Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-th%E1%BA%A5t-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đề án môn học

    LỜI MỞ ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người lao động. Trong quá trình thực hiện, chế độ BHXH không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển nhằm đảm bảo quyền lợi đối với người lao động .

    Trong các chế độ của hệ thống BHXH có chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mục đích của chế độ này là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơ hội mới về việc làm.

    Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.Tuy nhiên những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ khá rõ, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp. Nhà nước đã giải quyết vấn đề này bằng nhiều biện pháp như chính sách dân số, kinh tế, …

    Mặc dù hiện nay nước ta chưa triển khai BHTN song những năm vừa qua Nhà nước, ngành lao động- thương binh xã hội đã có nhiều đề án và đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này để chuẩn bị triển khai trong những năm sắp tới. Đây là vấn đề bức xúc và tất yếu, là trách nhiệm của cả Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động.

    Để triển khai BHTN, phải xây dựng được chính sách hay pháp lệnh về BHTN, tạo hành trang pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện. Hy vọng rằng BHTN sẽ sớm được triển khai ở Việt Nam góp phần giải quyết căn bệnh cố hữu do cơ chế thị trường đẻ ra, đó là thất nghiệp.

    Mục tiêu đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận , thực tiễn Thất nghiệp , các chính sách BHTN trên cơ sở tống hợp thông tin.

    Kết cấu của đề tài : Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 phần chính :

    1. Một số vấn đề về thất nghiệp.
    1. Bảo hiểm Thất nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    III. Chính sách Bảo hiểm Thất nghiệp của Việt Nam hiện tại và tương

    lai.

    Bài viết của em còn nhiều thiếu sót, mong sự chỉ bảo của cô.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    NỘI DUNG

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THẤT NGHIỆP

    1.Khái niệm về thất nghiệp

    Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều tổ chức,nhiều nhà khoa học bàn luận.Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp.Luật Bảo hiểm thất nghiệp (viết tắt BHTN)cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”.

    Tại Pháp người ta cho rằng,thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm.

    Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”.

    Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm”.

    Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ,”Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”.

    Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra định nghĩa:”Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:

    • Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm.
    • Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn ) hoặc đã thôi việc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định.
    • Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương. Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất

    việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:

    • Có khả năng lao động.
    • Đang không có việc làm
    • Đang đi tìm việc làm.
    • Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định.

    Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.

    Định nghĩa thất nghiệp ở Việt Nam : “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.

    2. Các nguyên nhân gây thất nghiệp

    Có 3 nguyên nhân gây thất nghiệp

    – Do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi:

    Theo chu kỳ phát triển kinh tế , sau hưng thịnh đến suy thoáim khủng hoảng. Ở thời kỳ được mở rộng, nguồn nhân lực xã hội được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thu hút nhiều lao động.Ngược lại thời kỳ suy thoái sản xuất đình trệ , cầu lao động giảm không những không tuyển thêm lao động mà còn một số lao động bị dôi dư gây nên tình trạng thất nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế nếu năng lực sản xuất xã hội giảm 1% so với khả năng , thất nghiệp sẽ tăng lên 2%.

    – Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật:

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đặc biệt quá trình tự động hóa quá trình sản xuất.Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tự động hóa quá trình sản xuất sẽ tiết kiệm được chi phí, năng suất lao động tăng cao , chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá thành lại rẻ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Chính vì thế, các nhà sản xuất luôn tìm cách đổi mới công nghệ, sử dụng những dây truyền tự động vào sản xuất, máy móc được sử dụng nhiều, lao động sẽ dôi dư. Số lao động này sẽ bổ sung vào đội quân thất nghiệp.

    • Sự gia tăng dân số và nhuồn lực là áp lực đối với việc giải quyết việc làm. Điều này thường xảy ra đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển. Ở đây, nguồn lực dồi dào nhưng do kinh tế hạn chế nên không có điều kiện đào tạo và sử dụng hết nguồn lao động hiện có.

    3. Phân loại thất nghiệp

    Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó. Căn cứ vào từng chỉ tiêu đánh giá, ta có thể chia thất nghiệp thành các loại sau:

    a.Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp.

    Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào…Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:

    • Thất nghiệp theo giới tính.
    • Thất nghiệp theo lứa tuổi.
    • Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ.
    • Thất nghiệp chia theo ngành nghề.
    • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
    1. b. Phân loại theo lý do thất nghiệp .

    Trong khái niệm thất nghiệp , cần phải phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc.Trong

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề , cấp bậc). Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ. Vì thế xảy ra hiện tượng:

    Thất nghiệp tự nguyện :Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…).Thất nghiệp loại này thường tạm thời.

    Thất nghiệp không tự nguyện là: Thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái , cung lớn hơn cầu về lao động…

    Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.

    Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn . Có những người ( bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc . Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lực lượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc ( hay còn có thể có những nguyên nhân khác).

    Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm . Nó luôn biến động theo thời gian. Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lại mất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó. Vì thế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa.

    1. c. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp.

    Tìm hiểu nguồn gốc thất có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp , từ đó tìm ta hướng giải quyết. Có thể chia thành 4 loại:

    Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    giai đoạn khác nhau của cuộc sống.Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác ; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…

    Thất nghiệp có tính cơ cấu : Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung – cầu lao động ( giữa các ngành nghề , khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải. Chính vì vậy , thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp công nghệ. Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài , nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.

    Thất nghiệp do thiếu cầu : Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống . Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu . Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề.

    Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ với mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia ( Chính phủ hoặc công đoàn ) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động ( có thể diễn ra ngay cả khi thị trường lao động đang cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thi trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động. Sự phân biệt đó là then chốt để nắm bắt tình hình chung của thị trường lao động.

    4. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế –xã hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. Ngược lại, thất nghiệp có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy , cần phân tích rõ tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế –xã hội đối với thất nghiệp và ngược lại, ảnh hưởng của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế –xã hội; hạn chế những tác động đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

    a.Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

    Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế – xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa là nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn ngân sách vị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến ( bờ vực) của lạm phát.

    Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – thất nghiệp và lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố kích thích phát triển kinh tế – xã hội.

    b.Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập. Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ se khó khăn. Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ gặp khó khăn khi đến trường; sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…

    1. Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội.

    Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.

    Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế – xã hội khó khăn và nan giải của quốc gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế – xã hội.

    Giải quyết tình trạng thất nghiệp không phải “một sớm, một chiều”, không chỉ bằng một chính sách hay một biện pháp mà phải là một hệ thống các chính sách đồng bộ, phải luôn coi trọng trong suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Bởi lẽ, thất nghiệp luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường và tăng (giảm) theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế thị trường.

    Trong hàng loạt các chính sách và biện pháp để khắc phục tình trạng thất nghiệp, Bảo hiểm thất nghiệp có vị trí quan trọng.

    II. BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    1.Một số khái niệm.

    1.1 .Bảo hiểm xã hội

    Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm xã hội, nhưng có thể khái niệm như sau: bảo hiểm xã hội là sự vảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối cới người lao động khi họ gặp phải những biến

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo sự an toàn đời sống cho người lao động, và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

    Vai trò của Bảo hiểm xã hội: trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm xã hội là một lĩnh vực không thể thiếu được đối với người lao động, người sử dụng lao động nói chung, còn phía Nhà nước đây là một chính sách xã hội rộng lớn mà quốc gia nào cũng phải có bởi vì:

    Thứ nhất, đối với người lao động:

    Bảo hiểm xã hội giúp người lao động và gia đình họ ổn định cuộc sống. Khi chưa có bảo hiểm xã hội thì bản thân người lao động cũng như gia đình họ gặp khó khăn khi xảy ra rủi ro như : tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau hay không còn khả năng lao động để đảm bảo cuộc sống…Nhờ có bảo hiểm xã hội sẽ bù đắp phần thu nhập bị mất của người lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động.

    –  Thứ hai, đối với người sử dụng lao động:

    Bảo hiểm xã hội là tấm lá chắn giúp họ trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất và thu hút được lao động, vì bảo hiểm xã hội đảm bảo chi trả những khoản tiền lớn khi người lao động không may gặp những rủi ro hoặc khi hết tuổi lao động.Bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng lớn đến tài chính của đơn vị.

    Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội:

    Bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động , nên về lâu dài nó góp phần nâng cao năng suất lao động vì cuộc sống của người lao động được đảm bảo hơn, do đó họ quan tâm hơn trong lao động sản xuất và cảm thấy phấn khởi, từ đó thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển .Đồng thời đảm bảo an toàn xã hội và văn minh xã hội.

    Ngoài ra, nguồn quỹ của bảo hiểm xã hội còn nhàn rỗi rất lớn, trong khi đó nó luôn được bổ sung liên tục, vì vậy phần quỹ nhàn rỗi chưa sử dụng

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được đầu tư để tăng trưởng, nên đã tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển, giảm bớt khó khăn về vốn đầu tư cho nhà nước.

    Vì vậy bảo hiểm xã hội có vai trò là gắn với lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước với nhau, tạo thành một mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy xã hội phát triển.

    1.2. Bảo hiểm thất nghiệp.

    a.Lịch sử hình thành BHTN.

    BHTN xuất hiện lần đầu ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến và phát triển: nghề sản xuất các nặt hàng thủy tinh ở Thụy Sĩ. Nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20 đến 30 công nhân. Để giữ được những công nhân có tay nghề cao gắn bó với mình, năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp để rẹơ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sảm xuất. Sau đó, nhiều nghiệp đoàn ở Châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ cấp cho đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc , mất việc. Tiền trợ cấp ccược tính vào giá thành sản phẩm và người dụng hàng hóa phải gánh chịu. Khi thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân, nhiều cấp chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết các doanh nghiệp, các nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất đó là quỹ BHTN. Qũy BHTN tự nguyện đầu tiên ra đời tại Bécnơ (ThụySĩ) vào năm1893. Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ nà cả những người lao động có công việclàm không ỏn định. Để tăng mức trợ cấp thất nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương.

    Năm 1900 và 1910, Nauy và Đan Mạch ban hành Đạo luật quốc gia về BHTN tự nguyện có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước.

    Năm 1911 , Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc và tiếp sau đó là một số nước khác ở Châu Âu như :Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Đức…

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Sau cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) một số nước

    Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN, chẳng hạn :

    • Mỹ năm 1935,Canađa vào năm 1939.

    Sau chiến tranh thế giới lần thứ II ,đặc biệt là sau khi có Công ứơc số102, năm 1952 của Tỏ chức lao động quốc tế (ILO) thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp. Tính đến năm 1981, có 30 nước thực hiện BHTN bắt buộc và 7 nước thực hiện BHTN tự nguyện, đến năm 1992 những con số trên là 39 và 12 nước. Ở Châu Á , các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,…đều đã thực hiện BHTN.

    b.Khái niệm

    BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất nghiệp – được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về việc làm. Mặt khác, trợ cấp thất nghiệp của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho mộ bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các doanh nghiệp với nhau.

    1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm.

    Là một bộ phận của BHXH, BHTN là bảo hiểm bổi thường cho người lao động bị thiệt hạivề thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thi trương lao động.

    Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    những cơ hội mới về việc làm. Vì thế, một số nhà kinh tế học còn cho rằng BHTN là hạt nhân của thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế – xã hội của quốc gia. Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động và người cử dụng lao động sau nữa là vì lợi ích xã hội.

    BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người , song nó có một số đặc điểm khác như : Không có hợp đồng trước, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một, không có việc chuyển rủi ro của ngững người bị thất nghiệp sang những người khác có khả năng thất nghiệp. BHTN khộng có dự báo chính xác về số lượng và phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lớn , đặc biệt là trọng những thời kì nền kinh tế bị khủng hoảng.

    Mặc dù nhiều nước triển khai BHTN độc lập với BHXH, song đối tượng của BHTN cũng giống đối tượng của BHXH ,đó là thu nhập của người lao động.Còn đối tượng tham gia BHTN cũng là người lao động và người sử dụng lao động, song đối tượng này rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy định của từng nước.Đại đa số các nước đều quy định đối tượng tham gia BHTN là những người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Bao gồm:

    • Những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sử dụng một số lượng lao động nhất định.
    • Những người làm việc theo hợp đồng lao động với một thời gian nhất định ( thường là một năm trở lên ) trong các doanh nghiệp , các cơ quan đoàn thể, các đơn vị hành chính sự nghiệp ( nhưng không phải là viên chức và công chức).

    Những công chức, viên chức Nhà nước; những người lao động độc lập không có chủ ; những người làm thuê theo mùa vụ thường không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Bởi vì , hoặc là họ được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm lâu dài nên khả năng thất nghiệp thấp, hoặc là những người khó xác định thu nhập để xác định phí bảo hiểm, thời gian làm việc ngắn, công việc không ổn định , thời gian đóng phí bảo hiểm không đủ . Về

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    phía người sử dụng lao động, họ cũng có trách nhiệm đóng góp BHTN cho người lao động mà họ sử dụng .Vì rủi ro việc làm trong một chừng mực nào đó xuất phát từ phía người sử dụng lao động. Như vậy , đối tượng tham gia BHTN hẹp hơn rất nhiều so với BHXH.

    • Rủi ro thuộc phạm vi BHTN là rủi ro nghề nghiệp , rủi ro việc làm. Người lao động tham gia BHTN bị mất việc làm họ sẽ được hưởng trợ cấp BHTN. Điều kiện để được hưởng trợ cấp BHTN khá chặt chẽ:
    • Người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định
    • Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động;
    • Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm kiếm việc làm tại Cơ quan lao động có thẩm quyền do Nhà nước quy định;
    • Phải sẵn sàng làm việc;
    • Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng phí BHTN đủ thời hạn quy định.

    Những người thất nghiệp nặc dù có đóng BHTN nhưng không được hưởng trợ cấp khi họ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật , bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động hoặc từ chối không đi làm việc do cơ quan lao động việc làm giới thiệu…Để được hưởng trợ cấp BHTN , người lao động phải có một thời gian nhất định đã tham gia đóng góp vào quỹ BHTN – thời gian dự bị. Việc đặt ra thời gian dự bị có nhiều tác dụng. Một mặt nó đảm bảo rằng, chỉ có những người thường xuyên tham gia hoạt động kinh tế mới được xem như bị mất thu nhập thực sự do bị thất nghiệp, còn đối với những người chưa từng có việc làm, chưa có thu nhập , không được coi họ là những người bị thiệt hại về thu nhập. Mặt khác, thông qua thời gian dự bị , quỹ BHTN có thể đảm bảo số đóng góp của mỗi người lao động đạt tới một mức tối thiểu trước khi xảy ra thất nghiệp. Điều này sẽ tích cực góp phần cân đối quỹ tài chính BHTN.

    1. d. Qũy BHTN và mức trợ cấp BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qũy Bảo hiểm thất nghiệp.

    Là một quỹ tài chính độc lập tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

    Qũy được hình thành chủ yếu từ nguồn sau đây:

    • Người sử dụng đóng góp.
    • Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng góp.
    • Nhà nước bù thiếu.

    Ngoài ra còn đươc bổ sung bởi lãi suất đầu tư đem lại từ phần quỹ nhàn rỗi ( vì quỹ BHTN thường được cân đối thu chi trong năm kế hoạch ). Cũng như BHXH , người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và người sử dụng lao động đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương và tổng quỹ lương.

    Hầu hết các quốc gia quy định mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp trong hoạt động tài chính để đảm bảo an toàn và chắc chắn cho quỹ hoạt động.

    Qũy BHTN nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia và số người tham gia BHTN. Tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phụ thuộc chủ yếu vào tủ lệ thất nghiệp, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN cũng như nội dung sử dụng quỹ.

    Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động. Lực lượng lao động phải được xác định thống nhất với nội dung của đối tượng và phạm vi bảo hiểm. Còn số người thất nghiệp được xác định thông qua điều tra hay dựa vào số liệu thống kê những người đã đăng ký thất nghiệp. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp thường xuyên biến động, vì thế nó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia BHTN cũng như sự hỗ trợ của Nhà nước. Sự hỗ trợ của nhà nướccho quỹ BHTN là không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề mang tính xã hội rộng lớn. Nhà nước không chỉ ban hành chính sách , mà còn phải quan tâm đến việc thực hiện chính sách, bằng cách trích một khoản ngân sách đáng kể hỗ trợ quỹ BHTN. Mặc dù chỉ hỗ trợ một phần nhưng Nhà nước có một nguồn quỹ rất lớn để khắc phục tình trạng thất nghiệp , từ đó góp phần ổn định xã hội. Mặt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khác, nhiều khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh , lao động bị thất nghiệp nhiều không hẳn tại doanh nghiệp hay người lao động mà tại nhà nước, do nhà nước thay đổi chính sách kinh tế , do quản lý thị trường yếu kém và tiền vốn cấp phát không kịp thời v.v…Vì vậy, Nhà nước cũng phải tham gia đóng góp vào quỹ BHTN . Nhà nước có thể tham gia theo một trong hai hình thức sau:

    • Thứ nhất, đóng góp thường xuyên thông qua việc trích ngân sách hỗ trợ qũy BHTN.
    • Thứ hai là, Nhà nước chỉ tham gia với tư cách là người bảo hộ khi đóng góp của người lao động và người lao động và người sử dụng lao động không đủ bù đắp các khoản chi hoặc khi quỹ BHTN có những biến động lớn do lạm phát…

    Mức độ tham gia đóng góp vào quỹ BHTN trong những năm gần đây của một số nước thực hiện BHTN cũng rất khác nhau. Có nước quy định người lao động , người sử dụng lao động và Nhà nước đóng góp như nhau. Ngoài ra còn có những nước quy định người sử dụng lao động đóng gấp đôi người lao động, nhà nước chỉ tiến hành bù thiếu.

    Qũy BHTN được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp BHTN . Ngoài ra nó còn được sử dụng cho các hoạt động nhằm đưa người thất nghiệp mau chóng trở lại vị trí làm việc ( như : đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho người lao động; chi phí tìm kiếm và môi giới việc làm,…); Chi cho tổ chức hoạt động BHTN…

    • Mức trợ cấp BHTN.

    Về nguyên tắc mức trợ cấp thất nghiệp phải thấp hơn thu nhập của người lao động khi đang làm việc. Việc xác định mức trợ cấp phải dựa trên cơ sở đảm bảo cho người thất nghiệp đủ sống ở mức tối thiểu trong thời gian không có việc làm, đồng thời sao cho họ không thể lạm dụng để muốn hưởng trợ cấp hơn là đi làm. Vì vậy, hầu hết các nước đã triển khai BHTN , đều dựa trên những cơ sở sau đây để xác định mức trợ cấp thất nghiệp .

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Mức lương tối thiểu ;
    • Mức lương bình quân cá nhân;
    • Mức lương tháng cuối cùng trước khi bị thất nghiệp.

    Dựa vào mức lương nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, nhưng mức lương nào dùng để xác định mức trợ cấp thất nghiệp cũng là mức lương làm căn cứ đóng phí BHTN . Theo ILO , mức trợ cấp BHTN tối thiểu bằng 45% thu nhập trước khi thất nghiệp.

    • Thời gian hưởng trợ cấp BHTN

    Thời gian hưởng trợ cấp BHTN tối đa phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tài chính, vào quỹ bảo hiểm và thời gian tham gia BHTN , ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế – xã hội. Trong các thời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp thấp, người lao động có khả năng tìm kiếm được việc làm và có nhiều ngành nghề, mức cầu về lao động còn có khả năng thu hút dễ hơn, thì thời hạn hưởng trợ cấp sẽ hạ thấp xuống. Ngược lại, vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, số người thất nghiệp gia tăng thì thời hạn hưởng được kéo dài, nhưng cũng chỉ có thể kéo dài trong phạm vi quỹ BHTN có thể chịu được.

    Cụ thể, người lao động thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong một thời gian ngắn, sau đó có việc làm sẽ ngừng hưởng trợ cấp vì họ đã có lương. Thời hạn hưởng trợ cấp tối đa phải được quy định cụ thể, nếu quá thời hạn tối đa mà người thất nghiệp chưa có việc làm vẫn phải ngừng trợ cấp và khi đó họ có thể được trợ giúp từ phía xã hội.Nhìn chung, các nước thường quy định thời hạn trợ cấp tối đa từ 12 đến 52 tuần ( từ 3 tháng đến 1 năm).Thời hạn tạm chờ từ 3 đến 7 ngày đầu thất nghiệp không được hưởng trợ cấp. Điều này làm giảm nhẹ tài chính cho quỹ bảo hiểm và đơn giản hóa khâu quản lý trong trường hợp thất nghiệp ngắn ngày.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế – xã hội, là vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia. Để khắc phục và đẩy lùi hiện tượng thất nghiệp các nước đã có nhiều biện pháp và chính sách cụ thể. Song BHTN vẫn luôn được coi là chính

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    sách hữu hiệu mang tính chiến lược lâu dài. Việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.

    2. Thất nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay

    Phát triển kinh tế là nhân tố quan trọng để phát triển các ngành kinh tế lên trình độ sản xuất hiện đại , nâng cao tốc độ tăng trưởng , tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở nước ta. Hàng năm nền kinh tế thị trường tạo ra khoảng 1,3-1,45 triệu việc làm , trong đó số việc làm từ nông nghiệp chiếm 38%. Bên cạnh những mặt tích cực , quá trình chuyển dịch kinh tế ở góc độ nhất định cũng làm nảy sinh thất nghiệp. Có thể xem xét vấn đề này ở các giác độ sau:

     

    Tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với đầu tư và tạo thêm việc làm.Hệ số co giãn việc làm theo GDP của nền kinh tế nước ta giai đoạn 1991-2000 là 0,33% , đây là con số tương đối thấp, trong khi đó Đài Loan là 0,67% giai đoạn 1958-1972. Các nước như: Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Singapore… giai đoạn đầu công nghiệp hóa, cơ cấu lại kinh tế, có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm rất cao và duy trì được tủ lệ thất nghiệp dưới 3%(các năm 1976-1986 tăng trưởng kinh tế bình quân /năm của Malaixia là 15,54%, Thái Lan 21,59%…).Có thể nói, đảm bảo kích thích tăng trưởng đầu tư, tăng trưởng kinh tế để nâng cao mức cầu lao động, đặc biệt là cầu lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ là một trong những yếu tố rất cơ bản để khống chế tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Ở nước ta , thất nghiệp xảy ra phổ biến hơn ở khu vực thành thị và trở thành vấn đề xã hội khá bức xúc của các thành phố lớn.

     

    Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị qua các năm

    Năm 1996 1998 1999 2000 2001 2002 2003
                   
    Tỷ   lệ 5,88 6,85 7,4 6,42 6,28 6,01 5,6

    (%)

    (Nguồn : Bộ lao động thương binh – xã hội )

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qúa trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, với việc thực hiện các hình thức cổ phần hóa, giao, khoán, bán, cho thuê, giải thể nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh, đã dẫn đến đổi mới lao động trong DN thuộc các ngành nghề. Các năm 1999-2000 lao động thất nghiệp trong khu vực DN nhà nước chiếm khoảng 7,2% tổng số lao động của khu vực này, bao gồm lao động của các DN bị phá sản, giải thể, DN chuyển đổi sở hữu, cơ cấu lại. Đồng thời , phần lớn hợp tác xã kiểu cũ chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc giải thể và xã viên mất việc làm, bổ sung bào đội ngũ thất nghiệp, tác động đến quan hệ cung- cầu lao động trên thị trường lao động.
    • Để tăng cường khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, DN, các thành phần kinh tế đã thực hiện các giải pháp như : đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động, cơ cấu lại sản phẩm và tổ chức lại sản xuất , nâng cao trình độ quản lý , kết quả dẫn đến biến động lao động, một bộ phận bị đưa ra khỏi dây chuyền sản xuất kinh doanh, trở thành thất nghiệp. Số liệu khảo sát thị trường lao động gần đây cho thấy, tại Bình Dương các năm gần đây tỷ lệ lao động rời DN là 18,68%, con số tương tự này tại Cần Thơ : 8,97%, Đồng Nai : 12,92%, TP.HCM: 22,66%, Hải Phòng 9,4%. Xu hướng thất nghiệp này xảy ra thường xuyên, với biên độ cao hơn trong giai đoạn đầu tham gia mạnh mẽ vào quá trình tự do hóa thương mại, toàn cầu hóa kinh tế.
    • Trong các năm phát triển kinh tế thị trường, tốc độ tăng lực lượng lao động của nước ta khoảng 2,7-2,8%/năm trong khi tốc độ tăng việc làm là 2,3-2,4%/năm. Ở khu vực thành thị, với nức cung lao động cao hơn so với cầu lao động là nguyên nhân của một bộ phận lao động không tìm kiếm được việc làm trên thị trường lao động và trở thành thất nghiệp. Trong đó, đại bộ phận là lao động lần đầu bước vào tuổi lao động, chưa qua đào tạo, không có kỹ năng nghề nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với xu hướng tất yếu là thu hẹp dần số việc làm giản đơn và phát triển số việc làm kỹ thuật, việc làm có năng suất lao động cao. Các ngành : công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, du lịch,

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    tài chính, ngân hàng, công nghiệp chế biến…và các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất có nhu cầu lao động kỹ năng lớn, nhưng thực tế gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động. Nguyên nhân là do tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành thị thấp, năm2002 là34,03% (nông thôn 5,74%) và bất cập về chất lượng đào tạo, một bộ phận lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động. Do đó, đa số lao động thất nghiệp trên thị trường lao động thành thị là lao động giản đơn.

    Thất nghiệp cơ cấu : chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy một bộ phận lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong thời gian đổi nghề đã xảy ra tình trạng thất nghiệp cơ cấu. Lao động thất nghiệp do cơ cấu thuộc loại này có xu hướng tìm việc làm mới tốt hơn, mức tiền công cao hơn trên thị trường lao động kể cả việc di chuyển đến các vùng khác và đặc biệt là dòng di chuyển lao động nông thôn ra thành thị. Các năm 1990-1998 qui mô di chuyển lao động nông thôn- thành thị phạm vi toàn quốc 70-90 nghìn người / năm. Di chuyển lao động nông thôn – thành thị có vai trò quan trọng trọng trong cung ứng lao động rút ra khỏi ngành nông nghiệp cho sự phát triển của các ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật cao, các ngành nghề mới và sự phát triển của các khu vực kinh tế tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất, kích thích sự hoạt động sôi động của thị trường lao động. Các năm qua , khoảng hơn 22% lao động nông thôn thay đổi nghề, có mức thu nhập bình quân tăng 30-50% so với các hoạt động trước đó. Một số khu chế suất, khu công nghiệp tập trung thu hút trên 70% lao động di chuyển từ nông thôn đến ( khu công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Ninh,…) nhưng bên cạnh đó là tình trạng thất nghiệp cơ cấu diễn ra phổ biến.

    Thất nghiệp tự nguyện: bao gồm những người không muốn làm các công việc có mức lương thấp và những người ẩn náu trong các công việc nội trợ gia đình do các mức tiền công thấp không đủ sống. Thất nghiệp tự nguyện có khuynh hướng gia tăng , năm 1998 khoảng 4.8 triệu người và năm 2003 có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khoảng 2,547 triệu người làm nội trợ và 4,414 triệu người không có nhu cầu làm việc chiếm hơn 7% lao động từ 15 tuổi trở lên. Số liệu điều tra cho thấy, có tới 40-50% số lao động này muốn tìm việc làm , nhưng không tìm được việc làm phù hợp, đây cũng là nguồn cung lao động tiềm năng cho thị trường lao động.

    Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tồn tại thất nghiệp do nguyên nhân bất cập của hệ thống đào tạo.Đó là việc đào tạo theo ngành nghề chưa phù hợp với nhu cầu , tín hiệu của thị trường lao động.

    III.CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

    1.Thực trạng hỗ trợ người thất nghiệp

     

    Một mặt Nhà nước ban hành nhiều chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế nhiều thành phần : chính sách đất đai, thuế, tài chính tiền tệ, tín dụng, tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế hộ gia đình, trang trại hộ gia đình, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất…hướng vào tạo ra bầu không khí đầu tư lành mạnh cho toàn xã hội phát triển kinh tế, tạo mở việc làm, sử dụng tốt các tiềm năng lao động xã hội.

    Bộ luật lao động được ban hành và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995 đã quy định cụ thể những chế độ liên quan tới lao động bị mất việc làm bao gồm:

    • Điều 17 quy định: Do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ làm cho người lao động làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp từ 1 năm trở lên bị mất việc thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đào tạo lại để họ có thể tiếp tục làm việc thì doanh nghiệp phải trợ cấp mất việc làm, mỗi năm làm việc trả một tháng lương, thấp nhất là hai tháng lương.
    • Điều 42 quy định: Đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan tổ chức từ một năm trở lên người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tiếp theo. Trong đó, Chính phủ quy định những biện pháp cụ thể nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi và cơ hội có việc làm nhiều hơn cho những người thất nghiệp hoặc người đến tuổi lao động nhưng chưa tìm thấy việc làm. Đây là Nghị quyết đánh dấu sự thay đổi mới căn bản trong lĩnh vực lao động việc làm phù hợp với cơ chế thị trường và lần đầu tiên Qũy quốc gia về giải quyết việc làm đã được thành lập với nhiều nguồn quỹ khác nhau ( từ ngân sách nhà nước, từ Hợp tác quốc tế và sự đóng góp củă dân), cùng với hệ thống trunh tâm xúc tiến việc làm cũng ra đời và phát triển nhanh chóng. Nghị quyết 120/HĐBT thực sự trở thành bà đỡ trong cơ chế thị trường giúp người thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn và nhóm xã hội yếu thế có cơ hội tìm kiếm việc làm trong cơ chế thị trường.

    Những chính sách và biện pháp thực hiện trong những năm qua đã góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tìm hoặc tạo việc làm mới, hòa nhập trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên trong thực tế còn một số lượng khá lớn người lao động sau khi thôi việc họ cũng không tìm được việc làm.Do vậy đây là áp lực rất lớn cho xã hội.

    Trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp và đạt được thành tựu lớn như Trung Quốc,Mông Cổ…Nhận thức rõ về tác hại về tình trạng thất nghiệp và những nhược điểm của những chính sách đã thực thi, Đảng và Nhà nước ta đang chuẩn bị ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

    2.Chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong tương lai

    Theo dự thảo mới nhất Luật BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ được đưa vào một mục thuộc chương 1 về BHXH bắt buộc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ 1 năm trở lên hoặc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

    Khi người lao động đã đóng phí bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên và mất việc 30 ngày trở lên mà chưa có việc làm nếu có đơn sữ được cấp một khoản trợ cấp thất nghiệp. Cùng với khoản trợ cấp được hưởng, người lao động sẽ được giới thiệu việc làm, đào tạo lại nghề phù hợp nếu có yêu cầu. Chế độ này không áp dụng đối với các công chức nhà nước, sỹ quan, quân nhân phục vụ quân đội.

    Theo ông Đặng Anh Duệ, Phó Vụ trưởng Vụ BHXH ( Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội )qua khảo sát ý kiến của các chuyên gia và phân tích tỷ lệ đóng BHXH, mức đóng BHTN được đưa ra là 3% tiền lương tháng của người lao động, trong đó doanh nghiệp sẽ đóng 2% còn người lao động đóng1%.

    Về mức hưởng BHTN có hai quan điểm, thứ nhất là tỷ lệ hưởng của người lao động phụ thuộc vào thời gian đóng quỹ. Quan điểm thứ hai cho rằng nên quy định số tiền cụ thể để chi trả cho tất cả những người lao động. Mức này cao nhất là tiền lương tối thiểu hiện hành.Theo ông Bùi Văn Rự – Vụ chính sách lao động việc làm – Bộ LĐ-TB-XH: với mức hưởng là 60% lương, trong khoảng từ 6 đến 18 tháng thì tỷ lệ đóng là 3,6%.Nếu người sử dụng lao động và người lao động đóng bằng nhau thì tỷ lệ đóng là 1,8%.Nếu người sử dụng lao động đóng 2/3 thì tỷ lệ này sẽ là 2,4% và 1,2%.

    Việc thi hành chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố: xác định chính xác người được hưởng, sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động, quy mô quỹ BHTN…

    Hiện nay, BHTN đang được thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai.

    3. Một số vấn đề bàn cãi về việc thi hành chính sách BHTN.

    • Thực hiện thống kê nguồn lao động : Để có thể thực hiện được công tác giải quyết thất nghiệp, tạo việc làm thì trước tiên cần thiết là phải nắm bắt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được vấn đề cần phải giải quyết( cả về số lượng và chất lượng ). Đó là nhiệm vụ của công tác kiểm kê, kiểm soát nguồn lao động. Vì nó là điều kiện tiên quyết trong công tác giải quyết thất nghiệp và việc làm hay thiết lập chính sách BHTN.

    Vấn đề quản lý được lao động thất nghiệp, xác định số người thất nghiệp/năm. Vì hiện nay thực chất chưa có con số chính xác về lao động thất nghiệp và chưa có cơ quan quản lý hiệu quả vì các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả thì có số lượng công nhân làm theo mùa vụ và nghỉ việc nhiều nhất.

    Chính sách BHTN phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển, cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

    Vì vậy việc xác định số lượng người thất nghiệp ở nước ta vẫn chưa chính xác, do đó việc thi hành chính sách BHTN còn rất khó khăn.

    • Đối với người lao động , BHTN là một phần hỗ trợ khi họ gặp rủi ro mất việc làm. Nhưng để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì họ phải đóng phí BHTN trong một thời gian nhất định, mà người lao động không hưởng ứng vấn đề này lắm. Mặt khác thì việc đóng phí BHTN thường xuyên trong một thời gian đối với người lao động mùa vụ là rất khó khăn , mà đây là đối tượng có khả năng thất nghiệp cao nhất

    Việc xác định đối tượng hưởng BHTN, thời gian hưởng BHTN, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp cần phải chính xác nếu không sẽ gây ra tình trạng người lao động sẽ dựa vào đó mà không tích cực làm việc và đi tìm việc. Điều đó sẽ gây khó khăn cho việc quản lý của Nhà nước.

    • Đối với người sử dụng lao động , việc thi hành BHTN thì họ phải bỏ ra một khoản tiền để đóng vào quỹ BHTN , do đó sẽ thêm một phần chi phí sản xuất kinh doanh mà họ không muốn một chút nào. Do đó nếu việc quản lý không chặt sẽ có nhiều doanh nghiệp sẽ chốn khoản đóng góp này.
    • Đối với Nhà nước thì phải chi một phần ngân sách cho hoạt động BHTN nhưng cũng phần nào khắc phục được tình trạng thất nghiệp.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Vì vậy phải cân nhắc giữa những mặt tốt và hạn chế của việc thi hành chính sách BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Hiện nay,dưới tác động của khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa nên tình trạng thất nghiệp đang có xu hướng trầm trọng, vì vậy cần có những chính sách giải quyết vấn đề này. Việc xây dựng một chế độ bảo hiểm đang có nhiều khả thi và đang được nhiều nước áp dụng.Tuy nhiên việc ban hành chính sách này còn nhiều vấn đề bàn cãi, nhất là đối với Việt Nam có một lực lượng lao động khó kiểm soát.Vì vậy việc ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là cần đến khi thời điểm thích hợp thực hiện, để đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước rủi ro thất nghiệp, giúp họ yên tâm sản xuất đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời cũng góp phần đảm bảo an toàn xã hội, thể hiện vai trò của Nhà nước đối với người lao động. Do vậy việc nghiên cứu để ban hành chính sách Bảo hiểm thất nghiệp là rất quan trọng, nhất là trong thời kỳ nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển dịch,lao động trong nền kinh tế đang không ổn định,

    Việc đưa BHTN vào hệ thống BHXH là một bước hoàn thiện mới trong vấn đề xử lý tình trạng thất nghiệp và cũng đưa nước ta hòa nhập với các nước trên thế giới , tiếp tục sự nghiệp toàn cầu hóa nền kinh tế.

    Mặc dù hiện nay vẫn chưa thi hành chính sách BHTN , cùng với việc thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai , tôi mong rằng bài viết của mình sẽ được tham khảo để chính sách BHTN sớm được thi hành.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Văn Định : Giáo trình kinh tế Bảo Hiểm – NXB Thống Kê 2004
    2. Giáo trình Kinh tế Lao Động ( Khoa Lao Động và Dân số -ĐHKTQD )
    1. Bùi Văn Rự- Bộ Lao động TB- XH : Định hướng Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
    2. Tạp chí :

    -Lao động xã hội – số 228+229 (12/2003)

    • KT&PT- số 48/2001
    • TTLĐ số 04/2001
    • BHXH số 02/2001
    1. http:// VNECONOMY.com.vn cập nhật ngày 05/05/2004
    1. Tác giả: Nguyễn Trần Quế : Chuyển dịch cơ cấu Kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21

    NXB : Khoa học xã hội.

    1. Ngành Bảo hiểm VN trước thềm hội nhập 2/2003
    1. Bộ luật lao động Việt Nam được bổ sung sửa đổi 1994
    1. Các nghị định chính phủ.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                A IA –              
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%    
        12%                    
                   
                             
                             
                               
    c«ng ty                    
    kh¸c-               Prudential-
    18,2%                 34%    
                               

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu

    chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-cho-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    LỜI GIỚI THIỆU

    Giao thừa thế kỉ XXI của Việt Nam là thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.Mọi người, mọi nhà ấm no hạnh phúc.Để thực hiện được mục tiêu trên và nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của người lao động trong sự nghiệp phát triển ngay từ khi thống nhất đất nước Đangr và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm tới người lao động trong đó có chính sách Bảo hiểm xã hội.

    Chính sách Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã được thực hiện từ những năm sáu mươi của thế kỉ

    1. Trải qua hơn bốn mươi năm thực hiện với những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần rất to lớn đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần ổn định chính trị- xã hội của đất nước. Đến nay Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện cho công chức nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động trong các thành phần kinh tế ở những nơi có quan hệ lao động, có sử dụng lao động từ 10 lao động trở lên…và sẽ còn tiếp tục mở rộng cho các đối tượng khác. Với năm chế độ về Bảo hiểm xã hội đang được thực hiện ở nước ta là: Chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất chính sách Bảo hiểm xã hội đã khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước chính sách bảo hiểm xã hội cần phải luôn luôn được thay đổi cho phù hợp.

    Xuất phát từ vai trò Bảo hiểm xã hội đối với người lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung đồng thời qua thực tế nghiên cứu tìm hiểu em xin mạnh dạn trọn đề tài: “Bảo Hiểm Xã Hội Cho Người Lao Động Việt Nam” với mong muốn có thể đưa ra những vấn đề tổng quát nhất về bảo hiểm xã hội, thực trạng hệ thống Bảo hiểm xã hội ngày nay và đề xuất một

    số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách Bảo hiểm xã hội xứng đáng với vai trò quan trọng của nó trong sự nghiệp phát triển đất nước.

    Bài viết của em nghiên cứu về BHXH gồm hai phần chính sau: Phần I: Những vấn đề lí luận chung về BHXH Phần II: Thực trạng BHXH ở nước ta.

    Những phương hướng và giải pháp.

    Số liệu sử dụng trong đề án là nguồn số liệu thứ cấp.

    NỘI DUNG

    PHẦN I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI.

    I.Quá trình phát triển bảo hiểm xã hội.

    1.Sơ lược lịch sử phát triển Bảo hiểm xã hội

    Nguồn gốc Bảo hiểm xã hội bắt nguồn từ rất sớm. Trong xà hội công xã nguyên thuỷ, do chưa có tư hữu về tư liệu sản xuất, mọi người cùng hái lượm ,săn bắt sản phẩm thu được phân phối bình quân nên rất khó khăn, bất lợi của mỗi người được cả xã hội, cả cộng đồng san sẻ, gánh chịu.Trong xã hội phong kiến, quan lại thì dựa vào chế độ bổng, lộc của nhà vua; dân cư thì dựa vào sự đùm bọc lẫn nhau trong họ hàng, cộng đồng làng, xã, hoặc sự giúp đỡ của những người hảo tâm và của Nhà nước. Ngoài ra, họ còn có thể đi vay hoặc đi xin. Với những cách này, người gặp khó khăn hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm từ phía giúp đỡ. Do vậy, sự giúp đỡ mới chỉ là khả năng, có thể có, có thể không, có thể nhiều hoặc ít, không hoàn toàn chắc chắn.

    Từ khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, xuất hiện việc thuê mướn nhân công , lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động. Dần dần về sau, phải cam kết đảm bảo cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang traỉ những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị ốm đau, tại nạn, thai sản, tuổi già… Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải chi một đồng tiền nào. Nhưng củng có khi lại xảy ra dồn dập buộc người chủ phải bỏ ra một lúc phải ra nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, giới thợ phải liên kết với nhau để đấu tranh buộc gới chủ phải thực hiện những điều đac cam kết cuộc tranh chấp này diễn ra ngày càng rộng lớn và đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Dần dần trong cơ chế thị trường đã xuất hiện một bên thứ ba đóng vai trò trung gian giúp thực hiện cam kết giữa giới chủ và giới thợ bằng các hoạt động thích hợp của nó. Nhờ vậy, thay vì cho việc phải chi thực tiếp một khoản tiền lớn

    khi người lao động bị ốm đau tại nạn, giới chủ chỉ phải trích ra những khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ dựa trên những cơ sở sắc xuất những biến cố của tâp hợp người lao động làm thuê. Số tiền này được giao cho bên thứ ba tồn tích dần thành một quỹ tiền tệ. Khi người lao động bị ốm đau, tai nạn thì cứ như theo cam kết chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ có muốn tri trả hay không . Làm như thế một mặt, giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế do không phải một lúc tri những khoản tiền lớn. Mặt khác, người lao đông làm thuê được đảm bảo chắc chắn một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn. Song trên thực tế, vấn đề lợi ích vẫn luôn luôn vận động. Giới thợ luôn luôn đòi hỏi được bảo đảm nhiều hơn trước tình hình kinh tế xã hội phát triển, còn giới chủ thì lại mong muốn chi ít hơn, lên tranh chấp chủ thợ lại tiếp diễn. Trước tình hình như vậy, nhà nước phải can thiệp điền chỉnh. BHXH xuất hiện từ đầu thế kỉ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu.Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 đó là luật nhà máy. Từ năm 1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Một số nước Châu âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối những năm hai mươimới có đạo luật về BHXH. Đó là kết quả của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm dành quyền bảo hiểm trong các trường hợp ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp, hưu trí…

    1. Lịch sử phát triển của BHXH ở Việt Nam.

     

    • Giai đoạn từ tháng 8/1945 đến 1960.

    Ngay từ năm đầu kháng chiến chống Pháp chính phủ đã áp dụng chế độ hưu chí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã làm việc dưới thời Pháp sau đó đi theo kháng chiêns nay đã già yếu. Đến năm 1950, Hồ Chủ Tịch dã kí sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành quy chế công chức và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chế công nhân.

    Nhìn lại các chế độ ban hành ở giai đoạn nay cho thấy: Các chính sách được ban hành ngay sau khi giàng được độc lập, trong tình trạng kinh tế còn nhiều thiếu thốn nên chưa đầy đủ chỉ đảm bảo được mức sống tối thiểu cho công nhân viên chức Nhà nước. Mức hưởng mang tính bình quân, đồng cam cộng khổ, chưa có tính lâu dài. Các khoản chi còn lẫn lộn với tiền lương, chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện. Tuy nhiên, chính sách

    BHXH có ý nghĩa giải quyết khó khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc mất sức lao động.

    2.2. Giai đoạn từ 1961 đến 1/1995.

    Trong giai đoạn này kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đòi hỏi số đông lực lượng lao động. Vì vậy, ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời theo nghị định số 218/Chính phủ về các chế độ BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Đối tượng tham gia BHXH là công nhân viên chức lực lượng vũ trang. Đã hình thành nguồn để chi trả các chế độ BHXH trong ngân sách nhà nước trên cơ sở đóng góp của xí nghiệp (4,7% so với tổng quỹ lương) và nhà nước cấp. Áp dụng 6 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức. Ngày 18/9/1985 Hội đồng bộ trưởng ban hành nghị định 236/HĐBT về việc bổ xung, sửa đổi chế độ BHXH.

    Như vậy qua hơn 35 năm thực hiện hnàg triệu người đã được hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH, nên đã có tác dụng làm cho đội ngũ công nhân viên chức gắn bó với cách mạng với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong lao động sản xuất xây dựng đất nước. Chính sách BHXH này đã đảm bảo điều kiện thiết yếu về vật chất và tinh thần cho người lao động trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Tuy nhiên, các chính sách BHXH đã ban hành cũng bộc lộ một số mặt tồn tại như: phạm vi đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn chưa thể hiện rõ sự công bằng đối với người lao động làm việc trong và ngoài khu vực nhà nước, quyền lợi trách nhiệm các bên tham gia chưa được thiết lập đầy đủ…

    2.3. Giai đoạn từ 1995 đến nay.

    Bộ luật lao động đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ V Quốc hội khoá IX ngày 28/6/1994, qui định tại chương XII về BHXH áp dụng cho người lao động cho mọi thành phần kinh tế. Chính phủ ban hành điều lệ BHXH kèm theo nghị định số 12/CP hướng dẫn qui định thi hành.

    Chính sách BHXH trong giai đoạn này đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia đối với lao động làm công hưởng lương ở các đơn vị, tổ chức kinh

    tế sử dụng 10 lao động trở lên thuộc mọi thành phần kinh tế. Thực tế trước nghị định số 12/CP số lao động tham gia BHXH là 3,4 triệu người thì hiện nay đã có 4,1 triệu người trong đó có 517 nghìn người ngoài quốc doanh( kể cả doanh liên doanh). Quỹ BHXH chủ yếu từ người sử dụng lao động đóng ( 15% quĩ lương) và người lao động đóng(5% tiền lương) độc lập với ngân sách nhà nước. Qui định rã trách nhiệm của người sử dụng lao động khi thuê mướn lao động phải đóng BHXH cho người lao động. Qui định rõ nghĩa vụ của người lao động trong việc đóng góp. Nguồn thu BHXH hàng năm tăng lên.

    BẢNG 1 : THU BHXH

    Năm 1996 1998 2000 2001
    Thu(Tỉ đồng) 2569 3875 5800 5718

    Nguồn: Tổng cục thống kê.

    Việc tăng nguồn thu này đã giúp cho việc thực hiện chế độ BHXH trước hết là người nghỉ hưu được tốt hơn. Chế độ BHXH có tác dụng tích cực làm ổn định đời sống người lao động từ đó có tác dụng tích cực động viên mọi người an tâm lao động sản xuất, với năng suất cao, hiệu quả cao. Đã thể hiện được sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ đồng thời mang tính chất cộng đồng xã hội để chia sẻ rủi ro.Tuy nhiên,về đối tượng tham gia BHXH chủ yếu vẫn là ở khu vực Nhà nước, lao động làm việc ở cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, kể cả liên doanh cồn thấp, chỉ có 15% lực lượng lao động xã hội thuộc đối tượng BHXH bắt buộc.Hiện nay, loại hình BHXH tự nguyện chưa được ban hành. Do đó, nhiều người lao động không thuộc diện làm công ăn lương, có nguỵện vọng tham gia BHXH thì chưa thực hiện được nguyện vọng của mình, chưa có chế độ bảo hiểm thất nghiệp để ổn định cuộc sống người lao động bị mất việc làm. Công tác giáo dục tuyên truyền còn rất hạn chế nên nhiều doanh nghiệp không đống BHXH. Một số qui định trong chính sách chế độ BHXH hiện hành trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc.

    II. Bản chất của BHXH

     

    1.Khái niệm

     

    Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH, tuỳ theo góc đọ nghiên cứu, cách tiếp cận mà người ta đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Có thể xác định khái niệm BHXH như sau:

    Khái niệm chung: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quĩ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Khái niệm BHXH(theo ILO): BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

    1. Ý nghĩa và tác dụng của BHXH

    2.1. Đối với người lao động đóng BHXH.

    Người lao động đóng BHXH bằng khoản tiền của mình để sẽ được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro hoặc sự biến theo loại chế độ bảo hiểm. Khoản trợ cấp thường là xấp xỉ với giá trị của khoản đã đóng góp BHXH, thậm chí còn cao hơn. Việc đóng góp BHXH có tầm quan trọng về tâm lí rất đáng kể: nhắc nhở ý thức trách nhiệm và bảo vệ nhân phẩm của người lao động, xác lập quyền của người lao động được hưởng trợ cấp, chưa kể là cồn có quyền tham gia quản lí BHXH.

    Tuy nhiên, việc dành dụm này không như gửi tiền vào quĩ tiết kiệm để rồi khi cần, thậm chí bất cứ lúc nào muốn thì tự do rút toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Xung quanh người lao động còn có cộng đồng người trẻ, người già, người khoẻ, người ốm yếu… có thể nói một cách hình tượng là người “may mắn”, người”rủi ro”. Cùng đóng góp nhưng người rủi ro được hưởng trự cấp trong khi người may mắn chưa hưởng. Nhưng đến một lúc nào đó, người may mắn cũng sẽ trở thành người rủi ro bên cạnh những người may mắn khác. Đó là sự chuyển giao xã hội giữa hai hoàn cảnh rủi ro và may mắn của đời người, là một phần của phương châm xử thế “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Với ý nghĩa trên, điều lệ BHXH mới ban hành kèm theo nghị định

    12/CP ngày 26/1/1995 đã qui định, người lao động đóng bằng 5% tiền lượng tháng để chi các chế độ hưu chí và tử tuất.

    2.2. Đối với người sử dụng lao động đóng BHXH

    Đóng BHXH cũng là để phục vụ lợi ích của người sử dụng lao động vì nó góp phần duy trì hoà bình và ổn định trong lao động.NGười sử dụng lao động trả lương cho người lao động để dáp ứng nhu cầu của người lao động khi làm việc cho người sử dụng lao động, nhưng cả khi họ không còn đủ sức để được hưởng lương. Chính là thông qua cơ ckế BHXH mà sự chuyển giao tiền lương giữa hai hoàn cảnh đó được thực hiện.

    Điều lệ BHXH mới của nước ta cũng quy định người sử dụng lao động phải đóng 15% so với tổng quỹ lương của nhữnh người lao động được hưởng bảo hiển trong đơn vị.

    2.3. Đối với nhà nước.

    Thực hiện chéc năng xã hội, nhà nước của dân, do dân và vì dân, lấy những lợi ích, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu và động lực hoạt động. Công bằng xã hội là hạt nhân của chính sách xã hội, là cái đích mà chính xã hội cần đạt đến. Sự can thiệp, điều tiết của nhà nước đối với các vấn đề xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, của xã hội công nghiệp hiện đại càng cần thiết mở rộng. Như đã nói ở phần trên, việc bảo vệ người lao động trước những rủi ro ngẫu nhiên thì do cá nhân và xã hội, nằm ngoài phạm vi của nhà nước. Nhưng cành về sau đó, nhất là ngày nay, nhu câu bảo vệ những quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nườo lao động, trong đó cơ chế BHXH đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp và điều tiết nhất định.

    Tóm lại, BHXH cho người lao động đối với nhà nước là giảm bớt gánh nặng xã hội cho việc nhăm sóc người lao động khi họ gặp rủi ro.

    III. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    BHXH là nhu cầu khách quan của người lao động, ý tưởng của BHXH là nhằm thực hiện một phần công bằng xã hội, phát huy truyền thốnh đoàn kết cộng đồng và tinh thần nhân ái. Theo lẽ công bằng xã hôị và vì đoàn kết cộng đồng thì BHXH phải được áp dụng với toàn bộ thành viên của cộng đồng.

    Tuy nhiên trong điều kiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong các thành viên cộng đồng có nhóm người là công chức, có nhóm người làm công ăn lương trong một đơn vị, một tập thể ổn định, có nhóm tuy cũng làm công ăn lương nhưng công việc và nơi sử dụng không ổn định, có nhóm người lao động đập lập, không có quan hệ lao động… Mỗi nhóm người gặp rủi ro khác nhau như: rủi ro tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, ốm đau tuổi già. Như vâỵ vấn đề đặt ra là phải có nhiều hình thức, nhiều cơ chế bảo vệ rất đa dạng…

    Quan điểm về bảo hiểm xã hội tuy chưa thống nhất giữa các nước nhưng các nước vẫn chưa xây dựng cho mình một hệ thống BHXH. Cũng như vậy, đối tượng của BHXHvẫn chưa được thống nhất. Tuy vậy các nước thực hiện BHXH thường theo hai khuynh hướng:

    Đối tượng BHXH là tất cả người lao động.

    Đối tượng BHXH chỉ có viên chức nhà nước, người làm công ăn lương.

    Hầu hết các nước trong trong buổi sơ khai của BHXH đều theo khuynh hướng thứ hai tức chỉ thực hiên BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Việt Nam cũng không vượt ra khỏi quan điểm đó, mặc dù như vậy là không bình đẳng giữa những người lao động.

    IV. Các chế độ BHXH.

    • Việt Nam hiện nay BHXH gồm 5 chế độ sau:
    1. Chế độ trợ cấp ốm đau.

    Chế độ này giúp cho người lao động có được khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất đi do không làm việc khi bị ốm đau. Việc thiết kế chế độ nay như hiêện hành đã tránh được những hiện tượng lạm dụng và bình quân hoá thong khi xét trợ cấp. Đảm bảo công bằng giữa đóng và hưởng BHXH, đồng thời có tính đến yếu tố san sẻ cộng đồng giữa những người tham gia BHXH. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn một số vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu xem xét như: không qui định thời gian dự bị trước khi hưởng BHXH; thời hạn hưởng tối đa chưa rõ; thủ tục, danh mục các bệnh dài hạn qui định đã lâu, cần phải bổ xung một số bệnh mới.

    1. Chế độ trợ cấp thai sản.

     

    Thiết kế chế độ này như hiện nay đã giúp lao động nữ có được khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập bị mất do không làm việc vì sinh con. Hơn nữa, việc qui định thời gian nghỉ đã tính đến yếu tố điều kiện và môi trường lao động nhằm đảm bảo sức khoẻ cho sản phụ thuộc nhóm lao động khác nhau. Qua thực tiễn, chế độ này còn có một số điểm phải khắc phục như: còn đan xen giữa chính sách BHXH với chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình; thời gian dự bị trước khi được hưởng cũng chưa có…

    3.Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:

    Thực tiễn triển khai chế độ này ở nước ta trong những năm vừa qua đã góp phần không nhỏ đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động không may bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Đồng thời chế độ này còn qui định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với các trường hợp xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Mức trợ cấp của chế độ này dựa trên cơ sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là hợp lí. Tuy vậy, cần phải xác định rõ hơn tai nạn lao động xảy ra trên đường từ nhà tới nơi làm việc và ngược lại, danh mục bệnh nghề nghiệp cần phải được bổ xung vì có một số loại bệnh mới phát sinh nhưng chưa được xếp vào bệnh nghề nghiệp…

    1. Chế độ hưu trí

    Đây là chế độ nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không được nhận nữa từ nghề nghiệp không được nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu. Nội dung chế độ này đã khắc phục được những hạn chế trước đây như: Việc qui đổi thời gian công tác; bóc tách được phần lớn những chế độ ưu đãi xã hội ra khỏi ché độ hưu trí…vì thế đã đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng giữa đóng và hưởng BHXH; giữa các nhóm lao động khác nhau. Tuy vậy, chế độ này vẫn còn nhiều điểm nổi cộm cần khắc phục như: tuổi đời vè hưu giữa các ngành, nhóm lao động; những người hưởng trợ cấp một lần đưa vào chế độ là chưa hợp lí, vì những người này vẫn chưa đủ tuổi, vừa không đủ tích luỹ cần thiết để hưởng trợ cấp. Đây chỉ là sự trả lại một phần số tiền cho người lao động khi họ không còn quan hệ lao động nữa, do quĩ BHXH đảm nhận.

    5.Chế độ tử tuất.

    Một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất đó là chế độ tử tuất. Chế độ này giúp cho thân nhân người chết có được khoản thợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người lao động bị chết; khi xây dựng chế độ này, đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm và yếu tố xã hội giữa người sống và người chết. Đặc biệt có tính đến yếu tố kế thừa đối với thân nhân của người chết. Song, việc quy định đối tượng được hưởng bao gồm cả bố mẹ bên vợ, bên chồng là chưa hợp lí. Vì bố mẹ bên vợ, bên chồng còn có thân nhân của cả hai bên chịu trách nhiệm. Điều này phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để thống nhất qui định.

    V. Chức năng của BHXH.

    BHXH có những chức năng cụ thể sau:

    1.Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các qui định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mắt thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng qui định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế hoạt động của BHXH.

    2.Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào qũi BHXH. Quĩ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đống góp. Như vậy, theo qui luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc…Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    3.Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao động người lao động được chủ sử dụng lao động trả lượng hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất.Vì thế, cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc.Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích lao động nâng cao năng suất lao động cá nhânvà kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    4.Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó, làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, Chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn phải giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển an toàn hơn.

    VI. Các nguyên tắc Bảo hiểm xã hội.

    1. Mọi người laođộng trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm đều có quyền được hưởng BHXH.

    Quyền được hưởng BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con người. Biểu hiện cụ thể quyền được hưởng BHXH của người lao động là việc họ được hưởng chế độ trợ cấp BHXH theo các chế độ xác định. Các chế độ này gắn với các trường hợp người lao động hoặc bị giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống. Trong nền kinh tế thị trường các trường hợp đố có thể có rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên. Về nguyên lí thì mội trường hợp như thế, người lao động đều phải được BHXH. Nhưng giữa nguyên lí và thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất xa. Khoảng cách đó do các biểu hiện kịnh tế xã hội qui định. Bởi vậy trên giác độ điều hành vĩ mô, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn

    phát triển về tổ chức và hoàn thiện dần việc BHXH đối với các trường hợp làm giảm hoặc mất thu nhập của người lao động nói trên.

    2.Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng BHXH đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự đóng BHXH cho mình.

    Đây là quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà nước phải có vai trò quản lí vĩ mô mọi hoạt động kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước. Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh cũng tương tự như trên nhưng chỉ trong phạm vi một ssố doanh nghiệp, ở đó, giữa người lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Người sưe dụng lao động muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh không chỉ chăm lo đầu tư máy móc thiết bị mà còn phải chăm lo tay nghề và đời sống người lao động mà mình sử dụng. Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương cho họ còn khi họ gặp rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao động…mà có gắn với quá trình lao động thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có như vậy, người lao động mới yên râm công tác góp phần tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.Đối với người lao động, khi gặp rủi ro không mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì mình cũng phải đống BHXH. Điều đó cho thâấy bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.

    3.Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để tự hình thành quỹ BHXH độc lập và tập trung.

    Sự đóng góp của ba bên như trên nếu không được đóng góp cho bên thứ ba- cơ quan BHXH chuyên nghiệp và được tồn tích dần thành một quĩ tài chính độc lập và tập trung như cách làm đặc trưng của BHXH th nó sẽ biến thành một cách làm khác với BHXH về chất, đó là phương thức tiết kiệm. Như vậy, mục đích, bản chất và yêu cầu của BHXH sẽ không thể thực hiện được.

    1. Phải lấy số đông bù số ít.

    Cách làm riêng có của BHXH là mọi người tham gia BHXH đóng góp nho bên nhận BHXH và tồn tích dần thành một qũi tài chính độc lập dung để chi trả trợ cấp cho người lao động khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập then các chế độ đã xá định.Số trợ cấp của họ nhận được lớn hơn rất nhiều so với số tiền đóng góp của họ. Muốn làm được việc này thì không có cách nào khác là phải lấy kết quả đóng góp của số đông người tham gia để bù cho số ít người được hưởng trợ cấp.

    5.Phải kết hợp hài hoà giữa các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXH.

    Trong BHXH cả ba bên tham gia, người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước đều nhận được nhiều lợi ích. Nhưng lợi ích nhận được không phải luôn luôn như nhau, thống nhất với nhau, mà trái lại có lợi ích có lúcd mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời gian nghỉ làm việc và hưởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho người lao động nhưng lại gặp khó khăn cho người chủ sử dụng lao động nêú giảm hậu quả cho người chủ sử dụng lao động thì Nhà nước phải gánh chịu.

    Nguồn cơ bản để hình thành quĩ BHXH là sự đóng góp của ba bên như đã nói ở trên. Muốn phát triển BHXH thì phải tăng quĩ,muốn vậy thì phải tăng nguồn thu, nhưng nguồn thu cơ bản này lại có giới hạn không cho phép vượt(làm giảm thu nhập hiện thời của người lao động và làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh). Vì vậy, phải tích cực đi tìm kiếm các nguồn thu khác để bổ sung như đầu tư vốn nhàn rỗi tương đối của quĩ BHXH vào các hoạt động sinh lời, hợp tác quốc tế… Ngoài ra có thể tìm tòi các phương cách BHXH khác mà nền kinh tế thụ trường đã tạo ra môi trường thuận lợi để áp dụng.

    6.Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải bảo đảm mức sống tối thiểu.

    Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương như: trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí…Như đã biết tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình

    thường và thực hiện được công việc nhất định mới có tiền lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn, tuổi già… không thực hiện được công việc nhất định hoặc không có việc làm mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương do lao động tạo ra được. Còn nếu cố tìm cách trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một người lao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngược lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản… để nhận được trợ cấp. Hơn nỡa, cách lập quĩ theo phương thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH băằng tiền lương lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lương thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro đem rủi ro của mình danf trải hết cho người khác. Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lú đang đi làm, tuynhiên, do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp BHXH thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hằng ngày. Chỉ khi đó trợ cấp BHXH mới có ý nghĩa an sinh.

    1. Kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện.

    Cho đến nay ở nước ta việc tham gia BHXH vẫn chưa trở thành tập quán, hơn nữa trong BHXH lợi ích của các bên tham gia và lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài của ngươì lao động vẫn có những mâu thuẫn. Bởi vậy, cần có sự kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện trong việc tham gia BHXH. Sự bắt buộc nên thực hiện đối với các bên tham gia BHXH ở khu vực có quan hệ lao động và với mức thu nhập cơ bản. Đối với những người có nhu cầu BHXH ở mức cao hoặc với người lao động độc lập thì nên để họ tham gia tự nguyện.

    1. Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cà nước đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.

    Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành. Trong đó, bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ bao trùm toàn bộ những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và nhng người lao động thuộc khu vực kinh tế quan trọng của đất nước. Ở nước ta do những điều kiện kinh tế- xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân thữh hiện BHXH mà chỉ có BHXH của NHà nước.

    Để BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảm bảo tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tuỳ tiện, tính cục bộ, cát

    cứ, hoặc những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm cho nhau.

    1. BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể.

    BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế- xã hội, với cơ chế và trình độ quản lí, đặc biệt là với sự đồng bộ, sự hoàn chỉnh của nền pháp chế của nước đó. Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế- xã hội đang chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải đảm bảo tính chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có bước đi phù hợp mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.

    VII. Tính chất của BHXH .

    BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đã đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển BHXH gắn liền với đời sống người lao động vì vậy nó có một số tính chất cơ bản sau :

    Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội: Sản xuất càng phát triển những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đối với người sử dụng lao động ngày càng nhiều và trở lên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hàon toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.

    BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian.

    BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ: Quỹ BHXH muốn được hình thành bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lí chặt chẽ sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tímh toán rất cụ thể dựa trên sác xuất phát sinh thiệt hại cuả tập hợp người lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao động theo các điều kiện BHXH. Thực chất phần đóng góp của mỗi người lao động là không đáng kể

    nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với người sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà chính mình sử dụng. Xét dưới mức độ kinh tế họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với nhà nước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

    BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao.

    VIII. BHXH Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường.

    Sau Cách mạng tháng tám thành công, trên cơ sở hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một số sách lệnh quy định về chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức nhà nước. Cơ sở pháp lí tiếp theo của BHXH được thể hiện trong hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hoá trong điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.

    Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối

    với người lao động”. Trong văn kiện đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến văn kiện đại hội Đảng lần VIII cũng đã nêu lên “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế “. Như vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lí quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường. Ngay sau khi bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước.

    PHẦN II.

    THỰC TRẠNG CỦA BHXH Ở NƯỚC TA.NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG

    VÀ GIẢI PHÁP.

    I. Đánh giá tổng quát về kết quả công tác BHXH qua các năm.

    BHXH là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao hiệu quả bảo đảm vật chất, góp phần ôổn định đời sống cho ngưòi lao động khi gặp rủi ro như tai nạn, ốm đau , bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động, chết…

    Chính sách BHXH đã được Đảng và Nhà nứơc ta quan tâm đề từ khi mới thành lập nước, trải qua quá trình dành độc lập, xây dựng đất nước hoà bình, phát triển đi lên, chính sách BHXH luôn được cải tiến, hoàn thiện phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước từng thời kỳ nên đã đáp ứng được nguyện vọng của người lao động, góp phần động viên chiến sĩ đồng bào cả nứơc trong đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nứơc cũng như trong xây dựng CNXH đưa đất nước tiến lên.

    Thời kỳ đổi mới với những kết quả quan trọng trên mặt trận kinh tế đã tạo tiền đề vững chắc cho những đổi mới tương ứng về chính sách XH nói chung và chính sách BHXH nói riêng. BHXH đã trở thành một lĩnh vực quan trọng hàng đầu của hệ thống an ninh XH ở nước ta. Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Nhà nước thực hiện BHXH đối với công chức nhà nước, ngưòi làm công ưan lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động. Đại hội VIII đã chỉ rõ: Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Đứng trước sự chỉ đạo này của chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH mới kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 . Nội dung cơ bản của sự đổi mới thể hiện trên các mặt:

    BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng. Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước. Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH.

    II. Nguồn quỹ bảo hiển.

    1.Tổ chức thu BHXH.

    Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường chính phủ đã ban hành nghị định 43/CP ngày 26/6/1993 và điều lệ bảo hiểm ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 trong các văn bản này đều qui định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn quỹ sau:

    Người sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH.

    Người lao động đóng 5% tiền lương tháng.

    Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động.

    BẢNG 2: MỨC ĐÓNG GÓP BHXH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

    Tên nước Chính phủ Tỷ lệ đóng góp Tỷ lệ đóng góp
        của người lao của người sử
        động so với dụng lao động so
        tiền lương (%) với quỹ lương
          (%)
    CHLB Đức Bù thiếu 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
    Inđônêxia   Bù thiếu 3,0   6,5
    Philipin   Bù thiếu 2,85 – 9,25   6,85 – 8,05
    Malaixia   Chi toàn bộ chế độ 9,5   12,75
        ốm đau, thai sản      
      Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới  

    Ngoài ba nguồn trên còn có một số nguồn thu khác như: lãi từ hoạt động đầu tư.

    Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quĩ BHXH. Vì vậy, qũi này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. KHi tính phí BHXH, có thể có căn cứ tính toán khác nhau như: dựa vào tiền lương, thang lương, dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động.

    Trong những năm qua mặc dù BHXH còn rất nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện công việc rất mới mẻ nhưng BHXH Việt nam đã hình thành được quĩ độc lập với ngân sách Nhà nước chủ động chi trả cho ngươì lao động góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách. Đạt được kết quả này là nhờ công tác quản lí thu chi BHXH đi vào nề nếp, người lao động

    • thức được trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia BHXH. Công tác thu BHXH của các tỉnh thành phố ngày một hoàn thiện.

    BẢNG 3 :THU BHXH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

    Năm Thu (tỷ VNĐ) Chi (tỷ đồng)
    6 tháng năm 1995 99 596
    Năm 1997 298 642
    Năm1998 382 778
    Năm 1999 415 797
    Năm2000 554 1030
    Năm2001 670 1300

    Nguồn :Tổng cục thống kê

    Qua 6 năm thực hiện, về cơ bản trên địa bàn Hà Nội đã đi vào nề nếp. Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có 65 vạn người thuộc diện đóng BHXH, chiếm 1/4 dân số trong đó trên 42 vạn người tham gia đóng và hưởng BHXH thường xuyên, trên 23 vạn người hưởng hưu trí và trợ cấp hàng tháng.

    1. Sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH dùng để chi trả cho các chế độ ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất. Ý thức được thực hiện tốt các chế độ chính sách BHXH đối với người lao động là đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động theo qui định của pháp luật mặt khác là nhiệm vụ hàng ngày là trách nhiệm của cơ quan BHXH. Vì vậy toàn ngành đã rất chú trọng đến các công tác này. Kết quả trong 5 năm BHXH các tỉnh thành phố đã chi trả đầy đủ, kịp thời và an toàn 24076089 triệu đồng trong đó có chi từ ngân sách nhà nước 20838016 triệu đồng chi từ quỹ BHXH 3238073 triệu đồng. Ngoài ra mỗi năm còn chi trả khoảng 200 tỷ đồng cho hàng triệu người hưởng chế độ ốm đau, thai sản. Tuy nhiên trong thời gian qua một số địa phương chưa nắm chắc tình hình tăng giảm đối tượng, nhất là khi đối tượng hết hạn hưởng chế độ hoặc là chết. Các trường hợp hưởng sai, hưởng không đúng chế độ nhiều nơi không bị phát hiện điều chỉnh kịp thời.

    Chi cho sự nghiệp quản lí BHXH: Theo quyết định số 20/1998/QĐ-TTG ngày 26/1/1998 của thủ tướng chính phủ thì chi phí quản lí bộ máy của hệ thống BHXH Việt Nam lấy từ quỹ BHXH và được trích không quá 6% trên tổng số thực thu BHXH.

    1. Tổ chức quản lí BHXH.

    Ngày nay việc quản lí quỹ BHXH gặp rất nhiều khó khăn từ tình hình thực tế là việc nợ đọng quỹ rất nhiều cho nên công tác quản lí thu nợ đọng phải tập trung vào khối nào có mức độ chiếm dụng cao. Bên cạnh đó thực tế cũng cho thấy số nợ đọng ở các tỉnh thành phố cũng có mức độ ít nhiều khác nhau những đơn vị có mất chiếm dụng lớn cần phải được nắm chắc thường xuyên theo dõi đôn đốc thu nộp. Nhằm thu hồi dần tìm mọi cách ngăn chặn phát sinh thêm rút mức nợ xuống giới hạn có thể chấp nhận được.

    Như vậy, để có thể tổ chức quản lí BHXH được tốt nước ta cần phải có biện pháp thích hợp. Đó là:

    BHXH cần phải được quản lí tập trung thống nhất sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí cho xã hội quản lí và sự dụng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn. Do quỹ BHXH quản lí tập trung nên hình thành được quỹ tiền tệ lớn có thời gian nhàn rỗi dài. Đây là một nguồn vốn nội lực vô cùng quan trọng để tham gia đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Từ đặc điểm hoạt động bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng mang tính hỗ trợ lẫn nhau giữa những người tham gia theo nguyên tắc dùng tiền đóng góp của số đông bù cho số ít người được hưởng hay là sự chia sẻ rủi ro của một số ít người cho đại đa số những người cùng gánh chịu tổn thất sẽ xảy ra tình trạng nếu hạch toán chi tiết thu để chi đối với từng chế độ, từng đơn vị, từng ngành từng lĩnh vực thì chắc chắn sẽ mất cân đối khác nhau thậm chí thu không đủ chi. Để khắc phục tình trạng đó quĩ BHXH nhất thiết phải được quản lí tập trung thống nhất kịp thời điều tiết đảm bảo đủ nguồn lực tài chính thực hiện đầy đủ thống nhất các chế độ bảo hiểm xã hội đối với mọi người lao động dù cho họ làm việc ở bất kì đâu, ở đơn vị nào, ngành nghề nào, lĩnh vực nào trên đất nước.

    Tăng cường quản lí thu BHXH: Trong thời gian vừa qua nhất là khi hệ thống BHXH Việt Nam ra đời việc tăng cường quản lí thu BHXH đã và đang là vấn đề được mọi người quan tâm. Để quản lí thu BHXH được tốt cần nghiên cứu xác địng rõ nguyên nhân của việc nợ quỹ để có biên pháp nhằm hạn chế không để lợi dụng tiền BHXH dùng vào việc khác gây khó khăn cho cơ quan BHXH, gây thiệt thòi cho người lao động. Ngoài ra cần đề ra chuẩn mực và biện pháp tiến hành đối với việc đánh giá mức đọ công nợ và đánh giá kết quả công tác quản lí tác động vào việc làm phát sinh tiền nợ BHXH. Trong tổng quĩ BHXH nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất là thu BHXH từ các doanh nghiệp. Vì vậy cần tăng cường biện pháp quản lí thu BHXH từ nguồn này giữ một vai trò hết sức quan trọng. Trước hết đối với người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp đay là một khảon thu bắt buộc. Hiện nay, mức thu, thời hạn thu nộp và trách nhiệm của người sử dụng lao động đã được qui định trong khoản 2 diều 44 nghị định 12/CPcủa chính phủ và nhiều văn bản pháp qui khác về BHXH.

    III. Phương hướng.

     

    Định hướng phát triển cho ngành BHXH Việt Nam trong thời gian tới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Sau đây xin đưa ra một số phương hướng nhằm thúc đẩy hoạt động BHXH ở nước ta được tốt hơn.

    1.Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hiện đai hoá hoạt động ngành BHXH

    Một trong những nội dung trọng yếu của chiến lược cán bộ trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại háo đất nước mà nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh là công tác qui hoạch cán bộ và chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Qui hoạch cán bộ để:”bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài”. Đối với hệ thống BHXH Việt Nam, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức đặt ra như một yêu cầu khách quan và thực sự cần thiết. Phương hướng đào tạo,bồi dưỡng cán bộ công chức ngành BHXH VIệt Nam như sau:

    Nội dung chương trình đào tạo một mặt đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng trong thời kì phát triển mặt khác phải phản ánh kịp thời những phát hiện mới của lí luận và thực tiễn về BHXH.

    Tăng cường đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất để thực hiện công tác đào tạo. Đối với BHXH Việt Nam, nhu cầu đào tạo là hết sức cần thiết vì vậy cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác này. Mặt khác cần sớm xúc tiến viẹc thành lập một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của ngành BHXH Việt nam tương xứng thực hiện công tác đào tạo nhằm thực hiện qui hoạch phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhằm tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

    1. Bảo toàn và tăng trưởng quĩ BHXH Việt Nam.

    Tăng trưởng quĩ BHXH là việc bắt buộc phải thực hiện trong công tác đầu tư tăng trưởng quĩ để đạt được mục tiêu an sinh xã hội, ổn định trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy BHXH cần phải ddược bảo toàn và tăng trưởng.Phương hướng đặt ra là:

    Đối với hoạt động thu: Việc tăng số thu cho quĩ BHXH được xem là một trong những hoạt động bảo toàn và tăng trưởng quĩ.Tuy iên việc tăng qui mô quĩ không có nghĩa là tăng có tính cơ học mức thu của các bên tham gia bảo hiểm mà là trên cơ sở huy động số đối tượng tham gia quĩ ngày càng đông,

    với thơì gian đóng góp ngày càng dài. Đi đôi với việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH thì nhu cầu chi trả trong tương lai sẽ tăng lên. Do đó,việc tăng thu choquĩ BHXH dư thực sự có ý nghĩa với bảo toàn và tăng trưởng quĩ khi nó được gắn liền với hoạt động đầu tư quĩ BHXH. Việc thiết lập hệ thống kiểm soát thu giúp phát hiện những sai lầm dấu hiệu không an toàn cho quĩ trong việc quản lí đối tượng thu, đôn đốc thu nộp, quản lí tiền thu cũng góp phần bảo toàn quĩ.

    Đối với hoạt động chi: Việc tính toán khoa học và hợp lí mức chi trả và phương thức chi trả vừa góp phần đảm bảo đời sống của người hưởng thụ, vưừa đảm bảo khả năng chi trả của quĩ có số dư ngày càng lớn tạo tiền đề cho hoạt động đầu tư. Quản lí đối tượng hưởng thụ và tổ chức chi trả chặt chẽ an toàn sẽđảm bảo cho nguồn vốn quĩ không bị thất thoát. Các khoản chi cho quản lí tài chính cần phải sử dụng tiết kiệm hiệu quả và từ đó góp phần tăng khả năng tự tích luỹ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư. Từ năm1996 đến nay, quĩ BHXH đã tồn tích một khối lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi tương đối lớn, khoảng 20.000 tỷ đồng.íố tiền này được chính phủ cho phép đầu tư tăng trưởng. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang thiếu vốn nghiêm trọng, cung về vốn trên thi trường không đủ đáp ứng nhu cầu.Rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều doanh nghiệp đang cần vốn. Vì vậy, việc đầu tư quĩ vào đâu, cho đối tượng nào vay vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho quĩ BHXH, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị được đầu tư là một vấn đề phức tạp, cần phải được cân nhắc. Trên thực tế, đó là xem xét danh mục đầu tư của quĩ. Hiện nay ở hầu hết các nước, Chính phủ đều qui định danh mục đầu tư, hoặc phân cấp rõ ràng danh mục đầu tư gắn liền với trách nhiệm của các cấp, các ngành để hạn chế rủi ro của quĩ. Đối với nước ta đây là vấn đề cần được ngiên cứu kĩ trong thời gian tới.Bên cạnh đó không thể quên việc thiết lập hệ thống kiểm soát góp phần ngăn ngừa và hạn chế các khuyết điểm và sai phạm có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu, xét duyệt hồ sơ nhằm đảm bảo an toàn quĩ, giữ nghiêm kỉ luật nâng cao năng lực và uy tín hoạt động của BHXH.

    II. Giải pháp.

    Chính sách BHXH đã trở thành một trong những chính sách xã hôi quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần đảm bảo an toàn đời sống của

    cán bộ, công chức người lao động và gia đình họ góp phần tích cực vào cuộc sống bảo vệ và xây dựng đất nước. Nghị quyết đại hôi đảng toàn quốc làn thứ IXđã nêu rõ:”Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và an sinh xã hội. Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ…” Những chủ trương của Đảng nhằm mang lại hạnh phúc cho mọi người lao động khi gặp hoàn cảnh khó khăn ốm đau, tai nạn, già yếu… nhằm đảm bảo cho xã hội công bằng, văn minh tiến bộ.Tuy nhiên, để thực hiện được chủ trương của Đảng thì cần có nhiều công việc phải làm. Xin đưa ra một số giải pháp sau nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống BHXH:

    1.Về đối tượng và loại hình BHXH .

    Cần xác định đối tượng loại hình áp dụng BHXH bắt buộc là hìmh thức cưỡng chế theo pháp luật. Còn đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện là hình thức vận động thuyết phục thực hiện theo qui định của pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH và quyền lợi hưởng các chế độ BHXH chỉ có một qui định thống nhất cho cả hai bên, có như vậy mới đảm bảo tính thống nhất trong tổ chức, quản lí cũng như trong qua trình chuyển đổi giữa hai loại hình BHXH mà không gây trở ngại cho ngươì lao động và cơ quan quản lí. Giữ vững quan hệ ba bên.

    Mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Từ khi thực hiện chính sách và cơ chế quản lí mới về BHXH, BHYT, phạm vi, đôi tượng tham gia đã được mở rộng (diện tham gia BHXH chiếm 10% lực lượng lao động) góp phần đảm bảo quyền và lợi ích cho hàng chục triệu lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiệu quả hoạt động của BHXH đã góp phần từng bước giảm dần gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước tạo nên hệ thống an sinh cho con người. Tuy nhiên để từng bước thu hút 80% dân số còn lại tham gia, cần có chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHXH, không chỉ với lao động thuộc khu vực nhà nước mà cả ở các thành phần kinh tế khác. Khi đối tượng tham gia BHXH được mở rộng, tỉ lệ thu BHXH 15% để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trong những năm tới( từ 10 đến 12 năm) được giữ nguyên sau đó tăng dần tỉ lệ đóng. Nghiên cứu qui định lại cách tính lương hưu. Qui định thêm mức đóng khi thực hiện thêm chế độ trợ cấp thất nghiệp.

    1. Về các chế độ của BHXH.

     

    Cần mở rộng thêm các chế độ BHXH sau:

    Chế độ Chế độ Chế độ Chế độ

    trợ cấp thất nghiệp

    chăm sóc y tế

    trợ cấp tàn tật

    trợ cấp gia đình

    Cần sửa chữa bổ xung một số chế độ BHXH qui định tại các điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP và 45/CP để khắc phục một số tồn tại như:

    Nâng độ tuổi nghỉ hưu của một số lao động đặc thù như những người làm công tác khoa học, giáo dục, lao động nữ làm công tác hành chính sự nghiệp khi đến tuổi theo qui định chung nhưng còn khả năng làm việc và cơ quan, đơn vị có nhu cầu sử dụng tiếp.

    Giảm bớt tỉ lệ trừ lương hưu của những người về hưu trước tuổi để cải thiện lương hưu và giải toả tâm lí thiệt thòi khi nghỉ hưu trước tuổi dẫn đến tình trạng ùn tắc lực lượng lao động ở các đơn vị, doanh nghiệp.

    Giảm độ tuổi nghỉ hưu của những người làm việc nặng nhọc độc hại phù hợp với mức độ suy giảm khả năng lao động.

    Đối với chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp cần bổ xung thêm vào danh mục bệnh nghề nghiệp những bệnh mới xuất hiện nhưng chưa được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp gây thiệt thòi cho người lao động…

    1. Tăng cường tính pháp lí của các qui phạm pháp luật về BHXH.

    Nhanh chóng hoàn thiện và ban hành luật BHXH trong đó chú trọng đến các hình thức sử phạt nghiêm minh đối với các doanh nghiệp trốn đóng BHXH.

    Đưa các điều khoản qui định về thu nộp BHXH vào nội dung của luật doanh nghiệp, luật phá sản doanh nghiệp. Các điều khoản này qui định rõ về thứ tự ưu tiên thanh toán nộp BHXH trong hệ thống các khoản thanh toán của doanh nghiệp để đảm bảo giải quyết các quyền lợi hưởng BHXH của người lao động trong doanh nghiệp.

    • các địa phương cần có sự kết hợp đồng bộ và hiệu quả giữa Sở lao động thương binh xã hội với ngành BHXH. Liên đoàn lao động và các cơ quan pháp luật trong việc sử lí các doanh nghiệp nợ đọng BHXH.

    Có cơ chế khuyến khích cán bộ BHXH phát hiện và truy thu BHXH. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thu BHXH để đáp ứng nhu cầu công việc.

    1. Quản lí BHXH

    Tăng cường công tác kiểm tra thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH nhằm quản lí mọi người lao động, phổ biến qui định và nguyên tắc của ngành và những qui định có liên quan dược thực hiện đầy đủ, đúng qui định, kịp thời.

    Cơ quan BHXH các cấp tăng cường phối kết hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn như: ngành LĐ-TB-XH, liên đoàn Lao động, Kế hoạch đầu tư, Thuế, Công an, Thanh tra nhà nước trong công tác kiểm tra các doanh nghiệp về thực hiện Bộ luật lao động, nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đóng BHXH đối với người lao động.

    Không ngừng mở rộng cả phạm vi, hình thức và nội dung thông tin, tuyên truyền nêu gương các doanh nghiệp làm tốt, phê phán các doanh nghiệp trốn đóng BHXH. Thông tin tuyên truyền phải sát cơ sở, sát người lao động đêr chủ sử dụng lao động và người lao động hiểu được chế độ, chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước và tự giác tham gia BHXH.

    Cơ chế quản lí và chi trả quỹ BHXH được tập trung ở cấp tỉnh, thành phố được đầu tư sinh lợi theo pháp luật của nhà nước. Tuy nhiên, chính phủ cần qui định rõ việc đầu tư này.

    Tổ chức hội đồng quản lí quỹ BHXH cấp tỉnh, thành phố gồm các thành phần: đại diện cơ quan quản lí nhà nước về lao động và tài chính, đại diện cơ quan quản lí BHXH và đại diện người lao động.

    1. Xúc tiến việc thiết lập và mở rộng quan hệ của BHXH Việt Nam với BHXH của các nước khác.

    Công tác này nhằm trao đổi và học hỏi kinh nghiệm của các nước khác giúp cho qúa trình hội nhập với hệ thống bảo hiểm quốc tế mà gần nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Các lĩnh vực về BHXH cần trao đổi như: kinh nghiệm của các ngành, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác bảo hiểm, gia nhập các hiệp hội nhằm hỗ trợ lẫn nhau…

    III. Một số kiến nghị của bản thân.

     

    Cần xây dựng hệ thống BHXH đổi mới độc lập và tập trung với cơ cấu và hoạt động, các chế độ trợ cấp phù hợp .

    Cơ chế quản lí BHXH sớm xây dựng hệ thống tổ chức quản lí riêng biệt và đồng bộ.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên nghiên cứu ban hành mẫu “Thông báo nộp BHXH” với nội dung rõ ràng, cụ thể từ đó giúp cho việc quan lí thuận tiện hơn.

    Nhà nước nên chú trọng và đưa ra BHXH đối với người nông thôn lao động sản xuất trong nông nghiệp.

    Trên đây là một số kiến nghị của bản thân em nhằm giúp cho hệ thống BHXH được hoàn thiện hơn.

    KẾT LUẬN

    Như vậy để có của cải vật chất con người phải lao động, để lao động con người phải có sức khoẻ và khả năng lao động nhất định. Trong thực tế cuộc sống không phảo người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngược lại không mấy ai tránh khỏi những rủi ro bất hạnh như: ốm đau, tai nạn hay già yếu…do ảnh hưởng của tự nhiên, của điều kiện sốngvà sinh hoạt cũng như các nhân tố xã hội khác. Bởi vậy, muốn tồn tại con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết để khắc phục những rủi ro bất hạnh, giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên chỉ đến khi có sự ra đời của bảo hiểm xã hội thì những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất. Vì vậy Bảo hiểm xã hội đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong bản tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10/12/1948 đã nêu:”Tất cả mọi người vơí tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng Bảo hiểm xã hội

    “ Một lần nữa xin khẳng định lại vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và xã hội. Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế ở nước ta đòi hỏi Bảo hiểm xã hội phải thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển. Trong những năm, qua mặc dù Bảo hiểm xã hội có nhữnh bước tiến khả quan bắt đầu khẳng định vai trò của nó nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ.

    Qua thực tế tìm hiểu và thực hiện đề tài này em không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự góp ý của thầy cô để đề án của em hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cám ơn!

    LOI CÁM ƠN !

    Để thực hiện được đề tài này là nhờ sự chỉ bảo không nhỏ của thầy cô phụ trách. Em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Bích Ngọc đã giúp em thực hiện đề tài này. Em cũng xin cám ơn khoa Kinh tế lao động và dân số đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng em thực hiện đề án môn học chuyên ngành.

    DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ BẢNG BIỂU

    1. Danh mục chữ viết tắt

     

    1. Bảo hiểm xã hội: BHXH

     

    1. Cộng hoà xã hội: CHXH

     

    1. Doanh nghiêp: DN

     

    1. Bảo hiểm y tế: BHYT

     

    1. Chính phủ: CP

     

    1. Cộng hoà liên bang: CHLB

     

    1. Cộng hoà: CH

     

    1. Lao động- Thương binh- xã hội: LĐ- TB- XH

     

    II.Danh mục bảng biểu

     

    1. Bảng 1: Thu BHXH

     

    1. Bảng 2: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới

     

    1. Bảng 3: Thu BHXH trên địa bàn Hà Nội

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Bảo hiểm – Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2000
    1. Giáo trình Quản trị nhân lực – Trươờng ĐHKTQD
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 1998
    1. Bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam
    1. Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Hà Nội 2002
    1. Bảo hiểm xã hội – Những điều cần biết / Bộ LĐ- TB- XH
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2001
    1. Nguyễn Hữu Thân- Quản trị nhân sự
      1. Nhà xuất bản thống kê – Tp. HCM 2001
    2. Tạp chí BHXH tháng 1/2003
    3. Tạp chí BHXH tháng 3/2003
    4. Tạp chí BHXH tháng 4/2003
    5. Tạp chí BHXH tháng 5/2003
    6. Tạp chí BHXH tháng 6/2003
    7. Tạp chí BHXH tháng 7/2003
    8. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề II/1999
    9. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề IV/1999
    10. Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 7/2003

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Lời nói đầu

     

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự  đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định  Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu – chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

     

    Phần I. Lý luận chung về BHXH và Quỹ BHXH

    I. Lý luận chung về BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển                    của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    – Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    – Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).

    – Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.

    – Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.

    – Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:

    + Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu  sinh sống thiết yếu của họ.

    + Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.

    + Xây dựng điều kiện  sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.

    – Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.

    – Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    – Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    – Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.

    1. Tính chất của BHXH.

    – Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.

    – BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung  cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.

    – BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    – BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.

    – Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.

    – Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.

    + Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.

    + Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    + Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.

    + Ngành nghề công tác của người lao động

    + Thời gian công tác và tiền lương của người lao động

    + Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp

    + Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.

    + Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.

    – Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. Quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    – Người lao động đóng góp

    – Người sử dụng đóng góp

    – Nhà nước bù thiếu

    – Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    – Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp   rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.

    – Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.

    – Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    – Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.

    – Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    2. Trợ cấp ốm đau
    3. Trợ cấp thất nghiệp
    4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    5. Trợ cấp tuổi già
    6. Trợ cấp gia đình
    7. Trợ cấp sinh đẻ
    8. Trợ cấp khi tàn phế.
    9. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    + Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.

    + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.

    + Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.

    + Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.

    + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.

    + Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.

    + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.

    + Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

     

    Phần II. Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam thực trạng và giải pháp

    I. Khái quát tình hình BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số    văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    + Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ trang.

    + Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    + Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.

    + Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần  ổn định đời sống  cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống  quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ  yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em  ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    – Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.

    – Chính sách  này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.

    – Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực tế.

    – Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia  BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    – Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    – Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.

    – Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước  và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.

    – Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.

    – Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động  sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực  vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. Thực trạng quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại  trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm 6 chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    – Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.

    – Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.

    – Nhà nước hỗ trợ thêm.

    – Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    – Chi quản lý hành chính sự nghiệp

    – Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định  12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    – BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.

    – Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.

    – Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH  thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ (NS/NT)
    1995 2.275.998   788.486  
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc  chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    – Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)

    – Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.

    – Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác  truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.

    – Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    – Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới  ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.

    – Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
    1995 11,3
    1996 8,3
    1997 11,2
    1998 10,0
    1999 9,0

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    + Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.

    + Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.

    + Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.

    + Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.

    – Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ  đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp 11,82 19,68
    Malayxia 9,5 12,75

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo  của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm  vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    – Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.

    – Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.

    – Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    – Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người  lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    + Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH

    + Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ,  thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các  đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách  được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao  hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    – Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.

    – Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    – Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. Các giải pháp nhằm cân đối quỹ BHXH Việt Nam.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.

    – Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.

    – Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.

    – Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    – Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước  thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là  35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.

    1. Với các khoản thu khác.

    – Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.

    – Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.

    – Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.

    – Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    – Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.

    – Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.

    – Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện  mới.

    – ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    Tài liệu tham khảo

     

    – Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)

    – Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)

    Chủ biên PGS. TS Hồ Sĩ Sà

    – Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn

    – Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000

    – Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993

    – Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995

    – Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-VN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                AIA –                    
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%      
        12%                      
                     
                                   
                                   
                                     
    c«ng ty                          
    kh¸c-                          
                           
                      Prudential-  
    18,2%                         34%      
                                     
                                     

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-n%C3%A2ng-cao-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-PR-cho-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D-Prudential.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR (Public Relations_Quan hệ cộng đồng) cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong bối cảnh nền kinh tế Việt nam đang trên đà hội nhập cùng các tổ chức kinh tế thế giới người ta thấy rằng sự tồn tại của một thị trường Bảo hiểm lành mạnh là một yếu tố cấu thành cơ bản cho bất cứ nền kinh tế thành công nào. Nắm bắt được tầm quan trọng đó, chính phủ Việt nam mở cửa cho một ngành mới đó là Ngành Dịch vụ bảo hiểm

    Với mong muốn đáp ứng nhu cầu của thị trường mang lại sự an toàn về tài chính cho khách hàng, tạo sự an tâm trong cuộc sống của người dân Việt Nam,Công ty bảo hiểm PRUDENTIAL đã cung cấp cho thị trường các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phù hợp với điều kiện sống, phong cách sống và văn hoá của người Việt nam. Bên cạnh đó mục tiêu xây dựng một đội ngũ đại lý hùng hậu, chuyên nghiệp, có đạo đức nghề nghiệp, luôn biết đề cao quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu là một trong những mục tiêu của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL

    Một trong những hoạt động quan trọng để tạo nên sự thành công của công ty bảo hiểm đó là hoạt động ” PR (PUBLIC RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” Vì PR là quá trình quản lý về truyên thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của tổ chức cá nhân đó.

    Cho đến nay khái niệm về PR còn khá mới mẻ với mỗi chúng ta cũng như với mỗi doanh nghiệp và khách hàng của họ. Vì thế khi nghiên cứu về đề tài một góc nhìn về ” PR (PUBLIC

     

    RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL trong thị trường bảo hiểm ở việt nam. Do hạn chế về lý luận, về kinh nghiệm thực tế, các mối quan hệ nên bài viết còn nhiều thiếu sót. Rất mong sự giúp đỡ của thầy cô giáo và bạn đọc

    Nội dung của đề tài:

    Chương 1. Tổng quan về PR

    Chương 2. Tổng quan về bảo hiểm.

    Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR của công ty bảo hiểm nhân thọ PRUDENTIAL

     

    2

    Chương 1:TỔNG QUAN VỀ PR

    1.1 KHÁI NIỆM PR

    PR theo tiếng Anh là PUBLIC RELATIONS tuy nhiên dịch sang tiếng việt thì chưa có sự thống nhất, có thể dịch là quan hệ cộng đồng, quan hệ công chúng, giao tế nhân sự…

    Nếu ta gọi PR là quan hệ công chúng thì chưa đủ vì PR còn bao gồm các nghiệp vụ trong đó có Government relations (Government affair), industry relation… Trong các nghiệp vụ này không thể coi các nhóm cộng đồng đồng nghiệp hay các nhóm quan chức chính trị là các nhóm công chúng. Cụm từ giao tế nhân sự thì không ổn vì bản chất của PR là để giải quyết vấn đề thông tin giữa người với người chứ không phải để giải quyết vấn đề nhân sự vốn là nghiệp vụ của ngành nhân sự. Như vậy có lẽ cụm từ quan hệ cộng đồng là thích hợp hơn cả. Và khắc phục điểm yếu của các cách dịch khác .

    Vậy PR là gì?

    Theo Rex Halow một trong những học giả hàng đầu về PR cho rằng có đến hơn 100 định nghĩa khác nhau về PR. Nhưng các định nghĩa đều đi đến sự thống nhất với nhau. PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giưã một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của cá nhân đó”

    PR ra đời khi nào và ở đâu?

    PR ra đời vào cuối thế kỷ 19 xuất hiện ở Mỹ bởi một số nhà báo tiến bộ. Sau này nó được phổ biến ở các nước Châu Âu và gần đây nhất là ở Châu á khi các khái niệm và nội dung của nó gần được hoàn chỉnh.

    • Việt nam khái niệm này chỉ được biết đến trong một vài năm gần đây. nó còn khá mới mẻ và chưa thực sự trở thành một công cụ

    3

    quan trọng, hiệu quả trong quá trình hoạt động và kinh doanh của doanh nghiệp.

    Ngày nay người ta coi PR là bạn đồng hành của quảng cáo trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu. PR,cũng như quảng cáo, là một trong những nội dung của hoạt động truyền thông marketing. Nhưng trong khi quảng cáo trực tiếp giới thiệu về một tổ chức ,một sản phẩm cụ thể,thì PR có thể đi từ việc gây dựng nhận thức của cộng đồng về tổ chức hoặc sản phẩm đó,từ đó mà tạo nên hình ảnh,uy tín và hiệu quả cần thiết .PR vì vậy xét trên bình diện chung,có tác dụng lâu bền và hiệu quả hơn so với quảng cáo. 2/3 các vị giám đốc Marketing và giám đốc nhãn hiệu ở Mỹ tin rằng PR giữ vai trò quan trọng hơn quảng cáo trong việc xây dựng và quảng bá danh hiệu (” Nguồn marketing report 1999″).

    • Việt Nam ,PR được biết đến sau quảng cáo một thời gian khá dài,do đó trong khi chưa hiểu hết về PR,có nhiều người đã luôn
    • ánh đồng hai khái niệm đó thành một.Xét về chức năng,PR có những nghiệp vụ liên quan đến việc thu thập thông tin đầu vào và xử lí thông tin đầu ra.PR cũng làm một trong những nhiệm vụ đặc biệt là quảng bá cho hình ảnh của tổ chức (đôi khi người ta sử dụng cụm từ”đánh bóng thương hiệu”là chưa chính xác,vì PR khong chỉ
    • ánh bóng mà còn là một trong những bên tham gia chính trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu).Tuy nhiên ,những việc mà PR

    làm cũng như mục tiêu ,tính chất ,cách thức…của những việc đó cũng không hề giống quảng cáo nên không thể nói PR là quảng cáo hay một phần của quảng cáo.Điểm được coi là khác biệt lớn nhất giữa PR và quảng cáo đó là:quảng cáo bắt buộc phải trả tiền về địa

    • iểm hay thời gian của các phương tiện truyền tin còn PR thì không.

    Giám đốc một công ty quảng cáo(trước kia cũng làm về PR )đã từng nói: làm quảng cáo dễ hơn vì khái niệm quảng cáo đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam quen thuộc hơn rất nhiều.Tìm kiếm ngân

    4

    sách cho quảng cáo cũng thông thoáng hơn.Thực tế là có rất ít các doanh nghiệp Việt Nam làm PR hay có những bộ phận chuyên làm các hoạt động PR mà trong khi ngân sách dành cho quảng cáo thì ngày càng tăng.

    Vì sao?

    Theo tôi,điều này cũng là dễ hiểu vì ba lí do sau:thứ nhất, quảng cáo xuất hiện đã khá lâu rồi nên ai cũng có thể thấy và công nhận hiệu quả mà quảng cáo đem lại trong khi đó PR có quá ít thời gian để chứng tỏ điều đó;thứ hai ,nội dung về PR chưa được phổ biến và hoàn chỉnh ở Việt Nam ;thứ ba ,do nguồn ngân sách của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.

    Thực ra công việc quan hệ với giới báo chí cũng là một hoạt động của PR, ngoài ra còn rất nhiều các hoạt động khác. Xét về nguồn gốc xuất xứ, người ta cho rằng PR bắt nguồn từ báo chí. Cho đến nay, các trường dạy báo chí phương Tây cũng chính là nơi đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho ngành PR. Học viên học các môn cơ sở như nhau, sau đó người học PR sẽ được đào tạo chuyên sâu thêm những nghiệp vụ của ngành đó để làm việc chuyên môn. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một trường nào đào tạo chính thức và riêng rẽ về PR.Các cuốn sách viết về PR cũng chưa được xuất bản.Có thể nói chúng ta đang vừa học vừa làm PR. Trong thời gian sắp tới sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp đi tiên phong xây dựng nền tảng cho hoạt động PR ở Việt Nam.

    5

    1.2 VAI TRÒ CỦA PR

    Bằng những công việc cụ thể của mình, vai trò chính của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu.Ví dụ như tã lót Huggies đang tổ chức một chương trình PR rộng rãi được quảng cáo khá rầm rộ”Bé huggies năng động”, hoặc Unilever vận động chương trình “Gởi tặng đồng phục đi học mà bạn không dùng nữa cho bột giặt OMO” gửi cho các nữ sinh ở các vùng xa. Chương trình này có tính từ thiện, phục vụ cho cộng đồng nên đã tranh thủ được thiện cảm của công chúng. Hơn nữa, thông điệp PR ít mang tính thương mại do sử dụng các phương tiện trung gian như các hoạt động tài trợ, từ thiện, hoặc các bài viết trên báo, vì chứa đựng lượng thông tin phong phú nên dễ gây cảm tình và dễ được công chúng chấp nhận. Ví dụ các trường đại học trong và ngoài nước tham gia triển lãm “Ngày hội đào tạo và việc làm” tại khách sạn New World, do sứ quán Pháp tài trợ kinh phí nhằm mục đích tiếp cận với các đối tượng, quảng bá các chương trình đào tạo của họ. Tại triển lãm này, chính hoạt động PR đã giúp cho trường đại học chuyển tải nhiều thông tin cụ thể đến các đối tượng có liên quan.

    PR đặc biệt hữu hiệu trong các trường hợp:

    -Tung ra sản phẩm mới

    -Làm mới sản phẩm cũ

    -Nâng cao uy tín

    -Doanh nghiệp có ngân sách hạn chế

    -Doanh nghiệp gặp khủng hoảng

    Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể kể ngay ra sau đây ba lợi ích chính của hoạt động PR:

    • PR là phương cách tốt nhất để chuẩn bị và tạo những dư luận tốt. Quảng cáo không làm được việc này. Marketing cũng vậy. PR làm rất tốt công việc

    6

    này.PR giúp doanh nghiệp tạo dư luận tốt thông qua sự ủng hộ của giới truyền thông và các chuyên gia phân tích thương mại. Giữa hoạt động PR và Quảng cáo, phương pháp nào hiệu quả hơn-lựa chọn một mẫu quảng cáo về sản phẩm mới hay một bài báo hay viết về sản phẩm đó? Quảng cáo tuy dễ gây ấn tượng nhưng không dễ dàng thuyết phục công chúng tin. Về mặt này thì không chỉ đúng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà nó luôn đúng với bất kì doanh nghiệp nào.

    • Chi phí cho hoạt động PR thấp hơn các loại hình khuyến mãi khác. Khi so sánh chi phí cho chiến dịch tiếp thị trực tiếp hoặc đăng một mẫu quảng cáo với chi phí cho một thông cáo báo chí, đương nhiên mẫu thông cáo báo chí sẽ có chi phí thấp hơn khá nhiều trong khi lại thu hút được lượng công chúng rộng rãi hơn.

    Vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ không còn phải quá lo về chuyện ngân sách dành cho PR trong khi vẫn có thể từng bước xây dựng chỗ đứng của công ty trên thị trường

    • PR giúp doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực tài giỏi. Thông thường người lao động thích được làm việc cho những công ty nổi tiếng vì họ tin tưởng là công ty đó rất vững chắc và họ có thể có nhiều cơ hội thăng tiến.

    Hơn nữa, làm PR sẽ giúp cho doanh nghiệp vượt qua những sóng gió và những cơn bão táp. Khi có khủng hoảng, doanh nghiệp đó sẽ tìm được sự ủng hộ,bênh vực, hỗ trợ từ phía cộng đồng(đây là điều kì diệu mà không thể mua được bằng tiền) trong việc cứu vãn uy tín và giữ gìn nguyên vẹn hình ảnh của doanh nghiệp.

    1.3 KHÍA CẠNH XÃ HỘI CỦA PR

    Hoạt động PR chính là việc tạo ra một nhịp cầu thông tin ,tạo ra sự hiểu biết và thông cảm trong một xã hội đầy phức tạp như hiện nay

    Mỗi xẵ hội thì đều được cấu tạo nên từ rất nhiều cá nhân, mỗi cá nhân lại là những cá thể khác biệt,không cá nhân nào giống cá nhân nào về nhận thức,trình

    7

    độ ,lối sống,ý niệm….Vậy nên việc thống nhất suy nghĩ của xã hội về một vấn đề

    nào đó là vô cùng khó khăn.

    Chúng ta cùng quay trở lại với chiến dịch quyên góp áo trắng đi học của Unilever. Đây cũng chỉ là cách mà công ty lựa chọn để gắn hình ảnh bột giặt Omo với những chiếc áo trắng nhưng cái cách mà Omo quyên góp cho các học sinh nghèo đã tác động tới tình nhân ái, lòng trắc ẩn, sự yêu thương của con người đối với con người.Thông điệp mà Unilever sử dụng đã thuyết phục được mọi người, thúc giục mọi người hưởng ứng,chiếm trọn lòng tin yêu của cả xã hội.

    Các chiến dịch tranh cử tổng thống thuộc loại rầm rộ nhất như ở Mỹ cũng chính là các chiến dịch PR tổng lực với sự vận dụng các kĩ năng, các loại hình hoạt động PR cho mục tiêu chính trị. Qua đó công chúng sẽ có được những nhận thức công bằng và chính xác hơn cả về những ứng cử viên, ngược lại các ứng cử viên cũng có thể truyền đạt những thông điệp của mình một cách nhanh chóng và rộng rãi nhất.Lợi ích xã hội trong trường hợp này rất được đề cao khi mà công chúng có thể ‘chọn mặt gửi vàng ‘, chọn ra được người xứng đáng nhất, người sẽ đem lại lợi ích cho chính họ và cho cả xã hội. Kể cả sau khi được trúng cử, PR vẫn được xem trọng. Những cuộc họp báo chớp nhoáng ngay sau mỗi cuộc họp, hội đàm ở Vườn hồng của tổng thống Mỹ cũng chính là một ví dụ. Không chỉ các quĩ, hội, các chính trị gia mà ngay cả cảnh sát, nhà thờ, trường học…cũng cần PR cho những mục tiêu của mình và vì sự thông hiểu với cộng đồng nói chung.

    Ví như WWF (World Wild Fund_Quĩ quốc tế vè bảo vệ thiên nhiên)có tới

    • triệu hội viên trên toàn cầu và mỗi hội viên đó chỉ cần đóng góp 1 USD thì trong nháy mắt,WWF đã có một số tiền khổng lồ là 47 triệu USD. Nhưng các hội viên này đâu có góp tiền một cách dễ dàng. Họ phải được biết số tiền mình góp đã và sẽ được dùng làm gì ? Đem lại hiệu quả ra sao? Ở đâu và khi nào? Như vậy trong việc này nhất thiết phải có sự góp mặt của PR. PR sẽ tạo ra một

    8

    sự thông hiểu toàn diện sâu sắc và đúng đắn nhất giữa hội viên_tổ chức và cộng đồng nói chung nhằm làm cho các dự án ngày một phát triển.

    Có thể nói rằng PR hoạt động nhờ xã hội và hoạt động vì xã hội.

    1.4 PR SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

    • Các mối Quan hệ báo chí, các hoạt động hỗ trợ, các hoạt động khuyến mại tài trợ , triển lãm hội chợ, các mối quan hệ với các cơ quan chức năng, xử lý thông tin khủng hoảng và các hoạt động hỗ trợ khác

    *Các hoạt động hỗ trợ

     

    Bao gồm việc tổ chức các lễ kỉ niệm hay các buổi giới thiệu sản phẩm dịch vụ hay ra mắt các công ty mới.

     

    Công cụ nay đòi hỏi một chi phí cao hơn và sự chuẩn bị kĩ lưỡng hơn. Hiện nay đã xuất hiện một số công ty chuyên làm về PR ở Việt Nam. Các công ty, doanh nghiệp thiếu nhân lực, thiếu kinh nghiệm hay ý tưởng thì có thể thuê các công ty này, và hãy tin tưởng vào tính chuyên nghiệp của họ. Công ty ACV communications là một ví dụ. Ngoài ra, có thể kể đến Thiên Ngân, Max communications, Starlit…Cũng còn có rất nhiều công ty tuy không chuyên hẳn về PR nhưng vẫn có thể làm PR khi có khách hàng. Đối với các công ty này, PR chỉ là một dịch vụ hỗ trợ bên cạnh những dịch vụ khác mà họ cung cấp cho khách hàng. Hầu hết các công ty này kinh doanh trong nghề quảng cáo, in ấn hoặc tư vấn đầu tư. Trên thực tế, đã có rất nhiều công ty PR mở ra hoạt động được một thời gian ngắn rồi nhanh chóng chuyển sang làm công việc khác. Một thực tế cũng đáng lưu tâm là, tại Việt Nam, dù đã có nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn,nhưng điểm mặt các anh tài của ngành PR thế giới cũng chỉ có vài công ty như Ogilvy & Mather hay Batey Bum.Giải thích về việc này ,Bùi Quang Huy, một nhân viên PR lâu năm nay làm việc tại một công ty quảng cáo cho rằng:lí do là vì thị trường của ngành PR ở Việt Nam còn rất nhỏ bé và công việc PR không ngon ăn như nhiều người vẫn lầm tưởng. Thị trường nhỏ bé như vậy, nên mặc dù số lượng không lớn, nhưng các công ty PR phải đối mặt với sự cạnh tranh khá quyết liệt. Do đặc thù của công việc PR, nên cạnh tranh về giá chưa

    9

    phải là tất cả, bởi những công ty đã bỏ tiền ra để thuê PR, điều mà họ quan tâm trước hết là chất lượng dịch vụ và hiệu quả của công việc. Không ở nghành kinh doanh nào mà ý nghĩa của câu “Thành công của khách hàng chính là thành công của chúng tôi” lại đúng như vậy. Công ty PR có thể nhanh chóng gây dựng được uy tín sau một vài lần tổ chức thành công chương trình PR cho khách hàng nhưng cũng có thể mất uy tín với tốc độ tương đương .Tuy nhiên Việt Nam vẫn là một thị trường tiềm năng đối với ngành PR. Mặc dù đầu tư nước ngoài vào Việt Nam những năm gần đây không tăng , nhưng nhiều công ty PR vẫn tìm thay lượng khách hàng tương đối ổn định. Một phần vì lượng kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn, phần khác vì họ ngày càng nhận thức được giá trị của PR trong công việc kinh doanh .

    Như vậy các công ty PR chỉ tập trung tìm kiếm khách hàng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( chủ yếu là các doanh nghiệp lớn) và một số ít doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp này thường chọn mặt gửi vàng, hoặc là sử dụng các công ty PR nước ngoài, hoặc là dùng các công ty PR đã thành danh trên thị trường. Do vậy để bắt đầu kinh doanh trong ngành PR ,những sáng lập viên của các công ty thường là các cựu nhân viên PR của các công ty PR hoặc nhân viên PR từ các công ty nước ngoài

    .Với các mối quan hệ sẵn có, cộng với kinh nghiệm làm việc,họ sẽ dần dần tạo dựng được danh tiếng và thị phần cho mình.

    Quay trở lại công ty Pepsi – IBC, với mục đích giới thiệu sản phẩm mới Aquafina, họ đã khẳng định mình bằng một ‘bữa tiệc’ văn hoá, nghệ thuật rất quy mô, hoành tráng và hoàn hảo cả về khâu tổ chức lẫn chất lượng chương trình. Có thể coi đây là một bước ngoặt về hoạt động PR tại Việt Nam .Ngoài các buổi lễ kỉ niệm ,ra mắt sản phẩm mới, còn có các buổi lễ đón nhận huân chương, bằng khen ,chứng nhận hay chứng chỉ về tiêu chuẩn chất lượng. Tất cả đều mang đến cho các doanh nghiệp những ‘điểm tốt’, tạo uy tín và hình ảnh cho các doanh nghiệp này trong tương lai.

    * Quan hệ báo chí

    10

    Quan hệ báo chí bao gồm nhiều hoạt động khác nhau từ việc viết thông cáo báo chí, đặt bài viết đăng báo hay tạp chí cho tới việc tổ chức các cuộc phỏng vấn với phóng viên báo, đài phát thanh, truyền hình cũng như tổ chức các cuộc họp báo để đưa ra các thông báo đặc biệt.

    Chi phí cho hoạt động này được coi là thấp so với các hoạt động khác của PR và cho quảng cáo. Trong khi tác dụng của nó lại rất đáng kể và có mức độ bao phủ rất lớn. Ngày nay báo, đài, truyền hình là những phương tiện truyền tin thông dụng, phổ biến và hiệu quả nhất ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác.

    Đa phần các doanh nghiệp khi bước đầu làm PR thì đều thực hiện quan hệ báo chí trước tiên vì rất dễ thành công với chi phí thấp.Nói chung với hoạt động này, các doanh nghiệp có thể tự mình thực hiện, ít khi phải thuê ngoài. Đó cũng là cái cách mà doanh nghiệp được tự thể hiện mình và thuyết phục lòng tin của đối tượng mục tiêu.

    Công ty Pepsi-ICB đã làm rất tốt việc này khi cho ra mắt sản phẩm mới nước tinh khiết Aquafina. Đồng thời tiến hành với buổi trình diễn ra mắt hoành tráng, một bài trò chuyện phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Phạm Phú Ngọc Trai _giám đốc công ty cũng được đăng tải trên Thời báo kinh tế Sài Gòn. Những ưu điểm, khác biệt và một hình ảnh mới trên thị trường nước tinh khiết được nhắc đến và khuyến dụ công chúng hãy cảm nhận. Qua bài báo này, những thông tin về tăng trưởng, thị phần, những chỉ số về thành phần, tiêu chuẩn chất lượng…được công bố cụ thể và rõ ràng đã tạo nên cảm giác tin tưởng,mong đợi , kì vọng đối với công chúng nhận tin và ai cũng sẵn sàng đón nhận “âm thanh của sự tinh khiết”.

    Không chỉ đối với lĩnh vực kinh tế, người ta còn sử dụng công cụ này trong cả các lĩnh vực khác như ca nhạc, phim ảnh, các hoạt động xã hội, chính trị nữa. Và nó đều phát huy được tác dụng của mình.

    *Khuyến mãi

    11

    Tổ chức và thực hiện các cuộc khuyến mãi và cạnh tranh- thường là trên báo chí hay trên bao bì các sản phẩm, hoặc trực tiếp qua thư từ. Tất cả nhằm giới thiệu tên của một tổ chức và các thông tin kèm theo nó.

    Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp cần phải kích thích tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn nữa, và nhắc nhở, khuấy động lại tâm trí của công chúng về sản phẩm cũng. Như công ty , doanh nghiệp .

    12

    *Tổ chức triển lãm, hội chợ

    Đó là việc thiết kế và xây dựng các gian hàng trưng bày tại các cuộc triển lãm. Ngoài việc phải làm thật bắt mắt,các doanh nghiệp cũng cần phải thổi được cái hồn, triết lí kinh doanh cũng như thông điệp của mình tới khách hàng.

    Trong một vài năm gần đây, người dân Việt Nam đã dần có được cái thói quen đi tới các cuộc triển lãm, họ không những xem mà còn dùng thử và mua một lượng hàng hoá khá lớn tại đây. Như vậy công cụ này đang có một điều kiện rất thuận lợi để thành công,các doanh nghiệp Việt Nam cần chớp ngay cơ hội sẵn có này.

    *Tài trợ

    Tức là phải làm các công việc đánh giá các chương trình tài trợ, chuẩn bị hợp đồng và các lễ kí, đảm bảo việc thực hiện hợp đồng đồng thời thông báo rộng rãi về hoạt động tài trợ.

    Các hoạt động tài trợ thu hút được đông đảo công chúng thường là tài trợ cho các chương trình giải trí trên truyền hình,radio,các quĩ học bổng, quĩ cho người nghèo,các cuộc thi mang tính cộng đồng cao…

    Trên truyền hình, OMO khá nhanh chân khi giành phần tài trợ cho chương trình “Chiếc nón kì diệu”một chương trình giải trí được coi là ăn khách nhất hiện nay thể hiện bằng số lượng người tham gia và số lượng người xem chương trình.

    Công cụ này cũng đòi hỏi công ty, doanh nghiệp phải có nguồn tài chính khá dư dật vì công việc này không thể làm một vài lần rồi thôi mà phải liên tục, lâu dài thì mới phát huy được hiệu quả của nó.

    *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Bao gồm việc thiết kế, viết và làm các tờ rơi các bản tin và các vật liệu quảng cáo đặc biệt.

    Công việc này công ty nên thuê ngoài do sự cần thiết của tính chính xác,chuyên nghiệp và chi phí cho nó không lớn lắm.

    13

    • trên, tôi đã có nói tới một tổng công ty tự mình làm công việc PR(in sách giới thiệu ) và kết quả là không thu được hiệu quả do lỗi kĩ thuật. Công ty tuy đã nhận thức được tầm quan trọng của công việc này nhưng do quá chủ quan vì nghĩ rằng quá dễ để làm nên mới phải chịu thiệt hại (cả về vật chất,thời gian,công sức cũng như uy tín của công ty ) như vậy .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Làm việc với các bộ, ban, ngành, các tổ chức thương mại và môi trường, đảng phái chính trị để giới thiệu về một số tổ chức và quan điểm của tổ chức đó nhằm tác động đến phản ứng của các tổ chức và cơ quan này. Hoạt động này rất quan trọng đối với những thị trường bị điều tiết nhiều như ở Việt Nam .

    *Xử lý thông tin khủng hoảng

    Chuẩn bị phương án dự phòng cho trường hợp xảy ra rủi ro và khủng hoảng. Chuẩn bị những sổ tay đề phòng rủi ro- những biện pháp đối phó khi có rủi ro và khủng hoảng,tổ chức các khoá học cho các nhà quản lý. Đặc biệt đưa ra những hỗ trợ cần thiết trong trường hợp khẩn cấp.

    14

    Chương 2: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

    2.1.THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1.1 Khái niệm về công ty bảo hiểm.

    Sự tồn tại tất yếu của các rủi ro trong cuộc sống là nguồn gốc của hoạt động bảo hiểm. Thoạt đầu các hoạt động bảo hiểm ra đời do nhu cầu ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống với chức năng chủ yếu là phòng ngừa khắc phục các rủi ro và tai nạn bất ngờ. Nhưng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường các tổ chức bảo hiểm tồn tại không chỉ với tính chất là bảo hiểm rủi ro mà còn là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường tài chính.

    Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính mà hoạt động chủ yếu là nhằm bảo vệ cho những người có hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro về tử vong, thương tật, tuổi già, tài sản hoặc các rủi ro khác

    Sự tồn tại và phát triển của các tổ chức bảo hiểm là tất yếu khi con người hàng ngày phải đối mặt với những lĩnh vực làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính cá nhân. Đó có thể là một tai nạn, vụ cháy, mất mát tài sản, căn bệnh hiểm nghèo. Để chống đỡ những rủi ro người ta tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm.

    Dựa vào nguyên tắc phân tán rủi ro theo quy luật số lớn, các tổ chức bảo hiểm có khả năng bù đắp rủi ro tài chính cho các khách hàng. Các hoạt động bảo hiểm có thể do các công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp hoặc do các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản cung cấp.

    Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm – người bán dịch vụ đối với người mua – người tham gia,về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm cho những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm. Như vậy, lời cam kết là sản phẩm vô hình mà cả người bán lẫn người mua không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu sắc…Tuy nhiên người mua tin vào lời hứa,sự cam kết của người bán vì nhờ vào sự hoạt động marketing của người bán.

    Người tham gia bảo hiểm không mong đợi sự cố bảo hiểm xảy ra đối với mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm trừ bảo hiểm ngân thọ, bảo hiểm

    15

    hưu trí. Hơn nữa, “Giá trị sử dụng “của sản phẩm bảo hiểm không phát huy tác dụng ngay sau khi người mua bảo hiểm trả tiền, trả phí mà phải qua thời gian dài, có khi khá dài (bảo hiểm nhân thọ). Vì vậy, người mua bảo hiểm không “mong đợi “sản phẩm bảo hiểm phát huy tác dụng đối với mình .

    Người mua sản phẩm bảo hiểm thu được phí bảo hiểm từ người mua nhưng “anh ta” có thể bồi thường và cũng có thể không ; có thể bồi thường ngay sau khi bán cũng có thể sau thời gian dài, nhất là trong bảo hiểm nhân thọ .Vì vậy, có thể nói rất khó xác định hiệu quả kinh doanh trong thời kỳ nhất định ( thường là 1 năm ).

    Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền

    Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng sao chép các dạng sản phẩm của các nước, thậm chí của đối thủ cạnh tranh một cách máy móc ( trừ tên của mình ).

    Chính những đặc điểm này khẳng định lại một điều: sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm rất khó bán. Một bài toán khó đặt ra cho các công ty bảo hiểm là làm cách nào để có thể đẩy mạnh được việc tiêu thụ sản phẩm ‘khó bán’ này trên thị trường .

    2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Tăng trưởng nhanh, cạnh tranh quyết liệt ” đó là thực tiễn ngắn gọn chính xác nhưng đầy đủ để nói về thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay.

    Năm Doanh thu phí (tỷ VNĐ) % so với năm trước
         
    1994 741 100%
         
    1995 1026 138%
         
    1996 1253 122%
         
    1997 1450 123%
         
    1998 1715 118%
         

    Nghị định 100/NĐ – CP/ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm đã chấm dứt thời kỳ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm ở Việt nam . Một thời kỳ

    16

    bảo hiểm với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá về loại hình công ty bảo hiểm đã được hình thành. Tính đến nay, trên thị trường bảo hiểm ở Việt nam đã có 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế (trong đó có 4 DNNN, 3 Công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 4 công ty 100% vốn nước ngoài, 2 công ty môi giới bảo hiểm, 1 công ty tái bảo hiểm Quốc gia). Và trên 40 văn phòng đại diện của các công ty đại diện quốc tế đặt tại Việt nam cùng cung cấp 90sản phẩm bảo hiểm khác nhau.

    Trong 2 -3 năm trở lại đây trên thị trường bảo hiểm Việt nam phát triển với tốc độ nhanh chóng. Nếu như năm 1994 doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường chỉ đạt 741 tỷ VNĐ thì đến năm 2002 con số này đã lên tới 4600 tỷ VNĐ xấp xỉ bằng 1,93% GDP trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 2500 tỷ VNĐ chiếm 58,6% tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 3180tỷ VNĐ. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ở Việt Nam so với GDP bằng 0,6%, các nứoc khác là 2,4% GDP.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những tháng đầu năm 2001 đã có bước tăng trưởng vượt bậc so với cùng kì này năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ( nhân thọ và phi nhân thọ ) toàn thị trường trong 6 tháng đầu năm đạt 2.264 tỷ VND tăng 67,5% so với 6 tháng đầu năm 2000,trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 1.014 tỷ VND tăng trên 19% cùng kỳ năm 2000. Đáng chú ý là lần đầu tiên trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua doanh thu phi bảo hiểm phi nhân thọ về giá trị tuyệt đối và chắc chắn trong thời gian tới sẽ còn tiếp tục tăng trưởng mạnh.Điều này đã được dự đoán trước, khi mà bước sang năm 2000, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngoài Bảo Việt được phép triển khai hoạt động bảo hiểm nhân thọ theo quyết định số 281/TC/TCNH ngày 20/3/1996 của Bộ Tài Chính, đã có thêm một số doanh nghiệp được cấp phép hoạt động. Đó là: Chinfon Manulife từ tháng 6/1999 ; Prudential; Bảo Minh – CMG từ tháng 10/1999 và AIA từ tháng 2/2000. Như vậy, trong năm 2000, thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng ở Việt Nam đã ‘nóng’ lên.

    17

    • Tính đến 31/12/2000, lực lượng cán bộ làm việc trong các công ty bảo hiểm nhân thọ, đại lý tư vấn và khai thác bảo hiểm là gần 15.000 người, tăng lên gấp trên 3 lần so với trước năm 1999.Như vậy thị trường bảo hiểm nhân thọ đã thu hút một số lượng lớn lực lượng lao động xã hội, giải quyết lao động xã hội và gánh nặng về việc làm cho xã hội .

    2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ

    • Doanh thu phí bảo hiểm Việt nam trong 10 năm qua.

    Ra đời năm 1997 nhưng hai năm trở lại đây thị trường bảo hiểm nhân thọ đặc biệt sôi động với sự đua tranh của 5 công ty bảo hiểm dẫn đầu là Bảo Việt, kế đến là Prudential, Manulife, AIA, & cuối cùng là Bảo Minh CMG. Trong 9 tháng năm 2002 tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt 3261tỷ đồng tăng 89,93% so với cùng kỳ năm 2001. Cũng trong 9 tháng năm 2002, số bản hợp đồng khai thác mới của toàn thị trường đạt 913309 hợp đồng tăng 23,93% so với cùng kỳ năm 2001; số bản hợp đồng đang có hiệu lực tính đến 30/9/2002 đạt 2853484 hợp đồng tăng 59,56% so với cùng kỳ năm trước.

    Xếp về thị phần Bảo Việt vẫn dẫn đầu thị trường với 48,28%, tiếp đến là Prudential là 34,12%, Manulife 11,47%, AIA 4,49%, cuối cùng là Bảo Minh 1,64%. Về tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm thì AIA đạt tốc độ cao nhất 121,95% thứ 2 là Bảo Minh 106,31%, Prudential là 103,28% Manulife 91,54% cuối cùng là Bảo Việt 78,42%

    Số đại lý bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường tăng 77,81%. Tính đến hết ngày 30/9/2002 tổng số đại lý nhân thọ là 63084 người. Trong đó cùng kỳ năm 2001 mới chỉ có 35479 người. Ngoài kênh phân phối chính là các đại lý, các công ty bảo hiểm còn bán bảo hiểm qua mạng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tung ra nhiều sản phẩm mới với thủ tục đơn giản tạo được niềm tin với khách hàng.

    -Khách hàng đã nhận thức đầy đủ hơn về lợi ích của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ .Bằng chứng là đã có khoảng 800.000 hợp đồng bảo hiểm được ký kết và đang có hiệu lực. Tương ứng với số lượng hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tích luỹ đến ngày 31/12/2000 đã vượt

    18

    qua con số 2000 tỷ đồng.Với doanh thu phí bảo hiểm như vậy, có thể bước đầu khẳng định, bảo hiểm nhân thọ là một trong những công cụ taì chính vô cùng quan trọng và có hiệu quả nhằm “hút ” vốn trong dân cư, để “bơm ” trở lại các dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trong nước. Đây chính là lý do tại các nước có nền kinh tế phát triển ,chính sách phát triển hoạt động bảo hiểm của các cy bảo hiểm trong nước luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế đất nước và được chính phủ rất quan tâm .

    -Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã tiến hành các hoạt động xã hội như:hỗ trợ cho các vùng bị thiên tai lũ lụt và nhằm khuyến khích phát triển tài năng ngày một nhiều hơn…

    Đồng thời với sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ, nhận thức về bảo hiểm trong dân cư đã nâng lên rõ rệt. Thay vì thói quen lảng tránh sự thật ” Cuộc sống luôn phải đối mặt với những rủi ro “, người dân Việt Nam đã dần dần thừa nhận rủi ro trong cuộc sống là điều không ai muốn nhưng vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy,đã có gần 1 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho cá nhân và gia đình họ. Sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng đã thúc đẩy tiết kiệm trong dân cư.Bởi lẽ sẽ không có ai đi gửi tiết kiệm 50.000 hay 100.000 đồng ,nhưng người dân đã tiết kiệm được số tiền này từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

    Nhìn chung các hoạt động của các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt nam đã đạt được một số các thành công xong điều đó còn quá nhỏ so với nước 80 triệu dân và so với các nước trong khu vực và thế giới. Yếu tố hàng đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt nam thời gian qua làm mức thu nhập của dân cư đã tăng lên rõ rệt, thêm vào đó là sự nhìn nhận về công ty bảo hiểm của dân chúng đã tích cực hơn nhiều. Với tính tích cự

    • như vậy hy vọng trong tương lai các công ty bảo hiểm nhân thọ còn phát triển hơn nữa.

    * Bảo hiểm phi nhân thọ

    Trong 9 tháng năm 2002 nhờ những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế tổng mức doanh thu phí toàn thị trường đạt 2217591,06 triệu đồng tăng 44,39%

    19

    so với cùng kỳ năm 2001 (1535799,06 triệu đồng ) xét về tốc độ tăng trưởng PVinsurance đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất là 191,91% Allianz đứng thứ 2 92,39% Bảo Minh 59,14%, Bảo Việt PJICO, PTI, Việt úc duy trì mức khá, còn UIC đạt mức tăng trưởng hơi thấp 3,88%. Doanh thu phí Bảo Việt vẫn đứng đầu trong 9tháng đạt 859620 triệu đồng. Doanh thu phí của PVinsurance tiếp tục tăng do phí bảo hiểm dầu khí của thị trường thế giới tiếp tục biến động từ quý 2 năm 2002. Về thị phần, Bảo Việt vẫn đứng đầu thị trường với 38,16% Tiếp đến là Bảo Minh. Việc Bảo Minh giảm tỷ lệ thị phần không có gì ngạc nhiên bởi chịu sự ảnh hưởng của việc tăng mạnh thị phần của PVinsurance, mặc dù doanh thu phí của Bảo Minh vẫn tương đương so với quý 2 năm 2002.

    Tình hình tổn thất xảy ra trong 2002 không có gì biến động lớn so với 2001. ước tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1200 tỷ VNĐ = 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm. Tuy nhiên trước đây chưa từng được quan tâm nhưng tổn thất xảy ra lại rất lớn như vụ cháy toà nhà ITC ( Thành phố HCM ) ngày 29/10, tình hình tai nạn giao thông đã đến hồi báo động. Đó chính là những lĩnh vực đòi hỏi các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cần triển khai mạnh hơn và có những biện pháp phòng ngữa hữu hiệu hơn.

        Bảo     Bảo hiểm Bảo Bảo Bảo
        hiểm Bảo Bảo hiểm hiểm
        gián đọan hiểm tài
    TT Doanh nghiệp sức hiểm xe hiểm hàng hoá thân tàu
        khoẻ và cơ giới cháy nổ kinh vận và TNDS sản và
        doanh thiệt hại
        TNCN       chuyển chủ tàu  
                     
    1 Allianz/ AGF 0,28% 0,11 0,63 12,62 0,58 0,00 12,54
                     
    2 Bảo Long 0,84 1,69 2,36 0 3,82 0,8 0,17
                     
    3 Bảo Minh 13,16 30,73 25,91 36,57 21,92 22,26 38,27
                     
    4 Bảo việt 74,28 52,44 49,56 23,62 41,37 41,28 14,54
                     
    5 PJICO 4,4 9,14 7,59 0,24 12,73 9,93 2,13
                     
    6 PTI 1,89 3,12 2,24 0 2,96 0 7,41
                     
    7 PVinsurance 2,74 1,18 1,07 0 8,41 25,01 22,07
                     
    8 UIC 1,04 0,76 8,75 12,71 4,19 0,51 0,73
                     
    9 VIA 1,32 0,75 1,26 10,09 2,79 0,22 1,36
                     

    20

    10 Việt úc 0,07 0,07 0,64 4,16 1,21 0 0,78
                     

    21

    Trong số các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tới 40% so với 6 tháng đầu năm 2000. Sở dĩ nghiệp vụ này tăng trưởng mạnh vì những hoạt động sôi nổi trở lại trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.trên thềm lục địa Việt Nam. Nghiệp vụ hàng không cũng tăng trung bình 25%,chủ yếu là do xu hướng tăng phí đồng loạt trên thị trường thế giới để bù đắp cho những tổn thất trong một vài năm gần đây.Hãng hàng không Việt Nam cũng có tỷ lệ tổn thất tới 200% ,do đó việc tăng phí trong năm 2001 là tất yếu..

    Trong khai thác bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ đã có nhiều cố gắng tăng cường tiếp cận các khách hàng mới, đặc biệt như trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá XNK,kim ngạch bảo hiểm hàng hoá trong 6 tháng đầu năm đạt 3,55 tỷ USD, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ năm 1999 và tăng 26% so với cùng kỳ năm2000. Đây là một nỗ lực đáng kể của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hoá nhằm nâng cao tỷ lệ kim nghạch XNK tham gia bảo hiểm trong nước. Tuy nhiên, do tình hình cạnh tranh quyết liệt của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mà thủ thuật chủ yếu là dúng biện pháp giảm tỉ lệ phí, vì vậy kim nghạch hàng hoá XNK được bảo hiểm tăng 26% nhưng doanh thu phí bảo hiểm hàng hoá XNK chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm trước.

    Đối với nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nếu như trong các năm trước đây các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chỉ chú trọng khai thác ở lĩnh vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đến đầu năm nay, họ tích cực hơn nhiều trong việc khai thác mở rộng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Tuy nhiên, do tỷ lệ phí ở thị trường trong nước giảm mạnh so với năm trước(có những dịch vụ phí giảm 40%) nên doanh thu phí từ nghiệp vụ này chỉ tăng 4%.

    Nếu như hầu hết doanh thu của các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đều tăng nhiều hoặc ít thì riêng nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật lại có doanh thu phí giảm 14% so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên các nhà bảo hiểm kỹ thuật Việt

    22

    Nam đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện bảo hiểm nhằm bảo hiểm cho những dự án lớn chuẩn bị cho được triển khai như khu liên hợp thể thao, một số gói thầu của nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy phân đạm… do vậy dư đoán nghiệp vụ này sẽ có tốc độ tăng trưởng tốt hơn trong 6 tháng cuối năm .

    Trong 6 thang đầu năm 2001 đã xảy ra một số tổn thất lớn, như thiệt hại hệ thống neo của Phao CALM tại mỏ Đại Hùng ngày15-2-2001với số tiền dự phòng bồi thường lên đến 3,2 triệu USD; thiệt hại đối với máy phát điện AMAN trên giàn CTP-2 cháy ngày 11-5-2001 ước bồi thường 900.000USD; tổn thất toàn bộ của máy bay trực thăng MI17VN-8415, trong đó số tiền bồi thường thân máy bay là 1.140.000USD và bồi thường trách nhiệm ước tính hơn 500.000USD; tổn thất hàng hoá trên tàu “GOSELLA” từ Inđônêsia về cảng Quy Nhơn trị giá hơn 800.000USD; tổ thất toàn bộ của tàu Lục Nam tại Ấn Độ với giá trị thân hơn 1 triệu USD; tổn thất P&I do tàu “VINH” đâm va tàu cá tại Hàn Quốc ngày 29-4-2001 với số tiền bảo lãnh để giải phóng tàu lên tới 927.000USD; vụ cháy nhà máy Vissing Pack với tổng bồi thường lên tới 1,5 triệu USD.

    Trong 6 tháng đầu năm tuy không có thêm công ty bảo hiểm nhân thọ mới ra đời, song sự hoạt động mạnh mẽ của 5 công ty hiện nay đã khiến thị trường này thực sự sội động. Doanh thu phí nhân thọ toàn thị trường Việt Nam đạt 1.250 tỷ VND, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kì năm trước.

    Để hỗ trợ công tác khai thác, hoạt động quảng cáo tiếp thị bảo hiểm nhân thọ vẫn diễn ra rầm rộ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí, thông qua các hình thức khuyến mại và các hoạt động từ thiện, tài trợ. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đang tích cực, tăng cường mở rộng đại lý nhân thọ, tổng số đại lý nhân thọ của thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt con số gần 30.000 người. Tuy nhiên việc mở rộng cũng như chất lượng của đại lý nhân thọ trong thời gian qua vừa nảy sinh nhiều vấn đề cần nhanh chóng giải quyết ngay cả tại các công ty bảo hiểm nhân thọ lẫn các co quan quản lý Nhà Nước về bảo hiểm. Tổng số tiền bồi thường của bảo hiểm nhân thọ trong quí I-2001 là hơn 19 tỷ VND. Khi các hợp đồng nhân thọ phát huy tác

    23

    dụng bồi thường thì cũng đồng thời làm nảy sinh một số tranh chấp do sự thiếu hiểu biết của người tham gia bảo hiểm cũng như thiếu kinh nghiệm của đại lý.Đây là điều khó tránh khỏi trong một thị trường còn hết sức non trẻ, song cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm của đại lý bảo hiểm nhân thọ trong việc hướng dẫn khách hàng khai báo các thông tin khi tham gia bảo hiểm.

    Trong 6 tháng vừa qua, Bộ Tài Chính đã cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm cho một công ty 100% vốn nước ngoài là Groupama-Gan.Công ty Groupama-Gan dự kiến sẽ phát triển các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp phục vụ cho nông dân.Đây là công ty 100% vốn nước ngoài thứ 2 trong lĩnh vực phi nhân thọ được cấp giấy phép hoạt đông tại Việt Nam, nâng tổng số doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc trên thị trường lên 16 doanh nghiệp, trong đó 11 doanh nghiệp phi nhân thọ và 5 doanh nghiệp nhân thọ.

    Nghị định hướng dẫn luật kinh doanh bảo hiểm và nghị định hướng dẫn chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    24

    • DN bảo hiểm
    • DN BHNN
    • CTCPBH
    • DN BH liên doanh
    • DN100% vốn đầu tư nước ngoài

    Quy trình thành lập theo luật KDBH.

    Hồ sơ xin cấp giấy

    phép thành lập

    Gửi

    Bộ tài chính

    Từ chối cấp

    60 ngày đồng

    ý cấp

    Cấp giấy phép cho

    DN

    Nộp lệ phí cấp giấy

    phép

    Công bố nội dung

    hoạt động

    25

    2.3 ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM

    2.3.1 Đôi nét về công ty

    Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Vương Quốc Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất trên thế giới, quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ, với bề dày hoạt động bảo hiểm trên 150 năm. Sự ổn định và vững mạnh về tài chính của tập đoàn Prudential được công ty chuyên đánh giá “Standard and Poor’s” xếp hạng AAA- thứ hạng cao nhất.Đó là nền tảng vững chắc khiến hơn 11 triệu khách hàng trên toàn thế giới đã “chọn mặt gửi vàng”, đặt niềm tin vào Prudential.

    Từ năm 1923 Prudential dẫn đầu cung cấp sản phẩm dịch vụ khách hàng Với hơn 80 năm kinh nghiệm tại châu Á Prudential hiện đang hoạt động

    tại 12 thị trường:Singapore, Malaysia, HongKong, Indonesia, Thailand, Philippines, Ấ Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.

    Có mặt tại Việt Nam từ năm 1994 với hai văn phòng đại diện tại Hà Nội( khai trương năm 1995) và thành phố Hồ Chí Minh(1997), Prudential đã được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào tháng 10 năm 1999. Với phương châm ” Luôn luôn lăng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”, Prudential đang nhanh chóng phát triển và trở thanh công ty bảo hiểm nhân thọ có uy tín và lớn mạnh nhất Việt Nam với nhiều văn phòng tại các thành phố lớn. Ngoài hai trụ sở chính tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Prudential còn có các trung tâm phục vụ khách hàng tại Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Vinh và Đồng Nai.

    Sau gần hai năm hoạt động, đến cuối tháng9 năm 2001, Prudential đã bảo hiểm cho 285.291 khách hàng, và đã nhanh chóng giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 92 trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm với số tiền gần 7,8 tỷ đồng và miễn nộp phí cho 43 hợp đồng với tổng số tiền bảo hiểm trên 1,6 tỷ đồng. Trong việc giải quyết đền bù bảo hiểm cũng như trong mọi hoạt động kinh doanh khác của mình, Prudential luôn luôn tuân thủ nguyên tắc: “Chính trực, Công bằng và Dịch vụ hoàn hảo”

    26

    Hiện nay, với một đội ngũ nhân viên trên 1014 người, Prudential đã phát triển, đào tạo một mạng lưới với hơn 32472 đại lý chuyên nghiệp, trong đó đa số đại lý có trình độ đại học và gần 2%có trính độ cao học. Với mục tiêu phát triển mạnh hơn, lớn hơn cùng xã hội, Prudential khẳng định con người là vốn quý nhất. Do đó ưu tiên hàng đầu của Prudential là đầu tư vào con người, tạo điều kiện cho mỗi nhân viên và đại lý phát huy khả năng chuyên môn để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn.

    Với cam kết hoạt động lâu dài tại Việt Nam, tin tưởng vào tiềm năng phát triển của kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm nhân thọ nói riêng, và để phát huy hơn nữa những thành công trong thời gian qua, vào cuối tháng 10 năm 2002, Bộ Tài Chính Việt Nam vừa cho phép công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư lên 61 triệu đô la Mỹ.

    Như vậy, với số vốn ban đầu là 15 triệu đô la Mỹ, Prudential đã lần lượt tăng lên 40 triệu đô la Mỹ( tháng6 năm 2001) và lần này là 61 triệu đô la Mỹ. Với số vốn gần 1.000 tỷ đồng này, công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential trở thành nhà đầu tư lớn nhất trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng và tài chính.

    Với số vốn tăng thêm này, Prudential sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới phục vụ khách hàng,đa dạng hoá sản phẩm…

    nhằm phục vụ khách hàng ngày một hoàn hảo hơn. Đồng thời, Prudential cũng sẽ đẩy mạnh các chương trình đầu tư tài chính một cách có hiệu quả, nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế Việt Nam.

    Việc tăng vốn lần này, một lần nữa khăng định lời cam kết của Prudential đối với khách hàng Việt Nam đối với cam kết hoạt đông lâu dài và hiệu quả của Prudential.

    27

    Kết quả kinh doanh sau 3 năm hoạt động của công ty

    (từ 11/1999 đến 11/2000 )

      1999 2000 2001 2002
             
    Tổng số nhân viên 80 352 675 1014
    (người )        
             
    Tổng số đại lý 281 5687 17201 32472
             
    Tổng số trung tâm phục vụ 2 5 12 19
    khách hàng        
             
    Tổng số trường hợp giải 0 21 162 308
    quyết quyền lợi bảo hiểm        
             
    Tổng số khách hàng 0 124249 453242 911743
    (người )        
             
    Tổng số tiền đền bù bảo hiểm 0 2,8 11 16,2
    ( tỷ đồng)        
             
    Doanh thu phí bảo hiểm 0 257 830 1295
    (tỷ đồng)        
             
    Tổng vốn đầu tư 15 40 40 61
    (tỷ đồng)        
             

    2.3.2 Quá trình hoạt động PR của công ty bảo hiểm Prudential.

    * Tài trợ

    Các hoạt động tài trợ mà công ty đã thực hiện bao gồm 4 hoạt động chủ yếu sau:

    Hoạt động từ thiện xã hội

    Hoạt động từ thiện PR trao học cụ cho học sinh nhận học bổng Nguyễn Hữu Cảnh tại Thành phố HCM.

    28

    Ngày 9/8/2003 Prudential trao học bổng cho 350 học sinh là con em của công nhân viên chức đang công tác trong khối. Ngày 25/7/2003 trao 60 suất học bổng cho con em đoàn viên công đoàn quận 1 Vượt khó học giỏi.

    Trao quà cho học sinh dân tộc ít người.

    Sáng 04/08 văn phòng đại diện tặng quà cho 100 học sinh trường tiểu học Phúc Thọ Lâm Đồng.

    • Để góp phần chia sẻ nỗi khó khăn của đồng bào vùng lũ lụt tại Nghệ An & Hà Tĩnh, trong 2 ngày 26&27 /9/2002, đại diện công ty
    • ã đến thăm ,trao tặng hỗ trợ 10 tấn gạo và 74 thùng mỳ tôm cho bà con gặp nạ
    • Ngày 3/4/2001 ,Prudential đã trao tặng quà cho trẻ em khuyết tật huyện Hóc Môn ,thông qua Hội bảo trợ người tàn tật , trẻ mồ côi Thành phố
    • Prudential đã giúp đỡ 230 bệnh nhân nghèo bị mù được mổ mắt miễn phí
    • Ngày 27/4/2001 ,Prudential đã trao tặng nhà tình nghĩa & tình thương tại huyện Củ
    • Ngày 4/1/2001,Prudential đã trao tặng 125 xe lăn cho người nghèo tàn tậ

    Hoạt động thể dục thể thao

    -Từ ngày 24/11/2002 đến 2/12/2002 tại thành phố Đà Nẵng,Prudential đã tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 2002 ” do Sở Thể dục Thể thao Đà Nẵng tổ chức.

    -Prudential đã tài trợ cuộc thi chạy marathon “Charity” gây quĩ ủng hộ giúp đỡ người tàn tật.

    Hoạt động giáo dục ,đào tạo

    -Ngày 28/10/2002, Prudential đã phối hợp cùng báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chứ lễ trao tặng học bổng cho 300 em học sinh nghèo hiếu học ở 13 trường và các trung tâm giảng dạy Hoa Văn trên địa bàn thành phố HCM.

    29

    • Ngày 8/11/2002, tại xã Kỳ Xuân ,Kỳ Anh Tỉnh Hà Tĩnh đã diễn ra lễ khánh thành trường mẫu giáo mầm non do Prudential tài trợ kinh phí xây dựVới chính sách luôn chú trọng đến công tác đào tạo giáo dục ,Prudential sẽ tiếp tục ủng hộ các hoạt động xây trường mở lớp để các em học sinh có nơi học tập ,vui chơi.

    -Phối hợp với báo Sài Gòn Giải Phóng cùng Sở GD&DDT thành phố HCM , Prudential đã tài trợ tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt “.

    -Một hoạt động thường niên của Prudential vào mỗi dịp 20/11 là tài trợ giải thưởng ” Võ Trường Toản “_trao tặng cho 24 thầy cô xuất sắc nhất của thành phố HCM.

    -Để hỗ trợ kinh phí học tập cho các em sinh viên xuất sắc & sinh viên

    nghèo học giỏi của các trường CĐ – DDH tại các tỉnh thành có mức thu nhập thấp,công ty đã tài trợ 1 chương trình học bổng tổng cộng 134 suất trong 4 năm liên tục từ niên học 2002-2003 đến niên học 2005-2006.

    -Ngày 10/9/2001,Prudential kết hợp với Đài tiếng nói Việt Nam ,tặng 2000 bộ sách nói (băng cassette ) tới Hội người mù Việt Nam ,học sinh trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu.

    -Trao tặng ngân phiếu tài trợ xây dựng sân chơi cho lớp mẫu giáo tại phường Hoà Hải ,Quận Ngũ Hành Sơn ,Đà Nẵng.

    Hoạt động vui chơi giải trí

    -Nối tiếp truyền thống hàng năm Prudential đã tổ chức chương trình “Pru_Giáng sinh” phục vụ các em thiếu nhi bắt đầu từ ngày 21/12 tại Hà Nội và được nối tiếp tại các tỉnh thành có đặt văn phòng của công ty vào các ngày 22&23/12.

    -Ngày 30/7/2001,ông Mark Tucker đã thay mặt cho Prudential trao tặng học bổng “Chevening 2001”.

    -Nhân ngày lễ quốc tế thiếu nhi 1/6/2000 Prudential đã tài trợ cho cuộc thi vẽ tranh mang chủ đề “Ước mơ thần tiên “.

    30

    -Tài trợ liên hoan văn nghệ và ẩm thực “Mặt trời tuổi thơ “tổ chức tại Đầm Sen trong 3 ngày 1,2,3/6/2000.Tại đây ,các em thiếu nhi đã được phục vụ vui chơi ẩm thực miễn phí và xem chương trình văn nghệ đặc sắc.

    31

    * Quan hệ báo chí

    _ Prudential có quan mối quan hệ rất tốt với báo Sài Gòn Giải Phóng trong việc phối hợp tổ chức và tài trợ các hoạt động như: trao tặng học bổng cho học sinh nghèo ,tổ chức cuộc thi “Prudential -Văn hay chữ tốt”.

    _ Bài báo “Prudential _Ba năm , một triệu khách hàng ” trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn(số 48/2002) ,đăng tải cuộc phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Huỳnh Thanh Phong _Tổng giám đốc Prudential Việt Nam đã thuyết phục công chúng bởi các chỉ số tăng lên rõ rệt và đáng nể mà công ty đã đạt được sau 3 năm hoạt động .

    Công ty đã rất chú trọng trong việc đăng bài trên các báo như Thời báo KTSG, hay Sài Gòn giải phóng một cách thường xuyên và họ đã rất thành công.

    * Quan hệ với các cơ quan chứ năng

    Tại mỗi tỉnh có đặt văn phòng đai diện ,Prudential thường có quan hệ rất tốt với chính quyền nơi đó thông qua việc phối hợp hoạt động ,tổ chức các chương trình tài trợ,các hoạt động từ thiện xã hội …Ví dụ như:

    -Tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 20002” do sở TDTT Đà nẵng tổ chức.

    -Phối hợp với sở GD-ĐT thành phố HCM tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt”.

    *Các hoạt động hỗ trợ

    Chiến dịch “Pru tình nguyện” trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 3 Ngay từ sáng sớm ngày 17/11/2002,đồng loạt tại 12 tỉnh thành trên

    cả nước, hàng ngàn nhân viên & đại lý trong trang phục nón trắng với logo đỏ và dòng chữ Pru tình nguyện trên áo,đã khởi động cho chương trình Pru tình nguyện _một chương trình đầy ý nghĩa và thiết thực đối với cộng đồng và xã hội.

    Các công tác tình nguyện được tiến hành như :

    32

    -Tặng quà ,giao lưu ,động viên các em ở trường mù Nguyễn Đình Chiểu và trẻ em mồ côi.

    -Thăm hỏi tăng quà các thương binh ,các bà mẹ Việt Nam anh hùng,các cán bộ hưu trí.

    -Thăm trại người già ,khám bệnh phát thuốc miễn phí cho họ.

    -Quét dọn đường phố.

    -Thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại buôn Dlaya.

    -Cứu trợ đồng bào lũ lụt.

    Tặng quà trẻ em nghèo ở TP Buôn Ma Thuột 6/9/2000 Vùng lũ lụt Tiên Giang ngày 5/9/2001

    Khám bệnh phát thuốc dân tộc EACuorlap TP BMT 1/6/2002 Tham gia hội chữ thập đỏ 20/10/2001 TP.HCM.

    Tặng quà cho đồng bào lũ lụt tỉnh Tiên Giang 18/1/2001 *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Prudential luôn cho ra đời các sản phẩm in ấn như catalog,tạp chí phát hành nội bộ hàng năm vào những dịp đặc biệt .Chúng được phát miễn phí cho khách hàng ,nhân viên và đại lý của công ty .Qua những ấn phẩm này ,chúng ta có thể biết thêm về những ngày đầu thành lập ,những thành viên trong hội đồng quản trị ,những hoạt động thiết thực ,những bài hát ,bài thơ,câu chuyện viết về công ty ,…Chúng luôn làm cho khách hàng cảm thấy tin tưởng và thân thiện với Prudential .Và quả thực bằng cách này Prudential đã đạt được mục đích chính của mình.

    * Khuyến mãi

    -TRong năm 2002,Prudential đã tặng cho khách hàng một quyển sổ nhỏ có chức năng giảm giá (từ 5 đến 15 % giá trị ) của rất nhiều mặt hàng khi khách

    33

    hàng mua chúng .Với cách này Prudential đã khích lệ được rất nhiều người mua và tiếp tục mua sản phẩm .

    -Hàng năm , vào mỗi dịp năm mới,Prudential luôn có quà tặng cho các khách hàng và nhân viên trong công ty ,đó là những tờ lịch treo tường rất đẹp và bắt mắt. Nó không những hữu ích cho khách hàng , đồng thời lại có tác dụng quảng bá thêm cho tên tuổi của công ty .

    Trên đây là một số hoạt động PR của Prudential đã và đang được thực hiện mà tôi đã sưu tầm được. Do hạn chế về thời gian thực hiện đề án ,có thể nó chưa hoàn toàn đầy đủ ,mong các thầy cô và quí độc giả thông cảm , giúp đỡ hoàn thiện thêm.

    34

    Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PR CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM

    PRUDENTIAL.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được quốc hội thông qua 12/2000 tạo hành lang pháp lý cơ bản giúp cho thị trường bảo hiểm phát triển ổn định và tăng trưởng luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản

    hướng dẫn tiến hành đã thể hiện được tính minh bạch và lộ trình

    cũng như các yêu cầu cho hội nhập kinh tế.

    Cần đa dạng hoá các loại hình nghiệp vụ mở rộng phạm vi và

    địa bàn hoạt động.

    Xây dựng một cơ chế quản lý giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh.

    Việc quản lý giám sát sẽ thông qua một hệ thống chỉ tiêu đánh gía, qua đó kịp thời phát hiện đề xuất giải pháp pháp củng cố và phát triển

    *Quan hệ báo chí

    Tiếp tục duy trì mối quan hệ với các báo như trước đây,xây dựng mối quan hệ mới với các báo mang tính xã hội ,cộng đồng cao,có số lượng độc giả lớn,rộng khắp cả nước.

    Ngoài các cách đã làm trước đây như đăng bài định kì ,trả lời phỏng vấn với phóng viên các báo ,phối hợp tổ chức các chương trình với các báo,Prudential nên khai thác nguồn lợi từ mối quan hệ với truyền hình.Vì truyền hình ở Việt Nam được coi là công cụ truyền tin đắc lực nhất,và vẫn là sản phẩm độc quyền nên mức độ bao phủ luôn là lớn nhất .

    35

    Các hoạt động hỗ trợ

    Trên thực tế,trong thời gian vừa qua,chương trình Pru tình nguyện được coi là sự kiện lớn nhất của công ty từ khi hoạt động đến nay,và đây cũng là sự kiện được nhiều người biết đến nhất.Việc cho ra mắt sản phẩm mới là Phú_Hoàn mỹ vào dịp 8/3/2003 vừa qua sẽ được công chúng chú ý đến hơn nếu công ty tổ chức một buổi lễ ra mắt cho sản phẩm .Trong buổi lễ đó có thể mời những người phụ nữ tiêu biểu của Việt Nam ,những người phụ nữ có tiếng nói trong xã hội .

    Vì để cho ra đời một sản phẩm được coi là mới trong lĩnh vực bảo hiểm là vô cùng khó khăn ,mặt khác sản phẩm đó lại không được bảo vệ về mặt bản quyền,nên công ty cần phải chú trọng rất nhiều đến công cụ này,một công cụ cho phép tạo được mức độ khác biệt lớn giữa các sản phẩm cũng như tên tuổi của các công ty .

    *Tài trợ

    Kể từ khi thành lập đến nay,các hoạt động tài trợ đã được Prudential thực hiện rất tốt,phong phú ,đa dạng,và ghi được dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng như một công ty bảo hiểm hàng đầu mang tính nhân bản là tấm lòng nhân ái cao .Tổng giá trị tài trợ từ năm 1994 đến nay đã lên đến hơn 8 tỷ đồng,thông qua nhiều chương trình hoạt động về xã hội ,từ thiện ,văn hoá,thể thao,y tế,giáo dục…

    Công ty nên tiếp tục duy trì các hoạt động mang tài trợ mang tính thường niên,hay nhân các dịp kỉ niệm,lễ Tết,các sự kiện lớn trong nước và quốc tế .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Công ty muốn hoạt động kinh doanh hay tổ chức các hoạt động xã hội suôn sẻ ,đạt kết quả tốt thì cần phải có sự ungr hộ cũng như cho phép của các cơ quan chức năng .Vậy việc đặt mối quan hệ tốt với các cơ quan chức năng ở các tỉnh có văn phòng đại diện của công ty cũng như trên toàn quốc là việc khó khăn nhưng rất cần

    36

    thiết. Khi công ty đã thuyết phục được  các cơ quan chức năng thì

    • ệc chiếm trọn lòng tin của công chúng sẽ dễ dàng hơn nhiều. *Khuyến mãi

    Khuyến mãi là khía cạnh ít gặp nhất trong hoạt động của các công ty bảo hiểm ,do sản phẩm của nó không giống các loại sản phẩm thông thường khác.Tuy nhiên Prudential cũng đã thực hiện và thực hiện rất tốt.Khuyến mãi sẽ khuyến khích công chúng ra quyết định mua bảo hiểm Prudential dễ dàng hơn vì ít ra họ cũng có thể nhìn thấy những lợi ích trước mắt khi có được sản phẩm ,cái mà các công ty bảo hiểm khác không chỉ ra được.

    * Một số hoạt động hỗ trợ khác:

    Ngoài một số tờ rơi, tờ gấp, catalog, tạp chí nội bộ đã được phát hành trước đây, công ty nên có thêm những ấn phẩm thường kì với thời hạn ngắn hơn( trước đây một năm một lần ) để tổng kết hoạt động của công ty , báo cáo kết quả đạt được cho toàn thể khách hàng cũng như nhân viên công ty được biết. Đồng thời cũng nên có một chuyên mục”Khách hàng hỏi _ Prudential trả lời”, ở đó thường xuyên giải thích, trả lời những khúc mắc của khách hàng và nó sẽ tạo ra mối đồng cảm và thân thiện giữa khách hàng với công ty.

    * Tổ chức triển lãm:

    Do số lượng cũng như số năm hoạt động của Prudential ở Việt Nam còn hạn chế nên viậc tổ chức một cuộc triển lãm là rất khó khăn. Công việc này cố thể thực hiện trong thời gian tới, có thể là vào dịp kỉ niệm 10 năm hoạt động của Prudential tại Việt Nam.

    *Tổ chức toạ đàm:

    • ây là công cụ mà ở Việt Nam người ta ít dùng nhất, do đó công chúng cũng chưa quen với việc này. Trong lĩnh vực bảo hiểm

    37

    thì chưa từng được ứng dụng. Cũng có thể sau này sẽ thay đổi nhưng công cụ này hoàn toàn không quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    *Xử lí thông tin khủng hoảng:

    Bảo hiểm là ngành khá nhạy cảm với các cuộc khủng hoảng tiền tệ và tài chính. Vì ngoài phần nổi là việc đảm bảo cuộc sống bình an, hạnh phúc cho con người, thì phần chìm lại là việc “kinh doanh tiền tệ”. Về thực chất công việc mà các công ty bảo hiểm làm chính là “đi vay” và cho vay tiền. Do đó nếu gặp khủng hoảng thì các công ty sẽ phải chịu những hậu quả rất nặng nề.

    38

    KẾT LUẬN

    Công ty bảo hiểm Prudential là một công ty bảo hiểm lớn mạnh có bề dày lịch sử đang không ngừng phát triển và lớn mạnh có kết quả kinh doanh khả quan. Sự phát triển chính là hệ quả tất yếu của năng lực phát triển không ngừng góp phần phát triển thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính.

    Trong nền kinh tế mở xuất hiện hàng loạt các công ty bảo hiểm đòi hỏi sự cạnh tranh gay gắt. Do đó sự tồn tại và phát triển của công ty bảo hiểm Prudential còn nhiều thách thức.

    Trên đây chỉ là một góc nhìn về một khía cạnh của quá trình hoạt động của công ty bảo hiểm Prudential do đó có nhiều hạn chế về lý luận và thiếu kinh nghiệm thực tế nên bài viết còn nhiều thiếu sót mong được sự giúp đỡ của thầy cô giáo và nhiều bạn đọc

    39


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tổng quan về Logistics kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    LỜI MỞ ĐẦU

               Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam bước sang một thời kỳ phát triển mới. Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất nhiều lao động.

               Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng 10 năm khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới. Việc tìm hiểu thực trạng tình hình kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam để từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm trong giai đoạn tới là rất cần thiết.

               Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, và với lòng yêu thích môn học Bảo hiểm, em xin được chọn nghiên cứu đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển” cho bài khoá luận tốt nghiệp của mình, với nội dung:

               Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm

               Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

               Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam

               Do những hạn chế về kiến thức thực tế cũng như nguồn tài liệu, bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sẽ nhận được ý kiến chỉ bảo, đóng góp từ phía các thầy cô và các bạn để hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình. Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là thầy giáo TS. Vũ Sĩ Tuấn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này. Ngoài ra, em cũng rất cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình nghiên cứu.       

    Hà Nội, tháng 12/2003

    CHƯƠNG I:

    KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM

    *******************

    I.    KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM

    1. Nguồn gốc của bảo hiểm

    Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh phát triển rất mạnh, với tốc độ tăng trưởng trung bình khá cao. Đặc biệt, ở một số nước trên thế giới, bảo hiểm đã trở thành một phần không thể thiếu trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống nói chung. Vậy bảo hiểm có nguồn gốc như thế nào?

    Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại. Tuy nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thì người ta vẫn chưa có được câu trả lời chính xác. Ý tưởng về bảo hiểm được coi là đã xuất hiện từ khá lâu, khi mà người xưa đã nhận ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc lúa dự trữ chung phòng khi mất mùa, chiến tranh… Như vậy, ngay từ xa xưa, con người đã có ý thức về những bất trắc có thể xảy đến với mình, và tìm cách phòng tránh chúng.

    Ý tưởng về sự rủi ro (risk) được hình thành một cách rõ nét vào khoảng thế kỷ XV, khi châu Âu mở những cuộc thám hiểm, khai phá tới các miền đất ở châu Á, châu Mỹ. Nhu cầu giao thương giữa các châu lục trở nên mạnh mẽ, ngành hàng hải ngày càng phát triển. Những đội tàu buôn lớn ra đi, và trở về với sự giàu có từ nguồn hàng dồi dào, hấp dẫn từ những miền đất mới. Tuy nhiên, đồng hành với đó cũng là những trường hợp rủi ro không quay về được do nhiều nguyên nhân như: dông bão, lạc đường, cướp biển… Những nhà đầu tư cho những chuyến đi mạo hiểm như vậy đã cảm thấy sự cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro để tránh tình trạng một số người bị mất trắng khoản đầu tư của mình do một hiện tượng ngẫu nhiên khiến tàu của họ bị thiệt hại hoặc mất tích. Để thực hiện điều này, người ta có hai lựa chọn: thành lập liên doanh để cùng “lời ăn, lỗ chịu”, hoặc tham gia bảo hiểm. Ở trường hợp thứ hai, một số cá nhân hay công ty sẽ nhận được phí bảo hiểm (premium) bằng tiền mặt, đổi lại là lời cam kết sẽ trả một khoản bồi thường (indemnity) cho chủ tàu trong trường hợp tàu bị mất tích. Những người bảo hiểm (the insurers) đã tạo ra một quỹ chung mà họ cam kết sử dụng để thanh toán cho người được bảo hiểm (the insured) khi rủi ro xảy ra.

    Vào thời kỳ đầu, khi tổn thất xảy ra, người nhận bảo hiểm phải bán một số tài sản, hoặc rút tiền từ tài khoản ngân hàng để thanh toán cho người được bảo hiểm. Tuy nhiên, một số nhà kinh doanh đã nhanh chóng nhận ra rằng rất nhiều thành viên của cộng đồng không muốn nhận bảo hiểm cho những rủi ro lớn như vậy. Và khái niệm góp vốn chung đã dược hình thành cùng với việc kêu gọi mọi người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm. Chỉ cần các khai thác viên chuyên nghiệp tính toán một cách đầy đủ, chính xác trong việc lựa chọn rủi ro để bảo hiểm và số phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi loại rủi ro cụ thể thì quỹ này sẽ luôn có khả năng bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm nếu xảy ra rủi ro. Đồng thời, các cổ đông cũng vẫn có lãi cổ phần ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu tư của mình.

    Bảo hiểm hình thành do sự tồn tại các loại rủi ro và sự đòi hỏi con người phải có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn việc xảy ra rủi ro, đồng thời, khắc phục, hạn chế những hậu quả của rủi ro. Bắt đầu từ bảo hiểm hàng hải, rồi tới những loại bảo hiểm khác như bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm nhân thọ…, bảo hiểm ngày nay đã phát triển nhanh chóng trên nhiều mặt và dần dần đóng vai trò rất quan trọng đối với con người.

    2. Định nghĩa

    Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm. Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quĩ tiền tệ (quĩ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau tạo thành một nhóm tương tác.

    Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm. Theo Dennis Kessler, “bảo hiểm là sự đóng góp của  số đông vào sự  bất hạnh của số ít.” Còn theo Monique Gaullier, “bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.”

    Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc quá thiên về góc độ kinh tế, kĩ thuật, ít nhiều cũng còn thiếu sót, chưa phải là một khái niệm bao quát, hoàn chỉnh. Nói một cách chính xác, bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, dựa trên cơ sở tính toán khoa học, áp dụng biện pháp huy động nhiều người, nhiều đơn vị cùng tham gia xây dựng quỹ bảo hiểm bằng tiền để bồi thường thiệt hại về tài chính do tài sản hoặc tính mạng của người được bảo hiểm gặp phải tai nạn rủi ro bất ngờ. Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”.

    Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

    Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”.

        3. Bản chất của bảo hiểm

    Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro, quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường. Khoản tiền bồi thường này được lấy từ số phí mà tất cả những người tham gia bảo hiểm đã nộp. Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn những người không gặp tổn thất sẽ mất không số phí bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp vụ bảo hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số đông (the law of large numbers), càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.

    Với hình thức số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro, tiết kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ giữa những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy động phí bảo hiểm, số người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn. Quĩ được sử dụng trước hết và chủ yếu là để bù đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm, không làm ảnh hưởng đến sự liên tục của đời sống xã hội và hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn được dùng để trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn đầu tư cho xã hội. Bảo hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản xuất được thường xuyên, liên tục.

        4. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay đã đạt đến trình độ phát triển cao ở nhiều nước trên thế giới, với rất nhiều loại hình, cũng như đối tượng được bảo hiểm ngày càng rộng mở và trở nên hết sức phong phú. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm vẫn được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc cơ bản của nó.

    4.1. Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (fortuity not certainty)

    Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra.

    Như vậy, người ta chỉ bảo hiểm cho những gì có tính chất rủi ro, bất ngờ, không lường trước được, nghĩa là không bảo hiểm cái gì đã xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra. Bởi lẽ, bảo hiểm được thực hiện chính là nhằm giải quyết hậu quả của những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người, những rủi ro mà con người không thể hạn chế được hoặc chỉ hạn chế được phần nào. Người khai thác không nhận bảo hiểm khi biết chắc chắn rủi ro được bảo hiểm sẽ xảy ra, ví dụ như xe cơ giới không đảm bảo an toàn kỹ thuật, con tàu không đủ khả năng đi biển… Người ta cũng không bảo hiểm cho những gì đã xảy ra, ví dụ như bảo hiểm cho tàu, xe sau khi chúng đã gặp tai nạn.

    4.2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith)

    Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực với nhau. Tuy nhiên, trong bảo hiểm, điều này được thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao hơn về mặt trách nhiệm. Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm (người bảo hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung thực với nhau, tin tuởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp. Nếu một bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực. Nguyên tắc này thể hiện như sau:

    Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm… cho người được bảo hiểm biết. Ví dụ, trong bảo hiểm hàng hải, mặt 1 của đơn bảo hiểm bao gồm  các nội dung như điều kiện bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm…, mặt 2 bao gồm quy tắc, thể lệ bảo hiểm của công ty bảo hiểm có liên quan. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. Người bảo hiểm cũng không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.

    Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Họ cũng phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm tăng thêm rủi ro…mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết. Người được bảo hiểm cũng không được mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất.

    Sở dĩ có nguyên tắc này là vì trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người chủ (hoặc người quản lý, sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối tượng bảo hiểm, biết rủi ro mình yêu cầu bảo hiểm, còn người bảo hiểm thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa vào những thông tin do người yêu cầu bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình đối với rủi ro: nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo hiểm theo điều kiện, điều khoản như thế nào và tính tỉ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu… Do đó, người yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo mọi yếu tố liên quan một cách đầy đủ và trung thực và phải khai báo sự phát sinh các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đến đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực hoặc khi tái tục hợp đồng.

    Ví dụ, một người mua bảo hiểm thiệt hại do hoả hoạn, lụt lội, trộm cắp cho một ngôi nhà và biết rằng vùng đó thưòng có nguy cơ xảy ra bão lụt nhưng khi mua bảo hiểm lại không khai báo gì về điều đó. Khi bão đến gây ra thiệt hại cho ngôi nhà, người đó cũng không được bảo hiểm bồi thường. Một ví dụ khác là khi tàu, xe đã gặp tai nạn, chủ tàu, chủ xe mới tham gia bảo hiểm để được bồi thường, bằng cách mua bảo hiểm ghi lùi lại ngày tháng trước tai nạn, hoặc tìm cách để có hồ sơ tai nạn ghi ngày tháng xảy ra sau ngày mua bảo hiểm. Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sau khi biết người được bảo hiểm không khai báo thật, có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hoặc không bồi thường tổn thất xảy ra.

                  4.3. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest)

    Quyền lợi có thể được bảo hiểm, hay lợi ích bảo hiểm, là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Như vậy, quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Người nào có quyền lợi có thể được bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo nếu đối tượng đó được an toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó gặp rủi ro. Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro. Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận. Đó có thể là người chủ sở hữu của đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm. Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có thể được bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.

    4.4. Nguyên tắc bồi thường (indemnity)

    “Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lý”. Ở đây, “đảm bảo” và “bảo vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm chính là nhằm khôi phục vị trí tài chính như ban đầu cho người được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp các công ty bảo hiểm không thể khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm mà chỉ có thể cố gắng khôi phục được gần như thế.

    Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Trong bảo hiểm, số tiền bồi thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một rủi ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt hại thực tế. Người được bảo hiểm cũng không thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại.

    Ở đây, ta thấy có mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo hiểm. Khi xảy ra trường hợp phải bồi thường, số tiền trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi của người đó. Tuy nhiên, đôi khi, người được bảo hiểm chỉ được nhận số tiền ít hơn giá trị lợi ích của họ. Cùng với quyền lợi được bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá tài chính, và như vậy, khi xem xét giá trị sinh mạng, hoặc bồi thường thương tật con người, chúng ta không thể đưa ra được số tiền chính xác.

    4.5. Nguyên tắc thế quyền (subrogation)

    Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình. Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm, tức là người đã trả tiền bồi thường tổn thất. Khi số tiền phải bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý nghĩa. Thế quyền có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất. Trong trường hợp này, người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên quan. Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ… cần thiết cho người bảo hiểm.

    Điều cần chú ý là, người được bảo hiểm cũng có thể được bồi thường từ một nguồn khác ngoài nguồn bồi thường từ công ty bảo hiểm, nhưng trong trường hợp đó, bất cứ số tiền nào mà người được bảo hiểm thu được cũng phải đặt dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm đã thực hiện bồi thường. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm không được phép thu nhiều hơn số tiền họ đã bồi thường. Người bảo hiểm chỉ được thực hiện thế quyền ở mức độ tương đương với số tiền đã trả hoặc sẽ trả. Điều này cũng có nghĩa là không chỉ người được bảo hiểm mà cả công ty bảo hiểm đều không được phép thu lời từ việc thực hiện quyền của mình.

    5. Các loại hình bảo hiểm

    Trải qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm ngày nay đã bao gồm nhiều hình thức hết sức đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, chúng ta lại có được các loại hình khác nhau của bảo hiểm. Người ta có thể phân loại dựa trên cơ chế hoạt động, tính chất, đối tượng của bảo hiểm, cũng như có thể dựa theo quy định của pháp luật.

                  5.1. Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm

    Theo tiêu chí này, bảo hiểm có thể phân ra thành:

                  *  Bảo hiểm xã hội (social insurance): là chế độ bảo hiểm của nhà nước, của đoàn thể xã hội hoặc của các công ty nhằm trợ cấp cho các viên chức nhà nước, người làm công… trong trường hợp ốm đau, bệnh tật, bị chết hoặc tai nạn trong khi làm việc, về hưu.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. So với các loại hình bảo hiểm khác, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt. BHXH có một số đặc điểm: có tính chất bắt buộc; hoạt động theo những luật lệ quy định chung; không tính đến những rủi ro cụ thể; không nhằm mục đích kinh doanh… Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước, hình thành chủ yếu từ các nguồn đóng góp hay ủng hộ của người lao động, người sử dụng lao động, nhà nước, các tổ chức, cá nhân từ thiện… Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong công ước 102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ, quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho:

    • Chăm sóc y tế
    • Trợ cấp ốm đau
    • Trợ cấp thất nghiệp
    • Trợ cấp tuổi già
    • Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
    • Trợ cấp gia đình
    • Trợ cấp sinh đẻ
    • Trợ cấp khi tàn phế
    • Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

    Còn theo điều 2 Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ:

    • Trợ cấp ốm đau
    • Trợ cấp thai sản
    • Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
    • Trợ cấp hưu trí
    • Trợ cấp tử tuất

                  *  Bảo hiểm thương mại (commercial insurance): là loại hình bảo hiểm mang tính chất kinh doanh, kiếm lời. Khác với BHXH, loại hình bảo hiểm này có những đặc điểm: không bắt buộc, có tính đến từng đối tượng, từng rủi ro cụ thể; nhằm mục đích kinh doanh.

    Bảo hiểm thương mại hiện nay cũng có rất nhiều loại nghiệp vụ:

    • Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
    • Bảo hiểm thân tàu
    • Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
    • Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
    • Bảo hiểm hàng không
    • Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
    • Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
    • Bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt
    • Bảo hiểm thiệt hại máy móc
    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
    • Bảo hiểm tai nạn con người
    • Bảo hiểm sinh mạng cá nhân
    • Bảo hiểm cây trồng
    • Bảo hiểm chăn nuôi
    • Bảo hiểm sắc đẹp

    …………

    5.2. Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm

    Theo tiêu chí phân loại này, chúng ta lại có hai loại bảo hiểm:

                  *  Bảo hiểm nhân thọ (life insurance): là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. Thực chất đây là bảo hiểm tính mạng hoặc tuổi thọ của con người nhằm bù đắp cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người được bảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ là việc bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người. Đối tượng tham gia bảo hiểm nhân thọ rất rộng, bao gồm nhiều người ở các lứa tuổi khác nhau.

    Bảo hiểm nhân thọ ngày nay phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, với doanh thu phí bảo hiểm ngày càng lớn, có lẽ bởi vai trò to lớn của nó. Đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình, bảo hiểm nhân thọ giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp rủi ro, góp phần ổn định cuộc sống. Trên phạm vi rộng, nó góp phần huy động vốn đầu tư từ các nguồn nhàn rỗi, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

    Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ:

    • Bảo hiểm trọn đời
    • Bảo hiểm sinh kỳ
    • Bảo hiểm tử kỳ
    • Bảo hiểm hỗn hợp
    • Bảo hiểm trả tiền định kỳ

    …………

                  *  Bảo hiểm phi nhân thọ (non-life insurance): là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    Bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Các nghiệp vụ của bảo hiểm phi nhân thọ cũng hết sức phong phú. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam (ban hành 09/12/2000) thì bảo hiểm phi nhân thọ gồm:

    • Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người
    • Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
    • Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không
    • Bảo hiểm hàng không
    • Bảo hiểm xe cơ giới
    • Bảo hiểm cháy, nổ
    • Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
    • Bảo hiểm trách nhiệm chung
    • Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
    • Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
    • Bảo hiểm nông nghiệp

    ………..

    Ngoài ra, bảo hiểm phi nhân thọ cũng còn một số loại nghiệp vụ khác như: bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm du lịch, bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động…

    5.3. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm

    Nếu xem xét theo đối tượng bảo hiểm, có thể phân chia như sau:

                  *  Bảo hiểm con người (insurance of the person): là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người. Bảo hiểm con người bao gồm các loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người bao gồm các loại như bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm tiết kiệm và đầu tư, bảo hiểm chi phí khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn học sinh, lao động… Bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho chính bản thân mình hoặc vợ, chồng, con, cha, mẹ; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; và người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

    Trong bảo hiểm tai nạn con người, người thụ hưởng nhận được số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Còn trong bảo hiểm sức khỏe con người, người được bảo hiểm được nhận số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe của người đó do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

                  *  Bảo hiểm tài sản (property insurance): là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm (tập thể hay cá nhân) bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Nhóm các loại sản phẩm bảo hiểm tài sản bao gồm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm nhà, bảo hiểm công trình… Có 3 loại hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị, hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị và hợp đồng bảo hiểm trùng.

    5.4. Căn cứ vào quy định của pháp luật

                  Nếu xét trên cơ sở quy định của pháp luật, các loại hình bảo hiểm lại có thể được phân chia thành bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.

                  *  Bảo hiểm bắt buộc: là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện. Loại bảo hiểm này chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

    Các nước có những quy định khác nhau về các loại hình bảo hiểm bắt buộc. Theo Luật kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam được ban hành ngày 09/12/2000, các loại hình bảo hiểm sau là bắt buộc:

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm hàng không đối với hành khách

    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật
    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
    • Bảo hiểm cháy, nổ

    Tuy nhiên, căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ, Chính phủ trình Uỷ ban thưòng vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.

                  *  Bảo hiểm không bắt buộc: là những loại bảo hiểm khác, không thuộc bảo hiểm bắt buộc.

    II.  SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

    1. Sự cần thiết của bảo hiểm

    Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh hết sức phát triển và dần trở nên một khái niệm quen thuộc với hầu hết mọi người. Ở nhiều quốc gia, mua bảo hiểm từ lâu đã là một việc làm không thể thiếu đối với người dân. Bảo hiểm trở nên thực sự cần thiết như vậy cũng bởi rất nhiều lý do.

    1.1. Sự tồn tại của các loại rủi ro

    Trong cuộc sống sinh hoạt nói chung cũng như trong những hoạt động sản xuất – kinh doanh phục vụ cuộc sống, con người luôn gặp phải những tai hoạ, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra, gây thiệt hại về tài sản và con người. Những tai họa, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên ấy gọi là rủi ro. Từ thời nguyên thuỷ xa xưa đến thời đại khoa học kỹ thuật phát triển ngày nay, con người vẫn luôn phải đối mặt với những rủi ro tồn tại trong cuộc sống. Chúng diễn ra thường xuyên, liên tục và thường đặt con người vào thế bị động. Hậu quả để lại thường là những thiệt hại về vật chất và tinh thần khó khắc phục, thậm chí có khi không thể khắc phục nổi. Có nhiều loại rủi ro xuất hiện, chi phối cuộc sống của con người. Đó có thể là các rủi ro do thiên nhiên, rủi ro mang tính kỹ thuật hoặc rủi ro do môi trường xã hội gây ra.

                  * Các rủi ro xảy ra do môi trường thiên nhiên là các rủi ro do các hiện tượng trong tự nhiên như động đất, núi lửa phun, bão, lụt, sóng thần… Các rủi ro này thường mang tính bất ngờ, gây ra tác hại to lớn trên phạm vi rộng và để lại những hậu quả nặng nề, lâu dài. Ngày nay, những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp con người phần nào hạn chế được những tổn thất do thiên tai gây ra. Bằng các phương tiện thông tin liên lạc, các phương pháp dự báo hiện đại, người ta có thể biết trước được thời gian hay địa điểm mà một cơn bão sẽ tràn tới hay một trận động đất sẽ đi qua. Tuy vậy, các thảm hoạ thiên nhiên vẫn luôn là nỗi kinh hoàng, là mối đe doạ cho cuộc sống con người, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đặc biệt, trong những thập kỷ gần đây, cùng với những biến đổi mang tính toàn cầu về môi trường, những thảm hoạ lớn như những trận bão lụt, động đất, cháy rừng tự nhiên… xảy ra ngày càng nhiều với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Hàng năm, thiên tai gây tổn thất hàng chục tỷ USD về vật chất, cướp đi sinh mạng hàng chục nghìn người, thiệt hại tinh thần không thể tính được. Theo báo cáo Sigma của Swiss Re, tổn thất từ các thảm hoạ do thiên nhiên và con người gây ra trong năm 2002 là 40 tỷ USD và 19.000 người chết, trong đó, nặng nề nhất là hai trận lụt lớn ở Châu Âu vào tháng 6 va tháng 8 với tổn thất về tài sản ước tính là 3,2 tỷ USD. (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 12/11/2003)

    Chỉ tính riêng vài năm trở lại đây, những cơn bão, lũ quét ở Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ tàn phá, gây  ra những thiệt hại nặng về người và của. Tháng 10/1997 cơn bão quốc tế Linda tràn vào các tỉnh nam trung bộ và nam bộ nước ta đã gây hậu quả nặng nề, 445 người chết, hơn 3000 người mất tích, thiệt hại ước tính trên 7000 tỉ VND (Nguồn: Báo Doanh nghiệp số tháng 8/2000). Thiên tai đã làm cho hàng trăm người bị chết, hàng nghìn người bị mất nhà cửa, tổn thất hàng nghìn tỷ đồng về tài sản, hậu quả của nó thậm chí vẫn còn nặng nề tới nhiều năm sau.

    Như vậy, các rủi ro do môi trường thiên nhiên đã gây ra những thiệt hại nặng nề về người, về tài sản, trong đó có những cơ sở hạ tầng quan trọng với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Các thiệt hại này thường đến bất ngờ và nhanh chóng làm tiêu tan những tài sản tích luỹ của cả đời người và kết quả đầu tư bao năm của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội.

                  *  Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học – kỹ thuật là những rủi ro do chính con người gây ra trong quá trình sống và lao động sản xuất. Xét một cách toàn diện, khoa học – kỹ thuật phát triển đem lại những sự thay đổi mang tính tích cực đối với quá trình phát triển chung của loài người, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi, đem lại nhiều tiện ích cho cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên, đôi khi, chính những sản phẩm con người tạo ra được nhờ sự phát triển khoa học – kỹ thuật cũng gây hại cho chính con người.

    Những phương tiện giao thông hiện đại, đầy tiện nghi cho phép sự di chuyển từ nơi này sang nơi khác với thời gian ngày càng rút ngắn, nhưng những sự cố về tai nạn giao thông cũng ngày một gia tăng, với tổng thiệt hại ngày một lớn. Vô số những vụ tai nạn ôtô, xe máy từng giờ, từng phút vẫn liên tục xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới. Máy bay là một phát minh mang tính lích sử của loài người, mở ra một kỷ nguyên chinh phục khoảng không, và được coi là an toàn hơn so với các loại phương tiện giao thông hiện đại khác. Tuy con số tử vong do tai nạn hàng không thấp hơn nhiều so với đường bộ, đường thuỷ… nhưng những vụ tai nạn này thường vô cùng thảm khốc và con người hiếm có cơ may sống sót. Ngay cả máy bay siêu thanh Concorde, vốn được coi là loại máy bay an toàn nhất, là sản phẩm đầy tự hào của khoa học hàng không Anh – Pháp, cũng không tránh khỏi một vụ tai nạn với 114 người thiệt mạng. Ngoài ra, hàng ngày, tai nạn trong lao động – sản xuất, rủi ro trong quá trình vận chuyển và tiêu thụ hàng hóa… vẫn luôn xảy ra. Những rủi ro này thường chỉ xảy ra trên phạm vi hẹp, có ảnh hưởng trực tiếp tới một hoặc vài cá nhân, đơn vị sản xuất kinh doanh. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, những rủi ro này lại xảy ra với tần suất lớn và có tổng thiệt hại không phải nhỏ.

    Ngoài ra, các vụ cháy, nổ do sự bất cẩn của con người hay do các yêu cầu về kỹ thuật phòng cháy không đảm bảo đã gây ra những tổn thất vô cùng to lớn. Những vụ nổ nhà máy điện nguyên tử không chỉ gây thiệt hại về người và của hết sức thảm khốc mà những hậu quả để lại cho môi trưòng xung quanh cũng rất nặng nề và lâu dài. Các vụ cháy nổ có tổn thất lớn xảy ra nhiều ở Mỹ, đất nước được coi là đầu tầu trong phát triển khoa học – kỹ thuật. Năm 1999, thiệt hại vụ nổ một nhà máy điện là 650 triệu USD, vụ nổ một nhà máy luyện nhôm là 275 triệu USD và vụ nổ một nhà máy lọc dầu là 247 triệu USD. (Nguồn: Tạp chí Thông tin thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm số tháng 11/1999)

    Theo báo cáo Sigma của Swiss Re, các thảm hoạ do con người gây ra năm 2002 với các nguyên nhân chủ yếu là cháy, tai nạn hàng không và đổ vỡ đã làm các công ty bảo hiểm tổn thất khoảng 2 tỷ USD (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 20/10/2003). Tại Việt Nam, vụ cháy chợ Đồng Xuân trước đây đã đẩy hàng nghìn hộ kinh doanh và đại lý ở đây vào hoàn cảnh khó khăn. Mới đây, vụ cháy Trung tâm thương mại Quốc tế ITC ở thành phố Hồ Chí Minh cũng làm hàng trăm người chết và bị thương, tổn thất về tài sản là hàng chục tỷ đồng. Cháy, nổ đã làm thiệt hại đến tài sản, nhà cửa, nhà xưởng, văn phòng…, cướp đi sinh mạng của bao người. Kinh doanh gián đoạn, sản xuất ngưng trệ và nền kinh tế bị ảnh hưởng không nhỏ.

    Các tổn thất lớn trong ngành năng lượng trên thế giới

    Năm
    Nơi xảy ra

    tổn thất

    Số tiền

     

    tổn thất

    (triệu USD)

    Nguyên nhân

     

    Indonesia

    75 Giếng phụt ngoài khơi
      Singapore 100 Tổn thất tàu chở dầu do đâm va
    1997 Visakhopalam 52 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Nam Phi 151 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Malaysia 350 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Main Pass 15 Tổn thất trong quá trình khoan
      Mexico 30
    Hư hỏng cơ trong quá trình khoan
    1998 Biển Bắc 20 Hư hỏng cơ trong quá trình hoạt động
      Jamnagar 12 Hư hỏng cơ của hệ thống đường ống
      Lousiana, Mỹ 120 Hư hỏng của sà lan khoan
      Newfoundland 61 Cháy tại phân xưởng hydrocracking

    Nguồn: Sedgwick, 2000

                  *  Các rủi ro xảy ra do môi trường xã hội cũng là một trong các nguyên nhân gây nên những thiệt hại cho con người. Môi trường xã hội, với tất cả những tính chất phức tạp và đầy biến động của nó, luôn ẩn chứa những rủi ro bất ngờ. Nhân loại đang dần tiến lên một xã hội văn minh hơn, tiến bộ hơn, nhưng ở chỗ này hay chỗ khác, con người vẫn luôn bị đe doạ bởi những tai họa có hậu quả nguy hiểm chẳng kém thiên tai, hay những tác động tiêu cực của khoa học – kỹ thuật.

    Những vấn nạn của xã hội như thất nghiệp, tội phạm… vẫn luôn là những nguy hiểm thường trực đối với loài người. Hàng năm, người lao động làm việc trong các ngành giao thông ở Châu Âu vẫn phải tổ chức những cuộc đình công đòi quyền lợi, gây bất tiện cho nhu cầu đi lại của người dân, cũng như gây tổn thất không nhỏ cho giới chủ. Ngoài ra, các cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, những cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo… vẫn xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là các cuộc chiến tranh với những hậu quả tàn khốc. Như vậy, những rủi ro xảy ra do môi trường xã hội cũng là một mối nguy hiểm lớn có thể gây ảnh hưởng nguy hại đến con người.

    1.2. Các biện pháp hạn chế rủi ro

                  Cho dù là vì nguyên nhân nào, rủi ro khi xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống, có thể gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất – kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, tới đời sống xã hội… Để đối phó với các rủi ro, con người đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm hạn chế, cũng như khắc phục những hậu quả do rủi ro gây nên. Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu quả của nó: nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.

    1.2.1. Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro:

                  *  Tránh rủi ro (risk advoidance): nghĩa là không làm một việc gì đó quá mạo hiểm, không chắc chắn. Biện pháp này được sử dụng khá thường xuyên trong cuộc sống. Ở một chừng mực nào đó, cẩn trọng là tốt, nhưng biện pháp này cũng có nhược điểm là làm cho con người lúc nào cũng sợ sệt, không dám làm việc gì, mà như vậy cũng có nghĩa là không thu được gì. Khi tránh né rủi ro như vậy, người ta cũng đã tự loại trừ đi các cơ hội. Thực tế cho thấy, trong kinh doanh, công việc càng có mức độ rủi ro cao thì càng có khả năng thu lời lớn.

                  *  Ngăn ngừa, hạn chế rủi ro (risk prevention): là việc đưa ra những biện pháp nhằm đề phòng, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro và các hậu quả của nó. Việc này thể hiện ở việc các cá nhân, tổ chức sử dụng các hệ thống phòng cháy, chữa cháy, hệ thống bảo vệ chống trộm cắp, các biện pháp an toàn lao động, các biện pháp hạn chế tai nạn giao thông… Tuy nhiên, các biện pháp này cũng không thể ngăn chặn hết được các rủi ro, bởi một trong các tính chất của rủi ro là tính không lường trước được.

    1.2.2. Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro

                  *  Tự khắc phục rủi ro (risk assumption): là việc người gặp phải rủi ro tự chấp nhận, tự khắc phục khoản tổn thất do rủi ro đó gây ra. Biện pháp này thể hiện ở việc các cá nhân, tổ chức dự trữ một khoản tiền nhất định để khi có rủi ro xảy ra sẽ dùng khoản tiền đó bù đắp, giải quyết hậu quả. Nó còn được gọi là tự bảo hiểm (self insurance). Tuy nhiên, hạn chế của biện pháp này là ở chỗ không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có, hoặc có đủ dự trữ về tài chính để bù đắp những rủi ro với tổn thất mang tính thảm hoạ. Mặt khác, khi nhiều cá nhân, tổ chức đều dành ra những khoản lớn để dự trữ như vậy sẽ gây đọng vốn lớn trong xã hội.

                  *  Chuyển nhượng rủi ro (risk transfer): là khi cá nhân, tổ chức, trước khi rủi ro xảy ra, tự thấy mình không chịu được hậu quả của nó nên tìm cách san sẻ bằng cách chuyển nhượng rủi ro cho người khác bằng cách đóng một khoản tiền. Khi đã nhận tiền từ bên chuyển nhượng rủi ro, người khác đó phải bồi thường những thiệt hại do rủi ro đã thoả thuận gây ra. Biện pháp đó chính là bảo hiểm. Nó là biện pháp tối ưu trong các biện pháp đối phó với rủi ro bởi rất nhiều ưu điểm: không gây đọng vốn trong xã hội, phạm vi, khả năng bù đắp lớn… Chính thực tế phát triển mạnh mẽ của ngành bảo hiểm cũng đã chứng minh điều này.

    Chính sự tồn tại của các loại rủi ro, cũng như nhu cầu cấp thiết phải có những biện pháp đối phó với rủi ro đã cho thấy sự cần thiết của bảo hiểm. Bảo hiểm đã tạo sự an toàn trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh và tự thân nó cũng đã, đang và vẫn sẽ là một ngành kinh doanh phát đạt. Khái niệm “bảo hiểm” trở nên gần gũi với mọi người, mọi tổ chức sản xuất – kinh doanh bởi tác dụng và vai trò của nó là rất to lớn.

    2. Tác dụng và vai trò của bảo hiểm

    Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương quan chung với sự phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nước, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò không thể thiếu của bảo hiểm đối với nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy, sự tồn tại của một thị trường bảo hiểm mạnh là một trong những yếu tố cơ bản của bất cứ nền kinh tế thành công nào. Trong cuốn “Các nguyên tắc bảo hiểm“, hai tác giả người Mỹ là Mehr và Commack đã viết: “Việc Anh Quốc nổi lên như một cường quốc thương mại và đồng thời loại hình bảo hiểm hoả hoạn cũng phát triển trong cùng một thời kỳ không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

    Tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện. Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác. Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường…

    2.1. Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất

    Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người. Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó, ổn định đời sống và quá trình sản xuất – kinh doanh.

    Việc mua bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức cho phép họ chuyển rủi ro sang các công ty bảo hiểm. Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất – kinh doanh không bị gián đoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề. Chi phí bồi thường của các công ty bảo hiểm thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh, khoảng 60 – 80%. Thậm chí, chi phí bồi thường còn có thể lớn hơn, nhất là với những rủi ro do thiên tai có sức tàn phá lớn trên diện rộng. Ở Mỹ, từ năm 1949 đến năm 1994, trung bình mỗi năm có tới 25 vụ thảm họa thiên nhiên, gây tổn thất 1,6 tỉ USD/năm (theo thời giá năm 1983), trong đó, lớn nhất là cơn bão Adrew và trận động đất Northridge đều có 15,5 tỉ USD tài sản được bảo hiểm. Trong vụ nổ máy bay Concorde, các công ty bảo hiểm đã phải bồi thường một số tiền là khoảng 350 triệu USD, trong đó khoảng 260 triệu USD là để bồi thường cho gia đình các hành khách và phi hành đoàn bị thiệt mạng và 30 triệu USD bảo hiểm máy bay. (Nguồn: Báo Doanh nghiệp số 8/2000)

    Nguồn: www.baoviet.com.vn, 30/10/2003

    2.2. Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất

    Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế – xã hội cũng được chủ động phòng tránh. Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hàng năm, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê các tai nạn, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệt hại. Những nghiên cứu này giúp các công ty bảo hiểm có thể đề ra được các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra.

    Việc các công ty bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng hơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tinh thần khi xảy ra tổn thất. Khi xây dựng các qui tắc, điều khoản, biểu phí… cũng như trong quá trình triển khai nghiệp vụ, kể từ khi đánh giá rủi ro, ký kết hợp đồng, quản lý hợp đồng cho đến lúc giám định tổn thất, giải quyết bồi thường, các tổ chức bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết. Việc đó không chỉ nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm mà còn góp phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khoẻ con người, của cải vật chất của toàn xã hội.

    Các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình. Đồng thời, họ cũng tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ an toàn giao thông, an toàn lao động… Do bảo hiểm không có nghĩa là đổ hết trách nhiệm cho người bảo hiểm nên ở các cơ quan, xí nghiệp thường có các qui tắc, qui định cho an toàn lao động, các qui định về phòng cháy chữa cháy, các thiết bị chống trộm, báo cháy…

                  2.3. Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác

    Trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh, người ta luôn phải tính đến những rủi ro có thể gặp phải, và luôn muốn chủ động trong các tình huống xấu nhất. Việc tự khắc phục rủi ro đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ dự phòng. Xét trên toàn xã hội, tổng các quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lợi lớn nếu đem đầu tư. Do vậy, người ta có thể đóng cho các công ty bảo hiểm một khoản nhỏ hơn thay vì bỏ một khoản tiền lớn lập quỹ, và có thể dùng tiền đó nâng cao đời sống hoặc đầu tư kinh doanh. Bảo hiểm đã trở thành lựa chọn tối ưu trong môi trường đầy rủi ro hiện nay, đảm bảo mức độ an toàn tương đối về khả năng tài chính khi xảy ra rủi ro mà vẫn không gây đọng vốn.

    Vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có một thị trường vốn phát triển lành mạnh, các kênh thu hút vốn đa dạng để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu về vốn. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, muốn tăng tốc nền kinh tế thì tỉ lệ tích lũy vốn trong nước thường phải chiếm khoảng 30% GDP. Ngày nay, các công ty bảo hiểm là một kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và đang ngày càng được khai thác một cách hiệu quả, do phạm vi hoạt động rộng, các loại hình bảo hiểm phong phú. Thông qua các hợp đồng bảo hiểm, các công ty bảo hiểm đã tập trung lượng tiền phân tán rải rác thành những quĩ tiền tệ khá lớn. Quĩ bảo hiểm đã trở thành một định chế tài chính trung gian quan trọng trên thị trường vốn. Đặc biệt, thông qua loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm đã khuyến khích các tầng lớp nhân dân tăng cường tiết kiệm và qua đó đã thu hút được một khối lượng lớn vốn nhàn rỗi để đầu tư. Tổng giá trị đầu tư của các công ty bảo hiểm của Pháp năm 1998 lên đến 4.267,5 tỷ FFR, chiếm trên 20% tổng giá trị đầu tư trong nước. Ở Đài Loan năm 1995, riêng các công ty bảo hiểm nhân thọ đã đầu tư vào nền kinh tế 39 tỷ USD, chiếm 15% tổng thu nhập quốc dân. Trong các tổ chức tài chính trung gian, các công ty bảo hiểm nhân thọ có tổng giá trị tài sản lên tới hàng nghìn tỷ USD, chỉ đứng sau các ngân hàng thương mại. Ở những nước có thị trường bảo hiểm phát triển, nhìn chung, các công ty bảo hiểm là những chủ thể tham gia tích cực vào hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính. (Nguồn: Tạp chí Tài chính số 2/2001).

    2.4.  Tăng thu cho ngân sách nhà nước

    Qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm tự thân nó đã trở thành một ngành kinh doanh độc lập, có hạch toán thu chi, lỗ lãi rõ ràng. Vì vậy, các công ty bảo hiểm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước như mọi doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh tế. Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc. Điều này giúp Nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để bù đắp cho những tổn thất như phải xây dựng lại đường xá, cầu cống, nhà xưởng, công trình… Ngoài ra, một thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước.

    2.5. Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống

    Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai. Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro do thiên nhiên như bão lũ, hạn hán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên… đang trở nên hết sức phức tạp, khó dự đoán do môi trường thế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu. Chiến tranh, xung đột, khủng bố, đình công… không những không giảm bớt mà lại ngày càng diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới. Trong tình hình như vậy, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống cho con người.

     

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

    *******************

    III.    SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

        1. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm trên thế giới

    Khái niệm bảo hiểm đã hình thành từ lâu và ngành bảo hiểm trên thế giới đã có lịch sử phát triển khá lâu dài. Trước công nguyên, ở Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã biết thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ nạn nhân trong các vụ tai nạn. Từ đó, các hoạt động mang tính chất của bảo hiểm phát triển dần theo sự phát triển của xã hội loài người. Bắt đầu bằng hình thức các quĩ dự trữ, tương trợ đơn giản, các loại hình bảo hiểm dần dần được hình thành và phát triển.

    Bảo hiểm hàng hải được coi là có lịch sử phát triển sớm nhất trong các ngành bảo hiểm còn tồn tại đến ngày nay, và nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của bảo hiểm sau này. Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời từ những người cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia, với hình thức cho vay kiêm bảo hiểm. Một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa, Italia. Tuy nhiên, đến khoảng cuối thế kỷ XV, bảo hiểm hàng hải mới thực sự phát triển. Vào thời gian này, nhu cầu giao thương giữa Châu Âu và các lục điạ tăng mạnh và hầu hết việc đi lại được thực hiện bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm hàng hải xuất hiện đảm bảo bồi thường cho các khách hàng nếu tàu của họ gặp rủi ro. Từ Italia, bảo hiểm phát triển sang Anh một cách nhanh chóng và đầy đủ hơn. Ngay từ thế kỷ XVII, Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloyd’s SG form) vẫn áp dụng cho đến ngày nay. Lloyd’s ra đời năm 1720, và dần phát triển thành hãng bảo hiểm có uy tín vào bậc nhất.

    Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời sau bảo hiểm hàng hải và là lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các công ty bảo hiểm trong thời kỳ đầu. Vào thế kỷ XVII, tại các thành phố đông đúc ở Châu Âu, nhà cửa chủ yếu được dựng bằng gỗ và lửa được dùng nhiều để sưởi ấm, chiếu sáng… Do vậy, rủi ro cháy là rất cao, đòi hỏi sự ra đời của các công ty bảo hiểm cung cấp các dịch vụ cứu hoả và bồi thường thiệt hại xảy cho người được bảo hiểm khi xảy ra cháy. Sau đám cháy khủng khiếp ở thủ đô London kéo dài 5 ngày (năm 1666), những công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên đã xuất hiện ở Anh như: The Fire Office, Friendly Society Fire Office. Sau đó, một loạt các công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở Anh: Amicable (1696), Sun (1713), Union (1714), London (1714)… Sau đó, bảo hiểm cháy mở rộng ra các nước khác trên lục địa Châu Âu: ở Đức năm 1667, Pháp năm 1686. Sang thế kỷ XVIII, nhiều công ty bảo hiểm hoả hoạn nổi tiếng ở Mỹ cũng ra đời.

    Bảo hiểm nhân thọ ra đời khá sớm sau bảo hiểm hàng hải nhưng do thiếu cơ sở khoa học nên bị nhà thờ cấm đoán. Đến thế kỷ 17, Ferma, Pascal và sau đó là Bernouli khai sinh và phát triển xác suất thống kê toán. Cơ sở khoa học của bảo hiểm đã được hình thành. Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở Anh vào năm 1762. Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, các nghiệp vụ bảo hiểm mới nối tiếp nhau ra đời để bảo đảm cho các rủi ro mới: bảo hiểm hàng không, bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm khai thác dầu khí… Bên cạnh các công ty bảo hiểm, các tổ chức tái bảo hiểm ra đời càng góp phần mang lại những bước phát triển ngày mạnh mẽ và vững chắc của bảo hiểm trên toàn thế giới.

    2. Sự hình thành và phát triển ngành bảo hiểm  ở Việt Nam

    2.1. Quá trình hình thành và phát triển

    Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của mình đối với nền kinh tế. Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi theo dõi quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ những ngày đầu đến nay.

    2.1.1.  Trước năm 1986

    Hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay từ thời thực dân Pháp. Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ngụy quyền.

                  *  Ở miền Nam trước năm 1975, có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động… Các công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm trên toàn thị trường miền Nam. Các công ty bảo hiểm trong nước thường được thành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hỗ. Các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh. Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn. Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểm được sử dụng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi trường hợp tác. Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua Bộ Tài chính. Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm cũng sớm ra đời. Ngoài ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm  quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng.

                  *  Ở miền Bắc trước năm 1975, hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo Việt. Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động. Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do những điều kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển. Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có trụ sở ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng thực hiện chủ yếu 3 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu và tái bảo hiểm. Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan lúc đó cũng tương đối cao.

                  *  Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được tiến hành quốc hữu hoá. Công ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp trách nhiệm của các công ty cũ đối với những người được bảo hiểm muốn tiếp tục hợp đồng. Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanh toán và đòi nợ theo đúng hợp đồng. Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, công ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn ngành. Công ty trực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước. Trong giai đoạn này, ở Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm. Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát triển.

    2.1.2. Từ năm 1986 đến nay

    Năm 1986 đánh dấu một bước ngoạt trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI diến ra vào năm này đã đưa ra chính sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, Việt Nam cũng đã tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư từ nhiều quốc gia, khu vực. Hoạt động sản xuất – kinh doanh từng bước phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu, thích hợp với hoàn cảnh mới. Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảo hiểm ở nước ta.

    Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC, VIA,… Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển ngày một sôi động.

    Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty mới đã tạo điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Các công ty liên tục hoàn thiện những sản phẩm cũ, đồng thời nghiên cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới đa dạng và hấp dẫn. Người tham gia bảo hiểm có thể tự do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dịch vụ bảo hiểm với mức phí cạnh tranh nhất. Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn được rộng mở. Không chỉ có vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chú trọng. Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một thị trường vẫn đang rất giàu tiềm năng phát triển.

    2.2. Vài nét về Luật kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam

    Nền kinh tế thị trường mở ra nhiều cơ hội kinh doanh, nhưng đồng thời, nó cũng đặt ra yêu cầu phải có những biện pháp quản lý thích hợp: chặt chẽ mà vẫn đảm bảo tính linh hoạt. Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm Việt Nam, có thể thấy, ngành bảo hiểm hiện nay đã tiến bước sang một giai đoạn mới. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng trở nên sôi động hơn, mức độ cạnh tranh cũng dần quyết liệt hơn nhiều. Yêu cầu phải có một luật riêng điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm là vô cùng cấp thiết bởi hệ thống văn bản pháp lý liên quan vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ.

    Thấy rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với nền kinh tế – xã hội, đặc biệt là sự cần thiết của việc quản lý các doanh nghiệp bảo hiểm, ngày 09/12/2000, Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 8 đã ban hành Luật kinh doanh Bảo hiểm (Luật KDBH). Đây là luật đầu tiên quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm. Luật KDBH sẽ góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Kể từ khi có hiệu lực thi hành vào ngày 01/04/2001, Luật KDBH đã phát huy tác dụng và chứng tỏ được vai trò của mình trong việc thực hiện các mục tiêu Nhà nước đã đề ra.

    Luật KDBH gồm 9 chương 129 điều, với các nội dung chính như sau:

    • Chương I (11 điều): Những quy định chung
    • Chương II (45 điều): Hợp đồng bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (18 điều): Quy định chung về hợp đồng bảo hiểm

    + Mục II (9 điều): Hợp đồng bảo hiểm con người

    + Mục III (12 điều): Hợp đồng bảo hiểm tài sản

    + Mục IV (6 điều): Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

    • Chương III (26 điều): Doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (12 điều): Cấp giấy phép thành lập và hoạt động

    + Mục II (4 điều): Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

    + Mục III (3 điều): Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm

    + Mục IV (7 điều): Khôi phục khả năng thanh toán, giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm

    • Chương IV (10 điều): Đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (5 điều): Đại lý bảo hiểm

    + Mục II (5 điều): Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    • Chương V (11 điều): Tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính
    • Chương VI (15 điều): Doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài
    • Chương VII (3 điều): Quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
    • Chương VIII (4 điều): Khen thưởng và xử lý vi phạm
    • Chương IX (3 điều): Điều khoản thi hành

    Luật KDBH đã quy định chi tiết về các loại hợp đồng bảo hiểm, về các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động ở Việt Nam, đồng thời đưa ra những nội dung cơ bản về công tác quản lý… Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho DNBH như điều kiện, hồ sơ, thời hạn cấp giấy phép… được đề cập đến một cách khá cụ thể. Luật cũng dành ra một chương quy định cụ thể về việc cấp phép, hình thức, nội dung hoạt động… của DNBH có vốn đầu tư nước ngoài.

    Một điểm mà đáng lưu tâm ở Luật KDBH là các quy định về doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH). Xuất phát từ các đặc trưng riêng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các DNBH được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam có các đặc trưng pháp lý riêng. Công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân không được phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm vì hai loại hình doanh nghiệp này chưa đáp ứng được các yêu cầu về bộ máy quản lý và kiểm soát, về quy mô và khả năng huy động vốn để tham gia kinh doanh. Mặt khác, do tính chất pháp lý riêng, DNBH phải hoạt động ổn định, tồn tại lâu dài và không phụ thuộc vào sự thay đổi về chủ sở hữu. Như vậy, việc thành lập DNBH tại Việt Nam có những điểm khác biệt so với những quy định tại các luật khác như Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    Các quy định về vấn đề trên khá chi tiết và cụ thể cho thấy nỗ lực của Nhà nước trong việc tạo ra một môi trường pháp lý đầy đủ và hoàn thiện hơn. Qua hơn 2 năm đi vào thực hiện, Luật KDBH đã thực hiện tốt các chức năng của nó và đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về mặt quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta. Tuy nhiên, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm phát triển và quản lý, Luật KDBH vẫn còn nhiều chỗ chưa được phù hợp với thực tế. Việc sửa đổi, bổ sung sao cho hợp lý, kịp thời đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, cũng như sự đóng góp ý kiến xác đáng từ các cá nhân, tổ chức có liên quan.

    IV.         II. CÁC TỔ CHỨC KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    Thị trường kinh doanh bảo hiểm Việt Nam đã trở nên rất sôi động từ sau khi Nhà nước có chủ trương đa dạng hoá các loại hình công ty kinh doanh bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm mới lần lượt xuất hiện, phá bỏ tình trạng độc quyền kinh doanh trước đó. Hiện nay, trên thị trường đã có nhiều loại hình công ty hoạt động tích cực, tạo ra một môi trường cạnh tranh mới.

        1. Các công ty kinh doanh bảo hiểm

    Các công ty kinh doanh bảo hiểm, hay các doanh nghiệp bảo hiểm, là doanh nghiệp được thành lập tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm. Theo Luật KDBH, doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

       

    Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt

    1.1. Doanh nghiệp nhà nước

    1.1.1  Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt)

    Bảo Việt được bắt đầu đi vào hoạt động từ 15/01/1965. Công ty có các đơn vị thành viên, các chi nhánh trên toàn quốc, đồng thời tham gia góp vốn vào nhiều công ty khác như công ty liên doanh Bảo hiểm Quốc tế (VIA), công ty liên doanh bảo hiểm Bảo Việt – AON (AIB), công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt, quỹ đầu tư Quốc gia… Ngoài ra, Bảo Việt đã thành lập Công ty đại lý bảo hiểm tại Anh Quốc BAVINA (UK) Ltd và hiện có mối quan hệ với hơn 40 quốc gia trên khắp thế giới.

    Với kinh nghiệm, uy tín và nỗ lực hoàn thiện không ngừng, Bảo Việt đang chứng tỏ mình vẫn là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Tổng doanh thu kinh doanh năm 2002 đạt 3.787 tỷ đồng, tăng 40% so với năm trước, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm đạt 3.367 tỷ. Tổng giá trị tài sản của công ty đạt 6.726 tỷ đồng. Xét về hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế toàn tổng công ty ước đạt 129 tỷ, nộp ngân sách cũng đạt 110 tỷ đồng.

    Đến hết 6 tháng đầu năm 2003, doanh thu phí đạt gần 800 tỷ đồng, thị phần bảo hiểm phi nhân thọ đạt 46%, thị phần bảo hiểm nhân thọ cũng đạt 42%. Công ty dự kiến tổng doanh thu năm 2003 sẽ đạt gần 5.000 tỷ đồng, trong đó bảo hiểm nhân thọ chiếm khoảng 2.800 tỷ đồng, bảo hiểm phi nhân thọ chiếm khoảng 1.600 tỷ đồng và đầu tư tài chính là 450 tỷ đồng. Vào thời điểm cuối năm 2003, tổng giá trị tài sản của Bảo Việt ước đạt hơn 8.000 tỷ đồng. Trong năm 2003, Bảo Việt tiếp tục tham gia vào các dự án đầu tư lớn như dự án xây dựng dàn khoan của Tổng công ty Dầu khí trị giá gần 2 triệu USD, góp vốn đầu tư xây dựng cao ốc Ký Con trị giá 1 triệu USD. Tới nay, thu từ hoạt động đầu tư đã lên tới 200 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của công ty. (Nguồn: Thông tin từ hoạt động kinh doanh của Bảo Việtwww.baoviet.com.vn, ngày 21/11/2003). Thời gian tới, công ty sẽ được Nhà nước đầu tư thêm về vốn để trở thành tập đoàn tài chính – bảo hiểm vững mạnh nhất Việt Nam.

    1.1.2. Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) trước đây là một thành viên của Bảo Việt, được tách ra hoạt động độc lập vào năm 1995. Bảo Minh là doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước lớn thứ hai sau Bảo Việt, kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và làm đại lý bồi thường và giám định tổn thất cho nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài và hội P&I. Hiện nay, số vốn điều lệ của công ty là 67 tỷ đồng và sắp tới sẽ được tăng lên thành 70 tỷ đồng. Hiện nay, công ty có 22 chi nhánh và 6 văn phòng đại diện trên toàn quốc và có mối quan hệ hợp tác với nhiều công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm nước ngoài. Bảo Minh đã góp vốn thành lập hai công ty liên doanh bảo hiểm là UIC và  Bảo Minh – CMG.

    Năm 2002, tổng phí bảo hiểm gốc lĩnh vực tài sản – kỹ thuật và thiệt hại của Bảo Minh đạt gần 70 tỷ đồng, tăng hơn 143% so với năm 2001. Thị phần năm 2002 của công ty là 28,08%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt) Bảo Minh đã cùng với Bảo Việt, PJICO, Allianz đồng bảo hiểm một số công trình có giá trị lớn như công trình đường Hồ Chí Minh, cầu Mỹ Thuận với phí bảo hiểm 78,5 triệu đôla Australia, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 3.250 triệu USD, thuỷ điện Đại Ninh 160 triệu USD… (Nguồn: www.vneconomy.com.vn, ngày 30/10/2003)

    1.1.3. Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI)

    PVI là công ty bảo hiểm chuyên ngành đầu tiên ở nước ta, trực thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), được thành lập năm 1996 với số vốn 20 tỉ đồng. Công ty chủ yếu hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí. Hiện nay, tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, PVI là một trong 3 công ty đạt doanh thu trên 500 tỷ đồng/năm. Nếu tính các chỉ tiêu năng suất lao động, tỷ suất lợi nhuận và nộp ngân sách trên đầu người, PVI được đánh giá là doanh nghiệp dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Thị phần năm 2002 của công ty đã đạt 14,5%. Tính đến hết tháng 9/2003, PVI đã đạt doanh thu 426 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch cả năm 2003 do PetroVietnam giao (Nguồn: PVI, 2003). Theo số liệu công bố mới nhất của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2003, PVI là một trong những công ty có tốc độ tăng trưởng cao nhất thị trường, đồng thời dẫn đầu thị trường về bảo hiểm dầu khí, hàng hải, xây dựng lắp đặt.

    1.2. Công ty cổ phần

    1.2.1. Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)

    Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) được thành lập ngày 15/06/1995. Các cổ đông sáng lập của công ty đều là những tổ chức kinh tế lớn của Nhà nước, có uy tín và tiềm năng: Petrolimex, Vietcombank, VINARE, Tổng công ty thép Việt Nam, công ty điện tử Hà Nội… Là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ra đời tại Việt Nam, tới nay, PJICO vẫn giữ vị trí thứ 3 về bảo hiểm phi nhân thọ. Hiện nay, PJICO đang nhận bảo hiểm hàng nghìn công trình lớn nhỏ, với tổng giá trị hàng trăm nghìn tỷ đồng, trong đó nhiều công trình có giá trị bảo hiểm lên tới hàng trăm triệu USD như toà nhà Deawoo, Diamond Plaza, cảng xăng dầu B12, trung tâm HITC. Công ty cũng nhận bảo hiểm cho hàng vạn xe cộ cùng hàng triệu người lao động, học sinh trong các hoạt động sản xuất, học tập. Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2003 của PJICO, doanh thu phí bảo hiểm của công ty đạt 138 tỷ đồng, đạt 60% kế hoạch cả năm. Tổng doanh thu kinh doanh (bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, đầu tư) của công ty đạt khoảng 160 tỷ đồng, đạt 52% kế hoạch đề ra.

    1.2.2. Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI)

    Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/9/1998 với tổng số vốn đầu tư là 70 tỉ đồng, thời hạn hoạt động là 50 năm. PTI là công ty bảo hiểm cổ phần do Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) phối hợp cùng với 6 cổ đông khác: VNPT là cổ đông lớn nhất với số vốn góp chiếm 41%, Bảo minh (10%), VINARE (8%), Ngân hàng Thương Mại cổ phần quốc tế Việt Nam, tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam và Công ty vật tư Bưu điện I. Lợi thế của PTI là có được sự tham gia của các công ty, tổng công ty có nguồn vốn dồi dào và các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm giàu kinh nghiệm. Nếu như năm 2000, tổng thu phí của công ty mới đạt gần 73 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã đạt gần 128 tỷ đồng, tăng 175%. Năm 2002, PTI chiếm 28,48% thị phần bảo hiểm gốc trong nghiệp vụ kỹ thuật. Hiện tại, công ty đang bảo hiểm cho hệ thống mạng điện thoại Cityphone với tổng giá trị bảo hiểm gần 177 tỷ đồng. Ngoài các đối tượng là đơn vị trong ngành, PTI đã phát triển dịch vụ bảo hiểm sang các ngành khác. (Nguồn: PTI, 2003)

    1.2.3. Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)

    Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng được thành lập ngày 11/7/1995, với số vốn pháp định ban đầu là 22 tỉ đồng. Bảo Long là công ty cổ phần thứ hai ở Việt Nam, với sự tham gia của Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng cổ phần hàng hải, Ngân hàng cổ phần Á Châu, Ngân hàng Tân Việt và các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu lớn như PETEC, FIDECO, Huy Hoàng, Thêu may Thanh Ngọc… Bảo Long chủ yếu nhận bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt, đường hàng không, bảo hiểm thân tàu, trách nhiệm dân sự chủ tàu và các sản phẩm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tai nạn con người, hoả hoạn… Bảo Long còn nhận và nhượng tái bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Với sự tham gia của nhiều ngân hàng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn, Bảo Long đã tạo được uy tín và đang ngày càng khẳng định vị thế của mình. Thị phần năm 2002 của công ty mới chỉ đạt 1,09% nhưng tiềm năng phát triển của công ty còn rất lớn. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.3. Công ty liên doanh

    1.3.1. Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh – CMG

    Bảo Minh – CMG là liên doanh bảo hiểm nhân thọ duy nhất ở Việt Nam giữa Bảo Minh và CMG – Colonial Mutual Group – tập đoàn bảo hiểm lớn nhất của Úc. Công ty được chính phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào cuối tháng 10 năm 1999, với số vốn điều lệ ban đầu là 6 triệu USD, nay đã được tăng lên 10 triệu USD. Bảo Minh – CMG đang dần trở thành một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ có sức cạnh tranh trên thị trường. Đầu năm 2002, công ty đã ký kết được hơn 15.000 hợp đồng mới với tổng doanh thu 45 tỷ đồng. (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 5/2002). Thị phần và doanh thu của công ty vẫn liên tục tăng đều. Với uy tín và kinh nghiệm của hai đối tác là một công ty bảo hiểm Nhà nước và một công ty bảo hiểm quốc tế, Bảo minh – CMG đang giành được thị phần ngày càng lớn trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.

    1.3.2. Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế (VIA)

    VIA là công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên được hình thành bởi sự hợp tác giữa Bảo Việt, Tokyo Marine and Fire Insurance và Commercial Union Assurance trong đó, số vốn góp của Bảo Việt là 51% và mỗi công ty nước ngoài góp 24,5%. Năm 2001, Tokyo Marine and Fire Insurance mua lại toàn bộ cổ phần của Commercial Union Assurance. VIA bắt đầu hoạt động năm 1996 với tổng vốn đầu tư là 6 triệu USD, thời gian hoạt động là 25 năm. Với năng lực của các bên đối tác và sự cộng tác của các công ty tái bảo hiểm hàng đầu thế giới, hoạt động của VIA đã có nhiều bước phát triển mạnh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Năm 2000, tổng doanh thu phí bảo hiểm của công ty là 3,6 triệu USD và tổng lợi nhuận là 340.000 USD. Thị phần năm 2002 của công ty là 1,41%. (Nguồn: www.via.com.vn, ngày 22/11/2003)

    1.3.3. Công ty liên doanh bảo hiểm Việt – Úc (BIDV – QBE)

    Công ty liên doanh bảo hiểm Việt – Úc được thành lập năm 1999, với tổng vốn đầu tư là 4 triệu USD, thời gian hoạt động là 20 năm. Đây là kết quả của sự hợp tác giữa QBE – tập đoàn bảo hiểm và tái bảo hiểm lớn nhất, có hoạt động hơn 100 năm của Úc và Ngân hàng Đầu tư và phát triển của Việt Nam, mỗi bên góp 50% số vốn. Với sự tham gia của hai đối tác tin cậy, công ty có thể kết hợp kỹ năng chuyên môn bảo hiểm hàng đầu của Úc và của thế giới với sức mạnh và uy tín của một ngân hàng lớn của Việt Nam. Đây là công ty bảo hiểm có vốn nước ngoài đầu tiên được phép cung cấp trực tiếp các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ cho khách hàng Việt Nam. Công ty ra đời nhằm đa dạng hoá sản phẩm hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và phát triển, với cam kết đảm bảo an toàn cho vốn vay và hoạt động của các khách hàng tín dụng của ngân hàng. Các nghiệp vụ chủ yếu mà công ty cung cấp là: bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, bảo hiểm máy móc thiết bị xây dựng, bảo hiểm rủi ro trong xây dựng và lắp đặt…

    1.3.4. Công ty bảo hiểm liên hợp (United Insurance Company of Vietnam – UIC)

    Công ty bảo hiểm liên hiệp UIC được thành lập năm 1997 với số vốn điều lệ là 6 triệu USD, thời gian hoạt động là 25 năm. Đây là liên doanh giữa Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh và hai tập đoàn bảo hiểm lớn của Nhật là: Mitsui Marine and Fire Insurance Co và The Yasuda Fire and Marine Insurance Co, trong đó, Bảo Minh góp 51%, mỗi bên nước ngoài góp 24,5%. Với sự am hiểu thị trường bảo hiểm Việt Nam của Bảo Minh và kinh nghiệm hoạt động lâu năm, công nghệ bảo hiểm hiện đại, khả năng tài chính vững chắc của hai tập đoàn bảo hiểm lớn nhất Nhật Bản, UIC đang không ngừng phát triển. Thị phần của công ty tăng từ 1,62% năm 1998 lên 2% năm 2002. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.3.5. Công ty TNHH bảo hiểm Samsung –  Vina

    Công ty TNHH bảo hiểm Samsung – Vina được thành lập năm 2002, với số vốn điều lệ là 5 triệu USD, hoạt động trên lĩnh vực phi nhân thọ. Đây là liên doanh giữa công ty VINARE và công ty Samsung Fire Marine Insurance với tỷ lệ góp vốn mỗi bên là 50%. Công ty bảo hiểm Samsung – Vina,  sẽ tận dụng được lợi thế là các khách hàng Hàn Quốc ở Việt Nam. Hiện nay, do Hàn Quốc đang đứng thứ tư về đầu tư vào Việt Nam với số vốn là khoảng 3,7 tỷ USD, công ty đang có tiềm năng phát triển rất lớn. Sắp tới, khi VINARE được cổ phần hoá, công ty bảo hiểm Samsung – Vina sẽ được củng cố và hoạt động của công ty sẽ tập trung vào các chiến lược kinh doanh có hiệu quả.

    1.3.6. Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Châu Á – Ngân hàng Công thương (IAI)

    IAI là liên doanh giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam – một trong bốn Ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam và công ty bảo hiểm Châu Á – một trong những công ty bảo hiểm lâu đời và uy tín nhất tại Singapore vừa chính thức khai trương hoạt động tại Việt Nam. Với số vốn điều lệ là 6 triệu USD trong đó mỗi bên đối tác góp 50%, IAI được phép khai thác và nhận bảo hiểm tất cả các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ. Ngoài ra, công ty cũng được phép nhượng và nhận tái bảo hiểm, quản lý rủi ro, giám định tổn thất, xét bồi thường, đòi người thứ ba bồi hoàn, tham gia đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Ngoài kinh nghiệm và uy tín của cả hai bên đối tác, mạng lưới 600 văn phòng, chi nhánh giao dịch và quỹ tiết kiệm trên toàn quốc của Ngân hàng Công thương cũng như mạng lưới kinh doanh bảo hiểm rộng khắp khu vực Đông Nam Á của Công ty bảo hiểm Châu Á cho thấy IAI sẽ là một mô hình hợp tác hiệu quả và có một tiềm năng phát triển rất lớn.

    1.4. Công ty 100% vốn nước ngoài

    1.4.1. Công ty TNHH bảo hiểm Prudential

    Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất nước Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới, quản lý hơn 250 tỷ USD và khoảng 21.000 nhân viên trên toàn cầu. Prudential khai trương văn phòng đại diện thứ nhất tại Việt Nam từ năm 1995 và được chính phủ cấp giấy phép đầu tư vào tháng 10/1999. Hiện nay, Prudential đã có hơn 1,5 triệu khách hàng Việt Nam và với năng lực cạnh tranh của mình, thị phần bảo hiểm nhân thọ của công ty năm 2002 đã đạt 34,94%, chỉ sau Bảo Việt. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    Tháng 6/2001, Prudential Việt Nam đã tăng vốn từ 15 triệu lên 40 triệu USD, và tháng 10/2002 công ty tiếp tục tăng vốn lên 61 triệu USD. Với số vốn đầu tư ngày càng tăng, Prudential đang tạo ra một khả năng tài chính vững chắc để có thể đầu tư vào việc đa dạng hoá sản phẩm và xây dựng hệ thống phục vụ hiệu quả nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của khách hàng. Prudential hiện có các văn phòng giao dịch, văn phòng đại lý và trung tâm phục vụ khách hàng tại 14 tỉnh, thành phố trên toàn quốc (Nguồn: prudential.com.vn, ngày 1/12/2003). Sự xuất hiện của Prudential trên thị trường bảo hiểm nhân thọ với những sản phẩm bảo hiểm nhiều ưu đãi, công tác chăm sóc khách hàng chu đáo đã tạo ra một không khí cạnh tranh mới.

    1.4.2. Công ty TNHH bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIA)

    AIA là công ty thành viên 100% vốn của tập đoàn AIG – tập đoàn hàng đầu trên thế giới về bảo hiểm và dịch vụ tài chính, đồng thời là tập đoàn thẩm định hàng đầu trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp tại Mỹ. AIA được thành lập năm 1931, là một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ hoạt động lâu đời nhất tại Châu Á. AIA đã có hoạt động tại Việt Nam từ trước năm 1975

    và quay trở lại vào năm 1993. Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA Việt Nam được chính phủ cấp phép thành lập ngày 22/02/2000, với số vốn điều lệ là 10 triệu USD và thời gian hoạt động là 50 năm. Năm 2002, công ty đã được Bộ Tài chính phê duyệt tăng vốn lên 25 triệu USD.

    AIA là công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài đầu tiên được phép cung cấp sản phẩm nhóm tại thị trường Việt Nam: bảo hiểm nhân thọ nhóm, bảo hiểm tử vong và tàn tật do tai nạn, bảo hiểm hỗ trợ viện phí nhóm. AIA Việt Nam hiện đang hỗ trợ dự án đầu tư trị giá 580 triệu USD của AIG tại Khu công nghiệp Đình Vũ. Ngoài ra, công ty cũng đã chính thức tham gia đấu thầu trái phiếu chính phủ. Thị phần năm 2002 của công ty là 4,4%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.3. Công ty TNHH bảo hiểm Manulife

    Manulife Việt Nam vốn là công ty Chinfon – Manulife – liên doanh bảo hiểm giữa Chifon Global Group (Đài Loan), tập đoàn có số vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam và Manulife Financial (Canada). Liên doanh này được cấp giấp phép hoạt động vào năm 1999, sau đó Manulife tiến hành mua lại cổ phần của Chinfon. Công ty cung cấp cho khách hàng Việt Nam đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ/tiết kiệm, thu nhập hưu trí. Các sản phẩm chính của công ty là bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm giáo dục hỗn hợp, bảo hiểm bổ sung (trợ cấp y tế, tai nạn).

    Đầu năm 2002, công ty đã có 4.600 đại lý và hơn 100.000 hợp đồng còn hiệu lực. Năm 2002, công ty đã xin phép Bộ Tài chính cho tăng vốn điều lệ từ 5 triệu USD lên 10 triệu USD. Việc tăng vốn này sẽ giúp tăng thêm sức mạnh cho công ty để cạnh tranh cùng các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài khác như Prudential, AIA… Năm 2002, thị phần bảo hiểm nhân thọ của công ty là 11,92%, đứng thứ 3 tại Việt Nam. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.4. Công ty TNHH bảo hiểm Allianz

    Allianz là công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài đầu tiên và duy nhất hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, được thành lập năm 1999, với số vốn điều lệ là 5 triệu USD. Đây vốn là liên doanh giữa Allianz và AGF, tuy nhiên, mới đây, Allianz đã mua lại toàn bộ phần vốn góp là 49% của AGF. Hoạt động của Allianz sẽ tạo những cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ trên lĩnh vực bảo hiểm với các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, công ty cung cấp các dịch vụ chủ yếu sau: bảo hiểm tài sản và các bảo hiểm liên quan đến tài chính, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm phương tiện giao thông, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm thân tàu, tái bảo hiểm… Allianz chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng là các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2000, Allianz đã có được thị phần là 0,89% và thị phần năm 2002 là 2,62%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.5. Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam

    Groupama Việt Nam được thành lập năm 2002 với số vốn pháp định là 5 triệu USD, thời gian hoạt động là 30 năm. Đây là công ty 100% vốn nước ngoài được thành lập bởi Groupama – tập đoàn bảo hiểm tổng hợp của Pháp và cũng là một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất Châu Âu. Groupama là công ty bảo hiểm nước ngoài đầu tiên được phép kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm thiệt hại ở khu vực nông thôn Nam Bộ. Công ty cung cấp các dịch vụ về sản xuất nông nghiệp và cuộc sống nông thôn, bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, tài sản, thiệt hại, vận tải hàng hoá, trách nhiệm công cộng tai nạn con người, đầu tư, giám định và phân bổ tổn thất…

    Tuy mới áp dụng ở Việt Nam từ cuối năm 2002 đến nửa đầu năm 2003, Groupama Việt Nam đã thu hút được 1.850 hợp đồng bảo hiểm các loại vật nuôi. Thời gian đầu công ty chấp nhận lỗ hoặc hoà vốn để lấy niềm tin của nông dân do bảo hiểm nông nghiệp rất có tiềm năng ở Việt Nam. Trong năm 2003, Groupama Việt Nam đã mở rộng mạng lưới hoạt động tại 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền Đông Nam bộ. Công ty đã ký hợp đồng với Ngân hàng Nông nghiệp – phát triển nông thôn trong việc thực hiện dự án bảo hiểm trọn gói 6 loại vật nuôi cho nông dân. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 7/2003)

    1.5. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

    Theo Luật KDBH Việt Nam, tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên. Thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu, vừa là bên mua bảo hiểm. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính phủ quy định.

    Thực chất, đây là một hình thức bảo hiểm theo nhóm, trong đó các thành viên lập và duy trì một quỹ chung được sử dụng khi có tổn thất xảy ra với thành viên. Đây là mô hình được hình thành sớm nhất, tạo nền móng cho các tổ chức kinh doanh bảo hiểm và ngày nay phát triển rất mạnh trong các lĩnh vực như bảo hiểm nông nghiệp, hành hải và bảo hiểm nhân thọ. Rất nhiều công ty bảo hiểm hàng đầu hiện nay là công ty bảo hiểm tương hỗ. Về bản chất kinh doanh, công ty bảo hiểm tương hỗ cũng hoạt động vì mục đích lợi nhuận, nhưng loại hình công ty này nhằm phục vụ lợi ích cho chính những thành viên của mình (chủ sở hữu công ty). Ngoài ra, nó còn đảm bảo được tính độc lập và ổn định do không bị mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán (công ty bảo hiểm tương hỗ không phát hành cổ phiếu)

    Tại Việt Nam, thị trường bảo hiểm chưa phát triển cao, các doanh nghiệp bảo hiểm tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu nhưng tổ chức bảo hiểm tương hỗ chưa thực sự hình thành. Trong khi đó, mô hình tổ chức bảo hiểm tương hỗ ở Việt Nam rất phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế do 80% dân số Việt Nam vẫn làm nông nghiệp. Bảo hiểm tương hỗ có ý nghĩa tích cực trong việc giúp những hộ làm nông nghiệp, thuỷ sản… có sự đảm bảo về tài chính trước rủi ro mất mùa, dịch bệnh, thiên tai… Hiện nay, Việt Nam mới thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ dưới dạng quỹ bảo hiểm ngành trên các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản. Hiện nay, Quỹ bảo hiểm rủi ro tín dụng giữa các ngân hàng cũng đang được nghiên cứu để triển khai.

        2. Tổ chức tái bảo hiểm

    Cũng như hầu hết các công ty Trách nhiệm hữu hạn khác, nhiều công ty bảo hiểm được thành lập với một số vốn nhất định. Do vậy, các công ty chỉ có khả năng nhận bảo hiểm cho một số rủi ro giới hạn trong phạm vi số vốn này. Tuy nhiên, trên thực tế kinh doanh, công ty có thể nhận được đơn bảo hiểm với số tiền bảo hiểm vượt xa khả năng bồi thường của mình. Vì vậy, để có thể bảo hiểm cho những rủi ro lớn như vậy, các công ty bảo hiểm phải nhờ tới các công ty tái bảo hiểm khác trên thị trường. Các công ty tái bảo hiểm có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định kinh doanh cho các công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi ro với các đối tượng có giá trị bảo hiểm lớn.

    Theo Luật KDBH của Việt Nam, kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Ở Việt Nam hiện nay, khi thị trường bảo hiểm đang trong quá trình hình thành và phát triển, số lượng công ty bảo hiểm trong nước còn ít, năng lực vốn còn hạn chế, lại chịu sự cạnh tranh từ các công ty bảo hiểm quốc tế, việc thành lập Công ty tái bảo hiểm quốc gia (VINARE) là rất cần thiết và hợp lý.

    VINARE thành lập ngày 27/09/1994, chính thức đi vào hoạt động ngày 01/01/1995 với số vốn được cấp ban đầu là 40 tỷ đồng. Hiện nay, vốn điều lệ của công ty là 40,5 tỷ đồng, và sẽ được tăng lên thành 70 tỷ đồng trong hai năm 2003 – 2004. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). VINARE hoạt động trên các lĩnh vực bảo hiểm tai nạn cháy, nổ, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển, bảo hiểm thân tàu, P&I, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm nhân thọ.

    3. Các tổ chức trung gian bảo hiểm

    Trong quá trình kinh doanh, để tăng cường hiệu quả hoạt động, các công ty bảo hiểm thường phải sử dụng các trung gian bảo hiểm gồm đại lý  bảo hiểm và môi giới bảo hiểm. Các trung gian bảo hiểm được phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, song họ không tạo ra các sản phẩm bảo hiểm, không mua bán các sản phẩm bảo hiểm mà làm cầu nối giữa người được bảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc, công ty tái bảo hiểm. Hoạt động của các trung gian bảo hiểm là rất cần thiết trong việc tạo sự gặp nhau giữa cung và cầu trên thị trường.

    3.1. Đại lý bảo hiểm

    Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hoạt động đại lý bảo hiểm, thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm. Nội dung hoạt động của đại lý bảo hiểm là: giới thiệu, chào bán bảo hiểm; thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm; thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và thực hiện các hoạt động khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm đều chú ý xây dựng hệ thống đại lý bảo hiểm bởi tầm quan trọng của nó. Đại lý bảo hiểm giúp doanh nghiệp bảo hiểm triển khai hoạt động trên một phạm vi rộng lớn, đưa sản phẩm bảo hiểm đến từng địa phương, cơ sở, đến tận đối tượng có nhu cầu bảo hiểm, từ đó góp phần làm tăng doanh thu, thị phần cho doanh nghiệp bảo hiểm. Đến nay, ở Việt Nam đã có 70.568 đại lý bảo hiểm nhân thọ và 10.548 đại lý bảo hiểm phi nhân thọ (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). Đội ngũ đại lý này đang dần trở nên chuyên nghiệp hơn với chuyên môn, phong cách phục vụ, đạo đức nghề nghiệp được nâng cao.

    3.2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    Theo Luật KDBH Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm với các nội dung như cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm… cho bên mua bảo hiểm, đồng thời, tư vấn cho bên mua trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng tiền hành đàm phán, thu xếp giao kết và thực hiện các công việc khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua. Hiện trên thế giới có trên 85% các rủi ro công nghiệp được bảo hiểm qua môi giới. Môi giới bảo hiểm làm tăng thêm lợi ích cho cả người được bảo hiểm và các công ty bảo hiểm. Ở Việt Nam, sự góp mặt của các môi giới bảo hiểm đã ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Chính các nhà môi giới đã đem lại dịch vụ cho các công ty bảo hiểm trong nước và góp phần thiết kế các sản phẩm mới.

    Công ty liên doanh dịch vụ bảo hiểm Bảo Việt – AON (AIB) là doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Đây là công ty liên doanh giữa Bảo Việt và tập đoàn bảo hiểm Inchcape của Anh (sau này thuộc tập đoàn bảo hiểm AON của Mỹ), được thành lập năm 1993 với số vốn điều lệ là 250.000 USD. AIB bắt đầu hoạt động từ tháng 6/1994 với nhiệm vụ thuyết phục các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tham gia bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm Việt Nam. Công ty đã góp phần không nhỏ trong việc giúp đỡ các nhà đầu tư vào Việt Nam, giúp tiết kiệm ngoại tệ của đất nước, đồng thời góp phần đáng kể vào việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Mới đây, Bộ Tài chính vừa cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt. Đây là công ty môi giới bảo hiểm có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam hiện nay với số vốn điều lệ là 6 tỷ đồng. Các lĩnh vực hoạt động chính của công ty sẽ là môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm. Cụ thể là công ty sẽ cung cấp các dịch vụ môi giới bảo hiểm theo theo các nội dung quy định của Luật KDBH. Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt sẽ cùng với AIB góp phần vào sự lớn mạnh của bảo hiểm Việt Nam. Tháng 9/2003, Gras Savoye, công ty môi giới bảo hiểm lớn nhất nước Pháp và lớn thứ 3 thế giới cũng đã chính thức hoạt động tại Việt Nam thay vì chỉ có văn phòng đại diện như trước kia.

    4. Hiệp hội bảo hiểm  Việt Nam (AIV)

    Trong bối cảnh ngành bảo hiểm Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, các công ty đều phải rất nỗ lực để cạnh tranh để có thể tồn tại và lớn mạnh. Trong quá trình đó, các công ty bảo hiểm cũng gặp phải nhiều khó khăn chung buộc họ phải hợp tác với nhau để cùng giải quyết. Để đảm bảo thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh, Chính phủ và Bộ Tài chính đã cho phép thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam – một tổ chức phi chính phủ, đại diện cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường. Hiệp hội được thành lập để các thành viên có thể cùng hợp tác, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần xây dựng thị trường bảo hiểm Việt Nam ổn định và phát triển.

    Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã được thành lập ngày 24/09/1999 với 10 sáng lập viên là các công ty bảo hiểm hàng đầu trên thị trường Việt Nam như: Bảo Việt, Bảo Minh, VINARE, các công ty bảo hiểm cổ phần và liên doanh bảo hiểm… và đến nay, Hiệp hội đã được mở rộng lên thành 16 thành viên. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam có nhiệm vụ đại diện cho các hội viên, tham gia đóng góp ý kiến vào việc soạn thảo các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan. Đồng thời, Hiệp hội cũng đứng ra tổ chức tuyên truyền bảo hiểm trong và ngoài nước, thiết lập mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các đoàn thể có liên quan đến hoạt động của Hiệp hội, hợp tác với các hiệp hội bảo hiểm các nước. Khi cần thiết, Hiệp hội thực hiện việc hoà giải tranh chấp giữa các hội viên, kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà nước về việc xử lý các trường hợp vi phạm luật trong lĩnh vực bảo hiểm. Trong quá trình hoạt động của mình, Hiệp hội đã chứng tỏ vai trò là tổ chức đại diện cho tiếng nói và quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời, cũng là tổ chức đứng ra phối hợp hoạt động của các thành viên.

    Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam ra đời hoàn toàn đúng lúc và đáp ứng sự cấp thiết của thị trường, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trên con đường phát triển bảo hiểm Việt Nam. Đây cũng là bước mở đầu cho sự tăng cường hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, lành mạnh hóa và thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển đúng đường lối, chính sách mà Nhà nước đã đề ra. Tuy nhiên, do mới được thành lập, lại chưa có kinh nghiệm quản lý, khả năng điều tiết của Hiệp hội còn rất hạn chế. Hiệp hội chưa xây dựng được các quy chế gắn kết quyền lợi của các thành viên cũng như chưa có một quy chế tự quản thích hợp. Tổ chức Hiệp hội cũng thiếu cơ quan giám sát thi hành các thoả thuận của các thành viên, dẫn tới hiện tượng vượt rào về mức phí thoả thuận cạnh tranh, tranh giành đại lý giữa các thành viên…

    V.     THỰC TRANG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

    Sau hơn 10 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới với những bước phát triển nhanh chóng. Thị trường bảo hiểm có sự tham gia ngày càng đông đảo của các công ty bảo hiểm. Số lượng công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng tăng, với các loại hình sở hữu đa dạng. Số lượng các sản phẩm bảo hiểm tăng lên nhanh chóng ở cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Sự đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ cùng với việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng nhằm tạo ra tính cạnh tranh của các công ty đã và đang từng bước thoả mãn tốt hơn nhu cầu của các khách hàng.

    Tổng hợp một số chỉ tiêu bảo hiểm chủ yếu

    Đơn vị: tỷ đồng

    Chỉ tiêu 1993 1996 1999 2002 Tăng trưởng bình quân 1993 – 2002
    1. Doanh thu phí bảo hiểm 700 1.264 2.901 6.992 29,1%
    – bảo hiểm phi nhân thọ 700 1.263 1.606 2.624 19,39%
    – bảo hiểm nhân thọ   0,95 485 4.268  
    2. Tỷ trọng phí bảo hiểm/GDP 0,37% 0,46% 0,52% 1,3%  
    3. Vốn kinh doanh 145 397 980 1900  
    4. Bồi thường bảo hiểm 120 760 789 1400  
    5. Dự phòng nghiệp vụ 188 741 2.020 8.330  
    6. Nộp ngân sách Nhà nước 68 82 145 290 17%

     Nguồn: Tạp chí Tài chính số 11/2003

    Doanh thu phí bảo hiểm thị trường tăng nhanh qua các năm với tỷ lệ đóng góp vào GDP ngày càng lớn, nộp ngân sách Nhà nước cũng ngày càng tăng. Sự phát triển của bảo hiểm cũng góp phần đem lại công ăn việc làm cho hàng vạn lao động. Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động bảo hiểm cũng ngày một tích cực. Các doanh nghiệp bảo hiểm còn đã lập được nguồn vốn lớn và dài hạn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, trong đó, sự đóng góp của các công ty bảo hiểm nhân thọ chiếm tỷ lệ lớn. Hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã thực sự đóng một vai trò tích cực trong việc ổn định nền kinh tế – xã hội, cũng như ổn định đời sống người dân, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    1. Thực trạng các mặt hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

    Sau gần 20 năm mở cửa nền kinh tế và hơn 10 năm ngành bảo hiểm có những bước đổi mới và phát triển, ngành bảo hiểm Việt Nam đã thu được những thành tựu không nhỏ trên nhiều mặt, bên cạnh đó, cũng có những hạn chế cần được khắc phục. Để có được cái nhìn toàn diện, chi tiết hơn, chũng ta sẽ xem xét cụ thể các mặt của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua.

    1.1. Số lượng, loại hình sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm

    Kể từ sau khi Nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm ra đời, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt các công ty bảo hiểm ra đời thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đã tạo một diện mạo mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Luật KDBH Việt Nam ra đời càng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các công ty được diễn ra lành mạnh và đúng hướng.

    Nếu như trước năm 1993, ở nước ta chỉ có Bảo Việt độc quyền kinh doanh, hoạt động dưới hình thức bao cấp thì đến hết năm 2002 đã có tới 23 doanh nghiệp thuộc nhiều loại hình sở hữu tham gia kinh doanh: các doanh nghiệp nhà nước là Bảo Việt, Bảo Minh, PVI và VINARE; các công ty cổ phần PJICO, PTI, Bảo Long; các doanh nghiệp liên doanh Bảo Minh – CMG, VIA, UIC, IAI, BIDV-QBE, Samsung – Vina và 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài gồm: Prudential, AIA, Manulife, Alianz, Groupama cùng với 5 công ty môi giới bảo hiểm: AIB, Đại Việt, Gras Savoye… Bên cạnh đó, sự hiện diện của hơn 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài có uy tín càng đẩy mạnh sự phát triển của ngành bảo hiểm (Nguồn: Báo Đầu tư số tháng 11/2003).

    1.2. Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành

    Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành có những bước tăng trưởng mạnh mẽ kể từ khi Nhà nước quyết định mở cửa ngành bảo hiểm. Trong thời gian từ năm 1995 đến 2002, mức tăng trưởng bình quân doanh thu dịch vụ bảo hiểm là 29,1%/năm. Trong giai đoạn này, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng gần 6 lần, năm 2002 đạt 2.624 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ năm đầu tiên hoạt động (1996) chỉ là chưa tới 1 tỷ đồng thì tới cuối năm 2002, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường đạt 4.368 tỷ đồng. Đây là một mức tăng rất cao trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực đang lâm vào khó khăn. (Nguồn: Tạp chí Tài chính số 11/2003).

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002, 11/2003

    Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường bảo hiểm giàu tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, ổn định nhất trong khu vực. Qua hơn 10 năm phát triển, ngành bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng rất cao do với các nước khác. Tuy nhiên, đến hết năm 2003, tỷ lệ tổng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP mới chỉ đạt 1,3%. Nếu đem so với tỷ lệ trung bình 8% của thế giới hay 2,5 – 7% của các nước trong khu vực thì có thể thấy con số này là quá thấp. Tổng doanh thu phí bảo hiểm mới chỉ tương đương với 3,61% tổng số tiền tiết kiệm trong dân cư. Ngay cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ hiện đang phát triển với tốc độ cao cũng chỉ thu hút được 2% số dân tham gia trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốclà 22%, ở Nhật Bản là gần 100%. Mức tham gia bảo hiểm trung bình chỉ đạt 1,5 USD/người trong khi các nước trong khu vực đạt con số cao hơn nhiều: Singapore đạt 1.320 USD/người, Thái Lan đạt 53,4 USD/người, Indonesia đạt 12,5 USD/người. (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 2/12/2003)

    1.3.    Các loại hình bảo hiểm, chất lượng dịch vụ và công tác bồi thường

    Với sự gia nhập thị trường của các công ty bảo hiểm mới, số lượng sản phẩm bảo hiểm cũng tăng lên rõ rệt từ 20 sản phẩm năm 1993 đến nay đã là hơn 500 sản phẩm. Để tạo ra sức cạnh tranh cho mình, các công ty bảo hiểm đã không ngừng nghiên cứu nhằm hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ đã có, cũng như cho ra đời các loại hình dịch vụ mới để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Giờ đây, khách hàng có thể lựa chọn các sản phẩm bảo hiểm thích hợp nhất, với biểu phí và điều kiện bảo hiểm tối ưu.

    Để thu hút thêm khách hàng, việc đẩy mạnh chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Các công ty bảo hiểm càng hiểu rõ hơn điều này, đặc biệt là trong môi trường đầy tính cạnh tranh như hiện nay. Sản phẩm có thể được cung cấp tới tận nơi cho khách hàng theo yêu cầu, cùng với đầy đủ dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ. Các kênh tiếp thị và phân phối đang ngày càng hoàn thiện. Công tác giám định tổn thất và bồi thường cũng dần trở nên nhanh chóng, chính xác và thuận tiện. Các kênh thông tin hai chiều cũng được tạo lập để có thể tiếp thu những ý kiến phản hồi từ khách hàng. Bảo Việt luôn có bộ phận cơ động trực 24/24 để giám định tổn thất và giải quyết bồi thường khi có tai nạn xảy ra. Prudential hiện cũng đã có 47 trung tâm và điểm phục vụ khách hàng ở 33 tỉnh và thành phố. Ngoài ra, các công ty đều có những hình thức ưu đãi cho khách hàng như quà tặng, phiếu giảm giá, thẻ mua hàng, hoặc thậm chí, gửi thiếp, quà chúc mừng sinh nhật cho khách hàng… Những công ty lớn còn có thể tham gia vào nhiều hoạt động xã hội, từ thiện, tài trợ cho các cuộc thi… nhằm quảng bá và nâng cao hình ảnh của mình.

    Công tác bồi thường của ngành bảo hiểm thời gian qua đóng một vai trò tích cực trong việc ổn định cuộc sống và kinh doanh. Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm trong 10 năm qua là 7.600 tỷ đồng, trong đó có nhiều vụ tổn thất lớn như vụ phụt giếng khoan dầu Lan Tây, vụ cháy chợ Đồng Xuân, vụ tai nạn máy bay ở Camphuchia, những thiệt hại do cơn bão Linda… (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số tháng 4/2003). Công tác bồi thường đã được từng bước nâng cao chất lượng với thời gian, thủ tục đòi bồi thường đã được giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập. Khách hàng gặp rất nhiều phiền hà, cũng như mất nhiều thời gian trong việc đòi bồi thường cho những tổn thất xảy ra với mình, mặc dù nhiều trường hợp tổn thất xảy ra nằm trong các rủi ro được bồi thường. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh đang mất lòng tin ở các công ty bảo hiểm Việt Nam bởi công tác bồi thường được thực hiện chưa tốt. Đó cũng chính là lý do tại sao khi mua bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu, cũng như mua bảo hiểm kỹ thuật cho các công trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, các chủ hàng, cũng như các chủ đầu tư thường lựa chọn các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn, có uy tín. Các công ty bảo hiểm Việt Nam chưa tận dụng được ưu thế về địa lý, sự hiểu biết về pháp luật cũng như quan hệ với khách hàng trong nước để giải quyết việc bồi thường tổn thất một cách thuận tiện, nhanh chóng. Để nâng cao ưu thế cạnh tranh với các công ty nước ngoài, đây là một trong những nhược điểm lớn mà các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải sớm khắp phục.

    1.4. Hệ thống đại lý

    Sự phát triển của bảo hiểm cũng góp phần đem lại công ăn việc làm cho khoảng gần 77.000 lao động trong ngành, trong đó khoảng 50% đang làm việc cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Mạng lưới đại lý bảo hiểm được mở rộng và đã dần phủ kín toàn quốc. Bảo Việt đã có hệ thống đơn vị thành viên ở tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước gồm 61 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 56 công ty bảo hiểm nhân thọ, 5 chi nhánh bảo hiểm nhân thọ, 1 trung tâm đào tạo… với gần 5.000 nhân viên, trên 18.000 đại lý và cộng tác viên hoạt động trên khắp mọi miền đất nước (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 2/12/2003). Bằng cách mở rộng mạng lưới đại lý, ngành bảo hiểm đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Nếu như năm 2000, tính cả thị trường bảo hiểm nhân thọ mới có khoảng 17.000 đại lý thì đến năm 2002, số lượng đại lý của 5 công ty bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua con số 70.000, trong đó, Prudential dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng đại lý, với gần 40.000 đại lý bảo hiểm đang hoạt động (Nguồn: www.prudential.com.vn, ngày 2/12/2003).

    Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, đại lý bảo hiểm của các công ty vẫn chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu phát triển mới, chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp cần phải có. Những lao động trong ngành bảo hiểm không chỉ cần vững về chuyên môn, nghiệp vụ mà do đặc thù nghề nghiệp, họ còn phải có nhiều phẩm chất cần thiết khác như trung thực, nhiệt tình, cởi mở… Trong chiến lược phát triển của các công ty bảo hiểm hiện nay, việc xây dựng một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, công tác đào tạo về kiến thức chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, phong cách phục vụ khách hàng còn chưa được chú trọng đúng mức. Khách hàng của bảo hiểm nhân thọ vẫn thường phàn nàn về hiện tượng một số đại lý đã tư vấn sai, hoặc qua loa, thông đồng với khách hàng che giấu bệnh tật, hoặc không chăm sóc khách hàng chu đáo khi hợp đồng đã được ký kết… Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, tình trạng đánh giá chưa chính xác các rủi ro, sách nhiễu khách hàng khi phải bồi thường tổn thất vẫn xảy ra. Đặc biệt, khi các công ty bảo hiểm đều chú trọng ứng dụng các công nghệ mới, mở rộng hình thức tiếp cận khách hàng như giao dịch qua mạng, qua hệ thông ngân hàng, nếu không có kiến thức rộng hơn cũng như không có tính chuyên nghiệp cao thì đội ngũ nhân viên, đại lý, tư vấn sẽ không thế đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khó tính của khách hàng.

    1.5. Năng lực về vốn, công nghệ

    Các công ty bảo hiểm hiện nay cũng đang gặp phải những khó khăn chung mà các công ty hoạt động trong các ngành nghề khác đang gặp phải. Đó chính là sự hạn chế năng lực về vốn, công nghệ, đặc biệt là ở nhiều công ty bảo hiểm Nhà nước hay các công ty cổ phần. Trừ các công ty 100% vốn nước ngoài có nguồn gốc từ những tập đoàn tài chính lớn trên thế giới, nguồn vốn của hầu hết các công ty bảo hiểm Việt Nam vẫn còn khá nhỏ bé trong khi đăc thù của kinh doanh bảo hiểm lại đòi hỏi tiềm lực tài chính vững mạnh. Tổng vốn của công ty bảo hiểm lớn nhất của Việt Nam là Bảo Việt cũng chưa tới 52 triệu USD trong khi một công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài khác là Prudential đã thực hiện việc tăng vốn lên 61 triệu USD vào năm 2002. Để có thể đứng vững trước môi trường cạnh tranh hiện nay, các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải có nguồn vốn lớn hơn.

    Công nghệ bảo hiểm của các công ty Việt Nam còn khá lạc hậu so với khu vực và thế giới. Công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nghiệp vụ bảo hiểm, quyết định tới 60 – 80% sự thành bại của các doanh nghiệp. Nó đơn giản hoá được một khối lượng công việc hành chính khổng lồ và nhiều nghiệp vụ phức tạp, tạo ra nhiều tiện ích cho khách hàng, cũng như hình thành nên các kênh thông tin đa chiều… Trong khi đó, việc ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ mới chỉ được tiến hành ở một số công ty lớn, lại không được thường xuyên, và tính hiệu quả cũng chưa cao. Năm 2003, Bảo Việt đã dành khoảng 6 triệu USD, tương đương 70% lợi nhuận của công ty năm 2002 để đầu tư vào xây dựng mạng nội bộ, ứng dụng các tiện ích đa phương tiện… (Nguồn: www.vnexpress.net, ngày 5/12/2003). Một số công ty bảo hiểm hàng đầu khác như Bảo Minh, PVI… cũng đều có bộ phận phụ trách phát triển công nghệ và đang tích cực triển khai các dự án công nghệ thông tin. Tuy nhiên, việc ứng dụng vẫn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều lý do: cơ sở hạ tầng viễn thông nước ta vẫn yếu kém, tiềm lực tài chính của các công ty còn hạn hẹp… Đặc biệt, do đặc thù của các nghiệp vụ bảo hiểm, mô hình ứng dụng công nghệ vào các công ty còn đòi hỏi sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với mục đích và trình độ quản lý, sử dụng. Trong khi đó, với sự hỗ trợ từ AIG, AIA Việt Nam đã đưa vào sử dụng những phần mềm, phần cứng do công ty mẹ cung cấp, và hiện đang có một hệ thống liên lạc hiện đại không kém so với các chi nhánh AIA toàn cầu.

    1.6. Quy tắc bảo hiểm áp dụng

    Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bảo Việt ban hành nhiều quy tắc bảo hiểm áp dụng cho các lĩnh vực, tạo rất nhiều thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Trong số đó có thể kể đến “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển” lần đầu tiên ra đời năm 1965, và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1990. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ban hành được nhiều quy tắc khác như: các quy tắc về bảo hiểm thân tàu ở Việt Nam, Quy tắc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam năm 1992, Quy tắc về bảo hiểm hàng không năm 1991, Quy tắc và biểu phí bảo hiểm hỏa hoạn (1989, 1993, 1989)…

    Các quy tắc và biểu phí áp dụng trong bảo hiểm ở Việt Nam hầu hết được xây dựng dựa trên quy tắc quốc tế hoặc quy tắc của các nước có nền bảo hiểm phát triển trên thế giới. Do vậy, Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm và cũng tạo được sự tương đồng nhất định với quy tắc của các nước. “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển” chủ yếu dựa trên các điều kiện bảo hiểm A, B, C của Viện ILU nước Anh (Instiute Cargo Clauses A, B, C). Quy tắc về bảo hiểm hàng không chủ yếu dựa theo các quy tắc của Anh, Mỹ, Quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn cũng được nghiên cứu dựa trên các quy tắc của Đức, Anh… Các quy tắc của Việt Nam cũng đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp vời điều kiện thực tế ở Việt Nam nhưng nhìn chung các quy tắc trên cũng không tránh khỏi nhiều chỗ thiếu sót. Mặt khác, hệ thống các quy tắc bảo hiểm ở Việt Nam vẫn chưa đầy đủ. Nhiều loại nghiệp vụ bảo hiểm vẫn chưa có quy tắc riêng để áp dụng, gây khó khăn không nhỏ cho cả bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm. Điển hình là quy tắc bảo hiểm chiến tranh đình công với hàng hoá vận chuyển bằng đường hành không vẫn chưa được nghiên cứu, áp dụng trong khi hiện nay đây là một quy tắc rất cần thiết.

    1.7. Hoạt động đầu tư

    Với sự phát triển nhanh trong thời gian qua, ngành bảo hiểm đang dần chứng tỏ được vai trò của mình như một kênh huy động vốn đầu tư, một trung gian tài chính có hiệu quả. Hoạt động đầu tư của các công ty đều được thực hiện theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, đáp ứng kịp thời các yêu cầu chi trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm, đồng thời đem lại lợi nhuận hợp lý để trang trải cho các chi phí hoạt động và mở rộng phạm vi kinh doanh. Riêng công ty Bảo Việt cũng thời gian qua đã góp vốn vào thành lập nên 15 công ty cổ phần lớn, trong đó có các công ty như Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế, Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu… Nhiều dự án có giá trị kinh tế – xã hội cao cũng có sự tham gia góp vốn của các công ty bảo hiểm: Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia, Khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây, Khu công nghiệp Đình Vũ… Ngoài ra, các công ty bảo hiểm cũng góp vốn vào hàng trăm công trình xây dựng có giá trị đầu tư lớn.

    Doanh thu phí, tốc độ tăng và đóng góp vào các quỹ đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ.

    Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
    Doanh thu phí (tỷ VND) 0,95 17,5 203 492 1.280 2.775 4645
    Tốc độ tăng doanh thu phí (so với năm trước)   1,74% 1,06% 142% 160% 117% 167%
    Quỹ đầu tư (tỷ VND) 0,7 15 178 582 1.654 4.001 6.700

    (Quỹ đầu tư ước tính vào cuối mỗi năm tương ứng với quỹ dự phòng nghiệp vụ, không tính nguồn vốn điều lệ).

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 4/2002, 11/2003

    Tuy nhiên, kết quả hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm vẫn chưa thực sự xứng đáng với tiềm năng của mình. Hoạt động góp vốn liên doanh, cho vay theo pháp luật ngân hàng, đầu tư vào bất động sản có xu hướng giảm do lo sợ rủi ro tài chính trong lĩnh vực tín dụng – ngân hàng, và do sự giảm lợi nhuận trên thị trường bất động sản. Cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm vẫn còn khá đơn điệu, chủ yếu tập trung vào những công cụ đầu tư có tính thanh khoản cao nhưng hiệu quả không cao. Hình thức đầu tư phổ biến nhất hiện nay (chiếm tới hơn 50%) vẫn là gửi tiền vào các ngân hàng thương mại để hưởng lãi, trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này là rất thấp (ở Anh, Pháp, Đức chỉ khoảng 1,1 – 1,9%). Kinh doanh chứng khoán mới chiếm khoảng hơn 30%, trong khi ở hầu hết các nước, đây là công cụ đầu tư được sử dụng rộng rãi nhất (ở Anh là hơn 51%, ở Pháp là hơn 87%) (Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002). Ngoài các lý do khách quan như hạn chế của pháp luật về mức vốn đầu tư, tỷ lệ lập quỹ dự phòng theo pháp luật, môi trường đầu tư chưa thông thoáng, ổn định, thiếu các dự án khả thi, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển… các công ty bảo hiểm cũng chưa có sự quan tâm thích đáng đến việc đẩy mạnh hoạt động đầu tư. Trừ Bảo Việt đã có đơn vị độc lập chuyên về đầu tư chứng khoán (Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt), các công ty chủ yếu tiến hành hoạt động đầu tư thông qua các phòng ban ở hội sở chính.

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002

    1.8. Hoạt động cạnh tranh

    Sự xuất hiện của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một môi trường cạnh tranh đầy tính tích cực. Sự cạnh tranh quyết liệt đã khiến các công ty phải giảm phí, mở rộng điều kiện, điều khoản bảo hiểm. Các công ty đều phải có chiến lược cụ thể và lâu dài vì giờ đây, khách hàng đã có nhiều lựa chọn. Và như vậy, chính khách hàng đang được hưởng lợi nhiều nhất từ những hoạt động nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các công ty. Nhận thức của các cá nhân, tập thể về vai trò của bảo hiểm cũng được nâng cao thông qua các chương trình quảng cáo. Theo Bảo Việt thì hiện nay có khoảng 76% người dân thành phố đã biết đến bảo hiểm nhân thọ. Đây là một kết quả rất đáng mừng bởi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ chỉ mới bắt đầu triển khai ở Việt Nam trong thòi gian chưa lâu.

    Tuy nhiên, do vẫn còn khá non trẻ, lại phải chịu nhiều sức ép mới, ngành bảo hiểm nước ta đã xuất hiện một số tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh cũng như đến hình ảnh của toàn ngành. Tình trạng cạnh tranh về phí bảo hiểm phi nhân thọ đang trở nên ngày càng phức tạp. Ở nhiều dự án xây dựng lớn bằng vốn đầu tư của Nhà nước, dù đã có thoả thuận đồng bảo hiểm với nhau nhưng tình trạng cạnh tranh trong giảm phí và hạ mức khấu trừ tới mức các nhà bảo hiểm đánh giá là phi kỹ thuật vẫn xảy ra. Việc mở rộng điều kiện và điều khoản bảo hiểm một cách quá mức, không phù hợp với thông lệ quốc tế cũng đang xảy ra. Mức bảo hiểm kỹ thuật ở Việt Nam đang thấp hơn từ 20 – 25% so với mức phí đang áp dụng cho những dự án tương tự trên thế giới, trừ Trung Quốc. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). Trong bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm P&I, sự cạnh tranh gia tăng giữa các doanh nghiệp cũng dẫn đến tỷ lệ phí áp dụng tiếp tục giảm, nhất là phí cho những con tàu mới mua, gây ảnh hưởng lớn tới việc thu xếp tái bảo hiểm. Với đặc thù của ngành bảo hiểm, việc cạnh tranh bằng hạ phí làm năng lực tài chính của công ty bí giảm sút, sẽ gây tác động xấu trở lại khách hàng do hạ phí làm giảm khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi ro. Vấn đề hạ phí sẽ có tác động rất xấu khi các công ty bảo hiểm nước ngoài với tiềm lực tài chính vững mạnh sẽ chấp nhận lỗ trong thời gian đầu để chiếm lĩnh thị trường rồi tiến tới lũng đoạn.

    Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hiện tỏ ra vượt trội về nhiều mặt, đặc biệt là có ưu thế về kinh nghiệm, uy tín, khả năng phát triển hệ thống đại lý, mở rộng thị trường… Các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước vốn chưa quen với việc môi trường cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường đã sử dụng nhiều biện pháp không lành mạnh như dùng mệnh lệnh hành chính để tác động đến thị trường, gây bất bình đẳng trong cạnh tranh và đi ngược lại những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, tình trạng đưa thông tin sai lệch gây tổn hại đến hình ảnh của đối thủ cạnh tranh nhằm lôi kéo khách hàng cũng thường xuyên xảy ra.

    Hiện tượng “độc quyền công ty” hiện nay cũng diễn ra phổ biến với sự tham gia của các công ty cổ phần bảo hiểm. Hầu hết các cổ đông thành lập nên các công ty cổ phần bảo hiểm là các doanh nghiệp nhà nước đang nắm vai trò quan trọng trong nền kinh tế như: xăng dầu, dầu khí, bưu điện… Điều này dẫn tới một thực tế là các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc ngành, thuộc tổng công ty có cổ phần ở công ty bảo hiểm nào sẽ phải mua bảo hiểm tại đó. Bảo Việt đã phải chuyển bảo hiểm cho hành khách đường sắt cho PJICO vì Tổng công ty đường sắt Việt Nam là cổ đông của PJICO. Tình trạng này sẽ khiến các công ty bảo hiểm ỷ lại, không chịu khó tìm kiếm thêm thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ.

    1.9. Công tác quản lý nhà nước và hệ thống văn bản pháp quy

    Trước năm 1986, bảo hiểm cũng như các ngành kinh tế khác hoạt động theo cơ chế bao cấp, đồng nhất quản lý với kinh doanh. Đến năm 1992, để thích ứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, bộ phận quản lý Nhà nước chuyên trách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được thành lập, thuộc Vụ Tài chính các Ngân hàng và các tổ chức tài chính trực thuộc Bộ Tài chính. Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 134/2003/QĐ – BTC  quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ bảo hiểm, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi cả nước. Hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm cũng đã được ban hành. Đây là một công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý bảo hiểm theo dõi, kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh, việc chấp hành cách chính sách, pháp luật Nhà nước của doanh nghiệp bảo hiểm.

    Công tác quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm đã từng bước hoàn thành các mục tiêu của mình, trong đó, việc bảo vệ tối đa quyền lợi của người tham gia bảo hiểm rất được chú ý. Nhà nước buộc các công ty bảo hiểm đảm bảo khả năng tài chính bằng việc quy định mức vốn pháp định, tỷ lệ lập quỹ dự phòng… Việc quản lý nội dung, phạm vi hoạt động, quản lý đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm cũng đang dần được tiến hành một cách đầy đủ và nghiêm túc. Các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp mất khả năng thanh toán và việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm trong các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm giải thể hoặc phá sản đều chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng là Bộ Tài chính. Công tác quản lý nhà nước cũng đã chú trọng đến việc tăng cường khả năng tài chính cho các doanh nghiệp bảo hiểm, khuyến khích việc tích luỹ vốn để tái đầu tư, đảm bảo cho thị trường bảo hiểm phát triển ổn định.

    Các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng đã từng bước được soạn thảo, thi hành. Việc xây dựng được hệ thống văn bản pháp lý vừa tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển đúng hướng vừa bảo đảm sự kiểm tra giám sát của nhà nước. Luật KDBH có hiệu lực vào 01/04/2000 điều chỉnh các mặt của kinh doanh bảo hiểm đã đặt nền móng cho quá trình hoàn thiện môi trường pháp lý cho ngành. Kèm theo luật là các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành với nhiều chi tiết cụ thể, giúp các đối tượng điều chỉnh của Luật khỏi lúng túng trong quá trình thực hiện. Ngày 29/08/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010, đưa ra một số chỉ tiêu, giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược về phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm, quá trình thực hiện lại nảy sinh nhiều vấn đề mới, hệ thống pháp luật hiện nay chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu. Các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm hiện có rất nhiều nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ. Luật KDBH không cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm là công ty Trách nhiệm hữu hạn, nhưng cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài mà theo quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hai loại hình doanh nghiệp trên cũng là công ty Trách nhiệm hữu hạn. Ngoài ra, quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chưa chi tiết và đầy đủ, chưa đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp. Luật cần tạo sự yên tâm đầu tư và kinh doanh ở Việt Nam cho các công ty nước ngoài, song cũng cần bảo hộ một cách hợp lý cho các công ty trong nước, tránh cho ngành bảo hiểm nói riêng và thị trường tài chính nói chung bị thao túng.

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua xảy ra nhiều hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hại nhiều mặt cũng vì chúng ta thiếu một hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động cạnh tranh. Do chưa có Luật cạnh tranh, Nhà nước thiếu đi một công cụ hữu hiệu để quản lý và kiểm soát việc cạnh tranh, cũng như không có một chế tài xử phạt đối với các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại tới đối thủ, tới khách hàng, và tới nền kinh tế – xã hội. Khi những hành vi đó gây hậu quả xấu, cũng không có cơ sở cho việc tính toán để bù đắp thiệt hại. Như vậy, đây vẫn là một kẽ hở pháp luật cần phải loại bỏ để ngành kinh doanh bảo hiểm có thể tiếp tục đi lên và đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.

    1.10. Hợp tác quốc tế

    Ngành bảo hiểm Việt Nam tuy gần đây mới thực sự đạt được một số thành tựu, nhưng lại hứa hẹn rất nhiều tiềm năng. Các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn trên thế giới đã nhìn thấy triển vọng của thị trường Việt Nam và các công ty này đã tạo một động lực phát triển mới. Việc cho phép các công ty bảo hiểm trong nước hợp tác liên doanh với các công ty bảo hiểm nước ngoài và thành lập các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không chỉ góp phần thu hút vốn đầu tư mà còn thể hiện nỗ lực hợp tác của ngành bảo hiểm Việt Nam. Các công ty bảo hiểm nước ngoài với tiềm lực kinh tế vững chắc, kinh nghiệm, uy tín lâu năm, công nghệ bảo hiểm hiện đại, quan hệ rộng khắp với các tổ chức tài chính mạnh trên thế giới sẽ đáp ứng được các nhu cầu bảo hiểm mà các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước không có khả năng, đồng thời, tạo ra môi trường cạnh tranh. Qua đó, Việt Nam cũng học tập được những kinh nghiệm quản lý tiên tiến và công nghệ bảo hiểm hiện đại. Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng nằm trong tiến trình hội nhập với khu vực và quốc tế theo các hiệp định quốc tế như Hiệp định khung về hợp tác dịch vụ ASEAN, WTO, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ…

    Hiện nay, các công ty bảo hiểm đều có mối quan hệ hợp tác bảo hiểm và tái bảo hiểm với các tập đoàn bảo hiểm hàng đầu thế giới như: Commercial Union, Tokyo Marine, Yasuda, Sedgwich, Willis Corroon, Munich Re, Swiss Re… Bộ Tài Chính cũng không ngừng mở rộng mối quan hệ hợp tác với các cơ quan quản lý bảo hiểm của EU, ASEAN, từ đó, từng bước chuẩn hóa môi trường kinh doanh bảo hiểm để phù hợp với tình hình chung của khu vực và thế giới. Nhiều nghị định, dự án hợp tác nhằm phát triển ngành bảo hiểm đã được ký kết với các tổ chức quốc tế đã và đang thu kết quả tốt như: Hiệp định hợp tác về triển khai dự án trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng về bảo hiểm giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Liên đoàn các công ty bảo hiểm Pháp ngày 21/06/1993; dự án trợ giúp sự phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam trong chương trình trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường do ủy ban Châu Âu phối hợp với Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính… Ngày 11/11/2003, Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm cũng đã được ký kết giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm liên bang Mỹ (NAIC) với những nội dung trợ giúp kỹ thuật theo định kỳ hoặc theo vụ việc.

    Trong năm 2003, Việt Nam cũng đã đứng ra tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm như diễn đàn bảo hiểm ASEAN, Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN lần thứ 6 (AIRM6), Hội nghị hội đồng bảo hiểm ASEAN lần thứ 29 (AIC29) và Hội nghị lần thứ 4 hội đồng các cơ quan quốc gia ASEAN… Nội dung của các hội nghị tập trung vào việc tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các nước ASEAN trong lĩnh vực bảo hiểm. Ngoài ra, Việt Nam đã lần đầu tiên tham gia vào “Chương trình bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới ASEAN”. Đây là chương trình nhằm mục đích hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận tải hàng hoá quá cảnh và liên quốc gia trong các nước ASEAN. Đây là những cơ hội rất tốt cho ngành bảo hiểm Việt Nam hội nhập vào kinh tế khu vực.

    2. Nhận xét chung

    Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm đã làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trở nên sôi động, hoạt động ngày càng mạnh mẽ. Tốc độ tăng doanh thu phí của bảo hiểm Việt Nam ở mức khá cao so với thế giới và khu vực. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Sự tăng trưởng mạnh mẽ đó đã làm cho số vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên và theo đó khả năng giữ lại phí bảo hiểm trong nước cũng được nâng lên tương ứng. Qui định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài.

    Khả năng tài chính và uy tín của các công ty bảo hiểm trong nước ngày càng lớn mạnh. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã có thể phục vụ các ngành kinh tế, các tầng lớp nhân dân với việc tham gia vào nhiều hợp đồng có mức trách nhiệm lớn, lên đến hàng tỷ USD như bảo hiểm trong các lĩnh vực hàng không, dầu khí… Nhiều công trình có trị giá bảo hiểm lớn như: nhà máy xi măng Chinfon, nhà máy điện Phú Mỹ, các toà nhà, khách sạn lớn cùng với hàng nghìn nhà xưởng, văn phòng… cũng được bảo hiểm  rủi ro xây dựng, lắp đặt, bảo hiểm hoả hoạn và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại các công ty bảo hiểm Việt Nam. Hoạt động đầu tư của các công ty cũng đang tạo ra một nguồn vốn lớn cho xã hội.

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam cũng đang tích cực hợp tác, giúp đỡ nhau cùng có lợi. Các công ty bảo hiểm đã có được bản đồng thoả thuận về khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt. Các công ty bảo hiểm gốc cũng cùng nhau đề nghị Bộ Tài chính sửa đổi biểu phí, qui tắc của bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, theo đó Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 115/CP-1998 về bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Đặc biệt, sự ra đời của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đại diện cho các doanh nghiệp cũng thể hiện những bước tiến tích cực của bảo hiểm Việt Nam.

    Ngành bảo hiểm tuy mới thực sự phát triển trong vài năm gần đây song cũng đã và đang phát triển với tính ổn định tương đối cao, từng bước hình thành một thị trường tài chính lành mạnh ở nước ta. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy rằng, thị trường bảo hiểm của Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm vẫn còn khá nhiều hạn chế. Công tác giải quyết bồi thường chưa được thực hiện tốt, chưa đảm bảo tối đa quyền lợi của khách hàng khi gặp thiệt hại. Các sản phẩm bảo hiểm tuy đã đa dạng hơn trước, nhưng vẫn còn hạn chế, chưa phát triển trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thiên tai, nông nghiệp, tín dụng và rủi ro tài chính, hoạt động hành nghề y dược, luật sư…

    Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cũng như bảo hiểm nhân thọ đều chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt hơn 11 tỷ USD trong nửa đầu năm 2003 nhưng số hàng hoá mua bảo hiểm trong nước chỉ đạt khoảng 5%. Tỷ lệ mua bảo hiểm trong nước cho hàng hoá nhập khẩu cũng chỉ chiếm 24% (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 5/2003). Có thể thấy, các công ty bảo hiểm Việt Nam đã mất một nguồn thu phí bảo hiểm rất lớn vào tay các công ty bảo hiểm nước ngoài, làm chảy mất một lượng ngoại tệ lớn và giảm đáng kể nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Theo tính toán của VINARE, trung bình mỗi năm hơn 70 triệu USD phí bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bị chuyển ra nước ngoài, làm ngân sách Nhà nước mất đi một khoản thu thuế lên tới 3 triệu USD/năm. Trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng lên với rất nhiều công trình xây dựng có giá trị lớn, nhưng tổng doanh thu phí mà các công ty bảo hiểm Việt Nam tham gia cung cấp dịch vụ cho các công trình này chỉ chiếm khoảng 10 – 15%. (Nguồn: www.vneconomy.com.vn, ngày 5/12/2003). Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt chưa thực sự được đẩy mạnh trong khi hàng năm, ở nước ta, tai nạn do cháy nổ vẫn gia tăng với tốc độ cao một cách đáng báo động.

    Ngay cả thị trường bảo hiểm nhân thọ gần đây trở nên rất sôi động, nay cũng đang có vài dấu hiệu chững lại. Năm 2003, do nhu cầu của khách hàng tăng chậm, các công ty không đưa ra nhiều sản phẩm bảo hiểm như năm trước. Năm 2002, trung bình một người dân mới chỉ bỏ ra 4 USD để mua bảo hiểm nhân thọ. Tỷ lệ dân chúng tham gia mua bảo hiểm mới chỉ đạt khoảng 2%, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Với số dân 80 triệu người, trong đó khoảng 1/2 trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ này là không tương xứng. (Nguồn: www.vnexpress.net, ngày 27/11/2003)

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh, đầu tư chưa hiệu quả… Bên cạnh yếu tố chủ quan từ các công ty, có thể thấy sự thiếu hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật và công tác quản lý Nhà nước cũng đang ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển lành mạnh của ngành bảo hiểm. Để đạt được những bước tiến nhanh và bền vững, đồng thời hoàn thành mục tiêu đã được đề ra trong “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”, ngành bảo hiểm Việt Nam vẫn còn phải khắc phục rất nhiều hạn chế.

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

    *******************

    VI.  ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM VIỆT NAM

        1. Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    Như đã trình bày ở phần II của chương I, bảo hiểm có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Thực tế cho thấy, hầu hết những nền kinh tế đứng đầu hiện nay đều chú trọng phát triển ngành bảo hiểm. Với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, bảo hiểm càng đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nền tài chính vững mạnh, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Ngành bảo hiểm Việt Nam đã đóng góp tích cực vào việc ổn định nền kinh tế xã hội và đời sống nhân dân, giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Mỗi năm, trung bình các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi 1.200 tỷ để bồi thường cho các cá nhân, tổ chức gặp phải rủi ro.Năm 2002, chỉ riêng nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đã bồi thường thiệt hại cho khách hàng gần 3 triệu USD (chưa kể những tổn thất của công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh). Trong số đó, các vụ tổn thất lớn là vụ cháy tại Công ty chế biến thực phẩm Hoàng Long ở Quảng Nam thiệt hại 560.000 USD, cháy phòng làm việc ở dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước Hà Nội thiệt hại 300.000 USD, cháy Bưu điện Quy Nhơn thiệt hại 233.000 USD… Năm 2003, bảo hiểm kỹ thuật đã bồi thường nhiều tổn thất lớn, tổng giá trị lên đến khoảng14 triệu USD: vụ rơi máy phát điện của nhà máy điện Phú Mỹ 3 thiệt hại 6 triệu USD, vụ cháy nhà máy chế biến thức ăn Interfood thiệt hại khoảng 6 triệu USD, thiệt hại cáp điện trong quá trình vận chuyển của nhà máy điện Phú Mỹ 3 thiệt hại khoảng 1 triệu USD, cháy nhà máy nhựa Phú Mỹ thiệt hại 500.000 USD, cháy nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 với số tiền bồi thường cũng lên tới khoảng 430.000 USD. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003)

    Ngoài tác dụng bồi thường, tạo sự ổn định về mặt kinh tế cho các cá nhân, tổ chức khi gặp phải những rủi ro, bảo hiểm còn là kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế nước ta. Ở Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vốn bên ngoài tuy rất quan trọng nhưng đôi khi hạn chế và dễ bị tác động các yếu tố ngoại cảnh. Vì vậy, thu hút nguồn vốn trong nước là một việc làm hết sức cấp thiết. Bảo hiểm đã góp phần tích cực vào việc hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Các công ty bảo hiểm đã trở thành một trung gian tài chính của nền kinh tế, thu hút vốn, cung ứng vốn, góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy phát triển nhanh sự luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Phạm vi cũng như hình thức đầu tư của bảo hiểm rất đa dạng. Các công ty có thể cấp các khoản vay khác nhau hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường tự do, tạo vốn cho ngành công nghiệp và thương mại, đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật, gửi tiền vào ngân hàng hoặc tham gia góp vốn đầu tư vào các công ty…

    Mặt khác, hàng năm, các công ty bảo hiểm cũng đã đem lại một khoản thu không nhỏ cho ngân sách Nhà nước. Nếu như năm 1993, nộp ngân sách của các doanh nghiệp bảo hiểm mới đạt 68 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã là 290 tỷ đồng. Đóng góp vào GDP cũng tăng từ 0,37% (1993) lên 1,3% (2002) (Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2003). Nhiều công ty bảo hiểm tham gia rât tích cực vào hoạt động xã hội như ủng hộ các quỹ từ thiện, Bảo hiểm cũng có vai trò lớn trong việc tăng cường công tác đề phòng rủi ro, hạn chế tổn thất. Nhiều công ty bảo hiểm rất tích cực nâng cao hiểu biết và trang bị dụng cụ nhằm đảm bảo an toàn lao động, an toàn cháy nổ… cho các các nhân, tổ chức. Nhờ đó, hàng năm, chúng ta tránh được nhiều thiệt hại đáng tiếc về con người, về tài sản. Ngoài ra, bảo hiểm đã tạo ra tâm lý an tâm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đời sống nhân dân, mang lại chỗ dựa về tài chính khi xảy ra những tình huống ngoài ý muốn.

                2. Định hướng phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam thời gian tới

    Để có được sự đi lên mạnh mẽ, ổn định cho ngành bảo hiểm, việc xây dựng định hướng phát triển cho ngành cần dựa trên chiến lược phát triển chung của ngành Tài chính. Bởi vì, bảo hiểm là một bộ phận không thể tách rời của ngành Tài chính, đồng thời, phát triển ngành bảo hiểm cũng là nhằm phát triển một nền tài chính vũng mạnh.

    2.1. Định hướng phát triển của ngành tài chính Việt Nam

    Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010, mà trước mắt là hoàn thành kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, nhiệm vụ đặt ra cho ngành tài chính là rất nặng nề. Để thực hiện những trọng trách mà Đảng và Nhà nước đã giao phó, cũng như để đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành Tài chính đã đề ra các mục tiêu chiến lược cho giai đoạn tới. Đó là: Xây dựng nền tài chính quốc gia có tiềm lực đủ mạnh, đảm bảo chiến lược tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, phục vụ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Hệ thống chính sách động viên, phân phối tài chính công bằng, ổn định tích cực, năng động, phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đủ sức phát triển nội lực, chủ động hội nhập, thu hút ngoại lực, quản lý và sử dụng có hiệu quả toàn bộ nguồn lực tài chính của đất nước; Xây dựng nền tài chính công khai, minh bạch, dân chủ, được kiểm toán, kiển soát, làm cho tài chính trở thành thước đo hiệu quả quá trình hoạt động kinh tế của các chủ thể trong xã hội; Năng lực hiệu lực quản lý Nhà nước về tài chính được tăng cường, đổi mới và cải cách mạnh thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hoá công nghệ quản lý tài chính, đội ngũ cán bộ tài chính thực sự là những cán bộ cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; Củng cố và nâng cao vị trí tài chính Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

    Để thực hiện tốt tất cả các mục tiêu trên, ngành Tài chính đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm cho một số lĩnh vực hoạt động tài chính.

    Huy động và phân phối sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư: Ngành Tài chính sẽ kiến nghị Nhà nước ban hành các cơ chế, chính sách để cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh doanh. Ngành sẽ tiến hành xây dựng hệ thống chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực phát triển cho cả nước, phát triển mạnh mẽ thị trường vốn và thị trường các yếu tố sản xuất, xây dựng cơ chế, chính sách cho vay lại đối với khu vực tư nhân. Mặt khác, ngành Tài chính cũng sẽ tiến hành hoàn thiện chính sách quản lý tài chính, hoàn thiện hệ thống giám sát và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án và các chương trình sử dụng vốn vay nước ngoài, đảm bảo khả năng thu hồi vốn trả nợ nước ngoài đúng thời hạn. Một nhiệm vụ khác rất quan trọng hiện nay là phải nghiên cứu, ban hành chính sách tài chính nhằm tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh, khắc phục tình trạng phân biệt đối xử trong kinh doanh giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

                     *  Hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nước: Để thực hiện mục tiêu này, trong giai đoạn tới, ngành sẽ thực hiện nguyên tắc ưu tiên vốn ngân sách cho đầu tư phát triển: ưu tiên các công trình hạ tầng cơ sở không có khả năng thu hồi vốn, nhưng có tầm quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, ưu tiên các công trình trọng điểm của Nhà nước. Cơ chế hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước sẽ bị xoá bỏ và Nhà nước sẽ thực hiện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu sản phẩm hoặc lĩnh vực quan trọng. Ngành Tài chính cũng sẽ cố gắng khống chế bội chi ngân sách Nhà nước và xây dựng mức dự phòng tài chính ở mức hợp lý, đảm bảo đủ nguồn tài chính cho các hoạt động của bộ máy Nhà nước. Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước tập trung, thống nhất sẽ được thực hiện đồng thời với việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp, các ngành. Việc thực hiện và cải tiến cơ chế điều tiết tỷ lệ nguồn thu tiếp tục được thực hiện, theo hướng phân định rõ ràng, cụ thể, ổn định lâu dài các nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương.

                     *  Đổi mới và phát triển tài chính doanh nghiệp: Ngành sẽ tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách để hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhằm khuyến khích phát triển và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường cho mọi loại hình doanh nghiệp, thực hiện chế độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp trong đầu tư, trong kinh doanh, trong phân phối và sử dụng kết quả tài chính, giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, hỗ trợ về tài chính, củng cố và hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính…

                     * Phát triển mạnh mẽ thị trường tài chính: Hệ thống các thị trường tài chính sẽ được xây dựng và hoàn thiện nhằm hình thành một hệ thống thực hiện tài chính đồng bộ, vận hành theo các nguyên tắc thị trường với quy trình công nghệ hiện đại, chủ động hội nhập vào thị trường tài chính khu vực và thế giới theo cam kết lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính của Chính phủ. Hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư sẽ được phát triển rộng rãi, đồng thời với phát triển quỹ đầu tư phát triển ở các tỉnh, thành phố. Các công ty, doanh nghiệp cổ phần được khuyến khích phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các công cụ vay nợ khác, khuyến khích niêm yết công khai trên Trung tâm giao dịch chứng khoán.

    Ngoài ra, ngành Tài chính sẽ tiến hành cải cách lãi suất, mở rộng quy mô tín dụng, tăng tỷ lệ huy động vốn, xử lý cơ chế lãi suất nội và ngoại tệ một cách hợp lý, đồng thời, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tiến tới thành lập Ngân hàng chính sách. Các định chế tài chính trên thị trường chứng khoán sẽ được hoàn thiện và thiết lập mới theo nhiều loại hình khác nhau, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.

    Thị trường bảo hiểm sẽ được chú trọng đẩy mạnh phát triển với mức tăng trưởng bình quân 20 – 25%/năm trên cơ sở hoàn thiện và phát triển dịch vụ bảo hiểm theo hướng đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp và loại hình sản phẩm: thành lập thêm các doanh nghiệp bảo hiểm với nhiều loại hình sở hữu, trong đó doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, hoàn thiện và phát triển các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm, đặc biệt là những loại giàu tiềm năng. Hoạt động bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội sẽ được xã hội hoá nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời phát triển bảo hiểm tự nguyện bổ sung cho các đối tượng có yêu cầu cao hơn.

    *  Chủ động hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính: Việc chủ động hội nhập quốc tế được thực hiện trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh kinh tế và tài chính theo lộ trình đã cam kết. Ngành Tài chính sẽ phấn đấu tạo cho cán cân thanh toán luôn thặng dư. Biểu thuế nhập khẩu sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo lộ trình giảm thuế của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, đồng thời triển khai xác định giá trị hải quan và các chính sách thuế quan liên quan đến thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng…

    Lĩnh vực bảo hiểm sẽ được thực hiện mở cửa một cách thận trọng với việc quy định cụ thể nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài và văn phòng đại diện ở Việt Nam, tuy nhiên, cũng cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài góp vốn thành lập quỹ đầu tư. Việc mở cửa cho sự tham gia của nước ngoài vào thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam được thực hiện từng bước, theo lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính đã cam kết với các tổ chức quốc tế.

    *  Tăng cường hệ thống giám sát tài chính: Hệ thống kế toán, kiểm toán và hệ thống giám sát tài chính đủ mạnh sẽ được xây dựng và hoàn thiện. Bên cạnh việc xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế và Việt Nam, nghiệp vụ và khả năng hội nhập quốc tế cũng phải được nâng cao.

    *  Tăng cường cải cách hành chính và nâng cao năng lực quản lý tài chính quốc gia: Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính cần được hoàn thiện hơn nữa. Trong những năm tới, bộ máy Tài chính sẽ được thiết kế theo cơ cấu tổ chức phù hợp để hình thành các bộ phận nghiên cứu và ban hành chính sách, các tổ chức quản lý chuyên ngành và tổ chức sự nghiệp… Đồng thời, công tác cải cách hành chính và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức sẽ được tiến hành sớm.

    2.2. Định hướng phát triển cho bảo hiểm  Việt Nam

    Nhận thức được vai trò quan trọng của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế đất nước, Nhà nước đã đề ra những định hướng cụ thể nhằm xây dựng một ngành bảo hiểm lớn mạnh, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày 29/08/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 175/2003/QĐ – TTG, phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 – 2010″. Mục tiêu mà chiến lược đề ra là: Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Quyết định trên cũng khẳng định: Nhà nước quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế.

    Như vậy, thời gian sắp tới, ngành bảo hiểm sẽ phải phải phát huy tối đa các nguồn lực nhằm hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu mà Nhà nước đã giao phó: Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm; Tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2% năm 2010. Ngoài ra, đến năm 2010, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phấn đấu tăng tổng dự phòng nghiệp vụ khoảng 12 lần; tăng tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 14 lần so với năm 2002. Ngành cũng sẽ cố gắng tạo công ăn việc làm cho khoảng 150.000 người vào năm 2010 và nộp ngân sách Nhà nước giai đoạn 2003 – 2010 tăng bình quân 20%/năm. Để thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu mà Nhà nước đặt ra, ngành bảo hiểm đã đề ra đường lối phát triển cụ thể.

    2.2.1. Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường bảo hiểm với mức tăng trưởng 24%/năm, đóng góp 2,5% trong GDP vào năm 2005 và 4,2% vào năm 2010

    Thời gian qua, ngành bảo hiểm đã có những bước phát triển tương đối nhanh chóng và đạt kết quả cao. Đóng góp vào GDP của ngành ngày càng tăng. So với quốc tế và khu vực, tốc độ phát triển tuy cao, song tỷ lệ trong GDP vẫn còn thấp. Với quy mô dân số gần 80 triệu người, nền kinh tế tăng trưởng cao trong những năm gần đây với tốc độ cao, khoảng 7 – 7,5%/năm, rõ ràng tiềm năng phát triển của bảo hiểm Việt Nam vẫn còn rất lớn. Đặc biệt, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cơ sở hạ tầng kinh tế cũng như môi trường kinh doanh đã và đang được xây dựng và hoàn thiện. Chính vì vậy, ngành bảo hiểm đang có những tiền đề kinh tế, kỹ thuật rất thuận lợi để có thể đạt được những mục tiêu phát triển mà Chính phủ đã giao phó.

    Bảo hiểm đang ngày càng chứng tỏ là một trung gian tài chính hiệu quả của nền kinh tế. Do vậy, đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành bảo hiểm cũng là nâng cao khả năng huy động vốn cho một nền kinh tế đang rất cần những khoản đầu tư như nước ta. Việc hoàn thành các mục tiêu phát triển trên sẽ tạo thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển. Ngoài ra, việc thúc đẩy bảo hiểm phát triển cũng sẽ góp phần tăng thu ngân sách, giảm gánh nặng cho Nhà nước cũng như các cá nhân, tổ chức khi xảy ra những rủi ro, gây tổn thất về các mặt kinh tế và đới sống xã hội.

    2.2.2. Hoàn thiện và phát triển các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm, tập trung phát triển các loại hình còn nhiều tiềm năng khai thác

    Trong giai đoạn tới đây, việc hoàn thiện những sản phẩm bảo hiểm đã có, đồng thời nghiên cứu, phát triển thêm các nghiệp vụ bảo hiểm mới là việc làm rất quan trọng. Hầu hết các công ty bảo hiểm hiện nay đều cố gắng thực hiện chiến lược “đa dạng hoá sản phẩm” nhằm hướng tới phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau của nhiều đối tượng khách hàng hơn nữa. Việc đa dạng hoá sản phẩm không chỉ là nghiên cứu, áp dụng những sản phẩm mới, mà đó cũng có thể là việc kết hợp các sản phẩm đã tồn tại để cho ra đời một loại hình mới đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng. Trong chiến lược phát triển ngành bảo hiểm, điều này có ý nghĩa rất lớn nhằm mở rộng thị phần của các công ty bảo hiểm nói riêng, và mở rộng phạm vi hoạt động của toàn ngành bảo hiểm nói chung, đưa bảo hiểm đến với đông đảo các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế cũng như toàn xã hội.

    Mặt khác, khi kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều sản phẩm bảo hiểm hiện nay không còn đáp ứng được những yêu cầu mới. Nhiều lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, hậu quả kinh tế – xã hội lớn chưa được sự quan tâm đúng mức của bảo hiểm. Bảo hiểm trong nông nghiệp, bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp… là rất cần thiết, và cũng có nhiều tiềm năng song vẫn mới được triển khai ở một mức độ rất hạn chế. Nhiều lĩnh vực bảo hiểm đã rất phổ biến ở các nước, nhưng ở Việt Nam vẫn còn là một khái niệm rất xa lạ như bảo hiểm sắc đẹp, bảo hiểm giọng hát, bảo hiểm mỹ thuật… Chính vì vậy, hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm, trong đó tập trung vào những loại hình giàu tiềm năng là một nhiệm vụ mà ngành bảo hiểm Việt Nam cần quan tâm và tập trung các nguồn lực để thực hiện.

               2.2.3. Xã hội hoá hoạt động bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo hướng giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

    Hiện nay ở Việt Nam có 3 hệ thống bảo hiểm tồn tại độc lập:

    –       Bảo hiểm xã hội, do cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý.

    • Bảo hiểm y tế, do Bộ y tế quản lý.

    –     Bảo hiểm thương mại, do các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành dưới sự quản lý của Bộ Tài chính.

    Do những đặc thù riêng, các dịch vụ bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) đều do các tổ chức thuộc Nhà nước cung cấp và quản lý. Tuy nhiên, trước những yêu cầu phát triển mới, ngành BHXH và BHYT đều đang gặp phải nhiều khó khăn với những gánh nặng mà ngân sách Nhà nước rất khó có thể đáp ứng đầy đủ. Nhu cầu xã hội hoá một số lĩnh vực thuộc BHXH, BHYT đang được đặt ra hết sức cấp thiết từ nhiều phía, từ người được bảo hiểm cũng như cơ quan quản lý. Mặt khác, việc thực hiện xã hội hoá BHXH, BHYT với sự trợ giúp của các công ty bảo hiểm đáp ứng được yêu cầu không chỉ giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước mà còn mở ra một triển vọng phát triển mới. Các doanh nghiệp bảo hiểm có thể mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời, những người được bảo hiểm có thể được hưởng những chăm sóc tốt hơn, đầy đủ hơn.

    Tuy nhiên, do có thể gây ra những tác động to lớn trên nhiều mặt nên việc xã hội hoá hai lĩnh vực bảo hiểm này cần phải được tiến hành một cách thận trọng trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm ở các nước khác, đồng thời nghiên cứu một cách kỹ lưỡng tình hình cụ thể ở nước ta. Việc xã hội hoá chỉ nên thực hiện ở một số lĩnh vực ít gây ảnh hưởng lớn, đồng thời, chỉ nên giao cho những doanh nghiệp bảo hiểm lớn, có uy tín và trách nhiệm.

    2.2.4. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với nhiều hình thức sở hữu, trong đó doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo

    Các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua đã trở nên rất đa dạng với các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Thời gian tới đây, các loại hình doanh nghiệp sẽ được đa dạng hoá với nhiều hình thức sở hữu hơn nữa. Trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010, Chính phủ cũng đã chú trọng tới việc phát triển và sắp xếp các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục tiêu phát triển các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

    Theo hướng phát triển mới, các doanh nghiệp Nhà nước sẽ không được phép dùng vốn Nhà nước để thành lập thêm doanh nghiệp bảo hiểm mới hoặc các công ty bảo hiểm chuyên ngành. Các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay sẽ được sắp xếp lại để nâng cao năng lực tài chính, giữ vững thị trường lớn trên thị trường trong nước, tiến tới tham gia thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế. Bảo Việt sẽ trở thành doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước duy nhất kinh doanh bảo hiểm. Công ty sẽ được xây dựng thành một tập đoàn tài chính – bảo hiểm lớn mạnh nhất Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, đầu tư, chứng khoán, trong đó hoạt động chủ yếu là kinh doanh bảo hiểm. Vốn điều lệ của công ty sẽ được tăng từ 776 tỷ đồng như hiện nay lên mức 3000 tỷ đồng vào năm 2005 và 5000 tỷ đồng vào năm 2010. Bảo Việt sẽ thành lập Bảo Việt nhân thọ vào năm 2003 và Bảo Việt phi nhân thọ vào năm 2004. Đây sẽ là hai công ty hạch toán độc lập, trực thuộc Bảo Việt, do Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 10/2003)

    Các công ty bảo hiểm Nhà nước khác như Bảo Minh, VINARE, PVI sẽ được tiến hành cổ phần hoá. Bảo Minh sẽ được chuyển thành công ty bảo hiểm cổ phần có vốn Nhà nước chi phối, chủ yếu kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Số vốn điều lệ của công ty cũng sẽ được tăng từ 67 tỷ hiện có lên 70 tỷ trong 2 năm tới. Công ty cũng sẽ phát hành cổ phiếu mới, trị giá tối thiểu 500 tỷ đồng (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 10/2003). Khi thị trường tiếp tục mở cửa, công ty hoạt động đơn ngành như PVI sẽ khó có khă năng cạnh tranh, do vậy PVI sẽ chuyển thành một cổ đông của Bảo Minh, phần vốn Nhà nước của PVI sẽ là cổ phần của PVI sẽ là cổ phần của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam trong Bảo Minh. VINARE cũng sẽ được tiến hành cổ phần hoá thành công ty cổ phần, vốn do Nhà nước chi phối và sẽ là công ty hoạt động trên lĩnh vực tái bảo hiểm duy nhất tại Việt Nam. Việc cổ phần hoá VINARE sẽ được tiến hành theo hướng Nhà nước nắm cổ phần chi phối với sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động trên thị trường nhằm nâng cao mức giữ lại để hạn chế việc chuyển phí tái bảo hiểm ra nước ngoài, duy trì sự an toàn và ổn định của thị trường bảo hiểm Việt Nam.  Đến năm 2005, VINARE sẽ đủ sức giữ vai trò điều tiết thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, không phụ thuộc vào thị trường tái bảo hiểm quốc tế trong việc thu xếp các dịch vụ bảo hiểm phức tạp như tái bảo hiểm hàng không, dầu khí, năng lượng… Tới năm 2010, VINARE sẽ có đủ năng lực tài chính và năng lực kinh doanh để tham gia thị trường tái bảo hiểm quốc tế.

    Việc sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức sở hữu của các công ty Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình công ty bảo hiểm mới. Việc giảm bớt sự chi phối của Nhà nước trong các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn, khuyến khích sự thành lập của các công ty mới. Ngoài ra, hiện nay, loại hình tổ chức bảo hiểm tương hỗ đang rất cần được nghiên cứu, triển khai mạnh mẽ. Tính hiệu quả của các tổ chức này đã được chứng minh bằng thành công ở nhiều quốc gia nhưng ở Việt Nam, đây vẫn còn là một khái niệm xa lạ với nhiều người. Việc không cho phép thành lập thêm các doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành cũng sẽ tạo thuận lợi cho mô hình này phát triển.

    VII.    KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu phát triển từ sau khi Đảng và Nhà nước đề ra chính sách đổi mới cách đây chưa đầy 20 năm. Đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nhiều lĩnh vực kinh tế vẫn còn rất mới mẻ với nước ta, do vậy, việc học hỏi kiến thức, kinh nghiệm từ các nước đi trước là hết sức quan trọng. Bảo hiểm là một ngành kinh tế mới mẻ, đang trong quá trình định hình, lại đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, do vậy, chúng ta cũng cần thận trọng nghiên cứu quá trình phát triển của ngành bảo hiểm ở các nước có nền bảo hiểm phát triển để từ đó có những áp dụng thích hợp vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

    1. Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở các nước Châu Âu.

    Các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có lịch sử rất lâu đời về phát triển bảo hiểm. Những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy ở Châu Âu, và những nghiệp vụ bảo hiểm đầu tiên cũng được ra đời ở đây. Tính đến nay, qua nhiều bước phát triển thăng trầm, bảo hiểm đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều nước EU. Hàng năm, doanh thu từ phí bảo hiểm của các nước chiếm khoảng 8% GDP (tương đương 670 USD). Để có được sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc đó, vai trò của hệ thống pháp luật cùng các hoạt động quản lý Nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng.

    Do các yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý khác nhau, ở Châu Âu tồn tại song song hệ thống pháp luật chung (Common Law) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Continental Law). Tuy nhiên, dù theo hệ thống pháp luật nào, các nước Châu Âu đều chú trọng xây dựng Luật bảo hiểm từ rất sớm. Đến nay, với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, về cơ bản, các nước EU đã thống nhất các quy định pháp luật về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm… thông qua việc ban hành các chỉ thị về bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ mà tất cả các nước thành viên đều phải tuân thủ. Nhìn chung, hoạt động bảo hiểm ở hầu hết các nước EU đều chịu sự điều chỉnh của Luật về doanh nghiệp bảo hiểm (hay Luật về quản lý, giám sát bảo hiểm) và Luật về hợp đồng bảo hiểm. Một số loại bảo hiểm đặc thù như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, tái bảo hiểm… thường được điều chỉnh bằng các văn bản luật riêng. Trong các chừng mực khác nhau và tuỳ theo trường hợp cụ thể, các luật khác liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, thương mại, lao động… cũng có thể được dẫn chiếu.

    Các nước EU đều nhất trí rằng một thị trường cạnh tranh và ít có sự can thiệp của Nhà nước sẽ có lợi cho người tham gia bảo hiểm cũng như có lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nhận thức rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế – xã hội và sự phát triển của mỗi quốc gia, ngay từ khi mới ra đời, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU đã chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Ở nhiều nước, cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trực thuộc các bộ Tài chính, Kinh tế, Thương mại… như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý… hoặc Cơ quan quản lý Dịch vụ tài chính như Anh, có những nước dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm vị trí độc lập và đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng (Đức). Mục tiêu hoạt động của các cơ quan quản lý bảo hiểm là bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm. Nguyên tắc hoạt động của các cơ quan nàylà “đầy đủ, khách quan, nhất quán và minh bạch”. Tại hầu hết các nước EU, ngân sách dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm được hình thành từ các khoản đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm, rất ít nước phải dùng đến tài trợ của ngân sách Nhà nước.

    Tại các nước EU, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể kinh doanh dưới những hình thức pháp lý nhất định và phải có tư cách pháp nhân. Hình thức doanh nghiệp bảo hiểm ở các nước EU khá đa dạng về cơ cấu sở hữu và hình thức pháp lý. Về cơ bản, loại hình phổ biến nhất là công ty cổ phần bảo hiểm, tiếp đó là các Hội (hay công ty) bảo hiểm tương hỗ và các chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài. Tuỳ theo quy định của pháp luật mỗi nước, hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn có thể tiến hành thông qua công ty bảo hiểm Nhà nước (Ý, Bồ Đào Nha), Lloyd’s (Anh), hội hợp tác (Bỉ), các hội tiết kiệm (Thụy Điển)… Theo quy định của các luật về doanh nghiệp bảo hiểm, một công ty không được phép kinh doanh đồng thời cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.

    Tại tất cả các nước EU, một tổ chức nhất thiết phải có giấy phép mới được kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Giấy phép này có giá trị trong toàn bộ EU và được cấp cho từng loại nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể (bao gồm cả nội dung kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tái bảo hiểm). Thông thường, giấy phép kinh doanh bảo hiểm được cấp vô thời hạn. Việc cấp giấy giấy phép kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU chỉ căn cứ vào các yêu cầu về tài chính, pháp lý, kế toán, kỹ thuật, nhân sự theo nguyên tắc thận trọng mà không phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế. Thời hạn xét cấp giấy phép được quy định là 6 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Trong các điều kiện cấp giấy phép, điều kiện về tài chính được đặt lên hàng đầu. Tại tất cả các nước EU, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định, tuỳ thuộc vào loại nghiệp vụ. Tuy nhiên, số vốn pháp định nói trên sẽ được tăng lên do các yếu tố lạm phát và sự phát triển của thị trường. Ngoài ra, số vốn cổ phần đã đóng không được thấp hơn vốn pháp định và không thấp hơn 20 – 50% số vốn điều lệ của công ty. Các nước cũng quy định mức yêu cầu ký quỹ tương đương 25% vốn pháp định.

    Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu về biên khả năng thanh toán và trích lập đủ các khoản sự phòng nghiệp vụ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, các nước EU đã từ bỏ việc áp dụng chế độ tái bảo hiểm bắt buộc cho một tổ chức do Chính phủ chỉ định. Trừ các loại hình bảo hiểm bắt buộc, các bên tham gia bảo hiểm có toàn quyền thoả thuận các điều kiện của hợp đồng bảo hiểm, cũng như ấn định mức phí bảo hiểm thích hợp.

    Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm được EU kiểm soát khá chặt chẽ. Pháp luật các nước đều có sự phân định các loại tài sản mà một doanh nghiệp bảo hiểm có thể dùng để đầu tư, bao gồm: các quỹ dự phòng nghiệp vụ để chi trả các khiếu nại cho người được bảo hiểm và các tài sản dùng để thanh toán cho các chủ nợ khác. Do có các tính chất khác nhau, mỗi loại tài sản phải tuân theo các quy định riêng về đầu tư. Nguyên tắc của hoạt động đầu tư mà các doanh nghiệp đều phải tuân thủ là “đa dạng hoá, phân tán rủi ro và đảm bảo tính thanh khoản cao” nhằm đáp ứng các yêu cầu về độ an toàn và khả năng sinh lời. Mặc dù có mức độ tự do hoá cao, các nước EU vẫn chú trọng yêu cầu “nội địa hoá tài sản đầu tư”, theo đó, các tài sản tạo thành biên khả năng thanh toán phải được cất giữ lại một nước EU, nơi có hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo định kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm phải báo cáo cho cơ quan quản lý bảo hiểm về cơ cấu tài sản và biến động trong danh mục đầu tư của mình.

    Do những đặc thù riêng, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm được kiểm soát chặt chẽ hơn qua việc quản lý các thoả thuận tái bảo hiểm của các công ty nhượng tái và hoạt động tái bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc trong nước. Các nước đều áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các công ty nhận tái bảo hiểm là các công ty có uy tín trên thị trường và có năng lực tài chính tốt, đảm bảo đáp ứng các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng tái bảo hiểm.

    Tất cả các nước EU đều duy trì ít nhất một loại bảo hiểm bắt buộc. Đó là bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. Ngoài ra, ở một số nước, bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người làm công, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cũng là bắt buộc. Thông thường, phí bảo hiểm bắt buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý bảo hiểm.

    2. Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở Trung Quốc.

    Trong những năm qua, ngành bảo hiểm Trung Quốc đã có những bước phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ. Theo Uỷ ban giám sát quản lý bảo hiểm Trung Quốc, trong thời gian qua, các công ty bảo hiểm trong nước của Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ rất tốt. So với cùng kỳ năm 2002, tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng hơn 58%, trong đó bảo hiểm nhân thọ tăng hơn 84%. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia, trong 5 năm tới, nhịp độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm Trung Quốc có thể đạt tới 20 – 30%, và xu thế này có thể kéo dài trong 15 – 20 năm. Đến năm 2005, tổng doanh thu phí bảo hiểm thương nghiệp của Trung Quốc sẽ đạt tới 5000 tỷ NDT, chiếm 12% GDP, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ sẽ đạt tới 3000 tỷ NDT, chiếm 6,8% GDP, sẽ vượt qua Anh, Đức, Pháp, về tổng doanh thu phí sẽ đứng thứ 5 thế giới. (Nguồn: www.vnn.vn, ngày 3/12/2003)

    Sự ra đời của Công ty bảo hiểm Tân Cương vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX và hàng loạt các công ty bảo hiểm mới cùng với sự tham gia của các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài đã xoá bỏ tình trạng độc quyền của Công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc (PICC), tạo môi trường cạnh tranh mới. Hệ thống thị trường bảo hiểm được xây dựng, trong đó không chỉ có sự tham gia của người bảo hiểm, người được bảo hiểm mà còn có các cơ quan môi giới bảo hiểm. Hiệp hội bảo hiểm Trung Quốc được thành lập với ính chất là một bộ máy tổ chức toàn quốc có tính tự nguyện. Hội những người tiêu dùng cũng được hình thành nhằm nâng cao hiểu biết, bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm. Hệ thống pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm chuyên nghiệp được xây dựng với Luật bảo hiểm và Uỷ ban giám sát, quản lý bảo hiểm có chi nhánh ở các địa phương trong nước. Sau khi đã kiện toàn về pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm Trung Quốc mới tiến hành thị trường hoá tỷ lệ phí bảo hiểm để tránh gây rối loạn thị trường.

    Trước thách thức cạnh tranh của hàng chục công ty bảo hiểm nước ngoài thâm nhập vào thị trường, Trung Quốc cũng đã tham khảo, học tập các kinh nghiệm thành công và các biện pháp quản lý tiên tiến của các công ty bảo hiểm nước ngoài để đổi mới các công ty bảo hiểm trong nước. Trung Quốc đã tiến hành cải cách mô hình tổ chức ở các công ty bảo hiểm và thực hiện những biện pháp quản lý mới. Cách thức tổ chức theo kiểu cũ với hình thức quản lý, phân cấp theo hệ thống dọc đã được thay thế bằng mô hình tổ chức mới có tính co giãn linh hoạt. Mô hình này có rất ít cấp quản lý, giảm bớt rất nhiều các cấp trung gian trong bộ phận chức năng của doanh nghiệp. Nhiều ban, nhóm được hình thành với những cán bộ chuyên trách để tăng hiệu quả làm việc, đồng thời các công ty cũng tiến hành đào tạo hoặc tuyển dụng từ nước ngoài những nhân tài có phẩm chất tốt.

    Việc học hỏi kinh nghiệm phát triển ở những nước có nền bảo hiểm phát triển như các nước EU cũng như từ Trung Quốc – nước có nhiều mặt tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết. Để ngành bảo hiểm Việt Nam có được những bước tiến vững chắc, quá trình nghiên cứu sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, cũng như việc áp dụng sẽ phải rất linh hoạt.

    VIII.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

    Để hoàn thành tốt những mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra, ngành bảo hiểm sẽ phải nỗ lực rất nhiều để tăng tốc độ phát triển trong khi vẫn đạt hiệu quả cao. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực từ rất nhiều phía: các cơ quan Nhà nước, các công ty bảo hiểm trên thị trường, cũng như những cá nhân, tổ chức khác có lên quan. Các bộ phận trên cần thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời, phải có được sự phối hợp chặt chẽ với nhau để có thể đạt được những mục tiêu mà chiến lược phát triển ngành bảo hiểm đã đề ra.

    1. Về phía nhà nước

    Ngành bảo hiểm nước ta vẫn còn rất non trẻ, mới thực sự bắt đầu phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây nên. Đây lại là một ngành có nhiều đặc thù riêng và có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế. Do vậy, vai trò của Nhà nước trong quản lý, phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm là rất to lớn. Trong giai đoạn tới đây, Nhà nước cần thực hiện tốt công tác quản lý, tạo được môi trường pháp lý thuận lợi, đồng thời có những cơ chế, chính sách ưu đãi để ngành bảo hiểm có được những bước phát triển ổn định và đúng hướng.

    1.1. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước

    Luật KDBH đã có những quy định rất rõ ràng về các cơ quan quản lý Nhà nước và các nội dung quản lý về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo điều 121, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm với cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ là Bộ Tài chính. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng có trách nhiệm quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Như vậy, để hoạt động kinh doanh bảo hiểm được diễn ra thuận lợi và đúng luật, các cơ quan kể trên sẽ phải hoàn thành tốt công tác quản lý, cụ thể là 10 nội dung quy định tại điều 120 của Luật KDBH.

    Để tạo sự yên tâm cho các công ty kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước cần phải tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh an toàn, ổn định,  bình đẳng và thuận lợi. Điều này thể hiện trước hết ở việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường. Trong công tác quản lý, Nhà nước cần sử dụng các công cụ pháp lý một cách thích hợp và hiệu quả, đặc biệt cần phải hạn chế tối đa sự cạnh tranh không lành mạnh, kiểm soát độc quyền, đảm bảo một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng. Nhà nước cũng phải có chủ trương đổi mới phương thức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tiến dần tới thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quản lý bảo hiểm quốc tế.

    Việc thực hiện các chính sách vĩ mô cũng cần được tiến hành một cách tích cực và đảm bảo hiệu quả cao. Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp và chức năng quản lý kinh tế của các cơ quan Nhà nước cần được phân biệt rõ ràng. Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, không can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp. Tới đây, Nhà nước sẽ chỉ đạo việc kiện toàn bộ máy tổ chức của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam để Hiệp hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.

    Do tính chất quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế, trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước cũng cần phải tiến hành can thiệp và điều tiết thị trường. Việc duy trì vai trò chủ đạo của doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước vẫn hết sức quan trọng, nhằm tránh những tác động xấu của ngoại cảnh, cũng như tránh sự thâu tóm của các công ty nước ngoài. Việc thực hiện được công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nắm thế chủ động, trong khi vẫn tạo môi trường tự do kinh doanh là rất khó khăn, đòi hỏi nhiều kiến thức, kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm, cũng như sự linh hoạt trong việc áp dụng các công cụ quản lý Nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước phải mở cửa thị trường theo các hiệp định và cam kết quốc tế, ngành bảo hiểm đang đứng trước thách thức và vận hội mới, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước phải có những cải cách phù hợp. Do vậy, việc đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ quản lý Nhà nước về lĩnh vực bảo hiểm là rất cấp thiết.

    1.2. Xây dựng hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ, thống nhất

    Luật KDBH được ban hành từ cuối năm 2000 và có hiệu lực từ 01/04/2001 đã tạo cơ sở pháp lý căn bản cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Cùng với Luật là rất nhiều văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành một cách cụ thể, tạo rất nhiều thuận lợi cho các đối tượng tham gia hoạt động bảo hiểm. Tuy nhiên, thực tế áp dụng trong thời gian qua cho thấy Luật và nhiều văn bản Luật vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất, chưa đầy đủ, hoặc chưa thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta. Chính vì thế, tới đây, những nhà làm luật cần học hỏi thêm kinh nghiệm xây dựng luật của các nước, đồng thời có những nghiên cứu cụ thể các điều kiện của Việt Nam để có những điều chỉnh thích hợp hơn nữa.

    Sự thiếu hụt một khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cạnh tranh ở nước ta hiện nay đang gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của nhiều ngành nghề, trong đó bảo hiểm chịu tác động không nhỏ. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong thời gian tới là Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan tiến hành nghiên cứu, soạn thảo và trình Quốc hội thông qua Luật Cạnh tranh. Trước khi Luật Cạnh tranh được ban hành, các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cụ thể là Bộ Tài chính, cần ban hành thông tư, chế tài cụ thể để quản lý, kiểm soát hoạt động cạnh tranh và xử lý vi phạm về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm.

    1.3. Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi, tạo môi trường thuận lợi để phát triển hoạt động bảo hiểm

    Ngoài việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường pháp lý đầy đủ, thống nhất, Nhà nước sẽ phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu hội nhập, đồng thời vẫn bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Một chính sách phù hợp để khuyến khích việc tham gia bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức, khuyến khích việc mở rộng thị trường, phạm vi hoạt động của các công ty bảo hiểm là rất cần thiết.

    Trước hết, Nhà nước sẽ có chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ như sử dụng các ưu đãi về thuế như thực hiện việc khấu trừ một phần phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm phải đóng ra khỏi thu nhập chịu thuế. Chính sách ưu đãi về thuế cũng có thể áp dụng cho số tiền bảo hiểm mà người được bảo hiểm được nhận bằng cách miễn một phần hay toàn bộ thuế phải đóng.

    Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm bằng cách cho hưởng chính sách ưu đãi khi cung cấp các dịch vụ bảo hiểm trong các lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế – xã hội cao như bảo hiểm nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu tư dài hạn… đặc biệt là ưu đãi cho những doanh nghiệp bảo hiểm chú trọng mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng sâu, vùng xa. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý quỹ theo qui định của pháp luật. Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng phí bảo hiểm thu được để đầu tư tại Việt Nam cũng được áp dụng các cơ chế, chính sách về đầu tư như các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Nhà nước cũng có thể ưu tiên các doanh nghiệp bảo hiểm bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào các dự án, công trình có độ an toàn về vốn lớn, lợi tức đầu tư cao… Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cần được khuyến khích hiện đại hoá công nghệ quản lý kinh doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ theo các chuẩn mực quốc tế, được thuê chuyên gia trong nước và ngoài nước để quản lý một số lĩnh vực hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

    2. Về phía các công ty bảo hiểm

    Để phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, bên cạnh những điều kiện thuận lợi mà Nhà nước tạo ra, sự cố gắng hơn nữa của các công ty bảo hiểm trong việc phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để tạo sức mạnh bền vững là điều kiện tiên quyết.

    2.1. Nâng cao hơn nữa năng lực, tính cạnh tranh của các công ty bảo hiểm

    Đối với một công ty bảo hiểm, năng lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, kinh doanh… là những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh. Nếu không tự hoàn thiện và nâng cao năng lực, các công ty bảo hiểm trong nước sẽ khó có thể đứng vững và thành công trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay. Trong giai đoạn tới, khi Nhà nước thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước chỉ giữ lại Bảo Việt, các công ty này sẽ phải tự hoạt động, cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Vì vậy, ngay từ bây giờ, các công ty bảo hiểm trong nước cần tự tạo cho mình một vị thế vững chắc, duy trì và mở rộng thị phần, tạo niềm tin ở khách hàng. Các công ty bảo hiểm không những phải đa dạng hoá sản phẩm,  nâng cao chất lượng dịch vụ, mà cũng phải chú trọng đến việc chăm sóc khách hàng, giải quyết nhanh chóng, hợp lý công tác bồi thường tổn thất trong các trường hợp xảy ra rủi ro được bảo hiểm. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ kinh doanh,  đại lý môi giới bảo hiểm cũng rất cần thiết.

    Các công ty bảo hiểm cũng cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí quản lý, hạ phí bảo hiểm một cách hợp lý. Hoạt động đầu tư cũng cần được đẩy mạnh một cách có hiệu quả, bằng cách tận dụng tối đa các công cụ đầu tư tài chính, tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia đầu tư vào các công trình, các dự án có vốn lớn, các công ty cần chú trọng công tác thẩm định để đảm bảo mức độ an toàn, tính thanh khoản cũng như khả năng sinh lời cho đồng vốn.

    Hoạt động cạnh tranh trong thời gian tới báo hiệu sẽ rất sôi nổi, gay gắt. Tuy nhiên, trong quá trình củng cố chỗ đứng trên thị trường, các công ty cũng cần chú ý đến việc cạnh tranh một cách lành mạnh bằng chính chất lượng dịch vụ, uy tín nghề nghiệp, cùng với việc đầu tư hiệu quả, tiết kiệm chi phí hoạt động… Có như vậy, các công ty mới tạo được hình ảnh tốt, uy tín lớn đối với khách hàng. Với sự tham gia của nhiều công ty nước ngoài hơn trong thời gian tới, thị trường bảo hiểm hứa hẹn sẽ có những bước phát triển mới đòi hỏi tất các các công ty phải có chiến lược phát triển cụ thể để có thể thích nghi với môi trường kinh doanh mới, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hướng tới nền kinh tế tri thức.

    2.2. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại

    Trong tình hình cạnh tranh đang ngày càng mạnh mẽ, hoạt động xúc tiến thương mại là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên thành công của một doanh nghiệp. Trong lĩnh vực bảo hiểm, yếu tố này có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức của người dân về sự cần thiết của bảo hiểm đối với nền kinh tế, cũng như đối với đời sống xã hội vẫn còn hạn chế. Đây là một cơ hội tốt để các doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao hiểu biết của người dân về bảo hiểm, đồng thời xây dựng được hình ảnh của công ty mình trong những khách hàng tiềm năng. Việc quảng bá các sản phẩm bảo hiểm, khuếch trương hình ảnh của công ty thông qua quảng cáo, qua các hoạt động xã hội mang tính nhân đạo là những phương thức mà các công ty nên hướng tới. Thực tế là cũng đã có nhiều công ty bảo hiểm thành công bằng phương pháp này như Bảo Việt, Prudential, AIA…

    Các công ty cũng nên thực hiện việc đa dạng hoá các kênh phân phối thông qua nhiều hình thức khác nhau. Một trong các phương pháp thường gặp hiện nay ở các công ty bảo hiểm là tiến hành qua hệ thống ngân hàng, qua các tổ chức tài chính. Qua đây, các công ty bảo hiểm sẽ có cơ hội tiếp cận với đông đảo các khách hàng giàu tiềm năng với khả năng tài chính cao và nhu cầu lớn. Ngoài ra, việc tiếp cận khách hàng bằng thư trực tiếp hoặc Internet cũng có thể mang lại hiệu quả rất cao. Trong xu thế thương mại điện tử đang ngày càng phát triển như hiện nay, việc bán bảo hiểm qua mạng đang ngày càng phổ biến. Hầu hết các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam đều đã có website riêng, song mới chỉ có một vài công ty cho phép khách hàng đăng ký mua bảo hiểm, cũng như thanh toán trực tuyến. Việc triển khai hình thức này vẫn còn nhiều khó khăn, do hạ tầng thông tin nước ta còn yếu kém, việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn rất phổ biến… song đây cũng là một phương thức hiệu quả mà các công ty bảo hiểm cần lưu tâm.

    2.3. Tăng cường hợp tác trong nước, quốc tế

    Để tăng cường sức mạnh trong môi trường kinh doanh mới, bên cạnh việc phát huy nội lực, các công ty bảo hiểm rất cần phải bắt tay hợp tác với nhau trong nhiều mặt. Thông qua Hiệp hội bảo hiểm, các thành viên có thể có những tác động tích cực nhằm mở rộng, định hướng cho thị trường, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh, chống trục lợi bảo hiểm… tạo điều kiện phát triển có lợi cho toàn ngành. Các công ty trong Hiệp hội nên cùng nhau thiết lập những quy tắc kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp trong ngành, xử lý những trường hợp vi phạm. Ngoài ra, các công ty cũng có thể liên kết với nhau tạo ra một tiếng nói chung để đóng góp ý kiến, kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước những giải pháp phát triển chung cho ngành bảo hiểm cũng như cùng nhau có những bước đi thích hợp khi thị trường có những diễn biến xấu. Đồng thời, việc hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc đào tạo cán bộ, đại lý, thu thập, sử dụng các số liệu thống kê liên quan, xây dựng, tăng cường uy tín và hình ảnh tốt đẹp của toàn ngành… sẽ giúp các công ty sử dụng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả khai thác nguồn thông tin, nguồn nhân lực…

    Không chỉ tăng cường hợp tác trong nước, các công ty bảo hiểm Việt Nam cũng phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Các công ty có thể tạo lập, củng cố mối quan hệ với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm có kinh nghiệm, uy tín trong khu vực và quốc tế nhằm hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực, trợ giúp về kỹ thuật, công nghệ, trao đổi thông tin… Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế cũng sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh mới cho cả hai phía, tạo thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt Nam vươn ra với thế giới.

    3. Về phía các tổ chức khác

    Để hoàn thành các mục tiêu mà Chính phủ đề ra cho ngành bảo hiểm trong giai đoạn 2003 – 2010, bên cạnh các việc những nỗ lực từ phía Nhà nước, từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm, sự tham gia của các tổ chức khác có liên quan sẽ có vai trò rất to lớn. Các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế đều cần có nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của bảo hiểm, đồng thời, tích cực chủ động tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, con người, cũng như trách nhiệm dân sự. Nhiều lĩnh vực bảo hiểm thiết yếu như bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trong nông nghiệp… chưa được các cá nhân, đơn vị quan tâm một cách đúng mức. Đặc biệt, với những lĩnh vực có tiềm năng lớn như bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm hàng không… các công ty bảo hiểm rất cần sự hợp tác của các bên liên quan. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần nhận thức ý nghĩa của việc giành quyền mua bảo hiểm, để chuyển từ tập quán bán FOB, mua CIF sang bán CIF, mua FOB. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng nên chú trọng mua bảo hiểm ở những công ty trong nước, vừa tiết kiệm ngoại tệ, vừa thuận tiện trong giao dịch, trong giải quyết bồi thường, lại góp phần vào việc phát triển nền bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng không thể tách rời khỏi sự phát triển chung của thị trường tài chính. Thời gian tới, thị trường chứng khoán, thị trường liên ngân hàng… phải được phát triển hơn nữa, đồng thời, các ngành bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán cần đẩy mạnh hợp tác. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh bất động sản cũng phải được chuẩn hoá theo nguyên tắc kinh tế thị trường.

     

    KẾT LUẬN

               Bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu phát triển ngành bảo hiểm như đã được đề ra trong “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”, ngành bảo hiểm Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm, trong đó, cả Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân liên quan đều phải hết sức nỗ lực và có sự phối hợp tích cực với nhau.

               Với đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển”, em hy vọng có thể mang lại cái nhìn tổng thể nhất về thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay, cũng như đưa ra được những giải pháp thiết thực cho sự lớn mạnh của ngành. Những nghiên cứu của em có thể còn chưa hoàn toàn chính xác và đầy đủ, do vậy, em rất mong nhận được đóng góp nhiệt tình của thầy cô và các bạn. Một lần nữa, em xin được chân thành cảm ơn những người đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này, đặc biệt là thầy giáo TS. Vũ Sĩ Tuấn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bảo hiểm trong kinh doanh, TS. Hoàng Văn Châu, TS. Vũ Sĩ Tuấn, TS. Nguyễn Như Tiến, NXB Khoa học kỹ thuật, 2002
    2. Bảo hiểm – nguyên tắc và thực hành, TS. David Bland, NXB Tài chính, 1998.
    3. Giáo trình bảo hiểm, PGS.TS Hồ Sĩ Hà (chủ biên), NXB Thống kê, 2000.
    4. Nghị định 100/1993/NĐ – CP của Chính phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
    5. Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10
    6. Nghị định 42/2001/NĐ – CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm
    7. Thông tư 71/2001/TT – BTC của Bộ Tài chính qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm
    8. Nghị định 77/2003/ NĐ – CP của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
    9. Quyết định 153/2003/QĐ – BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm
    10. Quyết định 175/2003/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”
    11. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2002 – Bảo Việt
    12. Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt, 2002
    13. Giới thiệu Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tại các nước thuộc Liên minh Châu Âu – Bảo Việt
    14. Làm thế nào để bảo hiểm nhân thọ trở thành thói quen của người dân Việt Nam (Tạp chí bảo hiểm – số 3/2001)
    15. Cải cách mô hình tổ chức của công ty bảo hiểm Trung Quốc (Tạp chí bảo hiểm – số 3/2001)
    16. Tăng nhanh tốc độ thị trường hoá tỷ lệ phí bảo hiểm ở Trung Quốc (Tạp chí bảo hiểm – số 4/2001 và số 3/2002)
    17. Nhìn lại thị trường bảo hiểm nhân thọ sau 5 năm hoạt động (Tạp chí bảo hiểm – số 1 và 2/2002)
    18. Kinh doanh bảo hiểm – kênh huy động vốn đầu tư có hiệu quả (Tạp chí Tài chính – số 2/2001)
    19. Nâng cao tiềm lực tài chính quốc gia, đảm bảo chíên lược thị trường kinh tế nhanh, bền vững (Tạp chí Tài chính – số 1/2001)
    20. Luật KDBH – các đặc trưng cơ bản của các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (Tạp chí Tài chính – số 5/2001)
    21. Nhằm phát triển bền vững thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam (Tạp chí Tài chính – số 4/2002)
    22. Bảo hiểm và thị trường chứng khoán (Tạp chí Tài chính – số 11/2002)
    23. Bước đột phá của ngành bảo hiểm Việt Nam (Tạp chí Tài chính – số 11/2003)
    24. “Xã hội hoá bảo hiểm xã hội (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 6/1/2003)
    25. Tiềm năng thị trường bảo hiểm còn lớn (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 2/6/2003)
    26. Doanh thu phí bảo hiểm đầu tư vào đâu (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 23/6/2003)
    27. Cạnh tranh bảo hiểm phi nhân thọ (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 15/9/2003)
    28. Thông tin từ các website:

    + www.laodong.com.vn

    + www.vnexpress.net

    + www.vnn.vn

    + www.vneconomy.com.vn

    + www.mofa.gov.vn

    + www.mof.gov.vn

    + www.media.vdc.com.vn

    + www.tintucvietnam.com

    + www.vcci.com.vn

    + www.saigonnet.vn

    + www.vietlaw.gov.vn

    + www.baoviet.com.vn

    + www.prudential.com.vn

    + www.pjico.com.vn

    + www.aia.com.vn

    + www.via.com.vn

    + www.dddn.com.vn

    + www.bussiness.com.vn

    + www.aon.com.vn

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Tổng quan về Logistics kinh doanh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận APL Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-Logistics-kinh-doanh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về Logistics kinh doanh

    CHƯƠNG 1.             ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC

    1.1    Khái niệm,  bản chất và nội dung của logistics kinh doanh thương mại

    ” Logistics thật là độc đáo: nó không bao giờ dừng lại !Logistics diễn ra khắp quả địa cầu, 24 h một ngày, 7 ngày một tuần, và kéo dài suốt 52 tuần trong một năm”.

    1.1.1    Khái niệm

    Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hilạp (logistikos), để phản ánh một khoa học vận dụng các phép tư duy, suy luận, phương pháp và kỹ thuật logic hỗ trợ cho các quá trình chủ chốt. Như vậy, tư tưởng của logistics là một khoa học nghiên cứu các tính chất quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là logistics) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu.

    Thuật ngữ Logistics được đề cập nhiều trong lĩnh vực quân sự, bao gồm các hoạt động đảm bảo nguồn lực vật chất, nhân lực cho quân đội

    Logistics là ngành khoa học quân sự có liên quan đến các hoạt động tập trung, dự trữ và vận chuyển vật tư, con người và các phương tiện vật chất.

    (Guralnik, David B, ed, Webster/s mw wold Dictionary of American language. 2nd College edition – New york Simon & Schusten, 1980).

    Định nghĩa này không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh do khác nhau về mục tiêu và hoạt động. Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ (CLM – Council of Logistic Management) thì:

    Logistics là quá trình hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động và dự trữ một cách hiệu quả của vật liệu thô, dự trữ trong quá trình sản xuất, thành phẩm và thông tin từ điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng.

    Các chuyên gia về marketing và logistics cũng có định nghĩa tương tự. Như vậy, logistics là một hệ thống bắt đầu từ nguồn cung cấp vật liệu và kết thúc khi đã phân phối hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng. Tham gia hệ thống logistics bao gồm nhiều tổ chức. Các trung gian thương mại thực hiện các hoạt động logistics trong kênh phân phối. Vậy:

    Logistics kinh doanh thương mại là quá trình phân phối hàng hoá thông qua các hành vi thương mại (mua, bán), bao gồm việc hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động của hàng hoá, dịch vụ và thông tin từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách hàng và thu được lợi nhuận.

    Thông qua định nghĩa, chúng ta nhận thấy:

    – Logistics là quá trình quản trị, là chức năng quản trị cơ bản của doanh nghiệp thương mại; kinh doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics.

    – Logistics thương mại là quá trình dịch vụ khách hàng thông qua các hành vi mua, bán hàng hoá.

    – Nhu cầu của khách hàng trong logistics là nhu cầu mua hàng: những lợi ích có được trong khi mua hàng – dịch vụ mặt hàng về số lượng, cơ cấu, và chất lượng; nhu cầu dịch vụ về thời gian cả về tốc độ, độ ổn định, và tính linh hoạt; nhu cầu dịch vụ về địa điểm; nhu cầu lợa chọn hàng hoá; và nhu cầu dịch vụ bổ sung.

    1.1.2    Bản chất của logistics kinh doanh thương mại

    Thông qua định nghĩa, thì rõ ràng, bản chất của logistics là dịch vụ khách hàng – là quá trình cung cấp các giá trị gia tăng cho khách hàng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá với hiệu lực chi phí cao nhất.

    Khách hàng của logistics là bất kỳ những ai được cung ứng hàng hoá. Trong kinh doanh thương mại, khách hàng của logistics bán lẻ (và cũng là của kinh doanh thương mại bán lẻ ) là người tiêu dùng và hộ gia đình; khách hàng của logistics bán buôn (và cũng là của kinh doanh thương mại bán buôn ) là các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, hoặc các doanh nghiệp thương mại bán buôn khác, các khách hàng công nghiệp, khách hàng chính phủ. Sản phẩm của logistics là dịch vụ khách hàng và do đó sản phẩm của kinh doanh thương mại chính là dịch vụ logistics-dịch vụ khách hàng. Khác với các loại dịch vụ thông thường, dịch vụ logistics luôn luôn gắn với đối tượng vật chất hữu hình – hàng hoá, là quá trình sáng tạo, cung ứng các giá trị gia tăng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá.

    1.1.3    Nội dung của quản trị logistics kinh doanh thương mại

    Như đã trình bày ở trên, kinh doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics, và do đó toàn bộ hoạt động tạo ra giá trị của doanh nghiệp nằm trong quá trình logistics. Các hoạt động logistcs kinh doanh thương mại thể hiện trên hình 1.1.

    • Hình 1.1. Quá trình logistics trong doanh nghiệp thương mại

    Có nhiều cách phân loại nghiệp vụ logistics: Theo khách hàng (logistics bán buôn và logistics bán lẻ); theo quá trình nghiệp vụ (logistics nội bộ và logistics bán hàng) và theo mức độ ảnh hưởng (hoạt động cơ bản và hoạt động hỗ trợ).

    Theo mức độ và vai trò ảnh hưởng của các quyết định logistics trong doanh nghiệp thì có thể phân loại thành những hoạt động cơ bản và bổ trợ như sau:

    a.  Quản trị các hoạt động then chốt:

    a.1.          Các tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng kết hợp với marketing để:

    – Xác định nhu cầu và mong muốn của khách hàng về dịch vụ logistics.

    – Xác định sự đáp ứng của khách hàng về dịch vụ.

    – Chọn mức dịch vụ khách hàng.

    a.2.          Qui hoạch các cơ sở Logistics KDTM
    • Mạng lưới bán lẻ hàng hoá
    • Mạng lưới kho hàng hoá
    a.3.          Vận chuyển:

    – Chọn phương thức vận chuyển

    – Lựa chọn phương tiện vận tải.

    – Xác định tuyến đường vận chuyển.

    – Phối hợp vận chuyển.

    – Thiết kế quá trình nghiệp vụ vận chuyển

    – Xử lý các yêu cầu.

    – Kiểm soát cước phí.

    a.4.          Quản trị dự trữ.

    – Phân loại hàng hóa và các mục tiêu dự trữ

    – Xác định hệ thống dự trữ

    – Các mô hình kiểm tra và xác định qui mô lô hàng

    – Xác định dự trữ bảo hiểm

    a.5.          Quá trình cung cấp hàng hoá cho khách hàng

    – Cung ứng hàng hoá cho khách mua buôn.

    – Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    b.              Các hoạt động hỗ trợ

    b.1.          Quản trị nghiệp vụ  kho:

    – Thiết kế quá trình nghiệp vụ kho

    – Qui hoạch diện tích kho

    – Cung ứng thiết bị kho

    – Tổ chức lao động kho

    b.2.          Quản trị mua hàng:

    – Chọn nguồn hàng

    – Xác định chính sách mua

    – Quá trình nghiệp vụ mua

    b.3.          Quản trị nghiệp vụ bao bì và bao gói:

    – Chức năng Logistics và marketing

    – Thiết kế và lựa chọn bao bì

    – Quá trình nghiệp vụ bao bì

    b.4.          Đảm bảo thông tin:

    – Hệ thống thông tin

    – Dòng thông tin

    1.2    Những đặc trưng cơ bản của logistics kinh doanh thương mại.

    Logistics kinh doanh thương mại là một loại hình dịch vụ khách hàng, và do đó có những đặc điểm chung của các loại dịch vụ. Tổng hợp những đặc điểm chung và riêng của logistics kinh doanh thương mại là những đặc trưng sau:

    1.2.1    Luôn luôn gắn liền với sự vận động của hàng hoá.

    Đây là đặc trưng cơ bản của logistics. Logistics kinh doanh thương mại tuy là dịch vụ, nhưng luôn luôn được tiến hành cùng với hàng hoá – đối tượng vật chất hữu hình. Như vậy, dịch vụ logistics phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá của khách hàng, đồng thời thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá. Chính vì vậy, quản trị hiệu quả logistics kinh doanh thương mại trước hết phải quản trị tốt dịch vụ mặt hàng kinh doanh, bao gồm cả việc mua hàng và dự trữ hàng hoá.

    1.2.2    Đặc trưng thống nhất của các nghiệp vụ logistics

    Quá trình logistics kinh doanh thương mại là hệ thống các nghiệp vụ có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, bắt đầu từ việc mua hàng ở nguồn hàng, vận chuyển, bảo quản ở trong kho, cửa hàng và kết thúc khi hàng hoá được phân phối và bán cho khách hàng. Quá trình nghiệp vụ logistics thống nhất vào dòng dự trữ và thông tin, thể hiện ở hình 1.2.

     
       
    • Hình 1.2. Đặc trưng thống nhất của các nghiệp vụ Logistics

    Dòng dự trữ là quá trình vận động của hàng hoá từ khi mua hàng ở các nguồn hàng và kết thúc khi hàng hoá được bán cho khách hàng. Dòng thông tin logistics (LIS) bao gồm: dòng hoạch định phối hợp và dòng nghiệp vụ. Như vậy, giữa các yếu tố của quá trình quản trị và nghiệp vụ có mối liên hệ thông tin chặt chẽ.

    1.2.3    Đặc trưng chu kỳ của quá trình logistics

    Chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để phân tích hệ thống logistics. Nghiên cứu chu kỳ nghiệp vụ logistics cho ta tổng quan động thái, ranh giới và các quyết định liên quan, phối hợp với nhau để tăng cường hệ thống nghiệp vụ. Ởcấp cơ sở, nguồn hàng, doanh nghiệp thương mại và khách hàng liên kết với nhau bằng truyền tin và vận chuyển. Những vị trí hợp lý mà các chu kỳ hoạt động nghiệp vụ liên kết với nhau được coi là “nút”. Ởcác “nút”, chu kỳ nghiệp vụ đòi hỏi phải có dự trữ.

    Về bản chất, cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ logistics là hệ thống thực thi logistics thống nhất; chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để thiết kế và kiểm tra nghiệp vụ

    Có 3 quan điểm quan trọng để nắm vững cấu trúc hệ thống logistics thống nhất:

    – Chu kỳ nghiệp vụ là đơn vị cơ sở để phân tích các chức năng logistics.

    – Cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ về cơ bản là không thay đổi dù chúng có liên hệ với các chu kỳ khác nhau.

    – Bất kể cấu trúc hệ thống logistics có rộng và phức tạp như thế nào đi chăng nữa thì ranh giới bản chất và quá trình quản trị phải được xác định và đánh giá trong phạm vi từng chu kỳ khi nghiên cứu tổng hợp quá trình. Trong hệ thống logistics kinh doanh thương mại, về cơ bản có 3 loại chu kỳ:

    a.             Chu kỳ bán hàng trong thương mại:

    Chu kỳ logistics bán buôn được thể hiện trên hình 1.3.

     
       
    • Hình 1.3. Chu kỳ bán buôn hàng hóa

    b.              Chu kỳ bán lẻ hàng hoá

    Chu kỳ bán lẻ hàng hóa được thể hiện trên hình 1.4

     
       
    • Hình 1.4. Chu kỳ bán lẻ hàng hóa

    c.              Chu kỳ hỗ trợ (nghiệp vụ kho hoặc cửa hàng bán lẻ )

    Chu kỳ nghiệp vụ kho được thể hiện trên hình 1.5

    • Hình 1.5. Chu kỳ nghiệp vụ kho hàng hóa

    d.              Chu kỳ nghiệp vụ mua hàng: được thể hiện ở hình 1.6

     
       
    • Hình 1.6. Chu kỳ mua hàng

    1.2.4    Đặc trưng không ổn định của các nghiệp vụ logistics

    Các nghiệp vụ logistics có đặc trưng không ổn định về thời gian thực hiện do sự không ổn định của các tác nghiệp trong từng chu kỳ. Các tác nghiệp này thường bị biến đổi là có nhiều nhân tố tác động. Ví dụ về phân phối thời gian thực hiện các thao tác nghiệp vụ trong cả chu kỳ bán – thực hiện đơn đặt hàng cho khách hàng như hình 1.7

     
       

     

    • Hình 1.7. Phân phối thời gian cho cả chu kỳ thực hiện đơn đặt hàng

    Phân phối thời gian của cả chu kỳ chịu ảnh hưởng của phân phối thời gian các tác nghiệp trong quá trình thực hiện đơn đặt hàng (hình 1.7a – 1.7e)

           
         
       
     

     

     

     

           
         
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

                                          

    Mục tiêu cơ bản của quản trị logistics là giảm bớt sự không ổn định trong chu kỳ nghiệp vụ logistics. Vấn đề khó khăn là ở chỗ, bản thân cấu trúc chu kỳ hoạt động, điều kiện nghiệp vụ, chất lượng nghiệp vụ phối hợp với nhau làm tăng thêm sự không ổn định. Để quản trị được mục tiêu này, cần phải quản trị tốt toàn bộ hệ thống logistics: tổ chức mạng lưới logistics hợp lý, cải tiến hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, cải tiến các nghiệp vụ logistics công nghệ hoá các quá trình.

    1.3    Nhiệm vụ của logistics kinh doanh thương mại

    Sản phẩm của logistics là dịch vụ khách hàng, do đó, nhiệm vụ bao gồm: dịch vụ và chi phí.

    a.              Phải tăng cường chất lượng dịch vụ khách hàng.

    Theo kết quả nghiên cứu những khiếu nại của khách hàng, thì có những dữ liệu như sau:

    • 31% là về chất lượng sản phẩm
    • 44% là do chuyển giao hàng đến chậm
    • 12% là do hàng hoá bị hư hỏng, hoặc hao hụt
    • 6% là do cơ cấu mặt hàng không đầy đủ như yêu cầu
    • 7% – các lý do khác

    Những con số nói trên cho ta thấy điều gì? Sự yếu kém về chất lượng sản phẩm chỉ chưa chiếm tới 1/3 trong số các khiếu nại. Còn lại là do sự yếu kém của hoạt động dịch vụ, mà chủ yếu là logistics, đã làm khách hàng không được hài lòng. Bởi vậy, đây chính là điểm mà logistics phải khắc phục. Và đồng thời cũng phải nhận thức được rằng đây chính là mục tiêu số một của lĩnh vực này.

    Chất lượng dịch vụ khách hàng trong logistics được đo lường bởi các tiêu chuẩn sau:

    a.1.          Tiêu chuẩn 1: Tiêu chuẩn đầy đủ về hàng hoá.

    Các cơ sở logistics phải đảm bảo dự trữ thoả mãn nhu cầu về hàng hoá cho khách hàng cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào hệ thống quản trị dự trữ và tổ chức mạng lưới logistics (kho, cửa hàng ). Những chỉ tiêu đánh giá tiêu chuẩn này bao gồm:

    – Tần số thiếu dự trữ: Là khả năng xẩy ra thiếu dự trữ, hay là hàng hoá có đủ để bán cho khách hàng không. Chỉ tiêu này ra: bao nhiêu lần nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp hàng hoá.

    – Tỷ lệ đầy đủ: Đo lường tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của thiếu dự trữ trong cả một thời gian. Tỷ lệ đẩy đủ phụ thuộc vào tần số thiếu dự trữ, thể hiện mưc độ đáp ứng nhu cầu mua hàng của khách.

    Tần số thiếu dự trữ và tỷ lệ đầy đủ liên quan đến chính sách và chiến lược dự trữ.

    – Thời gian bổ sung dự trữ: Là thông số thời gian để có dự trữ đáp ứng yêu cầu bán hàng.

    Ba chỉ tiêu này phối hợp với nhau để xác định phạm vi mà chiến lược dự trữ của doanh nghiệp đap sứng những mong đợi của khách hàng.

    a.2.          Tiêu chuẩn 2: Tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ

    Tiêu chuẩn này được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

    – Tốc độ: là chi phí thời gian mua hàng của khách hàng. Trong bán buôn: là thời gian kể từ khi đặt hàng đến khi giao hàng. Chỉ tiêu này rất khác nhau tuỳ thuộc vào tổ chức hệ thống logistics (mạng lưới, thông tin, vận chuyển, …). Tốc độ cung ứng hàng hoá ảnh hưởng đến thời cơ kinh doanh và chi phí của khách hàng. Trong bán lẻ: chi phí thời gian mua hàng theo các phương pháp bán hàng kể từ khi quyết định cho khách hàng có được hàng hoá. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào việc hoàn thiện các phương pháp bán hàng, phân bố mạng lưới, hình thức tổ chức kinh doanh (loại hình cửa hàng ). Tuỳ thuộc vào đặc trưng nhu cầu mua hàng mà xác định thời gian mua hàng phù hợp. Chẳng hạn, hàng đơn giản không cần lựa chọn có nhu cầu hàng ngày thì phải rút ngắn thời gian mua hàng.

    – Độ ổn định: là sự giao động về chi phí thời gian mua hàng của khách so với trung bình. Trong bán buôn: độ ổn định kém làm cho khách hàng phải tăng dự trữ bảo hiểm để chống lại việc cung ứng chậm trễ. Độ ổn định liên quan đến tiêu chuẩn đầy đủ và dự trữ, năng lực quản trị quá trình cung cấp hàng hoá. Trong bán lẻ: sự giao động thời gian mua hàng ảnh hưởng đến thời điểm và thời gian tiêu dùng hàng hoá, và do đó, không thoả mãn nhu cầu về thời gian cho khách hàng.

    – Độ linh hoạt: là khả năng đáp ứng những yêu cầu dịch vụ bất thường của khách hàng (về hàng hoá, về thời gian, về địa điểm cung ứng và các dịch vụ khác ). Những tình thế chủ yếu cần phải độ linh hoạt nghiệp vụ là:

    + Có những biễn đổi trong hệ thống dịch vụ cơ bản: thay đổi thời gian giao hàng (bán buôn ); phát triển các phương pháp bán hàng và dịch vụ bổ sung (bán lẻ ).

    + Cần phải hỗ trợ cho chương trình marketing và bán hàng.

    + Kinh doanh mặt hàng mới và áp dụng phương pháp bán mới.

    + Chuyển giai đoạn chu kỳ sống sản phẩm.

    + Tình trạng gián đoạn trong cung ứng.

    + Tái đặt hàng.

    + Định hướng khách hàng theo trình độ dịch vụ.

    + Thay đổi mặt hàng hoặc định hướng khách hàng trong hệ thống logistics như làm giá, bao gói, …

    – Độ sai sót nghiệp vụ: Mức độ vi phạm những yêu cầu của khách hàng về: mặt hàng, thời gian, ….Cần phải thiết kế các chương trình không lỗi và có các phương án khắc phục những sai sót.

    a.3.          Tiêu chuẩn 3: Độ tin cậy.

    Độ tin cậy thể hiện tổng hợp chất lượng logistics. Độ tin cậy bao gồm khả năng thực hiện tiêu chuẩn 1 và 2, khả năng cung cấp thông tin cho khách hàng chính xác, khả năng cải tiến liên tục các nghiệp vụ.

    Cần phải xác định 3 vấn đề khi đo lường chất lượng dịch vụ: biến số đo, đơn vị đo, cơ sở đo.

    b.  Phải giảm tổng chi phí của cả hệ thống logistics.

    Tổng chi phí của hệ thống logistics được đo lường theo công thức sau:

    å F = Fm+ Fv+ Fd+ Ft+ Fđ

    Ở đây: å F – Tổng chi phí hệ thống logistics

    Fm = gm ´ M – Chi phí giá trị hàng hoá mua

    gm:  Giá mua hàng chịu ảnh hưởng của qui mô lô hàng

    M:  Tổng lượng hàng hoá mua trong kỳ kế hoạch

    Fv = gv ´ M – Cước phí vận chuyển hàng hoá

    gv:  Giá cước vận chuyển hàng chịu ảnh hưởng của qui mô lô hàng

    Fd = f + fdq + fb – Chi phí dự trữ hàng hoá

    f = k ´ gm ´ (mtb ´ ttb) – Chi phí dự trữ trên đường

    k – Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ trên đường (%)

    mtb – Mức tiêu thụ hàng hoá bình quân một ngày

    ttb – Thời gian trung bình vận chuyển hàng hoá

    fdq = kdk ´ gk ´  -Chi phí dự trữ lô hàng ở kho

    kdk – Tỷ lệ chi phí đảm bảo dự trữ tại kho (%)

    gk = gm + gv – Giá hàng hoá nhập kho

    Q – Qui mô lô hàng nhập kho

    fb = kdk ´ gk ´ d ´ z – Chi phí dự trữ bảo hiểm hàng hoá ở kho

    d =  – Độ lệch tiêu chuẩn chung

    dm – Độ lệch tiêu chuẩn nhu cầu

    dh – Độ lệch tiêu chuẩn thời gian thực hiện đơn đặt hàng

    th – Thời gian bình quân thực hiện đơn đặt hàngcủa nguồn hàng

    tk – Thời gian chu kỳ kiểm tra dự trữ hàng hoá (trường hợp kiểm tra định kỳ dự trữ )

    z – Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá tại kho pr (tra bảng)

    Ft = – Chi phí thiếu bán hàng hoá

    t – Chi phí thiếu bán 1 đơn vị hàng hoá

    (z) – Hàm phân phối chuẩn tương ứng với chỉ số độ lệch z (tra bảng)

    Fđ = – Chi phí đặt hàng

    h – Chi phí một lần đặt hàng

    Như vậy, chi phí của cả hệ thống logistics chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và vận động theo những chiều hướng ngược nhau dưới ảnh hưởng của qui mô lô hàng nhập. Vấn đề là phải xác định qui mô lô hàng hợp lý, đảm bảo cho tổng chi phí thấp nhất.

    1.4    Tối ưu hoá dịch vụ logistics

    Giữa trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí Logistics có mối quan hệ xác định. Khi tăng trình độ dịch vụ khách hàng, chi phí tăng và ngược lại. Tuy nhiên trong điều kiện môi trường xác định, mối quan hệ này nằm trên một đường cong hợp lý thể hiện trên đồ thị của hình 1.10.

    Những phương án hoạt động Logistics thể hiện mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí nằm trên đường cong là hợp lý, có nghĩa với điều kiện môi trường xác định, với trình độ dịch vụ nhất định, đòi hỏi phải đầu tư một lượng chi phí xác định; Những phương án có điểm giao nhau giữa trình độ dịch vụ và chi phí Logistics nằm phía trên đường cong là không hợp lý, có nghĩa với lượng chi phí bỏ ra chỉ có thể đem lại trình độ dịch vụ thấp hơn, và do đó có thể cải thiện trình độ dịch vụ lên ở mức cao hơn.

    Trên đường cong hợp lý, có một điểm mà tại đó, ứng với trình độ dịch vụ nhất định, đòi hỏi chi phí xác định, nhưng có thể cho ta một mức lợi nhuận cao nhất. Trình độ dịch vụ đó gọi là trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu.

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    • Hình 1.8. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

    Tối ưu hoá dịch vụ logistics là quá trình xác định trình độ dịch vụ khách hàng để đạt được khả năng lợi nhuận tối đa. Xác định trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu có liên quan đến mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng với doanh thu và chi phí.

    1.4.1    Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu

    Kết quả bán hàng chịu ảnh hưởng bởi trình độ cung cấp dịch vụ logistics cho khách hàng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, dịch vụ logistics có ảnh hưởng đến doanh số và sau đó là doanh thu, thị phần. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu được thể hiện trên hình 1.9

    Có 4 phương pháp xây dựng mô hình quan hệ doanh số dịch vụ: phương pháp 2 điểm, phương pháp trước và sau kinh nghiệm, phương pháp trò chơi, và phương pháp điều tra người mua.

    a.  Phương pháp 2 điểm:

    Phương pháp này bao gồm việc tạo nên 2 điểm trên đường cong quan hệ doanh thu – dịch vụ mà qua đó, đường thẳng bị cắt. Đường này được coi như xấp xỉ với quan hệ đường cong, thể hiện ở hình 1.10.

    .

    • Hình 1.9. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và doanh thu
    • Hình 1.10. Phương pháp 2 điểm xác định quan hệ doanh thu – dịch vụ

    Phương pháp này dựa trên ý kiến cho rằng, các điểm xác định đường cong khá tốn kém hoặc không thực tế, và khó có khả năng mô tả mối quan hệ với độ chính xác cao.

    Phương pháp này bao gồm trước hết chọn dịch vụ logistics khách hàng ở trình độ cao cho sản phẩm xác định và xem xét doanh thu có thể đạt được. Sau đó giảm dịch vụ đến mức thấp và ghi lại doanh thu. Tuy kỹ thuật có vẻ đơn giản, nhưng một số vấn đề có thể hạn chế ích lợi của phương pháp. Thứ nhất, không thể thay đổi trình độ dịch vụ đối với sản phẩm đang bán để thu thập thông tin đáp ứng doanh thu. Thứ hai, Thời lượng mà dịch vụ thay đổi là đang hiệu quả, khách hàng nào sẽ cho thông tin thay đổi, và các hoạt động nào khác ảnh hưởng đến doanh thu (xúc tiến, giá, chất lượng sản phẩm, …) có thể là các biến ảnh hưởng đến kết quả doanh thu.

    b.  Phương pháp trước và sau thử nghiệm:

    Việc xây dựng đường cong doanh thu – dịch vụ ở phạm vi rộng có thể là không thực tế. Do đó, đáp ứng doanh thu có thể đơn giản được xác định bằng cách tạo ra sự thay đổi trình độ dịch vụ khách hàng và theo dõi sự thay đổi doanh thu, hoặc bằng cách quan sát ảnh hưởng tương tự từ các báo cáo lịch sử khi dịch vụ thay đổi trong quá khứ. Sự thay đổi dịch vụ cần đủ lớn sao cho những khác biệt doanh thu không bị che lấp bởi dao động doanh thu bình thường hoặc do sai số đo lường.

    Phương pháp này tương tự phương pháp 2 điểm, tuy nhiên nó dễ thực hiện do trình độ dịch vụ hiện tại được coi là “trước” điểm dữ liệu, và chỉ cần biết “sau”điểm dữ liệu.

    c.   Phương pháp trò chơi:

    Đúng đắn hơn trong việc đo lường sự đáp ứng doanh thu với sự thay đổi dịch vụ là kiểm soát môi trường sao cho chỉ xác định ảnh hưởng của trình độ dịch vụ logistics khách hàng. Phương pháp này giống như tạo ra phòng thí nghiệm hoặc tình thế trò chơi, ở đó các quyết định được diễn ra trong môi trường được kiểm soát. Môi trường này cố gắng sao chụp các yếu tố biến đổi nhu cầu, cạnh tranh, chiến lược logistics và những cái khác tương tự hoàn cảnh thực tế. Trò chơi gồm các quyết định về các mức hoạt động logistics (do đó là các mức dịch vụ) với mục tiêu tạo nên doanh thu tương ứng với chi phí tạo ra chúng. Bằng việc theo dõi trò chơi theo thời gian, có thể có được dữ liệu khái quát để xây dựng đường cong doanh thu – dịch vụ.

    d.  Điều tra người mua:

    Đây là phương pháp phổ biến nhất để thu thập thông tin dịch vụ khách hàng.

    1.4.2    Chi phí và dịch vụ

    Dễ thấy rằng dịch vụ logistics khách hàng là kết quả của các mức hoạt động logistics. Mỗi mức dịch vụ có một mức chi phí tương ứng. Thực ra có nhiều phương án chi phí hệ thống logistics đối với từng mức dịch vụ, tuỳ thuộc vào sự phối hợp các hoạt động logistics. Khi biết được các mối quan hệ doanh thu – dịch vụ, có thể xác định được chi phí tương ứng với dịch vụ (Hình 1.9).

    Chi phí
    Trình độ dịch vụ
    • Hình 1.11. Mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ và chi phí

    1.4.3    Xác định trình độ dịch vụ tối ưu

    Khi đã biết doanh thu và chi phí logistics đối với từng trình độ dịch vụ, chúng ta có thể xác định được trình độ dịch vụ sẽ tối đa hoá đóng góp lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bằng phương pháp phân tích cận biên theo trình độ dịch vụ khách hàng trong kinh tế, có thể tìm được điểm dịch vụ tối ưu. Tiến hành nghiên cứu lý thuyết và sau đó vận dụng lý thuyết trong thực tế.

    a.              Lý thuyết

    Giả sử mục tiêu là tối đa hoá đóng góp lợi nhuận. Về mặt toán học, lợi nhuận tối đa đạt được ở điểm tại đó, sự biến đổi doanh thu bằng biến đổi chi phí: doanh thu biên bằng chi phí biên. Để minh hoạ, giả sử cho đường cong doanh thu – dịch vụ là: .Ởđây, D- trình độ dịch vụ khách hàng: % số đơn hàng có thời gian chu kỳ đặt hàng 5 ngày. Bản chất của đường cong như sau (H.10).

     
       
    • Hình 1.12. Tối ưu hoá dịch vụ logistics lý thuyết

    Đường cong chi phí tương ứng C = 0,00055D2. Biểu thức tối ưu hoá:

    P = 0,5D1/2 – 0,00055D2

    Ở đây: P- Đóng góp lợi nhuận ($)

    Lấy đạo hàm bậc nhất của P theo D: P/(D) ®

    P cực đại khi: D* = (0,5/4.  0,00055)2/3 ® D* = 37,2%

    b.  Thực tế: nghiên cứu ví dụ

    Một hãng thực phẩm dự trữ nước chanh ép để cung ứng cho các khách hàng của mình. Hãng muốn dự trữ với mức dịch vụ để cho lợi nhuận tôí đa.

    Theo nghiên cứu, cứ thay đổi 1% trình độ dịch vụ thì sẽ thay đổi 0,1% doanh thu. Chiết khấu thương mại là 5.500đ/hộp với doanh số qua kho là 59.904 hộp. Giá phí một hộp ở kho là 53.800đ/hộp, và chi phí đảm bảo dự trữ năm là 25%. Thời gian cung ứng và chu kỳ đặt hàng là 1 tuần với doanh số trung bình tuần là 1.152 hộp và độ lệch tiêu chuẩn là 350 hộp.

    Các bước tính toán như sau:

    Dịch vụ tối ưu khi D R = D C. Do đáp ứng doanh số là hằng số (không đổi ) cho mọi trình độ dịch vụ, nên sự biến đổi trong doanh thu là:

    D R = Chiết khấu thương mại ´ tỷ lệ đáp ứng doanh số ´ doanh số năm

    = 0,55 ´ 0,001 ´ 59.904 = 329.500đ/năm.  1% thay đổi trình độ dịch vụ.

    Sự thay đổi trong chi phí là do chi phí dự trữ bảo hiểm cần để duy trì trình độ dịch vụ. Sự biến đổi trong dự trữ bảo hiểm là:

    D C = chi phí dự trữ năm ´ Giá phí một hộp ´ Độ lệch tiêu chuẩn nhu cầu trong chu kỳ đặt hàng ´ sự biến đổi của Z

    Z- Chỉ số độ lệch tiêu chuẩn tương ứng với xác suất đảm bảo dự trữ hàng hoá tại kho .

    Do vậy:             D C = 0,25 ´ 53.800 ´ 350 ´ D Z / năm

    Sự biến đổi chi phí dự trữ bảo hiểm với các giá trị khác nhau của D Z được trình bày ở bảng 1.1

    • Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa chi phí dự trữ bảo hiểm và trình độ dịch vụ
    Biến đổi trình độ dịch vụ Biến đổi về Z Biến đổi chi phí dự trữ bảo hiểm
    87-86    1,125-1,08  = 0,045 211.800
    88-87     1,17 -1,12  = 0,045 211.800
    89-88 1.23  -1,17   = 0,05 235.400
    90-89 1,28  – 1,23  = 0,05 235.400
    91-90 1,34 – 1,28  = 0,06 282.500
    92-91 1,41  – 1,34  = 0,07 329.500
    93-92 1,48  – 1,41  = 0,07 329.500
    94-93 1,55  – 1,48  = 0,07 329.500
    95-94 1,65  – 1,55  = 0,10 470.800
    96-95 1,75  – 1,65  = 0,10 470.800
    97-96 1,88  – 1,75  = 0,13 612.000
    98-97 2,05  – 1,88  = 0,17 800.300
    99-98 2,33  – 2,05  = 0,28 1.318.810

    Thể hiện D R và D C trên đồ thị (H.11),ta được trình độ dịch vụ tối ưu là 93% cho ta DR = DC = 329.500đ

    Thường thì dịch vụ khách hàng được coi là có giới hạn đối với hệ thống logistics khi không thể phát triển được mối quan hệ doanh thu – dịch vụ. Trong trường hợp này, có thể chọn trình độ dịch vụ khách hàng định trước, và hệ thống logistics được thiết kế để đáp ứng trình độ này với chi phí tối thiểu. Trình độ dịch vụ thường dựa vào các yếu tố như: trình độ dịch vụ của đối thủ cạnh tranh, ý kiến người bán hàng, và truyền thống. Theo cách này, không thể đảm bảo rằng, trình độ dịch vụ có sự cân đối tốt nhất giữa doanh thu và chi phí.

    Để thiết kế hệ thống tối ưu khi khi dịch vụ được coi là có giới hạn, có thể sử dụng phân tích độ nhạy. Trong trường hợp này, phân tích độ nhạy bao gồm biến đổi các nhân tố tạo nên dịch vụ và sau đó tìm thiết kế hệ thống mới có chi phí tối thiểu. Nếu lặp lại kiểu phân tích này một số lần, có thể thu được chi phí hệ thống với các trình độ dịch vụ khác nhau, và được minh hoạ ở bảng 1.2.

     
       
    • Hình 1.13. Biến đổi doanh thu và chi phí theo trình độ dịch vụ

    1.4.4    Dịch vụ có giới hạn

    Tuy rằng chưa biết được thiết kế hệ thống logistics và trình độ dịch vụ khách hàng ảnh hưởng ra sao đến doanh thu, nhưng có thể xác định được giá trị của trình độ dịch vụ. Theo ví dụ ở bảng 1.2, để cải thiện trình độ dịch vụ khách hàng từ 85% lên 90%, chi phí logistics sẽ tăng từ 7 triệu $ lên 9 triệu $ mỗi năm. Cải thiện trình độ dịch vụ khách hàng lên 5% phải tăng chi phí lên 2 triệu $. Do vậy doanh thu do cải tiến dịch vụ này phải tăng lên để bù đắp chi phí logistics tăng thêm. Chọn mức dịch vụ cuối cùng thuộc vào quyết định quản trị, tuy nhiên thông tin về chi phí của các trình độ dịch vụ khách hàng khác nhau hỗ trợ cho các quá trình quyết định.

    • Bảng 1.2 Chi phí thiết kế hệ thống Logistics là hàm của trình độ dịch vụ khách hàng khác nhau
    Phương án Thiết kế hệ thống logistics Chi phí logistics hàng năm Trình độ dịch vụ khách hàng
    1 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường thuỷ, mức dự trữ thấp 5.000.000 $ 80%
    2 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường sắt, mức dự trữ thấp 7.000.000 $ 85%
    3 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển ôtô, mức dự trữ thấp 9.000.000 $ 90%
    4 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển đường sắt, mức dự trữ cao 12.000.000$ 93%
    5 Chuyển đơn hàng bằng thư, vận chuyển ôtô, mức dự trữ cao 15.000.000$ 95%
    5 Chuyển đơn hàng bằng điện thoại, vận chuyển ôtô, mức dự trữ cao 16.000.000$ 96%

    1.4.5    Những đột biến dịch vụ

    Đa số các kế hoạch và nỗ lực logistics được lãnh đạo theo hướng hiệu quả trong những điều kiện bình thường. Đồng thời phải chuẩn bị cho những trường hợp bất thường có thể làm đình trệ hệ thống hoặc làm ảnh hưởng lớn đến những đặc điểm hoạt động trong thời gian ngắn, như đình công, hoả hoạn, lũ lụt, …Có 2 đột biến phổ biến là sự đình trệ hệ thống và loại bỏ sản phẩm.

    1.5    Đối tượng, phương pháp nghiên cứu môn học

    1.5.1    Đối tượng và nội dung môn học

    Logistics kinh doanh thương mại là môn khoa học kinh tế nghiên cứu các hiện tượng và tính qui luật của quá trình logistics kinh doanh thương mại.

    Như vậy, đối tượng của môn học logistics kinh doanh thương mại là những hiện tượng và tính qui luật của quá trình logistics: mua, dự trữ vận chuyển, kho, bán hàng và dịch vụ khách hàng, ..

    Nội dung nghiên cứu môn học bao gồm toàn bộ quá trình quản trị logistics, từ hoạch định, thực thi, cho đến kiểm soát các hoạt động logistics. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào các đối tượng chuyên ngành mà nội dung nghiên cứu có thể toàn diện, sâu sắc hay chỉ đề cập đến những nội dung cơ bản nhất.

    1.5.2    Vị trí và phương pháp môn học

    Logistics kinh doanh thương mại là môn học chuyên ngành quản trị kinh doanh thương mại, cung cấp những kiến thức cơ bản và thực tế cho các nhà quản trị trong các doanh nghiệp thương mại.

    Môn học logistics kinh doanh thương mại có quan hệ chặt chẽ với các môn học chuyên ngành quản trị kinh doanh: marketing, quản trị doanh nghiệp, kinh tế doanh nghiệp, …

    Môn học cung cấp kiến thức cơ bản của kinh doanh thương mại làm cơ sở cho nhận thức, lĩnh hội các môn học khác.

    Logistics kinh doanh thương mại là hoạt động có tính công nghệ thống nhất chặt chẽ, do đó nghiên cứu môn học này phải áp dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống; là môn học gắn liền với hoạt động thực tiễn, do đó phải áp dụng phương pháp tư duy biện chứng, gắn liền lý luận với thực tiễn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-CUNG-%E1%BB%A8NG-H%C3%80NG-H%C3%93A-CHO-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-TRONG-KINH-DOANH-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-TRONG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG LOGISTICS

    Chương 4:          QUẢN TRỊ CUNG ỨNG HÀNG HÓA CHO KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

    4.1-  Mục tiêu, nguyên tắc của quản trị quá trình cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn

    4.1.1- Vị trí của cung ứng hàng hóa cho khách hàng trong kinh doanh thương mại

    Hệ thống logistics kinh doanh thương mại bao gồm nhiều công đoạn, trong đó có công đoạn trực tiếp cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng (Hình 4.1). Như vậy, cung ứng hàng hóa cho khách hàng là quá trình trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ logistics cho khách hàng thông qua hành vi bán hàng, đảm bảo kịp thời, nhanh chóng chính xác, với số lượng, chất lượng và cơ cấu hàng hoá phù hợp với nhu cầu khách hàng và chi phí thấp nhất.

     
       

     

    • Vị trí của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng                       trong hệ thống logistics doanh nghiệp thương mại

    Kết quả của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng chịu ảnh hưởng và thể hiện chất lượng của toàn bộ hệ thống logistics. Số lượng, cơ cấu, và chất lượng hàng hoá, thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng phụ thuộc vào tổ chức và phân bố mạng lưới logistics. phụ thuộc vào hệ thống cung ứng hàng hoá cho mạng lưới logistics, thể hiện ở công tác quản trị dự trữ, mua hàng, quá trình kho vận,. ..Mặt khác, chất lượng dịch vụ khách hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Do đó, cần phải tổ chức và quản trị tốt quá trình này.

    Bán hàng là kết quả của 2 hoạt động có mối quan hệ khăng khít với nhau: hoạt động marketing và logistics. Các hoạt động marketing sẽ tạo nên thương vụ, còn hoạt động cung ứng hàng hóa cho khách hàng là thực hiện các thương vụ.  Quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng có tính chu kỳ, và như vậy vấn đề đặt ra đối với cung ứng hàng hóa cho khách hàng là phải rút ngắn chu kỳ, tăng tần số các thương vụ.

    4.1.2- Mục tiêu và nguyên tắc quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng

    Mục tiêu chung của quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng là: Phát triển doanh số trên cơ sở cung cấp trình độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược với tổng chi phí thấp nhất.

    Mục tiêu này đòi hỏi phải tối ưu hoá dịch vụ khách hàng, có nghĩa, phải đảm bảo trình độ dịch vụ khách hàng của quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng đem lại khả năng lợi nhuận cao nhất.

    Mục tiêu tác nghiệp của cung ứng hàng hóa cho khách hàng bao gồm:

    – Đáp ứng nhanh: Có nghĩa thời gian thực hiện đơn đặt hàng trong kinh doanh thương mại bán buôn và chi phí thời gian mua hàng của khách hàng trong kinh doanh thương mại bán lẻ là ít nhất. Việc cải tiến phương pháp và quá trình cung ứng hàng hóa sẽ rút ngắn được thời gian cung ứng hàng hóa cho khách hàng đến mức thấp nhất.

    – Tối thiểu hoá các sai lệch: Quá trình giao hàng cho khách hàng trong kinh doanh bán buôn phải đúng với mong đợi của khách hàng được thể hiện trong hợp đồng mua bán, đặc biệt phải giảm đến mức thấp nhất những sai lệch thời gian. Trong kinh doanh bán lẻ phải thoả mãn đến mức cao nhất những nhu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, yêu cầu lựa chọn hàng hoá. ..như đã truyền tin và định vị đối với khách hàng trên thị trường mục tiêu.

    – Mục tiêu chi phí: Sử dụng công nghệ xử lý và thực hiện đơn đặt hàng và bán hàng tiên tiến, hiện đại để nâng cao năng suất và độ chính xác. Phải dần từng bước cơ giới hoá và tự động hoá các thao tác của quá trình, vừa đảm bảo được mục tiêu dịch vụ và chi phí.

    Để thực hiện được những mục tiêu trên đây, quản trị cung ứng hàng hóa cho khách hàng phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    – Phải thực hiện nguyên tắc cam kết: Thực hiện đầy đủ những cam kết đối với khách hàng được thể hiện trong hợp đồng mua bán đã ký kết; phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng qui định trong các cửa hàng bán lẻ.

    – Phải thực hiện nguyên tắc linh hoạt và ưu tiên: Khi có những yêu cầu bất thường của khách hàng, phải huy động mọi nỗ lực logistics để đáp ứng cho dù có thể không thu được lợi nhuận như mong muốn. Đồng thời phải thực hiện chính sách ưu tiên theo qui tắc phân loại 80/20 (qui tắc ABC).

    – Phải đảm bảo nguyên tắc hệ thống công nghệ: Việc triển khai quá trình theo một qui trình hợp lý, thống nhất.

    4.2-  Quản trị cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn

    4.2.1- Các quyết định căn bản của quản trị cung ứng hàng hoá cho khách hàng

    Các quyết định này bao gồm: Xác định mục tiêu dịch vụ và chi phí; Xác định các phương pháp bán hàng; Xác định tổng lượng và cơ cấu lưu chuyển hàng hoá theo mặt hàng và khách hàng; Thiết kế các qui trình nghiệp vụ bán hàng.

    a-   Xác định mục tiêu dịch vụ cung ứng hàng hóa cho khách hàng.

    Chất lượng dịch vụ khách hàng là kết quả của toàn bộ hệ thống logistics, đòi hỏi phải có sự phối hợp của toàn bộ hệ thống. Đồng thời, mỗi công đoạn nghiệp vụ phải đề ra mục tiêu riêng. Mục tiêu của cung ứng hàng hóa cho khách hàng chủ yếu tập trung vào tốc độ và tính ổn định trong cung ứng hàng hoá cho khách hàng.

    Phải xác định thời gian tối đa kể từ khi nhận được đơn đặt hàng hoặc ký hợp đồng mua bán hàng hoá. Phải dự đoán nhu cầu dịch vụ của từng khách hàng mục tiêu để đáp ứng, đảm bảo lợi thế cạnh tranh. Trong từng thời kỳ, phải thiết kế được cửa sổ dịch vụ nhằm xác định trình độ dịch vụ cần đạt để từ đó, xác định thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng tương ứng. Cách thức thiết kế cửa sổ dịch vụ được thể hiện trên hình 4.2

    • Cửa sổ dịch vụ khách hàng

    Theo cửa sổ dịch vụ thì muốn đạt được chỉ tiêu trình độ dịch vụ 95%, thời gian thực hiện đơn đặt hàng của khách hàng không được vượt quá 6 ngày. Nếu vượt quá, có nghĩa đã giảm trình độ dịch vụ khách hàng xuống.

    Tuy nhiên, do có mối quan hệ giữa trình độ dịch vụ khách hàng và chi phí, khả năng lợi nhuận, cho nên xác định mục tiêu cung ứng hàng hóa cho khách hàng có thể theo một số cách như sau:

    – Xác định mục tiêu dịch vụ khách hàng, sau đó bằng mọi nỗ lực để giảm chi phí đến mức thấp nhất;

    – Xác định mức chi phí tối đa, sau đó cải thiện các hoạt động logistics để đạt được trình độ dịch vụ cao nhất có thể ;

    – Xác định trình độ dịch vụ khách hàng tối ưu, có nghĩa xác định trình độ dịch vụ khách hàng mà tại đó, cho khả năng thu lợi nhuận cao nhất.

    b-   Xác định tổng mức và cơ cấu lưu chuyển hàng hoá bán buôn.

    Trên cơ sở kế hoạch marketing thương mại đã định, phải tiến hành đo lường và dự báo nhu cầu làm cơ sở cho việc xác định định mức bán và ngân sách bán. Phải sử dụng các phương pháp đo lường và dự báo đảm bảo độ chính xác và kịp thời. Kế hoạch lưu chuyển hàng hoá phải cụ thể, chi tiết theo từng nhóm, mặt hàng, theo từng đối tượng khách hàng để dự tính các giải pháp logistics hợp lý, đảm bảo những mục tiêu dịch vụ logistics đã đề ra.

    c-   Xác định các phương pháp bán hàng.

    Tuỳ thuộc yêu cầu dịch vụ của khách hàng mà phải có các phương pháp bán hàng thích hợp. Các phương pháp bán phụ thuộc vào các quyết định về giá. Quyết định về giá trực tiếp xác định bộ phận nào trong thương vụ có trách nhiệm thực hiện các hoạt động logistics, chuyển giao sở hữu, và trách nhiệm pháp lý. Có 2 phương pháp định giá bán: Giá F.O.B nơi giao và giá F.O.B nơi nhận (hình 4.3).

           
           

    vv

           
           
     
           
    • Giá bán và trách nhiệm tương ứng

    Như vậy, tuỳ thuộc vào phương pháp bán hàng theo các kiểu giá khác nhau mà các cơ sở logistics bán buôn phải thực hiện nhiều hay ít dịch vụ logistics. Và do đó, qui trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng cũng đơn giản hay phức tạp.

    d-   Thiết kế các qui trình thực hiện đơn đặt hàng cho khách hàng

    Để chủ động và tiết kiệm chi phí, tăng tốc độ quá trình logistics, cần phải thiết kế các qui trình thực hiện đơn đặt hàng phù hợp với các phương pháp bán hàng. Nếu chỉ tính trách nhiệm dịch vụ giữa các bên trong quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng, thì có 2 phương pháp bán hàng chủ yếu: bán hàng tại kho người giao (bán), và bán hàng vận chuyển giao hàng tại kho người nhận. Qui trình bán đầu đơn giản hơn qui trình sau. Trong thiết kế qui trình, cần phải chú ý một số nguyên tắc sau:

    – Nguyên tắc ưu tiên thực hiện đơn hàng: Trong quá trình thực hiện đơn hàng, cần phải ưu tiên cung cấp hàng hoá cho một số khách hàng có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, nên áp dụng qui tắc 80/20 hay phân loại A,B,C khách hàng để có chính sách thích đáng.

    – Nguyên tắc đồng bộ thực hiện đơn hàng: Để tiết kiệm thời gian, tăng nhanh tốc độ cung ứng, không nên chỉ nhấn mạnh vào tính tuần tự của qui trình. Nếu một số thao tác của qui trình có thể thực hiện đồng thời thì triển khai song song.

    – Nguyên tắc tập trung: Để tăng năng suất lao động và giảm chi phí trong việc chuẩn bị lô hàng và vận chuyển, phải đảm bảo nguyên tắc tập trung. Nguyên tắc này đòi hỏi tập trung chuẩn bị và xử lý nhiều lô hàng cùng một lúc, hoặc tập trung vận chuyển nhiều lô hàng trong cùng một đợt nhằm lợi dụng tính kinh tế nhờ qui mô, giảm chi phí.

    4.2.2- Quá trình thực hiện đơn đặt hàng của khách hàng trong thương mại bán buôn

    Cung ứng hàng hoá cho khách hàng trong thương mại bán buôn được thực hiện thông qua việc thực hiện đơn đặt hàng.

    Quá trình thực hiện đơn đặt hàng là tập hợp các hoạt động có đặc trưng chu kỳ nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng, đảm bảo thỏa mãn đơn đặt hàng của khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Quá trình này được thể hiện trên hình 4.4

     
       
    • Quá trình thực hiện đơn đặt hàng bán buôn

    a-   Tập hợp, xử lý đơn đặt hàng và hợp đồng

    Đây là quá trình thu thập, xử lý và truyền tin giữa các bên mua bán nhằm thiết lập quan hệ mua bán theo hình thức pháp lý nhất định. Nội dung của công đoạn này bao gồm 3 công tác:

    a.1-   Chuẩn bị đơn hàng và hợp đồng của khách hàng:

    Đây là hoạt động truyền tin những yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ cho người bán. Nội dung có thể là: hoàn thiện hình thức đặt hàng, yêu cầu người bán cung cấp những thông tin cần thiết để chuẩn bị đơn hàng.

    a.2-       Chuyển đơn hàng hoặc yêu cầu về hợp đồng của khách hàng:

    Bao gồm việc chuyển yêu cầu đặt hàng từ điểm tiếp nhận đến nơi xử lý đơn hàng. Có 2 phương pháp chuyển đơn đặt hàng: bằng sức người, và bằng điện tử. Sử dụng sức người thì tốc độ chậm, nhưng đỡ tốn chi phí. Sử dụng điện tử thông qua hệ thống điện thoại, Fax, mạng vi tính. ..;đơn đặt hàng được chuyển nhanh, độ tin cậy cao, chính xác, nhưng tất nhiên là tốn chi phí.

    a.3-       Xử lý đơn đặt hàng:

    Bao gồm các hoạt động như, kiểm tra độ chính xác của thông tin đơn hàng về số lượng, cơ cấu, giá cả; kiểm tra khả năng dự trữ; chuẩn bị những tài liệu, văn kiện từ chối (nếu cần); kiểm tra tình trạng tín dụng của khách hàng; sao chép thông tin về đơn đặt hàng nếu thấy cần thiết.

    b-   Xây dựng chương trình giao hàng

    Chương trình giao hàng là bản thuyết minh các hoạt động hoặc các bước cần thiết để thực hiện kế hoạch logistics, hợp đồng mua bán, đơn đặt hàng của khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Căn cứ để xây dựng chương trình giao hàng:

    – Kết quả xử lý đơn hàng và hợp đồng, phân tích tình hình bán buôn hàng hoá

    – Phân tích tình hình dự trữ hàng hoá và nguồn hàng.

    – Khả năng vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp

    c-   Chuẩn bị giao hàng

    Trên cơ sở chương trình giao hàng, phải tiến hành công tác chuẩn bị giao hàng. Nội dung chuẩn bị giao hàng bao gồm:

    – Chuẩn bị nguồn cung cấp hàng hoá cho khách hàng: Xác định vị trí kho phát hàng. Trong trường hợp cung cấp hàng hoá từ nguồn hàng, phải tiến hành đặt hàng hoặc ký hợp đồng mua hàng với nguồn hàng. Phải khẩn trương xúc tiến việc mua hàng để tránh chậm trễ trong việcc giao hàng cho khách hàng.

    – Chuẩn bị lô hàng: Việc chuẩn bị các lô hàng để giao được thực hiện trong các kho hàng hoá. Chuẩn bị lô hàng chiếm tỷ lệ thời gian khá lớn, do đó, phải nâng cao năng suất và cơ giới hoá các công tác chuẩn bị hàng hoá ở kho.

    – Chuẩn bị phương tiện giao hàng: bao gồm chuẩn bị phương tiện vận tải, chất xếp, tiến hành ký hợp đồng hoặc đặt hàng vận chuyển hàng hoá với các đơn vị vận tải

    – Chuẩn bị giấy tờ: Phải chuẩn bị đầy đủ các chứng từ hợp lệ, thuận tiện cho quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hoá, bao gồm: hoá đơn, giấy phép vận chuyển, giấy đảm bảo chất lượng,. …

    – Chuẩn bị lao động: chuẩn bị lao động chất xếp, lao động bảo vệ hàng hoá và giao hàng nếu cần thiết.

    d-   Tiến hành giao hàng

    Tuỳ thuộc vào phương pháp bán hàng, việc giao hàng được tiến hành ở kho người bán hoặc cơ sở logistics của người mua. Nếu giao hàng tại cơ sở logistics của người mua, người bán phải đảm nhiệm công tác tổ chức vận chuyển hàng hoá và phải thực hiện quá trình nghiệp vụ vận chuyển. Cạnh tranh trong kinh doanh thương mại đòi hỏi người bán phải đảm nhiệm công tác vận chuyển với chi phí hạ, tốc độ nhanh và ổn định.

    Quá trình giao hàng phải thực hiện đúng những cam kết với khách hàng, đặc biệt là cam kết về địa điểm và thời gian giao hàng.

    e-   Thông báo và kiểm tra tình hình giao hàng

    Đây là hoạt động cuối cùng trong quá trình thực hiện đơn đặt hàng, nó cam kết rằng một dịch vụ khách hàng tốt đã được cung ứng thông qua việc duy trì thông tin cho khách hàng về bất cứ sự chậm trễ nào trong quá trình đặt hàng hoặc giao đơn đặt hàng.  Cụ thể nó bao gồm: (1) theo dõi đơn hàng trong toàn bộ chu kỳ thực hiện đơn đặt hàng; (2) thông tin tới khách hàng tiến trình thực hiện đơn đặt hàng. Đây là hoạt động kiểm tra và nó không ảnh hưởng đến tổng thời gian để thực hiện đơn đặt hàng.

    4.3-  QUẢN TRỊ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ TRONG CỬA HÀNG BÁN LẺ

    4.3.1- Nguyên tắc, căn cứ quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ chính là quá trình cung ứng hàng hóa  cho khách hàng trong kinh doanh thương mại bán lẻ. Quá trình này là tập hợp các thao tác có mối liên hệ chặt chẽ kế tiếp nhau trong cửa hàng nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng thông qua hành vi bán lẻ với trình độ thoả mãn cao nhất và chi phí ít nhất.

    Quá trình công nghệ qui định và liên kết nội dung, vị trí, thời gian và trật tự thực hiện xử lý dòng hàng từ khi hàng hoá đến cửa hàng cho đến khi bán cho khách. Sơ đồ công nghệ tổng quát quá trình công nghệ trong cửa hàng được thể hiện trên hình 4.5.

     
       
    • Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Tuỳ thuộc vào đặc điểm của quá trình nhập hàng vào cửa hàng và các phương pháp bán hàng mà có thể có 3 kiểu dòng công nghệ: (1)-Dòng hoàn chỉnh bao gồm đầy đủ 4 công đoạn; (2) – dòng ngắn hơn bao gồm 3 công đoạn; (3)- dòng ngắn nhất chỉ 2 công đoạn.

    Dòng (1) áp dụng đối với những hàng hoá có thể dự trữ một số ngày tại cửa hàng trong điều kiện kho phân phối cách khá xa cửa hàng, hoặc hàng hoá phải trải qua giai đoạn biến đổi mặt hàng trong cửa hàng.

    Dòng (2) áp dụng đối với những hàng hoá không thể hoặc không cần dự trữ tại cửa hàng như thực phẩm tươi sống,. ..

    Dòng (3) áp dụng đối với những hàng hoá đã được chuẩn bị sẵn sàng để bán tại cửa hàng, chẳng hạn như các siêu thị – hàng hoá đã được chuẩn bị sẵn tại các kho.

    Quá trình công nghệ bao gồm các nghiệp vụ có tính độc lập tương đối. Nghiệp vụ là phần đồng nhất của quá trình do một số nhân viên hoàn thành và thực hiện những tác động nhất định đến đối tượng ở một vị trí công tác với một thiết bị nào đó

    Quản trị quá trình công nghệ phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    – Nguyên tắc phương án bán hàng tối ưu – Thiết kế các phương án bán hàng là những quyết định marketing, và do đó, triển khai quá trình công nghệ phải trên cơ sở các phương pháp bán hàng đã định.

    – Nguyên tắc tiến bộ kỹ thuật

    – Nguyên tắc hệ thống

    Những căn cứ để tiến hành quản trị quá trình công nghệ:

    – Căn cứ vào công nghệ bán lẻ hàng hoá tại các cửa hàng

    Mỗi công nghệ bán hàng có trình độ thoả mãn nhu cầu mua hàng của khách khác nhau, và do đó ảnh hưởng đến nội dung của quá trình công nghệ trong cửa hàng.

    – Căn cứ vào hệ thống nhập hàng vào cửa hàng

    Hệ thống nhập hàng vào cửa hàng quyết định cơ cấu và qui mô các nghiệp vụ và các dòng công nghệ trong cửa hàng.

    – Căn cứ vào cơ sở vật chất – kỹ thuật của doanh nghiệp thương mại và cửa hàng.

    – Căn cứ vào thành tựu tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong thương mại.

    4.3.2- Nội dung cơ bản của quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Những nội dung cơ bản quản trị quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ bao gồm: Xác định các mục tiêu của quá trình công nghệ bán lẻ; Thiết kế các quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ; Qui hoạch mặt bằng công nghệ trong cửa hàng; Xây dựng phương án cung cấp thiết bị công nghệ; Tổ chức lao động công nghệ bán lẻ.

    a-   Xác định các mục tiêu của quá trình công nghệ bán lẻ

    Bao gồm các mục tiêu: Doanh thu (lưu chuyển bán lẻ), các mục tiêu về dịch vụ khách hàng

    – Mục tiêu doanh thu:

    Trên cơ sở một kế hoạch marketing đã định, phải dự báo nhu cầu thị trường của doanh nghiệp về mặt tổng lượng và cơ cấu. Và cũng trên cơ sở dự báo nhu cầu, doanh nghiệp xác định kế hoạch ngân sách bán lẻ để triển khai kế hoạch logistics và các kế hoạch khác. Cần phải dự tính mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ theo các phương pháp bán hàng và theo các kiểu dòng công nghệ.

    – Mục tiêu dịch vụ khách hàng:

    Có nhiều chỉ tiêu dịch vụ khách hàng khác nhau, cần phải xác định để đảm bảo cho quá trình công nghệ trong cửa hàng đạt được mục tiêu dịch vụ.

    – Thời gian khách mua hàng

    – Hệ số thoả mãn nhu cầu mua hàng cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng

    – Hệ số ổn định mặt hàng kinh doanh

    b-   Thiết kế quá trình công nghệ và qui hoạch mặt bằng công nghệ trong cửa hàng

    Trên cơ sở các phương pháp bán hàng và đặc điểm cung ứng hàng hoá, phải thiết kế các quá trình công nghệ thích ứng và chi tiết. Có thiết kế chi tiết quá trình công nghệ thì mới nắm vững những đặc điểm của từng công đoạn, từng thao tác công nghệ để xỷ lý dòng hàng thoả mãn nhu cầu dịch vụ khách hàng với chi phí thấp nhất.

    Để thực hiện tốt quá trình công nghệ đã được thiết kế, cần phải qui hoạch hợp lý mặt bằng cửa hàng. Cơ cấu các loại diện tích trong cửa hàng phải phù hợp với sơ đồ công nghệ, trong đó cần phải chú ý qui hoạch tốt diện tích phòng bán hàng.

    Để đánh giá trình độ sử dụng hợp lý diện tích doanh nghiệp trong cửa hàng tự phục vụ (siêu thị), có thể dùng hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị và hệ số diện tích trưng bày.

    Hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị được xác định bằng tỷ số diên tích dùng để đặt thiết bị trên diện tích gian hàng:

    K- Hệ số sử dụng diện tích lắp đặt thiết bị

     

    c- Diện tích lắp đặt thiét bị (m2)

    c1– Diện tích gian hàng (m2)

     

    K tối ưu trong cửa hàng tự phục vụ: 0,30 – 0,32

    Hệ số diện tích trưng bày được xác định bằng tỷ số diện tích dùng để bày hàng trên diện tích gian hàng:

    K- Hệ số sử dụng diện tích bày hàng

     

    c2– Diện tích bày hàng (m2)

    c1– Diện tích gian hàng (m2)

    Trong cửa hàng bán hàng theo phương pháp cổ truyền, hệ số này bằng 0,33 – 0,40, trong cửa hàng tự phục vụ (siêu thị), hệ số này bằng 0,65 – 0,75

    c-   Xây dựng phương án cung cấp thiết bị công nghệ bán hàng

    Mỗi một công nghệ bán hàng đòi hỏi cung cấp thiết bị tương ứng. Phải tính toán số lượng, cơ cấu thiết bị hợp lý, đảm bảo đầy đủ và phát huy hết công suất. Có như vậy, quá trình công nghệ mới diễn ra liên tục thống nhất, phục vụ khách hàng tốt nhất và với chi phí thấp nhất.

    Phải xây dựng phương án cơ giới hoá quá trình công nghệ trong cửa hàng. Cơ giới hoá đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho cửa hàng bởi nó tiết kiệm thời gian mua hàng của khách, nâng cao trình độ văn minh thương mại, đồng thời cải thiện điều kịn lao động của nhân viên cửa hàng. Áp dụng cơ giới hoá sẽ nâng cao khả năng thu lợi nhuận, giảm bớt chi phí lưu thông. Do vậy, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ giới hoá là chỉ tiêu đo lường hiệu quả vốn đầu tư.

    4.3.3- Quá trình công nghệ trong cửa hàng bán lẻ

    Quá trình công nghệ bao gồm nhiều công đoạn và thao tác khác nhau, nhưng về cơ bản có 4 công đoạn chính: Tiếp nhận hàng, bảo quản hàng, chuẩn bị hàng để bán, và bán hàng.

    a-   Tiếp nhận hàng hoá

    Là nghiệp vụ cần thiết trong cửa hàng. Nó được thực hiện kế tiếp và đồng thời với việc bốc dỡ hàng hoá. Tổ chức tiếp nhận hàng hoá phải đảm bảo kịp thời, nhanh chóng, và giữ gìn tốt chất lượng. Tiếp nhận hàng hoá phụ thuộc vào quá trình cung ứng hàng hoá của nguồn hàng.

    Nôi dung tiếp nhận hàng hoá bao gồm: tiếp nhận về số lượng và chất lượng. Các phương pháp tiếp nhận hàng hoá ở cửa hàng thường là đơn giản để có thể đưa hàng hoá vào bán hoặc bảo quản được ngay. Trong quá trình tiếp nhận, nếu phát hiện hàng hoá thừa, thiếu hoặc không đảm bảo chất lượng thì phải lập biên bản để qui trách nhiệm vật chất giữa các bên. Sau khi giao nhận hàng hoá, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng để cung cấp thông tin cho kiểm soát quá trình cung ứng.

    Hàng hoá sau khi tiếp nhận có thể được chuyển thẳng ra gian hàng để bán, hoặc chuyển sang bộ phận chuẩn bị hàng, và phần lớn chuyển sang phòng bảo quản để dự trữ thường xuyên cho bán ra.

    b-   Bảo quản hàng hoá trong cửa hàng

    Tổ chức bảo quản hàng hoá trong cửa hàng bao gồm: phân bố và chất xếp hàng hoá, chăm sóc và giữ gìn hàng hoá.

    Đối với mỗi loại hàng hoá bảo quản trong cửa hàng, cần cố định vị trí của chúng có tính đến kích thước, tần số bán, khối lượng công tác chuẩn bị hàng và điều kiện di chuyển hàng hoá ra gian hàng. Trong các cửa hàng thực phẩm, cần phải bố trí các thiết bị lạnh để duy trì chế độ bảo quản bình thường cho hàng hoá.

    Việc áp dụng bao bì – thiết bị cho phép giảm bớt đáng kể thời hạn bảo quản hàng hoá trong cửa hàng, và do bđó giảm được diện tích các phòng dùng để dự trữ và bảo quản trong cửa hàng. Sử dụng bao bì – thiết bị trong các cửa hàng tổng hợp có thể giảm được từ 40- 60% diện tích phòng bảo quản, và tương ứng tăng diện tích doanh nghiệp.

    Việc áp dụng giao và bán hàng hoá băng thùng tải đem lại hiệu quả kinh tế to lớn: giảm chi phí lao động và thời gian của nhân viên cửa hàng (hơn 7 lần), tăng tốc độ chu chuyển hàng hoá, giảm dự trữ hàng hoá trong cửa hàng.

    Để duy trì mặt hàng ổn định trong cửa hàng, số lượng thùng tải dùng cho mỗi nhóm hàng được xác định như sau:

     
       

    c-   Chuẩn bị hàng để bán và bày hàng nơi bán hàng

    Bao gồm các nghiệp vụ: mở bao bì, phân loại, làm sạch, pha lọc, lắp ráp, chỉnh lý, định lượng, bao gói, ghi ký mã hiệu lên bao bì,…Đây là những nhiệm vụ logistics của sản xuất hoặc kho trong điều kiện hiện đại. Cần phải tập trung các nghiệp vụ chuẩn bị hàng để bán cho phép sử dụng các thiết bị, diện tích, lao động và vật liệu hiệu quả.

    Tổ chức pha lọc, bao gói hàng hoá có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh hàng thực phẩm. Phần lớn hàng thực phẩm được bao gói bởi các ngành sản xuất công nghiệp và các kho trong hệ thống logistics thương mại. Điều này đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, có một bộ phận đáng kể hàng hoá đưa đến mạng lưới bán lẻ chưa được chuẩn bị sẵn sàng để bán, do đó, cần phải tổ chức chỉnh lý, bao gói trong cửa hàng.

    Tổ chức bao gói trong cửa hàng cần dự tính: Tổ chức hợp lý nơi công tác; phân công lao động hợp lý; Sử dụng thiết bị và công cụ chuyên dùng. Đồng thời, phân bố thiết bị và vị trí công tác phải đảm bảo cho quá trình bao gói liên tục, giảm bớt con đường vận động của hàng hoá, bao bì và vật liệu bao gói.

    Hàng hoá sau khi đã chuẩn bị được di chuyển và trưng bày tại gian hàng. Việc trưng bày hàng hoá tại gian hàng vừa đảm bảo dự trữ hàng hoá tại nơi công tác, vừa là hoạt động xúc tiến (trưng bày, giới thiệu hàng hoá), vừa là nội dung của tổ chức nơi công tác bán hàng – đảm bảo thuận tiện cho việc lấy hàng của nhân viên bán hàng hoặc của khách hàng.

    Giao hàng và di chuyển hàng hoá trong cửa hàng thuộc loại lao động nặng, chi phí nhiều lao động, do đó cần phải cơ giới hoá.

    d-   Bán hàng

    Là sự phối hợp giữa 2 hoạt động: logistics và marketing, sử dụng 3 công cụ marketing: con người, bằng chứng vật chất, và quá trình. Tuỳ thuộc vào các phương pháp bán hàng mà có các qui trình kỹ thuật bán hàng khác nhau.

    Bán lẻ hàng hoá là hoạt động chủ yếu của quá trình công nghệ trong cửa hàng, kết thúc quá trình logistics, quá trình phân phối và vận động hàng hoá.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bản chất kinh tế của Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-NGHI%E1%BB%86P-V%E1%BB%A4-KHO-H%C3%80NG-V%C3%80-BAO-B%C3%8C-TRONG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Chương 6:              QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO VÀ BÌ

    6.1-  Quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    6.1.1- Mục tiêu và nguyên tắc cuả quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    a-   Vị trí và nội dung của quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Trong hệ thống các nghiệp vụ logistics, nghiệp vụ kho là những hoạt động logistics tiếp nối và hỗ trợ cho quá trình cung ứng và đặc biệt là quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Do đó, nghiệp vụ kho chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bán hàng, quản trị dự trữ và quản trị mua hàng.

    Nghiệp vụ kho hàng hoá là hệ thống các mặt công tác được thực hiện đối với hàng hoá trong quá trình vận động qua kho nhằm đáp ứng cho quá trình vận động và mua, bán hàng hoá qua kho với chi phí thấp nhất.

    Quản trị nghiệp vụ kho có vai trò to lớn trong hệ thống logistics kinh doanh thương mại:

    – Nghiệp vụ kho đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng, quá trình logistics trực tiếp. Cơ cấu, số lượng và chất lượng lô hàng cung ứng cho khách hàng là kết quả của quá trình nghiệp vụ kho; thời gian cung ứng hàng hoá chịu ảnh hưởng lớn của quá trình nghiệp vụ kho, đặc biệt chịu ảnh hưởng của công tác chuẩn bị hàng trong công đoạn phát hàng ở kho. Và như vậy, trình độ dịch vụ khách hàng cũng chịu ảnh hưởng khá lớn của nghiệp vụ kho.

    – Nghiệp vụ kho tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyết định của quản trị mua và dự trữ hàng hoá; nghiệp vụ kho đáp ứng những điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật để bảo quản qui mô và cơ cấu dự trữ hàng hoá tối ưu, kiểm tra và cung cấp thông tin tình hình biến động dự trữ hàng hoá để quản trị có hiệu quả dự trữ hàng hoá trong kho; nghiệp vụ kho trực tiếp kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình mua hàng, ngăn chặn hàng hoá không đảm bảo chất lượng lọt vào kênh logistics, đồng thời nâng cao hiệu lực của quá trình mua hàng.

    – Quá trình nghiệp vụ kho sử dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến hợp lý, một mặt, nâng cao chất lượng dịch vụ của quá trình, mặt khác, giảm chi phí nghiệp vụ kho và do đó giảm chi phí của toàn bộ quá trình logistics

    Quản trị nghiệp vụ kho bao gồm những nội dung sau: 1- Thiết kế quá trình nghiệp vụ kho; 2- Qui hoạch mặt bằng nghiệp vụ kho; 3- Quản trị thiết bị nghiệp vụ kho; 4- Tổ chức lao động nghiệp vụ kho; Trong đó nội dung đầu là quan trọng nhất vì nó quyết định nội dung của những nội dung sau.

    b-   Mục tiêu và nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Xuất phát từ vị trí và vai trò của quản trị nghiệp vụ kho đã nêu ở trên, quản trị nghiệp vụ kho tập trung vào những mục tiêu sau:

    – Thứ nhất, là mục tiêu đáp ứng nhanh những yêu cầu của quá trình mua bán hàng hoá qua kho. Mục tiêu này gắn liền với chức năng hỗ trợ của nghiệp vụ kho hàng hoá.

    – Thứ hai, là mục tiêu hợp lý hoá việc phân bố dự trữ hàng hoá trong kho. Mục tiêu này liên quan đến quản trị dự trữ hàng hoá và sử dụng hợp lý diện tích và dung tích kho.

    – Thứ ba, là mục tiêu chất lượng hàng hoá bảo quản. Mục tiêu này liên quan đến việc quản trị chất lượng hàng hoá trong kinh doanh thương mại được tập trung chủ yếu trong kho hàng hoá.

    Các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện các mục tiêu này bao gồm: Số lần vi phạm hợp đồng cung cấp hàng hoá cho khách hàng; tỷ lệ các lô hàng bị trả lại; thời gian trung bình chuẩn bị một lô hàng để phát cho khách hàng; tốc độ chu chuyển hàng hoá ở kho; hệ số sử dụng diện tích và dung tích kho; tỷ lệ hao hụt hàng hoá ở kho; giá thành nghiệp vụ kho,…

    Các nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá:

    • Nguyên tắc hiệu quả: đạt mục tiêu với chi phí thấp
    • Nguyên tắc tiến bộ kỹ thuật
    • Nguyên tắc hệ thống
    • Nguyên tắc giảm hao hụt

    6.1.2- Quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá

    Tuỳ thuộc vào loại hàng hoá dự trữ và bảo quản, loại hình kho và các điêù kiện khác mà quá trình nghiệp vụ kho khác nhau. Tuy nhiên quá trình bao gồm 3 giai đoạn: tiếp nhận hàng, bảo quản hàng, phát hàng. Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho được thể hiện ở hình 6.1

    a-   Nghiệp vụ tiếp nhận hàng

    a.1- Các yêu cầu tiếp nhận hàng ở kho

    Tiếp nhận hàng là hệ thống các mặt công tác kiểm tra tình trạng số lượng và chất lượng hàng hoá thực nhập vào kho, xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận, vận chuyển hàng hoá trong việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản lý hàng hoá theo các văn bản pháp lý qui định.

    Tiếp nhận hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ trung gian giữa quá trình nghiệp vụ mua hàng, nghiệp vụ vận chuyển, và nghiệp vụ kho. Do đó, tiếp nhận hàng hoá thể hiện mối quan hệ kinh tế – pháp lý giữa các đơn vị kinh tế: nguồn hàng, đơn vị vận chuyển, và doanh nghiệp thương mại. Chính vì vậy, tiếp nhận hàng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Phải xác định trách nhiệm vật chất cụ thể giữa đơn vị cung ứng và người nhận hàng.

    Đây là xác định rõ trách nhiệm vật chất trong việc thực hiên các cam kết kinh tế – pháp lý giữa người bán (nguồn hàng) và người mua (doanh nghiệp thương mại ), và đơn vị vận chuyển hàng hoá đã được ký kết trong hợp đồng mua-bán và hợp đồng vận chuyển hàng hoá.

    – Phải kiểm tra việc thực hiện kế hoạch nhập hàng của doanh nghiệp, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng mua bán và vận chuyển giữa các bên.

    Thông qua tiếp nhận hàng hoá, có thể tập hợp được thông tin về mua hàng và vận chuyển hàng hoá, do đó, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng ở kho một cách chi tiết và cụ thể.

    2
    1
    1.1
    1.2
    1.1a
    1.1b
    • Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho

    – Phải đảm bảo tiếp nhận kịp thời, nhanh chóng và chính xác.

    Yêu cầu này nhằm tiết kiệm thời gian hàng hoá dừng lại ở công đoạn tiếp nhận, do đó giải phóng nhanh phương tiện vận tải, nhanh chóng đưa hàng hoá vào nơi bảo quản. Tính kịp thời và nhanh chóng không được làm ảnh hưởng đến tính chính xác trong việc kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá.

    a.2-           Nội dung tiếp nhận hàng

    Công đoạn tiếp nhận hàng ở kho bao gồm: tiếp nhận số lượng, tiếp nhận chất lượng, và làm chứng từ nhập hàng.

    • Tiếp nhận số lượng

     là tiến hành kiểm tra số lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên trong việc giao nhận hàng hoá về mặt lượng.

    Chế độ, kỹ thuật tiếp nhận, phương pháp, thời hạn, các thủ tục tiếp nhận…sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí tiếp nhận, phương tiện vận tải, đặc điểm của bao bì, tính chất của hàng hoá… đã được qui định trong trong các văn bản pháp lý.

    Tiếp nhận hàng hoá có thể bao gồm 2 bước:

    – Tiếp nhận sơ bộ: Tiếp nhận theo đơn vị bao bì hàng hoá bằng phương pháp đếm số lượng các đơn vị bao bì chứa lượng hàng hoá tiêu chuẩn để xác định tổng lượng hàng hoá. Tiếp nhận sơ bộ nhằm giải phóng nhanh phương tiện vận tải chờ bốc dỡ. Tiếp nhận sơ bộ chỉ trong trường hợp hàng hoá đựng trong bao bì tiêu chuẩn nguyên vẹn, không bị dập vỡ, không có dấu hiệu mất an toàn. Kết thúc tiếp nhận sơ bộ, trách nhiệm vật chất về hàng hoá vẫn chưa chuyển giao cho bên nhận.

    – Tiếp nhận chi tiết: áp dụng trong trường hợp hàng hoá đã qua tiếp nhận sơ bộ, hoặc hàng hoá không có bao bì, bao bì không an toàn. Tiếp nhận chi tiết theo đơn vị hàng hoá bằng các phương pháp và đơn vị đo lường hợp pháp của nhà nước. Tiếp nhận chi tiết có thể được tiến hành trên mẫu đại diện, thường là từ 15 -20% qyi mô lô hàng. Sau khi tiếp nhận chi tiết, trách nhiệm vật chất về mặt lượng của hàng hoá được chuyển giao cho bên nhận hàng.

    Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cam kết giữa các bên mà hàng hoá chỉ cần qua bước tiếp nhận sơ bộ nguyên đai kiện rồi chuyển vào kho mà không cần qua bước tiếp nhận chi tiết.

    Trong quá trình tiếp nhận, nếu phát hiện hàng hoá thừa hoặc thiếu, phải lập biên bản để qui trách nhiệm vật chất.

    • Tiếp nhận chất lượng hàng hoá

     Bao gồm các mặt công tác nhằm kiểm tra tình trạng chất lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận về tình trạng không đảm bảo chất lượng của hàng hoá nhập kho.

    “Chất lượng hàng hoá là khả năng hàng hoá thực hiện những chức năng của mình; chất lượng hàng hoá bao gồm độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, dễ vận hành và sửa chữa, và các đặc tính giá trị khác”. Các đặc tính chất lượng hàng hoá được đo lường bằng các chỉ tiêu khác nhau, nhưng chủ yếu là các chỉ tiêu lý, hoá, sinh, và các chỉ tiêu cảm quan.

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải căn cứ vào các văn bản có tính pháp lý, như: hợp đồng, các văn bản tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá, chế độ qui định tiếp nhận hàng hoá; đồng thời phải căn cứ vào các chứng từ đi kèm như hoá đơn, giấy đảm bảo chất lượng,…

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải tiến hành theo các bước sau:

    – Thứ nhất, phải lấy mẫu kiểm tra chất lượng: Việc kiểm tra chất lượng không thể tiến hành đối với toàn bộ lô hàng được, do đó phải lấy mẫu để kiểm tra. Mẫu kiểm tra phải được lấy theo phương pháp khoa học theo qui định hoặc đã thoả thuận giữa các bên. Mẫu kiểm tra phải được đánh dấu hoặc niêm phong có gắn nhãn hiệu kèm chữ ký của những người tham gia tiếp nhận, đồng thời phải lập biên bản lấy mẫu. Mẫu lựa chọn để kiểm tra phải được bảo quản cẩn thận cho tới khi tiếp nhận xong và không có sự tranh chấp giữa các bên nữa.

    – Thứ hai, phải xác định phương pháp kiểm tra và đánh giá chất lượng. Tuỳ thuộc vào đặc điểm hàng hoá, những qui định và sự thoả thuận giữa các bên mà có thể sử dụng phương pháp kiểm tra thích hợp. Có 2 phương pháp kiểm tra chủ yếu: phương pháp cảm quan và phương pháp phân tích thí nghiệm.

    Phương pháp cảm quan là phương pháp sử dụng các giác quan của con người để kiểm tra chất lượng. Các chỉ tiêu cảm quan thường là: màu sắc, mùi vị, âm thanh độ cứng,… Phương pháp này có ưu điểm là: đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền, thiết bị dụng cụ không phức tạp, và trong một số trường hợp, phải dùng chỉ tiêu cảm quan mới đánh giá chất lượng tổng hợp một cách chính xác như các loại hàng kích thích,… Nhược điểm của phương pháp này là thiếu chính xác, thiếu khách quan, phụ thuộc vào trình độ cảm quan và các yếu tố tâm sinh lý của người kiểm tra.

    Phương pháp phân tích thí nghiệm là phương pháp sử dụng các thiết bị phân tích trong phòng thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu chất lượng về lý, hoá, sinh,… Yêu cầu quan trọng của phương pháp này là phải có những thiết bị có độ chính xác cao. Ưu điểm của phân phối này là kiểm tra chính xác và khách quan chất lượng hàng hoá. Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi phải có thiết bị phức tạp, thời gian để phân tích lâu. Ngày nay, do phát triển của khoa học kỹ thuật, các thiết bị phân tích trở nên tinh vi, đảm bảo kiểm tra nhanh mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao

    Đối với phương pháp kiểm tra cảm quan, phải sử dụng phương pháp cho điểm để đánh giá chất lượng; còn đối với phương pháp phân tích thí nghiệm, việc đánh giá dựa trên cơ sở kết quả phân tích định lượng.

    Thời gian tiếp nhận chất lượng hàng hoá không được vượt quá giới hạn qui định. Thời gian tiếp nhận tuỳ thuộc vào tính chất hàng hoá, khoảng cách giữa nơi giao và nơi nhận, điều kiện giao thông vận tải, phương thức giao nhận,…

    – Trong quá trình kiểm tra và đánh giá, nếu phát hiện thấy chất lượng hàng hoá không đảm bảo tiêu chuẩn và các cam kết, bao bì và hàng hoá không đúng qui cách, phải lập biên bản về tình trạng chất lượng có mặt bên giao hàng hoặc cơ quan giám định chất lượng hàng hoá.

    Hàng hoá không đảm bảo chất lượng phải xử lý theo những qui định của pháp luật và sự thoả thuận giữa các bên. Nguyên tắc xử lý là: pháp lý, thoả thuận, và giảm chi phí cho cả các bên.

    • Làm chứng từ nhận hàng

    Làm chứng từ nhận hàng bao gồm những công tác nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá và tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng.

    Sau khi kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá, nếu lô hàng đảm bảo thì người nhận hàng (thủ kho) ký vào hoá đơn giao hàng và kết thúc việc nhận hàng. Trường hợp hàng hoá không đảm bảo số lượng và chất lượng hoặc không có chứng từ đi kèm thì phải tiến hành lập biên bản và tuỳ theo tình hình cụ thể để xử lý.

    Sau khi tiếp nhận, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng vào kho. Mỗi một lô hàng nhập kho phải ghi sổ theo dõi tình hình nhập hàng, đồng thời phải ghi chép số liệu hàng nhập vào trong thẻ kho để nắm được tình hình nhập xuất và tồn kho.

    b-   Nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho

    b.1-          Yêu cầu đối với nghiệp vụ bảo quản

    Bảo quản hàng hoá là hệ thống các mặt công tác nhằm đảm bảo giữ gìn nguyên vẹn số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình dự trữ, tận dụng đến mức cao nhất diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất thiết bị và lao động kho.

    Trong toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho, bảo quản hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ cơ bản và phức tạp nhất, quyết định chất lượng công tác kho, thực hiện tốt chức năng cơ bản của kho hàng hoá; công đọan nghiệp vụ này có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng của công đoạn nghiệp vụ tiếp nhận và phát hàng, thực hiện mục tiêu của quá trình nghiệp vụ kho.

    Công đoạn nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho phải thực hiện những yêu cầu sau:

    – Phải giữ gìn tốt số lượng và chất lượng hàng hoá bảo quản ở kho, phấn đấu giảm đến mức thấp nhất hao hụt hàng hoá ở kho;

    – Tận dụng diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất các loại thiết bị và lao động kho;

    – Tạo điều kiện để thực hiện tốt nhất quá trình nghiệp vụ kho.

    Quá trình bảo quản hàng hoá ở kho bao gồm 3 mạt công tác cơ bản: Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho; Chăm sóc và giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho; Quản trị định mức hao hụt hàng hoá ở kho.

    b.2-          Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho

    Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho là sự qui hoạch vị trí của hàng hoá bảo quản, là phương pháp để hàng hoá tại những nơi qui định thích hợp với đặc điểm, tính chất hàng hoá, kho, bao bì và thiết bị kho.

    Phân bố và chất xếp hàng hoá hợp lý ở kho sẽ đảm bảo thuận tiện cho việc bảo quản hàng hoá, tiếp nhận và phát hàng, đồng thời tận dụng tốt nhất diện tích và dung tích kho hàng hoá.

    Nguyên tắc của phân bố và chất xếp hàng hoá: Phải theo khu vực và theo loại hàng, tránh ảnh hưởng có hại lẫn nhau giữa các loại hàng hoá và môi trường bảo quản và bố trí lân cận những hàng hoá có liên quan với nhau trong tiêu dùng; đảm bảo trật tự và vệ sinh- dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm kê hàng hoá; đảm bảo mỹ quan cho kho hàng hoá.

    Có nghĩa những hàng hoá giống nhau về điều kiện và kỹ thuật bảo quản thì có thể bảo quản trong cùng một khu vực kho; tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hoá do đặc tính thương phẩm mà ảnh hưởng có hại lẫn nhau tuy rằng có cùng điều kiện bảo quản, thì cần phải để cách ly nhau như chè, thuốc lá,. ..

    Do những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng thường được phát trong cùng một lô hàng, cho nên để thuận tiện cho phát hàng, cần được bố trí gần nhau.

    Yêu cầu chung trong phân bố và chất xếp: Đảm bảo thuận tiện cho việc tiến hành các nghiệp vụ kho; đảm bảo an toàn cho con người, hàng hoá và phương tiện; bảo đảm tiết kiệm sức lao động, giảm chi phí, không ngừng nâng cao năng suất lao động, tận dụng sức chứa của kho, công suất thiết bị

    Những căn cứ để tiến hành phân bố và chất xếp: Tính chất, đặc điểm của hàng hoá, kho và thiết bị; các phương pháp và điều kiện kỹ thuật bảo quản hàng hoá; điều kiện khí hậu khu vực kho; các tiêu chuẩn và định mức kinh tế – kỹ thuật đối với con người, hàng hoá và thiết bị.

    Nội dung của phân bố và chất xếp hàng hoá trong kho:

    1/ Phân loại hàng hoá bảo quản theo các đặc trưng kinh tế và kỹ thuật:

    Những đặc trưng kinh tế đối với hàng hoá bảo quản bao gồm: qui mô lưu chuyển và dự trữ hàng hoá, tốc độ chu chuyển hàng hoá, tính liên quan trong tiêu dùng hàng hoá. Những hàng hoá có tốc độ chu chuyển nhanh, cường độ xuất nhập cao sẽ được phân bố ở những vị trí thuận tiện cho di chuyển và xếp dỡ; những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng được bố trí lân cận nhau,. ..

    Những đặc trưng kỹ thuật đối với hàng hoá: tính chất và đặc điểm thương phẩm của hàng hoá.

    2/ Xác định các phương pháp chất xếp hàng hoá trong kho:

    Phương pháp chất xếp là cách thức để hàng tại những vị trí bảo quản hàng hoá. Mỗi loại hàng hoá khác nhau với những tính chất và bao bì khác nhau có thể áp dụng các phương pháp chất xếp khác nhau. Mỗi loại phương pháp chất xếp có những ưu và nhược điểm nhất định, và có tải trọng chất xếp trên một đơn vị diện tích khác nhau. Có 3 phương pháp chất xếp phổ biến:

    – Phương pháp đổ đống: Thường áp dụng đối với những hàng hoá ở dạng hạt rời và không có bao bì.

    Ưu điểm của phương pháp này là: Sử dụng triệt để diện tích và dung tích nhà kho, đỡ tốn chi phí bao bì trong quá trình bảo quản hàng hoá tại kho.

    Nhược điểm: Cần phải có thiết bị ngăn ô phức tạp, khó khăn cho quá trình di chuyển hàng hoá trong kho, đặc biệt là những kho chưa được cơ giới hoá; khó kiểm tra, phát hiện hàng hoá bị hư hỏng, kém chất lượng.

    – Phương pháp xếp trên giàn, giá, bục, tủ: Thường áp dụng để chất xếp những hàng hoá đã mở bao, hàng lẻ, hàng xuất còn thừa,hoặc hàng cần bảo quản trên giá tủ chuyên dùng.

    Ưu điểm của phương pháp này: Có chiều cao chất xếp lớn, đảm bảo tính chính xác của quá trình công nghệ kho, thuận tiện cho cơ giới hoá kho.

    Nhược điểm: Giá trị của các thiết bị chứa đựng khá cao, hệ số sử dụng diện tích và dung tích không lớn, phải có các thiết bị xếp dỡ phức tạp, nhất là khi chiều cao chất xếp lớn.

    – Phương pháp xếp hàng thành chồng: Thường sử dụng đối với hàng hoá bảo quản nguyên bao, nguyên kiện.

    Ưu điểm: Đảm bảo tính trật tự của các chồng hàng, có thể sử dụng tốt diện tích, dung tích nhà kho khi bao bì đảm bảo; thuận tiện cho công tác xuất nhập, kiểm kê, kiểm tra và bảo quản hàng hoá.

    Nhược điểm: Không thật sử dụng triệt để dung tích nhà kho, kém an toàn cho con người và hàng hoá.

    Phương pháp xếp thành chồng hiện nay được áp dụng phổ biến ở nước ta. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của hàng hoá, mà có các loại hình chất xếp thành chồng: chồng hình vuông, hình chữ nhật và hình chóp. Xếp chồng hình chóp áp dụng cho các loại hàng đóng bao như muối, đường, gạo đỗ,. ..;xếp theo hình chữ nhật và hình vuông áp dụng khi bao bì chắc chắn. Xếp chồng hình chữ nhật có 6 kiểu: 1- Xếp thẳng thành chồng; 2- Xếp cách ván thành chồng; 3- Xếp đứng thành chồng; 4- Xếp chéo thành chồng (kiểu chữ thập); 5- Xếp ngược thành chồng; và 6- Xếp miệng giếng thành chồng.

    Dựa vào các phương pháp chất xếp và đặc điểm của hàng hoá, xác định tiêu chuẩn chất xếp trên một đơn vị diện tích bảo quản.

    3/ Tính toán diện tích bảo quản:

    Trên cơ sở qui mô hàng hoá nhập kho và tiêu chuẩn chứa hàng trên một đơn vị diện tích, có thể xác định được diện tích cần thiết để bảo quản hàng hoá.

    4/ Xác định vị trí phân bố hàng hoá:

    Vị trí phân bố hàng hoá bảo quản thường được xác định tuỳ thuộc vào hệ thống qui hoạch diện tích bảo quản. Trong kho, có 2 hệ thống qui hoạch: qui hoạch động và qui hoạch cố định.

    – Hệ thống qui hoạch động (định vị động): cho phép định vị hàng hoá bảo quản trong kho thay đổi theo thời gian nhập lô hàng mới với mục đích sử dụng hiệu quả dung tích kho.

    – Hệ thống qui hoạch cố định: Mỗi loại hàng hoá được định vị lâu ở khu vực lựa chọn. Lợi thế của hệ thống này là xác định ngay được vị trí bảo quản hàng hoá để đưa hàng vào và lấy hàng ra. Tuy nhiên, hệ thống này sử dụng không hiệu quả diện tích và dung tích bảo quản hàng hoá ở kho.

    5/ Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản – đánh dấu hoặc ghi ký, mã hiệu hàng hoá lên sơ đồ qui hoạch diện tích bảo quản hàng hoá.

    Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản theo các phương pháp dự tính. Di chuyển và chất xếp hàng hoá là loại lao động nặng nhọc, cần phải được cơ giới hoá. Đồng thời để xác định nhanh chóng vị trí bảo quản hàng hoá, đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ phát hàng, cần phải đánh dấu vị trí phân bố hàng hoá trên sơ đồ qui hoạch. Trong trường hợp tự động hoá quá trình công nghệ kho, cần phải mã hoá khu vực bảo quản.

    b.3-          Chăm sóc, giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho

    Hàng hoá trong thời gian bảo quản tại kho, dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài có thể bị suy giảm số lượng và chất lượng. Để tạo nên điều kiện thích hợp bảo quản hàng hoá, phát hiện hàng hoá bị giảm sút chất lượng, đề phòng hàng hoá mất mát, phải sử dụng một hệ thống các mặt công tác: Quản lý nhiệt độ, độ ẩm; vệ sinh, sát trùng ở kho; phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật; kiểm tra và giám sát chất lượng hàng hoá.

    • Quản lý nhiệt độ, độ ẩm hàng hoá và kho

    Nhiệt độ và độ ẩm là 2 yếu tố cơ bản của điều kiện bảo quản hàng hoá. Do tính chất thương phẩm mà mỗi loại hàng hoá có những khác nhau trong việc chống lại những tác động của môi trường, và do đó, đòi hỏi phải được bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm nhất định.

    Quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho là một hệ thống các biện pháp khác nhau nhằm tạo ra cũng như duy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá.

    Nội dung của quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm 2 công tác cơ bản: Xây dựng chế độ về nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho từng loại hàng hoá khác nhau; và kiểm tra và tạo lập, duy trì nhiệt độ độ ẩm theo yêu cầu.

    Các biện pháp tạo ra và duy trì nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm: Thông gió; dùng chất hút ẩm; sấy, và bịt kín.

    a/ Thông gió

    Thông gió là quá trình làm thay đổi không khí trong kho để cải thiện điều kiện bảo quản: điều hoà nhiệt độ, độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá, loại trừ các khí có hại trong kho ra ngoài (CO2, NO2, NH3,. ..)

    Có 2 phương pháp thông gió: thông gió tự nhiên và nhân tạo.

    Thông gió tự nhiên là quá trình làm thay đổi không khí trong kho dựa vào các điều kiện tự nhiên. Để thông gió tự nhiên, phải nắm vững thời cơ thông gió và phương pháp mở cửa kho.

    Thời cơ thông gió phải đảm bảo 4 điều kiện sau:

    • Điều kiện 1: Ngoài trời không mưa, không có sương mù, sấm sét, và không có gió mạnh từ cấp 4 trở lên.
    • Điều kiện 2: Nhiệt độ ngoài kho không được thấp hơn 10oC và cao quá 32oC.
    • Điều kiện 3: Độ ẩm tuyệt đối ngaòi kho phải thấp hơn độ ẩm tuyệt đối trong kho.
    • Điều kiện 4: Nhiệt độ thấp nhất của một trong 2 môi trường (trong hoặc ngoài kho) không được thấp hơn quá 10C so với nhiệt độ điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao hơn.

    Như vậy, nếu điều kiện thời tiết không đảm bảo 4 điều kiện trên thì không phải là thời cơ thông gió. Bảng 6.1 cho ta ví dụ về thời cơ thông gió.

    Ở nước ta, thời cơ thông gió thường là các tháng nóng và khô ráo, còn các tháng nhiều mưa và độ ẩm cao (tháng 3,4,8,9) ít có thời cơ thông gió. Trong ngày, theo kinh nghiệm thì có thể mở cửa kho thông gió vào lúc 8- 9 h và 17- 18 h hàng ngày, nhất là về mùa hè.

    Để thông gió tốt, phải biết cách mở cửa thông gió và tính toán diện tích cửa thông gió. Diện tích cửa thông gió được tính theo công thức sau:

     
       
    • Bảng xác định thời cơ thông gió

    a/ Trường hợp nhiệt độ không đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 70 16,64 16
    22 75 14,49 17
    Có thể

    được

    22 80 15,54 18,2
    22 85 16,32 19
    Không

    lợi

    22 95 18,33 21
    22 100 19,43 22

    a/ Trường hợp nhiệt độ thay đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Không lợi 22      
    22      
    22      
    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 75 14.49 17
    22 80 15,54 18,2
    Tổ

    chức

    thông

    gió

    được

    23 65 13,64 16
    23 75 15,43 18
    23 80 16,46 19,2
    24 65 14,16 16,7
    24 75 18,34 19
    24 80 17,43 20,2
    25 65 14,98 17,6
    25 75 17,29 20
    25 80 18,44 21

    Trình tự thông gió:

    – Mở cửa thông gió theo hướng gió thổi tới để tạo nên luồng gió mạnh vào kho.

    – Mở dần những cửa hai bên để cho luồng không khí mới đó thổi đều vào kho có thể lùa vào các đống hàng.

    – Mở những cửa còn lại để luồng gió mới đưa không khí không thích hợp ra ngoài.

    Tác dụng của thông gió tự nhiên: Điều chỉnh được nhiệt độ và độ ẩm trong kho, tốn ít chi phí, nhanh chóng và đơn giản, cải thiện môi trường công tác của cán bộ và nhân viên kho.

    Tuy nhiên thông gió tự nhiên phụ thuộc vào điều kện thiên nhiên, chỉ áp dụng đối với một số loại kho nhất định. Đối với một số kho hàng và trong điều kiện thời tiết, khí hậu không cho phép thông gió tự nhiên, phải tiến hành thông gió nhân tạo: kết hợp quạt thông gió với máy lạnh, máy điều hoà nhiệt độ. Dùng phương pháp này có ưu điểm là chủ động điểu hoà nhiệt độ độ ẩm, nhưng chi phí cao, thiết kế, thiết bị phức tạp.

    b/ Dùng chất hút ẩm

    Là sử dụng một số chất có khả năng hấp thụ hơi nước trong không khí nhằm giảm độ ẩm trong kho.

    Dùng chất hút ẩm chỉ có khả năng làm giảm độ ẩm chứ không giảm được nhiệt độ và thay đổi thành phàan không khí trong kho.

    Những yêu cầu khi sử dụng chất hút ẩm: Kho phải kín, chất hút ẩm phải có năng suất hút ẩm cao, không làm nhiễm bẩn môi trường, gây mùi lạ đối với hàng hoá, độc với người, giá thành hạ, sử dụng nhiều lần, tốn ít thể tích.

    Những chất hút ẩm thường dùng:

    CaCl2: là chất hút ẩm mạnh nhất, có thể hút ẩm đến 200% trọng lượng của nó, nhưng giá đắt.

    CaO (vôi sống): có khả năng hút ẩm 30%. Khi hút ẩm, vôi sống toả nhiệt và tăng thể tích 2- 3 lần, và sau đó bở ra thành vôi bột có thể bay trong không khí làm ảnh hưởng đến hàng hoá. Tuy nhiên, vôi sống rẻ và dễ tìm.

    Ngoài ra, tuỳ loại kho và hàng hoá, có thể dùng các chất chống ẩm khác, như tro, than, trấu,. ..

    c/ Phương pháp sấy hàng hoá

    Dùng nhiệt độ cao để chống ẩm cho hàng hoá. Sấy làm giảm hàm lượng nước ở hàng hoá đến độ ẩm an toàn.

    Có thể dùng ánh nắng mặt trời để sấy, hoặc trong những trường hợp nhất định, có thể sấy bằng lò, bằng hơi nóng, bằng ánh điện, bằng tia hồng ngoại, và đặc biệt có thể sấy chân không nhiệt độ thấp.

    d/ Phương pháp bịt kín

    Nhằm ngăn cách môi trường bảo quản với môi trường bên ngoài, tạo nên điều kiện bảo quản phù hợp vơí yêu cầu và tính chất của hàng hoá.

    Phương pháp này giữ được độ ẩm không khí an toàn đối với một số hàng dễ hút ẩm như chè, thuốc lá, hàng khô,. ..,giữ được chất lượng đối với một số hàng vị giác và hương phẩm, tránh ảnh hưởng có hại của một số hàng có mùi vị lạ.

    Có nhiều cách bịt kín: trong chum, vại, thùng,. ..Với một số lượng lớn có thể áp dụng một số phương pháp sau:

    – Bịt kín toàn kho: lô hàng lớn và ít nhập xuất.

    – Bịt kín từng ô gian, đống hàng: lượng hàng hoá nhỏ, hàng đống gói lẻ.

    Yêu cầu đối với hàng hoá đưa vào bảo quản bịt kín là phải có thuỷ phần an toàn

    • Vệ sinh, sát trùng ở kho

    Là một hệ thống các biên pháp để tiêu diệt sinh vật, vi sinh vật và loại trừ các tạp chất ảnh hưởng có hại đối với hàng hoá và kho.

    Những căn cứ để làm vệ sinh, sát trung ở kho:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá và bao bì

    – Căn cứ vào tập tính sinh hoạt của từng loại sinh vật và vi sinh vật.

    – Căn cứ vào vị trí và tình trạng kiến trú nhà kho, điều kiện thiết bị bảo quản và làm vệ sinh sát trùng.

    Nội dung của công tác vệ sinh sát trùng ở kho:

    1/ Đảm bảo những điều kiện vệ sinh, phòng ngừa trùng bọ phát sinh

    – Điều kiện vệ sinh kho tàng: Phải thường xuyên làm tốt công tác vệ sinh trong và ngoài kho. Trong kho không được tạo nên những điều kiện cho sinh vật làm tổ. Trước khi nhập hàng, phải sát trung kho. Phải đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm trong kho thích hợp với hàng hoá.

    – Điều kiện hàng hoá: Hàng hoá phải sạch sẽ, đảm bảo các tiêu chuẩn bảo quản, đặc biệt đảm bảo thuỷ phần an toàn, không bị nhiễm trùng; cách ly hàng hoá nhiễm và không nhiễm trùng, hàng tốt và hàng bị giảm chất lượng.

    – Điều kiện bao bì và thiết bị: Bao bì và thiết bị cũng phải luôn luôn sạch sẽ, không bị nhiễm trùng.

    – Điều kiện con người: Người làm công tác kho cũng phải đảm bảo luôn luôn sạch sẽ.

    2/ Xây dựng và tổ chức thực hiện các chế độ kiểm tra vệ sinh, chế độ vệ sinh sát trùng kho, hàng hoá và thiết bị.

    3/ Sử dụng hiệu quả các phương pháp diệt trùng:

    – Phương pháp lý học, cơ học: Dùng nhiệt độ cao như ánh sáng mặt trời, sấy, dùng ánh sáng hấp dẫn côn trùng để tập trung tiêu diệt, dùng tia cực tím, sóng điện từ,. ..;Dùng bẫy đánh bắt,. ..

    – Phương pháp sinh thái học: Thay đổi môi trường sống của trùng bọ bằng cách thay đổi hàng hoá bảo quản trong kho nhằm hạn chế tốc độ sinh trưởng hoặc tiêu diệt chúng.

    – Phương pháp hoá học: Đây là phương pháp phổ biến tiêu diệt triệt để các loại sinh vật và vi sinh vật trên phạm vi rộng.

    • Phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật

    Cháy là hiện tượng thường dễ xảy ra do sơ suất trong sản xuất, sinh hoạt như: hút thuốc lá không đúng nơi qui định, mang xách những vật có lửa không thận trọng, hệ thống dây điện, thiết bị điện, lò sấy, ống khói không đảm bảo an toàn, so các thiết điện, thiết bị sản xuất, động cơ đốt trong không có vật bảo hiểm, do sấm sét, và thậm chí còn do sản phẩm tự bốc cháy.

    Cháy làm tổn thất nghiêm trọng tài sản của doanh nghiệp và xã hội, do đó phòng chống cháy là công tác cần phải được quan tâm đặc biệt. Ở kho có thể sử dụng các biện pháp phòng chống chaý sau:

    – Biện pháp về tổ chức

    – Biện pháp về sử dụng thiết bị

    – Biện pháp kỹ thuật

    – Biện pháp có tính chế độ

    – Các biện pháp chạy hoả

    – Những biện pháp phòng ngừa, chữa cháy

    – Những biện pháp phòng hoả tĩnh điện

    – Những biện pháp trong thiết kế xây dựng

    Những biện pháp bảo mật phòng gian:

    – Phải xây dựng nội qui phòng gian bảo mật và kiểm tra, đôn đốc nhân viên kho thực hiện tốt chế độ và nội qui đó.

    – Tổ chức lực lượng bảo vệ kho tàng, hàng hoá. Thường xuyên tuần tra, canh gác, xây dựng các phương án bảo vệ kho và hàng hoá.

    – Xây dựng và trang bị các công trình, thiết bị bảo vệ: nhà kho phải có khoá chắc chắn, có điện bảo vệ ban đêm, có hàng rào xung quanh kho,. ..

    – Giáo dục và nêu cao tinh thần cảnh giác phòng chống trộm cắp cho cán bộ và nhân kho.

    • Giám sát và kiểm tra hàng hoá, kho tàng

    Giám sát và kiểm tra là 2 mặt công tác có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giám sát là là hoạt động có tính chất thường xuyên nhằm theo dõi quá trình nghiệp vụ kho, tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, phát hiện kịp thời những hiện tượng bất thường để có biện pháp xử lý. Kiểm tra là tập hợp những thao tác cụ thể nhằm xác định cụ thể tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, tình hình thực hiện các chế độ, nội qui, qui trình, qui phạm kỹ thuật,. ..tại một thời điểm nhất định để có biện pháp xử lý kịp thời.

    Phải qui định chế độ kiểm tra thường kỳ, lúc cần thiết có thể kiểm tra đột xuất; nếu theo dõi thấy hiện tượng khác thường cũng phải tổ chức kiểm tra ngay để phát hiện ra nguyên nhân, từ đó có biện pháp xử lý.

    b.4-          Quản trị định mức hao hụt hàng hoá

    Quản trị định mức hao hụt hàng hoá là việc sử dụng những biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhằm giảm đến mức thấp nhất hao hụt tự nhiên và loại trừ hao hụt do chủ quan gây ra.

    Như vậy, nội dung của quản trị định mức hao hụt bao gồm:

    – Xây dựng định mức

    – Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    – Kiểm tra giám sát việc thực hiện định mức, điều chỉnh định mức.

    • Xây dựng định mức hao hụt hàng hoá

    Định mức hao hụt hàng hoá là việc xác định lượng tiêu hao vật chất cần thiết và hợp lý, phù hợp với những điều kiện kinh tế, kỹ thuật và xã hội trong bảo quản hàng hoá tại kho.

    Hao hụt ở kho là do những nguyên nhân sau:

    – Do ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên của chính bản thân hàng hoá

    Tức là do tính chất thương phẩm của hàng hoá trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố môi trường bên ngoài: Do các quá trình sinh hoá, sinh lý của hàng hoá; Do tính chất hoá lý sinh của hàng hoá,. ..Với môi trường bên ngoài khác nhau, cường độ của các quá trình này cũng khác nhau. Nhiệm vụ công tác kho là tạo ra điều kiện môi trường nhằm hạn chế đến mức tối đa các quá trình tự nhiên này. Loại hao hụt do nguyên nhân này còn gọi là hao hụt tự nhiên.

    – Hao hụt tất yếu do thực hiện các thao tác nghiệp vụ kỹ thuật kho

    Trong quá trình thực hiện các thao tác nghiệp vụ kho như di chuyển, xếp dỡ, biến đổi hàng hoá,. ..có thể xẩy ra hao hụt không thể tránh khỏi. Tuy nhiên có thể hạn chế những hao hụt này bằng cách cải tiến phương pháp nghiệp vụ, hoàn thiện các thiết bị kỹ thuật kho. Loại hao hụt này được gọi là hao hụt tất yếu nghiệp vụ.

    Hao hụt tự nhiên và tất yếu thuộc hao hụt định mức, và chỉ định mức cho 2 loại hao hụt này.

    – Hao hụt do lỗi của nhân viên kho không thực hiện đúng các chế độ, qui trình, qui phạm bảo quản hàng hoá ở kho mà để xẩy ra hao hụt. Đây là hao hụt do chủ quan gây nên, và cán bộ kho phải chịu trách nhiệm vật chất.

    – Hao hụt do tai hoạ thiên nhiên không khắc phục được.

    Những hao hụt do 2 nguyên nhân sau không có tính khách quan, hoặc không lường trước được, nên không phải thuộc phạm vi định mức, mà là hao hụt vượt định mức.

    Những căn cứ để xây dựng định mức hao hụt:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá: Mỗi loại hàng hoá có những đặc điểm và tính chất tự nhiên khác nhau, trong những điều kiện và kỹ thuật bảo quản nhất định, sẽ có hao hụt khác nhau. Vì thế, khi xây dựng định mức hao hụt phải phân biệt theo loại hàng.

    – Căn cứ vào điều kiện và kỹ thuật bảo quản, vận chuyển hàng hoá.

    – Căn cứ vào trình độ kỹ thuật của cán bộ và nhân viên kho.

    Các phương pháp tính định mức hao hụt:

    Có 2 phương pháp tính định mức hao hụt: phương pháp thống kê – kinh nghiệm, và phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật.

    – Phương pháp thống kê – kinh nghiệm: là phương pháp tính định mức dựa trên tập hợp thống kê tỷ lệ hao hụt hàng hoá trong những thời gian đã qua, kết hợp với kinh nghiệm của người làm công tác định mức.

    Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, nhanh chóng, tốn ít chi phí và trong những điều kiện công tác kho thường xuyên biến động, phương pháp này tương đối hợp lý. Nhược điểm của phương pháp này là: không loại trừ được những nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    – Phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật: là phương pháp tính định mức dựa trên cơ sở thiết lập các điều kiện kinh tế – kỹ thuật hợp lý trong bảo quản hàng hoá, loại trừ các nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    Phương pháp này có ưu điểm là đảm bảo độ chính xác cao, loại trừ được các nguyên nhân chủ quan, đồng thời khuyến khích người làm công tác bảo quản tìm mọi cách để giảm hao hụt. Nhược điểm chủ yếu của phương pháp này là thời gian khảo sát lâu, chi phí tốn kém, và trong trường hợp điều kiện bảo quản không ổn định, con số định mức có độ tin cậy không cao.

    Định mức hao hụt phải là con số trung bình tiên tiến mới có tác dụng quản trị hao hụt.

    • Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    Sau khi xây dựng định mức, các cấp có thẩm quyền phải tiến hành xét duyệt và ban hành định mức kịp thời, nếu không định mức có thể sau một thời gian sẽ trở nên lạc hậu.

    Tổ chức thực hiện định mức bao gồm những nội dung sau:

    – Phải tổ chức nghiên cứu và hướng dẫn việc thực hiện định mức một cách tỉ mỉ và cẩn thận cho mọi người.

    – Phải tạo mọi điều kiện bảo quản hàng hoá hợp lý, động viên mọi người bảo quản hàng hoá theo đúng các qui trình, qui phạm đã ban hành, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để giảm hao hụt hàng hoá đến mức thấp nhất.

    – Phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc thực hiện định mức. Để đánh giá việc thực hiện định mức, phải so sánh giữa mức hao hụt thực tế và mức hao hụt được phép tính theo định mức:

           
       
       
    Ht– Hao hụt thực tế trong một thời kỳ nhất định

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    Dk– Tồn kho cuối kỳ thực tế

     

    Ht = Dc – Dk ;

           
       
    Hđ– Hao hụt tính theo định mức

    M- Mức lưu chuyển hàng hoá trong kỳ báo cáo

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    k- Tỷ lệ hao hụt định mức có tính đến thời gian bảo quản trung bình

       
     

    Hđ = (M + Dc).k

           
       
    ki– Tỷ kệ hao hụt định mức trong thời gian bảo quản i

    kn– tỷ lệ hao hụt định mức thời gian bảo quản cuối

    tn– Thời lượng bảo quản hàng hoá nằm trong thời gian bảo

    quản cuối

    Tn– Thời gian bảo quản cuối có tỷ lệ hao hụt kn

       
     

    Nếu Ht £ Hđ thì thực hiện tốt định mức và được khen thưởng;

    Nếu Ht > Hđ thì không thực hiện định mức và phải xác định nguyên nhân và xử lý kịp thời, xác định trách nhiệm vật chất về hàng hoá hao hụt vượt định mức.

    • Kiểm tra, theodõi việc thựchiện định mức, điều chỉnh định mức

    Để tăng cường tính khoa học, tính thực tiễn và tính hành chính của định mức ban hành, các cấp xây dựng xét duyệt, ban hành định mức và tổ chức thực hiện định mức phải kiểm tra, theo dõi việc thực hiện định mức.

    Nội dung của công tác này bao gồm:

    – Kiểm tra việc chấp hành các qui định về điều kiện và kỹ thuật bảo quản hàng hoá, qui trình, qui phạm công tác kho.

    -Kiểm tra việc thực hiện các chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong công tác tổ chức thực hiện định mức.

    – Trong quá trình kiểm tra, theo dõi, có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý của định mức trong thực tế và cần phải điều chỉnh. Định mức quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng xấu đến kết quả công tác kho.

    c-   Nghiệp vụ phát hàng ở kho

    c.1-           Vị trí và yêu cầu

    Phát hàng là công đoạn nghiệp vụ cuối cùng thể hiện chất lượng của toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá. Những mục tiêu cơ bản của nghiệp vụ kho đều được thực hiện ở công đoạn nghiệp vụ này. Nghiệp vụ phát hàng cấu thành nên quá trình nghiệp vụ vận chuyển, và đặc biệt là bộ phận cấu thành của quá trình logistics trực tiếp (logistics bán hàng ) trong doanh nghiệp thương mại bán buôn. Chính vì vậy, nghiệp vụ phát hàng phải thực hiện được những yêu cầu sau:

    – Xác định rõ trách nhiệm vật chất cụ thể giữa các bộ phận công tác kế hoạch, chuẩn bị và giao hàng;

    – Phải đảm bảo phát hàng kịp thời, nhanh chóng và chính xác cho khách hàng theo hợp đồng và lệnh xuất kho.

    – Phải đảm bảo giảm những chi phí cho toàn bộ quá trình phát hàng.

    Công đoạn nghiệp vụ phát hàng bao gồm 3 công tác chủ yếu: xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng; chuẩn bị phát hàng; và tiến hành giao hàng.

    c.2-           Nội dung nghiệp vụ phát hàng
    • Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng

    Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là quá trình dự tính các chỉ tiêu và các giải pháp nghiệp vụ kỹ thuật nhằm thực hiện tốt việc phát hàng đồng thời sử dụng tốt nhất lực lượng lao động và thiết bị kỹ thuật kho.

    Như vậy kế hoạch nghiệp vụ phát hàng dự tính nội dung, thời hạn hạn chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng theo đơn đặt hàng, thời gian cung cấp phương tiện vận tải và tiến hành vận chuyển hàng hoá; trong kế hoạch nghiệp vụ cũng dự tính lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các thao tác nghiệp vụ. Kế hoạch nghiệp vụ đảm bảo phát hàng cho khách hàng một cách nhanh chóng, cân đối, chính xác, đồng thời sử dụng triệt để lao động kho và thiết bị.

    Yêu cầu đối với kế hoạch nghiệp vụ là: một mặt phải đảm bảo cung cấp hàng hoá cho khách hàng một cách cân đối, mặt khác, phải theo đúng hợp đồng, lệnh xuất kho.

    Căn cứ để lập kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là: hợp đồng, đơn đặt hàng mua bán và vận chuyển hàng hoá, tình hình bán buôn hàng hoá từ kho.

    Nội dung của kế hoạch nghiệp vụ bao gồm:

    – Các chỉ tiêu nghiệp vụ: Số lượng, cơ cấu các lô hàng giao, thời hạn giao hàng cho các đối tượng khách hàng khác nhau; đặc trưng các lô hàng giao.

    – Các giải pháp nghiệp vụ: thời hạn và nội dung chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng; phương án vận chuyển và bố trí lực lượng lao động thiết bị xếp dỡ và giao hàng

    • Chuẩn bị phát hàng

    Bao gồm chuẩn bị hàng hoá, chuẩn bị lao động và phương tiện, đặc biệt là chuẩn bị hàng hoá.

    Chuẩn bị hàng hoá là quá trình biến đổi hình thức hàng hoá và tổng hợp lô hàng theo địa chỉ khách hàng. Việc biến đổi hàng hoá là cần thiết, vì hàng hoá nhập kho là theo yêu cầu của kho và doanh nghiệp thương mại đã được ghi trong hợp đồng mua bán, còn hàng hoá giao từ kho là theo yêu cầu của khách hàng.

    Quá trình chuẩn bị hàng để phát bao gồm:

     
       

    Có 2 phương pháp tổng hợp các lô hàng: phương pháp phân tán và tập trung.

    – Phương pháp phân tán: Thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng phân tán theo từng đơn hàng. Phương pháp này thường áp dụng ở những kho hàng có qui mô nhỏ, lô hàng nhỏ, và tần số xuất nhập hàng hoá không cao.

    – Phương pháp tập trung: thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng một cách tập trung, chuyên môn hoá theo từng giai đoạn của quá trình, cho nhiều đơn đặt hàng cùng một lúc. Phương pháp này thường áp dụng trong những kho qui mô lớn, cường độ xuất nhập lớn, phải chuẩn bị hàng hoá để phát một cách tập trung để tăng năng suất, giảm chi phí.

    • Giao hàng

    Bao gồm các thao tác nghiệp vụ để chuyển giao hàng hoá cho các đối tượng nhận hàng. Có 2 hình thức giao hàng: giao hàng từ kho của doanh nghiệp thương mại, và giao hàng ở cơ sở logistics của khách hàng.

    Trường hợp giao hàng ở kho của doanh nghiệp gồm những thao tác sau: Kiểm tra chứng từ, hoá đơn thanh toán và lệnh xuất kho; kiểm tra người nhận hàng; kiểm tra hàng hoá và phương tiện vận tải; chất xếp hàng hoá lên phương tiện vận tải; làm chứng từ giao hàng; làm giấy phép vận chuyển.

    Để kiểm tra, theo dõi tình hình giao hàng và bán buôn hàng hoá từ kho, cũng như biến động của dự trữ, phải mở sổ theo dõi hàng xuất, đồng thời khi xuất các lô hàng, phải ghi chép cẩn thận vào thẻ kho để kiểm tra biến động của dự trữ hàng hoá nhằm bổ sung kịp thời.

    6.2-  Quản trị nghiệp vụ bao bì hàng hoá

    6.2.1-    Chức năng và yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    a-   Khái niệm và chức năng của bao bì

    Bao bì là phương tiện đi theo hàng để bảo quản, bảo vệ, vận chuyển và giới thiệu hàng hoá từ khi sản xuất đến khi tiêu thụ hàng hoá.

    Như vậy, bao bì hàng hoá cần thiết là do những yếu tố khách quan sau:

    – Do tính chất của hàng hoá.

    Hàng hoá trong quá trình vận động trong hệ thống phân phối, do những tính chất tự nhiên, dươí ảnh hưởng của môi trường bên ngoài có thể làm suy giảm chất lượng và hao hụt số lượng. Để thường xuyên ngăn cản những tác động này, cần phải có phương tiện thường xuyên gắn liền với hàng hoá, đó là bao bì.

    – Do phải đảm bảo thuận tiện cho quá trình vận động của hàng hoá.

    Bao bì có vai trò là những đơn vị hàng hoá lớn đảm bảo thuận tiện cho viẹc giao nhận về mặt số lượng, thuận tiện cho xếp dỡ hàng hoá trong vận chuyển và trong dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Do yêu cầu đảm bảo thuận tiện cho bán hàng.

    Bán hàng cũng có nghĩa chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa các bên, đòi hỏi phải xác định nhanh số lượng, do đó, bao bì có vai trò là đơn vị lớn định lượng hàng hoá. Ngoài ra trong bán lẻ, bao bì chứa đựng lượng hàng hoá phù hợp với yêu cầu mua và tiêu dùng hàng hoá của khách hàng; đồng thời, bao bì còn giúp áp dụng các phương pháp bán hàng, như phương pháp bán hàng tự phục vụ.

    Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng, bao bì hàng hoá có những chức năng sau:

    – Chức năng hậu cần: Bao bì gắn liền với toàn bộ quá trình hậu cần trong hệ thống kênh phân phối và trong hệ thống hậu cần doanh nghiệp. Bao bì hỗ trợ cho quá trình mua, bán, vận chuyển và dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Chức năng marketing: Bao bì thúc đẩy quá trình bán hàng, đảm bảo truyền tin marketing cho khách hàng về hàng hoá và về doanh nghiệp.

    b-   Yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    Để thực hiện những chức năng của mình, bao bì hàng hoá phải đảm bảo những yêu cầu sau:

    • Phải đảm bảo giữ gìn hàng hoá

    Đây là yêu cầu cơ bản đối với bao bì, đặc biệt đối với bao bì ngoài (bao bì công nghiệp). Chính vì vậy, bao bì phải phù hợp với đặc điểm và tính chất của hàng hoá, của những điều kiện trong quá trình vận động hàng hoá (vận chuyển và dự trữ, bảo quản).

    • Phải đúng qui cách và hạ giá cước vận chuyển

    Bao bì phải đúng với những qui định của các văn bản pháp lý: tiêu chuẩn, hợp đồng. Khối lượng bao bì phải nhỏ, kích thước phải phù hợp với kích thước phương tiện vận tải, và phải đảm bảo thuận tiện cho việc xếp dỡ hàng hoá.

    • thuận tiện cho mua bán, đẹp, và đảm bảo truyền tin marketing

    Bao bì, đặc biệt là bao bì trong (bao bì tiêu dùng) phải thực hiện đầy đủ chức năng marketing. Do đó, khi thiết kế và chọn bao bì, cần phải nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng về bao bì, bao gói: nhu cầu cung cấp thông tin, nhu cầu sử dụng hàng hoá và bao bì, nhu cầu thẩm mỹ.

    • Giá thành sản xuất bao bì phải giảm

    Giá thành sản xuất giảm, tạo điều kiện để giảm giá hàng hoá bán ra. Muốn vậy, cần cải tiến công nghệ sản xuất và sử dụng bao bì: vật liệu chế tạo, phương pháp công nghệ, thiết bị sản xuất, vv .

    6.2.2-    Những căn cứ thiết kế và lựa chọn bao bì

    Khi thiết kế để sản xuất và lựa chọn bao bì để đưa vào sử dụng trong hệ thống kênh hậu cần, phải căn cứ vào những yếu tố sau:

    a-   Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của hàng hoá

    Căn cứ vào yếu tố này để thiết kế hoặc lựa chọn bao bì với vật liệu, hình dáng, kích thước thích hợp, đáp ứng những yêu cầu đối với bao bì.

    b-   Căn cứ vào những điều kiện của vận chuyển hàng hoá

    Những điều kiện của vận chuyển hàng hoá bao gồm: Khoảng cách, con đường, phương tiện vận chuyển, điều kiện thiết bị xếp dỡ hàng hoá. Những điều kiện này nhằm thiết kế và chọn bao bì về vật liệu, kích thước, trọng tải,… nhằm đảm bảo an toàn cho hàng hoá trong vận chuyển, mặt khác tiết kiệm chi phí và hao hụt.

    c-   Căn cứ vào những điều kiện của dự trữ và bảo quản hàng hoá

    Những điều kiện đó là: tình trạng kiến trúc xây dựng kho, thiết bị và phương pháp công nghệ kho.

    d-   Căn cứ vào phương pháp bán hàng

    Các phương pháp bán hàng khác nhau đòi hỏi bao bì, bao gói thích hợp (bao bì trong), thuận tiện cho quá trình bán hàng và mua hàng của khách hàng. Bao bì dùng trong phương pháp bán hàng tự phục vụ cần phải thiết kế thích hợp với quá trình mua hàng của khách hàng.

    e-   Căn cứ vào nhu cầu sử dụng bao bì của khách hàng

    Những yêu cầu về truyền tin marketing của khách hàng, thói quen và tập quán tiêu dùng bao bì.

    f-     Căn cứ vào những điều kiện có tính pháp lý

    Các văn bản tiêu chuẩn hóa về bao bì, hợp đồng mua bán hàng hoá.

    g-   Căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp

    Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định việc sử dụng bao bì với vật liệu chế tạo đắt hay rẻ.

    6.2.3-    Phân loại và tiêu chuẩn hoá bao bì

    a-   Phân loại bao bì

    Bao gồm các tiêu thức phân loại sau:

    • Theo tác dụng của bao bì

    Thực ra là theo chức năng của bao bì, bao gồm 2 loại: Bao bì ngoài (bao bì công nghiệp, bao bì vận tải, bao bì bán buôn). Chức năng của loại bao bì này hậu cần, bao gồm mâm tải, thùng tải và các loại bao kiện; và bao bì trong (bao bì tiêu dùng, bao bì bán lẻ) với chức năng chủ yếu là marketing, bao gồm các loại bao gói trực tiếp với hàng hoá.

    • Theo số lần sử dụng

    Bao gồm các loại:

    – Bao bì dùng một lần: chỉ sử dụng cho một lần để bao gói hàng hoá, chủ yếu là bao bì tiêu dùng.

    – Bao bì dùng lại: có thể sử dụng lại. Tùy thuộc vào điều kiện của quá trình phân phối mà số lần sử dụng từ 2 trở lên, bao gồm chủ yếu là các loại bao kiện và một số bao bì trong (chai lọ,…)

    – Bao bì dùng nhiều lần: số lần và thời gian sử dụng đã định trước; là tài sản của bên giao hàng, thường là các loại mâm tải (pallet) và thùng tải (container).

    • Theo độ cứng

    Bao gồm bao bì cứng, mềm, và nửa mềm.

    • Bao bì cứng: chịu được các tác động cơ học cao trong quá trình vận động, bao gồm các loại thùng kiện hàng (bao bì vận tải).
    • Bao bì nửa cứng: chịu được tác động hạn chế của lực bên ngoài trong quá trình vận động, thường là các loại bao bì bằng bìa, các tông.
    • Bao bì mềm: dễ biến đổi hình dạng khi sử dụng như các loại bao tải, túi chất dẻo,…
    • Theo kết cấu

    Bao gồm bao bì nguyên dạng, bao bì tháo lắp, bao bì gấp xếp, và bao bì thiết bị. Bao bì tháo lắp và gấp xếp có tác dụng trong việc vận chuyển không có hàng, tận dụng công suất của phương tiện vận tải.

    • Theo nguyên liệu chế tạo

    Bao gồm bao bì: gỗ, kim loại, gốm và thủy tinh, các tông và giấy, nhựa và chất dẻo, cao su, bao bì bằng vải,… Mỗi loại có yêu cầu riêng về tiêu chuẩn vật liệu.

    b-   Tiêu chuẩn hóa bao bì

    Tiêu chuẩn hóa bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng các tiêu chuẩn về bao bì trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hoá.

    Tiêu chuẩn hóa bao bì cũng như các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa khác, có ý nghĩa rất to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Tiêu chuẩn hóa đảm bảo sản xuất và sử dụng bao bì tiết kiệm và hiệu quả.

    Các cấp tiêu chuẩn bao bì: tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Nhà nước, và tiêu chuẩn quốc tế. Cấp tiêu chuẩn càng thấp thì càng có nhiều tiêu chuẩn, và tiêu chuẩn càng chi tiết. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cấp thấp hơn phải đảm bảo thống nhất với cấp tiêu chuẩn cấp cao hơn.

    Các loại tiêu chuẩn bao bì gồm: vật liệu chế tạo, độ bền, kích thước, hình dạng, kết cấu, cách ghi nhãn hiệu hàng hoá và các dấu hiệu, màu sắc,…

    Trong các loại tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn kích thước được đặc biệt chú ý vì nó liên quan đến việc sử dụng phương tiện vận tải, xếp dỡ hàng hoá, phương pháp bảo quản hàng hoá trong các kho,…. Tiêu chuẩn hóa về kích thước bao bì phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải được gọi là thống nhất hóa kích thước bao bì.

    Thống nhất hóa kích thước bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng tiêu chuẩn hệ thống kích thước bao bì phù hợp với nhau và phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải và các phương tiện bảo quản và xếp dỡ hàng hoá dựa trên Môdun (Module) đơn vị.

    Module đơn vị là kích thước của thùng tải (Container) tiêu chuẩn và mâm tải (Pallet) tiêu chuẩn (1200 m.m ´ 800 m.m). Kích thước Module này là tiêu chuẩn để xác định kích thước của các loại bao bì bên trong, thùng chứa hàng của phương tiện vận tải, cơ cấu phương tiện xếp dỡ, diện tích nhà kho, …

    Bao bì trong thống nhất kích thước về chiều dài và chiều rộng, chiều sâu được xác định theo công thức sau:

    A: Kích thước bên trong bao bì thống nhất

    M: Kích thước Module đơn vị [thùng tải hoặc mâm tải đơn vị (800 ´ 1200)]

    N: Số nguyên (ước số của chiều dài, chiều rộng, hoặc chiều sâu)

    K: Hệ số, tính khe hở giữa các bao kiện chứa trong Module đơn vị, thường là 0,95.

    c-   Mâm tải hóa và hòm tải hóa trong tổ chức vận động hàng hóa

    Để cơ giới hóa toàn bộ quá trình vận động hàng hóa, bao gồm vận chuyển, xếp dỡ, bảo quản hàng hóa trong các cơ sở hậu cần, ngoài việc phải có các phương tiện cơ giới hóa, như phương tiện vận tải, nhà kho, phương tiện xếp dỡ, còn cần phải có các phương tiện bao bì, bao gói cơ giới hóa. Những phương tiện bao bì, bao gói thuận tiện cho cơ giới hóa thống nhất toàn bộ quá trình vận động hàng hóa là hệ thống thùng tải và mâm tải.

    Như vậy, mâm tải và thùng tải có ý nghĩa to lớn trong hệ thống hậu cần. Nhờ áp dụng mâm tải và thùng tải mà đảm bảo thống nhất áp dụng cơ giới hóa trong kênh hậu cần, nâng cao trình độ dịch vụ và giảm chi phí trong phân phối và vận động hàng hóa và kinh doanh thương mại.

    Tất nhiên, để áp dụng có hiệu quả mâm tải và thùng tải, các yếu tố của quá trình vận động phải được cơ giới hóa đồng bộ: phương tiện vận tải, phương tiện xếp dỡ, thiết bị và các công trình cơ sở hậu cần.

    c.1-           Mâm tải hóa

    Mâm tải hóa là quá trình sử dụng bao bì bao gói kiêm thiết bị vận chuyển được thống nhất kích cỡ theo các tiêu chuẩn qui định trong phân phối và vận động hàng hóa.

    Mâm tải có cấu tạo thường bằng các thanh gỗ độ bền cao ghép định hình với nhau thành các bản gỗ theo kết cấu qui định. Kích thước của mâm tải thường là 1200 ´ 1600 (m.m), 1200 ´ 800 (m.m). Kích thước này tùy thuộc vào các loại phương tiện vận tải:

    • Vận tải đường biển: Mâm tải có kích thước 1600 ´ 1200 ´ 180 (m.m); trọng lượng cả bì là 1,5 T, tạong lượng của riêng mâm tải là 70 – 80 kg.
    • Vận tải đường sắt: Kích thước mâm tải là 1200 ´ 800 ´ 150 (m.m). trọng lượng của riêng mâm tải 23-25 kg được coi là hợp lý nhất.

    Theo tiêu chuẩn ISO thì kích thước mâm tải quốc tế 1200 ´ 1600, 1200 ´ 1800; tải trọng tối đa là 2T.

    Hàng hóa được ghép thành kiện chặt chẽ trên mâm tải, sau đó được cần cẩu xếp vào các khoang tàu hoặc toa xe lửa để vận chuyển. Do đặc điểm chỉ có một mặt để xếp hàng hóa nên việc ghép kiện hàng trên mâm tải và gia cố để kiện hàng ổn định, chắc chắn là đặc biệt quan trọng.

    Khi xếp hàng lên mâm tải, cần sử dụng hết trọng tải của mâm tải, giảm đến mức thấp nhất khoảng trống giữa các bao hàng. Cự ly nhô ra của kiện hàng hóa ngoài mâm tải không quá 150 m.m. chiều cao tối đa của kiện hàng đã ghép là 1,6 m.

    Phương pháp ghép kiện trên mâm tải khác nhau tùy thuộc vào kích thước và hình dạng của bao hàng, tính chất hàng hóa, và loại phương tiện vận tải cungf các nghiệp vụ xếp dỡ.

    Khi ghép mâm tải, vấn đề đặt ra là phải tính toán số bao hàng và lớp hàng tối ưu, có nghĩa có hệ số sử dụng trọng tải tối đa nhưng kích thước không vượt quá dung sai qui định (50 m.m). Ta có:

    ;                   Suy ra:

    Qn = N.qm + qn             hay:

    ;                     ;

    đây:

    Np: Số bao xếp trên một lớp của mâm tải

    L: Số lớp bao xếp trên mâm tải

    N: Tổng số bao xếp trên mâm tải

    qm: Khối lượng cả bao của một bao hàng (kg)

    qn: Khối lượng bản thân mâm tải (kg)

    Qn: Khối lượng của kiện hàng trên mâm tải (kg)

    Qn £ Qmax (Qmax: Tải trọng tối đa của mâm tải)

    Np là số bao xếp trên một lớp mâm tải. Ở đây kết hơp với phương pháp xếp, ta có thể xác định được diện tích bề mặt của một lớp. Nếu diện tích chất xếp vượt quá diện tích cho phép, ta phải điều chỉnh phương pháp xếp hoặc giảm Qn để đạt được mục đích.

    Trong những năm gần đây, trong ngành vận tải biển đã xuất hiện loại mâm tải lớn có kích thước 6,1 ´ 2,44 (m) và 12,2 ´ 2,4 (m).

    Các mâm tải sau khi dỡ hàng được chuyển trả về cới cung ứng theo hành trình ngược.

    c.2-           Thùng tải hóa

    Cùng với quá trình mâm tải hóa là quá trình thùng tải hóa (Conteiner). Thùng tải là loại bao gói quay vòng nhiều lần, thuộc loại bao bì vận chuyển có kích thước lớn nhất hiện nay.

    Đây là loại bao bì kiêm thiết bị vận chuyển có những đặc trưng xác định, bền chắc, sử dụng nhiều lần, có kết cấu chuyên dụng bảo đảm vận chuyển bằng hoặc nhiều loại phương tiện vận tải mà không phải đóng gói lại, chuyển tải nhanh từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác có dung tích từ 1m3 trở lên.

    Vận chuyển bằng thùng tải đem lại hiệu quả cao:

    – Hàng vận chuyển trong thùng tải có thể giảm chi phí lao động từ 8-10 lần. Thời gian xếp dỡ khi sử dụng thùng tải giảm từ 5-7 lần, trên mâm tải gảim từ 3-4 lần so với xếp dỡ từng bao kiện riêng lẻ;

    – Vận chuyển trong thùng tải cho phép bảo quản tốt chất lượng, số lượng hàng hóa. Hàng hóa vận chuyển trong thùng tải hoặc một số hàng vận chuyển trên mâm tải có thể bảo quản ngoài kho. Giao nhận bằng thùng tải hoặc mâm tải theo đơn vị thùng tải và mâm tải, do đó gảim thời gian giao nhận. Cùng khối lượng hàng hóa như nhau, nhưng nếu sử dụng thùng tải sẽ tiết kiệm vật liệu sản xuất hơn rất nhiều nếu chỉ chứa đựng trong bao bì thông thường.

    Thùng tải có nhiều loại: loại cố định, loại không cố định, loại cứng, loại mềm, loại bằng gỗ khung kim loại, loại bằng kim loại, chất dẻo,…Có thể phân loại thùng tải  chuyên dùng và thùng tải dùng chung. Loại dùng chung được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Theo tiêu chuẩn ISO, thùng tải có kích thước như sau:

    R: 2,44m ´ C: 2,59m ´ D: 3,05m

    R: 6,10m ´ C: 9,15m ´ D: 12,2m

    Dung tích thùng tải khoảng 9 – 60 m3, trọng tải 5 – 30T, hệ số bao bì khoảng 0,25 – 0,35.

    Hệ số chất xếp hàng hóa vào thùng tải ít nhất là 80% mới được coi là xếp đầy hàng. Kết cấu thùng tải có thêm những phụ kiện cần thiết để tiện cho xếp dỡ hàng hóa.

    Vận chuyển trong thùng tải tuy có nhiều ưu điểm, nhưng cũng có những hạn chế nhất định do vốn đầu tư lớn, tải trọng của thùng tải lớn làm tăng hệ số bao bì, và trong nhiều trường hợp, phải tốn kém nhiều chi phí vận chuyển thùng tải hoàn trả.

    Thùng tải được áp dụng nhiều nhất trong vận chuyển quốc tế.

    6.2.4-    Quá trình trình luân chuyển bao bì

    a-   Tiếp nhận bao bì

    Là hệ thống các mặt công tác nhằm kiểm tra và đánh giá tình trạng số lượng và chất lượng bao bì thực nhập cùng với hàng hoá.

    Yêu cầu của tiếp nhận bao bì: xác định trách nhiệm vật chất của các bên trong việc chuyển giao bao bì căn cứ vào các văn bản pháp lý.

    Trong trường hợp sử dụng bao bì để đóng gói hàng hoá, thì việc tiếp nhận bao bì được tiến hành riêng như tiếp nhận một loại hàng hoá, còn trong trường hợp bao bì gắn liền với hàng hoá thì việc tiếp nhận bao bì nằm trong nội dung tiếp nhận hàng hoá ở kho hay cửa hàng.

    Tiếp nhận bao bì cũng bao gồm: tiếp nhận số lượng và tiếp nhận chất lượng. Căn cứ để tiếp nhận là các văn bản pháp qui về bao bì (tiêu chuẩn hóa về bao bì, qui định về tiếp nhận hàng hoá, bao bì,…), vào các cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng.

    Trong trường hợp bao bì không đảm bảo số lượng và chất lượng, phải lập biên bản nhằm qui trách nhiệm vật chất rõ ràng.

    b-   Mở và bảo quản bao bì

    Bao gồm các mặt công tác để tháo dỡ hàng hoá ra khỏi bao bì và giữ gìn số lượng và chất lượng bao bì trong quá trình mở và bảo quản bao bì.

    Yêu cầu: đảm bảo giữ gìn tốt bao bì trong quá trình tháo dỡ hàng hoá và bảo quản, tận dụng diện tích và thể tích khu vực bảo quản.

    Nguyên tắc của mở bao bì: theo đúng qui trình, đúng kỹ thuật và dụng cụ. Do đó đối với mỗi loại bao bì cần xây dựng qui trình, qui phạm mở bao bì thích hợp.

    Nội dung của bảo quản bao bì:

    • Vệ sinh và phân loại bao bì theo quyền sở hữu và mức độ chất lượng để thuận tiện cho việc xử lý bao bì và bảo quản bao bì;
    • Phân bố và chất xếp bao bì đảm bảo tận dụng diện tích và dung tích nơi bảo quản, thuận tiện cho việc chăm sóc, giữ gìn bao bì;
    • Đảm bảo các điều kiện giữ gìn tốt bao bì: tránh mưa nắng, chống các hiện tượng sử dụng bao bì không đúng mục đích.

    c-   Hoàn trả và tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng

    Bao gồm những mặt công tác nhằm hoàn trả bao bì sử dụng nhiều lần cho chủ sở hữu và tiêu thụ bao bì theo các hình thức xác định.

    Sử dụng lại bao bì và tận dụng vật liệu bao bì đã qua sử dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và đối với bản thân các doanh nghiệp:

    + Với nền kinh tế: Tiết kiệm nguồn tài nguyên, lao động và các chi phí để chế tạo bao bì.

    + Với các doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp sản xuất, giảm chi phí vật liệu và lao động sản xuất bao bì, tiết kiệm chi phí sản xuất bao bì và hàng hoá.

    + Với doanh nghiệp thương mại: Tăng thu nhập cho doanh nghiệp,

    Yêu cầu: Hoàn trả bao bì cho chủ sở hữu theo đúng chế độ và cam kết giữa các bên, tận thu và tiêu thụ những bao bì đã qua sử dụng với chi phí thấp nhất.

    + Hoàn trả: Những bao bì dùng nhiều lần, là tài sản của bên chủ hàng hoặc bên cho thuê mướn bao bì (container) phải tiến hành hoàn trả lại theo các cam kết pháp lý.

    + Tiêu thụ: Bán các loại bao bì hoặc vật liệu bao bì đã qua sử dụng cho các đơn vị sản xuất hàng hoá hoặc sản xuất bao bì để sử dụng lại hoặc dùng làm vật liệu chế tạo bao bì.

    Nội dung:

    • Xây dựng kế hoạch hoàn trả và tiêu thụ bao bì: xác định số lượng, thời gian và thời hạn hoàn trả cho chủ sở hữu; xác định khách hàng và nhu cầu tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng, nhận đơn đặt hàng hoặc ký hợp đồng tiêu thụ bao bì.
    • Chuẩn bị bao bì hoàn trả và cung ứng: thu thập bao bì từ các cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp và từ trong dân chúng; phân loại, vệ sinh, đóng gói bao bì gọn gàng nhằm tận dụng dung tích phương tiện vận tải.
    • Giao bao bì cho các đối tượng nhận: vận chuyển, giao nhận bao bì. Cần chú ý chất xếp để tận dụng trọng tải và dung tích của phương tiện vận tải, xây dựng hành trình giao bao bì hợp lý nhằm giảm cự ly vận chuyển bình quân, tăng tốc độ giao bao bì, giảm chi phí.

    6.2.5-    Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    a-   Những nguyên nhân tạo nên chi phí bao bì

    Đối với các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại bán buôn, phải sử dụng bao bì cho nhiều hoạt động hậu cần: bao gói và bao gói lại hàng hoá, đóng kiện hàng hoá trong các bao bì vận tải thuận tiện cho vận chuyển,…Còn đối với các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, phải sử dụng bao bì để bao gói lẻ hàng hoá, đặc biệt đối với các siêu thị bán hàng theo phương pháp tự phục vụ. Vì vậy, quản trị nghiệp vụ bao bì một mặt nhằm thỏa mãn yêu cầu sử dụng bao bì của doanh nghiệp, mặt khác, tiết kiệm chi phí bao bì thực hiện tốt những nhiệm vụ của hậu cần ke thương mại. Cần phải nắm vững những nguyên nhân gây nên chi phí về bao bì để từ đó có những giải pháp hợp lý.

    Những nguyên nhân chi phí bao bì bao gồm:

    a.1-           Nguyên nhân khách quan
    • Do tính chất tự nhiên của bao bì: những tính chất lý, hóa, sinh hóa,… của bao bì trong mối quan hệ với các nhân tố của môi trường làm cho bao bì giảm độ bền, hư hỏng, như dưới tác động của môi trường, bao bì có thể bị mục nát (bao bì gỗ), lão hóa (bao bì chất dẻo), han rỉ (bao bì kim loại).
    • Do quá trình sử dụng bao bì: do chứa đựng hàng hoá, vận chuyển, xếp dỡ,…(sử dụng) nên tiêu hao giá trị sử dụng, và tất nhiên làm suy giảm số lượng và chất lượng bao bì.
    a.2-           Nguyên nhân chủ quan
    • Do nhận thức chưa đúng đắn về bao bì của cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại: coi bao bì không phải là tài sản của doanh nghiệp, không phải là nguồn thu nhập của doanh nghiệp; chưa nhận thức rằng, tiết kiệm bao bì có lợi ích rất lớn cho nền kinh tế quốc dân;
    • Do cán bộ và nhân viên không chấp hành đúng những qui định về công tác bao bì, chủ yếu là thực hiện quá trình nghiệp vụ bao bì: tiếp nhận, mở và bảo quản bao bì, hoàn trả bao bì.

    b-   Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    b.1-          Biện pháp giảm chi phí do chủ quan
    • Giáo dục cho cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại nhận thức ý nghĩa kinh tế quốc dân của bao bì, tầm quan trọng của bao bì trong việc tăng thu nhập của doanh nghiệp: coi bao bì đã qua sử dụng là mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Xây dựng các qui định, chế độ công tác về bao bì; chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc không làm tốt những qui định về công tác bao bì.
    • Tổ chức bộ phận chuyên trách quản trị nghiệp vụ bao bì trong các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt trong các doanh nghiệp thương mại bán buôn.
    b.2-          Biện pháp giảm chi phí do khách quan

    – Hoàn thiện các điều kiện thực hiện nghiệp vụ bao bì, đặc biệt nghiệp vụ bảo quản và hoàn trả, tiêu thụ bao bì.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây