Category: Báo Cáo Khoa Học

  • Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-marketing-lan-t%E1%BB%8Fa-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-h%C3%A0nh-vi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-t%E1%BA%A1i-Th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG MARKETING LAN TỎA ĐỐI VỚI HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    Nguyễn Xuân Minh*

     

    Nguyên Nư Thuân Giang

     

    Tóm tắt

     

    Viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Thông qua kết quả khảo sát, có thể thấy ảnh hưởng của viral marketing đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng là khá lớn. Tuy co thê tao nên lơi thê canh tranh to lơn cho doanh nghiêp so vơi cac đôi thu trên thi trương băng những chiên dich marketing ân tương, ca tinh, đôc đao, mang ban săc riêng ma vân tiêt kiêm đươc chi phi nhưng viral marketing cung co thê bi ap dung sai hay lam dung qua mưc, gây kho chiu cho ngươi tiêu dung, tao nên những phan ưng tiêu cưc đôi vơi cac san phâm/ dich vu cua doanh nghiêp. Do đo, môt khi quyêt đinh ap dung viral marketing, trươc tiên cac doanh nghiêp cân phai tim hiêu, nghiên cưu thật sư ki vê hinh thưc nay với nhữ̃ng giải pháp phù hợp tùy vào đặc điểm của ngành hàng và khách hàng mục tiêu mà doanh nghiệp đang muốn hướng đến.

     

    Từ khóa: marketing lan tỏa, viral marketing, hành vi người tiêu dùng.

     

    Mã số:102.031214. Ngày nhận bài: 13/12/2014. Ngày hoàn thành biên tập:15/02/2015. Ngày duyệt đăng: 12/04/2015.

     

    Summary

     

    Viral marketing is a form of marketing activities utilizing the spreading effects of social networks and the Internet in order to promote companies’ messages about products and services to consumers. By the survey results, it can be noted that viral marketing can influence consumers’ attitudes and behaviour so significantly. Viral marketing can help companies to create meaningful competitive advantage over their competitors by impressive and unique marketing campaigns with saved budgets. However, it can be abused or utilized in a wrong way, which causes unpleasant feelings or negative behaviour. Companies should carefully consider characteristics of relevant industries and targeted customers as well as this form of marketing itself so as to choose suitable and effective solutions.

     

    Key words: viral marketing, consumers’ behaviour

     

    Paper No.102.031214. Date of receipt: 13/12/2014. Date of revision:15/02/2015. Date of approval: 12/04/2015.

     

     

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với không chỉ các công ty nội địa mà còn với các công ty nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia. Trước tình hình đó, nhiều

     

    doanh nghiệp trong nước đã nỗ lực đầu tư cho hoạt động marketing nhằm mở rộng thị trường, nâng cao khả năng nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ. Việc tận dụng sức mạnh lan truyền thông tin thông

     

    * PGS, TS. Trường Đại học Ngoại thương; Email: [email protected]

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       61

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    qua mạng lưới Internet thực sự mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp đã áp dụng phương pháp marketing lan tỏa (tạm dịch từ “viral marketing”), bởi đây là một hoạt động marketing vừa tiết kiệm chi phí vừa đảm bảo truyền được thông điệp mà doanh nghiệp muốn gửi gắm tới khách hàng tiềm năng của mình.

     

    Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra các tác động tích cực, tiêu cực của hình thức này nhằm giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể đưa ra các chiến lược truyền thông phù hợp. Người viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng khảo sát nhằm thu thập nguồn thông tin sơ cấp cho việc phân tích thực trạng và ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh.

     

    1. Tổng quan về viral marketing

     

    Viral marketing, hay còn gọi là marketing lan tỏa có nguồn gốc từ hình thức marketing truyền miệng (word-of-mouth marketing). Marketing truyền miệng sử dụng nguyên lý truyền thông tự phát của con người trong cuộc sống hàng ngày, sử dụng những câu chuyện có sức ảnh hưởng để tạo nên sự lan truyền những mẫu quảng cáo sản phẩm/ dịch vụ hay tin đồn nào đó (Mindcomet Corporation, 2008). Theo Cruz, D. and Fill, C. (2008) thì có nhiều nguyên nhân khiến người tiêu dùng thích nói về những sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã sử dụng, có thể là do mong muốn chia sẻ kinh nghiệm mua sắm của mình với những người tiêu dùng khác hay đơn giản là họ muốn bàn tán về những vấn đề liên quan đến uy tín của một thương hiệu (Cruz, D. and Fill, C., 2008). Cũng chính vì chủ yếu sử dụng hình

     

    thức truyền miệng giữa người với người nên marketing truyền miệng bị giới hạn ở tốc độ truyền thông tin. Do đó, hình thức này đòi hỏi phải tốn khá nhiều thời gian để thông điệp bao phủ khắp nơi. Dù có nhược điểm như vậy nhưng trong một số trường hợp nhất định, hình thức marketing truyền miệng lại có sức ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng lớn hơn nhiều so với những hình thức quảng cáo trên các tạp chí, đài phát thanh hay các kênh bán hàng cá nhân (Engel et al,1969) vốn chủ yếu được sử dụng khi Internet chưa thực sự phát triển.

     

    Thuật ngữ “viral marketing” được Steve Juvertson và Tim Draper dùng vào năm 1997 để mô tả cách thức dịch vụ email (thư điện tử) miễn phí- hotmail được quảng bá, xúc tiến. Cụ thể, dòng chữ ký của tất cả các email được gửi thông qua hotmail- đại lý email miễn phí trực tuyến đầu tiên, đều ghi một lời mời để người dùng tạo ra một tài khoản hotmail.com miễn phí. Phương pháp xúc tiến thương mại này được coi là “viral” (lan tỏa), bởi thông điệp đã được truyền đi bởi chính người dùng tới những người dùng khác. Từ “viral” bắt nguồn từ từ “virus”, nó tượng trưng cho cách thức mà thông điệp lây lan nhanh chóng như những con vi-rút, hoàn toàn không mang ý nghĩa tiêu cực (Rodić, N. & Koivisto, E., 2012). Theo Rodić, N. & Koivisto, E. (2012), có một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả hình thức marketing này như: “Word-of-mouth”- marketing truyền miệng (Goldenberg et al.2001), “Referral Marketing”- Marketing đề cử (De Bruyn and Lilien, 2004),…

     

    Cruz, D. and Fill, C. (2008) cho rằng marketing lan tỏa liên quan đến việc trao đổi thông tin về một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể bằng hệ thống mạng đồng đẳng, nơi người dùng có thể dễ dàng và thường xuyên trao đổi

     

    62            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    thông tin với nhau. Bên cạnh đó, họ cũng cho rằng không nên dùng các công cụ tài chính để điều khiển sự lan truyền của thông điệp bởi marketing lan tỏa không phải là một dạng của quảng cáo. (Cruz, D. and Fill, C.,2008). Chính vì vậy, cần để người tiêu dùng tự nguyện lan truyền thông điệp về các sản phẩm hay dịch vụ với nhau.

     

    Mặc dù có nhiều khái niệm và khác biệt khi nghiên cứu sâu về tính chất, đặc điểm của hoạt động viral marketing nhưng các tác giả trên đều thống nhất về một điểm, đó chính là sự lan tỏa- yếu tố quyết định của hình thức marketing này.

     

    Dựa trên những định nghĩa trên, tác giả đưa ra khái niệm về hoạt động viral marketing như sau: “viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng.”

     

    Đặc điểm của viral marketing

     

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing rất đa dạng, nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: email (thư điện tử), blog (trang web chia sẻ thông tin cá nhân trực tuyến), chatroom (thảo luận trực tiếp trên Internet), diễn đàn người dùng, forum seeding (gieo mầm thông tin trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội, …), mạng xã hội, video … (Xavier, L. and Summer, G., 2009).

     

    Theo Ralph F. Wilson (2000), những đặc điểm của một hoạt động viral marketing hiệu quả là cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ “miễn phí”, truyền tải thông tin một cách dễ dàng, lây lan, tạo hiệu ứng lan truyền nhanh chóng, tận dụng được những động cơ và hành vi thông thường, sử dụng hiệu quả các mạng

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    truyền thông hiện có, tạo được sự liên kết giữa các kênh truyền thông.

     

    Khi áp dụng hoạt động viral marketing thì doanh nghiệp có thể có những thuận lợi như:

     

    • Tiết kiệm một khoản tiền đáng kể khi so sánh với các hình thức marketing truyền thống (Fairbank, 2008).
    • Bỏ qua các hình thức hỗn loạn của marketing truyền thống, cho phép các doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng hiệu quả hơn (Mindcomet Corporation, 2008).
    • Chiến dịch viral marketing không yêu cầu sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp phải thực sự xuất sắc hay nổi bật. Thay vào đó, yếu tố thực sự cần phải xuất sắc và nổi bật chính là chiến dịch marketing đó (Mindcomet Corporation, 2008). Vì vậy, một doanh nghiệp tuy có sản phẩm, dịch vụ với chất lượng trung bình, không quá nổi bật vẫn hoàn toàn có thể thu được lợi nhuận bằng một chiến dịch viral marketing hiệu quả.
    • Được người tiêu dùng tiếp nhận, bất luận kết quả cuối cùng là doanh nghiệp sẽ nhận được phản ứng tiêu cực hay tích cực (Mindcomet Corporation, 2008). Điều này có nghĩa, khi được ai đó giới thiệu, chia sẻ về đường dẫn tới một trang web, một đoạn video ấn tượng, một chủ đề thảo luận trên mạng … người tiêu dùng có thể vì tò mò mà nhấn vào đường dẫn đó. Dù người tiêu dùng đó thích hay không thích nội dung của trang web, đoạn video … đó thì hoạt động viral marketing cũng đã gây được hiệu ứng lan truyền.

    Bên cạnh đó, viral marketing cũng gặp phải những bất lợi như:

     

    • Thứ nhất, việc để thông điệp tự lan truyền rủi ro hơn so với marketing truyền thống

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      63

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    bởi nếu không được thực hiện đúng, viral marketing có thể phản tác dụng và tạo tin đồn tiêu cực (Mindcomet Corporation, 2008). Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp bắt đầu kiểm soát thông điệp trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội thì người tiêu dùng lại cho rằng những thông tin đó là giả tạo và không đáng tin cậy. (Scott, D., 2007)

     

    • Thứ hai, viral marketing có thể gây khó chịu cho người tiêu dùng. Nếu những hình thức khuyến mại như: “Chỉ cần gửi tin nhắn này cho 5 người bạn của bạn, bạn sẽ được hưởng ưu đãi khi mua sắm tại đây” sẽ khuyến khích người tiêu dùng gửi thư rác (spam email) tới bạn bè của mình (Fairbank, 2008). Loại email này thường gây khó chịu cho người nhận vì họ nhấn vào đường dẫn mà chẳng nhận được thông tin bổ ích gì (Chaffey, D., 2003).
    • Thứ ba, các doanh nghiệp không thể kiểm soát số lượng người có thể tiếp cận chiến dịch marketing của mình (Fairbank, 2008). Bởi nếu số người xem quá đông, nhu cầu về một mặt hàng hay dịch vụ tăng đột biến, mà doanh nghiệp lại không đủ khả năng đáp ứng thì sẽ gây tác động xấu đến uy tín của doanh nghiệp.

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing là một hoạt động rất phong phú, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau bao gồm email, blog, chatroom, diễn đàn trực tuyến, các trang mạng xã hội, clip, video… Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích các hình thức phổ biến nhất của hoạt động viral marketing tại Việt Nam, cụ thể là: email, social network (trang mạng xã hội), video, forum (diễn đàn trực tuyến).

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi người

     

    tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

     

    2.1. Phương pháp khảo sát

     

    Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi qua email và điều tra trực tiếp với 350 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Địa bàn khảo sát là 5 quận trung tâm thành phố Hồ Chí Minh (Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4 và Quận 5), mỗi quận 100 phiếu trả lời được thu thập tại trung tâm mua sắm (25 phiếu), trường học (25 phiếu) và khu dân cư (25 phiếu) và các địa điểm khác (25 phiếu) theo sự lựa chọn tùy ý của điều tra viên. Nếu người được khảo sát sẵn sàng dành thời gian trả lời trực tiếp, điều tra viên phát phiếu khảo sát trực tiếp và lấy thông tin đầy đủ. Nếu người được khảo sát bày tỏ

     

    • kiến sẵn sàng trả lời nhưng không có đủ thời gian trả lời, điều tra viên thu thập thông tin về địa chỉ email và gửi phiếu khảo sát qua email để người được khảo sát trả lời trực tuyến. Kết quả thu được 150 phiếu trả lời trực tiếp có đầy đủ thông tin, phiếu khảo sát điện tử bằng ứng dụng Google Docs được gửi đến 200 người tiêu dùng qua email và có 100 người tiêu dùng trả lời. Tổng cộng có 250 phiếu khảo sát được thu về, sau khi loại bỏ những phiếu không hợp lệ (không điền đầy đủ thông tin) thì có 236 phiếu khảo sát được sử dụng để phân tích dữ liệu.Dữ liệu được thống kê và xử lý bằng phần mềm

    SPSS.

     

    2.2. Mô tả bảng câu hỏi khảo sát

     

    Các vấn đề trọng tâm được khảo sát bao gồm:

     

    -Ả̉nh hưởng của viral marketing đến khả năng nhận biết nhãn hiệu của người tiêu dùng.

     

    -Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối

     

    64            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    với các hình thức viral marketing phổ biến hiện nay.

     

    -Thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

     

    -Ả̉nh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành động của người tiêu dùng.

     

    Bảng khảo sát được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ.Thang đánh giá này sẽ cung cấp thông tin về mức độ ảnh hưởng của viral marketing đến người tiêu dùng. Bảng khảo sát được thiết kế gồm 16 câu hỏi chính, tương ứng với 16 biến khảo sát được đánh giá là có tác động đến hành vi của người tiêu dùng đối với viral marketing.

     

    Các biến nhân khẩu sử dụng trong nghiên cứu là giới tính, tuổi, mức thu nhập, trình độ học vấn. Cơ cấu mẫu quan sát được thể hiện trong bảng dưới đây.

     

    Bảng 1. Thông tin nhân khẩu của mẫu khảo sát

     

    Yếu tố

    Phân loại

    Số lượng

    Tỷ lệ

     

    (Người)

    (%)

     
       

    Giới

    Nam

    113

    47,88

     

    Nữ

    123

    52,12

     

    tính

    Tổng

    236

    100

     
     
     

    Dưới 18 tuổi

    38

    16,1

     
     

    Từ 18- 25 tuổi

    143

    60,59

     

    Tuổi

    Từ 25-35 tuổi

    41

    17,37

     

    Từ 35- 50 tuổi

    11

    4,66

     
     
     

    Trên 50 tuổi

    3

    1,27

     
     

    Tổng

    236

    100

     

    Mức

    Dưới 3 triệu

    139

    58,9

     

    thu

           

    Từ 3-10 triệu

    65

    27,54

     

    nhập

           

    Từ 10-20 triệu

    28

    11,86

     

    hàng

    Trên 20 triệu

    4

    1,69

     

    tháng

    Tổng

    236

    100

     

    (VND)

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

    THPT trở

    36

    15,25

     
     

    xuống

    Trình

         

    Cao đẳng

    43

    18,22

     

    độ học

    Đại học

    142

    60,17

     

    vấn

    Sau đại học

    15

    6,36

     
     
     

    Tổng

    236

    100

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát tháng 10/2014)

    2.3. Phân tích kết quả khảo sát – Về mức độ sử dụng Internet

     

    Kết quả khảo sát phản ánh khá sát với thực trạng hiện nay: có đến 69,07% số người khảo sát sử dụng mạng Internet tất cả các ngày trong tuần, và 16,53% sử dụng từ 5-6 ngày. Trong đó, khoảng thời gian mỗi ngày để sử dụng Internet đa số là từ 4-6 giờ (chiếm 45,76%) và từ 1-3 giờ (chiếm 33,47%). Đây là những con số khá lớn so với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Qua những số liệu này, có thể thấy đối với thành phố Hồ Chí Minh có thể phát triển các chiến dịch viral marketing- các chiến dịch xúc tiến thương mại tận dụng sự lan truyền thông tin nhanh chóng trên mạng Internet ngày nay.

     

    • Về mức độ sử dụng các hình thức phổ biến trong viral marketing

    Người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu sử dụng các trang mạng xã hội với 69,07% số người được khảo sát sử dụng từ 1-3 giờ/ngày, 13,56% sử dụng từ 4-6 giờ/ngày. Đối với các video, có 39,83% sử dụng ít hơn 1 giờ/ngày và 38,14% sử dụng từ 1-3 giờ/ngày. Trong khi đó, hình thức thư điện tử (email) được sử dụng khá ít với 73,31% số người được khảo sát trả lời chỉ dành ít hơn 1 giờ/ngày để sử dụng. Tuy nhiên, hình thức ít được sử dụng nhất là các diễn đàn trực tuyến (forum). Số lượng người

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      65

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    không sử dụng forum lên đến 30,08%, cao nhất trong cả 4 hình thức. Nhìn chung, do người tiêu dùng chủ yếu là giới trẻ có độ tuổi từ 18-25 nên ta có thể dễ dàng hiểu được nguyên nhân vì sao các trang mạng xã hội như Facebook, Zing Me,… với giao diện bắt mắt lại được ưa chuộng nhất trong khi các diễn đàn trực tuyến như Webtretho, Voz forum, Vn-zoom,… mặc dù là nơi trao đổi, chia sẻ thông tin khá hữu ích nhưng lại không được quan tâm do giao diện khá thô cứng, không đẹp mắt.

     

    • Về tầm quan trọng của việc lắng nghe kinh nghiệm, chia sẻ trên mạng của nhữ̃ng người tiêu dùng khác trước khi mua một sản phẩm hay dịch vụ

    47,03% người tiêu dùng đồng ý rằng việc tìm hiểu thông tin, kinh nghiệm trên Internet của những người tiêu dùng khác là quan trọng và 23,73% lại thấy đây là một việc rất quan trọng. Điều này chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet đến tâm

     

    lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua bất kì một sản phẩm, dịch vụ nào là cực kì lớn. Cũng chính những thông tin này sẽ giúp người tiêu dùng biết đến những sản phẩm, dịch vụ mới đang được ưa chuộng và ảnh hưởng đến thái độ, cách nhìn nhận tiêu cực hay tích cực của người tiêu dùng đối với một sản phẩm, dịch vụ nào đó dù chưa từng sử dụng.

     

    • Về khả năng nhậ̣n biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ nhữ̃ng thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet

    Trước thực trạng người tiêu dùng không chú ý đến những mẫu quảng cáo phát trên truyền hình, đài phát thanh, in trên các báo, tạp chí, phớt lờ những biển hiệu bắt mắt hay những tờ rơi được phát tận tay thì việc có đến 52,97% người được khảo sát đồng ý và 19,49% người rất đồng ý rằng mình có thể nhận biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ những thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet đã thực sự chứng minh

     

     

     

    Hình 1.Tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet (Đơn vị tính: %)

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    66            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiệu quả của hoạt động viral marketing-một hoạt động marketing có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và nguồn nhân lực. Đây được coi là một trong những lợi thế ưu việt của các chiến dịch viral marketing do có thể giúp doanh nghiệp nâng cao khả nhận biết thương hiệu với nguồn chi phí hạn hẹp trong tình hình kinh tế còn khó khăn như hiện nay.

     

    Có đến 75% người tiêu dùng (44,92% đồng ý và 30,08% rất đồng ý) cho rằng họ có thể ghi nhớ một nhãn hiệu tốt hơn nhờ những thông tin hay quảng cáo ý nghĩa, ấn tượng, độc đáo, hài hước,…. Qua đó có thể

     

    thấy tầm quan trọng về mặt nội dung của những thông điệp được lan truyền. Thay vì những thông tin, quảng cáo có nội dung hời hợt, tương đồng nhau, không có sự khác biệt tràn lan của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì những thông tin, quảng cáo có giá trị về nội dung, mang một ý nghĩa sâu sắc, cảm động, mới lạ hay có tính giải trí cao sẽ giúp người tiêu dùng nhớ đến sản phẩm, dịch vụ đó tốt hơn rất nhiều.

     

    • Về tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm / dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet

    Kết quả khảo sát phản ánh khá chính xác tâm lý của khách hàng trong thực tiễn: chỉ có 25,42% (20,34% người đồng ý và 5,08% người rất đồng ý) cho rằng các hoạt động viral marketing củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/ dịch vụ, 47,88% giữ ý kiến trung lập và 26,69% (22,88% không đồng ý và 3,81% rất không đồng ý) cho rằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên mạng không tác động tới niềm tin của họ đối với các sản phẩm/ dịch vụ. Điều này chứng tỏ mức độ tin tưởng của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh dành cho hình thức viral marketing chưa thực sự cao.

     

    • Về thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

    Người tiêu dùng cảm thấy khó chịu với những email quảng cáo tràn ngập trong hộp thư điện tử của mình. Họ thường không quan tâm đến nội dung của các email này và xóa chúng mà không hề đọc tiêu đề. Trái ngược lại với hình thức viral marketing bằng email, những thông tin, quảng cáo được thảo luận, chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến như vozforums.com, Vn-zoom.com, webtretho. com, lamchame.com,… nhận được phản hồi

     

    Bảng 2. Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối với các hình thức Viral Marketing (Đơn vị tính: %)

     

    Mức độ

    Rất không

    Không

    Bình

    Đồng ý

    Rất đồng

    Tổng

     

    Hình thức

    đồng ý

    đồng ý

    thường

    ý

         
                   

    Email

    20,76

    40,25

    33,90

    2,97

    2,12

    100

     
                   

    Trang mạng xã hội

    10,59

    30,51

    43,22

    13,14

    2,54

    100

     
                   

    Video

    11,44

    27,12

    38,98

    15,25

    7,20

    100

     
                   

    Diễn đàn trực tuyến

    5,93

    14,41

    27,12

    42,37

    10,17

    100

     
                   

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       67

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    khá tích cực. Người tiêu dùng không hề cho rằng đây là những thông điệp rác mà coi đó là nguồn thông tin khá hữu ích để tham khảo trước khi quyết định mua một sản phẩm/ dịch vụ.

     

    Trong các hình thức phổ biến của hoạt động viral marketing phổ biến tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hình thức lan truyền, phát tán thông tin bằng email (thư điện tử) nhận được ít sự tin tưởng nhất khi có đến 40,25% người cho rằng nội dung của những email quảng cáo từ bạn bè hay các doanh nghiệp là không đáng tin và 20,76% cho rằng nó không chỉ không đáng tin mà là rất không đáng tin. Bên cạnh đó, 30,51% cho rằng các thông điệp lan truyền trên mạng xã hội (Facebook, Zing Me,…) là không đáng tin cậy và 10,59% cho rằng nó rất không đáng tin. Hình thức viral marketing bằng video có mức độ tin cậy ở vị trí thứ hai khi có 22,45% (15,25% đồng ý và 7,2% rất đồng ý) cho rằng đây những thông tin, quảng cáo bằng video có thể tin cậy được. Có thể thấy, những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất. Có 52,54% (42,37% đồng

     

    • và 10,17% rất đồng ý) tin tưởng những gì mình xem được trên các forum mặc dù có đến 30,08% người được hỏi không sử dụng các diễn đàn này khi truy cập Internet.
    • Về ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi của người tiêu dùng.

    Sau khi tiếp nhận thông tin từ các hình thức của viral marketing, người tiêu dùng có thể bày tỏ ý kiến về thông tin, về sản phẩm, về doanh nghiệp hoặc chia sẻ những điều đó với

     

    người khác. Họ cũng có thể tiến hành mua thử sản phẩm.

    Qua khảo sát, tổng cộng có đến 55,09% người được khảo sát (35,17% đồng ý và 19,92% rất đồng ý) cho biết họ đã chia sẻ/ gửi đường link của một thông tin hay quảng cáo tới bạn bè, người thân vì nó ấn tượng, hài hước, hoặc vì sẽ được khuyến mãi. Chỉ có 4,66% rất không đồng ý và 18,64% không đồng ý. Chính việc người tiêu dùng tự truyền thông tin cho nhau sẽ tạo cơ hội rất lớn cho việc phát tán thông tin, quảng cáo, tạo nên làn sóng lan tỏa cho hoạt động viral marketing.

     

    Tuy nhiên, tỷ lệ người tiêu dùng đã thực sự mua một sản phẩm/ dịch vụ sau khi biết đến nó từ một hoạt động viral marketing chỉ chiếm 29,24% (21,61% đồng ý và 7,63% rất đồng ý). Đây là con số khá khiêm tốn so với số lượng người tiếp xúc với các hoạt động viral marketing.

     

    Có thể thấy, người tiêu dùng sẵn sàng trở thành một mắc xích trong dây chuyền lan tỏa thông điệp của các chiến dịch viral marketing vì họ cảm thấy thích thú trước nội dung mới lạ, độc đáo, có ý nghĩa, quan trọng của marketing lan tỏa và họ muốn chia sẻ với bạn bè, người thân hay vì họ sẽ nhận được những ưu đãi khi gửi đi những thông tin, quảng cáo đó. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ sẵn lòng chi trả một khoản tiền cá nhân để mua những sản phẩm/ dịch vụ đó.

    3. Một số vấn đề lưu ý đối với doanh nghiệp

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy các doanh nghiệp cần lưu ý những vấn đề sau đây trong hoạt động marketing:

     

    68            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    Thứ nhất, tỷ lệ người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng các trang mạng xã hội với thời gian từ 1-3 giờ/ngày chiếm tỷ lệ cao là cơ hội để các doanh nghiệp sử dụng kênh thông tin này để quảng bá sản phẩm, tiếp cận người tiêu dùng bằng viral marketing. Kênh truyền thông này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi vì mạng xã hội là cách tiếp cận khách hàng với chi phí thấp hơn so với các hình thức marketing truyền thống khác với tốc độ lây lan thông tin nhanh chóng và tiếp cận người tiêu dùng một cách dễ dàng.

     

    Thứ hai, những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đến đến tâm lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng các kênh thông tin quảng bá sản phẩm trên Internet, đặc biệt là đội ngũ chuyên viên quảng bá, tư vấn về sản phẩm trên các diễn đàn trực tuyến thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng để kịp thời đưa ra các nhận xét, bình luận tích cực về sản phẩm và tư vấn cho người tiêu dùng về lựa chọn sản phẩm. Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu khi đa số người tiêu dùng được khảo sát cho rằng những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất.

     

    Thứ ba, những ý kiến tích cực tác động không mạnh mẽ đến người tiêu dùng nhưng những ý kiến tiêu cực về sản phẩm được lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng. Do vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng các phương án đối phó với khủng hoảng truyền

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    thông, giảm thiểu tối đa các thông tin tiêu cực lan tràn trên môi trường mạng. Doanh nghiệp cần mở rộng các kênh thông tin và hướng dẫn cụ thể khách hàng về cách thức tiếp cận, phản hồi thông tin cho doanh nghiệp khi sản phẩm gặp vấn đề về chất lượng hoặc khi gặp phải các rắc rối, phiền toái phát sinh đối với khách hàng trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Từ đó, doanh nghiệp có thể có được phản hồi của khách hàng để liên hệ và xử lý kịp thời các lỗi kỹ thuật của sản phẩm hoặc giải thích cho khách hàng hiểu rõ các vấn đề kỹ thuật của sản phẩm cho đến khi đạt được sự đồng thuận, hài lòng của khách hàng.

     

    Thứ tư, tuy hoạt động viral marketing có thể gây hiệu ứng lan truyền rất mạnh mẽ giữa cộng đồng mạng Internet nhưng hình thức này vẫn chưa thực sự hiệu quả trong việc tác động đến quyết định mua hàng cuối cùng của người tiêu dùng. Lý giải cho vấn đề này, có thể thấy do mức độ tin tưởng của người tiêu dùng vào nội dung của các thông tin, quảng cáo được phát tán trên mạng Internet chưa cao. Vì vậy, chiến dịch viral marketing của doanh nghiệp không chỉ nhắm đến việc làm sao để tạo nên một chiến dịch quảng cáo thật ấn tượng, độc đáo, mới lạ mà cần chú

     

    • đến những vấn đề người tiêu dùng muốn biết thông qua những đoạn quảng cáo là cách thức sử dụng, tác dụng, hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

    Tóm lại, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc áp dụng hoạt động viral marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng là một xu thế tất yếu cho sự phát triển và mở rộng của các doanh nghiệp trong

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      69

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiện tại và tương lai. Các doanh nghiệp cần có kế hoạch xây dựng chiến lược marketing lan tỏa của mình tùy theo đặc điểm ngành hàng và khách hàng mục tiêu để có thể khai thác tốt

     

    nhất những mặt mạnh và hạn chế các mặt tiêu cực của marketing lan tỏa để có thể tối ưu hóa kết quả hoạt động marketing trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. q

     

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bruyn, D. A., & Lilien, G. L. (2008). A Multi-Stage Model of Word of Mouth Through Viral Marketing, International Journal of Research in Marketing, Vol. 25, No.3, pp.143-225.
    1. Chaffey, D., 2003, Total E-Mail Marketing, Oxford: Butterworth-Heinemann.
    1. Cruz, D. and Fill, C., 2008, Evaluating viral marketing: Isolating the key criteria,

    Emerald Insight, Vol.6, No.7, pp.743-758.

     

    1. Engel et al, 1969, How information is used to adopt an innovation, Journal of Advertising Research, Vol.9, pp.3-8.
    1. Fairbank, V., 2008, A Study into the Effectiveness of Viral Marketing over the Internet, University of Gloucestershire.
    1. Goldenberg, J., Libai, B. & Muller, E., 2001, Talk the network: a complex systems look at the underlying process of word-of-mouth, Marketing Letters, 12, No.3, pp.211-23.
    1. Juvertson, S. and Draper, T., 1997, Viral Marketing: Viral Marketing phenomenon explained, Investor Reports.
    1. Mindcomet Corporation – white paper. (2008), Viral marketing: Understanding the concepts and benefits of viral marketing. Retrieved from http://cmginteractive. com/uploads/viral_marketing.pdf
    1. Rodić, N. & Koivisto, E., 2012, Best Practices in Viral Marketing, Aalto University school of Economics.
    1. Wilson, R.F., 2000, The six simple principles of viral marketing, Marketing Today Vol.70, pp.1–4.
    1. Xavier, L. J. W. &Summer, G. Y. S., 2009, Viral Marketing Communication: The Internet Word-of-Mouth, School of Management Blekinge Institute of

    70            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-4.0-%C4%90%E1%BA%BEN-QUY%E1%BA%BET-%C4%90%E1%BB%8ANH-KH%E1%BB%9EI-NGHI%E1%BB%86P-KINH-DOANH-ONLINE-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-TH%C3%80NH-PH%E1%BB%90-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    EFFECTING OF INDUSTRY 4.0 TO DECIDE TO START DOING BUSINESS ONLINE OF UNIVERSITIES’ STUDENTS IN HO CHI MINH CITY

     

    Nguyễn Thị Liễu Điền1, Nguyễn Xuân Trường1

     

    Ngày nhận bài: 05/11/2018      Ngày chấp nhận đăng: 23/11/2018        Ngày đăng: 05/4/2019

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục đích xem xét ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định kinh doanh online của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (SEE), thuyết hành động hợp lý TRA, mô hình hành vi dự định TPB, mô hình chấp nhận công nghệ TAM, mô hình nghiên cứu của Krueger – Brazeal, mô hình nghiên cứu của Shapero – Sokol và các nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài để xác định mô hình nghiên cứu gồm 9 yếu tố. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp đã được áp dụng, trong đó nghiên cứu chính thức tiến hành với phương pháp khảo sát cắt ngang (cross-sectional) bằng bảng khảo sát (questionnaire). Phương pháp lấy mẫu thuận tiện đã được áp dụng. Kết quả thu được 503 bảng khảo sát hợp lệ của 503 đáp viên. Kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), nhân tố xác định (CFA) và phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phần mền ứng dụng SPSS 22 và AMOS 20. Kết quả cho thấy các yếu tố: Mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online; Sự tự tin với kinh doanh online và Xu hướng công nghệ có ảnh hưởng đến Ý định kinh doanh online của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng các yếu tố: Chuẩn chủ quan; Thông tin về kinh doanh online trên Internet; Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 và Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có tác động cùng chiều đến Sự mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online và yếu tố Sự tự tin khi kinh doanh online.

     

    Từ khóa: Công nghệ 4.0, khởi nghiệp, kinh doanh online, quyết định kinh doanh.

     

    JEL Classification Code: M31, M37, M39.

     

    Abstract

     

    This study was conducted to examine the impact of technology 4.0 on the online business decision of students in Ho Chi Minh City. Based on the theory of entrepreneurial start-ups – SEE, Theory of Reasoned Action – TRA, Theory of Planned Behavior – TPB, Technology Acceptance Model – TAM, Research Model of Krueger-Brazeal, Research Model of Shapero-Sokol and previous

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    50

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    studies related to the topic, the team developed a proposed model of nine factors including the “Business Decision” factor. The study of 503 validated samples, using EFA, CFA, and SEM, indicated that the expectation factor for starting an online business, Confidence factor for online business and Technological Trends influence the Intent of Online Business of Students. In addition, the study also confirmed that Subjective norms, Information about online business on the Internet, Knowledge platform 4.0 technology, and the 4.0 Technology experience have a positive impact on Expectation factor and Confidence factor in Online Business.

     

    Key words: Technology 4.0, startup, online business, business decision.

     

    1. Giới thiệu

     

    Khởi nghiệp kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư hay còn gọi là cuộc cách mạng 4.0 đã tạo nên sự thay đổi lớn. Các công nghệ được nhắc đến trong cuộc cách mạng 4.0 hiện nay không hề mới, nhưng những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2017 các công nghệ này hội tụ với nhau và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động marketing trên toàn thế giới, xu hướng marketing sẽ dịch chuyển từ truyền thống sang công nghệ số để kịp thích nghi với những thay đổi của hành vi khách hàng trong thời đại công nghệ số. Tác động dễ thấy nhất của cuộc cách mạng 4.0 chính là sự bùng nổ của mạng Internet, thương mại điện tử và cách thức tiếp thị của các doanh nghiệp, chính sự thay đổi này đã tạo nên nhiều cơ hội kinh doanh trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Cách thức tiếp thị thời đại 4.0 chủ yếu được phát triển dựa trên nền tảng Internet, đây cũng là động lực để thúc đẩy các cá nhân, nhóm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về các chỉ số về tinh thần khởi nghiệp và đứng thứ 2 về thái độ tích cực đối với khởi nghiệp là kết quả khảo sát của tập đoàn Amway kết hợp cùng đại học Technische Univeritat Minchen và công ty Nghiên cứu thị trường Gft. Đó là về tinh

     

    thần khởi nghiệp, nhưng theo báo cáo về chỉ số khởi nghiệp của Theo diễn đàn Khởi nghiệp Việt Nam 2015, cứ 100 người Việt Nam thì có 18 người có ý định khởi nghiệp nhưng chỉ có 2 trong số đó là người triển khai ý định khởi nghiệp trên thực tế. Các doanh nghiệp startup chủ yếu hoạt động theo hình thức kinh doanh online. Hình thức này bùng nổ trong 5 năm trở lại đây và trở thành xu hướng khởi nghiệp của giới trẻ. Khởi nghiệp kinh doanh đã có lịch sử lâu đời nên theo sau đó cũng đã có nhiều lý thuyết và mô hình nghiên cứu về vấn đề khởi nghiệp xuất hiện. Tuy vậy các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc khai thác các yếu tố tác động đến ý định/mong muốn/quyết định kinh doanh online, nhưng chưa khai thác sâu vào những vấn đề đặt trong bối cảnh cùng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư (hay còn gọi là cách mạng 4.0).

     

    Trước thực tiễn nêu trên, đề tài nghiên cứu

     

    “Ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm đo lường ảnh hưởng của chúng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2. Cơ sở lý thuyết

     

    2.1. Khái niệm công nghiệp (công nghệ) 4.0

     

    Cách mạng Công nghiệp 4.0 bắt đầu từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013. “Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong. (Gartner, 2015).

     

    Theo Klaus Schwab, cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI); Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data).

     

    Trong nghiên cứu này, Công nghệ 4.0 được đề cập ở lĩnh vực kĩ thuật được ứng dụng trong kinh doanh online.

     

    2.2. Khái miệm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Theo Neil Blumenthal, đồng giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí Forbes thì: “A startup is a company working to solve a problem where the solution is not obvious and success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo).

     

    Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” – một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: A startup is “A human institution designed to create new products and services under conditions of

    extreme uncertainty” (tạm dịch: startup “là một định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”).

     

    Trong bài nghiên cứu này, khởi nghiệp được hiểu là một động từ biểu thị cho hoạt động bắt đầu của một doanh nghiệp, kinh doanh một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.

     

    Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online: là một chuỗi các bước thực hiện, bắt đầu từ việc đưa ra thông tin, phân tích và cụ thể là lựa chọn bắt đầu kinh doanh trên những nền tảng được phát triển trên mạng Internet.

     

    2.3. Các lý thuyết nền tảng liên quan đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    • Các lý thuyết khoa học hành vi:

    Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý hành vi (Olson&Zanna, 1993).

     

    Theo học thuyết TRA của Ajzen & Fishben,

     

    • định hành vi (Behavior Intention – BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi. Ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ cá nhân (Attitude Toward Behavior – AB) và Chuẩn chủ quan (Subjective Norm – SN). Đến năm 1991, Ajzen đề xuất Thuyết hành vi dự định – TPB (Theory of Planed Behavior) bằng cách bổ sung thêm các yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” vào mô hình gốc ban đầu để dự đoán hành vi của con người. Yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” là việc mà các nhân cảm thấy dễ dàng hay khó khăn để thực hiện hành động dựa trên các nguồn lực và cơ hội có sẵn. Lý thuyết hành động hợp lý TRA và lý thuyết hành vi dự định TPB được chứng minh khác nhau của các cá nhân (Sheppard&ctg, 1998).

    52

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model):

    Trong nửa cuối thế kỉ 20, nhiều lý thuyết đã được hình thành và được kiểm nghiệm nhằm nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ của người sử dụng. Năm 1986, Davis đã đề xuất mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model). Lý thuyết này được công nhận là công cụ hữu ích trong việc dự đoán thái độ của người sử dụng. Đặc biệt, TAM được công nhận rộng rãi là một mô hình đáng tin cậy và mạnh trong việc mô hình hóa việc chấp nhận IT của người sử dụng. Mô hình TAM bao gồm, nhận thức sự hữu ích là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ (Davis 1989, tr320), nhận thức tính dễ sử dụng, là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis 1989, tr320) và thái độ hướng đến việc sử dụng là cảm giác tích cực hay tiêu cực có tính ước lượng về việc thực hiện hành vi vì mục tiêu (Fishbein và zen 1975, tr 216). Định nghĩa này lấy từ thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action).

    2.4. Các nghiên cứu đã thực hiện về ý định và quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Nhìn chung, số lượng nghiên cứu về ý định và quyết định khởi nghiệp của sinh viên vẫn còn khá hạn chế. Một số nghiên cứu tiêu biểu về chủ đề này được trình bày ở bảng 1.

     

    2.5. Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Dựa vào các đề tài nghiên cứu tham khảo và nhân tố tác động làm cơ sở để xây dựng các biến cho mô hình đề xuất, gồm:

     

    • Chuẩn chủ quan, (2) Thông tin về kinh doanh online, (3) Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, (4) Xu hướng công nghệ, (5) Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, (6) Trải nghiệm công nghệ 4.0, (7) Sự tự tin khi kinh doanh online, (8) Ý định kinh doanh. Trong đó, biến độc lập là các biến Chuẩn chủ quan, Thông tin về kinh doanh online trên Internet, Xu hướng công nghệ, Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0. Biến trung gian là: Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, Sự tự tin khi kinh doanh online, Ý định kinh doanh online. Biến phụ thuộc là Quyết định kinh doanh online.

     

     

     

    53

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Bảng 1. Một số nghiên cứu về ý định khởi nghiệp kinh doanh và

     

    quyết định khởi nghiệp kinh doanh trong và ngoài nước

     

    STT

    Phạm

    Hướng tiếp cận

    Các yếu tố ảnh hưởng được xác định

    Nguồn tham

     
     

    vi

           

    khảo

         

    1

     

    Những yếu tố có thể lôi

    (1) (1) Cảm nhận sự khao khát, (2) Xu

    Shapero & Sokol

     
     

    kéo thúc đẩy cá nhân đi

    hướng hành động, (3) Cảm nhận tính

       

    (1982)

     
       

    đến ý định khởi nghiệp

    khả thi.

       
                   
                 

    2

     

    Tiềm năng để tạo ra một

    (2) (1) Sự khao khát, (2) Tính khả thi, (3)

     

    Krueger &

     
     

    công ty mới

    Xu hướng hành động.

    Brazeal (1994)

     
       
                       

    3

     

    Ý định khởi nghiệp của

    (3) (1) Cảm nhận sự khát khao, (2) Cảm

    Linan (2004)

     

    nước

    sinh viên

    nhận tính khả thi, (3) Chuẩn mực xã hội.

                 
                     
     

    Tác nhân khuyến khích ý

    (4) (1) Cảm nhận môi trường giáo dục đại

    Luthje & Franke

     
     

    Ngoài

    4

    định khởi nghiệp

    học, (2) Điều kiện thị trường và tài

    (2004)

         
         

    chính, (3) Tính cách cá nhân.

               
         

    (5) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    5

     

    Mô hình TPB

    & Manjit Singh

     
         

    Nhận thức kiểm soát hành vi.

    Sandhu (2012)

     
           
               
       

    Mô hình TPB& 2 yếu tố

    (6) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    6

     

    cảm xúc cha nhân (niềm

    Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Niềm

    & Manjit Singh

     
       

    tin, sự cam kết)

    tin tình cảm, (5) Cam kết cảm xúc.

    Sandhu (2013)

     
                       
       

    Các yếu tố ảnh hưởng đến

    (7) (1) Chuẩn mực xã hội, (2) Cảm nhận sự

               
       

    ý định khởi nghiệp của

    khát khao, (3) Cảm nhận tính khả thi, (4)

     

    Hoàng Thị

     

    7

     

    Cảm nhận môi trường giáo dục đại học,

     
     

    sinh viên trường Đại học

    Thương (2014)

     
       

    (5) Điều kiện thị trường và tài chính, (6)

       

    Lao động – Xã hội

               
       

    Tính cách cá nhân.

               
                     
                       
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

     

    Nguyễn

     

    Quốc

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

    (8) (1) Thái độ và sự đam mê đối với khởi

     
       

    Nghi,

     

    Thị

     

    8

     

    nghiệp của sinh viên khối

    sự kinh doanh, (2) Nguồn vốn, (3) Sự

    Diệu

    Hiền,

    Mai

     
       

    ngành quản trị kinh doanh

    sẵn sàng kinh doanh, (4) kinh nghiệm

    Ngọc

    Thanh

     
       

    tại các trường đại học/cao

    làm việc, (5) Chuẩn chủ quan, giáo dục.

    (2016)

         
     

    nước

    đẳng ở TPHCM

                 
     

    Các nhân tố ảnh hưởng

    (9) (1) Thái độ và sự hiệu quả có ảnh

               
                   
     

    Trong

    đến ý định khởi sự doanh

    Phan Anh Tú và

     
     

    nghiệp: Trường hợp sinh

    hưởng nhiều nhất, (2) Giáo dục và thời

       

    9

     

    cơ khởi nghiệp, (3) Nguồn vốn, (4)

    Giang  Thị

     

    Cẩm

     
     

    viên khoa kinh tế và quản

     
       

    Quy chuẩn chủ quan, (5) Nhận thức

    Tiên (2015)

       
       

    trị kinh doanh trường đại

       
       

    kiểm soát hành vi.

               
       

    học Cần Thơ

               
                     
               
         

    (10) (1)Sự ham muốn kinh doanh, (2) Khả

    Các nhân tố ảnh

     
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

    năng tài chính, (3) Khả năng tự chủ, (4)

    hưởng đến ý định

     
       

    Tính sáng tạo, (5) Tính bền bỉ, (5) Tư

    khởi

    sự

    doanh

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

       

    duy làm chủ, (6) Khuynh hướng chấp

    nghiệp  của

    sinh

     

    10

     

    nghiệp của sinh viên kinh

     

    nhận rủi ro, (7) Tính tự tin, (8) Nhu cầu

    viên

    kinh

     

    tế  đã

     
       

    tế đã tốt nghiệp trên địa

     
       

    thành đạt, (9) Nền tảng gia đình, (10)

    tốt

    nghiệp

    trên

     
       

    bàn thành phố Cần Thơ

       

    Giáo dục, (11) Chính sách Chính phủ

    địa bàn thành phố

     
         
         

    và địa phương.

    Cần Thơ (2015)

     
                       

    54

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2.6. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu Giả thuyết

     

    • Chuẩn chủ quan

    Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) được phát hiện và nghiên cứu bởi Fishbein (1967), áp dụng cho các nghiên cứu về thái độ và hành vi. Trong thuyết này, ý định hành vi là yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng và ý định hành vi bị tác động bởi hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan. Chuẩn chủ quan là người khác cảm thấy như thế nào khi bạn thực hiện hành vi đó (gia đình, bạn bè,…). Thuyết hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) được Ajzen (1991) nghiên cứu, Đây là sự mở rộng của thuyết hành động hợp lý (TRA). Trong thuyết này, Ajzen đã ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức là lòng tin của cá nhân về khả năng thực hiện hành vi, dự định thực hiện hành vi chịu tác động bởi 3 yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi và nhận thức. Với những lập luận trên, giả thuyết được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H1: Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Thông tin về kinh doanh online trên Internet

    Thông tin về kinh doanh online trên Internet trong nghiên cứu này được hiểu như là những dữ kiện và tin tức, tri thức có liên quan, phục vụ cho hoạt động kinh doanh online được truyền và cập nhật trên Internet.

     

    Biến Thông tin về kinh doanh online được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định.

    Với những lập luận trên giả thuyết về thông tin khởi nghiệp kinh doanh được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H2: Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Xu hướng công nghệ

    Yếu tố Xu hướng công nghệ ảnh hưởng đến

     

    • định tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh. Những yếu tố hoàn cảnh có thể hỗ trợ hoặc ngăn cản quá trình khởi sự kinh doanh. Tầm quan trọng của yếu tố bên ngoài trong các quyết định khởi nghiệp được nhấn mạnh trong các mô hình của Bird (1993), Martin(1984), và mô hình SEE của Shapero & Sokol (1982) đề xuất. Xu hướng công nghệ 4.0 được đề cập trong bài là những xu hướng công nghệ mới 4.0 xuất phát từ môi trường bên ngoài. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Reynolds

    – 1995, khi chứng minh rằng điều kiện môi trường, xu hướng của xã hội không chỉ là động lực giúp cá nhân khởi nghiệp kinh doanh, mà nó còn ảnh hưởng tích cực đến ý định cũng như quyết định khởi nghiệp của một người. Biến Xu hướng công nghệ 4.0 được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định. Với những lập luận trên 2 giả thuyết về xu hướng công nghệ được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H3a: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Giả thuyết H3b: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    55

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0

    Các nghiên cứu về yếu tố giáo dục được công bố là nghiên cứu của Schwarz & cs (2009) và Turker & Selcuk (2009) đánh giá yếu tố “môi trường giáo dục” là xem xét môi trường giáo dục nói chung có khuyến khích ý tưởng, sáng kiến khởi nghiệp của sinh viên hay không hoặc kiến thức, nội dung của môn học mang lại

     

    • tưởng khởi nghiệp và kỹ năng cho sinh viên. Kết quả trong nghiên cứu mô hình của nhóm nghiên cứu Vương Thanh Tuyền (2017); Phan Anh Tú (2015) cũng khẳng định điều đó. Với những nghiên cứu trên giả thuyết được đề xuất về nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 như sau:

    Giả thuyết H4: Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Trải nghiệm công nghệ 4.0

    Các hoạt động, công việc đã làm trước đây, đặc biệt các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp nên tác động tích cực đến sự tự tin của cá nhân về tính khả thi khởi nghiệp (Greve, A., & Salaff, J.W, 2003). Điều này cũng được chứng minh qua nghiên cứu về tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học do Nguyễn Thu Thủy thực hiện, kinh nghiệm lãnh đạo và kinh nghiệm thương mại ảnh hưởng rất lớn đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên.

     

    Dựa trên các nghiên cứu trước về các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp kinh doanh (Greve, A., & Salaff, J. W, 2003)

    để phát triển thang đo. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh (2016) cũng đề cập đến yếu tố này. Từ các lập luận trên giả thuyết về trải nghiệp công nghệ 4.0 của bản thân được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H5: Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Mong đợi lợi ích từ khởi nghiệp kinh doanh online

    Yếu tố Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online được tham khảo từ kết quả của nghiên cứu của Alderson và Martin (1965) và ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh Đại học Cần Thơ của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất:

     

    Giả thuyết H6: Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh

     

    online

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Bên cạnh đó, nó cũng phản ánh niềm tin về khả năng thành công khi khởi nghiệp (Krueger N. &., 1994). Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Công nghệ ở Malaysia (MTU) do Amran Rasli và Bernard Wong – 2008 cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên trường này. Điều đó cũng được chứng minh qua

     

    56

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    cuộc nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách cá nhân đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên do Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự thực hiện năm 2011.

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp của sinh viên và nghiên cứu tại Việt Nam của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H7: Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Ý định khởi nghiệp kinh doanh online
    • định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí để thúc đẩy sự sáng tạo kinh doanh hoặc liên doanh mới. Nghiên cứu về các yếu tố tác động

    đến ý định có các thuyết hành động hợp lý (TRA), thuyết dự định hành vi (TPB), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). Gần đây nhất, có thêm một nghiên cứu của Kautomen 2015 đã xác nhận rằng, ý định khởi nghiệp dự đoán được hành vi trong hoạt động khởi nghiệp của con người. Trong đề tài này, ý định khởi nghiệp có thể được hiểu như là một dự định khám phá và phát triển những cơ hội kinh doanh để sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ trong tương lai bằng việc thành lập một tổ chức kinh doanh/ công ty mới (Venkataraman, 1997). Trong nước các đề tài nghiên cứu về ý định có nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Lao động – Xã hội (2014) của Hoàng Thị Thương; Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên. Từ các lập luận trên giả thuyết về

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H8: Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

     

     

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

    57

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức để kiểm định mô hình và các giả thuyết.

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính

    thức để kiểm định lại mô hình nghiên cứu và các giả thuyết trong mô hình.

     

    3.1. Quy trình nghiên cứu

     

    3.1.1. Nghiên cứu sơ bộ

     

    • Xây dựng thang đo

    Thang đo được sử dụng cho 39 biến quan sát định lượng là thang đo Likert 5 điểm, thay đổi từ 1 là “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 là “Hoàn toàn đồng ý”, và bao gồm 10 thành phần sau đây: Chuẩn chủ quan (5 biến quan sát); Thông tin về kinh doanh online trên Internet (4 biến quan sát); Xu hướng công nghệ 4.0 (3 biến quan sát).

     

     

    Nghiên cứu sơ bộ

             
                 
     

    Cơ sở lý thuyết

       

    Mô hình nghiên cứu

     
         
               

    Mô hình nghiên cứu

     

    Thảo luận nhóm (n = 9)

       

    hoàn chỉnh

     
       
               
                   

    Phỏng vấn chuyên sâu

     

    (n = 33)

     

    Bảng câu hỏi

     

    sơ bộ

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    sơ bộ (n = 50)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    Bảng câu hỏi

     

    chính thức

     

    Hoàn chỉnh biến quan sát

    thang đo sơ bộ

     

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s

    Alpha và tương quan biến tổng

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    chính thức (n = 500)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    EFA

     

    CFA

     

    SEM

     

    Kiểm định Bootstrap

     

    và giả thuyết

     

    Nghiên cứu định

     

    lượng chính thức

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s  Alpha và tương quan biến tổng

     

    Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố  khám phá và phương sai trích

     

    Loại biến có trọng số EFA nhỏ

     

    Kiểm định sự phù hợp của mô

    hình với thị trường

     

    Kiểm tra giá trị hội tụ, giá trị

     

    phân biệt, tính đơn hướng.

     

    Kiểm tra độ thích hợp của mô

    hình và giá trị liên hệ lý thuyết.

     

    Hình 2. Sơ đồ quy trình nghiên cứu

     

     

    58

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (4 biến quan sát); Trải nghiệm của bản thân về công nghệ 4.0 (5 biến quan sát); Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (3 biến quan sát); Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (4 biến quan sát); Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (6 biến quan sát); và biến phụ thuộc Quyết định khởi nghiệp (5 câu hỏi).

     

    • Nghiên cứu định tính

    Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn chuyên sâu.

     

    • Nghiên cứu định lượng

    Nghiên cứu định lượng sơ bộ được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu cắt lát.

     

    Dựa vào kết quả trả về nhờ kĩ thuật phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha, không bỏ đi biến quan sát nào.

     

    Thang đo chính thức được hình thành với 9 yếu tố và 39 biến quan sát.

     

    3.1.2. Nghiên cứu định lượng chính thức

     

    Đề tài sử dụng hai phần mềm phân tích thống kê SPSS (Statictical Package for the Social Sciences) và AMOS (Analysis of Moment Structures) để phân tích dữ liệu.

     

    Tiến hành phân tích dữ liệu thực hiện qua các bước sau: (1) Chuẩn bị thông tin, thu nhận các bảng câu hỏi, tiến hành làm sạch thông tin, mã hóa các thông tin trong bảng trả lời, nhập liệu vào phần mềm SPSS; (2) Thực hiện nghiên cứu thống kê mô tả, tiến hành thống kê mô tả dữ liệu thu nhập được về các điều kiện nhân khẩu học và mức độ cảm nhận của các đối tượng khảo sát về các phát biểu; (3) Đánh giá độ tin cậy của thang đo, tiến hành đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; (4) Thực hiện phân tích nhân tố khám phá, phân tích

    các khái niệm đo lường bằng phân tích nhân tố khám phá EFA; (5) Kiểm định tính hội tụ, phân biệt, tính đơn nguyên và mức độ phù hợp của dữ liệu bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA; (6) Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định độ thích hợp của mô hình;

     

    • Phân tích cấu trúc đa nhóm giữa các nhóm.

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

     

    Qua kết quả của kiểm định Cronbach’s Alpha trên ta thấy 8 thang đo bao gồm đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0.3. Vì vậy, rút ra kết luận rằng các biến quan sát của thang đo đều đạt yêu cầu và không loại biến quan sát nào cả.

     

    4.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA

     

    Phân tích EFA cho kết quả hệ số KMO = 0.882 nên dữ liệu phù hợp để phân tích EFA, kiểm định Barlett’s đạt mức ý nghĩa là 0,000, vì vậy các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Có 8 nhân tố được rút trích, giải thích được 71.884% sự biến thiên của dữ liệu. Các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5. Kết luận được rằng thang đo được chấp nhận. Dữ liệu từ bảng Pattern Matrix được sử dụng. 8 nhân tố được rút trích đó là: Chuẩn chủ quan (CQ) được đo lường bởi các biến quan sát CQ1, CQ, CQ3, CQ4, CQ5. Thông tin về kinh doanh online trên Internet (TT) được đo lường bởi các biến quan sát TT1, TT2, TT3, TT4. Xu hướng công nghệ 4.0 (XH) được đo lường bởi các biến quan sát XH1, XH2, XH3. Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (KT) đo lường bởi các biến quan sát KT1, KT2, KT3.

     

    Trải nghiệm công nghệ 4.0 (TN) được đo lường bởi các biến quan sát TN1, TN2, TN3, TN4, TN5. Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (MD) được đo lường bởi các biến

     

    59

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    quan sát MD1, MD2, MD3. Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (STT) được đo lường bởi các biến quan sát STT1, STT2, STT3, STT4. Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (YD): YD1, YD3,YD4,YD5,YD6.

     

    4.3. Đánh giá độ phù hợp của mô hình

     

    Tiến hành kiểm định nhân tố khám phá (CFA) để kiểm định xem mô hình đo lường này có đạt được yêu cầu chưa. Kết quả CFA cho thấy rằng các giá trị đều thỏa điều kiện nên mô hình phù hợp với dữ liệu.

     

    4.4. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

     

    Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình có giá trị thống kê Chi-square là 1082.180 (p = 0,000); Chi-square/df = 1.804; GFI = 0.895; CFI = 0.959; TLI = 0.963; RMSEA= 0.040. Theo Hair và cộng sự (2006) trong một số trường hợp 0.8 < GFI < 0.9 vẫn có thể chấp nhận khi phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, như vậy các chỉ tiêu đánh giá mức độ đều phù hợp với dữ liệu thị trường trong mức cho phép, có ý nghĩa thống kê vì P-value bé hơn 0,05.

     

    Kết quả cho thấy các trọng số đều mang dấu dương, điều này có ý nghĩa như sau:

     

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Trải nghiệm công nghệ có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là nhân tố có tác động mạnh mẽ nhất đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh. (0.505)

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đối với nhân tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online thì Chuẩn chủ quan có tác động mạnh hơn là Thông tin về kinh doanh online (0.616 > 0.114).

     

    Đối với nhân tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố tác động xếp thứ tự từ mạnh đến yếu lần lượt là Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0 và Xu hướng công nghệ 4.0 (0.43 > 0.233 > 0.011).

     

    Trong các yếu tố tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố Sự tự tin tác động mạnh mẽ nhất (0.505).

     

    60

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

     

     

    Hình 3. Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyến định

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại TP.HCM sau khi chạy SEM

     

     

    4.5. Kiểm định mô hình

     

    Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và

    phân tích mô hình hồi quy tuyến tính SEM, các giả thuyết ban đầu nhóm đưa ra đã hiện chỉ còn 8 nhân tố và được tóm tắt như bảng sau đây:

     

    Bảng 2. Kết quả kiểm định mô hình

     

    Ký hiệu

    Giả thuyết

    Kiểm định

     
           

    H1

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

       

    H2

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến Mong đợi

    Chấp nhận

     
     

    khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H3a

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi

    Bác bỏ

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

         

    H3b

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H4

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến Sự

    Bác bỏ

     

    tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

         

    H5

    Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với

    Chấp nhận

     
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

       

    H6

    Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan

    Chấp nhận

     
     

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online

       
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan

       

    H7

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       
     

    Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng

       

    H8

    biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       

    61

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    4.6. Phân tích cấu trúc đa nhóm

     

    • Kiểm định sự khác biệt theo giới tính

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa sinh viên nam và sinh viên nữ.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm nam và nhóm nữ như sau: Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet có tác động đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.063 (gần bằng 0.05). Ngược lại nhóm nữ thì gần như yếu tố này lại không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên nữ, P-value = 0.727 ( >> 0.05).

     

    • cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến Sự tự tin của sinh viên khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm nam sự ảnh hưởng này không mạnh bằng nhóm nữ vì P-value = 0.023 ( < 0.05), trong khi nhóm nữ P-value bé hơn 0.05 nhiều.

    Cả 2 nhóm nam và nhóm nữ, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không ảnh hưởng nhiều đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ( P- value đều > 0.05. Lần lượt P value của nhóm nam, nhóm nữ là 0.245 và 0.332.

     

    Cả 2 nhóm đều cho thấy rằng Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có ảnh hưởng mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value nhỏ hơn 0.05 nhiều.

     

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng như nhau ở cả 2 nhóm do P-value = 0.002 (< 0.05 ).

    • Kiểm định sự khác nhau theo ngành học

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên không phải khối ngành kinh tế.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên thuộc các khối ngành khác như sau:

     

    Nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế và nhóm không thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Chuẩn chủ quan đều tác động nhiều đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều < 0.05.

     

    • nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet không ảnh hưởng đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.475 (> 0.05). Nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế thì ngược lại, yếu tố Thông tin tác động mạnh đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.005 (< 0.05).
    • cả 2 nhóm sinh viên, trải nghiệm công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế sự ảnh hưởng này không mạnh mẽ bằng ở nhóm cìn lại vì P-value = 0.013.

    Cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều > 0.05.

     

    • cả 2 nhóm, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều tác động mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value đều

    62

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • 05. Tuy nhiên, ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế có vẻ như tác động mạnh hơn vì P-value nhóm này bé hơn nhóm còn lại.
    • nhóm sinh viên khối ngành kinh tế, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value < 0.05, ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành khác thì yếu tố Xu hướng hoàn toàn không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value = 0.329 (>> 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo năm học

     

    hiện tại

     

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên năm 1&2 và nhóm sinh viên năm 3&4.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 và nhóm sinh viên năm 3

     

    • năm 4 khác như sau: Nhóm sinh viên năm 3
    • năm 4, yếu tố Chủ quan ảnh hưởng mạnh đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online do P-value << 0.05. Nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, ảnh hưởng của Chuẩn chủ quan đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online không lớn, P-value = 0.054 (xấp xỉ 0.05).
    • nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, Thông tin về kinh doanh online không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.344 ( > 0.05). Nhóm sinh viên năm 3 năm & năm 4 thì thông tin có ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.046 (< 0.05).

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 hoàn toàn không ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp

    kinh doanh của 2 nhóm sinh viên năm 3 & năm 4, P-value = 0.941 ( >>0.05).

     

    • cả 2 nhóm sinh viên, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều ảnh hưởng đến
    • định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 thì yếu tố mong đợi ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online yếu hơn, do P-value = 0.02. Ở nhóm sinh viên năm 3 & năm 4 thì yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Ở nhóm còn lại thì Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.146 ( > 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu hàng tháng và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu hàng tháng. Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu như sau:

     

    • 2 nhóm này, yếu tố Thông tin về khởi nghiệp kinh doanh online đều không ảnh hưởng do P-value đều lớn hơn 0.05. Nhóm có thu nhập trên 3 triệu, trải nghiệm công nghệ 4.0 có ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng không mạnh mẽ bằng nhóm có thu nhập thấp.
    • cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ đều không tác động đến Sự tự tin, do P-value lớn hơn 0.05.

    63

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • nhóm thu nhập nhận cao hơn, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 có tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm thu nhâp thấp lại không có sự ảnh hưởng nêu trên do P-value = 0.63 ( > 0.05)

    5. Kết luận và hàm ý quản trị

     

    Kinh doanh online đang là xu hướng vì đây là mô hình kinh doanh hạn chế được nhiều chi phí cho những người bắt đầu khởi nghiệp, đồng thời mô hình kinh doanh online cũng đã có những đóng góp nhất định đến nền kinh tế. Xu hướng kinh doanh online mang ý nghĩa rất quan trọng, nếu doanh nghiệp không xuất hiện trên Internet thì xem như doanh nghiệp đánh mất lợi thế so với đối thủ. Vì vậy, vấn đề khởi nghiệp kinh doanh online đang được rất nhiều cơ quan nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 đã giúp phát triển nhiều ngành trong nền kinh tế, chẳng hạn như ngành lẻ, vận chuyển, giáo dục, sức khỏe, tương tác xã hội…

     

    Công nghệ 4.0 dần trở thành một khái niệm quen thuộc, với tầm quan trọng trong tương lai, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống cũng như các hoạt động kinh doanh trên toàn cầu.

     

    Ngày càng có nhiều doanh nghiệp startup thành công do áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất và vận hành, tạo nên sự khác biệt mạnh mẽ. Không chỉ xuất hiện ở các công ty công nghệ mới, xu hướng công nghệ 4.0 cũng lan tỏa sâu rộng đến những công ty sản xuất truyền thống đơn thuần, họ áp dụng thành tựu của nền công nghệ 4.0 vào hoạt động sản xuất và marketing. Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh là một nghiên cứu cần thiết.

    Dự án được thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu của nhóm. Dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn của đề tài cung cấp những số liệu khoa học cụ thể, trong tất cả những yếu tố tác động đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, yếu tố Chuẩn chủ quan ảnh hưởng mạnh đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.616), yếu tố Nền tảng kiến thức công nghệ 4.0 ảnh hưởng mạnh đến biến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.43). Và yếu tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online với trị số cao (0.505).

     

    Theo kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa sinh viên nam và sinh viên nữ về những yếu tố tác động đến Ý định và Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online, yếu tố Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, vì vậy phải thiết kế chương trình mang đặc thù riêng cho từng giới. Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet tác động đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn. Ở cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Sinh viên khối ngành kinh tế và không thuộc ngành kinh tế: Sự khác biệt trong việc tiếp cận kiến thức, ảnh hưởng từ giảng đường đại học, vì vậy hành

     

    • khởi nghiệp kinh doanh online cũng khác nhau. Theo kết quả khảo sát, có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Ở nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Trải nghiệm công nghệ 4.0 tác động Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế. Ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh

    64

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    tế, yếu tố Thông tin công nghệ 4.0 tác động đến Mong đợi từ khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm còn lại. Ngoài ra còn thiết kế chương trình phù hợp với từng đối tượng sinh

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Việt

    viên: sinh viên năm nhất, năm hai và sinh viên năm ba, năm tư. Ở mỗi cấp sẽ có sự khác biệt rõ nét.

     

    Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi. (2013). “Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP.HCM”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 271.

     

    Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang. (2007). Nghiên cứu khoa học Marketing- Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM.

     

    Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền và Mai Võ Ngọc Thanh. (2016). Nghiên cứu khoa học – Các nhân tố ảnh hưởng đến đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường Đại học, Cao đẳng ở Thành phố Cần Thơ.

     

    Nguyễn Thị Yến và cộng tác viên. (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ĐHQG TP.HCM – Đề tài nghiên cứu Khoa học Euréka.

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học. Trong Luận án tiến sĩ kinh tế. Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.

     

    Dư Thị Chung. Bài giảng Nghiên cứu Marketing- chương trình đào tạo chất lượng cao và đặc biệt.

     

    Trường Đại học Tài chính- Marketing.

     

    Trần Thị Bích Đào. (2017). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ tại TP HCM.

     

    Tiếng Anh

     

    Ajzen. (1991). The theory of planned behaviour: Organizational behavior and human decision processes. 50(2), 179-211.

     

    Ajzen, I. &. (1975). Belief, Attitude, Intention and behaviour: An introduction to theory and research. 70-87.

     

    Benhardt, I. (1994). Comparative advantage in self-employment and paid work. Canadian Journal of Economics, 273-289.

     

    Dawson, C.Henley, A. & Latreille, P. (2009). Why do individuals choose self-employment? Institute for study of Labor (IZA), 3974.

     

    Garavan, T. N., O’Cinneide, B., (1994). Entrepreneurship education and training programs: a review and evaluation – Part 1. Journal of European Industrial Training, 18(8), 3-12.

     

    Galloway, L., Brown, W. (2002). Entrepreneurship education at university: a driver in the creation of high growth firms. Education Training, 44(8-9).

    Krueger. (1993). The impact of prior entrepreneurial exposure on perceptions of new venture feasibility and desirability. Entrepreneurship: Theory and practice, 18(1), pp.5-22.

     

    65

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Krueger, N. &. (1994). Entreupreneurial Potential and Potential Entreupreneurial. Entrepreneurship theory and practice, 18, 91-104.

    Mueller, S.(2011). Increasing entrepreneurial intention: Effective entrepreneurship course characteristics. International Journal of Entrepreneurship and Small Business, 13(1), 55–74.

     

    Shapero, A., & Sokol. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. Encyclopedia of entrepreneurship, 72 – 79.

    Link website

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học, Truy cập ngày 28/04/2018. <https://www.slideshare.net/garmentspace/nghin-cu-cc-nhn-t-nh-hng-n-tim-nng-khi-s-kinh-doanh-ca-sinh-vin-i-hc>.

     

    Hoàng Thị Thương. (2014). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Lao động – Xã hội, Truy cập ngày 29/04/2018 <https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/ Luan-van-thac-si–Cac-yeu-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-nghiep-cua-sinh-vien-truong-Dai-hoc-Lao-dong–xa-hoi-10723/>.

     

    Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Văn Long. (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi khởi sự doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Truy cập ngày 29/04/2018. <http:// tapchikhcn.udn.vn/View.aspx?idbb=Cac_yeu_to_anh_huong_den_hanh_vi_khoi_su_doanh_ nghiep_vua_va_nho_tren_dia_ban_thanh_pho_Da_Nang-5859&Nam=2013&id=87>.

     

    ThS. Đỗ Thị Xuân Lan. (2014). Lý thuyết ra quyết định, Truy cập ngày 01/05/2018.

     

    <https://tailieu.vn/doc/bai-giang-chuong-1-ly-thuyet-ra-quyet-dinh-ths-do-thi-xuan-lan-1662657.

     

    html>.

     

    John T.Roger. (2016). Thuyết dự định hành vi TPB (Theory Plan of Behavior) của Aijen (1991), Truy cập ngày 01/05/2018 <https://vneconomics.com/thuyet-du-dinh-hanh-vi-tpb-theory-plan-behavior-cua-aijen-1991/>.

     

    Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn. (2015). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Truy cập ngày 02/05/2018 <https://123doc.org/document/3435581-cac-nhan-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-su-doanh-nghiep-cua-sinh-vien-kinh-te-da-tot-nghiep-tren-dia-ban-thanh-pho-can-tho.htm>.

     

    Sven Ove Hansson. (2015). Decision Theory, Truy cập ngày 02/05/201.

     

     

     

    66


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/NH%E1%BA%ACN-TH%E1%BB%A8C-V%C3%80-V%E1%BA%ACN-D%E1%BB%A4NG-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH-V%E1%BB%80-%E2%80%9CH%E1%BB%8CC-%C4%90%E1%BB%82-L%C3%80M-VI%E1%BB%86C%E2%80%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Nhận thức và vận dụng . . .

     

     

    Chính trị – Xã hội

     

    NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Nguyễn Hồng Nhật

     

    TÓM TẮT

     

    Trước yêu cầu của xu thế toàn cầu hóa, cần thiết phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của đất nước. Với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta hiện nay, một lần nữa đòi hỏi cần nhận thức và quán triệt sâu sắc hơn tư tưởng “học để làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Học để làm việc” đặt ra vấn đề cần phải thay đổi cả về lượng và chất đối với người dạy và người học. Trong đó, người học luôn là yếu tố trung tâm, trực tiếp. Vấn đề xác định đúng đắn mục đích, động cơ, mục tiêu, phương pháp học tập là những yếu tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập của người học hiện nay.

     

    Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, học để làm việc.

     

    AWARENESS AND APPLICATION OF HO CHI MINH’S IDEOLOGY ABOUT ISSUE “STUDY TO WORK”

     

    ASBTRACT

     

    To meet the demand of globalization trend, it is necessary to enhance the country’s education and training quality. With the policy to renew basically and completely Vietnam’s education system of our Party nowadays, once again it needs to be aware and to apply Ho Chi Minh’s ideology about issue “Study to work”. “Study to work” raises a question is that it needs to change both the quality and quantity of teachers and learners, in which learners are the central ones. Identifying goals, motivations, studying methods is a crucial factor to improve the quality and the studying eficiency of learners nowadays.

     

    Keywords: Ho Chi Minh ideology, study to work

     

    *Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

     

     

    67

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ; sự bùng nổ thông tin và toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tri thức nhân loại không ngừng phát triển và nâng cao, muốn tồn tại và phát triển thì điều đòi hỏi cốt yếu của mỗi người đó là không ngừng học tập. Không học tập, không chủ động thu nhận tri thức, tiếp thu cái mới thì con người sẽ sớm muộn bị lạc hậu, bị xã hội vượt qua. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy: việc học của mỗi người chưa thực sự được định hình rõ ràng, có một số xu hướng học tập không đúng mục đích, học chỉ để mà học, hay học để hiểu rằng mình cũng là người có học. Với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, một lần nữa đòi hỏi chúng ta cần nhận thức và quán triệt sâu sắc hơn nữa tư tưởng “học để làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

     

    2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC VÀ HÀNH”

     

    Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, đồng thời là một nhà giáo dục vĩ đại, Người đã đặt nền móng đầu tiên xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam, nền giáo dục của một nước Việt Nam mới, khác hẳn về chất đối với nền giáo dục ngu dân của thực dân, phong kiến. Ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công, đất nước Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức có thể ví như “ngàn cân treo sợi tóc”, thế nhưng với nhãn quan chính trị sắc bén, Người đã đề xướng một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cần kíp phải làm ngay là nhiệm vụ chống giặc dốt, bởi theo Người: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Người yêu cầu phải sửa đổi triệt để nội dung, chương trình, sách giáo khoa cho phù hợp với sự nghiệp

     

    kháng chiến, kiến quốc và sau khi hoàn thành cuộc kháng chiến chống pháp, Người nhắc nhở: “phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại: học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ[1]. Nền móng của nền giáo dục cách mạng mới từng bước được Hồ Chí Minh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Đối với phương châm giáo dục, Người đã đề ra ba phương châm cho nền giáo dục mới là: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội, để đạt được mục tiêu trên, Người chủ trương xây dựng một nền giáo dục toàn diện: “trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa khoa học – kỹ thuật, lao động và sản xuất[2].

     

    Năm 1949, trên trang đầu cuốn sổ vàng của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Hồ Chí Minh đã viết: học để làm việc, học để làm người, học để làm cán bộ. Tư duy này của Người có nhiều điểm phù hợp với mục tiêu của giáo dục (của việc học) mà Unesco đề ra cuối thế kỷ XX đó là: học để biết (cốt lõi là hiểu), học để làm (trên cơ sở hiểu), học để chung sống (trên cơ sở hiểu nhau), học để làm người (trên cơ sở hiểu bản thân mình).

     

    Theo quan điểm Hồ Chí Minh học là để hành, “học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì không trôi chảy[3]. “Học để làm việc” được Người đặt ra đầu tiên, muốn hành tốt phải hiểu kỹ, từ đó mới có thể tiến lên sáng tạo cái mới. Học để làm việc khác về chất với học để lấy bằng cấp, để lòe bịp thiên hạ, học theo kiểu học vẹt để lấy điểm số, học để vỗ bụng cho ta là hơn người…Người đặc biệt nhấn mạnh vấn đề học để làm việc. “Học để làm việc” nghĩa là học để ra làm việc, để tham gia vào công cuộc

     

     

    68

     

    Nhận thức và vận dụng . . .

     

    kiến thiết, xây dựng đất nước, phục vụ cho quốc kế dân sinh, học là để cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp đấu tranh, cho thắng lợi của cách mạng, cho hạnh phúc, tự do của nhân dân. Người cho rằng, ngày xưa, học cốt là kiếm tấm bằng để làm quan, ngày nay, học để làm việc, mà việc thì mỗi ngày mỗi nhiều, mỗi mới. Người nói: “…so với trước, công việc bây giờ khó khăn hơn, to lớn hơn, phức tạp hơn,…Một cái máy tính một giây đồng hồ làm được hàng ngàn phép toán, không phải cộng, trừ, nhân, chia thông thường. Ta phải học toán. Toán rất cao….Liên Xô bắn tên lửa

     

    trúng đích xa một vạn hai ngàn cây số,…phải có tính toán giỏi mới trúng đích. Hay như con tàu vũ trụ bay cao hơn 300 cây số, lại bay vòng quanh quả đất…Bây giờ bảo chúng mình bay có bay được không[4]. Người đề ra yêu cầu: “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi[5].

     

    Có thể nói tư tưởng “học để làm việc” của Hồ Chí Minh có giá trị hiện thực hết sức to lớn, chỉ đạo nền giáo dục nước ta hướng vào đó mà thực hiện đúng tôn chỉ của một nền giáo dục tiên tiến, đào tạo những con người xã hội chủ nghĩa có đủ phẩm chất và năng lực, đủ cả “đức” và “tài”. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng “học để làm việc” của Người nói riêng, Đảng đã lãnh đạo xây dựng nền giáo dục quốc dân khắc phục khó khăn, vươn lên những tầm cao mới, đạt được những thành tựu và niềm tự hào to lớn trong mấy thập niên cách mạng và kháng chiến.

     

    Tuy nhiên, bước vào công cuộc đổi mới hiện nay, nền giáo dục, đào tạo nước ta dù đã đạt nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng, song cũng còn nhiều hạn chế. Văn kiện Đại

    hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã đưa ra một số nhận định: “…chất lượng giáo dục, đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng,…Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [6]Thực trạng trên, đòi hỏi cần phải có một cuộc cải cách toàn diện, sâu rộng, triệt để nền giáo dục quốc dân, trong đó cần định hướng việc dạy và việc học cho nhân dân.

     

    3. NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Hơn lúc nào hết, chúng ta càng thấm thía tư tưởng Hồ Chí Minh về “học để làm việc”. Học để có thể dùng những kiến thức Đã tích lũy được vào các hoạt động, vào sản xuất, vào cuộc sống hàng ngày. “Học để làm việc” đòi hỏi cần phải thay đổi cả về lượng và chất đối với cả người dạy và người học, trong đó, người học luôn là yếu tố trung tâm, trực tiếp.

     

    Theo chúng tôi, để thực hiện tốt tư tưởng “học để làm việc”, người học cần nhận thức đúng đắn và thực hiện tốt một số vấn nội dung cơ bản sau:

     

    Một là, xác định đúng đắn mục đích, động cơ của việc học. Có xác định đúng mục đích, động cơ thì người học mới có hành động đúng. Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “bây giờ phải học để: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức…Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân

     

     

    69

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    dân, làm cho dân giàu, nước mạnh[7]. Với

    kiến thức học tập, sẽ làm cho việc học trở nên

    mục đích rõ ràng, động cơ và hành động học

    dễ dàng, thoải mái, không còn bị gò bó, hay

    tập đúng đắn, chắc chắn kết quả của người

    áp lực bởi nội dung học tập. Xuất phát từ quan

    học sẽ có nhiều thay đổi, ngày càng tiến bộ.

    điểm “học để làm việc”, Hồ Chí Minh đòi hỏi

    Muốn “học để làm việc”, thì người học cần

    nội dung học phải thiết thực, gắn với yêu cầu

    phải không ngừng tư duy, tự giác suy nghĩ,

    của công việc bản thân, với yêu cầu của đất

    chủ động trong tiếp nhận tri thức; phải thấy

    nước, không được viển vông, chạy theo sở

    được việc học là nhu cầu cần thiết, không

    thích nhất thời của cá nhân.

    phải là áp lực, là gánh nặng; nội dung học tập,

    Ba là, xác định phương pháp học tối ưu

    khối lượng kiến thức được cung cấp không

    nhất và kết hợp tốt các phương pháp học để

    còn khô cứng mà sinh động, hấp dẫn. Từ đó,

    nâng cao chất lượng học tập. Học để làm

    người học chủ động chuyển hóa quá trình học

    việc đòi hỏi người học không được phép thụ

    tập thành tự học tập một cách có ý thức, tự

    động, ỷ lại, trông chờ mà tự giác, tích cực

    giác, hứng thú, tích cực và hiệu quả sẽ cao.

    tìm tòi, khám phá tri thức. Hồ Chí Minh căn

    Hai là, phải luôn luôn đặt ra mục tiêu

    dặn người học: “Không được tin một cách mù

    hoàn thành tốt nhất nội dung, chương trình

    quáng từng câu một trong sách”, “phải đặt

    học tập; phải đặt ra yêu cầu, tiêu chuẩn, định

    câu hỏi “vì sao”, phải suy nghĩ kỹ càng xem

    lượng, khối lượng, mức độ của việc tiếp thu

    nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý

    kiến thức sau mỗi buổi học, bài học, nội dung

    không[8]. Tiếp thu tri thức mới là điều kiện

    học tập. Điều này phụ thuộc vào nội dung,

    tiên quyết để người học mở mang hiểu biết,

    chương trình học tập của nhà trường, tuy

    phải biết tiếp thu có sự chọn lọc, có lựa chọn,

    nhiên vai trò của chủ thể trong quá trình tiếp

    qua nhiều nguồn, có sự đối chiếu, so sánh

    nhận tri thức là hết sức quan trọng. Người học

    trong hiện thực cuộc sống, trong thực tiễn

    phải căn cứ vào nội dung, chương trình học

    công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

    để chủ động tích lũy kiến thức, hoàn thành

    đại hóa đất nước hiện nay. Về phương pháp,

    nội dung, chương trình, nâng cao kết quả học

    Hồ Chí Minh rất chú trọng về cách học. Người

    tập, thi, kiểm tra trong nhà trường, đồng thời

    chỉ rõ: “phải lấy tự học làm cốt. Do thảo luận

    tích lũy, bổ sung kiến thức cần thiết để có thể

    và chỉ đạo giúp vào[9], tức là thực hiện kết

    vận dụng vào thực tế công việc sau này. Kiến

    hợp ba khâu: tự học của cá nhân phải làm cốt,

    thức chung đặt ra theo mục tiêu, yêu cầu đào

    thảo luận của tập thể và hướng dẫn của giảng

    tạo và kiến thức mà người học tiếp thu được

    viên chỉ bổ sung thêm vào. Lúc bàn về công

    trong quá trình học tập không phải là như

    tác huấn luyện của Đảng, Người chỉ thị: phải

    nhau. Tuy nhiên, giữa hai khối kiến thức này

    nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải biết

    không hề có sự mâu thuẫn, bởi khối kiến thức

    tự động học tập, không phải có thầy mới học,

    theo chương trình cơ bản đã được xác định

    mà phải tự tìm sách đọc, lấy sách làm thầy.

    căn cứ với mục tiêu, yêu cầu đào tạo từng đối

    Phương pháp học tập là thuộc về từng chủ thể

    tượng, còn kiến thức thực tế người học tiếp

    tiếp nhận tri thức, hình thành trong quá trình

    thu được phụ thuộc nhiều vào nhân tố chủ

    học, tuy nhiên với việc chủ động trong việc

    quan của người học. Nếu người học có sự chủ

    học thì việc hình thành phương pháp không

    động, sớm có tư duy tích cực trong tiếp nhận

    còn là một hiện tượng tự phát, thiếu chủ động,

     

     

    70

     

    Nhận thức và vận dụng . . .

     

    mò mẫm nữa mà hoàn toàn sáng tỏ. Phương pháp này được hình thành thông qua kinh nghiệm bản thân, thông qua xem xét bạn học, thông qua trao đổi người dạy, thông qua cả với tài liệu, sách vở, và đặc biệt thông qua kho kinh nghiệm phương pháp học tập phong phú của nhân dân.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    “Học để làm việc” hiện nay là vấn đề cực kỳ quan trọng, là một trong những tiêu chí cần đạt được của một nền giáo dục hiện đại, đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng và đề ra các giải pháp thực hiện chiến lược giáo dục

     

    • đào tạo trong tình hình mới ở nước ta hiện nay, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Giáo sư Song Thành trong tác phẩm “Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc”, Nxb lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 đã đặt ra những câu hỏi: vấn đề đặt ra với ta là công nghiệp hóa,

    hiện đại hóa theo con đường nào? Tiếp tục sản xuất ra sản phẩm chất lượng không cao, không bán được, để hàng hóa tồn kho, hay phải đi tìm một con đường khác để tạo ra giá trị gia tăng? Tích tụ vật chất hay tích tụ tri thức và năng lực đổi mới, sáng tạo do toàn cầu hóa mang lại?. Cách mạng không có con đường vạch sẵn, phải luôn luôn tìm tòi, điều chỉnh. Muốn có tầm nhìn xa, muốn xử lý đúng trong mọi tình thế, phải có thật nhiều tri thức. Điều này không phải là đòi hỏi gì khác hơn là nguồn nhân lực chúng ta cần phải không ngừng được bồi dưỡng, bổ sung tri thức, bắt kịp bước tiến của thời đại. Và do đó mà phải tự học, tự hoàn thiện suốt đời. Điều này là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, bắt buộc người học phải từng bước hoàn thiện nhận thức và tư duy trong xác định đúng đắn mục tiêu, nội dung và cách học sao cho hiệu quả theo tư tưởng “học để làm việc” của Hồ Chí Minh./.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    [1]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.80

     

    [2]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.2002, tr.190

     

    [3]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2002, tr.50

     

    [4]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.2002, tr.463-464

     

    [5]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.215

     

    [6]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.167-168

     

    [7]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.2002, tr.398-399

     

    • Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.500

     

    • Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2002, tr.273

     

     

     

    71


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/N%C3%82NG-CAO-K%E1%BB%B8-N%C4%82NG-GIAO-TI%E1%BA%BEP-CHO-SINH-VI%C3%8AN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Xã hội, Số 13 (6/2018) tr. 8 – 14

     

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN

    NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

     

    Lò Vũ Điệp

    Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Tóm tắt: Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng. Sinh viên người dân tộc gặp những khó khăn và hạn chế nhất định về kỹ năng giao tiếp. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc hình thành các kỹ năng nghề nghiệp sau này. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao kỹ năng này cho các em.

     

     

    Từ khoá:

    Kỹ năng, sinh viên, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên.

     

     

    1. Mở đầu

     

    Giao tiếp là một trong những hoạt động c          ản của con người, có vai trò quan trọng

     

    trong s   phát tri n của mỗi cá nhân. Thông qua giao tiếp, mỗi cá nhân trong xã hội có s          gắn

     

    kết với nhau đồng thời t m lý cá nh n cũng được hình thành và phát tri n.

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c          ản, cần thiết đối với s      phát

     

    tri n tâm lý cá nhân. Với sinh viên SV) sư phạm giao tiếp và kỹ năng giao tiếp càng trở nên cần thiết đ họ c th th c hiện tốt hoạt động ạy học và giáo ục học sinh trong quá tr nh hoạt động nghề nghiệp của ản th n. Trong th c tiễn nghiên cứu có rất nhiều tác giả đ t m

     

    hi u về vấn đề này, có những th c nghiệm mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nước đề cập đến những vấn đề về kỹ năng giao tiếp của SV người dân tộc vẫn còn hạn chế.

     

    Trên th  c tế học sinh  SV người dân tộc gặp rất nhiều kh    khăn trong giao tiếp và hình

     

    thành kỹ năng giao tiếp cho m nh. Điều này ảnh hưởng không  t đến kết quả học tập và phát

     

    tri n các kỹ năng x     hội của họ.

     

    Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập đến một số       iện pháp sư phạm n ng cao

     

    kỹ năng giao tiếp – với tư cách là một trong số những kỹ năng sống c               ản – của sinh viên

     

    người dân tộc Trường   ao đ ng Sư phạm        ĐSP) Điện    iên.

     

    2. Nội dung

     

    2.1. Một số khái niệm cơ bản

     

    – Giao tiếp

     

     

    Có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp

     

    ưới g c độ t m l

     

    giao tiếp được nh n

     

    nhận như sau:

     

    Ngày nhận bài: 14/02/2017. Ngày nhận đăng: 15/6/2017

    Liên lạc:   ò Vũ Điệp, e-mail: [email protected]

    8

     

    Giao tiếp là quá tr nh tác động qua lại giữa con người với con người, th hiện s tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đ con người trao đổi thông tin trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau [4].

     

    • Kỹ n ng giao tiếp

    Theo tác giả Nguyễn Thanh nh kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những bi u hiện bên ngoài và những bi u hiện tâm lý bên trong của đối tượng và bản thân chủ th giao tiếp; là khả năng sử dụng hợp lý các phư ng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều ch nh điều khi n quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đ ch giao tiếp [1].

     

    2.2.    ự cần thiết phải hình thành kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên

     

    Giao tiếp được coi như là một công cụ lao động đặc trưng của người giáo viên. Đối tượng lao động của giáo viên là con người – những nh n cách đang được hình thành và phát tri n mạnh mẽ. Mặt khác, trong quá trình tổ chức các hoạt động người giáo viên phải sử dụng kỹ năng giao tiếp một cách linh hoạt đ đạt hiệu quả cao nhất trong dạy học cũng như giáo

     

    dục học sinh.

                             
       

    Trong công tác

    ạy học và giáo

    ục học sinh  người giáo viên tất yếu phải giao tiếp

    với học sinh và với cả những đối tượng giao tiếp khác nữa. Đ

    là s

    tiếp xúc

    ày tỏ

    trao đổi

    truyền đạt  t m hi u

    cảm thông giữa các chủ th

    của quá tr nh giao tiếp

    iễn ra trong môi

    trường sư phạm.

                             
       

    ùng với việc r n luyện các phư

    ng pháp

    ạy học

    kỹ năng giao tiếp là một trong

    những thành phần c

    ản tạo nên chất lượng và hiệu quả của các phư  ng pháp

    ạy học.

    mỗi phư  ng pháp

    ạy học, việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp ở các mức độ khác nhau như:

    phư

    ng pháp thuyết tr nh t ch c  c

    phư

    ng pháp đàm thoại

    phư  ng pháp thảo luận nh m

    phư

    ng pháp quan sát… Việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp như thế nào trong mỗi phư

    ng pháp

     

    ạy học sẽ g p phần làm tăng khả năng nhận thức  phát huy t nh t

    giác  chủ động của học

    sinh trong quá tr nh chiếm lĩnh tri thức.

                     
       

    Trong quá tr nh giáo  ục học sinh

    người giáo viên c

    kỹ năng giao tiếp tốt

    khéo léo

    trong ứng xử cũng th

    hiện thái độ tôn trọng nh n cách học sinh  tiếp thu tốt tri thức và h nh

    thành được các kỹ năng

    kĩ xảo thuận lợi h  n. Trong cách giao tiếp và ứng xử  mỗi giáo viên

    là một tấm gư  ng đ

     

    học sinh noi theo

    làm theo.

    h nh v  vậy  người giáo viên phải th

    hiện

    s

    chuẩn m  c của m nh trong giao tiếp

    đặc  iệt là giao tiếp với đối tượng là học sinh.

     
       

    Đối với mỗi sinh viên trong quá tr nh r n luyện ở nhà trường sư phạm cần ý thức được

    s

    cần thiết phải h nh thành và r n luyện cho m nh kỹ năng giao tiếp hiệu quả đ

    c

    th  t

    tin

    trong giao tiếp  th

    c hiện tốt vai trò

    nhiệm vụ của người giáo viên trong th

    c tiễn nghề

    nghiệp sau này.

                             
                                   

    2.3. Thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc

     

    2.3.1. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát

     

    • Phương pháp nghiên cứu
    • tìm hi u th c trạng, tác giả sử dụng một số phư ng pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phư ng pháp quan sát phư ng pháp phỏng vấn phư ng pháp điều tra bằng phiếu hỏi. Các

    9

     

    phư ng pháp c tác ụng hỗ trợ lẫn nhau nhằm làm rõ h n những nội dung mà tác giả tìm hi u và nghiên cứu.

     

    – Đối tượng khảo sát

     

    150 sinh viên của 3 khoa: Khoa Ti u học – Mầm non, Khoa T nhiên và Khoa Xã hội. Nội dung khảo sát là th c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên (ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, những kh khăn trong giao tiếp, nguyên nhân).

     

    2.3.2. Kết quả đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Trường ĐSP Điện iên SV người n tộc chiếm đa số đến từ các huyện x thuộc vùng s u vùng xa vùng gặp nhiều kh khăn trong t nh. Tổng số SV của hà trường hiện nay là 732 trong đ SV n tộc Thái chiếm đa số (58.8%), xếp thứ hai là SV dân tộc Mông (18.7%), dân tộc Kinh xếp thứ ba (11.2%), còn lại 11.3 % là sinh viên các dân tộc khác như:

     

    Kh    Mú, Hà Nhì, Lào, Kháng, Thổ, Si La, Dao, Tày, Máng, Xinh Mun, Nhắng.

     

    Với những đặc đi m như vậy, nên các em còn gặp nhiều kh khăn trong việc hình thành và phát tri n các kỹ năng sống đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Thông qua tiếp xúc, trò

     

    chuyện và đặc biệt là trong quá tr nh giảng

    ạy  tác giả nhận thấy số SV còn phát

    m chưa

    chuẩn trong giao tiếp  khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế  c  những SV còn rụt r

    ngại tiếp

    xúc ngại phát  i u ý kiến và khả năng thuyết tr nh trên lớp chưa được tốt.

       

    Tác giả cũng t m hi u rõ h  n về th  c trạng trên  kết quả khảo sát cho thấy: về phát  m

    và sử  ụng ngôn ngữ gặp kh  khăn nhiều nhất đối với SV

    n tộc Mông và

    n tộc Thái. Tác

    giả khảo sát trên 150 SV của 3 khoa: Khoa T

    nhiên, Khoa Xã hội và Khoa Ti u học – Mầm

    non thì thấy tỷ lệ nói ngọng của SV cũng c

    s  khác nhau. Cụ th

    c  86/150 SV được khảo

    sát bị nói ngọng, chiếm 57.3%. Kết quả khảo sát được th

    hiện rõ h

    n trong

    i u đồ

    ưới đ y:

               

    50%

     

    45%

     

    40%

     

    35%

     

    30%

     

    Tỉ lệ 25%

     

    20%

     

    15%

     

    10%

     

    5%

     

    0%

    THMN                           Tự nhiên                           Xã hội

     

    Khoa

     

    hư vậy, xét theo khoa, Khoa Ti u học – Mầm non có tỷ lệ SV nói ngọng nhiều nhất (43/86, chiếm 50%), tiếp theo là Khoa Xã hội (27/86, chiếm 31.4%), Khoa T nhiên có tỷ lệ thấp h n 16/86 chiếm 18.6%).

     

    10

     

    Tác giả tìm hi u cụ th  h  n về cách phát âm thì nhận thấy đa số các em thường kh

    ph n

    iệt

    chữ “l” và “ đ”  hoặc đọc từ ngắn

    m   m cụt không rõ tiếng; một số sinh viên dân tộc Thái

    đọc sai dấu ngã thành dấu sắc.   ên cạnh đ  , về phần sử

    ụng từ ngữ như cách

    iễn đạt

    ùng

    từ… cũng gặp rất nhiều kh  khăn:

    iễn đạt ý không rõ

    không  iết cách t m từ phù hợp hoặc

    vốn từ đ  n điệu.

             

    Tác giả cũng t m hi u ở một số tiết tập giảng tiết th  c hành phư  ng pháp

    ạy học

    SV

    còn hạn chế trong tư thế  tác phong  chưa  iết kết hợp ngôn ngữ n i  ngôn ngữ viết với các

    phư  ng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như: cử ch   điệu

    ộ  nét mặt… Do đ

    chất lượng

    ài

    giảng chưa cao chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe khi lên lớp của người giáo viên. Giảng viên Đinh Thanh H. với quá tr nh hướng dẫn SV tập giảng nhiều năm cho iết: “Sinh viên khi đứng trên bục giảng, nhiều em chỉ chú trọng việc học thuộc nội dung câu chữ trong giáo án, chưa biết cách kết hợp ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể nên tiết dạy rất khô cứng,

     

    thiếu sự uyển chuyển, chất lượng bài dạy không cao”.

       

    Bên cạnh đ   trong những tiết th

    c hành, thảo luận, khi yêu cầu SV tr nh  ày trước lớp

    các vấn đề liên quan đến nội dung bài học các em còn th  hiện s

    lúng túng, tác phong trình

    bày còn th

    hiện s  chưa t  tin. Cụ th : có tới 76.6% SV được khảo sát cho biết các em không

    cảm thấy t

    tin khi đứng trước lớp hoặc phải th  c hiện nhiệm vụ học tập như thuyết trình,

    hùng biện… Tác giả cũng t m hi u lý

    o  được biết đa số các em thấy t

    ti vì bị nói ngọng

    (chiếm 54.7%), một số khác cảm thấy thiếu vốn từ (chiếm 25.3%)  cũng c

    một số ít gặp phải

    những trở ngại tâm lý khác (chiếm 20%).

         

    goài ra  SV cũng chưa chủ động trong giao tiếp nên g y ra t m lý ngại giao tiếp

    thiếu t  tin

    không hăng hái trong việc đưa ra ý kiến mà thường r

    i vào thế

    ị động trong giao

             

    tiếp. Điều này sẽ g y cản trở rất lớn cho SV trong quá tr nh tiếp thu và lĩnh hội tri thức kỹ năng nghề nghiệp của người giáo viên.

     

    hư vậy, trong quá trình giao tiếp nói chung, học tập nói riêng, SV người dân tộc Trường ao đ ng Sư phạm Điện Biên còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế về kỹ năng giao

     

     

     

     

     

     

    tiếp đặc biệt là ngôn ngữ nói. Bi u hiện như còn n i ngọng rất nhiều, diễn đạt kh khăn thiếu t tin trong giao tiếp… Do đ cần xác định những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này

     

    của các em đ th c hiện các biện pháp nhằm khắc phục th c trạng trên, nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV.

     

    2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của SV Trường ĐSP Điện Biên, trên c sở khảo sát tìm hi u th c trạng cũng như th c tiễn công tác, giảng dạy tại Trường, tác giả nhận thấy có một số yếu tố như sau:

     

    • Ý thức rèn luyện khả năng giao tiếp nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng của SV còn chưa cao. Một số SV cho rằng, o m nh là người dân tộc thi u số nên chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, khó sửa chữa được nhất là trong ngôn ngữ n i. ũng c sinh viên đ từng học

    11

     

    cách sửa nói ngọng, nói lắp nhưng không kiên tr nên hiệu quả sử dụng ngôn ngữ n i cũng chưa như mong muốn.

     

    • hội được rèn luyện khả năng giao tiếp đối với SV chưa nhiều. Các giờ học trên lớp ch có một số SV nhiệt tình phát bi u ý kiến, số còn lại r i vào trạng thái thụ động ngại bày tỏ ý kiến. Điều này không ch cản trở hiệu quả của tiết học mà còn tạo ra bầu không khí

    không hào hứng, khó kích thích hứng thú của SV. Các giờ tập giảng cũng chưa thật s   thu hút

     

    SV tích c  c tham gia  đ y là c      hội đ    các em rèn cả kỹ năng tr nh     ày   ảng, kỹ năng sử dụng

     

    ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, kỹ năng ứng xử sư phạm…

     

    – Việc tổ chức các hoạt động ngoại kh a còn chưa đa ạng chưa thu hút SV tham gia tích c c. Tâm lý học đ kh ng định: giao tiếp được rèn luyện thông qua quá tr nh con người tham gia các hoạt động. Tuy nhiên, những hoạt động được tổ chức tại trường mới ch thu hút được một bộ phận SV tham gia, chủ yếu tập trung vào các em trong các đội thi đ được l a chọn. Những SV đ rụt rè, nhút nhát lại càng hiếm c c hội tham gia. Chính vì vậy, kỹ năng giao tiếp của các em chưa được rèn luyện nhiều.

     

    – Nội dung giáo dục nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV chưa th c s được quan tâm và chú trọng, các học phần chủ yếu cung cấp cho SV hệ thống các tri thức chuyên môn cần thiết chưa đạt tới các mục tiêu về rèn luyện kỹ năng. ác học phần th c hành cho nội dung này còn rất t như học phần: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, th c hành tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp…

     

    2.5. Một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Đ   c   th   n ng cao kỹ năng giao tiếp cho SV người dân tộc tại các trường cao đ ng sư

     

    phạm n i chung  SV Trường      ĐSP Điện     iên n  i riêng  chúng tôi mạnh     ạn đưa ra một số

     

    iện pháp cụ th   như sau:

     

    Thứ nhất, trong dạy học nói chung, khi th c hiện các phư ng pháp ạy học tích c c, nói riêng cần tăng cường việc rèn luyện ngôn ngữ nói và viết cho SV sư phạm đặc biệt là SV dân tộc Thái và dân tộc Mông ở mọi tình huống, mọi c hội. Cụ th như: phát bi u trước lớp, trao đổi nhóm; viết bảng; báo cáo chuyên đề, thảo luận trong các buổi xê-mi-na; tập giảng; tổ chức các câu lạc bộ và các sinh hoạt khác.

     

    Do đ phư ng ch m r n luyện khả năng ngôn ngữ và giao tiếp cho SV người dân tộc mà mỗi giáo viên cần hướng tới là:

     

    • Gư ng mẫu trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết bài giảng hay giáo trình, khi giảng bài, viết bảng. Điều này cần có ở mọi giáo viên trước khi n i đến việc tổ chức hoạt động, sửa lỗi cho SV.
    • Tăng cường cho SV hoạt động trong lớp, tích c c gọi các em hay mắc lỗi nói ngọng, rụt rè, nhút nhát. Mỗi lần như vậy là dịp uốn nắn lại cách nói, sử dụng từ, cách viết cho SV và

    cần làm thường xuyên, mở rộng tới tất cả SV. Điều này không ch ành cho giáo viên các môn nghiệp vụ sư phạm mà là cho mọi giáo viên khi đứng lớp với SV sư phạm.

     

    12

     

    • Việc sử dụng ngôn ngữ cho SV th hiện rõ ở các giờ tập giảng. SV th hiện ngôn ngữ viết (soạn giáo án, viết bảng), ngôn ngữ nói (khi giảng và bình giảng) còn rất nhiều lỗi. Vì vậy

    giáo viên hướng dẫn tập giảng chịu kh

    đọc giáo án, lắng nghe SV giảng, giảng mẫu trước SV

    thì có th  cải thiện rõ rệt kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp cho các em trước khi đến th

    c tập tại

    các c  sở Giáo dục.

           

    Thứ hai, cần tổ chức nhiều các hoạt động ngoại khóa khác mang tính trải nghiệm bên

    cạnh các cuộc thi hùng biện  hội thi nghiệp vụ sư phạm cho SV đ

    họ c

    th  phát huy được

    khả năng giao tiếp và c  hội giao lưu

    học hỏi lẫn nhau  tăng cường s  t

    tin và hi u

    iết lẫn

    nhau trong giao tiếp.   goài ra  SV còn c  c  hội được lắng nghe  th

    hiện

    ản th n  chủ động

    • n trong quá tr nh giao tiếp. V vậy  l  a chọn các h nh thức tổ chức sinh hoạt ngoại khóa,

    sinh hoạt tập th  đa  ạng  phong phú cho SV nhằm tăng cường khả năng giao tiếp cho họ là

     

    điều rất cần thiết. ác hoạt động ngoại kh a như: Hoạt động thăm quan các công tr nh và i tích lịch sử như ảo tàng Chiến thắng Đồi A1, hầm Đờ-cát đ giao lưu giao tiếp bằng tiếng

     

    Việt và tiếng nước ngoài; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ kỹ năng sống; các hoạt động tình nguyện h …

     

    Thứ ba, tổ chức các chư  ng tr nh lớp học đào tạo kỹ năng sống cho SV  đặc biệt là SV

     

    người dân tộc.   an đầu

    hà trường có th  hợp tác đào tạo với các trung tâm giáo dục có uy

    tín về kỹ năng sống đ

    mở các lớp học ngoài giờ học ch nh kh  a đ

    các em được tiếp cận và

    n ng cao h

    n khả năng giao tiếp của bản thân. Tiếp đ   tổ chức bồi

    ưỡng kiến thức, kỹ năng

    cho một l

    c lượng giáo viên trong Trường đ  họ c  đủ khả năng th

    c hiện rèn luyện kỹ năng

           

    sống nói chung, kỹ năng giao tiếp n i riêng cho SV. Đ y sẽ là l

    c lượng thường xuyên, gắn

    l u  ài đ

    tổ chức các lớp học giáo dục kỹ năng sống một cách liên tục tại   hà trường.

    Thứ tư  x y

    ng các chủ đi m giáo  ục kỹ năng giao tiếp

    ành cho SV người dân tộc;

    thiết kế các

    ài giảng theo chủ đi m với các nội

    ung khác nhau vừa đ  cho SV hi u và nắm

    ắt các kỹ năng cụ th

    của giao tiếp  h nh thành các kỹ năng giao tiếp một cách c  hiệu quả

    như: kỹ năng n i

    kỹ năng viết  kỹ năng lắng nghe  kỹ năng ứng xử sư phạm…

    ên cạnh đ

    các em sẽ được th

    c hành các kỹ năng nêu trên thông qua ch

    i trò ch  i hoặc tr

    c tiếp tham

    gia đ ng vai

    giải quyết các t nh huống giao tiếp

    x y   ng các t nh huống giao tiếp trong môi

    trường sư phạm và

    kiến cách xử lý các t nh huống kh .

         

    3. Kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c

    ản và c  ý nghĩa quan trọng đối

    với mỗi cá nh n

    đặc

    iệt là sinh viên sư phạm. Sinh viên người dân tộc ở Trường

    ĐSP Điện

    Biên còn gặp một số kh

    khăn trong giao tiếp đặc biệt là sinh viên dân tộc Thái và Mông.

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc trong

    nhà trường  trong đ

    tập trung tới các yếu tố như ý thức rèn luyện của các em; nội dung giáo

    dục chưa phong phú; c  hội được rèn luyện kỹ năng giao tiếp chưa nhiều.

     

    Trên c

    sở phát hiện th  c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường

    ĐSP Điện

                       

    Biên, tác giả đề xuất 4 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho các em. Mỗi biện pháp đều có những ưu  nhược đi m của n    o đ  đ  mang lại hiệu quả cao nhất 13

     

    cần phối hợp sử dụng hợp lý các biện pháp nêu trên trong quá trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    [1]          guyễn Thanh     nh  2004)  Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống        x   Đại học Sư phạm.

     

    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Tài liệu đào tạo giáo viên R n luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.

    [3]          hu Văn Đức  2005)  Kỹ năng giao tiếp      x   giáo    ục.

     

    • Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên), (2014), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm.

    IMPROVING COMMUNICATION SKILLS FOR ETHNIC STUDENTS IN DIEN BIEN TEACHER TRAINING COLLEGE

     

    Lo Vu Diep

    Dien Bien Teacher Training college

     

    Abstract: Communication skill is one of the fundamental and important life skills to everyone in general and pedagogical students in particular. Ethnic minority students deal with certain difficulties and limitations in communication skill, which has great influences on the formation of job skills later on. Basing on the investigation into the current state, we propose specific measures to improve communication skill for students at Dien Bien Teacher training college.

     

    Keywords: Skill, student, Dien Bien teacher training college.

     

     

     

     

    14


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quy định quản lý văn bản đến, đi

    Quy định quản lý văn bản đến, đi

    Quy định quản lý văn bản đến, đi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Quy-%C4%91%E1%BB%8Bnh-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-v%C4%83n-b%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%BFn-%C4%91i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quy định quản lý văn bản đến, đi

     

    IV.1 QUY TRINH QUẢN LÝ CÔNG VĂN ĐẾN

    1. Tiếp nhận văn bản đến
    • Khi tiếp nhận văn bản được chuyển đến từ mọi nguồn, nhân viên văn thư hoặc người được giao tiếp nhận công văn đến (sau đây gọi chung là.nhân viên văn thư) hoặc người được giao nhiệm vụ tiếp nhận văn bản đến trong trường hợp văn bản được chuyển đến ngoài giờ làm việc hoặc vào ngày nghỉ, phải kiểm tra sơ bộ về số lượng, tình trạng bì, nơi nhận, dấu niêm phong (nếu có), v.v…; đối với văn bản mật đến, phải kiểm tra, đối chiếu với nơi gửi trước khi nhận và ký nhận.
    • Nếu phát hiện thiếu hoặc mất bì, tình trạng bì không còn nguyên vẹn hoặc văn bản được chuyển đến muộn hơn thời gian ghi trên bì (đối với bì văn bản có đóng dấu ”Hoả tốc” hẹn giờ), phải báo cáo ngay cho người được giao trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý công tác văn thư (sau đây gọi tắt là người được giao trách nhiệm); trong trường hợp cần thiết, phải lập biên bản với người đưa văn bản.
    • Đối với văn bản đến được chuyển phát qua máy Fax hoặc qua mạng, nhân viên văn thư cũng phải kiểm tra về số lượng văn bản, số lượng trang của mỗi văn bản, v.v…; trường hợp phát hiện có sai sót, phải kịp thời thông báo cho nơi gửi hoặc báo cáo người được giao trách nhiệm xem xét, giải quyết.
    1. Phân loại sơ bộ, bóc bì văn bản đến

    Sau khi tiếp nhận, các bì văn bản đến được phân loại sơ bộ và xử lý như sau:

     

    • Loại không bóc bì: bao gồm các bì văn bản gửi cho Hội đồng quản trị, ban giám đốc, trưởng các bộ phận và các bì văn bản gửi đích danh người nhận, được chuyển tiếp cho nơi nhận. Đối với những bì văn bản gửi đích danh người nhận, nếu là văn bản liên quan đến công việc chung của các cơ quan, tổ chức thì cá nhân nhận văn bản có trách nhiệm chuyển cho văn thư để đăng ký.
    • Loại do nhân viên văn thư bóc bì: bao gồm tất cả các loại bì còn lại, trừ những bì văn bản trên có đóng dấu chữ ký hiệu các độ mật (bì văn bản mật);

    Khi thực hiện phân loại cần lưu ý:

     

    • Những bì có đóng các dấu độ khẩn cần được bóc trước để giải quyết kịp thời;
    • Không gây hư hại đối với văn bản trong bì; không làm mất số, ký hiệu văn bản, địa chỉ cơ quan gửi và dấu bưu điện; cần soát lại bì, tránh để sót văn bản;
    • Đối chiếu số, ký hiệu ghi ngoài bì với số, ký hiệu của văn bản trong bì; trường hợp phát hiện có sai sót, cần thông báo cho nơi gửi biết để giải quyết;
    • Nếu văn bán đến có kèm theo phiếu gửi thì phải đối chiếu văn bản trong bì với phiếu gửi; khi nhận xong, phải ký xác nhận, đóng dấu vào phiếu gửi và gửi trả lại cho nơi gửi văn bản;
    • Đối với đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những văn bản cần được kiểm tra, xác minh một điểm gì đó hoặc những văn bản mà ngày nhận cách quá xa ngày tháng của văn bản thì cần giữ lại bì và đính kèm với văn bản để làm bằng chứng.
    1. Đóng dấu ”Đến”, ghi số và ngày đến
    • Văn bản đến của tất cả các đơn vị phải được đăng ký tập trung tại văn thư, trừ những loại văn bản được đăng ký riêng theo quy định khác của công ty như các hoá đơn, chứng từ kế toán v.v…
    • Tất cả văn bản đến thuộc diện đăng ký tại văn thư phải được đóng dấu “Đến”; ghi số đến và ngày đến (kể cả giờ đến trong những trường hợp cần thiết).
    • Đối với bản Fax thì cần chụp lại trước khi đóng dấu ”Đến”; đối với văn bản đến được chuyển phát qua mạng, trong trường hợp cần thiết, có thể in ra và làm thủ tục đóng đấu ”Đến”.
    • Đối với những văn bản đến không thuộc diện đăng ký tại văn thư thì không phải đóng dấu “Đến” mà được chuyển cho đơn vị hoặc cá nhân có trách nhiệm theo dõi, giải quyết.
    • Dấu “Đến” được đóng rõ ràng, ngay ngắn vào khoảng giấy trống, dưới số, ký hiệu (đối với những văn bản có ghi tên loại), dưới trích yếu nội dung (đối với công văn) hoặc vào khoảng giấy trống phía dưới ngày, tháng, năm ban hành văn bản.

     

    • Đăng ký văn bản đến
    • Văn bản đến được đăng ký vào sổ đăng ký văn bản hoặc cơ sở dữ liệu văn bản đến trên máy vi tính.
    • Đối với nhân viên văn thư thì sử dụng máy vi tính đế quản lý văn bản đến, nhưng vẫn có sổ theo dõi văn bản đến để phòng ngừa xử lý khi cần thiết.
    • Đối với các bộ phận khác chỉ cần sử dụng sổ theo dõi văn bản đến.
    • Đối với phòng nhân sự phải lập sổ theo dõi những đơn, thư khiếu nại, tố cáo và cách giải quyết. Mẫu sổ theo dõi tương tự như mẫu theo dõi văn bản đến đính kèm quy trình này.
    • Khi đăng ký văn bản, cần bảo đảm rõ ràng, chính xác; không viết bằng bút chì, bút mực đỏ; không viết tắt những từ, cụm từ không thông dụng..

    IV.2 QUY TRÌNH QUẢN LÝ VĂN BẢN ĐI

     

    1. Soạn thảo và đánh máy văn bản:

     

    • Văn bản chuyên môn (ví dụ: hồ sơ thầu, báo giá…) cần soạn thảo, đánh máy của bộ phận nào do bộ phận đó trực tiếp soạn thảo/đánh máy.
    • Phòng HC chịu trách nhiệm soạn thảo các quyết định, công văn giấy tờ, hợp đồng thuộc phạm vi phụ trách của văn phòng.
    • Đối với văn bản của Hội đồng quản trị, ban giám đốc sẽ do thư ký hay phòng HCQT soạn thảo.
    • Đối với trường hợp đánh máy sử dụng ở dịch vụ ngoài hoặc chuyển cho phòng HCQT thực hiện cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

    a). Đánh máy đúng nguyên văn bản thảo, đúng thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.

    b). Nhân bản đúng số lượng quy định;

    c). Giữ bí mật nội dung văn bản.

     

    1. Photo và đóng dấu:
    • Đối với bộ phận nào được giao đánh máy thì bộ phận đó thực hiện việc photo tài liệu.
    • Đối với trường hợp số lượng tài liệu cần photo lớn thì có thể chuyển qua cho phòng HCQT thực hiện việc photo.
    • Việc thực hiện đóng dấu tài liệu, công văn thực hiên theo quy định quản lý con dấu của công ty.

     

    1. Chuẩn bị phong bì
    • Tuỳ theo số lượng, độ dày và khổ giấy để lưa chọn kích thước bì cho phù hợp.
    • Bì văn bản cần có kích thước lớn hơn kích thước của văn bản khi được vào bì (ở dạng để nguyên khổ giấy hoặc được gấp lại) để có thể vào bì một cách dễ dàng .
    • Bì văn bản cần được làm bằng loại giấy dai, bền, khó thấm nước, không nhìn thấu qua được và có định lượng ít nhất từ 80gram/m2 trở lên.
    • Trình bày bì và viết bì. Phần tên công ty và phần người nhận phải được in trưc tiếp từ máy hoặc đánh máy trên giấy dán và dán vào phong bì.
    • Vào bì và dán bì: Tùy theo số lượng và độ dày của văn bản mà lựa chọn cách gấp văn bản để vào bì.. Khi gấp văn bản cần lưu ý để mặc giấy có chữ vào vào trong. Khi vào bì, cần tránh làm nhàu văn bản. Khi dán bì, cần lưu ý không để hồ dán dính vào văn bản; hồ phải dính đều; mép bì phải được dán kín và không bị nhăn. Hồ dùng để dán bì phải có độ kết dính cao, khó bóc.
    1. Chuyển phát văn bản đi:
    • Đối với trường hợp chuyển giao trực tiếp cho người nhận thì yêu cầu người nhận ký vào cột ký nhận của sổ chuyển giao công văn đi.
    • Đối với trường hợp phải giao cho nhân viên giao nhận hoặc các nhân viên khác đi giao thì yêu cầu người đó ký vào sổ giao công văn đi, đồng thời chuyển cho người đó phiếu giao bản giấy tờ, sau khi giao xong thì thu hồi giấy đã có chữ ký lại.
    • Chuyển phát văn bản đi qua bưu điện. Tất cả văn bản đi được chuyển phát qua hệ thống bưu điện đều phải được đăng ký vào sổ. Khi giao bì văn bản, phải yêu cầu nhân viên bưu điện kiểm tra, ký nhận và đóng dấu vào sổ (nếu có).
    • Chuyển phát văn bản đi bằng máy Fax, qua mạng. Trong trường hợp cần chuyển phát nhanh, văn bản đi có thể được chuyển cho nơi nhận bằng máy Fax hoặc chuyển qua mạng, nhưng sau đó phải gửi bản chính đối với những văn bản có giá trị lưu trữ.
    • Chuyển phát văn bản mật. Đối với trường hợp chuyển giao văn bản mật, thực hiện theo quy chế bảo mật tài liệu của công ty.
    1. Theo dõi việc chuyển phát văn bản đi

    Nhân viên văn thư có trách nhiệm theo dõi việc chuyển phát văn bản đi, cụ thể như sau:

     

    • Đối với những văn bản mật, hỏa tốc hoặc theo yêu cầu của người gửi, nhân viên văn thư phải theo dõi việc chuyển phát văn bản đi theo yêu cầu của người ký văn bản. Đối với các trường hợp này, nhân viên văn thư phải ghi thêm thời gian phải kiểm tra, nếu đến thời gian đó phải gọi điện hỏi thăm người nhận đã nhận được chưa, nếu sau thời gian 4 – 8h mà người nhận chưa nhận được thì phải báo cáo người có thẩm quyền xin ý kiến xử lý (tùy theo tình chất cấp bách của văn bản).
    • Đối với những văn bản đi có đóng dấu ”Tài liệu thu hồi”, phải theo dõi, thu hồi đúng thời hạn; khi nhận lại, phải kiểm tra, đối chiếu để bảo đảm văn bản không bị thiếu hoặc thất lạc;
    • Đối với bì văn bản gửi đi nhưng vì lý do nào đó (do không có người nhận, do thay đổi địa chỉ, v.v…) mà bưu điện trả lại thì phải chuyển cho đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo văn bản đó; đồng thời, ghi chú vào sổ gửi văn bản đi bưu điện để  kiểm tra, xác minh khi cần thiết;
    • Trường hợp phát hiện văn bản bị thất lạc, phải kịp thời báo cáo người được giao trách nhiệm xem xét, giải quyết.
    1. Lưu công văn:
    • Bản lưu văn bản đi tại văn thư được Sắp xếp theo thứ tự đăng ký. Những văn bản đi được đánh số và đăng ký chung thì được sắp xếp chung; được đánh số và đăng ký riêng theo từng loại văn bản hoặc theo từng nhóm văn bản thì được sắp xếp riêng, theo đúng số thứ tự của văn bản.
    • Đối với các bản fax thì phải lưu cả cuống fax.
    • Đối với trường hợp gửi văn bản qua bưu điện hoặc nhân viên của công ty thì phải lưu kèm cả chứng từ chứng minh đã gửi xong.
    • Các văn bản lưu được lưu trữ bằng cả hai cách: lưu bản cứng vào file và lưu bản mềm trên hệ thống ERP (trực tiếp hoặc scan văn bản).

    IV.3 QUẢN LÝ CÔNG VĂN

     

    • Tất cả các bộ phận khi nhận công văn giấy tờ phải lưu vào file bìa còng, bên ngoài phải lập danh mục thông báo đến, thông báo đi.
    • Đối với trường hợp có ít công văn đến thì có thể lưu chung một file, đối với trường hợp có nhiều công văn đến từ các bộ phận khác nhau thì lưu theo từng bộ phận.
    • Danh mục thông báo theo biểu mẫu kèm theo quy trình này.

    V/ BIỂU MẪU KÈMTHEO

     

    1. Sổ công văn đến mã số: HC – 09 – BM01
    2. Sổ công văn đi mã số: HC – 09 – BM02
    3. Sổ chuyển giao văn bản, giấy tờ mã số: HC – 09 – BM03
    4. Danh mục thông báo. mã số: HC – 09 – BM04

    ———————– › & š ————————–

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/sinh_benh_hoc_cua_virus_prrs_chung_doc_luc_cao_tren_heo_rung_lai_8613SINH-B%E1%BB%86NH-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-VIRUS-PRRS-CH%E1%BB%A6NG-%C4%90%E1%BB%98C-L%E1%BB%B0C-CAO-TR%C3%8AN-HEO-R%E1%BB%AANG-LAI-QUA-G%C3%82Y-B%E1%BB%86NH-TH%E1%BB%B0C-NGHI%E1%BB%86M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    Vietnam J. Agri. Sci. 2019, Vol. 17, No. 1: 47-54                              Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(1): 47-54

     

    www.vnua.edu.vn

     

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

     

    Đỗ Tiến Duy*, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    Khoa Chăn nuôi Thú y, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

     

    *Tác giả liên hệ: [email protected]

     

    Ngày nhận bài: 23.11.2018                                                  Ngày chấp nhận đăng: 05.03.2019

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu này nhằm xác định khả năng gây bệnh của virus (tên đầy đủ) (PRRSV) chủng độc lực cao (HP-PRRSV) trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm. Tổng cộng 28 heo rừng lai 42-49 ngày tuổi khỏe mạnh có nguồn gốc từ trại heo rừng âm tính với PRRSV và dịch tả heo được phân chia ngẫu nhiên vào hai lô thí nghiệm. Kết quả đánh giá dấu hiệu lâm sàng và bệnh lý cho thấy giai đoạn cấp tính của bệnh diễn ra từ ngày 5 đến 14 sau gây nhiễm. Các biểu hiện lâm sàng chính gồm sốt, bỏ ăn, rối loạn hô hấp, mắt sưng-chảy ghèn, run giật, chết. Viêm phổi kẽ nặng trên tất cả heo gây nhiễm; phổi viêm kẽ kèm theo xuất huyết xảy ra trên heo chết bệnh. Các chỉ tiêu cận lâm sàng (hàm lượng virus ở máu, mô; điểm kháng nguyên qua IHC, kháng thể, IL-1b) tương ứng với các triệu chứng và bệnh lý lâm sàng giai đoạn cấp tính trên heo sau gây nhiễm. Sự phân bố kháng nguyên ở mô giao động khác nhau qua các thời điểm sau gây nhiễm. Virus lần đầu tiên được ghi nhận nhiễm ở tế bào biểu mô tiểu phế quản, dạ dày, thận, ống dẫn mật và tế bào gan. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng HP-PRRSV có thể gây bệnh lý nặng, nhiễm trên nhiều cơ quan nội tạng và có thể gây chết trên heo rừng.

     

    Từ khóa: Sinh bệnh học, HP-PRRSV, heo rừng lai, gây bệnh.

     

    Pathogenesis of Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus in Crossbred Wild Pigs through Experimental Innoculation

     

    ABSTRACT

     

    The objective of this study was to examine the pathogenesis of highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome virus (HP-PRRSV) in crossbred wild pigs through experimental infection. Twenty eight healthy crossbred-wild pigs, 42-49 day-old, originated from CSFV-PRRSV-negative farms were allocated in two experimental groups.The findings in clinical signs and pathology showed that the acute phase of infection took place from 5 to 14 days post infection. The major manifestations were fever, anorexia, respiratory failure, eye discharge and swelling, shivering and death. Severe interstitial pneumonia happened in all infected animals and interstitial pneumonia accompanied with hemorrhage recorded in died pigs. The laboratory indicators (viremia in the blood/tissues, IHC score, IgG antibodies, IL-1b) were in homology with clinical pathology in acute phase of the disease. There were variations of the antigen distribution in various tissues over time-points post infection. This virus was first detected in the epithelial cells of bronchioles, stomach, kidney, bile duct and hepatic cells. The study results demonstrated that HP-PRRSV might cause severe pathology, wide antigenic distribution in visceral organs and could be fatal in crossbred-wild pigs.

     

    Keywords: Pathogenesis, HP-PRRSV, crossbred wild pigs.

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) là bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra bởi virus PRRS (porcine reproductive and respiratory syndrome virus) (Zimmerman et al., 2006). Biến

     

    chủng virus PRRS mới là chủng độc lực cao (HP-PRRSV) xảy ra đầu tiên ở Trung Quốc (2006), sau đó lây lan nhanh chóng và gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho các nước láng giềng như Việt Nam (2007), Thái Lan (2010), Phillipines (2010), Lào, Campuchia (2010), Myanmar (2011), Nga và Ấn

     

    47

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

    Độ (2013) (Tian et al., 2007; Helen et al., 2009; Zhou et al., 2010).

    • khía cạnh dịch tễ học, heo rừng được xem là nguồn lưu trữ nhiều mầm bệnh truyền nhiễm như virus dịch tả heo, virus gây hội chứng còi trên heo, virus cúm heo và virus Parvo gây rối loạn sinh sản trên heo (Meng et al., 2009). Sự lưu hành PRRSV trên heo rừng được khảo sát ở nhiều quốc gia (Bonilauri et al., 2006; Ruiz-Fons et al., 2008; Choi et al., 2012; Roic et al., 2012). Tỷ lệ lưu hành PRRSV trên heo rừng châu Âu và châu Mỹ tương ứng khoảng 6,2% và 14,2% (Saliki et al., 1998; Zupancic et al., 2002; Plagemann, 2003; Ruiz-Fons et al., 2006; Hammer et al., 2012). Ở châu Á, 4/267 (kháng thể dương tính) và 8/246 (kháng nguyên dương tính) trong một khảo sát ở Hàn Quốc (Choi et al., 2012). Tỷ lệ lưu hành PRRSV 24% trong khảo sát trên heo rừng Thái Lan (Wiratsudakul et al., 2013).

    Heo rừng được thuần hóa và nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam do nhu cầu về thực phẩm và cải thiện thu nhập cho người nông dân (Larson et al., 2005). Mặc dù vậy, khả năng PRRSV gây bệnh trên heo rừng hay vai trò heo rừng là nguồn chứa PRRSV vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ (Meng et al., 2009). Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định khả năng gây bệnh của HP-PRRSV trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm.

     

    2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

     

    2.1. Bố trí thí nghiệm

     

    Tổng cộng 28 heo rừng lai 42-49 ngày tuổi khỏe mạnh có nguồn gốc từ trại heo rừng âm tính với virus PRRS và dịch tả heo qua đánh giá kháng thể (ELISA) và kháng nguyên (RT-PCR), được phân chia ngẫu nhiên vào hai lô thí nghiệm: 21 heo ở lô B (có gây nhiễm) và 7 heo ở lô A (không gây nhiễm). Heo ở 2 lô được nuôi nhốt tách biệt nhau tại thời điểm gây nhiễm. Virus PRRS chủng độc lực cao được phân lập thực địa (Bệnh viện Thú y, Trường đại học Nông Lâm TPHCM) và giải trình tự ở ba phân đoạn gen NSP2, ORF5ORF7. NSP2 có đặc điểm

     

    đột biến mất đoạn không liên tục 30 axit amin (kết quả không trình bày) và ORF5ORF7 có sự tương đồng cao với chủng JXA1 (Trung Quốc), 07QN và SR07 (Việt Nam). Heo được gây nhiễm HP-PRRSV với 3 mL huyễn dịch tế bào MARC-145 ở nồng độ 105,5/TCID50, tiêm bắp. Heo thí nghiệm gây nhiễm và heo đối chứng được nhốt ở heo ô chuồng tách biệt thuộc khu nuôi thú thí nghiệm thuộc Khoa chăn nuôi thú y, Trường đại học Nông Lâm TPHCM.

     

    Sau gây nhiễm, heo thí nghiệm được theo dõi thân nhiệt, triệu chứng lâm sàng hằng ngày cho đến 28 ngày sau gây nhiễm. Ba heo ở lô B, 1 heo ở lô A được chọn ngẫu nhiên để mổ khám toàn diện đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng như bệnh lý phổi, miễn dịch, virus huyết, kháng nguyên hiện diện vào ngày 3, 5, 7, 10, 14, 21 và 28 sau gây nhiễm.

     

    2.2. Theo dõi thân nhiệt, triệu chứng và bệnh tích lâm sàng

    Heo ở 2 lô thí nghiệm được theo dõi thân nhiệt bởi nhiệt kế điện tử (Microlife MT200, Thụy Sĩ) 2 lần/ngày theo hướng dẫn của nghiên cứu trước đây (Thoresen et al., 2001). Dấu hiệu lâm sàng đồng thời được ghi nhận cùng thời điểm đo thân nhiệt. Điểm hô hấp lâm sàng được đánh giá dựa theo thang điểm từ 0 (bình thường), 1, 2, 3 và 4 (hiệu chỉnh từ mô tả của Halbur et al., 1995).

     

    • mỗi thời điểm khảo sát, 3 heo ở lô B và 1 heo lô A được chọn ngẫu nhiên để mổ khám nhằm đánh giá bệnh lý phổi và các cơ quan nội tạng khác. Bệnh tích viêm kẽ phổi đại thể được đánh giá theo thang điểm 0-100, theo tỷ lệ% diện tích bề mặt các thùy phổi trong tổng bề mặt phổi (Halbur et al., 1995). Sau đó, 3 vị trí mô phổi ở ba thùy (đỉnh, giữa, đuôi) được cắt, cố định trong formalin 10% đệmvà xử lý mô để làm tiêu bản vi thể đánh giá bệnh lý viêm kẽ vi thể với thang điểm từ 1 đến 4 (Halbur et al., 1995).

    2.3. Đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng

     

    2.3.1. Lượng virus trong huyết thanh và phổi

     

    Lượng virus huyết (huyết thanh) và phổi được xác định qua các thời điểm -3, 0, 3, 5, 7, 10,

     

    48

     

    14, 21 và 28 ngày gây nhiễm. Tổng 500 ml huyết thanh (500 g phổi) được tách chiết RNA tổng số bằng dung dịch TRIzolÒ Reagent (Ambion – Mỹ). ARN tách chiết (2 ml) được tổng hợp sang cDNA cùng với 18 ml Master-mix (TopscriptTM RT DryMIX dT18 plus; Enzynomics, Daejeon – Hàn Quốc), ở phản ứng nhiệt 50°C trong 1 giờ và 95°C trong 5 phút. cDNA được bào quản ở -20°C sẵn sàng cho xác định lượng virus huyết bởi SYBRÒGreen real-time PCR. Đoạn mồi đặc hiệu cho HP-PRRSV: F-5’-CTT GAC ACA GTT GGT CTG GTT ACT-3’ và R-5’-GTT CTT CGC AAG CCT AAT AAC G-3’ được sử dụng để nhân bản sản phẩm với kích thước 187 bp; kết quả được đọc và phân tích bởi phần mềm PikoRealTM 2.2.

     

    2.3.2. Hàm lượng kháng thể IgG và IL-1b trong máu

     

    Hàm lượng kháng thể được xác định bằng phương pháp ELISA theo hướng dẫn của bộ kít thương mại (PRRS ELISA SK103, Biocheck, Hà Lan). Thời điểm thu mẫu huyết thanh tương tự như phần đánh giá hàm lượng virus huyết. Kháng thể dương tính khi chỉ số S/P ≥0,4 và ước lượng sự đáp ứng kháng thể trên heo thí nghiệm qua chỉ số trung bình S/P ± SD.

     

    Hàm lượng IL-1b được xác định bằng phương pháp ELISA theo hướng dẫn của bộ kít thương mại (IL-1 beta Pig ELISA Kit, Abcam, Hàn Quốc).

     

    2.3.3. Xác định kháng nguyên tại mô

     

    Sự phân bố kháng nguyên virus gây nhiễm được xác định tại tất cả cơ quan nội tạng của heo thí nghiệm vào các thời điểm mổ khám bởi kỹ thuật hóa mô miễn dịch (IHC). Kháng thể đặc hiệu sử dụng cho IHC tại mô là kháng thể đơn dòng SR30 (Rural Technologies Inc., Mỹ). Kháng thể đơn dòng SR30 có thể gắn đặc hiệu với protein N của virus PRRS.

     

    Điểm phân bố kháng nguyên virus trên một đơn vị diện tích nhất định của mô phổi, hạch và tuyến ức sau gây nhiễm được đánh giá qua kỹ thuật hóa mô miễn dịch. Sự định lượng được tính toán dựa trên diện tích vi trường trên kính hiển vi (0,95 mm2); ở vi trường đó, số lượng tế bào dương tính tại phổi được xác định và cho

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    điểm từ 0 đến 4 (Halbur et al., 1996), trong đó: 0

     

    • không có tế bào dương tính tại mô; 1 = có 1-10 tế bào dương tính; 2 = có từ 11-30 tế bào dương tính; 3 = có từ 30-60 tế bào dương tính và 4 = có lớn hơn 60 tế bào dương tính.

    2.4. Xử lý số liệu

     

    Nhiệt độ trực tràng, điểm hô hấp lâm sàng, kháng thể, virus huyết được so sánh giữa hai lô thí nghiệm bởi Pair-wise test (SPSS software). Không so sánh thống kê bệnh tích đại thể, vi thể và điểm phân bố kháng nguyên do số heo đối chứng nhỏ trong mỗi lần mổ khám.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thân nhiệt, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể

     

    Heo gây nhiễm tăng thân nhiệt từ ngày thứ 2 sau gây nhiễm. Trung bình nhiệt độ trực tràng cao hơn có ý nghĩa (P <0,01) so với heo không gây nhiễm từ ngày 4 đến 19 (Hình 1A). Triệu chứng lâm sàng xuất hiện trên heo gây nhiễm gồm sốt cao ³39,5°C (từ ngày 5 đến 10 sau gây nhiễm), bỏ ăn, sưng mắt – chảy ghèn, ho/thở khó/hắt hơi (Hình 1B), miễn cưỡng di chuyển và run giật. Triệu chứng lâm sàng tập trung vào ngày 5, 7, 10 và 14 sau gây nhiễm. 5/21 heo chết vào ngày 11 và 13 sau gây nhiễm. 2/21 heo gây nhiễm giảm thân nhiệt và triệu chứng từ ngày 21 và sống đến cuối thí nghiệm. Heo đối chứng (không gây nhiễm) có thân nhiệt và triệu chứng bình thường trong thí nghiệm.

     

    Bệnh tích quan sát trên phổi heo được gây nhiễm đặc trưng bởi viêm kẽ nặng, lan tỏa và kèm theo sung huyết và xuất huyết trên một số heo ở ngày 10 đến 14 sau gây nhiễm (Hình 3B). Viêm phổi kẽ làm dày vách phế nang do sự tăng sinh mạnh mẽ tế bào biểu mô phế nang typ-2 (pneumocyte type 2) và sự xâm nhập bởi nhiều bạch cầu đơn nhân. Điểm bệnh tích đại thể và vi thể phổi tăng cao nhất vào ngày 10 sau gây nhiễm (Hình 2A, B). Ngoài ra, heo chết bệnh có các bệnh tích toàn thân khác như sưng lớn-sung huyết hạch toàn thân, xuất huyết biểu mô dạ dày (Hình 3C), sung huyết lách và xuất huyết vỏ-tủy thận.

     

    49

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

     

     

     

     

    Hình 1. A. Nhiệt độ trực tràng, B. Điểm hô hấp lâm sàng, C. Kháng thể đáp ứng, D. hàm lượng IL-1b trên heo thí nghiệm

     

     

    3.2. Chỉ tiêu cận lâm sàng

     

    3.2.1. Hàm lượng kháng thể IgG và IL-1b trong máu

     

    Kháng thể dương tính (S/P ³0,4) chỉ được tìm thấy trên heo gây nhiễm từ ngày 14 (Hình 1C). Kháng thể tăng rất cao ở ngày 21 (S/P = 1,72) và 28 (2,02). Sự khác biệt có ý nghĩa giữa heo gây nhiễm và không gây nhiễm ở ngày 5, 7, 10 (P <0,05), 14 (P <0,01) và 21, 28 (P <0,001).

     

    Hàm lượng IL-1b (pg/mL) trong máu tăng cao trong 5 heo chết bệnh với biểu hiện lâm sàng và bệnh lý toàn thân (kết quả tính theo trung bình ở ngày mổ khám 14; Hình 1D). Heo đối chứng có hàm lượng kháng thể và IL-1b âm tính trong suốt thí nghiệm.

     

    3.2.2. Hàm lượng virus ở huyết thanh và phổi

     

    Tại thời điểm trước gây nhiễm không có virus trong máu ở hai nhóm heo thí nghiệm.

    Sau gây nhiễm, virus huyết được xác định vào ngày thứ 3 và tăng cao nhất ở ngày 10 (8,2 log10 copies); trong khi hàm lượng virus tại phổi tăng cao nhất vào ngày 14 (7,3 log10 copies) sau gây nhiễm. Kết thúc thí nghiệm (28 ngày), virus vẫn hiện diện trong máu và mô phổi heo gây nhiễm (Hình 2C).

     

    3.2.3. Xác định kháng nguyên tại mô

     

    Kháng nguyên được tìm thấy tại phổi và các nội quan khác trên heo sau gây nhiễm từ ngày 3 đến hết thí nghiệm (Bảng 1), không phát hiện virus ở tim, não và biểu mô ruột. Kháng nguyên virus chủ yếu tìm thấy ở tế bào chất của đại thực bào tại mô (phổi, hạch, lách, tuyến ức, gan, thận, mảng Peyer’s ruột). Đặc biệt, virus còn được xác định ở biểu mô tiểu phế quản hô hấp, biểu mô dạ dày, biểu mô ống thận, biểu mô ống mật và tế bào gan (Hình 3D, E, F).

     

    Điểm phân bố kháng nguyên giao động khác nhau giữa tuyến ức, hạch bạch huyết và

     

    50

     

    phổi (Hình 2D). Sau gây nhiễm, virus hiện diện

     

    • tuyến ức rất cao vào ngày 3 và 5; trong khi virus tập trung cao nhất ở phổi và hạch vào ngày 14 sau gây nhiễm. Virus vẫn còn tồn tại ở tuyến ức, hạch bạch huyết và phổi cho đến cuối thí nghiệm.

    Bệnh tích viêm phổi kẽ nặng cho thấy HP-PRRSV có độc lực cao trên heo rừng lai. Khả năng gây bệnh tích phổi khác nhau trên các giống heo khác nhau được ghi nhận ở các nghiên cứu trước đây (Halbur et al., 1998). Hàm lượng virus huyết, virus tại mô phổi cao tương quan với bệnh lí viêm phổi kẽ trên phổi heo gây nhiễm qua một thí nghiệm trước đây (Han et al., 2013).

     

    Sự phát hiện đầu tiên PRRSV nhiễm ở biểu mô tiểu phế quản hô hấp và tế bào gan được xác định bởi hóa mô miễn dịch. Ở các nghiên cứu trước, HP-PRRSV được phát hiện ở biểu mô dạ dày, ống lượn thận (Li et al., 2012). Chưa có nghiên cứu nào báo cáo sự nhiễm PRRSV tại tế bào biểu mô tiểu phế quản và tế bào gan.

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    PRRSV có các thụ thể nhận diện ở đại thực bào (CD169, CD163, CD151 và heparan sulphate) (Delputte et al., 2002; Vanderheijden et al., 2003; Calvet et al., 2007). Kết quả nghiên cứu này gợi ý loại thụ thể khác hiện diện ở biểu mô tiểu phế quản và tế bào gan. Biểu mô tiểu phế quản có vai trò quan trọng trong thanh thải mầm bệnh; khi mầm bệnh tấn công và gây hư hại sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh kế phát gây bệnh phức hợp ở mô phổi.

     

    Nhiều nghiên cứu sinh bệnh học do PRRSV trên các giống heo như Large White, Landrace, Hampshire, Duroc và Meishan đã được thực hiện nhưng chưa thấy nghiên cứu trên heo rừng hoặc heo rừng lai cả trong và ngoài nước được thực hiện để có thể so sánh các đặc điểm bệnh lý (Halbur et al., 1998, Meng et al., 2009). Do đó, để xác định sâu hơn về đặc điểm gây bệnh, đáp ứng miễn dịch và vai trò của heo rừng trong dịch tễ học của HP-PRRSV cần có các nghiên cứu tiếp theo sau này.

     

     

     

     

     

    Hình 2. A. Bệnh tích phổi đại thể, B. Bệnh tích phổi vi thể

     

    1. Lượng virus trong máu và phổi, D. Điểm kháng nguyên ở các tuyến ức, hạch và phổi

     

     

    51

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

     

     

    Hình 3. A. Heo thí nghiệm, B. Phổi viêm kẽ-xuất huyết, C. Niêm mạc dạ dày xuất huyết,

     

    1. Biểu mô tiểu phế quản dương tính với SR30, IHC, 10X,
    1. biểu mô ống lượn thận dương tính với SR30, IHC, 10X;
    1. tế bào gan dương tính với SR30, IHC, 20X

    Bảng 1. Sự phân bố kháng nguyên sau gây nhiễm heo thí nghiệm

     

    (A, không gây nhiễm; B, gây nhiễm)

     

    Nội tạng

     

           

    Ngày sau nhiễm

           
                           

    3

    5

    7

    10

    14

    21

    28

     
         
                               

    Phổi

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Tim

     

    B

     
       

    A

     

    Não

     

    B

     
       

    A

     

    Tuyến ức

     

    B

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Hạch amidan

     

    B

    +

    +

    ++

    ++

    +

    +

     
       

    A

     

    Hạch phổi, bẹn cạn

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

     

    và hạch màng treo ruột

     

    A

     
       

    Gan

     

    B

    +

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Thận

     

    B

    +

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Lách

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    +

     
       

    A

     

    Dạ dày

     

    B

    +

    ++

     
       

    A

     

    Hồi tràng

     

    B

    ++

    ++

     
       

    A

     
                               

    Ghi chú: Mật độ dương tính: -: âm tính; +: thấp, ++: trung bình; +++: cao

     

     

    52

     

    4. KẾT LUẬN

     

    HP-PRRSV gây bệnh lý nặng và có thể gây chết trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm. Sự phân bố kháng nguyên ở máu và trên nhiều cơ quan nội tạng đã gây bệnh lý toàn thân trên heo sau nhiễm virus.

     

    Sự phát hiện virus nhiễm ở tế bào biểu mô tiểu phế quản, dạ dày, thận, ống dẫn mật và tế bào gan cho thấy sự đa dạng tính hướng mô của virus, đo đó nghiên cứu xác định cơ chế gây nhiễm trên các tế bào này sẽ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế sinh bệnh của HP-PRRSV.

     

    LỜI CẢM ƠN

     

    Tác giả chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Bộ môn Bệnh truyền nhiễm và Thú y cộng đồng, BVTY – Trường ĐHNL TP.HCM, Phòng chẩn đoán xét nghiệm – Cơ quan thú y vùng VI TP. HCM và Bộ môn Bệnh lý thú y – Trường đại học quốc gia Seoul, Hàn Quốc.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Bonilauri P., Merialdi G., Dottori M. & Barbieri I.

     

    (2006). Presence of PRRSV in wild boar in Italy.

    Veterinary Record. 21: 107-108.

     

    Calvert J.G., Slade D.E., Shields S.L., Jolie R., Mannan R.M., Ankenbauer R.G. & Welch S.K. (2007). CD163 expression confers susceptibility to porcine reproductive and respiratory syndrome viruses. Journal of Virology. 81: 7371-7379.

     

    Choi E.J., Lee C.H., Hyun B.H., Kim, J.J., Lim S.I., Song J.Y. & Shin Y.K. (2012). A survey of porcine reproductive and respiratory syndrome among wild boar populations in Korea. Journal of Veterinary Sciences. 13: 377-383.

     

    Delputte P.L., Vanderheijden N., Nauwynck H.J. & Pensaert M.B. (2002). Involvement of the matrix protein in attachment of porcine reproductive and respiratory syndrome virus to a heparinlike receptor on porcine alveolar macrophages. Journal of Virology. 76: 4312-4320.

     

    Halbur P.G., Paul P.S., Frey M.L., Landgraf J., Eernisse K., Meng X-J., Lum M.A., Andrews J.J.

     

    • Rathje J.A. (1995). Comparison of the pathogenicity of two US porcine reproductive and respiratory syndrome virus isolates with that of the Lelystad virus. Veterinary Pathology. 32: 648-660.

    Halbur P.G., Rothschild M.F., Thacker B.J., Meng X.J., Paul P.S. & Bruna J.D. (1998). Differences in

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    susceptibility of Duroc, Hampshire and Meishan pigs to infection with a high virulence strain (VR2385) of porcine reproductive and respiratory syndrome virus (PRRSV). Journal of Animal Breeding and Genetics. 115: 181-189.

     

    Han K., Seo H.W., Park C., Oh Y., Kang I. & Chae C. (2013). Comparative pathogenesis of type 1 (European genotype) and type 2 (North American genotype) porcine reproductive and respiratory syndrome virus in infected boar. Virology Journal. 10: 1-9.

     

    Hammer R., Ritzmann M., Palzer A., Lang C., Hammer B., Pesch S. & Ladinig A. (2012). Porcine reproductive and respiratory syndrome virus and porcine circovirus type 2 infections in wild boar (Sus scrofa) in southwestern Germany. Journal of Wildlife Diseases. 48: 87-94.

     

    Helen R, Papadopoulou C, Drew T, Gresham A. & Sabirovic M. (2009). Highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome. Int Dis Monit Situa Assess 23: 1-10.

     

    Larson G., Dobney K., Albarella U., Fang M., Matisoo-Smith E., Robins J., Lowden S., Finlayson H., Brand T., Willerslev E., Rowley-Conwy P., Andersson L.

     

    • Cooper A. (2005). Worldwide phylogeography of wild boar reveals multiple centers of pig domestication. Science. 307: 1618-1621.

    Li L., Zhao Q., Ge X., Teng K., Kuang Y., Chen Y., Guo X. & Yang H. (2012). Chinese highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome virus exhibits more extensive tissue tropism for pigs. Virology Journal. 9: 203-209.

     

    Meng X.J., Lindsay D.S. & Sriranganathan N. (2009). Wild boars as sources for infectious diseases in livestock and humans. Philosophical Transactions of The Royal Society B. 364: 2697-2707.

     

    Roic B., Jemersic L., Terzoc S., Keros T., Balatinec J.

     

    • Florijancic T. (2012). Prevalence of antibodies to selected viral pathogens in wild boars (Sus scrofa) in Croatia in 2005-06 and 2009-10. Journal of Wildlife Diseases. 48: 131-137.

    Ruiz-Fons F., Segalés J. & Gortázar C. (2008). A review of viral diseases of the European wild boar: Effects of population dynamics and reservoir role. The Veterinary Journal. 176: 158-169.

     

    Ruiz-Fons F., Vicente J., Vidal D., Höfle U., Villanúa D., Gauss C., Segalés J., Almería S., Montoro V. & Gortázar C. (2006). Seroprevalence of six reproductive pathogens in European wild boar (Sus scrofa) from Spain: The effect on wild boar female reproductive performance. Theriogenology. 65: 731-743.

     

    Plagemann P.G.W. (2003). Porcine Reproductive and

     

    Respiratory Syndrome Virus: Origin Hypothesis.

     

    Emerging Infectious Diseases. 9: 903-908.

     

    53

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

    Saliki J.T., Rodgers S.J. & Eskew G. (1998). Serosurvey of selected viral and bacterial diseases in wild swine from Oklahoma. Journal of Wildlife Diseases. 34: 834-838.

     

    Tian K., Yu X., Zhao T., Feng Y., Cao Z., Wang C., Hu Y., Chen X., Hu D., Tian X., Liu D., Wang X., Jin P., Wang S., Kitamura Y., Yan J. & Gao G.F.

     

    (2007). Emergence of fatal PRRSV variants: unparalleled outbreaks of atypical PRRS in China and molecular dissection of the unique hallmark. PLoS One. 2007(2): e526.

     

    Vanderheijden N., Delputte P.L., Favoreel H.W., Vandekerchhove J., Van Damme J., van Woensel P.A. & Nauwynck H.J. (2003). Involvement of sialoadhesin in entery of porcine reproductive and respiratory syndrome virus into porcine alveolar macrophages. Journal of Virology. 77: 8207-8215.

     

    Wiratsudakul A., Prompiram P., Pholtep K., Tantawet S., Suraruangchai D., Sedwisai P., Sangkachai N.

     

    • Ratanakorn1 P. (2013). A Cross-Sectional Study of Porcine Reproductive and Respiratory

    Syndrome Virus and Mycoplasma hyopneumoniae in Wild Boars Reared in Different Types of Captive Setting in Thailand. Journal Veterinary Science and Technology. 4: 1-4.

     

    Zimmerman J.J., Benfield. D.A., Murtaugh M.P., Osorio F., Stevenson G.W. & Torremorell M. (2006). Porcine reproductive and respiratory syndrome virus (porcine arterivirus). In: Straw B.E., Zimmerman J.J., D’Allaire S., Taylor D.J. (Eds). Diseases of Swine. Blackwell Publishing, Ames. pp. 387-417.

     

    Zhou L. & Yang H. (2010). Porcine reproductive and respiratory syndrome in China. Virus Research. 154: 31-37.

     

    Zupancic Z., Jukic B., Lojkic M., Cac Z., Jemersic L.

     

    • Staresina V. (2002). Prevalence of antibodies to classical swine fever, Aujeszky’s disease, porcine reproductive and respiratory syndrome, and bovine viral diarrhea viruses in wild boars in Croatia.

    Journal    of    Veterinary     Medicine     Series     B.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

    Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

    Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-T%E1%BB%AB-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-c%E1%BB%A7a-sinh-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    Original Article

     

    Student Skills and Employability:

    Study from Students’ Perspective

     

    Le Thai Hung1,*, Pham Thi Anh Phuong2

     

    1VNU University of Education, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2University of Foreign Language Studies, the University of Danang,

    131 Luong Nhu Hoc, Cam Le, Danang, Vietnam

     

    Received 16 January 2019

     

    Revised 26 February 2019; Accepted 15 March 2019

     

    Abstract: This study is aimed at evaluating the relationship between students’ skills and their employability based on surveying students using the 5-point Likert scale. The survey includes 490 students whose majors are foreign languages. The results show that there are differences in the level of awareness between the first year students, the third year students andthe final year students. The data analysis reveales that most of the students believe that the university reputation has an important role in their employability (Mean= 3.80); they are willing do any kind of work provided that it matches their skills and experience (Mean=3.05); therefore, to ensure a success in job seeking, the students still need a number of other skills. Among the skills mentioned in the survey, teamwork skills, adaptabilityskills, active listening skills, risk-takingskills, public speaking skills and critical thinking skills are believed to be more effectively contributing factors to employability in comparison with the other skills.

     

    Keywords: Students, employability, skills, attitude, influence.

    *

     

     

    _______

    *Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4220

    65

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng:

    Từ góc nhìn của sinh viên

     

    Lê Thái Hưng1,*, Phạm Thị Ánh Phượng2

     

    1Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội,

    144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng,

    131 Lương Nhữ Hộc, Cẩm Lệ, Đà Nẵng, Việt Nam

     

    Nhận ngày 16 tháng 01 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 26 tháng 02 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày15 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm đánh giá mối quan hệ giữa những kỹ năng của sinh viên và khả năng được tuyển dụng dựa trên khảo sát sinh viên bằng bảng hỏi sử dụng thang Likert 5 mức độ. Khách thể khảo sát là 490 sinh viên của chuyên ngành Ngoại ngữ và kết quả nghiên cứu đã cho thấy có sự khác nhau về mức độ nhận thức giữa sinh viên năm thứ nhất, năm thứ ba và năm cuối về khái niệm khả năng được tuyển dụng. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy, đa phần sinh viên cho rằng uy tín của nhà trường có ý nghĩa với họ trong quá trình tìm kiếm việc làm (GTTB=3.80), có thể làm công việc nào miễn là phù hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân (GTTB =3.79) và chính vì vậy họ xem việc học là ưu tiên hàng đầu (GTTB=3.73). Tuy nhiên, giá trị của bằng tốt nghiệp đại học không đủ để mang lại cho họ cơ hội việc làm hàng đầu (GTTB=3.05) vì vậy sinh viên cần phải bổ sung thêm các kỹ năng khác để thành công cho việc tìm kiếm việc làm và trong số các kỹ năng được khảo sát, các kỹ năng hợp tác, thích nghi, thích lắng nghe hơn, thích chấp nhận rủi ro, thích nói chuyện trước đám đông, có khả năng phản biện có ảnh hưởng đến khả năng được tuyển dụng nhiều hơn so với những kỹ năng khác.

     

    Từ khóa: Sinh viên, khả năng được tuyển dụng, kỹ năng, quan điểm, ảnh hưởng.

     

    1.   Đặt vấn đề*

     

    Với việc tiến hành các cải cách chính trị và kinh tế quyết liệt cùng với mức tăng GDP

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email:  [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4220

    khoảng 7% và thu nhập bình quân đầu người được dự báo tăng liên tục, Việt Nam trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọng ở khu vực Châu Á và ASEAN. Tuy nhiên, một trong những vấn đề quan ngại là tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ không có việc làm ở mức báo động và đang có chiều hướng tăng, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm trong

     

    66

     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    67

    độ tuổi lao động trong quý II năm 2018 là 1.06% [1]. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như người học thiếu định hướng nghề nghiệp trước khi đi học, học thụ động, hạn chế về ngoại ngữ, không chú trọng trang bị kỹ năng mềm, không xác định được mục tiêu của công việc đang tìm kiếm, thiếu quyết tâm để đạt được mục tiêu [2, 3]. Bên cạnh đó, các vấn đề các nhà sử dụng lao động đang gặp phải là áp lực của việc tuyển dụng nguồn nhân lực đạt về chất lượng và số lượng, sự gắn kết chưa chặt chẽ giữa nhà trường-nhà tuyển dụng. Điều này cho thấy khả năng được tuyển dụng được xem là cần thiết đối với người học khi tham gia bất kỳ chương trình đào tạo nào, hình thức đào tạo nào, hỗ trợ người học phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ là những yêu cầu sẽ giúp họ không những thành công trong công việc mà còn trong cuộc sống. Sự toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động, của các cơ sở giáo dục không chỉ đóng vai trò cung cấp lực lượng lao động tinh hoa cho xã hội mà còn tập trung vào việc trang bị khả năng được tuyển dụng cho sinh viên tốt nghiệp bởi đây được xem là yêu cầu của xã hội [4]. Khả năng đảm nhiệm nhiều hơn một công việc, khả năng chịu áp lực trong môi trường làm việc đa văn hóa, …. đòi hỏi người học cần phải được trang

     

    bị và nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ năng cần thiết để thích ứng với sự thay đổi của môi trường làm việc, với yêu cầu của thị trường lao động. Đồng thời, điều này cũng đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải thúc đẩy các cơ hội và hoạt động nhằm phát triển khả năng được tuyển dụng của người học.

     

    Bài báo này chúng tôi trình bày các kết quả nghiên cứu về mức độ tự đánh giá khả năng được tuyển dụng của sinh viên chuyên ngành Ngoại ngữ và mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng với các kỹ năng cần thiết cho việc tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Dựa trên việc thiết kế công cụ khảo sát và sử dụng các phương pháp phân tích thống kê suy diễn (tương quan, nhân tố), nghiên cứu này nhằm

     

    làm rõ thực tế có sự khác nhau giữa sinh viên các năm học về khái niệm khả năng được tuyển dụng hay không và liệu rằng có mối quan hệ gì giữa khả năng được tuyển dụng và các kỹ năng của người học.

     

    2.   Khả năng được tuyển dụng

     

    Khả năng được tuyển dụng (Employability) là một tập hợp các thành tích đạt được – kỹ năng, kiến thức, thuộc tính cá nhân – giúp sinh viên tốt nghiệp tăng khả năng tìm kiếm việc làm và thành công trong công việc, mang lại lợi ích cho bản thân, cho lực lượng lao động, cho cộng đồng và đóng góp cho nền kinh tế [5]. Theo CBI on higher education[6] cho rằng khả năng được tuyển dụng tập trung vào việc trang bị cho sinh viên sắp tốt nghiệp trước thế giới việc làm, bao gồm những thuộc tính, kỹ năng và kiến thức mà những người sắp tham gia thị trường lao động cần phải có để đảm bảo cho khả năng thành công trong công việc, mang lại lợi ích cho chính bản thân, nhà sử dụng lao động và thị trường lao động.

     

    Hillage, J., & Pollard, E. [7] lại cho rằng khả năng được tuyển dụng nên được xem xét từ góc độ kiến thức và thái độ của sinh viên tốt nghiệp “Định nghĩa một cách đơn giản, khả năng được tuyển dụng là khả năng tìm kiếm được một công việc hay xem xét một cách toàn diện hơn, là khả năng dịch chuyển độc lập trong thị trường lao động bằng một công việc ổn định”. Dearing, R. [8] đã liên kết khả năng được tuyển dụng và việc tiếp thu những kỹ năng trong cuộc sống, và cho rằng “các cơ sở giáo dục đại học nên tập trung vào đào tạo cho sinh viên những kỹ năng chính (key skills) là những kỹ năng mang lại thành công trong tương lai cho sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp”.

     

    Như vậy, tác giả cho rằng khái niệm “khả năng được tuyển dụng” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, trong nhiều bối cảnh khác nhau và tùy thuộc vào đối tượng là người đã được tuyển dụng hay người đang tìm kiếm việc làm. Khả năng được tuyển dụng có mối liên hệ với kỹ năng, thuộc tính cá nhân, sự sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động, và những nhân tố

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    ảnh hưởng đến việc tìm kiếm việc làm, thay đổi công việc hay cải thiện tình trạng việc làm.

     

    3.   Kỹ năng của sinh viên

     

    Động lực để các cơ sở giáo dục phải trang bị, hỗ trợ cho việc phát triển kỹ năng của người học bắt nguồn từ áp lực của sự toàn cầu hóa, sự phát triển của khoa học công nghệ, từ mối quan tâm đến các kỹ năng lãnh đạo của sinh viên tốt nghiệp, từ sự cạnh tranh trong việc cung ứng nguồn nhân lực ít có sự phân cấp, nhưng yêu cầu phải có kỹ năng làm việc, kỹ năng quản lý, và kỹ năng phát triển sự nghiệp cá nhân. Thực tế, một tỷ lệ không nhỏ sinh viên tốt nghiệp đã qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ vẫn không tìm được việc làm, hoặc đã trải qua các vòng tuyển dụng nhưng không thể vượt qua được bài kiểm tra về tin học…và đã đánh mất cơ hội được tuyển dụng và điều này được lý giải bởi các cơ sở giáo dục tại Việt Nam hiện nay đang tập trung đào tạo những kỹ năng mà nhà trường có khả năng chứ chưa đào tạo những kỹ năng mà xã hội, mà nhà tuyển dụng cần [9]. Osmani, M., Weekkody, V., Hindi, N., Al-Esmail, R., Eldabi, T., Kapoor, K., & Irani, Z [10] đã tiến hành nghiên cứu về xu hướng và tác động đến kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành kinh doanh, quản lý, kế toán, khoa học máy tính trên cơ sở tổng quan 39 công trình nghiên cứu khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng cộng có 53 kỹ năng được xem là cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp, trong đó có những kỹ năng được sử dụng nhiều như kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, sáng tạo, kỹ năng lãnh đạo, thích ứng….Các công trình nghiên cứu củaKalfa, S., & Taksa, L., Cavanagh, J. và Andrews, G. [11-13] cho rằng các kỹ năng và phẩm chất của sinh viên tốt nghiệp dường như thay đổi theo từng quốc gia khác nhau, tuy nhiên cơ bản vẫn bao gồm các kỹ năng chung như kỹ năng quản lý nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp, sáng tạo, trí tuệ cảm xúc, thích ứng, kỹ năng ngôn ngữ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian.

     

    Giải quyết vấn đề được cho là khả năng phân tích dữ liệu và vận dụng khả năng suy nghĩ sáng tạo để đưa ra các giải pháp phù hợp [6].

     

    Kỹ năng hợp tác: là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, cùng làm việc hiệu quả với các thành viên khác trong nhóm nhằm đạt được các mục tiêu chung. Kỹ năng hợp tác chỉ phát triển khi cá nhân biết lắng nghe người khác, trợ giúp và tôn trọng lẫn nhau, có trách nhiệm với công việc được giao, vô tư, ngay thẳng và khuyến khích và phát triển cá nhân [6].

     

    Thích nghi: là khả năng chủ động tìm hiểu về môi trường mới, thiết lập quan hệ rộng rãi và tích cực tham gia hoạt động để dần dần trở thành một nhân tố đắc lực [14, 15]

     

    Đặt ra mục tiêu: là kỹ năng thiết lập và đề ra phương pháp để đạt được các trạng thái, cột mốc mà cá nhân muốn đạt được trong một khoảng thời gian xác định.

     

    Kỹ năng thuyết trình: là kỹ năng truyền đạt thông tin một vấn đề bằng lời đến một nhóm khán giả nhằm cung cấp thông tin, hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe [16].

     

    Phản biện: là kỹ năng tổng hợp các khả năng quan sát, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích, và tri nhận tổng hợp. Một cá nhân có kỹ năng tư duy phản biện đòi hỏi phải có khả năng nhận ra vấn đề, tìm ra được các giải phương tiện khả thi để đáp ứng cho việc giải quyết vấn đề đó, hiểu được việc ưu tiên và trật tự ưu tiên trong việc giải quyết vấn đề, thu thập những thông tin thiết yếu, đưa ra các kết luận và khái quát hóa và từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng về những điều cụ thể trong đời sống hàng ngày [17].

     

    Tận tâm: thể hiện qua việc dành nhiều thời gian đầu tư cho công việc, nâng cao năng lực của bản thân và giúp đỡ mọi người không vụ lợi [18].

     

    Tự tin: là tin tưởng vào khả năng của bản thân, chủ động trong mọi công việc, dám tự quyết định và hành động một cách chắc chắn, không hoang mang dao động [19].

     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    69

    Trung thực: là thành thực với bản thân, với mọi người, với công việc. Trung thực nghĩa là luôn tuân thủ các quy tắc chuẩn mực đạo đức, chân thật trong từng lời nói và hành động. Đây là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị đạo đức chân chính [20].

     

    Trí tuệ cảm xúc: là khả năng theo dõi cảm giác và cảm xúc của mình cũng như của người khác, phân biệt chúng và sử dụng thông tin này để dẫn dắt tư duy và hành động của bản thân [21].

     

    4.   Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu này nhằm trả lời cho hai câu hỏi là sinh viên hiểu như thế nào về khả năng được tuyển dụng và mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên như thế nào. Cấu trúc của công cụ được sử dụng trong nghiên cứu này gồm 03 phần: Phần 1 bao gồm các thông tin cá nhân của sinh viên; Phần 2 gồm 03 nội dung: tự đánh giá về khả năng được tuyển dụng, tự đánh giá các khả năng của bản thân và những ý kiến đóng góp cho nhà trường và bản thân sinh viên để tăng khả năng được tuyển dụng.

     

    Để trả lời được hai câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi thiết kế công cụ khảo sát dựa trên Bảng hỏi tự đánh giá khả năng được tuyển dụng của Andrew Rothwell, Ian Herbert, & Frances Rothwell [22]. Sinh viên được yêu cầu hoàn thành 16 câu hỏi đóng trong phần nội dung về tự đánh giá khả năng được tuyển dụng theo thang Likert 5 mức độ tăng dần từ Hoàn toàn không đồng ý (mức 1) đến Hoàn toàn đồng ý (mức 5) trên 4 nhóm nhân tố chính: Nhà trường, Chuyên ngành học, Thị trường lao động và Mức độ tự tin của người học. Nội dung các câu hỏi được chuyển ngữ từ tiếng Anh sang

     

    tiếng Việt và được bổ sung thêm phần các kỹ năng cần thiết để tăng khả năng tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.

     

    Chúng tôi sử dụng phương pháp tính hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố và phân tích CFA (Confirmatory factor analysis) để kiểm tra độ tin cậy của công cụ khảo sát và sự phù hợp của dữ liệu nghiên cứu. Kết quả kiểm định cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha là 0.893, hệ số tương quan giữa 16 biến quan sát và biến tổng dao động từ 0.344 đến 0.748 (lớn hơn 0.3), chứng tỏ bảng hỏi có độ tin cậy cao và không có biến nào bị loại ra [23]. Hệ số KMO (Kaiser

     

    • Meyer – Olkin) là 0.871, giá trị Sig. = 0<0.05, bác bỏ giả thuyết Ho là các biến không có tương quan với nhau, phương pháp phân tích nhân tố là phù hợp. Kết quả phân tích nhân tố và biểu đồ dốc cho thấy số nhân tố tối đa được rút trích là 4 nhóm nhân tố được rút ra từ 16 biến, phương sai tối đa của mỗi biến (communalities) từ 0.525 đến 0.846. Giá trị Eigenvalues của 4 nhân tố đầu tiên trong Bảng phương sai trích là 1.073>1 và 4 nhóm nhân tố này giải thích cho 64.8% sự biến thiên của các

    biến quan sát. Nhóm nhân tố thứ 1- Nhu cầu của thị trường lao động bao gồm 5 câu hỏi (Q10,Q11,Q12,Q13,Q14); Nhóm nhân tố thứ 2 – Uy tín của nhà trường bao gồm 3 câu hỏi (Q3,Q4,Q5); Nhóm nhân tố thứ 3 – Tín nhiệm của chuyên ngành được đào tạo bao gồm 4 câu hỏi (Q6,Q7,Q8,Q9), Nhóm nhân tố thứ 4 – Tự tin vào khả năng được tuyển dụng gồm 4 câu hỏi (Q1,Q2,Q15,Q16).

     

    Chúng tôi tiến hành khảo sát trên nhóm đối tượng là 490 sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng, trong đó có 344 sinh viên năm thứ tư (70.2%), 17 sinh viên năm thứ 3 (3.5%), 129 sinh viên năm thứ nhất (26.3%) thuộc 15 chuyên ngành đào tạo của nhà trường, trong đó 86.0% là nữ, 9.0% là nam (Hình 1).

     

    Bảng 1.Kết quả hệ số Cronbach’s Alpha

     

    Reliability Statistics

    Cronbach’s Alpha

    Cronbach’s Alpha Based on

    Số lượng câu hỏi

     

    Standardized Items

     

    .893

    .892

    16

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    Item-Total Statistics

     

    Câu hỏi

    Scale Mean if

    Scale Variance if

    Corrected Item-

    Squared Multiple

    Cronbach’s Alpha

     

    Item Deleted

    Item Deleted

    Total Correlation

    Correlation

    if Item Deleted

       
     

    Q1.1

    50.05

    81.615

    .344

    .375

    .894

     

    Q1.2

    49.51

    79.531

    .454

    .408

    .890

     

    Q1.3

    49.78

    78.007

    .602

    .545

    .885

     

    Q1.4

    49.44

    78.570

    .635

    .536

    .884

     

    Q1.5

    49.94

    77.346

    .617

    .551

    .884

     

    Q1.6

    50.15

    74.592

    .694

    .614

    .881

     

    Q1.7

    50.10

    81.918

    .407

    .352

    .891

     

    Q1.8

    49.79

    76.195

    .646

    .617

    .883

     

    Q1.9

    49.84

    73.334

    .691

    .606

    .881

     

    Q1.10

    50.19

    75.250

    .748

    .633

    .879

     

    Q1.11

    50.10

    78.500

    .520

    .531

    .888

     

    Q1.12

    50.15

    79.992

    .429

    .355

    .891

     

    Q1.13

    50.11

    75.545

    .660

    .575

    .882

     

    Q1.14

    50.00

    79.483

    .478

    .480

    .889

     

    Q1.15

    50.02

    80.493

    .531

    .490

    .888

     

    Q1.16

    49.45

    83.426

    .354

    .313

    .893

    Bảng 2. Kết quả phân tích nhân tố

     

    KMO and Bartlett’s Test

       

    Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

     

    .871

       
       

    Approx. Chi-Square

       

    3657.909

       
       

    Bartlett’s Test of Sphericity

    df

         

    120

       
         

    Sig.

         

    .000

       
                         
                   

    Hệ số

    Tên nhóm

       

    Bảng ma trận xoaya

             

    Cronbach

                   

    nhân tố

                   

    ’s Alpha

     
                       
       

    Câu hỏi

       

    Nhân tố

           
         

    1

    2

    3

    4

         
                 

    Q11

    Nhìn  chung  nhu  cầu  tuyển  dụng  sinh  viên  tốt  nghiệp  hiện

    .846

               
     

    nay cao

                   

    Q13

    Tôi có thể dễ dàng tìm kiếm những cơ hội việc làm phù hợp

    .772

               
     

    với chuyên ngành

               

    Nhu cầu của

    Q14

    Những kỹ năng và năng lực được đào tạo là những kỹ năng nhà

             

    .629

         

    0.817

    thị trường

     

    tuyển dụng lao động tìm kiếm

                 

    laođộng

    Q12

    Có nhiều vị trí việc cần người ở ngay địa phương tôi đang

    .622

             
               
     

    sinh sống

                   

    Q10

    Có nhiều vị trí việc cần người ở ngay địa phương tôi đang

    .562

               
     

    sinh sống

                   

    Q5

    Nhà tuyển dụng lao động đặc biệt nhắm mục tiêu tuyển dụng

     

    .776

             
     

    các sinh viên tốt nghiệp từ chuyên ngành tôi học tại trường

               
                   

    Q3

    Nhà tuyển dụng lao động sẵn sàng tuyển dụng những sinh viên

     

    .702

       

    0.805

    Uy tín của nhà

     

    tốt nghiệp từ trường

             

    trường

                   

    Q4

    Uy tín của Trường có ý nghĩa đối với tôi trong quá trình tìm

     

    .690

             
     

    kiếm việc làm

                 
                     

    Q7

    Nhiều người muốn học để lấy được tấm bằng như bằng của tôi

       

    .702

     

    0.816

    Tín nhiệm của

     

    hơn chỉ tiêu của nhà trường dành cho ngành học đó

           

    chuyên ngành

                 
     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    71

     
                         
               

    Hệ số

    Tên nhóm

     

    Bảng ma trận xoaya

           

    Cronbach

             

    nhân tố

       
               

    ’s Alpha

       
                     
     

    Câu hỏi

     

    Nhân tố

               
     

    1

    2

    3

    4

             
                 

    Q8

    Chuyên ngành học của tôi được xã hội đánh giá cao

       

    .677

         

    được đào tạo

    Q9

    Đối với thị trường lao động bên ngoài, nhu cầu tuyển dụng sinh

       

    .631

               
     

    viên tốt nghiệp chuyên ngành của tôi cao

                   
                       

    Q6

    Trường nổi tiếng về chuyên ngành tôi đang học

       

    .548

               

    Q1

    Kết quả học tập của tôi các học kỳ trước cao

         

    .742

             

    Q16

    Tôi cảm thấy tôi có thể làm bất kỳ công việc nào miễn là phù

         

    .641

       

    Tự tin vào khả

     

    hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của tôi

             
             

    0.633

     

    năng được

     

    Q15

    Tôi hoàn toàn tự tin về khả năng thành công trong phỏng vấn

               
               
         

    .572

       

    tuyển dụng

     
     

    xin việc và các sự kiện tuyển dụng

               
                       

    Q2

    Tôi xem việc học là ưu tiên hàng đầu

         

    .525

             
     

    0

                     

     

     

     

    Hình 1. Phân tích CFA.

     

    5. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

    5.3. Đánh giá khả năng được tuyển dụng

     

    Nhu cầu của thị trường lao động

     

    Đối tượng được khảo sát cho rằng những kỹ năng và năng lực được đào tạo là những kỹ năng nhà tuyển dụng lao động tìm kiếm (46.1%

    đồng ý), vì vậy họ có thể dễ dàng tìm kiếm những cơ hội việc làm phù hợp với chuyên ngành (44.2% đồng ý). Nhìn chung, nhu cầu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp hiện nay khá cao (43.8% đồng ý), bởi có nhiều vị trí cần tuyển dụng tại địa phương sinh viên đang sinh sống (38.3% đồng ý). Tuy nhiên, kết quả nghiên

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    cứu cho thấy bằng tốt nghiệp đại học không phải là phương tiện hàng đầu hỗ trợ mang lại việc làm cho người học (35.3% đồng ý).

     

    Uy tín của nhà trường

     

    Uy tín của nhà trường có ý nghĩa với sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc làm (73.8%), sinh viên tự tin rằng nhà tuyển dụng lao động sẵn sàng tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp từ Trường (53.0%) và đặc biệt nhà tuyển dụng nhắm mục tiêu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ chuyên ngành họ đang học.

     

    Sự tín nhiệm đối với chuyên ngành được đào tạo

     

    Sinh viên có sự tín nhiệm cao đối với chuyên ngành đang được đào tạo bởi đối với họ, chuyên ngành học được xã hội đánh giá cao (53.6%), đối với thị trường bên ngoài nhu cầu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của chuyên ngành sinh viên đang học cao (52.0%). Tuy nhiên, 53.0% đối tượng được khảo sát không đánh giá cao vai trò của bằng đại học vì số lượng người muốn học để lấy được tấm bằng

     

    như vậy nhiều hơn chỉ tiêu của nhà trường dành cho ngành học đó không nhiều.

     

    Sự tự tin vào khả năng được tuyển dụng Sinh viên cho rằng họ có thể làm bất kỳ

     

    công việc gì miễn phù hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân (73.6%) và việc học được xem là ưu tiên hàng đầu (69.9%). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên không hoàn toàn tự tin về khả năng thành công trong phỏng vấn xin việc và các sự kiện tuyển dụng (51.2% không có ý kiến).

     

    Như vậy, nhà trường có phải là nơi tốt nhất để hình thành và phát triển khả năng được tuyển dụng sau khi tốt nghiệp của sinh viên hay không? Dữ liệu nghiên cứu cho thấy, đa phần sinh viên cho rằng uy tín của nhà trường có ý nghĩa với họ trong quá trình tìm kiếm việc làm (GTTB=3.80), họ làm có thể làm công việc nào miễn là phù hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân (GTTB=3.79) và chính vì vậy họ xem việc học là ưu tiên hàng đầu (GTTB=3.73).

     

    Bảng 3. Thống kê mô tả các câu hỏi

     

    Câu hỏi

     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

     
                                             
         

    Tham gia

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

     

    SL

                                         
     

    Bỏ trống

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

     
         
                                             

    GTTB

     

    3.2

    3.7

    3.5

    3.8

    3.3

    3.1

    3.1

    3.5

    3.4

    3.0

    3.1

    3.1

    3.1

    3.2

    3.2

    3.8

     
                                         

    Trung vị

    3

    4

    4

    4

    3

    3

    3

    4

    4

    3

    3

    3

    3

    3

    3

    4

     
                                         

    Giá  trị  có  tần  suất  xuất

    3

    4

    4

    4

    3

    4

    3

    4

    4

    3

    4

    4

    4

    4

    3

    4

     

    hiện nhiều nhất

                                     
                                         

    Độ lệch chuẩn

    1

    1

    0.9

    0.8

    1

    1

    0.8

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    0.8

    0.7

     
                                             

    Tỷ

       

    Hoàn  toàn  không

    3.3

    1.6

    3.1

    0.8

    2.9

    9.6

    3.9

    5.3

    8.4

    6.1

    5.3

    4.9

    7.6

    4.3

    0

    0

     
     

    đồng ý

    lệ

                                         
                                         
       

    Không đồng ý

    20.8

    13.7

    10.4

    7.8

    16.9

    18.8

    12

    10

    13.1

    21.2

    22.4

    24.5

    20.6

    18.6

    16.1

    5.7

     
         
                                             
         

    Không có ý kiến

    36.9

    15.1

    33.5

    17.6

    36.5

    30.2

    53.1

    31

    26.5

    37.3

    28.4

    32.2

    27.6

    31

    51

    20.6

     
         

    Đồng ý

    31.2

    49

    43.7

    58.2

    34.9

    36.1

    28.2

    41.6

    34.1

    32

    40.2

    33.3

    39.6

    41.2

    27.3

    62.4

     

    %

                                           
       

    Hoàn toàn đồng ý

    7.8

    20.6

    9.4

    15.7

    8.8

    5.3

    2.9

    12

    18

    3.3

    3.7

    5.1

    4.7

    4.9

    5.5

    11.2

     
         
                                             

    9

     

     

    Tuy nhiên, đối tượng được khảo sát lại cho rằng giá trị của bằng tốt nghiệp đại học của họ không đủ để mang lại cho họ cơ hội việc làm hàng đầu (GTTB=3.05), vì vậy họ không hoàn

    toàn tự tin về khả năng thành công trong phỏng vấn xin việc bởi theo họ cần phải bổ sung thêm các kỹ năng khác để thành công cho việc tìm kiếm việc làm.

     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    73

    So sánh mức độ đánh giá về khả năng được tuyển dụng giữa sinh viên các năm

     

    Có sự khác nhau trong quan niệm về vai trò của khả năng được tuyển dụng giữa sinh viên các năm học, cụ thể sinh viên năm thứ ba nhận thức về khả năng được tuyển dụng cao nhất (GTTB= 3.52), sau đó là sinh viên năm thứ nhất (GTTB= 3.3) và cuối cùng là sinh viên năm thứ

     

    tư  (năm  cuối,   GTTB=3.2).  Phương  sai  các

     

    nhóm không có sự khác biệt (Sig. = 0.124 >0.05), đủ điều kiện để phân tích Anova. Giá trị Mean difference giữa sinh viên năm thứ 4 thấp hơn so với sinh viên năm thứ 3 (-.22886) và thấp hơn so với sinh viên năm thứ nhất -.08636.

     

     

    Bảng 4. So sánh mức độ đánh giá về khả năng

    được tuyển dụng giữa sinh viên các năm

     

    Descriptives

    Meanq1

       

    Số

     

    Độ

    lệchSai

    số95% Confidence Interval for Mean

       
     

    Sinh viên

    lượng GTTB

    chuẩn

    chuẩn

         

    GTTN

    GTLN

       

    Lower Bound Upper Bound

     
     

    Năm thứ 4

    344

    3.2969

    .60628

    .03269

    3.2326

    3.3612

     

    2.00

    4.69

     

    Năm thứ 3

    17

    3.5257

    .63778

    .15469

    3.1978

    3.8537

     

    2.44

    4.06

     

    Năm thứ 1

    129

    3.3832

    .52381

    .04612

    3.2920

    3.4745

     

    2.13

    4.31

     

    Total

    490

    3.3276

    .58805

    .02657

    3.2754

    3.3797

     

    2.00

    4.69

                       
     

    Multiple Comparisons

                   
     

    Dependent Variable: Meanq1

                   
     

    LSD

                       
     

    (I) SV năm (J) SV

    Mean Difference (I-J) Sai số chuẩn Sig.

    95% Confidence Interval

       
                   

    Lower Bound

    Upper Bound

     

    Năm thứ 4

    Năm 3

    -.22886

     

    .14580

    .117

    -.5153

    .0576

     
       

    Năm 1

    -.08636

     

    .06059

    .155

    -.2054

    .0327

     
     

    Năm thứ 3

    Năm 4

    .22886

     

    .14580

    .117

    -.0576

    .5153

     
     

    Năm 1

    .14250

     

    .15142

    .347

    -.1550

    .4400

     
     

    Năm thứ 1

    Năm 4

    .08636

     

    .06059

    .155

    -.0327

    .2054

     
       

    Năm 3

    -.14250

     

    .15142

    .347

    -.4400

    .1550

     
                           
     

    6

                       

    5.4. Kỹ năng của sinh viên

     

    Sinh viên tham gia khảo sát được yêu cầu đánh giá những kỹ năng được liệt kê theo thang Likert 4 mức độ tăng dần từ Không tốt (mức 1) đến Rất tốt (mức 4). Các kỹ năng được khảo sát bao gồm các kỹ năng xã hội (hợp tác, trí tuệ cảm xúc, kỹ năng thuyết trình, xây dựng mối quan hệ); hướng ngoại (thích làm việc tập thể hơn, thích nói chuyện trước đám đông hơn, nói nhiều); hướng nội (Không thích nói chuyện trước đám đông, thích lắng nghe hơn); Dám nghĩ dám làm (cạnh tranh, thích chấp nhận rủi ro, tham vọng; hoạt động học thuật (thông

    minh, phản biện, hay phê phán); kỹ năng chung (trung thực, tận tâm, tự tin, nghị lực, thích nghi). Đặc điểm chung của các kỹ năng trên được dùng để khai thác mối quan hệ giữa tự đánh giá đa hướng (multidimensional seft-concept) và mối quan tâm nghề nghiệp của thanh thiếu niên trong độ tuổi lao động theo Räty, Komulainen, Harvorsén, Nieminen and Korhonen [24].

     

    Kết quả phân tích ở Bảng 5 cho thấy có sự khác nhau về mức độ tự đánh giá giữa các kỹ năng và giữa hai giới tính Nam và Nữ. Các kỹ năng chung là Trung thực và Tận tâm, Thích nghi được đánh giá cao hơn so với các kỹ năng

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    khác, tiếp theo sau đó là các kỹ năng hướng ngoại như Xây dựng mối quan hệ, thích làm việc tập thể… và các kỹ năng học thuật (Hay phê phán, phản biện) được đánh giá ở mức thấp nhất. Đó là lý do nhiều cơ sở giáo dục khuyến khích sinh viên lập kế hoạch phát triển cá nhân (Personal Development Plan) [25] bởi “các nhà tuyển dụng cần những người có khả năng thích nghi, cống hiến và mang lại giá trị cho doanh nghiệp”[26] (Bảng 5).

     

    5.5. Mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên

     

    Mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên cho thấy rằng những sinh viên thích chấp nhận rủi ro, có kỹ năng tư duy phản biện, thích lắng nghe, có kỹ năng hợp tác, thích nghi và kỹ năng xây dựng mối quan hệ tự đánh giá về khả năng được tuyển dụng cao hơn so với những sinh viên còn lại (Bảng 6).

     

    Bảng 5. Mô tả mức độ tự đánh giá các khả năng của sinh viên

     

     

    Khả năng/Giới tính

    Không tốt

    Trung bình

    Tốt

     

    Rất tốt

     

    GTTB

    Xếp hạng

                     
     

    Nam

    Nữ

    Nam

    Nữ

    Nam

    Nữ

    Nam

    Nữ

           
     

    Trung thực

    /

    /

    0

    57

    35

    283

    10

    83

    3.49

    1

     

    Tận tâm

    /

    /

    /

    /

    21

    220

    24

    203

    3.33

    2

     

    Thích nghi

    /

    /

    3

    67

    28

    265

    14

    91

    3.08

    3

     

    Thích lắng nghe hơn

    /

    /

    15

    188

    26

    194

    4

    41

    3.07

    4

     

    Kỹ năng hợp tác

    /

    /

    7

    27

    17

    236

    21

    160

    3.06

    5

     

    Nghị lực

    0

    3

    4

    125

    31

    244

    10

    51

    2.93

    6

     

    Thực tế

    /

    /

    14

    103

    20

    270

    11

    50

    2.90

    7

     

    Trí tuệ cảm xúc (EQ)

    0

    16

    7

    189

    21

    189

    17

    29

    2.89

    8

     

    Kỹ  năng  xây  dựng  mối

    3

    120

    30

    240

    12

    57

    0

    6

    2.82

    9

     

    quan hệ

                         
     

    Thích làm việc tập thể hơn

    0

    10

    16

    235

    29

    174

    0

    4

    2.76

    10

     

    Tự tin

    13

    169

    10

    224

    18

    30

    4

    0

    2.67

    11

     

    Đặt ra mục tiêu

    6

    117

    32

    220

    3

    67

    4

    19

    2.63

    12

     

    Tham vọng

    0

    21

    17

    201

    28

    182

    0

    19

    2.62

    13

     

    Phản biện

    0

    25

    14

    293

    27

    92

    4

    13

    2.61

    14

     

    Thích chấp nhận rủi ro

    0

    7

    0

    207

    38

    168

    7

    41

    2.47

    15

     

    Nói nhiều

    6

    30

    10

    152

    21

    192

    8

    49

    2.46

    16

     

    Kỹ năng thuyết trình

    /

    /

    7

    60

    28

    281

    10

    82

    2.46

    16

     

    Cạnh tranh

    0

    4

    10

    148

    25

    221

    10

    50

    2.30

    17

     

    Thích phát biểu trước đám

    0

    46

    18

    285

    27

    82

    0

    10

    2.27

    18

     

    đông

                         
     

    Không  thích  nói  chuyện

    0

    65

    14

    218

    25

    121

    6

    19

    2.18

    19

     

    trước đám đông

                         
     

    Thông minh

    0

    7

    4

    95

    32

    233

    9

    88

    1.96

    20

     

    Ngoan cố

       

    15

    108

    19

    265

    11

    50

    1.91

    21

     

    Hay phê phán

    0

    6

    14

    251

    24

    149

    7

    17

    1.71

    22

                           

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    75

     

    Bảng 6. Mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên

       
                     
         

    Coefficientsa

             

    Model

    Unstandardized

    Standardized

       

    Collinearity

     
       

    Coefficients

    Coefficients

    t

    Sig.

    Statistics

     
       

    B

    Std. Error

    Beta

       

    Tolerance

    VIF

     

    (Constant)

    2.608

    .266

     

    9.798

    .000

         

    Kỹ năng hợp tác

    .186

    .055

    .175

    3.356

    .001

    .622

    1.609

     

    Trung thực

    .013

    .062

    .011

    .205

    .838

    .598

    1.673

     

    Thích nghi

    .158

    .054

    .162

    2.923

    .004

    .552

    1.812

     

    Đặt ra mục tiêu

    .046

    .054

    .050

    .847

    .397

    .477

    2.096

     

    Tậntâm

    .031

    .052

    .031

    .591

    .555

    .598

    1.672

     

    Trí tuệ cảm xúc

    .087

    .044

    .095

    1.983

    .048

    .739

    1.353

     

    Thực tế

    .028

    .048

    .029

    .586

    .558

    .685

    1.461

     

    Tham vọng

    .027

    .045

    .032

    .598

    .550

    .586

    1.708

     

    Ngoan cố

    .017

    .049

    .020

    .353

    .724

    .547

    1.828

     

    Thông minh

    .005

    .051

    .005

    .102

    .919

    .690

    1.449

     

    Hay phê phán

    .047

    .048

    .053

    .966

    .334

    .553

    1.809

     

    Nói nhiều

    .057

    .038

    .075

    1.496

    .135

    .666

    1.502

     

    1  Kỹ năng thuyết trình

    .008

    .054

    .009

    .150

    .881

    .487

    2.052

     

    Cạnh tranh

    .084

    .054

    .087

    1.561

    .119

    .544

    1.840

     

    Tự tin

    .026

    .055

    .031

    .477

    .633

    .408

    2.449

     

    Thích làm việc tập thể hơn

    .017

    .039

    .022

    .431

    .667

    .638

    1.566

     

    Thích lắng nghe hơn

    .200

    .051

    .199

    3.926

    .000

    .655

    1.528

     

    Kỹ năng xây dựng mối quan

    .135

    .051

    .153

    2.679

    .008

    .515

    1.943

     

    hệ

                   

    Thích phát biểu trước đám

    .037

    .052

    .039

    .716

    .474

    .559

    1.788

     

    đông

                   

    Thích chấp nhận rủi ro

    .207

    .037

    .268

    5.616

    .000

    .738

    1.356

     

    Không thích nói chuyện trước

    .151

    .041

    .181

    3.679

    .000

    .698

    1.432

     

    đám đông

                   

    Nghị lực

    .118

    .049

    .126

    2.437

    .015

    .627

    1.596

     

    Phản biện

    .192

    .051

    .202

    3.738

    .000

    .578

    1.730

     

    a. Dependent Variable: MEANQ1

                   

    7

     

    6. Kết luận

     

    Khả năng được tuyển dụng của người học đã dần trở thành một trong những chỉ số đo lường chất lượng của cơ sở giáo dục. Kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy được sự khác nhau trong quan niệm của sinh viên các năm học trong cùng một cơ sở giáo dục về khả năng được tuyển dụng. Nhân tố “Uy tín của nhà trường” được đánh giá là nhân tố quan trọng nhất đối với sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Những sinh viên tốt nghiệp từ những cơ sở giáo dục uy tín có nhiều thuận lợi khi tham gia thị trường lao động mặc dù vẫn chưa có minh chứng chính xác về những

    thuận lợi này xuất phát từ uy tín của nhà trường, hay năng lực xã hội của sinh viên tốt nghiệp [27]. Nghiên cứu cho rằng giữakhả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên có mối quan hệ với nhau, và những sinh viên có kỹ năng hợp tác, thích nghi, thích lắng nghe hơn, thích chấp nhận rủi ro, không thích nói chuyện trước đám đông, có khả năng phản biện tự đánh giá về có khả năng được tuyển dụng cao hơn so với các sinh viên khác. Tự đánh giá kỹ năng của bản thân và khả năng được tuyển dụng giúp cho sinh viên hiểu, hoạch định phát triển những kỹ năng chưa tốt của bản thân, những kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong việc tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Vì vậy, các cơ sở

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    giáo dục cần mở rộng các mối quan hệ với các đơn vị sử dụng lao động, tạo điều kiện cho sinh viên nắm vững về những yêu cầu của đơn vị tuyển dụng, đối sánh yêu cầu của nhà sử dụng lao động và khả năng được tuyển dụng của sinh viên, đề xuất các giải pháp lồng ghép đào tạo kỹ năng trong chương trình đào tạo. Bên cạnh đó, vai trò của giảng viên không chỉ dạy cho người học cách học (how to learn) mà còn phải thường xuyên giao tiếp, trao đổi lẫn nhau và với người học, sẵn sàng thích nghi với các phương pháp giảng dạy mới,… Nghiên cứu này chỉ được thực hiện trong phạm vi của sinh viên chuyên ngành ngoại ngữ mà chưa xem xét các chuyên ngành khác, cũng như các yếu tố khác như tín ngưỡng, nhu cầu xã hội, tình trạng gia đình của sinh viên.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam – quý II năm

    2018, 2018.

     

    • Đào Đăng Phượng, Thị trường lao động và sự hình thành nguồn nhân lực ở Châu Âu và Việt Nam, in Hội thảo khoa học Quốc tế “Tăng cường cơ hội tiếp cận thị trường lao động cho thanh niên và sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp, 2017.
    • Le Thai Hung, Nguyen Thi Nhu Ngoc, Duong Anh, Assessing career adaptability of early childhoodteachers invietnam, In Proceedings of international conference: New trends in education, 2018.
    • Mason, G. William, Cranmer, Employability skills initiatives in higher education: What effects do they have on graduate labour market outcomes? Education Economics. 17(1) (2009) 1-30.
    • Yorke,  Employability  in  higher  education:

    What  it   is-what   it    is   not   –    Learning   and

     

    employability series the higher education academy, 2006.

     

    • CBI on higher education, Future Fit: Preparing Graduates for the world of work, 2009.
    • Hillage, E. Pollard, Employability: Developing a framework for policy analysis DFEE research report RR85, Department for education and employment, London, 1998.
    • Dearing, Higher education in the learning society, 1997.
    • T. Hà, Tiếp cận thị trường lao động cho sinh viên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới giáo dục in

    Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Tăng cường cơ hội tiếp cận thị trường lao động cho thanh niên và sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp, 2017.

     

    • Osmani et al., Identifying the trends and impact of graduate attributes on employability: a

    literature review Tertiary Education and Management. 21(4) (2015) 367-379.

     

    • Andrews, M. Russell, Employability skills development: strategy, evaluation and impact higher education, Skills and Work-Based Learning. 2(1) (2012) 33-44.
    • Cavanagh et al., Contributing to a graduate-centred understanding of work readiness: An exploratory study of Australian undergraduate students’ perceptions of their employability

    International Journal of Management Education. 13(3) (2015) 278-288.

     

    • Kalfa, L. Taksa, Cultural capital in business higher education: reconsidering the graduate attributes movement and the focus on employability Studies in Higher Education. 40(4) (2015) 580-595.
    • How to develop adaptability – One of the Top 10 21st century skills for graduates.
    • Tom Oliver, F. Lievens, Conceptualizing and Assessing interpersonal adaptability: Towards a functional framework, Taylor & Francis Group. (2014) 52-72.
    • Ilieva, Methods for perfecting presentation skills, in 13th international scientific conference

    Economy and Business, At Elenite, Bulgaria, 2014.

     

    • Bailin, Critical and Creative Thinking Informal Logic. 9(1) (1987) 23-30.
    • Joshua J. Jackson, Dustin Wood, What do conscientious people do? Development and validation of the Behavioral Indicators of Conscientiousness (BIC) J Rer Pers. 44(4) (2010) 501-511.
    • Bénabou, J. Tirole, Seft-confidence and personal motivation, in the Oxford Young

    Economists’ Conference, 2001.

     

    • Christopher, Connors, Five core values that define success for every individual the mission org, 2017.
    • Salovey, J.D. Mayer, Emotional intelligence, Imagination cognition and personality, 1990.
    • Andrew Rothwell,  Ian  Herbert,  and  Frances

    Rothwell,         Self-perceived         employability:

    Construction and initial validation of a scale for

     

    university students Journal of Vocational Behavior, 2007.

     

    • C. Nunnally, I.H. Bernstein, Psychometric theory, New York, NY: McGraw-Hill, Inc, 1994.

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    77

    • Räty et al, University students’ perceptions of their “ability selves” and employability: a pilot study Nordic Journal of Studies in Educational Policy, 2018.
    • Ward,  A.G.  Watts,  Personal  development

    planning  and   employability      York:   Higher

    Education Academy,  2009.

     

    • Katherine Fulgence, Employability of Higher Education Institutions graduates: Exploring the influence of Entrepreneurship Education and Employability skills development program activities in Tanzania, University of Siegen, 2015.
    • Lee, M.C. Brinton, Elite education and social capital: The case of South Korea Sociology of Education. 69(3) (1996) 177-192.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

    Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

    Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ của ngân hàng Nghiên cứu trường hợp Vietcombank tại Tp. Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-ch%E1%BB%A7-y%E1%BA%BFu-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-nh%C3%B3m-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Original Article

     

    Major Factors Impacting the Operational Efficiency of Scientific Working Groups

     

    Nguyen Thi Thu Ha1,2, Bui Minh Duc3, Nguyen Dinh Duc4,*

     

    1Department of Social and Natural Sciences, Ministry of Science and Technology of Vietnam,

    113 Tran Duy Hung, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2VNU University of Social Sciences and Humanities, 336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

    3VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

    4Vietnam National University, Hanoi, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 02 January 2019

     

    Revised 28 February 2019; Accepted 13 March 2019

     

    Abstract: The operational efficiency of scientific working groups is considered an important determinant of the success of scientific, technological and training activities of any educational institution. This study determines the major factors impacting the operational efficiency of scientific working groups. Survey results of 126 scientists of the scientific working groups show that research teammates, research orientation and cooperation, supporting policies of educational institutions are the major factors impacting operational efficiency of scientific working groups. Based on the research results, several solutions to improve effectiveness of science, technology and training activities of scientific working groups are proposed.

     

    Keywords: Scientific working group (SWG), impact factors, effectiveness of SWG.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4214

    55

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

     

    Nguyễn Thị Thu Hà1,2, Bùi Minh Đức3, Nguyễn Đình Đức4,*

    1Vụ Khoa học Xã hội Nhân văn và Tự nhiên và Xã hội, Bộ Khoa học Công nghệ,

    113 Trần Duy Hưng, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,

    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

    3Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội,

    334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

    4Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 02 tháng 01 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 02 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 13 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu được xem là yếu tố quan trọng quyết định quyết định cho sự thành công của các hoạt động khoa học công nghệ cũng như đào tạo của bất kỳ cơ quan tổ chức giáo dục nào. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu. Kết quả khảo sát 126 thành viên của các nhóm nghiên cứu đã cho thấy các nhân tố: Con người, Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm, Chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo là những nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu. Dựa trên những kết quả thu được, một số giải pháp đã được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ và đào tạo của các nhóm nghiên cứu.

     

    Từ khóa: Nhóm nghiên cứu; các nhân tố tác động; hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ.

     

    1.   Đặt vấn đề *

     

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra rất nhiều cơ hội nhưng

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4214

    cũng là thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sự kinh tế, xã hội của đất nước. Xu hướng phát triển các nhóm nghiên cứu có thể coi là một trong những giải pháp hàng đầu giúp tạo ra tri thức và chuyển giao công nghệ nhanh chóng.

     

    Nhóm nghiên cứu nghiên cứu là một tập thể nghiên cứu/hoạt động khoa học được thành lập

     

    56

     

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    57

    một cách tự nguyện hay theo ý đồ phát triển của tổ chức (những không phải là một đơn vị hành chính) [1]. Mô hình nhóm nghiên cứu đã có từ lâu trong các trường đại học trên thế giới và đang được phát triển ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các nhóm nghiên cứu được hình thành với vai trò là xương sống của hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động đào tạo trong các trường đại học.

     

    Thực tế cho thấy, những đề tài nghiên cứu khoa học lớn có tính liên ngành cao như đề tài cấp Nhà nước, đề tài trọng điểm cấp Bộ/cấp Đại học Quốc gia đều được thực hiện bởi các nhóm nghiên cứu, thay vì các nghiên cứu cá nhân độc lập [2]. Vì chỉ có các nhóm nghiên cứu đủ mạnh mới đủ sức giải quyết được những vấn đề khoa học đỉnh cao và các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm tầm quốc gia, quốc tế, tạo ra những sản phẩm những sản phẩm nghiên cứu xuất sắc. Chính vì vậy, để nhóm nghiên cứu phát huy được vai trò của mình trong việc phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, triển khai các nghiên cứu đỉnh cao, tạo động lực gia tăng các giá trị khoa học và công nghệ của mỗi đơn vị thì các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu cần được quan tâm và đầu tư đúng mực.

     

    Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu.

     

    2.   Cơ sở lý luận

     

    Nobahar cùng các cộng sự (2014) đã nghiên cứu về các rào cản và thách thức nghiên cứu trong các trường đại học dưới góc nhìn của các giảng viên ở Kermanshah. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố rào cản chính ảnh hưởng đến sự liên kết giữa các giảng viên trong nghiên cứu khoa học bao gồm: tài chính, học thuật, con người, cơ sở, chuyên môn và quản lý trong đó rào cản về tài chính tạo ra sự khác biệt lớn nhất. Nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm

     

    nâng cao hiệu quả nhóm nghiên cứu bao gồm: tăng cường sử dụng kết quả nghiên cứu trong các trường đại học, viện và khoa, tăng sự chú ý với những sinh viên, nhà nghiên cứu tài năng, tăng kinh phí cho các nhà nghiên cứu, tăng cường trang thiết bị và phương tiện cần thiết tại các trường đại học, tăng cường thông tin liên lạc, kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp; giảm thủ tục hành chính; tăng sự chú ý về đạo đức trong hoạt động nghiên cứu và quan trọng nhất là tăng cường nghiên cứu nhóm [3].

     

    Tác giả Main (2008) đã chỉ ra 3 nhân tố chính là rào cản trong việc hình thành và phát triển nhóm nghiên cứu tại trường đại học, gồm: Nhân tố cá nhân, nhân tố nhóm và nhân tố thuộc nhà trường, trong đó (1) những nhân tố cá nhân bao gồm: thái độ tích cực, giáo viên có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu, tuyển chọn giáo viên, đào tạo trong nhóm, công nhận lợi ích của nhóm, kỹ năng quản trị xung đột, nhận được sự hỗ trợ từ phía quản lý, kỹ năng thiết lập mối quan hệ, tự đánh giá và nhóm đánh giá. (2) Những nhân tố của nhóm bao gồm: hiểu được quá trình làm việc nhóm bao gồm quy tắc của nhóm, mục tiêu của nhóm, vai trò của nhóm, thời gian lên kế hoạch chung, cách giao tiếp và nghi thức khi họp nhóm, và sự ổn định của các thành viên và (3) những nhân tố thuộc nhà trường bao gồm: cơ sở vật chất, thói quen và truyền thống trong hợp tác nhóm, nhóm nhận được ủng hộ và hỗ trợ của quản lý, và sự ổn định của nhân viên [4].

     

    Nghiên cứu của Bland và Ruffin (1992) đã chỉ ra 12 yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu là: (1) mục tiêu rõ ràng; (2) tập trung cho nghiên cứu; (3) văn hóa của tổ chức; (4) môi trường tích cực của nhóm nghiên cứu; (5) sự tác động của các bộ phận hành chính; (6) cách thức tổ chức nghiên cứu; (7) sự trao đổi thường xuyên, trực tiếp với nhau trong nhóm; (8) nguồn nhân lực; (9) quy mô, độ tuổi và tính đa dạng của nhóm NC; (10) các khen thưởng khích lệ; (11) khả năng tuyển và lựa chọn thành viên và (12) người lãnh đạo có năng lực nghiên cứu và kỹ năng quản lý xuất sắc [5].

     

    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Theo tác giả Trương Quang Học, nhóm nghiên cứu phải được đẫn dắt bởi người trưởng nhóm nhiệt tâm, chịu trách nhiệm chính về định hướng nghiên cứu, có năng lực chuyên môn, có khả năng tổ chức (bao gồm cả khả năng tạo dựng các mối quan hệ, tìm kiếm nguồn kinh phí hoạt động cho nhóm và được cả nhóm tín nhiệm). Các thành viên của nhóm nghiên cứu là các cán bộ khoa học có nhiệt huyết và khả năng, các nghiên cứu sinh, sinh viên… cùng theo đuổi một hướng khoa học nhất định. Nhóm NC có đủ các điều kiện cơ bản bao gồm nơi làm việc, trang thiết bị, thông tin, tư liệu và kinh phí… để đảm bảo cho các hoạt động nghiên cứu thành công một cách liên tục và dài hạn [1].

     

    Tác giả Đặng Hùng Thắng đã xác định công thức để dẫn đến thành công trong nghiên cứu khoa học đó là: Năng lực nghiên cứu + Động lực nghiên cứu + Môi trường nghiên cứu tốt = Thành công trong nghiên cứu khoa học [6]. Nếu coi năng lực nghiên cứu là điều kiện cần thì động lực nghiên cứu chính là điều kiện đủ. Nếu không có động lực nghiên cứu thì năng lực nghiên cứu sẽ không được kích hoạt, ngủ yên ở dạng tiềm năng. Có động lực nghiên cứu thì mới thúc đẩy nghiên cứu. Động lực càng mạnh mẽ thì năng lực nghiên cứu càng được phát huy tốt.

    Các nhân tố tác động

     

    Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, nhóm tác giả đã đề xuất 3 nhân tố chủ yếu tác động tới hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu bao gồm: (i) Nhân tố con người (vai trò của người trưởng nhóm, năng lực và hoài bão của các thành viên, sự phối hợp, tương trợ giữa các thành viên, v.v…); (ii) Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm; (iii) Các chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo. Trong quá trình khảo sát, phân tích nghiên cứu, các nhân tố trên được coi là biến độc lập, và được giả định là các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu đồng thời cũng là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu.

     

    Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu Khi nói đến hiệu quả, người ta hay nói đến

     

    mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra. Tuy

     

    nhiên, trong khoa học thì đầu vào và đầu ra là một nội dung khó xác định khó xác định giống hiệu quả kinh tế của một dịch vụ có thể quy ra thành lợi nhuận. Vì vậy, khi xác định hiệu quả của khoa học, thường người ta có xu hướng “giản dị hoá” nó bằng cách “đánh giá tác động của khoa học tới các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế và trong xã hội” [7]. Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu được đề xuất bao gồm 8 nội dung:

     

    • Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ, đào tạo của đơn vị;
    • Nâng cao chất lượng luận án tiến sĩ;
    • Tăng cường số lượng và chất lượng công bố khoa học/phát minh/sáng chế của đơn vị;
    • Tăng cơ hội đạt được nguồn tài trợ từ các Quỹ hỗ trợ nghiên cứu trong và ngoài nước cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo của Nhà trường;
    • Nâng cao vị thế, uy tín và xếp hạng của đơn vị;
    • Nâng cao chất lượng đội ngũ (thông qua đào tạo NCS và công bố quốc tế; tăng chất lượng và số lượng TS, GS, PGS của đơn vị);
    • Đảm bảo nghiên cứu chất lượng cao để củng cố và tăng cường chất lượng các chương trình đào tạo của trường đại học cũng như mở ngành mới;
    • Đẩy mạnh sự gắn kết giữa Nhà trường và xã hội và cộng đồng khoa học trong và ngoài nước thông qua hoạt động đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

    Trong quá trình khảo sát, phân tích, các nội dung kể trên được xem là biến số phụ thuộc, là kết quả tác động của các nhân tố thành phần liên quan.

     

    Mô hình lý thuyết đề xuất (Hình 1) Các giả thuyết nghiên cứu:

     

    • Nhân tố con người có tương quan tuyến tính thuận với hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu.
    • Định hướng nghiên cứu và hợp tác phát triển có tương quan tuyến tính thuận với hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu.
    • Các chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo có tương quan tuyến tính thuận với hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu.

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    59

    Nhân tố con người

     

    Định hướng nghiên cứu

    Hiệu quả hoạt

     

    và hợp tác

    động của nhóm

     

    nghiên cứu

     
     

    Chính sách hỗ trợ của

       

    đơn vị đào tạo

       

    Hình 1. Mô hình lý thuyết đề xuất.

     

    3.   Phương pháp nghiên cứu

     

    Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra và làm sáng tỏ các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định lượng đã được sử dụng. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn bằng cách chọn mẫu thuận tiện phi xác suất gồm 126 nhà khoa học là thành viên của các nhóm nghiên cứu thuộc 40 trường đại học trên phạm vi cả nước. Công cụ chính để thu thập dữ liệu là bảng hỏi được thiết kế sẵn nhằm thu thập các thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của các nhóm nghiên cứu. Các ý kiến đánh giá được đo lường dựa trên thang đo Likert 5 cấp độ từ 1 đến 5.

     

    Với phương pháp như trên, nhóm tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát từ tháng 8 đến tháng 12/2018. Các phiếu khảo sát được thực hiện online và gửi đi trong toàn quốc. Dữ liệu sau khi thu thập được tiến hành nhập, mã hóa, làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS version 22.

     

    Thang đo các nhân tố và thang đo tổng thể được đánh giá thông qua việc sử dụng hệ số tin cậy Cronbach Alpha. Thang đo tin cậy khi có hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3. Kết quả nghiên cứu hệ số Cronbach Alpha với các chỉ báo thành phần của thang đo đều có độ tin cậy đều lớn hơn 0,6. Cụ thể: (1) Nhân tố con người

    có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,781; (2) Định hướng nghiên cứu và hợp tác có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,753; (3) Các chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo có Cronbach Alpha đạt giá trị là 0,878. Như vậy, thang đo được thiết kế trong nghiên cứu này có ý nghĩa thống kê và đạt được hệ số tin cậy cần thiết.

     

    Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis) để kiểm định giá trị của thang đo. Tiến hành loại các biến số có trọng số nhân tố (Factor loading) nhỏ hơn 0,5 và tổng phương sai trích lớn hơn hoặc bằng 50% .

     

    Cuối cùng tiến hành kiểm định tự tương quan Durbin Watson và phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.

     

    4.   Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

     

    Đặc điểm mẫu nghiên cứu được phân loại thành 4 nhóm gồm (1) Trình độ, (2) Quy mô nhóm nghiên cứu, (3) Lĩnh vực nghiên cứu của nhóm và (4) Vai trò trong nhóm Nghiên cứu. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu cụ thể chi tiết trong Bảng 1 như sau:

     

    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu nghiên cứu

     

     

    Biến

     

    Thuộc tính

     

    Trình độ

    GS=4,7%; PGS =40%; TS/TSKH

         

    = 44,6%; Thạc sĩ = 9,8%; Đại học

         

    0.9%

     

    Quy mô nhóm

    Dưới 5 thành viên = 20,63%; Từ

     

    nghiên cứu

    5-10 thành viên = 46,83%; Trên 10

         

    thành viên = 32,54%

     

    Lĩnh

    vực

    Khoa học tự nhiên = 31%; Khoa

     

    nghiên

    cứu

    học  kỹ  thuật  và  công  nghệ  =

     

    của nhóm

    30,2%; Khoa học xã hội và nhân

         

    văn = 19%; Luật/kinh tế = 7,1%;

         

    Lĩnh vực khác 12,7%

     

    Vai  trò

    trong

    Trưởng  nhóm  =  28,57%;  Thành

     

    nhóm

    nghiên

    viên  chính  =  61,11%;  Cộng  tác

     

    cứu

     

    viên = 10,32%

    4.2. Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu

     

    Tiến hành phân tích hồi quy để xác định cụ thể trọng số của từng nhân tố thành phần tác động đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu. Giá trị của các nhân tố thành phần được dùng để chạy hồi quy là giá trị trung bình của các biến chỉ báo đã được kiểm định.

     

    Hình        dạng        của        phương        trình:

     

    • = b1 X 1 + b 2 X 2 + b3 X3

    Trong đó, Y đại diện cho biến phụ thuộc (là hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu), X1 ,

     

    X 2 , X 3 đại diện thị cho các biến độc lập ( X1 là biến đại diện cho nhân tố Con người, X 2 là nhân tố Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm và X 3 là Chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo). b1 , b2 , b3 là các hệ số hồi quy riêng

     

    Kết quả kiểm định mô hình hồi quy giữa các nhân tố thành phần tác động đến hiệu quả

     

    hoạt động của nhóm nghiên cứu được thể hiện qua hệ thống các bảng sau:

     

    Trị số R có giá trị = 0,739 cho thấy mối quan hệ giữa các biến trong mô hình có mối

     

    tương quan rất chặt chẽ. Trị số R2 hiệu chỉnh phản ánh mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc. Báo cáo kết quả hồi quy

     

    của mô hình cho thấy giá trị R2 hiệu chỉnh bằng 0,535 hay nói cách khác 53,5% sự biến thiên của biến Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu được giải thích bởi 3 nhân tố thành phần và 46,5% còn lại là do các biến khác ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.

     

    Hệ số Durbin Watson dùng để kiểm định tự tương quan của các sai số kề nhau (hay còn gọi là tương quan chuỗi bậc nhất). Kết quả cho thấy giá trị Durbin Watson = 1,981 (nằm trong khoảng cho phép từ 1 đến 3) suy ra mô hình không vi phạm khi sử dụng phương pháp hồi quy bội vì và chấp nhận giả thuyết không có sự tương quan chuỗi bậc nhất trong mô hình. Như vậy, mô hình hồi quy bội thỏa mãn các điều kiện đánh giá và kiểm định độ phù hợp cho việc rút ra các kết quả nghiên cứu.

     

    Phân tích phương sai ANOVA cho thấy giá trị (Sig.) của kiểm định F = 0,000 (nhỏ hơn 0,05), có nghĩa là mô hình hồi quy phù hợp với tổng thể (Bảng 3).

     

    Kết quả phân tích các hệ số hồi qui trong mô hình cho thấy, giá trị (Sig.) của các nhân tố thành phần đều nhỏ hơn 0,05 do đó chúng đều có nghĩa trong mô hình. Mặt khác do có hệ số hồi quy đều có giá trị dương nên các nhân tố thành phần tương quan tuyến tính thuận đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu (Bảng 4).

     

    Bảng 2. Kết quả phân tích hồi quy

     

    Mô hình

    R

    R2

    R2  hiệu chỉnh

    Sai số chuẩn của ước

    Durbin-Watson

     

    lượng

               

    1

    0,739a

    0,546

    0,535

    0,376

    1,981

     
    1. Các yếu tố dự báo, (Hằng số), ConNguoi, DinhHuong, ChinhSach;
    2. Biến phụ thuộc: HieuQua
       

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    61

             

    Bảng 3. Phân tích phương sai ANOVA

             
                             
     

    Mô hình

     

    Tổng bình phương   Bậc tự do

    Trung bình

    F

    Mức ý nghĩa

       

    bình phương

    (Sig.)

         
                           
       

    Hồi quy

    20,729

    3

     

    6,910

     

    48,930   0,000b

         

    1

    Phần dư

    17,228

    122

     

    0,141

               
       

    Tổng

     

    37,956

    125

                   
               

    a. Biến phụ thuộc: HieuQua

             
         

    b. Các yếu tố dự báo: (Hằng số), ConNguoi, ChinhSach, DinhHuong

         
             

    Bảng 4. Các hệ số hồi quy trong mô hình

             
                             

    Mô hình

       

    Các hệ số chưa

    Các hệ số

       

    Mức ý

             
           

    chuẩn hóa

    chuẩn hóa

       

    Thống kê đa cộng tuyến

             

    t

    nghĩa

             

    Độ lệch

                 
           

    B

    Beta

       

    (Sig.)

     

    Dung sai

    VIF

           

    chuẩn

         
                               
     

    (Hằng số)

    0,114

    0,372

     

    0,306

    0,000

             

    1ChinhSach

    0,379

    0,073

    0,393

    5,209

    0,000

     

    0,652

    1,533

     
     

    DinhHuong

    0,271

    0,093

    0,248

    2,928

    0,004

     

    0,518

    1,929

     
     

    ConNguoi

    0,298

    0,109

    0,230

    2,728

    0,007

     

    0,523

    1,912

     
    1. Biến phụ thuộc: HieuQua

    Đại lượng kiểm hiện tượng đa cộng tuyến với hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor) đều nhỏ hơn 2, thể hiện tính đa cộng tuyến của các biến độc lập là không đáng kể và các biến độc lập trong mô hình đều chấp nhận được.

     

    Từ những phân tích trên ta có thể kết luận mô hình lý thuyết thích hợp với dữ liệu nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận.

    p

     

    Nhân tố con người

    Có thể viết lại phương trình hồi quy như sau:

     

    Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu =

     

    0,23* Con người

     

    • 0,248 * Định hướng nghiên cứu và hợp tác + 0,393 Chính sách hỗ trợ

    Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết được minh họa qua hình 2 dưới đây.

     

    b = 0, 23

     

    Hiệu quả hoạt

     

    Định hướng nghiên

     

    động của nhóm

     

    cứu và hợp tác

    b = 0, 248

       
     

    nghiên cứu

     
       

    Chính sách hỗ trợ

    b = 0, 393

       

    của đơn vị

         

    Hình 2. Kết quả mô hình nghiên cứu.

     

    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Qua kết quả phân tích, ta thấy được mức độ tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu phụ thuộc vào giá trị của hệ số hồi quy đã chuẩn hóa. Nhân tố nào có hệ số hồi quy càng lớn thì tác động đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu càng nhiều. Do đó, có thể kết luận rằng hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu chịu tác động nhiều nhất từ chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo (Beta = 0,393); thứ hai là định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm (Beta = 0,248) và cuối cùng là nhân tố con người (Beta = 0,23).

     

    5.   Bàn luận

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách hỗ trợ nhóm nghiên cứu của đơn vị đào tạo là nhân tố có tác động nhiều nhất đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu. Đối với bất kỳ nhóm nghiên cứu khoa học nào trong các trường đại học hoặc đơn vị nghiên cứu thì vai trò quản lý cũng như các chính sách hỗ trợ của các đơn vị có vai trò không nhỏ trong sự thành công của các nhóm nghiên cứu. Trong bối cảnh cần đẩy mạnh các công trình nghiên cứu khoa học có chất lượng, công bố quốc tế cũng như tăng nhanh các sáng chế, sản phẩm khoa học công nghệ, thì việc quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh hỗ trợ về cơ sở dữ liệu và thông tin khoa học, tạo môi trường nghiên cứu tốt theo các chuẩn mực quốc tế đối với các nhóm nghiên cứu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để thúc đẩy sự thành công của hoạt động khoa học công nghệ cũng như nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Mặt khác cũng cần quan tâm đến việc bồi dưỡng bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút được những nhà khoa học có năng lực nghiên cứu tốt, đặc biệt là postdoc, thu hút được nghiên cứu sinh – lực lượng trẻ, nhiệt tình, nhiều ý tưởng và động lực nghiên cứu – đến tham gia và làm việc trong các nhóm nghiên cứu. Không phải bỗng chốc có nhà khoa học đầu ngành, mà các nhà khoa học phải được quy hoạch, được đào tạo và bồi dưỡng, phải có thời gian để trưởng thành [8]. Việc thu hút nghiên cứu sinh

     

    tham gia vào các nhóm nghiên cứu, gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ là một xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khoa học công nghệ cũng như đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Nghiên cứu khoa học là một trong những nhân tố quyết định đến chất lượng đào tạo tiến sĩ và ngược lại, chương trình đào tạo tiến sĩ sẽ đặt ra những vấn đề mà hoạt động nghiên cứu khoa học phải đáp ứng. Sự tích hợp giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo tiến sĩ sẽ tạo ra lợi ích kép, là một mũi tên bắn trúng nhiều đích [6].

     

    Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm là thành phần thứ hai có tác động không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu khẳng định vai trò của định hướng khoa học đúng, phù hợp với xu hướng quốc tế và phục vụ thiết thực cho sự phát triển của đất nước của các nhóm nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay. Thực tế hiện nay cũng cho thấy nhiều đề tài và công trình có giá trị được bắt nguồn từ quá trình hợp tác quốc tế. Sự quan tâm của các nhà khoa học quốc tế trong nhóm giống như phép thử trong việc xác định vấn đề nghiên cứu của nhóm có phù hợp với sự quan tâm của cộng đồng khoa học quốc tế, có ý nghĩa khoa học quốc tế hay không. Đồng thời, những góp ý của họ trong quá trình thiết kế nghiên cứu có thể giúp các nghiên cứu của nhóm tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cả về mặt thể thức cũng như nội dung [9]. Không những thế thế, hợp tác với các đối tác nước ngoài có thể giúp các thành viên trong nhóm nghiên cứu có cơ hội học tập và cập nhật được phương hướng và phong cách nghiên cứu khoa học tại các nước tiên tiến trên thế giới, nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ. Cũng không thể không kể đến tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp các nhóm nghiên cứu thu hút nguồn lực cho nghiên cứu và xác định rõ địa chỉ ứng dụng cho các công trình nghiên cứu của nhóm.

     

    Nhân tố thứ ba tác động đến hiệu quả của nhóm nghiên cứu là yếu tố con người. Đây cũng là nhân tố không thể không quan tâm trong quá trình xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu muốn duy trì và

     

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    63

    phát triển thì cần phải được dẫn dắt bởi những nhà khoa học có trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu, có định hướng chiến lược lâu dài cho sự phát triển của nhóm, mở ra những hướng nghiên cứu triển vọng tiếp theo, có đủ uy tín để đăng ký chủ trì các đề tài khoa học lớn, kêu gọi và huy động các nguồn tài trợ đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị đủ hiện đại để thực hiện những nghiên cứu đỉnh cao của nhóm. Bên cạnh đó, người trưởng nhóm phải có khả năng tập hợp được đội ngũ các nhà khoa học có nhiệt huyết và hoài bão khoa học, nhất là các cán bộ khoa học trẻ; đồng thời xây dựng và phát huy năng lực của tập thể, kết nối và dẫn dắt thành viên tạo sự đoàn kết gắn bó trong mọi hoạt động nghiên cứu của nhóm.

     

    6.   Kết luận

     

    Kết quả khảo sát, phân tích và bàn luận đã cho thấy những nhân tố chủ yếu tác động đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của các nhóm NC theo mức độ quan trọng giảm dần đó là: (1) Chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo; (2) Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm; (3) Nhân tố con người. Do đó các giải pháp, chính sách nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu cũng cần ưu tiên thực hiện theo thứ tự này. Trên quan điểm đó, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu như sau:

     

    1. Cần có chính sách thỏa đáng đầu tư cho nhóm nghiên cứu về cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu, đẩy mạnh hỗ trợ về cơ sở dữ liệu và thông tin khoa học cho các nhà khoa học; tạo cơ chế đặt hàng nghiên cứu và có nguồn kinh phí thường xuyên đảm bảo hoạt động đối với các nhóm nghiên cứu.
    1. Cần quan tâm bồi dưỡng bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng đến công tác đào tạo, phát triển các nhà khoa học trẻ làm đội ngũ kế cận trong tương lai, thu hút được những nhà khoa học có năng lực nghiên cứu tốt, thu hút được nghiên cứu sinh tham gia vào các nhóm nghiên cứu, gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ thông qua các nhóm nghiên

    cứu, có chính sách khen thưởng, tạo động lực cho các nhà khoa học có thành tích nghiên cứu xuất sắc.

     

    • Nhóm nghiên cứu phải xây dựng được định hướng khoa học đúng đắn, phù hợp với xu hướng quốc tế và phục vụ thiết thực cho sự phát triển của đất nước. Đồng thời phải tăng cường hoạt động chuyển giao tri thức với các doanh nghiệp và địa phương, hợp tác với các đối tác trong nước và quốc tế.
    1. Nhóm nghiên cứu phải có người đứng đầu, có uy tín, trình độ khoa học, năng lực tổ chức và nhiệt huyết với khoa học. Ngoài ra phải là người hoạch định được chiến lược lâu dài và định hướng nghiên cứu cho sự phát triển của nhóm. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu phải tập hợp được đội ngũ các nhà khoa học có nhiệt huyết và hoài bão khoa học, nhất là các cán bộ khoa học trẻ; đồng thời xây dựng và phát huy năng lực của tập thể, tạo sự đoàn kết gắn bó trong mọi hoạt động nghiên cứu của nhóm.

    Lời cảm ơn

     

    Nghiên cứu được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam” trong khuôn khổ

     

    đề tài mã số KHGD/16-20.ĐT.032.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Đào Minh Quân, Thực trạng và một số biện pháp xây dựng, phát triển nhóm nghiên cứu mạnh ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Chính sách và Quản lý. 32(4) (2016) 25-40.
    • Nobahar, Nasim, Nobahar, Masoomeh, & Hamidi, Mohsen, Investigation of research barriers and challenges in university from the perspective of faculty members of Kermanshah city, IAU International Journal of Social Sciences. 4(4) (2014) 15-21.
    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    • Main, Katherine, Effective teaching teams: Facilitators and barriers, Australian Teacher

    Education Association. (2008) 1-10. http://hdl.handle.net/10072/24282.

     

    • Bland, J. Carole, Characteristics of a productive research environment: Literature review, Academic medicine: Journal of the Association of American Medical Colleges. 67(6) (1992) 385-397.
    • Nguyễn Hùng Thắng, Bốn giải pháp thúc đẩy nghiên

    cứu        khoa        học,         Truy         cập        từ

     

    https://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N17540/Bon-giai-phap-thuc-day-nghien-cuu-khoa-hoc.htm, 2018.

    • Vũ Cao Đàm, Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Kỹ thuật, 2007.
    • Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội, Phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam. 8 (2014) 44-47.
    • Đặng Hoàng Minh, Những lợi ích trong việc tham gia nhóm nghiên cứu có chuyên gia quốc tế, Truy

    cập từ http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Nhung-loi-ich-trong-viec-tham-gia-nhom-nghien-cuu-co-chuyen-gia-quoc-te-9701, 2016.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-Th%E1%BB%9Di-c%C6%A1-trong-CMT8-1945-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%95i-m%E1%BB%9Bi-v%C3%A0-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-1986-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối

    Đề tài: Bài học thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay. Liên hệ vai trò của sinh viên trong việc vận dụng bài học này đối với quá trình đổi mới và hội nhập.

    Lời mở đầu

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và việc khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng. Đây là kết hợp của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật  chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán và có hiệu quả. Thắng lợi này đã để lại những bài học to lớn trong nghệ thuật tạo và chớp  thời cơ không chỉ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước mà còn trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng ta ko thể phủ nhận vai trò của SV_1 tầng lớp trí thức trong xã hội. Họ đã có nhg đóng góp to lớn trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước.

     

    I.          Bài học thời cơ trong CMT8/1945.

    1. Thời cơ trong CMT8/1945.

    2.1.       Hoàn cảnh

    Một cuộc khởi nghĩa hoặc tổng khởi nghĩa muốn thắng lợi đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài (chủ quan và khách quan) mà chúng ta thường gọi là điều kiện chín muồi.

    Trong nước: Một là, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3-1945 của dân tộc Việt Nam, diễn ra mạnh mẽ chưa từng có.

    Hai là, Đội tiền phong lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản thống nhất về ý chí và hành động, phát triển mạnh mẽ về tổ chức, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, chủ động đưa phong trào quần chúng đi tới cuộc tổng khởi nghĩa.

    Ba là, kẻ thù chính của cách mạng là quân Nhật và chính quyền phong kiến tay sai đã suy yếu và hoang mang cực điểm.

    Quốc tế: Phe Phát- xít có nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới II. Nhật gặp phải những cuộc tấn công ko ngừng của quân Đồng Minh.

    2.2.       Nghệ thuật tạo thời cơ trong CMT8/1945.

    Chuẩn bị để đón thời cơ: từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng lực lượng, chuẩn bị, chờ thời cơ để làm một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

    Để chuẩn bị về nhân lực, vật lực cho khởi nghĩa, các chiến khu được xây dựng ở các địa bàn hiểm trở, có lợi thế về phòng thủ và phát triển lực lượng, cơ sở vật chất, trong đó nổi bật nhất là hai chiến khu Cao-Bắc-Lạng và Thái-Hà-Tuyên.

              Về chính trị – tư tưởng: lấy nền tảng là CN M-LN, đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập với tinh thần: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, phát huy cao độ tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tập hợp quần chúng vào các tổ chức cách mạng.

    Về tổ chức: Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng họp vào tháng 5 – 1941 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên: “Việt Nam độc lập đồng minh” (Gọi tắt là Việt Minh) và các tổ chức tập thể cứu quốc trên cả nước.

     Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Đảng đã ra bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12-3-1945). Bản chị thị xác định kẻ thù mới của ta là phát xít Nhật, chuẩn bị cho toàn Đảng, toàn dân tộc tâm thế và tư thế để chủ động và sáng tạo

     

    2.3.       Nghệ thuật chớp thời cơ trong CMT8/1945.

    Về đoán định thời cơ: Ngay từ năm 1940, khi mà chủ nghĩa phát xít đang thắng thế cả ở châu Âu lẫn châu Á. Nguyễn Ái Quốc với tầm nhìn của thời đại đã nhận định: Liên Xô và Đồng minh sẽ thắng; Nhật – Pháp ở Đông Dương sẽ bắn nhau; Việt Nam lúc đó sẽ có thời cơ để giành lại độc lập. dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật;  hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

     Tận dụng triệt để thời cơ: trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó.

     Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh nạn đói ở nước ta – hậu quả của chính sách cai trị tàn bạo của Nhật, Pháp – đang diễn ra trầm trọng. Đảng đã kịp thời nêu chủ trương phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo, tạo nên một sinh lực mới cho phong trào.

    2.4.       Kết quả

    Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc.

    Đó là sự vùng dậy của cả một dân tộc với ý chí tự lực, tự cường, quyết đem sức ta mà tự giải phóng cho ta được sự dẫn dắt của đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong tổ chức Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là liên minh công nhân và nông dân. Đó là kết quả của tinh thần năng động, sáng tạo của hệ thống tổ chức đảng và Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở trên tất cả các địa bàn của cả nước. Đó là sự chủ động chuẩn bị và phát triển thực lực cách mạng, chủ động nắm bắt thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi.

    2. Bài học về thời cơ trong CMT8/1945.

    Bài học về nhận định đúng tình hình và yêu cầu phát triển của thực tiễn để có thể đề ra các quyết sách hợp lý.

    Thứ hai, xác định đúng thời cơ, thời điểm để đưa ra đường lối phát triển phù hợp.

    Thứ ba, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”,

    Thứ tư là thu phục lòng dân từ chính những quyết sách, định hướng phát triển đúng đắn, hợp lý đã được đề ra

    II.        Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    1.            Bối cảnh hội nhập quốc tế.

    • Thuận lợi:
    • Trong nước: Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. TNTN đa dạng, phong phú; cơ cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào
    • Quốc tế: Việt Nam nằm giữa khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khu vực năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất hiện nay.thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
    • Khó khăn:
    • Trong nước: Những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn túng thiếu. Đặc biệt, sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới, nền kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. thế lực phản động ko ngừng tác động nhằm lật đổ chế độ chính trị còn non trẻ của ta…
    • Quốc tế: tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của Việt Nam.

    2.            Thời cơ cho sự phát triển của VN hnay.

    2.1.    Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 để tạo và chớp thời cơ trong hoàn cảnh hnay.

    Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: Hòa bình, hợp tác và phát triển. cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình.

    Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra. Vận dụng “bất biến” tức là không vì quyền lợi hay lợi ích nhất thời, cục bộ của tổ chức, cá nhân nào đó mà bất chấp nguyên tắc, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tập thể. Phải tuyệt đối đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển của chủ nghĩa xã hội lên trên hết. Thực hiện phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế cũng phải luôn “ứng vạn biến”, biết phân tích, dự đoán và mau lẹ chớp lấy thời cơ, nắm chắc và tận dụng có hiệu quả thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là thước đo bản lĩnh cách mạng, sự mẫn cảm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.

              Chúng ta đã và còn phải chuẩn bị một cách đầy đủ nhất các yếu tố, những điều kiện để tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức. Cụ thể là:

    – Về nhận thức và tư tưởng: Phát huy lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự trọng của dân tộc để không cam chịu đói nghèo và lạc hậu, để đem sức ta mà xóa nghèo đi lên giàu mạnh – không ai làm thay và cũng chẳng có ai làm thay cho chúng ta cả

    – Về tổ chức, con người và nguồn lực:

    Tất cả các yếu tố cần phải được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, nhất quán và được tập hợp trong một “thế trận” thống nhất hướng vào mục tiêu chung: Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    – Chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

    Phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng là đòi hỏi tất yếu để quá trình chuẩn bị cho việc tận dụng thời cơ cũng là quá trình hành động để biến thời cơ thành hiện thực.

    Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thể hiện trong trình độ tư duy lý luận, vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan để đề ra Cương lĩnh, đường lối thích hợp, tăng cường sức mạnh tổ chức, kỷ luật và năng lực tổ chức thực tiễn

    2.2.    Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    Chưa bao giờ thế và lực của đất nước lớn mạnh và có điều kiện phát triển nhanh như hiện nay. Là kết quả của sự phát triển qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới đã tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Chế độ chính trị, xã hội ổn định, sức mạnh quốc phòng, an ninh được tăng cường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, tăng trưởng khá. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 7.3%,  GDP liên tục tăng( năm 2011 khoảng 100 tỷ $) Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt trên 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lạm phát được kiểm soát và đẩy lùi . Xuất khẩu 6 triệu tấn gạo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 15,5%, năm 2007 là 14,8%, năm 2008 là 13,1% và năm 2009 giảm xuống còn 12,4%.

    Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một cao. Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc, của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Những bước tiến thần kỳ của đất nước thời kỳ đổi mới có một phần là do Đảng ta nắm vững và vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    3.            Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt.

     Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu mới trong quá trình chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới những năm vừa qua nhưng chúng ta vẫn đang phải  đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,tình trạng mất công bằng xã hội,lạm phát, thất nghiệp gia tăng, ô  nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng…  nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang ngày đêm ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nước ta.

    Vì vậy, đòi hỏi cao nhất đối với Đảng, Nhà nước ta, đối với mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên là tích cực nghiên cứu, vận dụng tốt những bài học lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nam từ 1986 đến nay.

     

    III.       Liên hệ vai trò của sinh viên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

    Hiện nay tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử nhưng Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo, kém phát triển, kinh tế, khoa học, công nghệ còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục đói nghèo, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội đang là mục tiêu cháy bỏng của nhân dân ta. Vì thế, nếu như các thế hệ cha anh trước đây đã rửa được cái nhục mất nước, thì thanh niên hiện tại phải rửa được cái nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Tổ quốc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

    Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế mới này, tri thức trở thành yếu tố hàng đầu của sản xuất, là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất. Việc học tập trở thành vấn đề xã hội hoá, hình thành nên một “xã hội học tập”. Thế hệ trẻ muốn khỏi lạc hậu với khoa học, kỹ thuật và công nghệ, phải có thói quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, và bất cứ lúc nào cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học. Tất cả chúng ta đều biết một câu nói bất hủ của V. I. Lenin “Học, học nữa, học mãi”. Nếu phân tích bản chất của câu nói thì ý Lênin không phải là học nữa, học mãi ở trường, ở lớp mà là sau khi đã nắm bắt được một lượng kiến thức cơ bản ở trường thì học sinh, sinh viên phải đem kiến thức đó phục vụ cho cuộc sống, và trong lúc làm việc, chúng ta phải tranh thủ thời gian để đọc thêm sách báo, xem thêm phim ảnh có ích và bổ sung những kiến thức trên trường đời.

    Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới. Để có thể đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình hội nhập và quá trình toàn cầu hoá thì mỗi thanh niên có trách nhiệm trang bị cho mình phương tiện không thể thiếu là ngoại ngữ. Phải thành thạo bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) ít nhất là một ngoại ngữ như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung… Nhờ vậy, chúng ta mới có khả năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu nước ngoài và có thể giao tiếp, học tập với nhiều hình thức khác nhau. Hơn nữa hầu hết các công việc đều ít nhiều gắn với ngoại ngữ. Thị trường lao động sẽ cần đến những người vừa tài về chuyên môn, vừa giỏi về ngoại ngữ. Bên cạnh đó, thanh niên còn phải có khả năng làm chủ công nghệ thông tin. Có trình độ tin học nhất định thì máy vi tính sẽ giúp chúng ta tự học tốt, giảm thời gian tra cứu tài liệu, thu thập thông tin cập nhật để xử lý công việc một cách nhanh chóng có hiệu quả. Thanh niên phải là lực lượng xung kích phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà, có khả năng chuyển giao, sáng tạo, ứng dụng các công nghệ tiên tiến và cũng là lực lượng truyền bá phổ biến khoa học công nghệ trong cộng đồng. Có làm được những điều này, tuổi trẻ chúng ta mới xứng đáng là những chủ nhân hôm nay và tương lai của đất nước. Đúng như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định trong buổi lễ phát động Năm Thanh niên 2000: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tự hào về các bạn, về thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên hôm nay. Với lực lượng xung kích ấy và những lực lượng xung kích kế tiếp, cha truyền con nối, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tổ quốc Việt Nam sẽ được bảo vệ vững chắc, dân tộc Việt Nam trường tồn, chủ nghĩa xã hội được xây dựng thắng lợi”.

    IV.       Kết luận.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng Nghiên cứu mô hình mở rộng lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ, sự tin tưởng và hiệu ứng cái đuôi dài

    Ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng Nghiên cứu mô hình mở rộng lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ, sự tin tưởng và hiệu ứng cái đuôi dài

    Ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng Nghiên cứu mô hình mở rộng lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ, sự tin tưởng và hiệu ứng cái đuôi dài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu tác động của thuận lợi hóa thương mại đến thương mại Việt Nam – ASEAN Phân tích thực chứng dựa trên mô hình trọng lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%9D-%C4%91%E1%BB%8Bnh-v%C3%A0-h%C3%A0nh-vi-mua-s%E1%BA%AFm-tr%E1%BB%B1c-tuy%E1%BA%BFn-c%E1%BB%A7a-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-m%C3%B4-h%C3%ACnh-m%E1%BB%9F-r%E1%BB%99ng-l%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-th%E1%BB%91ng-nh%E1%BA%A5t-ch%E1%BA%A5p-nh%E1%BA%ADn-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-s%E1%BB%B1-tin-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-v%C3%A0-hi%E1%BB%87u-%E1%BB%A9ng-c%C3%A1i-%C4%91u%C3%B4i-d%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng Nghiên cứu mô hình mở rộng lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ, sự tin tưởng và hiệu ứng cái đuôi dài

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

     

     

    Original Article

     

    Online Shopping Intention and Behavior of Customers: Study of the Extended Unified Theory of Acceptance and Use of Technology, Trust and Long Tail Effect

     

    Nguyen Thu Ha*, Tran Trong Vu Long, Pham Thanh Thuy, Le Thi Tu Anh

     

    VNU University of Economics and Business,

    144 Xuan Thuy Str., Cau Giay Dist., Hanoi, Vietnam

     

    Received 15 March 2019

    Revised 28 March 2019; Accepted 28 March 2019

     

    Abstract: Along with the popularity of Internet as well as information and communication technology, online shopping is gradually becoming an alternative to traditional shopping form. Based on the Extended Unified Theory of Acceptance and Use of Technology 2 (UTAUT2), this paper proposes a framework utilizing 9 factors (performance expectancy, effort expectancy, social influence, facilitating conditions, hedonic motivation, price value and habit, trust, and the long tail effect) to analyze customer’s intention and behavior of online shopping. This analytical framework could be used in future studies on customer’s behavior of shopping through websites of e-commerce in Vietnam.

     

    Keywords: Online shopping, e-commerce, UTAUT2, long tail effect, trust.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4206

    112

     

    VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

     

     

    Ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng: Nghiên cứu mô hình mở rộng lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ, sự tin tưởng và hiệu ứng “cái đuôi dài”

     

    Nguyễn Thu Hà*, Trần Trọng Vũ Long, Phạm Thanh Thủy, Lê Thị Tú Anh

     

    Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 15 tháng 3 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Cùng với sự phổ biến của Internet cũng như công nghệ thông tin và truyền thông, mua sắm trực tuyến đang dần trở thành lựa chọn thay thế cho hình thức mua sắm truyền thống. Dựa trên mô hình mở rộng của lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT2), bài viết đề xuất khung phân tích sử dụng 9 yếu tố (kỳ vọng kết quả, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, điều kiện thuận lợi, động lực thụ hưởng, giá trị giá cả, thói quen, sự tin tưởng và hiệu ứng “cái đuôi dài”) để phân tích ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng. Mô hình có thể được sử dụng trong các nghiên cứu trong tương lai về hành vi mua sắm của khách hàng thông qua các trang thương mại điện tử tại Việt Nam.

     

    Từ khóa: Mua sắm trực tuyến, thương mại điện tử, UTAUT2, hiệu ứng “cái đuôi dài”, sự tin tưởng.

     

    1.   Mở đầu *

     

    Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với sự phổ biến của Internet và sự phát triển của các sản phẩm công nghệ thông tin, truyền thông ngày càng thân thiện, dễ sử dụng hơn với người dùng, đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong thói quen tiêu dùng của khách hàng. Internet không chỉ trở thành một kênh liên lạc, chia sẻ thông tin, mà còn là một phương tiện hữu ích để thực hiện các giao dịch mua bán, cho phép kết

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnueab.4206

    nối người mua và người bán một cách nhanh chóng, thuận tiện. Việc sử dụng Internet để thực hiện các giao dịch mua bán được gọi bằng nhiều cái tên như thương mại điện tử, mua sắm trực tuyến…

     

    Tại Việt Nam, nhận thấy được những tiện ích mà mua sắm trực tuyến đem lại, ngày càng có nhiều người tiêu dùng lựa chọn các trang thương mại điện tử để mua sắm thay cho các hình thức mua sắm truyền thống. Quy mô thị trường thương mại điện tử B2C không ngừng được mở rộng với tỷ lệ tăng trưởng doanh thu trung bình đạt xấp xỉ 30%/năm trong giai đoạn 2014-2017 [1].

     

    113

     

    • T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

     

     

    Nhiều nghiên cứu về các loại hình dịch vụ có ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho thấy, bên cạnh tính dễ sử dụng, có một số động lực khác thúc đẩy khách hàng sử dụng các dịch vụ này. Trong đó, mô hình mở rộng của UTAUT2 cho phép phân tích 7 yếu tố thúc đẩy hành vi sử dụng công nghệ bao gồm: kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội, điều kiện thuận lợi, động lực thụ hưởng, giá trị giá cả và thói quen [2]. Mô hình này đã được áp dụng để lý giải hành vi của người dùng trong nhiều lĩnh vực như đào tạo trực tuyến, ngân hàng điện tử [3, 4].

     

    Đối với lĩnh vực thương mại điện tử, mặc dù mô hình UTAUT2 cũng được sử dụng để nghiên cứu ý định hành vi của người tiêu dùng, tuy nhiên, mô hình này chưa đề cập đến 2 trong số các đặc trưng của thương mại điện tử trong bối cảnh nền kinh tế số hiện nay là sự tin tưởng của khách hàng và hiệu ứng “cái đuôi dài”. Cụ thể, sự tin tưởng của khách hàng có vai quan trọng đối với quyết định mua sắm trực tuyến, bởi hình thức mua sắm này hạn chế sự tương tác trực tiếp giữa khách hàng và nhà cung cấp cũng như tiềm ẩn mức độ rủi ro cao hơn so với mua sắm truyền thống. Trong khi đó, hiệu ứng “cái đuôi dài” được coi là một thế mạnh nổi trội của thương mại điện tử, cho phép người tiêu dùng tiếp cận được các sản phẩm không còn có nhu cầu cao trên thị trường và không sẵn có tại các cửa hàng bán lẻ truyền thống [5].

     

    Xuất phát từ sự cần thiết làm rõ các động lực của khách hàng trong lĩnh vực thương mại điện tử tại Việt Nam, bài viết này hướng tới mục tiêu phát triển một khung phân tích các động lực thúc đẩy việc mua sắm trực tuyến dựa trên việc kế thừa và phát triển mô hình UTAUT2, trong đó bao hàm cả sự tin tưởng của khách hàng và hiệu ứng “cái đuôi dài”. Khung phân tích được đề xuất sẽ cho phép các doanh nghiệp, tổ chức có thể phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý nhất để thu về kết quả tối ưu từ trang thương mại điện tử của mình. Từ đó, các nhà quản trị có thể đưa ra các chiến lược phù hợp để khuyến khích khách hàng sẵn sàng chấp nhận mua sắm trực tuyến.

     

    2.   Một số lý thuyết liên quan đến động lực thúc đẩy khách hàng mua sắm trực tuyến

     

    2.1. Mô hình mở rộng lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ

     

    Nhiều mô hình và khung phân tích khác nhau đã được đề xuất để lý giải việc áp dụng và phổ biến công nghệ. UTAUT là mô hình được sử dụng rộng rãi nhất cho đến thời điểm hiện tại [6]. Mô hình này được phát triển dựa trên việc kết hợp các lý thuyết đã được đề xuất trước đó và chủ yếu dựa trên 3 lý thuyết chính, bao gồm: mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) [7], lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)

     

    • và mô   hình   chấp  nhận   công   nghệ

    (Technology Acceptance Model – TAM) [9]. Mô hình lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) được xây dựng với 4 yếu tố cốt lõi của ý định và hành vi sử dụng công nghệ, bao gồm: kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi.

     

    Tuy nhiên, Venkatesh và cộng sự (2012) đã bổ sung vào mô hình ban đầu 3 yếu tố: động lực thụ hưởng, giá trị giá cả và thói quen để mở rộng phạm vi ứng dụng của mô hình tới đối tượng là người tiêu dùng cá nhân [2]. Mô hình mới được biết đến với tên gọi là mô hình mở rộng của lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (Extended Unified Theory of Acceptance and Use of Technology 2 – UTAUT2). Thông qua các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, mô hình này đã cho thấy sự vượt trội hơn so với các mô hình, lý thuyết riêng lẻ ban đầu trong việc giải thích sự chấp nhận công nghệ của mỗi cá nhân hay tổ chức trong các bối cảnh tiêu dùng khác nhau [6, 10, 11].

     

    Mua sắm trên các trang thương mại điện tử có thể được xem như là việc sử dụng công nghệ để thực hiện hoạt động cơ bản, tương tự như mua sắm truyền thống. Do đó, để nghiên cứu ý định và hành vi mua sắm trực tuyến, bài viết này sử dụng mô hình UTAUT2 làm khung phân tích cơ sở, từ đó điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với bối cảnh thương mại điện tử tại Việt Nam. Bảy yếu tố cấu thành nên mô hình UTAUT2 được mô tả chi tiết trong Bảng 1.

     

       

    N.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

    115

         

    Bảng 1. Mô tả chi tiết các cấu phần của mô hình UTAUT2

     
           
     

    Cấu phần

    Mô tả chi tiết

     
     

    1.

    Kỳ vọng hiệu quả

    Mức độ mà việc sử dụng công nghệ sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng trong việc

     

    thực hiện một số hoạt động nhất định

     
           
     

    2.

    Kỳ vọng nỗ lực

    Mức độ dễ dàng sử dụng các công nghệ

     
     

    3.

    Ảnh hưởng xã hội

    Mức độ mà người tiêu dùng nhận thấy rằng những người quan trọng với họ, như

     

    người thân trong gia đình, bạn bè… tin rằng họ nên sử dụng một công nghệ cụ thể

     
           
     

    4.

    Điều kiện thuận lợi

    Cảm nhận của người dùng về các nguồn lực và hỗ trợ sẵn có để thực hiện một hành vi

     

    cụ thể

     
           
     

    5.

    Động lực thụ hưởng

    Niềm vui hay sự vui thích có được từ việc sử dụng một công nghệ cụ thể

     
     

    6.

    Giá trị giá cả

    Nhận thức của người tiêu dùng về sự đánh đổi giữa các lợi ích nhận được khi ứng

     

    dụng công nghệ và số tiền phải bỏ ra để sử dụng các công nghệ đó

     
           
     

    7. Thói quen

    Mức độ mà mọi người có xu hướng thực hiện hành vi một cách tự động

     

    Nguồn: Singh và Matsui, 2017 [6].

     

    2.2. Sự tin tưởng

     

    Sự tin tưởng có ý nghĩa lớn rất trong bất kỳ giao dịch mua bán nào, nhưng nó trở nên đặc biệt quan trọng khi giao dịch được thực hiện thông qua Internet. Khi mua sắm thông qua các trang thương mại điện tử, tất cả các rủi ro cố hữu liên quan đến việc sử dụng Internet như gian lận trực tuyến, tiết lộ thông tin cá nhân, vấn đề bảo mật, lan truyền vi rút cho các thiết bị công nghệ… cũng trở thành các rủi ro đối với người mua sắm trực tuyến. Bên cạnh những vấn đề này, sự thiếu tương tác trực tiếp giữa người mua và người bán sẽ tạo ra cảm giác bất an và lo lắng cho khách hàng. Trong tình huống như vậy, hành vi mua sắm trực tuyến phụ thuộc rất lớn vào sự tin tưởng của khách hàng đối với trang thương mại điện tử và mức độ tin cậy của doanh nghiệp thương mại điện tử trong việc thực hiện đầy đủ các hành động để bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự tin tưởng của khách hàng cũng quan trọng đối với việc chấp nhận và sử dụng dịch vụ thương mại điện tử tương tự như các yếu tố sự hữu ích và tính dễ sử dụng trong mô hình TAM [6, 12].

     

    2.3. Hiệu ứng “cái đuôi dài”

     

    Thuật ngữ “cái đuôi dài” được các nhà khoa học sử dụng trong một số nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính và kinh doanh bảo hiểm từ thập niên 1946. Đến thập niên 1950, Benoit

    Mandelbrot đã nghiên cứu một cách tổng quát, đặt nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo về hiệu ứng “cái đuôi dài”. Năm 2006, hiệu ứng “cái đuôi dài” được Chris Anderson đề cập trong cuốn sách The long tail: Why the future of business is sell less of more và dần trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Tác giả đã đề cập đến 3 trường hợp điển hình của Amazon, Apple và Yahoo để nêu rõ những lợi ích của hiệu ứng “cái đuôi dài” mang lại cho các doanh nghiệp thương mại điện tử và những khách hàng sử dụng hình thức mua sắm trực tuyến hiện nay [5].

     

    Theo đó, hiệu ứng “cái đuôi dài” có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trong thời gian gần đây. Mỗi ngày, có vô số sản phẩm mới được tạo ra và cung cấp trên thị trường, đáp ứng sự thay đổi nhu cầu không ngừng của người tiêu dùng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bán lẻ truyền thống gặp nhiều thách thức trong việc lưu trữ hàng hóa do giới hạn về mặt không gian. Vì vậy, các doanh nghiệp này luôn ưu tiên bày bán các sản phẩm có khả năng bán chạy cao, đáp ứng nhu cầu của đa số khách hàng. Trong khi đó, các cửa hàng trực tuyến không chịu ràng buộc như vậy. Trên các trang thương mại điện tử, doanh nghiệp có thể hiển thị danh mục hàng hóa với số lượng lớn hơn nhiều so với các cửa hàng bán lẻ truyền thống, bao gồm cả các sản phẩm có nhu cầu rất thấp, đáp ứng các thị trường ngách. Một danh sách dài các dịch vụ và sản phẩm đáp

     

    • T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

     

     

    ứng nhu cầu của một nhóm nhỏ người tiêu dùng khi được tập hợp lại sẽ tạo thành một lượng doanh số đáng kể. Hiệu ứng này được gọi bằng thuật ngữ “cái đuôi dài” [5]. Nó đem đến cho người mua hàng trực tuyến cơ hội mua được những sản phẩm không dễ dàng có sẵn tại các cửa hàng bán lẻ truyền thống. “Cái đuôi dài” được coi là một thế mạnh nổi bật của thương mại điện tử, do đó, khi phân tích hành vi lựa chọn sử dụng hình thức mua sắm thông qua các trang thương mại điện tử, cần thiết phải xem xét đến hiệu ứng này.

     

    3.   Đề xuất khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ý định và hành vi mua sắm trực tuyến

     

    Trên thế giới, mô hình UTAUT2 là một trong số những mô hình phổ biến nhất và thường được vận dụng trong các lĩnh vực có liên quan đến công nghệ. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã vận dụng mô hình UTAUT2 vào nhiều lĩnh vực khác nhau như: phân tích sự chấp nhận và sử dụng đào tạo trực tuyến trên điện toán đám mây [3]; nghiên cứu sự chấp nhận và sử dụng ngân hàng điện tử [4]; nghiên cứu sự chấp nhận và sử dụng dịch vụ taxi uber [13]… Đối với lĩnh vực thương mại điện tử, Châu Ngọc Tuấn (2015) đã ứng dụng mô hình UTAUT để nghiên cứu ý định hành vi và sự lựa chọn mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng tại thành phố Đà Nẵng [14]. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ sử dụng mô hình UTAUT (với 4 yếu tố sự hữu ích cảm nhận, sự dễ sử dụng cảm nhận, sự tin tưởng cảm nhận và đặc điểm cá nhân) mà chưa xem xét đến các đặc trưng khác của thương mại điện tử.

     

    Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu ứng “cái đuôi dài” là một đặc điểm nổi bật của thương mại điện tử, nhưng rất ít nghiên cứu nhìn nhận hiệu ứng “cái đuôi dài” như là một yếu tố thúc đẩy việc mua sắm trực tuyến. Tương tự, sự tin tưởng cũng được đề cập trong nhiều nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học và quản trị học. Tuy nhiên, trong phần lớn các mô hình phân tích hành vi sử dụng công nghệ nói chung và sử dụng dịch vụ thương mại điện tử

     

    nói riêng, sự tin tưởng vẫn chưa được xem xét như là một cấu phần trong mô hình nghiên cứu.

     

    Từ những phân tích trên, bài viết đề xuất bổ sung 2 yếu tố bao gồm “sự tin tưởng” và hiệu ứng “cái đuôi dài” vào mô hình nghiên cứu UTAUT2 để phát triển khung phân tích có khả năng ứng dụng lĩnh vực thương mại điện tử. Khung phân tích được xây dựng nhằm phân tích các yếu tố có tác động thúc đẩy ý định mua sắm trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng (Hình 1).

     

    Khung phân tích bao gồm 11 cấu phần, được mô tả cụ thể như sau:

     

    • Kỳ vọng kết quả: Kỳ vọng kết quả là kỳ vọng của khách hàng về việc tiến hành mua sắm trực tuyến sẽ đem lại hiệu quả. Các mô hình nghiên cứu trước đây như mô hình TAM [9], mô hình động lực thúc đẩy MM [15] đã đề cập đến kỳ vọng hiệu quả như là sự hữu ích cảm nhận được. Bằng cách tiến hành mua sắm trực tuyến, khách hàng có thể mong đợi nhận được một số lợi ích như tiết kiệm thời gian, gia tăng sự tiện lợi… Mua sắm trực tuyến có thể hữu ích với khách hàng vì họ có thể mua sắm nhanh hơn, xem các sản phẩm được cung cấp bởi những người bán khác nhau, tiết kiệm thời gian và có thể mua sắm từ bất kỳ vị trí nào thuận tiện đối với họ. Kết quả mua sắm được cải thiện hơn khi khách hàng tiến hành mua sắm trực tuyến có thể là lý do giải thích ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng.

     

    • Kỳ vọng nỗ lực: Kỳ vọng nỗ lực thể hiện sự dễ dàng của việc mua sắm trực tuyến. Các thang đo từ các mô hình nghiên cứu trước đây đã nhắc đến kỳ vọng nỗ lực như là sự dễ sử dụng cảm nhận được (trong mô hình TAM), hay sự dễ dàng sử dụng (mô hình IDT) [16]. Trong trường hợp này, nếu khách hàng nghĩ rằng việc mua sắm trực tuyến là dễ dàng thì điều này có thể thúc đẩy ý định mua sắm trực tuyến.

     

    • Ảnh hưởng xã hội: Ảnh hưởng xã hội đại diện cho tác động xã hội từ những người quan trọng, chẳng hạn như người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… cho rằng khách hàng nên tiến hành mua sắm trực tuyến. Nếu những người có mối quan hệ gần gũi với khách hàng

     

     

       

    N.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

    117

    đang sử dụng các trang thương mại điện tử để

    hưởng  đến  ý  định  mua  sắm  trực  tuyến

    của

    mua  sắm,  thì  đây  có  thể là  một  yếu  tố  ảnh

    khách hàng.

     
     

    o

         
                     
       

    Mô hình UTAUT2

         
       

    Kỳ vọng hiệu quả

               
             

    Sự tin tưởng

       
                   
                     
                     

    Kỳ vọng nỗ lực

     

    Ảnh hưởng xã hội

     

     

    Ý định mua

    Hành vi

     
     

    Điều kiện thuận lợi

    sắm trực

    mua sắm

     

    tuyến

    trực tuyến

     
     

    Động lực thụ hưởng

     

    Thói quen

     

    Giá trị giá cả

    Hiệu ứng cái đuôi dài

     

    Hình 1. Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ý định và hành vi mua sắm trực tuyến

     

    Nguồn: Đề xuất của các tác giả.

     

    • Điều kiện thuận lợi: Điều kiện thuận lợi là các trang thiết bị và sự hỗ trợ cần thiết để tiến hành mua sắm trực tuyến. Các nghiên cứu thực chứng sử dụng mô hình UTAUT2 đã chỉ ra rằng đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến ý định sử dụng và hành vi sử dụng trong thực tế. Đối với mua sắm trực tuyến, các điều kiện thuận lợi có thể bao gồm các thiết bị như máy tính, điện thoại thông minh, Internet, dịch vụ hỗ trợ khách hàng trực tuyến, kiến thức, kỹ năng cần thiết… Điều kiện thuận lợi có thể ảnh hưởng đến cả ý định và hành vi mua sắm trực tuyến.

     

    • Động lực thụ hưởng: Động lực thụ hưởng được định nghĩa là niềm vui hoặc sự thú vị bắt nguồn từ việc mua sắm trực tuyến. Trong nghiên cứu về hệ thống thông tin, động lực thụ hưởng (được định nghĩa như là sự hưởng thụ

    nhận thức – perceived enjoyment) có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chấp nhận và sử dụng công nghệ [17, 18]. Đối với một số khách hàng, sử dụng một hình thức mua sắm mới mẻ và sáng tạo có thể mang lại sự thú vị và giải trí. Do đó, động lực thụ hưởng có thể có ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng.

     

    • Giá trị giá cả: Giá trị giá cả được định nghĩa là nhận thức của người tiêu dùng về sự đánh đổi giữa lợi ích cảm nhận được từ mua sắm trực tuyến và chi phí để tiến hành việc mua sắm đó. Giá trị giá cả có tác động tích cực khi khách hàng nhận thấy lợi ích của việc mua sắm trực tuyến lớn hơn chi phí bỏ ra. Mua sắm trực tuyến có thể cung cấp sản phẩm với giá thấp hơn cho khách hàng do cơ cấu chi phí hoạt động của các doanh nghiệp trực tuyến thấp hơn so với doanh nghiệp truyền thống. Lợi ích kinh

     

    • T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

     

     

    tế từ mua sắm trực tuyến có thể được lấy từ giá thấp hơn và cũng có thể thông qua tiết kiệm khi so sánh về giá cả, ưu đãi giảm giá trực tuyến, chi phí vận chuyển thấp hơn…

     

    • Thói quen: Thói quen được định nghĩa là mức độ mà mọi người có xu hướng thực hiện hành vi một cách tự động [19]. Sự tích lũy qua thời gian có thể dẫn đến sự hình thành các thói quen với mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mức độ tương tác và sự quen thuộc với hình thức mua sắm trực tuyến. Khách hàng thường xuyên mua sắm trực tuyến sẽ có xu hướng truy cập vào các trang thương mại điện tử như một hành

     

    • tự nhiên của họ. Thói quen có thể có ảnh hưởng đến cả ý định và hành vi mua sắm trực tuyến.
    • Hiệu ứng “cái đuôi dài”: Trong nghiên cứu này, hiệu ứng “cái đuôi dài” được đề xuất như một cấu trúc bổ sung để phân tích động lực thúc đẩy khách hàng mua sắm trực tuyến. Khác với các cửa hàng kinh doanh truyền thống, các trang thương mại điện tử không bị giới hạn về mặt không gian trưng bày sản phẩm, do đó, các trang web này có thể cung cấp một danh mục với số lượng lớn các loại sản phẩm, dịch vụ đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trường ngách khác nhau. Bên cạnh đó, các trang thương mại điện tử ứng dụng các công nghệ cho phép gợi ý các sản phẩm theo kết quả tìm kiếm của khách hàng. Ví dụ, khi khách hàng tìm mua một quyển sách thuộc thể loại trinh thám, trang thương mại điện tử sẽ hiển thị các gợi ý về các sản phẩm có liên quan khác như đĩa phim thể loại trinh thám, đồ trang trí có liên quan đến nội dung cuốn sách… Điều này có thể thúc đẩy ý định mua sắm các sản phẩm khác mà ban đầu khách hàng chưa có nhu cầu. Sự đa dạng trong sản phẩm cung cấp và sự hỗ trợ tìm kiếm, gợi ý sản phẩm của trang web chính là đặc trưng quan trọng của hiệu ứng “cái đuôi dài”. Do đó, hiệu ứng này có thể ảnh hưởng đến cả ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng.

     

    • Sự tin tưởng: Trong bối cảnh của thương mại điện tử, sự tin tưởng hàm chứa nhiều khía cạnh khác nhau. Khách hàng có thể băn khoăn rằng liệu các trang thương mại điện tử có giữ lời hứa và cam kết liên quan đến sản phẩm, dịch vụ của họ hay không, mặc dù các trang thương

    mại điện tử luôn cam kết đảm bảo tính bảo mật của các giao dịch nhưng liệu họ có đáng tin cậy hay không… Theo Cục Thương mại Điện tử và Kinh tế số (2018), sự tin tưởng là một trong các yếu tố chủ yếu khiến khách hàng tại Việt Nam đưa ra quyết định mua sắm trực tuyến, bên cạnh yếu tố chất lượng của hàng hóa/dịch vụ và giá cả [1]. Khi cảm thấy thiếu tin tưởng vào các trang thương mại điện tử, khách hàng sẽ thận trọng hơn, cân nhắc nhiều hơn trước khi ra quyết định mua sắm. Từ ý định ban đầu, có thể khách hàng sẽ không thực hiện hành vi mua trên thực tế nếu không tin tưởng trang web có thể đảm bảo các giao dịch thanh toán an toàn, sản phẩm bày bán trên trang web đã được kiểm duyệt… Do đó, sự tin tưởng có thể ảnh hưởng đến cả ý định và hành vi mua sắm trực tuyến.

     

    • Ý định mua sắm trực tuyến: Ý định mua sắm trực tuyến thể hiện mức độ mà khách hàng có ý định sử dụng các trang thương mại điện tử để mua sắm trong tương lai và có thể đề nghị những người khác tiến hành mua sắm trực tuyến.

     

    • Hành vi mua sắm trực tuyến: Hành vi mua sắm trực tuyến thể hiện việc khách hàng đã tiến hành mua sắm trực tuyến và có khả năng cao tiếp tục sử dụng hình thức mua sắm này.

     

    Các cấu phần của khung phân tích được đo lường thông qua các thang đo được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ (1 – Hoàn toàn không đồng ý, 5 – Hoàn toàn đồng ý). Kết quả khảo sát có thể được xử lý bằng phần mềm SPSS & AMOS. Thang đo sau khi được đánh giá bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy bội để nghiên cứu mối quan hệ giữa 9 yếu tố và ý định mua sắm trực tuyến, hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng.

     

    Khung phân tích có thể được ứng dụng trong việc phân tích ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng tại khu vực thành thị hoặc nông thôn ở Việt Nam. Hành vi mua sắm trực tuyến có thể được thực hiện thông qua các trang web hoặc ứng dụng mua sắm trực tuyến tại Việt Nam như Shopee, Lazada, Tiki, thegioididong.vn… Khung phân tích cũng được ứng dụng cho hoạt động mua sắm trực tuyến đối với nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ khác

     

    N.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

    119

    nhau như điện tử, kỹ thuật số, thiết bị âm thanh, hình ảnh; sức khỏe, sắc đẹp; máy tính, điện thoại, thiết bị văn phòng…

     

    4. Kết luận

     

    Thông qua khung phân tích được đề xuất, bài viết đã đóng góp vào việc nâng cao hiểu biết về các yếu tố thúc đẩy khách hàng mua sắm trực tuyến. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra khung phân tích các yếu tố có tác động tới ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng, bao gồm: kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng nỗ lực, động lực thụ hưởng, điều kiện thuận lợi, ảnh hưởng xã hội, giá trị giá cả, thói quen, hiệu ứng “cái đuôi dài” và sự tin tưởng. Dựa trên việc tổng kết một số kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực chứng, các yếu tố này được dự đoán có thể ảnh hưởng tích cực đến ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của khách hàng.

     

    Đóng góp quan trọng của bài viết chính là đề xuất một khung phân tích phù hợp với bối cảnh thương mại điện tử bằng việc điều chỉnh và bổ sung 2 yếu tố vào mô hình UTAUT2 là sự tin tưởng và hiệu ứng “cái đuôi dài”. Kết quả của bài viết đưa ra một số hàm ý cho các doanh nghiệp thương mại điện tử trong việc thực hiện tất cả các bước cần thiết để đảm bảo an toàn cho các giao dịch trực tuyến, bảo vệ thông tin khách hàng và nhanh chóng phản hồi trong giao tiếp khách hàng để tạo dựng và củng cố sự tin tưởng của khách hàng; đồng thời đưa ra các chiến lược kinh doanh dựa trên hiệu ứng “cái đuôi dài” để thúc đẩy nhiều hơn hành vi mua sắm của khách hàng. Bên cạnh đó, bài viết vẫn còn một số hạn chế như chưa kiểm định được mức độ tin cậy của khung phân tích. Các nghiên cứu trong tương lai có thể bổ sung các bằng chứng thực nghiệm để khẳng định độ tin cậy và sự phù hợp của mô hình trong bối cảnh cụ thể.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Cục Thương mại Điện tử và Kinh tế số, “Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam năm 2018”, 2018.
    • Venkatesh, Y.L.J. Thong, X. Xin, “Consumer acceptance and Use of information technology: Extending the Unified theory of acceptance and Use of technology”, MIS Quarterly. 36 (2012) 1, 157-178.
    • Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Tiến Dũng, Cao Hào Thi, “Sự chấp nhận và sử dụng đào tạo trực tuyến trên điện toán đám mây”, Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ. tập 17 (2014).
    • Nguyễn Duy Thanh, Cao Hào Thi, “Đề xuất mô hình chấp nhận và sử dụng ngân hàng điện tử ở Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ. số 14 (2011).
    • Anderson, The Long Tail: Why the Future of Business is Selling Less of More, New York: Hyperon, 2006.
    • Singh, Y. Matsui, “How Long Tail and Trust Affect Online Shopping Behavior: An Extension to UTAUT2 Framework”, Pacific Asia Journal of the Association for Information Systems. 9 (2017) 1-24.
    • Ajzen, M. Fishbein, Understanding Attitudes and Predicting Social Behavior, Englewood Cliffs, Prentice Hall, 1980.
    • Ajzen, The Theory of Planned Behavior, Organization Behavior and Human Decision Process (1991) 179-211.
    • Taylor, P. Todd, “Understanding Information

    Technology Usage: A Test of Competing Models”, Information Systems Research. 6 (1995) 144-176.

     

    • L. Childers,  C.L.  Carr,  J.  Peck,  S.  Carson,

    “Hedonic and Utilitarian Motivations for Online

     

    Retail Shopping Behavior”, Journal of Retailing. 77 (2001) 511-535.

     

    • Escobar-Rodriguez, E. Carvajal-Trujillo, “Online Drivers of Consumer Purchase of Website Airline Tickets”, Journal of Air Transport Management. 32 (2013) 58-64.
    • Gefen, E. Karahanna, D.W. Straub, “Trust and TAM in Online Shopping: An Integrated Model”, MIS Quarterly. 27 (2003) 51-90.
    • Nguyễn Duy Thanh, Huỳnh Thị Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuân, “Chấp nhận và sử dụng công nghệ: Một nghiên cứu về dịch vụ taxi uber”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ. số 18 (2015).
    • Châu Ngọc Tuấn, “Ứng dụng mô hình chấp nhận công nghệ nghiên cứu ý định hành vi và sự lựa chọn mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng tại thành phố Đà Nẵng”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Cita “Công nghệ thông tin và ứng dụng trong các lĩnh vực”, 2015.
    • D. Davis, R.P. Bagozzi, P.R. Warshaw, “Extrinsic and Intrinsic Motivation to Use
    • T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 35, No. 1 (2019) 112-120

     

     

    Computers in the Workplace”, Journal of Applied Social Psychology. 22 (1992) 1111-1132.

     

    • Venkatesh, M.G. Morris, G.B. Davis, F.D. Davis, “User Acceptance of Information Technology: Towards a Unified View”, MIS Quarterly. 27 (2003) 425-478.
    • Van der Heijden, “User Acceptance of Hedonic Information Systems”, MIS Quarterly. 28 (2004) 695-704.

    D

    d

     

    • L.J. Thong, S.J. Hong, K.Y. Tam, “The Effects of Post-Adoption Beliefs on the Expectation-Confirmation Model for Information Technology Continuance”, International Journal of Human-Computer Studies. 64 (2006) 799-810.
    • Limayem, S.G. Hirt, C.M.K. Cheung, “How Habit Limits the Predictive Power of Intentions:

    The Case of IS Continuance”, MIS Quarterly. 31 (2007) 705-737.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]