Category: Công Nghệ – Môi Trường

  • Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Xu-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-v%C3%A0-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-%C4%91%E1%BA%A3m-b%E1%BA%A3o-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-l%C6%B0u-tr%E1%BB%AF-d%E1%BB%AF-li%E1%BB%87u-tr%C3%AAn-%C4%91%C3%A1m-m%C3%A2y-v%C3%A0-kinh-nghi%E1%BB%87m-cho-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

     

    Xu hướng kiểm toán và dịch vụ đảm bảo đối với lưu trữ dữ liệu trên đám mây và kinh nghiệm cho Việt Nam

    ThS. Phùng Anh Thư*

    Lưu trữ dữ liệu trên đám mây bao gồm việc sử dụng các trung tâm dữ liệu từ xa để lưu trữ dữ liệu người dùng mà người dùng thực sự không có quyền kiểm soát. Điều này đã đưa ra yêu cầu tạo điều kiện cho kiểm toán dịch vụ đối với lưu trữ đám mây ra đời, để người dùng có thể dựa vào Kiểm toán viên (KTV) để kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được lưu trữ trong đám

     

    mây. Tuy nhiên, KTV không nên đưa ra các mối đe dọa mới đối với sự riêng tư của dữ liệu người dùng và không nên tăng gánh nặng trực tuyến lên người dùng điện toán đám mây. Bài báo này tổng hợp các đề xuất từ các nghiên cứu về kế hoạch lưu trữ đám mây an toàn hỗ trợ bảo vệ sự riêng tư của loại hình kiểm toán dịch vụ này.

     

    Từ khóa: Kiểm toán, lưu trữ đám mây.

     

    Auditing trends and assurance for cloud datastore and experience for Vietnam

     

    Cloud datastore includes the use of remote data centres to store user data that the user does not actually have control over. This has provided a requirement for service auditing upon cloudstore to be made, so that users can rely on the Auditor to verify the integrity of the data stored in the cloud. However, Auditor should not present new threats to the privacy of user data and should not expand the burden online on cloud computing users. This paper synthesizes recommendations from research into secure cloud hosting plans that support the protection of the privacy of this type of service audit.

     

    Keywords: Audit cloudstore.

     

     

    1.Giới thiệu

     

    Điện toán đám mây (ĐTĐM) đã phát triển như là điều tốt nhất tiếp theo trong thế giới Internet, có thể cung cấp tất cả mọi thứ, từ khả năng tính toán không giới hạn đến không gian sẵn có của cơ sở hạ tầng máy tính, các ứng dụng, không gian lưu trữ, quy trình kinh doanh để hợp tác cá nhân như một dịch vụ cho người dùng bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào người sử dụng muốn. ‘‘Cloud’’ ở đây có nghĩa là mạng máy tính, CPU, thiết bị lưu trữ, phần cứng, dịch vụ cộng tác để cung cấp toàn bộ gói tính

     

    toán như một dịch vụ. Cloud có thể mở rộng, nghĩa là nó có khả năng mở rộng và thu nhỏ để phù hợp với nhu cầu của các nguồn lực. Nó tạo điều kiện cho các giao diện lập trình ứng dụng (API) có sẵn được lập hóa đơn theo cách sử dụng (mô hình trả tiền khi bạn đi).

     

    Điều mới mẻ mang tính đột phá của ĐTĐM không nằm ở bản chất công nghệ, mà là mô hình hướng dịch vụ, và mang lại sự thay đổi trong nhận thức về cách cung cấp dịch vụ (cho nhà cung cấp) và cách thuê bao sử dụng dịch vụ (cho người sử

     

    *Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  19

    dụng). Tất cả được đưa đến người sử dụng (NSD) dưới hình thức dịch vụ, từ nguồn cung ứng điện toán hàng ngày, đơn giản giống như những nguồn cung ứng điện, nước.

     

    Trong mô hình cung cầu các dịch vụ ĐTĐM, vai trò tham gia của các bên bao gồm NSD, Nhà cung ứng dịch vụ, Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ và Nhà quy hoạch chính sách.

     

    NSD là các đối tượng trả tiền thuê bao để sử dụng dịch vụ ĐTĐM, phương thức trả tiền theo cách dùng bao nhiêu, trả bấy nhiêu (pay-per-use). NSD có thể là một cá nhân (ví dụ một NSD dịch vụ hòm thư điện tử của Google, hiện tại dịch vụ này đang được cung cấp miễn phí). NSD cũng có thể là một tổ chức, hoặc một doanh nghiệp (ví dụ một doanh nghiệp muốn sử dụng dịch vụ hệ thống thư điện tử của Microsoft, trong trường hợp này phí thuê bao tính theo đơn vị số hộp thư và theo từng tháng) muốn tận dụng dịch vụ được cung cấp sẵn bởi các nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM, thay vì họ phải tự đầu tư và vận hành những hệ thống IT trong nội bộ để có được những dịch vụ đó.

     

    Nhà cung ứng dịch vụ là các doanh nghiệp, hãng tin học sở hữu và vận hành hệ thống hạ tầng cho ĐTĐM để cung cấp các dịch vụ khác nhau trên

     

     

     

     

     

     

     

     

    hạ tầng đó đến NSD. Microsoft, IBM, Google… là những ví dụ cho vai trò của nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM.

     

    Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ là các công ty tin học cung cấp các giải pháp, các sản phẩm và/hoặc dịch vụ để thiết lập và hỗ trợ sự cung cấp các dịch vụ ĐTĐM. Cisco, Symantec, TrenMicro McAfee…

     

    là những ví dụ cho vai trò hỗ trợ triển khai dịch vụ ĐTĐM, khi họ cung cấp các giải pháp cho lộ trình hợp nhất và ảo hóa các trung tâm dữ liệu, các kiến trúc hạ tầng liên quan (Cisco), hay các giải pháp bảo mật thông tin cho những dịch vụ cung cấp qua Internet (Cisco, Symantec, Trendmicro). Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ ĐTĐM có thể là các công ty tin học cung cấp các sản phẩm phần mềm sẵn có để Nhà cung ứng dịch vụ đóng gói thành dịch vụ đưa đến NSD. Nhà hỗ trợ triển khai dịch vụ cũng có thể là các công ty cung cấp dịch vụ chuyển đổi cho một tổ chức doanh nghiệp muốn chuyển đổi hệ thống đang được chính họ vận hành sang nền tảng đám mây của các Nhà cung ứng dịch vụ.

     

    Nhà quy hoạch chính sách là các cơ quan quản lý Chính phủ, hoặc các tổ chức chuyên ngành quốc tế. Với các điều luật nhất định, những cơ quan, tổ chức này sẽ cho phép hoặc không cho phép việc sử dụng các dịch vụ ĐTĐM. Ví dụ, khi một tổ chức

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    thuê bao dịch vụ ĐTĐM của nhà cung cấp dịch vụ, dữ liệu của họ sẽ được quản lý bởi nhà cung cấp dịch vụ. Nếu điều này không được chấp thuận bởi cơ quan quản lý chính sách thì tổ chức sẽ không được phép thuê bao dịch vụ ĐTĐM.

     

    Xét trên yếu tố về đối tượng sử dụng, dịch vụ ĐTĐM có thể được phân loại thành dịch vụ Cộng đồng (Public) hay dịch vụ Riêng biệt (Private). Dịch vụ cộng đồng được cung cấp đến tất cả mọi đối tượng sử dụng Internet (Amazon Web Services là một ví dụ điển hình). Không giống như vậy, dịch vụ ĐTĐM riêng biệt chỉ được cung cấp cho một nhóm đối tượng nhất định và nhà cung cấp dịch vụ chỉ sử dụng những nguồn tài nguyên hạ tầng của riêng họ.

     

    Từ quan điểm tính năng dịch vụ (với thành ngữ trong tiếng Anh: as-a-service), các sản phẩm ĐTĐM có thể được chia thành 3 loại hình chính là IaaS, PaaS và SaaS như được minh họa trong Hình 1 [3].

     

    • Dịch vụ cung cấp hạ tầng – Infrastructure as a Service (IaaS): Dịch vụ này cung cấp cho NSD thuê các tài nguyên hạ tầng (ví dụ như các

    máy chủ ảo, dung lượng lưu trữ) theo nhu cầu sử dụng. Dịch vụ lưu trữ Amazon S3, hay tài nguyên điện toán Amazon EC2, IBM Blue Cloud là những ví dụ của IaaS.

     

    • Dịch vụ cung cấp nền tảng – Platform

    as a Service (PaaS): Dịch vụ này cung cấp môi trường phát triển phần mềm đã có sẵn để NSD có thể thiết lập và tự phát triển

     

    trên nền tảng đó các ứng dụng hay các dịch vụ của mình. Microsoft Azure, Google App Engine, Amazon Relation Databse Services là những ví dụ của PaaS.

     

    • Dịch vụ cung cấp phần mềm – Software as a Service (SaaS): Dịch vụ này cung cấp cho NSD các ứng dụng đã được cài đặt và cấu hình sẵn trên ĐTĐM. NSD chỉ việc dùng từ xa các ứng dụng, thay vì phải cài đặt, cấu hình trên các máy trạm của họ. Ví dụ cho loại hình này là các ứng dụng trên nền Web, hoặc các ứng dụng tại chỗ nhưng sử dụng tài nguyên (xử lý, lưu trữ) qua mạng Internet. Google Apps, Gmail, Facebook là một vài ví dụ điển hình của SaaS.

    Hình 1. Các loại hình dịch vụ ĐTĐM

     

     

     

     

    Với việc dùng các dịch vụ ĐTĐM do các nhà cung cấp dịch vụ mang lại, ưu điểm nổi trội là NSD sẽ trả (thuê bao) tài nguyên theo sát với nhu cầu thực sự (pay-as-you-go), tránh được sự cứng nhắc về tài nguyên và những lãng phí hoặc không đảm bảo chất lượng dịch vụ do sự cứng nhắc đó. Kiểm soát chi phí nhờ đó cũng sẽ trở nên linh hoạt và theo sát với nhu cầu của doanh nghiệp (Hình 2b).

     

    Hình 2. Tương quan giữa mức tài nguyên được NSD đầu tư (hoặc trả tiền thuê bao) và nhu cầu sử dụng đầu tư

     

     

     

     

    Bên trái (a): mô hình tự cung cấp dịch vụ bằng hệ thống riêng sẽ dẫn đến tình trạng phải đầu tư thừa tài nguyên (Mức 1) để đảm bảo chất lượng dịch vụ, hoặc đầu tư ít tài nguyên hơn (Mức 2) nhưng phải chấp nhận sẽ có sự suy giảm và không đảm bảo về chất lượng dịch vụ trong quá trình sử dụng. Bên phải (b): Sử dụng dịch vụ ĐTĐM sẽ tránh được sự cứng nhắc về đầu tư tài nguyên bằng cách chỉ trả thuê bao theo nhu cầu sử dụng thực tế (pay-as-you-go) mà vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ.

     

    Tuy nhiên, việc gia công dữ liệu cho một Nhà cung cấp Dịch vụ Đám mây (CSP), một thực thể hành chính riêng biệt, vừa giải phóng kiểm soát

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  21

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    của người dùng qua dữ liệu của mình. Vì vậy, độ chính xác của dữ liệu trong đám mây là vấn đề. Một số rủi ro có thể được liệt kê dưới đây:

     

    • Có rất nhiều điều có thể thúc đẩy CSP không hành xử trung thực với người dùng về tình trạng dữ liệu được thuê ngoài của mình.
    • CSP không nên sử dụng dữ liệu của người dùng cho lợi ích của họ.
    • Mặc dù kiến trúc lưu trữ đám mây an toàn hơn và mạnh mẽ hơn các máy tính cục bộ của người sử dụng nhưng bên cạnh đó cũng có các mối đe dọa từ bên ngoài và bên trong.

    Việc sở hữu vật lý của dữ liệu được thuê ngoài không còn nữa. Việc tải xuống dữ liệu đã lưu trữ để kiểm tra tính toàn vẹn của nó có thể không phải là một giải pháp kinh tế và thực tế khả thi dựa trên chi phí đầu vào/đầu ra cao cũng như chi phí truyền tải qua mạng. Hơn nữa, các kích thước dữ liệu có thể lớn và truy cập vào toàn bộ tập tin từ các máy chủ từ xa có thể tốn kém chi phí I/O cho máy chủ lưu trữ. Truyền tệp trên mạng có thể tiêu tốn băng thông lớn. Về mặt lịch sử, tốc độ tăng dung lượng lưu trữ nhanh hơn tốc độ băng thông mạng. Hơn nữa, hoạt động của I/O để thiết lập độ chính xác của dữ liệu cũng sử dụng cùng một băng thông của máy chủ mà nếu không được sử dụng cho các hoạt động thường xuyên của lưu trữ và truy xuất dữ liệu.

     

    Để tiết kiệm cho người dùng khỏi gánh nặng tải toàn bộ dữ liệu và kiểm tra tính toàn vẹn của nó, cần thận trọng khi cho phép kiểm tra các kho lưu trữ trong đám mây để người dùng có thể dựa vào một kiểm toán viên không phải là bên thứ ba để kiểm toán các nguồn dữ liệu bên ngoài khi cần thiết. Cũng như nó tiết kiệm cho các máy chủ đám mây khỏi các vấn đề băng thông và quan trọng nhất đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu.

     

    Theo nghiên cứu của P. K. Deshmukh, V. R. Desale, R. A. Deshmukh (2013), trong thế giới ngày nay, cơ chế kiểm tra bên thứ ba (KTV) cho tính toàn vẹn dữ liệu ngày càng trở nên quan trọng và có thể sớm trở thành không thể tránh được để đảm bảo cho bảo vệ dữ liệu và độ tin cậy của dịch vụ. Kiểm toán viên bên thứ ba là một chuyên gia

    theo chiều dọc và có khả năng và khả năng cần thiết mà người dùng thông thường không có. Kiểm toán viên được giao nhiệm vụ đánh giá nguy cơ của các dịch vụ lưu trữ đám mây thay mặt người dùng. KTV sẽ yêu cầu CSP cung cấp bằng chứng rằng dữ liệu an toàn và chưa được sửa đổi.

     

    Kiểm toán dịch vụ có nghĩa là cho phép một cơ quan bên ngoài, để đánh giá tính toàn vẹn của dữ liệu được thuê ngoài của người dùng. Tuy nhiên, theo H. Shacham and B. Waters (2008); Q. Wang, C. Wang, K. Ren, W. Lou, and J. Li (2011); C. Wang, K. Ren, W. Lou and J. Li, (2010) hầu hết các chương trình đều không bảo đảm sự riêng tư của dữ liệu người dùng và do đó dữ liệu được tiết lộ cho các kiểm toán viên bên thứ ba. Trong khi đó, M.A. Shah, M. Baker, J.C. Mogul, and R. Swaminathan (2007) M.A. Shah, R. Swaminathan, and M. Baker

     

    (2007) người dùng cũng muốn quá trình kiểm toán để giới thiệu các lỗ hổng mới về rò rỉ dữ liệu cho các kiểm toán viên bên thứ ba chỉ để kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu thuê ngoài.

     

    Nghiên cứu này nhằm giải quyết những vấn đề trên bằng cách sử dụng kỹ thuật xác thực tuyến tính chung dựa trên khóa công khai H. Shacham and B. Waters (2008); Q. Wang, C. Wang, K. Ren, W. Lou, and J. Li (2011); C. Wang, K. Ren, W. Lou and J. Li, (2010), cho phép KTV thực hiện kiểm toán công mà không yêu cầu dữ liệu thực tế. Nghiên cứu đã tích hợp HLA với sự che phủ ngẫu nhiên để đảm bảo rằng KTV không bao giờ có được bất kỳ kiến thức về dữ liệu được lưu trữ tại máy chủ dựa trên đám mây (CS) trong quá trình kiểm tra.

     

    2. Công việc có liên quan

     

    Công việc đầu tiên của kiểm toán công đã được thực hiện bởi Ateniese và cộng sự trong “khả năng lưu trữ dữ liệu có thể thực hiện được tại các cửa hàng không đáng tin cậy”. Họ đề nghị lấy mẫu ngẫu nhiên các dữ liệu được thuê ngoài và sử dụng mô hình RSA với các bộ xác thực tuyến tính đồng bộ để kiểm tra dữ liệu được thuê ngoài. Vì đây là kế hoạch đầu tiên, bảo vệ sự riêng tư của dữ liệu đã không được xem xét bởi chúng do đó dữ liệu có thể truy cập được bởi kiểm toán viên bên ngoài cho mục đích kiểm toán.

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    M.A. Shah và cộng sự đã giới thiệu một KTV để kiểm tra tính trung thực của bộ lưu trữ trực tuyến bằng cách mã hoá tập tin dữ liệu đầu tiên được lưu trữ và sau đó một số kết hợp khóa đối xứng được đánh giá trước đối với tệp dữ liệu được mật mã sẽ được gửi tới kiểm toán viên. Vai trò của kiểm toán viên là xác định tính toàn vẹn tập tin dữ liệu và khóa giải mã được cam kết trước đó được tổ chức tại máy chủ. Điểm mấu chốt của kế hoạch này là KTV cần phải duy trì trạng thái và do đó bị hạn chế sử dụng, có thể gây gánh nặng thêm cho người tiêu dùng khi sử dụng tất cả các bảng cân đối đối xứng. Hơn nữa, chương trình này chỉ làm việc cho các tập tin dữ liệu được mã hóa. Các nhà nghiên cứu sử dụng thuật toán RSA để mã hóa và giải mã dữ liệu và thuật toán SHA 512 được sử dụng để kiểm tra tính xác thực và toàn vẹn của thông tin.

     

    Govinda và các cộng sự sử dụng chữ ký số của RSA để cho phép KTV kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được thuê ngoài trong môi trường đám mây và bảo vệ sự riêng tư của nó. Thay mặt cho người dùng, KTV kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được thuê ngoài. Điều này tạo điều kiện cho khả năng xác minh công khai động lực dữ liệu để bảo mật lưu trữ trong đám mây và cũng tạo điều kiện kiểm toán về bảo mật tính riêng tư. Tuy nhiên, kế hoạch này không thể giúp khôi phục dữ liệu được thuê ngoài. Đó là bởi chủ yếu hai lý do được đề cập trong nghiên cứu của M.A. Shah, R. Swaminathan, and M. Baker (2007). Thứ nhất là sự không khớp giữa giá trị được lưu giữ và giá trị tính toán của checksum chỉ có thể xác định rằng một trong hai đã được sửa đổi nhưng không thể định rõ được, như trong nghiên cứu của Farzad Sabahi (2011) “Các mối đe dọa và phản ứng về bảo mật máy tính đám mây” và có thể tổng kiểm tra được lưu trữ được sửa đổi hoặc bị hỏng. Lý do thứ hai là các hàm băm (hash functions) miễn phí được sử dụng để tính giá trị kiểm tra và do đó dữ liệu không thể được thu hồi từ một giá trị kiểm tra nhất định.

     

    1. Vấn đề nghiên cứu
    2. Mô hình hệ thống

    Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến ba thực thể – người sử dụng điện toán đám mây, máy

    chủ đám mây và kiểm toán viên bên thứ ba. Người dùng Đám mây là người sử dụng máy chủ đám mây để lưu trữ số lượng lớn các tệp dữ liệu. Nhà cung cấp dịch vụ đám mây (CSP) cung cấp dịch vụ lưu trữ dữ liệu và có hầu hết các tài nguyên lưu trữ và tính toán không giới hạn, có thể mở rộng. Kiểm toán viên bên thứ ba (KTV) kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu thay mặt cho người sử dụng điện toán đám mây sử dụng một kế hoạch kiểm toán công và sau đó KTV gửi báo cáo cho người dùng.

     

    Hình 3. Cấu trúc mô hình hệ thống

     

     

     

     

    Những lợi ích của mô hình hệ thống do người dùng chuyển dữ liệu sang đám mây – việc gia công dữ liệu ngoài việc giảm chi phí lưu trữ cũng giảm bớt sự bảo trì, giảm nguy cơ mất dữ liệu do sự cố phần cứng, dữ liệu có thể được truy cập từ bất cứ đâu trên thế giới. Để giảm chi phí tính toán của người dùng đám mây cũng như để tiết kiệm gánh nặng trực tuyến có thể được tạo ra khi người dùng kiểm tra tính toàn vẹn, người dùng sử dụng KTV để kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu được lưu trữ.

     

    1. Mô hình chỉ dẫn nguy cơ

    Mối đe dọa về cơ bản là một sự kiện tiềm ẩn có thể là nguy hiểm hoặc ngẫu nhiên, ảnh hưởng đến tài nguyên đám mây.

     

    Nguy cơ từ truy cập đối tượng dữ liệu data – Dữ liệu trong bộ nhớ đám mây có thể bị lạc do các vấn đề về phần cứng. Nhà cung cấp dịch vụ đám mây có thể xóa dữ liệu khi nó không được truy cập trong một thời gian dài.

     

    Các cuộc tấn công khác có thể bao gồm – lỗi phần mềm, tin tặc, các vấn đề bảo mật trong đường

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  23

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    dẫn mạng… Đối với danh tiếng của họ, CSP có thể giấu những điều này từ người dùng.

     

    Nguy cơ bảo mật – Có thể là dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ đám mây có chứa thông tin bí mật về doanh nghiệp và bên ngoài có thể cố gắng truy cập vào nó bằng cách thao túng CSP. Cùng với dữ liệu này hoặc một phần của nó phải được giữ kín từ KTV trong quá trình kiểm tra.

     

    1. Mục tiêu thiết kế

    Giao thức của chúng tôi nhằm đạt được các tính chất sau đây:

     

    • Kiểm toán dịch vụ – KTV có thể xác minh an toàn và hiệu quả dữ liệu mà không cần khôi phục bản sao của nó.
    • Chính xác – Nếu có bất kỳ khối sửa đổi, sau đó KTV sẽ có thể phát hiện nó.
    • Bảo mật – Bảo toàn – KTV không nên truy cập bất kỳ phần nào của dữ liệu trong quá trình kiểm toán.

    4. Đề xuất

     

    Chúng tôi đã đề xuất một hệ thống sẽ sử dụng xác thực homomorphic dựa trên khóa công khai cùng với kỹ thuật masking ngẫu nhiên để tạo điều kiện bảo mật dữ liệu người dùng và cho phép kiểm tra dữ liệu của người dùng được lưu trữ trong đám mây. Chúng tôi đề xuất sử dụng bộ chứng thực homomorphic dựa trên khóa công khai thông qua đó KTV có thể thực hiện nhiệm vụ kiểm toán mà không yêu cầu sao chép dữ liệu của người dùng và sau đó tích hợp nó với kỹ thuật masking ngẫu nhiên, giao thức của chúng tôi hứa hẹn rằng KTV sẽ không có thông tin cần thiết để xây dựng lại chính xác Nhóm các phương trình tuyến tính và do đó không thể có bất kỳ kiến thức nào về dữ liệu của người dùng được lưu trữ trong máy chủ đám mây trong đề xuất rằng tệp tin phải được mã hóa ở phía người dùng và khóa được lưu trữ với người dùng trước khi tải tệp lên đám mây. Như vậy, quá trình trên sẽ trải qua hai giai đoạn như mô hình dưới đây:

    Hình 4. Giai đoạn thiết lập Kế hoạch Kiểm toán

     

     

     

     

     

     

    Hình 5. Giai đoạn thực hiện kế hoạch Kiểm toán

     

     

     

     

     

     

    1. Xu hướng sử dụng điện toán đám mây và tiềm năng phát triển kiểm toán đám mây trên thị trường Việt Nam

    Việt Nam đang dần tiếp cận các dịch vụ đám mây thông qua dự án của một số doanh nghiệp nước ngoài như Microsoft, Intel… cũng như từ những nhà phát triển, cung cấp trong nước như FPT, Biaki… IBM là doanh nghiệp tiên phong khai trương trung tâm điện toán đám mây tại Việt Nam vào tháng 9/2008 với khách hàng đầu tiên là Công ty Cổ phần Công nghệ và Truyền thông Việt Nam (VNTT). Có thể nói Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở ASEAN đưa vào sử dụng điện toán đám mây.

     

    Công nghệ này được coi là giải pháp cho những vấn đề mà nhiều công ty đang gặp phải như thiếu

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    năng lực CNTT, chi phí đầu tư hạ tầng hạn chế… Hiện nay, nhiều công ty đang hoang phí tài nguyên như: không khai thác hết công suất của hệ thống máy chủ, đầu tư quá nhiều về mặt con người. Trong khi đó, về lý thuyết, đám mây (cloud computing) sẽ cho phép doanh nghiệp không cần tập trung quá nhiều cho cơ sở hạ tầng hoặc nâng cấp ứng dụng, không đòi hỏi nguồn nhân lực lớn và có thể dễ dàng thay đổi quy mô khi cần.

     

    Mặc dù điện toán đám mây hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước phát triển trên thế giới bởi lợi ích đáng kể mà nó đem lại, nhưng ở Việt Nam các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự mặn mà với công nghệ này. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nhận định, đây chính là giải pháp tối ưu để các doanh nghiệp nước ta giảm thiểu chi phí cũng như tăng hiệu suất làm việc ở mức tối đa. Mô hình sử dụng điện toán đám mây tại Việt Nam được khái quát hóa như hình 6.

     

     

     

     

     

     

    Hình 6. Xu hướng sử dụng điện toán đám mây tại Việt Nam

     

    Về thực trạng ứng dụng điện toán đám mây ở các doanh nghiệp Việt Nam, có thể rút ra kết luận như sau: Hiện nay, đã có một vài doanh nghiệp lớn tại Việt Nam đưa điện toán đám mây vào ứng dụng và hiệu suất kinh doanh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, số lượng là khá ít. Phần lớn vẫn chỉ dừng ở mức quan tâm và tìm hiểu.

     

    Tuy nhiên, theo khảo sát gần đây của Symantec,

    một công ty phần mềm hàng đầu thế giới, hiện có khoảng 46% doanh nghiệp và tổ chức Việt Nam đang triển khai ứng dụng công nghệ điện toán đám mây và các dự án ảo hóa khác.

     

    Hãng bảo mật Symantec cũng cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam có mối quan tâm đặc biệt đến việc ứng dụng điện toán đám mây và cơ hội mà công nghệ mới này đem tới. Kết quả từ cuộc khảo sát cho thấy 39% doanh nghiệp trong nước hiện đang sử dụng dịch vụ phần mềm ảo tư nhân (VPS), trong khi 21% đang ảo hóa máy chủ và cơ sở dữ liệu.

     

    Một báo cáo gần đây của nhóm nghiên cứu Gartner nhấn mạnh tới sự phát triển của Điện toán đám mây trong bối cảnh toàn cầu hóa. Theo khảo sát, khoảng 50% doanh nghiệp và các tổ chức trên thế giới đang ứng dụng công nghệ hiện đại này với tốc độ tăng trưởng 17% mỗi năm. Năm 2011, doanh thu dịch vụ điện toán đám mây toàn cầu lên tới 2,4 tỷ USD. Gartner dự đoán con số này sẽ tăng gần gấp 4 lần trong năm 2012.

     

    Việc ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong kinh doanh cũng như trong đời sống là một bước phát triển tất yếu với xu thế thời đại. Được dự đoán là làn sóng công nghệ mới, sẽ tạo ảnh hưởng đến thói quen, tư duy ứng dụng công nghệ hiện nay. Điều khó khăn là làm thế nào để các doanh nghiệp cũng như cá nhân chấp nhận xu thế đấy.

     

    Đối với phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ), rào cản ngôn ngữ là trở ngại lớn nhất trong quá trình tìm kiếm những công nghệ trợ giúp cho họ. Chính vì thế, các nhà cung cấp Việt Nam sẽ là cầu nối cho doanh nghiệp trong nước với xu thế công nghệ thế giới. Nó yêu cầu một trình độ nhất định về công nghệ, sự am hiểu thói quen, văn hóa của doanh nghiệp Việt Nam, và trên hết là khả năng đào tạo thị trường gắn với công nghệ. Nhà cung cấp Công nghệ Điện toán đám mây ở Việt Nam làm tốt cả 3 điều trên, thì thị trường Việt Nam sẽ không chỉ còn là thị trường tiềm năng nữa.

     

    Công nghệ Điện toán đám mây là xu thế chung của thời đại, việc đưa ra ứng dụng, phát triển rộng rãi là điều tất yếu, nhất là trong bối cảnh toàn cầu

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  25

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    hóa. Nhưng để theo kịp xu thế, để thị trường phát triển mạnh thì còn nhiều điều cấp thiết phải làm. Thay đổi một tư duy làm việc, một thói quen hoạt động là điều mà các nhà cung cấp phải làm doanh nghiệp Việt Nam nhìn ra và chấp nhận.

     

    Bài báo đã đề xuất một hệ thống kiểm toán bên thứ ba cho kho dữ liệu dựa trên đám mây đồng thời bảo vệ sự riêng tư của dữ liệu của người dùng. Hệ thống xác thực tuyến tính đơn vị và sự che phủ ngẫu nhiên đã được sử dụng để đảm bảo rằng KTV sẽ không thể truy cập vào các nội dung dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ đám mây mà không ảnh hưởng đến hiệu quả của quy trình kiểm toán. Điều này loại bỏ gánh nặng của nhiệm vụ kiểm toán từ người sử dụng điện toán đám mây và cũng làm giảm nỗi lo sợ của người dùng rằng dữ liệu từ bên ngoài của họ có thể bị truy cập bởi một bên không tin tưởng. Vấn đề này mở ra cho các nghiên cứu ứng dụng và thực hiện kiểm toán đám mây – một mô hình dịch vụ khá mới đối với thị trường kiểm toán Việt Nam.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Ateniese, R. Burns, R. Curtmola, J. Herring,

     

    1. Kissner, Z. Peterson, and D. Song, “Provable Data Possession at Untrusted Stores,” in Proc. ACM CCS, 2007, pp. 598–610.
    1. Wang, Q. Wang, K. Ren, and W. Lou, “Privacy-Preserving Public Auditing for Data Storage Security in Cloud Computing,” in Proc. IEEE INFOCOM, 2010, pp. 525–533.

     

    1. Shacham and B. Waters, “Compact Proofs of Retrievability,” in Proc. Int’l Conf. Theory and Application of Cryptology and Information Security: Advances in Cryptology (Asiacrypt), vol. 5350, pp. 90-107, Dec. 2008.

     

    1. Wang, B. Li, and H. Li, “Oruta: Privacy-Preserving Public Auditing for Shared Data in the Cloud” University of Toronto, Tech. Rep., pp. 295-302, 2011.

     

    1. Wang, C. Wang, K. Ren, W. Lou, and

     

    1. Li, “Enabling Public Auditability and Data Dynamics for Storage Security in Cloud Computing” IEEE Trans. Parallel and Distributed Systems, vol. 22, no. 5, pp. 847-859, May 2011.
    1. Galbraith, “Supersingular curves in cryptography” (Asiacrypt) volume 2248 of Lecture Notes in Computer Science, SpringerVerlag , pages 495–513., 2001.

     

    1. Wang, K. Ren, W. Lou and J. Li, “Towards Publicly Auditable Secure Cloud Data Storage Services” IEEE Network Magazine, vol. 24, no. 4, pp. 19-24, July/Aug. 2010.

     

    1. A. Shah, M. Baker, J.C. Mogul, and R. Swaminathan, “Auditing to Keep Online Storage Services Honest,” in Proc. 11th USENIX Workshop Hot Topics in Operating Systems (HotOS ’07), pp. 1-6, 2007.
    2. A. Shah, R. Swaminathan, and M. Baker, “Privacy-Preserving Audit and Extraction of Digital Contents,” Cryptology ePrint Archive, Report 2008/186, 2008.

     

    1. Govinda V, Gurunathaprasad and H Sathshkumar, “Third Party Auditing For Security Data Storage in cloud through digital signature using RSA” IJASATR, issue 2,vol-4, Issn 2249-9954, 2012.

     

    1. Farzad Sabahi,“Cloud Computing Security Threats and Responses” IEEE conference, 978-1-61284-486-2/111, 2011.

     

    1. Boneh, B. Lynn, and H. Shacham. “Short signatures from the Weil pairing,” In Asiacrypt, volume 2248 of Lecture Notes in Computer Science, pp. 514+, 2001.

     

    1. Okamoto and D. Pointcheval, “The gap-problems: A new class of problems for the security of cryptographic schemes,” In Public Key Cryptography, LNCS 1992, pp. 104–118, 2001.

     

    1. Ben Lynn, “On the implementation of pairing-based cryptosystems” Thesis, Stanford University, Unites States, 2007.

     

    1. Armbrust, A. Fox, R. Griffith, A. D. Joseph, R. H. Katz, A. Konwinski, G. Lee, D. A. Patterson, A. Rabkin, I. Stoica, and M. Zaharia, “A View of Cloud Computing” Communications of the ACM, vol. 53, no. 4, pp. 50–58, April 2010.

     

    1. Bhagat and R. K. Sahu, “Using Third Party Auditor for Cloud Data Security: A Review” International Journal of Advanced Research in Computer Science and Software Engineering 3(3), pp. 34-39, March – 2013.
    • K.Deshmukh,V.R.Desale,R.A.Deshmukh, “Investigation of KTV (Third Party Auditor Role) for Cloud Data Security”, IJSER, vo. 4, no. 2,ISSN 2229-5518, Feb 2013.

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

    Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

    Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-4.0-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c-%C4%91%E1%BA%B7t-ra-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

     

    Ths. Hoàng khắc nhân* Ths. Đỗ đăng đoài*

    Ths. Nguyễn thị Thùy linh*

    Cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra đối với kiểm toán nhà nước

     

    Cách mạng công nghiệp 4.0 (Industrie 4.0) là thuật ngữ nổi lên một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013 trong đó đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Cách mạng Công nghiệp (CMCN) 4.0 sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số

     

    và Vật lý. Tuy nhiên, cuộc CMCN này đã, đang và sẽ có mặt trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Và Kiểm toán nhà nước (KTNN) cũng không đứng ngoài vòng ảnh hưởng khi mà nó làm thay đổi căn bản cách thức mà Kiểm toán viên nhà nước tiếp cận và xử lý thông tin. Trong phạm vi bài viết này sẽ chỉ tập trung chỉ ra những thách thức mà KTNN phải đối mặt trong CMCN 4.0.

     

    Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, KTNN, thách thức. Industry 4.0 and challenges to State Audit Office of Vietnam

     

    Industrial Revolution 4.0 (Industry 4.0) is a term that emerged from a report by the German government in 2013 which refers to this phrase as a strategic high-tech computerized manufacturing industry without human participation. Industry 4.0 will take place on 3 main areas including Biotechnology, Technology and Physics. However, this Industry 4.0 has been and will be present in many different areas of social life. And the State Audit Office of Vietnam is not out of touch as it fundamentally changes the way SAV’s state auditors’ approach and process information. This paper focuses only on the challenges facing the SAV in the Industry 4.0.

     

    Keywords: Industrial Revolution 4.0, SAV, challenges.

     

     

    1.   Hiểu biết cơ bản về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

     

    Theo wikipedia, công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện thời trong việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống kết nối các thực thể và “phiên bản số” của chúng được gọi là các hệ kết nối không gian số – thực thể (cyber-physical system), Internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây (Cloud computing) và điện toán nhận thức (cognitive computing). Công nghiệp 4.0 tạo ra những “nhà máy thông minh” (smart factory). Trong các nhà máy thông minh với cấu trúc kiểu mô-đun, hệ thống thực-ảo giám

    sát các quy trình thực tế, tạo ra một bản sao ảo của thế giới thực và đưa ra các quyết định phân tán. Qua Internet vạn vật, các hệ thống thực – ảo giao tiếp và cộng tác với nhau và với con người trong thời gian thực.

     

    Thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” khởi nguồn từ một dự án trong chiến lược công nghệ cao của chính phủ Đức, nó thúc đẩy việc sản xuất điện toán hóa sản xuất. Khái niệm này được nhắc lại vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover, giới thiệu các dự kiến của chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm nâng cao nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức.

     

    *Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán, Kiểm toán nhà nước

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    Một khái niệm khác khá tương đồng và có liên quan đến khái niệm “Công nghiệp 4.0”, đó là “cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, về bản chất, đều dựa trên những thành tựu của khoa học kỹ thuật như Trí tuệ nhân tạo, với máy móc tự động và thông minh như ô-tô tự lái, in ấn 3 chiều, kết nối vạn vật (IoT), công nghệ sinh học và công nghệ nano, số hóa dữ liệu, hiện thực ảo… Một cách dễ hiểu, chúng ta có thể hiểu tương đối đồng nhất hai khái niệm này, tuy nhiên cần lưu ý khái niệm “công nghiệp 4.0” hàm ý một sự chuyển đổi có tính hệ thống bao gồm tác động lên xã hội dân sự, cơ cấu quản trị và bản sắc con người, không chỉ là tác động lên các hệ thống sản xuất kinh doanh.

     

    Nhìn lại các cuộc cách mạng Công nghiệp mà loài người đã trải và thực hiện, từ cuộc Cách mạng lần thứ nhất bắt đầu vào khoảng năm 1784 là cách mạng Cơ khí hóa sản xuất dựa vào động cơ hơi nước, xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới. Trong thời kỳ này, sản xuất giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thế bằng sản xuất quy mô lớn dựa trên các máy hơi nước đã đưa đến gia tăng năng suất lao động đột biến. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai vào khoảng giai đoạn 1871-1914 là cách mạng Điện khí hóa sản xuất hàng loạt dựa vào năng lượng điện, động cơ đốt trong. Cách mạng lần thứ ba vào khoảng giai đoạn 1969-1997 là cách mạng Tự động hóa với các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máy tính và

     

     

     

    số hoá, cho phép sản xuất theo quy trình tự động, điều khiển bằng hệ thống máy tính, giúp tiết kiệm lao động, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nguyên vật liệu, hiệu suất và độ chính xác cao…Và hiện nay, cả thế giới chúng ta đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (bắt đầu vào cuối những năm 2000) là cuộc cách mạng Số hóa và kết nối hệ thống thực và ảo, với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, IoT, S.M.A.C, công nghệ nano, sinh học, vật liệu mới…

     

    Cuộc cách mạng công nghiệp lần này đang tạo ra những xu hướng mới, hứa hẹn mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người.

     

    Đặc trưng khác biệt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đó là các giá trị được tạo ra gắn liền với nhà máy, thiết bị hữu hình (ở thế giới thực) càng ngày càng giảm, ngược lại các giá trị được tạo ra trên không gian mạng (thế giới ảo) có tỷ trọng ngày càng tăng. Dựa trên nền tảng công nghệ số, tất cả các công nghệ thông minh được tích hợp với nhau để tối ưu hóa quy trình và phương thức sản xuất. Sự phát triển của hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông và internet mà đỉnh cao là mạng lưới vạn vật kết nối IoT cho phép các chủ thể kinh tế và các chu trình kinh tế kết nối với nhau, xóa nhòa khoảng cách. Sự kết nối này đang tạo ra một xu hướng mới thường được gọi với khái niệm “kinh tế chia sẻ”. Theo đó, các mô hình chia sẻ nguồn lực trực tiếp giữa cá nhân với cá nhân, hướng tới mục

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  15

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    tiêu tối ưu hóa nguồn lực toàn xã hội. Quy mô của cuộc cách mạng là sự đột phá công nghệ đồng thời diễn ra trong nhiều lĩnh vực, tương tác thúc đẩy lẫn nhau. Đặc biệt là, mức độ ảnh hưởng, sự lan tỏa của cuộc cách mạng này diễn ra trên quy mô toàn cầu, với tốc độ phát triển chưa có trong tiền lệ của lịch sử loài người (tốc độ phát triển tăng theo cấp số nhân), và được dự báo sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới. Những công nghệ mới của cuộc Cách mạng sẽ tác động to lớn lên mọi luật lệ, mọi nền kinh tế, mọi nền công nghiệp, đồng thời thách thức chúng ta về vai trò thực sự của con người, chúng có khả năng kết nối hàng tỷ người trên thế giới, gia tăng đáng kể hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp, tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay thậm chí là khôi phục lại những tổn thất mà các cuộc cách mạng công nghiệp trước gây ra.

     

    2. Cơ hội và thách thức đặt ra

     

    Như đã biết, các nước phát triển, đặc biệt là các nước phương Tây đã có những bước phát triển nhảy vọt sau khi trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó. Chẳng hạn như với nước Anh, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã làm thay đổi vị thế của nước Anh, trở thành cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới, là công xưởng của thế giới (năm 1848 sản lượng công nghiệp Anh chiếm 45% tổng sản lượng công nghiệp thế giới), nước Anh trở thành trung tâm thương mại và tài chính quốc tế (năm 1870 khoảng 38% mức lưu chuyển hàng hoá qua nước Anh). Tiếp đó, nhiều cường quốc công nghiệp khác nổi lên sau kết quả của cách mạng công nghiệp lần thứ 2, tiêu biểu là Đức và Hoa Kỳ. Thời kỳ này, nước Đức thay thế nước Anh trở thành quốc gia dẫn đầu Châu Âu về công nghiệp. Hoa Kỳ cũng đã vượt nước Anh trở thành quốc gia công nghiệp số một thế giới.

     

    Nếu như vì nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan, Việt Nam đều lỡ nhịp, không có điều kiện tham gia ba cuộc cách mạng công nghiệp về cơ khí, điện khí hóa và tự động hóa trước đó thì nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang được đánh giá đem lại cơ hội lớn cho nước ta. Việc lần đầu tiên được tham gia một “sân chơi” không biên giới, không khoảng cách, sẽ là thời cơ “ngàn vàng” để chúng ta “đi tắt đón đầu”, có thể giúp đưa nước ta

    bứt phá , vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Bởi, Việt Nam hiện nay đã có những yếu tố quan trọng là nền tảng cho cuộc cách mạng 4.0 này. Đó là việc chúng ta là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng; lực lượng lao động trẻ, đông đảo, năng động, nhanh nhạy, ham hiểu biết và tìm tòi; đó là tỷ lệ dân số và doanh nghiệp sử dụng Internet cao (khoảng 54% dân số vào năm 2016, đứng thứ 5 ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương); tỉ lệ dân số sử dụng điện thoại thông minh đạt 55%; ngành công nghệ thông tin đang có sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng lên đến 16%; Việt Nam cũng đứng trong top 5 nước tăng trưởng công nghệ thông tin nhanh nhất thế giới… Như vậy, các tiền đề quan trọng cho cuộc cách mạng đã không còn quá thua thiệt nếu so với các quốc gia khác, thậm chí có thể nói, dường như cả thế giới đều bước vào cuộc cách mạng 4.0 ở cùng một vạch xuất phát, cạnh tranh một cách công bằng và sòng phẳng. Cơ hội chia đều cho mọi quốc gia và điều Việt Nam chúng ta nên làm là cần phải nhanh chân.

     

    • chiều ngược lại, thách thức là không nhỏ khi chúng ta chưa trải qua các cuộc cách mạng trước đó, chưa tích lũy đầy đủ khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực quản lý,… cả về lượng lẫn về chất. Tuy nhiên, đây vẫn là cuộc cách mạng tất yếu mà Việt Nam chỉ có thể chọn cách tham gia hoặc bị loại khỏi “cuộc chơi”. Không tận dụng được cơ hội này, nước ta sẽ chỉ có một kết quả là tụt hậu càng tụt hậu hơn, nước ta vẫn sẽ là “bãi rác công nghệ” của thế giới, là nơi bán tài nguyên giá rẻ, bán sức lao động giá rẻ… Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn hẹp, chúng ta cần tìm cho mình bước đi phù hợp, tầm nhìn bao quát và dài hạn, nhất là cần có những giải pháp hết sức cụ thể, căn cơ, đúng và trúng mới nâng cao hiệu quả, tăng khả năng thích ứng của quốc gia với “làn sóng” công nghệ mới, tận dụng tốt thời cơ để phát triển đột phá. Thực tế cho thấy Việt Nam đang có sự tiếp cận khá nhanh chóng về công nghiệp 4.0 khi hàng loạt các cuộc thảo luận, nghiên cứu cho nội dung này đã được thực hiện. Chính phủ cũng cho thấy sự tích cực, chủ động với quyết tâm cao. Cụ thể, trước xu hướng phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    4.0, ngày 4/5/2017 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

     

    Đối với việc thực hiện nhiệm vụ tại Kiểm toán nhà nước, vì vậy cũng đang đặt ra nhiều thách thức. Trước hết là thách thức về mặt làm chủ “công nghệ kiểm toán”. Như đã đề cập, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được dự báo sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới. Do đó, yêu cầu tất yếu đặt ra là việc kiểm tra, kiểm soát cũng phải thay đổi theo bởi chỉ sử dụng các quy trình, thủ tục, phương pháp, kỹ thuật cũ mà không có sửa đổi, bổ sung, cải tiến để kiểm tra những hệ thống mới hoặc những hệ thống đã được làm mới là không đảm bảo hiệu quả, hiệu lực. Chẳng hạn như:

     

    • Sự phát triển của hệ thống thực ảo (Cyber Physical System – CPS) và Internet vạn vật đã và đang tạo ra ngày càng nhiều mô hình, cách thức tổ chức và kinh doanh mới. Các loại hình doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ xuất hiện ngày càng nhiều như Uber, Grab, Bitcoin, Facebook, Google… ngày càng nhiều đặt ra các vấn đề quản lý hóc búa. Các giao dịch trên không gian mạng (thế giới ảo) có tỷ trọng ngày càng tăng nhanh và rất khó kiểm soát theo cách thông thường. Lấy ví dụ như, đến nay cơ quan chức năng vẫn loay hoay vấn đề quản lý thông tin trên mạng xã hội; vấn đề quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh của Facebook; quản lý thuế các hoạt động bán hàng online trên mạng xã hội facebook…
    • Xuất hiện ngày càng nhiều các hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý lớn, phức tạp, thách thức cho việc thu thập thông tin, đánh giá tổng thể cũng như bao quát đầy đủ tình hình hoạt động và tài chính của tổ chức, có thể gây khó khăn cho công tác chọn mẫu kiểm toán. Hiện nay, nhiều cơ quan, đơn vị đã tăng cường ứng dụng CNTT vào quản lý, đưa vào sử dụng các hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý tập trung, tuy nhiên KTNN gần như vẫn chưa hiểu và nắm bắt rõ để vận dụng trong hoạt động kiểm toán. Đơn cử như hệ thống Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc Tabmis mặc dù đã được đưa vào vận hành chính thức trên toàn quốc được 05 năm kể từ năm 2012, tuy nhiên đến nay khi thực

    hiện kiểm toán ngân sách, KTNN vẫn chủ yếu dựa vào các hồ sơ, tài liệu, báo cáo bằng giấy của các đơn vị được kiểm toán mà chưa tiếp cận với các dữ liệu số trên hệ thống.

     

    Việc gia tăng sử dụng hệ sinh thái Internet Vạn vật IoT, việc chia sẻ thông tin nhanh chóng và dễ dàng hơn bao giờ hết mặc dù là cơ hội thuận lợi để chia sẻ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, tuy nhiên cũng sẽ làm tăng nguy cơ mất an toàn thông tin, nguy cơ mất kiểm soát việc phát tán thông tin tài liệu. Đây thực sự là thách thức lớn về vấn đề bảo mật, yếu tố đặc biệt quan trọng trong kiểm toán vốn là hoạt động có yêu cầu bảo mật thông tin rất cao.

     

    Ngoài ra, thách thức về nhân lực chất lượng cao cũng là vấn đề rất quan trọng. Cách mạng 4.0 sẽ triệt tiêu lao động giản đơn và lao động chất lượng thấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Khi các hệ thống sản xuất và quản trị ngày càng đồ sộ và phức tạp thì các sai phạm cũng vì thế mà tinh vi hơn, người kiểm toán viên với công việc kiểm tra kiểm soát do đó càng phải giỏi hơn. KTNN muốn ứng dụng được những “công nghệ kiểm toán” hiện đại hơn cần phải chuẩn bị được một đội ngũ kiểm toán viên chất lượng cao hơn. Trong kỷ nguyên số hiện nay, các kiểm toán viên cần nhận thức rõ xu hướng thời đại để nắm bắt cơ hội và thích ứng, trang bị cho mình nhiều kỹ năng như quản lý, kỹ thuật số và cả những kỹ năng mềm.

     

    3.   Định hướng phát triển của KTNN trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0

     

    Với vai trò là cơ quan có chức năng kiểm toán việc quản lý sử dụng tài chính công, tài sản công, ngay từ bây giờ Kiểm toán nhà nước cần có những định hướng, bước đi phù hợp để đảm bảo hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trong tương lai khi mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được dự báo sẽ có tác động lớn, toàn diện đến mọi đối tượng, mọi ngành hay lĩnh vực kinh tế, sẽ kéo theo thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội, phương thức quản lý. Theo tác giả, KTNN cần đảm bảo một số yêu cầu như:

     

    • Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực: phải thay đổi rõ nét về mục tiêu, nội dung và cách thức đào tạo để tương thích với thời đại mới, chú

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  17

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    trọng phát triển kỹ năng mềm, kỹ năng kiểm toán trong môi trường số hóa, môi trường ảo. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về xu hướng tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại để mỗi kiểm toán viên thấy rõ cần làm gì để kịp thích ứng.

     

    • Chủ động nghiên cứu các hệ thống dữ liệu số hóa đã và đang được sử dụng rộng rãi thời gian gần đây cũng như các hệ thống sẽ được ứng dụng ở các ngành, lĩnh vực cần kiểm toán, chẳng hạn như Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc Tabmis, hệ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm do Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chủ quản, hệ Cơ sở dữ liệu Đất đai quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ quản, hệ thống quản lý thuế tập trung TMS… để nâng cao kỹ năng làm việc với các hệ thống cơ sở dữ liệu cho các kiểm toán viên, chủ động sử dụng cho việc kiểm tra, đối chiếu trong quá trình kiểm toán; Nghiên cứu dự báo các vấn đề mới, các lỗ hổng trong công tác quản lý các mô hình tổ chức, mô hình kinh doanh mới để có phương thức kiểm tra phù hợp và tư vấn chính sách quản lý cho các cơ quan có thẩm quyền.
    • Nghiên cứu cải tiến hình thức tổ chức kiểm toán phù hợp với xu hướng phát triển của hệ thống thực ảo và chia sẻ dữ liệu của kỷ nguyên số, khai thác tối đa thông tin, thu thập hồ sơ, tài liệu từ xa trên hệ thống dữ liệu số liên thông, tiến tới giảm dần hình thức kiểm toán hậu kiểm còn nhiều bất cập thay bằng việc tiền kiểm hoặc giám sát thường xuyên, giảm dần việc kiểm toán trực tiếp tại đơn vị được kiểm toán mà chỉ kiểm tra trực tiếp trong những trường hợp thực sự cần thiết, ví dụ như như cần kiểm tra hiện trường hoặc có nghi vấn gian lận sau khi kiểm tra, theo dõi, giám sát từ xa qua hệ thống thông tin, đảm bảo vừa nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán, vừa hạn chế phiền toái cho đơn vị được kiểm toán và phòng ngừa tiêu cực.
    • Tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác kiểm toán, đặc biệt ứng dụng CNTT, chẳng hạn ứng dụng công nghệ hiện thực ảo để giả lập môi trường kiểm soát nhằm tìm ra lỗ hổng trong môi trường kiểm soát nội bộ, ứng dụng công nghệ chia sẻ dữ liệu số đảm bảo thu thập thông tin nhanh chóng, tin cậy, ứng dụng công nghệ phần mềm để phần mềm hóa toàn bộ quy trình kiểm toán đối với các lĩnh vực kiểm toán

    quen thuộc, nhiều kinh nghiệm giúp thuận lợi cho kiểm toán và kiểm soát chất lượng kiểm toán, hỗ trợ chọn mẫu, giúp kiểm tra được khối lượng lớn dữ liệu trong thời gian ngắn, đồng thời cho phép phân cấp, phân quyền rõ ràng, đảm bảo kiểm soát được tốt vấn đề bảo mật và gắn trách nhiệm từng cá nhân.

     

    • Nghiên cứu xây dựng cơ chế thu thập thông tin tự động về các đơn vị được kiểm toán, các vấn đề quan trọng, các vấn đề dư luận quan tâm để bổ sung vào cơ sở dữ liệu; Thực hiện đa dạng nguồn thông tin bao gồm thông tin từ mạng internet, không chỉ bó hẹp ở kênh thông tin do Đoàn kiểm toán thu thập được trong quá trình kiểm toán; chú trọng phát triển cơ sở dữ liệu thông tin đầu mối các đơn vị được kiểm toán để theo dõi, giám sát chặt chẽ.
    • Xây dựng các bộ tiêu chí cụ thể, lượng hóa sâu các giai đoạn của cuộc kiểm toán kết hợp với phần mềm kiểm toán để nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng kiểm toán, đánh giá được chính xác chất lượng đầu ra của cuộc kiểm toán.
    • Tăng cường học hỏi hợp tác quốc tế sâu rộng hơn nữa để bạn bè quốc tế chia sẻ bài học thực tiễn, kế thừa kinh nghiệm quốc tế, trong đó lưu ý việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế yêu cầu phải có chiến lược và kế hoạch rõ ràng, phân công đầu mối cụ thể từ đầu tới cuối, có đầu ra lượng hóa ngày từ đầu cụ thể mới đảm bảo hiệu quả.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1.(https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ nghi%E1%BB%87p_4.0);

     

    1. com.vn;

     

    1. net;

     

    1. http://www.hcmut.edu.vn/vi/newsletter/view/ tin-tuc/4613-cach-mang-cong-nghiep-40–co-hoi-va-thach-thuc-voi-su-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe;
    2. http://bnews.vn/cuoc-cach-mang-cong-nghi-ep-4-0-tac-dong-den-moi-linh-vuc-kinh-te-xa-hoi/53124.html;

     

    1. Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất – Thành quả – hạn chế và bài học kinh nghiệm (http:// luanvan.net.vn/luan-van/cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-nhat-thanh-qua-han-che-va-bai-hoc-kinh-nghiem-5947/).

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-4.0-v%C3%A0-nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%B7t-ra-v%E1%BB%9Bi-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-vi%C3%AAn-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

    Cách mạng 4.0 và những vấn đề đặt ra với kiểm toán viên nhà nước

     

    PGS.TS. Nguyễn Đình Hòa*

     

    Hiện nay, thế giới đang trong giai đoạn bản lề của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (hay còn gọi cách mạng công nghiệp – CMCN 4.0), loài người đang chứng kiến hàng loạt những đột phá khoa học và tiến bộ công nghệ, đây là những xu hướng và động lực dẫn dắt CMCN 4.0. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ mở ra kỷ nguyên mới của sự lựa chọn các

     

    phương án đầu tư kinh doanh, tiêu dùng, tối ưu hóa sử dụng các nguồn lực, phạm vi mức độ tác động làm biến đổi cơ bản hệ thống sản xuất và quản trị xã hội cả chiều rộng lẫn chiều sâu, thúc đẩy năng suất lao động và hiệu quả, tạo bước đột phá về tốc độ phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội. Để góp phần nhận thức về bản chất và những tác động của CMCN 4.0 nói chung và đến quản trị xã hội và kiểm toán nói riêng, bài báo sẽ tập trung phân tích 3 nội dung chính sau đây: (i) Nhận diện bản chất của CMCN 4.0;(ii) Những vấn đề đặt ra với Kiểm toán viên nhà nước (KTVNN);(iii) Cách thích ứng với cách mạng 4.0 đối với KTVNN.

     

    Từ khóa: Cách mạng 4.0, những vấn đề đặt ra với KTVNN trong CMCN 4.0.

     

    Industrial revolution 4.0 and emerging challenges facing auditors of SAV

     

    Today, the world is at the hinge of the 4th Industrial Revolution (or the so-called Industrial Revolution – Industry 4.0), human beings are witnessing a series of scientific breakthroughs and technological advances which are the trends and driving force of Industry 4.0. Industrial Revolution 4.0 will usher in a new era of choice for business investment alternatives, optimizing the use of resources, the extent of impact that fundamentally transforms production and governance systems. to promote productivity and efficiency, making a breakthrough in the speed of development in all aspects of social life. In order to contribute to the perception of the nature and impacts of Industry 4.0 in general and to social administration and auditing in particular, this paper focuses on three main areas: (i) Identify the nature of Industry 4.0; (ii) Issues facing state auditors; (iii) How state auditors respond to Industry 4.0.

     

    Keywords: Industrial Revolution 4.0, Issues of Industry 4.0 facing state auditors.

     

     

    1. Nhận diện về cách mạng công nghiệp 4.0

     

    Tất cả những phát triển mới và các công nghệ mới trong CMCN 4.0 đều có đặc điểm chung: tận dụng sức mạnh lan tỏa của công nghệ số hóa và công nghệ thông tin (CNTT). Các xu thế lớn của công nghệ mới có thể được chia thành 3 nhóm: Vật

     

    lý (hữu hình), kỹ thuật số và sinh học. Cả ba đều liên quan chặt chẽ với nhau và với các công nghệ khác để đem lại lợi ích vượt trội cho nhau dựa vào những khám phá và tiến bộ của từng nhóm. Nói cách khác, đây là sự dung hợp của các công nghệ khác nhau và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực vật lý, số và sinh học – đây là yếu tố căn bản

     

    *Phó Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng Nghiệp vụ Kiểm toán, Kiểm toán nhà nước

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    nhất khiến CMCN 4.0 khác biệt với các cuộc cách mạng trước đó.[7]

     

    • Vật lý: Bốn đại diện chính của xu hướng lớn về phát triển công nghệ trong lĩnh vực vật lý tiêu biểu nhất là:
    • Xe tự lái: Những xe ô tô này xử lý một lượng lớn dữ liệu cảm biến từ các radar, máy ảnh, máy đo khoảng cách bằng siêu âm, GPS (global positioning system – hệ thống định vị toàn cầu) và bản đồ được gắn trên xe.
    • Công nghệ in 3D: Hay được gọi là chế tạo cộng; in 3D bao gồm việc tạo ra một đối tượng vật lý bằng cách in theo các lớp từ một bản vẽ hay một mô hình 3D có trước. Công nghệ này khác hoàn toàn so với chế tạo trừ, lấy đi các vật liệu thừa từ phôi ban đầu cho đến khi thu được hình dạng mong muốn. Ngược lại, công nghệ in 3D bắt đầu với vật liệu rời và sau đó mới tạo ra một sản phẩm
    • dạng ba chiều từ mẫu kỹ thuật số.
    • Khoa học robot cao cấp: Siêu tự động hóa cộng với trí tuệ nhân tạo – AI (Artificial Intelligence) khiến việc tự động hóa phát triển mạnh hơn, thậm

     

     

     

    chí với những kỹ năng trước đây chỉ có con người sở hữu mà thôi.

     

    • Vật liệu mới: Với thuộc tính mà mà chỉ cách đây vài năm vẫn còn được coi là viễn tưởng, những vật liệu mới đang được đưa ra thị trường (như nano… Về tổng thể, chúng nhẹ hơn, bền hơn, có thể tái chế và dễ thích ứng; vật liệu thông minh tự phục hồi hoặc tự làm sạch, các kim loại có khả năng khôi phục lại hình dạng ban đầu, gốm sứ và pha lê biến áp lực thành năng lượng và nhiều vật liệu khác nữa gọi là áp điện…)
    • Kỹ thuật số: Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big data), công nghệ blockchain, kinh tế số…
    • Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người. Trí tuệ nhân tạo khác với việc lập trình logic trong các ngôn ngữ lập trình là ở việc ứng dụng các hệ thống học máy (machine learning) để mô phỏng trí tuệ của con người trong

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  7

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    các xử lý mà con người làm tốt hơn máy tính. Cụ thể, AI giúp robot có được những trí tuệ của con người như: biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp bởi hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi. v.v…

     

    • Sự xuất hiện Internet của vạn vật. Mô tả đơn giản nhất, có thể coi IoT là mối quan hệ giữa vạn vật (từ sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ, địa điểm, v.v…) và con người thông qua các công nghệ kết nối và các nền tảng khác nhau. Theo các chuyên gia, IoT có thể tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp mới, khiến cả nền kinh tế thế giới và đời sống nhân loại phải chuyển mình theo.
    • Big data (số liệu lớn)

    Thuật ngữ “Big data” là một tập hợp dữ liệu rất lớn mà các kỹ thuật điện toán thông thường không thể xử lý được. Thuật ngữ “Big data” không chỉ đề cập tới dữ liệu mà còn chỉ cơ cấu tổ chức dữ liệu, các công cụ và công nghệ liên quan.

     

    Theo định nghĩa của Gartner, nhà nghiên cứu công nghệ số của Mỹ thì “Big Data là tài sản thông tin, mà những thông tin này có khối lượng dữ liệu lớn, tốc độ cao và dữ liệu đa dạng, đòi hỏi phải có công nghệ mới để xử lý hiệu quả nhằm đưa ra được các quyết định hiệu quả, khám phá được các yếu tố ẩn sâu trong dữ liệu và tối ưu hóa được quá trình xử lý dữ liệu”.

     

    Số hóa tài liệu là quá trình chuyển đổi các dạng dữ liệu, tài liệu truyền thống như các bản viết tay, bản in trên giấy, hình ảnh, âm thanh, phim, dữ liệu toàn văn với nhiều định dạng khác nhau sang dạng chữ hoặc hình ảnh và được lưu trữ trên máy tính. Số hóa tài liệu với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT thì đây là xu hướng tất yếu của thời đại. Và lựa chọn công nghệ số hóa tài liệu thông minh chính là công cụ quản trị, kiểm tra, giám sát hiệu quả trong đó kiểm toán không phải là ngoại lệ.

     

    Việc số hóa tài liệu và vật thể hữu hình sẽ giúp giảm thiểu đáng kể diện tích, không gian lưu giữ; giúp cho việc bảo quản, duy trì tuổi thọ của tài liệu truyền thống được lâu hơn. Công tác này cũng giúp dễ dàng mở rộng phạm vi cộng đồng người sử dụng

    nguồn tài nguyên thông tin của cơ quan thông tin, thư viện và tiện lợi trong việc truy xuất tìm kiếm thông tin ở bất kỳ đâu vào bất cứ thời điểm nào một cách nhanh chóng, dễ dàng. Đây là những cơ hội và điều kiện cho hoạt động kiểm toán có chất lượng và hiệu quả.

     

    Không giống như các cuộc cách mạng trước – thường diễn ra theo xu hướng phát minh mới làm mờ đi phát minh cũ, IoT được tin là sẽ tạo cơ hội cho tất cả các ngành nghề đều được hưởng lợi. IoT gia tăng cũng có nghĩa là việc truyền tải dữ liệu và giao tiếp qua internet tăng lên. Chính vì thế mà tất cả các công ty, ngành nghề đều có thể sử dụng các dữ liệu đó để phân tích và quyết định chiến lược cạnh tranh giành lấy thành công cho mình trong tương lai.

     

    – Blockchain

     

    Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân cấp lưu trữ thông tin trong các khối (block) thông tin được liên kết (chain) với nhau bằng mã hóa và mở rộng theo thời gian. Mỗi khối thông tin đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết tới khối trước đó, kèm một mã thời gian và dữ liệu giao dịch. Blockchain được thiết kế để chống lại việc thay đổi của dữ liệu: Một khi dữ liệu đã được mạng lưới chấp nhận thì sẽ không có cách nào thay đổi được nó.

     

    Blockchain được đảm bảo nhờ cách thiết kế sử dụng hệ thống tính toán phân cấp với khả năng chịu lỗi byzantine cao. Vì vậy sự đồng thuận phân cấp có thể đạt được nhờ blockchain. Do đó, blockchain phù hợp để ghi lại những sự kiện, hồ sơ y tế, xử lý giao dịch, công chứng, danh tính và chứng minh nguồn gốc. Việc này có tiềm năng giúp xóa bỏ các hậu quả lớn khi dữ liệu bị thay đổi trong bối cảnh thương mại toàn cầu.

     

    Blockchain được xem như “sô cai ky thuât” lưu trư toan bô thông tin, giao dich va đêu đươc ma hoa. Va điêu rât hay bởi nó la cuôn sô cai mơ va vô han. Đo la bât cư ngươi nao năm trong mang ngang hang đêu co thê xem thông tin tuy nhiên không ai co thê thay đôi thông tin đa đươc ma hoa đa đươc

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    đưa vao cac khôi. Sử dụng blockchain là để lưu trữ và xác nhận việc trao đổi đồng tiền thuât toan hay còn gọi là tiền ảo.[7]

     

    – Kinh tế số (Digital economy)

     

    Kinh tế số là mạng lưới các hoạt động kinh tế toàn cầu được hỗ trợ bởi CNTT và truyền thông (ICT). Nói một cách đơn giản thì kinh tế số là một nền kinh tế dựa trên công nghệ số (digital technology). Kinh tế số là chuyển hóa mọi mặt đời sống kinh tế từ tương tác đến các giao dịch và nó thúc đẩy sự sáng tạo trong nền kinh tế. (Ví dụ việc giao dịch qua internet và smartphone đã làm cho tiền giấy, thẻ tín dụng trở nên thừa thãi và nó thúc đẩy đồng tiền mới và phương thức lưu trữ tiền mới ra đời. Điển hình là tiền ảo và ví điện tử…)

     

    (3) Sinh học

    Với sức mạnh của máy tính, các nhà khoa học không còn phải dùng phương pháp thử, sai và thử lại, thay vào đó họ thử nghiệm cách thức mà các biến dị gen gây ra các bệnh lý đặc thù. Bước tiếp theo sẽ là sinh học tổng hợp. Công nghệ này sẽ giúp chúng ta có khả năng tùy biến cơ thể bằng cách sửa lại ADN và nhân bản người vô tính theo ý muốn. Đặc biệt, những thành tựu mới trong lĩnh vực sinh học phân tử, sinh học tổng hợp và di truyền học, với sự hỗ trợ của những phương tiện hiện đại, đã giúp giải mã nhanh các hệ gen, tìm hiểu sâu về mật mã di truyền, có thể giúp chỉnh sửa mã gen để chữa các bệnh di truyền, tạo ra những giống cây trồng mới trong nông nghiệp có những tính năng thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu, chống sâu bệnh.

     

     

     

     

     

    Nguồn: thuonghieucongluan.com.vn (4.5.2017)

     

     

    Như vậy, bản Chất cuộc CM 4.0 là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo , thực tế ảo (virtual reality-VR), tăng cường thực tại ảo (Augmented Reality – AR), mạng xã hội, di động, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám

     

    mây (Social, Mobile, Analytics, Cloud – SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số, hay nói cách khác mọi thực thể của thế giới thực đều có phiên bản thế giới số và dùng thế giới số này để điều hành trở lại thế giới thực.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  9

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    2. Những vấn đề đặt ra đối với kiểm toán viên nhà nước

     

    Với sự tiến bộ vượt bậc của CMCN 4.0 đã tạo ra những thách thức đối với KTVNN đó là: Nền kinh tế số; big data; đồng tiền ảo; robot với trí tuệ nhân tạo có thể thay thế công việc của KTV; tác động của CMCN 4.0 đến khách thể kiểm toán…

     

    • Nền kinh tế số trong CMCN 4.0 dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất và tiêu dùng: với những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn như công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, robot…

    Cho phép mọi giao dịch thông qua IoT và công nghệ tài chính (Fintech) và số liệu lớn do đó công tác quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát, kiểm toán nền kinh tế phải thay đổi và thích ứng với công nghệ số.

     

    Các thành phần kinh tế số bao gồm các thành phần ẩn và thành phần hiện:

     

    • Các thành phần kinh tế số ẩn bao gồm cơ sở hạ tầng CNTT kèm theo như phần cứng, phần mềm, hệ thống mạng…
    • Các thành phần kinh tế số hiện bao gồm kinh doanh trực tuyến (e-business) và thương mại điện tử (e-commerce).

    Bức tranh đan xen giữa kinh tế số và kinh tế truyền thống càng ngày trở nên rõ nét hơn. Kinh tế số không đơn thuần là chuyển dịch từ kinh doanh (KD) trực tiếp mặt đối mặt (face to face) sang trực tuyến (online). Kinh tế số là chuyển hóa mọi mặt đời sống kinh tế từ tương tác đến các giao dịch và nó thúc đẩy sự sáng tạo trong nền kinh tế từ sản xuất đến tiêu dùng, đặc biệt tác động đến hệ thống ngân hàng (NH) ở những điểm sau đây:

     

    • Mô hình NH số hoạt động dựa trên nền tảng CNTT thông qua các thiết bị số kết nối với các phần mềm máy tính qua mạng Internet trên thực tế đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống của NH và cung cấp nhiều dịch vụ hiện đại của hệ thống NH.
    • Những sản phẩm (SP) dịch vụ tài chính mới như M-POS, internet banking, mobile banking, công nghệ thẻ chip, ví điện tử… ngày càng phát triển mạnh tạo thuận lợi cho người dân trong việc sử dụng dịch vụ NH hiện đại và tiết kiệm chi phí giao dịch tiến tới chi phí bằng 0.
    • CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và các SP dịch vụ NH truyền thống và trải nghiệm khách hàng đang dần trở thành xu hướng vượt trội.
    • Smartphone đã thay đổi cách con người giao tiếp và tương tác, kéo theo sự thay đổi trong kênh phân phối, mạng lưới bán hàng và cách thiết kế SP dịch vụ của các NH. Kênh bán hàng qua Internet, Mobilebanking, Tablet Banking, mạng xã hội, phát triển NH kỹ thuật số, giao dịch không giấy tờ là xu thế phát triển mạnh. Đặc biệt, việc sử dụng các công nghệ như giao tiếp qua web (web-chat) và Skype ngày càng nhiều hơn.
    • Với trí tuệ nhân tạo giúp robot có được những trí tuệ của con người như: biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi. v.v…. đặc biệt là ưu điểm có thể làm việc 24/24, không cần trả lương, đóng thuế, bảo hiểm… robot càng làm việc càng thông minh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô tận…
    • CMCN 4.0 cũng sẽ tạo ra những bước tiến mới trong thay đổi cách giao tiếp và xử lý nghiệp vụ thông qua tương tác và giao tiếp điện tử.
    • Robot tiến tới sẽ đảm nhiệm việc quản lý danh mục rủi ro, quản lý khách hàng, quản lý cơ sở dữ liệu, danh mục đầu tư…

    – Tác động của công nghệ blockchain

     

    Hiên nay ngươi ta chia blockchain thanh 3 version:

     

    • Version 1 la ưng dung vao tiên thuât toan (tiền ảo hay tiền điện tử).
    • Version 2 ưng dung trong xư ly TC va NH.
    • Version 3 vươt qua khuôn khô tai chinh va ưng dung ơ tât ca cac nganh nghê khác.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

     

     

    Nguồn: GENK.vn

     

     

    • Những đồng tiền ảo lớn nhất hiện nay bao gồm: Bitcoin, Onecoin, Lifecoin, Ethereum, Ripple… trong đó lớn nhất là bitcoin
    • Những khối block này được liên kết từ những hóa đơn thanh toán cùng với đủ thông tin về thời điểm cũng như khoản tiền được giao dich. Không những thế, những block này sẽ trở thành cac măt xich trong cả dãy blockchain.

    Sự phát triển của bitcoin cũng như các tiền điện tử khác không phải do NH Trung ương phát hành

     

    sẽ buộc NH Trung ương các nước phải thay đổi cách thức điều hành chính sách tiền tệ để thích ứng do khả năng ảnh hưởng tới các chỉ số tiền tệ trong mục tiêu ổn định giá cả. NH trung ương cũng phải đối mặt với rủi ro rơi vào tình trạng giống đô la hóa vì bitcoin có thể làm cho việc giao dịch ngoại hối trở nên hết sức dễ dàng. Những dịch vụ như PayPal hoặc e-gold làm cho người dân của một quốc gia dễ dàng quy đổi tiền của mình sang một loại ngoại tệ mạnh hơn. Sự phát triển của bitcoin cũng có thể có những tác động tới hệ số tạo tiền đẩy nhanh tốc độ

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  11

     

    CAÙCH MAÏNG COÂNG NGHIEÄP 4.0 VAØ NHÖÕNG TAÙC ÑOÄNG TÔÙI NGAØNH NGHEÀ KEÁ TOAÙN – KIEÅM TOAÙN

     

    lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế nếu được sử dụng rộng rãi.

     

    Với phương thức thanh toán mới, đặc biệt thanh toán bằng những đồng tiền ảo là vấn đề lớn đặt ra với các KTVNN về truy tìm luồng tiền (cash flow).

     

    Vấn đề tiếp theo đặt ra đối với KTVNN là CMCN 4.0 sẽ đe dọa đến việc làm kiểm toán truyền thống bởi những việc làm có tính chất lặp đi, lặp lại sẽ được lập trình cho robot thực hiện. Theo điều tra của Đại học Oxford tiến hành từ năm 2013 thì 97,6% công việc của kế toán sẽ bị tin học hóa trong tương lai gần và kiểm toán viên thì đỡ hơn một chút với 95,3% công việc sẽ bị tự động hóa thay thế.

     

    – An ninh mạng và bảo mật thông tin

     

    Cuộc CMCN 4.0 với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ sẽ tạo ra những cơ hội lớn cho Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng CNTT, tự động hóa các quy trình kinh doanh, tăng cường khả năng kết nối qua các thiết bị di động và tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn, đồng thời những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trên nhiều lĩnh vực.

     

    Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích và cơ hội, cuộc cách mạng này cũng đang đặt ra cho Việt Nam những hiểm họa khôn lường về an ninh mạng, an ninh thông tin, đặc biệt trong bối cảnh mà các cuộc tấn công mạng ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận với sự phát triển và ứng dụng CNTT vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể từ việc ban hành, thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước; sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng phải gắn với các giải pháp công nghệ để đảm bảo an toàn, an ninh của dữ liệu, đến ý thức tham gia xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người dân đặc biệt đối với KTNN và KTVNN nói riêng.

     

    • Công tác tài chính kế toán thay đổi đòi hỏi công tác kiểm toán cũng phải thay đổi cả về phương

    pháp, quy trình và phương thức tiếp cận ở những điểm sau đây:

     

    • Phân tích dữ liệu: Bên cạnh excel thường được sử dụng trước đây, sự phát triển của công nghệ sẽ cung cấp nhiều công cụ, phần mềm hiện đại hơn, do đó KTVNN cần phải có phương pháp mới thích hợp để trích xuất thông tin từ big data, cần thiết cho việc phân tích.
    • Công nghệ đám mây: Lưu trữ thông tin một cách realtime, khối lượng lớn và không bị giới hạn nhiều về bộ nhớ như trước đây, là nguồn thông tin phong phú và đa dạng để KTVNN sử dụng trong quá trình kiểm toán.
    • Quy trình tự động hóa: Đa phần công việc của kế toán là những ghi chép đã chuẩn hóa, do vậy công nghệ tự động hóa có thể thay thế bộ phận tài chính – kế toán nhiều trong các công việc này.
    • Trí thông minh nhân tạo: Bên cạnh công tác ghi chép (bookkeeping) đơn giản, trí thông minh nhân tạo có thể thay thế con người cả với những nghiệp vụ kế toán phức tạp như định giá, lập dự phòng. Qua đó, giúp giảm thiểu rất nhiều nhân sự.
    • Công nghệ blockchain: Liên kết tất cả các dữ liệu của bộ phận tài chính – kế toán lại với nhau.

    3. Cách thích ứng với cách mạng 4.0 đối với KTVNN

     

    Để thích ứng với những tác động của CMCN 4.0, yêu cầu các KTVNN không chỉ đơn thuần mắt thấy, tai nghe về CM 4.0 mà phải là người trong cuộc để hiểu được bản chất nội dung, cơ chế vận hành của CM 4.0, của nền kinh tế số từ đó mới có điều kiện kiểm toán trong thực tế để có những đánh giá và kiến nghị “tâm phục, khẩu phục”.

     

    Cách thức quản lý HCNN và quản trị DN trong CMCN 4.0 thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi KTVNN phải thường xuyên cập nhật và học tập suốt đời. Do đó, KTVNN cần trang bị 4 kỹ năng – 4C.

     

    • Comunicative skill – Kỹ năng giao tiếp (Không chỉ với con người với con người mà giữa con người với Robot). Trong thời đại toàn cầu hóa
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    và CMCN 4.0 mỗi một chúng ta sẽ trở thành công dân toàn cầu, mỗi người lao động phải là kỹ sư toàn cầu. Do đó, KTVNN phải học tập để giỏi ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh để giao tiếp.

     

    • Creative skill – Kỹ năng sáng tạo (để cạnh tranh với AI, với robot)

    Chưa bao giờ con người một lúc đứng giữa những cơ hội và thách thức lớn đến vậy. Tác động rõ rệt nhất của cách mạng 4.0 là sự xuất hiện của robot có trí tuệ nhân tạo,

     

    với những tính năng có thể thay thế con người, thậm chí còn tối ưu hơn như khả năng tính toán, phân tích, ghi nhớ, cùng sức lao động bền bỉ, năng suất cao. CMCN 4.0 sẽ tiến tới loại bỏ những công việc phổ thông hoặc mang tính chất lặp đi lặp lại, thay thế toàn bộ bằng máy móc. Nhưng đồng thời, nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề cao, tư duy sáng tạo, thực hiện những công việc phức tạp, làm chủ máy móc lại tăng lên.

     

    Sáng tạo của con người bao gồm: Sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo sáng chế (khoa học) và sáng tạo thủ công (cuộc sống hằng ngày) đây là tính vượt trội của con người mà không có robot nào thay thế được.

     

    • Critical thingking skill – Kỹ năng về tư duy phản biện

    Kĩ năng tư duy phản biện bao gồm việc sử dụng những luận cứ và dẫn chứng phù hợp để bảo vệ quan điểm của mình; tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa những luận cứ, kết hợp cùng việc đánh giá, phân tích, so sánh một cách khách quan, mạch lạc, phù hợp, toàn diện, chặt chẽ, có chiều sâu. Đây là kỹ năng đặc biệt quan trọng đối với KTVNN, nhất là trong việc viết báo cáo kiểm toán.

     

    • Cooperative skill – Kỹ năng hợp tác (với con người và với robot)

    Ngày nay con người đã sáng tạo ra nhiều máy móc giúp con người vượt qua được những hạn chế

     

     

     

    về cơ bắp cũng như trí tuệ hữu hạn của con người riêng lẻ, nghĩa là mỗi cá nhân và cộng đồng ngày nay đã mạnh lên gấp bội, nhưng chúng ta vẫn cần và phải hợp tác chặt chẽ với nhau hơn bao giờ hết. Năng lực hợp tác trong thời đại CMCN 4.0 đã trở thành nhu cầu tất yếu, bởi có hợp tác mới chia sẻ được thông tin, không chỉ hợp tác thuần túy giữa con người với nhau mà hợp tác giữa con người với robot trong sản xuất và tiêu dùng;

     

    • KTVNN phải làm chủ CNTT, CMCN 4.0 để ứng dụng IoT và khai thác thế giới số trong hoạt động kiểm toán.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Klaus Schwab 2016: The Fourth Industrial Revolution, 2016;

     

    1. Larry Hatheway, Mastering the Fourth Industrial Revolution, Project Syndicate, 2016;

     

    1. Hermann, Pentek, Otto, 2015: Design Principles for Industrie 4.0 Scenarios, 2015;

     

    1. Mike Gault, Forget Bitcoin – What Is the Blockchain and Why Should You Care?, 2015;

     

    1. Website: GENK.vn;

     

    1. com.vn(4.5.2017);

     

    1. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bối cảnh, các xu hướng lớn và những sản phẩm điển hình, Tạp chí Tự động hóa ngày nay, 5/2016.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-M%C3%94-H%C3%8CNH-CH%E1%BA%A4M-%C4%90I%E1%BB%82M-T%C3%8DN-D%E1%BB%A4NG-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-C%C3%81-NH%C3%82N-VAY-TI%C3%8AU-D%C3%99NG-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

     

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

     

    Đào Thanh Bình

    Đại học Hà Nội

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 26/03/2019                         Ngày nhận lại:     14/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 19/04/2019

     

    Trong bối cảnh nhiều ngân hàng Việt Nam hướng tới tín dụng tiêu dùng và cho vay cá nhân, bài báo này nhằm mục tiêu đưa ra một mô hình chấm điểm tín dụng cho vay tiêu dùng có thể áp dụng cho các ngân hàng Việt Nam. Bài báo sử dụng phương pháp của hệ thống FICO có tính đến tình hình

     

    của Việt Nam. Bài báo cũng nhằm mục tiêu giúp cho người tiêu dùng tính được điểm tín dụng của mình một cách đơn giản.

     

    Từ khóa: Tín dụng tiêu dùng, chấm điểm tín dụng, vỡ nợ.

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Thị trường tiêu dùng ngân hàng tại Việt Nam được phát triển và thay đổi nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Mặt khác, vì tín dụng tiêu dùng vẫn được coi là một dịch vụ non trẻ trong lĩnh vực ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam, các sản phẩm ngân hàng bán lẻ hiện vẫn còn hạn chế.

     

    Bên cạnh đó, hệ thống đánh giá tín dụng tiêu dùng ở Việt Nam vẫn còn rất ít phát triển. Điều này làm cho nhiều ngân hàng vẫn do dự để quảng bá sản phẩm cho vay tiêu dùng vì ngại rủi ro mà họ phải gánh chịu. Thứ nhất, việc thiếu thông tin đáng tin cậy gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng để cung cấp tín dụng nói chung cũng như thực hiện quá trình tính điểm tín dụng. Mặc dù một số công ty báo cáo quốc tế có tiềm năng như TransUnion xuất hiện tại Việt Nam, việc thành lập và phát triển của các công ty này chỉ là bước đầu tiên của con đường dài. Như vậy, dữ liệu được sử dụng cho quá trình tính điểm tín dụng chủ yếu được thu thập từ quá trình thẩm định của cán bộ tín dụng. Nói cách khác, phương pháp này chủ yếu dựa trên thông tin tự khai báo của khách hàng và điều này có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng có thể giấu thông tin tín dụng tiêu cực của họ, đặc biệt là các khoản nợ xấu. Thứ hai, hệ thống đánh giá tín dụng nội bộ cho tín dụng tiêu dùng của hầu hết các ngân hàng thương mại

    Việt Nam đặt ra một số hạn chế. Các hệ thống đánh giá tín dụng được xây dựng trên cơ sở của một phương pháp định tính mà điểm và trọng số của mỗi biến không phải là kết quả của một phương pháp thống kê, mà dựa vào kinh nghiệm và sự xét đoán của nhân viên tín dụng. Hơn nữa, các ngân hàng không thể xác định mức độ đóng góp của mỗi biến định tính (thông số) với tổng số điểm do cùng một trọng số (ví dụ là 10% cho mỗi yếu tố phi tài chính). Quan trọng hơn, khi hệ thống này được áp dụng, xác suất của việc không trả được nợ vẫn không được ước tính.

     

    Theo những lý do nêu trên, để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam, nhu cầu cho những cải tiến với sự công khai của thông tin tín dụng cũng như chất lượng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tăng lên đáng kể. Việc nâng cao phương pháp luận và phương pháp tiếp cận từng bước để thiết lập mô hình tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam nên được áp dụng, đó là lý do cho sự phát triển của mô hình đánh giá tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam.

     

    Mô hình chấm điểm tín dụng lần đầu tiên được giới thiệu vào những năm 1940 và trong những năm qua đã phát triển đáng kể do sự cạnh tranh gia tăng trong ngành công nghiệp tài chính cùng với những tiến bộ trong công nghệ thông tin. Đánh giá tín dụng

     

     

    khoa học

     
       

    47

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    47

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    có nhiều lợi ích không chỉ cho người cho vay mà còn cho khách hàng vay. Từ quan điểm của người cho vay, đánh giá tín dụng giúp tăng tốc độ và tính thống nhất của quá trình xin vay và cho phép tự động hóa quá trình cho vay. Hơn nữa, nó bảo vệ lợi ích của khách hàng vay vì điểm số tín dụng giúp giảm sự phân biệt đối xử vì mô hình này cung cấp một phân tích khách quan cho tín dụng tiêu dùng. Bởi vì lợi ích của nó, phương pháp này được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình đã không được nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam.

     

    Theo đề xuất ở trên, mục đích chính của bài báo này là để áp dụng và phát triển một mô hình tính điểm tín dụng cao cấp hơn cho các khoản vay tiêu dùng. Ban đầu, phương pháp MDA (Multiple Discriminant Analysis) và phần mềm SPSS đã được sử dụng để xác định các biến số chính khi xây dựng mô hình tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam. Sau đó, mô hình mới bao gồm các biến số chính được tạo ra trên cơ sở kết quả của SPSS. Mô hình này được áp dụng để tính toán Z-score, và sau đó xác định xác suất của việc không trả được nợ.

     

    Phần tiếp theo của bài báo đề cập đến vấn đề tổng quan lý thuyết về chấm điểm tín dụng tiêu dùng chủ yếu cho Việt Nam. Phần ba sẽ xây dựng mô hình tín dụng tiêu dùng, phần bốn tổng hợp hai mô hình tìm được, ước lượng xác suất vỡ nợ của mẫu và phần cuối là tổng hợp và kết luận.

     

    2. Tổng quan lý thuyết

     

    Phân tích biệt thức (Discriminant Analysis – DA) đã từng là kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất để đưa ra điểm tín dụng trên thế giới. Năm 1936, Fisher đã giới thiệu ý tưởng phân biệt giữa các nhóm trong một tổng thể để kiểm tra khả năng phân biệt của các nhóm trong một quần thể thực vật dựa trên những đặc điểm khác nhau (đặc biệt là giữa hai loài hoa diên vỹ bằng cách sử dụng phép đo kích thước vật lý của các giống thực vật). Sau đó, vào năm 1941, Durand, người đã làm việc cho một dự án nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ, nhận ra rằng việc phân tích biệt thức của Fisher có thể được sử dụng để phân biệt giữa các khoản vay tốt và xấu. Cụ thể hơn, ông muốn xác định các thông số cho vay quan trọng và những đặc điểm có ý nghĩa thống kê. Trong nghiên cứu của mình, ông đã trình bày một hệ thống dựa trên điểm số sử dụng cho việc phân loại độ tín nhiệm của mỗi đương đơn đi vay để mua một chiếc xe cũ (tín dụng tiêu dùng). Các biến

    quan trọng nhất trong phương trình kiểm định của ông là: tuổi tác, giới tính, nơi cư trú, nghề nghiệp, ngành nghề, độ ổn định của công việc, tài khoản ngân hàng và quyền sở hữu nhà.

     

    Đã có một vài nghiên cứu tại Việt Nam bao gồm các chủ đề về đánh giá tín dụng nói chung và các mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng nói riêng. Về mô hình chấm điểm tín dụng cho tín dụng doanh nghiệp, hai nghiên cứu được thực hiện bởi Đào B., (2012) và Đào B., (2013) đã cung cấp thêm kiến thức về mô hình điểm số Z Altman cũng như ứng dụng của nó trong việc phát triển một mô hình chấm điểm tín dụng. Hơn nữa, phương pháp làm việc trong hai bài trên đã tạo lập một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng mô hình chấm điểm tín dụng cho các khoản tín dụng tiêu dùng. Cụ thể, cả hai bài đều tập trung vào cùng một chủ đề của mô hình chấm điểm tín dụng cho các công ty phi sản xuất và sản xuất ở Việt Nam sử dụng phân tích biệt thức. Một điểm khác cần lưu

     

    • là bài viết xây dựng mô hình sử dụng Z-score để hiệu chỉnh xác suất vỡ nợ (PD), và sau đó dựa trên thông tin của Standard & Poor đề nghị xếp hạng các công ty phi sản xuất tại Việt Nam. Các thảo luận về việc thành lập mối quan hệ giữa Z-score, xác suất của việc vỡ nợ và xếp hạng cũng như ma trận chuyển đổi có thể giúp góp phần nâng cao chất lượng hệ thống xếp hạng tín dụng Việt Nam.

    Liên quan đến mô hình tính điểm tín dụng cho tín dụng tiêu dùng, một trong những bài nghiên cứu nổi tiếng nhất được thực hiện bởi Dinh và Kleimeier (2007), bao gồm các chủ đề về thành lập mô hình chấm điểm tín dụng thị trường tiêu dùng của Việt Nam. Tất cả các khoản vay tiêu dùng nổi bật vào một ngày cụ thể trong năm 2005 được trích dẫn từ cơ sở dữ liệu của các ngân hàng thương mại Việt Nam và sau đó 22 biến số được lựa chọn ban đầu bao gồm cả 9 biến số định lượng và 13 biến số định tính. Ngoài ra, cỡ mẫu gồm 56.307 khoản vay, trong đó 798 khoản là vỡ nợ. Sau đó, phương pháp lựa chọn từng bước được sử dụng để chọn trong số 22 biến. Áp dụng phương pháp này, 16 biến đã được đưa vào mô hình. Các bài báo cũng đề cập đến việc thiếu thông tin về điểm tín dụng bán lẻ được xác định bằng những đặc điểm của bên vay mà ngân hàng cần thu thập. Các yếu tố dự đoán quan trọng nhất được tìm thấy là thời gian, giới tính, số tiền vay và thời hạn vay. Dinh và Kleimeier (2007) đề nghị các công ty cập nhật thông tin tín dụng tiêu dùng

     

    48

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    thường xuyên để đáp ứng với sự thay đổi của nền kinh tế nói chung và người vay nói riêng.

     

    3. Chấm điểm tín dụng tiêu dùng cho các ngân hàng Việt Nam

     

    3.1. Thu thập dữ liệu và mã hóa biến

     

    Chấm điểm tín dụng thường được áp dụng để đánh giá tín dụng của người vay, ngân hàng sẽ căn cứ vào điểm số này để cấp quyết định tín dụng. Tuy nhiên, thực tế là rất khó khăn để thu thập các dữ liệu trực tiếp từ người nộp đơn vay, các nhà nghiên cứu có thể thấy rằng không thể xây dựng mẫu cho các khoản vay. Vì vậy, mẫu đại diện của người xin vay đã được xây dựng bằng cách sử dụng các khoản vốn vay tiêu dùng đã được cấp bởi các ngân hàng. Mục đích chính của bài nghiên cứu này là để phát triển một mô hình tính điểm tín dụng tiêu dùng nhằm đánh giá các đơn xin vay cũng như cho mục đích tính toán xác suất vỡ nợ các khoản vay, đặc biệt là đối với các khoản vay hiện tại. Tuy nhiên, kết quả cũng có thể được áp dụng trong đánh giá cho vay nói chung.

     

    Theo đề xuất ở trên, để phát triển các mô hình, 200 khoản vay tiêu dùng đã được lựa chọn ngẫu nhiên từ các cơ sở dữ liệu của năm ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, do sự khác nhau của dữ liệu, chỉ có 122 khoản vay đã được chọn. Sau đó, số tiền vay được sử dụng để phân loại các khách hàng vay thành hai nhóm khác nhau, vì ứng viên có điểm số cao hơn có nhiều khả năng để vay số tiền vay lớn hơn. Sự phân loại cũng được áp dụng cho các khoản vay khác như bất động sản và xe hơi. Bên cạnh đó, các cuộc phỏng vấn ý kiến chuyên gia được thực hiện để đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong việc phân loại nhóm.

     

    Đầu tiên, một số biến được chọn lựa cẩn thận trên cơ sở danh sách các biến số thường được sử dụng cho các nước đang phát triển trong những nghiên cứu của Crook (1996), Vigano (1993) và Kleimeier và Dinh (2007). Phương pháp tiếp cận kiến thức chuyên môn và sự có sẵn thông tin cũng được đưa vào xem xét. Sau đó, sáu biến số định lượng và bốn biến số định tính đã được lựa chọn. Thứ hai, về các biến định tính, thay vì sử dụng các biến giả, với thang đánh giá 10 (cao nhất) và 0 (thấp nhất) đã được áp dụng dựa trên nguyên tắc: các cụ thể càng tốt, điểm số (mã) các khoản cho vay đương đơn sẽ nhận được càng cao. Mã hóa biến phần lớn dựa trên các nguyên tắc phân loại trong Rose (2008) (Phụ lục A1).

    3.2. Thử nghiệm của tất cả 10 biến trong SPSS Như đã đề cập ở trên, mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng thường được xây dựng theo mô hình Z-score của Altman. Trong bước đầu tiên, phân tích biệt thức và phần mềm SPSS được sử dụng để kiểm tra khả năng phân biệt của mỗi biến. Nói cách khác, kỹ thuật thống kê này sẽ giúp các nhà nghiên cứu xác định các biến cần thiết để bao gồm trong mô

    hình tín dụng tiêu dùng.

     

    Sau khi tuân thủ nghiêm ngặt các phương thức kiểm tra, kết quả của SPSS đã được đưa ra. Trước hết, trong bảng “Thử nghiệm sự khác biệt của trung bình nhóm” kết quả phân tích ANOVA thực hiện cho mỗi biến độc lập được trình bày. Năm trong số các biến bao gồm Học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập cá nhân hàng năm, Số người phụ thuộc và Tài khoản là có ý nghĩa thống kê vì tất cả đều có mức ý nghĩa thấp hơn 5%. Điều này đi đôi với kết quả Lambda của Wilks. Lambda của một biến độc lập càng thấp, biến trong mô hình có khả năng phân biệt càng mạnh. Năm biến có ý nghĩa thống kê kể trên cũng có Lambda thấp nhất theo thứ tự tăng dần: Thu nhập, Tài khoản, Nghề nghiệp, Số người phụ thuộc, và Học vấn.

     

    Giá trị riêng 1,3889 cho thấy tỷ lệ phương sai được giải thích, do đó, một giá trị riêng lớn thường thể hiện một hàm số mạnh. Giá trị 1,3889 cho thấy có một tỷ lệ tương đối cao của phương sai được giải thích trong biến phụ thuộc, và thể hiện một khả năng phân biệt khá tốt của hàm. Điều này cũng được minh họa bằng kết quả Lambda của Wilks tức là tỷ lệ tổng phương sai của điểm số biệt thức không được giải thích bởi sự khác biệt giữa các nhóm. Lambda bằng 1,00 xảy ra khi các trung bình nhóm được quan sát là bằng nhau (tất cả các phương sai được giải thích bởi các yếu tố khác hơn là sự khác biệt giữa các trung bình), trong khi một lambda nhỏ xảy ra khi sự biến đổi trong nhóm là nhỏ so với tổng biến đổi. Giá trị Wilks Lambda 0,4186 có giá trị đáng kể (Sig. = 0,000), do đó, các trung bình nhóm thường là khác nhau.

     

    Thử nghiệm biệt thức với mười biến phát hiện ra rằng chín giá trị trong nhóm “Đầu” và bốn trong nhóm “Đáy” được xếp đặt không đúng chỗ tương đương với 6,55% lỗi Loại I và 14,75% lỗi Loại II xảy ra. Do đó, trung bình 89,3% trường hợp các nhóm ban đầu được phân loại chính xác (Xem phụ lục A2).

     

     

    khoa học

     
       

    49

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Tóm lại, các yếu tố nổi bật nhất cần lưu ý là năm biến số, bao gồm Học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập, Số người phụ thuộc và Tài khoản, đóng một vai trò quan trọng trong việc phân biệt hai nhóm vì tất cả đều có mức ý nghĩa thấp hơn 5%. Hơn nữa, Số người phụ thuộc là biến đóng góp nhiều nhất cho khả năng phân biệt của mô hình với giá trị F cao nhất 86,26. Bên cạnh đó, các biến còn lại bao gồm Tuổi (Age), Số năm công tác (Yearwork), Số năm ở một nơi (YearResi), Số năm quan hệ với ngân hàng (YWBank) và Hình thức sở hữu nhà ở (ResiStatus) là các biến không có ý nghĩa thống kê với giá trị F rất thấp. Do đó, với mục đích phát triển một mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng tốt hơn, năm biến với khả năng dự đoán cao nhất sẽ được chọn như là các biến độc lập.

     

    3.3. Thử nghiệm năm biến số quan trọng nhất Trên cơ sở các thủ tục thử nghiệm được áp dụng và kết quả của các thử nghiệm trước, năm biến thể hiện tốt nhất trong việc phân biệt các nhóm được

     

    đưa vào MDA trong phần mềm SPSS.

     

    Bảng nhóm các số liệu thống kê minh họa sự khác biệt về giá trị trung bình của mỗi tỷ lệ tài chính. Đặc biệt, sự khác biệt lớn nhất giữa hai nhóm được thể hiện rõ ràng trong Reven I (thu nhập cá nhân hàng năm) có ảnh hưởng mạnh nhất lên mô hình dự đoán. Chi tiết hơn, thu nhập cá nhân hàng năm của những người được xếp vào nhóm 1 gấp khoảng 4 lần so với những người nhóm 2. Xếp hạng tiếp theo trong khả năng phân biệt tương ứng là Tài khoản, Học vấn, Nghề nghiệp, đều thể hiện các số liệu Nhóm 2 cao hơn Nhóm 1. Ngược lại, những người xin vay từ Nhóm 2 có ít biến Số người phụ thuộc hơn Nhóm 1 (Xem Phụ lục A3).

     

    Sự khác biệt về giá trị trung bình từng biến được minh họa rõ ràng bằng giá trị Lambda của Wilks, thử nghiệm F và mức ý nghĩa. Tất cả 5 biến đều thấp hơn đáng kể mức 5%, thể hiện có sự khác biệt đáng chú ý của các biến này giữa các nhóm. Nói chung, ở mức độ đơn biến, tất cả các tỷ lệ đều cho thấy người vay ở nhóm “Đầu” có những giá trị cao hơn (Xem Phụ lục A4).

     

    Vec-tơ tỷ lệ (Scaled vector) được sử dụng để “xác định sự đóng góp tương đối của mỗi biến cho tổng khả năng phân biệt của hàm số cuối cùng và tương tác giữa hai yếu tố” (Altman, 1968). Các con số thống kê có liên quan trong thử nghiệm này được quan sát thấy như một Vec-tơ tỷ lệ được tính theo công thức dưới đây:

    Vec-tơ tỷ lệ = Độ lệch chuẩn x Hệ số của biến Kết quả của vec-tơ tỷ lệ phù hợp với giá trị của thử nghiệm F. Nó chỉ ra rằng hai biến Thu nhậpTài khoản đóng góp chủ yếu vào hàm dự đoán (Xem

    Phụ lục A5).

     

    Như đã đề cập ở trên, giá trị riêng cho thấy tỷ lệ phương sai trong biến phụ thuộc có thể được giải thích bởi các biến độc lập. Rõ ràng là cần lưu ý rằng giá trị riêng 0.998 gần giá trị 1 có nghĩa rằng hầu như tất cả các phương sai trong điểm số biệt thức có thể được đóng góp cho sự khác biệt nhóm.

     

    4. Xây dựng mô hình

     

    Theo phương pháp luận cho việc phát triển mô hình chấm điểm tín dụng đối với tín dụng tiêu dùng dựa trên mô hình Z-score của Altman (1968), các hàm số được thể hiện trong hình thức sau:

    Z = W’X = W1 X1 +….+Wk Xk

    Trong đó: Z = Chỉ số tổng thể, X1 … Xk = biến độc lập, w1 … Wk = Hệ số biệt thức (hệ số của biến thứ k)

     

    Hằng số có hai hình thức: hình thức phi chuẩn hóa (có hằng số) và hình thức chuẩn hóa (không có hằng số) có thể được thể hiện trong bảng Hệ số tương quan của hàm biệt thức.

     

    Hàm phi chuẩn hóa

     

    Dựa trên kết quả của SPSS, mô hình Z-score phi chuẩn hóa áp dụng cho tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam như sau:

    Z = 0,2256X1 + 0,004083X2 + 0,0055X3

    0,3004X4 + 0,1318X5 – 3,3022                             (1)

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp;

    X3 = Thu nhập; X4 = Số người phụ thuộc; X5 =

    Tài khoản

     

    Trong phương trình 1, hệ số có độ lớn cao nhất là Học vấn (X1) mặc dù giá trị của F thấp hơn so với những tỷ lệ khác. Nếu tỷ lệ này tăng một đơn vị, số điểm tăng lên 0.2256. Số người phụ thuộc (X4) có mối quan hệ nghịch biến với điểm số của người xin vay 0,3004 lần. Hằng số (-3,3022) cho biết khi tất cả các biến độc lập bằng 0, số điểm là -3,3022 có vẻ hợp lý.

     

    Với dạng phi chuẩn hóa, điểm cắt cho mô hình biệt thức được xác định như sau:

     

    C =

    Z * N + Z * N

       

    1122

    (2)

     

    N+ N

    cutoff

       
     

    12

       

    Trong đó: Z1 là mức trung bình của Z-score Nhóm 1 tính toán bằng cách sử dụng công thức (1)

     

     

    50

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    N1 là số được quan sát trong Nhóm 1

    PD =

    1

     

    Z2 là mức trung bình của Z-score Nhóm 2 tính toán bằng cách sử dụng công thức (1)

    N2 là số được quan sát trong Nhóm 2

     

    Với mục đích kiểm tra tính hợp lý của giá trị nhóm trọng tâm, giá trị trung bình điểm Z cho hai nhóm khác nhau được tính toán bằng -0,992 và 0,992 tương ứng cho Nhóm 1 và Nhóm 2 (Xem phụ lục A7). Chúng có cùng một giá trị, nhưng trái dấu.

     

    Sau đó, áp dụng phương trình 2 – hàm chuẩn hóa, các điểm cắt sẽ bằng không vì trung bình của Z-score phi chuẩn hóa cho hai nhóm có giá trị bằng nhau nhưng trái dấu ((0,992 * 61 – 0,992 * 61)/(61 +61) = 0). Trên cơ sở điểm cắt này, kết quả cho thấy rằng 11 giá trị trong nhóm 1 và 2 giá trị trong nhóm 2 không được phân loại đúng, đem lại kết quả phân loại chính xác là 89,4% (Xem Phụ lục A6).

    Hàm chuẩn hóa

    Hàm chuẩn hóa có thể viết như sau:

    Z = 0,2453X1 + 0,0754X2 + 0,8148X3 -0,2412X4

    + 0,4011X5                                              (3)

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp; X3=

    Thu nhập (đơn vị triệu đ); X4 = Số người phụ thuộc;

    X5 = Tài khoản

     

    Có thể thấy từ bảng Phụ lục A7, khác với hình thức phi chuẩn hóa, Thu nhập (X3) có hệ số cao nhất, phù hợp với kết quả thử nghiệm F và Vec-tơ tỷ lệ. Ngược lại, Nghề nghiệp (X2) là biến với hệ số thấp nhất.

     

    Điểm cắt được xác định bằng cách áp dụng phương trình (2): (286 * 61 + 82 * 61)/(61+61)=

     

    1. Kết quả là, hai mươi giá trị từ Nhóm 2 nhưng không có giá trị nào thuộc Nhóm 1 được xếp không đúng chỗ, đại diện cho 84% độ chính xác của mô hình dự đoán bằng cách sử dụng hình thức được chuẩn hóa. Con số này thấp hơn so với kết quả phân loại theo hàm phi chuẩn hóa (89,4%).

    Ước lượng xác suất vỡ nợ từ điểm số Z hàm phi chuẩn hóa

     

    Dựa trên các nghiên cứu đã được thực hiện bởi tác giả khác nhau trên thế giới, bài báo này sẽ lập ra Z-score xuất phát của mô hình mới về xác suất vỡ nợ (PD) và xếp hạng tín dụng. Theo bài nghiên cứu được tiến hành bởi Đinh và Kleimeier (2007), xác suất không trả được nợ (PD) được xác định bằng cách áp dụng công thức logit như sau:

    1+e-z                    (4)

    Trong đó: PD là xác suất vỡ nợ, Z là Z-score (điểm số càng cao, thì càng tốt), e = 2,71828.

     

    Tuy nhiên, các kết quả tính toán dựa trên phương trình trên tạo ra xác suất vỡ nợ rất cao cho đơn xin vay trong nước. Vì vậy, theo nghiên cứu của Đào (2010) trong hiệu chỉnh chấm điểm tín dụng và xác suất vỡ nợ, phương trình trên được điều chỉnh thành:

     

    PD =

    1

    (5)

     

    -Z

     

    1+e*20

     
           

    Áp dụng phương trình (5) cho mẫu gồm 122 người tiêu dùng Việt Nam, xác suất vỡ nợ đã được đưa ra.

     

    Kết quả cho thấy hầu như tất cả người xin vay từ Nhóm 2 có xác suất vỡ nợ thấp hơn rất nhiều so với Nhóm 1. Chỉ có 11 ứng viên thuộc Nhóm 2 với xác suất vỡ nợ cao đáng lẽ được phân loại vào Nhóm 1 và 2 ứng viên thuộc Nhóm 1 với xác xuất vỡ nợ thấp đáng lẽ được phân loại vào Nhóm 2. Tổng số là 13 khách hàng vay phân loại không đúng, đem lại độ chính xác là 89,34%. Ví dụ về mười khoản vay thuộc về 5 giá trị đầu và cuối của mỗi nhóm 1 và 2 được trình bày trong Phụ lục A7(1) và A7(2).1

    5. Kết luận

     

    Trong bài báo này, tổng quan về sự phát triển của chấm điểm tín dụng tiêu dùng thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng sẽ được trình bày ngắn gọn. Sau đó, tổng quan lý thuyết cung cấp kiến thức nền về điểm tín dụng và những phương pháp tính điểm tín dụng phổ biến. Thu thập dữ liệu và xử lý quá trình thực hiện trên cơ sở của các giả định này được ghi nhận trước khi đưa tỷ lệ tài chính vào DA của SPSS để tạo ra kết quả thống kê. Ban đầu, phân tích biệt thức với mười biến độc lập được tiến hành để kiểm tra khả năng phân biệt của các biến trong phân loại nợ. Bài kiểm tra đã phát hiện ra năm yếu tố phân biệt đáng kể nhất mà sau đó được sử dụng thêm một lần trong SPSS để tạo ra các phương trình cuối cùng. Có hai nhóm hệ số, chuẩn hóa và phi chuẩn hóa. Hàm phi chuẩn hóa được mô tả như sau:

     

    • = 0,2256X1 + 0,0483X2 + 0,0055X3 – 0,3004X4 + 0,1318704X5 – 3,3022

     

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp; X3

    • Thu nhập (đơn vị triệu đ); X4 = Số người phụ thuộc; X5 = Tài khoản

     

     

    1. Kiểm định ngoài mẫu cũng đã được thực hiện, độc giả có quan tâm xin liên hệ trực tiếp với tác giả.
     

    khoa học

     
       

    51

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Một trong những phát hiện quan trọng là 89,4% của 122 người xin vay được phân loại chính xác với hàm phi chuẩn hóa. Trung bình số điểm của Nhóm 2 và Nhóm 1 là bằng 0,992 nhưng trái dấu. Hàm chuẩn hóa được trình bày dưới đây:

     

    • = 0,245X1 + 0,0754X2 + 0,81480X3 – 0,24127X4 + 0,4011X5

     

    Như đã đề cập ở trên trong kết quả phân loại, hình thức phi chuẩn hóa đã được chứng minh là mạnh hơn so với hình thức chuẩn hóa. Tuy nhiên, cả hai đã thực hiện một mức độ chính xác tương đối

     

    Phụ lục

     

    A1: Mã hóa các biến số định tính

    cao trong việc phân loại nhóm. Sau đó, xác suất của vỡ nợ được tính trên cơ sở điểm phi chuẩn hóa.

     

    Tóm lại, mặc dù có một số nhược điểm không thể tránh khỏi, điểm số mới được phát triển vẫn có

     

    • nghĩa và hữu ích cho người cho vay về đánh giá chính xác tín dụng của khách hàng vay, do đó có thể giảm rủi ro tín dụng. Bài viết đã cung cấp cho độc giả các phương pháp và cách tiếp cận để phát triển một mô hình tính điểm tín dụng cao cấp với mức ứng dụng, tính chính xác và tính khả thi cao để dự đoán tín dụng của người xin vay.

    Bieán soá

    Caùc loaïi

    Maõ

     
     

    Toát nghieäp Tieán só

    10

     
     

    Thaïc só, Sau Ñaïi hoïc

    9

     
     

    Toát nghieäp Ñaïi hoïc

    8

     

    Hoïc vaán

    Toát nghieäp Cao ñaúng

    7

     
     

    Toát nghieäp tröôøng daïy ngheà

    6

     
     

    Toát nghieäp Trung hoïc phoå thoâng

    5

     
     

    Döôùi Trung hoïc phoå thoâng

    0

     
     

    Ñieàu haønh chuyeân nghieäp (Giaùm ñoác, Phoù Giaùm ñoác, Keá toaùn tröôûng)

    10

     
     

    Ñieàu haønh chuyeân nghieäp ôû caáp ñoä thaáp hôn (Tröôûng /Phoù Tröôûng phoøng), Kieán truùc

    9

     
     

    Doanh nhaân, ngaân haøng, coâng nhaân coù tay ngheà cao

    8

     
     

    Ngheà nghieäp

    Nhaân vieân vaên phoøng

    7

     

    Sinh vieân

    5

     
     
     

    Lao ñoäng khoâng coù tay ngheà

    4

     
     

    Lao ñoäng baùn thôøi gian

    2

     
     

    Nghæ höu

    0

     
     

    Chuû sôû höõu nhaø

    10

     

    Hình thöùc

    Nhaø rieâng

    8

     

    Thueâ nhaø

    6

     

    sôû höõu nhaø ôû

    Soáng cuøng baïn beø, ngöôøi thaân

    4

     
     
     

    Soáng cuøng boá meï

    2

     
     

    Coù caû taøi khoaûn vaõng lai vaø taøi khoaûn tieát kieäm

    10

     

    Taøi khoaûn

    Coù taøi khoaûn vaõng lai

    6

     

    Coù taøi khoaûn tieát kieäm

    5

     
     
     

    Khoâng coù taøi khoaûn

    0

     

    A2: Phân loại kết quả với 10 biến

     

       

    Nhoùm

    Döï ñoaùn soá löôïng nhoùm

     

    Toång

    Ban ñaàu

    Soá löôïng

     

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

       
       

    1

    57

     

    4

    61

                 
       

    2

    9

     

    52

    61

                 
     

    %

    1

    93,44%

     

    6,56%

    100

                 
       

    2

    14,75%

     

    85,25%

    100

                 

    A3: Số liệu thống kê nhóm 5 tỷ lệ quan trọng nhất

     

           

    Bieán soá

     

    Trung bình

       

    Ñoä leäch chuaån

       
           

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

    Toång

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

    Toång

     
               
       

    Hoïc vaán

    7,4754

    7,9918

    7,7336

    1,1952

    0,9682

    1,1137

     
       

    Ngheà nghieäp

    7,3279

     

    7,8361

    2,1191

         
       

    8,3443

    1,5263

    1,9085

     
       

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    96,8813

    346,1430

    221,5121

    36,0447

    204,5403

    192,4863

     
         
       

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

    1,5574

     

    1,3607

    0,8470

         
       

    1,1639

    0,7568

    0,8239

     
       

    Taøi khoaûn

    1,9344

    4,3934

    3,1639

    2,9432

    3,1373

    3,2711

     
         
                       

    52

    khoa học

                 

    thương mại

                 

    Sè 128/2019

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    A4: Khả năng phân biệt riêng lẻ của 5 biến số

     

     

    Wilks’ Lambda

    F

    df1

    df2

    Sig.

     
                 

    Hoïc vaán

    0,9458

    6,8751

    1

    120

    0,0099

     

    Ngheà nghieäp

     

    9,2396

    1

    120

    0,0029

     

    0,9285

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    0,5773

    87,8620

    1

    120

    0,0000

     

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

     

    7,3189

    1

    120

    0,0078

     

    0,9425

    Taøi khoaûn

    0,8576

    19,9327

    1

    120

    0,0000

     
                 

    A5: Vec-tơ tỷ lệ của 5 biến số

     

    Bieán soá

    Ñoä leäch chuaån

    Heä soá

    Vec -tô tyû leä

    Xeáp haïng

     
               

    Hoïc vaán

    1,1137

    0,2454

    0,2733

    3

     

    Ngheà nghieäp

    1,9085

    0,0754

    0,1439

    4

     

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    192,4863

    0,8148

    156,8389

    1

     

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

    0,8239

    -0,2413

    -0,1988

    5

     

    Taøi khoaûn

    3,2711

    0,4011

    1,3121

    2

     
               

    A6: Kết quả phân loại

     

    Ban ñaàu

     

    Nhoùm

    Döï ñoaùn soá löôïng nhoùm

    Toång

               
         

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

     
     

    Soá löôïng

    1

    59

    2

    61

     
       

    2

    11

    50

    61

       
     

    %

    1

    96,72%

    3,28%

    100

     
     

    2

    18,03%

    81,97%

    100

     
       

    A7 (1): Tính toán Điểm hàm chuẩn hóa và Phi chuẩn hóa cho 10 đại diện ứng viên cho vay của Nhóm

     

    2 cùng xác suất vỡ nợ

     

               

    Thu

    Soá

     

    Ñieåm Z

    Ñieåm Z

           
         

    Hoïc

     

    Ngheà

    nhaäp

    ngöôøi

    Taøi

    PD haøm phi

       
     

    STT

    Y

     

    haøm chuaån

    haøm phi

       
         

    vaán

     

    nghieäp

    (trieäu

    phuï

    khoaûn

    hoùa

    chuaån hoùa

    chuaån hoùa

       
               

    ñoàng)

    thuoäc

             
                             
     

    1

    2

    8

     

    10

    1,051

    1

    0

    859

    4,44

    0,06%

       
     

    2

    2

    8

     

    8

    1,000

    0

    6

     

    5,17

         
       

    820

    0,03%

       
     

    3

    2

    8

     

    10

    1,000

    2

    6

    819

    4,65

    0,05%

       
           
     

    4

    2

    8

     

    8

    800

    1

    6

     

    3,76

         
       

    657

    0,12%

       
     

    5

    2

    6

     

    8

    720

    1

    10

    3,39

    3,39

    0,17%

       
           
             

    10

                   
     

    57

    2

    8

     

    180

    2

    6

    151

    0,10

    4,33%

       
     

    58

    2

    8,5

     

    10

    180

    2

    6

    151

    0,21

    3,88%

       
           
     

    59

    2

    8

     

    8

    180

    2

    0

     

    -0,77

         
       

    149

    9,77%

       
     

    60

    2

    8,5

     

    8

    180

    1

    6

    152

    0,43

    3,15%

       
           
     

    61

    2

    8

     

    9

    168

    1

    0

     

    -0,50

         
       

    139

    7,60%

       
                                 
       

    Trung bình

           

    286

    0,992

           
       

    Ñoä leäch chuaån

         

    167

    1.29

           
                     
                                 
                           

    khoa học

     
                               

    53

                           

    thương mại

    Sè 128/2019

                     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    A7(2): Tính toán Điểm hàm chuẩn hóa cho 10 đại diện ứng viên cho vay của Nhóm 1 cùng xác suất vỡ nợ

     

       

    Hoïc

    Ngheà

     

    Thu nhaäp

    Soá ngöôøi

    Taøi

    Ñieåm Z haøm

    Ñieåm Z haøm

    PD haøm phi

    STT

    Y

     

    khoaû

    phi chuaån

    vaán

    nghieäp

     

    (trieäu ñoàn g)

    phuï thuoäc

    chuaån hoùa

    chuaån hoùa

         

    n

    hoùa

                     

    1

    1

    5

    4

     

    216

    2

    0

    177

    -1,41

    17,04%

    2

    1

    8

    8

     

    168

    2

    6

    141

    -0,05

    4,99%

     

    3

    1

    8,5

       

    156

    2

    0

    129

    -0,83

    10,32%

    7

     

    4

    1

    8

    7

     

    150

    1

    6

    127

    0,11

    4,28%

     

    5

    1

    9

       

    150

    3

    0

    124

    -1,01

    12,11%

    8

     

    57

    1

    5

    4

     

    48

    2

    0

    40

    -2,35

    34,29%

     

    58

    1

    8,5

       

    48

    0

    0

    42

    -0,83

    10,31%

    7

     

    59

    1

    6

    4

     

    43

    3

    0

    36

    -2,45

    36,61%

     

    60

    1

    5

       

    20

    0

    0

    17

    -2,07

    28,28%

    0

     

    61

    1

    5

    0

     

    18

    1

    0

    16

    -2,37

    34,95%

     
                         
             

    Trung bình

       

    82

    -0,992

     
           

    Ñoä leäch chuaån

       

    30

    0,58

     
                 
                         

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Altman, E. I. (1968), “Z-score”, chi tiết tại: http://www.valuebasedmanagement.net/methods_al tman_z-score.html (Truy cập vào ngày 18 tháng 10, 2009).
    1. Altman, E.I., (1968), Financial Ratios, Discriminant Analysis, and the Prediction of Corporate bankruptcy, Journal of Finance, Tập 23, Số 4, (Tháng 9, 1968), Trang 589-609
    1. Beaver, W., (1968), Alternative Accounting Measures as Predictors of Failure, Accouting Review, tháng 1, trang 46-53.
    1. Crook, J. N. (1996), Credit scoring: an overview, Working Paper Số 96/13, ban nghiên cứu kinh doanh, Trường Đại học Edinburgh.
    1. Dinh, T. H. T., và Kleimeier S., (2007), A Credit Scoring Model for Vietnam’s retail banking market, International Review of Financial Analysis, Tập 16, Số 5, trang 471-4.
    1. Durand, D., Risk Elements in Consumer Installment Lending, National Bureau of Economic Research, New York, 1941, Tập 15, Số 8.
    1. Đào, T.T. Bình (2013), Mô hình chấm điểm tín dụng cho các công ty sản xuất ở Việt Nam, Tạp chí

    Kinh tế & Phát triển , số 188 tháng 02 năm 2013, trang 39-49. http://ktpt.edu.vn/tap-chi/so-188/nghien-cuu-trao-doi-685/mo-hinh-xep-hang-tin-dung-cho-cac-cong-ty-san-xuat-o-viet-nam.372652.aspx

     

    1. Fisher, R. A. (1936), The Use of Multiple Measurements in Taxonomic Problems, Annals of Eugenics, Tập 7, trang 179-188.
    1. Vigano, L. (1993), A credit scoring model for development banks: An African case study, Savings and Development, 17(4), trang 441-482.

    Summary

     

    In the context of focusing on consumer credit and personal lending in many Vietnamese banks, this paper aims to provide a consumer credit scoring model that can be applied to Vietnamese banks. The article uses the method of FICO system, taking into account the situation of Vietnam. It also provides suggestions to help consumers simply calculate their credit score.

     

    khoa học

     

    54   thương mại

    Sè 128/2019

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG INTERNET BANKING TRONG THANH TOÁN HỌC PHÍ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

     

    Bùi Thị Thu Loan

    Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

    Email: [email protected]

    Vũ Duy Hào

    Trường Đại học Kinh tê/quô/c dân

    Email:[email protected]

    Chu Thi;Hiên

    Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 18/03/2019                         Ngày nhận lại:     10/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 16/04/2019

     

    • hói quen thanh toán không dùng tiền mặt của người dân, trong đó có hình thức thanh toán trực tuyến (Internet banking) vẫn còn hạn chế tại các nước có nền kinh tế mới nổi như tại Việt Nam bất

    chấp những đặc tính ưu việt do hình thức thanh toán này mang lại. Mặc dù đã có một vài nghiên cứu kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ internet banking, song các nghiên cứu này chỉ tập trung trên các đối tượng đã có thu nhập. Trong khi thói quen sử dụng một dịch vụ cần được xây dựng và định hướng dựa trên hành vi nhận thức tính hữu ích của giới trẻ. Do đó, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán trực tuyến dựa trên đối tượng khảo sát là sinh viên với quy mô mẫu 228. Kết quả phân tích cho thấy, ngoài ảnh hưởng của các yếu tố được biết đến trong hầu hết các nghiên cứu hiện có bao gồm nhân tô€chuẩn chủ quan và tính hữu ích đối với dịch vụ thì phong cách giới trẻ cũng là một yếu tố mới được phát hiện có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến ý định sử dụng internet banking. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng hàm ý một số giải pháp tư•kê€t qua‚hô•i quy và gợi mở hướng nghiên cứu trong tương lai.

     

    Từ khóa: thanh toán trực tuyến, phong cách giới trẻ, ý định, thanh toán không dùng tiền mặt.

     

     

    1. Giới thiệu

    Inernet banking (IB) là một ứng dụng được sử dụng phổ biến trong thanh toán hiện nay tại hầu hết các quốc gia. Đây là dịch vụ ngân hàng điện tử dùng để truy vấn thông tin tài khoản và thực hiện các giao dịch chuyển khoản thanh toán qua mạng internet. Dịch vụ này bắt đầu được sử dụng từ những năm 80 tại hầu hết các nước phát triển. Tại Việt Nam, dịch vụ Internet-banking bắt đầu được du nhập khá muộn từ năm 2001 dưới hình thức ngân hàng điện tử trên internet và chính thức trở thành kênh giao dịch điện

    tử vào năm 2004. Dịch vụ Internet banking với ưu thế nhanh gọn, tiện lợi và tiết kiệm chi phí ngày càng được nhiều khách hàng lựa chọn. Dựa trên nhu cầu này, các ngân hàng cũng ngày càng cạnh tranh để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tối ưu nhất cho khách hàng.

     

    Trong giai đoạn hiện nay, ứng dụng công nghệ thay thế cho các phương pháp thanh toán truyền thống thủ công là tính tất yếu. Việc triển khai và cung cấp các dịch vụ này từ hệ thống ngân hàng, một mặt khẳng định vị thế của ngân hàng trong việc hiện đại

     

     

    khoa học

     
       

    55

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    55

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    hóa hạ tầng công nghệ cung cấp sản phẩm dịch vụ tiện ích cho khách hàng. Mặt khác, góp phần hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán, giúp tiết kiệm chi phí xã hội cũng như minh bạch hóa các hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.

     

    Về phía khách hàng, sự xuất hiện của internet banking đã mang lại lợi ích lớn về thời gian và chi phí. Các giao dịch thanh toán không còn giới hạn về thời gian và khoảng cách địa lý thông qua các ứng dụng thanh toán qua hệ thống internet 24/24 và 24/7. Thêm vào đó, phí thanh toán qua hệ thống thanh toán trực tuyến cũng được xem là rẻ hơn so với các hình thức thanh toán chuyển tiền truyền thống tại ngân hàng.

     

    Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt nam, thói quen sử dụng tiền mặt vẫn diễn tra trong phần lớn các giao dịch mặc dù Chính phủ đã có những quy định hạn chế nhất định. Theo số liệu từ Ngân hàng thể giới (WB), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao nhất trong khu vực, chiếm tới 95,1 % (WB, 2018). Ngay tại môi trường giáo dục Đại học, nơi giúp định hình thói quen và trách nhiệm tuân thủ các quy định về việc nâng cao tính minh bạch trong nền kinh tế, thì vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt dường như chưa được quan tâm đúng mức tại một số nơi. Vấn đề này được đặt ra bởi trong bối cảnh tại Việt nam hiện nay, mặc dù thông tư 02 về quy định bắt buộc đối với việc thanh toán qua ngân hàng sắp có hiệu lực nhưng sinh viên tại một số trường đại học nói chung và trường đại học công nghiệp nói riêng vẫn duy trì thói quen thanh toán học phí bằng tiền mặt. Đây đồng thời cũng là một thực tế gây áp lực đối với việc nâng cao chất lượng dịch vụ của nhà trường.

     

    Trên cơ sở đó, theo hướng tiếp cận của lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991), nghiên cứu này áp dụng phân tích định lượng để kiểm tra mức độ ảnh hưởng và chiều ảnh hưởng của các yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và yếu tố phong cách giới trẻ đến ý định sử dụng thanh toán internet banking trong thanh toán học phí, nghiên cứu trường hợp tại đại học công nghiệp Hà nội.

    1. Tổng quan nghiên cứu

    Lý thuyết TPB của Ajzen (1991), giải thích và dự đoán về hành vi được ứng dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau dựa trên nền tảng lý thuyết

    Hành động có lý trí (hay hành động hợp lý), theo lý thuyết này, ý định của một cá nhân đối với việc thực hiện một hành vi nhất định chịu ảnh hưởng của 03 yếu tố, đó là: Thái độ (Attitude); Chuẩn chủ quan (Subjective Norm); Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control). Lý thuyết TPB được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển và mở rộng để giải thích và dự đoán hành vi của con người trong bối cảnh cụ thể, như: Chang (1998), Choo và cộng sự (2004), đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng tích cực của các yếu tố Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định thực hiện hành vi. Theo hướng tiếp cận này, nhiều nghiên cứu đã mở rộng phạm vi các yếu tố ảnh hưởng trong hướng nghiên cứu cụ thể về hành vi sử dụng IB (Long Phạm, 2014; ChinHo Lin, 2011). Nghiên cứu của Pham và cộng sự ( 2014); Wang, Lin và Tin ( 2003) cho biết khả năng chấp nhận công nghệ (IT) đóng vai trò quan trọng đối với hành vi sử dụng dịch vụ này bên cạnh các yếu tố về thái độ đối với dịch vụ, chuẩn chủ quan và tính hữu ích của dịch vụ (Long và cộng sự, 2014 ; Wang, Lin và Tin, 2003; Bùi Hải Yến). Tuy nhiên các nghiên cứu này được thực hiện trong giai đoạn việc ứng dụng các phiên bản công nghệ tích hợp trên máy tính và điện thoại chưa thực sự phổ biến như hiện nay. Đồng thời, các nghiên cứu được tiến hành trên mẫu khảo sát là các đối tượng đã có thu nhập, do đó, khả năng chấp nhận công nghệ có thể là yếu tố ảnh hưởng tiên quyết do tính đặc thù về độ tuổi. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu có sự khác biệt đáng kể giữa sinh viên, những người chưa tạo ra thu nhập và những người đã đi làm mà thu nhập của họ có thể được thanh toán qua hệ thống ngân hàng đối với ý định sử dụng internet banking không. Nếu có, thì yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định này và liệu đối với đối tượng là sinh viên, còn yếu tố nào có thể tham gia vào mô hình mà có khả năng luận giải thêm đối với ý định sử dụng IB, nghiên cứu cụ thể đối với ứng dụng thanh toán tiền học phí. Việc trả lời câu hỏi nghiên cứu này cũng là mục tiêu hướng đến của bài viết.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

     

    • Giả thuyết nghiên cứu

     

    – Ý định sử dụng internet banking trong thanh toán học phi‹

     

    Có nhiều lý thuyết khác nhau được sử dụng để lý giải mối quan hệ giữa các yếu tố tiền đề và hành vi

     

    56

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    của người sử dụng dịch vụ. Trong nghiên cứu này, tiếp cận theo lý thuyết TPB, ý định sử dụng internet banking được hiểu là ý định của cá nhân đối với khả năng chấp nhận sử dụng thanh toán trực tuyến qua hệ thống ngân hàng thay thế cho hành vi sử dụng tiền mặt. Đây được coi là giai đoạn trong việc hình thành và phản ánh nhận thức về lợi ích của việc thanh toán không dùng tiền. Khi đó, nếu ý định sử dụng dịch vụ thanh toán internet banking của sinh viên càng cao thì khả năng thực hiện hành vi thanh toán qua hệ thống giao dịch trực tuyến dựa trên các ứng dụng công nghệ được cung cấp bởi mỗi ngân hàng đối với khách hàng của mình càng lớn. Vì vậy, nghiên cứu ý định thực hiện hành vi thanh toán qua internet banking của sinh viên dựa trên lý thuyết TPB làm lý thuyết khung và tiền đề cho nghiên cứu nhằm mục đích nhận diện các yếu tố có ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ, từ đó, hàm ý giải pháp thay đổi hành vi, thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán. Trên cơ sở đó, nho‹m tác giả đưa ra nho‹m 3 giả thuyết như sau:

     

    Gia&thuyê’t H1: Thái độ có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng dịch vụ IB trong thanh toan€ ho„c phi€của sinh viên;

     

    Gia&thuyê’t H2: Chuẩn chủ quan có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng IB trong thanh toan€ ho„c phi€của sinh viên;

     

    Gia&thuyê’t H3: Nhận thức về kiểm soát hành vi có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng IB trong thanh toa€n ho„c phi€của sinh viên.

     

    Phong cách giới trẻ đối với khuynh hướng sử dụng ứng dụng công nghệ hiện đại trong thanh toán trực tuyến qua ngân hàng

     

    Phong cách tiêu dùng hay sử dụng dịch vụ được đề cập lần đầu trong nghiên cứu của Mai và cộng sự (2009); Tambyah, Nguyễn và Jung (2009), theo đó khuynh hướng tiêu dùng có thể theo hướng truyền thống và hiện đại. Những thay đổi nhanh chóng trong nền kinh tế cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ cũng ảnh hưởng đến khuynh hướng lựa chọn và sử dụng dịch vụ của các cá nhân. Mặc dù các nghiên cứu dựa trên mô hình có tính đến khả năng chấp nhận công nghệ (Pham và cộng sự, 2009; Wang, 2003) song trên thực tế, trong bối cảnh Việt Nam những năm gần đây cho thấy, mặc dù người Việt có tỷ lệ sử dụng internet và điện thoại thông minh rất cao song tỷ lệ thanh toán qua internet lại không tương xứng.

    Phong cách sống cá nhân được đặc trưng bởi cái nhìn thực tại về thế giới quan, cá tính, bản sắc cá nhân (bản ngã hay cái tôi) cũng như ảnh hưởng của môi trường xung quanh như gia đình, nơi sinh sống, giáo dục, văn hóa và ảnh hưởng mạnh từ các yếu tố truyền thông. Trong đó, giới trẻ được đánh giá là những người tiên phong cho những trào lưu mới, thời thượng và táo bạo. Đồng thời, họ là những người đi đầu cho xu hướng sử dụng những dịch vụ mới hiện đại hơn.

     

    Kết quả phỏng vấn sâu đối với 11 sinh viên cũng cho thấy họ nhận thức việc thanh toán qua các ứng dụng trực tuyến sẽ trở thành xu hướng và định hình phong cách giới trẻ trong các giao dịch giúp họ thể hiện sự tự tin đối với việc bắt kịp một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết H4:

    Gia&thuyê’t H4: Phong cách giới trẻ có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng internet banking trong thanh toán

     

    3.2. Phương pha’p nghiên cư’u va*mô hi*nh nghiên cư’u

     

    Trước hết, như đã đề cập ở trên, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kiểm tra sơ bôŒsự phù hợp của các thang đo trong mô hình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trước khi tiến hành phân tích hồi quy. Nghiên cứu định tính sơ bộ thông qua phỏng vấn sâu được thực hiện với đối tượng là 11 sinh viên đang học tại trường đại học công nghiệp Hà nội; độ dài trung bình mỗi cuộc phỏng vấn từ 25 đến 30 phút dựa trên lưới phỏng vấn, trong đó, đối tượng sinh viên trả lời phỏng vấn, gồm: 06 sinh viên nữ và 5 sinh viên nam.

     

    NôŒi dung phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm bước đầu kiểm tra sự phù hợp của các biến độc lập có ảnh hưởng đến ý định sử dụng internet banking của sinh viên, nhận diện sơ bộ mối quan hệ giữa các biến trong mô hình.

     

    Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ ủng hộ mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả. Phần lớn sinh viên được phỏng vấn đều cho rằng sử dụng thanh toán trực tuyến sẽ đem lại sự tiện lợi, nhanh chóng và an toàn. Đặc biệt giảm sự khó chịu khi tham gia thanh toán học phí bằng tiền mặt. Họ hoàn toàn ủng hộ và muốn sử dụng trong thời gian tới bởi IB phù hợp với phong cách sinh viên năng động hiện nay. Tuy nhiên việc sử dụng dịch vụ này lại khó khăn từ

     

     

    khoa học

     
       

    57

     

    thương mại

    Sè 128/2019

     

    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

     

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

     

    phía gia đình hơn là bạn bè, do đó ảnh hưởng nhất

    Dựa trên các phản hồi, mẫu phân tích cuối cùng

    định đến việc thay đổi hoàn toàn hình thức thanh

    được sử dụng trong phân tích hồi quy là 228. Trong

    toán này ở hiện tại. Kết quả đáng chú ý trong phân

    đó, nam giới chiếm tỷ lệ 44% và nữ giới chiếm tỷ lệ

    tích định tính đó là sự tham gia của biến phong cách

    56%. Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu

    giới trẻ được nhận diện trong mô hình nghiên cứu.

    hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức điểm, tương ứng

    ViêŒc nhâŒn diêŒn biê‹n nghiên cư‹u na‘y, dựa vào mô

    với 1 điểm là Hoàn toàn không đồng ý cho đến 5

    hình gốc theo lý thuyết TPB của Ajzen (1991),

    điểm là Hoàn toàn đồng ý. Các câu hỏi cho các

    nhóm tác giả xây dựng mô hình gồm 4 yếu tố được

    thang đo trong nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở

    đề cập dươ‹i đây (Hình 1).

           

    kế thừa từ kết quả các nghiên cứu trước đây của

                                     

    Ajzen (1991, 2002), Holak và Leman

     

    7KiL ÿӝ

                             
                               

    (1990), Nguyễn Thị Tuyết Mai (2016),

                     

    H1(+)

               

    Adewal và cộng sự (2016), kết hợp với

                                 
                     

    H2 (+)

               

    sự điều chỉnh theo kết quả nghiên cứu

     

    Chuҭn chӫ quan

                   

    định tính sơ bộ được thực hiện trong

               

    é ÿӏnh sӱ dөng ,% WURQJ WKDQK

     
                             

    nghiên cứu định tính trước đó. Các câu

                     

    (H3+)

       

    WRiQ KӑF SKt cӫa sinh viên

     
                           

    hỏi nghiên cứu được dựa trên cơ sở các

       

    Nhұn thӭc NLӇP

                   
                         

    thang đo gốc đã được chuyển thể và sử

                         
       

    VRiW KjQK YL
    WtQK

                     
         

    (H4+)

               

    dụng trong các nghiên cứu trước đó. Một

                                 
                                     

    số biến được mô tả tóm tắt trong Bảng 1.

     

    Phong cách giӟi trҿ

                     
                       

    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

                                     
                                     

    Đánh giá thang đo

     

    Nguồn: Tổng hợp từ nhóm tác giả

       
         

    Kết quả phân tích Cronbach Alpha (Bảng

             

    Hình 1

    : Mô hình nghiên cứu đề xuất

       

    2) cho thấy, thang đo của 04 yếu tố đều lớn

                         
     

    Tiếp theo, nhóm nghiên cứu sử dụng phương

    hơn 0,7 đảm bảo yêu cầu về độ tin cậy và giá trị (Hair và

    pháp nghiên cứu định lượng, phân tích dữ liệu sơ

    cộng sự, 1998). Dữ liệu được sử dụng trong phân tích

    cấp thu được từ một mẫu khảo sát ban đầu là 245

    đảm bảo phù hợp với phân tích yếu tố, giá trị KMO bằng

    sinh viên đang học tại trường Đại học Công nghiệp

    0,902 (>0,5). Kết quả phân tích EFA dựa trên báo cáo

    Hà Nội (Haui). Chúng tôi sử dụng phạm vi nghiên

    phương sai trích và hệ số tải cho thấy, các thang đo đạt yêu

    cứu điển hình này là do nghiên cứu ban đầu với việc

    cầu với phương sai trích đạt 62.12 % và hệ số tải lớn hơn

    tham gia của biến mới nên được thực hiện nghiên

    0,5. Kê‹t qua•ma trâŒn xoay nhân tô‹cu™ng thê•hiêŒn ti‹nh ô•n

    cứu sơ bộ để xác nhận kết quả trước khi kiểm soát

    điŒnh cu•a nho‹m trong ca‹c thang đo đươŒc kiê•m tra.

    các yếu tố trên

             

    Bảng 2: Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo

    diện

    rộng.

                               

    Trên thực

    tế,

         

    Bieán quan saùt

     

    Cronbach Alpha

     

    N of Items

    Thaùi ñoä caù nhaân

           

    0,827

       

    5

    trường

     

    Đại

               
     

    Chuaån chuû quan

           

    0,717

       

    5

    học

    Haui

               

    Nhaän thöùc haønh vi

           

    0,915

       

    4

    trường

    được

               

    Phong caùch giôùi treû

           

    0,858

       

    6

    biết đến với tỷ

               

    lệ

    sinh

    viên

    KMO

                     

    0,902

    chủ yếu đến từ

    Bartlett’s Test

                 

    Sig = 0,000

     

     

    các khu vực nông thôn

     

    (trên 85%). Việc thay đổi thói quen sử dụng một dịch vụ thường có những đặc điểm riêng bao gồm cả ảnh hưởng từ yếu tố nhận thức, hành vi, tính hữu ích của dịch vụ và có thể cả từ môi trường học tập và xã hội nơi các chủ thể chịu ảnh hưởng nhất định.

     

    Thống kê mô tả

     

    Kết quả thống kê mẫu ban đầu cho thấy sử dụng tiền mặt hiện là phương thức thanh toán chính được sử dụng đối với sinh viên bao gồm cả nam giới và nữ giới. Tỷ lệ thanh toán tiền mặt được báo cáo trong mẫu nghiên cứu lên tới 95,9%. Trong khi điểm

     

     

    58

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Bảng 1: Tóm tắt thang đo các biến

     

    Maõ hoùa

     

    Bieán quan saùt

    Thang

    Nguoàn

           

    ñieåm

     
     

    TÑ1

    1.

    Toâi thích yù töôûng söû duïng dòch vuï internet banking

    Likert 5

    Long vaø coäng söï

       

    trong thanh toaùn hoïc phí

    möùc ñieåm

    (2014); Wang, Lin

    Thaùi ñoä

    TÑ2

    2.

    Toâi hoaøn toaøn uûng hoä yù ñònh söû duïng dòch vuï internet

     

    (2003); Chan vaø

     

    banking trong thanh toaùn hoïc phí

     

    Chen (2001),

    (TÑ)

    TÑ3

    3.

    Söû duïng dòch vuï internet banking trong thanh toaùn hoïc

     

    Nguyeãn Thò Tuyeát

       

    phí laø moät yù ñònh toát

     

    Mai (2016), Holak

     

    TÑ4

    4.

    Toâi hoaøn toaøn tin töôûng söû duïng internet banking laø

     

    vaø Leman (1990).

       

    moät yù ñònh hay

       
     

    CQ1

    1. Gia ñình vaø baïn beø coù aûnh höôûng ñeán yù ñònh söû duï ng

    Likert 5

    Holak vaø Leman

    Chuaån

     

    internet banking cuûa toâi

    möùc ñieåm

    (1990), Nguyeãn Thò

    chuû

    CQ2

    2.

    Toâi thaáy haàu heát caùc baïn SV hieän nay ñeàu söû duïng

     

    Tuyeát Mai (2016),

    quan

     

    neân toâi cuõng coù yù ñònh söû duïng IB

     

    Long vaø coäng söï

    (CQ)

    CQ3

    3.

    Caùc phöông tieän truyeàn thoâng coù aûnh höôûng ñeán yù

     

    (2014); Wang, Lin

       

    ñònh söû duïng dòch vuï IB

     

    (2003); Chan vaø

     

    CQ4

    4. Caùc nhu caàu töø coâng vieäc laøm theâm cuûa toâi aûnh höôûng

     

    Chen (2001).

       

    ñeán yù ñònh söû duïng IB

       

    Phong

    PS1

    1.

    Söû duïng dòch IB theå hieän loái soáng thôøi thöôïng vaø hieän

    Likert 5

    Nguyeãn Thò Tuyeát

    caùch

     

    ñaïi hôn

    möùc ñieåm

    Mai (2016), Wang,

    giôùi treû

    PS2

    2.

    Thay vì ñeán taän tröôøng ñeå ñoùng hoïc phí toâi thích ôû nhaø

     

    Lin (2003); Chan vaø

    (PS)

     

    click chuoät treân chieác smartphone coù keát noái internet hôn

     

    Chen (2001).

     

    PS3

    3.

    Toâi thích theå hieän ñaúng caáp cuûa baûn thaân, thích söï môùi

       
       

    meû vaø hieän ñaïi

       
     

    PS4

    4.

    Toâi thích söû duïng dòch vuï thanh toaùn hoïc phí vöøa tieän

       
       

    lôïi, nhanh goïn nhö IB

       
     

    PS5

    5.

    Söû duïng IB ñeå thanh toaùn hoïc phí toâi coù theå ñoäc laäp

       
       

    maø khoâng caàn phuï thuoäc thaày coâ giaùo thu phí theå hieän loái

       
       

    soáng töï laäp cuûa giôùi treû.

       

    YÙ ñònh

    YÑ1

    1.

    Toâi seõ caân nhaéc veà yù ñònh söû duïng IB trong thanh toaùn

    Likert 5

    Long vaø coäng söï

    söû duïng

     

    hoïc phí neáu ñöôïc nhaø tröôøng khuyeán khích

    möùc ñieåm

    (2014); Wang, Lin

    IB trong

    YÑ2

    2. Toâi tin raèng toâi seõ söû duïng vaø tieáp tuïc söû duïng dòch vuï

     

    (2003); Chan vaø

    TTHP

     

    IB ñeå thanh toaùn hoïc phí

     

    Chen (2001),

    (YD)

    YÑ3

    3. Toâi seõ keâu goïi baïn beø toâi cuøng söû duïng dòch vuï IB ñeå

     

    Nguyeãn Thò Tuyeát

       

    thanh toaùn hoïc phí

     

    Mai (2016), Holak

             

    vaø Leman (1990).

    (Nguồn:Tổng hợp của tác giả)

     

    đáng lưu lý là mức độ sử dụng internet từ thường xuyên đến rất thường xuyên của sinh viên là 79,4%. Thêm vào đó, trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường tài chính hiện nay, dịch vụ mở tài khoản thẻ miễn phí thuận tiện tại chỗ từ các Ngân hàng cho sinh viên Haui đã giúp nâng tỷ lệ sinh viên sở hữu tài khoản thẻ ngân hàng, yếu tố căn bản có thể giúp sinh viên sử dụng được dịch vụ IB, lên tới 72,5%. Tuy nhiên, tính trung bình trong mẫu chỉ có 13,6%

    sinh viên đã từng sử dụng dịch vụ IB trong thanh toán hoŒc phi‹, một tỷ lệ được đánh giá là rất thấp.

     

    Kê’t qua&phân tích hồi quy

     

    Kết quả phân tích hồi quy bội kiểm tra (Bảng 3) cho thấy, mô hình nghiên cứu là phù hợp, có ý nghĩa thống kê với F = 79,09; p < 0,01. Các yếu tố trong mô hình có thể giải thích được 65,4% ý định sử dụng IB trong thanh toa‹n hoŒc phi‹của sinh viên. Mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số

     

     

    khoa học

     
       

    59

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    VIF trung bình nhỏ hơn 5) và hiện tượng tự tương quan (hệ số Dubin-Watson là 2,160).

    mối quan tâm của giới trẻ chịu ảnh hưởng bởi quan niệm, thói quen và hành vi sử dụng dịch vụ từ bạn

     

    Bảng 3: Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng

     

    đến ý định sư‚du„ng IB trong thanh toan€ ho„c phi€cu‚a sinh viên

     

    Coefficients a

       

    Unstandardized

    Standardizd

       

    Collinearity

       

    Coefficients

    Coefficients

       

    Statistics

     

    Model

    B

    Std. Error

    Beta

    T

    Sig.

    Tolerane

    VIF

    1

    (Constant)

    -2.183

    1.201

     

    1.818

    .070

       
     

    Thaido

    .058

    .052

    .054

    1.120

    .264

    .659

    1.518

     

    Chuanchuquan

    .110

    .053

    .084

    2.061

    .040

    .922

    1.085

     

    Loi ich su dung

    .308

    .035

    .487

    8.688

    .000

    .487

    2.055

     

    Phongcachgioitre

    .303

    .048

    .338

    6.376

    .000

    .542

    1.845

     

    Durbin- Watson

               

    2.160

     

    R2

     

    0.660

    R2 adjust

       

    0.654

    1. Dependent Variable: ydinhsudung IB TT hoc phi* p <0,05; ** p < 0,01; *** p < 0,001

     

     

    Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

     

    Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, yếu tố Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi hay nhận thức về tính hữu ích đối với việc sử dụng dịch vụ và phong cách giới trẻ là các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng IB trong thanh toán học phí (hệ số â chuẩn hóa lần lượt là 0,110; 0,308 và 0.303 với mức ý nghĩa 5%).

     

    Như vậy, kết quả này cung cấp bằng chứng đối với việc các giả thuyết H2, H3 và H4 được chấp nhận. Tuy nhiên mô hình nghiên cứu cho thấy chưa đủ căn cứ để kết luận thái độ của chính bản thân sinh viên có ảnh hưởng đến ý định này. Cần lưu ý rằng, về chiều hướng tác động của yếu tố thái độ của sinh viên đối với ý định sử dụng dịch vụ là thuận chiều cho thấy, mặc dù kết quả này chưa nhận được sự ủng hộ bởi các nghiên cứu thực nghiệm hiện có, song không trái với nội dung lý thuyết về hành vi. Tuy nhiên trong mẫu nghiên cứu hiện tại, chưa đủ cơ sở kết luận tại mức ý nghĩa 5%.

     

    Thảo luận kết quả nghiên cứu

     

    Kết quả nghiên cứu ghi nhận yếu tố chuẩn chủ quan có tác động tích cực đáng kể, có ý nghĩa đối với ý định thực hiện hành vi sử dụng IB trong thanh toán học phí của sinh viên, nghiên cứu trường hợp sinh viên Haui. Kết quả này gợi ý rằng ảnh hưởng từ môi trường xã hội bên ngoài đến ý định thực hiện hành vi sử dụng IB được xem là một yếu tố dự đoán tốt đối với giới trẻ (Phạm Lan Hương, 2014), bởi vì

     

    bè, gia đình, môi trường học tập và truyền thông (Bindah và Othman, 2012). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu liên quan của Pham và cộng sự (2014); Wang và cộng sự (2003) và Jaruwachirathanakul, B., & Fink, D. (2005).

     

    Nhận thức tính hữu ích của dịch vụ cũng là yếu tố quan trọng trong mô hình ảnh hưởng đến ý định sử dụng internet banking của sinh viên trong trường hợp cụ thể là thanh toán học phí. Chính những bất tiện trong việc sử dụng hình thức thanh toán học phí bằng tiền mặt hiện nay, nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã thúc đẩy mong muốn hình thức thay thế thanh toán giúp tiết kiệm thời gian, an toàn, tiện lợi. Do đó đây cũng là yếu tố được xem có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong mô hình đến ý định sử dụng dịch vụ IB của sinh viên Haui. Điều này cũng hàm ý, một mặt các trường đại học là nơi giúp tăng cường nhận thức đối với sinh viên trong việc ứng dụng công nghệ để gia tăng tính an toàn tiện lợi trong thanh toán đồng thời nâng cao

     

    • thức thanh toán không dùng tiền mặt trong giới trẻ, điều mà sau đó thói quen này góp phần nâng cao tính minh bạch trong nền kinh tế, vấn đề mà Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực hướng tới thông qua với các chính sách về điều khoản thanh toán không dùng tiền mặt đối với các doanh nghiệp hiện nay.

    Phong cách giới trẻ được thể hiện bởi tính năng động, nhanh chóng hòa hợp và bắt kịp xu hướng

     

    60

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    mới của thời đại. Yếu tố này một phần ảnh hưởng bởi nhu cầu khẳng định cái tôi khi đối chiếu về cách thức sử dụng một dịch vụ của bản thân so với các đối tượng khác trong một bối cảnh xã hội nhất định (Onkvisit và Shaw, 1987). Kết quả này phù hợp với lý giải của (Grubb & Grathwohl, 1967) khi cho rằng cách thức sử dụng dịch vụ có thể giúp gia tăng cái tôi của họ. Cùng quan điểm này, nghiên cứu của Tambyah S, Nguyen T T Mai, Jung K (2009) cũng cho biết khuynh hướng tiêu dùng thể hiện những đặc điểm cá nhân nhất định. Trên thực tế, kết quả nghiên cứu định tính cũng cho biết có tới 5/8 sinh viên được phỏng vấn cho biết hình thức thanh toán học phí hiện nay không còn phù hợp nữa. Họ cho rằng “cái gì càng nhanh chóng, càng tiện lợi” sẽ được ưa thích. Bởi theo họ “những cái hiện đại, cái mới và tiện lợi hữu ích” sẽ phù hợp với giới trẻ hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh “Hầu như ai cũng có smart phone và thích online trực tuyến thường xuyên”. Do đó, IB “phù hợp với phong cách sinh viên ngày nay” vì bên cạnh sự tiện lợi, cũng là “một cách thức thể hiện đẳng cấp với bạn bè”.

     

    Mặc dù nghiên cứu cung cấp bằng chứng ý định sử dụng IB chịu ảnh hưởng bởi sự tiện lợi, tính hữu ích và là xu hướng của giới trẻ bởi nhu cầu thể hiện cái tôi, phong cách của giới trẻ hiện nay. Tuy nhiên, giả thuyết về thái độ của sinh viên Haui đối với ý định sử dụng dịch vụ này lại không được ủng hộ, trong khi các nghiên cứu liên quan hiện có xác nhận vai trò của yếu tố này đến việc sử dụng IB (Pham, 2009; Wang, 2003). Kết quả này hàm ý một thực tế về sự khác biệt giữa ý định sử dụng (sự yêu thích, nhận thức về lợi ích) và hành vi sử dụng giữa các đối tượng nghiên cứu khác nhau bởi thái độ đối với hành vi sử dụng dịch vụ thanh toán còn phụ thuộc vào đặc tính phụ thuộc về thu nhập đối với chủ thể. Đối với sinh viên Haui, bên cạnh vấn đề các khoản thanh toán phụ thuộc thu nhập, thì một đặc tính thực tế khách quan đó là thói quen sử dụng tiền mặt của những người chu cấp cho các khoản thanh toán của sinh viên cũng như vẫn còn rất nhiều khó khăn đối với việc sử dụng IB tại các khu vực nông thôn xa trung tâm. Nghiên cứu của Jaruwachirathanakul, B.,

     

    • Fink, D. (2005) cũng nhấn mạnh ảnh hưởng của yếu tố thu nhập đến ý định sử dụng IB của khách hàng no‹i chung.

    Do đó, để đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt, rõ ràng cần có sự đồng bộ hơn về hạ tầng

    dịch vụ giữa các chủ thể tham gia thanh toán. Đối với trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, để nâng cao chất lượng dịch vụ nói chung, chất lượng dịch vụ phục vụ thanh toán học phí nói riêng, nhà trường cần sớm thực hiện các chương trình tuyên truyền, khuyến khích sinh viên sử dụng IB trong thanh toán học phí.

     

    1. Kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai

     

    Trên cơ sở kế thừa lý thuyết TPB, thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu này đã đánh giá, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (Thái độ; Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi; Phong cách giới trẻ) đến ý định sử dụng IB của sinh viên. Kết quả nghiên cứu đã giúp nhận diện và cung cấp bằng chứng thú vị về ảnh hưởng của phong cách giới trẻ đến ý định sử dụng dịch vụ này bên cạnh các yếu tố chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Các phát hiện của nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy sự khác biệt trong ý định sử dụng dịch vụ IB giữa giới trẻ và những người đã đi làm bởi đặc tính phụ thuộc của thu nhập cũng như sự thiếu đồng bộ trong khả năng tiếp cận dịch vụ giữa các chủ thể tham gia. Mặc dù, mục tiêu nghiên cứu là rõ ràng, tuy nhiên chúng tôi thừa nhận phạm vi, đối tượng khảo sát trong nghiên cứu này còn hạn chế. Do đó, các phát hiện của nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểm tra ý định sử dụng dịch vụ IB trong thanh toán học phí của sinh viên, nghiên cứu trường hợp sinh viên Haui, mà chưa kết luận đối với hành vi sử dụng IB của sinh viên nói riêng và của giới trẻ trong thời kỳ cách mạng công nghệ hiện nay nói chung. Đây cũng là những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ hơn ở những nghiên cứu tiếp theo bởi bối cảnh và môi trường tiếp cận dịch vụ IB khác nhau có thể dẫn đến các kết quả nghiên cứu khác nhau. Khi các vấn đề này được làm rõ hơn, chúng tôi cũng kỳ vọng vào việc xác định hành vi sử dụng IB trong giới trẻ nói chung và sử dụng IB trong thanh toán học phí của sinh viên nói riêng thay vì chỉ dừng lại nghiên cứu ở góc độ “ý định”, đề từ đó các hàm ý chính sách đối với việc khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt ở góc độ cá nhân được thực thi hiệu quả hơn.

     

     

    khoa học

     
       

    61

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Ajzen, I., 1991, The theory of planned behav-iour, Organizational Behavior and Human Decision Processes, Vol. 50.
    1. Bindah E.V, & Othman Md. N. (2012), The Effect of Peer Communication Influence on The Development of Materialistic values among Young Urban Adult Consumers, International Business Research, Vol.5, No.3, 2-15.
    2. Choo, H., Chung, J.E. & Pysarchik, D.T.

    (2004), Antecedents to new food product purchasing behaviour amonginnovator groups in India, European Journal of Marketing, 38 (5/6), 608-625.

    1. Holak, S.L. &amp; Lehmann, D.R. 1990, Purchase intentions and the dimensions of innova-tion: An exploratory model, Journal of Product Innovation and Management, 7, 59-73.
    1. Hair, Joseph F., Anderson, Rolph E., Tatham, Ronald L. & Black, William C. (1998), Multivariate Data Analysis (5th), Prentice-Hall, Inc. Upper Saddle River, New Jersey.
    1. Keh, Hean Tat, Nguyen Thi Tuyet Mai, Hwei Ping Ng(2007), The efects of Entrepreneurial Ỏrientation and Marketing Information on the Performance of SMEs, Jounal of Business Venturing, 22, 592-611
    1. Jaruwachirathanakul, B., & Fink, D. (2005), Internet banking adoption strategies for a develop-ing country: The case of Thailand, Internet

    Research, 15(3), 295-311. Dois:10.1108/10662240510602708.

     

    1. Nguyen T Tuyet Mai, Smith K, Cao J (2009), Measurement of Modern and Traditional Self – Concepts in Asian Transitional Economies, Journal of Asia Pacific Bussiness, 10, 201 -220, 2009
    1. Tambyah S, Nguyen T T Mai, Jung K (2009), Measure status orientations: Scale development and validation in the contex of an Asian transitional econ-omy, Journal of Marketing Theory and Practice, 2009.
    1. Onkvisit S. & Shaw J. (1987), Self-concept and Image Congruence: Some Research and Managerial Implications, Journal of Consumer Marketing, Vol.4, No.1, 13-23.
    1. Pham Long, Đoan N P Anh (2014), Intention to Use E-Banking in a Newly Emerging Country, International Journal of Enterprise Information

    Systems, 10(2), 103-120, April-June 2014  103.

     

    1. Pham T Lan Hương (2014), Dự đoán ý định mua xanh của người tiêu dùng trẻ: Ảnh hưởng của nhân tố tâm lý và văn hóa, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 200, 2/2014, tr. 66-78.
    1. Wang, Y., Lin, H., & Tang, T. (2003), Determinants of user acceptance of Internet bank-ing: An empirical study, International Journal of Service Industry Management, 14(5), 501–519. doi:10.1108/09564230310500192.
    1. World Bank. (2018), Vietnam development report 2018: Pillars of development, Report No.VN. Washington, DC: World Bank.

    Summary

     

    Non-cash payment habits, including online pay-ment (Internet banking) are still unpopular in emerging countries like Vietnam despite its promi-nent features. Although there have been a few stud-ies examining the factors affecting the intention to use internet banking services, these studies only focus on those who have income. While the habit of using a service needs to be built and oriented basing on the behavior of recognizing the usefulness of the youth. Therefore, this study provides empirical evi-dence of the factors affecting the intention to use online payment services based on student surveys with a sample size of 228. Analysis results show that beside the effects of the widely-known factors in most of the existing studies including subjective standard factors and service usefulness, youth style is also a newly discovered element with positive and significant influence on the intention to use Internet banking. In addition, this study also implies some solutions from regression results and suggests future research directions.

     

    khoa học

     

    62   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

    ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

    ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-N%C4%82NG-L%E1%BB%B0C-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-C%E1%BB%A6A-NH%C3%82N-S%E1%BB%B0-PH%E1%BB%A4-TR%C3%81CH-KINH-DOANH-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-NHTM-VI%E1%BB%86T-NAM-B%E1%BA%B0NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-MA-TR%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

     

    Dương Thị Hoài Nhung

    Trường Đại học Ngoại thương

    Email: [email protected]

    Lê Thái Phong

    Trường Đại học Ngoại thương

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 04/03/2019                         Ngày nhận lại:     05/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • ài viết tập trung làm rõ khái niệm và thang đo năng lực quản lý đối với vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh trong các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Dựa vào kết quả kiểm định thang

    đo năng lực quản lý, tác giả tiến hành đánh giá thực trạng năng lực quản lý của vị trí này tại 10 NHTM Việt Nam hoạt động trên địa bàn Hà Nội. Kết quả phân tích ma trận GAP cho thấy, hai nhóm năng lực lập kế hoạch – tổ chức thực hiện và năng lực quản lý nhóm thuộc nhóm năng lực phát triển đúng hướng; năng lực nhạy bén với hoàn cảnh và giải quyết vấn đề thuộc nhóm năng lực cần phát triển. Qua đó, bài viết đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý cho nhân sự phụ trách kinh doanh trong NHTM trong thời gian tới.

     

    Từ khóa: Năng lực quản lý, nhân sự phụ trách kinh doanh, ngân hàng thương mại

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp, là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Tại Việt Nam, tín dụng từ khu vực ngân hàng vẫn đang là một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế. Tỉ lệ tín dụng so với GDP tăng liên tục trong giai đoạn 2012 – 2017, từ 95,2% năm 2012 lên tới 130% (tính đến giữa năm 2017). Trong khi đó, tỉ lệ này tại một số nước trong khu vực như Indonesia, Philippines, chỉ khoảng trên dưới 50% (Nguyễn Viết Lợi, 2018).

     

    Vì vậy, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống ngân hàng là vấn đề luôn được xã hội đặc biệt

    quan tâm. Thực tiễn của nhiều quốc gia cho thấy, nếu sự phát triển của hệ thống ngân hàng được hỗ trợ bởi sự phát triển tương xứng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao trong đội ngũ quản lý sẽ tạo nên sự bền vững cho ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nhân sự phụ trách kinh doanh – một trong những vị trí quản lý cấp trung luôn giữ một vai trò chủ chốt trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Để thực hiện tốt vai trò của mình, nhân sự phụ trách kinh doanh tại các NHTM thực sự phải có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất nhằm quản lý hiệu quả bản thân, đội ngũ, và tổ chức. Một trong những năng lực quan trọng giúp vị trí này có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình đó là năng lực quản lý. Trong bối cảnh đó, một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà nghiên cứu: thực trạng năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam như thế nào? Và giải pháp nào giúp nâng cao năng

     

    20

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    20

     

    lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam?

     

    Để trả lời câu hỏi trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu cấu phần của năng lực quản lý, đánh giá thực trạng năng lực quản lý và đề xuất giải pháp cải thiện năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    2. Cơ sở lý luận

    2.1. Nhân sự phụ trách kinh doanh

     

    Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.

     

    Trong doanh nghiệp, hệ thống các chức danh quản lý được chia theo nhiều cách khác nhau ví dụ như theo cấp độ, theo chức năng. Nhân sự phụ trách kinh doanh hay còn gọi là nhân sự quản lý kinh doanh (Sales manager) là một trong những chức danh quan trọng, đóng vai trò then chốt cho bộ phận kinh doanh nói riêng và toàn doanh nghiệp nói chung. Kahle (2008) cho rằng nhân sự phụ trách kinh doanh là người chịu trách nhiệm cho việc quản lý kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng và thực hiện việc tổ chức và trình bày kế hoạch kinh doanh hiệu quả. Theo nghiên cứu của Phạm Quốc Luyện (2015) nhân sự phụ trách kinh doanh là người chịu trách nhiệm cho việc lãnh đạo và hướng dẫn đội nhóm kinh doanh.

     

    Trên cơ sở lý thuyết, tác giả tổng hợp và đề xuất sử dụng khái niệm về nhân sự phụ trách kinh doanh như sau: Nhân sự phụ trách kinh doanh là người chịu trách nhiệm hướng dẫn và điều hành đội ngũ nhân viên kinh doanh. Nhiệm vụ của nhân sự phụ trách kinh doanh thường bao gồm quản lý địa bàn kinh doanh, thiết lập hạn mức kinh doanh, hướng dẫn các thành viên trong nhóm, thực hiện đào tạo nghiệp vụ kinh doanh, xây dựng kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng cũng như sa thải nhân viên kinh doanh.

     

    2.2. Năng lực quản lý

     

    Trước khi nghiên cứu về khái niệm năng lực quản lý, cần xem xét đến khái niệm năng lực. Theo cách tiếp cận kinh doanh, Parry (1998) cho rằng “Năng lực là một nhóm các kiến thức, kĩ năng, thái độ liên quan và có ảnh hưởng đến công việc nào đó hay kết quả trong công việc. Những năng lực đó có

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    thể được đo lường thông qua các tiêu chuẩn được cộng đồng chấp nhận. Năng lực có thể được cải thiện thông qua đào tạo và phát triển” (Lucia và Lepsinger, 1999, tr 5). Khái niệm trên của Parry (1998) đã đề cập tới ba yếu tố chính tạo nên khái niệm năng lực gồm Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skills) và Thái độ (Attitudes), hay còn gọi là mô hình KSAs.

     

    Năng lực quản lý thể hiện vai trò của nhà quản lý. Nhà quản lý phải chịu trách nhiệm về kết quả công việc của nhân viên dưới quyền và đạt mục tiêu thông qua việc tác động vào nhân viên dưới quyền cũng như các đối tác có liên quan. “Năng lực quản lý bao gồm kiến thức về quản lý, kỹ năng về quản lý và thái độ của cán bộ quản lý đối với công việc mà người đó đang đảm nhận” (Pablo Hernamdez-Marrero, 2006).

     

    Thị trường lao động hiện nay đòi hỏi nhà quản lý phải được đào tạo cơ bản, được trang bị những kiến thức cơ bản và không thể thiếu về quản lý. Kiến thức của nhà quản lý bao gồm kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực làm việc và kiến thức quản lý cũng những kiến thức khác có ích cho công việc quản lý như kiến thức xã hội và tâm lý con người. Kiến thức của nhà quản lý trước hết ảnh hưởng bởi trình độ của bản thân, khả năng tiếp cận kiến thức của họ.

     

    Kỹ năng quản lý chính là khả năng vận dụng các tri thức về quản lý. Để đáp ứng được đòi hỏi của công việc, nhà quản lý phải rèn luyện các kỹ năng quản lý cần thiết.

     

    Thái độ và hành vi làm việc có ảnh hưởng tới tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá trình làm việc. Thái độ quản lý góp phần quan trọng trong kết quả hoàn thành nhiệm của nhà quản lý. Thái độ và hành vi quản lý là yếu tố khó tác động, cải thiện nhất so với yếu tố kiến thức và kỹ năng. Thái độ làm việc của nhà quản lý ảnh hưởng mạnh đến thái độ làm việc của nhân viên, vì thế nếu cán bộ quản lý có hành vi và thái độ làm việc tích cực sẽ có khả năng truyền lửa và lôi cuốn nhân viên làm việc tốt.

     

    2.3. Đánh giá năng lực

     

    Năng lực là một thể thống nhất bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ không tách biệt lẫn nhau. Do đó đánh giá theo năng lực là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tạp thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu, có được kiến

     

     

    khoa học

     
       

    21

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    thức có thể áp dụng trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau trong thực tế cuộc sống. Do đó khái niệm đánh giá năng lực được định nghĩa “là một quá trình thu thập, phân tích, diễn giải chứng cứ và đưa ra kết luận về một người đã đạt tiêu chuẩn năng lực của nghề hay chưa” (VEETAC, 1993, tr 13).

     

    Sở dĩ cách tiếp cận đánh giá dựa trên năng lực có sự phát triển mạnh mẽ là do nhiều nhà nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực xem cách tiếp cận này là cách thức có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, được ủng hộ lớn nhất để cân bằng đào tạo và những yêu cầu công việc, là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu (Kerka, 2001). Xem xét dưới góc độ đào tạo và phát triển, đánh giá năng lực có ý nghĩa rất lớn đối với cả cá nhân và tổ chức. Thứ nhất, đối với cá nhân, kết quả đánh giá năng lực giúp nhân viên nhận thức rõ sự nhìn nhận của bản thân và mọi người xung quanh về năng lực thực của chính mình. Họ sẽ nhận biết được năng lực nào còn yếu, còn thiếu và sẽ biết rõ mình cần trau dồi thêm những năng lực nào. Từ đó, các cá nhân chủ động hơn trong việc tự cập nhật nâng cao năng lực bản thân (tự nguyện tham gia các chương trình đào tạo phù hợp một cách tích cực), chủ động hơn trong việc phát triển nghề nghiệp với niềm đam mê của bản thân, vốn là điều kiện cần thiết giúp nâng cao hiệu quả đào tạo (Holbeche, 2007). Thứ hai, đối với tổ chức, kết quả đánh giá năng lực giúp tổ chức biết rõ năng lực nhân viên của mình đang ở mức nào và sẽ cần được đào tạo lên đến mức nào thì phù hợp công việc hiện tại và tương lai. Khi ấy các chương trình đào tạo được thiết kế sẽ thích hợp với năng lực thực tế và nhu cầu công việc của nhân viên.

     

    2.4. Phương pháp ma trận GAP

     

    Phương pháp ma trận GAP được thiết kế và sử dụng nhằm giúp tổ chức xác định mức độ đáp ứng của các năng lực hiện tại và nhận diện những “khoảng thiếu hụt về năng lực”. Trên cơ sở đó, người nghiên cứu hoặc các nhà hoạch định, quản lý của doanh nghiệp có thể phân tích các nguyên nhân tạo ra khoảng trống, từ đó đề xuất giải pháp, kế hoạch chiến lược nhằm giúp các cá nhân nâng cao năng lực của mình.

     

    Đối tượng tham gia đánh giá khoảng trống năng lực quản lý nên là sự tham gia của nhiều bên. Kaplan

     

    • Palus (1994) cho rằng đánh giá năng lực quản lý cần được đánh giá đa chiều, cụ thể bao gồm các hình thức: lãnh đạo tự đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp

    dưới đánh giá… Cũng theo Kaplan và Palus, có hai lý do đánh giá lãnh đạo đa chiều. Thứ nhất, đó là vị trí mà công việc có tính phức tạp, nhiều thách thức và thay đổi hơn các vị trí khác. Thứ hai, đó là kết quả đánh giá đa chiều, dù tích cực hay chưa tích cực, sẽ có nhiều ý nghĩa (với hình ảnh và uy tín của người lãnh đạo) hơn là kết quả đánh giá một chiều. Trên thế giới ngay từ những năm 1990, nhiều doanh nghiệp đã nhận rõ giá trị của đánh giá đa chiều. Lợi ích lớn nhất của đánh giá đa chiều là thông tin đánh giá toàn diện và khách quan (Mohrman, Mohrman, & Lawler, 1992) . Kết quả đánh giá đa chiều có độ tin cậy cao hơn kết quả đánh giá một chiều (Wohlers, Hall, & London, 1993). Trong đánh giá đa chiều, tự đánh giá và đánh giá bởi cấp dưới thường được sử dụng đồng thời (Mohrman, Mohrman, & Lawler, 1992). Budman & Rice (1994) cho rằng sự kết hợp này mang lại nhiều lợi ích hơn đánh giá một chiều (ví dụ chỉ có cấp trên đánh giá).

     

    Phương pháp phân tích ma trận GAP được thực hiện qua các bước sau:

     

    Bước 1: Xác định nhóm các năng lực cần thiết đối với vị trí cần đánh giá. Trong bước này, nhà nghiên cứu cần xác định mức độ quan trọng của các năng lực dựa trên thang đo Likert 5 mức gồm: 5 – Rất quan trọng, 4 – Quan trọng, 3 – Tương đối quan trọng, 2 – Chưa thực sự quan trọng, 1 – Hoàn toàn không quan trọng (Wickramasinghe và Zoyza, 2009; Leslie, 2015).

     

    Bước 2: Xác định mức độ đáp ứng năng lực của vị trí cần đánh giá. Trong bước này, nhà nghiên cứu xác định mức độ năng lực hiện tại mà nhà quản lý đang sở hữu. Thang đo được thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức gồm: 5 – Đáp ứng vượt trội, 4 – Đáp ứng, 3 – Đáp ứng cơ bản, 2 – Chưa đáp ứng, 1 – Hoàn toàn không đáp ứng (Wickramasinghe và Zoyza, 2009; Leslie, 2015).

     

    Bước 3: Xác định khoảng trống năng lực hiện tại. Bước này, nhà nghiên cứu đo lường sự khác biệt giữa mức độ đáp ứng năng lực hiện tại và mức độ tầm quan trọng của năng lực, từ đó xác định được khoảng trống thiếu hụt về năng lực (Wickramasinghe và Zoyza, 2009; Leslie, 2015).

     

    Bước 4: Xây dựng ma trận GAP về năng lực Ma trận GAP về năng lực được xây dựng dựa

     

    trên hai tiêu chí: mức độ đáp ứng năng lực hiện tại và tầm quan trọng của năng lực (hình 1). Trong ma trận này, sẽ có 4 tình huống xảy ra:

     

    22

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    • Nhóm năng lực phát triển quá mức: khi năng lực được đánh giá là mạnh, nhưng không quan trọng. Những năng lực thuộc nhóm này không cần tìm các giải pháp để cải thiện.
    • Nhóm năng lực không cần phát triển: khi năng lực được đánh giá là yếu và không quan trọng. Những năng lực thuộc nhóm này không cần tìm các giải pháp để cải thiện.
    • Nhóm năng lực phát triển đúng hướng: khi năng lực được đánh giá là mạnh và giữ vai trò quan trọng.
    • Nhóm năng lực thuộc khoảng trống cần phát triển: Khi năng lực được đánh giá là yếu nhưng giữ vai trò quan trọng. Những nhóm năng lực thuộc phần này sẽ cần tìm giải pháp để cải thiện vể năng lực.

    3. Phương pháp nghiên cứu

    3.1. Lựa chọn và phát triển thang đo năng lực quản lý

     

    Cho tới thời điểm nghiên cứu, chưa có nghiên cứu về năng lực quản lý cho nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM tại bối cảnh Việt Nam, nên thang đo năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh đã được tác giả kế thừa các thang đo từ các nghiên cứu trong và ngoài nước để điều chỉnh và bổ sung thêm một số định nghĩa giải thích các năng lực cho phù hợp với bối cảnh. Các năng lực quản lý cho nhân sự phụ trách kinh doanh gồm 4 loại năng lực gồm: (1) Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, (2) năng lực quản lý nhóm, (3) năng lực giải

     

    Cao

    5

    Mӭc

    ÿӝ

    ÿiS

     

    ӭng 2.5 hiӋn

     

    tҥi

     

    Thҩp       0

     

    PHÁT TRIӆN QUÁ MӬC

         

    PHÁT TRIӆ1 ĈÒ1*  +ѬӞNG

     


    1ăQJ  O
    F  ÿ˱ͫc  xem xét  là  m̩nh,

       


    1ăQJ  O F  ÿ
    ˱ͫc xem xét là m̩nh và

     

    QK˱QJ NK{QJ TXDQ WU ng)

         

    quan tr͕ng)

     

    KHÔNG CҪN PHÁT TRIӆN

         

    KHOҦNG  TRӔNG  CҪN  PHÁT

     
           

    TRIӆN

     


    1ăQJ  O F  ÿ˱ͫc xem xét là y͇u

       

    (1ăQJ  O  F  ÿ˱ͫc xem xét là y͇X  QK˱QJ

     

    không quan tr͕ng)

         

    quan tr͕ng)

     

    0

               

    5

    2.5

         

    Thҩp

    Tҫm quan trӑng cӫD QăQJ Oӵc

    Cao

     

    Nguồn: Leslie, J.B, 2015

     

    Hình 1: Ma trận GAP về năng lực

     

    Bảng 1: Thang đo Năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh

     

     

    Maõ

    Naêng löïc quaûn lyù

    Nguoàn

       
               
     

    QL1

    Naêng löïc laäp keá hoaïch vaø toå chöùc thöïc

    Favia (2010), Busch (2012), Leâ Quaân &

       
       

    hieän (5 thang ño)

    Ñoã Vuõ Phöông Anh (2017)

       
               
     

    QL2

    Naêng löïc quaûn lyù nhoùm (6 thang ño)

    Traàn Thò Vaân Hoa (2009), Favia (2013),

       
         

    Leâ Quaân & Ñoã Vuõ Phöông Anh (2017)

       
               
     

    QL3

    Naêng löïc giaûi quyeát vaán ñeà (5 thang ño)

    Leslie (2002), Murale V. (2011)

       
               
     

    QL4

    Naêng löïc nhaïy beùn vôùi hoaøn caûnh trong

    Leslie (2002), Murale V. (2011), Favia

       
       

    kinh doanh (5 thang ño)

    (2010)

         
                 

    Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu

           
           

    khoa học

     
               

    23

           

    thương mại

    Sè 128/2019

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    quyết vấn đề, (4) năng lực nhạy bén với hoàn cảnh trong kinh doanh.

     

    3.2. Đối tượng tham gia đánh giá

     

    Trong bài viết, nhóm tác giả đã thực hiện đánh giá năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh theo phương thức đa chiều (gồm nhiều bên tham gia). Đối tượng tham gia đánh giá bao gồm bản thân các nhân sự phụ trách kinh doanh (với các chức danh: Trưởng/Phó phòng Khách hàng khối doanh nghiệp, Khối bán lẻ, Khách hàng SMEs; Giám đốc/Phó Giám đốc các chi nhánh NHTM), quản lý cấp trên, đồng nghiệp ngang hàng và cấp dưới của vị trí này trong các NHTM Việt Nam. Việc có sự tham gia trả lời câu hỏi khảo sát của nhiều bên sẽ giúp kết quả khảo sát mang tính khách quan hơn và có cái nhìn đa chiều về thực trạng và hiểu được kỳ vọng yêu cầu về năng lực, làm căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh.

     

    3.3. Phương pháp thu thập dữ liệu

     

    Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua bảng hỏi khảo sát gồm 2 phần, phần 1 đánh giá về tầm quan trọng của nguồn nhân lực và năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM và phần 2 đánh giá về mức độ đáp ứng năng lực quản lý. Bảng hỏi khảo sát về năng lực quản lý được thiết kế gồm 21 câu hỏi chia thành 4 năng lực gồm: (1) Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, (2) năng lực quản lý nhóm, (3) năng lực giải quyết vấn đề, (4) năng lực nhạy bén với hoàn cảnh trong kinh doanh.

     

    Để đánh giá tầm quan trọng các nguồn lực và năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng thang đo Likert 5 cấp độ: 1 – Hoàn toàn không quan trọng, 2 – Chưa thực sự quan trọng, 3 – Tương đối quan trọng, 4 – Quan trọng, 5 – Rất quan trọng.

     

    Để đánh giá mức độ đáp ứng năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng thang đo Likert 5 cấp độ: 1 – Hoàn toàn không đáp ứng, 2 – Chưa đáp ứng, 3 – Đáp ứng cơ bản, 4 – Đáp ứng, 5 – Đáp ứng vượt trội.

     

    3.4. Phương pháp phân tích số liệu Phương pháp phân tích số liệu định tính Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu thực hiện

     

    phỏng vấn các chuyên gia trong ngành quản trị nhân sự (gồm các giảng viên chuyên ngành quản trị nhân sự và chuyên gia tư vấn quản lý doanh nghiệp) để

    đánh giá danh mục năng lực quản lý được xây dựng có phù hợp hay không? Với kiến thức, kinh nghiệm của họ sẽ giúp đưa ra ý kiến nên nhìn nhận đánh giá năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh

     

    • những khía cạnh nào. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn các nhà quản lý kinh doanh đã và đang làm việc tại các NHTM Việt Nam về nhận định của họ với danh mục năng lực quản lý sơ bộ ban đầu. Bởi họ là những người thực làm, hiểu bản chất công việc, do đó sẽ có những đánh giá chính xác đâu là năng lực cần thiết và quan trọng nhất cho việc thành công trong công việc.

    Phương pháp phân tích số liệu định lượng Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những

    đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm. Phân tích thống kê tần số để mô tả các thuộc tính của nhóm mẫu khảo sát theo khu vực, theo loại hình doanh nghiệp và theo các đặc điểm cá nhân của nhân sự quản lý.

     

    Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach Alpha để đánh giá độ tin cậy (tính nhất quán nội tại) của thang đo năng lực quản lý. Hệ số Cronbach Alpha là một hệ số kiểm định thống kê về mức độ tin cậy và tương quan giữa các biến quan sát trong thang đo.

     

    Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA)

     

    để phân tích các yếu tố cấu thành năng lực quản lý có độ kết dính cao hay không và chúng có thể gom lại thành các nhóm như dự kiến ban đầu của nghiên cứu hay không.

     

    Phương pháp phân tích ma trận GAP

     

    Kết quả khảo sát sẽ được sử dụng trong mô hình phân tích khoảng cách (GAP) giữa tầm quan trọng của các năng lực và mức độ đáp ứng năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh. Nghiên cứu phát triển ma trận GAP về “khoảng trống trong năng lực quản lý” của vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh. Dựa trên kết quả phân tích, khoảng cách giữa tầm quan trọng của năng lực và mức độ đáp ứng hiện tại của năng lực nhân sự phụ trách kinh doanh sẽ được xác định. Trong bước này, các nguyên nhân dẫn đến mức độ năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra sẽ cần phải tìm hiểu và phân tích. Việc nhận diện chính xác các nguyên nhân sẽ giúp việc đưa ra các đề xuất để cải thiện và nâng cao năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh tại các NHTM Việt Nam đáp ứng yêu cầu đặt ra sẽ phù hợp và chính xác hơn.

     

    24

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    3.5. Mẫu nghiên cứu

     

    Bảng hỏi khảo sát được gửi tới 170 người (bao gồm nhân sự phụ trách kinh doanh, quản lý cấp trên, đồng nghiệp ngang hàng và cấp dưới của vị trí này) tại 10 NHTM Việt Nam hoạt động trên địa bàn Hà Nội thông qua hình thức trực tiếp và trực tuyến. Trong số 10 ngân hàng tham gia mẫu khảo sát có 7/10 ngân hàng thuộc nhóm top 10 NHTM Việt Nam uy tín (Vietnam Report, 2018), và thuộc nhóm top 10 NHTM chiếm 80% lượng lực lao động trong ngành ngân hàng trong tổng số 20 NHTM được thống kê (Kinh tế & Tiêu dùng, 2017). Kết quả số lượng phiếu khảo sát thu về là 148 phiếu hợp lệ. Kết quả số lượng phiếu khảo sát thu về tại 10 ngân hàng như bảng 2 sau:

    về trình độ học vấn của đội ngũ nhân sự tại các NHTM Việt Nam trong mẫu khảo sát nhìn chung khá cao. Tỷ lệ người tham gia khảo sát có trình độ đại học là 70% và thạc sỹ là 30%. Như vậy, qua phân tích đặc điểm của đối tượng tham gia khảo sát trong mẫu điều tra, chúng ta có thể thấy mẫu điều tra phản ánh khá tương đồng với đặc điểm chung của tổng thể.

     

    3.6. Kết quả kiểm định thang đo Năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh

     

    Việc phát triển thang đo được thực hiện theo quy trình chuẩn hai bước để kiểm tra độ tin cậy của các nhân tố gồm kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).

     

    Bảng 2: Số lượng phiếu khảo sát thu về phân bổ theo các NHTM Việt Nam hoạt động trên địa bàn Hà Nội

     

    STT

    Teân ngaân haøng thöông maïi Vieät Nam

    Soá löôïng phieáu

    Tyû troïng

       

    khaûo saùt

    (%)

    1

    NH Ñaàu tö vaø phaùt trieån Vieät Nam (BIDV)

    17

    11,5

    2

    NH Böu ñieän Lieân Vieät (LPB)

    9

    6,1

    3

    NH Haøng Haûi Vieät Nam (Maritimebank-MSB)

    20

    13,5

    4

    NH Quaân ñoäi (MB)

    8

    5,4

    5

    NH Ñaïi chuùng Vieät Nam (PVcom)

    18

    12,2

    6

    NH Ñoâng Nam AÙ (SeAbank)

    8

    5,4

    7

    NH Kyõ thöông Vieät Nam (Techcombank)

    9

    6,1

    8

    NH Ngoaïi Thöông Vieät Nam (VCB)

    19

    12,8

    9

    NH Coâng Thöông Vieät Nam (Viettinbank)

    27

    18,2

    10

    NH Vieät Nam Thònh Vöôïng (VPbank)

    13

    8,8

     

    Toång

    148

    100

    Nguồn: Kết quả điều tra năm 2018

     

     

    Đối tượng tham gia khảo sát gồm có vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh (14,9%) và các bên liên quan có quan hệ trong công việc với vị trí này bao gồm cấp trên trực tiếp (29,1%), đồng nghiệp ngang hàng (21%) và cấp dưới (35%). Về đặc điểm đối tượng tham gia khảo sát có 57,4% là nữ và 42,6% là nam trên tổng số 148 người tham gia điều tra. Độ tuổi của các đối tượng tham gia điều tra khá trẻ, nhóm tuổi từ 21-40 tuổi chiếm tỷ trọng lớn 94%, chỉ có 6% đối tượng tham gia khảo sát là trên 41 tuổi. Với độ tuổi khá trẻ thì số lượng người tham gia khảo sát có dưới 5 năm kinh nghiệm chiếm 38,5%, từ 6-10 năm kinh nghiệm 36,5% và trên 10 năm kinh nghiệm 25%. Kết quả thống kê cũng chỉ rõ đặc điểm

    Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo Năng lực quản lý đều có giá trị Cronbach’s alpha

     

    • 0,7 (xem bảng 5). Điều này khẳng định thang đo Năng lực quản lý là phù hợp và đáng tin cậy. Vì vậy tất cả các biến quan sát có thể được sử dụng trong bước phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

    Kết quả phân tích EFA (lần 3) cho nhóm biến Năng lực quản lý cho số lượng nhân tố trích được là 3 gồm năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện (X1), năng lực quản lý nhóm (X2), năng lực nhạy bén với hoàn cảnh và giải quyết vấn đề (X3). Với kết quả kiểm định KMO = 0,847 > 0,5 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05) nên đảm bảo các điều kiện để tiến hành phân tích nhân tố khám phá

     

     

    khoa học

     
       

    25

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

         

    Bảng 3: Độ tin cậy Cronbach’s alpha của thang đo Năng lực quản lý

     

    4.

    Đánh

    giá năng lực

                                         

    quản lý của nhân sự phụ

       

    Thang ño

                           

    Cronbach’s Alpha

                                             

    trách kinh doanh trong các

       

    Naêng löïc quaûn lyù

                             
                                 

    NHTM Việt Nam

       
       

    QL1- Naêng löïc laäp keá hoaïch vaø toå chöùc thöïc hieän

     

    0,790

           
             

    Để đánh giá năng lực

       

    QL2- Naêng löïc quaûn lyù nhoùm

       

    0,841

       
               

    quản lý của nhân sự phụ

       

    QL3- Naêng löïc giaûi quyeát vaán ñeà

       

    0,804

       
               

    trách kinh doanh, nghiên cứu

       

    QL4- Naêng löïc nhaïy beùn vôùi hoaøn caûnh trong kinh doanh

     

    0,790

       
             

    sử dụng phương pháp phân

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm nghiên cứu năm 2018

     
         

    tích

    ma trận GAP để cho

    EFA (xem bảng 5). Giá trị hội tụ của các biến đo

             

    thấy sự chênh lệch trong

    lường được kiểm định là chấp nhận được thông qua

    cách đánh giá về tầm quan trọng và mức độ đáp ứng

    tổng phương sai trích là 52,157%, nghĩa là 3 nhóm

    về năng lực quản lý của vị trí này trong NHTM, từ

    nhân tố này giải thích được 52,157% biến thiên của

    đó rút ra khoảng trống hay thiếu hụt về năng lực

    các biến quan sát (xem bảng 4), và tất cả các hệ số tải

    quản lý. Việc xác định được năng lực hiện tại của

    nhân tố của các nhân tố trong từng nhóm yếu tố đều

    các nhân sự sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ tình hình hiện

    > 0,5 (xem bảng 5). Như vậy, thang đo Năng lực quản

    tại và có lộ trình bồi dưỡng, đào tạo bù đắp cho

    lý của nhân sự quản lý kinh doanh trong các NHTM

    những năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu, duy trì

    Việt

    Nam  từ

         

    Bảng 4: Kiểm định KMO và Bartlett cho thang đo

       

    các chính sách đào tạo

    khung lý

    thuyết

             

    đối

    với những

    nhóm

             

    Năng lực quản lý

         

    được

    xây

       

    dựng

                   

    năng

    lực

    đang

    phát

                                     

    gồm 4 năng lực

    Heä soá KMO (Kaiser-Meyer-Olkin).

             

    ,847

     

    triển

    đúng

    hướng và

    và 21 thang đo,

                             

    đáp ứng được yêu cầu

               

    Giaù trò Chi bình phöông xaáp

     

    650,946

     

    sau khi sử dụng

    Kieåm ñònh Bartlett

    xæ (Approx. Chi-Square)

       

    đặt ra.

           

    phương

       

    pháp

                     

    Theo kết quả thống

       

    df

             

    55

     

    phân tích nhân tố

                           

    của

    nghiên

    cứu,

               

    Sig.

             

    ,000

     

    khám phá (EFA)

                           

    không có sự chệnh lệch

                                 

    đã được rút gọn

       

    Tổng phương sai trích:: 52,157%

                 

    nhiều

    về

    tầm

    quan

    thành 3 năng lực

                     

    trọng và mức độ đáp

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm nghiên cứu năm 2018

    và 11 thang đo.

       

    ứng năng lực hiện tại

         

    Bảng 5: Kết quả phân tích EFA (lần 3) đối với thang đo Năng lực quản lý

    của nhóm Năng lực lập

                                                 

    kế hoạch – tổ chức thực

                                 

    Nhaân toá

         

    hiện  (xem  hình  2).

                         

    Naêng löïc nhaïy beùn vôùi

    Naêng löïc quaûn lyù

    Naêng löïc laäp keá

       

    Năng lực lập kế hoạch

                         

    hoaøn caûnh vaø giaûi

    nhoùm (X2)

       

    hoaïch vaø toå chöùc

     

    và tổ chức thực hiện

                         

    quyeát vaán ñeà (X3)

         

    thöïc hieän (X1)

       

    được đánh giá tầm quan

                                                 

    trọng

    là 4,09

    điểm và

       

    QL3.16

               

    ,690

                       

    mức độ đáp ứng đạt 3,9

       

    QL4.20

               

    ,681

                       
                                   

    điểm. Đây được xem là

       

    QL3.14

               

    ,621

                       
                                   

    thế mạnh về năng lực

       

    QL4.21

               

    ,596

                       
                                   

    quản

    lý của

    nhân sự

                                                 
       

    QL3.15

               

    ,542

                       
                                   

    phụ

    trách

    kinh

    doanh

       

    QL4.17

                       

    ,748

                 
                                         

    trong các NHTM Việt

       

    QL2.8

                       

    ,731

                 
                                         

    Nam,

    khi

    họ có khả

       

    QL2.6

                       

    ,531

                 
                                         

    năng trình bày các đề

       

    QL2.10

                       

    ,511

                 
                                         

    xuất

     

    về

    hoạt

    động/dự

       

    QL1.4

                             

    ,654

             
                                       

    án mới

    một

    cách rõ

       

    QL1.2

                             

    ,609

           
                                       

    ràng, thuyết phục. Các

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm nghiên cứu năm 2018

         
             

    nhân sự phụ trách kinh

    26

     

    khoa học

                                               
     

    thương mại

                                     

    Sè 128/2019

     

    doanh có khả năng xây dựng và phát triển kế hoạch kinh doanh cho từng công việc cụ thể phù hợp với hoạt động kinh doanh theo từng thời kỳ của đơn vị và phù hợp với tầm nhìn, định hướng chiến lược của ngân hàng. Bên cạnh đó, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ như hoàn thiện và ứng dụng các quy định, quy trình lập kế hoạch kinh doanh, cách thức phân bổ, giao chỉ tiêu kinh doanh đến từng đơn vị trong hệ thống một cách chất lượng và hiệu quả.

    Đối với nhóm Năng lực quản lý nhóm tầm quan trọng trung bình của năng lực là 4,2 điểm và mức độ đáp ứng đạt 3,5 điểm. Như vậy, Năng lực quản lý nhóm của nhân sự phụ trách kinh doanh trong NHTM Việt Nam đã đáp ứng được phần nào yêu cầu đặt ra. Các nhân sự phụ trách kinh doanh làm tương đối tốt việc cập nhật thông tin cho mọi người về tiến triển làm việc của nhóm, chia sẻ tất cả những thông tin hữu ích có liên quan. Bên cạnh đó, các nhân sự đã đánh giá chính xác, công bằng; khen ngợi công khai những đóng góp và thành quả đạt được của các thành viên trong nhóm; và sẵn sàng trao quyền cho nhân viên khi nhân viên được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về năng lực.

    Sau khi đánh giá hai tiêu chí mức độ đáp ứng năng lực và tầm quan trọng của năng lực quản lý, nhóm nghiên cứu đã thiết lập ma trận GAP để xác định khoảng trống thiếu hụt về năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh. Kết quả cho thấy, nhóm Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện và

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Năng lực quản lý nhóm thuộc “nhóm năng lực phát triển đúng hướng” của các NHTM Việt Nam (xem hình 3). Tuy nhiên, hai nhóm năng lực này mới chỉ dừng lại là đáp ứng được yêu cầu đặt ra nhưng chưa phải là đáp ứng vượt trội. Do đó, để thúc đẩy việc cải thiện nhóm năng lực này, các NHTM cần thiết lập các chính sách hỗ trợ tích cực hơn nữa để nhóm năng lực này đạt được kết quả tốt hơn trong tương lai. Nhóm “năng lực cần phát

    triển” là Năng lực nhạy bén

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát của nhóm nghiên cứunăm 2018

    với hoàn cảnh và giải quyết

    Hình 2: Kết quả đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về Năng lực vấn đề. Nhóm năng lực này

    quản lý của Nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam                             được đánh giá có tầm quan

     

    trọng cao trong 3 nhóm năng lực quản lý với điểm trung bình 4,1 điểm. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng năng lực của nhóm này khá thấp, chỉ đạt 2,3 điểm. Điều này cho thấy nhiều nhân sự phụ trách kinh doanh trong NHTM chưa đáp ứng được năng lực nhạy bén với hoàn cảnh và giải quyết vấn đề. Đây được xem là “khoảng trống”, là sự “thiếu hụt” về năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    1. Các giải pháp nâng cao năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

    Trong giai đoạn hiện nay, nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM đóng vai trò quan trọng đối vơ‹i sự thành công hay thất baŒi của tổ chức. Họ không chi•đo‹ng vai trò quản lý hệ thống kinh doanh ma‘còn la‘người quản lý các mối quan hệ vơ‹i kha‹ch ha‘ng, truyền tải những giá trị của tổ chức đê‹n vơ‹i người tiêu dùng, tìm cách thiê‹t lập mối quan hệ vơ‹i khách hàng và duy trì nó. Để phát huy vai trò đó của mình, đội ngũ nhân sự phụ trách kinh doanh cần phát huy và nâng cao năng lực quản lý. Những giải pháp giúp cải thiện nhóm năng lực này được đề xuất như sau:

     

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò năng lực quản lý của đội ngũ nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM

     

    Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý kinh doanh là tập trung vào cải thiện doanh thu, cải thiện

     

     

    khoa học

     
       

    27

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

     

    động của tổ chức. Việc tuyển

     

    chọn nhân sự phụ trách kinh

     

    doanh phải dựa trên tiêu

     

    chuẩn đảm bảo nguyên tắc

     

    dân chủ, công khai, minh

     

    bạch, theo quy trình chặt

     

    chẽ. Các ngân hàng có thể

     

    chuyển  từ

    phương

    pháp

     

    tuyển dụng truyền thống dựa

     

    trên bảng mô tả công việc

     

    (tập trung chủ yếu vào việc

     

    đáp ứng nhiệm vụ và trách

     

    nhiệm công việc) sang tuyển

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát của nhóm nghiên cứu năm 2018

    dụng dựa

    trên năng

    lực.

    Hình 3: Ma trận GAP khoảng trống năng lực quản lý của nhân sự phụ trách Tuyển dụng dựa trên năng

             

    kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

     

    lực là việc ra quyết định

     

    hiệu quả làm việc của nhân viên kinh doanh như khả

       

    tuyển dụng ứng viên dựa

     

    trên việc đánh giá năng lực của ứng viên đó có đạt

     

    năng xây dựng kênh phân phối sản phẩm mới (hữu

    được so với yêu cầu của vị trí hay không. Đặc điểm

     

    hình hoặc vô hình); tìm kiếm khách hàng mới; đạt

    điển hình của một nhân viên xuất sắc dựa trên các

     

    mục tiêu doanh thu của doanh nghiệp hàng tháng,

    hình mẫu của các cá nhân hoàn thành xuất sắc công

     

    hàng quý, hoặc hàng năm. Hiện nay, nhân sự phụ

    việc trong quá khứ hoặc dựa trên khung năng lực đã

     

    trách kinh doanh còn chịu trách nhiệm lập kế hoạch

    được xác định cho vị trí đó. Khung năng lực sẽ xác

     

    chiến lược và xác định các cơ hội mà đội nhóm kinh

    định rõ các năng lực cần thiết và cấp độ chuẩn năng

     

    doanh có thể tận dụng, tạo động lực và thúc đẩy sự

    lực và các biểu hiện hành vi của cấp độ chuẩn đó,

     

    tham gia, hoàn thành công việc của mỗi thành viên

    giúp nhà tuyển dụng dễ dàng hơn trong xác định ứng

     

    trong nhóm. Bởi sự tham gia của đội ngũ nhân viên

    viên phù hợp.

     

    kinh doanh có liên hệ mật thiết đến sự thành công

     

    Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo và phát triển nhân

     

    chung của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, với sự tác

     

    sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

     

    động đa chiều của nhiều yếu tố đối với ngành ngân

     

    Công tác đào tạo và phát triển nhân sự phụ trách

     

    hàng như công nghệ thông tin, thay đổi hành vi tiêu

     

    kinh doanh trong các ngân hàng là yêu cầu thường

     

    dùng của khách hàng thì khả năng nhạy bén với

    xuyên nhằm cập nhật kiến thức, kỹ năng mới về

     

    hoàn cảnh trong kinh doanh như nhận diện các nguy

    quản lý. Để cải thiện năng lực quản lý cho các nhân

     

    cơ và thách thức trước người khác hay đối thủ cạnh

    sự phụ trách kinh doanh, các NHTM Việt Nam cần

     

    tranh là một yêu cầu tất yếu của nhân sự phụ trách

    xây dựng một mô hình đào tạo dựa trên năng lực

     

    kinh doanh trong các ngân hàng hiện nay. Năng lực

    phù hợp. Bài viết xin đưa ra mô hình đào tạo dựa

     

    giải quyết vấn đề cũng là năng lực tiên quyết giúp

    trên năng lực gồm có 5 bước như sau (xem hình 4).

     

    đội ngũ nhân sự phụ trách kinh doanh có thể giải

     

    Bước 1: Phân tích tầm nhìn, kế hoạch phát triển

     

    quyết các vấn đề trong nội bộ và với khách hàng một

     
           

    tổng thể của ngân hàng để xác định chức năng,

     

    cách hiệu quả, giúp cá nhân, đơn vị, bộ phận đạt

    nhiệm vụ đối với vị trí nhân sự phụ trách kinh

     

    được mục tiêu đề ra.

    doanh, từ đó xác định các yêu cầu đối với công việc.

     
     

    Thứ hai, đổi mới quy trình tuyển chọn Nhân sự

       

    Bước 2: Xem xét thực tiễn về hoạt động kinh

     

    phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

     
           

    doanh của ngân hàng từ đó xác định năng lực cần

     
     

    Đổi mới quy trình tuyển chọn nhân sự phụ trách

     

    thiết cho vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh nhằm

     

    kinh doanh nhằm chọn những nhân sự có trình độ,

    ứng dụng vào công tác đào tạo nhân lực nhằm nâng

     

    kỹ năng, thái độ, phẩm chất tốt, tạo điều kiện để

    cao chất lượng của đội ngũ nhân sự phụ trách kinh

     

    nhân sự phụ trách kinh doanh trong ngân hàng có

    doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    thể phát huy hết khả năng quản lý, đồng thời nâng

           

    cao vai trò, trách nhiệm của họ đối với hiệu quả hoạt

           

    28

    khoa học

           

    thương mại

           

    Sè 128/2019

     

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    ChӭF QăQJ Yj

    Yêu c u công vi c

    nhiӋm vө

    Phát tri n và th  c hi n

     

    n ‹ †—‰ ¯‘ – o  K ho …Š ¯‘ – o t ng th

     

    0žŠ ‰‹ž ¯‘ – o

     

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    LT và th  c ti n v

     

    £‰ Ž c

     

    £‰ Ž c c n thi t

     

    Phân tích kho ng

     

    cách (GAP)

     

    Kh o sát v nhu c — £‰  l c và nhu c — ¯‘ – o

     

    Hình 4: Mô hình đào tạo dựa trên năng lực

     

     

    Bước 3: Tiến hành khảo sát nhằm xác định khoảng cách về năng lực cần thiết, các nhu cầu và các rào cản đối với hoạt động đào tạo.

     

    Bước 4: Thiết kế một kế hoạch tổng thể cho nhân sự phụ trách kinh doanh, giúp xử lý về khoảng cách năng lực cần thiết để bù lắp khoảng trống thiếu hụt.

     

    Bước 5: Phát triển các chương trình đào tạo (bao gồm nội dung và phương pháp) dựa trên kế hoạch đào tạo tổng thể cho nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    Sau khi xây dựng mô hình đào tạo dựa trên năng lực, các ngân hàng có thể cân nhắc tới chu kỳ đào tạo. Theo kinh nghiệm của các chuyên gia, chu kỳ đào tạo tháng là rất quan trọng. Chu kỳ đào tạo phụ thuộc lớn vào năng lực của nhân sự trong tổ chức. Nếu nhân sự có năng lực tốt, chu kỳ đào tạo có thể là 1 năm/lần. Trong trường hợp năng lực của nhân sự chưa đáp ứng yêu cầu, chu kỳ đào tạo nên rút ngắn, cho phép hoạt động đánh giá bám sát hơn với công việc, sử dụng đào tạo như một công cụ tăng cường năng lực lập kế hoạch, tổ chức triển khai và kiểm soát công việc.

     

    Thứ tư, đổi mới chế độ và chính sách đối với các nhân sự phụ trách kinh doanh.

     

    Đãi ngộ nhân sự là một trong những hoạt động quản trị nhân sự quan trọng nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả làm việc của mỗi người và quyết định kết quả thực hiện mục tiêu của cá nhân, đơn vị, tổ chức. Bên cạnh việc doanh nghiệp trả lương theo vị trí chức danh và kết quả công việc, thì trả lương dựa trên năng lực của nhân sự phụ trách

    kinh doanh (kỹ năng, kiến thức, thái độ,…) thực hiện công việc là một căn cứ nên đưa vào để xem xét. Đối với việc vận hành hệ thống lương, việc quyết định một người ở bậc lương nào trong một thang lương sẽ dễ dàng hơn và có cơ sở rõ ràng hơn vì doanh nghiệp chỉ cần so sánh mức độ đáp ứng của nhân viên với yêu cầu năng lực của vị trí đó. Việc gắn kết đánh giá năng lực với hệ thống đãi ngộ sẽ giúp các nhân sự phụ trách kinh doanh phải nỗ lực không ngừng cải thiện các năng lực cần thiết cho vị trí để nhận được những đãi ngộ xứng đáng của doanh nghiệp.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Budman, M., & Rice, B. (1994), The rating game, Across the Board, 31(2), 34-38.).
    2. Busch, T. K. (2012), Determining Competencies for Frontline Sales Managers in For-Profit Organizations, truy cập vào ngày 4 tháng 1 năm 2018 từ http://oaktrust.library.tamu.edu/bit-stream/handle/1969.1/ETD-TAMU-2012-05-10960/BUSCH-DISSERTATION.pdf?sequence=2
    1. Favia, M. J. (2010), An initial competency model for sales managers at fifteen B2B organiza-tions, truy cập vào ngày 15 tháng 3 năm 2018 từ http://search.proquest.com/docview/746616237?ac countid=28180. (746616237).
    1. Holbeche, L. (2007), Career Development. Butterworth Heinemann.
     

    khoa học

     
       

    29

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    1. Kahle, D. (2005), What’s a professional slaes manager?, Agency Sales, 35(1), 51-54.
    2. Kaplan, R. E., & Palus, C. J. (1994), Enhancing 360-Degree Feedback for Senior Executives. How To Maximize the Benefits and Minimize the Risks, North Carolina: Greensboro.
    1. Kerka, S. (2001), Capston experiences in career and technical education, Practice application brief, 16 (1).
    1. Kinh tế & Tiêu dùng (2017), BIDV quán quân số lượng nhân viên và điểm giao dịch, nhưng VPBank mới là vô địch tuyển dụng, truy cập lần cuối 15/02/2019, từ https://vietnambiz.vn/infographic-bidv-quan-quan-so-luong-nhan-vien-va-diem-giao-dich-nhung-vpbank-moi-la-vo-dich-tuyen-dung-45359.html.
    1. Leslie J., B. (2002), Managerial effectiveness in a global context, truy cập vào ngày 9 tháng 3 năm

    2018 từ https://www.ccl.org/wp-content/uploads/2015/04/ccl_managerialeffective-ness.pdf.

    1. Leslie, J.B. (2015), An Organizational Analysis of Leadership Effectivenessand Development Needs, Center for Creative

     

    1. Lê Quân, Đỗ Vũ Phương Anh (2017), Năng lực của nhà quản trị cấp trung trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 238, 58-66.
    1. Lucia, A. D., & Lepsinger, R. (1999), The art and science of competency models: Pinpointing crit-ical success factors in organizations, Jossey-Bass/Pfeiffer, San Francisco.
    1. Mohrman, A. M., Mohrman, S. A., & Lawler, E. E. (1992), The performance management of teams (Vol. 217), Boston: Harvard Business School
    1. Murale V. and Preetha R. (2011), Middle Level Managers: Competency and Effectiveness, Journal of Indian Management, 38-50.
    1. Nguyễn Viết Lợi (2018), Thị trường tiền tệ, tín dụng – Triển vọng và thách thức, Tạp chí ngân hàng, số 5-2018.
    1. Pablo Hemandez-Marrero (2006), Determinants of self-perceived managerial effec-tiveness in the Canarian health service, truy cập vào ngày 15 tháng 8 năm 2018 từ http://search.pro-quest.com/docview/1440111855?accountid=63189.
    1. Parry S. B. (1998), Just What Is a Competency? (And Why Should You Care?), Training, 35(6), 58-64.
    1. Pham Quoc Luyen (2015), Competencies of first-line sales managers of business to business market for curriculum development in Ho Chi Minh city, Vietnam, truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018 từ http://www.aarf.asia/published-thesis.php.
    1. Trần Thị Vân Hoa (2009), Xây dựng năng lực của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 26 (5+6/2009), 60-65.
    2. Vietnam Report (2018), Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2018, truy cập lần

    cuối 15/02/2019, từ: http://thoibaonganhang.vn/vietnam-report-cong-bo-top-10-ngan-hang-uy-tin-nhat-nam-2018-77149.html.

     

    Summary

     

    The article focuses on clarifying the concept and scale of management capacity for the position of personnel in charge of sales in Vietnamese Commercial Banks (commercial banks). Based on the inspection results of management capacity scale, the author conducted an assessment of the capacity of this position in 10 Vietnamese commercial banks operating in Hanoi. The results of GAP matrix analysis showed that two groups of capacity, includ-ing planning – implementing and group manage-ment, are developing in the right direction; the other two groups of capacity for adaptability and prob-lem-solving are in need of reinforcing. Thereby, the article has proposed some solutions to improve management capacity for sales managers in com-mercial banks in the coming time.

     

    khoa học

     

    30   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/IAS-41-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-V%C3%80-NH%E1%BB%AENG-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-%C4%90%E1%BA%B6T-RA-CHO-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-N%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-C%E1%BB%A6A-VI%E1%BB%86T-NAM-HI%E1%BB%86N-NAY.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

    Đoàn Vân Anh

    Trường Đại học Thương mại

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 19/03/2019                         Ngày nhận lại:     05/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • iệt Nam là đất nước nông nghiệp với đa dạng các loại hoạt động nông nghiệp, tuy nhiên những khuôn mẫu kế toán hiện nay của Việt Nam chỉ đặt trọng tâm cho các doanh nghiệp hoạt động sản

    xuất kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại, sản xuất, dịch vụ, xây lắp nói chung, gần như chưa có những khuôn mẫu về kế toán trong hoạt động nông nghiệp, những nội dung đã có thì quá sơ sài và không phù hợp với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán nông nghiệp. Hệ quả là việc xử lý, ghi nhận và trình bày thông tin không đảm bảo tính trung thực, đúng đắn, phù hợp với đối tượng kế toán là các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp cũng như tình hình và kết quả của quá trình hoạt động nông nghiệp của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam.

     

     

    Từ khóa: IAS 41, kế toán nông nghiệp.

     

    1.   Tổng quan nghiên cứu về kế toán nông nghiệp ở Việt Nam

     

    Về nghiên cứu kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp, đến nay có thể không nhiều các nghiên cứu đã công bố liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên cứu đã công bố cũng chỉ tập trung chủ yếu cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong nông nghiệp, có thể hệ thống các nghiên cứu đã công bố

     

    • Việt Nam về vấn đề này như sau: Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thái “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp” nghiên cứu CFSX và giá thành sản phẩm nói chung
    • khách thể nghiên cứu là các HTX nhỏ lẻ áp dụng theo hình thức khoán hộ thực hiện theo mô hình hợp tác xã; nghiên cứu của Đoàn Đình Thiêm “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước” tập trung vào nghiên cứu hoạt động chăn nuôi gia súc là lợn và bò ở các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các nghiên cứu này được thực hiện dựa trên nền của chế độ kế toán hiện đã không còn hiệu lực về pháp lý và khách thể nghiên cứu cũng đã có quá nhiều thay đổi về cơ chế vận hành cũng như

    quản lý tài chính. Nghiên cứu của Ngô Chí Giang “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn”, luận văn đã giải quyết được vấn đề bất cập trong công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn bằng các đề xuất liên quan đến những xử lý về kế toán đối với chi phí sản xuất giai đoạn chăn nuôi đàn gà bố mẹ trong thời kỳ hậu bị và đàn bố mẹ sau khi kết thúc giai đoạn hậu bị cũng như kế toán tập hợp chi phí sản xuất giai đoạn gia công gà thương phẩm. Các đề xuất này đều dựa trên khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “Tồn kho” nên chưa thực sự giải quyết được vấn đề một cách khoa học. Nghiên cứu của Thái Thị Thái Nguyên “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc”, đây là nghiên cứu tính thời sự hơn cả vì cũng đã tiếp cận đến quy định khuôn mẫu của quốc tế IAS 41 “Nông nghiệp” và được nghiên cứu cụ thể trong hoạt động chăn nuôi gia súc, tuy nhiên các đề xuất hoàn thiện của luận án vẫn dựa trên mô hình giá gốc để giải quyết

     

     

    khoa học

     
       

    63

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    63

     

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    trong hầu hết các vấn đề. Nghiên cứu của ThS. Hoàng Thụy Diệu Linh “Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế”, trong nghiên cứu này đã tổng hợp các khái niệm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về nông nghiệp (NN), tổng hợp một số các hướng dẫn kế toán của Việt Nam trong lĩnh vực trồng trọt, so sánh các quy định hiện hành với khuôn mẫu quốc tế và đưa ra các giải pháp cho kế toán hoạt động trồng trọt ở Việt Nam trên cơ sở đề xuất Việt Nam cần ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và cần phải sửa đổi quy định của Thông tư 200/2014 phù hợp với xu hướng quốc tế. Tuy nhiên nghiên cứu này được thực hiện ở cấp độ cần phân loại cây trồng thành cây mang sản phẩm (bao gồm cây lâu năm và cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần) và cây để tiêu thụ (cây ngắn ngày), bài viết chưa rõ những giải pháp cụ thể gì cho kế toán nông nghiệp Việt Nam.

     

    Nghiên cứu trên góc độ tổ chức thì có nghiên cứu của NCS Nguyễn Quốc Thắng, ĐHKTQT-2011 “Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam”, đây là nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực cây trồng, dưới góc độ tổ chức kế toán quản trị nên cũng không gắn với việc nghiên cứu khuôn mẫu chung của kế toán nông nghiệp.

     

    Trong chương trình hội thảo về chủ đề “Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam” do Bộ Tài chính tổ chức vào 22/2/2019 tại Hà Nội, Cục Quản lý giám sát Kế toán kiểm toán của Bộ tài chính trong “Báo cáo tổng hợp sự khác biệt cơ bản giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam, cơ chế tài chính và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS” đã tóm tắt sự khác biệt về

     

    có thể thấy các nghiên cứu thường chỉ tập trung cho hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và dựa trên nền tảng của nguyên tắc kế toán “giá gốc”, các nghiên cứu hoặc đã quá lỗi thời hoặc ít có tính kế thừa trong nghiên cứu này vì không tập trung giải quyết vấn đề khuôn mẫu nhằm hội nhập, hội tụ cao với quốc tế trong kế toán nông nghiệp hoặc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán IAS 41 “Nông nghiệp”, đồng thời nghiên cứu những quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp nói chung, từ đó thấy được những tồn tại trong kế toán Việt Nam hiện nay, hiểu được những vấn đề đặt ra, cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp ở Việt Nam là hoàn toàn cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

     

    2.   Khái quát về chuẩn mực kế toán quốc tế số 41 “Nông nghiệp”

     

    Chuẩn mực kế toán Quốc tế số 41 “Nông nghiệp” (IAS 41) được ban hành lần đầu bởi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) vào năm 2000, chuẩn mực kế toán này được đưa vào áp dụng tháng 1 năm 2003. Mục đích của chuẩn mực này là đưa ra các quy định phương pháp kế toán và trình bày thông tin liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Chuẩn mực này áp dụng để hạch toán các khoản liên quan đến hoạt động nông nghiệp là tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp vào thời điểm thu hoạch và trợ cấp của Chính phủ liên quan đến tài sản sinh học.

     

    Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản mục liên quan đến hoạt động nông nghiệp gồm tài sản sinh học; nông sản tại thời điểm thu hoạch; và trợ cấp chính phủ. Chuẩn mực này áp dụng cho sản phẩm nông nghiệp được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp và chỉ tại thời điểm thu hoạch.

     

    phương pháp ghi nhận đối với

    (1) Taøi saûn sinh hoïc

    (2) Saûn phaåm sinh hoïc

    (3) SF cheá bieán

     

    tài sản sinh học giữa Việt Nam

    Boø

    Söõa

    Phomai

     

    và quốc tế, từ đó nêu ra sự cần

    thiết Việt Nam phải ban hành

    Heo

    Thòt heo

    Xuùc xích

     

    chuẩn kế toán này để giúp các

    Caây cao su

    Muû cao su

    Goã

     

    doanh nghiệp hoạt động trong

    Caây nho

    Traùi nho

    Röôïu nho

     

    lĩnh vực nông nghiệp phản

           

    ánh đầy đủ, trung thực tài sản của mình theo thông

    Phạm vi của IAS 41 điều chỉnh cho các đối

    lệ quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ dừng lại

    tượng thuộc (1) và (2); còn (3) thuộc đối tượng điều

    ở việc nêu vấn đề có tính định hướng mở đường cho

    chỉnh của chuẩn mực kế toán khác liên quan như

    Việt Nam ban hành chuẩn mực kế toán “Nông

    chuẩn mực tồn kho,…

    nghiệp” trong tương lai.

    Trong đó:

    Từ những nghiên cứu tổng quan về các nghiên

    Hoạt động nông nghiệp là hoạt động quản lý bởi

    cứu đã công bố liên quan đến kế toán nông nghiệp,

    một doanh nghiệp trong lĩnh vực biến đổi sinh học

    64

    khoa học

     

    thương mại

       

    Sè 128/2019

             

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ

    Sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp.

     

    Thu hoạch là việc tách sản phẩm khỏi tài sản sinh học hoặc chấm dứt chu trình sống của sản phẩm sinh học.

     

    Tài sản sinh học là vật nuôi và cây trồng còn sống. Nhóm tài sản sinh học là một tập hợp các cây

    trồng và vật nuôi tương tự nhau và còn sống

     

    Biến đổi sinh học bao gồm các quá trình tăng trưởng, suy thoái, sản xuất và sinh sản mà tạo ra các thay đổi về chất lượng hoặc số lượng trong tài sản sinh học.

     

    Hoạt động nông nghiệp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, như chăn nuôi, trồng rừng, trồng cây hàng năm hay lâu năm, trồng cây ăn quả và cây công nghiệp, trồng hoa, nuôi trồng thủy sản. Các hoạt động nông nghiệp này có 3 đặc điểm cơ bản, đó là:

     

    Khả năng thay đổi: Động vật sống và thực vật có khả năng biến đổi về mặt sinh học như lớn lên, sản sinh ra động vật hay cây trái

     

    Quản lý sự thay đổi: Doanh nghiệp phải chủ động quản lý được sự thay đổi của các tài sản sinh học. Việc quản lý tạo ra sự biến đổi về mặt sinh học, ổn định và tạo các điều kiện cần thiết cho quá trình biến đổi sinh học diễn ra.

     

    Đo lường được sự thay đổi: Doanh nghiệp phải giám sát và đo lường được sự thay đổi về chất lượng hoặc số lượng phát sinh do quá trình biến đổi sinh học hoặc hoạt động thu hoạch diễn ra trong kì.

     

    Nội dung cốt lõi của chuẩn mực kế toán này quy định 5 vấn đề cơ bản sau:

     

    Thứ nhất, về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn sau:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản một cách tin cậy.

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận ban đầu tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    • Tài sản sinh học được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau ghi nhận ban đầu,

    tài sản sinh học được đánh giá theo giá trị hợp lý trừ chi phí để bán. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

     

    • Sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp sẽ được xác định theo các chuẩn mực kế toán liên quan tùy thuộc vào việc phân loại chúng như thế nào. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu của sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.

    Trong đó, Chi phí bán hàng là chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc đưa sản phẩm đến tay người mua, không bao gồm chi phí tài chính và thuế thu nhập. Giá trị hợp lý là giá sẽ nhận được khi bán một tài sản hoặc được thanh toán một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có trật tự giữa các thành phần tham gia thị trường tại ngày xác định.

     

    Thứ ba, về đo lường giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Việc xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp có thể được thực hiện bằng cách gộp những tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp theo nhóm căn cứ vào các thuộc tính quan trọng của tài sản sinh học hay sản phẩm nông nghiệp đó; ví dụ như, căn cứ vào tuổi hay chất lượng. Doanh nghiệp lựa chọn các thuộc tính phù hợp với các thuộc tính được sử dụng trên thị trường làm cơ sở định giá. Các hợp đồng bán các tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp tại một ngày trong tương lai thì giá hợp đồng không là căn cứ để xác định giá trị hợp lý bởi giá trị hợp lý phản ánh các điều kiện thị trường hiện tại. Nếu tồn tại thị trường hoạt động của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, tại địa điểm và điều kiện hiện tại, giá niêm yết trên thị trường là căn cứ thích hợp để xác định giá trị hợp lý cho loại tài sản này. Nếu thị trường hoạt động không tồn tại, doanh nghiệp sử dụng giá giao dịch gần nhất hoặc giá thị trường của tài sản tương tự với điều chỉnh phù hợp để xác định giá trị hợp lý.

     

    Ngoài ra, chi phí trong một vài trường hợp có thể dùng để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp, cụ thể khi:

     

    (a) Khi có sự biến đổi sinh học rất ít kể từ khi phát sinh chi phí ban đầu – như cây ăn quả được trồng ngay trước thời điểm kết thúc kỳ báo cáo.

     

     

    khoa học

     
       

    65

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    • Khi tác động của biến đổi sinh học đến giá được coi là không trọng yếu – như thời kỳ tăng trưởng đầu của những cây được trồng có vòng đời dài.

    Đối với các tài sản sinh học gắn liền với đất, ví dụ như cây trồng sinh trưởng trên cánh đồng, khi không có thị trường riêng biệt cho tài sản sinh học gắn liền với đất, có thể tồn tại một thị trường năng động cho nhóm tài sản, tức là cho tài sản sinh học, đất và công tác cải tạo đất. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin về nhóm tài sản để xác định giá trị hợp lý cho tài sản sinh học. Theo đó, giá trị hợp lý của tài sản sinh học có thể bằng giá trị hợp lý của nhóm tài sản trừ đi giá trị hợp lý của đất và công tác cải tạo đất.

     

    Khi không thể xác định được giá trị hợp lý của các tài sản sinh học thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế. Sau đó khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng. Khi xác định giá gốc, hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế, doanh nghiệp cần xem xét những yêu cầu của IAS 2, IAS 16 và IAS 36 – Suy giảm giá trị tài sản.

     

    Thứ tư, về ghi nhận lãi lỗ:

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Một khoản lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu có thể xảy ra vì chi phí bán hàng đã được trừ đi khi xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học. Ngược lại, một khoản lãi cũng có thể phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu (ví dụ khi một con bê được sinh ra).

     

    Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với sản phẩm nông nghiệp được xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh. Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với nông sản có thể phát sinh từ việc thu hoạch.

     

    Thứ năm, về trình bày thông tin

     

    Doanh nghiệp phải trình bày và công bố thông tin trên các BCTC theo từng nhóm tài sản sinh học

    trên BCĐKT, thông tin về tổng lãi, lỗ phát sinh trong kỳ hiện hành khi ghi nhận ban đầu của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp và khi có sự thay đổi trong giá trị hợp lý trừ chi phí để bán của tài sản sinh học.

     

    3.   Khuôn mẫu kế toán và những bất cập hiện nay trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp của Việt Nam

     

    Nghiên cứu những quy định mang tính khuôn mẫu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, có thể nói những quy định hiện hành quá sơ sài, đơn giản và thiếu những cơ sở đo lường cần thiết cho những ghi nhận của kế toán nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán nông nghiệp: Việt Nam chưa ban hành

     

    Thứ hai, về hướng dẫn kế toán trong lĩnh vực nông nghiệp:

     

    Chưa có chế độ kế toán hướng dẫn riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện kế toán nông nghiệp chỉ được hướng dẫn lồng ghép trong các hướng dẫn của chế độ kế toán doanh nghiệp nói chung. Cụ thể :

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, hiện chỉ có 2 nội dung quy định liên quan đến vấn đề nông nghiệp, đó là:

     

    – TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” áp dụng trong ngành nông nghiệp, quy định về một số nguyên tắc hạch toán trong ngành nông nghiệp cần chú ý như:

     

    + Tài khoản 154 áp dụng trong ngành nông nghiệp dùng để tập hợp tổng chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các hoạt động nuôi trồng, chế biến sản phẩm hoặc dịch vụ nông nghiệp. tài khoản này phải được hạch toán chi tiết theo ngành kinh doanh nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, chế biến,…), theo địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, đội sản xuất,…), chi tiết theo từng loại cây con và từng loại sản phẩm, từng sản phẩm hoặc dịch vụ.

     

    + Chi phí sản xuất ngành trồng trọt được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng như Cây ngắn ngày (lúa, khoai, sắn, cà chua, ngô,…); Cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần (nho, đu đủ…); Cây lâu năm (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn quả,…).

     

    • Chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí thì phải phân bổ vào giá thành của các loại sản phẩm liên quan như chi phí tưới tiêu nước, chi phí chuẩn bị đất và trồng mới năm đầu của những

    66

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    cây trồng một lần, thu hoạch nhiều lần (chi phí này không thuộc vốn đầu tư XDCB).

     

    Trên cùng một diện tích canh tác, nếu trồng xen từ hai loại cây nông nghiệp ngắn ngày trở lên thì những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến loại cây nào thì tập hợp riêng cho loại cây đó (như: hạt giống, chi phí gieo trồng, thu hoạch,…), chi phí phát sinh chung cho nhiều loại cây (chi phí cày bừa, tưới tiêu nước,…) thì được tập hợp riêng và phân bổ cho từng loại cây theo diện tích gieo trồng, hoặc theo một tiêu thức phù hợp.

     

    Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm nông nghiệp được xác định vào cuối vụ thu hoạch, hoặc cuối năm. Sản phẩm thu hoạch năm nào thì tính giá thành trong năm đó nghĩa là chi phí chi ra trong năm nay nhưng năm sau mới thu hoạch sản phẩm thì năm sau mới tính giá thành.

     

    Riêng đối với cây lâu năm thì ghi nhận như quá trình đầu tư xây dựng cơ bản và phản ánh vào TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Tuy nhiên, nội dung của TK 241 không đề cập gì đến vấn đề này.

     

    • Chi phí sản xuất ngành chăn nuôi được tập hợp vào TK 154 theo từng đối tượng chăn nuôi như trâu, bò, lợn… súc vật con của đàn súc vật cơ bản sau khi tách mẹ phải mở sổ chi tiết theo dõi riêng theo giá thành thực tế; đối với súc vật cơ bản khi đào thải chuyển thành súc vật nuôi lớn, nuôi béo được ghi nhận vào TK 154 theo giá trị còn lại của súc vật cơ bản. Đối tượng tính giá thành trong ngành chăn nuôi là 1kg sữa tươi, 1 con bò tiêu chuẩn, giá thành của 1kg thịt tăng, giá thành của 1kg thịt hơi…

    – TK 211 “Tài sản cố định” quy định TK 2115 phản ánh “Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm”. Tài khoản này phản ánh giá trị các loại TSCĐ là các loại cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật nuôi để lấy sản phẩm. Đối với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con súc vật thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định đều được coi là một tài sản cố định hữu hình.

     

    Về xác định giá trị đối với TSCĐ là súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật từ lúc hình thành đến khi đưa vào khai thác, sử dụng và các chi phí khác trực tiếp có liên quan.

     

    Trong chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư 133/2016/TT-BTC quy định hoàn toàn tương tự như trong TT 200/2014/TT-BTC. Tuy nhiên, TK 211 không quy định mở chi tiết cho

    đối tượng kế toán là TSCĐ Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm trong nông nghiệp.

     

    Trong chế độ kế toán áp dụng cho hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC. Hệ thống kế toán áp dụng cho các Hợp tác xã Nông nghiệp được hướng dẫn trong Thông tư này trên cơ sở Chế độ kế toán doanh nghiệp Nhỏ và Vừa ban hành kèm theo Thông tư 133/2016/TT-BTC và có sửa đổi bổ sung một vài tên gọi của TK để phù hợp với đặc thù hoạt động của HTX. Thông tư có hướng dẫn kế toán một số nội dung đặc thù của hợp tác xã như giao dịch giữa HTX với xã viên, giữa HTX với doanh nghiệp thuộc HTX, nội dung chi phí sản xuất của một số ngành nghề nông nghiệp, trong đó có sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Đối với các HTX có quy mô lớn, có nhiều giao dịch mà Thông tư này không có quy định thì được lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Thông tư số Thông tư 133/2016/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).

     

    Từ nghiên cứu về những khuôn mẫu kế toán nông nghiệp đã hệ thống ở trên, có thể thấy được những khác biệt trong kế toán sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam so với khuôn mẫu của quốc tế. Những khác biệt có tính trọng yếu này thể hiện những bất cập trong kế toán của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, được thể hiện trên các nội dung sau:

     

    Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán:

     

    Việt Nam hiện chưa ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực liên quan đến giá trị hợp lý như chuẩn mực về “Giá trị hợp lý”, “Suy giảm giá trị tài sản”, “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của Chính phủ”. Bất cập này dẫn đến chưa có khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp cũng như thiếu những cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp; thiếu những khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý và khi được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận:

     

    Sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau

     

     

    khoa học

     
       

    67

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp. Việc sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” là không thích hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp bởi các thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã có thể ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, đã tạo ra những thu nhập hay chi phí (lãi/lỗ) cho doanh nghiệp. Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” khiến cho một doanh nghiệp nông nghiệp có thể không có bất cứ một khoản thu nhập nào được trình bày trên báo cáo cho đến khi thu hoạch sản phẩm (ví dụ như doanh nghiệp trồng rừng thu hoạch gỗ sau 30-40 năm).

     

    Thứ ba, về thông tư hướng dẫn kế toán trong nông nghiệp

     

    Hiện Việt Nam chưa có những hướng dẫn đủ cần thiết cho kế toán để ghi nhận các đối tượng kế toán và các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp, trong khi loại hoạt động này chứa đựng quá nhiều yếu tố đặc thù, phức tạp và nhiều rủi ro.

     

    • Không có khái niệm tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là sẽ không xác định được các đối tượng kế toán phù hợp phải được xử lý, ghi nhận theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Không quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là không phản ánh được kịp thời, đúng đắn và đầy đủ các tài sản của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đo lường các đối tượng kế toán trong nông nghiệp dựa trên chi phí thực tế phát sinh, không ghi nhận sự thay đổi giá trị do sự thay đổi về mặt vật lý, những biến đổi sinh học đã phát sinh thu nhập, chi phí. Hệ quả không phản ánh đúng được tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nông nghiệp.
    • Đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra tên gọi của tài khoản phản ánh cho đối tượng kế toán là vườn cây, súc vật làm việc và súc vật cho sản phẩm, không có hướng dẫn kế toán về ghi nhận ban đầu, sau ghi nhận ban đầu, phương pháp khấu hao tài sản cố định cho đối tượng kế toán này. Hệ quả dẫn đến xử lý tùy tiện của kế toán, không đảm bảo tính thống nhất trong xử lý giao dịch giữa các doanh nghiệp nông nghiệp cùng loại hình.
    • Đối với hoạt động sản xuất trong nông nghiệp: Hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra những hướng dẫn

    chung cho tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà không có những hướng dẫn cụ thể thể hiện được tính đặc thù trong từng loại hoạt động cụ thể. Trên TK 154 quy định không rõ ràng, không phân biệt các hoạt động trong hoạt động chăn nuôi, các hoạt động trong hoạt động lâm nghiệp… hình thành nên những loại tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khác nhau, cách phân bổ những chi phí chung, chi phí nào được vốn hóa và chi phí nào không được vốn hóa vào tài sản sinh học. Hệ quả làm cho việc tính toán, đo lường, ghi nhận không phù hợp với bản chất của giao dịch, làm sai lệch thông tin về giá trị tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp.

     

    • Các khoản trợ cấp của Chính phủ trong các hoạt động nông nghiệp không được ghi nhận và cung cấp thông tin rõ ràng. Hệ quả không đo lường được thực tế kết quả hoạt động của doanh nghiệp do bản thân doanh nghiệp tạo ra hay từ những khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.
    • Về trình bày thông tin trên BCTC: Không quy định riêng về trình bày và thuyết minh thông tin đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp. Hệ quả người đọc báo cáo tài chính không có thông tin về những chính sách kế toán mà một doanh nghiệp nông nghiệp áp dụng đối với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp, cơ sở của những thông tin trình bày, công khai trên báo cáo tài chính nhưng đã không được công khai cho những người sử dụng thông tin.

    4. Những vấn đề cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay

     

    Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của nền kinh tế, theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, nông nghiệp Việt Nam đóng góp 15,34% vào GDP của cả nước. Với tính trọng yếu của ngành nông nghiệp, lĩnh vực kế toán nông nghiệp ngày càng trở nên quá quan trọng, cùng với những bất cập hiện nay trong kế toán nông nghiệp của Việt Nam, các khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp cần phải được sớm hoàn thiện để hội nhập quốc tế và dẫn đến hội tụ với các quy định khuôn mẫu kế toán nói chung.

     

    Từ những khác biệt có tính trọng yếu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay như sau:

     

    68

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    Thứ nhất, Ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và chuẩn mực kế toán khác liên quan

     

    Bộ Tài chính Việt Nam cần sớm ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp để kế toán toàn bộ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được thực hiện theo khuôn mẫu từ quá trình ghi nhận, trình bày báo cáo và thuyết minh thông tin, đảm bảo phù hợp và hội tụ với thông lệ quốc tế. Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” của quốc tế để ban hành chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” cho Việt Nam sẽ là cơ sở khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Và để có đủ các cơ sở pháp lý cho việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán nông nghiệp thì Việt Nam cần nghiên cứu và ban hành chuẩn mực kế toán liên quan đến giá trị hợp lý, đó là chuẩn mực về “Xác định giá trị hợp lý” làm căn cứ, cơ sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời ban hành chuẩn mực “Suy giảm giá trị tài sản” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể xác định được thông tin giá trị hợp lý thì tài sản sinh học được xác định theo giá gốc trừ đi hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế; chuẩn mực “Trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ” tạo khuôn mẫu pháp lý để xử lý khi doanh nghiệp được hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.

     

    Thứ hai, đề xuất áp dụng nguyên tắc ghi nhận theo “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp

     

    Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nông nghiệp là không phù hợp đối với đối tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp. Việt Nam sau khi đã ban hành chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp thì nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” sẽ được áp dụng trong kế toán nông nghiệp, theo đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ phản ánh trung thực và đầy đủ tài sản, quá trình hoạt động kinh doanh theo đúng thông lệ quốc tế.

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài

    sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    • Tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán áp dụng khi ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu trong quá trình tăng trưởng, suy thoái và sinh sản đến thời điểm thu hoạch sản phẩm nông nghiệp (trừ khi giá trị hợp lý không thể xác định một cách đáng tin cậy tại thời điểm ghi nhận ban đầu).
    • Sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán tại thời điểm thu hoạch.
    • Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong kì và phản ánh vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.
    • Toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động trồng trọt, chăn nuôi được ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

    Việc đo lường giá trị hợp lý trong nông nghiệp thường sẽ được thực hiện theo phương pháp tiếp cận thị trường vì các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp thông thường sẽ có giá tham chiếu trên thị trường ở từng thời điểm giao dịch.

     

    Thứ ba, về ban hành thông tư hướng dẫn kế toán nông nghiệp

     

    Việt Nam cần có những hướng dẫn cần thiết cho kế toán để phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán và ghi nhận các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông nghiệp. Khi Việt Nam chưa ban hành được chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” thì cần có những hướng dẫn chi tiết cụ thể theo hướng tiếp cận với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán trong nông nghiệp. Cụ thể như sau:

     

    (1) Về khái niệm và phân loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    • Bổ sung trong hướng dẫn kế toán các khái niệm có liên quan trong nông nghiệp như khái niệm tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, thu hoạch, biến đổi sinh học….từ đó sẽ xác định rõ ràng các đối tượng kế toán nào chịu sự điều chỉnh theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
    • Cần phải phân loại các tài sản sinh học, trên cơ sở đó xác định được các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp để đưa ra những quy định về ghi nhận kế
     

    khoa học

     
       

    69

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    toán đối với từng loại tài sản sinh học, đảm bảo phản ánh đúng bản chất của giao dịch và tính khoa học của vấn đề. Cụ thể như sau :

     

    Đối với tài sản sinh học, căn cứ vào vòng đời sử dụng của tài sản có thể chia thành:

     

    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì không còn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó nữa. Ví dụ như cây lúa, cây rau, các vật nuôi lấy thịt…
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được. Ví dụ như trồng cây sau 20-30 năm để lấy gỗ, sau khi lấy gỗ thì không tồn tại cây trồng đó nữa.
    • Tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần: Nghĩa là sau khi thu hoạch thì vẫn tồn tại vật nuôi, cây trồng đó. Ví dụ cây cam, cây bưởi, cây cao su, nuôi bò lấy sữa, bò sinh sản…

    (2) Xác định các chuẩn mực kế toán chi phối phù hợp với từng loại tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp

    Từ những phân loại tài sản sinh học nêu trên, có thể xác định các chuẩn mực kế toán chi phối để có những hướng dẫn kế toán phù hợp

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành tài sản sinh học phụ thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được thì khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học và chỉ thu hoạch tài sản sinh học sau rất nhiều năm thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi nuôi trồng diễn ra sự biến đổi sinh học thì việc ghi nhận ban đầu và quá trình biến đổi sinh học phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp”, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch (ví dụ cây bắt đầu cho trái theo tiêu chuẩn, bò bắt đầu cho sữa theo tiêu chuẩn…) thì các tài sản sinh học này nếu thỏa mãn

    các điều kiện là một tài sản cố định thì từ thời điểm đó phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”, xác định đơn vị tài sản hữu hình phù hợp với từng loại, từng nhóm vật nuôi cây trồng, ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu phù hợp với quy định của chuẩn mực kế toán “Tài sản cố định hữu hình”.

     

    Đối với sản phẩm nông nghiệp: các sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp phải áp dụng chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” tại thời điểm thu hoạch. Sau thời điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp nếu đem vào chế biến hoặc tiêu thụ thì áp dụng chuẩn mực kế toán “tồn kho”, “Doanh thu và thu nhập khác”…

     

    • Quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

     

    Bổ sung quy định về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở thỏa mãn điều kiện ghi nhận một tài sản nói chung trong VAS 01 “Chuẩn mực chung”. Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn:

     

    • Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
    • Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp
    • Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp một cách tin cậy.

    (4) Hướng dẫn về xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp

    Ban hành những quy định về các phương pháp xác định giá trị hợp lý, hạ tầng thông tin để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp phải xác định giá trị của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng vì giá trị hợp lý của tài sản sinh học và nông sản tại thời điểm thu hoạch thông thường có thể xác định một cách đáng tin cậy.

     

    Nếu không có giá niêm yết trên thị trường cho tài sản sinh học và các phương pháp đo lường giá trị hợp lý khác cho tài sản sinh học được coi là không tin cậy thì tài sản sinh học được đo lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy giảm

     

    70

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    lũy kế. Sau đó, khi giá trị hợp lý có thể được xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng.

     

    • Hướng dẫn về ghi nhận kế toán tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp

     

    Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động nông nghiệp, đó là:

     

    5.1. Ghi nhận kế toán đối với tài sản sinh học

     

    – Ghi nhận ban đầu tài sản sinh học: căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của tài sản sinh học, kế toán ghi tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập.

    – Sau ghi nhận ban đầu:

     

    + Các chi phí bỏ ra trong quá trình nuôi, trồng kế toán ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

     

    + Thay đổi giá trị hợp lý so với thời điểm ghi nhận ban đầu trừ đi chi phí bán hàng, nếu chênh lệch tăng lên kế toán tăng giá trị tài sản sinh học và tăng thu nhập, nếu chênh lệch giảm xuống kế toán ghi giảm giá trị tài sản sinh học và tăng chi phí trong kỳ. Thu nhập và chi phí này được trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.

     

    5.2. Ghi nhận kế toán đối với sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh học

    Căn cứ vào giá trị hợp lý trừ chi phí bán của sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch, kế toán ghi tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp và tăng thu nhập.

     

    5.3 Ghi nhận kế toán đối với hoạt động nông nghiệp

     

    – Kế toán phải tách hoạt động chế biến ra khỏi những hướng dẫn kế toán liên quan đến hoạt động nông nghiệp vì hoạt động chế biến được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Tồn kho” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá gốc” để đo lường chi phí hình thành nên sản phẩm, trong khi các hoạt động nông nghiệp được chi phối bởi quy định của chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” trên cơ sở áp dụng nguyên tắc kế toán “giá trị hợp lý” để đo lường sự biến đổi sinh học và thu hoạch tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp.

     

    – Trong kế toán hoạt động nông nghiệp, cần có những hướng dẫn về ghi nhận đối với các loại hoạt động nông nghiệp khác nhau, cụ thể như ghi nhận chi phí đối với hoạt động chăn nuôi phải phân biệt

    giữa gia súc và gia cầm, xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại gia súc; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động lâm nghiệp phải phân biệt giữa cây ngắn ngày và cây lâu năm; xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai của các loại cây lâu năm; Ghi nhận chi phí đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản phải xác định chi phí được vốn hóa và chi phí không được vốn hóa dựa trên khả năng mang lợi ích kinh tế trong tương lai…

     

    • Ghi nhận kế toán đối với các khoản trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp

    Các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp nhằm mục tiêu khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này tham gia tích cực và có hiệu quả, hoặc thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực hoạt động nông nghiệp. Các khoản trợ cấp này có thể có điều kiện hoặc không có điều kiện. Việc ước tính, đo lường, xác định giá trị khoản trợ cấp của chính phủ cũng như cách thức ghi nhận khoản trợ cấp của chính phủ phải được tuân thủ dựa trên cơ sở áp dụng chuẩn mực kế toán “Trợ cấp của chính phủ và thuyết minh thông tin về trợ cấp của chính phủ”.

     

    Khi phát sinh các khoản trợ cấp của chính phủ cho doanh nghiệp nông nghiệp, căn cứ vào giá trị của các khoản trợ cấp, kế toán ghi tăng tài sản và ghi tăng thu nhập của doanh nghiệp.

     

    • Cần có những hướng dẫn về xác định mức dự phòng rủi ro và ghi nhận kế toán đối với dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp

    Những rủi ro trong hoạt động nông nghiệp là vô cùng nhiều do hoạt động nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên tai, dịch bệnh. Vấn đề dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải đặt ra như một vấn đề cần thiết khách quan. Cơ chế dự phòng rủi ro trong hoạt động nông nghiệp cần phải được thiết lập, những xử lý về mặt kế toán cần được xây dựng đảm bảo phù hợp với khuôn mẫu chung.

     

    • Về trình bày và công bố thông tin đối với tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trên báo cáo tài chính

    Bổ sung vào quy định về trình bày và công bố thông tin đối với doanh nghiệp nông nghiệp những thông tin sau:

     

     

    khoa học

     
       

    71

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

     

    – Thông tin trình bày tài sản sinh học:

     

    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng ngắn ngày thuộc loại thu hoạch 1 lần thì phải được trình bày ở mục tài sản ngắn hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.
    • Đối với nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch 1 lần nhưng phải sau rất nhiều năm mới có thể thu hoạch được và nhóm tài sản sinh học là các vật nuôi, cây trồng thuộc loại thu hoạch nhiều lần, khi đưa tài sản sinh học vào thu hoạch thì phải được trình bày ở mục tài sản dài hạn, hiển thị chi tiết riêng cho tài sản sinh học.

    – Công bố thông tin về phương pháp, căn cứ xác định giá trị hợp lý của các tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp ở thời điểm thu hoạch.

     

    Kết luận:

     

    Trên đây là những nghiên cứu về khuôn mẫu của quốc tế và quy định hiện hành của Việt Nam về kế toán nông nghiệp, từ đó trao đổi về những vấn đề đặt ra cần hoàn thiện cho kế toán nông nghiệp Việt Nam hiện nay, nhằm đưa kế toán Việt Nam nói chung và kế toán nông nghiệp nói riêng hội nhập, dần hội tụ với thông lệ chung của quốc tế về kế toán. Bài viết này sẽ tiếp nối cho nhiều nghiên cứu tiếp theo của bản thân tác giả và cho những ai quan tâm đến lĩnh vực kế toán nông nghiệp.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2000, IAS 41 Agriculture, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. IASB (International Accounting Standards Board), 2014, Amendments to IAS 16 and IAS 41, IFRS Foundation Publications Department, London.
    1. Quốc Hội, Luật Kế toán số 88/2015/QH13.

     

    1. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 200/2014.
    2. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo TT 133/2016.
    3. Bộ Tài chính, Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC.
    1. Nguyễn Quốc Thái, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1983 “Hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp”.
    1. Đoàn Đình Thiêm, Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-1995.
    1. Nguyễn Quốc Thắng, Tổ chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐHKTQT-2011.
    1. Ngô Chí Giang, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn, Luận văn cao học, ĐH Thương mại-2017.
    1. Thái Thị Thái Nguyên, Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc, Luận án tiến sỹ kinh tế, ĐH Thương mại – 2019.
    1. Hoàng Thụy Diệu Linh, Kế toán trong lĩnh vực trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán (5/2018)
    1. Bộ Tài chính, Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam, tài liệu hội thảo ngày 22/2/2019
    1. Tổng cục thống kê, Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội năm 2017, http://www.gso.gov.vn.

    Summary

     

    Vietnam is an agricultural country with a variety of agricultural activities; however, the current accounting patterns of Vietnam only focus on busi-nesses operating in the commercial, production, service, construction fields in general, there are almost no accounting standards in agricultural activities, the existing contents are too sketchy and do not conform to international standard of agricul-tural accounting. Consequently, the processing, recording and presentation of information does not guarantee the truthfulness, correctness, and rele-vance to the accounting objects of biological assets, agricultural products as well as the situation and results of agricultural operations of Vietnamese agricultural enterprises.

     

    khoa học

     

    72   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%81P-D%E1%BB%A4NG-H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-X%E1%BA%BEP-H%E1%BA%A0NG-CAMELS-%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-C%E1%BB%A6A-C%C3%81C-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-2008-2012.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

     

    Nguyễn Thị Diễm Hiền*

     

    Trần Thanh Vũ**, Nguyễn Thị Ngọc Chung***

     

    TÓM TẮT

     

    Sau khi Pháp lệnh ngân hàng (1990) ra đời, nhiều Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) đã được thành lập và đi vào hoạt động ổn định, dần khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã buộc các Ngân hàng phải nhìn nhận lại hoạt động của mình trong vai trò là một trung gian tài chính. Nhiều ngân hàng Việt nam trong giai đoạn này đã bộc lộ những điểm yếu trong hoạt động của mình, dẫn đến việc buộc phải tái cấu trúc. Để gia tăng hiệu quả hoạt động cho các Ngân hàng thương mại Việt nam, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã ban hành rất nhiều văn bản quy định về những tiêu chí mà NHTM phải đáp ứng, kể cả việc hướng dẫn sử dụng Bộ chỉ số lành mạnh theo tiêu chuẩn IMF. Các chỉ tiêu này cho thấy được hoạt động tài chính của NHTM nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau. Cho đến thời điểm này, các NHTM Việt nam vẫn công bố thông tin liên quan đến các chỉ tiêu tài chính, tuy nhiên vẫn chưa có sự kết hợp các chỉ tiêu này trong việc đánh giá hoạt động của các NHTM. Từ thực tế đó, chúng tôi đã áp dụng hệ thống xếp hạng CAMELS trong nghiên cứu này làm cơ sở để đánh giá hoạt động của các NHTM Việt nam giai đoạn 2008 – 2012 dựa trên các tỷ số đo lường hiệu quả. Khung phân tích CAMELS bao gồm các yếu tố an toàn vốn (C), chất lượng tài sản (A), trình độ quản lý (M), tỷ lệ sinh lời (E), thanh khoản (L) và độ nhạy thị trường (S).

     

    Từ khóa: CAMELS, ngân hàng thương mại

     

    APPLICATION OF CAMELS RATING SYSTEM TO EVALUE THE OPERATION OF VIETNAM COMMERCIAL BANKSIN 2008-2012

     

    ABSTRACT

     

    After the Bank Ordinance was adoptted in 1990, many commercial banks have been established and they put an important role in the socio-economic development of the country. However, the global inancial crisis in 2008 caused banks activities have been reconsidered. In Vietnam, to strengthen the operational eficiency of commercial banks, the State Bank of Vietnam has promulgated not only a lot of criteria for commercial banks but IMF’s healthy standard index. These indicators show many different aspects of banks’ inancial activities. However, the SBV announced the ranking of banks according to their competitiveness, but not according to the

     

    • Khoa TCNH, Trường ĐH Kinh tế – Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM

     

    • Khoa KTTCNH, Trường ĐH Kinh tế – Kỹ Thuật Bình Dương

     

    • Khoa TCNH, Trường ĐH Văn Lang, TP.HCM

     

     

    34

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    standard evaluation indicators for healthy banks. Vietnam’s banks have shown information relating to the inancial criteria, but there is no combination of indicators to assess the performance of commercial banks. This study uses CAMELS rating system as a basis for assessing the differences between banks. CAMELS factors are including capital adequacy (C), asset quality (A), management (M), earnings (E), liquidity (L) and market sensitivity (S) .

     

     

    Key words: CAMELS, banks

     

    1.   MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

     

    Trong những năm 1980, lần đầu tiên các cơ quan giám sát ở Mỹ đã sử dụng hệ thống đánh giá CAMEL để xếp hạng cho các tổ chức ngân hàng ở các cuộc kiểm tra trên web. Khái niệm CAMEL đã giới thiệu một hệ thống thống nhất cho việc đánh giá một ngân hàng tại Mỹ. Nó đánh giá theo những tiêu chí nhất định được viết tắt bởi chữ cái đầu tiên của các cụm từ:

     

    • Capital Adequacy: Mức độ an toàn vốn,

     

    • Asset Quality: Chất lượng tài sản,

     

    • Management competence: Trình độ Ban quản lý,

     

    • Earnings strength: Lợi nhuận,

     

    • Liquidity risk: Rủi ro thanh khoản

     

    Hệ thống này được sử dụng bởi ba cơ quan giám sát ở Mỹ là Hệ thống dự trữ liên bang, Văn phòng Kiểm soát tiền tệ (OCC) và Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC). Năm 1996, trong một nỗ lực để làm cho hệ thống đánh giá rủi ro tập trung hơn, một thành phần thứ sáu liên quan đến sự nhạy cảm với rủi ro thị trường “S” (Sensitivity to market risk) đã được thêm vào đánh giá CAMEL, thay thế CAMEL thành CAMELS.

     

    Ở nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu về CAMEL như R. Alton Gilbert, Andrew P. Meyer và Mark D. Vaughan (2002) cho thấy khả năng tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L. Kết quả cho thấy khả năng tài chính của các tổ chức tín

     

    dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản. Nghiên cứu của Christine Brown và Kevin Davis (2008) về quản lý vốn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Australia giai đoạn 1991-2004, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ an toàn vốn càng cao thì sự lành mạnh trong kinh doanh của ngân hàng càng lớn, tỷ suất sinh lời trên tài sản càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng đó sẽ tốt hơn, quản lý vốn hiệu quả sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh cao hơn, dẫn đến khả năng tài chính phát triển tốt hơn. Mihir Dash và Annyesha Das (2013) lại sử dụng hệ thống xếp hạng CAMELS trong nghiên cứu về các ngân hàng Ấn Độ qua so sánh các chỉ tiêu giữa NH thuộc sở hữu nhà nước với NH thuộc sở hữu tư nhân và NH nước ngoài, kết quả cho thấy khối NH tư nhân và NH nước ngoài được xếp hạng cao hơn các NH thuộc sở hữu nhà nước.

     

    • Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu sử dụng hệ thống xếp hạng CAMELS trong đánh giá hoạt động của các tổ chức tín dụng như Nguyễn Văn Đông (2011) trong Luận văn Thạc sỹ Kinh tế “Đánh giá hoạt động các tổ chức tín dụng bằng phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp thành phần chính theo các chỉ tiêu tài chính của mô hình CAMELS”, tác giả đã đưa ra được các tiêu chí từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng lại

     

     

    35

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    • phần đánh giá năng lực tài chính. Một số bài báo khác có đề cập đến CAMELS nhưng cũng chỉ dừng ở việc so sánh các NHTM Việt nam với nhau trong một năm nào đó mà không đánh giá cho hệ thống Ngân hàng.

     

    2.           NGUỒN DỮ LIỆU VÀ CÁC TIÊU CHÍ SỬ DỤNG CHO HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS

    Nghiên cứu được thực hiện dựa trên

     

    Bảng 1: Các tiêu chí CAMELS

    nguồn dữ liệu tập hợp từ Báo cáo thường niên của 40 NHTM Việt Nam trong 5 năm, từ năm 2008 đến 2012. Tuy nhiên một số ngân hàng chỉ có số liệu một vài năm nên chúng tôi chỉ sử dụng số liệu của 21 ngân hàng có số liệu đầy đủ nhất (Xem phụ lục 1)

     

    Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn các tiêu chí cho hệ thống xếp hạng CAMELS để đưa vào phân tích như sau:

     

     

    Tiêu chí

    Ý nghĩa

    Công thức

    Mức độ an toàn vốn

    Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ

    CAR = Vốn tự có / Tổng tài

    (C-CAPITAL)

    cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân

    sản có rủi ro quy đổi

     

    hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi

     
     

    phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của

     
     

    ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan

     
     

    đến mức độ rủi ro cao hơn

     
         

    Chất lượng tài sản

    Chất lượng tài sản là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất

    Dư nợ / Tổng tài sản

    (A-ASSETS)

    lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh

    Nợ xấu / Tổng dư nợ

     

    lời và triển vọng bền vững của một ngân hàng.

     
     

    Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập

     
     

    trung ở phía tài sản của nó, nên cùng với việc đảm

     
     

    bảo an toàn vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng

     
     

    tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân

     
     

    hàng hoạt động an toàn

     
         

    Chất lượng quản

    Quản lý ngân hàng là tạo ra hệ thống các hoạt

    Chi phí hoạt động/Tổng tài

    lý . (M-

    động thống nhất, phối hợp và liên kết các quá

    sản

    -MANAGEMENT)

    trình lao động của các cán bộ nhân viên từ các

     
     

    phòng ban đến hội đồng quản trị trong ngân hàng,

     
     

    nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh ở mỗi thời kỳ

     
     

    đã xác định, trên cơ sở giảm thiểu các chi phí về

     
     

    nguồn lực

     
         

    Khả năng sinh lời

    Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động,

    Lợi nhuận / Tổng tài sản có

    (E-EARNINGS)

    đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát

    Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu

     

    triển của một NHTM

    Thu nhập lãi ròng/Tổng tài

       

    sản sinh lời

         

    Khả năng

    Những ngân hàng thiếu hụt khả năng thanh khoản

    Tiền mặt và tiền gửi tại

    thanh khoản

    là biểu hiện của tình trạng không lành mạnh, ngân

    TCTD khác / Tổng Tài sản

    (L-LIQUIDITY)

    hàng đang gặp khó khăn, rất dễ rơi vào nguy cơ

    Trạng thái tiền mặt và cấu

     

    bị ồ ạt rút tiền của công chúng, nghiêm trọng hơn

    trúc tiền gửi

     

    có thể làm sụp đổ ngân hàng và tác động xấu đến

    Dư nợ cho vay / Tổng tiền

     

    cả hệ thống

    gửi

         

    Mức độ nhạy cảm

    Các tài sản của ngân hàng đều có liên quan đến

    Tài sản nhạy cảm lãi suất /

    với rủi ro thị trường

    rủi ro thị trường ở các mức độ khác nhau. Nếu

    Nợ nhạy cảm lãi suất

    (S-SENSITIVITY)

    trong cơ cấu tài sản của ngân hàng có một tỷ lệ

     
     

    lớn những tài sản nhạy cảm với các yếu tố này thì

     
     

    có thể báo hiệu một khả năng dễ tổn thương của

     
     

    ngân hàng đó

     
         
       

    (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

     

     

    36

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    3.           KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    • An toàn vốn (C)

     

    Để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn vốn theo thông lệ Basel II, Ngân hàng nhà nước (NHNN)

     

    đã yêu cầu các NHTMCP tăng vốn điều lệ từ 70 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng bắt đầu thực hiện từ năm 2007 và hạn chót là hết năm 2011.

     

    Bảng 2: Vốn điều lệ bình quân của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012

     

    Năm

     

    2008

    2009

       

    2010

         

    2011

     

    2012

    Trung bình

     

    3.679.253

    4.401.691

       

    5.872.425

       

    7.019.720

     

    8.576.654

    Số quan

     

    21

    21

       

    21

         

    21

     

    21

                                 

    sát

                                 

    MAX

     

    12.100.860

    12.100.860

       

    15.172.291

     

    20.229.722

     

    26.217..545

    MIN

     

    500.000

    1.000.000

       

    1.500.000

       

    1.500.000

     

    2.980.571

             

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

    Qua số liệu trên ta thấy trong giai đoạn

    20.000 tỷ đồng. Như vậy, quy mô vốn của các

    2008 – 2012 các NHTM Việt Nam đã có vốn

    NHTM chỉ gần bằng 50% so với mức khung

    điều lệ không ngừng tăng. Tuy nhiên, cho đến

    an toàn CAMELS đưa ra, ngoại trừ các ngân

    năm 2012, tổng quy mô vốn của các NHTM

    hàng Vietinbank (26.217.545 triệu đồng),

    Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với chuẩn quy

    Vietcombank  (23.174.171  triệu  đồng)  và

    định. Quy mô vốn trung bình năm 2012 của

    BIDVbank (23.174.171 triệu đồng) (Nguồn:

    các ngân hàng là 8.576.654 triệu đồng trong

    BCTC của các NHTM)

       

    khi khung an toàn CAMELS quy định là

                     

    Bảng 3: CAR của một số NHTM Việt Nam từ 2008-2012

             

    STT

       

    Ngân hàng

     

    2008

       

    2009

     

    2010

     

    2011

       

    2012

                               

    1

     

    Vietcombank

     

    8,90%

       

    8,11%

     

    9%

     

    11,14%

     

    14,83%

    2

       

    Vietinbank

     

    12,02%

       

    8,06%

     

    8,02%

     

    10,57%

     

    10,33%

    3

       

    Sacombank

     

    12,16%

       

    11,41%

     

    9,97%

     

    11,66%

     

    9,53%

    4

       

    Đông Á

     

    11,30%

       

    10,64%

     

    10,84%

     

    10,01%

     

    10,85%

    5

       

    Eximbank

     

    45,89%

       

    26,87%

     

    17,79%

     

    12,94%

     

    16,38%

    6

     

    Techcombank

     

    13,99%

       

    9,60%

     

    13,11%

     

    11,43%

     

    12,60%

    7

       

    MB

     

    12%

       

    12,00%

     

    12,90%

     

    9,59%

       

    11,15%

    8

       

    Oceanbank

     

    18,57%

       

    9,59%

     

    9,48%

     

    11,74%

     

    10,36%

    9

       

    PGbank

     

    26,90%

       

    12,90%

     

    20,60%

     

    16,70%

     

    22,60%

         

    Trung bình

     

    23,71%

       

    14,42%

     

    13,05%

     

    13,47%

     

    16,56%

         

    Số quan sát

     

    10

       

    14

     

    12

     

    13

       

    12

         

    MAX

     

    75%

       

    35%

     

    21%

     

    22,83%

     

    42%

         

    MIN

     

    8,9%

       

    8,06%

     

    8,02%

     

    9,59%

       

    9,53%

       

    Độ lệch chuẩn

     

    0,21151

       

    0,08243

     

    0,04480

     

    0,04360

     

    0,09298

         

    Phương sai

     

    0,04473

       

    0,00680

     

    0,00201

     

    0,00190

     

    0,00865

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

     

    37

     

     

    khi đó, tốc độ tăng vốn tự có của các NHTM lại không theo kịp tốc độ mở rộng tổng tài sản dẫn đến hiện tượng hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng có xu thế giảm, đặc biệt trong năm 2010 và 2011. Đây là dấu hiệu cảnh báo về mức độ rủi ro của tài sản mà các ngân hàng cần chú ý điều tiết phù hợp với lợi nhuận.

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Phần lớn các NHTM đã hoàn thành chỉ tiêu về tỷ lệ an toàn vốn theo qui định của NHNN là 9%. Tuy nhiên, CAR có dấu hiệu giảm nếu xét từ năm 2008 trở lại đây. Lý do chính là tổng tài sản ngân hàng đã gia tăng nhanh chóng so với tốc độ tăng của vốn tự có. Giai đoạn từ năm 2008 các NHTM có sự mở rộng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản, trong

     

    3.2. Chất lượng tài sản (A)

     

    Bảng 4: Tỷ lệ nợ xấu bình quân của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

     

       

    Năm

     

    2008

     

    2009

     

    2010

     

    2011

     

    2012

     
                                   
     

    Trung bình

     

    2,37%

     

    1,64%

     

    1,85%

     

    1,90%

     

    3,64%

     
                                     
     

    Số quan sát

     

    17

       

    21

     

    20

     

    18

     

    18

     
                                   
       

    MAX

     

    4,71%

     

    3,09%

     

    9,57%

     

    2,96%

     

    8,83%

     
                                   
       

    MIN

     

    0,60%

     

    0,01%

     

    0,34%

     

    0,58%

     

    1,09%

     
                                   
     

    Độ lệch chuẩn

     

    0,0126

     

    0,0091

     

    0,0195

     

    0,0069

     

    0,0234

     
                                   
     

    Phương sai

     

    0,0002

     

    0,0001

     

    0,0004

     

    0,0000

     

    0,0005

     
                                 
                 

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

    Tỷ lệ nợ xấu tương đối ổn định trong giai

     

    giải thích là hệ thống ngân hàng Việt Nam

    đoạn 2009-2011, nhưng lại tăng đột biến vào

     

    đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn khi

    năm 2012. Tỷ lệ nợ xấu theo quy định quốc tế

     

    doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản ngày

    ở mức 1,5%, còn theo quy định của NHNN thì

     

    càng tăng. Tuy nhiên, điều đáng nói là chất

    tỷ lệ nợ xấu ở mức 2%, như vậy tỷ lệ nợ xấu

     

    lượng những con số thống kê về tình hình nợ

    của các NHTM Việt nam đã vượt mức quy

     

    xấu do các NHTM công bố nếu như phân loại

    định, đặc biệt năm 2012 đã vượt so với quy

     

    theo chuẩn mực quốc tế thì sẽ ở mức cao hơn

    định quốc tế hơn 2 lần. Nguyên nhân được

     

    con số công bố hiện nay rất nhiều.

    Bảng 5: Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM năm 2012

               

    STT

     

    Ngân hàng

     

    Tỷ lệ nợ

     

    STT

    Ngân hàng

    Tỷ lệ nợ xấu

     
             

    xấu (%)

               

    (%)

     

    1

     

    Vietcombank

       

    2,4%

     

    10

     

    HD bank

    2,35%

     
                           

    2

     

    Vietinbank

       

    1,47%

     

    11

     

    Phương Nam

    3,02%

     
                             

    3

     

    BIDV

       

    2,92%

     

    12

       

    SHB

    8,83%

     
                           

    4

     

    Sacombank

       

    2,05%

     

    13

     

    Navibank

    5,64%

     
                           

    5

     

    Đông Á

       

    3,95%

     

    14

     

    Ocean bank

    3,52%

     
                           

    6

     

    Eximbank

       

    1,32%

     

    15

     

    PG bank

    8,44%

     
                           

    7

     

    ACB

       

    2,50%

     

    16

     

    Westernbank

    7,26%

     
                           

    8

     

    Techcombank

       

    2,7%

     

    17

     

    Liên Việt

    2,71%

     
                             

    9

     

    MB

       

    1,09%

     

    18

       

    MDB

    3,46%

     
                           
                 

    (Nguồn: tính toán từ BCTC của các NHTM Việt Nam)

     

     

    38

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    Một số NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao như Phương Nam, SHB, Navibank, Ocean bank, PG bank, Westernbank, MDB. Phần lớn các NH này tập trung vào nhóm NH có tính cạnh tranh thấp, quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu nhỏ. Bên cạnh đó, chất lượng các khoản vay bị sụt giảm nên các ngân hàng buộc phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Tuy nhiên mức trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD Việt Nam còn quá thấp so với các

    quốc gia khác trên thế giới. Phần trăm tỷ lệ trích lập dự phòng của Việt Nam chỉ là 47,85% trong khi của Hàn Quốc là 111,2%, của Trung Quốc là 230,2% (Tô Ngọc Hưng, 2012).Tỷ lệ trích lập dự phòng quá thấp của các TCTD Việt Nam sẽ làm cho hệ thống ngân hàng nhạy cảm với những bất ổn kinh tế trên thế giới nói chung và bất ổn kinh tế của Việt Nam nói riêng, nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến mất thanh khoản của hệ thống ngân hàng sẽ xảy ra.

     

     

    3.3. Chất lượng quản lý (M)

     

    Bảng 6: Chỉ số hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

     

    Năm

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    Trung bình

    1,51%

    1,32%

    1,25%

    1,66%

    2,03%

    Số quan sát

    20

    21

    21

    21

    21

    MAX

    2,56%

    1,86%

    1,96%

    2,66%

    4,98%

    MIN

    0,65%

    0,58%

    0,43%

    0,94%

    0,94%

    Độ lệch chuẩn

    0,00411

    0,00357

    0,00392

    0,00513

    0,00927

    Phương sai

    0,00002

    0,00001

    0,00002

    0,00003

    0,00009

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

     

    Ta thấy giai đoạn 2008-2010 chỉ số hoạt động có xu hướng giảm, thời kỳ này chất lượng quản lý tốt, nhưng lại tăng mạnh ở giai đoạn 2011-2012 từ 1,66% lên 2,03%. Như vậy các NHTM đã phải bỏ ra nhiều chi phí hơn trong năm 2012 nhưng hiệu quả lại thấp hơn so với những năm trước đó, cụ thể là ROA trung bình đã giảm từ 1,34% xuống 0,86%. Chất lượng quản lý đã giảm so với những năm trước.

     

    Chi phí hoạt động của các NHTM nhìn chung đều tăng trong năm 2012 mặc dù các ngân hàng đã có ý định cắt giảm chi phí. Theo BCTC của các NHTM chi phí lương và các chi phí liên quan đến nhân viên chiếm đến 50% tổng chi phí hoạt động. Điều này đi ngược lại với xu hướng toàn cầu. Chi phí hoạt động tăng do các khách hàng luôn yêu cầu ngân

    hàng cung cấp nhiều sản phẩm, chất lượng dịch vụ tốt hơn cùng nhiều khuyến mãi và ưu đãi. Hơn nữa, khi tình hình kinh tế đang phục hồi dần, các khách hàng kinh doanh đang bắt đầu tiếp tục vay để mở rộng hoạt động. Vì vậy, các ngân hàng trong nước đang chịu áp lực mở rộng phạm vi hoạt động và cải thiện dịch vụ khách hàng. Thêm vào đó, các ngân hàng nước ngoài cũng đang giành được nhiều thị phần tại thị trường tài chính ngân hàng vốn đã rất cạnh tranh. Các NHTM trong nước phải tìm con đường tăng thị phần một cách nhanh nhất bằng cách tăng số lượng chi nhánh và phòng giao dịch, do đó dẫn đến tăng số nhân viên và các chi phí quản lý.

     

    Để phát triển bền vững, đã đến lúc hệ thống các NHTM cần chú trọng nhìn lại việc

     

     

    39

     

     

    3.4. Khả năng sinh lời (E)

    • Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    giải bài toán giảm chí phí trong hệ thống quản lý của mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như tăng năng lực cạnh tranh của mình trong xu hướng hội nhập hiện nay.

     

    Biểu đồ 1: Biến động ROA, ROE trung bình của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    (Nguồn: tính toán từ BCTC của các NHTM)

     

     

    Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) bình quân và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân của các NHTM Việt Nam có xu hướng tăng từ 2009-2011 và năm 2012 có xu hướng giảm. Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tài sản tăng đều qua các năm nhưng hiệu quả kinh doanh lại giảm, đây là dấu hiệu cho

     

    • NIM

     

    thấy tính cạnh tranh ngày càng cao của ngành ngân hàng. Theo mức chuẩn đưa ra thì ROA trên 1% và ROE từ 15% trở lên là đạt yêu cầu, như vậy giai đoạn 2008-2011 các NHTM đều đảm bảo được yêu cầu, tuy nhiên năm 2012 có sự sụt giảm mạnh và một số ngân hàng không đảm bảo so với yêu cầu CAMELS.

     

     

    Bảng 7: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên các NHTM Việt Nam năm 2008-2012

     

    Năm

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    Trung bình

    2,77%

    2,51%

    2,40%

    3,54%

    3,41%

    Số quan sát

    20

    21

    21

    21

    21

    MAX

    6,56%

    6,83%

    3,50%

    7,88%

    8,22%

    MIN

    0,46%

    1,15%

    0,52%

    0,24%

    -0,38%

    Độ lệch chuẩn

    0,01686

    0,01269

    0,00696

    0,01573

    0,01799

    Phương sai

    0,00028

    0,00016

    0,00005

    0,00025

    0,00032

     

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

     

     

    40

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    Một số điểm nổi bật:

     

    • NIM ở các NHTM tăng nhẹ.

     

    • Chỉ có duy nhất một ngân hàng (Phương Nam) có thu nhập ròng từ lãi âm. (-0,38%)

     

    • Ngân hàng Phát triển Mê Kông (MDB) có NIM cao nhất trong cả hai năm 2011 và 2012 (lần lượt là 7,88% và 8,22%).

     

    • Các ngân hàng nhỏ có xu hướng có NIM cao hơn.

     

    Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là một thước đo quan trọng để đánh giá tình hình kinh doanh của một ngân hàng, đặc biệt là về khả năng sinh lời. NIM năm 2012 thấp hơn so

     

    3.5. Khả năng thanh khoản (L)

     

    • Trạng thái tiền mặt và cấu trúc tiền gửi

    với năm 2011 và NIM của những ngân hàng nhỏ hơn tuy cao hơn nhưng cũng kém ổn định hơn. Điều này có nguyên nhân sâu xa là các ngân hàng lớn thường khắt khe hơn khi phê duyệt tín dụng trong khi các ngân hàng nhỏ hơn hướng đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, bán lẻ và có thể chấp nhận rủi ro cao hơn. Đồng thời, lãi suất tiền gửi trong toàn ngành ngân hàng tương đối đồng đều vì NHNN gần đây đã quy định mức trần của lãi suất tiền gửi (14% trong năm 2012 và giảm xuống còn 7% trong năm 2013)

     

     

    Bảng 8: Trạng thái tiền mặt và cấu trúc tiền gửi của các NHTM Việt Nam năm 2008-2012

     

     

    Tiền và tiền gửi TCTD khác/ Tổng tài sản

     

    Năm

    2008

    2009

     

    2010

    2011

     

    2012

    Trung bình

    24,33%

    22,74%

     

    23,86%

    26,14%

     

    11,95%

    Số Ngân hàng

    20

    21

     

    21

    21

     

    21

    MAX

    39,78%

    59,58%

     

    49,76%

    69,47%

     

    33,04%

    MIN

    10,26%

    0,25%

     

    10,88%

    8,33%

     

    1,23%

    Độ lệch chuẩn

    0,08983

    0,14033

     

    0,09611

    0,14116

     

    0,08272

    Phương sai

    0,00807

    0,01969

     

    0,00924

    0,01993

     

    0,00684

     

    Tiền gửi không kỳ hạn / Tiền gửi có kỳ hạn

     

    Trung bình

    134,52%

    52,41%

     

    36,81%

    46,64%

     

    40,83%

    Số Ngân hàng

    17

    17

     

    18

    17

     

    16

    MAX

    1490,36%

    173,39%

     

    121,53%

    286,58%

     

    199,94%

    MIN

    2,32%

    6,31%

     

    0,92%

    3,06%

     

    2,00%

    Độ lệch chuẩn

    3,5382921

    0,4613626

     

    0,3646748

    0,7316020

     

    0,5183964

    Phương sai

    12,519517

    0,2128554

     

    0,1329877

    0,5352415

     

    0,2687348

       

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

    Nhìn vào bảng ta thấy giai đoạn 2010-

    chạy đua lãi suất và đặt trần huy động áp dụng

    2011 tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn/tiền gửi có

    cho tất cả các NHTM, khuyến khích người

    kỳ hạn tăng nhanh rồi giảm nhẹ còn 40,83%

    dân tăng gửi tiền tiết kiệm dài hạn. Vì vậy

    vào năm 2012. Cùng lúc đó tỷ số về trạng thái

    tình hình thanh khoản năm 2012 được giãn ra,

    tiền mặt tăng cao vào năm 2011 tương ứng

    tiền và tương đương tiền của các NHTM giảm

    26,14% và giảm mạnh còn 11,95% năm 2012.

    dần, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn/tiền gửi có kỳ

    Năm 2012 với nỗ lực kiềm chế lạm phát và

    hạn nhìn chung cũng giảm theo.

    ổn định thị trường tiền tệ, NHNN ra lệnh cấm

             

    41

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    • Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi

    Bảng 9: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi của các NHTM Việt Nam 2008-2012

     

    Năm

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

               

    Trung bình (lần)

    1,0776

    1,0408

    0,8679

    0,8784

    1,2435

               

    Số Ngân Hàng

    17

    21

    20

    19

    18

               

    MAX

    2,92

    3,39

    2,28

    3,04

    3,44

               

    MIN

    0,42

    0,24

    0,21

    0,35

    0,50

               

    Độ lệch chuẩn

    0,64394

    0,78305

    0,47892

    0,58122

    0,98157

               

    Phương sai

    0,41466

    0,61317

    0,22936

    0,33782

    0,96348

               

    (Nguồn: tính toán của tác giả)

     

     

    Qua số liệu cho thấy tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi đã giảm dần trong giai đoạn 2008-2011, và tăng nhẹ trở lại vào năm 2012. Điều này cũng phù hợp với giai đoạn hiện nay khi mà chi phí bỏ ra lớn nhưng hiệu quả kinh doanh giảm, rủi ro tín dụng gia tăng đáng kể, nếu ngân hàng mạo hiểm cho vay tăng thì tính thanh khoản sẽ giảm thậm chí mất khả năng thanh toán dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng đều cho vay vượt khung an toàn CAMELS.

     

    3.6. Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường

     

    Năm 2008 là một năm đáng nhớ trong hoạt động NH với nhiều biến số kinh tế thay đổi trái chiều, trong đó có sự thay đổi của chính sách tiền tệ từ định hướng linh hoạt và thắt chặt đầu năm chuyển sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm, đi cùng với quá trình này là tần suất cao của sự điều chỉnh công cụ điều hành chính sách tiền tệ, tập trung

     

    • các lãi suất chủ chốt, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… lãi suất cơ bản thay đổi liên tục làm cho lãi suất huy động tăng lên 12,7%/năm, lãi suất cho vay là 15,8% rồi giảm xuống còn 7,95% đối với huy động và 10,10% đối với cho vay.

     

    Từ cuối năm 2011 và suốt năm 2012 nền

    kinh tế bắt đầu không thể hấp thụ nguồn vốn với lãi suất cao, yêu cầu đăt ra cho NHNN là phải giảm ngay lãi suất để cứu các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, đứng bên bờ vực phá sản vì phải gồng mình gánh mức lãi suất cao trong những năm qua. Trước tuyên bố sẽ cắt giảm lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát trong thời gian tới của NHNN, cộng thêm tình hình vốn dồi dào của các NHTM, thanh khoản không còn căng thẳng như trong giai đoạn trước làm cơ sở vững chắc cho một nửa số NH duy trì mức chênh nhạy cảm lãi suất âm. Bên cạnh đó số NH còn lại đã kì vọng rằng những biện pháp của NHNN chỉ nhằm xoa dịu thị trường trong ngắn hạn và tin rằng cuối năm lãi suất sẽ quay đầu tăng trở lại, chính vì vậy mà các NH này đã duy trì mức chênh nhạy cảm lãi suất dương.

     

    1. KẾT LUẬN

    Các NHTM Việt nam đã và đang dần có những chuyển biến tích cực để quản lý hoạt động của mình hướng đến sự lành mạnh hơn về tài chính. Trong 5 năm từ 2008 đến 2012, các NHTM đã tăng lên về quy mô Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn tăng lên. Tuy nhiên, nợ xấu của hệ thống NHTM cũng tăng lên cho thấy việc quản lý chất lượng

     

     

    42

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    tài sản chưa tốt. Bên cạnh đó, thanh khoản của các NHTM cũng là vấn đề cần phải xem xét và xây dựng một chính sách quản lý thanh khoản hiệu quả hơn. Để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trong xu thế hội nhập, các NHTM Việt nam cần chú trọng hơn

     

    vào công tác quản lý của mình: cơ cấu danh mục tài sản hợp lý, chú trọng tính an toàn về thanh khoản, kiểm soát tốt chi phí, từ đó mới có thể nâng cao hiệu quả trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.

     

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các NHTM năm 2008-2012

     

    • Christine Brown và Kevin Davis (2008), Capital management in mutual inancial institutions, Journal of Banking & Finance 33, pp 443–455.
    • Nguyễn Văn Đông (2011). Đánh giá hoạt động các tổ chức tín dụng bằng phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp thành phần chính theo các chỉ tiêu tài chính của mô hình CAMELS. Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.
    • Tô Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Trung (2012). Hoạt động ngân hàng Việt Nam -Nhìn lại năm 2011 và một số giải pháp cho năm 2012, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hảng số 118 quý I năm 2012, trang 6.

     

    • Mihir Dash và Annyesha Das (2013 ). Performance Appraisal of Indian

    Banks Using CAMELS Rating. The IUP Journal of Bank Management, Vol. XII, No. 2, 2013, p31-42

     

    • Nimalathasan B. (2008). A Comparative Study of Financial Performance of Banking Sector in Bangladesh – an Application of CAMELS Rating System. Annals of University of Bucharest, Economic and Administrative series, nr. 2 (2008), p141-152.

     

    • Alton Gilbert, Andrew P. Meyer, and Mark D. Vaughan (2002), The Federal Reserve Bank of St. Louis.

     

    • Seema Mishra, Kirti Agarwal (2013). Measuring performance of banks using camels model: a comparative study of CBI and IB. International journal of management research and review, May

    2013, Volume 3,Issue 5,Article No-11/2914-2922 ISSN: 2249-7196. www.sbv.gov.vn [9].http://vfpress.vn/threads/nhtm-nao-an-toan-nhat-viet-nam-theo-mo-hinh-camels.3935/ www.fedpatrnership.go

     

     

    43

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Phụ lục 1: DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG SỬ DỤNG CHO NGHIÊN CỨU

     

    Số TT

    Tên Ngân hàng

    Viết tắt

         

    1

    NH TMCP Ngoại thương Việt nam

    Vietcombank

         

    2

    NH TMCP Công thương Việt nam

    Vietinbank

         

    3

    NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam

    BIDV

         

    4

    NH TMCP Sài gòn Thương tín

    Sacombank

         

    5

    NH TMCP Đông Á

    Đông Á

         

    6

    NH TMCP Xuất nhập khẩu Việt nam

    Eximbank

         

    7

    NH TMCP Á Châu

    ACB

         

    8

    NH TMCP Sài Gòn công thương

    SG công thương

         

    9

    NH TMCP Kỹ thương Việt Nam

    Techcombank

         

    10

    NH TMCP Quân đội

    MB

         

    11

    NH TMCP Quốc tế Việt Nam

    VIB

         

    12

    NH TMCP Phát triển Tp.HCM

    HD bank

         

    13

    NH TMCP Phương Nam

    Phương Nam

         

    14

    NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội

    SHB

         

    15

    NH TMCP Nam Việt

    Navibank

         

    16

    NH TMCP Đại Dương

    Oceanbank

         

    17

    NH TMCP Xăng dầu Petrolimex

    PG bank

         

    18

    NH TMCP Phương Tây

    Western bank

         

    19

    NH TMCP Bưu điện Liên Việt

    Liên Việt

         

    20

    NH TMCP Phát triển Mê Kông

    MDB

         

    21

    NH TMCP Bảo Việt

    Bảo Việt

         

    44

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    Phụ lục 2: MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CÁC NGÂN HÀNG NĂM 2012

     

     

    VCSH

    Nợ xấu/Dư

    Chi phí hoạt

    NIM

    Dư nợ/Tiền gửi

     

    (triệu đồng)

    nợ

    động/TTS

     

    khách hàng

               

    Vietcombank

    41.553.063

    2,40%

    1,45%

    2,64%

    0,8087

               

    Vietinbank

    33.624.531

    1,47%

    1,87%

    3,66%

    1,0785

               

    BIDV

    26.494.446

    2,92%

    0,94%

    1,90%

    1,0098

               

    Sacombank

    13.698.739

    2,05%

    2,73%

    4,27%

    3,4380

               

    Đông Á

    6.104.191

    3,95%

    1,98%

    3,60%

    0,9587

               

    Eximbank

    15.801.463

    1,32%

    1,35%

    2,87%

    0,7269

               

    ACB

    12.624.452

    2,50%

    2,42%

    3,90%

    3,4343

               

    SG công thương

    3.539.465

    N/A

    2,58%

    6,51%

    N/A

               

    Techcombank

    13.289.576

    2,70%

    1,83%

    2,84%

    0,5401

               

    MB

    12.863.906

    1,09%

    1,54%

    3,76%

    0,5549

               

    VIB

    8.371.463

    N/A

    2,79%

    4,60%

    N/A

               

    HD bank

    5.393.746

    2,35%

    1,51%

    1,61%

    0,5595

               

    Phương Nam

    4.335.768

    3,02%

    0,94%

    0,38%

    0,7506

               

    SHB

    8.967.511

    8,83%

    1,44%

    1,61%

    1,2315

               

    Navibank

    2.980.571

    5,64%

    3,01%

    3,39%

    1,0498

               

    Oceanbank

    4.002.916

    3,52%

    1,08%

    2,51%

    0,4953

               

    PG bank

    3.000.000

    8,44%

    2,89%

    5,09%

    1,1179

               

    Western bank

    3.002.000

    7,26%

    1,88%

    2,33%

    3,0649

               

    Liên Việt

    6.523.331

    2,71%

    1,56%

    3,69%

    0,5494

               

    MDB

    3.750.000

    3,46%

    4,98%

    8,22%

    1,0139

               

    Bảo Việt

    3.000.000

    N/A

    1,88%

    2,99%

    N/A

               

    45


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Kh%E1%BA%A3o-s%C3%A1t-r%E1%BA%BD-nh%C3%A1nh-c%E1%BB%A7a-dao-%C4%91%E1%BB%99ng-tu%E1%BA%A7n-ho%C3%A0n-trong-h%E1%BB%87-tuy%E1%BA%BFn-t%C3%ADnh-t%E1%BB%ABng-kh%C3%BAc-b%E1%BA%B1ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-b%E1%BA%AFn-%C4%91%C6%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn

    KHẢO SÁT RẼ NHÁNH CỦA DAO DỘNG TUẦN HOÀN TRONG HỆ TUYẾN TÍNH TỪNG KHÚC BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẮN ĐƠN ANALYZING THE BIFURCATION OF PERIODIC VIBRATIONS OF PIECEWISE-LINEAR SYSTEMS USING THE SINGLE SHOOTING METHOD

     

    1. HOÀNG MẠNH CƯỜNG

    Viện Khoa học cơ sở, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    1. LÊ ANH TUẤN

    Khoa Cơ khí, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Trong bài báo này, đã áp dụng phương pháp bắn đơn trong việc tính toán dao động tuần hoàn của hệ dao động cưỡng bức chịu kích động điều hòa. Sự không đối xứng của hệ khảo sát dẫn đến cả độ cứng và độ cản nhớt là các hàm tuyến tính tứng khúc. Việc phân tích ổn định và rẽ nhánh của hệ dao động phi tuyến đã được tiến hành bằng phương pháp tính toán số. Từ các phân tích cho thấy rằng, trong hệ khảo sát xuất hiện các rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ và sự tồn tại đồng thời của nhiều tập hút tuần hoàn.

     

    Abstract

     

    This article analyses the periodic vibration of harmonically excited systems using the single shooting method. Both stiffness and viscous damping are piecewise-linear functions due to non-symmetry of system. Analyzing the stability and bifurcation of nonlinear systems are carried out by numerical method. The analysis results show the existence of period-doubling bifurcation and multiple periodic attractors.

     

    Key words: Nonlinear vibration, shooting method, Bifurcation.

     

    1. Mở đầu

     

    Trong các hệ dao động máy như các bánh răng chịu tải trọng nhẹ, các hệ rotor, các hệ dao động đàn hồi, các hệ cam-cần cam, các khớp liên kết các thành phần robotic, … tính chất tuyến tính hoặc phi tuyến từng khúc tồn tại vì khe hở giữa các thành phần. Các hệ tuyến tính từng khúc là các hệ phi tuyến mạnh, để tính toán dao động của các hệ này ta có thể sử dụng phương pháp cân bằng điều hòa gia lượng [2, 3, 4, 6]. Nhưng để đạt được độ chính xác cao, phương pháp này đòi hỏi số các thành phần điều hòa trong biểu thức nghiệm phải lớn, điều này dẫn đến ta phải giải một hệ nhiều phương trình đại số phi tuyến, đây là vấn đề rất khó khăn. Để khắc phục hạn chế này, phương pháp bắn đơn [1] tỏ ra có ưu thế hơn, vì trong phương pháp này số phương trình của hệ đại số phi tuyến chỉ tương ứng với số chiều của hệ, do đó sẽ giảm khối lượng tính toán và tăng độ chính xác của nghiệm thu được.

     

    Trong bài báo này, đã xây dựng thuật toán khảo sát sự ổn định và rẽ nhánh của nghiệm tuần hoàn trong các hệ phi tuyến không ôtônôm, dựa trên phương pháp bắn đơn. So sánh các kết quả tính toán với các kết quả tính bằng phương pháp cân bằng điều hòa gia lượng [6], cho thấy các kết quả hoàn toàn tương tự. Việc đưa ra thuật toán tính toán số trong bài bào này có thể dễ dàng được áp dụng để phân tích các ứng sử động lực học phức tạp như rẽ nhánh và dao động hỗn độn của các hệ kỹ thuật trong thực tế.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               30

     

    2. Phương pháp bắn đơn tìm nghiệm tuần hoàn của các hệ không ôtônôm

     

    Cho hệ phương trình vi phân không ôtônôm (thêm dấu : )

     

    x = f ( x, t, μ)                                                                                                                         (1)

     

    Trong đó x Π   n f Π    n , m là các tham số, f(x,t,m) là hàm tuần hoàn chu kỳ Te. Bài toán đặt

     

    ra là, ta phải đi tìm nghiệm tuần hoàn chu kỳ T của hệ (1), nghĩa là ta phải đi tìm nghiệm của hệ (1) sao cho thoả mãn điều kiện x(0) = x(T). Ta đã biết, đối với các hệ không ôtônôm, chu kỳ T của nghiệm tuần hoàn cần tìm là một bội số hữu tỷ của Te và là một số đã biết. Do đó, để thực hiện phương pháp bắn tìm nghiệm tuần hoàn chu kỳ T của hệ (1), trước tiên, ta xét bài toán (thêm : )

     

    • = f ( x, t, μ)

    với điều kiện đầu

    x(0) =

    η

    ,

    (2)

     

    sau đó, ta phải đi tìm điều kiện đầu kiện (thêm dấu : )

     

    x(T , η) = x (0) = η Û x(T, η) –

    • sao cho nghiệm x(t,h) của bài toán (2) thoả mãn điều

    η = 0

    (3)

    • là hệ n phương trình đại số phi tuyến với n ẩn số là hk (k =1, 2, …, n). Để giải hệ phương trình đại số này ta có thể sử dụng các phương pháp lặp, như phương pháp Newton-Raphson được trình bày dưới đây:

    Ban đầu ta cho một sự ước chừng điều kiện đầu h(0) và mong muốn tìm được h, sao cho sai lệch dh = hh(0) thoả mãn điều kiện ||dh|| < e, với e là một số nhỏ cho trước, để mà (thêm dấu : )

     

    x(T , η(0)  + d η) – ( η(0)  + d η) » 0

     

    Khai triển Taylor đối với (4) và chỉ giữ lại

    (4)

     

    các số hạng tuyến tính đối với dh, ta được (thêm : )

     

    é ¶x

     

    (0)

     

    ù

    (0)

     

    (0)

     

    ê

     

    (T , η

     

    ) – E

    ú

    d η = η

    x (T , η

     

    )

    η

       

    ë

         

    û

           

    (5)

     

    trong đó E là ma trận đơn vị cấp n´n, x(T,h(0)) là véc tơ có n phần tử và được xác định bằng cách giải bài toán điều kiện đầu (2) trong khoảng thời gian t = [0, T]. Còn ¶xh là ma trận cấp n´n các thành phần của ma trận này tại (T,h(0)) được xác định như sau: Đạo hàm hai vế phương trình

    • theo h, ta được (thêm dấu : )

    d æ

    x ö

    = Dxf ( x, t, μ)

    x

    (6)

     

    ç

     

    ÷

     
       

    η

    dt è

    η ø

       

    Ngoài ra đạo hàm của điều kiện đầu x(0) = h đối với h, ta được (thêm dấu : )

     

    x

    (0) = E

    (7)

     

    η

         
    • là phương trình vi phân đối với ¶xh, tích phân phương trình (6) với điều kiện đầu (7) trong khoảng thời gian t = [0, T], ta được ¶xh tại (h(0), T). Khi ma trận ¶xh được xác định thì hệ
    • trở thành hệ n phương trình đại số tuyến tính với các ẩn số là dh. Sau khi giải hệ (5), ta kiểm tra tiêu chuẩn hội tụ ||dh|| < e. Nếu tiêu chuẩn hội tụ không được thoả mãn, ta cập nhật lại điều kiện đầu h(0) = h(0) + dh và quay lại các bước ở trên cho đến khi các tiêu chuẩn hội tụ được thoả mãn. Kết thúc thủ tục ta tìm được điều kiện đầu h tương ứng với nghiệm tuần hoàn chu kỳ T của hệ (1).

    3. Khảo sát rẽ nhánh của các hệ phi tuyến bằng phương pháp số

     

    • Bước 1: Chọn giá trị đầu m = m0. Bằng phương pháp bắn, ta tìm điều kiện đầu h0 và chu kỳ T0 ứng với nghiệm tuần hoàn (x(t, h0, T0), m0) của hệ (1), giả sử nghiệm này ổn định.
    • Bước 2: Chọn số gia Dm thích hợp, lấy m = m0 + Dm
    • Bước 3: Lấy (h0, T0) làm giá trị khởi đầu cho phương pháp bắn, tìm điều kiện đầu h và chu kỳ T của nghiệm tuần hoàn x(t, h, T) của hệ (1) tại m = m0 + Dm.
    • Bước 4: Tích phân số phương trình (1) với điều kiện đầu h, ta được nghiệm tuần hoàn x(t, h, T). Kiểm tra các nhân tử Floquet ứng với nghiệm này. Nếu tất cả các nhân tử Floquet đều nằm trong vòng tròn đơn vị của mặt phẳng phức thì nghiệm này là ổn định, ta cập nhật lại các giá trị

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               31

     

    khởi đầu m0 = m, h0 = h, T0 = T và ta quay lại từ bước 2. Nếu có nhân tử Floquet nằm trên vòng tròn đơn vị của mặt phẳng phức và nhân tử này đang có xu hương đi ra khỏi vòng tròn đơn vị, thì ta có giá trị rẽ nhánh m và tiếp tục từ bước 5.

     

    * Bước 5: Kiểm tra hướng của nhân tử Floquet dời khỏi vòng tròn đơn vị của mặt phẳng

    phức

     

    • Nếu nhân tử Floquet là số thực, dời vòng tròn đơn vị theo hướng -1, ta có rẽ nhánh nhâ đôi chu kỳ (thêm dấu . )
    • Nếu nhân tử Floquet là số thực, dời vòng tròn đơn vị theo hướng +1, ta có một trong các rẽ nhánh: nếp gấp-chu trình, rẽ nhánh chuyển qua giới hạn, rẽ nhánh phá huỷ tính đối xứng.
    • Nếu nhân tử Floquet là số phức dời vòng tròn đơn vị , ta có rẽ nhánh Hopf loại 2.

    4.           Tính toán dao động tuần hoàn và khảo sát rẽ nhánh của hệ tuyến tính từng khúc

     

    4.1. Mô hình động lực học của tuyến tính từng khúc

     

     

    Cho mô hình dao động như hình 1, trong đó khối lượng m được nối với lò xo k0 và cản nhớt c0, lò xo k1 và cản nhớt c1 được để tự do. Giả thiết rằng khi không có khối lượng m, hai lò xo tự do chạm nhau, khi có khối lượng m, tại vị trí cân bằng tĩnh các lò xo với các độ cứng tương ứng k0, k1 bị nén một đoạn tương ứng là d0 và d. Cho khối lượng m chịu tác dụng của lực kích động điều hoà f0sinWt. Gọi x là dịch chuyển của cạnh bên phải khối lượng m đối với vị trí của cạnh bên phải của khối lượng tại vị trí cân bằng tĩnh.

     

    f0

     

    Hình 1. Mô hình dao động của hệ

     

    tuyến tính từng khúc

     

     

    Phương trình vi phân dao động của hệ này có dạng (thêm dấu : )

     

    mx + c0 x + k0 x + c0 H ( x) + G( x) = f 0 sin Wt

     

    trong đó (thêm dấu : )

     

    ìc x / c

    ,

    x > –d

     

    ìk x ,

     

    x > –d

    H (x) = í

    1

    0

       

    ;

    G (x) = í

    1

         

    0,

       

    x £ –d

    k 0

    d 0

    ,

    x £ –d

    î

         

    î

    Bằng cách đặt x1 = x, x2 = dx/dt, từ (8) ta có (thêm dấu : )

     

    ìx

    = x

                   

    ï

    1

    2

                   

    í

    x

    = [ – c x

    k x

    c H (x

    ) – G (x ) + f

     

    sin Wt ] / m

    ï

     

    2

    0

    2

    0

    1

    0

    2

    1

    0

     

    î

     

    trong đó (thêm dấu : )

     

    (8)

     

    (9)

     

     

    ìc x

    2

    / c

    ,

    H (x ) =

    í

    1

    0

     
           

    2

    0,

         
     

    î

         

    4.2. Các kết quả tính toán số

     

    x

    > –d

    1

     

    x

    £ –d

    1

     

    ;

    ìk1 x1 ,

     

    x1  > –d

    G (x1 ) = í

    ,

    x1  £ –d

     

    î k 0 d 0

    Sau đây ta đi khảo sát rẽ nhánh của nghiệm tuần hoàn trong hệ (9) bằng phương pháp số. Để tính toán số, ta chọn tham số thay đổi là k = k0.10-3, các tham số khác như sau: f0 = 7,8.103(N),

     

    • = 0,4.103(kg), k0 = k.103(N/m), k1 = 0,9.106(N/m), c0 = 0,05.103(Ns/m), c1 = 0,5.103(Ns/m), d = 5.10-3(m), W = 34,56(rad/s).

     

    Hình 2. Biểu đồ rẽ nhánh của hệ (9).

     

    (a) ứng với các nghiệm 2T, 4T, 6T; (b) ứng với các nghiệm 3T, 6T

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               32

     

     

    Hình 3. Biểu đồ nhân tử Floquet của hệ (9)

     

    (a) với các nghiệm 2T, 4T, 8T; (b) ứng với các nghiệm 3T, 6T

     

    Cho k biến thiên trong khoảng [2; 20], khi đó ta có biểu đồ rẽ nhánh của hệ được cho trên các hình 2. Từ hình vẽ ta thấy, tại k = 20 ứng với điểm A1 trên hình 2a, ta tìm được một nghiệm 2-chu kỳ ổn định. Cho k giảm dần, nghiệm 2-chu kỳ này vẫn ổn định, khi k giảm đến điểm B1 ứng với k = 5,66, tại đây có một nhân tử Floquet đi ra khỏi vòng tròn đơn vị theo hướng -1 (xem hình 3a) nên xuất hiện rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ, khi đi qua giá trị này xuất hiện một nghiệm 4-chu kỳ ổn định. Tiếp tục cho k giảm xuống nghiệm 4-chu kỳ vẫn ổn định, khi k giảm đến điểm C1 ứng với k = 3,18, tại đây lại có một nhân tử Floquet đi ra khỏi vòng tròn đơn vị theo hướng -1 (xem hình 3a), do đó lại xuất hiện một rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ, khi đi qua giá trị này xuất hiện một nghiệm 8-chu kỳ ổn định. Nghiệm 8-chu kỳ này tồn tại cho đến giá trị k = 2,865. Mặt khác ta thấy, tại điểm A2 trên hình 2b ứng với k = 7,5 xuất hiện một nghiệm 3-chu kỳ song song tồn tại với nghiệm 2-chu kỳ. Nghiệm ba chu kỳ này tồn tại cho đến điểm B2 ứng với k = 2,3, tại đây có một nhân tử Floquet đi ra khỏi vòng tròn đơn vị theo hướng -1 (xem hình 3b), nên xuất hiện một rẽ nhánh nhân đôi chu kỳ, khi đi qua giá trị này nghiệm 6-chu kỳ xuất hiện, nghiệm 6-chu kỳ này tồn tại ổn định cho đến k = 2. Các nghiệm 2-chu kỳ, 4-chu kỳ, 8-chu kỳ, 3-chu kỳ và 6-chu kỳ của hệ (9), tại một số giá trị của k được cho trong các hình 4 – 8.

     

    Hình 4. Nghiệm 2-chu kỳ của hệ (9) tại k = 6,0                  Hình 5. Nghiệm 4-chu kỳcủa hệ (9) tại k = 3,2

     

     

    Hình 6. Nghiệm 8-chu kỳ của hệ (9) tại k = 2,87               Hình 7. Nghiệm 3-chu kỳ của hệ (9) tại k = 2,4

     

     

    Hình 8. Nghiệm 6-chu kỳ của hệ (9) tại k = 2,0

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Quy%E1%BB%81n-d%E1%BB%B1-ph%C3%B2ng-v%C3%A0-chuy%E1%BB%83n-quy%E1%BB%81n-d%E1%BB%B1-ph%C3%B2ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-t%E1%BB%95-h%E1%BB%A3p-DG-t%C3%A0u-thu%E1%BB%B7.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quyền dự phòng và chuyển quyền dự phòng của các tổ hợp DG tàu thuỷ

    QUYỀN DỰ PHÒNG VÀ CHUYỂN QUYỀN DỰ PHÒNG CỦA CÁC TỔ HỢP DG TÀU THUỶ

     

    THE PRIORITY TO THE STANDBY STATE AND THE ABILITY TO TRANSFER TO ANOTHER OF MARINE DG COMBINATION

     

    PGS. TS. LƯU KIM THÀNH

    Khoa Điện- Điện tử, Trường ĐHHH Việt Nam

    Tóm tắt

     

    Bài báo giới thiệu một tính năng quan trọng của hệ thống quản lý nguồn PMS, đó là xác định quyền được dự phòng và chuyển quyền của các tổ hợp DG tàu thuỷ. Đi sâu nghiên cứu và đưa ra thuật điều khiển thực hiện tính năng nói trên.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               50

     

    Abstract

     

    This article introduces an important function of the Power Management System – PMS; It implies the priority to the standby state and the ability to transfer to another of Marine Diesel-Generator combination; in particular, give out the algorithm of above feature.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Trên tàu thuỷ không thể thiếu được nguồn cấp năng lượng điện. Do tàu thuỷ có một số chế độ làm việc, mà ứng với từng chế độ thì phụ tải yêu cầu công suất điện khác nhau, nên người ta thường bố trí trong trạm vài tổ hợp phát điện – Generating Sets (GS). Các tổ hợp GS thường là Diesel Generators (DG), hoặc máy phát đồng trục – Shaft Generators (SG), hoặc đôi khi dùng Turbo Generators (TG). Tuy theo yêu cầu của phụ tải mà việc đưa từng tổ hợp GS vào làm việc trên lưới có thể được thực hiện bằng tay (chế độ “Hand” hay “Manual”), hoặc chế độ bán tự động ( Semi-Automatic Mode ) hay tự động (Automatic Mode).

     

    Tàu thuỷ có môi trường làm việc rất nặng nhọc và khắc nghiệt đối với thuyền viên, đồng thời cũng luôn đòi hỏi điều khiển chính xác và kịp thời (nhằm ngăn ngừa các sự cố đáng tiếc xảy ra), nên bên cạnh chế độ điều khiển bằng tay luôn trang bị các hệ điều khiển tự động hoặc bán tự động. Vì thế trên tàu thuỷ nói chung và trong trạm phát nói riêng người ta đã trang bị khá nhiều hệ thống tự động hoặc bán tự động. Nhất là trong giai đoạn khoa học công nghệ phát triển thì tự động hóa các hệ thống trên tàu thuỷ ngày càng được hoàn thiện. Hệ thống quản lý nguồn (Power Management System – PMS) là một trong các hệ thống cần thiết và được hình thành trong hoàn cảnh đó.

     

    Hệ thống quản lý nguồn – Power management system (PMS) được trang bị trên tàu thủy có mức độ tự động hoá cao (không có người trực ca trong buồng máy). Tuy nhiên trước đó trên tàu thuỷ đã được trang bị các hệ thống tự động để thực hiện từng chức năng cụ thể, có thể kể ra: Hệ thống tự động điều khiển diesel; Hệ thống tự động hoà đồng bộ; Hệ thống tự động phân chia tải….

     

    Khi PMS được trang bị trên tàu thuỷ thì nó có thể thực hiện chức năng của một số hệ thống riêng biệt nói trên, hoặc nó có thể tác động qua lại với các hệ thống riêng biệt đó – Theo phương án nào hoàn toàn phụ thuộc cấu trúc PMS được lựa chọn theo ý đồ người thiết kế.

     

    Trong 2 thập kỷ qua nhiều hãng trên thế giới đã, đang và sẽ còn tiến hành nghiên cứu giải quyết các vấn đề liên quan đến PMS. Đồng thời đã thiết kế, chế tạo và đưa vào sử dụng các hệ thống tự động quản lý nguồn cho tàu thuỷ. Trong đó trên các tàu quân sự do Nga đóng từ thập kỷ 70 thế kỷ 19 đã trang bị hệ điều khiển nguồn (Power Controller) [1] [2], hãng Taiyo cũng đưa ra từ 2001. Sau đó các sản phẩm PMS do các hãng Lyngsø Marine A/S,Totem, Deif A/S, Stucke Electronic… chế tạo với mức độ tự động và công nghệ vi điều khiển [3], [5] .

     

    Trong nước chưa đưa ra sản phẩm hệ thống quản lý nguồn, cũng chưa có các công trình nghiên cứu nhằm chế tạo PMS, mà chỉ tìm hiểu thực hiện việc lắp đặt và vận hành khai thác chúng, cũng chưa đưa ra các tài liệu và giáo trình phục vụ đào tạo ….Việc nghiên cứu nhằm

     

    hướng tới mục tiêu chế tạo hệ thống PMS tại Việt Nam được đặt ra chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo của công nghiệp đóng tàu Việt nam là cần thiết.

     

    2. Nội dung

     

    Để giải quyết vấn đề nêu trên ta sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng quan hệ quản lý nguồn tàu thủy; Xây dựng biểu thức thuật điều khiển phục vụ cho việc lập chương trình phần mềm;

     

    Vấn đề ưu tiên tổ hợp DG nào sẽ được đưa vào làm việc trên lưới khi có yêu cầu. Trong đó trước tiên phải nói đến thứ tự ưu tiên ở chế độ Standby, tiếp theo là chuyển quyền ưu tiên Standby giữa các tổ hợp DG trên tàu thuỷ.

     

    2.1. Lựa chọn thứ tự standby của các tổ hợp DG

     

    Trạm phát điện trên tàu thuỷ thường được bố trí 3 tổ hợp DG. Khi đó thứ tự standby chỉ có thể được lựa chọn hoặc theo một trong hai cách thức sau:

     

    • Thứ tự thuận DG1 → DG2 → DG3 → DG1;
    • Thứ tự ngược DG1 → DG3 → DG2 → DG1.

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               51

     

    Để thực hiện việc lựa chọn cách thức thuận hay ngược ta cần sử dụng một tín hiệu Logic, tạm gọi là Select standby ký hiệu là S. Có thể gán S=0 cho thứ tự thuận, ngược lại S=1 khi chọn thứ tự ngược.

     

    Nếu gọi các hàm trạng thái standby của các tổ hợp DG1, DG2 và DG3 lần lượt là Y1, Y2 và Y3, thì giá trị Logic của chúng không chỉ phụ thuộc vào tín hiệu S, mà còn phụ thuộc 3 tín hiệu có hay không sự tham gia làm việc của chúng trên lưới, tức là phụ thuộc vào 3 tín hiệu máy cắt (hoặc áptomat) của 3 DG lần lượt là A1, A2 và A3. Giá trị của Yi phụ thuộc các trường hợp sau:

     

    • Khi Ai =1 thì tín hiệu Yi tương ứng sẽ bằng “0”;
    • Khi tất cả Ai = 0 thì cả 3 máy có cơ hội như nhau, hoặc tất cả Ai =1 thì tất cả Yi sẽ bằng

    “0”;

     

    • Khi chỉ có một Ai nào đó bằng “1” thì 2 tín hiệu Yi còn lại sẽ nhận 2 giá trị ngược nhau, nó có thể là “0” hoặc “1” hoàn toàn phụ thuộc vào giá trị của S;
    • Khi có 2 tín hiệu Ai nào đó đều bằng “1” thì tín hiệu Yi còn lại đương nhiên sẽ nhận giá trị “1” không phụ thuộc vào giá trị của S.

    Từ phân tích các trường hợp trên ta có thể đưa ra bảng chân lý của 3 tín hiệu Yi phụ thuộc 4 tín hiệu vào S, A1, A2 và A3 (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Bảng chân lý các tín hiệu ưu tiên standby

    Số trạng

    S

    A1

    A2

    A3

    Y1

    Y2

    Y3

     

    thái

                   

    0

    0

    0

    0

    0

     

    1

    0

    0

    0

    1

    0

    1

    0

     

    2

    0

    0

    1

    0

    1

    0

    0

     

    3

    0

    0

    1

    1

    1

    0

    0

     

    4

    0

    1

    0

    0

    0

    0

    1

     

    5

    0

    1

    0

    1

    0

    1

    0

     

    6

    0

    1

    1

    0

    0

    0

    1

     

    7

    0

    1

    1

    1

     

    8

    1

    0

    0

    0

     

    9

    1

    0

    0

    1

    1

    0

    0

     

    10

    1

    0

    1

    0

    0

    0

    1

     

    11

    1

    0

    1

    1

    1

    0

    0

     

    12

    1

    1

    0

    0

    0

    1

    0

     

    13

    1

    1

    0

    1

    0

    1

    0

     

    14

    1

    1

    1

    0

    0

    0

    1

     

    15

    1

    1

    1

    1

     

    Từ bảng 1 ta có: Y1 = S2,3,9,11 ; Y1 = S1,5,12,13 ; Y3 = S4,6,10,14.

     

    Sau khi đơn giản 3 hàm trên ta có:

     

    Y = A

    (S.A

    2

    + S.A

    );

    = A

    (S.A

    3

    + S.A

    );

    Y = A

    (S.A

    + S.A

    )

    1

    1

     

    3

     

    2

    2

     

    1

     

    3

    3

    1

    2

     
                                     

    Tín hiệu ra Yi có thể được đưa ra các đèn vàng YLi tương ứng để chỉ báo tổ hợp đó đang được quyền sẵn sàng đưa vào làm việc tiếp sau với lưới. Khi máy phát đó được đóng vào lưới thì tổ hợp DG đó không còn quyền dự phòng nữa, tín hiệu Yi của nó sẽ bị xoá và đèn vàng YLi của nó sẽ tắt.

     

    Ngoài ra quyền standby của DGi cũng sẽ bị huỷ nếu nó có tín hiệu không sẵn sàng tham gia (Fi = 1), cũng như lệnh khởi động DGi bị huỷ (Dei=1) vì đã hết thời gian cho phép (ví dụ 2 phút). Khi đó các hàm Yi có dạng:

     

     

    =

                                               

    Y1

    A1

    (S.A 2

    + S.A 3

    )F1  × De1 ;

       
     

    =

                     

    )

       

    ×

       

    ;

       

    Y2

    A 2

    (S.A 3

    + S.A1

    F2

    De 2

     

    (1)

     

    =

               

    )

       

    ×

           

    Y3

    A 3

    (S.A1

    + S.A 2

    F3

    De3

       
                                               

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 39 – 08/2014

    52

    Với cách lựa chọn trên sẽ chỉ ra tổ hợp DG dự phòng thứ nhất, còn dự phòng thứ 2 không được chỉ ra và chỉ được ngầm hiểu mà thôi – Đây có thể là chưa hoàn hảo của cách lựa chọn này.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               53

     

    2.2. Chuyển quyền ưu tiên standby giữa các tổ hợp DG

     

    Để xem xét việc chuyển quyền standby cho tổ hợp DG tiếp theo chúng ta cần chú ý đến 2 trường hợp sau:

     

    A/ Trong trường hợp khi trạm chỉ có một tổ hợp làm việc (ví dụ DG1) và có tín hiệu yêu cầu của tải nặng, trạm cần tăng công suất phát PS, thì tổ hợp được quyền standby thứ nhất (ví dụ DG2) sẽ tiến hành thực hiện các công đoạn đưa vào làm việc, nhưng có thể xảy ra các tình huống:

     

    • Khi tổ hợp DG2 được yêu cầu đưa vào làm việc trên lưới thì đèn YL2 sáng cùng với xuất hiện tín hiệu khởi động Diesel thứ 2. Nhưng quá trình khởi động không thành, hoặc Diesel khởi động thành công nhưng máy phát không có điện áp ra, tức là sau thời gian cho phép mà tổ hợp DG2 vẫn không thể cấp điện cho lưới;

     

    • Trước khi nhận được tín hiệu khởi động mà Diesel thứ 2 đã bị sự cố, hoặc tổ hợp DG2 không được chọn chế độ tự động, tức là tổ hợp này đã từ chối quyền ưu tiên standby.

    Nếu một trong hai tính huống đó xảy ra thì tổ hợp DG2 sẽ mất quyền động chuyển quyền standby cho tổ hợp DG3. Với trạm có 3 tổ hợp DG standby không phụ thuộc vào tín hiệu Select standby – S.

    standby và PMS sẽ tự thì việc chuyển quyền

     

    B/ Với trạm có 3 tổ hợp DG mà đã có 2 tổ hợp đang làm việc trên lưới thì việc chuyển quyền ưu tiên không xảy ra (vì tổ hợp thứ 3- tổ hợp cuối cùng của trạm đương nhiên có quyền standby). Nếu tổ hợp cuối cùng cũng bị rơi vào một trong 2 tình huống trên thì hệ chỉ có thể phát tín hiệu báo động mà thôi, ngoài ra không thể là gì được hơn.

     

    Việc chuyển quyền cho tổ hợp nào đó (ví dụ DG1) chỉ xảy ra khi thoả mãn tất cả các điều kiện sau:

     

    • Điều kiện thứ nhất: Trạm chỉ có 1 tổ hợp DG đang làm việc trên lưới (tức là có aptomat A2 hoặc A3 đã ở trạng thái đóng – nhận giá trị “1” Logic);
    • Điều kiện thứ hai:
    • A3=0 (A2=1) và DG3 có quyền standby mà đã từ chối (theo tình huống 2), tức là DG3 đã phát tín hiệu F3 báo không sẵn sàng (do hỏng, do chọn chế độ manual), tức là F3=1 do không chọn chế độ “AUTO”;
    • Khi DG3 được chọn chế độ “AUTO” (F3=0) thì điều kiện thứ ba có thể xảy ra theo một trong hai tình huống sau:

    ü Tình huống 1: A3=0 (A2=1) và DG3 có quyền standby mà sau thời gian cho phép (khoảng

    120s kể từ khi có tín hiệu yêu cầu DG1 vào làm việc trên lưới St3 =1) mà aptomat DG3 vẫn không đóng lên lưới được (A3 vẫn =0), thì xuất hiện tín hiệu xoá lệnh khởi động St3 = 0 bằng tín hiệu trạng thái De3 =1.

     

    ü Tình huống 2: A3=0 (A2=1) và DG3 có quyền standby tuy chưa hết thời gian cho phép khởi động đã có tín hiệu báo khởi động không thành Sf3 = 1 (thêm dấu .)

     

    Như vậy tín hiệu chuyển quyền standby (ký hiệu là St1 ) từ DG3 cho DG1 sẽ phụ thuộc vào tích đơn giản của 2 tín hiệu A2 và thừa số thứ 2 là tổng của tín hiệu F3 với tích F3 ×(St3 ×De3 +Sf3 ) .

     

    Tương tự cũng có kết quả ứng với trường hợp A2=0 (A3=1). Hàm St1 sẽ là tổng của 2 tích đơn giản (dạng hàm Karnonic).

     

    Tóm lại ta nhận được biểu thức của tín hiệu chuyển quyền standby cho DG1 DG2 DG3  như

    sau:

                                                     

    St1  = A2  ×[F3

    +

       

    × (

         

    × De3

    + Sf 3

    )] + A3  ×[F2  +

           

    × (

         

    × De 2  + Sf

    2 )]

     

    F3

    St3

    F2

    St 2

     
     

    = A1  ×[F3

    +

       

    × (

         

    × De3

    + Sf 3

    )] + A3  ×[F1  +

         

    × (

         

    × De1  + Sf1 )]

    (2)

    St 2

    F3

    St3

    F1

    St1

     

    = A1  ×[F2

    +

     

    × (

     

    × De 2  + Sf 2

    )] + A2  ×[F1  +

     

    × (

     

    × De1  + Sf1

    )]

     

    St 3

    F2

    St 2

    F1

    St1

     

    Như vậy khi kết hợp (1) với (2) về việc chuyển quyền standby từ tổ hợp DG khác, thì tín hiệu standby của mỗi tổ hợp DG được viết lại như sau:

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-l%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%8Bnh-trong-d%E1%BB%B1-b%C3%A1o-nhu-c%E1%BA%A7u-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-%C3%81p-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-doanh-nghi%E1%BB%87p-cung-%E1%BB%A9ng-v%E1%BA%ADt-t%C6%B0-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT BẤT ĐỊNH TRONG DỰ BÁO NHU CẦU HÀNG HÓA:

     

    ÁP DỤNG TẠI DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG VẬT TƯ THIẾT BỊ HÀNG HẢI

     

    APPLICATION OF UNCERTAINTY THEORY IN FORECASTING CUSTOMER DEMAND: THE CASE OF MARITIME SPARE PARTS SUPPLYING

    COMPANY

     

    NGUYỄN MINH ĐỨC, VŨ LÊ HUY

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Đối với các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu, đây thực sự là thách thức không nhỏ do giới hạn về số liệu lịch sử cũng như số lượng các khách hàng thân thiết với nguồn cầu ổn định. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Bài báo đề xuất ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa và áp dụng kết quả vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    Từ khóa: Lý thuyết bất định, dự báo nhu cầu khách hàng, quản trị tồn kho.

     

    Abstract

     

    Forecasting customer demand is always a critical activity in supply chain management, especially at companies that directly distribute products to customers because those companies are at the end of the supply chain line to provide information to other distributors and manufacturers. This activity is even a higher challenge to new companies due to the shortage of historical data as well as certain demand from loyal customers. Forecasting customer demand directly impacts companies’ business planning, such as inventory management. The paper suggests the application of uncertainty theory in forecasting customer demand and its application to economical order model at a maritime spare parts supplying company.

     

    Keywords: Uncertainty theory, forecasting customer demand, inventory management.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Quản trị hàng tồn kho chiếm một vị trí quan trọng trong thành công của các doanh nghiệp cũng như cho cả chuỗi cung ứng. Thực hiện tốt quản trị hàng tồn kho sẽ giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí cũng như tăng mức dịch vụ khách hàng, giảm thiệt hại kinh tế do hết hàng tồn kho hay lãng phí do lượng hàng tồn kho quá lớn. Trên thực tế, việc quản trị hàng tồn kho càng trở nên thách thức do tính bất ổn của dòng thông tin đầu vào như nhu cầu hàng hóa của khách hàng, thời gian vận chuyển trong chuỗi, các loại chi phí liên quan,… (Sethi et al, 2005) Việc xác định chính xác các thông tin đầu vào này sẽ quyết định sự hiệu quả của công tác quản trị hàng tồn kho. Lý thuyết bất định cung cấp một công cụ để xác định và nâng cao mức độ tin cậy của giá trị kỳ vọng của các thông tin đầu vào này. Bài báo, trước hết, sẽ giới thiệu một cách khái quát về lý thuyết bất định và sau đó, đề xuất ứng dụng của lý thuyết này trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng nó vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    2. Ứng dụng lý thuyết bất định trong xác định giá trị kỳ vọng

     

    Nhằm mục đích mô hình hóa những vấn đề không thể xác định được một cách chắc chắn, đã có rất nhiều lý thuyết được phát triển nhưng nổi lên là hai phương pháp toán học: lý thuyết xác suất và lý thuyết bất định. Lý thuyết xác suất đòi hỏi một lượng đủ lớn của mẫu để có thể xác định phân phối xác suất. Tuy nhiên, không phải lúc nào mẫu cũng sẵn có để xác định được hàm mật độ của một biến ngẫu nhiên. Nếu không có đủ số liệu, có thể phải mời chuyên gia để đánh giá mức độ tin cậy của một sự kiện có thể xảy ra. Lý thuyết bất định được giới thiệu bởi giáo sư Liu Baoding lần đầu năm 2007 và được định nghĩa lại vào năm 2010. Theo lý thuyết bất định, một biến bất định là một hàm đo lường ξ từ một không gian bất định (Γ, ℒ, ℳ) đối với một tập các số thực, với {ξ ∈ Β} là

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     91

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    một sự kiện đối với bất kỳ một tập hợp B nào. Phân phối bất định của một biến bất định ξ được xác định bởi Φ(x) = ℳ{ξ ≤ x} với bất kỳ số thực nào (Liu, 2015). Một biến bất định tuyến tính có phân phối bất định như sau:

    0,

      ớ    <

     

    Φ(x) = {(x − a)⁄(b − a) , với  ≤  <

    (1)

    1,

      ớ    ≥

     

    Với a và b là số thực, (a < b).

     

    Một hàm Φ: ℛ ⟶ [0,1] là một phân phối bất định khi và chỉ khi nó là một hàm tăng dần ngoại trừ khi Φ(x) ≡ 0 và Φ(x) ≡ 1.

     

    Do không thể xác định chính xác biến bất định ξ, nên thay vào đó, ta sẽ xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ. Đối với một phân phối bất định thực nghiệm được Liu (2015) đề xuất như sau:

     

       

    0

       

    với x <   1

     
     

    i+1

    − αi)(x − xi)

     

    Φ(x) = {αi +

    với xi  ≤ x ≤ xi+1, 1 ≤ i ≤ n

     
     

    xi+1

    − xi

       

    với x > xn

     
       

    1

       
               

    Giá trị kỳ vọng của biến ξ sẽ được xác định theo công thức:

    E[ξ] =

    α12

    x

    + ∑n−1

    αi+1−αi−1

    x

    i

    + (1 −

    αn−1n

    )x

    n

         
     

    2

    1

    i=2

    2

       

    2

     
                   

    (2)

     

    (3)

     

    Trong đó, α1, α2 , .. αn lần lượt là mức độ tin cậy của sự kiện giá trị khảo sát nhỏ hơn x1, x2, … xn và x được sắp xếp theo thứ tự từ bé đến lớn.

     

    Trên cơ sở lý thuyết bất định, ta có thể xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ thông qua bộ câu hỏi cho chuyên gia để xác định bộ giá trị (x1, α1), (x2, α2)… (xn, αn) như sau:

    • Giá trị lớn nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị nhỏ nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị của biến ξ có thể là bao nhiêu? Và mức độ tin cậy của việc giá trị thức tế sẽ nhỏ hơn giá trị kỳ vọng này?

    Câu hỏi thứ (i) có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi chuyên gia ngừng đưa ra đáp án. Giá trị kỳ vọng E[ξ] của tất cả chuyên gia tham gia khảo sát sẽ được lấy trung bình để rút ra kết quả kỳ vọng cuối cùng.

     

    3. Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng để tính toán lượng đặt hàng kinh tế tại công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

     

    Trong mô hình đặt hàng kinh tế EOQ (Economic Order Quantity) (Bowersox, Closs & Cooper 2002), lượng đặt hàng tối ưu được xác định theo công thức:

    = √

    2   

    (4)

     

         

    Trong đó: D là nhu cầu về hàng hóa, K là chi phí đặt hàng, h là chi phí tồn trữ một đơn vị hàng hóa

     

    Tuy nhiên, trong thực tế, việc dự báo nhu cầu về hàng hóa luôn là thách thức đối với tất cả những nhà quản lý, đặc biệt là tại các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu do hạn chế về lượng thông tin để có thể áp dụng các phương pháp dự báo truyền thống. Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh là một công ty thành lập năm 2016 chuyên cung ứng các vật tư thiết bị hàng hải cho các đội tàu biển trên khu vực Hải Phòng. Một trong những sản phẩm được cung ứng với số lượng lớn và liên tục là bóng đèn chiếu sáng lặp đặt trên tàu. Một nhiệm vụ quan trọng của công ty là dự báo nhu cầu lượng bóng đèn và từ đó lập kế hoạch mua hàng để tiết kiệm chi phí tồn trữ. Tuy nhiên, do thời gian hoạt động chưa lâu, nên công ty luôn gặp khó khăn trong việc xác định lượng cầu một cách tin cậy. Lý thuyết bất định, do đó, phù hợp để áp dụng trong trường hợp này.

     

    Do giá trị của D là không xác định được trực tiếp một cách chính xác, nên ta sẽ phải xác đing lượng đặt hàng tối ưu thông qua giá trị kỳ vọng E[D]. Lúc này, công thức xác định lượng đặt hàng tối ưu sẽ là:

    = √

    2E[D] 

    (5)

     

         

    Nhu cầu về sản phẩm bóng đèn chiếu sáng lắp đặt trên tàu biển tại công ty theo từng tháng từ ngày thành lập được thể hiện trong Hình 1. Bằng cách áp dụng hồi quy tuyến tính, ta có thể xác định hàm xu thế tuyến tính và dự báo tuyến tính nhu cầu hàng hóa trong năm 2018.

     

    92                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Lượng hàng (chiếc)

    900

       
       

    800

       
       

    700

       
       

    600

       

    y = 0.321x – 13084

     

    500

       

    R² = 0.7455

     
     

    400

       
       

    300

       
       

    200

       
       

    100

       
       

    0

       

    Mar-16Apr-16May-16Jun-16Jul-16Aug-16Sep-16Oct-16Nov-16Dec-16Jan-17Feb-17Mar-17Apr-17May-17Jun-17Jul-17Aug-17Sep-17Oct-17Nov-17Dec-17

     
     

    (Nguồn: thống kê từ doanh nghiệp)

     

    Hình 1. Nhu cầu sản phẩm và hàm xu thế tuyến tính

     

    Nhu cầu khách hàng trong năm 2018 dựa trên dự báo tuyến tính là 9.680 sản phẩm. Mặc dù kết quả dự báo này có độ tin cậy thấp, nhưng nó vẫn là một thông số tham khảo để tiếp tục áp dụng lý thuyết bất định trong khảo sát ý kiến chuyên gia. Các chuyên gia, trong trường hợp này là giám đốc và nhân viên mua hàng, nhân viên phân phối. Họ sẽ độc lập trả lời các câu hỏi về giá trị kỳ vọng của nhu cầu khách hàng, trên cơ sở đã biết nhu cầu thực tế của khách hàng trong lịch sử và kết quả dự báo tuyến tính:

     

    Kết quả khảo sát được tổng hợp như sau:

     

    Chuyên gia 1: (8000, 0), (9000, 0,5), (9680, 0,7), (12000, 1);

     

    Chuyên gia 2: (7000, 0), (8000, 0,5), (9680, 0,9), (10000, 1);

     

    Chuyên gia 3: (8000, 0), (9680, 0,5), (11000, 0,8), (12000, 1).

     

    Áp dụng công thức (3) ta có kết quả nhu cầu khách kỳ vọng của các chuyên gia lần lượt là: 10570, 10270 và 11622. Lấy trung bình các kết quả kỳ vọng của các chuyên gia, ta có nhu cầu khách hàng kỳ vọng trong năm 2018 là E[D] = 10820.

     

    Với thống kê từ bộ phận tài chính, chi phí đặt hàng là 2 triệu đồng cho một đơn đặt hàng và chi phí tồn trữ bình quân một đơn vị sản phẩm là 5000 đồng. Áp dụng công thức (5), lượng đặt hàng tối ưu đối với công ty sẽ là:

     

    EOQ = 2942 (sản phẩm/đơn hàng)

     

    4. Kết luận

     

    Có thể thấy đối với trường hợp Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh, là Công ty Cung ứng vật tư thiết bị hàng hải, nhu cầu khách hàng về sản phẩm bóng đèn trên tàu biển được nâng cao độ tin cậy của dự báo thông qua ứng dụng của lý thuyết bất định khi cơ sở dữ liệu không đủ để thực hiện các dự báo truyền thống. Việc sử dụng ý kiến nhiều chuyên gia cũng giúp hạn chế tính chủ quan của một chuyên gia đơn lẻ. Kế hoạch về lượng đặt hàng kinh tế, do đó, sẽ có mức độ tin cậy cao hơn. Rõ ràng, nếu chỉ sử dụng kết quả dự báo tuyến tính, sẽ có nhiều khả năng lượng hàng nhập về không đáp ứng đủ nhu cầu khách hàng và doanh nghiệp sẽ có thể mất thêm chi phí để đặt hàng bổ sung.

     

    Quản trị hàng tồn kho là một nhiệm vụ quan trọng trong quản trị chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, tránh tình trạng hết hàng và giảm chi phí tồn trữ cho doanh nghiệp cũng như toàn chuôi cung ứng. Việc lập kế hoạch tồn kho, do đó, chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, tuy nhiên, lại là một thách thức không nhỏ cho các nhà quản lý, đặc biệt khi các giá trị đầu vào của các mô hình quản lý tồn kho như nhu cầu hàng hóa biến động và khó xác định một cách chắc chắn. Lý thuyết bất định được xây dựng để xác định giá trị kỳ vọng của một biến số dựa trên mức độ tin cậy của các sự kiện có thể xảy đến với biến số đó. Lý thuyết bất định do đó, có thể đóng vai trò cầu nối giữa các phương pháp toán học dự báo đơn thuần và phương pháp chuyên gia để nâng cao độ tin cậy cho giá trị kỳ vọng của biến số. Trên thực tế, thông tin về các thông số kinh tế thường mang tính bất định, và do đó, ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng trong quản trị hàng tồn kho chỉ là một trong phạm vị rất rộng các ứng dụng của lý thuyết này.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     93

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Sethi, Suresh P; Yan, Houmin; Zhang, Hanqin; Inventory and supply chain management with forecast updates, Springer, 2005.
    • Liu, Baoding, Uncertainty Theory 5th edition, Springer-Verlag Berlin, 2015.
    • Donald J. Bowersox, David J. Closs, M. Bixby Cooper, Supply Chain Logistics Management International edition, McGraw-Hill Higher Education, 2002.

    Ngày nhận bài:

    14/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

     

     

     

    94                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]