Category: Báo Cáo Khoa Học

  • CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Khảo sát rẽ nhánh của dao động tuần hoàn trong hệ tuyến tính từng khúc bằng phương pháp bắn đơn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-TH%E1%BB%82-CH%E1%BA%BE-V%C3%80-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-B%E1%BA%B0NG-CH%E1%BB%A8NG-TH%E1%BB%B0C-NGHI%E1%BB%86M-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-QU%E1%BB%90C-GIA-%C4%90ANG-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TẠI CHÂU Á

     

    QUALITY OF INSTITUTIONS AND FINANCIAL DEVELOPMENT:

     

    EVIDENCE FROM DEVELOPING ASIAN COUNTRIES

     

    Nguyễn Thị Mỹ Linh1

     

    Ngày nhận: 24/7/2018             Ngày nhận bản sửa: 7/9/2018              Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Các nghiên cứu về phát triển tài chính đã nhận định chất lượng thể chế là yếu tố tạo nên sự khác biệt về phát triển tài chính giữa các quốc gia. Bài viết này đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, độ mở tài chính và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á bằng phương pháp thực nghiệm. Bài viết sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM cho dữ liệu bảng từ 18 quốc gia trong giai đoạn 2000–2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại có tác động âm có ý nghĩa tới phát triển tài chính. Trong khi đó độ mở tài chính không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính tồn tại mối quan hệ phi tuyến có hình chữ U. Các phát hiện này đưa đến một số hàm ý chính sách cho Chính phủ các quốc gia đang phát triển tại khu vực này. Từ khóa: Chất lượng thể chế, phát triển tài chính, GMM.

     

    Abstract

     

    Recent studies of financial development have confirmed that the quality of institutions was the crucial element of financial development difference among various countries. This paper focus on investigating the effect of economic growth, trade openness, financial opennes and institutional quality on financial development in developing Asian countries. Using Generalized Method of Moments (GMM) to analyse a panel data of 18 countries spanning from 2000 to 2015, we find that economic growth and trade openness have significantly negative influences on financial development. Meanwhile, financial openness has no statistical significance. Especially, there’s U-shaped relationship between financial development and quality of institutions. Our results have several significant contributions to policy makers of these countries. Keywords: Quality of Institutions, financial development, GMM.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các lý thuyết kinh tế tài chính trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của hệ thống

    __________________________________________

    tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng. Các lý thuyết đó cũng hướng tới việc cung cấp câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số quốc gia lại phát triển tài chính hơn những quốc gia khác. Trong

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính – Marketing; Email: [email protected]

    11

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bối cảnh này, một sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn gốc của sự phát triển thị trường tài chính ngày càng trở nên cần thiết hơn cho việc thiết kế các chính sách để thúc đẩy sự phát triển tài chính, bởi phát triển tài chính sẽ̃ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, mà các nghiên cứu thực nghiệm rộng rãi đã minh chứng.

     

    Gần đây, một số lượng lớn các nghiên cứu đã xác định rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng và phát triển tài chính của một quốc gia liên quan đến các đặc điểm thể chế của nó, bao gồm khung pháp lý (Arestis và Demetriades, 1996). Claessens và Leaven (2003) chỉ ra rằng việc phân bổ tài sản được cải thiện do bảo vệ quyền sở hữu tài sản tốt hơn có ảnh hưởng đến tăng trưởng do nó làm gia tăng giá trị ngành nghề tương đương với sự cải thiện khả năng tiếp cận tài chính phát sinh từ sự phát triển tài chính mạnh mẽ̃ hơn. Garretsen và cộng sự (2004) cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn xã hội và văn hóa giúp giải thích sự khác biệt trong phát triển tài chính xuyên quốc gia. Demetriades và Andrianova (2004) cho rằng sức mạnh của các thể chế, như quy định tài chính và tuân thủ pháp luật, có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cải cách tài chính. Chinn và Ito (2006) cho rằng các hệ thống tài chính có mức độ phát triển pháp lý/thể chế cao hơn thường có lợi ích nhiều hơn từ tự do hóa tài chính so với các hệ thống tài chính có mức độ phát triển thấp hơn. Như vậy thể chế mang một tầm ảnh hưởng nhất định đến phát triển tài chính. Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính dựa trên phân tích dữ liệu bảng thu thập cho các quốc gia đang phát triển tại Châu Á. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động để ước lượng mối quan hệ tuyến tính và phi tuyến của các biến trong mô hình. Trong đó, thước đo chất lượng thể chế sử dụng trong

    nghiên cứu được xây dựng bởi Kaufmann và cộng sự (2008) bao gồm một tập hợp các biến khác nhau, có thể đánh giá một cách đa chiều ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính.

     

    2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    Cơ sở lý luận giải thích cho sự phát triển tài chính xuất phát từ bốn giả thuyết bao gồm giả thuyết cung ứng vốn, giả thuyết luật và tài chính, giả thuyết mở cửa đồng bộ và giả thuyết thể chế kinh tế.

    Giả thuyết cung ứng vốn (The endowment hypothesis) của Acemoglu và cộng sự (2001) xác nhận tầm quan trọng của một thể chế vững mạnh đến sự phát triển tài chính và cho rằng chất lượng thể chế khác nhau giữa các quốc gia là do sự thay đổi cung ứng vốn ban đầu. Nói một cách đơn giản, giả thuyết này cho rằng môi trường không thuận lợi do các cường quốc thuộc địa châu Âu gây ra trong nhiều thế kỷ ở quá khứ là nhân tố chính làm chậm lại sự thành lập các thể chế có thể thúc đẩy sự thịnh vượng trong dài hạn. Vì vậy, giả thuyết cho rằng các cường quốc thuộc địa châu Âu đã thành lập nên các thể chế khai thác không phù hợp, không tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng trong dài hạn.

     

    Giả thuyết luật và tài chính (The law and finance hypothesis) của La Porta và cộng sự (1997) đưa ra ý tưởng về các hệ thống dựa trên nền tảng luật thông thường, có nguồn gốc từ luật pháp Anh là tốt hơn các hệ thống dựa trên luật dân sự cho sự phát triển của thị trường vốn. Điều này là bởi luật pháp Anh được hình thành để bảo vệ tài sản tư nhân từ Chính phủ các quốc gia quân chủ chuyên chế. Trong khi đó, luật pháp Pháp được phát triển với mục tiêu giải quyết tham nhũng của bộ máy tư pháp và gia tăng quyền lực của Nhà nước. Qua thời gian,

     

    12

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    điều này cho thấy luật pháp Anh bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ tốt hơn nhiều so với luật pháp Pháp, được cho rằng có lợi hơn cho sự phát triển của thị trường vốn.

    Giả thuyết mở cửa đồng bộ (The simultaneous openness hypothesis) được đưa ra bởi Rajan và Zingales (2003) cho rằng các nhóm lợi ích, đặc biệt là những người giữ chức vụ trong ngành công nghiệp và tài chính thường bị mất đi ích lợi do phát triển tài chính, bởi mở cửa sẽ̃ tạo ra cạnh tranh làm xói mòn đặc quyền của họ. Giả thuyết cho rằng sự kháng nghị của các cán bộ đương nhiệm sẽ̃ trở nên yếu hơn khi nền kinh tế mở cửa cho cả dòng chảy thương mại và vốn. Do đó, sự mở cửa đồng bộ đối với tài khoản thương mại và vốn chính là chìa khóa cho sự phát triển tài chính thành công. Điều này không chỉ bởi vì độ mở thương mại và tài chính làm giới hạn khả năng của cán bộ đương nhiệm ngăn chặn sự phát triển của thị trường tài chính mà còn bởi những cơ hội mới được tạo ra từ mở cửa, làm sản sinh đủ lợi nhuận mới cho họ có giá trị hơn những ảnh hưởng tiêu cực của cạnh tranh gia tăng.

     

    Giả thuyết thể chế kinh tế (The economic institutions hypothesis) gần nhất được đưa ra bởi Acemoglu và cộng sự (2004), được xây dựng trên giả thuyết cung ứng vốn, đề xuất về một khung kinh tế chính trị năng động mà trong đó sự khác biệt về kinh tế trong các thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự phát triển kinh tế khác nhau. Các thể chế kinh tế trong đó xác định các động lực khuyến khích và kiềm hãm các chủ thể kinh tế. Các thể chế chính trị và phân phối thu nhập là các lực lượng động kết hợp với nhau hình thành nên các thể chế kinh tế và kết quả đầu ra. Các lập luận cho rằng tăng trưởng thúc đẩy các thể chế kinh tế khi các thể chế chính trị (i) phân bổ quyền lực cho các nhóm có lợi ích trong việc thực thi quyền sở

    hữu tài sản rộng rãi, (ii) tạo ra các hạn chế hiệu quả đối với người nắm giữ quyền lực và khi có ít đặc lợi chiếm giữ bởi người cầm quyền.

    Hai giả thuyết đầu nhấn mạnh yếu tố lịch sử bất biến theo thời gian có thể chỉ giải thích một phần nhất định cho sự thay đổi của phát triển tài chính xuyên quốc gia. Giả thuyết thứ ba và thứ tư có thể giải thích cho sự phát triển tài chính xuyên quốc gia và cả sự thay đổi của phát triển tài chính qua thời gian, bởi chúng đều có tính chất động, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố biến đổi qua thời gian. Mặc dù cả hai giả thuyết đều xác nhận tầm quan trọng của các tinh hoa chính trị, nhưng nó vẫn nhấn mạnh các cơ chế khác nhau của phát triển tài chính. Giả thuyết thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và như vậy mang đến một hàm ý chính sách đương đại rõ ràng. Giả thuyết thứ tư cho thấy mặc dù các cơ chế chính trị phức tạp có ở công sở (bao gồm cả xung đột xã hội phát sinh từ việc thay đổi lực lượng chính trị như sự gia tăng dân chủ đại chúng và những thay đổi trong phân phối thu nhập), nhưng giả thuyết thể chế kinh tế này đã cung cấp lập luận hữu ích giúp định hình cho phát triển kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào.

     

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Levine (2001) xem xét mối liên kết giữa môi trường pháp lý và phát triển tài chính, sau đó truy xuất mối liên kết này thông qua tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thứ nhất nghiên cứu cho rằng môi trường pháp lý và luật lệ có vai trò quan trọng đối với phát triển tài chính. Các quốc gia với hệ thống pháp lý và quy định ưu tiên cho các chủ nợ nhận được giá trị hiện tại đầy đủ của các khoản cho vay đối với các tập đoàn, có chức năng trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia nơi hệ thống pháp lý cung cấp sự hỗ trợ yếu ớt cho các chủ nợ. Thứ hai, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc thực thi hợp

     

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    đồng là rất quan trọng quyết định đến sự phát triển tài chính. Các quốc gia áp đặt sự tuân thủ pháp luật một cách hiệu quả và thực thi các hợp đồng bao gồm cả những hợp đồng của Chính phủ có xu hướng phát triển các định chế tài chính trung gian tốt hơn nhiều so với các quốc gia mà việc tuân thủ lỏng lẻo hơn. Cuối cùng, nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tiết lộ thông tin cũng đóng một vai trò quan trọng quyết định phát triển tài chính. Chẳng hạn tại các quốc gia nơi mà các công ty công bố báo cáo tài chính tương đối toàn diện và chính xác thì phát triển các trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia mà việc công bố thông tin kém tin cậy hơn.

     

    Baltagi và cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng về đóng góp của độ mở thương mại và thể chế kinh tế đến phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia cho các mẫu các quốc gia đang phát triển với khoảng thời gian nghiên cứu từ 1980–2003. Kết quả cho thấy cả hai yếu tố đều mang tác động quan trọng tiềm tàng đến các mức độ phát triển tài chính. Tuy nhiên độ mở thương mại có hiệu quả đáng kể hơn là độ mở tài chính trong việc thúc đẩy phát triển tài chính cho các quốc gia.

     

    Law và Azman – Saini (2008) sử dụng phương pháp ước lượng GMM cho dữ liệu bảng động thu thập từ các quốc gia phát triển và đang phát triển và kết luận chất lượng thể chế làm gia tăng sự phát triển tài chính, đặc biệt là sự phát triển của khu vực ngân hàng trong đó chỉ tiêu tín dụng khu vực tư được sử dụng trong phân tích. Mặc dầu vậy một số dẫn xuất của thể chế có tầm ảnh hưởng hơn một số dẫn xuất còn lại. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện rằng tuân thủ pháp luật, sự ổn định chính trị và hiệu quả của Chính phủ đóng vai trò cơ bản đối với sự phát triển của khu vực ngân hàng. Bên cạnh đó, GDP thực bình quân đầu người cũng là yếu tố quyết định đến phát triển tài chính. Tuy nhiên

    độ mở tài chính lại làm suy yếu sự phát triển của thị trường này. Trong sáu chỉ số phản ánh chất lượng thể chế, chỉ số chất lượng quản lý cho thấy tồn tại mối quan hệ có hình dạng chữ U với phát triển tài chính.

    Như vậy các giả thuyết và nghiên cứu ngoài nước trên cho rằng tự do hóa tài chính, hệ thống pháp luật, nền kinh tế chính trị, độ mở thương mại là nguồn gốc của phát triển tài chính. Trong đó, tầm quan trọng của chất lượng thể chế đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trong nhiều lĩnh vực. North (1990) định nghĩa các thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội. Thể chế bao gồm các thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi Nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa. Khi các quy tắc thay đổi liên tục hoặc không được tôn trọng, tham nhũng phổ biến, việc thực thi quy tắc còn mong manh hoặc khi quyền đối với tài sản không được xác định rõ ràng, thì đó vấn đề về chất lượng thể chế. Vai trò của thể chế là làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh tế quy mô và tăng cường phân công lao động xã hội. Ảnh hưởng khác của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ̃ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ tài nguyên theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế. Baumol (1990, 1993) cho rằng khi cơ cấu thể chế không khuyến khích tài năng kinh doanh sáng tạo mà chỉ khuyến khích tái phân phối, tìm kiếm đặc lợi thì tăng trưởng kinh tế sẽ̃ thấp đi. Các vấn đề liên quan đến chất lượng thể chế dẫn đến sự gia tăng tính không chắc chắn, gửi tín hiệu gây

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    hiểu lầm đến thị trường, do đó ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.

    3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng

     

    • Mô hình nghiên cứu

     

    Trên cơ sở lý thuyết, nền tảng của các nghiên cứu trước và của Law và Saini (2008), mô hình thực nghiệm được thể hiện như sau:

     

    (FD)it = β0 + β1(FD)(it-1)  + β2(GDPG)it + β3(INS)

     

    it  + β4(TO)it + β5(FO)it + εit     (3.1)

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính có thể là phi tuyến. Cải cách thể

    chế nhìn chung có tác động tích cực đến phát triển tài chính. Tuy nhiên độ lớn của tác động có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ của phát triển kinh tế. Nghiên cứu giả thiết rằng tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính là chưa rõ ràng tại mức phát triển thấp trong khi nó sẽ̃ trở nên tích cực bởi tiến trình phát triển hay đây chính là mối quan hệ có hình dạng chữ U giữa hai yếu tố này. Để xem xét mối quan hệ phi tuyến trên, biến thể chế bình phương được đưa vào phương trình (3.1) và vì vậy mô hình hồi quy được viết lại như sau:

     

    (FD)it = β

    0

    + β

    (FD)

    it-1

    + β

    (GDPG)

    it

    + β

    (INS)

    it

    + β (INS2)

    it

    + β

    (TO)

    it

    + β

    (FO)

    it

    + ε

    it

    (3.2.)

     

    1

     

    2

     

    3

     

    4

    5

     

    6

         

    với kỳ vọng β3 < 0 và β4 > 0.

                                 
               

    Bảng 1. Mô tả biến và nguồn dữ liệu

                 

    Ký hiệu biến

    Mô tả

                           

    Nguồn

       
             

    FD

       

    Sự phát triển tài chính, đo bằng tín dụng nội địa được

    World Development

         

    cung ứng bởi khu vực tài chính/GDP

             

    Indicator – WDI

    GDPG

       

    Tốc độ tăng trưởng GDP

                   

    WDI

         

    INS

       

    Chất lượng thể chế, sử dụng chỉ số đánh giá trong bộ chỉ

    World

    Governance

         

    số Quản trị công toàn cầu với giá trị xấp xỉ từ – 2,5 đến 2,5

    Indicator – WGI

    TO

       

    Độ mở thương mại, bằng Xuất khẩu + Nhập khẩu/GDP

    WDI

         

    FO

       

    Độ mở tài chính, sử dụng chỉ số Chinn – Ito

           

    Chinn-Ito website

    Dữ liệu được thu thập cho 18 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực châu Á giai đoạn 2000– 2015 bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Armenia, Bhutan, Kyrgyz, Mông Cổ, Nepal, và Georgia. Trong đó, chỉ tiêu tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng để đo lường mức độ phát triển tài chính của các quốc gia. Do tính chất nguồn dữ liệu có giới hạn số liệu không được cập nhật nên bài nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất chỉ tiêu này. Đây cũng là thước đo được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển tài chính. Bên cạnh đó, chỉ tiêu đánh giá chất lượng thể chế sử dụng trong nghiên cứu là bộ chỉ số “Quản trị công toàn cầu” do

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    WB công bố với sáu biến đo lường gồm: tham nhũng; hiệu quả Chính phủ; ổn định chính trị; chất lượng quản lý; tuân thủ luật pháp; tiếng nói và trách nhiệm giải trình. Đây được xem là một đánh giá khá đầy đủ về chất lượng thể chế của một quốc gia và cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Law và Saini (2008). Đối với chỉ số Chinn-Ito (Kaopen) là chỉ số đo mức độ mở tài khoản vốn của một quốc gia. Chỉ số này ban đầu được giới thiệu trong Chinn và Ito (Tạp chí Journal of Development Economics, 2006). Kaopen được xác định dựa trên các biến giả nhị phân mã hóa hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới được báo cáo trong Báo cáo thường niên của IMF về các thỏa thuận giao dịch và hạn chế giao dịch.

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3.2. Phương pháp ước lượng

     

    Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng GMM do một số vấn đề sau đây có thể phát sinh và dẫn đến các kết quả ước lượng phương trình (3.1) bị chệch:

     

    • Do tính chất của các biến nghiên cứu đều là các biến số vĩ mô, thường có tác động hai chiều, ví dụ như biến GDPG có thể là biến nội sinh khi nó tác động tới phát triển tài chính và ngược lại phát triển tài chính cũng tác động tới phát triển kinh tế. Điều này cũng tương tự với biến FO. Vì thế, việc hồi qui các biến này có thể dẫn đến sự tương quan với sai số và một số biến khác có thể có những thuộc tính tương tự.
    • Các đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian như là địa lý, văn hóa và nhân chủng học, có thể tương quan với các biến giải thích (các tác động cố định). Các tác động cố định này hiện diện trong đại lượng sai số của các phương trình thực nghiệm.
    • Sự hiện diện của biến trễ của biến phụ thuộc FDit-1 đưa đến khả năng tự tương quan cao.

    Các vấn đề nêu trên có thể khiến hồi quy OLS không nhất quán và ước lượng bị chệch, hay vấn đề nội sinh của các biến chưa thể xử lý triệt để bằng các phương pháp như FE, RE, 2SLS. Phương pháp hồi quy GMM sai phân được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) có thể xử lý tốt hơn các vấn đề trên. Tính phù hợp của các biến công cụ trong ước lượng GMM sai phân dữ liệu bảng được đánh giá thông qua thống kê Sargan và thống kê Arellano-Bond. Kiểm định Sargan với giả thuyết H0: biến công cụ có tính ngoại sinh, nghĩa là nó không tương quan với sai số. Vì thế p-value của thống kê Sargan càng lớn càng tốt. Kiểm định Arellano-Bond được dùng để phát hiện tự tương quan chuỗi ở sai phân bậc 1. Vì thế, kết quả kiểm định tương quan chuỗi bậc một AR(1) không cần quan tâm trong khi tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2) được kiểm định dựa trên chuỗi sai phân bậc 1 của sai số để phát hiện hiện tượng tự tương quan bậc 1 của nó.

     

    4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

     

    Bảng 2. Thống kê mô tả giá trị của các biến trong mô hình

     

    Các biến

    Obs

    Mean

    Std.Dev.

    Min

    Max

    FD

    283

    56.37612

    42.37533

    2.942829

    193.4096

    GDPG

    288

    6.121962

    3.199587

    -14.14999

    17.92582

    FO

    288

    -0.1772923

    1.16868

    -1.90359

    2.374419

    TO

    288

    86.15815

    42.05665

    26.27484

    220.4073

    COR

    288

    -0.5388194

    0.5470128

    -1.5

    1.28

    POS

    288

    -0.6288889

    0.866287

    -2.81

    1.28

    RUL

    288

    -0.4327431

    0.4815948

    -1.37

    0.59

    VOI

    288

    -0.5435417

    0.6074961

    -1.78

    0.47

    GEF

    288

    -0.2013889

    0.5165398

    -1.21

    1.27

    REG

    288

    -0.3154514

    0.4845701

    -1.41

    1.29

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

     

    Ghi chú: FD = Financial Development (Phát triển tài chính), GDPG = GDP Growth (Tăng trưởng

     

    GDP), FO = Financial Openness (Độ mở tài chính), TO = Trade Opennes (Độ mở thương mại),

     

    COR = Control of Corruption (Kiểm soát tham nhũng), POS = Political Stability (Ổn định chính

     

    trị), RUL = Rule of Law (Tuân thủ pháp luật), VOI = Voice and Accountability (Tiếng nói và trách

     

    nhiệm), GEF = Government effectiveness (Hiệu quả Chính phủ), REG = Regulatory quality (Chất

     

    lượng quản lý)

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu

     

     

    FD

    GDPG

    FO

    TO

    COR

    POS

    RUL

    VOI

    GEF

    REG

    FD

    1.0000

                     

    GDPG

    -0.0423

    1.0000

                   

    FO

    -0.3367

    0.0009

    1.0000

                 

    TO

    0.2617

    0.0212

    0.2471

    1.0000

               

    COR

    0.3093

    0.0598

    -0.1025

    0.2862

    1.0000

             

    POS

    0.0563

    0.2388

    0.2302

    0.5479

    0.4886

    1.0000

           

    RUL

    0.4341

    0.0040

    -0.0857

    0.2863

    0.8429

    0.4082

    1.0000

         

    VOI

    -0.1451

    -0.1461

    0.2925

    -0.0191

    0.1796

    -0.0871

    0.3894

    1.0000

       

    GEF

    0.5292

    -0.0222

    -0.0081

    0.4638

    0.7572

    0.3720

    0.7705

    0.1921

    1.0000

     

    REG

    0.3658

    -0.0959

    0.4001

    0.4033

    0.3840

    0.1626

    0.5269

    0.3385

    0.6621

    1.0000

     

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

    Bảng 2 thể hiện giá trị các biến trong mô

    GDPG, FO, VOI và có tương quan thuận với

    hình nghiên cứu, qua đó tỷ lệ tín dụng nội địa

    tất cả các biến còn lại trong mô hình. Điều này

    được cung ứng bởi khu vực tài chính trung bình

    cho thấy đa số các biến thể chế thực sự có tương

    ở các quốc gia trong mẫu đạt giá trị dương 56.3.

    quan dương với phát triển tài chính. Tuy nhiên,

    Chỉ số đánh giá chất lượng thể chế ở các quốc

    kết quả với FO và VOI không như mong đợi

    gia này còn thấp khi mà giá trị trung bình của

    theo lý thuyết tiêu chuẩn, dù vậy đây không

    các chỉ số đều mang dấu âm. Bảng 3 chỉ ra sự

    phải là nghiên cứu đầu tiên có kết quả này.

    phát triển tài chính có tương quan nghịch với

     

    Bảng 4. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình tuyến tính, phương trình 3.1)

     

                 

    Các biến

    Mô hình 1a

    Mô hình 2a

    Mô hình 3a

    Mô hình 4a

    Mô hình 5a

    Mô hình 6a

    FD (-1)

    0.708***

    0.643***

    0.746***

    0.787***

    0.788***

    0.751***

     

    (0.096)

    (0.107)

    (0.096)

    (0.093)

    (0.083)

    (0.100)

    GDPG

    -0.615*

    -0.576*

    -0.763**

    -0.646*

    -0.752**

    -0.689*

     

    (0.344)

    (0.341)

    (0.360)

    (0.353)

    (0.358)

    (0.352)

    FO

    0.509

    0.963

    1.472

    1.934

    1.094

    1.784

     

    (2.627)

    (2.509)

    (2.564)

    (2.546)

    (2.649)

    (2.562)

    TO

    -0.333***

    -0.364***

    -0.287***

    -0.293***

    -0.258***

    -0.287***

     

    (0.094)

    (0.096)

    (0.091)

    (0.101)

    (0.093)

    (0.092)

    COR

    15.703*

             
     

    (8.914)

             

    POS

     

    9.098**

           
       

    (4.176)

           

    RUL

       

    11.394

         
         

    (10.844)

         

    VOI

         

    1.850

       
           

    (7.258)

       

    GEF

           

    9.660

     
             

    (8.701)

     

    REG

             

    9.611

               

    (11.247)

    AR (2) test

    0.26

    0.41

    0.35

    0.38

    0.27

    0.22

    Sargan test

    0.46

    0.49

    0.39

    0.36

    0.42

    0.42

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là sai số chuẩn.

     

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng tại Bảng 4 kết quả thực nghiệm của mô hình tuyến tính (phương trình 3.1) bằng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng động GMM, với các mô hình từ 1a đến 6a lần lượt từng biến thể chế được đưa vào. Biến trễ phụ thuộc FD(-1) có ý nghĩa thống kê, ngụ ý rằng GMM là một phương pháp ước lượng thích hợp và có thể dựa vào kết quả thực nghiệm để thực hiện suy luận thống kê. Trong đó, hai biến thể chế COR và POS mang tác động dương còn GDPG và TO mang tác động âm có ý nghĩa thống kê tới phát triển tài chính. Kết quả về sự tác động nghịch chiều của tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính tuy ngược với kỳ vọng nhưng tương đồng với nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2007) và có thể được giải thích thông qua tính nghịch chu kỳ của chính sách tiền tệ. Thực vậy các tử số của biến phụ thuộc là tín dụng nội địa thường được các ngân hàng trung ương lựa chọn là mục tiêu trung gian rõ ràng hoặc ngầm định của chính sách tiền tệ, kết hợp với sự tịnh tiến của mẫu số là GDP. Do đó, mối quan hệ nghịch chiều giữa GDP và các chỉ số ngân hàng về phát triển tài chính không là sự bất thường, đặc biệt là ở tần suất hàng năm, trùng với các hoạt động của chính sách tiền tệ. Tương tự, độ mở thương mại cũng tác động âm có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính. Trên khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính cho kết quả rất khác nhau. Anutechia (2010) không phát hiện ảnh hưởng của độ mở thương mại đến phát triển tài chính. Hu và Iyke (2018) kết luận độ mở thương mại làm gia tăng phát triển tài chính trong dài hạn, tuy nhiên xét trong ngắn hạn, tác động của nó đến phát triển tài chính là không rõ ràng và có xu hướng ảnh hưởng nghịch chiều đến phát triển tài chính. Khi các quốc gia được phân chia thành hai nhóm có thu nhập thấp và thu nhập trung bình

    thì độ mở tài chính có tác động tích cực đến phát triển tài chính đối với nhóm trước trong khi đó lại nó tác động bất lợi cho phát triển tài chính đối với nhóm sau. Bayar (2017) cho rằng chất lượng thể chế và quy định là cần thiết cho sự tương tác tích cực giữa sự mở cửa thương mại và sự phát triển của tài chính. Do đó, sự tương tác không đáng kể hay tiêu cực giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính là kết quả của sự phát triển không đầy đủ của thể chế. Trong khi đó, với sáu biến dẫn xuất cho vấn đề thể chế lần lượt được đưa vào mô hình, có hai biến là tham nhũng và sự ổn định chính trị tác động dương có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính, phù hợp với giả thuyết thể chế kinh tế của Acemoglu và cộng sự (2004). Kết quả về sự ảnh hưởng của ổn định chính trị đến phát triển tài chính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Roe và Siegel (2008) cho rằng bất ổn chính trị cản trở phát triển tài chính, ổn định chính trị chính là yếu tố then chốt giải thích cho sự phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng của phương trình (3.2), kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa phát triển tài chính và thể chế. Việc bổ sung thêm yếu tố thể chế được bình phương cho phép hình thành chuyển động có dạng U của yếu tố này. Kết quả thực nghiệm cho thấy ngoại trừ hai dẫn xuất VOI và GEF không có

     

    • nghĩa thống kê, bốn dẫn xuất còn lại đều có mối quan hệ phi tuyến với tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính. Các hệ số của thể chế và thể chế bình phương lần lượt là âm và dương. Điều này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hình chữ U về chất lượng thể chế phát triển tài chính. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Law và Saini (2008). Giá trị ngưỡng của chất lượng thể chế là các biến COR, POS, RUL, REG cũng được xác định cho các quốc gia trong mẫu nhằm làm sáng tỏ hơn về mặt

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    định lượng tầm quan trọng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính, theo đó giá trị của chúng lần lượt là 0.37, 0.26, 0.54 và 0.62. Điều này có nghĩa là trong bối cảnh chất lượng thể chế của các quốc gia thấp hơn hay bằng mức ngưỡng, chất lượng thể chế có tác động tiêu

    cực đến phát triển tài chính, tức là phát triển tài chính bị suy giảm khi chất lượng thể chế được cải thiện. Tuy nhiên, khi chất lượng thể chế vượt ngưỡng, tác động của chất lượng thể chế đến sẽ̃ trở nên tích cực. Nói cách khác, việc cải cách thể chế dẫn đến phát triển tài chính.

     

    Bảng 5. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình phi tuyến tính, phương trình 3.2)

     

    Các biến

    Mô hình 1b

    Mô hình 2b

    Mô hình 3b

    Mô hình 4b

    Mô hình 5b

    Mô hình 6b

    FD (-1)

    1.150***

    1.096***

    0.924***

    1.089***

    1.036***

    1.082***

     

    (0.066)

    (0.063)

    (0.080)

    (0.067)

    (0.077)

    (0.063)

    GDPG

    -0.022

    -0.738**

    -0.097

    -0.029

    0.048

    -0.431

     

    (0.231)

    (0.344)

    (0.317)

    (0.232)

    (0.184)

    (0.320)

    FO

    1.981

    0.631

    3.044

    1.503

    -1.416

    -1.830

     

    (3.095)

    (3.227)

    (3.142)

    (2.935)

    (1.608)

    (1.771)

    TO

    -0.067

    -0.020

    -0.269**

    -0.273**

    -0.069

    -0.078

     

    (0.081)

    (0.088)

    (0.115)

    (0.116)

    (0.072)

    (0.084)

    COR

    -43.586**

             
     

    (22.180)

             

    COR2

    32.993**

             
     

    (16.510)

             

    POS

     

    -23.682**

           
       

    (11.932)

           

    POS2

     

    12.227*

           
       

    (6.378)

           

    RUL

       

    -48.128***

         
         

    (15.814)

         

    RUL2

       

    51.589***

         
         

    (17.012)

         

    VOI

         

    -12.957

       
           

    (12.753)

       

    VOI2

         

    9.816

       
           

    (11.145)

       

    GEF

           

    37.091**

     
             

    (18.215)

     

    GEF2

           

    -29.983

     
             

    (18.860)

     

    REG

             

    -39.638*

               

    (23.783)

    REG2

             

    48.951**

               

    (23.280)

    AR (2) test

    0.83

    0.71

    0.93

    0.70

    0.70

    0.49

    Sargan test

    0.21

    0.50

    0.60

    0.18

    0.21

    0.65

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là

     

    sai số chuẩn.

     

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    1. Kết luận và hàm ý chính sách

    Cả hai nhân tố phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế (Law và Azman-Saini, 2008). Trong đó, nghiên cứu này xem xét vai trò của chất lượng thể chế ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 2000–2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng thể chế mà đặc biệt là yếu tố tham nhũng là sự ổn định chính trị làm gia tăng đáng kể sự phát triển tài chính mà yếu tố tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng trong phân tích. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại cũng là hai yếu tố có tầm quan trọng về mặt thống kê đối với phát triển tài chính, tuy nhiên tác động của chúng đến phát triển tài chính là nghịch chiều. Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tác động của chất lượng thể

     

    Tài liệu tham khảo

    chế đến phát triển tài chính không đơn điệu và phụ thuộc vào các dẫn xuất của thể chế. Trong số sáu chỉ số chất lượng thể chế, chỉ số tham nhũng, sự ổn định chính trị, tuân thủ pháp luật và chất lượng quản lý có mối quan hệ hình chữ U với sự phát triển tài chính. Kết quả này cho thấy chất lượng thể chế đóng góp vào phát triển tài chính khi mà nó vượt mức ngưỡng. Do đó việc cải thiện chất lượng thể chế hơn nữa có vai trò then chốt nhằm phát triển thị trường tài chính hơn nữa tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á. Chính phủ của các nền kinh tế này nên áp dụng các chính sách quản lý hoạt động thị trường tài chính cho khu vực tư nhân một cách có kỷ luật và tăng cường cơ sở hạ tầng thể chế nhằm khai thác các khía cạnh có lợi của các thể chế cụ thể, khuyến khích sự phát triển của thị trường tài chính.

     

    Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2004). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. NBER Working paper 10481.

     

    Demetriades, P., & Andrianova, S. (2004). Finance and growth: what we know and what we need to know. In Financial development and economic growth (pp. 38-65). Palgrave Macmillan, London.

    Anutechia, A. S. (2010). Linkages between Financial Development and Openness: panel evidence from developing countries. MPRA paper no. 26926.

     

    Arestis, P., & Demetriades, P. (1997). Financial development and economic growth: assessing the evidence. The economic journal, 107(442), 783-799.

     

    Baltagi, B. H., Demetriades, P. O., & Law, S. H. (2009). Financial development and openness:

     

    Evidence from panel data. Journal of development economics, 89(2), 285-296.

     

    Baumol, W. (1993). Entrepreneurship, Management and the Structure of Payoffs. London: The MIT Press.

     

    Bayar, Y., Akyuz, F., & Erem, I. (2017). Openness and Financial Development in Central and Eastern European Countries. Studies in Business and Economics, 12(3), 5-16.

     

    Chinn, M. D., & Ito, H. (2002). Capital account liberalization, institutions and financial development: cross country evidence (No. w8967). National Bureau of Economic Research.

     

    Claessens, S., & Leaven, L. (2003). What Drives Bank Competition, Some International Evidence World Bank Policy, Working Paper 3113.

     

    20

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Garretsen, H., Lensink, R., & Sterken, E. (2004). Growth, financial development, societal norms and legal institutions. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 14(2), 165-183.

    Ho, S. Y., & Njindan Iyke, B. (2018). Short-and Long-term Impact of Trade Openness on Financial Development in Sub-Saharan Africa. MPRA Working Paper 84272.

     

    Kaufman, D. (10). Myths about Governance and Corruption,”. Finance and Development, 42(3), 2005.

     

    La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). Legal determinants of external finance. The journal of finance, 52(3), 1131-1150.

     

    Law, S. H., & Azman-Saini, W. N. W. (2008). The quality of institutions and financial development.

     

    MPRA paper no. 12107.

     

    Levine, R. (2001). International financial liberalization and economic growth. Review of international Economics, 9(4), 688-702.

     

    North, D. C. (1991). Institutions. Journal of economic perspectives, 5(1), 97-112.

     

    Rajan, R. G., & Zingales, L. (2003). The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century. Journal of financial economics, 69(1), 5-50.

     

    Roe, M. J., & Siegel, J. I. (2009). Finance and politics: A review essay based on Kenneth Dam’s analysis of legal traditions in the law-growth nexus. Journal of Economic Literature, 47(3), 781-800.

     

     

     

     

     

    21


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-th%C3%A0nh-t%E1%BB%B1u-tr%C3%AAn-l%C4%A9nh-v%E1%BB%B1c-kinh-t%E1%BA%BF-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i-%E1%BB%9F-H%E1%BA%A3i-Ph%C3%B2ng-2005-2010.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    MỘT SỐ THÀNH TỰU TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ HÀNG HẢI Ở HẢI PHÒNG

    (2005 – 2010)

    ACHIEVEMENTS OF MARITIME ECONOMY IN HAIPHONG (2005 – 2010)

     

    ThS. NGUYỄN THỊ THANH

     

    Khoa Lý luận Chính trị, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Kinh tế hàng hải là một thế mạnh của Thành phố Hải Phòng. Bài viết phân tích một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005 – 2010), bao gồm: vận tải biển (vận tải hành khách và vận tải hàng hóa), dịch vụ cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển.

     

    Abstract

     

    Maritime Economy is the strength of Haiphong City. The paper would analyze a number of achievements in the field of maritime economy in Haiphong (2005 – 2010), including sea transport (passenger transport and freight), port services, shipbuilding and repairing industry.

     

    1. Giới thiệu

     

    Trong Quyết định số 1601/QĐ – TTg được Thủ tướng phê duyệt ngày 15/10/2009 đã nêu rõ mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nhằm thực hiện Nghị quyết Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đề ra), kinh tế hàng hải đứng thứ hai và sau năm 2020 kinh tế hàng hải đứng đầu trong 5 lĩnh vực phát triển kinh tế biển; đồng thời góp phần củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước. Là thành phố cảng quốc tế, đô thị loại I cấp quốc gia, trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch của Việt Nam và khu vực duyên hải, giữ vị trí trọng yếu về an ninh – quốc phòng, Hải Phòng được xác định là một trung tâm phát triển kinh tế biển của quốc gia. Trong đó, kinh tế hàng hải được coi là một thế mạnh của Thành phố.

     

    2. Đối với vận tải biển

     

    Vận tải biển là một nội dung quan trọng của phát triển kinh tế hàng hải ở Hải Phòng. Những kết quả vận tải biển đạt được trên hai khía cạnh: vận tải hành khách và vận tải hàng hóa.

     

    2.1. Vận tải hành khách

     

    Việt Nam có 3.260 km bờ biển, nằm ở vị trí xung yếu trên biển Đông, thuận lợi cho vận tải hàng hoá, hành khách và phát triển du lịch bằng tàu biển. Tuy nhiên, ngành hàng hải Việt Nam và đội tàu biển chủ yếu làm nhiệm vụ vận tải hàng hoá, còn vận tải hành khách và du lịch trên biển gần như từ lâu bị bỏ trống, không mấy hấp dẫn đối với các chủ tàu.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               101

     

    Trong thời gian qua, bên cạnh hoạt động vận chuyển hành khách bằng đường bộ thì vận chuyển hành khách bằng đường biển cũng có những đóng góp không nhỏ. Hoạt động này chủ yếu tập trung đối với khu vực vận tải hành khách nội địa, đặc biệt trên tuyến Hải Phòng – Cát Bà – Hải Phòng. Thống kê khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển trong những năm gần đây có thể thấy qua bảng 1.

     

    Bảng 1. Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển ở Hải Phòng

     

     

    Khối lượng hành khách vận chuyển

    Khối lượng hành khách luân chuyển

       

    (1000 người)

       

    (triệu người.km)

     

    Năm

     

    Chia ra

         

    Chia ra

     
     

    Tổng số

    Đường bộ

     

    Đường

    Tổng số

     

    Đường bộ

     

    Đường

           

    thủy

           

    thủy

    2005

    17.860

    15.267

     

    2.593

    598,7

     

    570,1

     

    28,6

    2006

    22.692

    20.040

     

    2.652

    756,0

     

    725,8

     

    30,2

    2007

    25.938

    22.706

     

    3.232

    1.017,0

     

    979,0

     

    38,0

    2008

    29.017

    26.188

     

    2.829

    1.138,3

     

    1.106,2

     

    32,1

    2009

    27.782

    25.555

     

    2.227

    1.043,1

     

    1.017,5

     

    25,5

    2010

    29.250

    26.704

     

    2.546

    1.051,7

     

    1.023,7

     

    28,0

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Nhìn vào bảng 1 có thể thấy, việc vận chuyển và luân chuyển hành khách có xu hướng tăng trong những năm 2005, 2006, 2007. Về khối lượng hành khách vận chuyển: năm 2005 là 2.593.000 người, đến năm 2006 là 2.652.000 người, và đến năm 2007 là 3.232.000 người. Về khối lượng hành khách luân chuyển: năm 2005 là 28,6 triệu người.km, đến năm 2006 là 30,2 triệu người.km, năm 2007 đạt 38,0 triệu người.km. Nhưng đến giai đoạn 2008, 2009, hoạt động vận chuyển, luân chuyển hành khách lại có sự sụt giảm rõ rệt. Khối lượng hành khách vận chuyển năm 2008 giảm xuống 2.829.000 người, năm 2009 tiếp tục giảm mạnh, còn 2.227.000 người (chỉ đạt 78,7%). Khối lượng hành khách luân chuyển năm 2008 giảm xuống 32,1 triệu người.km và năm 2009 là 25,5 triệu người.km. Đến năm 2010 đã có sự gia tăng trở lại, đạt được khối lượng vận chuyển 2.546.000 người và khối lượng luân chuyển 28,0 triệu người.km, với tốc độ tăng tương ứng là 114,3% và 109,7%.

     

    Xét trong tổng số khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển của Hải Phòng thì hoạt động vận tải biển chiếm tỷ lệ còn rất khiêm tốn, chủ yếu là vận tải bằng đường bộ. Điều này dễ hiểu vì tính ưu việt của việc lựa chọn phương tiện đường bộ phục vụ đi lại của hành khách hơn hẳn so với việc lựa chọn phương tiện đường biển. Nhưng cũng đặt ra yêu cầu cho vận tải hành khách bằng đường biển của Hải Phòng cần phải quan tâm đổi mới phương thức hoạt động kinh doanh cho hiệu quả.

     

    2.2. Vận tải hàng hóa

     

    Trong lĩnh vực vận tải biển ở Hải Phòng thì vận tải hàng hóa được coi là hoạt động chủ yếu. Vận tải hàng hóa bằng đường biển giữ vai trò hết sức quan trọng trong lưu thông hàng hóa ở Hải Phòng, là chủ lực trong xuất khẩu hàng hóa ra thị trường các nước trên thế giới (chiếm đến khoảng 90% đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa).

     

    Trên cơ sở so sánh giữa đường bộ và đường biển trong hoạt động vận chuyển, luân chuyển hàng hóa ở Hải Phòng, tác giả đưa ra số liệu cụ thể trong bảng 2.

     

    Bảng 2. Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển ở Hải Phòng

     

     

    Khối lượng hàng hóa vận chuyển

    Khối lượng hàng hóa luân chuyển

     

    Năm

     

    (1000 tấn)

       

    (triệu tấn.km)

       

    Tổng số

    Chia ra

    Tổng số

    Chia ra

     
       
     

    Đường bộ

    Đường thủy

    Đường bộ

    Đường thủy

     
           

    2005

    25.373

    19.022

    6.351

    6.419,4

    1.578,4

    4.841,0

     

    2006

    26.123

    19.882

    6.241

    7.030,0

    2.089,0

    4.941,0

     

    2007

    31.871

    23.438

    8.433

    8.137,8

    2.528,4

    5.609,4

     

    2008

    40.494

    27.883

    12.611

    9.998,3

    2.756,3

    7.242,0

     
                   

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 39 – 08/2014

     

    102

     

    2009

    47.053

    33.658

    13.395

    15.798,3

    2.775,6

    13.022,7

    2010

    56.599

    39.850

    16.749

    18.238,3

    3.156,0

    15.082,3

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Có thể thấy khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển bằng đường biển tăng đều trong các năm từ 2005 đến 2010. Khối lượng hàng hóa vận chuyển năm 2005 đạt 6.351.000 tấn (tăng 109,5%), năm 2006 đạt 6.241.000 tấn (98,3%), năm 2007 đạt 8.433.000 tấn (tăng 135,1%), năm 2008 đạt 12.611.000 tấn (tăng 149,5%), năm 2009 đạt 13.395.000 tấn (tăng 106,2%), năm 2010 đạt 16.749.000 tấn (tăng 125,0%).

     

    Khối lượng hàng hóa luân chuyển năm 2005 đạt 4.841,0 triệu tấn.km (tăng 136,6%), năm 2006 đạt 4.941,0 triệu tấn.km (102,1%), năm 2007 đạt 5.609,4 triệu tấn.km (tăng 113,5%), năm 2008 đạt 7.242,0 triệu tấn.km (tăng 129,1%), năm 2009 đạt 13.022,7 triệu tấn.km (tăng 179,8%), năm 2010 đạt 15.082,3 triệu tấn.km (tăng 115,8%).

     

    3. Đối với dịch vụ cảng biển

     

    Cảng Hải Phòng nằm trên tuyến đường giao thông trên biển, kết nối Singapo với Hồng Kông và các cảng của Đông Á, Đông Bắc Á. Năm 1999, khi dự báo lượng hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng, nhiều ý kiến cho rằng, đến năm 2010, lượng hàng hóa thông qua đạt khoảng 8,5 triệu tấn. Nhưng Hải Phòng đã chứng minh sự vượt trội khi năm 2010 đạt tới 38,4 triệu tấn; và năm 2011 là 43 triệu tấn, tương đương với nguồn thu hải quan khoảng 40.000 tỷ đồng. Lượng hàng qua Cảng tăng kỷ lục, vượt xa dự báo chính là sự khẳng định, Hải Phòng kiên định mục tiêu phát triển kinh tế hàng hải, gắn với kinh tế cảng biển.

     

    Việc hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh; duy trì, phát triển các mối quan hệ đối ngoại, tăng cường tiếp thị, tìm kiếm, xúc tiến thông tin thị trường cho khối cảng…

     

    đưa bạn hàng đến với Hải Phòng nhiều hơn, mật độ tàu hàng có mặt tại các cảng biển Hải Phòng cũng dày lên. Hiện Hải Phòng là địa phương đi đầu cả nước về cảng biển khi có tới 35 doanh nghiệp khai thác cảng với tổng chiều dài cầu cảng hơn 10,5 km, chiếm 1/4 chiều dài cầu cảng của cả nước. Hệ thống thiết bị bốc xếp tại các cảng thuộc hàng tối tân của thế giới như cẩu dàn QC tại Cảng Hải Phòng với sức nâng 50 tấn trở lên, hệ thống cần trục chân đế sức nâng 40 tấn tại các cảng và các loại xe nâng hàng hiện đại, xếp dỡ gần 110 tấn/ngày, tăng gấp 3 lần so với năm 2005.

     

    Không chỉ tăng về số lượng hàng hóa thông qua, doanh thu của các cảng biển cũng tăng trưởng đáng kể khi chuyển hướng sang xếp dỡ hàng container, mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất. Năm 2011, Cảng Hải Phòng đạt sản lượng xếp dỡ 17,5 triệu tấn, tăng gần 2 triệu tấn so với năm 2010. Doanh nghiệp tập trung vào chuyển đổi Tân Cảng Đình Vũ thành cảng container chuyên dụng, mở rộng hệ thống kho bãi, đầu tư cần trục, cẩu dàn để đáp ứng nhu cầu phát triển. Không chỉ Cảng Hải Phòng, Công ty CP Cảng Đoạn Xá cũng đầu tư hơn 30 tỷ đồng lắp cần trục chân đế 40 tấn phục vụ việc xếp dỡ container.

     

    Bảng 3. Một số chỉ tiêu chủ yếu của Cảng Hải Phòng

     

     

    Đơn vị

    2000

    2005

    2008

    2009

    2010

     
     

    tính

                 

    Tổng số CNVC bình quân

    Người

    5.350

    5.022

    3.594

    3.679

    3.614

     

    trong danh sách

                 

    Diện tích bãi chứa hàng

    1000m2

    377,6

    258,6

    394,0

    394,0

    394,0

     

    Tổng số tàu vào cảng

    Tàu

    1.559

    2.011

    2.443

    2.410

    2.649

     

    Tàu trong nước

    Tàu

    542

    1.149

    969

    1.011

    1.211

     

    Tàu nước ngoài

    Tàu

    1.017

    862

    1.474

    1.399

    1.438

     

    Khối lượng hàng hóa thông

    1000 tấn

    12.465

    14.857

    28.572

    31.748

    35.323

     

    qua cảng trên địa bàn

                 

    Khối lượng hàng hóa thông

    1000 tấn

    7.645

    10.512

    13.969

    14.370

    15.689

     

    qua cảng chính

                 

    Hàng xuất

    1000 tấn

    1.234

    2.349

    3.244

    2.376

    2.862

     

    Hàng nhập

    1000 tấn

    3.586

    5.197

    7.634

    8.226

    7.572

     

    Hàng nội địa

    1000 tấn

    2.825

    2.966

    3.091

    3.768

    5.255

     

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Ghi chú: Trừ chỉ tiêu khối lượng hàng hóa thông qua các cảng trên địa bàn Thành phố Hải Phòng, các chỉ tiêu còn lại chỉ của riêng cảng chính (Cảng Hải Phòng)

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               103

     

    Thành phố đã đưa ra một số dự án trọng điểm cần ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2006 – 2010 nhằm phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của mình, trong đó, có những dự án lớn đầu tư vào cảng biển với số vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Có thể theo dõi trong bảng 4.

     

    Bảng 4. Một số dự án trọng điểm ưu tiên đầu tư giai đoạn 2006 – 2010

    Đơn vị: Tỷ đồng

    TT

    Tên dự án

    Tổng mức

    Nguồn vốn

     

    đầu tư

           
     

    Cải tạo Cảng Hải Phòng giai đoạn II

    1.772

    Ngân sách, tín dụng

     
     

    Xây dựng Cảng cửa ngõ Lạch Huyện

    15.400

    Ngân sách, huy động

     
     

    Xây dựng Cầu Đình Vũ – Cát Hải

    3.950

    Ngân sách

     
     

    Xây Cảng tổng hợp Đình Vũ giai đoạn II

    600

    Vốn tự có, huy động

     
     

    Xây Cảng tổng hợp Đình Vũ giai đoạn III

    300

    Vốn tự có, huy động

     

    [Nguồn: Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch đầu tư, 2006]

     

    Riêng đối với dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, sau khi hoàn thành có khả năng tiếp nhận các tàu có sức chở lớn từ 30.000 đến 80.000 tấn, trong đó có tàu container.

     

    UBND Thành phố Hải Phòng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho phép Công ty CP vận tải xăng dầu Vipco thực hiện đầu tư giai đoạn 1 cụm kho cảng container hóa dầu tại bán đảo Đình Vũ, Quận Hải An với tổng vốn đầu tư 481 tỷ đồng, trên diện tích sử dụng là 380.000 m2. Thời gian thực hiện 45 năm. Quy mô đầu tư xây dựng cụm cảng xăng dầu gồm: 1 cảng nhập dầu loại tàu trọng tải đến 20.000 DWT và 1 cảng xuất dầu cho sà lan trọng tải đến 5.000 DWT; các kho chứa xăng dầu và các công trình kỹ thuật phụ trợ đồng bộ khác. Cụm cảng container gồm 2 cảng cập tàu container cho tàu trọng tải đến 30.000 DWT; hệ thống bãi chứa container diện tích 36.000 m2, xưởng sửa chữa diện tích 600 m2 và các công trình phụ trợ.

    Trên địa bàn Thành phố còn có những cảng chuyên dụng như Cảng dầu Thượng Lý, Cảng

     

    • măng Chinh Phong, Cảng thuỷ sản Hạ Long… Hàng năm, những cảng này cũng được đầu tư nâng cấp nhằm duy trì và gia tăng năng lực bốc xếp.

    Hệ thống đèn biển cũng không ngừng được đầu tư nâng cấp. Từ năm 2002 đến nay, dự án đầu tư, nâng cấp hệ thống đèn biển đã được thực hiện. Dự án có tổng mức đầu tư là 70 tỷ đồng trong đó 22 tỷ dành cho xây dựng và 48 tỷ cho trang thiết bị đèn biển, một phần từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước và vốn vay ODA của Tây Ban Nha. Mục đích của dự án là xây dựng, hiện đại hoá 32 đèn biển nằm dọc theo tuyến từ Bắc vào Nam, xây mới 16 đèn biển, cải tạo nâng cấp 16 đèn khác, trong đó có 6 đèn cấp 1, có 3 đèn cấp 2, có 9 đèn cấp 3 và 14 đèn cấp 4.

     

    4. Đối với công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển

     

    Ngành công nghiệp đóng tàu được xác định là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trong chiến lược phát triển công nghiệp của nước ta, được Chính phủ và Thành phố quan tâm với mục tiêu đưa Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp đóng tàu lớn của cả nước.

     

    Trên địa bàn Thành phố Hải Phòng hiện có khoảng 50 doanh nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, chiếm khoảng 50% doanh nghiệp đóng tàu của quốc gia. Từ chỗ chỉ đóng được những con tàu vận tải cỡ nhỏ từ 400 đến 1.400 tấn, đến nay những kỹ sư và công nhân Hải Phòng đã đóng được những tàu biển có trọng tải lớn, chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đạt tiêu chuẩn kiểm định nghiêm ngặt của hàng hải quốc tế từ 22.500 tấn đến 36.000 tấn và 53.000 tấn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Từ năm 2005 đến năm 2010, các doanh nghiệp đóng tàu đã huy động hàng nghìn tỷ đồng nâng cấp các ụ, triền đà cho phép đóng các chủng loại tàu trọng tải từ 6.500 tấn đến 100.000 tấn.

     

    Từ năm 2010 đến nay là thời điểm các doanh nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng lao đao. Với sự chỉ đạo, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các cấp, các ngành có liên quan, các doanh nghiệp đóng tàu đã dần từng bước củng cố và ổn định sản xuất. Các doanh nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng đã tập trung thực hiện tái cơ cấu ba lĩnh vực chính theo chỉ đạo. Trong đó, tập trung vào công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển với quy mô phù hợp; công nghiệp phụ trợ phục vụ cho việc đóng và sửa chữa tàu biển và đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, công nhân công nghiệp tàu biển. Ðây là một công việc đầy khó khăn, gian khổ và phức tạp. Các doanh nghiệp đã chuyển nhượng, sáp nhập, giải thể, thoái vốn, bán cổ phiếu những đơn vị kinh doanh không hiệu quả, những công ty không thuộc ngành nghề kinh doanh chính, để tập trung cho ngành nghề sản xuất chính và những đơn vị hoạt động có lãi, nhằm từng bước củng cố, ổn định và phát triển. Ðây mới

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               104


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thưởng, phạt giải phóng tàu trong thuê tàu chuyến và các tranh chấp phát sinh liên quan


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Gia%CC%89i-pha%CC%81p-thu-hu%CC%81t-ha%CC%80ng-ho%CC%81a-trung-chuy%C3%AA%CC%89n-n%C3%B4%CC%A3i-%C4%91%E1%BB%8Ba-%C4%91%C3%AA%CC%81n-ca%CC%81c-b%C3%AA%CC%81n-ca%CC%89ng-khu-v%C6%B0%CC%A3c-Ca%CC%81i-Me%CC%81p-Th%E1%BB%8B-V%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    SOLUTIONS TO ATTRACT INLAND TRANSSHIPMENT GOODS TO CAI

    MEP – THI VAI PORTS

     

    1. BÙI THIÊN THU; ThS. NGUYỄN XUÂN TUẤN

    Cục Hàng hải Việt Nam

     

    Tóm tắt

    Bài viế ttổng hợp vềthực trạng đầ u tư,khai thác các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Phân tích nguyên nhân tác động đến sức hấp dẫn hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa trung chuyển nội điạ đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Từ đó, cung cấp cho các nhà hoạch đinḥ chính sách một số giải pháp cải thiện sức hấp dẫn hàng hóa trung chuyển nội đi ,̣agóp phần nâng cao hiệu quả khai thác cảng biển khu vực.

    Abstract

     

    The article summarizes about current status of investing and operating Cai Mep – Thi Vai ports. The article analyzes cause impact on the attractiveness of goods, especially inland transshipment goods to Cai mep – Thi Vai ports. Therefrom supplies to policy makers some solutions to improve inland transshipment good attractiveness, contribute to improving the operation efficiency of seaports.

     

    1.   Đặt vấ n đề

     

    Đất nước ta cóbờ biển trải dài trên 3.260km, hàng trăm vũng vinḥ cókhảnăng xây dựng cảng biển, tuy vậy, không phải vi ̣trínào cũng cónhững điều kiện thuận lợi đểphát triển bến cảng nước sâu. Cái Mép – Thi ̣Vải tinh̉ Bà Riạ – Vũng Tàu làmột trong sốit́ những vi ̣tríđược đánh giá là có những ưu thếvượt trội so với các khu vực khác của Việt Nam, vừa có điều kiện tựnhiên thuận lợi cóthểxây dựng cảng biển tiếp nhận tàu đến hàng trăm ngàn tấn vừa gắn với Vùng kinh tếtrọng điểm phiá Nam là trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính hàng đầu cả nước, đóng góp hơn 42% GDP, gần 40% kim ngạch xuất khẩu cả nước [1].

     

    Với những lợi thếvềđiều kiện tựnhiên, kinh tếxãhội, quy hoạch phát triển Nhóm cảng biển số5 đến năm 2020, đinḥ hướng đến năm 2030 đãxác đinḥ cảng biển Bà Riạ – Vũng Tàu làmột trong 03 cảng biển cửa ngõquốc tếquan trọng trong hệthống cảng biển Việt Nam cókế t hợpthực hiện di ̣ch vụtrng chuyển container quốc tế.

     

    Thực hiện quy hoạch phát triển cảng biển, khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải đãđược đầu tư các bến có quy mô lớn, hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, song hiện nay hiệu suấ tkhai thác các bến cảng rất thấp, chi ̉đạt khoảng 1/5 công suất thiết kế. Hàng hóa xuất nhập khẩu trên tuyến biển xa phần lớn vẫn phải trung chuyển qua các cảng khác trong khu vực như Hồng Kông, Xin – ga – po (Singapo)làm ảnh hướng lớn đến tinh́ cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, việc thu hút hàng hóa trung chuyển nội điạ của Việt Nam đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải sẽgóp phần tăng sức cạnh tranh của hàng hóa vànâng cao hiệu quảkhai thác cảng biển.

     

    2.   Thực trạng đầu tư, khai thác cảng tại khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải

     

    Đến cuối năm 2013, khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải đãđưa vào khai thác 17 bến cảng hàng khô trong đó có 11 bến hàng tổng hợp và 06 bến container với tổng công suất khoảng 103 triệu tấn/năm trong đóbao gồm khoảng 21,3 triệu tấn hàng tổng hợp và 6,8 triệu TEU container. Ngoài ra, hiện naycó 02 bến cảng tổng hợp và 01 bến cảng container khác đang trong giai đoạn xây dựng với công suất thông qua khoảng 2,5 triệu tấn hàng tổng hợp và 2,1 triệu TEU container (khoảng 28 triệu tấn/năm) [2]. Năm 2013, Cảng Bà Riạ Vũng Tàu thông qua 22,6 triệu tấn hàng khô chiếm khoảng 22% công suất cảng, riêng hàng container đạt945.740 Teu, chiếm khoảng 14% công suất các bến container chuyên dùng [3].

     

    Bảng 1. Các bến cảng chuyên dùng container tại Cái Mép – Thi ̣Vải [4],[5]

     

    Tên bến cảng

    Công suất TK

    TMĐT

    Nhà đầu tư

    Năm hoạt động

     

    (TEU/năm)

    (Triệu USD)

           

    Đang hoạt động

    6.800.000

             

    SITV

    1.100.000

     

    267

    SICC + Hutchison (Hongkong)

    9/2010

     

    SP-PSA

    740.000

     

    240

    Vinalines + CSG + PSA (Singapore)

    5/2009

     
                 

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 39 – 08/2014

    93

     

    Tên bến cảng

    Công suất TK

    TMĐT

    Nhà đầu tư

    Năm hoạt động

     

    (TEU/năm)

    (Triệu USD)

           

    – TCCT

    1.500.000

    204

    – Tân Cảng Sài Gòn

    5/2010

     

    – TCIT

    – TCSG + MOL + Wanhai + Hanjin

    01/2011

     
       

    CMIT

    1.150.000

    268,6

    Vinalines + CSG + APMT (Đan

    3/2011

     

    Mạch)

             

    SSIT

    1.570.000

    240

    Vinalines + CSG + SSA Marine (Mỹ)

    2012

     

    ODA Cái Mép

    740.000

    326,8

    Nhà nước

    2013

     

    Đang xây dựng

    1.700.000

           

    Gemalink

    1.700.000

    300

    Gemadept + CMA CGM (Pháp)

       

    Tổng cộng

    8.500.000

    1.846,4

         

     

     

    Hình 1. Hàng xuất – nhậpkhẩu bằng đường biển từ các cảng Nhóm 5 [6]

     

    Thời gian qua các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải chưa phát huy hiệu quảchức năng theo quy hoạch. Hàng hóa từ Nhóm cảng biển số 5 (gồm các cảng Tp. HồChíMinh, Đồng Nai, Binh̀ Dương, Bà Riạ Vũng Tàu) đi các tuyến biển xa đến châu Âu, châu My ̃phần lớn vẫn được trung chuyển qua Hồng Kông, Xin – ga – po. Theo số liệu nghiên cứu năm 2012, Nhóm cảng biển số5 thông qua lượng hàng hóa xuất nhập khẩu khoảng 4,7 triệu TEU container, trong đókhoảng 1,88 triệu TEU hàng xuất nhập khẩu đi/đến châu Âu vàchâu My,̃ tuy nhiên lượng hàng vận tải trên tuyến biển xa xuất phát từ các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải chiếm tỷtrọng nhỏ, khoảng 42% đối với hàng xuất vàkhoảng 17% đối với hàng nhập khẩu (Hinh̀ 1).

     

    Từ tháng 5/2009, khi bến cảng container đầ u tiên (SP-PSA) được đưa vào khai thác, năm 2010 hàng hóa đãcósựdicḥ chuyển đáng kểtừ khu vực thành phốHồChíMinh ra Vũng Tàu. Tuy nhiên sựdicḥ chuyển này đãkhông duy trìnhư mong đợi, hàng hóa qua cảng thành phốHồChí Minh cósựchững lại trong năm 2010 nhưng tiếp tục tăng trưởng nhanh trở lại đểchiếm linh̃ hàng hóa trong nhóm cảng biển số5. Hàng hóa qua cảng biển Vũng Tàu tăng trưởng hơn 220% trong năm 2010 từ 150ngàn TEU lên 490 ngàn TEU nhưng tăng trưởng chậm dần từ năm 2011 thậm chí tăng trưởng âm trong năm 2013. Đến nay, tổng lượng hàng container thông qua cảng biển Vũng Tàu vẫn ở dưới mức 1 triệu TEU/năm (0).

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               94

     

     

    Hình 2. Khối lượng vàtăng trưởng hàng khô vàhàng container qua cảng Vũng Tàu [1]

     

    3.   Nguyên nhân tác động đến sức hấp dẫn hàng qua cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải

     

    Lượng hàng hóa qua các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải tăng trưởng chậm có thể được đánh giá qua các nguyên nhân dưới đây:

     

    • Đến năm 2013, khu vực Đông Nam Bộđãthành lập và đưa vào khai thác 91 khu công nghiệp (KCN)[7], đây là các trung tâm sản xuất hàng chế tác xuất nhập khẩu theo đinḥ hướng container hóa. Khu vực Bà Riạ – Vũng Tàu có12 KCN với diện 1.857ha chiếm 13% vềsốlượng và17% vềdiện tich́. Hầu hết các KCN tập trung tại thành phốHồChíMinh vàvùng phụcận với 79 KCN, diện tich́ 9.179ha, chiếm 87% vềsốlượng và83% vềdiện tich́. Do kém lợi thếvềkhoảng cách vận tải vàchân hàng nhỏnên các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải cósức hấp dẫn thấp hơn so với các bến cảng khu vực thành phốHồChíMinh. (thay . bằng dấu 😉
    • Hiện nay các cảng biển lớn trên thếgiới đều được phát triển gắn liền với các trung tâm hậu cần, logistics sau cảng. Trong khi các trung tâm logistics vàcác cảng cạn (ICD) là yếu tốrất quan trọng trong việc phát triển nguồn hàng cho cảng thìBàRiạ – Vũng Tàu vẫn chưa hinh̀ thành trung tâm logistics hậu cảng hay các ICD đểhỗtrợcảng biển (0). (thay . bằng dấu 😉

     

    Hình 3. Phân bốcác KCN vàICD tại khu vực Đông Nam Bộ

     

    • Kết nối các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải đến chân hàng trong nội địa hiện tại chủ yếu thông qua mạng đường bộ và đường thủy nội địa, chưa có kết nối đường sắt. Do năng lực hạ tầng giao thông bộ hạn chế, chi phí vận tải cao, đồng thời việc đầu tư nâng cấp mạng giao thông thủy nội địa chưa kịp thời nên chưa tạo được sức hấp dẫn hàng hóa đến cảng. (thay . bằng dấu 😉
    • Lượng hàng hóa đến cảng Vũng Tàu nhỏ, đồng thời phải chia sẻcho nhiều bến cảng đã đầu tư trong khu vực Cái Mép- Thị Vải nên mỗi bến cảng không đủlượng hàng hóa đểhấp dẫn các hãng tàu lớn gắn kết vàmở tuyến vận tải biển xa. Thực tếsốlượng tuyến vận tải đi châu Âu, châu Mỹ đãgiảm từ 16 tuyến xuống còn 12 tuyến năm 2011 và còn 8 tuyến từ năm 2012.

    4.           Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội điạ đến Cái Mép – Thi ̣Vải

     

    Từ những phân tich́ như trên, tác giả cho rằng có thểtriển khai một số giải pháp thu hút hàng trung chuyển nội điạ đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải như sau:

     

    4.1. Giải pháp ngắn hạn

     

    • Tăng cường đầu tư cơ sở hạtầng giao thông kết nối đến cảng đểgiảm chi phívàthời gian vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu từ các KCN, các ICD hiện cótrong nội điạ đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Trước mắt là cải thiện năng lực hạtầng giao thông đường bộtừ Vũng Tàu đi thành phố Hồ ChíMinh, Đồng Nai và các khu vực phụcận, đồng thời đẩy nhanh tiến độ nâng cấp tuyến vận tải thủy nội điạ kết nối khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải với thành phốHồChíMinh

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               95

     

    vàđồng bằng sông Cửu Long đểthu hút hàng hóa đang phải trung chuyển qua Hồ ng Kông,Xin – ga – po vềCái Mép – Thi ̣Vải;

     

    • Cần cósựliên kết, phối hợp kinh doanh giữa các chủcảng trong khu vực Cái Mép – Thi ̣ Vải đểtập trung hàng hóa cho 1 (hoặc 2) bến cảng giai đoạn trước mắt đặc biệt làhàng hóa vận tải trên tuyến biển xa đểđảm bảo cho 1 bến cảng trong sốcác bến cảng đãđầu tư nhanh chóng đạt được quy mô kinh tếlớn (xếp dỡđược 1 triệu TEU/năm) làm cơ sở thiết lập ổn đinḥ các tuyến vận tải biển xa từ Cái Mép – Thi ̣Vải đi châu Âu, châu My ̃vàtạo tiền đềhinh̀ thành các dicḥ vụhỗ trợnhư vận tải đa phương thức, logistics…
    • Ràsoát và cógiải pháp giãn tiến độtoàn bộcác dựán cảng đang triển khai hoặc đang có kếhoạch triển khai trong 5 năm tới đểtránh việc phân tán vềhàng hóa đồng thời đảm bảo hiệu quảđầu tư cho các dựán cảng.

    4.2. Giải pháp dài hạn

     

    • Thành lập khu vực tựdo thương mại gắn với các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải và khu dicḥ vụhậu cần logistics (diện tich́ đủlớn thông thường gấp khoảng 2 lần diện tich́ các bến cảng cộng lại) đểthu hút hàng hoácũng như các hoạt động đầu tư thương mại, Đồng thời kết nối đường sắt từ khu hậu cảng Cái Mép – Thi ̣Vải tới các KCN các ICD lớn trong khu vực đểvận tải, tập kết hàng hóa;
    • Rà soát, điều chinh̉ quy hoạch phát triển các KCN trong giai đoạn đến năm 2030 và xa hơn, trong đóđinḥ hướng ưu tiên phát triển các KCN sản xuất hàng chếtác tại BàRiạ – Vũng Tàu đểđưa chân hàng tới gần cảng biển;
    • Điều phối phát triển các cảng biển khu vực Đông Nam Bộtheo chức năng cụthể, trong đó quy đinḥ các tuyến vận tải biển xa chi ̉xuất phát từ BàRiạ Vũng Tàu, hạn chếtiếp nhận các tàu trọng tải trên 50.000DWT vào khu vực thành phốHồChíMinh.

    5.           Kế t luận

     

    Từ những năm 2000, Việt Nam đãxây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hạtầng cảng biển nhằm tận dụng những lợi thế về biển phát triển kinh tếđất nước và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên đểhệthống cảng biển thực sựphát huy hiệu quả, tạo động lực cho phát triển các linh̃ vực kinh tếliên quan, đòi hỏi việc đầu tư cảng biển phải gắn liền với những giải pháp đồng bộ.

     

    Trên cơ sở những phân tich́ vềthực trạng đầu tư khai thác cảng biển khu vực Cái Mép – Thi ̣ Vải vàthực tếphát triển cảng quốc tế, tác giảđãđềxuất những giải pháp tạo cho cảng Vũng Tàu sức thu hút hàng hóa đặc biệt là hàng xuất nhập khẩu đang phải trung chuyển qua Hồng Kông, Xin

     

    • ga – po. Nếu các giải pháp nêu trên được triển khai triệt đểsẽgóp phần nâng cao hiệu quảđầu tư, khai thác hạtầng cảng trong khu vực, nâng vi ̣thếcủa cảng biển Việt Nam, giảm giáthành và tăng sức cạnh tranh hàng hóa xuất nhập khẩu.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đềán lập điều chinh̉ quy hoạch chi tiết Nhóm cảng biển số5 đến năm 2020, đinḥ hướng đến năm 2030. Cục Hàng hải Việt Nam.
    • Thống kê hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2013. Cục Hàng hải Việt Nam .
    • Đềán nâng cao hiệu quảquản lýkhai thác cảng biển nhóm 5 vàcác bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Cục Hàng hải Việt Nam.
    • Quy hoạchchi tiết Nhóm cảng biển số5 đến năm 2020, đinḥ hướng đến năm 2030. Cục Hàng hải Việt Nam.
    • Nghiên cứu thực trạng cảng và chiến lược tối ưu hóa hoạt động khai thác cảng container Miền Nam Việt Nam. Cơ quan Hợp tác quốc tếNhật Bản (Jica).
    • Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. BộKếhoạch vàĐầu tư.

    Người phản biện: TS. Vũ Trụ Phi, TS. Đỗ Mai Thơm

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               96


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-l%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%8Bnh-trong-d%E1%BB%B1-b%C3%A1o-nhu-c%E1%BA%A7u-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-%C3%81p-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-doanh-nghi%E1%BB%87p-cung-%E1%BB%A9ng-v%E1%BA%ADt-t%C6%B0-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT BẤT ĐỊNH TRONG DỰ BÁO NHU CẦU HÀNG HÓA:

     

    ÁP DỤNG TẠI DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG VẬT TƯ THIẾT BỊ HÀNG HẢI

     

    APPLICATION OF UNCERTAINTY THEORY IN FORECASTING CUSTOMER DEMAND: THE CASE OF MARITIME SPARE PARTS SUPPLYING

    COMPANY

     

    NGUYỄN MINH ĐỨC, VŨ LÊ HUY

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Đối với các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu, đây thực sự là thách thức không nhỏ do giới hạn về số liệu lịch sử cũng như số lượng các khách hàng thân thiết với nguồn cầu ổn định. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Bài báo đề xuất ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa và áp dụng kết quả vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    Từ khóa: Lý thuyết bất định, dự báo nhu cầu khách hàng, quản trị tồn kho.

     

    Abstract

     

    Forecasting customer demand is always a critical activity in supply chain management, especially at companies that directly distribute products to customers because those companies are at the end of the supply chain line to provide information to other distributors and manufacturers. This activity is even a higher challenge to new companies due to the shortage of historical data as well as certain demand from loyal customers. Forecasting customer demand directly impacts companies’ business planning, such as inventory management. The paper suggests the application of uncertainty theory in forecasting customer demand and its application to economical order model at a maritime spare parts supplying company.

     

    Keywords: Uncertainty theory, forecasting customer demand, inventory management.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Quản trị hàng tồn kho chiếm một vị trí quan trọng trong thành công của các doanh nghiệp cũng như cho cả chuỗi cung ứng. Thực hiện tốt quản trị hàng tồn kho sẽ giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí cũng như tăng mức dịch vụ khách hàng, giảm thiệt hại kinh tế do hết hàng tồn kho hay lãng phí do lượng hàng tồn kho quá lớn. Trên thực tế, việc quản trị hàng tồn kho càng trở nên thách thức do tính bất ổn của dòng thông tin đầu vào như nhu cầu hàng hóa của khách hàng, thời gian vận chuyển trong chuỗi, các loại chi phí liên quan,… (Sethi et al, 2005) Việc xác định chính xác các thông tin đầu vào này sẽ quyết định sự hiệu quả của công tác quản trị hàng tồn kho. Lý thuyết bất định cung cấp một công cụ để xác định và nâng cao mức độ tin cậy của giá trị kỳ vọng của các thông tin đầu vào này. Bài báo, trước hết, sẽ giới thiệu một cách khái quát về lý thuyết bất định và sau đó, đề xuất ứng dụng của lý thuyết này trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng nó vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    2. Ứng dụng lý thuyết bất định trong xác định giá trị kỳ vọng

     

    Nhằm mục đích mô hình hóa những vấn đề không thể xác định được một cách chắc chắn, đã có rất nhiều lý thuyết được phát triển nhưng nổi lên là hai phương pháp toán học: lý thuyết xác suất và lý thuyết bất định. Lý thuyết xác suất đòi hỏi một lượng đủ lớn của mẫu để có thể xác định phân phối xác suất. Tuy nhiên, không phải lúc nào mẫu cũng sẵn có để xác định được hàm mật độ của một biến ngẫu nhiên. Nếu không có đủ số liệu, có thể phải mời chuyên gia để đánh giá mức độ tin cậy của một sự kiện có thể xảy ra. Lý thuyết bất định được giới thiệu bởi giáo sư Liu Baoding lần đầu năm 2007 và được định nghĩa lại vào năm 2010. Theo lý thuyết bất định, một biến bất định là một hàm đo lường ξ từ một không gian bất định (Γ, ℒ, ℳ) đối với một tập các số thực, với {ξ ∈ Β} là

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     91

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    một sự kiện đối với bất kỳ một tập hợp B nào. Phân phối bất định của một biến bất định ξ được xác định bởi Φ(x) = ℳ{ξ ≤ x} với bất kỳ số thực nào (Liu, 2015). Một biến bất định tuyến tính có phân phối bất định như sau:

    0,

      ớ    <

     

    Φ(x) = {(x − a)⁄(b − a) , với  ≤  <

    (1)

    1,

      ớ    ≥

     

    Với a và b là số thực, (a < b).

     

    Một hàm Φ: ℛ ⟶ [0,1] là một phân phối bất định khi và chỉ khi nó là một hàm tăng dần ngoại trừ khi Φ(x) ≡ 0 và Φ(x) ≡ 1.

     

    Do không thể xác định chính xác biến bất định ξ, nên thay vào đó, ta sẽ xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ. Đối với một phân phối bất định thực nghiệm được Liu (2015) đề xuất như sau:

     

       

    0

       

    với x <   1

     
     

    i+1

    − αi)(x − xi)

     

    Φ(x) = {αi +

    với xi  ≤ x ≤ xi+1, 1 ≤ i ≤ n

     
     

    xi+1

    − xi

       

    với x > xn

     
       

    1

       
               

    Giá trị kỳ vọng của biến ξ sẽ được xác định theo công thức:

    E[ξ] =

    α12

    x

    + ∑n−1

    αi+1−αi−1

    x

    i

    + (1 −

    αn−1n

    )x

    n

         
     

    2

    1

    i=2

    2

       

    2

     
                   

    (2)

     

    (3)

     

    Trong đó, α1, α2 , .. αn lần lượt là mức độ tin cậy của sự kiện giá trị khảo sát nhỏ hơn x1, x2, … xn và x được sắp xếp theo thứ tự từ bé đến lớn.

     

    Trên cơ sở lý thuyết bất định, ta có thể xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ thông qua bộ câu hỏi cho chuyên gia để xác định bộ giá trị (x1, α1), (x2, α2)… (xn, αn) như sau:

    • Giá trị lớn nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị nhỏ nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị của biến ξ có thể là bao nhiêu? Và mức độ tin cậy của việc giá trị thức tế sẽ nhỏ hơn giá trị kỳ vọng này?

    Câu hỏi thứ (i) có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi chuyên gia ngừng đưa ra đáp án. Giá trị kỳ vọng E[ξ] của tất cả chuyên gia tham gia khảo sát sẽ được lấy trung bình để rút ra kết quả kỳ vọng cuối cùng.

     

    3. Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng để tính toán lượng đặt hàng kinh tế tại công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

     

    Trong mô hình đặt hàng kinh tế EOQ (Economic Order Quantity) (Bowersox, Closs & Cooper 2002), lượng đặt hàng tối ưu được xác định theo công thức:

    = √

    2   

    (4)

     

         

    Trong đó: D là nhu cầu về hàng hóa, K là chi phí đặt hàng, h là chi phí tồn trữ một đơn vị hàng hóa

     

    Tuy nhiên, trong thực tế, việc dự báo nhu cầu về hàng hóa luôn là thách thức đối với tất cả những nhà quản lý, đặc biệt là tại các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu do hạn chế về lượng thông tin để có thể áp dụng các phương pháp dự báo truyền thống. Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh là một công ty thành lập năm 2016 chuyên cung ứng các vật tư thiết bị hàng hải cho các đội tàu biển trên khu vực Hải Phòng. Một trong những sản phẩm được cung ứng với số lượng lớn và liên tục là bóng đèn chiếu sáng lặp đặt trên tàu. Một nhiệm vụ quan trọng của công ty là dự báo nhu cầu lượng bóng đèn và từ đó lập kế hoạch mua hàng để tiết kiệm chi phí tồn trữ. Tuy nhiên, do thời gian hoạt động chưa lâu, nên công ty luôn gặp khó khăn trong việc xác định lượng cầu một cách tin cậy. Lý thuyết bất định, do đó, phù hợp để áp dụng trong trường hợp này.

     

    Do giá trị của D là không xác định được trực tiếp một cách chính xác, nên ta sẽ phải xác đing lượng đặt hàng tối ưu thông qua giá trị kỳ vọng E[D]. Lúc này, công thức xác định lượng đặt hàng tối ưu sẽ là:

    = √

    2E[D] 

    (5)

     

         

    Nhu cầu về sản phẩm bóng đèn chiếu sáng lắp đặt trên tàu biển tại công ty theo từng tháng từ ngày thành lập được thể hiện trong Hình 1. Bằng cách áp dụng hồi quy tuyến tính, ta có thể xác định hàm xu thế tuyến tính và dự báo tuyến tính nhu cầu hàng hóa trong năm 2018.

     

    92                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Lượng hàng (chiếc)

    900

       
       

    800

       
       

    700

       
       

    600

       

    y = 0.321x – 13084

     

    500

       

    R² = 0.7455

     
     

    400

       
       

    300

       
       

    200

       
       

    100

       
       

    0

       

    Mar-16Apr-16May-16Jun-16Jul-16Aug-16Sep-16Oct-16Nov-16Dec-16Jan-17Feb-17Mar-17Apr-17May-17Jun-17Jul-17Aug-17Sep-17Oct-17Nov-17Dec-17

     
     

    (Nguồn: thống kê từ doanh nghiệp)

     

    Hình 1. Nhu cầu sản phẩm và hàm xu thế tuyến tính

     

    Nhu cầu khách hàng trong năm 2018 dựa trên dự báo tuyến tính là 9.680 sản phẩm. Mặc dù kết quả dự báo này có độ tin cậy thấp, nhưng nó vẫn là một thông số tham khảo để tiếp tục áp dụng lý thuyết bất định trong khảo sát ý kiến chuyên gia. Các chuyên gia, trong trường hợp này là giám đốc và nhân viên mua hàng, nhân viên phân phối. Họ sẽ độc lập trả lời các câu hỏi về giá trị kỳ vọng của nhu cầu khách hàng, trên cơ sở đã biết nhu cầu thực tế của khách hàng trong lịch sử và kết quả dự báo tuyến tính:

     

    Kết quả khảo sát được tổng hợp như sau:

     

    Chuyên gia 1: (8000, 0), (9000, 0,5), (9680, 0,7), (12000, 1);

     

    Chuyên gia 2: (7000, 0), (8000, 0,5), (9680, 0,9), (10000, 1);

     

    Chuyên gia 3: (8000, 0), (9680, 0,5), (11000, 0,8), (12000, 1).

     

    Áp dụng công thức (3) ta có kết quả nhu cầu khách kỳ vọng của các chuyên gia lần lượt là: 10570, 10270 và 11622. Lấy trung bình các kết quả kỳ vọng của các chuyên gia, ta có nhu cầu khách hàng kỳ vọng trong năm 2018 là E[D] = 10820.

     

    Với thống kê từ bộ phận tài chính, chi phí đặt hàng là 2 triệu đồng cho một đơn đặt hàng và chi phí tồn trữ bình quân một đơn vị sản phẩm là 5000 đồng. Áp dụng công thức (5), lượng đặt hàng tối ưu đối với công ty sẽ là:

     

    EOQ = 2942 (sản phẩm/đơn hàng)

     

    4. Kết luận

     

    Có thể thấy đối với trường hợp Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh, là Công ty Cung ứng vật tư thiết bị hàng hải, nhu cầu khách hàng về sản phẩm bóng đèn trên tàu biển được nâng cao độ tin cậy của dự báo thông qua ứng dụng của lý thuyết bất định khi cơ sở dữ liệu không đủ để thực hiện các dự báo truyền thống. Việc sử dụng ý kiến nhiều chuyên gia cũng giúp hạn chế tính chủ quan của một chuyên gia đơn lẻ. Kế hoạch về lượng đặt hàng kinh tế, do đó, sẽ có mức độ tin cậy cao hơn. Rõ ràng, nếu chỉ sử dụng kết quả dự báo tuyến tính, sẽ có nhiều khả năng lượng hàng nhập về không đáp ứng đủ nhu cầu khách hàng và doanh nghiệp sẽ có thể mất thêm chi phí để đặt hàng bổ sung.

     

    Quản trị hàng tồn kho là một nhiệm vụ quan trọng trong quản trị chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, tránh tình trạng hết hàng và giảm chi phí tồn trữ cho doanh nghiệp cũng như toàn chuôi cung ứng. Việc lập kế hoạch tồn kho, do đó, chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, tuy nhiên, lại là một thách thức không nhỏ cho các nhà quản lý, đặc biệt khi các giá trị đầu vào của các mô hình quản lý tồn kho như nhu cầu hàng hóa biến động và khó xác định một cách chắc chắn. Lý thuyết bất định được xây dựng để xác định giá trị kỳ vọng của một biến số dựa trên mức độ tin cậy của các sự kiện có thể xảy đến với biến số đó. Lý thuyết bất định do đó, có thể đóng vai trò cầu nối giữa các phương pháp toán học dự báo đơn thuần và phương pháp chuyên gia để nâng cao độ tin cậy cho giá trị kỳ vọng của biến số. Trên thực tế, thông tin về các thông số kinh tế thường mang tính bất định, và do đó, ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng trong quản trị hàng tồn kho chỉ là một trong phạm vị rất rộng các ứng dụng của lý thuyết này.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     93

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Sethi, Suresh P; Yan, Houmin; Zhang, Hanqin; Inventory and supply chain management with forecast updates, Springer, 2005.
    • Liu, Baoding, Uncertainty Theory 5th edition, Springer-Verlag Berlin, 2015.
    • Donald J. Bowersox, David J. Closs, M. Bixby Cooper, Supply Chain Logistics Management International edition, McGraw-Hill Higher Education, 2002.

    Ngày nhận bài:

    14/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

     

     

     

    94                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vững bước năm 2019

    Vững bước năm 2019

    Vững bước năm 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BB%AFng-b%C6%B0%E1%BB%9Bc-n%C4%83m-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vững bước năm 2019

    KINH TEÁ VIEÄT NAM 2018 – NHIEÀU THAØNH COÂNG VAØ THAÙCH THÖÙC

     

    Vững bước năm 2019

     

    GS.TSKH. Nguyễn Quang Thái*

    Năm 2018 và ba năm 2016-2018 Viêt Nam đã đạt những thành tựu tốt, khẳng định xu hướng phục hồi và phát triển bền vững nền kinh tế. Kinh tế tăng trưởng khá, đạt tốc độ trên 6,8%, hoàn thành khá các chỉ tiêu của Quốc hội giao. Tuy nhiên, thành tựu đạt được với chất lượng còn thấp, nhiều nguồn lực, tiềm năng và lợi thế chưa được tận dụng trong

     

    điều kiện thế giới đang biến động mạnh, có nhiều rủi ro khó đoán định. Hướng tới mục tiêu 2019, nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhưng hoàn toàn có khả năng, có bước tiến mới trong việc thực hiện chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững.

     

    Từ khóa: Tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững. Going strong in 2019

     

    In 2018 and three years 2016-2018 Vietnam has achieved good achievements, affirming the trend of recovery and sustainable development of the economy. The economy has grown quite well, reaching a rate of over 6.8%, fulfilling the targets set by the National Assembly. However, the quality of achievements are still low, many resources, potentials and advantages have not been utilized in the context of strong fluctuations in the world, with many risks difficult to predict. Aiming at the goals of 2019, our country still faces many difficulties and challenges, but it is completely capable and has a new step in implementing the policy of restructuring the economy, renewing the growth model according to sustainable development direction.

     

    Key words: Growth, economic restructuring, innovation growth model and sustainable development.

     

     

    Năm 2018 tăng trưởng tốt

     

    Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn năm 2018 và cả ba năm 2016-2018, với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá vững chắc, cao bậc nhất khu vực. Hơn nữa, khi kinh tế thế giới gặp khó khăn, các dự báo thường được điều chỉnh theo hướng thụt lùi, giảm tăng trưởng thì kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng khá. Thậm chí còn có một số thành tựu trong xuất khẩu, phát triển công nghiệp chế biến, chế tác và dịch vụ du lịch tăng trưởng khá. Các chỉ số cạnh tranh của Việt Nam tăng khá trên nhiều chỉ tiêu. Cùng với tăng trưởng, các chỉ số về phát triển bao trùm IDI cũng đạt cao và cân bằng hơn cả nhiều nước có mức thu nhập cao, do quan điểm phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.

     

    Đồng thời, khi kiểm điểm thành tựu, Việt Nam cũng nhận thấy một số yếu kém, cả về thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ… nên năng suất lao động, hiệu quả và sức cạnh tranh còn chưa đạt yêu cầu. Nhiều chỉ tiêu cạnh tranh còn kém, cần phấn đấu để nâng cao sức cạnh tranh chung. Về phía chủ quan, việc thâm hụt ngân sách và nợ công tăng nhanh do chi thường xuyên còn lớn, với bộ máy của hệ thống chính trị còn lớn, cần được cải thiện mạnh mẽ hơn nữa. [2]

     

    Năm 2019 thế giới có nhiều chuyển biến khó lường, cạnh tranh thêm mạnh

     

    Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, kinh tế thế giới còn nhiều bất định.

     

    * Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển Việt Nam

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  7

     

    KINH TEÁ VIEÄT NAM 2018 – NHIEÀU THAØNH COÂNG VAØ THAÙCH THÖÙC

     

     

     

     

    Chủ nghĩa bảo hộ mới và sự tranh chấp của các nước lớn đang có nhiều ảnh hưởng tới bối cảnh kinh tế và cạnh tranh toàn cầu. Thương mại toàn cầu đang tăng trưởng chậm lại, nên tốc độ hai chữ số trong xuất khẩu của Việt Nam bị thách thức lớn. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm cho các thách thức thêm phức tạp. Theo đánh giá của “Diễn đàn kinh tế thế giới” WEF trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu GCI 2018 [4] dựa trên các tiêu chí công nghiệp 4.0, tuy điểm của Việt Nam tăng thêm 0,1 nhưng thứ hạng bị tụt ba hạng xuống thứ 77 trong số 137 nước, cho thấy sự nỗ lực cùng cạnh tranh của các nền kinh tế toàn cầu cũng không thể xem thường. Thêm vào đó, tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng… cũng đang tác động không nhỏ đến kinh tế nước ta. Trong bối cảnh mới đó, nhiệm vụ năm 2019 và 2020 còn rất nặng nề, dù mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại bị đẩy chậm lại một thời gian nữa. Điều đáng ghi nhận là nhiều chủ trương về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện các đột phá chiến lược đã được đề ra đúng hướng và ngày càng cập nhật, nhưng sự chuyển động của các ngành, các địa phương còn chậm, dù tiềm năng còn nhiều.

     

    Nhiệm vụ 2019 nặng nề

     

    Trước tình hình năm 2018 còn nhiều khó khăn, Quốc hội đã đề ra mục tiêu cho năm 2019 là: “Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tạo chuyển biến thực chất hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và tận dụng có hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng phát triển y tế, giáo dục, đào tạo, văn hóa, xã hội, bảo

    đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế; cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật; quyết liệt phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Mục tiêu nêu ra cũng đi cùng với hàng loạt chỉ tiêu cụ thể để kiểm tra, giám sát như Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,6-6,8%; Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4%; Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7-8%; Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33-34% GDP; Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm 1-1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60-62%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 24-24,5%; Số giường bệnh/một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 27 giường; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 88,1%; Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 89%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,85%.

     

    Những chỉ tiêu này là các mục tiêu cụ thể, phấn đấu theo hướng phát triển bền vững, dựa trên các tiêu chí về phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và thực hiện mạnh mẽ, đổi mới thể chế. Từ các mục tiêu chung này, mỗi ngành, mỗi địa phương cần nêu ra các mục tiêu cụ thể của mình. Đặc biệt, năm 2019, Luật Quy hoạch 2017 bắt đầu có hiệu lực, làm cho quy hoạch phát triển gắn bó với thị trường, tích hợp các lĩnh vực khác nhau trên không gian lãnh thổ… là những tín hiệu đổi mới quan trọng. Những đổi mới này sẽ góp phần làm cho kinh tế phát triển cùng vượt lên khó khăn, thách thức.

     

    Khó khăn, cạnh tranh và nhiều rủi ro

     

    Khó khăn của năm 2019 và các năm tiếp theo còn nhiều. Vì thế, cần thực hiện cải cách mạnh mẽ để phát triển.

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Trước hết, cần có tư duy phát triển theo hướng thị trường hiện đại và hội nhập. Từ đó, mới có được các đổi mới thể chế kinh tế, khắc phục các rào cản, phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân như động lực chính của phát triển trong điều kiện mới, theo hướng phát triển bền vững và điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0.

     

    Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, việc xây dựng đồng bộ và hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng có ý nghĩa rất quan trọng. Chẳng hạn, cùng với hệ thống năng lượng an toàn và hiệu quả, cần phát triển hệ thống giao thông vận tải đa phương thức, liên kết chặt chẽ để giảm chi phí sản xuất và dịch vụ.

     

    Phát triển nguồn nhân lực là con đường lâu dài cho phát triển, đi cùng với nâng cao chất lượng đầu tư phát triển của cả khu vực công và tư, kể cả khu vực FDI cần được lựa chọn kỹ hơn để tăng hiệu quả và sự kết nối với kinh tế trong nước.

     

    Bộ máy hiệu lực hiệu quả là yêu cầu của đổi mới thể chế kinh tế cần kiên trì thực hiện.

     

    Để đạt các mục tiêu này, cần thực hiện các giải pháp rất căn cơ, quyết liệt

     

    Quốc hội đã nêu ra 10 nhiệm vụ [3], trong đó có mấy nội dung liên quan trực tiếp về kinh tế là:

     

    1. Tăng cường năng lực, chủ động phân tích, dự báo, theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, trong nước để có đối sách phù hợp và kịp thời. Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và yêu cầu quản lý; điều chỉnh giá dịch vụ công theo lộ trình phù hợp, tránh tác động bất lợi đến chỉ số giá tiêu dùng. Kiểm soát tốt chất lượng hàng hóa, thiết bị nhập khẩu bằng các hàng rào kỹ thuật phù hợp; phấn đấu cân bằng thương mại bền vững. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

     

    1. Thực hiện đồng bộ, quyết liệt các đột phá chiến lược. Kiên định mục tiêu đổi mới thể chế là đột phá quan trọng, tập trung rà soát, hoàn thiện các cơ

    chế chính sách, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao. Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin… Quan tâm phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển.

     

    1. Thực hiện quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao, giá trị gia tăng cao. Nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch, phát triển mạnh du lịch biển, đảo; mở rộng áp dụng thị thực điện tử và đơn phương miễn thị thực cho một số địa bàn trọng điểm; có chính sách thu hút hiệu quả khách du lịch quốc tế…

    Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và triển khai các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp. Ban hành chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xã hội hóa xây dựng hệ thống trung tâm đổi mới sáng tạo để hỗ trợ nghiên cứu phát triển. Tăng cường huy động và khai thác nguồn lực đầu tư từ xã hội cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ…

     

    Thúc đẩy mạnh mẽ phát triển doanh nghiệp, hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn, hiệu quả và sức cạnh tranh cao. Thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên sử dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường, gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ của các doanh nghiệp trong nước. Triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh. Thúc đẩy phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Ban hành chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, chế biến nông sản. Đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, bảo đảm đầu ra ổn định cho nông sản, tăng thu nhập cho nông dân…

     

    1. Tiếp tục cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước.

     

    Tăng cường công tác quản lý thu ngân sách nhà

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  9

     

    KINH TEÁ VIEÄT NAM 2018 – NHIEÀU THAØNH COÂNG VAØ THAÙCH THÖÙC

     

    nước, thực hiện quyết liệt các giải pháp chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế; xử lý nợ đọng thuế và triển khai hóa đơn điện tử. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước, dành nguồn lực cho đầu tư phát triển.

     

    Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; kiểm soát các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn theo Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội về Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020. Đẩy mạnh thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; phát huy vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tập trung giải pháp để xử lý các dự án thua lỗ. Tiếp tục phát triển thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản minh bạch và lành mạnh…

     

    1. Quản lý, khai thác có hiệu quả nguồn lực tài nguyên, tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động trong phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nâng cao khả năng tiếp cận đất đai và hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai, khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các quy định của pháp luật liên quan đến đất đai. Chấn chỉnh, xử lý nghiêm các sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, nhất là ở các thành phố lớn, tại những địa phương có nhiều khiếu kiện về đất đai…

     

    1. Bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Thực hiện chính sách xã hội đảm bảo công bằng và hài hòa. Tiếp tục rà soát, giải quyết hiệu quả chính sách hỗ trợ đối với người có công với cách mạng bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm những sai phạm, tiêu cực… Đẩy nhanh độ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Hoàn thiện các chính sách giảm nghèo, chuyển sang hỗ trợ có điều kiện gắn với đối tượng, địa bàn và thời hạn thụ hưởng nhằm khuyến khích, tạo điều kiện để người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo tích cực, chủ động tham gia, được tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản và có cơ

    hội phát triển sản xuất, kinh doanh. Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo bền vững. Tập trung chỉ đạo, bố trí nguồn lực thực hiện các chính sách đã ban hành về hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Tổng kết, nghiên cứu tích hợp hệ thống chính sách hiện hành cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi để tập trung và bảo đảm nguồn lực, khắc phục phân tán, chồng chéo, kém hiệu quả; tăng cường công tác phối hợp, chỉ đạo, điều hành giữa các cơ quan liên quan và thu gọn đầu mối quản lý. Quốc hội cũng nêu ra hàng loạt nhiệm vụ về tăng cường công tác văn hóa, TDTT…; đổi mới sắp xếp bộ máy cán bộ, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh…

     

    Kết luận

     

    Năm 2018, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện, nhưng cũng còn nhiều yếu kém, nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng đến triển vọng thực hiện kế hoạch 2019. Trong năm 2019 và các năm tới cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để có thể đạt các thành tựu vững chắc: (1) Đổi mới tư duy phát triển theo hướng thị trường hiện đại và hội nhập, phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường; (2) Phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, lựa chọn kỹ càng các doanh nghiệp FDI và cải cách mạnh DNNN; (3) Phát triển kinh tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trường, hoàn thiện thể chế, đưa Việt Nam tiếp tục phát triển theo hướng bền vững.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018). Khung Chính sách kinh tế Việt Nam. Diễn đàn cải cách và phát triển;

     

    1. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kinh tế Việt Nam (2018). Đánh giá tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế đến 2020, Đề tài tư vấn phản biện do Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tiến hành;

     

    1. Quốc hội (2018). Nghị quyết về kế hoạch phát triển KTXH năm 2019;
    2. WEF (2018). Global Competitiveness Report 4.0 in 2018.

     

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%9D-ki%E1%BA%BFn-v%E1%BB%81-s%E1%BB%ADa-%C4%91%E1%BB%95i-lu%E1%BA%ADt-thu%E1%BA%BF-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-gia-t%C4%83ng-theo-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-t%C4%83ng-thu%E1%BA%BF-su%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    PGS.TS. Phan Duy Minh*

    Hiện Bộ Tài chính đang có Đề án đề nghị Chính phủ trình Quốc hội cho sửa đổi, bổ sung 6

     

    Luật thuế (Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập cá nhân, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế Tài nguyên, Thuế XK & NK). Việc xem xét, đề xuất sửa đổi các văn bản pháp luật nói chung, các luật thuế nói riêng sau một

    thời gian áp dụng để phù hợp hơn với hoạt động thực tiễn vốn thay đổi, biến động không ngừng, đó là công việc bình thường, rất cần thiết. Để bổ sung sửa đổi cùng một lúc 6 luật thuế sẽ bao gồm rất nhiều vấn đề, với nhiều nội dung khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn bàn một vấn đề là điều chỉnh thuế suất thuế Giá trị gia tăng theo hướng tăng lên trên các khía cạnh cả về lý luận và thực tiễn.

     

    Từ khóa: Sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT, tăng thuế suất.

     

    Comments on amending the Law on Value Added Tax along the direction of increasing the tax rate

     

    Currently, the Ministry of Finance is proposing to the Government to submit to the National Assembly amendments and supplements to 6 tax laws (Law on Value Added Tax, Law on Corporate Income Tax, Law on Personal Income Tax, Law on Consumption Tax Special and Resource Tax Laws). Considering and proposing to amend general legal documents and tax laws in particular after a period of time of application so that they are more suitable with practical activities that change incessantly is ordinary and necessary type of work. At the same time amending 6 tax laws will cover a wide range of issues, with varying content. Within the scope of this article, we limit ourselves to the issue of adjusting the VAT rate in the direction of increasing both theoretical and practical aspects.

     

    Key words: Amending and supplementing the VAT Law, increasing the tax rate.

     

     

    1.   Cần có nhận thức đúng hơn về bản chất của Thuế Giá trị gia tăng

     

    Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) được triển khai áp dụng ở nước ta tính đến nay là sắp tròn 18 năm (1999 – 2017). Luật được kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9 thông qua và được ban hành bởi Sắc lệnh số 57/1997/L-CTN ngày 10/05/1997 của Chủ tịch nước và có giá trị thi hành từ ngày 01/01/1999

     

    thay cho Luật Thuế Doanh thu. Sau đó, Luật được bổ sung, sửa đổi bằng Luật số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội khóa 12 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.

     

    Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế Doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào năm 1954 (Theo tiếng Pháp gọi là Taxe Sur La Valeur Ajou tée – TVA, còn theo tiếng

     

    *Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  13

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

     

    Anh gọi là Value Added Tax gọi là – VAT). Ngày nay, phần lớn các nước trên thế giới (năm 2016 là 166 nước) đều áp dụng thuế này. Đó là các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu (EU), Châu Phi, Châu Mỹ và một số quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam.

     

    Theo cách hiểu chung của thế giới cũng như theo quy định của Luật thuế GTGT của Việt Nam thì đây một loại thuế gián thu. “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (Điều 1 – Luật Thuế GTGT 1997) và tại Luật Thuế GTGT sửa đổi năm 2008 thì quy định này vẫn được giữ nguyên (Điều 2). Nói cách khác, thuế GTGT là khoản được cộng thêm vào giá cả hàng hóa của người sản xuất và cơ sơ để tính khoản thuế này là một tỷ lệ nhất định của phần giá trị gia tăng được thực hiện ở các khâu sản xuất, lưu thông trước khi bán cho người tiêu dùng. Như vậy, thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ và hoàn toàn do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng các dịch vụ đó.

     

     

     

     

     

    Thuế GTGT theo chúng tôi luôn phải được hiểu đúng như trên, nhưng trên thực tế thì đáng tiếc không ít người, kể cả người hướng dẫn luật lại không hiểu đúng như vậy. Họ cho rằng, thuế GTGT được “đánh” trên GTGT của hàng hóa, dịch vụ. Cách hiểu như thế này vô tình đã đánh đồng thuế GTGT với một số thuế trực thu khác như Thuế Thu nhập cá nhân, Thuế Thu nhập doanh nghiệp, coi khoản thuế là điều tiết một phần GTGT vừa được tạo ra về cho Nhà nước. Phải chăng vì cách hiểu như vậy mà khá nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn cố tình trốn các khoản thuế GTGT bằng cách không xuất hóa đơn cho người mua khi bán hàng và cơ quan thuế chưa thực sự quyết liệt để thu bằng được các thuế này về cho Nhà nước.

     

    Dưới đây xin được đề cập sâu hơn một chút về bản chất kinh tế của khoản thuế GTGT như sau.

     

    Để cho vấn đề được đơn giản, chúng tôi gộp các chủ thể cụ thể có liên quan thành ba chủ thể lớn là Nhà sản xuất (bao gồm cả người sản xuất và người làm công tác lưu thông hàng hóa, dịch vụ), Người tiêu dùng và Nhà nước.

     

    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Chúng ta đều biết, sau khi sản xuất hoàn thành, sản phẩm trước khi đến Người tiêu dùng, giá bán sản phẩm của Nhà sản xuất là Giá sản xuất (Pp). Giá này bao gồm Giá thành (Z) và phần Lãi gộp, hay đó chính là phần GTGT (Va). Giá thành (Z)

     

    • đây tập hợp các chi phí hữu hình, cụ thể, có thể hạch toán và phân bổ được gắn với quá trình sản xuất kinh doanh (còn gọi là các chi phí có hóa đơn). Chúng gồm Chi phí sản xuất (Chi phí tiêu hao vật tư nguyên liệu, khấu hao TSCĐ, tiền công… – Cc), Chi phí quản lý (Cm), Chi phí hữu hình khác (Các chi phí trong khâu lưu thông, các khoản thuế, phí… phải nộp “đầu vào”…). Còn Va bao gồm Lãi vay ngân hàng (Rl – nếu có), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (Te) và phần Lợi nhuận (f) của Nhà sản xuất. Cụ thể

    Pp = Z + Va ; trong đó

     

    Z = Cp + Cm + Co

     

    Va = Rl + Te + f

     

    Nên Giá của nhà sản xuất giờ đây được viết lại như sau:

     

    Pp = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f (1)

     

    Khi người tiêu dùng mua sản phẩm phải trả theo Giá tiêu dùng (Pc), gồm Giá sản xuất (Pp) và cả phần thuế GTGT (VAT) nộp cho Nhà nước. VAT được tính trên cơ sở GTGT (Va) và Thuế suất (t). Tức là:

     

    Pc = Pp + VAT ; với VAT = Va . t = (Rl + Te + f).t , nên

     

    Pc = Pp + (Rl + Te + f).t (2)

     

    Kết hợp (1) và (2) ta có

     

    Pc = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f + (Rl + Te + f).t (3)

     

    Như chúng ta đã biết, trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà sản xuất trong quá trình tạo ra sản phẩm đã phải tiêu tốn nhiều loại sản phẩm, vật tư, nguyên liệu, nhân công, dịch vụ hữu hình và chúng đã được tính vào giá thành, nếu có chi phí vốn vay

    thì phải trả lãi vay… Song trong quá trình đó, họ đã được hưởng rất nhiều hàng hóa công cộng (HHCC) thuần túy, vô hình do Nhà nước cung cấp (Giữ gìn nền hòa bình, bình yên, an toàn xã hội, được quyền giao lưu tự do quốc tế… do các hoạt động quốc phòng, an ninh, quản lý xã hội, đối ngoại… của Nhà nước mang lại). Để có được những HHCC ấy Nhà nước đã tiêu tốn rất nhiều chi phí, nguồn lực…, nhưng do chúng thuần túy, vô hình nên Nhà sản xuất khi hưởng thụ chúng để phục vụ quá trình sản xuất đã chưa trả tiền cho Nhà nước và Nhà nước cũng không thể loại trừ được việc thụ hưởng đó. Vì thế, trong giá của Nhà sản xuất (Pp), cả phần Giá thành (Z) cũng như phần GTGT (Va) đều chưa hề có khoản chi phí trả cho các HHCC vô hình này của Nhà nước, thì giờ đây, theo quy luật Trao đổi ngang giá của thị trường, Nhà nước phải cộng thêm vào Giá của Nhà sản xuất (Pp) phần chi phí của mình do đã cung cấp HHCC để thu hồi về dưới dạng thuế GTGT (VAT) là hoàn toàn thỏa đáng.

     

    Qua phân tích trên cho thấy, thuế GTGT không phải là một phần của GTGT (Va), nên nó không “đánh” vào GTGT, mà thực chất đây là việc thu hồi lại các khoản chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra để sản xuất cung cấp HHCC thuần túy vô hình cho xã hội mà Nhà sản xuất đã được hưởng trước đây nhưng chưa trả cho Nhà nước; còn cơ sở để tính số thuế này là một tỷ lệ % (thuế suất) nhất định của phần GTGT. Nhà sản xuất có trách nhiệm thu hộ khoản thuế này và nộp trả về cho Nhà nước.

     

    2.   Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tăng thuế suất thuế GTGT

     

    Giá mà Người tiêu dùng phải trả (Pc) theo công thức (3) trên đây giờ đây có thể được viết lại như sau:

     

    Pc = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f + (Rl + Te + f).t

     

    Pc = (Cp + Cm + Co) + (Rl + Te + f).(1 + t)

     

    Pc = Z + Va.(1 + t) (4)

     

    Như vậy, tại công thức (4), giá cả sản phẩm mà

     

    (1) Ở những nước này là Thuế Tiêu thụ, Thuế Hàng hóa (GST). Về bản chất, các thuế này cũng tương tự như VAT.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  15

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

    người tiêu dùng phải trả đều có quan hệ tỷ lệ thuận với cả 3 yếu tố: Giá thành (Z), GTGT (Va) và Thuế suất thuế GTGT (t). Dó đó, Pc sẽ tăng hoặc giảm khi có ít nhất 1 trong 3 yếu tố trên tăng hoặc giảm. Vì thế, nếu Nhà nước có ý định tăng Thuế suất thuế GTGT (t) thì về lý thuyết giá cả tiêu dùng sẽ tăng là điều có lẽ không có gì phải bàn cãi.

     

    Với đề xuất của Bộ Tài chính sẽ tăng thuế suất thuế GTGT thêm 1 đến 2%, xin được bàn luận thêm một số khía cạnh sau.

     

    Thứ nhất, Tác động đến tăng giá cả hàng hóa.

     

    Như trên đã chỉ ra, việc tăng thuế suất thuế GTGT (và cả với các loại thuế gián thu khác được cộng vào giá cả hàng hóa) thì về lý thuyết đều làm tăng giá cả hàng hóa. Tuy vậy, ở đây thuế suất chỉ điều chỉnh tăng thêm 1 đến 2%, thì giá chỉ tăng thêm một phần, 1 đến 2% của phần GTGT. Theo con số thống kê, GTGT chiếm trong giá tiêu dùng của nền kinh tế bình quân 10%, thì khi tăng thuế suất như dự định, mặt bằng giá chỉ có thể tăng thêm 0,1 đến 0,2% mà thôi. Tuy nhiên, tác động đến giá cả còn do rất nhiều yếu tố khác nhau, như do cung – cầu, cạnh tranh, tâm lý tiêu dùng…

     

    Thứ hai, Cơ sở để đề xuất tăng thuế suất.

     

    Bản Đề án có đưa ra các căn cứ để đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT dựa trên một số yếu tố, gồm

     

    – Mặt bằng thuế suất của nhiều nước trên thế

    giới đều cao hơn nhiều so với thuế suất hiện tại của Việt Nam. Thuế suất thuế GTGT của Việt Nam hiện có 3 mức là 0%, 5% và 10%; trong đó, diện chịu mức thuế 10% là phổ biến nhất. Trong khi đó nhiều nước, thuế suất bình quân là 15 đến 20%, thậm chí cao hơn. Tuy vậy, qua báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) thì các nước có thuế suất cao chủ yếu là thuộc EU, Trung Quốc và một số quốc gia khác. Còn ở Châu Á nói

     

    chung, ASEAN nói riêng, trừ Myanmar, còn lại đều có thuế suất trung bình 10% trở xuống (Nhật Bản 8%, Hàn Quốc 10%, Singapore 7%, Malaysia 6%, Thái Lan 7%, sẽ là 10% từ 10/2018, Idonesia, Lào, Căm pu chia đều 10%). Vậy, Việt Nam hiện tại có thuế suất trung bình gần 10% là khá phù hợp với mặt bằng chung của khu vực.

     

    • Tỷ lệ thu thuế GTGT trong tổng thu NSNN của Việt Nam tương đối thấp. Qua số liệu báo cáo của Bộ Tài chính (và cũng đã được kiểm toán bởi KTNN), thuế GTGT trong tổng thu NSNN về thuế từ năm 2009 đến năm 2012 lần lượt là 21,25%, 24,38%, 27,55%, 27,28%, 26,08% (Theo Báo cáo của Bộ Tài chính kèm theo Tờ trình Chính phủ số 06/TTr-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2013); trong các năm từ 2013 đến 2016, tỷ lệ đó dao động từ 26 đến 27%. Như vậy, nếu tổng thu NSNN của Việt Nam bình quân 20 đến 21% GDP, thì phần thu từ thuế GTGT tương ứng 5 đến 5,5% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ này của các nước thuộc EU trung bình là 7%GDP, của Trung Quốc là 7,36% GDP (Theo báo cáo của WB). Đối với các nước thuộc ASEAN, mặc dù hiện chưa có báo cáo thống kê chính thức, nhưng số thuế GTGT cũng chỉ chiếm trên dưới 5% GDP. Từ đó cho thấy, so với EU và Trung Quốc, tỷ lệ huy động GDP vào NSNN qua thuế GTGT của Việt Nam là tương đối thấp, nhưng so với khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ này không thấp, thậm chí theo
    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    một số chuyên gia thì lại vào loại cao nhất khu vực.

     

    Theo chúng tôi, việc thu thuế GTGT là cao hay thấp, có lẽ cần so sánh với một yếu tố khác nữa không kém phần quan trọng. Đó là quy mô của các khoản chi NSNN có nguồn gốc từ thuế GTGT, hay nói cách khác, thu thuế GTGT là để thu hồi các chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra cho các hoạt động đó.

     

    Hiện nay, theo Luật NSNN 2015 mặc dù quy định, các khoản thu NSNN về thuế, phí, lệ phí… không gắn với các nhiệm vụ chi cụ thể (Điều 7), nhưng như đã phân tích ở trên về bản chất kinh tế của thuế GTGT, thì đây là khoản thu hồi những chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra để sản xuất, cung cấp các HHCC thuần túy vô hình cho xã hội, tức là các khoản chi cho quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước. (Thực chất một vài thuế khác cũng có bản chất kinh tế tương tự như thuế này, như Thuế Thu nhập cá nhân, Thuế Thu nhập doanh nghiệp…, nhưng có lẽ thuế GTGT là điển hình nhất). Số chi NSNN cho quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước hàng năm đều được thể hiện khá cụ thể và Bộ Tài chính có thể thống kê tổng hợp chúng khá dễ dàng. Vậy hiện nay số chi này là bao nhiêu về số tuyệt đối và tương ứng bằng bao nhiêu trong Tổng chi NSNN? Là bao nhiêu %GDP? So với số thu từ

     

     

     

     

    thuế GTGT hàng năm là nhiều hơn hay ít hơn. Trường hợp thu từ thuế GTGT ít hơn các khoản chi này thì đây là một căn cứ để đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT.

     

    Tuy vậy, theo chúng tôi, đất nước ta đang trong thời kỳ có lẽ là thanh bình nhất, các nguy cơ chiến tranh có thể nổ ra có thể nói là rất thấp, thậm chí bằng 0. Chúng ta lại chủ trương thực hiện một nền quốc phòng toàn dân, không thực hiện chạy đua vũ trang… Nên đây là giai đoạn hoàn toàn có thể giảm thấp chi tiêu cho quốc phòng về con số tương đối. Các chi tiêu khác về an ninh, quản lý nhà nước cũng có nhiều cơ hội, điều kiện để tiết giảm. Vậy nếu những khoản chi này hàng năm vượt quá 5% GDP của quốc gia (khoảng 20% tổng chi NSNN) là chưa hợp lý. Vì thế, đây có lẽ không phải là áp lực lớn để chúng ta tăng thuế suất thuế GTGT.

     

    Ngoài ra, với đề xuất mở rộng diện đối tượng chịu thuế GTGT, vẫn giữ 3 mức thuế suất như hiện tại, theo chúng tôi cơ bản là hợp lý, nhưng cũng cần tính toán, cân nhắc thêm.

     

    Về mở rộng diện chịu thuế. Theo lý thuyết, bất cứ Nhà sản xuất nào trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa đều được thụ hưởng những

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  17

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

    HHCC thuần túy, vô hình do Nhà nước cung cấp, nhưng chưa hề trả chi phí thụ hưởng này trong bất cứ khoản mục nào của giá bán, thì phải cộng thêm khoản thuế GTGT vào giá bán cuối cùng cho Người tiêu dùng để giúp Nhà nước thu hồi các chi phí đã bỏ ra là hoàn toàn hợp lý. Vì thế, về lý thuyết, trong giá bán cho Người tiêu dùng của mọi hàng hóa, dịch vụ nào đều phải có phần thuế GTGT trả cho Nhà nước (Người sản xuất thu hộ thuế để trả cho Nhà nước). Tuy vậy, bất cứ một sắc thuế nào cũng thường có khá nhiều chức năng. Thông thường, bên cạnh chức năng Tài khóa (Tạo thu nhập cho NSNN), chúng còn có các chức năng khác, như chức năng Bảo hộ sản xuất trong nước; chức năng Điều tiết thu nhập; chức năng Khuyến khích, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng… Do đó, có thể có những sản phẩm hàng hóa thuộc diện chịu thuế, nhưng cần phải bảo hộ, hay khuyến khích sản xuất… Nhà nước có thể chưa thu thuế bằng cách áp dụng mức thuế suất bằng 0% là rất cần thiết.

     

    Giữ nguyên 3 mức thuế suất, trong đó có mức thuế 0%. Đây là điều có thể cần phải tính toán, cân nhắc thêm. Nếu cứ giữ 3 mức thuế suất và tăng thêm 1 đến 2% cho mỗi mức thuế suất theo chúng tôi chưa hẳn đã là phương án hay. Vì cách này dễ gây ra tâm lý trong xã hội là Nhà nước thuế! Phải chăng, có thể nghiên cứu chọn thêm những hướng khác. Như (i) Có thể quy định bổ sung thêm một mức thuế suất 15% cho một số mặt hàng cần phải chịu mức thuế suất cao; (ii) Điều chỉnh một số mặt hàng đang từ thuế suất 0% sang mức 5%, đang từ 5% sang 10%… chẳng hạn. Bên cạnh đó, việc áp thuế suất cho các mặt hàng cũng cần lưu ý đến nhiều yếu tố, như:

     

    • Những sản phẩm hàng hóa thiết yếu đối với đời sống, sản xuất… cần áp dụng mức thuế suất thấp, thậm chí tạm miễn thuế theo mức thuế suất 0%;
    • Những sản phẩm hàng hóa cần bảo hộ thì áp mức thuế suất cao. Ngược lại, các sản phẩm cần khuyến khích xuất khẩu thì áp mức thuế suất thấp, thậm chí với thuế suất bằng 0%;
    • Những sản phẩm không thật thiết yếu, có

    nhiều mặt hàng thay thế, độ co dãn của cầu lớn…, có thể áp dụng mức thuế suất cao…

     

    Nếu làm như vậy sẽ góp phần phát huy đầy đủ hơn các chức năng của thuế GTGT và sử dụng chúng một cách uyển chuyển, hiệu quả trong tay Nhà nước.

     

    Kết luận

     

    Thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay xét cả về thuế suất, số thu cũng như tỷ trọng trên GDP của nền kinh tế so với các nước EU, Trung Quốc… là tương đối thấp, nhưng so với các nước ASEAN và một số nước Châu Á khác là không thấp, thậm chí còn tương đối cao. Số thu thuế GTGT hàng năm của chúng ta chiếm khoảng 25 đến 27% tổng thu NSNN, tương đương 5 đến 5,5% GDP, có thể trang trải đủ các nhiệm vụ chi về quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước. Việc đề xuất tăng thuế suất thêm 1 đến 2% trên thực tế có thể mang lại một khoản thu không đáng kể, nhưng rất có thể tạo ra những tác động mạnh về tâm lý xã hội và bất ổn định về kinh tế vĩ mô, nên rất cần phải được tính toán thận trọng và tốt nhất nên theo hướng giữ ổn định trong giai đoạn này. Ngược lại, mở rộng diện chịu thuế, có thể thiết kế thêm một mức thuế suất 15%, vẫn giữ mức thuế suất 0%, linh hoạt điều chỉnh các mặt hàng chịu những mức thuế suất phù hợp với điều kiện cụ thể… Đồng thời, tích cực áp dụng các biện pháp khác để chống thất thu thuế GTGT thì không cần tăng thuế suất, chúng ta vẫn có thể tăng được số thu từ sắc thuế này như mong muốn.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Kinh tế học công cộng, Joseph Siglitz, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, 1994;

     

    1. Báo cáo của Bộ Tài chính kèm theo Tờ trình Chính phủ số 06/TTr-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2013;

     

    1. Báo cáo của Bộ Tài chính về Kinh nghiệm cải cách chính sách thuế trên thế giới – 2017;

     

    1. Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Tài chính và một số tài liệu khác.

     

     

    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-t%C3%A1i-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-ng%C3%A0nh-kinh-t%E1%BA%BF-%C4%91%E1%BA%BFn-chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-v%C3%A0-t%C4%83ng-n%C4%83ng-su%E1%BA%A5t-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của . . .

     

    Kinh tế – Xã hội

    TÁC ĐỘNG CỦA TÁI CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

     

    ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG,

     

    TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

     

    Nguyễn Quốc Tế (*)

     

    Nguyễn Thị Đông (**)

     

    TÓM TẮT

     

    Mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua và cho đến nay chủ yếu vẫn là tăng trưởng theo số lượng và phát triển theo chiều rộng, có nghĩa là tăng trưởng nhờ vào vốn đầu tư và số lượng lao động. Việc tăng trưởng theo chất lượng, phát triển theo chiều sâu dựa vào năng suất lao động chưa nhiều. Tái cơ cấu ngành kinh tế sẽ tác động đến dịch chuyển lao động từ các ngành, nhóm ngành có năng suất lao động thấp sang ngành, nhóm ngành có năng suất lao động cao, từ đó đáp ứng được chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực canh tranh của nền kinh tế.

     

    Nghiên cứu của bài viết sử dụng phương pháp vector để phân tích “góc chuyển dịch” của cơ cấu ngành kinh tế tác động đến cơ cấu lao động của các ngành, đồng thời tác giả sử dụng phương pháp hệ số co dãn để tính toán hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh đến dịch chuyển cơ cấu lao động, tăng năng suất lao động của Việt nam trong thời gian qua.

     

    Từ khoá: Tái cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng năng suất lao động

     

    THE EFFECT OF THE ECONOMY RECONSTRUCTION TO THE MOVEMENT OF THE LABOR FORCE AND THE LABOR PRODUCTIVITY GROWTH

     

    ABSTRACT

     

    So far, Vietnamese model of economic development has been mainly developed in quantity and grown by width. It means the development bases on investment and the labor force. Qualitative growth as well as deep development have not been achieved much. Economic reconstruction would affect the labor force from all areas or low productivity sectors and move them to high ones, as a result would meet the demand of converting economic development models to increase the labor productivity growth and competitive likeability of the economy.

     

    • TS. Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh ** ThS. GV Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên

     

     

    3

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    This research uses vector method to analyze the “triangle shift “of the economic structure toward the labor force in all areas. At the same time, the author also uses “elasticity method” to estimate the effect of movement of economic sectors to the movement of the labor force structure, increase productivity of the labor force in Vietnam for the past few years.

     

    Key words: economic sectors, movement of the labor force structure, labor productivity

     

    growth

     

     

    Đặt vấn đề

     

    Chuyển dịch cơ cấu lao động để tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế là một vấn đề nghiên cứu đã được các nhà khoa học quan tâm trong các giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy vậy, đánh giá đúng vai trò, thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn luôn là một trong những đề tài hấp dẫn từ nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau. Bài viết phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành dưới góc độ của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Hai yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, chuyển dịch cơ cấu kinh tế định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Nhưng để cơ cấu kinh tế chuyển dịch thành công nhất thiết phải có sự chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp, vì một cơ cấu lao động không phù hợp sẽ làm nảy sinh các vấn đề tiêu cực như thất nghiệp, khoảng cách giàu nghèo, mất cân đối, mất bình đẳng trong xã hội.

     

    1.   Tái cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động

     

    Cơ cấu ngành kinh tế được hiểu là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Xuất phát từ yêu cầu phát triển, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi cơ cấu của ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn

    thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung, 2011).

     

    Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn với sự phát triển kinh tế. Mặt khác, nhịp độ phát triển và tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế.

     

    Tái cơ cấu ngành kinh tế sẽ kéo theo cơ cấu lao động thay đổi, lao động được phân bổ và ngành, vùng sẽ khác nhau. Ở các nước đang phát triển, khi tiến hành CNH, HĐH nhất thiết phải thay đổi cơ cấu kinh tế, trong đó cơ cấu ngành có vị trí quan trọng. Việc đầu tư cho các ngành thuộc khu vực CN, XDCB và DV, TM sẽ dịch chuyển lao động từ các ngành có năng suất lao động thấp như nông, lâm nghiệp-thuỷ sản sang các ngành có năng suất lao động cao như : CN, XDCB và TM-DV. Theo nhà kinh tế Dương Ngọc, trong năm 2012, năng suất lao động của các ngành

     

     

    4

     

    Tác động của . . .

     

    nông, lâm nghiệp – thủy sản thấp xa so với năng suất lao động của toàn nền kinh tế và so với các nhóm ngành khác. Cụ thể: của toàn bộ nền kinh tế là 57,1 triệu VND/người, tương tự ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản là 26 triệu; CN, XDCB là 110,2 triệu và của TM, DV là 68,4 triệu.(Thời báo: Kinh tế 2012-2013 Việt nam và thế giới)

     

    Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình phân bổ, bố trí lao động theo những quy luật, những xu hướng tiến bộ nhằm mục đích sử dụng đầy đủ và có hiệu quả cao các nguồn lực để tăng trưởng và phát triển (Nguyễn Tiệp, 2007). Đây được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng, phản ánh thực nhất mức chuyển biến của nền kinh tế. Ở một số quốc gia vẫn tồn tại hiện tượng lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong khi cơ cấu GDP lại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều. Lý giải vấn đề này, các nhà kinh tế học đã chỉ ra tình trạng méo mó về giá cả, nhất là trong các trường hợp có sự chênh lệch giá giữa sản phẩm công nghiệp và dịch vụ so với sản phẩm nông nghiệp khiến cho cơ cấu GDP giữa các ngành không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Lúc này, vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành được nâng cao, đặc biệt các nhà kinh tế học ở Trung Quốc còn xem đây như là chỉ tiêu quyết định nhất để chỉ ra thực trạng nền kinh tế đang tồn tại ở Trung Quốc đầu thế kỷ 21: (1) Kinh tế nông nghiệp, tạo việc làm cho gần 50% lao động, tương đương với các nước Mỹ, Pháp, Đức năm 1870. (2) Kinh tế công nghiệp, xây dựng, sử dụng 20% lao động đang làm việc.

     

    • Kinh tế dịch vụ, sử dụng 22% lao động.

     

    • Kinh tế tri thức, bao gồm giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật – công nghệ, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, tạo việc làm cho 5% lao động (Hồ An Cương, 2003).

    Tái cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động có mối quan hệ tác động qua lại với nhau: tái cơ cấu ngành kinh tế vừa là tiền đề, cơ sở nhưng đồng thời lại vừa là kết quả có được từ quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động.

     

    Trước hết, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch theo sự chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế, phục vụ và đáp ứng các yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò là đầu tàu, định hướng và dẫn dắt quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động. Fisher đã phân tích, theo xu thế phát triển của khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ có khả năng thay thế lao động nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao năng suất lao động. Kết quả là để đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho xã hội thì không cần đến một lực lượng lao động như cũ nên tỷ lệ lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần trong cơ cấu ngành kinh tế. Trong khi đó ngành công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế hơn nông nghiệp do tính chất phức tạp hơn của việc sử dụng công nghệ kỹ thuật mới, đồng thời sản phẩm công nghiệp thường có độ co giãn của cầu tiêu dùng là lớn hơn 0, vì vậy theo sự phát triển của kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp có xu hướng tăng lên. Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra nó, rào cản cho sự thay thế kỹ thuật này rất cao, trong khi đó độ co giãn của nhu cầu sản phẩm dịch vụ khi nền kinh tế ở trình độ phát triển cao là lớn hơn 1, do đó tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng nhanh và ngày càng tăng khi nền kinh tế càng phát triển (Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung, 2011)

     

     

    5

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Như vậy, trong nghiên cứu của Fisher, một ngành phát triển sẽ kéo theo nhu cầu về lao động của ngành đó tăng lên, khẳng định rằng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một định hướng cho chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, nếu cơ cấu lao động được chuyển dịch thuận lợi, nó lại tạo điều kiện cho cơ cấu kinh tế phát triển và thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn. Nhà kinh tế học A. Lewis cho rằng nếu như lao động ở khu vực nông nghiệp với năng suất thấp dịch chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ với năng suất cao hơn sẽ làm tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế, đồng nghĩa với việc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh (E. Wayne Nafziger, 1998).

     

    2.   Lượng hóa tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam bằng phương pháp vector và hệ số co giãn

     

    2.1 Phuơng pháp tính toán

     

    Phương pháp vector (hay hệ số Cos) do các chuyên gia ngân hàng thế giới đề xuất được dùng để đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu giữa các thời kỳ (Công Văn Dị, 2008). Nghiên cứu này sử dụng phương pháp vector để tính góc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và góc chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành.

     

    Theo đó ta có thể tính toán như sau:

     

    y Hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành:

     

    /

    N

           

    CODESM {O =

    I =1 B I ( T0 ), B I (T1)

    ( 1 )

    / N

     

    B 2I

    ( T0 ), /N

    B2I (T1)

     

    I = 1

     

    I =1

       

    Trong đó:

     

    –  βI(t0) là tỷ trọng giá trị sản lượng của

     

    ngành i trong GDP tại thời điểm t0

     

    –  βI(t1) là tỷ trọng giá trị sản lượng của

     

    ngành i trong GDP tại thời điểm t1

     

    • là góc hợp bởi hai vector cơ cấu βI(t0) và

    βI(t1). Khi cosφ = 1 thì góc giữa hai vector này bằng 00, điều đó có nghĩa là hai cơ cấu đồng nhất; còn khi cosφ = 0 thì góc giữa hai vector này bằng 900 thể hiện các vector cơ cấu là trực giao với nhau. Như vậy, cosφ càng lớn bao nhiêu thì các cơ cấu càng gần nhau bấy nhiêu và ngược lại, nên giá trị của φ sẽ nằm trong đoạn 0o φ ≤ 900 , với φ = 00 thì không có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế; và φ = 900 thì cơ cấu kinh tế dịch chuyển hoàn toàn.

     

    Từ đó suy ra tỷ lệ chuyển dịch k của cơ cấu kinh tế ngành sẽ là:

    {

    LDE=M O90 * 100 (2)

     

    Công thức tính tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu theo ngành này cũng được áp dụng để đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ hoặc theo thành phần kinh tế, lúc đó tỷ trọng ngành i (βI) sẽ được thay bằng tỷ trọng vùng i hay tỷ trọng thành phần kinh tế i.

     

    • Hệ số chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành:
     

    /

    N

    SI (T0 ) .SI (T1)

       

    COS A =

    I =1

     

    (3 )

    /N

    S I2

    (T0 ), /N

    S I2

     

    D E M  O

    (T1)

     

    I =1

     

    I =1

         

    Trong đó:

     

    SI(t0) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng lao động đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm t0

    –  SI(t1) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng lao động đang làm việc

     

    trong nền kinh tế tại thời điểm t1 Tương tự như công thức tính mức độ

    chuyển dịch cơ cấu kinh tế, α cũng là góc hợp bởi hai vector cơ cấu SI(t0) và SI(t1). Do đó, tỷ lệ chuyển dịch l của cơ cấu lao động theo ngành sẽ là:

     

    LD =EM

    A

    * 100 (4)

    O

    90

     

    6

     

    Tác động của . . .

     

    Kết hợp tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo ngành để đánh giá hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động thông qua các hệ số co giãn sau:

    • LK = LK (5 )
    • LK là hệ số co giãn của chuyển dịch cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đo lường độ nhạy cảm của chuyển dịch việc làm khi cơ cấu kinh tế chuyển dịch 1%. Nếu hệ số này dương, có nghĩa chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động thuận chiều đến chuyển dịch việc làm, kết

    quả của chuyển dịch là phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trường hợp ngược lại, nền kinh tế có thể bị rơi vào tình trạng tăng truởng âm, do cơ cấu kinh tế chuyển dịch không phù hợp.

     

    2.2 Kết quả tính toán

     

    Ứng dụng phương pháp vector và hệ số co giãn trình bày ở trên, sử dụng bộ số liệu thống kê của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cùng số liệu thống kê Việt Nam để tính tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đến tạo việc làm trong nền kinh tế giai đoạn 1994 – 2012, kết quả có được như sau:

     

     

    Bảng 1: Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hệ số cosφ

     

    Thời gian

    Mức độ

    hệ số cosφ

    Độ chuyển

    Tỷ lệ chuyển dịch cơ

     

    chuyển dịch

     

    dịch φ (độ)

    cấu kinh tế k (%)

     

    NN – CN

    0.992523

    4.206591

    4.67399

    1994 – 1997

    CN – DV

    0.997999

    2.175326

    2.417029

     

    CHUNG

    0.996428

    2.906371

    3.229301

     

    NN – CN

    0.998441

    1.919746

    2.133052

    1997 – 2000

    CN – DV

    0.998096

    2.121802

    2.357558

     

    CHUNG

    0.998281

    2.016091

    2.240101

     

    NN – CN

    0.994654

    3.556169

    3.951299

    2000 – 2004

    CN – DV

    0.997869

    2.244516

    2.493906

     

    CHUNG

    0.996547

    2.857598

    3.175109

     

    NN – CN

    0.996921

    2.698422

    2.998246

    2004 -2008

    CN – DV

    0.999783

    0.716462

    0.796069

     

    CHUNG

    0.998306

    2.001152

    2.223502

     

    NN – CN

    0.999492

    1.095982

    1.217758

    2008 – 2012

    CN – DV

    0.999906

    0.470415

    0.522684

     

    CHUNG

    0.999524

    1.060308

    1.178121

     

    NN – CN

    0.924136

    13.47691

    14.97434

    1994 – 2012

    CN – DV

    0.980571

    6.787691

    7.541879

     

    CHUNG

    0.959838

    9.775995

    10.86222

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    7

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Nghiên cứu này phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo 5 giai đoạn của thời gian, dựa vào những biến động về mặt kinh tế – xã hội trong nước và trên thế giới.

     

    Giai đoạn 1994 – 1997 được coi là giai đoạn phát triển thành công của Việt Nam bởi cả về quyết định chuyển sang kinh tế thị trường và đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát, tạo nên sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mạnh nhất cho đến nay, với góc chuyển dịch cơ cấu chung là 2,90, đạt 3,23%. Mức chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp cũng đạt cao nhất ở thời kỳ này (4,67%).

     

    Sự kiện khủng hoảng tài chính châu Á bùng nổ vào năm 1997 đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam ở giai đoạn tiếp theo (1997

     

    – 2000), khiến tăng trưởng GDP đang ở mức 9,3% năm 1996 đã bị kéo tuột xuống mức 5,8% vào năm 1998 và năm 1999 là 4,8%. GDP sụt giảm là nguyên nhân khiến cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chạp ở mức 2,24% với góc chuyển dịch là 20.

     

    Sau khủng hoảng, đã có những chuyển biến thực sự về tư duy kinh tế với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2000 và hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ được ký kết vào năm 2001, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2004 đã tăng trưởng ổn định ở mức bình quân 7,1%/năm, cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp dịch chuyển 3,9%, công nghiệp

     

    – dịch vụ 2,5%, mức dịch chuyển chung của nền kinh tế đạt 3,18%. Nhìn nhận đà tăng trưởng này, các nhà kinh tế dự đoán Việt Nam có thể trở thành “con hổ” kinh tế trong tương lai gần. Tuy nhiên, xét về nội lực của sự phát triển, Việt Nam đã chậm phát triển về chiều sâu tạo nên sức cạnh tranh kinh tế yếu, cộng với tình trạng lãng phí thất thoát vốn và tài sản công diễn ra nghiêm trọng, Việt Nam bắt

    đầu đối diện với nỗi lo về sự bất ổn vĩ mô được biểu hiện thông qua dấu hiệu lạm phát có xu hướng tăng dần: 9,5% cho năm 2004 đến 12,63% của năm 2007 và 19,89% vào năm 2008 (Tổng cục Thống kê, 2013). Sự bất ổn này đã bộc lộ rõ hơn khi nền kinh tế tài chính Mỹ lâm vào khủng hoảng, ảnh hưởng xấu đến cả xuất khẩu và đầu tư của Việt Nam khiến tốc độ tăng GDP Việt Nam 2008 chỉ đạt xấp xỉ 6,23%, kéo theo đó là chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang dịch vụ giai đoạn 2004

     

    – 2008 chỉ còn ở mức 0,79% và đạt 2,22% tính cho toàn bộ quá trình chuyển dịch.

     

    Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lạm phát cao và tăng trưởng thấp. Tốc độ tăng trưởng GDP 2009 tụt xuống còn 5,32% và năm 2012 là 5,03%, thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phản ánh đúng thực trạng của quá trình tăng trưởng, số liệu tính toán cũng cho thấy giai đoạn này có độ chuyển dịch nhỏ nhất trong tất cả các kỳ nghiên cứu, với góc chuyển dịch là 1,060, đạt 1,18%.

     

    Như vậy, kinh tế Việt Nam trong gần

     

    20 năm qua tuy có rất nhiều biến động nhưng nhìn chung cơ cấu kinh tế ngành vẫn có chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ với mức chuyển dịch chung là 10,86%, trong đó nông nghiệp – công nghiệp dịch chuyển gần 15% và công nghiệp – dịch vụ dịch chuyển hơn 7,5%. Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Số lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Sự thay đổi này được thể hiện trong bảng 2.

     

     

    8

     

             

    Tác động của . . .

                 
     

    Bảng 2: Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành theo hệ số cosα

                 
     

    Thời gian

    Mức độ

    hệ số cosα

    Độ chuyển

    Tỷ lệ chuyển dịch cơ

     
       

    chuyển dịch

     

    dịch α (độ)

    cấu lao động l (%)

     
       

    NN – CN

    0.999989

    0.161436

    0.179373

     
     

    1994 – 1997

    CN – DV

    0.999875

    0.542763

    0.60307

     
       

    CHUNG

    0.999988

    0.167365

    0.185961

     
       

    NN – CN

    0.999599

    0.973876

    1.082085

     
     

    1997 – 2000

    CN – DV

    0.999565

    1.013658

    1.126286

     
       

    CHUNG

    0.995915

    3.108553

    3.453947

     
       

    NN – CN

    0.991514

    4.481724

    4.979693

     
     

    2000 – 2004

    CN – DV

    0.967427

    8.798447

    9.776052

     
       

    CHUNG

    0.992607

    4.182763

    4.647515

     
       

    NN – CN

    0.997688

    2.338342

    2.598158

     
     

    2004 -2008

    CN – DV

    0.999416

    1.17528

    1.305867

     
       

    CHUNG

    0.992778

    4.134218

    4.593576

     
       

    NN – CN

    0.997951

    2.201163

    2.445737

     
     

    2008 – 2012

    CN – DV

    0.999964

    0.290161

    0.322401

     
       

    CHUNG

    0.995651

    3.207156

    3.563507

     
       

    NN – CN

    0.956674

    10.15654

    11.28505

     
     

    1994 – 2012

    CN – DV

    0.980144

    6.862111

    7.624568

     
       

    CHUNG

    0.931898

    12.76044

    14.17826

     

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    Tính toán ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang công nghiệp qua các giai đoạn có chịu ảnh hưởng của quá trình tăng trưởng kinh tế. Riêng giai đoạn 1994 – 1997, trong khi tăng trưởng kinh tế ở mức cao thì sự chuyển dịch còn diễn ra chậm chạp, chỉ đạt gần 0,18%, sự chậm chạp này đánh giá đúng thực trạng của một nền nông nghiệp truyền thống, nơi mà người nông dân đã trải qua bao đời trên đồng ruộng, luôn có tư tưởng “bám đất, bám làng” và tự bằng lòng với những gì mà thiên nhiên ban tặng, cho nên việc chấp nhận thay đổi nghề nghiệp đối với người nông dân không thể diễn ra nhanh được. Chỉ sau khi họ nhìn thấy sự chênh lệch về mức

     

    sống giữa lao động công nghiệp và lao động nông nghiệp ngày càng tăng cao, thì lao động lúc này mới chuyển dịch mạnh mẽ: nếu giai đoạn 1997 – 2000 chỉ mới ở ngưỡng 1,08% thì giai đoạn tiếp theo sau (2000 – 2004) đã tăng lên thành 4,98%. Những năm 2006 đến nay, kinh tế tăng trưởng chậm lại khiến quá trình chuyển dịch cũng giảm theo. Bên cạnh đó, số liệu tính toán ở bảng 1 và bảng 2 cũng chứng minh rằng cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ có mối tương quan rất chặt chẽ với cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ theo hướng thuận chiều, chứng tỏ giữa lao động công nghiệp và lao động dịch vụ có sự tương đồng về tính chất, trình độ, kỹ năng, nên một sự thay đổi về cơ

     

     

    9

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    cấu kinh tế giữa hai khu vực này sẽ dễ dàng dẫn đến thay đổi về cơ cấu lao động.

     

    Xem xét tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành cho thấy cả hai sự chuyển dịch này đều có tương quan chặt chẽ với nhau, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì chưa thể đánh giá

     

    được mức hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự thay đổi về cơ cấu lao động. Do đó, để định lượng một cách cụ thể mối quan hệ này, nghiên cứu sử dụng hệ số co giãn của cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Kết quả tính toán được biểu diễn ở hình 1.

     

     

     

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    Hệ số co giãn của cơ cấu lao động phản ánh sự thay đổi về tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ứng với mỗi phần trăm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Hệ số co giãn càng cao thể hiện khả năng chuyển dịch cơ cấu lao động càng cao, chứng tỏ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tạo thêm được nhiều việc làm hơn cho người lao động.

     

    Hệ số co giãn của cơ cấu lao động nông nghiệp – công nghiệp qua các giai đoạn chuyển biến theo xu hướng tích cực mặc dù kinh tế có lúc tăng trưởng chậm. Sự chuyển biến tích cực này chứa đựng tín hiệu đáng mừng về trình độ của người lao động thuộc khu vực nông thôn rằng họ đã có sự chuẩn bị tốt về các kỹ năng cần thiết để có thể kịp thời đáp ứng được việc làm ở khu vực công nghiệp. Ngược lại với sự tăng lên này theo thời gian, thì hệ số co giãn cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ biến thiên rất lớn qua các giai đoạn. Trong giai đoạn 2004 – 2008, nếu cơ cấu kinh tế hai ngành này chuyển dịch 1% sẽ kéo theo cơ cấu lao động

     

    dịch chuyển đến hơn 5,4%, thì đến giai đoạn 2008 – 2012 hệ số co giãn chỉ còn lại gần 0,62. Như đã phân tích ở trên, lao động công nghiệp và dịch vụ có nhiều tính chất giống nhau, nhưng mức lương trung bình ở khu vực dịch vụ cao hơn so với khu vực công nghiệp, nên một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ sẽ mở ra nhiều hy vọng cho những lao động công nghiệp muốn chuyển đổi ngành nghề. Mặt khác, giai đoạn 2008 – 2012 là giai đoạn kinh tế thế giới khủng hoảng, và ngành dịch vụ lại chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng này, thất nghiệp tăng cao khiến người lao động e ngại chuyển đổi công việc, đây cũng có thể là nguyên nhân làm hệ số co giãn cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ trở nên thấp. Như vậy, trong 19 năm qua, cứ trung bình 1,31% cơ cấu lao động dịch chuyển khi cơ cấu kinh tế ngành dịch chuyển 1%. Tính chung trong toàn bộ các ngành, chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra nhanh hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

     

     

    10

     

    Tác động của . . .

     

    1. Khuyến nghị chính sách và giải pháp. sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế, cho thấy

    Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động

    sự chuyển dịch này đã giải quyết được nhiều

    luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tái cơ

    việc làm hơn, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp

    cấu ngành kinh tế thay đổi kéo theo sự thay

    trong tổng số lao động xã hội, tạo điều kiện

    đổi của cơ cấu lao động. Nghiên cứu chỉ ra

    thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện

    sự thay đổi cơ cấu lao động cao hơn so với

    đại hóa đất nước.

    Bảng 3: Hệ số co giãn cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số nước khu vực Châu Á.

         

    CDCC

    CDCC lao

    Hệ số

    Nền kinh tế

    Giai đoạn

     

    động ngành

     
         

    kinh tế ngành

     

    co giãn

    Việt Nam

    1994

    – 2012

    10.86222

    14.23328

    1.310348

    Thái Lan

    1994

    -2010

    3.42654

    10.35742

    3.022707

    Indonesia

    1994

    – 2011

    4.90006

    6.81190

    1.390166

    Trung Quốc

    1994

    – 2010

    8.08365

    13.5034

    1.670464

    Hàn Quốc

    1994

    – 2011

    1.15170

    5.58004

    4.845033

    Nguồn: tính toán từ số liệu thống kê ADB cho các nước Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Hàn Quốc.

     

     

    Nếu so sánh với một số nước thuộc khu vực châu Á theo từng yếu tố chuyển dịch cơ cấu như bảng 3, nhận thấy Việt Nam là quốc gia có tốc độ dịch chuyển cả về cơ cấu kinh tế lẫn cơ cấu lao động mạnh mẽ nhất trong gần 20 năm qua, điều này vừa chứng tỏ kinh tế Việt Nam đang thực sự khơi dậy và phát huy được những nguồn lực còn tiềm tàng trong xã hội, vừa thể hiện đây là quốc gia mới bước vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tốc độ dịch chuyển thường rất nhanh. Tuy nhiên, hệ số co giãn ở cột cuối cùng của bảng 3 mới là yếu tố được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu, thì tính toán lại chỉ ra rằng Việt Nam là nước có mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đạt thấp nhất: bằng 0,94 lần so với Indonesia, 0,78 lần so với Trung Quốc, 0,43 lần so với Thái Lan và 0,27 lần

     

    so với Hàn Quốc. Cơ cấu lao động chậm chuyển dịch là dấu hiệu của một quốc gia có quá nhiều lao động trình độ thấp. Theo kết quả khảo sát “Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam” do Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) phối hợp với tập đoàn Manpower tiến hành tại 6.000 doanh nghiệp thuộc 9 lĩnh vực kinh tế tại 9 tỉnh, thành phố ở Việt Nam, các doanh nghiệp đánh giá chất lượng lao động Việt Nam nằm trong nhóm 10% thấp nhất của khu vực. Trong tổng số các doanh nghiệp tham gia khảo sát, có đến 1/4 doanh nghiệp cho rằng lao động Việt Nam thiếu hiểu biết về công nghệ và khả năng sáng tạo; 1/5 nhận xét lao động Việt Nam thiếu khả năng thích nghi với công nghệ mới; 1/3 doanh nghiệp không tìm được lao động có kỹ năng mà họ cần; và 2/5 giám đốc điều hành gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động (Dũng Hiếu, 2012). Do đó, để

     

     

    11

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    đáp ứng được nhu cầu nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các ngành công nghiệp hiện đại, Việt Nam nên tập trung vào việc đổi mới nhanh chóng hệ thống giáo dục theo hướng phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo; bồi dưỡng tác phong công nghiệp, tăng tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần hợp tác, tính tự trọng, lòng tin, tính cộng đồng, lương tâm và trách nhiệm công dân. Cần phải xác định đây là việc làm rất khó khăn, không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, song nhất thiết phải thực hiện và cần phải thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, bền bỉ, kiên trì, sâu rộng ngay từ trong giáo dục mầm non, tiểu học đến cả trung học phổ thông, đại học sao cho những đức tính đó ngấm dần một cách tự nhiên và trở thành thói quen tự giác của mọi người. Không những thế, Việt Nam còn cần có chiến lược và tư duy đúng đắn về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới toàn cầu hóa trên cơ sở xây dựng và điều chỉnh các chính sách hướng nghiệp, dạy nghề; chính sách dự báo nhu cầu lao động và cân đối lao động theo ngành nghề, cấp trình độ; chính sách thu hút các thành phần kinh tế tích cực tham gia vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước; chính sách chi ngân sách đào tạo nguồn nhân lực; chính sách bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho nhân dân lao động…

     

    Ngoài ra, như đã đề cập, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Vậy nên cơ cấu lao động chậm chuyển dịch cũng được giải thích bởi nguyên nhân từ phía cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch chưa phù hợp với tiềm năng vốn có của đất nước. Nhìn nhận lại thời gian qua, để đạt được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, nhiều ngành công nghiệp như: sản xuất

    • tô, sắt thép, đóng tàu… đã được đầu tư hay trợ cấp thông qua ưu đãi thuế nhiều tỷ đô-la, tuy nhiên chưa có một số liệu thống kê nào chứng tỏ rằng đây là những thế mạnh và hứa hẹn của Việt Nam trong tương lai, bởi việc phát triển những ngành công nghiệp này trong thời gian qua chưa thực sự dựa vào nội lực của đất nước mà còn do những yếu tố khác. Trong khi đó, sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ khai thác thế mạnh của mình, Việt Nam đã là “nước lớn” về xuất khẩu nông sản và các mặt hàng gia dụng như hồ tiêu, gạo, cà phê, chè, cao su, thủy sản, dệt may, da giày và đồ gỗ. Hơn thế, đây chính là những ngành giúp giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho phần lớn người dân Việt Nam, thế nhưng các mặt hàng này mới chỉ dừng ở mức sơ chế hoặc gia công, việc đầu tư vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn dường như chưa được chú trọng đúng mức. Do đó cần phải cơ cấu lại các ngành, nghề, sản phẩm theo hướng ưu tiên lựa chọn phát triển các sản phẩm tiếp theo dựa trên những sản phẩm hiện có, nhất là các sản phẩm xuất khẩu nhằm phát huy năng lực sẵn có của quốc gia. Đồng thời, để việc cơ cấu lại ngành nghề, sản phẩm diễn ra thuận lợi, Chính phủ cần thay đổi cơ cấu đầu tư theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất và thu hoạch nông sản, công nghiệp bảo quản sau thu hoạch, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm với trình độ công nghệ cao và sạch nhằm tăng sức cạnh tranh, thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động về địa bàn nông thôn để góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động.

     

    Nói tóm lại, sau hơn 25 năm phát triển kinh tế theo đường lối đổi mới, Việt Nam đã có những chuyển đổi tiến hóa của tư duy mới

     

     

    12

     

    Tác động của . . .

     

    về CNH, HĐH khiến cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động tuy chuyển dịch chậm nhưng đúng hướng, đã thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Do đó, nếu Việt Nam tạo ra được các điều kiện thuận lợi và ứng dụng được các biện pháp cần thiết để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ có đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế thời gian tới. Hai lĩnh vực chính sách có thể tác động để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động là chính sách đào tạo nguồn nhân lực

    và tái cơ cấu ngành kinh tế. Bằng phương pháp vector và hệ số co giãn, qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như tính toán của tác giả đã phản ánh phần nào thực trạng về mối quan hệ giữa tái cơ cấu ngành kinh tế kéo theo sự dịch chuyển của cơ cấu lao động, tăng năng lao động để tăng trưởng và phát triển kinh tế qua thời gian. Song, phương pháp này ít có tính dự báo cho tương lai, do vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ này theo nhiều cách tiếp cận khác.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • ADB (2012), Key indicators for Asia and the Paciic 2012, adb.org/statistics, truy cập ngày 14/03/2013.

     

    • Tổng cục Thống kê (2013), Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 12 so với cùng kỳ năm trước,http://www.gso.gov.vn.
    • Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung (2011), Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
    • Công Văn Dị (2008), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 361, tr40-45.
    • Hồ An Cương (2003), Trung Quốc những chiến lược lớn, NXB Thông Tấn, Hà Nội.

     

    • Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB. Lao động – Xã hội, Hà Nội.

     

    • Wayne Nafziger (1998), Kinh tế học của các nước đang phát triển, NXB Thống Kê, Hà Nội.

     

    • Dũng Hiếu (2012), Năng suất lao động tại Việt Nam thuộc hàng đáy khu vực, vneconomy.vn, truy cập ngày 14/03/2013
    • Thời báo kinh tế Việt Nam (2013), Kinh tế 2012-2013 Việt nam & thế giới.

     

     

     

     

    13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/KINH-T%E1%BA%BE-T%C6%AF-NH%C3%82N-V%C3%99NG-%C4%90%C3%94NG-NAM-B%E1%BB%98-C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-V%C3%80-XU-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-V%E1%BA%ACN-%C4%90%E1%BB%98NG-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-C%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-H%C3%93A-HI%E1%BB%86N-%C4%90%E1%BA%A0I-H%C3%93A-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-2016-%E2%80%93-2020-V%C3%80-T%E1%BA%A6M-NH%C3%8CN-%C4%90%E1%BA%BEN-N%C4%82M-2030.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

     

    PRIVATE ECONOMY IN THE SOUTHEAST REGION: INFLUENTIAL FACTORS AND DEVELOPMENT TREND DURING INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION IN 2016-2020 AND VISION TOWARD 2030

     

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế tư nhân có vai trò quan tṛng, là một bộ phận phát trỉn lâu dài trong th̀i kỳ xây dựng CNXH ở Việt Nam. Bài báo phân t́ch các yếu tố tác động đến sự phát trỉn c̉a kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ trong quá tr̀nh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2016-2020 và tầm nh̀n đến năm 2030. Từ những phân t́ch đó, bài viết chỉ ra xu hứng vận động phát trỉn ch́nh c̉a kinh tế tư nhân trong th̀i gian t́i, đó là: (1) Kinh tế tư nhân sẽ phát trỉn v́i tốc độ nhanh hơn so v́i trức đây, (2) kinh tế tư nhân sẽ tăng quy mô, mở rộng sản xuất h̀nh thành những doanh nghiệp ĺn, những tập đoàn KTTN, (3) kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ sẽ tham gia hội nhập kinh tế thế gíi mạnh hơn nữa trong những năm t́i, và (4) kinh tế tư nhân sẽ có xu hứng phát trỉn lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, vốn, vận tải, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thông tin.

     

    Từ khóa: kinh tế tư nhân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đông Nam Bộ

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) bao gồm 6 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước và Tây Ninh; được đánh giá là vùng kinh tế năng động nhất của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn vùng luôn ở mức rất cao. Đây là khu vực dẫn đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu, vốn đầu tư nước ngoài, đóng

     

    Nguyễn Hữu Trinh (*)

     

    ABSTRACT

     

    The private sector plays an important role, and is a consolidated part of long-term development in the period of building socialism in Vietnam. The paper analyzes the factors affecting the development of the Southeast private economy in the process of industrialization and modernization during the period 2016-2020 with a vision to 2030. From that analysis, article points out development trends of the private economy in the coming period, namely: (1) private economic development will be at a faster rate than before,

     

    • private sector will increase the scale, expand its production in larger scale and form private sector corporations, (3) private sector in Southeast region will integrate more in the world economy in the coming years, and (4) private sector will tend to develop more intensively in the service sector such as tourism, counsulting, legal assistance, capital funds, transport, production support, business information services.

    Keywords: private economy, industrialization, modernization, Southeast region

     

    góp 2/3 ngân sách và tỷ lệ đô thị hóa cao. Trong sự phát triển mạnh mẽ đó, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) vùng ĐNB là một bộ phận kinh tế có những đóng góp rất lớn cho tỷ trọng GDP quốc gia, việc tạo công ăn việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước… nên việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự phát triển của KTTN Vùng và xu hướng vận động của nó là điều hết sức cần thiết.

     

     

    • Trung tâm LLCT, ĐHQG TPHCM, NCS. Trừng Đại Kinh tế Tp. H̀ Ch́ Minh

     

     

    106

     

    Kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ . . .

     

    QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KTTN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (ĐCSVN)

     

    Từ khi đổi mới, KTTN chưa được chính thức coi như một thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Nhưng trong nhận thức, ĐCSVN khẳng định nhất quán lâu dài xây dựng, phát triển kinh tế nhiều thành phần, và đã thừa nhận những yếu tố, bộ phận cấu thành KTTN.

     

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI xác định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng c̉a th̀i kỳ quá độ, Văn kiện viết: “Ở nước ta, các thành phần đó là:

     

    Kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN) bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với các bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với các thành phần đó.

     

    Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác” (ĐCSVN, 2006, tr. 57-58).

     

    Văn kiện Đại hội VII: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước; trong đó, kinh tế cá thể tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức” (ĐCSVN, 1991, tr. 69). Sau đó, trong Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khoá VII tiếp tục khẳng định: Phát triển kinh tế hộ cá thể, tư nhân trong nông nghiệp là một chính sách nhất quán, lâu dài trong thời kỳ quá độ.

     

    Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII viết: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài. Giúp đỡ kinh tế các thể, tiểu

     

    chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước. Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” (ĐCSVN, 1996, tr. 96).

     

    Từ những chủ trương đúng đắn, phù hợp, KTTN càng có bước phát triển mới góp phần phát triển kinh tế đất nước, giải phóng đáng kể lực lượng sản xuất của cả nước, bộ mặt kinh tế

     

    • xã hội ngày càng thay da đổi thịt. Bên cạnh sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, KTTN cũng đóng góp vào tích lũy ngân sách nhà nước. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Kinh tế cá th̉ tỉu ch̉ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng mối quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động” (ĐCSVN, 2001, tr. 98-99). Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Ban chấp hành trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ hai, nhấn mạnh thêm: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng

     

     

    107

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2002, tr. 57).

     

    Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định phát triển KTTN và coi nó là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân. KTTN gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Đảng ta nhấn mạnh về vai trò của KTTN như sau: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế.” (ĐCSVN, 2006, tr. 83). Về mặt thực tiễn KTTN là khu vực kinh tế năng động, hiệu quả năm 2005 chiếm 37,7% GDP của cả nước và hiện nay khu vực này phát triển rất hiệu quả trở thành động lực thúc đấy nền kinh tế phát triển. Trong quan điểm của ĐCSVN tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, khái niệm kinh tế tư nhân được sử dụng dùng để chỉ các bộ phận: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Như vậy, cách sử dụng khái niệm này có sự linh hoạt hơn, đó là KTTN bao hàm cả kinh tế tư bản tư nhân, tạo điều kiện để chúng ta phát triển mở rộng các lực lượng xã hội có điều kiện tham gia phát triển KTTN.

     

    Đến nay, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng tiếp tục khẳng định nhất quán đường lối, chủ trương phát triển KTTN. Đại hội Đảng XI cũng nhận thấy, trong quá trình xây dựng và phát triển KTTN còn gặp phải những khó khăn về vốn, khoa học công nghệ, pháp lý, v.v. cho nên Đảng và Nhà nước sẽ tiếp tục hỗ trợ cho KTTN phát triển tốt hơn nữa trong giai đoạn phát triển kế tiếp. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI viết: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KTTN trở thành một trong những động lực mạnh của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình KTTN ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện để hình thành một số tập đoàn KTTN và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” (ĐCSVN,

     

    2011, tr. 209) . Theo đó, KTTN sẽ ngày càng có điều kiện phát triển cùng các thành phần kinh tế khác, KTTN được khuyến khích phát triển thành các tập đoàn kinh tế lớn trên các lĩnh vực, các ngành, có điều kiện nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà với các nền kinh tế thế giới.

     

    Như vậy, cả về mặt lý luận và chủ trương đường lối của Đảng ta là thống nhất về phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTTN bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, là một bộ phận quan trọng sẽ phát triển lâu dài trong thời kỳ xây dựng CNXH.

     

    Trong quá trình cải tạo, xây dựng CNXH

     

    • nước ta, ĐCSVN đã nhận định: “Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài” (ĐCSVN, 1986, tr. 23).

    Sau khi đổi mới, chúng ta đã có những thay đổi về tư duy kinh tế một cách đầy đủ hơn. Mặc dù, thời gian đầu còn chập chững trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, song thực tiễn đổi mới đất nước đã chứng minh đường lối đó là đúng đắn. Các thành phần kinh tế ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong cơ cấu nền kinh tế.

     

    Kinh tế tư nhân của vùng ĐNB sẽ chịu những ảnh hưởng của những tác động của tình hình chung của thế giới, của nước ta cũng như những ảnh hưởng khác của vùng. Chính những ảnh hưởng ấy mà trong những năm tới, KTTN có xu hướng vận động biến đổi khác so với trước đây.

     

    CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KTTN VÙNG ĐNB TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH GIAI ĐOẠN 2016

    – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2030

     

    Về tình hình thế giới, nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của Vùng nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Trong những năm tới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục là xu thế lớn. Nền kinh tế thế giới mặc dù có dấu

     

     

    108

     

    Kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ . . .

     

    hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn chứa nhiều yếu tố khó khăn mất ổn định. Hiện nay, sự cạnh tranh về kinh tế – thương mại đang diễn ra giữa các nước trên thế giới ngày càng gay gắt hơn so với trước đây. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt khu vực Đông Nam

     

    • sẽ là một trong những khu vực phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn, đồng thời tại đây vẫn còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh chấp vùng lãnh thổ, chủ quyền biển đảo ngày càng gay gắt, mâu thuẫn giữa các nước có tranh chấp chứa đựng những yếu tố gây mất ổn định. Những yếu tố trên có tác động quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế của cả nước nói chung và kinh tế ĐNB nói riêng trong đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cả thành phần KTTN.

    Về tình hình trong nước, hệ thống thể chế, cơ chế chính sách phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ngày càng được hoàn thiện nên các thành phần kinh tế có thêm cơ hội phát triển. Những thành tựu, kinh nghiệm đạt được trên các mặt qua 30 năm đổi mới đã trở thành cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế. Từ những thành tựu đạt được nên tiềm lực, vị thế đất nước được nâng lên một bước mới, quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, sự ổn định chính trị là những điều kiện tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nước cũng như tác động tích cực đến phát triển kinh tế vùng ĐNB trong những năm tới.

     

    Về tình hình của vùng ĐNB, là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là nơi có mức độ giao thương hàng hóa trong và ngoài nước lớn, là vùng có tốc độ phát triển kinh tế cao trong cả nước. Đồng thời với những thành tựu trong những năm qua và những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, điều hành, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu; sự ổn định về chính trị xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại trong và ngoài nước; là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới. Tuy nhiên, vùng ĐNB cũng đối mặt

     

    với những khó khăn và thách thức lớn đó là: dịch bệnh và biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông, dịch vụ kho bãi, cảng mang tính chất vùng; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, áp lực tăng dân số cơ học cao, thiếu đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia giỏi đầu ngành, cán bộ khoa học kỹ thuật, quản trị doanh nghiệp; tình hình khiếu kiện về đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tình hình đình công, lãn công trong các khu công nghiệp vẫn là những vấn đề ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của vùng nói chung cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển KTTN nói riêng.

     

    Về xu hứng vận động phát trỉn c̉a KTTN vùng ĐNB trong quá tr̀nh CNH, HĐH giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nh̀n đến năm 2030

     

    Từ những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước cũng như của Đảng bộ, chính quyền tỉnh, thành phố Vùng ĐNB, những tác động hiện nay sẽ tạo ra những xu hướng vận động phát triển trong những năm tới. Cụ thể là:

     

    Thứ nhất, KTTN sẽ phát triển với tốc độ nhanh hơn so với trước đây. Hiện nay, mức tăng trưởng kinh tế của các địa phương trong vùng ĐNB tăng cao, sự tích lũy vốn của hộ cá thể, của DNTN ngày càng gia tăng cho nên sẽ tăng số lượng các doanh nghiệp tư nhân, cũng như trang trại, nông trại. Đồng thời, trong những năm tới với những chủ trương chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nước, những chủ trương, chính sách phù hợp của Đảng bộ chính quyền thành phố, tỉnh trong vùng ĐNB sẽ thúc đẩy KTTN phát triển nhanh hơn.

     

    Thứ hai, KTTN sẽ tăng quy mô, mở rộng sản xuất hình thành những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn KTTN. Hiện nay, vùng ĐNB có nhiều doanh nghiệp tư nhân phát triển khá mạnh, với quy mô lớn cả về vốn, về số lượng sản phẩm, doanh thu, lực lượng lao động. Mặt khác, sau khủng hoảng kinh tế, để tăng sức cạnh tranh với thị trường trong nước, thị trường nước ngoài, nhiều doanh nghiệp nhỏ muốn tồn tại,

     

     

    109

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    phát triển đã có xu hướng liên doanh, liên kết mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư, thu hút thêm lực lượng lao động, xây dựng chiến lược kinh doanh mới nhằm tồn tại và phát triển.

     

    Thứ ba, KTTN trong vùng ĐNB sẽ tham gia hội nhập kinh tế thế giới mạnh hơn nữa trong những năm tới. Vùng ĐNB có nhiều khu công nghiệp nên thu hút với nhiều nước tham gia đầu tư. Sự tác động ấy, cũng như nhu cầu phát triển thị trường nên dù muốn hay không các DNTN sẽ tìm hướng đầu tư, tìm thị trường với nước ngoài.

    Thứ tư, KTTN sẽ có xu hướng phát triển lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, vốn, vận tải, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thông tin, v.v.. Với tình hình phát triển kinh

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VI. Hà Nội: Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VII.Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VIII. Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội: Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002.Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội, Nxb Sự thật.

    tế khá năng động hiện nay thì những lĩnh vực như dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển. Trong khi lĩnh vực sản xuất sản phẩm hàng hóa dễ bị thua lỗ, khó tìm kiếm thị trường, cũng như mức đầu tư vốn khá lớn thì lĩnh vực dịch vụ lại không cần nhiều vốn, xác suất thua lỗ, rủi ro ít hơn, thường không phụ thuộc nhiều vào thị trường mà phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trong vùng ĐNB.

     

    Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay, KTTN đã có những yếu tố phát triển theo những xu hướng nêu trên. Đó là những tín hiệu khả quan cho sự phát triển KTTN của vùng ĐNB.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội Đảng th̀i kỳ đổi ḿi. Hà Nội, Nxb Sự thật.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011.Văn kiện đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội, Nxb Sự thật.
    • Đinh Thị Thơm, 2006. Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi ḿi thực trạng và những vấn đề, sách tham khảo.
    • Hồ Văn Vĩnh (chủ biên), 2003. Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nức đối v́i kinh tế tư nhân ở nức ta hiện nay. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

    • Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân, 2004. Phát trỉn kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam lý luận và thực tiễn. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

    • Nguyễn Thanh Tuyền, 2006. Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trừng định hứng xã hội ch̉ nghĩa ở Việt Nam. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

     

    110


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C3%A0m-%C3%BD-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-v%E1%BB%81-chuy%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BB%95i-kinh-t%E1%BA%BF-sinh-th%C3%A1i-v%C3%A0-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-trong-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-n%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-kinh-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BB%AB-tri%E1%BB%83n-khai-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-legato.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Original Article

     

    Policy Implications on Socio Ecological and Economic Tranformation in Vietnam’s Agriculture: Experiences from Legato Project

     

    Dao Thanh Truong*, Nguyen Thi Quynh Anh

     

    VNU University of Social Sciences and Humanities,

     

    336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Received 06 May 2019

    Revised 17 June 2019; Accepted 17 June 2019

     

    Abstract: As one of the leading countries in rice export, Vietnam has always focused on investing and developing clean and green agriculture with the aim of sustainable development. In addition to traditional farming methods, farmers have gradually approached modern technologies and methods of large-scale goods production. The inter-regional nature between production and agriculture and interdisciplinary interactions between agriculture and services has become increasingly common in Vietnam’s major rice production areas such as the Red River Delta and the Mekong Delta. This paper focuses on analyzing the socio-economic-ecological transformation in rice production of Vietnam, adopting the experience of ecological technology application under the framework of the LEGATO project – an interdisciplinary project participated by the Institute of Policy and Management for the period 2011-2016. The results of the project affirmed the importance of combining different research approaches in considering the socio-economic-ecological impacts in ecological technology development of agricultural production in Vietnam

     

    Keywords: Social, ecological and economic transformation, policy, sustainable development, interdisciplinary approach, stakeholders.*

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

    26

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp: kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    Đào Thanh Trường*, Nguyễn Thị Quỳnh Anh

     

    Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN,

     

    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 06 tháng 5 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 17 tháng 6 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Là một trong những quốc gia đứng đầu trong việc xuất khẩu gạo, Việt Nam luôn chú trọng việc đầu tư và phát triển nông nghiệp xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh phương thức canh tác truyền thống, người nông dân đã tiếp cận dần với các công nghệ hiện đại và phương thức sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. Tính liên vùng trong sản xuất và nông nghiệp và liên ngành giữa nông nghiệp và dịch vụ được khai thác ngày càng phổ biến tại các trung tâm sản xuất lúa gạo lớn của Việt Nam như Khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết tập trung phân tích những vấn đề chuyển đổi kinh tế – xã hội – sinh thái của Việt Nam trong sản xuất lúa nước từ kinh nghiệm áp dụng công nghệ sinh thái trong khuôn khổ dự án LEGATO – một dự án liên ngành do Viện Chính sách và Quản lý tham gia triển khai trong giai đoạn 2011-2016. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp những tiếp cận nghiên cứu khác nhau trong việc xem xét những tác động kinh tế – xã hội – sinh thái trong phát triển công nghệ sinh thái trong hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam và những hàm ý chính sách cho quá trình phát triển nông nghiệp hiện nay.

     

    Từ khóa: Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội, chính sách, phát triển bền vững, tiếp cận liên ngành, các bên liên quan.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Khái niệm “Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái” được hình thành trong lòng cuộc đối thoại về những giá trị của quan điểm phát triển

     

    ________

    *Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

     

    bền vững trước đây đặt ra. Trong đó khái niệm Chuyển đổi (Transformation) được đưa ra trong cuộc thảo luận về “Những chuyển đổi lớn”

     

    (Great Transformation)1 do Polanyi2 đưa ra năm 1995. Theo nghiên cứu của Phillip Degenhardt

     

    • Có tác giả dịch là Cuộc Đại biến chuyển.

    2Nhà văn và giáo sư gốc Hungary, đã sống ở Trung Âu và Anh trước khi di cư sang Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến

     

    27

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    (2016), Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái là một quan điểm đóng góp của Cánh tả cho cuộc thảo luận về học thuyết Degrowth (tạm dịch: Giảm phát triển) [1]. Trong đó, ngành năng lượng, ngành giao thông, nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp và các tổ hợp công nghiệp quân sự là những yếu tố tác động mạnh mẽ và tào ra những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái

     

    – xã hội của nhiều quốc gia hiện nay. Chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội liên quan đến việc đánh giá và tổ chức lại khung chính sách, các mô hình sản xuất và tiêu dùng mới hiện nay nhằm hạn chế các tác động âm tính của tăng trưởng và phát triển kinh tế đến sinh thái, xã hội, hướng đến một xã hội tương lai bền vững. Có thể thấy rằng, xu hướng định hình từ phát triển bền vững tới chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội đang xuất hiện ngày càng phổ biến ở các nước phát triển. Đây là sự định hình lại các hình thức liên kết giữa các yếu tố kinh tế – xã hội – sinh thái trong chiến lược phát triển, xem xét tác động của các hoạt động kinh tế với xã hội sinh thái hiện nay và giải pháp khắc phục, đảm bảo tính cân bằng, ổn định giữa các thành tố phát triển này. Từ phương diện chính sách, các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội cần được xem xét và áp dụng vào quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách.

     

    Theo nghiên cứu của Joachim Spangenberg (2019), Việt Nam đang phải đối mặt với những biến chuyển có tương tác với nhau và hàm ý mà chúng mang lại, từ một múc thu nhập thấp đến trung bình và từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hóa, từ phân bổ dân cư nông thôn sang đô thị hóa, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và từ trạng thái ổn định sang khí hậu thay đổi nhanh chóng (tần suất và cường độ bão tăng, mực nước biển dâng cao, mất đa dạng sinh học,

     

    • nhiễm môi trường), nổi cộm trên những vấn đề môi trường phức tạp hiện nay. Bối cảnh này đòi hỏi cần có sự nhìn nhận lại về các trọng tâm phát triển. Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trụ cột kinh tế vẫn là hướng mục tiêu

    ________

     

    3 Land-use intensity and Ecological Engineering – Assessment Tools for risks and Opportunities in irrigated rice based production systems.

     

    được tập trung hơn các trụ cột khác. Chính vì vậy, từ phát triển bền vững dịch chuyển sang triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một yêu cầu khách quan và cần được áp dụng trong quá trình phát triển đất nước. Trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam, sự giao thoa giữa nông nghiệp truyền thống với nông nghiệp chuyên môn hóa; giữa nông nghiệp với các ngành khác đã tạo nên những chuyển đổi kinh tế

     

    • sinh thái – xã hội mạnh mẽ trong những năm gần đây. Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu liên ngành trong phát triển nông nghiệp theo triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội.

    Dự án Kỹ thuật Thâm canh và Công nghệ Sinh thái – Công cụ đánh giá rủi ro và Cơ hội của

     

    hệ thống sản xuất lúa nước tưới3 (sau đây gọi tắt là LEGATO) là một dự án dự trên tiếp cận liên bộ môn (inter-disciplinary approach), liên ngành (inter- sectorial approach) được Viện Chính sách và Quản lý triển khai trong thời gian từ 2011-2016.

     

    Mục tiêu tổng quát của dự án là xây dựng những quy trình ứng dụng thực hiện “công nghệ sinh thái” –bao gồm thiết kế, điều tra, theo dõi và cấu trúc của các hệ sinh thái. Đồng thời, dự án còn thực hiện việc định lượng sự phụ thuộc của các chức năng của hệ sinh thái và các dịch vụ tạo ra trong hệ thống nông nghiệp trong ba khu vực ở Đông Nam Á: Malaysia (Đề án thủy lợi Muda), Việt Nam (tỉnh Tiền Giang ở ĐBSCL và thung lũng sông Hồng từ khu vực miền núi Tây Bắc đến đồng bằng) và Philippines (Trung Luzon từ Banaue đến Cabanatuan).

     

    Cơ sở hoạt động của LEGATO là hướng dẫn phát triển chức năng sinh thái (ecosystem functions) và dịch vụ sinh thái (ecosystem services) phù hợp điều kiện văn hóa – xã hội và tự nhiên tại địa phương, nhằm giúp nông dân tại khu vực Nam và Đông Nam Á xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững, có khả năng thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu gây ra. LEGATO sẽ phân tích tiềm năng của “công nghệ

     

    sinh thái”4 và thử nghiệm khả năng áp dụng và

     

    • Công nghệ sinh thái hướng đến tính bền vững trong phát triển nông nghiệp. Nền nông nghiệp sinh thái cung cấp cho con người một không gian sản xuất lành mạnh, sản phẩm nông nghiệp sạch và một môi trường tự nhiên ổn định. Áp

     

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    29

    chuyển giao tại địa bàn nghiên cứu. Bước tiếp theo là hợp tác với cơ quan Nông nghiệp và Khuyến nông địa phương để chuyển giao cho người dân triển khai trên quy mô rộng hơn. Việc thực hiện có hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo công nghệ sinh thái tạo được sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng. Mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái trong trồng lúa giúp bà con nông dân trồng lúa giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, bảo vệ sức khỏe và môi trường sống tốt hơn.

     

    LEGATO là một dự án mà hiển thị các xu hướng hợp tác của các nhà khoa học giữa các quốc gia khác nhau trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, có 7 quốc gia và gần 100 nhà khoa học từ các lĩnh vực như xã hội học, sinh học, địa lý học, sinh thái học, kinh tế học, nhân học v.v. Để đánh giá tính khả thi của việc áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu không chỉ phân tích thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và hệ sinh thái quanh đồng ruộng, mà còn phân tích các đặc trưng văn hóa của phương thức canh tác nông nghiệp, những tác động của chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đến canh tác nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu. Các nghiên cứu phân tích sự kết hợp giữa nông nghiệp – dịch vụ trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh gắn với các giá trị truyền thống của sản xuất nông nghiệp tại các địa bàn nghiên cứu, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

     

    • Phạm vi: Tại Việt Nam, địa bàn nghiên cứu bao gồm: Trung Chải, Sapa (Lào Cai) và xã Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương). Kết quả khảo sát cho thấy, Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương) là hai địa bàn được chọn để áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa).

     

    • Phương pháp tiếp cận
    • Tiếp cận phân tích vai trò của các bên liên quan (stakeholders)

    Để đảm bảo tính khách quan và sự tham gia của nhiều đối tượng trong hoạt động của dự án,

     

    ________

     

    dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp tiến bộ được rất nhiều các quốc gia áp dụng, với mong muốn điều chỉnh việc khai thác sử dụng đất trồng lúa, hạn chế các biện pháp khai thác làm suy thoái tài nguyên đất nói

     

    các nhóm bên liên quan được xác định là đối tượng cung cấp các thông tin đầu vào trong các nghiên cứu ban đầu khảo sát thực trạng của các hoạt động kinh tế – xã hội – sinh thái liên quan đến dự án, vừa tham gia thực hiện và đánh giá các hoạt động này. Sự khác biệt trong quan điểm của các bên liên quan là gợi ý để các nhà nghiên cứu phát hiện các vấn đề nghiên cứu. Phân loại các bên liên quan căn cứ theo ảnh hưởng và lợi ích từ dự án với các hình thức: Tham dự, Thông tin, Hợp tác và Tư vấn.

     

    Dự án đã triển khai các cuộc phỏng vấn tại tất cả các khu vực của dự án LEGATO, tức là ở ba tỉnh ở Philippines (Laguna, Nueva, Ecija và Ifugao), và tại bốn tỉnh ở Việt Nam (Tiền Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc và Lào Cai), và các bên liên quan tại Hà Nội và Manila (các bên liên quan cá nhân phỏng vấn). Từ năm 2011 đến 2016, đã có hơn 150 cuộc phỏng vấn cá nhân và hơn 20 cuộc phỏng vấn nhóm được thực hiện, với khoảng 400 người tham gia (với các bên liên quan như bảng dưới đây).

     

    STT       Nhóm các bên liên quan

     

    • Người nông dân và gia đình của họ
    • Các đơn vị hành chính: cán bộ nông nghiệp, cán bộ khuyến nông
    • Các đại lý chuỗi sản xuất gạo: trung gian và thương nhân (sấy khô, làm sạch và tiếp thị sản phẩm)
    • Quản trị cấp cao hơn: cán bộ nông nghiệp cấp tỉnh, quản lý nông nghiệp
    • Doanh nghiệp nhỏ địa phương (taxi, cho thuê xe, nhà hàng, khách sạn)
    • Các doanh nghiệp lớn hơn tại địa phương, các công ty con của các tổ chức hoặc doanh nghiệp quốc gia, Ban quản lý địa phương, du lịch
    • Chính quyền cấp tỉnh và quốc gia

    riêng và đảm bảo việc thực hiện được nguyên tắc của một nền nông nghiệp sinh thái. Bên cạnh đó, áp dụng công nghệ sinh thái cũng góp phần tăng cường chức năng của hệ sinh thái và sự phát triển của dịch vụ sinh thái.

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Giai đoạn 1: Các cuộc phỏng vấn được tiến hành trong giai đoạn đầu của dự án để xác định các địa điểm phù hợp nhất cho các khu vực dự án. Mục đích chính của tất cả các cuộc phỏng vấn ban đầu là hiểu rõ hơn vị trí của người được phỏng vấn và xác định mức độ quan tâm tương ứng của họ.

     

    Giai đoạn 2: Các cuộc phỏng vấn tập trung vào các đặc điểm về kinh tế xã hội và văn hóa xã hội, tình hình sử dụng đất và bối cảnh, quan điểm cuộc sống của họ với sự phát triển của khu vực như được quan sát và mong đợi, các vấn đề văn hóa liên quan, các kỳ vọng về thay đổi phương thức canh tác và nâng cao thu nhập. Các cuộc phỏng vấn này được tổ chức riêng biệt theo giới tính (nhóm nam, nhóm nữ).

     

    Giai đoạn 3: Phỏng vấn về đánh giá lộ trình áp dụng, kết quả và tác động của việc áp dụng CNST và kỳ vọng. Người tham gia phỏng vấn phải được đáp ứng hai điều kiện: những người được phỏng vấn được chọn phải đại diện cho khu vực và thủ tục phỏng vấn phải được chuẩn hóa.

     

    • Tiếp cận chính sách

    Để đánh giá khả năng và điều kiện áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up) với các nhóm liên quan, đặc biệt là với nhóm thụ hưởng (người dân).

     

    Tiếp cận từ trên xuống (Top-down) được xây dựng trên cơ sở một mạng lưới các đối tác là các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu của dự án là Sapa và Hải Dương (bao gồm Sở Văn hóa Thể thao Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Bảo vệ thực vật, Trung tâm phát triển Văn hóa của địa phương v.v.). Tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up): người dân được hỏi về hiệu quả của các chính sách phát triển trước khi áp dụng công nghệ sinh thái (nhóm dự kiến áp dụng và nhóm không áp dụng), quan điểm và đánh giá của họ về những chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội trong sản xuất nông nghiệp. Cách tiếp cận này giúp đối chiếu và tìm kiếm các vấn đề xung đột quan điểm và khoảng trống giữa

     

    nhận thức và hành động của người làm chính sách và đối tượng thụ hưởng.

     

    • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, điều tra bảng hỏi, thực nghiệm mô hình công nghệ sinh thái.

     

    Kết quả và thảo luận

     

    2.1. Những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong hoạt động canh tác và sản xuất lúa của Sapa và Hải Dương

     

    2.1.1. Sự thiếu hụt của nhân lực trong sản xuất nông nghiệp

     

    Nguồn nhân lực trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chiếm tỉ trọng cao trong tổng số lao động tại Việt Nam. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2018 Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực khu vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính là 20,9 triệu người, chiếm 38,6% (giảm 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Công nghiệp và xây dựng là 14,4 triệu người, chiếm 26,7% (tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Dịch vụ là 18,7 triệu người, chiếm 34,7% (tăng 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước) [3]. Do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nguồn nhân lực tham gia sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, lao động nông nghiệp bị thu hút bởi các ngành hoạt động sản xuất và dịch vụ. Theo kết quả nghiên cứu của dự án LEGATO, xu hướng này được thể hiện rõ tại hai địa bàn chính là Sapa và Hải Dương:

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển đổi sang làm ngành dịch vụ

    Tại Sapa, Dự án LEGATO khảo sát đặc điểm phương thức canh tác trên ruộng bậc thang tại các địa điểm: Trung Chải, Tả Văn, v.v. và hoạt động liên quan khác như việc sử dụng và quản lý đất nông nghiệp, sự phát triển của du lịch sinh thái tại các địa bàn này. Tại Sapa, trên địa hình cao và dốc, lại chịu tác động mạnh mẽ của thời tiết khắc nghiệt, của biến đổi khí hậu, nông dân địa phương chỉ có thể canh tác 1 vụ lúa trong

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    31

    năm từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm, kết hợp trồng thêm ngô, thảo quả và rau, chủ yếu vẫn sử dụng phương thức sản xuất theo kinh nghiệm truyền lại của ông cha và phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện tự nhiên. Người dân mở rộng diện

     

    tích ruộng bậc thang theo kinh nghiệm, gần các khu vực có nhiều nước và sử dụng các ông nứa, ống tre ghép thành các hệ thống dẫn nước thô sơ cho ruộng của họ.[4]

     

     

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2011.

     

     

    Bên cạnh những khó khăn về điều kiện khí hậu, nguồn nước, sự suy giảm của tài nguyên rừng cũng ảnh hưởng đến đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Trước kia, nông dân ở Sapa trồng giống lúa địa phương, hiện nay, người dân chủ yếu trồng lúa lai bên cạnh các giống lúa truyền thống như Sén Cù, Khẩu Nậm Sít, Bắc Thơm, Tàu Bay. Sản xuất Nông nghiệp, đặc biệt là việc canh tác lúa trên ruộng bậc thang tại Sapa chủ yếu phụ thuộc điều kiện tự nhiên, canh tác trên địa hình cao và phức tạp, hệ thống thủy lợi chưa phát triển, trong mùa khô, ruộng không đủ nước; nguồn nước chủ yếu sử dụng ở khu vực ruộng bậc thang là nước suối, nước ngầm, v.v. Tại Sapa tập quán du canh du cư vẫn tồn tại, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quá trình thoái hóa đất. Chính vì vậy, lúa canh tác chủ yếu chỉ đủ cung cấp cho người dân địa phương, một số ít loại gạo đặc sản được cung cấp theo nhu cầu của các cơ sở dịch vụ du lịch tại thị trấn Sapa. Các dịch vụ về nông nghiệp chậm phát triển như: Cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, công nghệ sơ chế bảo quản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được với

    nhu cầu của phát triển sản xuất. Chính vì thế, năng suất lúa thấp, mất mùa không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực của người dân địa phương.

     

    Theo kết quả phỏng vấn nhóm nông dân là nữ, thời gian canh tác lúa giảm đi do người dân bán các sản phẩm thổ cẩm, trang sức bạc, v.v. cho các du khách đến du lịch. Nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình là từ hoạt động bán sản phẩm cho khách du lịch. 90% gia đình được phỏng vấn cho biết con cái họ đều tham gia bán sản phẩm du lịch (độ tuổi trung bình từ 6-12 tuổi). Trong khi nhóm nam (độ tuổi 30-45 tuổi) cho rằng họ tiếp tục sản xuất do canh tác và đất đai được truyền lại từ thế hệ trước và cũng để đảm bảo nguồn lương thực phục vụ cho hộ gia đình duy trì cuộc sống hàng ngày. Theo kết quả phỏng vấn sâu con cái của các hộ gia đình, 98% con cái của họ (độ tuổi từ 15 tuổi) đều mong muốn chọn lựa công việc khác. Công việc nông nghiệp được người dân mô tả là “vất vả, thu nhập thấp, không ổn định và không có tương lai”.

     

    Như vậy, xu hướng chuyển đổi lao động nông nghiệp (trồng lúa trên ruộng bậc thang) tại Sapa, Lào Cai chủ yếu tập trung vào quá trình

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    giảm tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp sang ngành dịch vụ, du lịch. Xu hướng này tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây do tốc độ phát triển và chiến lược phát triển du lịch của địa phương. Mặc dù, sản xuất công nghiệp tại Lào Cai cũng phát huy hiệu quả những tiềm năng, lợi thế về khai thác chế biến khoáng sản, đầu tư phát triển thuỷ điện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản. Nhiều dự án, nhà máy lớn chế biến sâu khoáng sản của địa phương: Apatit, sắt, đồng… đi vào hoạt động. Song chủ yếu là do lao động từ các tỉnh khác đến phục vụ quá trình khai thác và sản xuất công nghiệp.

     

    Khi chuyển sang giai đoạn hai về phỏng vấn người dân về việc áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa) trong sản xuất lúa tại các hộ gia đình. Kết quả dự án cho thấy, 89% số lao động được hỏi cho rằng họ tin tưởng vào tác động của việc áp dụng công nghệ (do Nhà khoa học cung cấp). Tuy nhiên, người dân lo sợ không sử dụng các chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp có thể ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp (trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt) và mất thời gian. Vì vậy, việc áp dụng CNST cần phải có hỗ trợ giống, kinh phí và kỹ thuật, tính phương án đền bù nếu áp dụng mô hình không thành công. Số người dân được phỏng vấn còn lại cho rằng áp dụng công nghệ sinh thái là không khả thi và không hiệu quả, đặc biệt khi áp dụng với mô hình sản xuất trên ruộng bậc thang. Người dân không muốn áp dụng kể cả trong điều kiện có sự hỗ trợ. Tại địa bàn phỏng vấn, rất ít hộ nông dân chọn đáp án sản xuất nông nghiệp để phục vụ hoạt động dịch vụ du lịch như mô hình của Banaeu, Phillipines (trồng lúa trên ruộng bậc thang để tạo cảnh quan du lịch, thiết kế tour du lịch sinh thái với các đại lý du lịch). Khi được hỏi kỳ vọng về sản xuất kinh tế của gia đình, người dân cho rằng sẽ tiếp tục tham gia hoạt động bán hàng và các dịch vụ du lịch để có

     

    ________

     

    5 Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam với diện tích 1656,0 km². Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên phù hợp với việc trồng

     

    thu nhập, nếu gặp thiên tai và không sản xuất đủ lúa sẽ mua gạo tại các chợ gần thị trấn.

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển sang lĩnh vực công nghiệp

    Tại Hải Dương5, với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, Hải Dương đã và đang phát triển các khu vực chuyên canh sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn cung cấp số lượng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa phục vụ các khu vực lân cận và xuất khẩu. Khác với Sapa, Hải Dương có nhiều điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp, và trở thành một trong những tỉnh có sản lượng gạo cao tại Việt Nam. Tại Hải Dương, có 126,000 ha diện tích lúa trồng. Năng suất trung bình là khoảng 6 tấn /ha /vụ, diện tích trung bình khoảng 400-500m2 người.

     

    Tài nguyên đất của Hải Dương khá phong phú và đa dạng, bao gồm đất phù sa và feralit, trong đó đất phù sa chiếm 148.929 ha với 2 loại chính là: đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Thanh Hà, Kinh Môn) và phù sa không được bồi đắp hằng năm (Nam Sách, Gia Lộc, Cẩm Giàng, v.v.) thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Tại Hải Dương, người dân sản xuất 2 vụ mỗi năm, Vụ Đông Xuân bắt đầu vào tháng Hai và kết thúc với việc thu hoạch tháng năm hoặc tháng 6, vụ Hè Thu kết thúc vào tháng 10. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm lúa gạo của Hải Dương bao gồm thị trường trong tỉnh và thị trường ngoài tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh). Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Một số sản phẩm dễ trồng nhưng hiệu quả kinh tế không cao, chẳng hạn như ngô, đậu tương, trên bàn tay khác, người nông dân không sẵn sàng đầu tư vào trồng một số cây có giá trị mà yêu cầu chăm sóc khó khăn hơn trong một thời gian dài. Sản xuất nông nghiệp đem lại nguồn thu thấp do chi phí đầu tư cho các khâu sản xuất là khá cao, trong khi chuyển đổi nghề nghiệp sang làm việc tại các khu công nghiệp có

     

    cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    33

    thu nhập cao, ổn định hơn. Bên cạnh đó, theo đánh giá của cán bộ quản lý nông nghiệp, diện tích canh tác lúa tăng giảm không ổn định do Hải Dương nằm trong xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất chuyên dụng và đất thổ cư. Đây là một tác nhân dẫn đến việc địa phương tăng cường ban hành các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung của địa phương, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phục vụ các dự án, các KCN.

     

    Tính đến giai đoạn 2016-2017, Hải Dương có 10 KCN đã được thành lập, đang đi vào hoạt động và thực hiện xây dựng đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng diện tích theo quy hoạch chi tiết là 1.732 ha, trong đó có 07 KCN đã cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật trong các KCN; có 219 dự án đầu tư trong các KCN còn hiệu lực đến từ 29 quốc gia và vùng lãnh thổ; có trên 163 dự án đã triển khai và đang hoạt động sản xuất kinh doanh; tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 63,6%; thu hút gần 8 vạn lao động làm việc trong các KCN [5]. Cho đến nay, việc phát triển các KCN cũng diễn ra mạnh mẽ, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng mạnh (đặc biệt là các ngành sản xuất cao su, điện tử, sản phẩm quang học, sản xuất thiết bị điện, công nghệ chế biến khác…).

     

    Kết quả phỏng vấn cho thấy, độ tuổi lao động trong sản xuất lúa trung bình là 40-45 tuổi và có xu hướng già hóa do lực lượng lao động trẻ tìm công việc tại các khu Công nghiệp. Mặc dù có điều kiện thuận lợi song các hộ nông dân đều cho rằng sản xuất nông nghiệp không mang lại điều kiện thu nhập cao kể cả khi các nông sản này được thu mua với quy mô lớn. Đặc điểm canh tác từ 2-3 vụ một năm chiếm một tỷ trọng lớn thời gian lao động trong năm trong khi thu nhập không cao, khiến lao động trẻ không còn mặn mà trong sản xuất nông nghiệp. Trong canh tác nông nghiệp xuất hiện phương thức thuê khoán các quy trình, sản xuất nông nghiệp trong hộ gia đình từ sản xuất phục vụ thu mua sang thuê sản xuất để phục vụ nhu cầu sử dụng của gia đình. Thậm chí, kinh phí thuê nhân công tham gia các hoạt động canh tác (gieo mạ, phun thuốc trừ sâu, gặt v.v.) tương đương với giá trị sản phẩm nông

     

    nghiệp sau khi thu hoạch, nhiều hộ gia đình vẫn chấp nhận do có thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác. Khi được hỏi về việc áp dụng công nghệ sinh thái trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, 98% các hộ gia đình cho rằng đây là biện pháp có hiệu quả để giúp cải thiện năng lực cho người dân trong sản xuất lúa (do kết quả từ chuyển giao công nghệ). Khi hỏi về điều kiện triển khai, người dân chủ yếu quan tâm đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

     

    Trong năm 2015-2016, dự án đã triển khai hoạt động áp dụng công nghệ sinh thái tại một số địa bàn nghiên cứu, tuy nhiên kết quả cho thấy, người dân chỉ áp dụng được trong năm đầu tiên. Do chính sách dồn điền đổi thửa còn gặp nhiều bất cập, diện tích sản xuất lúa của các hộ gia đình vẫn chưa tập trung mà bị phân cắt tại nhiều khu vực, diện tích áp dụng CNST chỉ trong quy mô thực nghiệm tại 05 hộ gia đình tại Kim Thành, Hải Dương. Sau 1 năm triển khai, do ảnh hưởng của việc tăng cường phát triển hạ tầng cho nông thôn mới và tăng cường cơ sở hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp, diện tích áp dụng giảm đi nhanh chóng. Nguyên nhân xác định chủ yếu do lực lượng lao động tại các hộ tìm được việc làm tại các KCN nên giảm quy mô canh tác. Trong khi tại Tiền Giang, địa phương áp dụng CNST theo mô hình ruộng lúa bờ hoa được người dân tiếp nhận và triển khai trên quy mô lớn.

     

    Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực của địa phương, mà còn tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân ở các địa bàn khảo sát Sapa và Hải Dương. Trước các mục tiêu phát triển kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ. Nhân lực nông nghiệp không chỉ muốn chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp mà còn không quan tâm đến những tác động tiêu cực đến cảnh quan, môi trường sinh thái xung quanh hoạt động sản xuất nông nghiệp khi sử dụng các chất hóa học trong canh tác. Điều này đã và đang đặt ra những vấn đề kinh tế – xã hội và sinh thái quan trọng của địa phương: tình trạng thiếu hụt lao động, tình trạng ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, v.v. Áp dụng công nghệ sinh thái trong canh tác lúa không chỉ

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    nhằm thúc đẩy nông nghiệp bền vững, mà còn tạo ra các tác động thu hút nhân lực nông nghiệp quay trở lại làm việc và tăng thu nhập từ các sản phẩm nông sản sạch và chất lượng, đem lại giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, gắn các giá trị của sản xuất nông nghiệp với các khu vực dịch vụ có thể tạo ra các sản phẩm du lịch dịch vụ mang bản sắc truyền thống, thu hút du khách nước ngoài đến Việt Nam.

     

    2.1.2. Thay đổi cảnh quan sinh thái trong canh tác lúa nước tại Sapa và Hải Dương

     

    • Sự suy giảm/mất đi các cảnh quan nông nghiệp do việc suy thoái tài nguyên đất và tình trạng ô nhiễm môi trường do việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp.

    Phân hóa học được sử dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở Hải Dương và Sapa, nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, có thể kể phân đạm, phân lân và phân kali. Bên cạnh việc sử dụng phân hóa học, nông dân tại 2 địa bàn nghiên cứu còn sử dụng các nông dược hiện đại đa số là chất hữu cơ tổng hợp như Thuốc trừ sâu (insectides) và Thuốc trừ cỏ (herbicides). Mặc dù, nông dân kết hợp phân chuồng với phân bón hóa học trong trồng lúa song hầu hết trong số họ nói rằng việc sử dụng hiệu quả phân bón hóa học mang lại hiệu quả một cách nhanh chóng hơn so với phân bón từ động vật.

     

    Khi được phỏng vấn về cách thức sử dụng phân bón, thuốc diệt cỏ và một số loại thuốc trừ sâu, người nông dân chia sẻ:

     

    • Về nguồn gốc: chủ yếu mua tại các cửa hàng bán gần nhà hoặc ra các trạm bảo vệ thực vật mua, thấy dùng loại thuốc nào hiệu quả sẽ dùng tiếp. Loại thuốc sử dụng do người bán hàng giới thiệu hoặc do những người khác dùng hiệu quả giới thiệu dùng để diệt sâu hại.
    • Về mức độ sử dụng: khi thấy có sâu hại hoặc khi thấy sâu hại xuất hiện tại các ruộng cạnh bên.
    • Thói quen sử dụng: Về cơ bản, kiến thức về sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón của người dân ở Sapa hạn chế hơn so với mặt bằng dân trí tại Hải Dương, do sự bất đồng về mặt ngôn ngữ. Song liều lượng cách thức sử

    dụng của người dân với cá loại thuốc bảo vệ thực vật còn chưa hợp lý, không được sử hướng dẫn cụ thể của cán bộ nông nghiệp. Nông dân cũng không biết nhiều về cách áp dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ họ thường mua chúng một cách bừa bãi mà không có hướng dẫn trong các cửa hàng nhỏ xung quanh khu vực của họ. Đó không chỉ là vấn đề nghiêm trọng của việc trồng lúa ở vùng đất thấp, mà còn hiện tượng phổ biến trong lĩnh vực ruộng bậc thang ở miền núi.

     

    • Tác động: Việc các vỏ thuốc bảo vệ thực vật vứt bừa bãi trên các khu vực quanh ruộng, đất ruộng bị thoái hóa, ô nhiễm chất đất… Sự phân hủy của túi Nilon chứa thuốc bảo vệ thực vật rất lâu, hóa chất có thể gây độc hại cho gia súc thậm chí con người.

    Như vậy, tại Sapa và Hải Dương, kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên nguy cơ về sự thoái hóa đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. Việc sử dụng bừa bãi, lạm dụng phân bón không chỉ làm mất ổn định hệ sinh thái nông nghiệp, dùng thuốc diệt cỏ sẽ làm thay đổi thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp, phun xịt thuốc trừ sâu có thể làm chết các sinh vật sống trong môi trường ruộng lúa. Nghiêm trọng hơn là sử dụng các chất hóa học gây ra những tác hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.

     

    • Chất thải công nghiệp – hệ quả của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

    Tại Hải Dương, cùng với quá trình công nghiệp hóa, các khu công nghiệp được xây dựng xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp tại Hải Dương. Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí ở xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp và khu dân cư. Chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp ngấm vào đất và làm ô nhiễm môi trường đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe của con người. Tại Hải Dương, nhà máy chế biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt tỉnh Hải Dương được xây dựng với

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    35

    công suất là 64.000 tấn rác thô/ năm thành phẩm     nguồn nước; các xe chở rác ngày đêm gây ô

     

    khoảng 12.390 tấn phân hữu cơ/năm. Các địa            nhiễm tiếng ồn xung quanh các khu vực dân cư

    điểm tập kết rác gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm    và khu vực trồng lúa.

     

     

     

    Chất thải công nghiệp tập kết ngay cạnh khu vực ruộng lúa tại Hải Dương

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2014-2015.

     

     

    Tại Sapa, sự thay đổi cảnh quan chủ yếu do tác động của quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch. Kết quả phỏng vấn cho thấy, 98% người dân nhận thấy có sự thay đổi rõ ràng về cảnh quan xung quanh khu vực họ ở, trong đó xuất hiện các cảnh quan mới tập trung tại các khu vực dịch vụ, các khu vực khai thác khoáng sản, các khu vực dân cư do quá trình đô thị hóa. Với vị trí địa lý giáp khu vực biên giới, Sapa còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh biên giới, an ninh chính trị, an ninh xã hội và an ninh trong vùng dân tộc, tôn giáo. Hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép, tuyên truyền đạo trái pháp luật, khiếu kiện đông người, vượt cấp, tội phạm, vi phạm pháp luật, tai nạn, tệ nạn xã hội còn xảy ra. Công tác nắm tình hình và xử lý, giải quyết một số vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự tại cơ sở còn lúng túng. Ý thức chấp hành pháp luật trong một bộ phận nhân dân chưa cao. Điều này cũng gây những tác động gián tiếp đến quá trình ổn định dân cư, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

     

    2.1.3. Nguy cơ khác

     

    Tại Sapa

    • Biến đổi khí hậu: Tại Sapa, biến đổi khí hậu dẫn đến điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt như sương giá, thiếu nước gây khô hạn…làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Những thay đổi khí hậu xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày tại Lào Cai: Ví dụ, băng xuất hiện ở Sa Pa, mưa lớn vào mùa đông. Vấn đề thiếu nước trong canh tác: Nước sử dụng chủ yếu ở vùng núi, từ mùa xuân. Nông dân chỉ trồng từ mùa mưa (từ tháng Tư đến tháng Chín), mùa khô (từ tháng Mười đến tháng Ba) không đủ nước cho sinh hoạt và nông nghiệp.
    • Phương thức canh tác lạc hậu: Tại Sapa, tập quán du canh du cư, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quả trình thoái hóa đất. Phương thức canh tác nông nghiệp hiện nay, người nông dân chủ yếu trồng theo các phương pháp trồng cũ, tự cung tự cấp là cần thiết và chỉ trồng đủ ăn. Mặt khác, nông dân nhận thức rõ ứng dụng của công nghệ, kỹ thuật sản xuất mới nhưng họ cho rằng không có tiền để trả cho phí mua sắm trang thiết bị và hướng dẫn sử dụng công nghệ.
    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    • Sự lỏng lẻo trong công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa: Những hạn chế trên tạo ra những rào cản cho quá trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa ở Sapa, do diện tích trồng lúa trên ruộng bậc thang của từng hộ có thể bị thay đổi do các tác động của khí hậu khắc nghiệt, hoặc do người dân không canh tác trên khu vực ruộng của gia đình. Quy mô sản xuất nhỏ, cá thể, dàn trải, không tập trung. Địa hình đi lại khó khăn khiến cán bộ quản lý nông nghiệp không có nhiều điều kiện kiểm định được thực trạng sử dụng đất trồng lúa thường xuyên. Theo người dân, trung bình cán bộ nông nghiệp đến trao đổi các vấn đề sản xuất, canh tác nông nghiệp 1-2 lần/năm. Cán bộ nông nghiệp thường thông qua người chủ tịch xã hoặc trưởng thôn để tập hợp người dân đến nghe các thông tin sản xuất nông nghiệp, lịch mùa vụ. Theo phỏng vấn sâu các hộ gia đình, người dân phun thuốc khi thấy ruộng khác có sâu bệnh hoặc phát hiện trên ruộng có sâu bệnh, hoặc phun theo thói quen, kinh nghiệm (phun theo kinh nghiệm nhận biết thời điểm xuất hiện sâu bệnh). Điều này làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp và sự sự suy giảm các loại sinh vật có ích, gây ô nhiễm nguồn nước. Tình trạng ô nhiễm trong hoạt động công nghiệp, khai thác chế biến khoáng sản chưa được giải quyết triệt để. biến đổi khí hậu còn kém, hậu quả thiên tai nặng nề; việc ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học triển khai chưa đồng bộ.

    Tại Hải Dương, xung đột môi trường phát sinh từ quá trình chuyển dịch mục đích sử dụng đất Nông nghiệp chưa được giải quyết triệt để, nông dân sinh sống tại khu vực xung quanh các khu công nghiệp và chịu ảnh hưởng từ chất thải công nghiệp đã nhiều lần khuyến nghị song tình trạng trên chưa thay đổi. Ô nhiễm nguồn nước và đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp từ việc phát triển làng nghề truyền thống: Thôn An Xá, xã Quốc Tuấn là làng nghề mây tre đan và làm hương. Nhờ vậy, bộ mặt của thôn được đổi thay từng ngày. Hiện 95% số đường làng đã bê-tông hóa, nhiều nhà cao tầng kiên cố mọc lên. Thôn hiện có 969 hộ, trong đó có hơn 330 hộ làm

     

    ________

     

    6http://sct.haiduong.gov.vn/News/content/viewer.html?a=2 771&z=160

     

    nghề, chiếm 41%. Tuy nhiên, An Xá cũng đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường. Đến An Xá vào những ngày này, sẽ chứng kiến những dòng nước đen ngòm, ứ đọng, đặc quánh dưới rãnh tiêu nước hai bên đường và tại những ao nhỏ

     

    trong làng bốc lên mùi hôi thối.6

     

    2.2. Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong phát triển nông nghiệp

     

    Phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược của ngành nông nghiệp – một ngành sử dụng đa dạng nguồn lực (tự nhiên, xã hội). Nông nghiệp Việt Nam là một thế mạnh của Việt Nam, không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà đã hướng tới xuất khẩu các mặt hàng nông sản có chất lượng, trong đó có mặt hàng lúa gạo. Dự án LEGATO với cách tiếp cận liên ngành đã nhận diện những vấn đề chuyển đổi kinh tế sinh thái xã hội của Sapa và Hải Dương, hai địa bàn có hoạt động canh tác lúa nước với các xu hướng phát triển khác nhau. Tại Sapa, áp dụng công nghệ sinh thái giúp phát triển các sản phẩm nông nghiệp sạch, gắn văn hóa truyền thống về canh tác lúa với phát triển hoạt động du lịch sinh thái. Tại Hải Dương, áp dụng công nghệ sinh thái trong quản lý và sử dụng đất trồng lúa, không chỉ góp phần thực hiện chiến lược phát triển vùng sản xuất lúa tập trung với hiệu quả cao, mà còn góp phần duy trì cảnh quan sinh thái nông nghiệp, kết hợp với dịch vụ văn hóa tâm linh của người Việt, tạo nét riêng thu hút khách tham quan đến với Hải Dương.

     

    Từ những kết quả nghiên cứu của dự án cũng chỉ ra rằng: hoạt động canh tác và sản xuất lúa gạo đang đối mặt với rất nhiều thách thức, không chỉ là các thách thức nội tại mà còn là những thách thức do tác động khách quan của tăng trưởng và phát triển kinh tế mang lại. Đồng thời quá trình phỏng vấn với các đối tượng làm chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách đã chỉ ra một thực tế rằng: sau một quá trình thực thi chính sách, chỉ khi tác động âm tính của chính sách phát triển kinh tế được bộc lộ một cách sâu sắc và gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, thì quá trình khắc phục và điều chỉnh chính sách mới

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    37

    diễn ra, thậm chí là rất chậm do thiếu nguồn lực. Chỉ khi mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, xung đột xã hội xảy ra, các nhà hoạch định, các nhà quản lý mới đưa ra các chính sách giải quyết hậu quả bằng một chính sách mới, song cũng không thể khẳng định đó là chính sách tối ưu.

     

    Chính vì vậy, vai trò của hoạch định chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội có thể coi là một giải pháp phù hợp với bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện nay của Việt Nam. Trong đó, cần có sự thống nhất về triết lý này trong hệ thống các văn bản liên quan đến vấn đề phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt ban hành xuyên suốt từ Trung ương bằng các nghị quyết của Đảng, đến các chiến lược, chương trình, dự án, các kế hoạch hành động của Chính phủ và của các địa phương. Trong định hướng phát triển chung đó, Chiến lược tăng trưởng xanh và thực hiện các báo cáo Đánh giá quốc gia đa chiều [6] có thể được coi là một nỗ lực gần đây nhất, kết hợp với nhiều nỗ lực và chiến lược hiện nay nhằm thúc đẩy hình thành định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, báo cáo của OECD sẽ phân chia thành 03 giai đoạn: Xác định các vấn đề ràng buộc trong phát triển, phân tích chuyên sâu về các vấn đề và khuyến nghị chính sách phát triển và cuối cùng là hỗ trợ chính phủ các nước biến các khuyến nghị chính sách thành chiến lược cụ thể. [7]. Báo cáo sẽ cung cấp những phân tích sâu sắc và đa chiều về các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và sinh thái, góp phần cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách phát triển tại Việt Nam.

     

    Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một triết lý quan trọng cần được áp dụng trong quy trình chính sách. Đây cũng là một nhu cầu tất yếu trong phát triển bền vững nông nghiệp trong thời gian tới, với một số hàm ý chính sách cụ thể như sau:

     

    • Xem xét tác động của chính sách phát triển kinh tế với sản xuất nông nghiệp (đặc biệt nhận diện các tác động âm tính/tiêu cực và ngoại biên âm tính);
    • Sử dụng các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội trong quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp;
    • Phát triển hệ thống dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội qua các năm, giai đoạn
    • Áp dụng các công cụ đánh giá tác động đa chiều (kinh tế – sinh thái – xã hội) và top down (với các cơ quan ban hành thực thi và đánh giá chính sách ) với bottom up (từ dưới lên qua các đánh giá của đối tượng thụ hưởng) với các dự án, chính sách phát triển tại các địa phương;
    • Xây dựng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội để xác định hướng ưu tiên trong chính sách đầu tư (của các cơ quan quản lý, của các địa phương).
    • Áp dụng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong các chính sách phát triển vùng, liên vùng
    1. Kết luận

    Từ phát triển bền vững đến triết lý về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội là một trong những vấn đề chính sách quan trọng hiện nay không chỉ với Việt Nam mà với các quốc gia đang phát triển hiện nay. Mục tiêu phát triển kinh tế và các chính sách ưu tiên đầu tư, phát triển kinh tế không đi kèm với đánh giá các tương tác với sinh thái, xã hội đang là một khoảng trống trong nghiên cứu và ban hành chính sách. Dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội sẽ là nền tảng để xem xét ưu tiên phát triển địa phương, phát triển vùng và các ngành. Trong đó, canh tác và sản xuất lúa trong nông nghiệp là một ví dụ điển hình về sự cần thiết áp dụng triết lý chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội tại Việt Nam hiện nay. Kết quả của dự án LEGATO đã giúp nhóm nghiên cứu xác định những hàm ý chính sách về áp dụng triết lý này trong phát triển canh tác lúa nói riêng và phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung. Những hàm ý chính sách này là những gợi suy để giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện hơn quy trình ban hành,

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    thực thi và đánh giá chính sách phát triển bền vững trong nông nghiệp hiện nay.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    [1]  Phillip Degenhardt, From Sustainable Development to Socio-Ecological Transformation, Tài liệu cung cấp bởi Quỹ Rosa Luxemburg, CHLB Đức, 2016.

     

    [2]  Joachim       H.        Spangenberg,       Sustainable

     

    development and social, ecological, and economic transformation in Vietnam: Insights for policy, Kỷ yếu tọa đàm quốc tế: Chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt Nam và CHLB Đức về nghiên cứu và hoạch định chính sách trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội”, Phú Yên, Tháng 5/2019.

     

    dmid=2&ItemID=18787 (Truy cập ngày 17 tháng 03 năm 2019).

     

    • Viện Chính sách và Quản lý, Báo cáo nghiên cứu của dự án LEGATO, Hà Nội, 2011.
    • Nhân dân điện tử, Khởi động xây dựng Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Việt Nam, Nhân dân

    điện tử, 2019. http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/3932330 2-khoi-dong-xay-dung-bao-cao-danh-gia-quoc-gia-da-chieu-cua-viet-nam.html (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019)

     

    • OECD, OECD  Development  Pathways,  Multi-

    dimensional Country Reviews, 2018 https://www.oecd.org/development/mdcr/ (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-%C4%82N-M%C3%92N-%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG-%E1%BB%90NG-D%E1%BA%AAN-KH%C3%8D-B%E1%BA%A0CH-H%E1%BB%94-DINH-C%E1%BB%90-V%C3%80-%C4%90%E1%BB%80-XU%E1%BA%A4T-C%C3%81C-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-CH%E1%BB%90NG-%C4%82N-M%C3%92N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 62 – 66

     

    ISSN-0866-854X

     

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

     

    Phan Công Thành, Trương Quang Trường, Trần Mai Khôi

    Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố (16”, dài 116,5km) được đưa vào vận hành từ năm 1995 để vận chuyển khí đồng hành từ giàn nén khí trung tâm (CCP) mỏ Bạch Hổ đến Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.

     

    Khi sản lượng khí của mỏ Bạch Hổ suy giảm, Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro” và Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS) đã xem xét khả năng sử dụng đường ống dẫn khí này để vận chuyển khí từ mỏ Đại Hùng, Thiên Ưng, Cá Chó – Gấu Chúa và Đại Nguyệt ở bể Nam Côn Sơn về bờ. Do đó, tuổi thọ của đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cần được đảm bảo đến năm 2025 để đáp ứng yêu cầu tiếp nhận và vận chuyển các nguồn khí mới.

     

    Bài báo đánh giá hiện trạng ăn mòn của hệ thống đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố trên cơ sở các thông số thiết kế, vận hành, kết quả cập nhật sau khảo sát, bảo dưỡng sửa chữa, đánh giá các ảnh hưởng đến an toàn vận hành của hệ thống đường ống khi tiếp nhận khí từ mỏ Thiên Ưng, Đại Hùng với thành phần CO2 cao hơn và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn cụ thể.

     

    Từ khóa: Đường ống dẫn khí, ăn mòn, CO2, Bạch Hổ – Dinh Cố.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các dạng ăn mòn phổ biến đối với đường ống dẫn khí gồm: ăn mòn đều, ăn mòn cục bộ (ăn mòn pitting, ăn mòn khe, ăn mòn mesa, ăn mòn vùng hàn), nứt do tác động môi trường và phá hủy do dòng chảy [1, 2].

     

    Nhiều tác nhân hóa học khác nhau trong đường ống có thể ảnh hưởng đến quá trình ăn mòn bên trong hệ thống. Sự phá hủy ăn mòn đối với từng tác nhân sẽ thay đổi theo điều kiện vận hành và môi trường vật lý. Có 4 tác nhân chính: CO2, H2S, O2, hoạt động trao đổi chất của vi khuẩn. Để tác nhân này có thể gây ăn mòn, bắt buộc phải có nước [1, 2].

     

    Các cơ chế phá hủy: Cơ chế ăn mòn (ăn mòn Galvanic, ăn mòn do chênh lệch nồng độ), cơ chế nứt do tác động môi trường (phá hủy do hydro, nứt ăn mòn ứng suất, giòn do kim loại lỏng), cơ chế phá hủy do dòng chảy (xói mòn, va chạm, ăn mòn xói mòn, tạo bọt khí) [3].

     

    Ngày nhận bài: 27/8/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 27/8 – 19/9/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    2. Hiện trạng ăn mòn đường ống dẫn khí của PV GAS và Vietsovpetro trên cơ sở dữ liệu vận hành đến thời điểm hiện tại

     

    Trên cơ sở các thông số vận hành, khi có nước, cơ chế ăn mòn chủ yếu đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố là ăn mòn do CO2 [4]. Khả năng xảy ra và cơ chế ăn mòn được đưa ra trong Bảng 1:

     

    • Có khả năng: Cơ chế này khi chưa áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn có khả năng phá hủy tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Các biện pháp phòng ngừa cần được áp dụng để kiểm soát mối nguy.
    • Không có khả năng: Cơ chế này dự báo sẽ không có ảnh hưởng đáng kể đến tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Không cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn.

    Mỗi cơ chế “Có khả năng” sẽ cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn. Nguy cơ xảy ra những cơ chế này sau khi được áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn được chia thành 3 mức độ:

     

    • Cao: Dù sử dụng các biện pháp nhưng khả năng xảy ra rất cao, cần tăng cường kiểm tra, theo dõi, bảo

    62       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    dưỡng để kiểm soát nguy cơ, có thể phải thay đổi thiết kế/ vật liệu nếu cần.

     

    • Trung bình: Có thể kiểm soát sử dụng các phương pháp công nghiệp đã được công bố; kiểm tra, theo dõi, bảo dưỡng ở mức độ thông thường.
    • Thấp: Chỉ cần kiểm tra, theo dõi và bảo dưỡng ở mức độ tối thiểu.

    Dựa trên đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí, có thể kết luận cơ chế ăn mòn chính là do CO2.

     

    3. Đánh giá tốc độ ăn mòn đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố bằng phương pháp mô phỏng thực nghiệm và lý thuyết

     

    Các phần mềm mô phỏng thường được thiết lập chế độ an toàn khi đưa ra kết quả tốc độ ăn mòn dự đoán và trong nhiều trường hợp mức độ ăn mòn cao hơn thực tế rất nhiều. Một số phần mềm lại giả sử đường ống có sự bảo vệ từ lớp dầu hoặc sản phẩm ăn mòn và đưa ra mức độ ăn mòn thấp hơn so với thực tế [5 – 8].

     

    Theo tiêu chuẩn của Canada, bất kỳ khí có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành sẽ được coi là không có tính ăn mòn. Khí chứa H2S và CO2 có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành do khử nước hoặc sử dụng chất ức chế, cũng được coi là không có tính ăn mòn [9]. Nhiệt độ điểm sương của khí trong đường ống được duy trì ở mức 5oC ở áp suất vận hành, thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ vận hành (khoảng 30oC).

     

    Số liệu trong giai đoạn 2010 – 2017 được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Dịch vụ Kỹ thuật (DMC RT) sử dụng là kết quả thực tế, trong khi đó WebCorr và DNV sử dụng kết quả dự báo từ phần mềm Hysis. Ngoài ra, WebCorr không tính đến tham số hàm lượng acid acetic/ acetate và hàm lượng bicarbonate, 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn. Trong khi đó, DNV có tính đến các tham số này nhưng bộ dữ liệu thiếu chắc chắn (2 bộ dữ liệu lệch nhau tương đối lớn).

     

    Thực nghiệm bằng phương pháp đo điện hóa và phương pháp tổn hao khối lượng, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 trong khí tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện

     

    Bảng 1. Tóm tắt các cơ chế phá hủy và nguy cơ xảy ra

     

                 

    Cơ ch

                     

    Nguy cơ

             

    Nguy cơ sau áp d ng bi n pháp

                                                   

    gi m thi u ăn mòn

         
                                                                     
               

    Ăn mòn oxy

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn vi khu n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Giòn th y ngân l ng

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn xói mòn

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    H2S (do MIC)

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
           

    H2S (nư c chua)

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                   

    C n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Clo hòa tan

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Ăn mòn CO2

               

    Có kh  năng

                   

    Trung bình

         
         

    Ăn mòn vùng hàn

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
       

    Giòn nhi t đ  th p

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Ăn mòn dư i l p c n

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
               

    Acid h u cơ

               

    Có kh  năng

                   

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn đ nh  ng

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                           

    Bảng 2. So sánh tốc độ ăn mòn từ các phần mềm với số liệu coupon/đầu dò

                     
                                                                               
       

    Đơn v

             

    Ph n m m

                             

    T c đ  ăn mòn (mm/năm)

                     
       

    th c hi n

             

    2010

       

    2011

         

    2012

         

    2013

       

    2014

       

    2015

         

    2016

       

    2017

     
                                                       
       

    DMC-RT

           

    ECE 5.4

    0

       

    0

     

    0

     

    0

       

    0,01

       

    0,01

     

    0,04

     

    0,08

     
               

    M-506

       

       

     

    0,19

       

    0,31

       

    0,3

     

    0,57

     

    0,69

     
                                           
       

    DNV

               

    ECE 4

       

     

     

       

       

    0,46

     

    0,58

     

    0,8

     
                   

    Predict 6.1

       

       

     

       

       

    0,045

     

    0,0005

     

    0,0005

     
                                           
                     

    ECE 5.1

       

     

     

       

       

    0,3

     

    0,41

     

    0,62

     
       

    WebCorr

           

    Predict 6.1

       

     

     

       

       

    0,66

     

    0,81

     

    1,1

     
               

    M-506

       

       

     

       

       

    0,42

     

    0,62

     

    0,99

     
                                           
                     

    DWM

       

     

     

       

       

    0,42

     

    0,53

     

    0,72

     
             

    Probe

     

    NA

     

    NA

     

    0,00035

     

    0,00155

       

    0,00195

       

    0,0003

     

    0,0001

     

    0,00025

     
           

    Coupon

    0,002

     

    0,0015

     

    0,0025

     

    0,00231

       

    0,00068

       

    0,00035

     

    0,00055

     

    0,00013

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    63

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    mô phỏng khắc nghiệt hơn thực tế (dung dịch NaCl 0,1%, 1.000ppm acid acetic) ở mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086mm/năm và 0,066mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59mm đến 0,77mm.

     

    Theo tiêu chuẩn của NACE, nếu không có nước, CO2 là chất không ăn mòn [1]. Trên thực tế, hàm lượng nước trong đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố rất thấp, tốc độ ăn mòn chậm, điều này được phản ánh qua kết quả khảo sát bằng đầu dò và coupon.

     

    Tuy nhiên, theo ghi nhận và thông tin từ PV GAS, trong quá trình vận hành, đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố gặp phải các vấn đề liên quan đến ăn mòn tại một số vị trí và đã phải sửa chữa. Để kiểm soát vấn đề này, cần nghiên cứu và khảo sát điều kiện địa hình tuyến ống biển, từ đó tính toán được góc tới hạn của độ nghiêng cho từng đoạn ống, tính toán vị trí có nguy cơ đọng nước và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp. Phóng thoi định kỳ cũng là biện pháp để kiểm soát các bất thường này [1, 5].

     

    4. Đánh giá hiệu quả của hóa phẩm chống ăn mòn đang sử dụng tại đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn hiệu quả

     

    Nhóm tác giả sử dụng phương pháp đặt mẫu coupon (Wheel test) và phương pháp đo điện trở phân cực trong điều kiện sục khí (LPR bubble test) [3, 10 – 12].

     

    Các hóa phẩm chống ăn mòn được đánh giá gồm 1 mẫu hóa phẩm đang sử dụng (chất ức chế A) và 2 mẫu hóa phẩm thương mại khác (chất ức chế B và C).

     

    • Chất ức chế A: BAKER PETROLITE CR080143.
    • Chất ức chế B: CORRTREAT 5745.
    • Chất ức chế C: HB CI 8102.

    Kết quả đo điện hóa tại các nồng độ khảo sát và so sánh khả năng bảo vệ của 3 chất ức chế ở mỗi nồng độ cho thấy:

     

    ++ Đối với chất ức chế A: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 100ppm.

     

    ++ Đối với chất ức chế B: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 150ppm.

     

    Hiu qu bo v (%)

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

    10ppm

    30ppm

    50ppm

    100ppm

    150ppm

       

    N ng đ  (ppm)

       
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

     

    Ch t  c ch  C

     
                 
                   
         

    Hình 1. So sánh hiệu quả bảo vệ các chất ức chế

           
           

    Bảng 3. So sánh hiệu quả bảo vệ

           
                           

    N ng đ

               

    Hi u qu  b o v  (%)

           
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

       

    Ch t  c ch  C

     
                     

    10ppm

       

    83,98

         

    80,58

       

    89,96

     

    30ppm

       

    85,10

         

    81,89

       

    90,92

     

    50ppm

       

    87,45

         

    84,55

       

    91,17

     

    100ppm

       

    90,12

         

    88,69

       

    91,73

     

    150ppm

       

    90,32

         

    90,04

       

    91,82

     

    64       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    ++ Đối với chất ức chế C: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 30ppm và đạt hiệu quả tối ưu ở nồng độ từ 100ppm.

     

    Trong 3 chất ức chế A, B, C thì chất ức chế C cho hiệu quả bảo vệ cao nhất đạt trên 90% tại hầu hết các nồng độ khảo sát.

     

    • Tách nước (kiểm soát điểm sương) kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp là biện pháp chủ yếu được sử dụng trên thế giới [1].

    ++ Ngay cả trong điều kiện áp suất riêng phần CO2 cao (7 – 8 bar), nhiệt độ cao (93 – 130oC) và tốc độ dòng lớn (25m/s), chất ức chế ăn mòn vẫn đạt hiệu quả bảo vệ cao [10].

     

    ++ Ở nhiệt độ lên tới 150oC, áp suất CO2 lên tới 10 bar, áp suất H2S lên tới 10 bar, tốc độ dòng trên 20m/s, đường ống thép carbon vẫn hoạt động tốt bằng việc sử dụng chất ức chế ăn mòn [5].

     

    • Tách CO2 và kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp cũng là một giải pháp. Tuy nhiên, chi phí cho việc lắp đặt hệ thống tách CO2 khá cao, cần cân nhắc yếu tố kinh tế khi quyết định sử dụng giải pháp này [13].
    • Giải pháp khác: Điều chỉnh pH (The pH stabilisation

    technique): tăng pH sẽ tăng sự hình thành sản phẩm ăn mòn có tính bảo vệ trên bề mặt kim loại (FeCO3) [13, 14].

     

    Đề xuất yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố nhằm đảm bảo an toàn vận hành: Hạn chế tối thiểu hàm lượng các khí ăn mòn trong thành phần khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố. Theo kết quả thực nghiệm bằng phương pháp trong phòng thí nghiệm, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện mô phỏng phòng thí nghiệm đạt mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66 mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086 mm/năm và 0,066 mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59 – 0,77mm. Theo thiết kế, chiều dày ăn mòn dự trữ là 1mm, trong khi những năm trước đó, tốc độ ăn mòn không đáng kể, theo lý thuyết thành phần khí giao như vậy hoàn toàn đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn. Tuy nhiên, để kiểm chứng các mô hình mô phỏng, các thử nghiệm hiện trường (field test) là yêu cầu bắt buộc trước khi áp dụng thực tế bởi thử nghiệm hiện trường sẽ mô phỏng được đầy đủ hơn các yếu tố trong thực tế.

     

    5. Kết luận

     

    Kết quả đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cho thấy cơ chế ăn mòn chính là do CO2. Với hàm lượng CO2 được duy trì ở mức thấp (dưới 1% mol), ăn mòn CO2 đang được khống chế bằng việc bơm chất ức chế ăn mòn. Trong thực tế vận hành, các vị trí ăn mòn xuất hiện bất thường trên đường ống, vì vậy cần thường xuyên theo dõi ăn mòn bằng việc phóng thoi định kỳ và sử dụng phần mềm mô phỏng, xác định các vị có nguy cơ ăn mòn cao.

     

    Kết quả mô phỏng bằng các phần mềm mô phỏng với kết quả thực tế từ coupon, đầu dò, phần mềm Predict 6.1 cho kết quả phù hợp nhất.

     

    Kết quả thử nghiệm bằng phương pháp điện hóa và thử nghiệm bằng phương pháp tổn hao khối lượng tương đối phù hợp so với các kết quả tốc độ ăn mòn từ coupon, đầu dò và phần mềm Predict 6.1.

     

    Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp chống ăn mòn: tách nước kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; tách CO2 kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; sử dụng phần mềm Predict 6.1.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. NACE International. Control of internal corrosion in steel pipelines & piping systems. NACE SP0106-2018-SG.
    1. NACE International. Internal corrosion for pipelines
    • Advanced. www.nace.org.

     

    1. Papavinasam, R.W.Revie, M.Attard, A.Demoz, K.Michaelian. Comparison of laboratory methodologies to evaluate corrosion inhibitors for oil and gas pipelines. Corrosion. 2003; 59(10): p.897 – 912.
    1. Internal corrosion study for PL-16A gas pipeline, DNV GL. Report No.: 2014/474/008, Rev. 3.
    1. Sergio D.Kapusta, Bernardus F.M.Pots, R.A.Connell. Corrosion management of wet gas pipelines. Corrosion. 25-30 April, 1999.
    1. Rolf Nyborg. CO2 corrosion models for oil and gas production systems. Corrosion. 14 – 18 March, 2010.
    1. Seyed Mohammad Kazem Hosseini. Avoiding common pitfalls in CO2 corrosion rate assessment for upstream hydrocarbon industries. The 16th Nordic Corrosion Congress, Stavanger Norway. 20 – 22 May, 2015.
    1. Vishal V.Lagad, Sridhar Srinivasan, Rusell D.Kane. Facilitating internal corrosion direct assessment using

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    65

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    advanced flow and corrosion prediction models. Corrosion.

     

    16 – 20 March, 2008.

     

    1. Standards Council of Canadian. Oil & gas pipeline systems. CAN/CSA-Z662-11.
    1. Michael Swidzinski, Bob Fu, Audrey Taggart, W.Paul Jepson. Corrosion inhibitor of wet gas pipelines under high gas and liquid velocities. Corrosion. 2000.
    1. Papavinasam. Evaluation and selection of corrosion inhibitors. Materials Technology Laboratory, Ottawa, Canada.
    1. ASTM   Standard  practice  for

    preparing, cleaning, and evaluating corrosion test specimens.

     

    ASTM G1.

     

    1. Sridhar Srinivasan, Vishal Lagad. ICDA: A quantitative framework to prevent corrosion failures and protect pipelines. Corrosion. 12 – 16 March, 2006.
    1. NACE International. Internal corrosion direct assessment methodology for pipelines carrying normally dry natural gas (DG-ICDA).
    1. Prediction of corrosion growth rate for 16″ Bach Ho – Dinh Co pipeline from 2015 to 2025. CSM-15606.

    CORROSION ASSESSMENT OF BACH HO – DINH CO GAS TRANSMISSION PIPELINE AND SOLUTIONS FOR CORROSION CONTROL

    Phan Cong Thanh, Truong Quang Truong, Tran Mai Khoi

    Petrovietnam Drilling Mud Corporation (DMC)

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Bach Ho – Dinh Co gas transmission pipeline (16” and 116.5km long) was put into operation in 1995 to transport associated gas from the Central Compression Platform (CPP) in Bach Ho field to Dinh Co Gas Processing Plant.

     

    As gas output from Bach Ho field decreases, Vietsovpetro and Petrovietnam Gas Joint Stock Corporation (PVGAS) have considered the possibility of using this pipeline to transport gas from Dai Hung, Thien Ung, Ca Cho, Gau Chua and Dai Nguyet fields in the Nam Con Son basin to shore. The service life of Bach Ho-Dinh Co gas transmission pipeline therefore needs to be guaranteed until 2025 to meet the requirements for receiving and transporting new gas sources.

     

    This article assesses the corrosive status of Bach Ho – Dinh Co gas pipeline system based on the design and operation parameters, updated results after survey, maintenance and repair. It also assesses the operational safety of the pipeline system when receiving gas with higher CO2 content from Thien Ung and Dai Hung fields and proposes anti-corrosion solutions.

     

    Key words: Gas pipeline, corrosion, CO2, Bach Ho – Dinh Co.

     

     

    66       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]