Category: Khoa Học – Kỹ Thuật

  • ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-%C4%82N-M%C3%92N-%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG-%E1%BB%90NG-D%E1%BA%AAN-KH%C3%8D-B%E1%BA%A0CH-H%E1%BB%94-DINH-C%E1%BB%90-V%C3%80-%C4%90%E1%BB%80-XU%E1%BA%A4T-C%C3%81C-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-CH%E1%BB%90NG-%C4%82N-M%C3%92N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 62 – 66

     

    ISSN-0866-854X

     

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

     

    Phan Công Thành, Trương Quang Trường, Trần Mai Khôi

    Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố (16”, dài 116,5km) được đưa vào vận hành từ năm 1995 để vận chuyển khí đồng hành từ giàn nén khí trung tâm (CCP) mỏ Bạch Hổ đến Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.

     

    Khi sản lượng khí của mỏ Bạch Hổ suy giảm, Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro” và Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS) đã xem xét khả năng sử dụng đường ống dẫn khí này để vận chuyển khí từ mỏ Đại Hùng, Thiên Ưng, Cá Chó – Gấu Chúa và Đại Nguyệt ở bể Nam Côn Sơn về bờ. Do đó, tuổi thọ của đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cần được đảm bảo đến năm 2025 để đáp ứng yêu cầu tiếp nhận và vận chuyển các nguồn khí mới.

     

    Bài báo đánh giá hiện trạng ăn mòn của hệ thống đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố trên cơ sở các thông số thiết kế, vận hành, kết quả cập nhật sau khảo sát, bảo dưỡng sửa chữa, đánh giá các ảnh hưởng đến an toàn vận hành của hệ thống đường ống khi tiếp nhận khí từ mỏ Thiên Ưng, Đại Hùng với thành phần CO2 cao hơn và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn cụ thể.

     

    Từ khóa: Đường ống dẫn khí, ăn mòn, CO2, Bạch Hổ – Dinh Cố.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các dạng ăn mòn phổ biến đối với đường ống dẫn khí gồm: ăn mòn đều, ăn mòn cục bộ (ăn mòn pitting, ăn mòn khe, ăn mòn mesa, ăn mòn vùng hàn), nứt do tác động môi trường và phá hủy do dòng chảy [1, 2].

     

    Nhiều tác nhân hóa học khác nhau trong đường ống có thể ảnh hưởng đến quá trình ăn mòn bên trong hệ thống. Sự phá hủy ăn mòn đối với từng tác nhân sẽ thay đổi theo điều kiện vận hành và môi trường vật lý. Có 4 tác nhân chính: CO2, H2S, O2, hoạt động trao đổi chất của vi khuẩn. Để tác nhân này có thể gây ăn mòn, bắt buộc phải có nước [1, 2].

     

    Các cơ chế phá hủy: Cơ chế ăn mòn (ăn mòn Galvanic, ăn mòn do chênh lệch nồng độ), cơ chế nứt do tác động môi trường (phá hủy do hydro, nứt ăn mòn ứng suất, giòn do kim loại lỏng), cơ chế phá hủy do dòng chảy (xói mòn, va chạm, ăn mòn xói mòn, tạo bọt khí) [3].

     

    Ngày nhận bài: 27/8/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 27/8 – 19/9/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    2. Hiện trạng ăn mòn đường ống dẫn khí của PV GAS và Vietsovpetro trên cơ sở dữ liệu vận hành đến thời điểm hiện tại

     

    Trên cơ sở các thông số vận hành, khi có nước, cơ chế ăn mòn chủ yếu đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố là ăn mòn do CO2 [4]. Khả năng xảy ra và cơ chế ăn mòn được đưa ra trong Bảng 1:

     

    • Có khả năng: Cơ chế này khi chưa áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn có khả năng phá hủy tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Các biện pháp phòng ngừa cần được áp dụng để kiểm soát mối nguy.
    • Không có khả năng: Cơ chế này dự báo sẽ không có ảnh hưởng đáng kể đến tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Không cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn.

    Mỗi cơ chế “Có khả năng” sẽ cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn. Nguy cơ xảy ra những cơ chế này sau khi được áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn được chia thành 3 mức độ:

     

    • Cao: Dù sử dụng các biện pháp nhưng khả năng xảy ra rất cao, cần tăng cường kiểm tra, theo dõi, bảo

    62       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    dưỡng để kiểm soát nguy cơ, có thể phải thay đổi thiết kế/ vật liệu nếu cần.

     

    • Trung bình: Có thể kiểm soát sử dụng các phương pháp công nghiệp đã được công bố; kiểm tra, theo dõi, bảo dưỡng ở mức độ thông thường.
    • Thấp: Chỉ cần kiểm tra, theo dõi và bảo dưỡng ở mức độ tối thiểu.

    Dựa trên đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí, có thể kết luận cơ chế ăn mòn chính là do CO2.

     

    3. Đánh giá tốc độ ăn mòn đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố bằng phương pháp mô phỏng thực nghiệm và lý thuyết

     

    Các phần mềm mô phỏng thường được thiết lập chế độ an toàn khi đưa ra kết quả tốc độ ăn mòn dự đoán và trong nhiều trường hợp mức độ ăn mòn cao hơn thực tế rất nhiều. Một số phần mềm lại giả sử đường ống có sự bảo vệ từ lớp dầu hoặc sản phẩm ăn mòn và đưa ra mức độ ăn mòn thấp hơn so với thực tế [5 – 8].

     

    Theo tiêu chuẩn của Canada, bất kỳ khí có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành sẽ được coi là không có tính ăn mòn. Khí chứa H2S và CO2 có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành do khử nước hoặc sử dụng chất ức chế, cũng được coi là không có tính ăn mòn [9]. Nhiệt độ điểm sương của khí trong đường ống được duy trì ở mức 5oC ở áp suất vận hành, thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ vận hành (khoảng 30oC).

     

    Số liệu trong giai đoạn 2010 – 2017 được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Dịch vụ Kỹ thuật (DMC RT) sử dụng là kết quả thực tế, trong khi đó WebCorr và DNV sử dụng kết quả dự báo từ phần mềm Hysis. Ngoài ra, WebCorr không tính đến tham số hàm lượng acid acetic/ acetate và hàm lượng bicarbonate, 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn. Trong khi đó, DNV có tính đến các tham số này nhưng bộ dữ liệu thiếu chắc chắn (2 bộ dữ liệu lệch nhau tương đối lớn).

     

    Thực nghiệm bằng phương pháp đo điện hóa và phương pháp tổn hao khối lượng, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 trong khí tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện

     

    Bảng 1. Tóm tắt các cơ chế phá hủy và nguy cơ xảy ra

     

                 

    Cơ ch

                     

    Nguy cơ

             

    Nguy cơ sau áp d ng bi n pháp

                                                   

    gi m thi u ăn mòn

         
                                                                     
               

    Ăn mòn oxy

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn vi khu n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Giòn th y ngân l ng

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn xói mòn

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    H2S (do MIC)

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
           

    H2S (nư c chua)

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                   

    C n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Clo hòa tan

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Ăn mòn CO2

               

    Có kh  năng

                   

    Trung bình

         
         

    Ăn mòn vùng hàn

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
       

    Giòn nhi t đ  th p

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Ăn mòn dư i l p c n

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
               

    Acid h u cơ

               

    Có kh  năng

                   

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn đ nh  ng

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                           

    Bảng 2. So sánh tốc độ ăn mòn từ các phần mềm với số liệu coupon/đầu dò

                     
                                                                               
       

    Đơn v

             

    Ph n m m

                             

    T c đ  ăn mòn (mm/năm)

                     
       

    th c hi n

             

    2010

       

    2011

         

    2012

         

    2013

       

    2014

       

    2015

         

    2016

       

    2017

     
                                                       
       

    DMC-RT

           

    ECE 5.4

    0

       

    0

     

    0

     

    0

       

    0,01

       

    0,01

     

    0,04

     

    0,08

     
               

    M-506

       

       

     

    0,19

       

    0,31

       

    0,3

     

    0,57

     

    0,69

     
                                           
       

    DNV

               

    ECE 4

       

     

     

       

       

    0,46

     

    0,58

     

    0,8

     
                   

    Predict 6.1

       

       

     

       

       

    0,045

     

    0,0005

     

    0,0005

     
                                           
                     

    ECE 5.1

       

     

     

       

       

    0,3

     

    0,41

     

    0,62

     
       

    WebCorr

           

    Predict 6.1

       

     

     

       

       

    0,66

     

    0,81

     

    1,1

     
               

    M-506

       

       

     

       

       

    0,42

     

    0,62

     

    0,99

     
                                           
                     

    DWM

       

     

     

       

       

    0,42

     

    0,53

     

    0,72

     
             

    Probe

     

    NA

     

    NA

     

    0,00035

     

    0,00155

       

    0,00195

       

    0,0003

     

    0,0001

     

    0,00025

     
           

    Coupon

    0,002

     

    0,0015

     

    0,0025

     

    0,00231

       

    0,00068

       

    0,00035

     

    0,00055

     

    0,00013

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    63

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    mô phỏng khắc nghiệt hơn thực tế (dung dịch NaCl 0,1%, 1.000ppm acid acetic) ở mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086mm/năm và 0,066mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59mm đến 0,77mm.

     

    Theo tiêu chuẩn của NACE, nếu không có nước, CO2 là chất không ăn mòn [1]. Trên thực tế, hàm lượng nước trong đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố rất thấp, tốc độ ăn mòn chậm, điều này được phản ánh qua kết quả khảo sát bằng đầu dò và coupon.

     

    Tuy nhiên, theo ghi nhận và thông tin từ PV GAS, trong quá trình vận hành, đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố gặp phải các vấn đề liên quan đến ăn mòn tại một số vị trí và đã phải sửa chữa. Để kiểm soát vấn đề này, cần nghiên cứu và khảo sát điều kiện địa hình tuyến ống biển, từ đó tính toán được góc tới hạn của độ nghiêng cho từng đoạn ống, tính toán vị trí có nguy cơ đọng nước và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp. Phóng thoi định kỳ cũng là biện pháp để kiểm soát các bất thường này [1, 5].

     

    4. Đánh giá hiệu quả của hóa phẩm chống ăn mòn đang sử dụng tại đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn hiệu quả

     

    Nhóm tác giả sử dụng phương pháp đặt mẫu coupon (Wheel test) và phương pháp đo điện trở phân cực trong điều kiện sục khí (LPR bubble test) [3, 10 – 12].

     

    Các hóa phẩm chống ăn mòn được đánh giá gồm 1 mẫu hóa phẩm đang sử dụng (chất ức chế A) và 2 mẫu hóa phẩm thương mại khác (chất ức chế B và C).

     

    • Chất ức chế A: BAKER PETROLITE CR080143.
    • Chất ức chế B: CORRTREAT 5745.
    • Chất ức chế C: HB CI 8102.

    Kết quả đo điện hóa tại các nồng độ khảo sát và so sánh khả năng bảo vệ của 3 chất ức chế ở mỗi nồng độ cho thấy:

     

    ++ Đối với chất ức chế A: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 100ppm.

     

    ++ Đối với chất ức chế B: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 150ppm.

     

    Hiu qu bo v (%)

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

    10ppm

    30ppm

    50ppm

    100ppm

    150ppm

       

    N ng đ  (ppm)

       
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

     

    Ch t  c ch  C

     
                 
                   
         

    Hình 1. So sánh hiệu quả bảo vệ các chất ức chế

           
           

    Bảng 3. So sánh hiệu quả bảo vệ

           
                           

    N ng đ

               

    Hi u qu  b o v  (%)

           
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

       

    Ch t  c ch  C

     
                     

    10ppm

       

    83,98

         

    80,58

       

    89,96

     

    30ppm

       

    85,10

         

    81,89

       

    90,92

     

    50ppm

       

    87,45

         

    84,55

       

    91,17

     

    100ppm

       

    90,12

         

    88,69

       

    91,73

     

    150ppm

       

    90,32

         

    90,04

       

    91,82

     

    64       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    ++ Đối với chất ức chế C: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 30ppm và đạt hiệu quả tối ưu ở nồng độ từ 100ppm.

     

    Trong 3 chất ức chế A, B, C thì chất ức chế C cho hiệu quả bảo vệ cao nhất đạt trên 90% tại hầu hết các nồng độ khảo sát.

     

    • Tách nước (kiểm soát điểm sương) kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp là biện pháp chủ yếu được sử dụng trên thế giới [1].

    ++ Ngay cả trong điều kiện áp suất riêng phần CO2 cao (7 – 8 bar), nhiệt độ cao (93 – 130oC) và tốc độ dòng lớn (25m/s), chất ức chế ăn mòn vẫn đạt hiệu quả bảo vệ cao [10].

     

    ++ Ở nhiệt độ lên tới 150oC, áp suất CO2 lên tới 10 bar, áp suất H2S lên tới 10 bar, tốc độ dòng trên 20m/s, đường ống thép carbon vẫn hoạt động tốt bằng việc sử dụng chất ức chế ăn mòn [5].

     

    • Tách CO2 và kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp cũng là một giải pháp. Tuy nhiên, chi phí cho việc lắp đặt hệ thống tách CO2 khá cao, cần cân nhắc yếu tố kinh tế khi quyết định sử dụng giải pháp này [13].
    • Giải pháp khác: Điều chỉnh pH (The pH stabilisation

    technique): tăng pH sẽ tăng sự hình thành sản phẩm ăn mòn có tính bảo vệ trên bề mặt kim loại (FeCO3) [13, 14].

     

    Đề xuất yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố nhằm đảm bảo an toàn vận hành: Hạn chế tối thiểu hàm lượng các khí ăn mòn trong thành phần khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố. Theo kết quả thực nghiệm bằng phương pháp trong phòng thí nghiệm, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện mô phỏng phòng thí nghiệm đạt mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66 mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086 mm/năm và 0,066 mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59 – 0,77mm. Theo thiết kế, chiều dày ăn mòn dự trữ là 1mm, trong khi những năm trước đó, tốc độ ăn mòn không đáng kể, theo lý thuyết thành phần khí giao như vậy hoàn toàn đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn. Tuy nhiên, để kiểm chứng các mô hình mô phỏng, các thử nghiệm hiện trường (field test) là yêu cầu bắt buộc trước khi áp dụng thực tế bởi thử nghiệm hiện trường sẽ mô phỏng được đầy đủ hơn các yếu tố trong thực tế.

     

    5. Kết luận

     

    Kết quả đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cho thấy cơ chế ăn mòn chính là do CO2. Với hàm lượng CO2 được duy trì ở mức thấp (dưới 1% mol), ăn mòn CO2 đang được khống chế bằng việc bơm chất ức chế ăn mòn. Trong thực tế vận hành, các vị trí ăn mòn xuất hiện bất thường trên đường ống, vì vậy cần thường xuyên theo dõi ăn mòn bằng việc phóng thoi định kỳ và sử dụng phần mềm mô phỏng, xác định các vị có nguy cơ ăn mòn cao.

     

    Kết quả mô phỏng bằng các phần mềm mô phỏng với kết quả thực tế từ coupon, đầu dò, phần mềm Predict 6.1 cho kết quả phù hợp nhất.

     

    Kết quả thử nghiệm bằng phương pháp điện hóa và thử nghiệm bằng phương pháp tổn hao khối lượng tương đối phù hợp so với các kết quả tốc độ ăn mòn từ coupon, đầu dò và phần mềm Predict 6.1.

     

    Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp chống ăn mòn: tách nước kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; tách CO2 kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; sử dụng phần mềm Predict 6.1.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. NACE International. Control of internal corrosion in steel pipelines & piping systems. NACE SP0106-2018-SG.
    1. NACE International. Internal corrosion for pipelines
    • Advanced. www.nace.org.

     

    1. Papavinasam, R.W.Revie, M.Attard, A.Demoz, K.Michaelian. Comparison of laboratory methodologies to evaluate corrosion inhibitors for oil and gas pipelines. Corrosion. 2003; 59(10): p.897 – 912.
    1. Internal corrosion study for PL-16A gas pipeline, DNV GL. Report No.: 2014/474/008, Rev. 3.
    1. Sergio D.Kapusta, Bernardus F.M.Pots, R.A.Connell. Corrosion management of wet gas pipelines. Corrosion. 25-30 April, 1999.
    1. Rolf Nyborg. CO2 corrosion models for oil and gas production systems. Corrosion. 14 – 18 March, 2010.
    1. Seyed Mohammad Kazem Hosseini. Avoiding common pitfalls in CO2 corrosion rate assessment for upstream hydrocarbon industries. The 16th Nordic Corrosion Congress, Stavanger Norway. 20 – 22 May, 2015.
    1. Vishal V.Lagad, Sridhar Srinivasan, Rusell D.Kane. Facilitating internal corrosion direct assessment using

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    65

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    advanced flow and corrosion prediction models. Corrosion.

     

    16 – 20 March, 2008.

     

    1. Standards Council of Canadian. Oil & gas pipeline systems. CAN/CSA-Z662-11.
    1. Michael Swidzinski, Bob Fu, Audrey Taggart, W.Paul Jepson. Corrosion inhibitor of wet gas pipelines under high gas and liquid velocities. Corrosion. 2000.
    1. Papavinasam. Evaluation and selection of corrosion inhibitors. Materials Technology Laboratory, Ottawa, Canada.
    1. ASTM   Standard  practice  for

    preparing, cleaning, and evaluating corrosion test specimens.

     

    ASTM G1.

     

    1. Sridhar Srinivasan, Vishal Lagad. ICDA: A quantitative framework to prevent corrosion failures and protect pipelines. Corrosion. 12 – 16 March, 2006.
    1. NACE International. Internal corrosion direct assessment methodology for pipelines carrying normally dry natural gas (DG-ICDA).
    1. Prediction of corrosion growth rate for 16″ Bach Ho – Dinh Co pipeline from 2015 to 2025. CSM-15606.

    CORROSION ASSESSMENT OF BACH HO – DINH CO GAS TRANSMISSION PIPELINE AND SOLUTIONS FOR CORROSION CONTROL

    Phan Cong Thanh, Truong Quang Truong, Tran Mai Khoi

    Petrovietnam Drilling Mud Corporation (DMC)

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Bach Ho – Dinh Co gas transmission pipeline (16” and 116.5km long) was put into operation in 1995 to transport associated gas from the Central Compression Platform (CPP) in Bach Ho field to Dinh Co Gas Processing Plant.

     

    As gas output from Bach Ho field decreases, Vietsovpetro and Petrovietnam Gas Joint Stock Corporation (PVGAS) have considered the possibility of using this pipeline to transport gas from Dai Hung, Thien Ung, Ca Cho, Gau Chua and Dai Nguyet fields in the Nam Con Son basin to shore. The service life of Bach Ho-Dinh Co gas transmission pipeline therefore needs to be guaranteed until 2025 to meet the requirements for receiving and transporting new gas sources.

     

    This article assesses the corrosive status of Bach Ho – Dinh Co gas pipeline system based on the design and operation parameters, updated results after survey, maintenance and repair. It also assesses the operational safety of the pipeline system when receiving gas with higher CO2 content from Thien Ung and Dai Hung fields and proposes anti-corrosion solutions.

     

    Key words: Gas pipeline, corrosion, CO2, Bach Ho – Dinh Co.

     

     

    66       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thuyết minh thi công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-%C4%90%E1%BA%BEN-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-B%E1%BB%98T-H%E1%BB%92NG-TR%C3%80-H%C3%92A-TAN-B%E1%BA%B0NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-S%E1%BA%A4Y-PHUN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

     

    Nguyễn Quốc Sinh1*, Nguyễn Thị Diễm Hương1, Nguyễn Thành Thuận2

    1Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế;

    2Trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng.

     

    *Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Bột Hồng trà hòa tan là sản phẩm được chế biến bằng phương pháp sấy phun dịch trích ly từ nguyên liệu Hồng trà được sản xuất theo phương pháp lên men toàn phần. Trong công trình này chúng tôi tiến hành khảo sát một số thông số trong quy trình sản xuất trà hòa tan như công đoạn trích ly (4 mốc thời gian và 3 mức nhiệt độ), công đoạn bổ sung chất mang (5, 10 và 15% maltodextrin) và sấy phun (5 mức nhiệt độ và 4 tốc độ bơm) đến chất lượng sản phẩm bột Hồng trà hòa tan. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình trích ly. Điều kiện trích ly thích hợp là: nhiệt độ trích ly 85oC, thời gian trích ly 40 phút. Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10%. Tiến hành sấy phun ở nhiệt độ thích hợp là 170oC với tốc độ bơm nhập liệu là 30%. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có tính chất cảm quan tốt, sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô.

     

    Từ khóa: bột hồng trà hòa tan, polyphenol, sấy phun, trích ly.

     

    Nhận bài: 17/03/2019          Hoàn thành phản biện:  27/03/2019                  Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trà hòa tan dạng bột được sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, trong đó phần lớn là từ các nguồn thảo dược (Nguyễn Văn Tặng, 2008). Trên thế giới, trà hòa tan chủ yếu được sản xuất từ trà khô để làm đồ uống (Clark và cs., 1984; Mehta và cs., 2001; Bavan và Bengal, 2009). Quá trình sản xuất bột trà hòa tan có các công đoạn chủ yếu là trích ly, cô đặc dịch và sấy phun. Sato và cs. (1984) đã sử dụng nước nóng để trích ly trà xanh, dịch trà được bổ sung maltodextrin và sấy phun để tạo bột hòa tan. Bavan (2005) cũng sử dụng nước nóng để trích ly trà đen và trà ô long, dịch trà sau đó được cô đặc, sấy phun để tạo bột trà. Lunder và Nestec (1997) dùng nước nóng để trích ly hỗn hợp chè xanh và chè đen để thu được dịch chè. Đã có nhiều công trình khác nghiên cứu quá trình trích ly polyphenol từ chè khô và sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm ở dạng bột, dịch lỏng hoặc dạng cao. Công trình nghiên cứu của Trịnh Xuân Ngọ (2009) sử dụng dung môi là nước nóng. Phạm Thành Quân và cs. (2005) trích ly polyphenol sử dụng dung môi là ethanol có hỗ trợ vi sóng. Nguyễn Trọng Điệp và cs. (2017) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh.

     

    Việc nghiên cứu các thông số công nghệ trong quá trình chế biến bột Hồng trà hoà tan bằng các phương pháp đơn giản, dễ làm như tách chiết bằng dung môi nước, sử dụng maltodextrin làm chất mang trong quá trình sấy phun tạo sản phẩm…nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt là vấn đề có ý nghĩa thực tế và mang tính cấp thiết, bởi vì nó góp phần đa dạng hoá sản phẩm từ Hồng trà và hơn nữa có thể sử dụng được các thiết bị sẵn có ở các cơ sở chế biến nông sản trong quá trình chế biến sản phẩm bột trà. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan bằng phương

     

    1217

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    pháp sấy phun nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm này

     

    • nước ta.

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Nguyên liệu

    Hồng trà loại OP do Công ty Cổ phần Long Đỉnh (thôn Phúc Tân, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) cung cấp. Hồng trà hay còn gọi là trà đen là loại trà được lên men hiếu khí toàn phần 100% từ đọt chè. Chè khô đảm bảo độ ẩm ≤ 7%.

     

    Maltodextrin: dùng làm chất trợ sấy, được bổ sung vào dịch trà trước khi đem sấy phun. Sản phẩm nhập từ Pháp, dạng bột mịn, màu trắng, tan hoàn toàn trong nước, độ ẩm 6 – 7%, chỉ số DE là 12.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.2.1. Phương pháp công nghệ

     

    Để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số công nghệ sản xuất bột trà hòa tan, chúng tôi chọn phương pháp công nghệ (Hình 1) theo nghiên cứu của Santo và cs. (2007) và dựa vào đặc điểm của máy sấy phun Mini B-290. Một số công đoạn chính trong quy trình công nghệ như sau: Chè khô sau khi vận chuyển về phòng thí nghiệm, được đóng gói chân không, bảo quản trong điều kiện cách ẩm và tránh ánh sáng. Nguyên liệu được nghiền mịn và rây qua rây 1 mm, đạt kích thước 0,8-0,9mm nhằm làm dập tế bào trong lá chè để các chất hòa tan thoát ra dễ dàng trong quá trình trích ly. Nguyên liệu sau khi nghiền được trích ly bằng dung môi là nước nóng với khối lượng mẫu là 10g nguyên liệu/lần). Trích ly một lần với tỷ lệ dung môi nước so với nguyên liệu là 1/10 (g/ml) được trích ly ở nhiệt độ và thời gian khác nhau. Dịch chè được lọc nhằm loại bỏ thành phần bã ra khỏi dịch chè, sau đó hòa trộn với tá dược maltodextrin trước khi sấy phun tạo bột trà hòa tan bằng máy sấy phun B-290 Buchi. Mỗi thí nghiệm tiến hành lặp lại 3 lần, 3 mẫu/nghiệm thức.

     

       

    Nguyên liệu

         
       

    Nghiền

         
         

    Nước

     

    Trích ly

         
         
       

    Lọc thô

         
         

    Maltodextrin

    Bổ sung tá dược

         
         
       

    Lọc tinh

         
         
       

    Sấy phun

         
    • Khảo sát nhiệt độ trích ly (75; 85; 95oC)
    • Thời gian trích ly (20; 30; 40; 50 phút)
    • Khảo sát tỷ lệ bổ sung maltodextrin theo tỷ lệ 5%; 10%; 15%
    • Khảo sát nhiệt độ sấy phun (150;160;170; 180; 190oC)
    • Khảo sát tốc độ bơm (25;

    30; 35; 40%)

     

    Sản phẩm trà hòa tan

     

    Hình 1. Phương pháp công nghệ sản xuất trà hòa tan quy mô phòng thí nghiệm.

     

    1218

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    2.2.2. Phương pháp phân tích

     

    • Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy đến khối lượng không đổi: Dùng hơi nóng làm bay hơi lượng nước trong chè. Cân khối lượng chè trước và sau khi sấy khô, từ đó tính ra phần trăm nước có trong mẫu chè (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định chất hoà tan theo phương pháp Voronsov: Dùng hơi nước để bốc hơi nước dịch chiết xuất, còn lại là chất khô hòa tan, sấy khô đến khối lượng không đổi, chất hòa tan được tính theo % khối lượng khô của mẫu. Đây là phương pháp thông dụng, đơn giản (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định khả năng hòa tan của bột trà sau khi sấy: Để xác định khả năng hòa tan trong nước của bột trà hòa tan. Thí nghiệm được thực hiện với 20ml nước và 0,1g bột chè ở

     

    nhiệt độ 90oC với số lần lặp lại 3 lần, để quan sát đánh giá khả năng hòa tan của các chất tan trong nước. Thí nghiệm được tiến hành bằng cách tính thời gian hòa tan.

     

    • Xác định polyphenol tổng số bằng phương pháp Folin – Denis: Phương pháp này được thực hiện dựa trên nguyên tắc các hợp chất polyphenol trong dung dịch phản ứng với thuốc thử Folin-Ciocalteau cho sản phẩm màu xanh lam, đo độ hấp thụ ở bước sóng 660 nm, lấy acid gallic làm chất chuẩn (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001)

     

    • Định lượng cafein trong chè bằng Na2S203: Khi dung dịch chứa cafein, nếu có mặt HCl thì dung dịch trong KI sẽ chuyển toàn bộ cafein thành chất kết tủa có công thức như sau: C6H10O2N4KI4. Sau đó dùng Na2S2O3 0,1N chuẩn lượng I2 dư sẽ biết được lượng I2 tham gia phản ứng, từ đó tính được lượng cafein trong dung dịch thí nghiệm (Hà Duyên Tư, 2001)

     

    2.2.3. Phương pháp đánh giá cảm quan

     

    Chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan theo phép thử cho điểm thị hiếu về mức ưa thích (Hà Duyên Tư, 2016) để đánh giá chất lượng sản phẩm (theo thang điểm Hedonic).

     

    2.2.4. Phương pháp xử lý thống kê

     

    Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsoft Excel. Kết quả thí nghiệm được phân tích bằng ANOVA và kiểm định Turkey trên phần mềm Minitab 16.20 để so sánh các giá trị trung bình có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu

     

    Việc xác định thành phần hóa học của nguyên liệu ban đầu là cơ sở để đưa ra các thông số công nghệ trong quá trình nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần hóa học của Hồng trà (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà

     

    Chỉ tiêu

    Đơn vị

    Kết quả

    Độ ẩm

    (%)

    4,64 ± 0,44*

    Hàm lượng chất hòa tan

    (% chất khô)

    22,89 ±2,09

    Hàm lượng cafein

    (%chất khô)

    2,05 ±0,16

    Hàm lượng polyphenol

    (%chất khô)

    15,86 ±0,01

    Ghi chú *: Sai số của giá trị

     

    Số liệu thực nghiệm thu được ở Bảng 1 cho thấy: Hàm lượng ẩm của nguyên liệu Hồng trà chiếm 4,64% nằm trong giới hạn cho phép về hàm lượng ẩm trong trà khô, đảm bảo

     

    1219

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    độ ẩm ≤ 7%, đạt theo TCVN 1454:1993. Chất hòa tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất về chất lượng trà thành phẩm, chính là hàm lượng các chất chiết được. Hàm lượng chất hòa tan trong trà nguyên liệu chiếm khá cao đạt 22,89%. Hàm lượng cafein và polyphenol lần lượt chiếm 2,05% và 15,86%. Đây là những hoạt chất sinh học khá quan trọng. Nó là thành phần không thể thiếu của bất kỳ loại trà nào, giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị cho sản phẩm, đồng thời có tác dụng gây cảm giác hưng phấn cho người sử dụng. Như vậy, kết quả khảo sát một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà cho thấy loại nguyên liệu này đảm bảo các yêu cầu cho việc tạo ra sản phẩm bột trà.

     

    3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly

     

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly dịch trà ở ba mức nhiệt độ: 75oC, 85oC, 95oC. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10, thời gian trích ly là 20 phút. Kết quả được thể hiện ở Hình 2.

     

    Hàm lượng (% ck)

    20

         

    18,05a

           
                 

    15

                   
         

    12,61a

     

    12,50b

     
               

    10

     

    8,33c

           

    9,34b

     
                 
       

    6,70c

               

    5

                   
                   

    0

                   

    75

    85

       

    95

     
           
           

    Nhiệt độ trích ly (oC)

       

     Chất hòa tan  Polyphenol

     

    Hình 2. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả ở Hình 2 cho thấy khả năng trích ly và khả năng khuếch tán của các chất hòa tan bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ trích ly. Ở các mức nhiệt độ biến thiên từ 75 – 95oC, hàm lượng chất hòa tan và polyphenol trích ly được có giá trị tăng dần theo nhiệt độ và đạt giá trị cao nhất

     

    • nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 18,05%, polyphenol là 12,61%). Nhưng khi đến nhiệt độ 95oC thì hàm lượng các chất giảm thấp hơn nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 12,50%, polyphenol là 9,34%). Trong quá trình trích ly nếu nhiệt độ quá thấp thì không đủ nhiệt để hòa tan các hợp chất cần chiết làm giảm hiệu quả trích ly nhưng nếu nhiệt độ quá cao lại làm tăng các phản

    ứng hóa học gây ra những biến đổi bất lợi cho hợp chất cần trích ly, làm giảm khả năng trích

     

    1. Mặt khác, dựa vào màu sắc dịch trích ly trà, chúng tôi thấy khi trích ly ở nhiệt độ thấp 70oC thì dịch trích ly có màu nhạt hơn so với nhiệt độ 85oC và 95oC. Vì vậy, chọn nhiệt độ trích ly
    • 85oC là thích hợp để thu được dịch trích ly có hàm lượng chất hòa tan và polyphenol cao.

    3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly

     

    Sự ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly được nghiên cứu khảo sát ở bốn mức: 20 phút, 30 phút, 40 phút, 50 phút. Các yếu tố cố định là nhiệt độ trích ly: 85oC (lấy từ nghiệm thức trước); tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình trích ly ảnh hưởng đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol được thể hiện ở Hình 3.

     

    1220

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Hàm lượng (% ck)

    30

                             
               

    25,00a

               

    25

                           
     

    18,05b

     

    20,83ab

           

    19,44b

     
                 

    20

                 
     

    12,61c

    14,02

    b

     

    15,74a

     

    14,20b

           

    15

                     

    Chất hòa tan

                     
                         

    10

                           

    Polyphenol

                           
                           
                             
                             

    5

                             
                             

    0

                             

    20

    30

     

    40

    50

           
               
           

    Thời gian trích ly (phút)

               

    Hình 3. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của thời gian trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả thí nghiệm cho thấy, thời gian trích ly ảnh hưởng nhiều đến quá trình trích ly. Khi thời gian trích ly tăng thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol tăng dần theo thời gian. Tại thời gian trích ly là 40 phút thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol đạt cao nhất (chất hòa tan là 25,00%, polyphenol là 15,74%). Ở thời gian trích ly 50 phút thì hàm lượng các chất giảm xuống so với thời gian 40 phút (chất hòa tan là 19,44% và polyphenol là 14,20%). Bởi vì các hoạt chất sinh học đều nhạy cảm với nhiệt độ cao, giữ trong thời gian dài sẽ dẫn đến sự phân hủy các hoạt chất sinh học tương tự như báo cáo của Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư (2009). Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian trích ly thích hợp là 40 phút để nghiên cứu các công đoạn tiếp theo.

     

    3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung tá dược maltodextrin đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan

     

    Maltodextrin là một trong những tá dược (còn gọi là chất độn, chất trợ sấy) có ảnh hưởng lớn đến quá trình sấy phun và khả năng hòa tan của bột trà. Ảnh hưởng tỷ lệ maltodextrin bổ sung được khảo sát ở ba mức với tỷ lệ: 5%, 10%, 15%. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10 với thể tích dịch trà: 150ml, trích ly ở nhiệt độ 85oC nhiệt độ trong thời gian 40 phút, nhiệt độ sấy phun là 170oC; tốc độ bơm: 30%. Kết quả thể hiện ở Hình 4 và Bảng 2.

     

    Nghiên cứu của Kha Chấn Tuyền và cs. (2010) chỉ ra hàm lượng maltodextrin có ảnh hưởng rất lớn đến độ ẩm của bột. Kết quả ở hình 4 cho thấy, tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà càng tăng thì độ ẩm bột trà càng giảm. Bổ sung tỷ lệ maltodextrin càng cao thì nồng độ chất khô của dịch càng cao, khi đó hàm lượng nước trong dịch sấy thấp nên quá trình bốc hơi nước xảy ra nhanh hơn, độ ẩm của bột sẽ thấp hơn (với tỷ lệ maltodextrin là 5% thì độ ẩm đạt 5,48%, tỷ lệ 10% là 4,82%, tỷ lệ 15% là 4,28%). Ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 15%, lượng bột nhiều nhất (15,13 g) nhưng hàm lượng polyphenol là thấp nhất (6,85%). Do đó màu sắc của bột trà nhạt đi nên khi pha sẽ bị ảnh hưởng đến màu, mùi và vị sản phẩm (Bảng 2).

     

    Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến tính chất cảm quan nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tỷ lệ maltodextrin

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     
     

    (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    5

    Đỏ nâu đậm có viền vàng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    10

    Đỏ nâu sáng có viền vàng

    Thơm vừa

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    15

    Đỏ nâu nhạt có viền vàng

    Thơm nhẹ

    Vị hơi ngọt,

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

             

    1221

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    50

                   

    45,00a

     

    45

                       
                       

    40

                       
                       

    35

                       
                   

    26,67c 28,33b

     

    30

                   
                       

    25

                       
                       

    20

             

    15,13a

         

    15

             

    11,29b

     

    a

       

    10

    5,48

    a

    4,82

    b

    6,09

    c

     

    9,52 7,91b6,85c

       
     

    4,28c

             

    5

                       
                       

    0

                       

    Độ ẩm (%)

    Khối lượng bột

    Polyphenol

    Khả năng hòa

     
     
             

    thu được (g)

    (%ck)

    tan (s)

     
               

    5%

    10%

    15%

       

    Hình 4. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến độ ẩm, khối lượng thu hồi bột, hàm lượng polyphenol và khả năng hòa tan của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Hơn nữa các mức bổ sung maltodextrin khác nhau thì khả năng hòa tan bột trà khác nhau. Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 5% thì khả năng hòa tan tan nhanh hơn so với 10% và 15%. Trong khi tỷ lệ bổ sung maltodextrin ở 5% thì tan nhanh và ít bị vón cục. Bổ sung maltodextrin tỷ lệ 15% thì khả năng hòa tan chậm đi do lượng maltodextrin chiếm nhiều nên vón cục nhiều hơn nên khó tan hơn. Vì thế chúng tôi chọn công thức tỷ lệ bổ sung maltodextrin 10% vì khả năng hòa tan tốt trong nước pha trà. Đồng thời sản phẩm bột có kích thước và cảm quan tốt. Kết quả này hoàn toàn thích hợp với công bố của Zhang và cs. (2005).

     

    3.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến chất lượng bột trà

     

    Trong quá trình sấy phun, nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của bột trà. Nhiệt độ không khí đầu vào không nên vượt quá 180 – 190oC. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ sấy đến chất lượng bột ở các mức nhiệt độ khác nhau: 150oC, 160oC, 170oC, 180oC và 190oC. Các yếu tố cố định là tốc độ bơm nhập liệu: 35%; tốc độ gió 100%. Kết quả được thể hiện ở Hình 5 và Bảng 3.

     

    Kết quả nghiên cứu ở Hình 5 cho thấy độ ẩm của bột trà ở tất cả các công thức thí nghiệm đều nhỏ hơn 6% đạt tiêu chuẩn theo TCVN 9739:2013. Qua nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun thấy rằng, hàm lượng ẩm thấp nhất khi sấy ở nhiệt độ 180oC nhưng ở nhiệt độ này thì có một ít vật liệu sấy bị cháy, sản phẩm bột bám lên thành của buồng sấy, sản phẩm giảm mùi thơm, vị đắng hơn. Mặt khác sấy ở nhiệt độ 150oC thì bột tạo ra có độ ẩm cao, khả năng thoát ẩm kém, bột bám dính vào thành buồng sấy.

     

    Khi tăng nhiệt độ sấy phun, hoạt chất polyphenol đã bị tổn thất và có xu hướng giảm dần. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều bất lợi cho sản phẩm bột trà. Đồng thời, quan sát trong quá trình sấy phun nhận thấy, ở nhiệt độ thấp (150 – 160oC) bột có độ ẩm cao, bám dính thành từng mảng ở thành buồng sấy. Ở nhiêt độ cao (180 – 190oC) thì bột có hiện tượng bị cháy bám

     

    1222

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    trên thành buồng sấy ảnh hưởng đến mùi và vị của bột. Còn ở nhiệt độ 170oC cho ra bột tơi, mịn có độ ẩm đạt 4,86% và hàm lượng polyphenol là 7,98%. Ở nhiệt độ này, bột ít bị bám dính và không bị cháy ở thành buồng sấy. Như vậy, mức nhiệt độ thích hợp là 170oC vì hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol cao và đảm bảo độ ẩm của trà thành phẩm (TCVN 5613:2007).

     

    9

     

    8,43a

     

    8,34a

     

    7,94b

     

    7,66c

               
                         

    8

                             
                       

    6,71d

    7

                       
           

    5,83a

                       

    6

     

    5,14

    ab

                         
           

    4,86abc

     

    4,30b

     

    4,72bc

    5

                 
                             

    Độ ẩm (%)

                             

    4

                               
                               

    Polyphenol (%ck)

                               

    3

                               
                                 
                                 

    2

                                 
                                 

    1

                                 
                                 

    0

                                 

    150

    160

    170

    180

     

    190 Nhiệt độ sấy phun (oC)

       

    Hình 5. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà hòa tan.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Ngoài hàm lượng polyphenol và độ ẩm, tính chất cảm quan của nước trà pha phản ảnh chất lượng cảm quan của bột trà hòa tan. Số liệu ở bảng 3 cho thấy ở nhiệt độ sấy phun thấp hơn 180oC, bột trà khi pha vẫn giữ được màu đỏ sáng và mùi thơm đặc trưng của Hồng trà. Khi nhiệt độ sấy phun trên 180oC, nước trà pha có màu đỏ nâu và mùi vị cũng kém dần đi.

    Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Nhiệt độ

     

    Tính chất cảm quan của nước trà

     
     

    sấy phun (oC)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    150

    Đỏ có

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    viền vàng

    đặc trưng

           
     

    160

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    170

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    180

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           
     

    190

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           

    Các kết quả trên cho thấy nhiệt độ sấy phun đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và màu sắc nước pha. Nhiệt độ phù hợp cho quá trình sấy phun là 170oC.

    3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến chất lượng của bột trà

     

    Tốc độ bơm nhập liệu có ảnh hưởng lớn đến lưu lượng dòng nhập liệu, năng suất thiết bị, nhiệt độ không khí đầu ra của máy sấy phun. Vì hệ thống bơm nhập liệu của thiết bị nghiên cứu là bơm nhu động nên trong quá trình này, tốc độ bơm được nghiên cứu với các mức lần lượt là 25%, 30%, 35% và 40% thì tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu của máy sấy phun

     

    1223

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    B-290 Buchi thực tế là 8,3; 10,3; 12,3 và 14,3 (ml/phút). Các yếu tố được cố định là nhiệt độ sấy 170oC; tốc độ gió 100%. Kết quả nghiên cứu đươc thể hiện ở Hình 6 và Bảng 4.

    10

                             
     

    8,54a

     

    8,19b

     

    7,85d

     

    8,01c

             

    8

                     
                 

    5,16a

             

    6

     

    4,30b

     

    4,37b

     

    4,92a

             

    Độ ẩm (%)

    4

                       
                           
                             
                             

    2

                             
                             

    0

                       

    Tốc độ bơm

    25

    30

    35

    40

       
         
     

    nhập liệu (%)

                     
                               

    Hình 6. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Số liệu ở Hình 6 cho thấy, tốc độ bơm nhập liệu càng cao thì độ ẩm càng cao. Mẫu sản phẩm có tốc độ bơm thấp nhất (25%) đạt độ ẩm thấp nhất là 4,30% và ngược lại mẫu sản phẩm có tốc độ bơm cao nhất 40% thì đạt độ ẩm cao nhất là 5,16%. Tốc độ bơm nhập liệu tăng, đồng nghĩa với thời gian lưu của vật liệu sấy trong buồng sấy giảm, do đó hiệu quả sấy sẽ không cao độ ẩm sẽ tăng, phần hạt ẩm dính lại trong buồng sấy cũng tăng dẫn đến hiệu suất thu hồi sản phẩm sau quá trình sấy phun giảm. Tốc độ bơm nhập liệu càng tăng thì bột trà có hàm lượng polyphenol càng giảm. Hàm lượng polyphenol đạt giá trị cao nhất ở tốc độ bơm là 25% đạt 8,54% chất khô.

     

    Mặc dù ở tốc độ bơm 25% thì độ ẩm của bột sản phẩm tuy thấp hơn nhưng thời gian sấy dài. Đồng thời, với tốc độ bơm nhập liệu 30% tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu 10,3 ml/phút, hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol và độ ẩm đảm bảo chất lượng của bột trà hòa tan. Sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol là 8,19% chất khô.

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tốc độ bơm

     

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     

    nhập liệu (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    25

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    30

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    35

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    40

    Đỏ nâu sáng

    Thơm yếu,

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    kém đặc trưng

    kém đặc trưng

    Kết quả nghiên cứu (Bảng 4) cho thấy, khi tốc độ bơm nhập liệu từ 25 – 40%, màu sắc bột trà hòa tan vẫn đồng đều nhau, nước pha trà vẫn giữ được mùi thơm, vị đậm dịu, trong đồng nhất. Mùi vị sản phẩm giảm khi tốc độ bơm trên 35%. Tốc độ bơm thấp hơn 35% thì sản phẩm có mùi thơm dịu, đặc trưng, có hậu. Như vậy, tốc độ bơm nhập liệu đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và mùi vị nước pha (Bảng 4). Tốc độ bơm phù hợp cho quá trình sấy phun là 30%.

     

    1224

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    3.7. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng bột trà hòa tan

     

    Đánh giá chất lượng cảm quan tổng thể của một sản phẩm là một chỉ tiêu không thể thiếu được, nói lên mức độ ưa thích của người tiêu dùng và giới thiệu sản phẩm ra thị trường.

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi tiến hành chế biến mẫu sản phẩm bột Hồng trà hòa tan ở quy mô phòng thí nghiệm. Sản phẩm được tiến hành phân tích, kiểm nghiệm một số chỉ tiêu hóa lý và cảm quan. Kết quả được thể hiện ở bảng 5 và bảng 6 sau đây:

     

    Bảng 5. Kết quả kiểm nghiệm chỉ tiêu hóa lý sản phẩm bột trà hòa tan

     

    Chỉ tiêu

    Phương pháp thử

    Kết quả mẫu thí

    TCVN

     

    nghiệm

    9739:2013

     
       

    Độ ẩm (%)

    TCVN 5613:2007

    5,0

    ≤ 6

     

    Hàm lượng tro tổng số (%)

    TCVN 5611:2007

    0,9

    ≤ 20

     

    Số liệu ở Bảng 5 và 6 cho thấy sản phẩm Hồng trà hòa tan đạt được các chỉ tiêu chất lượng nằm trong giới hạn cho phép về độ ẩm và hàm lượng tro tổng số theo TCVN 9739:2013 về bột trà hòa tan. Sản phẩm có tính chất cảm quan và khả năng hòa tan tốt.

     

    Bảng 6. Kết quả đánh giá chỉ tiêu cảm quan của sản phẩm

     

     

    Chỉ tiêu

    Tính chất

     

    Trạng thái

    Dạng bột mịn, đồng nhất, không bị vón cục

     

    Màu sắc

    Sản phẩm bột trà có màu kem, khi pha ra nước có màu nâu đỏ

     

    Mùi

    Sản phẩm còn giữ được mùi thơm thoảng của hồng trà,

     

    không có mùi khét, mùi lạ

       
     

    Vị

    Vị chát nhẹ, khi pha nước có vị ngọt dịu

    4. KẾT LUẬN

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số kết luận như sau:

     

    Trong quá trình trích ly trà bằng dung môi nước, nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian trích ly 40 phút là phù hợp.

     

    Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10% khi nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian 40 phút.

    Sấy phun ở nhiệt độ 170oC với tốc độ bơm nhập liệu 30% cho sản phẩm có tính chất cảm quan tốt, bột chè thành phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có chất lượng tốt.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Tài liệu tiếng Việt

    Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Hoàng Hiệp và Trịnh Thanh Hùng. (2017). Đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh (Camellia sinensis L.). Tạp chí Y – Dược học Quân sự, 4.

     

    Trịnh Xuân Ngọ. (2009). Nghiên cứu quy trình sản xuất nước giải khát từ chè xanh, chè đen. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2.

     

    Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư. (2009). Nghiên cứu trích ly polyphenol từ chè xanh vụn – Phần 1: Các yếu tố ảnh hưởng quá trình trích ly polyphenol. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 47(1).

     

    Nguyễn Văn Tặng. (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình sản xuất trà Actisô dạng viên sủi bọt. Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, 2.

     

    Vũ Thy Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm và Giang Trung Khoa. (2001). Các hợp chất hóa học có trong chè và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất chè ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Nông Nghiệp.

     

    1225

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    Hà Duyên Tư. (2016). Kỹ thuật phân tích cảm quan thực phẩm. Hà Nội: NXB Khoa học và Kỹ thuật.

     

    Hà Duyên Tư. (2001). Quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

     

    Phạm Thành Quân, Tống Văn Hằng, Nguyễn Hải Hà, Đỗ Nguyễn Tuyết Anh và Trương Ngọc Tuyển (2005). Trích ly polyphenol từ trà xanh sử dụng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng. Hội Nghị Khoa Học và Công Nghệ lần thứ 9.

     

    1. Tài liệu tiếng nước ngoài

    Bavan D. S. (2005). Hot water soluble tea. United States Patent Application Publication. US 2005/0884566 A1.

     

    Clark A. V. and Zientara F. J. (1984). Process for the production of a soluble tea product. United States Patent, 4, 472-441.

     

    Lunder T. L. (1997). Preparation of cold-water-soluble instant tea. United States Patent, 5.

     

    Mehta S. S., Sukumar V. and Virkar P. D. (2001). Process for producing tea concentrates. United States Patent, 6.

     

    Pandey R. K. and Manimehalai N. (2014). Production of Instant Tea Powder by Spray Drying.

    International Journal of Agriculture and Food Science Technology, 5(3), 197-202.

     

    Santo J., Kurusu T. and Kondo N. (2007). Process for the preparation of instant tea. United States Patent, 4.

     

    Tuyen Chau Kha, Minh Nguyen and Roach, P.D., (2010). Effects of sparay drying conditions on the physicochemical and antioxidant properties of Gac (Momordica cochinesis) fruit aril powder. Journal of Food Engineering, 90(3), 471-479.

     

    Zhang L.M, Zhou J. F. and Peter S. Hui. (2005). A comparative study on viscosity behavior of water-soluble chemically modified guar gum derivatives with different functionl lateral groups. Jounal of the Science of Food and Ariculture, 85, 2638-2644.

     

    EFFECTS OF SOME SPRAY DRYING PROCESS PARAMETERS ON THE QUALITY OF INSTANT BLACK TEA POWDER

     

    Nguyen Quoc Sinh1*, Nguyen Thi Diem Huong1, Nguyen Thanh Thuan2 1Hue University – University of Agriculture and Forestry; 2College of Food Industry, Da Nang

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Instant black tea power is presently manufactured by spray drying of the extracted liquor from fully fermented tea leaves. In this study, effects of some process parameters on the quality of instant black tea powder by spray drying method were determined. The results showed that the extraction in water was strongly influenced by the extraction time and temperature. The optimum extraction conditions were found to be 85oC for 40min. Spray-dry added substance was maltodextrin at 10%. The spray drying operating conditions including inlet air temperature (170°C), feed flow rate (30%) were used for production of instant black tea power had an excellent sensory quality. In the instant black tea power, some quality factors were determined: moisture content 4,37% and polyphenol content 8,19%.

     

    Key words: Black tea power, extraction, polyphenol, spray drying, temperature.

     

    Received: 17nd March 2019               Reviewed: 27th March 2019               Accepted: 30th March 2019

     

    1226


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/thuyet_minh_thi_cong_duong_ky_anh_6306.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thuyết minh thi công

                       Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

                                 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     

                                                                             Hà Nội, ngày 01  tháng 12 năm 2013

     

    THUYẾT MINH THI CÔNG

     

    Công trình: Thi công tuyến cống đoạn Km 587-Km 592.

    Dự án : Đầu tư xây dựng công trình mở rộng quốc lộ 1

    Gói thầu số 07 : Km 587+00 – Km597+549

    Địa điểm: Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    Nhà thầu phụ :

    I – Các căn cứ.

    – Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của dự án đã được duyệt

    – Yêu cầu kỹ thuật của dự án.

    – Các qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam hiện hành

    – Giá ca máy thi công  và nhân công theo giá thực tế tại địa bàn Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    – Khối lượng thi công dự kiến theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo nghiệm thu tại hiện trường

    – Kết quả kiểm tra thực tế mặt bằng hiện tại công trình

    – Năng lực thực tế về con người và thiết bị của  Công ty CP thiết bị và phát triển hạ tầng và Công ty TNHH xây dựng Thiên Long.

    II – Biện pháp thi công thực tế

            Toàn bộ tuyến cống trải dài từ Km587 đễn Km 592, các cống bản khẩu độ lớn có dòng nước chảy xiết và lưu lượng lớn. Công trình vừa thi công vừa phải đảm bảo giao thông an toàn trên quốc lộ1. Tiến độ thi công rất ngắn, yêu cầu kỹ thuật cao.

          Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và thực tế hiện trường hai Nhà thầu phụ đề xuất phương án thi công tuyến cống như sau :

          Để đáp ứng tiến độ chung, toàn bộ tuyến cống do hai đơn vị  thầu phụ chia làm hai mũi cùng thi công là

         Nhà thầu chính triển khai công tác chuẩn bị cho công trình, chịu trách nhiệm làm việc trực tiếp với Chủ Đầu Tư và Tư Vấn Giám Sát và chính quyền địa phương về mọi vấn đề của dự án. Hai nhà thầu phụ chính thức bắt đầu thi công sau khi công tác chuẩn bị đã xong và có yêu cầu chính thức của nhà thầu chính.

    1-Công tác chuẩn bị

         Sau khi ký hợp đồng, Nhà thầu phụ sẽ tập kết nhân lực và thiết bị thi công. Nhà cho công nhân và kho chứa thiết bị thi công nhỏ sẽ do Nhà thầu chính cung cấp. Dự kiến bố trí hai khu lán trại tạm cho 2 đội thi công cống, từ Km587 đến Km 589 bộ trí 1 khu lán trại, từ Km 590 đến Km 592 bố trí 1 khu lán trại. Mỗi khu lán trại đảm bảo chỗ ở cho 20 người. Tại các vị trí thi công cống có tập kết vật tư Nhà thầu phụ sẽ bố trí bảo vệ ban đêm. Cống sẽ được thi công dứt điểm cuốn chiếu từng cái một.

         Nguồn điện và nước thi công Nhà thầu phụ sẽ tự cung cấp, tuy vậy Nhà thầu chính sẽ cố gắng tối đa để có nguồn điện lưới 3 pha nhằm giảm giá thành chung. Bãi đúc cấu kiện sẽ do Nhà thầu chính chuẩn bị và giao cho Nhà thầu phụ thi công. Nhà thầu phụ sẽ tính toán yêu cầu vật tư chi tiết cho từng vị trí cống để Nhà thầu chính cung cấp. Công tác đảm bảo an toàn trên tuyến quốc lộ 1, công tác thí nghiệm vật liệu đầu vào, công tác đo đạc định vị công trình do Nhà thầu chính đảm nhiệm. Dự kiến có hai đội thi công cống đồng thời, công tác đúc sẵn tiến hành song song với công tác thi công cống.

    2-thiết bị thi công:

    Nhà thầu phụ sẽ sử dụng các loại thiết bị sau:

    + Máy đào……………………… 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Ôtô vận chuyển……………. 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Đầm cóc……………………… 02 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Cần cẩu bánh lốp 10 T…..01 cáI ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Máy bơm nước…………….. 02 cái

    + Máy hàn …………………….. 02 cái

    + Máy trộn bê tông 250l….. 02 cái

    + Nhân công ………………….. 20 người

    + Máy phát điện………………. 01 bộ

    + Đầm bàn + dầm dùi………04 bộ

    + Búa căn khí nén…………..01 bộ

    + Máy nén khí ……………..01 bộ

    + Máy phát điện…………….01 bộ

    + Các dụng cụ cầm tay khác như máy khoan bê tông, máy mài

     

    3- Trình tự thi công chung:

         Công tác giải phóng mặt bằng của cống nào xong sẽ  thi công ngay. Thi công thành hai mũi song song với công tác đúc sẵn tại bãi đúc. Thi công dứt điểm từng cống để phục vụ công tác đắp đất.

    a – Chuẩn bị thi công: Các ống cống và đế cống được mua tại các nhà cung cấp chuyên nghiệp và vận chuyển về tập kết tại từng vị trí thi công cống.

    b – Đúc các tấm đan cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác tại bãi đúc công trường

    c – Đảm bảo giao thông trên tuyến bằng cọc tiêu có phản quang. Định vị vị trí cống trên tuyến đường.

    d – Thi công cọc lasen chống sụt lở làn đường đang lưu thông

    e – Phá dỡ các tường cánh, sân cống cũ bằng búa căn khí nén kết hợp nhân lực

    f – Đào đất nền móng cống bằng máy đào kết hợp thủ công đào san sửa hố móng.

    g – Thi công đê vây và lắp ống nhựa D 200 thoát nước tạm để hướng dòng và bơm khô nước hố móng.

    h – Thi công móng cống, lắp đặt đế cống. Thi công tường cống bản

    i – Cẩu lắp đốt cống và thi công mối nối. Thi công bê tông tại chỗ cống hộp

    k – Lấp đất mang cống. Cẩu lắp tấm đan, đắp đất sau cống, thi công bản giảm tải cống bản

    l – Thi công thượng, hạ lưu cống.

    m – Thanh thải đê vây, tháo ống nhựa D 200 cống tạm. Hoàn trả dòng chảy. Nhổ cọc ván thép và hoàn trả mặt bằng để đắp đất khu vực cống.

    4- Biện pháp thi công chi tiết.

    –        Công tác đúc sẵn :

        Công tác đúc sẵn các dầm bản cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác đước tiến hành tại bãi đúc. Tại đây bố trí máy trộn bê tông 250 l và các thiết bị khác đảm bảo dây chuyền đúc sẵn. Bãi đúc được lu lèn và láng vữa xi măng để đảm bảo độ phẳng theo yêu cầu.

    –        Thi công cọc lasen chống sụt đất:

           Sau khi định vị chính xác vị trí cống  tiến hành thi công đóng cọc lasen L=6m bằng búa rung 45 KW hoặc máy ép cọc ván thủy lực không tiếng ồn. Công việc này Nhà thầu chính làm.

    –        Công tác phá dỡ kết cấu cũ và đào đất.

    Phá dỡ kết cấu cũ bằng búa căn khí nén. Vật liệu thải được chở đi tập kết tại vị

    trí đổ thải qui định bằng ô tô 12 T. Đào đất bằng máy đào gầu 0,6 m3, đất thải tập kết tại vị trí đổ thải bằng ô tô 12 T. Nhân lực đào san sửa kết hợp với máy đào. Phần đào đất bằng máy đào do nhà thầu chính làm.

    –        Đắp đê quai dẫn dòng:

        Đắp đê quai, dẫn dòng hợp lý bằng cống tạm bằng ống nhựa D 200 đối với các cống đang phục vụ tưới tiêu, thoát nước ngang. Tùy theo lưu lượng nước chảy của từng cống để đặt 1 hoặc nhiều ống thoát nước tạm D 200. Vị trí tim đê quai cách mép ngoài công trình thượng hạ lưu tối thiểu 3 m. Bơm khô nước, đào san sửa hố móng đạt cao độ và kích thước yêu cầu, định vị chính xác vị trí cống  để thi công móng cống. Khi hố móng được  TVGS kết luận là đạt tiêu chuẩn về kích thước hình học, cao độ, độ bằng phẳng, địa chất ổn định … thì tiến hành vệ sinh sạch sẽ đáy móng cống. Tiến hành nghiệm thu kích thước hình học của đáy hố móng.

    –        Thi công móng cống, tường cống bản

         Móng cống được thi công khi hố đào được nghiệm thu kích thước hình học. Thi công lớp đá dăm lót và bê tông lót M 100 có chiều dày 10cm dưới ống cống và đệm sân cống. Ván khuôn để đổ bê tông được lắp ghép đúng yêu cầu kỹ thuật, được chống ngang đảm bảo độ vững chắc, kích thước hình học. Bề mặt ván khuôn phẳng nhẵn. Tiến hành đổ bê tông móng phạm vi tường đầu, tường cánh, chân khay. Bê tông móng cống M150 và bê tông tường cống bản được trộn bằng máy trộn 250L, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn, không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Thực hiện bảo dưỡng bê tông trong 7 ngày. Các mặt ngoài của bê tông được tưới nước và giữ độ ẩm muộn nhất là bắt đầu từ 10-12 tiếng sau khi đổ bê tông xong. Phần móng cống BTCT M200 nằm trong phạm vi ống cống được thi công ở xưởng đúc và lắp ghép nhờ cẩu 10T. Tiến hành nghiệm thu móng bê tông đổ tại chỗ và lắp ghép trước khi lắp đặt ống cống.

    –        Thi công lắp đặt ống cống và đổ bê tông tại chỗ cống hộp

         Định vị lại chính xác vị trí cống: Bằng máy cao đạc và kinh vĩ, chuyển sang các mốc phụ ở hai đầu cống để tiện cho việc thi công cũng như kiểm tra. Được phép của TVGS và Chủ Đầu Tư, hạ chỉnh ống cống bằng cẩu 10T vào vị trí, kết hợp với máy cao đạc và máy kinh vĩ để đảm bảo độ chính xác và kích thước hình học, độ dốc dọc… theo yêu cầu. Thi công mối nối ống cống bằng vữa XM M100, đệm và chèn vữa bê tông. Thi công mối nối ống cống giữa hai đốt cống bằng mối nối xi măng. ống được đặt cẩn thận, ống nối ngoài ở trên, gờ đầu ống được đưa toàn bộ vào ống nối ngoài bên cạnh. Trước khi đặt các ống tiếp theo nửa dưới của ống nối ngoài của đoạn trước được trát bằng xi măng vào bên ngoài. Với dộ dày thích hợp đem lại bề mặt trong của ống tiếp giáp bằng phẳng và đều đặn. Đồng thời nửa trên của gờ đầu ống của ống tiếp theo được trát bằng vữa để tạo đường vân quanh mối nối. Bên trong mối nối được hoàn thiện nhẵn, được bảo dưỡng bằng bao tải và giữ độ ẩm để tránh cho các mối nối bị khô, dẫn đến hiện tượng nứt khe nối thấm qua khe nối làm ảnh hưởng đến chất lượng của cống.

         Thi công tường đầu, tường cánh, bê tông cống hộp tại chỗ, sân cống bằng bê tông xi măng mác 150, đá hộc xây vữa xi măng M 100 đổ tại chỗ. Thi công móng cống và sân cống: Đá dăm làm lớp đệm móng cống, sân cống được vận chuyển về vị trí thi công bằng xe tự đổ 12T. Lớp đá dăm đệm được san xuống hố móng bằng thủ công theo từng lớp dày 10cm – 15cm, kích thước theo đúng hồ sơ thiết kế, tưới nước đảm bảo độ ẩm theo qui định và dùng đầm cóc, đầm bàn chặt tới độ chặt yêu cầu. Lớp đệm móng bảo đảm đúng kích thước, cao độ độ chặt thiết kế, bề mặt nhẵn phẳng, đồng đều.

        – Đắp đất quanh thân cống và hai bên cống:

         Đắp đất thành từng lớp có chiều dày 15 – 20 cm sau đó dùng đầm cóc kết hợp nhân công đầm chặt  đến K=0,95. Các lớp đất đắp được thi công song song ở hai bên mang cống. Đặc biệt quan tâm đến kỹ thuật lu lèn vật liệu đắp bù dưới lớp vòm cống. Đắp đất mang tường cánh, đầu cống chỉ được tiến hành khi kết cấu cống bê tông và khối xây đã đủ cường độ cho phép .

          Cẩu lắp dầm bản cống bản bằng cần cẩu 10 T. Sau khi thi công xong thanh chống phía dưới và lắp xong dầm bản tiến hành đắp đất sau mố cống bản và đổ bê tông bản quá độ.

    –        Thi công hoàn chỉnh thượng, hạ lưu cống:

          Cao độ, kết cấu của tường đầu, tường cánh cống được xác định chính xác bằng các loại máy cao đạc, bằng hồ sơ thiết kế và bản vẽ thi công đã lập. Chi tiết các kết cấu được xác định riêng cho từng cống. Đổ đá dăm đệm, xây đá hộc vữa XM 100, lát khan đã hộc và hoàn thiện thượng, hạ lưu cống theo đúng yêu cầu thiết kế.

    – Hoàn thiện cống và nghiệm thu công trình.

         Tiến hành thanh thải đê quai, thông dòng, tháo dỡ cống tạm, đắp trả lu lèn K95 theo bản vẽ thiết kế. Nhổ cọc ván thép lasen, thanh thải mặt bằng. Tiến hành vệ sinh xung quang cống. Nghiệm thu cống để đắp đất nền đường.

     

    5- Kỹ thuật thi công chi tiết

      a- Công tác ván khuôn – đà giáo

         Ván khuôn dùng cho đổ bê tông là ván khuôn thép được chế tạo sẵn. Các bản vẽ ván khuôn – đà giáo bằng thép dùng để đổ bê tông cống được Nhà thầu chính  trình lên  TVGS phê duyệt. Các kết cấu   đảm bảo vững chắc, ổn định, thuận tiện cho việc tháo lắp và sử dụng luân chuyển được nhiều lần.

          Trước khi đưa vào đổ bê tông kiểm tra kỹ bề mặt, đảm bảo bề mặt ván khuôn thép phẳng nhẵn, đảm bảo kín khít và không bị mất nước trong quá trình đổ bê tông.

          Các độ võng, độ lún của đà giáo và ván khuôn được tính trước và được chỉ ra trong bản vẽ, các thông số này phù hợp và đảm bảo yêu cầu cho phép.

          Khi lắp dựng xong ván khuôn, tiến hành nghiệm thu việc gia công lắp đặt với Kỹ sư TVGS nhà thầu chính, khi được chấp thuận mới được chuyển các công việc tiếp theo.

          Ván khuôn và đà giáo khi tháo dỡ được bắt đầu khi bê tông đã thành hình và đạt được cường độ cho phép như Quy trình ký thuật của Dự án và được sự chấp thuận của Kỹ sư Tư vấn giám sát.

    1. Công tác gia công lắp dựng cốt thép

          Căn cứ vào hồ sơ thiết kế nhà thầu sẽ gia công các loại cốt thép tại xưởng ngoài công trường, trước khi xuất xưởng sẽ sắp xếp cốt thép của từng lô theo chủng loại riêng biệt để phân biệt cho dễ.

          Các loại cốt thép mua về đều được sự chấp thuận của Kỹ sư TVGS cho phép sử dụng loại thép đó mới tiến hành tập kết về công trường và gia công.

          Cốt thép được lưu giữ và bảo quản trong nhà kho kín, tránh tiếp xúc với ánh sáng và thời tiết bên ngoài gây rỉ sét.

          Cấu kiện cốt thép được gia công xong, khi chưa sử dụng tới được bảo quản kỹ càng và cẩn thận tại kho có nền cao ráo, không bị ngập nước, không bị ẩm ướt, có mái che chắn để không bị mưa gió làm ảnh hưởng đến chất lượng cốt thép.

          Việc lắp dựng cốt thép sẽ tuân thủ theo đúng bản vẽ thiết kế, các bộ phận nào lắp trước, bộ phận nào lắp sau. Công tác cốt thép được thực hiện bởi công nhân có tay nghề cao dưới sự giám sát của kỹ sư hiện trường.

         Độ chính xác của việc gia công và lắp đặt cốt thép tuân thủ và đảm bảo đúng các quy định trong quy trình thi công cầu cống hiện hành.

    Kết thúc công tác cốt thép có biên bản nghiệm thu mới được tiến hành đổ bê tông.

    1. Công tác bê tông

           Bê tông được trộn bằng máy trộn 250L ngay, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn , không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Trước khi đổ bê tông, ván khuôn được làm sạch bôi trơn, chống dính và làm nhẵn bề mặt khi ván khuôn tiếp xúc với bê tông.

         Trước khi trộn cần lấy mẫu cốt liệu để kiểm tra độ ẩm thực tế nhằm khống chế lượng nước một cách thích hợp.

          Thực hiện đổ bê tông bằng máng rót và đầm bằng đầm dùi. Dùng thủ công gõ cạnh ván khuôn để đảm bảo độ nhẵn mịn phía ngoài thành. Bê tông được đổ vào máng từ phễu trộn đảm bảo độ rơi tự do không quá 1,00m.

         Trong điều kiện có mưa, việc đổ bê tông tạm dừng lại trừ khi có các biện pháp thích hợp như che bạt.

    1. Công tác xây đá hộc

           Đá hộc sử dụng xây trong công tác phải có nguồn gốc rõ ràng, đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định của Dự án và được TVGS đồng ý, cho phép sử dụng. Làm sạch tất cả các viên đá một cách kỹ lưỡng và làm ẩm trước khi xây. Vệ sinh bề mặt thi công sạch sẽ. Chiều dày vữa nền và mạch xây giữa các viên đá được tuân theo đúng  quy định kỹ thuật của Dự án. Đặt các viên đá phải được sao cho chúng tạo nên đường song song theo từng lớp. Các viên đá được xếp sao cho bề mặt lộ ra ngoài phải tuơng đối bằng phẳng.

          Trong quá trình thi công chú ý bịt các mối nối với các kết cấu liền kề để tránh hiện tượng xói và tạo thoát nước. Tại các nơi phải bố trí các mối nối xiên, đổ thẳng vữa vào các mối lộ và nền đến chiều sâu yêu cầu. Làm sạch bề mặt đá hộc xây khi vữa còn ướt.

    III – Thuyết minh tính toán đơn giá

        Khối lượng chào thầu theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo khối lượng nghiệm thu tại hiện trường.

            Đơn giá chào thầu được lập trên cơ sở định mức dự toán hiện hành có tham khảo đơn giá thực tế khoán nhân công và máy hiện nay trong ngành xây dựng cầu đường.

       Đơn giá chào thầu chỉ bao gồm chi phí nhân công và máy ( Chi phí trực tiếp ) không có chi phí vật tư chính và vật tư phụ và chưa có thuế VAT 10 %.

    • Đơn giá đắp đất, cẩu lắp cấu kiện: Nhà thầu chính cung cấp đầm cóc và cần cẩu 10 T nên trong đơn giá không tính chi phí máy.
    • Đơn giá gia công thép tròn : Nhà thầu chính cấp thép tròn, que hàn, giây buộc.
    • Công tác đào đất bằng máy do nhà thầu chính thực hiện, Nhà thầu phụ chỉ đào san sửa thủ công và chịu trách nhiệm đắp đê vây, lắp ống nhựa D 200 dẫn dòng và bơm nước, nhà thầu chính cấp ống nhựa D 200.
    • Trong công tác đổ bê tông nhà thầu phụ chịu trách nhiệm máy trộn, máy hàn, máy đầm, máy cắt uốn thép và ván khuôn.
    • Trong quá trình thi công Nhà thầu chính có yêu cầu bổ sung khối lượng hai bên sẽ thống nhất đơn giá bổ sung bằng phụ lục hợp đồng trước khi thi công.
    • Đơn giá nhân công công nhật cho công việc giản đơn sử dụng thợ phụ ( Bậc 3/7 ) là : 220.000 đ/ ngày.
    • Đơn giá bốc vật tư lên xuống ô tô từ kho : 120.000 đ/ tấn
    • Chi phí bảo vệ hiện trường tại vị trí thi công cống Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm.
    • Lán trại thi công của mình do Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm. Nhà thầu phụ tự chịu trách nhiệm tổ chức bếp ăn tập thể và sinh hoạt hàng ngày.
    • Chi phí chuyển quân, thiết bị do nhà thầu phụ lo.
    • Bãi đúc cấu kiện do Nhà thầu chính cấp vật tư và thuê nhà thầu phụ thi công.
    • Nhà thầu chính giao mặt bằng, cấp hồ sơ kỹ thuật, đo đạc định vị công trình. Nhà thầu chính cho nhà thầu phụ mượn máy thủy bình tự kiểm tra cao độ trong quá trình thi công.
    • Hồ sơ công trình, thí nghiệm vật liệu…vv do Nhà thầu chính làm, Nhà thầu phụ chỉ có trách nhiệm triển khai thi công trên cơ sở hồ sơ thiết kế, nghiệm thu công việc với Kỹ sư của Nhà thầu chính, Nhà thầu chính có trách nhiệm nghiệm thu với tư vấn giám sát và ban A và chịu các chi phí quan hệ khác.
    • Ngoài công việc của mình, Kỹ sư của nhà thầu phụ sẽ hỗ trợ tối đa các công việc khác trên hiện trường cũng như nội nghiệp theo yêu cầu của Nhà thầu chính. Hai bên sẽ kết hợp tối ưu trong công việc nhằm phục vụ công việc chung của Dự án.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-K%E1%BA%BET-C%E1%BA%A4U-V%C3%80-V%E1%BA%ACT-LI%E1%BB%86U-T%E1%BA%A0O-T%E1%BA%A4M-H%E1%BA%A4P-PH%E1%BB%A4-%C4%90%E1%BA%BEN-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-NHI%E1%BB%86T-C%E1%BB%A6A-B%E1%BB%98-THU-N%C4%82NG-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-M%E1%BA%B6T-TR%E1%BB%9CI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

     

    Đỗ Minh Cường*, Nguyễn Thị Ngọc, Trần Đức Hạnh, Đặng Duy Phước Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

     

    Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu khả năng nâng nhiệt của bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời với kết cấu và vật liệu khác nhau là hết sức quan trọng để có cơ sở khoa học tính toán lựa chọn vật liệu và kết cấu bộ thu hợp lý cho các thiết bị ứng dụng nhiệt năng lượng mặt trời. Với mục đích này, ba thí nghiệm đã được thiết lập: thí nghiệm 1 xác định ảnh hưởng các góc nghiêng (20, 30 và 40o); thí nghiệm 2 xác định ảnh hưởng các vật liệu (tôn sống V sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn); và thí nghiệm 3 xác định ảnh hưởng độ cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu năng lượng mặt trời. Các dụng cụ đo được sử dụng để xác định sự biến thiên nhiệt độ tại các vị trí xác định khi kết cấu và vật liệu thay đổi. Kết quả chỉ ra rằng trong bộ thu nhiệt không khí đối lưu tự nhiên, với cùng một diện tích thu nhiệt, kết cấu và vật liệu khác nhau cho khả năng thu nhiệt khác nhau: nhiệt độ không khí sau bộ thu tăng 3oC khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu tăng từ 20o đến 40 o; Nhiệt độ không khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là vật liệu tôn sống V sơn đen và tấm fibro sơn đen sai khác nhau không lớn và luôn cao hơn trường hợp sử dụng tấm fibro không sơn đen đến 17oC; Khả năng nâng nhiệt không khí của bộ thu tăng khi tăng chiều cao lắp đặt. Những kết quả này cần được chú ý khi ứng dụng các bộ thu nhiệt phẳng năng lượng mặt trời.

     

    Từ khóa: Bộ thu nhiệt, tấm fibro, năng lượng mặt trời, tôn sơn đen.

     

    Nhận bài: 18/03/2019        Hoàn thành phản biện:  26/03/2019                    Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Năng lượng mặt trời (NLMT) là nguồn năng lượng sạch, miễn phí và vô tận. Nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sản xuất và ứng dụng nguồn nhiệt từ NLMT đã được ứng dụng từ lâu và đang là kỹ thuật đầy hứa hẹn nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng trên thế giới trong khi các nguồn năng lượng nhiệt khác đang ngày càng cạn kiệt.

     

    Hiện tại, đã có nhiều bộ thu nhiệt NLMT được nghiên cứu lắp đặt với nhiều lĩnh vực ứng dụng như bộ thu nhiệt cho hệ thống sấy hay sưởi ấm, bộ gia nhiệt nước nóng… trong đó bộ thu phẳng được ứng dụng rộng rãi bởi nó có cấu tạo đơn giản, tuy nhiên hiệu suất thu nhiệt thấp, được ứng dụng trong trường hợp cần nhiệt độ trung bình hoặc thấp, năng lượng từ bức xạ mặt trời làm nóng dòng khí hoặc dung dịch lỏng qua bộ thu được đưa đến các bộ trao đổi nhiệt khác (Garg và Adhikari, 1999; Belusko và cs., 2007).

     

    Nhiều nghiên cứu đã triển khai để nâng cao hiệu suất bộ thu như thay đổi vật liệu hấp thụ, tăng diện tích truyền nhiệt (Yeh và Ting, 1986; Khawagianh và cs., 2011; Goldstein và Sparrow, 1976; Gao và cs., 2000; Chaube và cs., 2005), thay đổi chiều dòng khí và sử dụng nhiều vách ngăn (Yeh và cs., 2000), hay thay đổi số kênh dẫn khí (Naphon, 2005); thay đổi vật liệu tấm hấp thụ (Singh và cs., 1982) để đo lường các thông số nhiệt, đặc biệt là nhiệt độ dòng khí sau bộ thu.

     

    1209

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    Hiện nay ở vùng nông thôn Việt Nam, tấm lợp fibro ximăng đang được sử dụng phổ biến bởi đây là tấm lợp có nhiều ưu điểm như bền với môi trường kiềm và axit, chịu mưa nắng tốt, không bắt cháy, không ồn và giá thành rất rẻ… Trong nghiên cứu này, tấm fibro ximăng được sử dụng để làm tấm hấp thụ trong bộ thu nhiệt, để so sánh với vật liệu tấm hấp thụ khác; kết cấu bộ thu cũng được thay đổi để đánh giá khả năng nâng nhiệt của nó, kết quả được phân tích, so sánh và đánh giá bằng thực nghiệm.

     

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Vật liệu nghiên cứu

    Ba bộ thu nhiệt (kích thước 1,0 x 0,5 x 0,1m) được chế tạo và lắp đặt để tiến hành thí nghiệm. Vật liệu chế tạo bộ thu gồm khung thép V liên kết hàn; cách nhiệt sử dụng xốp dày 0,05m; vật liệu tấm hấp thụ sử dụng tôn sống V sơn đen, tấm fibro sơn đen và không sơn; tấm đậy trong suốt sử dụng kính xây dựng dày 5mm. Mô hình thí nghiệm thể hiện trên hình 1a.

     

     

     

    Hình 1. Hệ thống thí nghiệm: a) Hình ảnh mô hình thí nghiệm; b) Các thiết bị đo lường.

     

    1. Tấm hấp thụ; 2. Tấm đậy trong suốt là kính xây dựng.

    2.2. Bố trí thí nghiệm

     

    Các thí nghiệm được tiến hành tại Trường Đại học Nông Lâm Huế, toạ độ địa lý là 107°31′ – 107°38′ kinh Ðông và 16°30′-16°24′ vĩ Bắc; Thời gian bắt đầu thí nghiệm vào lúc 9h00 đến 16h30 từ ngày 22 – 24 tháng 8 năm 2018.

     

    Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của góc nghiêng đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức ứng với 3 góc nghiêng (20, 30 và 40o) và 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các vật liệu khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 loại vật liệu (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

    Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng các chiều cao khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 chiều cao (0,2; 0,6 và 1,0m) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    1210

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Bộ thu được đặt nghiêng theo hướng Nam. Khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; Sử dụng thiết bị đo nhiệt độ để đo nhiệt độ không khí đầu ra của bộ thu, nhiệt độ mặt kính và nhiệt độ mặt tấm hấp thụ, đo cường độ bức xạ mặt trời khi kết cấu và vật liệu của bộ thu được thay đổi.

     

    Trong quá trình thí nghiệm, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ, tốc độ không khí được xác định sử dụng các thiết bị (hình 1b) để đo cường độ bức xạ mặt trời Tenmars TN-206 – Đài Loan (độ chính xác 0,1 W.m-2); Thiết bị đo vi khí hậu EN100 – Đài Loan (độ chính xác 1,2oC); Thiết bị đo đa năng ADD81 để đo nhiệt độ qua cảm biến nhiệt (độ chính xác 0,1oC); Thiết bị đo nhiệt độ lazer Sealey VS905 – Anh (độ chính xác 0,1oC).

    2.3. Xử lý số liệu

     

    Số liệu thu thập được xử lý và thể hiện trên các biểu đồ sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 2013, các kết quả được phân tích, so sánh, đánh giá.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1 Ảnh hưởng của góc nghiêng lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Các thí nghiệm được bắt đầu vào lúc 9h00 đến 16h30, khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, trời nắng. Kết quả biến thiên nhiệt độ theo kết cấu bộ thu và cường độ bức xạ mặt trời thể hiện trên Hình 2, 3, 4.

     

     

    Hình 2. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ không khí sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 2 cho thấy, cường độ bức xạ mặt trời tăng liên tục và nhanh từ 9h00 đến 12h30 và bắt đầu giảm dần từ 13h00 đến 16h30, cường độ bức xạ đạt cao nhất là 945W/m2. Kết quả thí nghiệm cho thấy biến thiên nhiệt độ không khí thu được sau bộ thu phụ thuộc vào góc nghiêng lắp đặt: góc nghiêng lắp đặt là 30o cho nhiệt độ cao nhất xác định từ 9h00 đến 11h30, tuy nhiên từ 12h00 đến chiều, nhiệt độ không khí sau bộ thu đạt cao nhất ở bộ thu có góc nghiêng lắp đặt là 40o; nhiệt độ không khí sau bộ thu thấp nhất (cả ngày) cho bộ thu có góc nghiêng là 20o so sánh với 30 và 40o nghiêng của bộ thu.

     

    Nhiệt độ không khí tự nhiên đo được cũng cho thấy tăng từ 9h00 đến 13h00, giảm từ 13h30 đến 16h30, trung bình cả ngày khoảng 30oC. Tốc độ gió tự nhiên rất thấp và thay đổi liên tục, tốc độ trung bình là 0,2 m/s.

     

    Nhiệt độ đo được tại mặt kính cũng biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời trong ngày (Hình 3). Kết quả cho thấy nhiệt độ mặt kính cao nhất khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu là 20o và giảm dần khi góc lắp đặt tăng. Tuy nhiên sự sai khác này là không lớn, đặc biệt là lúc sáng sớm và chiều muộn.

     

    1211

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

     

     

    Hình 3. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    Thí nghiệm cũng tiến hành đo nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nhiệt. Kết quả cho thấy nhiệt độ cao nhất đo được là 78,2oC, cao hơn nhiệt độ không khí tự nhiên đến hơn 45oC. Có sự sai khác nhiệt độ giữa các tấm hấp thụ, tuy nhiên không lớn (khoảng 5oC) xác định tại thời điểm 12h30 và sự sai khác này giảm dần khi cường độ bức xạ giảm dần. Nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nghiêng 20o cao nhất và thấp nhất với bộ thu có góc nghiêng 40o. Điều này chỉ ra rằng, khi có sự trao đổi nhiệt lớn hơn giữa dòng khí và bề mặt tấm hấp thụ do tốc độ đối lưu tự nhiên lớn hơn (bộ thu có góc nghiêng 40o) thì thu được nhiệt độ dòng khí cao hơn làm cho nhiệt độ tấm hấp thụ giảm; đối với bộ thu có góc nghiêng lắp đặt 20o cho nhiệt độ tấm hấp thụ cao hơn bởi tốc độ dòng khí đối lưu tự nhiên thấp dẫn đến sự trao đổi nhiệt giữa không khí và tấm hấp thụ hạn chế. Sự sai khác này không đáng kể khi sáng sớm và chiều muộn.

     

    Mặt khác góc nghiêng lắp đặt bộ thu có ảnh hưởng đến góc tới tia tới trực xạ BXMT đến bề mặt bộ thu, làm ảnh hưởng đến các thông số nhiệt của bộ thu.

     

     

    Hình 4. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    3.2 Ảnh hưởng của vật liệu chế tạo tấm hấp thụ đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Thí nghiệm được tiến hành với 03 bộ thu có vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và không sơn), cùng góc nghiêng là 30o, cường độ BXMT cao nhất đạt 980 W.m-2, nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, tốc độ gió tự nhiên thấp và thay đổi liên tục. Kết quả thấy rằng nhiệt độ không khí sau bộ thu đo được biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời, có sự sai khác rõ rệt nhiệt độ không khí sau bộ thu khi vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (hình 5). Đối với bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là tôn sống V sơn đen và tấm

    1212

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    fibro ximăng sơn đen, sự sai khác nhiệt độ không khí sau bộ thu không lớn (4o) trong khi chênh lệch nhiệt độ không khí sau bộ thu giữa tấm hấp thụ fibro ximăng sơn đen (hay tôn sơn đen) và tấm fibro không sơn đen là rõ rệt (8oC). Kết quả cũng cho thấy sau 13h00, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ tấm fibro ximăng sơn đen cao hơn tôn sống V, chỉ ra rằng khả năng lưu nhiệt của tấm fibro ximăng. Những kết quả này khẳng định rằng tấm lợp fibro ximăng có thể được ứng dụng trong chế tạo bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời, đặc biệt vật liệu này luôn có sẵn, giá thành rẻ, bền khi sử dụng với bức xạ mặt trời.

     

     

    Hình 5. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Khi đo nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày (hình 6), với bộ thu sử dụng tấm fibro ximăng sơn đen cho thấy nhiệt độ kính cao nhất và nhiệt độ thấp nhất khi tấm hấp thụ là fibro ximăng không sơn. Tuy nhiên, sự sai khác này là không lớn (4oC).

     

     

    Hình 6. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày.

     

    Trong khi đó, chênh lệch khá lớn nhiệt độ mặt tấm hấp thụ cũng biến thiên theo thời gian trong ngày (hình 7) khi thay đổi vật liệu chế tạo tấm hấp thụ. Nhiệt độ cao nhất với tấm hấp thụ tôn sống V sơn đen (78oC) và thấp nhất với tấm fibro không sơn (57 oC). Khi cường độ bức xạ mặt trời giảm nhanh, nhiệt độ tấm fibro sơn đen cao hơn tôn sống V sơn đen và tấm fibro không sơn, điều này là bởi vì tấm fibro có thể lưu nhiệt lâu hơn tôn kẽm, kết quả này có thể phải được chú ý khi sử dụng bộ thu tấm fibro ximăng cho các thiết bị gia nhiệt không khí (thiết bị sấy), thời gian gia nhiệt (thời gian sấy) có thể được kéo dài khi mà cường độ bức xạ mặt trời giảm dần.

     

    1213

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

     

    Hình 7. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt hấp thụ theo thời gian.

     

    3.3 Ảnh hưởng của chiều cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu, nhiệt độ mặt kính và mặt tấm hấp thụ được xác định. Kết quả thể hiện trên hình 8, 9 10.

     

     

    Hình 8. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 8 cho thấy rằng khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ không khí sau bộ thu thay đổi theo. Tuy nhiên, sự thay đổi này không lớn khi sáng sớm và chiều muộn. Nhiệt độ không khí cao nhất thu được sau bộ thu khi chiều cao lắp đặt bộ thu 1,0m, và thấp nhất khi chiều cao lắp đặt bộ thu 0,2m. Trong thực tiễn, chiều cao lắp đặt bộ thu thường chi hai nhóm: nhóm bộ thu lắp đặt thấp dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu tự nhiên, để giảm chiều cao thiết bị; và nhóm bộ thu lắp đặt cao ở trên thiết bị (thường lớn hơn 1,0 m) dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu cưỡng bức. Nghiên cứu này chỉ ra tăng chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt cho nhiệt độ dòng khí sau bộ thu cao hơn. Kết quả này cần được chú ý khi thiết kế, chế tạo và lắp đặt hệ thống bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời.

     

     

    Hình 9. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    1214

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Nhiệt độ tại mặt kính khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu chênh lệch không lớn, nhiệt độ cao nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt 0,2m, trong khi sự sai khác nhiệt độ tại mặt kính trong trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m không rõ rệt.

     

     

    Hình 10. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    Khi xác định nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ cho thấy rằng nhiệt độ thấp nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt bộ thu là 0,2m, trong khi nhiệt độ cao nhất ở trường hợp chiều cao lắp đặt bộ thu là 1,0m, sự sai khác nhiệt độ giữa trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m là không đáng kể.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    Trong giới hạn hệ thống thí nghiệm đã được thiết lập, nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của góc nghiêng, vật liệu chế tạo và chiều cao lắp đặt bộ thu đến các thông số nhiệt độ của bộ thu. Kết quả chỉ ra rằng, khi thay đổi góc nghiêng bộ thu, nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tăng khi góc nghiêng tăng, tuy nhiên nhiệt độ tấm hấp thụ có chiều hướng ngược lại. Trong khi nhiệt độ tại mặt kính sai khác nhau không lớn. Tốc độ dòng khí không ổn định do tốc độ dòng khí tự nhiên không ổn định.

     

    Khi thay đổi vật liệu tấm hấp thụ, cho thấy rằng nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tôn kẽm cao nhất trong khi bộ thu tấm fibro xi măng không sơn có nhiệt độ không khí thấp nhất. Nhiệt độ tại mặt tôn tương tự, tuy nhiên nhiệt độ tại mặt kính đo được cho thấy nhiệt độ thấp nhất cho trường hợp bộ thu fibro xi măng không sơn đen. Thời gian lưu nhiệt của mặt hấp thụ tấm fibro ximăng lâu hơn.

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt, cho thấy nhiệt độ không khí sau bộ thu cao hơn khi tăng chiều cao lắp đặt bộ thu. Nhiệt độ kính sai khác nhau không lớn trong khi nhiệt độ mặt hấp thụ thấp nhất khi chiều cao lắp đặt thấp nhất.

     

    Có thể kết luận, đối với các bộ thu nhiệt không khí kiểu đối lưu tự nhiên, nên tăng góc nghiêng lắp đặt bộ thu (40o, theo kết quả trong nghiên cứu), tăng chiều cao lắp đặt và cần sơn đen tấm hấp thụ để nâng cao hiệu suất thu nhiệt của bộ thu; kết quả cũng chỉ ra có thể sử dụng tấm fibro xi măng là vật liệu hấp thụ trong các bộ thu nhiệt không khí. Những kết quả này phải được chú ý khi thiết kế, chế tạo bộ thu nhiệt không khí ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.

     

     

    1215

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGYISSN 2588-1256

    Vol. 3(2) – 2019

       

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Belusko M., Saman W. and Bruno F. (2008). Performance of jet impingement in unglazed air collectors. Solar Energy, 82, 389-398. doi: 10.1016/j.solener.2007.10.005

     

    Chaube A., Sahoo P. K. and Solanki S. C. (2006). Analysis of Heat Transfer Augmentation and Flow Characteristics Due to Rib Roughness over Absorber. Renewable Energy, 31, 317-331. doi:10.1016/j.renene.2005.01.012.

     

    El-khawajah M. F., Aldabbagh L. B. Y., Egelioglu F. (2011). The effect of using transverse fins on a double pass flow solar air heater using wire mesh as an absorber. Solar Energy, 85, 1479-1487. doi: org/10.1016/j.solener.2011.04.004.

     

    Gao W. F., Lin W. X. and Lu E. R. (2000). Numerical Study on Natural Convection Inside the Channel between the Flat-Plate Cover and Sine-Wave Absorber of a Cross-Corrugated Solar Air-Heater. Energy Conversation Management, 41, 145-151. doi: 10.1016/S0196-8904(99)00098-9.

     

    Garg H. P. and Adhikari R. S. (1999). Performance evaluation of a single solar air heater with n-subcollectors connected in different combinations. International Journal of Energy Research, 23, 403-414. doi:10.1002/(SICI)1099-114X(199904)23:5 <403::AID-ER488>3.0.CO;2-F

     

    Heat-Exchanger Configuration. ASME Journal of Heat Transfer, 98, 26-34. doi: 10.1115/1.3450464

     

    Naphon P. (2005). On the Performance and Entropy Generation of the Double-Pass Solar Air Heater with Longitudinal Fins. Renewable Energy, 30, 1345- 1357. doi: 10.1016/j.renene.2004.10.014

     

    Singh D., Bharadwaj S. S., and Bansal N. K. (1982). Thermal performance of a matrix air heater, 6, 103-110. doi: org/10.1002/er.4440060202

     

    Yeh H. M. and Ting Y. C. (1986). Effects of Free Convection on Collector Efficiencies of Solar Air Heaters. Applied Energy, 22(2), 145-155. doi: 10.1016/0306-2619(86)90078-4

     

    Yeh H. M., Ho C. D. and Lin C. Y. (2000). Effect of Collector Aspect Ratio on the Collector Efficiency of Upward Type Baffled Solar Air Heaters, Energy Conversation and Management, 41(9), 971- 981. doi:10.1016/S0196-8904(99)00148-X.

     

    EFFECTS OF STRUCTURE AND ABSORBER PLATE MATERIALS TO THERMAL PARAMETERS OF SOLAR AIR COLLECTOR

     

    Do Minh Cuong*, Nguyen Thi Ngoc, Tran Duc Hanh, Dang Duy Phuoc Hue University – University of Agriculture and Forestry

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Study on thermal parameters of air solar collectors with different structures and materials is very important to have a scientific basis for design solar devices. For these purposes, an experimental system has been set up, measuring devices are used to determine the temperature variation at certain locations in collector when structures and materials were changed. The results show that with the same air collector area, changing structure and materials of solar collector can be effected to the thermal parameter of solar collector as hot air temperature, glass temperature and absorber plate temperature. The results also show black fibro sheet can be used as good absorber material in design of the solar air collector. These results should be taken into account when applying air flat solar heat collectors.

     

    Key words: Solar air collector, fibro sheet, solar energy, black iron tole

     

    Received: 18th March 2019              Reviewed: 26th March 2019                    Accepted: 30th March 2019

     

    1216

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%C3%ADnh-v%E1%BB%8B-ch%E1%BB%A7ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-uy-t%C3%ADn-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-c%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-th%C3%B4ng-minh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

     

    • Trƣơng Mỹ Ngọc
    • Lê Nguyễn Hậu

    Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG HCM – Email: [email protected]

     

    (Bài nhận ngày 31 tháng 10 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 12 năm 2016)

     

    TÓM TẮT

     

     

    Bài viết này khám phá vai trò của tính vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Dựa trên kiểm nghiệm mô hình cấu trúc với bộ dữ liệu thu thập từ 259 khách hàng, kết quả cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận về uy tín thương hiệu, dẫn đến lượng giá

    sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng. Bên cạnh ý nghĩa lý thuyết, kết quả này gợi cách tạo uy tín cho các thương hiệu mới của điện thoại thông minh Việt nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu dựa trên tính vị chủng tiêu dùng.

     

     

    Từ khóa: Tính vị chủng, uy tín thương hiệu, giá trị cảm nhận, sẵn lòng mua, điện thoại thông minh, thương hiệu Việt.

     

     

    1.   GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, những chiếc điện thoại thông minh đang thật sự trở thành tâm điểm của thế giới công nghệ. Với việc ngày càng được tích hợp nhiều ứng dụng tiên tiến, điện thoại thông minh giờ đây không chỉ đơn thuần là thiết bị để nghe, gọi hoặc nhắn tin mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng của máy tính, máy ảnh, máy nghe nhạc, v.v… Vì vậy, điện thoại thông minh đang dần thay thế các sản phẩm công nghệ cao khác mang lại nhiều loại giá trị cho con người.

     

    Trong những năm gần đây, thị trường điện

     

    thoại thông minh ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Phan Tuấn, 2015). Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng sẽ là 10% – 15% đến năm 2019 (Trần Nghĩa, 2015). Về phía cung, gần như tất cả các thương hiệu danh tiếng thế giới như: Sony, Samsung, LG, HTC và mới đây là Huawei, Oppo,… đều đã có mặt và đang chiếm được phần to của “miếng bánh”. Ở phần còn lại, từ năm 2008 đã xuất hiện các thương hiệu Việt như Q – Mobile, Mobiistar, F – Mobile, Avio, Q – Smart và gần đây là Bphone của Bkav. Mặc dù đã góp mặt trong mọi phân khúc từ thấp đến cao cấp, nhưng gần như chưa có một thương hiệu điện

     

    Trang 68

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    thoại Việt nào đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện thoại thông minh của nước ngoài. Trong báo cáo gần đây của IDC cho biết trong quý II năm 2015, thị phần điện thoại thông minh của các thương hiệu Việt đã giảm xuống chỉ còn 7%, so với 10% của cùng kỳ năm 2014 (Phan Tuấn, 2015). Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và nghiên cứu là ở giai đoạn đầu chưa có nhiều tương tác với thị trường để tích lũy uy tín thì làm cách nào để smartphone Việt tạo dựng uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận cho người tiêu dùng Việt?

     

    Trong bối cảnh đó, bài báo này được hình thành dựa trên ý tưởng “có thể có sản phẩm hay thương hiệu toàn cầu, nhưng động cơ mua thì không toàn cầu” (De Mooij, 2013) và quan điểm văn hoá đa dạng trong phạm vi quốc gia (Henderson & ctg, 2013). Theo đó, những đặc thù riêng của dân tộc, xã hội và văn hoá của mỗi thị trường và mỗi cá nhân có thể có vai trò khác nhau đối với thái độ và hành vi người tiêu dùng v.v. Trong đó, nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của tính vị chủng của người tiêu dùng Việt đối với trường hợp sản phẩm điện thoại thông minh. Lược khảo sơ bộ cho thấy đã có một vài nghiên cứu trước đây ở Việt nam về chủ đề tính vị chủng (Nguyen & ctg, 2008; Le & ctg., 2011, 2013). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính vị chủng và cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu thì chưa được khám phá.

     

    Mục tiêu của bài báo này là tìm hiểu tác động của tính vị chủng lên cảm nhận về uy tín thương hiệu, từ đó dẫn đến sự lượng giá và cảm nhận giá trị sản phẩm và sự sẵn lòng mua của người tiêu dung Việt đối với chiếc điện thoại thông minh Việt nam. Bên cạnh hàm ý lý thuyết về vai trò của tính vị chủng trong hành

     

    • mua, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà sản xuất điện thoại thông minh Việt nam xây dựng chiến lược phát triển uy tín thương

    hiệu trong giai đoạn khó khăn mới thâm nhập thị trường.

     

    2.   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT

     

    2.1. Các khái niệm nghiên cứu

     

    Tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism): Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng có xuất sứ từ khái niệm tính vị chủng, vốn là một khái niệm tâm lý – xã hội nhằm diễn tả tính cách của một cá nhân trong một bối cảnh văn hoá – xã hội (Sumner, 1906; Levine & Campbell, 1972). Khái niệm tính vị chủng được định nghĩa là khuynh hướng của một người xem cộng đồng văn hoá của họ là trung tâm của vũ trụ, là quy chiếu cho các cộng đồng khác. Họ có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm cộng đồng văn hoá khác và đánh giá cao, tự hào một cách mù quáng các giá trị, chuẩn mực và con người thuộc nhóm văn hoá của mình (Booth 1979; Worchel and Cooper, 1979).

     

    Từ đó, khái niệm tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis & ctg., 2007). Tính vị chủng tiêu dùng được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về sự đúng đắn về đạo lý (moral appropriateness) trong việc mua các sản phẩm nước ngoài. Theo đó, người có tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cho rằng việc mua sản phẩm nước ngoài là sai trái; điều đó sẽ gây tác hại cho sản xuất trong nước, gây mất công ăn việc làm trong nước, là không yêu nước (Shimp & Sharma, 1987; Spillan, 2008).

     

    Uy tín thƣơng hiệu (brand credibility):

     

    Uy tín thương hiệu được định nghĩa là mức độ đáng tin của các tín hiệu hàm chứa trong một thương hiệu (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm hoặc định vị thương hiệu) trong mối tương quan với thị trường và người tiêu dùng

     

    Trang 69

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    (Erdem & Swait, 2004). Khái niện này được cấu thành bởi hai thành phần là sự đáng tin (trustworthiness) và năng lực (capability) của thương hiệu trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng (Erdem & Swait, 1998).

     

    Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu là kết quả tích lũy lâu dài của sự tương tác giữa thương hiệu và thị trường nói chung, thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008). Đối với mỗi cá nhân khách hàng (đặc biệt là khách hàng mới) trong điều kiện thông tin bất đối xứng (doanh nghiệp hiểu rõ về sản phẩm hơn khách hàng rất nhiều), thì uy tín thương hiệu là tín hiệu quan trọng để họ xem xét và lựa chọn thương hiệu (Erdem & Swait, 2004; Wernerfelt, 1988).

     

    Lƣợng giá sản phẩm (product judgement)

     

    được định nghĩa là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự đáng giá của một sản phẩm dựa trên cảm nhận của họ về sự công bằng về giá và cảm nhận về chất lượng (Hansen, 2005). Nói cách khác, lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc hai (second-order reflective construct), được hình thành bởi hai thành tố là chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Chất lượng cảm nhận của sản phẩm gồm một tập hợp các thuộc tính của một sản phẩm tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu tường minh và tiềm ẩn của khách hàng (Zeithaml, 1988). Theo Lee (1996), Monroe & Krishnan (1985) cho rằng chất lượng cảm nhận là đánh giá của khách hàng về khả năng sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra sự hài lòng cho họ. Mặt khác, cảm nhận sự công bằng về giá hay giá cảm nhận phản ánh cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về mức độ hợp lý hay sự tương xứng giữa sản phẩm với giá bán của nó (Agrawal & ctg, 2007; Jacoby & Olson, 1977).

     

    Giá trị cảm nhận (perceived value): Giá

     

    trị cảm nhận được xem là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với những lợi ích mà sản phẩm mang lại so với những gì mà họ bỏ ra (Zeithaml, 1988; Treacy & Wiersema, 1995). Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ thì giá trị cảm nhận có thể khác nhau đối với mỗi người, tuỳ vào tính cách, hoàn cảnh, vào nhận định về mức độ quan trọng của lợi ích và chi phí mà họ phải bỏ ra (Le & ctg., 2013). Đã có nhiều nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận. Đối với điện thoại thông minh, Bakon và Hassan (2013) đề nghị bốn thành phần biểu hiện là giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức. Giá trị chức năng đề cập đến chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Do nghiên cứu này đã xem xét riêng 2 thành phần này trong khái niệm lượng giá sản phẩm nên chỉ xét ba biểu hiện còn lại của giá trị cảm nhận.

     

    Giá trị xã hội gồm những lợi ích từ khả năng một sản phẩm giúp đề cao cảm nhận cá nhân về mặt xã hội (Sweeney & Soutar, 2001; Le & ctg., 2013). Giá trị cảm xúc liên quan đến những trải nghiệm tích cực về tình cảm hay cảm xúc mà một sản phẩm mang lại (Sweeney

     

    • Soutar, 2001). Giá trị tri thức là giá trị có được dựa trên sự đổi mới, tính hiếu kỳ hoặc mới lạ, bởi người tiêu dùng cảm thấy quá quen với những sản phẩm hiện tại (Seth & ctg, 1991). Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng về sự đổi mới liên tục các chức năng của điện thoại thông minh (Krajaluoto & ctg., 2005; You & ctg., 2011; Khan & Hyunwoo, 2009).

    Sẵn lòng mua (Willingness to buy): Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó. Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành

     

    1. Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua. Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng

    Trang 70

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành

     

    1. Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng mua để biểu thị cho khuynh hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng. Sẵn lòng mua được nói đến cả trong khuynh hướng mua (Lumpkin & ctg., 1985) và khuynh hướng mua lại (Hossain, 2006).

    2.2. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

     

    Tính vị chủng và uy tín thƣơng hiệu

     

    Như đã đề cập, uy tín thương hiệu thể hiện lòng tin của khách hàng về các tín hiệu hàm chứa trong thương hiệu và về năng lực thực hiện sự cam kết của thương hiệu với khách hàng. Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu được tích lũy dần thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008).

     

    Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, như đã nêu trong phần giới thiệu đề tài, do còn mới trên thị trường, lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu chưa được tích lũy qua quá trình tương tác trong quá khứ theo cách tiếp cận duy lý nêu trên. Ngược lại, nó được phát triển theo cách tiếp cận xã hội và cảm xúc, dựa vào lòng tin và lòng tự tôn của những người trong cùng một cộng đồng, nghĩa là theo tính vị chủng của họ. Vì người có tính vị chủng cao thường xem cộng đồng của họ là trung tâm, là mẫu mực (Sumner, 1906; Shimp

     

    • Sharma, 1987), nên họ sẽ có xu hướng tin tưởng, nâng cao giá trị và sản phẩm do con người thuộc nhóm của mình tạo ra

    (Chryssochoidis & ctg., 2005). Nghiên cứu thực nghiệm Obradovic (2013) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao sẽ đánh giá thương hiệu nội địa thuận lợi hơn thương hiệu nước ngoài về chất lượng thương hiệu, uy tín thương hiệu và dự định mua. Do đó, giả thuyết

     

    được đặt ra như sau:

     

    H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và cảm nhận về uy tín của các thương hiệu điện thoại thông minh Việt Nam.

     

    Tính vị chủng và giá trị cảm nhận

     

    Những khám phá của Shimp & Sharma (1987), Steenkamp & ctg. (2003), Vida và Reardon (2008) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao thường có thái độ yêu thích và hướng đến các thương hiệu nội địa hơn là những thương hiệu nước ngoài, ngay cả khi các thương hiệu nước ngoài có chất lượng cao hơn (Shimp & Sharma, 1987). Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tác động của tính vị chủng của khách hàng lên việc hình thành thái độ của họ (e.g., Batra & ctg., 2000; Pharr, 2005; Vida & Reardon, 2008). Dimitrovic & ctg. (2009) đã chỉ ra rằng tính vị chủng của khách hàng có hàm ý quan trọng đối với nhận thức của họ về giá trị sản phẩm. Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, nghiên cứu này kỳ vọng tính vị chủng của khách hàng tạo nên một ảnh hưởng tích cực vào nhận thức của họ về giá trị của sản phẩm, dựa trên khía cạnh phi vật chất của nó (tức là giá trị cảm xúc, giá trị xã hội và giá trị trí thức). Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được đề nghị như sau:

     

    H2: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và giá trị cảm nhận của họ đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Uy tín thƣơng hiệu và lƣợng giá sản phẩm

     

    Uy tín thương hiệu được xem là có mối quan hệ trực tiếp với lượng giá sản phẩm với hai biểu hiện chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận (công bằng giá). Vigneron và Johnson (1999) đã chứng minh rằng khách hàng đánh

     

    Trang 71

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    giá chất lượng của một sản phẩm thông qua uy tín thương hiệu. Các nghiên cứu của Baek & ctg. (2010); Hanzaee & Taghipourian (2012) cũng đều cho thấy uy tín thương hiệu có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng cảm nhận. Nghĩa là uy tín thương hiệu chính là dấu hiệu tổng quát quan trọng về sự cam kết chất lượng và khả năng tạo ra chất lượng sản phẩm (Grunert

     

    • , 2001; Jeddiand & Imed, 2010). Mặt khác, uy tín thương hiệu còn thể hiện sự đáng tin (trustworthiness) của thương hiệu đối với khách hàng. Ở đây là sự đáng tin về giá bán sản phẩm. Nghĩa là, một khi khách hàng đánh giá uy tín thương hiệu càng cao thì họ càng yên tâm về sự công bằng trong giá bán trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như sau:

    H3: Có mối quan hệ đồng biến giữa cảm nhận về uy tín thương hiệu và lượng giá sản phẩm của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Lƣợng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận

     

    Mối quan hệ giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận được biện giải dựa trên lý thuyết mục đích – phương tiện MEC (Gutman

     

    • Alden, 1985; Zeithaml, 1988). Theo đó, chất lượng và giá trong lượng giá sản phẩm là những yếu tố cụ thể được khách hàng cân nhắc trước khi mua xem liệu sản phẩm có mang lại những giá trị mà họ mong muốn hay không (Reynolds & Gutman, 1984). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi khách hàng

    đánh giá cao về chất lượng sản phẩm hoặc công bằng về giá thì họ sẽ cảm nhận tốt về giá trị sản phẩm mà họ sử dụng (Hu & ctg., 2009; Chen, 2008). Một vài học giả khác cho rằng lượng giá sản phẩm bao gồm cảm nhận chất lượng và cảm nhận công bằng về giá có tương quan mạnh với giá trị chức năng của sản phẩm (Chen

     

    • Hu, 2010), một yếu tố làm nền tảng cho cảm nhận về các giá trị khác như giá trị xã hội và

    giá trị cảm xúc (Rust & ctg., 2000). Ở Việt nam, Le & ctg (2013) cũng đã cho thấy lượng giá cảm nhận có tác động tích cực lên giá trị cảm nhận. Vì vậy, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

     

    H4: Có mối quan hệ đồng biến giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Giá trị cảm nhận (kỳ vọng) và sự sẵn lòng mua

     

    Giá trị cảm nhận được nhiều học giả xác định là khái niệm có khả năng dự đoán tốt hơn sự hài lòng về các hành vi sau mua trong tiếp thị (Egger & Ulaga, 2002; Whittaker & ctg., 2007). Hơn nữa, giá trị cảm nhận có thể hình thành (kỳ vọng) trước khi mua và sử dụng sản phẩm (Gronroos, 2008). Theo đó, giá trị kỳ vọng có vai trò dẫn dắt thái độ và hành vi tiêu dùng (Sweeney & Soutar, 2001) trong đó có sự sẵn lòng mua. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá trị cảm nhận của một sản phẩm/ thương hiệu dẫn đến ý định hành vi đối với sản phẩm/ thương hiệu đó (Nguyen & ctg., 2008). Tương tự, Flynn & ctg. (2013) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá trị cảm nhận và sự sẵn lòng mua. Vì vậy, trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

     

    H5: Có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt và sự sẵn lòng mua của họ.

     

    Mô hình nghiên cứu

     

    Với năm giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như trong Hình 1. Theo đó, tính vị chủng tiêu dùng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về uy tín thương hiệu (H1), đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị

     

    Trang 72

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    cảm nhận đối với sản phẩm (H2). Tiếp đến, uy tín thương hiệu được giả thuyết là có tác động tích cực đến lượng giá sản phẩm (H3). Lượng giá sẽ được kiểm định mối quan hệ với giá trị cảm nhận (H4), yếu tố được xem là tiền đề quan trọng cho sự sẳn lòng mua của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt (H5).

     

    Trong mô hình nghiên cứu này (hình 1), khái niệm lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc 2 được cấu thành bởi Chất lượng cảm nhận và Công bằng về giá. Tương tự như vậy, Giá trị cảm nhận cũng là một khái niệm tiềm ẩn bậc 2 bao gồm ba thành phần là giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức.

     

                             

    Chat luong

     

    UY TIN

       

    H3+

       

    LUONG GIA

       

    cam nhan

     
                       

    THUONG HIEU

             

    SAN PHAM

               
             

    Cong bang

     
                               
                               

    ve gia

     
                             

    H1+

                 

    H4+

           
                                 
                                   
                                     

    TINH

       

    H2+

       

    GIA TRI

    H5+

     

    SAN LONG MUA

    VI CHUNG

               

    CAM NHAN

         
                           
                                   
                           
                                     
           

    Gia tri xa hoi

       

    Gia tri cam xuc

     

    Gia tri tri thuc

     
                               
       

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

               

    3.   PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Mô hình và các giả thuyết được kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có kích thước 259 cases. Mẫu được thu thập qua một cuộc khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi đến dưới 50 tuổi (nhóm khách hàng chính của điện thoại thông minh). Họ là nhưng người đã/ đang sử dụng điện thoại thông minh và đã biết đến điện thoại thông minh thương hiệu Việt (được nhận dạng thông qua câu hỏi gạn lọc). Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp tại nơi làm việc, học tập, tại nhà hoặc nơi thuận tiện khác.

     

    Nội dung các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, có hiệu chỉnh thông qua bước phỏng vấn sơ bộ (xem Bảng 2). Theo đó, thang đo Tính vị chủng gồm 4 biến quan sát (Keilor & Hult, 1999), Uy tín thương hiệu gồm 4 biến quan sát (Baek & ctg, 2010), thang đo Lượng giá sản phẩm gồm 2 thành phần Cảm

     

    nhận công bằng về giá (4 biến quan sát) và Chất lượng cảm nhận (6 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001, trong đó có 3 biến bổ sung từ phỏng vấn định tính), thang đo Giá trị cảm nhận gồm 3 thành phần là Giá trị cảm xúc (3 biến quan sát), Giá trị xã hội (4 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001) và Giá trị tri thức (4 biến quan sát) (Almakrami, 2013). Thang đo Sẵn lòng mua gồm 3 biến quan sát (Sweeney & Soutar, 2001). Các thang đo có dạng Likert 7 điểm.

     

    1. KẾT QUẢ Mô tả mẫu

    Như trình bày trong Bảng 1, mẫu dữ liệu được thu thập từ 259 người tiêu dùng đã biết đến smartphone thương hiệu Việt như Bphone, Mobiistar, Q – Smart, Viettel, Hkphone, F – Mobile, Masstel, Vivas và Avio. Về giới tính, mẫu gồm 152 nam (58,7%) và 107 nữ (41,3%);

     

    • người thuộc độ tuổi 18 – 34 chiếm 70,7% và 76 người 35 – dưới 50 tuổi (29,3%). Phân bố

    Trang 73

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    thu nhập chủ yếu ở mực trung bình và khá, cụ thể là 4 – 9 trđ/th (45,2%) và 9 – 20 trđ/th (36,7%). Qua đó cho thấy mẫu khảo sát là đủ

     

    đa dạng cho các phân tích thống kê và phản ánh nhóm khách hàng tiềm năng của loại sản phẩm này.

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu (n = 259)

     

     

    Tần số

    Tỷ lệ

     

    Tần số

    Tỷ lệ

    Thương hiệu được biết:

     

    Độ tuổi:

     

    Bphone (Bkav)

    84

    32,4

    18-34 tuổi

    183

    70,7

    Mobiistar

    53

    20,5

    35-49 tuổi

    76

    29,3

    Q-Smart (Q-Mobile)

    46

    17,8

    Tổng

    259

    100

    Viettel

    23

    8,9

    Thu nhập (trđ/th):

       

    HKphone (ROVI)

    22

    8,5

    Dưới 4

    17

    6,6

    F-Mobile (FPT)

    19

    7,3

    Từ 4 – dưới 9

    117

    45,2

    Masstel, Vivas, Avio

    12

    4,6

    Từ 9 – dưới 20

    95

    36,7

    Tổng

    259

    100%

    Từ 20  trở lên

    30

    11,5

    Giới tính:

       

    Tổng

    259

    100

    Nam

    152

    58,7

         

    Nữ

    107

    41,3

         

    Tổng

    259

    100

         

    Đánh giá và gạn lọc thang đo

     

    Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và độ tin cậy Cronbach’s alpha. Với 32 biến ban đầu, sau khi loại 6 biến (đo uy tín thương hiệu, chất lượng

     

    cảm nhận, tính vị chủng, giá trị xã hội và giá trị tri thức) do hệ số tải nhân tố thấp (< 0.4) hoặc có hệ số tải cao trên 2 nhân tố, các thang đo với

     

    • biến còn lại được đưa vào kiểm định chính thức với phân tích CFA.

    ảng 2. Kết quả đánh giá thang đo

     

     

    Hệ số tải

    Thang đo và biến quan sát

    chuẩn

     

    hóa

    Uy tín thƣơng hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,845; CR = 0,846; AVE = 0,649

     

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại có uy tín

    0,838

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại cao cấp

    0,683

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại được nhiều người tin dùng

    0,882

    Tôi nghĩ thương hiệu X luôn thực hiện đúng những cam kết như đã hứa

    *

    Lƣợng giá sản phẩm (2 thành phần):

     

    + Cảm nhận giá: Cronbach’s Alpha = 0,946; CR = 0,948; AVE = 0,820

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá hợp lý

    0,873

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X mang lại những lợi ích tương xứng với giá bán

    0,956

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tương xứng với giá bán

    0,944

    Trang 74

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá phù hợp với mong muốn chi trả của tôi

     

    0,846

    + Chất lƣợng cảm nhận: Cronbach’s Alpha = 0,899; CR = 0,859; AVE = 0,672

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tốt

     

    0,881

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X đáng tin cậy

     

    0,883

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có độ bền cao

     

    0,679

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có những tính năng đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    **

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có cấu hình đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có thời lượng pin đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tính vị chủng: Cronbach’s Alpha = 0,834; CR = 0,841; AVE = 0,639

       

    Tôi nghĩ người Việt Nam chân chính thì luôn ủng hộ các thương hiệu Việt

     

    *

    Mua điện thoại nước ngoài là góp phần làm cho một số người VN bị mất việc

     

    0,856

    Tôi nghĩ mua điện thoại nước ngoài sẽ gây tổn hại cho các thương hiệu điện thoại VN

     

    0,802

    Tôi nghĩ mua điện thoại thông minh thương hiệu Việt là thể hiện lòng yêu nước

     

    0,735

    Giá trị cảm nhận (3 thành phần):

       

    + Giá trị cảm xúc: Cronbach’s Alpha = 0,923; CR = 0,896; AVE = 0,812

     

    Tôi sẽ cảm thấy sung sướng khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,868

    Tôi sẽ cảm thấy thích thú khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,933

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X sẽ mang lại cho tôi sự hài lòng

     

    **

    + Giá trị xã hội: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,916; AVE = 0,784

     

    Sử dụng điện thoại X giúp tôi duy trì mối quan hệ với người thân/bạn bè/đồng nghiệp

     

    *

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi được nhiều người tôn trọng

     

    0,868

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi thể hiện vị trí xã hội của tôi

     

    0,902

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ tạo được ấn tượng với người khác

     

    0,887

    + Giá trị trí thức: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,924; AVE = 0,801

     

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ thỏa mãn tính hiếu kỳ của tôi về công nghệ

     

    0,865

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi nhiều kiến thức về công nghệ mới

     

    0,949

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ khơi dậy tính sáng tạo của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi những trải nghiệm về công nghệ mới

     

    0,869

    Sẵn lòng mua: Cronbach’s Alpha = 0,856; CR = 0,872; AVE = 0,699

       

    Nếu có ý định mua điện thoại thông minh, tôi sẽ mua thương hiệu X

     

    0,966

    Tôi sẽ mua điện thoại thông minh thương hiệu X trong tương lai gần

     

    0,855

    Tôi sẽ mua điện thoại X ngay cả khi có một điện thoại nước ngoài khác cùng chất lượng

     

    0,657

    và giá

       

    Ghi chú: * loại qua EFA;   ** loại qua CFA

     

    Tám thang đo đơn hướng được đưa vào phân tích CFA. Kết quả cho thấy các biến quan sát có giá trị Skewness từ -0,82 đến -0,07 và Kurtosis từ -0,68 đến +0,98 nên được xem là không vi phạm đáng kể về phân phối chuẩn.

     

    Tiếp tục loại thêm 2 biến (đo chất lượng cảm nhận và giá trị cảm xúc) do tương quan giữa các sai số cao, kết quả cho thấy mô hình thang đo với 24 biến quan sát đạt độ phù hợp với dữ liệu thực tế. Cụ thể, ước lượng ML cho kết quả

     

    Trang 75

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    như sau: Chi-square = 253,4; df = 224; p = 0,086; Chi-square/df = 1,13, GFI = 0,926, CFI = 0,994, TLI = 0,992 và RMSEA = 0,023.

     

    Như thể hiện trên Bảng 2, hệ số tải chuẩn hoá của các biến dao động từ 0,66 đến 0,97, đồng thời phương sai trích của các thang đo AVE = 0,64 – 0,82 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy tổng hợp Composite reliability (CR) từ 0,84 đến 0,95 nên các thang đo đạt độ tin cậy. Tương quan giữa các khái niệm dao động từ 0,28 tới 0,64, thấp xa đáng kể với 1 (với p = 0,05) nên các thang đo đạt độ giá trị phân biệt.

     

    Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình này có 242 bậc tự do, giá trị Chi – square = 276,21, Chi – square/df = 1,14, p = 0,06; các chỉ tiêu khác là GFI = 0,919, TLI = 0,992, CFI = 0,993 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,023. Như vậy, có thể kết luận là mô hình này phù hợp tốt với dữ liệu thu thập

     

    được từ thực tiễn và 60% phương sai của yếu tố Sẵn lòng mua được giải thích bởi các yếu tố có trong mô hình nghiên cứu.

     

    Kết quả ước lượng (Bảng 3) cho thấy các mối quan hệ kiểm định đều có hệ số hồi quy chuẩn hoá dương và có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), do đó các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được ủng hộ.

     

    Đồng thời, kết quả còn cho thấy các khái niệm bậc 2 là Giá trị cảm nhận được phản ánh bởi ba khái niệm bậc 1 là Giá trị cảm xúc (l = 0,80), Giá trị xã hội (l = 0,72) và Giá trị tri thức (l = 0,82); còn Lượng giá sản phẩm được phản ánh bởi Cảm nhận giá (l = 0.62) và chất lượng cảm nhận (l = 0.77). Ngoài ra, phân tích cấu trúc đa nhóm cũng đã được thực hiện với các nhóm thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thu nhập về các mối quan hệ được kiểm định trong mô hình.

     

    ảng 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

     

    Mối quan hệ

    Hệ số chuẩn

    p

    Kiểm định

     

    hóa

    giả thuyết

           

    Tính vị chủng

    Uy tín thương hiệu

    0,50

    0,007

    Ủng hộ H1

    Tính vị chủng

    Giá trị cảm nhận

    0,38

    0,005

    Ủng hộ H2

    Uy tín thương hiệu

    Lượng giá sản phẩm

    0,74

    0,003

    Ủng hộ H3

    Lượng giá sản phẩm →

    Giá trị cảm nhận

    0,69

    0,005

    Ủng hộ H4

    Giá trị cảm nhận

    Sẵn lòng mua

    0,77

    0,004

    Ủng hộ H5

    Giá trị cảm nhận → Giá trị cảm xúc

    0,80

    0,004

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị xã hội

    0,72

    0,002

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị trí thức

    0,82

    0,003

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận chất lượng

    0,77

    0,004

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận giá

    0,62

    0,004

     

    5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

     

    Thông qua trường hợp của sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, bài viết này tìm hiểu vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu

     

    đối với những loại sản phẩm tiêu dùng công nghệ cao, đa giá trị và được sản xuất trong nước trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong bối cảnh như vậy thì việc tạo được uy tín trên thị

     

    Trang 76

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    trường và sự chấp nhận mua của người tiêu dùng là một thách thức rất khó vượt qua của các thương hiệu mới nổi của Việt nam.

     

    Với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, việc tạo dựng uy tín thương hiệu bằng cách thức tích lũy dần lòng tin của người tiêu dùng nói riêng và thị trường nói chung thông qua tương tác kinh tế – xã hội như con đường truyền thống đã được đề cập nhiều trong các tài liệu là quan trọng, nhưng cần có nhiều thời gian và phải đầu tư nguồn lực thì mới đạt được mục đích. Trước mắt, khi mà uy tín thương hiệu còn thấp, cần phải có cách tiếp cận khác. Đó chính là cách tiếp cận dựa trên các giá trị xã hội, cộng đồng được chia sẻ thông qua khái niệm tính vị chủng tiêu dùng.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng của người tiêu dùng là yếu tố có tác động mạnh đến cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu. Do đó, yếu tố này là cơ sở rất tiềm năng cho vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu Việt. Mặt khác, tính vị chủng Việt còn có tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thông minh thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của họ. Với tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua uy tín thương hiệu), tính vị chủng tiêu dùng có khả năng tác động mạnh (std. total effect = 0,64; p

     

    • 0,003) đến cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm, trong đó bao gồm giá trị chức năng (lượng giá sản phẩm) và giá trị phi chức năng (xã hội, cảm xúc và tri thức).

    Tiếp đến, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của uy tín thương hiệu đối với việc người tiêu dùng lượng giá sản phẩm (β = 0.74; p = 0.003). Trong điều kiện khách hàng khó có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm điện thoại thông minh Việt (do đặc điểm công nghệ của sản phẩm) thì uy tín thương hiệu chính là yếu tố đại diện để xem xét sản phẩm. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cung

     

    cấp một cứ liệu thực nghiệm khẳng định quan điểm rằng với những sản phẩm thiết yếu có mức giá trung bình thì giá trị chức năng đóng vai trò cơ bản, làm tiền đề (β = 0,69; p = 0,005) cho các dạng giá trị xã hội, cảm xúc và tri thức.

     

    Như vậy, đóng góp đáng chú ý của bài báo này là tìm ra ảnh hưởng quan trọng (trực tiếp và gián tiếp) của tính vị chủng đến uy tín thương hiệu và cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, chưa được nhiều người biết đến. Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín thương hiệu cho điện thoại thông minh thương hiệu Việt trong việc thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm. Kết quả này cũng gợi ý tổng quát cho những sản phẩm thương hiệu Việt có tính chất tương tự như đa giá trị (chức năng, cảm xúc, xã hội, tri thức) và uy tín thương hiệu là chỉ báo cho chất lượng sản phẩm.

     

    Về hàm ý quản trị, con đường khả dĩ để bắt đầu xây dựng uy tín thương hiệu Việt chính là thông qua tín vị chủng. Quá trình này tập trung vào việc chọn nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng có tính vị chủng cao (thường là lớn tuổi hơn) và xây dựng chiến lược và nội dung truyền thông phù hợp.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Bài viết này tập trung vào việc khám phá vai trò của tính vị chủng trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, có công nghệ cao, đa giá trị được sản xuất trong nước và mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến uy tín thương hiệu, lượng giá sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt.

     

    Trang 77

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Kết quả này gợi ý một phương án dành cho các thương hiệu điện thoại thông minh mới nổi của Việt Nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu. Đó là dựa trên tính vị chủng tiêu dùng, dựa trên sự tự hào, tự tôn dân tộc, trên những chuẩn mực giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.

     

    Như những nghiên cứu khác, bài viết cũng còn một số hạn chế. Bên cạnh việc không tìm thấy sự khác biệt trong kết quả giữa các nhóm

     

    nhu nhập, có thể có sự khác biệt liên quan đến yếu tố khác như nhóm tuổi, hoặc trình độ học vấn. Thêm vào đó, các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể mở rộng ra những sản phẩm tương tự. Đồng thời tiếp tục tìm hiểu hiện trạng và vai trò của tính vị chủng của Việt trong thái độ và hành vi tiêu dùng của họ đối với các nhóm sản phẩm khác nhau trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 78

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    The effects of consumer ethnocentrism on Vietnamese brand credibility and perceived value – A Study of Vietnamese branded smartphone

     

    • Truong My Ngoc
    • Le Nguyen Hau

    University of Technology, VNU HCM – Email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    This   study   investigated   the   role   of

    value. Ethnocentrism also has a direct impact

    consumer ethnocentrism on the perception of

    on the perceived value of Vietnamese branded

    brand  credibility  in  the  case  of  Vietnamese

    smartphone, resulting in the willingess-to-buy.

    branded  smartphone –  a  high-tech, multiple-

    Besides contributing to the current literature,

    value  product  being  manufactured  locally.

    the findings also provide suggestions for new

    Based  on  a  survey  of  259  consumers,  the

    Vietnamese  smartphone  brands  to  develop

    analysis revealed that ethnocentrism exerts a

    brand  credibility  on  the  basis  of  consumer

    strong impact on brand credibility which leads

    ethnocentrism

    to  positive  product  judgement  and  perceived

     

    Keyword: Ethnocentrism, brand credibility, perceived value, willingess-to-buy, smartphone, Vietnamese brand.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    • Agarwal, N. K., Wang, Z., Xu, Y., & Poo,
    1. C. C. Factor affecting 3G adoption: An empirical study. Proceeding of 11th Pacific-Asia Conference on Information System (PACIS), 256-270 (2007).
    • Ajzen, I. The Theory of Planned Behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50, 179-211 (1991).
    • AlMakrami, A. H. An investigation into brand value dimensionality and its effects on loyalty: evidence from the high-tech brandscape in Saudi Arabia (Doctoral dissertation, Brunel University) (2013).
    • Baek, T. H., Kim, J., & Yu, J. H. The differential roles of brand credibility and brand prestige in consumer brand choice. Psychology & Marketing, 27(7), 662-678 (2010).
    • Batra, R., Ramaswamy, V., Steenkamp, J. B., & Ramachander, S. Effects of brand local and nonlocal origin on consumer attitudes in developing countries. Journal of Consumer Psychology, 9(2), 83-95 (2000).
    • Chen, C.F., Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction and behavioral

    Trang 79

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    intentions for air passengers: evidence from Taiwan, Transportation Research Part A: Policy and Practice, Vol. 42, pp. 709-717 (2008).

     

    • Chen, P. and Hu, H., How determinant attributes of service quality influence customer-perceived value: an empirical investigation of the Australian coffee outlet

    industry, International Journal of Contemporary Hospitality Management, Vol. 22 No. 4, pp. 535-551 (2010).

     

    • Chryssochoidis, G., Krystallis, A., & Perreas, P. Ethnocentrism beliefs and country-of-origin (COO) effect: Impact of country, product and product attributes on Greek consumers’ evaluation of food products. European Journal of Marketing, 41(11), 1518-1544 (2007).
    • De Mooij,    Global  marketing  and

    advertising: Understanding cultural paradoxes. Sage Publications (2013).

     

    • Dimitrovic, T., Vida, I., & Reardon, J. Purchase behavior in favor of domestic products in the West Balkans. International Business Review, 18(5), 523-535 (2009).
    • Eggert, A., & Ulaga, W. Customer perceived value: A substitute for satisfaction in business markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 17(2/3), 107-118 (2002).
    • Erdem, T., & Swait, J. Brand credibility, brand consideration, and choice. Journal of consumer research, 31(1), 191-198 (2004).
    • Flynn, J., Greig, T., & Mukaiwa, M. The influence of perceived product quality, relative price and risk on customer value and willingness to buy: A study of private label merchandise. Journal of Product & Brand Management, 22(3), 218-228 (2013).
    • Grönroos, C. Service logic revisited: who

    creates value? And who co-creates?. European business review, 20(4), 298-314 (2008).

     

    • Grunert, K. G., Lahteenmaki, L., Niellsen, N. A., Poulsen, J. B., Ueland, O., & Astrom, A. Consumer perception of food products involving genetic modification:

    Results from a qualitative study in four nordic countries. Food Quality and Preference, 12(8), 527-542 (2001).

     

    • Gutman, J., & Alden, S. D. Adolescents’ cognitive structures of retail stores and fashion consumption: a means-end chain analysis of quality. Perceived quality: how

    consumers view stores and merchandise/edited by Jacob Jacoby, Jerry C. Olson (1985).

     

    • Hansen,    Perspectives   on   consumer

    decisionmaking:Anintegrated

     

    approach. Journal           of            Consumer

     

    Behaviour, 4(6), 420-437 (2005).

     

    • Hanzaee, K. H., & Taghipourian, M. J. The effects of brand credibility and prestige on consumers purchase intention in low and high product involvement. Journal of Basic and Applied Scientific Research, 2(2), 1281-1291 (2012).
    • Henderson, G.R., Guzman, F., Huff, L. and Motley, C.M., “The Ian’s pizza tribe: reconceptualzing cross-cultural research in the digital age”,Journal of Business

    Research, Vol. 66, pp. 283-287 (2013).

     

    • Hossain, P. A relational study on perceived value, brand preference, customer satisfaction, and repurchase intention in context of Akij Textile Mills LTD in Bangladesh. Bangladesh: Independent University (2006).
    • Hu, H.H., Kandampully, J. and Juwaheer, T.D., Relationships and impacts of service

    quality, perceived value, customer satisfaction, and image: and empirical study, The Service Industries Journal, Vol. 29 No. 2, pp. 111-125 (2009).

     

    • Jacoby, J., & Olson, J. C. Consumer response to price: An attitudinal information processing perspective. In Wind, Y., & Greenberg, P. (Eds), Moving ahead with attitude research (pp. 73-86). Chicago: American Marketing Association (1977).
    • Jeddiand, N., & Imed, Z. The impact of label perception on the consumer’s purchase intention: An application on food

    Trang 80

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    products. IBIMA Business Review, 20, 1-14 (2010).

     

    • Karjaluoto, H., Karvonen, J., Kesti, M., Koivumaki, T., Manninen, M., Pakola, J., Ristola, A., & Salo, J. Factors affecting consumer choice of mobile phones: Two studies from Finland. Journal of Euromarketing, 14(3), 59-82 (2005).
    • Keillor, B.D. and Hult, G.T.M., A five-country study on national identity: implications for international marketing research and practice, International Marketing Review, Vol. 16 No. 1, pp. 65-82 (1999).
    • Khan, K., & Hyunwoo, K. Factor affecting consumer resistance to innovation – A study of Smartphone (Master’s thesis). Sweden: Jonkoping International Business School (2009). Retrieved from http://hj.diva-portal.org.
    • Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức Anh Người Việt dùng hàng Việt: Vai trò của tính vị chủng và lượng giá đối với sự sẵn lòng mua hàng Việt Nam. Science & Technology, 14(3), 56-67 (2011).
    • Le, N. H., Nguyen, T. H. M., & Nguyen V. T. National identity and the perceived values of foreign products with local brands

    – The case of local wine in Vietnam. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 25(5), 765-783 (2013).

     

    • Lee, D. B. S. H. E. The relationship between price and objective apprarel quality: A comparison between the United States market and Korean market (Master’s thesis). Texas: Texas Tech University (1996).
    • Lumpkin, J. R. Shopping orientation segmentation of the elderly consumer. Journal of Academy of Marketing Science, 13, 271-289 (1985).
    • Monroe, B, K., & Krishnan, R. The effect of price on subjective product evaluations. In Jacoby, J., & Obson, C. J. (Eds),

    Perceived Quality (pp. 210-231). Lexington, MA: D. C. Health and Company (1985).

     

    • Nguyen, D. T., Nguyen, T. T. M., & Barrett, N. Consumer ethnocentrism, cultural sentivity, and intention to purchase local product – Evidence from Vietnam. Journal of Consumer Behavior, 7, 88-100 (2008).
    • Nguyen, T. T. M., & Smith, K. The impact of status orientations on purchase preference for foreign products in Vietnam, and implications for policy and society. Journal of Macromarketing, 32(1), 52-60 (2012).
    • Obradovic, J. Consumer perspective: Does brand globalness really matter? (Master of Science). Vienna: University of Vienna (2013).
    • Phan Tuấn. 5 điểm nhấn của thị trường di

    động Việt trong năm 2015. Báo Dân trí.

     

    Khai thác từ http://dantri.com.vn (27/12/2015).

     

    • Pharr, J. M. Synthesizing country-of-origin research from the last decade: Is the concept still salient in an era of global brands?. Journal of Marketing Theory and Practice, 13(4), 34-44 (2005).
    • Reardon, J., Miller, C., Vida, I., & Kim, I. The effect of ethnocentrism and economic development on the formation of brand and ad attitudes in transitional economies. European Journal of Marketing, 39(7/8), 737-754 (2005).
    • Reynolds, T. J., & Gutman, J. Laddering: Extending the repertory grid methodology to construct attribute-consequence-value hierarchies. Personal values and consumer psychology, 2, 155-167 (1984).
    • Rust, R.T., Zeithaml, V.A. and Lemon, K.N., Driving Customer Equity, The Free Press, New York, NY (2000).
    • Shimp, T. A., & Sharma, S. Consumer ethnocentrism: Construction and validation of the CETSCALE. Journal of Marketing Research, 24(3), 280-289 (1987).
    • Spillan, J. E., Kucukemiroglu, O., & de Mayolo, C. A. Profiling Peruvian consumers’ lifestyles, market segmentation,

    Trang 81

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    and ethnocentrism. Latin American Business Review, 8(4), 38-59 (2008).

     

    • Steenkamp, J. B. E. M., Batra, R., & Alden, D. L. How perceived brand globalness

    creates brand value. Journal of International Business Studies, 34, 53-65 (2003).

     

    • Sumner, G. W. Folkways: The Sociological Importance of Usage, Manner, Custom, Mores, and Morals. Boston: Ginn and Co (1906).
    • Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220 (2001).
    • Sweeney, ,  &  Swait,  J.  The  effects  of

    brand credibility on customer loyalty. Journal of retailing and consumer services, 15(3), 179-193 (2008).

     

    • Trần Nghĩa Smartphone Việt “teo tóp”. Báo Nhịp Cầu Đầu Tư. Khai thác từ http://nhipcaudautu.vn (08/12/2015).
    • Treacy, M., & Wiersema F. The Discipline of Market Leader. United States: Addison-Wesley (1995).
    • Vida, I., & Reardon, J. Domestic consumption: Rational, affective or normative choice?. Journal of Consumer Marketing, 25(1), 34-44 (2008).
    • Vigneron, F., & Johnson, L. W. A review and a conceptual framework of prestige-seeking consumer behavior. Psychology & Marketing, 21, 487-508 (1999).
    • Wernerfelt, B. Umbrella branding as a signal of new product quality: An example of signalling by posting a bond. The RAND Journal of Economics, 458-466 (1988).
    • Whittaker, G., Ledden, L., & Kalafatis, S. P. A re-examination of the relationship between value, satisfaction and intention in business services. Journal of Services Marketing, 21(5), 345-357 (2007).
    • You, J. H., Le, J. H., & Park, C. Factors affecting adoption and post-adoption of Smartphone. 2011 International Conference on Software and Computer Applications, 9, 108-112 (2011).
    • Zeithaml, V. A. Consumer perceptions of price, quality, and value: A means-end model and synthesis of evidence. The Journal of Marketing, 52(3), 2-22 (1988).

     

     

     

    Trang 82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-V%E1%BB%80-T%C3%8CNH-H%C3%8CNH-GAME-TRUNG-QU%E1%BB%90C-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

     

    Phạm Thùy Dương*

     

    Tóm tắt

     

    Trò chơi trực tuyến (game online) là một trong ngành công nghiệp mới nổi của Trung Quốc, nhưng nó đã tác động mạnh tới thị trường quốc tế thông qua việc nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường quốc tế và khu vực. Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Các nhà phát hành game Trung Quốc không những rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra quốc tế, mà còn đưa sản phẩm của mình chiếm lĩnh thị phần lớn ở một số nước, trong đó đáng chú ý là Việt Nam. Hiện nay, hơn 80% thị phần game ở Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông người chơi game Việt. Sự xâm nhập

     

    • ạt các sản phẩm game Trung Quốc vào Việt Nam đã đem lại nhiều cơ hội giải trí cho người dân Việt, tạo điều kiện phát triển ngành game Việt, nhưng cũng gây ra không ít tác động tiêu cực.

    Từ khóa: game Trung Quốc, nguyên nhân, tác động, thị trường.

     

    Mã số: 321. Ngày nhận bài:       . Ngày hoàn thành biên tập:         . Ngày duyệt đăng:             .

     

    Abstract

     

    Though online games has only been an emerging industry in China recently, it has drawn a significant influence upon the world market through its quick domination in both international and regional one. In the Top 100 highly industrialized countries of the world, China has taken the 2nd place, only after the United States. Chinese online games publishers not only succeeds in expanding their products and reputation to other parts of the world, but it also takes a high proportion in the market share of the target markets, especially Vietnam. Nowadays, more than 80% of Vietnam online games market share belongs to Chinese products, which become the number one choice for the majority of Vietnamese gamers. The massive market penetration of Chinese online games has brought numbers of entertainment opportunities for Vietnam, facilitating the advancement of Vietnam online games industry, however, this has still imposed some negative effects.

     

    Key words: Chinese online games, market, causes, consequences.

     

    Paper No. 321. Date of receipt:        . Date of revision:            . Date of approval:                .

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Từ một quốc gia chưa có tên trong ngành công nghiệp văn hóa thế giới vào những năm 90 thế kỷ XX, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Trung Quốc đã vươn lên đứng hàng thứ 5 trong những quốc gia xuất nhập khẩu văn hóa lớn nhất thế giới. Đồng thời, ngành công nghiệp không khói này

     

    cũng đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Hiện, tỉ lệ đóng góp của ngành thương mại xuất khẩu trong nền kinh tế Trung Quốc khoảng 20%, trong đó các sản phẩm văn hóa có tỉ lệ đóng góp không nhỏ. Nếu như năm 2010, xuất khẩu công nghiệp văn hóa Trung Quốc đạt 11.67 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2009, thì đến năm

     

    *

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 113

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    2012, xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25.9 tỷ USD, tăng 38.5% so với cùng kỳ năm 2011. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25,13 tỷ USD, tăng 2,6% so với năm 20061. Năm 2015, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa Trung Quốc là 2723,5 tỷ NDT, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 3,97% GDP, tăng 0,16% so với năm 20142. Chính bởi vậy, phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành một trong ba chiến lược quan trọng quốc gia của Trung Quốc: chiến lược “làm giàu kinh tế”; chiến lược “sáng tạo khoa học kỹ thuật”; chiến lược “phát triển sản nghiệp văn hóa”. Cùng với làn sóng mở cửa của toàn nền kinh tế, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đã bước đầu thể hiện năng lực cạnh tranh quốc tế với các đối thủ mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc khi tác động tới các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút mạnh nguồn vốn quốc tế đầu tư vào thị trường nội địa, đặc biệt thể hiện nổi bật ở lĩnh vực mới game online trong những năm gần đây. Chính phủ Trung Quốc hiện đang rất chú trọng đầu tư cho ngành game, với mong muốn chuyển đổi từ một Trung Quốc “chế tạo ” sang Trung Quốc “sáng tạo”, và qua 10 năm, ngành game của Trung Quốc đã có bước đột phá đáng kinh ngạc, “xâm lấn” hầu hết thị trường các nước trên thế giới, thậm chí tại số một số nước, game Trung Quốc chiếm thị phần rất lớn và có ảnh hưởng nhất định, trong đó có thị trường Việt Nam.

     

    2. Tình hình thị trường game Trung Quốc hiện nay

    10 năm trước đây, khi làng game Việt bắt đầu hình thành, các game thủ Việt Nam hầu hết chỉ quen thuộc với các game có xuất xứ từ Hàn Quốc; ngay cả tại Trung Quốc Đại lục, các sản phẩm game xứ Hàn cũng chiếm thị phần lớn. Tuy nhiên, chỉ mấy năm sau, giai đoạn 2005-2006, ngành game Trung Quốc phát triển một cách ngoạn mục, không chỉ giành vị trí đầu tiên trong làng game trong nước, game Trung Quốc còn dần xâm lấn sang các thị trường các nước có nền công nghiệp game tiên tiến khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay của IESHerpa năm 2014, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ3. Các nhà phát hành game Trung Quốc cũng rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra các nước trên thế giới. Nếu như doanh thu từ việc xuất khẩu game ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2010 chỉ đạt 230 triệu USD, thì đến năm 2012 con số này đã đạt 570 triệu USD, năm 2013 là 1,82 tỷ USD tăng 219,30% so với năm 2012, năm 2014 là 3,07 tỷ USD, tăng 69,02% so với năm 20134.

     

    Mặc dù hiện nay game Trung Quốc có mặt trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng sự phân bố thị trường của cường quốc game này có sự chênh lệch khá rõ nét.

     

    • Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/content_2530048. htm.
    • Năm 2015, công nghiệp văn hóa Trung Quốc tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml.
    • Theo thống kê của Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74.
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf

    114         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

     

    120

     

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

     

    4%

    12%

     

    Các nước khác

         
         

    27%

         

    Châu Âu

         
         
     

    9%

     

    Bắc Mỹ

       
       
       

    3%

     

    Nam Mỹ

         
         

    19%

       

    Đông Nam Á

    26%

       
       
       

    Đông Á

         
           
           

    Nội địa

           
           

    Hình 1: Tình hình phân bố thị trường game Trung Quốc năm 2012

     

                               

    Nguồn: GPC và IDC 20125

                     

    110

    113

     
                       
                           

    79

         
                                 

    50

                             
                             

    23

     

    37

                         
                       
         

    11

                     
                           
                                 
                       
                                       
                                       

    Các nước Châu Âu  Bắc Mỹ  Nam Mỹ

     

    Đông

    Đông Á  Nội địa

     

    khác

    Nam Á

               

    Hình 2: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu đến các nước trên thế giới năm 2012

     

    Nguồn: GPC và IDC 20126

     

     

    Theo tổng kết báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, ngoài thị trường nội địa chiếm 27% thị phần, khu vực Đông Nam Á là các nước đứng thứ hai trên thế giới trong bảng thị trường game của Trung Quốc với 26% thị phần, kế tiếp là các nước Đông Á chiếm 19%, châu Âu 12%, Bắc Mỹ 9%, Nam Mỹ 3% và các nước khác

     

    4%. Cũng theo bảng báo cáo, vào năm 2012, Trung Quốc đã xuất khẩu 110 đầu game vào thị trường Đông Nam Á, hơn 31 đầu game so với thị trường các nước Đông Á. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp game Trung Quốc đã tác động mạnh và chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á.Trong thị trường Đông Nam Á, Việt Nam và Malayxia là hai quốc gia nhập khẩu nhiều game Trung Quốc nhất.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 115

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

                                                 
                                                 
       

    2%

    7%

                             
                                         
                                         
                                           

    Brunei

         
                 

    21%

         

    2%

                       
                                     
                                               

    Phillipin

         
                                                     
                                                     
                                               

    Lào

         
                                                     
                                                     
                                 

    21%

             

    Malayxia

       
                                               
                                               
                                           

    Indonexia

       
                                         
                                                   
                                               

    Myanma

         
                                                     
                                                     

    17%

                             

    Thái Lan

         
                                   
                                   
                             

    tViNam

         
                                                     
                                                     
               

    2%

     

    11%

                     
                                       
                                           

    Hình 3: Tình hình xuất khẩu game Trung Quốc vào các nước khu vực

                     

    Đông Nam Á năm 2012

                 
                                       

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20127

    70

                                                       

    61

                 

    62

                             
                                             

    60

    50

         

    51

                                       

    50

                                             
                                                       

    40

                             

    32

                       
                                                   

    30

                   

    20

                                   
                                                   

    20

                                                 
                                   

    6

             

    6

       
                                                 

    10

                                   

    5

         

    0

                                                       

    Singapore   Malayxia

       

    Thái LanPhillipin

    Việt Nam   Indonexia   Myanma

       

    Lào

    Brunei

             

    Hình 4: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu vào các nước khu vực

     

    Đông Nam Á năm 2012

     

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20128

     

     

    Theo Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, Việt Nam và Malayxia đều chiếm 21% thị phần game Trung Quốc tại thị trường Đông Nam Á, Trung Quốc đã xuất khẩu 62 sản phẩm game vào thị trường Việt Nam trong năm 2012, hơn thị trường Malayxia

     

    1 sản phẩm game. Điều đó cho thấy, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn đầy tiềm năng của ngành công nghiệp Trung Quốc không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà trên toàn thế giới. 10 năm sau khi các công ty đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu xâm nhập vào thị trường Việt Nam như: công ty Kim Sơn, công ty Cự Nhân,

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    116         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    hiện nay, hơn 80% thị phần thị trường game

     

    • Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông cộng đồng người chơi game Việt9.

    3.           Nguyên nhân game Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

     

    Khi theo dõi các bài viết trên trang mạng xã hội và các diễn đàn game, chúng tôi nhận thấy đa số người chơi game Việt không ủng hộ các trò chơi game có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng tại sao các sản phẩm game Trung Quốc lại chiếm thị phần lớn như vậy?. Điều này có thể được lý giải từ phía nhà phân phối và phía người chơi.

     

    Đối với các nhà phân phối game: Nhìn khắp thị trường game Việt Nam hiện nay ta có thể thấy, những sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vẫn đã và đang được phát hành một cách liên tục do những lợi thế rất đặc biệt. Lý do các nhà phân phối Việt ưa chuộng game Trung Quốc bao gồm:

     

    Thứ nhất, sản phẩm game Trung Quốc rất đa dạng cả về số lượng và nội dung. Như ở trên đã đề cập tới, chỉ trong năm 2012, Trung Quốc đã tung ra 113 sản phẩm game phục vụ cho thị trường trong nước, 110 sản phẩm game xuất sang các nước Đông Nam Á, và 62 sản phẩm game đã xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Đây là con số chính thức nhập khẩu chính ngạch được tổng kết qua báo cáo cụ thể, chưa kể đến các sản phẩm game được nhập lậu. Với một lượng doanh nghiệp game khổng lồ, ngành công nghiệp game Trung Quốc có năng lực cung lớn hơn bất cứ quốc

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    gia nào trên thế giới. Ở mỗi thể loại game, từ nội dung cho đến chất lượng, dù là game PC hay webgame, các tựa game Trung Quốc đều rất phong phú, biến động không ngừng, đáp ứng được mọi nhu cầu do các nhà phân phối game đặt ra. Theo một nhà phát hành game: “Khi cần một webgame hoàn toàn mới cũng có thể được đối tác làm game Trung Quốc hoàn tất ngay trong vài tuần. Họ có cả một đội ngũ làm tiếng Việt, hệ thống đồ họa đầy đủ, khiến người mua game hài lòng với mức giá hợp lý nhất có thể. Với các lợi thế thể hiện và cạnh trạnh ấy, rõ ràng mạng lưới game Trung Quốc có thể lan tỏa và lấn chiếm mọi ngóc ngánh thị phần game Việt là điều dễ hiểu. Cho dù có phản đối, không thích, nhưng người chơi game cũng không thể dễ dàng quay đầu phủ nhận sức hấp dẫn khó giải thích của muôn hình game Trung Quốc10”.

     

    Thứ hai, một game online của Trung Quốc có giá mua thấp hơn rất nhiều so với những game cùng loại của Hàn Quốc hay Âu Mỹ. Được biết, các webgame (mà khi về Việt Nam nhiều gamer đánh giá là “game rác”) được định giá 15.000USD- dưới 35.000 USD là sản phẩm của các nhà sản xuất mới hoặc hạng trung của Trung Quốc sản xuất. Phân khúc game chất lượng cao hơn giá tầm 100.000USD. Chưa kể tới các sản phẩm game “bom tấn” mức giá sẽ bị đẩy cáo do các nhà phân phối cạnh tranh mua game11. Trong khi đó, đa số các nhà phân phối game hiện nay

     

    • Việt Nam đều là các nhà phân phối vừa và nhỏ, vốn không nhiều, định hướng chính của các nhà phân phối này là phát hành các game phân khúc dưới để dễ dàng thu hồi vốn cũng
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf.
    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                  117

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    như tăng doanh thu một cách nhanh chóng, nếu mua những sản phẩm game giá cao, thu hồi vốn chậm hơn, đồng nghĩa với rủi ro mà họ phải chịu là cao hơn. Đó là lý do tại sao game Trung Quốc với ưu thế về giá luôn là lựa chọn số một cho các nhà phân phối này.

     

    Thứ ba, Các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Một số doanh nghiệp phát hành game Việt Nam thừa nhận, gần như mọi yêu cầu sửa đổi sản phẩm, bổ sung tính năng, cập nhật tiện ích cho người chơi…, khi nêu ra, đều sẽ được nhà sản xuất Trung Quốc thỏa mãn trong thời gian nhanh nhất có thể12. Điều này thuận tiện hơn rất nhiều so với các sản phẩm game Hàn Quốc hay Âu Mỹ, họ thường yêu cầu tổng hợp các lỗi, bản chỉnh sửa…rồi mới tiến hành xử lý cho khách hàng.

     

    Về phía người chơi: Người chơi game Việt Nam thường chê game Trung Quốc nghèo nàn về cách chơi, lặp đi lặp lại các loại hình quen thuộc, nhưng game Trung Quốc vẫn phát triển không ngừng và thu hút được số lượng lớn người chơi. Đó là do các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đánh đúng thị hiếu khách hàng.

     

    Thứ nhất, lối chơi đơn giản, dễ hiểu: Khi bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp game, các game online của Trung Quốc tuy lấy đề tài chủ yếu là kiếm hiệp nhưng cách chơi của game có nhiều nét giống với game Hàn Quốc. Nhưng, càng ngày, họ càng lược bớt những phần phức tạp để hướng tới đại đa số game thủ bình thường, đồng thời để bắt nhịp tốt với xu thế thời đại là chơi game chủ yếu để giải trỉ. Đặc biệt trong xã hội đầy áp lực như hiện nay, nhu cầu giải trí của con người ngày càng

     

    tăng, phần lớn thời gian mọi người dành cho học tập, công việc, nghiên cứu, thời gian giải trí rất hãn hữu. Do vậy, nếu chơi các game có tính năng khó, đòi hỏi sự tìm tòi, suy nghĩ, sẽ khiến người chơi rất dễ nản chí. Dù cách chơi và cách thức game của các sản phẩm game Trung Quốc rất hạn chế, lối chơi đơn giản, không đòi hỏi nhiều tư duy, nhưng chính đặc điểm này lại giúp cho nhiều game thủ tìm được thú vui giải trí.

     

    Thứ hai, do tác động của các sản phẩm văn hóa công nghiệp khác. Bên cạnh ngành công nghiệp game, từ rất sớm, Trung Quốc đã xuất khẩu nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh và sách, tiểu thuyết vào thị trường Việt Nam. Các tập truyện kiếm hiệp như Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh hùng xạ điêu, Thiên Long bát bộ…đã được rất nhiều thế hệ Việt Nam tiếp nhận, đi kèm với nó là các bộ phim dài tập chiếu liên tục trên truyền hình và được phát hành dưới hình thức băng đĩa. Chính yếu tố “kiếm hiệp” này đã một phần tạo nên thành công cho game Trung Quốc tại Việt Nam. Các game online nhập vai kiếm hiệp luôn tạo được một lợi thế nhất định cho riêng mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Từ bối cảnh, tên môn phái cho tới các chiêu thức…tất cả vốn đã quen thuộc với người chơi, nay càng trở nên cuốn hút hơn. Theo Báo cáo số liệu điều tra tác động của công nghiệp văn hóa từ các nước Đông Bắc Á tới Việt Nam, 37,6% người được điều tra đã chọn lý do thích game Trung Quốc do nội dung hấp dẫn13.

     

    Thứ ba, do giá của các game Trung Quốc hợp lý, phù hợp với thu nhập của người Việt Nam. Hiện nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực- đó là nhận định trong báo cáo Năng suất Việt Nam 2014 do Viện Năng suất Việt Nam

     

    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế, truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia

    118         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    (VNPI) biên soạn14. Cũng theo báo cáo, năm 2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đứng hàng thứ 7 trong các nước Asean, đạt 1911 USD, trong khi GDP bình quân đầu người của Phillippin là 2765 USD, Indonexia 3475 USD, Thái Lan 5779 USD, Malayxia 10538 USD và Singapore là 55182 USD. Thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng tỷ lệ người chơi game lại nhiều nhất khu vực Đông Nam Á, đó là do hầu hết các game thủ Việt Nam lựa chọn game Trung Quốc với chi phí rẻ, phù hợp với thu nhập của bản thân.

     

    4.           Tác động của game Trung Quốc tới Việt Nam

     

    Tác động tích cực: Ở Việt Nam, game bắt đầu xuất hiện vào năm 2004-2005 và phát triển mạnh mẽ, nhưng công nghiệp trong nước lại phát triển rất hạn chế. Chúng ta mới chỉ có game Flapy bird gần đây là một sự đột phá, trong khi nhiều nước đào tạo hàng nghìn người để sản xuất game, thị trường game Việt Nam chủ yếu vẫn là game nước ngoài. Cách đây 10 năm, Trung Quốc chủ yếu cũng nhập khẩu game từ nước ngoài, nhưng khi nhận thấy lợi ích của ngành game, chính phủ Trung Quốc đã đưa game vào chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ cao. Năm 2004, dự án phát triển 100 game trực tuyến trong 5 năm được hưởng thuế ưu đãi, vốn… Đến năm 2009, Trung Quốc đã hình thành công nghiệp game phát triển mạnh mẽ15. Sự xâm nhập ồ ạt của game Trung Quốc đã khiến cho ngành game Việt Nam trở nên sôi động hơn, chính phủ Việt Nam có thể tham khảo các chính sách Trung Quốc đã từng áp dụng để đẩy mạnh ngành công nghiệp game, các công ty sản xuất

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    game Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ khâu sản xuất ra sản phẩm game, khâu tiếp thị quảng cáo game và dịch vụ hậu mãi của các công ty game Trung Quốc. Sự xuất hiện của các sản phẩm game Trung Quốc cũng đã góp phần làm phát triển ngành công nghiệp giải trí của Việt Nam, đem lại doanh thu nhất định cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động. Theo Bộ trưởng Nguyễn Bắc Sơn, năm 2012, doanh thu từ game của Việt Nam là khoảng 5000 tỷ, tạo việc làm cho khoảng 7500 người. Và trên đà phát triển, mới đây, Chính phủ cũng ban hành một Nghi định, trong đó đưa game vào là một trong nhưng dịch vụ nội dung số để khuyến khích góp phần phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam16.

     

    Hiện nay, khi cuộc sống ngày càng nhiều lo toan, áp lực, mọi người luôn tìm cho mình một phương thức giải trí để tránh căng thẳng, tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống. Đó là lý do tại sao ở những nước có nền kinh tế càng phát triển, ngành công nghiệp giải trí cũng càng được chú trọng và không ngừng được mở rộng quy mô. Trong thời đại công nghệ thông tin như ngày nay, game online đã trở thành ngành chính trong nền công nghiệp giải trí. Khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, game Trung Quốc với những ưu điểm riêng đã đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người chơi game Việt Nam, đem lại cho họ thêm sự lựa chọn giải trí. Việt Nam có khoảng hơn 20 triệu người sử dụng internet, 50% số đó có sử dụng dịch vụ game, và trở thành thị trường game lớn thứ 4 trên thế giới. Điều đó cho thấy số lượng người chọn game để giải trí rất cao.

     

    Tác động tiêu cực: các doanh nghiệp Trung

     

    • GDP bình quân đầu người Việt Nam thua xa Phillipin (2015), truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016, từ http:// vn/vn/kinh-doanh/277585/gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-thua-xa-philippines.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http:// vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 119

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Quốc phát hành game không phép ngày một nhiều tại Việt Nam đã làm cho môi trường kinh doanh nước ta không lành mạnh. Theo thông tư số 24/2014/TT-BTTTT của Bộ TT&TT quy định rõ, đối với trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (trò chơi G1), phải có thông tin trụ sở chính với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục đề nghị cấp giấy phép cung ứng dịch vụ hoặc thủ tục cấp chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử tương ứng với mỗi loại trò chơi. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều game Trung Quốc lại được nhập vào Việt Nam qua con đường không phép, và được gọi là “game lậu”, “game rác”, “game không phép”. Những game lậu này đã thu từ các game thủ Việt Nam một khoản tiền không nhỏ. Ví dụ: các cơ quan chức năng đã truy quét 3 cổng game lậu: Koramgame, Myw. vn, Gaubay.vn là những cổng game rất mạnh của nhà phát hành đến từ Trung Quốc. “Một ngày KoramGame thu được từ các game thủ Việt Nam 1,3-1,5 tỷ đồng”17. Một vụ game lậu điển hình gần đây nhất là vụ game Lục Long Tam Quốc 3D sau một thời gian liên tục đăng tin quảng bá trên các trang thông tin điện tử, đã chính thức ra mắt thị trường vào ngày 8/6/2016, tuy nhiên không có bất kỳ thông tin nào liên quan đến nhà phát hành game này18. Trong khi các doanh nghiệp trong nước phải chịu sự chi phối của nhiều Nghị định, thông tư cũng như tuân thủ các quy định về phát hành trò chơi điện tử có phép theo luật pháp Việt Nam thì các doanh nghiệp Trung Quốc lại bằng các thủ đoạn khác nhau để phát hành trái phép,

     

    thu lợi bất chính. Cho đến giữa năm 2015, nước ta chỉ mới có 26 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh trò chơi điện tử G1, con số quá ít ỏi so với thực tiễn phát triển không ngừng của thị trường game online. Mặc dù được cấp phép kinh doanh, điều đó không có nghĩa toàn bộ sản phẩm của những doanh nghiệp này đã có giấy phép phát hành, mà vẫn phải trải qua quy trình theo đúng quy định, mới nhất là Thông tư 24 của Bộ Thông tin – Truyền thông. Trong khi đó, gần như pháp luật nước ta chưa có quy định liên quan để quản lý, thu thuế đối với các đối tượng nước ngoài kinh doanh phát hành game tại nước ta. Do vậy, việc game không phép tràn lan đã làm cho môi trường kinh doanh của ngành game trong nước chưa được công bằng và lành mạnh, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nước ta còn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu; ngoài ra còn cản trở sự phát triển của các nhà phát hành game Việt kinh doanh lành mạnh, gây thiệt hại cho doanh thu của nhà nước.

     

    Trung Quốc hiện đang chú trọng phát triển ngành công nghiệp game với mục đích thu được khoản lợi nhuận cao, và hơn thế nữa là quảng bá hình ảnh Trung Quốc ra thế giới. Theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Sơn, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu tất cả các game của Trung Quốc phải sản xuất theo thuần phong mỹ tục của Trung Quốc và để tuyên truyền lịch sử của Trung Quốc. Nên, họ khuyến khích game Trung Quốc phát triển ra nước ngoài với điều kiện tất cả những game này phải đảm bảo các yếu tố đó, đưa văn hóa của Trung Quốc ra nước ngoài19. Thị trường

     

    • Không thể tin vào game rác của Trung Quốc (2014), truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016 từ http://www.baomoi. com/khong-the-tin-vao-game-rac-cua-trung-quoc/c/13283246.epi
    • Điệp Lưu (2016), Lục Long Tam Quốc 3D – Game lậu núp bóng Trung Quốc hoành hành làng game Việt, truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016 http://infogame.vn/game-online/luc-long-tam-quoc-3d-game-lau-nup-bong-trung-quoc-hoanh-hanh-lang-game-viet-27884.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

    120         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    xuất khẩu game lớn nhất của Trung Quốc là Việt Nam. Phần lớn người chơi game Việt ở độ tuổi thanh thiếu niên, đây là lứa tuổi còn đang dần phát triển cả về tâm sinh lý, nhận thức và định hướng trong cuộc sống. Việc tiếp nhận và chơi các game Trung Quốc trong một thời gian dài, vô hình chung sẽ có ảnh hưởng nhất định. Hơn nữa, bên cạnh các sản phẩm game phát hành lành mạnh, các game lậu phát hành chui vào Việt Nam đều là những sản phẩm chưa được kiểm duyệt nội dung, những đầu game này sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam.

     

    Hiện nay, đa số các game Trung Quốc phát hành tại Việt Nam đều là các game kiếm hiệp, ví dụ: Game Thần long huyết kiếm lấy bối cảnh Trung Quốc đầu thế kỷ 20 với nhiều trường phái võ hiệp như kiếm, đao, quyền, cước, pháp bảo cùng với các loại vũ khí hiện đại như sung (hỏa thương), trảo…, trong tháng 7/2016 có sự ra mắt của game Ngự kiếm hồng trần, lấy bối cảnh chính ở đời Thịnh Đường Võ Hoàng, đưa người chơi khám phá một thế giới quan rộng lớn, phiêu lưu mạo hiểm, giàu tính chiến thuật…Các nhà phát hành game Trung Quốc đã rất dày công sáng tạo ra các sản phẩm game để tái hiện lại các chiêu thức nổi tiếng trong các cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung, Cổ Long… Người chơi game khi chơi sẽ hóa thân vào các nhân vật, cùng tham gia phiêu lưu, và chiến đấu với các đối thủ. Đây cũng chính là mặt trái của game Trung Quốc, khi người chơi quá đắm chìm trong thế giới ảo, mất cân bằng với thế giới thực, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và công việc. Hơn thế, rất nhiều sự việc và vụ án đau lòng đã xảy ra do game online gây ra, nhiều người gọi đó là tình trạng xuống cấp hay suy thoái đạo đức thậm chí băng hoại đạo đức do game online.

     

    5. Kết luận

     

    Trong những năm gần đây, ngành công

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    nghiệp văn hóa của Trung Quốc có những những bước tiến đột phá, do được chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm và đầu tư thích đáng nên quy mô ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc không ngừng được mở rộng bao gồm cả ngành truyền thống như điện ảnh, xuất bản…,cũng như các ngành công nghiệp văn hóa kiểu mới có xu thế phát triển mạnh như game. Chỉ trong khoảng thời gian 10 năm, ngành game của Trung Quốc không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, mà còn xâm lấn thị trường các nước lớn như Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, và vươn lên trở thành thị trường game lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam luôn là điểm đến đầu tiên của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc tại khu vực này. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn của ngành công nghiệp game Trung Quốc. Không thể phủ nhận ngành game của Trung Quốc đã đem lại nhiều cơ hội việc làm và giải trí cho người Việt Nam, tạo điều kiện cho các công ty phát hành game của Việt Nam học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, tình hình game lậu đã gây thất thoát về kinh tế cho chính phủ Việt Nam, gây khó khăn trong cạnh tranh lành mạnh cho các công ty game Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh, xã hội Việt Nam khi nội dung của các game lậu không được thông qua kiểm duyệt. Do vậy, đã đến lúc các cơ quan có thẩm quyền hãy siết chặt công tác quản lý để ngăn chặn các game lậu có nội dung không lành mạnh xâm nhập vào Việt Nam. Đồng thời, các nhà phát hành game Việt cũng cùng liên kết sáng tạo ra các sản phẩm game Việt, mang đậm thuần phong mỹ tục của người Việt và dấu ấn lịch sử Việt Nam, góp phần lành mạnh hóa thị trường game và phát triển ngành công nghệ thông tin nước nhà.q

     

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 121

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/ htm

     

    1. Cải cách thể chế văn hóa Trung Quốc đã giành được những thành tựu mang tính lịch sử (2013), truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016 , từ http://news.xinhuanet.com/zgjx/2013-06/14/c_132453952.htm

     

    1. Công nghiệp văn hóa Trung Quốc năm 2015 tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml

     

    1. Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_market_15.04.23F.pdf
    1. Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74,
    2. Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

     

    1. Nguyễn Văn Hy (2013): Tìm hiểu thêm về công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa, tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 3, tr.54-59
    2. Nguyên Thi Thu Phương (chủ biên), 2013: Sư trôi dây cua sưc manh mêm Trung Quôc 2011-2020 va nhưng vân đê đăt ra cho Viêt Nam, Nxb. Tư điên Bach khoa, Ha Nôi.
    3. Nguyên Thi Thu Phương (2012): Văn hoa trong tiên trinh trôi dây cua Trung Quôc, Tap chi Nghiên cưu Trung Quôc, sô 9
    4. TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
    1. Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu.vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html
    1. Trương Văn Tịnh:Công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang trong thời cơ phát triển (2013),truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016, từ
    1. http://www.chinadaily.com.cn/hqgj/jryw/2013-09-08/content_10063874.html

    122         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-gi%C3%A0y-d%C3%A9p-cao-su-m%C3%A0u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    JSLHU   JOURNAL OF SCIENCE

    http://tapchikhdt.lhu.edu.vn

    OF LAC HONG UNIVERSITY

    T p chí Khoa h c L c H ng         

    VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    Application of activity based cost method at Casum Shoes Joint Stock Company

     

    Nguyễn Văn Hải1,*, Nguyễn Ngọc Quý2

    1                                            2

    [email protected], [email protected]

     

    TÓM TẮT. Bài báo tiến hành nghiên cứu việc vận dụng phương pháp ABC nhằm quản lý tốt nhất chi phí tại các dây chuyền sản xuất. Quản trị chi phí sản xuất tốt sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá nguồn lực tiêu hao tại các nhà máy sản xuất. Vận dụng phương pháp ABC nhằm cung cấp cho nhà quản lý một cái nhìn sâu sắc để quản lý nhiều vấn đề trong quá trình sản xuất, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm giảm chi phí sản xuất và sáng kiến cải tiến quy trình sản xuất.

     

    TỪ KHÓA: Quản trị chi phí; ABC; Công ty cổ phần giày dép cao su màu

     

    ABSTRACT. The article performed ABC (Activity-Based Costing Management) method application study in order to manage costs best on production lines best. If production cost is managed well, it will help appraise resources consumption in the factory. ABC method application will supply insight for managers to control issues in production process, make right decisions to reduce cost and invent to improve manufactoring process.

     

    KEYWORDS: Cost management; ABC; Casum shoes joint stock company

     

    1. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP ABC

     

    Theo Horngren (2000) phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chi phí cơ bản. Hệ thống ABC tập hợp chi phí cho từng hoạt động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hay dịch vụ đó. Theo Maher (2001) cho rằng ABC là công cụ quản trị dựa trên hoạt động, trước hết, chi phí được phân bổ cho các hoạt động, sau đó sẽ phân bổ cho từng sản phẩm, dịch vụ dựa trên các hoạt động mà sản phẩm hay dịch vụ đã tiêu dùng. Quản trị dựa trên hoạt động sẽ tìm kiếm sự cải tiến không ngừng. ABC cung cấp thông tin về hoạt động và nguồn lực cần thiết để thực hiện chúng. Vì thế, ABC không chỉ đơn thuần là quá trình phân bổ chi phí. ABC: Phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động được nghiên cứu và ứng dụng nhằm để khắc phục những hạn chế của phương pháp tính giá truền thống trong việc phân bổ chi phí sản xuất chung (thường chỉ lựa chọn một hoặc một vài tiêu thức phân bổ chung), hạn chế trong việc cung cấp thông tin về chi phí gia tăng ở khâu nào, do nguyên nhân nào trong quá trình sản xuất để các nhà quản trị có cách nhìn đúng đắn trong việc hoàn thiện và thiết kế lại quá trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí.

     

    Ta có thể thấy rằng mỗi học giả có khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động là phương pháp tính giá mà việc phân bổ các chi phí gián tiếp cho các sản phẩm, dịch vụ dựa trên mức độ hoạt động của chúng. Phương pháp ABC là tập hợp toán bộ chi phí gián tiếp trong quá trình sản xuất theo từng loại hoạt động hoặc các nhóm hoạt động tương tự nhau, sau đó phân bổ các chi phí gián tiếp đó cho từng sản phẩm theo mức độ sử dụng hoạt động cảu sản phẩm, phương pháp này tính giá khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tính giá truyền thống.

     

    1. ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY VÀ NGÀNH SẢN XUẤT GIÀY DÉP

    Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Giày Dép Cao Su Màu.

     

    Tên tiếng Anh: CASUM SHOES JOINT STOCK COMPANY.

     

    Địa chỉ: đường Bùi Hữu Nghĩa, xã Hoá An, TP.Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

     

    E-mail: [email protected] / [email protected]

     

    Website: www.casum.com.vn

    Công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu tiền thân là Công ty Cao Su Màu thành lập năm 1990 với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước chuyên sản xuất các mặt hàng liên quan đến Cao su như vỏ xe, ruột xe… Đến năm 2008 công ty Cổ phần hóa và lấy tên đầy đủ là Công ty Cổ phần Giày dép Cao Su Màu chuyên sản xuất các loại giày dép xuất khẩu.

     

    Từ chỗ chỉ có một xưởng sản xuất ở Hóa An với 300 công nhân, sau quá trình phát triển Casum hiện tại đang sở hữu 2 nhà máy sản xuất. Trong đó, một nhà máy sản xuất hoàn chỉnh tại Hóa An và một Nhà máy chuyên đặt may gia công tại Trị An với hơn 800 công nhân.

     

    Trong thời gian tới công ty sẽ tiếp tục mở rộng bằng việc đầu tư một nhà máy thứ 3 tại Tân Phú để đáp ứng nhu cầu phát triển của công ty ra các thị trường mới.

     

    Về vai trò ngành nghề sản xuất giày dép cao su màu: Việt Nam có mặt trong bảng xếp hạng 10 quốc gia xuất khẩu hằng đầu trong thị trường giày da quốc tế hiện nay, đặc biệt là EU. Việt Nam đứng thứ hai sau Trung Quốc. Ngành da giày Việt Nam là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP của quốc gia.

     

    Từ một ngành công nghiệp – kỹ thuật khiêm tốn, non trẻ, đến nay giày da Việt Nam đã lớn mạnh và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng giả trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu cho cả nước.

     

    1. THỰC TRẠNG TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

    Về máy móc thiết bị: có 02 dây chuyền sản xuất giày thời trang và 01 dây chuyền sản xuất dép, công nghệ sản xuất của

    Received: June, 6th, 2018

    st

    Accepted: July, 21 , 2018

    *Corresponding author.

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    97

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    Ý và Hàn Quốc, đội ngũ công nhân đầy kinh nghiệm và tay

    qua nhiều công đoạn nhưng Công ty không tập hợp chi phí

     

    nghề cao.

    sản xuất theo từng công đoạn.

       

    Quy trình sản xuất sản phẩm tại công ty

    Công ty chưa tổ chức khoa học các báo cáo về chi phí sản

     

    Quy trình sản xuất mũ giày

    xuất và giá thành sản phẩm, chưa phân tích sự biến động về

     

    chi phí phục vụ quản trị Công ty.

       
         

    Thiết kế và tách chi tiết

    § Điều này gây ra những mặt hạn chế như sau:

     
     

    Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

     
     

    phẩm ở Công ty CP giày dép cao su màu tuy đã có nhiều thay

     

    Cắt chi tiết

    đổi cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh,

     

    nhưng còn có một số hạn chế cần khắc phục.

     
     

    Nhìn chung, công tác hạch toán và phân bổ chi phí sản

     
     

    xuất ở công ty theo quy trình của kế toán tài chính. Quy trình

     

    Dãy chi tiết

    chung này có thể tóm lược như sau: Đối tượng chi phí được

     

    xác định là các loại sản phẩm do Công ty sản xuất ra; Tiêu

     
     
     

    thức phân bổ chi phí nguyên vật liệu theo định mức từng sản

     
     

    phẩm, chi phí nhân công theo sản lượng, phân bổ chi phí sản

     

    May chi tiết

    xuất chung theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

     

    Như vậy có thể kết luận rằng mục đích phân bổ chi phí sản

     
     
     

    xuất chung tại Công ty nhằm để tính giá thành sản phẩm,

     
     

    cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính. Các mục

     

    Hoàn thiện chi tiết

    đích khác như phân bổ chi phí sản xuất chung để phục vụ cho

     
     

    việc lập kế hoạch và ra quyết định kinh doanh, kiểm soát và

     

    Quy trình hoàn tất giày

    đánh giá hiệu quả không được các nhà quản lý đặt ra.

     

    Nhiều khoản chi phí chưa được phản ánh hợp lý, kết quả

     
     
     

    là giá thành sản phẩm sẽ không phản ánh hợp lý giá phí của

     

    Làm sạch

    sản phẩm tại các bộ phận trong Công ty. Chẳng hạn chi phí

     
     

    tiền điện phân bổ theo định mức nhưng lại chưa có đồng hồ

     
     

    chi tiết cho từng bộ phận: các khoản chi phí chung khác được

     
     

    phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nên chưa phản

     

    Chất nền

    ánh chính xác mức chi phí mỗi sản phẩm gánh chịu. Đây là

     

    một hạn chế gây khó khăn và mất đi tính chính xác tuyệt đối

     
     
     

    trong công tác phân bổ chi phí, như vậy sẽ không phản ánh

     
     

    đúng bản chất của nó.

       

    Các lớp phủ ngoài

    Ngoài ra, với cách phân bổ chi phí và tính giá thành hiện

     

    tại của Công ty khiến cho thông tin về chi phí sản xuất và giá

     

    (Nguồn: Công ty Cổ phần Giày dép cao su màu)

    thành sản phẩm không phản ánh đúng bản chất, do đó việc ra

     

    quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp chưa được chính

     
     

    Qua thực tế tính giá thành tại công ty, nhóm tác giả thấy

    xác.

         

    việc phân bổ chi phí gián tiếp theo chi phí nguyên vật liệu

    4. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ABC VÀO CÔNG TY

     

    trực tiếp của từng sản phẩm chưa chính xác. Điều này dẫn

     

    CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    đến các sản phẩm có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cao thì

           

    gánh chịu nhiều chi phí gián tiếp nhưng chi phí sản xuất thực

    Bảng 1. Bảng so sánh giá thành theo phương pháp truyền thống

     

    tế sử dụng cho sản phẩm lại thấp chẳng hạn: Các chi phí gián

    và phương pháp ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    tiếp phục vụ cho sản xuất không liên quan đến khối lượng

    Nội dung

    PP truyền thống

    PP ABC

     

    cũng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân viên

    Giày trẻ em

     

    11.457.546.896

     

    phân xưởng, chi phí khấu hao…

    11.466.127.297

    Doanh nghiệp đã lập kế hoạch, dự toán nhưng khi có sự

    Giày dép nữ

    15.430.981.246

    15.421.671.233

     

    chênh lệch về số liệu chi phí sản xuất thì lại chưa nêu ra

    Giày dép nam

     

    9.190.555.720

     

    nguyên nhân, kỹ thuật phân tích số liệu và biện pháp xử lý

    9.194.425.476

    chỉ mang tích chất phục vụ báo cáo tài chinh hàng năm là

    Khác

    596.995.615

    596.832.294

     

    chính. Các dự toán, kế hoạch chủ yếu theo các khoản mục

    Tổng cộng

    36.688.529.634

    36.666.606.143

     

    chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

           

    công trực tiếp và chi phí sản xuất chung không phân loại theo

     

    (Nguồn: tính toán của nhóm tác giả)

     

    biến phí, định phí như vậy sẽ rất khó khăn cho việc đánh giá

    Sau khi áp dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt

     

    kiểm soát chi phí và đưa ra quyết định về định giá bán phù

    động, giá thành tất cả các sản phẩm giày dép sản xuất ra đều

     

    hợp.

    thấp hơn so với các tính truyền thống của công ty. Việc áp

     

    Doanh nghiệp nhận thức kế toán là công cụ phục vụ quản

    dụng tính gía thành theo phương pháp ABC sẽ tính toán được

     

    lý nhưng chỉ quan tâm ở gốc độ kế toán tài chính, chưa chủ

    Zsp sản xuất chính xác và hợp lý hơn so với phương pháp

     

    động tổ chức kế toán quản trị. Doanh nghiệp chưa nhận thức

    truyền thống mà công ty cao su màu đang áp dụng, phần chi

     

    được vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin kinh

    phí dôi ra sẽ được hạch toán vào TK 642, 632 và các tài

     

    tế tài chính của doanh nghiệp.

    khoản khác có liên quan theo quy định, qua đó đây là cơ sở

     

    Đặc điểm về qui trình sản xuất sản phẩm tại Công ty trải

    để nhà quản lý có những giải pháp cắt giảm chi phí.

     

    98        Tp chí Khoa h c L c H ng

     

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại Công ty Cổ phần Giày dép Cao su màu

     

    CP

    CP

    CP

    CP

    CP

    Để áp dụng thành công phương pháp ABC đòi hỏi phải có

     

    sự hợp tác giữa các phòng ban trong đơn vị cũng như tinh

     

    nhân

    điện

    khấu

    phục

    khác

    viên

    hao

    vụ sản

    thần làm việc nhóm trong phân xưởng, chẳng hạn như phân

     
       

    PX

       

    xuất

     

    xưởng lắp ráp giày dép có sự hỗ trợ cho các phân xưởng khác

     
             

    như PX dập, PX cắt…. Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ

     
             

    ra rằng sự kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, các nhóm

     
             

    làm việc góp phần thúc đẩy sự thành công khi áp dụng

     
             

    phương pháp ABC, có thể kể ra một sốtác giả như Landry

     

    Thời

    Số

    Chi

    NL

    Nguồn

    (1997), Gering (1999), Drake et al. (2001), Baird et al.

     

    (2007). Như vậy, để ứng dụng được ABC thì bản thân nội bộ

     

    gian

    KW

    tiết

    khác

    phát

    doanh nghiệp phải hợp tác và ủng hộ nếu không có sự ủng

     

    lao

    điện

    hoạt

    phục

    sinh

    hộ từ các bộ phận khác thì ABC khó ứng dụng thành công

     

    động

    CP

    động

    sử

    vụ

    trong tổ chức. Đây cũng chính là vấn đề thuộc về cơ cấu tổ

     
       
             

    chức cũng như văn hóa trong công ty.

     
             

    Thứ hai: Giải pháp nguồn nhân lực

     
             

    ABC không phải là một mô hình cứng ngắt, trong quá trình

     
             

    ứng dụng cũng có sự thay đổi về mối quan hệ của các tiêu

     

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    thức phân bổ chi phí, các trung tâm chi phí vì vậy đòi hỏi

     

    động

    động

    động

    động

    động

    người sử dụng phải có kiến thức sâu về phương pháp ABC

     

    chặt,

    cắt

    may

    lắp

    hoàn

    và kiến thức về kế toán quản trị. Theo TS Trần Phước (2011),

     

    ép

    dán

     

    ráp

    thiện,

    khảo sát kết quả kiến thức đào tạo chuyên ngành kế toán,

     
           

    kiểm toán thì có tới 50% câu trả lời là ít và đã đưa ra các giải

     
             
             

    pháp phát triển nguồn nhân lực ngành kế toán kiểm toán ở

     
             

    Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội

     
             

    nhập quốc tế. Như vậy, hiện nay chúng ta đang thiếu hụt kế

     

    Giày

    Giày

    Giày

    Giày

    ……

    toán viên có đủ trình độ để tiếp cận phương pháp mới, ví dụ

     

    như phương pháp ABC. Đối với các phương pháp, kỹ thuật

     

    dép

    dép

    dép

    dép

    ……

    cũng như yêu cầu của ABC, trường đại học cũng như các cơ

     

    trẻ

    nữ

    nam

    khác

    .

    sở đào tạo phải có những dự án cụ thể để cho sinh viên thực

     

    em

           
           

    hành và phân tích những thuận lợi cũng như những khó khăn

     
             
             

    khi áp dụng ABC vào trong doanh nghiệp. Chính phủ cũng

     
             

    như những trung tâm nghiên cứu ứng dụng kế toán của Việt

     
             

    Nam cũng phải có những dự án ứng dụng cụ thể: ứng dụng

     
     

    Chi phí nguyên vật lệu trực tiếp, chi phí

     

    ABC cho hầu hết các PX tại công ty, đánh giá so sánh hiệu

     
       

    quả giữa phương pháp tính giá hiện tại và ABC. Có thể lựa

     
       

    nhân công trực tiếp

       
           

    chọn ứng dụng thí điểm tại PX cắt và PX dập để có đủ điều

     
             

    kiện áp dụng ABC sau đó công bố kết quả ứng dụng cho các

     

    Hình 1. Mô hình tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại công

    công ty khác học hỏi và ứng dụng.

     
     

    ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    Thứ ba: Thay đổi quan điểm của nhà quản lý

     
       

    (Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất)

    Các nhà quản lý doanh nghiệp cần thay đổi thái độ trong

     

    Qua việc tính toán và phân tích giữa hai phương pháp ta

    quá trình điều hành và quản lý doanh nghiệp. Tâm lý hiện

     

    có thể thấy sự khác biệt này là do lựa chọn tiêu thức phân bổ

    nay của rất nhiều nhà quản lý là trông chờ vào sự hướng dẫn

     

    chi phí sản xuất chung của hai phương pháp. Với quy trình

    hay sự bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền mà bản thân họ

     

    sản xuất đã trình bày, hầu hết các sản phẩm phải đi qua nhiều

    không chủ động áp dụng những phương pháp quản lý mới.

     

    công đoạn và cũng tiêu hao nhiều nguồn lực. Đối với các chi

    Một phần là do thiếu hụt về kiến thức quản lý, một phần là

     

    phí: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí công cụ dụng

    tâm lý sợ thay đổi, sợ thất bại trong quá trình áp dụng cái

     

    cụ, chi phí tiền nước, chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí

    mới. Ví dụ như sau khi thấy được sự thay đổi về chi phí sản

     

    tiền điện… Các chi phí này có nguồn phát sinh chi phí khác

    xuất, thì nhà quản lý sẽ có cái nhìn đúng hơn về việc cắt giảm

     

    nhau. Vì vậy khi phân bổ chi phí ta không chỉ dựa vào một

    chi phí nào và thay đổi loại chi phí nào ngay tại Công ty.

     

    tiêu thức chung để phân bổ cho các hoạt động chẳng hạn chi

    Thứ tư: Áp dụng phương pháp ABC phải gắn với nội lực

     

    phí nguyên vật liệu trực tiếp, mà còn phải dựa vào nhiêu tiêu

    doanh nghiệp và yêu cầu thực tế

     

    thức phân bổ khác để đảm bảo tính chính xác giá thành cho

    ABC không có một tiêu chuẩn nào cho mỗi doanh nghiệp,

     

    từng loại sản phẩm. Điều này chứng tỏ nếu vận dụng phương

    vì vậy khi áp dụng ABC phải gắn liền với tình hình thực tế

     

    pháp tính giá ABC sẽ cho kết quả chính xác hơn.

     

    của doanh nghiệp mình, không nên chạy theo phong trào

     

    Tóm lại, việc tính giá dựa trên cơ sở hoạt động sẽ cung cấp

    cũng không nên coi là mốt để rồi áp dụng không hiệu quả.

     

    thông tin về giá thành chính xác hơn và cạnh tranh hơn. Để

    Ngày nay, với sự cạnh tranh gay gắt và thông tin đòi hỏi ngày

     

    từ đó các nhà quản lý có những quyết định chính xác nhất

    càng đa dạng, bản thân ABC cũng có nhược điểm vì vậy cần

     

    5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

    kết hợp phương pháp tính giá thành ABC với các phương

     

    pháp khác như ABC kết hợp với phân tích biến phí, định phí;

     

    PHƯƠNG PHÁP ABC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

    ABC kết hợp với chi phí định mức; ABC kết hợp với BSC

     

    GIÀY DÉP CAO SU MÀU

       
       

    (Balanced Scorecard). Ngay tại Công ty Cổ phần Giày dép

     

    Thứ nhất: Sự hợp tác giữa các bộ phận, các nhóm làm

    Cao su màu, yêu cầu này khá cao, do số lượng sản phẩm sản

     

    việc

           

    xuất khá nhiều, số lượng sản phẩm cần thiết cho nhu cầu của

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    99

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    người tiêu dùng, cho nên việc áp dụng phương pháp tính giá ABC tại Công ty là rất cần thiết.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát triển cũng như phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp ngày càng phải cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường. Phương pháp tính giá ABC là phương pháp tính mới, việc áp dụng phương pháp tính giá này là cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu nói riêng.

     

    Việc vận dụng phương pháp tính giá ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu giúp công ty tính giá thành một cách chính xác hơn so với phương pháp tính giá hiện tại của công ty. Với phương pháp tính giá hiện tại của công ty, công ty chỉ chọn một tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất gián tiếp là theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, làm cho việc phân bổ khoản chi phí này vào từng sản phẩm không được chính xác. Vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không phải là nguyên nhân gây ra tất cả chi phí gián tiếp, điều này làm cho giá thành một số sản phẩm cao hơn so với chi phí thực tế và một số sản phẩm giá thành lại thấp hơn so với chi phí thực tế. Do đó, có thể có những quyết định sai lầm trong việc định giá bán sản phẩm. Ngược lại, phương pháp tính giá ABC phân bổ chi phí gián tiếp cho các đối tượng chi phí dựa trên hoạt động tiêu dùng nguồn lực của đối tượng chi phí đó. Vì thế, hệ thống tính giá ABC làm tăng tính chính xác của giá thành

    sản phẩm hơn phương pháp tính giá truyền thống, từ đó giúp cho nhà quản trị có những quyết định đúng đắn

     

    1. CÁM ƠN

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu cùng với các anh chị Phòng kế toán và các anh chị phòng ban khác đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài báo này.

     

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO
    • Blocher, Chen, Cokins and Lin. Cost management – A strategic emphasis, 3nd Edition. Mc Graw Hill Irwin, UK, 2005.
    • Drake et al. Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh của ngành kinh tế, 2001.
    • Horngren Bjornenak, Trond and Mitchell, Falconer. The Development of Activity Based Costing. Journal Literature 1987-2000. European Accounting Review, 2002, vol. 11, no. 3.
    • Nguyễn Việt. Lợi ích của việc tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động ABC. Tạp chí Phát triển Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, 1997, số 82, tháng 08/1997.
    • Rober S.Kaplan, Robin Cooper. Cost and Effect. Havard Business School Press, 1998.
    • Trần Phước. Giáo trình Nguyên lý Kế toán. Nhà xuất bản: Phương Đông 2011.

     

     

     

     

     

    100      Tp chí Khoa h c L c H ng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%B3m-t%E1%BA%AFt-Lu%E1%BA%ADn-%C3%A1n-ti%E1%BA%BFn-s%C4%A9-Kinh-t%E1%BA%BF-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-c%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-k%E1%BA%BFt-c%E1%BA%A5u-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-giao-th%C3%B4ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BB%99-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-Nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    1

     

    MỞ ĐẦU

     

    1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

     

    Sau khoảng ba thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, nông nghiệp thay đổi theo hướng công nghiệp hóa của ngành, khoa học công nghệ phát triển tương đối mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 6,21% (Tổng cục Thống kê, 2016). Việc phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế đặt ra yêu cầu ngày càng sâu và rộng về mặt cơ sở hạ tầng xét trên cả khía cạnh về chất lượng và số lượng, trong đó hệ thống giao thông là một trong những khía cạnh được quan tâm lớn nhất khi nói đến hệ thống cơ sở hạ tầng.

     

    Để đáp ứng những yêu cầu đó, ngành Giao thông vận tải đã đề ra những chính sách, chiến lược phát triển giao thông đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông về mặt số lượng bên cạnh đó là nâng cao chất lượng các công trình giao thông trên toàn lãnh thổ. Cụ thể, Bộ Giao thông vận tải đã tập trung giải quyết các vấn đề như tái cơ cấu, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo cơ chế thuận lợi thu hút các dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải…

     

    Thành quả thu được từ những nỗ lực đó là hàng loạt các công trình giao thông trọng điểm ra đời, tạo ra nền tảng và đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của các ngành khác, cụ thể như tính đến hết năm 2016, tổng chiều dài đường bộ nước ta vào khoảng 417204 km (Tổng cục Đường bộ Việt Nam, 2016), trong đó chiều dài đường quốc lộ khoảng 22660 km và chiều dài cao tốc khoảng 114146km. Tuy nhiên, với đặc điểm đầu tư phát triển giao thông vận tải nói riêng, đầu tư phát triển trong các lĩnh vực khác nói chung, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này thường rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài, các công trình được xây dựng chiếm một tỷ trọng không nhỏ là các dự án, công trình công cộng… Thêm vào đó, các dự án này với nhu cầu vốn lớn cộng thêm thời gian thực hiện dài, khả năng rủi ro của các dự án là không tránh khỏi, chính vì vậy việc huy động và sử dụng vốn là một vấn đề được quan tâm của không chỉ với

    2

     

    các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ngoài ra, việc thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển trong lĩnh vực giao thông vận tải như thế nào cũng là một câu hỏi cần những câu trả lời cho cả các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu.

     

    Để đạt được những kết quả tích cực cho hoạt động đầu tư phát triển nói chung và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này có vị trí tương đối quan trọng. Có các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như các nhân tố về vốn đầu tư, các nhân tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, các nhân tố thuộc về các đơn vị liên quan thực hiện dự án (chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị thi công…), các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến quyết định đầu tư và kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chính vì vậy, cần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư phát triển nhằm đạt được những kết quả đầu ra theo mong muốn.

     

    Thực tế đã chứng minh vị trí và vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này, mảng vấn đề này không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu. Cụ thể,

     

    Các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến việc huy động và sử dụng sao cho hiệu quả các nguồn lực, trong khi đó các nhà nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm trù đầu tư này, với những mảng kiến thức khác nhau, những phương pháp nghiên cứu khác nhau được lựa chọn để có thể tìm ra những quy luật cho vấn đề nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét đến khía cạnh đầu tư phát triển. Về đầu tư phát triển có khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hệ thống những lý luận, những chỉ tiêu nền tảng khi nghiên cứu về đầu tư phát triển theo ngành, theo lĩnh vực như nghiên cứu của tác giả Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng (2013), đến những nghiên cứu cụ thể trong từng lĩnh vực như trong đầu tư phát triển cảng biển của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013), hay xem xét đến việc quản lý hoạt động đầu

     

    3

     

    tư xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư của tác giả Nguyễn Thị Bình (2009) khi nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải.

     

    Tuy nhiên, những nghiên cứu đang dừng lại ở việc xem xét chủ yếu về thực trạng đầu tư tại các ngành, chưa đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể: Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét về mặt định lượng, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới hoạt động đầu tư phát triển nhưMức độ ảnh hưởng của các nhân tố như thế nào đến quyết định đầu tư, kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước?

     

    Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát trin kết cu h tng giao thông đường b s dng vn ngân sách Nhà nước Vit Nam” theo tác giả là cần thiết.

     

    2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam, xác định những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nướcở Việt Nam. Bởi vậy, nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi sau:

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam?
    • Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước?

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân

    sách Nhà nước ở Việt Nam?

     

    3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

     

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    4

     

    Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    3.2. Phạm vi nghiên cứu

     

    Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2012- đến năm2016

     

    Phạm vi không gian:

     

    • Nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
    • Nguồn vốn của các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ từ vốn Trung ương

     

    Phạm vi nội dung: Nghiên cứu xem xét đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    4. Phương pháp nghiên cứu

     

    4.1. Cách tiếp cận

     

    Nghiên cứu sinh thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước, sau đó, với những dự án đã được quyết định đầu tư, nghiên cứu sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước. Sử dụng hàm sản xuất cobb-douglas làm cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu, bất cứ hoạt động sản xuất để đảm bảo cho hoạt động sản xuất phát triển cũng cần có những yếu tố cơ bản như: vốn (máy móc, thiết bị, vốn đầu tư…), lao động (số lượng lao động, trình độ lao động…), và trình độ khoa học kỹ thuật & khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước (Yếu tố tổng hợp)

     

    Đầu ra của quá trình phát triển sản xuất kinh doanh hay kết quả của quá trình chuẩn bị đầu tư là có được quyết định đầu tư, sau khi có quyết định đầu tư bắt đầu thực hiện đầu tư phát triển kết quả đầu ra là kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước.

     

    Chính vì vậy, hai mô hình nghiên cứu cụ thể NCS sử dụng trong luận án:

     

    5

     

    Mô hình 1: Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Mô hình 2: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

     

    4.2.1. Phương pháp thu thp d liu th cp

     

    Các số liệu được thu thập từ các tài liệu đã công bố như: số liệu thống kê của các cấp, các báo cáo về tình hình thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư của Bộ Giao thông vận tải, báo cáo tổng kết năm và phương hướng hoạt động của Bộ Giao thông vận tải,… Ngoài ra, các báo cáo khoa học, tạp chí, các văn bản pháp quy…, được sử dụng làm nguồn tài liệu thu thập.

     

    4.2.2. Phương pháp thu thp d liu sơ cp

     

    Thông qua phỏng vấn các cá nhân am hiểu về hoạt động đầu tư tại các cơ quan trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, các Sở Giao thông vận tải và các đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển của ngành giao thông, tác giả thực hiện phỏng vấn các cá nhân để xem xét đánh giá của các cá nhân đó về mức độ ảnh hưởng, tầm quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố đến hoạt động đầu tư phát triển trong ngành giao thông ở Việt Nam.

     

    Đối với phân tích hồi quy đa biến: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo

     

    công thức là: 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996)

     

    Như vậy, số lượng mẫu tối thiểu cho nghiên cứu của tác giả là 205 mẫu, tác giả thực hiện phỏng vấn 300 quan sát sau đó kết quả thu được sẽ được làm sạch và được xử lý dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0

     

    Sau khi thu thập dữ liệu, có 50 phiếu khảo sát không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của phiếu khảo sát: Thiếu thông tin trả lời trong phiếu khảo sát. Tác giả thực hiện loại bỏ những phiếu khảo sát này và sử dụng 250 quan sát đạt yêu cầu thực hiện phân tích các phép toán thống kê.

     

    +) Quy trình thiết kế bảng hỏi

    6

     

    Bước 1: Tác giả kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trước đó khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển và xây dựng bảng hỏi các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

     

    Bước 2: Tác giả sử dụng bảng câu hỏi đã được xây dựng để khảo sát thử với 10 cán bộ làm việc trực tiếp trong hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, những cán bộ này làm việc tại các ban quản lý dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước như Ban quản lý dự án Cửu Long, cán bộ quản lý thuộc Bộ Giao thông vận tải, cán bộ thuộc ban quản lý dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi… Căn cứ vào kết quả khảo sát thử, tác giả điều chỉnh những chi tiết bất hợp lý để lập bảng hỏi chính thức và thực hiện việc thu thập dữ liệu toàn bộ.

     

    +) Phương pháp điều tra mẫu

     

    Tác giả sử dụng phiếu điều tra đã được chuẩn hóa để gửi đi phỏng vấn các cán bộ trực tiếp làm việc tại các đơn vị, cơ quan liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nếu không gặp được trực tiếp được các cán bộ này tác giả lựa chọn các phương án thay thế: Gửi email phiếu điều tra để chờ phúc đáp hoặc gửi lại phiếu điều tra tại cơ quan và sẽ đến nhận lại phiếu sau 10 ngày.

     

    Sau khi hoàn thành việc thu thập số liệu sơ cấp, tác giả làm sạch số liệu và tiến hành việc phân tích số liệu.

     

    Số lượng quan sát là 250 đáp ứng yêu cầu số lượng mẫu tối thiểu thực hiện các phép phân tích thống kê.

     

    Thời gian khảo sát: Tác giả thực hiện khảo sát thu thập số liệu sơ cấp từ ngày 10 tháng 12 năm 2016 đến ngày 9 tháng 3 năm 2017.

     

    *) Phương pháp phỏng vấn sâu

     

    Phương pháp phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện nhằm có dữ liệu phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn sau khi phân tích định lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam. Cụ thể, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu các 04 cán bộ quản lý Nhà nước trong đó có: 01 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và 02 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc

    7

     

    Bộ Xây dựng, 01 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc Bộ Tài chính, các cán bộ này có hiểu biết sâu sắc về hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Đồng thời, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn sâu 03 cán bộ, trong đó 02 cán bộ thuộc đơn vị thi công và 01 cán bộ đơn vị giám sát dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 6 năm 2017, tác giả xin lịch hẹn với các đối tượng được phỏng vấn và thực hiện phỏng vấn tại văn phòng với các cán bộ quản lý Nhà nước và tại công trường với các cá nhân là cán bộ đơn vị thi công và cán bộ giám sát.

     

    Phỏng vấn sâu được thực hiện tập trung vào khía cạnh xem xét đánh giá của các đối tượng được phỏng vấn về mức độ quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, thực tế các vấn đề phát sinh tại các dự án đầu tư.

     

    Kết quả phỏng vấn sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng của tác giả về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông bộ ở Việt Nam.

     

    4.3. Phương pháp phân tích số liệu

     

    Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được tác giả xử lý, làm sạch, nhập dữ liệu và mã hóa dữ liệu vào file exel, sau đó tác giả sử dụng các mô hình và phép tính toán định lượng để xử lý số liệu. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích theo dãy số thời gian, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp hồi quy binary logistic, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp hồi quy đa biến được tác giả sử dụng trong nghiên cứu để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

     

    1. Kết cấu của luận án

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 4 chương:

    8

     

    Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

     

    Chương 2: Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển và các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Chương 3: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Chương 4: Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

     

    1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Đầu tư phát triển đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà hoạch định chính sách, nguồn vốn sử dụng trong hoạt động đầu tư phát triển khá đa dạng: Nguồn vốn ngân sách, vốn viện trợ phát triển chính thức, vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… Đầu tư phát triển được thực hiện theo các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực thực hiện có những đặc thù riêng nhưng vẫn mang những điểm chung nhất về đầu tư phát triển. Các hoạt động đầu tư phát triển có thể thực hiện theo dự án, theo hạng mục công trình hoặc các phương thức thực hiện khác (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013)

     

    1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và ảnh hưởng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế

     

    Tiếp cận theo khía cạnh xem xét về kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số quốc gia khác nhau qua việc sử dụng ngân sách Nhà nước, tác giả Bernard Myers và Thomas Laursen (2008) đã tổng kết lại kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước thành viên EU, dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được tác giả thu thập từ năm 2000 đến hết năm 2006, chủ yếu tập trung vào việc khảo sát kinh nghiệm quản lý trong khoản mục đầu tư này ở nước Anh và một số nước có nền kinh tế

     

    9

     

    phát triển. Trong giai đoạn nghiên cứu của tác giả, các nước thuộc khối EU là các nước có nợ công thuộc vào nhóm các nước có nợ công lớn của thế giới, đây cũng có thể là bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó có thể tránh được phần nào nợ công tăng mạnh và không có khả năng kiểm soát.

     

    1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    1.3.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Để hoạt động đầu tư phát triển nói chung đạt được những kết quả nhất định cả về mặt tài chính và những ảnh hưởng lan tỏa khác, các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng thời cần đảm bảo các quyết định đầu tư chính xác.

     

    Theo quan điểm của Robbins và Coulter (1996) để ra quyết định đầu tư, quy trình ra quyết định gồm bảy bước: (i)xác định vấn đề,(ii) đưa ra các tiêu chuẩn của quyết định, (iii) lượng hóa các tiêu chuẩn, (iv) xây dựng phương án,

     

    • đánh giá và lựa chọn phương án tối ưu, (vi) tổ chức thực hiện phương án và cuối cùng là (vii) đánh giá hiệu quả của quyếtđịnh. Với mỗi đơn vị đầu tư, quyết định đầu tư chính là quyết định sử dụng vốn và các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm tăng thêm tài sản mới, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực.

    Gilomre và cộng sự (2003) cho rằng các nhân tố sau ảnh hưởng đến quyết địnhđầutư: (1) Quan điểm của Chính phủ và các khuyến khích tài chính – Nếu Chính phủ của nước chủ nhà hoạt động tích cực để thu hút đầu tư, thì quốc gia/địa phương hoặc khu vực đó sẽ hấp dẫn hơn so với một nơi mà một nhà đầu tư phải mất nhiều thời gian và thủ tục để dự án đầu tư được phêduyệt. (2) Lạm phát, chính sách kinh tế, mức thuế suất và cơ cấu thuế – là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầutư. (3) Giao thông vận tải, vật liệu và chi phí lao động – Đây là các chi phí quan trọng mà các công ty/đơn vị đầu tư đi vào xem xét khi tiến hành đầutư. (4) Công nghệ – Công nghệ được coi là một

    10

     

    trong những nhân tố quan trọng nhất liên quan đến quyết định đầu tư. (5) Sự ổn định chính trị là nhân tố mang lại sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

     

    1.3.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Với các dự án, sau khi đã có quyết định đầu tư, quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư sao cho hiệu quả nhất cũng chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau:

     

    Theo quan điểm của Era Dabla-Norris, Jim Brumby và cộng sự (2011), Esfahani và Ramirez (2003), Haque và Kneller (2008), Flyvbjerg (2003), kết quả nghiên cứu cho thấy có sự đồng nhất tương đối lớn về các nhân tố cũng như chiều tác động của các nhân tố tới hoạt động đầu tư công ở các quốc gia – là địa bàn nghiên cứu được các tác giả lựa chọn nghiên cứu. Trong nghiên cứu, các tác giả chỉ ra rằng các nhân tố như: Thể chế, mức độ quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước, việc lựa chọn các dự án đầu tư, chi phí đầu tư,… có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận đầu tư cũng như hiệu quả của các dự án đầu tư.

     

    1.4. Kết luận và khoảng trống nghiên cứu

     

    Tóm lại, đầu tư phát triển đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ góp phần tạo ra cơ sở hạ tầng tốt, từ đó góp phần tạo lợi thế trong các hoạt động thu hút vốn, nền tảng cho việc lưu thông hàng hóa, góp phần phát triển kinh tế chung của không chỉ các địa phương mà còn của Nhà nước. Thực tế đã chứng minh vị trí quan trọng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, các nghiên cứu về mặt lý luận đã được thực hiện, tuy nhiên những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung cho ngành giao thông, hoặc đầu tư phát triển cho các lĩnh vực khác. Trong khi đó, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước có đạt được kết quả tốt hay không, đáp ứng được các mục tiêu đề ra hay không lại phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các nhân tố ảnh hưởng từ quyết định đầu tư đến quá trình thực hiện đầu tư và từ đó ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước.

     

    Chính vì vậy, việc tác giả thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố

     

    11

     

    ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam” là việc làm cần thiết và vẫn đảm bảo tính mới trên cơ sở kế thừa nghiên cứu trước đó, cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, dữ liệu tác giả sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ các nguồn dữ liệu đa dạng từ dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo của các cơ quan quản lý Nhà nước, các đơn vị tham gia vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước; Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát những cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước dựa vào bảng hỏi được chuẩn hóa- kết quả thu thập dữ liệu được phân tích sẽ cho tác giả cái nhìn tổng quan hơn về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộtừ các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình này.

     

    Thứ hai, nghiên cứu sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng nhằm phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, việc phân tích này nhằm chỉ ra mức độ ảnh hưởng và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư.

     

    Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng kiểm định sự khác biệt giữa một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước giữa hai nhóm dự án: Có đầu tư và Không đầu tư.

     

    Với những dự án đã được quyết định đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nghiên cứu tiếp tục phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, mô hình phân tích hồi quy đa biến và phân tích nhân tố sẽ được tác giả sử dụng cho nghiên cứu này. Đồng thời, tác giả sử dụng mô hình lượng hóa để phân tích mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcphần lớn được thực hiện theo các dự án, với nghiên cứu này tác giả sẽ xem xét các dự án đã và đang được thực hiện, các cán bộ được tác giả lựa chọn phỏng vấn cho nghiên cứu này là những cán bộ thực hiện các dự án hoặc tham gia vào một chu trình của dự án đầu tư phát triển bên cạnh các cán bộ quản lý Nhà nước. Kết quả của nghiên cứu sẽ chỉ ra được về mặt định lượng

    12

     

    mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộsử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó làm căn cứ đề xuất các kiến nghị góp phần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Đồng thời, dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn sâu cũng sẽ được nghiên cứu sử dụng nhằm bổ trợ và lý giải rõ ràng hơn cho những con số từ kết quả định lượng.

     

    Thêm vào đó, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ phân tích thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam để thấy được sự biến động về đầu tư phát triển, những kết quả đạt được và hạn chế của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    CHƯƠNG 2

     

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

     

    2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Theo Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: “Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra một cách bình thường”.

     

    Theo Luật giao thông đường bộ Việt Nam (2008) quy định: “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ”. Như vậy có thể thấy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ rất đa dạng, gồm nhiều bộ phận khác nhau, mang cả hai hình thái vật chất và hình thái phi vật chất.

     

    13

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là bộ phận của đầu tư phát triển, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như xây dựng công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ, nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra thêm các tài sản vật chất, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.

     

    Đối với đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là khả năng tài chính của Nhà nước, các nguồn lực để có thể khai thác hoặc sử dụng để thực hiện mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    2.2. Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển kinh tế

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển xã hội

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    quản lý Nhà nước

     

    2.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển trong ngành thường được thể hiện thông qua ba chỉ tiêu: Khối lượng vốn đầu tư thực hiện; Tài sản cố định huy động hay Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.

     

    Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013). Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kĩ thuật… Theo phạm vi tác động của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội.

    14

     

    Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi quản lý tài chính. Hiệu quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Theo cách tính toán, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.

     

    2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    2.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    • Điều kiện kinh tế xã hội
    • Điều kiện tự nhiên
    • Kết quả dự kiến của dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    2.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    • Nhân tố điều kiện tự nhiên
    • Nhân tố về kinh tế
    • Nhân tố về chính trị, văn hóa, xã hội
    • Nhân tố về quản lý nhà nước
    • Nhân tố về đơn vị thực hiện

    2.5. Kinh nghiệm của một số nước về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và bài học cho Việt Nam

     

    Trên thế giới cả các nước phát triển và đang phát triển đều có những quá trình phát triển hệ thống giao thông đường bộ với những cơ chế, chính sách và điều kiện khác nhau, tất cả đều là những bài học quý giá cho Việt Nam trong việc đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Trong nghiên cứu này, nghiên cứu sinh đã sử dụng bài học của Nhật Bản, bài học của Trung Quốc, bài học của Hàn Quốc và bài học của Singapore trong đầu tư hệ thống giao thông đường bộ, từ đó đề xuất bài học cho Việt Nam

     

    15

     

    CHƯƠNG 3

     

    NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCỞ VIỆT NAM

     

    3.1. Thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam

    Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 380000 tỷ đồng, tăng bình quân 38%/năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước và có tính chất ngân sách Nhà nước144 nghìn tỷ đồng (chiếm 38%); Trái phiếu Chính phủ 113 nghìn tỷ đồng (30%); Còn lại huy động ngoài ngoài ngân sách khoảng 121 nghìn tỷ đồng (32%).

     

    Bảng 3.6: Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông

     

    giai đoạn 2011-2015

     

    Đơn vtính: Nghìn tỷ đồng

     

                 

    Tổng

    Tăng

     

    TT

    Nguồn vốn

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2011-

    cấu

    trưởng

     
                 

    2015

    (%)

    (%)

     
                         

    I

    NSNN

    13,545

    23,666

    29,98

    34,13

    42,88

    144,201

    38,0

    33,4

     
                         

    1

    ODA

    11,385

    20,127

    21,768

    31,5

    33,164

    117,944

    31,1

    30,6

     
                         

    2

    NSNN

    2,16

    3,539

    8,212

    2,63

    9,716

    26,257

    6,9

    45,6

     
                         

    II

    Trái phiếu CP

    11,078

    16,038

    14,768

    35,545

    36,376

    113,806

    30,0

    34,6

     
                         

    III

    Ngoài  NSNN

    8,787

    8,005

    21,761

    41,3

    41,98

    121,833

    32,1

    47,8

     

    (BOT, PPP)

                       
                         
     

    Tổng số

    33,411

    47,709

    66,509

    110,975

    121,236

    379,84

    100

    38,0

     
                         

    Ngun: V Kế hoch Đầu tư -B Giao thông vn ti

     

    Trong giai đoạn 2011-2015, vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có xu hướng tăng dần trong kỳ nghiên cứu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, cụ thể năm 2011 vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

    16

     

    giao thông đường bộ khoảng 13,545 nghìn tỷ đồng thì con số này đã tăng lên khoảng hơn 33% trong giai đoạn nghiên cứu với mức đầu tư khoảng 42,88 nghìn tỷ đồng. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có từ hai nguồn vốn cơ bản chính là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA và nguồn vốn ngân sách Nhà nước, trong đó nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức có đóng góp khá lớn trong các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 với khoảng 31% tổng số vốn đầu tư.

     

    3.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Nghiên cứu sử dụng hồi quy Binary Logistic nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Bảng 3.13: Các tham số hồi quy Variables in the Equation

         

    B

     

    S.E.

     

    Wald

     

    df

     

    Sig.

     

    Exp(B)

     
                                 
     

    Quy_hoach

     

    ,899

     

    ,351

     

    6,570

     

    1

     

    ,010

     

    2,457

     
     

    Hodan_anhhuo

                             
       

    ,611

     

    ,335

     

    3,322

     

    1

     

    ,068

     

    1,843

     
                   
     

    ng

                 
                               
     

    Step 1a  DKTN

     

    ,873

             

    1

             
                   
         

    ,359

     

    5,912

       

    ,015

     

    2,394

     
     

    LN_LUU_LUO

     

    ,560

     

    ,301

     

    3,450

     

    1

     

    ,063

     

    1,750

     
     

    NG

                 
                               
     

    Constant

     

    -12,193

     

    2,080

     

    34,371

     

    1

     

    ,000

     

    ,000

     
                                 
    1. Variable(s) entered on step 1: NNDT, Hodan_anhhuong, Danh_gia_GT, LN_LUU_LUONG.

    Ngun: Kết qu tính toán ca tác gi

     

    Từ kết quả phâ tích hồi quy Logistic, phương trình tương quan Logistric như sau:

     

    Ln [(P(Y=1)/ P(Y=0)] = -12,193 + 0,899*(Quy_hoach) + 0,611*(Hodan_anhhuong) + 0,873*(DKTN) + 0,56*9LN_Luu_luong)

     

    17

     

    3.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Kế thừa các các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu có sự điều chỉnh các thang đo cho phù hợp với nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    3.2.1. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện tự nhiên, nhân tố này có 2 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình cụ thể như sau:

     

    FACĐKTN = 0.847 ĐKTN1 + 0.847 ĐKTN2

     

    3.2.2. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến kết quả đầu tư phát

     

    triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện kinh tế, nhân tố này có 7 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình:

     

    FAC_ĐKKT = 0.532 ĐKKT1 + 0.838 ĐKKT2 + 0.656 ĐKKT3 + 0.865 ĐKKT4 + 0.775 ĐKKT5 + 0.681 ĐKKT6 + 0.751 ĐKKT7

     

    3.2.3. Phân tích ảnh hưởng của chính trị, văn hóa, xã hội đến kết quả đầu tư

     

    phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, nhân tố này có 3 thang đo quan sát được trích thành một nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình nhân tố cụ thể như sau:

     

    FAC_VHXH = 0.746 VHXH1 + 0.754 VHXH2 + 0.491 VHXH3

     

    Với hệ số của thang đo VHXH2: Sự ủng hộ của người dân với các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng với hệ số điểm là 0.754 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng lớn nhất, thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố về văn hóa, lịch sử, tập quán của người dân với hệ số điểm ảnh hưởng là 0.491.

     

    3.2.4. Phân tích ảnh hưởng của cơ quan quản lý Nhà nước tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    18

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_QLNN = 0.819 QLNN1+ 0.872 QLNN2 + 0.644 QLNN3 + 0.604 QLNN4

     

    Nhóm nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, với hệ số điểm của thang đo QLNN2: Trình độ chuyên môn của cán bộ Nhà nước liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là 0.872, đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất tới nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhóm nhân tố có ảnh hưởng thấp nhất là nhân tố kế hoạch giải ngân của các dự án.

     

    3.2.5. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố chủ đầu tư đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chủ đầu tư, nhân tố này có 8 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_CĐT = 0.290 CĐT1 + 0.672 CĐT2 + 0.738 CĐT3 + 0.897 CĐT4 + 0.846 CĐT5 + 0.551 CĐT6 + 0.646 CĐT7 + 0.525 CĐT8

     

    Với hệ số của thang đo CĐT4: Năng lực đấu thầu của cán bộ QLDA là 0.897, đây là thang đo có hệ số điểm ảnh hưởng lớn nhất, thang đo năng lực quản lý của chủ đầu tư có hệ số điểm là 0.29 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất theo quan điểm của đối tượng được khảo sát.

     

    3.2.6. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố nhà thầu đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố nhà thầu, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_NT = 0.692 NT1 + 0.934 NT2 + 0.700 NT3 + 0.907 NT4

     

    Với hệ số của thang đo NT2: Kinh nghiệm thi công của nhà thầu là 0.934 – đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất đến nhân tố, thang đo có ảnh hưởng thấp nhất là năng lực quản lý của nhà thầu với điểm số ảnh hưởng là 0.692.

    3.2.7. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố khác đến kết quả đầu tư phát triển

     

    kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố khác, nhân tố này có 6 thang đo

     

    quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    19

     

    FAC_K = 0.183 K1 + 0.477 K2 + 0.419 K3 + 0.809 K4 + K5 + 0.646 K6

     

    3.2.8. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Từ số liệu thu thập qua quá trình khảo sát các cán bộ tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, kết hợp với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất nhằm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ:

     

    Bảng 3.51: Kết quả hồi quy mô hình

     

    Coefficientsa

       

    Unstandardized

    Standardized

       

    Model

     

    Coefficients

     

    Coefficients

    t

    Sig.

             
       

    B

     

    Std.

    Beta

       
         

    Error

       
                 
                   
     

    (Constant)

    1.011E-16

     

    .041

     

    .000

    1.000

                   
     

    FAC_ĐKKT

    .664

     

    .056

    .664

    11.874

    .000

                   
     

    FAC_VHXH

    .254

     

    .052

    .254

    4.900

    .000

                   

    1

    FAC_CĐT

    .387

     

    .052

    .387

    7.443

    .000

                   
     

    FAC_NT

    -.239

     

    .047

    -.239

    -5.078

    .000

                   
     

    FAC_K

    -.073

     

    .042

    -.073

    -1.742

    .083

                   
     

    FAC1_ĐKTN

    -.267

     

    .059

    -.267

    -4.522

    .000

                   

    Ngun: Tng hp ca tác gi t kết qu nghiên cu

     

    Từ bảng kết quả cho thấy, tất cả các biến trong nghiên cứu đều có ý nghĩa thống kê với sai số là 0,1, các nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ với các mức độ khác nhau

     

    3.3. Kiểm định sự khác biệt về một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    20

     

    (1) Tiêu chí vn đầu tư ca Nhà nước

     

    Kết quả nghiên cứu có thể cho thấy rằng tiêu chí vốn đầu tư của Nhà nướccó sự khác biệt giữa hai nhóm quyết định đầu tư và không đầu tư, kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có quy mô vốn đầu tư của Nhà nước lớn hơn 3820.438 tỷ đồng so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (2) Tiêu chí phù hp vi quy hoch phát trin kinh tế – xã hi

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềtiêu chí phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,562 > 0,05 nên sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig (kiểm định

    1. = 0,000 < 0,05;
    • nh hưởng ca dán vmt xã hi

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềảnh hưởng của dự án về mặt xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,777 > 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05. Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.594 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (4) Chiu dài ca d án

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềchiều dài dự kiến của cácdự án do kiểm định F có hệ số Sig = 0,025 <0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có chiều dài của thực hiện của các dự án có quyết định đầu tư ngắn hơn khoảng 18.063 km so với nhóm không được duyệt đầu tư

     

    (5) Lưu lượng xe di chuyn d kiến

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về tiêu chí lưu lượng xe di chuyển dự kiến do kiểm định F có hệ số Sig = 0,000 < 0,05 nên ta

     

    21

     

    sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có lưu lượng xe di chuyển dự kiến là 8270.313 PCU/ ngày đêm lớn hơn so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (6) nh hưởng ca d án đến các h dân

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về ảnh hưởng mặt xã hội của dự ándo kiểm định F có hệ số Sig = 0,001< 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.406 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    CHƯƠNG 4

     

    GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC TỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

     

    4.1. Mục tiêu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô ở Việt Nam đến năm 2030

     

    4.2. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đến năm 2030

     

    4.3. Một số giải pháp

     

    4.3.1. Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách

     

    nhà nước có ý nghĩa lớn, góp phần nâng cao đời sống của người dân, thúc đẩy

    22

     

    phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nếu việc quyết định đầu tư các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ không chính xác sẽ dẫn đến vốn đầu tư không được sử dụng hiệu quả, vô hình chung ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư. Chính vì vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần có định hướng và lựa chọn chính xác các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô sử dụng ngân sách Nhà nước, đảm bảo các dự án được đầu tư đúng và trúng, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đồng thời, các đơn vị thực hiện có liên quan cần có sự chuẩn bị chi tiết cho các báo cáo tiền khả thi trước khi trình biểu quyết quyết định đầu tư đối với dự án

     

    4.3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    4.3.2.1. Giải pháp về nguồn nhân lực

     

    Nguồn lực con người là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ quản lý đầu tư đến thực hiện hoạt động đầu tư trong đó bao gồm cả cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị thực hiện.

     

    Mục tiêu của giải pháp này nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng chuyên môn của các cán bộ tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện các hoạt động đầu tư từ chuẩn bị đầu tư đến thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Nếu chất lượng của đội ngũ cán bộ chuyên môn tốt sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro cho hoạt động đầu tư và ngược lại.

     

    4.3.2.2. Giải pháp về đầu tư máy móc, trang thiết bị, công nghệ phục vụ cho công việc

     

    Đây là giải pháp được đề xuất cho các đơn vị thực hiện dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các dự án được triển khai có được kết quả như dự kiến hay không phụ thuộc vào năng lực của các đơn vị thực hiện trong đó có năng lực về kỹ thuật (máy móc thiết bị, công nghệ) phục vụ cho thực hiện dự án. Nếu các đơn vị thực hiện có máy móc thiết bị, công nghệ triển khai hiện đại sẽ góp phần đảm bảo tiến độ, tránh rủi ro cho các dự án, ngược lại nếu các đơn vị thực hiện máy móc thiết bị không đáp

     

    23

     

    ứng được yêu cầu tối thiểu, máy móc thường xuyên hư hỏng có thể ảnh hưởng đến thời gian thực hiện dự án.

     

    4.3.2.3. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp về tạo vốn cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phát huy tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Tăng cường hiệu quả công tác kiểm soát sử dụng nguồn vốn đầu tư

     

    4.3.2.4. Giải pháp về nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là một trong những thang đo quan trọng của điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư cũng như kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch nhằm đảm bảo các dự án được thực hiện phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

     

    KẾT LUẬN

     

    Đầu tư phát triển, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcđã nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, những nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được tác giả tổng hợp, so sánh và phân tích để có thể tìm ra khoảng trống nghiên cứu.

     

    Kế thừa nghiên cứu trước đó, tác giả đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcở Việt Nam

     

    24

     

    Dựa trên cơ sở khung lý thuyếtvà tổng quan các nghiên cứu trước đó, tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu cho luận án, những chỉ tiêu phân tích đã được tác giả trình bày để thực hiện nghiên cứu

     

    Từ những dữ liệu được thu thập được từ báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết giai đoạn của các cơ quan quản lý Nhà nước, tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, những mặt đạt được, những mặt hạn chế của hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích thông qua những biến động về lượng vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu, quy trình và thực trạng quản lý hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    Tác giả cũng sử dụng dữ liệu khảo sát để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Những nhân tố nào có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích cụ thể trong nghiên cứu.

     

    Trên cơ sở những phân tích đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn tới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-GI%E1%BA%A2I-T%C3%8DCH-2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

     

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

     

    GVHD: NGUYỄN NGỌC QUỲNH NHƯ

     

    STT

    HỌ VÀ TÊN

    MSSV

    1

    LÊ HẢI HẬU( NT)

    41201037

    2

    HOÀNG HẢI TRIỀU

    21304310

    3

    TRƢƠNG QUỐC TUẤN

    61104030

    4

    PHẠM HOÀNG TRUNG

    31003674

    5

    LÊ HOÀNG QUÂN

    31303209

    6

    ĐÀO ĐỨC THẮNG

    20902537

     

     

    ĐỀ TÀI :

     

    Câu 1: Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm 3 biến f tại điểm M cho trước dưới dạng ma trận vuông

     

    Câu 2: Tìm cực trị của hàm đa thức f(x,y) thỏa điều kiện x 2y2 =1 với a,b>0 được nhập từ a 2 b2

    bàn phím

     

    Câu3: Tính òòò f (x, y , z ) dxdydz trong đó W là miền giới hạn bởi :

    W

     

    ( z = 1 – x 2y2 ; z=0; y=x ;  y = x )

     

    Câu 1:

     

    ·        Cơ sở lý thuyết:

     

    1.     Định nghĩa đạo hàm tại một điểm:

    Cho hàm số y = f(x) xác định trên khoảng (a,b) và x0     (

    )

       

    ( )

    (  )

       

    (

    (

    )

    (  ))

             
           

    Nếu hàm số y = f(x) có đạo hàm tại x0 thì nó liên túc tại điểm đó.

     

    2.     Ý nghĩa của đạo hàm

    Ø Ý nghĩa hình học

    f’(x0)là hệ số góc tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,f(x0))

     

    Khi đó, phương trình tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,y0) là:

     

    y-y0 = f’(x0).(x-x0)

    • Ý nghĩa vật lý

    Vận tốc tức thời của chuyển động thẳng xác định bởi phương trình s = s(t) tại thời điểm t0 là v(t0) = s’(t0)

     

    Cường độ tức thời của điện lượng Q = Q(t) tại thời điểm t0 là I(t0) = Q’(t0)

     

    1. Quy tắc tính đạo hàm: C ‘ = 0

    (u ± v )   = u ‘+ v

     

    ( ku ) ‘ = ku

     

    x ‘ =1

     

    (uv ) ‘ = uv + uv

     

    æ 1

    ö

    v

    ç

     

    ÷

    = –

       
     

    v

    2

    è v

    ø

       

    ( x n )   = nx n 1 ( n Î

     

    æ u ö

    u v uv

    ç

     

    ÷

    =

       
     

    v

    2

    è v ø

       

    N , n >1)

     

    ( v ¹ 0)

     

    Đạo hàm của hàm số hợp: Nếu u = g(x) có đạo hàm tại x là u’x và hàm số y = f(u) có đạo hàm tại u là y’u thì hàm số hợp y = f(g(x)) có đạo hàm tại x là y’x = y’u.u’x

     

    Đạo hàm cấp cao:

     

    f ( x) = [f ( x)] ; f ”’ ( x) = [f ( x)] ; f ( n ) ( x) = [f ( n1) ( x)] ( n Î N , n ³ 4)

     

    3.     Các cách tính đạo hàm

    Ø Theo định nghĩa

    Để tính đạo hàm của hàm số y = f(x) tại điểm x0 bằng định nghĩa, ta thực hiện các bước

     

    B1: Giả sử         là số gia của đối số tại x0. Tính Dy = f (x0 + Dx ) – f (x0 )

     

    B2: Tính lim Dy

    Dx ®0 Dx

     

    ·        VÍ DỤ:

     

    Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm  f = 5 x 3 + 2 y 3 + 3 z 3 – 10 x 2 y + 2 yz 2 + 4xz tại điểm

    (            ) dưới dạng ma trận vuông.

     

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f, ta có:

     

    f x  = 15 x 2 – 20 xy + 4z                                                            f z  = 9 z 2 + 4 yz + 4x

    f y  = 6 y 2 – 10 x 2 + 2z2

    f

    = 30 x – 20 y

     

    xx

     
       

    f yy  = 12 y -10

    f

     

    = 4

         

    xz

     

    f zz  = 18 z + 4 y

    f yz

    = 4z

    f

    = -20x

         
     

    xy

           

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f tại điểm M(0,1,1) ta có:

    fxx

    = 30 ´ 0 – 20 ´ 1 = -20

    f

    = -20 ´ 0 = 0

     
             

    xy

       

    f yy  = 12 ´ 1 – 10 = 2

    = 4

     
             

    fxz

     

    f

    = 18 ´ 1 + 4 ´ 1 = 22

    f

    = 4 ´ 1 = 4

     

    zz

             
             

    yz

       

    Từ kết quả trên, ta xuất ra kết quả vi phân cấp 2 của hàm đã cho tại điểm   (

    ) dưới

    dạng ma trận vuông là:

         
     

    é -20

    0

    2 ù

         

    A = ê

    0

    2

    2 ú

         
     

    ê

       

    ú

         
     

    ê

    2

    2

    22ú

         
     

    ë

       

    û

         

    · CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

    CÂU 2:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.         Mô hình bài toán tìm cực trị có điều kiện:

     

     

    Xét bài toán: tìm cực trị của hàm

    (         )( ) , trong đó x, y là các biến thỏa điều

     

     

    kiện

    (         )

    ( ).

     

     

    Nhận xét: mô hình bài toán có điều kiện chỉ xét với điều kiện (2) là 1 phương trình. Như vậy nếu điều kiện (2) có dạng: g(x,y) < 0 (hoặc g(x,y) > 0) (2′) thì được hiểu là tìm cực trị địa phương của hàm z = f(x,y), trong đó ta chỉ xét những điểm dừng nằm trong miền thỏa mãn điều kiện (2′).

     

    2.         Định nghĩa:

     

     

    Ta nói rằng hàm tồn tại một lân cận

    (

    (         ) với điều kiện

    )của M0 sao cho:

    (         )

    ) đạt

    cực tiểu tại

    (

    )

    nếu

     

    (

    )

    (

    )         (         )

    (

    thỏa: g(x,y) = 0

     

    Thông thường, phương trình f(x,y) = 0 là phương trình của đường cong (C). Như vậy, ta chỉ so sánh ( ) với ( ) khi M nằm trên (C).

     

    Tương tự, ta cũng có định nghĩa cực đại có điều kiện.

     

    Cực tiểu có điều kiện và cực đại có điều kiện được gọi chung là cực trị có điều kiện..

     

    3.     Các phƣơng pháp tìm cực trị có điều kiện:

     

    • Cách 1: Đƣa về bài toán tìm cực trị của hàm 1 biến

    Nếu từ điều kiện (2) ta giải tìm được y = y(x) thì khi thế vào hàm số f(x,y) ta có z là hàm

     

    theo 1 biến số x: ( ( )) . Như vậy, bài toán trở về bài toán tìm cực trị của hàm số 1 biến. —–> Quá quen thuộc!!!

     

    • Cách 2: Phương pháp Larrange

    Nếu từ pt (2) ta không giải tìm y theo x được. Khi đó, giả sử (2) xác định 1 hàm ẩn theo

     

    biến x:    . Để tồn tại hàm số ẩn, ta giả thiết:                 (*)

     

    Như vậy: hàm số ( ) , với y là hàm theo x chính là hình ảnh hàm số hợp của biến số x thông qua biến trung gian y.

     

    Với những giá trị của x làm cho z có thể có cực trị thì đạo hàm của z theo x phải triệt tiêu. Vậy lấy đạo hàm của (1) theo biến x với quy tắc hàm hợp (nhớ rằng y là hàm theo x) ta

    có:

    f

    +

    f

    ×

    y

    = 0 (3)

                 

    x

    y

    x

                 
                         

    Từ điều kiện (2), ta lấy đạo hàm 2 vế theo x. Ta có:

    g

    +

    g

    ×

    y

    = 0 (4)

     

    x

    y

    x

                         

    Đẳng thức (4) này được thỏa mãn với mọi x, y thỏa mãn phương trình (2).

     

    Như vậy, tại những điểm cực trị thỏa mãn điều kiện (2) thì sẽ thỏa mãn (3) và (4)

     

    Nhân các số hạng của (4) với hệ số chưa xác định  và cộng chúng với các số hạng tương

     

     

    æ

    f

     

    g ö

    æ

    f

     

    g ö

       

    ứng của (3), ta được:

    ç

     

    + g

     

    ÷

    + ç

     

    + g

     

    ÷

    = 0

    (5)

           
     

    è

    x

     

    x ø

    è

    y

     

    y ø

       

    Do đó, phương trình (5) cũng nghiệm đúng tại những điểm cực trị thỏa điều kiện (2). Từ (5), ta chọn hằng số l sao cho tại những điểm cực trị, hệ số của dydx sẽ triệt tiêu.

     

    æ

    f

    + g

    g ö

    = 0

     

    ç

       

    ÷

    (6)

    y

     

    Nghĩa là: è

     

    y ø

     

    Vì vậy, từ phương trình (5) và (6) ta có: những điểm cực trị có điều kiện sẽ là nghiệm của

     

    ì

    f

     

    ï

       

    x

     

    ï

    f

     

    ï

    hệ phương trình: í

       

    y

     

    ï

    ïïg (x , y)

    î

     

    +

    g

    g

    =

    0

       

    x

       
               

    +

    g

    g

    =

    0

    (I)

     

    y

               
         

    =

    0

       

    Bây giờ, ta xét hàm số Larrange:  F ( x, y , g ) = f ( x, y ) + g g ( x, y)

     

    Khi đó các điểm cực trị địa phương của hàm Larrange sẽ thỏa mãn hệ:

     

    ìF

    =

    f

    +

    g

    g

    = 0

     
         

    ï

    x

       

    x

       

    y

       

    ï

                 
         

    f

       

    g

       

    ï

    =

     

    +

    g

    = 0

     

    íFy

         

    (II)

     

    y

    y

    ï

                 
                     

    ïF

     

    =

    g (x , y)

       

    = 0

     

    ï

    g

                   

    î

                     

    Từ (I) và (II) ta nhận thấy: những điểm dừng của hàm Larrange có thể là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện (2).

     

    Như vậy, bài toán cực trị có điều kiện trở về bài toán cực trị địa phương của hàm Larrange. Ở đây chỉ đóng vai trò phụ và sau khi tìm được giá trị thì không cần đến.

     

    Điều kiện của cực trị có điều kiện liên quan đến việc khảo sát dấu của vi phân cấp 2 của hàm Larrange tại điểm ( ) :

     

    d 2 F = 2 F ( x0 , y0 ) dx 2 + 2 F ( x0 , y0 ) dxdy + 2 F ( x0 , y0 )dy2

    x 2                            ¶xy                                 ¶y2

     

    trong đó: dx, dy không phải là những giá trị bất kỳ mà phải thỏa điều kiện:

     

    gx (x0 , y0 )dx + gy (x0 , y0 ) dy = 0 với dx 2 + dy2  ¹ 0

     

    Nếu d 2 F kiện. Nếu điều kiện.

     

    • 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều d 2 F < 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có

    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc xét dấu vi phân cấp 2 hơi phức tạp. Khi đó, ta có thể áp dụng kết quả sau: Giả sử ( ) là 1 điểm dừng của hàm Larrange, ứng với giá trị và đặt

     

    A = Fxx ( x0 , y0 ); B = Fxy ( x0 , y0 ); C = Fyy ( x0 , y0 ); D = g x ( x0 , y0 ); E = g y ( x0 , y0 )

     

    Khi đó xét: D = –

    0

    D

    E

       

    D

    A

    B

       
     

    E

    B

    C

       

    Nếu D > 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều kiện tại (

    )

    Nếu D < 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có điều kiện tại (

    )

    ·        VÍ DỤ:

     

    Cho hàm số f(x,y) = x2 + y – 1. Tìm cực trị của hàm f sao cho thỏa điều kiện x2 – y2  = 1.

     

    Ta có x2 – y2 = 1

    x2 = y2 + 1 (*) (x2     1)

    Thay (*) vào f(x,y) ta được:

    f(y) = y2 + y (y

    R)

    Tập xác định: D = R

    Xét f’(y) = 2y + 1 = 0

    (

     

    )

         

    (

    )

       
           
                   
                   

    Xét

    (

     

    )

           
             

    Vậy M(          ,        ) là cực tiểu duy nhất của f(x,y) khi y =          và x =

     

    ·        CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

     

     

     

     

     

    CÂU 3:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.     Địng nghĩa:

     

     

    Cho hàm số f(x,y,z) xác định trong miền đóng, giới nội V của không gian Oxyz.

     

    Chia miền V thành n miền nhỏ có thể tích là D V1, …, D Vn. Lấy tùy ý một điểm Mi-(xi,yi,zi) trong miền nhỏ thứ i.

     

    n

    Lập tổng: I n  = å f ( xi , yi , zi )DVi

    i=1

     

    Nếu giới hạn

    lim I n = n ®+¥

    lim I n = I max di ®0

    hữu hạn, không phụ thuộc vào cách chia miền V, và

     

    Mi thì f(x,y,z) gọi là khả tích trên miền V, và I gọi là tích phân bội 3 của hàm f trên V, ký

    hiệu:  I = òòò f ( x, y , z ) dV

    V

     

    Tương tự như tích phân kép, ta ký hiệu dxdydz thay cho dV và tích phân bội 3 thường viết: I = òòò f ( x , y , z ) dxdydz (thể tích của V)

    V

     

    Chú ý: Nếu f(x,y,z) = 1 thì  I = òòò f ( x, y , z ) dV (thể tích của V)

    V

     

    2.     Tính chất:

     

    Ø I = òòò Cf (x, y , z ) dV = C òòò f (x, y, z) dV

    V                                                  V

     

    • I = òòò [f (x, y , z ) + g(x, y, z)]dV = òòò f (x, y, z) dV + òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                                                     V                                         V

     

    • Nếu V = V1 È V2 ,V1 Ç V2 = Æ thì:
    • f ( x, y , z ) dV = òòò f ( x , y , z ) dV + òòò f ( x , y , z ) dV

    V

    V1

    V2

    • Nếu f ( x, y, z ) ³ g ( x, y , z ); “( x, y, z ) ÎV thì:
    • f (x, y, z) dV ³ òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                             V

     

    • Nếu f(x,y,z) liên tục trong miền đóng, bị chặn V thì tồn tại điểm ( x0 , y0 , z0 ) ÎV sao

    cho:   f ( x0 , y0 , z 0 ) = V1 òòò f ( x, y , z ) dV (Đinh lý về giá trị trung bình)

    V

     

    3.     Cách tính tích phân bội ba

     

    Ø Tích phân bội ba trong hệ tọa độ Descartes

     

    Cho V giới hạn bởi: mặt trên z = j2 ( x, y) , mặt dưới z = j1 ( x, y)

     

    Xung quanh mặt trụ có đường sinh song song với trục Oz và đường chuẩn là biên của miền D thuộc mặt phẳng Oxy. (D là hình chiếu của V xuống mặt phẳng Oxy).

     

     

    éj 2

    ( x , y )

    ù

    Khi đó: òòò f ( x, y , z ) dxdydz = òò ê

    ò

    f ( x, y , z )dz ú dxdy

    V

    ë 1

     

    û

    ê j ( x , y )

    ú

    Nếu miền D = {( x, y ) : a £ x £ b, j1 ( x ) £ y £ j2 ( x)}thì:

     

    b       j 2 ( x )        j2 ( x , y )

    òòò f ( x, y , z ) dxdydz = ò dx         ò dy   ò  f (x , y , z ) dz

    V                                                     a        j1 ( x )        j1 ( x , y )

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ trụ:

     

     

    Tọa độ trụ của điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r , j, z) với của M xuống mặt phẳng Oxy (Hình vẽ)

     

    Ta luôn có: r ³ 0; 0 £ j £ 2p; -¥ < z < +¥

     

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ trụ: í y ïî z

     

     

     

    ( r, j) là tọa độ cực của hình chiếu

     

    • r cosj
    • r sin j
    • z

    Ta có: òòò f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r cosj , r sin j ) rdrd jdz

    V                                                      V

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ cầu:

     

    Tọa độ cầu của một điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r, q , j) với r = OM ,q là góc giữa trục Oz và OM , j là góc giữa trục Ox và OM , với M’ là hình chiếu của M xuống mặt phẳng Oxy.

     

    Ta có: Với mọi điểm M trong không gian thì r ³ 0; 0

     

    ì x

    ï

     

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ cầu: í y ïî z

     

    Công thức tính tích phân trong hệ tọa độ cầu:

    • q £ p ; 0 £ j £ 2p
    • r sin q cos j
    • r sin q sin j
    • r cosq
    • f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r sinq cosj , r sinq sin j , r cosq ) r 2 sinq drdq d j

    V                                                   V

     

    ·        VÍ DỤ:

    • ( )         ∭
    • Trong đó miền giới hạn là:

    ·

           

    ; z = 0; y = x;

     

    ;

               

       
                     

    ·

    (

    )  ∫

                                   
                                   
                                   
                             
         

     

     

           

                   
                                           
    • = D1 + D2
    • Tính D1
             

    ∫∫ (

    )

         

    ·

             

    (

                                     

    )

                                                   
                                           
                                           
         

    ·

                                                         
                                                         
                                                         
    • ( )        (          )    (                )    (                )     √
    • Tính D2

    ·

                                     

                                                         
               

                         

       
                                     

    ·

                               

                                                         
                                     

    (

     

    )

                       
               

                                     
                           

    ·

                                                                                       
                         

    (

       

    )

                                                     

                                                                             
                                                         
                                                                             

    ·

                                                                                 

    (

     

    )

                                                                                   

                                       

                           

           
                                                           
                                                               

    ·

                                                                                             
                                                                                             
    • Tính d1
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                     

    )

                                                   

             

    (

                                                               
                                                                       
                                                       
                                                                     

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                         

    (

             

    )

                               

    (

         

    )

                                                                     
                                       
                   

    ·

               

    (

                           

    )

                                                   
                                                                                       
                                                                                     
    • Tính d2
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    • Khi đó:

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

             

    (

                 

    )

                                                   
                                                                               
                                                                             
                                                           
                                                                             

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                             

    (

             

    )

                             

    (

         

    )

                                                                                 
                                                             
                                               

    ·

         

    (

                                   

    )

                                                     
                                                                                         
                                                                                         
    • Tính d3

    ·

           

             

    (

                     

    )

                                   
                                                 
                                                         

    ·

                                                                                             
                                                                                             
                                                                                             

    ·

     

    (

         

    )

                                       

    (

               

    )

       

    (

         

    )

                                                                   
                                                               
                                         

    ·

           

    (

           

    )

             

    (

           

    )

               
                                                   
                                         
    • Suy ra

    ·

    (

       

    )

       

    (

       

    )

       

                   

    (

           

    )

     

           

    (

     

    )

         

         
                             
                           
     

    (

         

    )

         

    (

         

    )

     
                                                                                                                               
                                                           
         

    (

     

    )

     

    (

     

    )

         
                         
                                         
               
                                                                                                             
                                                                                                               

    ·

    (

           

    )

     

    (

               

    )

         

    (

             

    )

           

    (

     

    )

                             

               
                                                                         
                             
                                                                                                                           
     

    (

             

    (

         

    )

     
           

    )

                           
               
         
             
                                                               
    •  
    • = 0.0887
    •  

    ·        CODE:

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-%C4%90%E1%BA%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Lời mở đầu.

           Giai cấp công Việt Nam thật sự đã hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhưng nếu dùng khái niệm chính trị-xã hội học mà Ăng-ghen dùng thì tuy đã thành giai cấp nhưng còn ở bước đầu, giai đoạn “tự mình” hay “tự phát”. Giai cấp công nhân có một sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng. Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Vậy vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều liện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là gì và điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được Cách Mạng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua phần dưới đây.

     

     

    Nội dung.

    1.     Sự ra đời và đặc điểm của giai cấp công nhân.

    1.1.           Sự ra đời.

              Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Về chính sách cai trị kinh tế, chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, hạn chế sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Về chính sách cai trị chính trị: thực hiện chính sách chia để trị, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam, đó là chính sách thực dân kiểu cũ. Về chính sách cai trị văn hoá xã hội: đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, mở trường học hạn chế và nhỏ giọt. Trước tình hình đó đã dẫn đến những hậu quả về xã hội và giai cấp.

    • Thay đổi tính chất xã hội Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến đôc lập thành môt nước thuộc địa, bản chất là thay đổi chủ thể quyền lực chính trị, từ vua quan phong kiến chuyển sang tay thực dân Pháp.
    • Thay đổi mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngoài giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đó là mâu thuẫn về giai cấp, xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mâu thuẫn dân tộc. Phải nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho Việt Nam phát triển.
    • Thay đổi kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam.Trong đó đặc biệt là sự ra đời 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau do đó có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội.

    1.2.           Đặc điểm.

    1. Cơ sở lý luận.

             Theo C.Mác và Ăng-ghen thì giai cấp công nhân mang 2 thuộc tính cơ bản là:

    • Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. C.Mác và Ăng-ghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.
    • Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
    1.  b) Đặc điểm chung của giai cấp công nhân.

            – Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            –  Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
            –  Là “giai cấp dân tộc” – vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
            –  Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân , đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin).
            Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
             Từ những đặc điểm vốn có đó, giai cấp công nhân mới có ba tính chất cơ bản là:
    a) Tính tổ chức, kỷ luật cao. 
    b) Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
    c) Tính triệt để cách mạng.

    2. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

    2.1. Hoàn cảnh lịch sử.

           Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn. Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:

    • Giai cấp địa chủ phong kiến:

    + Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đầu hàng, được đế quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực.

    + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản ). Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không ít tiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện có tham gia vào phong trào dân tộc.

    • Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống, tự do. Tuy nhiên họ là những người tư hữu nhỏ, tư hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả vê kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành lực lượng chính của cách mạng.
    • Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
      + Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh. Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,…
      + Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
      – Giai cấp tư sản:
      + Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ ).
      + Bị phân hóa làm hai bộ phận:
      Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ.
      • Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượng nhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
      => Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc.
      – Giai cấp công nhân:

    + Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng nhỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.

    + Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người.
    + Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân.Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ). Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
    – Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    2.2. Quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân.

          Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công nhân ra đời và hình thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta. Điều đó đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta.

           Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này: phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước.

           Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các phong trào đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được 2 lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công.

            Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo.

            Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    2.3. Giai cấp công nhân có đủ các tố chất để lãnh đạo cách mạng.

         Giai cấp công nhân là giai cấp tiến tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chủ nghĩa tư bản và đế quốc, để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    1. Giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ.

           Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

           Giai cấp công nhân, con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất tiến bộ, đoàn kết. Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị bởi lý luận khoa học cách mạng và luôn đi đầu trong phong trào cách mạng theo mục tiêu xoá bỏ xã hội cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ. Nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng. Hơn nữa đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta.

    1. Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.

          Vì là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên giai cấp này được tôi luyện trong môi trường lao động công nghệ ngày càng hiện đại cũng như trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến trước đây cũng như chống giai cấp tư sản ngày nay. Chính điều kiện làm việc ở thành thị và các khu công nghiệp giúp cho giai cấp công nhân mở rộng các quan hệ xã hội, mở mang trí tuệ. Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản – là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

            Giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu khách quan sẽ dẫn đến quan hệ sản xuất cũ phải thay đổi để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển.

    1. Giai cấp công nhân ra đời trước tư sản Việt Nam.

            Đội ngũ công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh-Bến Thuỷ, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người,… Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột  nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến…dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh

            Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề, ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản.

    3.     Điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được cách mạng.

            Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Phong trào đấu tranh của công nhân từng bước trưởng thành, phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng lớn mạnh. Điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng đó là giai cấp công nhân có Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, có tinh thần cách mạng triệt để. Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, họ sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin. Do vậy họ là tầng lớp đại diện cho giai cấp nông dân nhưng tiến bộ hơn về mặt tư duy cách mạng. Đồng thời họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”.Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

     

     

    Kết luận.

          Tóm lại giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuyệt đại bộ phận trong giai cấp là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta. Giai cấp công nhân Việt Nam sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh – Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]