Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                A IA –              
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%    
        12%                    
                   
                             
                             
                               
    c«ng ty                    
    kh¸c-               Prudential-
    18,2%                 34%    
                               

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu

    chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%C3%AAp-Tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-h%E1%BA%A1n-ch%E1%BA%BF-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-xe-c%C6%A1-gi%E1%BB%9Bi-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-PJICO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    I.                   THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH XE CƠ GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Xe cơ giới:

    Là tấ t cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, trừ xe đạp máy.

    Theo Luật giao thông đường bộ: tại Điều 3, Mục 13, 15.

    • Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm: xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự kể cả xe cơ giới dành cho người tàn tật.
    • Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.

    1.                 Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay.

    Trong quá trình hoạt động xe cơ giới có một số đặc điểm sau liên quan đến quá trình bảo hiểm:

    • Số lượng đầu xe tham gia giao thông đường bộ ngày càng tăng và có những thời kỳ tăng đột biến làm cho tai nạn có những thời kỳ xảy ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng. Năm 1995 số lượng ôtô là 340.779 chiếc, xe máy 3.578.156 chiếc nhưng đến năm 2004 (chỉ 10 năm sau) số lượng ôtô đã là 735.000 chiếc và xe máy 12.859.000 chiếc. Vậy chỉ trong 10 năm số lượng ôtô đã tăng 2,2 lần và số lượng xe máy đã tăng 3,6 lần.
    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, tính việt dã tốt và nó tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy xác xuất rủi ro là rất lớn.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phụ thuộc rất lớn vào cơ sở hạ tầng, thời tiết khí hậu, địa hình … Năm 1995 có 112.996 km đường bộ, nhưng chỉ có 19,8% đường rải nhựa và bê tông. Cho đến năm 2004 có 127.678 km, trong đó 38% là đường rải nhựa và bê tông. Hiện nay nước ta có 109 đèo dốc nguy hiểm các loại.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ chịu sự chi phối của một số bộ luật của quốc gia.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do nh ững đặc điểm trên có tính đặc thù nên ở tất cả các nước khi đã có bảo hiểm thì bao giờ cũng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Và ở Việt Nam thì nghiệp vụ này cũng đã được triển khai phổ biến và rộng rãi.

    Để biết cụ thể số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay xem ở bảng

    sau:

    Bảng 1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Việt Nam hiện nay.

    Chỉ Tổng số ôtô + xe Ôtô   Xe máy
    tiêu máy            
    Năm Số lượng   Tốc độ Số lượng   Tốc độ Số lượng Tốc độ
        tăng     tăng   tăng
          (%)     (%)   (%)
    1995 3.918.935   17,6 340.779   03,3 3.578.156 19,3
    1996 4.494.250   14,7 386.976   13,5 4.208.274 17,6
    1997 5.244.978   16,7 417.768   07,9 4.827.210 14,7
    1998 5.643.000   07,6 443.000   06,0 5.200.000 07,7
    1999 6.051.000   07,2 465.000   04,9 5.586.000 07,4
    2000 6.965.562   15,1 486.608   04,6 6.478.954 15,9
    2001 8.916.134   28,0 557.092   14,5 8.389.042 29,5
    2002 10.880.401   22,0 607.401   09,0 10.273.000 22,4
    2003 12.054.000   10,8 675.000   11,1 11.379.000 10,7
    2004 13.594.000   12,7 735.000   08,8 12.859.000 13,0
                  (Nguồn:   công   ty
                Pjico).  

    2. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam.

    Tai nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thông đường bộ nói riêng đang là thách thức đối với tất cả các quốc gia trên thế gới. Hiện nay tai nạn giao thông ở Việt Nam đ ang gia tăng rất đ áng lo ngại và cũng là mối quan tâm hàng đầu của dư luận Xã hội, của Đảng và của Chính Phủ.

    Tai nạn giao thông xảy ra thườ ng để lại hậu quả rất nặng lề và hiện này nó đang là bài toán không có lời giải đối với mạng lưới giao thông ở nước ta. Qua số liệu thống kê cho thấy số v ụ tai nạn giao thông ngày một tăng cả về số lượng và quy mô. Đòi hỏi tất cả các ngành các cấp có liên quan phải sớm vào cuộc tìm ra lời giải cho bài toán này vì tai nạn giao thông làm mất đi củ a cải của xã hội, mất ổn định xã hội, nghiêm trọng hơn là hậu quả của nó để lại.

    Số vụ tai nạn giao thông ở nước ta có chi ều hướng ngày một tăng cao, năm 1995 xảy ra 15.376 vụ, đến n ăm 2002 s ố vụ tai nạn xảy ra đã gấp 1,8 lần số vụ năm 1995 (xảy ra 27.134 vụ ). Riêng 2 năm tr ở lại đ ây số vụ tai nạn có chiều hướng chững lại do sự đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và ý thức

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người dân đã được nâng lên đáng kể. Đặc biệt năm 2003 tốc độ tăng tai nạn giao thông mang dấu âm (-28,2%) đây là dấu hiệu đáng mừng cũng do trong năm này các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế tình hình tai nạn giao thông như: giải toả chỗ lấn chiếm lòng đườ ng vỉa hè, họp chợ trái phép… cho tới những biện pháp mạnh tay nh ư: bắn tốc độ, kiểm tra nồ ng độ cồ n… cũng trong n ăm này r ất nhiều dự án an toàn giao thông đã được đưa vào hoạt động và có tác dụng tích cực.

    Tai nạn giao thông không chỉ gia tăng về số lượ ng mà nguy hiểm hơn đó là quy mô của tai nạn. Từ n ăm 1995 số người chết do tai nạn giao thông là 5.431 đến nă m 2004 con số này đã gấp 2,3 lần (số ng ười ch ết do tai nạn giao thông năm 2004 là 12.644 người) trong đó không ít người là những lao động chính trong gia đình, tr ụ cột trong gia đình mà sự ra đi quá đột ngộ t của họ là một cú sốc lớn đố i với gia đình đó và ngày hôm sau con em họ sẽ sống ra sao? Nguy hiểm h ơn trong số những nạn nhân đó có không ít những thanh niên tr ẻ tuổ i (ngu ồn lao động tương lai của đất nước) họ vừa là nạn nhân nhưng cũ ng đồ ng thời là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chỉ vì một phút thi ếu suy nghĩ, bồng b ột, đây là điều đáng tiếc nhất mà chúng ta phải lên án và phải có những biện pháp can thiệp thích hợp ngay từ đầu trước khi tai nạn đáng tiếc xảy ra.

    Quy mô của tai nạn còn được thể hiện qua số người b ị thương do tai nạn giao thông. Năm 1995 có 16.921 người b ị thương do tai nạn giao thông đến năm 2004 con số này đã là 21.728 người. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện t ừ TW đến địa phương và trong số những ngườ i bị thương sẽ có không ít người trở thành tàn tật vĩnh viễn (người thực vật) sống dựa vào thu nhập và khả năng chăm sóc củ a người khác. Thiệt hại về người trong tai nạn giao thông là thiệt hại vô giá mà không ai muốn gặp phải do vậy, để hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra phụ thuộc vào ý thức và hành động của tất cả mọi người.

    Để bi ết cụ thể tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam qua các năm xem ở bảng sau:

    Bảng 2:Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 1995-2004.

    Chỉ Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị Tỷ lệ số
    tiêu         thương ngườ i
                  chết
                  trên
      Số vụ (vụ) Tốc độ Số Tốc độ Số Tốc độ 10.000
    Năm   tăng người tăng người tăng xe cơ
      (%) (người) (%) (người) (%) giới

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.       Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                     
    1995 15.376 +17,2 5.431 +19,3   16.921 +29,5 13,8
    1996 19.075 +24,0 5.581 +2,7   21.556 +27,3 12,1
    1997 19.159 +0,4 5.681 +1,8   21.905 +1,6 10,8
    1998 19.975 +4,3 6.067 +6,8   22.723 +3,7 10,7
    1999 20.773 +3,8 6.671 +9,9   23.911 +5,2 10,9
    2000 22.486 +8,5 7.501 +12,4   25.401 +6,2 10,7
    2001 25.041 +11,3 10.477 +39,6   29.188 +14,9 11,7
    2002 27.134 +8,3 12.801 +22,2   30.733 +5,3 11,8
    2003 19.852 -28,2 11.319 -9,4   20.401 -35,2 9,4
    2004 20.944 +5,5 12.644 +11,7   21.728 +6,5 9,3

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Tình hình tai nạn giao thông tăng một cách đáng lo ngại như vậy là bởi các nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Xuất pháp từ đặc điểm của xe cơ giới là có tính động cơ cao và tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy, xác xuất rủi ro lớn hơn các loại hình giao thông vận tải khác.
    • Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên gặp phải hạn hán, lũ lụt, địa hình hiểm trở 3/4 diện tích là đồi núi gây khó khăn cho việc đi lại vận chuyển.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Do nhu cầu vận chuyển, đi lại cộng với giá thành xe cơ giới ngày càng hạ làm cho số lượng xe cơ giới tham gia giao thông tăng đột biến. Hiện nay cả nước có 735.000 xe ôtô và 12.859.000 xe máy. Trong đó tốc độ gia tăng của xe ôtô hàng năm là 8-9% (khoảng 50.000 chiếc/năm) còn tốc độ gia tăng của xe máy là 20-30% (khoảng 1,5- 2 triệu chiếc/năm). Sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện cơ giới trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp làm cho mật độ các phương tiện trên đường tăng lên cũng đồng nghĩa với việc tăng xác xuất gây tai nạn giao thông.
    • Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông đường bộ trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được với tốc độ gia tăng của các phương tiện nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp. HCM.
    • Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông xuất phát từ người điều khiển phương tiện trong đó, ý thức của người điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính. Thống kê nguyên nhân gây tai nạn giao thông của nhiều năm qua đều cho thấy từ 70- 80% các vụ tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông không chấp hành đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông (vi phạm tốc độ chiếm 30%, trách vượt sai quy định

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chiếm 21%, say rượu bia chi ếm 7,3%…). Tổng số xe cơ giới đường bộ là 13.594.000 xe nhưng chỉ có 5.863.857 người có giấy phép lái xe chiếm 43,1%. Điều này cho thấy còn nhiều người không cần họ c luật, không cần thi giấy phép lái xe nhưng vẫn ngang nhiên điều khiển phương tiện, coi thường pháp luật.

    • Ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông của người dân Việt Nam còn kém. Hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh, họp chợ… xảy ra phổ biến, hiện tượng coi đường quốc lộ là sân phơi, nơi tập kết vật liệu xây dựng, nơi chơi thể thao… tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến mất an toàn giao thông.

    II.               SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1.                 Ưu điểm của loại hình giao thông đường bộ tại Việt Nam.

     

    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, linh hoạt với sự tham gia đông đảo của các loại xe: xe tải, xe khách, xe con, xe máy… hoạt động trong phạm vi rộng kể cả địa hình phức tạp, có thể vận chuyển người và hàng hoá tới những nơi mà các loại hình vận tải khác không thể đến được.
    • Tốc độ vận chuyển của loại hình vận tải này nhanh với chi phí vừa phải. Tiền vốn đầu tư mua sắm phương tiện, xây dựng bến bãi ít tốn kém hơn các hình thức khác, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và thu nhập của người dân Việt Nam.
    • Việc sử dụng các phương xe cơ giới cũng đơn giản và thuận tiện hơn các loại phương tiện khác.

    Với ưu điểm trên số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay đang phát triển như vũ bão.

    2.                 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xe cơ giới.

    Tình trạng tai nạn giao thông ngày càng tăng cả về số vụ và mức độ nghiêm trọng. Mặt khác, có tới 70% số ngườ i đi trên các phương tiện giao thông là người chủ, người trụ cột trong gia đình cũng như ở các doanh nghiệp nên khi tai nạn giao thông xảy ra thì thiệt hại không chỉ bó hẹp trong phạm vi vụ tai nạn mà còn làm mất thu nhập cho cả gia đình, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh và hậu quả cho nền Kinh tế quố c dân. Bên cạnh đó, có những chủ xe gây tai nạn rồ i bổ trốn. Việc giải quyết bồ i thường trở nên khó khăn, lợi ích của người bị nạn không được b ảo đảm, gây ảnh hưởng tiêu cực trong dư luận xã hội. Bởi vậy, nhu cầu lập quỹ chung để bù

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đắp tổn thất là một yếu tố khách quan. Đó là lý do cơ bản cho thấy sự cần thiết khách quan cho sự ra đời của bảo hiểm xe cơ giới.

    Khi tai nạn giao thông xảy ra, ngườ i có lỗi phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do anh ta gây ra bao gồm:

    • Thiệt hại về người và tài sản của người thứ ba và hành khách vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về người và tài sản cũng như thiệt hại do gián đoạn kinh doanh của chính chủ xe.

    Trên thực tế việc giải quyết hậu quả của những vụ tai nạn giao thông thường rất phức tạp và mất nhiều thời gian vì một số lý do:

    • Sau khi gây tai nạn một phần do hoảng sợ, một phần do thiếu trách nhiệm, lái xe đã bỏ trốn để mặc cho nạn nhân phải chịu hậu quả.
    • Lái xe quá nghèo, không đủ khả năng tài chính để bồi thường thiệt hại cho người thứ ba cũng như cho chủ xe và hàng hoá trên xe.
    • Sau tai nạn lái xe bị thiệt mạng không thể bồi thường cho nạn nhân

    được.

    Vậy để đảm bảo bù đắp những thiệt hại sau những vụ tai nạn, thì việc tham gia bảo hiểm xe cơ giới là hoàn toàn cần thiết. Nhà bảo hiểm sẽ bù đắp các thiệt hại của chính chủ xe cũng như thay mặt chủ xe bồi thường cho người thứ ba, giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả tai nạn và sớm ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống.

    3.                 Tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới.

    Hoạt động của nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã đem lại cho cá nhân, tổ chức, xã hội những tác dụng to lớn sau:

    – Đối với cá nhân:

    Rủ i ro là yếu tố ngẫu nhiên không lường trước được, có thể xảy ra cho bất cứ cá nhân, bất cứ phương tiện giao thông nào và hoàn toàn nằm ngoài ý muố n chủ quan của con ng ười. Thêm vào đó xe cơ giới dù là xe máy cũng là một tài sản có giá trị lớn. Do v ậy b ảo hiểm xe cơ gi ới ra đời góp phần ổn định tài chính, khắc phục những hậu qu ả khó khăn về vật chất cũng như tinh thần cho ngườ i bị nạn, giúp họ nhanh chóng khôi phục sau rủi ro tai nạn. Đồng thời, nó cũng giúp ch ủ phương tiện trách được những khoản chi phí bất thường làm mất cân đố i tài chính, đảm b ảo cho người bị thiệt hại được thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự của chủ trách nhiệm.

    Nh ờ có quỹ t ập chung của nhà bảo hiểm, khi có tai nạn xảy ra nhà bảo hiểm giải quyết bồi thường nhanh chóng, kịp thời góp phần xoa dịu bớt căng thẳng giữa chủ xe và nạn nhân.

    – Đối với xã hội:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Việc triển khai nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã góp phần đảm bảo an ninh và an toàn xã hội. Thông qua công tác thương lượng, hoà giải làm giảm bớt bức súc căng thẳng giữa chủ xe và người bị thiệt hại trong vụ tai nạn. Nó c ũng giúp lái xe luôn có ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông góp phần ngăn ngừa tổn thất.

    – Đối với Nhà Nước:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe c ơ giớ i ra đời cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà Nước đồ ng thời làm tăng thu cho ngân sách Nhà Nước, tăng thu ngoại tệ cho Nhà Nước. Phí bảo hiểm là nguồn tài chính đáng kể, ngoài việc được dùng để bồi thường thiệt hại và đề phòng hạn chế tổn thất, nó còn được dùng để nâng c ấp và xây dựng cơ sở h ạ tầng giao thông, một mặt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặt khác hạn ch ế tai nạn giao thông xảy ra và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

    III. MỘT SỐ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.

    Bảo hiể m TNDS của chủ xe cơ gi ới đối với ngườ i th ứ ba đây là hình thức bảo hiểm bắt buộc đối với tất cả các chủ xe cơ giới, bởi vì:

    • Xe cơ giới là một nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây tai nạn bất cứ lúc nào mà con người không thể lường trước được. Đất nước ngày càng phát triển, mạng lưới giao thông ngày càng dày đặc thì tai nạn do xe cơ giới gây ra ngày càng nhiều.
    • Bảo hiểm TNDS của xe cơ giới là một biện pháp kinh tế mà các chủ xe có trách nhiệm đóng góp về mặt tài chính để hình thành nên quỹ bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm quản lý. Quỹ này nhằm đảm bảo bồi thường nhanh chóng, khắc phục hậu quả kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của những người bị thiệt hại về thân thể và tài sản do xe cơ giới gây ra. Đặc biệt là trong trường hợp người gây tai nạn không có khả năng về kinh tế để đền bù thiệt hại hoặc người đó cũng đã tử vong trong chính vụ tai nạn đó.
    • Thông qua quỹ này, các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc bồi thường, bù đắp cho chủ xe khi gặp phải rủi ro sự cố tai nạn xảy ra, giúp chủ xe khắc phục được hậu quả tài chính, ổn định sản xuất, góp phần ổn định kinh tế xã hội.
    • Ngoài ra quỹ này còn được sửa dụng một phần vào việc đề phòng và hạn chế tổn thất thông qua việc đóng góp xây dựng những công trình phục vụ an toàn giao thông như các đường thoát nạn, các biển báo nguy hiểm…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    và tổ chức các chiến d ịch tuyên truyền rộ ng rãi về luật giao thông, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của mọi người khi tham gia giao thông.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân hay đại diện cho một tập thể. Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiể m cho phần TNDS củ a chủ xe phát sinh do s ự hoạt độ ng và đi ều khiển xe cơ giới của ng ười lái xe. Như vậy, đối tượng được bảo hiểm là phần TNDS của chủ xe cơ giới đố i với người thứ ba. Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ gi ới đối với người thứ ba là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồ i thường ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây nên.

    Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước. Chỉ khi nào việc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba thì đối t ượ ng này mới được xác định cụ thể. Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba bao gồm:

    • Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ của bên thứ ba.
    • Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái phát luật. Có thể do vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm các quy định khác của Nhà nước…
    • Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái phát luật của chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba.
    • Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi.

    Thực tế chỉ cần đồng thời x ảy ra ba điều ki ện thứ nhất, thứ hai, th ứ ba là phát sinh TNDS đối với người thứ ba củ a chủ xe (lái xe) . Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên TNDS của ch ủ xe s ẽ không phát sinh, và do đó không phát sinh trách nhiệm củ a b ảo hiểm. Điều kiện th ứ tư có thể có hoặc không, vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của ch ủ xe (lái xe). Ví dụ: Xe đang chạy bị nổ lốp, lái xe mất khả năng đi ều khiển nên đã gây ra tai n ạn. Trong trường hợp này, TNDS vẫn có thể phát sinh nếu có đủ ba điều kiện đầu tiên.

    Chú ý rằng, bên thứ ba trong bảo hi ểm TNDS chủ xe cơ giới là những người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:

    • Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe.
    • Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con

    cái…

    – Hành khách, những người có mặt trên xe.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Người bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường trước gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe. Cụ thể, các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm bao gồm:

    – Tai nạn gây thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ

    ba;

    – Tai nạn gây thiệt hại về tài sản, hàng hoá… của bên thứ ba;

    – Tai nạn gây thiệt tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thu nhập;

    – Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể cả biện pháp không đem lại hiệu quả).

    – Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.

    • Các rủi ro được loại trừ:

    Ngườ i b ảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các tai nạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp sau:

    • Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại.
    • Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao thông theo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ.
    • Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông đường bộ như:
      • Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường.
    • Lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái bị tịch thu, bằng

    không hợp lệ.

    • Lái xe bị ảnh hưởng của các chất khích thích như: rượu, bia,

    ma tuý…

    • Xe chở chất cháy, nổ trái phép.
    • Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa.
    • Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm, xe đi đêm không có đèn chiếu sáng hoặc chỉ có đèn bên phải.
    • Xe không có hệ thống lái bên phải.
    • Thiệt hại do chiến tranh, bạo động.
    • Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuất kinh doanh.
    • Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, bị mất cắp trong tai nạn.
    • Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia (trừ khi có thoả thuận khác). Ngoài ra, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường

    thiệt hại đối với những tài sản đặc biệt như:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Vàng bạc, đá quý.
    • Tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền.
    • Đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm.
    • Thi hài, hài cốt.
    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện. Người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượng đầu phương tiện của mình. Mặt khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về độ lớn có xác xuất gây ra tai nạn khác nhau. Do đó, phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện) tuỳ theo mỗi đầu phương tiện.

    Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện (thường tính theo năm) là:

    P = f + d

    Trong đó:

    P – Phí bảo hiểm / đầu phương tiện f – Phí thuần

    d – Phụ phí

    Phí thuần được tính theo công thức: n

    • Si x Ti

    i = 1

    f=            n Ci

    i=1

    Trong đó:

    Si – Số vụ tai nạn x ảy ra có phát sinh TNDS của chủ xe được bảo hiểm bồi thường trong năm thứ i.

    Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn trong năm

    thứ i.

    Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm

    thứ i.

    n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1,n).

    Như vậy, “f” thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n

    năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó.

    Đối với các phươ ng tiện không thông dụng, mức độ rủi ro lớn hơn như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng… thì tính thêm tỷ lệ ph ụ phí so với mức phí cơ bản. Ở Việt Nam hiện nay thường cộng thêm 30% mức phí cơ bản.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Đối với các phương ti ện hoạt động ngắn hạn (dưới một năm), thời gian tham gia bảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác định như sau:

    Pngắn hạn = P năm x Tỷ lệ phí ngắn hạn theo tháng

    Trường hợp đã đóng phí (tham gia bảo hiểm) cả năm, nhưng vào một thời đi ểm nào đó phương tiện không ho ạt động nữa hoặc chuyển sở hữu mà không chuy ển quyền b ảo hiểm thì chủ phương tiện s ẽ được hoàn phí bảo hiể m tương ứng với số thời gian còn lại của n ăm (làm tròn tháng) n ếu trước đó chủ phương tiện chưa có khiếu nại và được bảo hiểm bồi thường.

    Số phí hoàn lại được xác định như sau:

    Pnăm x Số tháng xe không hoạt động

    • hoàn lại =

    12 tháng

    Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện. Tuỳ theo số lượ ng phương tiện, người b ảo hiểm sẽ quy đị nh thời gian, số lần nộ p và mức phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo số lượng phươ ng ti ện tham gia bảo hiểm (tối đa thường là 20%). Nếu không thực hiện đúng quy định này sẽ bị phạt.

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Về người: 30 triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách).

    Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ (đối với người thứ ba).

    Phí bảo hiểm (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển

    hành khách).

    Xe taxi:

    – Dưới 6 chỗ tính bằng 150% của phí xe kinh doanh dưới 6 chỗ quy định tại mục

    IV.A.

    – Xe trên 6 chỗ tính bằng phí xe kinh doanh cùng số chỗ ngồi quy định tại mục

    IV.A.

    Xe buýt: Tính bằng phí bảo hiểm của xe không kinh doanh cùng số chỗ ngồi theo quy định tại mục III.

    Xe ôtô chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải cùng trọng tải quy định tại mục III.B.

    Xe máy chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải dưới 3 tấn quy định tại mục III.B.

    Xe rơ moóc: Tính bằng 30% phí bảo hiểm của xe kéo rơ moóc đó.

    Bảng 3: Biểu phí TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại Pjico.

    STT LOẠI XE PHÍ BẢO HIỂM NĂM (Đồng)
    I MÔ TÔ 2 BÁNH:  
    1 Từ 50cc trở xuống 50,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
           
    2 Trên 50 cc   55,000
         
    II XE LAM, XE MÔ TÔ BA BÁNH, XÍCH LÔ MÁY, XE LÔI 140,000
           
    III XE Ô TÔ KHÔNG KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Loại xe dưới 6 chỗ ngồi   200,000
    2 Loại xe từ 6 đến 11 chỗ ngồi   400,000
    3 Loại xe từ 12 đén 24 chỗ ngồi   640,000
    4 Loại xe trên 24 chỗ   920,000
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   340,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   670,000
    3 Trên 8 tấn   930,000
    C Xe vừa chở người vừa chở hàng (pickup)   470,000
           
    IV XE Ô TÔ KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Dưới 6 chỗ ngồi theo đăng ký   350,000
    2 6 chỗ ngồi theo đăng ký   430,000
    3 7 chỗ ngồi theo đăng ký   500,000
    4 8 chỗ ngồi theo đăng ký   580,000
    5 9 chỗ ngồi theo đăng ký   650,000
    6 10 chỗ ngồi theo đăng ký   730,000
    7 11 chỗ ngồi theo đăng ký   800,000
    8 12 chỗ ngồi theo đăng ký   880,000
    9 13 chỗ ngồi theo đăng ký   950,000
    10 14 chỗ ngồi theo đăng ký   1,030,000
    11 15 chỗ ngồi theo đăng ký   1,110,000
    12 16 chỗ ngồi theo đăng ký   1,180,000
    13 17 chỗ ngồi theo đăng ký   1,360,000
    14 18 chỗ ngồi theo đăng ký   1,330,000
    15 19 chỗ ngồi theo đăng ký   1,410,000
    16 20 chỗ ngồi theo đăng ký   1,480,000
    17 21 chỗ ngồi theo đăng ký   1,560,000
    18 22 chỗ ngồi theo đăng ký   1,630,000
    19 23 chỗ ngồi theo đăng ký   1,710,000
    20 24 chỗ ngồi theo đăng ký   1,790,000
    21 25 chỗ ngồi theo đăng ký   1,860,000
    22 Trên 25 chỗ ngồi   1.860.000 + 20.000 x (Số chỗ – 25 chỗ)
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   380,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   740,000
    3 Trên 8 tấn   1,020,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    (Nguồn: công ty Pjico)

    (Lưu ý: Phí bảo hiểm trên chưa bao gồm 10% thuế GTGT).

    3.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách.

    Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc với mục đích:

    • Góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành khách không may bị tai nạn và gia đình họ.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn khắc phục hậu quả kịp thời, nhanh chóng.
    • Xét trên phạm vi xã hội, nó góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông. Tăng thu ngân sách cho Nhà nước để từ đó có điều kiện đầu tư trở lại nâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông.
    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Là tính mạng và tình tr ạng sức khoẻ của tất cả hành khách đi trên các phương tiện giao thông kinh doanh chuyên chở hành khách. Những người này không phân biệt lứa tuổi, nghề nghi ệp, miễn là họ có vé hoặc miễn giảm vé theo quy định. Người được bảo hiểm bao gồm cả những hành khách đượ c ưu tiên đặc biệt không phải mua vé, trẻ em đi theo người lớn được miễn vé.

    Tuy nhiên, hành lý, tài sản, hàng hóa củ a hành khách mang theo, các lái phụ xe và những người đ ang làm việc trên các phương tiện vận chuyển hành khách (ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ , thuyền phà và máy bay) không thuộc đối tượng bảo hi ểm. Nghiệp vụ này ở nước ta được tri ển khai dưới hình th ức bắt buộc, vì vậy phí b ảo hi ểm được tính vào giá cước vận chuyển và mặc nhiên mỗi tấm vé là một giấy chứng nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm:

    Là các rủ i ro do thiên tai, tai nạn bất ng ờ xảy ra trong suốt hành trình của hành khách gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của người được bảo hiểm.

    • Thiên tai bao gồm: Thời tiết xấu, bão lốc, lũ lụt, sụt lở đất đá… gây thiệt hại cho phương tiện chuyên chở, do đó gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của hành khách.
    • Tai nạn bất ngờ: Đâm va, cháy nổ, lật nghiêng, do sự cố kỹ thuật của chính phương tiện, lỗi lầm của người điều khiển phương tiện hoặc do phương tiện khác đâm vào…
    • Các rủi ro loại trừ:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bị tai nạn do vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm pháp luật (nhảy tàu, xe khi phương tiện chưa dừng hẳn, bám xe, đứng ngồi không đúng chỗ quy định, hành hung, ăn cắp…).
    • Bị tai nạn do những nguyên nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình vận chuyển hoặc bản thân tình trạng sức khoẻ của hành khách gây ra (ngộ độc thức ăn, trúng gió, ốm đau…).
      • Thời hạn hiệu lực của bảo hiểm:
    • Là thời gian hợp lý để thực hiện cuộc hành trình, tức là bắt đầu từ lúc hành khách bước chân lên phương tiện và kết thúc khi hành khách rời khỏi phương tiện một cách an toàn tại bến, ga hoặc sân bay cuối cùng ghi trên vé. Thời gian tạm ngừng hợp lý (lấy nhiên liệu, ăn uống…) vẫn được tính vào thời hạn bảo hiểm. Nếu đi liên vận, hành khách phải thay đổi phương tiện, trong lúc chờ đợi để lên phương tiện tiếp theo vẫn được bảo hiểm.
    • Nếu hành khách tự ý hay vô tình rời bỏ cuộc hành trình, rời bỏ hay lạc mất phương tiện chuyên chở thì coi như thời hạn bảo hiểm chấm dứt.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    S ố tiền bảo hiểm đượ c ấn định theo quy định chung đối với mỗi loại phương ti ện hay một số loại phương tiện. Chẳng hạn, nếu hành khách đi trên máy bay, số tiền bảo hiểm là 20.000 USD/hành khách. Nếu đi trên tàu hoả, tàu thuỷ, ôtô số tiền bảo hiểm là 12.000.000 VNĐ/hành khách. Vì nghiệp vụ được thực hiện dưới hình thức bắt buộc nên ngườ i tham gia bảo hiểm không có quyền lựa chọn số ti ền bảo hiể m. Trẻ em mua n ửa vé hoặc được miễn vé thì số tiền bảo hiểm chỉ bằng 50% số tiền bảo hiểm của người lớn.

    1. Phí bảo hiểm:

    Vì thực hi ện bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm được tính vào giá vé. Cơ quan làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách bán vé cũng là người thu phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:

    • Số tiền bảo hiểm.
    • Loại phương tiện vận chuyển.
    • Độ dài tuyến đường chuyên chở.
    • Đặc điểm tuyến đường hoạt động của phương tiện vận chuyển (chất lượng đường xá, địa hình).

    Có 2 phương pháp tính phí được các công ty bảo hiểm vận dụng:

    • Phí bảo hiểm tính trên 1km/ hành khách, cho từng loại phương tiện với giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Công thức:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    P= f1+ f2+ f3+ f4

    ∑Ci+ ∑Ti

    f1=

    • m∑Lij Kij

    Trong đó:

    f1– Phí thuần

    f2– Phí đề phòng hạn chế tổn thất

    f3– Phí dự phòng

    f4– Phí quản lý và lãi dự kiến

    (f2, f3, và f 4 th ường được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng số phí thu).

    Ci- Số tiền chi trả cho những hành khách bị chết năm thứ i.

    Ti- Số tiền chi trả cho những hành khách phải điều trị, phẫu thuật năm thứ i.

    Lij- Độ dài quãng đường j năm thứ i.

    Kij- Số hành khách đi trên quãng đường j năm thứ i.

    n- Số năm khảo sát (n= 5 năm).

    m- Số quãng đường của từng loại hình giao thông vận tải.

    Ph ương pháp này có ưu điểm chính là chính xác và độc lập với giá cướ i vận tải, song lại có nhược điể m mức phí tính ra rất lẻ và đôi khi quá nhỏ nên đã ảnh hưởng đến khâu bán vé và quản lý của cơ quan vận chuyển.

    • Phí bảo hiểm tính theo tỷ lệ trên giá cước vận tải của từng loại phương tiện.

    f= R x Gv

      ∑Qi
    R=   x 100
     
      ∑ Di

    Trong đó:

    f- Phí thuần

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    Gv- Giá cước vận tải

    Qi- Tổng chi phí chi trả cho tai nạn bảo hiểm năm th ứ i Di- Tổng doanh thu cước phí của ngành vận tải năm i

    Ph ương pháp này tuy đơn giản, dễ tính toán, song phụ thuộ c nhiều vào giá cước vận t ải. Khi tính toán cũng phải giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ngoài ra, đối với các công ty tư nhân kinh doanh vận tải hành khách, công ty bảo hiểm thu phí theo phương thức khoán. Cụ thể, số phí một công ty vận tải phải nộp hàng tháng.

    Phí bảo hiểm     Số chỗ ngồi         Số phương           Số lượt phương         Số ngày

    P = bình quân 1    x      BQ một             x     tiện hoạt        x      tiện hoạt động x hoạt

    động

    hành khách           phương tiện            động                        BQ một ngày           BQ một

    tháng

    1. Trả tiền bảo hiểm:
    • Nếu tai nạn chết người: Số tiền chi trả cho 1 hành khách bằng số tiền bảo hiểm.
    • Nếu bị tai nạn thương tật: Số tiền chi trả bằng tỷ lệ thương tật nhân với số tiền bảo hiểm (tỷ lệ thương tật được giám định thông qua giám định y khoa).
    • Nếu hành khách bị tai nạn nhẹ, tạm thời: Số tiền chi trả có thể tính theo chi phí thực tế (nằm viện, điều trị…) hoặc cũng có thể bằng số tiền chi trả bình quân một ngày nhân với số ngày nằm viện. Số tiền chi trả 1 ngày và số ngày nằm viện được quy định thống nhất căn cứ vào số tiền bảo hiểm. Nhưng số tiền chi trả tối đa không vượt quá số tiền bảo hiểm.

    3.                 Bảo hiểm vật chất thân xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm: Bao gồm tất cả những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ của quốc gia.

     

    – Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để được bồi thường cho những thiệt hại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.

    – Đối với xe ôtô các loại có thể tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất xe cũng có thể tham gia bảo hiểm từng bộ phận của chiếc xe. Tuy nhiên nếu tham gia từng bộ phận thì phải theo 7 tổng thành sau:

    • Tổng thành động cơ.
    • Tổng thành hộp số (chính, phụ).
    • Hệ thống lái.
    • Tổng thành thân vỏ.
    • Tổng thành trục trước.
    • Tổng thành cầu sau.
    • Tổng thành lốp.

    Ngoài ra có một số loại xe còn có tổng thành thứ 8 như xe cứu thương, xe cứu hoả, móc cần cẩu, móc kéo…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Còn đối với xe môtô và xe máy chỉ tiến hành bảo hiểm toàn bộ xe. Đây là loại hình bảo hiểm tài sản vì vậy được thực hiện dưới hình thức

    tự nguyện. Khi tham gia bảo hiểm chủ xe phải lưu ý 4 vấn đề sau:

    • Trong mọi trường hợp không bao giờ bảo hiểm bồi thường vượt quá số tiền ghi trong đơn bảo hiểm, hay nói cách khác đó là giới hạn tối đa để bồi thường.
    • Nếu chủ xe cũ đã mua bảo hiểm, sau đó chuyển quyền sở hữu cho người khác thì chủ xe mới vẫn được hưởng quyền bảo hiểm đó cho đến hết hợp đồng, nhưng chủ xe phải báo cho công ty bảo hiểm.
    • Bảo hiểm không chịu phần hao mòn tự nhiên của chiếc xe. Chủ xe phải chịu các khoản miễn thường, hao mòn, trục trặc máy móc, hỏng lốp xe do sử dụng thành bị cắt hay nổ.
    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm thông thường bao gồm: – Tai nạn do đâm va, lật đổ;

    – Cháy nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá; – Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên;

    Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc

    xe được bảo hi ểm trong những trườ ng hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:

    • Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm;
    • Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
    • Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;

    Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng số tiền bồ i thường của công ty bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm.

    • Công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:

    – Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa.

    – Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng mà không do tai nạn gây ra.

    – Mất cắp bộ phận xe.

    – Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba.

    1. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Giá trị bảo hiểm củ a xe cơ giới là giá trị th ực tế trên th ị trường của xe tại thời điể m người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm. Việ c xác định đ úng giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường chính xác thiệt h ại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, giá trị xe trên thị trường luôn bi ến độ ng và có thêm nhiều chủng loại xe mới gây khó khăn cho việc xác định đúng giá trị xe.

    Trong th ực t ế, các công ty bảo hiểm thường dựa trên các yếu tố sau để xác định giá trị xe:

    • Loại xe;
    • Năm sản xuất;
    • Mức độ cũ, mới của xe;
    • Thể tích làm việc của xi lanh…

    Một phươ ng pháp xác định giá trị b ảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:

    Giá trị bảo hiểm= Giá trị ban đầu – Khấu hao.

    Ví dụ: Ch ủ mộ t chiếc xe ôtô TYOTA mua ngày 01 tháng 01 n ăm 1998 với giá 600 triệu đồng; mua bảo hiể m vật chất xe vào ngày 10 tháng 03 năm 2000. Công ty bảo hiểm đánh giá t ỷ lệ khấu hao là 12% năm. Mức khấu hao được tính cho từng tháng, nếu mua bảo hi ểm trước ngày 16 thì tháng đó không phải tính khấu hao, còn từ ngày 16 trở đi thì tháng đó phải tính khấu hao. Trong trường hợp này giá trị bảo hiểm sẽ được tính như sau:

    Giá trị ban đầu        600.000.000 VNĐ

    KH năm 1998: (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 1999:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 2000:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Tổng: 156.000.000 VNĐ

    Như vậy giá trị bảo hiểm sẽ là:

    600.000.000 – 156.000.000 = 444.000.000 VNĐ

    1. Phí bảo hiểm:

    Khi xác định phí b ảo hiểm cho từng đối tượ ng tham gia bảo hi ểm cụ thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:

    • Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác định phí bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thành các nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng. Đối với các xe hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    moóc, xe chở hàng n ặng… do có mức độ rủi ro cao nên phí b ảo hiểm thường được cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.

    Giống nh ư cách tính phí b ảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau:

    P = f + d

    Trong đó:      P – Phí thu mỗi đầu xe

    d – Phụ phí

    f – Phí bồi thường

    Theo công thức trên, việc xác định phí bảo hiểm phụ thuộc vào những nhân tố sau:

    – Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó. Căn cứ vào số liệu thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí bồi thường “f” cho mỗi đầu xe như sau:

    • Si x Ti

    f =    ∑ Ci

    (Với i = 1, 2, … , n)

    Trong đó: Si – Số vụ tai nạn xảy ra trong năm thứ i

    Ti – Thiệt hại bình quân một vụ trong n ăm thứ i Ci – Số xe hoạt động thực tế trong năm thứ i

    • Các chi phí khác hay còn gọi là phần phụ phí (d), bao gồm các chi phí như chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý …

    + Khu vực giữ xe và để xe: Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm nào cũng quan tâm đến nhân tố này. Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt chẽ.

    + Mục đích sửa dụng: Đây là nhân tố quan trọng khi xác định phí bảo hiểm. Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ, xe do một người về hưu sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thương gia sử dụng để đi lại trong những khu vực rộng lớn. Rõ ràng xe lăn bánh trên đường càng nhiều, rủi ro tai nạn càng lớn.

    + Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm. Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55 tuổi, do kinh nghiệm cho thấy số người này gặp ít tai nạn hơn so với các lái xe trẻ tuổi. Tuy nhiên, với những lái xe quá lớn tuổi (thường từ 65 tuổi trở lên) thường phải xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Ngoài ra, để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty bảo hiểm th ường yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất xảy ra với xe (hày còn gọi là mức miễn th ường). Đối với những lái xe trẻ tuổi mức miễn thường này thường cao hơn so với những lái xe lớn tuổi.

    • Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham gia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm phí so với mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết các công ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỷ lệ giảm giá này cho một số năm không có khiếu nại gia tăng. Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới.

    Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt động một số ngày trong một năm, thì chủ xe phải đóng phí bảo hiểm cho những ngày hoạt động đó theo công thức sau:

    Phí Mức phí Số tháng xe hoạt động trong năm
    bảo hiểm = cả năm  ế   12 tháng  
    • Biểu phí đặc biệt: Khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, các công ty bảo hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó. Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính biểu phí được đề cập ở trên, chỉ khác là chỉ dựa trên các số liệu về bản thân khách hàng đó, cụ thể:

    – Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm;

    – Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng

    • những năm trước đó;

    – Tỷ lệ phụ phí theo quy định của công ty;

    Trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, công ty bảo hiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt. Còn nếu mứ c phí đặc biệt tính được là cao hơn (hoặc bằng) mức phí chung, tức là tình hình t ổn thất của khách hàng cao hơn (hoặc bằng) mức tổn thất bình quân chung, thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung.

    • Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó, ví dụ như ngừng hoạt động để tu sửa xe. Trong trường hợp này thông thường công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại được tính như sau:
    Phí Phí Số tháng không hoạt động Tỉ lệ
    hoàn lại = cả năm ế         hoàn lại phí
      12 tháng Х
                 

    Mỗ i công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau. Nhưng thông thường tỷ lệ hoàn này là 80%.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Nếu chủ xe mu ốn hu ỷ bỏ h ợp đồng bảo hiểm khi chưa hết hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hi ểm cho thời gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xe chưa có lần nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.

    1. Bảo hiểm tai nạn lái xe, phụ xe và người ngồi trên xe.

     

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Đối tượ ng bảo hiểm là thiệt hại về thân thể xe, phụ xe và những người khác được chở trên xe đang tham gia giao thông.

    và tính mạng đối với lái gây ra do tai nạn khi xe

    1. Phạm vi bảo hiểm:

    Nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi th ường thiệt hại về thân thể của lái xe và những người khác được chở trên xe. Những người này bị tai nạn khi đang ở trên xe, lên xuống xe hay trong quá trình xe đang tham gia giao thông.

    Các trường hợp loại trừ:

    • Đối tượng được bảo hiểm cố ý gây tai nạn.
    • Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đây là nghiệp vụ bảo hiểm con ngườ i nên các công ty bảo hiểm sử dụng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường và các công ty thường đưa ra nhiều mức gi ới hạn cho từng loại xe để người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng tài chính của mình.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm của nghiệp vụ này được tính theo công thức sau: P = S x R x N

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm S- Số tiền bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm N- Số chỗ ngồi trên xe

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảng 4: Biểu phí bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe tại Pjico.     (Đơn

    vị: Đồng)

    Loại xe Số người Phí bảo hiểm
    I. Xe không kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 40,000
    Xe 5 chỗ 5 50,000
    Xe 6 chỗ 6 60,000
    Xe 7 chỗ 7 70,000
    Xe 11 chỗ 11 110,000
    Xe 12 chỗ 12 120,000
    Xe 16 chỗ 16 160,000
    Xe 24 chỗ 24 240,000
    Xe 25 chỗ 25 250,000
    Xe 32 chỗ 32 320,000
    Xe 48 chỗ 48 480,000
    II. Xe buýt.    
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    III. Xe kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Xe 6 chỗ 6 90,000
    Xe 7 chỗ 7 105,000
    Xe 8 chỗ 8 120,000
    Xe 9 chỗ 9 135,000
    Xe 10 chỗ 10 150,000
    Xe 11 chỗ 11 165,000
    Xe 12 chỗ 12 180,000
    Xe 13 chỗ 13 195,000
    Xe 14 chỗ 14 210,000
    Xe 15 chỗ 15 225,000
    Xe 16 chỗ 16 240,000
    Xe 17 chỗ 17 255,000
    Xe 18 chỗ 18 270,000
    Xe 19 chỗ 19 285,000
    Xe 20 chỗ 20 300,000
    Xe 21 chỗ 21 315,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.   Phạm Minh Nguyên- BH43a.
         
    Xe 22 chỗ 22 330,000
    Xe 23 chỗ 23 345,000
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 26 chỗ 26 390,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 36 chỗ 36 540,000
    Xe 42 chỗ 42 630,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    IV. Xe taxi.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Trên 6 chỗ Tính phí bh bằng phí bh xe kd vận tải cùng số chỗ ngồi
    Pjico)   (Nguồn:  Công  ty
       

    4.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hoá chuyên chở trên xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Loại hình bảo hiểm này chỉ áp dụ ng cho những xe có giấy phép kinh doanh vận tải hàng hoá. Khi nhận hàng hoá để chuyên trở, chủ xe phải có ngh ĩa vụ đưa hàng hoá đến điểm giao cu ối cùng một cách đầy đủ và nguyên vẹn do v ậy chủ xe ph ải chịu trách nhiệm về những thiệt hại của hàng hoá mà họ nhận chuyên chở xảy ra do lỗi của họ hoặc người làm công cho họ. Vì vậy, đối tượng đượ c bảo hiểm là TNDS của chủ xe cơ giới đối với thiệt hại củ a hàng hoá được v ận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển giữa chủ xe và ch ủ hàng, được pháp luật quy định tại thể lệ vận chuyển hàng hoá bằng ôtô ban hành kèm theo Quyết định số 1690/QĐ- VT ngày 15/09/1990 của Bộ giao thông vận tải và Bưu điện.

    Hàng hoá ở đ ây là hàng hoá thông thường không thuộc nhóm hàng cấm kinh doanh, v ận chuyển theo quy định của pháp lu ật. Còn đối với nh ững hàng hoá đặc bi ệt như vàng bạc, đ á quý, đồ cổ, tranh cổ , hài cố, tiền… chỉ được bảo hiểm khi có thoả thuận riêng giữa chủ hàng với bên nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Phạm vi bảo hi ểm ở đây là TNDS của chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe; là số tiền chủ xe phải chịu trách nhiệm b ồi th ờng cho chủ hàng khi có tai nạn làm thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển.

    Ngoài ra, nhà bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe các chi phí hợp lý và cần thiết nhằm:

    • Ngăn ngừa, giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá.
    • Bảo quản, xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi hàng hoá trong quá trình vận chuyển do hậu quả của tai nạn.
    • Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Các điều khoản loại trừ:

    Nhà bảo hiểm không nhận bảo hiểm và bồi thường cho những thiệt hại hàng hoá trong những trường hợp sau:

    • Vi phạm các điều khoản loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    • Hàng hoá lưu thông trái phép.
    • Tiền, các loại ấn chỉ, hóa đơn có giá trị như tiền, đồ cổ, trang ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt, vàng bạc, đá quý …
    • Mất cắp, trộm cướp.
    • Tổn thất hàng hóa do bắt giữ của cơ quan chức năng Nhà Nước.
    • Tổn thất hàng hóa do bị xô lệch, va đập trong quá trình vận chuyển mà không phải do va đập, lật đổ.
    • Xe ôtô không thích hợp với loại hàng hoá chuyên chở.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đố i với hàng hoá chuyên chở trên xe, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm của mình đối với một tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm trong một vụ tai nạn. Cụ thể:

    Số tiền bảo hiểm = Mức trách nhiệm x Số tấn trọng tải đăng ký bảo

    hiểm.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm trong bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với hàng hoá vận chuyển trên xe được tính theo công thức sau:

    P = R x M x G

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    M- Mức trách nhiệm bảo hiểm / tấn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    G- Số tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico áp dụng từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Bảng 5: Biểu phí bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe tại Pjico.

    (Đơn vị: Đồng)   Phí bảo    
    Loại xe Tấn VAT  
    hiểm
    Xe chở hàng kinh doanh vận tải, xe chở hàng        
    đông lạnh.        
    Tải 0,5 tấn 0,5 27.273 2.727  
    Tải 1 tấn 1 54.545 5.455  
    Tải 1,5 tấn 1,5 81.818 8.182  
    Tải 2 tấn 2 109.091 10.909  
    Tải 2,5 tấn 2,5 136.364 13.636  
    Tải 3 tấn 3 163.636 16.364  
    Tải 5 tấn 5 272.727 27.273  
    Tải 7 tấn 7 381.818 38.182  
    Tải 8 tấn 8 436.364 43.636  
    Tải 9 tấn 9 490.909 49.091  
    Tải 10 tấn 10 545.455 54.545  
    Pjico)   (Nguồn: Công ty  
           

    IV. VẤN ĐỀ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Khái niệm trục lợi bảo hiểm.

    Cùng v ới sự l ớn mạnh của thị trường bảo hiểm, số lượng người tham gia b ảo hi ểm xe cơ giới ngày càng nhiều, thị trường bảo hiể m xe cơ giới ngày càng mở rộng. Bên cạnh những người thực s ự mu ốn tham gia bảo hiểm để bảo vệ, ổn định cuộc số ng của mình khi không may gặp rủ i ro, thì đã xuất hiện không ít khách hàng lợi d ụng bảo hiể m để làm lợi cho bản thân mình một cách phi pháp. Đó chính là hành vi trục lợi bảo hiểm.

    Vậy: “Tr ục lợi bảo hiểm là tất cả các hành vi cố tình gian dối, l ừa đảo có thể có chủ ý ngay từ khi tham gia b ảo hiể m hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi ro cho đối tượng được bảo hiểm nh ằm chiếm đoạt một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng”.

    Tr ục lợi bảo hiểm còn được quan niệm là gian lận trong b ảo hi ểm. Trên th ế giới, hiện tượng này được biết đến như là một vấn đề nhức nh ối đối với các doanh nghiệp b ảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đ ã phải b ỏ ra khá nhiều tiền để khắc phục vấn đề trục lợi bảo hiểm, song số vụ gian lận

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    vẫn tăng theo thời gian và hình th ức ngày càng tinh vi, thủ đoạn ngày càng sắc sảo. Trục lợi bảo hiểm diễn ra hầu h ết các nghiệp v ụ b ảo hiể m và bất cứ nước nào đã triển khai bảo hiể m thương mại thì ở nước đó s ẽ có trục lợi b ảo hiểm. Theo Hiệp hội các hãng bảo hiểm châu Âu, hàng năm họ bị thiệt hại vì trục l ợi bảo hiểm không d ướ i 10 tỷ USD, chiếm gần 2,5% số phí bảo hiểm, trong đó trục lợi bảo hiểm xe cơ giới là nhiều nhất.

    2.                 Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước trên thế giới.

    Từ khi ra đời cho đến nay, hoạt động của ngành bảo hiểm đã và đang tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của m ỗi quốc gia. Đồng th ời cùng v ới xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế gi ới, thị trườ ng bảo hiểm thế giới cũng ngày một phát triển và hình thành nên những tập đoàn bảo hiểm lớn về quy mô cũng như tiề m lực kinh tế với số vốn khổng lồ như thị trường bảo hiểm Lloyd’, thị trường bảo hiểm Bermula … Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của thị trườ ng bảo hiểm thì hiện t ượng gian lận, lừa đảo củ a khách hàng trên thế giới cũng ngày một tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng.

    Theo thông tin của hi ệp hội bảo hiểm Anh quốc (ABT), n ăm 2003 số tiền chi phí cho các vụ bồi thường gian lận lên tới 1,1 tỷ USD tăng 8% so với năm 2002. Trong đó:

    – Bảo hiểm xe cơ giới là 481 triệu USD, tăng 10 lần so với năm

    2002.

    • Bảo hiểm tai nạn con người, du lịch là 287 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.
    • Bảo hiểm tài sản (trong lĩnh vực kinh doanh) là 74 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.

    Còn tại Mỹ, Công ty Infoglige bang Texas đưa ra số liệu về lừa đảo bảo hiểm đối với xe cơ giới “đạt” 16 tỷ USD/năm.

    Tại Pháp chỉ riêng các yêu cầu gian lận về cháy, mất cắp xe hơi và mất trộm tại nhà, các hãng bảo hiểm Pháp đã phải trả gần 12 tỷ FR. Còn số này ở Canada là 1,3 – 2 tỷ USD. (Theo tạp chí : “Tài chính quốc tế năm 2004).

    3.                 Các hình thức của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở Việt Nam.

    Trục l ợi bảo hiểm đã tr ở thành một hiện tượng phổ biến, nó có ở tất cả các công ty bảo hiểm trong nhiều nghiệp vụ nhưng phổ biến nhất vẫn là trong bảo hiểm xe cơ giới. Mức độ và cách thức trục lợi trong nghiệp vụ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    ngày càng tinh vi và đa dạng hơn. Các biểu hiện của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới th ường gặp là:

    1. Hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Có thể do vô tình hay cố ý, chủ xe đã không mua b ảo hiểm và khi tai nạn xảy ra, chủ xe phải đối mặt với khó khăn về tài chính nên đã hình thành

    • đồ gian lận để được nhận tiền bồi thường. Tai nạn xảy ra nằm ngoài thời hạn bảo hiểm, người trục lợi sẽ tìm mọi cách để hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm. Có hai cách để thực hiện:
    • Ghi lại ngày tai nạn:
    • Bị tai nạn rồi mới mua hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày thực tế.
    • Bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng hoặc tìm mọi cách mua chuộc nhân viên cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    • Ghi lùi ngày trên giấy chứng nhận bảo hiểm:

    Là hành vi người trục lợi bảo hiểm thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm về trước trên giấy chứng nhận bảo hiểm, do đó quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính.

    1. Thay đổi tình tiết vụ tai nạn:
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không có hiệu lực).
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    1. Tạo hiện trường giả:
    • Đưa xe từ nơi xảy ra tai nạn đến nơi khác lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn không mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Số tiền nhằm trục lợi ở hình thức này thường lớn.

    1. Khai tăng số tiền tổn thất:
    • Đối với bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hóa hư hỏng (đối với bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường tai nạn hoặc biên bản tai nạn.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Đối với bảo hiểm vật chất thân xe:
    • Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với thực tế, thúc ép công ty bảo hiểm chấp nhận phương án khắc phục hậu quả bất hợp lý như thiệt hại bộ phận xe nhẹ nhưng đòi thay mới.
    • Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai đưa vào hợp đồng sửa chữa.
    • Sửa chữa, thay thế ngay cả những bộ phận hư hang không do tai nạn hoặc bị tai nạn từ trước khi bảo hiểm.
    • Thay thế những vật tư cũ, chế lại, … nhưng kê khai thay mới.
    • Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đồ đã hư hỏng.
    1. Lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

     

    • Khách hàng mua bảo hiểm trùng để có thể thu được số tiền bồi thường nhiều hơn giá trị thiệt hại.
    • Hai xe đâm va với nhau, chủ xe đã được chủ xe có lỗi bồi thường nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại đòi bồi thường.
    • Hai xe cùng có lỗi gây thiệt hại cho người thứ ba, cả hai chủ xe đều lập hồ sơ và cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.
    1. Cố ý gây tai nạn:

    Hình thức này thường xảy ra v ới các chủ xe đang trong thời kỳ khó khăn về tài chính, họ lập ra màn kịch thu tiền b ồi thường để chi trả nợ nần hay lấy số tiền đầu tư vào một phương thức kinh doanh khác.

    Ví dụ: tự đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay mới …

    4. Nguyên nhân và hậu quả của trục lợi bảo hiểm.

    1. Nguyên nhân:

    Nguyên nhân sâu xa thúc đẩy hành vi gian lận bảo hiểm là xuất phát từ lòng tham của con người, họ có th ể tìm mọ i cách để kiếm lợi cho mình kể cả những hành vi vi phạm pháp luật. Sở dĩ họ có thể thành công là do có một số nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Nguyên nhân khách quan đầu tiên phải kể đến là sự thiếu của hệ thống hành lang pháp lý đã khiến các cơ quan chức năng trong việc ngăn chặn các hành vi gian lận bảo hiểm, do chưa có

    chặt chẽ nơi lỏng một quy

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    định rõ ràng, đầy đủ khi ký kết hợp đồng bảo hiểm hoặc do trong quá trình thực hiện chưa được nghiêm minh, chủ xe sẽ thực hiện hành vi gian lận của mình nếu họ biết đượ c rằng có thể lách qua kẽ hở củ a pháp luật cũng như họ nghĩ rằng nếu bị phát hiện cũng không bị sự trừng trị của pháp luật.

    • Do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý. Theo nguyên tắc các xe đang lưu hành bắt buộc phải có giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba, nhưng không mấy khi cảnh sát giao thông hỏi tới giấy tờ này do đó sẽ tạo ra sự yên tâm cho chủ xe khi không tham gia bảo hiểm, đây cũng là cơ hội giúp cho các chủ xe tiến hành trục lợi bảo hiểm.
    • Không gian địa lý cũng là một nguyên nhân phát sinh hành vi gian lận bảo hiểm. Như ta đã biết xe cơ giới có tính cơ động cao tham gia hoạt động trên nhiều địa bàn, nhiều khu vực trong cả nước. Do đó đối với những vụ tai nạn xảy ra ở xa, hoang vắng, ít người qua lại khó có thể giữ nguyên hiện trường, sự thay đổi tình tiết hiện trường có lợi cho người tham gia bảo hiểm là dễ xảy ra. Mà để giám định kịp thời thường phải nhờ các công ty khác giám định hoặc phải nhờ vào biên bản của công an, cảnh sát khu vực, mà trong những biên bản này vì nhiều lý do có thể không chính xác, không trung thực …
    • Trình độ lái xe rất cao họ am hiểu về xe cộ, địa hình đi lại … họ có thể tạo ra những vụ tai nạn đánh lạc hướng cơ quan bảo hiểm để lấy tiền bồi thường của công ty bảo hiểm.
    • Do giá trị của xe cơ giới là rất lớn do đó khi xảy ra tai nạn sẽ làm cho chủ xe bị kiệt quệ về tài chính, giảm hoặc thậm chí mất khả năng kinh doanh tiếp, vì vậy đây là động cơ lớn dẫn đến hiện tượng các chủ xe trục lợi bảo hiểm.
    • Bên cạnh những nguyên nhân không nằm trong tầm kiểm soát của con người thì còn có những nguyên nhân có thể phát sinh từ ý chí của con người nhưng vẫn không thể ngăn chặn được triệt để.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Nguyên nhân chủ quan đầu tiên phải kể đến đó là hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bằng đủ mọi thủ đoạn. Trong vòng một năm, mức phí bảo hiểm bình quân đã hạ tới 40%, đặc biệt có những mặt hàng phí bảo hiểm giảm tới 70-80%. Trong khi đó hoa hồng đã tăng gấp từ 3- 4 lần mức quy định của Bộ tài chính. Một số công ty bảo hiểm đã mở rộng điều kiện một cách thoái quá, trái với thông lệ bảo hiểm quốc tế mà những rủi ro này thuộc về người bán bảo hiểm. (Thời báo kinh tế Việt Nam số 209- thứ Hai- 13/12/2004).
    • Do các doanh nghiệp luôn hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt nên các doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải giữ bí mật thông

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    tin. Việc trao đổ i những thông tin cần thiết về khách hàng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hầu như không có. Vì vậy, khi có tai n ạn x ảy ra các công ty bảo hi ểm cũng tiến hành bồi th ường mà không xem xét tình hình ở các doanh nghiệp khác d ẫn đến chủ xe có thể được hưởng nhiều l ần tiền bồi thường ở các công ty khác nhau do h ọ bảo hi ểm trùng, mà theo nguyên tắc không được bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản.

    • Cũng do điều kiện hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, để nâng cao doanh thu phí các công ty đã đơn giản hoá nhiều thủ tục khi ký kết hợp đồng cũng như khi xảy ra tổn thất hoặc khi đánh giá rủi ro xét nhận bảo hiểm, đơn giản thủ tục xét bồi thường … đã tạo nhiều điều kiện cho các chủ xe lợi dụng.
    • Nhận thức của người dân về pháp luật còn nhiều yếu kém, nhất là những văn bản pháp quy về bảo hiểm. Nhiều người dân nhận thức rất mơ hồ về bảo hiểm và họ cho rằng quỹ bảo hiểm giống như quỹ phúc lợi. Cho nên đã có những trường hợp nói sai sự thật để giúp nạn nhân nhận quyền lợi bảo hiểm …
    • Đối với những trường hợp khiếu nại gian lận bị công ty bảo hiểm phát hiện, các công ty chưa có biện pháp sử lý đích đáng mà chỉ mới dừng lại ở mức độ từ chối bồi thường, điều này sẽ làm cho các chủ xe suy nghĩ theo một hướng tiêu cực là cứ lập hồ sơ khiếu nại nếu qua được thì nhận tiền bồi thường còn nếu không được thì cũng không phải nộp phạt …
    • Trong công tác phòng chống gian lận bảo hiểm các đại lý khai thác và nhân viên giám định có một vai trò hết sức quan trọng. Công việc của hai chức danh này ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa và phát hiện hành vi gian lận cả khi ký kết hợp đồng cũng như khi giải quyết bồi thường. Do đó những người làm trong hai bộ phận này phải là những người có tâm huyết với nghề, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực thực sự … Tuy nhiên một thực tế hiện nay là việc tuyển dụng đại lý còn tương đối dễ dàng, qua loa, chủ yếu là do quen biết … do đó nhiều nhân viên đại lý cũng có hành vi gian lận bảo hiểm cùng với khách hàng… nếu điều này xảy ra thì sẽ gây hậu quả nghiêm thọng cho công ty bảo hiểm.
    • Trình độ của nhân viên bảo hiểm còn hạn chế. Đặc biệt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam thì đây còn là một điều trăn trở, vì thị trương bảo hiểm Việt Nam còn non trẻ, việc đào tạo cho nhân viên chưa được coi trọng, các nhân viên còn ít kinh nghiệm trong công tác phòng và chống gian lận bảo hiểm. Do nhiều nhân viên chạy theo mức doanh thu phí mà quên mất điều quan trọng là khi tổn thất xảy ra thì số tiền bồi thường sẽ rất lớn so với mức phí thu được nếu như khi ký hợp đồng họ coi nhẹ khâu đánh giá rủi ro để dễ dàng ký được hợp đồng. Đây là một điều tốt cho các chủ xe làm lợi bất chính…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Do tư cách phẩm chất của một số bộ phận nhân viên trong công ty bị thoái hoá, coi trọng đồng tiền hơn cả trách nhiệm nghề nghiệp. Họ có thể đánh giá cao mức độ tổn thất hoặc vạch đường đi nước bước cho khách hàng lợi dụng các kẽ hở về giấy tờ, về thủ tục giám định, bồi thường để trục lợi … Những người này dễ bị các chủ xe lợi dụng, mua chuộc để tiếp tay cho hành
    • gian lận của chủ xe. Nếu chủ xe được bồi thường họ sẽ được hưởng một số tiền nhất định, sự việc này cứ diễn ra thì các chủ xe trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và do đó công ty bảo hiểm cũng ngày càng phải chi những khoản bất thường làm cho doanh thu giảm đáng kể.
    • Do sự thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm có hành vi gian lận với những người có liên quan như: y, bác sỹ, những người làm chứng trong các vụ tổn thất … Ví dụ, mua chuộc bác sỹ để dựng lên bệnh, làm giả hoặc kê những đơn thuốc đắt tiền để đòi được số tiền bảo hiểm nhiều hơn.
    1. Hậu quả của trục lợi bảo hiểm:

    Hậu quả trụ c lợi bảo hiể m xe cơ giới ngày càng trở lên phổ biến với mức độ ngày càng tinh vi, hình thức ngày càng đa dạng. Chính vì thế mà hậu quả của trục lợi bảo hiểm để lại có xu hướng ngày càng nặng nề và trầm trọng, không chỉ đối với các công ty bảo hiểm mà còn đối với cả xã hội.

    • Đối với doanh nghiệp bảo hiểm:
    • Ta có thể nhận thấy nếu không ngăn chặn được hành vi trục lợi bảo hiểm sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty bảo hiểm. Mà mục tiêu quan trọng nhất của hầu hết các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là lợi nhuận.

    Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi.

    Trong đó: Tổng chi = Chi bồi thường + Chi quản lý + Chi khác.

    • Nếu hành vi trục lợi bảo hiểm không bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi bồi thường. Nếu các hành vi đó bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi quản lý bởi lẽ chi phí cho một cuộc điều tra trục lợi thường rất lớn. Thậm chí có trường hợp nghi ngờ công ty tổ chức điều tra nhưng không đủ cơ sở từ chối bồi thường. Như vậy cả chi bồi thường và chi quản lý đều làm tăng chi phí điều này làm giảm lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm bị hạn chế.
    • Do hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng nên công ty bảo hiểm phải tăng cường công tác giám định, điều tra, kiểm tra, thanh tra. Điều này làm tăng thời gian giải quyết bồi thường, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng. Do đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh sản phẩm của công ty trên thị trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Có nhiều hành vi gian lận với hiệu quả hoà giải thấp dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết trang chấp, ảnh hưởng xấu đến uy tín của công ty.
    • Trục lợi bảo hiểm còn làm giảm số lượng khách hàng hiện tại cũng như thu hút, hấp dẫn các khách hàng mới. Bởi bản chất của bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một rủi ro nào đó đóng góp tạo nên và hoạt động dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”. Vì vậy, hành vi trục lợi bảo hiểm được thực hiện thì không ai khác chính là các khách hàng trung thực sẽ phải gánh chịu hậu quả, do đó không ai dại gì tiếp tục tham gia hoặc có ý định tham gia bảo hiểm. Đó là lý do làm cho lượng khách hàng giảm đi.
      • Đối với Nhà Nước và xã hội:
    • Khi lợi nhuận của công ty bảo hiểm giảm thì các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà Nước cũng giảm. Điều này kéo theo sự đầu tư cho xã hội cũng giảm và lợi ích chung của xã hội bị mất đi là không nhỏ.
    • Trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, nếu các hành vi gian lận tiếp diễn sẽ làm rối loạn an ninh xã hội, làm cho môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh và thiếu sự công bằng. Sự hoạt động kém hiệu quả của một số công ty bảo hiểm kéo theo đó là nguồn vốn đầu tư giảm, làm giảm các hoạt động đầu tư ở một số lĩnh vực.
    • Đảng và Nhà Nước ta đang hướng tới việc xây dựng Nhà Nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng vẫn tồn tại

    những con ng ười tha hoá đạo đức, biến chất, thiếu ý th ức chấp hàng pháp luật, chỉ nghĩ tới lợi ích riêng của cá nhân mình bằng các hành vi gian d ối sẽ tạo ra sự bất công. Từ đó dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật gây rối trật tự an ninh xã hội.

    • Trục lợi bảo hiểm còn gây ảnh xấu tới đạo đức xã hội, kỷ cương pháp luật. Tính chất phát triển và quy mô tổ chức của những vụ trục lợi sẽ kéo theo sự tha hoá, biến chất của các cán bộ, nhân viên trong ngành có liên quan. Những hành vi tiêu cực, thông đồng với nhau gian lận tiền của công ty bảo hiểm sẽ tạo tiền đề cho hành vi tham nhũng phát triển ở cả những ngành khác trong nền kinh tế.
    • Nền kinh tế nước ta đang phát triển, thị trường bảo hiểm còn non trẻ nên những hành vi gian lận cũng mới chỉ ở dạng bộc phát, lẻ tẻ. Nhưng nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì các hành vi này sẽ pháp triển thành các hành vi tội phạm có tổ chức. Đồng thời sẽ tạo ra tâm lý coi thường kỷ cương pháp luật.
    • Đối với khách hàng:

    Khách hàng là những người trung thực sẽ bị thiệt thòi về quyền lợi. Bởi vì, phí bảo hiểm mà họ phải nộp lại dùng để chi trả cho những khoản tiền gian lận không được phát hiện ra. Do vậy, những doanh nghiệp bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nào có nhiều vụ gian l ận sẽ có mức phí bảo hiểm cao hơn những doanh nghiệp kiên quyết chống và loại trừ những kẻ trục lợi bảo hiểm.

    Tóm lại, hành vi tr ục lợi bảo hi ểm đã gây ảnh hưởng xấu đến không chỉ hoạt động kinh doanh củ a công ty mà còn ảnh hưở ng tới đạo đức xã hội và pháp luật của Nhà Nước. Cuộc chiến chống lại các hành vi gian lận này đang gặp rất nhiều khó khăn. Đây không ch ỉ là v ấn đề riêng của ngành bảo hiểm nước ta mà của tất cả các nước trên thế giới.

    5. Sự cần thiết phải phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới:

    Gắn liền với sự phát triển của xã hội là sự phát triển của ngành Bảo hiểm với s ố người tham gia bảo hiểm ngày càng gia tăng và thị trường bảo hiểm ngày càng được mở r ộng. Nhưng có một thực tế đáng buồn là số vụ bảo hiểm cũng như mức độ nghiêm tr ọng củ a mỗi v ụ ngày một t ăng đặc biệt trong b ảo hiể m xe cơ giới. Đấu tranh chống trục lợi bảo hiểm là sự cần thiết đối với tất cả các nước trên thế giới.

    Tình trạng trục lợi bảo hiểm xe c ơ gi ới ở Việt Nam cũng ngày càng trở lên phức t ạp. Việc phòng chố ng gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới cũ ng trở thành một vấn đề cần thiết có tính chất khách quan vì một số lý do sau:

    • Số vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng:

    Đến nă m 1998 trướ c tình hình gian lận bảo hi ểm trong cả nước ngày càng lớn, đặc biệt là trong bảo hiểm xe c ơ giới. Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã yêu cầu các công ty thành viên của mình làm báo cáo về tình hình khiếu nạn gian lận bảo hi ểm xe cơ giới kết quả cho thấy chỉ tính riêng năm 1997, trong hệ thống của Bảo Vi ệt đã phát hiện 224 vụ gian lận số tiền ước tính bị trục lợi là 1 tỷ đồng. Hiện nay trên thị tr ường Việt Nam không chỉ có Bảo Việt hoạt động mà có Bả o Minh, Pjico… Do đ ó, không thể biết trong một năm con số các vụ trục lợi bảo hiểm bị phát hiện là bao nhiêu.

    Chỉ tính riêng Pjico trong năm 2000 phát hiện ra 32 vụ gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới, năm 2001 phát hiện 48 vụ , năm 2002 phát hiện 53 vụ nhưng đến năm 2004 thì số vụ gian lận phát hiện được là 75 vụ.

    • Tính chất nghiêm trọng trong mỗi vụ ngày càng phức tạp:
    • Hành vi gian lận ban đầu mang tính chất cơ hội thường hay gặp trong những vụ có thiệt hại nhỏ. Theo pháp luật của Việt Nam thì các hành
    • này chưa đủ để cấu thành tội phạm nhưng nó cũng ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới.
    • Sau đó đến các hành vi mang tính lợi dụng, tức là các hành vi gian dối dân sự. Theo Bộ Luật Dân Sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trong điều 142: “ Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó”.
      • đây người gian lận dùng các hình thức khác nhau để cho nhà bảo hiểm hiểu rằng tổn thất họ gặp phải là lớn hơn thực tế, nhằm đòi được số tiền bồi thường lớn hơn. Bao gồm các hành vi sau đây:
        • Lập hồ sơ đòi bồi thường khai tăng giá trị tổn thất.
        • Khai báo sai chất lượng thực tế của hạng mục tổn thất trước

    tai nạn

    • Khai thêm hạng mục tổn thất không do tai nạn gây ra.
    • Khai báo sai giá trị sử dụng của đối tượng, thành phần bị tổn

    thất.

    • Cho đến các hành vi gian lận mang tính chất “chiếm đoạt”, cấu thành tội phạm hình sự.

    Theo luật hình sự nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

    Điều 134: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản XHCN thì bị phạt tù…”.

    Điều 157: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù…”

    • đây người gian lận đã cố tình gian dối để chiếm đoạt một số tiền từ nhà bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng. Đó là các trường hợp rủi ro gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm không thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm (ngoài phạm vi bảo hiểm, ngoài thời hạn bảo hiểm) nhưng cố ý tạo lập hồ sơ giả để đòi bồi thường:
    • Lập hồ sơ tai nạn giả cho trường hợp xe có giấy chứng nhận bảo hiểm có hiệu lực để thu lợi bất chính.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm ghi lùi ngày hiệu lực cho xe bị tai nạn trước đó.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm cho xe bị tai nạn trước đó rồi làm hồ sơ tai nạn ghi lùi ngày tai nạn.
    • Lập hồ sơ giả mạo về nguyên nhân tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm để đòi bồi thường cho một thiệt hại không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
    • Hiện tượng trục lợi bảo hiểm nó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như hình ảnh của Công ty trên thị trường. Nó làm tha hóa biến chất về đạo đức của một số cán bộ, làm rối ren kỷ cương pháp luật và mất công bằng xã hội.

    Vì vậy, phòng chống gian lận trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xe cơ giới nói riêng là hoàn toàn cần thiết và mang tính tất yếu khách quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    5.                 Các biện pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước.

    Trên thế giới, việc phòng ch ống gian lận bảo hi ểm được các doanh nghiệp b ảo hiểm hết sức coi trọng. Ở Châu Âu, các tổ chức bảo hiểm cho biết việc chống gian lận bảo hiểm là một cuộc đấu tranh khá tốn kém. Theo số liệu thống kê cho thấy rằng việc kiểm tra thụ động hoặc chủ động làm tiêu tốn của họ t ừ 1 – 3% tổng số tiền chi trả bảo hiểm nhưng họ vẫn cương quy ết ti ến hành. Do v ậy, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã thành lập các đội, các ban phòng chống trục lợi bảo hiểm của riêng mình và các biện pháp sau đây được áp d ụng ở rất nhiều nước trong đó phải kể đến một số nước tiêu biểu như Anh, Pháp, Mỹ, Canada.

    • Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm. Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm mà pháp luật quy định bắt buộc khách hàng phải tham gia cần có sự phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra theo dõi và đưa ra những mức tiền phạt thích đáng cao hơn mức phí bảo hiểm mà họ phải nộp. Tiêu biểu như tại Anh Quốc, Hiệp hội bảo hiểm Anh (ABI) đã và đang phát động một chiến dịch phối hợp tất cả các thành viên cơ quan có liên quan nhằm ngăn chặn, vạch mặt những kẻ gian lận lừa đảo bảo hiểm. Hàng năm ABI đã cùng với lực lượng Cảnh sát West Middland tổ chức các cuộc hội thảo về tội phạm và chống tội phạm. Năm 1998 đã thống nhất triển khai một chiến dịch rộng rãi chống lại việc gian lận bảo hiểm trên toàn nước Anh. Lập một đường dây nóng để tố cáo những kẻ gian lận, lừa đảo bảo hiểm. Còn tại Mỹ, nhằm mục đích ngăn chặt tội phạm bảo hiểm, Hội đồng thành phố Washingtơn DC đã ban hành một đạo luật đấu tranh chống tệ nạn lừa đảo bảo hiểm, trong đó đặc biệt kẻ gian lận sẽ bị phạt 50.000 USD và kèm theo 15 năm tù giam, ngoài ra còn phải bồi thường khoản tiền chiếm đoạt do lừa đảo. Các nhà bảo hiểm được yêu cầu phải thiết lập những chương trình cụ thể nhằm bảo vệ và chống lừa đảo bảo hiểm. Những công ty không thực hiện chương trình này sẽ bị phạt. Đồng thời cố gắng động viên khuyến khích cơ quan Cảnh sát tham gia tích cực vào công việc này.
    • Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi và kiểm tra chặt chẽ các cán bộ, đại lý và các cộng tác viên khai thác bảo hiểm. Một mặt, phải nhắc nhở họ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mặt khác phải đề ra những cơ chế quản lý phù hợp như: Phí bảo hiểm thu được trong ngày, cuối ngày phải nộp; giấy chứng nhận bảo hiểm cấp trong ngày phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm vào cuối ngày; khi khách hàng tham gia bảo hiểm với số tiền lớn thì phải báo cáo về doanh nghiệp bảo hiểm kiểm tra, theo dõi… tiêu biểu như tại Cana da: Cuộc đấu tranh chống gian lận bảo hiểm ở Canada do văn phòng bảo hiểm Canada (IBC) đứng đầu.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    IBC tổ chức đánh giá, tổ ng kết kinh nghiệ m ch ống gian lận bảo hiểm của tất cả các công ty bảo hiểm và soạ n thảo một giáo trình đặc biệt h ướng dẫn hoạt động chống gian lận b ảo hiểm. Tổ chức “ngăn chặn tội phạm” của Canada tự nguyện đứng ra ngăn chặn và đi ều tra mọ i tội phạm, trong đó có tội phạm gian lận bảo hiểm. IBC cung cấp cho cảnh sát và lực lượ ng chữa cháy sổ ghi nhớ các dấu hiệu nghi vấn gian lận bảo hiểm để họ lưu ý. Tổng giá trị gian lận b ảo hiểm tài sản và các trường hợp rủi ro khoảng 1,3 tỷ USD/ năm (10-15% số tiền đóng bảo hiểm).

    Liên đoàn chống gian lận bảo hiểm thành lập tháng 6/1994 ở Canada bao g ồm đại diện của các công ty Bảo hiểm, Cảnh sát, Lu ật sư đoàn và ngườ i tiêu dùng. Liên đoàn đã ra bản tuyên bố được tất cả các hãng bảo hiểm ký và cam kết th ực hiện, đồng thời đưa ra định nghĩa: “gian lận bảo hiểm là mọi hành động tiến hành với mục đích nhận tiền bảo hiểm phi pháp từ yêu cầu giả mạo đến tăng hay giảm các yêu cầu hợp pháp, từ yêu cầu giả đến gian lận nội bộ”.

    Đối với thẻ bảo hiểm liên đoàn hướng dẫn như sau:

    • Thẻ bảo hiểm phải được viết bằng ngôn ngữ đơn giản.
    • Các yêu cầu trong thẻ phải được điền đầy đủ.
    • Trong đơn xin trả bảo hiểm người viết phải chứng minh rõ ràng tất cả những khía cạnh yêu cầu của mình.
    • Khi ký lại hợp đồng bảo hiểm phải lưu ý thông báo tất cả những thay đổi vật chất và các thay đổi đáng kể khác của đối tượng bảo hiểm.
    • Thêm vào điều kiện: người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm giải thích rõ ràng sau khi xảy ra thiệt hại.

    Bảo hiểm ôtô phải tuân thủ trình tự kiểm tra toàn bộ trước khi nhận bảo hiểm. Để tránh gian lận trong bảo hiểm các đối tượng thương mại cần phải phân tích tình hình tài chính của người được bảo hiểm. Mỗi khi nhận được đơn bảo hiểm, Công ty bảo hiểm có quyền xem xét “lịch sử yêu cầu bảo hiểm “ của đối tượng (tần số và khối lượng bảo hiểm) từ các trung tâm tư liệu.

    Về phía Công ty bảo hiểm, khi làm giấy tờ bảo hiểm phải:

    • Chuẩn bị và áp dụng các biện pháp đặc biệt để xác định và làm hồ sơ các thiệt hại đáng nghi ngờ.
    • Tiến hành điều tra tất cả các trường hợp khả nghi và nếu có thể thì áp dụng tất cả các biện pháp để khôi phục các khoản chi trả bất hợp pháp.
    • Thành lập ban điều tra hoặc bắt buộc các công ty bảo hiểm hợp tác với cơ quan điều tra đặc biệt của các hãng bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Hợp tác với chính quyền về các yêu cầu bảo hiểm không được thanh toán gian lận.

    Muốn từ chối trả tiền bảo hiểm, Công ty bảo hiểm phải chứng minh được “tam giác tội phạm” gồm động cơ gian lận, khả năng thực hiện và hậu quả của nó. Công việc này có thể được công ty bảo hiểm tiến hành, có trườ ng hợp có cả sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài. Thêm vào đó một số mạng lưới các công ty đặc biệt được cấp giấy phép hoạt động như đơn vị điều tra độc lập theo yều cầu của công ty bảo hiểm.

    Trường hợp thiệt hại trên 25.000 đôla Canada bắt buộc phải điều tra, còn dưới 25.000 đôla Canada thì chỉ điều tra khi đặc biệt nghi vấn. Điều tra của Công ty bảo hiểm là nhằm quyết định trả hay không trả bảo hiểm, còn của Cảnh sát là xem xét có dấu hiệu phạm tội hình sự hay không?

    Ngoài gian lận từ phía người được bảo hiểm còn có những gian lận nội bộ từ phía trung gian như đại lý, môi giới hay nhân viên bảo hiểm. Để chống lại loại này, trước hết phải làm rõ chức năng của các chuyên gia xác định quy mô thiệt hại với các chuyên gia thực hiện trả tiền cho các thiệt hại (kể cả bố trí họ ở các văn phòng khác nhau). Công ty bảo hiểm nên thường xuyên luân chuyển cán bộ, thay đổi hệ thống, kiểm tra định kỳ tại chỗ và sử dụng các bộ phận độc lập. Người ta cho rằng, việc thay đổi thường xuyên các nhân viên quản lý thiệt hại đã giảm đáng kể khả năng móc ngoặc giữa những người mưu toan gian lận trong thời gian dài

    • Quá trình giám định– bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm phải được thực hiện đúng nguyên tắc và trình tự mỗi khâu. nếu thấy nghi ngờ một loại giấy tờ nào đó hoặc không rõ về thời gian, không gian trong các vụ tổn thất cần xác minh lại ngay. Nếu thấy cần thiết phải báo ngay để doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức điều tra xác, minh cho rõ. Ngoài phương án điều tra độc lập, cần tranh thủ sự giúp đỡ của các bên có liên quan như: công an, y bác sỹ và những người làm chứng… Tiêu biểu như tại Pháp: Tất cả các hãng bảo hiểm của Pháp đều có danh sách những kẻ lừa đảo bảo hiểm đã bị toà án kết tội để không ký các hợp đồng bảo hiểm đối với các đối tượng này, qua đó nghiên cứu kỹ hồ sơ các vụ gian lận để tìm các biện pháp phòng chống. Ở nước này, theo ước tính của các công ty bảo hiểm, chi phí cho việc điều tra gian lận bảo hiểm tiêu tốn khoảng 1,5% tổng phí thu. Mặc dù vậy, các công ty bảo hiểm này vẫn tiến hành các chiến dịch chống gian lận bảo hiểm. Tiêu biểu trong số đó là công ty bảo hiểm Pháp – UAP. Từ năm 1980, trong bộ phận điều chỉnh thua lỗ của hãng có nhóm chống gian lận với nhiệm vụ: phân tích tài liệu của các trường hợp bảo hiểm khác nhau, kiểm tra tính hợp pháp của chúng, lưu ý những thông tin trái ngược và những sự kiện không phù hợp với từng trường hợp:
    • Những người tham gia vào nhiều loại bảo hiểm khác nhau.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trường hợp phải trả tiền bảo hiểm ngay sau khi ký hợp đồng bảo hiểm hay sau khi tăng tiền bảo hiểm.
    • Trường hợp tăng số vụ tai nạn ngay cùng một chỗ.
    • Giấy yêu cầu bảo hiểm không phải do chính người được bảo hiểm hoặc người thừa hưởng đề nghị.

    Để công tác điều tra có hiệu quả, hãng UAP thường cộng tác với các cơ quan bên ngoài, đặc biệt là sự tham gia của Cảnh sát.

    Để có được những biện pháp như trên, các Công ty bảo hiểm ở Pháp đã có sự thống nhất trong hàng động, xử lý thông tin kịp thời và quản lý khách hàng rất chặt chẽ.

    Đặc biệt ở Pháp còn hình thành những tổ chức đặc biệt để đối phó với những hành vi trục lợi bảo hiểm mang tính chất nguy hiểm, xảo trá và hãng ALFA là một trrong những tổ chức như vậy. Tổ chức ALFA được thành lập năm 1989 có trụ sở chính tại Paris. Với sự tập trung các thám tử trong lĩnh vực bảo hiểm có trình độ, trí thông minh và khả năng phá án tốt, ALFA đã trở thành cánh tay đắc lực cho các hãng bảo hiểm Pháp trong việc truy tìm tội phạm trục lợi bảo hiểm, ALFA có 80 thám tử tư làm việc trong phạm vi khắp nước Pháp, dưới sự chỉ đạo của ban tham mưu gồm 15 người, nhân viên ALFA có tuổi trung bình 50 tuổi và đều có kinh nghiệm qua thời gian trong ngành cảnh sát điều này là một nguyên nhân khiến công việc của tổ chức này luôn thuận lợi.

    Các cuộc điều tra mất khá nhiều thời gian và tiền bạc nhưng những chi phí đó không phải là vô ích.

    Trên đây là một số các phương pháp, mô hình tổ chức phòng chống ngăn chặn gian lận bảo hiểm ở một số nước tiêu biểu trên thế giới mà phương pháp của họ đã được cả thế giới tham khảo vận dụng. Việc vận dụng, học hỏi các nước đi trước để tìm ra cho mình một giải pháp phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn là điều rất cần thiết đối với các nước đi sau trong đó có Việt Nam.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương II. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TẠI CÔNG TY PJICO.

    I.                   SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY PJICO.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Pjico.

    1. Lịch sử hình thành công ty:
    • Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam sau hơn 30 năm chỉ có một mình Bảo Việt “đơn thương độc mã” hoạt động thì đến nay ngoài Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm khác với các hình thức sở hữu khác nhau, có thể kể đến các công ty sau:

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO);

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long);

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Công ty bảo hiểm Thành Phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh);
    • Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVIC);
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện (PTI);
    • Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế Việt Nam (VIA);
    • Việc thị trường bảo hiểm nước ta được mở rộng là xuất phát từ chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, mà nổi bật là chủ trương cổ phần hoá và phát triển các công ty cổ phần theo Luật công ty năm 1990 vì thế sau năm 1994 một loạt các công ty cổ phần bảo hiểm đã ra đời trong đó có Pjico.
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex với tên gọi tiếng anh là Petrolimex Joint- Stock Insurance Company, viết tắt là PJICO đã ra đời và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 15 tháng 6 năm 1995. Công ty là sự hội tụ của 8 cổ đông lớn trong đó có 7 thành viên sáng lập và một thành viên tham gia. Các thành viên này đã và đang có những đóng góp tích cực vào hoạt động kinh doanh của Pjico. Dưới đây là các cổ đông sáng lập:
    • Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex);
    • Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank);
    • Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare);
    • Tổng công ty thép Việt Nam (VSC);
    • Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ (Matexim);
    • Công ty điện tử Hà Nội (Hanel);
    • Công ty TNHH thiết bị an toàn (AT);

    Công ty Pjico là cổ phần đầu tiên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân th ọ, do vậy, Pjico đã phải trải qua không ít những khó khăn của những ngày đầu hoạt động (Vạn sự khởi đầu nan), đặc biệt khi các điều ki ện v ề cơ chế pháp luật còn chưa đầy đủ, khách hàng còn ít lòng tin. Nhưng với sự chỉ đạo của hội đồng qu ản trị , của các ban ngành liên quan, đồng thời cùng với sự ủng hộ hợp tác giúp đỡ nhiệt tình của các cổ đông sáng lập, khách hàng và đặc biệt là sự nỗ l ực phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty đã từng bước phát triển và tạo dựng được chỗ đứng trên th ị trường bảo hiểm Việt Nam.

    1. Cơ cấu tổ chức của công ty:

    Là một công ty cổ ph ần có tư cách pháp nhân, tự chủ về mặt tài chính và hạch toán độ c lập, Pjico r ất chú trọng tới việc xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty sao cho chặt chẽ đồ ng thời vẫn tuân thủ theo trật tự cơ cấu của một công ty cổ phần. Hiện nay, bộ máy tổ chức của Pjico bao gồm các bộ phận sau:

    • Hội đồng quản trị;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tổng giám đốc;
    • Các phó giám đốc;
    • Các phòng ban nghiệp vụ:
    • Phòng tổ chức cán bộ;
    • Phòng tổng hợp;
    • Phòng thị trường và quản lý nghiệp vụ;
    • Ban thanh tra pháp chế;
    • Phòng bảo hiểm hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm phi hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm tài sản hoả hoạn;
    • Phòng tái bảo hiểm;
    • Phòng kế toán;
    • Phòng đầu tư tín dụng và thị trường chứng khoán;
    • Phòng giám định bồi thường;
    • Bộ phận quản lý đại lý;
    • Các văn phòng bảo hiểm tại Hà Nội: KV1, KV2, KV3, KV4, KV5, KV6 và KV7.
    • Các chi nhánh trực thuộc tại 64 tỉnh thành trên toàn quốc.
    1. Các nghiệp vụ bảo hiểm triển khai:

    So với những ngày đầu mới thành lập, các nghiệp vụ bảo hiểm mà công ty triển khai đã đượ c đ a dạng hoá và hoàn thiện lên rất nhiều. Điề u đó đã đ áp ứng được nhu c ầu v ề bảo hi ểm ngày một tă ng lên không ch ỉ của mỗi mộ t cá nhân mà còn cả các tổ chức đang hoạt động kinh doanh, sản xuất trên đất nước Việt Nam. Hiện nay công ty đang triển khai một số các nghiệp vụ chính sau:

    • Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải:
    • Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không;
    • Bảo hiểm thân tàu;
    • Bảo hiểm TNDS của chủ tàu;
    • Bảo hiểm nhà thầu đóng tàu;
    • Bảo hiểm tàu sông, tàu cá;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải:
    • Bảo hiểm xe cơ giới;
    • Bảo hiểm kết hợp con người;
    • Bảo hiểm học sinh, sinh viên, giáo viên;
    • Bảo hiểm bồi thường cho người lao động;
    • Bảo hiểm khách du lịch;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm hành khách;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm Kỹ thuật và Tài sản:
    • Bảo hiểm mọi rủi ro về xây dựng lắp đặt;
    • Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt;
    • Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp;
    • Bảo hiểm máy móc;
    • Bảo hiểm trách nhiệm;
    • Bảo hiểm hỗn hợp tài sản cho thuê mướn;
    • Nghiệp vụ tái bảo hiểm: bao gồm nhượng và nhận các nghiệp vụ bảo

    hiểm.

    • Các hoạt động khác:
    • Thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới bảo hiểm như: Giám định, điều tra, tính toán phân bổ tổn thất, đại lý giám định tổn thất, đại lý xét giải quyết bồi thường và yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
    • Hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, tín dụng, liên doanh liên kết với các bạn hàng trong và ngoài nước.

    2.                 Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Công tác triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico:

    Với phươ ng châm “Pjico luôn cùng bạn v ững tay lái”, nghiệp v ụ bảo hiểm xe cơ giới đ ã được công ty triển khai ngay từ khi mới thành lập. Theo thời gian, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đã từng bước đứng vững và trở thành nghiệp vụ chủ đạo của công ty. Đặc biệt trong những năm gần đây, sự phát tri ển của nền kinh tế nhiều thành phần đã làm bùng nổ các phương tiện vận tải chuyên dụng. Đây là đ iều cần cho quy luật “s ố đông bù số ít” trong kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới có nhiều thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng.

    Hiện nay công ty đang triển khai tất cả các loại hình của bảo hiểm xe cơ giới, bao gồm:

    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới bắt buộc:
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nghiệp vụ này gồm: Bảo hiểm TNDS của chủ xe ôtô đối với người thứ ba và bảo hiểm TNDS của chủ xe máy đối với người thứ ba.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hành khách trên xe.
    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới tự nguyện:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với hàng hoá chuyên chở

    trên xe.

    • Bảo hiểm tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại

    Pjico ta xem xét những mục cụ thể sau:

    • Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là mộ t trong những sản phẩm truyền thống, có tính cạnh tranh cao, có thế mạnh tạo ra uy tín cho Pjico đồng thời là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo.

    Để chứng minh đây là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo ta xem xét bảng sau:

    Bảng 6: Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện Tốc độ tăng Mức đạt kế
    Năm (Tr.đ) (Tr.đ) trưởng (%) hoạch (%)
             
    2000 23.150 28.400 37,4 122,7
    2001 32.600 42.436 49,4 129,9
    2002 53.894 60.981 43,7 113,1
    2003 55.941 66.669 9,32 119,1
    2004 64.978 77.568 16,34 119,4

    (Nguồn:    Công    ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới liên tục tăng năm sau cao hơn năm trước. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu chỉ đạt 28.400 triệu đồng nhưng đến năm 2004 doanh thu đã đạt 77.568 triệu đồng) điều này có được là nhờ công ty luôn coi sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới là một trong những sản phẩm chủ đạo.
    • Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 31% điều này nói lên sự nỗi lực rất lớn của đội ngũ nhân viên khai thác của công ty. Đặc biệt trong 3 năm 2000, 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng rất cao (2000 đạt 37,4%; năm 2001 đạt 49,4%; năm 2002 đạt 43,7%) đó là nhờ sự hoàn thiện dần về cơ chế, tổ chức của công ty và cũng là những năm Pjico nỗ lực xây dựng hình ảnh của mình trên thị trường. Đáng chú ý là năm 2001 năm có sự tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay đó cũng là năm đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Pjico với 64 chi nhánh trên khắp tỉnh, thành trong cả nước. Trong hai năm trở lại đây 2003 và 2004 tốc độ tăng trưởng có giám sút điều này được giải thích đó là

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm cùng loại trên thị trường của những công ty bảo hiểm khác.

    • Tình hình khai thác từng nghiệp vụ cụ thể:

    Trong bảo hiểm xe cơ gi ới có rất nhiều nghiệp vụ và mỗi nghiệp v ụ lại có tính đặc thù riêng điều này giải thích tại sao độ i ng ũ nhân viên khai thác phải luôn hoàn thiện mình để đ áp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cũng như nâng cao thu nhập cho bản thân và doanh thu cho công ty.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác của từng nghiệp vụ ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 7: Doanh thu phí các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-

    2004.(Đơn vị: Tr. đ)

    STT Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
                 
    1 TNDS ôtô 9.054 13.900 19.974 21.731 25.299
                 
    2 TNDS xe 557 1.705 2.450 2.673 3.178
      máy          
                 
    3 TNDS đối 137 132 190 204 229
      với hành          
      khách          
    4 TNDS đối 752 712 1.023 1.078 1.208
      với hàng hoá          
                 
    5 Vật chất ôtô 15.742 22.802 32.766 36.096 42.017
                 
    6 Vật chất xe 153 44 63 83 89
      máy          
                 
    7 Tai nạn lái phụ 1.958 3.141 4.515 4.804 5.548
      xe và người ngồi          
      trên xe          
    8 Cộng: 28.400 42.436 60.981 66.669 77.568
                 
              (Nguồn: Công  ty
            Pjico)  

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu phí của tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm đều tăng năm sau cao hơn năm trước. Riêng đối với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe máy doanh thu là không đáng kể theo tôi nên loại bỏ nghiệp vụ bảo hiểm này để đỡ tốn chi phí.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS và vật chất của ôtô là hai nghiệp vụ chủ đạo. Tổng doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 85% tổng phí thu của nghiệp vụ xe cơ giới. Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 86,5% tổng phí thu, điều này cho thấy công ty luôn xác định đây là hai nghiệp vụ hàng đầu và hết sức quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và Pjico luôn nỗ lực xây dựng quan hệ bền chặt với những khách hàng truyền thống, cũng như luôn xác định hai sản phẩm này luôn đi cùng với những chiếc xe của những doanh nhân thành đạt.
    • Bảo hiểm vật chất ôtô là nghiệp vụ có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ của bảo hiểm xe cơ giới. Nghiệp vụ này chiếm tới 55% trong tổng doanh thu vào năm 2000, năm 2004 con số này là 54,2% điều này cho thấy đây là nghiệp vụ Pjico luôn coi là thế mạnh của mình và các chủ xe luôn ý thức được đây là nghiệp vụ bảo hiểm rất cần thiết cho chiếc xe của mình. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 43% trong giai đoạn 2000- 2004. Trong đó, giai đoạn 2000- 2002 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (năm 2000 tốc độ tăng trưởng đạt 35,9%; năm 2001 đạt 44,8%; năm 2002 đạt 43,7%) đặc biệt, năm 2001 tốc độ tăng trưởng đạt kỷ lục từ trước tới nay do trong giai đoạn này công ty đang nỗ lực xây dựng thương hiệu của mình trên thị trường. Trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng có giảm do sự lớn mạnh của các đối thủ cạnh tranh nhưng doanh thu phí vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu.
    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS ôtô là một trong những nghiệp vụ quan trọng và có doanh thu đáng kể chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí bảo hiểm đã tăng 2,8 lần (năm 2000 doanh thu đạt 9.054 triệu đồng đến năm 2004 đạt 25.299 triệu đồng) và nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao 33,5% trong đó, có những thời kỳ tăng đột biến đó là giai đoạn 2000 đến 2002 (năm 2000 đạt 45%; năm 2001 đạt 53,52%; năm 2002 đạt 43,69%) trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng của nghiệp vụ này không cao cho dù đây là nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc (từ năm 2003) nói lên sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường của những sản phẩm cùng loại của những doanh nghiệp khác.
    • Sản phẩm bảo hiểm TNDS của chủ xe máy trong 4 năm gần đây đã được chú trọng nhất là từ năm 2003 khi nghiệp vụ này là nghiệp vụ bắt buộc đối với các chủ phương tiện. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí của nghiệp vụ này đã tăng 5,5 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 577 triệu đồng thì đến năm 2004 đạt 3.178 triệu đồng). Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 69,4% trong đó, có thời kỳ nghiệp vụ này tăng trưởng không được như mong muốn vào năm 2000 do lúc này lòng tin của khách hàng với Pjico chưa nhiều và Bảo Việt còn đang chiếm ưu thế. Nhưng cũng từ đó

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Pjico th ực hiện cơ chế khoán doanh thu tới từng phòng KV làm cho doanh thu của nghiệp vụ này không ngừng tăng cao đ iển hình nă m 2001 tốc độ tăng trưởng đạt con số kỷ lục 206,1%. Trong hai năm trở lại đây do sự cạnh tranh khốc liệt với những doanh nghiệp b ảo hiểm khác là cho tốc độ tăng trưởng có giảm sút, năm 2004 t ốc độ tăng trưởng đạt 18,89% và doanh thu của nghiệp vụ này đã chiếm 4% trong tổng doanh thu.

    1. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất:

    Trong lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm, kiểm soát tổn thất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là các doanh nghi ệp bảo hiểm phi nhân thọ . Kiểm soát tổn thất có tác dụng làm giảm tần xuất hoặc mức độ trầm trọng củ a các tổ n thất, vì thế nó không chỉ là chức năng củ a doanh nghiệp bảo hiểm mà còn là yêu cầu bức xúc của ngườ i tham gia bảo hiểm. Ngày nay các nhà chuyên môn của ngành bảo hiểm đều th ống nhất rằng, kiểm soát tổn thất là sự k ết hợp chặt ch ẽ giữa hai yếu tố: Đề phòng tổn thất và h ạn chế tổn thất. Đề phòng tổn thất là các biện pháp được sử dụng để hạ thấp tần su ất tổn th ất, hay nói cách khác là để ngăn ngừa các tổn thất xảy ra. Còn hạn ch ế tổ n thất là các biện pháp s ử dụng nhằm làm giảm mức đọ trầm trọng của các tổn th ất khi rủ i ro x ảy ra. Đố i với các doanh nghi ệp bảo hi ểm, hoạt động kiểm soát tổn thất cũng đáp ứng được t ất cả các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra, đó là: Giảm chi bồi thường, tăng lợi nhu ận, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, thực hiện được nhu cầu pháp lý và các công tác xã hội, nhân đạo của doanh nghiệp bảo hiểm.

    Công ty Pjico luôn coi ho ạt động kiểm soát tổn thất là một trong những khâu quan trọng nhất trong chu kỳ của sản phẩm bảo hi ểm xe cơ giới. Công ty luôn xác định n ếu có làm tốt khâu này thì: chất lượng của sản phẩm mới đượ c bảo đảm, tạo đượ c lòng tin cho khách hàng vì chẳng ai mua bảo hiểm lại muốn mình gặp rủi ro cũng như thực hiện được những mục tiêu mà công ty đề ra.

    Do vậy trong hoạt độ ng ki ểm soát tổn thất của mình công ty luôn áp dụng triệt để 3 khâu chuyên môn:

    • Một là, khảo sát điều tra thực tế, công việc chủ yếu của khâu này là điều tra, thu thập các thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, đến đặc điểm của rủi ro và liên quan đến chính bản thân khách hàng.
    • Hai là, phân tích và tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lý rủi ro. Sau khi nắm bắt được những thông tin cơ bản ở khâu điều tra khảo sát, kiểm soát viên tổn thất sẽ phân tích những tổn thất trong quá khứ của khách hàng và tư vấn cho họ những vấn đề cụ thể liên quan đến công tác quản lý rủi ro.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ba là, thực hiện chương trình quản lý rủi ro. Đây là công việc chủ yếu thuộc về phía người tham gia bảo hiểm. Họ có trách nhiệm trực tiếp thực hiện chương trình và sau khi thực hiện doanh nghiệp bảo hiểm của các kiểm soát viên tổn thất kiểm tra xem chương trình có phù hợp với điều kiện thực tế hay không và tư vấn thêm những dịch vụ tư vấn phù hợp.

    Bên cạnh đó, công ty còn sử dụng biện pháp tăng cường quản lý thông tin như thông tin về khách hàng, về các doanh nghiệp bảo hiểm khác, về đại lý… để có thể tìm ra những sai xót, từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh cho tốt hơn.

    Như vậy, để đảm bảo thực hiện được công tác đề phòng và hạn chế tổn thất thì hàng năm công ty cũng phải chi ra một khoản tiền nhất định trong tổng phí bảo hiểm thu được. Tại Pjico, khoản chi này được tính vào chi phí quản lý nghiệp vụ.

    Cụ thể ta có bảng chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004 như sau:

    Bảng 8: Tình hình chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Chỉ tiêu Số vụ tổn thất Chi quản lý Doanh thu   Chi qu ản lý
    Năm (vụ) nghiệp vụ (Tr.đ) nghiệp vụ / doanh
      thu phí (%)
        (Tr.đ)      
    2000 2.358 3.726 28.400   13,1
    2001 2.948 5.814 42.436   13,7
    2002 3.861 10.123 60.981   16,6
    2003 3.856 10.607 66.669   15,9
    2004 4.216 12.531 77.568   16,1
          (Nguồ n: Công  ty
          Pjico)    

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Công ty rất chú trọng đến công tác đề phòng và hạn chế tổn thất và coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm. Ta nhận thấy rằng giai đoạn 2000- 2004 cho dù doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 28.400 triệu đồng; năm 2004 doanh thu phí đạt 77.568 triệu đồng) nhưng số tiền doanh nghiệp bỏ ra để chi quản lý nghiệp vụ lại tăng tới 3,3 lần (chi quản lý nghiệp vụ năm 2000 là 3.726 triệu đồng; năm 2004 chi quản lý nghiệp vụ là 12.531 triệu đồng).
    • Để đảm bảo được các mục tiêu công ty đã đề ra thì công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải luôn được tăng cường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty. Bằng chứng là tỷ lệ giữa số tiền chi quản lý nghiệp vụ / doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước và trong những năm gần đây thì công tác này càng được coi trọng, hai năm trở lại đây tỷ lệ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    dần đ i vào ổn định (dao độ ng khoảng 16% tổng doanh thu của nghiệp vụ) do cơ sở hạ tầng đã được Nhà Nước đầu tư tốt hơn trước rất nhiều.

    1. Công tác giám định- bồi thường:

    Công tác giám định- bồi thường là những công việc thuộ c dị ch v ụ sau bán hàng, có tác động đến sự c ạnh tranh và uy tín của Công ty. Do vậy công ty Pjico rất chú trọng đến công tác này.

    • Công tác giám định tổn thất: Giám định tổn thất được thực hiện bởi các chuyên viên giám định. Ở những nước pháp triển, chuyên viên giám định do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp chỉ định và lựa chọn. Nhưng phần lớn các nước chuyên viên giám định lại chính là nhân viên của bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy chuyên viên giám định phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

    – Ghi nhận thiệt hại phải đảm bảo chính xác, kịp thời, khách quan và trung thực. Ghi nhận thiệt hại tức là ghi lại thực trạng và xác định lại thiệt hại, mức độ trầm trọng và nguyên nhân gây thiệt hại. Công việc giám định chỉ được tiến hành khi bên tham gia bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu. Để đảm bảo tính khách quan, một số nghiệp vụ bảo hiểm trong quá trình giám định phải có sự chứng kiến của các bên có liên quan.

    – Đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại, phải kịp thời và đúng quyền hạn, khi rủi ro tổn thất xảy ra, chuyên viên giám định có nghĩa vụ can thiệp để giảm thiểu độ trầm trọng của tổn thất và tình trạng gia tăng thiệt hại. Nếu phát hiện tổn thất có tính hệ thống, chuyên viên giám định phải tìm hiểu nguyên nhân, cách giải quyết và thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm đã uỷ nhiệm mình làm người giám định.

    – Những thông tin mà chuyên viên giám định cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm dù là tự nguyện, nhưng nội dung của nó là tất cả những chi tiết về những sự kiện đã xảy ra và các vấn đề liên qua như: Thực trạng hiện trường nơi xảy ra tai nạn, tình trạng mất cắp, các quy định của cơ quan công an và chính quyền địa phương… Những thông tin này sẽ không có giá trị nếu được cung cấp quá muộn, bởi vì nó không được đưa ra thảo luận và làm bằng chứng khi lập biên bản giám định tổn thất.

    • Công tác bồi thường: Bồi thường và chi trả bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đã trả tiền cho các sản phẩm bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường một cách nhanh chóng và đầy đủ nếu không may họ bị tổn thất. Chính vào thời điểm tổn thất xảy ra, phía khách hàng thường bị những “cú sốc” lớn về tinh thần, đặc biệt là trong những trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Vào lúc này thì năng lực, sự trung thực, tính hiệu quả, sự tế nhị và tính nhân đạo của doanh

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nghiệp bảo hiểm đượ c thừa nhận qua cách xử s ự của mình với các nạn nhân và sự ki ện được bảo hiểm. Nếu giải quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốt nhất đối với một doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy, công ty Pjico luôn quan niệm “Những cam kết được bảo đảm bằng vàng”.

    Cụ thể ta có tình hình chi bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty trong giai đoạn 2000- 2004 như sau:

    Bảng9: Tình hình chi bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico.(ĐV: Tr.đồng)

    Stt Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
    1 TNDS ôtô 5.623 10.441 16.037 17.063 20.035
    2 TNDS xe máy 105 176 270 265 301
    3 TNDS đối với hành khách 125 273 419 443 523
    4 Vật chất ôtô 9.045 14.334 22.017 24.258 28.615
    5 Vật chất xe máy 141 41 63 76 78
    6 TNDS đối với hàng hoá 229 256 393 375 410
    7 Tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe 486 1.122 1.719 1.722 1.990
    8 Cộng: 16.654 26.643 40.918 44.202 51.952
    9 Tỷ lệ bồi thường (%) (∑chi 58,64 62,78 67,1 66,3 66,97
      / ∑thu)

    (Nguồn:    công       ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Bảo hiểm vật chất ôtô có số tiền bồi thường cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ, đây cũng là điều dễ hiểu vì nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ. Trong khi doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có tốc độ tăng trưởng trung bình 43% thì tốc độ tăng trưởng trung bình chi bồi thường vật chất ôtô là 36% (giai đoạn 200-2004) điều này cho thấy nghiệp vụ này đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty và đóng vai trò chủ đạo.
    • Nghiệp vụ TNDS ôtô là nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng doanh thu phí hàng năm khá cao đạt 33,5% nhưng đi đôi với nó là số tiền bồi thường cũng tăng lên một cách chóng mặt, tăng tới 3,6 lần và tốc độ tăng trưởng bình quân của số tiền bồi thường là 40,8% (giai đoạn 200-2004) cho thấy rằng nghiệp vụ này có xác xuất rủi ro là rất cao do vậy công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải được coi trọng. Đặc biệt, năm 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng của số tiền bồi thường rất cao (năm 2001 đạt kỷ lục 85,6%; năm 2002 đạt 55,5%) do trong những năm này có hiện tượng bùng nổ số lượng phương tiện xe cơ giới trong đó có xe máy Trung quốc và hai năm trở lại

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đây tốc độ này có giảm do Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp bảo hiểm TNDS bắt buộc.

    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS đối với xe máy có số tiền bồi thường rất khiêm tốn do đặc điểm của nghiệp vụ là bắt buộc nên chủ xe chỉ mua để đối phó với cơ quan chức năng (CSGT) có người bị tai nạn xong mới biết trong túi mình có mua bảo hiểm do vậy, những vụ va chạm nhỏ thường các chủ xe tự giải quyết theo thoả thuận không báo cho công ty bảo hiểm biết còn những vụ nghiêm trọng thì công ty mới biết và tiến hành bồi thường. Do đó, trong thời gian tới chúng ta phải tổ chức tuyên truyền cho mọi người dân hiểu mua bảo hiểm không phải là bắt buộc mà còn mang nhiều ý nghĩa to lớn khác.

    Như vậy, công tác giám định tổn thất tại công ty Pjico đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần làm cho công tác bồi thường chính xác và đạt hiệu quả cao.

    Để biết về công tác giám định- bồi thường tại Pjico ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 10:Tình hình giám định- bồi thường tại công ty Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004  
    vị
                   
    1 Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường Vụ 2.358 2.948 3.861 3.856 4.217  
    2 Số vụ giải quyết bồi thường Vụ 2.287 2.858 3.762 3.741 4.087  
    3 Số vụ phát hiện trục lợi bảo Vụ 32 48 53 64 75  
      hiểm  
    4 Số tiền bồi thường thực tế Tr.đ 16.654 26.643 40.918 44.379 52.128  
    5 Số vụ tồn đọng Vụ 39 42 46 51 55  
    6 Tỷ lệ tồn đọng (5/1) % 1,65 1,42 1,19 1,32 1,3  
    7 Tỷ lệ giải quyết bồi thường (2/1) % 97,0 97 97,4 97 97  
    8 Số tiền bồi thường thực tế/vụ Tr.đ 7,28 9,32 10,88 11,86 12,75  
      (4/2)  
    9 Chi quản lý nghiệp vụ Tr.đ 3.726 5.814 10.123 10.607 12.531  
    10 Tổng chi nghiệp vụ (4+9) Tr.đ 20.380 32.457 51.041 54.986 64.659  
    11 Tỷ lệ chi bồi thường (4/10) % 81,7 82,1 80,2 80,7 80,6  

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Số vụ giải quyết bồi thường và số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm năm sau đều cao hơn năm trước. Điều này cho thấy công tác giám định- bồi thường của công ty ngày càng chính xác, khách quan và trung thực hơn. Riêng năm 2003 có số vụ tổn thất đòi giải quyết bồi thường khá khiêm tốn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    điều này được giải thích do năm 2003 Bộ tài chính đã ban hành quyết định số 23/2003/QĐ- BTC về thực hiện bảo hiểm TNDS bắt buộc và cũng trong năm này Chính phủ chọn là năm phát động chiến dịch xoá “điểm đen” trên tuyến quốc lộ.

    • Tỷ lệ tồn đọng hàng năm của công ty ở mức rất thấp và tỷ lệ giải quyết bồi thường luôn đạt trên 97% điều này cho thấy công tác chi trả bảo hiểm của công ty Pjico được thực hiện rất nhanh chóng và kịp thời góp phần xoa dịu sự mất mát của khách hàng cũng như nâng cao uy tín của công ty. Riêng năm 2000 là năm có số vụ tồn đọng cao nhất từ trước đến nay (chỉ 1,65%) do những vụ tai nạn vào năm này xảy ra quá sát tết.
    • Số tiền bồi thường thực tế trên vụ năm sau luôn cao hơn năm trước điều này cho thấy tổn thất ngày càng xảy ra với mức độ trầm trọng hơn đòi hỏi, công ty phải có những biện pháp thiết thực hơn nữa nhằm hạn chế tổn thất xảy ra.
    • Tỷ lệ chi bồi thường= Số tiền bồi thường thực tế/ tổng chi nghiệp vụ. Tỷ lệ này luôn đạt trên 80% cho thấy rằng công ty rất chú trọng đến công tác bồi thường, mục tiêu đặt ra trong những năm tới là công ty phải giảm số tiền bồi thường thực tế và tăng tổng chi nghiệp vụ muốn làm được điều này công ty phải kết hợp với ngành công an hạn chế tới mức thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra đặc biệt tai nạn xảy ra trên những đoạn đường đèo dốc nguy hiểm vì tai nạn xảy ra trên những đoạn đường này thường để lại hậu quả hết sức nặng lề.

    Tóm lại, các khoản chi bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chủ yếu xuất phát từ ba nghiệp vụ: bảo hiểm TNDS ôtô; vật chất ôtô; tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe. Chi bồi thường của nghiệp vu bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico có xu hướng tăng do tình hình tai nạn giao thông ngày một nghiêm trọng bên cạnh đó cũng phải xét đến yếu tố gian lận trong bảo hiểm vì hiện tượng gian lận ngày càng trở lên phổ biến; nếu ngăn chặn được tình trạng gian lận bảo hiểm sẽ làm giảm thất thoát do bồi thường không hợp lý; qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh của công ty nói chung và của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    II.               TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Thực trạng trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảo hiểm là ngành dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới là ngành được mệnh danh là “gà đẻ chứng vàng” vì nhưng lợi ích của bảo hiểm mang lại thì không ai có thể phủ nhận. Nhưng nó cũng đang ph ải đối mặt v ới nhiều nhân tố cản trở trên con đườ ng phát triển của mình, một trong số đó là việc gian lận củ a ng ười được bảo hiểm. Có thể khẳng định r ằng tất cả các công ty bảo hiểm trên thế giới và ở Việt Nam đều đã, đang và sẽ tiếp tục gánh chịu hậu quả của những hành vi tr ục lợi bảo hi ểm. Theo thống kê của hi ệp hộ i bảo hiểm Châu Âu, hàng năm các công ty bảo hiểm thiệt hại không dưới 10 tỷ USD do s ự gian lận của khách hàng và chiếm khoảng 2,5% doanh thu của các Công ty bảo hiểm.

    Cũng như các công ty b ảo hiểm khác, Pjico đang phải đố i mặ t với sự gia tăng về số lượ ng cũ ng như tính chất nghiêm trọng của các vụ trục lợi. Cụ thể ta xem xét bảng sau:

    Bảng 11:Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004
    vị
    1 Số vụ khiếu nại đòi   2358 2948 3861 3856 4217
      giải quyết bồi thường Vụ
    2              
      Số vụ nghi ngờ Vụ 105 164 193 214 243
    3 Tổng số vụ chấp nhận            
        2326 2900 3808 3792 4142
      bồi thường (1- 4) Tr.đ
    4 Số vụ phát hiện trục            
      Vụ 32 48 53 64 75
      lợi
    5 Tổng số tiền từ chối            
      bồi thường do gian Tr.đ 270 450 903 926 1106
      lận
    6 Số tiền từ chối bồi            
      thường bình quân/vụ   8,4 9,4 17 15,4 16,6
      (5/4) Tr.đ
    7 Số tiền bồi thường            
        16654 26643 40918 44379 52128
      thực tế Tr.đ
    8 Số vụ nghi ngờ/hồ sơ            
      % 4,5 3,9 3,4 5,5 5,8
      khiếu nại (2/1)
    9 Số vụ phát hiện/số vụ            
      % 30,5 29,1 27,4 29,9 30,86
      nghi ngờ (4/2)_

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên cho ta thấy:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Số vụ khiếu nại đòi bồi thường tăng mạnh trong các năm từ 2000 đến 2004 (từ 2358 vụ lên 4216 vụ) nên số tiền bồi thường hàng năm của Pjico cũng tăng (từ 16654 triệu đồng đến 52128 triệu đồng).
    • Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm liên tục tăng: Năm 2000 là 32 vụ đến năm 2001 là 48, năm 2002 là 53, năm 2003 là 64 và năm 2004 là 75. Điều này cho thấy số lượng những vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và hoạt động của ban thanh tra ngày càng mang lại hiệu quả to lớn.
    • Tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm tăng lên nhanh chóng qua các năm, năm 2000 và 2001, lần lượt là 270tr.đ/vụ, 450tr.đ/vụ, ba năm trở lại đây 2002, 2003 và 2004 tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm lần lượt là 903 triệu đồng; 926 triệu đồng và 1106 triệu đồng. Điều này cho thấy chiều hướng trục lợi bảo hiểm gia tăng, cả về số lượng và quy mô trục lợi bảo hiểm với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Ở đây chúng ta phải mạnh dạn đặt ra câu hỏi có sự tiếp tay của các nhân viên trong ngành bảo hiểm hay không?
    • Thêm vào đó, tỷ lệ phát hiện trục lợi / số vụ nghi ngờ năm 2000, 2003, 2004 lần lượt là 30,5%; 29,9%; 30,86%. Tỷ lệ này giảm xuống trong hai năm 2001 và 2002 (năm 2001 là 29,1%; năm 2002 là 27,4%) và ngày càng có chiều hướng ổn định. Chứng tỏ là hành vi trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng tinh vi hơn, đa dạng hơn và đặc biệt trục lợi bảo hiểm ngày càng có tổ chức hơn.

    Trong các hình thức trục lợi bảo hiểm thì đối tượng chỉ nhắm vào những hình thức phổ biến mà công ty thường hay sơ hở cũng như ít nghi ngờ.

    Cụ thể ta xem xét bảng số vụ trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức:

    Bảng 12: Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức tại Pjico giai đoạn 2000-2004 (Đơn
    Vị: Vụ)              
    STT Các hình thức trục lợi 2000 2001 2002 2003   2004
      bảo hiểm            
    1 Hợp lý hoá ngày giờ tai 15 22 26 30   34
      nạn và hiệu lực bảo hiểm            
                   
    2 Thay đổi tình tiết vụ 7 11 12 14   16
      tai nạn            
    3 Lập hồ sơ hiện 3 5 5 7   9
      trường giả            
    4 Khai tăng số tiền tổn 6 9 10 12   15
      thất            
                   
    5 Lập hồ sơ khiếu nại 1 1 1   1
      nhiều lần            

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.     Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                       
    6 Cố ý gây tai nạn      
                       
    7 Cộng: 32 48   53   64   75
                       
              (Nguồn: công ty
              Pjico)      

    Nhìn vào số liệu b ảng trên ta thấy, trong 6 hình thức trục lợi b ảo hi ểm cơ b ản thường thì khách hàng của công ty sử dụng 4 hình th ức phổ biến là: hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu l ực bảo hiểm; thay đổi tình tiết vụ tai nạn; lập hồ s ơ hiện trường giả và khai tăng số tiền tổ n thất; hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần có được sử d ụng nhưng rất ít; còn hình thức cố ý gây tai nạn chưa từng xuất hiện tại công ty Pjico.

    III.            BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ XỬ LÝ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Những dấu hiệu nghi vấn có gian lận bảo hiểm xe cơ giới.

    Cũng như các vụ án hình sự, các v ụ gian lận bảo hiểm xe cơ giới dù được chuẩ n bị công phu đến đâu cũ ng để lại những sơ hở gây nghi vấn. Và ngườ i làm bảo hiểm nếu nắm vững được các biểu hiện nghi vấn này sẽ dễ dàng hơn trong việc điều tra. Sau đây là những dấu hiệu cần đặt nghi vấn đã được tổng kết qua thực tiễn tại công ty Pjico:

    • Tai nạn xảy ra trong vòng 01 tháng kể từ ngày hết hạn hoặc bắt đầu có hiệu lực bảo hiểm.
    • Tai nạn xảy ra, giải quyết xong mới thông báo cho công ty bảo hiểm

    biết.

    • Tai nạn xảy ra ban đêm, nơi hoang vắng, không có người chứng kiến hoặc dân xung quanh.
    • Xe tư nhân, xe của chủ xe có nhiều xe chưa tham gia bảo hiểm thân xe, xe đăng ký từ tỉnh khác đến yêu cầu bảo hiểm thân xe với giá trị cao.
    • Xe được bảo hiểm thân xe riêng ngoài giấy chứng nhận bảo hiểm

    TNDS.

    • Chủ xe đến tham gia bảo hiểm vật chất xe nhưng không mang theo xe, không có giấy chứng nhận bảo hiểm cũ hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cũ không tham gia bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Hồ sơ tai nạn có hiện tượng tẩy xoá ngày tai nạn, ngày hiệu lực của bằng lái, giấy phép lưu hành, giấy phép lái xe, nguyên nhân tai nạn, tổn thất, số tiền đền bù …

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hồ sơ tai nạn, có ghi hoặc có biểu hiện có xe thứ ba liên quan nhưng không để lại việc giải quyết liên quan, không để lại địa chỉ của xe khác.
    • Xe bị thiệt hại nặng hoặc toàn bộ tham gia bảo hiểm cao hơn giá trị thực tế thị trường.
    • Xe bị thiệt hại nặng (cháy xe, đổ xe xuống vực…) nhưng người lái xe hoặc người trên xe không bị thương.
    • Chủ xe đề nghị người bán bảo hiểm ghi giúp họ lùi ngày cấp ấn chỉ vì những lý do mà họ đưa ra như tránh bị Công an phạt, hợp lý hoá giấy tờ lưu hành, để chứng minh với chủ hàng là trước đó đã tham gia bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe…

    2.                 Các hình thức gian lận và biện pháp phát hiện, xử lý trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Hình thức hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Để hợp lý hoá ngày hiệu lực của gi ấy chứng nhận bảo hiểm, người khiếu nại gian lận thường làm theo hai cách sau:

    Cách thứ nhất: Ghi lùi ngày hoặc tiến ngày xảy ra tai nạn.

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi:

    • Trường hợp bị tai nạn rồi mới tham gia bảo hiểm: Trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày bị tai nạn thực tế.
    • Trường thợp bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: Trong hồ sơ tai nạn, ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng với nhân viên của các cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ hi ện tượng trên thì phải kiểm tra lại giấy chứng nhận bảo hi ểm xem có h ợp lý không. Nếu đã hợp lý thì việc giám định chủ yếu dựa vào việc xác minh hiện trường cùng lời khai của nhân ch ứng để xác định đúng ngày xảy ra tai nạn bao gồm các công việc cụ thể sau:

    • Xác minh hiện trường: xem xét dấu vết trên địa bàn và nơi xảy ra tai nạn có phù hợp vời lời khai của lái xe, chủ xe hay không?

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Xác minh dựa trên lời khai của nhân chứng, người dân xung quanh nơi xảy ra tai nạn.
    • Xác minh qua các đối tượng liên quan trong vụ tai nạn: người trên xe bị thương đến mức độ nào, người thứ ba bị thiệt hại (được đưa đi cấp cứu ở đâu, vào lúc nào, tại bệnh viện nào…).
    • Xác minh lại hành trình của xe: ngày đi, các điểm dừng xe, đã dừng để bốc dỡ hay chở hàng ở đâu …

    Sau đó phải đặt các chi tiết xác minh được xem có lôgic, hợp lý về mặt thời gian cũng như lời khai của chủ xe để đưa ra nhận định cuối cùng.

    Nếu phát hiện ra hành vi trục lợi bảo hiểm này thì trước hết người được bảo hiểm sẽ không được nhận được tiền bồi thường; tuỳ theo số tiền có

    • định chiếm đoạt mà công ty bảo hiểm có biện pháp xửa lý thích hợp; nhẹ thì hoà giải; nặng có thể bị truy tố trước pháp luật. Còn nhân viên bảo hiểm do lỗi vô tình hay cố ý ghi sai mà phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình; nhẹ thì bị kiểm điểm, khiển trách; nặng thì bị thôi việc và kết tội đồng phạm.

    Cách thứ hai: Ghi lùi ngày bảo hiểm.

    Hành vi: Người khiếu nạn gian lận thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm trở về trước so với ngày đến mua và làm thủ tục bảo hiểm.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý: Lỗi này thuộc lỗi chủ quan, quản lý nội bộ của công ty đối với người bán bảo hiểm như nhân viên khai thác, đại lý, cộng tác viên, do vậy việc quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính. Muốn vậy:

    • Phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi kiểm tra các đại lý thường xuyên, luôn nhắc nhở đại lý tuân thủ quy trình nghiệp vụ, lưu ý người bán bảo hiểm người khiếu lại gian lận thường tìm nhiều lý do để lừa người bán bảo hiểm chấp nhận ghi lùi ngày bảo hiểm (như lý do để hợp thức hoá giấy tờ lưu hành, tránh bị Công an phạt …).
    • Khi có người yêu cầu ghi lùi ngày bảo hiểm thì nhân viên khai thác phải tìm cách ghi lại số xe, báo về công ty để có biện pháp ngăn chặn trên toàn tuyến (thông báo cho các điểm bán bảo hiểm khác, thông báo cho bảo hiểm tỉnh bạn, chú ý khi xét duyệt bồi thường …).
    • Khi đã xảy ra việc bán bảo hiểm ghì lùi ngày bảo hiểm, cán bộ quản

    lý phải:

    . Kiểm tra kỹ giấy chứng nhận, cuống lưu, hoá đơn (nếu có).

    . Yêu cầu người bán bảo hiểm tường trình lại sự việc.

    . Có biện pháp xử lý ngay đối với người bán bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Nếu phát hiện ra trường hợp này thì người được bảo hiểm sẽ không được bồi thường đồng thời người bán bảo hiểm có thể bị kết tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà Nước tại Điều 144 BộLuật Hình Sự nước Cộng hoà xã hội củ nghĩa Việt Nam.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe ôtô mang biển kiểm soát 35M – 5556 ngày 17/11/1998 bị đâm vào dải phân cách km 9 + 824 quốc lộ 5A, giấy chứng nhận bảo hiểm được mua tại Pjico vào ngày 13/11/1998. Cán bộ công ty đã đặt dấu hiệu nghi ngờ chiếc xe này vừa tham gia bảo hiểm nên ngay lập tức cử cán bộ xuống hiện trường điều tra. Sự việc được làm sáng tỏ thì ra chiếc xe này đã bị tai nạn từ ngày 11/11/1998, công ty đã từ chối trả tiền bồi thường 20,75 triệu đồng với lý do tai nạn nằm ngoài thời hạn bảo hiểm.

     

    • Hoặc vụ tai nạn của ôtô mang biển kiểm soát 22A – 8899 xảy ra lúc 9 giờ 45 phút ngày 09/08/1997 thiệt hại 44 triệu đồng nhưng đến 14 giờ cùng ngày mới mua bảo hiểm tại Pjico. Hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông khám nghiệm hiện trường ghi lùi vào ngày 12/08/1997.
    • Gần đây nhất là vụ tai nạn của xe ôtô mang biển số 29M-3344 của công ty TNHH Tân Hoàng Yến thiệt hại 43 triệu đồng, tai nạn xảy ra vào ngày 7/12/2004 và tai nạn xảy ra mới mua bảo hiểm tại Pjico hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông ghi lùi vào ngày 11/02/2002.
    1. Hình thức thay đổi tình tiết trong vụ tai nạn:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Thay đổi lỗi, thay đổi nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Sửa chữa hiệu lực giấy phép lưu hành xe (do hết hạn).
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do người lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không hợp lệ).

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Đọc kỹ lời khai của lái xe, biên bản khám nghiệm hiện trường, hồ sơ hiện trường để phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Đối chiếu bản gốc của các loại giấy tờ trên như giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành xe …
    • Trường hợp hồ sơ không có dấu hiệu sửa chữa thì có thể tìm cách đối chiếu bản gốc hồ sơ tai nạn tại cơ quan chức năng lập biên bản nếu khó khăn có thể nhờ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên.
    • Trường hợp này nếu bị phát hiện thì trước hết người được bảo hiểm cũng không được nhận tiền bồi thường. Tuỳ theo số tiền định chiếm đoạt mà sẽ bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp xe ôtô 15 chỗ ngồi mang biển số 19M- 4455 do lái xe Hoàng Mạnh Tân điều khiển gây tai nạn ngày 18/11/1999 gây thiệt hại cho người thứ ba lên đến 60 triệu đồng. Sau khi chủ xe có khiếu nại, công ty Pjico đã thụ lý hồ sơ và xác định lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ, chỉ có giấy phép lái xe loại xe ôtô chở tối đa 9 chỗ ngồi nhưng anh ta đã lợi dụng giấy phép lái xe có mặt trước mang tên Hoàng Mạnh Tân còn mặt sau ghi loại xe được phép lái là ôtô chở từ 25 đến 30 chỗ. Sau khi giám định, Pjico đã từ chối bồi thường với lý do tổn thất nằm ngoài phạm vi bảo hiểm.

    Hành vi gian lận rất khó phát hiện trong trường hợp người gian lận không trung thực đã thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn hay thay đổi người lái xe hợp lệ. Vì khi tham gia giao thông thì chỉ những người trên xe mới biết điều gì xảy ra với chiếc xe của mình. Khi tai nạn xảy ra họ khai báo những gì không đúng thực tế thì khó mà biết được.

    • Xe máy 29K- 4576 đến khiếu nại bồi thường bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội vào ngày 16/08/2003 nhưng qua xác minh của công ty Pjico thì nạn nhân bị tai nạn không phải là người điều khiển xe máy trên.
    1. Hình thức lập hồ sơ hiện trường giả:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Đưa xe từ nơi tai nạn đến nơi khác để lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn chưa mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Bằng giác quan để điều tra các vết tích trên hiện trường xem có phải là lái xe đã bị tai nạn ở đó hay không.
    • Đối chiếu biển số xe với số khung, số máy để xác định xem xe đang nằm trên hiện trường có phải đã được tham gia bảo hiểm hay không.
    • Hình thức này muốn làm được phải có sự “giúp đỡ” của các cơ quan chức năng do vậy rất khó phát hiện. Nếu bị pháp hiện thì người được bảo hiểm sẽ không nhận được một đồng tiền bồi thường nào mà còn bị cáo buộc liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức tại Điều 139 Bộ Luật Hình S ự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Hình thức khai tăng số tiền tổn thất:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hoá hư hỏng (bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    – Bảo hiểm vật chất thân xe:

    . Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với th ực tế, thúc ép Pjico chấp nhận phương án khắc phục hậu quả tai nạn bất hợp lý (thiệt hại bộ phận nhẹ nhưng đòi thay mới).

    . Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai, đưa vào hợp đồng sửa chữa.

    . S ửa chữa thay th ế cả những bộ phận hư hỏng không do tai nạn, hoặc bị tai nạn từ trước khi tham gia bảo hiểm.

    . Thay thế những vật tư cũ, chế lại… nhưng kê khai thay vật tư

    mới.

    . Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương…), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đó đồ đã hư hỏng.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải giám định trực tiếp trong thời gian sớm nhất (giám định sơ bộ, giám định chi tiết).
    • Phải theo dõi thường xuyên trong quá trình sửa chữa.
    • Chú ý công tác nghiệm thu sửa chữa (bộ phận hư hỏng thực tế đã sửa chữa, thay thế đúng chủng loại, chất lượng…).
    • Những bộ phận thay thế, thu hồi phải được quản lý chặt chẽ, tránh hiện tượng quay vòng sửa chữa đòi tiền bồi thường.
    • Hợp tác tốt với xưởng sửa chữa nhưng phải có thái độ độc lập, kiên

    quyết.

    • Hình thức này rất dễ thực hiện vì thế rất dễ phát hiện. Công ty nên có sẵn những bảng báo giá cụ thể, từng loại thiết bị, cho từng loại xe của từng hãng đồng thời trong đội ngũ giám định nên có một thợ máy.
    • Nếu phát hiện ra hình thức gian lận này có thể giải quyết theo nguyên tắc hoà giải, êm thấm, khi có những bằng chứng, chứng minh khách hành trục lợi để giữa khách hàng tránh chuyện bé xé ra to. Nhưng khách hàng một mực không chịu nhận thì phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cho khách hàng thấy được hành vi gian lận của mình và không chấp nhận bồi thường.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe 29N- 5338 của công ty TNHH Song Ánh Nguyệt, lúc 8 giờ 30 ngày 13/06/2002 khi xe đang đi trên đường vào khu Nghĩa Tân thì bị va vào bức tường do trách người qua đường gây thiệt hại: vỡ đèn xi nhan bên phải, sước sơn cửa sau xe bên phải, rơi nẹp cửa sau xe và xây xát hông bên phải, bồi thường thực tế là 11.812.000 đồng nhưng chủ xe đã làm hồ sơ yêu cầu bồi thường đến công ty Pjico Hà Nội với số tiền lên tới 30 triệu đồng.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bên cạnh đó, việc khai tăng số tiền tổn thất bằng cách thông đồng với bác sĩ để khai tăng bệnh án hay nội dung trong đơn thuốc thì rất khó phát hiện.
    • Trường hợp tai nạn ở Đông Anh Hà Nội là một ví dụ điển hình. Chiếc xe môtô mang biển kiểm soát 29K-1122 do chủ xe Nguyễn Trọng Ân điều khiển tham gia bảo hiểm người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội với mức trách nhiệm 10 triệu đồng/ vụ. Ngày 14/5/2002 do phóng nhanh ông Ân đã không làm chủ được tốc độ đã đâm vào người đi phía trước làm xe đổ lên người, ông Ân đã được đưa vào Bệnh Viện Giao Thông Vận Tải để điều trị. Nghiên cứu hồ sơ, cán bộ Pjico Hà Nội được biết ông Ân bị gãy xương bàn chân và sương sườn nằm điều trị hai đợt. Để làm rõ Pjico Hà Nội đã kiểm tra bằng cách đưa ông Ân đi chụp X- quang tại Bệnh Viện Việt Đức. Kết quả cho thấy ông Thư chỉ bị thương nhẹ và cuối cùng sự việc được làm sáng tỏ thì ra ông Ân đã thông đồng với nhân viên Bệnh Viện để có tấm phim X-quang bị gãy xương bàn chân và xương sườn mang tên ông Nguyễn Trọng Ân. Pjico Hà Nội đã từ chối bồi thường phần gãy xương bàn chân và xương sườn và chỉ bồi thường 3.7 triệu đồng theo chế độ bồi thường của người ngồi trên xe.
    1. Hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Chủ xe mua bảo hiểm trùng (mua từ 2 Công ty trở lên), khi xảy ra tai nạn xe đó đã được một công ty bảo hiểm bồi thường nhưng vẫn tiếp tục đòi bồi thường ở công ty bảo hiểm khác mà xe đó cũng tham gia bảo hiểm.
    • Hai xe đâm nhau, chủ xe đã được xe khác bồi thường nhưng vấn tiếp tục khiếu nại bồi thường về tai nạn dân sự đối với công ty bảo hiểm.
    • Hai xe cùng có lỗi gây ra tai nạn cho người thứ ba, cả hai xe đều thông đồng với cảnh sát lập hồ sơ cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải tìm bằng được xe liên quan trong vụ tai nạn để xác định được việc bồi thường của xe khác đối với người thứ ba hoặc bồi thường cho xe được bảo hiểm.
    • Khi xe được đăng ký tại tỉnh khác thì nhất thiết phải thông báo với công ty bảo hiểm tại tỉnh xe đó đăng ký và chỉ giải quyết bồi thường khi đã có thông tin xác nhận của đơn vị bạn.
    • Hình thức này rất dễ phát hiện nếu như các công ty có những thông tin về nhau, nhưng do cạnh tranh các công ty phải bảo mật thông tin đây là kẽ hở cho khách hàng lợi dụng. Vì thế, để hạn chế được hình thức này các công ty cố gắng xây dựng quan hệ hoà hữu tốt đẹp, canh tranh lành mạnh ít

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nh ất cũng công khai những thông tin về số vụ tổn thất đã bồi thường để công ty bạn biết và xử lý.

    • Nếu phát hiện ra hình thức trục lợi này thì phải cương quyết không bồi thường và tìm ra những bằng chứng, chứng minh hành vi gian dối của khách hàng để khách hàng thấy được hoạt động bảo hiểm rất quy mô và chặt chẽ.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp có sự tiếp tay của cán bộ Pjico Tuyên Quang trong vụ tai nạn xảy ra ngày 24/01/2003 tại km 8+ 277 Tuyên Quang- Thái Nguyên. Chiếc xe ôtô mang biển kiểm soát 29LD- 1002 của công ty thức ăn chăn nuôi gia súc Con Cò đã tham gia bảo hiểm vật chất và bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba tại công ty Pjico Hà Nội, còn xe ôtô 22H-4344 tham gia bảo hiểm vật chất tại Pjico Tuyên Quang. Ngày 24/01/2001 do không làm chủ được tốc độ xe 29LD- 1002 đã quyệt vào xe đi ngược chiều làm thiệt hại vật chất ước tính 13.876.000 đồng.

    Theo bản kết luận điều tra của cảnh sát giao thông thì lỗi 100% thuộc về xe 29LD- 1002. Sau tai nạn, chủ xe đã báo cho Pjico tỉnh Tuyên Quang tiến hành giám định. Vì lỗi 100% thuộc về xe 29LD-1002 nên sau khi giám định, Pjico Tuyên Quang phải thông báo bằng văn bản cho Pjico Hà Nội để tiến hành giải quyết bồi thường TNDS của chủ xe 29LD-1002 và Pjico Tuyên Quang không được phép bồi thường bất kỳ một khoản nào, trừ khi có yêu cầu chi hộ của Pjico Hà Nội. Nhưng do có sự thông đồng giữa chủ xe 22H- 4344 với cán bộ Pjico Tuyên Quang nên Pjico Tuyên Quang đã tiến hành bồi thường vật chất cho chủ xe 22H- 4344 với số tiền 13.876.000 đồng. Sau đó chủ xe mang hồ sơ về Pjico Hà Nội để đòi bồi thường TNDS.

    Như vậy, nếu Pjico Hà Nội tiếp tục bồi thường về TNDS cho chủ xe 29LD- 1002 thì xe 22H- 4344 sẽ nhận được hai lần số tiền bồi thường (bồi thường về TNDS và bồi thường về vật chất xe) tức là nhận được số tiền bồi thường lớn hơn số tổn thất thực tế, điều này nằm ngoài nguyên tắc của bảo hiểm.

    1. Hình thức cố ý gây tai nạn: Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ có hiện tượng cố ý gây tai nạn thì cần phải có biện pháp xử lý thích hợp vì đây là hiện tượng gian lận ít gặp nhưng lại nghiêm trọng nhất và cũng khó phát hiện nhất.

     

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau: Đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay thế mới.

     

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Lập phương án điều tra tỉ mỉ, nhiều hướng, đặc biệt chú ý đến công việc lấy lời khai nhân chứng, người biết sự việc liên quan và phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Ngoài phương án điều tra độc lập cần tranh thủ và huy động sự giúp đỡ của cơ quan điều tra chuyên môn như cảnh sát điều tra, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Viện khoa học hình sự…
    • Nhiều trường hợp cố ý gian lận xuất phát từ việc được bảo hiểm với giá trị cao nên việc xác định đúng giá trị thực tế của xe trước khi tham gia bảo hiểm là điều hết sức cần thiết: xác định qua nguồn gốc xe, hồ sơ gốc khi đăng ký xe (có đánh giá giá trị khi nộp thuế trước bạ…), xác định nơi sửa chữa qua các lần sửa chữa, nâng cấp… để xác định giá trị tăng thêm.
    • Trong quá trình điều tra các nghi ngờ trục lợi bảo hiểm cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

    . Khẩn trương nhanh chóng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết tai nạn.

    . Không để khách hàng biết kế hoạch, phương án điều tra vì công việc điều tra là do sự nghi ngờ của người làm bảo hiểm. Do vậy, nếu nghi ngờ sai sẽ làm mất lòng khách hàng có thể xảy ra tranh chấp không đáng có. Còn nếu nghi ngờ đúng thì sẽ dẫn đến hiện tượng “đánh rắn động cỏ”, “bứt dây động rừng”, khách hàng sẽ có điều kiện để chuẩn bị cho các tình tiết mới làm cho công việc điều tra trở lên khó khăn.

    . Kết quả điều tra phải được ghi nhận bằng những biên bản xác nhận hoặc các tài liệu làm chứng cứ đấu tranh với người trục lợi bảo hiểm.

    • Hình thức này được xử lý theo Điều 578 Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong Luật có ghi rõ:

    . “Bên được bảo hiểm có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện ghi trong hợp đồng, các quy định pháp luật có liên quan và thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại”.

    . “Trong trường hợp bên được bảo hiểm có lỗi không thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại đã ghi trong hợp đồng, thì bên bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để bên được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn mà các biện pháp phòng ngừa vẫn không được thực hiện, thì bên bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc không trả tiền bảo hiểm khi thiệt hại xảy ra do các biện pháp phòng ngừa không được thực”.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    Để đối phó v ới tình trạng trục lợi bảo hiểm nói chung, trục lợi bảo hiểm xe c ơ giới nói riêng đang gia tăng, ngày một tinh vi hơn dẫn đến nguy cơ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân, doanh nghiệp cũng như đối với xã hội. Công ty Pjico đã có những biện pháp phòng chống thiết thực, huy độ ng nguồn nội lực cũng như sự giúp đỡ của các ngành, các cấp và đã thu được một số kết quả nh ất đị nh. Tuy nhiên để công tác này thực sự đem lại hi ệu quả cao hơn trong thời gian tới, Công ty cần phải tiếp tục tăng cường các biện pháp đồng bộ mang tính khả thi cao.

    Qua thời gian thực tậ p tại Công ty, nghiên cứu thực tế vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    I. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC.

    1.     Cần sớm hoàn chỉnh hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

    Xuất phát từ đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp b ảo hiểm thương mại và luôn gắn liền với các trách nhiệm b ảo vệ hàng ngàn tổ chức, hàng triệu cá nhân trước các rủi ro và thiệt hại kinh tế cũng nh ư các cơ hội tiết kiệm và đầu tư. Vì thế sự bảo đảm kh ả năng tài chính của công ty bảo hiểm có ý nghĩa hết s ức quan trọng đối với nhiều cá nhân, tổ chức. Cùng với s ự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội, công ty bảo hiểm ngày càng đóng một vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ l ợi ích cộng đồng. Mà trục lợi bảo hiểm lại ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tài chính của công ty.

    Mỗi quốc gia đều thiết lập một cơ quan chuyên trách của Nhà n ước quản lý hoạt độ ng kinh doanh bảo hiể m, có thể gọi là cơ quan giám sát bảo hiểm Nhà nước hoặ c cơ quan Qu ản lý bảo hiể m. Cơ quan này có trách nhiện bảo đảm hoạt động củ a các công ty bảo hiểm tuân thủ theo đúng nh ững quy định của pháp luật và các quy định khác có liên quan của quốc gia. Đố i với Việt Nam, quản lý Nhà Nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua:

    • Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.
    • Bộ tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý Nhà Nước về kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000, song việc áp dụng vào thực tế rất chậm chạm, chưa tạo được môi trường pháp lý toàn diện, đầy đủ, vững chắc, chưa tương ứng với tầm vóc và tiềm năng của thị trường. Do vậy, để lành mạnh hoá thị trường, đảm bảo cạnh tranh công bằng đòi hỏi, các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm phải ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm và có vai trò tích cực trong việc điều tiết thị trường. Nhưng luật kinh doanh bảo hiểm có tới IX chương, 129 điều nhưng lại chưa có chương nào, điều nào đề cập tới vấn đề trục lợi bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do vậy, một vấn bức xúc đặt ra là khi các doanh nghiệp bảo hiể m phát hiện ra tr ục lợi thì cũng không biết xử lý thế nào ngoài việc t ừ chối bồi thườ ng. Bởi lẽ, trong các v ăn bản dướ i luật từ trước đến nay củ a Chính ph ủ, Bộ tài chính, Bộ công an cũng chưa có văn bản nào quy định về việc xử phạt đối với các đối tượng gian lận bảo hiểm. Vì v ậy trong thời gian tới, Chính Phủ cần phải ban hành một văn bản dưới luật quy định về tội danh này. Trong văn bản đó phải quy định chi tiết số ti ền gian lận bao nhiêu là bị xử phạt hành chính, bao nhiêu là bị xử tù. Đồng thời phải có thông tư hướng dẫn các Bộ, các ngành có liên quan trong việc thực hiện nhằm bảo đảm tính thực thi của văn bản đó.

    2.     Bộ tài chính cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện các quy tắc về bảo hiểm nói chung và vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    Bộ tài chính và các cơ quan chức năng phải có h ướng triển khai triệt để, ngăn chặn khiếu nại gian lận trong bảo hiểm ở nước ta. B ộ tài chính cần thành lập một ban thanh tra độc lập để ngăn chặn hành vi tiêu cực củ a các cơ quan thực hiện pháp luật như cảnh sát giao thông, Viện ki ểm sát… để đảm bảo quyền lợi của các đơn vị cá nhân trong hoạt động b ảo hiểm. Ban thanh tra còn có th ể trợ giúp các công ty bảo hiểm trong những vụ gian lận có thiệt hại lớn, tính chất, mức độ phạm pháp nguy hiểm có tính tổ chức. Đồ ng thời tổ chức những lớp tập huấn ngắn hạn hay dài hạn cả trong việc hợp tác với các n ước phát triển để đào tạo nâng cao trình độ, khả năng của các thanh tra viên, giám định viên cũng như truyền đạt các thông tin nhanh chóng trong các công ty trên phạm vi toàn quốc.

    Bộ tài chính cần có văn bản yêu cầu sự giúp đỡ của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ trong việc phối hợp với cơ quan bảo hiểm để hạn chế việc gian lận bảo hi ểm, xử lý nghiêm những nhân viên tiếp tay cho hành vi gian lận (Ví dụ: Bộ y tế cần có biện pháp xử lý đối với trường h ợp bác sỹ thông đồng với ng ười tham gia bảo hiểm để kê tăng bệnh án cũ ng như đơn thu ốc…) hay cần có biện pháp để kiể m tra xử lý đối v ới tr ường h ợp xe tham gia giao thông nhưng không tham gia bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới.

    3.     Bộ Công an phải đi tiên phong trong việc tấn công các đối tượng phạm tội trong ngành bảo hiểm.

     

    Bộ Công an là cơ quan có hoạt động g ắn bó bảo hiểm nhất. Bộ cần phối hợp với Bộ Tài chính

    mật thiết với các cơ quan để giảm bớt các hành vi

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    gian l ận bảo hiểm. Cụ thể, Bộ phải nhắc nhở các chiến sĩ Cảnh sát giao thông tăng cường ki ểm tra các giấy bảo hiểm bắt buộc của xe cơ giới như bảo hiểm TNDS của chủ xe, b ảo hiểm tai nạn hành khách. Việc tham gia đầy đủ các loại hình bảo hiểm bắt buộ c cũng sẽ hạn chế được tình trạng trục lợi. Bên cạnh đó, Bộ cần tăng cường nhắc nh ở phổ biến các hình thức trục lợi bảo hiểm đối với các nhân viên điều tra. Ngoài ra trong thời gian tới, Bộ Công an nên đưa công tác qu ản lý xe cơ giới và mạng vi tính toàn quốc. Điều này sẽ giúp cho các nhà bảo hiểm thu ận tiện h ơn khi kiểm tra lý lịch của chiếc xe tham gia bảo hi ểm. Đồng thời Bộ cũng nên lập danh sách các đối tượng đã có tiền sự trong việc trục lợi bảo hiểm gửi tới các Công ty bảo hiểm để đề phòng.

    Trong công tác đấu tranh chống tội phạm và trật tự an toàn xã hội chúng ta đã có số điện thoại nóng 113 (CSCĐ) được cả xã hội ủng hộ. Vậy tại sao trong công tác chống tham nhũng, mua chuộc cán b ộ và gian lận kinh tế chúng ta không thành lập mộ t đường dây nóng tương tự mà khi gọi đến số này chỉ vài phút sau lực lượng chuyên môn đã có mặt bắt quả tang và giải quyết kịp th ời nh ững hành vi gian dối lừa đảo. Điều này giải thích tại sao trong những năm v ừa qua chúng ta liên tục tuyên truy ền, phát động tuần lễ an toàn giao thông, tháng an toàn giao thông nhưng tai nạn giao thông lại cứ tăng, điều chớ trêu thay trong những tháng phát động tai nạn giao thông lại cao hơn những tháng không phát động.

    Một điều n ữa mà chúng ta không thể không nói đến hi ện nay, bên cạnh những chiến sỹ công an hết lòng với công việc để canh giữ sự bình yên cho xã hội là tình trạng tha hoá, biến chất về đạo đức củ a một bộ phận cán bộ trong ngành Công an. Ngành Công an là ngành dọc lại có công việc chính là điều tra, thanh tra, kiể m tra những ngành khác, cũng như mọi hoạt động trong xã hội. Chính vì lý do đó mà một b ộ phận cán bộ trong ngành cứ nghĩ một tay có thể che cả bầu trời chạy theo đồng tiền làm những việc tày tr ời. Bằng chứng trong những n ăm vừa qua chúng ta liên tục phát hiện những vụ cán bộ công an có chức có quyền buôn bán ma tuý mà nếu không ph ải do ăn chia không đều tố giác lẫn nhau thì chúng ta có thể phát hiện được không? Giả sử , chúng không tố giác lẫn nhau thì đến bao giờ chúng ta mới phát hiện được? và sẽ có bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu con ngườ i bị huỷ hoại tương lai dưới bàn tay của những kẻ mặt người dạ quỷ. Đó là chưa k ể đến hàng năm có bao nhiêu con em cháu cha trong ngành Công an “vượt qua” được cánh cửa các trường đại học, học viện trong ngành như: Đại học an ninh; Học viện kiểm sát; Đạ i học cảnh sát nhân dân… mà đ ó là nh ững trườ ng mơ ứơc của những học sinh nghèo học giỏi ở nh ững miền quê xa xôi, hẻo lánh, để rồi vài năm sau đó, khi ra trường chúng lại là bản sao của bố mẹ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chúng. Còn những học sinh nghèo kia chỉ giám nhìn qua cánh cổng trường đại học mà đặt ra những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời.

    Một điều mắt thấy tai nghe nữa, chúng ta hãy một lần đi trên những chuyến xe khách về các tỉnh lẻ thì biết. Tại sao, khi công an thổi còi xe dừ ng lại phụ xe ch ạy xuống rồi chạy lên ngay như một phản xạ tự nhiên. Hỏi ra mới biết tiền đã kẹp trong đống giấy tờ đó rồi và công an đâu có quan tâm đến đi ều gì ngoài điều đó. Những ngày thường thì (20.000- 30.000 đồng) những dị p lễ tết xe đ ông thì sẽ cao hơn (50-100.000 đồng) những cán bộ này đang coi mạng sống của những người đi trên xe chỉ đáng giá bằng ấy tiền. Thế mới có chuyện một chiếc xe khách ở Bắc Ninh chở ch ất cháy, nổ trái phép từ Lạng Sơn về t ận Bắc Ninh mà không bị phát hiện cho tới khi xe cháy thì mọi người mới ngã ngửa ra trên xe có ch ất nổ . Ai dám chắc rằ ng đó là l ần đầu tiên chiếc xe đó chở nh ững chất cấm. Vậy một câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao lại có những hành vi trên? Nếu không phải do tham ô, tham nhũ ng, tha hoá, biến ch ất từ trên xuống dưới thì một cá nhân có thể giám làm những điều trên hay không?

    Mà ngành bảo hiểm lại phải giải quyết tất cả những hậu quả trên. Đôi khi những h ậu quả đó có lỗi trực tiếp của nh ững cán bộ ngành công an sau đó họ lại là những người lập biên bản, giám định hiện trường (quyền sinh, quyền sát nằm trong tay) liệu họ có giám nh ận lỗi thu ộc về mình hay lại quy hết lỗi thuộc về lái xe và nhà xe thì nhà bảo hiểm chỉ biết bồi thường không giám kêu ai và nhờ ai đi ều tra. Đây là một điều bất cập và cũng là một nguyên nhân gia tăng tình trạng trục lợi bảo hiểm.

    Theo tôi, để giải quyết mâu thuẫn này ngành bảo hiểm phả i liên kết với ngành công an như tay phải và tay trái. Khi có tai nạn, biên bản về vụ tai nạn để bồi thường bảo hiểm phải có xác nhận của đại diện ngành bảo hiểm thì mới có hiệu lực. Muốn nh ư vậy, thì đại diịen ngành bảo hiểm phải có mặt đồng th ời với đại diện ngành công an trong quá trình giám định tai n ạn. Như vậy, tất cả những hành vi gian dối nhằm tr ục lợi bảo hi ểm như: thay đổi tình tiết vụ tai nạn có lợi cho khách hành, khai tăng số tiền tổn thất … sẽ bị phát hiện và ngăn chặm kịp thời.

    II. KIẾN NGHỊ VỚI HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    Từ 10 doanh nghiệp b ảo hi ểm hội viên sáng lập ban đầu khi thành lập năm 1999 gồ m: Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo Long, PV insurance, PJICO, VinaRe, VIA, UIC, PTI và Việt Úc đến nay, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã là ngôi nhà chung, thể hiện sự hợp tác liên kết của 21 doanh nghiệp bảo hiểm, cùng với các hội viên tán trợ là các doanh nghiệp môi gi ới bảo hiểm, doanh nghiệp tư vấn giám định bảo hiểm, văn phòng đại diện công ty bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nước ngoài và các trườ ng đại học có b ộ môn bảo hi ểm. Nhưng cho đến này hoạt động của Hiệp hội vẫn chưa đ em l ại hiệu quả thiết thực. Do v ậy, trong thời gian tới Hiệp hộ i ph ải phát huy vai trò đoàn kết các Công ty chống lại hiện tượng trục lợi bảo hiểm. Cụ thể là:

    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào việc soạn thảo các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà Nước về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan; góp ý kiến với cơ quan quản lý Nhà nước trong việc nghiên cứu xây dựng chiến lược pháp triển ngành bảo hiểm Việt Nam; thu thập và phản ánh với các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền ý kiến của các hội viên về các vấn đề chính sách, chế độ áp dụng với ngành bảo hiểm; đặc biệt Hiệp hội phải nhanh chóng soạn thảo nột chương trình phòng chống trục lợi bảo hiểm cho tất cả các công ty thành viên trong hội góp phần phát triển bền vững ngành bảo hiểm.
    • Tổ chức diễn đàn phổ cập pháp luật và chủ trương chính sách của Nhà Nước, đặc biệt chú trọng những diễn đàn phổ biến kinh nghiệm phát hiện gian lận bảo hiểm qua thực tiễn thực hiện, góp ý kiến nhằm hoàn thiện các văn bản pháp quy hiện hành về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan.
    • Xây dựng và thông qua nguyên tắc chung và nội dung phối hợp hoạt động giữa các hội viên, chú ý đến công tác phối hợp chống trục lợi bảo hiểm giữa các thành viên; quy chế tự quản nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm do Bộ tài chính ban hành. Đặc biệt, là biểu phí bảo hiểm xe cơ giới vì nghiệp vụ này thay đổi theo tốc độ tăng của số lượng xe và tổng số vụ tai nạn giao thông xảy ra. Tổ chức nghiên cứu xây dựng quy tắc, điều khoản, biểu phí của các nghiệp vụ bảo hiểm theo yêu cầu của hội viên dưới hình thức đề tài nghiên cứu khoa học câ.
    • Tổ chức trung tâm thông tin của Hiệp hội theo quy định của pháp luật hiện hành; tiến hành thống kê nghiệp vụ bảo hiểm trong khuôn khổ của Hiệp hội từ đó đề ra các giải pháp cụ thể cho từng nghiệp vụ cũng như đề xuất các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng trục lợi bảo hiểm từ phía khách hàng.
    • Đánh giá kết quả hoạt động của ngành bảo hiểm; phân tích tác hại của trục lợi bảo hiểm đối với cá nhân, doanh nghiệp và xã hội; đề ra những phương hướng hoạt động của ngành bảo hiểm.
    • Phối hợp hoạt động giữa các hội viên trong việc đào tạo bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ bảo hiểm chú trọng đội ngũ giám định- bồi thường, đào tạo đại lý, cộng tác viên.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tư vấn cho hội viên về tổ chức hoạt động, phát triển kinh doanh cũng như giúp đỡ hội viên trong việc xử lý những trường hợp trục lợi bảo hiểm và các vấn đề khác có liên quan.
    • Nghiên cứu, đề xuất hoặc tham gia ý kiến về các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất chung có liên quan chú ý, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất trong nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đến các doanh nghiệp bảo hiểm hội viên, phối hợp các hội viên và các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện.
    • Tổ chức tuyên truyền hoạt động bảo hiểm trong cả nước để mọi người dân hiểu quỹ bảo hiểm dùng để bồi thường cho những người có khả năng gặp phải cùng một rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi.
    • Hoà giải tranh chấp giữa các hội viên; kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà Nước về việc xử lý các trường hợp vi phạm phát luật trong lĩnh vực bảo hiểm.
    • Thiết lập các mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các đoàn thể có liên quan đến hoạt động của hội xây dựng quan hệ tốt đẹp với ngành có liên quan hệ mật thiết với bảo hiểm như: công an, thanh tra, đầu tư … Quan hệ hợp tác với Hiệp Hội bảo hiểm các nước và tham gia các tổ chức quốc tế theo quy địng của Nhà nứơc.

    Với những biện pháp trên, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam sẽ không những nâng cao vai trò, uy tín của mình mà còn tạo cho các công ty thành viên mối quan hệ đoàn kết, sự đồng lòng trong việc chống gian lận bảo hiểm xe cơ giới, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    IV.             KIẾN NGHỊ VỚI CÔNG TY PJICO.

    • Công ty cần tiếp tục mở rộng, tăng cường quan hệ, liên kết với các công ty bảo hiểm khác một cách chặt chẽ, đồng bộ ít nhất là ở công tác ngăn chặn, khiếu nại gian lận không để khách hàng lợi dụng yếu điểm của tình trạng cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các công ty mà tiếp tục làm gia tăng khiếu nại gian lận. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Cơ quan Công an, Y tế, các cơ quan giám định trong nước và quốc tế.
    • Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn các phòng kinh doanh, phòng giám định- bồi thường tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiệp vụ. Xử lý nghiêm những cá nhân, tập thể mắc sai phạm trong chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến việc khách hàng lợi dụng nghiệp vụ để trục lợi bảo hiểm. Đặc biệt, Công ty cần thẳng tay xa thải những cán bộ có hành vi tiếp tay cho gian lận.
    • Công ty cần ban hành một quy chế khen thưởng cụ thể đối với nhưng người có công pháp hiện ra trục lợi. Nên chăng trong quy chế này cần quy định cụ thể về tỷ lệ số tiền khen thưởng trên số tiền hòng trục lợi của

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    khách hàng. Việc này sẽ là một động lực khuyết khích tinh thần làm việc của cán bộ giám định. Ngoài ra cũng có thể áp dụng quy chế này đối với những cảnh sát điều tra.

    • Công ty nên có những phòng tiếp khách hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng đồng thời giải thích rõ các quy định, quy tắc của Nhà Nước, của công ty cho khách hàng và đối tượng quan tâm về tính nhân đạo, tính chặt chẽ trong hoạt động bảo hiểm, lợi ích của bảo hiểm đối với cá nhân cũng như cộng đồng, giải thích cho họ hiểu quỹ bảo hiểm là quỹ để bồi thường rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi, để nâng cao nhận thức của họ nhằm hạn chế bớt sự phát sinh tính gian lận nhằm trục lợi từ trong ý nghĩ.

    Đi đôi với biện pháp trên, Công ty cần phải tiếp tục hoàn thiện các khâu củ a quá trình kinh doanh như:

    • Đối với công tác quản lý ấn chỉ:

    . Toàn bộ ấn chỉ các phòng nhận từ công ty đều ph ải vào sổ theo dõi. Riêng đố i với số đem sử dụng phải theo dõi được đối tượ ng sử dụng, thời gian sử dụng và phải có quyết toán. Ấn chỉ xuất dùng sử dụng không hết phải nhập lại kho.

    . Phòng phải cử cán bộ theo dõi và quản lý ấn chỉ, đôn đốc kiểm tra và quyết toán ấn chỉ với đại lý và với công ty.

    . Chỉ được giao cho đại lý nh ững lo ại ấn chỉ được phép giao theo quy định của công ty. Đối v ới những ấn ch ỉ có số tiền lớn thườ ng dễ gây trục lợi, công ty cần hạn chế và quản lý tập chung tại phòng bảo hiểm khu vực hay công ty.

    . Số lượng ấn chỉ giao cho đại lý phải căn cứ theo từng loại ấn ch ỉ và đối tượng làm đại lý. Trong các trườ ng hợp số l ượng lớn hơn 1 công ty cần có các quy định chặt chẽ để tránh các hiện tượng tiêu cực xảy ra.

    . Thời gian quyết toán phải gắn liền v ới việc nộp phí bảo hiểm. Trong thời gian chưa nộp được phí về phòng, đại lý phải thông báo số phí, số đơn bảo hiểm để vào sổ theo dõi tại phòng.

    . Phương thức quyết toán từng tờ. Khi quyết toán ph ải kiểm tra thời gián ghi trên ấn chỉ, tu ần tự thời gian trong một quyển, đối chiếu thời gian ghi trên ấn chỉ với thời gian đại lý báo về của những ấn chỉ không quyết toán trong ngày, đối chiếu xác nhận số tiền ghi trên ấn chỉ với số phí thực tế đã thu.

    . Kiểm tra việc sử d ụng ấn chỉ của đại lý định kỳ hoặc khi nghi ngờ các hiện tượng trụ c lợi bảo hiểm công ty phải ti ến hành kiểm tra việc ghi chép và pháp hành hoá đơn của đại lý, đối chiếu thời gian và nội dung ghi trên liên gốc và liên giao cho khách hàng.

    – Đối với công tác nâng cao chất lượng đại lý:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    . Đại lý ph ải tuân thủ trình tự kiểm tra tất cả các xe trước khi nhận bảo hiểm đặc bi ệt đố i với xe mua bảo hiểm lẻ, xe t ư nhân, xe đăng ký tỉnh khác. Nhân viên phải đặc biệt chú ý tới nguyên tắc này, phải mắt thấy tai nghe về chiếc xe trước khi bán b ảo hiểm. Nếu sợ bắt chủ xe đưa xe tới có nhiều rầy rà mất th ời gian thì nhân viên làm bảo hiểm có thể đi kiểm tra sơ bộ rồi mới bán bảo hiểm.

    . Nhân viên nên kiểm tra lý lị ch quá trình hoạt động của xe, nếu đối tượng nhiều lần rủi ro hoặc chủ xe có tiền án, ti ền sự thì trong quá trình làm việc đại lý phải linh hoạt, khéo léo trong việc từ chối bán bảo hiểm.

    . Công ty phải tăng cường khâu tuyển chọn và đào tạo đại lý, cộng tác viên. Tuy ển l ựa đại lý, cộng tác viên có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, tổ ch ức cho họ tham gia các lớp đào tạo, h ướng dẫn về khai thác nghiệp vụ. Theo tôi, trong khâu tuyển chọn đại lý nên chăng Pjico nên tuyển chọ n ngay từ gốc bằng cách đến các trường đại học có khoa bảo hi ểm chọn lấy những sinh viên năm th ứ 3, thứ 4 có học lực tốt, phẩm chất tốt, tâm huy ết với nghề phổ biến cho họ cách khai thác bảo hiểm cách viết ấn chỉ và dựa vào sức tr ẻ s ự sáng tạo của họ cho họ đi khai thác một, mặt quảng bá hình ảnh công ty mặt khác tạo cho họ những kinh nghiệm thức tế họ còn thiếu và qua đây có thể tuyển chọn được mộ t vài đại lý đạt tiêu chuẩn cũng như sau khi họ ra trường có thể tuyển thành nhân viên chính thức cho công ty. Có thể nói đây là cách làm mới mẻ nhưng hiệu quả rất cao và có một vài công ty đ ã áp dụng, nên Pjico phải nghiên cứu và coi đây như là một chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho công ty sau này.

    . Định kỳ tổ ch ức các lớp tập huấn, đồ ng thời cũng cần tổ chức thườ ng xuyên các đợt kiểm tra công việc, trình độ của các đại lý, cộng tác viên để nắm bắt được nh ững hạn chế của họ từ đó có những biện pháp điều chỉnh, uốn nắm kịp thời. Hệ thống đại lý như mạng chân rết rất quan trọ ng đối với sự sống còn củ a công ty h ọ không chỉ đem lại doanh thu cho công ty mà còn là bộ mặt của công ty vì vậy, công ty luôn phải h ướng dẫn đào tạo cho nhân viên bán bảo hiểm nh ững ki ến thức cần thiết để có thể tư vấn cho khách hàng chứ không phải đơn thuần là bán bảo hiểm.

    . Một đ iều quan trọng nữa là hiện nay đại lý không thuộc biên chế của công ty nên có tâm lý làm việc không tích cực, nhanh chán nản, dễ pháp sinh tiêu cực. Vì vậy công ty cần có nh ững biện pháp khắc ph ục tình trạng này nh ư: bổ nhiệm các đại lý giỏi vào các chức v ụ tổ trưở ng đại lý, tuyển những đại lý xu ất sắc làm nhân viên thuộc biên chế của công ty… điều này chắc chắn sẽ tăng động cơ làm việc cho mỗi đại lý.

    – Đối với khâu giám định bồi thường:

    Giám định- bồi thườ ng là vấn đề lớn hàng ngày, hàng giờ ảnh h ưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới. Chính vì vậy để nâng

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao ch ất lượng phòng chống gian lận bảo hiểm thì phải nâng cao chất lượng khâu giám định- bồi thường. Để thực hiện được điều này, công ty cần phải quan tâm giải quyết một số vần đề sau:

    . Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tranh thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác giám định.

    . Không nên đợi chờ các lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ của công ty mà phải chủ động nâng cao trình độ của các giám định viên thông qua việc gửi các giám định viên theo học các lớp ngắn ngày tại các trường kỹ thuật, hoặc mời các chuyên gia điều tra bên Bộ Công an về nói chuyện chuyên đề, phổ biến kinh nghiệm.

    . Giám định viên sẽ được phân thành nhiều bậc từ thấp đến cao, mỗi bậc có chức năng, nhiệm v ụ, quyền lợi riêng để đáp ứng nhu cầu của công việc, giải quyết các vụ tai nạn tuỳ theo mức độ phức tạp. Giám định viên phải điều tra trên số vụ đã bồi thườ ng hoặc số vụ cần ph ải điều tra tối thiểu cho phòng trong một tháng (hoặc 1 tuần). Trên cơ sở đó, phòng sẽ chủ động phối h ợp với các phòng, ban chức năng để tiến hành hoạt động và báo cáo định kỳ với Ban Giám Đốc.

    . Công ty nên th ực hiện chế độ khoán chi cho phòng giống như các phòng kinh doanh. Việc này sẽ c ải thiện được mức thu nhập của nhân viên trong phòng, giúp họ yên tâm tập trung vào công việc.

    Việc phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới yêu cầu mang tính liên tục, nhanh chóng nhưng không đượ c đốt cháy giai đoạn. Trong quá trình công ty tiến hành các biện pháp trên đòi hỏi phải có sự phối hợp thống nhất và đồng bộ giữa Ban Giám Đốc và các phòng trực thuộc, giữa các phòng ban với nhau, giữa các nhân viên khai thác, giám định- bồi thường và thanh tra. Có như vậy, công tác này mới thực sự đem lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như xã hội.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    KẾT LUẬN

    Thực ti ễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới t ại công ty Pjico cho thấy kinh doanh nghiệp vụ này không những đạt kết quả khá cao mà còn nâng cao được trách nhiệm của người tham gia bảo hi ểm hạn chế đượ c tình hình tai nạn giao thông hiện nay, đóng góp chung vào sự bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

    Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồ n tại hành vi trục lợi bảo hiểm. Hành vi này rất nguy hi ểm đối với tất cả các Công ty bảo hiểm, bởi vì nó không chỉ gây thiệt hại về mặt tài chính của các Công ty bảo hiểm mà kéo theo đó là sự tha hoá biến chất của mộ t số cán bộ viên chức, ảnh hưởng đến uy tín cũng như chất lượng hoạt động của các Công ty bảo hiểm.

    Vì vậy các Công ty bảo hiểm nói chung và công ty Pjico nói riêng cần phải có những biên pháp hữu hiệu nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi trục lợi bảo hiểm đồng thời phối hợp với các cơ quan có chức năng tiến hành xử phạt một cách nghiêm minh đối với hành vi này để bảo hiểm hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.

    Chuyên đề: “Trụ c lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico”.

    Là kết quả của quá trình nghiên cứu và tìm hi ểu tình hình trục lợi bảo hiể m xe cơ gi ới tại công ty Pjico. Em hy vọng rằng các giả i pháp này sẽ có ích trong việc hạn chế tình hình trục lợi b ảo hi ểm xe cơ giới tại công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên chuyên đề mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các hiện tượ ng trục lợi trong bảo hiểm xe cơ gi ới. Trên thực tế cho thấy hiện tượng trục lợi bảo hiểm có thể xảy ra ở tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm. V ậy nên để có cái nhìn tổng quát hơn về hiện tượng trục lợi b ảo hiểm xe cơ giới cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện trên tất cả các loại hình bảo hiểm.

    Một l ần nữa em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Vũ Quỳnh Anh cùng các anh chị tại văn phòng VII, đặc biệt là anh Nguyễn Tiến Hải đã tận tình chỉ bảo em trong thời gian thực tập và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Giáo trình Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Chủ biên: PGS.TS. Hồ Sĩ Sà.

    Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2000.

    1. Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

    Chủ biên: TS. Nguyễn Văn Định. Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2003.

    1. Quy tắc bảo hiểm xe ôtô – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn khai thác bảo hiểm xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn công tác giám định bồi thường xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Tài liệu đào tạo đại lý – Công ty Pjico.
    1. Bản tin nôi bộ – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác năm 2001 và phương hướng hoạt động 2002 – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác hoạt động 2002 và phương hướng hoạt động 2003 – Công ty Pjico.
    1. Tạp chí bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    1. Tạp chí giao thông vận tải.
    1. Luật kinh doanh bảo hiểm.
    1. Một số tài liệu của uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia.
    1. Bộ luật dân sự Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Các tài liệu khác có liên quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-cho-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    LỜI GIỚI THIỆU

    Giao thừa thế kỉ XXI của Việt Nam là thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.Mọi người, mọi nhà ấm no hạnh phúc.Để thực hiện được mục tiêu trên và nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của người lao động trong sự nghiệp phát triển ngay từ khi thống nhất đất nước Đangr và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm tới người lao động trong đó có chính sách Bảo hiểm xã hội.

    Chính sách Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã được thực hiện từ những năm sáu mươi của thế kỉ

    1. Trải qua hơn bốn mươi năm thực hiện với những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần rất to lớn đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần ổn định chính trị- xã hội của đất nước. Đến nay Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện cho công chức nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động trong các thành phần kinh tế ở những nơi có quan hệ lao động, có sử dụng lao động từ 10 lao động trở lên…và sẽ còn tiếp tục mở rộng cho các đối tượng khác. Với năm chế độ về Bảo hiểm xã hội đang được thực hiện ở nước ta là: Chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất chính sách Bảo hiểm xã hội đã khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước chính sách bảo hiểm xã hội cần phải luôn luôn được thay đổi cho phù hợp.

    Xuất phát từ vai trò Bảo hiểm xã hội đối với người lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung đồng thời qua thực tế nghiên cứu tìm hiểu em xin mạnh dạn trọn đề tài: “Bảo Hiểm Xã Hội Cho Người Lao Động Việt Nam” với mong muốn có thể đưa ra những vấn đề tổng quát nhất về bảo hiểm xã hội, thực trạng hệ thống Bảo hiểm xã hội ngày nay và đề xuất một

    số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách Bảo hiểm xã hội xứng đáng với vai trò quan trọng của nó trong sự nghiệp phát triển đất nước.

    Bài viết của em nghiên cứu về BHXH gồm hai phần chính sau: Phần I: Những vấn đề lí luận chung về BHXH Phần II: Thực trạng BHXH ở nước ta.

    Những phương hướng và giải pháp.

    Số liệu sử dụng trong đề án là nguồn số liệu thứ cấp.

    NỘI DUNG

    PHẦN I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI.

    I.Quá trình phát triển bảo hiểm xã hội.

    1.Sơ lược lịch sử phát triển Bảo hiểm xã hội

    Nguồn gốc Bảo hiểm xã hội bắt nguồn từ rất sớm. Trong xà hội công xã nguyên thuỷ, do chưa có tư hữu về tư liệu sản xuất, mọi người cùng hái lượm ,săn bắt sản phẩm thu được phân phối bình quân nên rất khó khăn, bất lợi của mỗi người được cả xã hội, cả cộng đồng san sẻ, gánh chịu.Trong xã hội phong kiến, quan lại thì dựa vào chế độ bổng, lộc của nhà vua; dân cư thì dựa vào sự đùm bọc lẫn nhau trong họ hàng, cộng đồng làng, xã, hoặc sự giúp đỡ của những người hảo tâm và của Nhà nước. Ngoài ra, họ còn có thể đi vay hoặc đi xin. Với những cách này, người gặp khó khăn hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm từ phía giúp đỡ. Do vậy, sự giúp đỡ mới chỉ là khả năng, có thể có, có thể không, có thể nhiều hoặc ít, không hoàn toàn chắc chắn.

    Từ khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, xuất hiện việc thuê mướn nhân công , lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động. Dần dần về sau, phải cam kết đảm bảo cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang traỉ những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị ốm đau, tại nạn, thai sản, tuổi già… Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải chi một đồng tiền nào. Nhưng củng có khi lại xảy ra dồn dập buộc người chủ phải bỏ ra một lúc phải ra nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, giới thợ phải liên kết với nhau để đấu tranh buộc gới chủ phải thực hiện những điều đac cam kết cuộc tranh chấp này diễn ra ngày càng rộng lớn và đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Dần dần trong cơ chế thị trường đã xuất hiện một bên thứ ba đóng vai trò trung gian giúp thực hiện cam kết giữa giới chủ và giới thợ bằng các hoạt động thích hợp của nó. Nhờ vậy, thay vì cho việc phải chi thực tiếp một khoản tiền lớn

    khi người lao động bị ốm đau tại nạn, giới chủ chỉ phải trích ra những khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ dựa trên những cơ sở sắc xuất những biến cố của tâp hợp người lao động làm thuê. Số tiền này được giao cho bên thứ ba tồn tích dần thành một quỹ tiền tệ. Khi người lao động bị ốm đau, tai nạn thì cứ như theo cam kết chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ có muốn tri trả hay không . Làm như thế một mặt, giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế do không phải một lúc tri những khoản tiền lớn. Mặt khác, người lao đông làm thuê được đảm bảo chắc chắn một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn. Song trên thực tế, vấn đề lợi ích vẫn luôn luôn vận động. Giới thợ luôn luôn đòi hỏi được bảo đảm nhiều hơn trước tình hình kinh tế xã hội phát triển, còn giới chủ thì lại mong muốn chi ít hơn, lên tranh chấp chủ thợ lại tiếp diễn. Trước tình hình như vậy, nhà nước phải can thiệp điền chỉnh. BHXH xuất hiện từ đầu thế kỉ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu.Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 đó là luật nhà máy. Từ năm 1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Một số nước Châu âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối những năm hai mươimới có đạo luật về BHXH. Đó là kết quả của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm dành quyền bảo hiểm trong các trường hợp ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp, hưu trí…

    1. Lịch sử phát triển của BHXH ở Việt Nam.

     

    • Giai đoạn từ tháng 8/1945 đến 1960.

    Ngay từ năm đầu kháng chiến chống Pháp chính phủ đã áp dụng chế độ hưu chí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã làm việc dưới thời Pháp sau đó đi theo kháng chiêns nay đã già yếu. Đến năm 1950, Hồ Chủ Tịch dã kí sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành quy chế công chức và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chế công nhân.

    Nhìn lại các chế độ ban hành ở giai đoạn nay cho thấy: Các chính sách được ban hành ngay sau khi giàng được độc lập, trong tình trạng kinh tế còn nhiều thiếu thốn nên chưa đầy đủ chỉ đảm bảo được mức sống tối thiểu cho công nhân viên chức Nhà nước. Mức hưởng mang tính bình quân, đồng cam cộng khổ, chưa có tính lâu dài. Các khoản chi còn lẫn lộn với tiền lương, chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện. Tuy nhiên, chính sách

    BHXH có ý nghĩa giải quyết khó khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc mất sức lao động.

    2.2. Giai đoạn từ 1961 đến 1/1995.

    Trong giai đoạn này kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đòi hỏi số đông lực lượng lao động. Vì vậy, ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời theo nghị định số 218/Chính phủ về các chế độ BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Đối tượng tham gia BHXH là công nhân viên chức lực lượng vũ trang. Đã hình thành nguồn để chi trả các chế độ BHXH trong ngân sách nhà nước trên cơ sở đóng góp của xí nghiệp (4,7% so với tổng quỹ lương) và nhà nước cấp. Áp dụng 6 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức. Ngày 18/9/1985 Hội đồng bộ trưởng ban hành nghị định 236/HĐBT về việc bổ xung, sửa đổi chế độ BHXH.

    Như vậy qua hơn 35 năm thực hiện hnàg triệu người đã được hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH, nên đã có tác dụng làm cho đội ngũ công nhân viên chức gắn bó với cách mạng với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong lao động sản xuất xây dựng đất nước. Chính sách BHXH này đã đảm bảo điều kiện thiết yếu về vật chất và tinh thần cho người lao động trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Tuy nhiên, các chính sách BHXH đã ban hành cũng bộc lộ một số mặt tồn tại như: phạm vi đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn chưa thể hiện rõ sự công bằng đối với người lao động làm việc trong và ngoài khu vực nhà nước, quyền lợi trách nhiệm các bên tham gia chưa được thiết lập đầy đủ…

    2.3. Giai đoạn từ 1995 đến nay.

    Bộ luật lao động đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ V Quốc hội khoá IX ngày 28/6/1994, qui định tại chương XII về BHXH áp dụng cho người lao động cho mọi thành phần kinh tế. Chính phủ ban hành điều lệ BHXH kèm theo nghị định số 12/CP hướng dẫn qui định thi hành.

    Chính sách BHXH trong giai đoạn này đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia đối với lao động làm công hưởng lương ở các đơn vị, tổ chức kinh

    tế sử dụng 10 lao động trở lên thuộc mọi thành phần kinh tế. Thực tế trước nghị định số 12/CP số lao động tham gia BHXH là 3,4 triệu người thì hiện nay đã có 4,1 triệu người trong đó có 517 nghìn người ngoài quốc doanh( kể cả doanh liên doanh). Quỹ BHXH chủ yếu từ người sử dụng lao động đóng ( 15% quĩ lương) và người lao động đóng(5% tiền lương) độc lập với ngân sách nhà nước. Qui định rã trách nhiệm của người sử dụng lao động khi thuê mướn lao động phải đóng BHXH cho người lao động. Qui định rõ nghĩa vụ của người lao động trong việc đóng góp. Nguồn thu BHXH hàng năm tăng lên.

    BẢNG 1 : THU BHXH

    Năm 1996 1998 2000 2001
    Thu(Tỉ đồng) 2569 3875 5800 5718

    Nguồn: Tổng cục thống kê.

    Việc tăng nguồn thu này đã giúp cho việc thực hiện chế độ BHXH trước hết là người nghỉ hưu được tốt hơn. Chế độ BHXH có tác dụng tích cực làm ổn định đời sống người lao động từ đó có tác dụng tích cực động viên mọi người an tâm lao động sản xuất, với năng suất cao, hiệu quả cao. Đã thể hiện được sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ đồng thời mang tính chất cộng đồng xã hội để chia sẻ rủi ro.Tuy nhiên,về đối tượng tham gia BHXH chủ yếu vẫn là ở khu vực Nhà nước, lao động làm việc ở cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, kể cả liên doanh cồn thấp, chỉ có 15% lực lượng lao động xã hội thuộc đối tượng BHXH bắt buộc.Hiện nay, loại hình BHXH tự nguyện chưa được ban hành. Do đó, nhiều người lao động không thuộc diện làm công ăn lương, có nguỵện vọng tham gia BHXH thì chưa thực hiện được nguyện vọng của mình, chưa có chế độ bảo hiểm thất nghiệp để ổn định cuộc sống người lao động bị mất việc làm. Công tác giáo dục tuyên truyền còn rất hạn chế nên nhiều doanh nghiệp không đống BHXH. Một số qui định trong chính sách chế độ BHXH hiện hành trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc.

    II. Bản chất của BHXH

     

    1.Khái niệm

     

    Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH, tuỳ theo góc đọ nghiên cứu, cách tiếp cận mà người ta đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Có thể xác định khái niệm BHXH như sau:

    Khái niệm chung: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quĩ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Khái niệm BHXH(theo ILO): BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

    1. Ý nghĩa và tác dụng của BHXH

    2.1. Đối với người lao động đóng BHXH.

    Người lao động đóng BHXH bằng khoản tiền của mình để sẽ được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro hoặc sự biến theo loại chế độ bảo hiểm. Khoản trợ cấp thường là xấp xỉ với giá trị của khoản đã đóng góp BHXH, thậm chí còn cao hơn. Việc đóng góp BHXH có tầm quan trọng về tâm lí rất đáng kể: nhắc nhở ý thức trách nhiệm và bảo vệ nhân phẩm của người lao động, xác lập quyền của người lao động được hưởng trợ cấp, chưa kể là cồn có quyền tham gia quản lí BHXH.

    Tuy nhiên, việc dành dụm này không như gửi tiền vào quĩ tiết kiệm để rồi khi cần, thậm chí bất cứ lúc nào muốn thì tự do rút toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Xung quanh người lao động còn có cộng đồng người trẻ, người già, người khoẻ, người ốm yếu… có thể nói một cách hình tượng là người “may mắn”, người”rủi ro”. Cùng đóng góp nhưng người rủi ro được hưởng trự cấp trong khi người may mắn chưa hưởng. Nhưng đến một lúc nào đó, người may mắn cũng sẽ trở thành người rủi ro bên cạnh những người may mắn khác. Đó là sự chuyển giao xã hội giữa hai hoàn cảnh rủi ro và may mắn của đời người, là một phần của phương châm xử thế “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Với ý nghĩa trên, điều lệ BHXH mới ban hành kèm theo nghị định

    12/CP ngày 26/1/1995 đã qui định, người lao động đóng bằng 5% tiền lượng tháng để chi các chế độ hưu chí và tử tuất.

    2.2. Đối với người sử dụng lao động đóng BHXH

    Đóng BHXH cũng là để phục vụ lợi ích của người sử dụng lao động vì nó góp phần duy trì hoà bình và ổn định trong lao động.NGười sử dụng lao động trả lương cho người lao động để dáp ứng nhu cầu của người lao động khi làm việc cho người sử dụng lao động, nhưng cả khi họ không còn đủ sức để được hưởng lương. Chính là thông qua cơ ckế BHXH mà sự chuyển giao tiền lương giữa hai hoàn cảnh đó được thực hiện.

    Điều lệ BHXH mới của nước ta cũng quy định người sử dụng lao động phải đóng 15% so với tổng quỹ lương của nhữnh người lao động được hưởng bảo hiển trong đơn vị.

    2.3. Đối với nhà nước.

    Thực hiện chéc năng xã hội, nhà nước của dân, do dân và vì dân, lấy những lợi ích, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu và động lực hoạt động. Công bằng xã hội là hạt nhân của chính sách xã hội, là cái đích mà chính xã hội cần đạt đến. Sự can thiệp, điều tiết của nhà nước đối với các vấn đề xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, của xã hội công nghiệp hiện đại càng cần thiết mở rộng. Như đã nói ở phần trên, việc bảo vệ người lao động trước những rủi ro ngẫu nhiên thì do cá nhân và xã hội, nằm ngoài phạm vi của nhà nước. Nhưng cành về sau đó, nhất là ngày nay, nhu câu bảo vệ những quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nườo lao động, trong đó cơ chế BHXH đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp và điều tiết nhất định.

    Tóm lại, BHXH cho người lao động đối với nhà nước là giảm bớt gánh nặng xã hội cho việc nhăm sóc người lao động khi họ gặp rủi ro.

    III. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    BHXH là nhu cầu khách quan của người lao động, ý tưởng của BHXH là nhằm thực hiện một phần công bằng xã hội, phát huy truyền thốnh đoàn kết cộng đồng và tinh thần nhân ái. Theo lẽ công bằng xã hôị và vì đoàn kết cộng đồng thì BHXH phải được áp dụng với toàn bộ thành viên của cộng đồng.

    Tuy nhiên trong điều kiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong các thành viên cộng đồng có nhóm người là công chức, có nhóm người làm công ăn lương trong một đơn vị, một tập thể ổn định, có nhóm tuy cũng làm công ăn lương nhưng công việc và nơi sử dụng không ổn định, có nhóm người lao động đập lập, không có quan hệ lao động… Mỗi nhóm người gặp rủi ro khác nhau như: rủi ro tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, ốm đau tuổi già. Như vâỵ vấn đề đặt ra là phải có nhiều hình thức, nhiều cơ chế bảo vệ rất đa dạng…

    Quan điểm về bảo hiểm xã hội tuy chưa thống nhất giữa các nước nhưng các nước vẫn chưa xây dựng cho mình một hệ thống BHXH. Cũng như vậy, đối tượng của BHXHvẫn chưa được thống nhất. Tuy vậy các nước thực hiện BHXH thường theo hai khuynh hướng:

    Đối tượng BHXH là tất cả người lao động.

    Đối tượng BHXH chỉ có viên chức nhà nước, người làm công ăn lương.

    Hầu hết các nước trong trong buổi sơ khai của BHXH đều theo khuynh hướng thứ hai tức chỉ thực hiên BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Việt Nam cũng không vượt ra khỏi quan điểm đó, mặc dù như vậy là không bình đẳng giữa những người lao động.

    IV. Các chế độ BHXH.

    • Việt Nam hiện nay BHXH gồm 5 chế độ sau:
    1. Chế độ trợ cấp ốm đau.

    Chế độ này giúp cho người lao động có được khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất đi do không làm việc khi bị ốm đau. Việc thiết kế chế độ nay như hiêện hành đã tránh được những hiện tượng lạm dụng và bình quân hoá thong khi xét trợ cấp. Đảm bảo công bằng giữa đóng và hưởng BHXH, đồng thời có tính đến yếu tố san sẻ cộng đồng giữa những người tham gia BHXH. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn một số vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu xem xét như: không qui định thời gian dự bị trước khi hưởng BHXH; thời hạn hưởng tối đa chưa rõ; thủ tục, danh mục các bệnh dài hạn qui định đã lâu, cần phải bổ xung một số bệnh mới.

    1. Chế độ trợ cấp thai sản.

     

    Thiết kế chế độ này như hiện nay đã giúp lao động nữ có được khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập bị mất do không làm việc vì sinh con. Hơn nữa, việc qui định thời gian nghỉ đã tính đến yếu tố điều kiện và môi trường lao động nhằm đảm bảo sức khoẻ cho sản phụ thuộc nhóm lao động khác nhau. Qua thực tiễn, chế độ này còn có một số điểm phải khắc phục như: còn đan xen giữa chính sách BHXH với chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình; thời gian dự bị trước khi được hưởng cũng chưa có…

    3.Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:

    Thực tiễn triển khai chế độ này ở nước ta trong những năm vừa qua đã góp phần không nhỏ đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động không may bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Đồng thời chế độ này còn qui định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với các trường hợp xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Mức trợ cấp của chế độ này dựa trên cơ sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là hợp lí. Tuy vậy, cần phải xác định rõ hơn tai nạn lao động xảy ra trên đường từ nhà tới nơi làm việc và ngược lại, danh mục bệnh nghề nghiệp cần phải được bổ xung vì có một số loại bệnh mới phát sinh nhưng chưa được xếp vào bệnh nghề nghiệp…

    1. Chế độ hưu trí

    Đây là chế độ nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không được nhận nữa từ nghề nghiệp không được nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu. Nội dung chế độ này đã khắc phục được những hạn chế trước đây như: Việc qui đổi thời gian công tác; bóc tách được phần lớn những chế độ ưu đãi xã hội ra khỏi ché độ hưu trí…vì thế đã đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng giữa đóng và hưởng BHXH; giữa các nhóm lao động khác nhau. Tuy vậy, chế độ này vẫn còn nhiều điểm nổi cộm cần khắc phục như: tuổi đời vè hưu giữa các ngành, nhóm lao động; những người hưởng trợ cấp một lần đưa vào chế độ là chưa hợp lí, vì những người này vẫn chưa đủ tuổi, vừa không đủ tích luỹ cần thiết để hưởng trợ cấp. Đây chỉ là sự trả lại một phần số tiền cho người lao động khi họ không còn quan hệ lao động nữa, do quĩ BHXH đảm nhận.

    5.Chế độ tử tuất.

    Một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất đó là chế độ tử tuất. Chế độ này giúp cho thân nhân người chết có được khoản thợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người lao động bị chết; khi xây dựng chế độ này, đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm và yếu tố xã hội giữa người sống và người chết. Đặc biệt có tính đến yếu tố kế thừa đối với thân nhân của người chết. Song, việc quy định đối tượng được hưởng bao gồm cả bố mẹ bên vợ, bên chồng là chưa hợp lí. Vì bố mẹ bên vợ, bên chồng còn có thân nhân của cả hai bên chịu trách nhiệm. Điều này phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để thống nhất qui định.

    V. Chức năng của BHXH.

    BHXH có những chức năng cụ thể sau:

    1.Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các qui định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mắt thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng qui định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế hoạt động của BHXH.

    2.Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào qũi BHXH. Quĩ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đống góp. Như vậy, theo qui luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc…Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    3.Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao động người lao động được chủ sử dụng lao động trả lượng hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất.Vì thế, cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc.Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích lao động nâng cao năng suất lao động cá nhânvà kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    4.Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó, làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, Chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn phải giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển an toàn hơn.

    VI. Các nguyên tắc Bảo hiểm xã hội.

    1. Mọi người laođộng trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm đều có quyền được hưởng BHXH.

    Quyền được hưởng BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con người. Biểu hiện cụ thể quyền được hưởng BHXH của người lao động là việc họ được hưởng chế độ trợ cấp BHXH theo các chế độ xác định. Các chế độ này gắn với các trường hợp người lao động hoặc bị giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống. Trong nền kinh tế thị trường các trường hợp đố có thể có rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên. Về nguyên lí thì mội trường hợp như thế, người lao động đều phải được BHXH. Nhưng giữa nguyên lí và thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất xa. Khoảng cách đó do các biểu hiện kịnh tế xã hội qui định. Bởi vậy trên giác độ điều hành vĩ mô, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn

    phát triển về tổ chức và hoàn thiện dần việc BHXH đối với các trường hợp làm giảm hoặc mất thu nhập của người lao động nói trên.

    2.Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng BHXH đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự đóng BHXH cho mình.

    Đây là quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà nước phải có vai trò quản lí vĩ mô mọi hoạt động kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước. Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh cũng tương tự như trên nhưng chỉ trong phạm vi một ssố doanh nghiệp, ở đó, giữa người lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Người sưe dụng lao động muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh không chỉ chăm lo đầu tư máy móc thiết bị mà còn phải chăm lo tay nghề và đời sống người lao động mà mình sử dụng. Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương cho họ còn khi họ gặp rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao động…mà có gắn với quá trình lao động thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có như vậy, người lao động mới yên râm công tác góp phần tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.Đối với người lao động, khi gặp rủi ro không mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì mình cũng phải đống BHXH. Điều đó cho thâấy bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.

    3.Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để tự hình thành quỹ BHXH độc lập và tập trung.

    Sự đóng góp của ba bên như trên nếu không được đóng góp cho bên thứ ba- cơ quan BHXH chuyên nghiệp và được tồn tích dần thành một quĩ tài chính độc lập và tập trung như cách làm đặc trưng của BHXH th nó sẽ biến thành một cách làm khác với BHXH về chất, đó là phương thức tiết kiệm. Như vậy, mục đích, bản chất và yêu cầu của BHXH sẽ không thể thực hiện được.

    1. Phải lấy số đông bù số ít.

    Cách làm riêng có của BHXH là mọi người tham gia BHXH đóng góp nho bên nhận BHXH và tồn tích dần thành một qũi tài chính độc lập dung để chi trả trợ cấp cho người lao động khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập then các chế độ đã xá định.Số trợ cấp của họ nhận được lớn hơn rất nhiều so với số tiền đóng góp của họ. Muốn làm được việc này thì không có cách nào khác là phải lấy kết quả đóng góp của số đông người tham gia để bù cho số ít người được hưởng trợ cấp.

    5.Phải kết hợp hài hoà giữa các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXH.

    Trong BHXH cả ba bên tham gia, người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước đều nhận được nhiều lợi ích. Nhưng lợi ích nhận được không phải luôn luôn như nhau, thống nhất với nhau, mà trái lại có lợi ích có lúcd mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời gian nghỉ làm việc và hưởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho người lao động nhưng lại gặp khó khăn cho người chủ sử dụng lao động nêú giảm hậu quả cho người chủ sử dụng lao động thì Nhà nước phải gánh chịu.

    Nguồn cơ bản để hình thành quĩ BHXH là sự đóng góp của ba bên như đã nói ở trên. Muốn phát triển BHXH thì phải tăng quĩ,muốn vậy thì phải tăng nguồn thu, nhưng nguồn thu cơ bản này lại có giới hạn không cho phép vượt(làm giảm thu nhập hiện thời của người lao động và làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh). Vì vậy, phải tích cực đi tìm kiếm các nguồn thu khác để bổ sung như đầu tư vốn nhàn rỗi tương đối của quĩ BHXH vào các hoạt động sinh lời, hợp tác quốc tế… Ngoài ra có thể tìm tòi các phương cách BHXH khác mà nền kinh tế thụ trường đã tạo ra môi trường thuận lợi để áp dụng.

    6.Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải bảo đảm mức sống tối thiểu.

    Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương như: trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí…Như đã biết tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình

    thường và thực hiện được công việc nhất định mới có tiền lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn, tuổi già… không thực hiện được công việc nhất định hoặc không có việc làm mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương do lao động tạo ra được. Còn nếu cố tìm cách trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một người lao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngược lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản… để nhận được trợ cấp. Hơn nỡa, cách lập quĩ theo phương thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH băằng tiền lương lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lương thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro đem rủi ro của mình danf trải hết cho người khác. Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lú đang đi làm, tuynhiên, do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp BHXH thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hằng ngày. Chỉ khi đó trợ cấp BHXH mới có ý nghĩa an sinh.

    1. Kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện.

    Cho đến nay ở nước ta việc tham gia BHXH vẫn chưa trở thành tập quán, hơn nữa trong BHXH lợi ích của các bên tham gia và lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài của ngươì lao động vẫn có những mâu thuẫn. Bởi vậy, cần có sự kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện trong việc tham gia BHXH. Sự bắt buộc nên thực hiện đối với các bên tham gia BHXH ở khu vực có quan hệ lao động và với mức thu nhập cơ bản. Đối với những người có nhu cầu BHXH ở mức cao hoặc với người lao động độc lập thì nên để họ tham gia tự nguyện.

    1. Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cà nước đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.

    Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành. Trong đó, bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ bao trùm toàn bộ những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và nhng người lao động thuộc khu vực kinh tế quan trọng của đất nước. Ở nước ta do những điều kiện kinh tế- xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân thữh hiện BHXH mà chỉ có BHXH của NHà nước.

    Để BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảm bảo tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tuỳ tiện, tính cục bộ, cát

    cứ, hoặc những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm cho nhau.

    1. BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể.

    BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế- xã hội, với cơ chế và trình độ quản lí, đặc biệt là với sự đồng bộ, sự hoàn chỉnh của nền pháp chế của nước đó. Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế- xã hội đang chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải đảm bảo tính chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có bước đi phù hợp mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.

    VII. Tính chất của BHXH .

    BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đã đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển BHXH gắn liền với đời sống người lao động vì vậy nó có một số tính chất cơ bản sau :

    Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội: Sản xuất càng phát triển những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đối với người sử dụng lao động ngày càng nhiều và trở lên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hàon toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.

    BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian.

    BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ: Quỹ BHXH muốn được hình thành bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lí chặt chẽ sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tímh toán rất cụ thể dựa trên sác xuất phát sinh thiệt hại cuả tập hợp người lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao động theo các điều kiện BHXH. Thực chất phần đóng góp của mỗi người lao động là không đáng kể

    nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với người sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà chính mình sử dụng. Xét dưới mức độ kinh tế họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với nhà nước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

    BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao.

    VIII. BHXH Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường.

    Sau Cách mạng tháng tám thành công, trên cơ sở hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một số sách lệnh quy định về chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức nhà nước. Cơ sở pháp lí tiếp theo của BHXH được thể hiện trong hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hoá trong điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.

    Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối

    với người lao động”. Trong văn kiện đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến văn kiện đại hội Đảng lần VIII cũng đã nêu lên “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế “. Như vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lí quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường. Ngay sau khi bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước.

    PHẦN II.

    THỰC TRẠNG CỦA BHXH Ở NƯỚC TA.NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG

    VÀ GIẢI PHÁP.

    I. Đánh giá tổng quát về kết quả công tác BHXH qua các năm.

    BHXH là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao hiệu quả bảo đảm vật chất, góp phần ôổn định đời sống cho ngưòi lao động khi gặp rủi ro như tai nạn, ốm đau , bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động, chết…

    Chính sách BHXH đã được Đảng và Nhà nứơc ta quan tâm đề từ khi mới thành lập nước, trải qua quá trình dành độc lập, xây dựng đất nước hoà bình, phát triển đi lên, chính sách BHXH luôn được cải tiến, hoàn thiện phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước từng thời kỳ nên đã đáp ứng được nguyện vọng của người lao động, góp phần động viên chiến sĩ đồng bào cả nứơc trong đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nứơc cũng như trong xây dựng CNXH đưa đất nước tiến lên.

    Thời kỳ đổi mới với những kết quả quan trọng trên mặt trận kinh tế đã tạo tiền đề vững chắc cho những đổi mới tương ứng về chính sách XH nói chung và chính sách BHXH nói riêng. BHXH đã trở thành một lĩnh vực quan trọng hàng đầu của hệ thống an ninh XH ở nước ta. Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Nhà nước thực hiện BHXH đối với công chức nhà nước, ngưòi làm công ưan lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động. Đại hội VIII đã chỉ rõ: Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Đứng trước sự chỉ đạo này của chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH mới kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 . Nội dung cơ bản của sự đổi mới thể hiện trên các mặt:

    BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng. Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước. Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH.

    II. Nguồn quỹ bảo hiển.

    1.Tổ chức thu BHXH.

    Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường chính phủ đã ban hành nghị định 43/CP ngày 26/6/1993 và điều lệ bảo hiểm ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 trong các văn bản này đều qui định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn quỹ sau:

    Người sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH.

    Người lao động đóng 5% tiền lương tháng.

    Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động.

    BẢNG 2: MỨC ĐÓNG GÓP BHXH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

    Tên nước Chính phủ Tỷ lệ đóng góp Tỷ lệ đóng góp
        của người lao của người sử
        động so với dụng lao động so
        tiền lương (%) với quỹ lương
          (%)
    CHLB Đức Bù thiếu 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
    Inđônêxia   Bù thiếu 3,0   6,5
    Philipin   Bù thiếu 2,85 – 9,25   6,85 – 8,05
    Malaixia   Chi toàn bộ chế độ 9,5   12,75
        ốm đau, thai sản      
      Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới  

    Ngoài ba nguồn trên còn có một số nguồn thu khác như: lãi từ hoạt động đầu tư.

    Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quĩ BHXH. Vì vậy, qũi này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. KHi tính phí BHXH, có thể có căn cứ tính toán khác nhau như: dựa vào tiền lương, thang lương, dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động.

    Trong những năm qua mặc dù BHXH còn rất nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện công việc rất mới mẻ nhưng BHXH Việt nam đã hình thành được quĩ độc lập với ngân sách Nhà nước chủ động chi trả cho ngươì lao động góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách. Đạt được kết quả này là nhờ công tác quản lí thu chi BHXH đi vào nề nếp, người lao động

    • thức được trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia BHXH. Công tác thu BHXH của các tỉnh thành phố ngày một hoàn thiện.

    BẢNG 3 :THU BHXH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

    Năm Thu (tỷ VNĐ) Chi (tỷ đồng)
    6 tháng năm 1995 99 596
    Năm 1997 298 642
    Năm1998 382 778
    Năm 1999 415 797
    Năm2000 554 1030
    Năm2001 670 1300

    Nguồn :Tổng cục thống kê

    Qua 6 năm thực hiện, về cơ bản trên địa bàn Hà Nội đã đi vào nề nếp. Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có 65 vạn người thuộc diện đóng BHXH, chiếm 1/4 dân số trong đó trên 42 vạn người tham gia đóng và hưởng BHXH thường xuyên, trên 23 vạn người hưởng hưu trí và trợ cấp hàng tháng.

    1. Sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH dùng để chi trả cho các chế độ ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất. Ý thức được thực hiện tốt các chế độ chính sách BHXH đối với người lao động là đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động theo qui định của pháp luật mặt khác là nhiệm vụ hàng ngày là trách nhiệm của cơ quan BHXH. Vì vậy toàn ngành đã rất chú trọng đến các công tác này. Kết quả trong 5 năm BHXH các tỉnh thành phố đã chi trả đầy đủ, kịp thời và an toàn 24076089 triệu đồng trong đó có chi từ ngân sách nhà nước 20838016 triệu đồng chi từ quỹ BHXH 3238073 triệu đồng. Ngoài ra mỗi năm còn chi trả khoảng 200 tỷ đồng cho hàng triệu người hưởng chế độ ốm đau, thai sản. Tuy nhiên trong thời gian qua một số địa phương chưa nắm chắc tình hình tăng giảm đối tượng, nhất là khi đối tượng hết hạn hưởng chế độ hoặc là chết. Các trường hợp hưởng sai, hưởng không đúng chế độ nhiều nơi không bị phát hiện điều chỉnh kịp thời.

    Chi cho sự nghiệp quản lí BHXH: Theo quyết định số 20/1998/QĐ-TTG ngày 26/1/1998 của thủ tướng chính phủ thì chi phí quản lí bộ máy của hệ thống BHXH Việt Nam lấy từ quỹ BHXH và được trích không quá 6% trên tổng số thực thu BHXH.

    1. Tổ chức quản lí BHXH.

    Ngày nay việc quản lí quỹ BHXH gặp rất nhiều khó khăn từ tình hình thực tế là việc nợ đọng quỹ rất nhiều cho nên công tác quản lí thu nợ đọng phải tập trung vào khối nào có mức độ chiếm dụng cao. Bên cạnh đó thực tế cũng cho thấy số nợ đọng ở các tỉnh thành phố cũng có mức độ ít nhiều khác nhau những đơn vị có mất chiếm dụng lớn cần phải được nắm chắc thường xuyên theo dõi đôn đốc thu nộp. Nhằm thu hồi dần tìm mọi cách ngăn chặn phát sinh thêm rút mức nợ xuống giới hạn có thể chấp nhận được.

    Như vậy, để có thể tổ chức quản lí BHXH được tốt nước ta cần phải có biện pháp thích hợp. Đó là:

    BHXH cần phải được quản lí tập trung thống nhất sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí cho xã hội quản lí và sự dụng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn. Do quỹ BHXH quản lí tập trung nên hình thành được quỹ tiền tệ lớn có thời gian nhàn rỗi dài. Đây là một nguồn vốn nội lực vô cùng quan trọng để tham gia đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Từ đặc điểm hoạt động bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng mang tính hỗ trợ lẫn nhau giữa những người tham gia theo nguyên tắc dùng tiền đóng góp của số đông bù cho số ít người được hưởng hay là sự chia sẻ rủi ro của một số ít người cho đại đa số những người cùng gánh chịu tổn thất sẽ xảy ra tình trạng nếu hạch toán chi tiết thu để chi đối với từng chế độ, từng đơn vị, từng ngành từng lĩnh vực thì chắc chắn sẽ mất cân đối khác nhau thậm chí thu không đủ chi. Để khắc phục tình trạng đó quĩ BHXH nhất thiết phải được quản lí tập trung thống nhất kịp thời điều tiết đảm bảo đủ nguồn lực tài chính thực hiện đầy đủ thống nhất các chế độ bảo hiểm xã hội đối với mọi người lao động dù cho họ làm việc ở bất kì đâu, ở đơn vị nào, ngành nghề nào, lĩnh vực nào trên đất nước.

    Tăng cường quản lí thu BHXH: Trong thời gian vừa qua nhất là khi hệ thống BHXH Việt Nam ra đời việc tăng cường quản lí thu BHXH đã và đang là vấn đề được mọi người quan tâm. Để quản lí thu BHXH được tốt cần nghiên cứu xác địng rõ nguyên nhân của việc nợ quỹ để có biên pháp nhằm hạn chế không để lợi dụng tiền BHXH dùng vào việc khác gây khó khăn cho cơ quan BHXH, gây thiệt thòi cho người lao động. Ngoài ra cần đề ra chuẩn mực và biện pháp tiến hành đối với việc đánh giá mức đọ công nợ và đánh giá kết quả công tác quản lí tác động vào việc làm phát sinh tiền nợ BHXH. Trong tổng quĩ BHXH nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất là thu BHXH từ các doanh nghiệp. Vì vậy cần tăng cường biện pháp quản lí thu BHXH từ nguồn này giữ một vai trò hết sức quan trọng. Trước hết đối với người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp đay là một khảon thu bắt buộc. Hiện nay, mức thu, thời hạn thu nộp và trách nhiệm của người sử dụng lao động đã được qui định trong khoản 2 diều 44 nghị định 12/CPcủa chính phủ và nhiều văn bản pháp qui khác về BHXH.

    III. Phương hướng.

     

    Định hướng phát triển cho ngành BHXH Việt Nam trong thời gian tới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Sau đây xin đưa ra một số phương hướng nhằm thúc đẩy hoạt động BHXH ở nước ta được tốt hơn.

    1.Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hiện đai hoá hoạt động ngành BHXH

    Một trong những nội dung trọng yếu của chiến lược cán bộ trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại háo đất nước mà nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh là công tác qui hoạch cán bộ và chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Qui hoạch cán bộ để:”bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài”. Đối với hệ thống BHXH Việt Nam, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức đặt ra như một yêu cầu khách quan và thực sự cần thiết. Phương hướng đào tạo,bồi dưỡng cán bộ công chức ngành BHXH VIệt Nam như sau:

    Nội dung chương trình đào tạo một mặt đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng trong thời kì phát triển mặt khác phải phản ánh kịp thời những phát hiện mới của lí luận và thực tiễn về BHXH.

    Tăng cường đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất để thực hiện công tác đào tạo. Đối với BHXH Việt Nam, nhu cầu đào tạo là hết sức cần thiết vì vậy cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác này. Mặt khác cần sớm xúc tiến viẹc thành lập một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của ngành BHXH Việt nam tương xứng thực hiện công tác đào tạo nhằm thực hiện qui hoạch phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhằm tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

    1. Bảo toàn và tăng trưởng quĩ BHXH Việt Nam.

    Tăng trưởng quĩ BHXH là việc bắt buộc phải thực hiện trong công tác đầu tư tăng trưởng quĩ để đạt được mục tiêu an sinh xã hội, ổn định trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy BHXH cần phải ddược bảo toàn và tăng trưởng.Phương hướng đặt ra là:

    Đối với hoạt động thu: Việc tăng số thu cho quĩ BHXH được xem là một trong những hoạt động bảo toàn và tăng trưởng quĩ.Tuy iên việc tăng qui mô quĩ không có nghĩa là tăng có tính cơ học mức thu của các bên tham gia bảo hiểm mà là trên cơ sở huy động số đối tượng tham gia quĩ ngày càng đông,

    với thơì gian đóng góp ngày càng dài. Đi đôi với việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH thì nhu cầu chi trả trong tương lai sẽ tăng lên. Do đó,việc tăng thu choquĩ BHXH dư thực sự có ý nghĩa với bảo toàn và tăng trưởng quĩ khi nó được gắn liền với hoạt động đầu tư quĩ BHXH. Việc thiết lập hệ thống kiểm soát thu giúp phát hiện những sai lầm dấu hiệu không an toàn cho quĩ trong việc quản lí đối tượng thu, đôn đốc thu nộp, quản lí tiền thu cũng góp phần bảo toàn quĩ.

    Đối với hoạt động chi: Việc tính toán khoa học và hợp lí mức chi trả và phương thức chi trả vừa góp phần đảm bảo đời sống của người hưởng thụ, vưừa đảm bảo khả năng chi trả của quĩ có số dư ngày càng lớn tạo tiền đề cho hoạt động đầu tư. Quản lí đối tượng hưởng thụ và tổ chức chi trả chặt chẽ an toàn sẽđảm bảo cho nguồn vốn quĩ không bị thất thoát. Các khoản chi cho quản lí tài chính cần phải sử dụng tiết kiệm hiệu quả và từ đó góp phần tăng khả năng tự tích luỹ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư. Từ năm1996 đến nay, quĩ BHXH đã tồn tích một khối lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi tương đối lớn, khoảng 20.000 tỷ đồng.íố tiền này được chính phủ cho phép đầu tư tăng trưởng. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang thiếu vốn nghiêm trọng, cung về vốn trên thi trường không đủ đáp ứng nhu cầu.Rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều doanh nghiệp đang cần vốn. Vì vậy, việc đầu tư quĩ vào đâu, cho đối tượng nào vay vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho quĩ BHXH, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị được đầu tư là một vấn đề phức tạp, cần phải được cân nhắc. Trên thực tế, đó là xem xét danh mục đầu tư của quĩ. Hiện nay ở hầu hết các nước, Chính phủ đều qui định danh mục đầu tư, hoặc phân cấp rõ ràng danh mục đầu tư gắn liền với trách nhiệm của các cấp, các ngành để hạn chế rủi ro của quĩ. Đối với nước ta đây là vấn đề cần được ngiên cứu kĩ trong thời gian tới.Bên cạnh đó không thể quên việc thiết lập hệ thống kiểm soát góp phần ngăn ngừa và hạn chế các khuyết điểm và sai phạm có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu, xét duyệt hồ sơ nhằm đảm bảo an toàn quĩ, giữ nghiêm kỉ luật nâng cao năng lực và uy tín hoạt động của BHXH.

    II. Giải pháp.

    Chính sách BHXH đã trở thành một trong những chính sách xã hôi quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần đảm bảo an toàn đời sống của

    cán bộ, công chức người lao động và gia đình họ góp phần tích cực vào cuộc sống bảo vệ và xây dựng đất nước. Nghị quyết đại hôi đảng toàn quốc làn thứ IXđã nêu rõ:”Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và an sinh xã hội. Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ…” Những chủ trương của Đảng nhằm mang lại hạnh phúc cho mọi người lao động khi gặp hoàn cảnh khó khăn ốm đau, tai nạn, già yếu… nhằm đảm bảo cho xã hội công bằng, văn minh tiến bộ.Tuy nhiên, để thực hiện được chủ trương của Đảng thì cần có nhiều công việc phải làm. Xin đưa ra một số giải pháp sau nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống BHXH:

    1.Về đối tượng và loại hình BHXH .

    Cần xác định đối tượng loại hình áp dụng BHXH bắt buộc là hìmh thức cưỡng chế theo pháp luật. Còn đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện là hình thức vận động thuyết phục thực hiện theo qui định của pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH và quyền lợi hưởng các chế độ BHXH chỉ có một qui định thống nhất cho cả hai bên, có như vậy mới đảm bảo tính thống nhất trong tổ chức, quản lí cũng như trong qua trình chuyển đổi giữa hai loại hình BHXH mà không gây trở ngại cho ngươì lao động và cơ quan quản lí. Giữ vững quan hệ ba bên.

    Mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Từ khi thực hiện chính sách và cơ chế quản lí mới về BHXH, BHYT, phạm vi, đôi tượng tham gia đã được mở rộng (diện tham gia BHXH chiếm 10% lực lượng lao động) góp phần đảm bảo quyền và lợi ích cho hàng chục triệu lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiệu quả hoạt động của BHXH đã góp phần từng bước giảm dần gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước tạo nên hệ thống an sinh cho con người. Tuy nhiên để từng bước thu hút 80% dân số còn lại tham gia, cần có chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHXH, không chỉ với lao động thuộc khu vực nhà nước mà cả ở các thành phần kinh tế khác. Khi đối tượng tham gia BHXH được mở rộng, tỉ lệ thu BHXH 15% để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trong những năm tới( từ 10 đến 12 năm) được giữ nguyên sau đó tăng dần tỉ lệ đóng. Nghiên cứu qui định lại cách tính lương hưu. Qui định thêm mức đóng khi thực hiện thêm chế độ trợ cấp thất nghiệp.

    1. Về các chế độ của BHXH.

     

    Cần mở rộng thêm các chế độ BHXH sau:

    Chế độ Chế độ Chế độ Chế độ

    trợ cấp thất nghiệp

    chăm sóc y tế

    trợ cấp tàn tật

    trợ cấp gia đình

    Cần sửa chữa bổ xung một số chế độ BHXH qui định tại các điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP và 45/CP để khắc phục một số tồn tại như:

    Nâng độ tuổi nghỉ hưu của một số lao động đặc thù như những người làm công tác khoa học, giáo dục, lao động nữ làm công tác hành chính sự nghiệp khi đến tuổi theo qui định chung nhưng còn khả năng làm việc và cơ quan, đơn vị có nhu cầu sử dụng tiếp.

    Giảm bớt tỉ lệ trừ lương hưu của những người về hưu trước tuổi để cải thiện lương hưu và giải toả tâm lí thiệt thòi khi nghỉ hưu trước tuổi dẫn đến tình trạng ùn tắc lực lượng lao động ở các đơn vị, doanh nghiệp.

    Giảm độ tuổi nghỉ hưu của những người làm việc nặng nhọc độc hại phù hợp với mức độ suy giảm khả năng lao động.

    Đối với chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp cần bổ xung thêm vào danh mục bệnh nghề nghiệp những bệnh mới xuất hiện nhưng chưa được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp gây thiệt thòi cho người lao động…

    1. Tăng cường tính pháp lí của các qui phạm pháp luật về BHXH.

    Nhanh chóng hoàn thiện và ban hành luật BHXH trong đó chú trọng đến các hình thức sử phạt nghiêm minh đối với các doanh nghiệp trốn đóng BHXH.

    Đưa các điều khoản qui định về thu nộp BHXH vào nội dung của luật doanh nghiệp, luật phá sản doanh nghiệp. Các điều khoản này qui định rõ về thứ tự ưu tiên thanh toán nộp BHXH trong hệ thống các khoản thanh toán của doanh nghiệp để đảm bảo giải quyết các quyền lợi hưởng BHXH của người lao động trong doanh nghiệp.

    • các địa phương cần có sự kết hợp đồng bộ và hiệu quả giữa Sở lao động thương binh xã hội với ngành BHXH. Liên đoàn lao động và các cơ quan pháp luật trong việc sử lí các doanh nghiệp nợ đọng BHXH.

    Có cơ chế khuyến khích cán bộ BHXH phát hiện và truy thu BHXH. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thu BHXH để đáp ứng nhu cầu công việc.

    1. Quản lí BHXH

    Tăng cường công tác kiểm tra thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH nhằm quản lí mọi người lao động, phổ biến qui định và nguyên tắc của ngành và những qui định có liên quan dược thực hiện đầy đủ, đúng qui định, kịp thời.

    Cơ quan BHXH các cấp tăng cường phối kết hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn như: ngành LĐ-TB-XH, liên đoàn Lao động, Kế hoạch đầu tư, Thuế, Công an, Thanh tra nhà nước trong công tác kiểm tra các doanh nghiệp về thực hiện Bộ luật lao động, nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đóng BHXH đối với người lao động.

    Không ngừng mở rộng cả phạm vi, hình thức và nội dung thông tin, tuyên truyền nêu gương các doanh nghiệp làm tốt, phê phán các doanh nghiệp trốn đóng BHXH. Thông tin tuyên truyền phải sát cơ sở, sát người lao động đêr chủ sử dụng lao động và người lao động hiểu được chế độ, chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước và tự giác tham gia BHXH.

    Cơ chế quản lí và chi trả quỹ BHXH được tập trung ở cấp tỉnh, thành phố được đầu tư sinh lợi theo pháp luật của nhà nước. Tuy nhiên, chính phủ cần qui định rõ việc đầu tư này.

    Tổ chức hội đồng quản lí quỹ BHXH cấp tỉnh, thành phố gồm các thành phần: đại diện cơ quan quản lí nhà nước về lao động và tài chính, đại diện cơ quan quản lí BHXH và đại diện người lao động.

    1. Xúc tiến việc thiết lập và mở rộng quan hệ của BHXH Việt Nam với BHXH của các nước khác.

    Công tác này nhằm trao đổi và học hỏi kinh nghiệm của các nước khác giúp cho qúa trình hội nhập với hệ thống bảo hiểm quốc tế mà gần nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Các lĩnh vực về BHXH cần trao đổi như: kinh nghiệm của các ngành, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác bảo hiểm, gia nhập các hiệp hội nhằm hỗ trợ lẫn nhau…

    III. Một số kiến nghị của bản thân.

     

    Cần xây dựng hệ thống BHXH đổi mới độc lập và tập trung với cơ cấu và hoạt động, các chế độ trợ cấp phù hợp .

    Cơ chế quản lí BHXH sớm xây dựng hệ thống tổ chức quản lí riêng biệt và đồng bộ.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên nghiên cứu ban hành mẫu “Thông báo nộp BHXH” với nội dung rõ ràng, cụ thể từ đó giúp cho việc quan lí thuận tiện hơn.

    Nhà nước nên chú trọng và đưa ra BHXH đối với người nông thôn lao động sản xuất trong nông nghiệp.

    Trên đây là một số kiến nghị của bản thân em nhằm giúp cho hệ thống BHXH được hoàn thiện hơn.

    KẾT LUẬN

    Như vậy để có của cải vật chất con người phải lao động, để lao động con người phải có sức khoẻ và khả năng lao động nhất định. Trong thực tế cuộc sống không phảo người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngược lại không mấy ai tránh khỏi những rủi ro bất hạnh như: ốm đau, tai nạn hay già yếu…do ảnh hưởng của tự nhiên, của điều kiện sốngvà sinh hoạt cũng như các nhân tố xã hội khác. Bởi vậy, muốn tồn tại con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết để khắc phục những rủi ro bất hạnh, giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên chỉ đến khi có sự ra đời của bảo hiểm xã hội thì những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất. Vì vậy Bảo hiểm xã hội đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong bản tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10/12/1948 đã nêu:”Tất cả mọi người vơí tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng Bảo hiểm xã hội

    “ Một lần nữa xin khẳng định lại vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và xã hội. Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế ở nước ta đòi hỏi Bảo hiểm xã hội phải thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển. Trong những năm, qua mặc dù Bảo hiểm xã hội có nhữnh bước tiến khả quan bắt đầu khẳng định vai trò của nó nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ.

    Qua thực tế tìm hiểu và thực hiện đề tài này em không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự góp ý của thầy cô để đề án của em hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cám ơn!

    LOI CÁM ƠN !

    Để thực hiện được đề tài này là nhờ sự chỉ bảo không nhỏ của thầy cô phụ trách. Em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Bích Ngọc đã giúp em thực hiện đề tài này. Em cũng xin cám ơn khoa Kinh tế lao động và dân số đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng em thực hiện đề án môn học chuyên ngành.

    DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ BẢNG BIỂU

    1. Danh mục chữ viết tắt

     

    1. Bảo hiểm xã hội: BHXH

     

    1. Cộng hoà xã hội: CHXH

     

    1. Doanh nghiêp: DN

     

    1. Bảo hiểm y tế: BHYT

     

    1. Chính phủ: CP

     

    1. Cộng hoà liên bang: CHLB

     

    1. Cộng hoà: CH

     

    1. Lao động- Thương binh- xã hội: LĐ- TB- XH

     

    II.Danh mục bảng biểu

     

    1. Bảng 1: Thu BHXH

     

    1. Bảng 2: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới

     

    1. Bảng 3: Thu BHXH trên địa bàn Hà Nội

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Bảo hiểm – Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2000
    1. Giáo trình Quản trị nhân lực – Trươờng ĐHKTQD
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 1998
    1. Bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam
    1. Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Hà Nội 2002
    1. Bảo hiểm xã hội – Những điều cần biết / Bộ LĐ- TB- XH
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2001
    1. Nguyễn Hữu Thân- Quản trị nhân sự
      1. Nhà xuất bản thống kê – Tp. HCM 2001
    2. Tạp chí BHXH tháng 1/2003
    3. Tạp chí BHXH tháng 3/2003
    4. Tạp chí BHXH tháng 4/2003
    5. Tạp chí BHXH tháng 5/2003
    6. Tạp chí BHXH tháng 6/2003
    7. Tạp chí BHXH tháng 7/2003
    8. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề II/1999
    9. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề IV/1999
    10. Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 7/2003

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Lời nói đầu

     

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự  đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định  Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu – chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

     

    Phần I. Lý luận chung về BHXH và Quỹ BHXH

    I. Lý luận chung về BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển                    của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    – Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    – Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).

    – Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.

    – Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.

    – Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:

    + Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu  sinh sống thiết yếu của họ.

    + Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.

    + Xây dựng điều kiện  sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.

    – Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.

    – Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    – Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    – Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.

    1. Tính chất của BHXH.

    – Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.

    – BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung  cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.

    – BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    – BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.

    – Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.

    – Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.

    + Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.

    + Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    + Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.

    + Ngành nghề công tác của người lao động

    + Thời gian công tác và tiền lương của người lao động

    + Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp

    + Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.

    + Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.

    – Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. Quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    – Người lao động đóng góp

    – Người sử dụng đóng góp

    – Nhà nước bù thiếu

    – Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    – Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp   rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.

    – Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.

    – Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    – Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.

    – Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    2. Trợ cấp ốm đau
    3. Trợ cấp thất nghiệp
    4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    5. Trợ cấp tuổi già
    6. Trợ cấp gia đình
    7. Trợ cấp sinh đẻ
    8. Trợ cấp khi tàn phế.
    9. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    + Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.

    + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.

    + Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.

    + Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.

    + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.

    + Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.

    + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.

    + Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

     

    Phần II. Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam thực trạng và giải pháp

    I. Khái quát tình hình BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số    văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    + Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ trang.

    + Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    + Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.

    + Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần  ổn định đời sống  cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống  quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ  yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em  ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    – Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.

    – Chính sách  này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.

    – Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực tế.

    – Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia  BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    – Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    – Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.

    – Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước  và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.

    – Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.

    – Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động  sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực  vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. Thực trạng quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại  trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm 6 chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    – Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.

    – Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.

    – Nhà nước hỗ trợ thêm.

    – Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    – Chi quản lý hành chính sự nghiệp

    – Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định  12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    – BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.

    – Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.

    – Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH  thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ (NS/NT)
    1995 2.275.998   788.486  
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc  chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    – Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)

    – Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.

    – Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác  truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.

    – Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    – Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới  ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.

    – Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
    1995 11,3
    1996 8,3
    1997 11,2
    1998 10,0
    1999 9,0

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    + Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.

    + Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.

    + Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.

    + Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.

    – Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ  đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp 11,82 19,68
    Malayxia 9,5 12,75

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo  của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm  vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    – Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.

    – Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.

    – Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    – Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người  lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    + Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH

    + Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ,  thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các  đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách  được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao  hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    – Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.

    – Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    – Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. Các giải pháp nhằm cân đối quỹ BHXH Việt Nam.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.

    – Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.

    – Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.

    – Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    – Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước  thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là  35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.

    1. Với các khoản thu khác.

    – Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.

    – Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.

    – Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.

    – Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    – Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.

    – Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.

    – Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện  mới.

    – ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    Tài liệu tham khảo

     

    – Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)

    – Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)

    Chủ biên PGS. TS Hồ Sĩ Sà

    – Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn

    – Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000

    – Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993

    – Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995

    – Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-VN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                AIA –                    
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%      
        12%                      
                     
                                   
                                   
                                     
    c«ng ty                          
    kh¸c-                          
                           
                      Prudential-  
    18,2%                         34%      
                                     
                                     

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BẢO HIỂM XÃ HỘI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-S%C3%B4ng-%C4%90%C3%A0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nêu ra 3 yếu tố của lao động, đó là: lao động của con người, đối tượng lao động và công cụ lao động. Thiếu một trong ba yếu tố đó quá trình sản xuất sẽ không diễn ra. Nếu xét về mức độ quan trọng thì lao động của con người là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất. Không có sự tác động của con người vào tư liệu sản xuất (2 yếu tố sau) thì tư liệu sản xuất không thể phát huy được tác dụng.

    Đối với người lao động, sức lao động họ bỏ ra là để đạt được lợi ích cụ thể, đó là tiền công (lương) mà người sử dụng lao động của họ sẽ trả. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình phân tích hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) rất được người lao động quan tâm. Trước hết là họ muốn biết lương chính thức được hưởng bao nhiêu, họ được hưởng bao nhiêu cho bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và họ có trách nhiệm như thế nào với các quỹ đó. Sau đó là việc hiểu biết về lương và các khoản trích theo lương sẽ giúp họ đối chiếu với chính sách của Nhà nước quy định về các khoản này, qua đó biết được người sử dụng lao động đã trích đúng, đủ cho họ quyền lợi hay chưa. Cách tính lương của doanh nghiệp cũng giúp cán bộ công nhân viên thấy được quyền lợi của mình trong việc tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy việc nâng cao chất lượng lao động của doanh nghiệp.

    Còn đối với doanh nghiệp, việc nghiên cứu tìm hiểu sâu về quá trình hạch toán lương tại doanh nghiệp giúp cán bộ quản lý hoàn thiện lại cho đúng, đủ, phù hợp với chính sách của Nhà nước, đồng thời qua đó cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp được quan tâm bảo đảm về quyền lợi sẽ yên tâm hăng hái hơn trong lao động sản xuất. Hoàn thiện hạch toán lương còn giúp doanh nghiệp phân bổ chính xác chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nhờ giá cả hợp lý. Mối quan hệ giữa chất lượng lao động (lương) và kết quả sản xuất kinh doanh được thể hiện chính xác trong hạch toán cũng giúp rất nhiều cho bộ máy quản lý doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định chiến lược để nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xuất phát từ tầm quan trọng của lao động tiền lương, trong thời gian trực tập tại Xí nghiệp XD Sông Đà 903, nhờ sự giúp đỡ của phòng kế toán và sự hướng dẫn của Thầy giáo, em đã đi sâu tìm hiểu đề tài: “Hạch toán tiền lương và bảo hiểm”.

    NỘI DUNG CỦA CHUYÊN ĐỀ ĐƯỢC XÂY DỰNG GỒM 3 CHƯƠNG:

    Chương I:       Những lý luận cơ bản về tiền lương và bảo hiểm

    Chương II: Thực trạng hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà.

    Chương III: Nhận xét, đánh giá và một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và bảo hiểm ở công ty xây dựng Sông Đà.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG I

    NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM

    I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

     

    • Việt Nam trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, tiền lương được hiểu là một phần thu nhập quốc dân, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động.

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh nhưng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, tiền lương được hiểu theo đúng nghĩa của nó trong nền kinh tế đó. Nhà nứơc định hướng cơ bản cho chính sách lương mới bằng một hệ thống được áp dụng cho mỗi người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế quốc dân và Nhà nước công nhận sự hoạt động của thị trường sức lao động.

    Quan niệm hiện nay của Nhà nước về tiền lương như sau:

    “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật cung – cầu”.

    Trong cơ chế mới, cũng như toàn bộ các loại giá cả khác trên thị trường, tiền lương và tiền công của người lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh do thị trường quyết định. Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động là lấy từ hiệu quả sản xuất kinh doanh (một phần trong giá trị mới sáng tạo ra). Tuy nhiên sự quản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền lương đối với khu vực sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp phải bảo đảm cho người lao động có thu nhập tối thiểu bằng mức lương tối thiểu do Nhà nước ban hành để ngươì lao động có thể ăn, ở, sinh hoạt và học tập ở mức cần thiết.

    Còn những người lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp hưởng lương theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định theo chức danh và tiêu chuẩn, trình độ nghiệp vụ cho từng đơn vị công tác. Nguồn chi trả lấy từ ngân sách Nhà nước.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Tuy khái niệm mới về tiền lương đã thừa nhận sức lao động là hàng hoá đặc biệt (là tổng thể của các mối quan hệ xã hội) và đòi hỏi phải trả lương cho người lao động theo sự đóng góp và hiệu quả cụ thể nhưng do đang ở thời kỳ chuyển đổi nên tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, các cơ quan hành chính sự nghiệp ở khu vực Nhà nước ở nước ta chưa hoàn toàn hoạt động trả lương như các đơn vị sản xuất tư nhân, cần có đầy đủ thời gian chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho việc trả lương theo hướng thị trường.

    • nghĩa của tiền lương đối với người lao động, đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng to lớn nếu đảm bảo đầy đủ 4 chức năng:
    1. Chức năng thước đo giá trị: là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả (bao gồm cả sức lao động) biến động
    2. Chức năng tái sản xuất sức lao động: nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lương bảo đảm bù đắp được sức lao động đã hao phí cho người lao động.
    3. Chức năng kích thích lao động: bảo đảm khi người lao động làm việc có hiệu quả thì được nâng lương và ngược lại.
    4. Chức năng tích luỹ: đảm bảo có dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi người lao động hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc rủi ro.

    Trong bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần sử dụng một lực

    lượng lao động nhất định tuỳ theo quy mô, yêu cầu sản xuất cụ thể. Chi phí về tiền lương là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, sử dụng hợp lý lao động cũng chính là tiết kiệm chi phí về lao động sống (lương), do đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, cho người lao động trong doanh nghiệp.

    Tiền lương không phải là vấn đề chi phí trong nội bộ từng doanh nghiệp thu nhập đối với người lao động mà còn là một vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội mà Chính phủ của mỗi quốc gia cần phải quan tâm.

    II – CÁC HÌNH THỨC TRẢ TIỀN LƯƠNG

    Trong các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế thị trường có rất nhiều loại lao động khác nhau; tính

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    chất, vai trò của từng loại lao động đối với mỗi quá trình sản xuất kinh doanh lại khác nhau. Vì thế, mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức trả lương cho người lao động sao cho hợp lý, phù hợp với đặc điểm công nghệ, phù hợp với trình độ năng lực quản lý.

    Hiện nay, việc trả lương trong các doanh nghiệp phải thực hiện theo luật lao động và theo Nghị định NĐ 197 CP 31-12-1994 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại điều 58 Bộ luật lao động nước ta. Các doanh nghiệp có thể áp dụng 3 hình thức trả lương như sau:

    • Hình thức trả lương
    • Hình thức trả lương
    • Hình thức trả lương

    theo thời gian

    theo sản phẩm

    khoán

    A. Hình thức trả lương theo thời gian:

    Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là thời gian làm việc và trình độ nghiệp vụ của người lao động.

    Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau, mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng, trong mỗi một thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỷ luật, chuyên môn mà chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định.

    Tiền lương theo thời gian có thể tính theo các đơn vị thời gian như: tháng, tuần, ngày, giờ.

    Lương tháng được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương, nó có nhiều nhược điểm bởi không tính được người làm việc nhiều hay ít ngày trong tháng, do đó không có tác dụng khuyến khích tận dụng đủ số ngày làm việc quy định. Lương tháng thường áp dụng để trả lương cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.

    Lương tuần được trả cho người lao động căn cứ vào mức lương tháng và số tuần thực tế trong tháng. Lương tuần áp dụng trả cho các đối tượng lao động có thời gian lao động không ổn định mang tính chất thời vụ.

    Lương ngày trả cho người lao động căn cứ vào mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Lương ngày thường áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương thời gian,

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    tính lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH). Hình thức này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán, phản ánh được trình độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của người lao động. Song, nó chưa gắn tiền lương với kết quả lao động của từng người nên không kích thích việc tận dụng thời gian lao động, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

    Mức lương giờ tính dựa trên cơ sở mức lương ngày, nó thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp trong thời gian làm việc không hưởng theo sản phẩm. Ưu điểm của hình thức này

    là đã tận dụng được thời gian lao động của công nhân nhưng nhược điểm là vẫn chưa gắn tiền lương với kết quả lao động với từng người, theo dõi phức tạp…

    Thực tế cho thấy đơn vị thời gian để trả lương càng ngắn thì việc trả lương càng gần với mức độ hao phí lao động thực tế của người lao động.

    *Tiền lương

    Tiền lương cấp bậc

    Số ngày làm việc

     

    =

    ×

     

    tháng

    chức vụ 1 ngày

    thực tế trong tháng

     

    Tiền lương tháng

    ×

    12 tháng

     

    *Tiền lương tuần =

    Số tuần làm việc theo chế độ (52)

    Tiền lương tháng

    *Tiền lương ngày =

    Số ngày làm việc theo chế độ (26)

    Tiền lương ngày

    *Tiền lương giờ =

    Số giờ làm việc theo chế độ

    Hình thức trả lương này có nhược điểm là không phát huy đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó không xét đến thái độ lao động, đến cách sử dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu,

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    máy móc thiết bị, chưa chú ý đến kết quả và chất lượng công tác thực tế của người lao động.

    B. Hình thức trả lương theo sản phẩm

    Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn thành.

    Đây là hình thức trả lương phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn bó chặt chẽ thù lao lao động với kết quả sản xuất, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy năng lực, khuyến khích tài năng, sử dụng và phát huy được khả năng của máy móc trang thiết bị để tăng năng suất lao động.

    Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế có thể khắc phục được như năng suất cao nhưng chất lượng kém do làm ẩu, vi phạm quy trình, sử dụng quá năng lực của máy móc… đó là do quá coi trọng số lướng sản phẩm hoàn thành và một phần cũng do các định mức kinh tế kỹ thuật xây dựng quá lỏng lẻo, không phù hợp với điều kiện và khả năng sản xuất của doanh nghiệp.

    Bởi vậy, trong việc trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan trọng là phải xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật để làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, từng công việc một cách hợp lý .

    Tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể ở từng doanh nghiệp, hình thức trả lương theo sản phẩm được vận dụng theo các phương pháp cụ thể:

    • Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế
    • Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
    • Trả lương theo sản phẩm có thưởng – phạt
    • Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến
    1. Tiền lương trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế

    Với cách này, tiền lương phải trả cho người lao động được trích trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định không chịu một sự hạn chế nào.

    Error!

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Đơn giá tiền lương trả cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành được xây dựng căn cứ vào mức lương cấp bậc công việc và định mức thời gian hoặc định mức sản lượng cho công việc đó. Ngoài ra , nếu có phụ cấp khu vực thì đơn giá tiền lương còn có thêm cả tỷ lệ phụ cấp khu vực.

    Error!

    hoặc

    Error!

    Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế có ưu điểm đơn giản, dễ hiểu, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, lương trả cho công nhân càng cao khi sản xuất ra càng nhiều sản phẩm, do đó khuyến khích được người công nhân nâng cao năng suất lao động. Đây là hình thức phổ biến được các doanh nghiệp sử dụng để tính lương phải trả cho lao động trực tiếp.Tuy nhiên cách trả lương này cũng có nhược điểm nâng cao lợi ích cá nhân, không khuyến khích người lao động quan tâm đến lợi ích chung của tập thể.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm luỹ tiến

    Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức độ hoàn thành tỷ lệ luỹ tiến. Mức luỹ tiến này còn có thể quy định bằng hoặc cao hơn định mức sản lượng. Những sản phẩm dưới mức khởi điểm luỹ tiến được tính theo đơn giá tiền lương chung cố định, những sản phẩm vượt mức càng cao thì suất luỹ tiến càng lớn.

    Lương trả theo sản phẩm luỹ tiến có tác dụng kích thích mạnh mẽ việc tăng nhanh năng suất lao động, nhưng thường dẫn đến tốc độ tăng tiền lương cao hơn tăng năng suất lao động và làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy, hình thức này được sử dụng như một giải pháp tạm thời như áp dụng trả lương ở những khâu quan trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất đảm bảo cho sản xuất cân đối, đồng bộ hoặc có thể áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    nào đó. Trường hợp không cần thiết thì doanh nghiệp không nên sử dụng hình thức này.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm gián tiếp

    Tiền lương của người được trả lương theo sản phẩm gián tiếp được xác định bằng cách nhân số lượng sản phẩm thực tế của người lao động trực tiếp được người đó phục vụ với đơn giá lương cấp bậc của họ (hoặc mức lương cấp bậc nhân với tỷ lệ % hoàn thành định mức sản lượng bình quân của người lao động trực tiếp).

    Tiền lương trả theo Số lượng sản phẩm   Đơn giá lương  
    =       ×      
    sản phẩm trực tiếp của công nhân trực tiếp gián tiếp  
          Số lượng sản phẩm của  
      Mức lương cấp bậc công nhân trực tiếp  
    = ×     ×100  
       
      của lao động gián tiếp Sản lượng định mức  
    Như vậy:              
        Mức lương cấp bậc của lao động gián tiếp  
    Đơn giá tiền lương gián tiếp =            
    Sản lượng định mức  
       

    Hình thức trả lương này áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như công nghệ điều chỉnh máy, sửa chữa thiết bị, bảo dưỡng máy móc, lao động làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, thành phẩm…

    Trả lương theo thành phẩm gián tiếp khuyến khích những người lao động gián tiếp phối hợp với lao động trực tiếp để nâng cao năng suất lao động, cùng quan tâm tới kết quả chung. Tuy nhiên, hình thức này không đánh giá được đúng kết quả lao động của người lao động gián tiếp.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng, phạt

    Để khuyến khích người công nhân có ý thức trách nhiệm trong sản xuất, công tác, doanh nghiệp có chế độ tiền thưởng khi người công nhân đạt được những chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã quy định như

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    thưởng về chất lượng sản phẩm tốt, thưởng về tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư.

    Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư, không đảm bảo ngày công quy định… thì có thể phải chịu mức tiền phạt trừ vào mức tiền lương theo sản phẩm mà họ được hưởng.

    Thực chất của hình thức trả lương này là sự kết hợp giữa tiền lương trích theo sản phẩm với chế độ tiền thưởng, phạt mà doanh nghiệp quy định.

    Hình thức này đánh vào lợi ích người lao động, làm tốt được thưởng, làm ẩu phải chịu mức phạt tương ứng, do đó, tạo cho người công nhân có ý thức công việc, hăng say lao động. Nhưng hình thức này nếu làm tuỳ tiện sẽ dẫn đến việc trả thưởng bừa bãi, không đúng người đúng việc, gây tâm lý bất bình cho người lao động.

    C. Hình thức trả lương khóan

    Theo hình thức này, công nhân được giao việc và tự chịu trách nhiệm với công việc đó cho tới khi hoàn thành.

    Có 2 phương pháp khoán: khoán công việc và khoán quỹ lương.

    • Khoán công việc:

    Theo hình thức này, doanh nghiệp quy định mức tiền lương cho mỗi công việc hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành. Người lao động căn cứ vào mức lương này có thể tính được tiền lương của mình thông qua khối lượng công việc mình đã hoàn thành.

    Mức lương quy định        Khối lượng công

    việc

     

    Tiền lương khoán công việc =

    ×

     

    cho từng công việc

    đã hoàn thành

     

    Cách trả lương này áp dụng cho những công việc lao động đơn giản, có tính chất đột xuất như bốc dỡ hàng, sửa chữa nhà cửa…

    • Khoán quỹ lương

    Theo hình thức này, người lao động biết trước số tiền lương mà họ sẽ nhận sau khi hoàn thành công việc và thời gian hoàn thành công việc được giao. Căn cứ vào khối lượng từng công việc hoặc khối lượng sản phẩm và thời gian cần thiết để hoàn thành mà doanh nghiệp tiến hành khoán quỹ lương.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Trả lương theo cách khoán quỹ lương áp dụng cho những công việc không thể định mức cho từng bộ phận công việc hoặc những công việc mà xét ra giao khoán từng công việc chi tiết thì không có lợi về mặt kinh tế, thường là những công việc cần hoàn thành đúng thời hạn.

    Trả lương theo cách này tạo cho người lao động có sự chủ động trong việc sắp xếp tiến hành công việc của mình từ đó tranh thủ thời gian hoàn thành công việc được giao. Còn đối với người giao khoán thì yên tâm về thời gian hoàn thành.

    Nhược điểm của phương pháp trả lương này là dễ gây ra hiện tượng làm bừa, làm ẩu, không đảm bảo chất lượng do muốn đảm bảo thời gian hoàn thành. Vì vậy, muốn áp dụng phương pháp này thì công tác kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm trước khi giao nhận phải được coi trọng, thực hiện chặt chẽ.

    Nhìn chung, ở các doanh nghiệp do tồn tại trong nền kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên mục tiêu hàng đầu nên việc tiết kiệm được chi phí lương là một nhiệm vụ quan trọng, trong đó cách thức trả lương được lựa chọn sau khi nghiên cứu thực tế các loại công việc trong doanh nghiệp là biện pháp cơ bản, có hiệu quả cao để tiết kiệm khoản chi phí này. Thông thường ở một doanh nghiệp thì các phần việc phát sinh đa dạng với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Vì vậy, các hình thức trả lương được các doanh nghiệp áp dụng linh hoạt, phù hợp trong mỗi trường hợp, hoàn cảnh cụ thể để có được tính kinh tế cao nhất.

    II- LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN.

    1. Bảo hiểm xã hội (BHXH):

    Trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện để sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác như ốm đau, tai nạn, tuổi già mất sức lao động… nhưng những nhu cầu cần thiết của cuộc sống không những mất đi hay giảm đi mà thậm chí còn tăng lên, xuất hiện thêm những nhu cầu mới (khi ốm đau cần chữa bệnh…). Vì vậy, con người và xã

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    hội loài người muốn tồn tại, vượt qua được những lúc khó khăn ấy thì phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau.

    Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, khó khăn bất lợi của mỗi người được cả cộng đồng san sẻ gánh chịu. Còn ở xã hội phong kiến quan lại, những lúc gặp khó khăn thì cậy nhờ ở Vua, dân cư gặp khó khăn thì trông cậy vào sự đùm bọc, hảo tâm của họ hàng làng xã. Như vậy là tất cả đều ở thế bị động, thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của phía giúp đỡ mà hoàn toàn không được chắc chắn.

    Tiến bộ hơn, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển xuất hiện mối quan hệ chủ – thợ. Khi hai bên cam kết về lao động, điều kiện về sự đảm bảo một phần thu nhập để trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn… cho người lao động đã được người lao động quan tâm đến. Tuy nhiên, mới đầu do việc đảm bảo này chỉ liên quan giữa hai bên chủ- thợ mà chủ thì rõ ràng không muốn chi ra, thợ thì luôn đòi hỏi, vì vậy, tranh chấp giữa họ luôn xảy ra.

    Điều kiện khách quan đó làm xuất hiện một bên thứ ba, là nhân vật đóng vai trò trung gian để giúp thực hiện những cam kết giữa chủ- thợ bằng những hoạt động thích hợp của nó. Nhân vật thứ ba có đủ khả năng và sự tín nhiệm để làm bên trung gian, đó là Nhà nước.

    Nhà nước quy định hàng tháng giới chủ phải trích ra một khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ trên cơ sở xác xuất những biến cố của tập hợp những người lao động làm thuê để giao cho bên thứ ba, khi có biến cố thì bên thứ ba chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ, số tiền không phải dùng đến (chưa phải chi trả) sẽ tồn tích lâu ngày thành quỹ.

    Việc Nhà nước can thiệp vào với vai trò là bên thứ ba, một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế trong các mối quan hệ xã hội, mặt khác làm tăng chi cho ngân sách Nhà nước.

    Nhà nước bằng những cơ sở lý luận khoa học đã buộc giới chủ đóng góp vào quỹ BHXH với một khoản tiền phù hợp đủ cho người lao động, đồng thời cũng yêu cầu giới thợ đóng góp một phần tiền lương của mình vào quỹ để đảm bảo cho cuộc sống của chính mình.

    Nhờ các hoạt động của Nhà nước này mà mâu thuẫn giữa chủ-thợ được giải quyết, cả hai bên đều hài lòng, cảm thấy mình có lợi và được bảo vệ.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    Như vậy, ta có được khái niệm về BHXH như sau:

    “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.

    • Việt Nam hiện nay, mọi người lao động có tham gia đóng BHXH đều có quyền hưởng BHXH. Đóng BHXH là tự nguyện hay bắt buộc tuỳ thuộc vào loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để đảm bảo cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH thích hợ Phương thức đóng BHXH dựa trên cơ sở mức tiền lương quy định để đóng BHXH đối với mỗi người lao động.

    Quỹ BHXH

    Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH được tính theo tỷ lệ 20% trên tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế trong kỳ hạch toán.

    Trong đó, 15% người sử dụng lao động phải nộp và khoản này tính vào chi phí kinh doanh, còn 5% do người lao động trực tiếp đóng góp (trừ trực tiếp vào lương).

    Chi của quỹ BHXH cho người lao động theo chế độ căn cứ

    vào:

    +Mức lương ngày của người lao động

    +Thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ)

    +Tỷ lệ trợ cấp BHXH.

    2. Bảo hiểm y tế (BHYT):

    Gần giống như ý nghĩa của BHXH, BHYT là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần chi phí khám chữa bệnh cho người lao động khi họ gặp rủi ro ốm đau, tai nạn… bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.

    Quỹ BHYT

    Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích 3% trên số thu nhập tạm tính của người lao động; trong đó người sử dụng lao động phải chịu

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    2%, khoản này được tính vào chi phí kinh doanh, người lao động trực tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập).

    Quỹ BHYT do Nhà nước tổ chức, giao cho một cơ quan là cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để tăng cường chất lượng trong việc khám chữa bệnh. Vì vậy, khi tính được mức trích BHYT, các nhà doanh nghiệp phải nộp toàn bộ cho cơ quan BHYT.

    3. Kinh phí công đoàn (KPCĐ)

    Người lao động để bảo vệ quyền lợi của mình trước giới chủ, họ lập ra tổ chức công đoàn. Tổ chức này chuyên trách việc đại diện cho người lao động để thương thuyết với giới chủ đòi quyền lợi cho công nhân và giải quyết các tranh chấp bất công giữa chủ- thợ.

    Nguôn kinh phí cho các hoạt động của tổ chức này lấy từ quỹ “Kinh phí công đoàn”

    Quỹ KPCĐ

    • mỗi doanh nghiệp đều phải có tổ chức công đoàn để đại diện bảo vệ quyền lợi của người lao động và tập thể lao độ Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm các phương tiện làm việc cần thiết để công đoàn hoạt động. Người làm công tác công đoàn chuyên trách do quỹ công đoàn trả lương và được hưởng các quyền lợi và phúc lợi tập thể như mọi người lao động trong doanh nghiệp, tuỳ theo quy chế doanh nghiệp hoặc thoả ước tập thể.

    Như vậy, KPCĐ là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp. Theo chế độ hiện hành thì kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ tiền lương phải trả cho người lao động và người sử dụng lao động phải chịu khoản chi phí này (khoản này cũng tính vào chi phí kinh doanh). Thông thường khi xác định được mức tính kinh phí công đoàn trong kỳ thì một nửa doanh nghiệp phải nộp cấp trên, một nửa thì được sử dụng để chi tiêu cho công đoàn tại các đơn vị.

    IV – NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    1. Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian và kết quả lao động, tính lương và tính trích các khoản theo lương, phân bổ chi phí nhân công đúng đối tượng sử dụng lao độ
    1. Hướng dẫn kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các bộ phận sản xuất kinh doanh, các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương, mở sổ cần thiết và hạch toán nghiệp vụ lao động tiền lương đúng chế độ, đúng phương pháp.
    1. Lập các báo cáo về lao động tiền lương thuộc phần việc do mình phụ trách.
    1. Phân tích tình hình quản lý, sử dụng thời gian lao động, chi phí nhân công, năng suất lao động, đề xuất các biện pháp nhằm khai thác, sử dụng triệt để có hiệu quả mọi tiềm năng lao động sẵn có trong doanh nghiệ

    V- CHỨNG TỪ BAN ĐẦU ĐỂ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG, BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Sổ sách của bộ phận lao động tiền lương trong doanh nghiệp được lập dựa trên cơ sở các chứng từ ban đầu lập khi tuyển dụng nâng bậc, thôi việc… mọi biến động về lao động được ghi chép kịp thời vào sổ sách lao động làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác cho người lao động được kịp thời.

    Hạch toán thời gian lao động

    Hạch toán thời gian lao động là công việc đảm bảo ghi chép kịp thời chính xác số ngày công giờ công làm việc thực tế cũng như ngày nghỉ việc ngừng việc của từng người lao động, từng bộ phận sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này để tính lương phải trả cho từng người.

    Bảng chấm công là chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động trong các doanh nghiệp. Bảng chấm công dùng để ghi chép thời gian làm việc trong tháng thực tế và vắng mặt của cán bộ công nhân viên trong tổ, đội, phòng ban… Bảng chấm công phải lập riêng cho từng tổ sản xuất, từng phòng ban và dùng trong một tháng. Danh sách người lao động ghi trong sổ danh sách lao động của từng bộ phận được ghi trong bảng chấm công, số liệu của chúng phải khớp nhau. Tổ trưởng tổ sản xuất hoặc trưởng các phòng ban là người trực tiếp ghi bảng chấm công căn cứ vào số lao động có mặt, vắng mặt

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    đầu ngàylàm việc ở đơn vị mình. Trong bảng chấm công những ngày nghỉ theo quy định như ngày lễ tết, chủ nhật đều phải được ghi rõ ràng.

    Bảng chấm công phải để tại một địa điểm công khai để người lao động giám sát thời gian lao động của mình. Cuối tháng tổ trưởng, trưởng phòng tập hợp tình hình sử dụng lao động cung cấp cho kế toán phụ trách. Nhân viên kế toán kiểm tra và xác nhận hàng ngày trên bảng chấm công. Sau đó tiến hành tập hợp số liệu báo cáo tổng hợp lên phòng lao động tiền lương. Cuối tháng, các bảng chấm công được chuyển cho phòng kế toán tiền lương để tiến hành tính lương. Đối với các trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động… thì phải có phiếu nghỉ ốm do bệnh viện, cơ sở y tế cấp và xác nhận. Còn đối với các trường hợp ngừng việc xảy ra trong ngày do bất cứ nguyên nhân gì đều phải được phản ánh vào biên bản ngừng việc , trong đó nêu rõ nguyên nhân ngừng việc và người chịu trách nhiệm để làm căn cứ tính lương và xử lý thiệt hại xảy ra. Những chứng từ này được chuyển lên phòng kế toán làm căn cứ tính trợ cấp, BHXH sau khi đã được tổ trưởng căn cứ vào chứng từ đó ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu quy định.

    Hạch toán kết quả lao động

    Hạch toán kết quả lao động là một nội dung quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý và hạch toán lao động ở các doanh nghiệp sản xuất. Công việc tiến hành là ghi chép chính xác kịp thời số lượng hoặc chất lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành của từng cá nhân, tập thể làm căn cứ tính lương và trả lương chính xác.

    Tuỳ thuộc vào loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp, người ta sử dụng các chứng từ ban đầu khác nhau để hạch toán kết quả lao động. Các chứng từ ban đầu được sử dụng phổ biến để hạch toán kết quả lao động là phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành, hợp đồng giao khoán…

    Phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành là chứng từ xác nhận số sản phẩm (công việc) hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động.

    Phiếu này do người giao việc lập và phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng sản phẩm

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    và người duyệt. Phiếu được chuyển cho kế toán tiền lương để tính lương áp dụng trong hình thức trả lương theo sản phẩm.

    Hợp đồng giao khoán công việc là chứng từ giao khoán ban đầu đối với trường hợp giao khoán công việc. Đó là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán với khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán. Trường hợp khi nghiệm thu phát hiện sản phẩm hỏng thì cán bộ kiểm tra chất lượng cùng với người phụ trách bộ phận lập phiếu báo hỏng để làm căn cứ lập biên bản xử lý. Số lượng, chất lượng công việc đã hoàn thành và được nghiệm thu được ghi vào chứng từ hạch toán kết quả lao động mà doanh nghiệp sử dụng, và sau khi đã ký duyệt nó được chuyển về phòng kế toán tiền lương làm căn cứ tính lương và trả lương cho công nhân thực hiện.

    Hạch toán thanh toán lương với người lao động

    Hạch toán thanh toán lương với người lao động dựa trên cơ sở các chứng từ hạch toán thời gian lao động (bảng chấm công), kết quả lao động (bảng kê khối lượng công việc hoàn thành, biên bản nghiệm thu…) và các chứng từ khác có liên quan (giấy nghỉ ốm, biên bản nghỉ việc…) kế toán tiền lương tiến hành tính lương sau khi đã kiểm tra các chứng từ trên. Công việc tính lương , tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động theo hình thức trả lương đang áp dụng tại doanh nghiệp, kế toán lao động tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương (gồm lương chính sách, lương sản phẩm, các khoản phụ cấp, trợ cấp, bảo hiểm cho từng lao động), bảng thanh toán tiền thưởng.

    Bảng thanh toán tiền thưởng là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương,phụ cấp cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh. Bảng thanh toán tiền lương được thanh toán cho từng bộ phận (phòng ban…) tương ứng với bảng chấm công. Trong bảng thanh toán tiền lương, mỗi công nhân viên được ghi một dòng căn cứ vào bậc, mức lương, thời gian làm việc để tính lương cho từng người. Sau đó kế toán lao động tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương tổng hợp cho toàn doanh nghiệp, tổ đội, phòng ban mỗi tháng một tờ. Bảng thanh toán tiền lương cho toàn doanh nghiệp sẽ chuyển sang cho kế toán trưởng, thủ trưởng đơn vị ký duyệt. Trên cơ sở đó, kế toán thu chi viết phiếu chi và thanh toán lương cho từng bộ phận.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Việc thanh toán lương cho người lao động thường được chia làm 2 kỳ trong tháng:

    +Kỳ 1: tạm ứng

    +Kỳ 2: thanh toán nốt phần còn lại sau khi đã trừ đi các khoản phải khấu trừ vào lương của người lao động theo chế độ quy định.

    Tiền lương được trả tận tay người lao động hoặc tập thể lĩnh lương đại diện do thủ quỹ phát. Khi nhận các khoản thu nhập, người lao động phải ký vào bảng thanh toán tiền lương.

    Đối với lao động nghỉ phép vẫn được hưởng lương thì phần lương này cũng được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Việc nghỉ phép thường đột xuất, không đều đặn giữa các tháng trong năm do đó cần tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân vào chi phí của từng kỳ hạch toán. Như vậy, sẽ không làm cho giá thành sản phẩm bị biến đổi đột ngột.

    Mức trích trước tiền lương   Tiền lương thực tế Tỷ lệ
    nghỉ phép của công nhân = của công nhân sản xuất × trích
    sản xuất theo kế hoạch   trong tháng trước

    Trong đó:

    Tỷ lệ   Tổng số tiền lương nghỉ phép kế hoạch của công nhân sản xuất
    trích =  
     
    trước   Tổng số tiền lương chính kế hoạch năm của công nhân sản xuất

    *Các chứng từ ban đầu được sử dụng để tính tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp cũng là cơ sở để tính trích quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ bởi vì các khoản này được tính theo phần trăm của lương và các khoản thu nhập khác của ngươì lao động.

    Ngoài ra, khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và từ các phiếu này kế toán phải lập bảng thanh toán BHXH.

    VI – HẠCH TOÁN TỔNG HỢP VỀ TIỀN LƯƠNG:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    A. Tài khoản sử dụng:

    TK 334- “Phải trả công nhân viên”

    Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán lương cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương và các khoản có tính chất lương thuộc về thu nhập của người lao động.

    Kết cấu và nội dung của các khoản này như sau:

    • Số dư đầu kỳ (thường ghi bên Có): phản ánh các khoản tiền lương, tiền thưởng còn phải trả cho người lao động lúc đầu kỳ.
    • Phát sinh tăng (ghi bên Có): phản ánh

    . Tính ra tiền lương phải trả cho các bộ phận trong doanh nghiệp

    . Tính ra tiền lương phải trả cho công nhân nghỉ phép hoặc công nhân nghỉ theo mùa vụ

    + Phát sinh giảm (ghi bên Nợ): phản ánh

    . Số tiền lương doanh nghiệp đã trả cho cán bộ công nhân viên . Số tiền lương doanh nghiệp khấu trừ của cán bộ công nhân viên

    . Số tiền lương của một số người chưa nhận do đi công tác, kế toán kết chuyển về TK 338 để nhận sau.

    + Số dư cuối kỳ: tương tự như số dư đầu kỳ.

    • Tài khoản 334 có thể có số dư bên Nợ nếu số tiền đã trả quá số phải trả về tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản khác cho công nhân viên.

    TK 334 có 2 tài khoản cấp 2:

    TK 3341– Tiền lương: dùng để hạch toán các khoản tiền lương , tiền thưởng và các khoản phụ cấp trợ cấp có tính chất lương (tính vào quỹ lương của doanh nghiệp).

    TK 3342– Các khoản khác: dùng để hạch toán các khoản tiền trợ cấp, tiền thưởng có nguồn bù đắp riêng như trợ cấp BHXH, trợ cấp khó khăn, tiền thưởng thi đua…

    B. Nghiệp vụ hạch toán:

    1. Kế toán căn cứ vào các chứng từ để tính ra tiền lương phải trả cho các bộ phận: trực tiếp sản xuất, bán hàng, quản lý…

    Nợ TK 662, 627, 641, 642. Có TK 334

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Quỹ tiền lương của doanh nghiệp thường trả thành 2 kỳ cho cán bộ công nhân viên.
    2. Kỳ 1- tạm ứng:

    Nợ TK 141

    Có TK 111

    1. Kỳ 2- thanh toán

    Nợ TK 334

    Có TK 141, 111

    1. Phản ánh các khoản khấu trừ tiền lương của cán bộ công nhân viên:

    Nợ TK 334 Có TK 141 Có TK 1381

    Có TK 333 (thuế thu nhập)

    4.-Kết chuyển tiền lương của những người chưa nhận về TK 3388 để nhận sau:

    Nợ TK 334

    Có TK 3388

    -Sau khi họ nhận, kế toán ghi:

    Nợ TK 3388

    Có TK 111

    5.-Tính ra số BHXH phải trả cho cán bộ công nhân viên theo chế độ:

    Nợ TK 3383

    Có TK 334

    -Khi đã trả khoản này bằng tiền cho cán bộ công nhân viên, kế toán ghi :

    Nợ TK 334

    Có TK 111

    6.Trích trước tiền lương của công nhân nghỉ phép hoặc nghỉ theo mùa vụ (áp dụng đối với những doanh nghiệp có số lượng công nhân nghỉ phép không đồng đều giữa các tháng và đối với những doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ).

    1. Kế toán căn cứ vào kế hoạch trích trước để tính vào các tháng: Nợ TK 622, 627, 641, 642

    Có TK 335

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    1. Tính ra tiền lương của công nhân nghỉ phép hoặc nghỉ theo mùa vụ phải trả trong kỳ:

    Nợ TK 335 Có TK 334

    1. Sau khi đã trả khoản này cho cán bộ công nhân viên:

    Nợ TK 334

    Có TK 1117.

    1. Tiền lương trả quá phải thu hồi.
                          Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương                  
    TK 111                         TK 334       TK 622,627,641,642
                TK 141     1                        
        2a                      
                                          TK 335                  
                                  2b                                
                                                                         
            TK 141,138,333 6b               6a              
                                                                         
                                                                         
                          3               5a         TK 338  
                                                     
                                                                     
                                                                         
                TK   338                                            
                                                           
                                                     
                                                                     
            4b                 4a           7             TK 138
                                                                   
                                                                 
                                                             
                5b                                    
                                                       
                6c                                    

    VII – HẠCH TOÁN TỔNG HỢP VỀ BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Hạch toán BHXH

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3383- BHXH: phản ánh tình hình trích và thanh toán BHXH ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên Có): phản ánh số BHXH hiện có ở đơn vị đầu kỳ hạch toán

    +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra quỹ BHXH phải trả cho các bộ phận

    +Phát sinh giảm (bên Nợ): . nộp BHXH lên cơ quan cấp trên hoặc cơ

    quan      BHXH

    . tính ra số BHXH trả tại đơn vị

    +Số dư cuối kỳ: tương tự số dư đầu kỳ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    -Nghiệp vụ hạch toán:

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra quỹ BHXH phải trả cho các bộ phận

    Nợ TK 622,627,641,642 (15%)
    Nợ TK 334 (5%)
    Có TK 3383 (20%)
    1. Theo định kỳ đơn vị nộp quỹ BHXH lên cấp trên hoặc cơ quan BHXH:

    Nợ TK 3383

    Có TK 111,112

    1. Tính ra số BHXH trả tại đơn vị : a. Tính:

    Nợ TK 3383 Có TK 334

    1. Trả cho công nhân: Nợ TK 334

    Có TK 111

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                 Nguyễn Thị Nga      
                        Sơ đồ hạch toán tổng hợp BHXH:                          
              TK 111,112 TK 338   TK 622,627,641,642      
                                                                     
                  2               1                      
                                                                     
                                                                     
                                                      TK 334      
      TK 111                                                      
        TK 334                                              
                                                                     
          3b               3a                                        
                                                               
                                                               
                                                                   
                                                TK 111,112      
                                            4                      
                                                                 
                                                                     
                                                                     
                                                                     

    Hạch toán BHYT

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3384- BHYT: phản ánh tình hình trích và thanh toán BHYT ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên Có): phản ánh số quỹ BHYT hiện có lúc đầu kỳ của doanh nghiệp.

    +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra quỹ BHYT phải trả cho các bộ phận. +Phát sinh giảm (bên Nợ): theo định kỳ đơn vị nộp quỹ BHYT lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan BHYT để mua thẻ bảo hiểm. +Số dư cuối kỳ (bên Có): ghi tương tự số dư đầu kỳ.

    -Nghiệp vụ hạch toán :

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra quỹ BHYT phải trả cho các bộ phận :

    Nợ TK 622,627,641,642 (2%)
    Nợ TK 334 (1%)
    Có TK 3384 (3%)

    2.Định kỳ đơn vị nộp quỹ BHYT lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan

    BHYT:

    Nợ TK 3384

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp   Nguyễn Thị Nga  
        Có TK 111,112          
          Sơ đồ hạch toán tổng hợp BHYT:        
    TK 111,112   TK 3384   TK 622,627,641,642  
        2   (3%) 1   (2%)    
                         
                         

    TK 334

    (1%)

    Hạch toán KPCĐ

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3382- KPCĐ: phản ánh tình hình trích và thanh toán KPCĐ ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên có): quỹ KPCĐ hiện có đầu kỳ tại doanh nghiệp +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra KPCĐ phải trả cho cán bộ công nhân viên

    +Phát sinh giảm (bên Nợ): . chi tiêu qũy KPCĐ tại đơn vị

    . nộp quỹ KPCĐ lên công đoàn cấp trên

    +Số dư cuối kỳ (bên Có): tương tự như số dư đầu kỳ.

    -Nghiệp vụ hạch toán:

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra KPCĐ:

    Nợ TK 622,627,641,642                         (2%)

    Có TK 3382

    1. Theo định kỳ nộp quỹ KPCĐ lên công đoàn cấp trên Nợ TK 3382

    Có TK 111,112    (1%)

    1. Chi tiêu KPCĐ tại đơn vị cho các hoạt động công đoàn Nợ TK 3382

    Có TK 111,112

    1. Vượt chi KPCĐ cấp bù

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp         Nguyễn Thị Nga    
            Sơ đồ hạch toán tổng hợp KPCĐ:                    
    TK 111,112     TK 3382     TK 622,627,641,642    
                                           
      (1%) 2 (1%)   (2%) 1 (2%)          
                                         
          3             4   TK 111,112          
                             
                                         
                                         
                                           
                                           

    VIII – HÌNH THỨC TỔ CHỨC SỔ TIỀN LƯƠNG :

    Việc tổ chức hạch toán và ghi sổ tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương là phụ thuộc vào hình thức ghi sổ mà doanh nghiệp chọn.

    Chế độ hình thức ghi sổ kế toán được quy định áp dụng thống nhất đối với doanh nghiệp bao gồm 4 hình thức:

    • Nhật ký chứng từ
    • Nhật ký chung
    • Chứng từ ghi sổ
    • Nhật ký sổ cái

    Doanh nghiệp phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tính toán để lựa chọn hình thức sổ kế toán phù hợp và nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của các hình thức sổ kế toán đó về các mặt: loại sổ, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ và sự kết hợp giữa các loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TL & BH TẠI XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY.

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903 là Công ty Nhà nước, đơn vị thành viên của Tổng Công ty xây dựng Sông Đà. Công ty do Bộ trưởng Bộ xây dựng quyết định thành lập theo quyết định số 130A /BXD – TCLĐ ngày 26/3/96.

    Công ty có các nhiệm vụ chính sau đây:

    • xây dựng các công trình công nghiệp, công cộng, nhà ở và xây dựng khác .
    • San lấp, đào đắp măt bằng xây dựng
    • Kinh doanh nhà ở và trang trí nội thất
    • kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng.
    • Dược xuất nhập khẩu trực tiếp máy móc xây dựng và vật liệu xây dựng.
    • Được liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để xây dựng và kinh doanh khách sạn, du lịch.

    Công ty có :

    1. Tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
    1. Tên riêng là Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ( Viết tắt là SONGDA 903)
    2. Trụ sở giao dịch đóng tại phường Văn Mỗ – thị xã Hà Đông – tỉnh Hà Tây.
    3. Con dấu, tài khoản mở tại kho bạc Nhà nước và các ngân hàng trong nước.
    4. Vốn và tài sản, chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong phạm vi số vốn do Công ty quản lý.
    5. Bảng cân đối tài sản, các quỹ theo qui định của điều lệ tổ chức và hoạt động và qui chế tài chính của Tổng công ty Xây dựng Sông Đà.
    6. Điều lệ tổ chức và hoạt động, bộ máy quản lý và điều hành. * Công ty được quản lý và điều hành bởi giám đốc.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Công ty chịu sự quản lý của Nhà nước của các bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với tư cách là cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước theo qui định tại luật DN Nhà nước và các qui định khác của pháp luật.

    Công ty chịu sự điều hành và quản lý trực tiếp của Tổng công ty XD Sông Đà.

    • Đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị:

    Đơn vị hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tương ứng với các nhiệm vụ được giao, trong đó hoạt động trên lĩnh vực xây lắp là hoạt động chủ yếu của công ty.

    Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, hoàn toàn được thực hiện bởi các tổ đội sản xuất (hay các đơn vị sản xuất) của công ty. Các đơn vị sản xuất này trực thuộc, chịu sự điều hành quản lý của công ty nhưng việc hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh là hoàn toàn độc lập, chỉ có các báo cáo tài chính sau khi hoàn thành được gửi lên công ty theo định kỳ để kế toán công ty tập hợp và tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị, tổ đội sản xuất, tính ra kết quả sản xuất kinh doanh chung của cả công ty.

    * Tìm hiểu tình hình kinh doanh của công ty:

      97 98 99 (dự kiến)
           
    – Tổng giá trị sản lượng 123,4 tỉ 97,7 tỉ 105 tỉ
    Trong đó: + Xây lắp 121,6 tỉ 92,95 tỉ 98 tỉ
    + Kinh doanh khác 1,8 tỉ 4,75 tỉ 7 tỉ
           
    – Tổng doanh thu 113 tỉ 85,1 tỉ 100 tỉ
           
    – Nộp thuế vào NSNN và phụ phí cấp trên 8,2 tỉ 5,3 tỉ 6 tỉ
           
    – Thu nhập trước thuế 2,4 tỉ 1,1 tỉ 1,5 tỉ
           
    – Thu nhập bình quân/tháng người lao động 0,998 triệu 1,0 triệu 1,0 triệu
           
    • Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, giống như các công ty xây lắp khác, Xí nghiệp XD Sông Đà 903 bị ảnh hưởng khá nặng nề cụ thể là:

    + Tổng giá trị sản lượng năm 1998 giảm 21% so với năm 97.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Tổng doanh thu năm 98 giảm so với năm trước là 25%.
    • Thu nhập trước thuế năm 98 bị giảm hơn 50% so với năm 97. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty rõ ràng là bị sa sút

    nghiêm trọng, nhưng theo như dự kiến năm 99 của lãnh đạo công ty thì hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sẽ dần được khắc phục với cố gắng của toàn bộ tập thể cán bộ công nhân viên của công ty.

    Tổng giá trị sản lượng năm 1999 công ty phấn đấu đạt 105 tỉ, tăng 7,3 tỉ so với năm 98. Trong đó, lĩnh vực xây lắp tăng 1,05 lần so với năm trước trong khi lĩnh vực kinh doanh khác tăng 1,47 lần. Như vậy là doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhằm kiếm lợi nhuận nhiều hơn, lĩnh vực hoạt động kinh doanh xây lắp có thể coi như có tăng nhưng không đáng kể thể hiện rằng lãnh đạo công ty không mấy lạc quantin tưởng vào lợi ích từ việc phát triển các ý kiến đánh giá chung của các nhà nghiên cứu về tình hình kinh tế năm 1999 nên việc chuyển hướng kinh doanh như vậy là là một quyết định đúng đắn, là một giải pháp mang lại hiệu quả cao trog tình trạng khó khăn hiện tại cả Công ty. Hơn nữa năm 1998, do hoạt động xây lắp khó khăn đơn vị đã nhanh chóng tăng cườg các hoạt động kinh doanh lên 4,75 tỉ, đóng góp thêm 1 phần không nhỏ vào lợi nhuận ít ỏi (1,1 tỉ) trong năm 1998. Đó là bước đã thuận lợi để Công ty phát triển hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực này trong năm 99, bù đắp cho sự khó khăn của lĩnh vực kinh doanh kinh doanh xây dựng.

    Đối với chỉ tiêu tổng doanh thu, lãnh đạo Công ty cũng vạch kế hoạch cụ thể, cố gắng tăng doanh thu không để tình trạng khó khăn kéo dài. Công ty có kế hoạch đạt 100 tỷ đồng doanh thu trong năm 99, tăng 17% so với năm 1998, khắc phục được hơn 1/2 trong số 25% lượng doanh thu bị thua thiệt trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng TC năm 1998.

    Cùng với kế hoạch tăng doanh thu, đơn vị cũng dự kiến tăng số tiền nộp ngân sách Nhà nước từ 5,3 tỷ năm 98 lên 6 tỉ năm 99. Tuy rằng con số này vẫn chưa cho thấy sự phát triển mạch của Công ty sau thời kỳ khó khăn nếu so với 8,2 tỉ nộp ngân sách Nhà nước của Công ty năm 97, nhưng để có thêm 0,7 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước đơn vị cũng sẽ phải cố gắng rất nhiều nhất là trong tình hình hiện nay, cuộc khủng hoảng TC vẫn còn để lại nhiều ảnh hưởng gây khó khăn cho các

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    hoạt động kinh doanh bao gồm cả hoạt động XL và các hoạt động kinh doanh khác mà Công ty dự định sẽ đẩy mạnh phát triển trong năm 1999.

    Với phương châm nhanh chóng khắc phục khó khăn.

    Công ty dự định sẽ đạt được 1,5 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong năm 99 tức là tăng 0,4 tỷ đồng so với năm 98, tăng 41%. Nhưng con số 1,5 tỷ đồng này nếu phân tích sâu hơn thì e rằng Công ty khó mà hoàn thành được theo dự kiến doanh thu chỉ tăng 18%, tổng sản lượng tăng 7% mà lợi nhuận dự kiến tăng 41% thì quả là khó đạt được trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong lĩnh vực XL. Như vậy là khả năng nâng cao thu nhập cải thiện tình hình theo dự kiến của Công ty là rất khó thực hiện. Tuy nhiên nếu giữ được con số 1,1 tỉ đồng lợi nhuận là đã có thể coi là Công ty hoạt động bình thường có dấu hiệu của những khó khăn về Tài chính gây ảnh hưởng xấu đến sự tồn tại và phát triển của Công ty.

    Mặc dù có những biến động lớn trong các chỉ tiêu như doanh thu, sản lượng, thu nhập doanh nghiệp giưã các năm 97, 98, 99 nhưng Công ty vẫn quyết giữ ổn định mức lương bình quân của CBCNV ở con số 1 triệu đồng/tháng. Đây là mức lương thuộc loại cao, có thể đảm bảo cuộc sống của người lao động đầy đủ cả về vật chất và tinh thần. Chỉ tiêu này cũng thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Công ty đối với nhân viên trong doanh nghiệp là rất tốt, rất tích cực.

    Như vậy nhìn chung tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty bình thường. ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vừa qua đã có tác động nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, nhưng thiệt hại cũng chưa đến mức nghiêm trọng, cụ thể là lợi nhuận trước thuế năm 98 đạt 1,1 tỉ đồng và dự kiến sẽ nâng lên 1,5 tỉ đồng trong năm 99 (tuy nhiên, theo dự kiến thì Công ty sẽ cải thiện được tình hình, nhưng có thực hiện được hay không còn là cả một vấn đề lớn) với tình hình cả hoạt động kinh doanh trong khu vực biến động như hiện nay, không ai có thể nói chắc được điều gì. Vì vậy, lãnh đạo Công ty có vực được Công ty dậy hay Công ty lại tiếp tục xuống dốc ở một loạt các chỉ tiêu doanh thu, tổng sản lượng… thì còn phải chờ kết quả thực tế, ở các báo cáo tài chính cuối năm 1999 thì mới kết luận được. Đây cũng là tình cảnh chung của các Công ty hoạt động XL trong khu vực bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga

    II – BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY

     

         
      GIÁM ĐỐC  
         

    PHÓ GĐ

                     
      Phòng tổ chức hành   Phòng kế hoạch   Phòng tài chính kế  
      chính   tổng hợp   toán  
                     

    Các đơn vị sản xuất của Công ty

    Các đơn vị sản xuất hiện tại của Công ty gồm có:

    1. Xí nghiệp XL và thi công cơ giới thuỷ lực.
    1. Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh nhà
    1. Chi nhánh Xí nghiệp XD Sông Đà 903 tại thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Các đội xây dựng từ số 1 đến số 9 và các cửa hàng kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng.
    1. Trung tâm tư vấn chống thấm PosToc Sông Đà.
    1. Xưởng xây dựng và thiết kế trang bị nội thất.

    III – BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY.

    KẾ TOÁN TRƯỞNG

    Bộ phận tài   Bộ phận kế   Bộ phận kế   Bộ phận   Các phòng kế
    chính   toán văn   toán tổng hợp   kiểm tra kế   toán ở các đơn
          phòng       toán   vị sản xuất trực
                      thuộc
                         
    Kế toán vật   Kế toán   Kế toán   Kế toán   ……..  
        TSCĐ   LĐTL và các   tiêu thụ      
              khoản trích          
              theo lương          
                         
                         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Ngoài phòng kế toán ở Công ty, ở các đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty có các bộ phận kế toán riêng với nhiệm vụ kiểm tra thu thập, xử lý chứng từ ban đầu và hạch toán chi tiết, tổng hợp các hoạt động của đơn vị mình tuỳ theo sự phân cấp quản lý trong doanh nghiệp, rồi định kỳ gửi số liệu, tài liệu đã hạch toán của bộ phận mình về phòng kế toán ở Công ty. Phòng kế toán ở Công ty thực hiện việc tổng hợp số liệu báo cáo của các đơn vị sản xuất trực thuộc và hạch toán các nghiệp vụ chung toàn Công ty, lập đầy đủ các báo cáo kế toán định kỳ.

    (–> Hình thức tổ chức công tác kế toán của Công ty là theo kiểu “phân tán”)

    Phòng kế toán tại Công ty gồm 8 người (kể cả kế toán trưởng hoạt động theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của kế toán trưởng để thực hiện ba nhiệm vụ chính sau đây.

    1. Tổ chức bộ máy kế toán
    1. Tổ chức kế toán
    1. Thực hiện công tác tài chính tín dụng.

    Các phần việc được kế toán trưởng nghiên cứu và giao cho các nhân viên kế toán của phòng thực hiện, các nhân viên này sẽ chia nhau làm việc theo thông lệ: người này phụ trách tính lương và các khoản trích theo lương, người khác làm kế toán thanh toán … để hoàn thành công việc một cách nhanh nhất, kết quả kế toán được kế toán trưởng kiểm tra và chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty và Nhà nước.

    Hình thức ghi sổ kế toán tại Công ty là hình thức Nhật ký chung, do đó trình tự ghi sổ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHỨNG TỪ GỐC:

    • BẢNG CHẤM CÔNG
    • DANH SÁCH XÉT THI ĐUA
    • BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG
    Ghi chú: NHẬT KÝ CHUNG SỔ KẾ TOÁN CHI TIẾT

    GHI HÀNG NGÀY

    GHI CUỐI THÁNG

    QUAN HỆ ĐỐI CHIẾU

     IV – Đ

    SỔ CÁI BẢNG TỔNG HỢP CHI TIẾT

    TK 334,338

    BẢNG CÂN ĐỐI

    SỐ PHÁT SINH

    BÁO CÁO KẾ TOÁN

     

     

    IV. ĐẶC ĐIỂM VỀ LAO ĐỘ NG TIỀ N LƯƠNG Ở CÔNG TY

    QUYẾT ĐỊNH CỦA GIÁM ĐỐC CÔNG TY

    (về việc: Phê duyệt quy chế trả lương)

    GIÁM ĐỐC XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    • Căn cứ quyết định số 86/TCT – HĐQT ngày 18 tháng 09 năm 1996 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty xây dựng Sông Đà phê chuyển điều lệ tổ chức và hoạt động của Xí nghiệp XD Sông Đà 903.
    • Căn cứ quyết định số: 65/TCT – TCLĐ, ngày 10 tháng 4 năm 1997 của Tổng Công ty về phân cấp quản lý tổ chức, quản lý cán bộ công nhân viên và tiền lương cho các đơn vị trực thuộc.
    • Căn cứ quyết nghị số 161/TCT – HĐQT ngày 29/8/1998 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty xây dựng Sông Đà phê duyệt quy chế

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    trả lương cho cán bộ công nhân viên Tổng Công ty xây dựng Sông Đà.

    – Xét tờ trình của Hội đồng lương Công ty.

    QUYẾT ĐỊNH

    Điều 1: Phê duyệt quy chế trả lương cho cán bộ công nhân viên trong toàn Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ban hành kèm theo quyết định này (có quy chế chi tiết kèm theo).

    Điều 2: Quy chế này được áp dụng từ 1/10/1998. Những quy định trước đây trái với quy chế này đều không có hiệu lực.

    Điều 3: Các ông: Giám đốc các đơn vị thành viên; Trưởng các phòng Công ty và cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty có trách nhiệm thi hành quyết định này theo đúng những quy định của Tổng Công ty, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và pháp luật Nhà nước.

    QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    CỦA XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    (Kèm theo quyết định 136/CT – TCHC, ngày 28/10/1998)

    Để cụ thể hoá quy chế trả lương cho cán bộ công nhân viên của Tổng Công ty. Nay Công ty ban hành quy chế trả lương cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty theo tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của Công ty.

    1. NGUYÊN TẮC TRẢ LƯƠNG:
    1. Cán bộ công nhân viên thuộc bộ máy quản lý của Công ty và các đơn vị thành viên được trả lương theo đúng trình độ về chuyên môn nghiệp vụ đã được Công ty và Tổng Công ty xếp hệ số bậc lương, nhiệm vụ được giao và mức độ hoàn thành.
    2. Việc trả lương phải phù hợp với sức lao động bỏ ra của người lao động, đảm bảo tính công bằng.
    3. Để đảm bảo việc trả lương chính xác, các đồng chí giám đốc các đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phải căn cứ vào khả năng của từng người và hệ số lương của cán bộ nhân viên đang hưởng để phân công công việc cho phù hợp với trình độ của cấp bậc tiền lương đó.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Việc trả lương hàng tháng phải căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh trong tháng của Công ty và các đơn vị thành viên trong Công ty và quỹ lương đã được giao trong dự toán chi phí quản lý.
    2. Căn cứ vào nhiệm vụ của từng đơn vị và các phòng Công ty để các đồng chí giám đốc đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phân công nhiệm vụ cụ thể từng cán bộ nhân viên hàng tuần, tháng làm căn cứ xếp loại để trả lương.
    1. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ:
    1. LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP.
    • Đối với nhân viên trực tiếp làm các công việc như: Trực điện nước, phục vụ nước uống, nấu ăn, làm tạp vụ, vệ sinh trong cơ quan Công ty và các đơn vị thành viên được trả lương theo hệ số điều chỉnh là 1,5 lần LCB. Đồng thời được tính thêm các khoản phụ cấp: Phụ cấp lưu động 20% LTT; Phụ cấp không ổn định sản xuất: 10% LCB.
    • Đối với công nhân lái xe con phục vụ được trả lương theo hệ số điều chỉnh là 1,8 lần LCB. Phụ cấp trách nhiệm lái xe cho Giám đốc Công ty là 20%/LTT có hệ số điều chỉnh. Đối với lái xe phục vụ còn lại phụ cấp trách nhiệm là 15%/LTT có hệ số điều chỉnh. Lái xe làm thêm các ngày chủ nhật, ngày lễ vẫn được thanh toán tăng ca.
    1. LAO ĐỘNG GIÁN TIẾP
    • Xếp loại trả lương: Căn cứ vào cấp bậc tiền lương đang hưởng để các đồng chí giám đốc các đơn vị thành viên trưởng các phòng Công ty bố trí việc làm cho phù hợp với cấp bậc tiền lương đó. Nhưng để khuyến khích những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn và đem lại hiệu quả kinh tế cao và ngược lại thì việc trả lương theo hình thức xếp loại là công bằng và hợp lý. Việc xếp loại hệ số điều chỉnh tiền lương tối thiểu được thực hiện như sau:

    Loại 1: Hệ số 2,3 lần lương cơ bản (LCB) những không vượt quá 50% số người trong phòng, ban.

    Loại 2: Hệ số 2,0 lần LCB nhưng không vượt quá 30% số người trong phòng ban.

    Loại 3: Hệ số 1,8 lần LCB số người còn lại.

    (Kèm theo phụ lục I quy định về tiêu chuẩn xếp loại cán bộ nhân viên của bộ máy quản lý Công ty và các đơn vị thành viên).

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Phụ cấp trách nhiệm cho các chức danh lãnh đạo và phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ kiêm nhiệm công tác Đảng, Công đoàn (phụ lục II kèm theo).
    • Các loại phụ cấp (Phụ lục III kèm theo)
    • Đối với các trường hợp dưới đây:
    • Cán bộ nhân viên thuyên chuyển từ các cơ quan khác đến công tác tại bộ máy quản lý Công ty được hưởng mức lương bằng 85% trong thời gian 3 tháng.
    • Đối với cán bộ do Công ty xin từ đơn vị ngoài về làm việc tại bộ máy Công ty việc trả lương sẽ có quyết định riêng.
    • Đối với sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp được hưởng mức lương bằng 85% trong vòng 12 tháng.
    • Đối với cán bộ được Tổng Công ty và Công ty cử đi học các lớp quản lý kinh tế, tập huấn nâng cao nghiệp vụ, học các lớp chính trị được hưởng 100% và các khoản phụ cấp (nếu có) và các quyền lợi khác.
    • Đối với cán bộ nhân viên được Công ty cử đi học Đại học tại chức được hưởng nguyên lương chính trong thời gian đi học (tiền học phí cá nhân tự đóng, Công ty không thanh toán)
    1. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
    1. Quy chế này áp dụng để tính và trả lương cho cán bộ công nhân viên thuộc lao động trực tiếp và lao động gián tiếp của toàn Công ty trong những ngày làm việc.
    2. Những ngày lễ, tết, nghỉ phép và hưởng theo lương BHXH tính theo mức lương tối thiểu là 144.000 đồng (không có hệ số điều chỉnh).
    3. Các khoản phụ cấp trách nhiệm cho các chức vụ của bộ máy quản lý Công ty, bộ máy quản lý các đơn vị thành viên và các đoàn thể (phụ lục II kèm theo) được tính theo mức lương tối thiểu với hệ số điều chỉnh được xếp loại.
    4. Đối với cán bộ nhân viên làm thêm giờ thì các phòng bố trí nghỉ bù vào ngày thích hợp, trường hợp đặc biệt phải có kế hoạch và được Giám đốc Công ty duyệt trước khi thanh toán.
    5. Việc trả lương hàng tháng phải căn cứ vào tỷ lệ % thực hiện kế hoạch.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Căn cứ vào việc thực hiện nhiệm vụ hàng tháng các đơn vị thành viên và các phòng Công ty phải xét duyệt theo tỷ lệ để trả lương một cách công bằng và hợp lý.
    2. Thời gian áp dụng quy chế này từ ngày 1 tháng 10 năm 1998. Những quy định trước đây trái với quy chế này đều không có hiệu lực.
    3. Giao cho các Giám đốc đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phổ biến đến từng cán bộ nhân viên và tổ chức thực hiện quy chế này. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đơn vị phản ánh về Công ty qua phòng tổ chức hành chính để trình hội đồng lương xem xét.

    PHỤ LỤC I

    QUY ĐỊNH VỀ TIÊU CHUẨN XẾP LOẠI CÁN BỘ CÔNG

    NHÂN VIÊN CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ.

    Việc phân loại để trả lương cho cán bộ công nhân viên Công ty được phân loại theo những tiêu chuẩn sau đây:

    Loại Tiêu chuẩn xếp loại Tỷ lệ/ Σ người
         
      – Là những người hoàn thành xuất sắc các công  
      việc được giao trong tháng phù hợp với hệ số  
      cấp bậc công việc đang hưởng lương; Có tinh  
    Loại 1 thần trách nhiệm cao, chủ động trong công 50%
      việc, có khả năng thực hiện độc lập các công  
      việc đó.  
      – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 2 ngày  
      – Hệ số điều chỉnh tiền lương là 2,3 LTT  
         
      – Là những người hoàn thành tốt các công việc  
      được giao giải quyết trong phạm vi nhất định  
    Loại 2 về nghiệp vụ, hiệu quả công việc đạt mức khá. 30%
      – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 3 ngày  
      – Hệ số điều chỉnh tiền lương là 2,0 LTT  
         
      – Là những người hoàn thành công việc ở mức  
      trung bình.  
    Loại 3 – Là những người mới chuyển đến đang trong 20%
    thời gian tìm hiểu công việc được hưởng mức
      lương bằng 85% trong thời gian 3 tháng.  
      – Là học sinh ở các trường đại học, trung học  
         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    chuyên nghiệp mới về nhận công tác (tập sự) được hưởng mức lương bằng 85% trong thời gian 12 tháng.

    – hệ số điều chỉnh tiền lương là 1,8 LTT

    Là những người làm các công việc như: Trực

    Loại 4 điện, nước; làm tạp vụ, vệ sinh và phục vụ nước uống ở Công ty và các đơn vị thành viên

    – Hệ số điều chỉnh là 1,5 LTT

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    PHỤ LỤC II

    MỨC PHỤ CẤP TRÁCH NHIỆM CHO CÁC CHỨC DANH

    LÃNH ĐẠO

    TT Chức danh lãnh đạo Phụ cấp, Ghi chú  
    chức vụ
           
    1 Bí thư Đảng uỷ Công ty 0.6 LTT    
             
    2 Thường trực Đảng uỷ Công ty 0.4 LTT    
             
    3 Chủ tịch công đoàn Công ty 0.5 LTT    
             
    4 Phó chủ tịch công đoàn – Kiêm trưởng 0.3 LTT    
      ban nữ công      
             
    5 Bí thư chi bộ 0.25 LTT    
             
    6 Trưởng phòng Công ty 0.4 LTT    
             
    7 Phó phòng Công ty và chức vụ tương 0.3 LTT    
      đương      
             
    8 Đội trưởng trực thuộc Công ty 0.3 LTT    
             
    9 Giám đốc đơn vị thành viên 0.4 LTT    
             
    10 P.giám đốc đơn vị thành viên 0.3 LTT    
             
    11 Trưởng ban đơn vị thành viên 0.25 LTT    
             
    12 Phó ban đơn vị thành viên 0.2 LTT    
             
    13 Các đội trưởng trực thuộc đơn vị 0.25 LTT    
      thành viên      
             
    14 Chủ tích công đoàn đơn vị thành viên 0.3 LTT    
             
    15 Phó chủ tịch CĐ đơn vị thành viên 0.2 LTT    
             

    Ghi chú: Mức lương tối thiểu để tính phụ cấp trách nhiệm căn cứ vào mức lương tối thiểu đã điều chỉnh hệ số xếp loại.

    PHỤ LỤC III

    CÁC KHOẢN PHỤ CẤP CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    TRONG TOÀN CÔNG TY

    TT Các khoản phụ cấp % Phụ cấp Ghi chú
    1. Phụ cấp lưu động 20% LTT  
    2. Phụ cấp không ổn định sản xuất 10% LCB  
           
    • – QUÁ TRÌNH HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Hình thức trả lương và quỹ tiền lương của Công ty

    Nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích chung của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động, đồng thời với mong muốn có hình thức trả lương đúng đắn để làm đòn bẩy kinh tế, khuyến khích người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, giờ công và năng suất lao động phòng kế toán Công ty xây dựng Sông Đà đã nghiên cứu thực trạng lao động ở Công ty (cả bộ phận làm công việc hành chính và bộ phận các xí nghiệp, tổ đội làm công tác sản xuất kinh doanh) và đưa ra quyết định lựa chọn các hình thức trả lương sau đây áp dụng tại Công ty.

    A – HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG THỜI GIAN THEO SẢN PHẨM

    Đây là hình thức trả lương vừa căn cứ vào thời gian làm việc theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn của người lao động vừa căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc đã hoàn thành.

    Tuy nhiên, khối lượng, chất lượng công việc hoàn thành (lương theo sản phẩm) trong hình thức kết hợp này chỉ là tính gián tiếp cho lương của người lao động vì hình thức trả lương thời gian theo sản phẩm được Công ty áp dụng cho công nhân viên bộ phận làm công việc hành chính, không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Mức hoàn thành sản lượng kế hoạch là căn cứ để tính lương thời gian theo sản phẩm cho các nhân viên văn phòng hành chính.

    Cách tính lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty:

    Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng như: thang lương công nhân cơ khí, thang lương công nhân lái xe… Trong mỗi thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật, chuyên môn mà chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức nhất định mà Công ty gọi là “Mức lương cơ bản” của mỗi người lao động.

    Mức lương cơ bản = Hệ số lương (bậc lương) x LTT

    VD: Hệ số lương = 2,5 –> Mức LCB = 2,5 x 144.000 đ = 360.000đ

    LTT: Lương tối thiểu (theo quy định là 144.000đ) đơn vị tính lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty là “ngày”

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Lương ngày là tiền lương Công ty trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Như vậy, tiền lương Công ty phải trả cho người lao động trong tháng được tính như sau:

    Error!

    Error!

    VD:

    Error!

    Tiền lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty cũng chia làm hai loại: – Tiền lương thời gian theo sản phẩm giản đơn

    – Tiền lương thời gian theo sản phẩm có thưởng.

    Tiền lương thời; gian theo sản; phẩm giản đơn (tháng) = Error!

    Tiền lương thời; gian theo sản; phẩm có thưởng = Error!

    Tuỳ từng bộ phận tính lương (kế toán tính lương VP Công ty hay kế toán tiền lương ở các xí nghiệp sản xuất tính lương cho VP các xí nghiệp), giám đốc quyết định tính theo lương có thưởng hay không có thưởng. Cụ thể trong chuyên đề này, kế toán Công ty tính lương cho BP văn phòng Công ty theo tiền lương có thưởng, còn kế toán xí nghiệp kinh doanh vật tư tính lương cho bộ phận văn phòng xí nghiệp theo lương giản đơn.

    • – HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG KHOÁN

     

    • Công ty, hiện tại trong việc trả lương cho người lao động có hai hình thức khoán:

    – Khoán công việc – Khoán quỹ lương.

    + Hình thức khoán công việc được Công ty áp dụng cho những công việc lao động giản đơn mà rõ nhất là thể hiện ở việc Công ty giao khoán công việc cho các công việc bảo vệ, quản lý công trình sẽ được đề cập đến trong chuyên đề.

    Error!

    VD:  – Bảo vệ                                           400.000đ/tháng

    – Quản lý công trình          600.000đ/tháng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Hình thức khoán quỹ lương là một dạng đặc biệt của tiền lương trả theo sản phẩm (trả theo khối lượng công việc) được Công ty sử dụng để trả lương cho người lao động tại các đội xây dựng trực thuộc Công ty. Căn cứ vào các phần việc ở từng công trình, Công ty giao khoán mỗi phần việc cho các đội xây dựng chuyên môn từ số 1 đến số 9 thuộc Công ty. Mỗi phần việc tương ứng một khoản tiền mà khi đội hoàn thành công việc sẽ được quyết toán và số tiền này chính là quỹ lương của đội do Công ty giao khoán. Tiền lương thực tế của từng nhân viên trong đội xây dựng số tiền lương Công ty giao khoán sẽ được chia cho số lượng nhân viên trong đội.

    VD: Công ty giao cho tổ (đội) xây dựng: Nề

    1. Xây móng mác 75# : 169,337 m3.

    Đơn giá           : 45.000đ/m3.

    Thành tiền  : 7.620.165 đồng.

    Như vậy, sau khi hoàn thành công việc và được nghiệm thu chất lượng sản phẩm, đội Nề sẽ được hưởng 7.620.165 đồng tiền lương khoán, trên cơ sở đó tiền lương của mỗi công nhân trong đội được chia theo quy định riêng của đội (tính theo khối lượng công việc hoàn thành của mỗi người).

    C – QUỸ TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY

    Công ty có bộ phận nhân viên văn phòng Công ty (quản lý) do kế toán lương Công ty phụ trách, bộ phận nhân viên các đội xây dựng do kế toán công trình phụ trách. Do đó, quỹ tiền lương của Công ty cũng có ba loại tương ứng.

    • Quỹ tiền lương của nhân viên quản lý Công ty do kế toán lương Công ty phụ trách.
    • Quỹ tiền lương của nhân viên các xí nghiệp do kế toán tiền lương các xí nghiệp phụ trách.
    • Quỹ tiền lương khoán của nhân viên (công nhân) các đội xây dựng do kế toán công trình phụ trách.
    1. Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ của Công ty.

    Công ty xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà nước, vì vậy, Công ty là đối tượng nộp BHXH, BHYT, KPCĐ bắt buộc theo quy định của Nhà nước.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    A – Quỹ BHXH

    Không phân tách độc lập như quỹ lương, quỹ BHXH của Công ty được kế toán bảo hiểm Công ty trích lập cho cả nhân viên văn phòng Công ty (nhân viên quản lý Công ty), cả nhân viên ở các xí nghiệp sản xuất, cả công nhân ở các đội xây dựng. Cuối quý, sau khi trích lập, toàn bộ quỹ BHXH của Công ty được nộp lên cơ quan BHXH.

    Hiện nay, theo chế độ hiện hành, Công ty trích quỹ BHXH theo tỷ lệ 20% tổng quỹ lương cấp bậc của người lao động trong cả Công ty thực tế trong kỳ hạch toán.

    Thông thường, Công ty tiến hành trích lập 20% quỹ BHXH 3 tháng 1 lần và phân bổ với các mức như sau cho các đối tượng:

    – Nhân viên quản lý Công ty

    5% khấu trừ trực tiếp lương nhân viên

    15% tính vào chi phí quản lý Công ty.

    • Nhân viên các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc Công ty 5% trừ trực tiếp vào lương nhân viên

    15% phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của cụ thể từng xí

    nghiệp.

    Các xí nghiệp phải trích đủ 20% và nộp lên quỹ BHXH của Công ty theo quy định.

    • Công nhân xây dựng ở các đội xây dựng trực thuộc Công ty và một số nhân viên khác thuộc diên không tham gia đóng BHXH thì Công ty không trích quỹ BHXH cho những người này.
    • Ngoài ra, ở Công ty có những nhân viên thuộc diện nghỉ không lương, theo quy định đóng toàn bộ 20% BHXH vào quỹ BHXH của Công ty. Vì vậy, hàng quý những người này phải trực tiếp đem tiền lên nộp quỹ BHXH trên Công ty với mức 20% lương cấp bậc, Công ty không nộp % nào cho những trường hợp này.

    B – Quỹ BHYT

    Giống như quỹ BHXH, quỹ BHYT được trích lập tập trung tại Công ty với mức trích là 3% tổng quỹ lương cơ bản của người lao động trong cả Công ty thực tế trong kỳ hạch toán và được nộp cho cơ quan BHYT 3 tháng 1 lần.

    Các mức phân bổ trích BHYT như sau:

    • Nhân viên quản lý Công ty: Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1% Khấu trừ trực tiếp lương của người lao động

    2% tính vào chi phí quản lý Công ty.

    • Nhân viên các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc Công ty: 1% khấu trừ trực tiếp lương của nhân viên

    2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của từng xí nghiệp Các xí nghiệp phải trích và nộp 3% này lên quỹ BHYT tập

    trung của Công ty theo quy định.

    • Công nhân xây dựng ở các đội xây dựng trực thuộc Công ty và một số nhân viên khác không thuộc diện tham gia đóng BHYT thì Công ty không trích lập quỹ BHYT cho những người này.
    • Ngoài ra, những nhân viên nghỉ không lương ở Công ty phải mang số tiền 3% BHYT lên Công ty nộp vào quỹ BHYT Công ty ít nhất 3 tháng 1 lần (Công ty không có trách nhiệm nộp thay cho nhân viên 2%)

    C – Quỹ KPCĐ.

    Khác với quỹ BHXH, BHYT quỹ KPCĐ của Công ty không được trích lập, nộp trực tiếp lên cơ quan công đoàn cấp trên mà quỹ KPCĐ của Công ty sau khi tập trung lại sẽ nộp lên Tổng Công ty để Tổng Công ty trực tiếp thanh toán với công đoàn cấp trên.

    Quỹ KPCĐ được trích lập theo tỷ lệ 2% tổng quỹ lương thực trả cho người lao động trong Công ty trong kỳ hạch toán (quý).

    Trong 2% này, 0,8% sẽ được giữ lại làm quỹ KPCĐ chi trả cho các hoạt động công đoàn tại mỗi bộ phận tính lương (Công ty, xí nghiệp), còn lại 1,2% phải nộp tập trung lên quỹ KPCĐ của Tổng Công ty.

    Toàn bộ số tiền trích lập quỹ KPCĐ, được phân bổ hoàn toàn vào chi phí sản xuất kinh doanh, cụ thể.

    • Ở văn phòng Công ty: tính vào chi phí nhân viên quản lý.
    • Ở các xí nghiệp sản xuất kinh doanh: tính vào chi phí nhân viên
    • cụ thể từng bộ phận (nhân viên phân xưởng, nhân viên quản lý…)
    • Đối với nhân viên ở các đội sản xuất, nhân viên nghỉ không lương thì KPCĐ không được trích cho số người này.
    1. Hạch toán số lượng lao động ở Công ty

    Chỉ tiêu số lượng lao động của Công ty được phòng tổ chức hành chính theo dõi, ghi chép trên các sổ danh sách lao động. Căn cứ vào số lao động hiện có của Công ty bao gồm cả số lao động dài hạn

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    và tạm thời, cả lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp, cả lao động ở bộ phận quản lý và lao động ở bộ phận sản xuất kinh doanh, phòng tổ chức – hành chính lập các sổ danh sách lao động cho từng khu vực (văn phòng Công ty, khu đầm 7, xưởng Cầu Giấy, xí nghiệp kinh doanh vật tư…) tương ứng với các bảng thanh toán lương sẽ được lập cho mỗi nhóm nhân viên ở mỗi khu vực.

    Cơ sở để ghi sổ danh sách lao động là các chứng từ ban đầu về tuyển dụng, thuyên chuyển công tác, nâng bậc, thôi việc…

    Mọi biến động về lao động đều được ghi chép vào sổ danh sách lao động để làm căn cứ cho việc tính lương và các chế độ khác cho người lao động.

    Ví dụ: Mẫu sổ số 1.

    Văn phòng Xí DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD
    nghiệp XD Sông Đà   Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
    903              
                     
      TT   Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
      1   Phạm Minh     5,72      
      .         .      
      .         .      
      28   Ngô Đức Dũng     1,78      
      29   Dư Đức Hiệp     1,78      
      30   Nguyễn Đình Thuận   1,78      
                       

    Kèm theo 30 hợp đồng lao động

    Người lập biểu

    (Ký tên)

    Giám Đốc

    (Ký tên)

     

    Sổ danh sách lao động của Công ty gồm 4 cột.

    • Cột 1: Ghi thứ tự Cột 2: Họ và tên

    Cột 3: Theo dõi cấp bậc công nhân (nhân viên)

    Cột 4: “Ghi chú”

    Trường hợp nhân viên hưởng lương khoán không tham gia

    đóng BHXH, BHYT thì cột này không được theo dõi theo hệ số cấp bậc mà ghi “HĐ” nghĩa là lương khoán theo hợp đồng.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xưởng Cầu Giấy DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí  nghiệp  XD
        Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
                 
    TT Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
    1 Phạm Văn Cần   2,55   Khoán lương  
    2 Phương Đình Nga     Khoán lương  
    3 Đỗ Duy THanh     Khoán lương  
                 
        Kèm theo 3 hợp đồng lao động        
        Người lập biểu   Giám Đốc  
          (Ký tên)   (Ký tên)  
      Đầm 7 DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD Sông  
          Lập ngày 1/1/1999   Đà 903  
                     
    TT     Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú  
    1   Nguyễn Văn Chấp   1,85   Khoán lương  
    2   Vũ Mạnh Khiêm     Khoán lương  
                   
        Kèm theo 2 hợp đồng lao độ ng        
        Người lập biểu   Giám Đốc  
          (Ký tên)   (Ký tên)  
                         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Đội: Nề DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD Sông
        Lập ngày 1/1/1999   Đà 903
               
    TT   Họ và tên Cấp bậc   Ghi chú
    1 Nguyễn Văn Lợi   Lương khoán
    2 Huỳnh Đa Phước   Lương khoán
    .          
    49 Ngô Tiến Long   Lương khoán
    50 Lương Việt Hùng   Lương khoán
             
      Kèm theo 50 hợp đồng lao động    
        Người lập biểu   Giám Đốc
        (Ký tên)   (Ký tên)

    Văn phòng Xí nghiệp        DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí nghiệp XD

    kinh doanh vật tư Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
             
    TT Họ và tên   Cấp bậc Ghi chú
    1 Hoàng Anh   3,48  
    2 Hà Quang Du   2,50  
    .        
    8 Cao Hoàng Hà   1,70  
    9 Nguyễn Mạnh Chiến   1,78  
    10 Nguyễn Đình Lê   Lương khoán
             

    Kèm theo 10 hợp đồng lao động

    Người lập biểu                                                        Giám Đốc

    (Ký tên)                                                                    (Ký tên)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp     Nguyễn Thị Nga
      Công trình Nhà tập võ              
      vật TT TDTT Quốc gia              
      Xí nghiệp kinh DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí nghiệp XD
        doanh vật tư Lập ngày 1/1/1999   Sông Đà 903
                     
      TT   Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
      1   Lê Văn Hà     2,74        
      2   Trần Thị Hường     2,21        
      8   Dương Đức Thịnh       Lương khoán  
                       
          Kèm theo 8 hợp đồng lao độ ng          
          Người lập biểu Giám Đốc
          (Ký tên)       (Ký tên)
    1. Hạch toán sử dụng thời gian lao động tại Công ty:

    Hạch toán tiền lương theo thời gian được tiến hành cho khối cơ quan đoàn thể của Công ty. Nói cách khác, đối tượng áp dụng hình thức trả lương theo thời gian ở Công ty là cán bộ công nhân viên ở các bộ phận phòng ban văn phòng Công ty và công nhận ở các đội.

    • mỗi bộ phận văn phòng (văn phòng Công ty, văn phòng các xí nghiệp) có người theo dõi thời gian làm việc của CBCNV (theo mẫu số 01 – LĐTL).
    • mỗi đội xây dựng có sự phân chia nhóm công nhân làm việc theo yêu cầu của từng công việc cụ thể được Công ty giao ở từng công trình. Mỗi nhóm cử ra một người lập bảng chấm công và theo dõi ngày làm việc thực tế của các thành viên trong nhóm

    Hàng ngày căn cứ vào sự có mặt của từng người trong danh sách theo dõi trên Bảng chấm công, người phụ trách việc chấm công đánh dấu lên Bảng chấm công ghi nhận thời gian làm việc của từng người trong ngày tương ứng từ cột 1 – cột 31. Bảng chấm công được công khai cho mọi người biết và người chấm công là người chịu trách nhiệm về sự chính xác của Bảng chấm công.

    Cuối tháng, Bảng chấm công ở các văn phòng được chuyển về phòng kế toán tương ứng (chấm công văn phòng Công ty thì chuyển về kế toán lương của Công ty, chấm công văn phòng xí nghiệp kinh

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    doanh vật tư thì chuyển về kế toán lương của xí nghiệp kinh doanh vật tư …) để làm kế toán căn cứ tính lương, tính thưởng và tổng hợp thời gian lao động sử dụng trong Công ty, trong xí nghiệp. Thời hạn nộp chậm nhất là 2 ngày sau khi hết tháng.

    Bảng chấm công ở các nhóm thuộc các đội ở các công trình được theo dõi cũng theo tháng nhưng ở các công trình được theo dõi cũng theo tháng nhưng phải đến khi hoàn thành công việc được giao thì Bảng chấm công mới được tập hợp để tính ngày lao động của từng người. Số tiền lương khoán sau đó sẽ được chia cho mọi người căn cứ vào số ngày công thực tế của mỗi công nhân thể hiện trên Bảng chấm công.

    Bộ phận nhân viên hưởng lương khoán công việc thì mức lương khoán đã được tính cho tháng làm việc nên Công ty không theo dõi thời gian sử dụng lao động của số nhân viên này.

    Nếu có trường hợp CBCNV chỉ làm một phần thời gian lao động theo quy định trong ngày, vì lý do nào đó vắng mặt trong thời gian còn lại của ngày thì người chấm công căn cứ vào số thời gian làm việc của người đó để xem xét tính công ngày đó cho họ là 1 hay 1/2 hao là “0”.

    Nếu CBCNV nghỉ việc do ốm đau, thai sản… phải có các chứng từ nghỉ việc của cơ quan y tế, bệnh viện cấp, và được ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu quy định như: ốm “ô”, con ốm “cô”, thai sản “TS”… Trường hợp nghỉ phép “P” thì ở Công ty chỉ cần công nhân viên có báo trước cho người chấm công thì ngày nghỉ của họ được ghi là “P”.

    VD: Trên bảng chấm công T3 của bộ phận văn phòng xí nghiệp kinh doanh vật tư các ngày từ 1 –> 31 ghi 27 công nghỉ đẻ “TS” của chị Vũ Bích Phượng có chứng từ kèm theo là giấy khám bệnh của bệnh viện như sau:

    (kèm giấy xin nghỉ TS trước 1 tháng)

    PHIẾU KHÁM BỆNH

    Họ và tên: Vũ Bích Phượng

    Địa chỉ: xí nghiệp kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Khoa khám bệnh: – Sản –

    Chẩn đoán

    Ngày sinh con: 25/3 – 29/3

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Ngày nghỉ theo quy định: 4 tháng.

    Ngày 15 tháng 3 năm 1999

    Giám đốc bệnh viện         Hành chính khoa                 Bệnh nhân ký

    Các cột “quy đổi” gồm 3 cột lương – lương 100% – Nghỉ không lương tuy có được thể hiện trên Bảng chấm công nhưng người phụ trách chấm công không có trách nhiệm phải ghi chép vào các cột này. Chỉ khi tính lương, các bảng chấm công mới được quy đổi ra thành số ngày tính lương thực tế, số ngày nghỉ tính lương theo chế độ 100% lương cơ bản, số ngày nghỉ không được tính lương cho mỗi người lao động ứng với mỗi dòng trên bảng chấm công.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Mẫu sổ số 2

    Văn phòng xí nghiệp       BẢNG CHẤM CÔNG         Xí nghiệp kinh doanh vật tư –
    kinh doanh vật tư         Tháng 3 năm 1999           Xí nghiệp XD Sông Đà 903 –
                                                   
                                          Quy đổi   Ghi
      STT Họ và tên 1 2 3   4 5 6 7 …… 27 28 29 30   31 lương   lương   Nghỉ chú
                                            100%   KL  
      1 Hoàng Anh x x x   x x x CN …………. x CN x x   x            
      2 Trương Bá Đức x x x   x x x   …………. x   x x   x            
                                                   
      3 Hà Quang Du x x x   x x x x …………. x   x x   x            
      4 Đỗ Hoàng Liên x x x   x x x   …………. x   x x   x            
      5 Cao Hoàng Hà x x H   H H x   …………. x   0 x   x            
                                                   
      6 Nguyễn Khánh Hùng x x x   x x x     x   x x   x            
      7 Nguyễn Ngọc Hoa 0 0 0   x x x     x   x 0   x            
      8 Vũ Bích Phượng TS TS TS   TS TS TS     TS   TS TS   TS            
                                                   
      9 Nguyễn Mạnh Chiến x x x   x x x     x   x x   x            
        Người chấm công           Phụ trách bộ phận           Giám đốc duyệt    

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Hạch toán kết quả lao động
    • Ở bộ phận văn phòng Công ty, để hạch toán kết quả lao động, làm cơ sở để tính lương, kế toán sử dụng các danh sách xét thi đua (Bảng xếp loại) làm chứng từ ban đầu.

    Danh sách xét thi đua do trưởng phòng của các phòng ban ở bộ phận văn phòng Công ty lập vào cuối tháng để chấm xếp loại kết quả công việc của từng nhân viên trong phòng ban của mình trên cơ sở các quy định về việc xếp loại CBCNV của bộ máy quản lý trong quy chế trả lương của Công ty (đã nêu trong đặc điểm LĐ TL ở Xí nghiệp XD Sông Đà 903). Hệ số xếp loại hay hệ số điều chỉnh (HSĐC) được quy đổi ra cho từng nhân viên theo xếp loại trong bảng danh sách xét thi đua là một căn cứ quan trọng để tính lương cho nhân viên của bộ máy quản lý Công ty (nhân viên văn phòng Công ty).

    VD: Trưởng phòng TC – KT căn cứ vào bảng chấm công tháng 3 và kết quả công việc của Phan Đình Cường chấm xếp loại cho ông Cường HSĐC: 2,3 (loại 1) với lý do:

    – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 2 ngày – Hoàn thành xuất sắc các công việc được giao.

    Mẫu số 3:

    XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    Phòng TC – KT

    DANH SÁCH XÉT THI ĐUA

    Tháng 3 năm 1999

    TT Họ và tên   Xếp loại   Ghi chú  
    2,3 2 1,8
           
    1 Ngô Doãn x        
                 
    2 Phan Đình Cường x        
                 
    3 Tăng Bích Trâm x        
                 
    4 Đặng Thị Thu   x      
                 
    5 Vũ Thị Nga x        
                 
    6 Lê Nguyên Bảo   x      
                 
    7 Phạm Thị Đà Giang   x      
                 
    8 Ngô Đức Dũng     x    
                 

    Hà nội, ngày 28 tháng 3 năm 1999.

    Trưởng phòng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    (kí tên)

    Một số nhân viên thuộc bộ máy quản lý công ty nhưng không thuộc phòng ban nào thì HSĐC được qui định rõ trong qui chế lương công ty là căn cứ để hạch toán kết quả lao động của họ.

    Ví dụ:

    Công nhân lái xe con → HSĐC: 1,8

    Nhân viên tạp vụ           → HSĐC: 1,5

    Hệ số điều chỉnh (HSĐC) sẽ được dùng làm căn cứ để tính “lương xếp loại” cho nhân viên bộ máy quản lý như sau:

    Lương theo;xếp loại = Mức lương;cơ bản x Hệ số;điều chỉnh

    Ví dụ: một người có mức lương cơ bản = 360.000 đ

    Trong tháng được xếp loại: 2,3

    • Lương theo xếp loại = 360.000 đ x 2,3 = 828.000 đ
    • Tuỳ theo khả năng của các xí nghiệp SXKD trực thuộc công ty mà bộ phận văn phòng của các đơn vị này có được hạch toán kết quả lao động hay không. Hiện tại, bộ phận nhân viên văn phòng XNXD và KDVT cũng được hạch toán kết quả lao động theo xếp loại HSĐC.
    • Đối với người lao động ở các đội XD của công ty, công ty giao khoán quỹ lương cho các đội và đối với các đội sản xuất ở các xí nghiệp do xí nghiệp thuê giao khoán công việc, vì vậy chứng từ hạch toán kết quả lao động của bộ phận này là Hợp đồng làm khoánbiên bản nghiệm thu kỹ thuật.

    Tháng 3 năm 1999, công ty giao khoán công việc cho đội Nề trực thuộc công ty ở công trình: Trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị. Giữa công ty và đội ký hợp đồng làm khoán. Hết tháng, hoàn thành phần việc được giao, đội Nề và công ty lập biên bản nghiệm thu kỹ thuật cho phần việc đã hoàn tất.

    Hợp đồng làm khoán hạng mục cổng, tường rào ở công trình “Trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị” và biên bản nghiệm thu kỹ thuật cho phần việc khoán này là chứng từ ban đầu để cho phần việc khoán này là chứng từ ban đầu để hạch toán kết quả lao động tháng 3 cho đội Nề. Biên bản nghiệm thu kỹ thuật đã công nhận

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    chất lượng công việc đội Nề hoàn thành, vì vậy số tiền ghi trên hợp đồng làm khoán sẽ được công ty thanh toán và là quỹ lương khoán tháng 3 của công ty giao cho đội.

    • Còn lại, với những trường hợp nhân viên giao khoán lương (VD: bảo vệ: 400.000 đ) thì chứng từ ban đầu để hạch toán kết quả lao động là hợp đồng nhân công. Hợp đồng này là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán về công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán.

    VD: Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ký hợp đồng nhân công, giao khoán cho Nguyễn Đình Lê lương bảo vệ: 300.000 đ/tháng.

    Hàng tháng, căn cứ vào số tiền ghi trong hợp đồng này, kế toán lương tính trả lương tháng cho ông Lê 300.000đ

    HỢP ĐỒNG NHÂN CÔNG Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Hôm nay, ngày 1 tháng 1 năm 1999 Chúng tôi gồm: Hoàng Anh – Giám đốc xí nghiệp (Bên A)

    Nguyễn Đình Lê – Người lao động (Bên B)

    Hai bên cùng nhau ký kết hợp đồng với nội dung sau:

    Điều I: Trách nhiệm bên B:

    • Chịu trách nhiệm về an ninh tại trụ sở xí nghiệp (186 Ngô Gia Tự – Gia

    Lâm)

    • Chấp hành nội quy và quy định chung của xí nghiệp.

    Điều II: Trách nhiệm bên A:

    • Trả lương tháng đúng hạn (vào cuối tháng)
    • Đảm bảo điều kiện làm việc cho nhân viên. Điều III: Số tiền lương khoán 300.000đ/tháng

    Bên giao việc A                                               Bên nhận việc B

    Ký tên                                                                         Ký tên

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Ngoài ra, chứng từ hạch toán kết quả lao động ở Công ty còn có các báo cáo sản lượng.
      • Công ty, các báo cáo sản lượng của các xí nghiệp sản xuất được gửi lên hàng tháng thông báo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế toán tổng hợp ở Công ty tổng hợp các báo cáo sản lượng tính ra mức hoàn thành kế hoạch sản lượng bình quân của Công ty để làm căn cứ tính lương thời gian theo sản phẩm cho nhân viên quản lý Công ty.
    • các xí nghiệp sản xuất, các báo cáo sản lượng được lập ở các công trình, hết tháng nộp lên kế toán xí nghiệp để xí nghiệp tổng hợp ra mức hoàn thành kế hoạch sản lượng bình quân của cả xí nghiệp, lấy số liệu lập báo cáo sản lượng nộp lên kế toán Công ty đồng thời làm căn cứ tính lương thời gian theo sản phẩm cho nhân viên bộ máy quản lý xí nghiệp.
    1. Hạch toán tiền lương và thanh toán với người lao động.

    A – Tính lương:

    Công việc tính lương và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tập trung tại phòng kế toán Công ty trước khi tính lương, kế toán tập hợp các chứng từ hạch toán thời gian lao động (Bảng chấm công …) kết quả lao động (hợp đồng giao khoán, biên bản nghiệm thu sản phẩm…) và kiểm tra tính hợp lý hợp lệ của toàn bộ số chứng từ này để dùng làm căn cứ tính lương.

    1. Tính lương cho CBCNV áp dụng hình thức trả lương thời gian theo sản

     

    phẩm.

     

    Như đã giới thiệu sơ qua về hình thức trả lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty (phần I), các nhân viên của Công ty áp dụng trả lương theo hình thức này được kế toán tính lương tháng như sau:

    Tháng 3 năm 1999, bộ phận quản lý Công ty được kế toán lương tính lương trên bảng thanh toán lương tháng 3 như sau:

    VD:

     

    lấy ví dụ nhân viên số thứ tự là một Phạm Minh ở văn phòng Công ty được kế toán tính lương như sau:

    * Mức lương cơ bản                               =

    Hệ số lương; (cấp bậc) x Mức lương; tối thiểu

      = 5,72 x 144.000đ
      = 823.680 đồng.
    * Lương theo xếp loại = Mức lương; cơ bản x Hệ số điều chỉnh
      = 823.680đ x 2,3 = 1.894.464 đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    *

    Error!

    • 894.464đ + 28.800 + 82.368 + 198.720
    • 204.352 đ

    Trong đó các mức phụ cấp được quy định trong quy chế trả lương của Công ty (đã nêu ở đặc điểm LĐTL)

    • Phụ cấp lưu động 20% LTT = 20% x 144000đ = 28.800 đ
    • Phụ cấp không ổn định sản xuất 10% LCB = 10% x 823.680 = 82.368đ
    • Phụ cấp TN Bí thư đảng uỷ Công ty = 0,6 x 144.000 x 2,3 = 198720 đ (0,6 LTT có HSXL)

    Error!

    • 204.352 x 69%
    • 521.003 đồng

    Error! x Error!

    • Error!
    • 579.503 đồng

    Error!

    = 1.579.503 đ + 0 = 1.579.503 đ

    Tháng 3 ông Minh không có ngày nghỉ phép nào nên số tiền lương được

    trả cho thời gian làm việc trong tháng bằng số tiền tổng cộng được trả.

    *                                                         Thực                                                         lĩnh                                                         =

    Error!

    • 579.503 – 123.552 – 24.710
    • 431.241 đ

    (BHXH, BHYT bị trừ lương theo quy định sẽ được trịnh bày ở phần sau)

    • các xí nghiệp sản xuất kinh doanh, lương bộ phận quản lý xí nghiệp được tính tương tự như bên văn phòng Công ty, tuy nhiên xí nghiệp là đơn vị sản xuất nên bảng thanh toán lương có kết cấu và cách tính hơi khác một chút.

    Việc phải làm thêm công, thêm giờ là chuyện xảy ra thường xuyên đối với các bộ phận sản xuất, vì vậy trên bảng thanh toán lương của các xí nghiệp thường có thêm phần “lương tăng giờ” gồm 2 cột “Công” “Tiền” để tính trả tiền lương làm thêm giờ của nhân viên.

    BHXH, BHYT phải thu trực tiếp của người lao động không thể hiện trên bảng thang toán lương.

    VD:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Nhân viên Hoàng Anh ở dòng thứ 1 trên bảng thanh toán lương tháng 3 của xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903, có các số liệu cơ bản như sau:

    – Cấp bậc lương : 3,48
    – HSĐC : 2,3
    – Số ngày công : 27
    • PC trách nhiệm : 0,4 x 144.000đ x 2,3 = 132.480 đồng (thường trực Đảng uỷ Công ty)

    – PC lưu động               : 66.240 (0,2 x LTT x HSĐC)

    • PC không ổn định sản xuất: 119.691đ (0,1 x LCB)
    • Tiền lương 10 công: 870.674 đ

    làm thêm giờ

    • Lương cấp bậc = 3,48 x 144.000 đ = 501.120 đồng
    • Lương theo XL = 501.120 x 2,3 = 1.152.576 đồng
    • Error!
    • Lương cơ bản; tiền lương được XN; trả cho thời gian làm; việc quy định 27 ngày = 1.196.906 đ + (132.480 + 66.240 + 119.691)
    • 515.317 đồng

    +

    Error!

    = 2.385.991 đồng

    +

    Error!

    1. Tính lương cho CBCNV áp dụng hình thức trả lương khoán:

     

    + Khoán công việc:

     

    Ở mỗi bộ phận lương trong công ty, căn cứ vào đặc điểm công việc của

    nhân viên, các việc như bảo vệ, quản lý công trình thường được khoán lương tháng cho mỗi công việc.

    Mức lương khoán được tính toán căn cứ vào công việc và mức lương theo cấp bậc công việc bình quân.

    VD:

    • Tiền lương;bảo vệ phụ = 3,125 x 144.000 đ ≈000 đ Công trình Đầm 7
    • Tiền lương;bảo vệ chính = 3,47 x 144.000 đ ≈000 đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Công trình Đầm 7

    Mức lương khoán được ghi trong hợp đồng lao động và được dùng làm căn cứ để lập Bảng Thanh Toán Lương.

    * Khoán quỹ lương:

    Với các phần việc ở các công trình XD của công ty, công ty thường áp dụng hình thức khoán quỹ lương cho các đội XD để nhân viên trong các đội chia nhau hoàn thành công việc.

    Mức khoán quỹ lương thường được xây dựng dựa trên cấp công việc, mức lương theo cấp bậc công việc định mức về sản lượng, định mức về thời gian hoàn thành công việc mà Công ty giao cho.

    Error!

    VD: Trong hợp đồng làm khoán hạng mục cổng tường rào, công trình trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị, Công ty xây dựng Sông Đà giao khoán quỹ lương cho đội Nề tháng 3 như sau:

    1. Xây móng mác 75#: 169,337 m3; Đơn giá 45.000đ/m3
    –> thành tiền 7.620.165 đồng
    2. Xây trụ tường rào 50#: 346,078 m3, Đơn giá: 45000 đ/m3
    –> Thành tiền 15.573.510 đồng
    3. Trát trụ, tường 75#: 1.066,304 m2; Đơn giá: 6000 đ/m2
    –> Thành tiền 6.397.824
         

    Tổng quỹ lương giao khoán cho đội Nề là tổng tiền sẽ thanh toán cho 100% khối lượng công việc đã giao cho đội tháng ba hoàn thành

    • 620.165 + 15.573.510 + 6.397.824
    • 591.499 đồng

    Các đội hoàn thành công việc sẽ nhận tiền lương khoán và chia theo thời gian làm việc cho mọi người (theo Bảng chấm công) VD: Tổng quỹ lương được chia cho 1480 công của đội trong tháng 3 –> 1 công = 20.000 đ –> 1 người: 30 công hưởng 600.000 đ tháng 3

    Khi thanh toán lương với người lao động, người lao động nhận lương phải có trách nhiệm ký vào cột cuối cùng của bảng thanh toán lương “ký nhận” để xác nhận việc nhận lương của mình.

    • bộ phận quản lý Công ty thì người thanh toán lương với nhân viên là kế toán lương của Công ty, còn ở đội xây dựng thì đội trưởng sau khi nhận được lương khoán sẽ thanh toán với các LĐ trong đội. Tại các xí nghiệp và thanh toán với kế toán lương ở đơn vị mình.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Khi bảng thanh toán lương đã tính và trả xong cho người lao động, kế toán các xí nghiệp tiến hành phân bổ chi phí tiền lương vào các tài khoản chi phí phù hợp (TK 622, TK 627, TK 642). Ở các đội thì bảng thanh toán lương được nộp lên phòng kế toán Công ty để kế toán Công ty phân bổ vào chi phí nhân công từng công trình để xác định giá thành công trình. Kế toán tiền lương Công ty thì phân bổ chi phí tiền lương bộ máy quản lý công ty vào chi phí quản lý Công ty (TK 6421)

    1. Tính bảo hiểm . được trích:

    BHXH, BHYT, như đã nêu ở phần quỹ BHXH, BHYT của công ty.

    Tuy nhiên, theo cách tính lương, BHXH, BHYT trích bằng cách khấu trừ lương của nhân viên văn phòng công ty hay văn phòng xí nghiệp 5% BHXH, 1% BHYT, thì cũng được trích 15% BHXH, 25 BHYT vào chi phí còn lại, KPCĐ nhân viên quản lý tương ứng.

    • bộ phận nhân viên các công trình, kế toán trích 5% BHXH, 1% BHYT khấu trừ lương những nhan viên có gia nộp bảo hiểm và đồng thời kích 15% BHXH, 4% BHYT, KPCĐ còn lại tính vào chi phí nhân viên trực tiếp xây dựng, nhân viên quản lý công trình tương ứng.

    Những khoản trợ cấp thực tế cho người lao động tại doanh nghiệp trong các trướng hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…(hưởng lương BHXH) được tính toán trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ) và tỷ lệ trợ cấp BHXH.

    Khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán ở công ty (hoặc kế toán ở xí nghiệp tuỳ thuộc đối tượng nghỉ thuộc bộ phận nào quản lý) lập phiếu nghỉ lương BHXH cho từng người (mẫu số 03 – LĐTL chế độ chứng từ kế toán) và từ các phiếu nghỉ hưởng BHXH , kế toán lập bảng thanh toán BHXH, (mẫu số 04 LĐTL chế độ chứng từ kế toán). Sau đó, nếu nhân viên nghỉ hưởng BHXH ở các xí nghiệp trực thuộc thì các đơn vị này giử các chứng từ trên lên công ty để công ty gom lại lập bảng thanh toán BHXH cho toán Công ty. Các chứng từ này sẽ là chứng từ dể công ty thanh toán với cơ quan BHXH vào cuối mỗi năm.

    Các mẫu biểu các số thanh toán BHXH cho nhân viên như sau:

    Mẫu biểu: Nhân viên VBP, cấp bậc lương, 1,94 xin nghỉ đẻ từ 1.4 đếm 31.7.

    Xí nghiệp xây dựng         PHIẾU NGHỈ HƯỞNG BHXH         Công ty xây

    Xí nghiệp Sông Đà 903

        Chuyên đề thực tập tốt nghiệp       Nguyễn Thị Nga
        kinh doanh vật tư                 dựng Sông đà I
        Số: 15                              
        Họ tên: Vũ Bích Phượng, tuổi: 29                  
                                       
                Số ngày nghỉ Y, bác   Số   Xác  
        Tên cơ Ngày               sĩ ký     nhận  
                         
                        gnày    
        quan y tháng Lý do Tổng   Từ Đến hết tên     của phụ  
        tế năm     số   ngày ngày đóng   thực   trách  
                nghỉ    
                          dấu     BP  
                                 
                                         
        Bệnh 19/3/99   Nghỉ 4Tháng   1.4 31.7     104      
        viện C     đẻ                          
        PHẦN THANH TOÁN                      
                       
        số ngày nghỉ   Lương bình   % tính BHXH   Số tiền hưởng
        tính BHXH   quân 1 ngày             BHXH  
                           
        104   10.744.61538 Đ   100%     1.117.440    
                         
        1 tháng lương BHXH trợ các cho trường hợp nghỉ đẻ       279.360    
                               
              Tổng cộng           1.396.800    
                            Ngày 27 tháng 02 năm 1999
          Người lập       Kế toán BHXH      
          (tiền lương bình quân 1 ngày dùng làm cơ sở để tính lương nghĩ hưởng
      BHXH được tính như sau:                  
          TL bình quân 1 ngày = Error!                  
          Chị Vũ Bích Phượng:                  
          Cấp bâc: 1,94 ⇒ Tiền lương =   144.000 x 1 = 10744.61538đ      
            94 ; 26        
      Xí nghiệp XD và   BẢNG THANH TOÁN BHXH   Xí nghiệp XD Sông Đà  
        KD vật tư   Tháng 2 năm 1999   903      
                            Nợ TK 136  
                            TK 1111  
                             
    TT Họ tên   Nghỉ ốm Nghỉ con Nghỉ đẻ   Nghỉ sẩy thai sinh   Nghỉ tai nạn lao Tổng số  
      ốm     đẻ kế hoạch     động tiền   nhận
                       
                                   

    Xí nghiệp Sông Đà 903

        Chuyên đề thực tập tốt nghiệp       Nguyễn Thị Nga
                                       
          số Số số Số số Số tiền Khoản Số Khoản Số S`ố Số tiền      
          ngày tiền ngày tiền ngày chi ngày chi ngày ngày    
                                   
    1 Vũ Bính Phượng         104 1.396.800             1.396.800 (Đã ký)
      Cộng         104 1.396.800             1.396.800    

    Tổng số tiền (viết bằng chữ): một triệu ba trăm chín sáu ngàn tám trăm.

          Kế toán BHXH     Kế toán trưởng      
      Xí nghiệp XD Sông BẢNG THANH TOÁN BHXH – Tổng Công ty xây dựng  
        Đà 903       Tháng 2 năm 1999         Sông Đà    
                              Nợ TK 3385      
                              TK 1361 – XNTL  
                                     
          Nghỉ ốm Nghỉ con ốm Nghỉ đẻ Nghỉ sẩy thai SĐKH Nghỉ tai nạn LĐ Tổng số
    TT Họ tên   số Số số   Số số   Khoản Số   Khoản Số   S`ố   Số
        Số tiền       tiền nhận
          ngày tiền ngày   tiền ngày   chi ngày   chi ngày   ngày   tiền    
    1 Vũ Bính Phượng           104 1.396.800                   1.396.800 (Đã ký)
      Cộng             104 1.396.800                   1.396.800  
            Tổng số tiền: Một triệu ba trăm chín sáu ngàn tám trăm.  
          Kế toán BHXH     Kế toán trưởng      

    Từ các giấy nghỉ của bệnh viện, phiếu nghỉ hưởng BHXH và bảng thanh toán BHXH của xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư kế toán BHXH của công ty.

    Tuy nhiên, trong tháng 3, do cả công ty (bao gồm cả các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc) chỉ có 1 trường hợp hưởng BHXH pháp minh tại xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư nên ở cả 2 bảng T.T’ BHXH đếu chỉ phương án cùng 1 nghiệp vụ pháp minh.(Tuy vậy định khoản cho số tiền thanh toán BHXH 2 nơi khác nhau.

    Error!

    Error!

    1. Hạch toán chi tiết, hạch toán tổng hợp tiền lương Bh và tình hình thanh toán với ngưòi lao động tại Công ty:

    Tài khoản sử dụng hạch toán lương: TK 141 – tạm ứng TK cấp 21411-tạm ứng lương sử dụng để hạch toán thanh toán lương với lao động trực tiếp ở các công trình – TK 334- phải trả CNV.

    Trong đó, kế toán của Công ty, của các XNSX thống nhất sử dụng TK

     

    3314 để hạch toán tiền lương và tình hình thanh toán lương với CNV bộ phận quản lý (lao động gián tiếp)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Bên nợ: các khoản tiền lương tiền thưởng BHXH và các khoản khac đã trả, đã ứng cho người lao động.

    • Các khoản khấu trừ vào tiền lương của người lao động.
    • Bên có: – Các khoản tiền lương, tiền thưởng BHXH thực tế phải trả cho người lao động.

    Số dư bên có: – các khoản tiêng lương còn phải trả cho người lao động. Tài khoản sử dụng để hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ

    Để hạch toán tổng hợp BHXH, BHYT, KPCĐ, kế toán bảo hiển công ty sử dụng các TK cấp 2 sau: TK 3382, TK 3383, TK 3384

    TK 3382 – KPCĐ:

    Bên nợ: – chi tiêu kinh phí công đoàn tại công ty.

    • Kinh phí công đoàn đã nộp lên tổng công ty.

    Bên có: – Trích kinh phí công đoàn vào chi pí QLND

    • Báo nợ KPCĐ cho các đơn vị trực thuộc Số dư bên có: KPCĐ chưa nộp, chưa chi

    Số dư bên nợ: KPCĐ vượt chi.

    TK 3383: – BHXH.

    Bên nợ: – BHXH phải trả cho người lao động.

    • BHXH đã nộp cho cơ quan quản lý. Bên có: – Trích BHXH vào chi phí QLDN
    • Trích BHXH trừ vào thu nhập của người lao động.
    • Báo nợ BHXH của các đối tượng phải thu.

    Số dư bên nợ: BHXH vượt chi

    Số dư bên có: BHXH chưa nộp.

    TK 3384 – BHYT:

    Bên nợ: – Nộp BHYT.

    Bên có: – Trích BHYT tình vào chi phí QLDN.

    • Trích BHYT trừ vào thu nhập của người lao động.
    • Báo nợ BHTYT của các đối tượng phải thu.

    Số dư bên có: – BHYT chưa nộp.

    NGHIỆP VỤ HẠCH TOÁN LƯƠNG

    1. Kế toán Công ty phân bổ tiền lương cuả bộ máy quản lý Công ty vào chi phí nhân viên quản lý Công ty:

    Nợ TK 6421- Chi phí nhân viên quản lý Công ty:

     

    Có Tk 3341 – lương tiền lương nhân viên quản lý.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Trường hợp tiền lương NC xd nhà xưởng của Công ty, kế toán ghi Nợ TK 2412- XDCB

    Có TK 3341- tiền lương

    1. Kế toán công ty phân bổ tiền lương của bộ máy quản lý Công ty vào chi phí nhân viên quản lý Công ty:

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp( chi tiết cho từng công trình) Nợ TK 6271- chi phí NV phân xưởng

     

    Có TK 1411 – Tam ứng chi tiết cho từng công trình

     

    1. Kế toán các XN sản xuất kinh doanh phân bổ tiền lương nhân viên văn phòng, nhân viên quản lý vào chi phí sản xuất kinh doanh.

    Nợ TK: 6271 – chi phí NV phân xưởng

     

    Nợ TK 6421 – chi phí NV quản lý xí nghiệp Có TK 3341 – tiền lương

     

    1. Kế toán các xí nghiệp phân bổ chi phí nhân viên sản xuất, nhân viên quản lý vào các công trình:

    Nợ TK 622 – chi phí nhân công trực tiếp ( chi tiết cho từng công trình)

     

    Nợ TK 627 – chi phí nhân viên quản lý công trình ( chi tiết cho từng công trình ) Có TK 141 – tạm ứng (chi tiết cho từng công trình)

     

    1. Tạm ứng trước tiền lương cho nhân viên Công ty, kế toán phụ trách lương nhân viên (Kế tóan Công ty, kế toán xí nghiệp) ghi

    Nợ TK 138 – phải thu khác

     

    Có TK 1411 – Tạm ứng lương công trình ( chi tiết cho từng công trình) Ví dụ: Tại Công ty phát sinh 1 số nghiệp vụ lương sau

    + Ở BP quản lý Công ty.

     

    1a. Trả lương cho nhân viên xưởng cầu giấy: căn cứ vào bảng thanh toán lương xưởng Cầu Giấy T3, giao số tiền 893.246 đồng cho ông Phạm văn Cầu về phát lương , kế toán ghi:

    Nợ TK 3314: 893.346đ

     

    Có TK 1111 : 893.264đ

     

    1b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên xưởng cầu giấy được định khoản như sau:

    Nợ TK 3314: 506736đ

     

    Có TK 3383: 220.320đ

     

    Có TK 334: 33.048đ

     

    Có TK 3388: 253.368đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    (Số tiền 253.368 ở TK3388 là số tiền BHXH 220.320đ, BHYT 33.2048 ông Cần nộp thay cho vợ là nhân viên Công ty đã nghỉ không lương)

    2a- Trả lương cho nhân viên khu đầm bảy: căn cứ vào bảng thanh toán lương cho khu đầm bảy T3, giao số tiền 902.048 cho ông Nguyễn Văn Chấp về phát lương định khoản được ghi như sau:

    Nợ TK 3341: 902.048đ

    Có TK 1111: 902.048đ

    2b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên đầm bảy được định khoản như sau:

    Nợ TK 3341 : 47925đ

    Có TK 3384 : 39960đ

    Có TK 3384 : 7.992đ

    3a. Trả lưong cho nhân viên khối văn phòng Công ty: Căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương khối VPT3, giao cho Ngô Đức Dũng, nhân viên phòng TCKT số tiền

    19.326.906đ pháy lương cho nhân viên, kế toán ghi:

    Nợ TK 3341: 19.326.906đ

    Có TK 1111: 19.326.960đ

    3b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên khối Vp được định khoản như sau:

    Nợ TK 3341: 2.257.728đ

    Có TK 3383: 1.1881.440đ

    Có TK 3384: 376.288đ

    • – Phân bổ tiền lương tháng 3 của khối văn phòng và khu đầm 7 vào chi phí QLND:

    Nợ TK 6421: 22.984.634 đ Có TK 3341: 22.984.634đ

    • – Phân bổ tiền lương tháng 3 của nhần viên quản lý công trình xây dựng: Xưởng cầu giấy.

    Nợ TK 2412: 950.000đ

    Có TK 3341: 950.000đ

    6- Phân bổ lượng nhân viên sản xuất đội nề T 3 vào chi phí công trình Nợ TK 1411 (công trình tram…): : 29.591.500đ

    Có TK 1111: : 29.591.500đ

    • – Trả lương cho nhân viên đội sản xuất nề

    Nợ TK 622 (công trình trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị. Có TK 1411: : 29.591.500đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    8 – BHXH, BHYT, khấu trừ lương nhân viên đội nề cho 3 tháng 1,2,3. Nợ TK 1411: 2.970.000đ

    Có TK 3383: 2.475.000đ

    Có TK 3384: 495.000đ

    + ở bộ phận xínghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư:

    • – Người 6/3/99. Nguyễn Ngọc Hoa phòng TC – HC nhận tiền thanh toán lương tháng 2/99 cho CB CNV xí nghiệp, KT ghi

    Nợ TK 3341 : 29.741.938đ Có TK 1111: 29.741.938đ

    1. Phân bổ tiền lương phải trả: cán bộ công nhiên viên xí nghiệp Nợ TK 6271: 20.590.603đ

    Nợ TK 6421: 7.211.573đ

    Có TK 3311: 27.802.176đ

    • – Trả lương cho nhân viên công trình nhà tập võ vật quản giáo: a, trích: Nợ TK 622 (công trình nhà tập võ…): 4.374.000

    Nợ TK 627 ((công trình nhà tập võ…): 1.986.000

    Có TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 6.360.000 b. Trả lương + khấu trừ bảo hiểm:

    Khấu trừ bảo hiểm

    Nợ TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 604.978 đ Có TK 3383: 504.144đ

    Có TK 3384: 100.829 đ Trả lương:

    Nợ TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 5.755.027đ Có TK 1111(công trình nhà tập võ…): 5.755.027đ

    Nhiệm vụ hoạch toán…..(trang 9)

    NGHIỆP VỤ HẠCH TOÁN BHXH, BHYT, KPCĐ TẠI ĐÂY CÔNG TY

    1. Phản ánh BHYT trợ cấp cho người LĐ tại Công ty, căn cứ vào bảng thanh toán BHXH, kế toán ghi:

    Nợ TK 3383 – BHXH

     

    Có TK 3341 – tiền lương nhân viên đơn vị.

     

    Có TK 1368 phải thu nội bộ khác công ty trả cho nhân viên xí nghiệp trực thuộc.

     

    1. Khi tính trích các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 3341 – tiền lương (trừ thu nhập nhân viên quản lý.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Nợ TK 3388 – phải tra, phải nộp khác (thu của nhân viên nghỉ không lương)

    Nợ TK 6421 – chi phí nhân viên quản lý (trích vào chi phí quản lý).

    Nợ TK 1368 – phí nội bộ khác (báo nợ cho các xí nghiệp.

    Nợ TK 1411 – tạm ứng lương nhân viên các đội sản xuất

    Nợ TK 622,627….

    Có TK 3382. TK 3383, TK 3384.

    1. Phản ánh chi tiêu kinh phí công đoàn tại đơn vị, kế toán ghi. Nợ TK 3382 – KPCĐ

     

    Có TK 111.112 – tiến mặt, tiều gửi ngân hàng.

     

    Có TK 1368 – phải thu nội bộ khác (cấp trả KPCĐ cho các xí nghiệp trực thuộc).

     

    1. KPCĐ Công ty phải nộp lên tổng Công ty theo tỷ lệ quy định vì vậy, khi tổng, Công ty báo thu KPCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 3382 – KPCĐ (trường hợp xí nghiệp xí nghiệp nộp KPCĐ lên công ty, kế toán ghi tương tự).

    Có TK 336 – phải trả nội bộ

    Nộp KPCĐ cho tổng;công ty kế toán ghi {Nợ TK 336; Có TK111} 112

    1. Khi được báo nộp BHXH, BHYT, kế toán xí nghiệp ghi: Nợ TK 3383, TK 3384

    Có TK 111,112.

     

    1. Trường hợp BHXH , KPCĐ vượt chi được cấp bù kế toán ghi: Nợ TK 111,112

    Có TK 3382, 3383

     

    * Ví dụ: Cụ thể trong 3 tháng đầu văn tài bộ phận quản lý Công ty có các

    nghiệp vụ về BHXH, BHYT, KPCĐ, phát sinh như sau:

    • – Vũ Bích Phượng (xí nghiệp) xin lấy trước tiền lương để, số tiền là 1.396.800đ. Kế toán xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư chuyển bảng thanh toán BHXH lên công ty, kế toán công ty định khoản như sau:

    → Nợ TK 3383: 1.396.800đ Có TK 1368: 1.396.800đ

    1. Tính trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho quý I, kế toán ghi:

    a/ + khấu trừ lương nhân viên do kế toán lương Công ty quản lý:

    → Xưởng CG:

    Nợ TK 334: 253.368đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Có TK 3383: 220.320đ

    Có TK 3384: 33.048đ

    • Đầm 7:
    • Văn phòng:

    Nợ TK 334: 2258.728đ

    Có TK 3383: 1881.440đ

    Có TK 3384: 376.288đ

    b/+ Thu trực tiếp của nhân viên nghỉ không lương{20% BHXH; 3% BHYT }

    Trần Thị Hà:

    • Nợ TK 3388: 337.824đ Có TK 3383: 295.760đ
    Có TK 3384: 44.064đ    
    Thu của các nhân viên:    
    Đặng Thị Phúc: BHXH (đ)   BHYT (đ)
    Văn Đức Vinh: 118.656   17.798
    Nguyễn Thị Thanh Hà:  153.792 23.069
    Nguyễn Thị Bình: 220.320 33.048
    được ghi định khoản tương tự:    

    c/+ Trích 15% BHXH, 2% BHYT tính vào 6421 cho nhân viên kế toán lương công ty quản lý:

    • 15% BHXH của khối văn phòng; Công ty + ban QLCT Đầm 7 =5.644.320đ + 119.880 = 5.764.200đ

    (số liệu đã tính ở gần “tính và trích bảo hiểm”). Nợ TK 6421: 5.764.200đ

    Có TK 3383:5.764.200đ

    • 2% BHYT của khối văn phòng; Công ty +ban QLCT Đầm 7 = 752.456đ + 15.984đ = 768.440đ

    (số liệu đã tính ở gần “tính và trích bảo hiểm”).

    • kế toán ghi:

    Nợ TK 6421: 768.440

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Có TK 3384: 768.440

    d, Báo nợ BHXH, BHYT cho các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực

    thuộc (thu 20% và 3%)        
    –> kế toán ghi báo nợ xí nghiệp kinh doanh nhà:  
    Nợ TK 1368: 6.124.550      
    Có TK 3383: 5.325.696      
    Có TK 3384 : 798.854      
    Tương tự: BHXH BHYT  
    Xí nghiệp kinh doanh vật tư 3.010.752 459.320
    Xí nghiệp thuỷ lực   16.388.352 1.832.673

    Báo nợ các xí nghiệp này được ghi tương tự theo số liệu cụ thể tại các xí nghiêp.

    e/+ Trích KPCĐ của toàn công ty kế toán căn cứ vào lương thực trả ở mỗi bộ phận lương trích ra 2% KPCĐ và ghi vào định khoản như sau:

    Nợ TK 1368 (xí nghiệp thuỷ lực): 1.183.033đ

    Nợ TK 1368 (xí nghiệp kinh doanh nhà): 1.173.506đ

    Nợ TK 6421 (vănphòng Công ty): 1.400.905đ

    Có TK 3382: 3757.444đ

    • – Tổng công ty báo thu kinh phí công đoàn 6 tháng cuối năm 1998 số tiền là 5.701.006

    → Nợ TK 3382: 5.701.006đ Có TK 336: 5.701.006đ

    4a/ Công ty cấp trả 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 cho xí nghiệp kinh doanh nhà, kế toán ghi:

    → Nợ TK 3382: 469.402đ Có TK 1368: 469.402đ

    4b/ Công ty cấp trả 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 cho xí nghiệp thuỷ

    lực:

    → Nợ TK 3381: 473.213đ

    4c/ Công ty trích 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 trên tổng quỹ lương thực trả của văn phòng Công ty + BLCT đầm 7 sang quỹ công đoàn văn phòng Công ty:

    → Nợ TK 3382: 560.362đ Có TK 1111: 560.362đ

    Ghi sổ các nghiệp vụ hạch toán tiền lương:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Hàng tháng, kế toán Công ty, kế toán xí nghiệp tập hợp các chứng từ hạch toán thời gian lao động, kết quả lao động ở các bộ phận nhân viên để tính lương xong trước ngày cuối tháng, làm căn cứ để trả lương cho CBCNV vào đầu tháng.

    Các nghiệp vụ hạch toán lương được ghi vào sổ kế toán theo các định khoản (đã nêu ở phần giới thiệu các nghiệp vụ hạch toán tiền lương).

    Công ty áp dụng thống nhất hình thức ghi sổ nhật ký chung vì vậy, các chứng từ hạch toán tiền lương trước tiên là được ghi vào các sổ chi tiết và sổ nhật ký chung của đơn vị. Sổ chi tiết được mở theo dõi tiền lương nhân viên quản lý đơn vị là sổ chi tiết TK 3341 – Tiền lương.

    Còn sổ chi tiết theo dõi tiền lương của nhân viên sản xuất ở Công ty là sổ chi tiết TK 1411 – Tạm ứng lương.

    • cả kế toán Công ty và kế toán các xí nghiệp đều mở sổ chi tiết TK 1411 để theo dõi lương công nhân xây dựng cho các công trình mà mình quản lý để kết chuyển vào chi phí tính giá thành từng công trình xây dựng.

    Từ sổ nhật ký chung, kế toán theo quy tắc là phải mở sổ cái TK 3341, TK

    1411 để theo dõi lương cho 1 quý (3 tháng) nhưng ở Xí nghiệp XD Sông Đà 903, các bộ phận kế toán đều dùng sổ chi tiết TK 3341, TK 1411 mở các tháng làm căn cứ để lập bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính thay cho sổ cái và sổ cái TK 3341, 1411 không được mở.

    Các sổ chi tiết được dùng để hạch toán tiền lương tại Công ty như sau.

    1. SỔ CHI TIẾT TK 3314 VÀ SỔ CHI TIẾT TK 1411: (ĐƯỢC COI NHƯ LÀ SỔ CÁI)

    Sổ chi tiết TK 3341 – Tiền lương và sổ chi tiết TK 1411 – tạm ứng lương được mở để theo dõi tình hình thanh toán lương của Công ty với nhân viên quản lý và nhân viên sản xuất của Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Mẫu biểu như sau.

    Tổng Công ty XD

    Sông Đà

    Sổ chi tiết tài khoản Xí nghiệp XD Sông Đà
    Tháng 3 năm 1999 903
    3341 – Lương  
      Số dư đầu kỳ:

     

    SCT Ngày CT Ngày GS Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 1111 893.264   893.264
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3383 220.320   1.113.584
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3384 33.048   1.146.632
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3388 253.368   1.400.000
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 1111 902.048   2.302.048
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 3383 39960   2.342.008
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 3384 7.922   2.350.000
    cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 1111 19.326.906   21.676.906
    T3 cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 3383 1.881.440   23.558.346
    T3 cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 3384 376.288   23.934.634
    T3 cho NV  
                   
    PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương T3/99 2412   950.000 22.984.634
                   
    PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương T3/99 6421   22.984.634  
          Tổng phát sinh   23.934.634 23.934.634  

    Số dư cuối kỳ:

    Ngày 12/04/1999

    Người lập biểu                                                    Kế toán trưởng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
    Sổ chi tiết TK 1411 – Tạm ứng lương .  

    Xí nghiệp XD và kinh doanh vật tư

    Sổ chi tiết tài khoản                       Xí nghiệp XD Sông

    Tháng 3 năm 1999                                           Đà 903

    1411 – Tạm ứng Lương

    Số dư đầu kỳ:

     

    SCT Ngày CT Ngày GS Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư
                   
    A76 31/3/99 31/3/99 Công trường A76 Nội Bài 6221   5.025.000 5.025.000
                   
    TDT 31/3/99 31/3/99 CT Nhà tập võ vật TT TDTT Quốc gia 6222   7.754.000 12.779.000
    T              
    PTTH 31/3/99 31/3/99 CT trường PTTH Liên Hà 6223   7.500.000 20.279.000
                   
    A76 31/3/99 31/3/99 Công trường A76 Nội Bài 1111 5.025.000   15.254.000
                   
    TDT 31/3/99 31/3/99 CT Nhà tập võ vật TT TDTT Quốc gia 1111 6.500.000   8.754.000
    T              
    PTTH 31/3/99 31/3/99 CT trường PTTH Liên Hà 1111 7.500.000   1.254.000
          Tổng phát sinh   19.025.000 7.512.779  
              Số dư cuối kỳ: 1.254.000
            Ngày 04/04/1999  
        Người lập biểu Kế toán trưởng  

    Dòng số dư đầu kỳ: được lấy số liệu từ sổ chi tiết TK 3341 của tháng trước. Cột số dư được kế toán theo dõi số dư có TK 3341 số dư Nợ được kế toán Công ty ghi âm theo quy định của BTC (ghi số dư Nợ trong ngoặc đơn).

    • tháng 3, TK 3341 của Công ty không có số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ, vì thế trên sổ chi tiết tài khoản 3341 các dòng số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ không có số liệu.
    • – SỔ NHẬT KÝ CHUNG CỦA CÔNG TY.

    Sổ Nhật ký là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của Công ty theo trình tự thời gian.

    Các số liệ ghi trên sổ Nhật ký chung được dùng làm căn cứ để ghi sổ cái của các TK.

    Sổ Nhật ký chung của Công ty có kết cấu và phương pháp ghi sổ giống như quy định của Bộ tài chính.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

        Tổng Công ty XD Sổ Nhật Ký chung Xí nghiệp XD Sông Đà
        Sông Đà   Năm 1999     903  
                       
    STT Số CT Ngày CT Ngày GS   Diễn giải   Tài Phát sinh nợ Phát sinh Có
        khoản
                     
                       
    .                  
    178 122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần-Xưởng CG T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 893.264  
              Tiền Việt Nam   1111   893.264
                   
    179 122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần-Xưởng CG T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 506.736  
              BHXH   3383   220.320
              BHYT   3384   33.048
              Phải trả, phải nộp khác   3388   253.368
                   
    180 123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 902.048  
              Tiền Việt Nam   1111   902.048
                   
    181 123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 47.952  
              BHXH   3383   39.960
              BHYT   3384   7.992
                   
    182 124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương cho NV      
              Lương   3341 19.326.906  
              Tiền Việt Nam   1111   19.326.906
                   
    183 124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương cho NV      
              Lương   3341 2.257.728  
              BHXH   3383   1.881.440
              BHYT   3384   376.288
                     
    184 PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương tháng 3/99        
              XDCB Đ – Đầm 7   2412 950.000  
              Chi phí NV quản lý   6421 22.984.634  
              Lương   3341   23.934.634
                       

    Ghi sổ các nghiệp vụ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ tại kế toán công

    ty:

    Tương tự như trình tự ghi sổ tiền lương, các nghiệp vụ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ sau khi được định khoản kế toán sẽ ghi vào sổ chi tiết các TK 3382, TK3383, TK 3384 và các sổ chi tiết có liên quan khác như sổ chi tiết TK 6421, TK 1368, TK 3388… và sổ nhật ký chung của công ty. Sau đó, căn cứ vào sổ nhật ký chung kế toán ghi sổ cái TK 3382, sổ cái TK 3383 và sổ cái TK 3384.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Sổ Nhật ký chung, các sổ chi tiết TK 3382, TK 3383, TK 3384 được lập

    và ghi chép tương tự như đã trình bày trong phần giới thiệu các sổ hạch toán chi

    tiết, hạch toán tổng hợp tiền lương.

    Mẫu sổ như sau:

      Tổng Công ty Sổ chi tiết tài khoản Xí nghiệp XD Sông
      XD Sông Đà Tháng 3 năm 1999   Đà 903
              3382 – Kinh phí công đoàn      
                  Số dư đầu kỳ: 6.334.426  
                         
    SCT Ngày CT Ngày GS     Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư  
                       
    TCT01 31/3/99 31/3/99   Tổng Công ty báo thu KPCĐ 6 tháng 336 5.701.006   633.420  
      cuối 98      
                       
    126C 31/3/99 31/3/99   Vũ Thị Nga – PTCKT trích KPCĐ quý 1111 560.362   73.058  
      I/99      
                     
    KPCĐ 31/3/99 31/3/99 Trích 2% KPCĐ cho khối VP Công ty 6421   1.400.905 1.473.963  
                       
    XNKDN 31/3/99 31/3/99   Công ty báo nợ XNKD nhà KPCĐ quý 1368   1.1736.506 2.647.469  
      I/99      
                       
    XNKDN 31/3/99 31/3/99   Công ty cấp trả 0,8% KPCĐ cho XNKD 1368 469.402   2.178.1067  
      nhà      
                     
    XNTL 31/3/99 31/3/99 Công ty báo nợ XNTL KPCĐ quý I/99 1368   1.183.033 3.361.100  
                     
    XNTL 31/3/99 31/3/99 Công ty cấp trả 0,8% KPCĐ cho XNTL 1368 473.213   2.887.887  
          Tổng phát sinh   7.203.983 3.757.444    
                  Số dư cuối kỳ: 2.887.887  
                Ngày 14/04/1999    
        Người lập biểu Kế toán trưởng    

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG III

    NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM TẠI XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    1. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903 là Công ty con của Tổng Công ty và các hoạt động đặc biệt là công tác kế toán của Công ty được Tổng Công ty giám sát một cách chặt chẽ. Hệ thống máy vi tính phòng kế toán của Công ty được nối mạng với hệ thống máy vi tính của Tổng Công ty, đồng thời các mẫu sổ sách kế toán, các chương trình, công thức tính toán nói chung và tính lương nói riêng cũng do một đội ngũ cán bộ chuyên trách trên Tổng Công ty xuống đơn vị cài đặt vào máy, hướng dẫn cách làm. Có thể nói, đó là một thuận lợi lớn cho công tác kế toán của Công ty vì các mẫu sổ sách, trình tự ghi sổ, các định khoản. Công tác kế toán của Công ty đã được Tổng Công ty kiểm tra phê duyệt và hoàn toàn phù hợp với chế độ kế toán hiện hành.

    Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên làm kế toán của Công ty là những người có năng lực, trình độ chuyên môn, có trách nhiệm trong công việc nên việc vận dụng các hướng dẫn của Tổng Công ty trong công tác kế toán được thực hiện rất tốt.

    Trong công tác hạch toán Tiền lương và Bảo hiểm (các khoản trích theo lương), Công ty đã thực hiện nghiêm túc với quy định của chế độ kế toán về hệ thống chứng từ, sổ sách về Tiền lương. Việc ghi sổ được kế toán tiến hành thực hiện theo đúng trình tự quy định. Việc tổ chức công tác kế toán tiền lương có thể nói là đã thống nhất với kế toán tiền lương ở các đơn vị khác trong Tổng Công ty.

    Hình thức ghi sổ nhật ký chung áp dụng ở Công ty rất phù hợp với đặc điểm công tác kế toán của đơn vị và đặc biệt rất thuận tiện trong việc kế toán Tiền lương và Bảo hiểm (Có ít nghiệp vụ phát sinh, các nghiệp vụ hạch toán lương đơn giản, dễ hiểu, dễ phân bố).

    Hình thức trả lương của Công ty rất đáng chú ý. Nó thể hiện khả năng phân tích, đánh giá, ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn kế toán Tiền lương của đơn vị một cách khoa học, hợp lý. Công ty áp dụng hình thức trả lương thời gian theo

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    sản phẩm (như đã trình bày) để tính lương cho nhân viên quản lý là rất tốt.(Họ vừa là nhân viên làm công tác hành chính, vừa là nhân viên của một Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp là chủ yếu). Trả lương theo hình thức kết hợp giữa trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm phản ánh chính sách hiệu quả (kết quả) công việc, tính đúng giá trị sức lao động của các nhân viên ở các bộ phận văn phòng Công ty. Tương tự cách trả lương khoán cho các nhân viên các đội sản xuất và nhân viên quản lý công trình ở các xưởng, các công trình (làm việc xa Công ty, không tiện quản lý theo dõi thời gian và hiệu quả lao động), cũng rất phù hợp, khuyến khích người lao động làm việc có trách nhiệm đáp ứng lòng tin của cán bộ lãnh đạo.

    Kế toán tính Tiền lương cho người lao động đầy đủ, chính xác đảm bảo lợi ích cho nhân viên của Công ty, giúp họ yên tâm làm việc, gắn bó với công việc.

    Về hạch toán BHXH, BHYT, KBCĐ cũng được Công ty quan tâm một cách thích đáng, cụ thể là

    Công ty luôn hoàn thành nộp các quỹ này đủ, đúng thời hạn.Điều này thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Công ty đối với các quyền lợi của người lao động.

    Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực trong công tác kế toán nói chung và công tác tổ chức hạch toán Tiền lương nói riêng, Công ty còn nhiều tồn tại cần giải quyết.

    1. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM Ở XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    Như đã nêu trên, phần mềm kế toán tại Công ty được Tổng Công ty chuẩn hoá và cài đặt vào chương trình thực hiện kế toán của Công ty. Đó là một thuận lợi lớn cho Công ty nhưng mặt khác nó cũng tác động xấu đến việc tổ chức hạch toán của Công ty.

    Đó là việc làm kế toán theo chương trình của Tổng Công ty khiến cho bộ máy kế toán của Công ty trở lên thụ động, kém linh hoạt trong việc xử lý các công việc bất thường hay các vấn đề mà Tổng Công ty bỏ qua trong phần hướng dẫn thực hiện công tác kế toán của Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Sau khi nghiên cứu công tác tổ chức hạch toán Tiền lương và Bảo hiểm tại Công ty tôi xin nêu ra một số khuyết điểm và cách sửa đổi mà Công ty nên khắc phục như sau:

    Thứ nhất:

    Đầu tiên, trong chứng từ ban đầu hạch toán sử dụng thời gian là bảng chấm công của Công ty, việc ghi chép không được rõ ràng, thống nhất.

    • Việc theo dõi thời gian làm việc của người lao động để chấm không có mặt “O”, hay nghỉ có phép “P” không hoàn theo giấy nghỉ phép theo quy định. Chỉ cần người nghỉ có báo miệng trước cho người chấm công thì coi như ngày nghỉ đó của họ là có phép và được tính lương theo 100% LCB.Thêm vào đó, Công ty cũng không có quy định số ngày nghỉ phép tối đa được hưởng lương. Đây là một sơ hở rất lớn của lãnh đạo Công ty, và kế toán lương vốn rất biết điều này nhưng không hề có góp ý với phòng tổ chức hành chính – nơi theo dõi chấm công, là một theo sai sót không đáng có và cũng không nên tiếp tục để tình trạng này tồn tại, tái diễn. Nó sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến kỷ luật của Công ty.
    • Thứ hai: 3 cột cuối của trong mục quy đổi trên bảng Chấm công của Công ty, do không có hướng dẫn cách ghi cụ thể của kế toán cho người chấm công nên các cột này thường không dược ghi, có tháng nhân viên chấm công có ghi thì lại không ghi đúng nơi quy định nào cả.

    Việc này tuy kế toán Tiền lương ở Công ty cho là chuyện nhỏ nhưng thực chất nó gây không ít ảnh hưởng xấu đến quá trình tính lương của kế toán lương. Nếu nhìn vào bảng chấm công không có ghi gì ở phần Quy đổi này, kế toán sẽ phải mất thời gian quy đổi bảng chấm công vào các cột (làm thay cho phần việc của người chấm công) để làm căn cứ tính lương CBCNV. Còn trường hợp người chấm công có ghi chép ở các cột “quy đổi” thì cũng ghi tuỳ tiện, kế toán sẽ không chắc được là người chấm công ghi số liệu gì ở đó (nội dung của số liệu được tính), có thể là ngày công thực tế làm việc của nhân viên trong tháng hoặc là tổng số ngày công thực tế và số ngày được hưởng phép của nhân viên…

    Để chấm dứt tình trạng này, làm gọn nhẹ hơn cho công tác hạch toán lương, tôi xin đưa ra đây một giải pháp cụ thể như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Kế toán lương của Công ty thay vì sử dụng mẫu biểu Bảng chấm công như hiện nay sẽ sử dụng mẫu biểu Bảng chấm mới cho toàn Công ty.

    Trong bảng chấm công mới này, phần Quy đổi gồm 3 cột với nội dung giống như cũ nhưng tên cột được ghi rõ hơn để người chấm công chỉ cần đọc tên cột là có thể hiểu được cách ghi ở mỗi cột. Tuy nhiên bên cạnh đó, kế toán lương Công ty cũng cần ra quy định bắt buộc, các bảng chấm công trước khi gửi lên phòng kế toán phải đã được tính toán, ghi chép số liệu vào các cột “ Qui đổi” theo đúng qui định, nếu cóp sai sót trong tính toán phần này, người chấm công và người có trách nhiệm kiểm tra bảng chấm công phải hoàn chỉnh trách nhiệm. Có như vậy, việc thực hiện nghiêm chỉnh các qui định trong công tác kế toán mới được nhân viên công ty tiếp thu và chấp hành.

    Bảng chấm công T3 bộ phận văn phòng Công ty nếu áp dụng giải pháp mới sẽ được lập như sau:

    Thứ ba: Hiện tại, ở các xí nghiệp sản xuất các đội sản xuất đang sử dụng bảng chấm công để theo dõi thời gian làm thêm giờ của người lao động (là bảng chấm công thứ hai được lập song song với bảng chấm công theo dõi thời gian làm việc chính) với mẫu số bảng chấm công. Làm như vậy là rất không khoa học bởi vì thời gian làm thêm thực tế thường là tính theo giờ. Thông thường, các xí nghiệp, các đội xây dựng tính miệng thì ghi vào một công thứ tự từ cột số một đến cột số 31. Hết tháng bảng chấm công làm thêm giờ này được chuyển lên kế toán lương của xí nghiệp để tính lương cho lao động trong đội)

    Việc ghi chép thời gian làm thêm của người lao động như hiện giờ không theo dõi được chính xác số giờ công lao động thêm của nhân viên do nhẩm giờ làm theo trí nhớ rồi gộp lại ghi công Ædễ bị thiếu hoặc thừa giờ công) gây nên sự thiếu công bằng trong việc tính lương.

    Theo tôi, có thể giải quyết vấn đề này một cách đơn giản là kế toán công ty xây dựng nên có mẫu bảng chấm công làm thêm hiện tại và áp dụng thống nhất cho toàn công ty( ở các bộ phận tính lưong). Mẫu bảng chấm công giờ công làm thêm mới có như sau:

    (Lấy ví dụ áp dụng chấm công làm thêm cho bộ phận quản lý xí nghiệp XD&KD vật tư tháng 3)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Thứ bốn: Để đảm bảo tính thống nhất của kế toán trong toàn Công ty, kế toán lương cần hướng dẫn các phòng ban ở bộ phận quản lý đơn vị( Công ty, xí nghiệp …) phải lập.

    Danh sách xét thi đua( làm căn cứ để xác định HSĐC) theo một mẫu thống nhất duy nhất. Không để tình trạng như hiện tại kéo dài: Các danh sách được lập cùng một nội dung là xếp loại HSĐC cho nhân viên trong phòng ban nhưng

    • mỗi phòng ban lại lập theo 1 mẫu riêng, mỗi danh sách có một tiêu đề khác nhau như: danh sách xếp loại, danh sách xếp thi đua, bảng xếp loại …

    Có thể thống nhất sử dụng mẫu bảng danh sách xet thi đua sau đây cho các bộ phận quản lý ở xí nghiệp, Công ty sau đây:

    XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    Phòng TC – KT

    Danh sách xét thi đua

    Tháng 3 năm 1999

    STT Họ và tên   Xếp loại( HXĐC)   Ghi chú
               
    2.3   2   1.8  
             
                   
    1. Ngô Doãn x          
                   
    2. Phan đình Cường x          
                   
    3. Tăn bích Tâm x          
                   
    4. Đặng thị Thu     x      
                   
    5. Vũ thị Nga x          
                   
    6. Lê nguyên Bảo     x      
                   
    7. Phạm thị đà Giang         x  
                   
    8. Ngô đức Dũng         x  
                   

    Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 1999

    Trưỏng phòng

    ( ký tên)

    Thứ năm: Ở ngay phòng kế toán công ty, lương nhân viên của 2 khu vực Đầm Bảy và Cầu Giấy đều là lương khoán nhưng kế toán lương lại lập 2 bảng thanh toán lương theo 2 mẫu có kết cấu khác nhau (cùng một nội dung).

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Rồi thì sau đó, trên 2 bảng thanh toán lương này kế toán ghi tuỳ tiện các cột không cần thiết được ghi một cách miễn cưỡng, lúc có ghi, lúc không ghi bỏ trống.

    Việc này có thể hiện công tác hạch toán chưa hoàn thiện. Cho dù Tổng công ty khi hướng dẫn đã bỏ sót không đưa ra mẫu bảng thanh toán lương cho nhân viên lương khoán nhưng kế toán Công ty phải ý thức được sự thiếu hoàn thiện này chủ động lập, xây dựng 1 mẫu thống nhất áp dụng cho từ Công ty đến các đơn vị sản xuất, từng bước nâng cao chất lượng sổ sách kế toán nói chung, sổ sách kế toán lương nói riêng của Công ty.

    Ví dụ: hai bảng thanh toán lương tháng 3 cho nhân viên lương khoán Đầm 7 và xưởng Cầu Giấy đã được kế toán lập như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp     Nguyễn Thị Nga          
        Đầm 7     BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG Xí nghiệp XD Sông Đà 903    
                  Tháng 3 năm 1999          
                                 
      STT Họ và tên   Ngày công Bậc lương Thành tiền Tăng công tăng, tăng giờ Tổng cộng Các khoản phải trừ Số còn được Ký nhận  
                 
                  Công Tiền   BHXH (5%) BHYT (1%) lĩnh    
                         
                                 
      1 Nguyễn Văn   31 266.400 500.000     500.000 39.960 7.992 452.048    
        Chấp                        
                                 
      2 Vũ Mạnh Khiêm   31 465.120 450.000     450.000     450.000    
                                 
        Cộng             950.000 39.960 7.920 902.048    
                                 

    Chín trăm linh hai ngàn không trăm bốn tám đồng./.

                Hà Nội , ngày 31/3/99        
      Lập biểu     Kế toán trưởng     Giám đốc  
    Xưởng Cầu Giấy BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG Công ty xây dựng Sông Đà I  
          THÁNG 3/99          
                             
    TT Họ và tên Bậc lương Thành   Phụ   Cộng Các khoản phải trừ   Số còn được Ký nhận
    BHXH (20%) BHYT (3%)  
          tiền   cấp       lĩnh  
    1 Phạm Văn Cần 367.200 600.000       600.000 220.320 33.048   346.632  
    2 Phương Đình Nga   400.000       400.000       400.000  
    3 Đỗ Duy Thanh   400.000       400.000       400.000  
      Tổng cộng           1.400.000 440.640 66.096   1.146.632  

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Công ty có thể nghiên cứu mẫu Bảng thanh toán lương sau đây để áp dụng cho bộ phận nhân viên hưởng lương khoán (thống nhất toàn công ty).

      Đầm 7:     BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG KHOÁN CTY XD SĐ I    
              Tháng 3/99                
                                 
        Hệ Mức Lương tháng Phụ   Các khoản phải trừ   Số còn    
        cấp                
    TT Họ và tên lương Cộng BHXH BHYT Ký nhận  
    số lương khoán (nếu được lĩnh
        cơ bản                
            có)   Mức tiền Tiền Mức tiền   Tiền      
    1 Nguyễn   Văn 1,85 266.400 500.000   5.000.000 5% 39.960 1%   7.992 452.048    
      Chấp                          
    2 Vũ Mạnh Khiêm 3,23 465.120 450.000   450.000           450.000    
      Tổng cộng     950.000   950.000   39.960     7.992 902.048    

    (Chín trăm linh hai ngàn không trăm bốn tám đồng ./…)

        Người lập biểu     Kế toán trưởng     Giám đốc  
          (ký tên)     (ký tên)       (ký tên)  
      Xưởng Cầu Giấy       BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG KHOÁN CTY XD SĐ I  
                                   
        Hệ   Mức   Lương tháng Phụ   Các khoản phải trừ   Số còn  
            cấp              
    TT Họ và tên   lương   Cộng BHXH BHYT Ký nhận
    số lương   khoán (nếu được lĩnh
        cơ bản                
            Mức tiền Tiền Mức tiền   Tiền  
                có)        
    1 Phạm Văn Cầu 2,55 367.200   600.000   600.000 20% 220.320 3%   33.048 346.632  
    2 Phương   Đình         400.000   400.000           400.000  
      Nga                            
    3 Đỗ Duy Thanh         400.000   400.000           400.000  
      Tổng cộng         1.400.000   1.400.000   220.320     33.048 1.146.632  

    (Một triệu một trăm bốn sáu ngàn sáu trăm ba mươi hai ./…)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Người lập biểu                                                        Kế toán trưởng                                                                                                Giám đốc

    (ký tên)                                                                             (ký tên)                                                                                                 (ký tên)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Thứ sáu: bảng thanh toán lương ở các đội, tuy chia lương độc lập nhưng các bảng thanh toán lương ở các dội cũng được gửi lên phòng kế toán Công ty lưu cùng với hợp đồng giao khoán, biên bản nghiệm thu kĩ thuật … cho từng công trình. Vì vậy, kế toán lương không theo mẫu cụ thể nào như hiện nay. Ví dụ: bảng thanh toán lương

    Kế toán Công ty có thể nghiên cứu mẫu bảng thanh toán lương dưới đây để xay dựng một mẫu bảng thanh toán lưong thống nhất hướng dẫn một mẫu bảng thanh toán lương thống nhất hướng dẫn cho các đội sử dụng:

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Công trình: trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị

    Tổ: nề

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG

    TT Họ và Tên Ngày công Đơn giá/1công Thành tiền  
    (đồng) nhận  
             
                   
    1 Nguyễn Văn Lợi 30 20.000   600.000    
                   
    2 Huỳnh Đa Phước 30 20.000   600.000    
                   
    3 ……………………..            
                   
    ………………………            
                   
      Cộng       12.000.000    
                   
            Hà Nội, ngày 29/3/99  
      Đội trưởng     Người lập    

    Thứ bẩy: tại Công ty, số người không tham gia nộp Bảo hiểm khá nhiều và lẫn trong các nhân viên nộp Bảo hiểm trên bảng thanh toán lương. Vì vậy nên chăng kế toán Công ty tiến hành tách hai loại nhân viên:

    • Nộp Bảo hiểm
    • Không nộp Bảo hiểm

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Để tính lương riêng và khấu trừ hay không khấu trừ Bảo hiểm vào lương một cách đồng loạt. Làm như vậy, dòng tổng cộng cuối mỗi bảng thanh toán lương sẽ thể hiện được rõ được:

    Tổng số tiền trích quỹ Bảo hiểm = % Bảo hiểm phải khấu trừ x tổng số quỹ lương cơ bản của số nhân viên có tham gia nộp Bảo hiểm .

    Thứ tám – Trong điều lệ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế thì mức trích quỹ BHXH, BHYT phải trích theo “tiền lương cấp bậc, chức vụ, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) ghi trong hợp đồng lao động và các khoản phụ cấp khu vực, đắt đỏ, chứcvụ, thâm niên”.

    Như vậy, nếu theo đúng quy định thì tại Công ty BHXH, BHYT phải được tính theo số tiền sau:

    Tổng tiền làm căn cứ để trích quỹ BHXH, BHYT = Mức tiền tháng cơ bản + Phụ cấp lưu động + Phụ cấp trách nhiệm (nếu có)

    Hiện tại Công ty mới chỉ trích Bảo hiểm trên mức lương cơ bản của nhân viên, như vậy là mức BHXH, BHYT đơn vị trích tính vào chi phí sản xuất kinh doanh vẫn còn ít hơn so với quy định. Đơn vị chưa làm tròn trách nhiệm đối với quyền lợi của cán bộ công nhân viên trong Công ty. Đây là một vấn đề rất quan trọng mà Công ty cần phải lưu tâm để điều chỉnh kịp thời, vào chuyện này, gây tâm lý không tốt cho người lao động đối với Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    KẾT LUẬN

    Nền kinh tế hàng hoá , tiền tệ buộc các doanh nghiệp phải đối mặt với thị trường. Để tồn tại, phát triển và kinh doanh có hiệu quả thì bên cạnh các hoạt động đa dạng và phong phú về sản xuất kinh doanh, tất yếu các doanh nghiệp phải có một cơ chế dự báo, kiểm tra, giám đốc một cách toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trong quá thực tập tại Xí nghiệp XD Sông Đà 903, mặc dù chỉ đi sâu vào vấn đề lao động tiền lương của công ty nhưng qua đó có thể thấy được vai trò, tác dụng của việc tổ chức hoạch toán kinh doanh trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của công ty.

    Do điều kiện thời gian tiếp xúc với công việc thực tế không nhiều, kiến thức học ở trường về lao động tiền lương chưa sâu, kinh nghiệm viết đề tài còn ít ỏi nên khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực viết chuyên đề. Rất mong được thầy cô hướng dẫn chỉ bảo thêm để em có thể nâng cao bài viết trong luận văn sắp tới.

    Qua bài viết này, em xin chân thành cảm ơn thầy Đỗ Đức Kiên đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình viết chuyên đề.

    Em cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo công ty Xây Dựng Sông Đà, bộ phận kế toán công ty, các xí nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp số liệu cho bài viết này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Dự toán xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp

    Dự toán xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp

    Dự toán xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/D%E1%BB%B1-to%C3%A1n-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-c%C3%B4ng-tr%C3%ACnh-d%C3%A2n-d%E1%BB%A5ng-v%C3%A0-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Dự toán xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp

    CHƯƠ NG I:

    KHÁI NIỆM DỰ TOÁN XÂY DỰNG CƠ BẢN

    I.                   TỔNG DỰ TOÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH:

     

    1.                 Khái niệm tổng dự toán:

    Tổng dự toán là tài liệ u xác định mức chi phí c ần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật ho ặc thiết kế kỹ thuật – thi công. Tổng dự toán công trình bao gồm: giá trị dự toán xây lắp, giá trị dự toán mua sắm trang thiết bị, chi phí khác và các chi phí dự phòng.

    2. Nội dung của tổng dự toán:

     

    Tổng dự toán xây dự ng công trình tích chi tiết, hướng dẫn áp dụng sẽ được

    được tổng hợp đầy đủ các giá trị công tác xây lắp, thiết bị, chi phí khác và các chi phí d ự phòng. Phân giới thiệu cụ thể ở Chương 4 (lập dự toán công trình) ở đây xin nêu khái quát những nội dung cơ bản.

    2.1. Giá trị công tác xây dựng, lắp đặt cấu kiện, lắp đặt thiết bị công nghệ (chi phí xây lắp)

    Bao gồm:

    • Chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ;
    • Chi phí san lắp mặt bằng xây dựng;
    • Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công (đường thi công, điện nước, nhà xưởng…) nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành (nếu có);
    • Chi phí xây dựng các hạng mục công trình;
    • Chi phí lắp đặt thiết bị (đối với thiết bị cần lắp đặt);
    • Chi phí lắp đặt thiết bị phi tiêu chuẩn (nếu có);
    • Chi phí di chuyển lớn thiết bị thi công và lực lượng xây dựng (trong trường hợp chỉ định thầu nếu có).

    Giá trị dự toán xây lắp công trình bao gồm 3 bộ phận cơ bản là:

    • Giá thành dự toán;
    • Thu nhập chịu thuế tính trước;
    • Thuế giá trị gia tăng đầu ra.

    Trong giá thành dự toán thì chi phí trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó là khoản mục chi phí chung.

    1. a) Chi phí trực tiếp:

    Chi phí trực tiếp là chi phí có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quá trình thi công xây lắp công trình.

    Chi phí trực tiếp bao gồm:

    • Chi phí về vật liệu;
    • Chi phí về nhân công;
    • Chi phí về sử dụng máy thi công.
    1. Chi phí chung:

    Chi phí chung là mục chi phí không liên quan trực tiếp đến quá trình thi công xây lắp công trình nhưng lại cần thiết để phục vụ cho công tác thi công, cho việc tổ chức bộ máy quản lý và chỉ đạo sản xuất xây dựng của doanh nghiệp xây dựng.

    Nộ i dung củ a chi phí chung gồm nhiều khoản mục chi phí có liên quan đến toàn bộ sản phẩm xây dựng mà không liên quan đến việc thực hiện xây lắp từng kết cấu riêng biệt.

    Chi phí chung bao gồm một số nhóm chi phí chủ yếu sau:

    • Chi phí quản lý hành chính;
    • Chi phí phục vụ công nhân;
    • Chi phí phục vụ thi công.
    • Chi phí chung khác: là những khoản chi phí có tính chất chung cho toàn doanh nghiệp như: bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, học tập, hội họp, chi phí bảo vệ công trường, phòng chống bão lụt, hoả hoạn, chi phí trạm y tế, chi phí sơ kết, tổng kết, thuê vốn sản xuất…

    Do những đặc điểm phức tạp chi phí chung khó có thể tính trực ti ếp vào nh ững loại công tác riêng rẽ khi xác định dự toán công trình mà được tính bằng tỷ lệ (%) so với chi phí nhân công trong dự toán xây lắp theo từng loại công trình.

    1. Thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng đầu ra:

     

    + Thu nhập chịu thuế tính trước:

     

    • Trong dự toán xây lắp mức thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ (%) so với chi phí trực tiếp và chi phí chung theo từng loại công trình.

    + Thuế giá trị gia tăng đầu ra:

    • Trong dự toán xây lắp thuế suất thuế giá trị gia tăng đầu ra được tính theo quy định đối với công tác xây dựng và lắp đặt.

    2.2. Giá trị dự toán máy móc thiết bị công nghệ:

    Bao gồm:

    • Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cả thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất gia công (nếu có) các trang thiết bị phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình (bao gồm thiết bị lắp đặt và không cần lắp đặt)
    • Chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu container (nếu có) tại cảng Việt Nam (đối với thiết bị nhập khẩu), chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi hiện trường.
    • Thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình.

    2.3. Chi phí khác:

    Do đặc điểm riêng biệt của khoản chi phí này nên nội dung của từng loại chi phí được phân chia theo các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng.

    1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:

     

    • Chi phí cho công tác đầu tư khảo sát, thu thập số liệu…..phục vụ cho công tác lập báo cáo tiền khả thi và khả thi đối với dự án nhóm A hoặc nhóm B (nếu cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư yêu cầu) báo cáo nghiên cứu khả thi nói chung và các dự án chỉ thực hiện lập báo cáo

    đầu tư.

    • Chi phí cho hoạt động tư vấn đầu tư: Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi, thẩm tra xét duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi,

    khả thi.

    • Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ có liên quan đến dự án (đối với các dự án nhóm A và dự án có yêu cầu đặc biệt).
    • Chi phí cho công tác tuyên truyền, quảng cáo dự án.
    1. Giai đoạn thực hiện đầu tư:

     

    • Chi phí khởi công công trình (nếu có)
    • Chi phí đền bù đất đai, hoa màu, nhà cửa, vật kiến trúc, mồ mả….chi phí cho việc tổ chức thực hiện quá trình đền bù, di chuyển dân cư, các công trình trên mặt bằng xây dựng, chi phí cho công tác tái định cư và phục hồi…
    • Tiền thuê đất hoặc tiền chuyển quyền sử dụng đất.
    • Chi phí phá dỡ vật kiến trúc cũ và thu dọn mặt bằng xây dựng.
    • Chi phí khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng.
    • Chi phí tư vấn thẩm định thiết kế, dự toán công trình.
    • Chi phí lập hồ sơ mời thầu, chi phí cho việc phân tích đánh giá kết quả đấu thầu xây lắp, mua sắm vật tư thiết bị, chi phí giám sát thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị…..
    • Chi phí ban quản lý dự án.
    • Một số chi phí khác như: bảo vệ an toàn, bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng, kiểm định vật liệu đưa vào công trình, chi phí lập, thẩm tra đơn giá dự toán, chi phí quản lý, chi phí xây dựng công trình, chi phí bảo hiểm công trình, lệ phí địa chính…
    1. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng:

     

    • Chi phí thực hiện quy đổi vốn, thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình.
    • Chi phí tháo dỡ công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công, nhà tạm….(trừ giá trị thu hồi).
    • Chi phí thu dọn vệ sinh công trình, tổ chức nghiệm thu, khánh thành và bàn giao công trình.
    • Chi phí đào tạo cán bộ quản lý sản xuất và công nhân kỹ thuật (nếu có).
    • Chi phí nguyên liệu, năng lượng, nhân lực, thiết bị cho quá trình chạy thử không tải và có tải (trừ giá trị sản phẩm thu hồi được)….

    2.4. Chi phí dự phòng:

    Chi phí dự phòng là khoản chi phí để dự trù cho các khối lượng phát sinh do thay đổi thiết kế hợp lý theo yêu cầu của chủ đầu tư được cấp có thẩm quyền chấp nhận, khối lượng phát sinh do các yếu tố không lường trước được, dự phòng do yếu tố trượt giá trong quá trình thực hiện dự án.

    II. DỰ TOÁN XÂY LẮP HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH:

     

    1.     Khái niệm:

    Dự toán xây lắp hạng mục công trình là chi phí cần thi ết để hoàn thành khối lượng công tác xây lắp của hạng mục công trình đó. Nó được tính toán từ bản vẽ thiết kế thi công hoặc thiết kế mỹ thuật – thi công.

    2. Nội dung dự toán xây lắp:

    2.1. Nội dung của nó bao gồm:

    1. a) Giá trị dự toán xây dựng:

    Là toàn b ộ chi phí cho công tác xây dựng và lắp ráp các bộ phận kết cấu kiến trúc để tạo nên điều kiện vật chất cần thiết cho quá trình sản xuất hoặc sử dụng công trình đó.

    • Chi phí xây dựng phần ngầm, đường dẫn nước, dẫn hơi.
    • Chi phí cho phần xây dựng các kết cấu của công trình.
    • Chi phí cho việc xây dựng nền móng, bệ đỡ máy thiết bị trong dây chuyền công nghệ. b) Giá trị dự toán lắp đặt thiết bị:

    Là dự toán về những chi phí cho công tác lắp ráp thiết bị máy móc vào vị trí thiết kế trong dây chuyền sản xuất (kể cả các công việc chuẩn bị đưa vào hoạt động chạy thử).

    2.2. Các bộ phận chi phí trong giá trị dự toán xây lắp:

    Khái quát giá trị dự toán xây lắp có thể chia thành 2 phần lớn:

    Giá trị dự toán xây lắp trước thuế.

    Giá trị dự toán xây lắp sau thuế.

    Trong đó mỗi phần lại bao gồm những chi phí cụ thể như sau:

    1. Giá trị dự toán xây lắp trước thuế gồm:

     

    • Chi phí vật liệu;
    • Chi phí nhân công;
    • Chi phí máy thi công;
    • Chi phí chung;
    • Thu nhập chịu thuế tính trước.
    1. Giá trị dự toán xây lắp sau thuế gồm:

     

    • Giá trị dự toán trước thuế và khoản thuế giá trị gia tăng đầu ra.

    3.Các bước xác định giá trị dự toán xây lắp:

    + Dựa vào bản vẽ thi công hoặc thiết kế kỹ thuật – thi công để tính khối lượng các công tác xây lắp của công trình (tính tiên lượng dự

    toán).

    • Sử dụng bảng đơn giá chi tiết của địa phương (hoặc đơn giá công trình) để tính được các thành phần chi phí trong chi phí trực tiếp.
    • Áp dụng các tỷ lệ định mức: chi phí chung, các hệ số điều chỉnh.. để tính giá trị dự toán xây lắp.
    • Ngoài ra trong hồ sơ dự toán còn cần phải xác định được nhu cầu về vật liệu, nhân công, máy thi công công trình bằng cách:
    • Dựa vào khối lượng công tác xây lắp và định mức dự toán chi tiết để xác định ra nhu cầu này.

    * Nội dung của các bước lập giá trị dự toán xây lắp được biểu diễn bằng sơ đồ ngắn gọn sau đây:

    Dự toán nhu cầu

    VL,NC,M

     

    Bản vẽ thiết kế

    TC TKKT

    Khối lượng

    công tác xây lắp

     

      TC , TKKT-       công tác xây lắp      
           
      TC             Giá trị dự toán
                    xây lắp

    III. VAI TRÒ TÁC DỤNG CỦA GIÁ TRỊ DỰ TOÁN:

     

    • Xác định chính thức vốn đầu tư xây dựng công trình, từ đó xây dựng được kế hoạch cung cấp, sử dụng và quản lý vốn.
    • Tính toán hiệu quả kinh tế đầu tư, để có cơ sở so sánh lựa chọn giải pháp thiết kế, phương án tổ chức thi công.
    • Làm cơ sở để xác định giá gói thầu (trong trường hợp đấu thầu) giá hợp đồng, ký kết hợp đồng kinh tế giao nhận thầu xây lắp (trong trường hợp chỉ định thầu).
    • Làm cơ sở để nhà thầu lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch lao động tiền lương, năng lực xây dựng.
    • Làm cơ sở để đơn vị xây lắp đánh giá kết quả hoạt động kinh tế của đơn vị mình.

    CHƯƠ NG II:

    TIÊN LƯỢNG

    I.                   MỘT SỐ ĐIỂM CHUNG:

     

    1.                 Khái niệm:

    Trước khi xây dựng công trình hoặc một bộ phận của công trình, ta cần phải tính toán được khối lượng của từng công vi ệc c ụ th ể. Tính trước kh ối lượng cụ thể c ủa từng công việc được gọi là tính tiên lượng. Vì vậy phải dựa vào các bản vẽ trong hồ sơ thiết kế và các chỉ dẫn kỹ thuật do thiết kế quy định để tính ra tiên lượng công tác xây lắp của công trình.

    – Bên thiết kế phải tính đầy đủ, chính xác các khối lượng công tác để lập nên bảng tiên lượng trong hồ sơ dự toán thiết kế.

    Bảng tiên l ượng là căn cứ chủ yếu và hết sức quan trọng khi xác định giá trị dự toán xây lắp và dự tính nhu cầu sử dụng vật tư, nhân lực, xe máy thiết bị thi công cho công trình.

    • Bên thi công phải kiểm tra kỹ hồ sơ dự toán, bắt đầu là kiểm tra bảng tiên lượng (và sai sót thiếu chính xác thường ở khâu này) trước khi ký hợp đồng nhận thầu.

    Trong quá trình thi công bên thi công th ường xuyên phải tính tiên lượng (từng phần, toàn công trình) theo trình tự thi công để có khối lượng lập kế hoạch tổ chức thi công, giao khoán khối lượng và thanh toán với công nhân, thanh toán khối lượng hoàn thành với bên A.

    Tiên lượng là công tác trung tâm của dự toán, nó là khâu khó khăn, phức tạp tốn nhiều công sức, thời gian và dễ sai sót nhất trong công tác dự toán. Nếu tiên lượng công tác xây lắp xác định không chính xác sẽ dẫn đến sai lệch giá trị dự toán xây lắp của công trình và dự toán sai nhu cầu vật liệu nhân công xe máy thi công phục vụ thi công xây lắp công trình.

    2.                 Một số điều cần chú ý khi tính tiên lượng:

     

    2.1. Đơn vị tính:

    Mỗi loại công tác khi tính ra khối lượng đều phải tính theo một đơn vị quy định thống nhất như: m3, m2, kg, tấn, m, cái…..vì định mức về

    các hao phí và đơn giá chi phí cho mỗi loại công tác xây lắp đều được xây dựng theo khối lượng đã quy định thống nhất đó.

    Ví dụ: Định mức hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công cho công tác xây tường được xác định cho đơn vị 1 m3 tường xây các loại, vì vậy tính tiên lượng cho công tác ta phải tính theo đơn vị là m3.

    Đối với công tác trát: Định mức xác định các hao phí cho 1 m2 mặt trát, và đơn giá xác định chi phí cho 1 m2 mặt trát, vì vậy trong tiên lượng công tác trát phải tính theo m2.

    Như ng đối với công tác trát gờ, phào chỉ thì đơn giá, định mức xác định cho 1 mét dài gờ, phào chỉ. Vì vậy trong tiên lượng ta lại phải xác định theo mét dài gờ, phào.

    Trong trường hợp đối với công tác sản xuất lắp dựng cốt thép thì đơn giá, định mức lại xác định cho một tấn thép vì vậy trong tiên lượng ta lại phải xác định theo đơn vị tấn thép.

    2.2. Quy cách:

    Quy cách của mỗi loại công tác là bao gồm những yếu tố có ảnh hưởng tới sự hao phí về vật tư, nhân công máy thi công và ảnh hưởng tới giá cả của từng loại công tác đó như:

    • Bộ phận công trình: móng, tường, cột, sàn, dầm, mái…..
    • Vị trí (mức độ cao, thấp, ở tầng 1, tầng 2)
    • Hình khối, cấu tạo: đơn giản, phức tạp (khó, dễ trong thi công)
    • Yêu cầu về kỹ thuật
    • Vật liệu xây dựng
    • Biện pháp thi công

    Nh ững kh ối lượng công tác mà có một trong các yếu tố nêu trên khác nhau là những khối lượng có quy cách khác nhau. Cùng một loại công tác nhưng các khối lượng có quy cách khác nhau thì phải tính riêng.

    Ví dụ: Cùng phải tính tiên lượng cho công tác bê tông, nhưng bê tông tường, cột, bê tông xà, dầm, giằng, cầu thang, mỗi loại đều phải tính riêng.

    2.3. Các bước tiến hành tính tiên lượng:

    Khi tính tiên lượng các công tác của một công trình ta cần phải tiến hành theo trình tự sau:

    1. a) Nghiên cứu bản vẽ:

    Nghiên cứu bản vẽ từ toàn thể, đến bộ phận r ồi đến chi tiết để hiểu thật rõ bộ phận cần tính. Hiểu sự liên hệ giữa các bộ phận với nhau giúp ta quyết định cách phân tích khối lượng hợp lý, đúng đắn.

    1. b) Phân tích khối lượng:

     

    Là phân tích các loại công tác thành từng khối lượng để tính toán nhưng cần chú ý phân tích kh ối lượng phải phù hợp với quy cách đã quy định trong định mức và đơn giá dự toán. Cùng một loại công tác nhưng quy cách khác nhau thì phải tách riêng.

    • Hiểu rõ từng bộ phận, quan hệ giữa các bộ phận (hình khối, cấu tạo). Phân tích khối lượng gọn để tính đơn giản, các kiến thức toán học như các công thức tính chu vi, diện tích của hình phẳng, công thức tính thể tích của các khối. Các hình hoặc khối phức tạp, ta có thể chia các hình hoặc khối đó thành các hình hoặc khối đơn giản để tính.
    1. c) Tìm kích thước tính toán:

    Khi phân tích ra các hình hoặc khối ta cầ n ph ải tìm các kích thước để tính toán. Kích thướ c có khi là kích thước ghi trên bản vẽ cũng có khi không phải là kích thước ghi trên bản vẽ. Ta cần phải nắm vững cấu tạo của bộ phận cần tính, quy định về kích thước để xác định cho chính xác.

    Ví dụ: Để tính diện tích trát ngoài của tường mà trong bản v ẽ chỉ ghi kích thước từ tim tường vì vậy nếu là tường 220 thì kích thước cần phải tìm là kích thước trên bản vẽ cộng thêm với bề dày của tường 220.

    1. d) Tính toán và trình bày kết quả:

    Sau khi đã phân tích khối lượng hợp lý và đã tìm được kích thước ta tiến hành tính toán và trình bày kết quả. Yêu cầu tính toán phải đơn giản trình bày sao cho dễ kiểm tra. Cần chú ý các điểm sau:

    • Khi tính phải triệt để lợi dụng cách đặt thừa số chung. Các bộ phận giống nhau, rút thừa số chung cho các bộ phận có kích thước giống nhau để giảm bớt số phép tính.

    Ví dụ:                n x ( D x R x C)

    • : số bộ phận giống nhau D : chiều dài

    R : chiều rộng

    C : chiều cao

    II. CÁCH TÍNH TIÊN LƯỢNG CÁC LOẠI CÔNG TÁC XÂY LẮP:

     

    1.     Công tác đất:

     

    Bất cứ một công trình nào khi xây dựng cũng có công việc làm đất thường là: đào móng (tường, cột) đường ống, mương rãnh, đắp nền,

    đường, lấp chân móng.

    1.1. Đơn vị tính: Khi tính tiên lượng cho công tác đất phân ra

    + Đào và đắp đất công trình bằng thủ công (đơn vị tính là: công /m3)

    + Đào, đắp đất bằng máy                           (đơn vị tính là: 100 m3)

    1.2. Quy cách: Cần phân biệt

    • Phương tiện thi công – thủ công hay máy
    • Cấp đất: Tùy theo mức độ khó thi công hay dễ thi công mà phân đất ra thành 4 cấp (I, II, III, IV theo bảng phân cấp đất ở định mức

    dự toán)

    • Chiều rộng, chiều sâu, hệ số dầm nén (với công tác đắp đất, cát)
    1. Đào đất:
    • Đào đất bằng thủ công
    • Đào đất bùn
    • Đào đất để đắp
    • Đào móng công trình
    • Móng băng
    • Móng cột trụ, hố kiểm tra
    • Đào kênh mương, rãnh thoát nước
    • Đào nền đường
    • Đào khuôn đường, rãnh thoát nước, rãnh xương cá…..
    • Đào đất bằng máy
    • San sân bãi -san đồi – đào lòng hồ (bằng tổ hợp máy đào – ô tô – máy ủi hay máy ủi, máy cạp độc lập)
    • Đào xúc đất để đắp hoặc đổ đi
    • Đào móng công trình
    • Đào kênh mương
    • Đào nền đường mới – nền đường mở rộng
    • Đào đất trong khung vây phòng nước, các trụ trên cạn
    • Xói hút bùn trong khung vây phòng nước…..
    1. Đắp đất:
    • Đắp đất công trình bằng thủ công
    • Đắp nền móng công trình
    • Đắp bờ kênh mương đê đập
    • Đắp nền đường
    • Đắp cát công trình
    • Đắp đất công trình bằng máy
    • Đắp đất mặt bằng công trinhf
    • San đầm đất mặt bằng
    • Đắp đê đập kênh mương
    • Đắp nền đường
    • Đắp cát công trình
    • Đắp đá công trình

    1.3. Phương pháp tính:

    Khi tính tiên lượng công tác đào, đắp đất thường gặp các trường hợp sau:

    1. a) Đào (hoặc đắp) đất có thành thẳng đứng:

     

    Trường hợp này thường gặp ở nơi đào móng không sâu, đất tốt thành ít sạt lở, hoặc thành được chống sạt lở bằng vách đứng. Đắp nền nhà sau khi đã xây tường móng.

    Các trường hợp này tính theo hình khối chữ nhật

    * Chú ý một số điều sau:

    • Kính thước hố đào được xác định dựa vào kích thước mặt bằng và mặt cắt chi tiết móng. Ví dụ:
    S = (b x l) Vđào đất = Sđáy x h (m3)
    1. b) Đào (hoặc đắp) đất có thành vát taluy:

    Trường hợp đào đất tạ i nơi đất xấu, đất d ễ sạt lỡ, đào xong để lâu chưa thi công, hố đào có độ sâu lớn. Để giải quyết chống sạt lở cho vách h ố đào ngươì ta có thể dùng phương pháp đào thành đất vát taluy. Trường hợp đắp đất cũng vậy để tránh sạt lở người ta cũng có thể đắp đất có thành vát taluy. Độ vát khi đào (hoặc đắp) tuỳ theo tính chất của đất, nhóm đất.

    Để tính tiên lượng đất đào (hoặc đắp) ta có thể áp dụng công thức 3 mức cao sau đây:

    b1 a1  
    h  
     

    V = 6 (S1 + S2 + 4S3)

      Trong đó:
      b2
    a2 S1 và S2: là diện tích trên và đáy dưới (S1 // S2)

    S3: là diện tích tiết diện cách đều S1 và S2.

    h: khoảng cách giữa 2 đáy.

    • Nếu trường hợp: hai đáy là hình chữ nhật có cạnh là a1, b1 và a2, b2 thì công thức trên có thể viết: S1 = a1b1

    S2 = a2b2

      a1 + a2 x b1 + b2        
    4S3 =   2 2   x 4 = (a1 + a2)(b1 + b2)  
     
              h  
    Vậy:     V =   [a1b1 + a2b2 + (a1 + a2)(b1 + b2)]  
        6

    Các khối có 2 đáy là hình chữ nhật song song nhau đều có thể áp dụng công thức trên.

    1. Tính tiên lượng đào đất của hệ thống móng (cho cả trường hợp đào đứng thành và vát taluy) đều có thể áp dụng các phương pháp tính như sau:

     

    – Tính theo chu vi tim hay kích thước tim (nếu các móng của hệ thống tạo thành chu vi có các kích thước mặt cắt giống nhau).

    LA

    Chiều dài toàn bộ móng: (LA + LB) x 2

    – Tịnh tiến các khối lượng khi gặp móng gấp khúc

        L1  
      L2 L’1 L’2
       
    l1 = l’1   l2 = l’2  
    1. Tính tiên lượng đất lấp móng: – Tính chính xác:

    Vlấp = Vđào – Vc-trình

    Trong đó:

    Vlấp: khối lượng đất lấp móng

    Vđào: khối lượng đất đào

    Vc-trình: bằng khối lượng bê tông lót móng + khối lượng xây (hoặc bê tông)

    – Tính gần đúng:

    Theo kinh nghiệm ta có thể tính gần đúng bằng:

    1

    Vlấp = 3 Vđào

    2. Công tác đóng cọc:

    Trong các công trình xây dự ng đối với những nơi nền đất yếu để làm tă ng khả năng chịu lực của nền và móng người ta có thể gia cố nền và móng bằng phương pháp đóng cọc. Các công trình xây dựng thông thường thường dùng các loại:

    • Cọc tre tươi có đường kính φ ≥ 80
    • Cọc gỗ.
    • Cọc bê tông cốt thép.

    2.1 Đơn vị tính: Tính theo m dài cọc (100m)

    2.2 Quy cách: Cần phân biệt:

    • Trường hợp đóng cọc bằng thủ công
    • Loại cọc, mật độ cọc (số cọc đóng tính trên 1 m2)
    • Kích thước cọc (chiều dài, đường kính, tiết diện) Cọc tre, gỗ: chiều dài cọc ngập đất ≤ 2,5 m; > 2,5 m b. Cừ gỗ: chiều dài ngập đất ≤ 4 m, > 4 m
    • Cấp đất
    • Biện pháp thi công (đóng cọc thủ công, đóng bằng máy…)
    • Trường hợp đóng cọc bằng máy:
    • Loại cọc (cọc gỗ, cừ gỗ, cọ bê tông cốt thép, cọc ống bê tông cốt thép, cọc ván thép, cọc ống thép, cọc thép hình …)
    • Đóng cọc trên mặt đất hay trên mặt nước.
    • Cách đóng: có cọc dẫn hay không có cọc dẫn.
    • Chiều dài cọc ngập đất hay không ngập đất.
    • Phương tiện: đóng bằng máy, tàu đóng cọc, trọng lượng của búa.

    2.3 Phương pháp tính:

    Dựa vào bản vẽ thiết kế đã ghi rõ kích thước khu vực cần đóng cọc gia cố, kích thước cọc, mật độ cọc, loại cọc ta sẽ tính được chiều dài

    cọc.

    • chiều dài = diện tích gia cố x chiều dài cọc x mật độ cọc

    Ví dụ: Hãy tính tiên lượng cọc cần gia cố nền móng cho 1 công trình với diện tích là 40 m2 đất cấp II bằng cọc tre tươi, đường kính ≥ 80mm, chiều dài cọc 2m, bằng phương pháp thủ công, có mật độ 25 cọc/m2, chiều dài cọc ngập đất ≤ 2,5m.

    Để tính bài này ta cần phải phân biệt:

    1. Đơn vị tính: – Tổng chiều dài bằng m.
    1. Quy cách: – Cọc tre tươi, φ ≥ 80, mật độ 25 cọc/m2.
    • Chiều dài cọc 2 m đóng ngập đất ≤ 2,5m
    • Đất cấp II.
    1. Phương pháp thi công: Đóng cọc bằng thủ công.
    • chiều dài = diện tích gia cố x 1 cọc x mật độ
    • 40m2 x 2m x 25 cọc/m2 = 2.000m

    3.                 Công tác thép:

     

    Trong xây dựng thép được dùng ở các dạng:

     

    • Kết cấu thép: Cột, dàn, vì kèo, dầm thép … những kết cấu này thường dùng thép hình (U, I, T, L, Z), thép bản, cũng có khi dùng thép

    tròn.

    • Cốt thép trong kết cấu bê tông cốt thép: thường dúng thép tròn (có gai hoặc không có gai (gờ)).

    3.1 Đơn vị tính: Trong công tác thép đơn vị được tính là: tấn.

    3.2 Quy cách: Cần phân biệt theo các điểm sau:

    – Loại thép: CT1; CT2

    AI; AII … CI; CII; CIII; CIV

    • Kích thước: Đối với thép hình (hoặc ký hiệu thép)
    • Đường kính thép (đối với thép tròn φ ≤ 10; φ ≤ 18, φ > 18
    • Loại cấu kiện (cột, móng, dầm, xà, giằng, lanh tô, cầu thang…)
    • Vị trí cấu kiện: (cao > 4m; cao ≤ 4m)
    • Phương pháp thi công

    3.3. Phương pháp tính toán:

    1. Tính tiên lượng thép cho kết cấu thép:
    • Tính ra chiều dài của từng loại thanh thép hình.
    • Tính ra diện tích của từng tấm thép bản của cấu kiện.

    Dùng bảng trọng lượng đơn vị có sẵn (trong sổ tay tính toán kết cấu thép) để tính ra trọng lượng của từng loại rồi tính được trọng lượng tổng cộng.

    1. Tính thép trong kết cấu bê tông cốt thép

    Tính tiên lượng cốt thép trong kết cấu bê tông cốt thép ta thường bóc khối lượng đã được tính sẵn trong bảng thống kê cốt thép ở bản vẽ thiết kế (phần bản vẽ kết cấu).

    • Trọng lượng đơn vị của từng loại đường kính có trong phần kết cấu bê tông cốt thép.
    • Bảng thống kê cốt thép thường có mẫu như sau:
    Tên Tên Hình   1 cấu kiện Toàn bộ   Cộng chung  
    dạng và φ   Chiều   chiều   Chiều    
    cấu Số Số φ Trọng  
    thép kích mm dài dài dài
    kiện thanh thanh mm lượng  
      thước   (m) (m) (mm)
                   

    Chú ý: Phần cộng chung, cộng các thép có cùng đường kính của các cấu kiến có cùng quy cách trong công trình. Chẳng hạn ta cộng chung khối lượng từng loại đường kính của các nhóm cấu kiện như:

    – Móng

    – Cột

    – Dầm, giằng

    – Sàn

    – Cầu thang

    – Lanh tô

    – Ô văng

    – Sênô …

    Trong hồ sơ thiết kế việc tính toán, bố trí thép và lập bảng thống kê cốt thép là công việc của người thiết kế nh ưng trong một số trường hợp ta cũng có thể cần ph ải kiểm tra lại và lập bảng thống kê thép trên cơ sở đó để tính khối lượng thép. Để làm việc này phải xem bản vẽ chi tiết cấu tạo. Để tính chiều dài của thanh thép phải tính ra chiều dài từng đoạn chi tiết và cộng lại. Một số chi tiết cấu tạo thép.

    Khi thanh thép uốn xiên đi tạo thành góc α

    Nếu α = 45o thì đoạn xiên bằng 1,414 h1

    Nếu α = 60o thì đoạn xiên bằng 1,155 h1

    Trong đó:

    h1 = h – 2a

    h: chiều cao của dầm

    • khoảng cách từ mép ngoài của dầm đến trọng tâm cốt thép
    • đường kính của thanh thép

    Trường hợp trong bản vẽ không ghi rõ lớp bảo vệ thì áp dụng quy phạm về lớp bảo vệ cốt thép như sau:

    • Sàn, tường dày ≤ 100 → aB = 10 mm
    • Sàn, tường dày > 100 → aB = 15 mm
    • Cột, dầm có đường kính thép φ ≤ 20 → ab = 20 mm
      • > 20 → ab = 25 mm
      • > 30 → ab = 30 mm

    4.                 Công tác bê tông:

     

    Trong công trình xây dựng bê tông và bê tông cốt thép là những khối lượng phổ biến thường gặp ở hầu hết các bộ phận của công trình

    nh ư: bê tông lót móng, bê tông: móng, cộ t, dầm, sàn, lanh tô, ô văng, giằng móng, giằng tường, bê tông nền, bệ máy v.v… Là những khối lượng có thể độc lập hoặc nằm xen kẽ trong các khối lượng của các công tác khác.

    4.1 Đơn vị tính:

    Đơn vị tính cho công tác bê tông và bê tông cốt thép là m3.

    4.2 Quy cách:

    Trong công tác bê tông và bê tông cốt thép quy cách cần được phân biệt bởi những điểm sau đây:

    • Loại bê tông: bê tông gạch vỡ, đá dam, sỏi, có cốt thép hay không
    • Số hiệu bê tông (mác bê tông)
    • Loại kết cấu (móng, cột, dầm, giằng, sàn, cầu thang…)
    • Vị trí kết cấu: cao ≤ 4m; cao > 4m
    • Phương thức thi công: đổ tại chỗ (vữa sản xuất bằng máy trộn đổ bằng thủ công…) đúc sẵn.

    4.3 Phương pháp tính:

    Trong công trình xây dựng các khối bê tông có thể nằm xen kẽ trong các kh ối lượng công tác khác vì vậy khi tính toán c ần nghiên cứu kỹ bản vẽ để tính riêng các khối lượng có quy cách khác nhau. Ta có thể phân thành từng khối để tính theo phương pháp tính thể tích của các hình khối hình học mà ta đã biết cách tính.

    Trường hợp khối lượng bê tông c ủa một bộ phận nằm trong t ườ ng xây ta có thể tính tách bộ phận đ ó thành hai khối: phần bê tông trong tường, phần ngoài tường. Khi tính khối lượng xây tường ta phải trừ đi khối lượng bê tông chiếm chỗ trong tường.

    • Các bộ phận có liên quan với nhau về kích thước khi tính toán ta cần đánh dấu để sử dụng lại cho các phần tính sau, ví dụ: + Diện tích đào móng = diện tích bê tông lót móng

    + Diện tích đắp nền = diện tích lót nền

    + Chiều dài giằng tường = chiều dài tường…

    • Tính khối lượng bê tông thường không phải trừ khối lượng cốt thép nằm trong bê tông.
    • Khi tính khối lượng của các cấu kiện đúc sẵn điển hình (panen, tấm đan…) ta chỉ việc tính ra số cấu kiện rồi tính ra khối lượng toàn bộ

    bằng cách nhân số cấu kiện với khối lượng một cấu kiện đã biết sẵn.

    Ví dụ: Panen hộp

    PH    = 0,16 m3/cái (kích thước d = 3300; r = 600; h = 200)

    33.6.2

    5.                 Công tác nề:

     

    Những công việc thuộc về nền trong một công trình xây dựng thường là: xây, trát, láng, lát, ốp, lợp mái, xây bờ chảy.

     

    5.1 Công tác xây:

     

    1. Đơn vị tính: Công tác xây tính theo m3

     

    1. Quy cách: cần phân biệt theo các yếu tố sau:
    • Bộ phận xây (móng, tường, trụ độc lập …)
    • Vị trí của bộ phận (tầng 1 hay tầng 2 cao ≤ 4m hay > 4m)
    • Vật liệu xây (đá, gạch v.v…)
    • Loại vữa (vữa xi măng hay vữa tam hợp) mác vữa (25, 50, 75…) Phương pháp tính:

    Khi tính tường nằm thành hệ thống cần chú ý:

    • Áp dụng cách đặt thừa số chung cho chiều cao và chiều dày tường.
    • Lấy toàn bộ chiều dài của tường (theo chiều dài giằng tường đã tính ở phần bê tông) nhân với chiều cao ta được diện tích tường toàn bộ.
    • Lấy diện tích toàn bộ trừ đi diện tích ô cửa và diện tích ô trống được diện tích mặt tường
    • Lấy diện tích mặt tường nhân với bề dày tường được khối lượng toàn bộ.
    • Trừ đi khối lượng các kết cấu khác nằm trong tường ta được khối lượng tường xây cần tính.

    5.2 Công tác trát, láng:

    Là công việc thuộc về công tác hoàn thiện

    1. Đơn vị: Tính tiên lượng cho công tác trát láng theo m2 mặt trát, láng (nếu trát gờ, phào, chỉ, hèm cửa. Tính theo m dài).
    2. Quy cách: Cần phải phân biệt theo các yếu tố sau:
    • Cấu kiện được trát, láng, vị trí (trát tường, trần, trụ, gờ, phào mấy cỉ, láng nền, sàn, ô văng, bể nước… có đánh màu, không đánh màu, cao ≤ 4m hay cao > 4m.
    • Loại vữa, số hiệu vữa
    • Chiều dày lớp trát, láng
    • Biện pháp trát
    • Yêu cầu kỹ thuật
    1. Phương pháp tính:
    • Tính theo diện tích mặt cấu kiện bộ phận được trát, láng.
    • Các cấu kiện có nhiều mặt cần phân biệt: mặt trát, mặt láng (bậc thang, ô văng…)
    • Khi tính trát, láng cho toàn bộ công trình chú ý tách riêng các bộ phận, các khu vực trát vữa khác, bề dày lớp trát khác nhau.
    • Tính diện tích mặt tường toàn bộ rồi trừ diện tích cửa, ô trống và diện tích trát vữa khác quy cách hoặc diện tích ốp.

    5.3 Công tác lát, ốp:

    1. Đơn vị: Tính theo m2 mặt cần lát, ốp
    2. Quy cách: Cần phân biệt theo các yếu tố sau:
    • Bộ phận cần lát, ốp vị trí các bộ phận đó (cao ≤ 4m, > 4m)
    • Vật liệu lát ốp (đá, gạch loại gì, kích thước…)
    • Loại vữa, số hiệu vữa, bề dày …)
    1. Phương pháp tính: Tính theo diện tích mặt được ốp, lát
    • Chú ý: Diện tích lát nền = diện tích trát trần + diện tích qua cửa đi

     

    5.4 Công tác lợp mái:

    1. Đơn vị: Lợp mái tính theo m2 mái
    2. Quy cách: Cần phân biệt:
    • Vật liệu để lợp (ngói, tôn, phibrô xi măng …)
    • Loại ngói lợp: 22 v/m2; 13 v/m2; 75v/m2
    • Tầng nhà (chiều cao) phương tiện thi công.
    1. Phương pháp tính: Căn cứ vào góc nghiêng của mái ta tính được diện tích mái cần lợp

     

    6.                 Công tác mộc:

     

    Trong xây dựng dân dụng thông thường các công tác thuộc về mộc gồm có: làm cửa, làm trần, ván khuôn, ốp trang trí.

     

    6.1 Công tác làm cửa:

     

    – Chỉ tính khối lượng cửa đi để mua chứ không tính nhân công. Chỉ tính công lắp cửa.

     

    1. Đơn vị tính: m2 – cho cánh cửa; m – dài cho khuôn cửa

     

    1. Quy cách: cần phân biệt
    • Loại cánh cửa: cửa đi, dổ, lật, kính, đơn, kép, gỗ, sắt, có khuôn, không khuôn, khuôn đơn, khuôn khép.
    • Loại gỗ: lim, hồng sắc, chò chỉ, dổi, de…
    • Điều kiện kỹ thuật: mộng, đố, cấu tạo mặt cửa, huỳnh, trám…
    1. Phương pháp tính:

    Dựa theo kích thước mặt bằng và mặt cắt (hay bảng thống kê cửa trong hồ sơ thiết kế) ta tính được khối lượng của từng loại theo quy cách của chúng. Chi phí cho công tác sản xuất cửa các loại tính theo bảng giá thông báo hàng tháng (hoặc hàng quý) của liên sở Xây dựng- Tài

    chính – Vật giá ở địa phương để tính, kể cả phụ tùng mà không tính công sản xuất.

    – Chỉ tính công tác lắp dựng cửa, khuôn cửa.

    6.2 Công tác làm trần, sản xuất vì kèo làm mái:

    * Công tác làm trần:

    1. Đơn vị tính: m2
    2. Quy cách: cần phân biệt
    • Trần vôi rơm, trần mè gỗ;
    • Trần giấy ép cứng, trần ván ép, trần phibrô xi măng;
    • Trần cót ép, trần gỗ dán;
    • Trần gỗ dán có cách âm, cách nhiệt;
    • Trần ván ép bọc simili, mút dày 5cm nẹp phân ô bằng gỗ;
    • Trần ván ép chia ô nhỏ có gioăng chìm hoặc nẹp nổi trang trí;
    • Trần bằng tấm thạch cao hoa văn 50x50cm, 63x41cm;
    • Trần bằng tấm nhựa hoa văn 50x50cm;
    • Trần lambri gỗ.
    1. Cách tính: Dựa vào bản vẽ thiết kế diện tích trần cần làm và loại trần để tính ra vật liệu. * Sản xuất vì kèo làm mái:
    2. Đơn vị tính: m3
    1. Quy cách: Cần phân biệt
    • Vì kèo mái ngói
    • Vì kèo phibrô xi măng
    • Vì kèo hỗn hợp gỗ mái ngói
    • Vì kèo hỗn hợp gỗ, sắt tròn mái phibrô xi măng…
    1. Phương pháp tính:
    • Đối với xà gồ và cầu phong: Tính ra khối lượng 1 thanh (chiều dài x tiết diện thanh) sau đó nhân với tổng số thanh cần tính.
    • Đối với nhà dân dụng: Thường dùng vì kèo điển hình do Bộ Xây dựng ban hành KGNT – 01; KGN-02; KGF-03 trong mỗi loại vì kèo đều có ghi cụ thể về phụ kiện và thể tính gỗ cần làm cho một vì kèo. Như vậy ta chỉ việc lấy số liệu đó đưa vào tiên lượng.
    • Trường hợp không phải vì kèo thiết kế điển hình thì phải xem kích thước từng thanh theo bản vẽ (hoặc theo bảng thống kế của vì kèo) và tổng cộng khối lượng gỗ các thanh lại ta được khối lượng của vì kèo.

    6.3 Công tác ván khuôn:

    1. Đơn vị tính: m2(100m2)
    2. Quy cách: Cần phân biệt

    + Ván khuôn cho bê tông đổ tại chỗ       – Ván khuôn

    • Loại kết cấu
    • Ván khuôn kim loại
    • Loại kết cấu

    + Ván khuôn cho bê tông lắp ghép        – Ván khuôn gỗ

    • Loại cấu kiện
    • Ván khuôn kim loại
    • Loại cấu kiện
    1. Phương pháp tính:
    • Khối lượng ván khuôn bê tông( đối với bê tông đổ tại chỗ hay đúc sẵn) được tính theo diện tích bề mặt bê tông cần sử dụng ván khuôn.
    • Đối với các kết cấu, cấu kiện bê tông có chỗ rỗng với diện tích chỗ rỗng
    • 1m2 thì không trừ khối lượng diện tích ván khuôn và cũng không được tính thêm khối lượng ván khuôn cho bề mặt thành, gờ xung quanh chỗ rỗng.

    7.                 Công tác quét vôi, sơn, bả ma tít…

     

    7.1 Công tác quét vôi:

     

    1. Đơn vị tính: m2

     

    1. Quy cách: cần phân biệt:

     

    • Phương pháp thi công: quét, phun;
    • Quét vôi trắng hay màu, mấy nước;
    • Bộ phận cần quét;
    • Tầng nhà (chiều cao)
    1. Phương pháp tính: khối lượng công tác quét vôi thường căn cứ vào diện tích trát.

     

    7.2 Công tác sơn:

    1. Đơn vị: Tính theo m2
    2. Quy cách: Cần phân biệt

     

    • Bộ phận được sơn;
    • Vật liệu của vật cần sơn: gỗ, thép, kính, tường…
    • Số nước cần sơn;
    • Quét hay phun.
    1. Phương pháp tính: Tính theo diện tích bề mặt toàn bộ của vật sơn.

     

    7.3. Công tác bạ ma tít:

     

    1. Đơn vị tính: m2

     

    1. Quy cách tính: cần phân biệt:

     

    • Kết cấu cần bạ: tường, cột, dầm, trần
    • Vật liệu bạ: hỗn hợp, hay bột bạ chế tạo sẵn

    8.                 Công tác lắp đặt điện, cấp thoát nước trong nhà và phục vụ sinh hoạt:

     

    8.1 Công tác lắp đặt điện:

     

    + Cần phân biệt theo từng loại:

     

    • Lắp đặt các loại đèn, quạt điện.
    • Lắp đặt ống bảo vệ cáp, dây dẫn và phụ kiện đường dây.
    • Lắp đặt các phụ kiện đóng ngắt đo lường, bảo vệ.
    • Lắp đặt hệ thống chống sét

    8.2 Công tác cấp thoát nước trong nhà:

    • Cần phân biệt
    • Lắp đặt các sản phẩm và phụ kiện phục vụ sinh hoạt và vệ sinh
    • Lắp đặt hệ thống cấp thoát nước trong nhà

    Phương pháp tính: Để tính được tiên lượ ng của những công việc này phải d ựa vào các bản vẽ tương ứng trong hồ sơ thiết kế, các chỉ dẫn kỹ thuật, các loại thống kê về quy cách, chủng loại, số lượng vật liệu phù hợp với đơn vị sử dụng trong ĐMDT xây dựng.

    9. Công tác làm sân, đường:

    + Cần phân biệt:

    9.1 Công tác làm đường bộ

    Phân theo từng loại đường bộ (đường cấp phối, đường nhựa v.v…)

    9.2 Công tác làm mặt đường sắt

    9.3 Công tác làm sân: (sân bêtông, sân lát gạch, sân bê tông gạch vỡ láng vữa có hay không đánh màu v.v…)

    Phươ ng pháp tính: Từ nh ững bản v ẽ tương ứng, các chỉ dẫn kỹ thuật và các bảng thống kê trong hồ sơ thiết kế ta sẽ tính ra tiên lượng xây lắp có đơn vị phù hợp với từng loại công việc.

    III. TÍNH TIÊN LƯỢNG MỘT CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG:

    Tính tiên lượng toàn bộ một công trình xây dựng là một công việc phức tạp vì nó tổng hợp nhiều loại công tác, các quy cách, hình khối đa dạng, khối lượng tính toán nhiều. Vì vậy muốn tính đượ c đầy đủ tránh nhầm lẫn sai sót (tính trùng lặp thừa, hoặc bỏ sót). Rút giảm được thời gian và khối lượng tính toán cần phải chú ý một số điểm sau đây:

    1. Các bước tiến hành tính tiên lượng:

    Cần nghiên cứu b ản v ẽ từ toàn th ể đế n bộ phận chi tiết để nắm chắc cấu tạ o các bộ phận của công trình. Sự liên quan giữ a các bộ phận với nhau để xác định được các khối lượng cần tính toán cho mỗi công tác của công trình. Sau đó ta thực hiện tính tiên lượng cho mỗi công tác như đã học.

    2.     Trình tự tính toán tiên lượng xây lắp các công tác:

     

    Để tránh bỏ sót khi tính tiên lượng ta nên tiến hành liệt kê các công việc phải tính trong mỗi phần công trình như sau: (như 1 dàn bài)

     

    1. Phần móng
    1. Công tác đất: (đào, đắp đất móng nền) 4. Công tác ván khuôn móng
    2. Công tác bê tông: lót móng, móng 5. Công tác xây
    3. Công tác cốt thép 6. Công tác trát láng phần cổ móng
        ở ngoài nhà
    7. Công tác quét vôi 8. Lấp móng, san nền…
      B. Phần hè rãnh    
    1. Công tác đất 4. Công tác trát, láng
    2. Công tác bê tông 5. Công tác quét vôi, sơn trang trí bồn hoa, tam cấp
    3. Công tác xây 6. Vận chuyển đất đi xa (nếu có)
      C. Phần thân nhà    
    1. Công tác bê tông (đúc sẵn, tại chỗ) 5. Công tác cửa, then khoá
    2. Công tác sắt thép 6. Công tác quét vôi, sơn
    3. Công tác xây 7. Láng, lát, dán, ốp trang trí … (nếu có)
    4. Công tác trát, láng, lát, ốp 8. Công tác lắp ghép sàn
    1. Phần mái
    1. Làm mái bằng:
    • Kiểu dáng
    • Xây tường mái
    • Trát, ốp, quét vôi
    • Chống nóng ngoài quy cách nêu trong các kiểu mái (nếu có)
    1. Làm mái dốc
    • Gỗ mái: vì kèo – xà gồ, cầu phong
    • Lợp mái, xây bờ
    • Sơn, quét vôi

    Tùy từng công trình cụ thể mà m ột vài công tác có thể vắng mặt trong từng phần của công trình. Trước khi tính ta cần liệt kê đầy đủ từng công việc và sắp xếp theo trình tự như trên.

    Nếu l ập dự toán thi công thì ta nên tính theo trình tự thi công, để tạo điều kiện dễ dàng cho việc nhặt khối lượng lập kế hoạch thi công, giao khoán khối lượng.

    3. Tính toán và trình bày kết quả vào bảng tiên lượng:

    Sau khi đã liệt kê đầ y đủ các loại công tác của từng phần công trình ta ti ến hành tính tiên lượng cho từng công tác đó như đã nêu ở mục II nhưng đó chỉ là diễn giải cách thực hiện phương pháp tính. Còn trong hồ sơ dự toán thiết kế ta phải thể hiện cách tính đó và ghi kết quả vào bảng tiên lượng theo mẫu sau.

    + Chú ý khi ghi bảng tiên lượng:

    • Về quy cách: cần ghi đầy đủ, chính xác quy cách của từng loại công tác, không hạn chế số dòng ứng với một quy cách của một khối lượng công tác ta ghi một số thứ tự, ứng với một số thứ tự ta có một kết quả ghi ở cột toàn phần (mọi kết quả trong quá trình tính mà chưa phải là khối lượng cần tìm thì không được ghi ở cột toàn phần).

    -Phần diễn giải cách phân tích khối lượng tính toán cần ghi rõ để dễ kiểm tra theo dõi.

    • Các kích thước ghi trong bảng tiên lượng là kích thước thực đã được tính toán nhưng không cần trình bày cách tính các kích thước đó trong bảng.
              Mẫu bảng tiên lượng      
      Tên công việc và Số bộ   Kích thước   Khối lượng    
    TT phận       Đơn Số Từng Toàn  
    quy cách giống D R C
     
        nhau       vị phụ phần phần  

    A- Phần móng

    • Đào móng…
    • Đất đắp …

    3    BT gạch vỡ lót móng

    B- Phần thân

    • Tầng 1
    • Tầng 2

    …………….

    C- Phần mái

    ……..;……..

    ……………..

    CHƯƠ NG III

    DỰ TOÁN NHU CẦU VẬT LIỆU, NHÂN CÔNG,

    XE MÁY THI CÔNG

    I.                   VAI TRÒ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH DỰ TOÁN NHU CẦU VẬT LIỆU, NHÂN CÔNG, XE MÁY THI CÔNG:

     

    1.                 Tác dụng của công tác dự toán nhu cầu vật liệu, nhân công xe máy thi công:

     

    • Dự toán vật liệu, nhân công, máy thi công là cơ sở để đơn vị xây lắp lập kế hoạch cung ứng vật tư kỹ thuật, kế hoạch tổ chức thi công điều động nhân lực và xe máy thi công. Trong đó dự toán nhu cầu của các vật liệu xây dựng còn làm căn cứ để tính bù trừ chênh lệch chi phí vật liệu khi lập dự toán xây lắp công trình, hạng mục công trình.
    • Dự toán nhu cầu vật liệu, nhân công máy thi công là cơ sở để lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của ngành, của chủ đầu tư.

    2.                 Cơ sở để lập dự toán vật liệu, nhân công và xe máy thi công:

     

    • Khối lượng công tác của công trình (tiên lượng)
    • Định mức dự toán xây dựng cơ bản

    II. KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY LẮP (TIÊN LƯỢNG):

    Nội dung của phần này đã được trình bày ở Chương 2 của giáo trình này.

    III. ĐỊNH MỨC DỰ TOÁN XÂY DỰNG CƠ BẢN:

     

    1.     Khái niệm:

    Định m ức dự toán xây dựng cơ b ản (gọi tắt là định mức dự toán) do Bộ Xây dựng ch ủ trì cùng với các Bộ chuyên ngành nghiên cứu xây dựng và ban hành áp dụng thống nhất trong cả nước. Nó là định mức kinh tế kỹ thuật xác định mức hao phí cần thiết về vật liệu, lao động và

    máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây lắp tương đối hoàn chỉnh như 1m3 tường gạch xây, 1 m3 bê tông, 1 m2 lát

    gạch, 1m2 mái nhà … t ừ khẩu chuyển bị đến xuất nhằm đảm bảo thi công xây lắp liên tục,

    khâu kết thúc công tác xây l ắp (kể cả những hao phí cần thiết do yêu cầu kỹ thuật và tổ chức sản đúng quy trình quy phạm kỹ thuật).

    2. Nội dung định mức dự toán xây dựng cơ bản:

    Định mức dự toán xây dựng cơ bản gồm 3 mức hao phí:

    1. Mức hao phí vật liệu:

    Là số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời lẻ, vật liệu luân chuyển cần thiết cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng công tác xây lắp.

    • Mức hao phí vật liệu chính được quy định bằng số lượng theo đơn vị thống nhất cho từng chủng loại trên phạm vi cả nước.
    • Mức hao phí vật liệu phụ khác được quy định tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí vật liệu chính.
    1. Mức hao phí lao động:

    Là số ngày công lao động của công nhân (chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp) tr ực tiếp thực hiện m ột đơ n vị khối lượng công tác xây lắp từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc trong đó đã kể cả thợ và phụ (kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu, bán thành phẩm trong phạm

    • mặt bằng xây lắp)
    • Mức hao phí lao động được quy định tính bằng số ngày công theo cấp bậc của công nhân trực tiếp xây lắp bình quân đã bao gồm cả lao

    động chính, phụ kể cả công tác chuẩn bị, kết thúc, thu dọn hiện trường thi công.

    1. Mức hao phí máy thi công:

    Là số ca sử dụng máy thi công trực tiếp phục v ụ xây lắ p công trình chuyể n động bằng động cơ hơ i nướ c, điezen, xăng, điện, khí nén… (kể cả một số máy phục vụ xây lắp có hoạt động độc lập tại hiện trường nhưng gắn liền với dây chuyền sản xuất thi công xây lắp công trình).

    • Mức hao phí máy thi công chính được tính bằng số lượng ca máy sử dụng.
    • Mức hao phí máy thi công phụ khác được tính bằng tỷ lệ % trên chi phí sử dụng máy chính.

    3.                 Quy định áp dụng:

     

    • Định mức dự toán được áp dụng để lập đơn giá xây dựng cơ bản, làm cơ sở để lập dự toán xây lắp công trình xây dựng cơ bản thuộc các dự án đầu tư xây dựng.

    Trường h ợp những loại công tác xây lắp mà yêu cầu kĩ thuật và điều kiện thi công khác với quy định trong định mức dự toán hoặc chưa có trong danh mục định mứ c dự toán hiện hành (Đị nh mức dự toán xây dựng cơ b ản kèm theo Quyết định 1242/1998 QĐ-BXD ngày 25/11/1998 của Bộ Xây d ựng ban hành, áp dụ ng thống nhất trong cả nước có hiệu lực từ 01/01/1999) thì chủ đầu tư, tổ chức tư vấn thiết kế và các đơn vị nh ận thầu xây dự ng căn cứ vào tài liệu thiết kế, các đị nh mức đơn giá t ương tự, ho ặc că n cứ vào điều kiện cụ thể và hệ thống đị nh mức sản xuất (Định mức thi công) để lập định mức đơn giá thích hợp phục vụ cho việc lập dự toán xây lắp công trình, để trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành áp dụng.

    IV. TÍNH TOÁN NHU CẦU VẬT LIỆU, NHÂN CÔNG, XE MÁY THI CÔNG:

    1.                 Xác định nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công cho từng khối lượng công tác xây dựng:

     

    • Nhu cầu vật liệu, công nhân, xe máy thi công ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Xác định theo tài liệu thiết kế kỹ thuật và định mức dự toán tổng hợp.
    • Nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công ở giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công xác định theo tài liệu thiết kế bản vẽ thi công và định mức dự toán chi tiết.

    + Yêu cầu khi xác định từng loại nhu cầu:

    • Đối với vật liệu cần xác định rõ số lượng, đơn vị, chủng loại, quy cách;
    • Đối với nhân công: cần xác định rõ số lượng công cho từng loại thợ, cấp bậc thợ,
    • Đối với máy thi công cần xác định rõ số lượng ca cho từng loại máy, ghi rõ mã hiệu, công suất của máy.

    2.                 Cách tra cứu bản định mức dự toán:

    Sau khi ta đã tính được khối lượng các loại công tác của công trình ta tiến hành tra cứu định mức dự toán để xác định vật liệu, nhân công và máy thi công.

    Khi tra cứ u định mức dự toán cho một loại công tác xây lắp hoặc một kết cấu cụ th ể ta tra theo danh mục ở từng chương (ĐMDT có 18 chương). Trong mỗi chương lại gồm 1 số tiết định mức. Trong mỗi tiết định mức đều có 2 phần:

    • Thành phần công việc;
    • Bảng định mức và các khoản mục hao phí.
    • Thành phần công việc quy định rõ đầy đủ điều kiện kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công, các bước công việc theo thứ tự từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc hoàn thành. Xác định đơn vị tính phù hợp để thực hiện công tác xây lắp đó.
    • Bảng định mức mô tả tên, chủng loại, quy cách vật liệu chính cần thiết và các vật liệu phụ khác, loại thợ, cấp bậc công nhân bình quân, tên, loại, công suất của máy móc thiết bị chủ đạo và một số máy thiết bị khác trong dây chuyền công nghệ thi công để thực hiện hoàn chỉnh công tác, kết cấu xây lắp.

    Các mục định m ức đượ c tập hợp theo nhóm, loại công tác hoặc kết cấu xây lắp và được đặt mã thống nhất trong Ngành Xây dựng. Mỗi mục định m ức là một tổ hợp gồm nhiều danh mục công tác cụ thể, mỗi danh mục đều có một mã hiệu riêng cho nó, thể hiện một cách cụ thể tên gọi, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công cụ thể, biện pháp thi công phổ biến.

    Sau khi ta đã xác định được số hiệu định mức dự toán ta tiến hành tra từng thành phần hao phí.

    • Vật liệu: gồm những loại nào, đơn vị tính và mức tiêu hao từng loại vật liệu cho đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp.

     

    • Nhân công: Xác định được loại thợ, cấp bậc thợ bình quân và mức tiêu hao lao động theo ngày công.

     

    • Máy thi công: Xác định tên, loại, công suất của máy chính và một số máy, thiết bị khác trong dây chuyền thi công, mức tiêu hao thời gian của máy tính theo ca máy.

    Ví dụ: công tác xây gạch đá (ở Chương V)

     

    • Mục xây đá (trang 162 – ĐNDT):

    Mã hoá                                                                                   GA.0000 Xây đá hộc

    GA.1000 Xây móng

    Mã hiệu định mức GA.11 mã hoá công việc xây móng

    Đơn vị tính 1 m3 xây

    Thành phần hao phí: ứng với quy cách chiều dày móng ≤ 60 cm và > 60 cm

    – Đá hộc đơn vị tính : m3
    – Đá dăm đơn vị tính : m3
    – Vữa đơn vị tính : m3
    – Nhân công 3, 5/7 đơn vị tính : công

    – Mục xây gạch (trang 167 – 168 ĐMDT):

    Mã hoá            GD.0000 Xây gạch chỉ (6,5 x 10,5 x 22)

    GD.2000 Xây tường thẳng

    Mã hiệu định mức GD 2 mã hoá công việc xây tường thẳng

    Đơn vị tính 1 m3 xây

    Thành phần hao phí, ứng với quy cách chiều dày tường xây ≤ 11cm ≤ 33cm > 33cm và chiều cao tường xây ≤ 4m; > 4m + Vật liệu:

    – Gạch

    đơn vị tính

    :

    viên

    – Vữa

    đơn vị tính

    :

    m3

    – Cây chống đơn vị tính : cây
    – Gỗ ván đơn vị tính : m3
    – Dây buộc đơn vị tính : kg
    + Nhân công 3,5/7 đơn vị tính : công
    + Máy thi công      
    – Máy trộn 80l đơn vị đơn vị : ca  
    – Máy vận thăng 0,8T đơn vị : ca  

    3. Tổng hợp nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công cho toàn công trình:

    Sau khi tính toán được nhu cầu vật liệu, nhân công, xe máy thi công cho từng khối l ượng công tác của toàn công trình. Để tổng hợp nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công thì quá trình tính nhu c ầu cho t ừng loại công tác ta trình bày kết quả tính toán vào “B ảng phân tích vật liệu, nhân công, máy thi công” theo Bảng 1, rồi cộng ở các cột ta được bảng tổng hợp các nhu cầu về vật liệu, nhân công, máy thi công.

    Bảng 1. Bảng phân tích vật liệu, nhân công, máy thi công

      Số Loại     Vật liệu sử dụng Nhân công sử dụng Máy thi công (ca)
      hiệu Đơn   Khối     (công)
    TT công tác            
    định vị    lượng XM Gạch Vôi        
      xây lắp   Nề    …   Trộn  Đầm   …
      mức   (kg) viên (kg) (công)
               

    Liệt kê

    • các công

    việc

    2

    Cộng

    Ghi chú:

    • Cần ghi rõ số hiệu định mức sử dụng.
    • Cột loại công tác xây lắp, ghi rõ quy cách công tác đó
    • Các cột vật liệu sử dụng, nhân công, máy thi công sử dụng không hạn chế cột, tuỳ theo tính chất của loại công tác xây lắp của công trình mà số cột đó có thể nhiều hay ít. Để cho bảng phân tích trên được gọn ta nên nhóm các công việc có sử dụng các loại vật liệu, nhân công, máy thi công gần giống nhau (vó dụ công việc thuộc về nề, bê tông, cùng sử dụng xi măng, cát) ghi rõ đơn vị của các loại vật liệu, đơn vị (công) cho nhân công, đơn vị (ca) cho xe máy.

    Sau đó ta tiến hành cộng các cột của Bảng 1 để tổng hợp nhu cầu về vật liệu, nhân công và xe máy thi công theo các bảng sau đây (Bảng 2, Bảng 3, Bảng 4)

    Bảng 2. Bảng tổng h ợp nhu cầu vật liệu

    TT           Tên chủng loại, quy cách              Đơn vị             Số lượng            Ghi chú

    Người lập

    Bảng 3. Bảng tổng hợ p nhu cầu công nhân

    TT                 Loại thợ, bậc thợ                    Đơn vị             Số lượng            Ghi chú

    Người lập

    Bảng 4. Bảng tổng hợp nhu cầu máy thi công

    TT                       Loại máy                          Đơn vị             Số lượng            Ghi chú

    Người lập

    Bài tập ví dụ

    Sử dụng tập định mức dự toán để tính nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công cho các khối lượng công tác của công trình khi đã tính được phần tiên lượng.

    Ví d ụ 1: Tính công đ ào đất thủ công, đất cấp II cho một móng băng của công trình với khối lượng là 81,5 m3, chiều rộng móng đào ≤ 3m, sâu ≤ 1m, đào thành thẳng đứng.

    Bài giải:

    Theo mục đào đất móng băng ở chương II của Định mức dự toán (trang 27) ta có số hiệu định mức là: (có thể chọn ghi theo 1 trong 2

    BA131                          BA131

    cách:     2    ; hay BA 1312).     2     với định mức cho 1 m3 đất đào đất cấp II là:

    – Nhân công 0,82 công/m3 (công nhân 2,7/7)

    Vậy số công cần thiết để hoàn thành khối lượng đất đào là:

    81,5 m3 x 0,82 công/m3 = 66,83 công

    Ví dụ 2: Tính nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công cho công tác đổ bê tông gạch vỡ lót móng vữa TH cát mịn (ML = 1,5 ÷ 2,0) mác 25 dày 100 với khối lượng bê tông là 25 m3.

    Bài giải:

    HE −11

    Theo mục công tác bê tông gạch vỡ ở cuối Chương VI (công tác bê tông (trang 208 DMDT) ta có số mã hiệu định mức 10 với định mức cho 1 m3 bê tông gạch vỡ

    • Vữa 0,538 m3
    • Gạch vỡ 0,893 m3
    • Nhân công 3,0/7 : 1,17 công

    B112

    Tra ở phụ lục về định mức cấp phối vữa của công tác xây dựng (trang 179 ĐMDT), ta có số hiệu định mức: 2 là định mức cho 1 m3 vữa tam hợp cát mịn.

    Cát có mô đun độ lớn ML = 1,5 ÷ 2,0

    Ta có:

      B112    
        – Xi măng PC 30: 121,01 kg  
      2  
        – Vôi cục: 71,07 kg  
        – Cát mịn: 1,13 m3  
    Vậy số lượng vật liệu và nhân công cần sử dụng là:
    + Về vật liệu:    
      – Gạch vỡ: 25 m3 x 0,893 = 22,33 m3 ≈ 22,3 m3
      – Xi măng PCB 30: 25 x 0,538 x 71,07 = 955,89 kg ≈ 0,96 tấn
      – Cát mịn: 5 x 0,538 x 1,13 = 15,20 m3
    + Về nhân công bậc 3/7: 25 x 1,17 = 29,25 công ≈ 29,2 công

    Ví dụ 3: Tính nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công cần thiết cho khối lượng công tác xây tường thẳng 220 gạch chỉ đặc mác 75 vữa TH cát mịn (ML = 1,5 ÷ 2,0) mác 25 ở tầng một.

    Có khối lượng tường xây là 62 m3.

    Bài giải:

    GD2

    Tra mục xây tường thẳng gạch chỉ ở Chương V (công tác xây gạch đá) (trang 168 ĐMDT) ta có số hiệu định mức  210  là định mức cho

    • m3 xây tường.
      • Vật liệu cần sử dụng là:
    – Gạch chỉ: 550 viên.
    – Vữa: 0,29 m3
    – Cây chống: 0,5 cây
    – Gỗ ván: 0,003 m3
    – Dây buộc: 0,23 kg
    • Nhân công (3,5/7): 1,92 công
    • Máy thi công:

    – Máy trộn 80l: 0,036 ca

    Tra phụ lục định mức về vữa xây (trang 179 ĐMDT)

    B112

    Số hiệu định mức   2    là định mức cho 1 m3 vữa tam hợp cát mịn ML = 1,5 – 2,0 xi măng PC 30.

    – Xi măng : 121,01 kg
    – Vôi cục : 92,82 kg
    – Cát mịn : 1,13 m3
    • Số lượng vật liệu cần sử dụng là:
    • Gạch chỉ:62 x 550 viên = 34100 viên.
    • Xi măng PC 30:62 x 0,29 x 121,01 = 2175,76 kg ≈ 2,2 tấn
    • Vôi cục:62 x 0,29 x 92,82 = 1668,9 kg ≈ 1,7 tấn
    – Cát mịn: 62 x 0,29 x 1,13 = 20,32 m3 ≈ 20,3 m3
    – Cây chống: 62 x 0,5 = 31 cây
    – Gỗ ván: 62 x 0,003 = 0,19 m3 ≈ 0,2
    • Dây buộc:62 x 0,23 = 14,26 kg ≈ 14,3 kg
    • Nhân công sử dụng là:

    62 x 1,92 = 119,04 công ≈ 119 công

    • Máy thi công cần sử dụng:
    • Máy trộn vữa 80l 62 x 0,036 = 2,23 ca ≈ 2,2 ca

    Ví dụ 4:

    Tính nhu cầu vật liệu, nhân công, máy thi công cần thiết cho khối lượng công tác bê tông dầm đá dăm. Đá có độ lớn dmax = 20 mm vữa có độ sụt 2 ÷ 4 cm mác 200 vữa bê tông sản xuất bằng máy trộn, đổ bê tông thủ công, có khối lượng là 3,2 m3

    Bài giải:

    HA − 31

    Tra mục bê tông xà dằm, giằng nhà ở Chương VI (công tác bê tông đổ tại chỗ) (trang 187 ĐMDT) ta có số hiệu định mức 10 là định mức cho 1 m3 bê tông.

    + Vật liệu cần sử dụng là:

    – Vữa : 1,025 m3
    – Vật liệu khác : 1,0%
         
    • Nhân công (3,5/7): 3,56 công
    • Máy thi công:
    – Máy trộn 250l: 0,095 ca
    – Máy đầm dùi 1,5 KW: 0,18 ca
    – Máy vận thăng 0,8 T: 0,11 ca

    Tra phần phụ lục định mức dự toán cấp phối vật liệu vữa bê tông thông thường xi măng P 30 (trang 229) ĐMDT.

    • 212
    Ta có số hiệu định mức   là định mức cấp phối vật liệu cho 1 m3 bê tông
    3
    Ta có:    
    – Xi măng: 342 kg
    – Cát vàng: 0,469 m3
    – Đá dăm: 0,878 3
    – Nước: 185 lít
    • Vật liệu
    • Xi măng PC 30:3,2 x 1,025 x 342 = 1121,76 kg ≈ 1,12 tấn
    – Cát vàng: 3,2 x 1,025 x 0,469 = 1,54 m3 ≈ 1,5 m3
    – Đá dăm: (1 x 2) 3,2 x 1,025 x 0,878 = 2,88 m3 ≈ 2,9 m3
    – Nước: 3,2 x 1,025 x 185 = 606,8 lít ≈ 607 l
    + Nhân công (3,5/7) 3,2 x 3,56 = 11,39 công ≈ 11,4 công
    + Máy thi công:    
    – Máy trộn 250 l: 3,2 x 0,095 = 0,3 ca
    – Máy đầm dùi 1,5 KW: 3,2 x 1,18 = 0,58 ca ≈ 0,6 ca
    – Máy vận thăng 0,8T: 3,2 x 0,11 = 0,35 ca

    BẢNG PHÂN TÍCH VẬT LIỆU NHÂN CÔNG – MÁY THI CÔNG

    Số hiệu Tên công           Vật liệu sử dụng        
    Đơn Khối Gạch   Vôi Cát Cát Gỗ Cây   Đá  
    TT   định việc và quy Gạch  XM Dây
    đen vàng ván 1×2  
    mức cách vị lượng 1000 vỡ (v)  (tấn) cục (m3) (m3) (m3) chống (kg) (m3)  
            (v)   (tấn) (c)  
      Nhân công (công) Máy thi công (ca)
            Máy Máy
    Nước Lao   trộn  Đầm  Vận
    (1) động Nề tông trộn bê   dùi  thăng
            vữa tông
             

    1

    2

    3

    4

    BA131

    2

    HE11

    10

    GD2

    210

    B112

    2

    HA31

    10

    • 212

     

    3

    Đào móng

    bằng đất

    nhóm 4 m3 đứng thành

    Rộng < 3m

    Sâu<1m

    Bêtông

    gạch vỡ lót

    móng vữa m3 TH 25 cát

    mịn δ =

    100

    Xây tường

    gạch chỉ

    220, tầng 1 m3 vữa TH

    mác 25

    Bê tông

    dầm đ á 1×2 m3 mác 200

    81,5

    25               22,3     0,96            15,2

    62     34,1              2,2     1,7     20,3             0,2      31     14,3

    3,2                       1,12                     1,5                                 2,9

    67

    29,2

    119            2,2

    607                    11,4            0,3     0,6      0,35

    Cộng 34,1   22,3   4,28   1,7   35,5   1,5   0,2 31 14,3   2,9 607 67   119  40,6   2,2   0,3   0,6   0,35
    • Tên vật liệu và quy cách

    1 Gạch chỉ đặc mác 75 2 Gạch vỡ củ đậu

    3Xi măng PC 30

    4Vôi cục

    5Cát mịn (cát đen) xây

    6Cát vàng (đổ bêtông)

    7Gỗ ván nhóm 7 dày 3 cm

    • Cây chống (10 x 10 cm)
    • Dây buộc
    • Đá dăm 1 x 2 cm
    • Nước sạch

    BẢNG TỔNG HỢP NHU CẦU VẬT LIỆU

    Đơn vị Số lượng Ghi chú
    viên 34.100  
    m3 22,33  
    kg 4253,41  
    kg 1668,9  
    m3 35,52  
    m3 1,54  
    m3 0,19  
    cây 31  
    kg 14,26  
    m3 2,88  
    lít 606,8  

    Người lập

     

    BẢNG TỔNG HỢP NHU CẦU NHÂN CÔNG

    TT Loại thợ Đơn vị Số lượng Ghi chú
    1 Thợ lao động công 66,83  
    2 Thợ nề công 119,04  
    3 Thợ bê tông công 40,64  

    Người lập

    BẢNG TỔNG HỢP NHU CẦU MÁY THI CÔNG

    TT Tên vật liệu và quy cách Đơn vị Số lượng Ghi chú
    1 Máy trộn vữa 80l ca 2,23  
    2 Máy trộn bê tông 250l ca 0,30  
    3 Đầm dùi 1,5 KW ca 0,58  
    4 Máy vận thăng 0,8T ca 0,35  

    Người lập

    CHƯƠ NG IV

    LẬP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH

    I.                   CÁC CĂN CỨ ĐỂ LẬP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH:

     

    1.                 Đơn giá xây dựng cơ bản:

     

    1.1 Khái niệm:

    Đơn gia xây dựng c ơ bản là chỉ tiêu kinh tế kỹ thu ật tổng hợp xác định nhữ ng chi phí trực tiếp (vậ t liệu, nhân công, máy thi công) hay toàn bộ chi phí xã hội cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp tạo nên công trình.

    Ví dụ: Đơn giá 1m3 xây tường gạch chỉ 220 là bao gồm toàn bộ chi phí tình bằng tiền của:

    • Vật liệu: gạch, vôi, xi măng, cát
    • Nhân công: lương và phụ cấp lương của công nhân chính, phụ trực tiếp xây dựng lên 1m3 tường xây đó.
    • Máy thi công: chi phí sử dụng máy, máy trộn vữa máy vận chuyển vật liệu

    Trong xây d ựng, đơn giá xây dựng cơ bản đượ c dùng để xác định dự toán công trình xây dự ng, làm că n c ứ để lập kế hoạ ch và quản lý v ốn đầu t ư xây dựng, được s ử dụng để đánh giá về mặt kinh tế, tài chính các hồ sơ dự thầu. Đơn giá xây dựng cơ bản còn là các chỉ tiêu để các tổ chức tư vấn thiết kế, thi công so sánh lựa chọn các giải pháp thiết kế, phương pháp thi công và tổ chức thi công hợp lý quá trình thiết kế xây dựng công trình.

    1.2 Phân loại đơn giá xây dựng cơ bản:

    1. Phân loại theo mức độ tổng hợp và yêu cầu xác lập dự toán

    Trong các giai đoạn thiết kế đơn giá xây dựng cơ bản được phân thành 2 loại chủ yếu:

    • Đơn giá xây dựng cơ bản tổng hợp
    • Đơn giá xây dựng cơ bản chi tiết
    • Đơn giá xây dựng cơ bản tổng hợp

    Đơn giá xây dựng cơ b ản tổ ng hợp là đơn giá trong đó bao gồm những chi phí tr ực tiếp, chi phí chung, lãi và thuế tính trên m ột đơn vị khối lượng công tác xây lắp tổng hợp hoặc một kết cấu xây lắp hoàn chỉnh và được xác định trên cơ sở đơn giá xây dựng cơ bản chi tiết hoặc định mức dự toán tổng hợp.

    Đơn giá xây dựng cơ bản tổng hợp được sử dụng để lập tổng dự toán công trình xây dựng theo thiết kế kỹ thuật ở giai đoạn chuẩn bị xây dựng.

    Ví dụ:

    1. Toàn bộ chi phí trực tiếp (gồm vật liệu, nhân công, máy thi công và các chi phí chung, lãi và thuế để hoàn thành 1m2 xây dựng, 1m2

     

    sàn) đây là đơn giá tổng hợp đầy đủ.

    1. Toàn bộ chi phí trực tiếp (gồm vật liệu, nhân công, máy thi công để hoàn thành 1m2 xây dựng, 1m2 sàn) đây là đơn giá tổng hợp chưa

    đầy đủ.

    b/ Phân loại theo phạm vi sử dụng

    Do phạm vi sử dụng của đơn giá xây dựng cơ bản mà theo cách phân loại này thì nó lại được chia thành 3 loại: – Đơn giá xây dựng của tỉnh, thành phố

    – Đơn giá xây dựng công trình – Đơn giá xây dựng dự thầu

    + Đơn giá xây dựng cơ bản của tỉnh, thành phố (còn gọi là đơn giá xây dựng chi tiết của địa phương)

    Đơn giá này do chủ t ịch UBND tỉnh, thành ph ố trực thuộc trung ương ban hành và hướng dẫn sử dụng. Nó được dùng để lập d ự toán chi tiết công trình xây dựng ở giai đoạn thiết kế b ản vẽ thi công hoặc dùng để xác định tổng dự toán công trình theo thiết kế kỹ thu ật thi công (đối với công trình thiết kế một bướ c) ở giai đoạn chu ẩn b ị xây dựng. Làm că n cứ để xác định giá xét thầu đối với tất cả các công trình của trung ương và địa phương không phụ thuộc vào cơ quan chủ quản xây dựng trên địa phương đó.

    + Đơn giá xây dựng công trình (bao gồm đơn giá tổng hợp và đơn giá chi tiết)

    Đối với các công trình quan trọng của Nhà nước ho ặc công trình có những đặc điểm kỹ thuậ t, đ iều kiện thi công phứ c tạp hoặc một số công trình có điều ki ện riêng biệt, có thể lập đơn giá riêng theo đ iều kiện thi công điều kiện sản xuất và cung ứng vật liệu xây dựng. Các ch ế độ chính sách quy định riêng đối với từng công trình. Đơn giá này do ban đơn giá công trình lập và được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt ban hành.

    Ban đơn giá công trình gồm:

    • Chủ đầu tư hoặc đại diện thay mặt chủ đầu tư làm trưởng ban.
    • Tổ chức nhận thầu xây lắp chính là phó ban.

    Các uỷ viên của ban:

    – Cục đầu tư phát triển (nếu công trình sử dụng vốn đầu tư nhà nước) hoặc ngân hàng thương mại (nếu công trình xây dựng bằng vốn

    vay).

    • Đơn vị thiết kế, giám sát kỹ thuật xây dựng công trình.
    • Đại diện sở xây dựng, sở có xây dựng chuyên ngành (tuỳ theo tính chất của dự án đầu tư xây dựng).

    Đối v ới công trình thuộc nhóm A, bo Bộ Xây dựng thống nhất với các ngành hoặ c đại phương việc thành lập ban đơn giá và xem xét, phê duyệt hoặc thoả thuận để ban hành đơn giá đó. Đối với các công trình khác do các bộ ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét duyệt có sự thoả thuận của Bộ xây dựng.

    + Đơn giá xây dựng dự thầu:

    Đơn giá xây dựng dự thầu là đơn giá xây d ựng c ơ b ản được lập riêng cho từ ng công trình. Nó c ăn cứ vào đ iều kiện biện pháp thi công cụ thể, các định mức kinh tế, kỹ thuật biện pháp tổ chứ c thi công của từng nhà th ầu và mức giá cả trên thị trường. Đơn giá xây dựng dự thầu do nhà thầu tham dự đấu thầu lập; Nếu trúng thầu thì nó là cơ sở của giá hợp đồng giao nhận thầu.

    1.3 Cơ sở để lập đơn giá xây dựng cơ bản:

    Đơn giá xây dựng cơ bản được xác định trên cơ sở:

    • Định mức dự toán xây dựng cơ bản ban hành theo Quyết định số 1242/1998/QĐ-BXD ngày 25/11/1998 của Bộ Xây dựng.
    • Bảng giá dự toán ca máy và thiết bị xây dựng ban hành theo Quyết định số 1260/QĐ-BXD ngày 28/11/1998 của Bộ Xây dựng.
    • Bảng lương A6 kèm theo Nghị định số 05/CP ngày 26/01/1994 của Chính phủ.
    • Bảng thông báo giá vật liệu đến chân công trình theo mặt bằng của liên Sở xây dựng – Tài chính- Vật giá.

    1.4 Nội dung chi phí trong đơn giá xây dựng cơ bản:

    a/ Với đơn giá XDCB chi tiết

    Nội dung các chi phí trong đơn giá xây dựng cơ bản chi tiết là bao gồm toàn bộ những chi phí trực tiếp có liên quan để tạo nên công trình.

    Những chi phí này bao gồm:

    • Chi phí vật liệu: là giá trị vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện, các vật liệu luân chuyển (ván khuôn, đà giáo…) phụ tùng, bán thành phẩm cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp. Chi phí này đã bao gồm cả giá mua, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, hao hụt và chi phí tại hiện trường xây lắp. Nhưng không bao gồm giá trị các loại vật liệu đã được tính vào chi phí chung.
    • Chi phí nhân công: là chi phí về lương chính, các khoản phụ cấp có tính chất lương và các chi phí theo chế độ chính sách đối với công nhân trực tiếp xây dựng để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây lắp. Nhưng không bao gồm tiền lương, phụ cấp lương của công nhân điều khiển và phục vụ máy thi công, công nhân các xưởng phụ trợ, công nhân vận chuyển ngoài công trường, công nhân thu mua bảo quản và bốc xếp vật tư.
    • Chi phí máy thi công: là chi phí sử dụng ca máy hoạt động tại hiện trường để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây lắp. Được tính theo bảng giá dự toán ca máy và thiết bị xây dựng hiện hành (Quyết định số 1260/1998/QĐ-BXD ngày 28/11/1998 của Bộ Xây dựng). Trong đó chi phí đã bao gồm các chi phí khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn, chi phí nhiên liệu, năng lượng vật liệu phụ, phụ tùng thay thế. Chi phí tiền lương chính, phụ cấp có tính chất lương của công nhân điều khiển, phục vụ máy và chi phí khác của máy như: chi phí vận chuyển tới công trường, chi phí làm đường tạm lán tạm cho xe máy.
    1. Với đơn giá tổng hợp
    • Trường hợp đơn giá xây dựng tổng hợp không đầy đủ thì nội dung chi phí tính như trường hợp đơn giá XDCB chi tiết nhưng được tính cho một đơn vị khối lượng công tác xây lắp tổng hợp.
    • Đối với đơn giá xây dựng cơ bản tổng hợp đầy đủ thì ngoài nội dung chi phí vật liệu, nhân công, sử dụng máy còn phải tính cả chi phí chung và lãi, thuế theo quy định.

    2.                 Giá thành theo một đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất sử dụng:

     

    Là chỉ tiêu xác định chi phí xây lắp bình quân để hoàn thành một đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất sử dụng hoặc một đơn vị kết

    cấu của từng loại nhà, hạng mục công trình thông dụ ng được xây dựng theo thiết kế đ iển hình, hay theo thiế t kế hợp lý kinh tế. Giá đượ c tính toán từ giá trị dự toán trước thuế của các loạ i công tác, kết cấu xây lắp trong phạm vi ngôi nhà hay hạng mục công trình (dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi…) không bao gồ m các chi phí không cấu thành trực tiếp trong phạm vi ngôi nhà hoặc hạng mục công trình như các chi phí để xây dựng các hạng mục đường sá, cấp thoát n ước, điện ngoài nhà… và chi phí thiết bị của ngôi nhà hay hạng mục công trình. Căn cứ này để lập tổng dự toán làm cơ sở ghi kế hoạch vốn đầu tư.

    3.                 Định mức các chi phí, phí, lệ phí tính theo tỷ lệ:

     

    3.1 Chi phí chung:

     

    1. Nội dung của chi phí chung

    Như đã giới thiệu ở Chương 1, chi phí chung trong giá thành dự toán chiếm một tỷ trọng khá lớn chỉ sau chi phí trực tiếp. Đây là loại chi phí cần thiết có liên quan đến việc xây dựng hoàn thành công trình nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng đó.

    Bao gồm:

    • Chi phí quản lý hành chính: là toàn bộ những khoản chi phí cần thiết nhằm đảm bảo cho việc tổ chức bộ máy quản lý và chỉ đạo sản xuất xây dựng hoạt động gồm lương, phụ cấp lương, công tác phí, điện nước, văn phòng phẩm, bưu chính, điện thoại…
    • Chi phí phục vụ công nhân: là những khoản chi phí phục vụ cho công nhân trực tiếp xây lắp mà chưa được tính vào chi phí nhân công trong đơn giá như: chi phí bảo hiểm xã hội, nghỉ ốm, thai sản, trích nộp phí công đoàn, chi phí phục vụ thi công, bảo hộ lao động có giá trị lớn không giao khoán cho người lao động được.
    • Chi phí phục vụ thi công: là những khoản chi phí cần thiết để phục vụ cho quá trình thi công, cải tiến kỹ thuật, tăng cường chất lượng sản phẩm, đẩy nhanh tiến độ thi công … chi phí di chuyển điều động công nhân …
    • Chi phí chung khác: là các chi phí về những khoản phát sinh có tính chất phục vụ cho toàn doanh nghiệp như bồi dưỡng nghiệp vụ, học tập, hội họp, sơ kết tổng kết, lụt bão, hoả hoạn v.v…
    1. Định mức chi phí chung:

    Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) so với chi phí nhân công cho từng loại công trình do Bộ Xây dựng ban hành.

    3.2 Thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng:

    • Thu nhập chịu thuế tính trước: được sử dụng để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và một số khoản chi phí phải nộp, phải trừ khác, phần còn lại được tính vào các quỹ theo quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp. Thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) so với chi phí trực tiếp và chi phí chung quy định theo từng loại công trình do Bộ Xây dựng quy định.

    Định mức chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước hiện hành được áp dụng theo Thông tư số 09/2000/TT-BXD ngày 17/7/2000 của

    Bộ Xây dựng và được thể hiện ở bảng sau đây:

    Định mức chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước

    TT                               Loại công trình

    • Xây lắp công trình dân dụng
    • Xây lắp công trình công nghiệp, trạm thuỷ điện nhỏ
    • Xây dựng công trình thuỷ điện, đường dây tải điện, trạm biến thế
    • Xây dựng đường hầm, hầm lò, lắp đặt máy trong đường hầm, hầm lò
    • Xây dựng nền đường, mặt đường
    • Xây dựng cầu cống giao thông, bến cảng, các công trình biển
    • Xây lắp công trình thuỷ lợi

    – Riêng đào đắp đất thủ công công trình thuỷ lợi (trừ lực lượng dân công nghĩa vụ)

    • Xây lắp công trình thông tin bưu điện, thông tin tín hiệu đường sắt, phát thanh truyền hình
    • Xây dựng và lắp đặt bể xăng dầu đường ống dẫn dầu khí
    • Xây dựng trạm trại các loại, trồng rừng, trồng cây công nghiệp, khai hoang xây dựng đồng ruộng
    • Thuế giá trị gia tăng (gọi tắt là VAT) đầu ra:

    Đơn vị tính: %

    Chi phí Thu nhập  
    chịu thuế  
    chung
    tính trước  
     
    58,0 5,5  
    67,0 5,5  
    71,0 6,0  
    74,0 6,5  
    66,0 6,0  
    64,0 6,0  
    64,0 5,5  
    51,0 5,0  
    69,0 5,5  
    66,0 6,0  
         
    55,0 5,5  

    Thuế suất thuế giá trị gia tăng đầu ra được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) đối với công tác xây dựng và lắp đặt. Thuế giá trị gia tăng đầu ra được sử dụng để trả thuế giá trị gia tăng đầu vào mà doanh nghiệp xây dựng đã ứng trước để trả khi mua các loại vật liệu, vật t ư, nhiên liệu, năng lượng… nhưng chưa được tính vào chi phí vật liệu, chi phí máy thi công và chi phí chung trong dự toán xây lắp trước thuế và phần thuế giá trị gia tăng mà doanh nghiệp xây dựng phải nộp.

    3.3 Các phí, lệ phí, các bảng giá:

    Bao gồm:

    • Chi phí đền bù đất đai hoa màu, di chuyển dân cư và các công trình trên mặt bằng xây dựng, chi phí phục vụ công tác tái định cư và phục hồi (đối với các dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi). Được xác định theo quy định của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính và các cơ quan có thẩm quyền.
    • Quy định của Chính phủ và hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về mức tiền thuê đất hoặc tiền chuyển quyền sử dụng đất.
    • Hướng dẫn của Bộ Tài chính về mức lệ phí địa chính các lệ phí khác, thuế, phí bảo hiểm.
    • Định mức chi phí khảo sát, thiết kế, chi phí ban quản lý dự án, chi phí công tác tư vấn, các chi phí và lệ phí thẩm định (báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, hoặc thiết kế kỹ thuật- thi công, tổng dự toán, dự toán công trình…) theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng – Bộ tài chính và các cơ quan có thẩm quyền.
    • Các chế độ, chính sách khác có liên quan do Bộ Xây dựng và các cơ quan có thẩm quyền ban hành.

    4.                 Các tài liệu:

     

    Để có căn cứ lập dự toán xây dựng cơ bản công trình cần phải căn cứ vào một số tài liệu sau:

     

    • Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có), báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
    • Hồ sơ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công hoặc thiết kế kỹ thuật thi công.
    • Khối lượng công tác xây lắp tính theo thiết kế phù hợp với danh mục định mức, đơn giá xây dựng cơ bản.
    • Danh mục và số lượng các thiết bị công nghệ (bao gồm cả thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất gia công (nếu có), các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc sinh hoạt cần phải lắp đặt, không cần lắp đặt theo yêu cầu công nghệ sản xuất của công trình xây dựng.

    II. PHƯƠNG PHÁP LẬP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH:

     

    1. Tổng dự toán công trình:

     

    1.1 Nguyên tắc lập tổng dự toán:

    • Công trình xây dựng có yêu cầu kỹ thuật cao, điều kiện địa chất phức tạp phải thực hiện thiết kế kỹ thuật trước khi thiết kế bản vẽ thi công (công trình thiết kế 2 bước) thì tổng dự toán lập theo thiết kế kỹ thuật.
    • Các công trình có kỹ thuật đơn giản, hoặc đã có thiết kế mẫu chỉ thực hiện thiết kế kỹ thuật- thi công thì tổng dự toán lập theo thiết kế kỹ thuật thi công.

    a/ Chi phí xây lắp:

    • Công trình có yêu cầu phức tạp phải thực hiện thiết kế 2 bước: thiết kễ kỹ thuật (thiết kế triển khai), thiết kế bản vẽ thi công(thiết kế chi tiết) thì chi phí xây lắp được xác định trên cơ sở khối lượng công tác xây lắp theo thiết kế kỹ thuật và đơn giá xây dựng cơ bản của các loại công tác hoặc kết cấu xây lắp được lập phù hợp với thiết kế kỹ thuật.
    • Những công trình chỉ thực hiện bước thiết kế kỹ thuật thi công thì chi phí xây lắp được xác định trên cơ sở khối lượng công tác xây lắp theo thiết kế kỹ thuật- thi công và đơn giá xây dựng cơ bản nơi xây dựng công trình do UBND cấp Tỉnh ban hành.
    • Những hạng mục công trình thông dụng thì chi phí xây lắp được xác định trên cơ sở tổng diện tích sàn hay công suất thiết kế của hạng mục công trình và mức giá tính theo một đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất sử dụng của hạng mục công trình.
    • Đối với các hạng mục công trình thuộc khu phụ trợ nhà tạm của công nhân được thực hiện như sau:
    • Chi phí xây dựng khu phụ trợ được lập thành dự toán riêng tuỳ thuộc vào thiết kế cụ thể theo quy mô và tính chất của từng hạng mục công trình. Dự toán được lập theo phương pháp lập dự toán xây lắp hạng mục công trình.
    • Chí phí xây dựng nhà tạm của công nhan xây dựng được tính toán căn cứ vào nhu cầu cần thiết của loại nhà ở tạm cần xây dựng nhưng phải đảm bảo nguyên tắc không vượt quá 2% giá trị xây lắp trong tổng dự toán đã được phê duyệt của công trình (đối với công trình mới khởi công xây dựng ở xa khu dân cư, những công trình đi theo tuyến (đường xá, kênh mương cấp I, đường lâm nghiệp, đường dây) và không vượt quá 1% giá trị xây lắp trong tổng dự toán đã được phê duyệt của công trình (đối với các công trình khác).

    Chi phí khu phụ trợ, nhà tạm của công nhân xây dựng đượ c tính trong giá của gói thầu (đối với công trình thực hiện đấu thầu) hoặc khoán gọn các chi phí này (đối với công trình được cấp có thẩm quyền chỉ định thầu).

    b/ Chi phí thiết bị:

    • Chi phí thiết bị được xác định theo số lượng từng loại thiết bị và giá trị tính cho một tấn hoặc một cái thiết bị của loại tương ứng. Trong đó giá tính bao gồm: giá mua, chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu container (nếu có) tại cảng Việt Nam (đối với thiết bị nhập khẩu) chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại khi bãi hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình. Trường hợp đấu thầu thì giá thiết bị là trúng thầu (đã gồm các nội dung nói trên) và các khoản chi phí khác (nếu có) được ghi trong hợp đồng.

    Riêng đối với các thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất, gia cồn thì chi phí cho các lo ại thiết b ị này được xác định trên cơ sở khối lượ ng cần sản xu ất, gia công và mức giá s ản xuất gia công tính cho một tấn hoặc một cái phù hợp với tính chất, chủng loại thiết bị phi tiêu chuẩn và các khoản chi phí khác có liên quan như dã nói ở phần trên.

    c/ Chi phí khác:

    Bao gồm các chi phí không thuộc chi phí xây lắp, chi phí thiết bị. Các khoản chi phí này được xác định theo định mức tính bằng tỷ lệ (%)

    hoặc bảng giá cụ thể và được chia thành 2 nhóm:

    • Nhóm xác định theo định mức bằng tỷ lệ (%) gồm:
    • Chi phí thiết kế
    • Chi phí ban quản lý dự án
    • Chi phí, lệ phí thẩm định và chi phí tư vấn khác…
    • Nhóm xác định bằng cách lập dự toán các loại chi phí như:
    • Khảo sát xây dựng
    • Tuyên truyền quảng cáo dự án
    • Đào tạo công nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý sản xuất
    • Thuê chuyên gia vận hành sản xuất thử (nếu cần )
    • Đền bù và tổ chức thực hiện trong quá trình đền bù đất đai hoa màu
    • Di chuyển dân cư và các công trình trên mặt bằng xây dựng
    • Phục vụ công tác tái định cư và phục hồi (nếu cần)

    d/ Dự phòng phí:

    Định mức dự phòng trong tổng dự toán công trình được tính bằng 10% trên tổng chi phí xây lắp, chi phí thiết bị và chi phí khác.

    1.2 Phương pháp và trình tự lập tổng dự toán công trình:

    Tổng dự toán là tài liệu xác định toàn bộ vốn đầu t ư cần thiết để xây dựng công trình và được lập ở bước thiết kế kỹ thuật (đối với công trình thiết kế 2 bước) hoặc thiết kế kỹ thuật thi công (đối với công trình thiết kế 1 bước) tổng dự toán công trình bao gồm:

    • Chí phí xây lắp (GXL)
    • Chi phí thiết bị (GTB)
    • Chi phí khác (GK)
    • Chi phí dự phòng (GDP)

    Tổng dự toán công trình tính theo công thức

    GTDT = GXL + GTB +GK +GDP               (i)

    a/ Tính giá trị dự toán xây lắp:

    a.1 Tài liệu cần thiết để tính dự toán xây lắp:

    • Báo cáo nghiên cứu khả thi được duyệt
    • Hồ sơ thiết kế kỹ thuật
    • Khối lượng công tác xây lắp được tính toán hồ sơ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công phù hợp với danh mục của đơn giá tổng hợp.
    • Thiết kế mặt bằng thi công tổng thể
    • Đơn giá tổng hợp được lập phù hợp với bước thiết kế kỹ thuật (đối với tổng dự toán công trình theo thiết kế kỹ thuật).
    • Đơn giá xây dựng chi tiết do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố ban hành (đối với tổng dự toán công trình theo thiết kế kỹ thuật thi công).
    • Giá tính cho một đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất sử dụng (đối với dự toán các hạng mục công trình thông dụng)
    • Các chế độ chính sách có liên quan đến XDCB.

    a.2 Phương pháp tính dự toán xây lắp công trình (hay cụm công trình)

    Là tập hợp toàn bộ chi phí xây lắp từng hạng mục công trình, loại công tác hoặc kết cấu xây lắp của công trình đó.

    Chi phí xây lắp công trình được tính theo công thức sau:

      n    
    GXL = g iXL (1+ TGTGTXL ) (2)
    i =1  

    Trong đó:

    g iXL : Giá trị dự toán xây lắp trước thuế của hạng mục công trình thứ i

    TGTGTXL : Mức thuế suất thuế giá trị gia tăng quy định cho công tác xây dựng lắp đặt

    Chú ý:

    • Đối với những hạng mục công trình xây dựng theo thiết kế riêng biệt thì giá trị dự toán xây lắp trước thuế của hạng mục công trình được tính theo phương pháp “Lập dự toán chi tiết các hạng mục công trình” sẽ trình bày ở phần 2.
    • Đối với những hạng mục công trình thông dụng (như nhà ở, nhà làm việc, hội trường, kho tàng, đường sá, sân bãi…) được xây dựng theo thiết kế điển hình hoặc thiết kế hợp lý kinh tế đã có trong bảng giá (tính cho một đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất) thì dự toán xây lắp trước thuế được xác định theo công thức sau:
    g iXL  = Pi x Si (3)

    Trong đó:

    Pi: mức giá tính cho một đơn vị diện tích hay một đơn vị công suất sử dụng của hạng mục công trình thứ i.

    Si: diện tích hay công suất sử dụng của hạng mục công trình thứ i

    1. Tính giá trị dự toán mua sắm thiết bị:

    b.1 Tài liệu cần thiết để tính giá trị dự toán mua sắm thiết bị công nghệ

    • Báo cáo nghiên cứu khả thi được duyệt
    • Danh mục và số lượng các thiết bị cần lắp đặt và không cần lắp đặt theo yêu cầu của công nghệ sản xuất của công trình xây dựng.
    • Giá mua các thiết bị (theo cái hay theo tấn thiết bị)
    • Giá cước vận tải bốc xếp.
    • Định mức chi phí tính theo tỷ lệ (hay theo dự toán) của công tác bảo quản bảo dưỡng được cấp có thẩm quyền ban hành.
    • Các chế độ, chính sách khác có liên quan.

    b.2 Phương pháp tính

    Giá trị dự toán mua sắm thiết bị công nghệ toàn bộ công trình được tính theo công thức sau:

        n      
    G   ∑ QiMi TB ) (4)
    TB = i =1 (1 + TGTGT
             
    Trong đó:          
    Qi: là trọng lượng (tấn) hoặc số lượng (cái) thiết bị (nhóm thiết bị) thứ i    
    Mi: giá tính cho 1 tấn hoặc 1 cái (1 nhóm) thiết bị thứ i của công trình    
    Mi = mi + ni + ki + vi + hi   (5)

    mi: giá trị của thiết bị thứ i ở nơi mua (nơi sản xuất, chế tạo hoặc nơi cung ứng thiết bị công nghệ tại Việt Nam) hay giá tính đến cảng Việt Nam (đối với thiết bị nhập khẩu)

    ni: chi phí vận chuyển 1 tấn hoặc 1 cái (1 nhóm) thiết bị thứ i từ nơi mua hay từ cảng Việt Nam đến công trình

    ki: chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu container 1 tấn hoặc 1 cái (1 nhóm) thiết bị thứ i (nếu có) tại cảng Việt Nam (đối với thiết bị nhập khẩu)

    vi: chi phí bảo quản, bảo dưỡng 1 tấn hoặc 1 cái (1 nhóm) thiết bị thứ i tại hiện trường.

    hi: thuế và phí bảo hiểm thiết bị thứ i

    TGTGTTB : mức thuế suất thuế giá trị gia tăng quy định đối với từng loại thiết bị

    • Riêng đối với các thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất gia công thì chi phí cho các loại thiết bị này được xác định trên cơ sở khối lượng thiết bị và mức giá sản xuất, gia công tính cho 1 tấn hoặc 1 cái phù hợp với tính chất chủng loại thiết bị và các khoản chi phí khác có liên quan.
    1. Tính chi phí khác:

    c.1 Tài liệu cần thiết để tính chi phí khác

    • Báo cáo nghiên cứu khả thi
    • Hồ sơ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công
    • Thiết kế mặt bằng thi công tổng thể
    • Bảng giá khảo sát, thiết kế, tư vấn…
    • Các văn bản thông tư, chính sách có liên quan đến xây dựng cơ bản.

    c.2 Phương pháp tính

    Giá trị dự toán chi phí khác được tính theo công thức:

          m m    
    G   = (∑ Bi + ∑ C1 ) k (6)
    k i =1 J =1 x (1 + TGTGT )
               

    Trong đó:

    Bi: giá trị của khoản mục chi phí khác thứ i thuộc nhóm chi phí, lệ phí tính theo định mức tỷ lệ %

    Ci: giá trị của khoản mục chi phí khác thứ i thuộc nhóm chi phí khác tính bằng cách lập dự toán

    TGTGTk : mức thuế suất thuế giá trị gia tăng theo quy định đối với từng loại chi phí khác là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. d. Tính chi phí dự phòng

    Chi phí dự phòng (g ồm dự phòng do khối lượng phát sinh và dự phòng do yếu tố trượt giá) được tính bằng 10% trên toàn bộ chi phí xây lắp, chi phí thiết bị và chi phí khác của công trình. Được tính theo công thức:

    GDP = (GXL + GTB + GK) x 10% (7)

    1.3 Hồ sơ, biểu mẫu tổng dự toán:

    1. Hồ sơ tổng dự toán bao gồm: – Tờ trình xin duyệt tổng dự toán – Bản thuyết minh tổng dự toán
    • Biểu tổng hợp dự toán, các biểu tổng hợp riêng từng khoản mục chi phí bao gồm: chi phí xây lắp, chi phí thiết bị, chi phí khác và biểu tính khối lượng công tác xây lắp (theo hình thức và nội dung trong mục 2 dưới đây).
    1. Biểu mẫu tổng dự toán

    Biểu tổng hợp tổng dự toán (biểu số 1 – TDT)

    Ngày …… tháng …… năm ……

    Tên công trình:

    TT

    1

    2

    3

    4

    Khoản mục chi phí Giá trị trước Thuế GTGT Giá trị sau  
    thuế đầu ra thuế  
     
    Chi phí xây lắp     GXL  
    Chi phí thiết bị     GTB  
    Chi phí khác        
    • Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
    • Giai đoạn thực hiện đầu tư
    • Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng

    Chi phí dự phòng                     GDP

    Tổng cộng: (1 + 2 + 3 + 4)                                                                           GTDT

     

    Người tính                         Người kiểm tra                         Cơ quan lập

    Biểu tổng hợp chi phí xây lắp (biểu số 2-TDT)

    Ngày …… tháng ……. năm

      Tên công trình:      
    TT   Tên hạng mục công Giá trị dự toán xây lắp Thuế GTGT Giá trị dự toán
      trình trước thuế đầu ra xây lắp sau thuế
       
    1   Hạng mục …………..      
    2   Hạng mục …………..      
    3   Hạng mục …………..      
        Tổng cộng     GXL
        Người tính Người kiểm tra Cơ quan lập

    Ghi chú: Giá trị dự toán xây lắp trước thuế của từng hạng mục công trình xác định theo phương pháp nêu trong điểm a.2 (phương pháp tính dự toán xây lắp công trình).

    Biểu tổng hợp chi phí thiết bị (biểu số 3 – TDT)

    Ngày …….. tháng ………. năm ………

    Tên công trình:

      Tên thiết bị Đơn Số Giá
    TT hay nhóm
      thiết bị vị lượng mua
           
    1 2 3 4 5
      I. Thiết bị      
      phải lắp      
           
           
      II. Thiết bị      
      không      
      phải lắp      
           
           
      III. Thiết bị      
      phi tiêu      
      chuẩn phải      
      gia công      

    Thành

    tiền Chi phí vận mua chuyển

    thiết bị

    6          7

    Có thể tính chung cho toàn bộ ho ặc tính cho từng thiết bị

    Chi phí lưu

    kho, lưu bãi, lưu Container (nếu có) tạ i cảng Vi ệt Nam

    8

    Chi phí

    bảo quản

    9

    Có thể tính chung cho toàn bộ hoặc tính cho từng thiết bị

    Phí   Tổ ng  Thuế bảo  giá trị  GTGT hiểm  trước  đầu ra thuế

    10     11      12

    Tổng

    giá trị

    sau

    thuế

    13

    sản xuất

    Người tính                         Người kiểm tra                         Cơ quan lập

    Biểu tổng hợp chi phí khác (biểu số 4 – TDT)

    Ngày …. tháng …. năm ….

    Tên công trình

    Các khoản chi phí khác

    1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

    1. Giai đoạn thực hiện đầu tư

    1. Giai đoạn kết thúc xây dựng vào khai thác sử dụng

    Tổng cộng

    Người tính

    Giá trị trước                      Thuế giá trị gia Giá trị sau

    thuế             tăng đầu ra           thuế

    đưa dự án

    GK

    Người kiểm tra                        Cơ quan lập

     

    Biểu tính khối lượng công tác xây lắp chủ yếu (biểu số 5 – TDT)

    Ngày …. tháng …. năm ….

    Tên công trình:

    TT Loại công tác Đơn     Khối lượng công tác     Tổng
    Hạng Hạng Hạng Hạng   Hạng
    vị v.v… cộng
          mục 1   mục 2   mục 3   mục 4   mục n  
    1 2 3 4 5 6 7 ….. m-1 m
    • Đào đắp đất

    đá, cát

    • Đào đất
    • Đắp đất

    n   v.v…

    II  Công    tác

    đóng cọc

    • Đóng cọc tre
    • Đóng cọc gỗ
    • Đóng cọc bê tông

    n     v.v……..

    Người tính                         Người kiểm tra                         Cơ quan lập

    1. Phương pháp lập dự toán xây lắp chi tiết các hạng mục công trình:

     

    2.1 Nguyên tắc và phương pháp tính:

     

    + Giá trị dự toán xây lắp sau thuế của hạng mục công trình bao gồm: giá trị dự toán xây lắp trước thuế và khoản thuế giá trị gia tăng đầu

    ra.

    + Giá trị dự toán xây lắp trước thuế của hạng mục công trình bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước.

    • Chi phí trực tiếp: bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí sử dụng máy thi công. Nó được xác định trên cơ sở khối lượng công tác xây lắp nhân (x) với đơn giá xây dựng của công tác xây lắp tương ứng.
    • Chi phí nhân công trong đơn giá bao gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp có tính chất lương và các chi phí theo chế độ đối với công nhân xây lắp mà có thể khoán trực tiếp cho người lao động để tính cho một ngày công định mức (áp dụng theo các văn bản hướng dẫn của nhà nước tại thời điểm tính toán).
    • Các khoản phụ cấp: bao gồm phụ cấp lưu động ở mức thấp nhất bằng 20% tiền lương tối thiểu, phụ cấp không ổn định sản xuất ở mức thấp nhất bình quân bằng 10% tiền lương cơ bản, một số khoản phụ cấp (nghỉ hè, tết, phép…) bằng 12% và một số chi phí có thể khoán trực tiếp cho người lao động tính bằng 4% so với tiền lương cơ bản.
    • Đối với các công trình được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cho phép được hưởng thêm các khoản phụ cấp lương và chế độ chính sách khác chưa tính vào chi phí nhân công trong đơn giá nêu trên hoặc được hưởng phụ cấp lưu động ở mức cao hơn 20% hay hưởng phụ cấp không ổn định sản xuất cao hơn 10% thì được bổ sung các khoản này vào chi phí nhân công trong dự toán như ở bảng tổng hợp dự toán xây lắp hạng mục công trình (Bảng 4-2).
    • Chi phí vật liệu trong đơn giá tính theo mức giá do liên sở xây dựng và tài chính vật giá địa phương thông báo tại thời điểm xây dựng tập đơn giá.
    • Chi phí máy thi công trong đơn giá tính theo bảng giá dự toán ca máy và thiết bị xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 1260/1998QĐ-BXD ngày 28/11/1998 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
    • Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ (%) so với chi phí nhân công trong dự toán xây lắp. Tỷ lệ này quy định theo từng loại công trình do Bộ Xây dựng ban hành (Bảng 4-3).
    • Thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ (%) so với chi phí trực tiếp và chi phí chung quy định theo từn loại công trình (tại Bảng 4-3).

    Bảng 4.1 Biểu tính các thành phần chi phí trực tiếp theo đơn giá

    Tên công trình:

    Diện tích sử dụng:

    Các căn cứ để lập dự toán:

    TT Số hiệu Tên công việc quy  
    đơn giá cách  
     
    (1) (2) (3)  
      …… Đào  đất  móng  băng  
    • nhóm 4 đứng thành R<3m sâu <1m

    2                       ……………………….

    3                       ……………………….

    Cộng

    Đơn vị Khối   Đơn giá   Thành tiền    
    lượng VL NC M VL NC M  
     
    (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11)  

    Chú ý:

    • Để tính thành tiền các chi phí của từng loại khối lượng công tác ta lấy khối lượng ở cột (5) nhân với giá VL ở cột (6) được kết quả ghi vào cột (9).

    Tiếp tục (5) x (7) → ghi vào cột (10)

    • x (8) → ghi vào cột (11)
    • Cứ tính lần lượt các công tác như vậy cho đến hết các công tác của công trình.
    • Cuối cùng cộng theo cột (9) được ΣQj x QjVL là tổng chi phí vật liệu theo đơn giá
    • Cộng cột (10) được ΣQj x DjNC là tổng chi phí nhân công theo đơn giá
    • Cộng cột (11) được ΣQj x Djm là tổng chi phí máy thi công theo đơn giá:
    • Khoản mục chi phí
    • (2)

    I     Chi phí trực tiếp

    Chi phí vật liệu

    1

    Chi phí nhân công

    2

    Bảng 4.2. Bảng tổng hợp dự toán xây lắp hạng mục công trình xây dựng
    (Theo Thông tư số 03/2001/TT-BXD ngày 13-2-2001 của Bộ Xây dựng)
      Cách tính       Kết quả
        (3)             (4)
      m                  
      Q j x D jvl + CLvl   VL
      j =1        
    m           F   F    
    Q j     +   1 + 2    
    x D jNC 1   h1n     NC
    j =1           h2n   x

    KNC

    Chi phí máy thi công

    3

     Cộng chi phí trực tiếp

    II    Chi phí chung

    • Thu nhập chịu thuế tính trước Giá trị dự toán xây lắp trước thuế

    IV   Thuế giá trị gia tăng đầu ra

    Giá trị dự toán xây lắp sau thuế

    m        
    Q j x D jm x KMTC M
    j =1    
    VL + NC + M T
      P x NC C
    (T + C) x tỉ lệ quy định TL
    (T + C + TL) gXL
    gXL x TGTGTXL VAT
    (T + C + TL) + VAT GXL

    Trong đó:

    Qj: Khối lượng công tác xây lắp thứ j;

    DjVL, DjNC, Djm: Chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công trong đơn giá xây dựng của công tác xây lắp thứ j;

    F1: Các khoản phụ cấp lương (nếu có) tính theo tiền lương tối thiểu mà chưa được tính hoặc chưa đủ trong đơn giá xây dựng.

    F2: Các khoản phụ cấp lương (nếu có) tính theo tiền lương cấp bậc mà chưa được tính hoặc chưa đủ trong đơn giá xây dựng.

    h1n: Hệ số biểu thị quan hệ giữa chi phí nhân công trong đơn giá so với tiền lương tối thiểu của các nhóm lương thứ n:

    – Nhóm I: h1.1 = 2,342
    – Nhóm II: h1.2 = 2,493
    – Nhóm III: h1.3 = 2,638
    – Nhóm IV: h1.4 = 2,796

    h2n: Hệ số biểu thị quan hệ giữa chi phí nhân công trong đơn giá so với tiền lương cấp bậc của các nhóm lương thứ n:

    – Nhóm I: h2.1 = 1,378
    – Nhóm II: h2.2 = 1,370
    – Nhóm III: h2.3 = 1,363
    – Nhóm IV: h2.4 = 1,357
    • Định mức chi phí chung (%) TL: Thu nhập chịu thuế tính trước;

    gXL: Giá trị dự toán xây lắp trước thuế;

    GXL: Giá trị dự toán xây lắp sau thuế;

    CLvl: Chênh lệch vật liệu (nếu có);

    KNC, KMTC: Hệ số điều chỉnh chi phí nhân công, chi phí máy thi công.

    TGTGTXL : Mức thuế suất thuế GTGT quy định cho công tác xây dựng, lắp đặt;

    VAT: Tổng số thuế giá trị gia tăng đầu ra (gồm thuế GTGT đầu vào để trả khi mua các loại vật tư, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng… và phần thuế GTGT mà doanh nghiệp xây dựng phải nộp).

    Bảng 4.3 Định mức chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước

     

    TT

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    Loại công trình

    Xây lắp công trình dân dụng

    Xây lắp công trình công nghiệp, trạm thuỷ điện nhỏ

    Xây lắp công trình thuỷ điện, đường dây tải điện, trạm biến thế

    Xây dựng đường hầm, hầm lò, lắp đặt máy trong đường hầm, hầm lò

    Xây dựng nền đường, mặt đường

    Xây lắp cầu cống giao thông, bến cảng, các công trình biển

    Xây lắp công trình thuỷ lợi

    • Riêng đào, đắp đất thủ công công trình thuỷ lợi (trừ lực lượng dân công nghĩa vụ)

    Xây lắp công trình thông tin bưu điện, thông tin tín hiệu đường sắt, phát thanh truyền hình

    Xây dựng và lắp đặt bể xăng dầu, đường ống dẫn dầu, dẫn khí

    Đơn vị tính: %

    Chi phí Thu nhập chịu
    chung thuế tính trước
    58,0 5,5
    67,0 5,5
    71,0 6,0
    74,0 6,5
    66,0 6,0
    64,0 6,0
    64,0 5,5
    51,0 5,0
    69,0 5,5
    66,0 6,0
       
    10 Xây dựng trạm, trại các loại, trồng rừng, trồng cây 55,0 5,5  
    công nghiệp, khai hoang xây dựng đồng ruộng
           

    3.                 Thẩm tra xét duyệt tài liệu dự toán:

     

    Các tài liệu dự toán được lập và trình duyệt cùng một lần với tài liệu thiết kế Tổ chức có thẩm quyền phê duyệt:

    3.1 Đối với những dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh.

    1. Dự án nhóm A (theo phân loại dự án đầu tư kèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ) do: – Bộ trưởng

     

    – Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ – Cơ quan thuộc Chính phủ

     

    – Hội đồng quản trị tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp quản lý. – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

     

    Có dự án đầu tư phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán sau khi đã được Bộ Xây dựng chủ trì tổ chức thẩm định.

    1. b. Dự án nhóm B, C thuộc các bộ, ngành, cơ quan trung ương và các tổng công ty nhà nước. Ngườ i có thẩm quyền quyết định đầu t ư dự án đồng thờ i là người phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán sau khi đã được cơ quan có chức năng quản lý xây dựng của cấp quyết định đầu tư thẩm định.
    1. c. Dự án nhóm B, C do địa phương quản lý. Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán sau khi đã được sở xây dựng hoặc sở có xây dựng chuyên ngành thẩm định (tu ỳ theo tính chất của dự án). Ch ủ tị ch UBND tỉnh có thể uỷ quyền cho giám đốc sở xây dựng hoặc sở có xây dựng chuyên ngành phê duyệt các công trình thuộc dự án nhóm C do tỉnh quản lý.
    1. d. Chủ đầ u tư được phép phê duyệt thiết kế chi tiết và dự toán các hạng mục công trình phụ (hàng rào, nhà thường trực) có giá trị dưới 100 triệu đồng, không làm ảnh hưởng đến thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán công trình đã được phê duyệt.

    3.2 Các dự án đầu tư s ử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, vốn do doanh nghiệp tự huy động và vốn tín dụng thương mại không do nhà nước bảo lãnh

    1. Dự án nhóm A. Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán theo quy định như ở điểm a mục 3.1 trên.

     

    1. Dự án nhóm B, C người có thẩm quyền quyết định đầu tư doanh nghiệp đồng thời là người phê duyệt sau khi cơ quan có chức năng quản lý xây dựng của doanh nghiệp thẩm định.

    3.3 Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của tư nhân và các tổ chức kinh tế không thuộc các doanh nghiệp nhà nước, thì chủ đầu tư chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định và phê duyệt.

    3.4 Các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, việc thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán có quy định riêng.

    4.                 Lập dự toán đấu thầu xây lắp:

     

    4.1 Khái niệm:

    Để tham gia đấ u thầu một công trình xây dự ng thì các đơn vị xây lắp tham gia dự thầu c ần phải lập dự toán chi tiết xây lắp cho công trình đó để xác định được giá đấu thầu công trình, theo khả năng tổ chức quản lý xây dựng và trình độ kỹ thuật thi công của đơn vị mình.

    4.2 Phương pháp lập dự toán đấu thầu:

    Muốn thắng th ầu thì đơn vị tham gia đấu thầu phải xây dựng được giá dự thầu của đơn v ị mình sao cho có khả năng th ắng thầu (thường là thấp, hợp lý hơn giá dự thầu của đơn vị khác). Nội dung và phương pháp lập dự toán đấu thầu về cơ bản cũng giống như lập dự toán xây lắp chi tiết.

    • Để đạt được mục đích trên đơn vị xây lắp tham dự thầu phải có trình độ tổ chức quản lý xây lắp tốt. Có các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, có phương tiện thi công hiện đại, tổ chức quản lý và sử dụng lao động hợp lý khoa học… để có hiệu quả cao trong sản xuất, tìm các nguồn cung cấp vật liệu, nhân công thuận lợi. Trên cơ sở đó xây dựng được các định mức, đơn giá nội bộ (đơn giá riêng) cho đơn vị mình một cách hợp lý nhưng vẫn đảm bảo việc thực hiện được các khối lượng công tác xây lắp của công trình xây dựng đó đúng yêu cầu thiết kế, và lấy đó làm căn cứ để lập dự toán đấu thầu.
    • Mặt khác nghiên cứu tìm biện pháp giảm thấp các chi phí khác ở các khâu trong quá trình chuẩn bị và thi công công trình.
    • Các khối lượng công tác phải xác định tỷ mỷ phù hợp với định mức, đơn giá nội bộ của đơn vị mình và phù hợp với việc giao khoán cho từng đội tổ xây dựng hay từng công nhân.
    • Trên những cơ sở đã nêu, nội dung lập dự toán đấu thầu xây lắp cũng cơ bản giống như lập dự toán xây lắp chi tiết.

    PHẦN BÀI TẬP TỔNG HỢP

    Tính tiên lượng và lập dự toán cho công trình xây dựng

    CHƯƠ NG V

    THANH TOÁN QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÔNG TRÌNH HOÀN THÀNH

    I.                   Thanh toán khối lượng thực hiện hay công trình hoàn thành:

     

    1.                 Nguyên tắc chung:

     

    • Tất cả các công trình đầu tư xây dựng từ mọi nguồn vốn đầu tư đều áp dụng việc cấp vốn, cho vay và thanh toán vốn đầu tư theo giá trị khối lượng thực hiện được nghiệm thu.
    • Việc thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản thực hiện được tiến hành giữa chủ đầu tư và các tổ chức nhận thầu phù hợp với phương thức đấu thầu hoặc giao thầu.
    • Việc cấp vốn thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản thực hiện (không phân biệt nguồn vốn) giữa chủ đầu tư và các tổ chức có liên quan trong việc thực hiện khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành khối lượng xây lắp, mua sắm, trang thiết bị…) đều thực hiện thông qua hệ thống cơ quan cấp phát thanh toán và phải có ghi trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
    • Trong năm kết thúc dự án, chủ đầu tư chỉ được cấp thanh toán tối đa là 95% giá trị khối lượng kế hoạch 5% còn lại chỉ được thanh toán sau khi có báo cáo quyết toán được duyệt.

    2.                 Điều kiện để khối lượng xây dựng cơ bản thực hiện được cấp vốn thanh toán:

     

    2.1. Đối với xây lắp:

     

    • Khối lượng xây lắp đã thực hiện của công trình, hạng mục công trình có trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải có ghi trong hợp đồng kinh tế và trong tổng dự toán của cả công trình. Những khối lượng xây lắp thực hiện ngoài kế hoạch và thiết kế dự toán được hội đồng thẩm tra phân cấp xét duyệt chấp thuận mới được thanh toán.
    • Có biên bản nghiệm thu, bàn giao theo đúng quy định hiện hành của nhà nước.
    • Có phiếu giá thanh toán được lập tương ứng với khối lượng thực hiện trên cơ sở đơn giá đã thống nhất và các chế độ chính sách do nhà nước quy định.

    2.2. Đối với thiết bị:

    • Các thiết bị máy móc cần lắp đặt và không cần lắp đặt có trong danh mục thiết bị đầu tư phải có trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản được cấp có thẩm quyền phê duyệt, có hợp đồng mua bán hoặc gia công thiết bị được cấp vốn thanh toán.
    • Mỗi lần thực hiện xong các bước công việc, vận chuyển bốc xếp, bảo quản, gia công thiết bị đúng quy trình kỹ thuật theo hợp đồng ký giữa chủ đầu tư và các tổ chức có liên quan thì chi phí của mỗi lần thực hiện trên sẽ được cấp vốn thanh toán.

    2.3. Đối với các chi phí khác:

    • Các công việc thuộc chi phí khác có tính chất xây lắp, được cấp có thẩm quyền cho phép được áp dụng cấp vốn thanh toán như đối với khối lượng xây lắp thực hiện.
    • Chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng thì tổng chi phí mỗi lần được cấp vốn thanh toán.
    • Các chi phí khác cho công tác chuẩn bị đầu tư được cấp thanh toán cho từng khoản mục, chi phí tương ứng với khối lượng công việc đã thực hiện từng kỳ trên cơ sở hợp đồng giữa chủ đầu tư và các tổ chức có liên quan.
    • Đối với công tác khảo sát, thiết kế, chủ đầu tư ứng trước cho các tổ chức này không quá 30% giá trị khảo sát, thiết kế theo hợp đồng kinh tế đã ký. Việc thanh toán được thực hiện theo lịch giao hồ sơ tài liệu, khi bên chủ đầu tư nhận đủ phải thanh toán 95% giá trị hợp đồng, còn 5% các đơn vị khảo sát, thiết kế sẽ nhận được sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đã ghi trong hợp đồng kinh tế.

    Các khoản chi phí khác còn lại được cấp vốn thanh toán theo dự toán chi phí và kế hoạch đầu tư được duyệt.

    3.                 Căn cứ để thanh toán:

     

    • Về khối lượng công tác phải được xác định theo khối lượng thực tế đã hoàn thành. Trường hợp khối lượng công tác phát sinh không có trong thiết kế phải được bên chủ đầu tư xác nhận, phải có ý kiến của cơ quan thiết kế và phải trình duyệt cơ quan cấp trên, phải có biên bản bàn giao.
    • Các biên lai chứng từ tạm ứng, tạm chi.
    • Về đơn giá: giá cả vật liệu theo thông báo giá bán hàng tháng của địa phương để xác định chênh lệch giá vật liệu, không có trong thông báo giá thì phải dựa vào biên lai, hoá đơn của Bộ Tài chính.

    4.                 Phương pháp tính:

     

    Nội dung phương pháp thanh toán cũng giống như tính dự toán:

     

    • Tính các khối lượng công tác thực tế hoàn thành có ghi chú, diễn giải, có ý kiến xét duyệt các khối lượng phát sinh thêm.
    • Sử dụng bảng đơn giá chi tiết hiện hành để tính ra các chi phí trực tiếp theo đơn giá
    • Tổng hợp giá trị dự toán xây lắp
    • Tổng hợp tổng dự toán công trình

    II. Quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành:

    1.                 Phạm vi đối tượng:

     

    • Tất cả các công trình đầu tư xây dựng cơ bản thuộc khu vực nhà nước không phân biệt quy mô, hình thức xây dựng, nguồn vốn đầu tư, khi hoàn thành chủ đầu tư phải có trách nhiệm quyết toán toàn bộ vốn đầu tư với cơ quan chủ quản và cơ quan cấp (cho vay) vốn.
    • Nếu công trình đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau thì trong báo cáo quyết toán phải phân tích rõ theo cơ cấu từng nguồn vốn.
    • Các dự án đầu tư nhiều năm khi báo cáo quyết toán chủ đầu tư phải quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá tại thời điểm bàn giao đưa vào vận hành để xác định giá trị tài sản cố định bàn giao (Bộ Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn phương pháp quy đổi).
    • Các đơn vị nhận thầu phải quyết toán với cấp trên của mình về kết quả tài chính.

    2.                 Các căn cứ để lập quyết toán công trình:

     

    • Hồ sơ hoàn công
    • Các biên bản nghiệm thu, bàn giao từng phần, từng loại công tác có chữ ký xác nhận của cấp trên.
    • Các văn bản xác nhận của các bên và của cấp trên về khối lượng phát sinh so với hồ sơ thiết kế đã duyệt.
    • Đơn giá chi tiết địa phương, giá ca máy.
    • Bảng định mức dự toán chi tiết
    • Bảng giá vật liệu theo thông báo hàng tháng của liên Sở Xây dựng – Tài chính – Vật giá địa phương.
    • Nếu sử dụng các loại vật liệu không có trong bảng thông báo giá vật liệu thì phải dựa trên biên lai, hoá đơn của Bộ Tài chính.
    • Các thông tư hướng dẫn về lập dự toán và thanh quyết toán cùng với các định mức về tỷ lệ quy định các khoản chi phí.

    3.                 Nội dung quyết toán công trình:

     

    Nội dung lập quyết toán công trình giống như lập dự toán.

     

    • Tính khối lượng thực tế xây dựng (theo bản vẽ hoàn công) của các loại công tác lấy đó làm căn cứ và dựa vào đơn giá chi tiết của địa phương để tính ra chi phí trực tiếp.
    • Dựa theo các thông báo, hướng dẫn về lập dự toán và các quy định về các hệ số điều chỉnh (nếu có) cùng với các tỷ lệ chi phí tại thời điểm làm quyết toán (nếu có) thay đổi giá cả vật liệu, thay đổi các hệ số hay các tỷ lệ quy định …) hai bên chủ đầu tư và các tổ chức xây lắp nhận thầu phải thống nhất về thời điểm áp dụng đơn giá, hệ số và tỷ lệ quy định, cần tổng hợp theo các vấn đề cơ bản sau
    • Xác định tổng số vốn thực tế đã đầu tư cho công trình bao gồm chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư.
    • Xác định các khoản thiệt hại không tính vào giá thành công trình (thiệt hại do thiên tai, dịch hoạ…)
    • Xác định tổng vốn đầu tư thực tế tính vào công trình:

    Tổng số vốn đầu tư tính vào công trình bằng (=) tổng số vốn đầu tư thực tế đầu tư xây dựng công trình trừ (-) các chi phí thiệt hại được nhà nước cho phép không tính vào giá thành công trình.

    • Xác định giá trị tài sản cố định và phân loại tài sản cố định.
    • Xác định đầy đủ giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động của công trình đã chuyển giao cho đơn vị khác sử dụng để hạch toán tăng giảm vốn đầu tư.

    + Quyết toán công trình theo 2 loại giá:

    Giá thực tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã sử dụng hàng năm Giá quy đổi về thời điểm bàn giao đưa công trình vào vận hành.

    4.                 Hồ sơ quyết toán công trình:

     

    Hồ sơ báo cáo quyết toán được lập theo biểu mẫu quy định bao gồm: a. Biểu quyết toán xây lắp cho công trình:

    TT       Loại công tác

    Khối lượng

    Đơn giá

    Thành tiền

    So sánh

    Tổng hợp giá quyết toán (theo nội dung tổng hợp dự toán)

    • Hệ số điều chỉnh
    • Khối lượng công tác xây lắp tăng hay giảm so với dự toán, giải thích lý do
    • Do tính tiên lượng chưa sát với quy cách trong đơn giá
    • Do khối lượng phát sinh: do thiên tai, dịch hoạ so với thiết kế phải có xác nhận của cơ quan thiết kế và chủ đầu tư trong biên bản.
    • Những khối lượng chưa có trong dự toán
    • Đơn giá có phần nào khác so với đơn giá tính trong dự toán và thuyết minh nêu rõ
    • Do thay đổi thiết kế: thay đổi chủng loại vật liệu, yêu cầu kỹ thuật
    • Do thay đổi về giá cả vật liệu, chế độ tiền lương.
    • Do đơn giá áp dụng trong dự toán chưa phù hợp…
    1. Biểu tính chi phí trực tiếp các khối lượng công tác xây lắp:
      Số Loại Đơn   Khối      
    TT công Đơn giá Thành tiền  
    hiệu vị    lượng
      tác      
      đơn        
               

    giá

    VL NC MTC VL NC MTC c. Biểu tổng quyết toán vốn đầu tư theo hạng mục công trình:

    Hạng Công suất Dự toán   Vốn đầu tư thực hiện    
        Chia ra    
    mục thiết kế được duyệt Tổng số      
    XL TB Chi phí khác  
           

    5.                 Thời hạn gửi báo cáo quyết toán:

     

    • Hàng năm khi kết thúc năm kế hoạch, chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo vốn đầu tư thực hiện của năm trước gửi cơ quan cấp phát vốn hoặc cho vay vốn gửi về Bộ hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
    • Đối với dự án nhóm A chậm nhất là 6 tháng và các dự án còn lại (B, C) chậm nhất là 3 tháng sau khi dự án đầu tư hoàn thành đưa vào vận hành sử dụng chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn, cơ quan có chức năng thẩm tra quyết toán của bộ hoặc tỉnh và cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quyết toán.

    6.                 Thẩm tra và phê duyệt quyết toán:

     

    Trước khi phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành phải tiến hành thẩm tra. + Đối với dự án thuộc nhóm A, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì thẩm tra.

     

    + Đối với các dự án còn lại do các bộ hoặc tỉnh, thành phố tổ chức thẩm tra.

     

    Cơ quan tài chính có trách nhiệm thẩm tra và có ý kiến nhận xét bằng văn bản trước khi cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán.

     

    • Phê duyệt quyết toán.
    • Đối với các dự án thuộc nhóm B, C người có thẩm quyền quyết định đầu tư đồng thời là người phê duyệt quyết toán.
    • Đối với các dự án thuộc nhóm A, Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán.
    • Đối với vốn đầu tư thực hiện hàng năm, cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn tiến hành kiểm tra số vốn đã sử dụng theo kế hoạch được

    duyệt.

    • Thời gian phê duyệt quyết toán của cấp quyết định đầu tư không quá 1 tháng (đối với quyết toán vốn đầu tư dự án nhóm A), không quá 15 ngày (đối với quyết toán vốn đầu tư dự án B, C) sau khi nhận được báo cáo kết quả thẩm tra quyết toán vốn đầu tư do cơ quan (đơn vị) chủ trì thẩm tra trình duyệt.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Xây dựng hệ thống thông tin quản lý bán hàng tại Công ty cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-T%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-v%C3%A0-vi%E1%BB%87c-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-t%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-TNHH-Nh%E1%BA%A5t-Vi%E1%BB%87t-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trải qua hơn mười năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những bước chuyển mình khởi sắc. Đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần nhà ở và các công trình xây lắp…Tạo cơ sở hạ tầng vững mạnh cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.

    Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt là một doanh nghiệp thành công trong nghành xây lắp nói riêng, của nền kinh té quốc dân nói chung, dã nhận thấy rằng: TSCĐ đóng vai trò không nhỏ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chỉ cần một biến động nhỏ về TSCĐ cũng ảnh hưởng tới giá thành, tới lợi nhuận của Công ty.

    Một trong những biện pháp bền vững là phải sử dụng hợp lý và hiệu quả khi đưa vào sản xuất kinh doanh. Tổ chức hạch toán TSCĐ sẽ giúp cho các nhà quản lý lập dự toán chi phí TSCĐ, lập kế hoạch vật tư cung cấp kịp thời cho sản xuất. Làm tốt công tác hạch toán TSCĐ sẽ giúp doanh nghiệp vươn lên hơn nữa trên thương trường và ngày càng khẳng định mình không chỉ trong nước mà cả trên thế giới.

    Hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề này,trong thời gian đi sâu nghiên cứu, tìn hiểu tại công ty Nhất Việt được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ phòng tài chính- kế toán, được sự chỉ đạo tận tình của thầy giáo Hà Đức Trụ em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội”

    Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

    CHƯƠNG I :Lý luận chung về công tác hạch toán TSCĐ trong doanh nghiệp CHƯƠNG II:Thực trạng tổ chức Hạch toán tài sản cố định tại công ty TNHH Nhất Việt

    CHƯƠNG III:Những tồn tại và một số ý kiến đề xuất hoàn thiện công tác Hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất Việt

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 1 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP

    I.Khái niệm, đặc điểm và vai trò TSCĐ trong doanh nghiệp:

    1.Khái niệm TSCĐ:

    TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam các tài sản được coi là TSCĐ phải đồng thời thoả mãn 4 tiêu chuẩn sau (theo quy định tại chuẩn mực kế toán số 3) :

    • Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
    • Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
    • Thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
    • Có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên

    2.Đặc điểm của TSCĐ;

    Tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh khác nhau nhưng không thay đổi hình thái vật chất lúc ban đầu cho đến khi bị hư hỏng .

    Giá trị TSCĐ hao mòn dần và chuyển dịch tong phần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì.

    Vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ thường lớn, thời gian thu hồi vốn dài

     3.Vai trò TSCĐ trong doanh nghiệp:

    Thông qua công tác hạch toán TSCĐ các nhà quản lý và những người quan tâm nắm bắt được tình hình thực tế về TSCĐ trong doanh nghiệp

    Công tác hạch toán TSCĐ phản ánh được tình hình tăng giảm hiện có của TSCĐ tại công ty.Từ đó giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định chiến lược cho công ty một cách chính xác và hiệu quả.

    4.Yêu cầu của công tác quản lý trong doanh nghiệp:

    Xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải quản lý TSCĐ chặt chẽ về cả hiện vật và giá trị.

    Về mặt hiện vật:Đòi hỏi phải ghi chép, phản ánh đầy đủ số lượng TSCĐ cũng như việc bảo quản và sử dụng chúng ở các đặc điểm khác nhau.

    Nguyễn Đức Hạnh – 2 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Về mặt giá trị:đòi hỏi kế toán phải tính toán, xác định giá TSCĐ, hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ và kết quả kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ.

    II.Phân loại và đánh giá TSCĐ

    1.Phân loại TSCĐ:

    Để đáp ứng yêu cầu quản lý và công tác kế toán, TSCĐ được phân theo các tiêu thức khác nhau sau đây:

    a.Theo hình thái vật chất:

    TSCĐ hữu hình:Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho thuê hoặc cho hoạt động hành chính doanh nghiệp, phúc lợi phù hợp vưói tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng

    TSCĐ hữu hình gồm có;

    • Nhà cửa vật kiến trúc
    • Máy móc thiết bị
    • Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
    • Thiết bị, dụng cụ quản lý
    • Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
    • TSCĐ hữu hình khác

    TSCĐ vô hình:là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ trong sản xuất hay cung ứng dich vụ, cho các đối tượng khác thuê hoặc dùng cho mục đích quản lý.

    TSCĐ vô hình gồm có:

    • Quyền sử dụng đất
    • Quyền phát hành
    • Bản quyền, bằng sáng chế
    • Nhãn hiệu hàng hoá
    • Phần mềm máy vi tính
    • Giấy phép và giấy nhượng quyền
    • TSCĐ vô hình khác
    Nguyễn Đức Hạnh – 3 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    b.Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:  

    Căn cứ vào quyền sở hữu đối với TSCĐ thì TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành:

    • TSCĐ tự có: Là những tài sản được xây dựng, mua sắm, hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, bằng nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được quyền tặng, viện trợ không hoàn lại
    • TSCĐ thuê ngoài:là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành do đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê TSCĐ. TSCĐ

    thuê ngoài được chia thành:TSCĐ thuê tài chính, TSCĐ thuê hoạt động

    Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu có tác dụng trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ với TSCĐ tự có của doanh nghiệp.

    c.Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành:

    • TSCĐ hìmh thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp (nếu là doanh nghiệp nhà nước)
    • TSCĐ hình thành từ nguồn vốn vay
    • TSCĐ hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung
    • TSCĐ nhận vốn góp liên doanh bằng hiện vật

    Qua cách phân loại trên, giúp doanh nghiệp sử dụng phân phối nguồn khấu hao được chính xác, theo dõi chi tiết nguồn hình thành TSCĐ.

    d.Phân loại TSCĐ theo công dụng và tình hình sử dụng:

    • TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh
    • TSCĐ dùng cho đơn vị hành chính sự nghiệp
    • TSCĐ dùng cho phúc lợi, an ninh, quốc phòng, dự trữ
    • TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý, giải quyết

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 4 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Qua cách phân loại trên, giúp doanh nghiệp có thông tin về cơ cấu TSCĐ tính toán và phân bổ chính xác số khấu hao cho các đối tượng sử dụng và có biện pháp đối với TSCĐ chờ thanh lý.

    2.Tính giá TSCĐ.

    TSCĐ được ghi sổ hạch toán và tính giá theo từng TSCĐ hoàn chỉnh chúng có thể là những TSCĐ độc lập hoậc một hệ thống các tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chứuc năng nhất định. Như vậy, đối tượng ghi TSCĐ có thể là một dây chuyền sản xuất đồng bộ và hoàn chỉnh.TSCĐ được hạch toántheo nguyên giá, giá trị còn lại và giá trị hao mòn.

    a.Nguyên giá TSCĐ

    Nguyên giá TSCĐ là giá trị ban đầu (giá trị nguyên thuỷ) của TSCĐ khi nó được xuất hiện lần đầu ở doanh nghệp. Nguyên giá TSCĐ chỉ thay đổi khi nâng cấp trang thết bị thêm cho TSCĐ hay tháo bớt một số bộ phận không dùng dến hoặc đánh giá lại TSCĐ. Tuỳ nguồn hình thành của TSCĐ mà nguyên giá được tính nhưu sau: *Trường hợp mua sắm TSCĐ được xác định theo nguyên tắc:

     

    Nguyên giá TSCĐ Mua sắm

    = Giá      + phí tổn trước  + thuế nhập khẩu

    mua                Khi dùng                           (nếu có)

    – giảm giá (nếu có)

     

    *Trường hợp tự xây dựng, chế tạo mới:

     

    Nguyên giáTSCĐ do XDCB bàn giao

    giá trị dự án duyệt

    =

    lần cuối TSCĐ

    +

    phí tổn trước

    khi dùng

     

    *Trường hợp TSCĐ được cấp:

    Nguyên giá TSCĐ Gía trị trên “biên bản chi phí trước
    = +    
    được cấp giao nhận” TSCĐ khi dùng (nếu có)
    *Trường hợp nhận TSCĐ của đơn vị khác góp vốn liên doanh  
           
    Nguyên giá TSCĐ nhận  =  giá trị do hội đồng liên + phí tổn khác
      Góp liên doanh doanh đánh giá   (nếu có)
    Nguyễn Đức Hạnh – 5 –   Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
           
    *Trường hợp TSCĐ được quyền tặng, biếu, viện trợ không hoàn lại:
      Nguyên giá TSCĐ được  = Gía thị trường của  
      biếu tặng, viện trợ TSCĐ tương đương

    *Trường hợp TSCĐ được điều chuyển nội bộ cho đơn vị cấp dưới:

    Nếu đơn vị cấp dưới hạch toán độc lập

    Nguyên giá TSCĐ = giá trị còn lại + chi phí phát sinh liên quan (nếu có)

    Nếu đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc TSCĐ đó, chi phí liên quan tính vào chi phí hoạt động

    *Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính:

    Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính ở đơn vị thuê như đơn vị chủ sở hữu tài sản.

    Nguyên giá TSCĐ  =     giá    +    chi phí trước     +         thuế và lệ phí

    Thuê tài chính                     mua             khi dùng                            trước bạ (nếu có)

    Phần chênh lệch tiền thuê TSCĐ phải trả cho đơn vị cho thuê và nguyên giá TSCĐ đó được hạch toán vào chi phí kinh doanh phù hợp vói thời hạn của hợp đồng thuê tài chính.

    Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá có tác dụng trong việc đánh giá khách quan đúng năng lực sản xuất, trình độ trang bị, cơ sở vật chất kĩ thuật và quya mô vốn đầu tư của doanh nghệp, đồng thời làm cơ sở cho việc tính khấu hao.

    Nguyên giá TSCĐ trong doanh nghiệpchỉ được thay đổi trong các trường hợp

    sau

    • Đánh giá lại TSCĐ
    • Xây dựng trang bị thêm
    • Cải tạo nâng cấp làm tăng năng lực hoạt động kéo dài tuổi thọ của TSCĐ
    • Tháo dỡ một hay một số các bộ phận của TSCĐ

    b.Gía trị còn lại của TSCĐ:

    Gía trị còn lại của TSCĐ là giá trị thực tế còn lại của TSCĐ tại thời điểm báo cáo

    Gía trị còn lại của TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ –  số khấu hao luỹ kế

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 6 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp     ĐH Quản lý và kinh doanh HN
                 
    Gía trị còn lại của TSCĐ được xác định lại nếu nguyên giá TSCĐ được đánh giá
    lại và tính như sau:          
    Giá trị còn lại   Gía trị còn lại của     Giá trị đánh giá lại TSCĐ
    Của TSCĐ = TSCĐtrước khi x      
         
        được đánh giá     Nguyên giá TSCĐ
           

    Theo chuẩn mực của kế toán quốc tế thì gía trị còn lại trong trường hợp đánh giá lại được tính như sau:

    Gía trị còn lại  = Gía trị đánh giá lại    –  Số khấu hao luỹ kế

    III.Nội dung công tác Kế toán TSCĐ:

    1.Nhiệm vụ Kế toán TSCĐ:

    TSCĐ là tư liệu sản xuất chủ yếu, có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSCĐ thường có giá trị lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số giá trị tài sản cảu doanh nghiệp.Quản lý và sử dụng tốt tài sản của doanh nghiệp không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động tốt trong kế hoạch sản xuất mà còn là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốnhạ giá thành sản phẩm. Để góp phần quản lý và sử dụng TSCĐ tốt, hạch toán TSCĐ phải thực hiện theo các nhiệm vụ sau:

    Theo dõi, ghi chép, quản lí chặt chẽ tình hình sử dụng và thay đổi của từng TSCĐ trong doanh nghiệp

    • Tính và phân bổ khấu hao TSCĐ cho các bộ phận sử dụng
    • Tham gia và lập kế hoạch và theo dõi tình hình sửa chữa TSCĐ

     2.Kế toán chi tiết TSCĐ

    Để phục vụ cho nhu cầu thông tin một cách cụ thể,chi tiết đối với từng loại, nhóm và đối tượng ghi TSCĐ cần thực hiện kế toán chi tiết TSCĐ theo địa điểm sử dụng và tại phòng kế toán của đơn vị việc vào sổ kế toán chi tiết TSCĐ cần tiến hành theo từng đối tượng ghi TSCĐ : đối tượng ghi TSCĐ hữu hình và vô hình

    *Kế toán chi tiết TSCĐ ở địa điểm sử dụng, bảo quản

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 7 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Để quản lý theo dõi TSCĐ theo địa điểm sử dụng người ta mở sổ “sổ TSCĐ theo đơn vị sử dụng” cho từng đơn vị bộ phận. Sổ này dùng để theo dõi tình hình tăng giảm TSCĐ

    *Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận Kế toán

    Bộ phận Kế toán TSCĐ sử dụng thẻ TSCĐ để theo dõi chi tiết cho từng TSCĐ của doanh nghiệp, tình hình thay đổi nguyên giá và giá trị hao mòn đã trích hàng năm của tiừng TSCĐ. Thẻ TSCĐ do kế toán TSCĐ lập cho từng đối tượng ghi TSCĐ. Thẻ TSCĐ được lưu ở phòng kế toán trong suốt quá trình sử dụng.

    Để tổng hợp TSCĐ theo từng loại, nhóm TSCĐ kế toán còn sử dụng “sổ TSCĐ” Mỗi loại TSCĐ được mở riêng từng sổ hoặc một số trang trong sổ TSCĐ.

    3.Kế toán tổng hợp TSCĐ

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình:

    Kế toán sử dụng TK 211,411 và một số TK có liên quan khác

    TK 211 “TSCĐ hữu hình dùng để phản ánh tình hình tăng giảm và hiện có của TSCĐ hữu hình theo nguyên giá”

    *Nguyên tắc đánh giá TSCĐ – TK 211

    Giá trị TSCĐ phản ánh trên TK211 theo nguyên giá, kế toán phải theo dõi chi tiết nguyên giá của từng TSCĐ

    Mọi trường hợp tăng giảm TSCĐ hữu hình đều phải lập biên bản giao nhận TSCĐ và phải thực hiện đúng thủ tục quy định.

    TSCĐ hữu hình phải được theo dõi chi tiết cho từng đối tượng ghi TSCĐ, theo từng loại TSCĐ và điều kiện bảo quản sử dụng, quản lý TSCĐ.

    Khi xây dựng cơ bản và mau sắm TSCĐ hoàn thành bằng nguồn vốn khấu hao, bằng nguồn vốn kinh doanh, thì chi phí ghi tăng giá trị TSCĐ không được ghi tăng nguồn vốn kinh doanh.

    Trường hợp TSCĐ được xây dựng cơ bản hoàn thành bằng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, bằng quỹ phát triển kinh doanh, thì kế toán phải ghi tăng giá trị TSCĐ

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 8 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    và đồng thời ghi tăng nguồn vốn kinh doanh, ghi giảm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản,ghi giảm quỹ phát triển kinh doanh

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình được phản ánh sơ đồ 1 trang phụ lục

    4.Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ thuê tài chính:

    Kế toán sử dụng TK 212 “TSCĐ thuê tài chính” để phản ánh tình hình tăng, giảm và hiện có của TSCĐ thuê tài chính theo nguyên giá

    Nguyên tắc kế toán TSCĐ thuê tài chính- TK212

    –  Không phản ánh vào TK 212 giá trị của các TSCĐ thuê có tính chất hoạt động

    Các TSCĐ được coi là TSCĐ thuê tài chính phải thoả mãn một trong các điều kiện sau:

    • Quyền sở hữu TSCĐ thuê được chuyển sang cho bên đi thuê khi hết hạn hợp

    đồng.

    • Hợp đồng cho phép bên đi thuê được lựa chọn mua TSCĐ thuê với giá thấp hơn giá trị thực tế của TSCĐ thuê tại thời điểm mua lại
    • Thời hạn thuê theo hợp đồng ít nhất phải bằng 3/4 thời gian hữu dụng của TSCĐ thuê
    • Giá trị hiện tại của các khoản chi theo hợp đồng ít nhất bằng 90% giá trị của TSCĐ thuê .

    Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau: – Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền sở hữu tài

    sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.

    – Nội dung hợp đồng thuê có quy định :khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại

    – Thời hạn thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê.

    Nguyễn Đức Hạnh – 9 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    –   Tổng số tiền thuê một số loại tài sản quy định tại một hợp đồng thuê ít nhất phải tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm kí hợp đồng.

    Theo hình thức thuê TSCĐ tài chính, bên đi thuê ghi sổ kế toán giá trị TSCĐ theo nguyên giá tại thời điểm đi thuê như là đã được mua và ghi sổ nợ dài hạn.

    Bên cho thuê TSCĐ tài chính được coi hoạt động này là hoạt động đầu tư tài chính, vì vậy phải tổ chức theo dõi đầy đủ các quá trình: đầu tư cho thuê, tính chi phí về cho thuê TSCĐ (khấu hao) thu hồi vốn đàu tư, lỗ lãi của hoạt động đầu tư cho thuê

    TK 212 được mở chi tiết theo dõi từng loại, từng TSCĐ cho thuê tài chính

    *Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ thuê tài chính được phản ánh qua sơ đồ2 trang phụ lục

    5.Kế toán TSCĐ vô hình:

    Hạch toán TSCĐ vô hình được phản ánh trên TK 213, TK213dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của toàn bộ TSCĐ vô hình của doanh nghiệp

    * Nguyên tắc kế toán TSCĐ vô hình TK213

    Nguyên giá của TSCĐ vô hình là tổng số tiền chi trả hoặc chi phí thực tế về thành lập doanh nghiệp, chuẩn bị sản xuất, về công tác nghiên cứu phát triển.Số chi trả về mua quyền hoặc nhượng quyền, bằng phát minh sáng chế.

    Toàn bộ chi phí thực tế phát sinh có liên quan đến TSCĐ vô hình trong quá trình hình thành trước hết được tập hợp vào TK214- XDCB dở dang sau khi kết thúc quá trình đầu tư phải xác định tổng chi phí đầu tư thuê từng đối tượng tập hợp chi phí,ghi tăng nguyên giá TSCĐ vô hình vào bên nợ TK213

    Trong quá trình sử dụng phải trích khấu hao TSCĐ vô hình theo mức độ hao mòn của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh. TSCĐ vô hình được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi TSCĐ trong “sổ TSCĐ”

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ vô hình được phản ánh qua sơ đồ 3 trang phụ lục

    6.Kế toán TSCĐ thuê hoạt động:

    Nguyễn Đức Hạnh – 10 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    *Kế toán tại đơn vị đi thuê:  

    Kế toán tăng giảm TSCĐ thuê hoạt động được phản ánhtrên tài khoản ngoài bảng TK 001 “TSCĐ thuê ngoài”. Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị của tất cả tài sản mà đơn vị thuê của đơn vị khác.

    Tài khoản này theo dõi chi tiết thuê từng đối tượng cho thuê và từng loại cho

    thuê

    Trình tự kế toán TSCĐ thuê hoạt động theo sơ đồ 4 trang phụ lục *Kế toán tại đơn vị cho thuê:

    Nghiệp vụ cho thuê TSCĐ hoạt động được coi là hoạt động bất thường. Trình tự kế toán TSCĐ theo sơ đồ 5 ttrang phụ lục

    Các chi phí khác

    7.Kế toán khấu hao TSCĐ

    Hạch toán hao mòn TSCĐ được phản ánh trên TK214.Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐtrong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ và những khoản tăng giảm hao mòn khác.

    Nguyên tắc kế toán hao mòn TSCĐ -TK214

    Mọi TSCĐ của doanh nghiệp đều phải được huy động và sử dụng và đều phải trích khấu hao cơ bản, thu hồi đủ vốn trên cơ sở tính đúng, tính đủ nguyên giá TSCĐ. Các trường hợp đặc biệt không trích khấu hao cơ bản, doanh nghiệp phải chấp hành đúng theo quy định quản lý hiện hành của nhà nước.

    Căn cứ vào quản lý tài chính hiện hành của nhà nướcđối với doanh nghiệp và căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp trích tỉ lệ và mức trích khấu hao cho thích hợp, nhằm kích thích sự phát triển của sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho việc thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp phải chấp hành ngiêm chỉnh các quy định về điều hoà và sử dụng vốn khấu hao TSCĐ.

    Đối với các TSCĐ đã tính đủ khấu hao cơ bản thì không trích khấu hao nữa.

    Nguyễn Đức Hạnh – 11 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Đối với các TSCĐ vô hình phải tuỳ theo thời gian phát huy hiệu quả của từng TSCĐ để trích khấu hao cơ bản tính từ khi TSCĐ đưa vào hoạt động.

    Đối với TSCĐ thuê tài chính, trong quá trình sử dụng bên đi thuê phải trích khấu hao cơ bản trong thời gian thuê theo hợp đồngtính vào chi phí sản xuất kinh doanh, đảm bảo thu hồi vốn. Bên cho thuê phải tính chi phí đầu tư tài chính theo mức khấu hao của TSCĐ cho thuê.

    Đối với TSCĐ đầu tư mua sắm bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án, bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án hoặc dùng vào hoạt động văn hoá, phúc lợi thì không trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh mà chỉ tính hao mòn TSCĐ.

    Phương pháp khấu hao

    Phương pháp khấu hao TSCĐ phải phù hợp vói đặc điểm của doanh nghiệp và đảm bảo tính nhất quán cho các niên độ kế toán

    Các phương pháp khu hao cơ bn

    Khấu hao theo đường thẳng (khấu hao tuyến tính), khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.

    Do đặc điểm hình thành và sự vận động tăng giảm của TSCĐ nên để đơn giản trong công tác Kế toán thì những TSCĐ tăng, giảm trong kì sang kì sau mới tính khấu hao tăng giảm. vì vậy số khấu hao TSCĐ phải trích trong kì tính như sau:

    Mức khấu hao TSCĐ = M ức KH TSCĐ + mức KH TSCĐ Phải trích trong kì đã trích kì trước tăng trong kì

    – mức KH TSCĐ giảm trong kì

     

    Hiện nay việc tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của bộ trưởng Bộ tài Chính

    Mức KH TSCĐ phải   Nguyên giá TSCĐ  x tỷ lệ khấu hao trong kì
    Trích hàng tháng =    
    12 tháng

    Phương pháp Kế toán khấu hao TSCĐ

    Để phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng và các khoản tăng giảm giá trị hao mòn kế toán sử dụng TK214 “hao mòn TSCĐ”.

    Nguyễn Đức Hạnh – 12 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Trình tự hạch toán khấu hao và hao mòn TSCĐ được phản ánh theo sơ đồ 6 trang phụ lục

    8.Kế toán sửa chữa TSCĐ

    Sửa chữa TSCĐ là việc duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa những hư hỏng phát sinh trong quá trình hoạt động nhằm khôi phục lại năng lực hoạt động bình thường của TSCĐ.

    Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, TSCĐ bị hao mòn dần và hư hỏng từng chi tiết bộ phận.

    Để duy trì và tiếp tục cho TSCĐ hoạt động bình thường, khôi phục duy trì năng lực hoạt động TSCĐ cần tiến hành sửa chữa thay thế những bộ phận chi tiết của TSCĐ bị hư hỏng.

    Căn cứ vào quy mô, tính chất công việc sửa chữa cũng như mức độ chi phí sửa chữa và khả năng thực hiện mà doanh nghiệp có thể tiến hành sửa chữa TSCĐ theo phương thức tự làm hoặc thuê ngoài.

    Kế toán sử dụng TK241 (TK2413-sửa chữa lớn TSCĐ)

    Trình tự hạch toán theo sơ đồ 7 trang phụ lục

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY TNHH NHẤT VIỆT

    I.Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt

    Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt là một doanh nghiệp tư nhân, được thành lập theo giấy phép số 240/GP_UB ngày 05/03/1997do UBND thành phố Hà Nội cấp. Giấy phép đăng kí kinh doanh 110786035 của UBKH thành phố Hà Nội cấp ngày 10/05/1997

    Tên công ty: Công ty TNHH NhấT Việt

    Tên giao dịch:Nhat Viet Construction Company Limited

    Trụ sở đặt tại: toà nhà A4 .Làng quốc tế Thăng Long.Trần Đăng Ninh.HN

    ĐT: (84-4) 7 567 567

    Fax: (84-4)7 567 777

    Có tài khoản riêng tại Ngân Hàng Công Thương Hai Bà Trưng-Hà Nội

    Nguyễn Đức Hạnh – 13 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Có con dấu riêng, là doanh nghiệp tư nhân

    Ban đầu thành lập công ty chỉ có hơn 20 cán bộ công nhân, hầu như chưa có đội ngũ cán bộ chuyên ngành, vốn liếngcơ sở vật chất kĩ thuật buổi ban đầu rất nhỏ bé hạn hẹp. Là một đơn vị kinh tế độc lập, hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu, có chức năng hành nghề. Nhận thầu thi công xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ chăm sóc nhà cửa.Với đội ngũ cán bộ công nhân viên phát huy năng lực, kế thừa những thành tích và những thuận lợi cùng kinh nghiệm của lớp trước, tìm tòi sáng tạo để tìm ra hướng đi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

    Phát huy nội lực để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời liên kết hợp tác với các doanh nghiệp để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đảm bảo đời sống cho CBCNV

    Với những thành tích đạt được trong những năm qua, công ty đã tự khẳng định mình, đứng vững và đang trên đà phát triển của nền kinh tế thị trường mở của nước ta hiện nay

    II.Chức năng và nhiệm vụ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

    Là doanh nghiệp thi công công trình xây dựng hạ tầng xây lắp, các công trình mà công ty tự nhận thầu.

    Địa bàn hoạt động của công ty là chuyên xây dựng cơ bản các công trình dân dụng, công nghiệp do đó địa bàn hoạt động của công ty rất phong phú và đa dạng Tổ chức cán bộ công nhân viên chức thi đua, quản lý doanh nghiệp theo

    quy định của pháp luật

    Đảm bảo việc làm, cải thiện điều kiện nâng cao đời sống tinh thần, nâng cao thu nhập và phúc lợi của công nhân lao động

    Phát hiện đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tiêu cực, vận động cán bộ công nhân viên học tập, nâng cao trình độ chính trị, kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ tổ chức hoạt động xã hội

    Nguyễn Đức Hạnh – 14 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của công ty

    Góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước III.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty (sơ đồ 8 phần phụ lục)

    Trong thời kỳ đổi mới của nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý và định hướng của nhà nước, để nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, đòi hỏi tổ chức bộ máy của công ty phải được củng cố và kiện toàn với cơ cấu đơn giản, hiệu quả cao. Mặt khác để mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty, buộc công ty phải có một bộ máy quản lý hợp lý.

    Từ những yêu cầu và đòi hỏi như vậy, công ty đã cố gắng điều chỉnh và kiện toàn cơ cấu tổ chức, các lực lượng lao động, sắp xếp được hợp lý theo từng công việc phù hợp trình độ của mỗi người.

    Đứng đầu công ty, giám đốc công ty, giám đốc là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàn thể công ty trước pháp luật. Giám đốc chịu trách nhiệm chung về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, trực tiếp phụ trách khâu tổ chức lao động kế hoạch, tài chính kế toán, giám đốc là người quyết định mọi phương thức kinh doanh hoạt động của công ty.

    Các phòng chức năng thực hiện các chức năng chính của mình đồng thời là bộ phận tham mưu giúp ban giám đốc diều hành quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh.

    • Phòng hành chính: Có trách nhiệm tổ chức và quản lý về vấn đề nhân sự.
    • Phòng kỹ thuật: Có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ kỹ thuật để nghiệm thu công trình, cấp giấy xác nhận đủ diều kiện nghiệm thu chuyển giao cho cho phòng kế hoạch.
    • Phòng kế hoạch: Có nhiệm vụ lên kế hoạch công việc sao cho hợp lý, kịp

    thời.

    • Phòng tài chính, kế toán: Nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, phương hướng, kế hoạch và chuẩn bị kịp thời, chính xác cho các quyết định quản lý thuộc lĩnh vực tài chính kế toán cho giám đốc.
    Nguyễn Đức Hạnh – 15 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Tổ chức kiểm tra, giám sát hạch toán, quyết toán và phân tích kết quả thực hiện các quy định quản lý tài chính ké toán của giám đốc giao.

    Đảm bảo kịp thời các điều kiện về vốn, số liệu tài chính kế toán theo đúng trách nhiệm đã phân công dể đảm bảo phục vụ tốt nhất việc sản xuất kinh doanh.Kịp thời đề xuất các biện pháp quản lý tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.Báo cáo tổng kết rút kinh nghiệm công tác quản lý tài chính, kế toán.

    • Các tổ sản xuất: Tham gia vào hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị

    trường.

    Một số chỉ tiêu về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

            Đơn vị:nghìn đồng
               
    TT Chỉ tiêu 2004 2005   Chênh lệch
               
    1 Doanh thu thuần 63.226.893 84.779.695   21.552.802
               
    2 Lợi nhuận trước thuế 3.150.217 5.861.367   2.711.150
               
    3 Thuế thu nhập phải nộp 882.061 1.641.183   759.122
               
    4 Lợi nhuận sau thuế 2.268.156 4.220.184   1.952.028
               
    5 Thu  nhập  bình  quân 950 1.150   200
      1CNV/tháng        
               

    Các chỉ tiêu doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, chỉ tiêu tổng vốn kinh doanh được lấy từ bảng cân đối kế toán trong hai năm 2004, 2005, lưu tại phòng kế toán của công ty

    IV. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán của công ty.

    1- Bộ máy kế toán (Sơ đồ 9 phần phụ lục)

    Công ty Tnhh nhất việt là một doanh nghiệp tư nhân, thực hiện chế độ kinh tế độc lập và áp dụng mô hình bộ máy kế toán tập chung.Trong số các phòng ban chức năng thuộc bộ máy quản lý của công ty, phòng tài chính kế toán có vị trí trung tâm quan trọng, nó đảm bảo tài chính, giám sát toàn bộ quá trình kinh doanh và tính toán kết quả kinh doanh, tham mưu cho giám đốc về mọi mặt của quá trình kinh

    Nguyễn Đức Hạnh – 16 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    doanh. Tất cả các công tác kế toán như thu nhận chứng từ, hạch toán, lập báo cáo kế toán, phân tích hoạt động kinh tế đều do phòng kế toán đảm nhận.

    *Đứng đầu bộ máy kế toán là kế toán trưởng: là người phụ trách và quản lý chung về toàn bộ tài chính, phân công công tác cho từng phần hành kế toán của công ty, có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về mọi mặt trong hoạt động quản lý tài chính

    • Kế toán tổng hợp kiêm kế toán thuế là người có trách nhiẹm giúp việc cho kế toán trưởng, có nhiệm vụ kiểm tra, đối chiếu làm báo cáo tổng hợp theo định kỳ theo yêu cầu quản lý mà bộ tài chính qui định, phản ánh giá thành tiêu thụ, lỗ, lãi và tổng kết tài sản, đổng thời theo dõi các khoản thu
    • Kế toán thanh toán kiêm kế toán tập tập hợp chi phí: Là người có nhiệm vụ ttheo dõi thu, chi tiền mặt, tiền gửi, thanh toán công nợ tạm ứng và phản ánh kịp thời chính xác theo từng đối tượng, từng khoản thanh toán.Đồng thời có nhiẹm vụ xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tưọng cụ thể.
    • Kế toán tiền lương kiêm kế toán vật tư, CCDC, TSCĐ:
    • Về tiền lương có nhiệm vụ chấm công, ghi rõ ngày công làm việc, nghỉ việc của từng cán bộ công nhân viên, đảm bảo chấp hành chế độ đối với lao động, cung cấp thông tin về sử dụng lao động, về chi phí tiền lương và các khoản trích nộp bảo hiểm.Cuối kỳ tổng hợp thời gian lao động và tính lương, thực hiện các khoản nộp bảo hiểm cho từng bộ phận tổng công ty.
    • Về vật tư: phản ánh tình hình hiện có, biến đọng từng loại vật liệu và toàn bộ vật liệu. Chấp hành dầy đủ thủ tục về nhập, xuất, bảo quản vật liệu.Nắm vững phương pháp tính giá vật liệu và phân bổ vật liệu cho các đối tượng sử dụng vật liệu.Hàng tháng lập bản kê tổng hợp nhập, xuất tồn vật liệu bảo đảm đúng khớp với chi tiết và tổng hợp với the kho, cuối kỳ lập báo cáo kiểm kê.
    • Về công cụ dụng cụ, TSCĐ: theo dõ vào sổ sách tình hình tải sản phát sinh trong tháng, quý năm.

    * Thủ quỹ kiêm kế toán ngân hàng: Có nhiệm vụ thu chi tiền mặt, vào sổ quỹ hàng tháng, cuối ngày phải báo cáo số tiền tồn két cho giám đốc.Đồng thời có nhiệm

    Nguyễn Đức Hạnh – 17 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    vụ giao dịch với ngân hàng theo dõi tiền mặt và tièn gửi ngân hàng làm thủ tục, lập phiếu chi, ghi séc, uỷ nhiệm chi. Công ty XD TNHH Nhất Việt hiện đang áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ. Trình tự ghi chép và xử lý số liệu được thực hiện như sau.

    2- Đặc điểm tổ chức hệ thống sổ kế toán

    Sổ kế toán là phương tiện vật chất cơ bản, cần thiết để người làm kế toán ghi chép phản ánh một cách có hệ thống các thông tin kế toán theo thời gian cũng như theo đối tượng. Việc lựa chọn hình thức sổ kế toán nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức quản lý và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.Đối với công ty TNHH Nhất Việt thì hình thức sổ sách được sử dụng là hình thức ” Chứng từ ghi sổ”, công tác kế toán được kết hợp vừa làm thủ công vừa đưọcc thực hiện bằng máy vi tính.1. Định khoản cho chứng từ gốc

    1. Từ chứng từ gốc vào sổ quỹ
    1. Từ chứng từ gốc vaò chứng từ ghi sổ
    1. Từ chứng từ gốc vào sổ chi tiết
    1. Từ chứng từ ghi sổ vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Từ chứng từ ghi sổ vào sổ cái
    • Từ sổ chi tiết lập bảng tổng hợp

    8.Đối chiếu giữa sổ cái và bảng tổng hợp

    • Lên báo cáo kế toán

    Trình tự hạch toán:(Sơ đồ 10 phần phụ lục)

    Các loại sổ kế toán sử dụng:

    • Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Sổ cái
    • Các sổ kế toán chi tiết ( Sổ TK 112,111, 131, 133, 144, 156.1, 156.2, 155, 311, 331, 333.1, 333.3, 333.4, 334, 421, 211, 511, 632, 511, 642, 413, 711, 911, 142. )

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 18 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
         
      Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán  

    Tất cả các loại báo cáo tài chính đều được lập theo biểu mẫu và gửi đúng kỳ hạn quy định.

    • Bảng cân đối kế toán
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
    • Thuyết minh báo cáo tài chính
    • Bảng lưu chuyển tài sản
    • Bảng cân đối tài khoản
    • Báo cáo các khoản phải thu, phải trả, tình hình công nợ của công

    ty

    Báo cáo quỹ, thủ quỹ lập hàng ngày và gửi tới giám đốc.

    V.Thực trạng hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt:

    1. Đặc điểm Tài sản cố định tại công ty TNHH Nhất Việt :

    Qua nhiều năm hoạt động từ công ty nhỏ đến nay công ty đã có cơ ngơi khang trang, máy móc thiết bị tương đối hiện đại, cùng với quá trình hiện đại hóa sản xuất công ty đã sử dụng bộ máy kế toán của mình ngày càng hữu hiệu để quản lý chặt chẽ TSCĐ trên mọi mặt nâng cao hiệu quả sử dụng và cung cấp thông tin, để tiếp tục đổi mới TSCĐ, đưa công nghệ vào sản xuất.

    Mặc dù công ty TNHH Nhất Việt không phải là một công ty lớn, nhưng địa bàn hoạt động của công ty rộng, vì vậy khả năng quản lý tập trung TSCĐ là rất khó khăn. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố quyết định đối với hiệu quả sử dụng TSCĐ mà điều quyết định là công ty có được biện pháp quản lý TSCĐ đúng đắn.

    Trước hết, TSCĐ được xác định đúng nguyên giá khi nhập về hoặc khi xây dựng cơ bản bàn giao. Đây là bước khởi đầu quan trọng để công ty hạch toán chính xác TSCĐ theo đúng giá trị của nó. Sau đó mọi TSCĐ được quản lý theo hồ sơ ghi chép trên sổ sách cả về số lượng và giá trị. TSCĐ không chỉ theo dõi trên tổng số mà còn được theo dõi riêng từng loại, không những thế mà còn được quản lý theo địa điểm sử

    Nguyễn Đức Hạnh – 19 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    dụng, thậm chí giao trực tiếp cho nhóm đội sản xuất. TSCĐ khi có sự điều chuyển trong nội bộ đều có biên bản giao nhận rõ ràng. Để sản xuất tốt hơn công ty luôn kịp thời tu bổ sửa chữa những tài sản đã xuống cấp.

    Trong thời gian sử dụng, một mặt TSCĐ được tính và trích khấu hao đưa vào giá thành theo tỷ lệ quy định của công ty, mặt khác lại được theo dõi xác định mức hao mòn giá trị còn lại thực tế để có kế hoạch đổi mới. Hàng năm công ty đều tổ chức kiểm kê vào cuối năm, vừa để kiểm tra TSCĐ, vừa để xử lý trách nhiệm vật chất với trách nhiệm hư hỏng, mất một cách kịp thời. Định kỳ công ty có tổ chức đánh giá lại TSCĐ.

    Tính đến thời điểm cuối tháng6 năm 2005, tài sản cố định của công ty đạt mức trên 3 tỷ đồng, về nguyên giá gồm nhiều loại do nhiều nước sản xuất như : Anh úc, Pháp. Trong đó thiết bị máy móc chủ yếu là của Việt Nam.

    Công ty có rất nhiều TSCĐ như thông qua bảng sau ta cũng thấy phần nào của công ty.

    Bảng tổng hợp khấu hao TSCĐ

          Đơn vị tính:nghìn đồng
           
      Loại tài sản Nguyên giá KH tb hàng năm
           
    Nhà cửa 621.895 77.737
           
    Vật kiến trúc 189.674 23.709
         
    – Phương tiện vận tải 756.165 94.520
         
    – Máy móc thiết bị 298.478 37.310
         
    – Dụng cụ quản lý 171.214 21.402
         
    – Tài sản chờ thanh lý 121.353 15.169
           
      Cộng 2.158.779 269.847
           

    2.Hạch toán tăng, giảm TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    2.1. Hạch toán tăng TSCĐ (Sơ đồ 1 phần phụ lục)

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 20 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    TSCĐ ở công ty TNHH Nhất việt nói chung có ít biên động các trường hợp tăng TSCĐ chủ yếu là do công ty mua sắm bằng nguồn vốn tự có. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết của các bộ phận, căn cứ vào kế hoạch đầu tư, tình hình TSCĐ hiện có của công ty, công ty đã có kế hoạch mua sắm TSCĐ cho mỗi năm mà công ty có quyết định mua sắm mới TSCĐ. Bộ phận có nhu cầu sử dụng TSCĐ và kế toán trưởng lập tờ trình gửi Giám Đốc xét duyệt và cho lập kế hoạch mua sắm khi tài sản mà bên bán giao cho công ty, căn cứ vào hoá đơn bán hàng hay hoá đơn GTGT và các chứng từ gốc cần thiết kế toán hạch toán nghiệp vụ mua sắm TSCĐ.

    Hồ sơ TSCĐ bao gồm :

    • Quyết định cấp phát hoặc điều chuyểnTSCĐ giữa các bộ phận trong công ty
    • các tài liệu kỹ thuật kèm theo.
    • Biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản này được thành lập 3 bản:
    • 01 bản được lưu ở kế toán công ty để làm hồ sơ gốc để ghi sổ kế toán.
    • 01 bản được giao cho bên giao tài sản .
    • Phiếu thu của bên giao nhận tài sản giữ
    • Phiếu chi của đơn vị.
    • Phiếu bảo hành < nếu có>.
    • Ngày 24 tháng 4 năm 2005 công ty mua thêm 1 máy vi tính và 1 máy in Canon.theo hoá đơn GTGT .Hoá đơn chưa thuế là 16.350.000đ.Thuế GTGT 5%, thanh toán bằng tièn mặt (DN đã nộp thuế theo phương pháp khấu trừ)

    Căn cứ vào chứng từ trên kế toán phản ánh tăng TSCĐ và tiến hành ghi sổ, trước tiên kế toán lập chứng từ ghi sổ,vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và vào sổ cái ghi:

    Nợ TK 211: 16.350.000
    Nợ TK133: 817.500

    Có TK 111 : 17.167.500

    Đồng thời ghi bút toán kết chuyển nguồn vốn và kế toán tiến hành ghi sổ cái 411

    Nợ TK 414: 16.350.000

    Có TK 411: 16.350.000

    Nguyễn Đức Hạnh – 21 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    2.2. Trường hợp giảm TSCĐ  

    TSCĐ của công ty TNHHNhất Việt giảm có thể do nhượng bán thanh lý, đối với một TSCĐ đã cũ không dùng được không phù hợp với công việc thì bộ phận sử dụng với kế toán trưởng đề nghị với Giám Đốc nhượng bán thanh lýTSCĐ ,Giám Đốc công ty sẽ xét tình hình thực tế hiện trạng TSCĐ tại công ty. Từ đó cho phép nhượng bán thanh lý, thủ tục thanh lý bao gồm: Lập bản thanh lý TSCĐ để xem xét đánh giá hiện trạng của TSCĐ cần thanh lý và giá trị TSCĐ thanh lý cần thu hồi, lập biên bản thanh lý TSCĐ

    Ngày 18 tháng 6 năm 2005 công ty thanh lý xe cẩu KC2 biển số 29E-15-32 Biên bản thanh lýTSCĐ nhằm mục đích xác nhận việc thanh lý TSCĐvà làm

    căn cứ để kế toán ghi giảm TSCĐ trên sổ kế toán

    Biên bản này do ban thanh lý TSCĐ lập và có đầy đủ chữ ký ghi rõ họ tên của trưởng ban, kế toán trưởng, Giám đốc. Cùng với biên bản thanh lý còn có biên bản giao nhậnTSCĐ với bên muaTSCĐ , phiếu thu

    *Viêc xác định kết quả về thanh lýTSCĐ được tính như sau:

    • Sổ TSCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 821: 720.000 đ

    Nợ TK 214 :209.730.000 đ

    Có TK 211 : 210 450.000 đ

    • Toàn bộ số thu về thanh lýTSCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK111: 65.000.000 đ

    Có TK 721: 65.000.000 đ

    • Xác định kết quả thanh lý, kế toán ghi:

    Nợ TK 911: 64 .280.000 đ

    Có TK421: 64.280.000đ

    Trên cơ sở chứng từ kế toán gốc, kế toán TSCĐ cuối tháng và sổ chi tiếtTSCĐ tại công ty lập theo tháng và theo loại tài sản, đối với việc tăng ,giảmTSCĐ được hạch toán kịp thời chi tiết vào sổTSCĐ của đơn vị và được lập theo mẫu sổ

    Nguyễn Đức Hạnh – 22 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Báo cáo tăng ,giảmTSCĐở công ty được theo dõi cho tình hình biến động của TSCĐ trong tháng theo ngùôn hình thànhTSCĐ đó.

    Trong gần 160 đơn vị TSCĐ của công ty 35 máy móc đã cũ để thanh lý và có kế hoạch xử lý số máy móc này kế toán TSCĐ lập ( bảng kê thiết bị chờ xử lý ) số hiệu của bảng này được bổ xung thường xuyên năm.

    3.Hạch toán khấu hao TSCĐ (Sơ đồ 6 phần phụ lục)

    Trong quá trình sử dụngTSCĐ cùng với sự tác động của thiên nhiên và sự tiế bộ của khoa học kỹ thuật thì TSCĐ bị hao mòn dần về giá trị theo thời gian. Do vậy kế toán phải làm công tác khấu hao TSCĐ theo định kỳ, hàng tháng kế toánTSCĐ tại công ty phải tiến hành tính và khấu haoTSCĐ theo từng đói tượng sử dụng. Việc khấu hao TSCĐ là quá trình chuyển dần giá trịTSCĐ đang sử dụng vào chi phí kinh doanh , cụ thể là chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Việc xác định thời gian khấu haoTSCĐ dựa vào tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế đặc tính hao mòn của TSCĐ, đặc điểm nguồn vốn hình thànhTSCĐ và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

    Phương pháp tính khấu hao: TSCĐ trong công ty được tinh khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng, việc tính khấu hao theo nguyên tắc tròn tháng, đối với TSCĐ chưa khấu hao hết đã hỏng thì giá trị còn lại phải thu hồi một lần, đói với những TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn sử dụng được thì không trích khấu hao nữa.

    Nguyên giá TSCĐ

    Mức KH TB năm          =

    Thời gian sử dụng

    Mức KH TB năm

    Mức KH Tháng            =

    12

    Từ đây xác định được mức KH của mỗi tháng là :

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 23 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Mức KH tháng này = mức KH tháng trước + mức KH tăng trong tháng từ mức KH giảm trong tháng. Việc tính và phân bổKH được xác định theo từng tháng, nó được thể hiện trên bảng tính và phân bổ KH.

    * VD trong tháng 3 năm 2005 thì việc thanh toán khấu hao như sau :

    Trong tháng 02: số TSCĐ tăng lên 31.932.248 đ làm cho số KH trong tháng 03 tăng là 530. 537đ. Số TSCĐ giảm 36.560.000đ làm số KH trong tháng 03 giảm 253.889đ. Từ bảng tính và phân bổ KH kế toán tiến hành ghi sổ và ghi nợ TK 009-nguòn vốn KH.

    Và ghi nợ TK 009 : 222.755.958đ

    Để cung cấp thông tin chi tiết cho nhà quản lý tại phòng kế toán của công ty mở sổ chi tiết TK 214, sổ chi tiết này mở chi tiết theo từng loại TSCĐ.

    Căn cứ vào số liệu trên sổ tổng hợp và sổ chi tiết TK 214 của từng tháng, kế toán tập hợp KH trích theo quý và lập ra bảng KH của mỗi quý để cung cấp cho nhà quản lý.

    4.Hạch toán sửa chữa TSCĐ.

    TSCĐ là tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài , vì vậy để TSCĐ của công ty hoạt động tốt, hoạt động kinh doanh diễn ra đều đặn thì phải luôn quan tâm đến sửa chữaTSCĐ. Việc sửa chữa TSCĐ tại công ty có thể sửa chữa lớn thường xuyên huặc sửa chữa lớn TSCĐ.

    4.1. Sửa chữa thường xuyên.

    Loại hình sửa chữa này có tính chất bảo quản, bảo dưởng thường xuyênTSCĐ, kỹ thuật sửa chữa đơn giản thường do công nhân của công ty làm, thời gian sửa chữa diễn ra ngắn,chi phí phát sinh chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí của doanh nghiệp, chi phí này được đưa vào chiphí kinh doanh trong kỳ.

    *VD: tháng 3 quý I năm 2005 trong công ty có sửa chữa nhỏ như sau: tại công ty có sửa chữa nền nhà của một số phòng với tổng chi phí là: 4.342.000đ. nghiệp vụ này được hạch toán như sau :

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 24 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Căn cứ vào chứng từ có liên quan: hoá đơn xuất vật liệu, phiếu chi tiền mặt cho sửa chữa ,kế toán ghi

    NợTK 642: 4.341.500

    Có TK 152: 1.085 500

    Có TK 111: 3.256 .000

    Sau đó kế toán tiến hành ghi sổ

    4.2. Sửa chữa lớn TSCĐ:

    Tại công ty thì loại hình sửa chữa này có tính chất khôi phục năng lực hoạt dộng của TSCĐ, kỹ thuật sửa chữa phức tạp có thể do công nhân của công ty đảm nhận huặc thuê ngoài. thời gian sửa chữa thường kéo dài và phải ngừng hoạt động đối với TSCĐ. chi phí sửa chữa phát sinh thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của công ty

    Sửa chữa lớn TSCĐ tại công ty có thể ngoài kế hoạch hoặc theo kế hoạch.

    *Sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch.

    Khi TSCĐ không thể hoạt động, hoặc hoạt động không hiệu quả mà cần sửa chữa thì bộ phận sử dụng đề nghị cần sửa chữaTSCĐ. Giám đốc công ty duyệt và cho tiến hành sửa chữa.

    Khi sửa chữa xong công ty tiến hành quyết toán công trình bộ phận sửa chữa xây dựng kế hoạch giải trình. Căn cứ vào bảng quyết toán công trình và các chứng từ liên quan kế toán tiến hành hạch toán, chi phí cuả nghiệp vụ này được tập hợp vào TK 142 và tiến hành phân bổ vào chi phí kinh doanh của các kỳ sau khi sửa chữa hoàn thành.

    • VD: trong tháng 2 năm 2005 công ty tiến hành SCL một số phương tiện vận tải theo phương thức tự làm với tổng chi phí : 17.794.872đ

    trong đó CP về vật tư là : 11.235.271đ , số công là : 1.534 ; tiền lương là : 5.594.200đ khi tiến hành sửa chữa các CP được tập hợp theo các chứng từ gốc ( chi phí khác : 965.401đ ).

    Kế toán tiến hành vào sổ cái TK241 , TK 142

    Nguyễn Đức Hạnh – 25 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Khi công trình được quyết toán, kế toán còn ghi sổ cái TK142

    Loại hình sửa chữa này ít xảy ra, phần lớn các nghiệp vụSCL xảy ra đã có kế hoạch định trước.

    *Sửa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch

    Tại công ty TNHH Nhất việt cùng với định kỳ kiểm kêTSCĐ là 6 tháng hoặc 1 năm thì bộ phận bảo dưỡngTSCĐ của công xem xét tình hình thực tế TSCĐ tại từng bộ phận sử dụng quản lý TSCĐ. Đến cuối mỗi năm, căn cứ rà soát những tài sản trang thiết bị cần sửa chữa, bảo dưỡng thay thế. Từ đây cùng với phòng kế toán lập văn bản và lập kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ trình lên Giám đốc

    VD: công ty có dự định sửa 1 chiếc ô tô biển số 29H 97.38 và xe cẩu biển số

    29H 61.38 kế toán có kế hoạch trích trong 3 tháng ( 1,2,3 ), khi trích trước kế toán hạch toán tại thời điểm tháng 01 năm 2005 và tháng 02.03 năm 2005 và tiến hành ghi sổ như sau:

    Nợ TK 642: 6.987.000đ

    Có TK 335: 6.987.000đ

    Đồng thời kế toán vào sổ cái TK355

    Nhưng thực tế nghiệp vụ này xảy ra đầu tháng 4 năm 2005,căn cứ vào các chứng tù như phiếu xuất kho vật tư, hoá đơn GTGT kế toán hạch toán bằng chứng từ ghi sổ số 86

    Khi cuối tháng 04 năm 2005 việc sửa chữa tài sản này kết thúc và giá trị sửa chữa được quyết toán là 20.960.000đ . Kế toán so sánh số liệu này với số liệu đã trích theo kế hoạch xác định, chênh lệch giữa số đã trích và thực tế phát sinh là: 3.880.348đ.Kế toán căn cứ vào bảng quyết toánSCL và các chứng từ liên quan hạch toán như sau :

    Nợ TK 335: 20.960.000

    Có TK 2413 : 20.960.000

    Số chênh lệch được hạch toán vào chi phí trả trước Nợ TK 142: 3.880.348

    Nguyễn Đức Hạnh – 26 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
      Có TK 2413 : 3.880.348

    5. Hạch toán kiểm kê TSCĐ:

    Tại công ty TNHH Nhất việt, công tác kiểm kê được tiến hành đều đặn mỗi năm hai lần vào cuối năm. Trước mỗi đợt kiểm kê, công ty lập ban chỉ đạo kiểm kê, ban này sẽ lập phương án kiểm kê, đánh giá TSCĐ, xác định phạm vi kiểm kê, xác định đói tượng chính xác , chẩn bị kiểu mẫu báo cáo, dự chù kinh phí. Phòng kế toán có nhiệm vụ cung cấp chứng từ , sổ sách và các tài liệu có liên quan để tổng hợp sau khi đã tiến hành kiểm kê đánh giá TSCĐ cùng hệ thống chỉ tiêu kiểu mẫu báo cáo. quá trình kiểm kê sử dụng phiếu kiểm kê hiện vật

    Sau khi kiểm kê kết thúc ngoài biên bản kiểm kê ban kiểm kê đánh giáTSCĐ còn lập bảng tổng hợp.

    Thực tế kết quả kiểm kê năm 2005 của công ty TNHH Nhất việt không thừa thiếu so với sổ sách. Nếu thấy thừa , thiếu so với chế độ sau :

    Nếuphát hiện thiếu : căn cứ vào biên bản kiểm kê và quyết định sử lý của Giám đốc, kế toán ghi:

    Nợ TK214 : Giá trị hao mòn

    Nợ TK 138 : giá trị cá nhân phải bồi thường

    Nợ TK 411: ghi giảm vốn

    Nợ TK 821 : tính vào chi phí bất thường

    Có TK 211: nguyên giá

    • Mặt khác phân tích đẻ phục vụ cho công tác quản lý
    • Phân tích TSCĐ đã kiểm kê theo các loại giá
    • Phân tích khấu hao và quỹ khấu hao, mức hao mòn
    • Phân tích hiệu quả kinh tế sử dụng TSCĐ qua các chỉ tiêu cơ bản

    Trên đây là công tác hạch toán các nghiệp vụ cơ bản về TSCĐ của công ty TNHH Nhất việt. Tuy nhiên công việc không chỉ dừng lại ở các bút toán định khoản mà kế toán TSCĐ còn có nhiệm vụ phản ánh các nghiệp vụ này và hệ thóng sổ kế toán thống nhất của công ty.

    Nguyễn Đức Hạnh – 27 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    CHƯƠNG III

    NHỮNG TỒN TẠI VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY TNHH NHẤT VIỆT

    I. Đánh giá chung về công tác hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất Việt

    Đến nay công ty TNHH Nhất việt đã có vai trò quan trọng trong việc cung cấp vật tư, các thiết bị cho ngành xây dựng lớn trên khắp các tỉnh miền Bắc. Công ty không ngừng lớn mạnh, sự lớn mạnh này thể hiện ở đội ngũ công nhân viên trình độ cao, cơ sở vật chất không ngừng được nâng cấp, cũng như trình độ quản lý đang từng bước được hoàn thiện.

    Hiện nay công ty không ngừng khẳng định tính độc lập , tự chủ trong kinh doanh khai thác nguồn hàng mới và mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nứơc. Công ty đã biết khai thác, phát huy và sử dụng có hiệu quả nội lực, tiềm năng sẵn có của mình, mà trong đó TSCĐ là yếu tố quan trọng. Nhận thức được điều này ban lãnh đạo Công ty đã có những biện pháp quan trọng, tích cực tới quản lý và sử dụng TSCĐ

    Công ty không ngừng tăng cường công tác quản lý , sử dụng TSCĐ như phân công, phân cấp quản lý, sửa chữa bảo dưỡng thường xuyên, sử dụng TSCĐ đúng công suất cố gắng đảm bảo hiệu quả sử dụng TSCĐ đạt mức cao nhất.

    Công ty đẫ đưa máy vi tính vào sử dụng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng, nhờ đó hiệu quả công việc được nâng lên rõ rệt, giảm bớt nhân lực.

    Công ty đã làm tốt công tác phân công, bố trí nhân lực ở các phân xưởng và phòng ban song song với việc tổ chức gọn nhẹ ở các bộ phận. ở phòng kế toán chỉ với

    • nhân viên nhưng đã tỏ ra làm việc rất hiệu quả. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác tình hình biến động tài sản, tính toán tập hợp đầy đủ chi phí phát sinh và kết quả kinh doanh cũng như quản lý các nguồn vốn của công ty Trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của kê toán TSCĐ, kế toán TSCĐ đã phản ánh tương đói đầy đủ, chính xác kịp thời tình hình biến động tăng , giảmTSCĐ, quá trình sử dụng quỹ khấu haoTSCĐ.

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 28 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Qua một thời gian thực tập tại công ty TNHH Nhất việt, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn công tác hạch toán TSCĐ, tôi rút ra một số nhận xét cụ thể về công tác hạch toánTSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt như sau :

    1.                 Ưu điểm

     

    • 1- Sổ sách:

     

    Với đặc điểm kinh doanh và sản xuất của công ty TNHH Nhất việt, với khối lượng TSCĐ tương đối lớn. Do đó lượng thông tin cho người quản lý là rất nhiều và cần thiết. Vì vậy kế toán tổng hợp áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ là phù hợp, sổ sách kế toán tổng hợp được thực hiện theo đúng quy định của Bộ tài chính và kế toán viên ghi đúng theo quy định.

     

    • 2-Về hệ thống quản lý của công ty và các yếu tố có ảnh hưởng tới công tác hạch toán TSCĐ: Hệ thống quản lý TSCĐ tập chung đã giúp công ty quản lý tương đối tốt TSCĐ. Từ công nhân, trưởng phòng kế toán, kế toán chi tiết TSCĐ, kế toán tổng hợp , Giám đốc đều có mối quan hệ chặt chẽ trong vấn đề quản lý sử dụng.

     

    • 3-Về hạch toán TSCĐ

     

    Về cơ bản kế toán TSCĐ đã theo dõi tình hinh tăng, giảm, khấu hao và sửa chữaTSCĐ theo đúng quy định, đảm bảo việc phản ánh đúng nguyên giá TSCĐ hiện có cũng như mức tính khấu hao.

    Các bước trong quá trình hạch toán đã tuân theo đúng quy định của Bộ tài chính. Hiện nay công ty tiến hành trích khấu haoTSCĐ theo đúng quyết định 166 / 1999/ QĐ- BTC ngày 30/ 12 /1999. Hàng tháng công ty lập tính và phân bổ khấu hao

     

    theo quy định.

     

    Qua việc phân tích những ưu điểm trên cho phép rút ra kết luận : nhìn chung công tác hạch toánTSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt được thực hiện khá tốt đảm bảo việc tuân thủ các quy định hiện hành của BTC về các nghiệp vụ hạch toán TSCĐ và việc ghi sổ sách kế toán. Tuy nhiên bên cạnh đó công ty vẫn còn một số tồn tại và thiếu sót

     

    2.                 Một số tồn tại

    Nguyễn Đức Hạnh – 29 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    2.1- Về kiểm kê đánh giá TSCĐ  

    Theo quy định 6 tháng hoặc 1 năm công ty tiến hành kiểm kê đánh giá lại TSCĐ xem xét hiện trạngTSCĐ. Nhưng tại công ty TNHH Nhất Việt chỉ diễn ra kiểm kê hoặc xem xét hiện trạng tình hình TSCĐ cần bảo dưỡng mà không đánh giá lại giá trị hiện thời của TSCĐ. Điều này dẫn tới việc xem xét giá trị của TSCĐ hiện có không đúng với thực tế mà chỉ theo sổ sách . Từ đây làm cho nhà quản lý đưa ra các quyết định không sát với thực tế, đầu tư và sử dụng TSCĐ kém hiệu quả hơn.

    2.2- Về việc áp dụng máy tính trong công tác kế toán

    Phòng kế toán đã áp dụng máy vi tính nhưng một số kế toán viên chưa có khả năng áp dụng, khai thác phần mềm hiện có, mặt khác số lượng người biết sử dụng máy vi tính vẫn ít ( 4/8 ). Do đó khối lượng công việc làm thủ công vẫn còn nhiều.

    2.3- Về việc sửa chữa TSCĐ

    Việc sủa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch khá chặt chẽ và chủ động còn việc sửa chữa lớn ngoài kế hoạch diễn ra chậm, điều này dẫn đến tình trạng bị động trong quá trình kinh doanh tại công ty

    2.4- Về việc khấu hao TSCĐ

    Hiện nay công ty thực hiện tính khấu hao nhanh nhằm đổi mới công nghệ mức khấu hao này đối với công ty còn quá cao làm tăng giá thành một cách giả tạo gây khó khăn cho công ty khi quyết toán nên công ty cũng phải bỏ ra 1 khoản chi phí để bù đắp thiếu sót. Như vậy việc tính khấu hao của công ty không những không chính xác mà còn không có cơ sở khoa học cho phương pháp tính.

    2.5 – Phương pháp đánh giá lại TSCĐ

    Chưa phù hợp với thực tế nên việc xác định giá trị còn lại của máy móc thiết bị cao hơn nhiều so với giá cả thực mà nó có thể làm được. Vì vậy công ty có nhiều máy móc thiết bị hư hỏng cần thanh lý nhưng không bán được vì bán không thu được vốn, vậy là cứ để đó, tiếp tục khấu hao mặc cho vốn không phát huy được hiệu quả.

    II. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    Nguyễn Đức Hạnh – 30 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    Căn cứ vào những tồn tại và khó khăn hiện nay của công ty, căn cứ vào chế độ

    quy định của nhà nước và BTC em xin có 1 số ý kiến sau đây hy vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả sử dụng TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    1.Về việc kiểm kê đánh giá lại TSCĐ

    Công việc kiểm kê đánh giálại TSCĐ của bất kỳ 1 doanh nghiệp nào cũng là việc làm cần thiết, qua đó xác định số lượng thừa thiếu TSCĐ, thực trạng TSCĐ cần sửa chữa bảo dưỡng cũng như đánh giá được giá trị hiện tại của TSCĐ thực tế của doanh nghiệp trên thị trường từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp cho quá trình sử dụng và quản lý nên khi doanh nghiệp tiến hành kiểm kê thì cần đi đôi với đánh giá lại TSCĐ sẽ được thể hiện trên biên bản đánh giá lại TSCĐ *Biên bản đánh giá lại TSCĐ

    Mục đích của biên bản này nhằm xác nhận việc đánh giá lại TSCĐ và làm căn cứ để ghi sổ kế toán và các tài liệu liên quan số chênh lệch ( tăng, giảm ) do đánh giá lại TSCĐ

    Sau đây là mẫu biên bản đánh giá lại (trang phụ lục 19)

    Sau khi đánh giá xong,Hội đồng có trách nhiệm lập biên bản ghi đầy đủ các nội dung và các thành viên trong hội đồng ký, ghi rõ họ tên và biên bản đánh giá lại TSCĐ

    Biên bản đánh giá lại TSCĐ được lập thành 2 bản, 1lưu lại phòng kế toán để ghi sổ kế toán, 1 bản lưu cùng với hồ sơ kỹ thuật của TSCĐ

    2.Về việc trang bị hiện đại cho phòng kế toán góp phần nâng cao năng lực TSCĐ

    Trong hạch toán kế toán cần áp dụng tin học hoá nhằm hoà nhập với sự phát triển KHCN kỹ thuật , hoà nhập với su hướng tiến bộ trên toàn thế giới. côg ty nên trang bị máy vi tính cho phòng kế toán đầy đủ hơn, đồng thời cần có chính sách thích hợp dể các kế toán viên đều có khả năng sử dụng máy vi tính thành thạo .Việc này ban đầu sẽ gặp khó khăn nhưng đảm bảo được tính nhất quán và chính xác trong công tác kế toán. Hơn nữa việc cập nhập thông tin diễn ra thường xuyên nhanh chóng đáp

    Nguyễn Đức Hạnh – 31 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    ứng kịp thời thông tin, phục vụ đắc lực trong công tác quản lý mọi mặt hoạt động của công ty cũng như góp phần giảm nhẹ khối lượng công tác kế toán trong đó có việc quản lý và hạch toán TSCĐ.

    3. Về việc hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ

    *Công việc sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch: Việc sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch trong công ty còn diễn ra chậm, mất nhiều thời gian

    • Biên bản giao nhận SCL hoàn thành: như đã trình bày phần hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ, công ty không sử dụng biên bản này trong hạch toán , mà bộ phận SCL của côngty chỉ lập biên bản giao khối lượng công việc hoàn thành. Việc sử dụng chứng từ này sẽ không khoa học và không đúng quy định của BTC. Vì vậy đối với việc sửa chữa lớn TSCĐ hoàn thành thì cần lập biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lơns hoàn thành việc SCL giữa bên có TSCĐ sửa chữa và bên thực hiện sửa chữa. Đây là căn cứ ghi sổ kế toán và thanh toán chi phí sửa chữa TSCĐ

    Giả sử với ví dụ trong phần hạch toán SCL ngoài kế hoạch thì khi hoàn thành công việc quyết toán công trình và giao cho đơn vị sử dụng thì hội đồng giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành sẽ được lập (trang phụ lục20)

    * Phương pháp ghi chép:

    • Khi có TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành phải tiến hành lập ban giao nhận gồm đại diện bên thực hiện việc sửa chữa

    Nơi quản lý sử dụg TSCĐ và ghi rõ thời gian bắt đầu sửa chữa và hoàn thành việc sửa chữa TSCĐ

    Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, lập thành 2 bản, 2 bên giao nhận cùng ký và mỗi bên giữ 1bản, sau dó chuyển cho kế toán trưởng của đơn vị mình duyệt và lưu tại phòng kế toán.

    4.Công tác thanh lý TSCĐ

    Tại thời điểm này công ty có sự lãng phí lớn về vốn gây ra bởi TSCĐ chờ thanh lý. Số tài sản này cần phải được giải quyết nhanh hơn, tốt hơn trên nguyên tắc cơ bản

    Nguyễn Đức Hạnh – 32 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    bảo tồn vốn, sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn không nhằm mục đích mua đi bán lại tạo chênh lệch để ăn chia vào vốn, thời gian thanh lý công ty nên rút ngắn và hạn chế tối đa các chi phí trong quá trình này.

    KẾT LUẬN

    Tài sản cố định có vị trí quan trọng và cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó phản ánh năng lực trình độ tiến bộ KHKT và trang bị cơ sở vật chất của doanh nghiệp .Với vị trí như vậy mà nó được quản lý 1cách chặt chẽ và các doanh nghiệp luôn tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ .Việc tổ chức tố các công tác hạch toán TSCĐ có ý nghĩa quan trọng dối với việc hoạt động kinh doanh.

    Chương trình thực tập tại công ty TNHH Nhất việt đã giúp em vận dụng những kiến thức đã ddược trang bị ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời giúp em củng cố những kiến thức đã học. Thông quaviệc thực tập đã giúp cho sinh viên kế toán vững vàng, tự tin bước vào nghề, bởi vì thực tế và lý luận luôn có 1 khoảng cách nhất định.

    Báo cáo tốt nghiệp này được hoàn thành trên cơ sở những kiến thức được tiếp thu tại nhà trường và các hoạt động thực tiễn tại công ty TNHH Nhất việt. Do hạn chế về thời gian thục tập cũng như kiến thức, báo cáo của em không tránh khỏi những sai

    Nguyễn Đức Hạnh – 33 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    sót. Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy giáo , cô giáo để báo áo của em được hoàn thiện hơn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa kế toán trường ĐHQLKD.

    • Cảm ơn thầy giáo Hà Đức Trụ và các anh, chị phòng kế toán và các cán bộ nhân viên của công ty TNHH Nhất việt đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập để em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.

    Sinh viên thực hiện

    Nguyễn Đức Hạnh

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 34 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 35 –                                                                         Lớp 604


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    Lãi suất là một trong những vấn đề hết sức phức tạp, nó vừa là công cụ hết sức quan trọng và nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ,vừa là giá cả sử dụng vốn của hoạt động tín dụng. Vì vậy, nó có tác động to lớn đối với việc tăng hay giảm khối lượng tiền lưu thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng.Vai trò của lãi suất ngày càng trở nên quan trọng trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường,đặc biệt trong giai đoạn đất nước tiến hành công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Đối với Việt Nam,lãi suất luôn luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các chuyên gia kinh tế,các nhà quản lý kinh tế và các tầng lớp dân cư.trên cơ sở những kiến thức đã học và những tài liệu thu thập được cũng như những hiểu biết thực tế cuả mình,em chọn nghiên cứu đè tài: “Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”.

    Do hiểu biết còn hạn hẹp,chắc rằng bài viết của em không tránh khỏi những khiếm khuyết.

    Em rất mong được sự góp ý phê bình của thầy cô.Em xin chân thành cảm ơn.

    1

    I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT

     1.Nguồn gốc và bản chất của lợi tức

    Những người có vốn tiền tệ nhàn rỗi nhưng chưa có nhu cầu tiêu dùng ,đầu tư thì họ có thể cho người khác vay sử dụng số vốn này.tất nhiên họ vẫn là người sở hữu số vốn này.Những ngườiđi vay sau khi chấp nhận một cơ chế nào đó của người cho vay đặt ra,thì họ đợc vay vốn. người đi vay có toàn quyền sử dụng số vốn này trong thời gian đã thoả thuận.tuy nhiên họ không phải là người sở hữu số vốn trên.Như vậy, trong quan hệ tín dụng,quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đã tách rời với nhau.Do đó để đảm bảo an toàn vốn của mình,người cho vay phải “ràng buộc” người đi vay bằng những cơ chế tín dụng hết sức nghiêm ngặt.

    Người đi vay sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh-sản suất,lợi nhuận được tạo ra trong quá trình nàytất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đánggiữa ngươì đi vay và người cho vay,tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản suất kinh doanh.Phần lợi nhuận dành cho người cho vay được gọi là lợi tức.

    Như vậy về bản chất ,lợi tức làmột phần của lợi nhuận được tạo ra trong quá trình sản suất mà người đi vay phải nhượng lại cho người cho vay theo tỷ lệ vốn đã được sử dụng.

    Về số lượng lợi tức được xem xét từ hai phía

    • Về phía người đi vay ,lợi tức là số tiền ngoài phàn vốn,mà người đi vay phải trả cho người cho vay sau một thời gian sử dụng tiền vay
    • Về phía người cho vay,lợi tức là khoản chênh lệch tăng thêm giữa số tiền thu về và số tiền phát ra ban đầu,mà người sở hữu vốn thu được sau một thời gian cho vay nhất định.

    2

    Nếu vốn được coi như là một loại hàng hoá,có thể mua bán trên thị trường vốn,thì lợi tức chính là giá cả đượchình thành trong quá trình mua bán vốn trên thị trường.giá cả này cũng lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn,nhưng khác với giá cả của các loại hàng hoá thông thường :phản ánh và xoay xung quanh giá trị của chúng.Giá cả của vốn hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn.Nó chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá trị của vốn.Chính vì thếgiá cả của vốn được coi là một loại giá cả đậc biệt

    Trên thực tế,nếu chỉ xem xétvề số lượng,thì lợi tức chưa phản ánh đượchiệu quả của số vốn cho vayphát ra.Vì vậy,trong kinh doanh tiền tệ,lơi tức luôn luôn được so sánh với số vốn cho vay để xác định khả năng sinh lời của từng loại vốn cho vay trên thị trường.chỉ tiêu đánh giá hiệu quả này chính là lãi suất tín dụng.

    2.Khái niệm về lãi suất tín dụng

    Một trong những đặc trưng của tín dụng là sau một thời gian nhất định người sử dụng phải hoàn trả cho người chuyển nhượng một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. phàn giá trị lớn hơn chính là lợi tức tín dụng.Lợi tức tín dụng chính là phần người đi vay phải trả cho người cho vay.Lợi tức tín dụng được coi như là một hình thái bí ẩn của giá cả vốn vay,vì nó phải trả cho giá trị sử dụng của vốn vay(đó chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng).Lợi tức tín dụng cũng biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn như giá cả hàng hoá thông thường. Nhưng lợi tức tín dụngchỉ là hình thái bí ẩn của giá cả vốnvay mà theo mức đó là hình thái giá cả phi lý,vì nó chỉ phải trả cho giá trị sử dụng mà không phải là quyền sở hữu cũng không phỉ quyền sử dụng vĩnh viễnmà chỉ là trong một thời gian nhất định hơn nữa lợi tức tín dụng cũng không phải là biểu hiện bằng tiền của giá trị

    3

    vốn vay như giá cả hàng hoá thông thường mà nó độc lập tương đối hay nhỏ hơnnhiều so với giá trị vốn vay. Lợi tức tín dụng là số tuyệt đối nên để biểu hiện một cách tổng quát về lợi tức tín dụng người ta sử dụng chỉ tiêu tương đối là lãi suất tín dụng .

    Lãi suất tín dụng là tỷ lệ %giữa số tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay (lợi tức) trên tổng số tiền vay sau một thời gian nhất định sử dụng số tiền vay đó.Lãi suất tín dụng có thể được tính theo tháng hoặc năm ( ở việt năm thường công bố theo tháng còn hầu hết các nước công bố theo năm)

    Tuỳ theo từng hình thức tín dụng mà người ta phân biệt lãi suất tín dụng thành các loại khác nhau với những qui địng cụ thể khác nhau.

    Lãi suất tín dụng thương mại tính trên cơ sở giá giữa việc trả tiền ngay với việc kéo dài thời gian trả tiền. người ta thông báo cho người mua biết có thể mua chịu hoặc trả tiền ngay và néu trả tiền ngay có thể giảm giá 2%.

    Lãi suất tín dụng nhà nước chính là lãi suất các trái phiếu,tín phiếu theo công bố khi nhà nước phát hành trái phiếu tín phiếu.lãi suất này có thể cố định trong suốt thời gian vay.

    Ví dụ: loại tín phiếu có thời hạn 3 năm lãi suất 6% thì trong suốt thời hạn 3 nămngười mua tín phiếu đực hưởng lãi suất 6%/năm.lãi suất cũng có thể biến đổi.ví dụ cũng loại tín phiếu 3 năm năm đàu công bố hay ghi trên mặt phiếu còn năm thứ 2 năm thứ 3 sẽ đièu chỉnh theo tình hình cụ thể của những năm đó (có thể lên hoặc xuống theo thị trường).

    Trong thực tế lãi suất được quan niệm thống nhất là :”Lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm so sánh giữa số lợi tức thu được với số tiền bỏ ra cho vay trong một thời kỳ nhất định”.

    số lợi tức thu được trong kỳ

    4

    Lãi suất tín dụng = ——————————–  × 100 (%)
    số tiền vay phát ra trong kỳ

    Trong đó lợi tức tín dụng là số tiền người đi vay phải trả cho người cho vayngoài phần vốn gốc sau một thời gian sử dụng tiền vay,hay nói cách khácđó chính là phần giá trị tăng thêm so với phần vốn gốc mà người cho vay thu được sau một thời gian nhất định.

    Lãi suất tín dụng là một chỉ tiêu đặc biệt đánh giá mức độ lợi tức coa hay thấp khác nhau.

    3.Nguyên tắc xác định lãi suất

    Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường:

    3.1.Căn cứ vào quan hệ cung-cầu tiền vay:

    • Cung tiền vay chịu tác động của các yếu tố:
    • Mức thu nhập:sự gia tăng thu nhập trong nền kinh tế sẽ làm tăng các khoản tiền dư thừa ngoài chi tiêu dẫn đến sự tăng lêncủa cung tiền vay qua đó kéo lãi suất hạ xuống.
    • Mức lạm phát: sự gia tăng lạm phát làm cho giá trị thực tế của các khoản tiền giảm xuống làm cho giá trị các khoản tiền thu về khi cho vay giảm,cung tiền giảm , đảy lãi suất tăng lên.
    • Mức rủi ro của việc cho vay: khi mức rủi ro trong cho vay tăng lên,làm giảm bớt việc cho vay,cung về tiền vay giảm đẩy lãi suất lên cao.
    • Những yếu tố tác động đến cầu tiền vay:
    • Mức lợi tức dự tính của các cơ hội đầu tư: Khi mức lợi tức này tăng làm tăng nhu cầu về vốn đầu tư,cầu tiền vay tăng đẩy lãi lên suất lên cao.

    5

    +Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm giảm chi phí thực tế của việc sử dụng tiền vay,cầu về tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.

    +Mức bội chi ngân sách nhà nước: ngân sách nhà nước bội chi làm tăng cầu tiền vay dẫn đến lãi suất tăng.

    Khi cung tiền vay nhỏ hơn cầu tiền vay thì lãi suất tăng và ngược lại.Khi cung tiền vay bằng cầu tiền vay thì lãi suất ổn định.

    3.2.Căn cứ vào thời hạn cho vay:

    Lãi suất                               Lãi suất                        Lãi suất

    tín dụng          <                 tín dụng    <              tín dụng

    ngắn hạn                            trung hạn                      dài hạn

    3.3.Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương:

    Tỷ lệ                                                                Lãi suất                                                           Lãi suất

    Tỷ suất

    lạm phát         <                         huy động                    <                cho vay                               ≤

    lợi nhuận  bình quân                                     vốn bình quân                         bình quân

    bình quân.

    4.Các loại lãi suất tín dụng:

    Trên thị trường vốn ở các nước ,thông thường có các loại lãi suất sau đây:

    4.1. Lãi suất cơ bản:Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức ấn định lãi suất kinh doanh.

    4.2. Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một khung lãi suất nào đó,mà NHTƯ ấn định cho các NHTM, hoặc do các NHTM qui định trong hệ thống của nó,nhằm thống nhất các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.

    6

    4.3. Lãi suất tái chiết khấu:là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTƯ dành cho các NHTM,trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá.Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất của các NHTM đẻ từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép.

    4.4.Lãi suất tái cấp vốn: Là lãi suất do NHTƯ áp dụng khi tái cấp vốn.

    4.5.Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất mà người cho vay được hưởng,không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ

    4.6.Lãi suất thực:Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ ,như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ.

    4.7. Lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng:là lãi suất mua bán vốn giữa các NHTM do NHTƯ điều hành và ấn định.

    Các loại lãi suất tín dụng được hình thành một cách đa dạng trong nền kinh tế thị trường.Đại bộ phận chúng đều do NHTƯ kiểm soát và khống chế.Xu hướng chung sẽ tiến tới một lãi suất phổ thông đơn giản.Hiện nay,ở các nước chậm phát triển lãi suất tín dụng còn cao.Còn

    • các nước có nền kinh tế phát triển lãi suất thường hạ.Ngày nay do sự hội nhập kinh tế giữa các quốc gia,cho nên mặt bằng lãi suất có cơ hội được thiết lập giữa nhiều nước trong khu vực và nhiều nước trên thế giới.

    7

    5.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng:

    5.1.Cung và cầu về tiền vay

    Như phần trên đã đè cập,cung-cầu tiền vay có ảnh hưởng đến sự biến động lãi suất

    5.2.Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn:

    Khi mức độ rủi ro càng cao thì người ta sẽ tính lãi suất càng cao và ngược lại.do vậy,tuỳ theo điều kiện đảm bảo và mức độ bảo toàn vốn vay của các khoản tiền vay mà lãi suất có thể cao hay thấp.

    5.3.Số lượng vay và thời hạn vay:

    Thông thường số lượng lớn và thời hạn vay dài sẽ được tính lãi suất cao hơn số lượng nhỏ và thời hạn ngắn vì mức độ rủi ro thường cao hơn.

    5.4.Mức sinh lời của nền kinh tế:

    Mức lãi suất cho vay chỉ được chấp nhận khi nó nhỏ hơn mức sinh lời của nền kinh tế đẻ đảm bảo cho người vay có lãi khi sử dụng vốn trong quá trình sản suất kinh doanh.Mức sinh lời cao thì lãi suất sẽ cao và ngược lại.

    5.5 Thu – chi ngân sách:

    Khi ngân sách nhà nước bội chi,chính phủ bù đắp bội chi bằng cách phát hành và bán tín phiếu,trái phiếu chính phủ,làm tăng nhu cầu vay tiền và tăng lãi suất.

    Ngược lại khi ngân sách bội thu sẽ tăng mức cung của quỹ cho vay làm cho lãi suất giảm.

    5.6.Chi phí hoạt động ngân hàng:

    Vì lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí hoạt động ngân hàng. Do đó chi phí hoạt động ngân hàng cao sẽ đẩy lãi suất tăng và chi phí hoạt động giảm sẽ làm lãi suất giảm.

    8

    Như vậy để duy trì mức lãi suất vừa phải ,thúc đẩy nhu cầu vay vốn thì các ngân hàng cần tích cực giảm chi phí hoạt động cũng như thu hẹp các bộ phận cán bộ dư thừa hay cán bộ kém năng lực,tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay.

    5.7.Lạm phát:

    Khi lạm phát cao thì người cho vay sẽ không muốn cho vay,cung tiền vay giảm xuống trong khi cầu tiền vay tăng lên (do chi phí cho khoản vay giảm đi) đẩy lãi suất tăng cao.

    Lãi suất tín dụng chịu tác động của rất nhiều yếu tố cho nên để xây dựng một chính sách lãi suất hợp lý,các nhà quản lý,các cơ quan chức năng có liên quan phải có một cách nhìn nhận tổng hợp sát thực để có những quyết định đúng đắn đem lại lợi ích cho người đi vay cũng như đảm bảo quyền lợi của người cho vay, bảo toàn đồng vốn và đảm bảo cho các NHTM ,tổ chức tín dụng kinh doanh có lãi và cao hơn nữa là ổn định giá trị đồng tiền,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

    6.Ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trường

    Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường .Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín dụng nói riêng và do đó đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói chung .tác dụng của lãi suất được thể hiện ở những nội dung sau đây:

    6.1.Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:

    Tăng hay giảm lãi suất cho vay,sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm xuống hay tăng lên.Như vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản suất.Tình trạng này sẽ dẫn đến số lượng công việc làm trong xã hội tăng lên hay giảm xuống.Điều đó có nghĩa rằng,lãi suất tín dụng đã có

    9

    ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong xã hội

    Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi,đặc biệt là lãi suất tái chiết khấu sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng ngoại tệ đi vào trong nước

    .do đó sẽ ảnh hưởng đén cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ.

    Như vậy,có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ

    mô.

    6.2.Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô.

    Trong nền kinh tế,thường xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lường trước được. khi xảy ra những hiện tượng như vậy chính phủ thường sử dụng nhữnh công cụ kinh tế trong đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại những quan hệ tạo điều kiện cho kinh tế khu vực,ngành hay toàn bộ nền kinh tế phát triển .Chẳng hạn,trong điều kiện lạm phát,chính phủ có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lưu thông về, hoặc có thể áp dụng mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực

    • để điều hoà lưu thông tạo mặt bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lưu thông hàng hoá phát triển.

    Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô, lãi suất tín dụng phải được xử lý kịp thời và chính xác. Điều đó đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải nắm vững thông tin kinh tế, biết xử lý thông tin, để có những quyết định chính xác trong việc thực hiện chính sách lãi suất.

    6.3. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại

     

    10

    Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lượng nguồn vốn huy động đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay . Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại. Thực chất của quá trình này là phân chia khối lượng tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ngaan hàng ra thị trường. Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi ngân hàng thương mại đều có chiến lược khách hàng của mình.Chiến lược này được thực hiện bằng lãi suất ưu đãi. Muốn vậy các ngân hàng thương mại đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    6.4.Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Theo lý thuyết tài chính, chúng ta có thể đưa ra một phương trình đơn giản về thu nhập.

    Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm

    Phương trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia đình, các doanh nghiệp mà cả đói với nền tài chính quốc gia. Giả sử , trong điều kiện của mộy nền kinh tế bình thường, tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm là hợp lý. Để tăng tỷ lệ tiết kiệm,khuyến đầu tư,tức là tăng khả năng tài chính cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân,thì biện pháp có hiệu quả nhất là tăng lãi suất huy động vốn. Khi lãi suất huy động vốn tăng lên, thì trước hết các hộ gia đình phải xem xét lại các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên,có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi này , để tăng thêm tỷ lệ tiết kiệm trong tổng thu nhạp. Sau đó từ khoản tiết kiệm này, họ sẽ chọn hướng đầu tư : Gửi vào ngân hàng , vào quĩ bảo hiểm , hay đầu tư vào thị trường chứng khoán… khi thấy có lợi hơn.

    11

    Như vậy có thể khẳng định lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân chia giữa quỹ tiêu dùng và tiết kiệm.Nhưng nâng lãi suất huy động vốn đến mức độ nào,thì cần phải cân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của nền kinh tế quốc dân.

    II. THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM – ƯU NHƯỢC ĐIỂM & TÁC DỤNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

    1.Thực trạng về lãi suất tín dụng của Việt nam

    Kể từ năm 1998 đến naylà giai đoạn chuyển biến chung của nền kinh tế từ kế hoạch cứng nhắc sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa cơ chế lãi suất đã được ngân hàng nghiên cứu sử dụng như một công cụ quan trọng nhất, dể tác động đến quá trình huy động vốn và cho vay có hiệu quả.Chính sách lãi suất đã được thay đổi rất cơ bản: lãi suất tiết kiệm cao hơn tốc độ trượt giá ; nâng lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay của các tổ chức kinh tế gần với lãi suất huy động tiết kiệm.

    Lãi suất huy động vốn từ tháng 04/1989 – 06/1989 đối với loại tiết kiệm có kỳ hạn là 12 % / tháng, không kỳ hạn là 9% / tháng. lãi suất huy động chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng và hợp tác xã tín dụng, của các tổ chức kinh tế là 13 – 14% / tháng.với sự hấp dẫn đặc biệt của mức lãi suất trên, các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư đã ồ ạt kéo đến gửi tiền vào ngân hàng. các NHTM ,các trung tâm tín dụng đã huy động được nguồn vốn to lớn ,đẫ góp phần chặn đứng cơn sốt lạm phát cao từ mức 14,2% / tháng xuống còn 2,9% / tháng năm 1989 . thậm chí chỉ số lạm phát tháng 05/1989 xuống còn – 0,2% ; tháng 06/1989 xuống còn – 2,9% ; tháng 07/ xuống còn – 2,5% / tháng.

    12

    Có thể nói đây là bài học thành công về góc độ sử dụng lãi suất huy động vốn để kiềm chế lạm phát. Song ảnht hưởng của chính sách lãi suất đối với nền kinh tế và bản thân ngân hàng như thế nào?

    1.1 Giai đoạn từ 1981 tới 1990

    Thời kỳ 1981 – 1991 nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng trì trệ về kinh tế nghiêm trọng nhất có nguy cơ dẫn đến mất ổn định về chính trị xã hội.Trong giai đoạn này cần phải mở rộng đầu tư là biện pháp hữu hiệu nhất để chống đình trệ, để phục hồi và phát triển nền kinh tế thoát ra khỏi cơn khủng hoảng.Nhưng trên thực tế, vì liều thuốc lãi suất huy động vốn quá cao để chống lạm phát nhằm ổn dịnh tiền tệ chúng ta đã bị thất bại trong chính sách đầu tư không những tăng mà còn giảm sút nghiêm trọng do lãi suất huy động vốn quá cao và chậm được điều chỉnh so với hệ số lạm phát, thực tế không có sản suất kinh doanh gì lãi bằng gửi tiền vào ngân hàng, nên người ta không bỏ vốn vào sản suất kinh doanh, thậm chí còn bán cả tài sản cố định đi để gửi vào ngân hàng

    . Các ngân hàng đã huy động được nguồn vốn rất lớn với đầu vào rất cao ( 12 – 15% / tháng ). Với lãi suất cho vay này, không một nhà sản suất kinh doanh chân chính nào có thể chịu đựng nổi nên họ không dám vay ngân hàng. Để giải phóng nguồn vốn, chống thua lỗ, ngân hàng phải cho vay bằng mọi giá. Kết quả là những người buôn gian bán lận hàng ngoại, những người vay tiền ngân hàng để chơi đề , chơi hụi, gửi vào các trung tâm tín dụng, gửi vào các trung tâm lừa đảo như nước hoa thanh hương, đại thành, xacogiva… Hậu quả là nguồn vốn ngân hàng không đi vào sản suất – kinh doanh mà để vào các sòng bạc, khi đến hạn phần lớn người vay không trả được nợ, hệ thống hợp tác xã tín dụng bị phá sản, các tổ chức huy động vốn vỡ nợ ngân hàng thương mại thực chất đã bị phá sản nếu không được nhà nưóc khoanh nợ hàng ngàn tỷ đồng đến nay vẫn không thu hồi được. Mãi đến hiện nay chưa ai tính

    13

    được hiệu quả của chống lạm phát và mức thiệt hại to lớn của nền kinh tế do chính sách lãi suất “siêu thực tế “ trong giai đoạn 1989 – 1990.

    1.2. Giai đoạn từ 1990 tới 1993.

    Từ khi có pháp lệnh ngân hàng 05/ 1990, chính sách lãi suất liên ngân hàng dược đổi mới thêm một bước quan trọng. Cơ chế lãi suất tiến dần với lãi suất bình quân dương, bảo toàn được vốn cho cả người gửi và người vay. Cơ cấu lãi suất bao gồm: Lãi suất huy động vốn gồm lãi suất cơ bản ( lãi suất thực) và chỉ số giá cả của thị trường xã hội, lãi suất cho vay bình quân bằng lãi suất huy động vốn bình quân cộng thêm tỷ lệ chi phí và lãi hợp lý cho ngành ngân hàng. lãi suất được điều chỉnh lại hàng tháng hàng quí theo sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường xã hội. Thủ tướng chính phủ quyết định khung lãi suất cơ bản và giá cả thị trường. Trong phạm vi khung lãi suất đó, thống đốc ngân hàng nhà nước được công bố mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suât cho vay được điều chỉnh dần hướng tới áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế, giảm dàn số lượng quá nhiều mức lãi suất cho vay như thời kỳ trước .

    Kết quả thực tiễn cho thấy rằng : Chính sách lãi suất mới đã khuyến khích được gửi tiền yên tâm hơn do không sợ giá trị đồng tiền mất đi do trượt giá, mà còn có lãi, nhười ta thấy gửi tiền vào ngân hàng có lợi hơn nhiều so với mua vàng. chính vì vậy nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại tăng lên coa và ổn định. Chỉ riêng lĩnh vực ngân hàng công thương nhuồn vốn huy đọng năm 1991 là 2.828 tỷ tăng hơn năm 1990 là 0,8 tỷ ; năm 1992 là 4.126 tỷ tăng hơn so với năm 1991 là 1.300 tỷ ; sáu tháng đầu năm 1993 4.341 tỷ tăng hơn đầu năm 0,125 tỷ.

    Đứng trên tổng thể toàn nghành, lãi suất cho vay đã thoát khỏi tình trạng lãi suất âm, tác động tích cực buộc người vay phải sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả kinh tế . Dư nợ tín dụng được mở rộng và tăng

    14

    lên đáng kể, chất lượng tín dụng cao hơn trước , nợ quá hạn từ 25% giảm xuống dưới 10% năm . Hệ thống ngân hàng chuyên doanh đã trở nên năng động hơn trong kinh doanh, tình trạng thua lỗ từng bước được khắc phục, nhiều ngân hàng đã bắt đầu kinh doanh có lãi thực.

    Tuy vậy, chính sách lãi suất hiện tại vẫn còn nổi lên một số vấn đề cần phải giải quyết sau đây:

    Cơ chế lãi suất chưa thực sự phù hợp với bản chất của nó là căn cứ vào cung – cầu của thị trường vốn. Chín sách lãi suất vẫn còn bị chi phối bởi nhiệm vụ chính trị chủ yếu là chống lạm phát và là công cụ của Nhà nước để tài trợ cho các nghành sản suất kinh doanh yếu kém. Do đó, lãi suất còn mang nặng chính sách bao cấp nhằm bảo vệ lợi ích cho người gửi tiền tiết kiệm. Lãi suất thực của người gửi tiền tiết kiệm lớn hơn lãi suất thực của người cho vay, lái suất cho vay quá cao, lớn hơn mức sinh lời bình quân của nền kinh tế

    So sánh lãi suất huy động vốn tiết kiệm 3 tháng, lãi suất cho vay với kinh tế ngoài quốc doanh với chỉ số trượt giá hàng tháng thấy rằng : Năm 1990, lãi suất huy động vốn là 53%/năm;chỉ số trượt giá bình quân 53%/năm.Như vậy người gửi tiền bảo tồn giá trị được gửi nhưng không có lãi. Ngân hàng cho vay với lãi suất âm -19,07%/năm.Năm 1991,lãi suất huy động tiết kiệm 45%/năm;chỉ số trượt giá bình quân 43,4%/năm;lãi suất cho vay 40,2%/năm. Người gửi đã bảo tồn được vốn cho vay và có lãi 1,6%/năm. Nhưng nhìn chung ngân hàngvẫn bị lỗ vốn do lạm phát-3,2%/năm; lỗ vốn do lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền ghi-4,8%/năm. Năm 1992,lãi suất huy động tiết kiệm 33,6%/năm,chỉ số trượt giá bình quân 16,47%/năm ; tỉ suất cho vay 43,2%/năm.Người gửi tiền và ngân hàng không những bảo tồn được giá trị cho vay mà còn có lãi rất lớn16,9%/năm.Ngân hàng cho vay cũng có

    15

    lãi suất tiền gửi 43,1% -33,6% = 9,5%/năm.Sáu tháng đầu năm 1993, lãi suất tiền gửi 15,75%,tỉ lệ trượt giá 4,12%.Người gửi tiền sau khi đã trừ tỉ lệ trượt giá còn lãi :11,1% -4.12% =6,98%.Vấn đề nổi cộm lên rất rõ là từ năm 1992 đến 30/6/1993,người gửi tiền có lãi suất rất lớn,ngân hàng cho vay có lãi suất không đáng kể ,người đi vay phải chịu lãi suất quá cao . Mâu thuẫn về lợi ích giữa người cho vay và người gửi chưa được giải quyết .Hậu quả là ngân hàng không mở rộng được đầu tư ,vốn bị ứ đọng,ngân hàng kinh doanh chưa có lãi ,nhiều chi nhánh tỉnh,thành phố bị thua lỗ .Các thành phần kinh tế không dám vay vốn đầu tư vào sản xuất vì chu kì đầu tư dài ,trả lãi lớn sẽ thua lỗ ,vốn vay chủ yếu đi vào mục đích lưu thông,kinh doanh, dịch vụ vòng quay nhanh mới đủ trả lãi ngân hàng.Với lãi suất 2,6%/tháng nên chu kì sản xuất 3 tháng thì giá thành phải chịu là: 2,6.3 = 7,8%,lãi suất ngân hàng tính trên giá vốn

    .Với lãi suất cho vay bình quân 3,58%/tháng thì tỉ lệ lãi suất phải trả ngân hàng với sản phẩm có chu kì 3 thánglà: 3,59%.3 = 10,77%.

    Lãi suất cho vay quá cao sẽ làm hạn chế đàu tư gây ra trì trệ trong nền kinh tế,tăng thất nghiệp .Vì vậy chính sách lãi suất trên chỉ kiềm chế tạm thờiđược cơn sốt lạm phát ,nhưng lại hạn chế sự tăng trưởng của nền kinh tế.Chắc chắn sẽ làm cho lạm phát bùng nổ với tốc độ lớn hơn. Mặt tồn tại cơ bản của chính sách lãi suất trên mới là việc chỉ tạo khung lãi suất của chính phủ và điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN vẫn chưa linh hoạt và phù hợp với cơ chế thị trường .

    Mặt khác cơ sở để Chính phủ và Thống đốc NHNN điề chỉnh lãi suất chỉ căn cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường mà chưa căn cứ vào “giá cả” của hàng hoá tiền tệ trên thị trường vốn vì vốn ở nước ta còn sơ khai và thực chất là chưa có.do vậy không thể xác định một tỉ lệ

    16

    lãi suất phù hợp với cơ chế thị trường được.Một thị trường vốn hoàn hảo là căn cứ để xác định lãi suất hợp lý.

    chính sách lãi suất hiện hành nổi lên mâu thuẫn giữa nhiện vụ chính trị đối với nền kinh tế và nhiệm vụ hạch toán kinh doanh tiền tệ tín dụng của ngân hàng . Xét về góc độ hạch toán kinh doanh các khoản cho vay món nhỏ thì chi phí đầu vào của ngân hàng lón,hệ số rủi ro cao,do đó lãi suất cho vay phải cao hơn các khoản tín dụng thời gian ngắn .Nhưng thực tế lãi suất cho vay dài và trung hạn thấphơn lãi suất cho vay ngắn hạn ,lãi suất cho vay ngành sản xuất có chu kì sản xuất dài từ 3 đến 9 tháng thấp hơn các ngành thương nghiệp dịch vụ có thời hạn ngắn dưới

    • tháng .Vấn đề là điều kiện kinh tế của từng ngành ,từng địa phương mà ngân hàng thương mại đóng trên địa bàn chịu ảnh hưởnh trực tiếp của chính sách lãi suất nói trên ,phải hạch toán như thế nào để phục vụ được nhiệm vụ chính trị và kinh doanh.

    Như vậy cơ chế lãi suất hiện hành tuy có nhiều đổi mới nhưmg vẫn bị động chưa giải quyết được mâu thuẫn nan giải là kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế ,nhiệm vụ hạch toán kinh doanh và nhiệm vụ chính trị của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng thương mại vẫn chưa thoát khỏi bao cấp vềlãi suất huy động vốn và cho vay ,không phát huy tính tự chủ độc lập trong kinh doanh.các nguồn vốn chưa đáp ứng yêu cầu chi tiêu ngân sách ,chống lạm phát cũng như các biện pháp tài chính-ngân hàng trong chính sách lãi suất.

    Trong hệ thống quản lý lãi suất được coi là công cụ quản lý có ảnh hưởnh trực tiếp lớn nhất ,đặc biệt là việc chuyển sang lãi suất thực dương.Việc sử dụng phải bảo đảm tính linh hoạt mềm dẻo,phù hợp với chỉ số lạm phát thực tế.

    17

    theo hướng đó NHNN khống chế tối đa mức độ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi

    nhằm đảm bảo có lợi cho cả người gửi và người cho vay,bù đắp chi phí thuế và một phần rủi ro đồng thời có múc lãi hợp lý.Mở rộng thêm quyền tự do cho các ngân hàng tronh việc ấn định khung lãi suất đối với tiền gửi và tiền cho vay,tổ chức các hoạt động:dịch vụ chuyển tiền thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng.Nhà nước chủ động can thiệp lãi suất thị trường để giữ mức lãi suất chỉ đạo .Trên tổng thể vẫn đảm bảo lãi suất vận động theo cơ chế thực dương.

    Để có thể chỉ đạo lãi suất trên thị trường cần tiếp tục hoàn chỉnh khung lãi suất nhất là lãi suất tái cấp vốn.Việc điều hành khung lãi suất phải đảm bảo nguyên tắc không cản trở xu hướng tự do hoá lãi suất bắt đầu hình thành khi nền kinh tế nước ta vận động theo cơ chế thị trườngvới quá trình tự do hoá giá cả gần như là phổ biến.Việc sử dụng công cụ lãi suất nội tệđặt trong tương quan hợp lý với sử dụng công cụ lãi suất ngoaị tệ,xác lập tương quan giữa cho vay bằng ngoại tệ với cho vay bằng tiền đồng.

    Thông qua việc tạo tiền đề đẩy nhanh xu hướng tự do hoá lãi suất nâng cao dần trình độ kinh tế tiền tệ của nền kinh tế.Việc tự do hoá lãi suất không mâu thuẫn với can thiệp của Nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ mà là cách thức để thực thi tốt hơn chính sách tiền tệ.

    Một biểu hiện của tự do hoá lãi suất là: các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ được quyền tham gia ấn định mức lãi suất.Họ là người có khả năng tìm phương án sử dụng vốn tốt nhất,hạn chế bớt rủi ro.Đồng thời mức lãi suất hình thành trong hoàn cảnh đó sẽ phù hợp nhấtvới cơ chế thị trường,đam bảo quan hệ giữa các loại tín dụng.Trong điều kiện bình thường tỉ lệ lạm phát và tỉ lệ lợi nhuận là khung của lãi suất tiết kiệm

    18

    và lãi suất cho vay.Về lý thuyết,đó chính là giá trị chênh lệch do việc sử dụng vốn tạo ra và được phân chia cho các chủ thể tham gia:người có tiền gửi,ngân hàng,tổ chứctín dụng, các nhà sản xuất kinh doanh.Khi nền kinh tế suy thoái ,tỉ suất lợi nhuận bình quân có thể thấp hơn tỉ lệ lạm phát,cơ chế tự điều chỉnh của thị trường sẽ thực hiện một cơ chế phân bố rủi ro giữa các chủ thể tham gia.Sử dụng công cụ lãi suất để có sự tác động thích hợp đến việc thực hiên các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô .

    Tự do hoá lãi suất không đồng nghĩa với việc xoá bỏ toàn bộ các khoản vay ưu đãi.Chính phủ tuỳ theo khả năng có thể dùng vốn của mình thực hiện các chương trình ,dự án phát triển mang tính chất ưu đãi với lãi suất thấp hơn thông qua các tổ chức tài chính,NHTM nhưng cần áp dụng cơ chế kiểm tra chặt chẽ hơn tránh nhữmg tiêu cực có thể xảy ra.

    Sử dụng tốt công cụ lãi suất cần nhấn mạnh nỗ lực tạo tiền đề để sử dụng tốt hơn công cụ lãi suất chiết khấuvà tái chiết khấu.Đó là con đường tác động đến khối lượng tiền tệ và khối lượng tín dụng lưu thông.Cần tạo môi trường thuận lợi cho cổ phiếu thương mại ra đời ,lưu hành rộng rãi để tín dụng thương mại trở thành hoạt động bình thường của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp .Phải từng bước tạo lập môi trường kinh tế và môi trường pháp lý cho sự lưu thông tự do các chứng từ có giá nói chung, chứng từ thương phiếu nói riêng .

    Bên cạnh sự tác động gián tiếp lên khối lượng tiền tệ và tín dụng lưu thông,NHNNcó thể tác động vào biến thái lãi suất thị trường thông qua ngiệpvụ thị trường mở.Để có thể vận dụng công cụ này thì cùng một lúc phải thực thi hai phần việc:

    Một là: xúc tiến tổ chức thị trường,vốn thị trường tiền tệ .

    Hai là :xây dựng cơ chế thực thi nghiệp vụ thị trường mở.

    19

    Để tạo tiền đề mở rộng phạm vi hoạt động của thị trường giấy có giá cần xúc tiến tổ chức thí điểm xây dựng thị trường vốn ở một số tụ điểm giao dịch kinh tế thương mại lớn như :thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội , Hải Phòng.Trên cơ sở đó đúc kết kinh nghiệmđể mở rộng dần ,đáp ứng yêu cầugiao lưu vốn ,phát triển kinh tế.Cần tổ chức nghiên cứu công phu các nghiệp vụ thị trường mở .Để việc tổ chức và vận hành thị trường vốn diễn ra an toàn đòi hỏi phải ban hành những văn bản luật đủ hiệu lực pháp lý như: Luật phát hành chứng khoán và công tác thực thi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh,thống nhất tránh tuỳ tiện.

    Suy cho cùng nghiệp vụ thị trường mở cũng chính là hoạt động tổ chức thực hiện các mua bán chứng khoán ngắn và dài hạn trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn củaNHTƯ.Do đó hoạt động của NHTƯ ở lĩnh vực cũng phải tuân theo các quy luật chung của thị trường vốn.

    III.MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

    1.Định hướng

    1.1. Lãi suất cơ bản

    Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng(TCTD) ấn định lãi suất kinh doanh . Lãi suất cơ bản vẫn là mức lãi suất dược NHNN ấn hành một cách hành chính, chứ không phải tự hình thành trên thị trường tiền tệ và các TCTD buộc phải căn cứ vào mức lãi suất này để xác định các mức lãi suất kinh doanh.

    Cũng từ định nghĩa này cần phân biệt rõ lãi suất lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn hiện hành của NHNN. Thực tế lãi suất tái cấp vốn của NHNN cũn có ảnh hưởng toàn diện tới hệ thống lãi suất trong nền kinh tế thị trường và cũng do NHNN xác định. tuy nhiên, hoạt động tái cấp vốn lại không phải là hoạt động bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng –

    20

    thực tế, nó được thực hiện một cách tự nguyện theo nhu cầu của mỗi TCTD. Nói cách khác, lãi suất tái cấp vốn(mặc dù là một mức lãi sất nhất định trong một thời gian nào đấy) không phải là mức lãi suất bắt buộc đói với các TCTD (nếu TCTD không có nhu cầu tái cấp vốn thì nó không trực tiếp liên quan tới lãi suất tái cấp vốn).cũng vì lý do này, luật NHNN đã tách bạch hai loại lãi suất trên cơ sở qui định:” NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn”.

    2. Một số ý kiến hoàn thiện chính sách lãi suất theo định hướng lãi suất cơ bản

    2.1. Về các quan điểm hiện nay

    Gần đây đã và đang xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh việc NHNN bỏ qui định lãi suất “trần”, để chuyển sang ấn định và điều hành linh hoạt bằng một lãi suất cơ bả, theo như tinh thần qui định tại điều 18 và khoản 12 điều 9 Luật NHNN hiện hành. Quan điểm tập trung nhất chứa đựng các nội dung sau: về xu hướng chung là bỏ “trần” lãi suất vì cứng nhắc lâu nay (vẫn còn 3 loại trần lãi suất). Trên cơ sở lãi suất tái cấp vốn hiện hành sẽ cộng thêm một biên độ ước định để hình thành lãi suất cơ bảnhoặc dựa vào lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến cộng thêm một biên độ ước định để hình thành lãi suất cơ bản.

    Nhìn chung, cách lập luận cho loại quan điểm này mới dừng ở định tính, còn bỏ ngỏ nhiều khía cạnh khoa học và pháp lý liên quan đến việc cải tiến chính sách lãi suất hiện nay.

    Một là: Cần định dạng đúng đắn lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cơ bản để tránh áp dụng máy móc qui định tại diều 18 và khoản 12 điều 9 luật NHNN (liên quan):

    • Lãi suất tái cấp vốn, chủ yếu hướng tới 3mục đích: (1) NHTW cho vay lại với tư cách nhười cho vay cuối cùng đối với nền kinh tế căn

    21

    cứ vào những khoản tín dụng đã cấp của NHTM (cho vay lưu phiếu, thế chấp khế ước tín dụng, chứng từ liên quan) ; (2) NHTƯ tái chiết khấu các thương phiếu dược NHTM cho vay; (3) NHTƯ sử dụng nguồn vốn dự trữ (DTBB, nguồn dự trữ khác) cho vay hỗ trợ knả năng thanh toán tạm thời của các NHTM (thông qua cầm cố, thế chấp các chứng từ có giá khác nhau).

    Lâu nay, ta dùng khái niệm tái cấp vốn (refinancing) là gọi chung cho các nội dung trên.Khi tăng tỷ trọng cấp tín dụng dưới hình thức tái chiết khấu – còn gọi là cửa sổ tái chiết khấu (resdiscount window) – thì mới có nghiệp vụ tái chiết khấu , nói khác đi khái niệm tái chiết khấu được sử dụng phổ biến hơn.

    • Lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu thường được ấn định chủ quan bởi NHTƯ. Tuy nhiên, mức độ chủ quánẽ giảm khi các nghiệp vụ tái chiết khấu có cơ sở hơn, có hàng hoá đủtiêu chuẩn hơn cho việc cấp tín dụng dưới hình thức tái chiết khấu thay vì tái cấp vốn theo kiểu giản đơn như cách làm của Việt Nam lâu nay. Khi thị trường tiền tệ đã khá phát triển , các nghiệp vụ mua bán vốn theo hợp đồng giao ngay, hợp đồng kỳ hạn – ngắn hạn… giữa các lực lượng thị trường trở nên phổ biến, theo đó lãi suất giao dịch liên ngân hàng (interbank interest rate), lãi suất chiết khấu giấy tờ có giá (lãi suất Lombardy), hay lãi suất mua bán hợp đồng xoay vòng kỳ hạn (lãi suất Repo) được hình thành … Đó là điều kiện thị trường hết sức quan trọng để NHTƯ điều hành đúng đắn lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu.

    Trước mắt, do chưa đủ diều kiện về công cụ giao dịch như đã nêu, việc hình thành lãi suất tái cấp vốn chủ yếu dựa vào lãi suất “trần” yheo sự ấn định chủ quan của NHTƯ như lâu nay. Qua đây, cần khẳng định mặc dầu lãi suất tái cấp vốn đang đóng vai trò nhất định, nhưng

     

    22

    chưa đến mức độ đủ để có thể dựa vào đó hình thành lãi suất cơ bản. Đây mới chỉ là dấu mốc còn khá mờ nhạt để tiến tới lãi suất tái chiết khấu nay mai.

    • Lãi suất cơ bản hướng vào hai mục đích: (i) làm tiêu chuẩn hình thành lãi suất kinh doanh của các NHTM; (ii) làm công cụ để NHTƯ can thiệp vào thị trường tiền tệ một cách uyển chuyển hơn là khống chế bởi lãi suất “trần” , dù ở mức nào vẫn mang tính cứng nhắc.
    • nghãi “định chuẩn” của lãi suất cơ bản biểu hiện như một loại giá vốn phản ánh điểm hoà vốn bình quân của các NHTM. NHTM nào huy động vốn với lãi suất thấp hơn và cho vay tối thiểu bằng mức lãi suất cơ bản có cơ chí ít là hoà vốn.Còn huy động với lãi suát cao hơn là bắt đầu khó khăn. sự can thiệp của NHTƯ thông qua lãi suất cơ bản trở nên đơn giản ở chỗ không cần khống chế trần (cứng nhắc dễ bị phản ứng) và khách quan hơn, tạo sự tin cậy đối với các NHTM. Vấn đề là xác định đúng và ấn định cho linh hoạt. Xét trên nhiều mặt, thực chất lãi suất cơ bản đã là một bước thả nổi lãi suất.

    +Lãi suất cơ bản có cơ sở xác định tương đối ggiống lãi suất trần sàn, nghĩa là cũng chủ yếu dựa vào quan hệ cung cầu vốn phổ biến, được phản ánh bởi các lực lượng thị trường chiếm thị phần chủ yếu (hiện nay vẫn là các NHTM quốc doanh). thế hnưng về mặt tính toán có khác: lãi suất trần, sàn thường lấy con số tham chiếu “ chặn trên”, “chặn dưới” còn lãi suất cơ bản thì bình quân hoá gia quyền các tham số chọn mẫu, nên thường chuẩn xác khách quan hơn. lãi suất cơ bản được xác định như vậy khiến khoảng cách bất bình đẳng về cạnh tranh lãi suất giưã các NHTM mạnh, yêua khác nhau được giảm thiểu . Tất nhiên, việc tính toán chính xác lãi suất cơ bản phức tạp nơn lãi suất trần. Bởi vậy , khi mới áp dụng thường chưa đủ căn cứ để ấn định chính xác phải sử dụng một biên độ nhỏ để điều chỉnh . Cách xác định biên độ cũng

    23

    không tuỳ tiẹn được mà phải căc cứ vào dung sai – còn gọi là độ lệch tiêu chuẩnbình quân giữa các mức lãi suất khác nhau và lãi suất trung bình chọn mẫu.

    Hai là: Cần làm rõ ưu nhược điểm của lãi suất tái cấp vốn , cũng như bản thân trần lãi suất hiện nay làm căn cứ cho việc cải tiến lãi suất. Qua mấy lần NHNN kịp thời điều chỉnh trần, lãi suất đă bớt cứng nhắc gần với quan hệ cung cầu hơn ( từ nhiều trần xuống còn 3 loại trần, đồng thời mức lãi suất giảm đáng kể so với động thái giảm phát). Tuy nhiên, tình hình mâu thuẫn hiện nay là ở chỗ: áp lực giảm tiếp lãi suất vẫn đặt ra trong lúc bản thân việc hạ “trần “ lãi suất đã ở vào giới hạn khá thấp đang gây khó khăn cho các NHTM trong việc chủ động linh họat hoá các mức lãi suất thực tế cho vayvà khắc phục nguy cơ thua lỗ, thiếu khả năng tài chính do chênh lệchgiữa lãi suất huy động và cho vay cũng bị thu hẹp lớn. Như vậy, khi việc điều hành theo lãi suất “trần còn nhiều tồn tại thì bản thân cách ấn định lãi suất tái cấp vốn cũng thiếu cơ sở khách quan, không thể lấy lãi suất tái cấp vốn hiện nay làm cơ sở tính toán lãi suất cơ bản. Mặt khác, lãi suát “trần” hiện nay còn bất cập, thì trước mắt nên chăng là kế thừa hoàn thiện nó hơn là bỏ hẳn để thay bằng lãi suất cơ bản trong lúc chưa đủ điều kiện.

    Ba là: Cần có sự phân biệt thứ bậc thấp cao, đơn giản và phức tạp giữa hai loại lãi suất ; lãi suất cơ bản là bước đệm tiến tới và được thay thế bởi lãi suất tái chiết khấu sau này hay ngược lại cùng tồn tại lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản?. Về lâu dài, hình thành lãi suất cơ bản là tạo lộ trình thuận lợi cho hoàn thiện chính sách lãi suất theo hướng từng bước thả nổi. Bản thân lãi suất cơ bản cũng được coi là một bước thả nổi vì nó tiến bộ hơn lãi suất “trần” với cách ấn định hoàn toàn tuỳ thuộc vào quan hệ cung cầu, lấy cơ sở tính toán là các mức lãi suất thực. Tuy nhiên, bỏ lãi suất “trần” để chuyển

    24

    sang lãi suất cơ bản cũng phải có những bước chuyển nhỏ, không thể máy móc gây sốc. Thực chất qui định tại các điều18, điều 9 khoản 12 Luật NHNN không nên hiểu phải có ngay lãi suất cơ bản khi chưa có đủ điều kiện, mà vấn đề là NHNN phải qui định lãi suất như thế nào để các TCTD dễ dàng ấn định lãi suất kinh doanh. Thành thử loại lãi suất nào mà NHTƯ đưa ra đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cũng đã là mang dáng dấp hay tính chất như lãi suất cơ bản. ở đâycó thể nhấn mạnh là hoàn thiện lãi suất “trần” hiện nay và nâng cấp lãi suất tái cấp vốn theo sát hơn lãi suất thị trường và tạo điều kiện cho nó được sử dụng thường xuyên hơn phục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN mới là thiết thực.

    LỜI KẾT

    Như đã nói, lãi suất là giá mua bán vốn trên thị trường. Cơ sở kinh tế của lãi suất là do các hiện tượng tạm thời “ thừa “ và tạm thời “thiếu

    “ vốn tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá và gắn với nó là vai trò trung gian của ngân hàng trong việc tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ thông qua công cụ lãi suất. Lãi suất cao hay thấp do quan hệ cung – cầu về vốn quyết định, khi cung lớn hơn cầuvề vốn thì lãi suất giảm , khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng .

    Lãi suất rất nhạy cảm trong nền kinh tế thị trường, đó là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ để quản ký và điều tiết nền kinh tế. Đối với Việt nam, đổi mới nền kinh tế , xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu để luôn có một chính sách lãi suất phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay là hết sức

    25

    cần thiết. Lãi suất đã trở thành một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta.

    Trên thực tế, từ năm 1990 chúng ta đã từng bước chuyển từ cơ chế lãi suất âm sang lãi suất dương , và từ tháng 06/ 1991, đã thực hiện triệt để chính sách lãi suất dương trong hoạt động tín dụng. Lãi suất vượt trên chỉ số lạm phát và được điều chỉnh theo sự biến động của thị trường, có tham khảo lãi suất trên các thị trường khu vực và quốc tế. Chính sách lãi suất đẫ từng bước xử lý hài hoà lợi ích người gửi tiền, các TCTD và người vay tiền, cũng tức là giữa yêu cầu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế.Chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và tiền vay từ 1986 đến 1995 như sau:

    1986 1991 1992 1993 1994 1995
    1990
    lãi suất tiền gửi 6,0 2,9 1,9 1,4 1,3 1,4
    BQ tháng (%)
    lãi suất tiền vay 4,3 3,5 2,5 1,8 1,5 1,7
    BQ tháng (%)

    ( nguồn : NH Việt Nam 45 năm xây dựng và trưởng thành)

    Từ đầu năm 1996 , chính sách lãi suất của NHNN có sự thay đổi theo hướng tự do hoá,hủy bỏ các quy định về lãi suất tiền gửi ,điều chỉnh giảm mức lãi suất trần cho vay ,chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng . Để ấn định mức lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn trên thị trường và từ tháng 11 năm 1997 Nghị quyết của Quốc hội đẫ không quy định về mức chênh lệch lãi suất là 0,35% đối với hoạt động tín dụng ngân hàng.Chính sách lãi suất đã đảm bảo được yêu cầu của lãi suất vay trung và dài hạn cao hơn lãi suất

    26

    cho vay ngắn hạn, rút ngắn khoảng cách giữa lãi suất tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp. Mức chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn không còn bị khống chế mà phụ thuộcvào thị trường và hiệu quả kinh doanh của từng TCTD.Những giải pháp đó đã được thị trưòng chấp nhận và góp phần rất lớn vào việc thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.Thị Trường Tài chính Tiền Tệ tháng 6. 1999

    2.Tạp Chí Ngân Hàng số 14.1999

    1. Tạp chí Ngân hàng số 15 .19 .2001
    1. Giáo trình lý thuyết tiền tệ Ngân hàng – Học viện Ngân hàng
    1. Lý Thuyết Tiền Tệ (Sgk Trường Đại học Tài chính – Kế toán)

    27

  • Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.

    Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.

    Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá – hiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

    Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế… đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu.

    Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

    Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam“.

    BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI GỒM BA PHẦN:

    PHẦN I: Một số lý luận chung về tín dụng, rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn tín dụng trong Ngân hàng thương mại.

    PHẦN II: Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam .

    PHẦN III: Một số biện pháp cơ bản hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phùng Bích Ngọc – Giảng viên trường ĐHDL Phương Đông, cùng các cô chú tại Ngân hàng No&PTNT huyện Sa Pa đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN I:

    MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

    1- Khái niệm Tín dụng Ngân hàng

    Ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh. Đó là hoạt động sinh lời chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại-hoạt động tín dụng. Về nội dung kinh tế, tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một số lượng tiền nhất định của Ngân hàng (người cho vay) cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả theo lãi.

    Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng : tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng … Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh.

    2- Vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

    Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng như là một tổ chức cấp phát vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không kịp thời, nơi thì để vốn nằm ứ đọng trong một thời gian dài. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, hàng loạt các Ngân hàng thương mại được thành lập. Nhằm mục đích huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của toàn xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Sau đây là vai trò tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:

    2.1.1- Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.

    Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Là tổ chức kinh doanh tiền tệ các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng đat lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 – 80% thu nhập cho Ngân hàng . Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Như vậy tín dụng Ngân hàng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định.

    2.1.2- Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển.

    Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn…

    Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tim kiếm ở các nguồn khác nhau… nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ, Ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp tư vấn và vốn bổ xung. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế.

    2.1.3- Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ.

    Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ xung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế.

    Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    2.1.4- Công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn.

    Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cân vốn. Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư dược thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế.

    Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

    II- RỦI RO TÍN DỤNG

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Khái niệm rủi ro tín dụng.

    Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng và cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho Ngân hàng ngoài sự mong đợi của Ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể là do Ngân hàng , khách hàng hoặc có thể là nguyên nhân khách quan.

    2- Các loại rủi ro tín dụng

    2.1- Rủi ro mất vốn

    Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ Ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng Ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của Ngân hàng không được hoàn trả, Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của Ngân hàng sẽ khiến Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.

    2.2- Rủi ro sai hẹn

    Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho Ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin Ngân hàng ra hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.

    2.3- Rủi ro lãi suất

     

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Quá trình chuyển hoá tài sản của Ngân hàng  bao gồm việc huy động

    vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.

    Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có thì khi lãi suất thị trường thay đổi Ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị của tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngược lại nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Do đó nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ. Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho Ngân hàng.

    2.4. Rủi ro tỷ giá

    Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một Ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc.Thậm chí trong trường hợp đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bang Anh sang đôla Úc, thì số tiên thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái.

    3- Nguyên nhân rủi ro tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.1- Thông tin không cân xứng

    Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.

    Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ.

    Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.

    Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác xuất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định thôi không cho vay nữa. Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với Ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị. Nhiều khi các Ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.2- Môi trường kinh tế

    Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Ngân hàng ….

    Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng . Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không.

    3.3- Môi trừơng pháp lý

    Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động Ngân hàng hiện nay, tuy đã được cải tiến nhiều nhưng vẫn chưa thực sự khoa học và thiếu đồng bộ, chưa đủ sức điều chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Nhiều hướng dẫn của các bộ, ngành khác nhau còn chồng chéo, rất khó khăn trong việc triển khai thực hiện.

    Hiện nay, điều kiện vay vốn đặc biệt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta chưa có luât về sở hữu nên chưa có cơ quan nào có trách nhiệm cáp chứng nhận sở hưu tài sản và việc chuyển quyền sở hữu. Vì thế mà Ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của chủ sở hữu tài sản. Bên cạnh đó các cơ quan hữu quan chưa có được cái nhìn thấu đáo về Ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nên chưa có được sự phối hợp đồng bộ, tích cực với Ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan.

    Mặc dù đã có nhiều thông tư liên tỉnh giữa Ngân hàng nhà nước và các bộ ngành liên quan hướng dẫn thực hiện những vấn đề có liên quan đến hoạt động của Ngân hàng, nhưng thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa các cơ quan này với nhau trong thời gian tới.

    3.4- Những nguyên nhân bất khả kháng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đát, hoả hoạn…, các vụ ăn cắp, lừa đảo… gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay.

    Đối với loại rủi ro này, Ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như: mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng …

    PHẦN II

    THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN

    HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.

    1- Tình hình quản lý tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trong những năm qua.

    1.1- Tình hình huy động vốn

    Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ tạo vốn quan trọng hàng đầu của các Ngân hàng thương mại thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: huy động tiền gửi, nghiệp vụ ngoại bảng của các Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ trung gian khác. Khi chuyển hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các Ngân hàng còn nhiều bỡ ngỡ, hiệu quả kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế, kể cả mảng huy động vốn. Nhưng cùng nỗ lực với bản thân, được sự ủng hộ từ nhiều phía các Ngân hàng đã quen dần với cơ chế mới, đã đạt được những thành quả nhất định trong kinh doanh. Đến thởi điểm hiện nay, chỉ xét riêng về mảng huy động vốn của hầu hết các Ngân hàng thương mại, cả quy mô và chất lượng đều được phát triển. Theo báo cáo của các Ngân hàng trong những năm gần đây, các tổ chức tín dụng trong nước cũng như các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh đều có tốc độ liên tục tăng. Riêng trong năm 2003, quán triệt nhiệm vụ ngay từ đầu, toàn hệ thống đã tích cực nắm bắt thị trường, tình hình biến động trong nước và thế giới, có nhiều giải pháp phù hợp để đẩy mạnh huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đơn cử như giải pháp lãi suất huy động linh hoạt nội và ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại, phát hành

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, huy động vôn bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn…

    Đến cuối năm 2003, số dư tiền gửi tại các tổ chưc tín dụng tăng 45% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề ra. Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế – xã hội tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta chưa cao.

    So với đầu năm, tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%, trong nguồn vốn huy động từ dân cư tăng 8%. Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn tình hình này:

    Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn của các TCTD

    Tỷ trọng Tăng so với đầu năm 2004(%)
    So sánh trong tổng
    Tỷ trọng trong Huy động vốn
    nguồn vốn
    tổng nguồn vốn
    Nhóm các của các từ dân cư
    của các TCTD
    TCTD TCTD (%)
    Các   TCTD   nhà 75,7 8 10
    nước
    Các chi nhánh NH 1
    nước ngoài & NH 13 1
    liên doanh
    Các TCTD cổ phần 10 5 9
    Các TCTD phi NH 0,3 6 7
    Các TCTD hợp tác 1 10

    ( Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số đặc biệt – Số 1 năm 2004)

    Vốn huy động của các Ngân hàng thương mại tăng và lãi suất huy động cũng được tăng mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ tiếp tục giảm. Nhu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    cầu vay vốn băng đồng VN tăng mạnh hơn vay bằng ngoại tệ, hầu hết các doanh nghiệp tránh vay vốn bằng ngoại tệ mà chuyển sang đề nghị vay vốn bằng VND.

    1.2- Tình hình sử dụng vốn

    Tình hình huy động vốn chủ yếu tập trung vào các Ngân hàng thương mại quốc doanh ( chiếm tỷ trọng 80%), tương tự thị phần tín dụng cũng tập trung tương đương, điều này là hiển nhiên bởi quy luật lợi thế nhờ quy mô. Nhìn vào bảng 2 ta thấy, nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5-5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5 lần. Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách biệt. Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là khách hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giávà lãi suất không quá cao so với USD, thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh theo sự thay đổi của tỷ giá. Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.

    Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTMQD và NHTM ngoài quốc doanh .

    Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    NHTMQD 79,6 75,5 77,2 81,4 81,6 71,4
    Trong đó: -VND 53,8 53,5 59,3 65,9 65,9 61,1
    – Ngoại tệ 25,8 22,2 18,0 15,7 15,7 10,3
    NHTM ngoài quốc 20,4 24,5 22,8 18,4 18,4 28,6
    doanh.
    Trong đó: -VND 7,5 10,1 9,5 12,1 12,1 20,4
    – Ngoại tệ
    12,9 14,4 13,2 6,3 6,3 8,2
    ĐHDL Phương Đông Phạm Khánh Linh
    Tổng 100 100 100 100 100 100

    (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)

    Mặc dù thị phần huy động, cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng mỗi công cụ, chiến thuật cạnh tranh. Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương mại quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm, trên từng mặt riêng lẻ của hoạt động Ngân hàng .

    Sức cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trên khía cạnh huy động vốn rất thấp. Ngân hàng thương mại cổ phàn bị yếu thế bởi mức độ tin cậy thấp, mặc dù các Ngân hàng này luôn phại đặt mức lãi suất huy động cao hơn các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do sợ thị phần vốn huy động có thể bị giảm sút, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đôi lúc để mức lãi suất huy động ngang bằng Ngân hàng thương mại cổ phần. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không có khả năng cạnh tranh vì họ bị ràng buộc bởi quy định của Ngân hàng nhà nước chứ không phải là họ không có sức cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiết kiệm từ dân cư. Trong tương lai quy định của Ngân hàng nhà nước nới lỏng thị phần huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn.

    Rõ ràng các Ngân hàng thương mại quốc doanh có nguồn vốn lớn, giá vốn thấp, có mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhưng chưa tạo thế chủ động và lấn át các Ngân hàng nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mục tiêu của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là mở rộng thi phần, thôn tính khách hàng để tạo sự ổn định và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cần phải đánh giá lợi nhuận cho cả gói dịch vụ đối với từng khách hàng từ thanh toán quốc tế giao dịch vốn, kinh doanh ngoại tệ, tín dụng… chứ không nhất thiết từng hoạt động riêng biệt phải sinh lời.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Điều này đòi hỏi tính liên kết, hợp tác giữa các bộ phận ngày càng chặt chẽ và nó cũng đòi hỏi rằng chất lượng dịch vụ khách hàng phải tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng dịch vụ.

    2- Một số vấn đề quản lý rủi ro tín dụng

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi Ngân hàng thương mại là tối thiểu hoá rủi ro tín dụng. Để đạt được mục tiêu này, các Ngân hàng sử dụng nhiều phương pháp, quy trình đánh giá rủi ro tín dụng khác nhau bao gồm cả chính thức, bán chính thức lẫn không chính thức. Mặc dù ngày nay các phương pháp đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng ngày càng được hoàn thiện và tinh vi hơn đã góp phần nâng cao hiệu quả, độ tin cậy về các quyết định cho vay, chúng vẫn không hoàn toàn khắc phục được những hạn chế vốn có, thậm chí trong một vài trường hợp có thể làm lạc hướng các chuyên gia Ngân hàng. Sau đây là một số vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng.

    2.1- Giá cả thế chấp, cầm cố trong các chu kỳ tín dụng

    Một trong những giải pháp cổ điển để tối thiểu hoá rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay thế chấp hoặc cầm cố tài sản khi vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp này không đảm bảo sự thành công cho chính sách tín dụng của Ngân hàng. Một trong những nguyên nhân thất bại là sự xuất hiện mối quan hệ phản hồi giữa các khoản vay và tài sản thế chấp, cầm cố tài sản trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó để định giá tài sản thế chấp, cầm cố một cách hợp lý cần lưu tâm đến động thái của nền kinh tế quốc dân.

    Khi cho vay vào thời điểm “đỉnh” của chu kỳ tín dụng (cũng tương ứng với chu kỳ phát triển kinh tế) có đảm bảo bàng tải sản thế chấp, cầm cố được đánh giá theo thời kỳ này, thì khi phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ, TCTD sẽ bị thua lỗ. Vì vậy, khi ra quyết định cho vay cần lưu tâm đến thời điểm của nền kinh tế.

    2.2- Các rủi ro khi cho cá nhân vay vốn tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Ngày nay phân tích rủi ro tín dụng ngày càng có xu hướng hợp thức hoá và tiêu chuẩn hoá. Đối với các thể nhân vay vốn, trong thẩm định năng lực tín dụng, các Ngân hàng thường sử dụng phương pháp cho điểm. Tổng số điểm được tính cho toàn bộ các đặc điểm của khách hàng sẽ được so sánh với một giá trị tới hạn nào đó, và tuỳ theo kết quả so sánh mà khách hàng có thể xếp vào loại đối tượng có khả năng vay hoặc không có khả năng vay. Vậy những vấn đề nào có thể nảy sinh trong quá trình lựa chọn khách hàng ?

    Thứ nhất, xem xét toàn bộ các đặc điểm chủ yếu của khách hàng là một vấn đề khá phức tạp vì nhiều đặc điểm mang tính tâm lý, sinh lý, chính trị, xã hội… rất khó có thể có được một kết luận hoàn hảo.

    Thứ hai, đánh giá các đặc điểm của khách hàng theo cách cho điểm thường mang tính chủ quan. Để tăng tính khách quan trong việc cho điểm thường dựa trên cơ sở thông tin phản hồi về khả năng hoàn trả nợ vay trong quá khứ của khách hàng vay vốn. Trong trường hợp này mức điểm đánh giá là % nợ vay đã được hoàn trả. Tuy nhiên, quy trình này cũng không thể loại bỏ hoàn toàn những tồn tại nói trên, bởi vì kỳ thu nhập các thông tin phản hồi có thể khác nhau và được lựa chọn theo mong muốn chủ quan.

    Thứ ba,việc sử dụng các thang điểm đánh giá trong các phép tính toán không phải là những đại lượng “xơ cứng” theo thời gian, vì những biến động trong các điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro mỗi đặc điểm.

    Do đó, việc cho các thể nhân vay vốn tín dụng dựa trên cơ sở lượng hoá rủi ro là một việc làm không đơn giản. Luôn luôn có nhu cầu kiểm tra, sàng lọc lại các kết qủa một cách thận trọng.

    2.3- Rủi ro khi cho vay khách hàng là pháp nhân.

    Trong phương pháp phân tích rủi ro tín dụng khi cho một pháp nhân vay vốn cũng nổi lên những vấn đề bức xúc như trường hợp khách hàng là thể nhân. Khi tính xác suất vỡ nợ của một công ty, các nhà phân tích Ngân hàng sử dụng mô hình đa nhân tố bao hàm một quy trình đáng giá các chỉ tiêu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    hoạt động cơ bản của công ty vay vốn, để từ đó tính được một chỉ tiêu tổng hợp về xác suất vỡ nợ của công ty. Sau đó đem so sánh chỉ tiêu tổng hợp này với các giá trị chuẩn và rút ra kết luận cuối cùng về khả năng thanh toán của tổ chức kinh tế.

    Tình hình phức tạp khi có nhiều phương pháp phân tích định lượng về khả năng thanh toán dựa trên việc tính toán các chỉ tiêu đặc biệt theo các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán. Trong đó có các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán ngay, khả năng thanh toán dài hạn, các chỉ tiêu về thu nhập.

    Mỗi một hệ số nêu trên đều có giá trị tiêu chuẩn dựa trên cơ sở đó để thực hiện so sánh với hệ số tính toán. Hơn nữa trong thực tiễn, các giá trị tiêu chuẩn này thường được áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và ít thay đổi. Chúng ta phải phân biệt theo ngành, lĩnh vực khác nhau theo cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ khác nhau một cách khách quan. Phải gắn chặt với lạm phát bởi vì tốc độ tăng của nó sẽ làm tăng các chỉ tiêu thực hiện. Rõ ràng sẽ là không có gì sai khi khẳng định rằng, các số chỉ tiêu chuẩn cần được phân biệt theo vùng, lãnh thổ bởi vì các địa phương khác nhau sẽ có điều kiện tái sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm không giống nhau, làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

    Sự xuất hiện nhiều phương pháp khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng gây nên một vấn đề, các kết quả phân tích theo các phương pháp khác nhau thường cho những kết quả hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, phải thừa nhận rằng, ngày nay các nhà phân tích Ngân hàng đang đối mặt với một nhiệm vụ hết sức phức tạp là nên chọn những phương pháp nào để phân tích rủi ro tín dụng và sử dụng vào thời điểm nào là hợp lý. Tình hình còn phức tạp hơn vì cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chí khách quan nào để làm luận cứ khoa học cho những sự lựa chọn nêu trên.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN III:

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .

    1- Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng :

    1.1- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng .

    Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một tổ chức nói chung và trong một Ngân hàng thương mại nói riêng. Người lãnh đạo Ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà phát huy tối đa sức mạnh của tát cảc các nguồn lực Ngân hàng thương mại mình có thành sức mạnh tổng thể của Ngân hàng.

    Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả ngăng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế. Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo Ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật.

    1.2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng.

    Không thể đạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết về pháp luật tốt. Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong Ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để Ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao. Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường. Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể. Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn.

    Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế-tài chính, tin học và ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng có sự nỗ lực trong công việc. Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng.

    2- Nâng cao chât lượng thẩm định khách hàng

    Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.

    Nói cách khác, dưới con mắt Ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

    Trên thực tế có một số Ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay. Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình Ngân hàng. Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện- doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản Nợ tài chính gia tăng…, kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác.

    3- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng.

    3.1- Cần nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố.

    Đối với việc nhận tài sản thế chấp cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả. bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản là nhà đất , dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng. nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát …. nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn.

    Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng. Ví dụ: để thực hiện một món vay thế

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    chấp bởi nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường. Một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá. Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường

    … với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì Ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác.

    Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Do vậy khi nhận tài sản thế chấp cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp đựoc khoản cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp. Bởi vậy, Ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn.

    3.2 Bảo lãnh:

    Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp. Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng có

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh. Chính vì vậy mà Ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp. Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn. Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả Ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh .

    3.3 Thực hiện bảo hiểm tín dụng:

    Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:

    • Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho nghành nghề mà họ kinh doanh vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp. Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong Ngân hàng. để sử dụng tốt hình thức này thì Ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm.

     

    • Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp rủi ro tín dụng từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của Ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số rủi ro tín dụng có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn. Phần sử dụng vốn Ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, Ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng. Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro tín dụng là hợp lý và cần thiết.

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Hàng năm Ngân hàng cần phải trích 10% lợi nhuận trong mọi hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro. Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của Ngân hàng . Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp Ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài… để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.

    -Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Như thế Ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư.

    4- Xử lý món vay có vấn đề.

    Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọ tổng quát: khai thác hoặc thanh lý. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đat được mục tiêu.

    Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho Ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện

    • phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế… Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ. Theo kinh nghiệm của các nhà Ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ”khuynh gia bại sản” đến chỗ “gượng” lại được, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với Ngân hàng. Các giải pháp khai thác bao gồm:

    – Thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ. – Tiếp thêm vốn giúp khách hàng.

    – Đảo nợ.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    5- Mở rộng cạnh tranh.

    5.1 Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

    Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh… để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau.

    5.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.

    Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao. Vì thế muốn hạn chế rủi ro tín dụng thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng. Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì Ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại.

    Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các Ngân hàng thương mại phải tăng cường các trang thiết bị hiện đại như: máy vi tính, máy Fax cũng như cơ sở vật chất, thiết bị kho tàng. Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường… cho cán bộ Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới, tư vấn pháp luật… để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

    Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C… Khi hình thành và phát triển những dịch vụ

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    mới, Ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp nhũng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng gặp phải. Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ Ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ Ngân hàng .

    5.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng.

    Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, khách hàng vừa là người cung cấp nguồn vốn cho hoạt động tín dụng, đồng thời cũng là người sử dụng nguồn vốn này nên khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng giúp các Ngân hàng thương mại có điều kiện nắm vững các thông tin có liên quan tới khách hàng, các Ngân hàng sẽ có đối sách thích hợp để có thể đứng vững môi trường cạnh tranh.

    Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng sẽ giúp Ngân

    hàng:

    • Đánh giá đúng chất lượng khách hàn hệ tín dụng thường xuyên, Ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và kiểm tra giám sát. Thông qua việc quan được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, Ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm…

    Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    • Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng. Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng. Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên Ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với Ngân hàng. Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng.
    • Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng.

    Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của Ngân hàng trên thị trường.

    Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những người bạn tin cậy.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng. Các Ngân hàng thương mại góp phần điều hoà lượng tiền trong lưu thông giúp ổn định giá cả, chống lạm phát, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế giúp quá trình sản xuất – trao đổi – tiêu dùng diễn ra trôi chảy hơn. Ngân hàng thương mại huy động với mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

    Tuy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đem lại hiệu quả cao nhưng kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Một Ngân hàng gặp rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Ngân hàng.Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu không những đối với cán bộ Ngân hàng mà còn là của toàn xã hội.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc huy đọng vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả. Đặc biệt đối với kinh tế ngoài quốc doanh, hoạt động cho vay đối với loại hình này còn có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Với tính cấp thiết này, mong rằng một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh mà em đã trình bày sẽ góp một phần nhỏ vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung. Qua đó, góp phần củng cố sự phát triển và ổn định của hệ thống Ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước.

    Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những khuyết điểm. Vì vậy, em rất mong muốn được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết có ý nghĩa thực tiễn hơn. Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh