Category: Khoa Học – Kỹ Thuật

  • Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Xu-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-v%C3%A0-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-%C4%91%E1%BA%A3m-b%E1%BA%A3o-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-l%C6%B0u-tr%E1%BB%AF-d%E1%BB%AF-li%E1%BB%87u-tr%C3%AAn-%C4%91%C3%A1m-m%C3%A2y-v%C3%A0-kinh-nghi%E1%BB%87m-cho-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

     

    Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    ThS. Phùng Anh Thư*

    Lưu trữ dữ liệu trên đám mây bao gồm việc sử dụng các trung tâm dữ liệu từ xa để lưu trữ dữ liệu người dùng mà người dùng thực sự không có quyền kiểm soát. Điều này đã đưa ra yêu cầu tạo điều kiện cho kiểm toán dịch vụ đối với lưu trữ đám mây ra đời, để người dùng có thể dựa vào Kiểm toán viên (KTV) để kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được lưu trữ trong đám

     

    mây. Tuy nhiên, KTV không nên đưa ra các mối đe dọa mới đối với sự riêng tư của dữ liệu người dùng và không nên tăng gánh nặng trực tuyến lên người dùng điện toán đám mây. Bài báo này tổng hợp các đề xuất từ các nghiên cứu về kế hoạch lưu trữ đám mây an toàn hỗ trợ bảo vệ sự riêng tư của loại hình kiểm toán dịch vụ này.

     

    Từ khóa: Kiểm toán, lưu trữ đám mây.

     

    Auditing trends and assurance for cloud datastore and experience for Vietnam

     

    Cloud datastore includes the use of remote data centres to store user data that the user does not actually have control over. This has provided a requirement for service auditing upon cloudstore to be made, so that users can rely on the Auditor to verify the integrity of the data stored in the cloud. However, Auditor should not present new threats to the privacy of user data and should not expand the burden online on cloud computing users. This paper synthesizes recommendations from research into secure cloud hosting plans that support the protection of the privacy of this type of service audit.

     

    Keywords: Audit cloudstore.

     

     

    1.Giới thiệu

     

    Điện toán đám mây (ĐTĐM) đã phát triển như là điều tốt nhất tiếp theo trong thế giới Internet, có thể cung cấp tất cả mọi thứ, từ khả năng tính toán không giới hạn đến không gian sẵn có của cơ sở hạ tầng máy tính, các ứng dụng, không gian lưu trữ, quy trình kinh doanh để hợp tác cá nhân như một dịch vụ cho người dùng bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào người sử dụng muốn. ‘‘Cloud’’ ở đây có nghĩa là mạng máy tính, CPU, thiết bị lưu trữ, phần cứng, dịch vụ cộng tác để cung cấp toàn bộ gói tính

     

    toán như một dịch vụ. Cloud có thể mở rộng, nghĩa là nó có khả năng mở rộng và thu nhỏ để phù hợp với nhu cầu của các nguồn lực. Nó tạo điều kiện cho các giao diện lập trình ứng dụng (API) có sẵn được lập hóa đơn theo cách sử dụng (mô hình trả tiền khi bạn đi).

     

    Điều mới mẻ mang tính đột phá của ĐTĐM không nằm ở bản chất công nghệ, mà là mô hình hướng dịch vụ, và mang lại sự thay đổi trong nhận thức về cách cung cấp dịch vụ (cho nhà cung cấp) và cách thuê bao sử dụng dịch vụ (cho người sử

     

    *Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  19

    dụng). Tất cả được đưa đến người sử dụng (NSD) dưới hình thức dịch vụ, từ nguồn cung ứng điện toán hàng ngày, đơn giản giống như những nguồn cung ứng điện, nước.

     

    Trong mô hình cung cầu các dịch vụ ĐTĐM, vai trò tham gia của các bên bao gồm NSD, Nhà cung ứng dịch vụ, Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ và Nhà quy hoạch chính sách.

     

    NSD là các đối tượng trả tiền thuê bao để sử dụng dịch vụ ĐTĐM, phương thức trả tiền theo cách dùng bao nhiêu, trả bấy nhiêu (pay-per-use). NSD có thể là một cá nhân (ví dụ một NSD dịch vụ hòm thư điện tử của Google, hiện tại dịch vụ này đang được cung cấp miễn phí). NSD cũng có thể là một tổ chức, hoặc một doanh nghiệp (ví dụ một doanh nghiệp muốn sử dụng dịch vụ hệ thống thư điện tử của Microsoft, trong trường hợp này phí thuê bao tính theo đơn vị số hộp thư và theo từng tháng) muốn tận dụng dịch vụ được cung cấp sẵn bởi các nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM, thay vì họ phải tự đầu tư và vận hành những hệ thống IT trong nội bộ để có được những dịch vụ đó.

     

    Nhà cung ứng dịch vụ là các doanh nghiệp, hãng tin học sở hữu và vận hành hệ thống hạ tầng cho ĐTĐM để cung cấp các dịch vụ khác nhau trên

     

     

     

     

     

     

     

     

    hạ tầng đó đến NSD. Microsoft, IBM, Google… là những ví dụ cho vai trò của nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM.

     

    Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ là các công ty tin học cung cấp các giải pháp, các sản phẩm và/hoặc dịch vụ để thiết lập và hỗ trợ sự cung cấp các dịch vụ ĐTĐM. Cisco, Symantec, TrenMicro McAfee…

     

    là những ví dụ cho vai trò hỗ trợ triển khai dịch vụ ĐTĐM, khi họ cung cấp các giải pháp cho lộ trình hợp nhất và ảo hóa các trung tâm dữ liệu, các kiến trúc hạ tầng liên quan (Cisco), hay các giải pháp bảo mật thông tin cho những dịch vụ cung cấp qua Internet (Cisco, Symantec, Trendmicro). Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ ĐTĐM có thể là các công ty tin học cung cấp các sản phẩm phần mềm sẵn có để Nhà cung ứng dịch vụ đóng gói thành dịch vụ đưa đến NSD. Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ cũng có thể là các công ty cung cấp dịch vụ chuyển đổi cho một tổ chức doanh nghiệp muốn chuyển đổi hệ thống đang được chính họ vận hành sang nền tảng đám mây của các Nhà cung ứng dịch vụ.

     

    Nhà quy hoạch chính sách là các cơ quan quản lý Chính phủ, hoặc các tổ chức chuyên ngành quốc tế. Với các điều luật nhất định, những cơ quan, tổ chức này sẽ cho phép hoặc không cho phép việc sử dụng các dịch vụ ĐTĐM. Ví dụ, khi một tổ chức

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    thuê bao dịch vụ ĐTĐM của nhà cung cấp dịch vụ, dữ liệu của họ sẽ được quản lý bởi nhà cung cấp dịch vụ. Nếu điều này không được chấp thuận bởi cơ quan quản lý chính sách thì tổ chức sẽ không được phép thuê bao dịch vụ ĐTĐM.

     

    Xét trên yếu tố về đối tượng sử dụng, dịch vụ ĐTĐM có thể được phân loại thành dịch vụ Cộng đồng (Public) hay dịch vụ Riêng biệt (Private). Dịch vụ cộng đồng được cung cấp đến tất cả mọi đối tượng sử dụng Internet (Amazon Web Services là một ví dụ điển hình). Không giống như vậy, dịch vụ ĐTĐM riêng biệt chỉ được cung cấp cho một nhóm đối tượng nhất định và nhà cung cấp dịch vụ chỉ sử dụng những nguồn tài nguyên hạ tầng của riêng họ.

     

    Từ quan điểm tính năng dịch vụ (với thành ngữ trong tiếng Anh: as-a-service), các sản phẩm ĐTĐM có thể được chia thành 3 loại hình chính là IaaS, PaaS và SaaS như được minh họa trong Hình 1 [3].

     

    • Dịch vụ cung cấp hạ tầng – Infrastructure as a Service (IaaS): Dịch vụ này cung cấp cho NSD thuê các tài nguyên hạ tầng (ví dụ như các

    máy chủ ảo, dung lượng lưu trữ) theo nhu cầu sử dụng. Dịch vụ lưu trữ Amazon S3, hay tài nguyên điện toán Amazon EC2, IBM Blue Cloud là những ví dụ của IaaS.

     

    • Dịch vụ cung cấp nền tảng – Platform

    as a Service (PaaS): Dịch vụ này cung cấp môi trường phát triển phần mềm đã có sẵn để NSD có thể thiết lập và tự phát triển

     

    trên nền tảng đó các ứng dụng hay các dịch vụ của mình. Microsoft Azure, Google App Engine, Amazon Relation Databse Services là những ví dụ của PaaS.

     

    • Dịch vụ cung cấp phần mềm – Software as a Service (SaaS): Dịch vụ này cung cấp cho NSD các ứng dụng đã được cài đặt và cấu hình sẵn trên ĐTĐM. NSD chỉ việc dùng từ xa các ứng dụng, thay vì phải cài đặt, cấu hình trên các máy trạm của họ. Ví dụ cho loại hình này là các ứng dụng trên nền Web, hoặc các ứng dụng tại chỗ nhưng sử dụng tài nguyên (xử lý, lưu trữ) qua mạng Internet. Google Apps, Gmail, Facebook là một vài ví dụ điển hình của SaaS.

    Hình 1. Các loại hình dịch vụ ĐTĐM

     

     

     

     

    Với việc dùng các dịch vụ ĐTĐM do các nhà cung cấp dịch vụ mang lại, ưu điểm nổi trội là NSD sẽ trả (thuê bao) tài nguyên theo sát với nhu cầu thực sự (pay-as-you-go), tránh được sự cứng nhắc về tài nguyên và những lãng phí hoặc không đảm bảo chất lượng dịch vụ do sự cứng nhắc đó. Kiểm soát chi phí nhờ đó cũng sẽ trở nên linh hoạt và theo sát với nhu cầu của doanh nghiệp (Hình 2b).

     

    Hình 2. Tương quan giữa mức tài nguyên được NSD đầu tư (hoặc trả tiền thuê bao) và nhu cầu sử dụng đầu tư

     

     

     

     

    Bên trái (a): mô hình tự cung cấp dịch vụ bằng hệ thống riêng sẽ dẫn đến tình trạng phải đầu tư thừa tài nguyên (Mức 1) để đảm bảo chất lượng dịch vụ, hoặc đầu tư ít tài nguyên hơn (Mức 2) nhưng phải chấp nhận sẽ có sự suy giảm và không đảm bảo về chất lượng dịch vụ trong quá trình sử dụng. Bên phải (b): Sử dụng dịch vụ ĐTĐM sẽ tránh được sự cứng nhắc về đầu tư tài nguyên bằng cách chỉ trả thuê bao theo nhu cầu sử dụng thực tế (pay-as-you-go) mà vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ.

     

    Tuy nhiên, việc gia công dữ liệu cho một Nhà cung cấp Dịch vụ Đám mây (CSP), một thực thể hành chính riêng biệt, vừa giải phóng kiểm soát

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  21

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    của người dùng qua dữ liệu của mình. Vì vậy, độ chính xác của dữ liệu trong đám mây là vấn đề. Một số rủi ro có thể được liệt kê dưới đây:

     

    • Có rất nhiều điều có thể thúc đẩy CSP không hành xử trung thực với người dùng về tình trạng dữ liệu được thuê ngoài của mình.
    • CSP không nên sử dụng dữ liệu của người dùng cho lợi ích của họ.
    • Mặc dù kiến trúc lưu trữ đám mây an toàn hơn và mạnh mẽ hơn các máy tính cục bộ của người sử dụng nhưng bên cạnh đó cũng có các mối đe dọa từ bên ngoài và bên trong.

    Việc sở hữu vật lý của dữ liệu được thuê ngoài không còn nữa. Việc tải xuống dữ liệu đã lưu trữ để kiểm tra tính toàn vẹn của nó có thể không phải là một giải pháp kinh tế và thực tế khả thi dựa trên chi phí đầu vào/đầu ra cao cũng như chi phí truyền tải qua mạng. Hơn nữa, các kích thước dữ liệu có thể lớn và truy cập vào toàn bộ tập tin từ các máy chủ từ xa có thể tốn kém chi phí I/O cho máy chủ lưu trữ. Truyền tệp trên mạng có thể tiêu tốn băng thông lớn. Về mặt lịch sử, tốc độ tăng dung lượng lưu trữ nhanh hơn tốc độ băng thông mạng. Hơn nữa, hoạt động của I/O để thiết lập độ chính xác của dữ liệu cũng sử dụng cùng một băng thông của máy chủ mà nếu không được sử dụng cho các hoạt động thường xuyên của lưu trữ và truy xuất dữ liệu.

     

    Để tiết kiệm cho người dùng khỏi gánh nặng tải toàn bộ dữ liệu và kiểm tra tính toàn vẹn của nó, cần thận trọng khi cho phép kiểm tra các kho lưu trữ trong đám mây để người dùng có thể dựa vào một kiểm toán viên không phải là bên thứ ba để kiểm toán các nguồn dữ liệu bên ngoài khi cần thiết. Cũng như nó tiết kiệm cho các máy chủ đám mây khỏi các vấn đề băng thông và quan trọng nhất đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu.

     

    Theo nghiên cứu của P. K. Deshmukh, V. R. Desale, R. A. Deshmukh (2013), trong thế giới ngày nay, cơ chế kiểm tra bên thứ ba (KTV) cho tính toàn vẹn dữ liệu ngày càng trở nên quan trọng và có thể sớm trở thành không thể tránh được để đảm bảo cho bảo vệ dữ liệu và độ tin cậy của dịch vụ. Kiểm toán viên bên thứ ba là một chuyên gia

    theo chiều dọc và có khả năng và khả năng cần thiết mà người dùng thông thường không có. Kiểm toán viên được giao nhiệm vụ đánh giá nguy cơ của các dịch vụ lưu trữ đám mây thay mặt người dùng. KTV sẽ yêu cầu CSP cung cấp bằng chứng rằng dữ liệu an toàn và chưa được sửa đổi.

     

    Kiểm toán dịch vụ có nghĩa là cho phép một cơ quan bên ngoài, để đánh giá tính toàn vẹn của dữ liệu được thuê ngoài của người dùng. Tuy nhiên, theo H. Shacham and B. Waters (2008); Q. Wang, C. Wang, K. Ren, W. Lou, and J. Li (2011); C. Wang, K. Ren, W. Lou and J. Li, (2010) hầu hết các chương trình đều không bảo đảm sự riêng tư của dữ liệu người dùng và do đó dữ liệu được tiết lộ cho các kiểm toán viên bên thứ ba. Trong khi đó, M.A. Shah, M. Baker, J.C. Mogul, and R. Swaminathan (2007) M.A. Shah, R. Swaminathan, and M. Baker

     

    (2007) người dùng cũng muốn quá trình kiểm toán để giới thiệu các lỗ hổng mới về rò rỉ dữ liệu cho các kiểm toán viên bên thứ ba chỉ để kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu thuê ngoài.

     

    Nghiên cứu này nhằm giải quyết những vấn đề trên bằng cách sử dụng kỹ thuật xác thực tuyến tính chung dựa trên khóa công khai H. Shacham and B. Waters (2008); Q. Wang, C. Wang, K. Ren, W. Lou, and J. Li (2011); C. Wang, K. Ren, W. Lou and J. Li, (2010), cho phép KTV thực hiện kiểm toán công mà không yêu cầu dữ liệu thực tế. Nghiên cứu đã tích hợp HLA với sự che phủ ngẫu nhiên để đảm bảo rằng KTV không bao giờ có được bất kỳ kiến thức về dữ liệu được lưu trữ tại máy chủ dựa trên đám mây (CS) trong quá trình kiểm tra.

     

    2. Công việc có liên quan

     

    Công việc đầu tiên của kiểm toán công đã được thực hiện bởi Ateniese và cộng sự trong “khả năng lưu trữ dữ liệu có thể thực hiện được tại các cửa hàng không đáng tin cậy”. Họ đề nghị lấy mẫu ngẫu nhiên các dữ liệu được thuê ngoài và sử dụng mô hình RSA với các bộ xác thực tuyến tính đồng bộ để kiểm tra dữ liệu được thuê ngoài. Vì đây là kế hoạch đầu tiên, bảo vệ sự riêng tư của dữ liệu đã không được xem xét bởi chúng do đó dữ liệu có thể truy cập được bởi kiểm toán viên bên ngoài cho mục đích kiểm toán.

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    M.A. Shah và cộng sự đã giới thiệu một KTV để kiểm tra tính trung thực của bộ lưu trữ trực tuyến bằng cách mã hoá tập tin dữ liệu đầu tiên được lưu trữ và sau đó một số kết hợp khóa đối xứng được đánh giá trước đối với tệp dữ liệu được mật mã sẽ được gửi tới kiểm toán viên. Vai trò của kiểm toán viên là xác định tính toàn vẹn tập tin dữ liệu và khóa giải mã được cam kết trước đó được tổ chức tại máy chủ. Điểm mấu chốt của kế hoạch này là KTV cần phải duy trì trạng thái và do đó bị hạn chế sử dụng, có thể gây gánh nặng thêm cho người tiêu dùng khi sử dụng tất cả các bảng cân đối đối xứng. Hơn nữa, chương trình này chỉ làm việc cho các tập tin dữ liệu được mã hóa. Các nhà nghiên cứu sử dụng thuật toán RSA để mã hóa và giải mã dữ liệu và thuật toán SHA 512 được sử dụng để kiểm tra tính xác thực và toàn vẹn của thông tin.

     

    Govinda và các cộng sự sử dụng chữ ký số của RSA để cho phép KTV kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được thuê ngoài trong môi trường đám mây và bảo vệ sự riêng tư của nó. Thay mặt cho người dùng, KTV kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được thuê ngoài. Điều này tạo điều kiện cho khả năng xác minh công khai động lực dữ liệu để bảo mật lưu trữ trong đám mây và cũng tạo điều kiện kiểm toán về bảo mật tính riêng tư. Tuy nhiên, kế hoạch này không thể giúp khôi phục dữ liệu được thuê ngoài. Đó là bởi chủ yếu hai lý do được đề cập trong nghiên cứu của M.A. Shah, R. Swaminathan, and M. Baker (2007). Thứ nhất là sự không khớp giữa giá trị được lưu giữ và giá trị tính toán của checksum chỉ có thể xác định rằng một trong hai đã được sửa đổi nhưng không thể định rõ được, như trong nghiên cứu của Farzad Sabahi (2011) “Các mối đe dọa và phản ứng về bảo mật máy tính đám mây” và có thể tổng kiểm tra được lưu trữ được sửa đổi hoặc bị hỏng. Lý do thứ hai là các hàm băm (hash functions) miễn phí được sử dụng để tính giá trị kiểm tra và do đó dữ liệu không thể được thu hồi từ một giá trị kiểm tra nhất định.

     

    1. Vấn đề nghiên cứu
    2. Mô hình hệ thống

    Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến ba thực thể – người sử dụng điện toán đám mây, máy

    chủ đám mây và kiểm toán viên bên thứ ba. Người dùng Đám mây là người sử dụng máy chủ đám mây để lưu trữ số lượng lớn các tệp dữ liệu. Nhà cung cấp dịch vụ đám mây (CSP) cung cấp dịch vụ lưu trữ dữ liệu và có hầu hết các tài nguyên lưu trữ và tính toán không giới hạn, có thể mở rộng. Kiểm toán viên bên thứ ba (KTV) kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu thay mặt cho người sử dụng điện toán đám mây sử dụng một kế hoạch kiểm toán công và sau đó KTV gửi báo cáo cho người dùng.

     

    Hình 3. Cấu trúc mô hình hệ thống

     

     

     

     

    Những lợi ích của mô hình hệ thống do người dùng chuyển dữ liệu sang đám mây – việc gia công dữ liệu ngoài việc giảm chi phí lưu trữ cũng giảm bớt sự bảo trì, giảm nguy cơ mất dữ liệu do sự cố phần cứng, dữ liệu có thể được truy cập từ bất cứ đâu trên thế giới. Để giảm chi phí tính toán của người dùng đám mây cũng như để tiết kiệm gánh nặng trực tuyến có thể được tạo ra khi người dùng kiểm tra tính toàn vẹn, người dùng sử dụng KTV để kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được lưu trữ.

     

    1. Mô hình chỉ dẫn nguy cơ

    Mối đe dọa về cơ bản là một sự kiện tiềm ẩn có thể là nguy hiểm hoặc ngẫu nhiên, ảnh hưởng đến tài nguyên đám mây.

     

    Nguy cơ từ truy cập đối tượng dữ liệu data – Dữ liệu trong bộ nhớ đám mây có thể bị lạc do các vấn đề về phần cứng. Nhà cung cấp dịch vụ đám mây có thể xóa dữ liệu khi nó không được truy cập trong một thời gian dài.

     

    Các cuộc tấn công khác có thể bao gồm – lỗi phần mềm, tin tặc, các vấn đề bảo mật trong đường

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  23

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    dẫn mạng… Đối với danh tiếng của họ, CSP có thể giấu những điều này từ người dùng.

     

    Nguy cơ bảo mật – Có thể là dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ đám mây có chứa thông tin bí mật về doanh nghiệp và bên ngoài có thể cố gắng truy cập vào nó bằng cách thao túng CSP. Cùng với dữ liệu này hoặc một phần của nó phải được giữ kín từ KTV trong quá trình kiểm tra.

     

    1. Mục tiêu thiết kế

    Giao thức của chúng tôi nhằm đạt được các tính chất sau đây:

     

    • Kiểm toán dịch vụ – KTV có thể xác minh an toàn và hiệu quả dữ liệu mà không cần khôi phục bản sao của nó.
    • Chính xác – Nếu có bất kỳ khối sửa đổi, sau đó KTV sẽ có thể phát hiện nó.
    • Bảo mật – Bảo toàn – KTV không nên truy cập bất kỳ phần nào của dữ liệu trong quá trình kiểm toán.

    4. Đề xuất

     

    Chúng tôi đã đề xuất một hệ thống sẽ sử dụng xác thực homomorphic dựa trên khóa công khai cùng với kỹ thuật masking ngẫu nhiên để tạo điều kiện bảo mật dữ liệu người dùng và cho phép kiểm tra dữ liệu của người dùng được lưu trữ trong đám mây. Chúng tôi đề xuất sử dụng bộ chứng thực homomorphic dựa trên khóa công khai thông qua đó KTV có thể thực hiện nhiệm vụ kiểm toán mà không yêu cầu sao chép dữ liệu của người dùng và sau đó tích hợp nó với kỹ thuật masking ngẫu nhiên, giao thức của chúng tôi hứa hẹn rằng KTV sẽ không có thông tin cần thiết để xây dựng lại chính xác Nhóm các phương trình tuyến tính và do đó không thể có bất kỳ kiến thức nào về dữ liệu của người dùng được lưu trữ trong máy chủ đám mây trong đề xuất rằng tệp tin phải được mã hóa ở phía người dùng và khóa được lưu trữ với người dùng trước khi tải tệp lên đám mây. Như vậy, quá trình trên sẽ trải qua hai giai đoạn như mô hình dưới đây:

    Hình 4. Giai đoạn thiết lập Kế hoạch Kiểm toán

     

     

     

     

     

     

    Hình 5. Giai đoạn thực hiện kế hoạch Kiểm toán

     

     

     

     

     

     

    1. Xu hướng sử dụng điện toán đám mây và tiềm năng phát triển kiểm toán đám mây trên thị trường Việt Nam

    Việt Nam đang dần tiếp cận các dịch vụ đám mây thông qua dự án của một số doanh nghiệp nước ngoài như Microsoft, Intel… cũng như từ những nhà phát triển, cung cấp trong nước như FPT, Biaki… IBM là doanh nghiệp tiên phong khai trương trung tâm điện toán đám mây tại Việt Nam vào tháng 9/2008 với khách hàng đầu tiên là Công ty Cổ phần Công nghệ và Truyền thông Việt Nam (VNTT). Có thể nói Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở ASEAN đưa vào sử dụng điện toán đám mây.

     

    Công nghệ này được coi là giải pháp cho những vấn đề mà nhiều công ty đang gặp phải như thiếu

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    năng lực CNTT, chi phí đầu tư hạ tầng hạn chế… Hiện nay, nhiều công ty đang hoang phí tài nguyên như: không khai thác hết công suất của hệ thống máy chủ, đầu tư quá nhiều về mặt con người. Trong khi đó, về lý thuyết, đám mây (cloud computing) sẽ cho phép doanh nghiệp không cần tập trung quá nhiều cho cơ sở hạ tầng hoặc nâng cấp ứng dụng, không đòi hỏi nguồn nhân lực lớn và có thể dễ dàng thay đổi quy mô khi cần.

     

    Mặc dù điện toán đám mây hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước phát triển trên thế giới bởi lợi ích đáng kể mà nó đem lại, nhưng ở Việt Nam các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự mặn mà với công nghệ này. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nhận định, đây chính là giải pháp tối ưu để các doanh nghiệp nước ta giảm thiểu chi phí cũng như tăng hiệu suất làm việc ở mức tối đa. Mô hình sử dụng điện toán đám mây tại Việt Nam được khái quát hóa như hình 6.

     

     

     

     

     

     

    Hình 6. Xu hướng sử dụng điện toán đám mây tại Việt Nam

     

    Về thực trạng ứng dụng điện toán đám mây ở các doanh nghiệp Việt Nam, có thể rút ra kết luận như sau: Hiện nay, đã có một vài doanh nghiệp lớn tại Việt Nam đưa điện toán đám mây vào ứng dụng và hiệu suất kinh doanh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, số lượng là khá ít. Phần lớn vẫn chỉ dừng ở mức quan tâm và tìm hiểu.

     

    Tuy nhiên, theo khảo sát gần đây của Symantec,

    một công ty phần mềm hàng đầu thế giới, hiện có khoảng 46% doanh nghiệp và tổ chức Việt Nam đang triển khai ứng dụng công nghệ điện toán đám mây và các dự án ảo hóa khác.

     

    Hãng bảo mật Symantec cũng cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam có mối quan tâm đặc biệt đến việc ứng dụng điện toán đám mây và cơ hội mà công nghệ mới này đem tới. Kết quả từ cuộc khảo sát cho thấy 39% doanh nghiệp trong nước hiện đang sử dụng dịch vụ phần mềm ảo tư nhân (VPS), trong khi 21% đang ảo hóa máy chủ và cơ sở dữ liệu.

     

    Một báo cáo gần đây của nhóm nghiên cứu Gartner nhấn mạnh tới sự phát triển của Điện toán đám mây trong bối cảnh toàn cầu hóa. Theo khảo sát, khoảng 50% doanh nghiệp và các tổ chức trên thế giới đang ứng dụng công nghệ hiện đại này với tốc độ tăng trưởng 17% mỗi năm. Năm 2011, doanh thu dịch vụ điện toán đám mây toàn cầu lên tới 2,4 tỷ USD. Gartner dự đoán con số này sẽ tăng gần gấp 4 lần trong năm 2012.

     

    Việc ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong kinh doanh cũng như trong đời sống là một bước phát triển tất yếu với xu thế thời đại. Được dự đoán là làn sóng công nghệ mới, sẽ tạo ảnh hưởng đến thói quen, tư duy ứng dụng công nghệ hiện nay. Điều khó khăn là làm thế nào để các doanh nghiệp cũng như cá nhân chấp nhận xu thế đấy.

     

    Đối với phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ), rào cản ngôn ngữ là trở ngại lớn nhất trong quá trình tìm kiếm những công nghệ trợ giúp cho họ. Chính vì thế, các nhà cung cấp Việt Nam sẽ là cầu nối cho doanh nghiệp trong nước với xu thế công nghệ thế giới. Nó yêu cầu một trình độ nhất định về công nghệ, sự am hiểu thói quen, văn hóa của doanh nghiệp Việt Nam, và trên hết là khả năng đào tạo thị trường gắn với công nghệ. Nhà cung cấp Công nghệ Điện toán đám mây ở Việt Nam làm tốt cả 3 điều trên, thì thị trường Việt Nam sẽ không chỉ còn là thị trường tiềm năng nữa.

     

    Công nghệ Điện toán đám mây là xu thế chung của thời đại, việc đưa ra ứng dụng, phát triển rộng rãi là điều tất yếu, nhất là trong bối cảnh toàn cầu

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  25

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    hóa. Nhưng để theo kịp xu thế, để thị trường phát triển mạnh thì còn nhiều điều cấp thiết phải làm. Thay đổi một tư duy làm việc, một thói quen hoạt động là điều mà các nhà cung cấp phải làm doanh nghiệp Việt Nam nhìn ra và chấp nhận.

     

    Bài báo đã đề xuất một hệ thống kiểm toán bên thứ ba cho kho dữ liệu dựa trên đám mây đồng thời bảo vệ sự riêng tư của dữ liệu của người dùng. Hệ thống xác thực tuyến tính đơn vị và sự che phủ ngẫu nhiên đã được sử dụng để đảm bảo rằng KTV sẽ không thể truy cập vào các nội dung dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ đám mây mà không ảnh hưởng đến hiệu quả của quy trình kiểm toán. Điều này loại bỏ gánh nặng của nhiệm vụ kiểm toán từ người sử dụng điện toán đám mây và cũng làm giảm nỗi lo sợ của người dùng rằng dữ liệu từ bên ngoài của họ có thể bị truy cập bởi một bên không tin tưởng. Vấn đề này mở ra cho các nghiên cứu ứng dụng và thực hiện kiểm toán đám mây – một mô hình dịch vụ khá mới đối với thị trường kiểm toán Việt Nam.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Ateniese, R. Burns, R. Curtmola, J. Herring,

     

    1. Kissner, Z. Peterson, and D. Song, “Provable Data Possession at Untrusted Stores,” in Proc. ACM CCS, 2007, pp. 598–610.
    1. Wang, Q. Wang, K. Ren, and W. Lou, “Privacy-Preserving Public Auditing for Data Storage Security in Cloud Computing,” in Proc. IEEE INFOCOM, 2010, pp. 525–533.

     

    1. Shacham and B. Waters, “Compact Proofs of Retrievability,” in Proc. Int’l Conf. Theory and Application of Cryptology and Information Security: Advances in Cryptology (Asiacrypt), vol. 5350, pp. 90-107, Dec. 2008.

     

    1. Wang, B. Li, and H. Li, “Oruta: Privacy-Preserving Public Auditing for Shared Data in the Cloud” University of Toronto, Tech. Rep., pp. 295-302, 2011.

     

    1. Wang, C. Wang, K. Ren, W. Lou, and

     

    1. Li, “Enabling Public Auditability and Data Dynamics for Storage Security in Cloud Computing” IEEE Trans. Parallel and Distributed Systems, vol. 22, no. 5, pp. 847-859, May 2011.
    1. Galbraith, “Supersingular curves in cryptography” (Asiacrypt) volume 2248 of Lecture Notes in Computer Science, SpringerVerlag , pages 495–513., 2001.

     

    1. Wang, K. Ren, W. Lou and J. Li, “Towards Publicly Auditable Secure Cloud Data Storage Services” IEEE Network Magazine, vol. 24, no. 4, pp. 19-24, July/Aug. 2010.

     

    1. A. Shah, M. Baker, J.C. Mogul, and R. Swaminathan, “Auditing to Keep Online Storage Services Honest,” in Proc. 11th USENIX Workshop Hot Topics in Operating Systems (HotOS ’07), pp. 1-6, 2007.
    2. A. Shah, R. Swaminathan, and M. Baker, “Privacy-Preserving Audit and Extraction of Digital Contents,” Cryptology ePrint Archive, Report 2008/186, 2008.

     

    1. Govinda V, Gurunathaprasad and H Sathshkumar, “Third Party Auditing For Security Data Storage in cloud through digital signature using RSA” IJASATR, issue 2,vol-4, Issn 2249-9954, 2012.

     

    1. Farzad Sabahi,“Cloud Computing Security Threats and Responses” IEEE conference, 978-1-61284-486-2/111, 2011.

     

    1. Boneh, B. Lynn, and H. Shacham. “Short signatures from the Weil pairing,” In Asiacrypt, volume 2248 of Lecture Notes in Computer Science, pp. 514+, 2001.

     

    1. Okamoto and D. Pointcheval, “The gap-problems: A new class of problems for the security of cryptographic schemes,” In Public Key Cryptography, LNCS 1992, pp. 104–118, 2001.

     

    1. Ben Lynn, “On the implementation of pairing-based cryptosystems” Thesis, Stanford University, Unites States, 2007.

     

    1. Armbrust, A. Fox, R. Griffith, A. D. Joseph, R. H. Katz, A. Konwinski, G. Lee, D. A. Patterson, A. Rabkin, I. Stoica, and M. Zaharia, “A View of Cloud Computing” Communications of the ACM, vol. 53, no. 4, pp. 50–58, April 2010.

     

    1. Bhagat and R. K. Sahu, “Using Third Party Auditor for Cloud Data Security: A Review” International Journal of Advanced Research in Computer Science and Software Engineering 3(3), pp. 34-39, March – 2013.
    • K.Deshmukh,V.R.Desale,R.A.Deshmukh, “Investigation of KTV (Third Party Auditor Role) for Cloud Data Security”, IJSER, vo. 4, no. 2,ISSN 2229-5518, Feb 2013.

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/IAS-41-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-V%C3%80-NH%E1%BB%AENG-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-%C4%90%E1%BA%B6T-RA-CHO-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-C%E1%BB%A6A-VI%E1%BB%86T-NAM-HI%E1%BB%86N-NAY.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Đoàn Vân Anh

    Trường Đại học Thương mại

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 19/03/2019                         Ngày nhận lại:     05/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • iệt Nam là đất nước nông nghiệp với đa dạng các loại hoạt động nông nghiệp, tuy nhiên những khuôn mẫu kế toán hiện nay của Việt Nam chỉ đặt trọng tâm cho các doanh nghiệp hoạt động sản

    xuất kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại, sản xuất, dịch vụ, xây lắp nói chung, gần như chưa có những khuôn mẫu về kế toán trong hoạt động nông nghiệp, những nội dung đã có thì quá sơ sài và không phù hợp với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán nông nghiệp. Hệ quả là việc xử lý, ghi nhận và trình bày thông tin không đảm bảo tính trung thực, đúng đắn, phù hợp với đối tượng kế toán là các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp cũng như tình hình và kết quả của quá trình hoạt động nông nghiệp của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam.

     

     

    Từ khóa: IAS 41, kế toán nông nghiệp.

     

    1.   Tổng quan nghiên cứu về kế toán nông nghiệp ở Việt Nam

     

    Về nghiên cứu kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp, đến nay có thể không nhiều các nghiên cứu đã công bố liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên cứu đã công bố cũng chỉ tập trung chủ yếu cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong nông nghiệp, có thể hệ thống các nghiên cứu đã công bố

     

    • Việt Nam về vấn đề này như sau: Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thái “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp” nghiên cứu CFSX và giá thành sản phẩm nói chung
    • khách thể nghiên cứu là các HTX nhỏ lẻ áp dụng theo hình thức khoán hộ thực hiện theo mô hình hợp tác xã; nghiên cứu của Đoàn Đình Thiêm “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước” tập trung vào nghiên cứu hoạt động chăn nuôi gia súc là lợn và bò ở các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các nghiên cứu này được thực hiện dựa trên nền của chế độ kế toán hiện đã không còn hiệu lực về pháp lý và khách thể nghiên cứu cũng đã có quá nhiều thay đổi về cơ chế vận hành cũng như

    quản lý tài chính. Nghiên cứu của Ngô Chí Giang “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn”, luận văn đã giải quyết được vấn đề bất cập trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn bằng các đề xuất liên quan đến những xử lý về kế toán đối với chi phí sản xuất giai đoạn chăn nuôi đàn gà bố mẹ trong thời kỳ hậu bị và đàn bố mẹ sau khi kết thúc giai đoạn hậu bị cũng như kế toán tập hợp chi phí sản xuất giai đoạn gia công gà thương phẩm. Các đề xuất này đều dựa trên khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “Tồn kho” nên chưa thực sự giải quyết được vấn đề một cách khoa học. Nghiên cứu của Thái Thị Thái Nguyên “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc”, đây là nghiên cứu tính thời sự hơn cả vì cũng đã tiếp cận đến quy định khuôn mẫu của quốc tế IAS 41 “Nông nghiệp” và được nghiên cứu cụ thể trong hoạt động chăn nuôi gia súc, tuy nhiên các đề xuất hoàn thiện của luận án vẫn dựa trên mô hình giá gốc để giải quyết

     

     

    khoa học

     
       

    63

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    63

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    trong hầu hết các vấn đề. Nghiên cứu của ThS. Hoàng Thụy Diệu Linh “Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế”, trong nghiên cứu này đã tổng hợp các khái niệm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về nông nghiệp (NN), tổng hợp một số các hướng dẫn kế toán của Việt Nam trong lĩnh vực trồng trọt, so sánh các quy định hiện hành với khuôn mẫu quốc tế và đưa ra các giải pháp cho kế toán hoạt động trồng trọt ở Việt Nam trên cơ sở đề xuất Việt Nam cần ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và cần phải sửa đổi quy định của Thông tư 200/2014 phù hợp với xu hướng quốc tế. Tuy nhiên nghiên cứu này được thực hiện ở cấp độ cần phân loại cây trồng thành cây mang sản phẩm (bao gồm cây lâu năm và cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần) và cây để tiêu thụ (cây ngắn ngày), bài viết chưa rõ những giải pháp cụ thể gì cho kế toán nông nghiệp Việt Nam.

     

    Nghiên cứu trên góc độ tổ chức thì có nghiên cứu của NCS Nguyễn Quốc Thắng, ĐHKTQT-2011 “Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam”, đây là nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực cây trồng, dưới góc độ tổ chức kế toán quản trị nên cũng không gắn với việc nghiên cứu khuôn mẫu chung của kế toán nông nghiệp.

     

    Trong chương trình hội thảo về chủ đề “Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam” do Bộ Tài chính tổ chức vào 22/2/2019 tại Hà Nội, Cục Quản lý giám sát Kế toán kiểm toán của Bộ tài chính trong “Báo cáo tổng hợp sự khác biệt cơ bản giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam, cơ chế tài chính và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS” đã tóm tắt sự khác biệt về

     

    có thể thấy các nghiên cứu thường chỉ tập trung cho hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và dựa trên nền tảng của nguyên tắc kế toán “giá gốc”, các nghiên cứu hoặc đã quá lỗi thời hoặc ít có tính kế thừa trong nghiên cứu này vì không tập trung giải quyết vấn đề khuôn mẫu nhằm hội nhập, hội tụ cao với quốc tế trong kế toán nông nghiệp hoặc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán IAS 41 “Nông nghiệp”, đồng thời nghiên cứu những quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp nói chung, từ đó thấy được những tồn tại trong kế toán Việt Nam hiện nay, hiểu được những vấn đề đặt ra, cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp ở Việt Nam là hoàn toàn cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

     

    2.   Khái quát về chuẩn mực kế toán quốc tế số 41 “Nông nghiệp”

     

    Chuẩn mực kế toán Quốc tế số 41 “Nông nghiệp” (IAS 41) được ban hành lần đầu bởi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) vào năm 2000, chuẩn mực kế toán này được đưa vào áp dụng tháng 1 năm 2003. Mục đích của chuẩn mực này là đưa ra các quy định phương pháp kế toán và trình bày thông tin liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Chuẩn mực này áp dụng để hạch toán các khoản liên quan đến hoạt động nông nghiệp là tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp vào thời điểm thu hoạch và trợ cấp của Chính phủ liên quan đến tài sản sinh học.

     

    Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản mục liên quan đến hoạt động nông nghiệp gồm tài sản sinh học; nông sản tại thời điểm thu hoạch; và trợ cấp chính phủ. Chuẩn mực này áp dụng cho sản phẩm nông nghiệp được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp và chỉ tại thời điểm thu hoạch.

     

    phương pháp ghi nhận đối với

    (1) Taøi saûn sinh hoïc

    (2) Saûn phaåm sinh hoïc

    (3) SF cheá bieán

     

    tài sản sinh học giữa Việt Nam

    Boø

    Söõa

    Phomai

     

    và quốc tế, từ đó nêu ra sự cần

    thiết Việt Nam phải ban hành

    Heo

    Thòt heo

    Xuùc xích

     

    chuẩn kế toán này để giúp các

    Caây cao su

    Muû cao su

    Goã

     

    doanh nghiệp hoạt động trong

    Caây nho

    Traùi nho

    Röôïu nho

     

    lĩnh vực nông nghiệp phản

           

    ánh đầy đủ, trung thực tài sản của mình theo thông

    Phạm vi của IAS 41 điều chỉnh cho các đối

    lệ quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ dừng lại

    tượng thuộc (1) và (2); còn (3) thuộc đối tượng điều

    ở việc nêu vấn đề có tính định hướng mở đường cho

    chỉnh của chuẩn mực kế toán khác liên quan như

    Việt Nam ban hành chuẩn mực kế toán “Nông

    chuẩn mực tồn kho,…

    nghiệp” trong tương lai.

    Trong đó:

    Từ những nghiên cứu tổng quan về các nghiên

    Hoạt động nông nghiệp là hoạt động quản lý bởi

    cứu đã công bố liên quan đến kế toán nông nghiệp,

    một doanh nghiệp trong lĩnh vực biến đổi sinh học

    64

    khoa học

     

    thương mại

       

    Sè 128/2019

             

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ

    Sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp.

     

    Thu hoạch là việc tách sản phẩm khỏi tài sản sinh học hoặc chấm dứt chu trình sống của sản phẩm sinh học.

     

    Tài sản sinh học là vật nuôi và cây trồng còn sống. Nhóm tài sản sinh học là một tập hợp các cây

    trồng và vật nuôi tương tự nhau và còn sống

     

    Biến đổi sinh học bao gồm các quá trình tăng trưởng, suy thoái, sản xuất và sinh sản mà tạo ra các thay đổi về chất lượng hoặc số lượng trong tài sản sinh học.

     

    Hoạt động nông nghiệp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, như chăn nuôi, trồng rừng, trồng cây hàng năm hay lâu năm, trồng cây ăn quả và cây công nghiệp, trồng hoa, nuôi trồng thủy sản. Các hoạt động nông nghiệp này có 3 đặc điểm cơ bản, đó là:

     

    Khả năng thay đổi: Động vật sống và thực vật có khả năng biến đổi về mặt sinh học như lớn lên, sản sinh ra động vật hay cây trái

     

    Quản lý sự thay đổi: Doanh nghiệp phải chủ động quản lý được sự thay đổi của các tài sản sinh học. Việc quản lý tạo ra sự biến đổi về mặt sinh học, ổn định và tạo các điều kiện cần thiết cho quá trình biến đổi sinh học diễn ra.

     

    Đo lường được sự thay đổi: Doanh nghiệp phải giám sát và đo lường được sự thay đổi về chất lượng hoặc số lượng phát sinh do quá trình biến đổi sinh học hoặc hoạt động thu hoạch diễn ra trong kì.

     

    Nội dung cốt lõi của chuẩn mực kế toán này quy định 5 vấn đề cơ bản sau:

     

    Thứ nhất, về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn sau:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản một cách tin cậy.

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận ban đầu tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    • Tài sản sinh học được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau ghi nhận ban đầu,

    tài sản sinh học được đánh giá theo giá trị hợp lý trừ chi phí để bán. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

     

    • Sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp sẽ được xác định theo các chuẩn mực kế toán liên quan tùy thuộc vào việc phân loại chúng như thế nào. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu của sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

    Trong đó, Chi phí bán hàng là chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc đưa sản phẩm đến tay người mua, không bao gồm chi phí tài chính và thuế thu nhập. Giá trị hợp lý là giá sẽ nhận được khi bán một tài sản hoặc được thanh toán một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có trật tự giữa các thành phần tham gia thị trường tại ngày xác định.

     

    Thứ ba, về đo lường giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp có thể được thực hiện bằng cách gộp những tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp theo nhóm căn cứ vào các thuộc tính quan trọng của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp đó; ví dụ như, căn cứ vào tuổi hay chất lượng. Doanh nghiệp lựa chọn các thuộc tính phù hợp với các thuộc tính được sử dụng trên thị trường làm cơ sở định giá. Các hợp đồng bán các tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp tại một ngày trong tương lai thì giá hợp đồng không là căn cứ để xác định giá trị hợp lý bởi giá trị hợp lý phản ánh các điều kiện thị trường hiện tại. Nếu tồn tại thị trường hoạt động của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, tại địa điểm và điều kiện hiện tại, giá niêm yết trên thị trường là căn cứ thích hợp để xác định giá trị hợp lý cho loại tài sản này. Nếu thị trường hoạt động không tồn tại, doanh nghiệp sử dụng giá giao dịch gần nhất hoặc giá thị trường của tài sản tương tự với điều chỉnh phù hợp để xác định giá trị hợp lý.

     

    Ngoài ra, chi phí trong một vài trường hợp có thể dùng để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp, cụ thể khi:

     

    (a) Khi có sự biến đổi sinh học rất ít kể từ khi phát sinh chi phí ban đầu – như cây ăn quả được trồng ngay trước thời điểm kết thúc kỳ báo cáo.

     

     

    khoa học

     
       

    65

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    • Khi tác động của biến đổi sinh học đến giá được coi là không trọng yếu – như thời kỳ tăng trưởng đầu của những cây được trồng có vòng đời dài.

    Đối với các tài sản sinh học gắn liền với đất, ví dụ như cây trồng sinh trưởng trên cánh đồng, khi không có thị trường riêng biệt cho tài sản sinh học gắn liền với đất, có thể tồn tại một thị trường năng động cho nhóm tài sản, tức là cho tài sản sinh học, đất và công tác cải tạo đất. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin về nhóm tài sản để xác định giá trị hợp lý cho tài sản sinh học. Theo đó, giá trị hợp lý của tài sản sinh học có thể bằng giá trị hợp lý của nhóm tài sản trừ đi giá trị hợp lý của đất và công tác cải tạo đất.

     

    Khi không thể xác định được giá trị hợp lý của các tài sản sinh học thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế. Sau đó khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng. Khi xác định giá gốc, hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế, doanh nghiệp cần xem xét những yêu cầu của IAS 2, IAS 16 và IAS 36 – Suy giảm giá trị tài sản.

     

    Thứ tư, về ghi nhận lãi lỗ:

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Một khoản lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu có thể xảy ra vì chi phí bán hàng đã được trừ đi khi xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học. Ngược lại, một khoản lãi cũng có thể phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu (ví dụ khi một con bê được sinh ra).

     

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với sản phẩm nông nghiệp được xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với nông sản có thể phát sinh từ việc thu hoạch.

     

    Thứ năm, về trình bày thông tin

     

    Doanh nghiệp phải trình bày và công bố thông tin trên các BCTC theo từng nhóm tài sản sinh học

    trên BCĐKT, thông tin về tổng lãi, lỗ phát sinh trong kỳ hiện hành khi ghi nhận ban đầu của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp và khi có sự thay đổi trong giá trị hợp lý trừ chi phí để bán của tài sản sinh học.

     

    3.   Khuôn mẫu kế toán và những bất cập hiện nay trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp của Việt Nam

     

    Nghiên cứu những quy định mang tính khuôn mẫu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, có thể nói những quy định hiện hành quá sơ sài, đơn giản và thiếu những cơ sở đo lường cần thiết cho những ghi nhận của kế toán nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán nông nghiệp: Việt Nam chưa ban hành

     

    Thứ hai, về hướng dẫn kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp:

     

    Chưa có chế độ kế toán hướng dẫn riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện kế toán nông nghiệp chỉ được hướng dẫn lồng ghép trong các hướng dẫn của chế độ kế toán doanh nghiệp nói chung. Cụ thể :

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, hiện chỉ có 2 nội dung quy định liên quan đến vấn đề nông nghiệp, đó là:

     

    – TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” áp dụng trong ngành nông nghiệp, quy định về một số nguyên tắc hạch toán trong ngành nông nghiệp cần chú ý như:

     

    + Tài khoản 154 áp dụng trong ngành nông nghiệp dùng để tập hợp tổng chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các hoạt động nuôi trồng, chế biến sản phẩm hoặc dịch vụ nông nghiệp. tài khoản này phải được hạch toán chi tiết theo ngành kinh doanh nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến,…), theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, đội sản xuất,…), chi tiết theo từng loại cây con và từng loại sản phẩm, từng sản phẩm hoặc dịch vụ.

     

    + Chi phí sản xuất ngành trồng trọt được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng như Cây ngắn ngày (lúa, khoai, sắn, cà chua, ngô,…); Cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần (nho, đu đủ…); Cây lâu năm (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn quả,…).

     

    • Chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí thì phải phân bổ vào giá thành của các loại sản phẩm liên quan như chi phí tưới tiêu nước, chi phí chuẩn bị đất và trồng mới năm đầu của những

    66

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    cây trồng một lần, thu hoạch nhiều lần (chi phí này không thuộc vốn đầu tư XDCB).

     

    Trên cùng một diện tích canh tác, nếu trồng xen từ hai loại cây nông nghiệp ngắn ngày trở lên thì những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến loại cây nào thì tập hợp riêng cho loại cây đó (như: hạt giống, chi phí gieo trồng, thu hoạch,…), chi phí phát sinh chung cho nhiều loại cây (chi phí cày bừa, tưới tiêu nước,…) thì được tập hợp riêng và phân bổ cho từng loại cây theo diện tích gieo trồng, hoặc theo một tiêu thức phù hợp.

     

    Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm nông nghiệp được xác định vào cuối vụ thu hoạch, hoặc cuối năm. Sản phẩm thu hoạch năm nào thì tính giá thành trong năm đó nghĩa là chi phí chi ra trong năm nay nhưng năm sau mới thu hoạch sản phẩm thì năm sau mới tính giá thành.

     

    Riêng đối với cây lâu năm thì ghi nhận như quá trình đầu tư xây dựng cơ bản và phản ánh vào TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Tuy nhiên, nội dung của TK 241 không đề cập gì đến vấn đề này.

     

    • Chi phí sản xuất ngành chăn nuôi được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng chăn nuôi như trâu, bò, lợn… súc vật con của đàn súc vật cơ bản sau khi tách mẹ phải mở sổ chi tiết theo dõi riêng theo giá thành thực tế; đối với súc vật cơ bản khi đào thải chuyển thành súc vật nuôi lớn, nuôi béo được ghi nhận vào TK 154 theo giá trị còn lại của súc vật cơ bản. Đối tượng tính giá thành trong ngành chăn nuôi là 1kg sữa tươi, 1 con bò tiêu chuẩn, giá thành của 1kg thịt tăng, giá thành của 1kg thịt hơi…

    – TK 211 “Tài sản cố định” quy định TK 2115 phản ánh “Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm”. Tài khoản này phản ánh giá trị các loại TSCĐ là các loại cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật nuôi để lấy sản phẩm. Đối với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con súc vật thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định đều được coi là một tài sản cố định hữu hình.

     

    Về xác định giá trị đối với TSCĐ là súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật từ lúc hình thành đến khi đưa vào khai thác, sử dụng và các chi phí khác trực tiếp có liên quan.

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư 133/2016/TT-BTC quy định hoàn toàn tương tự như trong TT 200/2014/TT-BTC. Tuy nhiên, TK 211 không quy định mở chi tiết cho

    đối tượng kế toán là TSCĐ Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm trong nông nghiệp.

     

    Trong chế độ kế toán áp dụng cho hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC. Hệ thống kế toán áp dụng cho các Hợp tác xã Nông nghiệp được hướng dẫn trong Thông tư này trên cơ sở Chế độ kế toán doanh nghiệp Nhỏ và Vừa ban hành kèm theo Thông tư 133/2016/TT-BTC và có sửa đổi bổ sung một vài tên gọi của TK để phù hợp với đặc thù hoạt động của HTX. Thông tư có hướng dẫn kế toán một số nội dung đặc thù của hợp tác xã như giao dịch giữa HTX với xã viên, giữa HTX với doanh nghiệp thuộc HTX, nội dung chi phí sản xuất của một số ngành nghề nông nghiệp, trong đó có sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Đối với các HTX có quy mô lớn, có nhiều giao dịch mà Thông tư này không có quy định thì được lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư số Thông tư 133/2016/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).

     

    Từ nghiên cứu về những khuôn mẫu kế toán nông nghiệp đã hệ thống ở trên, có thể thấy được những khác biệt trong kế toán sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam so với khuôn mẫu của quốc tế. Những khác biệt có tính trọng yếu này thể hiện những bất cập trong kế toán của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, được thể hiện trên các nội dung sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán:

     

    Việt Nam hiện chưa ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực liên quan đến giá trị hợp lý như chuẩn mực về “Giá trị hợp lý”, “Suy giảm giá trị tài sản”, “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của Chính phủ”. Bất cập này dẫn đến chưa có khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp cũng như thiếu những cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp; thiếu những khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý và khi được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận:

     

    Sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau

     

     

    khoa học

     
       

    67

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp. Việc sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” là không thích hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp bởi các thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã có thể ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, đã tạo ra những thu nhập hay chi phí (lãi/lỗ) cho doanh nghiệp. Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” khiến cho một doanh nghiệp nông nghiệp có thể không có bất cứ một khoản thu nhập nào được trình bày trên báo cáo cho đến khi thu hoạch sản phẩm (ví dụ như doanh nghiệp trồng rừng thu hoạch gỗ sau 30-40 năm).

     

    Thứ ba, về thông tư hướng dẫn kế toán trong nông nghiệp

     

    Hiện Việt Nam chưa có những hướng dẫn đủ cần thiết cho kế toán để ghi nhận các đối tượng kế toán và các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp, trong khi loại hoạt động này chứa đựng quá nhiều yếu tố đặc thù, phức tạp và nhiều rủi ro.

     

    • Không có khái niệm tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là sẽ không xác định được các đối tượng kế toán phù hợp phải được xử lý, ghi nhận theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Không quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là không phản ánh được kịp thời, đúng đắn và đầy đủ các tài sản của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đo lường các đối tượng kế toán trong nông nghiệp dựa trên chi phí thực tế phát sinh, không ghi nhận sự thay đổi giá trị do sự thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã phát sinh thu nhập, chi phí. Hệ quả không phản ánh đúng được tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra tên gọi của tài khoản phản ánh cho đối tượng kế toán là vườn cây, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, không có hướng dẫn kế toán về ghi nhận ban đầu, sau ghi nhận ban đầu, phương pháp khấu hao tài sản cố định cho đối tượng kế toán này. Hệ quả dẫn đến xử lý tùy tiện của kế toán, không đảm bảo tính thống nhất trong xử lý giao dịch giữa các doanh nghiệp nông nghiệp cùng loại hình.
    • Đối với hoạt động sản xuất trong nông nghiệp: Hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra những hướng dẫn

    chung cho tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà không có những hướng dẫn cụ thể thể hiện được tính đặc thù trong từng loại hoạt động cụ thể. Trên TK 154 quy định không rõ ràng, không phân biệt các hoạt động trong hoạt động chăn nuôi, các hoạt động trong hoạt động lâm nghiệp… hình thành nên những loại tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khác nhau, cách phân bổ những chi phí chung, chi phí nào được vốn hóa và chi phí nào không được vốn hóa vào tài sản sinh học. Hệ quả làm cho việc tính toán, đo lường, ghi nhận không phù hợp với bản chất của giao dịch, làm sai lệch thông tin về giá trị tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp.

     

    • Các khoản trợ cấp của Chính phủ trong các hoạt động nông nghiệp không được ghi nhận và cung cấp thông tin rõ ràng. Hệ quả không đo lường được thực tế kết quả hoạt động của doanh nghiệp do bản thân doanh nghiệp tạo ra hay từ những khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.
    • Về trình bày thông tin trên BCTC: Không quy định riêng về trình bày và thuyết minh thông tin đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp. Hệ quả người đọc báo cáo tài chính không có thông tin về những chính sách kế toán mà một doanh nghiệp nông nghiệp áp dụng đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp, cơ sở của những thông tin trình bày, công khai trên báo cáo tài chính nhưng đã không được công khai cho những người sử dụng thông tin.

    4. Những vấn đề cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay

     

    Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của nền kinh tế, theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, nông nghiệp Việt Nam đóng góp 15,34% vào GDP của cả nước. Với tính trọng yếu của ngành nông nghiệp, lĩnh vực kế toán nông nghiệp ngày càng trở nên quá quan trọng, cùng với những bất cập hiện nay trong kế toán nông nghiệp của Việt Nam, các khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp cần phải được sớm hoàn thiện để hội nhập quốc tế và dẫn đến hội tụ với các quy định khuôn mẫu kế toán nói chung.

     

    Từ những khác biệt có tính trọng yếu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay như sau:

     

    68

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    Thứ nhất, Ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực kế toán khác liên quan

     

    Bộ Tài chính Việt Nam cần sớm ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp để kế toán toàn bộ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được thực hiện theo khuôn mẫu từ quá trình ghi nhận, trình bày báo cáo và thuyết minh thông tin, đảm bảo phù hợp và hội tụ với thông lệ quốc tế. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” của quốc tế để ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” cho Việt Nam sẽ là cơ sở khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Và để có đủ các cơ sở pháp lý cho việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán nông nghiệp thì Việt Nam cần nghiên cứu và ban hành chuẩn mực kế toán liên quan đến giá trị hợp lý, đó là chuẩn mực về “Xác định giá trị hợp lý” làm căn cứ, cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời ban hành chuẩn mực “Suy giảm giá trị tài sản” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý thì tài sản sinh học được xác định theo giá gốc trừ đi hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế; chuẩn mực “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý khi doanh nghiệp được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, đề xuất áp dụng nguyên tắc ghi nhận theo “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp

     

    Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp là không phù hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp. Việt Nam sau khi đã ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp thì nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” sẽ được áp dụng trong kế toán nông nghiệp, theo đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ phản ánh trung thực và đầy đủ tài sản, quá trình hoạt động kinh doanh theo đúng thông lệ quốc tế.

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài

    sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    • Tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán áp dụng khi ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu trong quá trình tăng trưởng, suy thoái và sinh sản đến thời điểm thu hoạch sản phẩm nông nghiệp (trừ khi giá trị hợp lý không thể xác định một cách đáng tin cậy tại thời điểm ghi nhận ban đầu).
    • Sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán tại thời điểm thu hoạch.
    • Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong kì và phản ánh vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.
    • Toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

    Việc đo lường giá trị hợp lý trong nông nghiệp thường sẽ được thực hiện theo phương pháp tiếp cận thị trường vì các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp thông thường sẽ có giá tham chiếu trên thị trường ở từng thời điểm giao dịch.

     

    Thứ ba, về ban hành thông tư hướng dẫn kế toán nông nghiệp

     

    Việt Nam cần có những hướng dẫn cần thiết cho kế toán để phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán và ghi nhận các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp. Khi Việt Nam chưa ban hành được chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” thì cần có những hướng dẫn chi tiết cụ thể theo hướng tiếp cận với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán trong nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    (1) Về khái niệm và phân loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    • Bổ sung trong hướng dẫn kế toán các khái niệm có liên quan trong nông nghiệp như khái niệm tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, thu hoạch, biến đổi sinh học….từ đó sẽ xác định rõ ràng các đối tượng kế toán nào chịu sự điều chỉnh theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Cần phải phân loại các tài sản sinh học, trên cơ sở đó xác định được các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp để đưa ra những quy định về ghi nhận kế
     

    khoa học

     
       

    69

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    toán đối với từng loại tài sản sinh học, đảm bảo phản ánh đúng bản chất của giao dịch và tính khoa học của vấn đề. Cụ thể như sau :

     

    Đối với tài sản sinh học, căn cứ vào vòng đời sử dụng của tài sản có thể chia thành:

     

    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì không còn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó nữa. Ví dụ như cây lúa, cây rau, các vật nuôi lấy thịt…
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được. Ví dụ như trồng cây sau 20-30 năm để lấy gỗ, sau khi lấy gỗ thì không tồn tại cây trồng đó nữa.
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì vẫn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó. Ví dụ cây cam, cây bưởi, cây cao su, nuôi bò lấy sữa, bò sinh sản…

    (2) Xác định các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp với từng loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    Từ những phân loại tài sản sinh học nêu trên, có thể xác định các chuẩn mực kế toán chi phối để có những hướng dẫn kế toán phù hợp

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được thì khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và chỉ thu hoạch tài sản sinh học sau rất nhiều năm thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch (ví dụ cây bắt đầu cho trái theo tiêu chuẩn, bò bắt đầu cho sữa theo tiêu chuẩn…) thì các tài sản sinh học này nếu thỏa mãn

    các điều kiện là một tài sản cố định thì từ thời điểm đó phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”, xác định đơn vị tài sản hữu hình phù hợp với từng loại, từng nhóm vật nuôi cây trồng, ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu phù hợp với quy định của chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”.

     

    Đối với sản phẩm nông nghiệp: các sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” tại thời điểm thu hoạch. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp nếu đem vào chế biến hoặc tiêu thụ thì áp dụng chuẩn mực kế toán “tồn kho”, “Doanh thu và thu nhập khác”…

     

    • Quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Bổ sung quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở thỏa mãn điều kiện ghi nhận một tài sản nói chung trong VAS 01 “Chuẩn mực chung”. Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp một cách tin cậy.

    (4) Hướng dẫn về xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    Ban hành những quy định về các phương pháp xác định giá trị hợp lý, hạ tầng thông tin để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp phải xác định giá trị của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng vì giá trị hợp lý của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch thông thường có thể xác định một cách đáng tin cậy.

     

    Nếu không có giá niêm yết trên thị trường cho tài sản sinh học và các phương pháp đo lường giá trị hợp lý khác cho tài sản sinh học được coi là không tin cậy thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm

     

    70

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    lũy kế. Sau đó, khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng.

     

    • Hướng dẫn về ghi nhận kế toán tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    5.1. Ghi nhận kế toán đối với tài sản sinh học

     

    – Ghi nhận ban đầu tài sản sinh học: căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của tài sản sinh học, kế toán ghi tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập.

    – Sau ghi nhận ban đầu:

     

    + Các chi phí bỏ ra trong quá trình nuôi, trồng kế toán ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

     

    + Thay đổi giá trị hợp lý so với thời điểm ghi nhận ban đầu trừ đi chi phí bán hàng, nếu chênh lệch tăng lên kế toán tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập, nếu chênh lệch giảm xuống kế toán ghi giảm giá trị tài sản sinh học và tăng chi phí trong kỳ. Thu nhập và chi phí này được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.

     

    5.2. Ghi nhận kế toán đối với sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học

    Căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch, kế toán ghi tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp và tăng thu nhập.

     

    5.3 Ghi nhận kế toán đối với hoạt động nông nghiệp

     

    – Kế toán phải tách hoạt động chế biến ra khỏi những hướng dẫn kế toán liên quan đến hoạt động nông nghiệp vì hoạt động chế biến được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Tồn kho” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá gốc” để đo lường chi phí hình thành nên sản phẩm, trong khi các hoạt động nông nghiệp được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá trị hợp lý” để đo lường sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp.

     

    – Trong kế toán hoạt động nông nghiệp, cần có những hướng dẫn về ghi nhận đối với các loại hoạt động nông nghiệp khác nhau, cụ thể như ghi nhận chi phí đối với hoạt động chăn nuôi phải phân biệt

    giữa gia súc và gia cầm, xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại gia súc; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động lâm nghiệp phải phân biệt giữa cây ngắn ngày và cây lâu năm; xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại cây lâu năm; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản phải xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai…

     

    • Ghi nhận kế toán đối với các khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp

    Các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp nhằm mục tiêu khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này tham gia tích cực và có hiệu quả, hoặc thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực hoạt động nông nghiệp. Các khoản trợ cấp này có thể có điều kiện hoặc không có điều kiện. Việc ước tính, đo lường, xác định giá trị khoản trợ cấp của chính phủ cũng như cách thức ghi nhận khoản trợ cấp của chính phủ phải được tuân thủ dựa trên cơ sở áp dụng chuẩn mực kế toán “Trợ cấp của chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ”.

     

    Khi phát sinh các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp, căn cứ vào giá trị của các khoản trợ cấp, kế toán ghi tăng tài sản và ghi tăng thu nhập của doanh nghiệp.

     

    • Cần có những hướng dẫn về xác định mức dự phòng rủi ro và ghi nhận kế toán đối với dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp

    Những rủi ro trong hoạt động nông nghiệp là vô cùng nhiều do hoạt động nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên tai, dịch bệnh. Vấn đề dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải đặt ra như một vấn đề cần thiết khách quan. Cơ chế dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải được thiết lập, những xử lý về mặt kế toán cần được xây dựng đảm bảo phù hợp với khuôn mẫu chung.

     

    • Về trình bày và công bố thông tin đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên báo cáo tài chính

    Bổ sung vào quy định về trình bày và công bố thông tin đối với doanh nghiệp nông nghiệp những thông tin sau:

     

     

    khoa học

     
       

    71

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    – Thông tin trình bày tài sản sinh học:

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần thì phải được trình bày ở mục tài sản ngắn hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được và nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch thì phải được trình bày ở mục tài sản dài hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.

    – Công bố thông tin về phương pháp, căn cứ xác định giá trị hợp lý của các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp ở thời điểm thu hoạch.

     

    Kết luận:

     

    Trên đây là những nghiên cứu về khuôn mẫu của quốc tế và quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, từ đó trao đổi về những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp Việt Nam hiện nay, nhằm đưa kế toán Việt Nam nói chung và kế toán nông nghiệp nói riêng hội nhập, dần hội tụ với thông lệ chung của quốc tế về kế toán. Bài viết này sẽ tiếp nối cho nhiều nghiên cứu tiếp theo của bản thân tác giả và cho những ai quan tâm đến lĩnh vực kế toán nông nghiệp.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2000, IAS 41 Agriculture, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2014, Amendments to IAS 16 and IAS 41, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. Quốc Hội, Luật Kế toán số 88/2015/QH13.

     

    1. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 200/2014.
    2. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 133/2016.
    3. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC.
    1. Nguyễn Quốc Thái, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1983 “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp”.
    1. Đoàn Đình Thiêm, Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1995.
    1. Nguyễn Quốc Thắng, Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-2011.
    1. Ngô Chí Giang, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn, Luận văn cao học, ĐH Thương mại-2017.
    1. Thái Thị Thái Nguyên, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐH Thương mại – 2019.
    1. Hoàng Thụy Diệu Linh, Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán (5/2018)
    1. Bộ Tài chính, Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam, tài liệu hội thảo ngày 22/2/2019
    1. Tổng cục thống kê, Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội năm 2017, http://www.gso.gov.vn.

    Summary

     

    Vietnam is an agricultural country with a variety of agricultural activities; however, the current accounting patterns of Vietnam only focus on busi-nesses operating in the commercial, production, service, construction fields in general, there are almost no accounting standards in agricultural activities, the existing contents are too sketchy and do not conform to international standard of agricul-tural accounting. Consequently, the processing, recording and presentation of information does not guarantee the truthfulness, correctness, and rele-vance to the accounting objects of biological assets, agricultural products as well as the situation and results of agricultural operations of Vietnamese agricultural enterprises.

     

    khoa học

     

    72   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-th%C3%A0nh-c%C3%B4ng-hay-th%E1%BA%A5t-b%E1%BA%A1i-khi-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-th%E1%BA%BB-%C4%91i%E1%BB%83m-c%C3%A2n-b%E1%BA%B1ng-BSC-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam

    NHỮNG YẾU TỐ THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI KHI ÁP DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BSC) TẠI VIỆT NAM

     

    Nguyễn Quang Đại *

     

    TÓM TẮT

     

    Theo khảo sát của Vietnam Report thì tính đến tháng 1/2009, trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam có 7% đã áp dụng và 36% đang có kế hoạch áp dụng Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC). Tuy nhiên, cho đến thời điểm 2014 này, có bao nhiêu doanh nghiệp đã áp dụng thành công hay thất bại, chúng ta chưa có con số cụ thể. Cũng từ thời gian đó, nhiều tổ chức đã tổ chức các cuộc hội thảo về việc áp dụng BSC. Hầu hết các cuộc hội thảo này đều nêu lên những lợi điểm khi áp dụng BSC. Nhưng khi áp dụng, nhiều doanh nghiệp đã thất bại. Nguyên nhân những thất bại này do những yếu tố nào. Bài báo này trình bày cụ thể những nguyên nhân đưa đến những thất bại tại Việt Nam. Đồng thời, bài báo cũng trình bày cụ thể những yếu tố cần phải có để có thể áp dụng thành công BSC.

     

    Từ khóa: Thẻ điểm cân bằng, chỉ số đo lường kết quả hoàn thành chủ yếu

     

    FAILURE AND SUCCESS FACTORS IN APPLICATION OF THE BALANCED SCORECARD IN VIETNAM

     

    ABSTRACT

     

    By January 2009, of all 500 biggest enterprises in Vietnam 7% have applied the Balanced Scorecard (BSC) and 36% have a plan to apply it as well, according to the survey in Vietnam Report). At this time in 2014, however, we haven’t had speciic data on how many enterprises have applied it successfully. Many conferences on the balanced scorecard application have been held by different organizations since then. Most of the conferences highlighted advantages in application of the balanced scorecard, but many enterprises have failed to apply it in reality. What are factors for the failure? This paper analyzes causes of failures in the BSC application in Vietnam. In addition, the paper also presents speciically factors that are really necessary to get success in the BSC application.

     

    Keywords: Balanced Scorecard (BSC), Key performance indicators (KPI)

     

    * Thạc sĩ, C48 Bộ Công an. NCS. Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

     

     

    46

     

    Những yếu tố . . .

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Khảo sát của Vietnam Report (tháng 1/2009) đã công bố những con số ấn tượng liên quan đến 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp. Đó là có 7% đã áp dụng và 36% đang có kế hoạch áp dụng Thẻ điểm cân bằng

     

    . Từ đó đến nay, đã có thêm nhiều doanh nghiệp áp dụng. Tuy nhiên, chúng ta chưa có con số thống kê đầy đủ. Và cũng từ năm 2009 đến 2013, các tổ chức như Câu lạc bộ VNR500 (VNR500 Club), Viện Marketing và Quản Trị, và mới đây (tháng 12/2013) Viện Kinh tế và Thương mại Quốc tế thuộc Trường Đại học Ngoại thương liên tục tổ chức các cuộc hội thảo về việc áp dụng BSC. Trong cuộc hội thảo này, các doanh nghiệp nêu lên một số khó khăn hay thất bại khi triển khai BSC.

     

    • kiến của Nguyễn Tuân gây được nhiều chú ý: “Ở Việt nam, việc áp dụng BSC và KPI gặp rất nhiều khó khăn bởi nhiều nguyên nhân, một trong các nguyên nhân chủ chốt là thiếu chuyên gia hiểu sâu về công cụ KPI và có kinh nghiệm thực tế, vì vậy các doanh nghiệp trong nước thường thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài bởi họ có nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên xây dựng BSC và KPI không thể ngày một ngày hai mà phải làm liên tục, xuyên suốt từ trên xuống dưới. Do vậy việc hệ thống đánh giá KPI trở nên không chính xác, thậm chí đổ vỡ sau một thời gian khi đơn vị tư vấn nước ngoài kết thúc hợp đồng trở về nước vì các chỉ số không còn phù hợp và doanh nghiệp không tự xây được hệ thống mới”.

     

    1. VÀI NÉT VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BALANCED SCOREDCARD)

    Thẻ điểm cân bằng ra đời dựa trên khái niệm “Chiến lược” do Michael Porter triển khai. Porter lập luận rằng cốt lõi của việc thiết lập ra một chiến lược cạnh tranh ở chỗ nó liên hệ công ty với các lực trong ngành mà nó cạnh tranh. Thẻ Điểm Cân Bằng chuyển dịch viễn cảnh (vision) và chiến lược của một đơn vị kinh doanh thành các mục tiêu và các biện pháp đo lường trong bốn lãnh vực mà hai ông gọi là triển vọng (perpectives): Triển vọng (TV) tài chánh, TV khách hàng, TV tiến trình kinh doanh nội bộ, và TV học hỏi-phát triển. Triển vọng tài chánh xác định công ty mong muốn cổ đông của mình thấy tình hình tài chánh tăng trưởng như thế nào. Triển vọng khách hàng xác định công ty mong muốn khách hàng của mình thấy hình ảnh của công ty như thế nào. Triển vọng tiến trình kinh doanh nội bộ diễn tả quy trình hoạt động trong công ty phải thích ứng thế nào để thoả mãn cổ đông và khách hàng của mình. Triển vọng học hỏi và phát triển bao gồm việc công ty phải nhận thức cần phải thay đổi và cải tiến thế nào để biến viễn cảnh thành hiện thực.

     

    Chiến lược là một bộ các giả thiết (a set of hypotheses) về nhân-quả (cause-and-effect). Hệ thống đo lường sẽ làm cho những mối liên hệ giữa các mục tiêu và biện pháp đo lường trong số những triển vọng đó được rõ ràng. Mối dây nhân- quả đó nên thấm nhập vào tất cả bốn triển vọng của BSC.

     

    Hình 1 sau đây minh họa tổng thể sự chuyển dịch từ sứ mạng (mission), giá trị cốt lõi (core values), và viễn cảnh (vision) đến các kết quả chiến lược mong đợi.

     

     

    47

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Hình 1. Sự chuyển dịch từ sứ mạng đến các kết quả chiến lược mong đợi.

     

     

     

     

     

     

    Nguồn: Robert S. Kaplan and David P. Norton (2001), The strategy focused organisation: How Balanced Scorecard companies thrive in the new business environment, Harvard Business School Press, Boston, Mass, .

     

     

    Các đơn vị đo lường được sử dụng trong BSC thường được gọi là KPI (key performance indicators = chỉ số đo lường kết quả hoàn thành chủ yếu), bởi vì chúng đo lường tổ chức đó hoàn thành thế nào so với các mục tiêu (goals) và chỉ tiêu (targets) đã đề ra. Có hai loại chỉ số KPI: đó là chỉ số định hướng (leading indicators) và chỉ số hồi đo (lagging indicators). Chỉ số định hướng đo lường các hoạt động có tầm ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành trong tương lai, trong khi

    đó chỉ số hồi đo, chẳng hạn như các đơn vị đo lường (metrics) tài chánh, đo lường đầu ra của hoạt động trong quá khứ. Chỉ số định hướng là các biện pháp đo lường (measures) có tác động mạnh, bởi vì nó giúp cho cấp quản trị có nhiều thời gian tác động đến kết quả.

     

    3.           CÁC VẤN ĐỀ CẦN PHẢI TRÁNH KHI ÁP DỤNG BSC

     

    Paul R Niven với tư cách là người thực hành và là người đứng đầu về tư vấn lấp dần khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế

     

     

    48

     

    Những yếu tố . . .

     

    ứng dụng Thẻ điểm Cân bằng của giáo sư Robert S. Kaplan và David Norton. Ông đã xuất bản cuốn sách có cùng tên là “Balanced Scorecard” vào năm 2006 , được coi như là bản đồ chỉ dẫn cách thực hành Thẻ điểm Cân bằng. Với nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tư vấn, Paul R Niven đã khéo léo chuyển tải mô hình Thẻ điểm Cân bằng thành cuốn cẩm nang hướng dẫn thực hiện từng bước, và nhờ đó các tổ chức trên toàn thế giới có thể dễ dàng triển khai và áp dụng vào thực tế của doanh nghiệp mình.

     

    Trong cuốn sách này, Paul R. Niven đã cố gắng cung cấp một hướng dẫn toàn diện và chi tiết về những gì cần thiết để áp dụng thành công Thẻ điểm Cần bằng. Ông tin rằng, bằng cách tuân theo những lời khuyên này, tổ chức của các công ty có thể tránh khỏi rất nhiều cạm bẫy nguy hiểm đối với Thẻ diềm. Tuy nhiên, một số lĩnh vực có quá nhiều vấn đề đến nỗi chúng cần được chú ý và xem xét nhiều hơn trước khi doanh nghiệp bắt đầu chiến dịch của doanh nghiệp. Dưới đây là 10 vấn đề hàng đầu mà doanh nghiệp cần lưu ý và nên tránh khi áp dụng Thẻ điểm1.

     

    1. Không có sự hỗ trợ của cấp quản trị. Đây là vấn đề hàng đầu. Mặc dù truyền đạt và đào tạo rất quan trọng, nhưng có sự ủng hộ vững chắc của cấp lãnh đạo còn quan trọng hơn. Nếu dự án Thẻ điểm Cân bằng có sự gắn kết của cấp quản trị cao cấp, thì dự án đó vẫn có thể thành công mặc dù sự thiếu sự tập huấn
    • giai đoạn đầu. Ngược lại, không có sự ủng hộ vững chắc của cấp lãnh đạo, thì nỗ lực này có nhiều khả năng tàn lụi.

     

    1. Thiếu các hoạt động truyền đạt và đào tạo để áp đụng Thẻ điểm Cân bằng. Thường thì sự đơn giản của Thẻ điểm làm cho mọi người dễ mắc phải sai lầm rằng hoạt động đào tạo chuyên sâu là không cần thiết. Nếu cảm

    thấy rằng Thẻ điểm có thể được quản trị một cách dễ dàng thì tổ chức sẽ chỉ hỗ trợ tập huấn ban lãnh đạo cấp cao và sau đó tin vào khả năng kinh doanh của các nhân viên để thúc đẩy phát triển các biện pháp đo lường thành tích mới và mạnh. Cái giá phải trả cho quyết định này chính là những Thẻ điểm được thiết kế kém, ít được sử dụng và thiếu sự nhất quán trong tổ chức.

     

    1. Không có chiến lược. Chúng ta sẽ gặp khó khăn khi áp dụng một hệ thống quản trị chiến lược mà không có một chiến lược. Ở vị trí cốt lõi của khái niệm, Thẻ điểm là chiến lược của tổ chức, nó định hướng tất cả các hành động và quyết định, đảm bảo sự nhất quán từ trên xuống dưới.

     

    1. Không có lý do cơ bản cho chương trình Thẻ điềm Cân bằng. Nếu chương trình Thẻ điểm không có những mục tiêu được tuyên bố rõ ràng thì nó có thể dễ dàng bị hiểu nhầm và cuối cùng bị “xếp vào ngăn kéo” cho đến khi không ai còn ngó ngàng gì đến nó nữa.

     

    1. Không báo kết quả Thẻ điểm Cân bằng. Niven cho rằng nếu các tổ chức hi vọng đạt được những thành công lớn từ sự đầu tư của mình vào Thẻ điểm Cân bằng nhưng không dành thời gian và công sức để báo cáo, thảo luận các kết quả, chẳng khác gì việc họ đang hy vọng trúng xổ số trong khi không mua lấy một tấm vé.

     

    1. Quản trị một cách mâu thuẫn, không cân bằng. Nhiều tổ chức khuyến khích làm việc theo nhóm và tinh thần hợp tác – nét quan trọng mang lại thành công, trong khi lại dễ dàng khen thưởng các cá nhân bằng cách chỉ dựa trên thành tích của từng người. Việc sử dụng hiệu quả Thẻ điểm Cân bằng sẽ bắt buộc các tổ chức phải cam kết phát triển và tham gia vào các quy trình quản trị phù hợp với những mục tiêu mang tính toàn diện vốn có trong bản thân Thẻ điểm.

     

     

    49

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1. Không có các biện pháp đo lường mới. Những yếu tố định hướng giá trị của một Thẻ điểm Cần bằng, chính là các biện pháp đo lường mới và quên sự tác động lẫn nhau của chúng với những chỉ số khác. Có thể một công ty nào đó đang có nhiều biện pháp đo lường cần thiết để thể hiện chiến lược. Nhưng trong đa số các trường hợp, chúng phải được bổ sung bằng những biện pháp đo lường mới và hiện đại hơn đẻ đảm bảo việc thực hiện chiến lược.

     

    1. Hoạt động phát triển nhóm không hiệu quả. Thẻ điểm Cần bằng sẽ phát triển mạnh mẽ trong một môi trường nhóm, nơi mà những nền tảng và chuyên môn chức năng được đưa hết vào những cuộc tranh cãi sôi nổi và những cuộc thảo luận có sự chuẩn bị trước với mục đích phát triển một Thẻ điểm phản ánh toàn bộ tổ chức.

     

    1. Thiếu các hoạt động phân tầng. Bất kỳ tổ chức nào có quy mô đáng kể đều phải phân tầng Thẻ điểm từ trên xuống dưới nếu họ hy vọng có được những lợi thế mà hệ thống này mang lại. Chỉ bằng cách phân tầng Thẻ điểm

    xuống tất cả các cấp bậc và cho phép toàn bộ nhân viên mô tả cách thức họ sẽ đóng góp vào thành công chung thì tổ chức mới thực sự tạo được sự nhất quán.

     

    1. Những mối liên hệ thiếu vững chắc với những quy trình quản trị. Việc gắn Thẻ điểm vào các quy trình quản trị như dự toán ngân sách, chế độ đãi ngộ và kiểm soát doanh nghiệp cho phép các tổ chức khai thác được những tiềm năng đầy đủ của khung làm việc năng động này. Tuy nhiên, nếu những nỗ lực tạo ra mối liến hệ trên chưa thực sự chín muồi thì chúng có thể giảm đáng kể đà thành công của Thẻ điểm. Thủ phạm chính ở đây là mối liên hệ của các biện pháp đo lường (measures) của Thẻ điểm với chế độ đãi ngộ.

     

    4.           NHỮNG TRỞ NGẠI KHI ÁP DỤNG

    BSC

     

    Mặc dù giáo sư Kaplan và giáo sư Norton mô tả nhiều cách thực hiện thành công Thẻ điểm Cân bằng, tuy nhiên hai giáo sư cũng nêu lên nhiều nguồn gây tắc nghẽn hoặc trở ngại cho việc áp dụng BSC. Bảng 1 sau đây sẽ minh hoạ đầy đủ và chi tiết các yếu tố này.

     

     

    Bảng 1. Những trở ngại và các yếu tố cốt lõi trong việc thực hiệc BSC.

     

    Các tác giả/

       

    Yếu tố chủ yếu/

     

    phương pháp

    Các trở ngại

    Mô tả

    cốt lõi

     

    nghiên cứu

       
           
             
       

    Như đã đề cập trước đây, một BSC tốt nên

       
       

    có sự phối hợp một cách thích hợp giữa

       
       

    các kết quả (chỉ số hồi đo) với các định

    Đạt được sự cân bằng

     
     

    Quá ít các biện pháp

    hướng hoàn thành (chỉ số định hướng)

    giữa các chỉ số định

     
     

    của chiến lược doanh nghiệp. Do đó,

    hướng với chỉ số hồi

     

    1. Kaplan and

    đo lường (hai hoặc ba)

    khi tổ chức xây dựng quá ít biện pháp

    đo

     

    Norton

    cho mỗi triển vọng

    đo lường (measures) cho mỗi triển vọng,

       
     

    (perspectives)

       
     

    thì nó không tạo được sự cân bằng giữa

       
           
       

    các chỉ số định hướng với chỉ số hồi đo

       
       

    hoặc chỉ số phi tài chánh với chỉ số phi

       
       

    tài chánh.

       
             
       

    Trong trường hợp này, tổ chức đó sẽ mất

    Chỉ chấp nhận các

     

    2. Kaplan and

    Tổ chức áp dụng quá

    chỉ số phản ánh CL

     

    Norton

    nhiều chỉ số

    tập trung và không thể tạo được sự nối kết

    và là những chỉ số

     
       

    giữc các chỉ số

    quan trọng

     
         
             

    50

     

         

    Những yếu tố . . .

             
             
       

    Điều này xảy ra khi tổ chức cố gắng áp

    Chỉ chọn lọc những

     
     

    Các biện pháp đo

    dụng tất cả các chỉ số KPI vào mỗi triển

     
     

    lường (measures)

    vọng mà không chọn lọc kỹ những biện

    biện pháp đo lường

     

    3. Kaplan and

    được lựa chọn cho

    pháp đo lường (measures) nào gắn kết với

    nào gắn kết với

     

    Norton

    BSC không phản ánh

    chiến lược mà thôi. Do đó chiến lược của

    chiến lược của doanh

     
     

    chiến lược của doanh

    tổ chức không chuyển dịch thành hành

    nghiệp.

     
     

    nghiệp.

    động, và tổ chức đó không đạt được lợi

       
       

    ích của BSC.

       
             
       

    Các biện pháp đo lường tài chánh là các

       
       

    biến số phụ thuộc và hồi đo. Một số tổ

       
     

    Nỗ lực kết nối định

    chức cố gắng làm cho việc kết nối này có

    Không nối kết định

     
     

    thể đo lướng được, nhưng thời gian hồi

    lượng giữa các chỉ

     

    4.Schneiderman

    lượng giữa các chỉ số

     

    tưởng lại khó tiên đoán nhiều yếu tố có

    số định hướng phi tài

     

    và Norreklit

    định hướng với kết

     

    thể ảnh hưởng đến kết quả, cho nên không

    chánh với các kết quả

     
     

    quả tài chánh kỳ vọng.

     
     

    thể kết nối đuợc . Do đó họ không nên

    tài chánh mong đợi.

     
       

    nối kết định lượng giữa các chỉ số phi tài

       
       

    chánh với các kết quả tài chánh mong đợi.

       
             
       

    Sự uỷ thác dự án SBC cho cấp quản trị

       

    5. Kaplan and

     

    trung cấp và định nghĩa dự án đó như là

    Cấp quản trị cao cấp

     
     

    một biện pháp đo lường (measure) kết quả

    nên hỗ trợ và lãnh

     

    Norton,

       

    Thiếu sự gắn kết của

    hoàn thành (performance) được coi như

    đạo việc xác định dự

     

    Braam and

     

    cấp quản trị cao cấp.

    là một những nguyên nhân phổ biến nhất

    án là biện pháp đo

     

    Nijsen (impirial),

     
     

    dẫn đến thất bại vì bỏ mất trọng tâm và

    lường kết quả hoàn

     

    and Schneiderman

       
     

    sắp xếp hoàn thành chiến lược. Đây là

    thành.

     
         
       

    tiến trình chỉ có thể được lãnh đạo từ trên.

       
             
       

    Nhóm lãnh đạo cao cấp phải làm việc

       
       

    chung với nhau để xây dựng và hỗ trợ

    Nhóm lãnh đạo cao

     

    6. Kaplan và

    Quá ít các cá nhân

    việc thực hiện BSC, bao gồm việc đề ra

    cấp phải làm việc

     

    mục tiêu, biện pháp đo lường, và chỉ tiêu.

    chung với nhau để

     

    Norton

    tham gia

     

    Nếu không, sẽ không có sự gắn kết đồng

    xây dựng và hỗ trợ

     
         
       

    chia sẻ (shared commitment) cần thiết

    việc thực hiện BSC

     
       

    cho việc sắp xếp tổ chức.

       
             
       

    Để cho có hiệu quả, BSC bao gồm việc

       
       

    đề ra chiến lược và hành động hỗ trợ thực

       

    7. Kaplan and

     

    hiện, cuối cùng phải được chia sẻ với mọi

       
     

    thành viên của tổ chức (xem hình 1). Nếu

       

    Norton,

    Duy trì SBC trên bàn

    Toàn bộ tổ chức đều

     

    không có hệ thống triển khai phân tầng từ

     

    Schneiderman,

    của cấp quản trị cao

    mục tiêu thứ bậc cao xuống thứ bậc thấp

    tham gia vào tiến

     

    and Andersen et

    cấp.

    nơi có các hoạt động cải tiến thực sự, thì

    trình thực hiện.

     

    ali

     

    các cải tiến quy trình quan trọng khắp tổ

       
           
       

    chức không phát sinh được kết quả từ cấp

       
       

    bậc thấpiv.

       
             
         

    Hỗ trợ cho việc nối

     
         

    kết lương bổng với

     
     

    Đưa BSC vào áp

    Hỗ trợ cho việc nối kết lương bổng với

    các biện pháp đo

     

    8. Kaplan and

    các biện pháp đo lường chiến lược chỉ có

    lường chiến lược khi

     

    dụng chỉ để cho lương

     

    Norton

    hiệu quả khi nó là một phần của tiến trình

    nó là một phần của

     
     

    bổng và đãi ngộ.

    chuyển dịch chiến lược trong tổ chức.

    tiến trình chuyển dịch

     
         
         

    chiến lược trong tổ

     
         

    chức.

     
             

    51

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Khi thực hiện dự án Thẻ điểm Cân bằng (BSC), chúng ta hãy lưu ý những vấn đề mà đa số các doanh nghiệp thường gặp phải sau đây:

     

    1. Quá ít các biện pháp đo lường (hai hoặc ba) cho mỗi triển vọng (perspectives).

     

    1. Tổ chức áp dụng quá nhiều chỉ số

     

    1. Các biện pháp đo lường (measures) được lựa chọn cho BSC không phản ánh chiến lược của doanh nghiệp.

     

    1. Nỗ lực kết nối định lượng giữa các chỉ số định hướng với kết quả tài chánh kỳ vọng.

     

    1. Thiếu sự gắn kết của cấp quản trị cao cấp.

     

    1. Quá ít các cá nhân tham gia

     

    1. Duy trì SBC trên bàn của cấp quản trị cao cấp.

     

    1. Đưa BSC vào áp dụng chỉ để cho lương bổng và đãi ngộ.

    5.           CÁC YẾU TỐ CỐT LÕI GIÚP ÁP DỤNG BSC THÀNH CÔNG

     

    Jake Barkdoll và John Kamensky đã đúc kết 44 cuộc họp hàng tháng về BSC ở trụ sở Balanced Scorcard Interest Group tại Washington DC. Tại các cuộp họp này, các thành viên đã phản ánh các bài học rút ra khi giới thiệu và sử dụng BSC. Và dựa vào nhiều năm kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân khi thuyết trình cho rất nhiều cơ quan liên bang Hoa Kỳ về BSC, hai ông đã đúc kết 10 vấn đề hàng đầu giúp cho việc áp dụng BSC thành công.

     

    Triển khai BSC đòi hỏi phải giải quyết ba vấn đề thách thức sau đây: 1) Tạo dựng một tiến trình thiết kế, quản trị, báo cáo, và phân tách các đơn vị đo lường (metrics); 2) giải quyết những thay đổi về văn hoá và hành vi ứng xử có sẵn trong phương pháp này; 3) bảo đảm các khía cạnh kỹ thuật thu thâp dữ kiện, sự trung thực và chất lượng. Danh sách “Mười

    vấn đề hàng đầu” (The Top Ten) xuyên suốt mỗi giai đoạn của bốn giai đoạn cốt lõi trong nỗ lực bảo đảm BSC thành công sau đây: thiết kế, triển khai, thực hiện, và duy trì (hoặc định chế hoá (institutionalize) cách sử dụng nó. Bốn giai đoạn này sẽ được trình bầy sau phần “mười yếu tố hàng đầu”. Tất cả các yếu tố cốt lõi nêu trong Bảng 1 “Những trở ngại và các yếu tố cốt lõi trong việc thực hiệc BSC” đều hiện diện trong mười yếu tố hàng đầu sau đây:v

     

    1. Hãy tranh thủ được sự hỗ trợ của cấp quản trị cao cấp. Điều này rất giúp ích nếu có “sự tranh luận nảy lửa” đòi hỏi cần phải thay đổi.

     

    1. Hãy đo lường những cái/việc đúng (measure the right things) – những cái mà khách hàng, những bên có liên quan (stakeholders), và nhân viên thấy có giá trị – chứ không phải tất cả mọi thứ.

     

    1. Hãy tạo nên một quy trình điều hành lôi kéo những bên có liên quan.

     

    1. Hãy thiết kế hệ thống theo dõi công việc thực sự của tổ chức.

     

    1. Hãy bắt đầu triển khai các biện pháp đo lường ở cả cấp trên và cấp dưới của tổ chức, và phân bổ chúng ở cả hai phía.

     

    1. Hãy tạo nên một chiến dịch truyền thông giải thích cho mọi người biết BSC vừa phản ánh vừa định hướng tập trung vào sứ mạng (mission).

     

    1. Hãy sắp xếp các hệ thống: hãy ràng buộc các hệ thống này vào các chu kỳ hoạch định, đo lường, và ngân sách của tổ chức.

     

    1. Hãy đảm bảo tính đáng tin cậy (khả tín) của tiến trình và sự trung thực trong báo cáo.

     

     

    52

     

    Những yếu tố . . .

     

    1. Hãy tạo nên sự minh bạch của thông tin càng đúng thời điểm càng tốt. Đây là chìa khoá của tính khả tín và hữu ích cho cả cấp quản trị cao cấp lẫn cấp quản trị cơ sở.

     

    1. Hãy nối kết và sắp xếp các khích lệ, khuyến khích: hãy nối kết phần thưởng với việc hoàn thành công tác qua việc đánh giá hiệu quả và đánh giá hoàn thành công tác.

    Mười vấn đề hàng đầu này xuyên suốt bốn giai đoạn của nỗ lực thực hiện BSC. Sau đây chúng ta hãy nghiên cứu chi tiết bốn giai đoạn này.

     

    Thiết kế. Tạo nên một BSC thành công không phải là một kỳ công về mặt kỹ thuật. Thách thức thật sự là ở chỗ lôi kéo các vị lãnh đạo, các nhà quản trị, nhân viên, khách hàng, và các bên có liên quan tham gia vào tiến trình thiết kế. Trong khi nỗ lực là do nhân viên tạo nên và đạt được sự tiến bộ, thì những nỗ lực thành công thật sự bắt đầu từ sự hỗ trợ của cấp lãnh đạo cao cấp. Với sự hỗ trợ của cấp lãnh đạo cao cấp, thì điểm chủ yếu là đo lường những cái đúng – những cái mà khách hàng, những bên có liên quan (stakeholders), và nhân viên thấy có giá trị – chứ không phải tất cả mọi thứ.

     

    Yếu tố chủ chốt khác trong việc thiết kế là dành cho hệ thống để thực hiện thêm công việc đã hoàn tất. Chẳng hạn như hệ thống thư viện tại Đại Học Virginia Hoa Kỳ đã thu thập dữ kiện trong nhiều năm. Chỉ sau khi triển khai BSC kết nối dữ kiện với cái mà thư viện đó đã thực hiện, thì dữ kiện đó mới thực sự trở nên hữu dụng.

     

    Triển khai. Một phương pháp được sử dụng là bắt đầu triển khai các biện pháp đo lường của tổ chức tại cấp trên và cấp dưới của tổ chức và phân bổ các kết quả phải đạt được

    • cấp bậc trung cấp. Chẳng hạn như, tại Trung Tâm Devices and Radiological Health Hoa Kỳ, trong việc quản trị thực phẩm và dược phẩm, cấp lãnh đạo đưa ra khung biện pháp đo lường tổng quát, nhưng cũng khuyến khích trưởng các đơn vị chi nhánh tự triển khai đơn vị đo lường của mình. Ban đầu có một số trùng lắp, nhưng các cuộc đàm thoại chọn lọc biện pháp đo lường đã tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau hơn từ hai phía.

     

    Việc tạo nên một chiến dịch truyền thông giải thích cho mọi người biết BSC vừa phản ánh vừa định hướng tập trung vào sứ mạng rất quan trọng để đạt được sự hỗ trợ của cấp quản trị và nhân viên cho việc thu thập và báo cáo những biện pháp đo lường mới. Khi các nhà quản trị và nhân viên thấy được giá trị của thông tin, thì nội dung của các cuộc đàm thoại sẽ thay đổi.

     

    Thực hiện. Triển khai và báo cáo kết quả các biện pháp đo lường của BSC không nghĩa lý gì nếu chúng không nối kết với các hệ thống hành chánh đã được thiết lập trước đây mà nhân viên sử dụng thường xuyên, như chu kỳ hoạch định, triển khai và thực hiện ngân sách . Chẳng hạn như Sở Dịch Vụ thuộc Bộ Tài Chánh và Kế Toán và Sở Vận Chuyển thuộc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đều sử dụng các biện pháp đo lường của BSC như một phần của chiến lược thường xuyên và hệ thống triển khai và thực hiện ngân sách của mình. Văn phòng Cung ứng thuộc Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ nhận thấy rằng BSC giúp bộ này chuyển dịch khỏi “các hoạt động đánh giá chương trình” sang “quản trị chương trình”. Tính khả tín (đáng tin cậy) của tiến trình và tính chân thật trong báo cáo cũng là các yếu tố quan trọng.

     

    Duy trì. Thách thức lớn nhất trong đa số các nỗ lực của BSC là duy trì nỗ lực đó lâu

     

     

    53

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    dài, đặc biệt khi người hỗ trợ các sáng kiến hành động (initiavives) ra đi. Một cách để bảo đảm tính liên tục và hỗ trợ tính khả tín của các dữ kiện là tạo nên sự minh bạch của thông tin càng sát với thời điểm cáng tốt. Điều này cũng làm cho thông tin của BSC hữu ích cho cả cấp quản trị cao cấp lẫn cấp cơ sở. Thay vì thu thập và báo cáo dữ kiện hoàn thành hàng năm, thì chẳng hạn như Tổng Nha Địa Ốc, Sở Tài Nguyên Thiên Nhiên, và Sở Địa Ốc Hoa Kỳ tất cả đều thu thập thông tin kết quả hoàn thành gần sát thời điểm thực tế có sẵn trên mạng nội bộ (intranet) dành cho nhân viên để họ có thể so sánh kết quả hoàn thành và học tập ở bạn đồng nghiệp cách cải tiến hoạt động của mình.

     

    Một động lực thúc đẩy chủ yếu khi sử dụng thông tin BSC là gắn nó với các các phần thưởng khích lệ. Chẳng hạn như Sở Địa Ốc Hoa Kỳ gắn BSC với chỉ tiêu hoàn thành công tác đã được thương lượng trước trong mỗi vùng. Nếu vùng nào hoàn thành chỉ tiêu, thì vùng đó sẽ nhận được phần thưởng.

     

    Ngoài “Mười Yếu Tố Hàng Đầu” đã nêu trên đây, những người tham dự các cuộc họp tại Washington D.C nêu trên đây đã đưa ra những đề xuất thêm để thành công khi áp dụng BSC. Trước hết, họ đề nghị hãy liên kết với các tổ chức khác đang triển khai SBC. Có nhiều bài học đáng được học tập một cách bán chính thức. Thứ hai, họ cảm thấy rằng phương pháp BSC được coi như một công cụ học tập, chứ không phải chỉ đơn thuần là hệ thống các biện pháp đo lường. Họ cảm thấy rằng BSC tạo nên một khung, một kỷ cương, và một tiếng nói chung trong phạm vi một tổ chức, và khi nó tiến triển, thì văn hoá của tổ chức đó bắt đầu thay đổi hướng về kết quả hoàn thành hơn (more performance oriented), dựa vào dữ kiện hơn (more fact-based) và

    hướng về khách hàng hơn (more customer-centric). Và sau cùng, kinh nghiệm của các đơn vị sử dụng BSC ở Hoa Kỳ đã nhận thấy rằng bởi vì văn hoá của họ thay đổi, cho nên họ ít nhấn mạnh BSC như là một phương pháp đo lường và xem nó như là một cách khác truyền thông với nhau.

     

    Trong cuộc hội thảo về ứng dụng BSC và KPI trong quản trị doanh nghiệp vào giữa tháng 12 năm 2013, các chuyên gia của Viện Kinh tế và Thương mại Quốc tế trực thuộc Trường Đại Học Ngoại Thương sau rất nhiều thất bại từ việc thử nghiệm công cụ BSC và KPI từ chính doanh nghiệp của mình, đã đúc kết và rút ra ba kinh nghiệm sâu sắc. Các doanh nghiệp nào muốn áp dụng phải nắm rõ ba yếu tố này thì việc xây dựng KPI mới có thể thành công. Các yếu tố này hầu như đã được trình bày ở phần trên đây. Ba yếu tố đó là.

     

    Thứ nhất, Xây dựng BSC và KPI phải phù hợp với văn hoá Việt Nam.

     

    Thứ hai, Hệ thống BSC và KPI phải được thực hiện chậm rãi, không nôn nóng, và phải hiểu rằng đây là công cụ quản lý để công việc tốt hơn chứ không phải hệ thống quy trách nhiệm.

     

    Thứ ba, Có sự quyết tâm của toàn công ty, lãnh đạo phải hiểu rõ công cụ, có nhóm hạt nhân xây dựng hệ thống, rồi từ từ lan toả ra toàn bộ công ty.

     

    Chúng ta đã nghiên cứu qua những trở ngại chính khi áp dụng Thẻ điểm Cân bằng cũng như những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công hay thất bại khi áp dụng Thẻ điểm Cân bằng, còn một điểm then chốt cần nhấn mạnh là khi xâydựng BSC và KPI ở Việt Nam phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề sao cho phù hợp với nền văn hóa của một dân tộc có bề dày hàng ngàn năm lịch sử.

     

     

    54

     

    Những yếu tố . . .

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    [1]. Thẻ Điểm Cân Bằng (The Balanced Scorecard), [Online, accessed, Dec, 2013], URL

     

    http://www.facebook.com/ permalink.php? story_fbid=233394716700482&id   =128992350452485

     

    [2]. Thẻ Điểm Cân Bằng (The Balanced Scorecard ), [Online, accessed, Dec, 2013],             URL:https://www.

     

    facebook.com/permalink.php?story_fbid=233394716700482&id=128992350452485.

     

    • Robert S. Kaplan and David P. Norton (1996), Balanced Scorecard: Translating Strategy into Action. Harvard Business School Press, Boston, MA, p.37.

     

    • Robert S. Kaplan and David P. Norton (1996), Balanced Scorecard: Translating Strategy into Action. Harvard Business School Press, Boston, MA, pp.30-31.

     

    • Beer Molleman, The challenge of Implementing the Balanced Scorecard, [Online,

    accessed,  Dec. 8, 2013], URL: hppt://www [email protected]

     

    • Paul R. Riven (2009), Thẻ Điểm Cân Bằng, Trần Phương và Thu Hiền Dịch, NXB Tổng Hợp TP.HCM, tr. 548-556.
    • Schneiderman, A.M (1999), Sách đã dẫn.

     

    • John M. Kamensky (2005), Top Ten List: Keys Factors that Makes a Balanced Scoredcard Successful [Online, accessed, Dec. 8, 2013],

    URL: hppt:// www.businessofgovernment.org/…/top-ten- list-key-factor.

     

    • Nguyễn Tuân, Thất Bại Khi Áp Dụng BSC & KPI, [online, accessed Jan.2, 2014]. URL: http://ieit.edu.vn/vi/dao-tao/item/209-tong-hop-cac-chuong-trinh-dao-tao-tu-van-bsc-va-kpi-trong-nam-2013-cua-ieit

     

     

     

     

    55


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Kh%E1%BA%A3o-s%C3%A1t-r%E1%BA%BD-nh%C3%A1nh-c%E1%BB%A7a-dao-%C4%91%E1%BB%99ng-tu%E1%BA%A7n-ho%C3%A0n-trong-h%E1%BB%87-tuy%E1%BA%BFn-t%C3%ADnh-t%E1%BB%ABng-kh%C3%BAc-b%E1%BA%B1ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-b%E1%BA%AFn-%C4%91%C6%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    KHẢO SÁT RẼ NHÁNH CỦA DAO DỘNG TUẦN HOÀN TRONG HỆ TUYẾN TÍNH TỪNG KHÚC BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẮN ĐƠN ANALYZING THE BIFURCATION OF PERIODIC VIBRATIONS OF PIECEWISE-LINEAR SYSTEMS USING THE SINGLE SHOOTING METHOD

     

    1. HOÀNG MẠNH CƯỜNG

    Viện Khoa học cơ sở, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    1. LÊ ANH TUẤN

    Khoa Cơ khí, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Trong bài báo này, đã áp dụng phương pháp bắn đơn trong việc tính toán dao động tuần hoàn của hệ dao động cưỡng bức chịu kích động điều hòa. Sự không đối xứng của hệ khảo sát dẫn đến cả độ cứng và độ cản nhớt là các hàm tuyến tính tứng khúc. Việc phân tích ổn định và rẽ nhánh của hệ dao động phi tuyến đã được tiến hành bằng phương pháp tính toán số. Từ các phân tích cho thấy rằng, trong hệ khảo sát xuất hiện các rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ và sự tồn tại đồng thời của nhiều tập hút tuần hoàn.

     

    Abstract

     

    This article analyses the periodic vibration of harmonically excited systems using the single shooting method. Both stiffness and viscous damping are piecewise-linear functions due to non-symmetry of system. Analyzing the stability and bifurcation of nonlinear systems are carried out by numerical method. The analysis results show the existence of period-doubling bifurcation and multiple periodic attractors.

     

    Key words: Nonlinear vibration, shooting method, Bifurcation.

     

    1. Mở đầu

     

    Trong các hệ dao động máy như các bánh răng chịu tải trọng nhẹ, các hệ rotor, các hệ dao động đàn hồi, các hệ cam-cần cam, các khớp liên kết các thành phần robotic, … tính chất tuyến tính hoặc phi tuyến từng khúc tồn tại vì khe hở giữa các thành phần. Các hệ tuyến tính từng khúc là các hệ phi tuyến mạnh, để tính toán dao động của các hệ này ta có thể sử dụng phương pháp cân bằng điều hòa gia lượng [2, 3, 4, 6]. Nhưng để đạt được độ chính xác cao, phương pháp này đòi hỏi số các thành phần điều hòa trong biểu thức nghiệm phải lớn, điều này dẫn đến ta phải giải một hệ nhiều phương trình đại số phi tuyến, đây là vấn đề rất khó khăn. Để khắc phục hạn chế này, phương pháp bắn đơn [1] tỏ ra có ưu thế hơn, vì trong phương pháp này số phương trình của hệ đại số phi tuyến chỉ tương ứng với số chiều của hệ, do đó sẽ giảm khối lượng tính toán và tăng độ chính xác của nghiệm thu được.

     

    Trong bài báo này, đã xây dựng thuật toán khảo sát sự ổn định và rẽ nhánh của nghiệm tuần hoàn trong các hệ phi tuyến không ôtônôm, dựa trên phương pháp bắn đơn. So sánh các kết quả tính toán với các kết quả tính bằng phương pháp cân bằng điều hòa gia lượng [6], cho thấy các kết quả hoàn toàn tương tự. Việc đưa ra thuật toán tính toán số trong bài bào này có thể dễ dàng được áp dụng để phân tích các ứng sử động lực học phức tạp như rẽ nhánh và dao động hỗn độn của các hệ kỹ thuật trong thực tế.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               30

     

    2. Phương pháp bắn đơn tìm nghiệm tuần hoàn của các hệ không ôtônôm

     

    Cho hệ phương trình vi phân không ôtônôm (thêm dấu : )

     

    x = f ( x, t, μ)                                                                                                                         (1)

     

    Trong đó x Π   n f Π    n , m là các tham số, f(x,t,m) là hàm tuần hoàn chu kỳ Te. Bài toán đặt

     

    ra là, ta phải đi tìm nghiệm tuần hoàn chu kỳ T của hệ (1), nghĩa là ta phải đi tìm nghiệm của hệ (1) sao cho thoả mãn điều kiện x(0) = x(T). Ta đã biết, đối với các hệ không ôtônôm, chu kỳ T của nghiệm tuần hoàn cần tìm là một bội số hữu tỷ của Te và là một số đã biết. Do đó, để thực hiện phương pháp bắn tìm nghiệm tuần hoàn chu kỳ T của hệ (1), trước tiên, ta xét bài toán (thêm : )

     

    • = f ( x, t, μ)

    với điều kiện đầu

    x(0) =

    η

    ,

    (2)

     

    sau đó, ta phải đi tìm điều kiện đầu kiện (thêm dấu : )

     

    x(T , η) = x (0) = η Û x(T, η) –

    • sao cho nghiệm x(t,h) của bài toán (2) thoả mãn điều

    η = 0

    (3)

    • là hệ n phương trình đại số phi tuyến với n ẩn số là hk (k =1, 2, …, n). Để giải hệ phương trình đại số này ta có thể sử dụng các phương pháp lặp, như phương pháp Newton-Raphson được trình bày dưới đây:

    Ban đầu ta cho một sự ước chừng điều kiện đầu h(0) và mong muốn tìm được h, sao cho sai lệch dh = hh(0) thoả mãn điều kiện ||dh|| < e, với e là một số nhỏ cho trước, để mà (thêm dấu : )

     

    x(T , η(0)  + d η) – ( η(0)  + d η) » 0

     

    Khai triển Taylor đối với (4) và chỉ giữ lại

    (4)

     

    các số hạng tuyến tính đối với dh, ta được (thêm : )

     

    é ¶x

     

    (0)

     

    ù

    (0)

     

    (0)

     

    ê

     

    (T , η

     

    ) – E

    ú

    d η = η

    x (T , η

     

    )

    η

       

    ë

         

    û

           

    (5)

     

    trong đó E là ma trận đơn vị cấp n´n, x(T,h(0)) là véc tơ có n phần tử và được xác định bằng cách giải bài toán điều kiện đầu (2) trong khoảng thời gian t = [0, T]. Còn ¶xh là ma trận cấp n´n các thành phần của ma trận này tại (T,h(0)) được xác định như sau: Đạo hàm hai vế phương trình

    • theo h, ta được (thêm dấu : )

    d æ

    x ö

    = Dxf ( x, t, μ)

    x

    (6)

     

    ç

     

    ÷

     
       

    η

    dt è

    η ø

       

    Ngoài ra đạo hàm của điều kiện đầu x(0) = h đối với h, ta được (thêm dấu : )

     

    x

    (0) = E

    (7)

     

    η

         
    • là phương trình vi phân đối với ¶xh, tích phân phương trình (6) với điều kiện đầu (7) trong khoảng thời gian t = [0, T], ta được ¶xh tại (h(0), T). Khi ma trận ¶xh được xác định thì hệ
    • trở thành hệ n phương trình đại số tuyến tính với các ẩn số là dh. Sau khi giải hệ (5), ta kiểm tra tiêu chuẩn hội tụ ||dh|| < e. Nếu tiêu chuẩn hội tụ không được thoả mãn, ta cập nhật lại điều kiện đầu h(0) = h(0) + dh và quay lại các bước ở trên cho đến khi các tiêu chuẩn hội tụ được thoả mãn. Kết thúc thủ tục ta tìm được điều kiện đầu h tương ứng với nghiệm tuần hoàn chu kỳ T của hệ (1).

    3. Khảo sát rẽ nhánh của các hệ phi tuyến bằng phương pháp số

     

    • Bước 1: Chọn giá trị đầu m = m0. Bằng phương pháp bắn, ta tìm điều kiện đầu h0 và chu kỳ T0 ứng với nghiệm tuần hoàn (x(t, h0, T0), m0) của hệ (1), giả sử nghiệm này ổn định.
    • Bước 2: Chọn số gia Dm thích hợp, lấy m = m0 + Dm
    • Bước 3: Lấy (h0, T0) làm giá trị khởi đầu cho phương pháp bắn, tìm điều kiện đầu h và chu kỳ T của nghiệm tuần hoàn x(t, h, T) của hệ (1) tại m = m0 + Dm.
    • Bước 4: Tích phân số phương trình (1) với điều kiện đầu h, ta được nghiệm tuần hoàn x(t, h, T). Kiểm tra các nhân tử Floquet ứng với nghiệm này. Nếu tất cả các nhân tử Floquet đều nằm trong vòng tròn đơn vị của mặt phẳng phức thì nghiệm này là ổn định, ta cập nhật lại các giá trị

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               31

     

    khởi đầu m0 = m, h0 = h, T0 = T và ta quay lại từ bước 2. Nếu có nhân tử Floquet nằm trên vòng tròn đơn vị của mặt phẳng phức và nhân tử này đang có xu hương đi ra khỏi vòng tròn đơn vị, thì ta có giá trị rẽ nhánh m và tiếp tục từ bước 5.

     

    * Bước 5: Kiểm tra hướng của nhân tử Floquet dời khỏi vòng tròn đơn vị của mặt phẳng

    phức

     

    • Nếu nhân tử Floquet là số thực, dời vòng tròn đơn vị theo hướng -1, ta có rẽ nhánh nhâ đôi chu kỳ (thêm dấu . )
    • Nếu nhân tử Floquet là số thực, dời vòng tròn đơn vị theo hướng +1, ta có một trong các rẽ nhánh: nếp gấp-chu trình, rẽ nhánh chuyển qua giới hạn, rẽ nhánh phá huỷ tính đối xứng.
    • Nếu nhân tử Floquet là số phức dời vòng tròn đơn vị , ta có rẽ nhánh Hopf loại 2.

    4.           Tính toán dao động tuần hoàn và khảo sát rẽ nhánh của hệ tuyến tính từng khúc

     

    4.1. Mô hình động lực học của tuyến tính từng khúc

     

     

    Cho mô hình dao động như hình 1, trong đó khối lượng m được nối với lò xo k0 và cản nhớt c0, lò xo k1 và cản nhớt c1 được để tự do. Giả thiết rằng khi không có khối lượng m, hai lò xo tự do chạm nhau, khi có khối lượng m, tại vị trí cân bằng tĩnh các lò xo với các độ cứng tương ứng k0, k1 bị nén một đoạn tương ứng là d0 và d. Cho khối lượng m chịu tác dụng của lực kích động điều hoà f0sinWt. Gọi x là dịch chuyển của cạnh bên phải khối lượng m đối với vị trí của cạnh bên phải của khối lượng tại vị trí cân bằng tĩnh.

     

    f0

     

    Hình 1. Mô hình dao động của hệ

     

    tuyến tính từng khúc

     

     

    Phương trình vi phân dao động của hệ này có dạng (thêm dấu : )

     

    mx + c0 x + k0 x + c0 H ( x) + G( x) = f 0 sin Wt

     

    trong đó (thêm dấu : )

     

    ìc x / c

    ,

    x > –d

     

    ìk x ,

     

    x > –d

    H (x) = í

    1

    0

       

    ;

    G (x) = í

    1

         

    0,

       

    x £ –d

    k 0

    d 0

    ,

    x £ –d

    î

         

    î

    Bằng cách đặt x1 = x, x2 = dx/dt, từ (8) ta có (thêm dấu : )

     

    ìx

    = x

                   

    ï

    1

    2

                   

    í

    x

    = [ – c x

    k x

    c H (x

    ) – G (x ) + f

     

    sin Wt ] / m

    ï

     

    2

    0

    2

    0

    1

    0

    2

    1

    0

     

    î

     

    trong đó (thêm dấu : )

     

    (8)

     

    (9)

     

     

    ìc x

    2

    / c

    ,

    H (x ) =

    í

    1

    0

     
           

    2

    0,

         
     

    î

         

    4.2. Các kết quả tính toán số

     

    x

    > –d

    1

     

    x

    £ –d

    1

     

    ;

    ìk1 x1 ,

     

    x1  > –d

    G (x1 ) = í

    ,

    x1  £ –d

     

    î k 0 d 0

    Sau đây ta đi khảo sát rẽ nhánh của nghiệm tuần hoàn trong hệ (9) bằng phương pháp số. Để tính toán số, ta chọn tham số thay đổi là k = k0.10-3, các tham số khác như sau: f0 = 7,8.103(N),

     

    • = 0,4.103(kg), k0 = k.103(N/m), k1 = 0,9.106(N/m), c0 = 0,05.103(Ns/m), c1 = 0,5.103(Ns/m), d = 5.10-3(m), W = 34,56(rad/s).

     

    Hình 2. Biểu đồ rẽ nhánh của hệ (9).

     

    (a) ứng với các nghiệm 2T, 4T, 6T; (b) ứng với các nghiệm 3T, 6T

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               32

     

     

    Hình 3. Biểu đồ nhân tử Floquet của hệ (9)

     

    (a) với các nghiệm 2T, 4T, 8T; (b) ứng với các nghiệm 3T, 6T

     

    Cho k biến thiên trong khoảng [2; 20], khi đó ta có biểu đồ rẽ nhánh của hệ được cho trên các hình 2. Từ hình vẽ ta thấy, tại k = 20 ứng với điểm A1 trên hình 2a, ta tìm được một nghiệm 2-chu kỳ ổn định. Cho k giảm dần, nghiệm 2-chu kỳ này vẫn ổn định, khi k giảm đến điểm B1 ứng với k = 5,66, tại đây có một nhân tử Floquet đi ra khỏi vòng tròn đơn vị theo hướng -1 (xem hình 3a) nên xuất hiện rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ, khi đi qua giá trị này xuất hiện một nghiệm 4-chu kỳ ổn định. Tiếp tục cho k giảm xuống nghiệm 4-chu kỳ vẫn ổn định, khi k giảm đến điểm C1 ứng với k = 3,18, tại đây lại có một nhân tử Floquet đi ra khỏi vòng tròn đơn vị theo hướng -1 (xem hình 3a), do đó lại xuất hiện một rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ, khi đi qua giá trị này xuất hiện một nghiệm 8-chu kỳ ổn định. Nghiệm 8-chu kỳ này tồn tại cho đến giá trị k = 2,865. Mặt khác ta thấy, tại điểm A2 trên hình 2b ứng với k = 7,5 xuất hiện một nghiệm 3-chu kỳ song song tồn tại với nghiệm 2-chu kỳ. Nghiệm ba chu kỳ này tồn tại cho đến điểm B2 ứng với k = 2,3, tại đây có một nhân tử Floquet đi ra khỏi vòng tròn đơn vị theo hướng -1 (xem hình 3b), nên xuất hiện một rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ, khi đi qua giá trị này nghiệm 6-chu kỳ xuất hiện, nghiệm 6-chu kỳ này tồn tại ổn định cho đến k = 2. Các nghiệm 2-chu kỳ, 4-chu kỳ, 8-chu kỳ, 3-chu kỳ và 6-chu kỳ của hệ (9), tại một số giá trị của k được cho trong các hình 4 – 8.

     

    Hình 4. Nghiệm 2-chu kỳ của hệ (9) tại k = 6,0                  Hình 5. Nghiệm 4-chu kỳcủa hệ (9) tại k = 3,2

     

     

    Hình 6. Nghiệm 8-chu kỳ của hệ (9) tại k = 2,87               Hình 7. Nghiệm 3-chu kỳ của hệ (9) tại k = 2,4

     

     

    Hình 8. Nghiệm 6-chu kỳ của hệ (9) tại k = 2,0

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Quy%E1%BB%81n-d%E1%BB%B1-ph%C3%B2ng-v%C3%A0-chuy%E1%BB%83n-quy%E1%BB%81n-d%E1%BB%B1-ph%C3%B2ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-t%E1%BB%95-h%E1%BB%A3p-DG-t%C3%A0u-thu%E1%BB%B7.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    QUYỀN DỰ PHÒNG VÀ CHUYỂN QUYỀN DỰ PHÒNG CỦA CÁC TỔ HỢP DG TÀU THUỶ

     

    THE PRIORITY TO THE STANDBY STATE AND THE ABILITY TO TRANSFER TO ANOTHER OF MARINE DG COMBINATION

     

    PGS. TS. LƯU KIM THÀNH

    Khoa Điện- Điện tử, Trường ĐHHH Việt Nam

    Tóm tắt

     

    Bài báo giới thiệu một tính năng quan trọng của hệ thống quản lý nguồn PMS, đó là xác định quyền được dự phòng và chuyển quyền của các tổ hợp DG tàu thuỷ. Đi sâu nghiên cứu và đưa ra thuật điều khiển thực hiện tính năng nói trên.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               50

     

    Abstract

     

    This article introduces an important function of the Power Management System – PMS; It implies the priority to the standby state and the ability to transfer to another of Marine Diesel-Generator combination; in particular, give out the algorithm of above feature.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Trên tàu thuỷ không thể thiếu được nguồn cấp năng lượng điện. Do tàu thuỷ có một số chế độ làm việc, mà ứng với từng chế độ thì phụ tải yêu cầu công suất điện khác nhau, nên người ta thường bố trí trong trạm vài tổ hợp phát điện – Generating Sets (GS). Các tổ hợp GS thường là Diesel Generators (DG), hoặc máy phát đồng trục – Shaft Generators (SG), hoặc đôi khi dùng Turbo Generators (TG). Tuy theo yêu cầu của phụ tải mà việc đưa từng tổ hợp GS vào làm việc trên lưới có thể được thực hiện bằng tay (chế độ “Hand” hay “Manual”), hoặc chế độ bán tự động ( Semi-Automatic Mode ) hay tự động (Automatic Mode).

     

    Tàu thuỷ có môi trường làm việc rất nặng nhọc và khắc nghiệt đối với thuyền viên, đồng thời cũng luôn đòi hỏi điều khiển chính xác và kịp thời (nhằm ngăn ngừa các sự cố đáng tiếc xảy ra), nên bên cạnh chế độ điều khiển bằng tay luôn trang bị các hệ điều khiển tự động hoặc bán tự động. Vì thế trên tàu thuỷ nói chung và trong trạm phát nói riêng người ta đã trang bị khá nhiều hệ thống tự động hoặc bán tự động. Nhất là trong giai đoạn khoa học công nghệ phát triển thì tự động hóa các hệ thống trên tàu thuỷ ngày càng được hoàn thiện. Hệ thống quản lý nguồn (Power Management System – PMS) là một trong các hệ thống cần thiết và được hình thành trong hoàn cảnh đó.

     

    Hệ thống quản lý nguồn – Power management system (PMS) được trang bị trên tàu thủy có mức độ tự động hoá cao (không có người trực ca trong buồng máy). Tuy nhiên trước đó trên tàu thuỷ đã được trang bị các hệ thống tự động để thực hiện từng chức năng cụ thể, có thể kể ra: Hệ thống tự động điều khiển diesel; Hệ thống tự động hoà đồng bộ; Hệ thống tự động phân chia tải….

     

    Khi PMS được trang bị trên tàu thuỷ thì nó có thể thực hiện chức năng của một số hệ thống riêng biệt nói trên, hoặc nó có thể tác động qua lại với các hệ thống riêng biệt đó – Theo phương án nào hoàn toàn phụ thuộc cấu trúc PMS được lựa chọn theo ý đồ người thiết kế.

     

    Trong 2 thập kỷ qua nhiều hãng trên thế giới đã, đang và sẽ còn tiến hành nghiên cứu giải quyết các vấn đề liên quan đến PMS. Đồng thời đã thiết kế, chế tạo và đưa vào sử dụng các hệ thống tự động quản lý nguồn cho tàu thuỷ. Trong đó trên các tàu quân sự do Nga đóng từ thập kỷ 70 thế kỷ 19 đã trang bị hệ điều khiển nguồn (Power Controller) [1] [2], hãng Taiyo cũng đưa ra từ 2001. Sau đó các sản phẩm PMS do các hãng Lyngsø Marine A/S,Totem, Deif A/S, Stucke Electronic… chế tạo với mức độ tự động và công nghệ vi điều khiển [3], [5] .

     

    Trong nước chưa đưa ra sản phẩm hệ thống quản lý nguồn, cũng chưa có các công trình nghiên cứu nhằm chế tạo PMS, mà chỉ tìm hiểu thực hiện việc lắp đặt và vận hành khai thác chúng, cũng chưa đưa ra các tài liệu và giáo trình phục vụ đào tạo ….Việc nghiên cứu nhằm

     

    hướng tới mục tiêu chế tạo hệ thống PMS tại Việt Nam được đặt ra chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo của công nghiệp đóng tàu Việt nam là cần thiết.

     

    2. Nội dung

     

    Để giải quyết vấn đề nêu trên ta sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng quan hệ quản lý nguồn tàu thủy; Xây dựng biểu thức thuật điều khiển phục vụ cho việc lập chương trình phần mềm;

     

    Vấn đề ưu tiên tổ hợp DG nào sẽ được đưa vào làm việc trên lưới khi có yêu cầu. Trong đó trước tiên phải nói đến thứ tự ưu tiên ở chế độ Standby, tiếp theo là chuyển quyền ưu tiên Standby giữa các tổ hợp DG trên tàu thuỷ.

     

    2.1. Lựa chọn thứ tự standby của các tổ hợp DG

     

    Trạm phát điện trên tàu thuỷ thường được bố trí 3 tổ hợp DG. Khi đó thứ tự standby chỉ có thể được lựa chọn hoặc theo một trong hai cách thức sau:

     

    • Thứ tự thuận DG1 → DG2 → DG3 → DG1;
    • Thứ tự ngược DG1 → DG3 → DG2 → DG1.

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               51

     

    Để thực hiện việc lựa chọn cách thức thuận hay ngược ta cần sử dụng một tín hiệu Logic, tạm gọi là Select standby ký hiệu là S. Có thể gán S=0 cho thứ tự thuận, ngược lại S=1 khi chọn thứ tự ngược.

     

    Nếu gọi các hàm trạng thái standby của các tổ hợp DG1, DG2 và DG3 lần lượt là Y1, Y2 và Y3, thì giá trị Logic của chúng không chỉ phụ thuộc vào tín hiệu S, mà còn phụ thuộc 3 tín hiệu có hay không sự tham gia làm việc của chúng trên lưới, tức là phụ thuộc vào 3 tín hiệu máy cắt (hoặc áptomat) của 3 DG lần lượt là A1, A2 và A3. Giá trị của Yi phụ thuộc các trường hợp sau:

     

    • Khi Ai =1 thì tín hiệu Yi tương ứng sẽ bằng “0”;
    • Khi tất cả Ai = 0 thì cả 3 máy có cơ hội như nhau, hoặc tất cả Ai =1 thì tất cả Yi sẽ bằng

    “0”;

     

    • Khi chỉ có một Ai nào đó bằng “1” thì 2 tín hiệu Yi còn lại sẽ nhận 2 giá trị ngược nhau, nó có thể là “0” hoặc “1” hoàn toàn phụ thuộc vào giá trị của S;
    • Khi có 2 tín hiệu Ai nào đó đều bằng “1” thì tín hiệu Yi còn lại đương nhiên sẽ nhận giá trị “1” không phụ thuộc vào giá trị của S.

    Từ phân tích các trường hợp trên ta có thể đưa ra bảng chân lý của 3 tín hiệu Yi phụ thuộc 4 tín hiệu vào S, A1, A2 và A3 (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Bảng chân lý các tín hiệu ưu tiên standby

    Số trạng

    S

    A1

    A2

    A3

    Y1

    Y2

    Y3

     

    thái

                   

    0

    0

    0

    0

    0

     

    1

    0

    0

    0

    1

    0

    1

    0

     

    2

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    0

     

    3

    0

    0

    1

    1

    1

    0

    0

     

    4

    0

    1

    0

    0

    0

    0

    1

     

    5

    0

    1

    0

    1

    0

    1

    0

     

    6

    0

    1

    1

    0

    0

    0

    1

     

    7

    0

    1

    1

    1

     

    8

    1

    0

    0

    0

     

    9

    1

    0

    0

    1

    1

    0

    0

     

    10

    1

    0

    1

    0

    0

    0

    1

     

    11

    1

    0

    1

    1

    1

    0

    0

     

    12

    1

    1

    0

    0

    0

    1

    0

     

    13

    1

    1

    0

    1

    0

    1

    0

     

    14

    1

    1

    1

    0

    0

    0

    1

     

    15

    1

    1

    1

    1

     

    Từ bảng 1 ta có: Y1 = S2,3,9,11 ; Y1 = S1,5,12,13 ; Y3 = S4,6,10,14.

     

    Sau khi đơn giản 3 hàm trên ta có:

     

    Y = A

    (S.A

    2

    + S.A

    );

    = A

    (S.A

    3

    + S.A

    );

    Y = A

    (S.A

    + S.A

    )

    1

    1

     

    3

     

    2

    2

     

    1

     

    3

    3

    1

    2

     
                                     

    Tín hiệu ra Yi có thể được đưa ra các đèn vàng YLi tương ứng để chỉ báo tổ hợp đó đang được quyền sẵn sàng đưa vào làm việc tiếp sau với lưới. Khi máy phát đó được đóng vào lưới thì tổ hợp DG đó không còn quyền dự phòng nữa, tín hiệu Yi của nó sẽ bị xoá và đèn vàng YLi của nó sẽ tắt.

     

    Ngoài ra quyền standby của DGi cũng sẽ bị huỷ nếu nó có tín hiệu không sẵn sàng tham gia (Fi = 1), cũng như lệnh khởi động DGi bị huỷ (Dei=1) vì đã hết thời gian cho phép (ví dụ 2 phút). Khi đó các hàm Yi có dạng:

     

     

    =

                                               

    Y1

    A1

    (S.A 2

    + S.A 3

    )F1  × De1 ;

       
     

    =

                     

    )

       

    ×

       

    ;

       

    Y2

    A 2

    (S.A 3

    + S.A1

    F2

    De 2

     

    (1)

     

    =

               

    )

       

    ×

           

    Y3

    A 3

    (S.A1

    + S.A 2

    F3

    De3

       
                                               

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 39 – 08/2014

    52

    Với cách lựa chọn trên sẽ chỉ ra tổ hợp DG dự phòng thứ nhất, còn dự phòng thứ 2 không được chỉ ra và chỉ được ngầm hiểu mà thôi – Đây có thể là chưa hoàn hảo của cách lựa chọn này.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               53

     

    2.2. Chuyển quyền ưu tiên standby giữa các tổ hợp DG

     

    Để xem xét việc chuyển quyền standby cho tổ hợp DG tiếp theo chúng ta cần chú ý đến 2 trường hợp sau:

     

    A/ Trong trường hợp khi trạm chỉ có một tổ hợp làm việc (ví dụ DG1) và có tín hiệu yêu cầu của tải nặng, trạm cần tăng công suất phát PS, thì tổ hợp được quyền standby thứ nhất (ví dụ DG2) sẽ tiến hành thực hiện các công đoạn đưa vào làm việc, nhưng có thể xảy ra các tình huống:

     

    • Khi tổ hợp DG2 được yêu cầu đưa vào làm việc trên lưới thì đèn YL2 sáng cùng với xuất hiện tín hiệu khởi động Diesel thứ 2. Nhưng quá trình khởi động không thành, hoặc Diesel khởi động thành công nhưng máy phát không có điện áp ra, tức là sau thời gian cho phép mà tổ hợp DG2 vẫn không thể cấp điện cho lưới;

     

    • Trước khi nhận được tín hiệu khởi động mà Diesel thứ 2 đã bị sự cố, hoặc tổ hợp DG2 không được chọn chế độ tự động, tức là tổ hợp này đã từ chối quyền ưu tiên standby.

    Nếu một trong hai tính huống đó xảy ra thì tổ hợp DG2 sẽ mất quyền động chuyển quyền standby cho tổ hợp DG3. Với trạm có 3 tổ hợp DG standby không phụ thuộc vào tín hiệu Select standby – S.

    standby và PMS sẽ tự thì việc chuyển quyền

     

    B/ Với trạm có 3 tổ hợp DG mà đã có 2 tổ hợp đang làm việc trên lưới thì việc chuyển quyền ưu tiên không xảy ra (vì tổ hợp thứ 3- tổ hợp cuối cùng của trạm đương nhiên có quyền standby). Nếu tổ hợp cuối cùng cũng bị rơi vào một trong 2 tình huống trên thì hệ chỉ có thể phát tín hiệu báo động mà thôi, ngoài ra không thể là gì được hơn.

     

    Việc chuyển quyền cho tổ hợp nào đó (ví dụ DG1) chỉ xảy ra khi thoả mãn tất cả các điều kiện sau:

     

    • Điều kiện thứ nhất: Trạm chỉ có 1 tổ hợp DG đang làm việc trên lưới (tức là có aptomat A2 hoặc A3 đã ở trạng thái đóng – nhận giá trị “1” Logic);
    • Điều kiện thứ hai:
    • A3=0 (A2=1) và DG3 có quyền standby mà đã từ chối (theo tình huống 2), tức là DG3 đã phát tín hiệu F3 báo không sẵn sàng (do hỏng, do chọn chế độ manual), tức là F3=1 do không chọn chế độ “AUTO”;
    • Khi DG3 được chọn chế độ “AUTO” (F3=0) thì điều kiện thứ ba có thể xảy ra theo một trong hai tình huống sau:

    ü Tình huống 1: A3=0 (A2=1) và DG3 có quyền standby mà sau thời gian cho phép (khoảng

    120s kể từ khi có tín hiệu yêu cầu DG1 vào làm việc trên lưới St3 =1) mà aptomat DG3 vẫn không đóng lên lưới được (A3 vẫn =0), thì xuất hiện tín hiệu xoá lệnh khởi động St3 = 0 bằng tín hiệu trạng thái De3 =1.

     

    ü Tình huống 2: A3=0 (A2=1) và DG3 có quyền standby tuy chưa hết thời gian cho phép khởi động đã có tín hiệu báo khởi động không thành Sf3 = 1 (thêm dấu .)

     

    Như vậy tín hiệu chuyển quyền standby (ký hiệu là St1 ) từ DG3 cho DG1 sẽ phụ thuộc vào tích đơn giản của 2 tín hiệu A2 và thừa số thứ 2 là tổng của tín hiệu F3 với tích F3 ×(St3 ×De3 +Sf3 ) .

     

    Tương tự cũng có kết quả ứng với trường hợp A2=0 (A3=1). Hàm St1 sẽ là tổng của 2 tích đơn giản (dạng hàm Karnonic).

     

    Tóm lại ta nhận được biểu thức của tín hiệu chuyển quyền standby cho DG1 DG2 DG3  như

    sau:

                                                     

    St1  = A2  ×[F3

    +

       

    × (

         

    × De3

    + Sf 3

    )] + A3  ×[F2  +

           

    × (

         

    × De 2  + Sf

    2 )]

     

    F3

    St3

    F2

    St 2

     
     

    = A1  ×[F3

    +

       

    × (

         

    × De3

    + Sf 3

    )] + A3  ×[F1  +

         

    × (

         

    × De1  + Sf1 )]

    (2)

    St 2

    F3

    St3

    F1

    St1

     

    = A1  ×[F2

    +

     

    × (

     

    × De 2  + Sf 2

    )] + A2  ×[F1  +

     

    × (

     

    × De1  + Sf1

    )]

     

    St 3

    F2

    St 2

    F1

    St1

     

    Như vậy khi kết hợp (1) với (2) về việc chuyển quyền standby từ tổ hợp DG khác, thì tín hiệu standby của mỗi tổ hợp DG được viết lại như sau:

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-l%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%8Bnh-trong-d%E1%BB%B1-b%C3%A1o-nhu-c%E1%BA%A7u-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-%C3%81p-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-doanh-nghi%E1%BB%87p-cung-%E1%BB%A9ng-v%E1%BA%ADt-t%C6%B0-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT BẤT ĐỊNH TRONG DỰ BÁO NHU CẦU HÀNG HÓA:

     

    ÁP DỤNG TẠI DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG VẬT TƯ THIẾT BỊ HÀNG HẢI

     

    APPLICATION OF UNCERTAINTY THEORY IN FORECASTING CUSTOMER DEMAND: THE CASE OF MARITIME SPARE PARTS SUPPLYING

    COMPANY

     

    NGUYỄN MINH ĐỨC, VŨ LÊ HUY

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Đối với các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu, đây thực sự là thách thức không nhỏ do giới hạn về số liệu lịch sử cũng như số lượng các khách hàng thân thiết với nguồn cầu ổn định. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Bài báo đề xuất ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa và áp dụng kết quả vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    Từ khóa: Lý thuyết bất định, dự báo nhu cầu khách hàng, quản trị tồn kho.

     

    Abstract

     

    Forecasting customer demand is always a critical activity in supply chain management, especially at companies that directly distribute products to customers because those companies are at the end of the supply chain line to provide information to other distributors and manufacturers. This activity is even a higher challenge to new companies due to the shortage of historical data as well as certain demand from loyal customers. Forecasting customer demand directly impacts companies’ business planning, such as inventory management. The paper suggests the application of uncertainty theory in forecasting customer demand and its application to economical order model at a maritime spare parts supplying company.

     

    Keywords: Uncertainty theory, forecasting customer demand, inventory management.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Quản trị hàng tồn kho chiếm một vị trí quan trọng trong thành công của các doanh nghiệp cũng như cho cả chuỗi cung ứng. Thực hiện tốt quản trị hàng tồn kho sẽ giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí cũng như tăng mức dịch vụ khách hàng, giảm thiệt hại kinh tế do hết hàng tồn kho hay lãng phí do lượng hàng tồn kho quá lớn. Trên thực tế, việc quản trị hàng tồn kho càng trở nên thách thức do tính bất ổn của dòng thông tin đầu vào như nhu cầu hàng hóa của khách hàng, thời gian vận chuyển trong chuỗi, các loại chi phí liên quan,… (Sethi et al, 2005) Việc xác định chính xác các thông tin đầu vào này sẽ quyết định sự hiệu quả của công tác quản trị hàng tồn kho. Lý thuyết bất định cung cấp một công cụ để xác định và nâng cao mức độ tin cậy của giá trị kỳ vọng của các thông tin đầu vào này. Bài báo, trước hết, sẽ giới thiệu một cách khái quát về lý thuyết bất định và sau đó, đề xuất ứng dụng của lý thuyết này trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng nó vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    2. Ứng dụng lý thuyết bất định trong xác định giá trị kỳ vọng

     

    Nhằm mục đích mô hình hóa những vấn đề không thể xác định được một cách chắc chắn, đã có rất nhiều lý thuyết được phát triển nhưng nổi lên là hai phương pháp toán học: lý thuyết xác suất và lý thuyết bất định. Lý thuyết xác suất đòi hỏi một lượng đủ lớn của mẫu để có thể xác định phân phối xác suất. Tuy nhiên, không phải lúc nào mẫu cũng sẵn có để xác định được hàm mật độ của một biến ngẫu nhiên. Nếu không có đủ số liệu, có thể phải mời chuyên gia để đánh giá mức độ tin cậy của một sự kiện có thể xảy ra. Lý thuyết bất định được giới thiệu bởi giáo sư Liu Baoding lần đầu năm 2007 và được định nghĩa lại vào năm 2010. Theo lý thuyết bất định, một biến bất định là một hàm đo lường ξ từ một không gian bất định (Γ, ℒ, ℳ) đối với một tập các số thực, với {ξ ∈ Β} là

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     91

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    một sự kiện đối với bất kỳ một tập hợp B nào. Phân phối bất định của một biến bất định ξ được xác định bởi Φ(x) = ℳ{ξ ≤ x} với bất kỳ số thực nào (Liu, 2015). Một biến bất định tuyến tính có phân phối bất định như sau:

    0,

      ớ    <

     

    Φ(x) = {(x − a)⁄(b − a) , với  ≤  <

    (1)

    1,

      ớ    ≥

     

    Với a và b là số thực, (a < b).

     

    Một hàm Φ: ℛ ⟶ [0,1] là một phân phối bất định khi và chỉ khi nó là một hàm tăng dần ngoại trừ khi Φ(x) ≡ 0 và Φ(x) ≡ 1.

     

    Do không thể xác định chính xác biến bất định ξ, nên thay vào đó, ta sẽ xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ. Đối với một phân phối bất định thực nghiệm được Liu (2015) đề xuất như sau:

     

       

    0

       

    với x <   1

     
     

    i+1

    − αi)(x − xi)

     

    Φ(x) = {αi +

    với xi  ≤ x ≤ xi+1, 1 ≤ i ≤ n

     
     

    xi+1

    − xi

       

    với x > xn

     
       

    1

       
               

    Giá trị kỳ vọng của biến ξ sẽ được xác định theo công thức:

    E[ξ] =

    α12

    x

    + ∑n−1

    αi+1−αi−1

    x

    i

    + (1 −

    αn−1n

    )x

    n

         
     

    2

    1

    i=2

    2

       

    2

     
                   

    (2)

     

    (3)

     

    Trong đó, α1, α2 , .. αn lần lượt là mức độ tin cậy của sự kiện giá trị khảo sát nhỏ hơn x1, x2, … xn và x được sắp xếp theo thứ tự từ bé đến lớn.

     

    Trên cơ sở lý thuyết bất định, ta có thể xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ thông qua bộ câu hỏi cho chuyên gia để xác định bộ giá trị (x1, α1), (x2, α2)… (xn, αn) như sau:

    • Giá trị lớn nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị nhỏ nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị của biến ξ có thể là bao nhiêu? Và mức độ tin cậy của việc giá trị thức tế sẽ nhỏ hơn giá trị kỳ vọng này?

    Câu hỏi thứ (i) có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi chuyên gia ngừng đưa ra đáp án. Giá trị kỳ vọng E[ξ] của tất cả chuyên gia tham gia khảo sát sẽ được lấy trung bình để rút ra kết quả kỳ vọng cuối cùng.

     

    3. Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng để tính toán lượng đặt hàng kinh tế tại công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

     

    Trong mô hình đặt hàng kinh tế EOQ (Economic Order Quantity) (Bowersox, Closs & Cooper 2002), lượng đặt hàng tối ưu được xác định theo công thức:

    = √

    2   

    (4)

     

         

    Trong đó: D là nhu cầu về hàng hóa, K là chi phí đặt hàng, h là chi phí tồn trữ một đơn vị hàng hóa

     

    Tuy nhiên, trong thực tế, việc dự báo nhu cầu về hàng hóa luôn là thách thức đối với tất cả những nhà quản lý, đặc biệt là tại các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu do hạn chế về lượng thông tin để có thể áp dụng các phương pháp dự báo truyền thống. Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh là một công ty thành lập năm 2016 chuyên cung ứng các vật tư thiết bị hàng hải cho các đội tàu biển trên khu vực Hải Phòng. Một trong những sản phẩm được cung ứng với số lượng lớn và liên tục là bóng đèn chiếu sáng lặp đặt trên tàu. Một nhiệm vụ quan trọng của công ty là dự báo nhu cầu lượng bóng đèn và từ đó lập kế hoạch mua hàng để tiết kiệm chi phí tồn trữ. Tuy nhiên, do thời gian hoạt động chưa lâu, nên công ty luôn gặp khó khăn trong việc xác định lượng cầu một cách tin cậy. Lý thuyết bất định, do đó, phù hợp để áp dụng trong trường hợp này.

     

    Do giá trị của D là không xác định được trực tiếp một cách chính xác, nên ta sẽ phải xác đing lượng đặt hàng tối ưu thông qua giá trị kỳ vọng E[D]. Lúc này, công thức xác định lượng đặt hàng tối ưu sẽ là:

    = √

    2E[D] 

    (5)

     

         

    Nhu cầu về sản phẩm bóng đèn chiếu sáng lắp đặt trên tàu biển tại công ty theo từng tháng từ ngày thành lập được thể hiện trong Hình 1. Bằng cách áp dụng hồi quy tuyến tính, ta có thể xác định hàm xu thế tuyến tính và dự báo tuyến tính nhu cầu hàng hóa trong năm 2018.

     

    92                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Lượng hàng (chiếc)

    900

       
       

    800

       
       

    700

       
       

    600

       

    y = 0.321x – 13084

     

    500

       

    R² = 0.7455

     
     

    400

       
       

    300

       
       

    200

       
       

    100

       
       

    0

       

    Mar-16Apr-16May-16Jun-16Jul-16Aug-16Sep-16Oct-16Nov-16Dec-16Jan-17Feb-17Mar-17Apr-17May-17Jun-17Jul-17Aug-17Sep-17Oct-17Nov-17Dec-17

     
     

    (Nguồn: thống kê từ doanh nghiệp)

     

    Hình 1. Nhu cầu sản phẩm và hàm xu thế tuyến tính

     

    Nhu cầu khách hàng trong năm 2018 dựa trên dự báo tuyến tính là 9.680 sản phẩm. Mặc dù kết quả dự báo này có độ tin cậy thấp, nhưng nó vẫn là một thông số tham khảo để tiếp tục áp dụng lý thuyết bất định trong khảo sát ý kiến chuyên gia. Các chuyên gia, trong trường hợp này là giám đốc và nhân viên mua hàng, nhân viên phân phối. Họ sẽ độc lập trả lời các câu hỏi về giá trị kỳ vọng của nhu cầu khách hàng, trên cơ sở đã biết nhu cầu thực tế của khách hàng trong lịch sử và kết quả dự báo tuyến tính:

     

    Kết quả khảo sát được tổng hợp như sau:

     

    Chuyên gia 1: (8000, 0), (9000, 0,5), (9680, 0,7), (12000, 1);

     

    Chuyên gia 2: (7000, 0), (8000, 0,5), (9680, 0,9), (10000, 1);

     

    Chuyên gia 3: (8000, 0), (9680, 0,5), (11000, 0,8), (12000, 1).

     

    Áp dụng công thức (3) ta có kết quả nhu cầu khách kỳ vọng của các chuyên gia lần lượt là: 10570, 10270 và 11622. Lấy trung bình các kết quả kỳ vọng của các chuyên gia, ta có nhu cầu khách hàng kỳ vọng trong năm 2018 là E[D] = 10820.

     

    Với thống kê từ bộ phận tài chính, chi phí đặt hàng là 2 triệu đồng cho một đơn đặt hàng và chi phí tồn trữ bình quân một đơn vị sản phẩm là 5000 đồng. Áp dụng công thức (5), lượng đặt hàng tối ưu đối với công ty sẽ là:

     

    EOQ = 2942 (sản phẩm/đơn hàng)

     

    4. Kết luận

     

    Có thể thấy đối với trường hợp Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh, là Công ty Cung ứng vật tư thiết bị hàng hải, nhu cầu khách hàng về sản phẩm bóng đèn trên tàu biển được nâng cao độ tin cậy của dự báo thông qua ứng dụng của lý thuyết bất định khi cơ sở dữ liệu không đủ để thực hiện các dự báo truyền thống. Việc sử dụng ý kiến nhiều chuyên gia cũng giúp hạn chế tính chủ quan của một chuyên gia đơn lẻ. Kế hoạch về lượng đặt hàng kinh tế, do đó, sẽ có mức độ tin cậy cao hơn. Rõ ràng, nếu chỉ sử dụng kết quả dự báo tuyến tính, sẽ có nhiều khả năng lượng hàng nhập về không đáp ứng đủ nhu cầu khách hàng và doanh nghiệp sẽ có thể mất thêm chi phí để đặt hàng bổ sung.

     

    Quản trị hàng tồn kho là một nhiệm vụ quan trọng trong quản trị chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, tránh tình trạng hết hàng và giảm chi phí tồn trữ cho doanh nghiệp cũng như toàn chuôi cung ứng. Việc lập kế hoạch tồn kho, do đó, chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, tuy nhiên, lại là một thách thức không nhỏ cho các nhà quản lý, đặc biệt khi các giá trị đầu vào của các mô hình quản lý tồn kho như nhu cầu hàng hóa biến động và khó xác định một cách chắc chắn. Lý thuyết bất định được xây dựng để xác định giá trị kỳ vọng của một biến số dựa trên mức độ tin cậy của các sự kiện có thể xảy đến với biến số đó. Lý thuyết bất định do đó, có thể đóng vai trò cầu nối giữa các phương pháp toán học dự báo đơn thuần và phương pháp chuyên gia để nâng cao độ tin cậy cho giá trị kỳ vọng của biến số. Trên thực tế, thông tin về các thông số kinh tế thường mang tính bất định, và do đó, ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng trong quản trị hàng tồn kho chỉ là một trong phạm vị rất rộng các ứng dụng của lý thuyết này.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     93

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Sethi, Suresh P; Yan, Houmin; Zhang, Hanqin; Inventory and supply chain management with forecast updates, Springer, 2005.
    • Liu, Baoding, Uncertainty Theory 5th edition, Springer-Verlag Berlin, 2015.
    • Donald J. Bowersox, David J. Closs, M. Bixby Cooper, Supply Chain Logistics Management International edition, McGraw-Hill Higher Education, 2002.

    Ngày nhận bài:

    14/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

     

     

     

    94                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-NG%C3%80NH-C%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-PH%E1%BB%A4-TR%E1%BB%A2-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

     

    Vũ Văn Thực*

     

    TÓM TẮT

     

    Những năm qua, ngành công nghiệp phụ trợ là một trong những ngành quan trọng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư phát triển, đây là một trong những ngành đã và đang được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, thời gian qua các doanh nghiệp phụ trợ của Việt Nam dường như vẫn loay hoay tìm đường cho phát triển. Bài viết này sẽ phân tích thực trạng công nghiệp phụ trợ ở nước ta nhằm tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém mà ngành này đang gặp phải, từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển ngành này trong thời gian tới.

     

    Từ khóa: công nghiệp phụ trợ, phát triển

     

    INDUSTRY DEVELOPMENT IN VIETNAM ACCESSORIES

     

    ABSTRACT

     

    In the few years, the supporting industry is becoming an important sector of the economy and is being supported by Party and State. It is promised that this part of the economy will have grown into one of the most important factor to boost the industry strengh as well as the fate of Vietnam’s economy in the next stage. In spite of the fact above, those enterprises in this sector seems struggling to achive their success. The objective of this article is to analyze what the dificulty of supporting industries in Vietnam is facing in oder to ind out the root of the problem; from there we will propose some answers to develop this industry in the future.

     

    Keywords: supporting industry, development

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Khách quan mà nói, thời gian qua, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam đã gặt hái được một số thành quả nhất định, đặc biệt là một số ngành như sản xuất xe gắn máy hay điện gia dụng đã có bước phát triển nhanh, có tỷ lệ nội địa hoá cao. Tuy nhiên thực tế cho thấy, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam vẫn được coi là một trong những ngành chậm

     

    phát triển, quy mô ngành công nghiệp phụ trợ trong nước còn nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất ra các linh kiện có chi tiết giản đơn, giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực đối với yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu. Do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp của đất nước, đặc biệt là những ngành có hàm lượng công nghệ kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn. Công nghiệp phụ trợ

     

     

    * TS. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, CN Tân Bình

     

     

    45

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    chậm phát triển đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài; trước đây lợi thế của Việt Nam chủ yếu dựa vào mặt bằng và giá nhân công rẻ, nhưng ngày nay những tiêu chí trên không phải là tiêu chí quyết định đến đầu tư của các nhà đầu tư mà các nhà đầu tư còn nhắm đến những thị trường có thể đáp ứng tốt nhất cho việc sản xuất ra các sản phẩm của họ. Vì vậy, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ được coi là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư, cũng như giúp kinh tế đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn trong giai đoạn tới.

     

    2. Thực trạng của một số ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

     

    Theo tính toán của các cơ quan chức năng, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện còn lệ thuộc vào phần lớn nguồn nguyên liệu nhập khẩu, điều đó cho thấy mục tiêu đặt ra cho ngành công nghiệp phụ trợ chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Dưới đây là thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ của một số ngành điển hình ở Việt Nam:

     

    Ngành ô tô: nhằm giúp ngành ô tô phát triển, từng bước theo kịp với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, những năm vừa qua, các cấp, các ngành đã đưa ra nhiều chính sách để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào ngành này, cho đến nay đã có rất nhiều hãng ô tô nổi tiếng đã và đang tham gia sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam như: Toyota, Ford, Kia v.v . Theo kế hoạch, các hãng sản xuất ôtô ở trong nước phải tăng dần tỷ lệ nội địa hoá các linh kiện, giảm nhập khẩu từ nước ngoài, song cho đến nay khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp phụ trợ còn nhiều hạn chế, nhất là các linh kiện, phụ kiện đòi hỏi tính chính xác cao. Theo tính toán của các doanh nghiệp sản xuất xe ô tô, một doanh nghiệp ôtô cần phải có tối thiểu 20 nhà

     

    cung cấp các loại linh kiện khác nhau phục vụ cho việc sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh, nhưng cho đến nay chưa một doanh nghiệp sản xuất ôtô nào tại Việt Nam có được 20 nhà cung cấp linh kiện. Trên thực tế, các doanh nghiệp lắp ráp ôtô chỉ có khoảng từ 2 đến 3 nhà cung cấp linh kiện trong nước và như vậy các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở trong nước vẫn phụ thuộc vào phần lớn linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài khiến giá thành sản phẩm đứng ở mức cao, khó có khả năng cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, chưa đáp ứng được mong mỏi của người tiêu dùng trong nước. Số liệu tính toán gần đây cho thấy, hiện nay Việt Nam có 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô, song chỉ có khoảng trên 60 doanh nghiệp cung cấp linh kiện, nhưng chủ yếu là những linh kiện có giá trị thấp như vỏ, ruột, kiếng, khung xe v.v, số lượng doanh nghiệp như trên được cho là khá thấp so với các nước trong khu vực, chẳng hạn như ở Malaysia là 385 doanh nghiệp và ở Thái Lan là 2.500 doanh nghiệp[4].

     

    Ngành xe máy: Việt Nam được coi là một quốc gia có số lượng xe máy lớn nhất hành tinh, theo số liệu thống kê của Bộ Giao thông vận tải, tính đến cuối năm 2013, số lượng xe máy của cả nước là trên 37 triệu xe, vượt xa con số mà Chính phủ đã qui hoạch đến năm 2020 là 36 triệu xe [5]. Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào thị trường sản xuất, lắp ráp xe gắn máy, trong đó các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản chiếm phần lớn thị phần, nổi bật trong số đó là hãng Honda Việt Nam, có được điều này chính là sản phẩm của hãng Honda có chất lượng ổn định, mẫu mã đẹp và giá cả cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại khác. Có thể nói, công nghiệp phụ trợ ngành xe gắn máy là một trong những ngành có bước phát triển nhanh nhất, từ chỗ phải nhập khẩu 100%

     

     

    46

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    từ nước ngoài, song cho đến nay ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp xe máy của Việt Nam đã có thể tự sản xuất được trên 70% các loại linh kiện, phụ tùng, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, giảm giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh; nổi bật trong số các doanh nghiệp phụ trợ cho ngành xe máy, có doanh nghiệp Mạnh Quang là đơn vị sản xuất các loại nhông, đĩa, xích, và các loại phụ tùng khác, chiếm gần 20% thị phần cung cấp sản phẩm cho các công ty sản xuất và lắp ráp xe máy trên toàn lãnh thổ Việt Nam, là đối tác của nhiều hãng sản xuất lớn như Honda, SYM, SuFat, Detech, Lifan [7].

     

    Ngành dệt may: là ngành thu hút lực lượng lao động lớn, có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tuy nhiên cho đến nay ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn nhiều bất cập, yếu kém; đặc biệt là khả năng cung cấp các sản phẩm cơ khí còn khá nhỏ bé so với nhu cầu của ngành này và thực tế cho thấy, các doanh nghiệp dệt may trong nước vẫn phải nhập khẩu từ 70 đến 80% nguyên phụ liệu từ nước ngoài phục vụ cho sản xuất. Cho đến nay, chỉ có một số ít các doanh nghiệp như Công ty cổ phần phụ liệu may Nha Trang, Công ty may Việt Tiến, Công ty dệt vải công nghiệp và các công ty tư nhân đã tự sản xuất được một số phụ liệu như khóa kéo, tấm lót, cúc, chỉ v.v. nhưng sản lượng sản xuất ra cũng còn khá khiên tốn, chỉ đáp ứng được khoảng từ 20 đến 25% nhu cầu của ngành [6].

     

    Ngành da giày: công nghiệp phụ trợ cho ngành da giày chưa thực sự phát triển, điều đó có thể thấy ngay ở TP. Hồ Chí Minh, một địa phươNG đứng đầu cả nước về cung ứng sản phẩm da giày (chiếm hơn 80% sản phẩm của cả nước) nhưng cũng chỉ có khoảng 10

    doanh nghiệp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho ngành này, trong đó chỉ có 2 doanh nghiệp là có sản phẩm đủ chất lượng đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Lý giải về vấn đề này, các doanh nghiệp cho rằng, giá nguyên liệu sản xuất ở trong nước còn khá cao, chất lượng kém nên chưa được thị trường các nước như Mỹ và EU chấp nhận. Do đó, cho đến nay tỷ lệ nội địa hóa của da tổng hợp đạt 40%, các loại phụ liệu trang trí cũng chỉ đạt gần 45%. Theo dự báo của các cơ quan chức năng, tỷ lệ nội địa hóa các nguyên liệu cơ bản cho ngành da giày như da thuộc, da tổng hợp, đế giày có thể đạt 50% vào năm 2020 và tăng lên 70% vào 2025 [8].

     

    Ngành điện tử, điện máy: là một trong những ngành có hàm lượng công nghệ cao được khá nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước sớm đầu tư vào sản xuất, tuy nhiên cho đến nay, các doanh nghiệp điện tử trong nước hầu như chỉ sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng kém, chưa có khả năng cạnh tranh so với hàng hóa ngoại nhập, sức tiêu thụ thấp, ước tính giá trị gia tăng chỉ đạt từ 5 đến 10%/ năm. Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành điện tử, điện máy đang phải chịu áp lực giảm chi phí linh, phụ kiện để giảm giá thành sản phẩm, gia tăng sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, để thực hiện được điều đó phải có những doanh nghiệp sản xuất hàng phụ trợ linh, phụ kiện trong nước cung cấp nhiều sản phẩm có giá cả phải chăng, tuy nhiên trên thực tế doanh nghiệp phụ trợ có thể đáp ứng được yêu cầu này là rất ít. Do đó, hầu hết các doanh nghiệp ngành điện, điện tử phải nhập khẩu linh kiện, phụ kiện từ các nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc hay Trung Quốc. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam, các

     

     

    47

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có “tên tuổi” đều phải nhập khẩu trên 90% linh kiện của nước ngoài, thậm chí có doanh nghiệp nhập khẩu 100% như Công ty Fujitsu Việt Nam [6]. Điều này vừa thiệt thòi cho ngành công nghiệp Việt Nam, khiến Việt Nam khó thoát khỏi tình trạng gia công, lắp ráp, vừa giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng điện tử trong nước do phải nhập khẩu phần lớn những linh, phụ kiện quan trọng. Việc thiếu vắng các nhà cung cấp linh, phụ kiện cũng khiến nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực này có xu hướng ngại đầu tư vào Việt Nam và đây là điểm yếu căn bản trong thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện – điện tử.

     

    Ngành cơ khí chế tạo: là một ngành được coi là xương sống cho ngành công nghiệp của mỗi quốc gia, nhưng ngành này lại là một ngành khá lạc hậu so với các nước phát triển trên thế giới, theo tính toán của ngành cơ khí chế tạo ở Việt Nam thì công nghệ của ngành này có trình độ công nghệ lạc hậu, có khoảng cách từ 2 đến 3 thế hệ so với các nước trong khu vực. Ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực chế tạo máy Việt Nam được đánh giá là khá yếu kém, đang có một lỗ hổng lớn

    • “chân móng”, sản phẩm thép dùng để chế tạo chưa hề có mặt tại Việt Nam, việc kết hợp trong công tác nội địa hóa còn thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp cơ khí trong nước dẫn đến thiếu thông tin kịp thời và cụ thể cho việc cung cấp các sản phẩm. Số liệu thống kê cho thấy, khoảng 80% giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam dành cho nguyên liệu đầu vào, thiết bị và máy móc phục vụ sản xuất trong nước, điều đó cho thấy ngành công nghiệp phụ trợ của ngành cơ khí chế tạo còn khá yếu kém [6].

     

    3.           Nguyên nhân hạn chế

     

    • Chưa xây dựng được chiến lược phát

    triển công nghiệp phụ trợ để các doanh nghiệp dựa vào đó xây dựng chiến lược phát triển cho riêng mình, từ đó các doanh nghiệp mới có thể yên tâm đầu tư.

     

    • Chưa có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là chính sách về vốn vay, lãi suất ưu đãi, chính sách thuế v.v, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ.

     

    • Mặc dù ngành công nghiệp phụ trợ đã được qui hoạch tổng thể nhưng việc qui hoạch lại chưa được thực hiện cho từng vùng miền, từng địa phương, do đó việc phát triển công nghiệp phụ trợ còn mang tính tự phát, chưa có sự gắn kết giữa phát triển công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng.

     

    • Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu, trình độ công nghệ kỹ thuật của các doanh nghiệp phụ trợ còn khiêm tốn, khó có khả năng chuyển giao công nghệ, đặc biệt là những ngành có hàm lượng công nghệ, kỹ thuật cao.

     

    • Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ chưa được thực hiện nhiều, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) muốn tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ của Việt Nam nhưng còn thiếu thông tin và cơ hội.

     

    • Chưa thành lập cơ quan độc lập của nhà nước để có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận những tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp lớn để những doanh nghiệp sản xuất hàng phụ trợ có điều kiện tiếp cận, học hỏi, giao lưu và ký kết hợp đồng cung ứng sản phẩm.

     

    • Cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp phụ trợ còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

     

     

    48

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    • Hiện nay các trường, viện nghiên cứu trong nước được thành lập khá nhiều nhưng chất lượng nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học đối với những sản phẩm phụ trợ nói riêng còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp trên thế giới.

    4. Một số khuyến nghị nhằm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

     

    Một là, xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ: nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triền ngành công nghiệp phụ trợ để định hướng cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Bên cạnh đó, cần thường xuyên tổ chức các cuộc gặp mặt giữa các doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với các doanh nghiệp trong nước (nhà nước và tư nhân) có điều kiện gặp gỡ, tìm hiểu và hợp tác làm ăn với nhau.

     

    Hai là, qui hoạch ngành công nghiệp phụ trợ: thực hiện công tác qui hoạch ngành công nghiệp phụ trợ theo từng ngành, vùng và từng địa phương. Theo đó, phải qui hoạch từng vùng, miền, từng địa phương cần đầu tư phát triển ngành phụ trợ nào, số lượng doanh nghiệp là bao nhiêu và phải gắn kết giữa việc qui hoạch các ngành công nghiệp và công nghiệp phụ trợ đi kèm, không nên coi nhẹ vai trò của công nghiệp phụ trợ đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp nói chung.

     

    Ba là, xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ: nhằm khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư ngành công nghiệp phụ trợ, nhà nước cần xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ, chính sách đó cần được thực hiện đồng bộ trên các mặt: ưu đãi về thuế, thuê đất, thủ tục hành chính, được miễn thuế đối với phần lợi

    nhuận để tái đầu tư và xây dựng hệ thống bảo lãnh tín dụng…nên chú trọng ưu đãi đối với những ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và những ngành thu hút nhiều lao động cho xã hội.

     

    Bốn là, có chính sách ưu đãi về vốn cho các doanh nghiệp phụ trợ: để các doanh nghiệp phụ trợ có đủ tiềm lực tài chính đầu tư cho sản xuất, thiết nghĩ nhà nước nên có chính sách cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp phụ trợ thông qua ngân hàng phát triển Việt Nam như: cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi đối với các doanh nghiệp phụ trợ; bảo lãnh cho các doanh nghiệp phụ trợ vay vốn tại các tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Đối với những ngành quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và an ninh quốc gia, nhà nước có thể cho vay ưu đãi với lãi suất bằng 0, việc cho vay ưu đãi cần được thực hiện một cách công bằng, công khai, minh bạch từ đó sẽ thu hút được các doanh nghiệp thực sự có năng lực tham gia đầu tư.

     

    Năm là, chính sách ưu đãi về chuyển giao công nghệ: để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong và ngoài nước, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp phụ trợ, thiết nghĩ nhà nước cần có chính sách thông thoáng về chính sách nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ cho sản xuất công nghiệp phụ trợ; nhà nước cần có chính sách miễn, giảm các loại thuế nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu v.v cho các doanh nghiệp nhập khẩu dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ cho công nghiệp phụ trợ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ cũng cần phải chủ động tìm kiếm và lựa chọn đối tác chuyển giao công nghệ, lựa chọn dây chuyền

     

     

    49

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    công nghệ tiên tiến để tạo ra những sản phẩm có chất lượng, giá cả cạnh tranh so với các doanh nghiệp ngoài nước.

     

    Sáu là, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề phụ vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ: nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng đối với sự thành bại của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp phụ trợ nói riêng. Để ngành công nghiệp phụ trợ phát triển thì việc đào tạo cung ứng nguồn lao động có chất lượng cao cho các doanh nghiệp là một yêu cầu bức thiết đang đặt ra hiện nay. Do vậy, nhà nước cần định hướng cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và viện nghiên cứu đào tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật có đủ năng lực trình độ phục vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ; bên cạnh đó các doanh nghiệp nên chủ động đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân lành nghề của mình để phục vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ phát triển.

     

    Bảy là, xây dựng mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước: để tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ trong nước cần đẩy mạnh liên kết với những doanh nghiệp nước ngoài để sản xuất linh, phụ kiện phụ trợ cung ứng sản phẩm cho ngành công nghiệp trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu.

     

    Tám là, nhà nước thành lập cơ quan chuyên trách hỗ trợ các doanh nghiệp phụ trợ: giao cho cơ quan quản lý nhà nước, có thể là Bộ công thương thành lập một đơn vị chuyên trách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để làm cầu nối cung cấp linh, phụ kiện cho các doanh nghiệp công nghiệp, việc làm này sẽ có ý nghĩa tích cực, giúp các doanh nghiệp sản

     

    xuất hàng phụ trợ có nhiều cơ hội hơn để mở rộng thị trường, ổn định sản xuất.

    Chín là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học: cần có chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học của một số viện, trường đại học trọng điểm, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu về các ngành công nghiệp, công nghiệp phụ trợ để nghiên cứu ra những sản phẩm có chất lượng cho ngành công nghiệp phụ trợ, đồng thời làm cầu nối giữa nghiên cứu, thiết kế ứng dụng và sản xuất để giúp doanh nghiệp phụ trợ phát triển; khuyến khích các cơ sở đào tạo nghiên cứu khoa học mở rộng liên doanh, liên kết quốc tế để nghiên cứu ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu cho các ngành công nghiệp.

     

    Mười là, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp phụ trợ: để thực hiện được điều này, trước hết nhà nước cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông như đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường cao tốc, đặc biệt là các tuyến quốc lộ, đường cao tốc ở các tỉnh thành có các khu, cụm công nghiệp lớn, kế đến là đầu tư nâng cấp và đầu tư mới các cảng

     

    • một số tỉnh thành có lợi thế phát triển về cảng biển, cảng hàng không; tập trung xây dựng một số khu, cụm chuyên sản xuất công nghiệp phụ trợ có dây chuyền máy móc thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại để phục vụ cho ngành công nghiệp chuyên ngành của một số vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.

     

    Mười một là, giải pháp về nguyên liệu: liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trong nước để xây dựng hệ thống liên kết sản xuất và cung ứng nguyên liệu trong chuỗi sản xuất sản phẩm, từ đó giúp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh so với các sản phẩm nhập khẩu, từng bước chiếm lĩnh thị trường, thị phần đối với ngành công nghiệp phụ trợ.

     

     

    50

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    Tóm lại: để các ngành công nghiệp thực sự phát triển nhanh và bền vững, sớm đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020 thì phát triển công nghiệp phụ trợ là yêu cầu hết sức bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Hy vọng rằng những giải pháp đã đề xuất nếu được triển khai và áp dụng đồng bộ

    thì trong một thời gian không xa, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam sẽ phát triển tốt, đáp ứng yêu cầu cho ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu, từng bước đưa ngành công nghiệp nước ta sánh vai cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Phạm Duy Hiếu (2009). Công nghiệp phụ trợ và sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Tạp chí Thương mại số 20.
    • Khánh Hòa (2007). Công nghiệp phụ trợ-Vì sao chậm phát triển. tạp chí Châu á Thái Bình Dương số 44(187).
    • Bộ công thương. Quyết định phê duyệt tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
    • http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/nang-luong-cong-nghiep-khai-khoang;jsessionid

     

    • http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/so-luong-xe-may-da-vuot-quy-hoach-nam-2020-2659172.html

     

    • http://www.ncseif.gov.vn/sites/en/Pages/thuctrangvagiaiphapphat-nd-6112.html

    [7].http://www.doanhnhansaigon.vn/chuyen-lam-an/nhat-banh-vun-cua-nhung-nguoi-khong-lo/1078770/

     

    [8].http://www.itpc.gov.vn/exporters/news/tintrongnuoc/2014-01-02.667760/2014-10-01.177720/ phat_trien_nganh_cong_nghiep_phu_tro_tai_viet_nam_t10_2014

     

    [9]. http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/84037/vuot-mat-hang-ty-usd-vi-cong-nghiep-phu-tro-kem.html

     

     

     

     

    51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-kh%C3%A1ch-s%E1%BA%A1n-TCVN-5065-1990.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

    TCVN 5065:1990

    KHÁCH SẠN – TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ
    Hotel – Design standard

    Nhóm H

     

    Tiêu chuẩn này áp dụng để thiết kế xây dựng mới hoặc cải tạo các khách sạn.

    Khách sạn là cơ sở kinh doanh phục vụ khách nước ngoài và trong nước lưu trú trong thời gian ngắn, đáp ứng nhu cầu về các mặt ăn uống, nghỉ ngơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác.

    Tiêu chuẩn này thay thế 20 TCVN 54: 1972 “Khách sạn quốc tế – tiêu chuẩn thiết kế”. Giới hạn của tiêu chuẩn:

    1. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các cơ sở ăn nghỉ du lịch khác như: Biệt thự du lịch, camping bungalow, làng du lịch…
    2. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các khách sạn nội địa, nhà nghỉ phục vụ cán bộ, công nhân viên, xã viên…
    3. Khi thiết kế khách sạn có yêu cầu đặc biệt, theo luận chứng kinh tế kĩ thuật riêng.

    1. Quy định chung

    1.1. Căn cứ vào chức năng sử dụng, khách sạn là nơi đón tiếp và phục vụ du lịch, thăm quan, công tác, giao dịch, thương mại, thăm viếng và nghỉ ngơi.

    1.2. Khi thiết kế khách sạn, phải áp dụng TCV N 439 1: 1986 “Khách sạn du lịch- Xếp hạng”.

    Khách sạn thường được thiết kế với các quy mô từ 50 đến 500 giường.

    Chú thích:

    1) Quy mô khách sạn tính theo số giường, một giường đôi tính như hai giường một (đơn).

    2) Trong trường hợp dặc biệt, có thề xây dựng khách sạn có quy mô trên 500 giường, theo luận chứng kinh tế kĩ thuật riêng.

    1.3. Các công trình khách sạn được thiết kế với cấp công trình I, có yêu cầu.

    – Chất lượng sử dụng: Bậc I (đáp ứng yêu cầu cao trang thiết bị hiện đại).

    – Chất lượng xây dựng: có độ bền vững bậc I (Niên hạn sử dụng trên 100 năm) và  bậc chịu lửa I.

    Chú thích: Các ngôi nhà phụ của khách sạn như: Nhà để xe ôtô, nhà kho, xưởng sửa chữa, khi thiết kế nếu tách khỏi ngôi nhà chính phải thiết kề với cấp công trình thấp hơn.

    2. Yêu cầu về khu đất xây dựng

    2.1. Khách sạn phải được xây dựng trên khu đất tại nơi có nhu cầu đón tiếp khách như: Thành phố, thị xã, thị trấn, các điểm trên tuyến du lịch, các khu du lịch…

    Khi chọn đất xây dựng khách sạn phải tuân theo các quy định trong TCVN 4491: 1987 “Quy hoạch xây dựng đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế”.

    1. a) Thuận tiện cho việc đi lại đồng thời cần xét đến tác dụng về đô thị của công trình khách sạn trong việc tổ chức trung tâm công cộng, quảng trường thành phố hay điểm dân cư.
    2. b) Có khí hậu tốt, thiên nhiên và cảnh quan phong phú, không bị ô nhiễm môi trường
    3. c) Tiết kiệm đất xây dựng.

    2.2. Khu đất xây dựng khách sạn phải có bãi để xe ôtô ngoài trời và sân phục vụ. Diện tích bãi để xe tính 25m2 cho một xe nhỏ và 50m2 cho một xe lớn. Số lượng xe tính theo luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    2.3. Khối ngủ của khách sạn cần đặt cách xa chỉ giới xây dựng, không nhỏ hơn 10m tính từ mặt ngoài ngôi nhà.

    2.4. Diện tích đất xây dụng khách sạn tính từ 15 đến 20m2 cho một giường.

    3. Nội dung công trình và những yêu cầu về giải pháp kiến trúc

    3.1. Khách sạn quốc tế có 3 khối sau:

    1. a) Khối ngủ
    2. b) Khối công cộng
    3. c) Khối hành chính quản trị.

    3.2. Các khối trong khách sạn phải được bồ trí theo dây chuyền hoạt động và theo sơ đồ vận chuyển bên trong khách sạn thuận tiện, hợp lí và ngắn nhất. Đồng thời phải đảm bảo sự cách li về mặt bằng và không gian, không ảnh hưởng lẫn nhau về trật tự vệ sinh và mĩ quan.

    Chú thích: Lối đi nội bộ của nhân viên phục vụ, đường vận chuyển hàng hoá. thực phẩm, dụng cụ, rác, phế liệu… phải riêng biệt với đường đi của khách.

    3.3. Các phòng ngủ của khách sạn được bố trí từ tầng hai trở lên, trong trường hợp phải đặt ở tầng một, cần có biện pháp chống ồn và bảo vệ cho các phòng ngủ.

    Các kho để hành lí xách tay, một số phòng phục vụ công cộng… được phép đặt ở tầng chân tường.

    3.4. Các phòng thuộc khu bếp, các phòng đặt máy móc, thiết bị, các phòng thang máy, ống đứng và ngăn dẫn rác và thải bụi tập trung, không cho phép đặt trực tiếp trên và dưới các buồng ngủ, cũng như xen kẽ những giữa các phòng ngủ của khách. Nếu đặt phải có biện pháp xử lí cách âm, cách nhiệt tuyệt đối.

    3.5. Khi xây dựng thang máy, ống đựng thải rác và thải bụi tập trung, máy bơm nước và mô tơ cần phải được cách âm và chống truyền chấn động đến các phòng ngủ, phòng ăn và các phòng công cộng khác.

    3.6. Buồng ngủ của khách sạn chia làm bốn hạng theo quy định tại bảng 1.

    Bảng 1- Các hạng buồng ngủ và diện tích

    Hạng buồng ngủ của khách sạn

    Số phòng trong buồng

    Số giường trong buồng

    Diện tích (m2)

    Buồng ngủ

    Khu vệ sinh

    Đặc biệt

    2

    2

    24 – 28

    5 – 6

    3

    2

    36 – 42

    I

    1

    1

    12 – 14

    4 – 5

    1

    2

    16 – 20

    II

    1

    1

    10 – 12

    3,5 – 4,5

    1

    2

    14 – 18

    III

    1

    2

    18 – 24

    3 -4,5

    1-2

    4

    24 – 28

    3.7. Các khách sạn phải có sảnh đón tiếp, sảnh tầng và buồng ngủ phải có phòng đệm.

    3.8. Mỗi tầng của khối ngủ phải có phòng trực của nhân viên gồm có phòng ngủ, tủ để đồ vải sạch, chỗ là quần áo, kho để đồ vải bẩn, kho để dụng cụ vệ sinh, diện tích tính từ 24- 32m2. Nếu tầng ngủ có trên 20 buồng cần bố trí hai phòng trực.

    3.9. Nội dung và diện tích các bộ phận của khối công cộng quy định trong bảng 2 (đơn vị tính bằng m2).

    Bảng 2

    Tên các bộ phận

    Khách sạn có quy mô

    Ghi chú

    150 giường

    300 giường

    500 giường

    1

    2

    3

    4

    5

    Nhóm sảnh

           

    – Sảnh tiếp đón

    1,00

    0,08

    0,60

     

    – Sảnh tầng

    0,40

    0,35

    0,30

     

    – Các phòng tiếp khách và sinh hoạt chung

    0,30

    0,25

    0,20

     

    – Nơi tiếp đón

    0,20

    0,16

    0,12

     

    – Nơi gửi tiền, đồ vật

    0,12

    0,10

    0,08

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Nơi đổi tiền

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

     

    – Cửa hàng bách hoá mĩ nghệ

    0,40

    0,40

    0,30

    Tính theo số giường

    – Cắt tóc nam

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Uốn tóc nữ

    8 m2/chỗ

    8 m2/chỗ

    8 m2/chỗ

    nt

    – Phòng y tế

    12 m2

    24 m2

    24 m2

    nt

    – Quầy bưu điện

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Tổng đài điện thoại

    12 m2

    12 m2

    18 m2

    nt

    – Buồng điện thoại

    1 m2

    1 m2

    1 m2

    nt

    – Quầy sách báo

    16 m2

    16 m2

    24 m2

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng hội nghị

    1,8 m2/chỗ

    1,8 m2/chỗ

    1,8 m2/chỗ

    nt

    Nhóm ăn uống

           

    – Phòng ăn

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    Tính 70-100 số giường

    – Phòng trực

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    Tính 10 – 20% số giường

    – Phòng ăn đặc sản

    2 m2/chỗ

    2 m2/chỗ

    2 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Bar giải khát

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Tính 20% số giường

    – Tiệm cà phê

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Sàn nhảy, có bar đêm

    1 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    nt

    Nhóm bếp

           

    – Kho các loại lương thực thực phẩm, lạnh, dụng cụ nhà bếp, phục vụ rau quả rượu bia, nước ngọt, nhiên liệu, phế liệu…

    1 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,6 m2/chỗ

    Tính theo số chỗ trong phòng ăn, giải khát

    – Bộ phận gia công (gia công thô, kĩ, nấu hấp cơm, bánh, nấu thức ăn, pha chế,rửa đĩa, xoong nồi…)

    1,2 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    nt

    – Nơi soạn và phục vụ nhà bàn

    0,5 m2/chỗ

    0,3 m2/chỗ

    0,2 m2/chỗ

    nt

    – Các phòng quản lí sinh hoạt. (Nơi làm việc của bếp trưởng, kiểm nghiệm thức ăn, kế toán, thay quần áo nghỉ của nhân viên…)

    0,4 m2/chỗ

    0,3 m2/chỗ

    0,2 m2/chỗ

    nt

    Nhóm giải trí thể thao

           

    – Phòng chiếu phim Video

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng đọc sách báo

    1,2 m2/chỗ

    1,2 m2/chỗ

    1,2 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Bóng bàn

    45 m2/chỗ

    45 m2/chỗ

    45 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Cờ, bi-a

    – Bể bơi

    – Sân bóng các loại

    20 m2/chỗ

    20 m2/chỗ

    20 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    Bảng 3

    Tên các bộ phận

    Khách sạn có quy mô

    Ghi chú

    Dưới 150 giường

    Dưới 300 giường

    Dưới 500 giường

    1

    2

    3

    4

    5

    Nhóm hành chính quản trị

           

    – Phòng làm việc của chủ nhiệm khách sạn

    18

    24

    24

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng làm việc của phó chủ nhiệm khách sạn

    16

    16

    20

     

    – Phòng tiếp khách

    – Phòng ăn của nhân viên khách sạn

    24

    24

    24

    36

    36

    54

     

    – Phòng nghỉ

    – Phòng nghỉ trực ban của chủ nhiệm khách sạn

    4 m2/chỗ

    12

    4 m2/chỗ

    12

    4 m2/chỗ

    12

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng tài chính kế toán

    – Phòng nghiệp vụ kĩ thuật

    – Phòng hành chính quản trị

    – Phòng tổ chức cán bộ

    – Phòng các đoàn thể

    – Phòng trực, bảo vệ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    12

    8

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    16

    12

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    20

    16

    nt

    nt

    nt

    Theo luận chứng KTKT

    Nhóm kho

    – Kho đồ vải, chăn màn

    – Kho đồ gỗ

    – Kho đồ sứ thuỷ tinh

    – Kho vật tư thiết bị

    0,4

    0,4

    0,3

    0,3

    0,3

    0,25

    0,25

    0,2

    0,25

    0,20

    0,20

    0,1

    Theo số giường

    nt

    nt

    nt

    Nhóm phục vụ

    – Xưởng sửa chữa

    – Nhà để xe ô tô của khách

    – Kho xăng dầu

    – Nhà để xe đạp, xe máy

    – Chỗ nghỉ cho công nhân viên phục vụ, lái xe

    24

    25 m2/chỗ

    16

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    54

    25 m2/chỗ

    20

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    60

    25 m2/chỗ

    24

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    Theo luận chứng

    KTKT

    nt

    nt

    nt

    – Trạm sửa chữa giày dép

    – Phòng giặt và phơi sấy

    – Phòng may vá

    – Phòng cho thuê xe, thuê dụng cụ thể thao

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    nt

    nt

    nt

    – Trạm bơm áp lực

    – Trạm cung cấp nước

    – Điều hoà trung tâm và nơi đặt các thiết bị điều hoà

    – Phòng điện

    Các phòng phục vụ khác

         

    nt

    nt

    nt

    3.10. Chiều cao các phòng tuân theo quy định trong TCVN 3905: 1984 “Nhà và công trình công cộng – Thông số hình học”.

    1. a) Từ 3,0 đến 3,3 cho các phòng ngủ, phòng tiếp khách, phòng làm việc.
    2. b) Từ 3,6 đến 4,5m cho các phòng ăn, phòng tiệc, sảnh, bếp, trong trường hợp bếp hoặc các phòng của khối công cộng cần có tầng lửng, chiều cao có thể thông 2 tầng.
    3. c) Chiều cao tầng hầm tối thiểu phải là 2,2m.

    4. Yên cầu về chiến sáng tự nhiên chiếu sáng nhân tạo và thiết bị điện

    4.1. Các phòng ngủ của khách. Các phòng sinh hoạt công cộng cần được chiếu sáng tự nhiên.

    4.2. Thiết kế chiếu sáng tự nhiên các buồng trong phòng khách sạn phải áp dụng TCXD 29 “ Tiêu chuẩn và quy phạm thiết kế chiếu sáng tự nhiên trong công trình kiến trúc”

    4.3. Khi thiết kế hành lang giữa:

    1. a) Nếu chiếu sáng tự nhiên trực tiếp từ một đầu hồi thì chiều dài hành lang không quá 20m.
    2. b) Nếu chiếu sáng tự nhiên trực tiếp từ hai đầu hồi thì chiều dài hành lang không quá 40m.
    3. c) Khi chiều dài hành lang quá những quy định trên cần phải có chiếu sáng tự nhiên bổ sung bằng cách thiết kế các khoang lấy ánh sáng, mỗi khoang có chiều rộng lớn hơn 1/2 bề sâu (bề sâu của kho ang tự nhiên tường ngoài tới mép hành lang).

    Khoảng cách giữa hai khoang lấy ánh sáng không được quá 20m. Khoảng cách giữa khoang lấy ánh sáng ngoài cùng tới đầu hồi không dài quá 30m.

    Chú thích: Các buồng thang hở cũng được coi như khoang lấy ánh sáng.

    4.4. Thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài và bên trong khách sạn tuân theo TCXD 95:

    1983 “Tiêu chuẩn thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài công trình xây dựng dân dụng” và tcxd 16: 1986”. Chiếu sáng nhân tạo trong công trình dân dụng”

    4.5. Trong khách sạn phải có đủ các hệ thống và thiết bị điện như sau:

    – Hệ thống và thiết bị điện dùng cho sản xuất và thang máy.

    – Hệ thống và thiết bị điện chiếu sáng.

    – Hệ thống thiết bị điện yếu.

    – Hệ thống và thiết bị điện chiếu sáng sự cố

    – Hệ thống máy phất điện dự phòng

    – Hệ thống đóng ngắt điện tự động.

    4.6. Việc lắp đặt các thiết bị điện và đường dây dẫn điện trong khách sạn áp dụng tiêu chuẩn hiện hành.

    4.7. Khi thiết kế mạng lưới điện trong khách sạn phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    1. a) Hệ thống chiếu sáng độc lập với hệ thống điện máy và thiết bị điện.
    2. b) Phải dùng dây dẫn ruột đồng. Không dùng dây dẫn ruột nhôm.
    3. c) Mạng điện ngoài nhà phải đặt cáp ngầm.
    4. d) Phải nối đất cho các thiết bị, máy móc, dụng cụ chiếu sáng và sinh hoạt.

    4.8. Phải thiết kế hệ thống điện nhẹ: Điện thoại nội bộ, hệ thống chuông báo phòng ngủ và cả khu vệ sinh hệ thống telex và telefax.

    4.9. Phải thiết kế hệ thống ăng ten vô tuyến và truyền hình.

    4.10. Thiết kế chống sét áp dụng TCXD 46: 1984 “Chống sét cho nhà và công trình”.

    5. Yêu cầu về thiết bị vệ sinh, cấp thoát nước và điều hoà không khí

    5.1. Thiết bị vệ sinh của khách sạn áp dụng TCVN 4391: 1986 “Khách sạn du lịch – Xếp hạng”.

    5.2. Thiết kế khách sạn phải có đầy đủ hệ thống cấp nước lạnh, cấp nước nóng, thoát nước, thông gió, hệ thống thải rác và phế liệu.

    5.3. Về cấp nước phải đảm bảo đầy đủ suốt ngày đêm cho về sinh, sinh hoạt và phòng chữa cháy.

    Đối với các khách sạn cha có hệ thống cấp nước công cộng, phải có thiết bị lọc đảm bảo chất lượng nước dùng quy định. ‘

    Các khách sạn đã có cấp nước nhng không ổn định phải có hệ thống bể nước dự trữ bơm.

    5.4. Thời gian cấp nước nóng phục vụ trong khách sạn phải đảm bảo yêu cầu sử dụng, theo TCVN 4391: 1986.

    5.5. Thiết kế cấp nước, áp dụng theo tiêu chuẩn hiện hành:

    Cấp nước – Mạng lưới bên ngoài và công trình – Tiêu chuẩn thiết kế TCXD 33: 1985.

    Thoát nước – Mạng lưới bên ngoài và công trình – Tiêu chuẩn thiết kế TCXD 51: 1984.

    5.6. Thiết kế thoát nước, áp dụng theo tiêu chuẩn hiện hành.

    5.7. Những phòng hành chính của khách sạn phải đảm bảo thông gió tự nhiên. Tuỳ theo nhu cầu các buồng phòng cần có hệ thống thông gió cưỡng bức, hệ thống hút hơi và điều hoà không khí.

    5.8. Các thiết bị điều hoà không khí trong khách sạn thiết kế theo yêu cầu của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    6. Yêu cầu về phòng cháy chữa cháy

    6.1. Thiết kế về phòng cháy và chữa cháy của khách sạn áp dựng theo TCVN 2622:1978 “Phòng cháy và chữa cháy cho nhà và công trình – Yêu cầu thiết kế”.

    6.2. Phải có thiết bị báo cháy tự động đặt trong các khách sạn.

    6.3. Các đường xe ra vào phục vụ cho khách sạn có bề ngang trên 18m, phải có đường hoặc lối vào cho xe chữa cháy tiếp cận được với mọi vị trí quanh ngôi nhà.

    Chú thích:

    1) Khi ngôi nhà có sân trong khép kín, cần bố trí lối đi thuận tiện để kéo vòi chữa cháy từ phía ngoài nhà vào phía trong sân dễ dàng.

    2) Đường cho xe chữa cháy xuyên qua ngôi nhà, qua cổng hay hành lang phải có chiều rộng thông thuỷ ít nhất là 3,5m và chiều cao thông thuỷ ít nhất là 4,5m.

    6.4. Các cửa đi, lối đi, hành lang và cầu thang trong ngôi nhà phải kết hợp làm lối đi và đường thoát khi có cháy xẩy ra. Không thiết kế cầu thang xoáy ốc và bậc thang hình rẻ quạt trên đường thoát nạn.

    Chú thích: Chiều rộng tổng cộng cửa thoát nạn ra ngoài, cửa về thang hay là đường thoát nạn phải tính theo số người ở tầng đông nhất không kể tầng một và được quy định như sau:

    – Nhà 1 – 2 tầng: tính 0,8m cho 100 người

    – Nhà 3 tầng trở lên: tính 1m cho 100 người.

    – Phòng khán giả tính 0,55m cho 100 người.

    6.5. Trong mỗi ngôi nhà, ít nhất phải có 2 lối thoát nạn ra khỏi nhà, các lối đi phải bố trí hợp lí để phân tán người nhanh nhất.

    6.6. Trong khách sạn, khoảng cách xa nhất từ các phòng có người ở đến lối đi gần nhất quy định như sau:

    – 40m từ những gian phòng ở giữa hai buồng thang hay 2 lối thoát nạn

    – 25m từ những phòng có lối ra hành lang cụt hay lối thoát duy nhất.

    6.7. Cửa đi trên đường thoát nạn phải mở ra phía ngoài nhà, không cho phép theo chiều ngang hay chiều thẳng đứng trên đường thoát nạn.

    6.8. Các ngôi nhà cao trên 10m tính từ mép vỉa hè đến mép dưới máng nước bố trí thang chữa cháy bằng sắt ở bên ngoài nhà. Khi mái nhà có độ cao thì phải có thang chữa cháy nối các phần mái đó, số lượng, chiều rộng của thang theo quy định của TCVN 2622: 1978.

    6.9. Không bố trí các nồi hơi, trạm điện, các kho chứa chất cháy, chất ngủ hay dưới các phòng thường xuyên có tới 50 người. Các phòng bố trí riêng biệt, có lối ra ngoài trực tiếp và tuân theo các quy định an toàn phòng cháy, phòng nổ.

    6.10. Trong khách sạn cao từ 10 tầng trở lên, phải thiết kế buồng thang và đảm bảo không

    tụ khói khi cháy. Để thoát khói từ hành lang giữa hai sảnh phải có hệ thống thông gió và van mở ở tường của từng hệ thống và van này phải mở tự động khi có cháy.

    6.11. Khách sạn cao trên 10 tầng, không cho phép đặt cầu thang liên hệ trực tiếp giữa các tầng có khách ở với tầng chân tường, tầng hầm.

    6.12. Trong khách sạn, ngoài hệ thống cấp nước chữa cháy cần trang bị các bình chữa cháy cầm thay bằng hoá chất (như bình CO2, bình bọt…) bố trí ở các tầng nhà và các khu vực cần thiết khác, vị trí và cách đặt bình phải đảm bảo các yêu cầu thẩm mĩ và thuận tiện khi sử dụng.

    7. Yêu cầu về công tác hoàn thiện

    7.1. Khách sạn phải được thiết kế hoàn chỉnh các bộ phận bên trong và bên ngoài nhà.

    Chú thích: Trong trường hợp phải thiết kế và thi công từng phần cần lập hồ sơ thiết kế toàn bộ đến giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công.

    7.2. Các bộ phận bên ngoài công trình chính như: Công trình kĩ thuật hạ tầng, cổng, tường rào, bãi để xe, sân vườn, đường nội bộ, cây xanh… phải được thiết kế đồng bộ theo nội dung của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    7.3. Thiết bị bên trong và trang trí nội thất phải theo quy định trong TCVN 4391: 1986.

    Việc sử dụng vật liệu để thiết kế ốp lát và trang trí quy định như sau:

    Các khách sạn ở cấp công trình I, sử dụng vật liệu cao cấp để ốp lát, trang trí hoàn thiện bên trong và bên ngoài theo yêu cầu sử dụng và thẩm mĩ.

    Các công trình khác sử dụng vật liệu theo yêu cầu của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%ACm-ki%E1%BA%BFm-c%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-c%C3%B3-%C3%BD-ngh%C4%A9a-t%E1%BB%AB-c%C3%A1c-trang-web-h%E1%BB%8Fi-%C4%91%C3%A1p-c%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BB%93ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

    Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 10 (9/2017) tr 104 – 113

     

    TÌM KIẾM CÂU HỎI CÓ Ý NGHĨA

     

    TỪ CÁC TRANG WEB HỎI ĐÁP CỘNG ĐỒNG

     

    Nguyễn Văn Tú, Hoàng Thị Lam, Nguyễn Thị Thanh Hà13

    Trường Đại học Tây Bắc

     

    Tóm tắt: Các trang web hỏi đáp cộng đồng có chứa một lượng lớn thông tin hỏi – đáp có giá trị sinh ra bởi những người sử dụng. Trong các trang web hỏi đáp cộng đồng, người dùng có thể gửi các câu hỏi, trả lời các câu hỏi của người khác và cung cấp thông tin phản hồi cho những câu hỏi/câu trả lời. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng tiếp cận học máy nhằm tìm kiếm những câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng. Những câu hỏi này cùng với các câu trả lời tốt nhất của chúng sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng cho xây dựng cơ sở tri thức, truy hồi thông tin và hỏi đáp non – factiod. Nghiên cứu thực hiện trích rút những đặc trưng quan trọng từ mỗi luồng hỏi – đáp cũng như thông tin của người sử dụng và xây dựng mô hình phân loại để xác định được những câu hỏi có ý nghĩa. Các thực nghiệm được xây dựng trên tập dữ liệu trích rút từ trang web hỏi đáp cộng đồng Yahoo! Answer đã chỉ ra tính hiệu quả của phương pháp đề xuất của chúng tôi.

     

    Từ khóa: Hỏi đáp cộng đồng, hỏi đáp tự động, phân loại, support vector machine.

     

    1. Tổng quan

     

    Trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên và truy xuất thông tin, vấn đề hỏi – đáp đã thu hút nhiều sự chú ý trong những năm qua. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hỏi – đáp chủ yếu tập trung vào việc tìm câu trả lời chính xác cho câu hỏi factoid được trích rút từ các tài liệu liên quan. Đánh giá nổi tiếng nhất về nhiệm vụ hỏi – đáp factoid là hội nghị truy hồi văn bản (Text REtrieval Conference-TREC(1)). Các câu hỏi và câu trả lời được phát hành bởi TREC đã trở thành nguồn dữ liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống hỏi đáp tự động [10]. Tuy nhiên, khi phải đối mặt với các câu hỏi non – factoid như các câu hỏi về lý do tại sao, như thế nào,… hầu như không có hệ thống hỏi đáp tự động nào làm việc hiệu quả. Đồng thời chi phí của việc xây dựng dữ liệu huấn luyện với các câu hỏi non – factoid là quá cao. Trong các hệ thống này, chi phí của việc xây dựng dữ liệu lớn nhưng sau đó nó chỉ làm việc trong một miền cụ thể. Do đó việc trích rút các tri thức từ nguồn tài nguyên mở (thường là từ Internet) là một hướng tiếp cận thích hợp cho xây dựng các hệ thống hỏi đáp tự động miền mở.

     

    Các trang web hỏi đáp cộng đồng (community Question Answering – cQA) có chứa một lượng lớn nguồn tài nguyên phong phú là thông tin hỏi – đáp sinh ra bởi những người sử dụng. Trích rút các cặp câu hỏi-câu trả lời có ý nghĩa là nhiệm vụ quan trọng cho xây dựng cơ sở tri thức, truy hồi thông tin và hỏi đáp non-factiod. Tuy nhiên các cặp câu hỏi-câu trả lời trong các cQA này thường rất nhiễu, cả trong câu hỏi và các câu trả lời.

     

    Do đó trước khi sử dụng, các cặp câu hỏi – câu trả lời này cần phải được phân loại. Việc phân loại này giúp người dùng xây dựng được kho dữ liệu là các cặp câu hỏi – câu trả lời có ý nghĩa. Nhóm tác giả đã tìm hiểu về các nghiên cứu liên quan và thấy rằng các nghiên cứu

     

    13Ngày nhận bài: 22/01/2017. Ngày nhận kết quả phản biện: 10/03/2017 Ngày nhận đăng: 20/9/2017

     

    Liên lạc: Nguyễn Văn Tú, e – mail: [email protected]

     

    • http://trec.nist.gov/

     

     

    104

     

    trước đây thường chỉ tập trung vào việc tìm kiếm câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi [2, 6, 9]. Tuy nhiện, nghiên cứu này sử dụng tiếp cận học máy nhằm tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa từ các dữ liệu hỏi đáp thu thập từ các cQA. Để tìm kiếm được các câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA, bài báo này đề xuất sử dụng sự kết hợp của nhiều loại đặc trưng quan trọng trích rút từ mỗi luồng hỏi đáp cũng như thông tin của người gửi câu hỏi/câu trả lời và xây dựng mô hình phân loại để xác định được các câu hỏi có ý nghĩa.

     

    Bài báo này được tổ chức như sau: Phần 2 trình bày về tiếp cận của nhóm tác giả trong việc giải quyết bài toán; Phần 3 trình bày về các đặc trưng được sử dụng; Phần 4 là các thực nghiệm và các kết quả nghiên cứu; Kết luận và hướng phát triển được trình bày trong Phần 5.

     

    2. Cách tiếp cận của chúng tôi về tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa

     

    2.1. Bài toán tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa

     

    Việc tìm kiếm những câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA là nhằm xây dựng được các câu hỏi có ý nghĩa trong một tập rất lớn các luồng hỏi – đáp. Vì vậy, nghiên cứu này coi vấn đề tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA như là một vấn đề phân loại nhị phân và được phát biểu như sau:

     

    Cho một tập Q = {q1, q2, …, qn} các câu hỏi trích rút từ các luồng hỏi – đáp trên các cQA. Việc phân loại các câu hỏi trong Q chính là gán nhãn cho các câu hỏi {q1, q2, …, qn} các nhãn tương ứng là {l1, l2, …, ln} trong đó li = “Good” nếu qi là câu hỏi có ý nghĩa, li = “Bad” nếu qi không phải là một câu hỏi có ý nghĩa.

     

    2.2. Thuật toán phân loại câu hỏi

     

    Có nhiều bộ phân loại khác nhau đã được sử dụng để phân loại các dữ liệu văn bản như: Support Vector Machine, Naive Bayes, Maximum Entropy Models, Sparse Network of Winnows,… Tuy nhiên trong các bộ phân loại đó thì Support Vector Machine được xem là hiệu quả hơn cả [1, 3, 4]. Trong vấn đề phân loại câu hỏi, mỗi câu hỏi được coi như là một văn bản ngắn và được biểu diễn trong mô hình không gian vecto có số chiều rất lớn, điều này có thể được phân loại tốt bởi Support Vector Machine.

     

    Tuy nhiên, dữ liệu trong nghiên cứu này là các dữ liệu thu thập từ các cQA, các dữ liệu chưa được gán nhãn. Vì vậy, thuật toán phân loại bán giám sát SVM (semi-supervised Support Vector Machines) đã được sử dụng, đây là thuật toán phân loại bán giám sát được xây dựng từ thuật toán phân loại có giám sát Support Vector Machine.

     

    Trong semi-supervised Support Vector Machines, tập dữ liệu huấn luyện gồm hai phần, x là phần dữ liệu huấn luyện gồm n dữ liệu đã được gán nhãn là yi ( yi Î {+1, -1}) và x* là phần

     

    dữ liệu huấn luyện gồm k dữ liệu chưa được gán nhãn

    *

    *

    Î {+1, -1}) . Mục đích của thuật

    y j

    (y j

    toán semi-supervised Support Vector Machines là gán nhãn cho k dữ liệu chưa gán nhãn này. Mỗi dữ liệu được xem như một điểm trong không gian vecto. Mỗi điểm i thuộc phần dữ liệu đã gán nhãn có một sai số là xi và mỗi điểm j thuộc phần dữ liệu chưa gán nhãn sẽ có sai số là

     

    105

     

    *

    . Thuật toán semi-supervised Support Vector Machines sẽ giải bài toán tối ưu sau thay cho

    x j

    bài toán tối ưu ở thuật toán SVM.

     

    argmin

    1

     

    2

    n

       

    n +k

     
       

    w

    + Cå

    xi +C

    *

    å

    x j

    w,x , x

                   

    *

    , y

    ,b

    2

       

    i=1

       

    j =n+1

     

    *

    *

                     

    (1)

     

    Thỏa mãn các điều kiện:

    i

    (

    i

    )

     

    i

     

    y

       

    w.x b

     

    ³

    1 –x

     

    y

     

    (w.x b ) ³ 1 –x

     

    *

               
     

    j

     

    i

    {

    i

     

    i

         

    }

     

    x ³ 0, ” i Î

    1,…, n

    }

         

    {

    + 1,…,n + k

    x* ³ 0,” j Î n

     

    j

                 

    Trong đó CC* là các tham số phạt của các dữ liệu đã gán nhãn và các dữ liệu chưa gán nhãn.

     

    Nghiên cứu này sử dụng thuật toán semi-supervised Support Vector Machines đã được cài đặt bởi Vikas Sindhwani và các tác giả trình bày trong [7, 8].(2)

     

    2.3. Hiệu suất trong phân loại câu hỏi

     

    Để đánh giá hiệu suất của việc phân loại các câu hỏi, chúng tôi sử dụng các độ đo precision, recall, F1-measure, accuracy được định nghĩa như dưới đây. Để ước lượng các độ đo này có thể dựa vào Bảng 1.

     

    Bảng 1. Các kết quả dự đoán của phân loại

     

     

    Label

    Label

     

    y* = +1

    y* = -1

         

    Prediction f(x*) = +1

    TP

    FP

    Prediction f(x*) = -1

    FN

    TN

         

    Mỗi ô trong bảng đại diện cho một trong bốn kết quả đầu ra có thể của một dự đoán f(x*). Trong đó:

     

    TP (True Positive): Số lượng các câu hỏi positive được phân loại đúng.

     

    TN (True Negative): Số lượng các câu hỏi negative được phân loại đúng.

     

    FP (False Positive): Số lượng các câu hỏi positive bị phân loại sai.

     

    FN (False Negative): Số lượng các câu hỏi negative bị phân loại sai.

     

    Precision được định nghĩa như là xác suất mà một dữ liệu phân loại là f(x*) = +1 là một phân loại đúng. Nó được ước lượng như sau:

     

    • http://vikas.sindhwani.org/svmlin.html

    106

     

    Precision

     

    p =

    TP

     

    Tp + FP

     
     

    (2)

     

    Recall được định nghĩa như là xác suất mà một dữ liệu với nhãn là y* = +1 đã được phân loại đúng, được ước lượng như sau:

     

    Recall

     

    r =

    TP

     

    TP + FN

     
     

    (3)

     

    • = 2* p*r

    F   measure

    1p + r

     

    Accuracy =

    TP +TN

       

    TP + FP + Tn

    + FN

     
     

    (4)

     

    (5)

     

    3. Các đặc trƣng trong phân loại câu hỏi

     

    Trong phân loại câu hỏi trích rút từ các cQA, tập các đặc trưng khác nhau có thể được sử dụng. Các đặc trưng trong phân loại câu hỏi có thể được phân thành 3 loại khác nhau: Các đặc trưng về từ vựng, các đặc trưng về cú pháp và các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng (người gửi câu hỏi/câu trả lời, người đánh giá câu trả lời). Mỗi câu hỏi trong các cQA gồm 2 phần: Chủ đề hỏi (QSubject) và phần mô tả ngắn nội dung câu hỏi (QContent). Phần chủ đề hỏi và phần mô tả nội dung câu hỏi được coi như là một câu hỏi duy nhất gồm nhiều câu [5]. Bảng 2 là một ví dụ về câu hỏi trong cQA Yahoo!Answer.

     

    Bảng 2. Ví dụ về câu hỏi trong trang web cQA Yahoo!Answer

     

    Chủ đề hỏi hỏi

    Nội dung câu hỏi

       

    Body massage

    Hi there, i can see a lot of massage center here, but i dont know

     

    which one is better. can someone help me which massage center

     

    is good… and how much will it cost me? thanks

       

    3.1. Các đặc trưng từ vựng

     

    Đặc trưng n-gram: Các đặc trưng n-gram của một câu hỏi thường được trích rút dựa trên ngữ cảnh của các từ của câu hỏi, nghĩa là, các từ đó xuất hiện trong một câu hỏi. Trong phân loại câu hỏi, một câu hỏi được biểu diễn giống như sự biểu diễn tài liệu trong mô hình không gian vecto. Một câu hỏi x có thể được biểu diễn như sau:

     

    x = x1, x2,…, xN

    (6)

    trong đó xi là tần số xuất hiện của từ i trong câu hỏi xN là tổng số các từ trong x. Do tính thưa thớt của các đặc trưng, chỉ các đặc trưng có giá trị khác không mới được giữ lại trong véc tơ đặc trưng. Bởi vậy các câu hỏi cũng được biểu diễn dưới hình thức sau:

     

    x = {(t1, f1),…, (tp, fp)}

    (7)

    trong đó ti là từ thứ i trong câu hỏi xfi là tần số xuất hiện của ti trong câu hỏi x. Không gian đặc trưng này được gọi là các đặc trưng bag-of-words hoặc là unigrams. Unigrams là một trường hợp đặc biệt của cách gọi các đặc trưng n-gram. Để trích rút các đặc trưng n-gram, bất

     

    107

     

    kì n từ nào liên tiếp trong một câu hỏi đều được coi là một đặc trưng. Bảng 3 là danh sách các đặc trưng n-gram của câu hỏi “How many Grammys did Michael Jackson win in 1983?”.

     

     

    Bảng 3. Ví dụ về các đặc trƣng từ vựng

       

    Tên đặc trưng

    Đặc trưng

       

    Unigram

    {(How, 1) (many, 1) (Grammys, 1) (did, 1) (Michael, 1) (Jackson, 1) (win, 1) (in, 1)

     

    (1983, 1) (?, 1)}

    Bigram

    {(How-many, 1) (many-Grammys, 1) (Grammys-did, 1) (did-Michael, 1) (Michael-

     

    Jackson, 1) …(1983-?, 1)}

    Trigram

    {(How-many-Grammys, 1) (many-Grammys-did, 1) …(in-1983-?, 1)}

       

    Số từ trong câu hỏi: Trong phân loại câu hỏi, nghiên cứu cũng sử dụng số từ của mỗi câu hỏi như là một đặc trưng để phân loại. Dữ liệu thực tế trong các cQA cho thấy rằng những câu hỏi chứa ít hơn 5 từ thường là những câu hỏi nhiễu, không mang ý nghĩa.

     

    Số câu (sentence) trong câu hỏi: Mỗi câu hỏi trong cQA thường là một đoạn văn bản ngắn gồm nhiều câu trình bày những thông tin mà người gửi câu hỏi muốn hỏi. Nghiên cứu này sử dụng số câu trong mỗi câu hỏi như là một đặc trưng dùng để phân loại. Những câu hỏi gồm nhiều câu thường mang thông tin đầy đủ của câu hỏi, tuy nhiên nó lại chứa nhiều thông tin nhiễu khó phân loại.

     

    Số lượng stop word trong câu hỏi: Stop word là những từ quá phổ biến, quá chung chung (ví dụ một số stop word trong tiếng Anh: The, a, and, …). Mỗi câu hỏi của người dùng thường chứa các từ stop word. Số lượng các từ stop word trong mỗi câu hỏi được sử dụng là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    Từ để hỏi: Nghiên cứu sử dụng từ để hỏi (từ để hỏi là một trong các từ: What, Who, When, Why, Where, How) như là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    3.2. Các đặc trưng cú pháp

     

    Các đặc trưng cú pháp có thể được trích rút dựa vào việc phân tích cấu trúc cú pháp của câu hỏi.

     

    Tagged Unigrams: Tagged Unigrams cho biết thẻ từ loại của mỗi từ trong câu hỏi như

     

    • (Noun – danh từ), NP (Noun Phrase – cụm danh từ), VP (Verb Phrase – cụm động từ), JJ (adjective – tính từ), … Ví dụ câu hỏi sau “How many Grammys did Michael Jackson win in

    1983?” với Tagged Unigrams của nó:

     

    How_WRB many_JJ Grammys_NNPS did_VBD Michael_NNP Jackson_NNP win_VBP in_IN 1983_CD?_.

     

    Số thực thể trong câu hỏi: Số lượng thực thể trong mỗi câu hỏi được sử dụng như là một đặc trưng cú pháp để phân loại câu hỏi.

     

    Số danh từ trong câu hỏi: Nghiên cứu sử dụng số lượng các danh từ trong mỗi câu hỏi như là một đặc trưng cú pháp dùng để phân loại câu hỏi.

     

    108

     

    3.3. Các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng

     

    Số câu hỏi của người hỏi: Trên mỗi cQA, mỗi người có thể gửi nhiều câu hỏi mà họ cần sự giải đáp của cộng đồng người sử dụng cQA. Những người thường xuyên gửi câu hỏi thì các câu hỏi của họ thường mang nhiều ý nghĩa hơn cho cộng đồng. Do đó, nghiên cứu này sử dụng số lượng câu hỏi của người hỏi như là một đặc trưng trong việc giải quyết bài toán phân loại câu hỏi.

     

    Số câu trả lời của người hỏi: Những người thường xuyên tham gia hỏi đáp trên cQA thì thường những câu hỏi cũng như câu trả lời của họ sẽ mang nhiều ý nghĩa hơn. Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất sử dụng số lượng câu trả lời của người hỏi như là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    Số câu trả lời của câu hỏi: Mỗi câu hỏi khi được đăng lên cQA có thể nhận được nhiều câu trả lời của những người quan tâm. Số lượng câu trả lời cho câu hỏi này thể hiện sự quan tâm của người dùng đối với các vấn đề mà câu hỏi đang đề cập tới. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng số lượng câu trả lời của mỗi câu hỏi như là một đặc trưng nhằm đánh giá tầm quan trọng của câu hỏi.

     

    Số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi: Khi một câu hỏi được đăng lên có thể nhận được nhiều câu trả lời của người dùng. Người dùng cũng có quyền đánh giá câu trả lời nào đó là câu trả lời tốt nhất. Một câu hỏi mà câu trả lời của nó nhận được nhiều đánh giá thì thường là một câu hỏi có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng số lượng đánh giá của câu trả lời như là một đặc trưng để phân loại câu hỏi của nó.

     

    4. Các thực nghiệm và kết quả

     

    4.1. Tập dữ liệu

     

    Để thực hiện các thực nghiệm của mình, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ trang web hỏi đáp cộng đồng Yahoo!Answer(3). Tập dữ liệu này chứa 3.000 câu hỏi cùng với 9.895 câu trả lời và các thông tin liên quan đến câu hỏi/câu trả lời và thông tin về người gửi câu hỏi – câu trả lời. Tất cả các cặp câu hỏi-câu trả lời đều được trình bày bằng ngôn ngữ tiếng Anh.

     

    4.2. Các thực nghiệm và kết quả

     

    Để cài đặt các thực nghiệm của mình, nghiên cứu chia tập dữ liệu thành hai tập con testtraining. Tập test gồm 300 câu hỏi được sử dụng làm tập dữ liệu kiểm tra, tập training gồm 2700 câu hỏi được sử dụng làm tập dữ liệu huấn luyện.

     

    4.2.1. Thực nghiệm 1

     

    Thực nghiệm 1 chỉ sử dụng các đặc trưng từ vựng trích rút từ các câu hỏi trong tập dữ liệu. Các đặc trưng này gồm: Đặc trưng Unigram, Bigram, số từ trong câu hỏi, số sentence trong câu hỏi, số lượng stop word trong câu hỏi, từ để hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 1 được trình bày trong Bảng 4.

     

    • https://answers.yahoo.com/

    109

     

    Bảng 4. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng từ vựng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy (%)

    Precision (%)

    Recall (%)

    F1-measure (%)

             

    Unigram

    54,67

    57,05

    56,33

    56,69

    Bigram

    46,00

    48,75

    49,37

    49,06

    Số từ trong câu hỏi

    50,00

    52,25

    58,86

    55,36

    Số câu trong câu hỏi

    46,57

    49,45

    56,96

    52,94

    Số lượng stop word

    49,67

    52,02

    56,96

    54,38

    Từ để hỏi

    47,33

    22,95

    50,00

    34,17

    Tất cả đặc trưng trên

    55,33

    61,39

    57,06

    59,14

             

    4.2.2. Thực nghiệm 2

     

    Thực nghiệm 2 chỉ sử dụng các đặc trưng cú pháp trích rút từ các câu hỏi trong tập dữ liệu. Các đặc trưng này gồm: Đặc trưng Tagged Unigrams, số thực thể trong câu hỏi, số danh từ trong câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 2 được trình bày trong Bảng 5.

     

    Bảng 5. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng cú pháp

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy (%)

    Precision (%)

    Recall (%)

    F1-measure (%)

             

    Tagged Unigrams

    53,00

    55,63

    53,16

    54,37

    Số thực thể trong câu hỏi

    50,33

    52,26

    65,82

    58,26

    Số danh từ trong câu hỏi

    50,00

    52,33

    56,96

    54,55

    Tất cả đặc trưng trên

    55,67

    58,74

    53,16

    55,81

             

    4.2.3. Thực nghiệm 3

     

    Thực nghiệm 3 chúng tôi muốn kiểm tra tính hiệu quả của các đặc trưng tính toán dựa vào thông tin của người dùng. Các đặc trưng này gồm: số câu hỏi của người hỏi, số câu trả lời của người hỏi, số câu trả lời của câu hỏi, số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 3 được cho trong Bảng 6.

     

    Bảng 6. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng dựa trên thông tin ngƣời dùng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy

    Precision

    Recall

    F1-measure

     

    (%)

    (%)

    (%)

    (%)

     
     
               

    Số câu hỏi của người hỏi

    71,00

    72,33

    72,78

    72,55

     

    Số câu trả lời của người hỏi

    49,67

    68,42

    8,23

    14,69

     

    Số câu trả lời của câu hỏi

    79,00

    96,12

    62,66

    75,86

     

    Số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi

    89,67

    91,13

    89,44

    90,28

     

    Tất cả đặc trưng trên

    90,67

    92,41

    90,12

    91,25

     
               

    110

     

    4.2.4. Thực nghiệm 4

     

    Thực nghiệm 4 kiểm tra sự đóng góp của tất cả các loại đặc trưng: Đặc trưng từ vựng, đặc trưng cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng. Chính vì vậy nghiên cứu kết hợp tất cả các loại đặc trưng này trong việc phân loại câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 4 được trình bày trong Bảng 7.

     

    Bảng 7. Kết quả phân loại khi sử dụng sự kết hợp của nhiều loại đặc trƣng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy

    Precision

    Recall

    F1-measure

     

    (%)

    (%)

    (%)

    (%)

     
     
               

    Các đặc trưng từ vựng

    55,33

    61,39

    57,06

    59,14

     

    Các đặc trưng cú pháp

    55,67

    58,74

    53,16

    55,81

     

    Các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng

    90,67

    92,41

    90,12

    91,25

     

    Tất cả đặc trưng trên

    91,67

    93,67

    90,79

    92,21

     
               

    Từ các kết quả của các thực nghiệm trên đã cho thấy vai trò của việc sử dụng mỗi loại đặc trưng khác nhau trong phân loại câu hỏi. Kết quả của các thực nghiệm 1, 2, 3 cho thấy việc phân loại câu hỏi cần sự kết hợp của nhiều loại đặc trưng khác nhau. Đồng thời trong các thực nghiệm này cũng cho thấy các đặc trưng trích rút từ thông tin người sử dụng sẽ cho kết quả phân loại cao nhất. Thực nghiệm 4 là sự tổng hợp của các thực nghiệm 1, 2, 3 khi sử dụng kết hợp tất cả các đặc trưng từ vựng, cú pháp và đặc trưng trích rút từ thông tin người dùng. Kết quả của thực nghiệm này cho thấy sự kết hợp của các loại đặc trưng khác nhau mà nghiên cứu sử dụng sẽ cho kết quả phân loại cao nhất. Biểu đồ 1 so sánh tầm quan trọng của các loại đặc trưng khác nhau trong phân loại câu hỏi trong các cQA.

     

     

     

    Biểu đồ 1. So sánh vai trò của các loại đặc trƣng trong phân loại câu hỏi

     

    111

     

    5. Kết luận và hƣớng phát triển

     

    Nghiên cứu đã trình bày một tiếp cận dựa trên học máy để phân loại câu hỏi trong các cQA. Để huấn luyện một thuật toán học, nhóm tác giả đã trích rút một tập các đặc trưng tốt từ từ vựng, cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng. Các kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng các đề xuất sẽ mạng lại hiệu quả cao trong vấn đề tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa trong các cQA. Việc kết hợp của tất cả các loại đặc trưng từ vựng, cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng sẽ cho hiệu suất phân loại cao nhất. Nghiên cứu tiếp theo sẽ tìm ra phương pháp để kết hợp các đặc trưng tốt hơn nhằm đạt được sự phân loại có độ chính xác cao hơn.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Zhiheng Huang, Marcus Thint, and Zengchang Qin (2008). Question classification using head words and their hypernyms, In Proceedings of the Conference on Empirical Methods in Natural Language Processing, (EMNLP ’08), pp. 927-936.
    • Hu, B. Liu, B. Wang, M. Liu, X. Wang (2013). Multimodal DBN for predicting high-quality answers in cQA portals, In Proceedings of ACL, pp. 843-847.
    • Vijay Krishnan, Sujatha Das, and Soumen Chakrabarti (2005). Enhanced answer type inference from questions using sequential models, In Proceedings of the conference on Human Language Technology and Empirical Methods in Natural Language Processing, HLT ’05, pp. 315-322.
    • Babak Loni, Gijs van Tulder, Pascal Wiggers, David M. J. Tax, and Marco Loog (2011). Question classification with weighted combination of lexical, syntactical and semantic features, In Proceedings of the 15th international conference of Text, Dialog and Speech, pp. 243-250.
    • Vinay Pande, Tanmoy Mukherjee, Vasudeva Varma (2013). Summarizing Answers For Community Question Answer Services, The International Conference of the German Society for Computational Linguistics and Language Technology, pp. 151-161.
    • Shah, J. Pomerantz (2010). Evaluating and predicting answer quality in community QA, In Proceedings of SIGIR.
    • Vikas Sindhwani, S. Sathiya Keerthi (2007). Newton Methods for FastSolution of Semisupervised Linear SVMs, Large Scale Kernel Machines, MIT Press, pp. 155-174.
    • Vikas Sindhwani, S. Sathiya Keerthi (2006). Large Scale Semi-supervised Linear SVMs, SIGIR’06, pp. 477-484.
    • Toba, Z. Y. Ming, M. Adriani, T. Chua (2014). Discovering high quality answers in community question answering archives using a hierarchy of classifiers, Information Sciences, 261: 101-115.
    • Zeyi Wen, Rui Zhang, Kotagiri Ramamohanarao (2014). Enabling Precision/Recall Preferences for Semi-supervised SVM Training, CIKM’14, pp. 421-430.

    112

     

    FINDING MEANINGFUL QUESTIONS FROM COMMUNITY QUESTION ANSWERING WEBSITES

     

    Nguyen Van Tu, Hoang Thi Lam, Nguyen Thi Thanh Ha Tay Bac University

     

    Abstract: The community question answering websites contains a large amount of question – answer information valuable generated by the users. In the community question answering websites, users can post questions, answer other people’s questions, and provide feedbacks to the questions / answers. In this study, we use machine learning approach in order to find meaningful questions from the community question answering websites. These questions, along with their best answers will be an important data source for building the knowledge base, information retrieval and non-factiod question answering. The extracted important features from each question research – answer thread as well as information of the user and built a classification model to identify meaningful questions. The experiments are established on dataset extracted from the community question answering websites Yahoo! The answers have shown the effectiveness of the method proposed by us.

     

    Keywords: Automated question answering, community question answering, classification, support vector machine.

     

     

     

     

     

     

    113


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TI%E1%BA%BEN-B%E1%BB%98-TRONG-X%C3%9AC-T%C3%81C-C%E1%BB%A6A-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-REFORMING-METHANE-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-TI%E1%BB%80M-N%C4%82NG-%C4%90%E1%BB%82-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-C%C3%81C-NGU%E1%BB%92N-KH%C3%8D-THI%C3%8AN-NHI%C3%8AN-C%C3%93-H%C3%80M-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-CO2-CAO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    PETROVIETNAM

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 51 – 61

     

    ISSN-0866-854X

     

    TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO

    Lưu Cẩm Lộc

    Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Sự gia tăng nhanh chóng của phát thải các khí nhà kính quan trọng như CO2 và CH4 trong thập niên vừa qua đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến biến đổi khí hậu và môi trường sống trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thêm vào đó, nhu cầu sử dụng hiệu quả khí tự nhiên giàu CO 2 đã thúc đẩy các nghiên cứu nhằm tìm ra các loại xúc tác mới có hoạt tính và độ ổn định cao cho quá trình reforming methane. NiO đã chứng tỏ là chất xúc tác phù hợp nhất cho quá trình reforming trong điều kiện công nghiệp. Nhằm khắc phục những hạn chế của xúc tác trên cơ sở NiO như tạo cốc và thiêu kết ở nhiệt độ phản ứng cao, nhiều nghiên cứu khác nhau từ sử dụng chất mang mới, biến tính xúc tác bằng các phụ gia kim loại kiềm, kiềm thổ và các oxide kim loại đến cải thiện phương pháp tổng hợp xúc tác đã được áp dụng. Kết quả là, các loại xúc tác có hiệu suất cao hơn đã được tạo ra, nhờ đó nhiệt độ phản ứng đã giảm từ 800oC về 700oC, cốc hình thành đã giảm mạnh và thời gian làm việc ổn định của xúc tác lên tới hơn 600 giờ.

     

    Từ khóa: Khí tự nhiên giàu CO2, reforming khô, bi-reforming, chất xúc tác.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Việc giảm phát thải khí nhà kính gây nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu là những vấn đề đang được thế giới quan tâm. Đối với Việt Nam, một trong những nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của các hiện tượng trên vấn đề càng trở nên cấp bách hơn. Methane (CH4) và car-bonic (CO2), hai khí chủ yếu gây nên hiệu ứng nhà kính, đã gia tăng với tốc độ cao trong thập niên qua và được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Bên cạnh đó, một số mỏ khí thiên nhiên được phát hiện với trữ lượng khá lớn và chứa CO2 hàm lượng cao ở thềm lục địa Việt Nam trở thành động lực thúc đẩy việc nghiên cứu chuyển hóa hai khí này thành sản phẩm và bán sản phẩm có giá trị cao như khí tổng hợp vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa giảm ô nhiễm môi trường.

     

    2. Tình hình phát thải khí nhà kính và tăng nhiệt độ trái đất

     

    Gần đây, nồng độ CO2 trong khi quyên không ngừng tăng, từ 375ppm trong năm 2001 lên đến 390,5ppm trong năm 2011, tương đương tăng khoảng 1,5ppm/năm, tức

     

    Ngày nhận bài: 30/4/2019. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 30/4 – 4/5/2019.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 9/5/2019.

     

    là khoảng 8 tỷ tấn/năm [1 – 3]. Giai đoạn 2013 – 2015 nồng độ tăng đến mức 400ppm, mức báo động đỏ đối với không khí [4]. Không dừng ở đó, nồng độ CO2 trong không khí tiếp tục tăng lên đến 403,53ppm vào năm 2016 và dự đoán có thể tiếp tục tăng đến 661ppm vào cuối thể kỷ 21 [5]. Hội đồng Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã dự đoán nồng độ CO2 trong tương lai dao động từ 541 đến 970ppm vào năm 2100. Điều đó có nghĩa là lượng khí thải CO2 đã vượt qua 32 tỷ tấn trong năm 2011 [1], dự kiến sẽ đạt 36 tỷ tấn vào năm 2020 [2] và sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050 [3] nếu các biện pháp giảm thiểu CO2 không mang lại hiệu quả.

     

    Trong tổng lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, CO2 chiếm 76%, methane (CH4) có mức độ nguy hại cho môi trường cao gấp 21 lần CO2, chiếm tới 16% [6]. Hiện nay “tỷ lệ hòa lẫn trung bình” của CH4 vào tầng đối lưu đạt mức 1,74ppmV, cao gấp 2 lần so với thời kỳ tiền công nghiệp (0,8ppmV) [7]. Theo kết quả nghiên cứu, sau mức tăng chậm từ năm 2000 đến năm 2006, nồng độ khí CH4 trong không khí đã tăng nhanh gấp 10 lần trong thập kỷ qua. Đặc biệt, lượng khí này đã tăng nhanh vượt dự đoán trong những năm 2014 và năm 2015.

     

    Khí carbonic là một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu [8, 9] và nhiệt độ trái đất tăng cùng lượng phát thải CO2.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    51

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    Cụ thể, nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5oC trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1940, do thay đổi nồng độ CO2 trong khí quyển từ 270ppm đến 350ppm [10], tăng 0,8oC trong thế kỷ 20 và dự đoán tăng thêm 1,4 – 5,8oC trong thế kỷ 21 [11]. Năm 2016 là năm có nhiệt độ cao nhất kể từ năm 1880, cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp khoảng 1,1oC. Với dự đoán nồng độ CO2 đạt mức 500ppm trong 50 năm tới, nhiệt độ trái đất sẽ tăng 3oC – theo các nhà khoa học khí hậu đây là mức tăng gây khí hậu cực đoan và nước biển dâng [4]. Các nhà nghiên cứu khí hậu hàng đầu cảnh báo mục tiêu giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2oC, vốn đã được 196 quốc gia thống nhất đề ra trong Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu năm 2015 [12], thực sự là một “thách thức lớn” nếu việc giảm lượng phát thải khí carbonic không được quan tâm xác đáng và tiến hành nhanh chóng.

     

    Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2014, trong giai đoạn 1994 – 2010, lượng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam tăng nhanh từ 103,8 triệu tấn CO2 quy đổi (million metric tonnes of carbon dioxide equivalents

     

    • MMTCDE) lên 246,8 MMTCDE. Trong đó, lĩnh vực năng lượng có tốc độ tăng nhanh nhất, từ 25,6 MMTCDE lên 141,1 MMTCDE trong năm 2010 [13].

    Trong bối cảnh đó, ở Việt Nam tổng trữ lượng xác minh của khí thiên nhiên trong năm 2015 vào khoảng 210 tỷ m3 và sản xuất khí thiên nhiên đạt 9.080 triệu m3

     

    • Bên cạnh các mỏ khí có chất lượng, một số mỏ khí có nồng độ CO2 cao được phát hiện trong những năm vừa qua. Điển hình, Lô B – Ô Môn có trữ lượng khí khoảng 107 tỷ m3 và mỏ khí Cá Voi Xanh trữ lượng khoảng 150 tỷ

    m3, cao gấp 3 lần mỏ khí Lan Tây và Lan Đỏ thuộc dự án khí Nam Côn Sơn [15]. Tuy nhiên, nồng độ khí CO2 trong các mỏ khí này cao, 20% thể tích đối với mỏ khí Lô B – Ô

     

    Môn và 30% thể tích đối với mỏ khí Cá Voi Xanh. Ngoài ra, một số mỏ khí khác cũng có nồng độ CO2 khá cao như: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma Lay-Thổ Chu, vùng Tư Chính… với trữ lượng khí xác

     

    minh từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3, nhưng bên cạnh thành phần chính CH4, CO2 cũng chiếm hàm lượng lớn, như ở bể Sông Hồng hàm lượng CO2 từ 27% đến 90%, có nơi đạt tới 98%; ở bể Ma lay-Thổ Chu hàm lượng khí CO2 từ vài % đến 80% [15]. Hàm lượng CO2 trong khí cao gây khó khăn trong khai thác và vận chuyển. Việc khai thác sẽ dẫn đến một lượng CO2 rất lớn thải vào môi trường. Do đó, nếu có phương pháp sử dụng trực tiếp các mỏ khí này thì đây sẽ là một tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế.

     

    3. Tiềm năng chuyển hóa và sử dụng khí thiên nhiên giàu CO2

     

    Việc chuyển đổi CH4 và CO2 thành các sản phẩm có giá trị cao vừa giảm khí gây hiệu ứng nhà kính vừa sử dụng hiệu quả nguồn khí tự nhiên giàu CO2 vẫn là một thách thức lớn do các hợp chất này kém hoạt động [16]. Mặc dù vậy, hai chất này có thể được hoạt hóa khi có các chất xúc tác hiệu quả và điều kiện phản ứng thích hợp.

     

    Có thể chuyển hóa trực tiếp và gián tiếp khí thiên nhiên thành các sản phẩm và bán sản phẩm (Hình 1).

     

    Ngày nay, khoảng 20% tổng lượng khí tiêu thụ trên thế giới phục vụ cho sinh năng lượng (Phản ứng 1, Hình 1)] và dự tính con số này trên thị trường sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Ở các nước có nguồn khí thiên nhiên dồi dào, khí được sử dụng cho phát điện chiếm tỷ lệ rất cao – khoảng 80% sản lượng khí khai thác được. Bởi vì, việc sử dụng khí trong sản xuất năng lượng ít gây ô nhiễm môi trường, chi phí đầu tư thấp, hiệu suất nhiệt cao. Tuy nhiên hướng ứng dụng này sinh khí thải CO2. Các khí thải này có thể chuyển hóa thành khí tổng hợp trong phản ứng re-forming methane bằng CO2 và hơi nước (Phản ứng 7, Hình 1). Có thể oxy hóa trực tiếp methane để thu formaldehyde (Phản ứng 3), ethan, ethylene (Phản ứng 2). Ba hướng còn lại (Phản ứng 4, 5, 6) oxy hóa chọn lọc CH4 với các chất oxy hóa khác nhau thành khí tổng hợp (syngas), từ đó sản xuất hàng loạt hóa chất. Một trong những ứng dụng quan trọng nhất của syngas trong công nghiệp hóa chất là nguyên liệu sản xuất hydrocarbon và methanol. Phản ứng này dựa trên nguyên lý của quá trình chuyển hóa “khí thành lỏng” (gas-to-liquid – GTL) là quá trình chuyển hóa khí thiên nhiên thành dầu tổng hợp, từ đó chưng cất thu diesel, naphtha, wax, và các hợp chất lỏng khác. Tổng hợp Fischer-Tropsch được coi là nguyên tố công nghệ cốt lõi của quá trình chuyển hóa syngas thành nhiên liệu vận tải và các sản phẩm lỏng khác [18]. Tuy đã có cách đây 100 năm nhưng quá trình Fischer-Tropsch vẫn đang trong giai đoạn thương mại hóa [19]. Methanol – nguyên liệu cho quá trình hóa học C1, từ đó sản xuất formaldehyde, acid

     

     

    Hình 1. Chuyển hóa trực tiếp và gián tiếp khí thiên nhiên thành các sản phẩm và bán sản phẩm có giá trị [17]

     

     

    52       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    acetic, chloromethane và các hóa chất khác cho công nghiệp hóa chất, có thể được sản xuất từ syngas hoặc từ CO2. Tuy nhiên, đến nay chỉ có sẵn xúc tác công nghiệp cho tổng hợp methanol từ khí chứa H2 và CO.

     

    Sản xuất dimethyl ether (DME) và chuyển hóa khí thành lỏng là những quá trình hứa hẹn trong sử dụng CO2 làm nguyên liệu. Đã có một số công nghệ sử dụng khí thiên nhiên giàu CO2 cho sản xuất DME và nhiên liệu lỏng. DME có thể là nhiên liệu thay thế cho LPG và die-sel vì có tính chất tương đồng với LPG và có trị số cetane cao. DME có thể pha trộn đến 20 – 30% với LPG [20]. Quá trình KOGAS là thế hệ công nghệ mới nhất sản xuất DME

     

    • Trong công nghệ này DME được sản xuất từ khí tổng hợp (hỗn hợp CO + H2) thông qua các công nghệ một giai đoạn trực tiếp từ syngas hoặc hai bước, thông qua giai đoạn tổng hợp methanol từ syngas. Tuy nhiên, các công nghệ này còn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở mức độ thương mại [19].

    Từ các phân tích trên ta thấy hướng chuyển đổi CH4 và CO2 thành khí tổng hợp là một lựa chọn khả thi, từ đó sản xuất các hóa chất khác [21]. Trong công nghiệp hóa học, khí tổng hợp thường được sử dụng như một chất trung gian trong sản xuất methanol, ammonia, tổng hợp Fischer-Tropsch, sản xuất nhiên liệu diesel, phân bón, các dẫn xuất như acetic acid, xăng, dimethyl ether… và tổng hợp hóa dầu [22]. Khí tổng hợp cũng là cơ sở quan trọng để cung cấp hydro và sản xuất aldehyde từ các olefin.

     

    Chuyển hóa khí thiên nhiên thành khí tổng hợp.

     

    Chuyển hóa methane thành khí tổng hợp dựa vào ba phương pháp chính: reforming hơi nước (steam reform-ing); reforming khô (chuyển hóa methane có sự tham gia của CO2) và oxy hóa từng phần.

     

    Reforming khô (DRM) (1) được quan tâm do quá trình này tận dụng nguồn CO2 có sẵn trong mỏ khí làm nguyên liệu.

     

    CH4  + CO2 ↔ 2CO + 2H2   ΔH = +247 kJ/mol

    (1)

    Khí tổng hợp với tỷ lệ 1:1 được sử dụng trong hydro-forming để sản xuất polycarbonate hoặc formaldehyde.

     

    Quá trình steam reforming (SRM) dựa trên phản ứng dùng nước oxy hóa nhẹ methane (2) hay các hydrocarbon (3).

     

    CH4 + H2O ↔ CO + 3H2   ΔH = +226 kJ/mol

    (2)

    CnHm + nH2O →  nCO + (n+m/2)H2  ΔH298 < 0

    (3)

    Trong điều kiện phản ứng các hydrocarbon khác methane có hàm lượng rất nhỏ, nên phản ứng (3) có vai

     

    trò không đáng kể. Nhược điểm chính của quá trình steam reforming là: giá hơi quá nhiệt cao; tạo thành lượng lớn CO2 trong phản ứng water gas shift (WGS)

     

    CO + H2O ↔ CO2 + H2   ΔH = -41 kJ/mol

    (4)

    và khí tổng hợp nhận được có tỷ lệ H2:CO = 3:1 thuận tiện cho sản xuất amoniac nhưng không thuận tiện cho tổng hợp methanol, acid acetic và hydrocarbon theo phương pháp Fischer-Tropsch.

     

    Oxy hóa chọn lọc methane (5)

     

    CH4 + ½O2 ↔ CO + 2H2   ΔH = -44 kJ/mol

    (5)

    đòi hỏi sử dụng oxy tinh khiết và những thiết bị chuyên dùng để tách không khí, nên quá trình reforming tỏ ra ưu thế hơn.

     

    Đặc điểm của quá trình chuyển hóa trực tiếp CH4 và CO2 là phản ứng thu nhiệt mạnh [23], đồng thời trong re-forming khô tạo cốc là vấn đề nghiêm trọng vì hàm lượng carbon trong nguyên liệu khá cao và không có O2 tham gia trực tiếp trong khí hóa carbon lắng đọng trên bề mặt chất xúc tác [24], là nguyên nhân chính làm mất hoạt tính xúc tác.

     

    Cốc sinh ra từ các quá trình phản ứng methane crack-ing (6) và phản ứng Boudouard (7):

     

    CH4 → C + 2H2   ΔH = 75 kJ/mol

    (6)

    2CO ↔ Cads + CO2  ΔH = -86,24 kJ/mol

    (7)

    Để giảm cốc lắng đọng, carbon tạo ra cần được tiêu thụ trong phản ứng Boudouard nghịch reaction (7) [25]. Hơn nữa tạo cốc trong các phản ứng (6) và (7) thuận lợi hơn ở nhiệt độ thấp. Do đó khi nhiệt độ quá trình reform-ing khô dưới 800oC carbon sinh ra từ cả hai phản ứng. Ở nhiệt độ trên 800oC cốc lắng đọng trong quá trình reform-ing khô xuất phát chủ yếu từ cracking methane (6) và car-bon có hoạt tính cao hơn so với cốc hình thành từ phản ứng Boudouard. Do đó khi có CO2 trong môi trường phản ứng cốc tạo thành dễ dàng bị oxy hóa [26]. Ở nhiệt độ 700oC tốc độ phân hủy methane cao hơn so với tốc độ oxy hóa carbon bằng CO2, nên nếu thực hiện quá trình reform-ing khô với tỷ lệ CO2/CH4 cao (>1) và nhiệt độ cao có thể giảm thiểu tạo cốc. Tuy nhiên tỷ lệ CO2/CH4 thường xấp xỉ bằng 1 nhằm đảm bảo các phản ứng phụ như Boudouard và chuyển hóa nước – khí nghịch (RWGS) là ít nhất để sản xuất ra syngas với tỷ lệ H2/CO mong muốn.

     

    Quá trình reforming khô chưa được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp vì chất xúc tác giảm hoạt tính nhanh chóng do lượng cốc tạo thành, kim loại kết tụ hoặc bị oxy hóa. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng khí CH4 và CO2

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    53

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    trong công nghiệp phụ thuộc vào yêu cầu tiêu tốn năng lượng cho phản ứng. Tuy nhiên, từ các phân tích trên cho thấy, giảm nhiệt độ phản ứng DRM xuống thấp hơn 800oC nhằm giảm nhu cầu năng lượng cho phản ứng sẽ dẫn đến tăng tạo cốc và giảm thời gian làm việc ổn định của xúc tác. Có các lựa chọn khác nhau để cải thiện tính kinh tế của phản ứng chuyển hóa các chất kém hoạt động như CH4 và CO2, gồm giảm nhu cầu năng lượng bằng cách phát triển các xúc tác mới, tiết kiệm chi phí năng lượng thông qua sử dụng nhiên liệu tái tạo cũng như chuyển hóa thông qua một quá trình có khả năng phản ứng cao hơn để có thể sử dụng nguồn khí tự nhiên mà không cần loại bỏ CO2 sẽ mang lại lợi ích cả về mặt kinh tế lẫn môi trường.

     

    Bên cạnh đó, tỷ lệ mol H2/CO phù hợp cho quá trình tổng hợp Fischer-Tropsch là khoảng 2, cao hơn tỷ lệ thu trong reforming bằng CO2 (phản ứng 1) và thấp hơn giá trị thu được từ steam reforming (phản ứng 2). Reforming kết hợp tạo khả năng chuyển hóa methane trong 3 phản ứng (1, 2 và 5), được gọi là trireforming, cho phép giải quyết vấn đề tạo cốc cũng như năng lượng. Tuy nhiên, việc kết hợp 2 quá trình reforming khô và steam reforming meth-ane (CSCRM), được gọi là phản ứng bi-reforming, được ứng dụng rộng rãi hơn để sản xuất syngas [22]. Phản ứng diễn ra theo phương trình sau:

     

    3CH4 + CO2 + 2H2O ↔ 4CO + 8H2 ΔH = +220 kJ/mol    (8)

     

    CSCRM mang lại những lợi ích đáng kể so với phản ứng reforming khô, oxy hóa một phần và reforming hơi nước [16]. Việc kết hợp này tạo được tỷ lệ H2:CO mong muốn, hoàn toàn phù hợp cho phản ứng tổng hợp Fisch-er-Tropsch [23], hỗn hợp “metgas”(tỷ lệ H2/CO = 2/1) để sản xuất methanol [27] và giải quyết vấn đề khí nhà kính do CO2 sinh ra trong steam reforming (4). Hơn nữa, ưu thế của bi-reforming là giảm tạo cốc trong phản ứng Boud-ouard (7) nhờ vào việc đưa thêm hơi nước vào môi trường reforming khô [28].

     

    Trong công nghệ Topsoe sử dụng hỗn hợp nguyên liệu CH4 + CO2 + H2O (bi-reforming) để giảm tạo cốc trên xúc tác nickel và tránh tắc nghẽn đường ống.

     

    4. Xúc tác cho quá trình reforming

     

    Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp khí, vai trò của phản ứng reforming methane ngày càng trở nên quan trọng. Các bằng sáng chế (patents) về chất xúc tác cho quá trình này tăng nhanh chóng trong hai thập niên qua (Hình 2).

     

    Các quá trình reforming đòi hỏi nhiệt độ lên tới 800 –

     

    1000oC [23]. Do đó các xúc tác cho quá trình này cần đáp

     

    ứng 3 yêu cầu: bền nhiệt, kháng thiêu kết và hoạt tính cao

     

    • Phần lớn các kim loại sử dụng cho quá trình reform-ing methane là kim loại quý và oxide kim loại chuyển tiếp, có hoạt tính khử cao nhất [30]. Đáp ứng các yêu cầu đó, các kim loại được ưa chuộng nhất là Ni, Pt, Ru, Re, Ir, Co, Pd, Rh… [31, 32].

    4.1 Xúc tác kim loại quí

     

    Xúc tác kim loại quý thu hút sự chú ý vì tạo cốc thấp do khả năng “hòa” carbon trên bề mặt các kim loại này thấp [33], kháng thiêu kết cao, có tính ổn định và hoạt tính cao trong phản ứng ở nhiệt độ cao (>750oC) [34, 35]. Hơn nữa, các kim loại này có thể phân bố đồng đều trên bề mặt chất mang có electron d, tạo thuận lợi cho hấp phụ hydro. Một số kim loại quý được ứng dụng làm xúc tác reforming là Pt, Pd, Zr, Rh, Ir [34]. Các xúc tác này được mang trên các chất mang Al2O3, MSN hoặc SBA-15. Thứ tự hoạt tính của các kim loại nhóm VIII cho reforming hơi nước CH4 (SRM) như sau: Rh, Ru > Ni > Ir > Pd, Pt [36, 37]. Rh có hoạt tính cao nhất, tiếp theo là Ru. Kim loại quý có hoạt tính cao nhưng rất đắt tiền. Trong khi Ni có hoạt tính khá cao và rẻ tiền. Một đặc điểm thuận lợi là các phản ứng reforming đều sử dụng cùng một loại xúc tác. Do đó xúc tác công nghiệp sử dụng cho các quá trình reforming methane được lựa chọn là nickel mang trên chất mang khác nhau.

     

    4.2. Xúc tác kim loại chuyển tiếp

     

    Mặc dù có hoạt tính thấp hơn kim loại quí nhưng kim loại chuyển tiếp có vị trí quan trọng trong lịch sử xúc tác reforming methane. Ưu thế của kim loại chuyển tiếp là rẻ và sẵn có. Phần lớn các nghiên cứu gần đây đều tập trung vào nhóm kim loại chuyển tiếp VIIIB ngoại trừ Os, đặc biệt Ni, Co và Fe có hoạt tính cao trong quá trình reforming CH4 [38, 39]. Hoạt độ của các kim loại chuyển tiếp trong

     

     

     

    Hình 2. Các bằng sáng chế được ghi nhận về các chất xúc tác reforming cải tiến từ năm 1950 đến 2010 [29]

     

     

    54       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    phản ứng reforming khô giảm theo thứ tự sau: Fe > Ni > Co. Xúc tác Fe có hiệu suất cao trong quá trình reform-ing khô nhưng độ chọn lọc kém, lượng carbon lắng đọng nhiều gây đầu độc xúc tác và có khuynh hướng tạo thành các hydrocarbon mạch dài và hợp chất chứa oxy. Chất xúc tác dựa trên Co có hoạt độ cao nhưng chúng dễ tạo thành carbua trên bề mặt xúc tác trong quá trình phản ứng và độ chọn lọc tập trung chủ yếu vào hợp chất C2. Tuy không chiếm vị trí cao nhất trong dãy hoạt độ nhưng Ni là chất xúc tác thể hiện hoạt tính cao và độ chọn lọc tốt, đồng thời chi phí sử dụng thấp hơn so với các kim loại quý cho phản ứng reforming [40]. Do đó các chất xúc tác công nghiệp thương mại hóa cho quá trình reforming methane hiện nay chủ yếu là Ni kim loại với hàm lượng cao được phân bố trên chất mang khác nhau như Al2O3, MgO, SiO2, Cr2O3

     

    hoặc hỗn hợp các oxide [41, 42]. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của xúc tác kim loại chuyển tiếp là tạo cốc do sự nhạy cảm của kim loại (đặc biệt là nickel) và sự thiêu kết các tâm hoạt động [43, 44] dẫn đến giảm hoạt tính và giảm hiệu quả của xúc tác. Ni có ái lực với hydro làm suy yếu liên kết C–H,

     

    • nhiệt độ cao phản ứng phân hủy CH4 (6) sẽ xảy ra mạnh trên các tâm kim loại hoạt tính, tạo lớp carbon trên bề mặt xúc tác [45]. Do đó xúc tác dựa trên Ni thường bị mất hoạt tính nhanh hơn so với xúc tác kim loại quý.

    Hoạt tính và độ bền của chất xúc tác trên cơ sở nickel có thể được cải thiện bằng cách bổ sung các chất xúc tiến và sử dụng chất mang phù hợp và có thể thêm các chất oxy hóa cốc như oxy hoặc hơi nước vào môi trường phản ứng.

     

    4.3. Chất mang cho xúc tác NiO

     

    Chất mang phổ biến nhất cho quá trình reforming methane là Al2O3, các chất mang khác như MgO, TiO2, SiO2, and La2O3 cũng được sử dụng [46]. Nakamura et al. (1994) tìm thấy hoạt tính của xúc tác NiO trên các chất mang xếp theo thứ tự sau: Al2O3 > TiO2 > SiO2. Hiệu quả của chất mang thể hiện thông qua sự ảnh hưởng của chất mang lên sự hoạt hóa trực tiếp CH4 hoặc CO2 bởi các oxide kim loại và sự thay đổi kích thước hạt của kim loại trong tiến trình phản ứng [47].

     

    Sau khi điều chế và nung ở 400 – 600oC bề mặt Al2O3 bị loại nước một phần bên cạnh các tâm acid Lewis với lỗ trống phối trí (ion Al3+) và tâm acid Bronsted + còn tồn tại các tâm base Lewis (ion O2-). Các tâm base Lewis này có khả năng hấp phụ và phân ly CO2, một khí acid [48]. Tuy nhiên, ở nhiệt độ phản ứng reforming khô 700 – 900oC α-Al2O3 là chất mang phù hợp hơn α-Al2O3 do có ổn định nhiệt và độ bền cơ học cao. Trong quá trình nung ở nhiệt

     

    độ cao (>1100oC) để tạo α-Al2O3 một phần tâm base Lewis đã mất đi, dẫn đến tăng lắng đọng carbon trong quá trình reforming methane.

     

    Các xúc tác NiO/α-Al2O3 (NiAl) kích thước nano đã được điều chế thành công bằng các phương pháp khác nhau [49 – 52]. Kết quả cho thấy xúc tác điều chế bằng phương pháp tẩm có hoạt tính cao nhất, chuyển hóa 90% CH4 và 79% CO2 ngay ở 700oC và hoạt động ổn định trong hơn 30 giờ thử nghiệm trong phản ứng reforming khô [49 – 51]. Thêm hơi nước, độ chuyển hóa CH4 của xúc tác NiAl trong phản ứng bi-reforming cao hơn so với phản ứng reform-ing khô (95% so với 90%), nhưng độ chuyển hóa CO2 thì ngược lại, giảm xuống đến đến 69% [52]. Điều này được giải thích như sau khi có hơi nước lượng cốc tạo thành sau 30 giờ phản ứng ở 700oC giảm 3,7 lần, từ 37,5mgC/g trong phản ứng reforming khô xuống đến 10mgC/g trong phản ứng bi-reforming, dẫn đến tăng hoạt tính oxy hóa CH4, trong khi đó hơi nước và CO2 đều là chất oxy hóa, hấp phụ cạnh tranh trên tâm base của chất mang, mặt khác một lượng CO2 sinh ra trong steam reforming trong phản ứng (9):

     

    CH4 + 2H2O ↔ CO2 + 4H2  ΔH = +641 kJ/mol  (9)

     

    dẫn đến giảm độ chuyển hóa CO2. Kết quả cho thấy bi-re-forming có ưu thế vượt trội trong giảm tạo cốc và tăng độ bền xúc tác. Đồng thời tỷ lệ mol H2:CO thu được trong bi-reforming xấp xỉ 2, phù hợp cho sản xuất methanol và quá trình Fischer-Tropsch, trong khi tỷ lệ này trong reforming khô là 1, ứng dụng kém thuận lợi hơn.

     

    Theo Ki-Won Jun (2008), cả Ni/α-Al2O3 và Ni/γ-Al2O3 đều không ổn định theo thời gian phản ứng reforming methane. Ni/α-Al2O3 không bền do tạo cốc, còn Ni/γ-Al2O3 không bền ở nhiệt độ cao (700oC) do sự suy giảm của γ-Al2O3. S. Wang et al [44] cho rằng chất mang có thể cải tiến hoạt tính của xúc tác Ni. So với xúc tác Ni mang trên Al2O3 và MgO xúc tác Ni/SiO2 cho độ chuyển hóa cao hơn, đạt 96,2% CH4 và 93,8% CO2 ở 800oC. Bên cạnh đó thời gian làm việc ổn định của các xúc tác này cao.

     

    Từ khi xuất hiện vật liệu silicat cấu trúc trật tự vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 đã có nhiều vật liệu mao quản trung bình được tổng hợp như FSM, M41S, HMS, MSU-x, SBA-15, SBA-16…, mở ra hướng phát triển mới trong lĩnh vực xúc tác và hấp phụ. Các vật liệu này có kích thước mao quản đồng đều (dao động từ 20 – 100Å), rộng hơn kích thước của zeolit từ 3 đến 4 lần và diện tích bề mặt riêng lớn 500 – 1000m2/g. Santa Barbara Amorphous 15 (SBA-

     

    • là vật liệu mao quản trung bình với cấu trúc lỗ xốp lục giác đường kính 4,6 – 30nm được sử dụng làm chất mang

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    55

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    cho xúc tác Ni do có diện tích bề mặt lớn (600 – 1000m2/g), bền nhiệt, thể tích lỗ xốp lớn (0,5 – 1cm3/g) có thể kiểm soát được và phân bố kích thước lỗ xốp đều [53, 54]. Sự thay thế các nhóm silanol trên bề mặt bằng các ion Ni làm tăng sự ổn định của các tâm hoạt tính Ni trên SBA-15.

     

    Trong nghiên cứu [55] xúc tác nano NiO/SBA-15 với kích thước tinh thể NiO dao động trong khoảng 12,9 – 18,3nm được điều chế thành công. Trong hệ xúc tác này có các hạt NiO kích thước 5 – 6nm phân tán bên trong các lỗ xốp và hạt NiO kích thước 20 – 50nm nằm trên bề mặt của SBA-15 phụ thuộc vào hàm lượng NiO (30 – 50%). Sự phân tán vào bên trong lỗ xốp giúp ngăn chặn sự thiêu kết Ni và mất mát kim loại trong thời gian phản ứng. Sở dĩ NiO có độ phân tán cao như vậy do SBA-15 có các lỗ xốp đồng đều với đường kính lớn (5,3 – 6nm), độ xốp và diện tích bề mặt riêng cao (613m2/g). Xúc tác có khả năng khử Ni2+ thành các tâm hoạt tính Nio cao nên có hoạt tính cao trong phản ứng bi-reforming, chuyển hóa 86% CH4 và 77% CO2 ở 700oC và tương ứng 90,5% và 80% ở 800oC. Xúc tác có độ bền cao (làm việc ổn định hàng trăm giờ) do có các tâm base Lewis yếu và mạnh, vừa hạn chế tạo cốc, vừa tăng hấp phụ CO2. Tương tự, Zhang và cộng sự [56] công bố xúc tác 12,5% NiO/SBA-15 có độ chuyển hóa CH4 và CO2 ở 800oC lần lượt là 89% và 85% và bền trên 600 giờ. Kết quả cho thấy, SBA-15 có các tâm base Lewis và tương tác khác nhau với NiO là chất mang thích hợp cho NiO trong phản ứng bi-reforming. Tương tự, trong xúc tác NiO/ MSN tương tác giữa kim loại – chất mang (Si-O-Ni) tạo ra các tâm hoạt động phân tán, tăng cường phân ly CH4 và CO2, dẫn đến tăng hiệu suất xúc tác [57].

     

    Ceria (CeO2) – chất mang thế hệ mới, được biết đến như chất chứa oxy. Bên cạnh đó, CeO2 có thể hấp phụ và giải hấp H2O tạo H+ và OH- để chuyển hóa carbon trên bề mặt xúc tác thành CO và CO2 [58], dẫn đến giảm tạo cốc. Luu Cam Loc et al. [59] công bố rằng tính chất lý hóa và hoạt tính xúc tác NiO mang trên CeO2 phụ thuộc vào hình thái của nó. Các xúc tác NiO mang trên CeO2 dạng thanh nano (NR – nanorod), hạt nano (NP – nanoparticle) và khối nano (NC – nanocube) đều có độ phân tán cao. Các hạt NiO trên hai chất mang CeO2 dạng thứ nhất có kích thước là 5 – 10nm, còn trên CeO2-NR các hạt NiO nhỏ và đều hơn (5nm). Sự phân tán cao của các hạt NiO trong NiO/CeO2 được giải thích là do sự tương tác Ni2+ với chất mang CeO2 tạo thành các ion Ce3+ và các lỗ trống oxy, kích hoạt cho sự hình thành dung dịch rắn Ni-Ce-O, tạo tương tác mạnh giữa Ni với chất mang CeO2. Bên cạnh đó, xúc tác NiO/ CeO2 có 3 loại loại tâm base, hấp phụ cao CO2. Với những đặc trưng lý hóa vượt trội NiO/CeO2 dạng thanh có hoạt

     

    tính cao hơn các xúc tác mang trên CeO2 dạng hạt và dạng khối, chuyển hóa 89% CH4 và 67% CO2 ở 700oC và tương ứng 96% và 72% ở 800oC trong phản ứng bi-reforming methane. Hơn nữa, lượng cốc hình thành trên xúc tác này

     

    rất nhỏ, 0,54 mgC/gcat sau 30 giờ phản ứng ở 700oC, thấp hơn gần 20 lần so với xúc tác Ni/Al (10 mgC/gxt). Do đó xúc

     

    tác làm việc ổn định trong thời gian dài (hàng trăm giờ). Các tác giả [60, 61] cũng công bố Ni/CeO2 dạng thanh có độ bền và độ chuyển hóa tốt hơn Ni/CeO2 dạng hạt cho phản ứng reforming khô.

     

    Kết quả này cho thấy CeO2 là chất mang tiềm năng, có ưu thế vượt trội trong phân tán cao kim loại hoạt động dẫn đến tăng hoạt tính của xúc tác, chống tạo cốc, tăng tuổi thọ của xúc tác.

     

    4.4. Chất xúc tiến cho xúc tác NiO

     

    Dưới tác động của nhiệt độ phản ứng cao trong quá trình reforming methane nhiều chất xúc tác không ổn định, biến đổi về cấu trúc, thiêu kết kim loại hoạt động và tạo thành cốc trên bề mặt xúc tác. Những nguyên nhân này làm cho xúc tác mất hoạt tính nhanh chóng [62]. Như đã biết [63] trên xúc tác NiO/chất mang, CH4 hấp phụ phân ly thành các hợp chất trung gian CHx trên các tâm kim loại hoạt tính (Ni), trong khi đó chất mang hoạt hóa CO2. Để giảm tạo cốc, cần tạo ra các tâm base bằng cách biến tính chất mang bằng các oxide kim loại kiềm hay các nguyên tố đất hiếm, còn để tăng hoạt tính oxy hóa chọn lọc, cần thay đổi tính khử cũng như tương tác của NiO trong hệ để tăng độ phân tán và giảm thiêu kết của nó trong điều kiện phản ứng ở nhiệt độ cao trong thời gian dài sử dụng các chất xúc tiến như kim loại quý, oxide kim loại [64, 65]

     

    1. a) Phụ gia kim loại kiềm, kiềm thổ

    Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng carbon lắng đọng là độ kiềm của xúc tác [66], sự hình thành car-bon có thể được giảm bớt hoặc thậm chí bị ức chế khi kim loại hoạt động được phân tán trên chất mang là ox-ide kim loại với các tâm base Lewis. Nhiều nghiên cứu cho thấy thêm các phụ gia kim loại kiềm và kiềm thổ làm thay đổi tính chất của chất mang, giảm tạo cốc và tăng hấp phụ CO2, tạo lớp che phủ phần lớn bề mặt, bảo vệ xúc tác không bị lắng đọng carbon [47]. Thí dụ, thêm chất xúc tiến có tính base Lewis như các oxide kim loại kiềm (Na2O, K2O), kiềm thổ (CaO, MgO) và các base yếu (NH4OH) làm giảm mất hoạt tính xúc tác do cốc lắng đọng hoặc thiêu kết kim loại của các xúc tác Ni/Al2O3, Ni/SiO2 và NiO/SBA-15 vì các chất này sẽ hỗ trợ khả năng hấp phụ hóa học CO2 [47, 54, 67]. Các nghiên cứu của chúng tôi biến tính xúc

     

    56       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    tác NiO mang trên α-Al2O3 và SBA-15 bằng MgO [49, 52, 68] cho thấy do tương tác mạnh của NiO với phụ gia tạo hỗn hợp rắn (MgxNi1-xO), dẫn đến giảm kích thước hạt NiO, giảm sự thiêu kết các hạt Ni đồng thời tăng tính khử, tăng mật độ tâm base Lewis, hỗ trợ hấp phụ CO2 và giảm lắng đọng carbon. Từ đó tăng hoạt tính và độ bền của xúc tác. Độ chuyển hóa CH4 và CO2 đạt 92% và 87% ở 700oC, tăng tương ứng 5% và 9% so với xúc tác NiAl và giảm lượng cốc tạo thành 7 lần (từ 37,7 xuống 5,25mgC/g) trong phản ứng reforming khô [49]. Việc giảm cốc khi thêm MgO vào xúc tác NiO/α-Al2O3 được giải thích là do có lớp MgO hoặc MgO-NiO phủ trên bề mặt xúc tác như kết quả phân tích TEM đã minh chứng. Kết quả tương tự cũng quan sát thấy trong nghiên cứu [69], tác giả cho rằng lớp MgO phủ trên bề mặt xúc tác Ni-MgO/SiO2 giúp nó hoạt động ổn định trong 18 giờ thí nghiệm và sau phản ứng không có cặn carbon được tìm thấy. Tuy nhiên, MgO không thể hiện ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt tính của các xúc tác NiO mang trên α-Al2O3 và SBA-15 trong phản ứng bi-reforming cả về phương diện hoạt tính và tạo cốc [52, 68]. Kiềm hóa xúc tác NiO/SBA-15 bằng NH4OH cũng cho hiệu quả cao trong việc giảm kích thước tinh thể NiO xuống đến 10 – 15nm, tăng tính khử của Ni2+, tăng mật độ tâm base yếu của xúc tác, dẫn đến tăng hoạt tính trong bi-reforming methane

     

    • Xúc tác kiềm hóa có độ chuyển hóa CO2 cao, đạt 83% và độ chuyển hóa CH4 trên 98% ở 700oC [70]. Thông qua những kết quả nhận được có thể kết luận, trong các phụ gia kiềm MgO là một chất xúc tiến đầy hứa hẹn trong phản ứng reforming methane vì liên kết mạnh giữa NiO-MgO giúp ích trong việc ngăn ngừa thiêu kết hạt Ni và sự lắng cặn carbon. Ngoài ra, kiềm hóa bằng amoniac cũng là phương pháp xử lý xúc tác NiO có hiệu quả.
    1. Phụ gia oxide kim loại

    Bên cạnh làm chất mang, với tính chất nổi trội nhiều nghiên cứu chứng minh CeO2 còn thể hiện là phụ gia ưu việt cho xúc tác NiO trong phản ứng reforming hơi nước và reforming khô, giúp tăng khả năng chống tạo cốc, tăng tuổi thọ của xúc tác [50, 71, 72]. Bên cạnh CeO2, các kim loại quý cũng được nghiên cứu làm phụ gia cho xúc tác Ni trong phản ứng bi-reforming. Sự hiện diện của Pt giúp làm giảm nhiệt độ khử của NiO do Pt có nhiệt độ khử thấp hơn Ni và nó hấp thụ phân ly H2 thành nguyên tử H. Các nguyên tử H di chuyển trên bề mặt xúc tác và giúp khử NiO dê dàng hơn, nhờ đó độ chuyển hóa CH4 tăng [73]. Bên cạnh đó Pt giảm sự lắng đọng carbon, tăng độ ổn định của xúc tác NiO và tăng độ chọn lọc H2 và CO [74]. Rhodium (Rh) tăng độ ổn định của xúc tác và độ chọn lọc tạo H2, CO, đồng thời giảm sự lắng đọng cốc trong phản

     

    ứng reforming CH4 bằng CO2 [75]. ZrO2 tăng hấp phụ phân ly CO2, giảm sự hình thành NiAl2O4 dẫn đến tăng nhẹ hoạt tính của xúc tác Ni/Al2O3 trong phản ứng reforming khô CH4 [76]. CuO có vai trò ôn đinh câu truc xuc tac, can trơ thiêu kêt cac hat kim loai. Sư hinh thanh hôn hơp Cu-Ni thuc đây qua trinh phân ly CH4 va ngăn chăn sư gia tăng cua carbon dạng sợi trên tinh thê Ni [77]. Thêm phụ gia vanadium một mặt tao câu truc vi mô giup han chê sư hinh thanh spinel NiAl2O4, mặt khác là xúc tác oxy hóa phụ gia này giup cai thiên hiêu suât cua phan ưng reforming CH4 bằng CO2 [78]. Thêm V2O5 vào xúc tác NiO/CeO2 dạng thanh làm tăng độ chuyển hóa CH4 từ 89% lên 96% và CO2 từ 67% lên 76% ở 700oC, đồng thời sau 30 giờ phản ứng không có cốc tạo thành trên bề mặt xúc tác trong phản ứng bi-reforming methane [79]. Vậy, xúc tác NiO mang trên CeO2 có lượng cốc tạo thành thấp nhất, đặc biệt khi nó được biến tính bằng vanadium (V).

     

    5. Kết luận

     

    Hiện nay CO2 và CH4 được coi là các khí nhà kính cơ bản gây biến đổi khí hậu, sự nóng lên của trái đất và nước biển dâng, gây thảm họa cho loài người. Tuy nhiên, nếu tận dụng, chuyển hóa các nguồn khí nhà kính đó thành các sản phẩm có ích, thì chúng sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào cho một lĩnh vực công nghiệp hóa dầu mới, lĩnh vực chuyển hóa khí thiên nhiên giàu CO2. Thông qua chuyển hóa thành khí tổng hợp từ khí thiên nhiên có thể sản xuất hàng loạt hóa chất quan trọng, trong đó quan trọng nhất là hydro, hydrocarbon và methanol. Quá trình này càng có

     

    • nghĩa về kinh tế và môi trường hơn đối với Việt Nam khi

    sự phát hiện và khai thác một số mỏ khí thiên nhiên có trữ lượng lớn với hàm lượng CO2 cao đặt ra vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên này.

     

    Xu hướng gần đây cho thấy reforming methane là giải pháp chuyển hóa hiệu quả khí thiên nhiên giàu CO2. Kết hợp reforming khô và reforming hơi nước (bi-reforming) một mặt chuyển hóa hai loại khí nhà kính CO2 và CH4 thành nguồn nguyên liệu có ích với tỷ lệ H2:CO theo mong muốn, mặt khác hạn chế hình thành cốc do sự có mặt của hơi nước. Nickel được chọn là xúc tác hiệu quả cho công nghệ reforming methane. Trong 2 thập niên gần đây đã có những nỗ lực mạnh mẽ trong việc nghiên cứu và phát triển các chất xúc tác mới để cải thiện quá trình chuyển hóa CH4 và CO2 thành khí tổng hợp theo hướng tăng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng. Việc kiềm hóa chất mang và biến tính xúc tác bằng phụ gia cũng như thêm hơi nước vào môi trường phản ứng reforming khô là những biện pháp hữu hiệu tăng hoạt độ và độ bền của xúc tác NiO. Đã

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    57

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    có nhiều thành công trong việc sử dụng các chất mang mới như CeO2 và silica mao quản trung bình cũng như biến tính các xúc tác Ni bằng các phụ gia oxide kim loại kiềm hoặc kim loại chuyển tiếp để giảm tạo cốc và tăng hoạt độ và độ bền của xúc tác trong quá trình bi-reform-ing. Các hệ xúc tác mới giúp hạ nhiệt độ phản ứng xuống đến 700oC vẫn thu độ chuyển hóa CH4 đạt đến 97 – 99% và tỷ lệ H2:CO ~ 2, phù hợp cho sản xuất methanol và quá trình Fischer-Tropsch, đồng thời giảm thiểu tạo cốc.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Alfons Baiker. Utilization of carbon dioxide in heterogeneous catalytic synthesis. Applied organometallic 2000; 14(12): p. 751 – 762.
    1. Iwao Omae. Aspects of carbon dioxide utilization. Catalysis Today. 2006; 115 (1 – 4): p. 33 – 52.
    1. World Meteorological Organization (WMO). WMO Greenhouse Gas Bulletin (GHG Bulletin) – N°8: The State of Greenhouse Gases in the atmosphere based on global observations through 2011. 2012.
    1. Nicola Jones. How the world passed a carbon threshold and why it matters. The Yale School of Forestry & Environmental Studies. January 26 – 2017.
    1. Holian, A.P.Sokolov, R.G.Prinn. MIT joint program on the science and policy of global change. 2001.
    2. A.Dunn, M.G.Kozar, Budiyono. Annual Convention Proceedings. 1996; 25: p. 117 – 130.
    1. Donald J.Wuebbles, Katharine Hayhoe. Atmospheric methane and global change. Earth-Science 2002; 57 (3 – 4): p. 177 – 210.
    1. J.Bin, W.Sh.Wu, L.Yong, ZA. Z.Ci, W.X.Yu. Advances in climate change research. 2012; 3(3): p. 174 – 178.
    1. Thomas R.Anderson, Ed Hawkins, Philip D.Jones. CO2, the greenhouse effect and global warming: from the pioneering work of Arrhenius and Callendar to today’s Earth System Models. Endeavour. 2016; 40(3): p. 178 – 187.
    1. Erik Velasco, Matthias Roth. Cities as net sources

    of CO2: Review of atmospheric CO2 exchange in urban environments measured by Eddy Covariance Technique. Geography Compass. 2010; 4(9): p. 1238 – 1259.

     

    1. Dori Yosef Kalai. Dry reforming of methane: catalyst development and thermodynamic analysis. Master Thesis, University of Stavanger. 2015.
    1. ABC Australia. Paris climate talks: France releases ‘ambitious, balanced’ draft agreement at COP21. 12th December 2015.
    1. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo cập nhật hai năm một lần, lần thứ nhất của Việt nam cho công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. 2014.
    1. OPEC Annual Statistical Bulletin. Organization of the petroleum exporting countries.
    1. Nguyễn Thị Hoa. Nghiên cứu kỹ thuật phương án khai thác, thu gom, xử lý và đưa vào sử dụng mỏ khí Cá Voi Xanh (CVX). Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ (CTAT). 2013.
    1. Nitin Kumar, Amitava Roy, Zi Wang, Enrico Mario L’Abbate, Daniel Haynes, Dushyant Shekhawat, J.J.Spivey. Bi-reforming of methane on Ni-based pyrochlore catalyst. Applied Catalysis A: General. 2016; 517: p. 211 – 216.
    1. R.H.Ross, A.N.J van Keulen, M.E.S.Hegarty, K.Seshan. The catalytic conversion of natural gas to useful products. Catalysis Today. 1996; 30 (1 – 3): p. 193 – 199.
    1. J Wilhelm, D.R Simbeck, A.D Karp, R.L.Dickenson. Syngas production for gas-to-liquids applications: technologies, issues and outlook. Fuel processing technology. 2001; 71 (1 – 3): p. 139 – 148.
    1. Wonjun Cho, Hyejin Yu, Yonggi Mo. Recent advances in carbon capture and storage. Chapter 9: CO2 conversion to chemicals and fuel for carbon utilization. 2017: p.195 – 208.
    1. Youn. The status of DME fuel in Korea. The 6th Korea-China-Japan Petroleum Technology Congress, 4 – 6 September 2013.
    1. Jasmin Blanchard, Ana Julia Nsungui, Nicolas

    Abatzoglou, François Gitzhofer. Dry Reforming of Methane with a Ni/Al2O3 YSZ Catalyst: The Role of the Catalyst Preparation Protocol. The Canadian Journal of Chemical engineering. 2007; 85(6): p. 889 – 899.

     

    1. Jens R.Rostrup – Nielsen. Syngas in perspective. Catalysis today. 2002; 71(3 – 4): p. 243 – 247.
    1. Nitin Kumar, Zi Wang, Swarom Kanitkar, J.J.Spivey. Methane reforming over Ni-based pyrochlore catalyst: deactivation studies for different reactions. Applied Petrochemical Research. 2016; 6(3): p. 201 – 207.
    1. Oemar, K.Hidajat,  S.Kawi.  Role  of  catalyst

    support over PdO-NiO catalysts on catalyst activity and stability for oxy-CO2 reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2011; 402 (1 – 2): p. 176 – 187.

     

    1. Assabumrungrat,S.Charoenseri,

    N.Laosiripojana, W.Kiatkittipong, P.Praserthdam. Effect of oxygen addition on catalytic performance of Ni/SiO2·MgO toward carbon dioxide reforming of methane under periodic

     

     

    58       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    operation. International Journal of Hydrogen Energy.

     

    2009; 34: p. 6211 – 6220.

     

    1. B.Wang, G.Q.Lu, G.J.Millar. Carbon dioxide reforming of methane produces synthesis gas with over metal supported catalysts: state of the at. Energy Fuel. 1996;
    • 896 – 904.
    1. A.Olah, G.K.  Surya  Prakash,  A.Goeppert.

    Anthropogenie chemical carbon cycle for a sustainable future. Journal of the American Chemical Society. 2011; 133(33): p. 12881 – 12898.

     

    1. Kumar, M.Shojaee, J.Spivey. Current Opinion in Chemical Engineering. 2015; 9: p. 8 – 15.
    1. L.Roussière. Catalytic reforming of methane in the presence of CO2 and H2O at high pressure. 2013.
    2. A.Olah, A.Goeppert, M.Czaun, T.Mathew, R.B.May, G.S.Prakash. Single Step Bi-reforming and

    Oxidative Bi-reforming of Methane (Natural Gas) with Steam and Carbon Dioxide to Metgas (CO-2H2) for Methanol Synthesis: Self-Sufficient Effective and Exclusive Oxygenation of Methane to Methanol with Oxygen. Journal of the American Chemical Society. 2015; 137: p. 8720 – 8729.

     

    1. Glenn Jones, Jon Geest Jakobsen, Signe S.Shim, Jesper Kleis, Martin P.Andersson, Jan Rossmeisl, FrankAbild-Pedersen, ThomasBligaard, StigHelveg, BeritHinnemann, Jens R.Rostrup-Nielsen, IbChorkendorff, JensSehested, Jens K.Nørskov. First principles calculations and experimental insight into methane steam reforming over transition metal catalysts. Journal of Catalysis. 2008;
    • 147 – 160.
    1. Behzad Nematollahi, Mehran Rezaei, Majid Khajenoori. Combined dry reforming and partial oxidation of methane to synthesis gas on noble metal catalysts. International Journal of Hydrogen Energy. 2011; 36: p. 2969 – 2978.
    1. M.Ramallo-López, F.G.Requejo, A.F.Craievich, J.Wei, M.Avalos-Borja, E.Iglesia. Complementary methods for cluster size distribution measurements: supported platinum nanoclusters in methane reforming catalysts. Journal of Molecular Catalysis A: Chemical. 2005; 228: p. 299 – 307.
    1. Cyrille Rioche, Shrikant Kulkarni, Frederic C.Meunier, John P.Breen, Robbie Burch. Steam reforming of model compounds and fast pyrolysis bio-oil on supported noble metal catalysts. Applied Catalysis B: Environmental. 2005; 61: p. 130 – 139.
    1. Schuyten, Eduardo E.Wolf. Selective combinatorial studies on Ce and Zr promoted Cu/Zn/Pd

    catalysts for hydrogen productio via methanol oxidative reforming. Catalysis letters. 2006; 106: p. 7 – 14.

     

    1. Velu Subramani, Pradeepkumar Sharma, Lingzhi Zhang, Ke Liu. Catalytic steam reforming technology for the production of hydrogen and syngas. Hydrogen and Syngas Production and Purification Technologies. 2009: p. 14 – 126.
    2. Rezaei, S.M.Alavi, S.Sahebdelfar, Zi-Feng Yan.

    Syngas production by methane reforming with carbon dioxide on noble metal catalysts. Journal of Natural Gas Chemistry. 2006; 15(4): p. 327 – 334.

     

    1. Guojie Zhang, Lanxia Hao, Yong Jia, Yannian du, Yongfa Zhang. CO2 reforming of CH4 over efficient bimetallic Co-Zr/AC catalyst for H2 International Journal of Hydrogen Energy. 2015; 40(37): p. 12868 – 12879.
    1. Hyun-Seog Roh, Ki-Won Jun, Seung-Chan Baek,

    Sang-Eon Park. A Highly Active and Stable Catalyst for Carbon Dioxide Reforming of Methane: Ni/Ce-ZrO2/θ-Al2O3.

    Catalysis letters. 2002; 81(3 – 4): p. 147 – 151 (2002).

     

    1. Capeness, M.Edmundson, L.Horsfall. Nickel and platinum group metal nanoparticle production by Desulfovibrio alaskensis G20. New biotechnology. 2015;
    • 727 – 731.
    1. Dapeng Liu, Xian Yang Quek, Wei Ni Evelyn Cheo, Raymond Lau, Armando Borgna, Yanhui Yang. MCM-41 supported nickel-based bimetallic catalysts with superior stability during carbon dioxide reforming of methane: Effect of strong metal–support interaction. Journal of Catalysis. 2009; 266: p. 380 – 390.
    1. A.Olah, A.Goeppert,  M.Czaun,  G.K.Prakash.

    Bi-reforming of methane from any source with steam and carbon dioxide exclusively to metgas (CO-2H2) for methanol and hydrocarbon synthesis. J. American Chemical Society. 2013; 135(2): p. 648 – 650.

     

    1. Rostrupnielsen, J.B.Hansen. CO2-Reforming of Methane over Transition Metals. Journal of Catalysis. 1993;
    • 38 – 49.
    1. Shaobin Wang, G. Q(Max) Lu. Role of CeO2 in Ni/CeO2-Al2O3 catalysts for carbon dioxide reforming of methane. Applied Catalysis B: Environmental. 1998; 16: 269 – 277.
    1. Hu, J.Gao, Y.Ping, L.Jia, P.Gunawan, Z.Zhong,

    G.Xu, F.Gu, F.Su. Enhanced investigation of CO methanation over Ni/Al2O3 catalysts for synthetic natural gas production. Industrial & Engineering Chemistry Research. 2012; 51(13): p. 4875 – 4886.

     

    1. Guo, H.Lou, H.Zhao, D.Chai, X.Zheng. Dry reforming of methane over nickel catalysts supported on

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    59

     

    HÓA – CHẾ BIẾN DẦU KHÍ

     

    magnesium aluminate spinels. Applied Catalysis A: General.

     

    2004; 273(1): p. 75 – 82.

     

    1. Hyunseog Roh, Ki Won Jun. Carbon dioxide reforming of methane over Ni catalysts supported on Al2O3 modified with La2O3, MgO, and CaO. Catalysis surveys from 2008; 12(4): p. 239 – 252.
    1. Rahemi, M.Haghighi, A.A.Babaluo, M.F.Jafari,

    P.Estifaee. Synthesis and physicochemical characterizations of Ni/Al2O3-ZrO2nanocatalyst prepared viaimpregnation method and treated with non-thermal plasma for CO2 reforming of CH4. Journal of Industrial and Engineering Chemistry. 2013; 19: p. 1566 – 1576.

     

    1. Phan Hồng Phương, Lưu Cẩm Lộc, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Tiến, Nguyễn Huỳnh Phương Thảo, Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Thùy Vân, Hoàng Tiến Cường, Hà

    Cẩm Anh. Ảnh hưởng của tỷ lệ NiO/MgO đến hoạt tính xúc tác cơ sở Ni mang trên α-Al2O3 trong phản ứng reforming khô CH4. Tạp chí Xúc tác – Hấp phụ. 2017; 6(2): p. 30 – 35.

     

    1. Luu Cam Loc, Phan Hong Phuong, Nguyen Tri. Role of CeO2 promoter in NiO/α – Al2O3 catalyst for dry reforming of methane. AIP Conference Proceedings. 2017.
    1. Luu Cam Loc, Phan Hong Phuong, Nguyen Huynh Phuong Thao, Nguyen Tri, Nguyen Thi Thuy Van, Hoang

    Tien Cuong, Ha Cam Anh. Influence of preparation method on the activity of NiO+MgO/Al2O3 catalyst in dry reforming of methane. Journal of Chemistry. 2017; 55(3e): p. 1 – 7.

     

    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Pham The Sang, Nguyen Tri. Combined steam and CO2 reforming of CH4 over Nickel catalysts based on Al2O3-MgO. Tạp chí Khoa học – Công nghệ. 2017; 55(1B): p. 49 – 56.
    1. Zhao, J.Sun, Q.Li, G.D.Stucky. Morphological control of highly ordered mesoporous silica SBA-15. Chemistry of Materials. 2000; 12(2): p. 275 – 279.
    1. S.Roh, K.Y.Koo, J.H.Jeong, Y.T.Seo, D.J.Seo, Y.S.Seo, W.L.Yoon, S.B.Park. Combined reforming of methane over supported Ni catalysts. Catalysis Letters. 2007; 117(1 – 2): p. 85 – 90.
    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Hoang Tien Cuong, Nguyen Tri. Effect of NiO loading and thermal

    treatment duration on performance of Ni/SBA-15 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. Materials Transactions. 2018; 59(12): p.1898 – 1902.

     

    1. Zhang S.Ji, L.Hu, F.Yin, C.Li, H.Liu. Structural

    Characterization of Highly Stable Ni/SBA-15 Catalyst and Its Catalytic Performance for Methane Reforming with CO2. Chinese Journal of Catalysis. 2006; 27(9): p. 777 – 781.

     

    1. Sidik, S.Triwahyono,   A.Jalil,   M.Aziz,   N.

    Fatah, L.Teh. Tailoring the properties of electrolyzed Ni/ mesostructured silica nanoparticles (MSN) via different Ni-loading methods for CO2 reforming of CH4. Journal of CO2 Utilization. 2016; 13: p. 71 – 80.

     

    1. Zhuang, Y. Qin, and L. Chang. Promoting effect of cerium oxide in supported nickel catalyst for hydrocarbon steam-reforming. Applied catalysis. 1991; 70: p. 1 – 8.
    1. Luu Cam  Loc,  Phan  Hong  Phuong,  Dang,

    Putthea, Nguyen Tri, Nguyen Thi Thuy Van, Hoang Tien Cuong. Effect of CeO2 morphology on performance of NiO/ CeO2 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. International Journal of Nanotechnology. 2019.

     

    1. Wang, W.Qian, W.Chu, F. Wei. Crystal-plane effect of nanoscale CeO2 on the catalytic performance of Ni/ CeO2 catalysts for methane dry reforming. Catalysic Science
    • 2016; 6(10): p. 3594 – 3605.
    1. Xianjun Du, Dengsong Zhang, L iyi Shi, Ruihua

    Gao, Jianping Zhang. Morphology Dependence of Catalytic Properties of Ni/CeO2 Nanostructures for Carbon Dioxide Reforming of Methane. The Journal of Physical Chemistry. 2012; 116(18): p. 10009 – 10016.

     

    1. Jianjun Guo, Hui Lou, Xiaoming Zheng. The deposition of coke from methane on a Ni/MgAl2O4 catalyst. 2007; 45(6): p. 1314 – 1321.
    1. Yaser Vafaeian, Mohammad Haghighi, Sogand Aghamohammadi. Ultrasound assisted dispersion of

    different amount of Ni over ZSM-5 used as nanostructured catalyst for hydrogen production via CO2 reforming of methane. Energy conversion and management. 2013; 76: p. 1093 – 1103.

     

    1. S.Fan, A.Z.Abdullah, S.Bhatia. Catalytic technology for carbon dioxide reforming of methane to synthesis gas. Chem Cat Chem. 2009; 1(2): p. 192 – 208.
    1. Leilei Xu, Huanling Song, Lingjun Chou. Carbon

    dioxide reforming of methane over ordered mesoporous NiO-MgO-Al2O3 composite oxides. Applied Catalysis B: Environmental. 2011; 108: p. 177 – 190.

     

    1. A.Soria, C.Mateos-Pedrero, A.Guerrero-Ruiz, I.Rodríguez-Ramos. Thermodynamic and experimental

    study of combined dry and steam reforming of methane on Ru/ ZrO2-La2O3 catalyst at low temperature. International Journal of hydrogen energy. 2011; 36(23): p. 15212 – 15220.

     

    1. Juan-Juan, M.C.Román-Martínez,   M.J.Illán-

    Gómez. Effect of potassium content in the activity of K-promoted Ni/Al2O3 catalysts for the dry reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2006; 301(1): p. 9 – 15.

     

    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Nguyen Tri,

    60       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Vu Thanh Thuy Tien, Nguyen The Tung. Effect of alkalizing method on characteristics and performance of Ni/SBA-15 catalyst in combined steam and CO2 reforming of CH4. The 9th International Workshop on Advanced Materials Science and Nanotechnology. 2018.

     

    1. M.M.Danilova, Z.A.Fedorova, V.A.Kuzmin, V.I.Zaikovskii, A.V.Porsin, T.A.Krieger. Combined steam and carbon dioxide reforming of methane over porous nickel based catalysts. Catalysis Science & Technology. 2015; 5(5): p. 2761 – 2768.
    1. Phan Hong Phuong, Luu Cam Loc, Nguyen Tri, Nguyen The Tung. Effect of NH3-alkalization on catalytic performance of Ni/SBA-15 in combined steam and CO2 re-forming of CH4. Vietnam Journal of Catalysis and Adsorp-tion. 2019.
    1. Hua-Ping Ren, Yong-Hong  Song,  Wei  Wang,

    Jian-Gang Chen, Jie Cheng, Jinqiang Jiang, Zhao-Tie Liu, Zhong-Wen Liu, Zhengping Hao. Insights into CeO2-modified Ni-Mg-Al oxides for pressurized carbon dioxide reforming of methane. Chemical Engineering Journal. 2015; 259: p. 581 – 593.

     

    1. Xu Wenqian; Liu Zongyuan; C.Johnston-Peck Aaron, D.Senanayake Sanjaya, Zhou Gong, Stacchiola

    Dario, A.Stach Eric, A.Rodriguez José. Steam Reforming of Ethanol on Ni/CeO2: Reaction Pathway and Interaction between Ni and the CeO2 Support. ACS Catalysis. 2013; 3(5): p. 975 – 984.

     

    1. Edson L.Foletto, Ricardo W.Alves, Sérgio L.Jahn.

    Preparation of Ni/Pt catalysts supported on spinel (MgAl2O4) for methane reforming. Journal of power sources. 2006; 161(1): p. 531 – 534.

     

    1. M.García-Diéguez, I.S.Pieta, M.C.Herrera, M.A.Larrubia, L.J.Alemany. Improved Pt-Ni nanocatalysts for dry reforming of methane. Applied Catalysis A: General, 377(1 – 2), 191 – 199 (2010).
    1. Marco Ocsachoque, Francisco Pompeo, Gloria Gonzalez. Rh-Ni/CeO2-Al2O3 catalysts for methane dry reforming. Catalysis Today. 2011; 172(1): p. 226 – 231.
    1. Therdthianwong, C.Siangchin, A.Therdthianwong. Improvement of coke resistance of Ni/Al2O3 catalyst in CH4/ CO2reforming by ZrO2 Fuel Processing Technology. 2008; 89(2): p. 160 – 168.
    1. W.Chen, C.Y. Wang, C.H.Yu, L.T.Tseng, P.H.Liao. Carbon dioxide reforming of methane reaction catalyzed by stable nickel copper catalysts. Catalysis Today. 2004; 97(2): p. 173 – 180.
    1. Valentini,N.L.V.Carreño,L.F.D.Probst,

    P.N.Lisboa-Filho, W.H.Schreiner, E.R.Leite, E.Longo. Role of vanadium in Ni:Al2O3 catalysts for carbon dioxide reforming of methane. Applied Catalysis A: General. 2003; 255(2): p. 211 – 220.

     

    1. Phan Hồng Phương, Lê Hoàng Thanh Dũng, Lê

    Ngọc Tài, Nguyễn Trí, Lưu Cẩm Lộc. Ảnh hưởng phụ gia V2O5 đến hoạt tính của xúc tác NiO/CeO2 trong phản ứng reforming CH4 bằng CO2 và hơi nước. Tạp chí Hóa học. 2018; 56(3E12): p. 155 – 159 (2018).

     

    PROGRESS IN CATALYST OF REFORMING METHANE PROCESS – A POTENTIAL SOLUTION FOR EFFECTIVE USE OF CO2-RICH NATURAL GAS SOURCES

     

    Luu Cam Loc

    Ho Chi Minh City University of Technology (HCMUT)

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    The rapid increase in emissions of major greenhouse gases such as CO 2 and CH4 in the last decade has seriously affected the climate change and the living environment in the world in general and in Vietnam in particular. In addition, the demand for efficient use of CO2-rich natural gas has promoted studies to find new, highly active and stable catalysts for the reforming methane process. NiO has proven to be the most suitable catalyst for industrial application of the reforming process. To overcome the disadvantages of NiO-based catalysts such as coke formation and sintering at high reaction temperatures, many diverse researches from using new carriers to supporting catalyst by alkali, alkaline earth metals and other metal oxides to improve the catalyst synthesis method have been conducted. As a result, highly efficient catalysts were created, partly thanks to the reduction of the reaction temperature from 800oC to 700oC, the coke formation significantly decreased and the stable working time of the catalyst increased to over 600 hours.

     

    Key words: CO2-rich natural gas, dry reforming, bi-reforming, catalyst.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

    61


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]