Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

    Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

    Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-4.0-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c-%C4%91%E1%BA%B7t-ra-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

     

    Ths. Hoàng khắc nhân* Ths. Đỗ đăng đoài*

    Ths. Nguyễn thị Thùy linh*

    Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

     

    Cách mạng công nghiệp 4.0 (Industrie 4.0) là thuật ngữ nổi lên một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013 trong đó đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Cách mạng Công nghiệp (CMCN) 4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số

     

    và Vật lý. Tuy nhiên, cuộc CMCN này đã, đang và sẽ có mặt trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Và Kiểm toán nhà nước (KTNN) cũng không đứng ngoài vòng ảnh hưởng khi mà nó làm thay đổi căn bản cách thức mà Kiểm toán viên nhà nước tiếp cận và xử lý thông tin. Trong phạm vi bài viết này sẽ chỉ tập trung chỉ ra những thách thức mà KTNN phải đối mặt trong CMCN 4.0.

     

    Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, KTNN, thách thức. Industry 4.0 and challenges to State Audit Office of Vietnam

     

    Industrial Revolution 4.0 (Industry 4.0) is a term that emerged from a report by the German government in 2013 which refers to this phrase as a strategic high-tech computerized manufacturing industry without human participation. Industry 4.0 will take place on 3 main areas including Biotechnology, Technology and Physics. However, this Industry 4.0 has been and will be present in many different areas of social life. And the State Audit Office of Vietnam is not out of touch as it fundamentally changes the way SAV’s state auditors’ approach and process information. This paper focuses only on the challenges facing the SAV in the Industry 4.0.

     

    Keywords: Industrial Revolution 4.0, SAV, challenges.

     

     

    1.   Hiểu biết cơ bản về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

     

    Theo wikipedia, công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện thời trong việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống kết nối các thực thể và “phiên bản số” của chúng được gọi là các hệ kết nối không gian số – thực thể (cyber-physical system), Internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây (Cloud computing) và điện toán nhận thức (cognitive computing). Công nghiệp 4.0 tạo ra những “nhà máy thông minh” (smart factory). Trong các nhà máy thông minh với cấu trúc kiểu mô-đun, hệ thống thực-ảo giám

    sát các quy trình thực tế, tạo ra một bản sao ảo của thế giới thực và đưa ra các quyết định phân tán. Qua Internet vạn vật, các hệ thống thực – ảo giao tiếp và cộng tác với nhau và với con người trong thời gian thực.

     

    Thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” khởi nguồn từ một dự án trong chiến lược công nghệ cao của chính phủ Đức, nó thúc đẩy việc sản xuất điện toán hóa sản xuất. Khái niệm này được nhắc lại vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm nâng cao nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức.

     

    *Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán, Kiểm toán nhà nước

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    Một khái niệm khác khá tương đồng và có liên quan đến khái niệm “Công nghiệp 4.0”, đó là “cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, về bản chất, đều dựa trên những thành tựu của khoa học kỹ thuật như Trí tuệ nhân tạo, với máy móc tự động và thông minh như ô-tô tự lái, in ấn 3 chiều, kết nối vạn vật (IoT), công nghệ sinh học và công nghệ nano, số hóa dữ liệu, hiện thực ảo… Một cách dễ hiểu, chúng ta có thể hiểu tương đối đồng nhất hai khái niệm này, tuy nhiên cần lưu ý khái niệm “công nghiệp 4.0” hàm ý một sự chuyển đổi có tính hệ thống bao gồm tác động lên xã hội dân sự, cơ cấu quản trị và bản sắc con người, không chỉ là tác động lên các hệ thống sản xuất kinh doanh.

     

    Nhìn lại các cuộc cách mạng Công nghiệp mà loài người đã trải và thực hiện, từ cuộc Cách mạng lần thứ nhất bắt đầu vào khoảng năm 1784 là cách mạng Cơ khí hóa sản xuất dựa vào động cơ hơi nước, xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới. Trong thời kỳ này, sản xuất giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng sản xuất quy mô lớn dựa trên các máy hơi nước đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai vào khoảng giai đoạn 1871-1914 là cách mạng Điện khí hóa sản xuất hàng loạt dựa vào năng lượng điện, động cơ đốt trong. Cách mạng lần thứ ba vào khoảng giai đoạn 1969-1997 là cách mạng Tự động hóa với các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và

     

     

     

    số hoá, cho phép sản xuất theo quy trình tự động, điều khiển bằng hệ thống máy tính, giúp tiết kiệm lao động, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nguyên vật liệu, hiệu suất và độ chính xác cao…Và hiện nay, cả thế giới chúng ta đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (bắt đầu vào cuối những năm 2000) là cuộc cách mạng Số hóa và kết nối hệ thống thực và ảo, với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, IoT, S.M.A.C, công nghệ nano, sinh học, vật liệu mới…

     

    Cuộc cách mạng công nghiệp lần này đang tạo ra những xu hướng mới, hứa hẹn mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người.

     

    Đặc trưng khác biệt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đó là các giá trị được tạo ra gắn liền với nhà máy, thiết bị hữu hình (ở thế giới thực) càng ngày càng giảm, ngược lại các giá trị được tạo ra trên không gian mạng (thế giới ảo) có tỷ trọng ngày càng tăng. Dựa trên nền tảng công nghệ số, tất cả các công nghệ thông minh được tích hợp với nhau để tối ưu hóa quy trình và phương thức sản xuất. Sự phát triển của hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông và internet mà đỉnh cao là mạng lưới vạn vật kết nối IoT cho phép các chủ thể kinh tế và các chu trình kinh tế kết nối với nhau, xóa nhòa khoảng cách. Sự kết nối này đang tạo ra một xu hướng mới thường được gọi với khái niệm “kinh tế chia sẻ”. Theo đó, các mô hình chia sẻ nguồn lực trực tiếp giữa cá nhân với cá nhân, hướng tới mục

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  15

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    tiêu tối ưu hóa nguồn lực toàn xã hội. Quy mô của cuộc cách mạng là sự đột phá công nghệ đồng thời diễn ra trong nhiều lĩnh vực, tương tác thúc đẩy lẫn nhau. Đặc biệt là, mức độ ảnh hưởng, sự lan tỏa của cuộc cách mạng này diễn ra trên quy mô toàn cầu, với tốc độ phát triển chưa có trong tiền lệ của lịch sử loài người (tốc độ phát triển tăng theo cấp số nhân), và được dự báo sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới. Những công nghệ mới của cuộc Cách mạng sẽ tác động to lớn lên mọi luật lệ, mọi nền kinh tế, mọi nền công nghiệp, đồng thời thách thức chúng ta về vai trò thực sự của con người, chúng có khả năng kết nối hàng tỷ người trên thế giới, gia tăng đáng kể hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp, tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay thậm chí là khôi phục lại những tổn thất mà các cuộc cách mạng công nghiệp trước gây ra.

     

    2. Cơ hội và thách thức đặt ra

     

    Như đã biết, các nước phát triển, đặc biệt là các nước phương Tây đã có những bước phát triển nhảy vọt sau khi trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó. Chẳng hạn như với nước Anh, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã làm thay đổi vị thế của nước Anh, trở thành cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới, là công xưởng của thế giới (năm 1848 sản lượng công nghiệp Anh chiếm 45% tổng sản lượng công nghiệp thế giới), nước Anh trở thành trung tâm thương mại và tài chính quốc tế (năm 1870 khoảng 38% mức lưu chuyển hàng hoá qua nước Anh). Tiếp đó, nhiều cường quốc công nghiệp khác nổi lên sau kết quả của cách mạng công nghiệp lần thứ 2, tiêu biểu là Đức và Hoa Kỳ. Thời kỳ này, nước Đức thay thế nước Anh trở thành quốc gia dẫn đầu Châu Âu về công nghiệp. Hoa Kỳ cũng đã vượt nước Anh trở thành quốc gia công nghiệp số một thế giới.

     

    Nếu như vì nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan, Việt Nam đều lỡ nhịp, không có điều kiện tham gia ba cuộc cách mạng công nghiệp về cơ khí, điện khí hóa và tự động hóa trước đó thì nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang được đánh giá đem lại cơ hội lớn cho nước ta. Việc lần đầu tiên được tham gia một “sân chơi” không biên giới, không khoảng cách, sẽ là thời cơ “ngàn vàng” để chúng ta “đi tắt đón đầu”, có thể giúp đưa nước ta

    bứt phá , vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Bởi, Việt Nam hiện nay đã có những yếu tố quan trọng là nền tảng cho cuộc cách mạng 4.0 này. Đó là việc chúng ta là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng; lực lượng lao động trẻ, đông đảo, năng động, nhanh nhạy, ham hiểu biết và tìm tòi; đó là tỷ lệ dân số và doanh nghiệp sử dụng Internet cao (khoảng 54% dân số vào năm 2016, đứng thứ 5 ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương); tỉ lệ dân số sử dụng điện thoại thông minh đạt 55%; ngành công nghệ thông tin đang có sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng lên đến 16%; Việt Nam cũng đứng trong top 5 nước tăng trưởng công nghệ thông tin nhanh nhất thế giới… Như vậy, các tiền đề quan trọng cho cuộc cách mạng đã không còn quá thua thiệt nếu so với các quốc gia khác, thậm chí có thể nói, dường như cả thế giới đều bước vào cuộc cách mạng 4.0 ở cùng một vạch xuất phát, cạnh tranh một cách công bằng và sòng phẳng. Cơ hội chia đều cho mọi quốc gia và điều Việt Nam chúng ta nên làm là cần phải nhanh chân.

     

    • chiều ngược lại, thách thức là không nhỏ khi chúng ta chưa trải qua các cuộc cách mạng trước đó, chưa tích lũy đầy đủ khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực quản lý,… cả về lượng lẫn về chất. Tuy nhiên, đây vẫn là cuộc cách mạng tất yếu mà Việt Nam chỉ có thể chọn cách tham gia hoặc bị loại khỏi “cuộc chơi”. Không tận dụng được cơ hội này, nước ta sẽ chỉ có một kết quả là tụt hậu càng tụt hậu hơn, nước ta vẫn sẽ là “bãi rác công nghệ” của thế giới, là nơi bán tài nguyên giá rẻ, bán sức lao động giá rẻ… Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn hẹp, chúng ta cần tìm cho mình bước đi phù hợp, tầm nhìn bao quát và dài hạn, nhất là cần có những giải pháp hết sức cụ thể, căn cơ, đúng và trúng mới nâng cao hiệu quả, tăng khả năng thích ứng của quốc gia với “làn sóng” công nghệ mới, tận dụng tốt thời cơ để phát triển đột phá. Thực tế cho thấy Việt Nam đang có sự tiếp cận khá nhanh chóng về công nghiệp 4.0 khi hàng loạt các cuộc thảo luận, nghiên cứu cho nội dung này đã được thực hiện. Chính phủ cũng cho thấy sự tích cực, chủ động với quyết tâm cao. Cụ thể, trước xu hướng phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    4.0, ngày 4/5/2017 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

     

    Đối với việc thực hiện nhiệm vụ tại Kiểm toán nhà nước, vì vậy cũng đang đặt ra nhiều thách thức. Trước hết là thách thức về mặt làm chủ “công nghệ kiểm toán”. Như đã đề cập, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được dự báo sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới. Do đó, yêu cầu tất yếu đặt ra là việc kiểm tra, kiểm soát cũng phải thay đổi theo bởi chỉ sử dụng các quy trình, thủ tục, phương pháp, kỹ thuật cũ mà không có sửa đổi, bổ sung, cải tiến để kiểm tra những hệ thống mới hoặc những hệ thống đã được làm mới là không đảm bảo hiệu quả, hiệu lực. Chẳng hạn như:

     

    • Sự phát triển của hệ thống thực ảo (Cyber Physical System – CPS) và Internet vạn vật đã và đang tạo ra ngày càng nhiều mô hình, cách thức tổ chức và kinh doanh mới. Các loại hình doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ xuất hiện ngày càng nhiều như Uber, Grab, Bitcoin, Facebook, Google… ngày càng nhiều đặt ra các vấn đề quản lý hóc búa. Các giao dịch trên không gian mạng (thế giới ảo) có tỷ trọng ngày càng tăng nhanh và rất khó kiểm soát theo cách thông thường. Lấy ví dụ như, đến nay cơ quan chức năng vẫn loay hoay vấn đề quản lý thông tin trên mạng xã hội; vấn đề quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh của Facebook; quản lý thuế các hoạt động bán hàng online trên mạng xã hội facebook…
    • Xuất hiện ngày càng nhiều các hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý lớn, phức tạp, thách thức cho việc thu thập thông tin, đánh giá tổng thể cũng như bao quát đầy đủ tình hình hoạt động và tài chính của tổ chức, có thể gây khó khăn cho công tác chọn mẫu kiểm toán. Hiện nay, nhiều cơ quan, đơn vị đã tăng cường ứng dụng CNTT vào quản lý, đưa vào sử dụng các hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý tập trung, tuy nhiên KTNN gần như vẫn chưa hiểu và nắm bắt rõ để vận dụng trong hoạt động kiểm toán. Đơn cử như hệ thống Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc Tabmis mặc dù đã được đưa vào vận hành chính thức trên toàn quốc được 05 năm kể từ năm 2012, tuy nhiên đến nay khi thực

    hiện kiểm toán ngân sách, KTNN vẫn chủ yếu dựa vào các hồ sơ, tài liệu, báo cáo bằng giấy của các đơn vị được kiểm toán mà chưa tiếp cận với các dữ liệu số trên hệ thống.

     

    Việc gia tăng sử dụng hệ sinh thái Internet Vạn vật IoT, việc chia sẻ thông tin nhanh chóng và dễ dàng hơn bao giờ hết mặc dù là cơ hội thuận lợi để chia sẻ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, tuy nhiên cũng sẽ làm tăng nguy cơ mất an toàn thông tin, nguy cơ mất kiểm soát việc phát tán thông tin tài liệu. Đây thực sự là thách thức lớn về vấn đề bảo mật, yếu tố đặc biệt quan trọng trong kiểm toán vốn là hoạt động có yêu cầu bảo mật thông tin rất cao.

     

    Ngoài ra, thách thức về nhân lực chất lượng cao cũng là vấn đề rất quan trọng. Cách mạng 4.0 sẽ triệt tiêu lao động giản đơn và lao động chất lượng thấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Khi các hệ thống sản xuất và quản trị ngày càng đồ sộ và phức tạp thì các sai phạm cũng vì thế mà tinh vi hơn, người kiểm toán viên với công việc kiểm tra kiểm soát do đó càng phải giỏi hơn. KTNN muốn ứng dụng được những “công nghệ kiểm toán” hiện đại hơn cần phải chuẩn bị được một đội ngũ kiểm toán viên chất lượng cao hơn. Trong kỷ nguyên số hiện nay, các kiểm toán viên cần nhận thức rõ xu hướng thời đại để nắm bắt cơ hội và thích ứng, trang bị cho mình nhiều kỹ năng như quản lý, kỹ thuật số và cả những kỹ năng mềm.

     

    3.   Định hướng phát triển của KTNN trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0

     

    Với vai trò là cơ quan có chức năng kiểm toán việc quản lý sử dụng tài chính công, tài sản công, ngay từ bây giờ Kiểm toán nhà nước cần có những định hướng, bước đi phù hợp để đảm bảo hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trong tương lai khi mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được dự báo sẽ có tác động lớn, toàn diện đến mọi đối tượng, mọi ngành hay lĩnh vực kinh tế, sẽ kéo theo thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội, phương thức quản lý. Theo tác giả, KTNN cần đảm bảo một số yêu cầu như:

     

    • Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực: phải thay đổi rõ nét về mục tiêu, nội dung và cách thức đào tạo để tương thích với thời đại mới, chú

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  17

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    trọng phát triển kỹ năng mềm, kỹ năng kiểm toán trong môi trường số hóa, môi trường ảo. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về xu hướng tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại để mỗi kiểm toán viên thấy rõ cần làm gì để kịp thích ứng.

     

    • Chủ động nghiên cứu các hệ thống dữ liệu số hóa đã và đang được sử dụng rộng rãi thời gian gần đây cũng như các hệ thống sẽ được ứng dụng ở các ngành, lĩnh vực cần kiểm toán, chẳng hạn như Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc Tabmis, hệ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm do Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chủ quản, hệ Cơ sở dữ liệu Đất đai quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ quản, hệ thống quản lý thuế tập trung TMS… để nâng cao kỹ năng làm việc với các hệ thống cơ sở dữ liệu cho các kiểm toán viên, chủ động sử dụng cho việc kiểm tra, đối chiếu trong quá trình kiểm toán; Nghiên cứu dự báo các vấn đề mới, các lỗ hổng trong công tác quản lý các mô hình tổ chức, mô hình kinh doanh mới để có phương thức kiểm tra phù hợp và tư vấn chính sách quản lý cho các cơ quan có thẩm quyền.
    • Nghiên cứu cải tiến hình thức tổ chức kiểm toán phù hợp với xu hướng phát triển của hệ thống thực ảo và chia sẻ dữ liệu của kỷ nguyên số, khai thác tối đa thông tin, thu thập hồ sơ, tài liệu từ xa trên hệ thống dữ liệu số liên thông, tiến tới giảm dần hình thức kiểm toán hậu kiểm còn nhiều bất cập thay bằng việc tiền kiểm hoặc giám sát thường xuyên, giảm dần việc kiểm toán trực tiếp tại đơn vị được kiểm toán mà chỉ kiểm tra trực tiếp trong những trường hợp thực sự cần thiết, ví dụ như như cần kiểm tra hiện trường hoặc có nghi vấn gian lận sau khi kiểm tra, theo dõi, giám sát từ xa qua hệ thống thông tin, đảm bảo vừa nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán, vừa hạn chế phiền toái cho đơn vị được kiểm toán và phòng ngừa tiêu cực.
    • Tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác kiểm toán, đặc biệt ứng dụng CNTT, chẳng hạn ứng dụng công nghệ hiện thực ảo để giả lập môi trường kiểm soát nhằm tìm ra lỗ hổng trong môi trường kiểm soát nội bộ, ứng dụng công nghệ chia sẻ dữ liệu số đảm bảo thu thập thông tin nhanh chóng, tin cậy, ứng dụng công nghệ phần mềm để phần mềm hóa toàn bộ quy trình kiểm toán đối với các lĩnh vực kiểm toán

    quen thuộc, nhiều kinh nghiệm giúp thuận lợi cho kiểm toán và kiểm soát chất lượng kiểm toán, hỗ trợ chọn mẫu, giúp kiểm tra được khối lượng lớn dữ liệu trong thời gian ngắn, đồng thời cho phép phân cấp, phân quyền rõ ràng, đảm bảo kiểm soát được tốt vấn đề bảo mật và gắn trách nhiệm từng cá nhân.

     

    • Nghiên cứu xây dựng cơ chế thu thập thông tin tự động về các đơn vị được kiểm toán, các vấn đề quan trọng, các vấn đề dư luận quan tâm để bổ sung vào cơ sở dữ liệu; Thực hiện đa dạng nguồn thông tin bao gồm thông tin từ mạng internet, không chỉ bó hẹp ở kênh thông tin do Đoàn kiểm toán thu thập được trong quá trình kiểm toán; chú trọng phát triển cơ sở dữ liệu thông tin đầu mối các đơn vị được kiểm toán để theo dõi, giám sát chặt chẽ.
    • Xây dựng các bộ tiêu chí cụ thể, lượng hóa sâu các giai đoạn của cuộc kiểm toán kết hợp với phần mềm kiểm toán để nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng kiểm toán, đánh giá được chính xác chất lượng đầu ra của cuộc kiểm toán.
    • Tăng cường học hỏi hợp tác quốc tế sâu rộng hơn nữa để bạn bè quốc tế chia sẻ bài học thực tiễn, kế thừa kinh nghiệm quốc tế, trong đó lưu ý việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế yêu cầu phải có chiến lược và kế hoạch rõ ràng, phân công đầu mối cụ thể từ đầu tới cuối, có đầu ra lượng hóa ngày từ đầu cụ thể mới đảm bảo hiệu quả.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1.(https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ nghi%E1%BB%87p_4.0);

     

    1. com.vn;

     

    1. net;

     

    1. http://www.hcmut.edu.vn/vi/newsletter/view/ tin-tuc/4613-cach-mang-cong-nghiep-40–co-hoi-va-thach-thuc-voi-su-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe;
    2. http://bnews.vn/cuoc-cach-mang-cong-nghi-ep-4-0-tac-dong-den-moi-linh-vuc-kinh-te-xa-hoi/53124.html;

     

    1. Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất – Thành quả – hạn chế và bài học kinh nghiệm (http:// luanvan.net.vn/luan-van/cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-nhat-thanh-qua-han-che-va-bai-hoc-kinh-nghiem-5947/).

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-4.0-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%B7t-ra-v%E1%BB%9Bi-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-vi%C3%AAn-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

     

    PGS.TS. Nguyễn Đình Hòa*

     

    Hiện nay, thế giới đang trong giai đoạn bản lề của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (hay còn gọi cách mạng công nghiệp – CMCN 4.0), loài người đang chứng kiến hàng loạt những đột phá khoa học và tiến bộ công nghệ, đây là những xu hướng và động lực dẫn dắt CMCN 4.0. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ mở ra kỷ nguyên mới của sự lựa chọn các

     

    phương án đầu tư kinh doanh, tiêu dùng, tối ưu hóa sử dụng các nguồn lực, phạm vi mức độ tác động làm biến đổi cơ bản hệ thống sản xuất và quản trị xã hội cả chiều rộng lẫn chiều sâu, thúc đẩy năng suất lao động và hiệu quả, tạo bước đột phá về tốc độ phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội. Để góp phần nhận thức về bản chất và những tác động của CMCN 4.0 nói chung và đến quản trị xã hội và kiểm toán nói riêng, bài báo sẽ tập trung phân tích 3 nội dung chính sau đây: (i) Nhận diện bản chất của CMCN 4.0;(ii) Những vấn đề đặt ra với Kiểm toán viên nhà nước (KTVNN);(iii) Cách thích ứng với cách mạng 4.0 đối với KTVNN.

     

    Từ khóa: Cách mạng 4.0, những vấn đề đặt ra với KTVNN trong CMCN 4.0.

     

    Industrial revolution 4.0 and emerging challenges facing auditors of SAV

     

    Today, the world is at the hinge of the 4th Industrial Revolution (or the so-called Industrial Revolution – Industry 4.0), human beings are witnessing a series of scientific breakthroughs and technological advances which are the trends and driving force of Industry 4.0. Industrial Revolution 4.0 will usher in a new era of choice for business investment alternatives, optimizing the use of resources, the extent of impact that fundamentally transforms production and governance systems. to promote productivity and efficiency, making a breakthrough in the speed of development in all aspects of social life. In order to contribute to the perception of the nature and impacts of Industry 4.0 in general and to social administration and auditing in particular, this paper focuses on three main areas: (i) Identify the nature of Industry 4.0; (ii) Issues facing state auditors; (iii) How state auditors respond to Industry 4.0.

     

    Keywords: Industrial Revolution 4.0, Issues of Industry 4.0 facing state auditors.

     

     

    1. Nhận diện về cách mạng công nghiệp 4.0

     

    Tất cả những phát triển mới và các công nghệ mới trong CMCN 4.0 đều có đặc điểm chung: tận dụng sức mạnh lan tỏa của công nghệ số hóa và công nghệ thông tin (CNTT). Các xu thế lớn của công nghệ mới có thể được chia thành 3 nhóm: Vật

     

    lý (hữu hình), kỹ thuật số và sinh học. Cả ba đều liên quan chặt chẽ với nhau và với các công nghệ khác để đem lại lợi ích vượt trội cho nhau dựa vào những khám phá và tiến bộ của từng nhóm. Nói cách khác, đây là sự dung hợp của các công nghệ khác nhau và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực vật lý, số và sinh học – đây là yếu tố căn bản

     

    *Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng Nghiệp vụ Kiểm toán, Kiểm toán nhà nước

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    nhất khiến CMCN 4.0 khác biệt với các cuộc cách mạng trước đó.[7]

     

    • Vật lý: Bốn đại diện chính của xu hướng lớn về phát triển công nghệ trong lĩnh vực vật lý tiêu biểu nhất là:
    • Xe tự lái: Những xe ô tô này xử lý một lượng lớn dữ liệu cảm biến từ các radar, máy ảnh, máy đo khoảng cách bằng siêu âm, GPS (global positioning system – hệ thống định vị toàn cầu) và bản đồ được gắn trên xe.
    • Công nghệ in 3D: Hay được gọi là chế tạo cộng; in 3D bao gồm việc tạo ra một đối tượng vật lý bằng cách in theo các lớp từ một bản vẽ hay một mô hình 3D có trước. Công nghệ này khác hoàn toàn so với chế tạo trừ, lấy đi các vật liệu thừa từ phôi ban đầu cho đến khi thu được hình dạng mong muốn. Ngược lại, công nghệ in 3D bắt đầu với vật liệu rời và sau đó mới tạo ra một sản phẩm
    • dạng ba chiều từ mẫu kỹ thuật số.
    • Khoa học robot cao cấp: Siêu tự động hóa cộng với trí tuệ nhân tạo – AI (Artificial Intelligence) khiến việc tự động hóa phát triển mạnh hơn, thậm

     

     

     

    chí với những kỹ năng trước đây chỉ có con người sở hữu mà thôi.

     

    • Vật liệu mới: Với thuộc tính mà mà chỉ cách đây vài năm vẫn còn được coi là viễn tưởng, những vật liệu mới đang được đưa ra thị trường (như nano… Về tổng thể, chúng nhẹ hơn, bền hơn, có thể tái chế và dễ thích ứng; vật liệu thông minh tự phục hồi hoặc tự làm sạch, các kim loại có khả năng khôi phục lại hình dạng ban đầu, gốm sứ và pha lê biến áp lực thành năng lượng và nhiều vật liệu khác nữa gọi là áp điện…)
    • Kỹ thuật số: Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big data), công nghệ blockchain, kinh tế số…
    • Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người. Trí tuệ nhân tạo khác với việc lập trình logic trong các ngôn ngữ lập trình là ở việc ứng dụng các hệ thống học máy (machine learning) để mô phỏng trí tuệ của con người trong

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  7

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    các xử lý mà con người làm tốt hơn máy tính. Cụ thể, AI giúp robot có được những trí tuệ của con người như: biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp bởi hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi. v.v…

     

    • Sự xuất hiện Internet của vạn vật. Mô tả đơn giản nhất, có thể coi IoT là mối quan hệ giữa vạn vật (từ sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ, địa điểm, v.v…) và con người thông qua các công nghệ kết nối và các nền tảng khác nhau. Theo các chuyên gia, IoT có thể tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp mới, khiến cả nền kinh tế thế giới và đời sống nhân loại phải chuyển mình theo.
    • Big data (số liệu lớn)

    Thuật ngữ “Big data” là một tập hợp dữ liệu rất lớn mà các kỹ thuật điện toán thông thường không thể xử lý được. Thuật ngữ “Big data” không chỉ đề cập tới dữ liệu mà còn chỉ cơ cấu tổ chức dữ liệu, các công cụ và công nghệ liên quan.

     

    Theo định nghĩa của Gartner, nhà nghiên cứu công nghệ số của Mỹ thì “Big Data là tài sản thông tin, mà những thông tin này có khối lượng dữ liệu lớn, tốc độ cao và dữ liệu đa dạng, đòi hỏi phải có công nghệ mới để xử lý hiệu quả nhằm đưa ra được các quyết định hiệu quả, khám phá được các yếu tố ẩn sâu trong dữ liệu và tối ưu hóa được quá trình xử lý dữ liệu”.

     

    Số hóa tài liệu là quá trình chuyển đổi các dạng dữ liệu, tài liệu truyền thống như các bản viết tay, bản in trên giấy, hình ảnh, âm thanh, phim, dữ liệu toàn văn với nhiều định dạng khác nhau sang dạng chữ hoặc hình ảnh và được lưu trữ trên máy tính. Số hóa tài liệu với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT thì đây là xu hướng tất yếu của thời đại. Và lựa chọn công nghệ số hóa tài liệu thông minh chính là công cụ quản trị, kiểm tra, giám sát hiệu quả trong đó kiểm toán không phải là ngoại lệ.

     

    Việc số hóa tài liệu và vật thể hữu hình sẽ giúp giảm thiểu đáng kể diện tích, không gian lưu giữ; giúp cho việc bảo quản, duy trì tuổi thọ của tài liệu truyền thống được lâu hơn. Công tác này cũng giúp dễ dàng mở rộng phạm vi cộng đồng người sử dụng

    nguồn tài nguyên thông tin của cơ quan thông tin, thư viện và tiện lợi trong việc truy xuất tìm kiếm thông tin ở bất kỳ đâu vào bất cứ thời điểm nào một cách nhanh chóng, dễ dàng. Đây là những cơ hội và điều kiện cho hoạt động kiểm toán có chất lượng và hiệu quả.

     

    Không giống như các cuộc cách mạng trước – thường diễn ra theo xu hướng phát minh mới làm mờ đi phát minh cũ, IoT được tin là sẽ tạo cơ hội cho tất cả các ngành nghề đều được hưởng lợi. IoT gia tăng cũng có nghĩa là việc truyền tải dữ liệu và giao tiếp qua internet tăng lên. Chính vì thế mà tất cả các công ty, ngành nghề đều có thể sử dụng các dữ liệu đó để phân tích và quyết định chiến lược cạnh tranh giành lấy thành công cho mình trong tương lai.

     

    – Blockchain

     

    Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân cấp lưu trữ thông tin trong các khối (block) thông tin được liên kết (chain) với nhau bằng mã hóa và mở rộng theo thời gian. Mỗi khối thông tin đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết tới khối trước đó, kèm một mã thời gian và dữ liệu giao dịch. Blockchain được thiết kế để chống lại việc thay đổi của dữ liệu: Một khi dữ liệu đã được mạng lưới chấp nhận thì sẽ không có cách nào thay đổi được nó.

     

    Blockchain được đảm bảo nhờ cách thiết kế sử dụng hệ thống tính toán phân cấp với khả năng chịu lỗi byzantine cao. Vì vậy sự đồng thuận phân cấp có thể đạt được nhờ blockchain. Do đó, blockchain phù hợp để ghi lại những sự kiện, hồ sơ y tế, xử lý giao dịch, công chứng, danh tính và chứng minh nguồn gốc. Việc này có tiềm năng giúp xóa bỏ các hậu quả lớn khi dữ liệu bị thay đổi trong bối cảnh thương mại toàn cầu.

     

    Blockchain được xem như “sô cai ky thuât” lưu trư toan bô thông tin, giao dich va đêu đươc ma hoa. Va điêu rât hay bởi nó la cuôn sô cai mơ va vô han. Đo la bât cư ngươi nao năm trong mang ngang hang đêu co thê xem thông tin tuy nhiên không ai co thê thay đôi thông tin đa đươc ma hoa đa đươc

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    đưa vao cac khôi. Sử dụng blockchain là để lưu trữ và xác nhận việc trao đổi đồng tiền thuât toan hay còn gọi là tiền ảo.[7]

     

    – Kinh tế số (Digital economy)

     

    Kinh tế số là mạng lưới các hoạt động kinh tế toàn cầu được hỗ trợ bởi CNTT và truyền thông (ICT). Nói một cách đơn giản thì kinh tế số là một nền kinh tế dựa trên công nghệ số (digital technology). Kinh tế số là chuyển hóa mọi mặt đời sống kinh tế từ tương tác đến các giao dịch và nó thúc đẩy sự sáng tạo trong nền kinh tế. (Ví dụ việc giao dịch qua internet và smartphone đã làm cho tiền giấy, thẻ tín dụng trở nên thừa thãi và nó thúc đẩy đồng tiền mới và phương thức lưu trữ tiền mới ra đời. Điển hình là tiền ảo và ví điện tử…)

     

    (3) Sinh học

    Với sức mạnh của máy tính, các nhà khoa học không còn phải dùng phương pháp thử, sai và thử lại, thay vào đó họ thử nghiệm cách thức mà các biến dị gen gây ra các bệnh lý đặc thù. Bước tiếp theo sẽ là sinh học tổng hợp. Công nghệ này sẽ giúp chúng ta có khả năng tùy biến cơ thể bằng cách sửa lại ADN và nhân bản người vô tính theo ý muốn. Đặc biệt, những thành tựu mới trong lĩnh vực sinh học phân tử, sinh học tổng hợp và di truyền học, với sự hỗ trợ của những phương tiện hiện đại, đã giúp giải mã nhanh các hệ gen, tìm hiểu sâu về mật mã di truyền, có thể giúp chỉnh sửa mã gen để chữa các bệnh di truyền, tạo ra những giống cây trồng mới trong nông nghiệp có những tính năng thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu, chống sâu bệnh.

     

     

     

     

     

    Nguồn: thuonghieucongluan.com.vn (4.5.2017)

     

     

    Như vậy, bản Chất cuộc CM 4.0 là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo , thực tế ảo (virtual reality-VR), tăng cường thực tại ảo (Augmented Reality – AR), mạng xã hội, di động, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám

     

    mây (Social, Mobile, Analytics, Cloud – SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số, hay nói cách khác mọi thực thể của thế giới thực đều có phiên bản thế giới số và dùng thế giới số này để điều hành trở lại thế giới thực.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  9

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    2. Những vấn đề đặt ra đối với kiểm toán viên nhà nước

     

    Với sự tiến bộ vượt bậc của CMCN 4.0 đã tạo ra những thách thức đối với KTVNN đó là: Nền kinh tế số; big data; đồng tiền ảo; robot với trí tuệ nhân tạo có thể thay thế công việc của KTV; tác động của CMCN 4.0 đến khách thể kiểm toán…

     

    • Nền kinh tế số trong CMCN 4.0 dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất và tiêu dùng: với những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn như công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, robot…

    Cho phép mọi giao dịch thông qua IoT và công nghệ tài chính (Fintech) và số liệu lớn do đó công tác quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát, kiểm toán nền kinh tế phải thay đổi và thích ứng với công nghệ số.

     

    Các thành phần kinh tế số bao gồm các thành phần ẩn và thành phần hiện:

     

    • Các thành phần kinh tế số ẩn bao gồm cơ sở hạ tầng CNTT kèm theo như phần cứng, phần mềm, hệ thống mạng…
    • Các thành phần kinh tế số hiện bao gồm kinh doanh trực tuyến (e-business) và thương mại điện tử (e-commerce).

    Bức tranh đan xen giữa kinh tế số và kinh tế truyền thống càng ngày trở nên rõ nét hơn. Kinh tế số không đơn thuần là chuyển dịch từ kinh doanh (KD) trực tiếp mặt đối mặt (face to face) sang trực tuyến (online). Kinh tế số là chuyển hóa mọi mặt đời sống kinh tế từ tương tác đến các giao dịch và nó thúc đẩy sự sáng tạo trong nền kinh tế từ sản xuất đến tiêu dùng, đặc biệt tác động đến hệ thống ngân hàng (NH) ở những điểm sau đây:

     

    • Mô hình NH số hoạt động dựa trên nền tảng CNTT thông qua các thiết bị số kết nối với các phần mềm máy tính qua mạng Internet trên thực tế đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống của NH và cung cấp nhiều dịch vụ hiện đại của hệ thống NH.
    • Những sản phẩm (SP) dịch vụ tài chính mới như M-POS, internet banking, mobile banking, công nghệ thẻ chip, ví điện tử… ngày càng phát triển mạnh tạo thuận lợi cho người dân trong việc sử dụng dịch vụ NH hiện đại và tiết kiệm chi phí giao dịch tiến tới chi phí bằng 0.
    • CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và các SP dịch vụ NH truyền thống và trải nghiệm khách hàng đang dần trở thành xu hướng vượt trội.
    • Smartphone đã thay đổi cách con người giao tiếp và tương tác, kéo theo sự thay đổi trong kênh phân phối, mạng lưới bán hàng và cách thiết kế SP dịch vụ của các NH. Kênh bán hàng qua Internet, Mobilebanking, Tablet Banking, mạng xã hội, phát triển NH kỹ thuật số, giao dịch không giấy tờ là xu thế phát triển mạnh. Đặc biệt, việc sử dụng các công nghệ như giao tiếp qua web (web-chat) và Skype ngày càng nhiều hơn.
    • Với trí tuệ nhân tạo giúp robot có được những trí tuệ của con người như: biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi. v.v…. đặc biệt là ưu điểm có thể làm việc 24/24, không cần trả lương, đóng thuế, bảo hiểm… robot càng làm việc càng thông minh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô tận…
    • CMCN 4.0 cũng sẽ tạo ra những bước tiến mới trong thay đổi cách giao tiếp và xử lý nghiệp vụ thông qua tương tác và giao tiếp điện tử.
    • Robot tiến tới sẽ đảm nhiệm việc quản lý danh mục rủi ro, quản lý khách hàng, quản lý cơ sở dữ liệu, danh mục đầu tư…

    – Tác động của công nghệ blockchain

     

    Hiên nay ngươi ta chia blockchain thanh 3 version:

     

    • Version 1 la ưng dung vao tiên thuât toan (tiền ảo hay tiền điện tử).
    • Version 2 ưng dung trong xư ly TC va NH.
    • Version 3 vươt qua khuôn khô tai chinh va ưng dung ơ tât ca cac nganh nghê khác.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

     

     

    Nguồn: GENK.vn

     

     

    • Những đồng tiền ảo lớn nhất hiện nay bao gồm: Bitcoin, Onecoin, Lifecoin, Ethereum, Ripple… trong đó lớn nhất là bitcoin
    • Những khối block này được liên kết từ những hóa đơn thanh toán cùng với đủ thông tin về thời điểm cũng như khoản tiền được giao dich. Không những thế, những block này sẽ trở thành cac măt xich trong cả dãy blockchain.

    Sự phát triển của bitcoin cũng như các tiền điện tử khác không phải do NH Trung ương phát hành

     

    sẽ buộc NH Trung ương các nước phải thay đổi cách thức điều hành chính sách tiền tệ để thích ứng do khả năng ảnh hưởng tới các chỉ số tiền tệ trong mục tiêu ổn định giá cả. NH trung ương cũng phải đối mặt với rủi ro rơi vào tình trạng giống đô la hóa vì bitcoin có thể làm cho việc giao dịch ngoại hối trở nên hết sức dễ dàng. Những dịch vụ như PayPal hoặc e-gold làm cho người dân của một quốc gia dễ dàng quy đổi tiền của mình sang một loại ngoại tệ mạnh hơn. Sự phát triển của bitcoin cũng có thể có những tác động tới hệ số tạo tiền đẩy nhanh tốc độ

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  11

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế nếu được sử dụng rộng rãi.

     

    Với phương thức thanh toán mới, đặc biệt thanh toán bằng những đồng tiền ảo là vấn đề lớn đặt ra với các KTVNN về truy tìm luồng tiền (cash flow).

     

    Vấn đề tiếp theo đặt ra đối với KTVNN là CMCN 4.0 sẽ đe dọa đến việc làm kiểm toán truyền thống bởi những việc làm có tính chất lặp đi, lặp lại sẽ được lập trình cho robot thực hiện. Theo điều tra của Đại học Oxford tiến hành từ năm 2013 thì 97,6% công việc của kế toán sẽ bị tin học hóa trong tương lai gần và kiểm toán viên thì đỡ hơn một chút với 95,3% công việc sẽ bị tự động hóa thay thế.

     

    – An ninh mạng và bảo mật thông tin

     

    Cuộc CMCN 4.0 với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ sẽ tạo ra những cơ hội lớn cho Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng CNTT, tự động hóa các quy trình kinh doanh, tăng cường khả năng kết nối qua các thiết bị di động và tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn, đồng thời những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực.

     

    Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích và cơ hội, cuộc cách mạng này cũng đang đặt ra cho Việt Nam những hiểm họa khôn lường về an ninh mạng, an ninh thông tin, đặc biệt trong bối cảnh mà các cuộc tấn công mạng ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận với sự phát triển và ứng dụng CNTT vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể từ việc ban hành, thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước; sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng phải gắn với các giải pháp công nghệ để đảm bảo an toàn, an ninh của dữ liệu, đến ý thức tham gia xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người dân đặc biệt đối với KTNN và KTVNN nói riêng.

     

    • Công tác tài chính kế toán thay đổi đòi hỏi công tác kiểm toán cũng phải thay đổi cả về phương

    pháp, quy trình và phương thức tiếp cận ở những điểm sau đây:

     

    • Phân tích dữ liệu: Bên cạnh excel thường được sử dụng trước đây, sự phát triển của công nghệ sẽ cung cấp nhiều công cụ, phần mềm hiện đại hơn, do đó KTVNN cần phải có phương pháp mới thích hợp để trích xuất thông tin từ big data, cần thiết cho việc phân tích.
    • Công nghệ đám mây: Lưu trữ thông tin một cách realtime, khối lượng lớn và không bị giới hạn nhiều về bộ nhớ như trước đây, là nguồn thông tin phong phú và đa dạng để KTVNN sử dụng trong quá trình kiểm toán.
    • Quy trình tự động hóa: Đa phần công việc của kế toán là những ghi chép đã chuẩn hóa, do vậy công nghệ tự động hóa có thể thay thế bộ phận tài chính – kế toán nhiều trong các công việc này.
    • Trí thông minh nhân tạo: Bên cạnh công tác ghi chép (bookkeeping) đơn giản, trí thông minh nhân tạo có thể thay thế con người cả với những nghiệp vụ kế toán phức tạp như định giá, lập dự phòng. Qua đó, giúp giảm thiểu rất nhiều nhân sự.
    • Công nghệ blockchain: Liên kết tất cả các dữ liệu của bộ phận tài chính – kế toán lại với nhau.

    3. Cách thích ứng với cách mạng 4.0 đối với KTVNN

     

    Để thích ứng với những tác động của CMCN 4.0, yêu cầu các KTVNN không chỉ đơn thuần mắt thấy, tai nghe về CM 4.0 mà phải là người trong cuộc để hiểu được bản chất nội dung, cơ chế vận hành của CM 4.0, của nền kinh tế số từ đó mới có điều kiện kiểm toán trong thực tế để có những đánh giá và kiến nghị “tâm phục, khẩu phục”.

     

    Cách thức quản lý HCNN và quản trị DN trong CMCN 4.0 thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi KTVNN phải thường xuyên cập nhật và học tập suốt đời. Do đó, KTVNN cần trang bị 4 kỹ năng – 4C.

     

    • Comunicative skill – Kỹ năng giao tiếp (Không chỉ với con người với con người mà giữa con người với Robot). Trong thời đại toàn cầu hóa
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    và CMCN 4.0 mỗi một chúng ta sẽ trở thành công dân toàn cầu, mỗi người lao động phải là kỹ sư toàn cầu. Do đó, KTVNN phải học tập để giỏi ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh để giao tiếp.

     

    • Creative skill – Kỹ năng sáng tạo (để cạnh tranh với AI, với robot)

    Chưa bao giờ con người một lúc đứng giữa những cơ hội và thách thức lớn đến vậy. Tác động rõ rệt nhất của cách mạng 4.0 là sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo,

     

    với những tính năng có thể thay thế con người, thậm chí còn tối ưu hơn như khả năng tính toán, phân tích, ghi nhớ, cùng sức lao động bền bỉ, năng suất cao. CMCN 4.0 sẽ tiến tới loại bỏ những công việc phổ thông hoặc mang tính chất lặp đi lặp lại, thay thế toàn bộ bằng máy móc. Nhưng đồng thời, nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề cao, tư duy sáng tạo, thực hiện những công việc phức tạp, làm chủ máy móc lại tăng lên.

     

    Sáng tạo của con người bao gồm: Sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo sáng chế (khoa học) và sáng tạo thủ công (cuộc sống hằng ngày) đây là tính vượt trội của con người mà không có robot nào thay thế được.

     

    • Critical thingking skill – Kỹ năng về tư duy phản biện

    Kĩ năng tư duy phản biện bao gồm việc sử dụng những luận cứ và dẫn chứng phù hợp để bảo vệ quan điểm của mình; tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa những luận cứ, kết hợp cùng việc đánh giá, phân tích, so sánh một cách khách quan, mạch lạc, phù hợp, toàn diện, chặt chẽ, có chiều sâu. Đây là kỹ năng đặc biệt quan trọng đối với KTVNN, nhất là trong việc viết báo cáo kiểm toán.

     

    • Cooperative skill – Kỹ năng hợp tác (với con người và với robot)

    Ngày nay con người đã sáng tạo ra nhiều máy móc giúp con người vượt qua được những hạn chế

     

     

     

    về cơ bắp cũng như trí tuệ hữu hạn của con người riêng lẻ, nghĩa là mỗi cá nhân và cộng đồng ngày nay đã mạnh lên gấp bội, nhưng chúng ta vẫn cần và phải hợp tác chặt chẽ với nhau hơn bao giờ hết. Năng lực hợp tác trong thời đại CMCN 4.0 đã trở thành nhu cầu tất yếu, bởi có hợp tác mới chia sẻ được thông tin, không chỉ hợp tác thuần túy giữa con người với nhau mà hợp tác giữa con người với robot trong sản xuất và tiêu dùng;

     

    • KTVNN phải làm chủ CNTT, CMCN 4.0 để ứng dụng IoT và khai thác thế giới số trong hoạt động kiểm toán.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Klaus Schwab 2016: The Fourth Industrial Revolution, 2016;

     

    1. Larry Hatheway, Mastering the Fourth Industrial Revolution, Project Syndicate, 2016;

     

    1. Hermann, Pentek, Otto, 2015: Design Principles for Industrie 4.0 Scenarios, 2015;

     

    1. Mike Gault, Forget Bitcoin – What Is the Blockchain and Why Should You Care?, 2015;

     

    1. Website: GENK.vn;

     

    1. com.vn(4.5.2017);

     

    1. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bối cảnh, các xu hướng lớn và những sản phẩm điển hình, Tạp chí Tự động hóa ngày nay, 5/2016.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-M%C3%94-H%C3%8CNH-CH%E1%BA%A4M-%C4%90I%E1%BB%82M-T%C3%8DN-D%E1%BB%A4NG-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-C%C3%81-NH%C3%82N-VAY-TI%C3%8AU-D%C3%99NG-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

     

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

     

    Đào Thanh Bình

    Đại học Hà Nội

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 26/03/2019                         Ngày nhận lại:     14/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 19/04/2019

     

    Trong bối cảnh nhiều ngân hàng Việt Nam hướng tới tín dụng tiêu dùng và cho vay cá nhân, bài báo này nhằm mục tiêu đưa ra một mô hình chấm điểm tín dụng cho vay tiêu dùng có thể áp dụng cho các ngân hàng Việt Nam. Bài báo sử dụng phương pháp của hệ thống FICO có tính đến tình hình

     

    của Việt Nam. Bài báo cũng nhằm mục tiêu giúp cho người tiêu dùng tính được điểm tín dụng của mình một cách đơn giản.

     

    Từ khóa: Tín dụng tiêu dùng, chấm điểm tín dụng, vỡ nợ.

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Thị trường tiêu dùng ngân hàng tại Việt Nam được phát triển và thay đổi nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Mặt khác, vì tín dụng tiêu dùng vẫn được coi là một dịch vụ non trẻ trong lĩnh vực ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam, các sản phẩm ngân hàng bán lẻ hiện vẫn còn hạn chế.

     

    Bên cạnh đó, hệ thống đánh giá tín dụng tiêu dùng ở Việt Nam vẫn còn rất ít phát triển. Điều này làm cho nhiều ngân hàng vẫn do dự để quảng bá sản phẩm cho vay tiêu dùng vì ngại rủi ro mà họ phải gánh chịu. Thứ nhất, việc thiếu thông tin đáng tin cậy gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng để cung cấp tín dụng nói chung cũng như thực hiện quá trình tính điểm tín dụng. Mặc dù một số công ty báo cáo quốc tế có tiềm năng như TransUnion xuất hiện tại Việt Nam, việc thành lập và phát triển của các công ty này chỉ là bước đầu tiên của con đường dài. Như vậy, dữ liệu được sử dụng cho quá trình tính điểm tín dụng chủ yếu được thu thập từ quá trình thẩm định của cán bộ tín dụng. Nói cách khác, phương pháp này chủ yếu dựa trên thông tin tự khai báo của khách hàng và điều này có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng có thể giấu thông tin tín dụng tiêu cực của họ, đặc biệt là các khoản nợ xấu. Thứ hai, hệ thống đánh giá tín dụng nội bộ cho tín dụng tiêu dùng của hầu hết các ngân hàng thương mại

    Việt Nam đặt ra một số hạn chế. Các hệ thống đánh giá tín dụng được xây dựng trên cơ sở của một phương pháp định tính mà điểm và trọng số của mỗi biến không phải là kết quả của một phương pháp thống kê, mà dựa vào kinh nghiệm và sự xét đoán của nhân viên tín dụng. Hơn nữa, các ngân hàng không thể xác định mức độ đóng góp của mỗi biến định tính (thông số) với tổng số điểm do cùng một trọng số (ví dụ là 10% cho mỗi yếu tố phi tài chính). Quan trọng hơn, khi hệ thống này được áp dụng, xác suất của việc không trả được nợ vẫn không được ước tính.

     

    Theo những lý do nêu trên, để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam, nhu cầu cho những cải tiến với sự công khai của thông tin tín dụng cũng như chất lượng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tăng lên đáng kể. Việc nâng cao phương pháp luận và phương pháp tiếp cận từng bước để thiết lập mô hình tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam nên được áp dụng, đó là lý do cho sự phát triển của mô hình đánh giá tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam.

     

    Mô hình chấm điểm tín dụng lần đầu tiên được giới thiệu vào những năm 1940 và trong những năm qua đã phát triển đáng kể do sự cạnh tranh gia tăng trong ngành công nghiệp tài chính cùng với những tiến bộ trong công nghệ thông tin. Đánh giá tín dụng

     

     

    khoa học

     
       

    47

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    47

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    có nhiều lợi ích không chỉ cho người cho vay mà còn cho khách hàng vay. Từ quan điểm của người cho vay, đánh giá tín dụng giúp tăng tốc độ và tính thống nhất của quá trình xin vay và cho phép tự động hóa quá trình cho vay. Hơn nữa, nó bảo vệ lợi ích của khách hàng vay vì điểm số tín dụng giúp giảm sự phân biệt đối xử vì mô hình này cung cấp một phân tích khách quan cho tín dụng tiêu dùng. Bởi vì lợi ích của nó, phương pháp này được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình đã không được nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam.

     

    Theo đề xuất ở trên, mục đích chính của bài báo này là để áp dụng và phát triển một mô hình tính điểm tín dụng cao cấp hơn cho các khoản vay tiêu dùng. Ban đầu, phương pháp MDA (Multiple Discriminant Analysis) và phần mềm SPSS đã được sử dụng để xác định các biến số chính khi xây dựng mô hình tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam. Sau đó, mô hình mới bao gồm các biến số chính được tạo ra trên cơ sở kết quả của SPSS. Mô hình này được áp dụng để tính toán Z-score, và sau đó xác định xác suất của việc không trả được nợ.

     

    Phần tiếp theo của bài báo đề cập đến vấn đề tổng quan lý thuyết về chấm điểm tín dụng tiêu dùng chủ yếu cho Việt Nam. Phần ba sẽ xây dựng mô hình tín dụng tiêu dùng, phần bốn tổng hợp hai mô hình tìm được, ước lượng xác suất vỡ nợ của mẫu và phần cuối là tổng hợp và kết luận.

     

    2. Tổng quan lý thuyết

     

    Phân tích biệt thức (Discriminant Analysis – DA) đã từng là kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất để đưa ra điểm tín dụng trên thế giới. Năm 1936, Fisher đã giới thiệu ý tưởng phân biệt giữa các nhóm trong một tổng thể để kiểm tra khả năng phân biệt của các nhóm trong một quần thể thực vật dựa trên những đặc điểm khác nhau (đặc biệt là giữa hai loài hoa diên vỹ bằng cách sử dụng phép đo kích thước vật lý của các giống thực vật). Sau đó, vào năm 1941, Durand, người đã làm việc cho một dự án nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ, nhận ra rằng việc phân tích biệt thức của Fisher có thể được sử dụng để phân biệt giữa các khoản vay tốt và xấu. Cụ thể hơn, ông muốn xác định các thông số cho vay quan trọng và những đặc điểm có ý nghĩa thống kê. Trong nghiên cứu của mình, ông đã trình bày một hệ thống dựa trên điểm số sử dụng cho việc phân loại độ tín nhiệm của mỗi đương đơn đi vay để mua một chiếc xe cũ (tín dụng tiêu dùng). Các biến

    quan trọng nhất trong phương trình kiểm định của ông là: tuổi tác, giới tính, nơi cư trú, nghề nghiệp, ngành nghề, độ ổn định của công việc, tài khoản ngân hàng và quyền sở hữu nhà.

     

    Đã có một vài nghiên cứu tại Việt Nam bao gồm các chủ đề về đánh giá tín dụng nói chung và các mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng nói riêng. Về mô hình chấm điểm tín dụng cho tín dụng doanh nghiệp, hai nghiên cứu được thực hiện bởi Đào B., (2012) và Đào B., (2013) đã cung cấp thêm kiến thức về mô hình điểm số Z Altman cũng như ứng dụng của nó trong việc phát triển một mô hình chấm điểm tín dụng. Hơn nữa, phương pháp làm việc trong hai bài trên đã tạo lập một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng mô hình chấm điểm tín dụng cho các khoản tín dụng tiêu dùng. Cụ thể, cả hai bài đều tập trung vào cùng một chủ đề của mô hình chấm điểm tín dụng cho các công ty phi sản xuất và sản xuất ở Việt Nam sử dụng phân tích biệt thức. Một điểm khác cần lưu

     

    • là bài viết xây dựng mô hình sử dụng Z-score để hiệu chỉnh xác suất vỡ nợ (PD), và sau đó dựa trên thông tin của Standard & Poor đề nghị xếp hạng các công ty phi sản xuất tại Việt Nam. Các thảo luận về việc thành lập mối quan hệ giữa Z-score, xác suất của việc vỡ nợ và xếp hạng cũng như ma trận chuyển đổi có thể giúp góp phần nâng cao chất lượng hệ thống xếp hạng tín dụng Việt Nam.

    Liên quan đến mô hình tính điểm tín dụng cho tín dụng tiêu dùng, một trong những bài nghiên cứu nổi tiếng nhất được thực hiện bởi Dinh và Kleimeier (2007), bao gồm các chủ đề về thành lập mô hình chấm điểm tín dụng thị trường tiêu dùng của Việt Nam. Tất cả các khoản vay tiêu dùng nổi bật vào một ngày cụ thể trong năm 2005 được trích dẫn từ cơ sở dữ liệu của các ngân hàng thương mại Việt Nam và sau đó 22 biến số được lựa chọn ban đầu bao gồm cả 9 biến số định lượng và 13 biến số định tính. Ngoài ra, cỡ mẫu gồm 56.307 khoản vay, trong đó 798 khoản là vỡ nợ. Sau đó, phương pháp lựa chọn từng bước được sử dụng để chọn trong số 22 biến. Áp dụng phương pháp này, 16 biến đã được đưa vào mô hình. Các bài báo cũng đề cập đến việc thiếu thông tin về điểm tín dụng bán lẻ được xác định bằng những đặc điểm của bên vay mà ngân hàng cần thu thập. Các yếu tố dự đoán quan trọng nhất được tìm thấy là thời gian, giới tính, số tiền vay và thời hạn vay. Dinh và Kleimeier (2007) đề nghị các công ty cập nhật thông tin tín dụng tiêu dùng

     

    48

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    thường xuyên để đáp ứng với sự thay đổi của nền kinh tế nói chung và người vay nói riêng.

     

    3. Chấm điểm tín dụng tiêu dùng cho các ngân hàng Việt Nam

     

    3.1. Thu thập dữ liệu và mã hóa biến

     

    Chấm điểm tín dụng thường được áp dụng để đánh giá tín dụng của người vay, ngân hàng sẽ căn cứ vào điểm số này để cấp quyết định tín dụng. Tuy nhiên, thực tế là rất khó khăn để thu thập các dữ liệu trực tiếp từ người nộp đơn vay, các nhà nghiên cứu có thể thấy rằng không thể xây dựng mẫu cho các khoản vay. Vì vậy, mẫu đại diện của người xin vay đã được xây dựng bằng cách sử dụng các khoản vốn vay tiêu dùng đã được cấp bởi các ngân hàng. Mục đích chính của bài nghiên cứu này là để phát triển một mô hình tính điểm tín dụng tiêu dùng nhằm đánh giá các đơn xin vay cũng như cho mục đích tính toán xác suất vỡ nợ các khoản vay, đặc biệt là đối với các khoản vay hiện tại. Tuy nhiên, kết quả cũng có thể được áp dụng trong đánh giá cho vay nói chung.

     

    Theo đề xuất ở trên, để phát triển các mô hình, 200 khoản vay tiêu dùng đã được lựa chọn ngẫu nhiên từ các cơ sở dữ liệu của năm ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, do sự khác nhau của dữ liệu, chỉ có 122 khoản vay đã được chọn. Sau đó, số tiền vay được sử dụng để phân loại các khách hàng vay thành hai nhóm khác nhau, vì ứng viên có điểm số cao hơn có nhiều khả năng để vay số tiền vay lớn hơn. Sự phân loại cũng được áp dụng cho các khoản vay khác như bất động sản và xe hơi. Bên cạnh đó, các cuộc phỏng vấn ý kiến chuyên gia được thực hiện để đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong việc phân loại nhóm.

     

    Đầu tiên, một số biến được chọn lựa cẩn thận trên cơ sở danh sách các biến số thường được sử dụng cho các nước đang phát triển trong những nghiên cứu của Crook (1996), Vigano (1993) và Kleimeier và Dinh (2007). Phương pháp tiếp cận kiến thức chuyên môn và sự có sẵn thông tin cũng được đưa vào xem xét. Sau đó, sáu biến số định lượng và bốn biến số định tính đã được lựa chọn. Thứ hai, về các biến định tính, thay vì sử dụng các biến giả, với thang đánh giá 10 (cao nhất) và 0 (thấp nhất) đã được áp dụng dựa trên nguyên tắc: các cụ thể càng tốt, điểm số (mã) các khoản cho vay đương đơn sẽ nhận được càng cao. Mã hóa biến phần lớn dựa trên các nguyên tắc phân loại trong Rose (2008) (Phụ lục A1).

    3.2. Thử nghiệm của tất cả 10 biến trong SPSS Như đã đề cập ở trên, mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng thường được xây dựng theo mô hình Z-score của Altman. Trong bước đầu tiên, phân tích biệt thức và phần mềm SPSS được sử dụng để kiểm tra khả năng phân biệt của mỗi biến. Nói cách khác, kỹ thuật thống kê này sẽ giúp các nhà nghiên cứu xác định các biến cần thiết để bao gồm trong mô

    hình tín dụng tiêu dùng.

     

    Sau khi tuân thủ nghiêm ngặt các phương thức kiểm tra, kết quả của SPSS đã được đưa ra. Trước hết, trong bảng “Thử nghiệm sự khác biệt của trung bình nhóm” kết quả phân tích ANOVA thực hiện cho mỗi biến độc lập được trình bày. Năm trong số các biến bao gồm Học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập cá nhân hàng năm, Số người phụ thuộc và Tài khoản là có ý nghĩa thống kê vì tất cả đều có mức ý nghĩa thấp hơn 5%. Điều này đi đôi với kết quả Lambda của Wilks. Lambda của một biến độc lập càng thấp, biến trong mô hình có khả năng phân biệt càng mạnh. Năm biến có ý nghĩa thống kê kể trên cũng có Lambda thấp nhất theo thứ tự tăng dần: Thu nhập, Tài khoản, Nghề nghiệp, Số người phụ thuộc, và Học vấn.

     

    Giá trị riêng 1,3889 cho thấy tỷ lệ phương sai được giải thích, do đó, một giá trị riêng lớn thường thể hiện một hàm số mạnh. Giá trị 1,3889 cho thấy có một tỷ lệ tương đối cao của phương sai được giải thích trong biến phụ thuộc, và thể hiện một khả năng phân biệt khá tốt của hàm. Điều này cũng được minh họa bằng kết quả Lambda của Wilks tức là tỷ lệ tổng phương sai của điểm số biệt thức không được giải thích bởi sự khác biệt giữa các nhóm. Lambda bằng 1,00 xảy ra khi các trung bình nhóm được quan sát là bằng nhau (tất cả các phương sai được giải thích bởi các yếu tố khác hơn là sự khác biệt giữa các trung bình), trong khi một lambda nhỏ xảy ra khi sự biến đổi trong nhóm là nhỏ so với tổng biến đổi. Giá trị Wilks Lambda 0,4186 có giá trị đáng kể (Sig. = 0,000), do đó, các trung bình nhóm thường là khác nhau.

     

    Thử nghiệm biệt thức với mười biến phát hiện ra rằng chín giá trị trong nhóm “Đầu” và bốn trong nhóm “Đáy” được xếp đặt không đúng chỗ tương đương với 6,55% lỗi Loại I và 14,75% lỗi Loại II xảy ra. Do đó, trung bình 89,3% trường hợp các nhóm ban đầu được phân loại chính xác (Xem phụ lục A2).

     

     

    khoa học

     
       

    49

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Tóm lại, các yếu tố nổi bật nhất cần lưu ý là năm biến số, bao gồm Học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập, Số người phụ thuộc và Tài khoản, đóng một vai trò quan trọng trong việc phân biệt hai nhóm vì tất cả đều có mức ý nghĩa thấp hơn 5%. Hơn nữa, Số người phụ thuộc là biến đóng góp nhiều nhất cho khả năng phân biệt của mô hình với giá trị F cao nhất 86,26. Bên cạnh đó, các biến còn lại bao gồm Tuổi (Age), Số năm công tác (Yearwork), Số năm ở một nơi (YearResi), Số năm quan hệ với ngân hàng (YWBank) và Hình thức sở hữu nhà ở (ResiStatus) là các biến không có ý nghĩa thống kê với giá trị F rất thấp. Do đó, với mục đích phát triển một mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng tốt hơn, năm biến với khả năng dự đoán cao nhất sẽ được chọn như là các biến độc lập.

     

    3.3. Thử nghiệm năm biến số quan trọng nhất Trên cơ sở các thủ tục thử nghiệm được áp dụng và kết quả của các thử nghiệm trước, năm biến thể hiện tốt nhất trong việc phân biệt các nhóm được

     

    đưa vào MDA trong phần mềm SPSS.

     

    Bảng nhóm các số liệu thống kê minh họa sự khác biệt về giá trị trung bình của mỗi tỷ lệ tài chính. Đặc biệt, sự khác biệt lớn nhất giữa hai nhóm được thể hiện rõ ràng trong Reven I (thu nhập cá nhân hàng năm) có ảnh hưởng mạnh nhất lên mô hình dự đoán. Chi tiết hơn, thu nhập cá nhân hàng năm của những người được xếp vào nhóm 1 gấp khoảng 4 lần so với những người nhóm 2. Xếp hạng tiếp theo trong khả năng phân biệt tương ứng là Tài khoản, Học vấn, Nghề nghiệp, đều thể hiện các số liệu Nhóm 2 cao hơn Nhóm 1. Ngược lại, những người xin vay từ Nhóm 2 có ít biến Số người phụ thuộc hơn Nhóm 1 (Xem Phụ lục A3).

     

    Sự khác biệt về giá trị trung bình từng biến được minh họa rõ ràng bằng giá trị Lambda của Wilks, thử nghiệm F và mức ý nghĩa. Tất cả 5 biến đều thấp hơn đáng kể mức 5%, thể hiện có sự khác biệt đáng chú ý của các biến này giữa các nhóm. Nói chung, ở mức độ đơn biến, tất cả các tỷ lệ đều cho thấy người vay ở nhóm “Đầu” có những giá trị cao hơn (Xem Phụ lục A4).

     

    Vec-tơ tỷ lệ (Scaled vector) được sử dụng để “xác định sự đóng góp tương đối của mỗi biến cho tổng khả năng phân biệt của hàm số cuối cùng và tương tác giữa hai yếu tố” (Altman, 1968). Các con số thống kê có liên quan trong thử nghiệm này được quan sát thấy như một Vec-tơ tỷ lệ được tính theo công thức dưới đây:

    Vec-tơ tỷ lệ = Độ lệch chuẩn x Hệ số của biến Kết quả của vec-tơ tỷ lệ phù hợp với giá trị của thử nghiệm F. Nó chỉ ra rằng hai biến Thu nhậpTài khoản đóng góp chủ yếu vào hàm dự đoán (Xem

    Phụ lục A5).

     

    Như đã đề cập ở trên, giá trị riêng cho thấy tỷ lệ phương sai trong biến phụ thuộc có thể được giải thích bởi các biến độc lập. Rõ ràng là cần lưu ý rằng giá trị riêng 0.998 gần giá trị 1 có nghĩa rằng hầu như tất cả các phương sai trong điểm số biệt thức có thể được đóng góp cho sự khác biệt nhóm.

     

    4. Xây dựng mô hình

     

    Theo phương pháp luận cho việc phát triển mô hình chấm điểm tín dụng đối với tín dụng tiêu dùng dựa trên mô hình Z-score của Altman (1968), các hàm số được thể hiện trong hình thức sau:

    Z = W’X = W1 X1 +….+Wk Xk

    Trong đó: Z = Chỉ số tổng thể, X1 … Xk = biến độc lập, w1 … Wk = Hệ số biệt thức (hệ số của biến thứ k)

     

    Hằng số có hai hình thức: hình thức phi chuẩn hóa (có hằng số) và hình thức chuẩn hóa (không có hằng số) có thể được thể hiện trong bảng Hệ số tương quan của hàm biệt thức.

     

    Hàm phi chuẩn hóa

     

    Dựa trên kết quả của SPSS, mô hình Z-score phi chuẩn hóa áp dụng cho tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam như sau:

    Z = 0,2256X1 + 0,004083X2 + 0,0055X3

    0,3004X4 + 0,1318X5 – 3,3022                             (1)

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp;

    X3 = Thu nhập; X4 = Số người phụ thuộc; X5 =

    Tài khoản

     

    Trong phương trình 1, hệ số có độ lớn cao nhất là Học vấn (X1) mặc dù giá trị của F thấp hơn so với những tỷ lệ khác. Nếu tỷ lệ này tăng một đơn vị, số điểm tăng lên 0.2256. Số người phụ thuộc (X4) có mối quan hệ nghịch biến với điểm số của người xin vay 0,3004 lần. Hằng số (-3,3022) cho biết khi tất cả các biến độc lập bằng 0, số điểm là -3,3022 có vẻ hợp lý.

     

    Với dạng phi chuẩn hóa, điểm cắt cho mô hình biệt thức được xác định như sau:

     

    C =

    Z * N + Z * N

       

    1122

    (2)

     

    N+ N

    cutoff

       
     

    12

       

    Trong đó: Z1 là mức trung bình của Z-score Nhóm 1 tính toán bằng cách sử dụng công thức (1)

     

     

    50

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    N1 là số được quan sát trong Nhóm 1

    PD =

    1

     

    Z2 là mức trung bình của Z-score Nhóm 2 tính toán bằng cách sử dụng công thức (1)

    N2 là số được quan sát trong Nhóm 2

     

    Với mục đích kiểm tra tính hợp lý của giá trị nhóm trọng tâm, giá trị trung bình điểm Z cho hai nhóm khác nhau được tính toán bằng -0,992 và 0,992 tương ứng cho Nhóm 1 và Nhóm 2 (Xem phụ lục A7). Chúng có cùng một giá trị, nhưng trái dấu.

     

    Sau đó, áp dụng phương trình 2 – hàm chuẩn hóa, các điểm cắt sẽ bằng không vì trung bình của Z-score phi chuẩn hóa cho hai nhóm có giá trị bằng nhau nhưng trái dấu ((0,992 * 61 – 0,992 * 61)/(61 +61) = 0). Trên cơ sở điểm cắt này, kết quả cho thấy rằng 11 giá trị trong nhóm 1 và 2 giá trị trong nhóm 2 không được phân loại đúng, đem lại kết quả phân loại chính xác là 89,4% (Xem Phụ lục A6).

    Hàm chuẩn hóa

    Hàm chuẩn hóa có thể viết như sau:

    Z = 0,2453X1 + 0,0754X2 + 0,8148X3 -0,2412X4

    + 0,4011X5                                              (3)

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp; X3=

    Thu nhập (đơn vị triệu đ); X4 = Số người phụ thuộc;

    X5 = Tài khoản

     

    Có thể thấy từ bảng Phụ lục A7, khác với hình thức phi chuẩn hóa, Thu nhập (X3) có hệ số cao nhất, phù hợp với kết quả thử nghiệm F và Vec-tơ tỷ lệ. Ngược lại, Nghề nghiệp (X2) là biến với hệ số thấp nhất.

     

    Điểm cắt được xác định bằng cách áp dụng phương trình (2): (286 * 61 + 82 * 61)/(61+61)=

     

    1. Kết quả là, hai mươi giá trị từ Nhóm 2 nhưng không có giá trị nào thuộc Nhóm 1 được xếp không đúng chỗ, đại diện cho 84% độ chính xác của mô hình dự đoán bằng cách sử dụng hình thức được chuẩn hóa. Con số này thấp hơn so với kết quả phân loại theo hàm phi chuẩn hóa (89,4%).

    Ước lượng xác suất vỡ nợ từ điểm số Z hàm phi chuẩn hóa

     

    Dựa trên các nghiên cứu đã được thực hiện bởi tác giả khác nhau trên thế giới, bài báo này sẽ lập ra Z-score xuất phát của mô hình mới về xác suất vỡ nợ (PD) và xếp hạng tín dụng. Theo bài nghiên cứu được tiến hành bởi Đinh và Kleimeier (2007), xác suất không trả được nợ (PD) được xác định bằng cách áp dụng công thức logit như sau:

    1+e-z                    (4)

    Trong đó: PD là xác suất vỡ nợ, Z là Z-score (điểm số càng cao, thì càng tốt), e = 2,71828.

     

    Tuy nhiên, các kết quả tính toán dựa trên phương trình trên tạo ra xác suất vỡ nợ rất cao cho đơn xin vay trong nước. Vì vậy, theo nghiên cứu của Đào (2010) trong hiệu chỉnh chấm điểm tín dụng và xác suất vỡ nợ, phương trình trên được điều chỉnh thành:

     

    PD =

    1

    (5)

     

    -Z

     

    1+e*20

     
           

    Áp dụng phương trình (5) cho mẫu gồm 122 người tiêu dùng Việt Nam, xác suất vỡ nợ đã được đưa ra.

     

    Kết quả cho thấy hầu như tất cả người xin vay từ Nhóm 2 có xác suất vỡ nợ thấp hơn rất nhiều so với Nhóm 1. Chỉ có 11 ứng viên thuộc Nhóm 2 với xác suất vỡ nợ cao đáng lẽ được phân loại vào Nhóm 1 và 2 ứng viên thuộc Nhóm 1 với xác xuất vỡ nợ thấp đáng lẽ được phân loại vào Nhóm 2. Tổng số là 13 khách hàng vay phân loại không đúng, đem lại độ chính xác là 89,34%. Ví dụ về mười khoản vay thuộc về 5 giá trị đầu và cuối của mỗi nhóm 1 và 2 được trình bày trong Phụ lục A7(1) và A7(2).1

    5. Kết luận

     

    Trong bài báo này, tổng quan về sự phát triển của chấm điểm tín dụng tiêu dùng thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng sẽ được trình bày ngắn gọn. Sau đó, tổng quan lý thuyết cung cấp kiến thức nền về điểm tín dụng và những phương pháp tính điểm tín dụng phổ biến. Thu thập dữ liệu và xử lý quá trình thực hiện trên cơ sở của các giả định này được ghi nhận trước khi đưa tỷ lệ tài chính vào DA của SPSS để tạo ra kết quả thống kê. Ban đầu, phân tích biệt thức với mười biến độc lập được tiến hành để kiểm tra khả năng phân biệt của các biến trong phân loại nợ. Bài kiểm tra đã phát hiện ra năm yếu tố phân biệt đáng kể nhất mà sau đó được sử dụng thêm một lần trong SPSS để tạo ra các phương trình cuối cùng. Có hai nhóm hệ số, chuẩn hóa và phi chuẩn hóa. Hàm phi chuẩn hóa được mô tả như sau:

     

    • = 0,2256X1 + 0,0483X2 + 0,0055X3 – 0,3004X4 + 0,1318704X5 – 3,3022

     

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp; X3

    • Thu nhập (đơn vị triệu đ); X4 = Số người phụ thuộc; X5 = Tài khoản

     

     

    1. Kiểm định ngoài mẫu cũng đã được thực hiện, độc giả có quan tâm xin liên hệ trực tiếp với tác giả.
     

    khoa học

     
       

    51

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Một trong những phát hiện quan trọng là 89,4% của 122 người xin vay được phân loại chính xác với hàm phi chuẩn hóa. Trung bình số điểm của Nhóm 2 và Nhóm 1 là bằng 0,992 nhưng trái dấu. Hàm chuẩn hóa được trình bày dưới đây:

     

    • = 0,245X1 + 0,0754X2 + 0,81480X3 – 0,24127X4 + 0,4011X5

     

    Như đã đề cập ở trên trong kết quả phân loại, hình thức phi chuẩn hóa đã được chứng minh là mạnh hơn so với hình thức chuẩn hóa. Tuy nhiên, cả hai đã thực hiện một mức độ chính xác tương đối

     

    Phụ lục

     

    A1: Mã hóa các biến số định tính

    cao trong việc phân loại nhóm. Sau đó, xác suất của vỡ nợ được tính trên cơ sở điểm phi chuẩn hóa.

     

    Tóm lại, mặc dù có một số nhược điểm không thể tránh khỏi, điểm số mới được phát triển vẫn có

     

    • nghĩa và hữu ích cho người cho vay về đánh giá chính xác tín dụng của khách hàng vay, do đó có thể giảm rủi ro tín dụng. Bài viết đã cung cấp cho độc giả các phương pháp và cách tiếp cận để phát triển một mô hình tính điểm tín dụng cao cấp với mức ứng dụng, tính chính xác và tính khả thi cao để dự đoán tín dụng của người xin vay.

    Bieán soá

    Caùc loaïi

    Maõ

     
     

    Toát nghieäp Tieán só

    10

     
     

    Thaïc só, Sau Ñaïi hoïc

    9

     
     

    Toát nghieäp Ñaïi hoïc

    8

     

    Hoïc vaán

    Toát nghieäp Cao ñaúng

    7

     
     

    Toát nghieäp tröôøng daïy ngheà

    6

     
     

    Toát nghieäp Trung hoïc phoå thoâng

    5

     
     

    Döôùi Trung hoïc phoå thoâng

    0

     
     

    Ñieàu haønh chuyeân nghieäp (Giaùm ñoác, Phoù Giaùm ñoác, Keá toaùn tröôûng)

    10

     
     

    Ñieàu haønh chuyeân nghieäp ôû caáp ñoä thaáp hôn (Tröôûng /Phoù Tröôûng phoøng), Kieán truùc

    9

     
     

    Doanh nhaân, ngaân haøng, coâng nhaân coù tay ngheà cao

    8

     
     

    Ngheà nghieäp

    Nhaân vieân vaên phoøng

    7

     

    Sinh vieân

    5

     
     
     

    Lao ñoäng khoâng coù tay ngheà

    4

     
     

    Lao ñoäng baùn thôøi gian

    2

     
     

    Nghæ höu

    0

     
     

    Chuû sôû höõu nhaø

    10

     

    Hình thöùc

    Nhaø rieâng

    8

     

    Thueâ nhaø

    6

     

    sôû höõu nhaø ôû

    Soáng cuøng baïn beø, ngöôøi thaân

    4

     
     
     

    Soáng cuøng boá meï

    2

     
     

    Coù caû taøi khoaûn vaõng lai vaø taøi khoaûn tieát kieäm

    10

     

    Taøi khoaûn

    Coù taøi khoaûn vaõng lai

    6

     

    Coù taøi khoaûn tieát kieäm

    5

     
     
     

    Khoâng coù taøi khoaûn

    0

     

    A2: Phân loại kết quả với 10 biến

     

       

    Nhoùm

    Döï ñoaùn soá löôïng nhoùm

     

    Toång

    Ban ñaàu

    Soá löôïng

     

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

       
       

    1

    57

     

    4

    61

                 
       

    2

    9

     

    52

    61

                 
     

    %

    1

    93,44%

     

    6,56%

    100

                 
       

    2

    14,75%

     

    85,25%

    100

                 

    A3: Số liệu thống kê nhóm 5 tỷ lệ quan trọng nhất

     

           

    Bieán soá

     

    Trung bình

       

    Ñoä leäch chuaån

       
           

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

    Toång

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

    Toång

     
               
       

    Hoïc vaán

    7,4754

    7,9918

    7,7336

    1,1952

    0,9682

    1,1137

     
       

    Ngheà nghieäp

    7,3279

     

    7,8361

    2,1191

         
       

    8,3443

    1,5263

    1,9085

     
       

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    96,8813

    346,1430

    221,5121

    36,0447

    204,5403

    192,4863

     
         
       

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

    1,5574

     

    1,3607

    0,8470

         
       

    1,1639

    0,7568

    0,8239

     
       

    Taøi khoaûn

    1,9344

    4,3934

    3,1639

    2,9432

    3,1373

    3,2711

     
         
                       

    52

    khoa học

                 

    thương mại

                 

    Sè 128/2019

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    A4: Khả năng phân biệt riêng lẻ của 5 biến số

     

     

    Wilks’ Lambda

    F

    df1

    df2

    Sig.

     
                 

    Hoïc vaán

    0,9458

    6,8751

    1

    120

    0,0099

     

    Ngheà nghieäp

     

    9,2396

    1

    120

    0,0029

     

    0,9285

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    0,5773

    87,8620

    1

    120

    0,0000

     

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

     

    7,3189

    1

    120

    0,0078

     

    0,9425

    Taøi khoaûn

    0,8576

    19,9327

    1

    120

    0,0000

     
                 

    A5: Vec-tơ tỷ lệ của 5 biến số

     

    Bieán soá

    Ñoä leäch chuaån

    Heä soá

    Vec -tô tyû leä

    Xeáp haïng

     
               

    Hoïc vaán

    1,1137

    0,2454

    0,2733

    3

     

    Ngheà nghieäp

    1,9085

    0,0754

    0,1439

    4

     

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    192,4863

    0,8148

    156,8389

    1

     

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

    0,8239

    -0,2413

    -0,1988

    5

     

    Taøi khoaûn

    3,2711

    0,4011

    1,3121

    2

     
               

    A6: Kết quả phân loại

     

    Ban ñaàu

     

    Nhoùm

    Döï ñoaùn soá löôïng nhoùm

    Toång

               
         

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

     
     

    Soá löôïng

    1

    59

    2

    61

     
       

    2

    11

    50

    61

       
     

    %

    1

    96,72%

    3,28%

    100

     
     

    2

    18,03%

    81,97%

    100

     
       

    A7 (1): Tính toán Điểm hàm chuẩn hóa và Phi chuẩn hóa cho 10 đại diện ứng viên cho vay của Nhóm

     

    2 cùng xác suất vỡ nợ

     

               

    Thu

    Soá

     

    Ñieåm Z

    Ñieåm Z

           
         

    Hoïc

     

    Ngheà

    nhaäp

    ngöôøi

    Taøi

    PD haøm phi

       
     

    STT

    Y

     

    haøm chuaån

    haøm phi

       
         

    vaán

     

    nghieäp

    (trieäu

    phuï

    khoaûn

    hoùa

    chuaån hoùa

    chuaån hoùa

       
               

    ñoàng)

    thuoäc

             
                             
     

    1

    2

    8

     

    10

    1,051

    1

    0

    859

    4,44

    0,06%

       
     

    2

    2

    8

     

    8

    1,000

    0

    6

     

    5,17

         
       

    820

    0,03%

       
     

    3

    2

    8

     

    10

    1,000

    2

    6

    819

    4,65

    0,05%

       
           
     

    4

    2

    8

     

    8

    800

    1

    6

     

    3,76

         
       

    657

    0,12%

       
     

    5

    2

    6

     

    8

    720

    1

    10

    3,39

    3,39

    0,17%

       
           
             

    10

                   
     

    57

    2

    8

     

    180

    2

    6

    151

    0,10

    4,33%

       
     

    58

    2

    8,5

     

    10

    180

    2

    6

    151

    0,21

    3,88%

       
           
     

    59

    2

    8

     

    8

    180

    2

    0

     

    -0,77

         
       

    149

    9,77%

       
     

    60

    2

    8,5

     

    8

    180

    1

    6

    152

    0,43

    3,15%

       
           
     

    61

    2

    8

     

    9

    168

    1

    0

     

    -0,50

         
       

    139

    7,60%

       
                                 
       

    Trung bình

           

    286

    0,992

           
       

    Ñoä leäch chuaån

         

    167

    1.29

           
                     
                                 
                           

    khoa học

     
                               

    53

                           

    thương mại

    Sè 128/2019

                     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    A7(2): Tính toán Điểm hàm chuẩn hóa cho 10 đại diện ứng viên cho vay của Nhóm 1 cùng xác suất vỡ nợ

     

       

    Hoïc

    Ngheà

     

    Thu nhaäp

    Soá ngöôøi

    Taøi

    Ñieåm Z haøm

    Ñieåm Z haøm

    PD haøm phi

    STT

    Y

     

    khoaû

    phi chuaån

    vaán

    nghieäp

     

    (trieäu ñoàn g)

    phuï thuoäc

    chuaån hoùa

    chuaån hoùa

         

    n

    hoùa

                     

    1

    1

    5

    4

     

    216

    2

    0

    177

    -1,41

    17,04%

    2

    1

    8

    8

     

    168

    2

    6

    141

    -0,05

    4,99%

     

    3

    1

    8,5

       

    156

    2

    0

    129

    -0,83

    10,32%

    7

     

    4

    1

    8

    7

     

    150

    1

    6

    127

    0,11

    4,28%

     

    5

    1

    9

       

    150

    3

    0

    124

    -1,01

    12,11%

    8

     

    57

    1

    5

    4

     

    48

    2

    0

    40

    -2,35

    34,29%

     

    58

    1

    8,5

       

    48

    0

    0

    42

    -0,83

    10,31%

    7

     

    59

    1

    6

    4

     

    43

    3

    0

    36

    -2,45

    36,61%

     

    60

    1

    5

       

    20

    0

    0

    17

    -2,07

    28,28%

    0

     

    61

    1

    5

    0

     

    18

    1

    0

    16

    -2,37

    34,95%

     
                         
             

    Trung bình

       

    82

    -0,992

     
           

    Ñoä leäch chuaån

       

    30

    0,58

     
                 
                         

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Altman, E. I. (1968), “Z-score”, chi tiết tại: http://www.valuebasedmanagement.net/methods_al tman_z-score.html (Truy cập vào ngày 18 tháng 10, 2009).
    1. Altman, E.I., (1968), Financial Ratios, Discriminant Analysis, and the Prediction of Corporate bankruptcy, Journal of Finance, Tập 23, Số 4, (Tháng 9, 1968), Trang 589-609
    1. Beaver, W., (1968), Alternative Accounting Measures as Predictors of Failure, Accouting Review, tháng 1, trang 46-53.
    1. Crook, J. N. (1996), Credit scoring: an overview, Working Paper Số 96/13, ban nghiên cứu kinh doanh, Trường Đại học Edinburgh.
    1. Dinh, T. H. T., và Kleimeier S., (2007), A Credit Scoring Model for Vietnam’s retail banking market, International Review of Financial Analysis, Tập 16, Số 5, trang 471-4.
    1. Durand, D., Risk Elements in Consumer Installment Lending, National Bureau of Economic Research, New York, 1941, Tập 15, Số 8.
    1. Đào, T.T. Bình (2013), Mô hình chấm điểm tín dụng cho các công ty sản xuất ở Việt Nam, Tạp chí

    Kinh tế & Phát triển , số 188 tháng 02 năm 2013, trang 39-49. http://ktpt.edu.vn/tap-chi/so-188/nghien-cuu-trao-doi-685/mo-hinh-xep-hang-tin-dung-cho-cac-cong-ty-san-xuat-o-viet-nam.372652.aspx

     

    1. Fisher, R. A. (1936), The Use of Multiple Measurements in Taxonomic Problems, Annals of Eugenics, Tập 7, trang 179-188.
    1. Vigano, L. (1993), A credit scoring model for development banks: An African case study, Savings and Development, 17(4), trang 441-482.

    Summary

     

    In the context of focusing on consumer credit and personal lending in many Vietnamese banks, this paper aims to provide a consumer credit scoring model that can be applied to Vietnamese banks. The article uses the method of FICO system, taking into account the situation of Vietnam. It also provides suggestions to help consumers simply calculate their credit score.

     

    khoa học

     

    54   thương mại

    Sè 128/2019

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG INTERNET BANKING TRONG THANH TOÁN HỌC PHÍ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

     

    Bùi Thị Thu Loan

    Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

    Email: [email protected]

    Vũ Duy Hào

    Trường Đại học Kinh tê/quô/c dân

    Email:[email protected]

    Chu Thi;Hiên

    Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 18/03/2019                         Ngày nhận lại:     10/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 16/04/2019

     

    • hói quen thanh toán không dùng tiền mặt của người dân, trong đó có hình thức thanh toán trực tuyến (Internet banking) vẫn còn hạn chế tại các nước có nền kinh tế mới nổi như tại Việt Nam bất

    chấp những đặc tính ưu việt do hình thức thanh toán này mang lại. Mặc dù đã có một vài nghiên cứu kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ internet banking, song các nghiên cứu này chỉ tập trung trên các đối tượng đã có thu nhập. Trong khi thói quen sử dụng một dịch vụ cần được xây dựng và định hướng dựa trên hành vi nhận thức tính hữu ích của giới trẻ. Do đó, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán trực tuyến dựa trên đối tượng khảo sát là sinh viên với quy mô mẫu 228. Kết quả phân tích cho thấy, ngoài ảnh hưởng của các yếu tố được biết đến trong hầu hết các nghiên cứu hiện có bao gồm nhân tô€chuẩn chủ quan và tính hữu ích đối với dịch vụ thì phong cách giới trẻ cũng là một yếu tố mới được phát hiện có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến ý định sử dụng internet banking. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng hàm ý một số giải pháp tư•kê€t qua‚hô•i quy và gợi mở hướng nghiên cứu trong tương lai.

     

    Từ khóa: thanh toán trực tuyến, phong cách giới trẻ, ý định, thanh toán không dùng tiền mặt.

     

     

    1. Giới thiệu

    Inernet banking (IB) là một ứng dụng được sử dụng phổ biến trong thanh toán hiện nay tại hầu hết các quốc gia. Đây là dịch vụ ngân hàng điện tử dùng để truy vấn thông tin tài khoản và thực hiện các giao dịch chuyển khoản thanh toán qua mạng internet. Dịch vụ này bắt đầu được sử dụng từ những năm 80 tại hầu hết các nước phát triển. Tại Việt Nam, dịch vụ Internet-banking bắt đầu được du nhập khá muộn từ năm 2001 dưới hình thức ngân hàng điện tử trên internet và chính thức trở thành kênh giao dịch điện

    tử vào năm 2004. Dịch vụ Internet banking với ưu thế nhanh gọn, tiện lợi và tiết kiệm chi phí ngày càng được nhiều khách hàng lựa chọn. Dựa trên nhu cầu này, các ngân hàng cũng ngày càng cạnh tranh để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tối ưu nhất cho khách hàng.

     

    Trong giai đoạn hiện nay, ứng dụng công nghệ thay thế cho các phương pháp thanh toán truyền thống thủ công là tính tất yếu. Việc triển khai và cung cấp các dịch vụ này từ hệ thống ngân hàng, một mặt khẳng định vị thế của ngân hàng trong việc hiện đại

     

     

    khoa học

     
       

    55

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    55

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    hóa hạ tầng công nghệ cung cấp sản phẩm dịch vụ tiện ích cho khách hàng. Mặt khác, góp phần hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán, giúp tiết kiệm chi phí xã hội cũng như minh bạch hóa các hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.

     

    Về phía khách hàng, sự xuất hiện của internet banking đã mang lại lợi ích lớn về thời gian và chi phí. Các giao dịch thanh toán không còn giới hạn về thời gian và khoảng cách địa lý thông qua các ứng dụng thanh toán qua hệ thống internet 24/24 và 24/7. Thêm vào đó, phí thanh toán qua hệ thống thanh toán trực tuyến cũng được xem là rẻ hơn so với các hình thức thanh toán chuyển tiền truyền thống tại ngân hàng.

     

    Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt nam, thói quen sử dụng tiền mặt vẫn diễn tra trong phần lớn các giao dịch mặc dù Chính phủ đã có những quy định hạn chế nhất định. Theo số liệu từ Ngân hàng thể giới (WB), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao nhất trong khu vực, chiếm tới 95,1 % (WB, 2018). Ngay tại môi trường giáo dục Đại học, nơi giúp định hình thói quen và trách nhiệm tuân thủ các quy định về việc nâng cao tính minh bạch trong nền kinh tế, thì vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt dường như chưa được quan tâm đúng mức tại một số nơi. Vấn đề này được đặt ra bởi trong bối cảnh tại Việt nam hiện nay, mặc dù thông tư 02 về quy định bắt buộc đối với việc thanh toán qua ngân hàng sắp có hiệu lực nhưng sinh viên tại một số trường đại học nói chung và trường đại học công nghiệp nói riêng vẫn duy trì thói quen thanh toán học phí bằng tiền mặt. Đây đồng thời cũng là một thực tế gây áp lực đối với việc nâng cao chất lượng dịch vụ của nhà trường.

     

    Trên cơ sở đó, theo hướng tiếp cận của lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991), nghiên cứu này áp dụng phân tích định lượng để kiểm tra mức độ ảnh hưởng và chiều ảnh hưởng của các yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và yếu tố phong cách giới trẻ đến ý định sử dụng thanh toán internet banking trong thanh toán học phí, nghiên cứu trường hợp tại đại học công nghiệp Hà nội.

    1. Tổng quan nghiên cứu

    Lý thuyết TPB của Ajzen (1991), giải thích và dự đoán về hành vi được ứng dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau dựa trên nền tảng lý thuyết

    Hành động có lý trí (hay hành động hợp lý), theo lý thuyết này, ý định của một cá nhân đối với việc thực hiện một hành vi nhất định chịu ảnh hưởng của 03 yếu tố, đó là: Thái độ (Attitude); Chuẩn chủ quan (Subjective Norm); Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control). Lý thuyết TPB được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển và mở rộng để giải thích và dự đoán hành vi của con người trong bối cảnh cụ thể, như: Chang (1998), Choo và cộng sự (2004), đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng tích cực của các yếu tố Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định thực hiện hành vi. Theo hướng tiếp cận này, nhiều nghiên cứu đã mở rộng phạm vi các yếu tố ảnh hưởng trong hướng nghiên cứu cụ thể về hành vi sử dụng IB (Long Phạm, 2014; ChinHo Lin, 2011). Nghiên cứu của Pham và cộng sự ( 2014); Wang, Lin và Tin ( 2003) cho biết khả năng chấp nhận công nghệ (IT) đóng vai trò quan trọng đối với hành vi sử dụng dịch vụ này bên cạnh các yếu tố về thái độ đối với dịch vụ, chuẩn chủ quan và tính hữu ích của dịch vụ (Long và cộng sự, 2014 ; Wang, Lin và Tin, 2003; Bùi Hải Yến). Tuy nhiên các nghiên cứu này được thực hiện trong giai đoạn việc ứng dụng các phiên bản công nghệ tích hợp trên máy tính và điện thoại chưa thực sự phổ biến như hiện nay. Đồng thời, các nghiên cứu được tiến hành trên mẫu khảo sát là các đối tượng đã có thu nhập, do đó, khả năng chấp nhận công nghệ có thể là yếu tố ảnh hưởng tiên quyết do tính đặc thù về độ tuổi. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu có sự khác biệt đáng kể giữa sinh viên, những người chưa tạo ra thu nhập và những người đã đi làm mà thu nhập của họ có thể được thanh toán qua hệ thống ngân hàng đối với ý định sử dụng internet banking không. Nếu có, thì yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định này và liệu đối với đối tượng là sinh viên, còn yếu tố nào có thể tham gia vào mô hình mà có khả năng luận giải thêm đối với ý định sử dụng IB, nghiên cứu cụ thể đối với ứng dụng thanh toán tiền học phí. Việc trả lời câu hỏi nghiên cứu này cũng là mục tiêu hướng đến của bài viết.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

     

    • Giả thuyết nghiên cứu

     

    – Ý định sử dụng internet banking trong thanh toán học phi‹

     

    Có nhiều lý thuyết khác nhau được sử dụng để lý giải mối quan hệ giữa các yếu tố tiền đề và hành vi

     

    56

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    của người sử dụng dịch vụ. Trong nghiên cứu này, tiếp cận theo lý thuyết TPB, ý định sử dụng internet banking được hiểu là ý định của cá nhân đối với khả năng chấp nhận sử dụng thanh toán trực tuyến qua hệ thống ngân hàng thay thế cho hành vi sử dụng tiền mặt. Đây được coi là giai đoạn trong việc hình thành và phản ánh nhận thức về lợi ích của việc thanh toán không dùng tiền. Khi đó, nếu ý định sử dụng dịch vụ thanh toán internet banking của sinh viên càng cao thì khả năng thực hiện hành vi thanh toán qua hệ thống giao dịch trực tuyến dựa trên các ứng dụng công nghệ được cung cấp bởi mỗi ngân hàng đối với khách hàng của mình càng lớn. Vì vậy, nghiên cứu ý định thực hiện hành vi thanh toán qua internet banking của sinh viên dựa trên lý thuyết TPB làm lý thuyết khung và tiền đề cho nghiên cứu nhằm mục đích nhận diện các yếu tố có ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ, từ đó, hàm ý giải pháp thay đổi hành vi, thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán. Trên cơ sở đó, nho‹m tác giả đưa ra nho‹m 3 giả thuyết như sau:

     

    Gia&thuyê’t H1: Thái độ có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng dịch vụ IB trong thanh toan€ ho„c phi€của sinh viên;

     

    Gia&thuyê’t H2: Chuẩn chủ quan có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng IB trong thanh toan€ ho„c phi€của sinh viên;

     

    Gia&thuyê’t H3: Nhận thức về kiểm soát hành vi có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng IB trong thanh toa€n ho„c phi€của sinh viên.

     

    Phong cách giới trẻ đối với khuynh hướng sử dụng ứng dụng công nghệ hiện đại trong thanh toán trực tuyến qua ngân hàng

     

    Phong cách tiêu dùng hay sử dụng dịch vụ được đề cập lần đầu trong nghiên cứu của Mai và cộng sự (2009); Tambyah, Nguyễn và Jung (2009), theo đó khuynh hướng tiêu dùng có thể theo hướng truyền thống và hiện đại. Những thay đổi nhanh chóng trong nền kinh tế cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ cũng ảnh hưởng đến khuynh hướng lựa chọn và sử dụng dịch vụ của các cá nhân. Mặc dù các nghiên cứu dựa trên mô hình có tính đến khả năng chấp nhận công nghệ (Pham và cộng sự, 2009; Wang, 2003) song trên thực tế, trong bối cảnh Việt Nam những năm gần đây cho thấy, mặc dù người Việt có tỷ lệ sử dụng internet và điện thoại thông minh rất cao song tỷ lệ thanh toán qua internet lại không tương xứng.

    Phong cách sống cá nhân được đặc trưng bởi cái nhìn thực tại về thế giới quan, cá tính, bản sắc cá nhân (bản ngã hay cái tôi) cũng như ảnh hưởng của môi trường xung quanh như gia đình, nơi sinh sống, giáo dục, văn hóa và ảnh hưởng mạnh từ các yếu tố truyền thông. Trong đó, giới trẻ được đánh giá là những người tiên phong cho những trào lưu mới, thời thượng và táo bạo. Đồng thời, họ là những người đi đầu cho xu hướng sử dụng những dịch vụ mới hiện đại hơn.

     

    Kết quả phỏng vấn sâu đối với 11 sinh viên cũng cho thấy họ nhận thức việc thanh toán qua các ứng dụng trực tuyến sẽ trở thành xu hướng và định hình phong cách giới trẻ trong các giao dịch giúp họ thể hiện sự tự tin đối với việc bắt kịp một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết H4:

    Gia&thuyê’t H4: Phong cách giới trẻ có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng internet banking trong thanh toán

     

    3.2. Phương pha’p nghiên cư’u va*mô hi*nh nghiên cư’u

     

    Trước hết, như đã đề cập ở trên, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kiểm tra sơ bôŒsự phù hợp của các thang đo trong mô hình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trước khi tiến hành phân tích hồi quy. Nghiên cứu định tính sơ bộ thông qua phỏng vấn sâu được thực hiện với đối tượng là 11 sinh viên đang học tại trường đại học công nghiệp Hà nội; độ dài trung bình mỗi cuộc phỏng vấn từ 25 đến 30 phút dựa trên lưới phỏng vấn, trong đó, đối tượng sinh viên trả lời phỏng vấn, gồm: 06 sinh viên nữ và 5 sinh viên nam.

     

    NôŒi dung phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm bước đầu kiểm tra sự phù hợp của các biến độc lập có ảnh hưởng đến ý định sử dụng internet banking của sinh viên, nhận diện sơ bộ mối quan hệ giữa các biến trong mô hình.

     

    Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ ủng hộ mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả. Phần lớn sinh viên được phỏng vấn đều cho rằng sử dụng thanh toán trực tuyến sẽ đem lại sự tiện lợi, nhanh chóng và an toàn. Đặc biệt giảm sự khó chịu khi tham gia thanh toán học phí bằng tiền mặt. Họ hoàn toàn ủng hộ và muốn sử dụng trong thời gian tới bởi IB phù hợp với phong cách sinh viên năng động hiện nay. Tuy nhiên việc sử dụng dịch vụ này lại khó khăn từ

     

     

    khoa học

     
       

    57

     

    thương mại

    Sè 128/2019

     

    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

     

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

     

    phía gia đình hơn là bạn bè, do đó ảnh hưởng nhất

    Dựa trên các phản hồi, mẫu phân tích cuối cùng

    định đến việc thay đổi hoàn toàn hình thức thanh

    được sử dụng trong phân tích hồi quy là 228. Trong

    toán này ở hiện tại. Kết quả đáng chú ý trong phân

    đó, nam giới chiếm tỷ lệ 44% và nữ giới chiếm tỷ lệ

    tích định tính đó là sự tham gia của biến phong cách

    56%. Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu

    giới trẻ được nhận diện trong mô hình nghiên cứu.

    hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức điểm, tương ứng

    ViêŒc nhâŒn diêŒn biê‹n nghiên cư‹u na‘y, dựa vào mô

    với 1 điểm là Hoàn toàn không đồng ý cho đến 5

    hình gốc theo lý thuyết TPB của Ajzen (1991),

    điểm là Hoàn toàn đồng ý. Các câu hỏi cho các

    nhóm tác giả xây dựng mô hình gồm 4 yếu tố được

    thang đo trong nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở

    đề cập dươ‹i đây (Hình 1).

           

    kế thừa từ kết quả các nghiên cứu trước đây của

                                     

    Ajzen (1991, 2002), Holak và Leman

     

    7KiL ÿӝ

                             
                               

    (1990), Nguyễn Thị Tuyết Mai (2016),

                     

    H1(+)

               

    Adewal và cộng sự (2016), kết hợp với

                                 
                     

    H2 (+)

               

    sự điều chỉnh theo kết quả nghiên cứu

     

    Chuҭn chӫ quan

                   

    định tính sơ bộ được thực hiện trong

               

    é ÿӏnh sӱ dөng ,% WURQJ WKDQK

     
                             

    nghiên cứu định tính trước đó. Các câu

                     

    (H3+)

       

    WRiQ KӑF SKt cӫa sinh viên

     
                           

    hỏi nghiên cứu được dựa trên cơ sở các

       

    Nhұn thӭc NLӇP

                   
                         

    thang đo gốc đã được chuyển thể và sử

                         
       

    VRiW KjQK YL
    WtQK

                     
         

    (H4+)

               

    dụng trong các nghiên cứu trước đó. Một

                                 
                                     

    số biến được mô tả tóm tắt trong Bảng 1.

     

    Phong cách giӟi trҿ

                     
                       

    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

                                     
                                     

    Đánh giá thang đo

     

    Nguồn: Tổng hợp từ nhóm tác giả

       
         

    Kết quả phân tích Cronbach Alpha (Bảng

             

    Hình 1

    : Mô hình nghiên cứu đề xuất

       

    2) cho thấy, thang đo của 04 yếu tố đều lớn

                         
     

    Tiếp theo, nhóm nghiên cứu sử dụng phương

    hơn 0,7 đảm bảo yêu cầu về độ tin cậy và giá trị (Hair và

    pháp nghiên cứu định lượng, phân tích dữ liệu sơ

    cộng sự, 1998). Dữ liệu được sử dụng trong phân tích

    cấp thu được từ một mẫu khảo sát ban đầu là 245

    đảm bảo phù hợp với phân tích yếu tố, giá trị KMO bằng

    sinh viên đang học tại trường Đại học Công nghiệp

    0,902 (>0,5). Kết quả phân tích EFA dựa trên báo cáo

    Hà Nội (Haui). Chúng tôi sử dụng phạm vi nghiên

    phương sai trích và hệ số tải cho thấy, các thang đo đạt yêu

    cứu điển hình này là do nghiên cứu ban đầu với việc

    cầu với phương sai trích đạt 62.12 % và hệ số tải lớn hơn

    tham gia của biến mới nên được thực hiện nghiên

    0,5. Kê‹t qua•ma trâŒn xoay nhân tô‹cu™ng thê•hiêŒn ti‹nh ô•n

    cứu sơ bộ để xác nhận kết quả trước khi kiểm soát

    điŒnh cu•a nho‹m trong ca‹c thang đo đươŒc kiê•m tra.

    các yếu tố trên

             

    Bảng 2: Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo

    diện

    rộng.

                               

    Trên thực

    tế,

         

    Bieán quan saùt

     

    Cronbach Alpha

     

    N of Items

    Thaùi ñoä caù nhaân

           

    0,827

       

    5

    trường

     

    Đại

               
     

    Chuaån chuû quan

           

    0,717

       

    5

    học

    Haui

               

    Nhaän thöùc haønh vi

           

    0,915

       

    4

    trường

    được

               

    Phong caùch giôùi treû

           

    0,858

       

    6

    biết đến với tỷ

               

    lệ

    sinh

    viên

    KMO

                     

    0,902

    chủ yếu đến từ

    Bartlett’s Test

                 

    Sig = 0,000

     

     

    các khu vực nông thôn

     

    (trên 85%). Việc thay đổi thói quen sử dụng một dịch vụ thường có những đặc điểm riêng bao gồm cả ảnh hưởng từ yếu tố nhận thức, hành vi, tính hữu ích của dịch vụ và có thể cả từ môi trường học tập và xã hội nơi các chủ thể chịu ảnh hưởng nhất định.

     

    Thống kê mô tả

     

    Kết quả thống kê mẫu ban đầu cho thấy sử dụng tiền mặt hiện là phương thức thanh toán chính được sử dụng đối với sinh viên bao gồm cả nam giới và nữ giới. Tỷ lệ thanh toán tiền mặt được báo cáo trong mẫu nghiên cứu lên tới 95,9%. Trong khi điểm

     

     

    58

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Bảng 1: Tóm tắt thang đo các biến

     

    Maõ hoùa

     

    Bieán quan saùt

    Thang

    Nguoàn

           

    ñieåm

     
     

    TÑ1

    1.

    Toâi thích yù töôûng söû duïng dòch vuï internet banking

    Likert 5

    Long vaø coäng söï

       

    trong thanh toaùn hoïc phí

    möùc ñieåm

    (2014); Wang, Lin

    Thaùi ñoä

    TÑ2

    2.

    Toâi hoaøn toaøn uûng hoä yù ñònh söû duïng dòch vuï internet

     

    (2003); Chan vaø

     

    banking trong thanh toaùn hoïc phí

     

    Chen (2001),

    (TÑ)

    TÑ3

    3.

    Söû duïng dòch vuï internet banking trong thanh toaùn hoïc

     

    Nguyeãn Thò Tuyeát

       

    phí laø moät yù ñònh toát

     

    Mai (2016), Holak

     

    TÑ4

    4.

    Toâi hoaøn toaøn tin töôûng söû duïng internet banking laø

     

    vaø Leman (1990).

       

    moät yù ñònh hay

       
     

    CQ1

    1. Gia ñình vaø baïn beø coù aûnh höôûng ñeán yù ñònh söû duï ng

    Likert 5

    Holak vaø Leman

    Chuaån

     

    internet banking cuûa toâi

    möùc ñieåm

    (1990), Nguyeãn Thò

    chuû

    CQ2

    2.

    Toâi thaáy haàu heát caùc baïn SV hieän nay ñeàu söû duïng

     

    Tuyeát Mai (2016),

    quan

     

    neân toâi cuõng coù yù ñònh söû duïng IB

     

    Long vaø coäng söï

    (CQ)

    CQ3

    3.

    Caùc phöông tieän truyeàn thoâng coù aûnh höôûng ñeán yù

     

    (2014); Wang, Lin

       

    ñònh söû duïng dòch vuï IB

     

    (2003); Chan vaø

     

    CQ4

    4. Caùc nhu caàu töø coâng vieäc laøm theâm cuûa toâi aûnh höôûng

     

    Chen (2001).

       

    ñeán yù ñònh söû duïng IB

       

    Phong

    PS1

    1.

    Söû duïng dòch IB theå hieän loái soáng thôøi thöôïng vaø hieän

    Likert 5

    Nguyeãn Thò Tuyeát

    caùch

     

    ñaïi hôn

    möùc ñieåm

    Mai (2016), Wang,

    giôùi treû

    PS2

    2.

    Thay vì ñeán taän tröôøng ñeå ñoùng hoïc phí toâi thích ôû nhaø

     

    Lin (2003); Chan vaø

    (PS)

     

    click chuoät treân chieác smartphone coù keát noái internet hôn

     

    Chen (2001).

     

    PS3

    3.

    Toâi thích theå hieän ñaúng caáp cuûa baûn thaân, thích söï môùi

       
       

    meû vaø hieän ñaïi

       
     

    PS4

    4.

    Toâi thích söû duïng dòch vuï thanh toaùn hoïc phí vöøa tieän

       
       

    lôïi, nhanh goïn nhö IB

       
     

    PS5

    5.

    Söû duïng IB ñeå thanh toaùn hoïc phí toâi coù theå ñoäc laäp

       
       

    maø khoâng caàn phuï thuoäc thaày coâ giaùo thu phí theå hieän loái

       
       

    soáng töï laäp cuûa giôùi treû.

       

    YÙ ñònh

    YÑ1

    1.

    Toâi seõ caân nhaéc veà yù ñònh söû duïng IB trong thanh toaùn

    Likert 5

    Long vaø coäng söï

    söû duïng

     

    hoïc phí neáu ñöôïc nhaø tröôøng khuyeán khích

    möùc ñieåm

    (2014); Wang, Lin

    IB trong

    YÑ2

    2. Toâi tin raèng toâi seõ söû duïng vaø tieáp tuïc söû duïng dòch vuï

     

    (2003); Chan vaø

    TTHP

     

    IB ñeå thanh toaùn hoïc phí

     

    Chen (2001),

    (YD)

    YÑ3

    3. Toâi seõ keâu goïi baïn beø toâi cuøng söû duïng dòch vuï IB ñeå

     

    Nguyeãn Thò Tuyeát

       

    thanh toaùn hoïc phí

     

    Mai (2016), Holak

             

    vaø Leman (1990).

    (Nguồn:Tổng hợp của tác giả)

     

    đáng lưu lý là mức độ sử dụng internet từ thường xuyên đến rất thường xuyên của sinh viên là 79,4%. Thêm vào đó, trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường tài chính hiện nay, dịch vụ mở tài khoản thẻ miễn phí thuận tiện tại chỗ từ các Ngân hàng cho sinh viên Haui đã giúp nâng tỷ lệ sinh viên sở hữu tài khoản thẻ ngân hàng, yếu tố căn bản có thể giúp sinh viên sử dụng được dịch vụ IB, lên tới 72,5%. Tuy nhiên, tính trung bình trong mẫu chỉ có 13,6%

    sinh viên đã từng sử dụng dịch vụ IB trong thanh toán hoŒc phi‹, một tỷ lệ được đánh giá là rất thấp.

     

    Kê’t qua&phân tích hồi quy

     

    Kết quả phân tích hồi quy bội kiểm tra (Bảng 3) cho thấy, mô hình nghiên cứu là phù hợp, có ý nghĩa thống kê với F = 79,09; p < 0,01. Các yếu tố trong mô hình có thể giải thích được 65,4% ý định sử dụng IB trong thanh toa‹n hoŒc phi‹của sinh viên. Mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số

     

     

    khoa học

     
       

    59

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    VIF trung bình nhỏ hơn 5) và hiện tượng tự tương quan (hệ số Dubin-Watson là 2,160).

    mối quan tâm của giới trẻ chịu ảnh hưởng bởi quan niệm, thói quen và hành vi sử dụng dịch vụ từ bạn

     

    Bảng 3: Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng

     

    đến ý định sư‚du„ng IB trong thanh toan€ ho„c phi€cu‚a sinh viên

     

    Coefficients a

       

    Unstandardized

    Standardizd

       

    Collinearity

       

    Coefficients

    Coefficients

       

    Statistics

     

    Model

    B

    Std. Error

    Beta

    T

    Sig.

    Tolerane

    VIF

    1

    (Constant)

    -2.183

    1.201

     

    1.818

    .070

       
     

    Thaido

    .058

    .052

    .054

    1.120

    .264

    .659

    1.518

     

    Chuanchuquan

    .110

    .053

    .084

    2.061

    .040

    .922

    1.085

     

    Loi ich su dung

    .308

    .035

    .487

    8.688

    .000

    .487

    2.055

     

    Phongcachgioitre

    .303

    .048

    .338

    6.376

    .000

    .542

    1.845

     

    Durbin- Watson

               

    2.160

     

    R2

     

    0.660

    R2 adjust

       

    0.654

    1. Dependent Variable: ydinhsudung IB TT hoc phi* p <0,05; ** p < 0,01; *** p < 0,001

     

     

    Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

     

    Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, yếu tố Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi hay nhận thức về tính hữu ích đối với việc sử dụng dịch vụ và phong cách giới trẻ là các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng IB trong thanh toán học phí (hệ số â chuẩn hóa lần lượt là 0,110; 0,308 và 0.303 với mức ý nghĩa 5%).

     

    Như vậy, kết quả này cung cấp bằng chứng đối với việc các giả thuyết H2, H3 và H4 được chấp nhận. Tuy nhiên mô hình nghiên cứu cho thấy chưa đủ căn cứ để kết luận thái độ của chính bản thân sinh viên có ảnh hưởng đến ý định này. Cần lưu ý rằng, về chiều hướng tác động của yếu tố thái độ của sinh viên đối với ý định sử dụng dịch vụ là thuận chiều cho thấy, mặc dù kết quả này chưa nhận được sự ủng hộ bởi các nghiên cứu thực nghiệm hiện có, song không trái với nội dung lý thuyết về hành vi. Tuy nhiên trong mẫu nghiên cứu hiện tại, chưa đủ cơ sở kết luận tại mức ý nghĩa 5%.

     

    Thảo luận kết quả nghiên cứu

     

    Kết quả nghiên cứu ghi nhận yếu tố chuẩn chủ quan có tác động tích cực đáng kể, có ý nghĩa đối với ý định thực hiện hành vi sử dụng IB trong thanh toán học phí của sinh viên, nghiên cứu trường hợp sinh viên Haui. Kết quả này gợi ý rằng ảnh hưởng từ môi trường xã hội bên ngoài đến ý định thực hiện hành vi sử dụng IB được xem là một yếu tố dự đoán tốt đối với giới trẻ (Phạm Lan Hương, 2014), bởi vì

     

    bè, gia đình, môi trường học tập và truyền thông (Bindah và Othman, 2012). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu liên quan của Pham và cộng sự (2014); Wang và cộng sự (2003) và Jaruwachirathanakul, B., & Fink, D. (2005).

     

    Nhận thức tính hữu ích của dịch vụ cũng là yếu tố quan trọng trong mô hình ảnh hưởng đến ý định sử dụng internet banking của sinh viên trong trường hợp cụ thể là thanh toán học phí. Chính những bất tiện trong việc sử dụng hình thức thanh toán học phí bằng tiền mặt hiện nay, nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã thúc đẩy mong muốn hình thức thay thế thanh toán giúp tiết kiệm thời gian, an toàn, tiện lợi. Do đó đây cũng là yếu tố được xem có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong mô hình đến ý định sử dụng dịch vụ IB của sinh viên Haui. Điều này cũng hàm ý, một mặt các trường đại học là nơi giúp tăng cường nhận thức đối với sinh viên trong việc ứng dụng công nghệ để gia tăng tính an toàn tiện lợi trong thanh toán đồng thời nâng cao

     

    • thức thanh toán không dùng tiền mặt trong giới trẻ, điều mà sau đó thói quen này góp phần nâng cao tính minh bạch trong nền kinh tế, vấn đề mà Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực hướng tới thông qua với các chính sách về điều khoản thanh toán không dùng tiền mặt đối với các doanh nghiệp hiện nay.

    Phong cách giới trẻ được thể hiện bởi tính năng động, nhanh chóng hòa hợp và bắt kịp xu hướng

     

    60

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    mới của thời đại. Yếu tố này một phần ảnh hưởng bởi nhu cầu khẳng định cái tôi khi đối chiếu về cách thức sử dụng một dịch vụ của bản thân so với các đối tượng khác trong một bối cảnh xã hội nhất định (Onkvisit và Shaw, 1987). Kết quả này phù hợp với lý giải của (Grubb & Grathwohl, 1967) khi cho rằng cách thức sử dụng dịch vụ có thể giúp gia tăng cái tôi của họ. Cùng quan điểm này, nghiên cứu của Tambyah S, Nguyen T T Mai, Jung K (2009) cũng cho biết khuynh hướng tiêu dùng thể hiện những đặc điểm cá nhân nhất định. Trên thực tế, kết quả nghiên cứu định tính cũng cho biết có tới 5/8 sinh viên được phỏng vấn cho biết hình thức thanh toán học phí hiện nay không còn phù hợp nữa. Họ cho rằng “cái gì càng nhanh chóng, càng tiện lợi” sẽ được ưa thích. Bởi theo họ “những cái hiện đại, cái mới và tiện lợi hữu ích” sẽ phù hợp với giới trẻ hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh “Hầu như ai cũng có smart phone và thích online trực tuyến thường xuyên”. Do đó, IB “phù hợp với phong cách sinh viên ngày nay” vì bên cạnh sự tiện lợi, cũng là “một cách thức thể hiện đẳng cấp với bạn bè”.

     

    Mặc dù nghiên cứu cung cấp bằng chứng ý định sử dụng IB chịu ảnh hưởng bởi sự tiện lợi, tính hữu ích và là xu hướng của giới trẻ bởi nhu cầu thể hiện cái tôi, phong cách của giới trẻ hiện nay. Tuy nhiên, giả thuyết về thái độ của sinh viên Haui đối với ý định sử dụng dịch vụ này lại không được ủng hộ, trong khi các nghiên cứu liên quan hiện có xác nhận vai trò của yếu tố này đến việc sử dụng IB (Pham, 2009; Wang, 2003). Kết quả này hàm ý một thực tế về sự khác biệt giữa ý định sử dụng (sự yêu thích, nhận thức về lợi ích) và hành vi sử dụng giữa các đối tượng nghiên cứu khác nhau bởi thái độ đối với hành vi sử dụng dịch vụ thanh toán còn phụ thuộc vào đặc tính phụ thuộc về thu nhập đối với chủ thể. Đối với sinh viên Haui, bên cạnh vấn đề các khoản thanh toán phụ thuộc thu nhập, thì một đặc tính thực tế khách quan đó là thói quen sử dụng tiền mặt của những người chu cấp cho các khoản thanh toán của sinh viên cũng như vẫn còn rất nhiều khó khăn đối với việc sử dụng IB tại các khu vực nông thôn xa trung tâm. Nghiên cứu của Jaruwachirathanakul, B.,

     

    • Fink, D. (2005) cũng nhấn mạnh ảnh hưởng của yếu tố thu nhập đến ý định sử dụng IB của khách hàng no‹i chung.

    Do đó, để đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt, rõ ràng cần có sự đồng bộ hơn về hạ tầng

    dịch vụ giữa các chủ thể tham gia thanh toán. Đối với trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, để nâng cao chất lượng dịch vụ nói chung, chất lượng dịch vụ phục vụ thanh toán học phí nói riêng, nhà trường cần sớm thực hiện các chương trình tuyên truyền, khuyến khích sinh viên sử dụng IB trong thanh toán học phí.

     

    1. Kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai

     

    Trên cơ sở kế thừa lý thuyết TPB, thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu này đã đánh giá, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (Thái độ; Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi; Phong cách giới trẻ) đến ý định sử dụng IB của sinh viên. Kết quả nghiên cứu đã giúp nhận diện và cung cấp bằng chứng thú vị về ảnh hưởng của phong cách giới trẻ đến ý định sử dụng dịch vụ này bên cạnh các yếu tố chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Các phát hiện của nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy sự khác biệt trong ý định sử dụng dịch vụ IB giữa giới trẻ và những người đã đi làm bởi đặc tính phụ thuộc của thu nhập cũng như sự thiếu đồng bộ trong khả năng tiếp cận dịch vụ giữa các chủ thể tham gia. Mặc dù, mục tiêu nghiên cứu là rõ ràng, tuy nhiên chúng tôi thừa nhận phạm vi, đối tượng khảo sát trong nghiên cứu này còn hạn chế. Do đó, các phát hiện của nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểm tra ý định sử dụng dịch vụ IB trong thanh toán học phí của sinh viên, nghiên cứu trường hợp sinh viên Haui, mà chưa kết luận đối với hành vi sử dụng IB của sinh viên nói riêng và của giới trẻ trong thời kỳ cách mạng công nghệ hiện nay nói chung. Đây cũng là những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ hơn ở những nghiên cứu tiếp theo bởi bối cảnh và môi trường tiếp cận dịch vụ IB khác nhau có thể dẫn đến các kết quả nghiên cứu khác nhau. Khi các vấn đề này được làm rõ hơn, chúng tôi cũng kỳ vọng vào việc xác định hành vi sử dụng IB trong giới trẻ nói chung và sử dụng IB trong thanh toán học phí của sinh viên nói riêng thay vì chỉ dừng lại nghiên cứu ở góc độ “ý định”, đề từ đó các hàm ý chính sách đối với việc khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt ở góc độ cá nhân được thực thi hiệu quả hơn.

     

     

    khoa học

     
       

    61

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Ajzen, I., 1991, The theory of planned behav-iour, Organizational Behavior and Human Decision Processes, Vol. 50.
    1. Bindah E.V, & Othman Md. N. (2012), The Effect of Peer Communication Influence on The Development of Materialistic values among Young Urban Adult Consumers, International Business Research, Vol.5, No.3, 2-15.
    2. Choo, H., Chung, J.E. & Pysarchik, D.T.

    (2004), Antecedents to new food product purchasing behaviour amonginnovator groups in India, European Journal of Marketing, 38 (5/6), 608-625.

    1. Holak, S.L. &amp; Lehmann, D.R. 1990, Purchase intentions and the dimensions of innova-tion: An exploratory model, Journal of Product Innovation and Management, 7, 59-73.
    1. Hair, Joseph F., Anderson, Rolph E., Tatham, Ronald L. & Black, William C. (1998), Multivariate Data Analysis (5th), Prentice-Hall, Inc. Upper Saddle River, New Jersey.
    1. Keh, Hean Tat, Nguyen Thi Tuyet Mai, Hwei Ping Ng(2007), The efects of Entrepreneurial Ỏrientation and Marketing Information on the Performance of SMEs, Jounal of Business Venturing, 22, 592-611
    1. Jaruwachirathanakul, B., & Fink, D. (2005), Internet banking adoption strategies for a develop-ing country: The case of Thailand, Internet

    Research, 15(3), 295-311. Dois:10.1108/10662240510602708.

     

    1. Nguyen T Tuyet Mai, Smith K, Cao J (2009), Measurement of Modern and Traditional Self – Concepts in Asian Transitional Economies, Journal of Asia Pacific Bussiness, 10, 201 -220, 2009
    1. Tambyah S, Nguyen T T Mai, Jung K (2009), Measure status orientations: Scale development and validation in the contex of an Asian transitional econ-omy, Journal of Marketing Theory and Practice, 2009.
    1. Onkvisit S. & Shaw J. (1987), Self-concept and Image Congruence: Some Research and Managerial Implications, Journal of Consumer Marketing, Vol.4, No.1, 13-23.
    1. Pham Long, Đoan N P Anh (2014), Intention to Use E-Banking in a Newly Emerging Country, International Journal of Enterprise Information

    Systems, 10(2), 103-120, April-June 2014  103.

     

    1. Pham T Lan Hương (2014), Dự đoán ý định mua xanh của người tiêu dùng trẻ: Ảnh hưởng của nhân tố tâm lý và văn hóa, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 200, 2/2014, tr. 66-78.
    1. Wang, Y., Lin, H., & Tang, T. (2003), Determinants of user acceptance of Internet bank-ing: An empirical study, International Journal of Service Industry Management, 14(5), 501–519. doi:10.1108/09564230310500192.
    1. World Bank. (2018), Vietnam development report 2018: Pillars of development, Report No.VN. Washington, DC: World Bank.

    Summary

     

    Non-cash payment habits, including online pay-ment (Internet banking) are still unpopular in emerging countries like Vietnam despite its promi-nent features. Although there have been a few stud-ies examining the factors affecting the intention to use internet banking services, these studies only focus on those who have income. While the habit of using a service needs to be built and oriented basing on the behavior of recognizing the usefulness of the youth. Therefore, this study provides empirical evi-dence of the factors affecting the intention to use online payment services based on student surveys with a sample size of 228. Analysis results show that beside the effects of the widely-known factors in most of the existing studies including subjective standard factors and service usefulness, youth style is also a newly discovered element with positive and significant influence on the intention to use Internet banking. In addition, this study also implies some solutions from regression results and suggests future research directions.

     

    khoa học

     

    62   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU XUNG QUANH THÔNG BÁO MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BB%9Bi-quy-m%C3%B4-giao-d%E1%BB%8Bch-c%E1%BB%A7a-tr%C3%A1i-phi%E1%BA%BFu-doanh-nghi%E1%BB%87p-ni%C3%AAm-y%E1%BA%BFt.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUY MÔ GIAO DỊCH CỦA TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT

    Tần Thị Thu Hiền

    Viện Ngân hàng – Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân

    Email: [email protected]

    Đàm Văn Huệ

    Viện Ngân hàng – Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 13/08/2018                         Ngày nhận lại:     04/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • hị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) có vai trò quan trọng trong việc hình thành vốn dài hạn cho doanh nghiệp. Trong đó, thị trường trái phiếu thứ cấp có tác dụng tăng tính thanh khoản

    và xác định giá của các trái phiếu được phát hành trên thị trường sơ cấp. Từ đó, thị trường thứ cấp tạo ra động lực phát triển cho thị trường sơ cấp nói riêng và toàn bộ thị trường nói chung. Tại Việt Nam, quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói chung và thị trường thứ cấp nói riêng vẫn còn rất nhỏ bé. Điều này được thể hiện rõ nhất ở quy mô giao dịch hàng năm của các trái phiếu được niêm yết. Vì thế, xem xét các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch trái phiếu hàng năm là cơ sở để tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Nghiên cứu đã xây dựng mô hình kinh tế lượng về một số yếu tố tác động đến quy mô giao dịch của TPDN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả kiểm định cho thấy tuổi của trái phiếu, biến động lợi nhuận và quy mô phát hành là những yếu tố có tác động rõ rệt tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết.

     

    Từ khóa: trái phiếu doanh nghiệp, quy mô giao dịch, thời hạn phát hành, xếp hạng tín dụng

     

    1. Đặt vấn đề Giai đoạn 2012 – 2015, quy mô giao dịch chỉ vài Thị trường giao dịch TPDN còn manh mún, nhỏ nghìn tỷ, trung bình đạt trên 3,8 nghìn tỷ mỗi năm,

    lẻ và rất ít hoạt động so với thị

     

    Bảng 1

    : Giao dịch TPDN tại các Sở GDCK từ 2012 – 2017

     

    trường phát hành. Thanh khoản

     
       

    trên thị trường thứ cấp rất hạn chế,

               

    Naêm

    Soá laàn (laàn)

    Soá traùi phieáu (TP)

    Giaù trò (tyû ñoàng)

     

    với ít giao dịch được ghi nhận. So

       

    56

    25.638.260

    2.333

     

    với quy mô trái phiếu đã được phát

    2012

    hành, theo số liệu thống kê về giao

                 
     

    2013

    68

    44.689.440

    3.912

     

    dịch trên thị trường niêm yết, số

     
         

    49

    33.661.500

    3.218

     

    lượng giao dịch tại các Sở giao dịch

    2014

    (SGD) là rất thấp. Trong đó, không

                 
     

    2015

    120

    48.538.356

    4.990

     

    có trái phiếu nào được niêm yết và

     

    giao dịch trên SGD chứng khoán

    2016

    522

    102.133.469

    10.471

     

    Hà Nội (HNX) trong giai đoạn

                 
     

    2017

    1.313

    165.994.858

    17.212

     

    2012 – 2017. Trên SGD chứng

     

    khoán TP.HCM (HSX), cũng có rất

    Toång

    2.128

    420.655.883

    42.136

     

    ít giao dịch được ghi nhận.

         

    (Nguồn: HSX)

    10

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

    10

     

                       

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

    năm 2016 đạt trên 10 nghìn tỷ, trung bình 2016 –

             

    Giao dịch trên thị trường OTC cũng hầu như

    2017, mỗi năm có 7 nghìn tỷ giá trị TPDN giao dịch

    không có số liệu về giao dịch thứ cấp TPDN. Theo

    trên thị trường thứ cấp. Có thể thấy giai đoạn 2012

    Lê Thu Hà (2018) – chuyên viên phân tích của Công

    – 2015 là giai đoạn mà quy mô giao dịch TPDN rất

    ty chứng khoán Ngân hàng Vietcombank (VCBS),

    thấp, thể hiện ở số lượng trái phiếu giao dịch, số lần

    do phần lớn TPDN được nắm giữ bởi các ngân hàng

    giao dịch và giá trị giao dịch rất thấp. Sau đó, quy

    thương mại (NHTM) và thường được coi là các

    mô giao dịch có sự tăng vọt và đạt đỉnh vào năm

    khoản nợ thứ cấp nên các giao dịch mua bán ít được

    2017. Mặc dù có xu hướng tăng mạnh trong những

    thực hiện. Các nhà đầu tư chủ yếu nắm giữ đến khi

    năm gần đây, doanh số giao dịch vẫn còn rất nhỏ bé

    trái phiếu đáo hạn hoặc chuyển đổi thành cổ phiếu.

    tính trên quy mô trái phiếu hiện hành. Trong giai

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

           

    đoạn 2012 – 2017, tỷ lệ giá trị trái phiếu niêm yết

    Đã có nhiều nghiên cứu về phát triển thị trường

    được giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành luôn

    TPDN thứ cấp thông qua xem xét các yếu tố tác

    rất thấp, trung bình khoảng từ 0,1 – 0,6%. Trong

    động tới quy mô giao dịch của trái phiếu. Trong đó,

    hàng chục doanh nghiệp phát hành trái phiếu, chỉ có

    nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000) là

    28 trái phiếu của 10 doanh nghiệp có giao dịch,

    nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này. Những nghiên

    trong đó trái phiếu của VIC, BID, NVL được giao

    cứu sau đó của Hotchkiss và Jostova (2017) hay

    dịch nhiều nhất.

             

    Wahyudi và Robbi (2009) cũng có những kết luận

           

    Bảng 2: Khối lượng giao dịch

         

    tương tự. Theo đó, quy mô

     

    (Đơn vị: Trái phiếu)

                 

    giao dịch của TPDN niêm yết

                         

    bị tác động bởi khối lượng

     

    Traùi phieáu

    Naêm 2012

    Naêm 2013

    Naêm 2014

    Naêm 2015

    Naêm 2016

     

    Naêm 2017

    phát

    hành,

    thời

    hạn

    phát

     

    ANC11601

               

    10.954.771

     

    51.221.850

                   

    hành, rủi ro phá sản và biến

     

    BID1_106

    12.172.510

    22.325.460

    11.016.860

    23.342.580

    4.600.000

       
         

    động lợi nhuận của trái phiếu.

     

    BID1_206

    7.150.000

    14.358.900

    16.931.780

    3.403.000

         
           

    Theo Alexander và cộng

     

    BID10107

    3.311.000

                   
                     

    sự (2000),

    khối

    lượng

    phát

     

    BID10306

    1.900.000

    7.500.000

    5.700.000

    2.100.000

    12.300.600

       
         

    hành

    càng

    lớn thì

    quy

     

    CII1709

                   

    2.301.265

                     

    giao dịch của trái phiếu cũng

     

    CII11713

                   

    300.000

                         

    càng lớn. Nghiên cứu chỉ ra

     

    CII41401

           

    12.860

    72.860

    6.560

     

    2

     

    HCM_0507

             

    450.000

         

    rằng các nhà môi giới vẫn có

     

    HCM_0706

    840.000

                   

    thể dễ dàng quản lý danh mục

     

    HCMA0206

    260.000

    440.000

             

    đầu tư với quy mô lớn nên

     

    KBC11710

                   

    4.062.740

    việc nắm giữ càng nhiều trái

     

    MSN11718

                   

    549.450

    phiếu

    sẽ giúp các

    nhà

    môi

     

    NVL11605

                   

    9.196.883

                     

    giới giảm bớt chi phí quản lý

     

    NVL11708

                   

    1.700.163

                     

    hơn và làm giảm chi phí giao

     

    NVL11714

                   

    3.122.968

                     

    dịch cho các nhà đầu tư. Điều

     

    NVL11715

                   

    1.892.178

                     

    này sẽ trở

    thành động

    lực

     

    NVL21602

                   

    881.178

                     

    giúp

    trái phiếu

    được

    giao

     

    NVL21603

                   

    6.510

                     

    dịch thường xuyên hơn. Kết

     

    NVL21604

                   

    850.599

                     

    quả

    nghiên

    cứu

    của

     

    TDH41029

    4.750

    65.080

             
     

    VIC11501

             

    19.169.916

    22.010.298

     

    13.013.312

    Hotchkiss và Jostova (2017)

     

    VIC11502

               

    22.859.772

     

    14.161.363

    và Wahyudi và Robbi (2009)

     

    VIC11503

               

    12.165.413

     

    13.832.888

    đã củng cố thêm những kết

     

    VIC11504

               

    17.236.055

     

    19.636.972

    luận trên. Ngoài ra, thời hạn

     

    VIC11707

                   

    19.273.121

    phát hành hay “tuổi” của trái

     

    VIC11711

                   

    8.345.272

    phiếu cũng là yếu tố có tác

     

    VIC11716

                   

    1.646.144

                     

    động mạnh tới quy mô giao

                         
     

    Nguồn: HSX

                   

    dịch

    trái

    phiếu.

    Thông

                             

    khoa học

         
                                 

    11

                             

    thương mại

    Sè 128/2019

                       
                                         

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    thường, các trái phiếu được phát hành trong khoảng thời gian gần nhất sẽ được giao dịch thường xuyên nhất. Trái phiếu có tuổi càng lớn thì lại càng ít được giao dịch. Alexander và cộng sự (2000) giải thích rằng do trái phiếu là tài sản dài hạn có lãi suất tương đối ổn định nên sau khi phát hành, chúng sẽ thường nằm trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư thích nắm giữ đến khi đáo hạn hay trong thời gian dài. Theo thời gian, các nhà đầu tư này sẽ ngày càng có thêm nhiều TPDN khác và chỉ giao dịch một số lượng rất ít trái phiếu. Với số lượng trái phiếu giao dịch ít, các nhà môi giới đòi hỏi chi phí cao hơn và trái phiếu sẽ trở nên kém thanh khoản. Nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009) cũng chỉ ra rằng trái phiếu thường được giao dịch nhiều nhất trong 2 năm đầu tiên sau khi phát hành.

     

    Các nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009) cũng đều cho thấy các trái phiếu có mức độ rủi ro phá sản cao thường có tính thanh khoản thấp, ít được giao dịch hơn. Rủi ro phá sản là nguy cơ doanh nghiệp không thể trả hết các khoản nợ của mình. Rủi ro phá sản gia tăng trong các giai đoạn suy thoái, khủng hoảng, hoặc từ các cú sốc từ bên ngoài. Rủi ro phá sản càng cao, càng làm chùn bước các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư vào TPDN. Nghiên cứu của Harris và Raviv (1993) về mối quan hệ giữa giá và quy mô giao dịch của chứng khoán cho rằng 2 yếu tố này có mối quan hệ thuận chiều. Nghĩa là chứng khoán có biến động giá càng lớn sẽ càng được giao dịch nhiều hơn. Nguyên nhân do biến động giá phản ánh các ý kiến khác nhau của các nhà đầu tư. Nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000) đối với TPDN cũng cho kết quả tương tự là quy mô giao dịch tăng khi giá trái phiếu biến động nhiều hơn. Tuy nhiên, Hotchkiss và Jostova (2017) lại cho rằng trái phiếu có biến động lợi nhuận lớn lại ít được giao dịch hơn.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

    • Lựa chọn biến số

     

    Dựa trên lý thuyết nền tảng và mô hình nghiên

     

    cứu của Alexander và cộng sự (2000) và Hotchkiss và Jostova (2017), bài viết sẽ đi sâu vào xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm xem xét và đánh giá các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của các TPDN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

     

    Biến phụ thuộc

     

    Quy mô giao dịch trái phiếu được thể hiện qua nhiều phương diện, bao gồm: số lượng trái phiếu được giao dịch, số lượt giao dịch và giá trị trái phiếu được giao dịch (Alexander và cộng sự, 2000). Vì thế, quy mô giao dịch trái phiếu được đo lường bằng các biến số sau:

     

    • Số lần giao dịch bình quân trong năm
    • Số lượng trái phiếu giao dịch bình quân trong năm
    • Bình quân doanh số trong năm
    • Giá trị trái phiếu giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành

    Biến độc lập

     

    Như đã đề cập ở trên, có 4 biến độc lập chính tác động đến quy mô giao dịch trái phiếu của doanh nghiệp là:

     

    • Khối lượng phát hành đo lường bằng giá trị phát hành theo mệnh giá.
    • Thời hạn phát hành hay tuổi của trái phiếu là số năm từ khi phát hành. Thời hạn phát hành được gắn biến giả: = 1 nếu trái phiếu đang trong hai năm phát hành đầu tiên; = 0 nếu đã trên hai năm; = -1 nếu tại thời điểm đó trái phiếu chưa được phát hành.
    • Rủi ro phá sản đo lường bằng xếp hạng tín nhiệm của trái phiếu. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa thực hiện xếp hạng đối với trái phiếu nên tác giả sử dụng mức xếp hạng của doanh nghiệp tại thời điểm nghiên cứu.
    • Biến động lợi nhuận đo lường bằng chênh lệch của giá bình quân theo khối lượng giao dịch (Volume Weighted Average Price – VWAP) năm nay và năm trước.

    3.2. Cấu trúc dữ liệu và quy trình phân tích Số liệu của bài viết được thu thập trên cùng một

     

    số trái phiếu và tại các mốc thời gian khác nhau được gọi là số liệu mảng (panel data). Trong số liệu mảng, chỉ số i thường được dùng để chỉ cá thể (hộ gia đình, hãng, ngân hàng,…), i=1,2,..,n; và t là chỉ số thời gian, có thể là năm, tháng, tuần, ngày,…, t=1,2,…,T.

     

    Theo Nguyễn Thị Minh và cộng sự (2014), một mô hình số liệu mảng cơ bản có dạng như sau:

     

    Yit= β1 + β2X2it + + βkXkit+ci + γt + uit Trong đó: uit là sai số ngẫu nhiên thông thường,

     

    được giả định là thỏa mãn các điều kiện chuẩn tắc của phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square – OLS); ci thể hiện đặc trưng thay đổi theo thời gian, không quan sát được của mỗi cá thể,

     

    12

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Bảng 3: Cơ sở lựa chọn biến số nghiên cứu

    Tùy vào bản chất

                 

    của c

    3

    phương

    Bieán

     

    Chieàu taùc ñoäng

     

    Cô sôû

     

    i

           
                 

    pháp

    ước

    lượng

    Quy moâ giao dòch traùi phieáu

         

    Alexander vaø coäng söï (2000);

         

    bản

    phương pháp

               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    ước lượng OLS gộp

               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

               

    (Pooled

     

    OLS

    Khoái löôïng phaùt haønh

     

    +

     

    Alexander vaø coäng söï (2000);

     
               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    POLS),

    hình

    tác

               

    động

    ngẫu

    nhiên

               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

               

    (Random

     

    Effects

    Thôøi haïn phaùt haønh (Trong 2

     

    +

     

    Alexander vaø coäng söï (2000);

     

    naêm)

         

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    Model – REM) và mô

         

    hình tác động cố định

               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

             

    (Fixed Effects Model

    Ruûi ro phaù saûn

     

     

    Alexander vaø coäng söï (2000);

               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    – FEM).

           
               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

    Quy trình lựa chọn

    Bieán ñoäng lôïi nhuaän

     

    +/-

     

    Harris vaø Raviv (1993);

    để tìm mô hình phù

               

    Alexander vaø coäng söï (2000);

    hợp nhất với số liệu là

               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017).

    kiểm định sự tồn tại

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả

         

    của ci xem có tồn tại

         

    yếu tố ci không. Nếu

    γt là đặc trưng không quan sát được tại mỗi thời

       

    không tồn tại thì sử

    điểm quan sát và không có sự khác biệt giữa các cá

    dụng POLS và các hiệu chỉnh của nó. Nếu có tồn tại

    thể như điều kiện kinh tế vĩ mô của quốc gia khi

    c_i thì kiểm định về mối quan hệ tương quan giữa

    nghiên cứu doanh nghiệp hay các tỉnh, thành phố.

    yếu tố này và các biến độc lập. c_i có tương quan

    Tùy vào đặc tính của các yếu tố không quan sát

    thì mô hình tác động cố định (FEM) được lựa chọn,

    được này mà người ta đưa ra các phương pháp ước

    còn ngược lại thì sử dụng mô hình tác động ngẫu

    lượng khác nhau sao cho các hệ số ước lượng thu

    nhiên (REM).

               

    được là tốt nhất.

       

    Sơ đồ quá trình lựa chọn mô hình số liệu mảng:

    Xét bài toán không có yếu tố γt:

    Yit= β1+ β2X2it +        + βkXkit + ci + uit

     

     

    REM

    prob<0,1

    prob>0,1

     
     

    xttest0

    Hausman

     

    test

    POLS

    prob>0,1                                                 prob<0,1

     

     

    REM

         

    FEM

       
               
                     

    Nguồn: Nguyễn Thị Minh và cộng sự (2014)

     
       

    Sơ đồ 1: Quy trình lựa chọn mô hình số liệu mảng

     
                 

    khoa học

     
                   

    13

                 

    thương mại

    Sè 128/2019

             

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    3.3. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

     

    Có thể thấy Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt

    Mô hình các biến số và thang đo:

    Nam (BIDV), NoValand và Vingroup là các doanh

         

    Bảng 4: Biến số và thang đo

         

    nghiệp

    nhiều

    trái

                             

    phiếu

    niêm

    yết

    được

    Bieán soá

             

    Thang ño

     

    Teân bieán

    Ñôn vò

     

    giao dịch nhất. Đây cũng

    Quy moâ giao dòch

     

    Soá laàn giao dòch bình quaân trong naêm

    TIMES

    Giao dòch

     
       

    là những trái phiếu có

         

    Bình quaân soá löôïng traùi phieáu giao

     

    NBOND

    Traùi phieáu

     
             

    khối lượng

    phát

    hành

         

    dòch trong naêm

           
                 

    chiếm tỷ trọng lớn nhất

         

    Bình quaân doanh soá trong naêm

     

    TOVER

    Tyû ñoàng

     
             

    trong tổng các trái phiếu

         

    Giaù trò traùi phieáu giao dòch/Giaù trò traùi

    VOL

    %

     
           

    niêm yết.

       
         

    phieáu hieän haønh

               
                 

    Theo hình 1, có thể

    Khoái löôïng phaùt haønh

     

    Ln (Giaù trò phaùt haønh theo meänh giaù)

     

    LSIZE

    Nghìn ñoàng

     
         

    thấy các trái phiếu có

    Thôøi haïn phaùt haønh

    = -1 traùi phieáu chöa ñc phaùt haønh

     

    AGE

    Bieán giaû

     
       

    giao dịch trong giai đoạn

    Tuoåi cuûa traùi phieáu

     

    = 1 neáu phaùt haønh trong 2 naêm

           

    (Naêm töø khi phaùt haønh)

     

    = 0 neáu phaùt haønh treân 2 naêm

           

    2012

    –  2017  không

    Ruûi ro phaù saûn

    – Xeáp

    = 1 neáu xeáp haïng A

     

    RATING

    Bieán giaû

     

    nhiều, chủ yếu là những

    haïng tín duïng

       

    = 0 neáu xeáp haïng B

           

    trái phiếu mới được phát

    Bieán ñoäng lôïi nhuaän

     

    Cheânh leäch Gia ù bình quaân theo khoái

     

    DVWAP

    %

     

    hành từ năm 2015 trở về

    (Bieán thieân cuûa giaù)

     

    löôïng giao dòch (VWAP) naêm nay vaø

           

    đây và có kỳ hạn dưới 3

         

    naêm tröôùc

                 

    năm (CII, NVL, VIC).

    Mô hình dự kiến được xây dựng như sau:

           

    Những

    trái

    phiếu

    được

    phát hành từ lâu (trước 2007) có giao dịch trong giai

    TIMESit  = α0  + α1SIZEit  + α2AGEit  + α3

    đoạn này chủ yếu là những trái phiếu có kỳ hạn dài

    RATINGit + α4DVWAPit + ci + uit

    (1)

       

    trên 10 năm (BID, HCM).

           

    NBONDit   =  α01SIZEit2AGEit  +  α3

     

    Có thể chia xếp hạng tín dụng (XHTD) mỗi năm

    RATINGit + α4 DVWAPit+ci+uit (2)

    của các doanh nghiệp có trái phiếu niêm yết được

    TOVERit  = α0  + α1SIZEit  + α2AGEit  + α3

    giao dịch thành 3 nhóm: hạng A, hạng B và không

    RATINGit + α4DVWAPit + ci + uit

    (3)

       

    được xếp hạng. Việc thay đổi hình thức xếp hạng từ

    VOLit

    = α0

    + α1SIZEit + α2AGEit + α3

    năm 2016 là do trung tâm thông tin tín dụng (CIC)

    RATINGit + α4DVWAPit + ci + uit

    (4)

       

    sử dụng bộ tiêu chuẩn xếp hạng mới. Tuy nhiên, các

    Trong đó: i=1,2,..,28 (đại diện cho 28 trái phiếu

    tiêu chuẩn mới cũng không thay đổi quá nhiều về

    nghiên cứu), t = 2012, 2013,…, 2017.

    nội dung cơ bản so với bộ tiêu chuẩn cũ. Trong đó,

    Các giả thuyết nghiên cứu

         

    các doanh nghiệp trong nhóm có mức xếp hạng A là

    – Giả thuyết H1: Khối lượng phát hành có tác

    những doanh nghiệp có xác suất vỡ nợ rất thấp

    động thuận chiều tới quy mô giao dịch TPDN Việt

    (thường dưới 2%), xếp hạng B là những doanh

    Nam.

                   

    nghiệp có xác suất vỡ nợ thấp. Đối với công ty

    – Giả thuyết H2: Thời hạn phát hành càng lâu thì

    ANC, do công ty mới được thành lập vào năm 2014

    quy mô giao dịch TPDN Việt Nam càng nhỏ.

    nên năm 2012 và 2013 sẽ không có dữ liệu về

    – Giả thuyết H3: Rủi ro phá sản có tác động

    XHTD của doanh nghiệp. Còn công ty HCMA là

    ngược chiều tới quy mô giao dịch TPDN Việt Nam.

    công ty quản lý vốn Nhà nước nên không có hoạt

    – Giả thuyết H4: Biến

     

    Bảng 5: Thống kê mô tả các biến phụ thuộc

         
                                     

    động lợi nhuận có tác động thuận chiều/ngược chiều tới quy mô giao dịch TPDN Việt Nam.

    1. Kết quả nghiên cứu
    • Thống kê mô tả

    các biến

     

       

    Ñoä leäch

       
     

    Trung bình

    chuaån

    Giaù trò nhoû nhaát

    Giaù trò lôùn nhaát

    TIMES

    12,667

    37,806

    0,000

    244,000

    NBOND

    2503,904

    6554,663

    0,000

    51221,850

    TOVER

    250,806

    660,226

    0,000

    5211,648

    VOL

    0,311

    0,870

    0,000

    8,465

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

     

    14

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

     

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Hình 1: Diễn biến khối lượng phát hành TPDN

     

    động huy động vốn từ NHTM, không được CIC thực hiện XHTD.

     

    Bình quân của Giá bình quân theo khối lượng giao dịch (VWAP) cũng có xu hướng tăng mạnh theo thời gian, tương ứng với xu hướng tăng của số lượng trái phiếu giao dịch và giá trị giao dịch. Trong đó, tốc độ tăng mạnh nhất của giai đoạn này là từ hơn 99 nghìn đồng/trái phiếu năm 2016 lên hơn 192 nghìn đồng/trái phiếu năm 2017. Nguyên nhân do trong năm 2017 giá trị giao dịch cũng có tốc độ tăng mạnh, hơn 7.000 tỷ đồng so với năm 2016.

     

    4.2. Phân tích tương quan các nhóm biến

    Tác giả thực hiện kiểm định mối tương quan giữa các biến phụ thuộc và mối tương quan giữa biến phụ thuộc và biến độc lập. Các biến có mối quan hệ chặt chẽ khi hệ số tương quan lớn hơn 0,7 (Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh, 2013). Kết quả như sau: (Bảng 7)

     

    Có thể thấy hệ số tương quan giữa các biến phụ thuộc thấp nhất vẫn lớn hơn 0,5. Trong đó mối tương quan giữa các biến TIMES, NBOND và TOVER là rất chặt chẽ (hệ số

    Nguồn: Tính toán của tác giả

    tương quan đều lớn hơn 0,8), Mối

    Hình 2: Thống kê thời hạn phát hành và kỳ hạn trái phiếu

    tương quan giữa VOL và các biến

    của các doanh nghiệp

     

    Bảng 6: Thống kê xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp qua các năm

     

     

    STT

     

    Maõ CK

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    2017

       
     

    1

     

    ANC

    N/A

    N/A

    AA+

    AAA+

    A2

    A3

       
     

    2

     

    BID

    B+/B2

    B+/B2

    B+/B1

    B+/B1

    B+/B1

    B+/B1

       
     

    3

     

    CII

    BB+

    BB+

    BBB+

    BBB+

    A3

    B1

       
     

    4

     

    HCM

    AA+

    AA+

    AA+

    AA+

    A2

    A3

       
     

    5

     

    HCMA

    N/A

    N/A

    N/A

    N/A

    N/A

    N/A

       
     

    6

     

    KBC

    B-

    B-

    B-

    B-

    A3

    A3

       
     

    7

     

    MSN

    A+

    BBB+

    BBB+

    A+

    A3

    A3

       
     

    8

     

    NVL

    BBB+

    B-

    BB+

    BB+

    A3

    A2

       
     

    9

     

    TDH

    BBB+

    BBB+

    BBB+

    BBB+

    A2

    A2

       
     

    10

     

    VIC

    BBB+

    A+

    BBB+

    BB+

    A2

    A2

       

    Nguồn: CIC

                       
                       

    khoa học

     
                         

    15

                     

    thương mại

    Sè 128/2019

               

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

     

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Hình 3: Bình quân của VWAP (nghìn đồng/trái phiếu)

     

    Kết quả ước lượng như sau:

     

    Có thể thấy với xác suất đều bằng 0,000, các mô hình đều đáng tin cậy. Hệ số R2 cho thấy các biến độc lập giải thích được bao nhiêu phần trăm sự thay đổi của biến phụ thuộc (Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh, 2013). Kết quả của các mô hình (1), (2), (3) và (4) lần lượt là 39,79%, 60,48%, 57,60% và 25,77%. Còn lại sự thay đổi của các biến phụ thuộc được giải thích bởi các yếu tố khác.

     

    Mô hình (1) được ước lượng theo FEM, vì thế biến LSIZE – không thay

     

     

    Bảng 7: Tương quan của các biến phụ thuộc

     

    Bảng 9: Kết quả lựa chọn mô hình hồi quy với các

                             

    biến phụ thuộc

         
       

    TIMES

    NBOND

     

    TOVER

    VOL

                   
                                     

    TIMES

    1

               

    Bieán phuï thuoäc

    TIMES

    NBOND

    TOVER

    VOL

    NBOND

    0,822

    1

             

    Keát quaû

     

    TOVER

    0,842

    0,998

     

    1

         

    xttest0

       

    9,73

     

    18,17

    9,52

    1,15

    VOL

    0,531

    0,607

     

    0,617

    1

           

    0,0009

     

    0,000

    0,0010

    0,142

    Nguồn: Tính toán của tác giả

           

    Hausman

       

    10,25

     

    15,45

    6,67

    x

               

    0,0365

    0,0038

    0,1542

    x

    khác có mức độ thấp hơn nhưng vẫn có thể chấp

         
     

    Moâ hình öôùc löôïng

     

    FE

    FE

    RE

    POLS

    nhận được do hệ số tương quan đều lớn hơn 0,5.

     

    Nguồn: Tính toán của tác giả

         

    Điều này cho thấy các biến phụ thuộc này có mối

           

    tương quan chặt chẽ và đều có thể sử

       

    Bảng 10: Kết quả ước lượng 4 mô hình

     

    dụng để đo lường cho quy mô giao

         
                                 

    dịch của TPDN niêm yết.

     

    Bieán phuï thuoäc

    TIMES

    NBOND

     

    TOVER

     

    VOL

    Về tương quan giữa các biến phụ

    Moâ hình öôùc löôïng

    FE

    FE

       

    RE

     

    POLS

    thuộc và biến độc lập, hệ số tương

    R2 – within

           

    0,5990

    0,7592

     

    0,6013

     

    x

    quan đều nhỏ hơn 0,7, Điều này đảm

    R2 – between

           

    0,0124

    0,2465

     

    0,5075

     

    x

    bảo mô hình phù hợp do không có đa

    R2 – overall

           

    0,3979

    0,6048

     

    0,5760

    0,2577

    cộng tuyến (Nguyễn Quang Dong và

    Kieåm ñònh söï phuø hôïp

    50,79

    107,20

     

    231,60

     

    11,25

    Nguyễn Thị Minh, 2013).

     

    Prob

           

    0,000

     

    0,000

       

    0,000

     

    0,000

    4.3. Phân tích kết quả ước lượng

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    mô hình

         

    Kết hợp kết quả của bảng 9 và sơ đồ 1, mô hình

    đổi qua các năm – sẽ không có ý nghĩa, hay không

     

    (1) và (2) sẽ được ước lượng theo FEM, mô hình (3)

    có tác động tới biến phụ thuộc (Bảng 11).

     

    phù hợp với REM và mô hình (4) sẽ sử dụng POLS,

       

    Bảng 8: Tương quan của các biến phụ thuộc với biến độc lập

     

    Bieán phuï thuoäc

           

    Bieán ñoäc laäp

    TIMES

    NBOND

    TOVER

    VOL

    SIZE

    0,119

    0,169

    0,170

    -0,040

    AGE

    0,428

    0,431

    0,439

    0,446

    RATING

    0,285

    0,129

    0,145

    0,068

     

    0,239

    0,227

    0,235

    0,209

    DVWAP

    Nguồn: Tính toán của tác giả

    Bảng 11: Kết quả ước lượng mô hình (1)

     

    Bieán ñoäc laäp

    Heä soá öôù c löôïng

    Sai soá chuaån

    Möùc xaùc suaát

    LSIZE

    x

    x

    x

    AGE_2

    1,887

    0,400

    0,000

    AGE_3

    2,235

    0,313

    0,000

    RATING

    0,252

    0,211

    0,236

    DVWAP

    0,005

    0,003

    0,056

    CONS

    -0,203

    0,132

    0,128

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

     

    16

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    Biến AGE có 3 giá trị và là biến dùng để phân loại tuổi của các trái phiếu nên khi ước lượng mô hình sẽ chuyển thành các biến giả, cụ thể:

     

    üAGE_1 = 1 nếu là trái phiếu chưa phát hành tại thời điểm nghiên cứu, = 0 nếu là khác.

     

    üAGE_2 = 1 nếu là trái phiếu phát hành trên 2 năm tại thời điểm nghiên cứu, = 0 nếu là khác.

     

    üAGE_3 = 1 nếu là trái phiếu phát hành trong 2 năm tại thời điểm nghiên cứu, = 0 nếu là khác.

     

    Kết quả ước lượng cho thấy các biến AGE_2 và AGE_3 có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%, DVWAP có ý nghĩa mức 10%. Biến RATING không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10% do trên thực tế các doanh nghiệp phát hành trái phiếu đều là những doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), được đảm bảo khả năng thanh toán hay có rủi ro phá sản thấp. Theo kết quả ước lượng trong bảng 11, mô hình (1) về số lượng giao dịch trái phiếu được trình bày như sau:

     

    TIMES = – 0,203 + 1,887AGE_2 + 2,235AGE_3

     

    • 0,005DVWAP + e Trong đó:

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm

    (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

     

    TIMES = – 0,203 + 1,887 + 0,005DVWAP + e Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm

    (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

     

    TIMES = – 0,203 + 2,235 + 0,005DVWAP + e Có thể thấy được trái phiếu phát hành trong vòng

     

    2 năm sẽ có số lần giao dịch (TIMES) lớn hơn trái phiếu phát hành trên 2 năm. Đồng thời biến động lợi nhuận (DVWAP) cũng có tác động cùng chiều với số lần giao dịch.

     

    Bảng 12: Kết quả ước lượng mô hình (2)

     

    Bieán ñoäc

    Heä soá öôùc

    Sai soá

    Möùc xaùc

    laäp

    löôïng

    chuaån

    suaát

    LSIZE

    x

    x

    x

    AGE_2

    10,162

    1,381

    0,000

    AGE_3

    8,327

    1,081

    0,000

    RATING

    -0,104

    0,729

    0,887

    DVWAP

    0,063

    0,009

    0,000

    CONS

    -0,506

    0,457

    0,270

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Mô hình (2) cũng được ước lượng theo FEM, vì thế biến LSIZE sẽ không có ý nghĩa, hay không có tác động tới biến phụ thuộc. Kết quả ước lượng cho thấy các biến AGE_2, AGE_3, DVWAP đều có ý

     

    nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% và biến RATING không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Theo kết quả ước lượng trong bảng 12, mô hình (2) về số lượng trái phiếu giao dịch được trình bày như sau:

     

    NBOND = -0,506 + 10,162AGE_2 + 8,327AGE_3 + 0,063DVWAP + e

    Trong đó:

     

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

     

    NBOND = -0,506 + 10,162+ 0,063DVWAP + e Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm

    (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

     

    NBOND = -0,506 + 8,327+ 0,063DVWAP + e Tương tự mô hình (1), kết quả của mô hình (2)

     

    cũng cho thấy biến động lợi nhuận (DVWAP) có mối quan hệ thuận chiều với số lượng trái phiếu giao dịch. Tuy nhiên, trái với mô hình (1), kết quả của mô hình này cho thấy trái phiếu được phát hành trên 2 năm có số lượng trái phiếu được giao dịch lớn hơn các trái phiếu mới được phát hành. Nguyên nhân của sự khác biệt với mô hình (1) là do các trái phiếu BID của BIDV (là những trái phiếu có kỳ hạn dài, được phát hành từ năm 2006, 2007) có số lượng trái phiếu được giao dịch tương đối nhiều trong giai đoạn nghiên cứu, đạt tổng số là 148.112.690 trái phiếu – tương đương gần 40%. Đây cũng là giai đoạn mà những trái phiếu này sắp đến lúc đáo hạn.

     

    Bảng 13: Kết quả ước lượng mô hình (3)

     

    Bieán ñoäc

    Heä soá öôùc

     

    Sai soá

    Möùc xaùc

    laäp

    löôïng

     

    chuaån

    suaát

    LSIZE

    0,623

    0,140

    0,000

    AGE_2

    3,500

    0,475

    0,000

    AGE_3

    3,939

    0,543

    0,000

    RATING

    -0,494

    0,339

    0,145

    DVWAP

    0,017

    0,005

    0,000

    CONS

    -9,552

    2,207

    0,000

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Do mô hình (3) được ước lượng theo REM, biến LSIZE lúc này sẽ có ý nghĩa. Kết quả ước lượng cho thấy các biến LSIZE, AGE_2, AGE_3, DVWAP đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% và biến RATING không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Theo kết quả ước lượng trong bảng 12, mô hình (3) về bình quân doanh số được trình bày như sau:

    TOVER = -9,552 + 0,623LSIZE + 3,5AGE2 +

    3,939AGE3+ 0,017DVWAP + e

     

     

    khoa học

     
       

    17

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Trong đó:

           

    mức độ tương quan giữa biến phụ thuộc và biến độc

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm

     

    lập của mô hình (4) là thấp và tỷ lệ giá trị trái phiếu

    (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

           

    giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành (VOL) quá

    TOVER = -9,552 + 0,623LSIZE + 3,5 +

     

    thấp. Tuy nhiên, kết quả của mô hình này cũng cho

    0,017DVWAP + e

           

    thấy các trái phiếu được phát hành trong 2 năm có

    Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm

     

    giá trị giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành lớn

    (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

           

    hơn của những trái phiếu đã phát hành trên 2 năm.

    TOVER = -9,552 + 0,623LSIZE +

           

    Bảng 15: Tổng hợp kết quả 4 mô hình

     

    3,939+ 0,017DVWAP + e

                       

    Có thể thấy quy mô phát hành

     

    Bieán ñoäc

    Heä soá öôùc löôïng

    Heä soá öôùc löôïng

    Heä soá öôùc löôïng

     

    Heä soá öôùc löôïng

    (LSIZE) và biến động lợi nhuận

     

    laäp

     

    NTIMES

    NBOND

    TOVER

     

    VOL

     

    LSIZE

       

    x

    x

    0,623***

     

    -0,081*

    (DWAP) đều có tương quan thuận

           
     

    AGE_2

     

    1,887***

    10,162***

    3,500***

     

    0,499***

    chiều với doanh số giao dịch của

                   
     

    AGE_3

     

    2,235***

    8,327***

    3,939***

     

    1,439***

    TPDN. Đồng thời, tương tự với mô

                     
     

    RATING

     

    0,252

     

    -0,104

    -0,494

     

    -0,314**

    hình (1), kết quả ước lượng của mô

                     
     

    DVWAP

     

    0,005*

     

    0,063***

    0,017***

     

    -0,003**

    hình (3) cũng cho thấy các trái phiếu

     

    (Nguồn: Tính toán của tác giả)

         

    được phát hành trong vòng 2 năm có

           

    doanh số giao dịch nhiều hơn các trái

     

    Trong đó: *: có ý nghĩa mức 10%, **: có ý nghĩa mức 5%, ***:

    phiếu được phát hành trên 2 năm.

    có ý nghĩa mức 1%

           

    Bảng 14: Kết quả ước lượng mô hình (4)

     

     

    Bieán

    Heä soá öôùc

    Sai soá

    Möùc xaùc

     

    ñoäc laäp

    löôïng

    chuaån

    suaát

    LSIZE

    -0,081

    0,041

    0,052

    AGE_2

    0,499

    0,163

    0,003

    AGE_3

    1,439

    0,231

    0,000

    RATING

    -0,314

    0,133

    0,019

    DVWAP

    -0,003

    0,002

    0,089

    CONS

    1,398

    0,657

    0,035

    (Nguồn: Tính toán của tác giả)

     

    Mô hình (4) được ước lượng theo POLS, biến AGE_3 có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%, biến AGE_2 và RATING có ý nghĩa ở mức 5% và 2 biến còn lại có ý nghĩa ở mức 10%. Theo kết quả ước lượng trong bảng 13, mô hình (4) về giá trị trái phiếu niêm yết giao dịch trên giá trị trái phiếu phát hành:

     

    VOL = 1,398 – 0,081LSIZE + 0,499AGE_2 + 1,439AGE_3 – 0,314RATING – 0,003DVWAP + e

    Trong đó:

     

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

     

    VOL = 1,398 – 0,081LSIZE + 0,499– 0,314RATING – 0,003DVWAP + e

     

    Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

     

    VOL = 1,398 – 0,081LSIZE + 1,439– 0,314RATING – 0,003DVWAP + e

     

    Khác với các mô hình trên, biến LSIZE, RAT-ING và DVWAP có tác động ngược chiều tới biến phụ thuộc VOL. Điều này khá trái ngược với kết luận của ba mô hình trên. Nguyên nhân có thể do

    4.4. Thảo luận về kết quả nghiên cứu

    Từ kết quả nghiên cứu có thể nhận xét như sau:

    • Các lý thuyết về các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết cho thấy sự tương đồng và khả thi trong nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
    • Theo kết quả ước lượng của 4 mô hình trên, khối lượng phát hành, tuổi của trái phiếu, rủi ro phá sản và biến động lợi nhuận đều có tác động tới quy mô giao dịch TPDN. Trong đó:

    + Các trái phiếu được phát hành trong vòng 2 năm có số lần giao dịch, doanh số giao dịch và giá trị giao dịch trên giá trị hiện hành lớn hơn các trái phiếu được phát hành trên 2 năm. Điều này là tương đồng với các nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009). Tuy nhiên, trái ngược với các nghiên cứu trên, các trái phiếu được phát hành trên 2 năm lại có số lượng trái phiếu được giao dịch nhiều hơn.

     

    + Biến động lợi nhuận là yếu tố có tác động thuận chiều tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết. Điều này là tương đồng với các nghiên cứu của Harris và Raviv (1993) và Alexander và cộng sự (2000).

     

    + Không hòan toàn tương đồng với kết quả nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009), khối lượng phát hành có tác động thuận chiều với bình quân doanh số giao dịch và tác động ngược chiều tới giá trị giao dịch trên giá trị hiện hành của TPDN niêm yết.

     

    + Trái ngược với các nghiên cứu trước đó, rủi ro phá sản có tác động không rõ ràng tới quy mô giao

     

    18

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    dịch. Điều này có thể lý giải do đặc trưng tại Việt Nam không có XHTD đối với trái phiếu và những doanh nghiệp phát hành trái phiếu hầu hết đều là doanh nghiệp lớn hay DNNN, được đảm bảo về khả năng thanh toán.

     

    • Một số những hạn chế của nghiên cứu: (1) Phạm vi nghiên cứu mới chỉ gói gọn trong các TPDN được niêm yết trên sàn. Nếu so sánh với các giao dịch riêng lẻ thì quy mô giao dịch của các trái phiếu niêm yết là rất nhỏ bé, chưa hoàn toàn đại diện được cho quy mô của thị trường TPDN thứ cấp; (2) Số lượng biến độc lập là 4 biến, chưa phản ánh được đầy đủ các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết.
    1. Kết luận

    Thị trường TPDN nói chung và thị trường TPDN thứ cấp nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và nền kinh tế của một quốc gia. Việc tìm hiểu về các yếu tố tác động tới sự phát triển của thị trường trở thành vấn đề cấp thiết và tất yếu. Bài viết này đã xây dựng mô hình kinh tế lượng thể hiện cụ thể mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố tác động và quy mô giao dịch TPDN, đồng thời cho kết quả cụ thể về sự thay đổi của quy mô giao dịch TPDN khi các yếu tố thay đổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời hạn phát hành, biến động lợi nhuận, quy mô phát hành và rủi ro phá sản là những yếu tố có tác động tới quy mô giao dịch của các TPDN niêm yết tại Việt Nam trong thời gian qua. Trong đó, thời hạn phát hành là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất tới quy mô giao dịch trái phiếu. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, các trái phiếu được phát hành trong vòng 2 năm có quy mô giao dịch lớn hơn các trái phiếu được phát hành trên 2 năm. Vì thế, để tăng tính thanh khoản cho các TPDN niêm yết, các doanh nghiệp phát hành có thể tập trung vào phát hành những trái phiếu có kỳ hạn ngắn hơn, khoảng từ 3-5 năm. Ngoài ra, do đặc thù tại Việt Nam nên xếp hạng tín dụng không thể hiện mối quan hệ rõ ràng với quy mô giao dịch trái phiếu. Điều này không có nghĩa là không cần quan tâm tới yếu tố rủi ro phá sản của trái phiếu. Ngược lại, Nhà nước cần ban hành những quy định cụ thể về việc minh bạch thông tin và xếp hạng tín dụng trái phiếu. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư có cơ sở vững chắc hơn trong việc ra quyết định, tăng cường khả năng huy động vốn bằng trái phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng tính thanh khoản cho các trái phiếu đã được phát hành.

     

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Alexander Gordon J., Amy K. Edwards và Michael G. Ferri (2000), The determinants of trading volume of high-yield corporate bonds, Journal of Financial Markets, Số 3, Trang: 177 – 204.
    2. Harris Milton và Artur Raviv (1993), Differences of Opinion Make a Horse Race, The Review of Financial Studies, Số 6(3), Trang: 473-506.
    1. Hotchkiss Edith và Gergana Jostova (2017), Determinants of corporate bond trading: A compre-hensive Analysis, Quarterly Journal of Finance, Số 7(2), Trang: 1-30.
    1. Lê Thu Hà (2018), Báo cáo năm 2017: Trái phiếu doanh nghiệp, VCBS, Hà Nội.
    1. Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh

    (2013), Giáo trình Kinh tế lượng, Xuất bản lần thứ 2, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

     

    1. Nguyễn Thị Minh, Hoàng Bích Phương, Trịnh Trọng Anh, Vũ Duy Thành và Phạm Bảo Lâm (2014), Nhân khẩu học Việt Nam và một số vấn đề kinh tế xã hội, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội.
    1. Wahyudi Imam và Abdu Robbi (2009), Exploring Determinant Factors of Bond Trading with Inventory Management Theory (Case Study of Indonesian Capital Market, January – March 2009), Indonesian Capital Market Review, Trang: 87-108.

    Summary

     

    The corporate bond market plays an important role in forming long-term capital for businesses. Specifically, the secondary bond market stimulates liquidity and determines the prices of bonds issued on the primary market. Since then, the secondary market has created a driving force for the primary market in particular and the entire market in general. In Vietnam, the size of the corporate bond market in general and the secondary market in particular is still very small. This situation is obviously reflected in the annual trading extent of the listed bonds. Therefore, considering the factors affecting the annual bond trading volume is the basis for finding suitable solutions to promote the development of the market. The study has developed an econometric model on some factors affecting the trading scale of listed corporate bonds on Vietnam’s stock market. The test results show that the bond’s age, profit fluc-tuations and issuance volume are the factors that have a significant impact on the transaction of listed corporate bonds.

     

    khoa học

     

    Sè 128/2019                                                                                                                                   thương mại 19

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/IAS-41-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-V%C3%80-NH%E1%BB%AENG-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-%C4%90%E1%BA%B6T-RA-CHO-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-C%E1%BB%A6A-VI%E1%BB%86T-NAM-HI%E1%BB%86N-NAY.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Đoàn Vân Anh

    Trường Đại học Thương mại

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 19/03/2019                         Ngày nhận lại:     05/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • iệt Nam là đất nước nông nghiệp với đa dạng các loại hoạt động nông nghiệp, tuy nhiên những khuôn mẫu kế toán hiện nay của Việt Nam chỉ đặt trọng tâm cho các doanh nghiệp hoạt động sản

    xuất kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại, sản xuất, dịch vụ, xây lắp nói chung, gần như chưa có những khuôn mẫu về kế toán trong hoạt động nông nghiệp, những nội dung đã có thì quá sơ sài và không phù hợp với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán nông nghiệp. Hệ quả là việc xử lý, ghi nhận và trình bày thông tin không đảm bảo tính trung thực, đúng đắn, phù hợp với đối tượng kế toán là các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp cũng như tình hình và kết quả của quá trình hoạt động nông nghiệp của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam.

     

     

    Từ khóa: IAS 41, kế toán nông nghiệp.

     

    1.   Tổng quan nghiên cứu về kế toán nông nghiệp ở Việt Nam

     

    Về nghiên cứu kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp, đến nay có thể không nhiều các nghiên cứu đã công bố liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên cứu đã công bố cũng chỉ tập trung chủ yếu cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong nông nghiệp, có thể hệ thống các nghiên cứu đã công bố

     

    • Việt Nam về vấn đề này như sau: Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thái “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp” nghiên cứu CFSX và giá thành sản phẩm nói chung
    • khách thể nghiên cứu là các HTX nhỏ lẻ áp dụng theo hình thức khoán hộ thực hiện theo mô hình hợp tác xã; nghiên cứu của Đoàn Đình Thiêm “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước” tập trung vào nghiên cứu hoạt động chăn nuôi gia súc là lợn và bò ở các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các nghiên cứu này được thực hiện dựa trên nền của chế độ kế toán hiện đã không còn hiệu lực về pháp lý và khách thể nghiên cứu cũng đã có quá nhiều thay đổi về cơ chế vận hành cũng như

    quản lý tài chính. Nghiên cứu của Ngô Chí Giang “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn”, luận văn đã giải quyết được vấn đề bất cập trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn bằng các đề xuất liên quan đến những xử lý về kế toán đối với chi phí sản xuất giai đoạn chăn nuôi đàn gà bố mẹ trong thời kỳ hậu bị và đàn bố mẹ sau khi kết thúc giai đoạn hậu bị cũng như kế toán tập hợp chi phí sản xuất giai đoạn gia công gà thương phẩm. Các đề xuất này đều dựa trên khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “Tồn kho” nên chưa thực sự giải quyết được vấn đề một cách khoa học. Nghiên cứu của Thái Thị Thái Nguyên “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc”, đây là nghiên cứu tính thời sự hơn cả vì cũng đã tiếp cận đến quy định khuôn mẫu của quốc tế IAS 41 “Nông nghiệp” và được nghiên cứu cụ thể trong hoạt động chăn nuôi gia súc, tuy nhiên các đề xuất hoàn thiện của luận án vẫn dựa trên mô hình giá gốc để giải quyết

     

     

    khoa học

     
       

    63

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    63

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    trong hầu hết các vấn đề. Nghiên cứu của ThS. Hoàng Thụy Diệu Linh “Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế”, trong nghiên cứu này đã tổng hợp các khái niệm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về nông nghiệp (NN), tổng hợp một số các hướng dẫn kế toán của Việt Nam trong lĩnh vực trồng trọt, so sánh các quy định hiện hành với khuôn mẫu quốc tế và đưa ra các giải pháp cho kế toán hoạt động trồng trọt ở Việt Nam trên cơ sở đề xuất Việt Nam cần ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và cần phải sửa đổi quy định của Thông tư 200/2014 phù hợp với xu hướng quốc tế. Tuy nhiên nghiên cứu này được thực hiện ở cấp độ cần phân loại cây trồng thành cây mang sản phẩm (bao gồm cây lâu năm và cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần) và cây để tiêu thụ (cây ngắn ngày), bài viết chưa rõ những giải pháp cụ thể gì cho kế toán nông nghiệp Việt Nam.

     

    Nghiên cứu trên góc độ tổ chức thì có nghiên cứu của NCS Nguyễn Quốc Thắng, ĐHKTQT-2011 “Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam”, đây là nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực cây trồng, dưới góc độ tổ chức kế toán quản trị nên cũng không gắn với việc nghiên cứu khuôn mẫu chung của kế toán nông nghiệp.

     

    Trong chương trình hội thảo về chủ đề “Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam” do Bộ Tài chính tổ chức vào 22/2/2019 tại Hà Nội, Cục Quản lý giám sát Kế toán kiểm toán của Bộ tài chính trong “Báo cáo tổng hợp sự khác biệt cơ bản giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam, cơ chế tài chính và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS” đã tóm tắt sự khác biệt về

     

    có thể thấy các nghiên cứu thường chỉ tập trung cho hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và dựa trên nền tảng của nguyên tắc kế toán “giá gốc”, các nghiên cứu hoặc đã quá lỗi thời hoặc ít có tính kế thừa trong nghiên cứu này vì không tập trung giải quyết vấn đề khuôn mẫu nhằm hội nhập, hội tụ cao với quốc tế trong kế toán nông nghiệp hoặc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán IAS 41 “Nông nghiệp”, đồng thời nghiên cứu những quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp nói chung, từ đó thấy được những tồn tại trong kế toán Việt Nam hiện nay, hiểu được những vấn đề đặt ra, cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp ở Việt Nam là hoàn toàn cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

     

    2.   Khái quát về chuẩn mực kế toán quốc tế số 41 “Nông nghiệp”

     

    Chuẩn mực kế toán Quốc tế số 41 “Nông nghiệp” (IAS 41) được ban hành lần đầu bởi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) vào năm 2000, chuẩn mực kế toán này được đưa vào áp dụng tháng 1 năm 2003. Mục đích của chuẩn mực này là đưa ra các quy định phương pháp kế toán và trình bày thông tin liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Chuẩn mực này áp dụng để hạch toán các khoản liên quan đến hoạt động nông nghiệp là tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp vào thời điểm thu hoạch và trợ cấp của Chính phủ liên quan đến tài sản sinh học.

     

    Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản mục liên quan đến hoạt động nông nghiệp gồm tài sản sinh học; nông sản tại thời điểm thu hoạch; và trợ cấp chính phủ. Chuẩn mực này áp dụng cho sản phẩm nông nghiệp được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp và chỉ tại thời điểm thu hoạch.

     

    phương pháp ghi nhận đối với

    (1) Taøi saûn sinh hoïc

    (2) Saûn phaåm sinh hoïc

    (3) SF cheá bieán

     

    tài sản sinh học giữa Việt Nam

    Boø

    Söõa

    Phomai

     

    và quốc tế, từ đó nêu ra sự cần

    thiết Việt Nam phải ban hành

    Heo

    Thòt heo

    Xuùc xích

     

    chuẩn kế toán này để giúp các

    Caây cao su

    Muû cao su

    Goã

     

    doanh nghiệp hoạt động trong

    Caây nho

    Traùi nho

    Röôïu nho

     

    lĩnh vực nông nghiệp phản

           

    ánh đầy đủ, trung thực tài sản của mình theo thông

    Phạm vi của IAS 41 điều chỉnh cho các đối

    lệ quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ dừng lại

    tượng thuộc (1) và (2); còn (3) thuộc đối tượng điều

    ở việc nêu vấn đề có tính định hướng mở đường cho

    chỉnh của chuẩn mực kế toán khác liên quan như

    Việt Nam ban hành chuẩn mực kế toán “Nông

    chuẩn mực tồn kho,…

    nghiệp” trong tương lai.

    Trong đó:

    Từ những nghiên cứu tổng quan về các nghiên

    Hoạt động nông nghiệp là hoạt động quản lý bởi

    cứu đã công bố liên quan đến kế toán nông nghiệp,

    một doanh nghiệp trong lĩnh vực biến đổi sinh học

    64

    khoa học

     

    thương mại

       

    Sè 128/2019

             

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ

    Sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp.

     

    Thu hoạch là việc tách sản phẩm khỏi tài sản sinh học hoặc chấm dứt chu trình sống của sản phẩm sinh học.

     

    Tài sản sinh học là vật nuôi và cây trồng còn sống. Nhóm tài sản sinh học là một tập hợp các cây

    trồng và vật nuôi tương tự nhau và còn sống

     

    Biến đổi sinh học bao gồm các quá trình tăng trưởng, suy thoái, sản xuất và sinh sản mà tạo ra các thay đổi về chất lượng hoặc số lượng trong tài sản sinh học.

     

    Hoạt động nông nghiệp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, như chăn nuôi, trồng rừng, trồng cây hàng năm hay lâu năm, trồng cây ăn quả và cây công nghiệp, trồng hoa, nuôi trồng thủy sản. Các hoạt động nông nghiệp này có 3 đặc điểm cơ bản, đó là:

     

    Khả năng thay đổi: Động vật sống và thực vật có khả năng biến đổi về mặt sinh học như lớn lên, sản sinh ra động vật hay cây trái

     

    Quản lý sự thay đổi: Doanh nghiệp phải chủ động quản lý được sự thay đổi của các tài sản sinh học. Việc quản lý tạo ra sự biến đổi về mặt sinh học, ổn định và tạo các điều kiện cần thiết cho quá trình biến đổi sinh học diễn ra.

     

    Đo lường được sự thay đổi: Doanh nghiệp phải giám sát và đo lường được sự thay đổi về chất lượng hoặc số lượng phát sinh do quá trình biến đổi sinh học hoặc hoạt động thu hoạch diễn ra trong kì.

     

    Nội dung cốt lõi của chuẩn mực kế toán này quy định 5 vấn đề cơ bản sau:

     

    Thứ nhất, về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn sau:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản một cách tin cậy.

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận ban đầu tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    • Tài sản sinh học được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau ghi nhận ban đầu,

    tài sản sinh học được đánh giá theo giá trị hợp lý trừ chi phí để bán. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

     

    • Sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp sẽ được xác định theo các chuẩn mực kế toán liên quan tùy thuộc vào việc phân loại chúng như thế nào. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu của sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

    Trong đó, Chi phí bán hàng là chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc đưa sản phẩm đến tay người mua, không bao gồm chi phí tài chính và thuế thu nhập. Giá trị hợp lý là giá sẽ nhận được khi bán một tài sản hoặc được thanh toán một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có trật tự giữa các thành phần tham gia thị trường tại ngày xác định.

     

    Thứ ba, về đo lường giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp có thể được thực hiện bằng cách gộp những tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp theo nhóm căn cứ vào các thuộc tính quan trọng của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp đó; ví dụ như, căn cứ vào tuổi hay chất lượng. Doanh nghiệp lựa chọn các thuộc tính phù hợp với các thuộc tính được sử dụng trên thị trường làm cơ sở định giá. Các hợp đồng bán các tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp tại một ngày trong tương lai thì giá hợp đồng không là căn cứ để xác định giá trị hợp lý bởi giá trị hợp lý phản ánh các điều kiện thị trường hiện tại. Nếu tồn tại thị trường hoạt động của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, tại địa điểm và điều kiện hiện tại, giá niêm yết trên thị trường là căn cứ thích hợp để xác định giá trị hợp lý cho loại tài sản này. Nếu thị trường hoạt động không tồn tại, doanh nghiệp sử dụng giá giao dịch gần nhất hoặc giá thị trường của tài sản tương tự với điều chỉnh phù hợp để xác định giá trị hợp lý.

     

    Ngoài ra, chi phí trong một vài trường hợp có thể dùng để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp, cụ thể khi:

     

    (a) Khi có sự biến đổi sinh học rất ít kể từ khi phát sinh chi phí ban đầu – như cây ăn quả được trồng ngay trước thời điểm kết thúc kỳ báo cáo.

     

     

    khoa học

     
       

    65

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    • Khi tác động của biến đổi sinh học đến giá được coi là không trọng yếu – như thời kỳ tăng trưởng đầu của những cây được trồng có vòng đời dài.

    Đối với các tài sản sinh học gắn liền với đất, ví dụ như cây trồng sinh trưởng trên cánh đồng, khi không có thị trường riêng biệt cho tài sản sinh học gắn liền với đất, có thể tồn tại một thị trường năng động cho nhóm tài sản, tức là cho tài sản sinh học, đất và công tác cải tạo đất. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin về nhóm tài sản để xác định giá trị hợp lý cho tài sản sinh học. Theo đó, giá trị hợp lý của tài sản sinh học có thể bằng giá trị hợp lý của nhóm tài sản trừ đi giá trị hợp lý của đất và công tác cải tạo đất.

     

    Khi không thể xác định được giá trị hợp lý của các tài sản sinh học thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế. Sau đó khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng. Khi xác định giá gốc, hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế, doanh nghiệp cần xem xét những yêu cầu của IAS 2, IAS 16 và IAS 36 – Suy giảm giá trị tài sản.

     

    Thứ tư, về ghi nhận lãi lỗ:

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Một khoản lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu có thể xảy ra vì chi phí bán hàng đã được trừ đi khi xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học. Ngược lại, một khoản lãi cũng có thể phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu (ví dụ khi một con bê được sinh ra).

     

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với sản phẩm nông nghiệp được xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với nông sản có thể phát sinh từ việc thu hoạch.

     

    Thứ năm, về trình bày thông tin

     

    Doanh nghiệp phải trình bày và công bố thông tin trên các BCTC theo từng nhóm tài sản sinh học

    trên BCĐKT, thông tin về tổng lãi, lỗ phát sinh trong kỳ hiện hành khi ghi nhận ban đầu của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp và khi có sự thay đổi trong giá trị hợp lý trừ chi phí để bán của tài sản sinh học.

     

    3.   Khuôn mẫu kế toán và những bất cập hiện nay trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp của Việt Nam

     

    Nghiên cứu những quy định mang tính khuôn mẫu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, có thể nói những quy định hiện hành quá sơ sài, đơn giản và thiếu những cơ sở đo lường cần thiết cho những ghi nhận của kế toán nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán nông nghiệp: Việt Nam chưa ban hành

     

    Thứ hai, về hướng dẫn kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp:

     

    Chưa có chế độ kế toán hướng dẫn riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện kế toán nông nghiệp chỉ được hướng dẫn lồng ghép trong các hướng dẫn của chế độ kế toán doanh nghiệp nói chung. Cụ thể :

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, hiện chỉ có 2 nội dung quy định liên quan đến vấn đề nông nghiệp, đó là:

     

    – TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” áp dụng trong ngành nông nghiệp, quy định về một số nguyên tắc hạch toán trong ngành nông nghiệp cần chú ý như:

     

    + Tài khoản 154 áp dụng trong ngành nông nghiệp dùng để tập hợp tổng chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các hoạt động nuôi trồng, chế biến sản phẩm hoặc dịch vụ nông nghiệp. tài khoản này phải được hạch toán chi tiết theo ngành kinh doanh nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến,…), theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, đội sản xuất,…), chi tiết theo từng loại cây con và từng loại sản phẩm, từng sản phẩm hoặc dịch vụ.

     

    + Chi phí sản xuất ngành trồng trọt được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng như Cây ngắn ngày (lúa, khoai, sắn, cà chua, ngô,…); Cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần (nho, đu đủ…); Cây lâu năm (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn quả,…).

     

    • Chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí thì phải phân bổ vào giá thành của các loại sản phẩm liên quan như chi phí tưới tiêu nước, chi phí chuẩn bị đất và trồng mới năm đầu của những

    66

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    cây trồng một lần, thu hoạch nhiều lần (chi phí này không thuộc vốn đầu tư XDCB).

     

    Trên cùng một diện tích canh tác, nếu trồng xen từ hai loại cây nông nghiệp ngắn ngày trở lên thì những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến loại cây nào thì tập hợp riêng cho loại cây đó (như: hạt giống, chi phí gieo trồng, thu hoạch,…), chi phí phát sinh chung cho nhiều loại cây (chi phí cày bừa, tưới tiêu nước,…) thì được tập hợp riêng và phân bổ cho từng loại cây theo diện tích gieo trồng, hoặc theo một tiêu thức phù hợp.

     

    Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm nông nghiệp được xác định vào cuối vụ thu hoạch, hoặc cuối năm. Sản phẩm thu hoạch năm nào thì tính giá thành trong năm đó nghĩa là chi phí chi ra trong năm nay nhưng năm sau mới thu hoạch sản phẩm thì năm sau mới tính giá thành.

     

    Riêng đối với cây lâu năm thì ghi nhận như quá trình đầu tư xây dựng cơ bản và phản ánh vào TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Tuy nhiên, nội dung của TK 241 không đề cập gì đến vấn đề này.

     

    • Chi phí sản xuất ngành chăn nuôi được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng chăn nuôi như trâu, bò, lợn… súc vật con của đàn súc vật cơ bản sau khi tách mẹ phải mở sổ chi tiết theo dõi riêng theo giá thành thực tế; đối với súc vật cơ bản khi đào thải chuyển thành súc vật nuôi lớn, nuôi béo được ghi nhận vào TK 154 theo giá trị còn lại của súc vật cơ bản. Đối tượng tính giá thành trong ngành chăn nuôi là 1kg sữa tươi, 1 con bò tiêu chuẩn, giá thành của 1kg thịt tăng, giá thành của 1kg thịt hơi…

    – TK 211 “Tài sản cố định” quy định TK 2115 phản ánh “Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm”. Tài khoản này phản ánh giá trị các loại TSCĐ là các loại cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật nuôi để lấy sản phẩm. Đối với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con súc vật thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định đều được coi là một tài sản cố định hữu hình.

     

    Về xác định giá trị đối với TSCĐ là súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật từ lúc hình thành đến khi đưa vào khai thác, sử dụng và các chi phí khác trực tiếp có liên quan.

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư 133/2016/TT-BTC quy định hoàn toàn tương tự như trong TT 200/2014/TT-BTC. Tuy nhiên, TK 211 không quy định mở chi tiết cho

    đối tượng kế toán là TSCĐ Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm trong nông nghiệp.

     

    Trong chế độ kế toán áp dụng cho hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC. Hệ thống kế toán áp dụng cho các Hợp tác xã Nông nghiệp được hướng dẫn trong Thông tư này trên cơ sở Chế độ kế toán doanh nghiệp Nhỏ và Vừa ban hành kèm theo Thông tư 133/2016/TT-BTC và có sửa đổi bổ sung một vài tên gọi của TK để phù hợp với đặc thù hoạt động của HTX. Thông tư có hướng dẫn kế toán một số nội dung đặc thù của hợp tác xã như giao dịch giữa HTX với xã viên, giữa HTX với doanh nghiệp thuộc HTX, nội dung chi phí sản xuất của một số ngành nghề nông nghiệp, trong đó có sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Đối với các HTX có quy mô lớn, có nhiều giao dịch mà Thông tư này không có quy định thì được lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư số Thông tư 133/2016/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).

     

    Từ nghiên cứu về những khuôn mẫu kế toán nông nghiệp đã hệ thống ở trên, có thể thấy được những khác biệt trong kế toán sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam so với khuôn mẫu của quốc tế. Những khác biệt có tính trọng yếu này thể hiện những bất cập trong kế toán của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, được thể hiện trên các nội dung sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán:

     

    Việt Nam hiện chưa ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực liên quan đến giá trị hợp lý như chuẩn mực về “Giá trị hợp lý”, “Suy giảm giá trị tài sản”, “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của Chính phủ”. Bất cập này dẫn đến chưa có khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp cũng như thiếu những cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp; thiếu những khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý và khi được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận:

     

    Sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau

     

     

    khoa học

     
       

    67

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp. Việc sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” là không thích hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp bởi các thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã có thể ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, đã tạo ra những thu nhập hay chi phí (lãi/lỗ) cho doanh nghiệp. Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” khiến cho một doanh nghiệp nông nghiệp có thể không có bất cứ một khoản thu nhập nào được trình bày trên báo cáo cho đến khi thu hoạch sản phẩm (ví dụ như doanh nghiệp trồng rừng thu hoạch gỗ sau 30-40 năm).

     

    Thứ ba, về thông tư hướng dẫn kế toán trong nông nghiệp

     

    Hiện Việt Nam chưa có những hướng dẫn đủ cần thiết cho kế toán để ghi nhận các đối tượng kế toán và các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp, trong khi loại hoạt động này chứa đựng quá nhiều yếu tố đặc thù, phức tạp và nhiều rủi ro.

     

    • Không có khái niệm tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là sẽ không xác định được các đối tượng kế toán phù hợp phải được xử lý, ghi nhận theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Không quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là không phản ánh được kịp thời, đúng đắn và đầy đủ các tài sản của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đo lường các đối tượng kế toán trong nông nghiệp dựa trên chi phí thực tế phát sinh, không ghi nhận sự thay đổi giá trị do sự thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã phát sinh thu nhập, chi phí. Hệ quả không phản ánh đúng được tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra tên gọi của tài khoản phản ánh cho đối tượng kế toán là vườn cây, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, không có hướng dẫn kế toán về ghi nhận ban đầu, sau ghi nhận ban đầu, phương pháp khấu hao tài sản cố định cho đối tượng kế toán này. Hệ quả dẫn đến xử lý tùy tiện của kế toán, không đảm bảo tính thống nhất trong xử lý giao dịch giữa các doanh nghiệp nông nghiệp cùng loại hình.
    • Đối với hoạt động sản xuất trong nông nghiệp: Hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra những hướng dẫn

    chung cho tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà không có những hướng dẫn cụ thể thể hiện được tính đặc thù trong từng loại hoạt động cụ thể. Trên TK 154 quy định không rõ ràng, không phân biệt các hoạt động trong hoạt động chăn nuôi, các hoạt động trong hoạt động lâm nghiệp… hình thành nên những loại tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khác nhau, cách phân bổ những chi phí chung, chi phí nào được vốn hóa và chi phí nào không được vốn hóa vào tài sản sinh học. Hệ quả làm cho việc tính toán, đo lường, ghi nhận không phù hợp với bản chất của giao dịch, làm sai lệch thông tin về giá trị tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp.

     

    • Các khoản trợ cấp của Chính phủ trong các hoạt động nông nghiệp không được ghi nhận và cung cấp thông tin rõ ràng. Hệ quả không đo lường được thực tế kết quả hoạt động của doanh nghiệp do bản thân doanh nghiệp tạo ra hay từ những khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.
    • Về trình bày thông tin trên BCTC: Không quy định riêng về trình bày và thuyết minh thông tin đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp. Hệ quả người đọc báo cáo tài chính không có thông tin về những chính sách kế toán mà một doanh nghiệp nông nghiệp áp dụng đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp, cơ sở của những thông tin trình bày, công khai trên báo cáo tài chính nhưng đã không được công khai cho những người sử dụng thông tin.

    4. Những vấn đề cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay

     

    Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của nền kinh tế, theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, nông nghiệp Việt Nam đóng góp 15,34% vào GDP của cả nước. Với tính trọng yếu của ngành nông nghiệp, lĩnh vực kế toán nông nghiệp ngày càng trở nên quá quan trọng, cùng với những bất cập hiện nay trong kế toán nông nghiệp của Việt Nam, các khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp cần phải được sớm hoàn thiện để hội nhập quốc tế và dẫn đến hội tụ với các quy định khuôn mẫu kế toán nói chung.

     

    Từ những khác biệt có tính trọng yếu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay như sau:

     

    68

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    Thứ nhất, Ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực kế toán khác liên quan

     

    Bộ Tài chính Việt Nam cần sớm ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp để kế toán toàn bộ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được thực hiện theo khuôn mẫu từ quá trình ghi nhận, trình bày báo cáo và thuyết minh thông tin, đảm bảo phù hợp và hội tụ với thông lệ quốc tế. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” của quốc tế để ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” cho Việt Nam sẽ là cơ sở khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Và để có đủ các cơ sở pháp lý cho việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán nông nghiệp thì Việt Nam cần nghiên cứu và ban hành chuẩn mực kế toán liên quan đến giá trị hợp lý, đó là chuẩn mực về “Xác định giá trị hợp lý” làm căn cứ, cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời ban hành chuẩn mực “Suy giảm giá trị tài sản” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý thì tài sản sinh học được xác định theo giá gốc trừ đi hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế; chuẩn mực “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý khi doanh nghiệp được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, đề xuất áp dụng nguyên tắc ghi nhận theo “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp

     

    Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp là không phù hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp. Việt Nam sau khi đã ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp thì nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” sẽ được áp dụng trong kế toán nông nghiệp, theo đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ phản ánh trung thực và đầy đủ tài sản, quá trình hoạt động kinh doanh theo đúng thông lệ quốc tế.

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài

    sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    • Tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán áp dụng khi ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu trong quá trình tăng trưởng, suy thoái và sinh sản đến thời điểm thu hoạch sản phẩm nông nghiệp (trừ khi giá trị hợp lý không thể xác định một cách đáng tin cậy tại thời điểm ghi nhận ban đầu).
    • Sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán tại thời điểm thu hoạch.
    • Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong kì và phản ánh vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.
    • Toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

    Việc đo lường giá trị hợp lý trong nông nghiệp thường sẽ được thực hiện theo phương pháp tiếp cận thị trường vì các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp thông thường sẽ có giá tham chiếu trên thị trường ở từng thời điểm giao dịch.

     

    Thứ ba, về ban hành thông tư hướng dẫn kế toán nông nghiệp

     

    Việt Nam cần có những hướng dẫn cần thiết cho kế toán để phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán và ghi nhận các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp. Khi Việt Nam chưa ban hành được chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” thì cần có những hướng dẫn chi tiết cụ thể theo hướng tiếp cận với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán trong nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    (1) Về khái niệm và phân loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    • Bổ sung trong hướng dẫn kế toán các khái niệm có liên quan trong nông nghiệp như khái niệm tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, thu hoạch, biến đổi sinh học….từ đó sẽ xác định rõ ràng các đối tượng kế toán nào chịu sự điều chỉnh theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Cần phải phân loại các tài sản sinh học, trên cơ sở đó xác định được các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp để đưa ra những quy định về ghi nhận kế
     

    khoa học

     
       

    69

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    toán đối với từng loại tài sản sinh học, đảm bảo phản ánh đúng bản chất của giao dịch và tính khoa học của vấn đề. Cụ thể như sau :

     

    Đối với tài sản sinh học, căn cứ vào vòng đời sử dụng của tài sản có thể chia thành:

     

    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì không còn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó nữa. Ví dụ như cây lúa, cây rau, các vật nuôi lấy thịt…
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được. Ví dụ như trồng cây sau 20-30 năm để lấy gỗ, sau khi lấy gỗ thì không tồn tại cây trồng đó nữa.
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì vẫn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó. Ví dụ cây cam, cây bưởi, cây cao su, nuôi bò lấy sữa, bò sinh sản…

    (2) Xác định các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp với từng loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    Từ những phân loại tài sản sinh học nêu trên, có thể xác định các chuẩn mực kế toán chi phối để có những hướng dẫn kế toán phù hợp

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được thì khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và chỉ thu hoạch tài sản sinh học sau rất nhiều năm thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch (ví dụ cây bắt đầu cho trái theo tiêu chuẩn, bò bắt đầu cho sữa theo tiêu chuẩn…) thì các tài sản sinh học này nếu thỏa mãn

    các điều kiện là một tài sản cố định thì từ thời điểm đó phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”, xác định đơn vị tài sản hữu hình phù hợp với từng loại, từng nhóm vật nuôi cây trồng, ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu phù hợp với quy định của chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”.

     

    Đối với sản phẩm nông nghiệp: các sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” tại thời điểm thu hoạch. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp nếu đem vào chế biến hoặc tiêu thụ thì áp dụng chuẩn mực kế toán “tồn kho”, “Doanh thu và thu nhập khác”…

     

    • Quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Bổ sung quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở thỏa mãn điều kiện ghi nhận một tài sản nói chung trong VAS 01 “Chuẩn mực chung”. Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp một cách tin cậy.

    (4) Hướng dẫn về xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    Ban hành những quy định về các phương pháp xác định giá trị hợp lý, hạ tầng thông tin để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp phải xác định giá trị của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng vì giá trị hợp lý của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch thông thường có thể xác định một cách đáng tin cậy.

     

    Nếu không có giá niêm yết trên thị trường cho tài sản sinh học và các phương pháp đo lường giá trị hợp lý khác cho tài sản sinh học được coi là không tin cậy thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm

     

    70

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    lũy kế. Sau đó, khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng.

     

    • Hướng dẫn về ghi nhận kế toán tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    5.1. Ghi nhận kế toán đối với tài sản sinh học

     

    – Ghi nhận ban đầu tài sản sinh học: căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của tài sản sinh học, kế toán ghi tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập.

    – Sau ghi nhận ban đầu:

     

    + Các chi phí bỏ ra trong quá trình nuôi, trồng kế toán ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

     

    + Thay đổi giá trị hợp lý so với thời điểm ghi nhận ban đầu trừ đi chi phí bán hàng, nếu chênh lệch tăng lên kế toán tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập, nếu chênh lệch giảm xuống kế toán ghi giảm giá trị tài sản sinh học và tăng chi phí trong kỳ. Thu nhập và chi phí này được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.

     

    5.2. Ghi nhận kế toán đối với sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học

    Căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch, kế toán ghi tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp và tăng thu nhập.

     

    5.3 Ghi nhận kế toán đối với hoạt động nông nghiệp

     

    – Kế toán phải tách hoạt động chế biến ra khỏi những hướng dẫn kế toán liên quan đến hoạt động nông nghiệp vì hoạt động chế biến được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Tồn kho” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá gốc” để đo lường chi phí hình thành nên sản phẩm, trong khi các hoạt động nông nghiệp được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá trị hợp lý” để đo lường sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp.

     

    – Trong kế toán hoạt động nông nghiệp, cần có những hướng dẫn về ghi nhận đối với các loại hoạt động nông nghiệp khác nhau, cụ thể như ghi nhận chi phí đối với hoạt động chăn nuôi phải phân biệt

    giữa gia súc và gia cầm, xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại gia súc; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động lâm nghiệp phải phân biệt giữa cây ngắn ngày và cây lâu năm; xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại cây lâu năm; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản phải xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai…

     

    • Ghi nhận kế toán đối với các khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp

    Các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp nhằm mục tiêu khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này tham gia tích cực và có hiệu quả, hoặc thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực hoạt động nông nghiệp. Các khoản trợ cấp này có thể có điều kiện hoặc không có điều kiện. Việc ước tính, đo lường, xác định giá trị khoản trợ cấp của chính phủ cũng như cách thức ghi nhận khoản trợ cấp của chính phủ phải được tuân thủ dựa trên cơ sở áp dụng chuẩn mực kế toán “Trợ cấp của chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ”.

     

    Khi phát sinh các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp, căn cứ vào giá trị của các khoản trợ cấp, kế toán ghi tăng tài sản và ghi tăng thu nhập của doanh nghiệp.

     

    • Cần có những hướng dẫn về xác định mức dự phòng rủi ro và ghi nhận kế toán đối với dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp

    Những rủi ro trong hoạt động nông nghiệp là vô cùng nhiều do hoạt động nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên tai, dịch bệnh. Vấn đề dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải đặt ra như một vấn đề cần thiết khách quan. Cơ chế dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải được thiết lập, những xử lý về mặt kế toán cần được xây dựng đảm bảo phù hợp với khuôn mẫu chung.

     

    • Về trình bày và công bố thông tin đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên báo cáo tài chính

    Bổ sung vào quy định về trình bày và công bố thông tin đối với doanh nghiệp nông nghiệp những thông tin sau:

     

     

    khoa học

     
       

    71

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    – Thông tin trình bày tài sản sinh học:

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần thì phải được trình bày ở mục tài sản ngắn hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được và nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch thì phải được trình bày ở mục tài sản dài hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.

    – Công bố thông tin về phương pháp, căn cứ xác định giá trị hợp lý của các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp ở thời điểm thu hoạch.

     

    Kết luận:

     

    Trên đây là những nghiên cứu về khuôn mẫu của quốc tế và quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, từ đó trao đổi về những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp Việt Nam hiện nay, nhằm đưa kế toán Việt Nam nói chung và kế toán nông nghiệp nói riêng hội nhập, dần hội tụ với thông lệ chung của quốc tế về kế toán. Bài viết này sẽ tiếp nối cho nhiều nghiên cứu tiếp theo của bản thân tác giả và cho những ai quan tâm đến lĩnh vực kế toán nông nghiệp.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2000, IAS 41 Agriculture, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2014, Amendments to IAS 16 and IAS 41, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. Quốc Hội, Luật Kế toán số 88/2015/QH13.

     

    1. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 200/2014.
    2. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 133/2016.
    3. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC.
    1. Nguyễn Quốc Thái, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1983 “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp”.
    1. Đoàn Đình Thiêm, Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1995.
    1. Nguyễn Quốc Thắng, Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-2011.
    1. Ngô Chí Giang, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn, Luận văn cao học, ĐH Thương mại-2017.
    1. Thái Thị Thái Nguyên, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐH Thương mại – 2019.
    1. Hoàng Thụy Diệu Linh, Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán (5/2018)
    1. Bộ Tài chính, Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam, tài liệu hội thảo ngày 22/2/2019
    1. Tổng cục thống kê, Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội năm 2017, http://www.gso.gov.vn.

    Summary

     

    Vietnam is an agricultural country with a variety of agricultural activities; however, the current accounting patterns of Vietnam only focus on busi-nesses operating in the commercial, production, service, construction fields in general, there are almost no accounting standards in agricultural activities, the existing contents are too sketchy and do not conform to international standard of agricul-tural accounting. Consequently, the processing, recording and presentation of information does not guarantee the truthfulness, correctness, and rele-vance to the accounting objects of biological assets, agricultural products as well as the situation and results of agricultural operations of Vietnamese agricultural enterprises.

     

    khoa học

     

    72   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-T%C3%8DCH-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-NH%C3%82N-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-T%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-T%C3%81I-C%C6%A0-C%E1%BA%A4U.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

     

    Lê Thanh Phương

     

    Trường đại học Hàng hải Việt Nam

     

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận:  19/02/2019                        Ngày nhận lại:     06/03/2019               Ngày duyêt đăng: 12/03/2019

     

    • ài báo đi sâu phân tích một số nhân tố bên trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể tác động tới hiệu quả sinh lời của các ngân hàng trong giai đoạn tái

    cơ cấu. Sử dụng mô hình hồi quy với dữ liệu từ 2011 đến 2015, tác giả chỉ ra các nhân tố bao gồm cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, mức độ nợ xấu và quy mô tài sản có tác động đáng kể tới khả năng sinh lời các ngân hàng. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống NHTM.

     

    Từ khóa: hiệu quả tài chính, tái cơ cấu, ngân hàng thương mại.

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Các ngân hàng thương mại Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt đối với khu vực tài chính nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Hệ thống các NHTM đã và đang là trụ cột của hệ thống tài chính khi là kênh huy động và cung ứng vốn chủ đạo phục vụ tăng trưởng kinh tế. Theo chiến lược phát triển thị trường tài chính đến năm 2020, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu phải đạt mức 70% GDP, tuy nhiên tính đến cuối năm 2015 mới đạt 34%. Đến năm 2020, dư nợ thị trường trái phiếu phải đạt 38% GDP nhưng tính đến năm 2015 mới đạt mức 24,6%. Với sự phát triển

    thiếu cân bằng của thị trường tài chính, đến nay hệ thống ngân hàng cùng với các tổ chức tín dụng khác đang chiếm tới 96% tổng giá trị tài sản của hệ thống tài chính (UBGSTCQG, 2016). Do đó, hiệu quả hoạt động khu vực ngân hàng đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia. Giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO chứng kiến sự phát triển nóng của toàn hệ thống song không đi liền với nâng cao hiệu quả và chất lượng quản trị. Hệ quả là chất lượng tài sản và tín dụng các ngân hàng thương mại giảm sút, nợ xấu tăng cao.

     

     

    khoa học

     
       

    15

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Nhận thức được tính cấp thiết của việc cơ cấu lại hệ thống TCTD, NHNN đã chủ động yêu cầu toàn ngành Ngân hàng phát huy nội lực để triển khai các biện pháp cơ cấu lại ngay khi Đề án được ban hành. NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 454/QĐ-TTg ngày 13/03/2013 và Quyết định 363/QĐ-TTg ngày 11/03/2014 thành lập Ban chỉ đạo liên ngành triển khai Đề án. Về phía ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2012 về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng, làm cơ sở để triển khai thực hiện Đề án. Trên cơ sở đó và trước áp lực từ phía thị trường, bản thân các NHTM cũng chủ động xây dựng và triển khai đề án tái cơ cấu cho riêng mình.

     

    Giai đoạn 2011-2015, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực hiện đề án tái cơ cấu theo quyết định 254 ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ với nhiều biện pháp như: yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng vốn; đưa các ngân hàng cổ phần yếu kém vào diện kiểm soát và bảo đảm thanh khoản; cho phép sáp nhập và mua lại; NHNN mua lại các ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng; xử lý nợ xấu và thành lập công ty quản lý tài sản (VAMC). Các biện pháp đã nêu có tác động lớn tới hệ thống NHTM trong ngắn hạn cũng như dài hạn, đặc biệt là khả năng sinh lời của các ngân hàng. Các biện pháp tái cơ cấu đòi hỏi các NHTM phải tuân thủ các quy định chặt chẽ hơn trong cho vay, giới hạn tăng trưởng tín dụng bị giảm, nợ xấu phải được giải quyết dựa trên cơ sở trích lập dự phòng rủi ro tín dụng… chính những điều này tác động không nhỏ tới lợi nhuận và khả năng sinh lời các NHTM.

     

    Nghiên cứu các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của NHTM sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách bao gồm Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đề ra các chính sách nhằm gia tăng năng lực hoạt động và khả năng sinh lời của các ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng giúp các nhà quản trị ngân hàng nhận biết các nhân tố bên trong hệ thống NHTM có thể tác động tới hoạt động và khả năng sinh lời, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả tài chính hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay.

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

    Nghiên cứu về hệ thống ngân hàng Việt Nam thu hút tương đối nhiều các tác giả với các nội dung liên quan tới tác động của tự do hóa tài chính đến các NHTM, nghiên cứu về năng suất và hiệu quả hệ thống, tác động của rủi ro tín dụng tới hoạt động các ngân hàng.

     

    Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2007) về hiệu quả và năng suất của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ 2001 – 2003 với 13 ngân hàng. Sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu, tác giả phát hiện hiệu quả chi phí trung bình là 60.6%. Chỉ số năng suất Malmquist giảm qua các năm. Các kết quả dựa trên quy mô mẫu tương đối nhỏ và khung thời gian ngắn, do đó độ tin cậy trong các kết quả không cao.

     

    Nguyễn Hồng Vinh (2012) sử dụng kỹ thuật phân tích bao dữ liệu giản đơn để đo lường hiệu quả và năng suất của các ngân hàng giai đoạn 2007-2010, sử dụng mẫu gồm 20 ngân hàng. Tác giả cho rằng hiệu quả liên tục tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Tuy nhiên, phần phân tích các nhân tố tác động tới hiệu quả và năng suất các ngân hàng chưa được đề cập.

     

    16

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    Tác giả Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2013) ước lượng hiệu quả của khu vực ngân hàng Việt Nam sử dụng mẫu gồm 32 ngân hàng giai đoạn 2001-2005. Sử dụng mô hình Slack-based DEA với giả thiết hiệu suất thay đổi theo quy mô (VRS). Điểm hiệu quả trung bình ở mức 80% và có xu hướng tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Bên cạnh đó một số nhân tố tác động tới hiệu quả các ngân hàng bao gồm: dạng sở hữu, quy mô, chất lượng lao động và thị phần, được xem xét thông qua mô hình hồi quy Tobit.

     

    Võ Xuân Vinh (2015) phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) và hiệu quả quy mô (SE) theo biến số tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng hiệu quả theo quy mô có tác động đáng kể tới tỷ suất sinh lời của cổ phiếu.

     

    Nguyễn Phương Anh và Michel Simioni (2015) sử dụng chỉ số Färe-Primont để đo lường năng suất khu vực ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2008-2012. Kết quả chỉ ra rằng khu vực ngân hàng chịu sự suy giảm năng suất mặc dù có nhiều đổi mới công nghệ quan trọng. Sự suy giảm về hiệu quả theo qui mô và hiệu quả theo phạm vi là nguyên nhân cơ bản dẫn tới suy giảm năng suất của các ngân hàng.

     

    Các nghiên cứu về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng:

     

    Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hướng tới ba mục tiêu bao gồm: 1) tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống; 2) cải thiện năng lực của các tổ chức tài chính và 3) phục hồi niềm tin của công chúng (Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, 2014). Các nghiên cứu về quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân

     

    hàng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.

     

    William và Nguyễn Nghĩa (2005) nghiên cứu tác động của thay đổi quản trị lên hiệu quả ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn từ 1990 đến 2003, giai đoạn chứng kiến quá trình tự do hóa hệ thống ngân hàng, khủng hoàng tài chính Châu Á và các chương trình tái cấu trúc. Nghiên cứu khẳng định tác động tích cực của chương trình tư nhân hóa và sở hữu nước ngoài lên hiệu quả các ngân hàng.

     

    Banker và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của cải cách hệ thống ngân hàng lên năng suất các ngân hàng tại Hàn Quốc giai đoạn 1996-2005. Nghiên cứu chỉ ra rằng những thay đổi liên quan tới cấu trúc vốn và quản lý rủi ro tác động khác nhau tới năng suất hệ thống và những thay đổi này có tác động đáng kể tới các ngân hàng có ưu thế về vốn và nhận ưu đãi từ phía chính phủ.

     

    Hệ thống ngân hàng Việt Nam được tái cấu trúc từ năm 2011 theo Quyết định 254 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của chương trình tái cấu trúc còn rất hạn chế và chỉ dừng ở mức định tính (như nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, 2014). Đề xuất nghiên cứu của chúng tôi đi tiên phong trong việc đánh giá một cách định lượng với bằng chứng khoa học về tác động của các biện pháp tái cấu trúc lên hoạt động của hệ thống ngân hàng. Kết quả của nghiên cứu sẽ mang đến cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý ngân hàng và công chúng một đánh giá khách quan về tác động của các biện pháp tái cấu trúc đã thực hiện.

     

     

    khoa học

     
       

    17

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    3. Các nhân tố tác động tới hiệu quả tài chính các NHTM

     

    Các biện pháp trong giai đoạn tái cơ cấu tác động đáng kể tới hoạt động NHTM, làm thay đổi cấu trúc nguồn vốn và cơ cấu nợ của NHTM. Bên cạnh đó, cấu trúc tài sản, quy mô tài sản của NHTM cũng thay đổi đáng kể khi mà hoạt động cho vay bị kiểm soát chặt chẽ hơn, do đó việc đa dạng hóa danh mục tài sản nhằm giảm tỷ trọng tài sản cho vay và tăng khả năng sinh lời là hướng ưu tiên của các ngân hàng.

     

    Những thay đổi kể trên trong hoạt động của hệ thống ngân hàng tác động ra sao tới khả năng sinh lời của các ngân hàng? Điều này cần phải được làm rõ thông qua xây dựng các biến đại diện (proxy) và mô hình hồi quy thích hợp (regression models).

     

    Để phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, hai biến bao gồm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) được sử dụng trong nghiên cứu. Các biến đại diện cho sự thay đổi trong hoạt động của các ngân hàng giai đoạn tái cơ cấu bao gồm:

     

    (1) Thay đổi trong cấu trúc vốn (Equity on Asset ratio_EA): biến đại diện EA cho biết trong tổng quy mô nguồn vốn, bao nhiêu phần trăm thuộc về chủ sở hữu ngân hàng. Khi giá trị EA tăng thì khả năng chống đỡ với những rủi ro mất vốn cũng tăng lên, tuy nhiên biến này chịu ảnh hưởng lớn từ biến động trên thị trường chứng khoán. Nếu thị trường tăng trưởng tốt, các NHTM sẽ phát hành thêm cổ phiếu và việc gia tăng EA sẽ dễ dàng hơn và ngược lại. Mối quan hệ giữa EA và khả năng sinh lời được xem là thuận chiều, bởi khi EA tăng sẽ có nhiều cổ đông tham gia vào ngân

     

    hàng do đó làm gia tăng sự kiểm soát đối với hoạt động của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc, từ đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động điều hành ngân hàng.

     

    • Thay đổi trong cấu trúc tài sản (Loan on Asset ratio_LA): biến đại diện LA cho biết trong tổng quy mô tài sản có bao nhiêu phần trăm là các khoản cho vay. Hoạt động cho vay được xem là hoạt động kinh doanh truyền thống của NHTM, tuy nhiên phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động này nhằm tạo lợi nhuận sẽ dẫn tới gia tăng rủi ro về nợ xấu. Các biện pháp tái cơ cấu đòi hỏi các ngân hàng phải thận trọng hơn trong cho vay đồng thời đi kèm các biện pháp kiểm soát và xử lý các khoản nợ xấu. Các ngân hàng trong giai đoạn tái cơ cấu nếu đa dạng hóa danh mục tài sản và từ đó làm giảm tỷ lệ LA được kỳ vọng sẽ có khả năng sinh lời cao hơn.
    • Tỷ trọng chi phí trích lập rủi ro tín dụng trên tổng quy mô nợ (Loan-loss Provisioning Cost on Total Loan_LP): biến LP cho biết mức độ nợ xấu trên tổng quy mô cho vay của ngân hàng. Ngân hàng có mức độ nợ xấu càng cao thì tỷ lệ LP càng lớn và làm xói mòn khả năng sinh lời của các NHTM.
    • Quy mô tài sản (Log of Total Asset_LogA): biến logA phản ánh quy mô tài sản dưới dạng logarit. Theo lý thuyết kinh tế về hiệu suất theo quy mô, quy mô tài sản càng lớn khả năng sinh lời càng cao do tiết kiệm các khoản định phí. Bên cạnh đó, trong hoạt động ngân hàng quy mô tài sản càng lớn thì khả năng đa dạng hóa danh mục cho vay sẽ tốt hơn và do đó làm giảm rủi ro tín dụng. Vậy biến LogA được kỳ vọng có

    18

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM.

     

    Căn cứ vào các biến đại diện được xác

     

    định ở trên, các mô hình hồi quy được xây

     

    dựng như sau:

     

    Mô hình 1:

     

    ROE=a+αEA+βLA+γLP+δLogA+ε

     

    Mô hình 2:

     

    ROA=b+κEA+λLA+μLP+νLogA+ε

     

    Để ước lượng mô hình 1 và 2, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS.

     

    4. Dữ liệu

     

    Trong giai đoạn tái cơ cấu 2011-2015, hệ thống NHTM nước ta có những thay đổi đáng kể. Một số ngân hàng quy mô nhỏ, hoạt động không hiệu quả buộc phải sáp nhập với ngân hàng lớn, như ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long sáp nhập với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam; ngân hàng Phát triển nhà Hà Nội sáp nhập với ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiến hành mua lại một số ngân hàng hoạt động quá yếu kém, không có khả năng tái cơ cấu, bao gồm ngân hàng Dầu khí toàn cầu, ngân hàng Đại Dương và ngân hàng Xây dựng. Tính đến cuối năm 2018, hệ thống ngân hàng của Việt Nam bao gồm 7 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối, 31 ngân hàng cổ phần, 09 ngân hàng nước ngoài và 02 ngân hàng liên doanh.

     

    Để phân tích tác động của các nhân tố tới hiệu quả tài chính hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn tái cơ cấu, tác giả thu thập dữ liệu của 28 ngân hàng trong giai đoạn từ 2011 đến 2015. Các dữ liệu được sàng lọc và lựa chọn dựa trên các bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập chi phí của các ngân hàng. Thống kê mô tả về các biến giải thích

     

    và biến độc lập được trình bày trong Bảng 1. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời có sự biến động đáng kể giữa các ngân hàng trong giai đoạn 2011-2015. Cụ thể, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng đạt mức cao nhất 41.47% trong khi đó ngân hàng đạt mức lợi nhuận thấp nhất là 0,01%. Điều này cho thấy, trong giai đoạn tái cơ cấu vẫn có những ngân hàng làm ăn tốt, trong điều kiện các biện pháp tái cơ cấu tác động đáng kể tới chi phí và khả năng sinh lời các

     

    ngân hàng.

     

    Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản trung bình ở mức 11,38%, về cơ bản đạt yêu cầu của NHNN. Tuy nhiên, ở nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn thì tỷ lệ này không đạt.

     

    Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản đạt ở mức 53,16%, đặc biệt có những ngân hàng tỷ lệ này còn cao ở mức trên 75%. Điều này cho thấy các ngân hàng chưa thật sự đa dạng trong cấu trúc tài sản và rủi ro tín dụng vẫn còn tiềm ẩn.

     

    Tỷ lệ chi phí trích lập dự phòng rủi ro trên tổng quy mô nợ ở mức trung bình là 1,57%. Tỷ lệ này khá cao nếu so sánh với thời kỳ trước, cá biệt có những ngân hàng chi phí dự phòng chiếm đến gần một nửa tổng quy mô nợ. Chính sách mới về trích lập dự phòng rủi ro tác động rất lớn đến chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng và là yếu tố cơ bản quyết định lợi nhuận các ngân hàng. Cho dù các ngân hàng bán tài sản cho VAMC song vẫn phải trích lập dự phòng trên cơ sở số nợ xấu đã bán.

     

    Quy mô tài sản các ngân hàng có sự biến động khá lớn giữa các nhóm ngân hàng. Các

     

     

    khoa học

     
       

    19

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    NHTM thuộc sở hữu nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối có quy mô rất lớn lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng, trong khi đó các ngân hàng nước ngoài hay cổ phần thì giá trị tài sản đôi khi chỉ ở mức vài nghìn tỷ đồng. Các ngân hàng với quy mô tài sản nhỏ gặp khó khăn trong đa dạng hóa danh mục tài sản và dễ bị rủi ro. Do đó, sáp nhập các ngân hàng nhỏ lại với nhau là biện pháp thích hợp giúp hạn chế rủi ro, giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh (bảng 1).

     

    (ROE). Như vậy, các ngân hàng có mức độ an toàn về vốn cao hơn lại đạt mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp hơn.Điều này được giải thích là do yêu cầu tăng tỷ lệ an toàn vốn từ phía NHNN trong bối cảnh thị trường chứng khoán đi xuống, buộc các NHTM phải tăng vốn bằng lợi nhuận để lại.

     

    Hai là, tỷ trọng tài sản cho vay trên tổng tài sản (LA) càng cao thì tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hoặc tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao. Phát hiện này cho

     

    Bảng 1: Thống kê mô tả các biến độc lập và biến giải thích

     

    Teân bieán

    Kyù

    Min

    Max

    Trung bình

    Ñoä leäch

     

    hieäu

    chuaån

     
           

    Bieán ñoäc laäp

               

    Tyû suaát sinh lôøi treân voán chuû sôû

    ROE

    0,0001

    0,4147

    0,1083

    0,0841

     

    höõu

               

    Tyû suaát sinh lôøi treân taøi saûn

    ROA

    0,000

    0,0369

    0,0110

    0,0086

     
                 

    Bieán giaûi thích

               
                 

    Tyû leä voán chuû sôû höõu treân toång

    EA

    0,0421

    0,7983

    0,1138

    0,0786

     

    taøi saûn

               

    Tyû leä taøi saûn cho vay treân toång

    LA

    0,1982

    0,8095

    0,5316

    0,1329

     

    taøi saûn

               

    Tyû troïng chi phí döï phoøng tín duïng

    LP

    0,0086

    0,5397

    0,0157

    0,0450

     

    treân toång quy moâ nôï

               

    Quy moâ taøi saûn (ÑVT: trieäu ñoàng)

    A

    2.337.884

    741.815.049

    101.421.243

    153.082.576

     
                 

    (Nguồn: Bảng cân đối tài sản, báo cáo thu nhập – chi phí các ngân hàng)

     

     

    5. Phân tích kết quả

     

    Bảng 2 trình bày kết quả hồi quy với hai biến độc lập phản ánh khả năng sinh lời của các NHTM trong giai đoạn tái cơ cấu (2011-2015) với một số kết quả đáng chú ý như sau.

     

    Một là, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn (EA) có quan hệ ngược chiều với biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

    thấy vai trò của cấu trúc tài sản đối với khả năng sinh lời hệ thống NHTM Việt Nam. Trong đó, các ngân hàng vẫn phụ thuộc đáng kể vào các khoản cho vay để tạo ra lợi nhuận. Đa dạng hóa danh mục tài sản và tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận bền vững cho các ngân hàng.

     

    20

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

             

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

                 
       

    Bảng 2: Kết quả hồi quy

                 
     

    ROE

     

    ROA

    EA

    -0,1923**

       

    0,0102

     
     

    (0,1023)

       

    (0,01)

     

    LA

    0,0847*

       

    0,0155***

     
     

    (0,0543)

       

    (0,005)

     

    LP

    -0,1223

       

    -0,0147

     
     

    (0,1557)

       

    (0,0151)

     

    Log(A)

    0,0024

       

    -0,002***

     
     

    (0,0006)

       

    (0,0006)

     

    Trong đó: ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu; ROA là tỷ suất sinh lời trên tài sản; EA là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản; LA là tỷ lệ tài sản cho vay trên tổng tài sản; LP là tỷ trọng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ; Log(A) là log của tổng tài sản. Ký hiệu *, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.

     

     

    (Nguồn: Tính toán của tác giả)

     

    Ba là, tỷ trọng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ các ngân hàng có mối quan hệ nghịch chiều với các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời. Tuy về mặt thống kê mối quan hệ tương quan này không có ý nghĩa, song về mặt thực tiễn lại có ý nghĩa đáng kể. Cụ thể là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng là nhân tố tác động lớn tới hai chỉ tiêu ROE và ROA. Các chính sách của chính phủ trong việc tăng cường kiểm soát rủi ro và yêu cầu các NHTM trích lập đầy đủ chi phí dự phòng đã phát huy tích cực. Ngân hàng nào cho vay nhiều song không quản lý tốt rủi ro sẽ dẫn tới tăng chi phí dự phòng và hệ quả làm giảm lợi nhuận cũng như khả năng sinh lời.

     

    Bốn là, kết quả với biến Log(A) trong Bảng 2 chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô tài sản và khả năng sinh lời của tài sản. Điều này một lần nữa cho thấy chất lượng tài sản mới là yếu tố quyết định khả năng tạo lợi nhuận của các NHTM. Nếu chất lượng tài sản không tốt, nhiều nợ xấu thì càng

     

    tăng quy mô tài sản thì càng làm tăng các khoản chi phí dự phòng; hệ quả là lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận giảm.

     

    6. Kết luận và kiến nghị

     

    Sau giai đoạn tăng trưởng nóng và thiếu bền vững, hệ thống NHTM Việt Nam bước vào giai đoạn tái cơ cấu với mục tiêu ổn định và phát triển bền vững. Hàng loạt biện pháp tái cơ cấu được triển khai như sáp nhập và mua lại với các ngân hàng yếu kém, thành lập công ty mua bán nợ (VAMC), tăng cường các tiêu chuẩn hoạt động… Các biện pháp này tác động lớn tới toàn hệ thống cũng như khả năng sinh lời của các ngân hàng trong giai đoạn tái cơ cấu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đi sâu phân tích bốn nhân tố cơ bản có thể tác động tới lợi nhuận của các NHTM, bao gồm: cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tác động của nợ xấu và quy mô tài sản. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: (1) tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có tác động nghịch chiều với lợi nhuận; (2) tỷ trọng tài sản cho vay trên

     

     

    khoa học

     
       

    21

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    tổng tài sản tác động cùng chiều với khả năng sinh lời; (3) Nợ xấu tác động tiêu cực tới lợi nhuận và (4) quy mô tài sản tác động nghịch chiều với khả năng sinh lời trên tài sản.

     

    Từ những kết quả và phân tích được trình bày ở trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam. Một là gia tăng sự đóng góp vốn của các cổ đông nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn về vốn. Hai là các ngân hàng cần đa dạng hóa danh mục tài sản, trách phụ thuộc quá nhiều vào tài sản cho vay. Ba là chất lượng tài sản mới là yếu tố quyết định tới khả năng sinh lời của ngân hàng, do đó NHNN cũng như các NHTM cần chú trọng công tác quản lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, nhằm nâng cao chất lượng các khoản nợ.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Trúc, L. T., & Danh, V. T. (2012), Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 21, 158-168.
    1. Đình Bảo, Hồ., & Thanh Tùng, Nguyễn (2016), Ứng dụng phương pháp bao dữ liệu trong đánh giá và phân loại hiệu quả – Rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2008-2012, Tạp chí Kinh tế
    • Phát triển, 199, 46-52.
    1. Tô Ngọc Hưng (2017), Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, Tạp chí Ngân hàng.
    1. Le, Phuong Thanh, Charles Harvie, and Amir Arjomandi. (2017), Testing for differ-ences in technical efficiency among groups

    khoa học

    within an industry, Applied Economics Letters, vol 24 no 3, pp 159-162.

     

    1. Le, Thanh Phuong, and Minh Thuy Do. (2017), A productivity analysis of the Vietnamese banking sector using non-per-forming loans as a bad output, Scholars Journal of Economics, Business and Management vol 8B, no 4: pp 532-540.
    1. Vietnam National Assembly Economic Commission (NAEC) (2012), From Macroeconomic Turbulent to Restructuring, (Giau, NV, Chairperson), Hanoi.
    1. Vo Tri, T & Nguyen Anh, D (2009), Vietnam after Two Years of Wto Accession: What Lessons Can Be Learnt?, ASEAN Economic Bulletin, vol. 26, no. 1, pp. 115-123.

    Summary

     

    The article analyzes some of the internal factors within Vietnamese commercial bank-ing system that may affect the profitability of banks during the restructuring period. Using regression model with data collecting from 2011 to 2015, the author points out factors which have significant impacts on the prof-itability, including asset structure, capital structure, bad debt level and asset scale. Since then, the author proposed a number of solu-tions to improve the profitability of the com-mercial banking system.

     

    22     thương mại                                                                                                                                   Sè 127/2019

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-h%E1%BB%97-tr%E1%BB%A3-ra-quy%E1%BA%BFt-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-vay-c%E1%BB%A7a-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-doanh-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-c%C3%A1c-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-phi-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 13 – 17

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    GIẢI PHÁP HỖ TRỢ RA QUYẾT ĐỊNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC

     

    KHOẢN VAY CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP CÁC YẾU TỐ PHI TÀI CHÍNH

     

    Đỗ Năng Thắng

    Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực tế đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ – tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro từ phía khách hàng gây ra. Chính vì vậy, một công cụ hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc cảnh báo rủi ro tín dụng là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên mỗi công trình đều chỉ phát huy thế mạnh ở một khía cạnh nào đó và chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Với tính cấp thiết như vậy, bài báo đề xuất một phương pháp kết hợp giữa chấm điểm các yếu tố phi tài chính với xếp hạng tín dụng của S&P, từ đó giúp ngân hàng thương mại có thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết định tín dụng hạn chế rủi ro.

     

    Từ khóa: Rủi ro tín dụng; mô hình cảnh báo; mô hình chấm điểm; hệ số phi tài chính; xếp hạng tín dụng.

     

    Ngày nhận bài: 28/3/2019; Ngày hoàn thiện: 19/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    SOLUTIONS TO SUPPORT THE CREDIT DECISION FOR LOANS OF ENTERPRISES IN VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS CASE STUDY: NON-FINANCIAL FACTORS

     

    Do Nang Thang

    TNU – Information and Communication Technology University

     

    ABSTRACT

     

    Economists often call the Bank a “risky business”. In fact, it has proved that there is no industry that has the potential to lead to big risks such as in the field of currency trading – credit. The Bank has to bear the risks not only due to its subjective causes, but also the risks of its customers. Therefore, a tool can support commercial banks in warning credit risks is necessary, especially in the context of fierce competition like today. In the world there have been some researches related to this issue. However, each project only develops its strengths in a certain aspect and is not really suitable with the actual conditions in Vietnam. With such urgency, the paper proposes a method of combining the scoring of non-financial factors with the credit rating of S&P, thereby helping commercial banks has more one tool for support in credit decision.

     

    Keywords: Credit risk; warning model; scoring model; non-financial coefficient; credit ratings.

     

    Received: 28/3/2019; Revised: 19/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           13

     

     

    Đỗ Năng Thắng                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 13 – 17

     

    1. Giới thiệu

     

    Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 đã nhen nhóm lại các nguyên nhân và triệu chứng của cuộc khủng hoảng tài chính tiềm năng. Nếu những triệu chứng này có thể được phát hiện trước, chính phủ có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn cuộc khủng hoảng hoặc ít nhất là để giảm thiểu tác động bất lợi của khủng hoảng đối với nền kinh tế trong nước. Việt Nam đang thực hiện cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, thực tế hội nhập trong khu vực và trên thế giới mang lại cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức và rủi ro ở mức cao hơn. Các yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và cần có giải pháp phòng ngừa kịp thời. Việc xây dựng một giải pháp hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc ra quyết định tín dụng là rất cần thiết đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Hiện nay trên thế giới đã có một số công trình tiêu biểu về cảnh báo rủi ro tín dụng như mô hình Merton (1974) có vai trò mang tính khai sáng trong quản trị rủi ro tín dụng như là vai trò của mô hình Black-Scholes trong định giá quyền chọn [1]. Tuy nhiên hạn chế của mô hình dựa trên giả định doanh nghiệp chỉ có một khoản nợ duy nhất và trả nợ tại một thời điểm duy nhất. Mô hình điểm số Z do E.I.Altman khởi tạo năm 1977 và thông thường được sử dụng xếp hạng tín nhiệm đối với các doanh nghiệp [2]. Mô hình này dùng để đo xác suất vỡ nợ của khách hàng thông qua các đặc điểm cơ bản của khách hàng. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với người vay và phụ thuộc vào các yếu tố tài chính của người vay. Mô hình CreditMetrics, được J.P. Morgan giới thiệu vào năm 1997 [3], là một mô hình được sử dụng phổ biến trong thực tiễn. Mô hình này có thể xem là có nguồn gốc từ mô hình Merton, tuy nhiên có một điểm khác biệt cơ bản giữa mô hình CreditMetrics với Merton là ngưỡng phá sản trong mô hình CreditMetrics được xác định từ xếp hạng tín dụng chứ không phải từ các khoản nợ. Do đó, mô hình này cho phép xác định cả xác suất vỡ nợ và

     

    xác suất suy giảm tín dụng. Ở Việt Nam có một số công trình như công trình của tác giả Lê Văn Tuấn năm 2016 “Khám phá sự thú vị của phần mềm R trong định lượng rủi ro tín dụng” trong nghiên cứu tác giả đã nghiên cứu và ứng dụng mô hình KMV vào cảnh báo rủi ro tín dụng [4] hay công trình nghiên cứu thứ 2 của tác giả Lê Văn Tuấn “Ứng dụng mô hình Merton trong giảng dạy rủi ro tín dụng và định giá trái phiếu cho sinh viên ngành tài chính” công trình nghiên cứu này đã làm rõ mô hình Merton và ứng dụng trong cảnh báo rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam [5]. Công trình nghiên cứu Nguyễn Phi Lân “Mô hình cảnh báo sớm và chính sách hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô”, theo tác giả việc cảnh báo sớm rủi ro kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tiền tệ được tác giả xây dựng dựa trên mô hình cảnh báo sớm (EWS) tham số [6]. Tuy nhiên các mô hình trên đều khá phức tạp và khó áp dụng phù hợp với tình hình thực tế tại các NHTM ở Việt Nam. Mặt khác các mô hình trên chỉ tập trung phân tích các yếu tố tài chính mà không đề cập đến các yếu tố phi tài chính. Xuất phát từ nguyên nhân đó, bài báo đề xuất giải pháp kết hợp giữa chấm điểm các yếu tố phi tài chính với xếp hạng tín dụng của S&P, từ đó giúp NHTM có thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết định tín dụng.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài báo sử dụng giải pháp kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính là chủ yếu. Xuất phát từ nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các tiêu chí chấm điểm phi tài chính của một số NHTM lớn, từ đó bài báo tiến hành thu thập các thông tin liên quan đến các yếu tố phi tài chính của một doanh nghiệp cụ thể như: Trình độ quản lý, Quan hệ của khách hàng với ngân hàng, các nhân tố bên ngoài, đặc điểm khác… và tiến hành chấm điểm các yếu tố đó dựa trên cơ sở xác định trọng số của chúng, trong đó trọng số của các yếu tố phi tài chính lại được quyết định bởi mức độ ảnh hưởng của chúng đến khả năng trả nợ của khách hàng, hoạt động này được thực hiện dựa trên phương pháp Chuyên gia. Ngoài ra bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp đối với các yếu tố phi tài chính dựa trên lý thuyết xếp hạng tín

     

    14                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

     

    Đỗ Năng Thắng

     

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 13 – 17

     
                     
     

    dụng của S&P, từ đó hỗ trợ các NHTM có

    3.2. Bảng kết quả tính điểm các chỉ tiêu phi

     

    thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết

     

    tài chính

           
     

    định tín dụng.

                 
                     

     

    3. Kết quả và bàn luận

    Dựa trên mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố

     

    3.1. Mô hình phân tích

    phi tài chính (chỉ tiêu chính) đến khả năng

                 

    trả  nợ  của  khách  hàng  doanh  nghiệp,  bài

             

    Trình độ quản lý

     
               

    báo tiến hành xác định trọng số của từng

       

    Điểm

           
               
           

    Quan hệ với ngân hàng

     

    yếu tố đó và trong mỗi chỉ tiêu chính, bài

     

    phi tài

         
       

    chính

       

    Các nhân tố bên ngoài

     

    báo đưa ra các chỉ tiêu phụ cũng như trọng

                 

    số của chúng và tiến hành chấm điểm dựa

                 
             

    Đặc điểm khác

     
               

    trên các thông tin thực tế thu thập được, cụ

                 
     

    Hình 1. Mô hình chấm điểm các yếu tố phi tài chính

    thể như bảng 1.

           
             

    Bảng 1. Kết quả chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính DNB

         
                       
     

    STT

    Trọng số

     

    Các chỉ tiêu phi tài chính

    Giá trị

    Điểm

    Điểm cuối

                           
     

    I

     

    30%

     

    Trình độ quản lý

             
                           
     

    1

    1.1

    5%

    Lý lịch tư pháp của người đứng đầu doanh nghiệp

    Lý lịch tư

    100

    5

     
     

    pháp tốt

     
                         
                         
     

    2

    1.2

    7%

    Kinh nghiệm chuyên môn của người đứng đầu doanh nghiệp

    15 năm

    100

    7

     
                           
     

    3

    1.3

    7%

    Trình độ học vấn của người quản lý

     

    Đại học

    60

    4,2

     
                         
     

    4

    1.4

    6%

    Năng lực điều hành của người trực tiếp lãnh đạo doanh nghiệp

    Rất tốt

    100

    6

     
                         
     

    5

    1.5

    5%

    Cơ cấu tổ chức và môi trường kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp

    Rất tốt

    100

    5

     
                           
     

    II

     

    30%

    Quan hệ với ngân hàng

             
                           
     

    6

    2.1

    4%

    Lịch sử trả nợ của khách hàng trong 12 tháng qua

    Luôn trả nợ

    100

    4

     
     

    đúng hạn

     
                         
                         
     

    7

    2.2

    4%

    Số lần cơ cấu lại thời gian trả nợ trong 12 tháng qua

    0 lần

    100

    4

     
                         
     

    8

    2.3

    3%

    Số lần các cam kết ngoại bảng mất khả năng thanh toán

    0 lần

    100

    3

     
                         
     

    9

    2.4

    3%

    Tình hình cung cấp thông tin yêu cầu của ngân hàng

    Luôn đầy đủ

    100

    3

     
                         
     

    10

    2.5

    4%

    Mức độ sử dụng các dịch vụ của ngân hàng

    Lớn nhất

    100

    4

     
                           
     

    11

    2.6

    4%

    Tỷ trọng chuyển doanh thu qua ngân hàng

     

    80%

    80

    3,2

     
                           
     

    12

    2.7

    3%

    Thời gian quan hệ với ngân hàng

     

    5 năm

    100

    3

     
                           
     

    13

    2.8

    3%

    Tình trạng nợ quá hạn tại các ngân hàng

     

    Không có nợ

    100

    3

     
       

    quá hạn

     
                         
                         
     

    14

    2.9

    2%

    Định hướng quan hệ với khách hàng trong thời gian tới

    Phát triển

    100

    2

     
                           
     

    III

     

    25%

    Các nhân tố bên ngoài

             
                           
     

    15

    3.1

    4%

    Triển vọng phát triển của ngành

     

    Cao

    100

    4

     
                         
     

    16

    3.2

    4%

    Khả năng sản phẩm của doanh nghiệp bị thay thế bởi các sản

    Khó

    100

    4

     
     

    phẩm khác

       
                     
                           
     

    17

    3.3

    5%

    Nguồn cung ứng

     

    Ổn định

    60

    3

     
                           
     

    18

    3.4

    2%

    Mức độ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên

     

    Không nhiều

    60

    1,2

     
                         
     

    19

    3.5

    4%

    Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành

    Bình thường

    60

    2,4

     
                         
     

    20

    3.6

    2%

    Khả năng ra nhập mới của các doanh nghiệp trong ngành

    Khó

    100

    2

     
                         
     

    21

    3.7

    4%

    Nhu cầu trên thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp

    Lớn

    100

    4

     
                           
     

    IV

     

    15%

    Các đặc điểm khác

             
                           
     

    22

    5.1

    1%

    Sự phụ thuộc vào một số ít nhà cung cấp

     

    Bình thường

    60

    0,6

     
                           
     

    23

    5.2

    1%

    Số năm hoạt động của doanh nghiệp

     

    10 năm

    100

    1

     
                           
     

    24

    5.3

    4%

    Tốc độ tăng trưởng doanh thu

     

    20%

    67

    2,68

     
                           
     

    25

    5.4

    4%

    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận

     

    125%

    100

    4

     
                           
     

    26

    5.5

    1%

    Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp

     

    Toàn quốc

    60

    0,6

     
                           
     

    27

    5.6

    1%

    Triển vọng phát triển của doanh nghiệp

     

    Phát triển

    100

    1

     
                           
     

    28

    5.7

    1%

    Lợi thế kinh doanh

     

    Thuận lợi

    80

    0,8

     
                           
     

    29

    5.8

    2%

    Quy mô của doanh nghiệp

     

    Lớn

    100

    2

     
                         
     

    Tổng cộng

    100%

               

    89,68

     
                           

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            15

     

     

    Đỗ Năng Thắng                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 13 – 17

     

    3.3. Xếp hạng tín dụng theo S&P

     

    Bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng đối với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp của ngân hàng (đối tượng vay vốn với kỳ hạn dài vừa mang lại doanh thu ổn định cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro). Để giúp NHTM có thêm các thông tin cụ thể và trực quan hơn về chất lượng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp, bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng doanh nghiệp dựa trên lý thuyết của Standard & Poor’s, là một công ty dịch vụ tài chính có trụ sở tại Hoa Kỳ. Đây là một công ty con của McGraw-Hill. Standard & Poor’s là một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới (hai công ty còn lại là Moody’s Fitch Ratings). S&P đánh giá người vay từ mức AAA cho tới D [7]. Số liệu cụ thể được thể hiện trong bảng 2.

     

    3.4. Kết quả xếp hạng tín dụng theo S&P

     

    Bảng 3. Xếp hạng các chỉ tiêu phi tài chính của DNB theo S&P

     

    Điểm  Thang đo     S&P               Giải thích

     

    Chất                      lượng       tín           dụng

    89,68                                                                  84,8-92,3  AA          cao, mức độ rủi ro thấp,

     

    khả năng trả nợ cao

     

    Thông qua kết quả chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính và các chỉ tiêu tài chính theo mô hình điểm số Z, ta thấy doanh nghiệp DNB có chất lượng tín dụng cao, mức độ rủi ro thấp, khả năng trả nợ cao.

     

    4. Một số kiến nghị đối với các NHTM

     

    Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay đối với lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, các NHTM không nên chỉ tập trung vào việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính mà còn cần phân tích kết hợp với các chỉ tiêu phi tài chính để có thông tin đầy đủ và chính xác hơn. Tuy nhiên khi phân tích các chỉ tiêu phi tài chính (các chỉ tiêu không thể hiện bằng con số cụ thể nên thường dễ bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, cảm tính), các ngân hàng cần lưu ý một số vấn đề sau:

     

    Một là, khi chấm điểm các yếu tố phi tài chính, ngân hàng cần thành lập Hội đồng chuyên gia và điểm chấm là điểm của cả Hội đồng chứ không phải của cá nhân;

     

    Hai là, khi tiến hành chấm cần tuân thủ đúng theo thang điểm, tỷ trọng của từng yếu tố;

     

    Ba là, khi tiến hành chấm điểm phải dựa vào các minh chứng số liệu cụ thể, không dựa vào cảm tính chủ quan của người chấm;

     

    Bảng 2. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp theo S&P

     

    Điểm

     

    • 92,3

    84,8 – 92,3

     

    77,2 – 84,7

     

    69,6 – 77,1

     

    62,0 – 69,5

     

    54,4 – 61,9

    S&P                                                                     Nội dung

     

    AAA    Chất lượng tín dụng cao nhất, có độ rủi ro thấp nhất, có khả năng trả nợ cao nhất

     

    AA      Chất lượng tín dụng cao, mức độ rủi ro thấp, khả năng trả nợ cao

     

    Đạt trên mức trung bình các nhân tố về đảm bảo khả năng trả nợ ngắn và dài hạn

     

    • chưa thật chắc chắn nhưng vẫn đạt độ tin cậy cao. Do đó được xếp hạng có khả năng trả nợ

    Đạt mức trung bình, mức an toàn và rủi ro không cao nhưng cũng không thấp.

     

    • Khả năng trả nợ gốc và lãi hiện thời không thật chắc chắn nhưng không có dấu hiệu nguy hiểm
    • Đạt mức dưới trung bình, khả năng trả nợ gốc và lãi không thật chắc chắn và mức

     

    độ an toàn như BBB

     

    • Đối tượng này thiếu sự hấp dẫn cho đầu tư. Sự đảm bảo về hoàn trả gốc và lãi trong tương lai là rất nhỏ

     

     

    46,8 – 54,3

    CCC

    Khả năng trả nợ thấp, dễ xảy ra vỡ nợ

    39,2 – 46,7

    CC

    Rủi ro rất cao, thường bị vỡ nợ

    31,6 – 39,1

    C

    Đối tượng trong tình trạng sắp phá sản

    < 31,6

    D

    Khả năng phá sản là gần như chắc chắn

    Nguồn: S&P

     

    16                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đỗ Năng Thắng                                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                201(08): 13 – 17

     

    Bốn là, khi có một số yếu tố thay đổi bất thường nhất thiết phải tiến hành chấm và xếp loại tín dụng lại đối với các khách hàng doanh nghiệp;

     

    Năm là, khi tính điểm phi tài chính của doanh nghiệp cần đối chiếu với xếp hạng tín dụng theo S&P để biết được cụ thể chất lượng tín dụng của doanh nghiệp hiện nay;

     

    Sáu là, cần tính điểm các yếu tố phi tài chính kết hợp với chấm điểm các yếu tố tài chính để đưa ra kết quả một cách chính xác nhất;

     

    Bảy là, cần thu thập thông tin cả trong và ngoài doanh nghiệp để có thể nắm được thông tin một cách chính xác và khách quan nhất.

     

    1. Kết luận

    Rủi ro tín dụng mang lại hậu quả rất lớn cho các ngân hàng. Tuy nhiên việc đối mặt với nó là tất yếu đối với mọi ngân hàng đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Bài báo cung cấp một công cụ có thể phân tích và nhận biết những khách hàng có và không có nguy cơ mất khả năng trả nợ, từ đó hỗ trợ cho các NHTM trong việc ra quyết định tín dụng một cách chính xác hơn và hạn chế được rủi ro. Tuy nhiên khía cạnh nghiên cứu của bài báo là các yếu tố phi tài chính, cho nên các ngân hàng cần chấm điểm một cách khách quan nhất, dựa trên cơ sở minh chứng cụ thể.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Merton, Robert C., “On the pricing of corporate debt: The risk structure of interest rates”,

    Journal of Finance, vol. 29, pp. 449-470, 1972.

     

    • Altman, Edward   ,   “Financial   Ratios,

    Discriminant Analysis and the Prediction Of

     

    Corporate Bankruptcy”, Journal of Finance, vol. 23, no. 4, pp. 589-609, 1968.

     

    • P. Morgan,  “Introduction  to  CreditMetrics”,

    13/08/2010,https://vi.scribd.com/document/3582 1973/Intro-to-Credit-Metrics-JP-Morgan, truy cập ngày 10/01/2019.

     

    • Lê Văn Tuấn, “Khám phá sự thú vị của phần mềm R trong định lượng rủi ro tín dụng”,

    05/06/2016,https://tuanvanle.wordpress.com/20 16/06/05/kham-pha-su-thu-vi-cua-phan-mem-r-trong-dinh-luong-rui-ro-tin-dung, truy cập ngày 17/01/2019.

     

    • Lê Văn Tuấn, “Ứng dụng mô hình Merton trong giảng dạy rủi ro tín dụng và định giá trái phiếu cho sinh viên ngành tài chính”,

    11/11/2016,https://tuanvanle.wordpress.com/2 016/11/11/ung-dung-mo hinh-merton-trong-giang-day-rui-ro-tin-dung-va-dinh-gia-trai-phieu-cho-sinh-vien-nganh-tai-chinh, truy cập ngày 17/02/2019.

     

    • Nguyễn Phi Lân, “Mô hình cảnh báo sớm và chính sách hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô”,

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, T. 2, S.3, tr. 27-32, 2011.

     

    • S&P, “S&P Global Rating Definitions”,31/10/2018,

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-T%C3%80I-KH%C3%93A-V%C3%80-T%C4%82NG-TR%C6%AF%E1%BB%9ENG-KINH-T%E1%BA%BE-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-NH%E1%BB%AENG-N%C4%82M-G%E1%BA%A6N-%C4%90%C3%82Y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    Chính sách tài khóa . . .

     

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

     

    Huỳnh Xuân Hiệp*

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2014 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở châu Âu chưa được giải quyết dứt điểm. Nền kinh tế thế giới vẫn còn nhiều gam màu tối đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước. Trước tình hình này, Chính phủ chủ trương tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm thông qua nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 (Nghị quyết 01) về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2014. Ngoài việc phân tích thực trạng nền kinh tế và chính sách tài khóa tại Việt Nam để từ đó đưa ra các kiến nghị, đề tài đã cố gắng trả lời câu hỏi về tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế. Đề tài xem xét tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế thông qua ước lượng mô hình bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế . Tuy nhiên kết quả vẫn không tìm ra bằng chứng thực nghiệm nào.

     

    Từ khóa: tăng trưởng kinh tế, chính sách tài khóa, ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách

     

    FISCAL POLICY AND ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM

     

    IN RECENT YEARS

     

    ABSTRACT

     

    In 2014, Vietnamese Social and Economy is still affected by the instability of the world economy because the world inancial crisis and the public debt of European Countries have not been resolved deinitively. The economy still has many dark sides and it affected the production and business activities of residents and companies in Viet Nam. In order to solve problem, Vietnamese Government continued to implement tighten iscal policy, radical saving policy through resolution No 01/NQ-CP date 02/01/2014 (resolution 01). The resolution gives out tasks, main solutions, implementations of economic development plans and estimation of national budget in 2014. In addition to the analysis of economic policy and iscal policy in Viet Nam in order to give recommendation, the paper tried to answer questions about the impact of iscal policy to economic growth. This activity is considered by estimating national budget deicit and economic growth models. However, the result did not ind any empirical evidence.

     

    Keywords: economic growth, iscal policy, national budget, budget deicit.

     

    • Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. HCM

    11

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Mục tiêu tổng quát hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam năm 2014 là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng, lãng phí, cải thiện môi trường kinh doanh. Bảo đảm quốc phòng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

     

    Một vấn đề đặt ra là liệu chính sách tài khóa sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chính sách tài khóa được Chính phủ thực hiện thông qua công cụ thuế và chi tiêu công. Do đó, ảnh hưởng của thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế cho thấy tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế. Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện để trả lời câu hỏi này. Theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) và Swan (1956), câu trả lời chủ yếu là “không”. Trong các mô hình này, thuế và chi tiêu ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm hoặc ưu đãi đầu tư vào vốn vật chất hay vốn con người, cuối cùng ảnh hưởng đến tỷ lệ cân bằng chứ không phải là tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu theo mô hình tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư vào vốn con người và vốn vật chất ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng ổn định, và do đó thuế và chi tiêu công có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Kể từ những đóng góp tiên phong của

     

    Barro (1990), King và Rebelo (1990), Lucas (1990), một số bài nghiên cứu đã mở rộng việc phân tích thuế, chi tiêu công và tăng trưởng, chứng minh các biến số tài khóa có thể ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng dài hạn trong các điều kiện khác nhau (ví dụ: Jones và cộng sự, 1993;. Stokey và Rebelo, 1995; Mendoza và cộng sự, 1997.).

     

    Lý thuyết là khá rõ ràng, tuy nhiên, có rất ít hoặc chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động của thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế. Theo Stokey và Rebelo (1995), ‘’những ước tính gần đây về tăng trưởng tiềm tàng từ tác động của việc cải cách thuế rất khác nhau, dao động từ không đến tám điểm phần trăm’’. Do đó để điều hành chính sách tài khóa có hiệu quả, rất cần thiết có một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chính sách tài khóa đến sự tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    2.1. Cơ sở lý thuyết

     

    Chính sách tài khóa là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Hai công cụ của chính sách tài khóa là hệ thống thuế và chi tiêu công của chính phủ.

     

    Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn.

     

    –  Chính sách trung lập

     

    Là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêu công của chính phủ, T: thu nhập từ thuế). Chi tiêu công của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế

     

     

    12

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính đến các hoạt động kinh tế.

     

    –  Chính sách mở rộng

     

    Là chính sách tăng cường chi tiêu công của chính phủ (G > T) thông qua chi tiêu công của chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

     

    –  Chính sách thu hẹp

     

    Là chính sách trong đó chi tiêu công của chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu công hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn hơn so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam trong những năm vừa qua.

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính toán thông qua tốc độ tăng trưởng GDP. Chính sách tài khóa được thể hiện thông qua thuế T và chi tiêu công G. Số liệu thứ cấp được thu thập từ tổng cục thống kê từ năm 2005 đến năm 2013.

     

    Để nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, đề tài thực hiện hồi quy OLS với biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến độc lập là bội chi ngân sách nhà nước.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thực trạng nền kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam

     

    3.1.1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam Với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong bối

    cảnh khủng hoảng kinh tế, Việt Nam đã duy trì tăng trưởng ở tốc độ 6,24% năm 2011, 5,25% năm 2012, và ở mức 5,42% năm 2013. Dù tốc độ tăng trưởng trong ba năm này thấp hơn mức trung bình trong cả thập kỷ trước, nhưng đây được coi là thành công bởi những áp lực bất lợi từ khủng hoảng kinh tế thế giới là rất lớn.

     

     

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP được tính theo giá so sánh năm 2010)

     

    Đơn vị tính: %

     

     

     

    Tốc độ tăng trưởng này được nhìn nhận một phần là do tác động của chính sách tài khóa mở rộng thông qua các gói kích cầu và chính sách tiền tệ mở rộng. Thực tế cho thấy,

     

     

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

     

    khi các gói kích cầu tài khóa đã dừng lại vào năm 2010 thì chính sách tiền tệ mở rộng tiếp tục được duy trì là nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy đạt được những thành quả

     

     

    13

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    đáng kể nhưng đến nay Việt Nam liên tục phải đương đầu với những bất ổn kinh tế do sự kéo dài và thiếu nhất quán của các chính sách vĩ mô. Hậu quả đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế như lạm phát, thiếu thanh khoản, nợ công tăng nhanh, trong đó nợ nước ngoài tăng đáng kể, thâm hụt ngân sách cao và tình trạng nhập siêu kéo dài.

     

    3.1.2. Chính sách tài khóa của Việt Nam Trong giai đoạn trước 2011, chính sách tài khóa (CSTK) được mở rộng đáng kể, thể hiện ở việc tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2006-2010 cao gấp 2,3 lần so với giai đoạn 2001-2005. Việc thực thi CSTK mở rộng, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, đã tác động tích cực tới duy trì tốc độ tăng trưởng và

     

    giúp Việt Nam sớm thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, việc mở rộng CSTK nhanh

     

    cũng góp phần khiến lạm phát tăng cao trở lại và làm bội chi ngân sách, nợ công tăng nhanh.

     

    Từ sau năm 2011, các giải pháp và các quyết sách của Chính phủ tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội đã được thực hiện đồng bộ, kịp thời và quyết liệt. Thu nội địa năm 2011 đạt 425.000 tỷ đồng, vượt 11,3% so với dự toán, tăng 19,9% so với thực hiện năm 2010, đến năm 2013 con số này là 545.500 tỷ đồng, tăng 28,35% so với năm 2011. Tất cả các mục thu đều thực hiện vượt dự toán.

     

    Bội chi NSNN đã tăng từ mức trung bình là 4,0% GDP giai đoạn 1996-2000 lên 4,9% GDP giai đoạn 2001-2005, giai đoạn 2006-2010 là 5,5% GDP, và giai đoạn 2011-2013 là 5,81% GDP. Năm 2011, bội chi NSNN ở mức thấp nhất trong giai đoạn 2011-2013 nhưng đã là một con số đáng kể, do đó phải có biện pháp cắt giảm hơn nữa tronh những năm tiếp theo để đảm bảo sự bền vững tài khóa trong trung và dài hạn.

     

     

    Bội chi ngân sách ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2013                                                Đơn vị tính: tỷ đồng

     

     

     

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

     

    3.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác      của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh

     

    động của chính sách tài khóa đối với tăng            tế tại thị trường Việt nam, tác giả sử dụng hồi

     

    trưởng kinh tế.                                                                       quy đơn theo phương pháp OLS với biến phụ

     

    Dựa trên các nghiên cứu đã được tiến          thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến độc

     

    hành trên thế giới. Để xác định ảnh hưởng        lập là bội chi ngân sách nhà nước. Mô hình

     

     

    14

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    nghiên cứu như sau:

     

    Trong đó:

     

    y là tốc độ tăng trưởng kinh tế BC là bội chi ngân sách nhà nước Thu thập dữ liệu.

     

    Dữ liệu về Tổng sản phẩm quốc nội tính theo giá so sánh với năm 2010 được thu thập từ tổng cục thống kê.

     

    Việc tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế dựa trên tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) qua các năm.

     

    Trong đó:

     

    y là tốc độ tăng trưởng kinh tế

     

    GDPt+1 là GDP năm (t+1) tính theo giá so sánh năm 2010

     

    GDPt là GDP năm t tính theo giá so sánh năm 2010

    Dữ liệu về thu chi NSNN được thu thập từ tổng cục thống kê và cổng thông tin điện tử chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bội chi NSNN được tính toán thông qua công thức sau:

     

    BC = Tổng chi – Tổng thu

     

    Trong đó: BC là bội chi ngân sách nhà nước.

     

    Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

     

     

       

    Bảng kết quả hồi quy mô hình

     
               
     

    Hệ số hồi quy

     

    Hệ số hồi quy

    Thống kê t

    Sig.

     

    chưa chuẩn hóa

    đã chuẩn hóa

       

    Hệ số

    Sai số chuẩn

           

    Hằng số

    .107

    .033

     

    3.225

    .018

    LN(BC)

    -.004

    .003

    -.495

    -1.396

    .212

    (Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm SPSS 16.0)

     

    Kiểm định hệ số hồi quy.

     

    Hệ số hồi quy của biến độc lập ln(BC) có Sig. = 0,212 > mức ý nghĩa 5% nên không có ý nghĩa thống kê hay biến độc lập ln(BC) không có ảnh hưởng đến biến phụ thuôc y là tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hay nói cách khác với dữ liệu thu thập được trên thị trường Việt Nam, chưa đủ cơ sở để kết luận CSTK có tác động đến tăng trưởng kinh tế.

     

    Bảng mức độ giải thích của mô hình.

     

    Model

    R

    R2

    R2 hiệu chỉnh

    Sai số chuẩn của ước lượng

    1

    .495a

    .245

    .119

    .0069272

             

    (Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm SPSS 16.0)

     

     

    Hệ số R2 = 24,5% rất thấp, cho thấy biến độc lập ln(BC) chỉ giải thích được 24,5% sự biến thiên của tốc độ tăng trưởng kinh tế.

     

    Như vậy 1 – R2 = 75,5% mức độ biến thiên của tốc độ tăng trưởng kinh tế được giải thích bởi các yếu tố ngoài mô hình. Hay nói cách

    khác tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác chứ không phải từ CSTK.

     

    Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn từ 2005 – 2013 cho thấy, CSTK biểu hiện thông qua bội chi NSNN không tác đông đến tăng trưởng

     

     

    15

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    kinh tế. Điều này có thể lý giải bằng kiến thức kinh tế vĩ mô, tác động của thuế và chi tiêu ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm hoặc ưu đãi đầu tư vào vốn vật chất hay vốn con người, cuối cùng ảnh hưởng đến cân bằng sản lượng của nền kinh tế chứ không phải là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Điều này cũng phù hợp với kết luận mà các nhà nghiên cứu Solow (1956) và Swan (1956) thu được khi nghiên cứu về CSTK và tăng trưởng kinh tế.

     

    4. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

     

    4.1. Kiến nghị về chính sách tài khóa tại Việt Nam

     

    Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ (CSTT)

     

    Một là, giữa Bộ tài chính và Ngân hàng Nhà Nước cần phải cung cấp, trao đổi thông tin thường xuyên trong việc xây dựng, hoạch định và thực thi CSTK, CSTT trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.

     

    Hai là, CSTK và CSTT cần có sự gắn kết chặt chẽ hơn để góp phần thực hiện cùng một lúc hai mục tiêu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn kịp thời tình trạng số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng. Trong dài hạn, CSTK phải sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội, CSTT cần kiên trì theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát.

     

    Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm trong năm 2014

     

    Bằng cách thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết 01/NQ-CP của chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2014. Trong đó, nêu rõ trong năm 2014 tiếp tục thực hiện CSTK chặt chẽ, triệt để tiết kiệm. Bội chi NSNN không quá 5,3%

     

    GDP, thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính. Kiểm soát ngân sách nhà nước

     

    Thiết lập cơ chế thu ngân sách nhà nước ổn định. Tăng cường chỉ đạo công tác thu, quản lý NSNN, chống thất thu, gian lận thuế, giảm các khoản nợ đọng thuế. Thực hiện thu đầy đủ, kịp thời các khoản thu năm 2010, 2011, 2012 được gia hạn sang năm 2013. Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách thuế và thu ngân sách mới như luật quản lý thuế, luật sửa đổi và bổ sung luật thuế thu nhập cá nhân.

     

    Quản lý chi Ngân sách Nhà Nước hiệu quả. Tăng cường quản lý chi NSNN theo hướng tiết kiệm, hiệu quả trên cơ sở thực hiện rà soát lại các khoản chi NSNN và trong từng khoản chi cần rà soát lại các nội dung chi để xác định đúng thứ tự ưu tiên chi NSNN. Ưu tiên chi an sinh xã hội; bố trí chi đầu tư phát triển gắn với tái cơ cấu đầu tư công, bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công ngiệ, y tế, văn hoá, môi trường, kiên quyết cắt, giảm, hoãn, lùi thời gian chi đối với các khoản chi chưa thực sự cần thiết.

     

    Cần có cơ chế giám sát đầu tư công. Chi tiêu cho đầu tư công cầ được tiếp tục cắt giảm mạnh và có chọn lọc. Cắt giảm đầu tư công sẽ giúp giảm nợ công và tiến tới giảm bội chi ngân sách. Các dự án đầu tư công cần cắt giảm và có bước cải cách mạnh mẽ trong khâu thẩm định, ra quyết định đầu tư, hết sức tránh đầu tư tràn lan và kéo dài thời gian thi công xây dựng..

     

    Tiếp tục rà soát lại hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách sửa đổi. Cần bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế theo hướng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho thị trường. Định hướng chính sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở rộng đối tượng chịu thuế, tăng thuế

     

     

    16

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu và các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất đối với thuế xuất khẩu các sản phẩm từ khai thác tài nguyên.

     

    4.2. Kết luận

     

    CSTK là công cụ đắc lực trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Tuy nhiên lựa chọn thực hiện CSTK nào lại là một vấn đề rất khó khăn đòi hỏi Chính phủ phải cân nhắc trên nhiều khía cạnh để thực hiện tốt nhất các chức năng và nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Nhà nước.

    Nghiên cứu đã tóm tắt được các vấn đề tổng quan về CSTK cũng như phân tích thực trạng nền kinh tế và CSTK của Việt Nam trong những năm vừa qua, thông qua đó đưa ra các đánh giá và các kiến nghị.

     

    Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về vấn đề tác động của CSTK đến tăng trưởng kinh tế trên thị trường Việt Nam. Do đó, cần một nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn, được đầu tư tài chính và thời gian nghiên cứu đủ dài để có thể đưa ra được câu trả lời chính xác cho vấn đề liệu có hay không ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Barro, R., 1990. Government spending in a simple model of endogenous growth. Journal of Political Economy 98 (1), s103–117.
    • King, R., Rebelo, S., 1990. Public policy and economic growth: Developing neoclassical implications. Journal of Political Economy 98 (1), s126–151.
    • Solow, R.M., 1956. A contribution to the theory of economic growth. Quarterly Journal of Economics 71 (1), 65–94.
    • Swan, T.W., 1956. Economic growth and capital accumulation. Economic Record 32(3),334–361.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-suy-ngh%C4%A9-v%E1%BB%81-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%99ng-v%C3%A0-%C4%91i%E1%BB%81u-h%C3%A0nh-l%C3%A3i-su%E1%BA%A5t-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ . . .

     

    Nghiên cứu – Trao đổi

     

    MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ

     

    BIẾN ĐỘNG VÀ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT HIỆN NAY

     

    Nam Phương*, Đỗ Linh Hiệp**

     

    TÓM TẮT

     

    Thị trường tiền tệ trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua, đã chứng kiến nhiều sự kiện biến động về lãi suất và những hoạt động có liên quan. Bên cạnh những dấu hiệu của sự biến động tích cực, liệu có tiềm ẩn những gì khiến chúng ta cần quan tâm suy nghĩ ? Trên cơ sở đó có thể giúp cho việc điều hành công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, thực sự đạt được mục tiêu cuối cùng như mong đợi. Nói cách khác, cần có giải pháp gì để hỗ trợ đồng bộ với điều hành công cụ lãi suất, nhằm tăng tính hiệu quả của nó, đối với mục tiêu kích cầu tín dụng, kích thích khả năng phục hồi và tăng trưởng kinh tế nói chung.

     

    Đây là bài viết có nội dung tương đối chuyên sâu về một lĩnh vực (tiền tệ-ngân hàng). Vì vậy, để tiện việc theo dõi của đọc giả, trước hết chúng tôi muốn giới thiệu đôi nét sơ lược, về một số vấn đề có tính chất nguyên lý cơ bản trực tiếp liên quan. Trên cơ sở đó, sẽ phân tích diễn biến, nhận định và đề xuất ý kiến giải quyết vấn đề.

    Từ khoá: Biến động, điều hành, lãi suất

     

    SOME THOUGHTS ABOUT PRESENT INTEREST CHANGE AND MANAGEMENT

    ABSTRACT

     

    Banking market for the irst days of May changed a lots in interest and its related activities. Besides the signs of active changes, is there any implicit that makes us think? Based on that can help to manage interest method of State Bank gain the last purpose as expected. In other words, what solutions to comprehensive assist/ support with manage interest method which raises its effectiveness for the goal of demand stimulation credit, in general, stimulate rehabilitate capacity and economic development. This essay which has promptly content about one aspect ( banking – monetary). First of all, we would like to introduce cursorily some basic principles which directly related so the readers easily monitor. Based on that, we will analyze the happenings, consider and put forward ideas for solving problems.

     

    Key word: Change, manage, interest

     

    • GVC. Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh
    • TS. Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Bình Dương

     

     

    51

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1.   Tìm hiểu những nguyên lý cơ bản về công cụ lãi suất

     

    Trên phương diện lý thuyết, lãi suất được hiểu một cách chung nhất, đó chính là một loại giá phải trả, để có được quyền sử dụng, một khoản vốn tiền tệ không thuộc sở hữu của mình, trong một khoảng thời gian nhất định. Chẳng hạn, khi ta gửi một khoản tiền vào ngân hàng, tức là đã nhường quyền sử dụng khoản tiền đó cho ngân hàng, trong thời hạn thỏa thuận giữa hai bên. Đổi lại, ta sẽ nhận được khoản tiền lãi, theo lãi suất tiền gửi của ngân hàng. Sau đó, ngân hàng sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ của ta để cho vay, cũng có nghĩa là họ đã bán lại quyền sử dụng khoản vốn tiền tệ này cho người khác (doanh nghiệp chẳng hạn). Đương nhiên, ngân hàng sẽ bán lại với mức giá (tức lãi suất cho vay) cao hơn khi ta bán cho họ; bởi lẽ về nguyên lý, lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ tạo ra khoản thu, mà khoản thu này phải đủ để bù đắp lại chi phí mua vốn, các khoản chi phí quản lý phát sinh trong kinh doanh và đương nhiên phải bao gồm cả lợi nhuận của ngân hàng nữa chứ! Như vậy ta có thể hiểu một cách dễ dàng và đơn giản là khi ngân hàng mua vốn (nhận tiền gửi)với giá cao, thì cũng sẽ phải bán vốn ra (cho vay) với lãi suất cho vay cao. Đó cũng là vấn đề hiển nhiên và hoàn toàn phù hợp với nguyên lý chung của hạch toán kinh tế mà thôi!

     

    Cũng cần tìm hiểu sâu thêm một chút, về lãi suất mà người gửi tiền được hưởng: trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, tức là có sự mất giá của đồng tiền, lãi suất tiền gửi chỉ thực sự đem lại thu nhập cho người gửi tiền, khi mức lãi suất này lớn hơn tỷ lệ lạm phát. Giả sử lãi suất tiền gửi (công bố của ngân hàng hay còn gọi là lãi suất danh nghĩa) là 7% /năm; tỷ lệ lạm phát cũng là 7%/năm, thì thực

    sự người gửi tiền cũng không có lợi gì. Bởi vì khoản lãi ngân hàng trả cho họ, cũng chỉ vừa đủ để bù đắp lại cái mà họ đã bị mất đi (vì sự mất giá của đồng tiền do lạm phát), trong thời gian họ nhường quyền sử dụng khoản vốn tiền tệ của mình cho ngân hàng. Điều đó có thể diễn đạt tóm tắt qua công thức:

     

    Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát

     

    Với công thức trên ta thấy rõ, người có dư tiền sẽ chỉ sẵn sàng gửi tiền vào ngân hàng, khi lãi suất thực đạt được là số dương và đạt được ở giới hạn kỳ vọng của họ.

     

    Một vấn đề khác có liên quan tới phạm trù lãi suất, cũng cần được đề cập tới trước khi bàn về thực trạng của nó hiện nay. Như ta đã biết, trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng được tổ chức và vận hành theo mô hình hệ thống 2 cấp; trong đó cấp 1 là ngân hàng Trung ương (ở Việt Nam gọi là Ngân hàng Nhà nước), thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mọi hoạt động về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng nói chung; không có chức năng kinh doanh tiền tệ. Còn hệ thống cấp 2 là ngân hàng trung gian (bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chuyên doanh,… ) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.

     

    Để thực hiện chức năng của mình, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ đạo điều hành thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu của chính sách này, thông qua các công cụ như chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá, chính sách tín dụng,… Tùy tình hình thực tế của nền kinh tế ở mỗi thời kỳ, NHNN sẽ sử dụng những biện pháp cụ thể của từng công cụ đó, nhằm đạt được mục tiêu chung của chính sách tiền tệ đã dự kiến. Chẳng hạn, trong thời kỳ cần đẩy mạnh tăng

     

     

    52

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    trưởng kinh tế, NHNN thực thi chính sách tiền tệ mở rộng, tức là chủ trương tăng cung ứng lượng tiền trong lưu thông. Để thực hiện được chủ trương này, NHNN sẽ chủ động hạ lãi suất tái cấp vốn, tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại (NHTM), được nhận các khoản vay từ NHNN với lãi suất thấp. Do vậy, các NHTM sẽ có điều kiện để hạ lãi suất cho vay, kích thích mở rộng tín dụng cho nền kinh tế. Hoặc giả sử có tình huống ngược lại, khi muốn hạn chế tình trạng tăng trưởng tín dụng quá nóng của nền kinh tế; đồng thời kiềm chế khả năng lạm phát có thể xẩy ra, NHNN có thể: hoặc chủ động nâng lãi suất tái chiết khấu, gây áp lực tăng lãi suất cho vay của các NHTM, từ đó dẫn tới hệ quả thu hẹp tín dụng trong nền kinh tế. Hoặc NHNN có thể quy định trần lãi suất huy động ở mức giới hạn thấp, buộc các NHTM không được huy động tiền gửi cao hơn giới hạn này, từ đó hạn chế khả năng mở rộng nguồn vốn, mở rộng tín dụng trong nền kinh tế. Đó cũng chính là một vài nội dung đơn giản về cơ chế điều hành công cụ lãi suất của NHNN, nhằm đạt được mục tiêu chung của chính sách tiền tệ quốc gia.

     

    2.   Câu chuyện phức tạp về lãi suất thực tế hiện nay

     

    Hãy tạm gác lại những vấn đề lý luận cơ bản nêu trên, bởi dù sao chúng cũng đã hoàn thành vai trò của mình, tạo cơ sở ban đầu giúp ta có điều kiện dễ dàng, theo dõi diễn biến của những câu chuyện thực tế đa dạng và phức tạp hiện nay, trên thị trường tiền tệ, tín dụng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế-xã hội nói chung.

     

    Chủ đề mà ta đang muốn tìm hiểu và bàn luận ở đây cũng là một vấn đề thực tiễn, có liên quan và ảnh hưởng sâu rộng, đối với hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế-xã hội;

    trong đó đương nhiên bao gồm cả chúng ta. Đó chính là câu chuyện diễn biến của lãi suất tiền gửi hiện hành qua những tín hiệu thông tin thị trường.

     

    2.1. Trần lãi suất huy động tiền gửi vẫn còn khả năng hạ tiếp

     

    Nếu những ai quan tâm theo dõi thì chắc hẳn còn nhớ rằng, khoảng tháng 9/2012, các NHTM trong đó khởi đầu là ACB, đã tạo một đợt sóng đẩy lãi suất tiền gửi tiết kiệm (loại kỳ hạn trên 1 năm) lên 13%/năm. Tiếp theo là các NHTM khác cũng đồng loại tăng theo. Có thể biện giải cho hiện tượng bất bình thường này là do, một số NHTM muốn đảm bảo cho thanh khoản trong dài hạn được dồi dào để phòng hờ rủi ro; một số NHTM khác vẫn còn trong tình trạng thiếu thanh khoản, do vậy phải đẩy lãi suất huy động lên để có hy vọng thu hút thêm được nguồn vốn huy động, bù đắp lỗ hổng thiếu hụt thanh khoản đã xuất hiện, do tồn tại các khoản nợ xấu. Hoặc tại một số NHTM khác quá xa đà vào việc cấp tín dụng, dẫn đến tình trạng tỷ trọng số tiền cho vay /vốn huy động quá cao, hơn nữa có những khoản tiền cho vay nhưng không thu hồi được nợ, xuất hiện tình trang nợ xấu gia tăng, từ đó cũng phải vào cuộc theo đà nâng lãi suất huy động tiền gửi để có thêm thanh khoản. Một số NHTM có được những dự án đầu tư lớn, có hiệu quả; tuy nhiên vốn huy động chưa đáp ứng yêu cầu cho vay và thế là họ cũng sẵn sàng chấp nhận lao vào cuộc đua tăng lãi suất huy động…

     

    Để lập lại trật tự lãi suất tiền gửi trong nền kinh tế, cuối tháng 12/2012, NHNN đã chỉ đạo hạ trần lãi suất huy động tiền gửi xuống còn 8%/năm. Bước sang năm 2013, từ 26/03, NHNN quy định giảm trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn từ 8%/năm xuống 7,5%/năm. Tiếp theo, ngày 10/05 vừa qua trên cơ sở các

     

     

    53

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    yếu tố điều hành kinh tế vĩ mô, với thực trạng diễn biến lạm phát được kiểm soát trong giới hạn cho phép, cũng như tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng, ngày 10/05/2013, NHNN đã công bố quyết định cắt giảm 1% đối với các lãi suất chủ chốt (được coi là các lãi suất điều hành). Cụ thể: Với lãi suất tái cấp vốn giảm từ 8%/năm xuống 7%/năm; lãi suất chiết khấu từ 6%/năm xuống 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN, đối với các ngân hàng từ 9%/năm xuống 8%/năm. Còn với trần lãi suất tiền gửi, vẫn được giữ nguyên ở mức hiện hành 7,5%/năm. Cùng với việc đưa ra quyết định giảm lãi suất điều hành chủ chốt, giữ nguyên trần lãi suất tiền gửi, NHNN cũng có đưa ra quy định, về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND, của các tổ chức tín dụng, đối với các nhu cầu tín dụng thuộc các đối tượng được ưu đãi như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, …giảm từ 12%/năm xuống 11%/năm.

     

    Thông qua việc giảm các loại lãi suất điều hành như trên cho thấy, định hướng hỗ trợ lãi suất đầu vào của NHNN đối với các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM có điều kiện thực hiện giảm lãi suất đầu ra, với các khách hàng có nhu cầu tín dụng.

     

    Đối với lãi suất huy động tiền gửi, NHNN chủ trương vẫn tiếp tục duy trì trần lãi suất ở mức 7,5%/năm, với lý giải rằng căn cứ vào các yếu tố điều hành kinh tế vĩ mô, diễn biến kiểm soát lạm phát với mức kỳ vọng trong năm 2013 là khoảng 6,5% – 7%, do vậy mức trần lãi suất huy động ngắn hạn ở mức 7,5%/ năm vẫn được duy trì và được cơ quan quản lý vĩ mô coi là hợp lý.

    Chúng tôi đề xuất giảm trần lãi suất xuống 6,5%/năm

     

    Có ý kiến cho rằng, nên giảm tiếp trần lãi suất tiền gửi xuống mức 7%/năm với lý do, để có thể tiếp tục giảm thêm lãi suất cho vay, kích thích tăng trưởng tín dụng mạnh hơn. Chúng tôi cho rằng, trong điều kiện hiện nay, việc giảm trần lãi suất tiền gửi xuống 7%/năm cũng sẽ không có hiệu ứng gì khác hơn. Thật vậy, thực tế cho thấy, ngay trước khi có quy định trần lãi suất tiền gửi giảm từ 8%/năm xuống 7,5%/năm, một số ngân hàng lớn đã chủ động cắt giảm lãi suất xuống dưới mức trần quy định. Cụ thể như Vietcombank hạ lãi suất kỳ hạn 1 tháng xuống 6%/năm, 2 tháng 6,5%/ năm, 3 tháng 6,8%/năm và kỳ hạn 6-9 tháng chỉ còn 7%/năm. Vietinbank với lãi suất kỳ hạn 1-12 tháng là 7%/năm. Tại BIDV tình hình cũng tương tự, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3-12 tháng chỉ còn 7%/năm;…Hiện nay, tình trạng các ngân hàng huy động tiền gửi, với mức lãi suất dưới trần quy định, đã trở thành khá phổ biến trên thị trường tiền tệ.Thực ra hiện tượng này cũng không có gì đáng ngạc nhiên lắm. Nó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, song có điều chắc chắn là các ngân hàng này đang trong tình trạng dư thừa thanh khoản, chưa tìm được dự án khả thi để đầu tư (‘đầu vào” đang lớn hơn “đầu ra”).

     

    Tuy nhiên, cũng không nên từ thực trạng nêu trên, để có thể tùy tiện đưa ra quyết định tiếp tục giảm trần lãi suất tiền gửi thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn. Bởi lẽ, khi hạ trần lãi suất tiền gửi quá giới hạn hợp lý, người gửi tiền sẽ cảm thấy băn khoăn khi tiền lãi tiết kiệm ngày càng ít đi, họ sẽ sẵn sàng rời bỏ “sân chơi tiền gửi” để đến với “sàn vàng”, hay dự trữ USD,…Khi đó trình trạng khó khăn về vốn, thiếu hụt thanh khoản của các NHTM sẽ có thể lại xuất hiện và sẽ trở nên

     

     

    54

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    trầm trọng, khi tăng trưởng tín dụng có cơ hội quay trở lại. Chúng tôi cho rằng, cần nghiên cứu để điều chỉnh hạ trần lãi suất tiền gửi xuống 6,5%/năm. Điều này hoàn toàn phù hợp thực trạng điều hành chỉ tiêu lạm phát và yêu cầu kéo giảm lãi suất cho vay hiện nay.

     

    2.2. Lời giải nào cho bài toán kích cầu tín dụng

     

    Câu chuyện lãi suất bây giờ không chỉ dừng lại ở lãi suất huy động tiền gửi, mà điều cần quan tâm nhiều hơn chính lại là lãi suất cho vay, nếu như muốn tìm lời giải cho bài toán kích cầu tín dụng. Xét trên giác độ vĩ mô, tăng trưởng tín dụng không phải là mục tiêu cuối cùng, song chính nó lại là một trong những công cụ rất quan trọng và là mục tiêu trung gian, góp phần đưa nền kinh tế đạt mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế.

     

    2.2.1. Giảm lãi suất cho vay phải được coi là nhiệm vụ cấp bách hiện nay

     

    Chúng ta đã bình luận khá nhiều về lãi suất huy động tiền gửi, song hãy đừng quên rằng mục tiêu của huy động là để cho vay. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, việc giảm lãi suất huy động chính là tiền đề trực tiếp và rất quan trọng để hướng tới mục tiêu giảm lãi suất cho vay. Tuy nhiên, diễn biến lãi suất thực tế cho thấy, lãi suất cho vay vẫn còn ở mức cao so với trần lãi suất huy động. Hiện nay lãi suất cho vay đối với các ngành được ưu đãi như nông nghiệp-nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và ứng dụng công nghệ cao mới được hưởng mức lãi suất 9-11%/năm; còn lại các lĩnh vực khác từ 12-15%/năm. Chưa kể, với các khoản dư nợ cũ còn tồn tại của một số doanh nghiệp, hiện vẫn phải tiếp tục chịu đựng với lãi suất trên 15%.

     

    • Lãi suất cho vay cao, ngân hàng “ế vốn”

     

    Theo số liệu báo cáo của NHNN về tình

     

    hình hoạt động tín dụng của các NHTM, tính

    đến ngày 23/4/2013, huy động vốn tăng 5,34% so

     

    với cuối năm 2012, cao hơn gấp 1,5 lần mức tăng của cùng kỳ năm 2012, trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 1,44%. Số liệu thống kê này, trong một mức độ nhất định, cho thấy hệ thống ngân hàng đang trong tình trạng “ế vốn”. Vậy điều gì sẽ xẩy ra khi tình trạng “tồn kho” tiền của các ngân hàng cứ tiếp tục kéo dài và gia tăng? Trước hết nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của ngân hàng và đồng thời ảnh hưởng tới họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế-xã hội. Để có thể tháo gỡ khó khăn này, cần nhận diện những nguyên nhân của tình trạng trên. Chúng tôi cho rằng hiện tượng ế vốn như trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân; song trước hết có thể lý giải là do lãi suất cho vay quá cao, so với khả năng chịu đựng của các doanh nghiệp. Thật vậy, lãi suất tiền vay cấu thành trong giá thành sản phẩm. Khi các yếu tố khác không đổi, lãi suất vay càng cao thì giá thành sản phẩm sẽ càng cao. Nếu doanh nghiệp muốn có lãi thì phải bán sản phẩm giá cao. Đương nhiên người tiêu dùng sẽ không chấp nhận. Kết cục là doanh nghiệp không vay và vốn của ngân hàng cũng không có đầu ra. Điều nguy hại hơn là khi doanh nghiệp không bán được hàng, tồn kho tăng lên, sản xuất sẽ không thể tiếp tục; đồng thời khi doanh nghiệp không trả được vốn vay, nợ xấu của ngân hàng cũng sẽ tiếp tục gia tăng.

     

    • Câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao lại có tình trạng lãi suất cho vay cao như vậy?

     

    Nhiều ý kiến cho rằng, các ngân hàng thương mại (NHTM) lâu nay đã và đang hưởng khoản chênh lệch phần trăm giữa lãi suất huy động và cho vay gọi là tỷ lệ lãi biên (NIM) khá lớn. Theo tính toán của VnEconomy, năm 2012 NIM của 6 NHTMCP

     

     

    55

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    hàng đầu, niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, đạt trung bình ở mức 4,1%, thấp hơn mức trung bình 4,3% của năm 2011, nhưng cao hơn mức 3,6% và 3,5% của các năm 2010 và 2009. Như vậy, nếu lấy lãi suất cho vay trung bình là 12,5% và trần lãi suất tiền gửi là 7,5% thì NIM hiện nay là 5%. Đây rõ ràng là một vấn đề bất hợp lý; tuy nhiên việc tìm giải pháp xử lý mang tính thuyết phục cũng không phải là đơn giản; bởi lẽ lâu nay các NHTM đã quen kinh doanh trong điều kiện NIM khá thoải mái.

     

    • Đề xuất quy định trần lãi suất cho vay 10%/năm

     

    Với tầm nhìn vĩ mô, các cơ quan quản lý nhà nước cần suy nghĩ, để có giải pháp xử lý hiệu quả trong việc điều hành giảm lãi suất cho vay. Đồng thời NHNN cần coi đây là trách nhiệm, là nhiệm vụ cấp bách chứ không thể chỉ hô hào chung chung, kêu gọi các NHTM phấn đấu trong năm 2013, đưa lãi suất cho vay xuống 13%/năm (!). Chúng tôi cho rằng NHNN cần quy định trần lãi suất cho vay của các NHTM trong điều kiện hiện nay chỉ ở mức 10%/năm và sẽ tiếp tục giảm tùy tình hình thực tế. Đương nhiên với một số NHTM, việc áp dụng mức trần lãi suất cho vay này sẽ gặp những khó khăn nhất định; đặc biệt là những ngân hàng có tình trạng nợ xấu nhiều, năng lực tài chính yếu và công tác quản trị không tốt. Với những ngân hàng này, có thể quy định lộ trình cụ thể và đây cũng được xem là bước thử thách, trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã và đang được triển khai.

     

    2.2.2. Khẩn trương triển khai biện pháp xử lý nợ xấu

     

    Lãi suất vay cao cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng, dẫn đến tình trạng giá thành sản phẩm cao, hàng hóa khó

    tiêu thụ, tồn kho ngày càng nhiều, nợ vay không trả được, tình trạng “nợ xấu” tại các NHTM xuất hiện ngày càng nhiều.

     

    Cho đến thời điểm hiện nay con số nợ xấu chính xác là bao nhiêu cũng đang là một vấn đề chưa rõ ràng vì nhiều lý do. Có nhiều con số về nợ xấu trong nền kinh tế được công bố nhưng thiếu độ tin cậy. Tại Diễn đàn kinh kinh tế mùa xuân tháng 4/2013, PGS,TS.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện nay có có nhiều thứ còn xấu hơn cả nợ xấu…Việc không biết chính xác số nợ xấu, còn xấu hơn cả nợ xấu, bởi không có số liệu đáng tin cậy thì không thể xây dựng chiến lược đúng để giải quyết vấn đề.

     

    Nhiều ý kiến cho rằng, nợ xấu tại các NHTM đến nay ước khoảng 500.000 tỷ đồng. Một khối lượng vốn không nhỏ đang nằm bất động đang tạo ra một lực cản rất lớn đối với dòng vốn tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Vì vậy cùng với việc tích cực áp dụng các biện pháp khả thi của mỗi NHTM trong việc giải quyết nợ xấu đã phát sinh, không để nợ xấu mới phát sinh thêm, Nhà nước cần sớm triển khai hoạt động có hiệu quả đối với Công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC), góp phần đẩy nhanh quá trình giải quyết tình trạng nợ xấu, góp phần khơi thông dòng chảy tín dụng trong nền kinh tế, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đương nhiên cần xác định trách nhiệm giải tỏa nợ xấu trước hết và chủ yếu vẫn thuộc về cả hệ thống ngân hàng cũng như phía các doanh nghiệp, song vai trò điều hành vĩ mô của Nhà nước để phối hợp hành động lúc này là vô cùng quan trọng.

     

    2.2.3. Giải cứu tình trạng doanh nghiệp phá sản

     

    Như đã nêu trên, điểm mấu chốt để giải quyết vấn đề kích cầu tín dụng không chỉ

     

     

    56

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    là lãi suất cho vay của ngân hàng. Một vấn đề cũng hết sức quan trọng, đó là khả năng hấp thụ, là sức cầu tín dụng của các doanh nghiệp hiện nay ra sao. Cũng lại có hiện tượng tương tự như vấn đề nợ xấu, đó là con số doanh nghiệp phá sản, tính đến thời điểm hiện nay hiện nay là bao nhiêu? Có lẽ không ai có câu trả lời chính xác! Con số được nhiều người nhắc đến là hơn 50.000 doanh nghiệp phá sản. Thế nhưng, tại phiên họp ngày 14/05/2013 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn sinh Hùng cho rằng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát,tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn , tỷ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”. Có thể coi đây là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng đối với vấn đề phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế. Rõ ràng thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay, dù lãi suất cho vay có giảm thì khả năng tăng trưởng tín dụng với chỉ tiêu điều hành là 12% trong năm 2013 cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi. Nhiều doanh nghiệp đã phát biểu rằng, trong thời gian gần đây, tuy lãi suất cho vay của một số ngân hàng đã giảm chút ít, song doanh nghiệp cũng không không muốn vay vì không biết vay để làm gì khi hàng tồn kho còn quá nhiều. Hoặc với một số doanh nghiệp khác, nợ xấu còn đè nặng trên vai, nên cũng rất khó tiếp cận với khoản vay mới, dù có nhu cầu.

     

    Khôi phục tình hình hoạt động của các doanh nghiệp là vấn đề cực kỳ khó khăn và đòi hỏi phải xử lý đồng bộ nhiều giải pháp, kể cả vi mô và vĩ mô. Từng doanh nghiệp phải nỗ lực song sự hỗ trợ từ giải pháp vĩ mô cũng vô cùng quan trọng. Nhà nước cần áp dụng các giải pháp cần thiết như :

     

    • Xem xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Cùng với việc giảm lãi suất cho vay, việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp lúc này sẽ tạo cơ hội lớn cho doanh nghiệp có lợi nhuận, có động cơ cần thiết kích thích sản xuất. Việc xem xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thể sẽ là quyết định không dễ chấp nhận đứng trên giác độ cân đối ngân sách trong thời gian trước mắt. Tuy nhiên, hãy vì mục tiêu lâu dài giải cứu doanh nghiệp để cứu cả nền kinh tế đang lâm nguy, chúng ta rất cần áp dụng giải pháp này.

     

    • Áp dụng các giải pháp cần thiết liên quan tới kích cầu tiêu dùng.

     

    Thời gian qua sức tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp rất thấp, dẫn tới tình trạng giá trị hàng tồn kho trong nền kinh tế ngày càng gia tăng và hệ quả đáng lo ngại của nó, chính là con số các doanh nghiệp phá sản lên tới hàng trăm ngàn như hiện nay. Vì vậy Nhà nước cần nghiên cứu để sớm đưa ra giải pháp kích cầu tiêu dùng, tương tự như kích cầu mua nhà ở xã hội vừa được triển khai. Điều này là hoàn toàn cần thiết và có thể khả thi, bởi lẽ với điều kiện thực tế đã 3 tháng liên tục (3,4,5/2013), CPI tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều giảm và tính chung CPI tháng 5/2013 cả nước giảm 0,06%.

     

    Kết luận

     

    Để có thể biến chỉ tiêu định hướng tăng trưởng kinh tế 5,5% trong năm 2013 thành hiện thực, trong bối cảnh nền kinh tế đang trong tình trạng vô cùng khó khăn như hiện nay, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó công cụ lãi suất cần được điều hành hết sức hợp lý, theo hướng tạo điều kiện hỗ trợ tối đa, để các doanh nghiệp phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Riêng với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2013 dự kiến 12%, cho đến thời điểm

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Những yếu tố thành công hay thất bại khi áp dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-%C3%9D-KI%E1%BA%BEN-V%E1%BB%80-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-B%C3%81O-C%C3%81O-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-C%E1%BB%A6A-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-NH%E1%BB%8E-V%C3%80-V%E1%BB%AAA-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

    Một số ý kiến . . .

     

    Kinh tế – Xã hội

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

     

    Võ Văn Nhị *

     

    Trần Thị Thanh Hải **

     

    TÓM TẮT

     

    Vấn đề chất lượng Báo cáo tài chính (BCTC) đã được trình bày, nghiên cứu ở nhiều tài liệu và các công trình nghiên cứu nhưng chỉ tập trung vào doanh nghiệp nói chung, chủ yếu là doanh nghiệp lớn và các công ty niêm yết. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thì việc nghiên cứu còn rải rác, chưa có hệ thống và chưa có tính chuyên biệt. Bài viết này tập trung tìm hiểu đánh giá chất lượng báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay và đưa ra một số giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng BCTC DNNVV nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng của các đối tượng khác nhau trong điều kiện nền kinh tế phát triển và hội nhập sâu rộng.

     

    Từ khóa: Chất lượng báo cáo tài chính, doanh nghiệp nhỏ và vừa

     

    SOME OPINION ABOUT THE FINANCIAL REPORT QUALITY OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRICES IN VIETNAM

     

    ABSTRACT

     

    The inancial reporting quality issue has been a controversial topic for many years. However,most of the debate has focused on large and listed companies rather than small and medium-sized enterprises (SMEs). The purpose of this paper is to seeks to provide an overview of the quality of SMEs’ inancial reporting in recent times. The study gives some solutions that will contribute to enhance the quality of SME inancial reporting. As a result, it helps to better satisfy the need of users in the context of quick development and deep intergration of Vietnamese economy.

     

    Keywords: inancial report quality, small and medium sizes enterprices

     

     

    1.   Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính (BCTC DNNVV)

    DNNVV ở Việt Nam được định nghĩa: là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba

     

    *   PGS.TS. Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

     

    • GV. Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

    cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

     

     

    3

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Quy mô

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp nhỏ

    Doanh nghiệp vừa

     

    siêu nhỏ

    Khu vực

    Số lao động

    Tổng

    Số

    Tổng

    Số

     

    nguồn vốn

    lao động

    nguồn vốn

    lao động

     
       
                 

    I. Nông, lâm nghiệp

    10 người trở

    20 tỷ đồng

    từ trên 10

    từ trên 20

    từ trên 200

     

    người đến

    tỷ đồng đến

    người đến

     

    và thủy sản

    xuống

    trở xuống

    200 người

    100 tỷ đồng

    300 người

     
         

    II. Công nghiệp và

    10 người trở

    20 tỷ đồng

    từ trên 10

    từ trên 20

    từ trên 200

     

    người đến

    tỷ đồng đến

    người đến

     

    xây dựng

    xuống

    trở xuống

    200 người

    100 tỷ đồng

    300 người

     
         

    III. Thương mại và

    10 người trở

    10 tỷ đồng

    từ trên 10

    từ trên 10 tỷ

    từ trên 50

     

    người đến

    đồng đến 50

    người đến

     

    dịch vụ

    xuống

    trở xuống

    50 người

    tỷ đồng

    100 người

     
         

    Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ

     

     

    DNNVV ở Việt Nam bao gồm các loại hình kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân và cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp này luôn đóng góp một phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách quốc gia, tạo ra một lượng việc làm lớn, khai thác và huy động mọi tiềm năng của các địa phương, tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn. Báo điện tử của chính phủ Việt Nam đầu năm 2011 còn đưa ra tính toán: Các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP và nếu tính cả 130.000 hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể, mức đóng góp tương đương 60% GDP.

     

    Tuy nhiên, các DNNVV còn một số mặt hạn chế. Ở khía cạnh tài chính, có thể thấy quy mô tài chính nhỏ, phụ thuộc khá nhiều vào vốn vay nên chưa có tính chủ động với các chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Thêm vào đó, khuynh hướng các doanh nghiệp này thường quản lý theo kinh nghiệm, quan hệ hợp tác trong kinh doanh còn thiếu và yếu. (Đỗ P.T., 2012)

     

    Doanh nghiệp nhỏ không chỉ đơn giản là phiên bản thu nhỏ của một doanh nghiệp lớn mà các nghiên cứu cho thấy các DNNVV có những điểm khác biệt hẳn so với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt liên quan đến nguồn lực, thị trường, mức độ linh hoạt, lãnh đạo và

     

    cơ cấu tổ chức.(Banham Heather C., 2010). Đặc biệt, DNNVV có những đặc điểm chi phối tới việc ban hành các quy định về kế toán như: Các doanh nghiệp này thường không phải là công ty đại chúng. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán của các DNNVV tập trung vào chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng. Do vậy nghĩa vụ pháp lý công bố thông tin tài chính của các doanh nghiệp này có những giới hạn nhất định và đơn giản hơn so với các công ty đại chúng quy mô lớn. Bên cạnh đó, do các nguồn lực và yêu cầu đặt ra đối với công tác kế toán có giới hạn nên việc đầu tư vào trang thiết bị, nguồn nhân lực cho công tác kế toán ở nhiều DNNVV gặp nhiều hạn chế. Ngoài ra, Lĩnh vực kinh doanh của các DNNVV thường tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các doanh nghiệp này thường là những nghiệp vụ cơ bản gắn liền với hoạt động kinh doanh chủ yếu. Các quan hệ kinh tế, tài chính phức tạp thường hiếm khi xảy ra. Những đặc điểm này ảnh hưởng quan trọng trong tiến trình nghiên cứu ban hành, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp lý về kế toán cho DNNVV cũng như tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp này.

     

     

    4

     

    Một số ý kiến . . .

     

    Qua quá trình phân tích ở trên, có thể thấy DNNVV có những đặc điểm riêng về : Nguồn cung cấp tài chính, cách thức tổ chức quản lý, đối tượng sử dụng BCTC,…điều này dẫn đến những điểm khác biệt giữa thông tin trình bày trên BCTC của DNNVV so với báo cáo của các doanh nghiệp lớn. Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đã cho thấy mối quan hệ này. Cressy và Olofsson (1997) đã trích từ nghiên cứu của Hughes cũng trong năm này rằng tồn tại sự khác biệt lớn về tổ chức kế toán giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV, chính xác hơn là khác biệt về nguồn tài chính của doanh nghiệp (entities inances), mà điều này ảnh hưởng trực tiếp đến ý kiến của các bên liên quan chủ yếu (idea of typical stakeholders) và yêu cầu với từng BCTC cụ thể. Theo nghiên cứu của Holmes

     

    • Nicholls (1989) (về thông tin kế toán ở các doanh nghiệp nhỏ nên được lập bởi bản thân doanh nghiệp hay kế toán thuê ngoài), trong đó nghiên cứu này đã chứng minh được các yếu tố như: quy mô doanh nghiệp (business size), số năm doanh nghiệp hoạt động dưới sự điều hành của bộ máy quản lý hiện tại (the number of years the business has been operating under existing management), lĩnh vực hoạt động (industrial sector), và tư duy của chủ doanh nghiệp/ nhà quản lý (the education of owner/manager of a business) có tác động lớn đến việc trình bày thông tin kế toán.(được trích bởi Asuman Atik). Theo đó, nhìn chung quy định của các quốc gia đều cho phép các DNNVV công bố thông tin ít hơn các doanh nghiệp lớn nhằm làm giảm gánh nặng quản trị cho các chủ doanh nghiệp (Cressy

     

    • Olofsson, 1997; Collis & Jarvis, 2002).

    Với những đặc điểm về quy mô và quản lý của DNNVV, dẫn đến thông tin trình bày trên BCTC của các doanh nghiệp này nhìn chung đơn giản, ngắn gọn hơn. Theo quy định hiện nay ở Việt Nam, thông tin trình bày

    trên BCTC của DNNVV trên cơ sở mẫu biểu trong quyết định 48/2006/QĐ-BTC có một số điểm khác biệt với BCTC của các doanh nghiệp nói chung, cụ thể như sau:

     

    Bảng cân đối kế toán:

     

    Bảng cân đối kế toán của DNNVV theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC vẫn chứa đựng những thông tin về cơ bản giống như bảng cân đối kế toán dành cho các doanh nghiệp nói chung đã trình bày ở mục 1.1.3, tuy nhiên với các doanh nghiệp này bảng cân đối kế toán đơn giản, ngắn gọn và ít chỉ tiêu hơn, chỉ bao gồm 64 chỉ tiêu.

     

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Nội dung Báo cáo kết quả hoạt động kinh

     

    doanh của DNNVV tương tự như báo cáo này tại các doanh nghiệp nói chung, chỉ khác

     

    • chỗ theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC báo cáo này gồm 19 chỉ tiêu, trong khi theo chế độ kế toán dành cho DNNVV trong quyết định 48/2006/QĐ-BTC, báo cáo này rút gọn lại còn 16 chỉ tiêu.

    Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

     

    Đối với DNNVV, Quyết định 48/2006/ QĐ-BTC cho phép các doanh nghiệp này lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ một cách tự nguyện chứ không bắt buộc.

     

    Thuyết minh BCTC

     

    Mẫu Bản thuyết minh BCTC cho DNNVV theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC được thiết kế vẫn khá đầy đủ các mục theo như Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, tuy nhiên nội dung các mục được đơn giản hóa, rút gọn hơn so với bản thuyết minh của các doanh nghiệp lớn.

     

    Bảng cân đối tài khoản

     

    Đây là báo cáo được yêu cầu thêm đối với DNNVV theo quy định tại quyết định số 48/2006/QĐ-BTC. Báo cáo này có thể lập cho tài khoản cấp 1 hoặc cả tài khoản cấp 1

     

     

    5

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    và tài khoản cấp 2, trong đó báo cáo số dư đầu năm, số phát sinh trong năm và số dư cuối năm của các tài khoản. Bảng cân đối tài khoản chỉ gửi cho cơ quan thuế để làm cơ sở cho việc kiểm tra số liệu khi quyết toán thuế và giúp cho công tác quản lý chặt chẽ hơn.

     

    2.   Các đặc điểm chất lượng của Báo cáo tài chính (BCTC)

     

    Chất lượng BCTC là vấn đề rất được quan tâm, từ các nhà nghiên cứu, soạn thảo văn bản cho đến chủ doanh nghiệp, người làm công tác kế toán và các đối tượng sử dụng thông tin khác.

     

    BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để lập và trình bày BCTC trung thực và hợp lý, doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với các quy định; Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu; Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.(Đoạn 9 & 11 của chuẩn mực kế toán 21 “Trình bày BCTC”)

     

    Ngoài ra trong đoạn 12 của chuẩn mực này cũng nên rõ: BCTC phải cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:

     

    1. Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;

     

    1. Đáng tin cậy, khi:

    Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;

     

    –  Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ

    đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;

     

    –  Trình bày khách quan, không thiên vị;

     

    –  Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;

     

    Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.

     

    Để đánh giá chất lượng BCTC, sau đây sẽ xem xét cụ thể dựa trên từng yêu cầu của chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày BCTC”, bao gồm:

     

    –  Tính trung thực, hợp lý

     

    –  Tính thích hợp

     

    –  Tính đáng tin cậy

     

    –  Tính dễ hiểu

     

    Để đạt được các yêu cầu trên, khi lập và trình bày BCTC cần tuân thủ các nguyên tắc: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ và có thể so sánh được. Việc tuân thủ một cách hài hòa các nguyên tắc trên sẽ giúp đảm bảo các đặc điểm chất lượng của BCTC, nâng cao tính hữu ích cho các thông tin trình bày trên BCTC, hỗ trợ đắc lực cho người sử dụng trong việc ra quyết định.

     

    3.           Các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC của DNNVV

     

    Hiện tại quy định pháp lý về BCTC và chất lượng BCTC DNNVV ở Việt Nam đã được xây dựng theo từng cấp độ: chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và văn bản pháp lý có liên quan. Tuy nhiên nội dung các văn bản này còn chưa hoàn chỉnh, tồn tại nhiều bất cập, đồng thời cũng do một số nguyên nhân khác xuất phát từ nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp, trình độ của người làm kế toán và yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin nên BCTC DNNVV ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế về mặt chất lượng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng thông tin để thực hiện việc đánh giá, kiểm soát và

     

     

    6

     

    Một số ý kiến . . .

     

    ra quyết định của các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế. Qua quá trình tìm hiểu và phân tích, chúng tôi có thể tổng hợp thành hai nhóm nhân tố chính tác động đến chất lượng BCTC DNNVV: các nhân tố tác động từ bên trong và các nhân tố tác động từ bên ngoài.

     

    3.1 Các nhân tố bên trong:

     

    Công tác tổ chức quản lý

     

    Cách thức tổ chức quản lý và triết lý quản trị của ban giám đốc các DNNVV có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng BCTC của các doanh nghiệp này. Qua tìm hiểu của chúng tôi thấy rằng tình hình chung hiện nay, hầu như các DNNVV chưa chú trọng đến kiểm soát nội bộ và đầu tư cho hệ thống kiểm soát nội bộ, do đó các khâu thu thập, xử lý thông tin để lên báo cáo chưa được kiểm soát đúng mức, hệ quả là tính đáng tin cậy của chất lượng BCTC chưa đảm bảo.

     

    Bên cạnh đó, một điều đáng mừng là xu hướng hiện nay các nhà quản lý đã dành sự quan tâm hơn cho nội dung thông tin trình bày trên BCTC. Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy ở một số doanh nghiệp BCTC được sử dụng trong công tác quản trị tại doanh nghiệp. Một khi ban giám đốc sử dụng thông tin từ BCTC thì chất lượng thông tin sẽ dần được cải thiện.

     

    Người làm công tác kế toán

     

    Thực trạng tại các DNNVV hiện nay cho thấy, những người làm công tác kế toán (nếu có) chỉ mang tính chất như là người ghi chép sổ sách (bookkeepers) chứ không phải là kế toán thực thụ (accountants). Bộ phận kế toán mới chỉ làm công việc tập hợp chứng từ, ghi chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh chứ chưa thực hiện công việc kiểm tra kế toán và phân tích hoạt động kinh doanh thông qua những thông tin kế toán cung cấp. Chính đều này đã làm cho việc phát hiện và điều chỉnh, sửa

    chữa, xử lý sai sót khó thực hiện được hoặc thực hiện chậm trễ, thiếu hiệu quả.

     

    Bên cạnh đó, khá nhiều các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ ở Việt Nam có xu hướng thuê dịch vụ kế toán thay vì tuyển dụng và đào tạo nhân sự cho bộ máy này. Điều này vừa đảm bảo tính chuyên nghiệp vừa giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, đạt được lợi ích kinh tế, tuy nhiên thông tin kế toán không đáp ứng tính kịp thời do thông thường, các kế toán dạng này chỉ nhận chứng từ vào cuối tháng để tổng hợp. Sản phẩm của kế toán là BCTC lúc này hầu như chỉ là để đối phó với các cơ quan chức năng quản lý, đặc biệt là cơ quan thuế; số liệu trên báo cáo không thực sự hữu ích cho việc ra quyết định. Ngoài ra, điều này có thể dẫn tới việc thiếu sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa người làm công tác kế toán đối với doanh nghiệp.

     

    3.2 Các nhân tố bên ngoài:

     

    Khung pháp lý về kế toán cho DNNVV Hiện nay khung pháp lý về kế toán cho

     

    DNNVV có nhiều hạn chế. Các quy định trọng luật kế toán chưa lưu ý đến đặc điểm riêng của các doanh nghiệp này. Về chuẩn mực, việc tinh giản bớt yêu cầu áp dụng bộ chuẩn mực kế toán chung chỉ là giải pháp tạm thời trước mắt, chưa có cơ sở khoa học. Chế độ kế toán đã được ban hành riêng cho DNNVV nhưng thực chất cũng là cắt xén từ chế độ kế toán theo quyết định 15 và tính pháp lý của văn bản này không cao nên việc đưa vào áp dụng trên thực tế còn hạn chế. Sự cộng hưởng từ các yếu tố này mang lại BCTC với chất lượng thông tin chưa thỏa mãn nhu cầu người sử dụng.

     

    Đối tượng sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin

     

    Người sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin của họ tác động lên chất lượng thông tin

     

     

    7

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    kế toán cung cấp. Nếu đa dạng hóa đối tượng sử dụng và đưa ra yêu cầu thông tin có chất lượng cao thì vấn đề chất lượng này sẽ được quan tâm và trở nên quan trọng. (Cătălin Nicolae ALBU and Nadia ALBU, Szilveszter Fekete , 2010).

     

    Từ thông tin thu thập, chúng tôi thấy rằng đối với DNNVVthì đối tượng sử dụng thông tin thực sự họ phải cung cấp là cơ quan quản lý nhà nước, trong đó đặc biệt là cơ quan thuế; có những doanh nghiệp cần cung cấp thông tin cho chủ doanh nghiệp, ngân hàng, chủ nợ theo yêu cầu về đặc điểm thông tin riêng, tuy nhiên cơ quan nhà nước lại có được những cách thức để áp đặt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ để phục vụ cho nhu cầu quản lý của các cơ quan này, như là nội dung thông tin trình bày qua mẫu biểu báo cáo thống nhất, thời gian công bố thông tin theo quy định,…chính vì thế mà cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ quan thuế luôn được xem là đối tượng quan trọng nhất mà doanh nghiệp cần phải đối phó. Mặc dù vậy, các đối tượng này không đưa ra yêu cầu rõ ràng về chất lượng thông tin. Chính những yếu tố này đã không tạo ra động lực để doanh nghiệp cải thiện chất lượng thông tin kế toán.

     

    4.  Một số giải pháp

     

    Để góp phần nâng cao chất lượng BCTC của DNNVV hiện nay cũng như về lâu dài, theo chúng tôi, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

     

    • Hoàn thiện các quy định pháp lý về về lập và trình bày BCTC

    Hiện nay các quy định pháp lý về trình bày và công bố thông tin trên BCTC chưa được chuẩn hoá, thiếu tính đồng bộ và hợp lý. Về chuẩn mực kế toán, các DNNVV áp dụng đầy đủ 7 chuẩn mực kế toán thông dụng, áp dụng không đầy đủ 12 chuẩn mực

    và không áp dụng 7 chuẩn mực kế toán do không phát sinh ở DNNVV hoặc do quá phức tạp không phù hợp với DNNVV.Việc lược bỏ nói trên làm giảm tính hệ thống và nhất quán của chuẩn mực kế toán và chính sách kế toán áp dụng tại các doanh nghiệp. Việc ban hành một bộ chuẩn mực riêng cho các DNNVV sẽ đảm bảo tốt hơn tính logic và hệ thống giữa nhu cầu thông tin, mục tiêu cung cấp thông tin với các quy định trong chuẩn mực kế toán. Điều này phù hợp với quan điểm của Hội đồng soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) khởi xướng từ đầu những năm 2000 và nhận được sự đồng thuận của nhiều chuyên gia, tổ chức trên thế giới. Xét ở góc độ DNNVV, việc tuân thủ hệ thống chuẩn mực kế toán riêng với các quy định đơn giản hơn, phù hợp hơn sẽ tạo điều kiện đảm bảo việc tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp này được tinh gọn, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả công việc. Xét ở góc độ đối tượng sử dụng thông tin kế toán DNNVV, các quy định kế toán đơn giản và phù hợp với quy mô doanh nghiệp sẽ cho ra sản phẩm BCTC đáng tin cậy, dễ hiểu, hữu ích và tiết kiệm chi phí cho người sử dụng trong việc phân tích dữ liệu để lấy thông tin.

     

    Bên cạnh đó, cũng cần rà soát lại nội dung chế độ kế toán cho DNNVV vì văn bản này được ban hành từ năm 2006, đến nay bối cảnh kinh tế đã có những thay đổi đáng kể nên nhiều nội dung thông tin quy định trong chế độ này chưa phù hợp. Ngoài ra, cần tăng cường tính pháp lý của văn bản này, không để như hiện nay doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng giữa hai chế độ kế toán làm ảnh hưởng đến khả năng so sánh của thông tin và gây khó khăn cho người sử dụng. Hơn nữa, doanh nghiệp không nằm yên một chỗ mà luôn có sự vận động, chuyển đổi quy mô nên hệ thống

     

     

    8

     

    Một số ý kiến . . .

     

    BCTC cũng cần phải được chuyển hoá. Do vậy, theo chúng tôi để thuận lợi cho công việc quản lý của các cơ quan chức năng, cũng như để thuận lợi cho doanh nghiệp trong tổ chức thực hiện công tác kế toán, đặc biệt là trong điều kiện có sự chuyển đổi quy mô doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì không nên quy định cùng một lúc hai chế độ kế toán như hiện nay mà cần hợp nhất để ban hành thống nhất một chế độ kế toán áp dụng thống nhất cho tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trên cơ sở đó, tùy theo từng cấp độ quy mô mà hướng dẫn doanh nghiệp có những điều chỉnh thích ứng nhằm thực hiện mục tiêu đa dạng hoá BCTC trên cơ sở mẫu BCTC chuẩn (Võ Văn Nhị, 2012). Mẫu BCTC chuẩn này có thể được thiết kế trên cơ sở hệ thống BCTC theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bản thuyết minh BCTC nhưng tùy theo quy mô và loại hình doanh nghiệp mà số lượng chỉ tiêu trình bày tăng giảm khác nhau. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể linh hoạt khi vận dụng và thuận tiện khi thu hẹp cũng như mở rộng quy mô, giúp tiết kiệm chi phí đáng kể. Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ, để dễ áp dụng các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có thể chỉ cần lập theo phương pháp trực tiếp.

     

    Ngoài ra, hệ thống tài khoản kế toán là bộ phận quan trọng trong chế độ kế toán, được quy định để thực hiện việc phân loại và xử lý thông tin từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để phản ánh một cách có hệ thống số hiện có và tình hình biến động của các đối tượng kế toán trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.Để có thể trình bày BCTC trên mẫu biểu thống nhất, chỉ gia gảm số lượng chỉ tiêu theo quy mô doanh nghiệp thì hệ thống tài

    khoản kế toán cũng cần được quy định thống nhất áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế và có hướng dẫn sử dụng cho các cấp độ doanh nghiệp khác nhau. Điều rõ ràng là các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ thường hoạt động kinh doanh đơn giản nên chỉ sử dụng một số tài khoản thông dụng, phổ biến; Với các doanh nghiệp vừa sẽ sử dụng nhiều tài khoản hơn và đương nhiên hệ thống tài khoản kế toán này sẽ bao trùm lên toàn bộ các hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các loại hình hoạt động khác nhau. Hiện tại, có thể lấy hệ thống tài khoản kế toán cấp 1 hiện hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC để áp dụng chung, thống nhất cho các doanh nghiệp, còn tài khoản cấp 2 trở đi doanh nghiệp tự mở theo yêu cầu quản lý và thực tế phát sinh ở bản thân từng đơn vị, có chăng chỉ cần gợi ý thêm tài khoản được áp dụng hoặc có thể áp dụng cho lĩnh vực hoạt động nào, cấp độ quy mô doanh nghiệp nào; thông tin của tài khoản được sử dụng để lập các loại báo cáo kế toán nào. Điều này giúp tạo ra hệ thống tài khoản có tính linh hoạt cao và việc phản ánh vào tài khoản phù hợp với đặc điểm hoạt động và cấp độ quy mô doanh nghiệp.

     

    • Tăng cường vai trò quản trị doanh nghiệp trong kiểm soát và đánh giá chất lượng Báo cáo tài chính

     

    Trong điều kiện yêu cầu thông tin cho các bên liên quan và theo học thuyết kinh tế cơ bản thì BCTC chất lượng cao là kết quả tất yếu của việc giám sát và quản trị hợp tình hợp lý (equity monitoring and governance) (Deaconu, 2012 trích từ Beuselinck & Manigart, 2007). Do đó, việc tăng cường vai trò quản trị doanh nghiệp trong kiểm soát và đánh giá chất lượng BCTC là hết sức quan trọng. Nếu như các doanh nghiệp lớn, các

     

     

    9

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    công ty đại chúng có kiểm toán nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng hêt sức bài bản để đảm bảo sự tuân thủ từ khâu thu thập, xử lý và cung cấp thông tin. Thì với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, họ chưa có đủ tầm và lực để có thể tổ chức tương tự. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là không có biện pháp để mang lại BCTC có chất lượng cao nhất. bắt đầu từ những vấn đề đơn giản, tưởng chừng như không liên quan như thiết lập các quy định, chính sách (ngay cả chính sách bán chịu, chính sách thu hồi công nợ – ảnh hưởng đến khoản mục Nợ phải thu trên bảng cân đối kế toán, chính sách về mua và dự trữ hàng tồn kho); cho đến việc đưa ra các quy trình xử lý tối ưu, chặt chẽ. Hiện nay nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng hệ thống kiểm soát nội bộ có thể được chia thành hai nhánh: kiểm soát kế toán (accounting control) và kiểm soát quản trị (administrative control). Nếu làm tốt cả hai nhánh này sẽ mang lại thông tin đáng tin cậy cho người sử dụng.

     

    Việc cung cấp thông tin kịp thời, đáng tin cậy phục vụ ngay cho công tác quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng cần lưu ý là hiện nay, khả năng sử dụng BCTC của lãnh đạo doanh nghiệp còn thấp. Để có thể kiểm soát và nâng cao chất lượng BCTC, đòi hỏi người quản lý, chủ doanh nghiệp cũng cần phải trang bị những kiến thức nhất định về kế toán để có thể tham gia vào quy trình kiểm soát nội bộ.

     

    Cũng cần cân đối giữa chi phí và lợi ích khi thiết kế và duy trì các thủ tục kiểm soát nội bộ do đặc thù về quy mô của các DNNVV, không thể đòi hỏi các doanh nghiệp này tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ hoành tráng với quy trình, thủ tục phức tạp. Việc tinh giản bộ máy, thủ tục, việc vi phạm nguyên tắc bất

    kiêm nhiệm là vấn đề không thể tránh khỏi tại các doanh nghiệp này.

     

    • Nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm của bộ phận kế toán

    Như đã phân tích ở trên, vấn đề con người là vấn đề then chốt trong quá trình nâng cao chất lượng BCTC. Do vậy, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa nói riêng cần chú trọng vào công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn của bộ phận kế toán, nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân tham gia công tác kế toán trong đơn vị. Doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho kế toán viên tham gia các lớp cập nhật kiến thức, bồi dưỡng nghiệp vụ để có đủ năng lực thu thập, xử lý và cung cấp thông tin. Có như vậy mới mong tạo ra sản phẩm là BCTC với chất lượng cao, thích hợp với nhu cầu người sử dụng báo cáo. Đối với các doanh nghiệp siêu nhỏ, việc không tổ chức bộ máy kế toán mà chỉ thuê ngoài có thể là một giải pháp kinh tế hơn. Tuy nhiên cũng cần lưu ý khi thuê ngoài các đối tượng thực hiện dịch vụ kế toán thì cần xem xét lựa chọn cá nhân có đủ năng lực, trách nhiệm và có chứng chỉ hành nghề theo quy định; hoặc tổ chức thì phải có chức năng kinh doanh dịch vụ này; và phải ký kết hợp đồng để ràng buộc trách nghiệm.

     

    • Mạnh dạn trong đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và công tác kế toán

     

    Không chỉ các doanh nghiệp lớn mà các DNNVV cũng cần mạnh dạn đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, đặc biệt là trong công tác kế toán. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, cụ thể là sử dụng ERP, hoặc phần phần kế toán, hay sử dụng kỹ thuật web,…sẽ giúp cải thiện tất cả các khâu từ thu thập thông tin, quá trình xử lý, cũng như lập

     

     

    10

     

    Một số ý kiến . . .

     

     

    BCTC và công bố các thông tin này ra bên ngoài. Việc ứng dụng này không chỉ nhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin trên BCTC bắt buộc mà nó còn giúp thiết lập các báo cáo quản trị để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nhà quản lý. Các báo cáo quản trị được lập trực tiếp từ phần mềm, hoặc thông qua công nghệ web phù hợp với dữ liệu được thu thập và xử lý tính đến thời điểm đó. Bên cạnh đó, từ phần mềm có thể chiết xuất thông tin để cung cấp thêm một số báo cáo chi tiết, báo cáo phân tích bổ sung đính kèm bên cạnh hệ thống BCTC theo quy định mà không làm tặng gánh nặng cho bộ phận kế toán, nhờ đó nâng cao tính hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Để người sử dụng dễ dàng tiếp cận được thông tin kế toán, cần yêu cầu bắt buộc BCTC phải được công bố trên trang web của doanh nghiệp. Đây là phương thức công bố thông tin đơn giản, kịp thời mà hiệu quả nhất. Một khi công ty công bố thông tin trung thực và đầy đủ sẽ tạo ra và duy trì niềm tin của người sử dụng đối với công ty, từ đó giúp tăng giá trị thị trường của công ty. Cũng lưu ý rằng không phải tất cả các báo cáo đều được công bố hay cần phải công bố mà một số báo cáo sẽ được giới hạn đối tượng sử dụng để phục vụ cho yêu cầu quản lý. Việc phân quyền trên phần mềm hay trên web được thiết kế hoàn toàn dễ dàng. Công tác bảo mật được đảm bảo và việc lưu trữ tài liệu trên web vô cùng đơn giản.

     

    Tuy nhiên vấn đề nào cũng có tính hai mặt của nó. Khi nghiên cứu đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức công tác kế toán cần đảm bảo được tính cân đối lợi ích – chi phí, so sánh hiệu quả mang lại với chi phí bỏ ra để quyết định đầu tư đến mức độ nào cho phù hợp.

    • Kiểm soát và đánh giá chất lượng thông

    tin

     

    Chất lượng thông tin BCTC của doanh nghiệp không chỉ do bản thân doanh nghiệp quyết định mà còn chịu sự chi phối của các cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm. Lâu nay, vấn đề kiểm soát và đánh giá chất lượng BCTC DNNVV gần như bỏ ngỏ. Các cơ quan chức năng đã ban hành các quy định pháp lý liên quan về lập và trình bày BCTC, các đặc điểm chất lượng thông tin trên BCTC. Nếu như BCTC của doanh nghiệp nhà nước, các công ty niêm yết thường xuyên chịu sự giám sát của cơ quan chủ quản, sở giao dịch chứng khoán,..thì việc DNNVV thực thi quy định pháp luật về kế toán tới đâu, tuân thủ quy định tới mức độ nào, công bố BCTC ra sao vẫn chưa được giám sát chặt chẽ, chủ yếu việc kiểm tra chỉ thực hiện thông qua cơ quan thuế, mà thuế chỉ là một trong rất nhiều đối tượng kế toán cung cấp thông tin. Cơ quan này lại chịu sự chi phối của các văn bản pháp luật ngành thuế nên chỉ xem xét việc nộp báo cáo đúng hạn, việc tính toán và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí cho Nhà nước theo quy định còn các đặc điểm chất lượng của thông tin trên BCTC không thuộc phạm trù xem xét của cơ quan thuế. Ngoài ra còn có những biện pháp răn đe được quy định trong điều 10 Nghị định số 185/2004/NĐ-CP được Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán góp phần ngăn ngừa hành vi không tuân thủ trong việc công bố thông tin kế toán. Tuy nhiên những mức xử phạt quy định trong văn bản này hết sức nhẹ nhàng nên chưa đủ tính răn đe. Hiện nay Bộ Tài chính đang tổ chức lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính

     

     

    11

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập để trình Chính phủ ban hành. Nghị định quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, mức phạt, thẩm quyền xử phạt và dự kiến Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2013. Mặc dù văn bản này chưa được ban hành nhưng theo nhận định chủ quan của nhóm tác giả những quy định trong Chương II “Hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và mức xử phạt trong lĩnh vực kế toán”, điều 9 liên quan đến BCTC thì mức phạt cao nhất chỉ là 30 triệu đồng thì chưa tương xứng với hậu quả mà các hành

     

    • này mang lại nên hiệu quả của văn bản này trong việc đảm bảo tính tuân thủ có thể không đạt được như mong đợi. Theo chúng tôi cần có những biện pháp xử lý nghiêm khắc và mạnh tay hơn đối với các doanh nghiệp có hành vi vi phạm.

     

    Bên cạnh đó, Luật kiểm toán độc lập đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 và Nghị định số 17/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập, tuy nhiên theo nội dung các văn bản này thì các DNNVV nếu không phải là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hay kinh doanh lĩnh vực đặc thù,…nhìn chung không thuộc diện kiểm toán bắt buộc mà chỉ khuyến khích. Như vậy trên thực tế việc kiểm soát chất lượng BCTC các doanh nghiệp này gần

    như thả nổi. Trong thời gian tới, một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng BCTC DNNVV đó là cần chú trọng khâu kiểm soát và đánh giá chất lượng thông tin thông qua công tác kiểm toán. Kiểm toán BCTC hàng năm có thể không khả thi với các DNNVV do áp lực về chi phí, tuy nhiên ít nhất cũng cần quy định bắt buộc soát xét BCTC năm đối với các doanh nghiệp này để đánh giá tính trung thực hợp lý của BCTC, bảo vệ quyền lợi người sử dụng thông tin.

     

    5.  Kết luận

     

    Tăng cường chất lượng BCTC DNNVV là nhu cầu cấp thiết để nâng cao vị trí cũng như tăng cường trách nhiệm xã hội của các DNNVV trong nền kinh tế hội nhập và phát triển.

     

    Việc từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, tăng cường vai trò quản trị trong kiểm soát và đánh giá chất lượng BCTC cũng như từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức công tác kế toán đã giúp cho hệ thống BCTC có những cải tiến đáng kể và phần nào đã đáp ứng được yêu cầu thông tin đa dạng cho nhiều đối tượng. Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế phát triển nhanh chóng và hội nhập sâu rộng như hiện nay, thông tin cung cấp từ các BCTC vẫn chưa theo kịp với nhu cầu của người sử dụng. Do đó vấn đề nâng cao chất lượng thông tin kế toán nói chung nâng cao chất lượng BCTC của DNNVV nói riêng cần được các cơ quan ban ngành và bản thân doanh nghiệp cùng phối hợp giải quyết.

     

     

     

    12

     

    Một số ý kiến . . .

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Tiếng Anh

     

    • Banham Heather C. (2010): External Environmental Analysis For Small and medium enterprises,

     

    Journal of Bussiness & Economics Research, Vol. 8, No.10: 19:25.

     

    • Cătălin Nicolae ALBU and Nadia ALBU, Szilveszter Fekete (2010): The context of the possible IFRS for SMEs implementation in Romania, An exprolatory Study. Accounting And Management Information Systems, vol 9, No.1: 45-71.

     

    • Collis J., Jarvis R. (2002): Financial information and the management of small private entities, Journal of Small Business and Enterprise Development, 9(2):100-110.

     

    • Cressy R.,Olofsson C. (1997) European SME inancing: an overview, Small Business Economics,

     

    9: 87-96.

     

    • Deaconu A., Buiga A., Strouhal J. (2012): SMEs inancial reporting: Attitudes towards IFRS for

     

    SMEs, Studia UBB, Oeconomica, Volume 57, Issue 1: 101-122.

     

    • Evans L.,Di Pietra R., Gebhardt G.,Hoogendoorn M., Marton J., Mora A., Thinggard F., Vehmanen P., Wagenhofer A. (2005): Problems and opportunities of an International Financial Reporting Standard for small and medium-sized entities, the EEA FRSC’s Comment on the IASB’s Discussion paper, Accounting in Europe, 2: 23-45.

     

    • Hana Bohusova (2011), Adoption of IFRS for SMEs over the world, The Business Review * Cambridge ,Vol.18 No.2, December 2011: 208-214.
    • Ha van Wyk & J Rossouw (2009): IFRS for SMEs in South Africa: a giant leap for accounting, but

     

    too big for smaller entities in general, Meditari Accountancy Research Vol.17 No.1: 99-116.

     

    • International Accounting Standard Boars (2009). International Financial Reporting Standard for Small and Madium- size Entities.
    • Sian S.,Roberts C. (2009) UK small owner-manager businesses:accounting and inancial reporting needs, Jounal of Small Business and Enterprise Development, 16(2): 289-305.
    • Veneziani, M. & Teodori, C. (2008): The International Accounting standards and Italian non-listed companies:perception and economic impact, The results of an empirical survey, paper presented

    at 31st Annual Congress of the European Accounting Association, 23-25 April, Rotterdam, the Netherlands.

     

    [12].http://search.proquest.com/pqcentral/docview/451581686/abstract/13BEF0C13D33AB22067/13? accountid=63189 access 30/01/2013

     

    [13].http://search.proquest.com/pqcentral/docview/863130188/fulltext/13BEF1473521DF9B196/6?ac countid=63189 access 30/01/2013.

     

    Tiếng Việt

     

    • Bộ tài chính (2006), Chế độ kế toán cho DNNVV, theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006, Bộ tài chính, Hà Nội.
    • Đỗ Phương Thảo (2012): Tìm hướng đi cho DNNVV của Việt Nam trước ngưỡng cửa năm 2015, Tạp chí Khoa học Thương Mại, Số 50, tháng 10/2012: Trang 56-59.
    • Lưu Đức Tuyên (2012): Áp dụng chuẩn mực kế toán cho các DNNVV, Tạp chí nghiên cứu Tài chính Kế toán, Số 11 (112), 2012: Trang 41-44.
    • Trần Thị Thanh Hải (2012), Đánh giá hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp hiện hành và định hướng cho việc thiết lập chuẩn mực kế toán áp dụng cho DNNVV ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp trường, CS-2011-54.

     

    • Võ Văn Nhị & các tác giả (2012), Hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam để nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Mã số B.2010-09-102.

     

    • Vụ chế độ kế toán và kiểm toán (2008): Nội dung và hướng dẫn 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội, 2008.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]