Category: Công Nghệ – Môi Trường

  • PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-NG%C3%80NH-C%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-PH%E1%BB%A4-TR%E1%BB%A2-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

     

    Vũ Văn Thực*

     

    TÓM TẮT

     

    Những năm qua, ngành công nghiệp phụ trợ là một trong những ngành quan trọng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư phát triển, đây là một trong những ngành đã và đang được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, thời gian qua các doanh nghiệp phụ trợ của Việt Nam dường như vẫn loay hoay tìm đường cho phát triển. Bài viết này sẽ phân tích thực trạng công nghiệp phụ trợ ở nước ta nhằm tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém mà ngành này đang gặp phải, từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển ngành này trong thời gian tới.

     

    Từ khóa: công nghiệp phụ trợ, phát triển

     

    INDUSTRY DEVELOPMENT IN VIETNAM ACCESSORIES

     

    ABSTRACT

     

    In the few years, the supporting industry is becoming an important sector of the economy and is being supported by Party and State. It is promised that this part of the economy will have grown into one of the most important factor to boost the industry strengh as well as the fate of Vietnam’s economy in the next stage. In spite of the fact above, those enterprises in this sector seems struggling to achive their success. The objective of this article is to analyze what the dificulty of supporting industries in Vietnam is facing in oder to ind out the root of the problem; from there we will propose some answers to develop this industry in the future.

     

    Keywords: supporting industry, development

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Khách quan mà nói, thời gian qua, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam đã gặt hái được một số thành quả nhất định, đặc biệt là một số ngành như sản xuất xe gắn máy hay điện gia dụng đã có bước phát triển nhanh, có tỷ lệ nội địa hoá cao. Tuy nhiên thực tế cho thấy, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam vẫn được coi là một trong những ngành chậm

     

    phát triển, quy mô ngành công nghiệp phụ trợ trong nước còn nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất ra các linh kiện có chi tiết giản đơn, giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực đối với yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu. Do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp của đất nước, đặc biệt là những ngành có hàm lượng công nghệ kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng lớn. Công nghiệp phụ trợ

     

     

    * TS. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, CN Tân Bình

     

     

    45

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    chậm phát triển đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài; trước đây lợi thế của Việt Nam chủ yếu dựa vào mặt bằng và giá nhân công rẻ, nhưng ngày nay những tiêu chí trên không phải là tiêu chí quyết định đến đầu tư của các nhà đầu tư mà các nhà đầu tư còn nhắm đến những thị trường có thể đáp ứng tốt nhất cho việc sản xuất ra các sản phẩm của họ. Vì vậy, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ được coi là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư, cũng như giúp kinh tế đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn trong giai đoạn tới.

     

    2. Thực trạng của một số ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

     

    Theo tính toán của các cơ quan chức năng, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện còn lệ thuộc vào phần lớn nguồn nguyên liệu nhập khẩu, điều đó cho thấy mục tiêu đặt ra cho ngành công nghiệp phụ trợ chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Dưới đây là thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ của một số ngành điển hình ở Việt Nam:

     

    Ngành ô tô: nhằm giúp ngành ô tô phát triển, từng bước theo kịp với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, những năm vừa qua, các cấp, các ngành đã đưa ra nhiều chính sách để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào ngành này, cho đến nay đã có rất nhiều hãng ô tô nổi tiếng đã và đang tham gia sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam như: Toyota, Ford, Kia v.v . Theo kế hoạch, các hãng sản xuất ôtô ở trong nước phải tăng dần tỷ lệ nội địa hoá các linh kiện, giảm nhập khẩu từ nước ngoài, song cho đến nay khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp phụ trợ còn nhiều hạn chế, nhất là các linh kiện, phụ kiện đòi hỏi tính chính xác cao. Theo tính toán của các doanh nghiệp sản xuất xe ô tô, một doanh nghiệp ôtô cần phải có tối thiểu 20 nhà

     

    cung cấp các loại linh kiện khác nhau phục vụ cho việc sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh, nhưng cho đến nay chưa một doanh nghiệp sản xuất ôtô nào tại Việt Nam có được 20 nhà cung cấp linh kiện. Trên thực tế, các doanh nghiệp lắp ráp ôtô chỉ có khoảng từ 2 đến 3 nhà cung cấp linh kiện trong nước và như vậy các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở trong nước vẫn phụ thuộc vào phần lớn linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài khiến giá thành sản phẩm đứng ở mức cao, khó có khả năng cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, chưa đáp ứng được mong mỏi của người tiêu dùng trong nước. Số liệu tính toán gần đây cho thấy, hiện nay Việt Nam có 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô, song chỉ có khoảng trên 60 doanh nghiệp cung cấp linh kiện, nhưng chủ yếu là những linh kiện có giá trị thấp như vỏ, ruột, kiếng, khung xe v.v, số lượng doanh nghiệp như trên được cho là khá thấp so với các nước trong khu vực, chẳng hạn như ở Malaysia là 385 doanh nghiệp và ở Thái Lan là 2.500 doanh nghiệp[4].

     

    Ngành xe máy: Việt Nam được coi là một quốc gia có số lượng xe máy lớn nhất hành tinh, theo số liệu thống kê của Bộ Giao thông vận tải, tính đến cuối năm 2013, số lượng xe máy của cả nước là trên 37 triệu xe, vượt xa con số mà Chính phủ đã qui hoạch đến năm 2020 là 36 triệu xe [5]. Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào thị trường sản xuất, lắp ráp xe gắn máy, trong đó các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản chiếm phần lớn thị phần, nổi bật trong số đó là hãng Honda Việt Nam, có được điều này chính là sản phẩm của hãng Honda có chất lượng ổn định, mẫu mã đẹp và giá cả cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại khác. Có thể nói, công nghiệp phụ trợ ngành xe gắn máy là một trong những ngành có bước phát triển nhanh nhất, từ chỗ phải nhập khẩu 100%

     

     

    46

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    từ nước ngoài, song cho đến nay ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp xe máy của Việt Nam đã có thể tự sản xuất được trên 70% các loại linh kiện, phụ tùng, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, giảm giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh; nổi bật trong số các doanh nghiệp phụ trợ cho ngành xe máy, có doanh nghiệp Mạnh Quang là đơn vị sản xuất các loại nhông, đĩa, xích, và các loại phụ tùng khác, chiếm gần 20% thị phần cung cấp sản phẩm cho các công ty sản xuất và lắp ráp xe máy trên toàn lãnh thổ Việt Nam, là đối tác của nhiều hãng sản xuất lớn như Honda, SYM, SuFat, Detech, Lifan [7].

     

    Ngành dệt may: là ngành thu hút lực lượng lao động lớn, có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tuy nhiên cho đến nay ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn nhiều bất cập, yếu kém; đặc biệt là khả năng cung cấp các sản phẩm cơ khí còn khá nhỏ bé so với nhu cầu của ngành này và thực tế cho thấy, các doanh nghiệp dệt may trong nước vẫn phải nhập khẩu từ 70 đến 80% nguyên phụ liệu từ nước ngoài phục vụ cho sản xuất. Cho đến nay, chỉ có một số ít các doanh nghiệp như Công ty cổ phần phụ liệu may Nha Trang, Công ty may Việt Tiến, Công ty dệt vải công nghiệp và các công ty tư nhân đã tự sản xuất được một số phụ liệu như khóa kéo, tấm lót, cúc, chỉ v.v. nhưng sản lượng sản xuất ra cũng còn khá khiên tốn, chỉ đáp ứng được khoảng từ 20 đến 25% nhu cầu của ngành [6].

     

    Ngành da giày: công nghiệp phụ trợ cho ngành da giày chưa thực sự phát triển, điều đó có thể thấy ngay ở TP. Hồ Chí Minh, một địa phươNG đứng đầu cả nước về cung ứng sản phẩm da giày (chiếm hơn 80% sản phẩm của cả nước) nhưng cũng chỉ có khoảng 10

    doanh nghiệp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho ngành này, trong đó chỉ có 2 doanh nghiệp là có sản phẩm đủ chất lượng đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Lý giải về vấn đề này, các doanh nghiệp cho rằng, giá nguyên liệu sản xuất ở trong nước còn khá cao, chất lượng kém nên chưa được thị trường các nước như Mỹ và EU chấp nhận. Do đó, cho đến nay tỷ lệ nội địa hóa của da tổng hợp đạt 40%, các loại phụ liệu trang trí cũng chỉ đạt gần 45%. Theo dự báo của các cơ quan chức năng, tỷ lệ nội địa hóa các nguyên liệu cơ bản cho ngành da giày như da thuộc, da tổng hợp, đế giày có thể đạt 50% vào năm 2020 và tăng lên 70% vào 2025 [8].

     

    Ngành điện tử, điện máy: là một trong những ngành có hàm lượng công nghệ cao được khá nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước sớm đầu tư vào sản xuất, tuy nhiên cho đến nay, các doanh nghiệp điện tử trong nước hầu như chỉ sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng kém, chưa có khả năng cạnh tranh so với hàng hóa ngoại nhập, sức tiêu thụ thấp, ước tính giá trị gia tăng chỉ đạt từ 5 đến 10%/ năm. Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong ngành điện tử, điện máy đang phải chịu áp lực giảm chi phí linh, phụ kiện để giảm giá thành sản phẩm, gia tăng sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, để thực hiện được điều đó phải có những doanh nghiệp sản xuất hàng phụ trợ linh, phụ kiện trong nước cung cấp nhiều sản phẩm có giá cả phải chăng, tuy nhiên trên thực tế doanh nghiệp phụ trợ có thể đáp ứng được yêu cầu này là rất ít. Do đó, hầu hết các doanh nghiệp ngành điện, điện tử phải nhập khẩu linh kiện, phụ kiện từ các nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc hay Trung Quốc. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam, các

     

     

    47

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có “tên tuổi” đều phải nhập khẩu trên 90% linh kiện của nước ngoài, thậm chí có doanh nghiệp nhập khẩu 100% như Công ty Fujitsu Việt Nam [6]. Điều này vừa thiệt thòi cho ngành công nghiệp Việt Nam, khiến Việt Nam khó thoát khỏi tình trạng gia công, lắp ráp, vừa giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng điện tử trong nước do phải nhập khẩu phần lớn những linh, phụ kiện quan trọng. Việc thiếu vắng các nhà cung cấp linh, phụ kiện cũng khiến nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực này có xu hướng ngại đầu tư vào Việt Nam và đây là điểm yếu căn bản trong thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện – điện tử.

     

    Ngành cơ khí chế tạo: là một ngành được coi là xương sống cho ngành công nghiệp của mỗi quốc gia, nhưng ngành này lại là một ngành khá lạc hậu so với các nước phát triển trên thế giới, theo tính toán của ngành cơ khí chế tạo ở Việt Nam thì công nghệ của ngành này có trình độ công nghệ lạc hậu, có khoảng cách từ 2 đến 3 thế hệ so với các nước trong khu vực. Ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực chế tạo máy Việt Nam được đánh giá là khá yếu kém, đang có một lỗ hổng lớn

    • “chân móng”, sản phẩm thép dùng để chế tạo chưa hề có mặt tại Việt Nam, việc kết hợp trong công tác nội địa hóa còn thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp cơ khí trong nước dẫn đến thiếu thông tin kịp thời và cụ thể cho việc cung cấp các sản phẩm. Số liệu thống kê cho thấy, khoảng 80% giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam dành cho nguyên liệu đầu vào, thiết bị và máy móc phục vụ sản xuất trong nước, điều đó cho thấy ngành công nghiệp phụ trợ của ngành cơ khí chế tạo còn khá yếu kém [6].

     

    3.           Nguyên nhân hạn chế

     

    • Chưa xây dựng được chiến lược phát

    triển công nghiệp phụ trợ để các doanh nghiệp dựa vào đó xây dựng chiến lược phát triển cho riêng mình, từ đó các doanh nghiệp mới có thể yên tâm đầu tư.

     

    • Chưa có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là chính sách về vốn vay, lãi suất ưu đãi, chính sách thuế v.v, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ.

     

    • Mặc dù ngành công nghiệp phụ trợ đã được qui hoạch tổng thể nhưng việc qui hoạch lại chưa được thực hiện cho từng vùng miền, từng địa phương, do đó việc phát triển công nghiệp phụ trợ còn mang tính tự phát, chưa có sự gắn kết giữa phát triển công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng.

     

    • Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu, trình độ công nghệ kỹ thuật của các doanh nghiệp phụ trợ còn khiêm tốn, khó có khả năng chuyển giao công nghệ, đặc biệt là những ngành có hàm lượng công nghệ, kỹ thuật cao.

     

    • Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ chưa được thực hiện nhiều, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) muốn tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ của Việt Nam nhưng còn thiếu thông tin và cơ hội.

     

    • Chưa thành lập cơ quan độc lập của nhà nước để có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận những tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp lớn để những doanh nghiệp sản xuất hàng phụ trợ có điều kiện tiếp cận, học hỏi, giao lưu và ký kết hợp đồng cung ứng sản phẩm.

     

    • Cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp phụ trợ còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

     

     

    48

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    • Hiện nay các trường, viện nghiên cứu trong nước được thành lập khá nhiều nhưng chất lượng nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học đối với những sản phẩm phụ trợ nói riêng còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp trên thế giới.

    4. Một số khuyến nghị nhằm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

     

    Một là, xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ: nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triền ngành công nghiệp phụ trợ để định hướng cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Bên cạnh đó, cần thường xuyên tổ chức các cuộc gặp mặt giữa các doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với các doanh nghiệp trong nước (nhà nước và tư nhân) có điều kiện gặp gỡ, tìm hiểu và hợp tác làm ăn với nhau.

     

    Hai là, qui hoạch ngành công nghiệp phụ trợ: thực hiện công tác qui hoạch ngành công nghiệp phụ trợ theo từng ngành, vùng và từng địa phương. Theo đó, phải qui hoạch từng vùng, miền, từng địa phương cần đầu tư phát triển ngành phụ trợ nào, số lượng doanh nghiệp là bao nhiêu và phải gắn kết giữa việc qui hoạch các ngành công nghiệp và công nghiệp phụ trợ đi kèm, không nên coi nhẹ vai trò của công nghiệp phụ trợ đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp nói chung.

     

    Ba là, xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ: nhằm khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư ngành công nghiệp phụ trợ, nhà nước cần xây dựng chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ, chính sách đó cần được thực hiện đồng bộ trên các mặt: ưu đãi về thuế, thuê đất, thủ tục hành chính, được miễn thuế đối với phần lợi

    nhuận để tái đầu tư và xây dựng hệ thống bảo lãnh tín dụng…nên chú trọng ưu đãi đối với những ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và những ngành thu hút nhiều lao động cho xã hội.

     

    Bốn là, có chính sách ưu đãi về vốn cho các doanh nghiệp phụ trợ: để các doanh nghiệp phụ trợ có đủ tiềm lực tài chính đầu tư cho sản xuất, thiết nghĩ nhà nước nên có chính sách cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp phụ trợ thông qua ngân hàng phát triển Việt Nam như: cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi đối với các doanh nghiệp phụ trợ; bảo lãnh cho các doanh nghiệp phụ trợ vay vốn tại các tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Đối với những ngành quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và an ninh quốc gia, nhà nước có thể cho vay ưu đãi với lãi suất bằng 0, việc cho vay ưu đãi cần được thực hiện một cách công bằng, công khai, minh bạch từ đó sẽ thu hút được các doanh nghiệp thực sự có năng lực tham gia đầu tư.

     

    Năm là, chính sách ưu đãi về chuyển giao công nghệ: để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong và ngoài nước, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp phụ trợ, thiết nghĩ nhà nước cần có chính sách thông thoáng về chính sách nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ cho sản xuất công nghiệp phụ trợ; nhà nước cần có chính sách miễn, giảm các loại thuế nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu v.v cho các doanh nghiệp nhập khẩu dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ cho công nghiệp phụ trợ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ cũng cần phải chủ động tìm kiếm và lựa chọn đối tác chuyển giao công nghệ, lựa chọn dây chuyền

     

     

    49

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    công nghệ tiên tiến để tạo ra những sản phẩm có chất lượng, giá cả cạnh tranh so với các doanh nghiệp ngoài nước.

     

    Sáu là, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề phụ vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ: nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng đối với sự thành bại của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp phụ trợ nói riêng. Để ngành công nghiệp phụ trợ phát triển thì việc đào tạo cung ứng nguồn lao động có chất lượng cao cho các doanh nghiệp là một yêu cầu bức thiết đang đặt ra hiện nay. Do vậy, nhà nước cần định hướng cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và viện nghiên cứu đào tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật có đủ năng lực trình độ phục vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ; bên cạnh đó các doanh nghiệp nên chủ động đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân lành nghề của mình để phục vụ cho ngành công nghiệp phụ trợ phát triển.

     

    Bảy là, xây dựng mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước: để tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ trong nước cần đẩy mạnh liên kết với những doanh nghiệp nước ngoài để sản xuất linh, phụ kiện phụ trợ cung ứng sản phẩm cho ngành công nghiệp trong nước, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu.

     

    Tám là, nhà nước thành lập cơ quan chuyên trách hỗ trợ các doanh nghiệp phụ trợ: giao cho cơ quan quản lý nhà nước, có thể là Bộ công thương thành lập một đơn vị chuyên trách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để làm cầu nối cung cấp linh, phụ kiện cho các doanh nghiệp công nghiệp, việc làm này sẽ có ý nghĩa tích cực, giúp các doanh nghiệp sản

     

    xuất hàng phụ trợ có nhiều cơ hội hơn để mở rộng thị trường, ổn định sản xuất.

    Chín là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học: cần có chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học của một số viện, trường đại học trọng điểm, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu về các ngành công nghiệp, công nghiệp phụ trợ để nghiên cứu ra những sản phẩm có chất lượng cho ngành công nghiệp phụ trợ, đồng thời làm cầu nối giữa nghiên cứu, thiết kế ứng dụng và sản xuất để giúp doanh nghiệp phụ trợ phát triển; khuyến khích các cơ sở đào tạo nghiên cứu khoa học mở rộng liên doanh, liên kết quốc tế để nghiên cứu ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu cho các ngành công nghiệp.

     

    Mười là, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp phụ trợ: để thực hiện được điều này, trước hết nhà nước cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông như đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường cao tốc, đặc biệt là các tuyến quốc lộ, đường cao tốc ở các tỉnh thành có các khu, cụm công nghiệp lớn, kế đến là đầu tư nâng cấp và đầu tư mới các cảng

     

    • một số tỉnh thành có lợi thế phát triển về cảng biển, cảng hàng không; tập trung xây dựng một số khu, cụm chuyên sản xuất công nghiệp phụ trợ có dây chuyền máy móc thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại để phục vụ cho ngành công nghiệp chuyên ngành của một số vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.

     

    Mười một là, giải pháp về nguyên liệu: liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trong nước để xây dựng hệ thống liên kết sản xuất và cung ứng nguyên liệu trong chuỗi sản xuất sản phẩm, từ đó giúp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh so với các sản phẩm nhập khẩu, từng bước chiếm lĩnh thị trường, thị phần đối với ngành công nghiệp phụ trợ.

     

     

    50

     

    Phát triển ngành công nghiệp . . .

     

    Tóm lại: để các ngành công nghiệp thực sự phát triển nhanh và bền vững, sớm đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020 thì phát triển công nghiệp phụ trợ là yêu cầu hết sức bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Hy vọng rằng những giải pháp đã đề xuất nếu được triển khai và áp dụng đồng bộ

    thì trong một thời gian không xa, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam sẽ phát triển tốt, đáp ứng yêu cầu cho ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu, từng bước đưa ngành công nghiệp nước ta sánh vai cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Phạm Duy Hiếu (2009). Công nghiệp phụ trợ và sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Tạp chí Thương mại số 20.
    • Khánh Hòa (2007). Công nghiệp phụ trợ-Vì sao chậm phát triển. tạp chí Châu á Thái Bình Dương số 44(187).
    • Bộ công thương. Quyết định phê duyệt tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
    • http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/nang-luong-cong-nghiep-khai-khoang;jsessionid

     

    • http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/so-luong-xe-may-da-vuot-quy-hoach-nam-2020-2659172.html

     

    • http://www.ncseif.gov.vn/sites/en/Pages/thuctrangvagiaiphapphat-nd-6112.html

    [7].http://www.doanhnhansaigon.vn/chuyen-lam-an/nhat-banh-vun-cua-nhung-nguoi-khong-lo/1078770/

     

    [8].http://www.itpc.gov.vn/exporters/news/tintrongnuoc/2014-01-02.667760/2014-10-01.177720/ phat_trien_nganh_cong_nghiep_phu_tro_tai_viet_nam_t10_2014

     

    [9]. http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/84037/vuot-mat-hang-ty-usd-vi-cong-nghiep-phu-tro-kem.html

     

     

     

     

    51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%E1%BB%97-tr%E1%BB%A3-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-th%E1%BB%B1c-ti%E1%BB%85n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – nhận thức và thực tiễn

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

     

    PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM – NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN

     

    Hoàng Xuân Sơn, Hồ Thị Thanh Trúc∗∗

     

    TÓM TẮT

     

    Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế. Đồng thời góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trong nước, tạo ra sản phẩm xuất khẩu có tính cạnh tranh, giá trị gia tăng cao. Bên cạnh đó, công nghiệp hỗ trợ còn góp phần phát triển thị trường nội địa, đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế bền vững, đưa nền kinh tế sản xuất hàng hóa hội nhập với chuỗi giá trị toàn cầu.Vì vậy, để phát triển bền vững, hội nhập quốc tế trong thời gian tới và góp phần thực hiện được mục tiêu “tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, Việt Nam nhất thiết phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ.

     

    Từ khóa: phát triển, công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam, nhận thức, thực tiễn.

     

    INDUSTRIAL DEVELOPMENT ASSISTANCE IN VIETNAM –

     

    AWARENESS AND PRACTICE

     

    ABSTRACT

     

    Industry support role is particularly important in economic development. At the same time contribute to attracting foreign direct investment (FDI), promote the development of enterprises in the domestic industry, create products export competitiveness, high added value. Besides, supporting industries also contribute to the development of domestic markets, ensuring economic growth and sustainable economic development, bringing the economy to produce goods of integration with the global value chain. So, for sustainable development, international integration in the future and contribute to the goal “to create a platform by 2020 our country to become an industrialized country towards a modern”, Vietnam necessarily promote the development of supporting industries.

     

    Key words: development, industrial support, Vietnam, cognitive, practical.

     

    • Giảng viên Trường ĐH Kinh tế Tp.HCM

     

    • Giảng viên Trường Cao đẳng Tài chính – Hải quan

     

     

    38

     

    Phát triển công nghiệp . . .

     

    1.   Chủ trương khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

     

    Công nghiệp hỗ trợ (supporting industries

     

    – SI) là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, phụ kiện, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, chế biến, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm có: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất tại Việt Nam để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ: là dự án đầu tư tại Việt Nam (kể cả đầu tư mới và đầu tư bổ sung) để sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

     

    Với bối cảnh hiện nay, trong quá trình phát triển của một nền kinh tế, công nghiệp hỗ trợ chính là khu vực chuyển giao, tiếp nhận mau lẹ công nghệ mới, đồng thời là khu vực mà lao động thực sự được khuyến khích sáng tạo để không ngừng cạnh tranh, “chen chân” được vào chuỗi cung ứng cho các nhà lắp ráp.

     

    Mặt khác, công nghiệp hỗ trợ là khu vực sử dụng nhiều công nghệ, ít hao tốn tài nguyên và dễ sử dụng các giải pháp sản xuất thân thiện với môi trường, rất phù hợp với chiến lược “tăng trưởng xanh và bền vững”. Vì vậy, nếu có định hướng đúng, công nghiệp hỗ trợ được phát triển trong các khu công nghiệp chuyên môn hóa, tổ chức liên kết trong các cụm, nhóm sản phẩm thì có thể góp phần rất lớn để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, góp phần giải quyết vần đề tài nguyên, nhân công giá rẻ đang dần không còn là thế mạnh của Việt Nam.

     

    Trước khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu (từ đầu năm 2008), chính xuất khẩu liên tục qua các năm với tốc độ tăng trưởng

     

    GDP trung bình 7-8% mỗi năm đã góp phần đưa nước ta vươn lên thành một nước đang phát triển với thu nhập trung bình thấp. Tuy nhiên, những sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam lại phụ thuộc phần lớn vào các nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài đã dẫn đến tình trạng Việt Nam nhập siêu trong thời gian qua. Cũng chính nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài đã làm khó cho Việt Nam khi kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, khi mà xuất khẩu ngày bị thu hẹp, nhưng giá nguyên liệu nhập khẩu lại gia tăng đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn, đỉnh điểm là phá sản và thất nghiệp, cụ thể là năm 2012 có khoảng 55.000 doanh nghiệp bị phá sản, năm 2013 số doanh nghiệp bị phá sản cao hơn nhiều, khoảng 65.000 doanh nghiệp.

     

    Trước thực trạng nêu trên, đòi hỏi Việt Nam phải có những biện pháp nhằm tăng cường sự chủ động của nền kinh tế và tái cấu trúc mô hình phát triển, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ. Phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp các ngành sản xuất trong nước chủ động được nguồn nguyên vật liệu đầu vào, chủ động lựa chọn nhà cung cấp, giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành từ đó tăng năng lực cạnh tranh. Đây chính là vấn đề cốt lõi nhằm phát triển một nền công nghiệp tự chủ và hiện đại, góp phần thực hiện mục tiêu “tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” hay xa hơn là “từ nay đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa”1.

     

    Mặt khác, phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng làm gia tăng năng lực cạnh tranh của ngành và quốc gia, góp phần bù đắp cho lợi thế nhân công rẻ của Việt Nam đang ngày một suy giảm.

     

    Nhận thấy vai trò quan trọng và to lớn của công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, Đại hội

     

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG-ST, HN, 2011, tr.71

     

     

    39

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    XI của Đảng (2011), trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020, xác định: “Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ”2 và chủ trương: “tham gia ngày càng nhiều và có hiệu quả vào những khâu, công đoạn có hàm lượng khoa học, giá trị gia tăng cao trong mạng sản xuất và phân phối toàn cầu”3, “ưu tiên phát triển và hoàn thành những công trình then chốt về cơ khí chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị thay thế nhập khẩu cho công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng; công nghiệp công nghệ cao sản xuất linh kiện điện tử, máy tính, công nghiệp dầu khí, điện, than, khai khoáng, hóa chất, luyện thép, xi măng, phân, đạm… , công nghiệp hỗ trợ…”4.

     

    Ngành công nghiệp hỗ trợ đang được các nhà đầu tư trong và ngoài nước rất quan tâm, đặc biệt là các nhà đầu tư có nhiều cơ sở sản xuất, lắp ráp các sản phẩm ôtô, xe máy, hàng may mặc, điện tử, da giày… Tuy nhiên, tỉ lệ cung ứng hàng hóa (giá trị nội địa hóa) trong chế tạo các sản phẩm trên ở Việt Nam còn rất thấp, phần lớn các linh kiện và nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, lắp ráp các sản phẩm này đều phải ngoại nhập nên đẩy chi phí sản xuất tăng cao, không thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam kí kết Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì sẽ mất lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

     

    Hiện nay, các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình phát triển như thiếu chính sách thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sản xuất trong nước. Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ là điều kiện cần thiết cũng như bước đi quan trọng trong định hướng công nghiệp hóa, hiện đại

     

    • Sđd, tr.112

     

    3 Sđd, tr.192

     

    4 Sđd, tr.193

     

    hóa đất nước trong thời gian tới. Đặc biệt, khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và Việt Nam tham gia kí kết Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì Việt Nam cần nâng cao doanh nghiệp trong nước để tồn tại, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ để giảm chi phí, hạ giá thành, tăng năng lực cạnh tranh hiệu quả với hàng hóa nhập khẩu và các đối thủ cạnh tranh toàn cầu.

     

    Để thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, ngày 24-2-2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ, trong đó xác định:

     

    1. Về khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ. Cụ thể:

     

    Khuyến khích đối với phát triển thị trường: dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được quảng cáo, giới thiệu miễn phí sản phẩm trên trang thông tin điện tử của Bộ Công Thương và các Sở Công Thương. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được ưu tiên xem xét hỗ trợ nguồn kinh phí của các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư theo quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện các chương trình đó. Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được Nhà nước tạo điều kiện tham gia hình thành mạng lưới cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

    Khuyến khích về hạ tầng cơ sở: các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được ưu tiên hỗ trợ và dành quỹ đất thích hợp cho dự án về diện tích, vị trí, tiền thuê đất. Các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sử

     

     

    40

     

    Phát triển công nghiệp . . .

     

    dụng đất trong khu cụm công nghiệp được sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, các dịch vụ công cộng và các dịch vụ khác trong khu, cụm công nghiệp; được hỗ trợ và tạo điều kiện trong việc tuyển dụng, đào tạo lao động; được hưởng các chính sách hỗ trợ khác theo quy định tại Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp. Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách khuyến khích về mặt bằng sản xuất theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được áp dụng chính sách khuyến khích về đất đai theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

    • Khuyến khích về khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực: dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem xét, hỗ trợ một phần kinh phí từ nguồn vốn Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các quỹ khác liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ đối với các chi phí chuyển giao công nghệ, mua bản quyền thiết kế, mua phần mềm, thuê chuyên gia nước ngoài. Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách khuyến khích nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật và chính sách trợ giúp phát triển nguồn nhân lực theo quy định của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo nhân lực từ nguồn vốn ngân sách nhà

    nước theo quy định hiện hành. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được áp dụng chính sách khuyến khích về phát triển nguồn nhân lực theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

    • Cung cấp thông tin: các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông qua Cổng thông tin điện tử thường xuyên cung cấp thông tin cập nhật về các văn bản pháp luật liên quan đến việc phát triển công nghiệp hỗ trợ và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật của Nhà nước đối với các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Chủ đầu tư các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách về cung cấp thông tin, tư vấn theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ vừa trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

     

    • Tài chính: dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được hưởng ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem xét vay một phần vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định hiện hành. Chủ đầu tư các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách trợ giúp tài chính theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được xem xét, cho hưởng các chính sách về thuế theo theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.

     

     

    41

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. Về ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ: các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được xem xét áp dụng cơ chế ưu đãi thích hợp. Chủ đầu tư xây dựng dự án theo quy định hiện hành, trong đó đề xuất cụ thể các cơ chế ưu đãi thích hợp, trình Hội đồng thẩm định dự án phát triển công nghiệp hỗ trợ xem xét, báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định5.

     

    2.           Thực trạng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam thời gian qua

     

    Nhìn tổng quát chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chủ trương phát triển công nghiệp hỗ trợ của nước ta còn rất hạn chế và công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam hiện nay cũng còn rất nhỏ bé, manh mún, kém phát triển. Cụ thể là các ngành sản xuất, lắp ráp ôtô (mới nội địa hóa khoảng 5% – 10%); cơ khí (mới tham gia sản xuất được một phần sản phẩm phi tiêu chuẩn, chiếm khoảng 20% trong tổng giá trị thiết bị); điện tử (lĩnh vực sản xuất linh phụ kiện điện tử chỉ chiếm 21,5% tổng vốn đầu tư của ngành)6; đặc biệt là ngành may mặc (thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam, hiện chiếm vị trí thứ 5 trong số các nước xuất khẩu lớn trên thế giới với cơ hội thấy rõ khi Việt Nam đã và đang tích cực tham gia đàm phán các Hiệp định Thương mại tự do song phương và đa phương, Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, để được hưởng các ưu đãi như giảm, miễn thuế từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và sắp tới là Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), thì nguyên tắc xuất xứ về sợi và vải luôn được các đối tác đặt ra khắt khe, nhất là tiêu chuẩn vải, sợi phải có xuất xứ từ trong nước hoặc nhập khẩu từ các quốc

     

    gia thành viên TPP) có tới 80% – 85% tỷ lệ nguyên, phụ liệu phải nhập khẩu. Trong số các ngành công nghiệp hỗ trợ hiện nay ở Việt Nam, có lẽ công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho ngành xe máy được coi là thành công nhất với việc hình thành một hệ thống các nhà cung ứng ngay trong nội địa. Trong quá trình hợp tác, đã có sự chuyển giao công nghệ từ các công ty lắp ráp nước ngoài đến các doanh nghiệp Việt Nam cung ứng linh kiện. Tỷ lệ nội địa hoá các loại xe gắn máy do trong nước sản xuất đã đạt khoảng 85 – 90%. Hầu hết các linh kiện của xe số, kể cả linh kiện động cơ, đều đã được sản xuất trong nước. Các sản phẩm chính trong xe máy hầu hết đã được sản xuất với số lượng lớn, đạt tiêu chuẩn của các nhà lắp ráp và tạo thành hệ thống cung ứng khá hiệu quả. Tuy nhiên, những linh kiện, phụ kiện này phần lớn do doanh nghiệp FDI sản xuất, cò tỉ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sản xuất còn hạn chế.

     

    Một thực tế khác, đó là các doanh nghiệp Nhật Bản đang có động thái rõ rệt dịch chuyển đầu tư về Việt Nam (trong bối cảnh tình hình không ổn định về chính trị ở Thái Lan và chanh chấp ở Trung Quốc), tiêu biểu là khu công nghiệp Thăng Long, một cứ điểm đầu tư Nhật Bản ở Hà Nội. Để đi vào hoạt động thì chi phí nhiên liệu chiếm 60% chi phí sản xuất nên để giảm giá thành thì các doanh nghiệp sẽ phải giảm chi phí nhiên liệu này. Thế nhưng, việc mua được nguyên vật liệu từ Việt Nam lại là vô cùng khó khăn. Tỷ lệ nội địa hóa ở Việt Nam vẫn còn quá thấp, chỉ chiếm 32,2%, trong khi tỷ lệ này tại Trung Quốc là 64%, Thái Lan 53%, Malaysia 42%, Indonesia 41%7. Vì vậy ở Việt Nam, để phục vụ cho sản xuất của mình, “vệ tinh” phụ trợ

     

     

    • http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=99177
    • Cần đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp hỗ trợ (dangcongsan.vn)

     

    • Phạm Huyền: Ngán Trung Quốc, sợ Thái Lan: Vốn Nhật về Việt Nam. (vef.vn)

     

     

    42

     

    Phát triển công nghiệp . . .

     

    cho các doanh nghiệp Nhật Bản phần lớn là từ các doanh nghiệp nước ngoài khác, hoặc chính doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, chiếm hơn 60%. Số nguyên vật liệu vật tư mà doanh nghiệp mua từ Việt Nam chỉ chiếm có 13,2% nhu cầu của họ.

     

    Nguyên nhân của thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ nêu trên là do đa số doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ, máy móc cũ, lạc hậu, vì vậy, chưa đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của nhà lắp ráp, đặc biệt là những linh kiện, phụ liêu của công nghệ cao.

     

    Do sản xuất trong nước còn khá hạn chế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chủ yếu là các doanh nghiệp FDI. Năm 2012, có 1.631 doanh nghiệp FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ với số vốn đăng ký lên tới trên 22,8 tỷ USD, chiếm 13,2% số dự án và 20,8% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp. Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ thu hút được nhiều vốn FDI là điện – điện tử với số vốn thu hút trên 10 tỷ USD, cơ khí: 5,2 tỷ USD, dệt may: 5,1 tỷ USD…8.

     

    Ngoài ra, nhân lực phục vụ công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng.

     

    Để đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam trong thời gian tới theo chúng tôi, Việt Nam cần phải đẩy mạnh thực hiện:

     

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức về công nghiệp hỗ trợ. Để nâng cao nhận thức về công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam cần xây dựng các chương trình quảng bá quy mô và chuyên nghiệp về sản xuất công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh hệ thống mô hình đề xuất, kêu gọi hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước với vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân tham gia sản xuất công nghiệp hỗ trợ, dần dần phát triển thành

     

    các tập đoàn lớn chuyên cung ứng và xuất khẩu chi tiết, linh kiện không chỉ cho trong nước mà còn cho thị trường quốc tế.

     

    Thứ hai, khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực sản xuất các ngành công nghiệp hỗ trợ, với sự hỗ trợ đặc biệt về vốn và những ưu đãi đặc biệt về thuế. Mặc dù mặc cho đến nay Việt Nam đã có các văn bản, quyết định chỉ đạo điều hành quan trọng như: Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN năm 2007 của Bộ Công Thương, phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định về chính sách phát triển một số ngành CNHT số 12/2011/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22/2/2011; Quyết định số 1556/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 về việc phê duyệt Đề án “Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ”. Tuy nhiên, những văn bản này vẫn chưa thật cụ thể để khuyến khích tư nhân đầu từ vào công nghiệp hỗ trợ nên khó thu hút vốn của tư nhân đầu tư vào lĩnh vực quan trọng này.

     

    Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong công nghiệp hỗ trợ, kêu gọi các tập đoàn sản xuất các sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ xây dựng nhà máy sản xuất ở Việt Nam. Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp hỗ trợ thì Nhà nước cần phải đưa ra những chính sách ưu đãi cao hơn, đủ sức hấp dẫn, tạo thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

     

    Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp hỗ trợ. Hiện nay, nguồn nhân lực giá rẻ không còn là một lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút FDI của Việt Nam khi mà các thỏa thuận về miễn giảm thuế nhập khẩu chính thức được thực hiện. Vấn đề

     

     

    • Phạm Tất Thắng: Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Một số vấn đề đặt ra. (tapchicongsan.org.vn)

     

     

    43

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    cần phải quan tâm là làm thế nào để sản xuất được các mặt hàng vừa có chất lượng tốt, vừa có giá thành rẻ. Bởi sản phẩm rẻ nhưng chất lượng kém hay sản phẩm tốt nhưng giá thành cao về lâu dài đều rất khó có thể cạnh tranh được trước các sản phẩm nhập khẩu. Vì thế, điều cốt yếu hiện nay là cần phải đào tạo được nguồn nhân lực có khả năng quản lý, khả năng ứng dụng và có tính sáng tạo để sản xuất ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Mặt khác, để có được nguồn nhân lực chất lượng cao chúng ta phải đào tạo cho được những kỹ sư có đủ trình độ về kỹ thuật thực hành và thực tiễn, trang bị cho họ kiến thức cần thiết về công nghệ hiện đại; mở rộng sự liên kết trong đào tạo giữa các trường đại học trong nước và các trường đại học có uy tín trên thế giới. Đồng thời, cần có sự đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo, từ các trường đại học cho đến các trường nghề. Ngoài ra, việc cử người đi đào tạo ở những quốc gia có truyền thống mạnh về phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    việc phát triển công nghiệp hỗ trợ của nước ta cũng là cần thiết.

     

    3. Kết luận

     

    Tóm lại, công nghiệp hỗ trợ là một công cụ cho quá trình hội nhập về mặt chất của nền công nghiệp của một quốc gia, hội nhập từ trong quá trình hợp tác sản xuất công nghiệp. Công nghiệp hỗ trợ tạo cơ sở cho việc tái cơ cấu nền công nghiệp theo hướng bền vững. Xét trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, đang trong quá trình đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, thì phát triển công nghiệp hỗ trợ là cực kỳ cấp thiết và phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng góp phần giúp cho Việt Nam tránh được bẫy thu nhập trung bình, hội nhập sâu hơn với khu vực và quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa. Mặt khác, hệ thống công nghiệp hỗ trợ cũng là cơ sở để cơ cấu lại nền công nghiệp cả nước về cơ cấu ngành, cơ cấu quy mô, tái cơ cấu bản thân doanh nghiệp, đặc biệt nó còn là một quan hệ kinh doanh mới theo nguyên tắc hợp đồng sẽ dần hoàn thiện.

     

     

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.CTQG, HN

     

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG-ST, HN

     

    1. Nguyễn Văn Thạo – Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên) (2011), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, Nxb.CTQG-ST, HN

     

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG-ST, HN

     

    1. Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp: Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (chinhphu.vn)

     

    1. Quyết định số 12/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ (chinhphu.vn)

     

    1. Phạm Tất Thắng: Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Một số vấn đề đặt ra. (tapchicongsan.org.vn)

     

    1. Phạm Huyền: Ngán Trung Quốc, sợ Thái Lan: Vốn Nhật về Việt Nam. (vef.vn)

     

    1. Nguyễn Thị Kim Đoan, Ths. Phạm Quốc Tuấn: Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. (khucongnghiep.com.vn)

     

    1. Trần Vũ Nghi-Lê Nguyên Minh: Công nghiệp phụ trợ: “Đứa con không chịu lớn”. (tuoitre.vn)

     

    1. Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam: Công nghiệp phụ trợ 10 năm vẫn chưa lớn. (vcci.com.vn)

     

    1. Tuấn Phát: Phát triển công nghiệp phụ trợ cần một mạng lưới. (Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 12/1/2011)

     

    1. Cần đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp hỗ trợ (dangcongsan.vn)

     

     

    44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-t%E1%BB%9Bi-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-xanh-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-%E2%80%93-c%C6%A1-h%E1%BB%99i-v%C3%A0-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    HƯỚNG TỚI NỀN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM

     

    – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

     

    TOWARDS A GREEN ECONOMY IN VIETNAM

     

    – OPPORTUNITY AND CHALLENGE

     

    Đỗ Thị Hoa Liên(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đ̀i sống c̉a con ngừi và cải thiện công bằng xã hội, đ̀ng th̀i giảm thỉu những r̉i ro môi trừng và những thiếu hụt sinh thái” [6]. Chuỷn đổi phương thức phát trỉn – Hứng t́i phát trỉn “Kinh tế xanh” ở Việt Nam là hứng tiếp cận ḿi, có nhiều khó khăn, thách thức song xét về dài hạn đây là hứng tiếp cận phù hợp v́i xu thế phát trỉn chung c̉a nền kinh tế toàn cầu.

     

    Từ khóa: Kinh tế xanh, kinh tế xanh ở Việt Nam, hướng tới nền kinh tế xanh.

     

    KINH TẾ XANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN

     

    Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế theo hướng thúc đẩy phát triển kinh tế xanh cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngày 25 tháng 09 năm 2013, Chính phủ đã thông qua Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh. Đồng thời, trong thời gian qua các hoạt động nội hàm có liên quan đến kinh tế xanh đã và đang được triển khai ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới như “kinh tế Cac bon thấp”, “giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu”, “tăng trưởng xanh”, “công nghệ xanh”, “việc làm xanh”. Định hướng chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở nước ta được đặt trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp: Khủng hoảng tài chính; nợ công châu Âu; biến đổi khí hậu toàn cầu… Tuy nhiên, không chỉ do tác động của bối cảnh quốc tế mà do nội tại nền kinh tế Việt Nam đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nền kinh

     

    ABSTRACT

     

    The green economy as “one that results in improved human well being and social equity, while signiicantly reducing environmental risks and ecological scarcities”. The newapproach for the economy development based on “Green economy” in Vietnam is deinitely neccessary for the time being and the future. However, this new kind of model faces dificulties and challenges, yet it is suitable for the global development.

     

    Keywords: Green economy, green economy in Vietnam, towards a green economy.

     

    tế Việt Nam thời gian qua tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên với hiệu quả sử dụng thấp, phát thải lớn, do đó, phát triển kinh tế xanh sẽ là phương án lựa chọn tối ưu cho sự phát triển bền vững và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.

     

    Theo Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc, nền kinh tế xanh là “nền kinh tế nâng cao đ̀i sống c̉a con ngừi và cải thiện công bằng xã hội, đ̀ng th̀i giảm thỉu những r̉i ro môi trừng và những thiếu hụt sinh thái” [6]. Như vây, kinh tế xanh là nền kinh tế (i) thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính; (ii) tăng trưởng theo chiều sâu, tiêu hao ít tài nguyên, tăng cường sử dụng tài nguyên tái tạo, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái, và đổi mới công nghệ; (iii) tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng [1]. Kinh tế xanh không chỉ là sự lồng ghép vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế, mà nó đề cập đến cả phát triển cân bằng, hài hòa giữa các mục tiêu.

     

     

    • GV. Khoa Quản trị kinh doanh, trừng Đại ḥc Lao động – Xã hội

     

     

    87

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH CỦA VIỆT NAM

     

    Dưới đây sẽ phân tích môi trường kinh tế

     

    • xã hội của Việt Nam (những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức) để nhận định khả năng thành công của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh:

     

    2.1. Thuận lợi

     

    • Bước đầu đã hình thành khung thể chế cho phát triển kinh tế xanh: Aghion, Hemous & Veugelers (2009) cho rằng không thể có tăng trưởng xanh nếu không có cải tiến và sự can thiệp của Chính phủ [4]. Nhà nước và khung khổ pháp luật có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình phát triển nền kinh tế xanh. Trong thực tiễn, một sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực và kết quả đầu ra sẽ khó đạt được nếu không có sự can thiệp của Chính phủ. Chất lượng tăng trưởng của ngành kinh tế sẽ được duy trì trong dài hạn ở một quốc gia hay địa phương có thể chế và quy định minh bạch, rõ ràng, tính thực thi của hệ thống pháp luật cao. Chính phủ Việt Nam thể hiện rõ quan điểm và cam kết của mình trong việc thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng xanh. Khung thể chế cho phát triển kinh tế xanh đã bước đầu được hình thành từ việc ban hành Luật đến các Chiến lược và Chương trình hành động cụ thể: Tiếp tục định hướng phát triển bền vững; Chiến lược Tăng trưởng xanh; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Chiến lược quốc gia về sản xuất sạch hơn trong công nghiệp; Chương trình phát triển nhiên liệu sinh học; Nội dung các hoạt động thuộc kế hoạch hành động tăng trưởng xanh; Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả.

     

    • Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng khá trong nhiều năm qua: Việt Nam đã trải qua nhiều năm đổi mới, thu được những thành tựu

    kinh tế – xã hội quan trọng. Đặc biệt, sự tăng trưởng công nghiệp liên tục trong những năm qua tạo ra nội lực bên trong cho một xu thế phát triển mới của nền kinh tế.

     

     

    Hình 01: Tăng trưởng c̉a nền kinh tế

     

    Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam 2005- 2014

     

    Công nghiệp là ngành phát thải nhiều nhất trong các ngành kinh tế, tuy nhiên những năm gần đây, ngành đã phát triển theo chiều hướng công nghiệp khai khoáng tăng thấp hoặc giảm để tiết kiệm tài nguyên, năng lượng. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng nhanh hơn, cùng với việc ngành công nghiệp xử lý nước thải, rác thải và tái chế phế liệu tăng với tốc độ cao (hình 02), phản ánh xu hướng tiến đến một nền công nghiệp sạch hơn và một nền kinh tế xanh trong tương lai.

     

     

    Hình 02: Chỉ số phát trỉn các ngành công nghiệp

     

    Nguồn: Tổng Cục Thống kê 2005-2014

     

    Đã tiếp nhận chuyển giao và phát triển khoa học, công nghệ: Những tiến bộ nhanh chóng vượt bậc của khoa học công nghệ cho phép khai thác và sử dụng tiết kiệm, hợp lý hơn

     

     

    88

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    các nguồn tài nguyên. Đồng thời, công nghệ hiện đại giúp tận dụng nhiều loại tài nguyên trước đây còn bỏ phí trong hoạt động sản xuất công nghiệp, giảm mức tiêu dùng nguyên vật liệu, giảm lượng chất thải vào môi trường. Do đó, khai thác những mặt tích cực của khoa học công nghệ là hướng lựa chọn quan trọng trong phát triển kinh tế xanh.

     

    Hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ có cơ hội thuận lợi trong tiếp nhận chuyển giao và phát triển năng lực khoa học và công nghệ để phát huy các lợi thế của đất nước nhằm phát triển nền kinh tế xanh. Nhiều doanh nghiệp FDI đã mang công nghệ hiện đại vào Việt Nam và nếu Việt Nam có chính sách phù hợp sẽ khiến các tập đoàn này đầu tư công nghệ cao và góp phần nâng cao năng lực công nghệ của đất nước, kết nối với mạng sản xuất toàn cầu. Mặt khác, trình độ công nghệ của Việt Nam đang có sự cải thiện đáng kể nhờ lợi thế của nước đi sau, có thể tiếp thu chọn lọc những thành tựu khoa học và các quy trình công nghệ phù hợp trên thế giới về phát triển kinh tế xanh, tránh lặp lại kịch bản của nhiều nước đi trước.

     

    Nguồn nhân lực đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao: George, Paschalis & Sotiris (2007) cho rằng chất lượng nguồn nhân lực tác động đến tăng trưởng kinh tế và nguồn nhân lực có chất lượng cao có vai trò quan trọng hơn cả [5].

     

     

    Hình 03: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo tr̀nh độ chuyên môn kỹ thuật

     

    Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam 2009-2014

     

    • Việt Nam giai đoạn (2009 – 2014), tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao (hình 03), có khả năng tiếp thu khoa học nhanh, bí quyết công nghệ và kỹ năng quản lý để phát triển thành nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học công nghệ hiện đại. Đây sẽ là nguồn nhân lực chủ yếu của phát triển kinh tế xanh, nếu được tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng hiệu quả, sẽ là động lực tạo đột phá trong phát triển kinh tế xanh.

     

    2.2 Khó khăn

     

     

    Hình 04: Hệ số ICOR t́nh theo vốn đầu tư

     

    Nguồn: T́nh toán c̉a tác giả từ ngùn số liệu c̉a Tổng cục Thống kê

     

    Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp: Những thành tựu phát triển kinh tế của đất nước thời gian qua chủ yếu dựa vào sự đóng góp của nguồn nhân lực chất lượng thấp, vốn và tài nguyên thiên nhiên, do đó, hiệu quả đầu tư thấp (hệ số ICOR rất cao – hình 04). Trong khi đó, Huang & Quibria (2013) cho rằng việc khai thác tài nguyên thiên nhiên làm chậm đáng kể quá trình thực hiện tăng trưởng xanh [8].

     

    89

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 01: Sản lượng khai thác một số loại tài nguyên quan tṛng ở Việt Nam

     

    Đơn vị t́nh: Ngh̀n tấn

     

    TT

    Tài nguyên

    2006

    2007

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

                         

    1

    Than sạch

    38.778

    42.483

    39.777

    44.078

    44.835

    46.611

    42.083

    41.035

    41.697

                         

    2

    Dầu thô

    16.800

    15.920

    14.904

    16.360

    15.014

    15.185

    16.739

    16.705

    17.392

                         

    3

    Sắt và tinh quặng

    1.372

    1.904,5

    1.972

    1.988

    1.506

    2.435

    2.308,2

    sắt

    4

    Đồng và tinh

     

    46,07

    51,741

    49,04

    47,55

    50,86

     

    48.072

    quặng đồng

    53,35

    5

    Quặng Titan

    437,4

    574,1

    681,6

    631,3

    586,8

    760

    978,3

    1038,3

    929,4

                     

    Như vậy, trong giai đoạn (2006-2014), sản lượng khai thác một số tài nguyên quan trọng của đất nước không ngừng tăng lên (bảng 01). Sự tăng lên khá đều đặn này cũng phản ánh thực tế là tăng trưởng kinh tế của đất nước cho đến nay còn dựa nhiều vào tài nguyên và gắn liền với nó là sức ép ngày càng tăng đối với môi trường (lượng kh́ thải CO2 tăng nhanh hơn nhiều so v́i tăng trưởng GDP trong cùng th̀i kỳ – h̀nh 05).

     

     

     

    Hình 05: Tăng trưởng GDP và các chỉ số tuyệt đối về ô nhiễm không kh́ (1990=1)

     

    Nguồn: UNESCAP và CIEM, 2009

    Nguồn: Tổng cục Thống kê

     

     

    Hình 06: Cừng độ phát thải CO2 so v́i GDP-So sánh Việt Nam v́i một số nức

     

    Nguồn: UNESCAP và CIEM, 2009

     

    Cường độ phát thải CO2 so với GDP của Việt Nam là rất cao (hình 06 ), cao hơn mức trung bình của châu Á. Do đó việc khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên cần được đặt ra như một yêu cầu nghiêm ngặt ngay trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nhằm hướng tới nền kinh tế xanh. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển nên rất khó cắt giảm tiêu nhiên liệu, nguyên liệu.

     

    Trình độ công nghệ thấp: Thực hiện chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 theo Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất liên tục đầu tư đổi mới công nghệ, sử dụng công nghệ hiện đại, ít gây ô nhiễm môi trường và đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung năng lực

     

     

    90

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    công nghệ của các ngành, nghề hiện nay ở Việt Nam còn lạc hậu. Theo thống kê của Bộ Khoa học công nghệ, hiện chỉ có khoảng 5-6% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng công nghệ tiên tiến, 80% sử dụng công nghệ trung bình, còn lại là các công nghệ lạc hậu [11]. So với các nước khác trong khu vực, cơ cấu công nghiệp của Việt Nam chưa có độ tinh xảo về công nghệ. Tỷ trọng các ngành sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo chỉ khoảng trên 20% và không thay đổi trong những năm gần đây [9]. Chuyển giao công nghệ ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ. Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đầu tư vào Việt Nam ở những ngành, nghề thâm dụng lao động và tài nguyên.

     

    Cơ sở hạ tầng mềm cho kinh tế xanh chưa phát triển: Hạ tầng kiểm soát và quản lý ô nhiễm với công nghệ và phương pháp lạc hậu; vấn đề đo lường quá trình chuyển sang nền kinh tế xanh cần được đổi mới; đánh giá phát thải khí nhà kính chưa có cơ sở.

     

    2.3. Cơ hội

     

    • Xu hướng quốc tế đang chuyển đổi sang nền kinh tế xanh: Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tăng trưởng xanh hay kinh tế xanh đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia, như một động lực thúc đẩy, phục hồi kinh tế toàn cầu và là công cụ để phát triển bền vững. Tại Châu Á, “diễn đàn khí hậu Đông Á” năm 2009 đã trao đổi về việc thiết lập các chiến lược tăng trưởng xanh của Đông Á; Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Hàn Quốc (2009) cũng bày tỏ sự đồng thuận cao đối với chính sách tăng trưởng xanh mà chính phủ Hàn Quốc đưa ra; Tại Hội nghị cấp cao Á – Âu (ASEM), Việt Nam đã chính thức đề xuất sáng kiến hợp tác Á – Âu về tăng trưởng xanh (2010); Diễn đàn Hợp tác Á – Âu với chủ đề “ Cùng hành động hướng tới các nền kinh tế xanh” (2011) để tìm các cơ chế hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm phát triển xanh giữa các nước; Diễn đàn tăng

    trưởng xanh toàn cầu (2011) tại Đan Mạch với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua cơ chế phối hợp công – tư giữa các chính phủ với khối doanh nghiệp. Rõ ràng, với một mức độ quan tâm cao thể hiện qua một loạt các hội nghị, diễn đàn ở các cấp độ quốc tế khác nhau được tổ chức trong những năm gần đây cho thấy xu hướng nhận thức chung của cộng đồng quốc tế trong quá trình hội nhập hiện nay đều đồng thuận là phải thúc đẩy tăng trưởng xanh, kinh tế xanh. Do đó, Việt Nam cũng sẽ đón nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nỗ lực chung nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới nền kinh tế xanh. Hơn nữa, thực tế là tăng trưởng xanh ở các quốc gia phát triển như Đức, Đan Mạch, Hàn Quốc…đã thu được những kết quả rõ ràng trong tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Đồng thời, các sáng kiến được các cơ quan Liên hợp quốc thúc đẩy hướng tới nền kinh tế xanh như: Đầu tư công nghệ sạch (WB); Việc làm xanh (ILO); Thị trường công nghệ xanh (WIPO); Tiêu chuẩn công nghệ thông tin xanh (ITU); Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO); Sản xuất sạch hơn và hiệu quả sử dụng tài nguyên (UNEP và UNIDO)… đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp, sẽ là cơ sở, nền tảng cho nền kinh tế Việt Nam theo hướng xanh hóa.

     

    • Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đã nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống. Phát triển kinh tế – xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Như vậy, phát triển kinh tế xanh là phù hợp với Chiến lược dài hạn của Việt Nam và định hướng phát triển bền vững nói chung.
    • Việt Nam có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo: Huang & Quibria (2013) cho rằng năng lượng tái tạo tác động tích cực đến

    91

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    tăng trưởng xanh [8]. Bởi vì, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo sẽ góp phần giảm lượng phát thải khí nhà kính, làm chậm lại quá trình nóng lên toàn cầu, giúp tăng hiệu suất sử dụng năng lượng đồng thời mở ra cơ hội phát triển mới cho nhiều địa phương. Do đó, việc xem xét, khai thác nguồn năng lượng tái tạo trong giai đoạn tới sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của Việt Nam ngày một gia tăng, trong khi khả năng cung cấp các nguồn năng lượng truyền thống hạn chế. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo:

     

    • Năng lượng gió: Theo Đề án “ Quy hoạch tiềm năng năng lượng gió để phát điện” của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tổng tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió của Việt Nam vào khoảng 1.785 MW [3].

     

    • Năng lượng mặt trời: Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, do đó có nguồn năng lượng mặt trời khá dồi dào và thuận tiện cho việc ứng dụng, cường độ bức xạ bình quân năm là 1346,8 – 2153,5 kWh/m2/năm [3].

    2.4. Thách thức

     

    • Nhận thức về kinh tế xanh: Nhận thức về kinh tế xanh là gì và nội hàm của nó bao gồm những nội dung nào còn là vấn đề tranh cãi. Bởi vì, thực tế, các ngành dường như đã đi ngược với những tuyên bố về tăng trưởng xanh, khi mà trong quy hoạch, trong phát triển dựa vào sử dụng năng lượng, nguyên liệu hóa thạch còn nhiều.

    Sản xuất sạch hơn chưa thực sự thành công: Kết quả khảo sát về sản xuất sạch hơn ở Việt Nam của Hợp phần sản xuất sạch hơn trong Công nghiệp (CPI) năm 2015 với 63 sở công thương và 9012 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc thì tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn giảm được tiêu thụ năng lượng, nguyên nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm mới chỉ là 24%, số này chủ yếu do sự hỗ trợ của dự án, đây là con số quá nhỏ so với số lượng doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam. Năng

     

    lực quản trị doanh nghiệp về môi trường thể hiện qua số lượng các công ty được nhận chứng chỉ ISO 14001 còn quá ít [10].

     

    Huy động vốn cho nền kinh tế xanh gặp nhiều khó khăn: Mặc dù Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích lũy quốc gia so với các nước phát triển còn quá thấp, điều này ảnh hưởng nhiều đến quá trình chuyển sang nền kinh tế xanh. Bởi vì, theo Huang & Quibria (2013) cho rằng đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ về khoa học, công nghệ tác động tích cực đến tăng trưởng xanh [8]. Để thực hiện phát triển kinh tế xanh Việt Nam cần các khoản đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, đầu tư để phát triển năng lượng tái tạo, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải còn lại. Theo kết quả của UNEP (2011), mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu, nguồn vốn này, nếu huy động từ các nước đang phát triển như Việt Nam là điều không dễ dàng.

     

    Thách thức từ sự hợp tác quốc tế kém hiệu quả: Để giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường, đây không phải là công việc riêng của một địa phương hay quốc gia nào, vì vậy, để xử lý vấn đề có tính thách thức toàn cầu này đòi hỏi sự chung tay hành động của cả thế giới, trong khi đó, sẽ có những quốc gia ít thiện chí khi thực hiện cam kết toàn cầu, nên sẽ phá vỡ mục tiêu chống biến đổi khí hậu và phát triển xanh.

     

    ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ XANH

     

    Qua phân tích thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu đối với Việt Nam trong phát triển kinh tế xanh, rõ ràng Việt Nam còn nhiều khó khăn và thách thức của nước đang phát triển. Vì vậy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh khó có thể tiến hành nhanh nếu Việt Nam không có những bước đi đúng đắn trong từng giai đoạn phát triển, cũng như phải có sự chuyển hướng hài hòa nếu không Việt Nam sẽ gặp những vấn đề xã hội do sự chuyển đổi này gây ra. Để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, Việt Nam cần:

     

     

    92

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    3.1 Thiết lập khung khổ thể chế phù hợp: Cơ chế, chính sách được thiết kế phù hợp có thể xác định quyền và tạo động lực định hướng cho hoạt động kinh tế xanh, cũng như loại bỏ rào cản đối với các khoản đầu tư xanh và điều tiết những hành vi thiếu bền vững bằng cách tạo ra các tiêu chuẩn tối thiểu hoặc ngăn cấm hoàn toàn một số hoạt động. Cơ chế, chính sách cần tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện “xanh hóa các ngành truyền thống”, mặc dù việc xanh hóa các ngành truyền thống có vẻ không nhanh chóng và mang tính cách mạng so với sự phát triển của những công nghệ tiên tiến nhất, nhưng với tiềm lực tài chính hiện tại, sự đầu tư vào việc sử dụng hiệu quả năng lượng sẽ đem lại hiệu quả về mặt chi phí-lợi ích. Mặt khác phát triển những ngành kinh tế xanh mới nổi, những ngành công nghệ cao, công nghệ xanh, ngành năng lượng tái tạo… sẽ kích thích tạo ra nền kinh tế cacbon thấp, giảm sử dụng tài nguyên, tăng sản lượng hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt, rà soát, điều chỉnh quy hoạch các ngành sản xuất, hạn chế những ngành kinh tế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, tạo điều kiện phát triển các ngành sản xuất xanh mới.

     

    3.2. Tập trung đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ xanh, công nghệ hiện đại, công nghệ tiết kiệm tài nguyên:

     

    • Thực hiện chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả: Chuyển giao công nghệ theo hướng là các tập đoàn đa quốc gia cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước những công nghệ mới với nỗ lực nâng cao năng suất trong chuỗi sản xuất; hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo.

     

    • Tập trung đầu tư, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguyên vật liệu, năng lượng vào các hoạt động sản xuất thông qua:

     

    + Khởi động các chương trình dự báo thực trạng công nghệ nhằm nâng cao nhận thức về những điểm yếu trong công nghệ của các ngành và tạo sự đồng thuận giữa các ngành, các cơ sở nghiên cứu và bộ máy quản lý về các giải pháp để khắc phục những điểm yếu đó.

     

    • Hình thành và phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, dịch vụ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển theo hướng xanh (Nghiên cứu, ban hành hệ thống các chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn về công nghệ xanh…)

     

    • Khuyến khích kết nối giữa các doanh nghiệp và các phòng thí nghiệm R & D, các trường đại học, viện nghiên cứu để ứng dụng kết quả nghiên cứu.
    • Tăng cường đầu tư, trợ cấp cho hoạt động R & D tại các doanh nghiệp

    Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ xanh nhằm tạo sự đột phá về công nghệ trong sản xuất đối với những ngành chủ lực, mũi nhọn của quốc gia.

     

    3.3. Tăng cường áp dụng các công cụ tài chính: để tăng nguồn tài chính cho thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên; thuế môi trường; ký quỹ môi trường; phí phát thải

    • nhiễm. So với công cụ quản lý môi trường truyền thống kiểu mệnh lệnh – kiểm soát, thuế và phí cho phép đạt được mục tiêu giảm thiểu

     

    • nhiễm đề ra một cách linh hoạt hơn và tiết kiệm chi phí hơn cho toàn xã hội. Thuế, lệ phí có thể là cơ chế hiệu quả để thúc đẩy kinh tế xanh phát triển, các loại thuế có thể được đặt ra trên đầu vào sản xuất, quy trình hoặc các sản phẩm để khuyến khích các nhà sản xuất và người tiêu dùng xem xét các chi phí môi trường và xã hội, và tiền thu từ thuế tài nguyên, môi trường này được sử dụng để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, trên thực tế công cụ này đã được sử dụng song chưa hiệu quả, do đó để việc áp dụng thuế và phí tài nguyên, môi trường đạt được hiệu quả cao hơn trong điều kiện Việt Nam hiện nay nên đặt phí, thuế ở một mức thấp trong thời gian đầu, sau đó sẽ tiếp tục tăng lên cho tới khi mức độ ô nhiễm giảm tới điểm các doanh nghiệp, các cơ sở kiểm soát được mức độ ô nhiễm.

    Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập mạnh mẽ hiện nay, Việt Nam cần:

     

     

    93

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    • Tăng cường quản trị quốc tế thông qua việc tham gia các hiệp định đa phương về môi trường để thiết lập khuôn khổ pháp lý và thể chế giải quyết những thách thức môi trường toàn cầu; tham gia vào hệ thống giao dịch quốc tế, đàm phán quốc tế về kinh tế xanh giúp thúc đẩy sự gắn kết và hợp tác trong quá trình xanh hóa các nền kinh tế.

     

    • Tiếp tục nghiên cứu, học tập và hoàn thiện cách thức tiến hành kinh tế xanh của các quốc gia phát triển đã xây dựng nền kinh tế xanh như Đức, Đan Mạch, Hàn Quốc…để có bước đi và cách tiến hành phù hợp trong điều kiện của Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn Xuân Trung (2012), Kinh tế xanh trong đổi ḿi mô h̀nh tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam giai đoạn t́i, tham luận tại hội thảo diễn đàn kinh tế mùa xuân 2012, tại địa chỉ website: na.gov.vn/htx/Vietnamese/C2136/default. asp?Newid=59968

     

    • Thủ Tướng Chính Phủ (2012), Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/09/2012 về phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Hà Nội.

     

    • Lê Thành Văn, Nguyễn Thị Thu Trang (2012), “Tổng quan ngành công nghiệp cacbon thấp trên thế gíi, tiềm năng tại Việt Nam” (Kỳ 1; kỳ 2), tại địa chỉ website: htp://

    nangluongvietnam.vn/news/vn/an-ninh-nang-luong-va-moi-truong/tong-quan-nganh-cong-nghiep-cacbon-thap-tren-the-

     

    gioi-iem-nang-tai-viet-nam-%28ky-1%29.html

     

    • Aghion, Philippe and Hemous, David and Veugelers, Reinhilde, (2009) “No green growth without innovation”, Bruegel Policy Brief 2009/07, available at https://lirias. kuleuven.be/bitstream/123456789/269700/2/ pb_climatervpa_231109_01.pdf

     

    • George Petrakos and Sotiris Pavleas
    • Chú trọng tiếp cận những kiến thức xanh và công nghệ xanh của cộng đồng khoa học thế giới.
    • Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính cũng như kỹ thuật từ cộng đồng quốc tế cho các khu vực kinh tế xanh. Đặc biệt, là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu cho phát triển Kinh tế xanh.

    Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là sự khẳng định thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Mặc dù có những trở ngại nhất định, nhưng nếu có những giải pháp thích hợp bằng nội lực của quốc gia, cũng như thông qua sự chia sẻ kinh nghiệm, sự hỗ trợ quốc tế, Việt Nam có thể xây dựng thành công nền kinh tế xanh để hội nhập quốc tế.

     

    (2007), Determinants of economic growth: the experts’ view, available at http://www.prd.uth. gr/uploads/discussion_papers/2007/uth-prd-dp-2007-10_en.pdf .

    • UNEP (2011), Towards a Green Economy: Pathways to sustainable Development and Poverty Eradicaton (A Synthesis for Policy Makers), available at: ipu.org/splz-e/ rio+20/rpt-unep.pdf.

     

    • UNEP (2011b), Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication, available at:

    www.unep.org/greeneconomy/2011/Green%20 EconomyReport_Final_Dec2011.pdf.

     

    • Yongfu Huang and M.G. Quibria (2013), “Green growth: theory and evidence”, Working Paper No.2013/056, available at: eadi.org/publications/_growth/_green…/ details_46265.

     

    • UNIDO (2012), Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam 2011

    [10].htpp://sxsh.vn/vi-VN/Home/ tongquansanxuatsachhon-14/2011/San-xuat-sach-hon-tren-toan-quoc-874.aspx

     

    [11].htp://kinhdoanh.vnexpress.net/in-tuc/doanh-nghiep/doanh-nghiep-cong-nghe-cao-chi-dem-tren-dau-ngon-tay-2752206.html

     

     

    94


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C3%A0m-%C3%BD-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-v%E1%BB%81-chuy%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BB%95i-kinh-t%E1%BA%BF-sinh-th%C3%A1i-v%C3%A0-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-trong-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-n%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-kinh-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BB%AB-tri%E1%BB%83n-khai-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-legato.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Original Article

     

    Policy Implications on Socio Ecological and Economic Tranformation in Vietnam’s Agriculture: Experiences from Legato Project

     

    Dao Thanh Truong*, Nguyen Thi Quynh Anh

     

    VNU University of Social Sciences and Humanities,

     

    336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Received 06 May 2019

    Revised 17 June 2019; Accepted 17 June 2019

     

    Abstract: As one of the leading countries in rice export, Vietnam has always focused on investing and developing clean and green agriculture with the aim of sustainable development. In addition to traditional farming methods, farmers have gradually approached modern technologies and methods of large-scale goods production. The inter-regional nature between production and agriculture and interdisciplinary interactions between agriculture and services has become increasingly common in Vietnam’s major rice production areas such as the Red River Delta and the Mekong Delta. This paper focuses on analyzing the socio-economic-ecological transformation in rice production of Vietnam, adopting the experience of ecological technology application under the framework of the LEGATO project – an interdisciplinary project participated by the Institute of Policy and Management for the period 2011-2016. The results of the project affirmed the importance of combining different research approaches in considering the socio-economic-ecological impacts in ecological technology development of agricultural production in Vietnam

     

    Keywords: Social, ecological and economic transformation, policy, sustainable development, interdisciplinary approach, stakeholders.*

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

    26

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp: kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    Đào Thanh Trường*, Nguyễn Thị Quỳnh Anh

     

    Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN,

     

    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 06 tháng 5 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 17 tháng 6 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Là một trong những quốc gia đứng đầu trong việc xuất khẩu gạo, Việt Nam luôn chú trọng việc đầu tư và phát triển nông nghiệp xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh phương thức canh tác truyền thống, người nông dân đã tiếp cận dần với các công nghệ hiện đại và phương thức sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. Tính liên vùng trong sản xuất và nông nghiệp và liên ngành giữa nông nghiệp và dịch vụ được khai thác ngày càng phổ biến tại các trung tâm sản xuất lúa gạo lớn của Việt Nam như Khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết tập trung phân tích những vấn đề chuyển đổi kinh tế – xã hội – sinh thái của Việt Nam trong sản xuất lúa nước từ kinh nghiệm áp dụng công nghệ sinh thái trong khuôn khổ dự án LEGATO – một dự án liên ngành do Viện Chính sách và Quản lý tham gia triển khai trong giai đoạn 2011-2016. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp những tiếp cận nghiên cứu khác nhau trong việc xem xét những tác động kinh tế – xã hội – sinh thái trong phát triển công nghệ sinh thái trong hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam và những hàm ý chính sách cho quá trình phát triển nông nghiệp hiện nay.

     

    Từ khóa: Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội, chính sách, phát triển bền vững, tiếp cận liên ngành, các bên liên quan.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Khái niệm “Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái” được hình thành trong lòng cuộc đối thoại về những giá trị của quan điểm phát triển

     

    ________

    *Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

     

    bền vững trước đây đặt ra. Trong đó khái niệm Chuyển đổi (Transformation) được đưa ra trong cuộc thảo luận về “Những chuyển đổi lớn”

     

    (Great Transformation)1 do Polanyi2 đưa ra năm 1995. Theo nghiên cứu của Phillip Degenhardt

     

    • Có tác giả dịch là Cuộc Đại biến chuyển.

    2Nhà văn và giáo sư gốc Hungary, đã sống ở Trung Âu và Anh trước khi di cư sang Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến

     

    27

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    (2016), Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái là một quan điểm đóng góp của Cánh tả cho cuộc thảo luận về học thuyết Degrowth (tạm dịch: Giảm phát triển) [1]. Trong đó, ngành năng lượng, ngành giao thông, nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp và các tổ hợp công nghiệp quân sự là những yếu tố tác động mạnh mẽ và tào ra những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái

     

    – xã hội của nhiều quốc gia hiện nay. Chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội liên quan đến việc đánh giá và tổ chức lại khung chính sách, các mô hình sản xuất và tiêu dùng mới hiện nay nhằm hạn chế các tác động âm tính của tăng trưởng và phát triển kinh tế đến sinh thái, xã hội, hướng đến một xã hội tương lai bền vững. Có thể thấy rằng, xu hướng định hình từ phát triển bền vững tới chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội đang xuất hiện ngày càng phổ biến ở các nước phát triển. Đây là sự định hình lại các hình thức liên kết giữa các yếu tố kinh tế – xã hội – sinh thái trong chiến lược phát triển, xem xét tác động của các hoạt động kinh tế với xã hội sinh thái hiện nay và giải pháp khắc phục, đảm bảo tính cân bằng, ổn định giữa các thành tố phát triển này. Từ phương diện chính sách, các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội cần được xem xét và áp dụng vào quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách.

     

    Theo nghiên cứu của Joachim Spangenberg (2019), Việt Nam đang phải đối mặt với những biến chuyển có tương tác với nhau và hàm ý mà chúng mang lại, từ một múc thu nhập thấp đến trung bình và từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hóa, từ phân bổ dân cư nông thôn sang đô thị hóa, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và từ trạng thái ổn định sang khí hậu thay đổi nhanh chóng (tần suất và cường độ bão tăng, mực nước biển dâng cao, mất đa dạng sinh học,

     

    • nhiễm môi trường), nổi cộm trên những vấn đề môi trường phức tạp hiện nay. Bối cảnh này đòi hỏi cần có sự nhìn nhận lại về các trọng tâm phát triển. Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trụ cột kinh tế vẫn là hướng mục tiêu

    ________

     

    3 Land-use intensity and Ecological Engineering – Assessment Tools for risks and Opportunities in irrigated rice based production systems.

     

    được tập trung hơn các trụ cột khác. Chính vì vậy, từ phát triển bền vững dịch chuyển sang triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một yêu cầu khách quan và cần được áp dụng trong quá trình phát triển đất nước. Trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam, sự giao thoa giữa nông nghiệp truyền thống với nông nghiệp chuyên môn hóa; giữa nông nghiệp với các ngành khác đã tạo nên những chuyển đổi kinh tế

     

    • sinh thái – xã hội mạnh mẽ trong những năm gần đây. Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu liên ngành trong phát triển nông nghiệp theo triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội.

    Dự án Kỹ thuật Thâm canh và Công nghệ Sinh thái – Công cụ đánh giá rủi ro và Cơ hội của

     

    hệ thống sản xuất lúa nước tưới3 (sau đây gọi tắt là LEGATO) là một dự án dự trên tiếp cận liên bộ môn (inter-disciplinary approach), liên ngành (inter- sectorial approach) được Viện Chính sách và Quản lý triển khai trong thời gian từ 2011-2016.

     

    Mục tiêu tổng quát của dự án là xây dựng những quy trình ứng dụng thực hiện “công nghệ sinh thái” –bao gồm thiết kế, điều tra, theo dõi và cấu trúc của các hệ sinh thái. Đồng thời, dự án còn thực hiện việc định lượng sự phụ thuộc của các chức năng của hệ sinh thái và các dịch vụ tạo ra trong hệ thống nông nghiệp trong ba khu vực ở Đông Nam Á: Malaysia (Đề án thủy lợi Muda), Việt Nam (tỉnh Tiền Giang ở ĐBSCL và thung lũng sông Hồng từ khu vực miền núi Tây Bắc đến đồng bằng) và Philippines (Trung Luzon từ Banaue đến Cabanatuan).

     

    Cơ sở hoạt động của LEGATO là hướng dẫn phát triển chức năng sinh thái (ecosystem functions) và dịch vụ sinh thái (ecosystem services) phù hợp điều kiện văn hóa – xã hội và tự nhiên tại địa phương, nhằm giúp nông dân tại khu vực Nam và Đông Nam Á xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững, có khả năng thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu gây ra. LEGATO sẽ phân tích tiềm năng của “công nghệ

     

    sinh thái”4 và thử nghiệm khả năng áp dụng và

     

    • Công nghệ sinh thái hướng đến tính bền vững trong phát triển nông nghiệp. Nền nông nghiệp sinh thái cung cấp cho con người một không gian sản xuất lành mạnh, sản phẩm nông nghiệp sạch và một môi trường tự nhiên ổn định. Áp

     

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    29

    chuyển giao tại địa bàn nghiên cứu. Bước tiếp theo là hợp tác với cơ quan Nông nghiệp và Khuyến nông địa phương để chuyển giao cho người dân triển khai trên quy mô rộng hơn. Việc thực hiện có hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo công nghệ sinh thái tạo được sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng. Mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái trong trồng lúa giúp bà con nông dân trồng lúa giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, bảo vệ sức khỏe và môi trường sống tốt hơn.

     

    LEGATO là một dự án mà hiển thị các xu hướng hợp tác của các nhà khoa học giữa các quốc gia khác nhau trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, có 7 quốc gia và gần 100 nhà khoa học từ các lĩnh vực như xã hội học, sinh học, địa lý học, sinh thái học, kinh tế học, nhân học v.v. Để đánh giá tính khả thi của việc áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu không chỉ phân tích thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và hệ sinh thái quanh đồng ruộng, mà còn phân tích các đặc trưng văn hóa của phương thức canh tác nông nghiệp, những tác động của chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đến canh tác nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu. Các nghiên cứu phân tích sự kết hợp giữa nông nghiệp – dịch vụ trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh gắn với các giá trị truyền thống của sản xuất nông nghiệp tại các địa bàn nghiên cứu, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

     

    • Phạm vi: Tại Việt Nam, địa bàn nghiên cứu bao gồm: Trung Chải, Sapa (Lào Cai) và xã Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương). Kết quả khảo sát cho thấy, Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương) là hai địa bàn được chọn để áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa).

     

    • Phương pháp tiếp cận
    • Tiếp cận phân tích vai trò của các bên liên quan (stakeholders)

    Để đảm bảo tính khách quan và sự tham gia của nhiều đối tượng trong hoạt động của dự án,

     

    ________

     

    dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp tiến bộ được rất nhiều các quốc gia áp dụng, với mong muốn điều chỉnh việc khai thác sử dụng đất trồng lúa, hạn chế các biện pháp khai thác làm suy thoái tài nguyên đất nói

     

    các nhóm bên liên quan được xác định là đối tượng cung cấp các thông tin đầu vào trong các nghiên cứu ban đầu khảo sát thực trạng của các hoạt động kinh tế – xã hội – sinh thái liên quan đến dự án, vừa tham gia thực hiện và đánh giá các hoạt động này. Sự khác biệt trong quan điểm của các bên liên quan là gợi ý để các nhà nghiên cứu phát hiện các vấn đề nghiên cứu. Phân loại các bên liên quan căn cứ theo ảnh hưởng và lợi ích từ dự án với các hình thức: Tham dự, Thông tin, Hợp tác và Tư vấn.

     

    Dự án đã triển khai các cuộc phỏng vấn tại tất cả các khu vực của dự án LEGATO, tức là ở ba tỉnh ở Philippines (Laguna, Nueva, Ecija và Ifugao), và tại bốn tỉnh ở Việt Nam (Tiền Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc và Lào Cai), và các bên liên quan tại Hà Nội và Manila (các bên liên quan cá nhân phỏng vấn). Từ năm 2011 đến 2016, đã có hơn 150 cuộc phỏng vấn cá nhân và hơn 20 cuộc phỏng vấn nhóm được thực hiện, với khoảng 400 người tham gia (với các bên liên quan như bảng dưới đây).

     

    STT       Nhóm các bên liên quan

     

    • Người nông dân và gia đình của họ
    • Các đơn vị hành chính: cán bộ nông nghiệp, cán bộ khuyến nông
    • Các đại lý chuỗi sản xuất gạo: trung gian và thương nhân (sấy khô, làm sạch và tiếp thị sản phẩm)
    • Quản trị cấp cao hơn: cán bộ nông nghiệp cấp tỉnh, quản lý nông nghiệp
    • Doanh nghiệp nhỏ địa phương (taxi, cho thuê xe, nhà hàng, khách sạn)
    • Các doanh nghiệp lớn hơn tại địa phương, các công ty con của các tổ chức hoặc doanh nghiệp quốc gia, Ban quản lý địa phương, du lịch
    • Chính quyền cấp tỉnh và quốc gia

    riêng và đảm bảo việc thực hiện được nguyên tắc của một nền nông nghiệp sinh thái. Bên cạnh đó, áp dụng công nghệ sinh thái cũng góp phần tăng cường chức năng của hệ sinh thái và sự phát triển của dịch vụ sinh thái.

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Giai đoạn 1: Các cuộc phỏng vấn được tiến hành trong giai đoạn đầu của dự án để xác định các địa điểm phù hợp nhất cho các khu vực dự án. Mục đích chính của tất cả các cuộc phỏng vấn ban đầu là hiểu rõ hơn vị trí của người được phỏng vấn và xác định mức độ quan tâm tương ứng của họ.

     

    Giai đoạn 2: Các cuộc phỏng vấn tập trung vào các đặc điểm về kinh tế xã hội và văn hóa xã hội, tình hình sử dụng đất và bối cảnh, quan điểm cuộc sống của họ với sự phát triển của khu vực như được quan sát và mong đợi, các vấn đề văn hóa liên quan, các kỳ vọng về thay đổi phương thức canh tác và nâng cao thu nhập. Các cuộc phỏng vấn này được tổ chức riêng biệt theo giới tính (nhóm nam, nhóm nữ).

     

    Giai đoạn 3: Phỏng vấn về đánh giá lộ trình áp dụng, kết quả và tác động của việc áp dụng CNST và kỳ vọng. Người tham gia phỏng vấn phải được đáp ứng hai điều kiện: những người được phỏng vấn được chọn phải đại diện cho khu vực và thủ tục phỏng vấn phải được chuẩn hóa.

     

    • Tiếp cận chính sách

    Để đánh giá khả năng và điều kiện áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up) với các nhóm liên quan, đặc biệt là với nhóm thụ hưởng (người dân).

     

    Tiếp cận từ trên xuống (Top-down) được xây dựng trên cơ sở một mạng lưới các đối tác là các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu của dự án là Sapa và Hải Dương (bao gồm Sở Văn hóa Thể thao Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Bảo vệ thực vật, Trung tâm phát triển Văn hóa của địa phương v.v.). Tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up): người dân được hỏi về hiệu quả của các chính sách phát triển trước khi áp dụng công nghệ sinh thái (nhóm dự kiến áp dụng và nhóm không áp dụng), quan điểm và đánh giá của họ về những chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội trong sản xuất nông nghiệp. Cách tiếp cận này giúp đối chiếu và tìm kiếm các vấn đề xung đột quan điểm và khoảng trống giữa

     

    nhận thức và hành động của người làm chính sách và đối tượng thụ hưởng.

     

    • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, điều tra bảng hỏi, thực nghiệm mô hình công nghệ sinh thái.

     

    Kết quả và thảo luận

     

    2.1. Những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong hoạt động canh tác và sản xuất lúa của Sapa và Hải Dương

     

    2.1.1. Sự thiếu hụt của nhân lực trong sản xuất nông nghiệp

     

    Nguồn nhân lực trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chiếm tỉ trọng cao trong tổng số lao động tại Việt Nam. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2018 Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực khu vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính là 20,9 triệu người, chiếm 38,6% (giảm 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Công nghiệp và xây dựng là 14,4 triệu người, chiếm 26,7% (tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Dịch vụ là 18,7 triệu người, chiếm 34,7% (tăng 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước) [3]. Do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nguồn nhân lực tham gia sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, lao động nông nghiệp bị thu hút bởi các ngành hoạt động sản xuất và dịch vụ. Theo kết quả nghiên cứu của dự án LEGATO, xu hướng này được thể hiện rõ tại hai địa bàn chính là Sapa và Hải Dương:

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển đổi sang làm ngành dịch vụ

    Tại Sapa, Dự án LEGATO khảo sát đặc điểm phương thức canh tác trên ruộng bậc thang tại các địa điểm: Trung Chải, Tả Văn, v.v. và hoạt động liên quan khác như việc sử dụng và quản lý đất nông nghiệp, sự phát triển của du lịch sinh thái tại các địa bàn này. Tại Sapa, trên địa hình cao và dốc, lại chịu tác động mạnh mẽ của thời tiết khắc nghiệt, của biến đổi khí hậu, nông dân địa phương chỉ có thể canh tác 1 vụ lúa trong

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    31

    năm từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm, kết hợp trồng thêm ngô, thảo quả và rau, chủ yếu vẫn sử dụng phương thức sản xuất theo kinh nghiệm truyền lại của ông cha và phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện tự nhiên. Người dân mở rộng diện

     

    tích ruộng bậc thang theo kinh nghiệm, gần các khu vực có nhiều nước và sử dụng các ông nứa, ống tre ghép thành các hệ thống dẫn nước thô sơ cho ruộng của họ.[4]

     

     

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2011.

     

     

    Bên cạnh những khó khăn về điều kiện khí hậu, nguồn nước, sự suy giảm của tài nguyên rừng cũng ảnh hưởng đến đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Trước kia, nông dân ở Sapa trồng giống lúa địa phương, hiện nay, người dân chủ yếu trồng lúa lai bên cạnh các giống lúa truyền thống như Sén Cù, Khẩu Nậm Sít, Bắc Thơm, Tàu Bay. Sản xuất Nông nghiệp, đặc biệt là việc canh tác lúa trên ruộng bậc thang tại Sapa chủ yếu phụ thuộc điều kiện tự nhiên, canh tác trên địa hình cao và phức tạp, hệ thống thủy lợi chưa phát triển, trong mùa khô, ruộng không đủ nước; nguồn nước chủ yếu sử dụng ở khu vực ruộng bậc thang là nước suối, nước ngầm, v.v. Tại Sapa tập quán du canh du cư vẫn tồn tại, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quá trình thoái hóa đất. Chính vì vậy, lúa canh tác chủ yếu chỉ đủ cung cấp cho người dân địa phương, một số ít loại gạo đặc sản được cung cấp theo nhu cầu của các cơ sở dịch vụ du lịch tại thị trấn Sapa. Các dịch vụ về nông nghiệp chậm phát triển như: Cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, công nghệ sơ chế bảo quản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được với

    nhu cầu của phát triển sản xuất. Chính vì thế, năng suất lúa thấp, mất mùa không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực của người dân địa phương.

     

    Theo kết quả phỏng vấn nhóm nông dân là nữ, thời gian canh tác lúa giảm đi do người dân bán các sản phẩm thổ cẩm, trang sức bạc, v.v. cho các du khách đến du lịch. Nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình là từ hoạt động bán sản phẩm cho khách du lịch. 90% gia đình được phỏng vấn cho biết con cái họ đều tham gia bán sản phẩm du lịch (độ tuổi trung bình từ 6-12 tuổi). Trong khi nhóm nam (độ tuổi 30-45 tuổi) cho rằng họ tiếp tục sản xuất do canh tác và đất đai được truyền lại từ thế hệ trước và cũng để đảm bảo nguồn lương thực phục vụ cho hộ gia đình duy trì cuộc sống hàng ngày. Theo kết quả phỏng vấn sâu con cái của các hộ gia đình, 98% con cái của họ (độ tuổi từ 15 tuổi) đều mong muốn chọn lựa công việc khác. Công việc nông nghiệp được người dân mô tả là “vất vả, thu nhập thấp, không ổn định và không có tương lai”.

     

    Như vậy, xu hướng chuyển đổi lao động nông nghiệp (trồng lúa trên ruộng bậc thang) tại Sapa, Lào Cai chủ yếu tập trung vào quá trình

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    giảm tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp sang ngành dịch vụ, du lịch. Xu hướng này tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây do tốc độ phát triển và chiến lược phát triển du lịch của địa phương. Mặc dù, sản xuất công nghiệp tại Lào Cai cũng phát huy hiệu quả những tiềm năng, lợi thế về khai thác chế biến khoáng sản, đầu tư phát triển thuỷ điện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản. Nhiều dự án, nhà máy lớn chế biến sâu khoáng sản của địa phương: Apatit, sắt, đồng… đi vào hoạt động. Song chủ yếu là do lao động từ các tỉnh khác đến phục vụ quá trình khai thác và sản xuất công nghiệp.

     

    Khi chuyển sang giai đoạn hai về phỏng vấn người dân về việc áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa) trong sản xuất lúa tại các hộ gia đình. Kết quả dự án cho thấy, 89% số lao động được hỏi cho rằng họ tin tưởng vào tác động của việc áp dụng công nghệ (do Nhà khoa học cung cấp). Tuy nhiên, người dân lo sợ không sử dụng các chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp có thể ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp (trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt) và mất thời gian. Vì vậy, việc áp dụng CNST cần phải có hỗ trợ giống, kinh phí và kỹ thuật, tính phương án đền bù nếu áp dụng mô hình không thành công. Số người dân được phỏng vấn còn lại cho rằng áp dụng công nghệ sinh thái là không khả thi và không hiệu quả, đặc biệt khi áp dụng với mô hình sản xuất trên ruộng bậc thang. Người dân không muốn áp dụng kể cả trong điều kiện có sự hỗ trợ. Tại địa bàn phỏng vấn, rất ít hộ nông dân chọn đáp án sản xuất nông nghiệp để phục vụ hoạt động dịch vụ du lịch như mô hình của Banaeu, Phillipines (trồng lúa trên ruộng bậc thang để tạo cảnh quan du lịch, thiết kế tour du lịch sinh thái với các đại lý du lịch). Khi được hỏi kỳ vọng về sản xuất kinh tế của gia đình, người dân cho rằng sẽ tiếp tục tham gia hoạt động bán hàng và các dịch vụ du lịch để có

     

    ________

     

    5 Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam với diện tích 1656,0 km². Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên phù hợp với việc trồng

     

    thu nhập, nếu gặp thiên tai và không sản xuất đủ lúa sẽ mua gạo tại các chợ gần thị trấn.

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển sang lĩnh vực công nghiệp

    Tại Hải Dương5, với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, Hải Dương đã và đang phát triển các khu vực chuyên canh sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn cung cấp số lượng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa phục vụ các khu vực lân cận và xuất khẩu. Khác với Sapa, Hải Dương có nhiều điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp, và trở thành một trong những tỉnh có sản lượng gạo cao tại Việt Nam. Tại Hải Dương, có 126,000 ha diện tích lúa trồng. Năng suất trung bình là khoảng 6 tấn /ha /vụ, diện tích trung bình khoảng 400-500m2 người.

     

    Tài nguyên đất của Hải Dương khá phong phú và đa dạng, bao gồm đất phù sa và feralit, trong đó đất phù sa chiếm 148.929 ha với 2 loại chính là: đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Thanh Hà, Kinh Môn) và phù sa không được bồi đắp hằng năm (Nam Sách, Gia Lộc, Cẩm Giàng, v.v.) thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Tại Hải Dương, người dân sản xuất 2 vụ mỗi năm, Vụ Đông Xuân bắt đầu vào tháng Hai và kết thúc với việc thu hoạch tháng năm hoặc tháng 6, vụ Hè Thu kết thúc vào tháng 10. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm lúa gạo của Hải Dương bao gồm thị trường trong tỉnh và thị trường ngoài tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh). Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Một số sản phẩm dễ trồng nhưng hiệu quả kinh tế không cao, chẳng hạn như ngô, đậu tương, trên bàn tay khác, người nông dân không sẵn sàng đầu tư vào trồng một số cây có giá trị mà yêu cầu chăm sóc khó khăn hơn trong một thời gian dài. Sản xuất nông nghiệp đem lại nguồn thu thấp do chi phí đầu tư cho các khâu sản xuất là khá cao, trong khi chuyển đổi nghề nghiệp sang làm việc tại các khu công nghiệp có

     

    cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    33

    thu nhập cao, ổn định hơn. Bên cạnh đó, theo đánh giá của cán bộ quản lý nông nghiệp, diện tích canh tác lúa tăng giảm không ổn định do Hải Dương nằm trong xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất chuyên dụng và đất thổ cư. Đây là một tác nhân dẫn đến việc địa phương tăng cường ban hành các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung của địa phương, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phục vụ các dự án, các KCN.

     

    Tính đến giai đoạn 2016-2017, Hải Dương có 10 KCN đã được thành lập, đang đi vào hoạt động và thực hiện xây dựng đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng diện tích theo quy hoạch chi tiết là 1.732 ha, trong đó có 07 KCN đã cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật trong các KCN; có 219 dự án đầu tư trong các KCN còn hiệu lực đến từ 29 quốc gia và vùng lãnh thổ; có trên 163 dự án đã triển khai và đang hoạt động sản xuất kinh doanh; tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 63,6%; thu hút gần 8 vạn lao động làm việc trong các KCN [5]. Cho đến nay, việc phát triển các KCN cũng diễn ra mạnh mẽ, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng mạnh (đặc biệt là các ngành sản xuất cao su, điện tử, sản phẩm quang học, sản xuất thiết bị điện, công nghệ chế biến khác…).

     

    Kết quả phỏng vấn cho thấy, độ tuổi lao động trong sản xuất lúa trung bình là 40-45 tuổi và có xu hướng già hóa do lực lượng lao động trẻ tìm công việc tại các khu Công nghiệp. Mặc dù có điều kiện thuận lợi song các hộ nông dân đều cho rằng sản xuất nông nghiệp không mang lại điều kiện thu nhập cao kể cả khi các nông sản này được thu mua với quy mô lớn. Đặc điểm canh tác từ 2-3 vụ một năm chiếm một tỷ trọng lớn thời gian lao động trong năm trong khi thu nhập không cao, khiến lao động trẻ không còn mặn mà trong sản xuất nông nghiệp. Trong canh tác nông nghiệp xuất hiện phương thức thuê khoán các quy trình, sản xuất nông nghiệp trong hộ gia đình từ sản xuất phục vụ thu mua sang thuê sản xuất để phục vụ nhu cầu sử dụng của gia đình. Thậm chí, kinh phí thuê nhân công tham gia các hoạt động canh tác (gieo mạ, phun thuốc trừ sâu, gặt v.v.) tương đương với giá trị sản phẩm nông

     

    nghiệp sau khi thu hoạch, nhiều hộ gia đình vẫn chấp nhận do có thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác. Khi được hỏi về việc áp dụng công nghệ sinh thái trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, 98% các hộ gia đình cho rằng đây là biện pháp có hiệu quả để giúp cải thiện năng lực cho người dân trong sản xuất lúa (do kết quả từ chuyển giao công nghệ). Khi hỏi về điều kiện triển khai, người dân chủ yếu quan tâm đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

     

    Trong năm 2015-2016, dự án đã triển khai hoạt động áp dụng công nghệ sinh thái tại một số địa bàn nghiên cứu, tuy nhiên kết quả cho thấy, người dân chỉ áp dụng được trong năm đầu tiên. Do chính sách dồn điền đổi thửa còn gặp nhiều bất cập, diện tích sản xuất lúa của các hộ gia đình vẫn chưa tập trung mà bị phân cắt tại nhiều khu vực, diện tích áp dụng CNST chỉ trong quy mô thực nghiệm tại 05 hộ gia đình tại Kim Thành, Hải Dương. Sau 1 năm triển khai, do ảnh hưởng của việc tăng cường phát triển hạ tầng cho nông thôn mới và tăng cường cơ sở hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp, diện tích áp dụng giảm đi nhanh chóng. Nguyên nhân xác định chủ yếu do lực lượng lao động tại các hộ tìm được việc làm tại các KCN nên giảm quy mô canh tác. Trong khi tại Tiền Giang, địa phương áp dụng CNST theo mô hình ruộng lúa bờ hoa được người dân tiếp nhận và triển khai trên quy mô lớn.

     

    Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực của địa phương, mà còn tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân ở các địa bàn khảo sát Sapa và Hải Dương. Trước các mục tiêu phát triển kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ. Nhân lực nông nghiệp không chỉ muốn chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp mà còn không quan tâm đến những tác động tiêu cực đến cảnh quan, môi trường sinh thái xung quanh hoạt động sản xuất nông nghiệp khi sử dụng các chất hóa học trong canh tác. Điều này đã và đang đặt ra những vấn đề kinh tế – xã hội và sinh thái quan trọng của địa phương: tình trạng thiếu hụt lao động, tình trạng ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, v.v. Áp dụng công nghệ sinh thái trong canh tác lúa không chỉ

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    nhằm thúc đẩy nông nghiệp bền vững, mà còn tạo ra các tác động thu hút nhân lực nông nghiệp quay trở lại làm việc và tăng thu nhập từ các sản phẩm nông sản sạch và chất lượng, đem lại giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, gắn các giá trị của sản xuất nông nghiệp với các khu vực dịch vụ có thể tạo ra các sản phẩm du lịch dịch vụ mang bản sắc truyền thống, thu hút du khách nước ngoài đến Việt Nam.

     

    2.1.2. Thay đổi cảnh quan sinh thái trong canh tác lúa nước tại Sapa và Hải Dương

     

    • Sự suy giảm/mất đi các cảnh quan nông nghiệp do việc suy thoái tài nguyên đất và tình trạng ô nhiễm môi trường do việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp.

    Phân hóa học được sử dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở Hải Dương và Sapa, nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, có thể kể phân đạm, phân lân và phân kali. Bên cạnh việc sử dụng phân hóa học, nông dân tại 2 địa bàn nghiên cứu còn sử dụng các nông dược hiện đại đa số là chất hữu cơ tổng hợp như Thuốc trừ sâu (insectides) và Thuốc trừ cỏ (herbicides). Mặc dù, nông dân kết hợp phân chuồng với phân bón hóa học trong trồng lúa song hầu hết trong số họ nói rằng việc sử dụng hiệu quả phân bón hóa học mang lại hiệu quả một cách nhanh chóng hơn so với phân bón từ động vật.

     

    Khi được phỏng vấn về cách thức sử dụng phân bón, thuốc diệt cỏ và một số loại thuốc trừ sâu, người nông dân chia sẻ:

     

    • Về nguồn gốc: chủ yếu mua tại các cửa hàng bán gần nhà hoặc ra các trạm bảo vệ thực vật mua, thấy dùng loại thuốc nào hiệu quả sẽ dùng tiếp. Loại thuốc sử dụng do người bán hàng giới thiệu hoặc do những người khác dùng hiệu quả giới thiệu dùng để diệt sâu hại.
    • Về mức độ sử dụng: khi thấy có sâu hại hoặc khi thấy sâu hại xuất hiện tại các ruộng cạnh bên.
    • Thói quen sử dụng: Về cơ bản, kiến thức về sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón của người dân ở Sapa hạn chế hơn so với mặt bằng dân trí tại Hải Dương, do sự bất đồng về mặt ngôn ngữ. Song liều lượng cách thức sử

    dụng của người dân với cá loại thuốc bảo vệ thực vật còn chưa hợp lý, không được sử hướng dẫn cụ thể của cán bộ nông nghiệp. Nông dân cũng không biết nhiều về cách áp dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ họ thường mua chúng một cách bừa bãi mà không có hướng dẫn trong các cửa hàng nhỏ xung quanh khu vực của họ. Đó không chỉ là vấn đề nghiêm trọng của việc trồng lúa ở vùng đất thấp, mà còn hiện tượng phổ biến trong lĩnh vực ruộng bậc thang ở miền núi.

     

    • Tác động: Việc các vỏ thuốc bảo vệ thực vật vứt bừa bãi trên các khu vực quanh ruộng, đất ruộng bị thoái hóa, ô nhiễm chất đất… Sự phân hủy của túi Nilon chứa thuốc bảo vệ thực vật rất lâu, hóa chất có thể gây độc hại cho gia súc thậm chí con người.

    Như vậy, tại Sapa và Hải Dương, kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên nguy cơ về sự thoái hóa đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. Việc sử dụng bừa bãi, lạm dụng phân bón không chỉ làm mất ổn định hệ sinh thái nông nghiệp, dùng thuốc diệt cỏ sẽ làm thay đổi thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp, phun xịt thuốc trừ sâu có thể làm chết các sinh vật sống trong môi trường ruộng lúa. Nghiêm trọng hơn là sử dụng các chất hóa học gây ra những tác hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.

     

    • Chất thải công nghiệp – hệ quả của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

    Tại Hải Dương, cùng với quá trình công nghiệp hóa, các khu công nghiệp được xây dựng xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp tại Hải Dương. Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí ở xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp và khu dân cư. Chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp ngấm vào đất và làm ô nhiễm môi trường đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe của con người. Tại Hải Dương, nhà máy chế biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt tỉnh Hải Dương được xây dựng với

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    35

    công suất là 64.000 tấn rác thô/ năm thành phẩm     nguồn nước; các xe chở rác ngày đêm gây ô

     

    khoảng 12.390 tấn phân hữu cơ/năm. Các địa            nhiễm tiếng ồn xung quanh các khu vực dân cư

    điểm tập kết rác gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm    và khu vực trồng lúa.

     

     

     

    Chất thải công nghiệp tập kết ngay cạnh khu vực ruộng lúa tại Hải Dương

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2014-2015.

     

     

    Tại Sapa, sự thay đổi cảnh quan chủ yếu do tác động của quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch. Kết quả phỏng vấn cho thấy, 98% người dân nhận thấy có sự thay đổi rõ ràng về cảnh quan xung quanh khu vực họ ở, trong đó xuất hiện các cảnh quan mới tập trung tại các khu vực dịch vụ, các khu vực khai thác khoáng sản, các khu vực dân cư do quá trình đô thị hóa. Với vị trí địa lý giáp khu vực biên giới, Sapa còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh biên giới, an ninh chính trị, an ninh xã hội và an ninh trong vùng dân tộc, tôn giáo. Hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép, tuyên truyền đạo trái pháp luật, khiếu kiện đông người, vượt cấp, tội phạm, vi phạm pháp luật, tai nạn, tệ nạn xã hội còn xảy ra. Công tác nắm tình hình và xử lý, giải quyết một số vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự tại cơ sở còn lúng túng. Ý thức chấp hành pháp luật trong một bộ phận nhân dân chưa cao. Điều này cũng gây những tác động gián tiếp đến quá trình ổn định dân cư, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

     

    2.1.3. Nguy cơ khác

     

    Tại Sapa

    • Biến đổi khí hậu: Tại Sapa, biến đổi khí hậu dẫn đến điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt như sương giá, thiếu nước gây khô hạn…làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Những thay đổi khí hậu xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày tại Lào Cai: Ví dụ, băng xuất hiện ở Sa Pa, mưa lớn vào mùa đông. Vấn đề thiếu nước trong canh tác: Nước sử dụng chủ yếu ở vùng núi, từ mùa xuân. Nông dân chỉ trồng từ mùa mưa (từ tháng Tư đến tháng Chín), mùa khô (từ tháng Mười đến tháng Ba) không đủ nước cho sinh hoạt và nông nghiệp.
    • Phương thức canh tác lạc hậu: Tại Sapa, tập quán du canh du cư, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quả trình thoái hóa đất. Phương thức canh tác nông nghiệp hiện nay, người nông dân chủ yếu trồng theo các phương pháp trồng cũ, tự cung tự cấp là cần thiết và chỉ trồng đủ ăn. Mặt khác, nông dân nhận thức rõ ứng dụng của công nghệ, kỹ thuật sản xuất mới nhưng họ cho rằng không có tiền để trả cho phí mua sắm trang thiết bị và hướng dẫn sử dụng công nghệ.
    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    • Sự lỏng lẻo trong công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa: Những hạn chế trên tạo ra những rào cản cho quá trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa ở Sapa, do diện tích trồng lúa trên ruộng bậc thang của từng hộ có thể bị thay đổi do các tác động của khí hậu khắc nghiệt, hoặc do người dân không canh tác trên khu vực ruộng của gia đình. Quy mô sản xuất nhỏ, cá thể, dàn trải, không tập trung. Địa hình đi lại khó khăn khiến cán bộ quản lý nông nghiệp không có nhiều điều kiện kiểm định được thực trạng sử dụng đất trồng lúa thường xuyên. Theo người dân, trung bình cán bộ nông nghiệp đến trao đổi các vấn đề sản xuất, canh tác nông nghiệp 1-2 lần/năm. Cán bộ nông nghiệp thường thông qua người chủ tịch xã hoặc trưởng thôn để tập hợp người dân đến nghe các thông tin sản xuất nông nghiệp, lịch mùa vụ. Theo phỏng vấn sâu các hộ gia đình, người dân phun thuốc khi thấy ruộng khác có sâu bệnh hoặc phát hiện trên ruộng có sâu bệnh, hoặc phun theo thói quen, kinh nghiệm (phun theo kinh nghiệm nhận biết thời điểm xuất hiện sâu bệnh). Điều này làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp và sự sự suy giảm các loại sinh vật có ích, gây ô nhiễm nguồn nước. Tình trạng ô nhiễm trong hoạt động công nghiệp, khai thác chế biến khoáng sản chưa được giải quyết triệt để. biến đổi khí hậu còn kém, hậu quả thiên tai nặng nề; việc ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học triển khai chưa đồng bộ.

    Tại Hải Dương, xung đột môi trường phát sinh từ quá trình chuyển dịch mục đích sử dụng đất Nông nghiệp chưa được giải quyết triệt để, nông dân sinh sống tại khu vực xung quanh các khu công nghiệp và chịu ảnh hưởng từ chất thải công nghiệp đã nhiều lần khuyến nghị song tình trạng trên chưa thay đổi. Ô nhiễm nguồn nước và đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp từ việc phát triển làng nghề truyền thống: Thôn An Xá, xã Quốc Tuấn là làng nghề mây tre đan và làm hương. Nhờ vậy, bộ mặt của thôn được đổi thay từng ngày. Hiện 95% số đường làng đã bê-tông hóa, nhiều nhà cao tầng kiên cố mọc lên. Thôn hiện có 969 hộ, trong đó có hơn 330 hộ làm

     

    ________

     

    6http://sct.haiduong.gov.vn/News/content/viewer.html?a=2 771&z=160

     

    nghề, chiếm 41%. Tuy nhiên, An Xá cũng đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường. Đến An Xá vào những ngày này, sẽ chứng kiến những dòng nước đen ngòm, ứ đọng, đặc quánh dưới rãnh tiêu nước hai bên đường và tại những ao nhỏ

     

    trong làng bốc lên mùi hôi thối.6

     

    2.2. Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong phát triển nông nghiệp

     

    Phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược của ngành nông nghiệp – một ngành sử dụng đa dạng nguồn lực (tự nhiên, xã hội). Nông nghiệp Việt Nam là một thế mạnh của Việt Nam, không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà đã hướng tới xuất khẩu các mặt hàng nông sản có chất lượng, trong đó có mặt hàng lúa gạo. Dự án LEGATO với cách tiếp cận liên ngành đã nhận diện những vấn đề chuyển đổi kinh tế sinh thái xã hội của Sapa và Hải Dương, hai địa bàn có hoạt động canh tác lúa nước với các xu hướng phát triển khác nhau. Tại Sapa, áp dụng công nghệ sinh thái giúp phát triển các sản phẩm nông nghiệp sạch, gắn văn hóa truyền thống về canh tác lúa với phát triển hoạt động du lịch sinh thái. Tại Hải Dương, áp dụng công nghệ sinh thái trong quản lý và sử dụng đất trồng lúa, không chỉ góp phần thực hiện chiến lược phát triển vùng sản xuất lúa tập trung với hiệu quả cao, mà còn góp phần duy trì cảnh quan sinh thái nông nghiệp, kết hợp với dịch vụ văn hóa tâm linh của người Việt, tạo nét riêng thu hút khách tham quan đến với Hải Dương.

     

    Từ những kết quả nghiên cứu của dự án cũng chỉ ra rằng: hoạt động canh tác và sản xuất lúa gạo đang đối mặt với rất nhiều thách thức, không chỉ là các thách thức nội tại mà còn là những thách thức do tác động khách quan của tăng trưởng và phát triển kinh tế mang lại. Đồng thời quá trình phỏng vấn với các đối tượng làm chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách đã chỉ ra một thực tế rằng: sau một quá trình thực thi chính sách, chỉ khi tác động âm tính của chính sách phát triển kinh tế được bộc lộ một cách sâu sắc và gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, thì quá trình khắc phục và điều chỉnh chính sách mới

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    37

    diễn ra, thậm chí là rất chậm do thiếu nguồn lực. Chỉ khi mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, xung đột xã hội xảy ra, các nhà hoạch định, các nhà quản lý mới đưa ra các chính sách giải quyết hậu quả bằng một chính sách mới, song cũng không thể khẳng định đó là chính sách tối ưu.

     

    Chính vì vậy, vai trò của hoạch định chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội có thể coi là một giải pháp phù hợp với bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện nay của Việt Nam. Trong đó, cần có sự thống nhất về triết lý này trong hệ thống các văn bản liên quan đến vấn đề phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt ban hành xuyên suốt từ Trung ương bằng các nghị quyết của Đảng, đến các chiến lược, chương trình, dự án, các kế hoạch hành động của Chính phủ và của các địa phương. Trong định hướng phát triển chung đó, Chiến lược tăng trưởng xanh và thực hiện các báo cáo Đánh giá quốc gia đa chiều [6] có thể được coi là một nỗ lực gần đây nhất, kết hợp với nhiều nỗ lực và chiến lược hiện nay nhằm thúc đẩy hình thành định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, báo cáo của OECD sẽ phân chia thành 03 giai đoạn: Xác định các vấn đề ràng buộc trong phát triển, phân tích chuyên sâu về các vấn đề và khuyến nghị chính sách phát triển và cuối cùng là hỗ trợ chính phủ các nước biến các khuyến nghị chính sách thành chiến lược cụ thể. [7]. Báo cáo sẽ cung cấp những phân tích sâu sắc và đa chiều về các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và sinh thái, góp phần cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách phát triển tại Việt Nam.

     

    Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một triết lý quan trọng cần được áp dụng trong quy trình chính sách. Đây cũng là một nhu cầu tất yếu trong phát triển bền vững nông nghiệp trong thời gian tới, với một số hàm ý chính sách cụ thể như sau:

     

    • Xem xét tác động của chính sách phát triển kinh tế với sản xuất nông nghiệp (đặc biệt nhận diện các tác động âm tính/tiêu cực và ngoại biên âm tính);
    • Sử dụng các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội trong quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp;
    • Phát triển hệ thống dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội qua các năm, giai đoạn
    • Áp dụng các công cụ đánh giá tác động đa chiều (kinh tế – sinh thái – xã hội) và top down (với các cơ quan ban hành thực thi và đánh giá chính sách ) với bottom up (từ dưới lên qua các đánh giá của đối tượng thụ hưởng) với các dự án, chính sách phát triển tại các địa phương;
    • Xây dựng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội để xác định hướng ưu tiên trong chính sách đầu tư (của các cơ quan quản lý, của các địa phương).
    • Áp dụng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong các chính sách phát triển vùng, liên vùng
    1. Kết luận

    Từ phát triển bền vững đến triết lý về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội là một trong những vấn đề chính sách quan trọng hiện nay không chỉ với Việt Nam mà với các quốc gia đang phát triển hiện nay. Mục tiêu phát triển kinh tế và các chính sách ưu tiên đầu tư, phát triển kinh tế không đi kèm với đánh giá các tương tác với sinh thái, xã hội đang là một khoảng trống trong nghiên cứu và ban hành chính sách. Dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội sẽ là nền tảng để xem xét ưu tiên phát triển địa phương, phát triển vùng và các ngành. Trong đó, canh tác và sản xuất lúa trong nông nghiệp là một ví dụ điển hình về sự cần thiết áp dụng triết lý chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội tại Việt Nam hiện nay. Kết quả của dự án LEGATO đã giúp nhóm nghiên cứu xác định những hàm ý chính sách về áp dụng triết lý này trong phát triển canh tác lúa nói riêng và phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung. Những hàm ý chính sách này là những gợi suy để giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện hơn quy trình ban hành,

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    thực thi và đánh giá chính sách phát triển bền vững trong nông nghiệp hiện nay.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    [1]  Phillip Degenhardt, From Sustainable Development to Socio-Ecological Transformation, Tài liệu cung cấp bởi Quỹ Rosa Luxemburg, CHLB Đức, 2016.

     

    [2]  Joachim       H.        Spangenberg,       Sustainable

     

    development and social, ecological, and economic transformation in Vietnam: Insights for policy, Kỷ yếu tọa đàm quốc tế: Chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt Nam và CHLB Đức về nghiên cứu và hoạch định chính sách trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội”, Phú Yên, Tháng 5/2019.

     

    dmid=2&ItemID=18787 (Truy cập ngày 17 tháng 03 năm 2019).

     

    • Viện Chính sách và Quản lý, Báo cáo nghiên cứu của dự án LEGATO, Hà Nội, 2011.
    • Nhân dân điện tử, Khởi động xây dựng Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Việt Nam, Nhân dân

    điện tử, 2019. http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/3932330 2-khoi-dong-xay-dung-bao-cao-danh-gia-quoc-gia-da-chieu-cua-viet-nam.html (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019)

     

    • OECD, OECD  Development  Pathways,  Multi-

    dimensional Country Reviews, 2018 https://www.oecd.org/development/mdcr/ (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

    Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

    Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chuy%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BB%95i-m%C3%B4-h%C3%ACnh-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-kinh-t%E1%BA%BF-%C4%91%E1%BB%93ng-b%E1%BA%B1ng-s%C3%B4ng-C%E1%BB%ADu-Long-th%C3%ADch-%E1%BB%A9ng-v%E1%BB%9Bi-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%95i-kh%C3%AD-h%E1%BA%ADu-%E2%80%93-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Original Article

     

    Transformation of Mekong Delta Economic Growth Model Adaptation to Climate Change: The Situation and Solutions

     

    Nguyen Hong Gam*

     

    Can Tho Technical Economic College, 9 Cach Mang Thang Tam, Ninh Kieu, Can Tho, Vietnam

     

    Received 04 June 2019

     

    Revised 21 June 2019; Accepted 21 June 2019

     

    Abstract: The Mekong Delta is defined as the key agricultural economic development area of the whole country with a contribution to about 55% rice and 70% seafood production and participates in exporting 90% rice and 60% seafood annually. However, the Mekong Delta’s agricultural economy is very vulnerable due to a high reliance on traditional production and natural resources. In fact, the transformation of the economic growth model in Mekong Delta has been faced to profound changes in the natural and social ecosystems structure. The particular concerned issue is the climate change which takes place more and more seriously affecting deeply to the daily life and producing of people in the region. By the methods of document analysis, surveys and group discussion, this article analyzes the situation of transforming the economic growth model of Mekong Delta in the past, which has been affected by climate changes as well as how climate change has affected production outcomes, social life and environmental ecology. Based on that, the author proposes suitable and feasible solutions to promote the transformation of economic growth model sustainably through developing three pillars: highly economic efficiency and the stable growth rate; the political stability and increasing social welfare; environmental safety and ecological balance.

     

    Keywords: Economic transformation, growth model, sustainable development.*

     

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4180

    84

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

     

    Nguyễn Hồng Gấm*

     

    Trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Cần Thơ, Số 9 đường Cách Mạng Tháng Tám,

     

    Ninh Kiều, TP. Cần Thơ, Việt Nam

     

    Nhận ngày 04 tháng 6 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 21 tháng 6 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Đồng bằng song Cửu Long (ĐBSCL) được xác định là vùng phát triển kinh tế nông nghiệp trọng điểm của cả nước, với mức đóng góp khoảng 55% sản lượng lúa và 70% thủy sản, đồng thời tham gia xuất khẩu 90% gạo và 60% thủy sản hàng năm. Tuy nhiên, nền kinh tế nông nghiệp của ĐBSCL rất dễ bị tổn thương do phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và sản xuất mang tính truyền thống. Thực tế đã cho thấy, sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua phải đối mặt với những biến đổi sâu sắc trong cấu trúc hệ sinh thái tự nhiên và xã hội. Vấn đề nổi cộm được đặc biệt quan tâm là tình trạng biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng nghiêm trọng đang gây ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của người dân trong vùng. Bằng phương pháp phân tích tài liệu, khảo sát thực địa và thảo luận nhóm, bài viết này thực hiện việc phân tích thực trạng chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của ĐBSCL thời gian qua đã chịu tác động như thế nào bởi biến đổi khí hậu cũng như biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng như thế nào đến kết quả sản xuất, đời sống xã hội và sinh thái môi trường. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hàm ý giải pháp phù hợp, khả thi nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế vùng theo hướng bền vững thông qua phát triển ba trụ cột là: hiệu quả kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng nhanh ổn định; ổn định chính trị, gia tăng phúc lợi xã hội; an toàn môi trường, cân bằng hệ sinh thái.

     

    Từ khóa:  Chuyển đổi kinh tế; mô hình tăng trưởng; phát triển bền vững

     

    1. Đặt vấn đề*

     

    1.1. Yêu cầu khách quan chuyển đổi mô hình tang trưởng kinh tế đồng ở bằng song Cửu Long

     

    ________

    *Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4180

    85

     

    Cũng như cả nước, mô hình tăng trưởng kinh tế (MHTTKT) ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ khi bắt đầu thực hiện đổi mới đến nay (1986 – 2018) là một cơ chế hỗn hợp giữa thị trường và Nhà nước trong huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực. Theo đó, các địa phương ĐBSCL đã đổi mới cách thức vận hành nền kinh tế từ mô hình nặng về tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình mới

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Động lực của tăng trưởng được tạo ra bởi các các yếu tố cấu thành cho phép khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của vùng, góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là kết quả của việc lựa chọn mô hình TTKT phù hợp với bối cảnh kinh tế Việt Nam nói chung, tính đặc thù của ĐBSCL nói riêng.

     

    Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế ĐBSCL gần đây đã bộc lộ những dấu hiệu bất ổn; sản lượng thấp hơn tiềm năng, tính ổn định chưa cao trước những biến động kinh tế cả trong và ngoài nước. Tăng trưởng kinh tế dựa quá nhiều vào đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, chưa quan tâm đúng mức đến các động lực khác của nền kinh tế, như khoa học – công nghệ, nhu cầu của thị trường. Đặc biệt, một số địa phương còn dựa quá nhiều vào cơ cấu thiên lệch về nguồn lực cho công nghiệp, dịch vụ chung chung, chưa chú trọng đầu tư thích đáng cho nông nghiệp, nông thôn, là lợi thế đặc trưng của vùng. Thực tế thời gian qua cho thấy, chuyển đổi MHTTKT ở ĐBSCL, bên cạnh việc đem lại lợi ích kinh tế, nó còn làm nảy sinh không ít vấn đề xã hội như thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiểm môi trường, mất cân bằng hệ sinh thái. Từ đó, việc chuyển đổi MHTTKT của các địa phương trong vùng như thế nào cho phù hợp với nền kinh tế đặc thù của vùng; thích ứng với biến đổi khí hậu để phát triển bền vững, đảm bảo sao cho cái giá đánh đổi cho tăng trưởng là thấp nhất.

     

    1.2. Đặc điểm mô hình tăng trưởng kinh tế

     

    MHTTKT có thể hiểu là cách thức tổ chức huy động và sử dụng các nguồn lực để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế qua các năm với tốc độ hợp lý. Theo quan điểm của Karl Marx trình bày trong Bộ Tư bản (1867), có thể thấy MHTTKT bao gồm các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật, trong đó yếu tố giữ vai trò quyết định là lao động và tiến bộ của khoa học

     

    kỹ thuật. Các nhà kinh tế học sau này đã nghiên cứu và cho rằng, động lực của tăng trưởng kinh tế được tổng hợp bởi bốn nhân tố là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, nguồn vốn và công nghệ. Từ đó có thể hiểu, tăng trưởng kinh tế là kết quả hoạt động của MHTTKT, thường được biểu hiện qua sự gia tăng về thu nhập hay giá trị sản lượng của một quốc gia, một vùng hay một ngành trong một thời kỳ nhất định. Như vậy, MHTTKT có thể xét ở hai phương diện, yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra.

     

    Xét theo các yếu tố đầu vào

     

    Tăng trưởng kinh tế dựa vào 3 yếu tố: lượng vốn đầu tư, lực lượng lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity) TFP. Trong đó, TFP là chỉ tiêu phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ mà qua đó chất lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn được phát huy. Cùng một lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này. Vì vậy, tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động. Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Năng suất Châu Á – APO, nguồn đóng góp cho TFP chủ yếu dựa vào 5 yếu tố chính là: (1) Chất lượng lao động; (2) Nhu cầu hàng hóa, dịch vụ; (3) Cơ cấu vốn; (4) Cơ cấu kinh tế và (5) Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (Hình 1). Trong đó, yếu tố cơ cấu vốn, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chất lượng lao động được xác định thuộc về linh̃ vưc̣ khoa học và công nghệ [1].

     

    Xét theo các yếu tố đầu ra

     

    Theo GS Chu Văn Cấp [2], xét theo kết quả đầu ra thì tăng trưởng kinh tế được xem xét ở hai mặt là lượng và chất. Tăng trưởng kinh tế về mặt lượng được đánh giá chủ yếu thông qua các chỉ tiêu giá trị theo hệ thống tài khoản quốc gia như: Giá trị sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (NI), trong đó GDP là

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    87

    chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ biến nhất. Còn tăng trưởng kinh tế về mặt chất được biểu hiện ở sự phát triển bền vững của nền kinh tế với các tín hiệu như: tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài; năng suất lao động cao, hiệu quả sử dụng vốn cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hiện đại và tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

     

    Thực trạng chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua

     

    2.1. Tổng quan ĐBSCL

     

    ĐBSCL là phần lãnh thổ cực nam của Việt Nam và nằm ở phần cuối châu thổ sông Mekong (sông có độ dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam) bao gồm 13 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương với diện tích tự nhiên khoảng 40.816 ha. Theo số liệu thống kê năm 2016, dân số của ĐBSCL khoảng 17,661 triệu người (chiếm 12,32% diện tích tự nhiên và 21% dân số cả nước)[3]. ĐBSCL có vị

     

    trí đặc biệt quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam với các mặt hàng chủ lực là gạo, trái cây, thủy sản và được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định là vùng trọng điểm phát triển kinh tế nông nghiệp của cả nước. Hàng năm, ĐBSCL đóng góp khoảng 18% GDP, 55% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây cho cả nước [4]; đồng thời, đóng góp cho cả nước hơn 90% lượng gạo và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, góp phần mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại với khu vực và thế giới .

     

    Tuy nhiên, hiện nay ĐBSCL đang đứng trước khó khăn đặc biệt do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Theo kịch bản quốc gia vềbiến đổi khí hậu năm 2016 của Bộ TN&MT [5], đối với kịch bản trung bình, đến năm 2100, khu vực ĐBSCL nhiệt độ trung bình có thểtăng 1,7 – 1,90C, mưa có thểtăng 5 – 15% và nước biển dâng từ 32 – 78 cm. Còn với kịch bản biến đổi khí hậu cao thì đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình của ĐBSCL có thểtăng từ 3,00C – 3,50C, mưa có thểtăng trên 20% và nước biển dâng từ 48 – 106 cm.

     

    TFP

    Total Factor Productivity

     

    Chất lượng lao

     

    Thiết bị, công

     

    Áp dụng tiến bộ kỹ

     

    Tái cơ cấu

    động

     

    nghệ

     

    thuật, quản lý

     

    nền kinh tế

                 

    – Nâng cao

     

    – Sử dụng

     

    – Áp dụng phương

     

    Chuyển dịch

    kiến thức, kỹ

     

    công nghệ,

     

    pháp quản lý tiên tiến;

     

    nguồn lực từ

    năng cho

     

    thiết bị tiên

     

    – Cải tiến quy trình;

     

    khu vực có

    người lao

     

    tiến;

     

    – Nghiên cứu phát

     

    năng suất thấp

    động;

     

    – Tự động

     

    triển

     

    sang khu vực

    – Phát triển lực

     

    hóa, robot

     

    – Đổi mới sáng tạo

     

    có năng suất

    lượng lao

     

    – Công nghệ

         

    cao hơn

    động chất

     

    thông tin

           
                 

    Hình 1. Mô hình năng suất nhân tố tổng hợp

    Nguồn: Viện năng suất Việt Nam – VNPI (2014)[1]

     

    Tăng nhu cầu

     

    Phát triển thị trường để tang hiệu suất sử dụng nguồn vốn và lao

    động

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Trong khi đó, các quốc gia ở thượng nguồn Mekong gia tăng các hoạt động thủy điện và thủy lợi phục vụ nông nghiệp, gây ra hệ lụy tiêu cực đối với ĐBSCL. GS.TS Trần Thục (Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn quốc gia về biến đổi khí hậu) cho biết:”…ĐBSCL đang đối mặt với nhiều thách thức và tác động kép do khí hậu cực đoan, khai thác và sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mê Kông… Nguồn lợi thủy sản và nguồn nước ngọt có xu hướng giảm; nhiều tai biến liên quan và thách thức từ biển đổi với ĐBSCL có xu hướng tăng…. Các kết quả

     

    nghiên cứu đã chỉ ra ĐBSCL sẽ bị tổn thương mạnh nếu các ngành chức năng chậm triển khai các giải pháp giúp đỡ”. Như vậy, để tăng trưởng một cách bền vững, các địa phương ĐBSCL nhất thiết phải sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, con người…) phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái [6].

     

    2.2. Tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua

     

    2.2.1. Xét theo đầu vào

     

    • Về vốn: Thực tế thời gian qua cho thấy, vốn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng. Tỷ trọng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế liên tục tăng qua các năm, thể hiện qua tỷ lệ đầu tư so với GDP. Tính đến năm 2017, toàn vùng thu hút được 1.426 dự án FDI với tổng vốn đăng ký hơn 20 tỷ USD, chiếm 5,75% về dự án và 6,28% về vốn của cả nước. Trong đó, tỉnh Long An dẫn đầu với 962 dự án với vốn đầu tư 6,97 tỷ USD, chiếm 67,64% dự án và 34,7% vốn đầu tư của toàn vùng. Chỉ tính riêng năm 2017, ĐBSCL có 139 dự án với 2,72 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư mới, chiếm 5,07% dự án và 7,33% vốn đăng ký mới của cả nước. Số liệu thống kê từ 2005 đến 2016 cho thấy, tỷ lệ vốn

     

    đầu tư so với GDP tăng dần trong giai đoạn

     

    2005 – 2007, với mốc cao nhất vào năm 2007 là 46.5% và sau đó giảm dần đến năm 2016 chỉ còn lại 33%. Hệ số ICOR trong giai đoạn này cũng tăng dần và đạt mốc cao nhất là 7,35 vào năm 2009, sau đó dao động theo chiều hướng giảm đến năm 2016 còn ở mức 6,42. Nghĩa là, ĐBSCL đang phải bỏ ra 6,42 đồng đầu tư để thu được 1 đồng GDP.

     

    • Về lao động: Một trong những lợi thế của

     

    ĐBSCL là có nguồn lao động dồi dào và chi phí thấp, là nguồn đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế vùng phát triển thời gian qua. Theo số liệu thống kê các địa phương trong vùng cho thấy, nếu năm 2000 cả vùng chỉ có khoảng 6,33 triệu lao động thì đến năm 2010 con số này là 10,13 (tăng 1,6 lần sau 10 năm) và năm 2016 có 10,52 triệu lao động, chiếm 19,32% lực lượng lao động cả nước. Trong đó, lao động đã qua đào tạo năm 2016 là 12%, tăng 53,85% so với năm 2008. Sự đóng góp của yếu tố lao động trong giai đoạn này vào tăng trưởng GDP chung của cả vùng bình quân chiếm khoảng 21,15%. Điều này phần nào phản ánh được tầm quan trọng của lao động trong việc phát triển kinh tế của ĐBSCL giai đoạn vừa qua.

     

    Theo phân tích của Viện nghiên cứu kinh tế phát triển (trường Đại học Kinh tế Tp.HCM), yếu tố năng suất tổng hợp của Việt Nam (trong đó có ĐBSCL) chiếm khá thấp, ước tính chỉ khoảng 22%. Trong khi đó, yếu tố này của Hàn Quốc là 51,32%, Malaysia là 36,18%, Thái Lan là 36,14% [7]. Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 chỉ bẳng 7% Singapore, 17,6% của Malaysia và 36,5% của Thái Lan. Năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 42,3% của Indonesia, 56,7% của Philippines và 87,4% của Lào. Điều đáng nói là sự chêch lệch này vẫn đang tiếp tục gia tăng [8].

     

     

    Bảng 1.  Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2016

       

    Tiêu chí

    2005

    2007

    2009

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    Vốn đầu tư so với

    37,5

    42,7

    39,2

    38,5

    33,3

    31,1

    30,5

    31,0

    32,6

    33,0

    GDP (%)

                       

    Hệ số sử dụng

    4,01

    5,36

    7,35

    6,38

    5,72

    6,76

    6,67

    6,29

    5,80

    6,42

    vốn ICOR

                       

    Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716 [9]

     

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    89

    Bảng 2. Cơ cấu giá trị đóng góp của các yêu tố cấu thành GDP của Việt Nam theo từng giai đoạn và cả thời kỳ 1998 – 2013

     

    Yếu tố cấu thành GDP

    1998 – 2002

    2003 – 2009

    2010 – 2013

    1998 – 2013

     

    Tỷ lệ GDP

    100,00

    100,00

    100,00

    100,00

     

    Đóng góp của lao động

    20,00

    19,07

    24,31

    21,13

     

    Đóng góp của vốn

    57,42

    52,73

    59,81

    56,65

     

    Đóng góp của năng suất tổng

    22,58

    28,20

    15,88

    22,22

     

    hợp (TFP)

             

    Nguồn: Theo Nguyễn Thị Minh Châu – Viện nghiên cứu Kinh tế phát triển [7].

     

     

    • Về tài nguyên thiên nhiên: Trong các ngành nông-lâm nghiệp và thủy sản, đất đai và nguồn nước là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Chúng vừa là đối tượng lao động đồng thời vừa là phương tiện lao động. Với 64,26% diện tích (khoảng 2,62 triệu ha) dùng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, trong đó đất trồng lúa chiếm đến 50%. Diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng lúa cả năm của ĐBSCL chiếm tỷ trọng cao nhất cả nước và hàng năm đều có xu hướng tăng. Cụ thể, năm 1995 diện tích gieo trồng là 3,19 triệu ha, với năng suất trên 4 tấn/ha, sản lượng đạt được 12,83 triệu tấn; đến năm 2005 (sau 10 năm) con số này lần lượt là 3,82 triệu ha – 50,4 tạ/ha – 19,3 triệu tấn và sau đó 10 năm (2015) tiếp tục tăng lên 4,3 triệu ha – 59,5 tạ/ha và 25,6 triệu tấn. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2017 đến nay, diện tích gieo trồng giảm còn 4,13 triệu ha, năng suất bình quân còn 56,4 tạ/ha và sản lượng còn 23,6

    triệu tấn. Nguyên nhân là do tình trạng khô hạn, xâm nhập mặn ngày càng diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng chuyển đổi đất lúa sang các mục đích khác liên tục xảy ra.

     

    Bảng 3 cho thấy, về đất nuôi trồng thuỷ sản cũng liên tục tăng trong giai đoạn 1995 – 2010. Nếu năm 1995 toàn vùng có 289,4 ngàn ha nuôi trồng và sản lượng thu hoạch là 819.222 tấn thì đến năm 2010 con số này là 757 ngàn ha và 3.703.448 tấn sản lượng, tăng trên 2,6 lần diện tích và 4,5 lần sản lượng. Diện tích tăng chủ yếu được chuyển đổi từ đất lúa, đất lâm nghiệp, cây hàng năm khác kém hiệu quả và khai thác từ đất bãi bồi, đất mặt nước ven sông, biển. Tuy nhiên, từ sau năm 2015 trở về đây, tình hình không ổn định và có xu hướng giảm cả về diện tích lẫn sản lượng do dịch bệnh phát triển, độ mặn tăng cao, thiếu vốn sản xuất, mất thị trường, nên các nhà sản xuất buộc phải thu hẹp quy mô.

     

    Bảng 3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ĐBSCL 1995-2015

     

    Năm

    1995

    2000

    2005

    2010

    2015

    Diện tích (1000 ha)

    3.190,6

    3.945,8

    3.826,3

    3.945,9

    4.301,5

    Năng suất (tạ/ha)

    40,2

    42,3

    50,4

    54,7

    59,5

    Sản lượng (1000 tấn)

    12.831,7

    16.702,7

    19.298,5

    21.595,6

    25.583,7

    Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=717[4]

     

    Bảng 4. Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản ĐBSCL 1995-2015

     

    Năm

    1995

    2000

    2005

    2015

    Diện tích (1000 ha)

    289,4

    445,3

    680,2

    757,0

    Sản lượng (tấn)

    266.982,0

    365.141,0

    1.002.730,0

    2.471.327,0

    Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=717[4]

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    2.2.2. Xét theo đầu ra

     

    • Tăng trưởng GDP: Theo số liệu báo cáo của VCCI chi nhánh Cần Thơ thì tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực ĐBSCL đang đi xuống một cách nhanh chóng. Cụ thể, nếu như giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của vùng đạt 11,7%/năm, thì bình quân giai đoạn từ 2011-2014 giảm xuống chỉ còn 8,8%/năm. Riêng năm 2015, con số này của vùng ĐBSCL tiếp tục giảm xuống chỉ còn 7,8% so với 8,9% của năm 2014. Riêng năm 2017, tăng trưởng kinh tế toàn vùng ĐBSCL đạt 7,39%, tuy có tăng 0,49% so với năm 2016 (6,9%), nhưng so với giai đoạn 2011-2015 (8,55%), thì tăng trường kinh tế năm 2017 vẫn thấp hơn 1,16%. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước lại đi lên thì ĐBSCL đi xuống. Theo đó, nếu như năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước là 5,3%, thì sang năm 2013 đạt 5,4% và hai năm tiếp theo lần lượt đạt 6 và 6,68%.

     

    • GDP/đầu người: Thu nhập bình quân đầu người của ĐBSCL tuy có tăng liên tục trong khoảng 2001- 2015 nhưng luôn thấp hơn bình quân của cả nước và khoảng cách này ngày càng nới rộng. Cụ thể, năm 2001 cả nước là 449 USD/người trong khi đó ĐBSCL là 420 USD/người (thấp hơn 29 USD), đến năm 2015 con số này là 2109 USD/người và 1.778USD/người (thấp hơn 331 USD). Vấn đề nghiêm trọng hơn là năm 2017 thu nhập bình

    quân đầu người của ĐBSCL giảm còn 1.715 USD trong khi bình quân cả nước tăng lên 2.385USD, làm cho khoảng cách chênh lệch bị nới rộng ra đến 670USD.

     

    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: qua phân tích số liệu thống kê của các địa phương trong vùng cho thấy, trong giai đoạn 2005-2010 cơ cấu GDP của ĐBSCL chuyển dịch nhanh hơn so với cả nước. Cụ thể, năm 2005 KVI 47,0% – KVII 22,1% – KVIII 30.9%, đến năm 2010 tỷ lệ này là KVI 39,7% – KVII 25,9% – KVIII

     

    34,4%. Trong khi đó, số liệu cả nước của các năm tương ứng là KVI 19,3% – KVII 38,1% – KVIII 42,6% và KVI 18,9% – KVII 38,2% –

     

    KVIII 42,9%. Như vậy, trong vòng 5 năm, ĐBSCL có tỷ trọng Khu vực nông-lâm-thủy sản giảm -7,3 điểm % (cả nước chỉ giảm -0,4 điểm %); Khu vực công nghiệp-xây dựng tăng +3,8 điểm % (cả nước chỉ tăng +0,1 điểm %); Khu vực dịch vụ tăng +3,5 điểm % (cả nước chỉ tăng +0,3 điểm %).

     

    Trong cơ cấu nội bộ của nông nghiệp ĐBSCL thì ngành trồng trọt chiếm đến 75% và chăn nuôi chiếm 16%, phần còn lại là các hoạt động khác. Với cơ cấu này cho thấy, trồng trọt và chăn nuôi đóng vai trò chủ đạo trong nông nghiệp ĐBSCL. Các loại hình hoạt động nông nghiệp khác như lâm nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, hoạt động phụ trợ … chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 9%.

     

     

    Bảng 5. Chỉ tiêu tăng trưởng GDP và GDP/đầu người giai đoạn 2001-2017

       

    Giai đoạn

       

    2001

    2005

    2008

    2010

    2015

    2017

     

    Tăng trưởng (%)

    Cả nước

    3,4

    7,55

    6,23

    6,42

    6,88

    6,81

     

    ĐBSCL

    7,65

    12,91

    12,91

    11,7

    7,8

    7,39

     
       

    GDP/đầu người

     

    Cả nước

    449

    700

    1.018

    1.114

    2.109

    2.385

     

    (USD)

     

    ĐBSCL

    420

    520

    750

    975

    1.778

    1715

     
     

    Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu thống kê của các địa phương trong vùng

     
     

    Bảng 6. Giá trị và cơ cấu theo khu vực giai đoạn 2005- 2015 theo giá thực tế

     
     

    2005

     

    2010

     

    2015

     

    Chỉ tiêu

    Giá trị(tỷ

    Tỷ trọng

    Giá trị(tỷ

    Tỷ trọng

    Giá trị(tỷ

    Tỷ trọng

     

    VND)

    (%)

    VND)

    (%)

    VND)

    (%)

    Tổng hợp

    141.742

    100,0

    375.585

    100,0

    546.167

    100,0

    Khu vực I

    66.625

    47,0

    149.151

    39,7

    202.083

    35,5

    Khu vực II

    31.269

    22,1

    97.416

    25,9

    142.280

    26,1

    Khu vực III

    43.848

    30,9

    129.018

    34,4

    201.804

    36,9

    Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Niên giám thống kê các địa phương ĐBSCL

     

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    91

     

    Bảng 7. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2006 – 2017

       
     

    2006

       

    2010

       

    2017

       

    Địa phương

    Điểm

    Xếp

    Nhóm

    Điểm

    Xếp

    Nhóm

    Điểm

    Xếp

    Nhóm

     

    số

    hạng

    hạng

    số

    hạng

    hạng

    số

    hạng

    hạng

    Vĩnh Long

    66,21

    1

    Tốt

    63,40

    4

    Tốt

    66,07

    4

    Tốt

    An Giang

    61,12

    2

    Tốt

    61,94

    8

    Tốt

    62,16

    7

    T/bình

    Cần Thơ

    58,35

    3

    Khá

    62,46

    7

    Tốt

    65,09

    5

    Khá

    Đồng Tháp

    57,65

    4

    Khá

    67,22

    1

    Rất tốt

    68,78

    1

    Rất Tốt

    Trà Vinh

    57,24

    5

    Khá

    65,80

    2

    Tốt

    61,71

    8

    T/bình

    Sóc Trăng

    54,34

    6

    Khá

    61,49

    9

    Tốt

    60,84

    11

    T/bình

    Bến Tre

    54,33

    7

    T/bình

    63,11

    5

    Tốt

    66,69

    3

    Tốt

    Hậu Giang

    53,10

    8

    T/bình

    63,91

    3

    Tốt

    60,14

    12

    T/bình

    Kiên Giang

    52,87

    9

    T/bình

    58,90

    11

    Khá

    63,65

    6

    Khá

    Tiền Giang

    52,32

    10

    T/bình

    59,63

    10

    Khá

    61,44

    9

    T/bình

    Long An

    49,73

    11

    T/bình

    62,74

    6

    Tốt

    66,70

    2

    Tốt

    Cà Mau

    43,87

    12

    TĐ thấp

    53,57

    13

    Khá

    59,83

    13

    T/bình

    Bạc Liêu

    41,79

    13

    Thấp

    58,20

    12

    Khá

    61,09

    10

    T/bình

    Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh [10]

     

     

    • Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: Theo Báo Chỉ số năng lực cạnh tranh từ năm 2010 đến 2017 của cả nước cho thấy, vùng ĐBSCL luôn có chỉ số PCI trung bình cao nhất trong 6 vùng trên toàn quốc, các tỉnh thuộc ĐBSCL tiếp tục nằm trong nhóm có chỉ số PCI cao nhất cả nước, trong đó tỉnh Đồng Tháp đạt tới 68,78

     

    điểm (PCI 2017). Đặc biệt, trong nhóm 10 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành tốt nhất qua

     

    điều tra PCI năm 2017 thì có tới 5 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL (Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Long An và Cần Thơ). Tuy nhiên, năm 2017 so với năm 2010 có tới 7 địa phương rớt hạng từ tốt, khá xuống trung bình, một địa phương từ tốt xuống khá (TP Cần Thơ), chiếm gần 54%. Chỉ có 4 địa phương có chiều hướng tăng và ổn định ở thứ hạng cao là Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bến Tre và Long An [10].

     

    • Xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân: Cùng với cả nước, ĐBSCL đã có nhiều thành tựu ấn tượng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Theo báo cáo di cư và nghèo năm 2012 và số liệu thống kê của Tổng cục thông kê năm 2013 thì, năm 1993 cả nước có tỷ lệ nghèo 58,3% trong khi đó vùng ĐBSCL là 47,1%. Với những đột phá về chính sách kinh tế đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công tác xóa đói giảm nghèo của các địa phương, tỷ lệ nghèo của ĐBSCL giảm nhanh qua

    các năm. Cụ thể, năm 2002 là 23,4%%, năm 2006 là 13%; đến năm 2010 nếu tính theo chuẩn nghèo mới thì tỷ lệ nghèo của vùng là 12,6% (cả nước là 14,2%) và năm 2013 còn 9,2% [11].

     

    2.3. Những hạn chế trong tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua

     

    Một là, tăng trưởng kinh tế của ĐBSCL chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn đầu tư và lao động rẻ trong vùng. Tăng trưởng kinh tế trong những năm qua vẫn chủ yếu theo bề rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu, chất lượng tăng trưởng thấp, năng lực cạnh tranh của vùng, tỉnh, doanh nghiệp và sản phẩm còn thấp kém. Các ngành tăng trưởng thuần túy dựa vào khai thác, sử dụng tài nguyên như nông, lâm, thủy sản, luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của ĐBSCL.

     

    Hai là, hiệu quả và chất lượng đầu tư thấp: Đầu tư thu hút vào ĐBSCL còn thấp (chỉ 5-6% cả nước) nhưng lại dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, nên hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư thấp. Chỉ số ICOR có xu hướng tăng cao trong thời kỳ 2005-2016. Số liệu thống kê qua các năm gần đây cho thấy, ICOR năm 2005 của vùng là 4,01, năm 2010 là 6,38 và năm 2016 là 6,42 (như trong Bảng 1). Chỉ số ICOR cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư thấp và sụt giảm, năng lực cạnh tranh giảm.

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Ba là, năng suất lao động thấp: ĐBSCL có thế mạnh về nông nghiệp và công nghiệp chế biến, nhưng năng suất lao động của 2 lĩnh vực này lại thấp hơn so với các lĩnh vực khác và trung bình chung của cả nước. Nếu như thời kỳ 2005 – 2010, năng suất lao động xã hội nước ta tăng từ 21,4% lên 44% (bình quân tăng thêm 4,52%/năm) thì lĩnh vực nông – lâm – thủy sản (NLT) tăng từ 7,5% lên 16,3% (bình quân tăng thêm 1,76%/năm); công nghiệp chế biến (CNCB) từ 34,2% (cao hơn cả nước) lên 42% (thấp hơn cả nước); đến năm 2011, cả nước là 55,2% (tăng thêm 11,2%) trong khi đó NLT chỉ đạt 22,3% và CNCB 53,2%. Sau 5 năm tăng đầu tư và chuyển đổi, tốc độ tăng trong các lĩnh vực này cũng không được cải thiện mấy, cụ thể năm 2016 NLT đạt 32,9% (bình quân mỗi năm tăng hơn 2%) và CNCB 72,4% (bình quân mỗi năm tăng 3,84%); con số này của cả nước là 84,5% (bình quân mỗi năm tăng hơn 5,86%). Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố thì năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật 11 lần và chỉ bằng 1/5 so với Malaysia, 2/5 so với Thái Lan.

     

    Bốn là, tăng trưởng kinh tế ĐBSCL chủ yếu dựa vào cái mình có chứ chưa thực sự dựa vào cái mà thị trường cần. Do điều kiện khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, tập quan canh tác mang tính truyền thống của nông dân nên mô hình phát triển kinh tế ĐBSCL thường được xác định là cây lúa nước, cây ăn trái, nuôi trồng thủy hải sản...Tuy nhiên, do không căn cứ vào thị trường đầu ra, đặc biệt là thị trường quốc tế nên sản phẩm ĐBSCL thường xuyên gặp cảnh thừa hàng, dội chợ, sản phẩm làm ra phải bán rẻ, thậm chí phải bỏ đi…ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống xã hội trong vùng.

     

    Năm là, những nền tảng cơ bản của tăng trưởng TFP còn nhiều bất cập, năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội chưa được gắn kết chặt chẽ. Các yếu tố đóng góp vào việc gia tăng chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thiếu và yếu. Tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa bền vững; tăng trưởng chưa gắn chặt với giảm nghèo, ngược lại

     

    làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc như: việc làm cho người lao động, phân hóa giàu nghèo gia tăng, sự chênh lệch về trình độ phát triển, về thu nhập… ngày càng lớn, môi trường bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng, tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tang.

     

    Hàm ý giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ĐBSCL theo hướng thích ứng biến đổi khí hậu

     

    Quan điểm chủ đạo của chuyển đổi MHTTKT của ĐBSCL là phải bảo đảm cơ cấu kinh tế vùng sao cho tăng trưởng một cách hài hòa giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả; đảm bảo thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. Với quan điểm như vậy, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu như sau:

     

    3.1. Nâng cao tỷ trọng đóng góp của nhóm năng suất tổng hợp TFP vào GDP

     

    Theo chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ, mục tiêu tỷ trọng của nhân tố TFP phải đạt 35% GDP vào năm 2020. Muốn vậy, các địa phương cần phải:

     

    • Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua việc đầu tư tập trung, dựa trên sản phẩm chủ lực của địa phương và vùng; đầu tư theo chuỗi cung ứng sản phẩm để bảo đảm tính cân đối, hài hòa giữa đầu vào và đầu ra; cần ưu tiên đầu tư vào những dự án có sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường và đạt hiệu quả kinh tế cao, từ đó tránh được tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí, giảm sút hiệu quả. Phấn đấu hạ thấp Hệ số

     

    ICOR xuống ngang bằng với trung bình chung của cả nước.

     

    • Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động: Trước hết, cần nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động thông qua nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề; phải đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; phát triển kỹ năng kỹ thuật qua sự liên kết giữa

     

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    93

    người sử dụng lao động và các cơ sở đào tạo nghề. Đồng thời, các địa phương cần phải có những chính sách phù hợp để chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ một cách phù hợp.

     

    • Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất: Trước mắt, cần đẩy nhanh hơn nữa khâu cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh chuyển đổi mô hình chọn tạo và nhân giống cây, con mới có năng suất và chất lượng cao, thích nghi thích

     

    ứng với biến đổi khí hậu; tổ chức sản xuất nông sản hàng hóa tập trung quy mô lớn theo công nghệ cao, công nghệ sinh học. Khuyến khích

     

    đổi mới công nghệ chế biến sản phẩm tinh, đạt tiêu chuẩn quốc tế bằng công nghệ hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

     

    3.2. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vùng

     

    ĐBSCL hiện có nhiều lợi thế nổi trội có thể khai thác mà không cần đến nhiều vốn đầu tư cải tạo. Đó là tập trung phát triển nông nghiệp-thủy sản, công nghiệp chế biến, dịch vụ du lịch thuận theo tự nhiên. Cụ thể:

     

    • Cần đầu tư xây dựng vùng sản xuất tập trung, chuyên canh các sản phẩm chủ lực của vùng là lúa gạo, thủy sản, trái cây tại các địa phương không chịu ảnh hưởng bởi nước biển dâng, ngập mặn như vùng tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, Hậu Giang. Đồng thời, phát triển tương ứng ngành công nghiệp chế biến gắn với lúa gạo – thủy sản và trái cây, tạo thành chuỗi giá trị của vùng đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

     

    • Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển là một hướng đột phá chiến lược. Với 750 km bờ biển, chiếm 23% chiều dài bờ biển của cả nước, với diện tích 360.000 km2 vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế. Đây là lợi thế và tiềm năng rất lớn của 7/13 địa phương tiếp giáp với biển là

     

    Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Cần quy hoạch và có chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển các ngành

     

    đánh bắt, nuôi trồng hải sản nước mặn và lợ, lâm nghiệp, du lịch biển đảo một cách tương xứng.

     

    • Đổi mới mô hình tổ chức không gian du lịch dựa trên đặc điểm tự nhiên, sinh thái của vùng theo hướng lựa chọn những sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao (nằm trong chuỗi giá trị) và định hướng theo nhu cầu thị trường; phát triển các loại hình du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn thiên nhiên.

    3.3. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên liên kết vùng và chuỗi giá trị

     

    • Liên kết vùng là một xu hướng tất yếu để phát triển sản xuất ở ĐBSCL mà qua đó khắc phục được tình trạng “mạnh ai nấy làm”, phân tán, manh mún, nhỏ lẻ. Liên kết giữa các địa phương trong vùng phải dựa trên đặc trưng sinh thái, tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng và phát huy ưu thế của các địa phương để bổ sung cho nhau, trên nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”, cùng phát triển, lấy mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và cạnh tranh quốc tế để liên kết. Ngoài ra, cũng có thể thực hiện liên kết giữa vùng ĐBSCL với các vùng khác trong cả nước dựa trên ưu thế tự nhiên tạo ra sản phẩm của vùng có chất lượng cao và giá cả cạnh tranh, tùy theo từng vùng để xác lập mô hình liên kết phù hợp và đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cao.
    • Liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp giúp tiêu thụ tốt các sản phẩm chủ lực là lúa gạo, thủy sản, trái cây của từng địa phương và của cả vùng ĐBSCL. Cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp chế biến vùng ĐBSCL, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ giữa các địa phương để đảm bảo hài hòa với sự phát triển nông nghiệp, thủy sản của vùng. Đẩy mạnh tiến trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để ĐBSCL cơ bản có nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, tập trung, có sức cạnh tranh cao, hiệu quả và bền vững gắn với công nghiệp chế biến xuất khẩu. Đẩy mạnh liên kết giữa sản xuất nguyên liệu (nông dân) với chế biến (doanh nghiệp chế biến) và hệ thống phân phối (doanh nghiệp thương mại) trên cơ sở nhu cầu của thị trường tiêu thụ. Qua đó, ổn định được những vùng nguyên liệu, ứng dụng tốt khoa học công nghệ mới, kiểm soát tốt được
    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    số lượng lẫn chất lượng và mang lại sự phát triển bền vững cho nông sản ĐBSCL.

     

    3.4. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với an sinh xã hội và môi trường – sinh thái

     

    Một là, về an sinh xã hội, trước hết cần phải giải quyết tốt việc làm cho người dân, giảm dần tỷ lệ thất nghiệp, tăng cường dịch vụ giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe thông qua việc phát triển mạnh thành phần kinh tế tư nhân, xã hội hóa, khôi phục các làng nghề truyền thống ở nông thôn, phát triển các ngành dịch vụ để thu hút lao động tại địa phương.

     

    Hai là, về môi trường – sinh thái, lựa chọn ngành nghề phù hợp, ưu tiên phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên, cần chú trọng đối với những dự án xanh, thân thiện với môi trường. Nhà nước cần ban hành những quy định đến việc tăng chi phí để ngăn ngừa và xử lý môi trường, nghiêm cấm việc sử dụng các công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, cần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp một cách phù hợp trước biến đổi khí hậu. Có 2 hướng chủ yếu có thể lựa chọn trong thực tế là:

     

    • Hướng thụ động, thuận theo tự nhiên: Các tỉnh ven biển cần chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cây lâu năm (như dừa), rừng ngập mặn hoặc nuôi tôm kết hợp với rừng và du lịch sinh thái biể; Nghiên cứu tiến hành lựa chọn và lai tạo các giống cây trồng, vật nuôi có thể tồn tại và phát triển trong môi trường khô hạn, nước mặn và nước lợ, sóng thần. Điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sử dụng tiết kiệm nước; điều chỉnh mùa vụ cho phù hợp với điều kiện mưa lũ, hạn hán kéo dài như chuyển đất lúa sang trồng rau màu, trồng cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày hoặc nuôi cá tự nhiên. Hướng chuyển đổi này giúp tiết kiệm vốn đầu tư cho cải tạo điều kiện sản xuất.

     

    • Hướng chủ động, can thiệp tự nhiên: Cần đầu tư xây dựng và liên kết hệ thống đê biển dọc theo biển Đông và biển Tây để ngăn mặn, ứng phó với mực nước biển dâng cao; phát triển rừng phòng hộ ven biển để nhăn bảo, sóng thần;

    xây dựng và hoàn thiện hệ thống công trình giữ nước ngọt cho toàn vùng như xây dựng các hệ thống đê sông, đê bao cồn, bãi; xây dựng hệ thống cống đầu kênh, nạo vét các sông, kênh và rạch nhằm vừa ngăn lũ vừa dự giữ nước ngọt cho vùng trồng lúa, màu, vườn cây ăn trái, ao cá. Đồng thời, có thể kết hợp tạo ra cảnh quan để phát triển du lịch và phục vụ hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hóa nội vùng.

     

    1. Kết luận

    Nhìn chung, MHTTKT ở GĐBSCL thời gian qua phát triển theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn và lao động, đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, kết quả phát triển kinh tế-xã hội của ĐBSCL chưa thật sự bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế có tính đặc thù của vùng. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, rủi ro cao, chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, chất lượng nguồn nhân lực thấp, hiệu quả đầu tư thấp, liên kết vùng và liên kết chuỗi giá trị còn chưa chặt chẽ. Với những hạn chế như vậy, việc nhanh chóng chuyển đổi MHTTKT của ĐBSCL từ chiều rộng sang kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu để sau năm 2020 tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu để từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là yêu cầu hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Và, trong chuyển đổi MHTTKT ở ĐBSCL phải gắn với tái cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp của vùng cũng như phải tiến hành đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng suất tổng hợp, giải quyết các vấn đề về xã hội, môi trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Nguyễn Lê Duy, Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP), Viện năng suất Việt Nam – VNPI, 2017. http://vnpi.vn/nang-suat-yeu-to-tong-hop-tfp.htm (Truy cập nhật 03/10/2018).

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    95

    • Chu Văn Cấp, Đổi mới MHTTKT Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của Đảng, Báo điện tử Đảng

    CSVN, 2016.

     

    • Tổng cục Thống kê, Diện tích, dân số và mật độ

    dân số phân theo địa phương https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714, 2018. (Truy cập ngày 15/10/2018).

     

    • Bộ TN&MT, Báo cáo tóm tắt Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội,

    2016.

     

    http://www.imh.ac.vn/files/doc/KichbanBDKH/T Tkichban_2016.pdf (Truy cập ngày 15/10/2018)

     

    • Việt Hùng, GS.TS. Trần Thục: Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với những thách thức lớn,

    Tài nguyên và Môi trường, 2017. http://vnmonre.vn/gsts-tran-thuc-dong-bang-song-cuu-long-dang-doi-mat-voi-nhung-thach-thuc-lon (Truy cập ngày 04/10/2018)

     

    • Nguyễn Thị Minh Châu, Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2014–2020,

    Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển, 2018. https://gec.edu.vn/tong-hop/doi-moi-mo-hinh-tang-truong-kinh-te-tai-viet-nam-2014-2020.html (Truy cập ngày 15/9/2018).

     

    • Tổng cục Thống kê, Báo cáo “Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” (Báo cáo bổ sung và cập nhật số liệu tháng 3/2016), 2016. https://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download. aspx?DocID=19551 (Truy cập ngày 20/10/2018).
    • Tổng cục Thống kê, Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện so với tổng sản phẩm trong nước và

    Hệ số ICOR https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716, 2018 (Truy cập ngày 20/10/2018).

     

    • VCCI-USAID-PCI, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2017, 2017. http://pcivietnam.org/an-pham/bao-cao-pci-2017/ (Truy cập ngày 21/9/2018).
    • Phạm Mỹ Duyên, Giảm  nghèo  bền  vững vùng

    đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Cộng sản, 2014. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStor y.aspx?distribution=29259&print=true (Truy cập ngày 19/9/2018).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

    An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

    An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/An-to%C3%A0n-th%E1%BB%B1c-ph%E1%BA%A9m-v%C3%A0-tr%C3%A1ch-nhi%E1%BB%87m-d%C3%A2n-s%E1%BB%B1-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    Review Article

     

    Food Safety and Civil Liability of the Enterprise from the Comparative Law Perspective

     

    Nguyen Thi Phuong Cham *

     

    School of Law, Vietnam National University, Hanoi,

    144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 12 April 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: Civil liability, as a method to directly protect the rights and legitimate interests of consumers, plays an important role in improving the legal provisions on food safety. However, the legal issues related to civil liability in general and, especially, civil liability in the field of food safety, remain highly controversial by the diversity of relationships among the subjects in the process of production, circulation and consumption. The paper focuses on: (1) Clarifying theoretical and practical provisions applied from the comparative law perspective, thus pointing out the problems that exist in the legal system in general and in the Vietnamese legal system in particular, on civil liability in the field of food safety; (2) Suggesting some comprehensive solutions for the purpose of introducing civil liability mechanisms, such as protecting the rights and interests of consumers in a practical and effective way; preventing violations of business in the context of science and technology development; and risk dispersion based on the theory of the balance of interests of civil legal subjects.

     

    Keywords: Food safety, civil liability, tort law, product liability.

     

    *

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4192

    31

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

     

    Nguyễn Thị Phương Châm*

     

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 12 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Với tư cách là phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng một, trách nhiệm dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hoá quy định pháp luật về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, các vấn đề pháp lí liên quan tới trách nhiệm dân sự nói chung, và đặc biệt trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng vẫn tồn tại rất nhiều tranh luận. Bài viết tập trung làm sáng tỏ: (1) Cơ sở lí luận, luật thực định và thực tiễn áp dụng quy định luật từ góc nhìn pháp luật so sánh; (2) Gợi mở một số giải pháp hoàn thiện với mục đích đưa cơ chế trách nhiệm dân sự thực hiện được đúng chức năng như: Bảo vệ quyền và lợi ích người của tiêu dùng một cách thiết thực và hữu hiệu; Ngăn chặn hành vi vi phạm của doanh nghiệp trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển; Phân tán rủi ro dựa trên lí thuyết cân bằng lợi ích của các chủ thể pháp luật dân sự.

     

    Từ khóa: An toàn thực phẩm, tránh nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm sản phẩm.

     

    Trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng*

     

    1.1. Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại dựa trên hợp đồng

     

    Thông qua hợp đồng chủ thể với chủ thể cùng nhau xác lập mối quan hệ pháp lí (quyền và nghĩa vụ), để giải quyết tranh chấp pháp sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4192

    trong quan hệ hợp đồng, như là giải pháp giải quyết tranh chấp pháp luật về hợp đồng quy định bên không thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng phải gánh trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ được phân loại thành: Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm do không có khả năng thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do thực hiện nghĩa vụ không đúng, không đầy đủ. Đối với từng phân loại không thực hiện nghĩa vụ sẽ dẫn tới hậu quả pháp lí bên có quyền có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp phát sinh thiệt hại.

     

    Liên quan đến các vấn đề an toàn thực phẩm, người tiêu dùng có quyền yêu cầu bên

     

    32

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    33

    cung cấp dịch vụ, bên bán sản phẩm hàng hoá kém chất lượng gây ra hậu quả xâm hại sức khoẻ, tính mạng phải bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp bán hàng không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ phát sinh dựa trên hợp đồng.

     

    Bên cạnh đó, trong pháp luật dân sự còn quy định trách nhiệm bảo đảm khuyết tật của bên bán đối với bên mua, trong trường hợp sản phẩm có khuyết tật sau khi hàng được chuyển giao cho bên mua, bên mua có quyền truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên bán cho dù trong trường hợp này rất khó chứng minh bên bán vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng dựa trên lỗi để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

     

    1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hành vi bất hợp pháp (Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)

     

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hành vi bất hợp pháp còn được gọi là trách nhiệm “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” (BTTH ngoài hợp đồng). Đây là khái niệm được xây dựng dựa trên hành vi bất hợp pháp, là trách nhiệm luật định đối với chủ thể pháp luật dân sự với tư cách là hậu quả pháp lí được quy thuộc cho chủ thể khi thực hiện hành vi xâm hại quyền tài sản, quyền nhân thân (quyền và lợi ích hợp pháp) của chủ thể khác. Và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có những đặc điểm pháp lí sau khi phân biệt với trách nhiệm BTTH dựa trên hợp đồng. (1) Thứ nhất, BTTH ngoài hợp đồng là hậu quả pháp lí mà pháp luật quy định khi thấy rằng chủ thể nên gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ mang tính luật. Việc vi phạm những nghĩa vụ này sẽ dẫn tới trách nhiệm BTTH. (2) Thứ hai, BTTH ngoài hợp đồng với điều kiện cần là tồn tại hành vi bất hợp pháp (Hành vi xâm hại). Do vậy, không có hành vi bất hợp pháp không thể quy trách nhiệm BTTH đối với chủ thể. Mục đích hình thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đó là pháp luật dân sự xem loại trách nhiệm này như một trách nhiệm dân sự đối với những hành vi

     

    bất hợp pháp và qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác khi chịu những thiệt hại do hành vibất hợp pháp đem lại (bù đắp thiệt hại về tài sản và tinh thần). (3) Thứ ba, trong mối tương quan so sánh với trách nhiệm dân sự dựa trên hợp đồng, trách nhiệm dân sự dựa trên hành vi bất hợp pháp (BTTH ngoài hợp đồng) là trách nhiệm dân sự độc lập, riêng rẽ với đặc tính cưỡng chế mang tính luật rất mạnh. Khác với trách nhiệm dựa trên hợp đồng với nền tảng pháp lí là sự thoả thuận giữa các bên, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng dựa trên pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng – được quy định tại BLDS và tại các luật chuyên ngành như Luật bảo vệ quền lợi người tiêu dùng, Luật chất lượng hàng hoá, Luật vệ sinh an toàn thực phẩm…[1, 18]. Và nếu nhìn dưới góc độ nội dung, pháp luật BTTH ngoài hợp đồng được quy định bởi cấu trúc phần chung và phần riêng. Những quy định chung và quy định riêng được xây dựng khác nhau về nội dung như điều kiện xác lập trách hiệm BTTH, nguyên tắc quy trách nhiệm, kháng biện của bị đơn để miễn trách nhiệm… bởi mục đích khác nhau của các quy định pháp luật này. Mục đích của quy định chung hướng tới điều chỉnh các hành vi bất hợp pháp dưới dạng thức tổng quát, toàn diện, trong khi đó quy định riêng hướng tới điều chỉnh hành vi cụ thể, được đặc định hoá. Do vậy, nghĩa vụ chung về BTTH ngoài hợp đồng được xây dựng trên nguyên tắc trách nhiệm dựa trên lỗi 1 , và bị đơn (người gây hại) có thể miễn nghĩa vụ trong trường hợp chứng minh được do sự cố ý của người bị hại, do lỗi của người thứ ba, trong tình thế cấp thiết hoặc phòng vệ chính đáng. Trong khi đó, trách nhiệm BTTH tại phần riêng được xây dựng với mục đích phần lớn nghiêng về chính sách công bởi một thể chế lập pháp độc lập thông qua các luật chuyên ngành bổ sung cho các quy định riêng về BTTH ngoài hợp đồng tại BLDS. Qua đó, thông thường đó là trách nhiệm nghiêm ngặt, trách nhiệm không dựa trên lỗi, và về giới hạn trách nhiệm cũng

     

    ________

     

    • Điều 1382 BLDS Pháp, Khoản 1 Điều 823 BLDS Đức, Điều 709 BLDS Nhật Bản.

     

    34                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    như miễn trách nhiệm phải dựa trên quy định của luật [1, 18-19].

     

    1.3. Tiểu kết về căn cứ pháp lí xoay quanh trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

     

    1. Trách nhiệm dựa trên hợp đồng
    • Thời kì đầu: Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ của bên bán (Trách nhiệm dựa trên lỗi của người bán).
    • Tiến triển: Trách nhiệm đảm bảo khuyết tật của bên bán (trách nhiệm không dựa trên lỗi).
    1. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
    • Thời kì đầu: Trách nhiệm BTTH do hành
    • bất hợp pháp được quy định tại phần chung BLDS (Trách nhiệm dựa trên lỗi).
    • Tiến triển: Trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm (trách nhiệm không dựa trên lỗi).
    1. Trách nhiệm dựa trên luật định, cụ thể được quy định tại các luật chuyên ngành về an toàn thực phẩm dựa trên đặc tính riêng biệt của đối tượng là thực phẩm

    Trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp về an toàn thực phẩm dưới mô hình cụ thể trong quan hệ với người tiêu dùng

     

    Trong quan hệ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp chế biến, bảo quản, vận chuyển, phân phối, bán lẻ là một chuỗi các mối quan hệ trong suốt quá trình sản xuất và lưu thông.

     

    Nhìn chung mối quan hệ này được thể hiện dưới các mô hình sau:

     

    • Mô hình (1) : Nhà sản xuất, nhà phân phối bán buôn, nhà bán lẻ, người tiêu dùng
    • Mô hình (2): Nhà cung cấp nguyên vật liệu (có thể nguyên liệu nhập khẩu), nhà phân phối buôn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ liên quan đến thực phẩm (nhà hàng, khách sạn…), người tiêu dùng
    • Mô hình (3): Người bán hàng, sàn giao dịch điện tử trung gian (thị trường giao dịch tập trung), người tiêu dùng. Đây là mô hình lưu

    thông, tiêu dùng mới và đặc biệt phát triển mạnh trong thời đại công nghệ số. Mô hình lưu thông được dự báo còn nhiều tiềm năng phát triển trước cuộc cách mạng công nghệ 4.0.

     

    Các mô hình trên đều thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, trước hiện trạng xã hội về an toàn thực phẩm, bảo vệ quyền lợi tiêu dùng thông qua chất lượng thực phẩm bảo đảm ngày càng được xã hội quan tâm. Một trong những cơ sở nền tảng pháp lí nâng cao niềm tin của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp nói riêng, xã hội nói chung với tư cách là giải pháp bù đắp thiệt hại cho người tiêu dùng không thể không bàn tới vấn đề trách nhiệm dân sự.

     

    2.1. Phân tích trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, lưu thông ở mô hình 1.

     

    2.1.1. Vấn đề pháp lí xoay quanh mối quan hệ giữa người người tiêu dùng và doanh nghiệp

     

    Thứ nhất, chủ thể phải đảm bảo tính an toàn của thực phẩm đó là người sản xuất, người chế biến. Nhà sản xuất có nghĩa vụ phải nỗ lực chú ý sao cho không sản xuất, chế biến thực phẩm có hại trong quá trình sử dụng chất phụ gia. Cho dù nhà sản xuất không dùng chất độc hại, vẫn tồn tại nghĩa vụ chú ý, thận trọng sao cho ngăn chặn, hạn chế tối đa thực phẩm không trở thành độc hại do lơ là khi sử dụng nguyên vật liệu, cũng như sau một thời gian sử dụng. Hơn thế nữa, nhà sản xuất phải nỗ lực trong việc tuyệt đối không dùng các dụng cụ, bao bì độc hại.

     

    Trong quá trình chế biến nhà sản xuất không được sử dụng nguyên liệu độc hại, không trộn lẫn nguyên liệu được dự liệu mang lại độc hại, giả sử cho dù không phải chất độc hại cũng phải có nghĩa vụ chú ý sao cho không trộn lẫn vật lạ, nguyên vật liệu lạ. Nói tóm lại nhà sản xuất có nghĩa vụ bảo đảm tính an toàn của thực phẩm nói riêng, hàng hoá nói chung.

     

    Trong trường hợp vi phạm các nghĩa vụ trên, sản xuất ra thực phẩm gây hại, doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm BTTH cho người bị hại. Và đây là trách nhiệm dân sự

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    35

    ngoài hợp đồng. Căn cứ pháp lí của trách nhiệm này được quy định tại phần chung về trách nhiệm BTTH do hành vi bất hợp pháp được quy định tại BLDS, hoặc trách nhiệm BTTH dựa trên luật chuyên ngành. Ngày này hệ thống luật trách nhiệm sản phẩm đóng vai trò quan trọng, và đây được xem là loại trách nhiệm nghiêm ngặt. Do vậy trong trường hợp thực phẩm gây hại cho người tiêu dùng, người tiêu dùng cho dù không chứng minh quan hệ nhân quả giữa hành

     

    • xâm hại và thiệt hại cũng như yếu tố lỗi của doanh nghiệp, doanh nghiệp cũng khó thoát khỏi trách nhiệm BTTH [2, 25].

    Thứ hai, mối quan hệ giữa nhà phân phối, nhà bán hàng và người tiêu dùng.

     

    Trường hợp thực phẩm gây hại cho người tiêu dùng, người tiêu dùng mua sản phẩm quá hạn sử dụng, quá hạn bảo quản thì có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua những phương thức nào? Trong mối quan hệ với doanh nghiệp phân phối, bán trực tiếp cho người tiêu dùng, tồn tại quan hệ hợp đồng giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, bên mua (người tiêu dùng) có quyền yêu cầu BTTH với căn cứ pháp lý dựa trên hợp đồng. Cụ thể, bên bán phải có nghĩa vụ chuyển giao vật đúng chất lượng và trong trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự như thực hiện nghĩa vụ thay thế, BTTH,… Tuy nhiên đối tượng của hợp đồng là thực phẩm nên tại thời điểm giao kết, thông thường liên quan đến chất lượng sản phẩm, mẫu mã, hình thức, ghi nhãn sản phẩm được bên mua xác nhận, do vậy luận bàn về chủ đề này tiêu chí đánh giá nghĩa vụ xác nhận của bên mua trong mối tương quan nhận định có hay không tồn tại việc vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vật đúng chất lượng của bên bán là một trong những vấn đề phức tạp về giao dịch hàng hoá là thực phẩm (Luật thương mại cũng ghi nhận bên mua phải xác nhận chất lượng tại thời điểm giao kết hợp đồng).

     

    Thứ ba, có tồn tại hay không mối quan hệ giữa người tiêu dùng với người bán buôn, đại

     

    lí phân phối hàng hoá không trực tiếp xác lập hợp đồng với người tiêu dùng.

     

    2.1.2. Án lệ Nhật Bản (Án lệ ngày 27/12/1972 của Toà địa phương Gifu ) [3; 87-101]

     

    Doanh nghiệp chế biến M chuyên sản xuất đậu phụ, sau đó doanh nghiệp bán cho doanh nghiệp bán buôn W, và W bán lại cho doanh nghiệp bán lẻ là R, người tiêu dùng C mua lại sản phẩm từ doanh nghiệp R. Sau đó đậu phụ bị nhiễm vi khuẩn Salmonella (Vi khuẩn đường ruột), gia đình của C bị ngộ độc thực phẩm và là nguyên nhân dẫn đến tử vong của một thành viên trong gia đình. C khởi kiện yêu cầu M, W, R bồi thường thiệt hại. Phán quyết của Toà chấp nhận yêu cầu của C với lí do sau:

     

    Thứ nhất, về trách nhiệm của M đây được xem là trách nhiệm BTTH do hành vi bất hợp pháp (Áp dụng quy định tại phần chung về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng – Điều 709 BLDS Nhật Bản). “Doanh nghiệp M sử dụng trứng làm nguyên vật liệu chế taọ đậu phụ phải biết được trong quá trình sử dụng trứng có khả năng dẫn đến nhiễm khuẩn chủng Salmonella, vì vậy hoặc không sử dụng nguyên vật liệu là trứng, hoặc nếu sử dụng thì trong quá trình chế biến phải thiết lập các biện pháp cần thiết ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Tuy nhiên doanh nghiệp M từ trước khi mua đến sau khi mua và chế biến đậu phụ đã không duy trì tình trạng nguyên vật liệu một cách tốt nhất dẫn đến nguyên liệu nhiễm khuẩn. Như vậy doanh nghiệp M vi phạm nghĩa vụ chú ý trong việc thiết lập biện pháp đối với viện ngăn ngừa nhiễm khuẩn do vậy được nhận định có lỗi và tại thời điểm lưu thông sản phẩm, thực phẩm được chế biến đã nhiễm khuẩn và dẫn tới những thiệt hại mà C phải gánh chịu” do vậy tồn tại mối quan hệ nhân quả.

     

    Thứ hai, về trách nhiệm của doanh nghiệp bán lẻ R, đây là trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng (Trách nhiệm BTTH dựa trên hợp đồng).

     

    “Bên bán trong hợp đồng mua bán, không chỉ có nghĩa vụ cung cấp hàng hoá cơ bản (đối tượng của hợp đồng mua bán), mà còn có các nghĩa vụ chú ý sao cho không xâm hại đến lợi

     

    36                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    ích về tài sản, sức khoẻ, thân thể, sinh mạng của bên mua. Việc giao sản phẩm có khuyết tật đến người mua và trong trường hợp do khuyết tật của sản phẩm bên mua gặp thiệt hại về lợi ích trên thì bên bán phải có nghĩa vụ BTTH cho bên mua trừ trường hợp chứng minh được không vi phạm nghĩa vụ chú ý trên. Và trách nhiệm dựa trên hợp đồng của bên bán không chỉ là trách nhiệm đối với bên mua, mà được giải thích là trách nhiệm dựa trên nguyên tắc thiện trí trung thực là trách nhiệm đối với toàn bộ gia đình bên mua (những người cùng chung sống) được dự liệu mang tính hợp lí về việc sử dụng, tiêu thụ sản phẩm.

     

    Thứ ba, về trách nhiệm của doanh nghiệp bán buôn W, W phải có trách nhiệm BTTH đối với R giống như trách nhiệm trên hợp đồng mà R phải gánh chịu BTTH cho C. Do vậy công nhận cho C thực hiện thế vị quyền yêu cầu BTTH của R đối với W thông qua quyền của chính mình đối với R (Điều 423 BLDS Nhật Bản).

     

    Điều 423 BLDS Nhật Bản cho thấy, người có trái quyền muốn bảo vệ trái quyền của bản thân, có thể thực hiện quyền của bên có nghĩa vụ. Công nhận trong trường hợp R thiếu tiềm lực kinh tế để thực hiện nghĩa vụ BTTH đối với C. Và như vậy C có thể yêu cầu W BTTH với tư cách thực hiện thay yêu cầu của R đối với W [4; 65].

     

    2.2. Phân tích trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, lưu thông ở mô hình 2

     

    2.2.1. Vấn đề pháp lí xoay quanh các chủ thể liên quan đến trách nhiệm dân sự

     

    Thứ nhất: Người tiêu dùng trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Nhà hàng, khách sạn…) BTTH. Tuy nhiên, tồn tại một vấn đề pháp lí đó là nền tảng cơ sở lí luận và căn cứ pháp lí BTTH dựa trên trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, hành vi bất hợp pháp được quy định tại phần chung BLDS hay trách nhiệm sản phẩm được quy định tại luật chuyên ngành. Điểm khác nhau giữa các căn cứ pháp lí trên đó là điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH dựa

     

    trên trách nhiệm sản phẩm ko yêu cầu điều kiện lỗi.

     

    Án lệ của Toà địa phương Tokyo ngày 13/12/2002 công nhận thực phẩm được chế biến được xem là sản phẩm, và công nhận trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ ăn uống là trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm [5,14].

     

    Thứ hai: Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (doanh nghiệp chế biến) yêu cầu nhà cung cấp nguyên liệu BTTH (Căn cứ pháp lý là: trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm, hoặc có thể dựa trên hành vi bất hơp pháp tại phần chung BLDS). Về căn cứ pháp lí mối quan hệ giữa trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm và dựa trên hành

     

    • bất hợp pháp trong quy định tại BLDS là mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng liên quan đến điều kiện cấu thành, cơ chế miễn trừ trách nhiệm.

    Bên cạnh đó doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ăn uống có quyền yêu cầu nhà phân phối bán buôn BTTH dựa trên hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, tồn tại vấn đề pháp lí xoay quanh căn cứ pháp lí của trách nhiệm doanh nghiệp trong hợp đồng đó là trách nhiệm dựa trên sự

     

    • phạm nghĩa vụ của hợp đồng hay trách nhiệm dựa trên trách nhiệm bảo đảm khuyết tật. Về cơ sở lí luận, trách nhiệm bảo đảm khuyết tật có nhiều thuyết tồn tại, có quan điểm cho rằng đây là trách nhiệm phát sinh trong hợp đồng, cũng có quan điểm cho rằng đây là trách nhiệm luật định [6; 46-50]. Song không thuyết nào phủ nhận vai trò của loại trách nhiệm này, và đây được xem là cơ chế hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích của bên mua được xây dựng dựa trên chủ nghĩa trách nhiệm không lỗi khác với trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng [6; 46-50] .

    2.2.2. Án lệ Nhật Bản

     

    Một án lệ gần đây của Nhật Bản phủ nhận trách nhiệm của bên bán khi cung cấp nguyên liệu cho nhà hàng có nhiễm khuẩn dựa trên căn cứ pháp lí vi phạm nghĩ vụ trong hợp đồng vì rất khó xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ bên bán không thực hiện đúng nghĩa vụ giao vật

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    37

    như không phù hợp với mục đích, chất lượng đã được các bên thoả thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng. Đặc biệt đối với thực phẩm tươi sống, giai đoạn nào là thực phẩm bị nhiễm khuẩn, trước khi các bên thực hiện nghĩa vụ hay sau khi các bên đã hoàn tất nghĩa vụ là vấn đề không dễ xác định. Song, án lệ công nhận yêu cầu BTTH của nguyên đơn với lí do bị đơn vi phạm trách nhiệm bảo đảm khuyết tật (Án lệ Toà địa phương Yokohama ngày 16/12/20032).

     

    2.3. Phân tích trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, lưu thông ở mô hình 3

     

    2.3.1. Vấn đề pháp lí xoay quanh mối quan hệ các chủ thể

     

    Thứ nhất, về mối quan hệ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp bán sản phẩm. Đây là mối quan hệ dựa trên hợp đồng mua bán vì vậy người tiêu dùng có quyền yêu cầu doanh nghiệp bán hàng BTTH nếu thực phẩm thiếu tính an toàn, không đảm bảo chất lượng, có khuyết tật dẫn đến thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ. Và đây là trách nhiệm dựa trên hợp đồng, có thể căn cứ đó là vi phạm nghĩa vụ của bên bán hoặc trách nhiệm đảm bảo khuyết tật của bên bán.

     

    Thứ hai, về mối quan hệ giữa người tiêu dùng và sàn giao dịch tập trung, sàn giao dịch điện tử. Tuy nhiên bản chất pháp lí của mối quan hệ này là gì? Là vấn đề pháp lí không thể thiếu khi đề cập đến trách nhiệm của các bên. Hiện nay, về cơ bản phủ nhận quan hệ hợp đồng giữa hai chủ thể này. Vì vậy trong trường hợp phát sinh thiệt hại người tiêu dùng chỉ có thể yêu cầu BTTH dựa trên căn cứ pháp lí hành

     

    • bất hợp pháp được quy định tại phần chung BLDS (rõ ràng luật trách nhiệm sản phẩm không thể áp dụng đối với mối quan hệ này). Tuy nhiên, cùng với giới hạn của căn cứ pháp lí này người tiêu dùng khó có thể được bù đắp thiệt hại khi phải chứng minh tồn tại các điều

    kiện cấu thành trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại, lỗi, thiệt hại và mối quan hệ giữa hành

     

    • xâm hại và thiệt hại. Có hay chăng người tiêu dùng chỉ có thể trực tiếp yêu cầu sàn giao dịch tập trung, sàn giao dịch điện tử, internet BTTH thông qua cơ chế thế vị của chủ thể có quyền theo án lệ của Nhật [4, 65] (Cụ thể người tiêu dùng có quyền yêu cầu BTTH đối với bên bán dựa trên sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, trong trường hợp bên bán có quyền yêu cầu sàn giao dịch BTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng với mình, thì người tiêu dùng có quyền thế vào vị trí của bên bán yêu cầu trực tiếp sàn giao dịch BTTH).

    2.3.2. Tham chiếu pháp luật nước ngoài

     

    Đối với mối quan hệ này Luật an toàn thực phẩm Trung Quốc sửa đổi 20153 đã luật hoá trách nhiệm của sàn giao dịch điện tử, sàn giao dịch tập chung như sau:

     

    Thứ nhất: Người thiết lập thị trường giao dịch tập chung, nhà chủ trì hội trợ triển lãm…có trách nhiệm BTTH liên đới với người bán hàng (theo Điều 130).

     

    Thứ hai: Người cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thông qua hệ thống Internet phải liên đới bồi thường (theo Khoản 2 Điều 131).

     

    Thứ ba: Người cung cấp hệ thống internet (sàn giao dịch) là chủ thể đầu tiên có trách nhiệm BTTH với người tiêu dùng, trong trường hợp nếu không thể cung cấp tên chính xác của nhà bán thực phẩm, địa chỉ và cách thực liên lạc hữu hiệu nhất. Sau khi bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng có quyền yêu cầu doanh nghiệp bán thực phẩm, doanh nghiệp chế biến thực phẩm hoàn trả số tiền bồi thường trên (theo Khoản 3 Điều 131).

     

    Pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

     

    Luật về An toàn thực phẩm 2010 cũng như Nghị định của chính phủ số 15/2018/NĐ-CP về

     

    ________

     

    (Truy cập ngày 11/12/2018).

    ________

    3http://japanese.agri.gov.cn/flfg/201512/t20151208_16364

    3.htm.

     

    38                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    Quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật an toàn thực phẩm không có quy định liên quan tới trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp. Vậy liên quan đến vấn đề này về cơ bản căn cứ pháp lí trong hệ thống pháp luật Việt Nam dựa trên BLDS 2015, các luật chuyên ngành liên quan đến trách nhiệm sản phẩm như Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Luật chất lượng hàng hoá.

     

    Tuy nhiên, liên quan đến trách nhiệm đảm bảo khuyết tật, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, hiện này pháp luật Việt Nam thiếu sự đồng bộ về điều kiện cấu thành, cơ chế miễn trừ trách nhiệm.

     

    3.1. Trách nhiệm đảm bảo khuyết tật

     

    Điều 445 BLDS 2015 không thể hiện rõ ràng nội hàm cơ bản của quy định về trách nhiệm đảm bảo khuyết tật phải giải quyết được các vấn đề như sau: (1) Khái niệm khuyết tật;

     

    • Điều kiện cấu thành trách nhiệm là trách nhiệm không lỗi. (3) Các cơ chế miễn trừ trách nhiệm trong mối cân bằng lợi ích giữa bên mua và bên bán. Với quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 445 BLDS 2015, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm phải chăng có thể lí giải nếu trong trường hợp bên mua có lỗi dẫn tới việc không biết khuyết tật. Với cách lí giải như vậy sẽ dẫn tới một phạm vi vô hạn định về cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho doanh nghiệp. Và đặc biệt trong vấn đề an toàn thực phẩm, người mua có nghĩa vụ tìm hiểu tính an toàn này đến đâu. Chính lí do các quy định không rõ nghĩa, thiếu tính đồng bộ là một trong các nguyên nhân dẫn tới hệ luỵ vai trò của trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn thực phẩm không được phát huy, nói cách khác hầu như không thực hiện được chức năng của mình đối với nhu cầu xã hội, thực tiễn cho thấy đến tại thời điểm này người tiêu dùng chưa thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình thông qua phương thức yêu cầu doanh nghiệp BTTH.

    Việc nghiên cứu lí luận chuyên sâu, nghiên cứu pháp luật so sánh dưới góc độ luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hoá quy

     

    định của pháp luật về trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm BTTT nói riêng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

     

    3.2. Trách nhiệm sản phẩm

     

    Nội hàm các quy định tại các văn bản pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm như Luật chất lượng hàng hoá (Luật CLHH) và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) về bản chất đã chứa đựng những vướng mắc, mâu thuẫn liên quan đến nội dung trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.

     

    • Về mối quan hệ giữa quy định tại Luật BVQLNTD và Luật CLHH có sự xung đột nhau về điều kiện xác lập nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà phân phối đối với người tiêu dùng. Nếu như quy định tại Luật BVQLNTD chỉ ra rằng nguyên tắc của nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng trong trường hợp này là nguyên tắc trách nhiệm không dựa trên lỗi thì ngược lại với quy định tại Điều 61 Luật CLHH lại khẳng định nguyên tắc trách nhiệm dựa trên lỗi.
    • Bên cạnh đó, quy định tại Luật BVQLNTD cũng tồn tại những xung đột thể hiện sự thiếu sự đồng bộ trong các quy định của Luật.

    Về lí luận khoa học thì dựa trên tiêu chí yếu tố lỗi. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được phân loại như sau:

     

    • Trách nhiệm BTTH dựa trên lỗi (nghĩa vụ lập chứng thuộc về người bị hại).
    • Trách nhiệm BTTH chuyển giao nghĩa vụ chứng minh lỗi hay còn gọi là trách nhiệm trung gian giữa trách nhiệm dựa trên lỗi và trách nhiệm không dựa trên lỗi (người gây hại được suy đoán có lỗi và chỉ trong trường hợp chứng minh được không có lỗi người gây hại không phải chịu trách nhiệm BTTH).
    • Trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm nghiêm ngặt (không dựa trên lỗi, song không phải hoàn toàn bỏ yếu tố lỗi vì vẫn tồn tại song song quy định miễn trừ nghĩa vụ dựa trên nguyên lý rủi ro phát triển).

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    39

    • Trách nhiệm BTTH không dựa trên lỗi (Cơ chế miễn trừ không được áp dụng hoặc nếu có thì phạm vi rất hẹp như trong trường hợp bất khả kháng).

    Với quy định tại Điều 23 Luật BVQLNTD, và dẫn chiếu Điều 24 Luật BVQLNTD, liên quan đến nghĩa vụ BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm, pháp luật Việt Nam đồng bộ với pháp luật các nước trên cơ sở nhìn nhận đây là một loại trách nhiệm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, quy định tại Khoản 2 Điều 42 phá vỡ những nhận định trên bởi một quy định không rõ nghĩa khi quy định “nghĩa vụ chứng minh không có lỗi thuộc về nhà sản xuất”. Việc quy định nghĩa vụ lập chứng đối với nhà sản xuất nhưng không có giải pháp của luật kèm theo với tư cách là hậu quả pháp lí dẫn đến một câu hỏi: Vậy nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng quy định tại Luật BVQLNTD là nghĩa vụ BTTH dựa trên lỗi nhưng chuyển giao nghĩa vụ lập chứng liên quan đến lỗi và hậu quả pháp lí là khi nhà sản xuất chứng minh mình không có lỗi sẽ được miễn trừ trách nhiệm BTTH, hay đây là nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng dựa trên trách nhiệm nghiêm ngặt và việc chứng minh không có lỗi của nhà sản xuất chỉ có ý nghĩa trong việc xác định thiệt hại.

     

    Có thể thấy, Điều 42 quy định về nghĩa vụ lập chứng liên quan đến điều kiện lỗi dẫn tới sự mâu thuẫn trong cách lí giải yếu tố lỗi trong điều kiện xác lập nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng trong trường hợp thiệt hại do sản phẩm, hàng hoá gây ra.

     

    Giải quyết vấn đề

     

    4.1. Trách nhiệm đảm bảo khuyết tật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

     

    Cũng giống như trách nhiệm sản phẩm, trách nhiệm bảo đảm khuyết tật của bên bán cũng tồn tại những giới hạn nhất định trước thời đại mới.

     

    Về bản chất của loại trách nhiệm dân sự này, vẫn tồn tại hai quan điểm: (1) Thứ nhất cho rằng: đây là phân loại trách nhiệm dựa trên

     

    hợp đồng một trong những loại trách nhiệm dân sự do bên bán không thực hiện được nghĩa vụ đối với bên mua; (2) Thứ hai cho rằng: đây là trách nhiệm luật định.

     

    Nhưng với nền tảng lí luận nào thì cơ bản trong mọi hệ thống pháp luật đều công nhận đây là loại trách nhiệm dân sự không dựa trên lỗi, và song song công nhận cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho bên bán.

     

    Song liên quan đến an toàn thực phẩm, khi bàn về vai trò loại trách nhiệm dân sự này của doanh nghiệp (bên bán) ngày này đặt ra nhiều vấn đề tồn tại, như nếu có tồn tại lỗi của bên mua có hay không là điều kiện miễn trừ trách nhiệm cho bên bán.

     

    Trong danh mục phải ghi nhãn sản phẩm đối với sản phẩm đóng gói là hạn sử dụng hoặc hạn bảo quản. Đối với trường hợp ghi hạn bảo quản thì cho dù quá thời hạn bảo quản thực phẩm không có nghĩa là không thể lưu thông và không thuộc phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp chế biến, trong trường hợp này cụ thể doanh nghiệp chế biến không vi phạm khuyết tất do có chỉ dẫn cụ thể. Vậy một sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhưng quá thời hạn bảo quản thì quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ đến đâu [7; 169].

     

    Trường hợp này nếu áp dụng chế tài trách nhiệm dân sự truyền thống như BTTH ngoài hợp đồng (Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm), cũng như trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ dựa trên hợp đồng của bên bán về cơ bản khả năng không thể áp dụng.

     

    Một giải pháp đặt ra đó là liệu rằng có hay không việc áp dụng trách nhiệm đảm bảo khuyết tật để bảo vệ quyền và lợi ích người tiêu dùng. Hiện nay mô hình trách nhiệm đảm bảo khuyết tật được quy định tại Bộ luật dân sự Đức (BGB) sau khi sửa đổi phần trái quyền năm 2002 đang được xem là mô hình pháp lí điển hình có sự hài hoá hoá pháp luật quốc gia với chỉ thị của EU về các vấn đề bảo vệ người tiêu dùng [8; 219].

     

    Theo Điều 459 BGB đưa ra định nghĩa về khuyết tật, và Điều 460 BGB quy định các

     

    40                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    trường hợp miễn trừ trách nhiệm cho bên bán:

     

    • Trong trường hợp người mua biết khuyết tật; (2) người mua không biết do lỗi nặng trừ trường hợp người bán biết mà không thông báo, và trường hợp người bán có điều khoản đảm bảo không có khuyết tật.

    Với quy định tưởng trừng như tương đối rõ nghĩa , song trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm, đặc biệt vấn đề về thời hạn bảo quản thực phẩm không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, trường hợp sản phẩm quá hạn bảo quản khi mà không chắc chắn rằng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, thì cho dù thời hạn này đã được ghi rõ trên nhãn mác sản phẩm “Sử dụng tốt nhất trước ngày” việc người tiêu dùng vẫn mua khi quá hạn có phải thuộc trường hợp miễn trách nhiệm cho doanh nghiệp bán khi nhận thấy tồn tại yếu tố “người mua biết khuyết tật” hoặc “người mua không biết do lỗi nặng” hay không?

     

    Về vấn đề này hiện nay giới luật học Đức tồn tại ba quan điểm như sau:

     

    • Quan điểm thứ nhất dựa trên phân loại người tiêu dùng tự phục vụ ( self-sevice) hoặc người tiêu dùng được phục vụ mà luận giải khác nhau [7; 171].

    Trường hợp người tiêu dùng tự phục vụ thì người mua có thể tự xác nhận được hạn bảo quản do vậy người tiêu dùng cũng phải nhận thức. Và việc tự xác nhận thời hạn đối với người mua không khó (trừ trường hợp việc ghi nhãn này khó đọc do mờ, hoặc rơi mất nhãn mác), do vậy việc không biết được xem là do lỗi nặng.

     

    Ngược lại, trường hợp mua được phục vụ, với bản chất khác với trường hợp tự phục vụ, nhân viên mang sản phẩm đến cho khách hàng thì việc bán sản phẩm chưa quá hạn bảo quản là điều mong đợi của người tiêu dùng. Do vậy đương nhiên không tồn tại nghĩa vụ kiểm tra của người mua, và không xem việc không biết là do lỗi nặng của người mua.

     

    Liên quan đến điều kiện chủ quan của bên bán, bên bán không thể được miễn trừ trách

     

    nhiệm BTTH nếu biết mà không thông báo, và trong trường hợp tự phục vụ thì quan điểm này cho rằng người mua không khó trong việc kiểm tra nên không tồn tại nghĩa vụ giải trình của người bán, bởi lẽ thông thường trường hợp này người bán được xem không ác ý. Như vậy quan điểm này cho rằng, trong hoạt động mua bán tự phục vụ người mua có lỗi nặng, người bán không có nghĩa vụ giải thích về sản phẩm được ghi rõ nhãn mác nên không được xem là cố ý im lặng (biết mà không thông báo) và thông thường loại bỏ trách nhiệm đảm bảo khuyết tất.

     

    Tuy nhiên đối với quan điểm này, rõ ràng tồn tại các vấn đề sau: Trong trường hợp người mua nếu mua với khối lượng lớn liệu rằng có thể xác nhận được toàn bộ sản phẩm, hàng hoá không? Trẻ em, người cao tuổi, người nước ngoài, người có vấn đề về trí tuệ, người không biết chữ…trong trường trường hợp có lí do đặc biệt thì đối với vấn đề việc không biết là có lỗi nặng có phù hợp không?

     

    (2) Quan điểm thứ hai cho rằng [7; 173]

     

    Về việc xác định có hay không lỗi nặng của người mua phải dựa trên tiêu chí phán đoán tại thời điểm giao kết hợp đồng có hay không nghĩa vụ kiểm tra của người mua. Cơ bản người mua không có nghĩa vụ kiểm tra sản phẩm, chỉ dưới những điều kiện đặc biệt thì tuỳ từng trường hợp dựa trên nguyên tắc thiện trí trung thực là căn cứ xác định nghĩa vụ kiểm tra và chỉ khi do bất cẩn vi phạm nghĩa vụ này mới được xem có tồn tại lỗi nặng của bên mua khi không biết đến khuyết tật của sản phẩm.

     

    Quan điểm thứ hai cho rằng nhận định có hay không lỗi nặng của người mua không phải xét từ thực trạng của quan hệ mua bán như tự phục vụ hay được phục vụ, mà cần thiết phải nghiên cứu từ quan điểm có cần thiết hay không khi công nhận nghĩa vụ của người mua phải kiểm tra hàng hoá, sản phẩm. Quan trọng hơn thước đo khi cân nhắc có hay không nghĩa vụ này phải dựa trên một tiêu chí căn bản đó là cán cân bằng lợi ích giữa bên bán và bên mua. Và khi thấy rằng, người bán cần phải thận trọng với đối tượng sản phẩm hàng hoá của mình liên

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    41

    quan đến hạn bảo quản, điều đó đồng nghĩa với việc phủ nhận nghĩa vụ kiểm tra của người mua. Do vậy dù nhãn mác có ghi đầy đủ thông tin về thời hạn bảo quản cũng không phải là căn cứ xác định người mua mặc nhiên phải biết và việc không biết là do lỗi nặng.

     

    Vậy, trong khi cách luận giải của quan điểm thứ nhất, không công nhận trách nhiệm đảm bảo của doanh nghiệp khi cho rằng có tồn tại lỗi nặng của người mua đối với trường hợp mua tại các của hàng tiện ích, siêu thị (người mua tự phục vụ), bởi lẽ từ thực trạng người mua có thể dễ dàng xác nhận được các thông tin trên sản phẩm. Ngược lại quan điểm thứ hai cho rằng, nhận định có hay không lỗi nặng thì trước hết phải nghiên cứu dưới dạng thức có hay không tồn tại nghĩa vụ. Và trên thực tế cho dù người mua có thể xác nhận được thông tin trên nhãn mác, nhưng không nên xem đó là nghĩa vụ, do vậy người mua có lơ là việc xác nhận lại thông tin về hạn sử dụng sản phẩm cũng nên phán đoán đó không phải là lỗi nặng [7; 195].

     

    (3) Quan điểm thứ ba cho rằng [7; 183]

     

    Về cơ chế miễn trừ trách nhiệm đảm bảo khuyết tật cần phải đưa ra luận điểm dựa trên vấn đề phân tán rủi ro, cũng như nghĩa vụ giữa người mua và người bán [7; 195]. Quan điểm thứ ba dựa trên cơ sở lí luận đó là mục đích đẩy nhanh hoạt động giao dịch, thương mại. Tuy nhiên, việc xác định nghĩa vụ cho bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên bán thì cần phải có những tiêu chí đánh giá (giá trị) mang tính tích cực. Quan điểm thứ ba cho rằng cốt lõi của việc đảm bảo thúc đẩy giao dịch đó là hài hoà hoá lợi ích của cả bên mua và bên bán.

     

    Trong khi đó, quan điểm thứ nhất chưa cho thấy được tiêu chí thể hiện sự mong muốn cân bằng lợi ích, quyền và nghĩa vụ giữa bên mua và bên bán.

     

    Vậy thông thường người tiêu dùng mua thực phẩm qua nhà bán lẻ. Và khi lựa chọn sản phẩm trên thị trường, các vấn đề như hạn sử dụng, hạn bảo quản cũng như những thông tin khác là yếu tố quan trọng. Tuy nhiên trước yêu

     

    cầu kinh doanh mới vấn đề xác định quyền và nghĩa vụ giữa bên mua và bên bán về việc xác nhận những thông tin này cũng như nếu xem nó là rủi ro thì vấn đề phân tán rủi ro, là những vấn đề pháp lí mới cần tiếp tục bàn luận liên quan đến chi phí để quản lí sản phẩm của doanh nghiệp, chi phí tiêu hao của bên mua và đương nhiên đặt ra bài toán kinh tế luật ở đây.

     

    4.2. Trách nhiệm sản phẩm và an toàn thực phẩm

     

    Thực phẩm là vật chất liên quan trực tiếp đến sức khoẻ con người. Do vậy yêu cầu về tính an toàn được đặt lên hàng đầu. Những năm gần đây việc chế biến thực phẩm được đặt dưới những dây chuyền sản xuất vô cùng phức tạp, về mặt chế biến thì thực phẩm cũng giống như các sản phẩm hàng hoá khác là đối tượng điều chỉnh của luật trách nhiệm sản phẩm. Dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng, thì việc áp dụng Luật trách nhiệm sản phẩm là cơ chế hữu hiệu thực hiện chức năng của pháp luật BTTH ngoài hợp đồng như bù đắp thiệt hại cho người bị hại. Tuy nhiên, dưới đây cho thấy với những giới hạn như sau:

     

    • Thứ nhất, đối với thiệt hại do thực phẩm gây ra, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phải BTTH với mức lớn, phạm vi rộng do thiệt hại liên quan trực tiếp tới sức khoẻ, tính mạng người tiêu dùng. Do vậy, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp sẽ góp phần vào việc chức năng bù đắp thiệt hại của luật BTTH có được thực hiện hay không ? Vì trên thực tế nếu doanh nghiệp không có đủ khả năng kinh tế để thực hiện trách nhiệm BTTH thì quy định của luật cũng không có nhiều ý nghĩa, quyền và lợi ích của người tiêu dùng không được bảo vệ.
    • Thứ hai, thực phẩm có sự thay đổi rất lớn theo thời gian, đồng thời một lúc có sự pha trộn, kết hợp của nhiều nguyên vật liệu, rồi tuỳ từng cơ địa, thể trạng của người tiêu dùng sẽ có những ảnh hưởng khác nhau. Và việc phán đoán những khuyết tật cụ thể trong từng vụ riêng rẽ là cần thiết và không đơn giản, thậm trí rất khó khăn.

    42                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    • Thứ ba, mối quan hệ giữa an toàn thực phẩm và khuyết tật sản phẩm rất trừu tượng.

    Về an toàn thực phẩm, nếu theo quy định của Luật vệ sinh an toàn thực phẩm, pháp luật liên quan đến sử dụng đúng hoá chất trong nông nghiệp… Hay liên quan đến quy cách và chất lượng sản phẩm theo luật về nông lâm nghiệp… thì trong trường hợp doanh nghiệp chế biến, sản xuất thực hiện đúng quy trình về an toàn thì có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hay không? Dưới góc độ lí luận, nhìn chung những quy trình liên quan đến an toàn thực phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định liên quan đến quản lí hành chính như xác định tiêu chuẩn tối thiểu về tính an toàn. Vì vậy việc tuân theo những quy định này có thể trở thành căn cứ để doanh nghiệp sản xuất kháng biện khi chứng minh không tồn tại khuyết tật do thực hiện đúng quy trình an toàn. Và đây được dự báo là một trong những khó khăn trên thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

     

    • Thứ tư, song song với trách nhiệm sản phẩm phải công nhận các cơ chế miễn trừ trách nhiệm dựa trên nguyên lí rủi ro phát triển. Vậy liên quan đến công nghệ biến đổi gen thực phẩm đặc biệt trong thời đại công nghệ 4.0, thì việc áp dụng cơ chế rủi ro phát triển sẽ giải quyết ra sao? Trong những trường hợp này cho dù có tồn tại khuyết tật sản phẩm, doanh nghiệp vẫn có khả năng được miễn trừ trách nhiệm nếu chứng minh được tại thời điểm hàng hoá lưu thông, khoa học công nghệ không thể phát hiện được khuyết tật. Thực tế cho thấy rất nhiều ý kiến cho rằng cùng với việc công nhận rủi ro phát triển quyền lợi của người tiêu dùng bị xã hội lờ đi [9; 35].

    Mặt khác, nếu không công nhận cơ chế miễn trừ đối với trách nhiệm nghiêm ngặt sẽ tạo ra rào cản đối với phát triển KHCN kéo theo đó ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng với tư cách người thụ hưởng sự tiến bộ KHCN.

     

    Vậy để khắc phục được những giới hạn nêu trên, việc áp dụng trách nhiệm không dựa trên lỗi đối với doanh nghiệp để bảo vệ quyền

     

    lợi người tiêu dùng và cơ chế bảo hiểm hỗ trợ kèm theo là một trong những giải pháp có thể bàn tới.

     

    Thứ nhất, đối với vấn đề an toàn thực phẩm, cũng giống như vấn đề liên quan đến môi trường áp dụng trách nhiệm không lỗi và ngày càng thắt hẹp phạm vi miễn trừ trách nhiệm là cần thiết. Điểm cần lưu ý đó là cho dù công nhận cơ chế miễn trừ dựa trên nguyên lí rủi ro phát triển, sau khi đưa sản phẩm vào lưu thông, nếu biết được khuyết tật của sản phẩm, từ thời điểm đó doanh nghiệp sản xuất phải có nghĩa vụ công bố tính nguy hiểm của sản phẩm, chỉ dẫn, cảnh báo, tuỳ từng trường hợp cụ thể phải ngừng bán, thu hồi… khi sự cố phát sinh do không thực hiện các nghĩa vụ trên thì phải chịu trách nhiệm BTTH. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận những đặc tính quan trọng của thực phẩm, những tác động của từng nhóm thực phẩm đối với đời sống xã hội cũng khác nhau như thực phẩm cho trẻ em như sữa, đồ ăn, thực phẩm cho người cao tuổi như thực phẩm chức năng… cần phải có những cơ chế xây dựng đặc thù.

     

    Do vậy, nhu cầu minh thị hoá trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp trong luật chuyên ngành liên quan đến an toàn thực phẩm khi nhìn nhận Luật an toàn thực phẩm với vai trò ngành luật trung gian giữa luật công và luật tư là cấp thiết.

     

    Thứ hai, song song với việc áp dụng chủ nghĩa trách nhiệm không dựa trên lỗi, không thể thiếu cơ chế bảo hiểm đi kèm. Trên thực tế các quốc gia phát triển như Nhật Bản thúc đẩy cơ chế này rất mạnh mẽ. Dù cơ chế bảo hiểm của các doanh nghiệp liên quan đến thực phẩm là bảo hiểm tự nguyện, nhưng hàng năm có những nghiên cứu và báo cáo danh sách các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm công bố rộng rãi và công khai. Thông qua đó ý thức của doanh nghiệp được nâng cao nhìn từ góc độ quản lí rủi ro của doanh nghiệp, niềm tin của người tiêu dùng được củng cố khi lựa chọn sản phẩm tiêu dùng [10; 49]. Và đặc biệt với cơ chế bảo hiểm cùng lúc pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    43

    thực hiện hai chức năng cơ bản đó là phân tán thiệt hại, bù đắp toàn bộ thiệt hại cho người tiêu dùng. Dưới góc độ lợi ích của doanh nghiệp đây được xem là cơ chế không thể thiếu cho dù vẫn tồn tại những vấn đề nhất định trong cấu trúc quản lí rủi ro của doanh nghiệp [9; 57].

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Xiang Li, Jigang Jin, Concise Chinese Tort Laws, Springer-Verlag Berlin Heidelberg, 2014.
    • Niwata Noriaki, Sự cố thực phẩm và vấn đề người tiêu dùng, Nghiên cứu Thương mại Mitsuda 27 (3).
    • Tạp chí án lệ số 307 (1974) 87-101.
    • Nakamura Hiroshi, Vi phạm hợp đồng và phương thức bảo vệ quyền (2), Tạp chí Đại học Doshisha

    32 (3) (1980).

     

    • Tạp chí Án lệ số 1109; Tạp chí thời báo án lệ số 1805.
    • Nozawa, Nghiên cứu pháp luật so sánh trách nhiệm đảm bảo khuyết tật Masamishi (6) – Nhật bản. Pháp. EU, Tạp chí Luật học Rikkyo 91 (2015).
    • Suzuki Miyako “Hạn bảo quản và trách nhiệm đảm bảo khuyết tật trong luật Đức” Tuyển tập luận văn đại học ngoại ngữ Tokyo, 91 (2015).
    • Felix Maultzsch, Hướng phát triển mới về trách nhiệm đảm bảo khuyết tật của người bán trong pháp luật Đức và Liên minh Châu Âu, Tạp chí nghiên cứu pháp luật chính sách 82 (2).
    • Katsuhiko Akabori, Luật trách nhiệm sản phẩm và quản lí rủi ro doanh nghiệp, Tạp chí luật học Học viện Kobe, 38 (3,4) (2009) 35.
    • Uchida, Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại và sự tham gia của doanh nghiệp đến đâu?, Tạp chí thứ 6, 26 (7) (2018).

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%E1%BB%91i-%C6%B0u-v%C3%B9ng-ph%E1%BB%A7-m%E1%BA%A1ng-4G-LTE-khu-v%E1%BB%B1c-qu%E1%BA%ADn-S%C6%A1n-Tr%C3%A0-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-%C4%90%C3%A0-N%E1%BA%B5ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    ISSN 1859-1531 – TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 17, NO. 1.2, 2019

    27

       

    TỐI ƯU VÙNG PHỦ MẠNG 4G LTE KHU VỰC QUẬN SƠN TRÀ,

    THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

     

    OPTIMIZATION OF 4G LTE NETWORK COVERAGE IN SONTRA DISTRICT, DA NANG CITY

     

    Phạm Văn Phát

     

    Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng; [email protected]

     

     

    Tóm tắt – Nhu cầu băng thông rộng, tốc độ cao ngày càng tăng và mạng 4G LTE đáp ứng được các yêu cầu công nghệ di động băng rộng. Tối ưu vùng phủ là một công việc thường xuyên và định kỳ trong quá trình khai thác, vận hành mạng di động. Một vùng phủ yếu sẽ cho kết quả chất lượng dịch vụ kém. Dựa trên kết quả đo kiểm phát hiện các vùng phủ có tín hiệu yếu, tốc độ bit thấp. Đánh giá chất lượng vùng phủ dựa trên bộ tham số đo kiểm mạng được gọi là KPI đo kiểm. Trong bài báo này, tác giả trình bày các tham số KPI đo kiểm mạng 4G LTE. Phân tích, đánh giá các kết quả đo kiểm vùng phủ khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đây là địa bàn thu hút rất đông khách du lịch cũng như phát triển nóng về cơ sở hạ tầng, nhiều tòa nhà cao tầng với mật độ dày được mọc lên đã gây suy giảm chất lượng vùng phủ.

     

    Từ khóa – Mạng 4G LTE; RSRP; SINR; đo kiểm, tối ưu vùng phủ.

     

    Abstract – Broadband, high-speed demand is increasing, and 4G LTE networks meet the demands of mobile broadband technology. Optimal of mobile network coverage is a regular and periodic task in the process of exploiting and operating the mobile network. Poor coverage will result in low quality of services. Based on the Drivertest results, the areas with weak signal, low bit rate. Coverage rating is based on a set of network test parameters, called KPIs. In this paper, the author presents the KPI parameters used for 4G LTE network measurements. Analysis and evaluation of Drivertest results covering the area of Son Tra district, Da Nang city. This is an area where there is a rapid increase in the number of tourists, as well as hot development of infrastructure, many high buildings are built with high density has caused a decline in the quality of coverage.

     

    Key words – 4G LTE network; RSRP; SINR; Drive Testing; Optimization of Network Coverage.

     

    1.   Đặt vấn đề

     

    Tối ưu hóa vùng phủ sóng là hoạt động thường xuyên của các nhà mạng. Mục tiêu tối ưu hóa nhằm giải quyết các vấn đề như chất lượng vùng phủ sóng di động kém, chất lượng thoại kém, rớt cuộc gọi, nghẽn mạng… nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu hóa hiệu suất mạng. Ngoài ra, việc tối ưu mạng cũng nhằm mục tiêu tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng hạ tầng mạng, tối đa hóa tiềm năng và hiệu quả đầu tư của nhà mạng [1]. Quá trình tối ưu cần một quy trình chặt chẽ, trải qua nhiều công đoạn thực hiện khác nhau như xây dựng kịch bản đo, thực hiện đo kiểm, phân tích đánh giá, hiệu chỉnh hệ thống – thiết bị và thực hiện đo kiểm, đánh giá sau hiệu chỉnh như trình bày ở Hình 1.

     

     

     

    Hình 1. Quá trình đo kiểm, tối ưu mạng

     

    Các biện pháp hiệu chỉnh thường thấy như sửa lỗi thiết bị phần cứng, căn chỉnh góc ngẩng, độ cao anten, hiệu chỉnh công suất trạm, thiết kế trạm hợp lý hơn, tối ưu quan hệ giữa các trạm lân cận. Việc đo kiểm, đánh giá chất lượng

    mạng dựa vào bộ tiêu chuẩn và chỉ số đo cụ thể được quốc tế công nhận [2, 4].

     

    Cùng với mạng 3G, mạng băng rộng 4G đã được các nhà mạng triển khai thử nghiệm và đưa vào khai thác từ năm 2017. Hiện tại mới chỉ có các chỉ số kiểm định chất lượng mạng khu vực nội thành Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được công bố trên Cổng thông tin điện tử Cục viễn thông Quốc gia. Các khu vực khác hiện vẫn đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện hạ tầng.

     

    Cùng với các thành phố lớn trong cả nước, Đà Nẵng là một trong số các tỉnh thành triển khai hạ tầng mạng di động 4G sớm nhất. Hiện nay, do tốc độ đô thị hóa cũng như tăng trưởng nhanh ngành nghề du lịch và dịch vụ, đặc biệt là việc tăng trưởng nóng khu vực ven biển quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn. Khu vực này có rất nhiều toàn nhà cao tầng được xây dựng mới làm che chắn hướng sóng, ảnh hướng rất lớn đến không gian thu phát và diện tích vùng phủ của hệ thống thông tin di động. Cùng với đó là mật độ dân số, khách du lịch tăng đột biến cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ mạng. Thực tế trên đặt ra bài toán cần đo kiểm, phân tích đánh giá chất lượng dịch vụ, có giải pháp quy hoạch và tối ưu vùng phủ, dịch vụ mạng cho khu vực này.

     

    2.   Các thông số đánh giá vùng phủ sóng mạng 4G LTE

     

    KPI (Key Performance Indicators) là bộ các chỉ số thể hiện chất lượng mạng, là chỉ số làm tiêu chí đánh giá mạng di động tốt hay tồi. Có 2 phương thức đo kiểm được sử dụng để kiểm tra và giám sát các chỉ tiêu:

     

    • KPI dành cho nhà quản lý(OMC);
    • KPI dành cho đo kiểm (Drive Test).

    KPI trong mạng LTE bao gồm chất lượng vùng phủ (Coverage), khả năng truy nhập(Accessibility), khả năng

     

    28                                                                                                                                                                                         Phạm Văn Phát

     

    duy trì (Retainability), khả năng di động (Mobility), KPI dịch vụ (Service Integrity), Khả năng sử dụng (Utilization), khả năng sẵn sàng (Availability) và lưu lượng (Traffic) [4].

     

    Drive Test là phương pháp đo bao gồm một phương tiện di chuyển có trang bị thiết bị đo kiểm tra giao diện vô tuyến của mạng di động, cho phép thu thập và ghi lại thông tin về dịch vụ cung cấp bởi mạng di động trên một khu vực địa lý. Bằng phương thức đo kiểm này, nhà khai thác có thể đưa ra những thay đổi phù hợp đối với mạng lưới để cung cấp tốt hơn vùng phủ sóng và dịch vụ đến khách hàng. Drive Test có thể được phân thành một số loại với các mục đích khác nhau:

     

    • Mục đích so sánh giữa các mạng;
    • Tối ưu và khắc phục sự cố;
    • Giám sát chất lượng dịch vụ.

    Trong nghiên cứu này, liên quan đến công tác đo kiểm thực tiễn mạng 4G LTE, tác giả trình bày nhóm KPI đánh giá vùng phủ gồm các chỉ tiêu là RSRP, RSRQ, SINR. Nhóm KPI chất lượng dịch vụ dữ liệu gồm các chỉ tiêu đo kiểm cho các tham số liên quan đến chất lượng dịch vụ data như: tốc độ download (LTE DL), tốc độ upload (LTE UL).

     

    2.1. Tham số đo đánh giá tín hiệu thu RSRP, RSRQ, SINR

     

    2.1.1. Công suất tín hiệu thu RSRP

     

    RSRP (Reference Signals Received Power) đo mức công suất nhận được trong mạng di động 4G LTE. RSRP được tính bằng trung bình của các mức công suất thu được trên tất cả các tín hiệu chuẩn trong toàn bộ băng tần đo kiểm.

        (      ) =      (      ) − 10 ∗ lg⁡(12 ∗   ) (1)

     

    Trong đó:

     

    • N: số RB (Resource Block) khi RSSI được đo kiểm, và tham số này phụ thuộc vào băng thông.

     

    • RSSI (Received Signal Strength Indicator): là mức tín hiệu thu), là tham số cung cấp thông tin về tổng công suất thu được (trên toàn bộ các tín hiệu) bao gồm cả nhiễu. RSSI được đo kiểm trên toàn bộ băng thông.

    Bảng 1. Giải thích màu của RSRP

     

    RSRP (dBm)

    Chú thích màu

     

    Kết quả

    0 ÷ -75

       

    Rất tốt

    -75

    ÷ -85

       

    Tốt

    -85

    ÷ -95

       

    Trung bình

    -95 ÷ -105

       

    Yếu

    -105

    ÷ -120

       

    Rất yếu

       

    <-120

       

    Không sử dụng được

             

    RSRP là một trong các tham số cơ bản trong việc đo kiểm trên lớp vật lý của UE. RSRP sẽ cung cấp cho UE các thông tin cần thiết về cường độ tín hiệu của các cell từ đó việc mất đường truyền có thể được tính toán và sử dụng trong các thuật toán để điều chỉnh và thiết lập công suất tối ưu cho việc hoạt động trong mạng. RSRP có thể được sử dụng trong cả 2 trạng thái IDLE và CONNECTED của UE. Theo ETSI TS 136.133 khoảng

     

    giá trị của RSRP được định nghĩa trong khoảng từ -140 dBm cho tới -44 dBm [2].

     

    2.1.2. Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu SINR

     

    SINR (Signal to Interference-plus-Noise Ratio) tỷ số tín hiệu trên nhiễu. Là mức công suất thu hữu ích trên tổng nhiễu. Do đó SINR được sử dụng như một tham số đo kiểm đánh giá chất lượng tín hiệu.

    =⁡

     

    (2)

     
     
           

    Trong đó:

     

    • S: là công suất của các tín hiệu được sử dụng đo kiểm (các thông tin có ý nghĩa, các tín hiệu mong muốn). Các tín hiệu chuẩn và các kênh vật lý chia sẻ đường xuống là liên quan chủ yếu.
    • N: là tổng công suất nhiễu (các tín hiệu không mong muốn), N liên quan tới việc đo kiểm băng thông và các hệ số nhiễu thu được.

    Về mặt giá trị SINR có thể có cả giá trị âm và dương khi tính theo đơn vị dB. Giá trị SINR âm có nghĩa là công suất tín hiệu thấp hơn so với công suất nhiễu.

     

         

    Bảng 2. Giải thích màu của SINR

               
     

    SINR

     

    Chú thích

     

    Kết quả

     

    (dB)

     

    màu

     
           

    >20

         

    Rất tốt

    15

    ÷ 20

         

    Tốt

    10

    ÷ 15

         

    Trung bình

    2 ÷ 10

         

    Kém

    0

    ÷ 2

         

    Rất kém

    < 0

         

    Không sử dụng được

    2.1.3. Chất lượng tín hiệu thu RSRQ

     

    RSRQ (Reference Signal Received Quality) cung cấp cho UE các thông tin cần thiết về chất lượng tín hiệu của các cell, việc đo kiểm tham số RSRQ trở nên đặc biệt quan trọng ở phía biên của các cell, khi cần quyết định có thực hiện việc chuyển giao tới một cell khác. RSRQ chỉ được sử dụng trong trạng thái CONNECTED của UE.

     

    RSRQ được tính toán theo công thức:

    =

     

    .

    (3)

     
           
         

    Trong đó, NPRB là số Physical Resource Blocks(PRB) khi RSSI được đo kiểm, thông thường nó bằng với băng thông hệ thống.

     

    RSRQ trong 4G LTE là một tham số được sử dụng cho việc đo kiểm chất lượng mạng trong mạng 4G LTE. Theo ETSI TS 136.133 khoảng giá trị của RSRQ được định nghĩa trong khoảng từ -34 dB cho tới 2.5 dB [2].

     

    2.2. Tham số đo liên quan tốc độ dữ liệu LTE DL&UL

     

    LTE DL & UL là tham số đo lường tốc độ dữ liệu đường xuống(DL) và đường lên(UL) mạng 4G LTE. Tốc độ tải xuống trung bình (Download Speed) là tỷ số giữa tổng dung lượng các tệp dữ liệu tải xuống trên tổng số thời gian tải xuống. Tương ứng, tốc độ tải lên trung bình (Upload Speed) là tỷ số giữa tổng dung lượng các tệp dữ liệu tải lên trên tổng số thời gian tải lên [3, 6].

     

    ISSN 1859-1531 – TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 17, NO. 1.2, 2019

    29

       

    Bảng 3. Giải thích màu của LTE DL&UL

     

    LTE DL & UL

    Chú thích màu

    Kết quả

     

    Throughput(kbps)

         
           

    > 10000 kbps

     

    Rất tốt

     

    5000 ÷ 10000 kbps

     

    Tốt

     

    1000 ÷ 5000 kbps

     

    Trung bình

     

    500 ÷ 1000 kbps

     

    Yếu

     

    0 ÷ 500 kbps

     

    Rất yếu

     

    no throughput

     

    Không sử dụng được

     
           

    2.3. Các tham số đo liên quan chất lượng dịch vụ thoại

     

    CSSR (Call Setup Success Rate): tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công, là tỷ lệ (%) giữa số cuộc gọi được thiết lập thành công trên tổng số cuộc gọi được thực hiện.

     

    CDR (Call Drop Rate): tỷ lệ cuộc gọi bị rơi, là tỷ lệ (%) giữa số cuộc gọi bị rơi trên tổng số cuộc gọi được thiết lập thành công.

     

    SASR (Service Access Success Rate): Tỷ lệ truy nhập dịch vụ thành công, là tỷ lệ (%) giữa số lần truy nhập dịch vụ thành công trên tổng số lần truy nhập dịch vụ [3, 6].

     

    3.   Đo kiểm và đánh giá vùng phủ 4G LTE khu vực Quận Sơn Trà – Thành phố Đà Nẵng

     

    Mapinfo & Googlearth là các phần mềm tiêu chuẩn hỗ trợ cho phân tích và tối ưu mạng. Các phần mềm hiển thị đầy đủ các thông tin đo kiểm trên bản đồ số, chỉ thị các tuyến đường, vị trí trạm gốc, độ cao địa hình, hiển thị môi trường xung quanh. Hỗ trợ chia các lớp tín hiệu, phân khu vực, tọa độ GPS, trích xuất bản in v.v. [3, 5].

     

    Trong hệ thống thông tin di động 4G_LTE, các tín hiệu đo lường phổ biến là mức công suất thu tín hiệu hữu ích RSRP, tỉ số tín hiệu trên nhiễu SINR và tốc độ dữ liệu LTE UL&DL.

     

    Hiện nay, mạng 4G đang được các nhà mạng lớn đầu tư, lắp đặt và thử nghiệm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Hầu hết các thiết bị được cung cấp từ hãng viễn thông hàng ZTE. Các nhà mạng lớn như Viettel, Vinaphone và MobiFone đã hoàn thành quá trính thử nghiệm và tiến đến thực hiện công đoạn tối ưu, triển khai thương mại tại các thành phố lớn. Khác với các công nghệ truy cập vô tuyến mạng 2G-GSM, 3G-WCDMA; mạng 4G-LTE sử dụng công nghệ OFDM cho tốc độ dữ liệu cao hơn nhiều mạng 3G, do đó một trong những ưu điểm và là thế mạnh vượt trội của 4G là tốc độ dữ liệu. Về lý thuyết, trong điều kiện lý tưởng, tốc độ dữ liệu đỉnh 4G LTE có thể đạt đến 300Mbps.

     

    3.1. Kết quả đo kiểm RSRP, LTE DL khu vực quận Sơn Trà Kết quả đo kiểm hai tham số RSRP và Download mạng

    4G LTE của nhà mạng VietNamMobile khu vực quận Sơn Trà như Hình 2 và 3.

     

    Dựa trên bảng đồ phổ màu đo kiểm cho thấy, tín hiệu 4G LTE hiện chưa phủ đều, nhiều vùng màu đỏ cho mức thu RSRP rất thấp (< -105dBm). Đặc biệt khu vực Vân Đồn, cầu Thuận Phước, khu phường Mân Thái và đường ra cảng Tiên Sa tín hiệu rất yếu [5, 7].

     

     

     

     

    Hình 2. Kết quả đo kiểm RSRP mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà

     

     

     

     

    Hình 3. Kết quả đo kiểm tốc độ Download mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà

     

    Kết quả đo kiểm cho thấy đi kèm chất lượng vùng phủ yếu là tốc độ dữ liệu rất thấp. Hình 5 cho thấy, có đến 73,2% vùng phủ thể hiện màu xanh nhạt và màu vàng tương ứng tốc độ dữ liệu đạt từ 1000Kbps đến 10.000Kbps. Tốc độ này còn rất thấp so với tốc độ dữ liệu trung bình của Việt Nam (21,49Mbps) và khu vực [8].

     

    30                                                                                                                                                                                         Phạm Văn Phát

     

    cùng sử dụng băng tầng U900 [5, 7].

     

     

     

     

    Hình 4. Vùng phủ PA1 và PA2 có tham số RSRP rất yếu

     

    3.2. Đánh giá vùng phủ và hiệu chỉnh thiết bị

     

    Trong giới hạn bài báo, tác giả chỉ trình bày phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp hiệu chỉnh hai vùng phủ có chất lượng tín hiệu thấp PA1(Problem Area), PA2 như Hình 4.

     

    Trong đó:

     

    • PA1: khu vực đường Dương Đình Nghệ – An Nhơn

    – Huy Du;

     

    • PA2: hai bên đường Võ Văn Kiệt, khu vực Mỹ Khê thuộc phường An Hải Đông.

    Bảng 4. RSRP vùng phủ PA1 và PA2

     

    No

    Clus-ter

    PA

    Problem

    Priority

    Status

     

    1

    DNG_2

    PA1

    RSRP < -105dBm

    Medium

    Open

     
                 

    2

    DNG_2

    PA2

    RSRP < -100dBm

    Medium

    Open

     
                 

    3.2.1. Vùng phủ PA1

     

    Vấn đề ở vùng phủ PA1 là tham số RSRP ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dịch vụ. Quan sát kết quả khảo sát và số liệu từ nhà mạng cho thấy chiều cao Anten

     

    • Site 215176 là 20, Anten ở Site 215094 cao 22m. Bên cạnh đó, đây là khu vực có nhiều tòa nhà cao tầng làm che chắn hướng sóng và gây ra sự suy giảm tín hiệu rất mạnh.

    Giải pháp khả thi cho vùng phủ PA1 là tăng công suất P-CPICH 215094_2 từ 33dBm -> 36dBm, tăng công suất P-CPICH 215176_1 từ 33dBm -> 39dBm và điều chỉnh góc nghiêng M-tilt từ 2 sang 1.

     

    3.2.2. Vùng phủ PA2

     

    Vấn đề của vùng phủ PA2 vẫn là RSRP thấp trên một diện tích bao phủ rộng. Quan sát kết quả DriverTest nhận thấy khu vực này không có một Sector nào hướng vào, khoảng cách các trạm lại khá lớn. Do vậy hướng hiệu chỉnh tạm thời là tăng công suất P-CPICH 215016_2 từ 33-> 39dBm và điều chỉnh góc phương vị(Azimuth) Site 215074_3 từ vị trí 250 sang 220 để hướng Sector 212 sang vùng PA2. Về lâu dài, khu vực này cần có thêm trạm mới

     

     

     

    Hình 5: Vùng phủ PA2 cần bổ sung thêm Site mới

     

    Tổng hợp các giải pháp hiệu chỉnh thiết bị áp dụng cho hai vùng phủ PA1 và PA2 như trong Bảng 5.

     

    Bảng 5. Các giải pháp hiệu chỉnh thiết bị cho

     

    vùng phủ PA1 và PA2

     

     

    Sector

    Site ID

     

    PA

    Probl-em

    Conte-nt

    Value

       

    Cur-rent

     

    New

                   
     

    215094_2

    215094

     

    PA1

    RSCP

    CPICH

    33

    36

       

    < -105

    PW

                   
                       
     

    215176_1

    215176

     

    PA1

    RSCP

    CPICH

    33

    39

       

    < -105

    PW

                   
                       
     

    215176_1

    215176

     

    PA1

    RSCP

    M-tilt

    2

    1

       

    < -105

                     
                       
     

    215074_3

    215074

    PA2

    RSCP

    Azimuth

    250

    220

     

    < -100

                       
     

    215016_2

    215016

     

    PA2

    RSCP

    CPICH

    33

    39

       

    < -100

    PW

                   
                       

    4.   Kết luận

     

    Tối ưu hóa vùng phủ là một quá trình được thực hiện liên tục, định kỳ nhằm khắc phục các vấn đề phát sinh trong quá trình vận hành, khai thác hạ tầng mạng. Tối ưu hóa cũng là giải pháp khai thác hiệu quả hạ tầng mạng, đáp ứng nhu cầu luôn biến động của người dùng, nâng cao chất lượng dịch vụ.

     

    Trong bài báo này tác giả trình bày các nghiên cứu về bộ chỉ số KPIs đo kiểm chất lượng vùng phủ mạng thông tin di động 4G LTE như chỉ số RSRP, RSRQ, SINR, tốc độ truy cập dữ liệu, tỉ lệ thành công các truy nhập, kết nối, tỉ lệ cuộc gọi thành công, tỉ lệ cuộc gọi bị rớt. Hai chỉ số đo kiểm được trình bày trong nghiên cứu này là RSRP và tốc độ Dowload dữ liệu (Throughput DL).

     

    Mô  hình nghiên cứu được thực  hiện dựa  trên các

     

    ISSN 1859-1531 – TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 17, NO. 1.2, 2019

    31

       

    số liệu và kết quả khảo sát mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà của nhà mạng VietNamMobile. Kết quả DriverTest cho thấy đây là khu vực có nhiều điểm cho chất lượng vùng phủ thấp. Việc đảm bảo chất lượng thỏa mãn các yêu cầu dịch vụ băng rộng trong điều kiện duy trì hạ tầng mạng như hiện nay là một thách thức, đặc biệt là sự biến động về hạ tầng đô thị cũng như mật độ thuê bao tăng nhanh.

     

    Nghiên cứu cũng đã đề xuất các giải pháp hiệu chỉnh, tối ưu mạng cho hai vùng phủ yếu PA1 và PA2. Về lâu dài, cần có các giải pháp tổng thể, trong đó cần thay đổi vị trí lắp đặt các trạm cũng như cho phép lắp đặt các trạm phát tại các tòa nhà cao tầng. Thay đổi chiều cao Anten, nhà trạm nhằm đảm bảo an toàn, mỹ quan đô thị, phù hợp môi trường đô thị có mật đô thuê bao cao, nhiều điểm mù.

     

    Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển tiềm năng Khoa học và Công nghệ của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng trong đề tài có mã số T2018-06-87

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Yanbo Fu, Na Qu, Haibin Hou, Yongxi Zhang, “Optimization of LTE Network Coverage”, Journal of Wireless Communication Technology, Whioce Publishing Pte. Ltd, May 2017
    • Oluyomi Simpson, Yichuang Sun, LTE RSRP, RSRQ, RSSNR and local topography profile data for RF propagation planning and network optimization in an urban propagation environment, Data Brief 16, August 2018
    • Floatway System, KPI in LTE Radio Network, Training Material, PT. Floatway Systems. Inc, January 2014
    • Trần Hoàng Diệu, Nghiên cứu xây dựng công cụ đo kiểm và đánh giá chất lượng dịch vụ di động 4G (LTE), Luận văn thạc sĩ công nghệ kỹ thuật điện tử – truyền thông, Đại học Công nghệ – Đại học quốc gia Hà Nội, 2016
    • Ngô Quang  Long,  Tối  ưu  vùng  phủ  mạng  thông  tin  di  động

    3G_WCDMA, Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Viễn thông, Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, 2014

     

    • Văn Quang Dũng, Nghiên cứu định hướng xây dựng các tiêu chuẩn phục vụ thiết lập, triển khai mạng di động công nghệ LTE tại Việt

    Nam, Viện Khoa học kỹ thuật bưu điện, 2015

     

    • VietNamMobile, 4G DNG 2 VNM LTE PA Test Report, VietNam Mobile Da Nang, Aprill 2018.
    • https://opensignal.com/reports/2018/02/state-of-lte

    (BBT nhận bài: 10/10/2018, hoàn tất thủ tục phản biện: 22/12/2018)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%ACm-ki%E1%BA%BFm-c%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-c%C3%B3-%C3%BD-ngh%C4%A9a-t%E1%BB%AB-c%C3%A1c-trang-web-h%E1%BB%8Fi-%C4%91%C3%A1p-c%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BB%93ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

    Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 10 (9/2017) tr 104 – 113

     

    TÌM KIẾM CÂU HỎI CÓ Ý NGHĨA

     

    TỪ CÁC TRANG WEB HỎI ĐÁP CỘNG ĐỒNG

     

    Nguyễn Văn Tú, Hoàng Thị Lam, Nguyễn Thị Thanh Hà13

    Trường Đại học Tây Bắc

     

    Tóm tắt: Các trang web hỏi đáp cộng đồng có chứa một lượng lớn thông tin hỏi – đáp có giá trị sinh ra bởi những người sử dụng. Trong các trang web hỏi đáp cộng đồng, người dùng có thể gửi các câu hỏi, trả lời các câu hỏi của người khác và cung cấp thông tin phản hồi cho những câu hỏi/câu trả lời. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng tiếp cận học máy nhằm tìm kiếm những câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng. Những câu hỏi này cùng với các câu trả lời tốt nhất của chúng sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng cho xây dựng cơ sở tri thức, truy hồi thông tin và hỏi đáp non – factiod. Nghiên cứu thực hiện trích rút những đặc trưng quan trọng từ mỗi luồng hỏi – đáp cũng như thông tin của người sử dụng và xây dựng mô hình phân loại để xác định được những câu hỏi có ý nghĩa. Các thực nghiệm được xây dựng trên tập dữ liệu trích rút từ trang web hỏi đáp cộng đồng Yahoo! Answer đã chỉ ra tính hiệu quả của phương pháp đề xuất của chúng tôi.

     

    Từ khóa: Hỏi đáp cộng đồng, hỏi đáp tự động, phân loại, support vector machine.

     

    1. Tổng quan

     

    Trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên và truy xuất thông tin, vấn đề hỏi – đáp đã thu hút nhiều sự chú ý trong những năm qua. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hỏi – đáp chủ yếu tập trung vào việc tìm câu trả lời chính xác cho câu hỏi factoid được trích rút từ các tài liệu liên quan. Đánh giá nổi tiếng nhất về nhiệm vụ hỏi – đáp factoid là hội nghị truy hồi văn bản (Text REtrieval Conference-TREC(1)). Các câu hỏi và câu trả lời được phát hành bởi TREC đã trở thành nguồn dữ liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống hỏi đáp tự động [10]. Tuy nhiên, khi phải đối mặt với các câu hỏi non – factoid như các câu hỏi về lý do tại sao, như thế nào,… hầu như không có hệ thống hỏi đáp tự động nào làm việc hiệu quả. Đồng thời chi phí của việc xây dựng dữ liệu huấn luyện với các câu hỏi non – factoid là quá cao. Trong các hệ thống này, chi phí của việc xây dựng dữ liệu lớn nhưng sau đó nó chỉ làm việc trong một miền cụ thể. Do đó việc trích rút các tri thức từ nguồn tài nguyên mở (thường là từ Internet) là một hướng tiếp cận thích hợp cho xây dựng các hệ thống hỏi đáp tự động miền mở.

     

    Các trang web hỏi đáp cộng đồng (community Question Answering – cQA) có chứa một lượng lớn nguồn tài nguyên phong phú là thông tin hỏi – đáp sinh ra bởi những người sử dụng. Trích rút các cặp câu hỏi-câu trả lời có ý nghĩa là nhiệm vụ quan trọng cho xây dựng cơ sở tri thức, truy hồi thông tin và hỏi đáp non-factiod. Tuy nhiên các cặp câu hỏi-câu trả lời trong các cQA này thường rất nhiễu, cả trong câu hỏi và các câu trả lời.

     

    Do đó trước khi sử dụng, các cặp câu hỏi – câu trả lời này cần phải được phân loại. Việc phân loại này giúp người dùng xây dựng được kho dữ liệu là các cặp câu hỏi – câu trả lời có ý nghĩa. Nhóm tác giả đã tìm hiểu về các nghiên cứu liên quan và thấy rằng các nghiên cứu

     

    13Ngày nhận bài: 22/01/2017. Ngày nhận kết quả phản biện: 10/03/2017 Ngày nhận đăng: 20/9/2017

     

    Liên lạc: Nguyễn Văn Tú, e – mail: [email protected]

     

    • http://trec.nist.gov/

     

     

    104

     

    trước đây thường chỉ tập trung vào việc tìm kiếm câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi [2, 6, 9]. Tuy nhiện, nghiên cứu này sử dụng tiếp cận học máy nhằm tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa từ các dữ liệu hỏi đáp thu thập từ các cQA. Để tìm kiếm được các câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA, bài báo này đề xuất sử dụng sự kết hợp của nhiều loại đặc trưng quan trọng trích rút từ mỗi luồng hỏi đáp cũng như thông tin của người gửi câu hỏi/câu trả lời và xây dựng mô hình phân loại để xác định được các câu hỏi có ý nghĩa.

     

    Bài báo này được tổ chức như sau: Phần 2 trình bày về tiếp cận của nhóm tác giả trong việc giải quyết bài toán; Phần 3 trình bày về các đặc trưng được sử dụng; Phần 4 là các thực nghiệm và các kết quả nghiên cứu; Kết luận và hướng phát triển được trình bày trong Phần 5.

     

    2. Cách tiếp cận của chúng tôi về tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa

     

    2.1. Bài toán tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa

     

    Việc tìm kiếm những câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA là nhằm xây dựng được các câu hỏi có ý nghĩa trong một tập rất lớn các luồng hỏi – đáp. Vì vậy, nghiên cứu này coi vấn đề tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA như là một vấn đề phân loại nhị phân và được phát biểu như sau:

     

    Cho một tập Q = {q1, q2, …, qn} các câu hỏi trích rút từ các luồng hỏi – đáp trên các cQA. Việc phân loại các câu hỏi trong Q chính là gán nhãn cho các câu hỏi {q1, q2, …, qn} các nhãn tương ứng là {l1, l2, …, ln} trong đó li = “Good” nếu qi là câu hỏi có ý nghĩa, li = “Bad” nếu qi không phải là một câu hỏi có ý nghĩa.

     

    2.2. Thuật toán phân loại câu hỏi

     

    Có nhiều bộ phân loại khác nhau đã được sử dụng để phân loại các dữ liệu văn bản như: Support Vector Machine, Naive Bayes, Maximum Entropy Models, Sparse Network of Winnows,… Tuy nhiên trong các bộ phân loại đó thì Support Vector Machine được xem là hiệu quả hơn cả [1, 3, 4]. Trong vấn đề phân loại câu hỏi, mỗi câu hỏi được coi như là một văn bản ngắn và được biểu diễn trong mô hình không gian vecto có số chiều rất lớn, điều này có thể được phân loại tốt bởi Support Vector Machine.

     

    Tuy nhiên, dữ liệu trong nghiên cứu này là các dữ liệu thu thập từ các cQA, các dữ liệu chưa được gán nhãn. Vì vậy, thuật toán phân loại bán giám sát SVM (semi-supervised Support Vector Machines) đã được sử dụng, đây là thuật toán phân loại bán giám sát được xây dựng từ thuật toán phân loại có giám sát Support Vector Machine.

     

    Trong semi-supervised Support Vector Machines, tập dữ liệu huấn luyện gồm hai phần, x là phần dữ liệu huấn luyện gồm n dữ liệu đã được gán nhãn là yi ( yi Î {+1, -1}) và x* là phần

     

    dữ liệu huấn luyện gồm k dữ liệu chưa được gán nhãn

    *

    *

    Î {+1, -1}) . Mục đích của thuật

    y j

    (y j

    toán semi-supervised Support Vector Machines là gán nhãn cho k dữ liệu chưa gán nhãn này. Mỗi dữ liệu được xem như một điểm trong không gian vecto. Mỗi điểm i thuộc phần dữ liệu đã gán nhãn có một sai số là xi và mỗi điểm j thuộc phần dữ liệu chưa gán nhãn sẽ có sai số là

     

    105

     

    *

    . Thuật toán semi-supervised Support Vector Machines sẽ giải bài toán tối ưu sau thay cho

    x j

    bài toán tối ưu ở thuật toán SVM.

     

    argmin

    1

     

    2

    n

       

    n +k

     
       

    w

    + Cå

    xi +C

    *

    å

    x j

    w,x , x

                   

    *

    , y

    ,b

    2

       

    i=1

       

    j =n+1

     

    *

    *

                     

    (1)

     

    Thỏa mãn các điều kiện:

    i

    (

    i

    )

     

    i

     

    y

       

    w.x b

     

    ³

    1 –x

     

    y

     

    (w.x b ) ³ 1 –x

     

    *

               
     

    j

     

    i

    {

    i

     

    i

         

    }

     

    x ³ 0, ” i Î

    1,…, n

    }

         

    {

    + 1,…,n + k

    x* ³ 0,” j Î n

     

    j

                 

    Trong đó CC* là các tham số phạt của các dữ liệu đã gán nhãn và các dữ liệu chưa gán nhãn.

     

    Nghiên cứu này sử dụng thuật toán semi-supervised Support Vector Machines đã được cài đặt bởi Vikas Sindhwani và các tác giả trình bày trong [7, 8].(2)

     

    2.3. Hiệu suất trong phân loại câu hỏi

     

    Để đánh giá hiệu suất của việc phân loại các câu hỏi, chúng tôi sử dụng các độ đo precision, recall, F1-measure, accuracy được định nghĩa như dưới đây. Để ước lượng các độ đo này có thể dựa vào Bảng 1.

     

    Bảng 1. Các kết quả dự đoán của phân loại

     

     

    Label

    Label

     

    y* = +1

    y* = -1

         

    Prediction f(x*) = +1

    TP

    FP

    Prediction f(x*) = -1

    FN

    TN

         

    Mỗi ô trong bảng đại diện cho một trong bốn kết quả đầu ra có thể của một dự đoán f(x*). Trong đó:

     

    TP (True Positive): Số lượng các câu hỏi positive được phân loại đúng.

     

    TN (True Negative): Số lượng các câu hỏi negative được phân loại đúng.

     

    FP (False Positive): Số lượng các câu hỏi positive bị phân loại sai.

     

    FN (False Negative): Số lượng các câu hỏi negative bị phân loại sai.

     

    Precision được định nghĩa như là xác suất mà một dữ liệu phân loại là f(x*) = +1 là một phân loại đúng. Nó được ước lượng như sau:

     

    • http://vikas.sindhwani.org/svmlin.html

    106

     

    Precision

     

    p =

    TP

     

    Tp + FP

     
     

    (2)

     

    Recall được định nghĩa như là xác suất mà một dữ liệu với nhãn là y* = +1 đã được phân loại đúng, được ước lượng như sau:

     

    Recall

     

    r =

    TP

     

    TP + FN

     
     

    (3)

     

    • = 2* p*r

    F   measure

    1p + r

     

    Accuracy =

    TP +TN

       

    TP + FP + Tn

    + FN

     
     

    (4)

     

    (5)

     

    3. Các đặc trƣng trong phân loại câu hỏi

     

    Trong phân loại câu hỏi trích rút từ các cQA, tập các đặc trưng khác nhau có thể được sử dụng. Các đặc trưng trong phân loại câu hỏi có thể được phân thành 3 loại khác nhau: Các đặc trưng về từ vựng, các đặc trưng về cú pháp và các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng (người gửi câu hỏi/câu trả lời, người đánh giá câu trả lời). Mỗi câu hỏi trong các cQA gồm 2 phần: Chủ đề hỏi (QSubject) và phần mô tả ngắn nội dung câu hỏi (QContent). Phần chủ đề hỏi và phần mô tả nội dung câu hỏi được coi như là một câu hỏi duy nhất gồm nhiều câu [5]. Bảng 2 là một ví dụ về câu hỏi trong cQA Yahoo!Answer.

     

    Bảng 2. Ví dụ về câu hỏi trong trang web cQA Yahoo!Answer

     

    Chủ đề hỏi hỏi

    Nội dung câu hỏi

       

    Body massage

    Hi there, i can see a lot of massage center here, but i dont know

     

    which one is better. can someone help me which massage center

     

    is good… and how much will it cost me? thanks

       

    3.1. Các đặc trưng từ vựng

     

    Đặc trưng n-gram: Các đặc trưng n-gram của một câu hỏi thường được trích rút dựa trên ngữ cảnh của các từ của câu hỏi, nghĩa là, các từ đó xuất hiện trong một câu hỏi. Trong phân loại câu hỏi, một câu hỏi được biểu diễn giống như sự biểu diễn tài liệu trong mô hình không gian vecto. Một câu hỏi x có thể được biểu diễn như sau:

     

    x = x1, x2,…, xN

    (6)

    trong đó xi là tần số xuất hiện của từ i trong câu hỏi xN là tổng số các từ trong x. Do tính thưa thớt của các đặc trưng, chỉ các đặc trưng có giá trị khác không mới được giữ lại trong véc tơ đặc trưng. Bởi vậy các câu hỏi cũng được biểu diễn dưới hình thức sau:

     

    x = {(t1, f1),…, (tp, fp)}

    (7)

    trong đó ti là từ thứ i trong câu hỏi xfi là tần số xuất hiện của ti trong câu hỏi x. Không gian đặc trưng này được gọi là các đặc trưng bag-of-words hoặc là unigrams. Unigrams là một trường hợp đặc biệt của cách gọi các đặc trưng n-gram. Để trích rút các đặc trưng n-gram, bất

     

    107

     

    kì n từ nào liên tiếp trong một câu hỏi đều được coi là một đặc trưng. Bảng 3 là danh sách các đặc trưng n-gram của câu hỏi “How many Grammys did Michael Jackson win in 1983?”.

     

     

    Bảng 3. Ví dụ về các đặc trƣng từ vựng

       

    Tên đặc trưng

    Đặc trưng

       

    Unigram

    {(How, 1) (many, 1) (Grammys, 1) (did, 1) (Michael, 1) (Jackson, 1) (win, 1) (in, 1)

     

    (1983, 1) (?, 1)}

    Bigram

    {(How-many, 1) (many-Grammys, 1) (Grammys-did, 1) (did-Michael, 1) (Michael-

     

    Jackson, 1) …(1983-?, 1)}

    Trigram

    {(How-many-Grammys, 1) (many-Grammys-did, 1) …(in-1983-?, 1)}

       

    Số từ trong câu hỏi: Trong phân loại câu hỏi, nghiên cứu cũng sử dụng số từ của mỗi câu hỏi như là một đặc trưng để phân loại. Dữ liệu thực tế trong các cQA cho thấy rằng những câu hỏi chứa ít hơn 5 từ thường là những câu hỏi nhiễu, không mang ý nghĩa.

     

    Số câu (sentence) trong câu hỏi: Mỗi câu hỏi trong cQA thường là một đoạn văn bản ngắn gồm nhiều câu trình bày những thông tin mà người gửi câu hỏi muốn hỏi. Nghiên cứu này sử dụng số câu trong mỗi câu hỏi như là một đặc trưng dùng để phân loại. Những câu hỏi gồm nhiều câu thường mang thông tin đầy đủ của câu hỏi, tuy nhiên nó lại chứa nhiều thông tin nhiễu khó phân loại.

     

    Số lượng stop word trong câu hỏi: Stop word là những từ quá phổ biến, quá chung chung (ví dụ một số stop word trong tiếng Anh: The, a, and, …). Mỗi câu hỏi của người dùng thường chứa các từ stop word. Số lượng các từ stop word trong mỗi câu hỏi được sử dụng là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    Từ để hỏi: Nghiên cứu sử dụng từ để hỏi (từ để hỏi là một trong các từ: What, Who, When, Why, Where, How) như là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    3.2. Các đặc trưng cú pháp

     

    Các đặc trưng cú pháp có thể được trích rút dựa vào việc phân tích cấu trúc cú pháp của câu hỏi.

     

    Tagged Unigrams: Tagged Unigrams cho biết thẻ từ loại của mỗi từ trong câu hỏi như

     

    • (Noun – danh từ), NP (Noun Phrase – cụm danh từ), VP (Verb Phrase – cụm động từ), JJ (adjective – tính từ), … Ví dụ câu hỏi sau “How many Grammys did Michael Jackson win in

    1983?” với Tagged Unigrams của nó:

     

    How_WRB many_JJ Grammys_NNPS did_VBD Michael_NNP Jackson_NNP win_VBP in_IN 1983_CD?_.

     

    Số thực thể trong câu hỏi: Số lượng thực thể trong mỗi câu hỏi được sử dụng như là một đặc trưng cú pháp để phân loại câu hỏi.

     

    Số danh từ trong câu hỏi: Nghiên cứu sử dụng số lượng các danh từ trong mỗi câu hỏi như là một đặc trưng cú pháp dùng để phân loại câu hỏi.

     

    108

     

    3.3. Các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng

     

    Số câu hỏi của người hỏi: Trên mỗi cQA, mỗi người có thể gửi nhiều câu hỏi mà họ cần sự giải đáp của cộng đồng người sử dụng cQA. Những người thường xuyên gửi câu hỏi thì các câu hỏi của họ thường mang nhiều ý nghĩa hơn cho cộng đồng. Do đó, nghiên cứu này sử dụng số lượng câu hỏi của người hỏi như là một đặc trưng trong việc giải quyết bài toán phân loại câu hỏi.

     

    Số câu trả lời của người hỏi: Những người thường xuyên tham gia hỏi đáp trên cQA thì thường những câu hỏi cũng như câu trả lời của họ sẽ mang nhiều ý nghĩa hơn. Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất sử dụng số lượng câu trả lời của người hỏi như là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    Số câu trả lời của câu hỏi: Mỗi câu hỏi khi được đăng lên cQA có thể nhận được nhiều câu trả lời của những người quan tâm. Số lượng câu trả lời cho câu hỏi này thể hiện sự quan tâm của người dùng đối với các vấn đề mà câu hỏi đang đề cập tới. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng số lượng câu trả lời của mỗi câu hỏi như là một đặc trưng nhằm đánh giá tầm quan trọng của câu hỏi.

     

    Số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi: Khi một câu hỏi được đăng lên có thể nhận được nhiều câu trả lời của người dùng. Người dùng cũng có quyền đánh giá câu trả lời nào đó là câu trả lời tốt nhất. Một câu hỏi mà câu trả lời của nó nhận được nhiều đánh giá thì thường là một câu hỏi có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng số lượng đánh giá của câu trả lời như là một đặc trưng để phân loại câu hỏi của nó.

     

    4. Các thực nghiệm và kết quả

     

    4.1. Tập dữ liệu

     

    Để thực hiện các thực nghiệm của mình, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ trang web hỏi đáp cộng đồng Yahoo!Answer(3). Tập dữ liệu này chứa 3.000 câu hỏi cùng với 9.895 câu trả lời và các thông tin liên quan đến câu hỏi/câu trả lời và thông tin về người gửi câu hỏi – câu trả lời. Tất cả các cặp câu hỏi-câu trả lời đều được trình bày bằng ngôn ngữ tiếng Anh.

     

    4.2. Các thực nghiệm và kết quả

     

    Để cài đặt các thực nghiệm của mình, nghiên cứu chia tập dữ liệu thành hai tập con testtraining. Tập test gồm 300 câu hỏi được sử dụng làm tập dữ liệu kiểm tra, tập training gồm 2700 câu hỏi được sử dụng làm tập dữ liệu huấn luyện.

     

    4.2.1. Thực nghiệm 1

     

    Thực nghiệm 1 chỉ sử dụng các đặc trưng từ vựng trích rút từ các câu hỏi trong tập dữ liệu. Các đặc trưng này gồm: Đặc trưng Unigram, Bigram, số từ trong câu hỏi, số sentence trong câu hỏi, số lượng stop word trong câu hỏi, từ để hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 1 được trình bày trong Bảng 4.

     

    • https://answers.yahoo.com/

    109

     

    Bảng 4. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng từ vựng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy (%)

    Precision (%)

    Recall (%)

    F1-measure (%)

             

    Unigram

    54,67

    57,05

    56,33

    56,69

    Bigram

    46,00

    48,75

    49,37

    49,06

    Số từ trong câu hỏi

    50,00

    52,25

    58,86

    55,36

    Số câu trong câu hỏi

    46,57

    49,45

    56,96

    52,94

    Số lượng stop word

    49,67

    52,02

    56,96

    54,38

    Từ để hỏi

    47,33

    22,95

    50,00

    34,17

    Tất cả đặc trưng trên

    55,33

    61,39

    57,06

    59,14

             

    4.2.2. Thực nghiệm 2

     

    Thực nghiệm 2 chỉ sử dụng các đặc trưng cú pháp trích rút từ các câu hỏi trong tập dữ liệu. Các đặc trưng này gồm: Đặc trưng Tagged Unigrams, số thực thể trong câu hỏi, số danh từ trong câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 2 được trình bày trong Bảng 5.

     

    Bảng 5. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng cú pháp

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy (%)

    Precision (%)

    Recall (%)

    F1-measure (%)

             

    Tagged Unigrams

    53,00

    55,63

    53,16

    54,37

    Số thực thể trong câu hỏi

    50,33

    52,26

    65,82

    58,26

    Số danh từ trong câu hỏi

    50,00

    52,33

    56,96

    54,55

    Tất cả đặc trưng trên

    55,67

    58,74

    53,16

    55,81

             

    4.2.3. Thực nghiệm 3

     

    Thực nghiệm 3 chúng tôi muốn kiểm tra tính hiệu quả của các đặc trưng tính toán dựa vào thông tin của người dùng. Các đặc trưng này gồm: số câu hỏi của người hỏi, số câu trả lời của người hỏi, số câu trả lời của câu hỏi, số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 3 được cho trong Bảng 6.

     

    Bảng 6. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng dựa trên thông tin ngƣời dùng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy

    Precision

    Recall

    F1-measure

     

    (%)

    (%)

    (%)

    (%)

     
     
               

    Số câu hỏi của người hỏi

    71,00

    72,33

    72,78

    72,55

     

    Số câu trả lời của người hỏi

    49,67

    68,42

    8,23

    14,69

     

    Số câu trả lời của câu hỏi

    79,00

    96,12

    62,66

    75,86

     

    Số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi

    89,67

    91,13

    89,44

    90,28

     

    Tất cả đặc trưng trên

    90,67

    92,41

    90,12

    91,25

     
               

    110

     

    4.2.4. Thực nghiệm 4

     

    Thực nghiệm 4 kiểm tra sự đóng góp của tất cả các loại đặc trưng: Đặc trưng từ vựng, đặc trưng cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng. Chính vì vậy nghiên cứu kết hợp tất cả các loại đặc trưng này trong việc phân loại câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 4 được trình bày trong Bảng 7.

     

    Bảng 7. Kết quả phân loại khi sử dụng sự kết hợp của nhiều loại đặc trƣng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy

    Precision

    Recall

    F1-measure

     

    (%)

    (%)

    (%)

    (%)

     
     
               

    Các đặc trưng từ vựng

    55,33

    61,39

    57,06

    59,14

     

    Các đặc trưng cú pháp

    55,67

    58,74

    53,16

    55,81

     

    Các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng

    90,67

    92,41

    90,12

    91,25

     

    Tất cả đặc trưng trên

    91,67

    93,67

    90,79

    92,21

     
               

    Từ các kết quả của các thực nghiệm trên đã cho thấy vai trò của việc sử dụng mỗi loại đặc trưng khác nhau trong phân loại câu hỏi. Kết quả của các thực nghiệm 1, 2, 3 cho thấy việc phân loại câu hỏi cần sự kết hợp của nhiều loại đặc trưng khác nhau. Đồng thời trong các thực nghiệm này cũng cho thấy các đặc trưng trích rút từ thông tin người sử dụng sẽ cho kết quả phân loại cao nhất. Thực nghiệm 4 là sự tổng hợp của các thực nghiệm 1, 2, 3 khi sử dụng kết hợp tất cả các đặc trưng từ vựng, cú pháp và đặc trưng trích rút từ thông tin người dùng. Kết quả của thực nghiệm này cho thấy sự kết hợp của các loại đặc trưng khác nhau mà nghiên cứu sử dụng sẽ cho kết quả phân loại cao nhất. Biểu đồ 1 so sánh tầm quan trọng của các loại đặc trưng khác nhau trong phân loại câu hỏi trong các cQA.

     

     

     

    Biểu đồ 1. So sánh vai trò của các loại đặc trƣng trong phân loại câu hỏi

     

    111

     

    5. Kết luận và hƣớng phát triển

     

    Nghiên cứu đã trình bày một tiếp cận dựa trên học máy để phân loại câu hỏi trong các cQA. Để huấn luyện một thuật toán học, nhóm tác giả đã trích rút một tập các đặc trưng tốt từ từ vựng, cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng. Các kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng các đề xuất sẽ mạng lại hiệu quả cao trong vấn đề tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa trong các cQA. Việc kết hợp của tất cả các loại đặc trưng từ vựng, cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng sẽ cho hiệu suất phân loại cao nhất. Nghiên cứu tiếp theo sẽ tìm ra phương pháp để kết hợp các đặc trưng tốt hơn nhằm đạt được sự phân loại có độ chính xác cao hơn.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Zhiheng Huang, Marcus Thint, and Zengchang Qin (2008). Question classification using head words and their hypernyms, In Proceedings of the Conference on Empirical Methods in Natural Language Processing, (EMNLP ’08), pp. 927-936.
    • Hu, B. Liu, B. Wang, M. Liu, X. Wang (2013). Multimodal DBN for predicting high-quality answers in cQA portals, In Proceedings of ACL, pp. 843-847.
    • Vijay Krishnan, Sujatha Das, and Soumen Chakrabarti (2005). Enhanced answer type inference from questions using sequential models, In Proceedings of the conference on Human Language Technology and Empirical Methods in Natural Language Processing, HLT ’05, pp. 315-322.
    • Babak Loni, Gijs van Tulder, Pascal Wiggers, David M. J. Tax, and Marco Loog (2011). Question classification with weighted combination of lexical, syntactical and semantic features, In Proceedings of the 15th international conference of Text, Dialog and Speech, pp. 243-250.
    • Vinay Pande, Tanmoy Mukherjee, Vasudeva Varma (2013). Summarizing Answers For Community Question Answer Services, The International Conference of the German Society for Computational Linguistics and Language Technology, pp. 151-161.
    • Shah, J. Pomerantz (2010). Evaluating and predicting answer quality in community QA, In Proceedings of SIGIR.
    • Vikas Sindhwani, S. Sathiya Keerthi (2007). Newton Methods for FastSolution of Semisupervised Linear SVMs, Large Scale Kernel Machines, MIT Press, pp. 155-174.
    • Vikas Sindhwani, S. Sathiya Keerthi (2006). Large Scale Semi-supervised Linear SVMs, SIGIR’06, pp. 477-484.
    • Toba, Z. Y. Ming, M. Adriani, T. Chua (2014). Discovering high quality answers in community question answering archives using a hierarchy of classifiers, Information Sciences, 261: 101-115.
    • Zeyi Wen, Rui Zhang, Kotagiri Ramamohanarao (2014). Enabling Precision/Recall Preferences for Semi-supervised SVM Training, CIKM’14, pp. 421-430.

    112

     

    FINDING MEANINGFUL QUESTIONS FROM COMMUNITY QUESTION ANSWERING WEBSITES

     

    Nguyen Van Tu, Hoang Thi Lam, Nguyen Thi Thanh Ha Tay Bac University

     

    Abstract: The community question answering websites contains a large amount of question – answer information valuable generated by the users. In the community question answering websites, users can post questions, answer other people’s questions, and provide feedbacks to the questions / answers. In this study, we use machine learning approach in order to find meaningful questions from the community question answering websites. These questions, along with their best answers will be an important data source for building the knowledge base, information retrieval and non-factiod question answering. The extracted important features from each question research – answer thread as well as information of the user and built a classification model to identify meaningful questions. The experiments are established on dataset extracted from the community question answering websites Yahoo! The answers have shown the effectiveness of the method proposed by us.

     

    Keywords: Automated question answering, community question answering, classification, support vector machine.

     

     

     

     

     

     

    113


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%E1%BA%ACP-CH%C6%AF%C6%A0NG-TR%C3%8CNH-B%E1%BA%B0NG-NG%C3%94N-NG%E1%BB%AE-PASCAL-T%C3%8DNH-G%E1%BA%A6N-%C4%90%C3%9ANG-T%C3%8DCH-PH%C3%82N-X%C3%81C-%C4%90%E1%BB%8ANH-B%E1%BA%B0NG-C%C3%94NG-TH%E1%BB%A8C-SIMPSON.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 6 (9/2016) tr 50 – 58

     

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

     

    Đoàn Vĩnh Ngọc, Hoàng Hiến, Trương Quốc Huấn Khoa Tự nhiên, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Tóm tắt: Phần lớn các tích phân xác định của một hàm số đều khó có thể tìm được giá trị đúng. Thay bằng việc tính giá trị đúng của một tích phân xác định, thì tin học có thể giúp ta tính được gần đúng tích phân xác định với một sai số e (đủ nhỏ) nào đó. “Lập chương trình bằng ngôn ngữ Pascal tính gần đúng tích phân xác định bằng công thức Simpson” là một hướng dùng máy tính và ngôn ngữ lập trình để thay con người giải quyết bài toán về tích phân xác định một cách hữu hiệu nhất.

     

    Từ khóa: Tích phân, gần đúng, hàm số, lập trình, ngôn ngữ Pascal, công thức SIMPSON.

     

    1. Đặt vấn đề

     

     

    Như đã biết, nếu hàm số hàm số f ( x ) trên đoạn [a, b] thì

     

    f ( x ) liên tục trên đoạn [a, b] và F ta có công thức Newton – Leibnitz

     

    ( x ) là một nguyên hàm của như sau:

     

    b

       

    ò f ( x ) d x  = F ( x )

    b

    = F ( b ) – F ( a ) ,

    a

    a

       

    trong đó

    F ‘( x ) = f ( x ) .

     

    Trong thực tế ta thường phải tính tích phân xác định của hàm số f ( x ) được cho bởi bảng giá trị, khi đó khái niệm nguyên hàm không có ý nghĩa. Mặt khác số lớp hàm f ( x ) mà ta có thể tính được nguyên hàm của nó là rất ít. Phần lớn các biểu thức giải tích của hàm số f ( x ) đã biết nhưng nguyên hàm F ( x ) của nó không thể biểu diễn được bằng hàm số sơ cấp. Trong trường hợp ấy không thể dùng công thức Newton – Leibnitz để tính được tích phân xác định.

     

    Với các hàm số không tính được nguyên hàm, hay việc tính nguyên hàm của nó gặp nhiều khó khăn, thì thay bằng việc tính chính xác tích phân xác định của hàm số, ta đi tính gần đúng tích phân xác định của hàm số đó.

     

    Để tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số ta có thể dùng công thức hình thang hoặc công thức Simpson. Nhưng khi dùng công thức Simpson thì độ chính xác cao hơn hay sai số nhỏ hơn. Vậy “Lập chương trình bằng ngôn ngữ Pascal tính gần đúng tích phân xác định bằng công thức Simpson” không chỉ là cách tính gần đúng tích phân xác định với độ chính xác cao mà còn là cách dùng máy tính thay con người giải quyết dạng bài toán này.

     

    2. Nội dung

     

    2.1. Một số khái niệm cơ bản

     

    2.1.1. Định nghĩa tích phân

     

    Cho hàm số y = f ( x ) xác định trên đoạn [a , b ] . Chia tùy ý đoạn này thành n phần bằng các điểm chia (và gọi là một phân hoạch):

     

    a  = x 0  < x 1  < . . . < x i  < x i + 1  < . . . . < x n 1  < x n   = b .

     

    Ngày nhận bài: 5/7/2016. Ngày nhận đăng: 25/9/2016

    Liên lạc: Đoàn Vĩnh Ngọc, e – mail: [email protected]

     

    50

     

    Ta ký hiệu

    D x

    i

         

    mỗi đoạn

    D x i  , ta lấy

           

    (i = 0 , n – 1)     vừa là đoạn [ x i , x i + 1 ]  vừa là độ dài của đoạn thẳng đó. Trên

    tùy ý một điểm x     rồi lập tổng (gọi là tổng tích phân):

    i

     

    • -1

    s = å f ( x ) D x  .

    i        i

     

    i = 0

     

    Rõ ràng tổng này phụ thuộc vào phép chia đoạn [ a , b ]

     

    nhất của các đoạn D x  (i = 0 , n – 1)  (ký hiệu là l ) được gọi

    i

    cho độ dài của tất cả các đoạn D x   tiến tới 0 chỉ cần l ® 0 .

    i

     

    Khi đó giới hạn của tổng tích phân khi

    l ®

    0

    :

    và cách chọn điểm x . Độ dài lớn i

     

    đường kính của phân hoạch. Để

     

    • = li m s
      • ® 0

    có nghĩa là:

     

    Với mọi e > 0  tìm được d > 0

     

    kính nhỏ hơn d ), bất đẳng thức s – I

     

    Định nghĩa:

     

    Giới hạn I của tổng tích phân hoặc tích phân Riemann – của hàm số

     

    sao cho chỉ cần l < d (tức là mọi phân hoạch có đường < e được thỏa mãn với bất kỳ cách chọn các điểm x .

    i

     

    s khi l ® 0 , nếu có, được gọi là tích phân xác định – f ( x ) trên đoạn [ a , b ] và ký hiệu:

     

     

    b

    n -1

         

    I =

    ò f ( x ) d x  = li m

    å

    f ( x i

    ) D x

    i .

     

    l ® 0

    i = 0

         
     

    a

         
             

    Khi đó ta nói hàm số trên của tích phân [3, 190].

    2.1.2. Sai số

     

    2.1.2.1. Số xấp xỉ

    f

    ( x )

    khả tích trên đoạn

    [ a , b ]

    , a và b tương ứng là cận dướicận

     

     

    Định nghĩa: Ta gọi a gọi là số xấp xỉ của số đúng A, ký hiệu a » A , nếu a khác A không đáng kể và được dùng thay cho A trong tính toán.

    Nếu a<A thì a gọi là xấp xỉ thiếu của A. Nếu a>A thì a gọi là xấp xỉ thừa của A [1, 5].

     

    2.1.2.2. Sai số tuyệt đối

     

    Định nghĩa: Hiệu D a = A – a (hoặc D a = a – A ) gọi là sai số của số xấp xỉ a. Trị tuyệt đối D =  D a  =  A – a  gọi là sai số tuyệt đối của số xấp xỉ a [1, 6].

     

    Định nghĩa: Sai số tuyệt đối giới hạn của số xấp xỉ a là số không nhỏ hơn sai số tuyệt đối của số xấp xỉ a [1, 6].

     

    2.1.2.2. Sai số tương đối

     

    Định nghĩa: Sai số tương đối của số xấp xỉ a, ký hiệu  d , là:

     

    thiết

    A  ¹ 0 .

               
     

    Từ đó D =

    A  .d [1, 7].

             
     

    Định nghĩa: Sai số tương đối giới hạn của số xấp xỉ a, ký hiệu

    sai số tương đối của số xấp xỉ a. Do đó:

    d £ d a  nghĩa là

    D

    £ d

     

    .

    A

    a

                 
     

    Từ đó: D £

    A  .d a   và có thể chọn

             
         

    D a   = A  .d a   [1, 7].

       
    • =
    • a

    D

    =

    A – a

    với giả

     

    A

    A

         

    là số không nhỏ hơn

     

    2.2. Công thức Simpson và sai số

     

    51

     

    Để tính gần đúng

    b

    • f ( x ) d x

    a

    ta chia

    • a , b ]

    thành hai đoạn bằng nhau bởi các điểm chia

     

    x

     

    =

    a , x

     

    = a +

    b – a

    = a

    + h , x

     

    = b = a +

     

    0

    1

    2

    2

                         
                               

    thức

    nội   suy   Newton

    tiến

     

    bậc

     

    C ( x 1

    = a + h , y 1

    = f ( x 1 ) )

    B ( x 2

    =

    a + 2

     

    nút trùng với cận dưới a

    = x

    0 , ta có

       
                           

    b

       

    2 h  và thay hàm số dưới dấu tích phân

    f ( x )

    bằng đa

     

    hai

     

    (đi   qua

    ba   điểm

    A ( x 0   =

    a , y 0

    = f ( x 0 ) ) ,

    h

    = b , y

    2   = f ( x 2 ) )

    có hoành độ đều nhau) xuất phát từ

     

    x

    2

    x

    2

         
               

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ò

    P 2 ( x ) d x .

    a

     

    x

    0

       

    x

    0

     
                 

    Để tính được tích phân xác định ở vế phải, ta đổi biến số biến thiên từ 0 đến 2 và ta được

    x

    =

     

    x

    0

     

    +

    h t

    . Khi đó dx = hdt, t

     

    b

     

    x 2

       

    2

    æ

               

    t ( t – 1)

         

    ò f ( x ) d x

                             

    2

     

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ò ç y

     

    +

    t D y 0

    +

             

    D

    y 0

    0

       

    2

         

    a

     

    x

    0

       

    0

    è

                             
                                         
                                               
           

    æ

       

    t

    2

     

    1

         

    æ

    t

    3

     

    t

    2

    ö ö

     

    t = 2

                             
                                           
     

    = h ç y 0 t + D y

         

    +

     

    D

    2

    y 0

    ç

       

       

    ÷ ÷

       
     

    0

    2

    2

     

    3

    2

       
           

    è

               

    è

     

    ø ø

     

    t = 0

                                               

    ö

    h d t

    ÷

    ø

     

    ,

     

    trong đó:

     

    Vậy:

     

           

    D y

    0

    =

     

    y

    1

    – y

    0

    ;

             
                                       
           

    D

    2

    y

     

    = D y

     

    – D y

     

    =

    y

     
             

    0

    1

    0

    2

                                     

    b

     

    x 2

                 

    h

                   

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ( y 0

    + 4 y

     

    +

    3

    1

    a

     

    x

                                   
     

    0

                                     
                                           

     

    y

     

    y

    1

     
    • )

    – ( y

    1

    – y

    0

    ) =

    y

    2

    – 2 y

    1

    + y

    0

    .

                 

    (1)

     

    Về mặt hình học, (1) có nghĩa là diện tích hình thang cong a A C B b đường cong y = f ( x ) đi qua ba điểm A, C, B) được thay xấp xỉ bằng diện

     

    cong a A C B b ( A C B là cung parabol  y = P  ( x )  đi qua ba điểm A, C, B). Nói

    2

     

    cong y = f ( x ) đi qua ba điểm A, C, B được thay xấp xỉ bởi đường Parabol y ba điểm A, C, B (Hình 1).

    ( A C B là cung tích hình thang

     

    khác đi, đường

     

    = P ( x ) đi qua 2

     

    y

    y=f(x)

     

    y=P2(x)

    A

    C

     

    B

    h           h

     

    • x0=a x1 x2=b x Hình 1

    Công thức (1) được gọi là công thức Simpson.

     

    52

     

         

    b

     

    h

         

    Để xác định sai số:

     

    =

    ò

    f ( x ) d x –

    + 4 y 1

    + y 2 ) , ta giả thiết rằng hàm số

    y

    R

    ( y 0

           

    3

         
         

    a

           
                   

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên [a, b]. Cố định điểm giữa x1 và xem R là hàm số của h ( h

    • f (
    • 0

    x )

     

    ):

     

     

    x

    1

    + h

     

    h

         
                 
     

    = R ( h ) =

    ò

    f ( x ) d x –

     

    – h ) + 4 f ( x 1 ) + f ( x 1

    + h ) ] .

    R

    [ ( f ( x

    1

     

    x

     

    – h

     

    3

         
     

    1

             
                   

    Đạo hàm ba lần theo h đẳng thức trên, ta có

     

    R ‘( h )

    =

    f ( x

     

    + h )

    + f ( x

     

    – h )

    1

    [ f ( x

       

    – h ) +

     

    4 f ( x

     

    ) + f ( x

             

    h

    [ – f

    ‘( x

     

    1

    1

    3

    1

     

    1

    1

     

    + h ) ] –

    3

    1

                                                           
                                                                                     
                                                                                                     
       

    =

    2

             

    – h ) + f ( x

     

    + h ) ]

    4

    f ( x

     

    ) –

     

    h

    [ – f

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

       

    + h ) ]

     
         

    [ f ( x

    1

     

    1

     

    1

         

    1

    1

     
         

    3

                                   

    3

                   

    3

                                 
                                                                                                   

    R

    ”( h )

    =

    2

     

    – f

     

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

     

    +

    h ) ] –

    1

    [ – f ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

       

    + h ) ] –

    h

       

    [

     

    1

    1

       

    1

     

    1

       

    [ – f ”( x

         

    3

                                           

    3

                                   

    3

       
                                                                                             
       

    =

    1

       

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

     

    + h ) ] –

    h

    [ f

     

    ”( x

       

    – h )

    + f

    ”( x

     

    + h ) ]

                 
         

    [ – f

    1

    1

           

    1

    1

                 
         

    3

                                       

    3

                                               
                                                                                                   

    R

    ”'( h )

    =

    1

    [ f

    ”( x 1

    – h ) + f

    ”( x 1

     

    + h ) ] –

    1

    [ f

    ”( x

     

    1  – h ) + f

    ”( x 1

     

    + h ) ] –

    h

     

    [ -f

    ”'( x 1

                 
         

    3

                                           

    3

                                       

    3

           

    h

    = –    [ f ”'( x 1  + h ) – f ”'( x 1  – h ) ] .

    3

     

    Áp dụng công thức số gia hữu hạn (công thức Lagrange) đối với

    • h )

    1

    – h

     
    • h )

    f ”'( x

     

    +

    f

    ‘( x

    1

    + h ) ]

           

    ) + f

    ”( x

    1

    + h ) ]

         
    • f ”'( x 1 + h ) ]

    ),  ta có

     

                                 

    2 h

    2

                                                                               
         

    R

    ”'( h )

    = –

       

    f

    ( 4 )

    ( c

       

    ), c

       

    Î

    ( x

       

    – h , x

     

    + h )

         
                                       
             

    3

         

    3

    3

     

    1

    1

         
                                                                                                     
       

    Ngoài ra: R(0) = 0; R'(0) = 0; R”(0)=0.

                                                                               

    Từ đó, áp dụng định lý trung bình thứ hai của tích phân xác định, ta nhận được

         

    R ”( h ) = R

     

    ”( 0 ) + h

    R

     

    ”'( t ) d t

    =

    2

       

    h

     

    t 2 f ( 4 ) ( c

       

    ) d t

                       
                     

    ò

                           
                           

    ò

                         

    3

                             

    3

                         
       
                         

    0

                                     

    0

                                                     
               

    2

                 

    h

                           

    2

                                                       
         

    = –

    f ( 4 ) ( c  )

    ò

     

    t 2 d t = –

       

    h 3 f ( 4 ) ( c  ) ; c  Î [ x  – h , x  + h ]

                     
           

    3

             

    2

                             

    9

                               

    2

     

    2

         

    1

       

    1

     
                                                                                           
                         

    0

                                                                               
       
                         

    h

                                 

    2

       

    h

                                               
         

    R ‘( h ) = R

     

    ‘( 0 ) +

    ò R

    ”( t ) d t

     

    = –

       

    ò

    t

     

    3

    f

    ( 4 )

    ( c

    2 ) d t

                     
                                           
             

    9

                                   
                         

    0

                                     

    0

                                               
                                                                                                             
           

    2

                 

    h

                     

    1

                                                         
         

    = –

    f

    ( 4 )

    ( c 1 )

    ò

    t

    3

    d t

    = –

         

    h

    4

    f

     

    ( 4 )

    ( c 1

    ) ; c 1

    Î [ x 1

    – h , x 1

    + h ]

                                   
         

    9

       

    1 8

                 
                         

    0

                                                                         
       
         

    R ( h ) = R ( 0 ) +

    h  R ‘( t ) d t = –

    1

         

    h

     

    t 4 f ( 4 ) ( c  ) d t

                     
                   

    ò

                       
                         

    ò

                         

    1 8

                             

    1

                       
       

    0

    0

             

    1

             

    h

                         

    1

                                                   
         

    = –

    f ( 4 ) ( c )

    ò

    t 4 d t = –

       

    h 5 f ( 4 ) ( c ) ; c Î [ x  – h , x  + h ] .

                     
           

    1 8

                             

    9 0

                                     

    1

         

    1

       
                                                                                     
                     

    0

                                                                   
       

    Tóm lại, với giả thiết hàm số

    y

    =

    f ( x )

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên [ a , b ] , ta có công

    thức Simpson sau đây

                                                                                                             

    b

     

    h

    é

    æ a + b ö

               

    ù

         

    1

                                                   

    b – a

         

    ò f ( x ) d x

                                     

    5

       

    ( 4 )

             

    với h

     

    =

         

    Î [a , b ]. ( 2 )

    =

     

    ê f ( a ) + 4 f

    ç

             

    ÷

    +

    f ( b ) ú

                   

    h

     

    f

         

    ( c )

             

    , c

    3

         

    2

     

    9 0

                   

    2

    a

     

    ë

    è

           

    ø

               

    û

                                                         

    2.3. Công thức Simpson tổng quát và sai số

     

    53

     

     

    b

     

    Để tính gần đúng tích phân xác định

    ò

    f ( x ) d x

       
     

    a

     

    bằng nhau (nghĩa là n là số nguyên, dương và chẵn):

    , ta chia đoạn

    • a , b ]

    thành n = 2m đoạn

     

    có độ dài là:

     

             

    [ x 0 , x 1

    ] , [ x 1 , x 2 ] ,…, [ x 2 m – 2 , x 2 m -1 ] ,

    [ x 2 m -1 , x 2 m  ]

    h  =

    b – a

    =

    b – a

    bởi các điểm chia:

           

    n

    2 m

           
                     
         

    x

    0

    = a ; x

    i

    = a + ih ( i = 1, 2 m – 1) , x

    n

    = x

    2 m

    = b .

                     

    Ký hiệu:

     

    y i

    = f ( x

    i

    ), i = 0 , n

    , khi đó:

               
         

    b

     

    x 2

     

    x 4

       

    x 2 m

       
         

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x +

    ò

    f ( x ) d x + . . . +

     

    ò

    f ( x ) d x

    ( 3 )

         

    a

     

    x

    0

     

    x 2

     

    x

    2 m – 2

       
                           

    Đối với mỗi tích phân xác định ở vế phải của (3), ta tính gần đúng bằng công thức

     

    Simpson (1), ta nhận được:

     

         

    b

         

    h

           

    h

           
         

    ò f ( x ) d x

    »

    ( y

    0  + 4 y 1

    + y 2 ) +

    ( y 2  + 4 y 3  + y

    4 ) + … +

         

    3

    3

         

    a

                         
                                   
             

    b

       

    h

                   
             

    ò f ( x ) d x  »

    [ ( y 0  + y 2 m ) + 4 ( y

     

    + y 3  + … + y

     

    ) + 2

             

    3

    1

    2 m – 1

             

    a

                       
                                   
     

    b

         

    h

                         

    hay:

    ò

    f ( x ) d x

    »

    0  + y 2 m

    ) + 4 s 1

    + 2 s 2

         

    ,

       

    [ ( y

    ]

    ( 4 )

       
           

    3

                         
     

    a

                               
                                   

    trong đó

    s 1  =

    y

    1  + y 3

    +

    . . . + y

    2 m – 1 ; s 2

    = y 2

    + y 4

     

    + . . . + y 2 m – 2

       
     

    Công thức (4) được gọi là công thức Simpson tổng quát.

     

    Nếu hàm số  y

    =

    f ( x )

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên

    [a , b

    thức Simpson tổng quát là:

     

    h

    ( y

     

    + 4 y

     

    + y

     

    )

     

    3

    2 m – 2

    2 m -1

    2 m

             
                   

    ( y

    2

    + y

    4

    + … + y

    2 m – 2

    ) ]

           

     

    ] thì do (2), sai số của công

     

       

    x

    2 m

               

    h

    m

         
                           

    R

    =

     

    ò

     

    f ( x ) d x –

    å

    ( y 2 k – 2

    + 4 y 2 k -1  + y 2 k )

     
       

    3

     
       

    x

                   

    k =1

         
       

    0

                         
                               
                                   
         

    m

     

    æ

    x

    2 k

             

    h

     

    ö

                                 
     

    = å

       

    ò

                 
     

    ç

     

    f ( x ) d x –

    ( y 2 k – 2  + 4 y 2 k -1  + y 2 k

    ) ÷

               

    ç

                 

    3

     

    ÷

       

    k = 1

    è

    x 2 k – 2

               

    ø

                     
                             
             

    h

    5

     

    m

                   
     

    = –

       

    å

    f

    ( 4 )

    ( c k

    )  ( 5 )

       
               
       

    9 0

         
             

    k =1

                   
                                 

    với c k  Î [ x 2 k 2 , x 2 k ].

     

    Xét trung bình cộng

     

     

    1

    m

             

    m =

    å

    f

    ( 4 )

    ( c k

    ).

     
     

    m

     
     

    k =1

             
                 

    Vì hàm f(4)(x) liên tục trên đoạn [a, b] nên nó đạt

     

    giá trị nhỏ nhất m2 và giá trị lớn nhất M2 trên [a, b]. Do đó f(4)(ck) nhận giá trị trung gian giữa

     

                         

    m2   và  M2

    tức  là  m

    2

    £ f ( 4 ) ( c

    k

    ) £ M

    2

    ( k = 1, m ) .   Vì  vậy  tồn  tại  điểm  c Î [ a , b ]

    sao  cho

                   

    m = f ( 4 ) ( c )

    hay

                     

    m

     

    å f ( 4 ) ( c k ) = m .m = m .f ( 4 ) ( c ) .

     

    • =1

    Thay vào (5), ta nhận được

     

    R  = –

    m h 5

    f ( 4 ) ( c ) = –

    m . ( b – a ) h 4

    f ( 4 ) ( c ) = –

    ( b – a ) h 4

    f ( 4 ) ( c ) , c Î [a , b ] ( 6 )

         

    9 0

     

    2 .m . 9 0

    1 8 0

     

    54

     

    Tóm lại, với giả thiết hàm số

    y = f ( x ) có đạo hàm cấp bốn liên tục trên

     

    đoạn lấy tích phân [a , b ] thành n = 2m đoạn bằng nhau, có độ dài h  =

    b – a

    =

    b

     

    n

    2

     
         

    thức Simpson tổng quát sau:

    • a ,
    • a

    m

    b ]  và chia

     

    ta có công

     

    trong đó:

    b

    • f ( x ) d x =

    a

     

    s

    1

    =

    y

    1

    + y

    3

    + . . . +

             

    h

     

    +

     

    [ ( y

    0

    3

       
         

    y

    2 m – 1

    ; s

    2

         

    y

    2 m

    ) + 4 s

    1

    + 2 s

             

    =

    y

    2

    + y

    4

     

    + . . . +

               

    2

    ] –

       

    y

    2 m

       

    ( b – a ) h

    4

           

    f

    ( 4 )

    ( c ) , c Î [ a , b ]

    ( 7 )

     
       
     

    1 8 0

     
               

    – 2

    .

             
       

    Nhận xét:

     

    f

     

    Tính sai số của công thức Simpson tổng quát bằng công thức (7) đòi hỏi phải biết

    ( 4 )

    ( x ) , nghĩa là phải biết biểu thức giải tích của hàm số

    y = f ( x ) .  Nhưng trong thực tế,

         

    thường chỉ biết hàm số y = f ( x ) dưới dạng bảng, do đó người ta thường xác định gần đúng sai

     

    số của công thức Simpson tổng quát như sau: giả sử trên

    [a , b ]

    đạo hàm f ( 4 ) ( x )  ít biến đổi,

    do (7), nhận được biểu thức gần đúng của sai số phải tìm là

    R  = M h

    4

    , trong đó M xem là hằng

           

    số. Gọi I s ( h )

    I s (

    h

    ) là giá trị gần đúng của

     
       
         

    2

                   

    tổng quát với bước h và bước

    h

    , ta có:

         

    2

         
                           
                       

    I = I

    s

    (

                           
                       

    I = I

    s

    (

                           

    Từ đó I

    h

    ) –

    I

    s ( h ) =

    1 5

    M h

    4

    æ h

    s (

     

    I – I s  ç

       
                           
     

    2

         

    1 6

           

    è

    2

                           

    b

     

    I = ò f ( x )d x

     

    a

     

    h ) +

    M h

    4

         
           

    h

    ) +

    M (

    h

    )

    4

    .

       

    2

    2

     
             

    ö

    »

    1

     

    æ h

    ÷

    I

    s

    ç

       
     

    1 5

    2

    ø

       

    è

    nhận được từ công thức Simpson

     

     

    ö

    I

     

    ( h )

    (8 )

     

    ÷

    s

             

    ø

               

    Với giả thiết đạo hàm

     

    f ”( x )

    ít biến đổi trên đoạn

     

    • a , b ]

    , ta có công thức thực hành tính

     

    sai số:

     

    I – I

     

    æ

    h

    ö

    »

    1

     

    æ h

    ö

    – I

     

    ( h )

    ( 9 ) ,

    T

    ç

     

    ÷

    I

    T

    ç

     

    ÷

    T

     

    2

     

    3

    2

         
       

    è

    ø

       

    è

    ø

           

    trong đó  I

     

    ( h )

    và  I

     

    (

    h

    ) là giá trị gần đúng của

    T

    T

     
         

    2

     
               
     

    b

                             

    h

       

    I =

    ò

    f ( x ) d x  nhận được từ công thức hình thang tổng quát với bước h và bước

    .

     
     
                           

    2

       
     

    a

                             
                                     
                   

    1

     

    s i n (1 + x

    2 )

           
       

    2.4. Ví dụ: Tính gần đúng tích phân xác định

    I = ò

         

    d x , với m = 5.

     
         

    1 + 3 x 3

     
                   

    0

                 
       

    Ta có: n=2m=2.5=10; [a ; b ] = [0 ; 1 ] Þ h  =

    1 – 0

       

    = 0 , 1

             
                     
       

    x0 = 0, xn = x10 = 1, xi

     

    1 0

         

    )

             
       

    = x0 + i.h = 0 + i.0,1 (

    i = 1, 9

             
                               
       

    Ta có bảng giá trị của hàm f(x) tại các xi:

                         
         

    i

    xi

    f(xi)

                         
         

    0

    0

    0.84147098

                   
         

    1

    0.1

    0.84429895

                   
         

    2

    0.2

    0.84219163

                   
         

    3

    0.3

    0.82019141

                   
         

    4

    0.4

    0.76913012

                   
         

    5

    0.5

    0.69017063

                   
         

    6

    0.6

    0.59336444

                   
         

    7

    0.7

    0.49124581

                   
         

    8

    0.8

    0.39337791

                   
         

    9

    0.9

    0.30484059

                   
         

    10

    1

    0.22732436

                   

    55

     

    Vậy áp dụng công thức Simpson ta có:

     

    I »

    h

    [f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + 4 ( f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + . . . + f ( x

     

    ) ) + 2 ( f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + . . . + f ( x

     

    ) ) ] = 0 , 6 2 8 9

     

    3

    0

    1 0

    1

    3

    9

    2

    4

    8

                         
                                         

    (làm tròn tới bốn chữ số thập phân).

     

    2.5. Chương trình

     

    Tính gần đúng tích phân xác định

     

    phím với a , b Π     ; a < b .

     

    PROGRAM PP_SIMPSON;

     

    USES CRT;

     

    VAR  i,n: integer;

     

    a,b,h,s0,s1,s2,i1,i2,epsilon: real;

     

    t: boolean;

     

    b

    s i n (1 + x

    2 )

     

    I = ò

       

    d x , cận a và b tùy ý nhập vào từ bàn

    1 + 3 x 3

     

    a

         

    KT: Char;

     

    {*********************************************************************}

     

    FUNCTION f(x:real):real;

     

    BEGIN

     

    f:=sin(1+x*x)/(1+3*x*x*x);

     

    END;

     

    {*********************************************************************}

     

    BEGIN

     

    CLRSCR;

     

    REPEAT

     

    Writeln(‘ Tinh tich phan gan dung theo cong thuc Simpson’);

     

    Writeln(‘ Tinh tich phan gan dung cua ham so

     

     

    s i n (1 +

    x

    2

    )

    y =

     

    1 + 3 x

    3

       
         
           
               

    ‘);

     

    Write(‘ Nhap can duoi a= ‘); Readln(a);

     

    Write(‘ Nhap tren duoi b= ‘); Readln(b);

     

    Write(‘ Nhap sai so epsilon = ‘); Readln(epsilon);

     

    s2:=0;

     

    n:=2;

     

    h:=(b-a)/2;

     

    s1:=f(a+h);

     

    s0:=f(a)+f(b);

     

    i2:=h*(s0+4*s1+2*s2)/3;

     

    {Tinh tich phan}

     

    t:=false;

     

    Repeat

     

    i1:=i2;

     

    s2:=s1+s2;

     

    h:=h/2;

     

    s1:=0;

     

    FOR i:=1 TO n DO

     

    s1:=s1+f(a+(2*i-1)*h);

     

    n:=2*n;

     

    56

     

    i2:=h*(s0+4*s1+2*s2)/3;

     

    if ABS(i2-i1)<epsilon then

     

    begin

     

    t:=true;

     

    Writeln(‘ Tich phan I = ‘,i2:10:2);

     

    end;

     

    Until t;

     

    Writeln;

     

    Write(‘ Ban muon tiep tuc khong (c/k)?’); Readln(KT); UNTIL UPCASE (KT)=’K’;

     

    END.

     

    e =

     

    0

     

    .0

    *

     

    0 0

    Kết quả khi chạy chương trình với a = 0, b = 1 và sai số của tích phân nhỏ hơn

     

    0 1

    :

     

    Với độ chính xác

     

     

    e =

     

     

    0 .0 0 0 0 1

     

     

    , ta có

     

     

    1

    s i n (1

    + x

    2

    )

     

    ò

     

    » 0 .6 2 8 9

    1

    +

    3 x

    3

     

    d x

    0

           
                 

    Ví dụ trên là cách tính tích phân gần đúng của một hàm số cụ thể. Với các hàm số khác, để tính được gần đúng tích phân của nó với cận trên và cận dưới tùy chọn ta có thể sửa phần hàm FUNCTION f(x:real):real; trong chương trình trên thành các hàm theo mong muốn sau đó chạy chương trình bình thường.

     

         

    1

    e

    x

    2

    + 1

           

    Tương tự với hàm trên ta tính được

    ò

       
           

    d x  » 1 . 7 4 8 5 2 7 4 1

         

    1

    +

    5 x

    6

         

    0

     
                   

    nhỏ hơn

    e = 0 .0 0 0 0 1

    . Kết quả kiểm tra như sau:

     

    với sai số của tích phân

     

     

    3. Kết luận

     

    Phương pháp Simpson chỉ là một trong các cách tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số mà ta có thể lập trình để máy tính thực hiện thay con người. Ngoài ra còn có các phương pháp khác trong việc tính gần đúng tích phân xác định ta cũng có thể lập trình để giải quyết.

     

    Một câu hỏi đặt ra là: Ngoài việc tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số, còn bài toán nào có thể lập trình để máy tính thay thế con người tính được không? Có nhiều bài

     

    57

     

    toán có thể làm như vậy. Từ đây mở ra hướng dùng máy tính và ngôn ngữ lập trình để giải quyết các bài toán mà theo cách giải thông thường ta không (hoặc rất khó) làm được.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • TS. Dương Thủy Vỹ (2007), Giáo trình Phương pháp tính, Nxb Khoa học kỹ thuật.
    • TS Lê Khắc Thành (2003), Giáo trình Pascal, Nxb Đại học sư phạm.
    • Nguyễn Xuân Liêm, Nguyễn Mạnh Quý (2002), Toán cao cấp A2, Nxb Giáo dục.
    • Nguyễn Tô Thành (2007), Lập trình nâng cao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
    • Quách Tuấn Ngọc (2002), Ngôn ngữ lập trình Pascal, Nxb Thống kê.
    • Volkov E.A. (1986), Numerrical methods, Mir Publishers, Moscow.
    • Sastry S. S. (1989), Introductory methods of numerical analysis. Prentice – Hall of India Private limited, New Delhi.

    USING PASCAL PROGRAMMING LANGUAGE TO CALCULATE APPROXIMATE VALUE OF DEFINITE INTEGRAL WITH SIMPSON’S FORMULA

     

    Doan Vinh Ngoc, Hoang Hien, Truong Quoc Tuan Dien Bien College

     

    Abstract: In fact, it is very difficult to find the correct value of the most definite integral of the function. In spite of calculating correct value of definite integral, informatics can help us calculate approximate value of definite integral with the so-called acceptable errors e. “Pascal programming language calculates approximate value of definite integral by Simpson’s rule” is the way to use computer and programming language to solve problems of definite integral effectively.

     

    Keywords: Integral, approximate, function, programming, Pascal language, SIMPSON formula.

     

     

     

     

    58


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-m%E1%BA%A1ng-n%C6%A1ron-m%E1%BA%A1ng-n%C6%A1ron-xo%E1%BA%AFn-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-CPU-GPU-%C4%91%E1%BB%83-t%C4%83ng-hi%E1%BB%87u-n%C4%83ng-t%C3%ADnh-to%C3%A1n-trong-ph%C3%A2n-lo%E1%BA%A1i-%E1%BA%A3nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    ỨNG DỤNG MẠNG NƠRON, MẠNG NƠRON XOẮN

    VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP CPU – GPU ĐỂ TĂNG HIỆU NĂNG TÍNH TOÁN TRONG PHÂN LOẠI ẢNH

     

    Hồ Sỹ Phương, Phan Văn Dư, Lê Văn Chương, Tạ Hùng Cường Viện Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Đại học Vinh Ngày nhận bài 30/9/2018 , ngày nhận đăng 29/11/2018

     

    Tóm tắt: Bài báo trình bày và so sánh các phương pháp phân loại ảnh dựa trên mạng nơron nhân tạo nhiều lớp (Multi Layer Perceptron – MLP) và mạng nơ ron xoắn (Convolutional Neural Network – CNN). Dữ liệu được đưa vào huấn luyện là 50.000 bức ảnh của 10 đối tượng khác nhau. Kiến trúc thứ nhất được sử dụng là mạng MLP gồm có 3.853.298 tham số (weight), kiến trúc thứ hai là mạng CNN gồm 528.054 tham số. Bài báo đã đề xuất một vài phương pháp và cấu trúc mạng nhằm tránh hiện tượng quá khớp (overfitting), tăng cường độ chính xác cho mô hình xấp xỉ 80%. Bên cạnh đó, bài báo cũng trình bày và so sánh về thời gian huấn luyện khi sử dụng CPU và kết hợp sử dụng CPU với GPU.

     

    1. MỞ ĐẦU

     

    Trong những năm gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ và cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm cho các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) ứng dụng trong lĩnh vực robotics, robot tương tác thời gian thực với môi trường xung quanh… thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia trong lĩnh vực điều khiển. Trong robot tự hành, để có thể tương tác với môi trường hoạt động và điều khiển robot chuyển động theo đúng quỹ đạo mong muốn, vấn đề nhận biết, phân tích, nhận dạng và phân loại các vật thể đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp chúng ta có cơ sở để đưa ra các tín hiệu điều khiển một cách chính xác, kịp thời. Nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước [1], [10], [12], [15] cho thấy vấn đề này có thể giải quyết và đưa lại hiệu quả cao khi sử dụng mạng MLP, trong đó việc nhận dạng chữ viết tay với độ chính xác lên đến 99,8%.

     

    Trong bài báo này, nhóm tác giả nghiên cứu và ứng dụng các cấu trúc mạng MLP và mạng CNN kết hợp với các kỹ thuật tối ưu nhằm nâng cao khả năng phân loại các đối tượng, thực hiện so sánh hiệu quả huấn luyện mạng khi sử dụng CPU với sử dụng kết hợp CPU – GPU về độ chính xác và tốc độ huấn luyện mạng.

     

    2. KIẾN TRÚC MẠNG MLP, CNN VÀ CÁC KỸ THUẬT TỐI ƯU MẠNG

     

    2.1. Mạng nơron nhân tạo và kiến trúc mạng MLP

     

    Mạng nơron nhân tạo, gọi tắt là mạng nơron là một mô hình toán học được xây dựng dựa trên cơ sở các mạng nơron sinh học gồm một số lượng lớn các phần tử (gọi là nơron) kết nối với nhau thông qua các liên kết (gọi là trọng số liên kết) làm việc như một thể thống nhất để giải quyết các vấn đề cụ thể như nhận dạng mẫu, phân loại dữ liệu,v.v… thông qua một quá trình học từ tập các mẫu huấn luyện.

     

    Email: [email protected] (H. S. Phương)

     

    64

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    Mô hình mạng nơron thường được sử dụng rộng rãi nhất là mô hình mạng truyền thẳng nhiều lớp (MLP – Multi Layer Perceptron). Một mạng MLP tổng quát là mạng có

    • lớp ( n ³ 2 ) trong đó bao gồm một lớp vào, một lớp ra và một hoặc nhiều lớp ẩn (hình

     

    1).

     

    Hoạt động của mạng MLP như sau: Tại lớp vào, các nơron nhận tín hiệu vào xử lý (tính tổng trọng số, gửi tới hàm truyền) rồi cho ra kết quả (là kết quả của hàm truyền); kết quả này sẽ được truyền tới các nơron thuộc lớp ẩn thứ nhất; các nơron tại đây tiếp nhận như là tín hiệu đầu vào, xử lý và gửi kết quả đến lớp ẩn thứ 2;…; quá trình tiếp tục cho đến khi các nơron thuộc lớp ra cho kết quả.

     

     

     

    Hình 1: Mạng MLP 4 lớp

     

    Mạng MPL được sử dụng rất thành công trong việc nhận dạng chữ viết tay [2],

     

    • Cơ sở dữ liệu phổ biến rộng rãi nhất cho bài toán này là MINST [16], khi huấn luyện chỉ với 2 lớp ẩn cho độ chính xác lên tới 99,8%. Kiến trúc mạng MPL như hình hình 1, gồm có 1 lớp đầu vào, 2 lớp ẩn và 1 lớp ra. Tùy theo yêu cầu của bài toán, ta có được số lượng đầu vào. Để có độ chính xác cao, tránh hiện tượng quá khớp (overfitting) thì số lượng lớp ẩn và số nơron trên nó là yếu tố quyết định [7].

    Ví dụ, trong bài toán nhận dạng chữ viết tay, bộ dữ liệu huấn luyện từ tập MINST

     

    có kích thước 28×28 nên số nơron đầu vào là (28×28)= 784, số nơron lớp ẩn 1 là 512, lớp ẩn 2 là 512 và số nơron đầu ra tương ứng từ 09 là 10. Độ chính xác khi huấn luyện là 99.93% và khi kiểm chứng trên mô hình thì độ chính xác đạt gần 99,8%. Trên cơ sở kết quả đó, nhóm tác giả thực hiện thử nghiệm sử dụng mạng MPL trong việc phân loại các

     

    đối tượng.

     

    2.2. Kiến trúc mạng CNN và các kỹ thuật tối ưu mạng

     

    Kiến trúc mạng CNN [1], [2], [12] là kiến trúc mở rộng của mạng MLP được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật học sâu (deep learning) đặc biệt là trong lĩnh vực thị giác máy tính (computer vision). Một trong những giải pháp nhằm tối ưu quá trình huấn luyện mạng được đề xuất là giảm số lượng các trọng số (weight) để tăng tốc độ tính toán, giảm thời gian huấn luyện, tránh hiện tượng quá khớp khi mà lượng dữ liệu đầu vào là rất lớn như các bức ảnh màu, video…

     

    65

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

    Hình 2: Kiến trúc của một mạng CNN

     

    Mạng CNN có cấu trúc như hình 2, với đầu vào sẽ được nhân xoắn với các ma trận lọc, công việc này có thể được xem như phép lọc ảnh với ma trận lọc khi sử dụng dạng ma trận [7], cũng như phép lọc ảnh bình thường trong không gian 2D thì tích xoắn này cũng được ứng dụng trong trong không gian ảnh màu 3D và trong cả không gian n chiều. Sau khi thu gọn ma trận dưới dạng một véc tơ thì nó sẽ được kết hợp với một mạng MLP đầy đủ như được mô tả ở mục 2.1, với các ảnh xám ma trận đầu vào là 2 chiều, còn với ảnh màu ma trận vào sẽ là 3 chiều.

     

    Khi xem xét mạng CNN, khái niệm tích xoắn (tích chập) trong đại số là cơ sở của phần mạng CNN:

     

    Đưa vào ảnh xám X và bộ lọc ω có kích thước [m,n], tích xoắn giữa ω và X là:

     

    y = X *w , trong đó các thành phần của ma trận y sẽ được tính theo công thức:

     

    m -1 n -1

    m -1 n-1

     

    yij  = åå X [i a , j b w [ a , b ] hay yij  = åå X [i + a , j + b w [- a , –b]

    (1)

    a = 0 b = 0

    a = 0 b=0

     

    Giá trị của ma trận w [- a , –b]

    được hiểu là giá trị tại [a , b]của ma trận w sau khi

    được lật từ phải sang trái và đảo ngược từ dưới lên (như hình 1)

     

     

    Hình 3: Minh họa phương pháp tìm giá trị w [- a , –b] từ ma trận gốc bên trái qua phép lật giữa và đảo từ dưới lên cho kết quả là ma trận bên phải

     

    Kiến trúc mạng CNN bao gồm các lớp được gọi là lớp xoắn với ma trận đầu vào là I , bộ lọc K và trọng số b . Ta giả thiết rằng I là ma trận ảnh màu có kích thước [C ´ H ´W ], trong đó C = 3 là số ma trận màu R,G,B và ảnh có kích thước [H ,W ].

     

    Khi đó I Î RH ´ WxC , K ÎR k1 ´k2 xC và b có kích thước b Î RD . Tích xoắn giữa IK sẽ có ma trận mới chính là ma trận đầu ra của lớp xoắn:

     

    66

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    k1 -1 k2 -1  C

     

    (I * K )ij  = åååK m , n , c × I i + m , j +n , c + b ,

    (2)

    m = 0 n = 0  c=1

     

    trong trường hợp này, I chính là ma trận được lật như hình 3 từ ma trận lọc I . Với lớp CNN có kích thước C > 3 thì công thức tính toán vẫn như trên và ma

     

    trận K sẽ có độ sâu C như ma trận I . Ví dụ, cho 6 ma trận lọc có kích thước 5×5, tích xoắn của ảnh màu I với lần lượt từng bộ lọc K sẽ tạo ra 6 ma trận được sắp xếp như hình 4.

     

     

    Hình 4: Ma trận đầu ra được tạo từ 6 ma trận con qua phép tích xoắn

    giữa ma trận vào I và ma trận lọc K trượt trên I

     

    Khi xây dựng được mạng CNN người ta thêm vào các kỹ thuật pooling, dropout, normalizing, regularization để tối ưu thời gian huấn luyện và tránh hiện tượng quá khớp [7]:

     

    • Pooling [7]: Quá trình giảm kích thức ảnh sau khi tính tích xoắn để lấy các pixel

    đặc tính đặc trưng nhất.

     

    • Dropout [7], [11]: Cắt bớt số nơron khi thực hiện thuật toán lan truyền ngược nhằm tăng tốc độ huấn luyện mạng
    • Normalizing [7]: Kỹ thuật chuẩn hóa dữ liệu về dạng dữ liệu trong dải tính toán

    phù hợp.

    Giả sử X là dữ liệu cần chuẩn hóa, khi đó:

         

    1

       

    m

       

    + Kỳ vọng của dữ liệu tính được:

    m =

     

    å X (i) ;

    (3)

     
       
         

    m

    1

       

    + Sai lệch của dữ liệu so với kỳ vọng:

    DX = X m ;

    (4)

     
           

    1

    m

       

    + Phương sai của dữ liệu DX :

    s 2

    =

    å( DX )2 ,

    (5)

     

    m

           

    1

       

    do đó đầu ra dữ liệu được chuẩn hóa sẽ là:

    X =

    DX

    .

    (6)

     
     
       

    s 2

         
                       
    • Regularization [7]: Kỹ thuật sử dụng thêm tham số l trong hàm mục tiêu J khi tối ưu hóa:
       

    1

    m

    1 l

       

    J regularized

    = –

    å ( y ( i ) log (a [ L ](i ) )+ (1 – y ( i ) )log (1 – a(L )(i ) ))+

    åååWk[ l,]j2    (7)

     
           
     

    m 2

       

    m i =1

    lkj

     
                     

    Các mô hình CNN được xây dựng chủ yếu sử dụng hàm ReLU (hình 5) để tăng tốc độ tính toán so với các hàm phi tuyến khác và có đạo hàm không đổi khi huấn luyện.

     

    67

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

     

       

    Hình 5: Hàm ReLU

     

    ReLU

    if

    (8)

     

    if

         

    Chúng ta cần một mô hình xác suất sao cho với mỗi đầu vào thì xác suất để đầu vào đó rơi vào lớp i phải dương và tổng của chúng bằng 1. Để làm được việc đó, ta xây dựng hàm Softmax (hình 6). Ta có:

    y

     

    =

    eZk

    , “i =1, 2,…., C ; z = W T X .

    (9)

    k

    C

         

    åeZ j

       
    • =1

    Ta có: yk = P( ak = k | ik , W ) , trong đó yk thể hiện xác suất của đầu ra mô hình rơi vào lớp k khi có đầu vào ik và tham số mô hình W (ma trận trọng số).

     

     

     

     

    Hình 6: Mô hình Softmax Regression dưới dạng Neural Network

     

    68

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    Trong mạng nơron, việc tìm giá trị nhỏ nhất của hàm mất mát (cost functions) là điều bắt buộc. Việc tìm điểm cực tiểu toàn cục của nó rất phức tạp, thậm chí là bất khả thi. Thay vào đó, người ta thường cố gắng tìm các điểm cực tiểu địa phương và có thể xem đó là nghiệm cần tìm của bài toán. Cách tiếp cận phổ biến nhất là xuất phát từ một điểm mà chúng ta xem là gần với nghiệm của bài toán, sau đó dùng một phép toán lặp để tiến dần đến điểm cần tìm, nghĩa là đến khi đạo hàm gần với 0. Giải thuật Gradient Descent và các biến thể của nó là một trong những giải thuật được dùng nhiều nhất.

     

    Giả thiết mạng nơron có  K  lớp, có tập huấn luyện với m dữ liệu vào – ra như

    sau:

     

    {(x (1) , y (1) ), (x ( 2 ), y ( 2) ),   , (x ( m ), y(m) )}.

    (10)

    Lúc đó hàm mục tiêu (hàm mất mát – cost function) trong bài toán phân lớp hồi quy sẽ là [5,7]:

     

     

    1

    m

         

    l

    m

     

    J (q ) = –

    êé å y ( i ) log hq (x ( i ) )+ (1 – y ( i ) )log 1 – hq (x(i ) ) úù

    +

    åq j2   (11)

     
       
     

    m ë i =1

    (

    )û

     

    2m j =1

     

    Còn với mạng nơron K lớp, hàm mục tiêu sẽ là [10][7]:

     

     

    1

    m   K

     

    + (1 – y k(i ) )log (1 – ( hq

         

    )úù

     

    l

    L-1  sl    sl +1

    2

     
                   

    J (q ) = –

    êéåå y k(i ) log (hq (x ( i ) ))k

    (x(i ) ))k

    +

    ååå(q (jil ) ) , (12)

     
       
     

    m ë i =1  k =1

               

    û

     

    2m l =1  i =1  j =1

       

    với

    (hq (x )) = ith

    đầu ra thứ i của mạng.

                       
       

    i

       

    (

     

    )

                 

    Để tối ưu hóa hàm mục tiêu trên ta tìm MinJ

    q

    sau đó tiến hành cập nhật tham

     
       

    số mô hình q (ma trận các trọng số của mạng) bằng giải thuật Gradient Descent. Giải thuật này phổ biến và cho hiệu quả tốt nhất khi tập dữ liệu lớn (Big data), trong học sâu người ta đề xuất thêm các biến thể của giải thuật Gradient Descent như SGD [7], [13], [17], Adam [5], [6], [7], [8], RMSProp [7], [8]. Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng thuật toán tối ưu RMSProp là một phương pháp đơn giản, cho hiệu quả cao trong bài toán phân loại ảnh [1], [12].

     

    3. THỬ NGHIỆM HUẤN LUYỆN VÀ KIỂM CHỨNG MÔ HÌNH

     

    3.1. Tập hợp dữ liệu huấn luyện

     

    Trong bài báo này, tập hợp dữ liệu được trích ra từ tập hợp dữ liệu CIFAR-10

     

    • gồm 50.000 bức ảnh dùng làm tập huấn luyện (training data), 10.000 bức ảnh dùng làm tập kiểm chứng mô hình (test data), trong tập dữ liệu huấn luyện có 10% dữ liệu (5.000 bức ảnh) ngẫu nhiên được loại ra bằng cách xoay vòng để tránh trường hợp chưa khớp (underfitting), mỗi bức ảnh trong tập dữ liệu là ảnh màu có kích thước 32x32x3 điểm ảnh, các bức ảnh trong tập dữ liệu này đã được tiền xử lý và đảm bảo chỉ có một đối tượng xuất hiện trong một bức ảnh, dữ liệu phân loại được phân theo 10 lớp.

    69

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

    Hình 7: Phân chia tập hợp dữ liệu trong bài báo

     

     

    Hình 8: Lấy ngẫu nhiên 36 bức ảnh trong tập dữ liệu huấn luyện

     

    3.2. Cấu trúc phần cứng

     

    Máy tính sử dụng có cấu hình:

    • CPU: Intel® Core™ i7 6700HQ Processor;
    • RAM: 2 thanh DDR4 2133 MHz SDRAM 4GB;
    • Card đồ họa: Integrated Intel® HD Graphics 530;
    • GPU rời: NVIDIA® GeForce® GTX 950M với 4G GDDR5 VRAM, trong đó: + Lõi CUDA: 640;

    + Xung BoostBase (MHz): 914;

    + Xung cho bộ nhớ: 2500 MHz;

    + Giao tiếp bộ nhớ chuẩn GDDR5;

     

    + Độ dài dữ liệu giao tiếp bộ với bộ nhớ:128-bit; + Tốc độ giao tiếp với bộ nhớ (GB/sec): 80.

     

    Kiến trúc CUDA (Compute Unified Device Architecture) [8] cho phép tăng tốc

     

    độ tính toán của chương trình lên nhờ khả năng tính toán song song, hỗ trợ mọi chức năng tính toán thông qua ngôn ngữ C, hỗ trợ các các ngôn ngữ như Python, Fortran, Java và MATLAB để cài đặt các thuật toán chạy trên GPU. Phần mềm được sử dụng là Tensor Flow hỗ trợ GPU và OpenCV.

     

    3.3. Thử nghiệm với mạng MLP

     

    Ta xây dựng mạng MLP có kiến trúc như hình 9 với các thuộc tính như bảng 1 để phân loại các đối tượng trong tập dữ liệu đã nêu ở mục 3.1.

     

    70

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

     

     

     

     

     

    Hình 9: Mạng MLP ứng dụng trong nhận dạng

     

    Bảng 1: Thuộc tính của mạng MLP

     

    Tên lớp

    Số lượng node

    Hàm

    Dropout

    Tham số

    Đầu vào

    3.072

       

    3.073.000

    Lớp ẩn 1

    1.000

    ReLU

    0,2

    512.512

    Lớp ẩn 2

    512

    ReLU

    0,2

    262.656

    Đầu ra

    10

    Softmax

     

    5.130

    Tổng

    4.594

       

    3.853.298

    Mạng MLP sử dụng phương pháp tối ưu RMSprop, kích thước mỗi lần đưa vào huấn luyện là 32 ảnh, số lần huấn luyện là 10.

     

    3.3. Thử nghiệm với mạng CNN

     

    Mạng CNN được xây dựng với các thuộc tính mạng như bảng 2 được chỉ rõ trong hình 10.

     

    71

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

     

     

     

    Hình 10: Mạng CNN trong việc phân loại ảnh

     

    Bảng 2: Thuộc tính mạng CNN

     

    Tên mạng

    Tên lớp

    Convolution

    Pooling

    Tham số

             
     

    Layer 1

    32x32x16

    2

    208

    CNN

    Layer 2

    16x16x32

    2

    2.080

     

    Layer 3

    8x8x64

    2

    8.256

    Tên mạng

    Tên lớp

    Hàm

    Dropout

    Tham số

     

    Input

       

    0

    MLP

    Hidded Layer 1

    ReLU

    0,4

    512.500

     

    OutPut

    Softmax

     

    5.010

    Tổng

         

    528.054

    Việc xây dựng mô hình được thực hiện theo thuật toán trên hình 11 và để tối ưu hóa mô hình không bị quá khớp với độ chính xác cao, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình mạng CNN ở hình 10.

     

    72

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

     

     

     

    Hình 11: Sơ đồ chương trình huấn luyện mạng CNN

    3.4. So sánh các kết quả đạt được

     

    Hình 12 thể hiện kết quả của mô hình đã được huấn luyện với bức ảnh không gạch chéo thể hiện kết quả nhận dạng chính xác, còn có gạch chéo cho kết quả nhận dạng sai.

     

     

     

    Hình 11: Kết quả thử nghiệm mô hình CNN

     

    Bảng 3 thể hiện các kết quả đạt được khi huấn luyện và kiểm nghiệm độ chính xác với hai kiến trúc của mô hình MLP và CNN đã nêu ở trên:

     

    73

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    • Mạng MLP cho độ chính xác 45% khi huấn luyện 20 lần (Epochs=20) trong đó mạng CNN là 79% khi huấn luyện 40 lần (Epochs=40) (độ chính xác tăng lên xấp xỉ 80% khi tăng số lần huấn luyện). Khi sử dụng CPU kết hợp GPU thì có thể tối ưu được thời gian huấn luyện lên đến 34 lần (tùy thuộc vào cấu trúc phần cứng sử dụng) so với việc sử dụng CPU. Khi số lần huấn luyện tăng lên nhiều thì thời gian huấn luyện khi sử dụng CPU kết hợp GPU tăng lên không nhiều, và tăng không đáng kể khi dùng CPU.
    • Khi số lần huấn luyện tăng lên 50, 60,…,100 thì độ chính xác không cải thiện thêm mà chỉ dao động quanh 45% cho mạng MLP và 80% cho mạng CNN do hiện tượng quá khớp. Hiện tượng này xảy ra khi mạng có năng lực quá lớn và để hạn chế bớt năng lực của mạng ta có thể hạn chế số nút ẩn; ngăn không cho mạng sử dụng các trọng số lớn; giới hạn số bước luyện.

    Bảng 3: Kết quả đạt được

     

    Tên mạng

    Thời

    gian

    Thời   gian

    Thời   gian

    Thời   gian

    Độchính

     

    huấn  luyện

    huấn  luyện

    chạy   kiểm

    chạy   kiểm

    xác  của  mô

     

    sử

    dụng

    sử dụng

    tra sử dụng

    tra sử dụng

    hình (%)

     

    CPU (s)

    CPU-GPU

    CPU

    CPU-GPU

     
         

    (s)

    (s)

    (s)

     

    MLP

    987

    200

    2,1

    1

    39

    Epochs=10

               

    Batch_size=32

               

    MLP

    1.133

    201

    2,2

    1

    45

    Epochs=20

               

    Batch_size=64

               

    CNN

    386

    177

    2,2

    1,3

    63

    Epochs=10

               

    Batch_size=32

               

    CNN

    710

    256

    2,2

    1,4

    69

    Epochs=20

               

    Batch_size=64

               

    CNN

    1.020

    319

    2,3

    1,4

    74

    Epochs=30

               

    Batch_size=128

               

    CNN

    1.194

    351

    2,3

    1,4

    79

    Epochs=40

               

    Batch_size=256

               

    4. KẾT LUẬN

     

    Bài báo trình bày phương pháp phân loại ảnh sử dụng mạng MLP, mạng CNN và ứng dụng các kỹ thuật tối ưu quá trình huấn luyện mạng. Sau khi xây dựng và thử nghiệm thành công hai mô hình mạng MLP và CNN trên cơ sở sử dụng kết hợp CPU-GPU, bài báo đã đưa ra kết quả so sánh về hiệu quả phân loại ảnh giữa trường hợp khi sử dụng CPU và trường hợp khi sử dụng kết hợp CPU-GPU trong quá trình huấn luyện cũng như kiểm nghiệm mô hình. Thực hiện kiểm nghiệm cho thấy khi sử dụng mạng

     

    74

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    CNN cho kết quả phân loại ảnh đạt độ chính xác gần 80% và không cải thiện thêm khi tăng số lần huấn luyện. Để nâng cao kết quả của việc huấn luyện ta cần sử dụng tập huấn luyện có chất lượng ảnh cao hơn cũng như các kỹ thuật khác được trình bày trong [3], [4], [14].

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Alex Krizhevsky, Ilya Sutskever, Geoffrey E. Hinton, ImageNet classification with deep convolutional neural networks, Advances in Neural Information Processing Systems, 2012, pp. 1097-1105.
    • Krizhevsky, Learning Multiple Layers of Features from Tiny Images. Ph.D dissertation, University of Toronto, 2009.
    • Baoyuan Liu, Min Wang, Hassan Foroosh, Marshall Tappen and Marianna Penksy, Sparse Convolutional Neural Networks, The IEEE Conference on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR), 2015, pp. 806-814.
    • Graham, Sparse 3D convolutional neural networks, arXiv:1505.02890v2, 2015.
    • Duchi, J., Hazan, E., & Singer, Y, Adaptive Subgradient Methods for Online Learning and Stochastic Optimization, Journal of Machine Learning Research, 2011, 2121–2159.
    • E. Hinton, N. Srivastava, A. Krizhevsky, I. Sutskever, R. R. Salakhutdinov, Improving neural networks by preventing co-adaptation of feature detectors, arXiv:1207.0580v1, 2012.
    • Ian Goodfellow, Yoshua Bengio, Aaron Courville, Deep Learning, The MIT Press, 2016.
    • Jayshree Ghorpade, Jitendra Parande, Madhura Kulkarni, Amit Bawaskar, GPGPU processing in CUDA architecture, Advanced Computing. An International Journal (ACIJ), Vol.3, No.1, 2012.
    • John Duchi, Elad Hazan, and Yoram Singer, Adaptive Subgradient Methods for Online Learning and Stochastic Optimization. Journal of Machine Learning Research, 2012.
    • Đinh Văn Nam, Phan Văn Dư, Hồ Sỹ Phương, Nghiên cứu và thử nghiệm thiết kế thiết bị tự động đọc ghi dữ liệu các máy hiển thị số trên cơ sở mạng nơ ron nhân tạo,

    Hội nghị toàn quốc về cơ điện tử lần thứ 8, 2016, tr. 96-102.

     

    • Srivastava, G. E. Hinton, A. Krizhevsky, I. Sutskever, R. Salakhutdinov, Dropout: a simple way to prevent neural networks from overfitting, Journal of machine learning research 15, 2014, pp. 1929-1958.
    • Olga Russakovsky, Jia Deng, Hao Su, Jonathan Krause, Sanjeev Satheesh, Sean Ma, Zhiheng Huang, Andrej Karpathy, Aditya Khosla, Michael Bernstein, Alexander C. Berg and Li Fei-Fei, ImageNet Large Scale Visual Recognition Challenge, International Journal of Computer Vision, Volume 115, Issue 3, 2015, pp. 211–252.

    75

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    • Sebastian Ruder, An overview of gradient descent optimization algorithms, arXiv:1609.04747, 2017.
    • Sergey Zagoruyko, Nikos Komodakis, Wide Residual Networks, Computer Vision and Pattern Recognition, arXiv:1605.07146, 2017.
    • https://www.cs.toronto.edu/~kriz/cifar.html.
    • http://ruder.io/optimizing-gradient descent.

    SUMMARY

     

    APPLYING NEURAL NETWORKS, CONVOLUTIONAL NEURAL NETWORKS AND COMBINATION OF CPUS AND GPUS TO INCREASE CALCULATING PERFORMANCE FOR IMAGE CLASSIFICATION

     

    This paper presents and compares the image classification methods based on MLPs and CNNs. Training data is 500,000 pictures of 10 different objects. The first architecture to be used is MLPs network that contains 3,853,298 weights, the second architecture is CNNs with 528,054 weights. This paper proposes several methods and architectures network to avoid overfitting phenomenon and increases the accuracy of modeling approximately 80%. Besides on it, the paper also presents and compares time training of models using CPUs, and combining CPUs with GPUs.

     

     

     

     

    76


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]