Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Quy trình đánh giá nhân viên

    Quy trình đánh giá nhân viên

    Quy trình đánh giá nhân viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Quy-tr%C3%ACnh-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-nh%C3%A2n-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quy trình đánh giá nhân viên

    QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ NHÂN VIÊN

    Thiết lập các mục tiêu, yêu cầu cho từng nhân viên khác nhau. Mỗi công việc khác nhau, nội dung đánh giá sẽ khác nhau. Thiết lập các tiêu chí đánh giá chung cho tất cả các nhân viên….

    1.  Xác định tiêu chí đánh giá

    Thiết lập các mục tiêu, yêu cầu cho từng nhân viên khác nhau. Mỗi công việc khác nhau, nội dung đánh giá sẽ khác nhau.

    Ví dụ về các yêu cầu, mục tiêu như:

    • Đảm bảo năng suất 230 sản phẩm/ngày.
    • Không có khách hàng khiếu nại quá 3 lần/năm.
    • Tăng sản lượng 15% so với năm trước.

    Thiết lập các tiêu chí đánh giá chung cho tất cả các nhân viên, bao gồm:

    • Thực hiện nội quy.
    • Tinh thần hợp tác, hỗ trợ.
    • Tinh thần, thái độ làm việc.
    • Tính sáng tạo
    • Khả năng phát triển..

    2. Chuẩn bị đánh giá:

    • Lên kế hoạch cụ thể về thời gian, địa điểm và không gian phù hợp.
    • Xem lại phạm vi trách nhiệm, nhiệm vụ của từng nhân viên.
    • Xem lại hồ sơ đánh giá của các kỳ trước.
    • Xem lại quy trình đánh giá công việc chung.
    • Chuẩn bị các biểu mẫu đánh giá.

    3. Tiến hành đánh giá:

    • Thu thập các thông tin đánh giá bao gồm:
    • Quan sát nhân viên thực hiện công việc
    • Kiểm tra lại các mẫu công việc đã hoàn thành
    • Xem lại sổ giao việc.
    • Nói chuyện trực tiếp với nhân viên.
    • Xem lại các biên bản ghi lỗi của NV.

    4. Phỏng vấn đánh giá:

    Mục đích của phỏng vấn là giúp nhà quản lý đối chiếu với các thông tin do nhân viên cung cấp và đánh giá chính xác hơn hiệu quả công việc.

    Phỏng vấn cũng là cơ hội để nhân viên bày tỏ các nguyện vọng, ý kiến đối vối công việc, công ty…

    Chuẩn bị các công tác cho cuộc đánh giá, cụ thể như sau:

    • Thống nhất với nhân viên ngày giờ đánh giá.
    • Giới thiệu sơ bộ mục đích và các nội dung trao đổi chính.
    • Chuẩn bị địa điểm đánh giá phải kín, để có thể trao đổi thoải mái.
    • Phổ biến cho nhân viên sơ lược nội dung và một số yêu cầu về cuộc đánh giá.
    • Trấn an nhân viên.

    Trình tự buổi đánh giá

    • Tạo sự thoải mái cho nhân viên.
    • Lặp lại mục đích của cuộc đánh giá.
    • Thông báo trình tự của buổi phỏng vấn.
    • Tiến hành phỏng vấn
    • Kết thúc phỏng vấn

    Trong khi phỏng vấn

    • So sánh kết quả công việc với các yêu cầu và mục tiêu.
    • Ghi nhận và biểu dương các việc đã làm tốt.
    • Tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn
    • Thoả thuận về hiệu quả làm việc trong tương lai.
    • Thoả thuận về kế hoạch đào tạo phát triển

    Khuyến khích và lắng nghe

    • Hãy để nhân viên tự đánh giá họ.
    • Hãy đưa ra các câu hỏi để khuyến khích nhân viên nói lên quan điểm của họ.
    • Lặp lại các cụm từ mà nhân viên vừa nói để khuyến khích họ.
    • Sử dụng các từ như: đúng vậy, để cho biết là bạn đang lắng nghe.

    5. Hoàn tất đánh giá:

    • Khen ngợi lại các thành tích của NV. Hãy hỏi hỏi điều gì làm cho họ đạt được thành tích nhý vậy?
    • Trường hợp họ thừa nhận các điểm yếu, hãy hỏi họ nguyên nhân là gì?
    • Sau cùng hãy chia sẽ ý kiến của bạn như thế nào?
    • Thông báo kết quả đánh giá và cho nhân viên biết ý kiến của họ.

    Bản chất của quá trình đánh giá không phải là việc nhân viên có đồng ý hay không.

    Nhân viên không đồng ý với kết quả đánh giá

    Có hai hình thức như sau:

    • Nhân viên đấu tranh, nổi giận, đổ lỗi..
    • Nhân viên không đồng ý, nhưng lảng tránh sang chủ đề khác (có thể vẫn gật đầu đồng ý).

    Người đánh giá cần chủ động dự đoán tình huống, chuẩn bị các câu hỏi để hoàn thành buổi phỏng vấn tốt đẹp.

    Trường hợp nhân viên trốn tránh

    • Đối với loại NV nhút nhát, khi có kết quả xấu, họ thường “cam chịu” mặc dù họ cho rằng hiệu quả làm việc của họ cao hơn.
    • Hãy cho nhân viên thời gian để bình tĩnh lại.
    • Từ từ để hỏi quay lại quan điểm của nhân viên
    • Tốt hơn hết với loại nhân viên này nên cho họ có bản đánh giá từ trước.

    Trường hợp nhân viên đấu tranh

    • Hãy cho phép anh ta trút giận.
    • Lắng nghe và khuyến khích họ nói hết vấn đề.
    • Sau khi nhân viên bình tĩnh lại, hãy hỏi anh ta: Theo tôi hiểu thì bạn…, sau đó hãy thảo luận từng điểm bất đồng với nhân viên.

     * Các lỗi thường gặp khi đánh giá

    1. Lỗi thiên kiến:
    • Khi đánh giá, người đánh giá có xu hướng chỉ dựa vào một đặc điểm nào đó làm cơ sở đánh giá cho các điểm khác. Lỗi thiên kiến xảy ra thường do:
    • Sự phù hợp về cá tính, sở thích
    • Ấn tượng bề ngoài
    • Ấn tượng về năng lực.
    • Sự đối nghịch giữa người đánh giá và nhân viên.
    • Để tránh lỗi thiên kiến, người đánh giá cần:
    • Quan tâm đến những điểm khác nhau giữa các tiêu chí đánh giá.
    • Xem xét tất cả các khía cạnh liên quan đến hiệu quả làm việc.
    • Vượt qua bản ngã.
    1. Khuynh hướng bình quân chủ nghĩa

    Nguyên nhân chủ yếu là:

    • Chuẩn mực công việc không rõ ràng
    • Người quản lý quan niệm nếu công việc của nhân viên không có gì nổi trội, thì tất cả đều là trung bình.
    • Ngại xếp nhân viên vào xuất sắc hay kém để tránh rủi ro.
    1. Quá dễ dãi hoặc khắt khe:
    • Xu hướng là hầu như đánh giá cao hoặc đánh giá quá chặt chẽ.
    • Do người đánh giá hay so sánh với bản thân mình.
    • Do đánh giá cá nhân thông qua tập thể.
    • Người đánh giá yêu cầu quá cao.
    1. Các lỗi khác
    • Chỉ dựa trên các thông tin trong trí nhớ.
    • Thành kiến cá nhân.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-x%C3%A1c-l%E1%BA%ADp-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C3%A1c-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-v%C4%83n-h%C3%B3a-c%E1%BB%91t-l%C3%B5i-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Phần 2: Làm thế nào để xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp?

    Để xác lập giá trị văn hóa cốt lõi, doanh nghiệp có thể sử dụng quy trình sau:

       
     

    Xác định đối tượng điều tra

     
     

    Xác định phương pháp và công cụ

     
     

    Tiến hành điều tra và xử lý dữ liệu

     
     

    Hội thảo

     
     

    Quyết định tập giá trị văn hóa cốt lõi

    Bước 1: Xác định đối tượng điều tra.

    Đối tượng điều tra phục vụ xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi có thể bao gồm:

    • Các chuyên gia và những cá nhân có kinh nghiệm trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
    • Khách hàng và các đối tác của doanh nghiệp.
    • Tập thể cán bộ nhân viên của công ty.

    Quá trình xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp được triển khai như một hoạt động quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp. Quá trình này cho phép nắm bắt được cảm nhận của các cá nhân có liên quan về doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường kinh doanh.

    Với khách hàng và các đối tác, doanh nghiệp xác lập có chọn lọc và mang tính đại diện.

    Với các đối tượng đến từ bên trong doanh nghiệp, điều tra nên được tiến hành trên diện rộng.

    Nếu doanh nghiệp có quy mô nhân sự xấp xỉ 100 người, nên tiến hành điều tra toàn thể. Với doanh nghiệp có quy mô nhân sự lớn, điều tra chọn mẫu có thể được tiến hành. Tuy nhiên, mẫu nghiên cứu phải đảm bảo đại diện tất cả các thế hệ và các cấp độ nhân sự. Với doanh nghiệp có quy mô nhân sự nhỏ hơn 50, nên sử dụng bổ sung ý kiến các chuyên gia.

    Bước 2: Xác định phương pháp và công cụ điều tra

    Giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp có thể được tiến hành theo hai phương pháp chủ yếu:

    Phương pháp chuyên gia: Sử dụng ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp để lựa chọn các giá trị cốt lõi. Các chuyên gia thường dùng phương pháp brainstorming để đưa ra các giá trị, sau đó thảo luận, hội thảo để thống nhất.

    Phương pháp điều tra xã hội học (thường sử dụng bảng hỏi và phỏng vấn): Doanh nghiệp tiến hành điều tra xã hội học các đối tượng có liên quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để làm rõ những giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp có thể sử dụng một hoặc kết hợp cả hai phương pháp nêu trên. Thông thường, phương pháp chuyên gia được sử dụng để xác lập các tập các giá trị ban đầu. Trên cơ sở tập các giá trị này, chuyên gia sẽ xây dựng bảng hỏi để tiến hành điều tra xã hội học trên diện rộng để kiểm chứng và lựa chọn các giá trị quan trọng nhất.

    Bảng hỏi là phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều tra xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp (Corporate Culture Questionnaire). Bảng hỏi được thiết kế sử dụng thang bậc Likert, với cấp độ từ 5 -10. Kết quả xử lý thống kê các dữ liệu cho phép đúc rút ra được tập các giá trị văn hóa cốt lõi.

    Ví dụ một phần bảng hỏi được sử dụng trong điều tra xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietinbank:

    Anh, ChÞ h·y cho biÕt quan ®iÓm cña riªng m×nh vÒ c¸c nhËn ®Þnh sau vÒ c¸c gi¸ trÞ sau Ng©n hµng

    Rất đúng

    Đúng

    Gần đúng

    Không  ý kiến

    Gần sai

    Sai

    Sai hoàn toàn

     

    7

    6

    5

    4

    3

    2

    1

    ThÝch thó víi ®æi míi 

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    S½n sµng chÞu rñi ro

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Cã ý thøc vÒ chÊt l­îng

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    §Þnh h­íng theo kh¸ch hµng cao

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Cã t­ duy chiÕn l­îc dµi h¹n

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    C¸c c«ng viÖc ®­îc tiÕn hµnh kh«ng quan liªu

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Møc ®é phi tËp trung ho¸, trao quyÒn cho c¸c ®¬n vÞ cao

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    C¬ cÊu tæ chøc ®¬n gi¶n, gän nhÑ vµ tiÕt kiÖm chi phÝ hµnh chÝnh

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Sè l­îng c¸c cÊp l·nh ®¹o lµ tèi ­u

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Linh ho¹t trong kÕ ho¹ch

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Ra quyÕt ®Þnh cã sù tham gia cña tËp thÓ

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    §¸nh gi¸ thµnh tÝch mang tÝnh x©y dùng

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    L·nh ®¹o rÊt g­¬ng mÉu

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    C¸c nhµ l·nh ®¹o rÊt cëi më

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Chó träng ®Õn vai trß cña c¸ nh©n

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    (Nguồn: Lê Quân)

    Bảng hỏi được thiết kế phù hợp với từng đối tượng điều tra. Với các đối tượng đến từ bên ngoài doanh nghiệp, bảng hỏi thường được thiết kế giản lược, tập trung vào thu nhận thông tin định vị các giá trị doanh nghiệp đã, đang và nên mang lại cho khách hàng, cho các đối tác khác.

    Bước 3: Tiến hành điều tra và xử lý dữ liệu

    Quá trình điều tra được tiến hành đồng thời với các hoạt động truyền thông nhằm lôi kéo sự tham gia của mọi người vào cuộc. Quá trình điều tra được tiến hành khuyết danh. Ngày nay, nhiều doanh nghiệp tiến hành điều tra thông qua các bảng hỏi điều tra trực tuyến. Một số diễn đàn trao đổi trên mạng nội bộ, bản tin… của doanh nghiệp được sử dụng như những công cụ truyền thông nội bộ rất tốt cho quá trình này.

    Dữ liệu thu được được xử lý thống kê. Các phần mềm xử lý thống kê phổ biến hiện nay là Excel, SPSS… Các phân tích PCA, typology, discriminant được sử dụng phổ biến trong xác định tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp.

    Nhìn vào biểu đồ trên, có thể thấy ba giá trị quan trọng là tinh thần hợp tác, truyền thống, sáng tạo và chất lượng được đề cao nhất (vạch ngang thể hiện mức trung bình).

    Bước 4: Hội thảo. Các buổi hội thảo nhằm hai mục đích: truyền thông về phát triển văn hóa doanh nghiệp và lấy ý kiến để hoàn chỉnh tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp.

    Bước 5: Quyết định tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp. Lãnh đạo doanh nghiệp dựa trên cơ sở kết quả điều tra, ý kiến của các thành viên để quyết định lựa chọn các giá trị văn hóa. Một số giá trị được lựa chọn đang được thừa nhận sẽ được doanh nghiệp duy trì và phát triển. Với một số giá trị khác, doanh nghiệp sẽ tiến hành xây dựng các chương trình hành động nhằm phát triển và tôn vinh.

    1. Lê Quân – Chủ tịch Hội đồng chuyên gia EduViet

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hội thảo tầm quan trọng của đối thoại xã hội và thương lượng tập thể


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/N%C3%A2ng-cao-k%E1%BB%B9-n%C4%83ng-giao-ti%E1%BA%BFp-cho-sinh-vi%C3%AAn-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-%E1%BB%9F-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Cao-%C4%91%E1%BA%B3ng-S%C6%B0-ph%E1%BA%A1m-%C4%90i%E1%BB%87n-Bi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Xã hội, Số 13 (6/2018) tr. 8 – 14

     

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN

    NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO Đ NG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

     

    Lò Vũ Điệp

    Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Tóm tắt: Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng. Sinh viên người dân tộc gặp những khó khăn và hạn chế nhất định về kỹ năng giao tiếp. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc hình thành các kỹ năng nghề nghiệp sau này. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao kỹ năng này cho các em.

     

     

    Từ khoá:

    Kỹ năng, sinh viên, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên.

     

     

    1. Mở đầu

     

    Giao tiếp là một trong những hoạt động c          ản của con người, có vai trò quan trọng

     

    trong s   phát tri n của mỗi cá nhân. Thông qua giao tiếp, mỗi cá nhân trong xã hội có s          gắn

     

    kết với nhau đồng thời t m lý cá nh n cũng được hình thành và phát tri n.

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c          ản, cần thiết đối với s      phát

     

    tri n tâm lý cá nhân. Với sinh viên SV) sư phạm giao tiếp và kỹ năng giao tiếp càng trở nên cần thiết đ họ c th th c hiện tốt hoạt động ạy học và giáo ục học sinh trong quá tr nh hoạt động nghề nghiệp của ản th n. Trong th c tiễn nghiên cứu có rất nhiều tác giả đ t m

     

    hi u về vấn đề này, có những th c nghiệm mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nước đề cập đến những vấn đề về kỹ năng giao tiếp của SV người dân tộc vẫn còn hạn chế.

     

    Trên th  c tế học sinh  SV người dân tộc gặp rất nhiều kh    khăn trong giao tiếp và hình

     

    thành kỹ năng giao tiếp cho m nh. Điều này ảnh hưởng không  t đến kết quả học tập và phát

     

    tri n các kỹ năng x     hội của họ.

     

    Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập đến một số       iện pháp sư phạm n ng cao

     

    kỹ năng giao tiếp – với tư cách là một trong số những kỹ năng sống c               ản – của sinh viên

     

    người dân tộc Trường   ao đ ng Sư phạm        ĐSP) Điện    iên.

     

    2. Nội dung

     

    2.1. Một số khái niệm cơ bản

     

    – Giao tiếp

     

     

    Có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp

     

    ưới g c độ t m l

     

    giao tiếp được nh n

     

    nhận như sau:

     

    Ngày nhận bài: 14/02/2017. Ngày nhận đăng: 15/6/2017

    Liên lạc:   ò Vũ Điệp, e-mail: [email protected]

    8

     

    Giao tiếp là quá tr nh tác động qua lại giữa con người với con người, th hiện s tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đ con người trao đổi thông tin trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau [4].

     

    • Kỹ n ng giao tiếp

    Theo tác giả Nguyễn Thanh nh kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những bi u hiện bên ngoài và những bi u hiện tâm lý bên trong của đối tượng và bản thân chủ th giao tiếp; là khả năng sử dụng hợp lý các phư ng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều ch nh điều khi n quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đ ch giao tiếp [1].

     

    2.2.    ự cần thiết phải hình thành kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên

     

    Giao tiếp được coi như là một công cụ lao động đặc trưng của người giáo viên. Đối tượng lao động của giáo viên là con người – những nh n cách đang được hình thành và phát tri n mạnh mẽ. Mặt khác, trong quá trình tổ chức các hoạt động người giáo viên phải sử dụng kỹ năng giao tiếp một cách linh hoạt đ đạt hiệu quả cao nhất trong dạy học cũng như giáo

     

    dục học sinh.

                             
       

    Trong công tác

    ạy học và giáo

    ục học sinh  người giáo viên tất yếu phải giao tiếp

    với học sinh và với cả những đối tượng giao tiếp khác nữa. Đ

    là s

    tiếp xúc

    ày tỏ

    trao đổi

    truyền đạt  t m hi u

    cảm thông giữa các chủ th

    của quá tr nh giao tiếp

    iễn ra trong môi

    trường sư phạm.

                             
       

    ùng với việc r n luyện các phư

    ng pháp

    ạy học

    kỹ năng giao tiếp là một trong

    những thành phần c

    ản tạo nên chất lượng và hiệu quả của các phư  ng pháp

    ạy học.

    mỗi phư  ng pháp

    ạy học, việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp ở các mức độ khác nhau như:

    phư

    ng pháp thuyết tr nh t ch c  c

    phư

    ng pháp đàm thoại

    phư  ng pháp thảo luận nh m

    phư

    ng pháp quan sát… Việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp như thế nào trong mỗi phư

    ng pháp

     

    ạy học sẽ g p phần làm tăng khả năng nhận thức  phát huy t nh t

    giác  chủ động của học

    sinh trong quá tr nh chiếm lĩnh tri thức.

                     
       

    Trong quá tr nh giáo  ục học sinh

    người giáo viên c

    kỹ năng giao tiếp tốt

    khéo léo

    trong ứng xử cũng th

    hiện thái độ tôn trọng nh n cách học sinh  tiếp thu tốt tri thức và h nh

    thành được các kỹ năng

    kĩ xảo thuận lợi h  n. Trong cách giao tiếp và ứng xử  mỗi giáo viên

    là một tấm gư  ng đ

     

    học sinh noi theo

    làm theo.

    h nh v  vậy  người giáo viên phải th

    hiện

    s

    chuẩn m  c của m nh trong giao tiếp

    đặc  iệt là giao tiếp với đối tượng là học sinh.

     
       

    Đối với mỗi sinh viên trong quá tr nh r n luyện ở nhà trường sư phạm cần ý thức được

    s

    cần thiết phải h nh thành và r n luyện cho m nh kỹ năng giao tiếp hiệu quả đ

    c

    th  t

    tin

    trong giao tiếp  th

    c hiện tốt vai trò

    nhiệm vụ của người giáo viên trong th

    c tiễn nghề

    nghiệp sau này.

                             
                                   

    2.3. Thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc

     

    2.3.1. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát

     

    • Phương pháp nghiên cứu
    • tìm hi u th c trạng, tác giả sử dụng một số phư ng pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phư ng pháp quan sát phư ng pháp phỏng vấn phư ng pháp điều tra bằng phiếu hỏi. Các

    9

     

    phư ng pháp c tác ụng hỗ trợ lẫn nhau nhằm làm rõ h n những nội dung mà tác giả tìm hi u và nghiên cứu.

     

    – Đối tượng khảo sát

     

    150 sinh viên của 3 khoa: Khoa Ti u học – Mầm non, Khoa T nhiên và Khoa Xã hội. Nội dung khảo sát là th c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên (ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, những kh khăn trong giao tiếp, nguyên nhân).

     

    2.3.2. Kết quả đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Trường ĐSP Điện iên SV người n tộc chiếm đa số đến từ các huyện x thuộc vùng s u vùng xa vùng gặp nhiều kh khăn trong t nh. Tổng số SV của hà trường hiện nay là 732 trong đ SV n tộc Thái chiếm đa số (58.8%), xếp thứ hai là SV dân tộc Mông (18.7%), dân tộc Kinh xếp thứ ba (11.2%), còn lại 11.3 % là sinh viên các dân tộc khác như:

     

    Kh    Mú, Hà Nhì, Lào, Kháng, Thổ, Si La, Dao, Tày, Máng, Xinh Mun, Nhắng.

     

    Với những đặc đi m như vậy, nên các em còn gặp nhiều kh khăn trong việc hình thành và phát tri n các kỹ năng sống đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Thông qua tiếp xúc, trò

     

    chuyện và đặc biệt là trong quá tr nh giảng

    ạy  tác giả nhận thấy số SV còn phát

    m chưa

    chuẩn trong giao tiếp  khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế  c  những SV còn rụt r

    ngại tiếp

    xúc ngại phát  i u ý kiến và khả năng thuyết tr nh trên lớp chưa được tốt.

       

    Tác giả cũng t m hi u rõ h  n về th  c trạng trên  kết quả khảo sát cho thấy: về phát  m

    và sử  ụng ngôn ngữ gặp kh  khăn nhiều nhất đối với SV

    n tộc Mông và

    n tộc Thái. Tác

    giả khảo sát trên 150 SV của 3 khoa: Khoa T

    nhiên, Khoa Xã hội và Khoa Ti u học – Mầm

    non thì thấy tỷ lệ nói ngọng của SV cũng c

    s  khác nhau. Cụ th

    c  86/150 SV được khảo

    sát bị nói ngọng, chiếm 57.3%. Kết quả khảo sát được th

    hiện rõ h

    n trong

    i u đồ

    ưới đ y:

               

    50%

     

    45%

     

    40%

     

    35%

     

    30%

     

    Tỉ lệ 25%

     

    20%

     

    15%

     

    10%

     

    5%

     

    0%

    THMN                           Tự nhiên                           Xã hội

     

    Khoa

     

    hư vậy, xét theo khoa, Khoa Ti u học – Mầm non có tỷ lệ SV nói ngọng nhiều nhất (43/86, chiếm 50%), tiếp theo là Khoa Xã hội (27/86, chiếm 31.4%), Khoa T nhiên có tỷ lệ thấp h n 16/86 chiếm 18.6%).

     

    10

     

    Tác giả tìm hi u cụ th  h  n về cách phát âm thì nhận thấy đa số các em thường kh

    ph n

    iệt

    chữ “l” và “ đ”  hoặc đọc từ ngắn

    m   m cụt không rõ tiếng; một số sinh viên dân tộc Thái

    đọc sai dấu ngã thành dấu sắc.   ên cạnh đ  , về phần sử

    ụng từ ngữ như cách

    iễn đạt

    ùng

    từ… cũng gặp rất nhiều kh  khăn:

    iễn đạt ý không rõ

    không  iết cách t m từ phù hợp hoặc

    vốn từ đ  n điệu.

             

    Tác giả cũng t m hi u ở một số tiết tập giảng tiết th  c hành phư  ng pháp

    ạy học

    SV

    còn hạn chế trong tư thế  tác phong  chưa  iết kết hợp ngôn ngữ n i  ngôn ngữ viết với các

    phư  ng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như: cử ch   điệu

    ộ  nét mặt… Do đ

    chất lượng

    ài

    giảng chưa cao chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe khi lên lớp của người giáo viên. Giảng viên Đinh Thanh H. với quá tr nh hướng dẫn SV tập giảng nhiều năm cho iết: “Sinh viên khi đứng trên bục giảng, nhiều em chỉ chú trọng việc học thuộc nội dung câu chữ trong giáo án, chưa biết cách kết hợp ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể nên tiết dạy rất khô cứng,

     

    thiếu sự uyển chuyển, chất lượng bài dạy không cao”.

       

    Bên cạnh đ   trong những tiết th

    c hành, thảo luận, khi yêu cầu SV tr nh  ày trước lớp

    các vấn đề liên quan đến nội dung bài học các em còn th  hiện s

    lúng túng, tác phong trình

    bày còn th

    hiện s  chưa t  tin. Cụ th : có tới 76.6% SV được khảo sát cho biết các em không

    cảm thấy t

    tin khi đứng trước lớp hoặc phải th  c hiện nhiệm vụ học tập như thuyết trình,

    hùng biện… Tác giả cũng t m hi u lý

    o  được biết đa số các em thấy t

    ti vì bị nói ngọng

    (chiếm 54.7%), một số khác cảm thấy thiếu vốn từ (chiếm 25.3%)  cũng c

    một số ít gặp phải

    những trở ngại tâm lý khác (chiếm 20%).

         

    goài ra  SV cũng chưa chủ động trong giao tiếp nên g y ra t m lý ngại giao tiếp

    thiếu t  tin

    không hăng hái trong việc đưa ra ý kiến mà thường r

    i vào thế

    ị động trong giao

             

    tiếp. Điều này sẽ g y cản trở rất lớn cho SV trong quá tr nh tiếp thu và lĩnh hội tri thức kỹ năng nghề nghiệp của người giáo viên.

     

    hư vậy, trong quá trình giao tiếp nói chung, học tập nói riêng, SV người dân tộc Trường ao đ ng Sư phạm Điện Biên còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế về kỹ năng giao

     

     

     

     

     

     

    tiếp đặc biệt là ngôn ngữ nói. Bi u hiện như còn n i ngọng rất nhiều, diễn đạt kh khăn thiếu t tin trong giao tiếp… Do đ cần xác định những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này

     

    của các em đ th c hiện các biện pháp nhằm khắc phục th c trạng trên, nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV.

     

    2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của SV Trường ĐSP Điện Biên, trên c sở khảo sát tìm hi u th c trạng cũng như th c tiễn công tác, giảng dạy tại Trường, tác giả nhận thấy có một số yếu tố như sau:

     

    • Ý thức rèn luyện khả năng giao tiếp nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng của SV còn chưa cao. Một số SV cho rằng, o m nh là người dân tộc thi u số nên chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, khó sửa chữa được nhất là trong ngôn ngữ n i. ũng c sinh viên đ từng học

    11

     

    cách sửa nói ngọng, nói lắp nhưng không kiên tr nên hiệu quả sử dụng ngôn ngữ n i cũng chưa như mong muốn.

     

    • hội được rèn luyện khả năng giao tiếp đối với SV chưa nhiều. Các giờ học trên lớp ch có một số SV nhiệt tình phát bi u ý kiến, số còn lại r i vào trạng thái thụ động ngại bày tỏ ý kiến. Điều này không ch cản trở hiệu quả của tiết học mà còn tạo ra bầu không khí

    không hào hứng, khó kích thích hứng thú của SV. Các giờ tập giảng cũng chưa thật s   thu hút

     

    SV tích c  c tham gia  đ y là c      hội đ    các em rèn cả kỹ năng tr nh     ày   ảng, kỹ năng sử dụng

     

    ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, kỹ năng ứng xử sư phạm…

     

    – Việc tổ chức các hoạt động ngoại kh a còn chưa đa ạng chưa thu hút SV tham gia tích c c. Tâm lý học đ kh ng định: giao tiếp được rèn luyện thông qua quá tr nh con người tham gia các hoạt động. Tuy nhiên, những hoạt động được tổ chức tại trường mới ch thu hút được một bộ phận SV tham gia, chủ yếu tập trung vào các em trong các đội thi đ được l a chọn. Những SV đ rụt rè, nhút nhát lại càng hiếm c c hội tham gia. Chính vì vậy, kỹ năng giao tiếp của các em chưa được rèn luyện nhiều.

     

    – Nội dung giáo dục nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV chưa th c s được quan tâm và chú trọng, các học phần chủ yếu cung cấp cho SV hệ thống các tri thức chuyên môn cần thiết chưa đạt tới các mục tiêu về rèn luyện kỹ năng. ác học phần th c hành cho nội dung này còn rất t như học phần: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, th c hành tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp…

     

    2.5. Một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Đ   c   th   n ng cao kỹ năng giao tiếp cho SV người dân tộc tại các trường cao đ ng sư

     

    phạm n i chung  SV Trường      ĐSP Điện     iên n  i riêng  chúng tôi mạnh     ạn đưa ra một số

     

    iện pháp cụ th   như sau:

     

    Thứ nhất, trong dạy học nói chung, khi th c hiện các phư ng pháp ạy học tích c c, nói riêng cần tăng cường việc rèn luyện ngôn ngữ nói và viết cho SV sư phạm đặc biệt là SV dân tộc Thái và dân tộc Mông ở mọi tình huống, mọi c hội. Cụ th như: phát bi u trước lớp, trao đổi nhóm; viết bảng; báo cáo chuyên đề, thảo luận trong các buổi xê-mi-na; tập giảng; tổ chức các câu lạc bộ và các sinh hoạt khác.

     

    Do đ phư ng ch m r n luyện khả năng ngôn ngữ và giao tiếp cho SV người dân tộc mà mỗi giáo viên cần hướng tới là:

     

    • Gư ng mẫu trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết bài giảng hay giáo trình, khi giảng bài, viết bảng. Điều này cần có ở mọi giáo viên trước khi n i đến việc tổ chức hoạt động, sửa lỗi cho SV.
    • Tăng cường cho SV hoạt động trong lớp, tích c c gọi các em hay mắc lỗi nói ngọng, rụt rè, nhút nhát. Mỗi lần như vậy là dịp uốn nắn lại cách nói, sử dụng từ, cách viết cho SV và

    cần làm thường xuyên, mở rộng tới tất cả SV. Điều này không ch ành cho giáo viên các môn nghiệp vụ sư phạm mà là cho mọi giáo viên khi đứng lớp với SV sư phạm.

     

    12

     

    • Việc sử dụng ngôn ngữ cho SV th hiện rõ ở các giờ tập giảng. SV th hiện ngôn ngữ viết (soạn giáo án, viết bảng), ngôn ngữ nói (khi giảng và bình giảng) còn rất nhiều lỗi. Vì vậy

    giáo viên hướng dẫn tập giảng chịu kh

    đọc giáo án, lắng nghe SV giảng, giảng mẫu trước SV

    thì có th  cải thiện rõ rệt kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp cho các em trước khi đến th

    c tập tại

    các c  sở Giáo dục.

           

    Thứ hai, cần tổ chức nhiều các hoạt động ngoại khóa khác mang tính trải nghiệm bên

    cạnh các cuộc thi hùng biện  hội thi nghiệp vụ sư phạm cho SV đ

    họ c

    th  phát huy được

    khả năng giao tiếp và c  hội giao lưu

    học hỏi lẫn nhau  tăng cường s  t

    tin và hi u

    iết lẫn

    nhau trong giao tiếp.   goài ra  SV còn c  c  hội được lắng nghe  th

    hiện

    ản th n  chủ động

    • n trong quá tr nh giao tiếp. V vậy  l  a chọn các h nh thức tổ chức sinh hoạt ngoại khóa,

    sinh hoạt tập th  đa  ạng  phong phú cho SV nhằm tăng cường khả năng giao tiếp cho họ là

     

    điều rất cần thiết. ác hoạt động ngoại kh a như: Hoạt động thăm quan các công tr nh và i tích lịch sử như ảo tàng Chiến thắng Đồi A1, hầm Đờ-cát đ giao lưu giao tiếp bằng tiếng

     

    Việt và tiếng nước ngoài; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ kỹ năng sống; các hoạt động tình nguyện h …

     

    Thứ ba, tổ chức các chư  ng tr nh lớp học đào tạo kỹ năng sống cho SV  đặc biệt là SV

     

    người dân tộc.   an đầu

    hà trường có th  hợp tác đào tạo với các trung tâm giáo dục có uy

    tín về kỹ năng sống đ

    mở các lớp học ngoài giờ học ch nh kh  a đ

    các em được tiếp cận và

    n ng cao h

    n khả năng giao tiếp của bản thân. Tiếp đ   tổ chức bồi

    ưỡng kiến thức, kỹ năng

    cho một l

    c lượng giáo viên trong Trường đ  họ c  đủ khả năng th

    c hiện rèn luyện kỹ năng

           

    sống nói chung, kỹ năng giao tiếp n i riêng cho SV. Đ y sẽ là l

    c lượng thường xuyên, gắn

    l u  ài đ

    tổ chức các lớp học giáo dục kỹ năng sống một cách liên tục tại   hà trường.

    Thứ tư  x y

    ng các chủ đi m giáo  ục kỹ năng giao tiếp

    ành cho SV người dân tộc;

    thiết kế các

    ài giảng theo chủ đi m với các nội

    ung khác nhau vừa đ  cho SV hi u và nắm

    ắt các kỹ năng cụ th

    của giao tiếp  h nh thành các kỹ năng giao tiếp một cách c  hiệu quả

    như: kỹ năng n i

    kỹ năng viết  kỹ năng lắng nghe  kỹ năng ứng xử sư phạm…

    ên cạnh đ

    các em sẽ được th

    c hành các kỹ năng nêu trên thông qua ch

    i trò ch  i hoặc tr

    c tiếp tham

    gia đ ng vai

    giải quyết các t nh huống giao tiếp

    x y   ng các t nh huống giao tiếp trong môi

    trường sư phạm và

    kiến cách xử lý các t nh huống kh .

         

    3. Kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c

    ản và c  ý nghĩa quan trọng đối

    với mỗi cá nh n

    đặc

    iệt là sinh viên sư phạm. Sinh viên người dân tộc ở Trường

    ĐSP Điện

    Biên còn gặp một số kh

    khăn trong giao tiếp đặc biệt là sinh viên dân tộc Thái và Mông.

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc trong

    nhà trường  trong đ

    tập trung tới các yếu tố như ý thức rèn luyện của các em; nội dung giáo

    dục chưa phong phú; c  hội được rèn luyện kỹ năng giao tiếp chưa nhiều.

     

    Trên c

    sở phát hiện th  c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường

    ĐSP Điện

                       

    Biên, tác giả đề xuất 4 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho các em. Mỗi biện pháp đều có những ưu  nhược đi m của n    o đ  đ  mang lại hiệu quả cao nhất 13

     

    cần phối hợp sử dụng hợp lý các biện pháp nêu trên trong quá trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    [1]          guyễn Thanh     nh  2004)  Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống        x   Đại học Sư phạm.

     

    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Tài liệu đào tạo giáo viên R n luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.

    [3]          hu Văn Đức  2005)  Kỹ năng giao tiếp      x   giáo    ục.

     

    • Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên), (2014), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm.

    IMPROVING COMMUNICATION SKILLS FOR ETHNIC STUDENTS IN DIEN BIEN TEACHER TRAINING COLLEGE

     

    Lo Vu Diep

    Dien Bien Teacher Training college

     

    Abstract: Communication skill is one of the fundamental and important life skills to everyone in general and pedagogical students in particular. Ethnic minority students deal with certain difficulties and limitations in communication skill, which has great influences on the formation of job skills later on. Basing on the investigation into the current state, we propose specific measures to improve communication skill for students at Dien Bien Teacher training college.

     

    Keywords: Skill, student, Dien Bien teacher training college.

     

     

     

     

    14


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-l%C3%A3nh-%C4%91%E1%BA%A1o-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1n-b%E1%BB%99-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ph%E1%BB%95-th%C3%B4ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    Review Article

    The Management and Leadership Skills

    of School Administrators

    Nguyen Phuong Huyen*, Duong Thi Hoang Yen

    VNU University of Education, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    Received 05 December 2018

    Revised 27 December 2018; Accepted 27 December 2018

    Abstract: This article presents a study of management and leadership skills of current education administartors (principals, vice principals) of schools in Vietnam. Based on the insights from the theory on management and leadership skills, the performance of these skills by a group of school principals and vice principals was explored. The research results have effectively contributed to the development of training programs for school administartors to promote the radical and comprehensive renovation of education and training in Vietnam.

    Keywords: Management and leadership skills, education administrators, school principals, vice principals.

    *

    _______

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4198

    19

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ

     

    quản lý trường phổ thông

    Nguyễn Phương Huyền*, Dương Thị Hoàng Yến

    Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    Nhận ngày 05 tháng 12 năm 2018

    Chỉnh sửa ngày 27 tháng 12 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 27 tháng 12 năm 2018

    Tóm tắt: Bài báo giới thiệu một nghiên cứu về các kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) các trường phổ thông tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu đã làm rõ các lý thuyết về kỹ năng, kỹ năng quản lý lãnh đạo đồng thời đánh giá thực trạng mức độ thực hiện các kỹ năng này của hiệu trưởng, hiệu phó các trường phổ thông. Kết quả nghiên cứu đã có những đóng góp cụ thể vào việc xây dựng các chương trình bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhằm góp phần vào thực hiện đổi mới toàn diện căn bản giáo dục, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.

    Từ khóa: Kỹ năng, kỹ năng quản lý lãnh đạo, cán bộ quản lý, hiệu trưởng, hiệu phó nhà trường.

    1.   Nhập đề*

    Xu hướng đào tạo, bồi dưỡng nhà quản lý nói chung, hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường nói riêng theo hướng tiếp cận năng lực, trong đó chú trọng việc phát triển kỹ năng thực hành đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tùy theo quan điểm cũng như bối cảnh riêng tại từng quốc gia, các tác giả đã chỉ ra các kỹ năng lãnh đạo của hiệu trưởng, hiệu phó nhà trường trên cơ sở đó xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cũng như đề xuất các biện pháp hướng vào việc phát triển, nâng cao kỹ năng lãnh đạo cho đội ngũ này.

    _______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4198

    Các nghiên cứu có liên quan, đặc biệt trong thời gian gần đây đã làm rõ sự cần thiết xây dựng những chương trình đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng quản lý, kỹ năng lãnh đạo cho các cán bộ quản lý giáo dục một mặt hướng đến việc hoàn thiện chất lượng đội ngũ mặt khác đáp ứng xu hướng đào tạo mang tính ứng dụng. Để thiết kế được những chương trình như vậy cần phải có những nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý mà cụ thể là hiệu trưởng, hiệu phó các trường phổ thông.

    Nhiệm vụ của nghiên cứu là để đánh giá thực trạng kỹ năng quản lý, lãnh đạo cho hiệu trưởng, hiệu phó các trường phổ thông. Xuất phát từ mục đích nêu trên, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:

    20

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    21

    • Kỹ năng lãnh đạo, quản lý nào cần thiết nhất cho cán bộ quản lý (hiệu trưởng; hiệu phó) trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay?
    • Các kỹ năng lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý (hiệu trưởng; hiệu phó) trường phổ thông đang được thực hiện ở mức độ như

    thế nào?

    Các khái niệm

    • Kỹ năng: Theo một cách phổ biến nhất kỹ năng được hiểu là việc cá nhân thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào

    đó. Tóm lược lại tất cả những quan điểm, chủ yếu tập trung vào các khuynh hướng nổi bật như sau:

    • Khuynh hướng thứ nhất xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác hay kỹ thuật hành động. Các tác giả đi theo xu hướng này coi kỹ năng như sự nắm vững và vận dụng phương thức hành động vào thực tiễn trên cơ sở tri thức và những kỹ năng được hình thành trước đó.
    • Khuynh hướng thứ hai xem xét kỹ năng như một biểu hiện của năng lực cá nhân.

    Khuynh hướng này cũng đồng thời xem xét kỹ năng như là một điều kiện cần thiết để có năng lực trong một lĩnh vực nhất định. Đại diện cho quan điểm này là các tác giả N.D.Levitov; G.G. Golobev; K.K.Platonov…[1].

    • Khuynh hướng phân chia kỹ năng làm hai loại kỹ năng nhận thức và kỹ năng phi nhận thức. Nhóm kỹ năng nhận thức liên quan đến các nỗ lực trí tuệ đòi hỏi sự tham gia của ý thức, như suy nghĩ, lý luận hay ghi nhớ. Đánh giá kỹ năng nhận thức gắn với các hoạt động liên quan đến sự tính toán, ghi nhớ… Nhóm kỹ năng phi nhận thức hoặc “kỹ năng mềm” có liên quan đến động cơ, tính toàn vẹn và sự tương tác giữa các cá nhân. Trong các lý thuyết gần đây về quản lý, lãnh đạo tổ chức, các tác giả có xu hướng nhấn mạnh đến vai trò các kỹ năng phi nhận thức trong hiệu quả quản lý và lãnh đạo nhằm hướng tới sự phát triển bền vững cũng như tính nhân văn. Gần gũi với xu hướng này, các khái niệm như lãnh đạo sáng tạo, lãnh đạo cảm xúc (Geher, 2004; Joseph & Newman, 2010; Matthews et al., 2002) ngày càng được nghiên cứu và ứng dụng gắn liền với sự phát triển của lý thuyết lãnh đạo [2, 3].
    • Gần đây khi đề cập đến kỹ năng, nhiều tác giả có xu hướng mở rộng hơn khi xem xét cả các yếu tố như thái độ, động cơ của cá nhân trong việc thực hiện kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghề nghiệp. Cách tiếp cận này đặt kỹ năng trong mối quan hệ với các yếu tố kiến thức, kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) ở mỗi hành vi của một hoạt động nhất định. J.N.Richard (2003) cho rằng mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà con người ta suy nghĩ, kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ Kurt Fischer (Fischer, 1980; Bidell, 1998; Mascolo,

    Fischer & Neimeyer, 1999) đưa ra quan điểm kỹ năng là đại diện sống động cho năng lực, thái độ, cảm xúc của mỗi cá nhân. [1, 4]

    Theo quan niệm của chúng tôi, kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm cùng thái độ của cá nhân một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để

    thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã xác định. * Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản  lý  (hiệu  trưởng,  hiệu  phó)  trường

    phổ thông.

    Cheng và Townsend (2000) cho rằng vai trò của hiệu trưởng thường rất quan trọng đối với thành công của nhà trường. Hiệu trưởng là người khởi xướng để tạo ra văn hóa chất lượng thâm nhập vào các yếu tố, quy trình và các hệ thống của một nhà trường cụ thể. Mỗi hiệu trưởng cần thường xuyên đặt ra câu hỏi cho chính bản thân mình là “Tôi đã tác động đến thành công của nhà trường như thế nào bằng kiến thức, kỹ năng của mình?” [5].

    Lãnh đạo nhà trường thành công không phải là là đạt được một vị trí nào đó trong nhà trường mà hơn thế nữa đó là việc sử dụng những kiến thức và kỹ năng để xây dựng và phá triển một nhà trường thành công, sự thành công của một hiệu trưởng được đo bằng sự thành công của chính nhà trường đó. Do đó, “các hiệu trưởng cần có những kỹ năng lãnh đạo, quản lý để đảm bảo vai trò là người đứng đầu một nhà trường trong một bối cảnh mang tính đa dạng và thay đổi như hiện nay”. Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự liên kết thành công của nhà trường

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

     

    với tính hiệu quả của kỹ năng quản lý, lãnh đạo – Sailesh Sharma (2001) [6, 7].

    Abdikadir Issa Farah (2013) cho rằng Hiệu trưởng một nhà trường giống như quản lý bất kỳ một tổ chức nào, đó đồng thời là nhà chính trị học học, nhà kinh tế, nhà tâm lý học và nhà xã hội học [8]. Mỗi nhà trường cũng đồng thời tồn tại sự đa dạng về văn hóa, giới tính, khả năng người học cũng như sự đa dạng về nhu cầu. Hiệu trưởng trước hết là trụ cột của nhà trường, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các chương trình nhà trường trên cơ sở đánh giá đúng nhu cầu và đặc điểm người học của nhà trường mình, điều đó đòi hỏi hiệu trưởng cần có kỹ năng quản lý, phát triển các chương trình giáo dục. Bên cạnh đó, hiệu trưởng cầu có kỹ năng tương tác giữa các cá nhân để kết nối các thành viên trong nhà trường, phát hiện và tập hợp sức mạnh của họ. Cuối cùng để thích ứng với sự thay đổi của bối cảnh xã hội, người hiệu trưởng nhà trường trong giai đoạn hiện nay không thể thiếu kỹ năng lãnh đạo sáng tạo để chủ động dẫn dắt nhà trường mình bước vào thử thách mới, những thay đổi mới [9].

    NASSP (Hiệp hội quốc gia hiệu trưởng các trường trung học) đã đưa ra mô hình 10 kỹ năng kỹ năng lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường phổ thông trên cơ sở những định nghĩa, mô tả và nghiên cứu thực tế. Trên cơ sở xác định 4 nhiệm vụ cơ bản của hiệu trưởng nhà trường phổ thông bao gồm: (a) lãnh đạo giáo dục; (b) giải quyết vấn đề; (c) giao tiếp; (d) Phát triển chuyên môn cá nhân và đội ngũ giáo viên. Hiệp hội NASSP thống nhất rằng để giải quyết 4 nhóm nhiệm vụ trên đòi hỏi họ (các hiệu trưởng trường phổ thông) cần có 10 kỹ năng lãnh đạo, quản lý như sau: Xây dựng và thiết lập mục tiêu của nhà trường; Làm việc nhóm; kỹ năng nhận thức xã hội; kỹ năng phán đoán; Kỹ năng ra quyết định; kỹ năng hành động độc lập; Kỹ năng tổ chức; Kỹ năng giao tiếp truyền thông; kỹ năng sử dụng văn bản; kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên; kỹ năng Phát triển chuyên môn cá nhân [1, 6].

    Việc xác định các kỹ năng quản lý, lãnh đạo của hiệu trưởng trường phổ thông nói trên có tác dụng phản ánh được bối cảnh chung của xã

    hội đồng thời phản ánh được đặc thù của nhà trường phổ thông. Cách phân loại này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng chuẩn hiệu trưởng các trường phổ thông ở một số quốc gia có sự tương đồng về bối cảnh kinh tế, xã hội cũng như văn hóa.

    Wagner (2013) nhấn mạnh đến các thay đổi về công nghệ thông tin và đổi mới trong nhà trường ở thế kỷ 21 đặt ra những đòi hỏi đối với hiệu trưởng các trường trung học cần có các kỹ năng quản lý, lãnh đạo như sau: Phát huy trí tuệ cảm xúc; Tư duy phê bình và kỹ năng phân tích; Sáng tạo và cải tiến; Kỹ năng giao tiếp và liên cá nhân; Kỹ năng sử dụng công nghệ; Những kỹ năng tổ chức; Kỹ năng quản lý bản thân; Làm việc nhóm và cộng tác; Phát triển quan hệ đối tác; Huy động cộng đồng phát triển nhà trường; Chống phân biệt đối xử trong trường học; Nhận thức và hiểu biết toàn cầu [12].

    Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng làm rõ vai trò lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường theo nhiều cách khác nhau để từ đó đề ra các kỹ năng lãnh đạo, quản lý cần thiết đối với họ. Peretomode (1991) tuyên bố tầm quan trọng của lãnh đạo trong trường học trước hết là để hoàn thành các chương trình, mục tiêu giáo dục

    • Cheng (1994) đề xuất rằng lãnh đạo trong các tổ chức giáo dục gồm năm nhiệm vụ chính, đó là: lãnh đạo cấu trúc, lãnh đạo con người, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo văn hóa và lãnh đạo giáo dục. Từ các nhóm chức năng này, các tác giả đã đưa ra nhóm kỹ năng cụ thể như sau: Kỹ năng xây dựng tầm nhìn của nhà trường; Kỹ năng lãnh đạo giảng dạy; Kỹ năng lãnh đạo tổ chức; Kỹ năng huy động cộng đồng; Kỹ năng quản lý hình ảnh; Kỹ năng phân tích bối cảnh; Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng thấu cảm; Kỹ năng ra quyết định; Kỹ năng gây ảnh hưởng; Kỹ

    năng quản lý thời gian [5].

    Khái quát lại các lý thuyết trên đây, chúng tôi đưa ra khái niệm như sau: Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ của người cán bộ quản lý một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    23

    hiện vai trò quản lý, điều hành nhà trường phổ thông có hiệu quả.

    Sau khi nghiên cứu những quan điểm nêu trên về kỹ năng lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông cùng với việc phân tích những đặc trưng bối cảnh của nhà trường phổ thông tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi đưa ra các kỹ năng lãnh đạo, quản lý cơ bản của hiệu trưởng trường phổ thông như sau:

    • Kỹ năng quản lý sự thay đổi
    • Kỹ năng phát triển chuyên môn cá nhân và cán bộ giáo viên
    • Kỹ năng quản lý stress
    • Kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường
    • Kỹ năng tạo động lực
    • Kỹ năng giao tiếp và truyền thông
    • Kỹ năng huy động cộng đồng phát triển nhà trường
    • Kỹ năng quản lý hoạt động dạy học
    • Kỹ năng phát triển và quản lý chương trình nhà trường
    • Kỹ năng quản lý chất lượng trong nhà trường.

    Kết quả nghiên cứu:

    Nghiên cứu này thực hiện trên 240 hiệu trưởng, hiệu phó các trường trung học tại bốn tỉnh thành là Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Bảng câu hỏi được thiết kế trên cơ sở mô hình lý thuyết đã xây dựng cùng với tham khảo ý kiến các chuyên gia là giảng viên, nhà nghiên cứu và các hiệu trưởng, hiệu phó trường phổ thông. Các yếu tố thuộc về đặc thù

    bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay cũng được tính đến và đưa vào nghiên cứu. Các kỹ năng thành phần được thiết kế thành các items cụ thể trong thiết kế bảng hỏi. Mỗi items được phát triển với 5 mức độ tương ứng 5 thang điểm. Những người tham gia được yêu cầu đánh dấu “V” vào các items phản ánh các quan điểm và các kinh nghiệm mà họ đã trải qua các liên quan đến các kỹ năng quản lý, lãnh đạo.

    Tính điểm trung bình của các bảng theo công thức:

    k

    k

    =

    åXi K i

    =

    åXi K i

    X

    i=1

    i=1

    k

    n

    åK i

    i=1

    Trong đó: Điểm trung bình; Xi: Điểm ở mức độ i; Ki: Số người cho điểm ở mức độ i; n: Số người tham gia đánh giá.

    Các mức ý nghĩa được phân loại như sau:

    1.00 – 1.80: Rất yếu kém/ hoàn toàn không thực hiện/ hoàn toàn không cần thiết…;

    1,81 – 2,60: Yếu/kém/không thực hiện/không cần thiết …;

    2,61 – 3,40: Trung bình/ít khi/Ít cần thiết/phân vân…;

    3,41 – 4,20: Khá/Khá thường xuyên/Khá cần thiết…;

    4,21 – 5,00: Rất tốt/rất thường xuyên …

    (Như vậy điểm trung bình sẽ ở trong khoảng từ 1-5)

    * Một số thông tin về khách thể điều tra:

    Bảng 1. Một số thông tin của người tham gia khảo sát

    Giới tính

    Độ tuổi

    Kinh nghiệm quản lý

    Số năm công tác

    M

    F

    35<

    35‐45

    > 45

    <5

    5‐10

    >10

    <5

    5‐10

    >10

    153(63.75)

    87(36.25)

    9.5

    58.5

    32.0

    11,5

    52.0

    36.5

    2%

    24%

    74%

    i

    Nội dung bảng 1 cho thấy trong tổng số 240

    63,75% trong nhóm nghiên cứu này nếu so với

    cán bộ quản lý có 87 người (36.25%) là nữ giới

    tỉ lệ giáo viên nam chiếm 20,46%. Đây cũng là

    và 153 (63.75%) là nam giới. 58.5% cán bộ

    một thực tế đặt ra đối với công tác bồi dưỡng và

    quản lý ở độ tuổi 35-45, tiếp sau đó là 9.5%

    phát triển cán bộ nữ. Bảng 1 cũng cho thấy

    thuộc độ tuổi dưới 35 tuổi và 32% ở độ tuổi

    phần lớn cán bộ quản lý có kinh nghiệm quản lý

    trên 45. Số liệu này cũng phản ánh xu hướng trẻ

    từ 5- 10 năm (52,0%), 36,5% cán bộ quản lý

    hóa trong đội ngũ cán bộ quản lý các trường

    được  khảo sát  có kinh nghiệm hơn 10 năm,

    phổ thông hiện nay, bên cạnh đó cũng có thể

    trong khi chỉ có 11,5% cán bộ quản lý có kinh

    nhận thấy tỉ lệ cán bộ quản lý là nam giới chiếm

    nghiệm dưới 5 năm.

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

     

    Về thâm niên công tác trong lĩnh vực giáo dục: 74% cán bộ quản lý có thâm niên công tác trên 10 năm (phổ biến ở mức trên 15 năm); 24% có thâm niên công tác từ 5- 10 năm; chỉ có 2% số cán bộ quản lý có thâm niên công tác dưới 5 năm. 100% cán bộ quản lý tại các trường phổ thông đều được trưởng thành và phát triển từ vị trí giáo viên.

    Trong giới hạn của bài báo này, chúng tôi xin được trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu

    thực trạng 4 kỹ năng thành phần là: kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường; kỹ năng phát triển chuyên môn; kỹ năng quản lý stress. Kết quả cụ thể như sau:

    (i) Kỹ năng quản lý sự thay đổi

    Chúng tôi thiết kế bảng hỏi với 9 items có nội dung như sau:

    Bảng 2. Thực trạng kỹ năng quản lý sự thay đổi của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    CM1

    Phân tích bối cảnh bên trong và bên ngoài nhà trường

    3,44

    0.776

    CM2

    Phát triển nhóm, tổ/đội chức năng với sức mạnh để dẫn dắt sự thay đổi

    2,07

    0.826

    trong nhà trường

    CM3

    Xác định tầm nhìn và kế hoạch chiến lược để giúp tạo ra những nỗ lực

    3,37

    0.718

    cho sự thay đổi

    CM4

    Tổ chức các hoạt động truyền thông trong nhà trường để thay đổi tầm

    3,66

    0.823

    nhìn và triển khai kế hoạch chiến lược

    CM5

    Loại bỏ các rào cản để thay đổi

    3,22

    0,775

    CM6

    Khuyến khích việc chấp nhận rủi ro

    3,17

    0.814

    CM7

    Giải quyết vấn đề sáng tạo

    3,03

    0.867

    CM8

    Hợp nhất hệ thống và tạo ra nhiều thay đổi hơn

    2,87

    0.720

    CM9

    Củng cố các cách tiếp cận mới trong văn hóa nhà trường nhằm thích

    2,76

    0.831

    ứng sự thay đổi.

    Điểm trung bình

    3,06

    h

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 2 cho thấy 2/9 kỹ năng thành phần đạt mức khá (CM1, CM4); 6/9 kỹ năng đạt mức trung bình và 1/9 kỹ năng (Kỹ năng phát triển nhóm, tổ/đội chức năng với sức mạnh để dẫn dắt sự thay đổi trong nhà trường – CM2) đạt mức dưới trung bình.

    Qua trao đổi, các cán bộ quản lý cho biết chưa khi nào nhà trường phổ thông tại Việt Nam lại đứng trước nhiều thay đổi như giai đoạn hiện nay. Những thay đổi đến từ bên trong và bên ngoài nhà trường khiến cho chính họ – những người lãnh đạo mỗi nhà trường cũng gặp phải nhiều lúng túng. Bên cạnh đó, sự thay đổi dường như lại mâu thuẫn với những đặc trưng về tính ổn đinh, có phần bảo thủ của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường.

    Thầy N.M.Ph – một Hiệu trưởng trường THPT tại Hà Nội – chia sẻ quan điểm: Bản thân thầy vốn là hiệu phó ở một trường THPT có

    tiếng khu vực nội thành, nay mới được giao nhiệm vụ hiệu trưởng một trường mới thành lập

    • vùng ven đô. Trở ngại đối với sự thay đổi đến từ chính bên trong mỗi cán bộ quản lý mà vượt qua được nó mới có thể dẫn dắt tập thể nhà trường quản lý được sự thay đổi. Một trở ngại nữa là việc tập hợp, phát triển được một nhóm tiên phong cho đổi mới trong nhà trường, huy động được sức mạnh của từng cá nhân trong nhà trường đã khó mà gắn kết được các cá nhân

    này càng khó hơn.

    Thầy N.V.T – hiệu trưởng một trường phổ thông tại Phú Thọ – nêu quan điểm: “Có dịp được tham quan, học tập một số trường bạn, tôi thường cảm thấy rất hăm hở áp dụng và triển khai những cách làm hay có thể học tập nhưng cái khó là chưa biết bắt đầu từ đâu. Tôi cũng nỗ lực trong việc xây dựng một văn hóa nhà trường sẵn sàng cho sự thay đổi nhưng gặp khó

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    25

    khăn giữa cái mong muốn và cái có thể thực hiện. Nhìn chung rào cản còn nhiều quá!”.

    Cô T.T.H.Y. – Hiệu trưởng một trường THPT ở Hà Nội cho biết: “Chưa bao giờ nhà trường phổ thông tại Việt Nam đứng trước nhiều thay đổi như giai đoạn hiện nay. Sự thay đổi từ chính nội tại nhà trường và những đòi hỏi từ bên ngoài nhà trường như sự thay đổi về chính sách, chương trình cũng như xu hướng về hợp tác, hội nhập quốc tế. Quản lý sự thay đổi trong nhà trường theo quan điểm của tôi đòi hỏi sự sáng tạo từ Ban giám hiệu nhà trường, sự chấp nhận rủi ro, tuy nhiên điều quan trọng hơn theo kinh nghiệm cá nhân tôi là xây dựng được văn hóa của tập thể nhà trường để thích ứng với sự thay đổi, phải có sự đồng hành của tập thể”.

    (ii) Kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường

    Bảng hỏi cho kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường thiết kế với 8 items có nội dung như sau (Bảng 3):

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 3 cho thấy 3/8 kỹ năng thành phần của cán bộ quản lý được thực hiện ở mức độ khá (trong đó cao nhất là Kỹ năng chia sẻ tầm nhìn, giá trị và mục tiêu của nhà trường với cộng đồng và xã hội – Mean: 3.72); 5/8 kỹ năng

    còn lại đạt mức độ trung bình trong đó Kỹ năng xây dựng kế hoạch hành động (Mean: 3.11) là ở mức thấp nhất. Như vậy có thể thấy vai trò lãnh đạo của hiệu trưởng các trường phổ thông đã ngày càng được quan tâm và hoàn thiện mặc dù không phải không còn những khó khăn, hạn chế. Qua trao đổi, nhiều cán bộ quản lý cho biết bản thân họ vốn trưởng thành từ giáo viên. Họ có thể là những giáo viên dạy giỏi, chuyên môn vững nhưng khi trở thành nhà quản lý đa số họ lại chưa được chuẩn bị về kiến thức và đặc biệt là kỹ năng quản lý dẫn đến tình trạng vừa làm vừa học hỏi. Việc thu thập thông tin và có những dự báo để xâ dựng kế hoạch đòi hỏi cái nhìn chiến lược của hiệu trưởng nhà trường phải mở rộng từ phạm vi của một đơn vị nhỏ (chẳng hạn như tổ bộ môn) sang phạm vi một nhà trường gắn với sứ mệnh nhà trường đó. Bà T.T.H.Y – Hiệu trưởng một trường THPT ở Hà Nội – cho biết những kế hoạch mang tính ngắn hạn và trung hạn bản thân bà cũng như nhiều hiệu trưởng khác có thể khá thành thạo, nhưng với những kế hoạch dài hạn mang tính chiến lược lại gặp khó khăn trong việc dự báo được bối cảnh xã hội, những tác động đến nhà trường.

    Bảng 3. Thực trạng kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    SD1

    Thu thập thông tin và dự báo nhằm phân tích, đánh giá những

    3,57

    0.784

    thông tin đã xác định

    SD2

    Chia sẻ tầm nhìn, giá trị và mục tiêu của nhà trường với cộng

    3,72

    0.726

    đồng và xã hội

    SD3

    Xác định vấn đề cần ưu tiên giải quyết trong những giai đoạn

    3,69

    0.725

    SD4

    Xây dựng kế hoạch hành động

    3,11

    0.813

    SD5

    Chia sẻ, thu hút và quản lý các nguồn nhân lực để thực hiện mục

    3,37

    0,755

    tiêu, sứ mệnh

    SD6

    Thúc đẩy sự cam kết của các lực lượng bên trong và bên ngoài

    3,21

    0.810

    nhà trường để thực hiện mục tiêu

    SD7

    Xây dựng các chính sách trong nội bộ Nhà trường nhằm tối đa

    3,42

    0.877

    hóa khả năng thực hiện các mục tiêu của Nhà trường

    SD8

    Đánh giá, phản hồi để theo dõi sự tiến bộ ở các mặt trong hoạt

    3,18

    0.721

    động của nhà trường hướng vào các mục tiêu chung

    Điểm trung bình

    3,40

    l

     

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

     

    Đồng tình với quan điểm này, một số hiệu trưởng còn chia sẻ quan điểm, có địa phương thực hiện luân chuyển cán bộ. Có khi qua một nhiệm kỳ, ở một trường đã dần hiểu và xây dựng văn hóa dần đi vào ổn định thì được phân công sang trường khác. Văn hóa nhiệm kỳ cùng những điểm chưa hợp lý trong chính sách nói chung cũng khiến cho việc xây dựng các mục tiêu có tính chiến lược trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, mức độ chia sẻ mục tiêu, sứ mệnh ngay chính trong tập thể nhà trường và các lực

    lượng bên ngoài nhà trường cũng chưa thực sự tốt dẫn đến những cản trợ cho xây dựng và thực hiện các mục tiêu mang tính chiến lược. Những khó khăn nêu trên là lí do để kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường của hiệu trưởng các trường phổ thông hiện nay còn có những hạn chế.

    (iii) Kỹ năng phát triển chuyên môn

    Bảng hỏi cho kỹ năng phát triển chuyên môn được thiết kế với 9 items có nội dung như sau:

    Bảng 4. Thực trạng kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    PD1

    Chia sẻ, tạo sự đồng thuận trong tập thể cán bộ giáo viên về

    3,87

    0.874

    những sứ mệnh, giá trị và mục tiêu chất lượng của nhà trường

    PD2

    Theo dõi thường xuyên các yếu tố quan trọng của nỗ lực cải

    3,41

    0.715

    thiện chất lượng nhà trường.

    PD3

    Xây dựng văn hóa học hỏi, hợp tác trong nhà trường

    3,27

    0.726

    PD4

    Khuyến khích, ủng hộ thử nghiệm và các ý tưởng, sáng kiến

    3,12

    0.814

    chuyên môn của giáo viên.

    PD5

    Duy trì và phát triển các cam kết về phát triển chuyên môn

    3,45

    0,776

    giáo viên

    PD6

    Cung cấp các điều kiện thuận lợi để hỗ trợ bồi dưỡng, phát triển

    3,21

    0.811

    chuyên môn giáo viên

    PD7

    Cung cấp các chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn

    2,77

    0.897

    giáo viên có mục tiêu và nội dung được xây dựng dựa trên các

    dữ liệu nghiên cứu thực tế.

    PD8

    Khuyến khích, đề cao các cá nhân giáo viên và tổ chuyên môn

    3,88

    0.701

    tự hiệu quả

    PD9

    Duy trì cam kết cải thiện liên tục chất lượng chuyên môn của

    3,29

    0.861

    nhà trường.

    Điểm trung bình

    3,36

    S

     

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 4 cho thấy kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên của cán bộ quản lý ở mức độ trung bình với Mean là 3,36. Có 4/9 kỹ năng thành phần của các cán bộ quản lý trường THPT thực hiện đạt kết quả khá, còn lại 5/9 đạt kết quả trung bình. Kỹ năng khuyến khích, đề cao các cá nhân giáo viên và tổ chuyên môn tự hiệu quả có mean cao nhất (3.88) và Kỹ năng cung cấp các chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn giáo viên có mục tiêu và nội dung được xây dựng dựa trên các dữ liệu nghiên cứu thực tế có mean thấp nhất (2.77).

    Qua phỏng vấn hiệu trưởng các trường THPT cũng cho kết quả tương tự. Bà V.T.Th – hiệu trưởng một trường THPT tại Vĩnh Phúc – cho biết bản thân bà cũng như các hiệu trưởng khác đánh giá cao hoạt động phát triển chuyên môn giáo viên, những kỹ năng như khuyến khích các cá nhân, tập thể điển hình có thành tích chuyên môn hay chia sẻ sứ mệnh, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường được vận dụng thường xuyên. Bên cạnh đó, cũng phải thừa nhận có những kỹ năng khó thực hiện, ví dụ như làm sao để xây dựng văn hóa học hỏi trong một tập thể cán bộ giáo viên, bằng cách nào để có đủ

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    27

    điều kiện duy trì thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong nhà trường khi mà còn có quá nhiều khó khăn mặc dù chúng tôi biết những chương trình như thế là cần thiết và đáp ứng đúng, sát với nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên. Bà T.T.H.Y. – Hiệu trưởng một trường THPT ở Hà Nội – nêu quan điểm: Bằng kinh nghiệm của mình tôi coi trọng kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên bởi đó là chìa khóa chất lượng, là lợi thế cạnh tranh của chúng tôi nhưng việc làm như thế nào trong điều kiện hiện có là một vấn đề khác. Tôi phải thừa nhận sự khó khăn trong xây dựng một văn hóa biết học hỏi của nhà trường nói chung. Thầy cô có kinh nghiệm ngại chia sẻ chuyên môn, thầy cô giáo trẻ thì cũng không sẵn lòng để học hỏi. Sự thừa nhận rằng tôi cần phải học hỏi từ người khác là điều mọi người e ngại như thể đó là sự công nhận hạn chế của mình.

    (iv) Kỹ năng quản lý Stress

    Bảng hỏi cho kỹ năng quản lý stress được thiết kế với 9 items có nội dung như sau (Bảng 3.5):

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 5 cho thấy 2/5 kỹ năng thành phần được các cán bộ quản lý thực hiện ở mức độ khá, 3/5 kỹ năng còn lại ở mức trung bình và không có kỹ năng nào ở mức dưới trung bình. Các cán bộ quản lý khi thảo luận đều có đánh giá chung rằng tình trạng stress ngày càng gia tăng tỉ lệ thuận với những áp lực đang đặt lên các cán bộ giáo viên với bất kỳ vai trò nào của họ trong xã hội đặc biệt là những thay đổi diễn ra bên trong và bên ngoài nhà trường, những vai trò, sứ mệnh mà xã hội kỳ vọng ở thầy cô. Tuy thực tế là vậy, xong đa số stress của cán bộ giáo viên và của chính cán bộ quản lý lại không được quan tâm đúng mức và bị dấu đi. Thầy hiệu trưởng P.H.H cho biết: “Bản thân chúng tôi cũng là những cũng đang phải chịu đựng stress, áp lực về trách nhiệm giải trình chất lượng với cơ quan quản lý, với địa phương. Cùng với đó là những xung đột trong tập tập thể về sự cân đối các nguồn lực được phép huy động và nhu cầu để phát triển nhà trường…”.

    Bảng 3.5. Thực trạng kỹ năng quản lý stress của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    SM1

    Loại bỏ, hạn chế yếu tố gây stress

    3,26

    0.821

    SM2

    Giảm thiểu các tác động tiêu cực từ stress

    3,31

    0.762

    SM3

    Thay đổi nhận thức về stress

    3,44

    0.812

    SM4

    Kiểm soát các tác động của stress

    3,41

    0.818

    SM5

    Cung cấp các hỗ trợ can thiệp cho tình trạng stress

    3,20

    0.834

    Điểm trung bình

    3,32

    I

     

    Thực tế về những hành vi bột phát, nằm ngoài phạm vi quyền hạn của cán bộ giáo viên

    • nhiều địa phương như đã diễn ra có thể nhận thấy một phần nguyên nhân từ tình trạng stress
    • trong đó. Nhiều cán bộ quản lý cũng đồng tình quan điểm hạn chế trong kỹ năng quản lý stress có phần từ khách quan nhưng trong đó có cả lí do chủ quan là bản thân cán bộ quản lý cũng chưa thành thạo các kỹ năng này thậm chí ngay trong quản lý stress cho chính họ. Các cán bộ quản lý đánh giá kỹ năng khó nhất là cung cấp các hỗ trợ can thiệp cho stress trong nhà trường, băn khoăn nói chung là các hỗ trợ can

    thiệp này có thể là gì và bằng cách nào huy động được.

    (v) Đánh giá chung

    Kết quả khảo sát cho thấy 4 kỹ năng nêu trên của các cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) các trường phổ thông hiện nay đều ở mức độ trung bình. Trong 4 kỹ năng thành phần thuộc nhóm kỹ năng này có Kỹ năng xây dựng chiến lược nhà trường ở mức độ cao nhất với (Mean: 3,40) sau đó là Kỹ năng phát triển chuyên môn (3,36); Kỹ năng quản lý stress (3,32), và Kỹ năng quản lý sự thay đổi thực hiện ở mức độ thấp nhất (3,06).

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    Hình 2. Mô hình đánh giá thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý.

    5.           Kết luận

     

    • Về vấn đề kỹ năng, chúng tôi khái quát lại hai hướng nghiên cứu chủ yếu: Coi kỹ năng là biểu hiện của năng lực – khả năng thực hiện hành động và xu hướng coi kỹ năng là mặt kỹ thuật – trình độ của hành động, hoạt động. Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thống nhất đưa ra quan niệm: Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ của cá nhân một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động đó có kết quả. Kỹ năng không phải là bẩm sinh của mỗi cá nhân mà là sản phẩm của hoạt động thực tiễn. Kết quả thực hiện kỹ năng là sự tổng hòa của kiến thức, thái độ… của cá nhân với mỗi tình huống cụ thể trong khách quan.
    • Kỹ năng quản lý, lãnh đạo là sự vận dụng có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết của nhà quản lý vào trong hoạt động quản lý của mình ở những tổ chức cụ thể để thực hiện mục tiêu đã đề ra. Trên cơ sở định nghĩa này mà chúng tôi đưa ra quan niệm: Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực hiện vai trò quản lý, điều hành nhà trường phổ thông có hiệu quả.
    • Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng; hiệu phó) các trường phổ thông bao gồm: Kỹ năng quản lý sự thay đổi; Kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường; Kỹ năng phát triển chuyên môn; Kỹ năng quản lý stress; Kỹ năng tạo động lực; Kỹ năng giao tiếp truyền thông; Kỹ năng huy động cộng đồng phát triển nhà trường; Kỹ năng quản

    lý hoạt động dạy học; Kỹ năng quản lý, phát triển chương trình; Kỹ năng quản lý chất lượng nhà trường.

    • Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng quản lý, lãnh đạo của các cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông đạt mức độ trung bình. Thực tế này đặt ra một yêu cầu trong thiết kế nội dung, tổ chức thực hiện các chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn quản lý cho các cán bộ quản lý đặc biệt trong bối cảnh các nhà trường phổ thông đang đứng trước áp lực ngày một gia tăng về đổi mới căn bản trong giáo dục đào tạo.

    Lời cảm ơn

    Nghiên cứu trên đây (mã số QG.16.62) do nhóm các tác giả thuộc Trường Đại học Giáo, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện, được tài

    trợ bởi Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU).

    Tài liệu tham khảo

    • Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên), Dương Thị Hoàng Yến, Nguyễn Phương Huyền, Ứng dụng Tâm lý học trong quản lý giáo dục, NXB Đại học Quốc Gia, 2018.
    • C. Cranston, School based management, Leaders and leadership: change and challenges for principals, International Studies in Educational Administration. 30(1) (2002) 2-12.
    • Halimah M. Yusof , Hamdan A. Kadir, Mastura Mahfar, The Role of Emotions in Leadership Faculty of Management, Universiti Teknologi Malaysia, UTM Skudai, Johor, Malaysia.
    • Ira Pant, Bassam Baroudi, Project Management Education: The Human Skills Imperative, School of Natural And Built Environments, University of South Australia (City East), North Terrace, Adelaide, South Australia, Australia, 2007.
    • C. Cheng, School effectiveness and school based management: A mechanism for development, London: Falmer Press, 1996.
    • Andrews, R. Soder, Principal leadership and student achievement. Educational leadership, 44(6), 9-11. L.G. Beck, J. Murphy, Ethics in Educational Leadership Programs. Thousand Oaks: Corwin Press, 1987.
    • Sailesh Sharma, Attributes of school principals-leadership qualities and capacities- Institute of Principalship Studies, University of Malaya, Kuala Lumpur, Malaysia.

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    29

    • Abdikadir Issa Farah, School Management: Characteristics of Effective Principal, 2013.
    • T. Bossert, D.C. Dwyer, B. Rowan, G.V. Lee, The instructional management role of the principal. Educational Administration Quarterly. 18(3) (1982) 34-64.
    • Arikewuyo Olalekan, Teachers Perception of Leadership Capacities of Their Principals, Academic Leadership: The Online Journal, vol. 5, Issue 3. Coleman, Marianne, Glover And Derek

    (2010) Educational Leadership And Management:

    Developing Insights And Skills, Open University Press, 2007.

    • A. Lipham, Leadership and administration, In D. Griffiths (Eds), Behavioral Sciencen and Educational Administration, Chicago: University of Chicago Press, 1964.
    • Anne Touwen, Handbook For Projects: Development Management And Fundraising, Convener Ifuw Special Committee On Project Development, 2001.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-chuy%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%81-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

     

    PGS.TS. Đinh Trọng Hanh*

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán đã được Kiểm toán nhà nước (KTNN) triển khai thực hiện trong nhiều năm, nhiều lĩnh vực và đã mang lại những kết quả nhất định trong việc đánh giá những hoạt động có tính chất chuyên môn, chuyên sâu của các đơn vị được kiểm toán, từ đó, đưa ra các ý kiến tư vấn, kiến nghị quản

    lý có giá trị thực tiễn cho đơn vị. Trong thời gian qua, KTNN đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề, mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng vẫn còn những tồn tại, vướng mắc. Bài viết trình bày khái quát về phương thức kiểm toán chuyên đề và giải pháp phát triển phương thức kiểm toán này.

    Từ khóa: Kiểm toán chuyên đề, Kiểm toán nhà nước

    Solutions to the development of thematic audit methods of SAV

    Thematic auditing is a method of organizing auditing activities that have been implemented by the State Audit of Vietnam (SAV) for many years and in many fields and have yielded certain results in evaluating professional activities of auditees, and therefore, the management consultancy and management proposals are of practical value. Over the past years, SAV carried out many thematic audits, bringing many remarkable results but also the remaining several problems. This article provides an overview of the method of thematic auditing and solutions to develop this audit method.

    Keywords: Thematic audit, SAV

     

    1. Đặt vấn đề

    Kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán đã được Kiểm toán nhà nước (KTNN) triển khai thực hiện trong nhiều năm, nhiều lĩnh vực và đã mang lại những kết quả nhất định trong việc đánh giá những hoạt động có tính chất chuyên môn, chuyên sâu của các đơn vị được kiểm toán, từ đó, đưa ra các ý kiến tư vấn, kiến nghị quản lý có giá trị thực tiễn cho đơn vị.

    Việc tổ chức kiểm toán chuyên đề của KTNN có nhiều ưu điểm: giúp cho KTNN có thể đánh giá theo chiều sâu những vấn đề, hoạt động trọng yếu… của đơn vị được kiểm toán, song, đến nay, do nhiều lý do, hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN còn những hạn chế nhất định, chưa phát

    huy đầy đủ những ưu điểm, thế mạnh của kiểm toán chuyên đề đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán.

    Hoạt động kiểm toán của KTNN, trong đó, chủ yếu là kiểm toán tài chính, trong hơn 20 năm qua đã khá ổn định và phát huy được những tác động tích cực đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm toán, phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, sự tác động của kiểm toán đối với hoạt động quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công thì hoạt động kiểm toán của KTNN cần tiếp tục được phát triển và nâng cao chất lượng kiểm toán mà một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu đó là cần mở rộng, phát triển phương thức tổ chức kiểm toán chuyên đề.

    *Chuyên gia, Nguyên Kiểm toán trưởng KTNN Khu vực X

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  7

    PHAÙT TRIEÅN PHÖÔNG THÖÙC kieåm toaùn chuyeân ñeà cuûa Kieåm toaùn nhaø nöôùc

    2. Khái niệm, đặc điểm và những vấn đề đặt ra trong kiểm toán chuyên đề

    2.1. Khái niệm

    Kiểm toán chuyên đề, trước tiên, thể hiện ở nội dung cuộc kiểm toán: đó là việc thực hiện kiểm toán được giới hạn ở một hoặc một nhóm hoạt động trong quản lý tài chính công, tài sản công (một chủ đề hay một vấn đề kiểm toán) của đơn vị được kiểm toán. Như vậy, kiểm toán chuyên đề hướng đến một phạm vi hoạt động được kiểm toán hẹp và theo chiều sâu của nội dung kiểm toán.

    Về hình thức tổ chức, kiểm toán chuyên đề: dù được tổ chức thành cuộc kiểm toán độc lập hoặc là một nội dung trong cuộc kiểm toán toàn diện tại đơn vị thì vẫn phải được tổ chức thành các nhóm, tổ Kiểm toán viên (KTV) có chuyên môn chuyên sâu về hoạt động kiểm toán và giữa các KTV có mối quan hệ chặt chẽ trong phối hợp thực hiện các nội dung nghiệp vụ kiểm toán (khác với cuộc kiểm toán tài chính, các KTV được giao các nhiệm vụ, nội dung kiểm toán độc lập).

    Như vậy, từ những đặc thù về nội dung và hình thức tổ chức của cuộc kiểm toán chuyên đề như trên có thể hiểu: kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán hướng đến một hoặc một nhóm hoạt động quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công tại đơn vị được kiểm toán nhằm đánh giá và đưa ra ý kiến tư vấn, kiến nghị chuyên sâu đối với đơn vị.

    2.2. Đặc điểm của kiểm toán chuyên đề

    Hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN có những đặc điểm chủ yếu sau:

    • Mục tiêu kiểm toán: nhằm đánh giá về một chủ đề hoạt động chuyên sâu trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công để tư vấn, kiến nghị về những giải pháp, biện pháp khắc phục những yếu kém, hạn chế của đơn vị được kiểm toán.

     

    • Đối tượng kiểm toán: thường tập trung vào một hoặc một nhóm nội dung kiểm toán có tính trọng yếu hoặc có rủi ro lớn hoặc có “vấn đề” (có dấu hiệu yếu kém, sai phạm…) tại đơn vị được kiểm toán.

     

    • Số 133 – tháng 11/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Phạm vi về khách thể kiểm toán: do đặc thù hoạt động kiểm toán của KTNN nên phạm vi khách thể kiểm toán thường rất rộng, có tính hệ thống (thường thực hiện kiểm toán trong cả hệ thống ngành, địa phương hoặc lĩnh vực kiểm toán).

     

    • Nội dung kiểm toán: do mục tiêu kiểm toán xác định như ở trên nên nội dung kiểm toán khá đa dạng: kiểm toán tuân thủ, kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động hoặc cuộc kiểm toán hỗn hợp.

     

    • Hình thức tổ chức cuộc kiểm toán: thường được tổ chức theo một “chuỗi” cuộc kiểm toán; trong đó, hình thành các cuộc kiểm toán độc lập hoặc là một nhiệm vụ “chuyên biệt” trong một cuộc kiểm toán toàn diện đối với đơn vị được kiểm toán.

    2.3. Những vấn đề đặt ra trong kiểm toán chuyên đề

    Từ thực tiễn kiểm toán chuyên đề của KTNN cho thấy: để nâng cao chất lượng, hoàn thiện tổ chức hoạt động kiểm toán chuyên đề thì cần nghiên cứu, giải quyết một số “vấn đề” sau:

    • Công tác định hướng và quản lý kiểm toán còn nhiều hạn chế: chưa hoạch định được các định hướng, chương trình kiểm toán chuyên đề cho từng ngành, lĩnh vực để có những đánh giá chuyên sâu, có giá để giải quyết các “vấn đề” của ngành, lĩnh vực…; việc lựa chọn chuyên đề kiểm toán, tạo lập chương trình thực hiện (kế hoạch) các chuyên đề kiểm toán chưa được xây dựng trong “kế hoạch kiểm toán trung hạn” để chủ động thực hiện các giai đoạn cần thiết của hoạt động kiểm toán chuyên đề.
    • Việc chọn chủ đề kiểm toán của KTNN hiện nay thường có chủ đề kiểm toán có phạm vi rộng (ví dụ: kiểm toán hoạt động ngân sách huyện; kiểm toán quản lý đất đai của các dự án đô thị, kiểm toán sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ…) nên tính chất “chuyên đề”, mục tiêu “chuyên sâu” bị hạn chế; mặt khác, việc lựa chọn và nghiên cứu chuyên đề kiểm toán của các KTNN chuyên ngành hoặc KTNN khu vực thường tương đối thụ động nên thiếu nghiên cứu thận trọng về vấn đề được lựa chọn kiểm toán.
    • Việc tổ chức công việc kiểm toán về cơ bản tuân thủ quy trình chung của cuộc kiểm toán, song, một số hoạt động kiểm toán có tính đặc thù của kiểm toán chuyên đề: chọn chuyên đề kiểm toán; tổ chức kiểm toán “thử” để xây dựng mô hình cuộc kiểm toán; tổng hợp kết quả và kiến nghị kiểm toán… còn chưa được thực hiện hoặc không đảm bảo sự thống nhất làm hạn chế lớn đến chất lượng cuộc kiểm toán.

    3. Phát triển và nâng cao chất lượng kiểm toán chuyên đề

    3.1. Cơ sở và tính cấp thiết

    Việc KTNN thực hiện nội dung kiểm toán truyền thống (kiểm toán tài chính) là cần thiết, song, việc nâng cao chất lượng và vai trò của KTNN đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công theo hướng phát triển kiểm toán chuyên đề là một định hướng đúng và cấp thiết; cụ thể:

    • Kiểm toán chuyên đề là cơ sở, là điều kiện để kiểm toán đánh giá theo chiều sâu những vấn đề trọng yếu, những hoạt động có rủi ro cao hoặc những hoạt động còn nhiều hạn chế, yếu kém trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công của các đơn vị được kiểm toán.
    • Việc triển khai, phát triển nội dung kiểm toán hoạt động của KTNN là một yêu cầu cấp bách, đáp ứng yêu cầu tăng cường quản lý của chính quyền nhà nước các cấp và sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với các tổ chức quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công mà trong đó, kiểm toán theo “chuyên đề”, “vấn đề” là định hướng chủ đạo của kiểm toán hoạt động.
    • KTNN là một cơ quan có vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào “cuộc chiến” của Đảng, Nhà nước đối với phòng và chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công; hoạt động kiểm toán chỉ có thể hướng đến phát triển kiểm toán theo chiều sâu, kiểm toán chuyên đề.

    3.2. Phương hướng và giải pháp

    Để đáp ứng được yêu cầu cấp bách của thực tiễn

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  9

    PHAÙT TRIEÅN PHÖÔNG THÖÙC kieåm toaùn chuyeân ñeà cuûa Kieåm toaùn nhaø nöôùc

    trên, hoạt động kiểm toán của KTNN, nói chung, và hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN, nói riêng, cần được đổi mới, hoàn thiện theo những phương hướng và giải pháp sau:

    • Đổi mới công tác quản lý hoạt động kiểm toán của KTNN dựa trên cơ sở đổi mới công tác kế hoạch kiểm toán của KTNN; cụ thể gồm 2 giải pháp:
    • Tổ chức một cách có hệ thống công tác xây dựng và quản lý kiểm toán theo kế hoạch kiểm toán trung hạn (3 năm liên tục), trong đó, nội dung quan trọng (cốt lõi) là xây dựng các chương trình kiểm toán (kế hoạch và tổ chức thực hiện các cuộc kiểm toán) chuyên đề, kiểm toán hoạt động cho những ngành, lĩnh vực có những “vấn đề” để tổ chức thực hiện đạt được những mục tiêu có giá trị đối với quản lý ngành, lĩnh vực.
    • Nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý kế hoạch kiểm toán năm trong mối quan hệ hữu cơ với kế hoạch kiểm toán trung hạn; đây là cơ sở cho việc thực hiện các cuộc kiểm toán chuyên đề vượt khỏi giới hạn của từng “cuộc kiểm toán”, giải quyết được những “vấn đề” có tính hệ thống, tác động rộng đối với hệ thống các đơn vị được kiểm toán.
    • Đa dạng hóa các hình thức tổ chức kiểm toán chuyên đề phù hợp với đặc điểm của “vấn đề” kiểm toán và khách thể kiểm toán; cụ thể gồm 2 hình thức cơ bản sau:
    • Tổ chức kiểm toán chuyên đề theo mô hình hình thành “chuỗi” các cuộc kiểm toán đối với những chuyên đề ở phạm vi rộng cả một lĩnh vực, ngành, địa phương. Các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán này có thể được tổ chức trong 2 – 3 năm liên tục để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kiểm toán.
    • Tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề lồng ghép trong các cuộc kiểm toán tài chính (bộ, ngành, địa phương) đối với các chuyên đề hướng vào đánh giá những “vấn đề” phát sinh trong từng đơn vị được kiểm toán (kiểm toán việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, bảo vệ và phục hồi môi trường…).
    • Xây dựng quy trình kiểm toán phù hợp với những đặc thù của các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán chuyên đề; cụ thể gồm các giai đoạn sau:
    • Giai đoạn 1: Nghiên cứu, khảo sát, lựa chọn chuyên đề cho các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán chuyên đề của KTNN. Đây là giai đoạn đầu tiên của quy trình kiểm toán, có ý nghĩa quyết định trong định hướng hoạt động kiểm toán. Giai đoạn này cần thực hiện cả việc nghiên cứu qua các tài liệu, báo cáo của ngành, lĩnh vực, đồng thời cần thực hiện khảo sát thực tế tại các đơn vị được kiểm toán để chọn đúng “vấn đề” có tính trọng yếu, hoạt động yếu kém hoặc hàm chứa nhiều rủi ro trong hoạt động.

     

    • Giai đoạn 2: Tổ chức các “cuộc kiểm toán thử nghiệm” tại một số đơn vị thuộc lĩnh vực, ngành, địa phương có các hoạt động thuộc chuyên đề kiểm toán đến (gồm 3 giai đoạn cơ bản của cuộc kiểm toán theo quy trình kiểm toán của KTNN). Đây là bước triển khai kiểm toán thực tế tại các đơn vị được kiểm toán, việc chọn mẫu các đơn vị được kiểm toán phải đảm bảo đại diện cho các loại hình đơn vị trong chương trình kiểm toán để làm cơ sở thực tiễn cho việc xác định, điều chỉnh chủ đề kiểm toán là xác định đầy đủ, chính xác các đơn vị được kiểm toán.

     

    • Giai đoạn 3: Phân tích, đánh giá kết quả kiểm toán và xây dựng “mô hình chuẩn” của cuộc kiểm toán chuyên đề. Dựa trên kết quả kiểm toán của giai đoạn 2, ban chỉ đạo chương trình kiểm toán phải tiến hành phân tích, đánh giá kết quả kiểm toán so với các mục tiêu của cuộc kiểm toán; đánh giá việc xác định nội dung, phạm vi và cách thức tổ chức các cuộc kiểm toán, việc bố trí nhân sự và chỉ đạo hoạt động kiểm toán…; từ đó, xác định, hoàn chỉnh các mục tiêu, nội dung, phạm vi cuộc kiểm toán và “chuẩn hóa” cách thức tổ chức cuộc kiểm toán để mô hình hóa, chuẩn hóa cách tổ chức cuộc kiểm toán. Trong “mô hình chuẩn” cần chú trọng đến xác định thống nhất các tiêu chí kiểm toán và tiêu chuẩn đánh giá kiểm toán để đảm bảo sự thống nhất trong các cuộc kiểm toán thành phần.

     

    • Số 133 – tháng 11/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Giai đoạn 4: Tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề thành phần theo “mô hình chuẩn” (gồm 3 giai đoạn cơ bản của cuộc kiểm toán theo quy trình kiểm toán của KTNN). Đây là giai đoạn mở rộng việc thực hiện kiểm toán chuyên đề. Trong giai đoạn này, cần chú trọng đến hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán để đảm bảo cho việc hoàn thành các mục tiêu của cuộc kiểm toán một cách đồng bộ tại tất cả các cuộc kiểm toán thành phần, làm cơ sở trực tiếp cho việc tổng hợp có hệ thống, toàn diện kết quả của chương trình kiểm toán.

     

    • Giai đoạn 5: Tổng hợp kết quả và đề xuất các kiến nghị kiểm toán của cuộc kiểm toán chuyên đề tổng hợp của KTNN. Đây là giai đoạn cuối cùng rất quan trọng của việc thực hiện kiểm toán. Kết quả kiểm toán phải được tổng hợp theo những tiêu chí kiểm toán đã được xác định và phải được đánh giá theo các tiêu chuẩn của cuộc kiểm toán. Việc tổng hợp, phân tích kết quả kiểm toán một cách khoa học là cơ sở thực tiễn để KTNN đưa ra những đánh giá chính xác, kết luận và đề xuất các kiến nghị có giá trị đối với ngành về những vấn đề được kiểm toán.

    Với việc tổ chức cuộc kiểm toán theo quy trình như trên nên việc tổ chức từ hoạt động định hướng chuyên đề kiểm toán đến tổng hợp kết quả kiểm toán cần được xây dựng và tổ chức thực hiện thống nhất, gắn kết kế hoạch của từng cuộc kiểm toán với kế hoạch kiểm toán trung hạn và kế hoạch kiểm toán năm mới đảm bảo được sự thành công.

    • Vận dụng các phương pháp kiểm toán phù hợp với đặc thù của kiểm toán chuyên đề; cụ thể gồm các định hướng sau:
    • Đổi mới phương pháp tiếp cận kiểm toán: chuyển từ phương pháp tiếp cận kiểm toán toàn diện trong kiểm toán tài chính sang phương pháp tiếp cận “vấn đề” (tập trung vào những hoạt động trọng yếu, có rủi ro cao hoặc đang tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế) để tập trung vào các việc “then chốt” mà khi khắc phục được những mặt yếu kém, hạn chế sẽ có tác động “lan tỏa” tích cực đến các hoạt động khác của đơn vị được kiểm toán cũng như đối

    với ngành, lĩnh vực, địa phương được kiểm toán;

    • Chuyển từ việc áp dụng các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán truyền thống trong kiểm toán tài chính (kiểm tra, đối chiếu, so sánh…) sang các phương pháp kiểm toán chuyên sâu (khảo sát, nghiên cứu chuyên sâu; phân tích, điều tra…), đồng thời, mở rộng phạm vi cơ sở dữ liệu kiểm toán từ dữ liệu tài chính, kế toán sang dữ liệu thống kê kinh tế, điều tra xã hội học…;

    Ngoài ra, cùng với những phương hướng và giải pháp đổi mới trên, KTNN, các KTNN chuyên ngành, các KTNN khu vực cần đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức thông tin kiểm toán (đặc biệt là xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm toán), công tác quản lý hoạt động kiểm toán chuyên đề và các cuộc kiểm toán chuyên đề, công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán phù hợp với đặc điểm của các cuộc kiểm toán chuyên đề.

    Kết luận

    Việc phát triển kiểm toán chuyên đề trong hoạt động kiểm toán của KTNN là một yêu cầu cấp bách, phù hợp với xu hướng vận động trong hoạt động kiểm toán của các nước có nền kiểm toán phát triển. Yêu cầu của thực tiễn đó đòi hỏi KTNN cần đề ra và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp đổi mới và hoàn thiện kiểm toán chuyên đề: công tác quản lý hoạt động kiểm toán; xây dựng và tổ chức quy trình kiểm toán chuyên đề; phương pháp tiếp cận và áp dụng các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán; tổ chức thông tin kiểm toán, quản lý cuộc kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán của KTNN năm 2015, 2016, 2017;

     

    1. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng kế hoạch kiểm toán trung hạn của KTNN – Đề tài khoa học cấp bộ của KTTT, năm 2012;

     

    1. Quy trình kiểm toán của KTNN.

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  11


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-PPP-t%E1%BA%A1i-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-qu%E1%BB%91c-gia-tr%C3%AAn-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

     

    Kiểm toán hoạt động dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) có nhiều điểm khác biệt so với kiểm toán các chương trình, dự án đầu tư công truyền thống, chẳng hạn, các bên liên quan thuộc đối tượng kiểm toán luôn nhiều hơn hoặc luôn tồn tại mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên. Mặt khác, các bên tham gia vào dự án PPP thường theo đuổi các mục tiêu và

     

    lợi ích khác nhau, ví dụ, nhà đầu tư có trách nhiệm cung cấp hàng hóa và dịch vụ công tới công chúng tại mức giá, phí hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình, bên cung cấp vốn (tín dụng) có thể muốn dự án tối đa hóa dòng tiền vào, nhà thầu xây dựng muốn tối thiểu hóa chi phí xây dựng, phía Nhà nước muốn thu hút được nguồn lực từ bên ngoài chi cho đầu tư phát triển để giảm bớt gánh nặng về ngân sách đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư. Vì vậy, mục tiêu chính của kiểm toán hoạt động dự án PPP là cung cấp mức độ đảm bảo hợp lý tới tất cả các bên liên quan về sự công bằng, chính trực, kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong các thỏa thuận hợp tác theo hình thức PPP và đảm bảo rằng các đơn vị thuộc khu vực tư tham gia dự án phải đóng góp nâng cao hiệu quả dự án (CAGI 2009).

     

    Bài báo nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở khảo sát kinh nghiệm và các kết quả kiểm toán hoạt động dự án PPP trên cơ sở đọc và phân tích các báo cáo kiểm toán được công khai và các hướng dẫn kiểm toán hoạt động các dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới.

     

    Kết quả nghiên cứu đã tổng kết được một số kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện, lựa chọn thời điểm và phương pháp tiếp cận kiểm toán, đồng thời đúc kết được một số nguyên tắc cần thiết trong tiến hành kiểm toán hoạt động các dự án PPP.

     

    Từ khóa: Hiệu quả đầu tư, dự án PPP, kiểm toán hoạt động.

     

    The experience and results of PPP projects performance audits in a number of countries in the world

     

    The performance audit of PPP projects differs from the audit of traditional public investment programs and projects, for example, stakeholder groups. There are always more conflicts or conflicts of interest between the parties. On the other hand, parties involved in PPP projects often pursue different objectives and benefits, for example, the investor is responsible for providing goods and public services to the public at reasonable rates and fees. In order to maximize its profit, the capital provider (credit) may want the project to maximize the cash flow, the construction contractor wants to minimize the construction costs, the government wants to attract the source. External resources for development investment to reduce the burden on the budget while improving investment efficiency. The main objective of PPP project audits is therefore to provide reasonable assurance to all stakeholders on fairness, integrity, economy, efficiency and effectiveness in the agreements. PPP co-operation and ensure that the private sector participating in the project contributes to improving the effectiveness of the project (CAGI 2009).

     

    The research paper is based on the experience survey and the results of the PPP activity audit, based on the reading and analysis of publicly available audit reports and auditing guidelines for project activities of PPP projects in several countries around the world.

     

    The results of the study have summarized some experience in organizing the implementation, selection of auditing timing and approach and concluding some principles needed in conducting performance auditing of PPP projects.

     

    Keywords: Efficiency of investment, PPP project, performance audit.

     

    *Kiểm toán nhà nước Khu vực IV

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    1. Giới thiệu

     

    Kiểm toán hoạt động là hoạt động kiểm tra, đánh giá độc lập mức độ hiệu lực và hiệu quả đối với các hoạt động của các đơn vị, chương trình, tổ chức có chú ý thỏa đáng đến tính tiết kiệm (INTOSAI 2004). Đối với một dự án PPP cụ thể, mục tiêu căn bản nhất trong kiểm toán là nhằm đưa ra ý kiến đánh giá khách quan, trung lập liệu nguồn lực công được quản lý và sử dụng có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu định trước. Kiểm toán viên thông qua hoạt động kiểm toán, phải hỗ trợ được các cơ quan nhà nước đạt được trách nhiệm giải trình và tính đúng đắn cũng như cải thiện hiệu quả hoạt động và tạo sự tin tưởng giữa người dân và các bên liên quan đến dự án. Ngoài ra, theo CAGI (2009), cơ quan kiểm toán cần thực hiện vai trò hỗ trợ nhà nước trong việc giám sát, quản lý và dự báo việc đầu tư, vận hành và khai thác dự án PPP. Không như kiểm toán các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, kiểm toán tuân thủ hoặc kiểm toán báo cáo tài chính dự án PPP sẽ bị hạn chế bởi vì trọng tâm kiểm toán các dự án PPP chính là hợp đồng đầu tư dự án, giá trị của tổng mức đầu tư, tính kinh tế và hiệu quả hoạt động của các đơn vị liên

     

    quan dựa trên quan điểm của các bên tham gia và hầu hết trong các trường hợp nhằm đạt được mục tiêu chung của đối tác hơn là mục tiêu riêng lẻ của từng bên trong đối tác công – tư. Quan điểm cốt lõi này phải hình thành ý tưởng ngày trong giai đoạn lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán hoạt động PPP.

     

    Mặc dù không có khác biệt đáng kể giữa kiểm toán hoạt động dự án PPP với hình thức kiểm toán truyền thống, nhưng do đối tượng kiểm toán chính là hợp đồng đối tác được ký kết giữa các bên sau khi kết thúc giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh nên kiểm toán hoạt động dự án PPP trong trường hợp này sẽ không đặt trọng tâm nhiều vào việc xác nhận tính đúng đắn hợp pháp của các số liệu như tổng vốn đầu tư, tổng mức đầu tư của dự án, giá trị quyết toán dự án hoàn thành, các nguồn thu, chi của dự án trong giai đoạn khai thác vận hành. Bởi vì, giá trị trúng thầu của nhà đầu tư trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh, minh bạch đã được xác định và cố định không thay đổi trong suốt quá trình đầu tư xây dựng dự án. Theo đó, rủi ro và trọng tâm kiểm toán sẽ thay đổi tập trung nhiều hơn đến trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  67

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

    quyền cùng với việc duy trì, đảm bảo việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm và phân bổ rủi ro tối ưu và hợp lý giữa các bên cũng như việc đạt được mục tiêu của dự án PPP.

     

    2. Kinh nghiệm kiểm toán hoạt động các dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

     

    Qua tìm hiểu quy trình, hướng dẫn kiểm toán các dự án PPP của các quốc gia như Ấn Độ, Úc, Anh, Hoa Kỳ và chọn mẫu phân tích một số báo cáo kiểm toán hoạt động các dự án PPP đã được phát hành tại các quốc gia này, có thể khái quát thành một số nguyên tắc chung sau:

     

    Thứ nhất, hầu như không có khác biệt đáng kể giữa hình thức kiểm toán hoạt động các dự án PPP so với hình thức kiểm toán truyền thống dự án PPP (kết hợp cả kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán hoạt động). Điểm chung của cả hai loại hình kiểm toán này là đều tập trung vào các khía cạnh tính kinh tế, hiệu quả và tính bền vững của dự án PPP. Mặc dù một số quốc gia việc diễn giải tính bền vững hoặc tính khả thi có một chút khác biệt.

     

    Thứ hai, thời điểm lựa chọn kiểm toán hoạt động dự án PPP tùy thuộc vào khung chính sách quy định của từng quốc gia, thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) cũng như các vấn đề quy mô và rủi ro của dự án. Tuy nhiên, phần lớn các nước đều quy định hoặc luôn dành cơ hội để thực hiện kiểm toán dự án PPP trong suốt vòng đời dự án. Ví dụ như Ấn Độ chia dự án PPP thành 4 giai đoạn, trong khi đó Anh chia thành 06 giai đoạn. Thời điểm và tần suất lựa chọn kiểm toán hoạt động dự án PPP cao nhất thường vào giai đoạn chuẩn bị đầu tư (trước khi dự án được phê duyệt) và giai đoạn lựa chọn các nhà đầu tư (Bỉ, Ấn Độ, Hungary, Canada và Lithuania). Giai đoạn ký kết, thực hiện hợp đồng và giai đoạn vận hành, khai thác sử dụng cũng được lựa chọn kiểm toán hoạt động nhưng mức độ ít hơn. Sở dĩ kiểm toán hoạt động dự án PPP thường được thực hiện trước khi được phê duyệt hoặc trong giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư nhằm mục đích đánh giá liệu (i) dự án được đầu tư có thực sự cần thiết tương tự như các dự án đầu tư công truyền thống; (ii) giá trị lợi ích tăng thêm khi lựa chọn hình

    thức đầu tư PPP so với hình thức đầu tư công truyền thống là gì và (iii) liệu có lựa chọn được nhà đầu tư có đủ năng lực, kinh nghiệm trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh và minh bạch. Kết quả kiểm toán sẽ được cung cấp kịp thời và hữu ích cho Quốc hội trước khi chấp thuận thông qua dự án để giảm thiểu cũng như tránh việc lựa chọn dự án đề xuất từ các bộ, ngành, bang, địa phương mà gây xung đột và ảnh hưởng tới lợi ích chung của quốc gia cũng như giảm thiểu lãng phí trong hoạt động đầu tư (Bỉ, Ấn Độ, Hungary, Canada). Một số SAI như Ấn Độ, Úc, Anh cho rằng, kiểm toán tại giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư, thương thảo và ký hợp đồng dự án cũng quan trọng không kém giai đoạn trước khi dự án được phê duyệt. Theo quan điểm của các SAI này, hiệu quả dự án PPP đạt được phụ thuộc chính vào việc lựa chọn được nhà thầu có năng lực tốt, phù hợp thông qua hoạt động đấu thầu cạnh tranh và minh bạch. Vì vậy, các SAI thường đánh giá tính hiệu quả của dự án PPP nếu việc lựa chọn nhà đầu tư tuân thủ đúng theo các chính sách, quy định và quy trình lựa chọn nhà đầu tư đạt được các nguyên tắc cạnh tranh, công bằng và minh bạch. Kết quả kiểm toán trong giai đoạn này sẽ có tác động thực chất và khả thi hơn nếu các phát hiện kiểm toán được chỉ ra trước khi các bên thỏa thuận, ký kết hợp đồng dự án PPP. Bởi vì trong nhiều trường hợp, hợp đồng dự án PPP là không thể thay đổi, điều chỉnh trong suốt thời gian thực hiện. Các giai đoạn thực hiện hợp đồng, xây dựng và vận hành dự án cũng được một số SAI lựa chọn kiểm toán hoạt động nhưng với số lượng ít hơn.

     

    Thứ ba, về phương pháp tiếp cận kiểm toán: Do thời gian vận hành dự án PPP thường kéo dài từ 10-20 năm, do đó, các SAI có thể lựa chọn hình thức kiểm toán định kỳ hàng năm hoặc theo từng giai đoạn tùy thuộc vào quy mô, các loại rủi ro phát sinh liên quan đến dự án hoặc theo yêu cầu từ phía công chúng, Quốc hội hoặc từ phía Chính phủ. Có hai cách tiếp cận chính khi tiến hành kiểm toán hoạt động dự án PPP.

     

    Một là, tiếp cận theo quy trình, cuộc kiểm toán hoạt động sẽ được thực hiện trên cơ sở kiểm tra, rà soát việc triển khai và thực hiện dự án của nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án có đúng theo cam kết (công tác quản lý hợp đồng) liên quan đến các

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    khía cạnh chất lượng, tiến độ, chi phí và giá trị đầu tư xây dựng của dự án. Qua kiểm toán, nếu nhận thấy tồn tại, hạn chế trong việc quản lý và thực hiện hợp đồng dự án, kết quả kiểm toán sẽ chỉ ra những yếu kém, những nội dung và vấn đề cần điều chỉnh hoặc có những kiến nghị với các bên trong đối tác để có những thỏa thuận bổ sung phù hợp nhằm đảm bảo tính hiệu lực cũng như duy trì tính bền vững của dự án;

     

    Hai là, cách tiếp cận dựa trên đo lường kết quả đầu ra của dự án. Hiện nay, các SAI thường không trực tiếp hoặc tiến hành việc khảo sát, điều tra các nguồn thông số đầu vào và đầu ra của dự án PPP để so sánh kết quả đạt được của dự án với mục tiêu ban đầu. Bởi vì SAI không đủ nguồn lực, thời gian và kinh phí thực hiện nhiệm vụ này, trách nhiệm này thuộc về các cơ quan chuyên trách có thẩm quyền của Chính phủ. Theo quy định tại một số quốc gia, ví dụ như Anh, Úc, Ấn Độ, các dự án PPP phải được một cơ quan chuyên trách tổ chức theo dõi, đánh giá để chỉ ra những khác biệt, tác động tiêu cực để có ý kiến phản hồi kịp thời và phù hợp. Trong trường hợp này, nhiệm vụ của SAI chỉ tập trung kiểm tra tính tin cậy và hợp lý của các báo cáo đánh giá nhận được từ phía cơ quan chuyên trách. Việc xác nhận báo cáo này hoặc thông qua chọn mẫu để khảo sát, để kiểm chứng kết quả đánh giá của các cơ quan chuyên trách nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước đối với dự án PPP. Khi đó, mục đích mang lại từ cuộc kiểm toán hoạt động thường nghiêng về hướng nâng cao trách nhiệm giải trình nhiều hơn là giúp các bên liên quan dự án cải thiện hiệu quả quản lý, hiệu quả hoạt động của mình.

     

    3. Một số kết quả kiểm toán phổ biến trong kiểm toán hoạt động dự án PPP

     

    3.1. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư trước khi phê duyệt dự án

     

    Qua phân tích một số báo cáo kiểm toán của một số SAI tại một số quốc gia trên thế giới (Ấn Độ, Anh, Bỉ, Đức, Hà Lan, Hungary, Canada) đã chỉ ra một số phát hiện liên quan đến hiệu quả dự án PPP như sau:

     

    Thứ nhất, nhiều dự án PPP không được cơ quan

    nhà nước có thẩm quyền đánh giá hiệu quả về mặt định lượng thông qua việc so sánh lợi ích tăng thêm giữa hai hình thức đầu tư (hình thức PPP và đầu tư công truyền thống) trước khi phê duyệt (Bỉ, Ấn Độ, Hungary, Canada). Nguyên nhân chủ yếu do yêu cầu đảm bảo cân đối ngân sách, vì vậy, hình thức PPP hay tài trợ vốn từ khu vực tư trở thành điều kiện tiên quyết.

     

    Thứ hai, mặc dù tại một số quốc gia luôn có một cơ quan chuyên trách thực hiện đánh giá hiệu quả dự án PPP trên cơ sở một bộ tiêu chí phù hợp đã được phê chuẩn. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán vẫn chỉ ra một số tồn tại, hạn chế tiềm tàng trong việc vận dụng phương pháp đánh giá, công thức tính toán cũng như sử dụng các thông số đầu vào và đầu ra với một số giả định còn tùy ý và thiếu cơ sở khoa học. Ví dụ, tỷ lệ chiết khấu được sử dụng để quy đổi dòng tiền về thời điểm hiện tại (thời điểm so sánh) thường quá cao hoặc quá thấp. Các SAI cũng đã tổng kết rằng, nhà đầu tư thường ưa thích tỷ lệ chiết khấu cao đối với dự án đầu tư theo hình thức PPP nhưng lại lựa chọn tỷ suất chiết khấu thấp đối với hình thức đầu tư công truyền thống và ngược lại. Chẳng hạn, trong Báo cáo kiểm toán việc giám sát dự án hiện đại hóa Trung tâm Chăm sóc sức khỏe của Đại học Montreal gửi tới Quốc hội đã kết luận:

     

    Dự án PPP áp dụng tỷ lệ chiết khấu cao hơn khi xác định dòng tiền thuần bởi vì phương pháp hoàn vốn đầu tư của dự án PPP cho phép phân bổ chi phí trong thời gian dài hơn so với phương pháp truyền thống (Canada, Quebec 2009:16).

     

    Phát hiện này viện dẫn đến tình huống áp dụng tỷ lệ chiết khấu cao hơn mà không có cơ sở hợp lý và đã kiến nghị đơn vị được kiểm toán phải xác định lại tỷ lệ chiết khấu phù hợp (Canada, Quebec 2009:16).

     

    Thứ ba, một số báo cáo kiểm toán cũng chỉ ra việc lập phương án tài chính cũng như đánh giá hiệu quả dự án được thực hiện thiếu thận trọng. Hiệu quả dự án đầu tư bị thổi phồng để dự án PPP được thông qua mà thiếu cân nhắc tất cả các tình huống xấu và rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ, trong Báo cáo kiểm toán hoạt động về xây dựng hệ thống đường sắt cao tốc liên tỉnh, Tòa Thẩm kế Kiểm

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  69

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

     

    toán Hà Lan đã kiến nghị rằng, các Bộ trưởng đã có hành động quá vội vàng khi thu thập dữ liệu và trình bày lợi ích tăng thêm trong Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP khi trình Quốc hội và đã kết luận rằng, kết quả tính toán hiệu quả dự án (lợi ích tăng thêm) mà dự án mang lại trong báo cáo không chính xác, phải điều chỉnh lại (Netherland 2002).

     

    Thứ tư, việc đo lường giá trị tăng thêm thông qua so sánh giữa hai hình thức đầu tư có xu hướng bị thao túng và lạm dụng (UK 2009:20). Lỗi tính toán, thông số đầu vào không chính xác, thổi phồng hiệu quả đầu tư cũng như tô vẽ dự án theo cách thái quá (Ireland 2004:11-12). Nhiều SAI đã phát hiện, tổng vốn đầu tư, tổng mức đầu tư của dự án thường được thổi phồng cao hơn thực tế (Canada, Ontario 2008:104-5). Ngoài ra, kết quả tính toán hiệu quả dự án đầu tư cho từng phương án đầu tư được thể hiện trong các báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án thường nhấn mạnh ưu điểm của một phương án cụ thể nào đó hơn nhiều so với các phương án khác mà thiếu cơ sở vững chắc (Belgium 2009, 34; Germany 2009, 41).

     

    Thứ năm, kết quả kiểm toán dự án PPP cũng đã chỉ ra được các nguyên nhân tồn tại và qua đó đã

     

     

    đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện đối với các đơn vị được kiểm toán:

     

    • Thiếu khung chính sách, quy định hoặc các tiêu chuẩn áp dụng đối với các thông số đầu vào của dự án trong từng lĩnh vực cụ thể. Văn phòng trách nhiệm giải trình Mỹ (GAO) đã từng lưu ý rằng “tỷ lệ chiết khấu được áp dụng trong báo cáo dự án để tính toán giá trị hiện tại thuần đối với thu nhập trong tương lai có thể được lựa chọn tùy ý bởi một cơ quan nhà nước đại diện” (USA 2008: 52);
    • Việc kiểm tra giá trị tăng thêm của dự án PPP so với hình thức đầu tư công truyền thống thường phải dựa trên một mô hình kinh tế. Tuy nhiên, các mô hình kinh tế khó có thể bao quát hết được ảnh hưởng từ các yếu tố định tính hoặc kế hoạch chiến lược. Tổng Kiểm toán Quebec (Canada) đã khẳng định rằng “các yếu tố khác, khó hoặc không thể định lượng được dựa trên phương diện tài chính. Chúng có thể có tác động đến giá trị của các lựa chọn và những ưu điểm và hạn chế này cần phải được rà soát” (Canada, Quebec 2009, 17);
    • Việc kiểm tra giá trị tăng thêm không phải là yếu tố đảm bảo duy nhất khi quyết định liệu rằng có nên áp dụng hình thức PPP hay không. Ngay
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    cả Văn phòng Kiểm toán Nhà nước Anh (NAO) cũng đã thừa nhận rằng: “Giống như bất kỳ mô hình (phương án) tài chính nào, chúng không thể dựa vào duy nhất một nguồn thông tin, số liệu đảm bảo. Các kế hoạch chiến lược có thể có ảnh hưởng lớn hơn so với việc xem xét phương án chi phí – hiệu quả thuần túy về mặt tài chính, nhưng sẽ không thuyết phục nếu chúng được lập sau khi hợp đồng được ký. Khi đánh giá năng lực tài chính của các nhà thầu tham gia dự án PPP, chúng ta kỳ vọng, cơ quan đại diện nhà nước ký hợp đồng phải xem xét hết sức thận trọng điểm mạnh và điểm yếu từ việc sử dụng nguồn vốn tài trợ từ khu vực tư chẳng hạn thỏa thuận cần phải quy định ngày cụ thể…” (UK 2009; 21).

    3.2. Trong giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư, thương thảo và ký kết hợp đồng

     

    Một số SAI đã từng thực hiện nhiều cuộc kiểm toán liên quan đến quy trình lựa chọn nhà đầu tư dự án PPP. NAO Anh đã từng báo cáo rằng “thủ tục lựa chọn nhà đầu tư hữu hiệu là một yếu tố sống còn, bởi vì các điều khoản hợp đồng thường được áp dụng đến cuối vòng đời dự án” (UK 2009, 52-3). Cơ quan này cho rằng, nguy cơ lớn nhất về tài chính nảy sinh trong giai đoạn cuối cùng là thương thảo hợp đồng và thỏa thuận về giá trị hợp đồng (UK 2009, 52-3). Mặc dù một số báo cáo kiểm toán kết luận rằng quá trình đấu thầu là công bằng và minh bạch (Belgium 2009, 14, 63–4; Canada, Alberta 2010: 13) nhưng vẫn còn những hạn chế, chẳng hạn, báo cáo không đầy đủ về tình hình thị trường (Belgium 2009: 13, 47) hoặc không đủ số lượng nhà đầu tư tham gia đấu thầu nhằm đảm bảo mức độ cạnh tranh để thực hiện hợp đồng (NetherLands 1993).

     

    3.3. Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư (Quản lý hợp đồng)

     

    Để đánh giá tính hiệu lực của dự án PPP, các SAI thường tập trung kiểm tra việc quản lý hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư. Theo Tổng Kiểm toán của New South Wales, Australia, có nhiều bằng chứng tăng lên chứng tỏ rằng, để tối đa hóa tính hiệu lực, các dự án PPP cần được quản lý tốt trong từng giai đoạn thực hiện dự

    án. Tuy nhiên, Báo cáo kiểm toán của NAO Anh cho rằng, quản lý hợp đồng tốt không phải là vấn đề ưu tiên hàng đầu (UK 2009: 9, 59). Bởi vì, quản lý hợp đồng tốt còn phụ thuộc vào các thỏa thuận giữa các bên đối tác tham gia dự án cũng như các yếu tố kỹ thuật, quy định pháp lý, thương mại nhằm đảm bảo các điều khoản thỏa thuận được ký kết là đúng (UK 2009: 9, 59). Tuy nhiên, hầu hết các SAI cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đều thừa nhận rằng quản lý hợp đồng là một vấn đề hệ trọng, cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, nhiều dự án trong thực tiễn đã buộc phải trì hoãn hoặc hủy bỏ khi không đáp ứng đúng các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan (India 2008a: 39; UK 2009: 10).

     

    Kết quả kiểm toán chính liên quan đến việc quản lý hợp đồng được chỉ ra trong một số báo cáo kiểm toán của một số SAI tập trung vào các nội dung sau:

     

    • Một số hợp đồng PPP không quy định việc theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện dự án cũng như trách nhiệm các bên liên quan. Một số khác có quy định nhưng sơ sài và không phù hợp, thậm chí khi hợp đồng đã có điều khoản quy định việc theo dõi, giám sát kết quả nhưng chúng được thiết kế không phù hợp (Hungary 2007: 2) hoặc chúng không hoạt động hữu hiệu trên thực tế (Ireland 2006: 95). Hậu quả là cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có đủ thông tin, cơ sở để đánh giá, xử lý việc không tuân thủ hợp đồng (Canada, Quebec 2010: 38).
    • Các điều khoản hợp đồng, quy trình, thủ tục quản lý nhằm đảm bảo việc chi trả dịch vụ là cần thiết, đúng đối tượng nhằm bảo vệ lợi ích của công chúng thường không đầy đủ, thiếu cơ sở. Vì vậy, báo cáo kiểm toán không thể đưa ra được ý kiến, kết luận liệu rằng việc tính toán hỗ trợ các khoản thanh toán có chính xác hoặc liệu rằng việc chi trả dịch vụ có đúng đối tượng (Canada, Nova Scotia 2010: 27).
    • Một phát hiện thú vị khác liên quan đến chủ đề này đó là việc Chính phủ có thể làm xói mòn sự thành công trong quản lý dự án từ việc họ tham gia quá sâu vào dự án. Ví dụ Văn phòng Kiểm toán

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  71

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

    Hungary đã phát hiện ra rằng, cơ quan địa phương đã tham gia quá sâu vào việc quản lý dự án dẫn tới khó khăn trong việc yêu cầu các đơn vị trong khu vực tư giải trình việc không tuân thủ luật và các quy định (Hungary 2009: 1–2).

     

    • Cơ chế đánh giá kết quả thực hiện thường phác thảo dịch vụ cung cấp và các biện pháp chế tài xử phạt vi phạm. Tuy nhiên, một số cơ quan kiểm toán đã nhận thấy rằng các cơ quan nhà nước đã thất bại trong việc xử phạt vi phạm theo quy định hoặc thỏa thuận trong hợp đồng (India 2008: 30; UK 2009: 28). Một trong những lý do giải thích ít có trường hợp phạt vi phạm là do nhà đầu tư không phải luôn bắt buộc tuân thủ hợp đồng. Thỉnh thoảng các khoản xử phạt được bù trừ với các dịch vụ khác hoặc công việc khác hoặc đối tác công lo ngại việc xử phạt sẽ kìm hãm hoặc làm rạn nứt mối quan hệ với các nhà thầu và dẫn tới ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả. NAO Anh không tin rằng các cơ quan nhà nước chỉ từ bỏ việc xử phạt khi kết quả đạt được sẽ mang lại lợi ích cao hơn xử phạt, sau khi xem xét thận trọng các nguyên tắc đạo đức… Lý do căn bản giải thích tại sao hiếm khi đối tác tư bị xử phạt là do các giám đốc dự án thường báo cáo đạt được kết quả (UK 2009: 56).
    • Một số SAI đã phát hiện việc thay đổi, điều chỉnh lại dự án khi hợp đồng đã được ký kết nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Trong nhiều trường hợp, có thể phát sinh thêm các chi phí do thay đổi, điều chỉnh dự án và phần lớn ảnh hưởng đến mục tiêu đạt được hiệu quả đầu tư. Điều này có thể là do hạn chế trong công tác lập kế hoạch. Trong các báo cáo của Văn phòng Tổng Kiểm toán Ontario của Canada “một phần chi phí phát sinh từ việc cài đặt thiết bị có thể tránh được nếu lập kế hoạc tốt hơn” (Canada, Ontario 2008: 105). Nhưng cùng lúc đó, việc vòng đời của dự án kéo dài dẫn đến việc thay đổi thường không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, rõ ràng từ báo cáo kiểm toán, Chính phủ không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả vốn đầu tư từ những thay đổi này. Ví dụ, khi Chính phủ quyết định sai không theo dõi các thủ tục lựa chọn thầu trong trường hợp có thay đổi lớn. Trong nhiều trường hợp đối tác tư bổ sung thêm phí quản lý là những khoản chi phí không cần thiết phải điều

    chỉnh (UK 2009: 56). Cuối cùng, rủi ro thường xuất hiện liên quan đến việc xác định và tính toán chính xác các khoản chi phí phát sinh.

     

    3.4. Phân bổ và quản lý rủi ro

     

    Về mặt kỹ thuật, việc phân bổ và đánh giá rủi ro gắn liền với các dự án PPP là vấn đề sống còn quyết định sự thành công (tính hiệu lực) cũng như giá trị tăng thêm (tính hiệu quả) của dự án PPP. Một số báo cáo kiểm toán dự án PPP đặt trọng tâm vào khía cạnh này. Một trong số ít Văn phòng Kiểm toán đưa ra quan điểm tích cực. Đó là Văn phòng Tổng Kiểm toán Alberta (Canada, Alberta 2010: 20).

     

    Các hệ thống, cơ chế đã chứng tỏ rằng rủi ro được chuyển giao hoặc được gắn với các bên theo cách quản lý hữu hiệu nhất về mặt chi phí và lợi ích. Rủi ro được phân bổ phù hợp giữa các bên (đơn vị công và các nhà thầu) (Canada, Alberta 2010)

     

    Hầu hết các báo cáo kiểm toán còn lại đều có ý kiến phê phán cách thức phân bổ và đánh giá rủi ro, cụ thể:

     

    • Các loại rủi ro không được định nghĩa rõ ràng: Tòa Thẩm kế Bỉ đã kết luận rằng, Chính phủ đã không thực hiện việc phân tích đầy đủ rủi ro liên quan đến hầu hết các dự án PPP. Với kết quả như vậy, Tòa Thẩm kế Bỉ tin rằng cơ quan nhà nước cũng sẽ không thiết lập được các thỏa thuận phù hợp trong hợp đồng nhất là khi xác định phương án tài chính (Belgium 2009: 13). Tổng Kiểm toán Quebec cũng đưa ra một kết luận tương tự (Canada, Quebec 2010: 4). Trong hai báo cáo thu phí đường hầm đầu năm 1990, Tòa Thẩm kế Kiểm toán Hà Lan đã kết luận rằng chỉ một số ít rủi ro liên quan được chuyển giao cho phía khu vực tư. Nhà nước vẫn phải gánh trách nhiệm đối với phần lớn rủi ro liên quan đến lưu lượng giao thông thấp hơn so với dự báo (The Netherlands 1990: 1993).
    • Rủi ro phụ thuộc vào các bên liên quan khác: Trong một báo cáo kiểm toán dự án đường sắt cao tốc, Tòa Thẩm kế Kiểm toán Hà Lan đã phát hiện ra rằng, mặc dù theo quy định Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm đối với hai loại rủi ro chính (rủi ro khi lưu lượng giao thông thấp hơn kế hoạch và rủi ro khi thay đổi chế độ, chính sách), trong một chừng
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    mực nào đó, Chính phủ vẫn phải chi trả ngân sách cho một số khoản mục chi phí khi các bên trong khu vực tư không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình. Điều này bởi vì nhà đầu tư cũng phụ thuộc vào các nhà thầu khác (The Netherlands 2002: 71).

     

    • Rủi ro của các nhà thầu phụ chuyển giao cho Chính phủ: Trong một số trường hợp, các nhà thầu phụ lại chuyển giao rủi ro cho Chính phủ và thậm chí Chính phủ tiếp tục phải chi trả ngân sách cho các nghĩa vụ này của các nhà thầu phụ trong dự án. Điều này được chỉ ra trong cuộc kiểm toán việc thực hiện hợp đồng dịch vụ trường học của Tổng Kiểm toán Nova Scotia Canada (Canada, Nova Scotia 2010: 27).
    • Không thuận lợi khi so sánh với hợp đồng đầu tư công thuần túy: Tòa Thẩm kế Kiểm toán Bavaria của Đức đã phân tích cách thức rủi ro đã từng được đánh giá và quản lý trong dự án xây dựng đường cao tốc theo hình thức PPP. Đó là việc xác định và phân bổ rủi ro trên cơ sở định hướng các tình huống có thể xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên, kết luận kiểm toán đã chỉ ra rằng, cách thức đánh giá và quản lý rủi ro không đề cập đến bất kỳ ưu điểm nào so với hợp đồng đầu tư công thuần túy mà còn phát sinh thêm các chi phí mới cho việc quản lý (Germany, Bavaria 2006: 7, 53, 61).

    4. Bài học kinh nghiệm khi thực hiện kiểm toán hoạt động dự án PPP ở Việt Nam

     

    Khác với hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới, nhà đầu tư được lựa chọn đều thông qua quy trình đấu thầu cạnh tranh, minh bạch. Ở Việt Nam, hầu hết các nhà đầu tư được lựa chọn qua chỉ định thầu, vì vậy, kiểm toán dự án PPP thường đặt trọng tâm vào việc tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan đến việc xác định tổng vốn đầu tư, tổng mức đầu tư, chi phí đầu tư, quyết toán vốn đầu tư, quyết toán chi phí đầu tư dự án, quyết toán chi phí khai thác, vận hành dự án, đơn giá thu phí… Tuy nhiên, khi nhà đầu tư được lựa chọn thông qua đấu thầu cạnh tranh, minh bạch thì việc xác nhận số liệu tổng vốn đầu tư, quyết toán vốn đầu tư, quyết toán dự án hoàn thành không còn nhiều ý nghĩa. Do đó, trọng tâm kiểm toán sẽ là việc đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực và tính bền vững của dự án trên

    cơ sở các nguyên tắc được tổng kết từ kinh nghiệm kiểm toán tại một số quốc gia trên thế giới như sau:

     

    • Có tương quan thuận giữa mức rủi ro được chuyển giao trong hợp đồng cho nhà đầu tư với tỷ lệ chiết khấu được áp dụng tại một số dự án được kiểm toán. Nghĩa là nếu nhà đầu tư cho rằng rủi ro đầu tư dự án cao, họ thường xây dựng phương án tài chính với một tỷ lệ chiết khấu cao hơn so với thực tế và kết quả là giá trị tăng thêm được xác định khi đầu tư dự án PPP cao hơn. Tòa Thẩm kế Kiểm toán Úc đã phát hiện trong Báo cáo đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án là giá trị rủi ro được chuyển giao cao hơn một quốc gia khác nhưng không được giải thích rõ ràng và có cơ sở hợp lý và kết quả là đưa ra lợi ích tăng thêm cao hơn so với thực tế (Austria 2010:33-7).
    • Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng phân tích hiệu quả vốn đầu tư (VFM) thường được áp dụng cao hơn đối với dự án PPP và thấp hơn đối với dự án đầu tư công thuần túy;
    • Các nhà đầu tư khi lập dự án thường có xu hướng thổi phồng tính hiệu quả của dự án về mặt kinh tế, xã hội mà thiếu căn cứ khoa học cũng như thực tế để dự án được thông qua với một mức chi phí đầu tư có thể cao hơn thực tế.
    • Quản lý dự án PPP nhất là quản lý hợp đồng là một công việc phức tạp, để dự án PPP đạt được hiệu lực trên thực tế, đòi hỏi phải có cơ chế theo dõi, giám sát kết quả đầy đủ và phải được quy định chi tiết và phù hợp trong hợp đồng. Để việc quản lý hợp đồng được thực hiện tốt, việc theo dõi phải được thực hiện thường xuyên và liên tục và được thực hiện bởi đội ngũ có đủ năng lực. Việc thay đổi, điều chỉnh dự án ảnh hưởng đến việc đạt được hiệu quả vốn đầu tư, vì vậy, cần thiết phải xác định rõ các điều kiện thay đổi và trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện cam kết theo hợp đồng. Báo cáo theo dõi, giám sát kết quả và đánh giá việc quản lý dự án PPP được thực hiện đầy đủ bởi khu vực công đối với các thông tin thích hợp là vấn đề cốt yếu đối với thành công của dự án PPP.
    • Cách thức trong một dự án PPP được tài trợ vốn, việc tính toán tổng vốn đầu tư, chi phí đầu tư,

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  73

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

    rủi ro liên quan và việc phân bổ rủi ro giữa các bên thường là các nội dung trọng tâm đối với loại hình kiểm toán truyền thống như kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính. Trong một cuộc kiểm toán hoạt động, mặc dù ít đặt trọng tâm vào việc kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán chi tiết các chi phí đầu tư của dự án nhưng theo khuyến cáo của INTOSAI, để đánh giá được tính hiệu lực thông qua phân tích chi phí – lợi ích đạt được của dự án thì việc xác nhận tổng vốn đầu tư và chi phí đầu tư của dự án theo thực tế có thể cần thiết nếu kiểm toán viên nhận thấy rủi ro do sai sót của các khoản mục này là trọng yếu và có thể ảnh hưởng làm thay đổi kết quả phân tích.

     

    • Hầu hết các dự án PPP được chọn kiểm toán đều còn một số tồn tại liên quan đến việc xác định chi phí, Chính phủ vẫn phải gánh chịu rủi ro cao hơn và phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với những trường hợp dự án bị tạm dừng hoặc hủy bỏ từ phía khu vực tư.
    • Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của dự án đã được chỉ ra trong các báo cáo kiểm toán gồm (1) tính bất định của ngân sách trong dài hạn;
    • chi phí đảo nợ cao; (3) ảnh hưởng từ các khoản nợ xấu và (4) giá trị và quyền sở hữu tài sản nhận bàn giao lại từ phía nhà đầu tư.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. CAGI (2009), Public Private Parterships
      • in Infrastructure Projects, Public Auditing Guidelines, CAGI, 2009;

     

    1. Canada, Alberta (2010), Auditor General Alberta, Report of the Auditor General of Alberta, pp. 13 – 30, Alberta Schools Alternative Procurement, April 2010;
    2. Canada, Nova Scotia (2010), Office of the Auditor General, Report of the Auditor General, pp. 27 – 49. Chapter 3, Education: Contract Management of Public–Private Partnership Schools. February 2010;

     

    1. Canada, Ontario (2008), Office of the Auditor General of Ontario; 2008 Annual Report, pp.102–24. Chapter 3, Section 3.03. Brampton Civic Hospital Public- private Partnership Project, Fall 2008;

     

    1. Canada, Quebec (2009), Auditor General of Quebec, Report of the Auditor General of Quebec to the National Assembly for 2009–2010. Volume II. Highlights, pp. 15 – 18.
    1. Hungary (2007), Summary of the audit of the building and financial operation of the Palace of Arts, Report no. 0660, January 2007;

     

    1. Hungary (2009), Summary of the Audit on the Implementation of PPP Development Projects of Local Governments Supported in the Framework of the Sport XXI Facility Development Programme and on the Projects’ Impact on the Services Provided by Local Governments, Report no. 0919, July 2009;

     

    1. India (2008), Comptroller and Auditor General of India, Public Private Partnership in implementation of Road Project by National Highways Authority of India (PSU), Performance Audit – Report 16 of 2008;
    2. INTOSAI (2004), standard and guidelines for performance auditing base on INTOSAI’s Auditing standards and practical experience, INTOSAI 2004.

     

    1. Ireland (2004), Comptroller and Auditor General, Report on Value for Money Examination Department of Education and Science, The Grouped Schools Pilot Partnership Project , June 2004;
    2. Ireland (2006), Comptroller and Auditor General, Annual Report 2006. Presented pursuant to Section 3(11) of the Comptroller and Auditor, General (Amendment) Act, 1993

    – Dublin, The Public Private Partnership Pilot Schools Project – Follow Up, pp. 94 – 102;

     

    1. New South Wales Auditor-General (NSWAG) (2006a), Auditor-General’s Report: Performance Audit: The New Schools Privately Financed Project (March, Sydney, Australia: New South Wales Government)… Watch over the projects to modernize Montréal’s University Health Centers, November 2009 .

     

    1. TheNetherlands(1993),AlgemeneRekenkamer, Private Financiering Wijkertunnel, Tweede Kamer, vergaderjaar 1992–1993, 23205, nr. 1;

     

    1. United Kingdom (2009), National Audit Office, Private Finance Project, A paper for the Lords’ Economic Affairs Committee, October 2009;

     

    1. United Kingdom (2009), National Audit Office, Private Finance Project, A paper for the Lords’ Economic Affairs Committee, October 2009’.

     

    1. United States of America (2008), United States Government Accountability Office, Report to Congressional Requesters. Highway Public – Private Partnerships; More Rigorous Up-front Analysis Could Better Secure Potential Benefits and Protect the PublicInterest,GAO-08-44,February,2008.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-v%C3%A0-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-v%E1%BB%9Bi-hi%E1%BB%87u-su%E1%BA%A5t-b%E1%BB%87nh-vi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-v%C3%B9ng-T%C3%A2y-B%E1%BA%AFc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    ThS. Vũ Thị Sen*

     

    Bài viết nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh tài chính của thẻ điểm cân bằng (BSC) đến hiệu suất của các bệnh viện công vùng Tây Bắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh tài chính có mối tương quan khá chặt chẽ và tác động tích cực đến hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng Tây Bắc. Kết quả này

     

    là cơ sở khoa học để các nhà quản lý bệnh viện tập trung giải pháp nào về kế hoạch chiến lược và tài chính nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công vùng Tây Bắc.

     

    Từ khóa: Kế hoạch chiến lược, Tài chính, Thẻ điểm cân bằng (BSC), Hiệu suất, Bệnh viện công. The impacts between strategic and financial plans with the northern hospitals’ performance

     

    The paper examines the relationship between the strategic plan and the financial aspect of the balanced scorecard (BSC) on the performance of public hospitals in the North West of Vietnam. The results show that the strategic planning and the financial aspect have a relatively close relationship and have a positive impact on the performance of public hospitals in the northwest region. This result is the scientific basis for hospital managers to focus on what strategies and financial plans to improve and enhance the performance of public hospitals in the area.

     

    Key words: Strategic Planning, Finance, Balanced Scorecard (BSC), Performance, Public Hospitals.

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Vùng Tây Bắc là vùng có điều kiện kinh tế xã hội chậm phát triển nhất cả nước. Về kinh tế, đây là vùng có số hộ nghèo cao gấp 2.7 lần so với trung bình cả nước, về điều kiện tự nhiên là vùng núi có địa hình hiểm trở, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu. Về mặt xã hội, đây là vùng có nhiều dân tộc sinh sống nhất trong cả nước với hơn 20 dân tộc khác nhau; trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, sự phát triển của giáo dục, y tế so với cả nước còn ở mức thấp.

     

    Theo Báo cáo Tổng kết ngành Y tế giai đoạn 2011-2015 của vùng Tây Bắc cho thấy: Ngành Y tế trong vùng đã có những cải thiện đáng kể so với

    giai đoạn trước, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em, kéo dài tuổi thọ, ngăn chặn dịch bệnh… Tuy nhiên, những hạn chế chủ yếu của các bệnh viện công trong vùng là chất lượng dịch vụ y tế cung cấp chưa đáp ứng mong đợi của người dân, hạn chế cả về số lượng và chất lượng nhân lực y tế, đặc biệt là cơ sở vật chất còn yếu và thiếu đội ngũ bác sĩ có tay nghề cao và chuyên sâu, mức độ tự chủ và hiệu quả tài chính còn ở mức rất thấp…

     

    Với quan điểm của Ngành Y tế trong chiến lược phát triển ngành và chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã đề ra “chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu nhằm đem lại phúc lợi cho

     

    *Khoa Kinh tế – Trường Đại học Tây Bắc

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    người dân” và làm thế nào khắc phục được những hạn chế cơ bản trên đây của các bệnh viện vùng Tây Bắc, hướng tới đạt mục tiêu chung của Ngành y tế Việt Nam là bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo Chiến lược của ngành giai đoạn 2011 – 2020 thì cần thiết những nghiên cứu đưa ra cơ sở khoa học giúp nhà quản lý đưa ra giải pháp khắc phục hạn chế, đạt được mục tiêu của ngành đề ra.

     

    Cùng với kết quả phỏng vấn trực tiếp một số lãnh đạo bệnh viện trong vùng cho thấy khâu lập kế hoạch chiến lược tại các bệnh viện trong vùng còn yếu, chưa có chiến lược dài hạn mà mới chỉ có kế hoạch thực hiện ngắn hạn hàng năm. Vậy, vấn đề này có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu suất của các bệnh viện trong vùng hay không?

     

    Trong những vấn đề đặt ra trên đây, tác giả tập trung nghiên cứu chỉ ra sự tác động về kế hoạch chiến lược và tài chính đến hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc như thế nào để có cơ sở khoa học đối với các nhà quản lý bệnh viện trong nỗ lực cải thiện hiệu suất, nâng cao hiệu quả hoạt động chung của các bệnh viện trong vùng.

     

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

    Lockett (1992) cho rằng: Hiệu suất là một cấu trúc đa chiều gồm các yếu tố phổ biến mà thường xuyên kết hợp với hiệu năng tổ chức, đáp ứng chất lượng, chi phí và hiệu quả tổng thể trong tổ chức.

     

    Hiệu suất trong bệnh viện là mức độ mà dịch vụ bệnh viện cung cấp góp phần vào việc cải thiện sức khỏe của bệnh nhân, nó phù hợp với mong đợi của bệnh nhân và đảm bảo công bằng trong việc cung cấp chăm sóc y tế, không phụ thuộc vào cách thức thanh toán và những đóng góp của xã hội (Theo Tổ chức Y tế Thế giới).

     

    Kế hoạch chiến lược là một quá trình quản lý tìm cách sắp xếp hành vi tổ chức với mong muốn của tổ chức và là công cụ quản lý chiến lược nhằm cung cấp hệ thống quy trình và tạo sự gắn kết với các hoạt động của tổ chức đã xác định trong tương lai (Poister & Streib, 2005). Lập kế hoạch chiến lược là một công cụ của quản lý chiến lược và thẻ điểm cân bằng (BSC) là công cụ để dịch chuyển kế hoạch

    chiến lược của tổ chức thành hành động bằng các giải pháp cụ thể. BSC là công cụ được phát triển bởi Kaplan và Norton (1992) như là phương tiện đánh giá hoạt động của tổ chức ngoài dựa trên biện pháp truyền thống là tài chính còn có các biện pháp phi tài chính.

     

    Theo Kaplan và Norton (2001) và Niven (2003, 2008), các khía cạnh của BSC trong tổ chức phi lợi nhuận gồm: Sứ mệnh; Khách hàng; Quy trình nội bộ; Đào tạo và phát triển nhân viên; Tài chính.

     

    Về khía cạnh Tài chính trong mô hình BSC: Kaplan và Norton (2001) xác định khía cạnh Tài chính như kết quả của hành vi tổ chức được thể hiện theo các chỉ tiêu tăng trưởng ngân sách mang tính bền vững. Trong tổ chức phi lợi nhuận khía cạnh Tài chính sẽ kiểm tra tính hiệu quả của sử dụng chi phí một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo lợi ích đối với khách hàng. Niven (2008) cũng cho rằng khía cạnh Tài chính trong tổ chức phi lợi nhuận là không thể thiếu vì thông qua khía cạnh này sẽ thu thập thông tin về việc sử dụng nguồn lực hạn chế và các nguồn tiền từ ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ để cung cấp dịch vụ có chất lượng. Tương tự như đơn vị phi lợi nhuận, thước đo tài chính trong các bệnh viện không tập trung đo lường về vấn đề lợi nhuận mà cần đo lường xem trong giới hạn nguồn lực tài chính của bệnh viện có đạt được mục tiêu hoạt động của bệnh viện đề ra hay không.

     

    Đã có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong các nghiên cứu để chứng minh mối quan hệ tích cực giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận. Trong nghiên cứu của Al.Shammari và Husein (2007) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng khảo sát đo lường chứng minh mối quan hệ giữa kế hoạch chiến lược với hiệu suất của tổ chức. Giffords và Dina (2004) cũng khẳng định mối liên hệ trên thông qua một nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu trường hợp. Các nghiên cứu của Cothran và Clouser (2006), Bush (1996) cũng chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của tổ chức. Linda W. Smith (2008), bằng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu các trường

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  53

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    hợp trong các tổ chức phi lợi nhuận cũng chỉ ra mối quan hệ mạnh mẽ giữa kế hoạch chiến lược với hiệu suất của các tổ chức thông qua việc vận dụng mô hình khái niệm về BSC.

     

    Các nghiên cứu của Blackmon (2008) và Franklin (2011) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng theo thiết kế nghiên cứu hồi cứu cắt ngang bằng bảng hỏi khảo sát để kiểm tra mối liên hệ giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của tổ chức thông qua các khía cạnh của BSC và kết quả nghiên cứu đã khẳng định giữa kế hoạch chiến lược, thành tựu sứ mệnh, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển nhân viên và tài chính là có ảnh hưởng đến hiệu suất đối với các tổ chức phi lợi nhuận.

     

    Nashwa Ghoneim và Laila El Baradei (2013), đã nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận của Ai Cập, kết quả nghiên cứu cho thấy có các nhân tố sau: kế hoạch chiến lược, sứ mệnh, quy trình nội bộ, khách hàng là tác động tới hiệu suất của tổ chức phi lợi nhuận. Còn các nhân tố đào tạo và phát triển nhân viên, tình nguyện viên không có ý nghĩa thống kê trong tác động ảnh hưởng đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận của Ai Cập.

     

    Weerasooriya và Ali Khatibi (2015), dựa trên BSC để nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu suất của các tổ chức giáo dục và phi Chính phủ tại Srilanka, nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố sau có ý nghĩa thống kê tác động đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận là: Kế hoạch chiến lược, Quy trình nội bộ, Khách hàng, Đào tạo và phát triển nhân viên. Hai nhân tố chưa có ý nghĩa thống kê tác động đến hiệu suất là Tài chính và nhân tố Tình nguyện viên.

     

    Kế thừa kết quả của các nghiên cứu trên đây, tác giả lựa chọn nghiên cứu về mối quan hệ tác động giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh Tài chính của BSC với hiệu suất của các bệnh viện công vùng Tây Bắc để thấy được mối tương quan và mức độ tác động giữa chúng trong nghiên cứu này.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    3.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Số liệu được thu thập từ các nhà quản lý cấp

    trưởng, phó phòng, trưởng, phó khoa và ban giám đốc 43 bệnh viện trên địa bàn 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu của vùng Tây Bắc bằng phương pháp bảng hỏi. Nghiên cứu sử dụng dạng câu trả lời “Có”, “Không” cho những câu hỏi về Kế hoạch chiến lược, sử dụng thang đo Likert 5 điểm với 1 là rất không đồng ý, 2 là không đồng ý, 3 là trung lập, 4 là đồng ý và 5 là rất đồng ý để đo lường về các khía cạnh của BSC, trong đó có khía cạnh Tài chính. Để đo lường về Hiệu suất nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm: 1 là thay đổi rất bất lợi, 2 là thay đổi bất lợi, 3 là trung lập, 4 là thay đổi thuận lợi và 5 là thay đổi rất thuận lợi. Số lượng phiếu bảng hỏi hợp lệ sử dụng trong nghiên cứu là 428 phiếu. Thời gian thu thập bảng hỏi từ tháng 3/2017 – tháng 7/2017.

     

    3.2. Thang đo

     

    Về Kế hoạch chiến lược: Trong bảng hỏi gồm 7 biến quan sát (các thang đo này đã được Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Lee (2006)).

     

    Về Tài chính: Gồm 12 biến quan sát trong bảng hỏi, trong đó 1 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Perters và các cộng sự (2007), 2 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Walker, Kenton B và Dunn Laura M (2006), 4 biến quan sát được phát triển từ nghiên cứu định tính, 5 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Urrutia and Eriksen (2005), Yang và cộng sự (2005). Biến phụ thuộc Hiệu suất trong bảng hỏi khảo sát: Gồm 14 biến quan sát, trong đó có 13 biến dựa trên nghiên cứu của Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Urrutia and Eriksen (2005), Yang và cộng sự (2005), 1 biến quan sát được phát triển từ kết quả nghiên cứu định tính.

     

    3.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

     

    Bảng hỏi khảo sát sau khi thu thập về được rà soát loại bỏ những bảng hỏi trả lời không hợp lệ, những bảng hỏi hợp lệ được cập nhật, mã hóa trên phần mềm SPSS 22 và được xử lý theo từng bước sau: Trước hết tác giả thực hiện kiểm định sự tin cậy của thang đo. Theo Hair và cộng sự (1998), chấp nhận những biến quan sát có hệ số tin cậy của Cronbach’s Alpha >0.6, đồng thời loại

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    bỏ những biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3. Những biến quan sát đảm bảo độ tin cậy được chuyển sang bước phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để rút ra những biến quan sát có ý nghĩa hội tụ và tách biệt với điều kiện hệ số tải >0.5 và 0.5<KOM<1, với kiểm định Bartlett có Sig<0.05 và Phương sai trích >50%. Dựa trên kết quả phân tích EFA, tác giả phân tích hồi quy giữa các nhân tố Kế hoạch chiến lược và nhân tố Tài chính với biến phụ thuộc Hiệu suất bệnh viện để chỉ ra mối tương quan và mức độ tác động. Đồng thời, căn cứ vào hệ số β có dấu dương thì ảnh hưởng thuận chiều (tác động tích cực) với biến phụ thuộc, β có dấu âm thì ảnh hưởng ngược lại.

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    Theo Hair và cộng sự (1998) cho thấy: Kết quả kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha có độ tin cậy cao của thang đo, các biến quan sát có hệ số đạt từ 0.774 – 0.940. Dựa trên sự tin cậy của các thang đo như trên tác giả tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA để loại bỏ những biến quan sát có hệ số tải <0.5, kết quả thu được 13 nhân tố hội tụ

    và tách biệt với hệ số tải Loading từ 0.558- 0.868, hệ số KMO = 0.876 nên phân tích nhân tố là phù hợp. Với kiểm định Bartlett có Sig<0.000 và Phương sai trích Total Variance Explained là 71%>50%, điều này chứng tỏ 71% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 13 nhân tố hội tụ, trong đó có các nhân tố về khía cạnh Kế hoạch chiến lược và Tài chính cụ thể như sau:

     

    • Về Kế hoạch chiến lược, có 2 nhân tố: Hoạt động lập Kế hoạch chiến lược (KHCL01); Nhân tố Biện pháp Kế hoạch chiến lược (KHCL02).
    • Khía cạnh Tài chính, có 2 nhân tố: Hiệu quả thực hiện các khoản thu, chi tài chính (TC01) gồm 8 biến quan sát; Nhân tố Hiệu quả quản lý tài chính chung bệnh viện (TC02) gồm 3 biến quan sát.

    Kết quả hội tụ của các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính dưới đây có hệ số tải của các biến quan sát đều >0.5, do đó sự hội tụ của các biến đạt

     

    • mức khá tốt trở lên. Độ tin cậy Cronbach’Alpha kiểm định lại sau khi hội tụ của các biến quan sát trong từng nhân tố từ 0.608 -0.899, cho thấy chất lượng của các thang đo đạt yêu cầu. Kết quả cụ thể được thể hiện theo bảng 1 dưới đây:

    Bảng 1: Hệ số Cronbach’ Alpha và hệ số tải của các nhân tố

     

    Tên biến quan sát

    Hệ số tải

    Cronbach’Alpha

     

    KHCL01  KHCL02  TC01  TC02

         

    Xây dựng tuyên bố về Tầm nhìn bệnh viện

    0.829

       

    Đánh giá môi trường hoạt động của bệnh

    0.758

       

    viện

       
     

    0.767

     

    Xây dựng tuyên bố về Sứ mệnh của bệnh

     

    0.724

       

    viện

       
         

    Xây dựng chiến lược bệnh viện

    0.709

       

    Biện pháp huy động nguồn kinh phí

    0.751

    0.608

     

    Biện pháp đối với nhân viên

    0.688

       

    Bệnh viện sử dụng chi phí hành chính hiệu

    0.792

       

    quả

       
         

    Bệnh viện phân bổ chi mua thuốc, vật tư y tế

    0.751

       

    so với tổng chi hợp lý

       
         

    Bệnh viện sử dụng tiết kiệm mọi khoản chi

    0.729

       
           

    Bệnh viện phân bổ mức chi cho lao động so

    0.727

       

    với tổng chi là hợp lý

       
         
           

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  55

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Bệnh viện sử dụng có hiệu quả chi phí

    0.702

     

    trong phạm vi dự toán

       

    Tổng số thu viện phí có xu hướng tăng

    0.666

     

    hàng năm

       

    Tổng thu viện phí/Tổng chi thường

    0.622

     

    xuyên tại bệnh viện có xu hướng tăng lên

       

    Bệnh viện làm việc tốt với các cơ quan

       

    có liên quan trong khả năng kinh phí của

    0.558

     

    mình

       

    Bệnh viện có đủ tiền để cung cấp cho các

    0.781

     

    lĩnh vực hoạt động dịch vụ của bệnh viện

       

    Bệnh viện thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài

    0.781

     

    chính

       

    Bệnh viện phân bổ hợp lý nguồn lực tài

    0.682

     

    chính cho các lĩnh vực

       

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

       

    0.899

     

     

    0.799

     

    Quá trình hội tụ từ 14 biến quan sát đo lường về Hiệu suất đã loại bỏ 1 biến do có hệ số tải thấp và thu được 13 biến quan sát có kết quả hội tụ vào biến phụ thuộc Hiệu suất với hệ số tải của các biến quan sát đều >0.6, do đó sự hội tụ của các biến

    quan sát đạt ở mức tốt. Độ tin cậy Cronbach’Alpha kiểm định lại sau khi hội tụ của các biến quan sát là 0.935 cho thấy chất lượng của các thang đo đạt ở mức rất tốt. Kết quả cụ thể được thể hiện theo bảng 2 dưới đây:

     

    Bảng 2: Hệ số Cronbach’ Alpha và hệ số tải của biến phụ thuộc hiệu suất

     

    Tên biến quan sát

    Hệ số tải

    Cronbach’

     

    Alpha

     
       

    1.Danh tiếng của bệnh viện

    0.801

       

    2.Bệnh nhân tiếp tục lựa chọn bệnh viện để khám và điều trị

    0.797

       

    3.Tỷ lệ hoàn thành khám và điều trị cho bệnh nhân

    0.786

       

    4.Hình ảnh của bệnh viện

    0.782

       

    5.Bệnh viện hiểu những gì là quan trọng đối với bệnh nhân

    0.774

       

    6.Được bệnh nhân giới thiệu về bệnh viện

    0.772

       

    7.Sự tin tưởng của cộng đồng địa phương đối với bệnh viện

    0.770

    0.935

     

    8.Hiểu biết về các biện pháp thực hiện của bệnh viện

    0.754

       

    9.Sự cống hiến của nhân viên đối với bệnh viện

    0.747

       

    10.Số bệnh nhân mới tham gia khám và điều trị

    0.730

       

    11.Những người tham gia vào chương trình (hoạt động) của bệnh viện

    0.729

       

    12.Được các tổ chức khác giới thiệu về bệnh viện

    0.683

       

    13.Quy trình làm việc của bệnh viện

    0.629

       

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Dựa trên kết quả phân tích EFA trên đây, tác giả hồi quy giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược

    và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện cho kết quả như sau:

     

    Bảng 3: Bảng tổng hợp mô hình

     

    Model Summaryb

     

    Model

    R

    R Square

    Adjusted R Square

    Std. Error of the Estimate

     

    Durbin-Watson

     
     

    1

    .585a

    .342

       

    .336

     

    .348

         

    1.809

     
     

    a. Biến độc lập: KHCL01, KHCL02, TC01, TC02

                 
     

    b. Biến phụ thuộc: Hiệu suất

                     
     

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

                       
     

    Bảng 3, Kết quả chạy mô hình hồi quy có R2 =

    có mức tương quan là 58.5%>50% và <70%, do đó

     

    0.342, tương đương với 34.2% sự thay đổi của biến

    mức tương quan này đạt ở mức khá chặt chẽ.

     

    phụ thuộc Hiệu suất được giải thích bởi bốn biến

    Hệ số Durbin-Watson = 1.809<3, cho thấy mô

     

    độc lập về Kế hoạch chiến lược và Tài chính trên.

    hình không có tự tương quan, do đó đánh giá chất

     

    Ngoài ra, hệ số R = 0.585, tức là giữa Kế hoạch

    chiến lược và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện

    lượng hồi quy tốt.

             
     

    Bảng 4: Hệ số phương sai

                       
               

    ANOVAa

               
     

    Model

     

    Sum of Squares

    df

    Mean Square

    F

       

    Sig.

     
     

    Regression

    25.207

     

    4

     

    6.302

    52.048

     

    .000b

     

    1

    Residual

    48.432

     

    400

     

    .121

             
     

    Total

     

    73.639

     

    404

                 
     

    a. Dependent Variable: Hiệu suất

                   
     

    b. Predictors: (Constant), KHCL01, KHCL02, TC01, TC02

               
     

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

                       
     

    Bảng 4, có F= 52.048, Sig = 0.000<0.05, do đó

    tính giữa biến phụ thuộc Hiệu suất với các các

     

    bác bỏ giả thiết: Toàn bộ hệ số hồi quy bằng 0,

    biến độc lập về Kế hoạch chiến lược và Tài chính

     

    chấp nhận giả thuyết: Tồn tại mối quan hệ tuyến

    trên đây.

             
     

    Bảng 5: Kết quả hồi quy

                       
               

    Coefficientsa

               
         

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số chuẩn hóa

     

    Mức ý

     

    Thống kê cộng

     
         

    hóa (Unstandardized

    (Standardized

    Giá trị

    tuyến (Collinearity

     
     

    Model

     

    nghĩa

       

    Coefficients)

    Coefficients)

    (T)

     

    Statistics)

     
         

    (Sig.)

     
         

    B

    Std. Error

    Beta

         

    B

    VIF

     
                 
     

    (Constant)

    1.510

     

    .168

                   
     

    KH CL01

    .053

     

    .095

    .024

     

    .557

    .578

     

    .909

    1.101

     

    1

    KH CL02

    .234

     

    .091

    .110

     

    2.570

    .011

     

    .904

    1.106

     
     

    TC 01

    .496

     

    .046

    .515

     

    10.772

    .000

     

    .721

    1.388

     
     

    TC 02

    .047

     

    .034

    .066

     

    1.387

    .166

     

    .722

    1.386

     
    1. Biến phụ thuộc (Dependent Variable): Hiệu suất

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  57

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Hệ số VIP = 1.101 – 1.388<3, do đó giữa các biến độc lập không có hiện tượng đa cộng tuyến. Đây cũng là cơ sở đánh giá chất lượng hồi quy trong mô hình tốt.

     

    Phương trình hồi quy viết lại theo Bảng 5 như sau:

     

    Hiệu suất=1.510+0.024*KHCL01+0.110*KHC L02+0.515*TC01+ 0.066*TC02

     

    Hệ số β của các biến độc lập trong mô hình hồi quy trên đây >0, do đó có thể kết luận là: Có mối tương quan tích cực giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện công trong vùng Tây Bắc.

     

    Tuy nhiên, nhìn vào mức ý nghĩa thống kê trong bảng 5 cho thấy: Nhân tố Biện pháp Kế hoạch chiến lược (KHCL02) và nhân tố Hiệu quả thực hiện thu, chi tài chính (TC01) có hệ số Sig <0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Đây cũng là hai nhân tố có hệ số β lớn nhất trong phương trình hồi quy, do đó đây là những nhân tố có tác động lớn nhất đến Hiệu suất bệnh viện. Các nhân tố: Hoạt động lập Kế hoạch chiến lược (KHCL01) và Nhân tố Hiệu quả quản lý tài chính chung bệnh viện (TC02) có hệ số Sig>0.05, do đó những nhân tố này không có

     

    • nghĩa thống kê.
    1. Kết luận và một số hàm ý nghiên cứu

    Kết quả hồi quy bảng 5 cho thấy giữa Kế hoạch chiến lược và Tài chính có mối quan hệ tác động tích cực đến Hiệu suất bệnh viện công của vùng Tây Bắc. Mức độ tương quan giữa chúng có R=58.5% đạt ở mức tương quan khá chặt chẽ. Đồng thời, kết quả chỉ ra 34,2% sự thay đổi của Hiệu suất bệnh viện được giải thích bởi các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính. Tuy nhiên, trong đó chỉ có nhân tố Biện pháp kế hoạch chiến lược (KHCL02) và Hiệu quả thực hiện thu, chi tài chính (TC01) là có ý nghĩa thống kê, còn các nhân tố còn lại không có ý nghĩa thống kê nên chưa có cơ sở chỉ ra tác động đến Hiệu suất của bệnh viện.

     

    Mặt khác, tác giả thực hiện hồi quy giữa các nhân tố của Kế hoạch chiến lược với Hiệu suất có R2 = 0.048, tức là có 4,8% sự thay đổi của Hiệu suất được giải thích bởi các nhân tố của Kế hoạch chiến lược. Do đó, mức độ tác động này rất yếu, không đáng kể. Kết hợp kết quả hồi quy giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính với Hiệu suất của bảng 5 có R2 = 34.2% cho thấy các nhân tố về

    Tài chính có tác động rất lớn đến hiệu suất trong mối tương quan này.

     

    Với kết quả nghiên cứu chỉ ra như trên, để cải thiện và tăng cường hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng Tây Bắc các nhà quản lý cần tập trung mạnh các giải pháp cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về Kế hoạch chiến lược:

     

    Đối với nhân tố KHCL01 vừa có hệ số β=0.024 là nhỏ nhất và không có ý nghĩa thống kê cho thấy hoạt động lập kế hoạch chiến lược tại các bệnh viện trong vùng chưa thể hiện được vai trò đóng góp vào Hiệu suất của các bệnh viện trong vùng. Đây là một khâu còn yếu đối với các bệnh viện của vùng, do đó Bộ Y tế và các nhà quản lý bệnh viện cần quan tâm đến vai trò của hoạt động này để thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công trong vùng.

     

    Đối với nhân tố KHCL02 về Biện pháp thực hiện kế hoạch chiến lược có hệ số β=0.110 là khá lớn trong các nhân tố, do đó có tác động cũng khá lớn đến hiệu suất bệnh viện của vùng, nhân tố này có Sig<0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, cần tăng cường tác động đến các biện pháp tăng cường nguồn lực tài chính của bệnh viện và các biện pháp nâng cao hiệu quả nhân viên, đặc biệt là đội ngũ y bác sĩ trong bệnh viện giúp cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cung cấp sẽ góp phần lớn vào hiệu suất, hiệu quả của các bệnh viện công trong vùng.

     

    Thứ hai, về Tài chính:

     

    Đối với nhân tố TC01, có hệ số β= 0.515 là hệ số lớn nhất trong các nhân tố trên nên đây là nhân tố có tác động lớn nhất đến hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng hiện nay, nhân tố này có Sig<0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Với kết quả này cho thấy, để cải thiện mạnh mẽ hiệu suất thì các bệnh viện trong vùng cần:

     

    • Cần tăng cường sử dụng kinh phí trong phạm
    • dự toán, sử dụng tiết kiệm các khoản chi trong đó lưu ý đến sử dụng tiết kiệm các khoản chi phí hành chính trong bệnh viện, tuân thủ các tiêu chuẩn định mức về chi phí hành chính, thực hiện chi đúng nội dung. Phân bổ chi phí tiền lương và các khoản thanh toán cho cán bộ, y bác sĩ hợp lý theo hướng tăng cường thu nhập, góp phần để cán bộ yên tâm chăm sóc người bệnh. Thực hiện phân bổ chi phí thuốc, vật tư y tế phù hợp đảm bảo nhu cầu thuốc và vật tư phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh, nhằm tăng cường chất lượng khám và điều trị bệnh.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Bệnh viện cần nâng cao chất lượng khám và điều trị, gia tăng sự hài lòng của người bệnh sẽ đẩy mạnh thu hút bệnh nhân khám và điều trị tại các bệnh viện trong vùng, giảm các trường hợp phải chuyển tuyến từ đó tăng nguồn thu từ viện phí và bảo hiểm y tế. Nguồn thu từ viện phí tăng sẽ giúp các bệnh viện trong vùng tăng khả năng tự chủ tài chính, trong đó tăng tỷ lệ đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên theo tinh thần của Nghị định số 16/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
    • Ngoài ra, tính hiệu quả trong sử chi phí còn thể hiện trong việc sắp xếp ưu tiên các khoản chi mang tính cấp thiết, ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám và điều trị của bệnh viện của vùng.

    Đối với nhân tố TC02 về Hiệu quả quản lý tài chính chung trong bệnh viện, nhân tố này mặc dù tác động tích cực đến hiệu suất bệnh viện nhưng với hệ số β= 0.066 là nhỏ so với các nhân tố TC01, KHCL02 nên mức độ tác động đến hiệu suất là không lớn. Đồng thời, nhân tố này có hệ số Sig>0.05 nên không có ý nghĩa thống kê. Đây cũng là một trong những khâu yếu của các bệnh viện công trong vùng hiện nay, do đó kết quả nghiên cứu chưa thể hiện được mức độ tác động rõ rệt đến hiệu suất bệnh viện. Vì vậy, để nhân tố này có tác động mạnh mẽ hơn đến hiệu suất bệnh viện thì cải thiện quản lý tài chính sao cho bệnh viện có đủ nguồn lực tài chính sử dụng cho các hoạt động, tăng cường sự tự chủ tài chính và phân bổ hợp lý nguồn lực tài chính của bệnh viện.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2016/ NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 2 năm 2015.
    2. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu (2016), Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2016 – 2020.

     

    1. Al-Shammari, H. A. and Hussein, R. T. (2007), Strategic planning-firm performance linkage: Empirical in vestigation from an emergent market perspective, Advances in Competitiveness Reseach.

     

    1. Andrews, R., Boyne, G. A., and Walker, R. M. (2006), Strategy content and organizational performance: an empirical analysis, Public Administration Review.
    2. Blackmon, V. Y. (2008), Strategic planning and organizational performance: an investigation using the balanced scorecard in nonprofit organizations. Ph.D.dissertation, Caplla University, United States, Retrieved August.
    1. Franklin, P. W. (2011), Relationship between Strategic Planning and Nonprofit Organizational Performance, Ph.D. Dissertation, Capella University, United States.
    2. Giffords, E. D., and Dina, R. P. (2004), Strategic planning in nonprofit organizations: Continuous quality performance improvement – a case study, International Journal of Organization Theory and Behavior.

     

    1. Kaplan, R., and Norton, D. (1992a), The Balanced scorecard: Measures That Drive Performance. (Cover story), Harvard Business Review.

     

    • Kaplan, R., and Norton, D. (2001), Transforming the Balanced scorecard from Performance Measurement to Strategic Management, Part II. Accounting Horizons.

     

    1. Lockett, J. (1992), Effective Performance Mnaagement: A Strategic Guide to Getting the Best from People, Kogan Page, London.
    2. Nagarajah Lee (2006), Measuring the performance of public sector organisations: a case study on public schools in Malaysia, Measuring business excellence.

     

    1. Nashwa Ghoneim và Laila El Baradei (2013), The Impact of Strategic Planning on Egyptian Non-profits’ Performance: An Assessment Using the Balanced Scorecard, Journal of US-China Public Administration.

     

    1. Niven, P. (2003), Adapting the Scorecard to fit public and non-profit organizations, In N. Paul, Balancedscorecard Step by Step Governments and Non-profits.

     

    1. Niven, P. R. (2008), Balanced scorecard step-by-step for government and nonprofit agencies (2nd ed).
    2. Peters and et (2007), A balanced scorecard for health services in Afghanistan, World Health Organization.
    3. Poister, T. H. & Streib, G. (2005), Elements of strategic planning and management in municipal government: status after two decades,Public Administration Review.

     

    1. Urrutia I, Eriksen SD (2005), Application of the balanced scorecard in Spanish private healthcare management, Measure Bus Excell.

     

    1. Voelker KE, Rakich JS, French GR (2001), The balanced scorecard in healthcare organizations: a performance measurement and strategic planning methodology, Hosp Top.
    2. Walker KB & Dunn LM (2006), Improving hospital performance and productivity with the balanced scorecard, Acad Health Care Manag.J.

     

    1. Weerasooriya và Ali Khatibi (2014), The impact of strategic planning for training and educational non government organizations Srilanka: An evaluation using the Balanced Scorecard, International Journal of Management Sciences and Business Research.

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  59


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%E1%BB%B1a-ch%E1%BB%8Dn-%C4%91%E1%BB%91i-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-n%E1%BB%99i-b%E1%BB%99-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-r%E1%BB%A7i-ro-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    ThS. Phan Thị Thùy Linh

     

    Trong mỗi tổ chức, nguồn lực kiểm toán nội bộ (KTNB) thường có sự hạn chế, “khan hiếm” một cách tương đối so với nhu cầu, do vậy, việc lựa chọn đối tượng kiểm toán hợp lý để đạt được mục tiêu kiểm toán và giảm thiểu rủi ro kiểm toán là vấn đề hàng đầu mà bộ phận KTNB quan

     

    tâm. Điều đó đòi hỏi KTNB cần có phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán một cách khoa học để phục vụ tốt nhất cho hoạt động kiểm toán và phục vụ cho hoạt động quản lý của tổ chức.

     

    Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, rủi ro kiểm soát, đối tượng kiểm toán

     

    Selection of audit subjects of internal audit based on control risk assessment

     

    In each organization, internal audit resources are often limited, “scarce” in a way relative to demand, so the selection of auditor objectively to achieve the Auditing objects and mitigating audit risks are top issues that Internal audit Depts concerned about. This requires Internal audit Depts to have a method of selecting audit subjects in a scientific way to best serve the audit activities and serve the management activities of the organization.

     

    Key words: Internal audit, control risk, audit objects

     

     

    Trong hoạt động kiểm toán hiện đại, các tổ chức kiểm toán (trong đó, gồm cả KTNB) thường thực hiện kiểm toán dựa trên phương pháp tiếp cận rủi ro. Một trong những vấn đề của KTNB là cần lựa chọn các đối tượng kiểm toán thích hợp với mục tiêu quản lý, phù hợp với năng lực kiểm toán (số lượng KTV và thời gian kiểm toán) và giảm thiểu rủi ro kiểm toán. Vấn đề đó có thể được giải quyết hợp lý thông qua việc ứng dụng đánh giá rủi ro kiểm soát để lựa chọn các đối tượng kiểm toán; đó là chủ đề mà Tác giả nghiên cứu trong bài viết này.

     

    1.   Kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát

     

    1.1. Mục tiêu và nội dung kiểm toán nội bộ

     

    Trong văn bản “Quy định về trách nhiệm KTNB” do IIA ban hành, xác định: “KTNB là một chức năng đánh giá độc lập được thiết kế trong một

    tổ chức để kiểm tra và đánh giá những hoạt động của tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho tổ chức” [(1)].

     

    Từ định nghĩa trên, có thể xác định những mục tiêu của KTNB là: i) Giúp cho tổ chức hoàn thành trách nhiệm; ii) Thúc đẩy hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu; iii) Hoàn thành mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả thông qua việc KTNB thực hiện kiểm tra, phân tích, đánh giá, kiến nghị, tư vấn về các thông tin liên quan đến hoạt động được kiểm toán.

     

    Để thực hiện được những mục tiêu đó, KTNB cần thực hiện ba nội dung kiểm toán cơ bản, gồm:

     

    1. Kiểm toán thông tin hay kiểm toán báo cáo tài chính (đánh giá độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt động của tổ chức); ii) Kiểm toán tuân thủ (đánh giá sự tuân thủ pháp luật và các quy định có tác động đến hoạt động của tổ chức) và iii) Kiểm

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  47

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

     

     

     

    toán hoạt động (đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong sử dụng các nguồn lực của tổ chức).

     

    1.2. Mục tiêu và nội dung kiểm soát nội bộ

     

    Để thực hiện được “sứ mệnh” trong dài hạn và các mục tiêu ngắn hạn của mình, mỗi tổ chức cần hoạch định chiến lược phát triển và các kế hoạch hành động. Mặt khác, để có thể duy trì được các hoạt động theo kế hoạch và đạt được các mục tiêu của tổ chức thì mỗi tổ chức đều cần sử dụng một công cụ, phương thức tác động đến toàn bộ hoạt động của tổ chức, đó là KSNB. KSNB có vị trí rất quan trọng, có tác động quyết định đến mức độ thực thi các mục tiêu và kế hoạch hoạt động của tổ chức.

     

    KSNB của một tổ chức là việc thiết kế và tổ chức thực hiện một hệ thống các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời những rủi ro xảy ra trong hoạt động để đảm bảo cho tổ chức quản lý và sử dụng tốt nhất các nguồn lực, thực hiện được các mục tiêu đề ra.

     

    Các mục tiêu chính của KSNB, gồm: “i) Đảm bảo độ tin cậy và tính trung thực của thông tin;

    1. Đảm bảo sự tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật và quy định; iii) Đảm bảo về tài sản; iv) Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn

     

     

     

    lực; v)Hoàn thành các mục tiêu hoạt động”. (CM 300.05[2]).

     

    Nội dung của KSNB thể hiện ở 2 mặt cơ bản: i) Hệ thống KSNB (các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ) được thiết kế phù hợp với yêu cầu của quản lý và mục tiêu của tổ chức; ii) Tổ chức thực hiện KSNB là việc áp dụng các quy định của KSNB trong quá trình tổ chức sử dụng các nguồn lực trong các hoạt động của tổ chức. Mặt tổ chức thực hiện là mặt quyết định vai trò, tác dụng của KSNB; tuy nhiên, mặt thiết kế hệ thống KSNB với mức độ chất lượng khác nhau sẽ là cơ sở và là điều kiện, tác động đến hiệu lực thực tiễn của hoạt động KSNB.

     

    1.3. Rủi ro kiểm soát

     

    Trong hoạt động KTNB, việc đánh giá rủi ro kiểm toán là cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kiểm toán một cách khoa học và hiệu quả: lựa chọn đối tượng kiểm toán, xác định trọng yếu kiểm toán, chọn mẫu các nghiệp vụ trong kiểm toán; trong đó, dựa trên đánh giá rủi ro để chọn đối lượng kiểm toán trong KTNB là một ứng dụng quan trọng của việc đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Trong các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm toán (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện) thì rủi ro KSNB (thường gọi là rủi ro kiểm soát) là yếu tố trung tâm và cũng là yếu tố quan trọng nhất

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    để Kiểm toán viên (KTV) đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Rủi ro KSNB (sau đây gọi là rủi ro kiểm soát) là khả năng mà hệ thống KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém trọng yếu tác động đến hoạt động của tổ chức. Như vây, khi xác định rủi ro kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV chưa xét đến hoạt động kiểm soát và hiệu lực thực tiễn của hệ thống KSNB.

     

    Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ thống KSNB. Hệ thống KSNB bao gồm 3 nhóm yếu tố: i) Nhóm yếu tố môi trường kiểm soát (môi trường bên ngoài và bên trong tổ chức; ii) Nhóm yếu tố tổ chức hệ thống thông tin và truyền thông (tổ chức thông tin kế toán, thống kê… và tổ chức giám sát, báo cáo);

    • Các thủ tục kiểm soát (hệ thống các quy định về chính sách, thủ tục, quy trình…). Nếu chưa xét đến hiệu lực thực tiễn của việc tổ chức thực hiện KSNB thì mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB sẽ tác động đến khả năng hoạt động KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém có thể xẩy ra trong hoạt động của tổ chức. Có thể hiểu: hệ thống KSNB (gồm các nhóm và các yếu tố của hệ thống KSNB) có khả năng (ở mức độ cụ thể khác nhau) tác động đến khả năng xẩy ra rủi ro kiểm soát.

    2. Quy trình và phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    2.1. Đối tượng của kiểm toán nội bộ

     

    Đối tượng của KTNB gồm các hoạt động quản lý và sử dụng các nguồn lực hoặc tác động đến việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của tổ chức hoặc của các bộ phận của tổ chức phù hợp với mục tiêu, kế hoạch hoạt động của tổ chức. Các hoạt động chủ yếu được kiểm toán gồm:

     

    • Báo cáo tài chính của tổ chức và của các đơn vị trực thuộc;
    • Các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định về quản lý và sử dụng các nguồn lực;
    • Các trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư;
    • Các số dư tài khoản, các nghiệp vụ tài chính;
    • Các hệ thống thông tin;
    • Các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức;
    • Các dự án, chương trình hoạt động;
    • Các bộ phận trong tổ chức hoặc các đơn vị trực thuộc tổ chức…

    Mỗi đối tượng kiểm toán trên có những đặc điểm trong hoạt động khác nhau và cũng tồn tại rủi ro kiểm soát. Rủi ro kiểm soát của mỗi hoạt động đó đều chịu sự tác động của các yếu tố của hệ thống KSNB.

     

    2.2. Quy trình lựa chọn đối tượng kiểm toán nội bộ

     

    Việc lựa chọn các đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát, về tổng quan, gồm các bước công việc sau:

     

    • Tổng hợp, phân nhóm và lập danh sách các đối tượng kiểm toán. KTV phải tổng hợp danh sách của tất cả các đối tượng kiểm toán phù hợp với phạm vi và các tiêu chí phân nhóm các đối tượng kiểm toán. Việc sắp xếp các đối tượng kiểm toán vào một nhóm cần đảm bảo có sự tương đồng về tính chất hoạt động để phục vụ cho việc lựa chọn đối tượng kiểm toán và áp dụng các phương pháp kiểm toán thích hợp…
    • Đánh giá rủi ro kiểm soát, phân loại rủi ro kiểm soát và sắp xếp các đối tượng kiểm toán theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát và lập bản tổng hợp sắp xếp đối tượng kiểm toán của mỗi nhóm theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm toán (theo 2 tiêu chí là: theo tổng điểm rủi ro kiểm soát và theo điểm trung bình rủi ro kiểm soát).
    • Xác định đối tượng kiểm toán lựa chọn. KTV phải dựa trên mục tiêu kiểm toán để xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán. Trên cơ sở kết quả đánh giá, phân loại rủi ro kiểm soát và các nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đưa ra quyết định về các đối tượng kiểm toán lựa chọn.

    2.3. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát và lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    2.3.1. Các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm soát

     

    Để đánh giá rủi ro kiểm soát, trước hết, cần

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  49

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

    xác định các yếu tố cụ thể, chủ yếu tác động đến rủi ro kiểm soát (thực chất là các yếu tố của hệ thống KSNB). Vận dụng theo hướng dẫn của IIA tại Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp kiểm toán 520.04 [(2)], có thể xác định các yếu tố chủ yếu tác đọng đến rủi ro kiểm soát gồm:

     

    Các yếu tố môi trường kiểm soát:

     

    Môi trường bên ngoài:

     

    • Những thay đổi về pháp luật và các chính sách của Nhà nước;
    • Những biến động của nền kinh tế, ngành kinh tế;
    • Tác động của các đối thủ cạnh tranh;
    • Tác động của hoạt động ngoại kiểm (Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán độc lập, thanh tra …);

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Môi trường bên trong:

     

    • Tổ chức – nhân sự: những thay đổi về tổ chức – nhân sự; năng lực và đạo đức của nhà quản lý và nhân viên quản lý;
    • Kinh tế: tình trạng kinh tế, tài chính của tổ chức; quy mô tài sản hoặc vốn của hoạt động;
    • Tính chất phức tạp của nghiệp vụ hoặc sự phân tán trong hoạt động;
    • Những thay đổi về cơ chế quản lý, công nghệ;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về hệ thống thông tin, giám sát:

     

    • Tổ chức công tác kế toán, thống kê;
    • Tổ chức truyền thông (công khai, minh bạch, kịp thời…);
    • Các quy định về giám sát, ủy quyền;
    • Kết quả KTNB kỳ trước và khoảng các giữa 2 lần KTNB;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về các thủ thục, quy trình kiểm soát:

    • Sự tuân thủ pháp luật và phù hợp với mục đích, mục tiêu của tổ chức và của hoạt động;
    • Sự đầy đủ, toàn diện của các quy định đối với các đối tượng kiểm soát;
    • Sự hữu hiệu: tính khả thi của các quy định trong thực hiện kiểm soát;
    • Sự thích ứng: khả năng thích ứng của các quy định đối với sự biến động từ môi trường kiểm soát.

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    2.3.2. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát là một tiến trình có tính hệ thống để đánh giá và tổng hợp những xét đoán mang tính chuyên môn về tình trạng hoặc sự kiện có thể xảy ra, gây tác hại cho hoạt động của tổ chức.

     

    Việc đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện như sau:

     

    • Lựa chọn các yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát. Trong thực tế, KTV đánh giá rủi ro kiểm soát thường không dựa trên việc đánh giá đối với tất cả các yếu tố tác động (quá nhiều) mà dựa trên việc lựa chọn những yếu tố chủ yếu (có thể ở mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB lựa chọn 2 yếu tố để đánh giá hoặc nhiều hơn ở một nhóm nào đó, tùy theo nhận định của KTV). Việc chọn yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát phải được thống nhất trong mỗi nhóm đối tượng kiểm toán; mặt khác, những yếu tố của hệ thống KSNB của một nhóm đối tượng kiểm toán mà được xét đoán là có sự tương đương về mức độ rủi ro kiểm soát thì có thể không đưa vào danh mục các yếu tố để đánh giá.
    • Lượng hóa rủi ro kiểm soát cho từng yếu tố. Dựa trên các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán và nhận định của KTV về mức độ rủi ro kiểm soát do từng yếu tố của hệ thống KSNB tác động (đã được lựa chọn) để lượng hóa rủi ro kiểm soát theo 5 mức độ: rất cao (5 điểm); cao (4 điểm); trung bình (3 điểm); thấp (2 điểm); rất thấp (1 điểm).
    • Xác định trọng số cho rủi ro kiểm soát. Mặc dù là các yếu tố độc lập tương đối tác động đến rủi ro kiểm soát, song, giữa chúng cũng có mức độ
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    “quan trọng” về mức độ tác động đến rủi ro kiểm soát khác nhau (ví dụ: i) Các quy định càng có tính trực tiếp đối với hoạt động KSNB thì có xu hướng tác động “quan trọng” càng lớn: các yếu tố về thủ tục, quy trình kiểm soát có tác động “quan trọng” lớn hơn các yếu tố về môi trường kiểm soát; ii) Các yếu tố có sự biến động lớn sẽ có tác động “quan trọng” hơn các yếu tố ít biến động …). Do vậy, dựa trên những đánh giá về mức độ tác động “quan trọng” của các yếu tố, KTV xác định “trọng số” tác động rủi ro kiểm soát. Có thể xác định ở 3 mức: yếu tố có mức độ tác động “quan trọng” lớn (trọng số 2); mức độ tác động “quan trọng” trung bình (trọng số 1,5); mức độ “quan trọng” thấp (trọng số 1).

     

    • Tổng hợp và phân loại rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở xác định điểm rủi ro và trọng số rủi ro, KTV tính toán sự tác động của từng yếu tố đến rủi ro kiểm soát và tổng hợp rủi ro kiểm soát của các yếu tố (được lựa chọn) cho từng đối tượng kiểm toán trong cùng một nhóm đối tượng kiểm toán. Để tạo cơ sở cho lựa chọn đơn vị được kiểm toán cần phân loại rủi ro kiểm soát. Việc phân loại rủi ro kiểm soát được thực hiện theo phương pháp: i) Xếp loại rủi ro kiểm soát theo thứ tự từ rủi ro cao xuống thấp; ii) Xác định điểm rủi ro bình quân kiểm soát theo phương pháp tính bình quân gia quyền rủi ro của từng đối tượng kiểm toán; iii) Phân loại rủi ro kiểm soát cho từng đối tượng kiểm toán: dựa trên điểm rủi ro bình quân của từng đối tượng kiểm toán, thực hiện xếp loại: rủi ro rất cao (điểm từ trên 4 đến 5 điểm); rủi ro cao (điểm từ trên 3 đến 4 điểm); rủi ro trung bình (điểm từ trên 2 đến 3 điểm); rủi ro thấp (điểm từ 1 đến 2 điểm); rủi ro thấp (điểm từ trên 0 đến 1 điểm).

    2.3.3. Xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    Để lựa chon đối tượng kiểm toán cần xác định các nguyên tắc lựa chọn phù hợp với từng mục tiêu kiểm toán. Có 3 trường hợp lựa chọn như sau:

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán có mức rủi ro trên mức trung bình. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào các đối tượng có rủi ro kiểm soát cao. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (điểm rủi

    ro bình quân) để chọn tất cả các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát được xếp loại cao và rất cao.

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán theo giới hạn khả năng kiểm toán. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc khai thác cao nhất khả năng kiểm toán. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát) để chọn các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát từ cao xuống thấp cho đến khi số lượng phù hợp với dự kiến về khả năng kiểm toán.
    • Chọn đối tượng kiểm toán đại diện cho tổng thể. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc kiểm toán toàn diện các đối tượng kiểm toán đại diện cho các mức rủi ro kiểm soát. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát và theo phân loại rủi ro kiểm soát) để chọn tại mỗi mức rủi ro (5 mức) chọn theo một tỉ lệ (được xác định trước) các đối tượng kiểm toán; trong mỗi mức rủi ro kiểm soát có thể chọn đối tượng theo phương pháp từ trên xuống (theo tổng điểm rủi ro) hoặc theo lựa chọn ngẫu nhiên.

    Kết luận

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát dựa trên phương pháp lượng hóa làm cơ sở cho việc lựa chọn hợp lý các đối tượng kiểm toán trong hoạt động KTNB là một phương pháp mang tính khoa học và khả thi; việc áp dụng phương pháp đó trong thực tiễn KTNB (đặc biệt là tại các tổ chức có quy mô tương đối lớn) sẽ tạo cơ sở cho việc giảm thiểu rủi ro kiểm toán, nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán của KTNB.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Quy định về trách nhiệm của kiểm toán nội bộ của IIA, 1990.

     

    1. Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp Kiểm toán nội bộ của IIA, 1993.

     

    1. Kiểm toán nội bộ – khái niệm và quy trình, NXB Thống kê, 1999.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%E1%BA%A7n-s%E1%BB%9Bm-tri%E1%BB%83n-khai-khung-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%C3%B4ng-v%C3%A0o-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-c%C3%A1c-qu%E1%BB%B9-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

     

    PGS.TS. Đặng Văn Du* ThS. Đặng Văn Duy*

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

     

    Quá nhiều quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và quản lý các quỹ này còn bộc lộ quá nhiều hạn chế; đó là nhận định của hầu hết các nhà chính trị, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý về tài chính công ở nước ta. Thể hiện sự quyết tâm của “Chính phủ kiến tạo’’ đối với lĩnh vực này, ngày 01 tháng 03 năm 2017, Văn phòng Chính phủ đã ban hành

     

    Văn bản số 1861/VPCP-KTTH, về việc quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nhằm tiếp tục chỉ đạo tăng cường quản lý quỹ tài chính nhà nước (TCNN) ngoài ngân sách theo Chỉ thị 22/2015/CT-TTg.

     

    Bài viết này tập trung bàn về cách thức nghiên cứu triển khai nhằm sớm áp dụng “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’ vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Thông qua đó có thể đáp ứng phần lớn yêu cầu tăng cường quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách mà Chính phủ đã đề ra tại Văn bản 1861 nói trên. Hướng tới mục đích đó, kết cấu bài viết được trình bày theo hai phần: (i) Tổng quan về “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’; và (ii) Nghiên cứu triển khai nhằm sớm áp dụng “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’ vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Từ khóa: Quỹ TCNN ngoài ngân sách, khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công, đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Implementation of the perfromance evaluation framework for public financial management in assessment management of outside budget governmental financial funds

     

    Too many outside budget state financial funds and management of these funds reveal too many limitations; This is the opinion of most politicians, researchers, public finance managers in our country. Demonstrating the determination of the “Enabling Government” in this field, on March 1, 2017, the Office of the Government issued Document No. 1861 / VPCP-KTTH, to further direct the management of outside budget financial funds under the Directive 22/2015 / CT-TTg.

     

    This paper focuses on how to study and implement the “Performance Evaluation Framework for Public Financial Management” in the management of outside budget financial funds. Through which, it is possible to meet most of the requirements for strengthening the management ofoutside budget financial funds set by the Government in Document 1861 mentioned above. Toward that end, the text structure is presented in two parts: (i) Overview of the “Public Financial Management Performance Assessment Framework”; and (ii) Research and development for the early implementation of the “Public Financial Management Performance Evaluation Framework” in outside budget financial funds.

     

    Key words: Outside budget financial funds, the framework for assessing the effectiveness of public financial management, the evaluation of the management of outside budget financial funds.

    *Học viện Tài chính

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  33

     

     

    PI-13

    PI-14

    PI-15

    PI-16

    PI-17

     

    PI-12

     

    PI-11

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    1.   Tổng quan về “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’

     

    Khung đánh giá hiệu quả thực hiện Quản lý tài chính công – Public Expenditure and Financial Accountability (PEFA) – là một khuôn khổ giám sát tổng hợp cho phép lượng hóa hiệu quả thực hiện Quản lý tài chính công (QLTCC) của quốc gia theo thời gian. Khung đánh giá này được xây dựng bởi nhóm đối tác PEFA, phối hợp với Tổ công tác về QLTCC của Ủy ban viện trợ phát triển (DAC) thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nhằm hình thành một công cụ cung cấp thông tin đáng tin cậy về hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thể chế QLTCC theo thời gian. PEFA cung cấp thông tin nhằm đóng góp cho tiến trình cải cách của Chính phủ qua việc xác định mức độ cải thiện về kết quả do thực hiện cải cách đem lại, cũng như tăng khả năng nắm bắt và học hỏi những thành công từ cải cách. PEFA cũng giúp hài hòa về mặt đối thoại giữa Chính phủ và

    các nhà tài trợ trên một khuôn khổ chung nhằm lượng hóa hiệu quả thực hiện QLTCC và qua đó góp phần giảm các chi phí giao dịch cho các Chính phủ đối tác.

     

    PEFA là một trong những nội dung của phương pháp tiếp cận tăng cường, nhằm hỗ trợ cải cách QLTCC. Nó được thiết kế để lượng hóa hiệu quả thực hiện QLTCC theo thời gian cho những quốc gia ở trình độ phát triển khác nhau. Khung đánh giá kết quả thực hiện bao gồm một bộ chỉ số tổng quan, nhằm lượng hóa và giám sát hiệu quả thực hiện của các hệ thống, quy trình, và thể chế QLTCC cùng một mẫu Báo cáo hiệu quả thực hiện QLTCC (PFM- PR), trong đó hướng dẫn về cách thức báo cáo hiệu quả thực hiện của QLTCC được đo lường bằng bộ chỉ số. Đây là phương pháp tiếp cận nhằm đưa vào hệ thống những thông lệ tốt hơn đã được một số quốc gia áp dụng [Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Phần Giới thiệu].

     

    1.1. Bộ chỉ số của PEFA, được trình bày như sau:

     

    1. Đầu ra QLTCC: Độ tin cậy của ngân sách

    PI-1

    Tổng chi thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-2

    Cơ cấu tổng chi thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-3

    Tổng thu thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-4

    Kiểm kê và giám sát nợ quá hạn thanh toán từ nguồn chi

    B. CÁC VẤN ĐỀ ĐAN XEN: Tính toàn diện và minh bạch

    PI-5

    Phân loại ngân sách

    PI-6

    Tính toàn diện của thông tin trong tài liệu ngân sách

    PI-7

    Quy mô các hoạt động Chính phủ không được báo cáo

    PI-8

    Tính minh bạch của các mối quan hệ tài khóa liên Chính phủ

    PI-9

    Giám sát rủi ro tài khóa tổng thể xuất phát từ các thể nhân khác thuộc khu vực công

    PI-10

    Sự tiếp cận của công chúng đối với thông tin tài khóa chủ đạo

    1. CHU KỲ NGÂN SÁCH

    (i) Lập ngân sách trên cơ sở chính sách

     

    Tính kỷ luật và sự tham gia vào quy trình ngân sách hàng năm

     

    Triển vọng nhiều năm đối với công tác lập kế hoạch tài khóa, chính sách chi và lập ngân sách

     

    (ii) Tính dự báo trước và kiểm soát việc chấp hành ngân sách Tính minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế

     

    Tính hiệu quả của các biện pháp đăng ký đối tượng nộp thuế và khai thuế Tính hiệu quả của việc thu thuế

     

    Tính dự báo trước về quỹ có thể chi tiêu

     

    Ghi sổ và quản lý số dư tiền mặt, nợ và bảo lãnh

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    PI-18

    Tính hiệu quả của việc kiểm soát tiền lương

     

    PI-19

    Cạnh tranh, giá trị tiền tệ và kiểm soát việc mua sắm

     

    PI-20

    Tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ đối với chi phí ngoài lương

     

    PI-21

    Tính hiệu quả của kiểm toán nội bộ

     
     

    (iii) Kế toán, ghi sổ và báo cáo

     

    PI-22

    Tính kịp thời và thường xuyên của công tác đối chiếu số dư tài khoản

     

    PI-23

    Tính sẵn có của thông tin về nguồn mà các đơn vị cung cấp dịch vụ nhận được

     

    PI-24

    Chất lượng và tính kịp thời của báo cáo ngân sách trong năm

     

    PI-25

    Chất lượng và tính kịp thời của báo cáo tài khóa hàng năm

     
     

    (iv) Kiểm tra và kiểm toán bên ngoài

     

    PI-26

    Phạm vi, đặc điểm và thực hiện kiến nghị của kiểm toán bên ngoài

     

    PI-27

    Giám sát của Quốc hội về tính pháp lý của luật ngân sách hàng năm

     

    PI-28

    Giám sát của Quốc hội về tính pháp lý các báo cáo kiểm toán bên ngoài

     
       

    D. THỰC TIỄN TÀI TRỢ

     
         

    D-1

    Tính dự báo trước của các khoản hỗ trợ ngân sách trực tiếp

     

    D-2

    Thông tin tài khóa do nhà tài trợ cung cấp về ngân sách và báo cáo các khoản tài trợ

     

    cho dự án và chương trình

     
     

    D-3

    Tỷ trọng viện trợ được quản lý theo các thủ tục quốc gia

     

    Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Phụ lục 1

     

    28 chỉ số lựa chọn cho hệ thống QLTCC được sắp xếp theo 3 nhóm nội dung đánh giá như sau:

     

    Một là, kết quả thực hiện của hệ thống QLTCC/ đầu ra: Nhằm tìm hiểu kết quả trước mắt của hệ thống QLTCC, được thể hiện qua thực thu và thực chi so với ngân sách gốc được phê duyệt, cũng như mức độ và thay đổi về nợ đọng chi tiêu.

     

    Hai là, đặc điểm chung của hệ thống QLTCC: Nhằm tìm hiểu tính toàn diện và minh bạch của hệ thống QLTCC xuyên suốt toàn bộ chu kỳ ngân sách.

     

    Ba là, chu kỳ ngân sách: Nhằm tìm hiểu hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thể chế chính trong chu kỳ ngân sách của Chính phủ cấp Trung ương.

     

    Ngoài các chỉ số về hiệu quả thực hiện QLTCC của quốc gia, PEFA còn bao gồm nội dung đánh giá về:

     

    Hoạt động của nhà tài trợ: Nhằm tìm hiểu các yếu tố về thực tiễn hoạt động của các nhà tài trợ có tác động đến hiệu quả hoạt động hệ thống QLTCC.

     

    1.2. Phương pháp thu thập thông tin của PEFA:

     

    Dựa trên các báo cáo tài chính hàng năm của đơn vị được đánh giá, kết hợp với các hoạt động điều tra thống kê, phỏng vấn… để xác nhận tính đúng đắn của thông tin đã thu thập được.

     

    1.3. Phương pháp đánh giá của PEFA: Chấm điểm cho các chỉ số theo Phương pháp cho điểm 1 (M1), hoặc Phương pháp cho điểm 2 (M2); tổng hợp kết quả theo điểm để xếp mỗi chỉ số theo 04 mức (A, B, C, D); mỗi mức có 2 bậc (cộng (+) hoặc không cộng) nên thang điểm hình thành 08 bậc (A+, A, B+, B, C+, C, D+, D) nên tính chính xác, khách quan của các chỉ số PEFA tương đối cao, chủ thể được đánh giá dễ thừa nhận.

     

    1.4. Kết quả của PEFA: Bản báo cáo hiệu quả hoạt động QLTCC khoảng 30 – 35 trang, với 05 nội dung chủ yếu sau:

     

    • Phần đánh giá tổng quan (ở đầu báo cáo) sử dụng những phân tích dựa trên bộ chỉ số nhằm đưa ra nhận định tổng thể về hệ thống QLTCC của quốc gia theo sáu nội dung căn bản về hiệu quả thực hiện QLTCC cũng như nhận định về tác động

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  35

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    của những yếu kém được xác định với ba cấp độ về đầu ra điều hành ngân sách gồm kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ nguồn lực chiến lược, và hiệu suất dịch vụ sự nghiệp.

     

    • Phần giới thiệu nhằm trình bày bối cảnh và quy trình lập báo cáo cũng như cụ thể hóa phạm vi chi tiêu công được phân tích trong báo cáo.
    • Phần thông tin liên quan đến quốc gia là nội dung cần thiết để có thể hiểu được kết quả đánh giá theo chỉ số và kết quả đánh giá tổng quan về hiệu quả thực hiện QLTCC. Phần này mô tả ngắn gọn về tình trạng kinh tế quốc gia, mô tả kết quả điều hành ngân sách qua các nội dung đánh giá về kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ nguồn lực chiến lược, và mô tả khuôn khổ pháp lý và thể chế QLTCC.
    • Phần nội dung chính của báo cáo trình bày đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thế chế QLTCC theo bộ chỉ số, và mô tả các biện pháp cải cách gần đây hoặc đang được triển khai của Chính phủ.
    • Phần về tiến trình cải cách của Chính phủ trình bày tóm lược những biện pháp cải cách gần đây hoặc đang được triển khai của Chính phủ và đưa ra đánh giá về các yếu tố thể chế có ảnh hưởng tới lập kế hoạch và triển khai cải cách trong tương lai. [Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Mục 4]

    Với cách xác lập chỉ số, phương pháp, kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC như trên, PEFA đã được sử dụng như một công cụ quan trọng để đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC ở từng bộ phận, từng ngành, từng địa phương, và cấp quốc gia; đồng thời kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC cho mỗi chủ thể lại bổ sung nguồn thông tin chung cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về QLTCC và người dân mỗi khi cần thực hiện quyền và trách nhiệm đối với QLTCC.

     

    2.   Nghiên cứu triển khai nhằm áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách

     

    Những nghiên cứu về quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam trong thời gian qua

    đã chỉ ra hàng loạt nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong quản lý đối với các quỹ này, như: Rất nhiều quỹ nhưng không rõ ai quản lý, ai giám sát do thiếu căn cứ pháp lý hoặc bị chồng chéo về thẩm quyền khi chiểu theo các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau [Đặng Thị Hàn Ni (2013)]; Chưa có khung pháp luật quy định chế tài xử lý thống nhất đối với hoạt động của các quỹ TCNN ngoài ngân sách và không bị Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi [Đỗ Quang Minh (2017)]; Hình thành quá nhiều quỹ có nguy cơ dẫn đến phân tán, quản lý lỏng lẻo, tiêu cực, tham nhũng. Việc phát triển nhanh các quỹ, nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng lạm thu, vượt quá khả năng của doanh nghiệp và dân cư [Nguyễn Minh Tân (2013)]; Thiếu cơ chế quản lý đang gây ra khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các quỹ, làm hạn chế tính đầy đủ, chính xác, minh bạch [Cẩm Tú (2017)]… Nhưng các khuyến nghị lại chủ yếu tập trung đề xuất vào ban hành khung pháp lý chung, nên tính khả thi chưa cao. Đặc biệt, rất thiếu các ý kiến đề xuất có liên quan đến đánh giá trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu của các chủ thể có trách nhiệm quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, và các điều kiện để thu hút sự tham gia của công chúng vào quá trình quản lý của các quỹ này.

     

    Trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi cho rằng: Triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam là giải pháp cần ưu tiên thực hiện.

     

    2.1. Sự cần thiết phải triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách là cần thiết

     

    Đề xuất của chúng tôi về sớm ưu tiên nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam, do:

     

    Thứ nhất, xuất phát từ tầm quan trọng của các quỹ TCNN ngoài ngân sách là một trong 2 hợp phần quan trọng nhất của tài chính công – xét trên giác độ mục đích tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 đã ghi: “Quỹ tài chính nhà nước

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    ngoài ngân sách là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.” [Điều 4, khoản 19]. Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13 đã quy định: “Tài chính công bao gồm: ngân sách nhà nước; dự trữ quốc gia; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; tài chính của các cơ quan nhà nước…” [Điều 3, khoản 10]. Như vậy, các quỹ TCNN ngoài ngân sách là một bộ phận của tài chính công đã được thống nhất cả trong nhận thức lý luận và cả trong quy định pháp lý dùng trong quản lý nhà nước.

     

    Thứ hai, PEFA là công cụ hữu hiệu để quản lý các quỹ. Khi triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách sẽ buộc các chủ thể được giao quản lý, sử dụng các quỹ này phải quan tâm đến sự kết hợp giữa các trụ cột của quản lý nhà nước tốt với các mục tiêu của QLTCC, như: Trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu, sự tham gia với kỷ luật tài khóa tổng thể, hiệu quả phân bổ, và hiệu quả hoạt động. Nhờ đó chất lượng thể chế trong QLTCC sẽ từng bước được nâng cao do sự bắt buộc phải vào cuộc thực hiện

     

     

     

     

    của từng chủ thể có liên quan đến quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Thứ ba, Triển khai áp dụng PEFA khá dễ dàng, thuận lợi. PEFA được lượng hóa theo điểm nên dễ so sánh hiệu quả thực hiện hoạt động giữa các chủ thể có trách nhiệm quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách nên vừa giúp cơ quan nhà nước cấp trên dễ đánh giá phân loại kết quả hoạt động của các cơ quan cấp dưới được giao trách nhiệm quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, vừa giúp cho chính tổ chức được đánh giá tự nhìn nhận lại mình mà lựa chọn cách ứng xử cho phù hợp với yêu cầu quản lý.

     

    Thứ tư, PEFA có độ tin cậy cao các báo cáo của PEFA là bằng chứng xác thực để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các quyết định về việc hoàn thiện hệ thống tổ chức, bộ máy và phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn về quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách cho phù hợp.

     

    Thứ năm, PEFA phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam là bước cụ thể hóa quy định của Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 về yêu cầu đối với báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước; trong đó có yêu cầu đối với báo cáo quyết toán của

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  37

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    các quỹ TCNN ngoài ngân sách là: “Báo cáo quyết toán của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của quỹ.” [Điều 65, khoản 7]

     

    2.2. Nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách

     

    Đây là hoạt động có khối lượng công việc rất đồ sộ, đòi hỏi phải tiêu tốn một lượng không nhỏ các nguồn lực đầu vào tương đương với đề tài cấp bộ trở lên. Trong khuôn khổ của mục này của bài báo, chúng tôi chỉ xin nêu ra một số gợi ý định hướng nghiên cứu triển khai như sau:

     

    Lựa chọn bộ chỉ số: Ưu tiên số 1

     

    Về nguyên tắc, các chỉ số của PEFA đều có thể được lựa chọn và sử dụng trong đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nhưng mỗi quỹ có đặc thù về mô hình tổ chức, về nguồn hình thành và sử dụng quỹ khác nhau; cơ chế quản lý khác nhau nên cần có sự phân loại quỹ TCNN ngoài ngân sách theo các nhóm để làm cơ sở cho xác lập các bộ chỉ số đánh giá quản lý cho phù hợp.

     

    Mặc dù vậy, có một số chỉ số vẫn có thể áp dụng chung cho mọi quỹ TCNN ngoài ngân sách, như:

     

    Các chỉ số PI-1 đến PI-4 thuộc mục A- Độ tin cậy của ngân sách; bởi đây là hoạt động bắt buộc phải có ở mỗi quỹ. Đồng thời thông qua các chỉ số này, người đánh giá có thể đưa ra các nhận xét về trách nhiệm giải trình, tính tiên liệu, tính tuân thủ của người đứng đầu cơ quan quản lý quỹ. Ví dụ, tổng thực chi so với ngân sách gốc được phê duyệt ở tổ chức được đánh giá có độ lệch lớn giữa thực hiện với dự toán, thì trước hết đánh giá về tính tiên liệu của người đứng đầu quỹ đó chỉ đạt mức điểm thấp, sau đó mới xem xét đến các vấn đề có liên quan.

     

    PI-6 cần phải được nghiên cứu áp dụng cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách để đảm bảo tính toàn diện, và là cơ sở cho cơ quan quyền lực nhà nước cân nhắc khoản chi cho quỹ TCNN ngoài ngân sách khi thảo luận và quyết định

    dự toán ngân sách hằng năm.

     

    PI-9 và PI-10 cần được áp dụng chung, do giám sát rủi ro tài chính của các quỹ TCNN ngoài ngân sách là trách nhiệm của các cơ quan quản lý cấp trên; đồng thời cũng là tự thân của nhu cầu kiểm soát nội bộ. Bên cạnh đó, sự tham gia của công chúng là một trong 4 trụ cột của quản lý nhà nước tốt đối với quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    PI-12 cần phải được thực hiện do tầm nhìn trung hạn đã được coi là 1 trong 8 căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm [Điều 41, khoản 6].

     

    PI-18 phản ánh hiệu quả kiểm soát lương biên chế có thể vận dụng cho các tổ chức quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, do đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong thường xuyên và có liên quan đến nhiều chính sách khác của Nhà nước ở tầm vĩ mô.

     

    PI-20 thu thập đánh giá về hiệu quả kiểm soát nội bộ với các khoản chi ngoài lương. Nhu cầu này có ở tất cả các tổ chức được giao quản lý, sử dụng quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nội dung chi này thường có các “con số không rõ ràng“ và là nội dung không hề dễ xử lý trong quá trình hoạt động của quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    PI-21 phản ánh hiệu quả kiểm toán nội bộ. Đây là xu hướng tất yếu phải thực hiện đối với tất các đơn vị thuộc khu vực công khi quản trị nền hành chính nhà nước dần thay thế cho quản lý hành chính truyền thống.

     

    PI-22 phản ánh mức độ kịp thời và thường xuyên của việc đối chiếu tài khoản. Điều này đã được xác định trong Luật Kế toán và các luật chuyên ngành khác; trong đó kế toán các quỹ TCNN được xếp vào kế toán công nên càng cần phải làm tốt các yêu cầu của PI-22 này.

     

    PI-24 và PI-25 là yêu cầu của kế toán công khi thực hiện các thao tác nghiệp vụ nhằm tổng hợp và cung cấp thông tin cho quá trình quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách; đặc biệt là ở khâu lập dự toán và lập quyết toán.

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Các chỉ số PI-26 đến PI-28 cần phải đươc thực hiện để đảm bảo có các đánh giá ngoài và hướng tới các tiêu chuẩn chung của tổ chức, và cung cấp các thông tin cần thiết cho cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện quyền giám sát của họ.

     

    Với các quỹ có quyền tự quyết cao cần sử dụng thêm chỉ số PI-19; bởi một phần quan trọng trong chi tiêu công được thực hiện qua hệ thống mua sắm đấu thầu. Hệ thống mua sắm đấu thầu vận hành tốt sẽ đảm bảo vốn được sử dụng đạt hiệu quả và hiệu suất. Cạnh tranh mở qua đấu thầu được coi là cơ sở để đạt hiệu suất cao nhất trong mua sắm đầu vào và đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn trong việc Chính phủ thực hiện các chương trình và các dịch vụ sự nghiệp. Chỉ số này tập trung đánh giá chất lượng và độ minh bạch của khuôn khổ pháp lý về mua sắm, đấu thầu qua việc xác định sử dụng cạnh tranh mở và công bằng là phương pháp mua sắm nên áp dụng, đồng thời xác định các phương pháp phù hợp khác với cạnh tranh mở nếu được biện minh theo hoàn cảnh cụ thể.

     

    Như vậy, có tới 18/28 chỉ số của PEFA có thể lựa chọn nghiên cứu triển khai áp dụng cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách (dưới góc nhìn của chúng tôi). Nếu Chính phủ chỉ đạo tổ chức nghiên cứu triển khai và đưa vào các quy định hướng dẫn quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách kịp thời, sẽ là bước đột phá cho cải cách quản lý đối với các quỹ này.

     

    Hoàn thiện Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách: Các việc cần phải giải quyết

     

    Sau khi đã thống nhất được bộ chỉ số cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách, các việc còn lại cần phải triển khai nghiên cứu là: Xác lập phương pháp thu thập thông tin; Lựa chọn phương pháp đánh giá; và Báo cáo kết quả. Đó là 3 nội dung còn lại thuộc Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nội dung của 3 việc trên khá đồ sộ; tuy nhiên về cơ bản có thể dựa trên nền tảng đã có của PEFA mà triển khai và cụ thể hóa. Ví dụ, phương pháp đánh giá hoàn toàn

    có thể kế thừa 2 phương pháp cho điểm của PEFA (M1 và M2); hay mẫu báo cáo hiệu quả hoạt động quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách cũng có thể mô phỏng dựa theo mẫu của PEFA.

     

    Suy nghĩ của chúng tôi về nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách dựa trên nền tảng pháp lý đã có

     

    • Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Kế toán, Luật Đầu tư công và cơ chế quản lý đã có cho mỗi quỹ TCNN ngoài ngân sách; nên không làm xáo trộn khung pháp lý, nhưng lại rất hữu ích cho cụ thể hóa các quy định đã có ở khung pháp lý và thiết thực góp phần tăng cường quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là những nhận định mang tính chủ quan, rất mong có nhiều ý kiến bàn thảo về chủ đề này.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Ngân hàng Thế giới (2005), Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công, tháng 6.

     

    1. Đỗ Quang Minh (2017), Pháp luật về quỹ tài chính công ngoài NSNN ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017.

     

    1. Đặng Thị Hàn Ni (2013), Quỹ tài chính nhà nước: Cần được luật hóa, Báo Sài Gòn giải phóng ngày 12/09/2013.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/ QH13.

     

    1. Nguyễn Minh Tân (2013), Quản lý và giám sát các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Số 8 (586), tháng 8.
    2. Cẩm Tú (2017), Đề xuất cơ chế quản lý 70 quỹ tài chính ngoài ngân sách, VOV- Trung tâm thông tin, http://vov.vn/kinh-te/de-xu-at-co-che-quan-ly-70-quy-tai-chinh-ngoai-ngan-sach-589183.vov.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  39


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hoàn thiện công tác đánh giá tác động môi trường ở nước ta hiện nay và vai trò của kiểm toán nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-d%E1%BB%AF-li%E1%BB%87u-l%E1%BB%9Bn-%C4%91%E1%BA%BFn-ngh%E1%BB%81-nghi%E1%BB%87p-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán

    ThS. Nguyễn Vĩnh Khương*

    Bài viết tập trung chủ yếu vào sự phát triển của báo cáo doanh nghiệp trong thời đại kỹ thuật số, về Internet và công nghệ hiện đại nói chung và dữ liệu lớn nói riêng. Bên cạnh đó, tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước đây về tác động của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán. Thảo luận các kết quả nghiên cứu trước đây về vấn đề này và đưa ra các ý tưởng cho nghiên cứu trong tương lai.

    Từ khóa: Dữ liệu lớn, kế toán.

     

    The impacts of big data to professional accounting

     

    The article focuses primarily on the development of enterprise reporting in the digital age, on the Internet and on modern technology in general and on big data in particular. In addition, synthesis and analysis of previous studies on the impact of big data on the accounting profession. Discuss previous research findings on this issue and provide ideas for future research.

     

    Keywords: Big data; accounting.

     

    1. Giới thiệu

     

    Cuộc cách mạng kỹ thuật số trong những thập kỷ qua đã dẫn tới hiện tượng phổ biến dữ liệu lớn (big data) (Moffitt và Vasarhelyi, 2013), trong những năm gần đây đã gây ra sự cường điệu. 90% dữ liệu của thế giới đã được tạo ra từ năm 2010 là một thực tế được nhắc đến nhiều, và nói chung niềm tin là dữ liệu lớn đặt ra cơ hội lớn cho các tổ chức, Chính phủ và cá nhân để cung cấp các giải pháp cho các vấn đề hiện tại và tương lai.

     

    Và dữ liệu lớn đã thể hiện tác động trong bối cảnh công ty (Moffitt và Vasarhelyi, 2013; Vasarhelyi và cộng sự, 2015) đến các hoạt động tiếp thị, hoạt động sản xuất, lập kế hoạch / dự toán ngân sách / dự báo doanh thu là những ví dụ phổ biến khi dữ liệu lớn được sử dụng để cung cấp ước tính chính xác hơn, (Bhimani và Willcocks, năm 2014; Griffin và Wright, 2015; Vasarhelyi và cộng

     

    sự, 2015; Warren và cộng sự, 2015). Tác động của dữ liệu lớn đối với thực tiễn kế toán, hiện tại và tương lai, được mong đợi và chủ yếu được nhìn nhận tích cực (Warren và cộng sự, 2015) mặc dù, có nhiều sự thận trọng để xem xét rủi ro để đối phó (Bhimani và Willcocks, 2014; Payne, 2014). Tuy nhiên, Quattrone (2016) đề cập về vấn đề số hoá kế toán, vì tin rằng các cuộc đối thoại liên quan đến kế hoạch sẽ bị mất nếu chúng ta sử dụng phân tích dữ liệu lớn thay thế. Trong một thế giới tự do, khả năng phân tích giám sát và dự đoán hành động của một người thực sự có thể cần thiết. Tuy nhiên, đối thoại và phân tích dữ liệu lớn không nhất thiết phải là những người có cùng quan điểm – các nhà khoa học dữ liệu tìm cách “kể một câu chuyện từ dữ liệu”, “tạo ra một tường thuật để làm sáng tỏ sự hiểu biết và cung cấp câu trả lời cho những câu hỏi hóc búa”. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các dữ liệu lớn kết hợp nhiều hơn các cơ sở dữ liệu cực kỳ lớn.

     

    *Trường Đại học Kinh tế – Luật_ĐHQG TP.HCM

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  27

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

     

    Cái gọi là “người bản địa số”, thế hệ thiên niên kỷ (the millennial generation), sử dụng thuật ngữ dữ liệu lớn để biểu thị cách thông tin được khai thác theo những cách mới (Jariwala, 2015), về cơ bản là trạng thái tâm trí, phản ánh những cơ hội mà dữ liệu lớn cung cấp , ổn định và phát triển, không có giới hạn hoặc không di động, và các lập luận chung về hướng thu thập dữ liệu lớn (Jariwala, 2015).

     

    Hệ sinh thái dữ liệu của tổ chức đang được mở rộng liên tục, dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu lớn ngày càng được tích hợp nhiều hơn trong bối cảnh tổ chức (Moffitt và Vasarhelyi, 2013; Vasarhelyi và cộng sự, 2015). Theo khái niệm ‘dữ liệu là dầu mới’ ngụ ý, dữ liệu lớn là tài nguyên chưa được tinh chế và thô, để hữu ích, cần phải được tinh chế, tức là làm sạch, cấu trúc và xử lý để tạo ra thông tin hữu ích. Các đặc điểm, hoặc định nghĩa của dữ liệu lớn, nghĩa là khối lượng, đa dạng, vận tốc, tính xác thực, biến đổi và giá trị (Gandomi và Haidar, 2015) phản ánh các cơ hội nhưng cũng có cạm bẫy liên quan đến khái niệm này. Ví dụ, các hình thức mua hàng khác nhau cung cấp nhiều dữ liệu đầu vào khác nhau, nhưng đồng thời nhiều tổ chức vẫn chưa biết

     

     

     

     

     

    làm thế nào để quản lý dữ liệu được tạo ra như vậy đáng tin cậy, phản ánh tính xác thực của dữ liệu.

     

    Mặc dù, một số nghiên cứu đang điều tra hoặc tranh luận về mối quan hệ tiềm năng của các dữ liệu lớn, báo cáo tài chính, kế toán và những ảnh hưởng của việc số hóa tài khoản kế toán (Bhimani và Willcocks, 2014; Payne, 2014; Quattrone, 2016), điều này chủ yếu có đưa ra khuôn mẫu lý thuyết với ít bằng chứng thực nghiệm cho vấn đề này. Một nghiên cứu định tính đã được thực hiện để thu thập nhận thức của người tham gia, ngoài các dữ liệu phỏng vấn, các tài liệu video và văn bản được quảng cáo bởi nhiều tổ chức khác nhau như các nhà cung cấp giáo dục trực tuyến và các hiệp hội kế toán chuyên nghiệp đã được sử dụng để tăng cường và điều tra các kết quả phỏng vấn. Các câu hỏi phổ biến mà chúng tôi quan tâm trả lời là: Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, liệu có hay sẽ có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động báo cáo của công ty và vai trò của các kế toán trong bối cảnh này? Vai trò tiềm năng của kế toán và các kỹ năng cần thiết liên quan đến dữ liệu lớn và báo cáo của công ty là gì?

     

    Chính vì vậy, các phần tiếp theo sẽ phác thảo

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    các nghiên cứu trước đây liên quan đến phân tích ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến báo cáo doanh nghiệp và kế toán.

     

    2. Quá trình phát triển của báo cáo tài chính trong thời đại kỹ thuật số

     

    Internet đã trở thành một hiện tượng ngày càng phổ biến trong việc phổ biến thông tin của công ty (Fisher và cộng sự, 2004) vì báo cáo tài chính của công ty đã được điều chỉnh và những mẫu báo cáo doanh nghiệp đã được chuyển sang các hoạt động trên Internet. Với việc các tập đoàn số hóa ngày càng tăng đã công bố báo cáo hàng năm trực tuyến nhằm tiếp cận các nhà đầu tư và các bên liên quan nhanh hơn, cung cấp thông tin họ có thể xử lý dễ dàng hơn cho các phân tích của chính họ và tiếp cận đối tượng rộng hơn so với các định dạng in (Fisher and Naylor, 2016).

     

    Thế hệ đầu tiên, của báo cáo doanh nghiệp số bắt đầu từ giữa những năm 1990 ở các nước Châu Âu và ở Mỹ, vào thời điểm kết nối Internet thông qua số điện thoại (dial-up). Vì vậy, các kế toán đã chấp nhận sớm của công nghệ đó. Sau đó, báo cáo của các công ty trên Internet chỉ đơn giản dựa trên việc có một trang web của công ty như là một công cụ thay thế cho việc phân phối các báo cáo hàng năm dựa trên bản in, nói cách khác là công khai bản báo cáo hàng năm của tổ chức thông qua Internet (Hedlin 1999, Lodhia và cộng sự, 2004). Sự ra đời của Hyper Text Markup Language hay tương tự, cho phép các công ty sao chép các báo cáo tài chính bản in bằng cách sử dụng các định dạng điện tử tĩnh như HTML và / hoặc định dạng tài liệu di động (PDF) (Lymer và Debreceny 2003)).

     

    Vào đầu những năm 2000, các tập đoàn bắt đầu tận dụng các tính năng độc đáo và khả năng của Internet như một phương tiện để tiết lộ thêm thông tin (Lymer và Debreceny, 2003). Trong thời gian này, một thế hệ ngôn ngữ trình bày Internet mới, định dạng XML (eXtensible Markup Language) đã được sử dụng để tạo thuận lợi cho việc trình bày trên web vì nó có ưu điểm là siêu liên kết và khả năng thao tác dữ liệu được hiển thị trên màn hình hiển thị (desktop) bằng cách nhập trực tiếp vào các ứng dụng địa phương của người sử dụng (Lymer

    và Debreceny, 2003). Lợi thế chính của báo cáo doanh nghiệp Internet thế hệ thứ hai này liên quan đến sự phát triển của Ngôn ngữ Báo cáo Doanh nghiệp (XBRL) dễ dàng trao đổi thông tin giữa các định dạng của web và cung cấp nhiều cơ hội nghiên cứu để tìm các trang và dữ liệu tài chính cụ thể trên Internet (Beattie và Pratt, 2003). Khi công nghệ phát triển hơn nữa, các cơ hội mới cho báo cáo doanh nghiệp Internet thế hệ thứ ba đang được nghiên cứu. Sự phát triển liên tục của những đổi mới công nghệ, như SoMoClo, là bước tiến ngay lập tức để thay đổi cách báo cáo của công ty, đặc biệt là chuyển các báo cáo của công ty và các ứng dụng có liên quan sang các nền tảng điện toán đám mây. Điều này sẽ cho phép cả các công ty và các bên liên quan giới thiệu dữ liệu, văn bản, âm thanh và giọng nói đã được đăng lên để xây dựng kho dữ liệu và áp dụng phần mềm phân tích dữ liệu để thu thập, đối chiếu và phân tích thông tin khối lượng này, dữ liệu lớn được tạo ra và chia sẻ bởi các công ty và các bên liên quan sử dụng mạng xã hội, thiết bị di động, phân tích và công nghệ đám mây.

     

    Do đó, thế hệ thứ ba của báo cáo doanh nghiệp trên Internet cung cấp cho các bên liên quan các cấp độ tiếp cận khác nhau, tính tương tác, nghiên cứu và khả năng chia sẻ dữ liệu. Các cập nhật thời gian thực có thể thực hiện được trong đám mây (Krahel and Vasarhelyi, 2014), ví dụ như giả định về chi phí cho việc phân phối hàng tồn kho không cần thiết (Moffitt và Vasarhelyi, 2013) và cho phép người dùng trích xuất dữ liệu cho các phân tích.

     

    3. Dữ liệu lớn và kế toán

     

    Các công nghệ hiện đại, chẳng hạn như SoMoClo, đã tạo ra một lượng dữ liệu khổng lồ (Cisco, 2015), làm cho phân tích dữ liệu lớn và khoa học dữ liệu trở thành chủ đề quan trọng trong cả cộng đồng học thuật và doanh nghiệp (Chen và cộng sự, 2012). Các công ty và những người khác có thể thu thập, đối chiếu và phân tích số lượng lớn thông tin, từ nhiều nguồn khác nhau. Trước tiên, dữ liệu đến từ hồ sơ của riêng tổ chức, thường được coi là dữ liệu sạch và đáng tin cậy, chẳng hạn như phân tích chuỗi thời gian của dữ liệu tài chính trong quá khứ, nhưng cũng có thể là từ các nguồn bên

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  29

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    ngoài, như quảng cáo, phương tiện truyền thông xã hội, hoạt động, các dữ liệu đen của công chúng và doanh nghiệp, có thể không có cấu trúc, lộn xộn và được thu thập từ phương tiện truyền thông xã hội, không gian đám mây của người dùng nếu có thể truy cập và các nguồn khác trên Internet (Moffit and Vasarhelyi, 2013). Tuy nhiên, dữ liệu thô này chưa hữu ích đối với các tập đoàn, do đó, các tập đoàn cần phải phân tích dữ liệu thô để tạo ra các câu trả lời có ý nghĩa. Ví dụ: việc áp dụng phân tích dữ liệu lớn có thể được nhìn thấy trong các cộng đồng kinh doanh khác nhau, như Google, Yahoo, Amazon, eBay, Oracle, IBM và Microsoft thông qua việc sử dụng các phần mềm phân tích phức tạp như Google Analytics, MapReduce và Apache Hadoop (Chen và cộng sự năm 2012). Gandomi và Haidar (2015) thảo luận về các định nghĩa khác nhau của dữ liệu lớn và kết luận rằng các tính năng quan trọng nhất là khối lượng, liên quan đến độ lớn của dữ liệu, tính đa dạng, cho thấy sự không đồng nhất về cấu trúc và vận tốc, hàm ý tốc độ tại dữ liệu được tạo ra và do đó cần được phân tích và hành động. Hơn nữa, các nghiên cứu đề cập đến các ‘Vs’ khác, đó là tính xác thực, có nghĩa là sự không tin cậy của một số nguồn dữ liệu, sự thay đổi, đề cập đến tốc độ và giá trị của dữ liệu, cho thấy ở dạng ban đầu dữ liệu lớn có giá trị thấp nhưng giá trị này tăng đáng kể khi dữ liệu đang được phân tích.

     

    Các dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu lớn chỉ mới được giải quyết trong các nghiên cứu kế toán, với số lượng ấn phẩm chỉ tập trung vào một số lượng lớn các dữ liệu lớn. Đối với dân bản địa thời kỳ kỹ thuật số (digital natives), dữ liệu lớn mở rộng vượt quá kích thước của dữ liệu đến trạng thái nhận thức dựa trên văn hóa, kinh nghiệm, tiện ích và mong đợi, về cơ bản là một thế giới theo thực nghiệm (Jariwala, 2015) mà con người tiếp cận với tính tự động và có thể thậm chí không nhận thức được. Thay vì tập trung vào một phương tiện thu thập, thu thập các thông tin đã tồn tại, cung cấp quá trình phản hồi nhanh hơn và liên tục, làm cho phân tích dữ liệu rất quan trọng (Chen và cộng sự., 2012; Earley, 2015). Warren và cộng sự (2015) cho thấy dữ liệu lớn sẽ thay đổi đáng kể kế toán trong tất cả các khía cạnh của thực tiễn và nghề nghiệp.

    Để cải thiện chất lượng báo cáo tài chính và tính xác thực của thông tin kế toán, do đó sự minh bạch và các quyết định của các bên có liên quan sẽ được cải thiện và báo cáo của công ty về việc tạo ra và sàng lọc theo các chuẩn mực sẽ giúp đảm bảo sự tiến triển liên tục của ngành nghề với nền kinh tế thời gian thực (Warren và cộng sự, 2015).

     

    Dữ liệu có kích thước lớn, do đó không thể được phân tích bằng các phần mềm và hệ thống cơ sở dữ liệu truyền thống, và có cấu trúc (khoảng 10%) và không có cấu trúc (khoảng 90%). Dữ liệu phi cấu trúc như vậy được tạo ra từ âm thanh, hình ảnh và các nguồn nguyên bản và cần được xử lý và phân tích thêm trước khi nó có thể được sử dụng để báo cáo và ra quyết định (Warren và cộng sự, 2015). Nguồn, cách sử dụng và thách thức của dữ liệu lớn trong kế toán là khác nhau theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kế toán (Griffin và Wright, 2015). Vasarhelyi và cộng sự (2015) cho rằng dữ liệu lớn thay đổi căn bản thông tin của chúng ta – ví dụ như các tổ chức có khả năng cung cấp thông tin theo thời gian thực, trái ngược với kế toán tổng hợp và tổng hợp thông tin được cung cấp định kỳ. Warren và cộng sự (2015) chủ yếu xem xét việc sử dụng dữ liệu lớn trong bối cảnh các quy trình kiểm soát nội bộ, tạo ra mối liên hệ giữa hành vi và mục tiêu có thể dẫn đến các biện pháp thực hiện mới. Krahel và Titera (2015) cho rằng các chuẩn mực kế toán không phản ánh sự phát triển của dữ liệu lớn vì các báo cáo tài chính dựa trên GAAP vẫn chưa đủ mạnh và các tác giả cho rằng những thay đổi này sẽ được thay thế bởi dữ liệu thô mà người dùng cuối có thể tự động trích xuất và xem xét. Các chuẩn mực báo cáo tài chính là cần thiết để duy trì khía cạnh so sánh nhưng cần tập trung vào các dữ liệu cơ bản cần cung cấp về nội dung và thời gian (Moffitt và Vasarhelyi, 2013).

     

    Bhimani và Willcocks (2014) xem xét việc số hóa các hoạt động kế toán có tiềm năng mang lại lợi ích, tuy nhiên lo ngại rằng nhiệm vụ của kế toán trong việc làm cho dữ liệu có thể hiểu được thông qua kiến thức không thể chuyển thành thực tiễn và dữ liệu đó sẽ mang lại cái nhìn sâu sắc nếu chịu phân tích kỹ càng. Trong thời đại kỹ thuật số, các mô hình kinh doanh mới xuất hiện dẫn đến các

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    thực tiễn kế toán mới, không còn giả định mối quan hệ tuần tự giữa chiến lược, cấu trúc và kế toán, nhưng là sự kết hợp của ba mô hình đó có thể đối phó với dữ liệu lớn có cấu trúc và không có cấu trúc liên quan đến khách hàng và xu hướng thị trường. Các hoạt động kế toán cần được điều chỉnh để thu thập dữ liệu, và các báo cáo tài chính sẽ cần phản ánh các sự kiện không có cấu trúc liên quan đến khách hàng ảnh hưởng đến việc tạo ra giá trị kinh tế (Bhimani và Willcocks, 2014). Với lượng dữ liệu khổng lồ, việc thu thập dữ liệu trong tương lai sẽ mang tính tạm thời chứ không phải là tĩnh và được lưu trữ, và do internet mà các nguồn dữ liệu mới sẽ được thực hiện trong hệ thống cần phải được cung cấp trong hệ thống thông tin kế toán của một tổ chức (Krahel và Vasarhelyi, 2014). Payne (2014) cho rằng các công ty thường được khuyên tham gia vào các dữ liệu, phân tích và hình ảnh lớn, tuy nhiên trong thực tế, khó có thể thay đổi hệ thống kế toán và kiểm soát hiện tại vì các hệ thống này thường bị phân mảnh, dựa vào các mục nhập thủ công và thường chỉ được biết đến với một vài thành viên có kinh nghiệm của tổ chức mà không thể dễ dàng nuôi dưỡng kiến thức hiện có vào hệ thống kế toán. Tuy nhiên, tác giả thừa nhận rằng kế toán cần tham gia vào các công nghệ mới, ví dụ: bằng cách áp dụng các công cụ phân tích mới, kế toán đám mây hoặc tương tác truyền thông xã hội, sự chú ý về thời gian và liên tục (Payne, 2014). Quattrone (2016) xem xét việc số hóa tài khoản liên tục là vấn đề, vì ông quan tâm đến việc mất liên lạc và tập trung vào việc phân tích dữ liệu, “cơ sở dữ liệu và mô hình thống kê biết cá nhân tốt hơn so với cá nhân khác và có thể dự đoán mong muốn và hành động trong tương lai. Theo quan điểm này, kế toán dẫn đến các hành động giao tiếp tác động đến quá trình ra quyết định, và quá trình truyền thông quan trọng hơn con số thực trên báo cáo (Quattrone, 2016), điều này trái ngược với phân tích dữ liệu tập trung vào việc cung cấp nhiều nhất số thực. Quattrone (2016) đưa ra câu hỏi làm thế nào có thể đảo ngược quá trình số hóa. Cho dù quá trình này có thể được đảo ngược có lẽ là một câu hỏi thực tế hơn để yêu cầu, cho rằng số hóa đã thâm nhập tất cả các lớp của xã hội và các tổ chức. Tuy nhiên, quan điểm cho rằng công nghệ có thể là

    vấn đề không phải là không phổ biến, và nghịch lý (Arnold, 2003) như sẽ được thảo luận trong phần tiếp theo.

     

    4. Nghịch lý của dữ liệu lớn

     

    Nhiều người thừa nhận tiềm năng tích cực nhưng cũng có quan điểm phê bình về việc kết hợp các dữ liệu lớn vào kế toán và báo cáo của công ty. Ngoài việc điều tra nhận thức về dữ liệu lớn và báo cáo của công ty, sự sẵn sàng kết hợp các dữ liệu lớn trong bối cảnh chuyên nghiệp của các kế toán được phản ánh trong trạng thái dữ liệu đối với báo cáo của công ty và vai trò của kế toán, bài viết cũng nhằm mục đích phân tích những yếu tố nghịch lý vốn có của dữ liệu lớn và báo cáo của công ty. Arnold (2003) giới thiệu khái niệm khuôn mặt Janus (Janus-face) về công nghệ, khuôn mặt của nhân vật thần thoại La Mã nhìn theo hai hướng cùng một lúc. Khái niệm này hàm ý rằng công nghệ có tính chất “mỉa mai và nghịch lý” (Arnold, 2003, trang 231), và gợi ý rằng cùng một công nghệ có thể phát triển theo hai hướng khác nhau (Arnold, 2003). Bản chất nghịch lý này không được xây dựng trong sự phát triển công nghệ mà đúng hơn là hiệu quả phục hồi các nhu cầu và kết quả trong bối cảnh xã hội học và cần được xem xét trong khung phân tích (Arnold, 2003). Arnold (2003) sử dụng khái niệm của Heidegger về thế giới đời sống bị công nghệ giải quyết nhằm cung cấp một lời giải thích về lý do tại sao công cụ hợp lý được tạo ra theo con người sẽ thực hiện nghịch lý. Heidegger gợi ý rằng công nghệ không chỉ đơn thuần là một công cụ mà còn có khả năng thay đổi cách chúng ta nhận thức thế giới, bởi vì thế giới của chúng ta bị công nghệ bẻ cong theo cách không rõ ràng (Arnold, 2003; Jarvenpaa và Lang, 2005).

     

    Arnold (2003) và Jarvenpaa và Lang (2005) đều xác định một số nghịch lý liên quan đến công nghệ di động. ví dụ như cuộc trò chuyện điện thoại di động thường là công cộng nhưng chính điện thoại là một sở hữu riêng, nghĩa là điện thoại báo hiệu rằng người ta luôn có nhu cầu và bận rộn nhưng cũng có sẵn, sản xuất và tiêu thụ, nghĩa là điện thoại di động cho phép người sử dụng có năng suất cao để quản lý thời gian hiệu quả nhưng đồng

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  31

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    thời tiêu tốn tài nguyên và thời gian. Jarvenpaa và Lang (2005), dựa trên những gợi ý của Arnold, đề xuất tính xác thực, tức là chịu trách nhiệm về thời gian của mình mà còn phải liên tục tham gia vào các thiết bị di động, độc lập với sự phụ thuộc, tức là điện thoại di động quản lý nhiều nhiệm vụ cần phải đáp ứng và tương tác, đáp ứng nhu cầu và tạo ra các nhu cầu, tức là các lựa chọn và ứng dụng mới đáp ứng nhu cầu, đồng thời tạo ra một năng lực mới, năng lực và không đủ năng lực, ví dụ như điện thoại di động là những công cụ lập kế hoạch hoàn hảo về mặt kỹ thuật nhưng người dùng thích ứng nhiều hơn do kết nối dễ dàng với người khác, dễ dàng tham gia và loại bỏ, tức là có khả năng liên tục liên lạc với người khác nhưng cùng lúc muốn được chia sẻ công cộng.

     

    5. Kết luận

     

    Bài viết đã tổng hợp các nghiên cứu về báo cáo của công ty và dữ liệu lớn, sự sẵn sàng để kết hợp dữ liệu lớn trong bối cảnh công việc của kế toán, vai trò dự kiến của kế toán trong bối cảnh này và những nghịch lý áp dụng các khái niệm công nghệ mới. Bên cạnh đó, các hàm ý cho tổ chức và xã hội. Kế toán phải tham gia với các bộ phận khác nhau của tổ chức và phải cùng nhau chủ động về các dữ liệu lớn và báo cáo của công ty. Vì kế toán cung cấp số lượng đáng kể dữ liệu cho các bên liên quan và cũng như thu thập và phân tích dữ liệu lớn, kế toán viên cần liên kết với các nhà khoa học dữ liệu để cùng nhau cho ra kết quả có ý nghĩa. Hơn nữa, cung cấp dữ liệu và hiểu biết sâu sắc hơn giúp các tổ chức có thể giảm bớt sự không đối xứng thông tin, có thể có tác động tích cực đến sự tin tưởng của các nhà đầu tư trong thực tiễn kế toán.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Arnold, M. (2003) On the phenomenology of technology: the ‘Janus-faces’ of mobile phones, Information and Organization, Vol. 13, pp. 231 – 256.
    2. Chen, H., Chiang, R. And Storey, V. (2012), Business intelligence and analytics: from big data to big impact, MIS Quarterly, Vol. 36, No. 4, pp. 1165 – 1188.
    1. Cisco White Paper (2015), The Internet of Things, https://www.cisco.com/…/iot_ IBSG_0411FINAL.pdf.

     

    1. Dimitriu, O. and Matei, M. (2015), Cloud Accounting: A New Business Model in a Challenging Context, Procedia Economics and Finance, Vol. 32, pp. 665 – 671.

     

    1. Gandomi, A. And Haidar, M. (2015), Beyond the hype: Big data concepts, methods and analytics, International journal of Information Management Vol. 35, No. 2, pp. 137 – 144.

     

    1. Griffin, P. and Wright, A. (2015), Commentaries on Big Data’s Importance for Accounting and Auditing, Accounting Horizons, Vol. 29, No. 2, pp. 377 – 379.

     

    1. Hopper, T. and Powell, A. (1985), Making Sense Of Research Into The Organizational And Social Aspects Of Management Accounting: A Review Of Its Underlying Assumptions, Journal of Management Studies, Vol. 22, pp. 429–465.
    2. Jariwala, B. (2015), Give the Digital Natives Room to Run,

    available at: https://www.ifac. o r g / g l o b a l – k n o w l e d g e – g a t e w a y /

     

    finance-leadership- development/ discussion/give-digital-natives-room-run;

     

    1. Krahel, J. and Titera, W. (2015), Consequences of Big Data and

    Formalization on Accounting and Auditing Standards, Accounting Horizons, Vol. 29, No. 2, pp. 409 – 422.

     

    1. Lymer, A., Debreceny, R., Gray, G. L., and Rahman, A. (1999). Business reporting on the Internet . London: IASC.
    2. Moffitt, K. and Vasarhelyi, M. (2013), AIS in an Age of Big Data. Journal of Information Systems, Vol. 27, No. 2, pp. 1-19.

     

    1. Payne, R. (2014), Discussion of ‘Digitisation, Big Data and the transformation of accounting information’ by Alnoor Bhimani and Leslie Willcocks, Accounting and Business Research. Vol. 44, no. 4, pp. 491 – 495.

     

    1. Warren, J., Moffitt, K. and Byrnes, P. (2015), How Big Data Will Change Accounting. Accounting Horizons, Vol. 29, No. 2, pp. 397-407.

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]