Category: Công Nghệ – Môi Trường

  • Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ngh%E1%BB%8Bch-l%C6%B0u-%C4%91a-m%E1%BB%A9c-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-b%E1%BB%99-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%95i-ki%E1%BB%83u-ma-tr%E1%BA%ADn-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-kh%C3%A2u-DC-li%C3%AAn-k%E1%BA%BFt-c%C3%A1ch-ly-t%E1%BA%A7n-s%E1%BB%91-cao.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

     

    NGHỊCH LƯU ĐA MỨC TRÊN CƠ SỞ BỘ BIẾN ĐỔI KIỂU MA TRẬN VỚI CÁC KHÂU DC LIÊN KẾT CÁCH LY TẦN SỐ CAO

     

    Lê Phƣơng Hảo1, Trần Hùng Cƣờng1

     

    TÓM TẮT

     

    Nghịch lưu đa mức (Multi-level inverters MLI) với ưu điểm đưa ra được điện áp đầu ra với thành phần sóng hài tốt và điện áp trên các mạch cơ sở chỉ bằng biên độ điện áp ra chia cho số mức n . Tuy nhiên số mức yêu cầu tương đương với số mạch một chiều càng cao sẽ nảy sinh càng nhiều vấn đề và là một khó khăn lớn , nhất là với yêu cầu phải cách ly và có khả năng trao đổi công suất hai chiều . Bài báo này giới thiệu cấu trúc bộ biến đổi đa mức dùng cầu chữ H nối tầng với điểm khác biệt là các mạch cơ sở dùng biến tần kiểu ma trận trên các van bán dẫn hai chiều . Với ưu điểm là c ác mạch cơ sở kiểu ma trận thực hiện liên kết trực tiếp, trao đổi công suất hai chiều với khâu biến đổi DC-AC trung gian tần số cao, nhờ đó giảm được kích thước của biến áp cách ly. Bài báo cũng trình bày phương pháp điều chế, xây dựng các mạch vòng điều chỉnh cho một nghịch lưu 7 mức có khả năng nối lưới. Các yêu cầu đặt ra được kiểm chứng qua các kết quả mô phỏng.

     

    Từ khóa: Nghịch lưu đa mức

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Trong những năm gần đây nguồn năng lƣợng mới nhƣ năng lƣợng gió, năng lƣợng mặt trời,… đã và đang đƣợc quan tâm rất nhiều do nhu cầu về nguồn năng lƣợng này là rất cần thiết. Song, do đặc điểm là các nguồn năng lƣợng này có công suất nhỏ lẻ, phân bố rời rạc và không ổn định chính vì vậy sẽ không đảm bảo tính liên tục cung cấp điện cho các hộ phụ tải. Một nhƣợc điểm nữa đó là các bộ biến đổi nguồn DC -AC hoặc AC-AC sử dụng các linh kiện điện tử , các van bán dẫn để chuyển đổi nguồn điện trƣớc khi cung cấp cho phụ tải chỉ chịu đƣợc mức điện áp và công suất hạn chế và đặc biệt là chƣa có khả năng trao đổi công suất hai chiều . Chính vì vậy cần phải có một chiến lƣợc điều khiển kiểm soát tốt các các nguồn năng lƣợng này để nâng cao chất lƣợng điện năng phục vụ cho tải tiêu thụ và mục tiêu lớn là hòa vào lƣới điện quốc gia. Biến tần đa cấp đã đạt đƣợc nhiều sự chú ý trong những năm gần đây nhƣ là một giải pháp hiệu quả cho các ứng dụng công suất lớn và điện áp cao. Biến tần đa cấp có thể tạo ra điện áp dạng sin từ các bƣớc điện áp nhỏ hơn từ các nguồn DC cách ly hoặc từ các cấp điện áp dùng bộ phân áp bằng một loạt tụ. Biến tần đa cấp có thể là khâu biến

     

    • Giảng viên khoa Kỹ thuật – Công nghệ, trường Đại học Hồng Đức

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    đổi năng lƣợng điện lý tƣởng cho kết nối các nguồn năng lƣợng tái tạo với lƣới điện, bao gồm hầu hết các nguồn phân tán nhƣ pin mặt trời, pin nhiên liệu, tua-bin điện sức gió [3]. Cấu trúc biến tần đa cấp đã đƣợc phát triển để có thể sử dụng các thiết bị đóng cắt bán dẫn với điện áp tƣơng đối thấp cho các ứng dụng yêu cầu điện áp cao, công suất lớn. Các nghiên cứu trƣớc đây cho thấy [3 – 5], lợi thế của các nghịch lƣu đa cấp dùng các khâu biến đổi nối tầng bao gồm: (1) các van bán dẫn chỉ phải đóng cắt ở tần số cơ bản (hoặc gần tần số này), do đó giảm đáng kể tổn hao do quá trình đóng cắt, (2) không cần dùng máy biến áp ở tần số lƣới cung cấp các mức điện áp cần thiết, (3) kết cấu kiểu mô – đun hóa nên cấu trúc mạch lực đơn giản hơn, số lƣợng thiết bị ít hơn, (4) vì không có biến áp hệ thống có thể đáp ứng nhanh hơn nhiều.

     

    2. BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC DÙNG MATRIX CONVERTER

     

     

    Hình 1. Sơ đồ bộ biến đổi DC-AC-AC dùng van bán dẫn hai chiều

     

    Trong sơ đồ này các khâu đầu vào là các H-Bridge thông thƣờng. Khâu cách ly DC- AC đƣợc liên kết thông qua một biến áp tần số cao tạo sự cách ly độc lập tƣơng đối cần thiết giữa lƣới và tải kết nối với các cổng và nó làm việc trực tiếp với điện áp AC thông qua bộ chuyển đổi cyclo-converter để thực hiện trao đổi công suất hai chiều một cách linh hoạt. Khâu biến đổi AC-AC trực tiếp sử dụng van bán dẫn hai chiều, biến đổi điện áp dạng sóng chữ nhật, tần số cao fpwm sang điện áp dạng sóng sin cơ bản tần số lƣới 50 Hz. Quá trình biến đổi có thể dùng nguyên lý cycloconverter để chuyển mạch tự nhiên [4, 5]. Quá trình điều chế cycloconverter tạo ra điện áp tần số thấp ở mỗi nửa chu kỳ, là dãy xung áp có độ rộng thay đổi từ 0 đến Tpwm, tùy thuộc vào vị trí cắt nhau của tín hiệu điều chế m(t) với xung răng cƣa của PWM.

     

    3. ĐIỀU CHẾ PWM CHO BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC DÙNG MATRIX CONVERTER

     

    Phƣơng pháp PWM và quá trình điều khiển chuyển mạch đƣợc giải thích qua đồ thị thời gian trên hình 2. Sóng răng cƣa tam giác đối xứng trên đồ thị hình 2.a có tần số fs gồm hai hệ xung c+(t) và c(t) ngƣợc nhau 180°. Xung điều khiển các van S1, S2, S3,

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    S4 của nghịch lƣu bên phía sơ cấp máy biến áp HF đƣợc điều khiển đồng bộ với xung răng cƣa ở tần số fs/2.

     

    Giả sử m(t) đang dƣơng. Khi đầu ra phía thứ cấp là điện áp dƣơng uf(+), giống nhƣ phƣơng pháp điều chế PWM một cực tính, ở phía thứ cấp máy biến áp HF hai van hai chiều V1, V2 điều khiển bởi tín hiệu ra của pwm+, là đầu ra của so sánh giữa tín hiệu sin mong muốn m(t) với xung răng cƣa c(t), còn nhánh van V3, V4 điều khiển tín hiệu ra của pwm, đầu ra khâu so sánh m(t) với c(t). Khi đầu ra thứ cấp máy biến áp là điện áp âm uf(-) thì ngƣợc lại, V1 (gồm S1a, S1b) V2 (gồm S2a. S2b) điều khiển bởi pwm, còn V3 (gồm S3a, S3b), V4 (gồm S4a, S4b) bởi pwm+.

     

    Thuật toán điều chế đƣợc xây dựng nhƣ giải thích qua các đồ thị trên hình 2. Tín hiệu uf có biên độ +/- 1, tần số fs/2, là tín hiệu điều khiển cầu S1, S2, S3, S4 bên phía sơ cấp máy biến áp HF. Tín hiệu +1 mở cặp van S1, S4, và -1 mở cặp van S3, S2. Tín hiệu đầu ra khâu so sánh của PWM cũng là +/- 1, gồm hai hệ thống upwm+ (là và upwm-). Khi đó lấy tích uf*upwm+ và uf*upwm- ta sẽ đƣợc ngay tín hiệu điều khiển van hai chiều V1, V3 và V2, V4 tƣơng ứng. Điểm đặc biệt của thuật toán điều chế ở đây là tín hiệu tích có tác dụng chỉnh lƣu lại điện áp ở đầu ra, bởi vậy tránh đƣợc phải sử dụng mạch logic phức tạp. Cần lƣu ý rằng đối với matrix converter thì V3 phải điều khiển ngƣợc với V1 và V2 ngƣợc với V4, điều này thể hiện trên đồ thị 2.e và 2.f. Các khoảng dẫn của van cũng đƣợc thể hiện trên đồ thị. Trên hình 2.g cho thấy dạng điện áp ra của matrix converter trong cả hai trƣờng hợp tín hiệu điều chế m(t) dƣơng và âm. Nhƣ vậy mạch logic có thể thiết kế thống nhất, khá đơn giản.

     

    uc+

    uc-

    m(t)

    (a)

     

    t

       
       

    t

    1

       

    uf

       

    (b)

       

    -1

       

    1

       

    upwm+

     

    t

    (c)

       

    -1

       

    1

       

    upwm-

     

    t

    (d)

       

    -1

       

    1

       

    V1=uf*upwm+

     

    t

    V2=\V1

       
    • -1
     

    1

                                                                             

    V4=uf*upwm-

                                                                           

    t

    V3=\V4

                                                                             
                                                                               

    (f)

                                                                                 
     

    -1

                                                                             
                                                                               
     

    1

    1

    3

    1

    1  3

    3

    1

    3

    3  1

    1

    3

    1

    1  3

    3

    1

    3

    3  1

    3

    3

    1 3

    1

    1

    1

    3  1

    3

    2

    3

    1 3

    1

     
     

    2

    4

    4

    4

    2  4

    2

    2

    2

    4  2

    4

    4

    4

    2  4

    2

    2

    2

    4  2

    4

    2

    2 4

    4

    2

    4

    4  2

    2

    4

    2

    2 4

    4

     
     

    +Uf

                                                                           
                                                                             
     

    um(t)

                                                                         

    t

    (g)

                                                                               
                                                                                 
     

    0

                                                                             
     

    -Uf

                                                                           
                                                                             

    Hình 2. Mẫu xung điều khiển PWM cho matrix converter

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    Mẫu xung điều khiển các van V1, V2, V3, V4 ứng với cả hai trƣờng hợp m(t) dƣơng và âm biểu diễn trên đồ thị hình 2e cùng với dạng xung của điện áp ra umc(t). Có thể thấy rằng điện áp ra có dạng của điều chế PWM một cực tính, khi m(t) dƣơng chỉ có các xung dƣơng và khi m(t) âm chỉ có các xung âm. Nếu biên độ điện áp xung chữ nhật ở thứ cấp máy biến áp HF là Uf thì điện áp ra umc(t) có 3 mức: +Uf, -Uf, và zero. Ở trạng thái ra không, dòng tải iL ngắn mạch qua nhánh van (V1, V2) hoặc (V3, V4), không đi qua cuộn dây máy biến áp và không làm ngắn mạch máy biến áp. Điều này mang lại hiệu quả cao cho sơ đồ, khác với quá trình điều chế ngay bên phía sơ cấp máy biến áp. Khi điều chế bên phía sơ cấp để tạo trạng thái không bên thứ cấp, dòng phải chạy quẩn bên phía sơ cấp làm tăng phát nóng cuộn dây. Có thể thấy rằng điện áp đầu ra máy biến áp luôn có dạng xung chữ nhật đối xứng, biên độ +/-Uf, tần số fs/2. Ký hiệu 4 trạng thái đƣợc phép của các van V1, …, V4 là (12), (14), (32), (34), tƣơng ứng với cặp van đóng (V1, V2), (V1, V4), (V3, V2), (V3, V4). Các trạng thái (V1, V3), (V2, V4) là không đƣợc phép vì làm ngắn mạch thứ cấp máy biến áp. Trạng thái (12) và (34) là hai trạng thái không, ngắn mạch đầu ra làm điện áp ra bằng không.

     

    4. HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN CHO BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC

     

     

     

    Hình 3. Hệ thống điều khiển cho bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    5. NGHỊCH LƢU ĐA MỨC XÂY DỤNG TRÊN BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC

     

    Có thể thấy rằng bộ biến đổi DC-AC-AC có phần một chiều cách ly qua khâu trung gian tần số cao và khâu AC-AC kiểu ma trận với mạch điều chế PWM và mạch

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    logic điều khiển chuyển mạch nêu trên hoàn toàn tƣơng đƣơng với một nghịch lƣu cầu chữ H nhƣ một khâu biến đổi DC-AC thông thƣờng. Vì vậy có thể xây dựng một nghịch lƣu đa mức kiểu dùng cầu H nối tầng từ chính bộ biến đổi này, trong đó vai trò của phía một chiều cách ly sẽ thể hiện rõ trong cấu trúc bộ biến đổi back-to-back giới thiệu sau đây. Nghịch lƣu đa mức sử dụng phƣơng pháp điều chế phase-shift để phân tải đều nhau giữa các cầu H thành phần trong toàn dải thay đổi của biên độ dạng sin ra mong muốn.

     

    HF

     

    Udc1

    V1b

     

    V1a

     

    HF

    V1b

    Udc2

    L

    V1a

     

    HF

     

    Udc3

    R

     

    V1b

     

    V1a

     

    Hình 4. Nghịch lƣu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    6. HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN CHO BỘ BIẾN ĐỔI

     

     

     

    Hình 5. Hệ thống điều khiển bộ biến tần đa mức xây dựng dựa trên bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    38

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    1. SƠ ĐỒ MÔ PHỎNG BỘ NGHỊCH LƢU ĐA MỨC XÂY DỰNG TRÊN BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC
                                         

    DC-AC converter with intermediate high frequency link. No modulation on primery side.

                   
                             

    Discre te ,

                         
                                       

    Low frequency voltage is formed by PWM on secondary side using a matrix converter.

                   
                         

    s  = 1e -006  s

                                         

    fs=250 Hz, Uout=220VAC, 50Hz.

                                         
                                                                                                               
       

    Breaker1

    powergui

    [LF_I]

    L

     
           

    LF

     
     

    c

     

    [I_HF1]

    [G_H1]

     

    i

         
     

    1

    2

                   

    –  +

                 

    v

    [LF_U]

                                                                                                                             
                                   

    LF2

         

    G_H

                 

       
             

    +

    g

       

    [G_L1]

    LF1

     

    IL

    V

    LF1

       

    DC

                       

    G_L

       

    AC

     
       

    180V

     

    Rd

     

    Cdc

     

    +

                 

    i

               
           

    v

    Udc

         

    A

     

    +  –

           

    HF1

         
                                           

    LF2

             
         

    V1

         

    B

     

    I_HF

    1

    2

         

    HF2

             
                                   

    H Bridge

           

    Subsystem

         
     

    Breaker2

         

    HF trans.

         
       

    c

    2

       

    [G_H2]

           
     

    1

                             
                 

    g

       

    [G_L2]

       

    G_H

           
               

    +

             

    LF1

           
                               

    G_L

         
     

    DC Rd1

       

    +

    v

               

    A

                   
         

                             

    HF1

         
     

    180V1

    V2

             

       

    B

       

    1

       

    2

       

    LF2

           
                                   

    HF2

           
                                 

    H Bridge1

             

    Subsystem1

         
     

    Breaker3

             

    HF trans.1

           
                     
         

    c

    2

         

    [G_H3]

               
         

    1

                                           
                   

    g

             

    G_H

           
                 

    +

     

    [G_L3]

         

    LF1

           
                                 

    G_L

         
       

    DC

    Rd2

    C dc3

     

    v

             

    A

             

    HF1

         
     

    180V2

     

                                               
       

    V3

             

       

    B

       

    1

       

    2

         

    LF2

                     
                                   

    HF2

       
                   

    H Bridge2

                             

    Subsystem2

     
               

    HF trans.2

         
                     
                                                                                                                               
                       

    SineWav e

    Gates high

       

    [G_H1]

     
                       

    Saw

         
           

    Out1

                     

    [G_L1]

     
             

    Out2

             

    HB

     

    Gates low

       
                               
               

    Out3

                                   
                 

    Out4

               

    PWM HF link Controller

                                 
                             
                 

    Out5

                   
               

    Out6

                       
             

    HB1_G

                     

    SineWav e

    Gates high

         

    [G_H2]

     
                         

    Saw

         
                             
       

    HB2_G

                 

    Gates low

         

    [G_L2]

     

    1/3

    HB3_G

             

    HB

         

    Gain2

    HB1

           

    PWM HF link Controller1

       

    HB2

           
             
     

    HB3

             
                                 

    SineWav e

    Gates high

         

    [G_H3]

     

    Sawtooth Generator

               
           

    Saw

    Gates low

       

    [G_L3]

     
     

    [LF_I]

             

    HB

           
           

    -K-

               

    PI(s)

                         
             

    PWM HF link Controller2

     

    Current

    errror

    Mod

    index

         

    [LF_U]

     

    -K-

       

    Gain

     

    PI current

                   

    [LF_I]

           
     

    Udc/3

                                     
                         

    PI(s)

             

    Low Freq. Current

         
                               

    Current Ref . [LF_U]

         
                     

    Error_Udc

           

    Low f req. v oltage

           
         

    Current1

     

    Timer

     

    PI voltage

       

    [I_HF1]

               
                                                                                                                               
                                                                                     

    High f req. current

             
                   
       

    Error_Udc

           
     

    Current

         

    8. KẾT QUẢ

     

           

    LF Current [A]

         

    300

         

    HF Current [A]

           

    200

                                 

    150

                 

    200

                   
                                   

    100

                                   

    50

                 

    100

                   
                                   

    0

                 

    0

                   
                                   

    -50

                                   

    -100

                 

    -100

                   
                                   

    -1500

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16   -2000

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

           

    Time [s]

                 

    Time [s]

           

    400

         

    LF voltage [A]

                   

    Udc/3

             
                   

    200

                     

    200

                   

    150

                     

    0

                   

    100

                     

    -200

                   

    50

                     
                                       

    -400

                   

    0

                     
                   

    0

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

     

    0

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

                       

    Time [s]

    Time [s]

     

    Kết quả mô phỏng cho ta thấy bộ van biến đổi hai chiều khi kết nối đa mức vẫn đảm bảo làm việc tốt. Nhƣ ta thấy trên hiển thị kết quả mô phỏng dòng trên tải iload luôn đảm bảo là hình sin và khi nhận năng lƣợng của lƣới thì dòng điện cùng pha với điện áp đầu vào còn khi trả năng lƣợng về lƣới thì dòng điện ngƣợc pha với điện áp đầu vào. Nhƣ vậy bộ nghịch lƣu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận

    39

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao không những vẫn đảm bảo đƣợc những ƣu điểm của bộ nghịch lƣu đa mức thông thƣờng mà bộ biến đổi này còn có khả năng trao đổi công suất hai chiều, điều khiển chuyển mạch van đơn giản dẫn đến điều chế cũng dễ dàng. Ngoài ra còn có khâu DC liên kết cách ly tần số cao không những cách ly sự làm việc độc lập giữa bên xoay chiều và một chiều mà việc dùng máy biến áp tần số cao còn có tác dụng hỗ trợ trong việc điều khiển chuyển mạch van dễ dàng và chính xác hơn.

     

    9. KẾT LUẬN

     

    Nhóm tác giả đã tìm hiểu, phân tích cấu trúc của bộ nghịch lƣu đa mức và khâu truyền dẫn công suất hai chiều Matrix-Converter; Nghiên cứu, phân tích phƣơng pháp điều khiển cho bộ nghịch lƣu. Trên cơ sở đó, phân tích và thiết kế thành công hệ thống điều khiển cho sơ đồ truyền dẫn công suất hai chiều Matrix-Converter. Nhóm cũng đã lập trình tính toán các thông số cho bộ điều chỉnh PID dùng trong các bộ biến đổi và xây dựng mô hình mô phỏng bộ nghịch lƣu đa mức, khâu truyền dẫn công suất hai chiều dùng Matix Converter. Đƣa ra các nhận xét, đánh giá các kết quả mô phỏng. Với kết quả hiện tại, bộ biến đổi hoạt động khá ổn định, và cho đáp ứng khá tốt với luật điều khiển đặt ra.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • José Rodríguez, Steffen Bernet, BinWu, Jorge O. Pontt, Samir Kouro; Multilevel Voltage-Source-Converter Topologies for Industrial Medium-Voltage Drives; IEEE TRANSACTIONS ON INDUSTRIAL ELECTRONICS, 54, NO. 6, DECEMBER 2007.
    • S. Lai and F. Z. Peng, “Multilevel converters – A new breed of power converters,” IEEE Trans. Ind. Applicat., vol. 32, pp. 509 – 517,May/June 1996.
    • José Rodríguez , Luis Luis, et al.; High-Voltage Multilevel Converter With Regeneration Capability; IEEE TRANSACTIONS ON INDUSTRIAL ELECTRONICS, VOL. 49, NO. 4, AUGUST 2002.
    • Koutroulis, J.Chatzakis, K.Kalaitzakis and N.C.Voulgaris; A bidirectional, sinusoidal, high-frequency inverter Design; IEE Proc.-Electr. Power Appl., Vol. 148, No. 4, July 2001.

    40

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    • José Rodríguez, Luis Morán, “High-Voltage Multilevel Converter With Regeneration Capability”.

    MULTI-LEVEL INVERTER BASED ON MATRIX CONVERTER CELLS WITH ISOLATED DC LINK OF HIGH FREQUENCY

     

    Le Phuong Hao, Tran Hung Cuong

     

    ABSTRACT

     

    Multi-level inverters (MLI) can easily provide output voltage with reduced harmonic distortion and low voltage level on power switches. However, a large number of required DC sources, which is equal to the number of levels on output voltage, are a serious drawback, especially when power exchange and isolation are both required. This paper presents a structure of H bridge cascaded multi-level inverter based on matrix converter. The cell on matrix converter directly connected with AC side of the intermediated DC-AC high frequency link, thus provide two sides of power exchange. High frequency link helps reduce size of the isolation transformer. The paper shows how to build modulation scheme and two control loops for a 7-levels converter with grid-connected possibility. The good simulation results have demonstrated the effectiveness of this approach.

     

    Key words: Mult I – level inverters (MLI)

     

     

     

    41


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%C3%83-H%C3%93A-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-C%C3%82N-B%E1%BA%B0NG-GI%E1%BB%AEA-S%E1%BB%B0-B%E1%BA%A2O-M%E1%BA%ACT-V%C3%80-HI%E1%BB%86U-SU%E1%BA%A4T-TH%E1%BB%B0C-THI-%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

     

    Lê Đình Nghiệp1, Trịnh Thị Phú1, Lê Văn Hào1

     

    TÓM TẮT

     

    Phát triển một chiến lược mã hóa cơ sở dữ liệu (CSDL) phải xem xét đến yếu tố cân bằng giữa yêu cầu về an ninh với mong muốn cho hiệu suất cao. Mã hóa mức CSDL độc lập với mã hóa ở mức tập tin hay ứng dụng là phương pháp lý tưởng để bảo vệ dữ liệu nhạy cảm và cho hiệu suất tối ưu. Chỉ dựa vào phạm vi bảo mật và kiểm soát truy cập sẽ không cung cấp bảo mật đầy đủ. Giải pháp mã hóa CSDL đóng gói được chứng minh là lựa chọn tốt nhất để bảo vệ dữ liệu nhạy cảm. Đây là một giải pháp chuyên biệt và phức tạp, nếu nguồn lực nội bộ không có chuyên môn về mật mã trong môi trường thông tin, chuyên gia bên ngoài nên được sử dụng để đảm bảo hiệu suất thực thi cao. Bài viết này xem xét các khía cạnh hiệu suất của các kiến trúc chi phối việc mã hoá CSDL.

     

    Từ khóa: Cơ sở dữ liệu, hiệu suất thực thi, an ninh cơ sở dữ liệu, mật mã, mã hóa.

     

    1. MỞ ĐẦU

     

    Cùng với sự bùng nổ thông tin, sự bảo mật của nó cũng yêu cầu tăng lên. Hiện nay có rất nhiều kiến trúc, kỹ thuật, và công cụ sẵn có và các tổ chức có thể áp dụng để đảm bảo cả 2 mặt an ninh và hiệu suất thực thi đƣợc tối ƣu hóa. Mỗi cách tiếp cận có ƣu điểm và nhƣợc điểm của nó. An ninh CSDL là một lĩnh vực nghiên cứu rộng bao gồm các chủ đề nhƣ bảo mật cơ sở dữ liệu thống kê [5], phát hiện xâm nhập trái phép [7], và gần đây nhất là bảo tồn sự riêng tƣ trong khai thác dữ liệu [6]. Các nghiên cứu về an toàn thông tin trƣớc [3] [1] đây không giải quyết các vấn đề quan trọng về hiệu suất thực thi. Trong bài viết này, chúng tôi xác định và đánh giá các vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tính bảo mật cao đồng thời vẫn đảm bảo hiệu suất thực thi trong CSDL, ứng dụng một kiến trúc cụ thể cài đặt cho CSDL thi trắc nghiệm trực tuyến. Để đạt đƣợc điều đó, chúng tôi đã phân tích nhiều giải pháp khác nhau.

     

    2. CÁC NHÂN TỐ HỖ TRỢ MÃ HÓA

     

    Có ba nhân tố chính hỗ trợ mã hóa trong CSDL. Một trong các nhân tố đó là đặc tính chia nhỏ đƣợc của dữ liệu đƣợc mã hóa. Cột, hàng, trang dữ liệu thƣờng có

     

    • Giảng viên Khoa Công nghệ Thông tin và Truyền thông, trường Đại học Hồng Đức

    106

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    kích thƣớc là 4KB có thể là các lựa chọn tốt. Trong đó cột dữ liệu là sự lựa chọn tốt nhất, bởi vì nó sẽ làm giảm thiểu kích thƣớc cần mã hóa. Tuy nhiên, chúng tôi đã phát hiện ra, điều này yêu cầu phƣơng pháp mã hóa đƣợc nhúng bên trong CSDL quan hệ hoặc các máy chủ CSDL. Nếu bỏ qua đặc tính chia nhỏ để bảo vệ sẽ ảnh hƣởng không nhỏ đến mức độ bảo mật [8]. Nhân tố thứ hai là sự không tƣơng thích giữa phần mềm và mức phần cứng của các thuật toán mã hóa. Kết quả cho thấy nhân tố này làm cho tác động đáng kể về hiệu suất. Chúng tôi đã phát hiện ra sự mã hóa bên trong các CSDL quan hệ dựa trên sự cài đặt ở mức phần cứng của các thuật toán mã hóa mất một chi phí khởi tạo đáng kể cho một thao tác mã hoá. Chỉ có một vài nhà cung cấp CSDL hiện đang hỗ trợ mã hóa ở mức hàng hoặc trang dữ liệu làm giảm chi phí này trên dữ liệu lớn. Nhân tố thứ ba là vị trí của các dịch vụ mã hóa – dịch vụ cục bộ, dịch vụ từ xa, hoặc dịch vụ mạng đính kèm. Chọn điểm thực hiện sẽ ảnh hƣởng đáng kể đến mô hình bảo mật tổng thể. Dữ liệu mã hóa càng sớm, càng an toàn hơn trong môi trƣờng CSDL.

     

    2.1. Mã hóa mức CSDL

     

    Mã hóa mức CSDL cho phép đảm bảo dữ liệu khi nó đƣợc đọc/ghi từ một CSDL. Loại mã hóa này thƣờng đƣợc thực hiện ở mức cột bên trong một bảng CSDL, nếu kết hợp bảo mật CSDL với truy cập điều khiển, có thể ngăn chặn hành vi trộm cắp dữ liệu quan trọng. Mã hóa mức CSDL cũng bảo vệ chống lại một loạt mối đe dọa, nhƣ phƣơng tiện lƣu trữ bị đánh cắp, Các tấn công vào thiết bị lƣu trữ, tấn công mức CSDL. Mã hóa mức CSDL loại bỏ tất cả thay đổi ứng dụng đƣợc yêu cầu trong mô hình mức ứng dụng, và tạo ra một xu hƣớng phát triển mã hóa nhúng bên trong một hệ quản trị CSDL thông qua việc sử dụng các thủ tục lƣu trữ và các kích hoạt. Vì mã hóa/giải mã chỉ xảy ra bên trong CSDL, giải pháp này không yêu cầu ngƣời dùng phải hiểu hay khám phá những đặc điểm truy cập ứng dụng dữ liệu đƣợc mã hóa. Giải pháp này để chắc chắn dữ liệu an toàn, nó đòi hỏi một số công việc tích hợp ở mức CSDL, bao gồm sửa đổi lƣợc đồ CSDL đã có, sử dụng các kích hoạt và các thủ tục lƣu trữ để thực hiện mã hóa/giải mã. Ngoài ra, cần xem xét cẩn thận đến tác động về mặt hiệu năng, đặc biệt là khi việc hỗ trợ cho tăng tốc độ tìm kiếm theo chỉ số trên dữ liệu mã hóa không đƣợc sử dụng. Trƣớc tiên, cần áp dụng một phƣơng pháp tiếp cận để mã hóa những dữ liệu nhạy cảm. Sau đó, phải xem xét mức độ mã hóa đƣợc áp dụng để tận dụng phần cứng tăng mức độ an ninh, giảm tải quá trình mã hóa nhằm giảm thiểu các tác động xấu đến hiệu suất. Kiểu mã hoá này dễ bị hƣ tổn ở chỗ nó không có khả năng bảo vệ chống lại các cuộc tấn công mức ứng dụng vì chức năng mã hóa đƣợc thực hiện nghiêm ngặt bên trong hệ quản trị CSDL.

     

    107

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    2.2. Mã hóa ở mức lƣu trữ

     

    Mã hóa cấp lƣu trữ cho phép mã hóa dữ liệu ở hệ thống lƣu trữ, ở cấp độ tập tin hoặc ở cấp độ khối. Ngày nay trong môi trƣờng lƣu trữ lớn, mã hóa ở mức lƣu trữ xác định một yêu cầu đảm bảo an ninh dữ liệu mà không cần sử dụng mặt nạ hoặc phân vùng LUN (Logical Unit Number). Trong khi giải pháp này có thể phân nhóm làm việc và cung cấp các bảo mật, nó cũng có một số hạn chế. Chỉ bảo vệ chống lại một phạm vi hẹp các mối đe dọa, cụ thể là khi phƣơng tiện truyền thông bị trộm cắp và các tấn công hệ thống lƣu trữ. Tuy nhiên, mã hóa ở mức lƣu trữ cấp không bảo vệ chống lại phần lớn các cuộc tấn công mức ứng dụng hoặc CSDL, đe dọa tới dữ liệu nhạy cảm. Cơ chế bảo mật lƣu trữ hiện tại chỉ cung cấp mã hóa mức khối, chúng không cung cấp khả năng mã hóa dữ liệu bên trong một ứng dụng hoặc CSDL mức trƣờng dữ liệu. Hậu quả là chỉ có thể mã hóa toàn bộ một CSDL, chứ không mã hóa đƣợc các thông tin cụ thể nằm trong nó.

     

    3. LỰA CHỌN KIẾN TRÚC CÀI ĐẶT MÃ HÓA

     

    Chúng tôi đã xem xét một số kết hợp có thể có của các cách tiếp cận mã hóa khác nhau, cụ thể là ở cấp độ phần cứng và phần mềm, tính chia nhỏ dữ liệu khác nhau. Chúng tôi bắt đầu với phần mềm mã hóa ở cấp cơ sở. Sau đó chúng tôi phát triển hỗ trợ tăng tốc tìm kiếm có hỗ trợ trên chỉ số với các trƣờng đƣợc mã hóa, và xem xét hiệu suất thấp khi tìm kiếm trên các trƣờng mã hóa, bao gồm các trƣờng chỉ số chính.

     

    3.1. Mã hóa phần mềm cơ bản

     

    Trƣớc tiên, chúng tôi xem xét một số thuật toán mã hóa AES, RSA và Blowfish sử dụng cho việc cài đặt. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm bằng cách sử dụng các thuật toán này và thấy rằng hiệu suất và bảo mật của thuật toán AES là tốt hơn so với RSA và Blowfish. AES rất nhanh so với thuật toán mã hóa nổi tiếng khác nhƣ DES. DES là một thuật toán mã hóa khối 64-bit, có nghĩa là dữ liệu đƣợc mã hóa và giải mã trong khối 64-bit. Điều này không có ý nghĩa trên dữ liệu ngắn. Dữ liệu 8-bit, khi mã hóa sẽ cho kết quả 64 bit. Chúng tôi cũng đã cài đặt phƣơng pháp bảo mật nhằm duy trì kiểu, chiều dài trƣờng dữ liệu sau khi đƣợc mã hoá trong CSDL của mình. Để cài đặt AES, ngƣời dùng tự định nghĩa một hàm (còn gọi là hàm ngoài) và đăng ký vào CSDL. Một khi nó đã đƣợc đăng ký, nó có thể đƣợc sử dụng để mã hóa dữ liệu trên một hoặc nhiều trƣờng. Việc truy xuất dữ liệu là an toàn vì dữ liệu lƣu trữ đƣợc mã hóa trƣớc khi thao tác trên chúng.

     

    3.2 Mã hóa cấp độ phần cứng cơ bản

     

    Chúng tôi đã nghiên cứu sử dụng HSM FIPS -140- 1 mức 3 với sự kết hợp giữa các khóa phần cứng và phần mềm. Các khóa chính đƣợc tạo ra đƣợc mã

     

    108

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    hóa/giải mã trên HSM. Các khóa chính không đƣợc đƣa ra bên ngoài HSM. Chi phí mã hóa/giải mã bao gồm chi phí khởi tạo, trong đó gồm hàm và lời gọi tới phần cứng, và chi phí thực hiện thuật toán mã hóa/giải mã, chi phí này phụ thuộc vào kích thƣớc của dữ liệu đầu vào. Điều này nhấn mạnh rằng, chi phí khởi tạo sẽ đƣợc tính mỗi khi một hàng đƣợc xử lý để mã hóa. Chúng tôi sử dụng phần cứng mã hóa từ các nhà cung cấp khác nhau, bao gồm IBM, Eracom, nCipher, và Chrysalis làm thử nghiệm. Trong thử nghiệm, chúng tôi sử dụng bộ vi xử lý kiến trúc mã hóa IBM S/390 có sẵn trong môi trƣờng IBM OS/390. IBM DB2 dùng cho OS/390 cung cấp một thiết bị gọi là “editproc” (còn gọi là các thủ tục chỉnh sửa thƣờng xuyên), có thể đƣợc kết hợp với một bảng CSDL. Một thủ tục chỉnh sửa đƣợc gọi cho một hàng của bảng CSDL mỗi khi hàng đƣợc truy cập bởi DBMS. Chúng tôi đăng ký một thủ tục chỉnh sửa mã hóa/giải mã cho các bảng. Khi một yêu cầu đọc/ghi tác động đến một hàng trong bảng dữ liệu này, thủ tục chỉnh sửa gọi thuật toán mã hóa/giải mã mà đƣợc cài đặt trong phần cứng cho toàn bộ hàng. Chúng tôi lựa chọn DES [3] cho việc mã hóa mức phần cứng.

     

    4. HIỆU SUẤT CỦA CÁC KIẾN TRÚC MÃ HÓA

     

    Có ba kiến trúc mã hóa là: 1) thiết bị mã hóa đính kèm mạng, 2) Phần mềm,

     

    • Sự kết hợp phần mềm và Module an toàn phần cứng (HSM). Mỗi kiến trúc có ƣu và nhƣợc điểm của nó.

    4.1. Xem xét hiệu suất

     

    Chúng tôi nghiên cứu SQL chuẩn sử dụng trong thí nghiệm của mình. Dùng một số thí nghiệm đơn giản trên Oracle và DB2. Các khía cạnh công nghệ để phát triển CSDL riêng nhƣ một thành phần cơ sở hạ tầng công nghệ dẫn đến các thách thức nghiên cứu mới. Đầu tiên và trƣớc hết là vấn đề quản lý khóa. Hầu hết các công ty xem dữ liệu của họ nhƣ là một tài sản vô giá. Hệ thống quản lý khoá sẽ cần phải cung cấp biện pháp an ninh đủ mạnh để bảo vệ việc sử dụng phân tán khóa. Chúng tôi đề xuất kết hợp giữa phần cứng và phần mềm dựa trên hệ thống mã hóa dữ liệu là giải pháp cho vấn đề này. Đề xuất một khả năng kiểm soát và chính sách phân phối để kiểm soát việc sử dụng các khóa. Nghiên cứu chi tiết về giải pháp này đƣợc trình bày dƣới đây.

     

    4.2. Mã hóa đính kèm mạng

     

    Mã hóa đính kèm mạng (Encryption Network Attached (NAED)) đƣợc cài đặt nhƣ một dụng cụ mã hóa đính kèm mạng với quy mô, số lƣợng của các thiết bị có sẵn. Một NAED là một thiết bị phần cứng mà cƣ trú trên mạng, định vị các khóa

    109

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    mã hóa và thực thi tất cả các thao tác mã hóa. Cấu trúc này bổ sung khóa vật lý tách rời với dữ liệu. Tuy nhiên, việc bổ sung này đi kèm với một giá đắt, hiệu suất có thể còn tồi tệ hơn 10-100 lần so với phƣơng pháp khác. Các tiêu chuẩn đã cho thấy một thông lƣợng giữa 440 và 1.100 hàng mã hóa mỗi giây. Một hệ thống với 12 máy chủ cơ sở dữ liệu thực hiện mã hóa 4.200 hàng mã hóa mỗi giây với năm dụng cụ mã hóa đính kèm mạng.

     

    Có ba chi phí đi kèm với kiến trúc mạng này. Hãy cùng khám phá một ví dụ đơn giản để chứng minh các chi phí trên khi một ngƣời dùng yêu cầu 500.000 dòng dữ liệu đƣợc mã hóa:

     

    Khi một ngƣời dùng yêu cầu dữ liệu an toàn, hệ thống an ninh quản lý tiến trình lấy dữ liệu đƣợc mã hóa từ cơ sở dữ liệu, đảm bảo yêu cầu là từ một ngƣời dùng có thẩm quyền, và thực hiện quá trình giải mã. Trong kiến trúc này, các tác nhân mã hóa xử lý các yêu cầu và khôi phục các dữ liệu đƣợc mã hóa từ CSDL. Nó sẽ gửi các dữ liệu đƣợc mã hóa qua mạng để đƣợc giải mã bởi các NAED. Bên trong NAED là khóa và các thuật toán để giải mã dữ liệu. Tuy nhiên, một khi giải mã, thông tin bản rõ cần phải đƣợc gửi lại đƣờng truyền đến máy chủ CSDL. Điều này đòi hỏi chúng ta bảo mật lại thông tin trong quá trình chuyển, thƣờng là thông qua một quá trình trao đổi an toàn nhƣ SSL. Khi dữ liệu tới tác nhân trên máy chủ CSDL, nó phải cho ra đƣợc bản rõ, và sau đó đƣợc phục vụ cho đến ứng dụng gọi đến.

     

    1. Kiến trúc NAED có ba đặc điểm của mã hóa. Trong ví dụ trên, 500.000 dòng dữ liệu đƣợc gửi đi trên đƣờng truyền đƣợc giải mã tại NAED. Các bản rõ đƣợc mã hóa sử dụng SSL để gửi lại qua mạng và giải mã ở các CSDL để đƣợc bản rõ phục vụ cho các ứng dụng.
    1. Chi phí mạng đƣợc tính bằng việc gửi tất cả 500.000 hàng qua mạng để đƣợc giải mã bởi các NAED và sau đó phải trở lại trên mạng để các CSDL.
    1. NAED là một thiết bị không trạng thái và cần phải đƣợc khởi tạo/thiết lập trƣớc khi mỗi hàng đƣợc giải mã. Trong ví dụ đơn giản này, NAED đƣợc thiết lập 500.000 lần. Các thiết lập cần chi phí khá lớn.

    Kiến trúc thiết bị mã hóa đính kèm mạng (NAED) đã đƣợc chứng minh trong các thử nghiệm, do mất ba loại chi phí nên tồi tệ hơn cấu trúc khác. Mỗi lần đi chuyển trên mạng là khoảng 1 phần nghìn giây cho mỗi hàng. Trong ví dụ trên đây sẽ mất 500.000 x 1ms = 500 giây so với 1-25 giây với cấu trúc khác.

     

    4.3. Hệ thống hybrid

     

    Cấu trúc Hybrid kết hợp việc nâng cao hiệu suất của cấu trúc phần mềm với việc bổ sung an ninh cho thiết bị phần cứng. Một HSM, trong một số trƣờng hợp, là một cách lý tƣởng để bổ sung thêm bảo vệ cho các phần tử quan trọng nhất – các khóa

    110

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    mã hóa. Các thiết bị HSM đƣợc chứng minh là nhanh và nhiễu, tuyệt vời để lƣu trữ những viên ngọc quý – các khóa mã hóa.

     

    Việc thực hiện trong kiến trúc này là cơ bản giống với cấu trúc phần mềm trƣớc đó, với một quá cảnh thƣờng xuyên tới HSM để làm mới và lấy chìa khóa mã hóa tổng thể. Trong phần lớn thời gian xử lý, hiệu suất là giống với giải pháp phần mềm. Trong ví dụ 500.000 hàng của chúng tôi, ngƣợc lại với cấu trúc NAED – nơi mà tất cả 500.000 hàng truyền đến NAED – dịch vụ mã hóa trong máy chủ CSDL truy cập các khóa từ HSM mỗi lần và sau đó tất cả các hoạt động mã hóa đƣợc hoàn thành trong CSDL bởi các dịch vụ phần mềm mã hóa.

     

    Hệ thống Hybrid thực hiện quy trình phân phối có quy mô với số lƣợng các bộ vi xử lý và máy chủ CSDL có sẵn. Trong kiến trúc phần mềm máy chủ CSDL sẽ trở thành nền tảng cho các dịch vụ mã hóa. Khi các ứng dụng đòi hỏi thông tin an toàn, dịch vụ mã hóa yêu cầu các dữ liệu đƣợc mã hóa từ máy chủ CSDL, thực hiện giải mã cục bộ, trả về thông tin bản rõ cho các ứng dụng gọi đến. Tất cả chi phí mạng và mã hóa (ví dụ nhƣ SSL) đã đƣợc loại bỏ khỏi đƣờng truyền, tối ƣu hóa thời gian trả lời và thông lƣợng. Ngoài ra, vì nó không sử dụng một thiết bị phần cứng riêng biệt nên không có bất kỳ chi phí thiết lập. Trong ví dụ của chúng tôi, giải mã của 500.000 hàng đƣợc xử lý trong các máy chủ CSDL. Do sự giảm các vị trí mã hóa, loại bỏ các lƣu lƣợng đƣờng truyền, và chi phí thiết lập, nên hiệu suất rất cao. Trong ví dụ của chúng tôi 500.000 hàng, hiệu suất đƣợc cải thiện rất nhiều: 500.000 x 0,05 ms = 25 * giây.

     

    SQL Server cho thấy thông lƣợng vào khoảng 3.000 đến 32.000 hàng đƣợc giải mã mỗi giây, tùy thuộc vào sự kết hợp tối ƣu của mức mã hóa cột và mức mã hóa bảng, và số lƣợng dữ liệu bảng vùng đệm, SQL Server 2000 ban đầu kiểm tra sử dụng một hệ thống kiểm tra cấp thấp chạy Windows với một bộ xử lý 1,6 GHz, 1 GB bộ nhớ RAM vật lý, và 3 GB bộ nhớ RAM ảo.

     

    Các tiêu chuẩn của DB2 của IBM cho thấy một thông lƣợng 187.000 dòng giải mã mỗi giây, với 20 ngƣời dùng đồng thời. Điều này cho khả năng giải mã 187.000 bảng CSDL hàng mỗi giây. Các bảng kiểm tra bao gồm 80 byte dữ liệu đƣợc mã hóa trong mỗi hàng. Chúng tôi bão hòa tất cả sáu bộ vi xử lý RS6000 sử dụng 100% khi thử nghiệm với 1.000 ngƣời sử dụng đồng thời.

     

    4.4. Hạn chế số lƣợng các hoạt động mật mã

     

    Nhƣ đã đề cập trong thảo luận ở trên, mỗi hoạt động mã hóa có thêm chi phí. Có nhiều kỹ thuật, hỗ trợ trong các giải pháp để giới hạn số hoạt động cần thiết. Sử dụng các kỹ thuật cho biết sự khác biệt giữa chấp nhận đƣợc và không thể chấp nhận trên phƣơng diện hiệu suất.

    111

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    Việc lập chỉ mục, cho phép mã hóa dữ liệu đƣợc tìm kiếm mà không cần thiết của giải mã thành các bản rõ trƣớc. Nhiều giải pháp vẫn yêu cầu các dữ liệu đƣợc giải mã trƣớc khi đƣợc tìm kiếm. Điều này tạo ra một sự gia tăng lớn về số lƣợng các hoạt động mã hóa và do đó cản trở tới hiệu suất. Ngoài ra thêm một chỉ mục tìm kiếm tăng tốc giảm thời gian trả lời và số lƣợng hàng giải mã, từ 10 đến 30 lần cho một số các truy vấn khi so sánh với một giải pháp mà không đƣợc sử dụng một chỉ mục tìm kiếm tăng tốc cho các cột đƣợc mã hóa.

     

    Tìm kiếm so khớp chính xác một giá trị đƣợc mã hóa trong một cột là có thể, với điều kiện là các vector khởi động cùng đƣợc sử dụng cho toàn bộ cột. Mặt khác, tìm kiếm so khớp một phần trên dữ liệu đƣợc mã hóa trong một cơ sở dữ liệu có thể là thử thách và có thể dẫn đến việc duyệt toàn bộ bảng nếu hỗ trợ tìm kiếm theo chỉ số không đƣợc sử dụng. Cột mã hóa có thể là một khóa chính hoặc một phần của một khóa chính, vì mã hóa một phần dữ liệu là ổn định (có nghĩa là nó luôn luôn tạo ra kết quả giống nhau), và không có hai phần riêng biệt của dữ liệu sẽ cho ra các bản mã hóa giống nhau, miễn là khóa và vectơ khởi động đƣợc sử dụng là nhất quán. Tuy nhiên, khi mã hóa toàn bộ cột của một cơ sở dữ liệu có sẵn, tùy thuộc vào phƣơng pháp chuyển đổi dữ liệu, ngƣời quản trị có thể phải xóa những khóa chính đã có cũng nhƣ các khoá liên kết khác và tạo lại chúng sau khi dữ liệu đƣợc mã hóa. Vì lý do này, mã hóa cột là một phần của một ràng buộc khóa chính không đƣợc khuyến cáo nếu việc hỗ trợ tìm kiếm theo chỉ số trên dữ liệu mã hóa không đƣợc sử dụng. Tuy nhiên, sự quan tâm đặc biệt phải đƣợc thực hiện trong quá trình tạo khóa. Để chuyển đổi một bảng hiện có mà vẫn giữ các dữ liệu đƣợc mã hóa, tất cả các bảng mà nó có những ràng buộc trƣớc tiên phải đƣợc xác định. Tất cả các bảng tham chiếu phải đƣợc chuyển đổi cho phù hợp. Trong một số trƣờng hợp, các ràng buộc tham chiếu phải đƣợc tạm thời vô hiệu hóa hoặc xóa bỏ để cho phép di chuyển dữ liệu hiện có. Chúng có thể đƣợc kích hoạt hoặc tái tạo lại một khi dữ liệu cho tất cả các bảng liên quan đƣợc mã hóa. Do tính phức tạp này, mã hóa một cột mà là một phần của ràng buộc khóa ngoại không đƣợc khuyến cáo, nếu các công cụ triển khai tự động không đƣợc sử dụng. Không giống nhƣ các chỉ số và khóa chính, mã hóa các khóa ngoài thƣờng không ảnh hƣởng tới hiệu suất.

     

    Một bƣớc quan trọng trong việc đƣa ra chiến lƣợc mã hóa là xác định các dữ liệu cần đƣợc bảo vệ và các dữ liệu có thể tồn tại ở dạng bản rõ. Nếu bỏ qua bƣớc này nhiều dữ liệu đƣợc mã hóa hơn so với yêu cầu. Mặc dù nó có vẻ vô hại, cung cấp nhiều bảo vệ hơn, nhƣng mã hóa nhiều dữ liệu hơn tất yếu phải trả một giá cho hiệu suất hoạt động. Cấp độ mã hóa cột cần đƣợc cài đặt để hỗ trợ chính sách bảo mật dữ liệu.

     

    112

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    KẾT LUẬN

     

    Chúng tôi xác định hiệu suất là một vấn đề đặc biệt quan trọng thiết yếu để đánh giá các giải pháp khác nhau cho việc mã hóa cơ sở dữ liệu. Trong bài báo này, chúng tôi đã thảo luận về Hybrid, một giải pháp bảo mật CSDL đƣợc xây dựng trên nhiều hệ CSDL quan hệ lớn. Mô hình Hybrid đƣa ra nhiều thách thức đáng kể trong đó có các chi phí bổ sung tìm kiếm trên dữ liệu đƣợc mã hóa đảm bảo sự riêng tƣ của dữ liệu, và quản lý của thành phần của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Chúng tôi đã giải quyết những vấn đề này và áp dụng nó vào trong CSDL thi trắc nghiệm online. Mô hình Hybrid nhấn mạnh một cách tiếp cận rộng cho vấn đề bảo mật dữ liệu và tính riêng tƣ của dữ liệu trong đó một quản trị viên an ninh bảo vệ sự riêng tƣ

     

    • mức độ của các trƣờng và bản ghi, và quản trị CSDL cung cấp cơ chế liên tục để tạo, lƣu trữ, đảm bảo truy cập an toàn tới cơ sở dữ liệu. Một mô hình nhƣ vậy làm giảm bớt sự cần thiết cho các tổ chức mua phần cứng đắt tiền, đối phó với những thay đổi phần mềm, và thuê chuyên gia làm nhiệm vụ phát triển quản lý khóa mã hóa. Qua đánh giá với các chƣơng trình mã hóa khác nhau chúng tôi thấy sự sụt giảm mạnh mẽ thời gian thực hiện truy vấn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Davida, D. Wells, and J. Kam. A database encryption system with subkeys. ACM Transactions on Database Systems, 6(2), 1981.
    • Data encryption standard. FIPS PUB 46, Federal Information Processing Standards Publication, 1977.
    • He and M. Wang. Encryption in relational database management systems. In Proc. Fourteenth Annual IFIP WG 11.3 Working Conference on Database

    Security (DBSec‟00), Schoorl, The Netherlands, 2000.

     

    • Mattsson, Ulf T., „A DATABASE ENCRYPTION SOLUTION‟,

    LinuxSecurity.com, 28 July 2004, http://www.linuxsecurity.com/content/view/116068/65/

     

    • R. Adam and J. C. Wortman. Security-control methods for statistical databases. ACMComputing Surveys, 21(4):515– 556, Dec. 1989.
    • Agrawal and J. Kiernan. Watermarking relational databases. In 28th Int‟l

    Conference on Very Large Databases, Hong Kong, China, August 2002.

     

    • F. Lunt. A survey of intrusion detection techniques. Computer & Security, 12(4), 1993.

    113

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    DATA ENCRYPTION – BALANCE BETWEEN SECURITY AND PERORMANCE

     

    Le Dinh Nghiep, Trinh Thi Phu, Le Van Hao

     

    ABSTRACT

     

    Developing a database encryption strategy is necessary to consider the balance between security requirements and the desire for high performance. Encryption at the database level, versus application and file level is an ideal approach to protect sensitive data and optimize performance. Relying on perimeter security and database access control is not adequate security. Packaged database encryption solutions have proven to be the best alternative. This is a specialized and complex solution, if internal resources do not have the cryptography expertise in relation to information technology environment, outside expertise should be used to ensure superior performance. This paper reviews the performance aspects of topologies for database encryption.

     

    Key word: Performance, Database Security, Encryption, Privacy.

     

     

     

     

     

    114


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%9E-ng%C6%B0%E1%BB%A1ng-c%E1%BB%ADa-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%E1%BB%AD-trong-tin-h%E1%BB%8Dc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Ở NGƢỠNG CỬA CỦA CÁCH MẠNG LƢỢNG TỬ TRONG TIN HỌC

     

    Nguyễn Mạnh An1, Nguyễn Văn Hóa2, Cao Long Vân3

     

    TÓM TẮT

     

    Từ khóa:

     

    Tin học và lý thuyết lƣợng tử chắc chắn là hai dòng thác trí thức lớn nhất của thế kỷ

     

    • đã làm thay đổi hoàn toàn nền văn minh của nhân loại. Tin học, nói khác đi là khoa học về máy tinh, mặc dù phôi thai từ thời Charles Babbage vào đầu thế kỷ XIX, đã có đƣợc cơ sở toán học vững chắc nhờ các công trình của nhà toán học gốc Hung (mà ngƣời ta thƣờng nói rằng, đó là một trong những ngƣời của „Sao Hỏa” đã hạ cánh xuống Hung-Ga-Ri vào đầu thế kỷ XX) John von Neumann trong những năm bốn mƣơi của thế kỷ trƣớc. Một sự trùng lặp thú vị là Ông cũng đã xây dựng cơ sở toán học cho lý thuyết lƣợng tử, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại và là lĩnh vực của vật lý đã mang lại những hiệu quả thực tiễn lớn lao. Hai hiệu quả rực rỡ nhất là năng lƣợng hạt nhân và công nghệ bán dẫn, đƣợc khai trƣơng bởi hai thí nghiệm nổi tiếng: bắn phá hạt nhân nguyên tử của Ernest Rutherford năm 1919 và tìm ra các bóng bán dẫn (transistor) năm 1948 bởi John Bardeen, Walter Brattain và William Shocley (Giải Nobel năm 1956). Có thể nói rằng việc phát hiện ra bóng bán dẫn đối với nhân loại là quan trọng hơn việc tìm ra năng lƣợng hạt nhân bởi lẽ năng lƣợng hạt nhân, mặc dù là một nguồn năng lƣợng mới quan trọng, đến nay vẫn chƣa chiếm đƣợc ƣu thế trong các nguồn năng lƣợng nói chung nhƣ đã đƣợc tiềm vọng, thậm chí do vấn đề an ninh mà một số nƣớc trên thế giới (nhƣ Đức) đã bỏ dần nguồn năng lƣợng này. Ngƣợc lại việc phát hiện ra các bóng bán dẫn, và sau đó là các hệ liên kết (intergrated circuit) năm 1959 (Jack Kilby, Giải Nobel năm 2000) đã đƣa đến việc vi hóa các máy tính ở mức không thể tƣởng tƣợng đƣợc trƣớc đó, thúc đẩy sự phát triển vĩ đại của loài ngƣời. Việc „cài đặt” bán dẫn các ý tƣởng của Von Neuman đã dẫn đến việc sản xuất ra các máy tính càng ngày càng nhỏ, càng nhanh và càng rẻ.

    1 ,2 TS. Khoa KHTN, Trường Đại học Hồng Đức

    • TS. Khoa Vật lý, Đại học Zielona Góra

    13

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Tốc độ phát triển vi tính hóa đƣợc mô tả tốt nhất qua một quy luật kinh nghiệm (empirical) của Gordon Moore, một trong những ngƣời sáng lập ra công ty máy tính nổi tiếng Intel. Qua quan sát sự gia tăng số lƣợng bóng bán dẫn trong một hệ hợp nhất (intergrated system), ông đã rút ra đƣợc quy luật rằng, hàng năm số lƣợng này sẽ tăng gấp đôi (sau chu kỳ này đƣợc thay thành hai năm một). Theo quy luật này, càng ngày càng nhiều các bóng bán dẫn đƣợc đặt trong một hệ hợp nhất càng ngày càng nhỏ. Đến một lúc nào đó trong tƣơng lai gần, ta sẽ tiến đến các giới hạn công nghệ và kinh tế đƣợc xác định bởi chính vật lý, điều có lẽ đã xảy ra hiện nay. Mọi quá trình quang ấn (photolitographic) hiện đại đều vô dụng. Không chỉ kích thƣớc của các bóng bán dẫn bị nhỏ đi mà các các nối giữa chúng cũng bị thu nhỏ lại. Các mật độ dòng lớn sẽ phá hủy các mạch dẫn này. Một vấn đề khó khăn khác là giải nhiệt đƣợc sinh ra từ một mạch nhỏ nhƣ vậy. Ở đây nhiệt năng đƣợc sinh ra bởi hai nguyên nhân. Thứ nhất, các bóng bán dẫn tắt và bật trong hệ hợp nhất rất không có hiệu suất về năng lƣợng, một phần không nhỏ năng lƣợng bị mất mát qua giải nhiệt. Thứ hai, một định luật do Landauer tìm ra nói rằng, cƣ xóa đi một bit thông tin, ta sẽ mất đi một năng lƣợng ở dạng tỏa nhiệt, cỡ bằng động năng của một phân tử khí ở nhiệt độ trong phòng. Các cổng logic cơ sở cổ điển nhƣ AND, OR hoạt động theo kiểu là ở đầu vào ta có hai bit, còn ở đầu ra chỉ còn một bit, do vậy một bit đã bị xóa, điều này gây ra sự tỏa nhiệt. Lúc đó ta nói rằng các cổng này là không thuận nghịch. Do nhiều tỷ tính toán kiểu này mà các hệ thống nhất đƣợc vi hóa bị ”tự nung nóng” và phá hủy trong một thời gian rất ngắn.

     

    Ngoài ra có một lớp các vấn đề không thể giải đƣợc bằng những máy tính hiện đại. Mƣời mấy năm gần đây chúng đã bị gọi là các ”máy tính cổ điển”. Khái niệm cổ điển chỉ là tƣơng đối, phụ thuộc nhiều vào tốc độ phát triển trong lĩnh vực liên quan, điều đã đƣợc Roy Glauber lƣu ý đến trong bài giảng nhân dịp nhận giải Nobel năm 2005. Khi một lĩnh vực kiến thức hay nghệ thuật cho trƣớc phát triển nhanh, khái niệm ”cổ điển” thƣờng là rất mới, ví dụ nhạc cổ điển có trên hai trăm năm, vật lý cổ điển có cách đây hơn một trăm năm, còn máy tính cổ điển đến nay vẫn còn đang hoạt động. Trong nhiều trƣờng hợp, ngay cả những vấn đề giải đƣợc cũng không thể đƣợc thực hiện do tính phức tạp lớn của các thuật toán mô tả chúng. Một ví dụ chuẩn thƣờng đƣợc nói đến là vấn đề phân một số nguyên lớn ra các thừa số nguyên tố. Để phân một số có 400 chữ số ra các thừa số nguyên tố, công suất tính hiện thời cần phải có một thời gian tính toán cỡ bằng tuổi của Vũ trụ. Vấn đề toán học này là nhân tố căn bản trong mật mã nổi tiếng RSA (viết tắt theo tên của những ngƣời xây dựng ra mật mã này: R. L. Rivest, A. Shamir, L. Adelman). RSA đang đƣợc dùng rộng rãi trên internet và các ngân hàng. Nhƣ ta sẽ thấy, máy tính lƣợng tử giải đƣợc vấn đề này trong vòng vài phút, nhƣ vậy mật mã này hoàn toàn không phải là an toàn. Song lý thuyết lƣợng tử rất ”công bằng”, một tay lấy đi, một tay cho lại. Trong khuôn khổ lĩnh vực đƣợc gọi là mã hóa lƣợng tử, một số các hệ mã hóa an toàn đƣợc thiết lập. Chúng không thể bị giải hay nghe trộm đƣợc. Mã hóa lƣợng tử phát triển rất nhanh và nay đã chuyển sang giai đoạn

     

    14

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thƣơng mại. Ở khía cạnh này nó đã vƣợt sự phát triển của các máy tính lƣợng tử, do để chuyển giao thông tin chúng chỉ cần một số lƣợng không lớn các qubit (đƣợc định nghĩa dƣới đây).

     

    Thật đáng ngạc nhiên là lý thuyết lƣợng tử đƣợc xây dựng trong những năm hai mƣơi của thế kỷ trƣớc trên một khung toán học khá ”cứng” tƣơng ứng với ”lý trí lành mạnh” của ta, lại đƣa đến những hệ quả không ngờ, dƣờng nhƣ trái ngƣợc hoàn toàn với lý trí đó. Những hệ quả đó đem lại sự phát triển vƣợt bậc của nền văn minh, qua việc phát triển các ngành nhƣ điện tử học, đặc biệt trong lĩnh vực máy tính đƣợc nhắc đến ở trên. Chỉ cần nhớ rằng trên 80 phần trăm thu nhập của thế giới có sự tham gia của lý thuyết lƣợng tử. Thế giới lƣợng tử bí ẩn, kỳ lạ nhƣng rõ ràng rất hữu hiệu luôn đem lại cho ta những kết quả bất ngờ, nhƣ sự phát triển của các công nghệ tin học lƣợng tử trong những năm chín mƣơi của thế kỷ trƣớc. Chúng đã xuất hiện là kết quả nối vật lý lƣợng tử với công nghệ máy tính, dựa trên những thành quả mới nhất của vật lý chất rắn, vật lý nguyên tử và phân tử, của quang học và điện tử học lƣợng tử. Điều này dẫn đến sự xuất hiện một lĩnh vực khoa học mới là tin học lƣợng tử. Những thí nghiệm ban đầu thành công đã góp phần xây dựng những mẫu máy tính lƣợng tử đầu tiên, cho phép ta tin tƣởng rằng, ta đang ở ngƣỡng cửa của một cuộc cách mạng công nghệ mới, ít nhất có tầm cỡ nhƣ cuộc cách mạng đã xảy ra hơn sáu mƣơi năm trƣớc, khi các bóng bán dẫn đã đƣợc phát kiến.

     

    • tƣởng tính toán lƣợng tử đã bắt nguồn từ ”kho” các ý tƣởng độc đáo của một trong những bộ óc vĩ đại nhất thế kỷ hai mƣơi, bộ óc của nhà vật lý Mỹ Richard Feynman (giải thƣởng Nobel 1965). Từ năm 1982 ông đã thấy, khi giả lặp động lực học của một hệ nhiều hạt bằng máy tính cổ điển, thời gian tính toán sẽ lớn theo hàm mũ khi số hạt tăng, đòi hỏi phải thiết kế một máy tính hoạt động theo những định luật lƣợng tử. Ba năm sau, nhà toán học Anh Dawid Deutsch đã xây dựng nên những cơ sở cho máy tính đó mà sau này đƣợc gọi là máy tính lƣợng tử.

    Trong những năm bốn mƣơi của thế kỷ trƣớc, cũng Feynman đã nhấn mạnh nguyên tắc cộng các biên độ xác suất chứ không phải cộng chính các xác suất, một khi tồn tại các khả năng thực hiện (các con đƣờng) khác nhau của một quá trình cho trƣớc. Các biên độ này là các số phức (ngƣời ta thƣờng nói không gian các trạng thái của một hệ cho trƣớc là một không gian Hilbert, mà trƣớc hết nó là không gian vectơ trên trƣờng số phức), tức là có thể biểu diễn các biên độ này bằng mô-đun và pha. Qua công thức Euler nổi tiếng ta có các sin và côsin. Từ trƣờng trung học ta đều biết các hàm lƣợng giác này biểu diễn các sóng. Nếu chúng đƣợc chồng chất tƣơng ứng, ta sẽ có các giao thoa xây (constructive) hay hủy (destructive). Cũng có thể từ định nghĩa số phức biểu diễn sự đóng góp của mỗi con đƣờng bằng hai số thực, chúng đƣợc coi nhƣ hai thành phần của một vectơ có độ dài không đổi những có hƣớng tùy ý. Việc cộng những đóng góp từ các đƣờng đi khác nhau tƣơng đƣơng với cộng các vectơ này. Trong trƣờng hợp chung, những con đƣờng này là vô số, đòi hỏi phải biết giải tích hàm đƣợc xây dựng bởi Stefan Banach và các nhà toán học khác. Lúc đó

     

    15

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ta có hình thức luận ”tích phân đƣờng” của Richard Feynman. Trong một số trƣờng hợp, số lƣợng các đƣờng chiếm ƣu thế là hữa hạn. Lúc đó việc cộng một số lƣợng hữu hạn các vectơ không phải là vấn đề khó. Các thuật toán lƣợng tử về cơ bản là các thủ tục điều khiển các biên độ này. Cần phải nghĩ ra một thủ tục dẫn đến các giao thoa lƣợng tử xây, sao cho kết quả từ chúng là thu đƣợc những kết quả mong muốn, còn các kết quả không mong muốn sẽ bị loại trừ qua các giao thoa hủy.

     

    Tất nhiên việc nghĩ ra các thuật toán nhƣ vậy là một việc làm rất khó, vì nhà nghiên cứu ngoài việc hiểu biết rất tốt tin học cổ điển còn phải biết sâu sắc lý thuyết lƣợng tử, một lý thuyết thƣờng cho những kết quả ngƣợc với ”lý trí lành mạnh”. Song thực tế đã chỉ ra rằng đây không phải là ”mission impossible” (việc làm bất khả thi). Một số thuật toán lƣợng tử đã đƣợc tìm ra. Nổi tiếng nhất là thuật toán viễn tải đã đƣợc thực hiện trên một hệ vật lý cụ thể và thuật toán Shor phân tích một số tự nhiên lớn ra các thừa số nguyên tố, đã đƣợc thực hiện trên một bộ xử lý bảy qubit (bit lƣợng tử) để thực hiện thừa số hóa số 15 = 3.5. Trong thuật toán này, các giao thoa lƣợng tử xây dẫn đến các cặp số rất gần lời giải đúng với một xác suất lớn. Khả năng điều khiển ở mức các biên độ xác suất chứ không phải ở mức các xác suất là cơ sở của mọi công nghệ lƣợng tử, không chỉ cho việc xây dựng các máy tính lƣợng tử. Máy tinh cổ điển không có khả năng tiếp cận với các biên độ của vectơ trạng thái là tổ hợp tuyến tính của các vectơ của cái gọi là cơ sở tính toán, khái niệm sẽ đƣợc đề cập đến dƣới đây.

     

    Một câu hỏi đƣợc đặt ra, các máy tính lƣợng tử có ƣu thế gì đối với các máy tính cổ điển? Để thấy đƣợc điều này, ta hãy xem xét kỹ hơn sự hoạt động của một máy tính lƣợng tử. Sơ đồ các mày tính lƣợng tử đƣợc biểu diễn trên hình 1.

     

     

    Hình 1

     

    • đầu vào là trạng thái ban đầu của hệ vật lý thực hiện các tính toán lƣợng tử theo các định luật của vật lý lƣợng tử. Hệ đơn giản nhất là một qubit, đơn vị nhỏ nhất của tin học lƣợng tử, là khái niệm tƣơng ứng của bit cổ điển với các trạng thái chỉ có thể là 0 hoặc
    1. Bit là một phần tử cơ bản của một máy tính cổ điển bất kỳ, có thể đƣợc cài đặt bằng một

    16

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    hệ vật lý bất kỳ chỉ có hai trạng thái. Trong các máy tính hiện thời, hệ này là một bóng bán dẫn đã đƣợc nói đến ở trên. Khác với bit, trạng thái của một qubit nằm trên một continum của mặt cầu hai chiều với bán kính bằng 1, đƣợc gọi là mặt cầu Bloch (Hình 2)., vì qubit không chỉ nằm trong hai trạng thái đặc biệt mà còn nằm trong một trạng thái bất kỳ là tổ hợp tuyến tính (phức) của chúng, điều là hệ quả của việc không gian Hilbert các trạng thái của qubit trƣớc hết là một không gian vectơ, trong đó một vectơ bất kỳ có thể đƣợc biểu diễn ở dạng chồng chất của các vectơ thuộc cơ sở tính toán. Nó có thể đƣợc cài đặt bằng một hệ lƣợng tử bất kỳ hai trạng thái, ví dụ bằng một hạt có spin ½ nhƣ điện tử, hay một phôtôn ở các trạng thái phân cực khác nhau.

     

     

    Hình 2

     

    Vậy một qubit có thể nằm trong các trạng thái 0 hay 1, hoặc trong một tổ hợp bất kỳ của chúng, có nghĩa là có thể đồng thời biểu diễn cho không hay một. Nhƣ ta đã nhấn mạnh trên đây, đây là hệ quả của tiên đề về các trạng thái, một trong những tiên đề cơ bản của hình thức luận lƣợng tử. Cho đến nay không có bất cứ một dữ liệu thực nghiệm nào mâu thuẫn với tiên đề này. Thế nào là đồng thời “tàng trữ” không và một? Theo minh họa của trƣờng phái Copenhagen hiện đang đƣợc chấp nhận bởi cộng đồng các nhà vật lý, nếu ta thực hiện một phép đo trên qubit nhƣ vậy, trạng thái tổ hợp sẽ bị phá hủy (collapse) đến một trong hai trạng thái 0 hay 1 (tức là qubit sẽ rơi hoặc vào trạng thái 0, hoặc trạng thái 1) với

     

    xác suất tƣơng ứng bằng a 2  hay  b 2  (tất nhiên a 2 + b 2 =1). Từ đó ta thấy rằng hệ lƣợng

     

    tử rất “hà tiện”. Từ sƣ giàu có lớn lao (continuum) của nguồn tài nguyên thông tin của mình, hệ chỉ cho ta biết một số lƣợng hữu hạn các thông tin, hơn nữa chỉ ở dạng ngẫu nhiên! Song nhƣ ta thấy dƣới đây, “kẻ hà tiện” lƣợng tử đó cho phép ta ghi một số lƣợng thông tin khổng lồ so với bộ nhớ cổ điển. Ngoài ra nó còn cho phép ta đƣợc tính toán trƣớc khi đo, nghĩa là tính toán trên các tổ hợp: khi có một qubit có thể thực hiện tính toán đồng thời hai tính toán song song. Nhƣ vậy qubit đảm nhận đồng thời vai trò là bộ nhớ hoạt lẫn là một đơn vị tính toán.

     

    Tập một số hữu hạn các qubit đƣợc gọi là một bộ ghi (register). Một tiên đề tiếp của cơ học lƣợng tử nói rằng, trạng thái của register là tích tenxơ của tấc cả các không gian qubit hai chiều có trong thành phần của register cho trƣớc. Những tính toán đại số đơn giản chỉ ra rằng, một register hai qubit biểu diễn một tổ hợp bất kỳ của bốn trạng thái (00, 01, 10,

     

    17

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    11), còn một register ba qubit – một tổ hợp bất kỳ của tám trạng thái (000, 001, 010, 011,

     

    100, 101, 110, 111) v.v. Ví dụ nếu ta chuẩn bị trạng thái ban đầu của một qubit là

     

    12 (0 + 1), lúc đó register hai qubit tàng trữ đồng thời bốn số 0, 1, 2, 3 (có dạng nhị phân

     

    00, 01, 10, 11) , còn register ba qubit – tám số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Nói chung, một register N qubit tàng trữ 2N số. Ngoài ra, việc tính toán trƣớc khi đo trên các trạng thái tổ hợp cho ta khả năng tính toán song song: một bƣớc tính lƣợng tử tác động lên cả register, ngay cả khi chỉ tác động lên một hay vài qubit của register (kiểu U1, U2, U3, U4 trên hình 1) gây ra sự thay đổi tất cả các số đƣợc ghi trên register cho trƣớc.

     

    Theo một tiên đề khác của cơ học lƣợng tử, các phép tính là các toán tử (ma trận) unita, quan trọng hơn nữa là các phép tính (các cổng) lƣợng tử là thuận nghịch, dẫn đến không có sự tỏa nhiệt do xóa đi các thông tin (các bit) nhƣ định lý Landauer đã đề cập đến. Một bộ xử lý N qubit tƣơng đƣơng với 2N bộ xử lý cổ điên song song, tức là giải đƣợc một vấn đề cho trƣớc trong thời gian gần bằng thời gian tính toán của một số lƣợng nhƣ vậy các bộ xử lý cổ điển song song.

     

    Hệ tổng hợp của hai hay nhiều các hệ con còn có một tính chất quan trọng: các hệ con của nó có các tƣơng quan lƣợng tử mà tồn tại ngay cả khi các hệ con này ở rất xa nhau, nghĩa là khi không hề có bất cứ một sự liên quan nào theo nghĩa cổ điển. Sự „tác động ma quái trên khoảng cách” này, nhƣ Albert Einstein đã gọi, là hệ quả của tính phi địa phƣơng của cơ học lƣợng tử. Cùng với các cộng sự trẻ hơn của mình là Borys Podolski i Natan Rosen, ông đã dùng điều này trong một công trình đƣợc công bố năm 1935 để phê phán minh họa của trƣờng phái Copenhagen với ngƣời đứng đầu là Niels Bohr. Để ví dụ ta xem xét một thí nghiệm tƣởng tƣợng, trong đó có chú mèo nổi tiếng của Erwin Schrödinger. Theo nguyên tắc chồng chất, hệ phức hợp (nguyên tử + chú mèo) có thể nằm trong trạng thái

    Y =

    (

    , mèosèng  +

    , mèochÕt  ).

     

    2

       

    Bây giờ ta sẽ tƣởng tƣợng rằng, hai nhân vật, ví dụ nhƣ Alice và Bob, có hệ đƣợc chuẩn bị trong một trạng thái nhƣ vậy. Một ngày nào đó Bob du hành rất xa, ví dụ đến một hệ thiên hà láng giềng sông Ngân Hà của chúng ta. Anh mang theo chú mèo và để lại cho Alice trên Trái đất nguyên tử. Cũng một ngày nào đó Alice thực hiện việc quan sát nguyên tử trong phòng thí nghiệm của mình. Chị sẽ thu đƣợc hai kết quả có thể có với xác suất nhƣ nhau: nguyên tử bị phân rã hay không bị phân rã. Khi kết quả chị thu đƣợc là sự phân rã của nguyên tử, chị biết là ngay lúc đó chú mèo mà Bob mang theo bị chết, còn khi nguyên tử chƣa phân rã, chú mèo sống. Trong thƣ của mình viết cho Einstein, ông đã gọi „sự tác động ma quái trên khoảng cách”, này (cũng giống nhƣ sự tƣơng quan giữa hai hạt trong thí nghiệm tƣởng tƣợng của EPR) bằng tiếng Đức là verschränkung (tiếng Anh:

     

    18

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    entanglement – sự đan rối). Sự nhất trí của hai nhà bác học này trong phê phán cơ học lƣợng tử đã bị Niels Bohr bình luận sau đó (trong tháng ba năm 1936) là một việc làm „đáng chê trách”, có thể coi đó nhƣ là „một vụ đảo chính”! Những thí nghiệm đƣợc thực hiện trong năm 1982 bởi Alain Aspect và các cộng sự đã chỉ ra rằng lý thuyết lƣợng tử theo minh họa Copenhagen là đúng, còn sự phê phán của Einstein và những ngƣời khác là sai. Nói một cách toán học, trong không gian Hilbert các trạng thái của hệ phức hợp là tích tenxơ của các không gian trạng thái thành phần, tồn tại các vectơ trạng thái mà không thể biểu diễn chúng đƣợc là các tích ten xơ của các vec tơ trạng thái thành phần. Trong ví dụ trên ta có:

     

    Y ¹ YNguyª n tö  Ä YMÌo  .

     

    Tính đan rối không địa phƣơng là một trong những nguồn tài nguyên chính của tin học lƣợng tử, ví dụ nó đƣợc dùng trong viễn tải các trạng thái lƣợng tử. các cặp hạt đan rối nhƣ các nguyên tử hay các phôtôn (đƣợc gọi là các cặp EPR) trở thành các thành phần quan trọng của các thuật toán (các biên bản-protocol) lƣợng tử khác nhau. Tƣởng nhƣ rằng nhờ đan rối có thể xây dựng đƣợc các hệ chuyển thông tin ngay tức thì. Song nhƣ ta thấy từ ví dụ ở trên, Bob chỉ có thể khẳng định chác chắn là chú mèo của mình sông hay chết khi Alice thông báo cho Bob những thông tin về kết quả quan sát của mình qua các kênh truyền thống nhƣ điện thoại hay internet. Vậy tiên đề nói vận tốc ánh sáng là vận tốc giới hạn vẫn đƣợc bảo toàn. Tƣơng tự trong trƣờng hợp viễn tải, khi không có những thông tin từ Alice qua các kênh truyền thông truyền thống,Bob không thể „chế biến” thích hợp trạng thái của hạt thuộc cặp EPR mà anh mang theo để thu đƣợc trạng thái qubit đƣợc viễn tải. Hai trụ cột của vật lý hiện đại, lý thuyết lƣợng tử và lý thuyết tƣơng đối một lần nữa lại „chung sống hòa bình”, cũng nhƣ chúng đã làm trong khuôn khổ lý thuyết trƣờng lƣợng tử, một lý thuyết kết hợp hai trụ cột đó để mô tả mọi hiện tƣợng trong thiên nhiên.

     

    Theo quan điểm toán học, tính toán lƣợng tử về cơ bản là rất đơn giản. Nó đƣợc thực hiện trong các không gian Hilbert hữu hạn chiều, trong đó các vectơ (rejestr) và các toán tử tuyến tính (các cổng) đƣợc biểu diễn bằng các cột và các ma trận. Mọi khó khăn liên quan đến tính vô hạn không còn nữa.

     

    Dƣờng nhƣ yếu điểm của các máy tính lƣợng tử có thể là việc đọc một cách ngẫu nhiên các kết quả của phép đo trên trạng thái cuối nhƣ trên hình 1.

     

    Thật may là số lƣợng các kết quả có thể có là hữu hạn. Có thể thẩm tra chúng bằng các thuật toán nhanh để khẳng định kết quả nào từ chúng là đúng. Nhƣ trong trƣờng hợp thuật toán Shor đƣợc đề cập đến trên đây, nhân hai số nguyên tố thu đƣợc là một việc làm hết sức dễ, dễ hơn nhiều việc làm ngƣợc lại là phân tích một số cho trƣớc ra hai thừa số nguyên tố.

     

    Khó khăn chính trong việc xây dựng máy tinh lƣợng tử là ở chỗ khác, đó là sự mâu thuẫn giữa các yêu cầu đƣợc đặt ra đối với máy tính lƣợng tử. Một mặt các máy tính này

     

    19

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    phải đƣợc cách ly khỏi môi trƣờng xung quanh để bảo toàn đƣợc các tính chất kết hợp cần thiết, tức là bảo toàn đƣợc các tổ hợp của các trạng thái. Chúng rất monh manh, dễ bị phá vỡ. Môi trƣơng xung quanh không ngừng đo và phá hủy chúng. Sự mất mát thông tin ra ngoài hệ lƣợng tử đƣợc gọi là sụ hủy kết hợp. Đây cũng là nguyên nhân chính tại sao ta không quan sát đƣợc các biểu hiện lƣợng tử kỳ quặc trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác các qubit đồng thời phải sẳn sàng là đối tƣợng cho những điều khiển (sự tiến hóa) và đọc (các phép đo). Nhiệm vụ của các nhà thiết kế máy tính lƣợng tử là phải tìm ra đƣợc sự ”dung hòa vàng”, cho phép sự hủy kết hợp tác động một cách hữu ích, nghĩa là cho phép nó phá hủy (kolaps) tổ hợp lớn các trạng thái của máy tính lƣợng tử cùng với các tính chất giao thoa tế nhị của chúng đến một trạng thái đơn độc biểu diễn kết quả mong muốn. Để tiến đến mục đích này, gần đây nhiều kết quả căn bản đã đạt đƣợc trong điều khiển các trạng thái lƣợng tử đơn độc, đã vài lần đƣợc giải thƣởng Nobel nhƣ: Claude Cohen Tannoudji, Steven Chu, Williams Phillips (1997), Eric Cornell, Wolfgang Keterle, Carl Wieman (2001), Roy Glauber (2005), và gần đây nhất là Serge Haroche, David Wineland đã nhận giải thƣởng này vào năm ngoái. Cũng trong năm này, viễn tải cũng là một trong những đối thủ ”nghiêng ngửa”. Có thể dự đoán rằng, không sớm thì muộn thành tựu này sẽ đƣợc đăng quang.

     

    Tình trạng hiện nay trong tin học lƣợng tử có thể so sánh với tình trạng của năng lƣợng nguyên tử trong những năm ba mƣơi của thế kỷ trƣớc. Ta tin tƣởng rằng, cũng nhƣ trong năng lƣợng hạt nhân, sau mƣơi năm nữa ta sẽ có thể có những máy tính lƣợng tử đầu tiên làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của nền văn minh nhân loại.

     

    Trong các số tới của tập san Journal of Science, chúng tôi sẽ lần lƣợt đang một loạt bài tổng quan, vừa nhằm mục đích giới thiệu lĩnh vực mới này của vật lý với các ý nghĩa hiểu biết và thực tiễn lớn lao, vừa cung cấp những thông tin căn bản để các sinh viên vật lý và toán học có thể tiệm cận và tham gia nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thông tin lƣợng tử. Bạn đọc cũng có thể làm quen với chúng trƣớc trong các công trình tổng quan [1,2,3]. Song các bài viết sắp tới sẽ ở dạng mở rộng hơn, dễ hiểu hơn, dựa trên các bài giảng trong học kỳ hai niên học 2012/2013 tại Trung tâm Nghiên Cứu Khoa Học Cao của ĐHBK Vác-xa-va (Ba Lan).

     

    Đồng thời một số công trinh liên quan đầu tiên cũng sẽ đƣợc công bố với sự tham gia của các nhà vật lý trong và ngoài nƣớc.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Cao Long Vân, Tạ Phƣơng Hạnh, Tin học lƣợng tử và máy tính lƣợng tử (I), Tạp Chí Ứng Dụng Toán Học, Tập III, Số 1, 2005, 83-102.
    • Cao Long Vân, Tin học lƣợng tử và máy tính lƣợng tử (II), Tạp Chí Ứng Dụng Toán Học, Tập III, Số 2, 2005, 77-100.
    • Cao Long Vân, Tin học lƣợng tử và máy tính lƣợng tử (III): Các thuật toán lƣợng tử, Tạp Chí Ứng Dụng Toán Học, Tập IV, Số 1, 2006, 73-90.

    20

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Nguyen Van Hoa, Nguyen Manh An, Cao Long Van

     

    ABSTRACT

     

    This paper is an introduction to the new domain of physics, namely Quantum Information and Quantum Computer. We introduce some fundamental concepts in three related sciences: computer science, mathematics and physics. The reader could treat this paper as a prelude to our series of papers printed in this Journal, presenting the fundamental tools of quantum information. The paper in an extended form of a lecture given by the third author in the Center of Advanced Studies, Warsaw Technical University in 10 January 2013.

     

    Keywords:

     

     

     

     

     

    21


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BA%BFt-n%E1%BB%91i-gi%E1%BB%AFa-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m-C-v%C3%A0-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-NI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    KẾT NỐI GIỮA PHẦN MỀM C# VÀ THIẾT BỊ NI

    CONNECT BETWEEN C# SOFTWARE AND NI EQUIPMENTS

     

    ĐỒNG XUÂN THÌN

    Khoa Điện, Trường Cao đẳng VMU

     

    Tóm tắt

     

    NI là thiết bị phần cứng của hãng National Instrument. Đây là một hãng rất nổi tiếng với nhiều thiết bị phần cứng được sử dụng trong lĩnh vực đo lường. Thiết bị NI rất dễ kết nối với phần mềm Matlab và LabView, hai phần mềm này có thể tạo giao diện giám sát và điều khiển. Ngoài ra, phần mềm C# cũng có thể được sử dụng để tạo giao diện giám sát và điều khiển, nhưng việc kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI rất phức tạp.

     

    Từ khóa: C#, NI, kết nối C# và NI, NI9215.

     

    Abstract

     

    NI equipments are the products of National Instrument Company that is very famous in measurement. It can easily connect with Matlab and LabView, these software can be used to create control interfaces. In additional, C# software also can create interfaces but it really complicate in programming and handshake with NI equipments.

     

    Keywords: C#, NI, connect C#&NI, NI9215.

     

    1. Giới thiệu

     

    1.1. Phần mềm C#

     

    Phần mềm C# là một phần rất quen thuộc nằm trong bộ Visual.NET. Hầu hết những người xây dựng giao diện để giám sát và điều khiển hệ thống thực trên máy tính đều sử dụng phần mềm này. Việc tải về và cài đặt phần mềm này rất đơn giản, chúng ta có thể tham khảo các nguồn tài liệu trên internet. Giao diện chính của phần mềm Microsoft Visual Studio khi cài đặt thành công như Hình 1.

     

     

     

    Hình 1. Phần mềm Mirosoft Visual Studio 2010                                          Hình 2. NI 9215

     

    1.2. Thiết bị NI

     

    Như đã biết, National Instrument là một hãng thiết bị rất nổi tiếng trong lĩnh vực đo lường và điều khiển. Một loại thiết bị thông dụng hay được sử dụng để kết hợp với phần mềm Matlab hoặc LabView đó là card PCI.

     

    NI cũng là thiết bị phần cứng được phát triển bởi hãng này, đây là thiết bị chuyên dùng trong lĩnh vực đo lường và điều khiển. NI khá đa dạng về chủng loại, có thể kết hợp được với các phần mềm Matlab, LabView và cả C#. Việc lựa chọn thiết bị NI phụ thuộc vào yêu cầu kỹ thuật của bài toán điều khiển, một số thông số kỹ thuật cần thiết cho việc lựa chọn NI như sau:

     

    • Loại tín hiệu vào/ra;
    • Giới hạn mức tín hiệu vào/ra;

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     9

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Số kênh tín hiệu vào/ra;
    • Độ phân giải động của tín hiệu;
    • Tần số lấy mẫu tối đa cho phép.

    Để thực nghiệm việc kết nối giữa phần mềm C# tác giả lựa chọn thiết bị NI có tên NI9215.

    Hình ảnh thực tế của NI9215 như Hình 2. Thông số cơ bản của NI9215 như sau:

     

    • Số lượng kênh vào:
    • Độ phân giải ADC:
    • Dải tín hiệu vào:
    • Tần số lấy mẫu:
    • Nhiệt độ làm việc:
    • Điện áp bảo vệ:

    04 kênh vào tương tự;

     

    16 bit;

     

    10, 0 VDC;

     

    100kHz;

     

    -40oC tới 70oC;

    30, 0

    VDC.

    2. Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

     

    • Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI

    Để có thể bắt tay được giữa phần mềm C# và thiết bị NI thì ta cần thực hiện một số việc theo một trình tự nhất định. Trình tự này sẽ giúp cho phần mềm C# nhận diện được thiết bị NI và cài đặt các thông số phù hợp cần thiết cho thiết bị. Thứ tự công việc đó được thể hiện qua Hình 3. Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI.

     

    Bắt đầu

     

    Tìm thiết bị NI được kết nối với

    máy tính

     

    Khai báo Task

     

    Khai báo Channel

     

    Khai báo đặc tính của Channel

     

    Cài đặt thông số cấu hình của

    Channel

     

    Cài đặt thông số xung clock và

    lấy mẫu của Channel

     

    Điều khiển các Channel

     

    Kết thúc

     

    Hình 3. Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI

     

    Đầu tiên ta cần phải xác định các thiết bị NI được gắn với máy tính, sau đó chọn thiết bị NI mà chúng ta muốn dùng. Bước tiếp theo ta cần khai báo một “đối tượng” Task để quản lý toàn bộ việc cài đặt thông số cấu hình cho NI, cũng như nhận dữ liệu từ NI gửi về. Sau đó ta cần khai báo một đối tượng “được điều khiển” bởi Task, đó chính là Channel. Channel này sẽ liên kết trực tiếp

     

    10                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    với channel vật lý của thiết bị NI, dựa vào các đặc tính kỹ thuật thực tế của thiết bị NI mà ta sử dụng và mục đích sử dụng để có thể khai báo một cách chính xác thông số này.

     

    Bước tiếp theo là cài đặt các thông số cấu hình và xung clock cho channel, bước này cần lưu lý tra theo các thông số kỹ thuật của NI để nhận/gửi dữ liệu một cách chính xác. Cuối cùng là đọc/ghi dữ liệu từ/tới channel vật lý, nếu chỉ đọc/ghi dữ liệu một lần thì rất dễ nhưng không có tính ứng dụng nhiều trong điều khiển. Hầu hết các quá trình điều khiển là “Real Time” (RT) nên ta cần đọc/ghi dữ liệu từ/tới channel vật lý một cách liên tục, tức là ta phải dùng một vòng lặp vô hạn để phục vụ việc giao tiếp với NI. Như vậy thì chương trình điều khiển sẽ không thể làm gì khác ngoài việc giao tiếp với NI, để khắc phục tình trạng này thì ta phải dùng chương trình đa nhiệm.

     

    2.2. Các thông số cấu hình cho NI

     

    +) Khai báo Channel:

     

    Việc khai báo channel có vai trò rất quan trọng trong việc xác định tín hiệu (vào hay ra) và dạng của tín hiệu (số hay tương tự). C# hỗ trợ 4 kiểu khai báo channels [1-3]:

     

    • AIChannel;
    • AOChannel;
    • DIChannel;
    •  

    +) Khai báo đặc tính Channel:

     

    Khai báo đặc tính channel sẽ quyết định dạng của tín hiệu mà chúng ta sử dụng. C# hỗ trợ khai báo các dạng đặc tính như sau:

     

    • AnalogSingleChannelReader;
    • AnalogSingleChannelWriter;
    • AnalogMultiChannelReader;
    • AnalogMultiChannelWriter;
    • DigitalSingleChannelReader;
    • DigitalSingleChannelWriter;
    • DigitalMultiChannelReader;
    •  

    +) Cài đặt thông số cấu hình cho Channel:

     

    Việc cấu hình chi tiết cho channel không phức tạp nhưng có rất nhiều dạng cảm biến khác nhau được hỗ trợ. Dưới đây là một số cấu hình đầu vào cho tín hiệu analog được hỗ trợ bởi phần mềm C# hay được sử dụng:

     

    • CreateAccelerometerChannel: Dùng cho cảm biến gia tốc;
    • CreateFrequencyVoltageChannel: Dùng để tính giá trị tần số của điện áp lấy mẫu;
    • CreateLvdtChannel: Dùng cho cảm biến LVDT;
    • CreateMicrophoneChannel: Dùng cho Microphone;
    • CreateResistanceChannel: Dùng cho đầu vào là điện trở;
    • CreateStrainGageChannel: Dùng cho cảm biến đo xoắn trục;
    • CreateVoltageChannel: Dùng cho đầu vào là điện áp (thường dùng nhất).

    Đối với mỗi hàm cấu hình cho tín hiệu thì sẽ có vài tham số cần cài đặt (có hướng dẫn cụ thể trong từng hàm cài đặt). Ví dụ với hàm CreateVoltageChannel() thì có các tham số cần cài đặt như sau:

     

    • Tên của channel vật lý;
    • Tên đặt cho channel vật lý;
    • Dạng của điện áp đầu vào;
    • Giới hạn trên và giới hạn dưới của tín hiệu vào;
    • Đơn vị được quy đổi sau khi đọc giá trị đầu vào.

    +) Cài đặt thông số xung clock và lấy mẫu của channel:

     

    Thông số xung clock thay đổi phụ thuộc vào dạng của tín hiệu là digital hay analog và là tín hiệu vào hay tín hiệu ra. Với NI9215 thì có 04 thông số cơ bản cần cài đặt cho xung clock gồm:

     

    • Nguồn xung: Có thể sử dụng nguồn xung clock ngoài hoặc xung clock của NI;

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     11

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Tốc độ lấy mẫu: Là số mẫu được lấy trong 1 giây, thông số này kiểu double;
    • Cạnh tác dụng của xung clock: Có thể chọn cạnh lên hoặc cạnh xuống của xung clock;
    • Chế độ lấy mẫu: Có 3 chế độ lấy mẫu nhưng ta thường dùng 2 chế độ đó là chế độ lấy mẫu xác định và chế độ lấy mẫu liên tục.

    3.           Kết quả và đánh giá

     

    3.1. Kết quả

     

    Tác giả đã thực hiện thử nghiệm kết nối giữa phần mềm C# với thiết bị NI9215. Hình ảnh thí nghiệm như Hình 4.

     

    Thí nghiệm bao gồm: thiết bị phần cứng NI9215, giao diện lấy các thông số cơ bản của NI9215 được xây dựng bởi phần mềm C#, thiết bị NI được kết nối với laptop thông qua dây nối USB. Trên giao diện gồm 2 phần: Textbox để hiển thị các thông số của NI, graph để hiển thị dữ liệu đọc về từ NI.

     

     

     

    Hình 4. Hình ảnh thử nghiệm

     

     

     

    Hình 5. Kết quả mẫu tín hiệu thu được

     

    Trong thử nghiệm này, tác giả đã dùng tín hiệu đầu vào là điện áp lấy từ cảm biến dao động.

    Kết quả của mẫu tín hiệu được vẽ thành đồ thị bởi khối Graph như Hình 5 [4], [5].

     

    12                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • đây tác giả chọn Sampling Rates = 8192, tức là lấy 8192 mẫu tín hiệu vào trong một giây. Tốc độ lấy mẫu có thể chọn bất kỳ và nhỏ hơn tốc độ lấy mẫu tối đa cho phép của thiết bị. Tuy nhiên, để thuận tiện cho các thuật toán xử lý số nhị phân thì ta nên chọn tốc độ lấy mẫu là 2n. Cũng trong thử nghiệm này thì tác giả lấy đúng 8192 mẫu, tức là lấy số mẫu tín h iệu trong một giây. Lưu ý, việc lấy bao nhiêu mẫu và tốc độ lấy mẫu không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau, điều này còn phụ thuộc vào chế độ lấy mẫu ta cài đặt. Nếu chọn chế độ lấy mẫu là xác định thì số lượng mẫu sẽ nhỏ hơn hoặc bằng tốc độ lấy mẫu, còn với chế độ lấy mẫu là liên tục thì số lượng mẫu không phụ thuộc vào tốc độ lấy mẫu. Tuy nhiên, số lượng mẫu có thể lấy được không phải là vô tận, nó phụ thuộc vào hai yếu tố đó là tốc độ xử lý tín hiệu của máy tính được sử dụng và nằm trong giới hạn của kiểu double.

    3.2. Đánh giá

     

    Thực hiện theo trình tự các bước được đề cập tại thuật toán giao tiếp giữa C# và NI đã có thể bắt tay được giữa phần mềm C# và thiết bị NI.

     

    Với thử nghiệm đầu tiên này, tác giả không những lấy được mẫu tín hiệu trên một kênh AI của thiết bị NI9215 mà còn truy vấn được các thông số danh định của thiết bị NI9215 bao gồm: Tên thiết bị, tên các kênh vật lý, dải điện áp đầu vào, mã số thiết bị, loại thiết bị và số serial của thiết bị.

     

    Hạn chế của vấn đề nghiên cứu: Mới chỉ lấy dữ liệu trên một kênh đầu vào của thiết bị NI9215, chưa lấy được tín hiệu trên tất cả các kênh đầu vào cũng như chưa thử nghiệm được trên các thiết bị NI khác.

     

    Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo:

     

    • Một là xây dựng phần mềm lấy dữ liệu trên tất cả các kênh đầu vào của thiết bị NI9215;
    • Hai là thử nghiệm trên một vài thiết bị NI khác.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • ni.com/tutorial/5409/en/.
    • http://zone.ni.com/reference/en-XX/help/370473H-01/mstudiowebhelp/html/5de00fb2/.
    • https://forums.ni.com/t5/Measurement-Studio-for-NET/How-to-properly-use-AOChannels-CreateFunctionGenerationChannel/td-p/669811.
    • https://msdn.microsoft.com/en-us/library/dd456769.aspx.
    • https://msdn.microsoft.com/en-us/library/system.windows.forms.datavisualization.charting.chart(v=vs.110).aspx.

    Ngày nhận bài:

    14/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    04/04/2018

     

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TH%E1%BB%B0C-THI-C%C3%81C-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-B%E1%BA%A2O-%C4%90%E1%BA%A2M-AN-NINH-H%C3%80NG-H%E1%BA%A2I-C%E1%BB%A6A-U%CC%81C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC

    VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    ENFORCE MEASURES TO ENSURE MARITIME SECURITY OF AUSTRALIA

    AND EXPERIENCE FOR VIETNAM

     

    LƯƠNG THỊ KIM DUNG

    Khoa Hàng hải, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Là một quốc gia bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa an ninh, nhưng trong thời gian qua, Úc đã thực thi một hệ thống các biện pháp hữu hiệu nhằm bảo đảm an ninh hàng hải quốc gia. Thông qua việc phân tích, nghiên cứu các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc, tác giả bài báo mong muốn sẽ góp phần gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam có những kinh nghiệm quý trong quá trình xây dựng và thực thi các biện pháp bảo đảm an ninh Hàng hải của Việt Nam.

     

    Từ khóa: Hiểm họa, an ninh hàng hải, Úc.

     

    Astract

     

    As a country threatened by many security threats, in recent years, Australia has implemented a system of effective measures to ensure national maritime security. Through the analysis and research of Australia’s maritime security measures, the paper’s author wishes to suggesting for Vietnamese policy makers have valuable experiences in the construction process and enforce measures to ensure maritime security of Vietnam.

     

    Keywords: Threats, maritime security, Australia.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành hàng hải đóng góp vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước, từng bước khẳng định vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn giúp Việt Nam “hướng ra biển, làm giàu từ biển”. Bảo đảm an ninh cho sự phát triển của ngành hàng hải đã trở thành một phần chiến lược của chính sách an ninh hàng hải quốc gia. Tuy nhiên, an ninh hàng hải Việt Nam hiện đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, có thể kể đến như trộm cắp vặt, phá hoại, tiếp cận các khu vực cấm tại cảng, cướp biển khu vực Đông Nam Á, vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, khủng bố hàng hải. Bên cạnh đó, những tranh chấp chủ quyền tại biển Đông đang nổi lên tạo nguy cơ biến thành xung đột “nóng”, đe dọa trực tiếp đến môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hơn 80% diện tích biển Đông, tiến hành hoạt động tuần tra, khảo sát, ngăn trở các nước trong đó có Việt Nam khác khai thác tài nguyên. Cùng với đó là việc hiện đại hóa hải quân, cải tạo các bãi đá cạn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam do Trung quốc chiếm giữ trái phép để xây dựng đường băng, căn cứ quân sự phục vụ ý đồ kiểm soát tuyến hàng hải quan trọng trong khu vực. Nhận thức được tầm quan trọng của bảo đảm an ninh hàng hải, Việt Nam ngay từ rất sớm đã gia nhập nhiều công ước quốc tế về an ninh hàng hải, đặc biệt phải kể đến là Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS code).Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 cũng đã bổ sung thêm hai điều luật về an ninh tàu biển và cảng biển nhưng Chính phủ hiện chưa ban hành được Nghị định về an ninh hàng hải. Một số văn bản quy phạm pháp luật về an ninh hàng hải còn bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn trong thực tiễn thi hành. Việc phối kết hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật về an ninh hàng hải chưa thực sự hiệu quả.

     

    Là một quốc gia mà an ninh hàng hải cũng bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, nhưng trong thời gian qua, Úc đã triển khai áp dụng nhiều biện pháp tăng cường an ninh hữu hiệu để giảm thiểu tới mức thấp nhất các rủi ro. Vì vậy, nghiên cứu quá trình thực thi các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc sẽ góp phần quan trọng giúp Việt Nam có được những kinh nghiệm quý báu cho bảo đảm tăng cường an ninh hàng hải Việt Nam.

     

    2. Các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải Úc

     

    Nằm biệt lập với các châu lục khác, Úc được bao bọc bởi hai Đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. An ninh hàng hải của Úc bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, đặc biệt phải kể đến là:

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     85

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    2.1. Di cư bất hợp pháp

     

    Do đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt, thiếu nguồn lao động cho các ngành kinh tế nên chính sách nhập cư của Úc tương đối lỏng so với một số quốc gia khác như Mỹ, Nhật, Tây Âu,… Do đó, hàng năm có rất nhiều vụ di cư bất hợp pháp bằng thuyền từ khu vực giáp ranh với vùng biển của Indonesia vào Úc. Họ là những cư dân đến từ các quốc gia Trung Đông như Syry, Iraq, Apganixtan, cá biệt có cả Việt Nam, được các tổ chức buôn người quốc tế môi giới, dẫn dắt nhằm nhập cảnh trái phép vào Úc bằng đường biển.

     

    2.2. Đánh bắt, khai thác thủy hải sản trái phép

     

    Vùng biển nước Úc trải dài từ vĩ tuyến 02-00S xuống phía Nam bán cầu, từ kinh độ 075E đến kinh độ 163E, với trữ lượng hải sản lớn, trở thành khu vực hấp dẫn các tàu đánh bắt trộm, chủ yếu đến từ các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản [1]. Nạn đánh bắt trái phép (đặc biệt là săn bắt cá voi) không chỉ làm suy giảm nguồn tài nguyên biển, phá hoại sự cân bằng hệ sinh thái biển mà còn đe dọa đến an ninh hàng hải của Úc.

     

    2.3. Người trốn theo tàu và thuyền viên bỏ trốn khi tàu cập cảng

     

    Hải quan Úc đã ghi nhận nhiều vụ người trốn theo tàu đến từ các quốc gia vùng Trung Đông vào Úc. Đặc biệt, trong nhiều năm nay, rất nhiều thuyền viên nước ngoài đến từ các quốc gia Ấn Độ, Bangladesh, Srilanca, Philippines, Việt Nam, Trung Quốc,… bỏ trốn lên bờ khi tàu của họ cập cảng Úc. Do địa bàn rất rộng lớn, cùng với việc có nhiều cộng đồng dân cư sinh sống nên việc truy bắt những đối tượng này hết sức khó khăn.

     

    2.4. Buôn lậu ma túy bằng đường biển

     

    Do đặc điểm là quốc gia đại dương nên việc vận chuyển ma túy vào Úc chỉ có thể bằng đường biển và đường hàng không. Thủ đoạn của các tổ chức buôn lậu ma túy rất đa dạng, từ việc trà trộn vào trong các hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển, đến cất giấu ma túy trong các két chứa nước dằn, két chứa nhiên liệu trên tàu hay thuê những thuyền viên kém hiểu biết mang lên tàu,… Tinh vi hơn các đối tượng còn hàn một hộp kim loại rỗng trên đáy của phía ngoài thân tàu, rồi đặt ma túy được bọc kín nước vào trong hộp kim loại đó, vận chuyển lòng vòng qua nhiều quốc gia rồi mới vào Úc. Khi đến cảng, các đối tượng bố trí người nhái lặn xuống và lấy ma túy ra. Hải quan Úc bằng nghiệp vụ của mình đã phát hiện và bắt giữ nhiều vụ buôn bán, vận chuyển ma túy vào Úc theo hình thức trên.

     

    2.5. Chất thải từ các tàu nhập cảnh vào Úc

     

    Do nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu thô nên hàng năm, có rất nhiều tàu biển, chủ yếu là tàu cỡ lớn và siêu lớn (Cape size, Panamax size) đến Úc để chuyên chở hàng hóa xuất khẩu. Các tàu này mang theo một lượng lớn nước dằn tàu, được thải ra khi nhận hàng tại các cảng của Úc, cùng với đó là chất thải sinh hoạt, rác thải, dầu cặn thải ra từ tàu, có nguy cơ làm ô nhiễm vùng nước cảng biển, phá hủy hệ sinh thái môi trường biển nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó là nguy cơ gây ô nhiễm tràn dầu do hệ thống phân ly dầu – nước của tàu bị hư hỏng hoặc làm việc không hiệu quả hay nguy cơ ô nhiễm do tàu không đảm bảo điều kiện vệ sinh cần thiết có thể đe dọa tới an ninh môi trường biển.

     

    2.6. Các nguy cơ khác

     

    Nước Úc nằm phía Đông nam Châu Á, phía Bắc và Tây Bắc giáp với các quốc gia như Solomon, Papua New Guinea, Timor Leste và Indonesia – vốn là các nước đang phát triển hoặc kém phát triển nên tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển giữa các quốc gia có thể là nguy cơ đe dọa đến an ninh hàng hải của Úc. Cướp biển, các hành vi bạo lực trên biển và khủng bố hàng hải cũng được coi là những hiểm họa tiềm tàng [2]. Tuy nhiên, do đặc thù các cảng biển ở Úc đa số dùng để xuất nguyên liệu thô, cần độ sâu lớn cho tàu siêu trường ra vào thuận tiện, do đó các cảng biển hầu hết được bố trí trên những Terminal nhô ra biển nên việc kiểm soát người ra, vào cảng tương đối dễ dàng. Ngoài ra, các cầu cảng hầu hết được lắp đặt camera an ninh (CCTV) nên chưa ghi nhận một trường hợp khủng bố hoặc phá hoại nào xảy ra.

     

    3. Các biện pháp đảm bảo an ninh hàng hải trên vùng biển và các cảng biển của Úc

     

    • Thiết lập hệ thống giám sát từ xa (MASTREP)

    Để kiểm soát từ xa một cách có hệ thống tất cả các tàu vào Úc, chính quyền hành chính nước Úc đã thông qua Bộ Luật Hàng hải năm 2012 bắt buộc tất cả các tàu nước ngoài ra vào nước Úc và tất cả các tàu của Úc khi hành trình trong vùng giới hạn bởi MASTREP. MASTREP (Modernised Australian Ship Tracking and Reporting System) là sự kế thừa và phát triển của hệ thống AUSREP (Australia Ship Reporting System) trước đây. Sau khi hệ thống nhận dạng từ xa LRIT ra đời, nước Úc đã nhanh chóng thay thế hệ thống báo cáo AUSREP cũ thủ công (sử dụng Telex) bằng hệ thống

     

    86                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    giám sát và báo cáo hiện đại tự động MASTREP.MASTREP được điều hành bởi cơ quan an toàn hàng hải Úc AMSA (Australian Maritime Safety Agency) dưới sự đặt hàng của Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn Úc (Maritime Rescue Coodinate Center Australia) – RCC Australia. RCC Australia trực canh 24/7 với những nhân viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực hàng hải và cả hàng không.

     

    Vùng bao phủ của hệ thống MASTREP rất rộng, từ điểm cực Tây (06-00S; 075-00E) đến điểm cực Đông (17-40S; 163-00E) xuôi xuống tận Nam bán cầu bao quanh nước Úc [3].

     

    Tất cả các tàu theo quy định nói trên phải gửi báo cáo vị trí bằng hệ thống AIS phù hợp với quy định của Công ước SOLAS chương V, điều 19.2.4. Nội dung của báo cáo vị trí phải bao gồm các thông tin sau: (1): Số nhận dạng; (2): Loại tàu; (3): Vị trí; (40: Hướng; (5): Tốc độ tàu;(6): Trạng thái Hàng hải; (7) Các thông tin an toàn hàng hải có liên quan.Vị trí tàu được cập nhật từ 5 phút đến 5 giờ tùy thuộc vào vị trí của tàu. Việc thu nhận các báo cáo vị trí được tiến hành tự động thông qua các trạm bờ hoặc hệ thống vệ

    Hình 1. Giới hạn của MASTREP                 tinh. Với hệ thống MASTREP này, nước Úc có thể giám sát, theo dõi tất cả các

    tàu ra vào vùng biển của họ, giảm thiểu việc xâm nhập trái phép, đánh bắt trộm thủy hải sản.

     

    Tuy nhiên, nhược điểm của hệ thống MASTREP là chỉ thực sự có tác dụng đối với các tàu có trang bị hệ thống AIS và LRIT mà không kiểm soát được các tàu thuyền nhỏ chở người nhập cư bất hợp pháp, buôn lậu ma túy, đánh bắt thủy hải sản trái phép vì loại tàu thuyền này thường không trang bị hai thiết bị nói trên hoặc cố tình tắt chúng đi khi chuẩn bị đi vào vùng biển có sự kiểm soát bởi MASTREP. Để khắc phục nhược điểm này, Úc đã thuê vệ tinh giám sát của Thụy Điển với hai vệ tinh địa tĩnh, bao phủ một vùng rộng lớn bao trùm toàn bộ nước Úc và vùng biển xung quanh. Vệ tinh giám sát kết hợp với hệ thống MASTREP, lực lượng hải quân Hoàng gia và các máy bay tuần thám đã phát huy hiệu quả trong việc chống lại các hiểm họa đe dọa an ninh trên toàn bộ vùng biển của mình.

     

    3.2. Các biện pháp kiểm soát an ninh tại các cảng biển của Úc

     

    Yêu cầu thị thực đối với thuyền viên người nước ngoài: Kể từ khi Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS code) có hiệu lực, Chính phủ Úc đã tiến hành quản lý, giám sát thuyền viên người nước ngoài nhập cảnh bằng đường biển vào Úc bằng hình thức yêu cầu thị thực đối với tất cả các thuyền viên người nước ngoài (Crew Visa). Thị thực này được cấp bởi Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Úc tại nước sở tại. Bằng hình thức này họ đã loại trừ bớt được những phần tử có nguy cơ hoặc liên quan đến khủng bố, buôn lậu ma túy,…

     

    Yêu cầu các tàu gửi cho cơ quan Di trú và Biên phòng bản “danh sách thuyền viên, hành khách”: Theo Bộ luật Hải quan năm 2015, tất cả các tàu nước ngoài trước khi vào Úc đều phải gửi trước bản “Danh sách thuyền viên” theo mẫu 3B, “Danh sách hành khách” theo mẫu 2B cho cơ quan Di trú và Biên phòng Úc thông qua Đại lý của tàu. Cơ quan Di trú và Biên phòng sẽ dựa vào bản danh sách này để đối chiếu với những thông tin mà họ có được trong hệ thống máy tính nhằm phát hiện và loại trừ những thuyền viên, hành khách có liên quan đến khủng bố, buôn lậu ma túy, các phần tử bị truy nã quốc tế.

     

    Yêu cầu các tàu gửi cho cơ quan Di trú và biên phòng bản “Báo cáo trước khi tàu đến”: Cũng như Bản danh sách thuyền viên, các tàu cũng phải gửi cho cơ quan Di trú và Biên phòng của Úc bản “Báo cáo trước khi tàu đến” (Pre-arival Report) theo mẫu 13 (FORM 13). Báo cáo trước khi tàu đến bao gồm 3 phần:

     

    • Phần một là các thông tin riêng của tàu như tên, số hiệu, số IMO, trọng tải, tên chủ tàu, tên người khai thác, người thuê tàu, số lượng thuyền viên, hành khách. Trường hợp trên tàu có người trốn theo tàu hay có vũ khí nóng thì phải có tờ khai riêng.

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     87

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Phần hai là báo cáo về an ninh của tàu bao gồm: Số của giấy chứng nhận an ninh tàu (ISSC), cơ quan cấp giấy chứng nhận, thời hạn có hiệu lực, cấp độ an ninh hiện tại tàu đang áp dụng, tên của mười cảng ghé mới nhất, ngày rời các cảng đó, cấp độ an ninh tại các cảng đó, các biện pháp an ninh đặc biệt hoặc biện pháp an ninh tăng cường đã áp dụng tại các cảng nói trên, tàu có hoạt động cặp mạn tàu khác trong số các cảng nói trên hay không (nếu có thì phải khai báo chi tiết) và cuối cùng là danh sách bốn cảng ghé sắp tới.
    • Phần ba là báo cáo về các giấy chứng nhận của tàu: trong đó yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thời hạn có hiệu lực của các giấy chứng nhận như: GCN bảo hiểm P&I, GCN an toàn kết cấu, GCN an toàn vô tuyến điện, GCN an toàn trang thiết bị, GNC chống ô nhiễm dầu quốc tế, GCN về Công ước quốc tế về dấu chuyên chở. Ngoài ra, tàu bắt buộc phải có hai GCN của Úc là biên lai thuế đường biển (Marine Navigation Levy) và biên lai thuế bảo vệ môi trường biển (Protection of the Sea Levy), nếu tàu chưa có đại lý sẽ phải thay mặt chủ tàu mua với chi phí khoảng 25.000AUD cho loại tàu Cape Size và thời hạn của hai GCN này chỉ là ba tháng. Bằng việc áp dụng thuế đường biển và thuế môi trường, Úc đã tạo được một nguồn kinh phí rất lớn để có thể cung cấp tài chính cho các hoạt động bảo đảm an ninh hàng hải, xử lý tai tạn hàng hải, bảo vệ môi trường biển.

    Với các thông tin về thuyền viên, hành khách, danh sách các cảng ghé, cơ quan Di trú và Biên phòng Úc sẽ xử lý các thông tin trên và sẽ áp dụng các biện pháp an ninh phù hợp. Ví dụ trong số mười cảng tàu ghé gần nhất có tên một cảng thuộc khu vực có nguy cơ buôn lậu ma túy cao như Colombia, Chile, Uruguay,… cơ quan Hải quan Úc có thể sẽ tiến hành soát xét tàu với các nghiệp vụ đặc biệt như mang theo chó nghiệp vụ, kiểm tra các két, cho thợ lặn kiểm tra đáy tàu đề phòng việc giấu ma túy dưới đáy tàu.

     

    Hải quan lên tàu kiểm tra trực tiếp (Face to Face): Để phòng ngừa việc giả mạo giấy tờ hộ chiếu, cơ quan Hải quan sẽ lên tàu kiểm tra từng thuyền viên và so sánh với ảnh trong hộ chiếu, bằng hành động này họ đã loại trừ được việc giả mạo giấy tờ của các đối tượng thuộc tổ chức tội phạm, ma túy, khủng bố trà trộn xâm nhập trái phép vào Úc.

     

    Yêu cầu các tàu nộp bản khai tài sản cá nhân, đồ dự trữ của tàu, danh mục thuốc tân dược, bia, rượu, thuốc lá,… Bằng cách yêu cầu đối với thuyền viên nộp các bản kê khai này, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra, đánh giá nguy cơ xảy ra việc buôn lậu bằng đường biển và sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết như niêm phong đồ dự trữ, bia, rượu, thuốc lá. Một thuyền viên có tài sản cá nhân, tiền mặt quá lớn so với thu nhập bằng lương sẽ bị nghi ngờ và bị kiểm tra, soát xét kỹ lưỡng để loại trừ các hiểm họa như buôn lậu trong đó có buôn lậu ma túy bằng đường biển.

     

    Yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thông tin về người thân của thuyền viên tại Úc: Do hiện tượng bỏ trốn của thuyền viên tại Úc vẫn xảy ra, cơ quan Hải quan thông qua Đại lý yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thông tin về mối quan hệ của thuyền viên với người thân của họ tại Úc, qua đó có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết như không cho phép thuyền viên đó đi bờ, cử người đi kèm giám sát.

     

    Sử dụng Camera giám sát: Tại các Cầu cảng, để giám sát hoạt động của tàu và chống buôn lậu, phá hoại, bỏ trốn thì ngoài hệ thống bảo vệ tại cổng cảng, họ còn gắn các Camera giám sát tại các cầu tàu 24/7.

     

    Không cho phép thuyền viên đi bộ trong khu vực Cảng: Để đảm bảo an ninh bến cảng, khi tàu vào cảng, Sỹ quan an ninh bến cảng sẽ trực tiếp hoặc thông qua đại lý thông báo đến Thuyền trưởng về việc thuyền viên không đuọc phép đi bộ, đi xe đạp trong khu vực cảng vì lý do an ninh, thuyền viên vi phạm sẽ bị phạt rất nặng, thậm chí trục xuất khỏi Úc và cấm vĩnh viễn không được nhập cảnh vào Úc.

     

    Yêu cầu các tàu thực hiện nghiêm túc các biện pháp an ninh theo Bộ luật ISPS: Trước khi tàu đến cảng, chính quyền cảng sẽ trực tiếp thông báo hoặc thông qua Đại lý thông báo cho tàu về cấp độ an ninh áp dụng tại cảng, qua đó tàu sẽ phải áp dụng các biện pháp an ninh thích hợp như kiếm soát người lên xuống, niêm phong hoặc khóa chống tiếp cận các khu vực hạn chế,… Việc thực thi các biện pháp an ninh phù hợp với cấp độ an ninh được kiểm tra, đánh giá bằng việc kiểm tra hành chính của cơ quan an toàn hàng hải Úc (AMSA) mà không được thông báo trước.

     

    3.3. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

     

    Về hệ thống pháp luật

     

    Úc ban hành Bộ luật về An ninh hàng hải và bảo vệ bờ biển năm 2003 và Quy định về an ninh hàng hải và cơ sở hạ tầng cảng biển 2003 nhằm nội luật hóa và thi hành Bộ luật ISPS code. Dưới Bộ luật an ninh hàng hải Úc là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết về tổ chức, quản lý, đào tạo, huấn luyện và chế độ chính sách đối với lực lượng an ninh.

     

    88                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Trong khi đó ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mỏng, chưa xây dựng được Bộ luật hay Nghị định về An ninh hàng hải. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam còn thiếu những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng an ninh cảng; quy chế phối hợp hành động giữa các cơ quan quản lý an ninh hàng hải cũng như chế tài xử lý các hành vi vi phạm về an ninh hàng hải. Công tác triển khai các quy định pháp luật về an ninh hàng hải còn nhiều bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành. Ngoài ra cũng chưa có chính sách thu phí bảo đảm an ninh tại cảng biển nên không có nguồn kinh phí để đầu tư phương tiện, thiết bị cũng như tổ chức, huấn luyện nghiệp vụ cho lực lượng an ninh cảng biển

     

    Về tổ chức, quản lý an ninh hàng hải

     

    Đứng đầu cơ quan quản lý an ninh hàng hải của Úc là Cục an ninh, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải Úc. Cục an ninh sẽ trực tiếp hướng dẫn cấp độ an ninh cho từng khu vực cảng biển, tổ chức các cuộc diễn tập cấp quốc gia, đồng thời hướng dẫn, phê duyệt kế hoạch, kịch bản diễn tập an ninh cho các khu vực cảng biển.

     

    Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay, công tác quản lý an ninh hàng hải được giao cho 2 Cục thuộc Bộ Giao thông Vận tải là Cục Hàng hải Việt Nam (có trách nhiệm đánh giá an ninh cảng biển, xây dựng kế hoạch an ninh cảng biển cho các nhân viên an ninh cảng biển) và Cục Đăng kiểm Việt Nam (được giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo và cấp Giấy chứng nhận Sỹ quan an ninh tàu biển và nhân viên an ninh công ty).

     

    Mô hình quản lý hiện tại của Việt Nam thể hiện nhiều bất cập như:

     

    • Việc kiểm tra duy trì hệ thống an ninh tàu biển và thử hoạt động của hệ thống thiết bị an ninh trên tàu biển do Trung tâm Thông tin An ninh Hàng hải thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện; Khi gặp sự cố khủng bố đối với tàu biển, Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm giải quyết với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành còn Cục Đăng kiểm Việt Nam chỉ làm dịch vụ đào tạo, cấp chứng chỉ chứ không chịu trách nhiệm giải quyết hậu quả đối với an ninh của tàu biển ở nước ngoài.
    • Không thống nhất được giáo trình giảng dạy cho các đối tượng;
    • Lãng phí nguồn nhân lực đào tạo vì lực lượng giáo viên phân bố ở cả 02 Cục;
    • Khó khăn cho việc xây dựng quy hoạch bảo đảm an ninh hàng hải.

    Về quản lý an ninh cảng biển

     

    Tại Úc, Trung tâm an ninh cảng biển là cơ quan chuyên trách quản lý an ninh cảng biển, có trách nhiệm tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các cảng lập kịch bản và triển khai diễn tập theo kế hoạch của từng bến cảng và diễn tập chung toàn cảng, kinh phí diễn tập do các doanh nghiệp thành viên đóng góp. Trung tâm an ninh cảng được trang bị hệ thống camera an ninh (CCTV) theo dõi toàn bộ cảng biển. Hệ thống này được kết nối với hệ thống VTS kiểm soát hàng hải của Cảng vụ hàng hải, qua đó hỗ trợ nhau trong việc kiểm soát hoạt động của tàu thuyền ra vào cảng, hoạt động xếp dỡ hàng hóa và tình hình an ninh từng khu vực hạn chế.

     

    Trong khi đó, ở Việt Nam, quản lý an ninh hàng hải tại các cầu bến cảng trong khu vực đều do chính các đơn vị quản lý, khai thác cảng đó xây dựng và thực hiện. Do vậy, có sự manh mún, lỏng lẻo về mô hình tổ chức và quản lý an ninh, nhất là tại các cảng quy mô nhỏ, thiếu nguồn nhân lực có kinh nghiệm, có chuyên môn liên quan đến vấn đề an ninh hàng hải, thiếu trang thiết bị, hạn chế về kinh phí khi triển khai thực hiện trong thực tế.

     

    Về đào tạo nguồn nhân lực an ninh hàng hải

     

    Tại Úc, ở mỗi cảng biển có lực lượng an ninh cảng với các nhân viên an ninh chuyên trách, hoạt động theo hình thức bán quân sự, được đào tạo về nghiệp vụ an ninh và được hưởng chế độ như Công an, Biên phòng của Úc. Lực lượng này được trang bị ca nô cao tốc, ô tô và các phương tiện, công cụ hỗ trợ phục vụ hoạt động kiểm soát an ninh cổng ra vào, các bến cảng và các khu vực hạn chế. Việc huấn luyện cho các cá nhân thực hiện nhiệm vụ an ninh cảng biển do tổ chức cảng và cơ quan quản lý an ninh hàng hải phối hợp tổ chức. Chương trình huấn luyện được lấy từ chương trình chuẩn của IMO cho Sỹ quan an ninh cảng biển. Giấy chứng nhận sẽ được cấp cho các thành viên hoàn thành khóa học. Diễn tập an ninh được thực hiện ở cấp quốc gia và các khu vực cảng biển cấp khu vực.

     

    Trong khi đó, Việt Nam hiện nay, việc đào tạo các sỹ quan an ninh cảng biển do các Trường Cao đẳng Hàng hải I và Trường Cao đẳng nghề TP. Hồ Chí Minh trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện và còn nặng về mặt lý thuyết. Việc phối hợp với Cục A67 – Bộ Công an, và các cơ quan liên quan trong công tác huấn luyện nghiệp vụ bảo đảm an ninh hàng hải cho cán bộ an ninh cảng chưa được triển khai thực hiện. Công tác tổ chức diễn tập tình huống an ninh tại cảng hiện nay chủ

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     89

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    yếu là tập trung vào công tác phòng cháy chữa cháy và do chính các đơn vị quản lý, khai thác cảng tổ chức thực hiện; việc diễn tập các tình huống an ninh khác chưa được triển khai.

     

    Về đầu tư tài chính cho hoạt động bảo đảm an ninh

     

    • Úc, đầu tư cho công tác bảo đảm an ninh hàng hải của các cơ quan quản lý thuộc các Bộ, ngành do Nhà nước chịu trách nhiệm. Kinh phí bảo đảm an ninh cho cảng biển, tàu biển do các doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm. Chi phí cho hoạt động an ninh được lấy từ nguồn thu phí bảo đảm an ninh hàng hải và đóng góp của các tổ chức cung cấp dịch vụ hàng hải.

    Trong khi đó ở Việt Nam, các đơn vị quản lý và khai thác cảng gặp khó khăn cho đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật an ninh, bởi chi phí đầu tư rất lớn nhưng không trực tiếp không đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy, các đơn vị này chỉ đầu tư, mua sắm, trang bị những thiết bị kỹ thuật an ninh đơn giản, chi phí thấp. Đối với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật an ninh cao như hệ thống camera quan sát, hệ thống kiểm tra kiểm soát, nhận dạng người ra vào cổng cảng bằng thẻ từ, thiết bị soi chiếu, ca-nô tuần tra ở vùng nước đều không được trang bị. Bên cạnh đó, các quy định, chính sách về tài chính của Việt Nam cho hoạt động đảm bảo an ninh còn rất thiếu, chưa rõ ràng, gây khó khăn và lúng túng trong quá trình thực hiện. Nhiều chương trình, hoạt động theo kế hoạch để đảm bảo an ninh không được triển khai thực hiện được trong thực tế vì không có nguồn kinh phí và không được hổ trợ về mặt cơ chế, chính sách. Chế độ lương của các cán bộ an ninh chưa có thang bậc riêng. Tại các doanh nghiệp cảng biển, bậc lương của cán bộ an ninh được áp dụng theo bậc lương bảo vệ, chưa phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cán bộ quản lý an ninh trong khu vực cảng biển.

     

    4. Kết luận

     

    Bảo đảm an ninh hàng hải là một phần không thể tách rời trong kinh tế và xã hội của Úc bởi ngành hàng hải hỗ trợ cả du lịch, thương mại và kết nối Úc với phần còn lại của thế giới. Úc có cách tiếp cận toàn diện dựa trên nguyên tắc “an ninh sâu”, có nghĩa là thiết lập nhiều lớp bảo mật nhằm giảm thiểu cơ hội tấn công của các hiểm họa đe dọa an ninh. Chính phủ Úc quy định về bảo đảm an ninh hàng hải Úc thông qua Đạo luật về an ninh hàng hải và bảo vệ bờ biển năm 2003 (MTOFSA) và Quy định về an ninh hàng hải và cơ sở hạ tầng cảng biển 2003 nhằm đáp ứng các nghĩa vụ trong Chương XI-2 của Công ước Quốc tế về An toàn sinh mạng người trên biển năm 1974 (SOLAS) và Bộ luật quốc tế về An ninh tàu và bến cảng năm 2003 (ISPS). Thực thi hiệu quả các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc sẽ là bài học kinh nghiệm cho các quốc gia, trong đó có Việt nam trong việc bảo đảm an ninh trước các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • GAMSA, “Guide to Australian Maritime Security Arrangements”, Australian Border Protection Command, 2013.
    • Anthony Bergin, “Future unknown: The terrorist threat to Australian maritime security”, University of Wollongong Australia, 2015.
    • Australian Maritime Safety Authority, “MASTREP and Australian Mandatory Reporting”, 2016 https://www.amsa.gov.au/safety-navigation/navigation-systems/modernised-australian-ship-tracking-and-reporting-system.

    Ngày nhận bài:

    26/02/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    06/04/2018

     

     

    90                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-C%C3%81CH-TI%E1%BA%BEP-C%E1%BA%ACN-TRONG-GI%E1%BA%A2I-QUY%E1%BA%BET-B%C3%80I-TO%C3%81N-T%E1%BB%B0-%C4%90%E1%BB%98NG-H%C3%93A-SINH-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-KI%E1%BB%82M-TH%E1%BB%AC-PH%E1%BA%A6N-M%E1%BB%80M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

     

    AN APPROACH TO AUTOMATED TEST DATA GENERATION

     

    PHẠM ĐỨC TOÀN1, PHAN NGUYÊN HẢI2, PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH3

    • Phòng Tổ chức – Hành chính, Trường ĐHHH Việt Nam 2 Học viện Kỹ thuật Quân sự

    3 Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự

    Tóm tắt

     

    Bài báo nghiên cứu lĩnh vực tự động hóa quy trình phát triển phần mềm, bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động, hướng giải quyết cùng các khó khăn. Đề xuất cách tiếp cận biểu diễn thuật toán dựa trên khái niệm đồ thị, ứng dụng vào giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Từ khóa: Tự động hóa phát triển phần mềm, sinh dữ liệu kiểm thử, biểu diễn thuật toán. Abstract

     

    In this paper, the automated software development issue and test data generation problem are presented with solutions and challenges. Approach to represent algorithms based on graph concepts is proposed and applied to solving the problem of automated test data generation.

     

    Keywords: Automated software development, test data generation, expressing algorithms.

     

    1. Bài toán tự động hóa phát triển phần mềm và tự động hóa kiểm thử phần mềm

     

    Quy trình phát triển phần mềm thông thường gồm các giai đoạn: Xác định yêu cầu, thiết kế, lập trình, kiểm thử, tích hợp triển khai. Tùy thuộc vào từng dự án cụ thể mà các giai đoạn này có thể tuần tự hoặc lặp lại.

     

    Hiện nay trong lĩnh vực tự động hóa phát triển phần mềm, các bài toán đang được quan tâm là sinh mã nguồn tự động và sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Với bài toán sinh mã nguồn tự động, đầu vào là bản thiết kế, đầu ra là biểu diễn của bản thiết kế bằng cú pháp của một ngôn ngữ lập trình nào đó (nói cách khác là mã nguồn).

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử (test data generation), đầu vào là các bản đặc tả (yêu cầu, thiết kế), mã nguồn, đầu ra là dữ liệu đầu vào của phần mềm mà cần kiểm thử tại đó. Khi có đầu vào cần kiểm thử, thì có thể xác định đầu ra chuẩn của phần mềm tại đầu vào đó theo mô tả của phần mềm (test oracle), cặp giá trị đầu vào và đầu ra chuẩn hình thành lên một trường hợp kiểm thử (testcase) để người kiểm thử (tester) thực hiện kiểm thử. Việc kiểm thử thông thường có nhiều cấp độ, như Unit Testing để kiểm thử các đơn vị mã nguồn, Integration Testting để kiểm thử việc tích hợp các đơn vị mã nguồn, System Testing và Acceptance Testing để kiểm thử toàn bộ hệ thống phần mềm (Hình 1). Việc sinh dữ liệu tự động thường áp dụng cho mức Unit Testing và cách tiếp cận truyền thống trong bài toán sinh dữ liệu kiểm thử hiện nay là dựa vào mã nguồn (kiểm thử hộp trắng – whitebox testing). Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả tập trung vào bài toán tự động hóa sinh dữ liệu kiểm thử ở mức Unit Testing.

     

    Acceptance Testing (Kiểm thử chấp nhận)

     

    System Testing (Kiểm thử hệ thống)

     

    Integration Testing (Kiểm thử tích hợp)

     

    Unit Testing (Kiểm thử đơn vị)

     

    Hình 1. Các mức độ kiểm thử

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử với phương pháp hộp trắng, cách thực hiện có thể gồm các bước chính như sau [1]:

     

    • Xây dựng đồ thị chu trình từ mã nguồn (control flow graph – CFG), mỗi đỉnh của đồ thị là một dòng mã thực hiện việc tính toán hoặc xử lý điều kiện;
    • Từ đồ thị xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc chương trình;

    64                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Với mỗi đường đi, xác định các điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo đường đi đó. Chọn một đại diện thỏa mãn điều kiện.

    Với phương pháp này, chương trình có bao nhiêu đường thực thi thì có thể có bấy nhiêu testcase. Tuy nhiên, nếu chương trình có rẽ nhánh, vòng lặp thì số lượng đường thực thi có thể rất lớn. Trong trường hợp này, có thể chỉ cần tìm các đường cơ sở và từ các đường cơ sở đó xác định các dữ liệu kiểm thử.

     

    Trong ba bước nêu trên, thì việc xây dựng đồ thị CFG từ mã nguồn và việc xác định các đường đi trên đồ thị là hoàn toàn có thể thực hiện tự động bằng lập chương trình. Tuy nhiên bước xác định điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo một đường nhất định là một bài toán rất khó. Đây thực chất chính là bài toán giải quyết thỏa mãn ràng buộc (Constraint satisfaction problems – CSPs) [2, 3, 4]. Bài toán CSP được đặc trưng bởi bộ ba (X, D, C), với:

     

    X = {X1, X2, …, Xn} là tập hợp các biến;

     

    D = {D1, D2, …, Dn} tương  ứng là các tập hợp miền giá trị của các biến X;

     

    C = {C1, C2, …, Cm} là tập hợp các ràng buộc. Ci là các hàm của X, thường có dạng bất phương trình.

     

    Bài toán đòi hỏi cần tìm các giá trị của X trong miền D để thỏa mãn các ràng buộc C. Đây là bài toán thuộc lớp NP-đầy đủ (NP-complete), bài toán này không có lời giải trong trường hợp chung. Để giải quyết bài toán này phục vụ cho mục đích sinh dữ liệu kiểm thử tự động, đã có một cộng đồng nghiên cứu đông đảo với rất nhiều đề xuất tiếp cận như quay lui (backtracking), lan truyền ràng buộc (contraint propagation), tìm kiếm cục bộ (local search), giải thuật di truyền, tiến hóa [5, 6],…

    Tuy nhiên các đề xuất chỉ thích hợp cho một lớp bài toán nhất định, kết quả sinh dữ liệu kiểm thử phụ thuộc vào rất nhiều tham số, thời gian chạy lâu, và thường không có sự bảo đảm về mặt toán học. Nguyên nhân chung có thể kết luận là do quá ít thông tin thu được từ mã nguồn chương trình khi xây dựng đồ thị CFG cùng các ràng buộc, dẫn đến quá trình tìm kiếm lời giải cho bài toán CSP gặp khó khăn. Xuất phát từ thực tế này, trong bài báo đề xuất một cách tiếp cận cho việc sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn.

     

    Để tiếp tục, trước hết chúng ta xem xét giai đoạn thiết kế phần mềm trong quy trình phát triển phần mềm. Giai đoạn thiết kế phần mềm gồm các bước được mô tả trên Hình 2 [7].

     

     

    Hình 2. Các bước của giai thoạn thiết kế phần mềm

     

    Trong sơ đồ trên Hình 2, hoạt động thiết kế cốt lõi chính là thiết kế thuật toán (algorithm design). Trong phương pháp thiết kế hướng cấu trúc, thiết kế thuật toán thể hiện qua việc thiết kế thuật toán cho các hàm (chức năng) cơ sở. Trong phương pháp hướng đối tượng, thiết kế thuật toán thể hiện qua thiết kế thuật toán cho các phương thức của các lớp.

     

    Bài toán sinh mã nguồn tự động có thể quy về sinh mã nguồn tự động từ thuật toán, từ đó có thể suy ra bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động cũng có thể quy về các bài toán sinh mã nguồn tự động từ thuật toán (thực chất, mã nguồn chương trình chính là việc biểu diễn thuật toán bằng cú pháp một ngôn ngữ lập trình nào đó). Vấn đề tiếp theo cần quan tâm đến, đó là xem xét việc biểu diễn thuật toán trong bản thiết kế.

     

    2. Vấn đề biểu diễn thuật toán

     

    Trong lý thuyết thuật toán, thuật toán có thể biểu diễn bằng các cách truyền thống là ngôn ngữ tự nhiên, sơ đồ khối, giả mã (pseudo code),… Với các cách biểu diễn này thì chỉ có con người

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     65

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    mới hiểu được thuật toán, và việc xây dựng chương trình, xác định dữ liệu kiểm thử cũng phải do con người thực hiện. Nói một cách khác là với các cách biểu diễn thuật toán truyền thống thì việc tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử bằng máy tính là không thể thực hiện được. Để tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử cần phải biểu diễn thuật toán theo các cách mới để máy tính có thể hiểu được.

     

    Hiện nay, một trong những cách tiếp cận trong biểu diễn thiết kế là dùng ngôn ngữ XML [8]. Để có thể đưa bản thiết kế (thuật toán) vào máy tính, bản thiết kế được chuyển từ dạng biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng XML, với biểu diễn XML thì có thể xây dựng được các phương pháp sinh mã nguồn và sinh dữ liệu kiểm thử tự động. Tuy nhiên, XML là ngôn ngữ quá mạnh mẽ, quá đa dạng nên việc đưa ra những bộ quy tắc chung trong việc chuyển đổi từ cách biểu diễn truyền thống sang XML cũng chưa có sự thống nhất.

     

    Trong bài báo này, các tác giả đề xuất sử dụng khái niệm đồ thị để biểu diễn thuật toán. Việc biểu diễn thuật toán bằng đồ thị là hoàn toàn khả thi, thực chất sơ đồ khối cũng có thể coi là dạng biểu diễn trực quan của đồ thị. Ngoài ra, với đồ thị đã có rất nhiều lý thuyết đã được xây dựng về việc biểu diễn, lưu trữ và xử lý trên máy tính, nên hoàn toàn có hy vọng về khả năng trích rút các thông tin cần thiết từ thuật toán để phục vụ cho bài toán sinh tự động mã nguồn hay dữ liệu kiểm thử từ thuật toán.

     

    • tưởng biểu diễn thuật toán bằng đồ thị không phải là mới. Tuy nhiên, cũng giống như XML, chuyển đổi từ biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng đồ thị cũng có nhiều cách khác nhau.

    3.           Cách tiếp cận dựa trên đồ thị

     

    Trong phạm vi bài báo, chúng ta sẽ xem xét bài toán sinh dữ liệu kiểm thử bằng biểu diễn đồ thị của thuật toán. Với lý thuyết kiểm thử cơ bản thì cũng phải cần đến biểu diễn chương trình bằng đồ thị CFG, đồ thị CFG thực chất chính là biểu diễn của thuật toán. Vì vậy, việc dùng đồ thị thuật toán để sinh dữ liệu kiểm thử là hoàn toàn khả thi, ngoài ra khi biểu diễn thuật toán bằng đồ thị trong giai đoạn thiết kế thì chúng ta sẽ nhận được nhiều thông tin hơn cho việc sinh dữ liệu kiểm thử.

     

    Việc xây dựng đồ thị thuật toán do người thiết kế thực hiện, có thể tiến hành theo hai bước, bước một là xây dựng sơ đồ khối thuật toán, bước hai là chuyển sơ đồ khối về dạng biểu diễn đồ thị. Về cấu trúc tổng quát, thuật toán có thể biểu diễn bằng đồ thị có hướng G, mỗi đỉnh của đồ thị có thể là một phép toán hoặc một khối rẽ nhánh. Với các đỉnh phép toán, khi đi qua đỉnh này, có thể coi dữ liệu đầu vào được đưa qua một hàm biến đổi nào đó. Với các đỉnh rẽ nhánh, khi đi qua, dữ liệu đầu vào không bị biến đổi, nhưng được kiểm tra bằng một hàm mệnh đề nào đó. Tùy thuộc vào hàm mệnh đề mà có thể rẽ nhánh nọ hoặc nhánh kia. Và khi xác định thuật toán, đi kèm với mỗi đỉnh là thông tin về dữ liệu vào ra tại đỉnh đó, thông tin về phép toán, về biểu thức điều kiện tại các khối rẽ nhánh. Những thông tin này người thiết kế hoàn toàn có thể cung cấp. Một số ví dụ về các thông tin:

     

    • Miền dữ liệu vào/ra tại các đỉnh;
    • Phân loại hàm xử lý, hàm mệnh đề (liên tục, rời rạc, tuyến tính, phi tuyến, biến nào là chính, biến nào là phụ thuộc;
    • Ví dụ về các giá trị thỏa mãn hàm mệnh đề tại các đỉnh;
    • Khả năng tuyến tính hóa, đơn giản hóa các hàm xử lý, hàm mệnh đề, hàm ngược của các hàm xử lý,…

    Những thông tin này, trong những trường hợp nào đó sẽ giúp việc giải quyết bài toán thỏa mãn ràng buộc trong sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn. Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận dựa trên đồ thị thuật toán này khác với cách tiếp cận truyền thống như sau:

    • Cách truyền thống: Thiết kế (thuật toán) à Mã nguồn à Đồ thị à Sinh dữ liệu kiểm thử
    • Cách đề xuất: Thiết kế (thuật toán) à Đồ thị + Thông tin à Sinh dữ liệu kiểm thử hoặc sinh mã nguồn.

    4.           Sinh dữ liệu kiểm thử tự động với biểu diễn dạng đồ thị của thuật toán

     

    Chúng ta vận dụng ý tưởng của phương pháp hộp trắng để xác định các dữ liệu kiểm thử. Khi thuật toán được biểu diễn bằng đồ thị thì việc tự động xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc là bài toán kinh điển trong lý thuyết đồ thị và đã được giải quyết trọn vẹn ngay cả trong trường hợp đồ thị có chu trình (vòng lặp). Nghĩa là việc tìm đường đi bằng chương trình máy tính là hoàn toàn khả thi.

     

    Tiếp theo với mỗi đường đi tìm được, cần tự động tìm dữ liệu đầu vào của thuật toán để thuật toán thực thi theo con đường đó. Ở đây, chúng ta chỉ xem xét ví dụ một trường hợp, giả sử thông

     

    66                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    tin đi kèm tại các đỉnh đồ thị cho biết các hàm xử lý, hàm mệnh đề là các hàm tuyến tính và dữ liệu đầu vào của chương trình có dạng số. Ký hiệu:

    Các giá trị đầu vào của chương trình là X = {X1, X2, …, Xn} Rn;

    Đường đi tìm được trên đồ thị gồm các hàm xử lý X = Fi(X) và các hàm mệnh đề Gj(X)>0.

     

    Khi đó việc tìm điều kiện của đầu vào X để chương trình đi theo đường đi này trở thành việc giải hệ bất phương trình tuyến tính:

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . …                                                                                                   (1)

      (  ) >

    { … … … . …

    • đây thứ tự các hàm xử lý, hàm mệnh đề trong hệ bất phương trình trùng với thứ tự của các đỉnh tương ứng trên đường đi của đồ thị.

    Hệ bất phương trình có thể giải tự động được, thuật toán giải gồm các bước chính như sau:

     

    Bước 1. Chuyển hệ về dạng hệ phương trình (2):

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . … ,

      (  ) =

    { … … … . …

    ở đây aj là những số nào đó lớn hơn 0.

     

    Bước 2. Tìm hạng r của ma trận biểu diễn hệ phương trình (2).

     

    Bước 3. Cố định n-r biến (cho các giá trị cụ thể), giải hệ r phương trình để tìm r biến còn lại.

     

    Nghĩa là, trong trường hợp này chúng ta hoàn toàn có thể tự động xác định được dữ liệu đầu vào để chương trình thực thi theo con đường nào đó.

     

    Xét ví dụ sinh dữ liệu kiểm thử từ một thuật toán đơn giản, thuật toán tìm giá trị lớn nhất trong 3 số thực a, b, c. Thuật toán có thể như sau:

     

    Bước 1. Đặt max = a;

     

    Bước 2. So sánh max < b. Nếu đúng, gán max = b.

     

    Bước 3. So sánh max < c. Nếu đúng, gán max = c. Đưa ra max. Kết thúc.

     

    Đồ thị biểu diễn thuật toán có dạng như trên Hình

     

    1. Với đồ thị như trên Hình 3, có thể có các đường thực thi từ đỉnh bắt đầu ( Bắt đầu) đến đỉnh kết thúc (8. Kết thúc) như sau:

    Đường 1: 1 à 2 à 3 à 5 à 7 à 8

    Đường 2: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 7 à 8

    Đường 3: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 6 à 7 à 8

    Đường 4: 1 à 2 à 3 à 5 à 6 à 7 à 8

     

    (2)

     

    1. Bắt đầu
    1. max = a
     

    Đúng

    3. max<b

     

    4. max=b

    Sai

       
     

    Đúng

     

    5. max<c

     

    6. max=c

    Sai

       
    1. max
    1. Kết thúc

    Hình 3. Đồ thị thuật toán

     

     

    Chúng ta xem xét việc xác định đầu vào để chương trình thực thi theo đường 3. Với các đường khác việc xác định là tương tự.

     

    Thông tin trên đồ thị cho thấy các hàm xử lý và hàm mệnh đề tại các đỉnh là hàm tuyến tính, hệ bất phương trình đối với đường 3 như sau:

     

    max = a; max – b < 0; max = b; max – c < 0; max = c

    (3)

    Hệ này có thể chuyển thành hệ (4), bằng cách tính biến max lần lượt theo các biến đầu vào và thay các bất phương trình thành phương trình:

     

    a – b = -1; b – c = -2

    (4)

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     67

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Hạng của ma trận hệ (4) bằng 2, ta có thể cố định a = 2, suy ra b = 3, c = 5 và nhận được một dữ liệu đầu vào để kiểm thử là (2,3,5), với đầu vào này thì đầu ra chuẩn là 5, nghĩa là nhận được testcase ((2,3,5),5). Tương tự đối với những đường thực thi khác. Nghĩa là chúng ta đã xác định được dữ liệu kiểm thử một cách tự động hoàn toàn theo tiêu chí bao phủ tất cả các đường thực thi.

     

    5. Kết luận

     

    Với cách biểu diễn thuật toán bằng đồ thị ngay trong giai đoạn thiết kế, chúng ta có thể thu được nhiều thông tin hơn về đồ thị nhận được, từ đó có thể giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động một cách dễ dàng hơn. Hướng phát triển tiếp theo là xem xét việc giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử trong các trường hợp phức tạp và xem xét việc sinh mã nguồn tự động dựa trên đồ thị biểu diễn thuật toán.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Arthur H. Watson and Thomas J. McCabe. “Structured Testing: A Testing Methodology Using the Cyclomatic Complexity Metric”. NIST Special Publication 500-235, 1996.
    • Dechter, Rina. Constraint processing. Morgan Kaufmann, 2003.
    • Apt, Krzysztof. Principles of constraint programming. Cambridge University Press, 2003.
    • Lecoutre, Christophe. Constraint Networks: Techniques and Algorithms. ISTE/Wiley, 2009.
    • Phil McMinn. Search-based Software Test Data Generation: A Survey. Software Testing Verification and Reliability, Wiley. 2004.
    • Chayanika Sharma, Sangeeta Sabharwal, Ritu Sibal. A Survey on Software Testing Techniques using Genetic Algorithm. IJCSI International Journal of Computer Science Issues, Vol. 10, Issue 1, No 1, January 2013.
    • Ian Sommerville. Software Engineering (9th Edition). Pearson Education, Addison-Wesley, 2010.
    • Anshul, Sompal, Vikas Sheoran. Automatic Code Generation Using Uml To Xml Schema Transformation. International Journal of Advancement in Engineering Technology, Management and Applied Science, Volume 1, Issue 2, 2014.

    Ngày nhận bài:

    19/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    05/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

    68                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • NGHIÊN CỨU, HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ VÀ QUY TRÌNH CHẾ TẠO ANODE HY SINH HỢP KIM KẼM ĐẠT TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG QUỐC TẾ

    NGHIÊN CỨU, HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ VÀ QUY TRÌNH CHẾ TẠO ANODE HY SINH HỢP KIM KẼM ĐẠT TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG QUỐC TẾ

    NGHIÊN CỨU, HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ VÀ QUY TRÌNH CHẾ TẠO ANODE HY SINH HỢP KIM KẼM ĐẠT TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG QUỐC TẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA CÁC PHÁT HIỆN HYDROCARBON BỂ MALAY – THỔ CHU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-HO%C3%80N-THI%E1%BB%86N-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-V%C3%80-QUY-TR%C3%8CNH-CH%E1%BA%BE-T%E1%BA%A0O-ANODE-HY-SINH-H%E1%BB%A2P-KIM-K%E1%BA%BCM-%C4%90%E1%BA%A0T-TI%C3%8AU-CHU%E1%BA%A8N-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-QU%E1%BB%90C-T%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NGHIÊN CỨU, HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ VÀ QUY TRÌNH CHẾ TẠO ANODE HY SINH HỢP KIM KẼM ĐẠT TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG QUỐC TẾ

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 1 – 2019, trang 58 – 65

     

    ISSN-0866-854X

     

    NGHIÊN CỨU, HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ VÀ QUY TRÌNH CHẾ TẠO ANODE HY SINH HỢP KIM KẼM ĐẠT TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG QUỐC TẾ

     

    Nguyễn Thị Lê Hiền, Phan Trọng Hiếu, Phạm Vũ Dũng, Ngô Ngọc Thương, Phạm Thị Hường

    Viện Dầu khí Việt Nam

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Với nhiệt độ đúc 450oC, sử dụng lò cảm ứng trung tần và làm nguội tự nhiên, anode hy sinh trên cơ sở hợp kim kẽm được tạo ra bằng phương pháp đúc có chất lượng tốt, độ đồng nhất cao và chất lượng ổn định. Dung lượng điện hóa của anode đều trên 780Ah/kg và điện thế âm hơn -1,0V so với điện cực Ag/AgCl. Các đặc tính điện hóa (điện thế, dung lượng), thành phần hợp kim, đều thỏa mãn các yêu cầu khắt khe nhất đối với sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm và đã nhận được chứng nhận của cơ quan kiểm định quốc tế DNV-GL cho dung lượng điện hóa của sản phẩm và chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001-2015 do Trung tâm Chứng nhận phù hợp Quacert cấp cho quy trình sản xuất sản phẩm anode hy sinh của Viện Dầu khí Việt Nam.

     

    Từ khóa: Anode hy sinh hợp kim kẽm, dung lượng điện hóa, chống ăn mòn, VPI.

     

    1. Mở đầu

     

    Anode hy sinh được sử dụng rộng rãi và hiệu quả nhằm bảo vệ chống ăn mòn cho các công trình biển, chân đế giàn khoan, tàu thuyền, đường ống thu gom, vận chuyển dầu khí dưới biển… Do cơ chế tự hòa tan để bảo vệ cho các công trình biển nên khối lượng anode hy sinh sử dụng thường rất lớn. Ngoài lượng anode lắp đặt cho các công trình mới, còn một lượng anode không nhỏ dùng để bổ sung và thay thế cho các anode hy sinh bị hòa tan và mất mát trong quá trình sử dụng.

     

    Anode hy sinh thường được chế tạo từ các hợp kim của nhôm, kẽm hoặc magie. Trong đó, anode hy sinh hợp kim nhôm có dung lượng lớn và có giá thành thấp nhất (quy đổi trên một đơn vị Ah) nên thường được sử dụng để bảo vệ cho các kết cấu công trình kim loại có quy mô lớn, đặc biệt là đối với các công trình ngầm dưới biển yêu cầu tuổi thọ dài như: giàn khoan, đường ống dẫn… Anode hy sinh hợp kim magie tuy có dung lượng thấp, giá thành cao nhưng lại có điện thế rất âm nên thường được dùng để bảo vệ các công trình trong môi trường có điện trở cao như trong nước ngọt, trong đất đồi núi. Anode hy sinh hợp kim kẽm được dùng trong môi trường điện ly mạnh và trung bình và hoạt động tốt trong nước hoặc đất

     

    Ngày nhận bài: 25/9/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 2/10 – 6/11/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 24/12/2018.

     

    • Anode hy sinh hợp kim kẽm được ứng dụng bảo vệ các công trình bê tông cốt thép tiếp xúc với nước như: cầu cảng, các công trình quân sự và dân sự ngoài biển đảo, bảo vệ vỏ tàu thủy, xà lan, các bồn chứa bằng thép và đường ống dẫn dầu, khí dưới nước hoặc vùng bùn lầy. Đặc biệt chỉ có anode hy sinh hợp kim kẽm được sử dụng để bảo vệ cho các khoang chứa dầu của tàu biển vì không gây ra tia lửa điện.

    Xác định nhu cầu sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm rất lớn, bên cạnh sản phẩm anode hy sinh hợp kim nhôm đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và đã được thương mại hóa, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) tập trung nghiên cứu chế tạo, hoàn thiện công nghệ và quy trình chế tạo anode hy sinh hợp kim kẽm với quy mô công nghiệp và đáp ứng quy trình kiểm soát chất lượng theo ISO 9001 [2]. Sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm sản xuất ra có khả năng bảo vệ chống ăn mòn hiệu quả, đáp ứng mọi tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và các yêu cầu khắt khe đối với các công trình dầu khí, sản phẩm được thị trường chấp nhận nhằm thay thế các sản phẩm nhập ngoại.

     

    Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu, khảo sát nhằm hoàn thiện quy trình chế tạo anode hy sinh hợp kim kẽm để đáp ứng tiêu chuẩn ISO 9001, đảm bảo đặc tính điện hóa cũng như độ đồng nhất của anode hy sinh và kết quả kiểm định chất lượng quốc tế theo tiêu chuẩn DNV-RP-B401 [3] do DNV-GL Singapore thử nghiệm.

     

    58       DẦU KHÍ – SỐ 1/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    2. Điều kiện chế tạo anode hy sinh hợp kim kẽm

     

    2.1. Chuẩn bị đúc

     

    2.1.1. Nguyên vật liệu

     

    Anode kẽm được tập trung nghiên cứu trên cơ sở kim loại kẽm được bổ sung thêm một lượng nhỏ nhôm và cadmium (Cd) nhằm nâng cao đặc tính điện hóa của kẽm nguyên chất. Các nguyên liệu sử dụng chính:

     

    • Kẽm công nghiệp 99,9%, xuất xứ Hàn Quốc, dạng thỏi 20kg.

    khuôn đúc anode dạng rùa và dạng thẳng với khối lượng tương ứng là 12kg, 25kg và 50kg.

     

    Khuôn anode được chế tạo bằng thép carbon hoặc gang đúc (Hình 2), được làm nóng trước khi đúc.

     

    2.1.3. Lõi anode

     

    Anode hy sinh có thể được bắt vít hoặc hàn trực tiếp vào công trình thông qua lõi thép của anode (steel insert). Vật liệu sử dụng chế tạo lõi anode hy sinh là thép có thể hàn được, yêu cầu có giá trị carbon tương đương CE ≤ 0,45.

     

    Nhôm công nghiệp 99,84%, xuất xứ Australia, dạng

    Giá trị carbon tương đương của thép có thể được xác

     

    định theo công thức sau:

     

    thỏi 27kg.

       
    • Cadmium 99,99%, xuất xứ Trung Quốc, dạng bột

    mịn.

     

    2.1.2. Khuôn đúc

     

    Tùy thuộc vào hình dạng và tuổi thọ công trình cần bảo vệ, anode hy sinh có thể được thiết kế với các hình dạng và kích thước khác nhau. Trên cơ sở yêu cầu về hình dạng và kích thước của anode, các khuôn đúc được thiết kế và chế tạo. Hình 1 minh họa thiết kế và hình dạng loại

         

    +

    +

     

    +

    (1)

    CE = C +

    6  +

     

    5

    +

    15

       

    Tùy thuộc thiết kế anode mà lõi thép có hình dáng và kích thước khác nhau. Để tăng độ bám dính và giảm điện trở tiếp xúc giữa lõi và vật liệu anode hợp kim kẽm, lõi thép cần được xử lý làm sạch bề mặt đến độ nhám SA 2,5 theo tiêu chuẩn ISO 8501 [4] hoặc được nhúng kẽm nóng theo tiêu chuẩn ISO 1461 [5] trước khi đúc. Đối với các lõi có kích thước không quá lớn, phương pháp nhúng kẽm nóng được ưu tiên sử dụng.

     

     

    Khuôn đúc

     

    (a)

     

     

    Khuôn đúc

     

    (b)

     

    Khuôn đúc

     

    (c)

     

    Hình 1. Bản vẽ minh họa thiết kế khuôn đúc anode kẽm; a. Anode rùa loại khối lượng 12kg; b. Anode rùa loại khối lượng 25kg; c. Anode thẳng loại khối lượng 50kg

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 1/2019    59

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    Lõi thép cần được làm nóng, cố định chính xác và chắc chắn vào khuôn trước khi đúc.

     

    2.2. Quá trình đúc sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm

     

    Các nguyên liệu chính sử dụng là Zn, Al, Cd và phụ gia với tỷ lệ thích hợp [6], được đun nóng chảy hoàn toàn trong lò nung trung tần ở nhiệt độ 450oC. Tùy thuộc vào hình dáng và kích thước của anode có thể lựa chọn chế độ đúc hở hoặc đúc kín.

     

    • Đúc hở: Thường được lựa chọn đối với các anode có kích thước lớn có độ co ngót lớn, đúc hở cho phép dễ dàng bù ngót và vẫn đảm bảo chất lượng bề mặt của anode;
    • Đúc kín: Phương pháp này được lựa chọn đối với các anode có kích thước nhỏ, cho phép tạo bề mặt bằng phẳng và đồng nhất.

     

     

    Hình 2. Khuôn đúc anode

     

     

    Hình 3. Bộ khuôn đúc mẫu thử nghiệm

     

    Trong khuôn khổ bài báo, anode hy sinh hợp kim kẽm được đúc kín đối với các anode dạng rùa có kích thước 12kg và 25kg; đúc hở đối với các anode thẳng có khối lượng 50kg. Sau khi nóng chảy hoàn toàn, hợp kim được rót vào khuôn và được làm nguội tự nhiên trong không khí nhằm đảm bảo hình dáng và ổn định cấu trúc tinh thể của vật liệu anode. Đối với các anode kích thước lớn (>100kg), làm mát bằng nước tuần hoàn có thể được sử dụng cho phép tăng tốc độ làm nguội anode và kéo dài tuổi thọ cho khuôn.

     

    Với mỗi mẻ đúc, các mẫu vật liệu anode hy sinh đều được rót vào khuôn nhỏ, cho phép lấy 3 mẫu hình trụ với đường kính 2cm, chiều dài 20cm như Hình 3. Các mẫu được đánh số và lưu giữ để sử dụng cho các nghiên cứu và đánh giá chất lượng của anode.

     

    2.3. Phương pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng của anode hy sinh

     

    2.3.1. Chuẩn bị mẫu thử nghiệm

     

    Các mẫu thử nghiệm điện hóa hoặc đánh giá thành phần được gia công từ mẫu nhỏ hình trụ đảm bảo kích thước theo yêu cầu trong tiêu chuẩn DNV-RP-401 [4] trên thiết bị như Hình 4.

     

    2.3.2. Phương pháp điện hóa

     

    Điện thế và dung lượng điện hóa của vật liệu anode kẽm đã được tiến hành đánh giá trong Phòng thí nghiệm của Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ (CTAT) thuộc Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), theo tiêu chuẩn DNV-RP-B401 [3].

     

     

    Hình 4. Mô tả quá trình gia công mẫu thử nghiệm

     

     

    60       DẦU KHÍ – SỐ 1/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Điện thế đóng mạch của anode hy sinh hợp kim kẽm được xác định bằng cách đo hiệu điện thế giữa mẫu anode hy sinh và điện cực so sánh clorua bạc (Ag/AgCl) trong dung dịch nước biển nhân tạo sử dụng vôn kế có độ chính xác cao trong trường hợp anode được nối tiếp xúc với kim loại cần bảo vệ (trực tiếp hay gián tiếp).

     

    Tương quan giữa khối lượng vật liệu anode hòa tan và lượng điện sản ra (Ah) đo bằng culong kế, có thể tính ra dung lượng với đơn vị là Ah/kg theo công thức (2).

     

    Q = 26,8 × 1000 × (∆M/a) × (V/∆m)

    (2)

    Trong đó:

     

    Q: Dung lượng thực tế của mẫu (Ah/kg);

     

    ∆M: Sự tăng khối lượng của điện cực đồng trong culong kế;

     

    a: Nguyên tử lượng của đồng;

     

    V: Đương lượng hóa học của đồng;

     

    ∆m: Tổn hao khối lượng của toàn bộ anode kẽm.

     

    Để đảm bảo độ tin cậy của các phép đánh giá chất lượng điện hóa của anode hy sinh hợp kim kẽm theo tiêu chuẩn DNV-RP-B401, 1 mẫu anode được lấy ngẫu nhiên và gửi đi yêu cầu kiểm chứng tại DNV-GL tại Singapore.

     

    2.3.3. Phân tích thành phần

     

    Thành phần vật liệu anode hy sinh hợp kim kẽm được kiểm tra bằng phương pháp phổ phát xạ theo tiêu chuẩn ASTM E1277 [6] ngay trước khi rót vật liệu vào khuôn tại đầu và cuối mỗi mẻ đúc. Các kết quả thu được được kiểm chứng tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 1 (Quatest 1).

     

    2.3.4. Các phương pháp khác kiểm tra chất lượng anode hy sinh hợp kim kẽm

     

    Chất lượng bề mặt anode hy sinh hợp kim kẽm được kiểm tra bằng phương pháp trực quan; kích thước anode được xác định bằng thước dây; khối lượng anode được kiểm tra bởi cân có độ chính xác cao; sự tiếp xúc điện giữa lõi và vật liệu anode được xác định bằng cách đo điện trở tiếp xúc và kiểm tra chất lượng bên trong của anode bằng phương pháp phá hủy (cắt mẫu). Các phương pháp kiểm tra và yêu cầu chất lượng của anode phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế [3].

     

    3. Kết quả và thảo luận

     

    3.1. Chế tạo anode hy sinh hợp kim kẽm

     

    Anode hy sinh hợp kim kẽm được chế tạo bằng

     

     

     

    Hình 5. Anode hy sinh hợp kim kẽm sau khi đúc

     

    Bảng 1. Thành phần chính của các mẫu vật liệu anode hy sinh hợp kim kẽm trước khi rót vào khuôn

     

    TT

    Tên ch tiêu

    Thành ph n hóa h c m u v t li u anode hy sinh h p kim k m (%)

     

    Theo MIL-A-18001K [7]

    VPI – Zn 01

    VPI – Zn 02

    VPI – Zn 03

     
         

    1

    Nhôm

    (Al)

    0,10 – 0,5

    0,3575

    0,3073

    0,3250

     

    2

    Cadmium

    (Cd)

    0,025 – 0,07

    0,0636

    0,0371

    0,0521

     

    3

    S t

    (Fe)

    0,005 max

    0,0008

    0,0018

    0,0011

     

    4

    Đ ng

    (Cu)

    0,005 max

    0,0048

    0,0034

    0,0029

     

    5

    Chì

    (Pb)

    0,006 max

    0,0004

    0,0006

    0,0003

     

    6

    T ng các kim lo i khác

    0,10 max

    0,0302

    0,0915

    0,0643

     

    7

    K m

    (Zn)

    Còn l i > 99,414

    99,5427

    99,5583

    99,5543

     

    DẦU KHÍ – SỐ 1/2019    61

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    phương pháp đúc tại nhiệt độ 450oC và sau khi đúc có dạng như Hình 5.

     

    3.2. Kiểm tra, đánh giá chất lượng của anode hy sinh hợp kim kẽm sau đúc

     

    3.2.1. Phân tích thành phần

     

    Kết quả phân tích thành phần chính của các mẫu anode hy sinh hợp kim kẽm tại mỗi mẻ chế tạo được thể hiện trong Bảng 1.

     

    Các kết quả phân tích thành phần của anode hy sinh hợp kim kẽm cho thấy nhìn chung thành phần vật liệu anode tương đối đồng nhất, hàm lượng Al dao động trong khoảng 0,1 – 0,5%, Cd dao động trong khoảng 0,025 – 0,07% và hàm lượng các tạp chất không mong muốn như Fe, Cu <0,005%, Pb <0,006% và tổng các tạp chất khác <0,1%, thỏa mãn yêu cầu theo tiêu chuẩn [7].

     

    3.2.2. Đánh giá điện thế đóng mạch và dung lượng điện hóa

     

    Vật liệu anode tốt phải có điện thế đủ âm để có thể phát dòng điện đủ lớn bảo vệ chống ăn mòn cho công trình thép; có hiệu quả kinh tế cao phải đảm bảo đồng thời cung cấp nhiều điện tử trên một đơn vị khối lượng. Do vậy, hiệu suất điện của anode được đặc trưng bởi dung lượng dòng, biểu diễn bằng Ah/kg. Giá trị dung lượng dòng được xác định bởi đương lượng điện hóa, tỷ trọng và hiệu suất của vật liệu anode.

     

    Kết quả khảo sát dung lượng và điện thế làm việc của các mẫu anode hy sinh hợp kim kẽm được biểu diễn trên Bảng 2.

     

    Các kết quả thử nghiệm điện hóa cho thấy rõ chất lượng của mẫu vật liệu hợp kim rất tốt, đáp ứng tiêu chuẩn điện hóa đối với anode hy sinh hợp kim kẽm, điện thế đóng mạch âm hơn -1,020V so với điện cực Ag/AgCl và dung lượng điện hóa đều lớn hơn 800Ah/kg.

     

    3.2.3. Kiểm tra chất lượng anode hy sinh hợp kim kẽm

     

    Anode hy sinh hợp kim kẽm sau khi đúc có màu trắng bạc, sáng, bề mặt tương đối đồng nhất, bằng phẳng, không xuất hiện vết nứt, rỗ, co ngót. Chất lượng bề mặt anode đáp ứng mọi yêu cầu về bề mặt theo các tiêu chuẩn trong [8] và ngoài nước [3].

     

    Kích thước và khối lượng anode sau khi đúc được biểu diễn trên Bảng 2. Các kết quả thu được cho thấy sự chênh lệch khối lượng và kích thước so với thiết kế gần như không đáng kể, luôn nhỏ hơn ± 2%, đáp ứng yêu cầu theo các tiêu chuẩn trong [8] và ngoài nước [3].

     

    Điện trở tiếp xúc giữa vật liệu anode và lõi được xác định bằng đồng hồ đo điện trở có độ chính xác cao. Giá trị đo điện trở tiếp xúc luôn nhỏ hơn 0,1mΩ, chứng tỏ sự tiếp xúc điện rất tốt giữa lõi và vật liệu anode.

     

    Hình 6. Kết quả phân tích thành phần thực hiện bởi Quatest 1

     

    Bảng 2. Kết quả xác định điện thế đóng mạch và dung lượng điện hóa của anode hy sinh hợp kim kẽm

     

    Tên m u

    Đi n th  làm vi c

    Dung lư ng anode

     

    (V so v i đi n c c Ag/AgCl)

    (Ah/kg)

     
     

    VPI – Zn 01

    -1,020

    821

     

    VPI – Zn 02

    -1,014

    815

     

    VPI – Zn 03

    -1,051

    803

     

    Theo DNV-RP-B401

    ≤-1,000

    ≥ 780

     

     

     

    62       DẦU KHÍ – SỐ 1/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Để kiểm tra độ đồng nhất và sít chặt bên trong anode, anode sau đúc đã được cắt ngang mẫu để quan sát trực quan tại vị trí mặt cắt. Tại các vị trí vết cắt, bề mặt kim loại đồng nhất không xuất hiện hiện tượng co ngót, rỗ khí, nứt gãy. Tại vị trí tiếp xúc với lõi, kim loại tiếp xúc tốt, không xuất hiện khuyết tật.

     

    3.3. Kiểm định chất lượng bởi bên thứ 3

     

    Các kết quả đánh giá thành phần mẫu vật liệu và dung lượng điện hóa đều được kiểm chứng và xác nhận chất lượng bởi Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 1 – Quatest 1 (Hình 6). Tuy nhiên, để có bằng chứng chất lượng được sử dụng rộng rãi hơn trong ngành dầu khí Việt Nam và hướng tới có thể triển khai áp dụng cho cả các cơ sở ở nước ngoài, chọn ngẫu nhiên 1 mẫu vật

     

    liệu anode kẽm đánh giá đặc tính điện hóa bởi DNV-GL tại Singapore theo tiêu chuẩn DNV-RP-B401 [3] và cấp chứng nhận như Hình 7.

     

    Hình ảnh bề mặt mẫu anode và sau khi thử nghiệm điện hóa được biểu diễn trên Hình 8.

     

    Các kết quả đánh giá điện hóa đối với mẫu vật liệu anode thực hiện bởi DNV-GL cho phép khẳng định anode hy sinh hợp kim kẽm do VPI sản xuất có chất lượng điện hóa rất tốt. Dung lượng anode cao (813Ah/kg), điện thế làm việc đủ âm (-1,037V so với điện cực Ag/AgCl), đáp ứng các tiêu chuẩn trong [8] và ngoài nước [3]. Anode hòa tan đồng đều, chất lượng bề mặt rất tốt.

     

     

     

     

     

    Hình 7. Chứng nhận kiểm định chất lượng anode hy sinh hợp kim kẽm do DNV-GL Singapore cấpCác kết quả đánh giá của DNV-GL được tóm tắt trong Bảng 3 và Hình 8 Bảng 3. Kết quả đánh giá chất lượng anode hy sinh hợp kim kẽm do DNV-GL thực hiện

    Ký hi u m u

    Giá tr dung lư ng

    Đi n th  làm vi c

     

    (Ah/kg)

    (V so v i đi n c c Ag/AgCl)

     
     
           

    VPI – Zn

    813

    -1,037

     
           

    Tiêu chu n DNV-RP-B401

    ≥780

    ≤-1,000

     
           

    DẦU KHÍ – SỐ 1/2019    63

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

     

    1. Trước thử nghiệm
    1. Sau thử nghiệm

    Hình 8. Bề mặt mẫu anode trước và sau thử nghiệm điện hóa do DNV-GL thực hiện

     

    Hợp kim

    Kẽm thỏi

    Hợp kim

    Chế tạo

    Chế tạo

     

    trung gian

    trung gian

    khuôn

    lõi

     

    Al-Zn

     

    Cd-Zn

           
           

    Mạ

     
           

    nhúng

     
           

    nóng

     
     

    Nấu chảy

     

    Sấy

    Sấy lõi

     
         
         

    khuôn

             

    Lấy mẫu

    Rót vào

    Sẵn sàng

     

    Lắp lõi

     

    khuôn

    vào khuôn

     
       

    Chứng nhận

    Hoàn thiện

     

    CLSP

       
     

    Đóng kiện

     

    Giao hàng

     

    Hình 9. Quy trình công nghệ chế tạo anode hy sinh hợp kim kẽm

     

    3.4. Quy trình sản xuất anode hy sinh

     

    Quy trình sản xuất và kiểm tra chất lượng của anode hy sinh hợp kim kẽm được thể hiện trên Hình 9.

     

    Với quy trình chế tạo và kiểm soát chất lượng chặt chẽ, sản phẩm

       

    anode hy sinh hợp kim kẽm sản xuất được có chất lượng tốt, ổn định,

       

    đã được thương mại hóa và được khách hàng đánh giá cao. Sản

    Hình 10. Chứng chỉ ISO cho sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm của VPI

     

    phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm của VPI được cấp chứng nhận phù

       

    64       DẦU KHÍ – SỐ 1/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    hợp theo tiêu chuẩn ISO 15589-2:2012 [9] và hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm của VPI tuân thủ theo ISO 9001-2015 [2].

     

    4. Kết luận

     

    Anode hy sinh hợp kim kẽm mang thương hiệu VPI đã được chế tạo thành công với chất lượng tốt, đồng nhất và quy trình ổn định. Các đặc tính điện hóa (điện thế, dung lượng) và thành phần hợp kim đều đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế đối với sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm. Đây là sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm đầu tiên ở Việt Nam đã được gửi đi kiểm định chất lượng quốc tế và đã được xác nhận về chất lượng điện hóa theo DNV-RP-B401, quá trình sản xuất phù hợp với hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2015. Với các kết quả đạt được, các sản phẩm anode hy sinh hợp kim kẽm mang thương hiệu VPI đã bắt đầu được thương mại hóa và có mặt trên các đường ống và thiết bị trong các công trình dầu khí và được khách hàng đánh giá cao.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. W.Peabody. Peabody’s control of pipeline corrosion. NACE International, The Corrosion Society. 2001.
    1. Bộ Khoa học và Công nghệ. Hệ thống quản lý chất

    lượng – Các yêu cầu. ISO 9001:2015.

     

    1. Det Norske Veritas. Cathodic protection design. Recommended DNV-RP-B401. 2010.
    1. International Organization  for 

    Preparation of steel substrates before application of paints and related products – Visual assessment of surface cleanliness. ISO 8501.

     

    1. International Organization  for 

    Hot dip galvanized coatings on fabricated iron and steel articles – Specifications and test methods. ISO 1461:2009.

     

    1. ASTM International. Standard test method for chemical analysis of zinc – 5% aluminum-mischmetal alloys by ICP Emission Spectrometry. ASTM E1277-96.
    1. Military specification: Anodes, sacrificial zinc alloy. MIL-A-18001K. 1991.
    1. Bộ Khoa học và Công nghệ. Anode hy sinh – Yêu cầu kỹ thuật. TCVN 10263:2014.
    1. International Organization  for 

    Petroleum, petrochemical and natural gas industries – Cathodic protection of pipeline transportation systems – Part

     

    • Offshore pipelines. ISO 15589-2:2012.

    RESEARCH AND FINALISATION OF TECHNOLOGY AND PROCEDURE FOR MANUFACTURING SACRIFICIAL ANODE MEETING INTERNATIONAL QUALITY STANDARD

     

    Nguyen Thi Le Hien, Phan Trong Hieu, Pham Vu Dung, Ngo Ngoc Thuong, Pham Thi Huong

    Vietnam Petroleum Institute

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    With a casting temperature of 450oC, using a medium frequency induction furnace, obtained zinc anodes have a high quality, homogeneous structure and stable manufacture procedure. The electrochemical capacity of anode is higher than 780 Ah/kg and the close potential is more negative than -1.0V vs. Ag/AgCl reference electrode. The electrochemical characteristics and alloy components satisfy the strictest requirements for zinc sacrificial anode. The Vietnam Petroleum Institute’s sacrificial anode product has been certified by the international accreditation organisation DNV-GL to conform with DNV-RP-B401 standard and its sacrificial anode manufacture procedure has been assessed by Quacert to meet the ISO 9001:2015 standard.

     

    Key words: Zinc sacrificial anode, electrochemical capacity, anti-corrosion, VPI.

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 1/2019    65


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA CÁC PHÁT HIỆN HYDROCARBON BỂ MALAY – THỔ CHU

    ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA CÁC PHÁT HIỆN HYDROCARBON BỂ MALAY – THỔ CHU

    ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA CÁC PHÁT HIỆN HYDROCARBON BỂ MALAY – THỔ CHU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HỆ DUNG DỊCH KHOAN ỨC CHẾ “KCL-PROTEX STA” VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP HỢP CHẤT PROTEX STA VỚI CÁC HỆ DUNG DỊCH KHOAN CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC BỔ SUNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI CÔNG GIẾNG KHOAN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BA%B6C-%C4%90I%E1%BB%82M-%C4%90%E1%BB%8AA-H%C3%93A-C%C3%81C-PH%C3%81T-HI%E1%BB%86N-HYDROCARBON-B%E1%BB%82-MALAY-TH%E1%BB%94-CHU.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA CÁC PHÁT HIỆN HYDROCARBON BỂ MALAY – THỔ CHU

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 14 – 22

     

    ISSN-0866-854X

     

    ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA CÁC PHÁT HIỆN HYDROCARBON BỂ MALAY – THỔ CHU

     

    Phan Văn Thắng1, Hoàng Nhật Hưng1, Nguyễn Thị Oanh Vũ1, Nguyễn Thị Dậu2

    1Viện Dầu khí Việt Nam

    2Hội Dầu khí Việt Nam

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Bể trầm tích Malay – Thổ Chu nằm trên thềm lục địa Tây Nam Việt Nam, gồm rìa Đông Bắc bể Malay và phía Nam của trũng Pattani. Kết quả nghiên cứu địa hóa đá mẹ cho thấy có sự hiện diện của 2 tầng đá mẹ sinh dầu khí (tuổi Oligocene và Miocene dưới). Trên cơ sở nghiên cứu mẫu dầu/condensate tại các phát hiện ở bể Malay – Thổ Chu xác định: Hydrocarbon ở khu vực Lô 46 và Lô 46/02 được sinh từ đá mẹ chứa chủ yếu vật chất hữu cơ đầm hồ và hỗn hợp lục địa – đầm hồ đang ở pha tạo dầu muộn. Hydrocarbon ở khu vực Lô B và Lô 52/97 có sự phân dị về nguồn gốc vật chất hữu cơ ban đầu, được sinh từ đá mẹ chứa chủ yếu vật chất hữu cơ lục địa và hỗn hợp lục địa – đầm hồ, có độ trưởng thành khá cao. Không loại trừ khả năng hydrocarbon đã phát hiện trong khu vực nghiên cứu còn được sinh từ đá mẹ Oligocene và Miocene ở khu vực trũng sâu hơn của bể Malay và trũng Pattani di cư tới.

     

    Từ khóa: Đặc điểm địa hóa, hydrocarbon, đá mẹ, vật chất hữu cơ đầm hồ, bể Malay – Thổ Chu.

     

    1. Giới thiệu

     

    Khu vực nghiên cứu nằm ở rìa Đông Bắc bể Malay và phía Nam trũng Pattani, có dạng kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam (Hình 1). So với các bể trầm tích khác của Việt Nam, hoạt động nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò dầu khí ở khu vực này được triển khai muộn hơn. Giai đoạn trước năm 1990 chủ yếu là hoạt động thu nổ địa chấn. Từ năm 1990 đến nay, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ký các hợp đồng chia sản phẩm, triển khai công tác khảo sát địa chấn, giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí trên các lô dầu khí và khu vực khai thác chung giữa Việt Nam và Malaysia (PM3). Kết quả tìm kiếm thăm dò đã chứng minh sự hiện diện của đá mẹ và sản phẩm trong khu vực nghiên cứu.

     

    Tại bể Malay, trầm tích Cenozoic phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Cenozoic với chiều dày lên tới trên 12km

     

    • khu vực trung tâm bể [1 – 3], bao gồm trầm tích lục nguyên và carbonate. Còn lát cắt trầm tích Cenozoic trong vùng nghiên cứu gồm chủ yếu là trầm tích lục nguyên. Theo bản đồ đẳng sâu nóc mặt móng trầm tích Cenozoic (mặt phản xạ SHB), có nơi trầm tích Cenozoic dày tới trên 8km [4 – 6]. Các thành tạo đá móng trước Cenozoic trong khu vực nghiên cứu mới chỉ gặp tại một số giếng khoan như 46-NC-1X, 46-DD-1X, 46-PT-1X (Lô 46), B-KQ-1X (Lô

    Ngày nhận bài: 5/5/2017. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 5/5/2017 – 19/9/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    B)… Trầm tích tuổi Cenozoic trong vùng nghiên cứu gồm đầy đủ các phân vị địa tầng từ Paleogene – Neogene đến Đệ Tứ, phủ bất chỉnh hợp lên tầng móng trước Cenozoic. Trầm tích Oligocene và Miocene dưới có chiều dày thay đổi từ hàng trăm tới hàng nghìn mét, chứa những tập sét kết xen kẽ với cát kết và bột kết, đôi khi gặp những lớp than và sét than. Trầm tích Miocene giữa và Miocene trên bao gồm các lớp than, sét than và sét kết xen với các tập cát kết, được thành tạo ở điều kiện đầm hồ – tam giác châu có ảnh hưởng của môi trường biển ven bờ (Hình 2), có mặt trong hầu hết các giếng khoan.

     

    2.   Hệ thống dầu khí ở khu vực bể Malay – Thổ Chu

     

    • Đá mẹ sinh dầu khí

    Kết quả nghiên cứu đá mẹ trong vùng nghiên cứu [4, 7] cho thấy:

     

    Trầm tích Miocene dưới và Oligocene đạt tiêu chuẩn đá mẹ về tiềm năng hữu cơ. Đá mẹ Miocene dưới chứa vật chất hữu cơ loại III, có sự tham gia của vật chất hữu cơ loại I. Vật chất hữu cơ trong sét, bột kết Miocene dưới chủ yếu có nguồn gốc từ thực vật lục địa và số ít hỗn hợp lục địa và đầm hồ, có khả năng sinh khí là chính. Đá mẹ Oligocene chứa vật chất hữu cơ có nguồn gốc từ algal đầm hồ và hỗn hợp giữa vật chất hữu cơ đầm hồ và lục địa, kerogen là hỗn hợp loại I với loại III và loại III, có khả năng sinh dầu và khí. Tỷ lệ mẫu đá mẹ tuổi Oligocene có khả năng sinh dầu trội hơn so với mẫu đá mẹ Miocene dưới. Trên biểu đồ

     

    14       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    tiềm năng, các mẫu than và sét than trong trầm tích Miocene dưới và Oligocene đều phân bố trong vùng thiên về khả năng sinh khí.

     

    Nhìn chung, vật chất hữu cơ trong đá mẹ ở khu vực Đông Nam vùng nghiên cứu có khả năng sinh dầu tốt hơn ở khu vực Tây Bắc.

     

    Vật chất hữu cơ trong trầm tích tại các giếng khoan đạt cửa sổ tạo dầu (tương đương 0,72%Ro) ở độ sâu khoảng 2.800 – 3.000m, chưa giếng khoan nào đạt peak tạo dầu (tương đương 1,0%Ro).

     

    Đá mẹ Oligocene và phía dưới của Miocene dưới đủ điều kiện sinh và cung cấp hydrocarbon cho các bẫy trong vùng nghiên cứu. Trong đó, đá mẹ Oligocene đóng vai trò chính. Sự hiện diện của đá mẹ sinh dầu khí đã được minh chứng bởi các phát hiện dầu và khí trong quá trình tìm kiếm thăm dò dầu khí trong vùng nghiên cứu.

     

    Dầu và khí đã phát hiện trong vùng nghiên cứu chủ yếu từ tầng chứa tuổi Miocene sớm, có nguồn gốc từ đá mẹ chứa vật chất hữu cơ đầm hồ và lục địa. Sự thay đổi đặc trưng của đá mẹ theo bình đồ phù hợp với thực tế tìm kiếm thăm dò dầu khí: Tây Bắc khu vực nghiên cứu như: Kim Long – Ác Quỷ – Cá Voi các phát hiện chủ yếu là khí trong khi ở phía Đông Nam như Lô 46, Sông Đốc, Hoa Mai, PM3 lại phát hiện cả dầu và khí.

     

    Đới phân dị địa hào

    địa lũy phương Bắc

    Tây Bắc – Nam Đông

    Nam

     

    Đơn nghiêng phân dị

    Đông Bắc bể Malay

     

     

     

    <1 giây

    3 – 4 giây

    <1 – 2 giây

    >4 giây

    <2 – 3 giây

     
       
     

    Hình 1. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu

    2.2. Đá chứa dầu khí

     

    Vùng nghiên cứu có mặt 3 đối tượng chứa là cát kết Miocene giữa, cát kết Miocene dưới và cát kết Oligocene. Đến nay, chưa có phát hiện nào trong đá móng trước Cenozoic. Cát kết Miocene giữa tương đối sạch, độ lựa chọn tốt, độ hạt từ mịn đến trung bình, độ rỗng trung bình thay đổi từ 19 – 27%, độ thấm thay đổi từ hàng chục đến hàng nghìn milidarcy. Cát kết Miocene dưới có đặc điểm là sạch, độ hạt từ mịn đến thô, độ lựa chọn từ trung bình đến kém, độ rỗng tốt (18 – 25%), độ thấm thường

     

    • 100mD, đây là tầng đá chứa chính trong khu vực nghiên cứu. Cát kết Oligocene bị nén kết chặt nên ảnh hưởng đáng kể đến độ rỗng, làm giảm tính chất chứa của đá.

    2.3. Đá chắn dầu khí

     

    Các thành tạo chắn dầu khí trong khu vực nghiên cứu có thể được chia thành 2 loại chủ yếu là các thành tạo chắn hạt mịn tuổi Oligo-cene, Miocene và Pliocene – Đệ Tứ và màn chắn kiến tạo. Tầng chắn sét kết Pliocene – Đệ Tứ là các tập sét với bề dày hàng trăm mét, đóng vai trò tầng chắn khu vực. Tầng chắn sét kết Miocene dưới là các tập sét ở phần đáy tầng Miocene dưới, phân bố không liên tục, đóng vai trò tầng chắn địa phương cho các vỉa sản phẩm phía dưới. Tầng chắn sét kết Oligocene là các tập sét trong tầng Oligocene được thành tạo trong môi trường hồ có ảnh hưởng của biển, hàm lượng sét cao. Ngoài ra, trong khu vực nghiên cứu còn tồn tại các tầng chắn địa phương là các tập sét tuổi Miocene được thành tạo trong môi trường đồng bằng ngập lụt, biển ven bờ. Chế độ kiến tạo ở khu vực nghiên cứu có ảnh hưởng và chi phối mạnh tới việc hình thành và bảo tồn các tích tụ dầu khí, các hệ thống đứt gãy trong vùng nghiên cứu hoạt động khá sớm và tồn tại đến cuối Miocene do đó yếu tố màn chắn kiến tạo cũng có vai trò quan trọng.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu và cơ sở tài liệu

     

    • Phương pháp nghiên cứu

    Bài báo sử dụng phương pháp tổng hợp, đối sánh trên cơ sở kết quả phân tích mẫu, kết quả mô hình địa hóa đá mẹ… Trong đó kết quả

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    15

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    Tuổi

    Hệ

    Cột

    Bề

    địa

    tầng

    địa

    dày

    chất

     

    tầng

    (m)

    Pliocenehiệntại

    BiểnĐông

     

    200-700

    Miocene trên -Pliocenedưới

    Minh Hải

     

    150-1000

    Miocene giữa

    Đầm Dơi

     

    300-1275

    Miocene dưới

    Ngọc Hiền

     

    900-2400

    Đặc điểm thạch học

     

    Sét kết màu xám sáng, xám nhạt, xen các lớp cát kết

     

    Chủ yếu là sét kết màu xám sáng, xám nhạt, xen các lớp cát bột, các lớp mỏng than nâu

     

    Sét kết màu xám xanh – xám nâu, xen kẹp cát kết, bột kết, các lớp than nâu

     

    Sét kết màu xám nâu, xen kẹp cát kết, bột kết. Phần trên có các lớp than nâu. Phần dưới là sét kết dạng khối

     

    Tiềm Đới

    Đới

    Đới

    Môi

    Tập

    năngForam tảo

    thực

    trường

    địa

       

    vật

    trầm tích

    chấn

         

    Đồng bằng

     
         

    ven biển,

    T1

         

    biển mở

     

    N16-N19

    NN8-NN11

    Stenochaena

    Đồng bằng

     

    ven biển –

     
         

    biển nông

     
         

    trong

    T2

         

    thềm –

           

    N8-N14

    NN4-NN7

    Florschuetzialevipoli

    giữa thềm

     

    Đồng

     
         

    bằng ven

     
         

    biển chịu

    T3

         

    ảnh hưởng

           
         

    của sông –

     
         

    biển nông

     

    N4-N8

    NN1-NN4

    Florschuetziatrilobata

    Đồng

    T4

     
         

    bằng

     
         

    ven biển

     
         

    chịu ảnh

    T5

    hưởng

    của sông –

    biển nông

    ven bờ

     

    T6

     

    điện tử của mảnh (ví dụ m/z 191, m/z 259…). Hỗn hợp các cấu tử đã được ion hóa sẽ luân chuyển qua cột hấp phụ. Các chu trình diễn ra ở giai đoạn này tương tự trong máy sắc ký khí, độ phổ biến của các cấu tử sẽ được khuếch đại và ghi lại dưới dạng sắc đồ. Sắc ký khí ghép khối phổ hiện nay được coi là một trong những phương pháp phân tích chi tiết, hữu hiệu trong việc liên kết dầu – dầu và dầu – đá mẹ, được xem như một kiểu “phân tích ADN” trong địa hóa dầu. Số liệu từ phép phân tích này được dùng để đánh giá nguồn gốc, môi trường lắng đọng, mức độ trưởng thành nhiệt của vật chất hữu cơ ban đầu, mức độ phân hủy sinh vật… với độ tin cậy cao.

     

    3.2. Cơ sở tài liệu

     

     

    Oligocene

    Kim Long

    0-3400

    TrướcĐệTam

       
       

    Chú thích

    P18-P22

    Florschuetziatrilobata

    Hồ, đầm

    lầy ven

    Sét kết màu xám nâu – nâu đỏ

     

    biển

    xen bột kết màu nâu, phớt tím,

     

    có ảnh

    cát kết và sét màu nâu xám.

     

    hưởng

    Than đen, cứng

     

    của sông

       

    T7

    Đá biến chất, quaczit, sét kết

       

    biến chất, bột kết biến chất

       

    Bài báo sử dụng kết quả phân tích địa hóa nhiều mẫu dầu/condensate (DST, TST và MDT) từ các giếng khoan tại Lô 46, Lô 51, Lô B và Lô 52/97 [6, 7, 8 – 23]. Ngoài ra, nhóm tác giả tham khảo các báo cáo cuối cùng của các giếng khoan trong vùng nghiên cứu, báo cáo đánh giá tiềm năng dầu khí vùng nghiên cứu và khu vực lân cận.

    4. Kết quả và thảo luận

     

     

    Sét, sét kết

    Bột, bột kết

    Móng trước Đệ Tam

    Đá chứa

    Cát, cát kết

    Than

    Đá chắn

    Đá mẹ

    Hình 2. Cột địa tầng tổng hợp vùng nghiên cứu

     

    phân tích sắc ký khí (GC) và sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) được sử dụng nhiều nhất.

     

    • Phương pháp sắc ký khí: Nguyên tắc của tách chất trong sắc ký khí là sự phân bố giữa pha tĩnh và pha động thông qua cơ chế hấp phụ và giải hấp phụ. Bản chất của phép phân tích này là dựa vào khả năng tương tác vật lý giữa các cấu tử của hỗn hợp cần phân tích (mẫu hydrocarbon/ bitum) với pha tĩnh (chất hấp phụ trong cột sắc ký) và pha động (khí mang). Mẫu được vận chuyển qua cột sắc ký trong môi trường khí trơ (khí heli hoặc nitơ tinh khiết) để đảm bảo không xảy ra phản ứng hóa học trong cột hấp phụ. Kết quả biểu thị hàm lượng các cấu tử hydrocarbon trong mẫu dưới dạng sắc đồ. Dạng dải phân bố và tỷ số giữa các peak được sử dụng để đánh giá nguồn gốc, mức độ trưởng thành và môi trường lắng đọng cũng như phân hủy vật chất hữu cơ ban đầu.
    • Phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS): Phương pháp phân tích GC-MS dựa trên nguyên tắc các cấu tử sau khi được tách bằng sắc ký khí sẽ được ion hóa và “bẻ gãy” thành những phân mảnh có khối lượng điện tử nhất định, được ký hiệu là m/z đầu và tiếp sau là khối lượng

    Dầu và khí đã được phát hiện trong các tầng chứa tuổi Miocene tại các giếng khoan ở nhiều lô, trong đó mẫu được phân tích trong nghiên cứu này tập trung ở Lô 46/02, Lô 51, Lô B và Lô 52/97. Tất cả các mẫu dầu/condensate trong vùng nghiên cứu có tỷ trọng thay đổi từ 27 – 52oAPI, hàm lượng lưu huỳnh thấp (< 0,5%). Theo phân loại của BP, các mẫu dầu này thuộc loại C, D, E [4, 6, 9 – 16, 24, 25].

     

    Dầu/condensate tại giếng khoan 46-CN-1X có tỷ trọng thay đổi trong khoảng 37,8 – 51,6oAPI, hàm lượng lưu huỳnh thấp (< 1%). Mẫu MDT#6, DST#3 và MDT#8 có hàm lượng oleanane thấp, có mặt gamacerane, bicadinane phản ánh nguồn vật chất hữu cơ ban đầu là hỗn hợp giữa algal đầm hồ và thực vật thượng đẳng. Ba mẫu dầu MDT#1, MDT#2 và MDT#3 tại giếng khoan 46-CN-1X có tỷ số Pristane/

     

    16       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Phytane (Pr/Phy) thấp (2,54, 2,44 và 1,98 tương ứng), giàu hydrocarbon thơm, hàm lượng sáp (waxy) thấp, hàm lượng oleanane và tricyclic terpane thấp đặc trưng cho nguồn gốc hỗn hợp vật chất hữu cơ đầm hồ và lục địa [2, 6, 24, 25]. Tỷ số Ts/Tm của tất cả các mẫu dầu trên đều cao (1,25 – 2,98) chứng tỏ dầu được sinh ra từ đá mẹ đã trưởng thành đang ở pha tạo dầu muộn. Các mẫu dầu/ condensate có chỉ số pristane/phytane giảm dần theo chiều sâu, đây là một trong những dấu hiệu chỉ ra sự tăng dần tính đầm hồ trong vật chất hữu cơ ban đầu.

     

    Theo kết quả phân tích của Robertson, cùng trong Lô 46 nhưng tại giếng khoan 46-NH-1X tính chất condensate (mẫu MDT#1 và MDT#2) trong đá chứa tuổi Miocene lại có tỷ số Pr/Phy cao (3,6 – 4,52), C29 sterane chiếm chủ yếu trong dãy C27-C28-C29 phản ánh đá mẹ chứa chủ yếu vật chất hữu cơ nguồn gốc lục địa. Cả 2 mẫu đều có tính trội lẻ ở C19, C21, C23 và hàm lượng các cấu tử hydrocarbon giảm dần từ C26 – C34, giàu hàm lượng hydrocarbon thơm và tỷ số Ts/Tm cao (1,84 và 1,88) có thể cho rằng các mẫu con-densate này được sinh ra từ đá mẹ chứa chủ yếu vật chất hữu cơ lục địa, đang ở trong pha tạo dầu muộn.

     

    Tại giếng khoan 46-PT-1X, 11 mẫu dầu trong tầng chứa T5 và T6 có tỷ trọng thay đổi từ 37 – 47,9oAPI. Kết quả phân tích GC và GC-MS cho thấy tất cả các mẫu dầu đều có tính chất tương tự nhau, hàm lượng sáp thấp, có mặt diahopane, bicadinane, Ts/Tm cao (1,48 – 1,87). Các chỉ tiêu trên chỉ ra vật chất hữu cơ ban đầu có sự pha trộn giữa algal đầm hồ và thực vật bậc cao, có độ trưởng thành tương đương ở pha tạo dầu muộn. Các mẫu dầu trong tập chứa T6 (tầng Miocene dưới – Oligocene) có tỷ số Pr/Phy thấp hơn các mẫu dầu trong tầng chứa T5 (giữa Miocene dưới), có thể coi hợp phần lục địa trong vật chất hữu cơ ban đầu của dầu trong đá chứa thuộc tập T6 thấp hơn ở tập T5.

     

    Kết quả phân tích GC và GC-MS hợp phần no trong mẫu dầu tại độ sâu 2230,5m giếng khoan 46-PT-1X và mẫu DST#1A giếng khoan 46-NH-1X (Hình 3) cho thấy dải phân bố n-alkane thể hiện trội rõ vùng C17 – C23, có sự giảm rất nhanh từ C24 – C36 thể hiện đá mẹ sinh dầu chứa hỗn hợp vật chất hữu cơ đầm hồ và lục địa, có độ trưởng thành tương đối cao (vượt quá peak tạo dầu); trên dải hopane có thể thấy gammacerane hiển thị khá rõ cho thấy môi trường lắng đọng đá mẹ có tính khử cao, oleanane thấp cùng với sự xuất hiện của moretane cho thấy có sự đóng

     

     

     

     

     

    Hình 3. Dải phân bố GC và GC-MS (m/z 191) hydrocarbon no mẫu dầu Lô 46 [8]

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    17

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 4. Kết quả GC-MS hydrocarbon no mẫu dầu/condensate Lô 51, Lô B và 52/97 (*: Hợp phần lục địa)

     

     

    góp của vật chất hữu cơ lục địa trong đá mẹ sinh dầu, đông phân C35 hopane rất thấp la dâu hiêu cua môi trương non-marine. Những dấu hiệu trên chỉ ra vật chất hữu cơ ban đầu của 2 mẫu dầu này có nguồn gốc đầm hồ với sự đóng góp của vật chất hữu cơ lục địa, được lắng đọng trong môi trường nghèo oxy.

     

    Khu vực Lô B, phần lớn các giếng khoan đều gặp dầu nhẹ/condensate trong các tầng chứa cát kết tuổi Miocene dưới. Các mẫu dầu nhẹ/condensate có mùi thơm nhẹ, màu vàng sáng, rất sạch và gần như không có asphaltene

     

    • Các mẫu hydrocarbon có tỷ trọng > 45oAPI (phổ biến là 47 – 52oAPI), hàm lượng lưu huỳnh rất thấp (< 0,1%) và hàm lượng sáp cao (> 10%) phản ánh mối liên quan với nguồn vật liệu ban đầu chủ yếu từ lớp biểu bì của thực vật bậc cao bị phân hủy. Chúng thuộc nhóm D, E có thể liên

    quan với đá mẹ chứa vật chất hữu cơ nguồn gốc chủ yếu là thực vật bậc cao.

     

    Các mẫu Lô B và Lô 52/97 thường là dầu nhẹ/con-densate, do ảnh hưởng độ phân hủy và mức độ trưởng thành nên nghèo dấu hiệu sinh vật hơn các mẫu thuộc Lô 46, đôi khi các dấu hiệu sinh vật trong một số mẫu từ Lô B và Lô 52/97 bị nhiễu gây khó xác định hoặc không xác định được. Nhìn chung dấu hiệu sinh vật trong các mẫu khu vực Lô 51, Lô B và Lô 52/97 phản ánh vật chất hữu cơ ban đầu có nguồn gốc khác nhau, tuy nhiên mẫu thể hiện vật chất hữu cơ ban đầu nguồn lục địa là chính (Hình 4). Để tiện theo dõi, mẫu từ các giếng khoan Lô 46 (46/02 và 46/07) ký hiệu hình tam giác và tròn, mẫu từ các giếng khoan ở Lô 51 ký hiệu hình hoa thị và mẫu từ các giếng khoan Lô B và 52/97 ký hiệu bằng hình vuông.

     

    18       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Kết quả phân tích GC hợp phần hydro-carbon no các mẫu dầu/condensate (Hình

     

    • cho thấy các mẫu thuộc Lô 46 và Lô 51 phân bố tập trung ở vùng thể hiện môi trường đầm lầy (peat Swamp), một số ít mẫu từ Lô 46 phân bố trong vùng chuyển tiếp. Mẫu từ các giếng khoan ở Lô B và Lô 52/97 phân bố rải rác từ lục địa đến chuyển tiếp cho thấy sự phức tạp trong nguồn vật chất hữu cơ ban đầu.

    Trên biểu đồ quan hệ C27-C28-C29 ster-ane (Hình 6) ngoại trừ 1 mẫu từ giếng kho-

     

    an 46-SD-1X phản ánh vật chất hữu cơ ban đầu nguồn gốc thực vật cạn (higher plant) là chính, các mẫu Lô 51 và Lô 46 phân bố trong vùng thể hiện vật chất hữu cơ ban đầu ở vùng đầm lầy ngập nước (estuarine). Trong khi đó mẫu từ các giếng thuộc Lô B và Lô 52/97 lại phân bố rải rác, từ vùng lục địa đến đầm lầy ngập nước, đầm hồ. Điều này khá phù hợp với kết quả GC trên Hình 4.

     

    Hình 7 cho thấy phần lớn mẫu từ các giếng khoan thuộc Lô 46 phân bố ở khu vực thể hiện nguồn vật chất hữu cơ ban đầu chủ yếu là algal đầm hồ, riêng mẫu từ giếng khoan SD-1X phân bố ở vùng thể hiện vật chất hữu cơ chủ yếu nguồn gốc lục địa. Mẫu từ các giếng khoan Lô B và Lô 52/97 phân bố tản mát, thể hiện vật chất hữu cơ ban đầu nhiều nguồn gốc (lục địa, đầm hồ và hỗn hợp).

     

    Như vậy, các mẫu dầu/condensate trong vùng nghiên cứu thuộc dầu nhóm C, D, E là dầu được sinh từ đá mẹ chứa vật chất hữu cơ có nguồn gốc đầm hồ và hỗn hợp đầm hồ/lục địa. Dầu/condensate có đặc điểm địa hóa tương tự với chất chiết từ đá mẹ nhưng có độ trưởng thành tương đương pha tạo dầu muộn, cao hơn đá mẹ tại các giếng khoan nhiều chính vì vậy có thể đã được sinh từ đá mẹ ở trũng sâu dịch chuyển lên và được nạp vào bẫy chứa như đã gặp tại các tầng chứa cát kết tuổi Mio-cene.

     

    Theo Hwang và cộng sự (1998), hàm lượng benzocarbazole trong hydrocarbon

     

     

     

     

     

    Hình 5. Biểu đồ quan hệ pristane/nC17 và phytane/nC18 các mẫu hydrocarbon khu vực các lô 46, 51, B và 52/97

     

     

     

     

    Hình 6. Biểu đồ quan hệ C27-C28-C29 sterane các mẫu hydrocarbon khu vực các lô 46, 51, B và 52/97

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    19

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

     

     

     

    Hình 7. Biểu đồ quan hệ chỉ số OI và Ts/Tm các mẫu hydrocarbon khu vực các lô 46, 51, B và 52/97

     

     

     

    (a)                                                            (b)

    Hình 8. Bản đồ thể hiện độ trưởng thành của vật chất hữu cơ bể Malay – Thổ Chu (a) tại đáy tầng Oligocene và (b) tại nóc tầng Oligocene

     

    là yếu tố quan trọng để xác định khoảng cách di cư của hydrocarbon. Trong đề án hợp tác nghiên cứu giữa PVN và Idemitsu, Idemitsu đã xác định hàm lượng nitơ hữu cơ, chỉ số benzocarbazole trong hydrocar-bon và liên hệ với kết quả nghiên cứu của Hwang và cộng sự, kết quả dự đoán khoảng cách di cư của hydrocarbon đã phát hiện tại khu vực Lô 46 bể Malay – Thổ Chu khá lớn (ít nhất 20 – 30km) [8]. Khu vực Lô B và Lô 52/97 sản phẩm chủ yếu là khí nên độ linh hoạt cao hơn vì thế khoảng cách di cư có thể còn lớn hơn.

     

    Theo kết quả nghiên cứu đá mẹ và mô hình địa hóa đá mẹ [6], vùng nghiên cứu có sự hiện diện của 2 tầng đá mẹ sinh dầu khí (Oli-

     

    gocene và Miocene dưới). Bản đồ thể hiện độ trưởng thành của vật chất hữu cơ khu vực ng-hiên cứu (Hình 8) cho thấy tại khu vực trũng sâu vật chất hữu cơ ở đáy tầng Oligocene đã đạt đới tạo khí khô, phần lớn diện tích còn lại nằm trong cửa sổ tạo dầu (Hình 8a), sản phẩm của đá mẹ Oligocene đã sinh và bắt đầu di cư từ Miocene sớm. Tại đáy tầng Miocene dưới

     

    • các trũng sâu phần lớn đang trong pha tạo dầu sớm (chưa đạt peak tạo dầu), rất ít chỗ mới đạt peak tạo dầu.

    Để nhận diện sản phẩm của từng loại đá mẹ, các loại vật chất hữu cơ trong đá mẹ Oli-gocene và Miocene dưới trong vùng nghiên cứu đã được định nghĩa riêng và đưa vào cơ sở dữ liệu của mô hình [4]. Kết quả mô hình chạy trên phần mềm PetroMod cho thấy quá trình di cư hydrocarbon trên diện rộng bắt đầu từ 15 triệu năm trước (khoảng đầu Miocene giữa) vì vậy các tích tụ hydrocarbon chịu ảnh hưởng của pha hoạt động kiến tạo vào giai đoạn cuối Miocene giữa gây ra sự thất thoát hydrocar-bon trong vùng nghiên cứu. Thành phần hy-drocarbon trong các tầng chứa theo kết quả mô hình cho thấy hydrocarbon chủ yếu được sinh từ đá mẹ Oligocene, chưa thấy dầu được sinh từ đá mẹ Miocene dưới trong các tầng chứa. Như vậy, đá mẹ chính trong vùng nghiên cứu là trầm tích hạt mịn tuổi Oligocene chứa vật chất hữu cơ nguồn gốc lục địa và đầm hồ.

     

    Hydrocarbon đã phát hiện trong vùng nghiên cứu có độ trưởng thành khá cao (tương đương pha tạo dầu muộn trở lên trong khi độ trưởng thành của đá mẹ Miocene dưới trong vùng nghiên cứu chưa vượt quá peak tạo dầu (Hình 8) là minh chứng cho nhận định trên.

     

    • khu vực sâu hơn (thuộc bể Malay), nơi đá mẹ Oligocene được chôn vùi sâu trên 12km, đá mẹ Miocene dưới được chôn vùi tới 7km (Hình 9) vật chất hữu cơ trong đá mẹ còn có độ trưởng thành cao hơn so với vùng nghiên cứu, sản phẩm của chúng đã được sinh và tham gia vào quá trình di cư, có thể một phần trong chúng đã di cư tới các bẫy ở phía Nam Lô 46/02 và Lô 46/07. Kết quả mô hình địa hóa đá mẹ tuyến Seas 95-05 (Hình 10) minh họa cho nhận định này.

    20       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Theo nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) [6], khu vực nghiên cứu tồn tại đồng thời 2 cơ chế dịch chuyển dầu khí đó là dịch chuyển ngang theo địa tầng và dịch chuyển thẳng đứng theo đứt gãy hoặc các khu vực xung yếu của các tầng, 2 cơ chế này luôn diễn ra song song. Dịch chuyển thẳng đứng của dầu khí thường mang tính cục bộ trong các khu vực phát triển đứt gãy hoặc khu vực xung yếu của các tầng. Trong khi đó dịch chuyển ngang có thể xảy ra trong các tầng và phạm vi dịch chuyển lớn hơn. Như vậy, không loại trừ khả năng hydro-carbon đã phát hiện trong vùng nghiên cứu (đặc biệt là khu vực Lô B và 52/97) còn được sinh từ đá mẹ Oligocene và Miocene ở khu vực trũng sâu hơn của bể Malay và trũng Pattani di cư tới (theo phương thức dịch chuyển ngang là chính). Trong các mẫu khí, hàm lượng đồng vị carbon C13 trong methane biến đổi trong khoảng khá rộng (-33,57‰ đến -38,28‰), trong khi ở khí C2+ chỉ số này biến đổi trong khoảng hẹp hơn (trong ethane là -28,82‰ đến -29,77‰, trong propane là -27,87‰ đến -29,1‰). Như vậy, độ trưởng thành của đá mẹ sinh ethane và propane gần tương đương và cao hơn độ trưởng thành của đá mẹ sinh meth-ane. Theo kết quả nghiên cứu trên và báo cáo cuối cùng các giếng khoan trong

     

     

     

     

    (a)                                                                    (b)

    Hình 9. Bản đồ đẳng sâu bể Malay [2] (a) tại nóc mặt móng Cenozoic và (b) tại nóc tầng Oligocene

     

     

    (a)                                                                       (b)

     

    Hình 10. Mô hình địa hóa đá mẹ tuyến Seas 95-05 qua trũng sâu của bể Malay sang khu vực Lô 46 [8] (a) độ bão hòa và hướng dịch chuyển dầu, (b) độ bão hòa và hướng dịch chuyển khí

     

    khu vực nghiên cứu [11 – 18], có thể cho rằng condensate ở tầng trên do khí methane hòa tan vào vỉa dầu có độ trưởng thành cao hơn được tích tụ từ trước. Khí có thể hình thành trong giai đoạn trưởng thành sớm của vật chất hữu cơ loại III trong trầm tích ở phần dưới Miocene dưới (?) (Hình 8 và 10).

     

    1. Kết luận

    Hydrocarbon khu vực Lô 46 có đặc điểm tương tự nhau, được sinh từ đá mẹ chứa chủ yếu vật chất hữu cơ đầm hồ và hỗn hợp lục địa – đầm hồ đang ở pha tạo dầu muộn.

     

    Hydrocarbon khu vực Lô B và Lô 52/97 có sự phân dị về nguồn gốc vật chất hữu cơ ban đầu, được sinh từ đá mẹ chứa chủ yếu vật chất hữu cơ lục địa và hỗn hợp lục địa – đầm hồ, có độ trưởng thành khác nhau rõ rệt. Điều này phản ánh nguồn cấp hydrocarbon khá phức tạp.

     

    Không loại trừ khả năng hydrocarbon đã phát hiện trong vùng nghiên cứu còn được sinh từ đá mẹ Oligocene và Miocene ở khu vực trũng sâu hơn của bể Malay và trũng Pattani di cư tới.

     

    Mối quan hệ giữa quy luật phân bố hydrocarbon với đặc tính đá mẹ trong vùng nghiên cứu và nguồn cấp hydrocarbon cho các bẫy khu vực Lô B và Lô 52/97 cần được nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Đỗ Bạt và nnk. Định danh và liên kết địa tầng trầm tích Đệ Tam thềm lục địa Việt Nam. Viện Dầu khí

    Việt Nam. 2001.

     

    1. Nguyễn Huy Quý và nnk. Cấu trúc và tiềm năng dầu khí vùng nước sâu thềm lục địa Việt Nam. Đề tài cấp Nhà nước mã số KC09-06. 2004.

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    21

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    1. Mazlan B.Hj.Madon. The petroleum geology and resources of Malaysia, Chapter 8 Malay basin. 1999.
    1. Nguyễn Thị Dậu. Mô hình địa hóa đá mẹ bể trầm tích Mã Lai – Thổ Chu, thềm lục địa Tây Nam Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, Đại học Mỏ – Địa chất. 2009.
    1. Nguyễn Thu Huyền, Phùng Sỹ Tài, Trịnh Xuân Cường. Bể trầm tích Malay – Thổ Chu và tài nguyên dầu khí. Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Khoa học – Công nghệ “30 năm Dầu khí Việt Nam: Cơ hội mới, thách thức mới”. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. 2005: trang 611 – 630.
    1. Viện Dầu khí Việt Nam. Đánh giá tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020. 2014.
    1. Phan Văn Thắng, Nguyễn Thị Oanh Vũ, Hoàng Nhật Hưng, Nguyễn Thị Dậu. Đặc điểm địa hóa đá mẹ Cenozoic khu vực thềm lục địa Tây Nam Việt Nam. Tạp chí Dầu khí. 2016; 7: trang 14 – 22.
    1. Petrovietnam-Idemitsu. Characterization of petroleum systems in Vietnam by State-of-the-art geochemical technology” phase 3: Malay – Tho Chu basin. 2009.
    1. Fina Exploration Minh Hai B.V. Final geological report well 46-NH-1X, 46-CN-1X, 46-KM-1X, 46-TL-1X, 46-PT-1X, 46-NC-1X, 46-DD-1X, 51-MH-1X.
    1. Geochemical Labs. Geochemical evaluation of cutting, oil and water samples from 51-TC-1X. 2013.
    1. Geochemical Labs. Geochemical analysis report of the B-KL-2X, B-KL-3X, B-AQ-1X, B-AQ-3X, B-CV-1X wells drilled in offshore Vietnam. 2000.
    1. Geochemical Labs. Geochemical analysis report of the B-AQ-3X well drilled in offshore Vietnam. 2000.
    1. Geochemical Labs. Geochemical analysis report of the B-AQ-1X well drilled in offshore Vietnam. 2000.
    1. Geochemical Labs. LC/GC/GCMS analysis results of the MDT fluids and TST condensates in the 52/97-CV-3X well drilled in offshore Vietnam. 2001.
    1. Geochemical Labs. LC/GC/GCMS analysis results of the TST condensate samples in the 52/97-AQ-4X well drilled in offshore Vietnam. 2001.
    1. Geochemical Labs. Geochemical analysis report of the B-CV-1X well drilled in offshore Vietnam. 2000.
    1. Barry Katz. Petroleum source rocks. Elsevier. 1994.
    1. Kennetch E.Peters, J.Michael Moldowan. The biomarkers guide: Interpreting molecular fossils in petroleum and ancient sediments. 1993.

    GEOCHEMICAL CHARACTERISTICS OF DISCOVERED HYDROCARBON IN MALAY – THO CHU BASIN

     

    Phan Van Thang1, Hoang Nhat Hung1, Nguyen Thi Oanh Vu1, Nguyen Thi Dau2 1Vietnam Petroleum Institute

    2Vietnam Petroleum Association

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    The Malay-Tho Chu basin is located in the South Western continental shelf of Vietnam, including the North East margin of Malay basin and the North of Pattani trough. Results of geochemistry research of source rocks revealed the presence of two source rock sequences (Oligocene and early Miocene). Studies of oil and condensate samples taken from discoveries in the Malay-Tho Chu basin indicated that hydrocarbon discovered in blocks 46 and 46/02 were generated from source rock containing mainly lacustrine organic matter/mixture of lacustrine and terrestrial organic matters which were in the late oil window; hydrocarbon in blocks B and 52/97, which were different in original organic matter, were generated from source rock containing mainly terrestrial organic matter and mixture of terrestrial and lacustrine organic matter, and were highly matured. The possibility that hydrocarbon encountered in the research area were also generated from Oligocene and Miocene source rock in the deeper trough of the Malay basin and migrated from the Pattani trough to the Malay-Tho Chu basin is not excluded.

     

    Key words: Geochemical characteristics, hydrocarbon, source rock, lacustrine organic matter, Malay-Tho Chu basin.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HỆ DUNG DỊCH KHOAN ỨC CHẾ “KCL-PROTEX STA” VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP HỢP CHẤT PROTEX STA VỚI CÁC HỆ DUNG DỊCH KHOAN CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC BỔ SUNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI CÔNG GIẾNG KHOAN

    NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HỆ DUNG DỊCH KHOAN ỨC CHẾ “KCL-PROTEX STA” VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP HỢP CHẤT PROTEX STA VỚI CÁC HỆ DUNG DỊCH KHOAN CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC BỔ SUNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI CÔNG GIẾNG KHOAN

    NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HỆ DUNG DỊCH KHOAN ỨC CHẾ “KCL-PROTEX STA” VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP HỢP CHẤT PROTEX STA VỚI CÁC HỆ DUNG DỊCH KHOAN CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC BỔ SUNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI CÔNG GIẾNG KHOAN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CÁC THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỎ KHÍ CONDENSATE SƯ TỬ TRẮNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-TH%E1%BB%AC-NGHI%E1%BB%86M-C%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-H%E1%BB%86-DUNG-D%E1%BB%8ACH-KHOAN-%E1%BB%A8C-CH%E1%BA%BE-%E2%80%9CKCL-PROTEX-STA%E2%80%9D-V%C3%80-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-K%E1%BA%BET-H%E1%BB%A2P-H%E1%BB%A2P-CH%E1%BA%A4T-PROTEX-STA-V%E1%BB%9AI-C%C3%81C-H%E1%BB%86-DUNG-D%E1%BB%8ACH-KHOAN-CFL-AKK-KCL-PAG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HỆ DUNG DỊCH KHOAN ỨC CHẾ “KCL-PROTEX STA” VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP HỢP CHẤT PROTEX STA VỚI CÁC HỆ DUNG DỊCH KHOAN CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC BỔ SUNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI CÔNG GIẾNG KHOAN

    PETROVIETNAM

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 23 – 29

     

    ISSN-0866-854X

     

    NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM CÔNG NGHIỆP HỆ DUNG DỊCH KHOAN ỨC CHẾ “KCL-PROTEX STA” VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP HỢP CHẤT PROTEX STA VỚI CÁC HỆ DUNG DỊCH KHOAN CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC BỔ SUNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI CÔNG GIẾNG KHOAN

     

    Bùi Việt Đức1, Ngô Văn Tự1, Bùi Trọng Khải1, Đặng Của1, Bùi Việt Phương1, Vũ Văn Hưng2 Hoàng Hồng Lĩnh2, Bùi Văn Thơm2, Nguyễn Xuân Thảo3

    1Công ty TNHH MTV Công nghệ Khoan – Khai thác và Môi trường – DPEC

    2Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro”

    3Hội Công nghệ Khoan – Khai thác Việt Nam

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật công nghệ thi công giếng khoan, hệ dung dịch khoan ức chế mới KCl-Protex Sta đã được nghiên cứu, đưa vào thử nghiệm công nghiệp tại Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro”. Đồng thời, Protex Sta cũng được kết hợp với các hệ dung dịch khoan CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC đang sử dụng tại Vietsovpetro để nâng cao khả năng ức chế, nâng cao hiệu quả thi công giếng khoan với chi phí thấp và đảm bảo an toàn môi trường sinh thái.

     

    Từ khóa: Hệ dung dịch ức chế, Protex Sta, phèn nhôm kali, KGAC, choòng khoan PDC.

     

    1. Giới thiệu

     

    Để gia tăng vận tốc cơ học khoan, Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro” đã áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến như: việc sử dụng các thiết bị đo góc xiên trong khi khoan (MWD), hệ thống chỉnh xiên quay RSS và choòng khoan PDC có độ bền cao, đòi hỏi cải thiện các đặc tính kỹ thuật công nghệ của hệ dung dịch khoan, đặc biệt là khả năng ức chế, khả năng làm sạch bùn và các tính chất bôi trơn, đảm bảo độ an toàn tối đa cho thi công, góp phần nâng cao các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật thi công khoan.

     

    Hệ dung dịch khoan ức chế truyền thống trước đây Vietsovpetro sử dụng không phù hợp khi áp dụng các giải pháp công nghệ trên, do có hàm lượng pha rắn cao, tính chất trượt loãng thấp và tính chất bôi trơn kém, không kịp làm sạch đáy giếng khi khoan liên tục với tốc độ khoan cao… Đặc tính này có thể gây ra nhiều tình huống phức tạp trong quá trình khoan giếng như: sập sụt lở thành giếng và vướng mút khi kéo thả bộ khoan cụ, làm tăng thời gian thi công và chi phí, giá thành thi công giếng khoan.

     

    Trong thời gian qua, Vietsovpetro đã đưa vào sử dụng các hệ dung dịch ức chế tiên tiến “GLYDRILL” hoặc

     

    Ngày nhận bài: 20/8/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 20 – 22/8/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    hệ “ULTRADRILL” do Công ty MI-SWACO cung cấp. Các hệ dung dịch nhập khẩu có giá thành cao, chi phí lớn.

     

    Vì vậy, để tiết giảm chi phí công nghệ dung dịch khoan, hạn chế sự phụ thuộc vào cung ứng từ bên ngoài, đáp ứng kịp thời yêu cầu thi công giếng khoan, việc nghiên cứu đưa vào áp dụng công nghiệp các hệ dung dịch khoan ức chế mới là rất cần thiết.

     

    Việc đưa vào áp dụng thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch khoan ức chế “Protex Sta” do Công ty TNHH MTV Công nghệ Khoan – Khai thác và Môi trường – DPEC sản xuất, phối hợp và chuyển giao công nghệ cho Vietsovpetro đã đem lại kết quả khả quan khi tiến hành thi công 2 giếng khoan ở bể Cửu Long.

     

    2. Nghiên cứu thí nghiệm lựa chọn đơn pha chế hệ dung dịch khoan ức chế mới “KCl-Protex Sta” [1]

     

    2.1. Đặc tính lý hóa của chất ức chế Protex Sta

     

    Protex Sta là hợp chất được cấp phối từ các polymer hữu cơ đang được sử dụng trong các hệ dung dịch khoan gốc nước kỹ thuật hoặc nước biển. Khi sử dụng kết hợp với các chất khác, hiệu quả ức chế sét thành hệ và sét mùn khoan của Protex Sta sẽ tăng lên đáng kể. Một số tính chất lý hóa cơ bản của Protex Sta được trình bày tại Bảng 1.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    23

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    2.2. Thành phần sử dụng trong hệ dung dịch khoan ức chế KCl-Protex Sta

     

    Các thành phần được đưa vào nghiên cứu thí nghiệm trong hệ dung dịch khoan “KCl-Protex Sta” đảm bảo khả năng ức chế cao các tầng sét hoạt tính dễ trương nở ở địa tầng Miocene dưới, giòn, có độ bền kém và các lớp sét dễ sập lở ở tầng Oligocene trên. Ngoài ra, Protex Sta còn cải thiện đáng kể tính chất chảy loãng, đáp ứng yêu cầu hoạt động tối đa các máy bơm có lưu lượng lớn, làm sạch bùn rất hiệu quả trong suốt quá trình khoan với vận tốc khoan cao.

     

    Ngăn ngừa lắng đọng mùn sét trong quá trình khoan thuần túy và khi dừng khoan, giảm thiểu các tình huống phức tạp xảy ra trong thời gian khoan và kéo thả bộ khoan cụ. Các thành phần được đưa vào nghiên cứu thí nghiệm lựa chọn đơn pha chế hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” được thể hiện ở Bảng 2.

     

    2.3. Các bước nghiên cứu thí nghiệm lựa chọn đơn pha chế hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta”

     

    Nghiên cứu thí nghiệm đánh giá khả năng ức chế sét của Protex Sta với các nồng độ khác nhau ở dạng sử dụng đơn lẻ, hoặc kết hợp với nhiều thành phần ức chế khác trong hệ, có so sánh với một số hệ dung dịch ức chế đang

     

    được sử dụng ở các mỏ thuộc Vietsovpetro và các nhà thầu quốc tế đang thi công tại thềm lục địa Việt Nam.

     

    Nghiên cứu thí nghiệm lựa chọn nồng độ tối ưu của các thành phần sử dụng, nhằm tạo ra các thông số dung dịch khoan phù hợp với yêu cầu kỹ thuật thiết kế thi công giếng khoan và đặc điểm địa chất thành hệ đặc biệt là nhiệt độ và áp suất đáy giếng.

     

    Nghiên cứu thí nghiệm ảnh hưởng đến chất lượng khoan mở vỉa sản phẩm, đánh giá phục hồi độ thấm khi khoan qua các tầng chứa dầu và khí.

     

    3. Kết quả thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” tại các giếng khoan ở các mỏ thuộc Vietsovpetro

     

    Trên cơ sở đánh giá các kết quả nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm của Vietsovpetro và DPEC, Viện Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế Dầu khí biển (NIPI), Xí nghiệp Khoan và Sửa giếng, Vietsovpetro đã đề xuất đưa vào áp dụng thử nghiệm công nghiệp tại giếng khoan 488 (BK-2) và giếng khoan 12H (ThTC-1), bể Cửu Long [2, 3].

     

    Việc tiến hành thử nghiệm hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” tại 2 giếng khoan trên nhằm đánh giá chất lượng và so sánh với các hệ dung dịch khoan nhập

     

    Bảng 1. Các tính chất lý hóa của hóa phẩm Protex Sta

     

    TT

    Tính ch t lý hóa cơ b n

    Đơn v

     

    Hàm lư ng

    1

    Hình thái

     

     

    D ng l ng

    2

    H p ch t polymer h u cơ

     

    %

     

    60

    – 80

    3

    Ch t ph  gia  n đ nh nhi t

     

    %

     

    10

    – 12

    4

    Ch t ho t tính b  m t (PAV)

     

    %

     

    2

    – 4

    5

    Ch t t o nhũ

     

    %

     

    7

    – 8

    6

    Kh i lư ng riêng  25oC

     

    g/cm3

     

    1,05

    – 1,10

    7

    Đ  nh t  25oC

     

    CPS

     

    23

    – 25

    8

    Đ  ki m – pH (1% dung d ch)

     

     

    6,0

    – 8,5

    9

    Đ  hòa tan trong nư c

     

    %

     

    100

    10

    Đ  đ c h i

     

     

    Không đ c

     

    Bảng 2. Thành phần hệ dung dịch khoan KCl- Protex Sta

       
           

    TT

    Tên hóa ph m

    Ch c năng chính

    Ch c năng ph

    1

    Sodium carbonate-Na2CO3

    Kh  đ  c ng c a nư c

    Tăng đ  pH

     

    2

    Bio-polymer

    T o đ  nh t

       

    Gi m đ  th i nư c

    3

    Polymer anionic-PAC LV

    Gi m đ  th i nư c

       

    n đ nh đ  nh t,  c ch

    4

    Sodium asphalt sulfonate-Soltex

    Gi m đ  th i nư c,  n đ nh thành gi ng

    Bít nhét, bôi trơn

    5

    Polyalkylene Glycol-PAG

    c ch  sét

       

    Bôi trơn, gi m đ  th i nư c

    6

    Sodium hydroxide-NaOH

    Tăng đ  pH

       

     

    7

    Protex Sta

    c ch  sét

       

    n đ nh nhi t

    8

    Potassium chloride-KCl

    c ch  sét

       

    Tăng tr ng

     

    9

    Calcium carbonate-F/M

    Xi măng hóa l p v

    bùn gi ng khoan

    Bít nhét, tăng tr ng

    10

    Barite

    Tăng tr ng

       

     

    11

    Ch t di t khu n

    Ngăn ng a và ch m phân rã dung d ch khoan

     

    12

    Nư c k  thu t, nư c bi n

    Môi trư ng phân tán

     

    24       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    khẩu và các hệ dung dịch khoan “KGAC Plus M”, “KGAC Plus I” Vietsovpetro đang sử dụng trong đó tập trung vào các nhiệm vụ sau:

     

    • Đánh giá khả năng ức chế sét của hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta”.
    • Đánh giá sự ổn định của các thông số dung dịch
    • điều kiện đáy giếng khoan (nhiệt độ và áp suất); thông số dung dịch được coi là ổn định nếu sau khi kéo thả bộ khoan cụ và đo địa vật lý giếng khoan, thay đổi không đáng kể so với thiết kế.
    • Đánh giá sự ảnh hưởng của dung dịch đến các thông số khoan (tốc độ khoan, số mét khoan trên choòng).
    • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của dung dịch đến các tình huống phức tạp, sự cố xảy ra khi khoan và chi phí thời gian phi sản xuất khi thi công.
    • Đánh giá khả năng gây bó choòng khi khoan qua các tập sét dày thuộc các địa tầng Miocene dưới và Oligocene trên.
    • Xác định mức độ ảnh hưởng của dung dịch đến thiết bị khoan, các chi tiết cao su máy bơm bùn và động cơ đáy.
    • Xác định mức tiêu hao hóa phẩm và giá thành chi phí để gia công và xử lý dung dịch cho thi công giếng khoan đến chiều sâu thiết kế.
    • Đưa ra kết luận về khả năng áp dụng hệ dung dịch mới này cho thi công tại các vùng hoạt động của Vietsovpetro có sự so sánh với các hệ dung dịch khác.

    3.1. Địa điểm và thời gian tiến hành thử nghiệm

     

    Thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” được tiến hành trên giếng khoan 488 và 12H, công đoạn khoan từ 2.655 – 4.079m [2].

     

    3.2. Thiết bị và dụng cụ cần thiết để thử nghiệm

     

    Trong quá trình tiến hành thử nghiệm, sử dụng các thiết bị chuyên dụng để điều chế, xử lý và làm nặng dung dịch, đồng thời còn sử dụng hệ thống làm sạch bùn sẵn có trên các giàn khoan đang thi công. Ngoài ra khi thử nghiệm còn sử dụng thiết bị thí nghiệm tiêu chuẩn để kiểm tra các thông số dung dịch trong thời gian khoan.

     

    3.3. Công tác chuẩn bị

     

    Thành lập tổ công tác chịu trách nhiệm việc thử nghiệm hệ dung dịch “KCl-Protex Sta” tại giếng khoan 12H và giếng khoan 488 gồm đại diện của DPEC, Xí nghiệp Khoan và Sửa giếng, NIPI, Phòng khoan – Bộ máy điều hành Vietsovpetro.

     

    Bảng 3. Thành phần, chức năng và hàm lượng hóa phẩm sử dụng trong hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta”

     

    TT

    Tên hàng

    Tên khoa h c

    Ch c năng chính

    Ch c năng ph

    Hàm lư ng

     

    thương ph m

    s  d ng kg/m3

     
           

    1

    Na2CO3

    Sodium carbonate

    K t t a Ca++

    Tăng đ  pH

    0,5

    – 1,2

     

    2

    NaOH

    Sodium hydroxide

    Tăng đ  pH

    1,2

    – 2,0

     

    3

    Bio-polymer

    Xanthan gum

    Tăng đ  b n Gel

    Tăng đ  nh t

    3

    – 5

     

    Gi m đ  th i nư c

                 

    4

    PAC-LV

    Polymer anionic

    Gi m đ  th i nư c

    n đ nh đ  nh t

    10

    – 15

     

    5

    DPEC-HT

    Tinh b t bi n tính

    Gi m đ  th i nư c

    Tăng đ  nh t

    5

    – 8

     

    nhi t đ  cao

                 

    6

    Soltex

    Sodium asphalt

    n đ nh thành gi ng

    Gi m đ  th i

    8 – 10

     

    Sulfonate

    nhi t đ  cao

               

    7

    KCl

    Potassium chloride

    c ch  sét

    Tăng tr ng

    100

     

    8

    PAG

    Polyalkylene

    c ch  sét

    Bôi trơn

    30

    – 35

     

    Glycol

                 

    9

    Protex Sta

    c ch  sét

    n đ nh nhi t

    10

    – 20

     

    10

    CaCO3-F/M

    Calcium carbonate

    Bít nhét

    Xi măng hoá thành

    5 – 10

     

    h t m n và trung bình

    gi ng khoan

               

    11

    Ch t di t khu n

    Bactericide

    Di t khu n ngăn ng a

    1

    – 2

     

    phân rã dung d ch khoan

                 
     

    Ch t bôi trơn

               

    12

    LUB-LS*, Viet

    Lubricant

    Bôi trơn

    Tăng t c đ  khoan

    20

    – 40

     
     

    Lub 150 M

               

    13

    Ch t kh  b t

    Antifoam

    Phá b t

    1

    – 2

     

    14

    Barite-BaSO4

    Barium sulfate

    Tăng tr ng

    Theo yêu c u thi t

     

    k  gi ng khoan

     
             

    15

    Nư c k  thu t

    Môi trư ng phân tán

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    25

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    Bảng 4. Thông số dung dịch khoan đoạn khoan 2.654 – 4.079m

     

    Đo n khoan

         

    Thông s  dung d ch khoan

         

    γ

     

    FL

     

    K

     

    Gels1/10

    PV

    YP

     
     

    (m)

    FV (   )

       

    pH

     

    (g/cm3)

    (cm3/30)

     

    (mm)

    (lb/100ft2)

    (cPs)

    (lb/100ft2)

               

    2.654 –

     

    Thi t k

    1,14 ± 0,02

    50 – 65

    < 4

     

    < 1,5

    6 – 12/10 – 25

    20 – 30

    25 – 35

    9 ± 0,5

    3.617

                           
     

    Th c t

    1,14 – 1,25

    53 – 63

    2,9 – 3,8

     

    1

    7

    – 12/9 – 17

    25 – 35

    25 – 44

    8,5

         

    3.617 –

     

    Thi t k

    1,24 – 1,32

    50 – 60

    < 4

     

    < 1,5

    10

    – 13/12 – 17

    20 – 30

    20 – 30

    9 ± 0,5

    3.898

     

    Th c t

    1,25 – 1,29

    57 – 60

    2,9 – 3,3

     

    1

    9 – 12/16 – 21

    34 – 36

    35 – 48

    8,5

    3.898 –

     

    Thi t k

    1,28 – 1,32

    50 – 65

    < 4

     

    < 1,5

    10

    – 14/14 – 18

    25 – 35

    25 – 35

    9 ± 0,5

    4.079

     

    Th c t

    1,29 – 1,36

    57 – 63

    3

     

    1

    9 – 11/17 – 21

    34 – 40

    37 – 42

    8,5

    3.4. Các bước thử nghiệm

     

    3.4.1. Thiết lập đơn pha chế ban đầu về thành phần hàm lượng chức năng các hóa phẩm sử dụng trong hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” (Bảng 3).

     

    3.4.2. Điều chế thể tích ban đầu dung dịch khoan “KCl-Protex Sta” cần thiết đủ để đảm bảo làm đầy dung dịch trong giếng khoan, trên hệ thống tuần hoàn và các bể chứa với thành phần và hàm lượng hóa phẩm như trong Bảng 3.

     

    3.4.3. Điều chỉnh các thông số dung dịch phù hợp với yêu cầu thiết kế thi công giếng khoan như trong Bảng 4.

     

    Thông số dung dịch khoan theo yêu cầu thiết kế giếng khoan ở đoạn chiều sâu từ 2.654 – 4.079m cho giếng khoan 12H (Bảng 4).

     

    3.4.4. Điều chế và xử lý dung dịch khoan thành hệ Miocene dưới và Oligocene trên

     

    1. Hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” được điều chế tại giàn khoan theo đơn pha chế có các thành phần và nồng độ như Bảng 5.

    Sau khi phá cốc xi măng, phải bỏ dung dịch khoan cũ và thay thế hoàn toàn bằng dung dịch khoan mới được điều chế (“KCl-Protex Sta”) theo các thành phần và hàm lượng như Bảng 5.

     

    Để cho các hóa phẩm tan hoàn toàn và phân tán đều trong dung dịch, sau khi cho các hóa phẩm vào bể chứa, cần trộn thêm ít nhất khoảng 2 giờ, sau đó mới bơm vào hệ thống tuần hoàn dung dịch khoan.

     

    1. Quy trình xử lý, điều chỉnh thông số dung dịch trong quá trình khoan

    Trong quá trình khoan, để đảm bảo thể tích dung dịch đã mất ở hệ thống làm sạch và lấp đầy trong đoạn khoan mới nhằm đạt được các thông số dung dịch phù hợp với yêu cầu thiết kế cần phải điều chế hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” mới theo đơn pha chế

    Bảng 5. Thành phần và hàm lượng pha chế của hệ dung dịch “KCl-Protex Sta”

     

    TT

    Tên hóa ph m

    Hàm lư ng (kg/m3)

    1

    Nư c k  thu t

    70/30

    2

    Na2CO3

    0,5

    – 1,2

    3

    NaOH

    1,2

    – 2,0

    4

    Xanthan gum

    3

    – 5

    5

    PAC-LV

    10

    – 15

    6

    DPEC-HT

    5

    – 8

    7

    Soltex

    8 – 10

    8

    KCl

    100

    9

    Glycol

    30

    – 35

    10

    Protex Sta

    10

    – 20

    11

    CaCO3 F/M (theo yêu c u)

    10/5

    12

    Ch t di t khu n

    1

    – 2

    13

    Ch t bôi trơn

    20

    – 40

    14

    Ch t kh  b t

    1 – 2

    15

    Barite

    123

    – 393

    (Bảng 5), sau đó dung dịch mới được bổ sung vào dung dịch tuần hoàn. Tùy vào thông số dung dịch tuần hoàn, cần bổ sung các hóa phẩm để duy trì tuần hoàn lượng cần thiết trong dung dịch, đảm bảo các thông số như thiết kế.

     

    4. Đánh giá kết quả thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” tại Vietsovpetro

     

    Nghiên cứu chọn đơn pha chế hệ dung dịch khoan ức chế mới “KCl-Protex Sta” và các kết quả áp dụng thử nghiệm công nghiệp thu nhận được của hệ tại 2 giếng khoan ở Vietsovpetro đã khẳng định ý nghĩa thực tiễn của hệ mới. Thực tế thi công các giếng khoan 12H và 488 khi khoan đoạn thuộc địa tầng Miocene dưới và Oligocene trên có đặc điểm địa chất rất phức tạp do sự có mặt của tập sét dày hoạt tính, dễ trương nở và sập sụt khi mở giếng, cho thấy:

     

    • Hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật thiết kế thi công giếng khoan.
    • Không xảy ra hiện tượng bó choòng, bám dính sét trên choòng và bộ khoan cụ khi kéo lên từ lòng giếng.

    26       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    600.000

       

    Giá thành dung d ch khoan, USD

               

    540.472

                   

    500.000

                     
                     

    400.000

         

    379.398

         

    300.000

    283.390

               
                     

    200.000

                     

    100.000

                     

                     

    KCl/Protex

    STA

    Glytrol

    HyPR-Drill

           

    KCl/Protex STA

    Glytrol

    HyPR-Drill

                         

    Hình 1. Giá thành dung dịch khoan

     

    • Các thông số dung dịch khá ổn định trong quá trình khoan (Bảng 4), hầu hết các thông số dung dịch đều nằm trong giới hạn cho phép của yêu cầu thiết kế giếng khoan. Ngoại trừ một số thông số khác như độ nhớt dẻo – PV, độ nhớt động – YP, hàm lượng pha keo MBT và moment quay có giá trị cao hơn so với giới hạn thiết kế nhưng không quá khác xa so với yêu cầu thiết kế thi công giếng khoan trong khoảng khoan từ 3.400
    • 079m.
    • Trong quá trình khoan, hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” không gây ảnh hưởng xấu đến các chi tiết cao su của máy bơm và bộ khoan cụ.
     

    700

           

    Giá 1m dung d ch khoan, USD

    640

           

    –   Không xảy ra hiện tượng kẹt bộ khoan cụ trong

                                 
                                     

    thời gian khoan và kéo thả.

     
     

    600

             

    533

                       
                           
                                           
     

    500

    368

                               

    Tốc độ khoan đạt được trung bình là 16m/giờ,

                               
     

    400

                             
                                 

    hoàn toàn đáp ứng yêu cầu kỹ thuật thiết kế thi công

     

    300

                                   
                                     

    giếng khoan.

     
     

    200

                                     
                                     

    –   Không xảy ra các tình huống phức tạp thời gian

     

    100

                                   
     

    0

                                     

    thực hiện công tác đo địa vật lý giếng khoan.

    KCl/Protexsta

       

    Glytrol

       

    HyPR-Drill

     
             

    KCl/Protex STA

     

    Glytrol

     

    HyPR-Drill

             

    Mức tiêu hao hóa phẩm để điều chế hệ dung

                 

    Hình 2. Giá 1m3 dung dịch khoan

               

    dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” hoàn toàn phù hợp

                                         

    với yêu cầu thiết kế thi công giếng khoan Vietsovpetro

                 

    Giá 1m khoan, USD

               
     

    400

             

    380

           

    và giá thành chi phí thấp hơn so với hệ dung dịch khoan

                                   
     

    350

                                     

    “Glydrill” của DMC WS và hệ “Hyprdrill” của Scomi (Bảng

                                       
     

    300

                                     

    6 và Hình 1 – 3).

     
     

    250

     

    199

         

    220

                   

    5. Áp dụng thử nghiệm công nghiệp bổ sung hợp

     

    200

                                 
                                   
                                       
                                   
     

    150

                                     

    chất Protex Sta vào hệ dung dịch khoan ức chế phèn

     

    100

                                     

    nhôm kali đang sử dụng tại Vietsovpetro

     

    50

                                     
                                       

    5.1. Sử dụng hóa phẩm Protex Sta khi thi công giếng

     

    0

                                   
     

    KCl/Protex

    STA

       

    Glytrol

       

    HyPR-Drill

         
             

    KCl/Protex STA

    Glytrol

    HyPR-Drill

               

    khoan 488

     
                               
                                 

    Cuối tháng 11/2017, Vietsovpetro đã đưa vào sử

               

    Hình 3. Chi phí dung dịch cho 1m khoan

               
                           

    Bảng 6. Giá thành chi phí của các hệ dung dịch khoan

     
                                       
     

    Gi ng khoan

     

    H  dung d ch

     

    Đo n khoan

       

    Giá thành

    Giá 1m3 dung d ch khoan

    Giá thành 1m khoan

         

    (m)

         

    (USD)

    (USD)

    (USD)

                                 
         

    8010

     

    Glydrill

     

    1.728

     

    379.398

    532,64

    219,56

         

    TBT-9H

     

    Hyprdrill

     

    1.423

     

    540.742

    639,60

    379,81

         

    TBT-12H

     

    KCl-Protex Sta

     

    1.425

     

    283.390

    367,93

    198,87

    Bảng 7. Thông số dung dịch khoan thi công giếng khoan 488

     

    Ngày

           

    Thông s  dung d ch khoan

         

    Đo n khoan (m)

    γ

    FV

    FL

     

    K

    Gels1/10

     

    PV

    YP

     

    tháng

       

    pH

     

    (g/cm3)

    (   )

    (c  3/30)

     

    (mm)

    (lb/100ft2)

     

    (cPs)

    (lb/100ft2)

             

    7/12/2017

    2.214

    1,14

    60

    4,4

     

    1

    8/12

     

    20

    24

    9

    8/12/2017

    2.649

    1,16

    62

    4,9

     

    1

    9/11

     

    25

    35

    8,5

    9/12/2017

    2.911

    1,20

    56

    4,2

     

    1

    9/13

     

    32

    41

    8,5

    10/12/2017

    3.044

    1,26

    54

    4,2

     

    1

    10/14

     

    34

    44

    8,5

    11/12/2017

    3.137

    1,28

    55

    4,5

     

    1

    9/14

     

    37

    39

    8,5

    12/12/2017

    3.170

    1,28

    54

    4

     

    1

    9/12

     

    36

    43

    8,5

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    27

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    dụng hệ dung dịch khoan ức chế truyền thống phèn nhôm kali. Hệ dung dịch này cho đến thời điểm hiện tại chủ yếu được sử dụng để thi công các giếng khoan ở giàn cố định RP-2 phù hợp với hệ thống thiết bị cũ với tốc độ khoan thấp.

     

    Để đảm bảo an toàn tối đa, giảm thiểu tình huống phức tạp và sự cố trong quá trình khoan, phù hợp với giải pháp công nghệ khoan mới có tốc độ khoan cao, khi thi công giếng khoan 488, hóa phẩm Protex Sta cùng với muối KCl hàm lượng thấp đã được Vietsovpetro đưa vào sử dụng, bổ sung cho hệ dung dịch khoan ức chế phèn nhôm kali nhằm làm tăng khả năng ức chế sét của hệ này.

     

    Các nghiên cứu tính tương thích của hóa phẩm Protex Sta và muối KCl với các thành phần của hệ dung dịch ức chế phèn nhôm kali đã được tiến hành trong các phòng thí nghiệm của NIPI, DPEC và Ban Dung dịch khoan Xí nghiệp Khoan và Sửa giếng. Các kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng ức chế của hệ dung dịch khoan ức chế gồm phèn nhôm kali kết hợp với hóa phẩm Protex Sta và muối KCl hàm lượng thấp đã tăng lên đáng kể so với chỉ hệ ức chế phèn nhôm kali. Điều này đã được khẳng định trong quá trình khoan giếng, các thông số dung dịch thu nhận được tại hiện trường thường xuyên đảm bảo phù hợp với yêu cầu thiết kế thi công giếng khoan (Bảng 7).

     

    Bảng 8. Giá thành chi phí của các hệ dung dịch khoan

     

                   

    Đo n

    Giá

     

    Giá 1m

    Giá thành

     

    Gi ng

               

    dung d ch

         

    H  dung d ch

     

    khoan

    thành

     

    1m khoan

     

    khoan

             

    (m)

    (USD)

     

    khoan

    (USD)

                       

    (USD)

                             
                           
     

    8010

       

    Glydrill

     

    1.728

    379.398

       

    532,64

    219,56

     

    TBT-9H

       

    Hyprdrill

     

    1.423

    540.742

       

    639,60

    379,81

     

    TBT-12H

       

    KCl-Protex Sta

     

    1.425

    283.390

       

    367,93

    198,87

     

    488

     

    Protex Sta + Phèn

     

    956

    86.763

       

    90,75

         

    nhôm kali

         
                               
       

    Bảng 9. Tiêu hao hóa phẩm cho đoạn khoan 2.214m – 3.170m giếng khoan 488

                               
     

    TT

         

    Tên hóa

     

    Đơn v

    T ng m c

     

    Hàm lư ng

           

    ph m

     

    tính

    tiêu cho

     

    (kg/m )

               

    đo n khoan

    dung d ch khoan

                               
     

    1

    Barite

         

    T n

    151

           

    321

     

    2

    KCl

           

    4,25

           

    9

     

    3

    NaOH

         

    155

           

    3,3

     

    4

    Ch t di t khu n

     

    1

           

    2

     

    5

    Ch t kh  b t

     

    1,275

         

    2,7

     

    6

    AKK

           

    1,8

           

    3,8

     

    7

    Na2CO3

     

    0,65

           

    1,4

     

    8

    KOH

           

    0,5

           

    1,1

     

    9

    Xanthan gum

     

    1,2

           

    2,51

     

    10

    LUB-LS*

     

    1,56

           

    3,31

     

    11

    KCl

           

    20

           

    42,51

     

    12

    PAC-LV

     

    8

           

    17,1

     

    13

    Soltex

         

    3

           

    6,4

     

    14

    Polyalkylene Glycol-PAG

     

           

     

    15

    Graphit

     

    1,3

           

    2,8

     

    16

    CaCO3 -F

     

    4

           

    8,5

    Trong thời gian thi công đoạn khoan từ chiều sâu 2.214 – 3.170m của giếng khoan 488, mức tiêu hao hóa phẩm dung dịch khoan thấp hơn rất nhiều so với một số giếng khoan khác cùng điều kiện thi công. Chi phí giá thành dung dịch khoan trên m khoan và trên m3 dung dịch điều chế có so sánh với các giếng khoan lân cận do các công ty quốc tế đảm nhận (Bảng 8).

     

    Qua các số liệu tiêu hao hóa phẩm trong quá trình khoan cho thấy khi sử dụng bổ sung hóa phẩm Protex Sta và muối KCl hàm lượng thấp (40kg/m3) trong hệ ức chế truyền thống phèn nhôm kali đã làm giảm đáng kể sử dụng hợp chất Ferrochrome lignosulphonate-FCL có tính độc hại cao và thành phần ức chế phèn nhôm kali. Tiêu hao hóa phẩm FCL là 9kg/m3 và AKK là 3,8kg/m3 trong hệ dung dịch hỗn hợp “KCl Protex Sta”. Trong khi đó, trong hệ dung dịch khoan ức chế phèn nhôm kali, mức tiêu hao hóa phẩm FCL là 30kg/m3 và AKK là 7 – 9kg/m3 dung dịch khoan (Bảng 9).

     

    Trong quá trình thi công giếng khoan 488 tới chiều sâu thiết kế là 3.170m, các bước công việc như đo địa vật lý giếng khoan, chống ống và bơm trám xi măng giếng khoan đã được thực hiện bình thường đến chiều sâu 3.167m và đã không xảy ra các phức tạp và sự cố giếng khoan.

     

    5.2. Sử dụng Protex Sta trong hệ dung dịch khoan ức chế phèn nhôm kali để khoan các giếng khoan 122B và giếng khoan 1903 qua địa tầng Oligocene trên có dị thường áp suất cao (tới tỷ trọng 1,8 g/cm3)

     

    Sau khi được đưa vào sử dụng bổ sung cho hệ dung dịch ức chế phèn nhôm kali, nhận thấy hệ dung dịch khoan ức chế phèn nhôm kali kết hợp với hóa phẩm Protex Sta và muối KCl hàm lượng thấp đã làm tăng đáng kể khả năng ức chế của dung dịch khoan, đảm bảo ổn định các thông số kỹ thuật công nghệ trong quá trình khoan, hóa phẩm Protex Sta còn được tiếp tục đưa vào sử dụng để khoan giếng khoan 122B có dị thường áp suất rất lớn, yêu cầu tỷ trọng dung dịch rất cao lên tới 1,77g/cm3 và thường xuyên xảy ra biểu hiện mất dung dịch. Mặc dù vậy, nhờ sự kết hợp hóa phẩm Protex Sta với hệ dung dịch đang sử dụng thi công giếng khoan đã đạt tới chiều sâu thiết kế và không xảy ra bất kỳ phức tạp và sự cố nào.

     

    28       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Tại giếng khoan 1903, hóa phẩm Protex Sta cũng được đưa vào sử dụng hỗ trợ tăng khả năng ức chế trong điều kiện thiếu muối KCl do không kịp thời cung ứng. Tuy nhiên, việc thay thế muối KCl bằng hóa phẩm Protex đã tương thích với hệ dung dịch khoan đang sử dụng, góp phần tăng khả năng ức chế, đảm bảo an toàn tối đa cho thi công đến chiều sâu thiết kế và thuận lợi cho các bước đo địa vật lý giếng khoan sau khi khoan giếng.

     

    6. Kết luận và đề xuất

     

    Trên cơ sở phân tích, đánh giá và kết quả áp dụng thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch khoan ức chế mới “KCl-Protex Sta” và hóa phẩm Protex Sta cùng với muối KCl có hàm lượng thấp (30 – 40kg/m3) trong hệ dung dịch ức chế truyền thống phèn nhôm kali, có thể rút ra kết luận sau:

     

    • Nhờ có khả năng ức chế sét hiệu quả và các thông số kỹ thuật – công nghệ của hệ hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu thiết kế thi công giếng khoan, nên hệ dung dịch khoan ức chế “KCl-Protex Sta” đã được áp dụng thử nghiệm rất thành công khi khoan giếng khoan 12H, đảm bảo an toàn cho thi công và các công việc phụ trợ sau khi khoan như đo địa vật lý giếng khoan… đến chiều sâu thiết kế, góp phần tăng tốc độ khoan, giảm đáng kể giá thành chi phí dung dịch khoan trên 1m khoan và cho giếng khoan.
    • Hóa phẩm Protex Sta được sử dụng rất hiệu quả khi kết hợp với các thành phần của hệ dung dịch ức chế phèn nhôm kali và hệ dung dịch KGAC, sự có mặt của hóa phẩm ức chế Protex Sta trong các hệ dung dịch trên đã làm tăng đáng kể hiệu quả ức chế sét, đáp ứng kịp thời tiến độ thi công các giếng khoan trong điều kiện thiếu các hóa phẩm ức chế khác (như muối KCl và PAG).
    • Áp dụng hệ dung dịch khoan ức chế “Protex Sta” và hóa phẩm Protex Sta trong các hệ dung dịch ức chế “phèn nhôm kali” và “KGAC” góp phần tăng tính thân thiện với môi trường nhờ giảm thiểu sử dụng hợp chất Ferrochrome Lignosulfonate (FCL) có tính độc hại cao.

    Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất đưa vào áp dụng đại trà hệ dung dịch ức chế mới “KCl-Protex Sta” để thi công các giếng khoan qua các hệ tầng sét Miocene dưới và Oligocene trên tại các mỏ thuộc Vietsovpetro. Có thể cho phép sử dụng đơn lẻ hóa phẩm ức chế Protex Sta bổ sung vào các hệ dung dịch khoan ức chế “phèn nhôm kali” và “KGAC” góp phần nhằm làm tăng khả năng ức chế sét, đảm bảo an toàn tối đa cho thi công.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Đặng Của, Ngô Văn Tự, Bùi Việt Đức, Vũ Văn Hưng, Hoàng Hồng Lĩnh. Nghiên cứu, ứng dụng các hóa phẩm và hệ dung dịch ức chế mới cho khoan dầu khí. Tạp chí Dầu khí. 2012; 2: trang 28 – 34.
    1. K.Trosin, K.V.Kliogiev, Đặng Hữu Quý, Vũ Văn Hưng, Lê Văn Tú, Đào Viết Văn, Thái Dương Hệ. Áp dụng thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch khoan mới KCL-PROTEX STA. Công ty DPEC-VT-2016.
    1. Nguyễn Tấn Trường, Phạm Văn Quý, Nguyễn Xuân Quang, R.V. Kapapetov. Chương trình thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch KCL-PROTEX STA khi khoan giếng khoan GK-488-BK-3 giàn Cửu Long. 2017.
    1. Vũ Văn Hưng. Báo cáo tổng kết “Kết quả thử nghiệm công nghiệp hệ dung dịch khoan KCL-PROTEX STA tại Vietsovpetro”.

    RESEARCH AND FIELD-TRIAL OF “KCL-PROTEX STA” DRILLING MUD SYSTEM AND USING PROTEX STA IN COMBINATION WITH CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC DRILLING MUD SYSTEMS TO IMPROVE WELL DRILLING EFFICIENCY

    Bui Viet Duc1, Ngo Van Tu1, Bui Trong Khai1, Dang Cua1, Bui Viet Phuong1, Vu Van Hung2

    Hoang Hong Linh2, Bui Van Thom2, Nguyen Xuan Thao3

    1DPEC Drilling – Production Technology and Environment Co., Ltd.

    2Vietsovpetro Joint Venture

    3Viet Nam Drilling – Production Technology Association

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    To satisfy the technical requirements for well drilling, Protex Sta drilling mud system has been studied and put into field-trial at Vietsovpetro. At the same time, Protex Sta product has also been applied in combination with CFL-AKK-KCL-PAG, KGAC drilling mud systems which are currently used at Vietsovpetro to increase the inhibition capability of muds, improve the efficiency of well drilling at reasonable costs and ensure ecological environment safety.

     

    Key words: Inhibiting mud system, Protex Sta, potassium alum, KGAC, PDC drill bit.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CÁC THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỎ KHÍ CONDENSATE SƯ TỬ TRẮNG

    CÁC THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỎ KHÍ CONDENSATE SƯ TỬ TRẮNG

    CÁC THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỎ KHÍ CONDENSATE SƯ TỬ TRẮNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ứng dụng phương pháp địa thống kê trong dự báo các thông số địa cơ học và ứng dụng mô hình Sandpit3D trong dự báo sinh cát cho giếng khai thác ở bể Nam Côn Sơn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%81C-TH%C3%81CH-TH%E1%BB%A8C-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-M%E1%BB%8E-KH%C3%8D-CONDENSATE-S%C6%AF-T%E1%BB%AC-TR%E1%BA%AENG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỎ KHÍ CONDENSATE SƯ TỬ TRẮNG

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 30 – 38

     

    ISSN-0866-854X

     

    CÁC THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN MỎ KHÍ CONDENSATE SƯ TỬ TRẮNG

     

    Nguyễn Văn Quế, Hoàng Ngọc Đông, Trương Tuấn Anh, Trần Hà Minh, Nguyễn Văn Tuân

    Hoàng Nam Hải, Đinh Hoàng Khanh, Lê Nguyên Vũ, Nguyễn Chu Đạt

    Công ty Liên doanh Điều hành Cửu Long

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Bài báo giới thiệu kết quả thăm dò, thẩm lượng và thách thức trong quá trình phát triển mỏ khí condensate Sư Tử Trắng, Lô 15-1. Kế hoạch phát triển mỏ theo từng giai đoạn (phase) là giải pháp chính nhằm từng bước giải quyết các thách thức về mặt địa chất, khả năng khai thác, công nghệ khoan và hoàn thiện giếng, lắng đọng condensate…

     

    Mỏ Sư Tử Trắng đã phát triển qua giai đoạn khai thác thử dài hạn để xác định cấu trúc địa chất, sự bất đồng nhất trong tính chất vỉa, đánh giá các đứt gãy, tính chất chất lưu, giải pháp bơm ép khí khô xuống vỉa để giảm thiểu tác động của hiện tượng lắng đọng condensate trong vỉa (condensate banking) khi nhu cầu tiêu thụ khí từ mỏ Sư Tử Trắng thấp. Trong giai đoạn tiếp theo, mỏ Sư Tử Trắng sẽ được phát triển (giai đoạn 2) nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường khí, đồng thời tiếp tục được thẩm lượng đánh giá khả năng cho dòng tại các khu vực cánh của cấu tạo.

     

    Từ khóa: Bơm ép khí, lắng đọng condensate, khai thác thử dài hạn, mỏ Sư Tử Trắng.

     

    1. Giới thiệu

     

    Mỏ Sư Tử Trắng nằm ở Đông Nam Lô 15-1 thềm lục địa Việt Nam, ở độ sâu 56m nước, cách đất liền khoảng 62km và cách Vũng Tàu khoảng 135km về phía Đông. Mỏ Sư Tử Trắng được phát hiện từ giếng thăm dò ST-1X năm 2003 và thẩm lượng qua các giếng ST-2X, ST-3X và ST-4X kết thúc năm 2006. Đối tượng vỉa chứa chính của mỏ Sư Tử Trắng là khí condensate tại tầng cát kết Oligocene E và F với tiềm năng được xác nhận bởi các giếng thăm dò/thẩm lượng ST-1X, ST-2X và ST-3X. Giếng thẩm lượng ST-4X phát hiện thêm dầu nhẹ tại điều kiện vỉa.

     

    Tính chất đá chứa của mỏ Sư Tử Trắng được đặc trưng bởi sự bất đồng nhất, với đá chứa đặc sít hơn theo độ sâu và khả năng cao về sự tồn tại của các đứt gãy chắn gần các thân giếng khoan thăm dò được xác nhận qua đánh giá tài liệu địa vật lý giếng khoan và kết quả thử vỉa. Ngoài ra, khí mỏ Sư Tử Trắng rất giàu condensate dẫn đến lắng đọng condensate ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng cho dòng của giếng khi áp suất vỉa giảm dưới điểm sương [1]. Điều này yêu cầu cần có tính toán kỹ trước khi bước vào đàm phán bao tiêu khí (TOP) và quyết định cam kết đầu tư phát triển lâu dài toàn mỏ. Kế hoạch khai thác thử dài

     

    Ngày nhận bài: 14/12/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 14/12/2018 – 23/1/2019.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    hạn (LTPTP) được đề xuất và phê duyệt vào năm 2010 với mục tiêu giảm rủi ro, thu thập thông tin, đồng thời đem lại doanh thu từ việc khai thác condensate và khí. Khí khai thác được xuất bán trên cơ sở hạ tầng hiện hữu thu gom và vận chuyển khí đồng hành từ các mỏ dầu lân cận trong Lô 15-1. Pha 1 được phát triển với mục đích là thiết kế nhằm đẩy cao lưu lượng sản phẩm khai thác trong điều kiện nhu cầu tiêu thụ khí từ mỏ Sư Tử Trắng thấp do hạ tầng trung chuyển, tiêu thụ khí chưa sẵn sàng; tăng thu hồi condensate nhờ việc bơm ép khí khô tuần hoàn lại vỉa (gas cycling) và đưa ra giải pháp kỹ thuật tối ưu để hạn chế ảnh hưởng của hiện tượng lắng đọng condensate trong tương lai. Giai đoạn 2 là bước phát triển mỏ tiếp theo nhằm thu hồi triệt để và tối ưu khu vực trung tâm của mỏ Sư Tử Trắng, xuất bán khí theo thỏa thuận bao tiêu phù hợp với nhu cầu của thị trường/Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và khả năng cung cấp của mỏ, đồng thời tiếp tục thẩm định khả năng khai thác dài hạn của các đối tượng ở khu vực cánh với mục đích giảm thiểu rủi ro cho công tác phát triển toàn mỏ trong tương lai.

     

    Thăm dò

     

    Giai đoạn 1

     

    Thẩm lượng

    LTPTP

    (Bơm ép khí)

    Giai đoạn 2

    2003

    2012

    2016 2019

    2023

     

    Hình 1. Quá trình phát triển cụm mỏ Sư Tử

     

    30       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

       

    Bảng 1. Các thách thức của cụm mỏ Sư Tử

     
           

    Giai đo n phát tri n

    Th i gian

    M c tiêu và các thách th c

     
           

    Thăm dò th m lư ng

    2003 – 2012

    Đánh giá tr  lư ng, ti m năng c a m  Sư T  Tr ng

     
           
       

    Làm rõ các thách th c v  m t đ a ch t: b t đ ng nh t, c u trúc đ t gãy, đ c tính

     

    Khai thác th  dài h n

    2012 – 2016

    v a ch a

     
       

    Đánh giá sơ b  kh  năng khai thác  khu v c cánh c u t o

     
           
       

    Làm rõ hi n tư ng condensate banking, bơm ép khí khô tu n hoàn v a, nâng cao

     

    Giai đo n 1

    2016 – 2023

    h  s  thu h i condensate

     

    Đ y cao lưu lư ng s n ph m khai thác trong đi u ki n nhu c u tiêu th  khí t

     
       
       

    m  Sư T  Tr ng th p do h  t ng trung chuy n, tiêu th  khí chưa s n sàng

     
           
       

    Phát tri n vùng trung tâm c a m  theo nhu c u c a th trư•ng h  tiêu th  theo

     

    Giai đo n 2

    2023 tr  đi

    h p đ ng mua bán khí

     
       

    Phát tri n các khu v c còn l i c a m  cho các c u t o  vùng cánh c a m

     
           

    Quá trình phát triển cụm mỏ Sư Tử được chia làm các giai đoạn như Hình 1 nhằm giải quyết các thách thức và khó khăn trong từng giai đoạn của dự án (Bảng 1).

     

    2. Kết quả thăm dò thẩm lượng và phát triển

     

    • Giai đoạn thăm dò và thẩm lượng

    Giếng tìm kiếm đầu tiên được khoan vào khu vực Đông Nam của Lô 15-1 (Hình

     

    • nhằm kiểm tra vị trí cấu tạo mỏ Sư Tử Trắng. Giếng được khoan đến độ sâu 4.026,2m TVDss (4.435m MDRTE). Mặc dù không tiến hành thử tầng móng do cấu trúc giếng khoan không cho phép nhưng 3 khoảng thử vỉa DST đã được thực hiện (khoảng DST#1 trong tầng chứa tập D cho lưu lượng 1,7 triệu ft3 khí/ngày và 590 thùng dầu/ngày, khoảng DST#2 trong tầng sản phẩm tập F với lưu lượng khí tối đa là 32 triệu ft3/ngày và lưu lượng condensate 3.604 thùng/ngày, DST#3 trong tầng sản phẩm tập E với lưu lượng khí tối đa 37,7 triệu ft3/ngày và lưu lượng condensate là 4.033 thùng/ngày). Giếng được đóng và hủy theo tiêu chuẩn cho giếng phát hiện khí, condensate và dầu. Do diện tích mỏ lớn và chưa phát hiện ranh giới khí/nước, Công ty Liên doanh Điều hành Cửu Long (Cuu Long JOC) cần phải khoan thêm các giếng thẩm lượng.

    Giếng thẩm lượng đầu tiên được khoan để đánh giá tầng móng nứt nẻ và vỉa cát kết thuộc tập trầm tích E và F tuổi

     

    DX

     

    CP       DP

    CX                             EP

     

    AP  AX

     

    BX

    FP

     

    Hình 2. Vị trí giếng thăm dò thẩm lượng và phát triển

     

    Oligocene của cấu tạo Sư Tử Trắng phía Tây Nam Lô 15-1. Giếng được khoan tới độ sâu 4.810,36m TVDss (5.093m MDRTE). Thử vỉa DST được thực hiện với lưu lượng condensate tối đa là 386 thùng/ngày và lưu lượng khí là 3 triệu ft3/ngày (cỡ côn mở 40/64” trong giai đoạn dòng chảy chính).

     

    Giếng thẩm lượng thứ 2 được khoan để thẩm lượng phần cánh kéo dài của các tập E và F cấu tạo Sư Tử Trắng. Giếng được khoan tới độ sâu 4.872,7m TVDss (4.912m MDRTE). Hai khoảng thử vỉa DST được thực hiện với kết quả lưu lượng trong giai đoạn dòng chảy chính như sau: DST#1 trong tầng sản phẩm tập F với lưu lượng condensate tối đa là 2.264 thùng/ ngày và lưu lượng khí tối đa là 7,1 triệu ft3/ngày, DST#2A trong tầng sản phẩm tập E với lưu lượng khí tối đa là 6,8 triệu ft3/ngày và lưu lượng condensate là 1.100 thùng/ngày, DST#2 trong tập E với lưu lượng khí tối đa là 9,3 triệu ft3/ngày và lưu lượng condensate là 1.200 thùng/ngày.

     

    Giếng thẩm lượng thứ 3 được khoan để thẩm lượng cánh phía Đông Bắc cấu tạo mỏ Sư Tử Trắng, cách giếng thẩm lượng thứ hai 4,5km về phía Đông Bắc. Giếng được khoan thẳng đứng nhằm thẩm định các

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    31

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    Bảng 2. Các thông số kết quả của giai đoạn thăm dò và thẩm lượng

     

    Gi ng

    Gi ng thăm

    Gi ng thăm

    Gi ng th m

    Gi ng th m

    Gi ng th m

    Gi ng th m

     

    dò s  1

    dò s  1

    lư ng s  1

    lư ng s  2

    lư ng s  2

    lư ng s  3

     
     
                   

    DST

    2

    3

    1

    1

    2

    2

     
                   

    V a ch a

    T p F

    T p E

    Đá móng

    T p F

    T p E

    T p E

     

    Khí condensate

    Khí condensate

    Khí condensate

    Khí condensate

    Khí condensate

    D u nh

     
     
                   

    Lưu lư ng khí (tri u

                 

    ft3 chu n/ngày)/Lưu

    32

    38

    10

    9

    11

    8/2.200

     

    lư ng d u (thùng

                 

    d u/ngày)

                 
                   

    Khí

    2.247

    3.402

    8

    70

    94

    84

     
                   

    tầng sản phẩm tập E và F. Giếng được khởi công vào ngày 16/6/2006 và kết thúc vào ngày 3/10/2006. Giếng được khoan qua tập E từ độ sâu 3.916,8 – 4.361,8m TVDss, tập F từ độ sâu 4.646,7m TVDss đến độ sâu tổng là 4.873,3m TVDss (4.908m MDRTE). Kết quả thử vỉa trong tầng sản phẩm tập E với lưu lượng dòng condensate/khí và dầu tối đa là 2.796 thùng/ngày (38,34API) và 7,9 triệu ft3/ngày (cỡ côn 32/64”).

     

    Kết quả thăm dò và thẩm lượng cho thấy trữ lượng tại chỗ mỏ Sư Tử Trắng khá lớn, tính chất vỉa và chất lưu thay đổi trên cả bình diện ngang và theo chiều sâu. Đặc biệt, hiệu ứng bên trong kết quả phân tích thử vỉa cũng như lưu lượng khí thấp từ các giếng thẩm lượng có thể gây ảnh hưởng đến khả năng cho dòng của giếng về lâu dài. Còn tồn tại nhiều rủi ro về mặt địa chất như: sự phân bố vỉa chứa trong không gian, tính chất của vỉa chứa và loại hình chất lưu của mỏ. Các rủi ro này rất khó định lượng, do vậy cần khắc phục bằng các giải pháp thu thập thêm và đủ các số liệu để tiệm cận đến bản chất thực tự nhiên của vỉa chứa, từ đó có được các dự báo chính xác cần thiết, tránh được sự bất cập trong công tác đầu tư, phục vụ tối ưu hóa phương án phát triển mỏ, đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư nếu kế hoạch phát triển mỏ được thực thi. Khai thác thử dài hạn với đầu tư ban đầu thấp nhất là bước đi đầu tiên trong chuỗi kế hoạch đảm bảo luận chứng kinh tế – kỹ thuật tối ưu nhất. Khi có cơ sở số liệu thu thập đáng tin cậy, phát triển mỏ khí Sư Tử Trắng theo các giai đoạn sẽ được thực hiện một cách thận trọng.

     

    2.2. Giai đoạn khai thác thử dài hạn

     

    Kế hoạch khai thác thử dài hạn nhằm đưa mỏ Sư Tử Trắng vào khai thác sớm đồng thời thu thập thêm thông tin để giải quyết những vấn đề đặt ra từ kết quả thăm dò và thẩm lượng. Kế hoạch này được thực hiện với 4 giếng

    khai thác nhằm xác định tính chất vỉa và khả năng cho dòng; lợi ích của nứt vỉa thủy lực đối với việc tăng mức độ cho dòng; lắng đọng condensate ảnh hưởng đến khả năng khai thác của giếng.

     

    Giếng khai thác đầu tiên được khởi công ngày 8/7/2012, là giếng khai thác khí đầu tiên trong mỏ Sư Tử Trắng. Giếng được khoan tại vị trí Tây Nam của cấu tạo Sư Tử Trắng. Giếng được khoan từ giàn WHP-C, khoan vào các tầng sản phẩm E và F, đến đỉnh của cấu tạo Sư Tử Trắng. Giếng chạm nóc vỉa cát kết tập E tại độ sâu 3.938,3mMD (3.595,1m TVDss), đến nóc vỉa cát kết tập F tại độ sâu 4.106,6mMD (3.723,9m TVDss) và đạt đến độ sâu là

     

    4.346,8mMD (3.907,7m TVDss). Lưu lượng dòng khai thác là 35 triệu ft3/ngày và 4.550 thùng/ngày (tháng 11/2016).

     

    Giếng khai thác thứ 2 trong mỏ Sư Tử Trắng được khoan vào vỉa cát kết tập F ở phần đỉnh của cấu tạo Sư Tử Trắng. Giếng cũng được khoan từ giàn WHP-C, giếng chạm nóc tập E tại độ sâu 3.780mMD (3.564,3m TVDss), đến nóc vỉa cát kết tập F tại độ sâu 4.146,6mMD (3.888m TVDss) và đạt đến độ sâu là 4.425mMD (4.132,6m TVDss). Vỉa cát kết tập F tại giếng được xác định là rất tốt nhưng tầng sản phẩm tập E lại chặt sít. Lưu lượng dòng khai thác là 55 triệu ft3/ngày và 7.150 thùng/ngày (tháng 3/2018).

     

    Giếng khai thác thứ 3 của mỏ Sư Tử Trắng, gần với giếng thẩm lượng thứ 2, mục tiêu là tầng sản phẩm tập E. Giếng được khoan từ giàn WHP-C, chạm nóc tập cát E tại 3.835,1mMD (3.722,3m TVDss) và đạt đến độ sâu là 4.259mMD (4.138,1m TVDss). Dựa vào tài liệu địa vật lý giếng khoan, tập E tại giếng ban đầu được minh giải là chứa dầu khí. Tuy nhiên, các kết quả thử vỉa cho thấy một khoảng trung gian (tầng E3) là vỉa chứa nước có độ mặn rất thấp. Ở độ sâu thấp hơn, trong khoảng E1 và E2, kết quả thử vỉa sau một thời gian ngắn cho thấy dầu khai thác có thành phần dead oil tương tự với giếng thẩm lượng thứ 3.

     

    32       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

     

     

    ST-DP

     

    ST-BP

     

    ST-AP

     

     

     

    ST-AP

     

    ST-AP

     

    ST-BP

     

    ST-DP

     

    Tổng

     

     

     

    ST-BP

     

    Sản lượng khai thác cộng dồn trước pha 1

     

    Lượng dầu (MMstb)

    Lượng khí (Bcf)

    3,58

    27,6

    3,0

    23,5

    0,07

    0,45

    6,65

    51,5

     

     

    Hình 3. Sản lượng khai thác của mỏ Sư Tử Trắng trong giai đoạn khai thác thử dài hạn

     

     

    Giếng khai thác thứ 4 trong mỏ Sư Tử Trắng được khoan từ giàn WHP-C xuyên qua vỉa cát dày tập E vào trong tập cát tập F ở rìa phía Bắc của mỏ Sư Tử Trắng. Giếng khoan qua nóc tập cát E tại độ sâu 4.046,1mMD (3.722,6m TVDss), nóc tập cát F tại độ sâu 4.653,4mMD (4.315,5m TVDss) và đạt đến độ sâu 5.101mMD (4.751,6m TVDss). Đây cũng là giếng cuối cùng của kế hoạch khai thác thử dài hạn. Giếng được khoan, đo địa vật lý giếng khoan và nứt vỉa thủy lực, sau đó chuyển qua cho bộ phận khai thác.

     

    Sản lượng khai thác của mỏ Sư Tử Trắng trong giai đoạn khai thác thử dài hạn phụ thuộc vào nhu cầu nhận khí của Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS). Lưu lượng khai thác khí khoảng 40 – 80 triệu ft3/ngày (Hình 3).

     

    Kết thúc giai đoạn khai thác thử dài hạn này đã đạt được một phần các mục đích đề ra: (1) xác định được tính chất vỉa và khả năng cho dòng lâu dài (giếng khai thác thứ 1 có độ thấm trung bình với lưu lượng khí 35 triệu ft3/ ngày và giếng khai thác thứ 2 độ thấm tốt với lưu lượng 65 triệu ft3 khí/ngày); (2) chưa thấy rõ được lợi ích của nứt vỉa thủy lực cho các giếng ở phần sườn của cấu tạo; (3) đánh giá ảnh hưởng lắng đọng condensate đến khả năng khai thác sẽ được tiếp tục trong giai đoạn tiếp theo khi áp suất dòng chảy thấp hơn áp suất điểm sương.

    Kế hoạch khai thác thử dài hạn cho phép Cuu Long JOC khẳng định chắc chắn rằng tiềm năng khai thác của vùng đỉnh cấu tạo rất tốt, sẵn sàng để đầu tư phát triển. Tuy nhiên, việc phát triển mỏ ở vùng rìa của cấu tạo vẫn cần xem xét thêm kết quả kinh tế – kỹ thuật của công nghệ nứt vỉa thủy lực 2 giếng khoan khai thác thứ 3 và 4 chưa khả quan. Trong giai đoạn này, nhu cầu tiêu thụ khí từ PV GAS không ổn định, giếng thường xuyên phải khai thác dưới khả năng. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng thu gom khí về bờ hạn chế việc khai thác condensate và khí từ mỏ Sư Tử Trắng.

     

    2.3. Giai đoạn phát triển giai đoạn 1

     

    Kế hoạch phát triển mỏ Sư Tử Trắng giai đoạn 1 được thiết kế nhằm đẩy mạnh khai thác condensate trong khu vực mỏ đã xác minh và tăng thu hồi condensate nhờ bơm ép khí khô tuần hoàn lại vỉa (gas cycling) đồng thời đưa ra giải pháp kỹ thuật tối ưu để hạn chế ảnh hưởng của hiện tượng lắng đọng condensate trong tương lai. Khi nhu cầu thị trường tiêu thụ khí hạn chế thì việc bơm ép khí khô tuần hoàn lại vỉa là một giải pháp chính xác về kinh tế và kỹ thuật:

     

    • Làm khô hóa vỉa giảm hiện tượng lắng đọng condensate trong tương lai.

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    33

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    • Tăng cường khai thác sớm condensate.
    • Thu thập thêm thông tin địa chất – công nghệ mỏ.

    Bơm ép khí trong giai đoạn 1 bắt đầu từ tháng 11/2016 với cơ sở hạ tầng mới bao gồm một giàn khai thác và bơm ép (PIP) và một khu nhà ở (LQ). Kế hoạch ban đầu của giai đoạn 1 tập trung vào việc bơm ép vào vỉa với lưu lượng 100 triệu ft3 khí khô mỗi ngày qua 2 giếng đang khai thác số 1 và 2 được chuyển đổi sang bơm ép và khoan thêm 2 giếng khai thác mới. Giếng khai thác số 1 được đặt trên nóc cấu tạo của mỏ Sư Tử Trắng và được chuyển thành giếng bơm ép khí vào tháng 11/2016. Việc bơm ép khí khô trở lại vỉa là giải pháp kỹ thuật tối ưu để giảm ảnh hưởng của hiện tượng lắng đọng condensate, giúp khô hóa vỉa, duy trì áp suất vỉa kéo dài và tối ưu hệ số thu hồi của mỏ dài hạn.

     

    Giếng khai thác thứ 5 được khoan từ giàn PIP, giếng khai thác trong Oligocene. Giếng được khoan vào vỉa tập F của mỏ Sư Tử Trắng trong cùng một khu vực cấu tạo với giếng khai thác thứ 2. Giếng khoan qua nóc tập cát E tại độ sâu 4.265,2mMD (3.577,5m TVDss), nóc tập cát F tại độ sâu 4.562mMD (3.800,7m TVDss) và đạt đến độ sâu 4.964,5mMD (4.150,1m TVDss). Giếng được khai thác với lưu lượng 57 triệu ft3/ngày và 7.410 thùng/ngày (tháng 3/2018). Giếng khai thác thứ 5 được chuyển đổi bơm ép vào tháng 7/2018 (thay vì giếng khai thác thứ 2, nhằm tối ưu hóa khai thác và bơm ép), hoàn thành mục tiêu chính của kế hoạch phát triển mỏ Sư Tử Trắng giai đoạn 1.

     

    Giếng khai thác thứ 6 được khoan từ giàn PIP, giếng khai thác trong Oligocene. Giếng được khoan vào các vỉa tập E và F, phía Tây Nam của giếng khai thác thứ 1. Giếng khoan qua nóc tập cát E tại độ sâu 4.088,9mMD (3.478,9m TVDss), tập cát F tại độ sâu 4.420,6mMD (3.733m TVDss) và đạt đến độ sâu 4.650mMD

     

    (3.930,3m TVDss). Giếng khai thác 27 triệu ft3/ ngày và 3.510 thùng/ngày (tháng 3/2018).

     

    Giếng thứ 3 thuộc giai đoạn 1 là ST-CPST đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 5/2018. Theo kế hoạch, giếng đã được đưa vào khai thác từ tháng 10/2018 với lưu lượng khoảng 40 triệu ft3 khí/ngày.

     

    3. Thách thức trong quá trình phát triển mỏ Sư Tử Trắng

     

    • Địa chất và tính chất vỉa chứa

    Các vỉa trong mỏ Sư Tử Trắng có độ rỗng và độ thấm từ kém đến tốt, biến đổi kém hơn về phía sườn cấu tạo và theo chiều sâu (Hình 4). Ngoài ra có khả năng tồn tại những tầng chứa riêng biệt thể tích lớn với nhiều loại hydrocarbon khác nhau (khí, condensate, dầu nhẹ) tạo thành các gradient áp suất khác nhau quan sát trên kết quả MDT và DST (Hình 5). Do đó, các kết quả tính toán trữ lượng tại chỗ và thu hồi của mỏ Sư Tử Trắng còn tồn tại rất nhiều rủi ro, chịu ảnh hưởng lớn của việc xác định ranh giới hydrocarbon/nước, độ chính xác của bản đồ cấu trúc, độ rỗng, độ thấm, độ bão hòa nước và loại hydrocarbon.

     

    Địa chất phức tạp như có nhiều đứt gãy, nhiều khu vực bị bào mòn, do đó khả năng tồn tại những khu vực cô lập nhỏ do bị chia cắt, tạo thành các biên không thấm hạn chế dòng chảy và sự liên thông với các giếng khác.

     

    Để giải quyết khó khăn này, Cuu Long JOC sẽ tiếp tục thu thập thông tin địa chất – công nghệ mỏ từ các giếng khoan tiếp theo, giúp

     

     

    Hình 4. Phân bố độ rỗng theo chiều sâu mỏ Sư Tử Trắng

     

     

    Áp suất vỉa (psia)

     
     

    AP Tập D

     
     

    0,415 psi/ft

     
     

    AX/BX E/F + CX Tập F

     
     

    0,163psi/ft

    CX/CP Tập E

       

    0,184psi/ft

       

    DX Tập E

    sâu (mTVDss)

     

    0,287psi/ft

       

    Độ

    Áp suất vỉa

     

    theo chiều sâu

     
       
       

    CX/CP/DP Tập giữa

       

    0,428psi/ft

    Hình 5. Áp suất vỉa theo chiều sâu thu được từ MDT/RCI

     

     

    34       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    xây dựng mô hình địa chất/tính toán trữ lượng và thủy động lực để giảm thiểu rủi ro trong quá trình phát triển sau này.

     

    3.2. Công tác khoan và hoàn thiện giếng

     

    Trong quá trình phát triển giai đoạn 1 tuần hoàn khí khô ngược lại vỉa, giếng ST-EP hoàn thiện ở tập F có chất lượng kém hơn dự kiến và khả năng cho dòng thấp hơn mức mong đợi. Trong khi đó giếng ST-FP hoàn thiện ở cả 2 tập cát kết E và F. Từ kết quả đo MDT/ RCI sau khi khoan đã xác định rằng tập E có độ linh động thấp, tập F chỉ có khoảng 100m có độ linh động cao, khả năng cho dòng tốt. Dựa trên kết quả đánh giá ban đầu, cả 2 giếng đều có hiệu quả khai thác kém. Kết quả đo PLT cho thấy chỉ có một vài lớp với độ thấm cao thì được khai thác, còn lại chủ yếu không cho dòng. Hiện tượng này là dấu hiệu của sự nhiễm bẩn thành hệ. Những phân tích về cơ chế nhiễm bẩn được xem xét như: bắn vỉa trên cân bằng làm khoảng bắn bị bít nhét (Hình 6); xâm nhập của chất lưu hoàn thiện giếng trong một thời gian chờ lắp đặt hệ thống thượng tầng khai thác (khoảng 9 tháng) gây trương nở sét giảm độ rỗng, độ thấm (Hình 7).

     

    Cuu Long JOC đã tiến hành thực hiện giải pháp để gia tăng khả năng khai thác của giếng là bắn vỉa lại từng phần vào Quý I/2017 và toàn phần vào Quý IV/2017. Sau khi bắn, cả 2 giếng cho thấy sự gia tăng khả năng khai thác (sản lượng giếng ST-EP tăng 4,2 lần từ 17 triệu ft3/ngày lên 71 triệu ft3 chuẩn/ngày, giếng ST-FP tăng 3,3 lần từ 9 triệu ft3 chuẩn/ngày lên 30 triệu ft3 chuẩn/ngày).

     

    Nhiễm bẩn do bắn vỉa

     

     

    Vùng tổn hại

     

    Hình 6. Sự nhiễm bẩn do bắn vỉa trên cân bằng

     

     

    Hình 7. Xâm nhập của chất lưu hoàn thiện giếng

     

    Từ đó rút ra bài học trong công tác khoan và hoàn thiện cho các giếng tiếp theo ở các mặt sau:

     

    • Thực hiện các thí nghiệm tương tác chất lưu với mẫu lõi để lựa chọn dung dịch hoàn thiện giếng thích hợp.
    • Phương pháp bắn vỉa và gọi dòng: bắn vỉa dưới cân bằng, bắn trong chất lưu vỉa hơn là trong dung dịch hoàn thiện giếng.
    • Thời gian chờ đưa vào khai thác phải được hạn chế thấp nhất.

    Trong tương lai, khi áp suất vỉa bị suy giảm nhiều, thì công tác khoan qua những tầng xen kẽ áp suất thấp (đã bị suy giảm áp suất do khai thác) và cao (chưa bị suy giảm áp suất do khai thác) sẽ trở nên thách thức.

     

    3.3. Ảnh hưởng của hiện tượng lắng đọng condensate

     

    Một trong những thách thức cho việc phát triển toàn bộ mỏ Sư Tử Trắng là sự không chắc chắn đến khả năng cho dòng của giếng do ảnh hưởng lắng đọng condensate. Sự lắng đọng này xảy ra khi condensate hình thành xung quanh đáy giếng với áp suất dòng chảy thấp hơn áp suất điểm sương. Độ bão hòa dầu tăng thêm theo thời gian với khoảng cách có thể lên đến vài trăm mét sâu bên trong vỉa dẫn đến việc giảm độ thấm khí tương đối krg hoặc chỉ số khai thác của giếng PI (Hình 8) [2, 3].

     

    Mức độ ảnh hưởng của hiện tượng lắng đọng condensate là thấp nếu độ thấm của vỉa chứa cao vì giếng vẫn còn khả năng tăng dòng để bù cho sự suy giảm PI do ảnh hưởng này gây ra. Tuy nhiên, mức độ này sẽ trở nên nghiêm trọng đối với các vỉa chứa độ thấm thấp và trung bình vì giếng đã đạt đến giới hạn áp suất vận hành của hệ thống bề mặt. Các công bố trên thế giới cho thấy PI có thể giảm từ 45 – 80% đối với các mỏ khí có độ thấm thấp [1, 5].

     

    Về mặt định lượng, kịch bản của sự lắng đọng condensate trong vỉa có thể xảy ra dưới 2 dạng: không thể cung cấp lượng khí xuất theo hợp đồng (DCQ) đã cam kết, hoặc yêu cầu thêm giếng để cung cấp đủ DCQ (Hình 9). Điều này sẽ gây tổn thất tài chính đáng kể cho các nhà đầu tư.

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    35

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    Thấy được tầm quan trọng do ảnh hưởng của sự lắng đọng condensate trong vỉa, mục tiêu chính của kế hoạch khai thác thử dài hạn là kiểm tra ảnh hưởng này về khả năng cho dòng lâu dài của các giếng. Tuy nhiên, trong giai đoạn khai thác thử dài hạn chưa đánh giá được hiện tượng lắng đọng condensate do các giếng đều vẫn khai thác ở trên áp suất điểm sương, do vậy mục tiêu này sẽ tiếp tục thực hiện trong giai đoạn 1 khi áp suất dòng chảy thấp hơn áp suất điểm sương.

     

    Trong thực tế, việc bơm khí khô trong giai đoạn 1 vẫn là phương pháp tốt nhất để giảm hiệu ứng lắng đọng condensate khi khí khô được bơm vào vỉa chứa giúp thay thế khí ẩm được đẩy tới giếng khai thác. Quá trình này làm cho thành phần khí trong vỉa trở nên khô hơn theo thời gian và làm giảm lượng chất lỏng ngưng tụ khi so sánh với việc khai thác giảm áp chất lưu nguyên thủy của vỉa.

     

    Mặt khác, dữ liệu lưu lượng – áp suất dòng chảy dưới áp suất điểm sương là rất cần để hiệu chỉnh mô hình động nhằm mô phỏng chính xác hiệu ứng lắng đọng condensate trong vỉa. Nhằm thu thập thêm thông tin khai thác thực tế về hiệu ứng lắng đọng condensate trong vỉa, Cuu Long JOC đã tiến hành khai thác và theo dõi các giếng khai thác thứ 5 và 6 dưới áp suất điểm sương trong dài hạn. Giếng khai thác thứ 5 được cho phép khai thác dưới áp suất điểm sương từ ngày 10/8/2017 và cho đến nay chưa quan sát thấy dấu hiệu nghiêm trọng của hiệu ứng lắng đọng condensate. Giếng khai thác thứ 6 được cho vận hành với áp suất bên dưới điểm sương bắt đầu từ tháng 3/2018. Lưu lượng hiện tại ở cỡ côn lớn nhất là 52 triệu ft3 chuẩn/ngày ở áp suất đáy 2.800psia, gần 1.600psi dưới áp suất điểm sương tính ở độ sâu nóc bắn vỉa. Tương tự với giếng khai thác thứ 5, quan sát trong vài tháng cho thấy giếng chưa có dấu hiệu nghiêm trọng của hiệu ứng lắng đọng condensate. Tham khảo các tài liệu về sự lắng đọng condensate cho thấy hiện tượng này có thể quan sát sau nhiều tháng, hoặc nhiều năm khai thác dưới áp suất điểm sương khi độ bão hòa dầu tăng lên một lượng và làm giảm lưu lượng khí dẫn đến giảm khả năng khai thác [4, 5].

     

    Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy hiệu ứng lắng đọng condensate là mờ nhạt khi chỉ số mao dẫn tăng do vận tốc dòng chảy cao ở vùng lân cận giếng khai thác dẫn đến sự gia tăng độ thấm tương đối như Hình 10 (Curtis và các cộng sự) [5]. Kết quả khớp lịch sử khai thác từ mô hình động đa thành phần (Eclipse E300) cho thấy độ thấm tương đối tăng đã vượt qua ảnh hưởng gây hại của hiện tượng lắng đọng condensate, duy trì chỉ số khai thác của giếng PI ở áp suất vỉa hiện hành.

     

    Áp suất

     

     

     

    Lưu lượng xuất khí

     

     

    Độ thấm pha

    Áp suất vỉa

     

    Áp suất điểm sương

     

    Bán kính ảnh hưởng

     

    Kr

     

     

    Bán kính ảnh hưởng

     

    Hình 8. Lắng đọng condensate và suy giảm độ thấm krg [5]

     

    Số lượng giếng

     

     

    Thời gian

     

    Hình 9. Các kịch bản có thể xảy ra khi bị lắng đọng condensate

     

    Hệ số mao dẫn

     

    Nc = Vg μg

     

    Tăng Nc

     

     

    Độ bão hòa khí

     

    Hình 10. Độ thấm tương đối tăng với vận tốc dòng chảy cao

     

     

    36       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    Trong thời gian tới, giếng khai thác thứ 2 có thể được kiểm tra vận hành khai thác dưới áp suất điểm sương nhưng giới hạn vận tốc ăn mòn của ống khai thác làm cho giếng chưa thể đưa áp suất về dưới áp suất điểm sương. Tuy nhiên, việc khai thác dưới giới hạn áp suất điểm sương đối với tất cả các giếng là không thể tránh khỏi để duy trì sản lượng của mỏ Sư Tử Trắng và giá trị tổng thể của dự án.

     

    3.4. Phát triển cơ sở hạ tầng và hộ tiêu thụ khí

     

    Giá trị của dự án Sư Tử Trắng được quyết định bởi 2 yếu tố chính là lưu lượng xuất bán khí và lưu lượng bơm ép khí khô ngược lại vỉa. Lượng xuất bán khí và bơm khí càng cao thì lượng khí khai thác và condensate thu được tương ứng càng cao theo công thức: lượng xuất bán khí + lượng bơm ép khí = lượng khai thác khí.

     

    Tuy nhiên, lượng bơm ép khí bị hạn chế bởi công suất nén hiện hành. Hơn nữa, việc xuất bán khí cho PV GAS phụ thuộc vào nhu cầu khí theo mùa. Trong ngắn hạn, công tác khai thác mỏ Sư Tử Trắng phụ thuộc chủ yếu vào giới hạn xuất bán khí khi đã vận hành 100% công suất bơm ép khí. Điều này ảnh hưởng đến mục tiêu sản lượng condensate và khí khai thác hàng năm của Lô 15-1.

     

    Về lâu dài, tổng sản lượng của mỏ Sư Tử Trắng sẽ bị suy giảm tự nhiên. Do đó, cần bổ sung thêm các giếng khai thác trong các giai đoạn tiếp theo; đồng bộ hóa việc phát triển mỏ Sư Tử Trắng ở các khu vực đã xác minh (phần đỉnh của cấu tạo) cũng như cơ sở hạ tầng vận chuyển khí về bờ, xử lý khí và phát triển hộ tiêu thụ khí (nhà máy điện/đạm, khí hóa lỏng…). Hiện nay khí từ mỏ Sư Tử Trắng cùng với các nguồn khí đồng hành Sư Tử Vàng – Sư Tử Đen được xuất bán qua đường ống Rạng Đông – Bạch Hổ – Dinh Cố (Hình 11). Theo thực tế, tuyến đường ống này đã vận hành từ năm 2002 và hoạt động tối đa công suất, được ưu tiên để thu gom khí đồng hành từ các mỏ xung quanh. Do đó, việc phát triển đường ống dẫn khí từ mỏ Sư Tử

     

    Dinh Cố

     

    Sư Tử Vàng

    TBVN

     

    CPP

     
         
     

    Đường ống

       
     

    Bạch Hổ – Dinh Cố

    STT

         
     

    Bạch Hổ

    Rạng Đông

     

    Đường ống

    CPP

       
         

    Nam Côn Sơn 1

    Đường ống

       
     

    Thiên Ưng

     
     

    Nam Côn Sơn 2

     
       

    Đại Nguyệt

    Rồng Vĩ Đại

    Đại Hùng

    Đường ống

    Nam Côn Sơn 2

         

    Hải Thạch

     

    Rồng Đôi

    Lan Tây

     

    Thiên Nga

    Dừa

     
       
           

    Hình 11. Tuyến đường ống xuất khí từ mỏ Sư Tử Trắng và các mỏ lân cận

     

    Trắng về bờ và phát triển hộ tiêu thụ khí là rất quan trọng song song với việc phát triển khai thác mỏ ngoài khơi.

     

    3.5. Kế hoạch phát triển mỏ Sư Tử Trắng trong giai đoạn tiếp theo

     

    Kết quả thu được trong thời gian khai thác mỏ Sư Tử Trắng giai đoạn khai thác thử dài hạn và giai đoạn 1 cho thấy hiệu quả lớn về kỹ thuật và kinh tế góp phần gia tăng sản lượng và dòng tiền sớm. Việc mở rộng phát triển mỏ Sư Tử Trắng trong tương lai là cần thiết và cấp bách. Với các số liệu thu thập được như các số liệu tĩnh (tính chất rỗng thấm của vỉa, đặc điểm thạch học và phân bố tướng trầm tích…), các số liệu khai thác, hiệu ứng ngưng tụ condensate và các bài học kinh nghiệm rút ra (như các bài học về bắn vỉa và hoàn thiện giếng) sẽ giúp giảm thiểu rủi ro cho công tác phát triển mỏ Sư Tử Trắng trong giai đoạn tiếp theo. Các kế hoạch phát triển đang được đề nghị gồm: khoan thêm các giếng khai thác mới, bổ sung bắn vỉa, can thiệp giếng…

     

    Giai đoạn 2 phát triển mỏ Sư Tử Trắng sẽ được tập trung phát triển hoàn toàn khu vực đỉnh của cấu tạo với một giàn xử lý trung tâm CGF kết nối với các giàn khai thác, tuyến đường ống hiện tại, cũng như xây dựng đường ống mới với thỏa thuận bán khí theo hợp đồng (ToP). Đồng thời, xây dựng kế hoạch thẩm lượng để đánh giá chính xác hơn về khả năng khai thác ở vùng rìa và sâu của cấu tạo và triển khai đánh giá thêm việc áp dụng công nghệ nứt vỉa thủy lực hợp lý và kinh tế để phát triển toàn bộ mỏ Sư Tử Trắng trong tương lai.

     

    4. Kết luận

     

    Mỏ Sư Tử Trắng là mỏ khí có tiềm năng lớn để phát triển với trữ lượng lớn. Tuy nhiên, đây là mỏ khí có đối tượng vỉa chứa khá sâu, có đặc điểm áp suất và nhiệt độ cao, có khá nhiều rủi ro về mặt địa chất và tính chất vỉa, do vậy công tác phát triển mỏ Sư Tử Trắng rất rủi ro và thách thức. Nhằm đánh giá hiệu quả khả năng khai thác từ mỏ Sư Tử Trắng, tối ưu cho công tác đầu tư của mỏ, Cuu Long JOC đã chia thành nhiều giai đoạn phát triển mỏ, để vừa tiến hành khai thác, vừa thu thập thêm thông tin giúp giảm thiểu rủi ro từ việc tập trung đầu tư lớn từ giai đoạn đầu.

     

    Tính phức tạp của mỏ Sư Tử Trắng cho thấy nếu chỉ sử dụng số liệu, kết quả thăm dò và thẩm lượng

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    37

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    thì công tác đầu tư và phát triển mỏ sẽ gặp nhiều rủi ro. Vì thế, với triết lý “ném đá dò đường” bằng giải pháp khai thác thử dài hạn đã được Cuu Long JOC xem xét và lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam để thu thập các số liệu thực và đầy đủ nhất của mỏ để sử dụng cho công tác phát triển mỏ tiếp theo.

     

    Trong quá trình phát triển mỏ Sư Tử Trắng, Cuu Long JOC đã đưa ra các giải pháp để tăng cường khai thác sớm condensate, khắc phục các khó khăn gặp phải về địa chất mỏ, giảm thiểu hiện tượng lắng đọng condensate trong vỉa, các khó khăn về thị trường tiêu thụ, cơ sở hạ tầng vận chuyển khí. Việc thực hiện phát triển và khai thác giai đoạn 1 này không những thu thập được các số liệu khảo cứu hiện tượng ngưng tụ condensate, duy trì áp suất vỉa, tối ưu hóa hệ số thu hồi của mỏ mà còn tăng cường lợi nhuận sớm cho các nhà đầu tư, cũng như ngân sách của nhà nước và đảm bảo an toàn năng lượng quốc gia.

     

    Khi có được các số liệu địa chất mỏ và khai thác cũng như các bài học kinh nghiệm ở mọi khía cạnh chính (địa chất, mức độ ảnh hưởng của hiện tượng ngưng tụ condensate, khoan và hoàn thiện giếng) gặp phải ở giai đoạn khai thác thử dài hạn và giai đoạn 1, thì việc tiến hành công tác phát triển mỏ giai đoạn 2 chắc chắn sẽ được tối ưu hơn rất nhiều, đặc biệt về dự báo khai thác (trong đó bao gồm TOP), số lượng giếng khoan, hệ thống thiết bị khai thác và xử lý trên bề mặt, do vậy sẽ giúp cho dự án đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

     

    Từ năm 2017, Cuu Long JOC đã triển khai Dự án phát triển và khai thác mỏ Sư Tử Trắng – giai đoạn 2. Để đạt được mốc tiến độ đưa mỏ vào khai thác (dự kiến cuối năm

     

    2023) vẫn còn các thách thức trong công tác đàm phán thời hạn hợp đồng dầu khí, lượng bán khí và giá bán khí.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Deddy Afidick. Production performance of a retrograde gas reservoir: A case study of the Arun field. SPE Asia Pacific Oil and Gas Conference, Melbourne, Australia. 7 – 10 November, 1994.
    1. Fevang, C.H.Whitson. Modeling gas-condensate well deliverability. SPE Reservoir Engineering. 1996; 11(4): p. 221 – 230.
    1. Michael Golan, Curtis Whitson. Well performance (2nd edition). 1996.
    1. Robert Mott,  Andrew  Cable,  Mike 

    Measurements and simulation of inertial and high capillary number flow phenomena in gas – condensate relative permeability. SPE Annual Technical Conference and Exhibition, Dallas, Texas. 1 – 4 October, 2000.

     

    1. Li Fan, Billy W.Harris, A.(Jamal) Jamaluddin, Jairam Kamath, Robert Mott, Gary A.Pope, Alexander Shandrygin, Curtis Hays Whitson. Understanding gas – condensate reservoirs. Oilfiel Review. 2005/2006: p.14 – 27.
    1. Cuu Long JOC. Su Tu Trang field phase 1 report.

    2017.

     

    1. Cuu Long JOC. Báo cáo tóm tắt đánh giá trữ lượng dầu khí tại chỗ và trữ lượng thu hồi. 2018.
    1. Cuu Long JOC. Su Tu Trang outline development plan. 2018.

    CHALLENGES IN SU TU TRANG GAS CONDENSATE FIELD DEVELOPMENT

     

    Nguyen Van Que, Hoang Ngoc Dong, Truong Tuan Anh, Tran Ha Minh, Nguyen Van Tuan, Hoang Nam Hai Dinh Hoang Khanh, Le Nguyen Vu, Nguyen Chu Dat

    Cuu Long Joint Operating Company

    Summary

     

    This article presents the results of exploration and appraisal as well as challenges during the development of Su Tu Trang gas condensate field, Block 15-1. Development plan by phases is the primary solution to step by step solving the challenges of geological aspect, production capability, drilling and well completion, condensate deposition, etc.

     

    Su Tu Trang field production potential has been verified through a long-term production testing plan, bringing information on geological uncertainty, faults, reservoir heterogeneity, fluid properties and gas injection as a solution to low gas export and condensate banking mitigation. The next development phase of Su Tu Trang (Phase 2) will focus on meeting the gas market’s demand, along with appraisal of the flank of Su Tu Trang structure for further development phase.

     

    Key words: Gas injection, condensate banking, long-term production testing plan, Su Tu Trang field.

     

    38       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]