Từ nhà nước.

    +Từ NHTM.

    +Từ các nguồn khác.

    Ngân hàng xem xét, xác định số vốn đầu tư cho vay và một điều quan trọng nữa NHTM phải xem xét lại tiến độ bỏ vốn theo tiến độ thi công xây

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    lắp… có đúng lịch trình đã đề ra hay không? Và Ngân hàng cũng sẽ xây dựng được một lịch trình cho vay của mình phù hợp với yêu cầu và tiến độ bỏ vốn của dự án.

    Thứ hai: Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án.

    Thẩm định tính chính xác, hợp lí, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kĩ thuật, dựa trên các chỉ tiêu, định mức kinh tế kĩ thuật của ngành đó do nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chứ năng công bố và dựa trên các kết quả thẩm định các mặt thị trường, kĩ thuật tổ chức kinh tế kĩ thuật của ngành Ngân hàng để thẩm định chính xác, hợp lí của bảng bảng dự trù tài chính.

    +Xem xét tính toán các bảng tài chính.

    +Bảng dự trù chi phí sản xuất năm.

    +Bảng dự trù doanh thu lỗ lãi.

    +Bảng dự trù cân đối kế toán.

    +Bảng dự trù cân đối thu chi.

    Các bảng này là cơ sở cho NHTM thực hiện các phân tích tài chính và tính toán các luồng tiền nên được xem xét kĩ lưỡng, hợp lí, chính xác.

    Vấn đề xem xét và đánh giá cơ cấu nguồn vốn là hợp lí hay không còn tuỳ thuộc vào tính chất và điều kiện thực tế của dự án. Hơn nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hiệu quả của khả năng trả nợ của dự án.

    Thứ ba: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư.

    Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án chủ yếu thông qua một số chỉ tiêu sau: NPV, IRR. Ngoài ra con căn cứ vào một số thông số khác như: thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn . . .

    Thứ tư:    Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi.

    60

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Thứ năm: Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cấo thẩm định trình lãnh đạo.

    Tóm lại, một quy trình thẩm định dự án đầu tư hoàn chỉnh yêu cầu phải đảm bảo tiến hành đầy đủ các bước thẩm định doanh nghiệp vay vốn. Quá trình này đòi hỏi sự cố gắng của cán bộ tín dụng kết hợp với các kiến thức và trình độ hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân.

    61

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    KẾT LUẬN

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư chỉ là một trong những khái cạnh cần phải tiến hành xem xét đối với mỗi dự án trước khi ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư dự án, đặc biệt dưới góc độ NHTM – nhà tài trợ lớn.

    Sau thời gian nghiên cứu và được viết chuyên đề “Thẩm định tài dự án đầu tư của NHTM”, em nhận thấy rằng những kiến thức được biết và được viết quả thực rất hạn hẹp và còn nhiều bất cập. Nhưng sự phát triển của ngành Ngân hàng nói chung và công tác thẩm định nói riêng phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế của chúng ta như hiện nay chưa thích ứng với những phương pháp thẩm định tiên tiến, nhưng không hẳn là chúng ta bỏ qua những phương pháp thẩm định đó mà cần phải nắm vững nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

    Chủ đề nghiên cứu này không phải là hoàn toàn mới, song nó luôn là vấn đề cấp thiết và là sự quan tâm hàng đầu trong quá trình kinh doanh của Ngân hàng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Từ những kiến thức đã được tổng hợp và phân tích đã được diễn giải thành bài viết, do đó bài viết chứa đựng những kiến thức cơ bản được học tại trường và thực tiễn, bên cạnh đó là những đề xuất mang tính chủ quan được xuất phát từ phương pháp nghiên cứu tư duy biện chứng, được gắn với thực tiễn của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

    Đề tài của luận văn tuy khá hạn hẹp song rất có ý nghĩa bởi tính phức tạp cũng như tầm quan trọng của thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động của NHTM.

    Kính mong được sự giúp đỡ của thầy.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

    62

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B



    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-v%C3%A0-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-l%C6%B0u-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-V%E1%BA%ADt-t%C6%B0-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-Xi-m%C4%83ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhất định như là tiền đề bắt buộc. Vốn lưu động có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    *  Tính cấp thiết của Đề tài :

    Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao và sự kinh doanh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn. Trong khi nhu cầu về vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh nghiệp lại bị hạn chế. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật.

    * Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài :   

    Đối với các Doanh nghiệp , đặc biệt là các Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Quốc Doanh trong nền kinh tế mới phải chủ động hơn trong việc huy động và sử dụng vốn .Ngoài vốn ngân sách nhà nuớc cấp còn phải huy động từ nhiều nguồn khác .Vì vậy việc quản lý và sử dụng Vốn lưu động một cách hiệu quả là hết sức quan trọng .Vì nó thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.

    Vì vậy mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, khẳng định những mặt tích cực đã đạt được đồng thời tìm ra một số hạn chế cần khắc phục và có biện pháp hoàn thiện.

    * Phương pháp nghiên cứu :          

                 Công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một thành viên trong Tổng công ty xi măng Việt Nam . Công ty được giao nhiệm vụ tổ chức lưu thông tiêu thụ xi măng , giữ bình ổn giá cả thị trường trên các địa bàn được phân công .Như vậy việc tiêu thụ Xi măng là công việc chủ yếu , đẩy nhanh tốc độ hoàn thành vượt mức kế hoạch Tổng Công Ty giao luôn là nhiệm vụ hàng đầu của công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của vốn lưu động, Công ty đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức quản lý vốn lưu động để sao cho việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất.

    Xuất phát từ vấn đề bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là phải xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết, tối thiểu, phải biết được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình ra sao, Các giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp mình.

    Sau thời gian thực tập tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng –Tổng công ty Xi măng Việt Nam , Em đã chọn đề tài “Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng ”.

    * Kết cấu của Luận Văn :

    Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành ba chương:

    Chương 1 – Những vấn đề lý luận chung của vốn lưu động

    Chương 2 – Thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng –Tổng công ty Xi măng Việt Nam

    Chương 3 – Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi Măng .

    CHƯƠNG 1

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

                                                  VỐN LƯU ĐỘNG

     

    1.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG :

    1.1.1- Khái niệm  của vốn lưu động:

    Vốn lưu động là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.

    Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh nghiệp còn có các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.

    Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

    Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang… đang trong quá trình dự trữ sản xuất, chế biến. Còn tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.

    Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ. Khi vật tư dự trữ được đưa vào sản xuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành phẩm. Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, vốn lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động. Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong sản xuất và lưu thông.

    Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm. Trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như vậy, sẽ khiến cho chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.

    Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhưng mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông sản phẩm có hợp lý không?

    Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt như mua sắm, dự trữ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.

    1.1.2- Đặc điểm của vốn lưu động

    Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của các doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Vốn lưu động có hai đặc điểm:

    Thứ nhất, vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm.

    Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển.

    1.1.3 – Phân loại vốn lưu động:

    Trong doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Có thể nói, quản lý vốn lưu động là bộ phận trọng yếu của công tác quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, nghĩa là càng tổ chức được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ. Do vốn lưu động có rất nhiều loại mà lại tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất. Do đó, muốn quản lý tốt vốn lưu động, người ta phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức sau:

    1.1.3.1- Phân loại Vốn lưu động theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh:

    Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành ba loại:

    • Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
    • Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
    • Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý…); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (dầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…)

    Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.

    1.1.3.2- Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện:

    Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành bốn loại:

    – Vốn vật tư, hàng hoá: Là các khoản vốn có  hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm…

    – Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn…

    • Các khoản phải thu, phải trả:

    + Các khoản phải thu: bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải thu của khách hàng và các khoản phải thu khác.

    + Các khoản phải trả: là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán

    cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động.

    – Vốn lưu động khác: bao gồm các khoản dự tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố, ký quỹ, ký cược…

    Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

    1.1.3.3- Phân loại Vốn lưu động theo quan hệ sở hữu về vốn:

    Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp. Còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp mà thôi. Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tài sản cố định.

    • Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp…
    • Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định.

    Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.

    1.1.3.4- Phân loại Vốn ưu động theo nguồn hình thành:

    Nếu xét theo nguồn hình thành thì tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi các nguồn vốn sau:

    • Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
    • Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
    • Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh.
    • Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hành thương mại hoặc tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
    • Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.

    Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.

    1.2 – CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VLĐ:

    Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp khác nhau . Tuỳ theo điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp thích hợp . Sau đây là một số phương pháp chủ yếu :

     1.2.1 – Phương pháp trực tiếp :

    Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự trữ vật tư , sản xuất và tiêu dùng sản phẩm để xác định nhu cầu của tùng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

    Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu VLĐ cho từng khâu kinh doanh của doanh nghiệp :

     

     

    1.2.1.1 – Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất :

    VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm : giá trị các loại nguyên vật liệu chính , vật liệu phụ , nhiên liệu phụ tùng thay thế , vật đóng gói , công cụ  ,dụng cụ .

    • Xác định nhu cầu vốn vật liệu chính :

    Vnl= Mn x Nnăng lực

    Trong đó :  Vnl :     Nhu cầu vốn NVL chính năm kế hoạch

    Mn :     Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về  chi phí VLC

    Nl :  Số ngày dự trữ hợp lý

    • Xác định nhu cầu vốn vật liệu khác :

    Nếu vật liệu này sử dụng thường xuyên và khối lượng lớn thì cách tính như vật liệu chính , nếu sử dụng không thường xuyên thì tính theo công thức :                     Vnk = Mk x T%

    Trong đó :   Vnk : Nhu cầu vật liệu phụ khác

    Mk : Tổng mức luân chuyển từng loại vốn

    T% :Tỉ lệ phần trăm từng loại vốn chiếm trong tổng số

    1.2.1.2 – Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu sản xuất :

    • Xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo

    Công thức tính như sau :   Vdc = Pn x Ck x Hs

    Trong đó :        Vdc : Nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo

    Pn  : Mức chi phí sản xuất bình quân ngày

    Ck :  Chu kì sản xuất sản phẩm

    Hs :  hệ số sản phẩm đang chế tạo

    • Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển :

    Công thức :        Vpb  =  V + Vpt – Vpg

    Trong đó :Vpb  : Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch

    V  :Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ kế hoạch

    Vpt  : Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ KH

    Vpg : Vốn chi phí chờ kết chuyển được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong kỳ kế hoạch.

    1.2.1.3 – Xác định nhu cầu vốn trong khâu lưu thông :

              VLĐ trong khâu lưu thông bao gồm VLĐ để lưu giữ bảo quản sản phẩm trong kho và vốn lưu đông trong khâu thanh toán .

    Công thức  :           Vtp = Zsx x Ntp

               Trong đó : Vtp  : Vốn thành phẩm kỳ kế hoạch

    Zsx  : Giá thành sản xuất bình quân ngày

    Ntp  : Số ngày luân chuyển của vốn thành phẩm                                                     

    1.2.2 – Phương pháp gián tiếp :

    Đặc điểm của phương pháp này là dựa vào số VLĐ bình quân năm báo cáo , nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch và khả năng tăng tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch .

    Công thức tính như sau :  Vnc = VLD0 x  x (1 t%)

    Trong đó :Vnc     : Nhu cầu VLĐ năm kế hoạch

    VLD0 : Số dư bình quân VLĐ năm báo cáo

    M 0,1 :  Tổng mức luân chuyển VLĐ năm báo cáo , kế hoạch

    t%  : Tỷ lệ tăng (giảm) số ngày luân chuyển VLĐ năm  kế

    hoạch so với năm báo cáo.

                 t% =                     x 100%

    Trong đó :  K1  : Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

    K2  : Kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáo .

    Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu VLĐ năm kế hoạch các doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng mức luân chuyển vốn và số vòng quay VLĐ dự tính năm kế hoạch . Phương pháp tính như sau :

    Vnc =                        

    Trong đó :  M1  : Tổng mức luân chuyển vốn kế hoạch

    L1   :  Số vòng quay VLĐ kỳ kế hoạch.

    1.3 – CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG:

    Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

    1.3.1- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:

    Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là vòng quay vốn lưu động và kỳ luân chuyển vốn lưu động.

    • Vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số vòng mà vốn lưu động quay được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
    • Công thức tính toán như sau:

    Trong đó:

    L: Vòng quay của vốn lưu động

    M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ

    VLD: Vốn lưu động

    • Kỳ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay của vốn lưu động.
    • Công thức tính toán như sau:

    Trong đó:

    K: kỳ luân chuyển vốn lưu động

    L: Vòng quay của vốn lưu động

    Kỳ luân chuyển càng ngắn thì trình độ sử dụng vốn lưu động càng tốt và ngược lại.

    Giữa kỳ luân chuyển và vòng quay của vốn lưu động có quan hệ mật thiết với nhau và thực chất là một bởi vì vòng quay càng lớn thì kỳ luân chuyển càng ngắn và ngược lại.

    1.3.2-Mức tiết kiệm vốn lưu động:

    Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được trong kỳ kinh doanh. Mức tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu:

    ­             Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc tăng với quy mô không đáng kể.

    Công thức tính toán như sau:

      Trong đó:

    tk : Mức tiết kiệm Vốn lưu động

    K0:   Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo

    M1: Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch

     

    1.3.3- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:

    Hiệu suất sử dụng vốn lưu động = ­­Doanh thu
    Vốn lưu động bình quân

    Chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu được tạo ra trên vốn lưu động bình quân là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.

    1.3.4- Hàm lượng vốn lưu động:

    Hàm lượng vốn lưu động =  Vốn lưu động bình quân
                 Doanh thu

    Là chỉ tiêu phản ánh mức đảm nhận về vốn lưu động trên doanh thu. Chỉ tiêu này cao hay thấp cũng được đánh giá ở các nghành khác nhau. Đối với nghành công nghiệp nhẹ thì hàm lượng vốn lưu động chiếm trong doanh thu rất cao. Còn đối với nghành công nghiệp nặng thì hàm lượng vốn lưu động chiếm trong doanh thu thấp.

    1.3.5- Mức doanh lợi vốn lưu động:

    Mức doanh lợi vốn lưu động = Tổng lợi nhuận trước thuế
    Vốn lưu động bình quân

    Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập). Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.

    1.4 – NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG:

    Là một trong hai thành phần của vốn sản xuất, vốn lưu động bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, phải trả, hàng hoá tồn kho và tài sản lưu động khác. Vốn lưu động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển được thì nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất.

    1.4.1- Quản trị vốn bằng tiền

    Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt ở một quy mô nhất định. Nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết. Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc duy trì một mức dự trữ vốn tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu trên hàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.

    Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trong các thời kỳ trước, song việc quản trị vốn tiền mặt không phải là một công việc thụ động. Nhiệm vụ quản trị vốn tiền mặt do đó không phải chỉ là đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.

     

    1.4.1.1- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý

    Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể tránh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanh toán nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn, không làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.

    Phương pháp đơn giản thường dùng để xác định mức dự trữ ngân quỹ hợp lý là lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ ngân quỹ.

    Người ta cũng có thế sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp. Bởi vì giả sử doanh nghiệp có một lượng tiền mặt và phải sử dụng nó để đáp ứng các khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt đã hết, doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán ngắn hạn (có tính thanh khoản cao) để có được lượng tiền mặt như  lúc đầu. Có hai loại chi  phí cần được xem xét khi bán chứng khoán: một là chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt, đó chính là mức lợi tức chứng khoán doanh nghiệp bị mất đi; hai là chi phí cho việc bán chứng khoán mỗi  lần, đóng vai  trò như là chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng. Trong điều kiện đó mức dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính bằng số lượng chứng khoán cần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn  tiền mặt mong muốn bù đắp được nhu cầu chi tiêu tiền mặt. Công thức tính như sau:

    Mức vốn tiền mặt dự trữ trung bình là:

              Trong đó:

    Qmax: Số lượng tiền mặt dự trữ tối đa

    Qn: Lượng tiền mặt chi dùng trong năm

    C1: Chi phí lưu giữ đơn vị tiền mặt

    C2: Chi phí một lần bán chứng khoán

    • – Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất vốn tiền mặt (ngân quỹ):

    Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dự kiến về nguồn và sử dụng ngân quỹ. Ngân quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát, vừa chi tiết cho từng tháng và tuần.

    Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinh doanh; từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác. Trong các luồng nhập ngân quỹ kể  trên, luồng nhập ngân quỹ từ kết quả kinh doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đoán dựa trên cơ sở các khoản doanh thu bằng tiền mặt dự kiến trong kỳ.

    Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản  chi cho hoạt động kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu tư theo  kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả  tiền lãi phải chia, nộp thuế và các khoản chi  khác.

    Trên  cơ sở so sánh các luồng nhập và luồng xuất ngân quỹ, doanh nghiệp có thể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ. Từ đó thực hiện các biện pháp cân bằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ phải thu, đồng thời giảm tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiên được hoặc khéo léo sử dụng các khoản nợ đang trong quá trình thanh toán. Doanh nghiệp cũng có thể huy động các khoản vay thanh toán của ngân hàng. Ngược lại khi luồng nhập ngân quỹ lớn hơn luồng xuất ngân quỹ thì doanh nghiệp có thể sử dụng phần dư ngân quỹ để thực hiện các khoản đầu tư trong thời hạn cho phép để nâng cao hiệu quả sử dụng số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình.

    1.4.1.3 – Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt:

    Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp diễn ra hàng ngày, hàng giờ; hơn nữa vốn tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh toán cao, dễ dàng chuyển hoá sang các hình thức tài sản khác, vì vậy doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý, sử dụng vốn tiền mặt một cách chặt chẽ để tránh bị mất mát, lợi dụng. Các biện pháp quản lý cụ thể là:

    Thứ nhất, mọi khoản thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp đều phải thực hiện thông qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ, tự thu tự chi.

    Thứ hai, phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiền mặt, nhất là giữa thủ quỹ và kế toán quỹ; phải có các biện pháp  quản lý bảo đảm an toàn kho quỹ.

    Thứ ba, doanh nghiệp phải xây dựng các quy chế thu chi bằng tiền mặt để áp dụng cho từng trường hợp thu chi. Thông thường các khoản thu chi không lớn thì có thể sử dụng tiền mặt, còn các khoản thu chi lớn cần sử dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, cần xác định rõ đối tượng tạm ứng, mức tạm ứng và thời hạn thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời.

    1.4.2- Quản trị hàng tồn kho dự trữ:

    1.4.2.1-Tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến tồn  kho dự trữ:

    Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp tài sản tồn kho dự trữ thường ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo nghành nghề kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau.

    Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, không phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ thường chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp  lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hoá để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động.

                 Đối  với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào: quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, chu kỳ giao hàng, thời gian vận chuyển và giá cả của các loại nguyên vật liệu.

    Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang phụ  thuộc vào: đặc điểm và các yếu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm, trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp.

                 Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm, thường chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm…

    1.4.2.2- Các phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ:

    *– Phương pháp tổng chi phí tối thiểu

    Mục tiêu của việc quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hoá các chi  phí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường.

    Việc lưu giữ một lượng hàng tồn kho làm phát sinh các chi phí. Tồn kho càng lớn, vốn tồn kho dự trữ càng lớn thì không thể sử dụng cho mục đích khác và làm tăng chi phí cơ hội của số vốn này.Vì vậy, doanh nghiệp cần xem xét mức dự trữ hợp lý để giảm tổng chi phi dự trữ tồn kho tới mức thấp nhất. Phương pháp quản lý dự trữ tồn kho theo nguyên tắc trên được gọi là phương pháp tổng chi phí tối thiểu.

    *- Phương pháp tồn kho bằng không

    Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thấp các chi phí tồn kho dự trữ đến mức tôí thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung ứng kịp thời cho doanh nghiệp các loại vật tư, hàng hoá khi cần thiết. Do đó có thể giảm được các chi phí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng. Phương pháp này có ưu điểm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể dành ra một khoản ngân quỹ sử dụng cho đầu tư mới; tuy nhiên phương pháp này lại làm tăng các chi phí phát sinh từ việc tổ chức giao hàng đối với các nhà cung cấp.

    1.4.3 –  Quản trị các khoản phải thu, phải trả:

    1.4.3.1- Quản trị các khoản phải thu:

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng. Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro…Đổi lại doanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ. Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau:

    Thứ nhất, khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán chịu cho khách hàng.

    Thứ hai, sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu: đối với các doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ, trong những thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ lớn, cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn.

    Thứ ba, thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp: đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có đặc điểm sử dụng lâu bền thì kỳ thu tiền bình quân thường dài hơn các doanh nghiệp ít vốn, sản phẩm dễ hư hao, mất phẩm chất, khó bảo quản.

     

    1.4.3.2- Quản trị các khoản phải trả:

    Khác với các khoản phải thu, các khoản phải trả là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động. Việc quản trị các khoản phải  trả không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì một lượng vốn tiền mặt để để đáp ứng yêu cầu thanh toán mà còn đòi hỏi việc thanh toán các khoản phải trả một cách chính xác, an toàn và nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng.

    Để quản lý tốt các khoản phải trả, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toán của doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn. Doanh nghiệp còn phải lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp an toàn và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp.

    1.4.4 – Quản trị vốn lưu động khác:

    Tài sản lưu động khác bao gồm: các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn…

    Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, theo yêu cầu của bên đối tác, khi vay vốn, thuê mượn tài sản hoặc mua bán đấu thầu làm đại lý… doanh nghiệp phải tiến hành cầm cố, ký quỹ, ký cược.

    Cầm cố là bên có nghĩa vụ (doanh nghiệp) giao một động sản thuộc sở hữu của mình hoặc một quyền tài sản được phép giao dịch cho bên có quyền (phía đối tác) để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hay thoả thuận.

    Ký cược (đặt cược) là việc bên thuê tài sản theo yêu cầu của bên cho thuê động sản phải đặt cược một số tiền hoặc kim khí quý, đá quý hay các vật có giá trị khác nhằm ràng buộc và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản đi thuê và hoàn trả tài sản đúng thời gian quy định với người đi thuê. Trường hợp bên thuê không trả lại tài sản thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê.

    Ký quỹ là việc bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải gửi trước một số tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ khác giá trị được bằng tiền vào tài khoản phong toả tại Ngân hàng. Số tiền ký quỹ sẽ ràng buộc bên ký quỹ phải thực hiện cam kết, hợp đồng, đồng thời người yêu cầu ký quỹ yên tâm khi giao hàng hay nhận hàng theo những điều đã ký kết. Trong trường hợp bên ký quỹ không tôn trọng hợp đồng sẽ bị phạt và trừ vào tiền đã ký quỹ. Bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng.

    Vốn lưu động tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Do vậy để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì cần phải quản trị tốt vốn lưu động ở từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông.

                

                 Trên đây là một số vấn đề lý luận của vốn lưu động . Để hiểu sâu hơn về Vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.Ta nghiên cứu thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG –TỔNG CÔNG TY XI MĂNG VIỆT NAM

     

    2.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY:

    2.1.1 –  Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:

                 Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là doanh nghiệp nhà nước , thành viên Tổng công ty xi măng Việt Nam  có tư cách pháp nhân , hạch toán độc lập , có trụ sở chính tại Km6 đường Giải Phóng –Quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội

    Công ty được thành lập theo quyết định số 023A-BXD-TCLD ngày 12/2/1993 của Bộ trưởng Bộ xây dựng với nhiệm vụ chức năng ban đầu là cung cấp vật tư  kỹ thuật cho ngành xi măng , tham gia bán lẻ xi măng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh .

    Ngày 30/09/1993 Bộ trưởng Bộ xây dựng có quyết định số 445-BXD-TCLD bổ sung nhiệm vụ chức năng cho công ty được tham gia vào các liên doanh nghiền và sản xuất xi măng

    Từ ngày 01/06/1998 ,theo quyết định 606/XMVN-HĐQT ký ngày 23/05/1998 của Chủ tịch HĐQT tổng công ty xi măng Việt Nam ,công ty vật tư kỹ thuật xi măng tiếp nhận thêm chi nhánh xi măng Bỉm Sơn tại Hà Tây ,Hoà Bình (hoạt động kinh doanh xi măng trên địa bàn các tỉnh Hà Tây,Hoà Bình ,Sơn La ,Điện Biên) đồng thời phương thức kinh doanh từ tổng đại lý sang mua đứt bán đoạn xi măng với các công ty sản xuất xi măng .

    Do yêu cầu của công tác cải tiến hệ thống kinh doanh tiêu thụ xi măng , ngày 21/03/2000 Chủ tịch HĐQT tổng công ty xi măng Việt Nam có quyết định số 97/XMVN-HĐQT , chuyển giao nhiệm vụ từ công ty vật tư  vận tải xi măng sang công ty vật tư kỹ thuật xi măng .Theo quyết  định này ,kể từ ngày 01/04/2000 toàn bộ các chi nhánh của công ty vật tư kỹ thuật xi măng tại Phú Thọ ,Vĩnh Phúc ,Lào Cai , Thái Nguyên được bàn giao cho công ty vật tư kỹ thuật xi măng làm nhiệm vụ kinh doanh tiêu thụ xi măng và bình ổn giá xi măng thị trường tại điạ bàn 14 tỉnh thành phố khu vực miền Bắc ,đó là :Hà Nội,Hà Tây,Hoà Bình ,Sơn La ,Lai Châu ,Vĩnh Phúc ,Phú Thọ ,Hà Giang ,Tuyên Quang ,Lào Cai ,Thái Nguyên ,Cao Bằng ,Bắc Cạn ,Yên Bái .

    Như vậy là kể từ khi được thành lập đến nay ,công ty luôn được bổ xung giao thêm nhiệm vụ với địa bàn kinh doanh ngày càng được mở rộng hơn .

    2.1.2 – Một số đặc điểm hoạt động kinh doanh của  Công ty

    2.1.2.1 – Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty:

    *   Ban giám đốc :

    – Giám đốc :Là người đứng đầu công ty , do HĐQT của công ty bổ nhiệm , miễn nhiệm ,khen thưởng ,kỷ luật theo đề nghị của Tổng Giám Đốc .Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước Tổng Công Ty và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong công ty .

    – Phó Giám Đốc phụ trách kinh doanh :Có nhiệm vụ trợ giúp giám đốc phụ trách các lĩnh vực hoạt động sau :

    +  Nghiệp vụ kinh doanh , kế hoạch kinh doanh

    +  Hợp đồng kinh tế , thanh lý hợp đồng , kiểm tra và kiện toàn hàng hoá vật tư  .

    – Phó Giám Đốc phụ trách vận tải:phụ trách các hoạt động sau:

    +  Vận chuyển xi măng

    +  Công tác định mức trong khâu vận taỉ ,trong từng cửa hàng

    +  Quy trình ,quy phạm và các quy chế về an toàn của công ty

    +  Công tác đào tạo , cải tiến , sáng kiến kỹ thuật và công tác sửa chữa tài sản cố định .

    *  Các phòng ban , sự nghiệp ,chi nhánh :hoạt động theo chức năng được giám đốc phân công và là bộ máy tham mưu giúp ban giám đốc thực hiện các mục tiêu kế hoạch đã đặt ra .

    – Văn phòng công ty:phụ trách về văn thư , lưu trữ hồ sơ ,quản lý con dấu ,mua sắm văn phòng ,in ấn ,quản lý nhà đất nhà cửa ,các công cụ lao động ……

    – Phòng kinh tế kế hoạch :xây dựng kế hoạch ,chủ trì dự thảo hợp đồng kinh tế ,mua và bán xi măng ,hợp đồng thuê phương tiện vận tải xi măng…..

    – Phòng tổ chức lao động : quản lý về mặt nhân sự ,thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công nhân viên ,xây dựng đơn giá tiền lương

    – Phòng tài chính kế toán :tổ chức thực hiện công tác kế toán tài chính ,lập kế hoạch tài chính cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh , tổ chức thực hiện và kiểm tra thường xuyên công tác thống kê ,hoạch toán kế toán theo đúng với quy định của nhà nước ,trực tiếp kiểm tra và thanh toán công nợ , phải thu phải trả ;thông qua công tác thống kê hoạch toán kế toán bán hàng hàng ngày để phát hiện những sai lệch ,thừa thiếu xi măng trong quá trình tiếp nhận vận chuyển ,dự trữ ,cấp phát và lưu thông để báo cáo Giám Đốc xử lý kịp thời……

    – Phòng quản lý thị trường :giúp Giám Đốc công ty nắm bắt được nhu cầu xi măng trên địa bàn hoạt động của công ty .Theo dõi tình hình biến động giá cả mặt hàng xi măng ,kiểm tra việc thực hiện nội quy , quy chế trong kinh doanh tiêu thụ xi măng

    – Phòng tiêu thụ :tổ chức quản lý mọi hoạt động của các của hàng, đại lý công ty .Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ,mở rộng mạng lưới bán hàng nhằm đáp ứng tới nhu cầu của người tiêu dùng.

    – Phòng kinh doanh tổng hợp: quản lý công tác xây dựng cơ bản nội bộ, thực hiện việc đa dạng hoá kinh doanh, tận dụng lao động cơ sở vật chất kinh doanh vật liệu xây dựng ngoài xi măng.

    – Phòng điều độ và quản lý kho: xây dựng hệ thống mạng lưới kho, đảm bảo xuất nhập xi măng , thực hiện liên tục, điều phối hàng hoá.

    – Xí nghiệp vận tải: có nhiệm vụ thực hiện tiếp nhận Xi măng, là trạm giao nhận đại diện của công ty tại các ga cảng , đầu mối tại Hà Nội về các kho dự trữ.

    – Các chi nhánh công ty vật tư kỹ thuật Xi măng tại Hà Tây, Hoà Bình, Lào Cai, Phú Thọ , Vĩnh Phúc, Thái Nguyên: thực hiện việc kinh doanh, tiêu thụ, đảm bảo bình ổn giá xi măng tại các tỉnh trên

    2.1.2.2 – Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty

    Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh, tiêu thụ Xi măng, công ty có nhiệm vụ mua Xi măng từ các công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công ty Xi măng Việt Nam (như Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công ty xi măng Bỉm Sơn, Công ty xi măng Hải Phòng…) đáp ứng nhu cầu Xi măng của 14 tỉnh thành  phố miền Bắc.  Là nhân tố chính trong việc bình ổn giá thị trường xi măng (tránh các biến động như cơn sốt xi măng năm 1995) góp phần đấu tranh chống lại các hiện tượng làm giả xi măng. Thực hiện tốt những nhiệm vụ kế hoạch về sản lượng khung giá xi măng do Tổng Công ty đề ra.

    Công ty được thành lập trên cơ sở tổ chức của các đơn vị làm nhiệm vụ cung ứng xi măng trước đây, vì thế đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm trong việc tiêu thụ xi măng, có nhiều bạn hàng truyền thống(như các công ty xây dựng, các công ty vật tư tổng hợp ở các tỉnh) loại Xi măng công ty kinh doanh tiêu thụ là các loại được người tiêu dùng tín nhiệm: xi măng Hoàng Thạch, xi măng Bỉm Sơn, xi măng Hải Phòng… Địa bàn kinh doanh của công ty rộng khắp 14 tỉnh, thành phố miền Bắc. Công ty được sự giúp đỡ to lớn của các công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công ty Xi măng Việt Nam. Đồng thời công ty luôn nhận được sự chỉ đạo, quan tâm của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ. Hiện nay, ở khu vực miền Bắc ngoài các công ty sản xuất Xi măng , công ty vật tư kỹ thuật Xi măng là đơn vị duy nhất được giao nhiệm vụ kinh doanh tiêu thụ xi măng với địa bàn được phân công rõ ràng nhất .

    Dưới đây là bảng kết quả kinh doanh của công ty vật tư kỹ thuật xi măng  trong năm 2003 và năm 2004 :

    Qua bảng kết quả kinh doanh của 2 năm ta thấy rằng: doanh thu bán hàng của năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 , doanh thu bán hàng của năm 2003 là 1.147.679.225.941VNĐ còn doanh thu bán hàng của năm 2004 là 1.156.533.879.485VNĐ, năm 2004 đã tăng 32% so với năm 2003 đã cho ta thấy sự nỗ lực của công ty trong việc tăng tiêu thụ sản lượng xi măng. Cũng từ đó làm cho lợi nhuận thuần của công ty tăng lên từ 8.481.238.133 VNĐ lên 8.660.885.054VNĐ, tăng 2,1% so với năm 2003.

    BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

                                                                                              ĐVT :VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    1.Doanh thu bán hàng 1.147.679.225.941 1.516.533.879.485
    2.Doanh thu thuần bán hàng 1.147.679.225.941 1.516.533.879.485
    3.Giá vốn hàng bán 971.739.382.548 1.407.399.507.657
    4.Lợi nhuận gộp 175.939.843.393 109.134.371.828
    5.Doanh thu hoạt động tài chính 3.695.157.730 4.155.368.975
    6.Chi phí tài chính 12.283.600 1.739.000
    7.Chi phí bán hàng 156.376.005.538 84.557.739.657
    8.Chi phí quản lý doanh nghiệp 14.765.473.852 20.069.377.092
    9.Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 8.481.238.133 8.660.885.054
    10.Thu nhập khác 8.107.171.532 18.350.845.185
    11.Chi phí khác 3.714.876.739 3.794.159.424
    12.Tổng lợi nhuận trước thuế 12.196.114.872 12.455.044.478
    13.Thuế thu nhập doanh nghiệp 3.886.756.759 4.520.397.293
    14.Lợi nhuận sau thuế 8.309.358.113 7.934.467.185

    2.1.2.3 -Đặc điểm về cơ cấu bộ máy tổ chức :

    Xuất phát từ chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và các điều kiện hoạt động ,qua một số lần sáp nhập ,điều chỉnh ,tổ chức bộ máy quản lý của công ty hiện nay đang vận hành theo bảng 2.1.2.3.

    Trong hệ thống các của hàng bán xi măng bao gồm hai loại :cửa  hàng bán xi măng do nhân viên bán hàng của công ty đảm nhận và của hàng bán xi măng của các đơn vị đại lý hưởng hoa hồng .

    Loại hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty đang áp dụng theo kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến –chức năng .Bộ máy quản lý vận hành liên hoàn ,đảm bảo chế độ một thủ trưởng .Giám đốc là người toàn quyền quyết định mọi công việc và chịu trách nhiệm về kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Công việc quản trị kinh doanh được chia ra những đơn vị riêng biệt hình thành nên những người lãnh đạo quản trị thực hiện một hay một số chức năng thuộc phận sự và quyền hạn được giao .Nhờ vậy phát huy được tính năng động sáng tạo và kiến thức kinh nghiệm quản trị của các lãnh đạo chức năng ,cán bộ nhân  viên các phòng chức năng và các đơn vị trực thuộc trong việc chuẩn bị các quyết định ,hướng dẫn và kiểm tra .Làm cho khả năng thích ứng với những biến động của thị trường ngày càng nhạy bén hơn .

     

     Bảng 2.1.2.3 : Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công Ty

     

    2.1.2.4 -Đặc điểm về vốn của công ty :

      Là một doanh nghiệp hoạt động trong ngành xi măng nên công ty vật tư kỹ thuật xi măng cần một số lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của mình .Một thuận lợi rất lớn của công ty là công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một công ty nhà nước trực thuộc Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam nên công ty được sự hỗ trợ một phần vốn đáng kể từ nhà nước .

    Từ  nguồn vốn kinh doanh của công ty tháng 12/2004 ta thấy:Tổng số vốn của công ty là 38.894.724.003 (VNĐ),trong đó tổng số vốn lưu động là 16.299.566.614(VNĐ) nghĩa là chiếm 41,72%,tổng số vốn cố định là 22.595.157.398(VNĐ) chiếm 58,18% .Nguồn vốn kinh doanh của nhà nước cấp chiếm 31,3% tổng nguồn vốn kinh doanh trong đó vốn lưu động do ngân sách cấp chiếm 78,5% tổng số vốn ngân sách cấp .Qua đó ta thấy rõ được sự quan tâm của nhà nước đối với nguồn vốn lưu động .

    Cũng như các doanh nghiệp nhà nước khác Công ty vật tư kỹ thuật xi măng cũng có nguồn vốn lưu động tự bổ xung khá lớn ,nguồn vốn này được tích luỹ trong hoạt động kinh doanh của công ty .

    Ngoài nguồn vốn được ngân sách nhà nước cấp ,công ty vật tư kỹ thuật xi măng còn có nguồn vốn từ nguồn vốn ngắn hạn .Nguồn vốn ngắn hạn là một giải pháp khá hữu hiệu ,nó giúp công ty có thể huy động được một cách nhanh chóng số vốn cần thiết một cách đơn giản ,tiện lợi đồng thời giúp cho công ty tiết kiệm hơn nữa chi phí sử dụng vốn so với nguồn tài trợ dài hạn .

     

    2.2 . THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG:

    2.2.1 . Cơ cấu vốn lưu động của Công ty:

    Để quản lý  và sử dụng Vốn lưu động đạt hiệu quả tốt nhất , các doanh nghiệp cần xây dựng cơ cấu vốn lưu động sao cho thật phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình .Cơ cấu vốn lưu động giúp ta thấy được mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng vốn lưu động của doanh nghiệp .Hiểu được điều đó công ty vật tư kỹ thuật xi măng đã cố gắng tổ chức nguồn vốn lưu động của mình thật khoa học ,đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất .Để thấy rõ hơn cơ cấu vốn lưu động của công ty ,ta xem xét số liệu bảng 2.2.1 ,tổng quát ta thấy như sau

    Tính đến tháng 12 năm 2004 tổng vốn lưu động của công ty là 126.237.489.794(VND) so với cùng kỳ năm 2003 thì tổng vốn lưu động đã giảm 2.717.737.185(VND) tương ứng tốc độ giảm 2,11% ,cho thấy thời gian qua công ty đã tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng ,máy móc thiết bị , tài sản cố định …

    Quy mô vốn lưu động giảm đi là do sự tăng giảm về giá trị của hầu hết các loại vốn lưu động của công ty ,trong đó chủ yếu là sự giảm về lượng tiền mà đặc biệt là tiền gửi ngân hàng .Đây là khỏan mục vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn lưu động .Năm 2003 vốn bằng tiền chiếm 76,54% tương ứng với số tiền là 98.698.627.011(VND) .Năm 2004 vốn bằng tiền chiếm 68,59% tương ứng với số tiền là 86.591.634.699(VND) .Ta thấy được sự bất cập trong cơ cấu , số lượng tiền gửi ngân hàng là quá lớn .Nhưng đây chính là đặc trưng của công ty đó là do Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng là Công ty có quy mô rất là lớn , với mạng lưới bán hàng gần khắp cả nước .Vì thế số lượng hàng hoá bán ra rất là lớn nhưng khi đó người mua chưa trả tiền ngay mà phải đến cuối năm mới trả.Đây chính là số liệu cuối năm vì thế số liệu này sẽ rất lớn . Số liệu này cho thấy khoản mục vốn bằng tiền của công ty năm 2004 giảm so với năm 2003 là 12.106.992.312(VND) giảm 12,27% .Sự sụt giảm này có nguyên nhân chủ yếu là lượng tiền gửi ngân hàng giảm mạnh :Năm 2003 lượng tiền gửi ngân hàng của công ty là 94.131.943.511(VND) đến năm  2004 là 78.370.857.699(VND) giảm 15.761.085.812 (VND) tương ứng với tỷ lệ giảm 16,74% .Mặc dù bên cạnh đó có sự gia tăng về lượng tiền mặt :lượng tiền mặt tăng lên 3.449.651.500(VND) tương ứng tăng 186,87% . Qua đó cho thấy được công ty đang mở rộng kinh doanh bằng cách rút tiền gửi ngân hàng về quỹ tiền mặt và đem đi đầu tư vào các việc mới như xây dựng nhà máy sản xuất bao bì ,khu vui chơi giải trí thể thao ….

    Hàng tồn kho là khoản mục vốn lưu động chiến tỷ trọng thứ hai trong tổng vốn lưu động của công ty như sự biến động của nó có ảnh hưởng không lớn mặc dù hàng tồn kho của công ty năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 .Năm 2003 hàng tồn kho là 19.916.349.775(VND) chiếm 15,44% đến năm 2004 là 27.396.485.175(VND) chiếm 21,7% .Như vậy năm 2004 khoản mục hàng tồn kho của công ty đã tăng lên một lượng là 7.480.135.400(VND) chiếm 37,56% . Nguyên nhân là do công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh ,nhập thêm nhiều thiết bị để cung cấp cho khách hàng của công ty .

    Các khoản phải thu của công ty chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số vốn lưu động của công ty .Năm 2003 ,khoản phải thu là 9.939.511.417(VND) chiếm 7,71% ,năm 2004 khoản phải thu lên tới 11.259.869.920(VND) chiếm 8,92% .Khoản phải thu đã tăng lên một lượng là 1.320.358.583(VND) chiếm 13,28% .Trong các khoản phải thu thì khoản bán chịu cho khách hàng là chủ yếu .Khoản phải thu của doanh nghiệp càng cao thì mức độ bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp càng lớn .Công ty cần tìm các biện pháp nhằm giảm bớt tình trạng ứ đọng vốn trong khâu này kết hợp với việc hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng nợ của các khách hàng sau đó .

    Tài sản lưu động khác chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số vốn lưu động của công ty .Năm 2003 tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,31% trong tổng số vốn lưu động ứng với số tiền là 400.738.779(VND) .Năm 2004 ,tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,78% ứng với số tiền là 989.500.000(VND) .Công ty vật tư kỹ thuật xi măng vẫn luôn quan tâm tới chỉ tiêu này và áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý và sử dụng nó có hiệu qủa hơn nữa .

    Như vậy qua phân tích ta thấy rằng cơ cấu Vốn lưu động của Công ty mặc dù đã có nhiều chuyển biến rõ rệt nhưng vẫn còn một số điểm chưa hợp lý .Lượng tiền gửi ngân hàng của công ty quá lớn như vậy sẽ bất cập trong việc đầu tư mới .Công ty cần đẩy nhanh công tác thu nợ nhanh như vậy sẽ không gây nên tình trạng tiền bị ứ đọng vào cuối năm. Mặt khác Công ty còn làm chưa tốt trong công tác quản lý hàng tồn kho.Như vậy Công ty cần có những biện pháp nhằm giảm bớt lượng hàng tồn kho.

     

     

     

             Bảng 2.2.1 – Cơ cấu VLĐ của công ty năm 2003 và năm 2004 

                                                                                               ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch  
    Số tiền (%) Số tiền (%) Số tiền (%)  
    I. Tiền 98698627011 76.54 86591634699 68.59 -12106992312 87.73  
    1.Tiền mặt 1846043500 1.43 5295695000 4.20 3449651500 286.87  
    2.TGNH 94131943511 73.00 78370857699 62.08 -15761085812 83.26  
    3.Tiền đang chuyển 2720640000 2.11 2925082000 2.32 204442000 107.51  
    II.Các khoản pthu 9939511417 7.71 11259869920 8.92 1320358503 113.28  
    1.Phải thu KH 8240668842 6.39 8630501665 6.84 389832823 104.73  
    2.ứng trước người bán 1416555317 1.10 2538445534 2.01 1121890217 179.20  
    3.Thuế GTGT được khấu trừ 0 0 0 0 0 0  
    4.Phải thu khác 282287258 0.22 99597421 0.08 -182689837 35.28  
    5.Dự phòng khoản phải thu khó đòi 0 0 -8674700 -0.007 -8674700 0  
    III.Hàng tồn kho 19916349775 15.44 27396485175 21.70 7480135400 137.56  
    IV.TSLĐ khác 400738776 0.31 989500000 0.78 588761224 246.92  
    Tổng cộng 128955226979 100 126237489794 100 -2717737185 97.89  

    (Trích Bảng cân đối kế toán Năm 2003 và Năm 2004)

    2.2.2 – Cơ cấu nguồn vốn lưu động :

    Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong ngành Xi măng nên Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng cần một số lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của công ty.Cùng với nguồn vốn được nhà nước cấp hàng năm,  Công ty đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động của mình.

    Nguồn vốn ngắn hạn là một giải pháp khá hữu hiệu nó giúp Công ty có thể huy động được một cách nhanh chóng số vốn cần thiết một cách đơn giản, tiện lợi đồng thời giúp Công ty tiết kiệm hơn nữa chi phí sử dụng vốn so với nguồn tài trợ dài hạn. Tuy nhiên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn lại có mặt hạn chế của nó. Nếu lạm dụng nguồn vốn ngắn hạn nhiều sẽ làm tăng hệ số nợ vay và làm tăng nguy cơ phá sản của Công ty.

    Ta thấy rằng khoản mục Phải trả người bán của Công ty là rất lớn , năm 2003 chiếm 56,08% và đến năm 2004 chiếm 51,8% .Nhưng đây cũng chính là đặc trưng của Công ty. Được sự cho phép của Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam ,Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng được phép trả chậm người cung cấp . Có thể thấy rằng cuối năm 2004 khoản mục nợ phải trả của công ty đã giảm đi một lượng 4.557.677.614 (VND) ,hay giảm 4,58% so với năm 2003 .Trong đó khoản mục phải trả người bán giảm một lượng là 7.673.601.911(VND)so với năm 2003 .Điều này có nghĩa là công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mà không cần phải chiếm dụng nhiều vốn của nhà cung cấp .Đây là điều đáng mừng cho công ty .

    Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên của thị trường xi măng trong nước ,công ty vật tư kỹ thuật Xi măng đã nhập khẩu thêm nhiều tư liệu sản xuất cùng với sự  lớn mạnh không ngừng của công ty  .Do vậy thuế và các khoản phải nộp nhà nước tăng lên 391.361.205(VND) là điều tất yếu . Cùng với đó là khoản người mua trả tiền trước tăng lên chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng vào công ty ngày càng cao. Bên cạnh đó khoản phải trả công nhân viên cũng tăng lên chứng tỏ được quy mô của công ty ngày càng mở rộng, công ty đã thu hút thêm nhiều công nhân viên có trình độ , kỹ thuật cao qua đó đời sống của công nhân viên đã được tăng lên khá rõ rệt .

    Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 một lượng là 2.087.681.268(VND) , nghĩa là tăng lên 4,19% đã cho ta thấy sự phát triển ngày càng lớn mạnh của công ty , cùng với sự quan tâm to lớn của Tổng Công Ty Xi măng .

    Bảng 2.2.2 – Cơ cấu nguồn VLĐ năm 2003 và năm 2004

     

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    A-NỢ PHẢI TRẢ
    99533945689 66.66 94976268075 64.68
    I.Nợ ngắn hạn 95259258535 63.80 89404916138 60.89
    1.Vay ngắn hạn 0 0 0 0
    2.Phải trả cho người bán 83730340885 56.08 76056738974 51.80
    3.Thuế và các khoản phải nộp 723467532 0.48 1036971741 0.71
    4.Người mua trả tiền trước 5924560704 3.97 6315921909 4.30
    5.Phải trả công nhân viên 4048140117 2.71 4832969854 3.29
    6.Phải trả cho các đơn vị nội bộ 420159404 0.28 0 0
    7.Phải trả , phải nộp khác 412589893 0.28 1162313660 0.79
    II. Nợ khác 4274687154 2.86 5571351937 3.79
    B- NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 49773064695 33.34 51860745963 35.32
    Tổng cộng 149307010384 100 146837014038 100

    (Trích bảng cân đối Kế toán Năm 2003 và Năm 2004)

    2.3- PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY:

    Xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh và đặc điểm về nhu cầu về vốn lưu động hàng năm của công ty nên Công ty xác định nhu cầu Vốn lưu động theo phương pháp gián tiếp ,tức là công ty chủ yếu dựa vào kết quả thống kê kinh nghiệm năm trước và kế hoạch đề ra cho năm sau .Hay cụ thể công ty dựa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra cho năm sau qua đó lập kế hoạch về số lượng vật tư phục vụ cho sản xuất lập kế hoạch số lượng hàng dự trữ và tiêu thụ .Từ  đó dựa vào các biểu giá được cung cấp bởi bộ phận vật tư ,bộ phận kinh doanh ,bộ phận kế toán tài vụ sẽ lập kế hoạch cho nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch

    Với doanh thu thuần là 1.516.533.879.485(VND) và số vòng quay VLĐ trung bình ngành là 10 vòng/năm nên nhu cầu vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh  năm 2004 của công ty được tinh toán như sau :

    VnC=                       =

                                               =151.653.387.948,5 VND

    Như vậy nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho sản xuất năm 2004 là 151.653.387.948,5(VND) .Có sự đột biến  như vậy là do công ty đã ký thêm đựơc nhiều hợp động mới có nhiều khách hàng ngoài  dự kiến ,tăng các khoản phải thu ….Mặc dù vậy công ty  vẫn đáp ứng đủ nhu cầu VLĐ trong năm từ nhiều nguồn khác nhau .Qua đó ta thấy được sự cố gắng rất lớn của công ty trong việc huy động vốn.

    Năm 2005 này , công ty ước tính doanh thu thuần khoảng 578.378.000.000(VNĐ) . Do vậy nhu cầu VLĐ cần thiết cho năm kế hoạch là :

           
           

    VnC =                      =

       = 157.837.800.000 VNĐ

    Sau khi đã có kết quả nhu cầu VLĐ cho năm kế hoạch thì căn cứ vào tình hình thực tế để phân phối cho từng khâu .Về nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu cụ thể trong sản xuất ,dự trữ và lưu thông sản phẩm hàng hoá thì đựơc tính theo phần trăm từng khâu trong tổng nhu cầu dựa vào tỷ trọng thực tế của số vốn được sử dụng trong từng khâu của năm trước đồng thời căn cứ cả vào kế hoạch sản xuất kinh doanh để lập kế hoạch nhu cầu VLĐ cho năm sau.

    2.4 – NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY:

    2.4.1 – Quản trị vốn bằng tiền :

    Vốn bằng tiền là loại vốn linh hoạt và có khả năng thanh khoản cao nhất trong vốn lưu động của doanh nghiệp . Do vậy nhu cầu dự trữ vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp là để đáp ứng những nhu cầu giao dịch hàng ngày và nhiều mục đích khác .

    Trong tổng vốn lưu động của Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng , vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng rất lớn , năm 2003 vốn bằng tiền của công ty chiếm 76,54% tương ứng với số tiền là 98.698.627.011(VNĐ) .Đến cuối năm 2004 đã giảm đi còn 68,59% tương ứng là           86.591.634.699(VNĐ) .Như  vậy lượng vốn bằng tiền của công ty đã giảm đi  12.106.992.312(VNĐ) với tốc độ giảm 12,27% .Qua số liệu bảng 2.2.1 ta thấy vốn bằng tiền của công ty giảm đi chủ yếu là do sự sụt giảm của khoản mục tiền gửi ngân hàng mặc dù lượng tiền mặt vẫn tăng lên .

    Bảng 2.4.1 – Cơ cấu Vốn bằng tiền

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    I. Tiền 98.698.627.011 76,54 86.591.634.699 68,59
    1.Tiền mặt 1.846.043.500 1,43 5.295.695.000 4,20
    2.TGNH 94.131.943.511 73,00 78.370.857.699 62,08
    3.Tiền đang chuyển 2.720.640.000 2,11 2.925.082.000 2,32

    Tiền mặt tại quỹ là bộ phận quan trọng cấu thành nên vốn bằng tiền của công ty .Năm 2003 tỷ trọng của khoản vốn này chỉ chiếm 1,43% nhưng đến năm 2004 đã chiếm 4,2% trong tổng vốn lưu động của công ty .Tốc độ tăng vọt (186,87% tương ứng 3.449.651.500 (VNĐ) ) của tiền mặt tại quỹ cho thấy năm 2004 công ty đã có nhu cầu khá lớn về khoản vốn này để mua nguyên vật liệu ,đồng thời làm tăng khả năng thanh toán tức thời cho công ty khi xuất hiện nhu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn .

    Tiền gửi ngân hàng là bộ phận lớn nhất của vốn bằng tiền của công ty .Trong nền kinh tế thị trường ,xu hướng chung là các doanh nghiệp giao dịch qua ngân hàng ,phương thức này giúp cho hoạt động kinh tế được thuận tiện và an toàn hơn .Nhưng nếu xác định lượng tiền gửi ngân hàng quá lớn sẽ gây nên tồn đọng vốn do không được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh .Do vậy năm 2004 lượng tiền gửi ngân hàng của công ty đã giảm xuống so với năm 2003 .Năm 2004 lượng tiền gửi ngân hàng đã giảm 16,74% tương ứng với lượng tiền là 15.761.085.812(VNĐ) .Như vậy năm 2004 công ty đã đầu tư mới vào các hoạt động kinh doanh ,làm cho quy mô kinh doanh của công ty ngày càng mở rộng và lớn mạnh .

    Nhìn chung mức dự trữ vốn bằng tiền và cơ cấu của nó được Công ty xác định như vậy là chưa thực sự hợp lý công ty đang để xảy ra tình trạng ứ đọng vốn .Mức dư tiền gửi ngân hàng như hiện tại là quá lớn .Công ty nên mở rộng sản xuất ,đầu tư mới vào các lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận .

    2.4.2 – Quản trị hàng tồn kho dự trữ :

    Hàng tồn kho là khoản mục có giá trị lớn thứ hai trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003 hàng tồn kho là 19.916.349.775(VNĐ) chiếm 15,44% trong tổng vốn lưu động của Công ty. Đến năm 2004, hàng tồn kho là 27.396.485.175 (VNĐ) chiếm 21,7%. Như vậy, năm 2004 khoản mục hàng tồn kho của Công ty đã tăng lên một lượng đáng kể so với năm 2003 là 7.480.135.400(VNĐ). Nguyên nhân là do Công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh, nhập thêm nhiều vật tư để cung cấp cho khách hàng trong nước. Tuy nhiên khoản mục hàng tồn kho lớn cũng gây ra nhiều vấn đề đáng lo ngại cho Công ty nhất là sự tồn đọng vốn. Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp là luôn tìm mọi cách để tối ưu hóa các chi phí. Từ thực tế của Công ty, ta thấy rằng tình hình quản trị hàng tồn kho dự trữ của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng chưa được tốt. Do đó, Công ty phải tìm biện pháp để giảm bớt chi phí cho hàng tồn kho mà vẫn đảm bảo cung cấp đủ hàng hoá cho người tiêu dùng. Đồng thời, Công ty cũng phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới và tăng cường các biện pháp bán hàng cần thiết.

    Bảng 2.4.2 – Bảng cơ cấu Hàng tồn kho

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    Hàng tồn kho 19.916.349.775 100 27.396.485.175 100
    1.Hàng mua đang đi trên đường 13.110.615.454 65,83 18.798.083.185 68,62
    2.Nguyên liệu,vật liệu tồn kho 146.688.235 0,74 153.857.825 0,56
    3.Công cụ ,dụng cụ trong kho 35.092.970 0,18 30.894.194 0,11
    4.Hàng hoá tồn kho 6.623.953.115 33,25 8.413.649.971 30,71

    2.4.3 – Quản trị khoản phải thu ,phải trả:

    Các khoản phải thu chiếm một tỷ trọng không lớn trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003, khoản phải thu là 9.939.511.417(VNĐ) chiếm 7,71%. Năm 2004, khoản phải thu lên tới 11.259.869.920 (VNĐ) triệu chiếm 8,92%. Trong các khoản phải thu thì khoản bán chịu cho khách hàng là chủ yếu. Năm 2003 khách hàng nợ Công ty là 8.240.668.842(VNĐ), chiếm 6,39% trong tổng vốn lưu động. Năm 2004 khách hàng nợ 8.630.501.665(VNĐ), chiếm 6,84% trong tổng vốn lưu động. Mặc dù số tiền mà khách hàng nợ Công ty tăng lên 389.832.823(VNĐ) nhưng đây cũng là điều tất yếu , bởi công ty đang ngày càng được mở rộng vì thế nên công ty có nhiều bạn hàng, lượng tiền mà khách nợ công ty tăng lên cũng không lớn . Bên cạnh đó

    cũng có sự gia tăng của các khoản phải thu khác nhưng mà sự gia tăng này không đáng kể.

    Bảng 2.4.3 – Bảng cơ cấu Khoản phải thu , phải trả

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    I.Các khoản phải thu 9.939.511.417 7,71 11.259.869.920 8,92
    1.Phải thu KH 8.240.668.842 6,39 8.630.501.665 6,84
    2.Ứng trước người bán 1.416.555.317 1,10 2.538.445.534 2,01
    3.Thuế GTGT được khấu trừ 0 0 0 0
    4.Phải thu khác 282.287.258 0,22 99.597.421 0,08
    5.Dự phòng khoản phải thu khó đòi 0 0 -8.674.700 -0,007
    II. các khoản phải trả
    99.533.945.689 66,66 94.976.268.075 64,68

    Trả trước cho người bán chiếm  tỷ trọng nhỏ trong Tổng vốn lưu động của Công ty (năm 2003 là 1,1% và năm 2004 là 2,01%),như vậy khoản này đã tăng lên làm khoản phải thu của Công ty đã tăng lên .Công ty đã ứng trước cho các nhà cung cấp để đảm bảo có được nguyên vật liệu kịp thời để phục vụ sản xuất.

    Như vậy ,hầu hết các khoản phải thu của Công ty đã có xu hướng tăng lên.Công ty cần chú trọng hơn nữa việc đốc thúc khách hàng trả nợ,kiên quyết không cung cấp hàng cho những khách hàng đang còn nợ lớn , thu hẹp được vốn ở khâu này sẽ hạn chế Vốn lưu động bị chiếm dụng ,giúp Công ty rút ngắn thời gian luân chuyển của đồng vốn .

    Cùng với các khoản phải thu của doanh nghiệp thì các khoản phải trả của doanh nghiệp cũng đang được giảm dần. Năm 2003 nợ phải trả của công ty là 99.533.945.689 (VNĐ) đến năm 2004 thì chỉ còn 94.976.268.075 (VNĐ) . qua đó thấy được sự cố gắng của công ty trong việc thu hẹp các khoản nợ , tạo niềm tin cho các nhà cung cấp . Sự cố gắng này được thể hiện ở khoản phải trả người bán . Năm 2003 phải trả người bán là 83.730.340.885 (VNĐ) nhưng đến năm 2004 thì khoản phải trả người bán chỉ còn là 76.056.738.974(VNĐ).

    Như vậy , công ty đã đạt được những hiệu quả nhất định trong công tác quản trị các khoản phải thu , phải trả . Thời gian tới công ty cần chú trọng hơn nữa việc đốc thúc khách hàng trả nợ, cung với đó công ty cũng nên giảm bớt lượng phải trả người bán nhằm đảm bảo sự an toàn cho công ty . Làm được như vậy sẽ giúp công ty rút ngắn thời gian luân chuyển của đồng vốn.

    2.4.4 – Quản trị vốn lưu động khác :

    Tài sản lưu động khác chỉ chiếm một tỷ trong rất nhỏ trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003 tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,31% trong tổng vốn lưu động, ứng với số tiền là 400.738.776(VNĐ). Năm 2004, tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,78% ứng với số tiền 989.500.000(VNĐ). Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng vẫn luôn quan tâm tới chỉ tiêu này và áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý và sử dụng nó có hiệu quả hơn nữa.

    2.5 – CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG:

    Công ty sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động :

    – Cách tính vốn lưu động bình quân:

    +     VLĐ bình quân năm 2003   =

                                             =  

                                                     =      118.205.552.134 VNĐ

     +   VLĐ bình quân năm 2004=

    = 127.596.358.386,5 VNĐ

    Các chỉ tiêu được tính toán cụ thể như sau:

    2.5.1- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (Vòng quay VLĐ):

    L=

    Năm 2003, L =  = 9,7 vòng

    Năm 2004, L =   = 11,92 vòng

    Như vậy, cứ một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được 9,7 đồng doanh thu năm 2003 và 11,92 đồng doanh thu năm 2004.

    2.5.2- Kỳ luân chuyển vốn lưu động:

                                 K=

    Năm 2003, K =  = 37 ngày

    Năm 2004, K =  = 30 ngày

    Như vậy, năm 2003 cứ 37 ngày thì vốn lưu động thực hiện được một vòng quay và năm 2004 là 30 ngày. Kỳ luân chuyển vốn lưu động càng được rút ngắn thì chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.

    2.5.3- Mức tiết kiệm vốn lưu động:

    Vtk =  . (K1– K0)

    =  . (30- 37)

    = -29.489.158.767(VNĐ)

    So với năm 2003, năm 2004 Công ty đã tiết kiệm được 29.489.158.767(VNĐ) vốn lưu động. Mức tiết kiệm  này là do Công ty đã tăng vòng quay của vốn lưu động từ 9,7 vòng lên 11,92 vòng năm 2004 và rút ngắn kỳ luân chuyển vốn lưu động.

     

     

    Bảng 2.5 : Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng VLĐ

     

    Chỉ tiêu ĐV Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch  
    1. Tổng doanh thu VNĐ 1151374383671 1520689248460 369314864789  
    2. Doanh thu thuần VNĐ 1147679225941 1516533879485 368854653544  
    3. VLĐ bình quân VNĐ 118205552134 127596358387 9390806253  
    4. Giá vốn hàng bán VNĐ 971739382548 1407399507657 435660125109  
    5. LN sau thuế VNĐ 8309358113 7934647185 -374710928  
    6. Vòng quay VLĐ Vòng 9.7 11.9 2.2  
    7. Kỳ luân chuyển VLĐ Ngày 37 30 -7  
    8. Mức tiết kiệm VLĐ VNĐ -29489158767    
    9. Hiệu suất sử dụng VLĐ VNĐ 9.70 11.90 2.2  
    10. Hàm lượng VLĐ VNĐ 0.103 0.084 -0.019  
    11. Mức doanh lợi VLĐ VNĐ 0.07 0.084 0.014  

    2.5.4- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:

    HSSD VLĐ =

    HSSD VLĐ năm 2003 =

    = 9,7 đồng

    HSSD VLĐ năm 2004 =

    = 11,9 đồng

    Chỉ tiêu này phản ánh năm 2003 cứ một đồng vốn lưu động bỏ ra có thể làm ra 9,7 đồng doanh thu thuần. Đến năm 2004 chỉ tiêu này đã tăng lên 11,9 đồng doanh thu thuần trên một đồng vốn lưu động. Như vậy, năm 2004 vốn lưu động được sử dụng có hiệu quả hơn so với năm 2003.

    2.5.5- Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhận VLĐ):

    Hàm lượng VLĐ =

    Hàm lượng VLĐ năm 2003 =

    =    0,103 đồng

    Hàm lượng VLĐ năm 2004 =

    =      0,084 đồng

    Như vậy, trong năm 2003 công ty cần 0,103 đồng VLĐ để tạo ra được một đồng doanh thu. Năm 2004 Công ty chỉ cần có 0,084 đồng VLĐ đã tạo ra được một đồng doanh thu. So với năm 2003, năm 2004 Công ty đã tăng được mức độ đảm nhận VLĐ lên và vì vậy sử dụng VLĐ có hiệu quả hơn.

     

    2.5.6- Mức doanh lợi vốn lưu động (Tỷ suất lợi nhuận VLĐ):

    Mức doanh lợi VLĐ =

    Mức doanh lợi VLĐ năm 2003 =

    =  0,07 đồng

    Mức doanh lợi VLĐ năm 2004 =

    =  0,062 đồng

    Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra được 0,07 đồng lợi nhuận sau thuế năm 2003 và 0,062 đồng năm 2004. So với năm 2003 thì mức doanh lợi của Công ty thấp hơn 0,008 đồng.

     

    Qua sự phân tích trên cho thấy thực trạng quản trị vốn lưu động của công ty vật tư kỹ thuật Xi măng trong nền kinh tế thị trường ta thấy một cách cụ thể những lý luận về vốn lưu động được thể hiện trong thực tiễn . Trong công tác này Công ty có nhiều ưu điểm song vẫn còn những tồn tại cần khắc phục. Sau đây Em xin mạnh dạn đề xuất  một số đánh giá và giải pháp về công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

     

     

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG

    3.1 -ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG:

    Sau khi nghiên cứu tình thực tế về công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng ,ta thấy tình hình quản trị vốn lưu động tại công ty có một số ưu , nhược điểm sau :

    3.1.1- Ưu điểm :

    Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng cấu thành nên vốn kinh doanh của công ty .Để sử  dụng vốn lưu động có hiệu quả ,tức là sử dụng vừa tiết kiệm lại vừa chính xác ,kịp thời thì công tác quản trị vốn lưu động tại công ty rất quan trọng .Xác định được tầm quan trọng của vấn đề ,Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng luôn tìm mọi cách để quản lý và sử dụng vốn lưu động sao cho tốt nhất và có hiệu quả nhất .Trong những năm qua ,Công ty đã đạt đựơc một số kết quả trong công tác quản trị vốn lưu động như sau :

    Thứ nhất ,về tổ chức bộ máy kế toán :Công ty có một cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán khá chặt chẽ ,với nhiệm vụ cụ thể của từng kế toán viên dưới sự điều hành của kế toán trưởng .Công tác hạch toán kế toán ,kế toán và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh đựơc tổ chức và thực hiện tốt đã giúp Công ty nắm đựơc tình hình vốn ,nguồn hình thành ,tình hình tăng giảm vốn lưu động trong kỳ ,khả năng đảm bảo vốn lưu động ,tình hình và khả năng thanh toán .Trên cơ sở đó giúp công ty đề ra được cho mình những giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn lưu động ,xử lý các vấn đề tài chính nảy sinh .

    Thứ hai ,về tình hình quản trị vốn lưu động :Do công ty đã đề ra được kế hoạch về vốn lưu động trong kỳ nên công ty đã chuẩn bị đựơc nguồn vốn lưu động phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của công ty .để đưa ra được các quyết định tài chính phù hợp với vốn lưu động thì công ty đã tổ chức công tác quản trị vốn lưu động một cách toàn diện .

    Thứ ba , về khả năng thanh toán của công ty bằng vốn lưu động :Do Công ty đã dự trữ một lượng tiền mặt khá lớn tại quỹ và tại ngân hàng nên khả năng thanh toán của công ty là rất tốt .Công ty đã thiết lập , mở rộng mối quan hệ với khách hàng và bạn hàng .Tất cả những điều này giúp Công ty mở rộng đựơc thị trường của mình ,tìm thêm cho mình những khách hàng mới thiết lập mối quan hệ tin tưởng  lẫn nhau.Trong quan hệ giao dịch vơi bạn hàng  trên cơ sở xây dựng mối quan hệ lâu dài và uy tín đã giúp cho Công ty có được uy tín thương mại từ phía bạn hàng .Số lượng khách hàng đến với Công ty ngày càng nhiều  điều đó củng cố vị thế của Công ty trong ngành Xi măng .

    Thứ tư, về tình hình huy động vốn lưu động: để đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm đủ số vốn để trang trải cho nhu cầu vốn lưu động của mình. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp nên Công ty muốn mở rộng thị trường kinh doanh cuả mình. Do vậy, Công ty cần một lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh. Tuy nhiên, số vốn được cấp cùng với lợi nhuận không chia để lại doanh nghiệp không đủ đáp ứng nhu cầu về vốn cho Công ty nên Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã phải huy động thêm nguồn tài trợ ngắn hạn vốn lưu động như nguồn vốn tín dụng thương mại . Nguồn vốn tín dụng thương mại chiếm một vị trí quan trọng trong nguồn tài trợ ngắn hạn của Công ty. Nó được hình thành khi Công ty nhận được tài sản, dịch vụ của người cung cấp song chưa phải trả tiền ngay. Công ty có thể sử dụng các khoản phải trả khi chưa đến kỳ hạn thanh toán với khách hàng như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của Công ty.

    Thứ năm , đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công ty không ngừng được nâng cao .Nếu năm 2003 ,thu nhập bình quân của công nhân viên là 2530000(đồng/người ) thì đến năm 2004 con số này là 3410000(đồng /người ).Đây chính là một minh chứng cụ thể và đầy đủ nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu qủa của công ty .Với lượng công nhân viên khoảng 714 người trong năm 2004 nhưng với bộ máy gọn nhẹ ,cấu trúc đơn giản ,hoạt động có hiệu quả đã cho phép công ty đạt đựơc những thành tựu lớn trong thời gian qua .

                 Thứ sáu ,Công ty được sự quan tâm giúp đỡ của Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam trong việc cung cấp nguồn vốn ,cũng như sự chỉ đạo chặt chẽ đã giúp cho công ty không ngừng lớn mạnh .
    3.1.2- Nhược điểm :

    Bên cạnh các ưu điểm trong công tác quản trị vốn lưu động thì tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng vẫn còn một số nhược điểm mà công ty cần phải tìm cách khắc phục:

    Thứ nhất, về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty chưa được tốt. Điều này biểu hiện qua các chỉ tiêu tài chính như vòng quay vốn lưu động cũng như tốc độ luân chuyển vốn lưu động của Công ty còn thấp. Trong những năm tới, Công ty cần phải đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của vốn, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng trong khâu tiêu thụ nhằm tăng thêm lợi nhuận cho Công ty.

    Thứ hai, việc xác định nhu cầu vốn lưu động bằng phương pháp gián tiếp tuy có ưu điểm là tương đối đơn giản giúp công ty ước tính được nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch song chưa đảm bảo được độ chính xác cao.

    Thứ ba , Công ty đã để lượng dư tiền gửi ngân hàng quá nhiều , như vậy cũng có mặt tốt nhưng như vậy một lượng vốn lưu động đã bị tồn đọng làm giảm cơ hội đầu tư  vào những vực mới có nhiều khả năng đem lại lợi nhuận cho Công ty.

    Thứ tư , Khoản phải thu của Công ty chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn lưu động và ngày càng tăng lên qua các năm . Điều này sẽ làm nguồn vốn lưu động của công ty bị ứ đọng trong tay khách hàng . Tình trạng chiếm dụng vốn ngày càng cao như vậy sẽ gây nhiều khó khăn cho Công ty trong công tác thanh toán của mình .

    Thứ năm ,Sản lượng Xi măng tiêu thụ của công ty tuy vượt mức kế hoạch đặt ra nhưng sản lượng Xi măng Bỉm Sơn , Hoàng Mai đạt còn thấp . Do chưa thực sự quan tâm đẩy mạnh tiêu thụ , tiếp thị , quảng cáo hai chủng loại Xi măng này trên thị trường .

    3.2 -PHƯƠNG HƯỚNG CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI :

    3.2.1 – Phương hướng của công ty trong sản xuất kinh doanh:

    Nước ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và khu vực Mậu dịch tự do Châu Á (AFTA). Điều này đã tạo ra những cơ hội đồng thời cũng mang lại những thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Vì khi đó, Nhà Nước ta mở rộng cánh cửa cho hàng hoá của các nước trong khu vực và trên Thế giới  xâm nhập vào thị trường Việt Nam một cách dễ dàng với mức thuế nhập khẩu tương đối thấp. Do vậy, các sản phẩm được sản xuất ra ở trong nước phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Để làm được điều này thì các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và hạ giá thành sản phẩm. Nắm bắt được điều đó nên : Toàn công ty phấn đấu đạt :

                 * Sản lượng xi măng mua vào , bán ra :     2,4 triệu tấn trở lên

                 Trong đó :   + Xi măng Hoàng Thạch : 1200000 tấn

    + Xi măng Bỉm Sơn            : 120000 tấn

    + Xi măng Bút sơn             :  800000 tấn

    + Xi măng Hải Phòng        :  130000 tấn

    + Xi măng Hoàng Mai       : 150000 tấn

    • Lợi nhuận từ 10 tỷ đồng trở lên.
    • Giữ cho thu nhập bằng năm 2004
    • Kế hoạch bán ra giao cho các đơn vị :

    + Phòng tiêu thụ Xi măng       :  1900000 tấn

    + Phòng kinh tế kế hoạch        :  30000    tấn

    + Xí nghiệp vận tải                  :  35000    tấn

    + Chi nhánh Thái Nguyên       :  120000  tấn

    + Chi nhánh Phú Thọ              :   135000  tấn

    +Chi nhánh Vĩnh Phúc            :   110000  tấn

    + Chi nhánh Lào cai                :   70000    tấn

    Trong đơn vị phải phấn đấu vượt mức KH từ 10% trở lên.      

     

     

    3.2.2 – Phương hướng về quản trị vốn lưu động:

    Thứ nhất ,công ty phải luôn tìm hiểu thị trường để nắm bắt được thông tin từ phía người tiêu dùng ,tìm kiếm các nguồn nguyên liệu có chất lượng cao mà giá thành lại  thấp  .

    Thứ hai ,Công ty sẽ đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường để có thể nắm bắt và xử lý các thông tin kinh tế ,dự đoán chính xác nhu cầu và diễn biến của thị trường từ đó tìm kiếm những thị trường tiềm năng mới mà doanh nghiệp chưa khai thác hoặc khai thác chưa triệt để .

    Thứ ba ,Công ty phải đẩy mạnh hình thức bán buôn kết hợp với các hình thức bán lẻ nhằm tăng nhanh tổng doanh số bán ra từ đó tăng lợi nhuận của công ty .Công ty cần thực hiện đa dạng hoá các hình thức bán hàng cũng như hình thức thanh toán nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng .Nâng cao năng lực sản xuất đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm trên 10%

    Thứ tư ,Công ty phấn đấu đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động ,tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động .Trong những năm qua ,do công ty đã không sử dụng hết nguồn vốn lưu động sẵn có gây nên tình trạng ứ đọng vốn .Do vậy trong những năm tới công ty phải phấn đấu đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động tránh tình trạng vốn lưu động bị ứ đọng

    Thứ năm ,công ty cần phải phấn đấu tăng thu nhập cho người lao động nhằm khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động an tâm làm việc tại công ty .

    Để đạt được mục tiêu như vậy thì  công ty cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả tốt nhất .Phương hướng hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động tại công ty là hoàn thiện công tác mọi mặt sản xuất kinh doanh nhằm giảm thiểu các chi phí ,duy trì mở rộng thị trường ,có chính sách tín dụng tốt với khách hàng ,quản lý vốn trong thanh toán ,đầu tư đồng bộ cho máy móc thiết bị ….Từ đó sẽ nâng cao công tác quản trị vốn lưu động .

    3.3 -MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ :

    Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng trong thời gian qua , Em xin nêu ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty như sau:

    3.3.1- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu      động:

    3.3.1.1 – Các giải pháp chung:

    Khi tiến hành hoạt dộng sản xuất kinh doanh thì bất cứ một Công ty nào cũng cần chú trọng thực hiện các biện pháp cơ bản sau nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu sử dụng vốn lưu động nói riêng.

    Thứ nhất, Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh: Trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay thì đòi hỏi Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng phải có một chiến lược kinh doanh chủ động. Muốn vậy thì đội ngũ nhân viên làm việc tại phòng Kinh doanh phải luôn tiếp cận với thị trường, khai thác thông tin từ thị trường để từ đó nắm bắt được nhu cầu của khách hàng. Có như vậy thì hoạt động kinh doanh của Công ty mới có hiệu quả. Quản trị chiến lược kinh doanh tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Công ty, vị thế cũng như hiệu quả kinh doanh của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng.

    Thứ hai, lựa chọn quyết định kinh doanh có hiệu quả: trong điều kiện nền kinh tế mở, có nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia vào thị trường làm cho sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp trở nên gay gắt. Do vậy, để tồn tại và phát triển được thì Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng phải nắm bắt lấy cơ hội và đương đầu với những khó khăn nhằm đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn.

    Thứ ba, nâng cao trình độ và tăng động lực cho đội ngũ lao động: Để mỗi cán bộ công nhân viên xem Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng là ngôi nhà thứ hai của mình, Công ty nên có các chương trình hoạt động văn hoá thể thao, tăng cường các qũy phúc lợi, khen thưởng mở các lớp đào tạo chuyên môn , nghiệp vụ. Đồng thời Công ty cũng cần có biện pháp để tăng mức lương cho người lao động. Khi đó, cán bộ công nhân viên của Công ty sẽ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, đem lại hiệu quả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Thứ tư, tăng cường mở rộng quan hệ giữa Công ty với khách hàng: Nếu biết khai thác tốt thị trường cũng như quan hệ bạn hàng thì Công ty sẽ dễ dàng có được những cơ hội phát triển kinh doanh.

    3.3.1.2 -Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty :

    Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng vốn lưu động, Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động như sau:

     

    *  Hoàn thiện công tác quản trị vốn bằng tiền

    Qua phân tích tình hình quản trị vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thụât Xi măng trong hai năm gần đây, ta thấy, công tác quản trị vốn bằng tiền chưa được tốt do Công ty đã dự trữ một lượng tiền  khá lớn tại quỹ. Cụ thể, vốn bằng tiền chiếm một tỷ trọng lớn là 76,54% trong tổng vốn lưu động năm 2003 và chiếm 68,59% trong tổng vốn lưu động năm 2004. Việc dự trữ một khối lượng lớn tiền mặt tại quỹ có thể giúp cho Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trả. Nhưng đồng thời nó lại gây nên tình trạng ứ đọng vốn do Công ty đã không sử dụng hết số vốn hiện thời mà mình có. Do vậy, trong những năm tới Công ty cần phải xem xét lại mức dự trữ tiền mặt một cách hợp lý sao cho Công ty vừa có khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ mà vừa không bị dư thừa vốn lưu động.

    *  Hoàn thiện công tác quản trị hàng tồn kho

    Tồn kho dự trữ là khoản mục chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003, hàng tồn kho chiếm 15,44% trong tổng tài sản lưu động. So với năm 2003, thì năm 2004  Công ty đã để tăng tỷ lệ hàng tồn kho trong tổng vốn lưu động lên tới 21,7% . Chính vì vậy, Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn  áp dụng mọi biện pháp nhằm giảm tối thiểu các chi phí lưu kho đồng thời vẫn đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục.  Một trong những biện pháp hữu hiệu để giảm khối lượng hàng tồn kho là Công ty nên đầu tư thêm vào lĩnh vực quảng cáo, tham gia các hội chợ triễn lãm để kích thích tiêu dùng nhằm tối ưu chi phí lưu kho số thành phẩm này.

    *  Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động

    Việc quản lý và sử dụng Vốn lưu động một cách hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào công tác xác định nhu cầu Vốn lưu động .Do đó tầm quan trọng của công tác này cần được Công ty đánh giá đúng mức để có thể xây dựng được một hệ thống phương pháp khoa học cho công tác xác định nhu cầu vốn lưu động .Qua tìm hiểu thực tiễn về công tác này tại Công ty em xin mạnh dạn đề xuất Công ty nên áp dụng phương pháp trực tiếp trong việc xác định nhu cầu vốn lưu động hàng năm.Mặc dù phương pháp trực tiếp thực hiện phức tạp tốn nhiều thời gian nhưng bù lại phương pháp này giúp cho Công ty đánh giá chính xác hơn về lượng vốn lưu động cần huy động trong các khâu sản xuất , lưu thông sản phẩm hàng hoá .Bằng phương pháp này sau khi tổng hợp các nhu cầu trong từng khâu sản xuất kinh doanh , Công ty sẽ có được tổng nhu cầu về Vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh hàng năm của mình một cách chính xác. Dựa vào công tác xác định nhu cầu Vốn lưu động sát với thực tiễn sản xuất kinh doanh ,Công ty có thể chuẩn bị các biện pháp huy động Vốn lưu động chính xác , kịp thời và hết sức chủ động trước các đòi hỏi về Vốn lưu động chính xác, kịp thời và hết sức chủ động trước các đòi hỏi về vốn lưu dộng của quá trình sản xuất và tiêu thụ.

    *  Công ty cần chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng vốn lưu động:

    Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Do vậy, việc chủ động xây dựng kế hoạch huy động và  sử dụng vốn lưu động vào sản xuất kinh doanh của Công ty là hết sức cần thiết. Công ty cần chủ động khai thác triệt để các nguồn vốn sẵn có và các khoản vốn có thể chiếm dụng được tạm thời như nợ của người cung cấp và các tổ chức tín dụng khác.

     

     

    * Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động:

    Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp cho Công ty tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động và giảm được các chi phí về hàng tồn kho. Công ty cần phải ưu tiên về thanh toán đối với các khách hàng lâu năm của Công ty nhằm duy trì mối quan hệ lâu dài.

    *  Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên:

    Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng cần phải chú trọng vào việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên bằng cách cử cán bộ và công nhân viên có khả năng đi học các lớp bồi dưỡng về chuyên môn. Lãnh đạo Công ty cần phải mạnh dạn hơn nữa trong việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, cương quyết thay thế những cán bộ yếu đồng thời đề bạt một số cán bộ có năng lực về chuyên môn, có khả năng đáp ứng những yêu cầu mới.Công ty cũng cần phải khuyến khích về vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên nhằm pháp huy tinh thần trách nhiệm của họ.

    3.3.2 – Một số kiến nghị mang tính chất hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty:

    Sau một thời gian tìm hiểu, phân tích thực trạng về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng. Em xin đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần giúp Công ty nâng cao hiệu quả tạo vốn và sử dụng vốn lưu động như sau:

     

     

    3.3.2.1 – Một số kiến nghị đối với công ty :

    Hình thức bán hàng mà công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng áp dụng trong những năm qua về cơ bản là phù hợp với hoạt động kinh doanh. Công ty cần tiếp tục đẩy mạnh hình thức bán buôn để đẩy nhanh tổng doanh số bán ra từ đó tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Trong bán buôn, công ty cần tăng cường hình thức bán giao thẳng không qua kho vì hình thức này đảm bảo tiết kiệm nhiều chi phí, thu được lợi nhuận cao và đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động.

    Công ty cần thực hiện đa dạng hoá các hình thức bán hàng và phương thức thanh toán (như thanh toán nhanh hoặc trả chậm trong một thời gian nhất định) để phục vụ tốt nhu cầu của mọi khách hàng. Ngoài ra Công ty còn phải sử dụng công cụ marketing nhằm thúc  đẩy hoạt động bán hàng.

    Công ty cần mở thêm các văn phòng đại diện cũng như các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm ở các tỉnh thành trong cả nước, không ngừng huấn luyện đội ngũ bán hàng có năng lực và có kinh nghiệm bán hàng. Công ty cần duy trì và phát triển quan hệ bán hàng với các đơn vị thường xuyên mua hàng của Công ty với khối lượng lớn. Bởi vì bộ phận khách hàng này sẽ đảm bảo hàng hoá tiêu thụ được ổn định. Đối với thị trường mới, Công ty phải có những chiến lược xâm nhập thích hợp bởi đây chính là nơi có thể mở rộng các quan hệ của Công ty với những bạn hàng mới. Do vậy, Công ty phải phân tích những thông tin về các biến cố trên thị trường, xử lý tốt các thông  tin kinh tế nhằm tìm ra cơ hội kinh doanh phù hợp với tiềm năng của Công ty.

     

    3.3.2.2 – Một số kiến nghị đối với Tổng công ty Xi Măngvà nhà nước:

                 Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa nên các đơn vị kinh doanh được quyền tự chủ về các hoạt động kinh doanh của mình. Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng chịu sự quản lý của Tổng Công Ty Xi măng nên vẫn phải chịu ít nhiều sự tác động của Tổng Công Ty và nhà nước như hệ thống các chính sách, chế độ có liên quan.Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới thì Nhà nước, các Bộ, các Ngành phải có các biện pháp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị trường.Vì vậy ngoài việc nhanh chóng ban hành đồng bộ các chính sách , Nhà nước cần phải sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô một cách có hiệu quả nhất thiết .Đối với những ngành như ngành Xi măng hiện nay không chỉ do Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam sản xuất kinh doanh(Tổng Công Ty mới chỉ chiếm xấp xỉ 53% thị phần ). Song việc bình ổn giá Xi măng là trách nhiệm của nhà nước giao cho các thành viên của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đảm nhiệm . Hơn nữa Nhà nước vẫn còn thực hiện chính sách xã hội đối với các Tỉnh Miền Núi thông qua một số ngành hàng quan trọng . Vì vậy Nhà nước cần phải ban hành một số cơ chế kiểm soát , chính sách hỗ trợ về Vốn , Thuế , Trợ Giá phù hợp tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện được nhiệm vụ chính trị xã hội nhưng không bị thua lỗ kéo dài .

    Tổng Công Ty Xi măng cần tiến hành giao thêm các chi nhánh tiêu thụ của các Công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công Ty ở khu vực Miền Bắc cho Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng . Đồng thời có chính sách hợp lý về giá bán nội bộ của các Công ty sản xuất bán cho Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng để đảm bảo khẳng định cạnh tranh.

    KẾT LUẬN

                 Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Cùng với sự ra đời của nhiều doanh nghiệp, sự canh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày các gay gắt và khốc liệt. Để chiến thắng trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để sử dụng vốn lưu động một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả.Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả chính là cơ sở giúp doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh thuận lợi.

    Trong thời gian qua , tình hình chung của toàn ngành Xi măng còn gặp nhiều khó khăn , nhưng nhờ sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà Nước , Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách để vươn lên và phát triển ổn định. Trong những kết quả đạt được một phần là nhờ Công Ty đã làm tốt công tác quản trị Vốn lưu động của mình, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đồng vốn bỏ ra , mang lại hiệu quả sản xuất ngày càng cao . Tuy nhiên ,trong công tác này của Công ty phải chú trọng hoàn thiện hơn nữa để phát huy tối đa sự vận động và hiệu quả của đồng Vốn lưu động.

    Từ cơ sở lý luận chung và phân tích thực trạng của việc sử dụng vốn lưu động tại công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng – Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam trong thời gian qua, em có đưa ra một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty. Mặc dù đã có nhiều cố gắng tìm tòi nhưng do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian thực tập ngắn cũng như tính chất phức tạp của hoạt động kinh doanh chắc chắn những  kiến nghị của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, đó là những cố gắng trong việc tìm ra các giải pháp trên cơ sở nghiên cứu nghiêm túc về thực trạng tài chính và các hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian qua.

    Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Công đoàn đã trao cho em kiến thức bổ ích trong quá trình học tập.

    Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thạc sỹ Đặng hải Lý cùng với sự giúp đỡ của các anh chị trong phòng Kế toán của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận này.



    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Sự cần thiết của đề tài.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời đầu năm 2000. Thuật ngữ “Thị trường chứng khoán” còn khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam. Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, thị trường chứng khoán đã phát triển rất sôi động. Đầu tư vào thị trường chứng khoán đã trở nên quan trọng đối với mọi người.

    Để tham gia vào thị trường chứng khoán, mọi người đều phải có các kiến thức nhất định về thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển được nếu có sự tham gia ngày càng đông của những người có đầy đủ kiến thức về thị trường chứng khoán. Do đó, kiến thức của mọi người dân về thị trường chứng khoán ở Việt Nam cần được nâng cao. Thị trường chứng khoán có sự hấp dẫn vốn có của nó. Nó không chỉ quan trọng đối với nền kinh tế của một nước mà nó còn quan trọng đối với mỗi người bởi vì khả năng đầu tư sinh lợi của nó. Vì vậy, mỗi người tuỳ theo điều kiện, khả năng của mình mà cần phải tiếp cận thật nhanh để tham gia đầu tư có hiệu quả vào thị trường chứng khoán. Chính các hoạt động đó sẽ góp phần đưa thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển.

    2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

    Do qui mô của bài viết và thời gian làm bài bị hạn chế, cho nên bài viết này chỉ tập trung đề cập vào những nội dung cơ bản nhất của thị trường chứng khoán. Kiến thức về thị trường chứng khoán rất lớn nhưng những kiến thức trong bài viết này cũng tương đối đủ để hiểu về thị trường chứng khoán.

    Về phần nói về thực trạng và một số giải pháp cho thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng do đó có nhiều hạn chế. Vì vậy, bài viết này cũng chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất đối với thị trường chứng khoán Việt Nam.

    3. Kết cấu của đề tài.

     

    1

    Đề tài bao gồm các nội dung sau:

    • Lời mở đầu
    • Chương I. Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán

     

    • Chương II. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

     

    • Chương III. Một số giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt

     

    Nam.

     

    • Lời kết luận.

    2

    CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.

    I. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.

    1. Khái niệm.

    Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức, là nơi mà các chứng khoán được mua bán theo các qui tắc đã được ấn định.

    2. Phân loại.

    1. Căn cứ theo tính chất pháp lý có thị trường chứng khoán chính thức và thị trường chứng khoán phi chính thức.

    Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh.

    Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường OTC là nơi mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa người mua và người bán.

    1. Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành và thị trường giao dịch.

    Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán được phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu tư.

    1. Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai.

    Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theo qui định.

    Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai.

    3

    1. Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá trên thị trường chứng khoán có thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường phát sinh.

    * Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu. * Thị trường cổ phiếu là nơi mua bán các cổ phiếu.

    • Thị trường phát sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứng

    khoán.

    3. Vai trò của thị trường chứngkhoán.

    1. Đối với chính phủ.

    Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân. Chính phủ huy động vốn bằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vào các dự án cần thiết của mình.

    Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá. Chính thị trường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trường chứng khoán một cách tốt nhất. Từ đó khuyến khích việc cổ phần hoá nhanh lên các doanh nghiệp quốc doanh.

    Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ. Lãi suất thị trường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán trái phiếu.

    Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán.

    1. Đối với các doanh nghiệp.

    Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay kh có chi phí tiền vay cao ở các ngân hàng. Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Hoặc chính thị ttường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thể bán chứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền. Như vậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và đầu tư.

    Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra một môi

    4

    trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.

    Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng. Thị trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh nghiệp.

    1. Đối với nhà đầu tư.

    Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm các cơ hội đầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư.

    1. Nhược điểm của thị trường chứng khoán. Yếu tố đầu cơ.

    Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro. Họ có thể mua cổ phiếu ngay với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai và thu hồi được lợi nhuận trong từng thương vụ. Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền làm cho giá cổ phiếu có thể tăng giả tạo. Tuy nhiên thị trường không cấm yếu tố này.

    1. Mua bán nội gián.

    Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công việc của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát hành để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường nhằm thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường. Đây là hành

    • phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước.
    1. Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc.

    Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình hình nội bộ của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng hay giảm giá cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cá nhân.

    1. Mua bán cổ phiếu ngầm.

    Mua bán cổ phiếu ngầm là việc mua bán không qua thị trường chứng khoán. Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu tư khác đưa tới việc khống chế hay thay thế lãnh đạo.

    Việc phao tin đồn không chính xác và mua bán cổ phiếu ngầm đều bị cấm ở các nước.

    5. Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán.

     

    5

    1. Nguyên tắc trung gian.

    Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông qua tổ chức trung gian và môi giới là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứng khoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tư này để mua và bán cho các nhà đầu tư khác.

    Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.

    1. Nguyên tắc định giá.

    Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trung gian môi giới. Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại một thời điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng khoán có trên thị trường. Việc định giá chứng khoán được thực hiện thông qua cuộc thương lượng giữa những người trung gian môi giới cần mua và cần bán. Giá cả được xác định khi hai bên đã thống nhất. Tất cả các thành viên có liên quan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sự tác động qua lại của số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán. Vì thế thị trường chứng khoán được coi là thị trường tự do nhất trong các thị trường.

    1. Nguyên tắc công khai hoá.

    Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình hình tài chính về kết quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượng chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị trường và trong các báo cáo. Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứng khoán được mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn loại chứng khoán theo sở thích của mình.

    II. CHỨNG KHOÁN.

     

    6

    1. Khái niệm.

    Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng.

    2. Phân loại.

    1. Căn cứ theo tiêu thức pháp lý có chứng khoán vô danh và chứng khoán kí danh.

    Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên chủ sở hữu. Việc chuyển nhượng loại này rất dễ dàng, không cần thủ tục đăng ký rườm rà.

    Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán ghi rõ họ tên chủ sở hữu. Việc chuyển nhượng loại này được thực hiện bằng thủ tục đăng ký tại cơ quan phát hành.

    1. Căn cứ theo tính chất thu nhập có chứng khoán có thu nhập ổn định, chứng khoán có thu nhập không ổn định và chứng khoán hỗn hợp.

    Chứng khoán có thu nhập ổn định là các trái phiếu thu nhập của nó không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.

    Chứng khoán có thu nhập không ổn định là các cổ phiếu thường, thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty và chính sách trả cổ tức.

    Chứng khoán hỗn hợp là cổ phiếu ưu đãi, có một phần thu nhập là không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.

    1. Căn cứ theo chủ thể phát hành có chứng khoán Chính phủ và chứng khoán công ty.

    Chứng khoán Chính phủ là các chứng khoán do các cơ quan của Chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương phát hành như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ, công trái Nhà nước.

    Chứng khoán công ty là chứng khoán do các doanh nghiệp, công ty cổ phần phát hành như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ có nguồn gốc chứng khoán.

    1. Trái phiếu. Đặc điểm.

     

    7

    Trái phiếu là giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và xác nhận quyền đòi nợ bao gồm những điều kiện và thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng.

    Từ khái niệm trên ta thấy trái phiếu có đặc điểm là có thu nhập ổn định, có khả năng chuyển nhượng, có thời gian đáo hạn. Đồng thời trái chủ không có quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị. Nhưng trái phiếu đem lại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản.

    b.Một vài loại trái phiếu.

    Trái phiếu có lãi suất cố định là trái phiếu cho lãi suất cố định ngay tại thời điểm phát hành.

    Trái phiếu có lãi suất thả nổi là trái phiếu cho lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ.

    Trái phiếu không có lãi là trái phiếu không cho lãi suất thường kỳ, nó được mua với giá thấp so với mệnh giá. Toàn bộ tiền lời và giá trị tăng thêm sẽ bằng đúng mệnh giá vào ngày đáo hạn.

    Trái phiếu thu nhập là trái phiếu được phát hành bởi các công ty đang trong thời kỳ tổ chức lại. Công ty phát hành hứa sẽ trả số gốc khi trái phiếu hết hạn nhưng chỉ hứa trả lãi nếu công ty có đủ thu nhập.

    Trái phiếu có thể thu hồi là trái phiếu cho phép công ty có thể mua lại trái phiếu vào một thời gian nào đó. Tuy nhiên trái phiếu không thể thu hồi một vài năm sau khi chúng được phát hành.

    Trái phiếu có thể chuyển đổi là trái phiếu cho phép người giữ nó được chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu nhất định với giá xác định.

    Trái phiếu phiếu kèm giấy bảo đảm là trái phiếu cho phép, người giữ nó có quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu nhất định của đơn vị phát hành ở một giá xác định (một giấy bảo đảm ở góc trái phiếu bằng một cổ phiếu).

    Trái phiếu Euro là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền của nước phát hành tại một nước khác.

    Trái phiếu Dollar là trái phiếu phát hành bằng đồng Đôla Mỹ ở các nước ngoài nước Mỹ.

    8

    Trái phiếu Yankee là trái phiếu của các công ty và Chính phủ nước ngoài phát hành bằng Đôla Mỹ và được giao dịch ở thị trường Mỹ.

    1. Cổ phiếu. Khái niệm

    Cổ phiếu là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận quyền sở hữu về tài sản và những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng. Có hai loại cổ phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.

    1. Cổ phiếu thường.

    Cổ phiếu thường là cổ phiếu không có thời gian đáo hạn, không có thu nhập ổn định mà thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh hay chính sách chi trả cổ tức của công ty. Cổ phiếu thường có khả năng chuyển nhượng dễ dàng. Người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham gia bầu cử vào Hội đồng quản trị nhưng không được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản. Ngoài ra cổ phiếu thường còn đem lại quyền đặt mua cổ phiếu mới cho các cổ đông.

    1. Cổ phiếu ưu đãi.

    Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có sự ưu tiên hơn cổ phiếu thường trong việc phân chia lợi nhuận cũng như chi trả cổ tức và thanh lý tài sản khi công ty phá sản.

    Cổ phiếu ưu đãi cũng như cổ phiếu thường là nó không có thời gian đáo hạn. Nó tồn tại ở sự tồn tại của công ty. Nó cũng có khả năng chuyển nhượng nhưng phải thêm một số điều kiện nhất định. Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lẫn cổ phiếu thường đều không phải là nợ của công ty do đó không có thu nhập ổn định trong điều kiện bình thường và nó có thể được mua lại bởi nhà phát hành.

    Cổ phiếu ưu đãi còn có một số điều khoản kèm theo. Thứ nhất, cổ phiếu ưu đãi có tính chất tham dự trong phân chia lợi nhuận khi công ty làm ăn có lãi, vượt một mức nào đó. Thứ hai, cổ phiếu ưu đãi có tính chất bỏ phiếu. Trong điều kiện bình thường, cổ phiếu ưu đãi không có tính chất bỏ phiếu.

    9

    Nhưng khi công ty làm ăn thua lỗ, cổ phiếu ưu đãi sẽ có tính chất bỏ phiếu. Thứ ba, cổ phiếu ưu đãi có tính chất tích luỹ hay không tích luỹ tức là do côgn ty làm ăn không hiệu quả, công ty sẽ không trả cổ tức. Nhưng khi công ty làm ăn có lãi công ty có thể trả cổ tức cho những năm bị thua lỗ trước đó hoặc không trả cổ tức của những năm chưa trả được.

    1. Các công cụ phát sinh. Khái niệm.

    Công cụ phát sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.

    1. Một số công cụ phát sinh là quyền lựa chọn và hợp đồng tương lai.

    Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định. Các hàng hoá này có thể là cổ phiếu, trái phiếu hay hợp đồng tương lai.

    Hợp đồng tương lại là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay. Hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, nó xoá bỏ rủi ro tín dụng vì nó được công ty thanh toán bù trừ phục vụ như là một trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán và người mua đều bán mua qua công ty thanh toán bù trừ. Hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hoấ về việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước. Hợp đồng tương lai còn được chuyển giao theo giá thị trường tức là bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó. Việc thanh toán như thế được tiến hành hàng ngày.

    10

    CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY.

    I. MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.

    1. Về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.

    Đối với Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập để quản lý và giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo vệ quyền lợi cho các nhà đâu tư. Đây là bước đi đúng phù hợp với điều kiện của Việt Nam và xu hướng quốc tế.

    2. Về trung tâm giao dịch chứng khoán.

    Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập. Còn trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội đang được xem xét thành lập. Hệ thống giao dịch của trung tâm tự động hoá với trạm làm việc có công suất nhỏ.

    1. Về sở giao dịch chứng khoán. Hình thức sở hữu.

    Đối với Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán sẽ do Nhà nước sử hữu, để đảm bảo an toàn, công bằng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Việc thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Sở giao dịch chứng khoán do Thủ tướng chính phủ quyết định theo đề nghị của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam là một tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.

    1. Số lượng Sở giao dịch chứng khoán.

    Để tránh những bất lợi của việc tồn tại nhiều Sở giao dịch chứng khoán mà các nước đang gặp phải, chúng ta cũng chỉ nên xây dựng một Sở giao dichj chứng khoán thống nhất với các sàn giao dịch tại một, hai thành phố được nối mạng với nhau.

    1. Địa điểm thiết lập Sở giao dịch chứng khoán.

    Sở giao dịch chứng khoán được đặt ở thành phố Hồ Chí Minh vì hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại tài chính lớn nhất trong

    11

    nước và để cho Sở giao dịch phát triển. Với hệ thống giao dịch điện tử, các công ty môi giới tại Hà Nội vẫn có thể dễ dàng sẽ được tiếp cận thị trường.

    1. Giao dịch ngoài Sở.

    Đối với Việt Nam, để công khai hoá tất cả các hoạt động giao dịch, Nhà nước đang xem xét thành lập Sở giao dịch chứng khoán tập trung cho tất cả các chứng khoán (kể cả công ty và và nhỏ) có đủ điều kiện niêm yết, hay không đủ điều kiện niêm yết được mua bán tại Sở giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, việc giao dịch những chứng khoán của công ty lớn (đủ điều kiện niêm yết) tách biệt với khu vực giao dịch những chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết.

    1. Hệ thống giao dịch.

    Việt Nam áp dụng hệ thống ghép lệnh. Hệ thống này đơn giản cho phép có được giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước mới nổi áp dụng. ở Việt Nam trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát triển, khối lượng giao dịch còn nhỏ, nên áp dụng phương thức ghép lệnh từng đợt để giảm bớt sự biến động của giá cả.

    1. Mức độ tự động hoá.

    Trong điều kiện chi phí cho hệ thống tự động hoá ngày càng có xu hướng giảm thì Việt Nam cần thiết và sử dụng chương trình tự động hoá ngay từ đầu. Nếu bắt đầu bằng giao dịch thủ công, sau đó lại thay thế bằng hệ thống tự động thì sẽ tốn kém. Để tiết kiệm chi phí cho thời gian đầu ở Việt Nam chỉ lắp đặt thiết bị với công suất xử lý thấp. Các thiết bị lắp đặt ở trạng thái mở để khi khối lượng giao dịch tăng lên có thể lắp đặt thêm nhằm mổ rộng công suất xử lý của hệ thống.

    4. Về lĩnh vực đăng ký, thanh toán – bù trừ và lưu giữ chứng khoán.

    Hệ thống đăng ký, thanh toán – bù trừ và lưu giữ chứng khoán. Các chức năng đăng ký, thanh toán, bù trù và lưu giữ được kết hợp vào một trung tâm duy nhất trong cả nước. Các công ty chứng khoán và các ngân hàng được cho phép trở thành công ty lưu ký.

    5. Về các tổ chức trung gian.

    • Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh doanh chứng khoán dưới hình thức thành lập các công ty độc lập, hoạt động tách rời với kinh doanh

    12

    tiền tệ. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cho phép cả các công ty chứng khoán độc lập hình thành từ các công ty tài chính, các tổng công ty lớn.

    • Việt Nam các công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hình thức như : bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư doanh chứng khoán, tư vấn chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư. Riêng hình thức quản lý quỹ đầu tư, yêu cầu phải hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lập nhằm bảo vệ lợi ích của những cổ đông của quỹ.

    Ngoài ra hiện nay, Nhà nước còn cho phép hai loại doanh nghiệp tham gia kinh doanh chứng khoán là công ty cổ phần và doanh nghiệp liên doanh.

    Trên thế giới có hai loại quỹ đầu tư chứng khoán chủ yếu là quỹ đóng, vaf quỹ mở. Trong thời gian đầu Việt Nam dự kiến áp dụng hình thức quỹ đầu tư chứng khoán dạng quỹ đóng (quỹ không mua lại cổ phần của cổ đông muốn rút vốn) để đảm bảo an toàn trong điều kiện khả năng thanh toán của thị trường còn thấp.

    6. Về sự tham gia của bên nước ngoài.

    Việt Nam cho phép bên nước ngoài được sở hữu một tỷ lệ phần trăm nhất định và cho phép công ty chứng khoán nước ngoài được liên doanh với công ty chứng khoán trong nước theo một tỷ lệ liên doanh nhất định.

    II. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời cho nên không tránh khỏi có những hạn chế. Thị trường chứng khoán có tầm quan trọng vốn có của nó cho nền thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được quan tâm một cách đáng kể để phát triển một cách hoàn thiện.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam đang có ít chứng khoán được giao dịch cả về số lượng và giá trị. Hiện có năm cổ phiếu của SAM, REE, TMS, HAP và LAFOOCO và trái phiếu của Ngân hàng đầu tư phát triển cùng với trái phiếu chính phủ đang được giao dịch. Việc có ít loại chứng khoán được giao dịch là do có ít doanh nghiệp có đủ điều kiện để niêm yết trên thị trường chứng khoán làm cho trên thị trường luôn xuất hiện tình trạng cầu lớn hơn cung, giá cả vượt quá giá trị thực của chứng khoán. Hơn nữa, các lý do còn là các doanh nghiệp không có nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hay nếu phát hành cổ phiếu mới thì tỉ lệ nắm giữ cổ phiếu sẽ giảm và giảm vị trí

    13

    trong Hội đồng quản trị hay do việc định giá gặp phải khó khăn vì do tổ định giá của Bộ tài chính tiến hành hay do Ban lãnh đạo thích vay ngân hàng hơn. Đó còn là do quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước chậm hay chưa cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Hiện nay các công ty chứng khoán đang bị thua lỗ vì có quá ít chứng khoán giao dịch cả về số lượng và giá trị. Đó là vì khuôn khổ pháp lý chưa được nới rộng để các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia mua bán chứng khoán. Thông tư của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước từ 29/11/2000 qui định phí dịch vụ môi giới mua, bán chứng khoán nhỏ hơn hoặc bằng 0,5% giá trị giáo dịch cổ phiếu làm cho việc hoạt động của các công ty chứng khoán càng khó khăn hơn do phí giảm đi trong khi có ít chứng khoán được giao dịch trên thị trường. Lãi suất của trái phiếu chính phủ chưa hấp dẫn so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm là nguyên nhân làm cho trái phiếu ít được giao dịch (lãi suất của trái phiếu chính phủ là 6,5%/năm của đợt phát hành thứ nhất và 6,6%/năm của đợt phát hành thứ hai).

    Thị trường chứng khoán phi chính thức là nơi giao dịch các chứng khoán của các công ty cổ phần vưà và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng thức. Thị trường chứng khoán phi chính thức sẽ tạo điều kiện để phát triển thị trường chứng khoán chính thức. Thế nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có thị trường chứng khoán phi chính thức để các công ty vừa và nhỏ tham gia.

    • Việt Nam do thị trường chứng khoán nước ta ra đời cho nên còn thiếu nhiều đội ngũ có kiến thức sâu về thị trường chứng khoán để công tác tốt trong việc quản lý Nhà nước, trong công tác kinh doanh chứng khoán, tư vấn kinh doanh chứng khoán và sẵn sàng chấp nhận rủi ro tham gia thị trường.

    Để thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh lâu dài thì cần thiết phải có các qui định pháp luật đúng đắn về lĩnh vực chứng khoán. Nhưng ở Việt Nam, hệ thống pháp luật về thị trườngchứng khoán chưa được hoàn thiện vì chưa có sự góp ý của các công ty phát hành và các công ty chứng khoán để ban hành ra hành lang pháp lý trên lĩnh vực chứng khoán.

    Với các hạn chế chủ yếu trên, trong những năm tới, thị trường chứng khoán Việt Nam cần được thay đổi để trở thành một thị trường chứng khoán lớn và sôi động.

    14

    CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY.

    I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.

    Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng, quản lý, khuyến khích và tạo điều kiện cho thị trường phát triển theo đúng đường lối và định hướng của Đảng và chính phủ.

    Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là cơ quan nhà nước quản lý thống nhất, nhằm tạo điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt, hiệu quả và an toàn.

    Việt Nam sẽ xây dựng một thị trường chứng khoán có tổ chức, hoạt động công bằng, hiệu quả an toàn, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của đất nước, từng bước hội nhập với thị trường chứng khoán của các nước trong khu vực và thế giới.

    Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện phù hợp với điều kiện và tình hình cụ thể của đất nước.

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.

    Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế, các mối quan hệ về huy động và luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoán được hình thành và biến đổi trên cơ sở phản ánh của các điều kiện kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, các chính sách nhằm đảm bảo tính vững chắc và ổn định của nền kinh tế có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    Sự ổn định kinh tế vĩ mô và sự nhất quán trong chiến lược phát triển, vai trò của hệ thống quản lý có tính chất quyết định đối với sự thành bại của một thị trường. Vì vậy, chúng ta cần sớm xem xét các văn bản pháp quy hiện hành để điều chỉnh một cách đồng bộ, phù hợp các mâu thuẫn trong các văn bản pháp qui đó. Điều thực sự cần thiết khi soạn ra các văn bản pháp qui là các cơ quan quản lý nên tham khảo ý kiến của các công ty phát hành, các công ty chứng khoán hay của các chuyên gia trên lĩnh vực chứng khoán.

    Sự phát triển thị trường chứng khoán và chương trình cổ phần hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá để

    15

    lựa chọn một số doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Để đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá thì chúng ta cần phải có các văn bản pháp lý đủ mạnh để làm căn cứ buộc các doanh nghiệp phải cổ phần hoá. Ngoài ra, Nhà nước còn phải tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, “bình đẳng”, có hcính sách ưu đãi thuế cho các công ty cổ phần để các công ty này có thể phát triển được. Hơn nữa, Nhà nước phỉa có thêm các giải pháp như giúp đỡ người lao động vay vốn để mua cổ phần, xoá bỏ qui định hạn chế mua cổ phần, tăng cường kiểm tra tiến độ cổ phần hoá và tăng cường tuyên truyền ưu điểm của cổ phần hoá. Chúng ta không chỉ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước mà còn nên xúc tiến việc cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán đều là các thị trường được sử dụng để thực hiện việc huy động và luân chuyển các nguồn vốn, hai thị trường này mang tính chất cạnh tranh và bổ sung lẫn nhau. Chính vì vậy, muốn xây dựng thị trường chứng khoán lớn mạnh thì phải có các chính sách tác động đến thị trường tiền tệ và tận dụng các cơ sở sẵn có của thị trường tiền tệ để phát triển thị trường chứng khoán theo một số hướng điều chỉnh linh hoạt lãi suất huy động và cho vay trên thị trường tiền tệ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn thông qua những công cụ chứng khoán, khuyến khích các tổ chức hoạt động trên thị trường tiền tệ, tham gia vào thị trường chứng khoán trên cơ sở có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và việc phân định rõ chức năng và phạm vi hoạt động.

    Bất kỳ một thị trường nào muốn hoạt động được thì cần phải có cung và cầu đối với hàng hoá trên thị trường. Do đó trong thời kỳ đầu mới ra đời thị trường chứng khoán, chúng ta cần tập trung đẩy mạnh các nguồn cung về chứng khoán theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp có đủ điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng (cả về phát hành lần đầu và phát hành thêm cổ phiếu mới). Chúng ta cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ, ưu đãi, cho các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán. Để đẩy mạnh cầu chứng khoán, chúng ta cần khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia mua chứng khoán trên cơ sở các biện pháp phát triển kinh tế nhanh, bền vững, kiểm soát lạm phát, nâng cao đời sống nhân dân nhằm tăng trưởng mức tiết kiệm trong dân cư. Thực hiện chính sách dần dần mở cửa thị trường một cách thích hợp để khuyến khích đầu tư nước ngoài, việc phát triển hệ thống trung

    16

    gian tài chính hoạt động trên thị trường chứng khoán, hệ thống giám sát có hiệu quả, tăng cường phổ biến, phổ cập kiến thức về thị trường chứng khoán. Thêm vào đó, cần phải xúc tiến nhanh việc thành lập thị trường phi chính thức và thị trường chứng khoán tại Hà nội hay các trái phiếu cần có lãi suất hẫp dẫn hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.

    Các cơ quan chức năng Nhà nước phải quản lý chặt chẽ các tiêu chuẩn phát hành, đảm bảo chứng khoán phát hành phải là chứng khoán có chất lượng, ban hành chế độ kế toán, kiểm toán thống nhất để nâng cao chất lượng của các thông tin về thị trường chứng khoán trên thị trường, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể hiểu được các thông tin đó và ra quyết định đầu tư chính xác. Thực hiện chế độ công bố thông tin bắt buộc, xử lý nghiêm minh các vi phạm trong phát hành và giao dịch chứng khoán.

    Nhà nước cần có chính sách tạo nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán qua việc mở cáclớp đào tạo tại các trường, trên truyền hình, đài, báo về các kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong hoạt động đó, chúng ta có thể lựa chọn những người có tài thực sự để tạo điều kiện phát triển thị trường chứng khoán.

    17

    KẾT LUẬN

    Thị trường chứng khoán Việt Nam đang chập chững bước đi những bước đầu tiên. Với vai trò, tầm quan trọng vốn có của nó đối với nền kinh tế đất nước, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam tiến đến các tầm cao mới. Cho dù hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều khuyết tật, chúng ta vẫn hy vọng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước sẽ giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hiệu quả. Thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển sẽ góp phần đảm bảo nền kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    18


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]