Category: Báo Cáo Khoa Học

  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thuyết minh thi công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-%C4%90%E1%BA%BEN-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-B%E1%BB%98T-H%E1%BB%92NG-TR%C3%80-H%C3%92A-TAN-B%E1%BA%B0NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-S%E1%BA%A4Y-PHUN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

     

    Nguyễn Quốc Sinh1*, Nguyễn Thị Diễm Hương1, Nguyễn Thành Thuận2

    1Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế;

    2Trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng.

     

    *Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Bột Hồng trà hòa tan là sản phẩm được chế biến bằng phương pháp sấy phun dịch trích ly từ nguyên liệu Hồng trà được sản xuất theo phương pháp lên men toàn phần. Trong công trình này chúng tôi tiến hành khảo sát một số thông số trong quy trình sản xuất trà hòa tan như công đoạn trích ly (4 mốc thời gian và 3 mức nhiệt độ), công đoạn bổ sung chất mang (5, 10 và 15% maltodextrin) và sấy phun (5 mức nhiệt độ và 4 tốc độ bơm) đến chất lượng sản phẩm bột Hồng trà hòa tan. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình trích ly. Điều kiện trích ly thích hợp là: nhiệt độ trích ly 85oC, thời gian trích ly 40 phút. Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10%. Tiến hành sấy phun ở nhiệt độ thích hợp là 170oC với tốc độ bơm nhập liệu là 30%. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có tính chất cảm quan tốt, sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô.

     

    Từ khóa: bột hồng trà hòa tan, polyphenol, sấy phun, trích ly.

     

    Nhận bài: 17/03/2019          Hoàn thành phản biện:  27/03/2019                  Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trà hòa tan dạng bột được sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, trong đó phần lớn là từ các nguồn thảo dược (Nguyễn Văn Tặng, 2008). Trên thế giới, trà hòa tan chủ yếu được sản xuất từ trà khô để làm đồ uống (Clark và cs., 1984; Mehta và cs., 2001; Bavan và Bengal, 2009). Quá trình sản xuất bột trà hòa tan có các công đoạn chủ yếu là trích ly, cô đặc dịch và sấy phun. Sato và cs. (1984) đã sử dụng nước nóng để trích ly trà xanh, dịch trà được bổ sung maltodextrin và sấy phun để tạo bột hòa tan. Bavan (2005) cũng sử dụng nước nóng để trích ly trà đen và trà ô long, dịch trà sau đó được cô đặc, sấy phun để tạo bột trà. Lunder và Nestec (1997) dùng nước nóng để trích ly hỗn hợp chè xanh và chè đen để thu được dịch chè. Đã có nhiều công trình khác nghiên cứu quá trình trích ly polyphenol từ chè khô và sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm ở dạng bột, dịch lỏng hoặc dạng cao. Công trình nghiên cứu của Trịnh Xuân Ngọ (2009) sử dụng dung môi là nước nóng. Phạm Thành Quân và cs. (2005) trích ly polyphenol sử dụng dung môi là ethanol có hỗ trợ vi sóng. Nguyễn Trọng Điệp và cs. (2017) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh.

     

    Việc nghiên cứu các thông số công nghệ trong quá trình chế biến bột Hồng trà hoà tan bằng các phương pháp đơn giản, dễ làm như tách chiết bằng dung môi nước, sử dụng maltodextrin làm chất mang trong quá trình sấy phun tạo sản phẩm…nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt là vấn đề có ý nghĩa thực tế và mang tính cấp thiết, bởi vì nó góp phần đa dạng hoá sản phẩm từ Hồng trà và hơn nữa có thể sử dụng được các thiết bị sẵn có ở các cơ sở chế biến nông sản trong quá trình chế biến sản phẩm bột trà. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan bằng phương

     

    1217

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    pháp sấy phun nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm này

     

    • nước ta.

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Nguyên liệu

    Hồng trà loại OP do Công ty Cổ phần Long Đỉnh (thôn Phúc Tân, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) cung cấp. Hồng trà hay còn gọi là trà đen là loại trà được lên men hiếu khí toàn phần 100% từ đọt chè. Chè khô đảm bảo độ ẩm ≤ 7%.

     

    Maltodextrin: dùng làm chất trợ sấy, được bổ sung vào dịch trà trước khi đem sấy phun. Sản phẩm nhập từ Pháp, dạng bột mịn, màu trắng, tan hoàn toàn trong nước, độ ẩm 6 – 7%, chỉ số DE là 12.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.2.1. Phương pháp công nghệ

     

    Để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số công nghệ sản xuất bột trà hòa tan, chúng tôi chọn phương pháp công nghệ (Hình 1) theo nghiên cứu của Santo và cs. (2007) và dựa vào đặc điểm của máy sấy phun Mini B-290. Một số công đoạn chính trong quy trình công nghệ như sau: Chè khô sau khi vận chuyển về phòng thí nghiệm, được đóng gói chân không, bảo quản trong điều kiện cách ẩm và tránh ánh sáng. Nguyên liệu được nghiền mịn và rây qua rây 1 mm, đạt kích thước 0,8-0,9mm nhằm làm dập tế bào trong lá chè để các chất hòa tan thoát ra dễ dàng trong quá trình trích ly. Nguyên liệu sau khi nghiền được trích ly bằng dung môi là nước nóng với khối lượng mẫu là 10g nguyên liệu/lần). Trích ly một lần với tỷ lệ dung môi nước so với nguyên liệu là 1/10 (g/ml) được trích ly ở nhiệt độ và thời gian khác nhau. Dịch chè được lọc nhằm loại bỏ thành phần bã ra khỏi dịch chè, sau đó hòa trộn với tá dược maltodextrin trước khi sấy phun tạo bột trà hòa tan bằng máy sấy phun B-290 Buchi. Mỗi thí nghiệm tiến hành lặp lại 3 lần, 3 mẫu/nghiệm thức.

     

       

    Nguyên liệu

         
       

    Nghiền

         
         

    Nước

     

    Trích ly

         
         
       

    Lọc thô

         
         

    Maltodextrin

    Bổ sung tá dược

         
         
       

    Lọc tinh

         
         
       

    Sấy phun

         
    • Khảo sát nhiệt độ trích ly (75; 85; 95oC)
    • Thời gian trích ly (20; 30; 40; 50 phút)
    • Khảo sát tỷ lệ bổ sung maltodextrin theo tỷ lệ 5%; 10%; 15%
    • Khảo sát nhiệt độ sấy phun (150;160;170; 180; 190oC)
    • Khảo sát tốc độ bơm (25;

    30; 35; 40%)

     

    Sản phẩm trà hòa tan

     

    Hình 1. Phương pháp công nghệ sản xuất trà hòa tan quy mô phòng thí nghiệm.

     

    1218

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    2.2.2. Phương pháp phân tích

     

    • Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy đến khối lượng không đổi: Dùng hơi nóng làm bay hơi lượng nước trong chè. Cân khối lượng chè trước và sau khi sấy khô, từ đó tính ra phần trăm nước có trong mẫu chè (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định chất hoà tan theo phương pháp Voronsov: Dùng hơi nước để bốc hơi nước dịch chiết xuất, còn lại là chất khô hòa tan, sấy khô đến khối lượng không đổi, chất hòa tan được tính theo % khối lượng khô của mẫu. Đây là phương pháp thông dụng, đơn giản (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định khả năng hòa tan của bột trà sau khi sấy: Để xác định khả năng hòa tan trong nước của bột trà hòa tan. Thí nghiệm được thực hiện với 20ml nước và 0,1g bột chè ở

     

    nhiệt độ 90oC với số lần lặp lại 3 lần, để quan sát đánh giá khả năng hòa tan của các chất tan trong nước. Thí nghiệm được tiến hành bằng cách tính thời gian hòa tan.

     

    • Xác định polyphenol tổng số bằng phương pháp Folin – Denis: Phương pháp này được thực hiện dựa trên nguyên tắc các hợp chất polyphenol trong dung dịch phản ứng với thuốc thử Folin-Ciocalteau cho sản phẩm màu xanh lam, đo độ hấp thụ ở bước sóng 660 nm, lấy acid gallic làm chất chuẩn (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001)

     

    • Định lượng cafein trong chè bằng Na2S203: Khi dung dịch chứa cafein, nếu có mặt HCl thì dung dịch trong KI sẽ chuyển toàn bộ cafein thành chất kết tủa có công thức như sau: C6H10O2N4KI4. Sau đó dùng Na2S2O3 0,1N chuẩn lượng I2 dư sẽ biết được lượng I2 tham gia phản ứng, từ đó tính được lượng cafein trong dung dịch thí nghiệm (Hà Duyên Tư, 2001)

     

    2.2.3. Phương pháp đánh giá cảm quan

     

    Chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan theo phép thử cho điểm thị hiếu về mức ưa thích (Hà Duyên Tư, 2016) để đánh giá chất lượng sản phẩm (theo thang điểm Hedonic).

     

    2.2.4. Phương pháp xử lý thống kê

     

    Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsoft Excel. Kết quả thí nghiệm được phân tích bằng ANOVA và kiểm định Turkey trên phần mềm Minitab 16.20 để so sánh các giá trị trung bình có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu

     

    Việc xác định thành phần hóa học của nguyên liệu ban đầu là cơ sở để đưa ra các thông số công nghệ trong quá trình nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần hóa học của Hồng trà (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà

     

    Chỉ tiêu

    Đơn vị

    Kết quả

    Độ ẩm

    (%)

    4,64 ± 0,44*

    Hàm lượng chất hòa tan

    (% chất khô)

    22,89 ±2,09

    Hàm lượng cafein

    (%chất khô)

    2,05 ±0,16

    Hàm lượng polyphenol

    (%chất khô)

    15,86 ±0,01

    Ghi chú *: Sai số của giá trị

     

    Số liệu thực nghiệm thu được ở Bảng 1 cho thấy: Hàm lượng ẩm của nguyên liệu Hồng trà chiếm 4,64% nằm trong giới hạn cho phép về hàm lượng ẩm trong trà khô, đảm bảo

     

    1219

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    độ ẩm ≤ 7%, đạt theo TCVN 1454:1993. Chất hòa tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất về chất lượng trà thành phẩm, chính là hàm lượng các chất chiết được. Hàm lượng chất hòa tan trong trà nguyên liệu chiếm khá cao đạt 22,89%. Hàm lượng cafein và polyphenol lần lượt chiếm 2,05% và 15,86%. Đây là những hoạt chất sinh học khá quan trọng. Nó là thành phần không thể thiếu của bất kỳ loại trà nào, giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị cho sản phẩm, đồng thời có tác dụng gây cảm giác hưng phấn cho người sử dụng. Như vậy, kết quả khảo sát một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà cho thấy loại nguyên liệu này đảm bảo các yêu cầu cho việc tạo ra sản phẩm bột trà.

     

    3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly

     

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly dịch trà ở ba mức nhiệt độ: 75oC, 85oC, 95oC. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10, thời gian trích ly là 20 phút. Kết quả được thể hiện ở Hình 2.

     

    Hàm lượng (% ck)

    20

         

    18,05a

           
                 

    15

                   
         

    12,61a

     

    12,50b

     
               

    10

     

    8,33c

           

    9,34b

     
                 
       

    6,70c

               

    5

                   
                   

    0

                   

    75

    85

       

    95

     
           
           

    Nhiệt độ trích ly (oC)

       

     Chất hòa tan  Polyphenol

     

    Hình 2. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả ở Hình 2 cho thấy khả năng trích ly và khả năng khuếch tán của các chất hòa tan bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ trích ly. Ở các mức nhiệt độ biến thiên từ 75 – 95oC, hàm lượng chất hòa tan và polyphenol trích ly được có giá trị tăng dần theo nhiệt độ và đạt giá trị cao nhất

     

    • nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 18,05%, polyphenol là 12,61%). Nhưng khi đến nhiệt độ 95oC thì hàm lượng các chất giảm thấp hơn nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 12,50%, polyphenol là 9,34%). Trong quá trình trích ly nếu nhiệt độ quá thấp thì không đủ nhiệt để hòa tan các hợp chất cần chiết làm giảm hiệu quả trích ly nhưng nếu nhiệt độ quá cao lại làm tăng các phản

    ứng hóa học gây ra những biến đổi bất lợi cho hợp chất cần trích ly, làm giảm khả năng trích

     

    1. Mặt khác, dựa vào màu sắc dịch trích ly trà, chúng tôi thấy khi trích ly ở nhiệt độ thấp 70oC thì dịch trích ly có màu nhạt hơn so với nhiệt độ 85oC và 95oC. Vì vậy, chọn nhiệt độ trích ly
    • 85oC là thích hợp để thu được dịch trích ly có hàm lượng chất hòa tan và polyphenol cao.

    3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly

     

    Sự ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly được nghiên cứu khảo sát ở bốn mức: 20 phút, 30 phút, 40 phút, 50 phút. Các yếu tố cố định là nhiệt độ trích ly: 85oC (lấy từ nghiệm thức trước); tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình trích ly ảnh hưởng đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol được thể hiện ở Hình 3.

     

    1220

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Hàm lượng (% ck)

    30

                             
               

    25,00a

               

    25

                           
     

    18,05b

     

    20,83ab

           

    19,44b

     
                 

    20

                 
     

    12,61c

    14,02

    b

     

    15,74a

     

    14,20b

           

    15

                     

    Chất hòa tan

                     
                         

    10

                           

    Polyphenol

                           
                           
                             
                             

    5

                             
                             

    0

                             

    20

    30

     

    40

    50

           
               
           

    Thời gian trích ly (phút)

               

    Hình 3. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của thời gian trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả thí nghiệm cho thấy, thời gian trích ly ảnh hưởng nhiều đến quá trình trích ly. Khi thời gian trích ly tăng thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol tăng dần theo thời gian. Tại thời gian trích ly là 40 phút thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol đạt cao nhất (chất hòa tan là 25,00%, polyphenol là 15,74%). Ở thời gian trích ly 50 phút thì hàm lượng các chất giảm xuống so với thời gian 40 phút (chất hòa tan là 19,44% và polyphenol là 14,20%). Bởi vì các hoạt chất sinh học đều nhạy cảm với nhiệt độ cao, giữ trong thời gian dài sẽ dẫn đến sự phân hủy các hoạt chất sinh học tương tự như báo cáo của Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư (2009). Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian trích ly thích hợp là 40 phút để nghiên cứu các công đoạn tiếp theo.

     

    3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung tá dược maltodextrin đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan

     

    Maltodextrin là một trong những tá dược (còn gọi là chất độn, chất trợ sấy) có ảnh hưởng lớn đến quá trình sấy phun và khả năng hòa tan của bột trà. Ảnh hưởng tỷ lệ maltodextrin bổ sung được khảo sát ở ba mức với tỷ lệ: 5%, 10%, 15%. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10 với thể tích dịch trà: 150ml, trích ly ở nhiệt độ 85oC nhiệt độ trong thời gian 40 phút, nhiệt độ sấy phun là 170oC; tốc độ bơm: 30%. Kết quả thể hiện ở Hình 4 và Bảng 2.

     

    Nghiên cứu của Kha Chấn Tuyền và cs. (2010) chỉ ra hàm lượng maltodextrin có ảnh hưởng rất lớn đến độ ẩm của bột. Kết quả ở hình 4 cho thấy, tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà càng tăng thì độ ẩm bột trà càng giảm. Bổ sung tỷ lệ maltodextrin càng cao thì nồng độ chất khô của dịch càng cao, khi đó hàm lượng nước trong dịch sấy thấp nên quá trình bốc hơi nước xảy ra nhanh hơn, độ ẩm của bột sẽ thấp hơn (với tỷ lệ maltodextrin là 5% thì độ ẩm đạt 5,48%, tỷ lệ 10% là 4,82%, tỷ lệ 15% là 4,28%). Ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 15%, lượng bột nhiều nhất (15,13 g) nhưng hàm lượng polyphenol là thấp nhất (6,85%). Do đó màu sắc của bột trà nhạt đi nên khi pha sẽ bị ảnh hưởng đến màu, mùi và vị sản phẩm (Bảng 2).

     

    Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến tính chất cảm quan nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tỷ lệ maltodextrin

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     
     

    (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    5

    Đỏ nâu đậm có viền vàng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    10

    Đỏ nâu sáng có viền vàng

    Thơm vừa

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    15

    Đỏ nâu nhạt có viền vàng

    Thơm nhẹ

    Vị hơi ngọt,

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

             

    1221

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    50

                   

    45,00a

     

    45

                       
                       

    40

                       
                       

    35

                       
                   

    26,67c 28,33b

     

    30

                   
                       

    25

                       
                       

    20

             

    15,13a

         

    15

             

    11,29b

     

    a

       

    10

    5,48

    a

    4,82

    b

    6,09

    c

     

    9,52 7,91b6,85c

       
     

    4,28c

             

    5

                       
                       

    0

                       

    Độ ẩm (%)

    Khối lượng bột

    Polyphenol

    Khả năng hòa

     
     
             

    thu được (g)

    (%ck)

    tan (s)

     
               

    5%

    10%

    15%

       

    Hình 4. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến độ ẩm, khối lượng thu hồi bột, hàm lượng polyphenol và khả năng hòa tan của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Hơn nữa các mức bổ sung maltodextrin khác nhau thì khả năng hòa tan bột trà khác nhau. Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 5% thì khả năng hòa tan tan nhanh hơn so với 10% và 15%. Trong khi tỷ lệ bổ sung maltodextrin ở 5% thì tan nhanh và ít bị vón cục. Bổ sung maltodextrin tỷ lệ 15% thì khả năng hòa tan chậm đi do lượng maltodextrin chiếm nhiều nên vón cục nhiều hơn nên khó tan hơn. Vì thế chúng tôi chọn công thức tỷ lệ bổ sung maltodextrin 10% vì khả năng hòa tan tốt trong nước pha trà. Đồng thời sản phẩm bột có kích thước và cảm quan tốt. Kết quả này hoàn toàn thích hợp với công bố của Zhang và cs. (2005).

     

    3.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến chất lượng bột trà

     

    Trong quá trình sấy phun, nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của bột trà. Nhiệt độ không khí đầu vào không nên vượt quá 180 – 190oC. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ sấy đến chất lượng bột ở các mức nhiệt độ khác nhau: 150oC, 160oC, 170oC, 180oC và 190oC. Các yếu tố cố định là tốc độ bơm nhập liệu: 35%; tốc độ gió 100%. Kết quả được thể hiện ở Hình 5 và Bảng 3.

     

    Kết quả nghiên cứu ở Hình 5 cho thấy độ ẩm của bột trà ở tất cả các công thức thí nghiệm đều nhỏ hơn 6% đạt tiêu chuẩn theo TCVN 9739:2013. Qua nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun thấy rằng, hàm lượng ẩm thấp nhất khi sấy ở nhiệt độ 180oC nhưng ở nhiệt độ này thì có một ít vật liệu sấy bị cháy, sản phẩm bột bám lên thành của buồng sấy, sản phẩm giảm mùi thơm, vị đắng hơn. Mặt khác sấy ở nhiệt độ 150oC thì bột tạo ra có độ ẩm cao, khả năng thoát ẩm kém, bột bám dính vào thành buồng sấy.

     

    Khi tăng nhiệt độ sấy phun, hoạt chất polyphenol đã bị tổn thất và có xu hướng giảm dần. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều bất lợi cho sản phẩm bột trà. Đồng thời, quan sát trong quá trình sấy phun nhận thấy, ở nhiệt độ thấp (150 – 160oC) bột có độ ẩm cao, bám dính thành từng mảng ở thành buồng sấy. Ở nhiêt độ cao (180 – 190oC) thì bột có hiện tượng bị cháy bám

     

    1222

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    trên thành buồng sấy ảnh hưởng đến mùi và vị của bột. Còn ở nhiệt độ 170oC cho ra bột tơi, mịn có độ ẩm đạt 4,86% và hàm lượng polyphenol là 7,98%. Ở nhiệt độ này, bột ít bị bám dính và không bị cháy ở thành buồng sấy. Như vậy, mức nhiệt độ thích hợp là 170oC vì hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol cao và đảm bảo độ ẩm của trà thành phẩm (TCVN 5613:2007).

     

    9

     

    8,43a

     

    8,34a

     

    7,94b

     

    7,66c

               
                         

    8

                             
                       

    6,71d

    7

                       
           

    5,83a

                       

    6

     

    5,14

    ab

                         
           

    4,86abc

     

    4,30b

     

    4,72bc

    5

                 
                             

    Độ ẩm (%)

                             

    4

                               
                               

    Polyphenol (%ck)

                               

    3

                               
                                 
                                 

    2

                                 
                                 

    1

                                 
                                 

    0

                                 

    150

    160

    170

    180

     

    190 Nhiệt độ sấy phun (oC)

       

    Hình 5. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà hòa tan.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Ngoài hàm lượng polyphenol và độ ẩm, tính chất cảm quan của nước trà pha phản ảnh chất lượng cảm quan của bột trà hòa tan. Số liệu ở bảng 3 cho thấy ở nhiệt độ sấy phun thấp hơn 180oC, bột trà khi pha vẫn giữ được màu đỏ sáng và mùi thơm đặc trưng của Hồng trà. Khi nhiệt độ sấy phun trên 180oC, nước trà pha có màu đỏ nâu và mùi vị cũng kém dần đi.

    Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Nhiệt độ

     

    Tính chất cảm quan của nước trà

     
     

    sấy phun (oC)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    150

    Đỏ có

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    viền vàng

    đặc trưng

           
     

    160

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    170

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    180

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           
     

    190

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           

    Các kết quả trên cho thấy nhiệt độ sấy phun đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và màu sắc nước pha. Nhiệt độ phù hợp cho quá trình sấy phun là 170oC.

    3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến chất lượng của bột trà

     

    Tốc độ bơm nhập liệu có ảnh hưởng lớn đến lưu lượng dòng nhập liệu, năng suất thiết bị, nhiệt độ không khí đầu ra của máy sấy phun. Vì hệ thống bơm nhập liệu của thiết bị nghiên cứu là bơm nhu động nên trong quá trình này, tốc độ bơm được nghiên cứu với các mức lần lượt là 25%, 30%, 35% và 40% thì tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu của máy sấy phun

     

    1223

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    B-290 Buchi thực tế là 8,3; 10,3; 12,3 và 14,3 (ml/phút). Các yếu tố được cố định là nhiệt độ sấy 170oC; tốc độ gió 100%. Kết quả nghiên cứu đươc thể hiện ở Hình 6 và Bảng 4.

    10

                             
     

    8,54a

     

    8,19b

     

    7,85d

     

    8,01c

             

    8

                     
                 

    5,16a

             

    6

     

    4,30b

     

    4,37b

     

    4,92a

             

    Độ ẩm (%)

    4

                       
                           
                             
                             

    2

                             
                             

    0

                       

    Tốc độ bơm

    25

    30

    35

    40

       
         
     

    nhập liệu (%)

                     
                               

    Hình 6. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Số liệu ở Hình 6 cho thấy, tốc độ bơm nhập liệu càng cao thì độ ẩm càng cao. Mẫu sản phẩm có tốc độ bơm thấp nhất (25%) đạt độ ẩm thấp nhất là 4,30% và ngược lại mẫu sản phẩm có tốc độ bơm cao nhất 40% thì đạt độ ẩm cao nhất là 5,16%. Tốc độ bơm nhập liệu tăng, đồng nghĩa với thời gian lưu của vật liệu sấy trong buồng sấy giảm, do đó hiệu quả sấy sẽ không cao độ ẩm sẽ tăng, phần hạt ẩm dính lại trong buồng sấy cũng tăng dẫn đến hiệu suất thu hồi sản phẩm sau quá trình sấy phun giảm. Tốc độ bơm nhập liệu càng tăng thì bột trà có hàm lượng polyphenol càng giảm. Hàm lượng polyphenol đạt giá trị cao nhất ở tốc độ bơm là 25% đạt 8,54% chất khô.

     

    Mặc dù ở tốc độ bơm 25% thì độ ẩm của bột sản phẩm tuy thấp hơn nhưng thời gian sấy dài. Đồng thời, với tốc độ bơm nhập liệu 30% tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu 10,3 ml/phút, hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol và độ ẩm đảm bảo chất lượng của bột trà hòa tan. Sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol là 8,19% chất khô.

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tốc độ bơm

     

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     

    nhập liệu (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    25

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    30

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    35

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    40

    Đỏ nâu sáng

    Thơm yếu,

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    kém đặc trưng

    kém đặc trưng

    Kết quả nghiên cứu (Bảng 4) cho thấy, khi tốc độ bơm nhập liệu từ 25 – 40%, màu sắc bột trà hòa tan vẫn đồng đều nhau, nước pha trà vẫn giữ được mùi thơm, vị đậm dịu, trong đồng nhất. Mùi vị sản phẩm giảm khi tốc độ bơm trên 35%. Tốc độ bơm thấp hơn 35% thì sản phẩm có mùi thơm dịu, đặc trưng, có hậu. Như vậy, tốc độ bơm nhập liệu đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và mùi vị nước pha (Bảng 4). Tốc độ bơm phù hợp cho quá trình sấy phun là 30%.

     

    1224

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    3.7. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng bột trà hòa tan

     

    Đánh giá chất lượng cảm quan tổng thể của một sản phẩm là một chỉ tiêu không thể thiếu được, nói lên mức độ ưa thích của người tiêu dùng và giới thiệu sản phẩm ra thị trường.

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi tiến hành chế biến mẫu sản phẩm bột Hồng trà hòa tan ở quy mô phòng thí nghiệm. Sản phẩm được tiến hành phân tích, kiểm nghiệm một số chỉ tiêu hóa lý và cảm quan. Kết quả được thể hiện ở bảng 5 và bảng 6 sau đây:

     

    Bảng 5. Kết quả kiểm nghiệm chỉ tiêu hóa lý sản phẩm bột trà hòa tan

     

    Chỉ tiêu

    Phương pháp thử

    Kết quả mẫu thí

    TCVN

     

    nghiệm

    9739:2013

     
       

    Độ ẩm (%)

    TCVN 5613:2007

    5,0

    ≤ 6

     

    Hàm lượng tro tổng số (%)

    TCVN 5611:2007

    0,9

    ≤ 20

     

    Số liệu ở Bảng 5 và 6 cho thấy sản phẩm Hồng trà hòa tan đạt được các chỉ tiêu chất lượng nằm trong giới hạn cho phép về độ ẩm và hàm lượng tro tổng số theo TCVN 9739:2013 về bột trà hòa tan. Sản phẩm có tính chất cảm quan và khả năng hòa tan tốt.

     

    Bảng 6. Kết quả đánh giá chỉ tiêu cảm quan của sản phẩm

     

     

    Chỉ tiêu

    Tính chất

     

    Trạng thái

    Dạng bột mịn, đồng nhất, không bị vón cục

     

    Màu sắc

    Sản phẩm bột trà có màu kem, khi pha ra nước có màu nâu đỏ

     

    Mùi

    Sản phẩm còn giữ được mùi thơm thoảng của hồng trà,

     

    không có mùi khét, mùi lạ

       
     

    Vị

    Vị chát nhẹ, khi pha nước có vị ngọt dịu

    4. KẾT LUẬN

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số kết luận như sau:

     

    Trong quá trình trích ly trà bằng dung môi nước, nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian trích ly 40 phút là phù hợp.

     

    Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10% khi nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian 40 phút.

    Sấy phun ở nhiệt độ 170oC với tốc độ bơm nhập liệu 30% cho sản phẩm có tính chất cảm quan tốt, bột chè thành phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có chất lượng tốt.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Tài liệu tiếng Việt

    Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Hoàng Hiệp và Trịnh Thanh Hùng. (2017). Đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh (Camellia sinensis L.). Tạp chí Y – Dược học Quân sự, 4.

     

    Trịnh Xuân Ngọ. (2009). Nghiên cứu quy trình sản xuất nước giải khát từ chè xanh, chè đen. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2.

     

    Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư. (2009). Nghiên cứu trích ly polyphenol từ chè xanh vụn – Phần 1: Các yếu tố ảnh hưởng quá trình trích ly polyphenol. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 47(1).

     

    Nguyễn Văn Tặng. (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình sản xuất trà Actisô dạng viên sủi bọt. Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, 2.

     

    Vũ Thy Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm và Giang Trung Khoa. (2001). Các hợp chất hóa học có trong chè và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất chè ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Nông Nghiệp.

     

    1225

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    Hà Duyên Tư. (2016). Kỹ thuật phân tích cảm quan thực phẩm. Hà Nội: NXB Khoa học và Kỹ thuật.

     

    Hà Duyên Tư. (2001). Quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

     

    Phạm Thành Quân, Tống Văn Hằng, Nguyễn Hải Hà, Đỗ Nguyễn Tuyết Anh và Trương Ngọc Tuyển (2005). Trích ly polyphenol từ trà xanh sử dụng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng. Hội Nghị Khoa Học và Công Nghệ lần thứ 9.

     

    1. Tài liệu tiếng nước ngoài

    Bavan D. S. (2005). Hot water soluble tea. United States Patent Application Publication. US 2005/0884566 A1.

     

    Clark A. V. and Zientara F. J. (1984). Process for the production of a soluble tea product. United States Patent, 4, 472-441.

     

    Lunder T. L. (1997). Preparation of cold-water-soluble instant tea. United States Patent, 5.

     

    Mehta S. S., Sukumar V. and Virkar P. D. (2001). Process for producing tea concentrates. United States Patent, 6.

     

    Pandey R. K. and Manimehalai N. (2014). Production of Instant Tea Powder by Spray Drying.

    International Journal of Agriculture and Food Science Technology, 5(3), 197-202.

     

    Santo J., Kurusu T. and Kondo N. (2007). Process for the preparation of instant tea. United States Patent, 4.

     

    Tuyen Chau Kha, Minh Nguyen and Roach, P.D., (2010). Effects of sparay drying conditions on the physicochemical and antioxidant properties of Gac (Momordica cochinesis) fruit aril powder. Journal of Food Engineering, 90(3), 471-479.

     

    Zhang L.M, Zhou J. F. and Peter S. Hui. (2005). A comparative study on viscosity behavior of water-soluble chemically modified guar gum derivatives with different functionl lateral groups. Jounal of the Science of Food and Ariculture, 85, 2638-2644.

     

    EFFECTS OF SOME SPRAY DRYING PROCESS PARAMETERS ON THE QUALITY OF INSTANT BLACK TEA POWDER

     

    Nguyen Quoc Sinh1*, Nguyen Thi Diem Huong1, Nguyen Thanh Thuan2 1Hue University – University of Agriculture and Forestry; 2College of Food Industry, Da Nang

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Instant black tea power is presently manufactured by spray drying of the extracted liquor from fully fermented tea leaves. In this study, effects of some process parameters on the quality of instant black tea powder by spray drying method were determined. The results showed that the extraction in water was strongly influenced by the extraction time and temperature. The optimum extraction conditions were found to be 85oC for 40min. Spray-dry added substance was maltodextrin at 10%. The spray drying operating conditions including inlet air temperature (170°C), feed flow rate (30%) were used for production of instant black tea power had an excellent sensory quality. In the instant black tea power, some quality factors were determined: moisture content 4,37% and polyphenol content 8,19%.

     

    Key words: Black tea power, extraction, polyphenol, spray drying, temperature.

     

    Received: 17nd March 2019               Reviewed: 27th March 2019               Accepted: 30th March 2019

     

    1226


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/5-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ti%E1%BA%BFp-th%E1%BB%8B-tr%C3%AAn-facebook-%C4%91%C3%A3-thay-%C4%91%E1%BB%95i-l%C3%A0m-th%E1%BA%BF-n%C3%A0o-%C4%91%E1%BB%83-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-trong-n%C4%83m-2018.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

     

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Tôi muốn đưa bạn trở về năm 2013.

     

    Khi đó, tôi bắt đầu viết blog chuyên nghiệp. Obama là tổng thống, Snowden chưa tiết lộ với thế giới bất kỳ điều gì kinh khủng và truyền thông trên mạng xã hội cho doanh nghiệp chưa có nhiều việc để làm.

     

    Thuật toán của Facebook vẫn chưa đưa ra một sự khó khăn nào trong việc hạn chế khả năng tiếp cận tự nhiên. Các quảng cáo trên Facebook chưa chiến ưu thế trong News Feeds.

     

    Đó là những ngày tươi đẹp.

     

    Bài viết này sẽ lướt qua những thay đổi mà chúng ta đã thấy trên Facebook trong vài năm gần đây, và những cơ hội nào còn lại mà bạn có thể tận dụng cho doanh nghiệp của mình.

     

    1.   Bạn còn có thể tiếp cận được người hâm mộ của mình?

     

    Lượt tiếp cận tự nhiên (Organic reach) đã từng chiếm 15-20% đối với hầu hết các trang trên Facebook. Tuy nhiên, trong vài năm qua lượng tiếp cận này đã sụt giảm đáng kể. Điều này không có gì bất ngờ đối với các marketer.

     

    Vậy, trong năm 2018 này có những cách nào để tăng khả năng tiếp cận. Nó bao gồm:

     

    • Thể hiện phong cách riêng của bạn
    • Đặt những câu hỏi
    • Sử dụng hình ảnh (kích thích, trend, chế…)
    • Cung cấp một cái nhìn bên trong
    • Đo lường và lặp lại các bước trên
    • Chia sẻ nội dung của Fan. (Mục đích nói rằng bất kỳ người nào là thành viên của trang đều đáng được trân trọng)
    • Trình bày bài viết đơn giản
    • Sử dụng thông điệp nhất quán và nội dung thực sự có ích
    • Trân trọng và đánh giá cao những Fan của mình
    • Luôn vui vẻ trong mọi hoàn cảnh. (Đừng cung cấp nội dung gì hay làm gì để trang của mình thành nơi công kích lẫn nhau)

    Để thành công trên Facebook năm 2018, bạn sẽ phải làm tất cả những điều này và nhiều hơn nữa. Khi nói đến “nhiều hơn”, có 2 chiến lược chính mà bạn cần đặc biệt quan tâm. Đó là Livestream Facebook và Video được biên tập và tải lên Facebook.

     

    2.   Facebook Live Video (hay còn gọi là Livestream Facebook)

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Snapchat, Youtube Live, Periscope và tất cả các nền tảng video trực tiếp khác. Do đó, Facebook khuyến khích, và ưu tiên người dùng sử dụng nền tảng này theo nhiều cách khác nhau.

     

    Chúng tôi đã nghe tin đồn về điều này vào đầu năm 2017, và cho phép thử nghiệm vào tháng 5. Đây là hoạt động của các bài đăng trên Facebook của chúng tôi từ ngày 22 đến 30 tháng 5 năm 2017.

     

    5 cách để video Live của bạn nhiều người xem

     

     

    • Giới thiệu chủ đề của video, giới thiệu bạn, nhiều lần và đừng quên chào những người tham gia video live của bạn.
    • Tạo không khí vui vẻ. (biểu cảm khuôn mặt, các động tác cơ thể…)
    • Trò chuyện nhiều hơn với khán giả, cố gắng kéo dài thời gian trước khi bắt đầu nội dung chính. Nếu bạn bắt đầu những thứ hấp dẫn nhất của buổi live thì những người vào sau sẽ không biết điều gì đã xảy ra cả.
    • Thường xuyên yêu cầu người xem chia sẻ, like và bình luận video trực tiếp của bạn để tăng lượt xem video. Đặc biệt là khi mới bắt đầu.

    3.       Video được quay lại bằng Facebook

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Youtube. Do đó mỗi video được tải lên trực tiếp bằng nền tảng của họ sẽ thấy nó được “đánh dấu” nếu video đó được tải lên qua Youtube.

     

    Vào tháng 3/2016, nền tảng phân tích phương tiện truyền thông xã hội Quintly phân tích 6,2 triệu bài viết bởi 167.000 người trên Facebook. Kết quả đúng như họ dự đoán, các video gốc trên Facebook được sự chia sẻ nhiều hơn với mức tăng 478%.

     

    Nhưng vào tháng 12 năm 2016, các video gốc của Facebook đột nhiên nhận được tỷ lệ chia sẻ trung bình cao hơn 1055,41% so với các video trên Youtube. Rõ ràng Facebook đã cập nhật thuật toán của mình. Và dĩ nhiên là họ ưu tiên con đẻ của mình hơn rồi.

     

    Biết được giá trị của một Fan (người hâm một, 1 lượt like)

     

    Trước kia, mục tiêu của một doanh nghiệp khi truyền thông trên mạng xã hội chỉ đơn thuần là lượt like, like và like.

     

    Là một công ty quảng cáo truyền thông xã hội (Social media), điều này thật dễ dàng với chúng tôi. Nền tảng của chúng tôi được xây dựng xung quanh việc khuyến khích người dùng trở thành 1 Fan (chính xác hơn là làm mọi cách để nhiều người like trang càng tốt)

     

    Tuy nhiên, khi sự tiếp cận tự giảm mạnh và các doanh nghiệp bắt đầu thực sự đo lường giá trị

     

    giữa số tiền họ bỏ ra (mua like) và kết quả thu được. Toàn bộ ngành công nghiệp đã phải thay đổi.

     

    Hãy làm một phép toán nhanh để bạn hình dung những gì tôi đang nói:

     

    Giả sử bạn có 10.000 người hâm mộ (like, follows)

     

    Khi bạn đăng một bài viết, có thể bạn sẽ đạt được 6,5% lượt tiếp cận tự nhiên. Tức là khoảng 650 người trong tổng số 10.000 người.

     

    Bây giờ, vào trình quản lý quảng cáo, bạn sẽ thấy các thông số chi tiết ví dụ như:

     

    Bài đăng của bạn có 650 tiếp cận (nhìn thấy), tỉ lệ nhấp chuột là 5%. Như vậy bạn thực chất chỉ có 33 người xem bài viết của bạn.

     

    Thế nhưng 50% trong số đó đã là khách hàng của bạn, vậy bạn chỉ còn lại 16 người. Tỉ lệ chuyển đổi là 5% (mức trung bình) và thật không may, chúng tôi đã ở dưới mức 1%.

     

    Như vậy cơ hội chuyển 1 trong 10.000 người like thành khách hàng thông qua Facebook ít hơn 0.01%.

     

    Vậy phải làm gì?

     

    Chuyển người hâm mộ (like, follows) thành khách hàng tiềm năng bằng cách.

     

    • Tạo quảng cáo “chỉ dành cho người hâm mộ”. Yêu cầu họ cung cấp địa chỉ email để tham gia và có cơ hội giành được giải thưởng của bạn.

    Đây là chiến lược hoàn chỉnh:

     

    • Sử dụng các cuộc thi trên Facebook để khuyến khích người hâm mộ cung cấp cho bạn địa chỉ của họ.
    • Phân loại khách hàng tiềm năng của bạn dựa trên sản phẩm mà họ muốn nhận được khi chiến thắng.
    • Nhắc nhở họ chia sẻ cuộc thi trên trang của họ, gắn thẻ bạn bè… để có thêm cơ hội giành chiến thắng.
    • Thông báo người chiến thắng giải thưởng lớn và chắc chắn rằng bạn sẽ trao cho tất cả người trúng thưởng các giải thưởng mà họ trúng như đã hứa. Đồng thời cũng tặng cho tất cả người chơi phiếu giảm giá (mang thương hiệu của cuộc thi) 10% hoặc miễn phí vận chuyển… khi mua hàng của bạn. Tạo mã giảm giá của bạn trong khoảng thời gian nhất định.
    • Gửi email nhắc nhở 48h trước khi phiếu giảm giá hết hạn. Và cho họ thêm 2h nữa để mua hàng. Khi đó nhấn mạnh với họ rằng: Vì bạn tham gia cuộc chơi nên mới có ưu đãi về thời gian như thế.
    • Khi bạn tiếp tục chạy bán hoặc quảng bá sản phẩm có liên quan đến dữ liệu khách hàng của cuộc thi kể trên, hãy chắc chắn gửi cho họ một thông báo bằng email.

    Bạn có phải trả tiền để chơi cuộc chơi này?

     

    Một trong những thay đổi lớn nhất của Facebook là cái gọi là cấu trúc “trả tiền để chơi”. Điều này làm ảnh hưởng trầm trọng đến nhiều marketer.

     

    Thế thì bạn có phải trả tiền để tham gia cuộc chơi?

     

    Câu trả lời là có, nhưng không phải quá nhiều như google hay những nền tảng khác.

     

    Quảng cáo Facebook thực sự mang lại một lựa chọn tốt hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp so với việc sử dụng cách tiếp cận thông thường.

     

    Tôi muốn mọi nhà tiếp thị về Social media ngừng suy nghĩ về Quảng cáo trên Facebook như là một giải pháp thay thế cho phạm vi tiếp cận tự nhiên.

     

    Việc tăng số lượng bài viết là rất tốt, nhưng tại sao bạn phải trả tiền để nhắm tới mục tiêu là

     

    những người đã biết. Trong khi bạn hoàn toàn có thể dùng nó để nhắm tới mục tiêu khách hàng mới.

     

    Hãy bắt đầu suy nghĩ về quảng cáo trên Facebook như là sự thay thế cho Quảng cáo Google, nếu bạn làm điều đó bạn sẽ sớm vui vẻ như tôi.

     

    Quảng cáo Facebook cung cấp tính năng nhắm mục tiêu đến đối tượng chính xác và giá mỗi lần nhất chuột được hiển thị rất trực quan và ấn tượng.

     

    Giả sử bạn là một nhiếp ảnh gia ở Victoria, Canada và bạn đang điều hành chương trình khuyến mại trong mùa thu dành cho đối tượng gia đình.

     

    Bạn sẽ chụp ảnh toàn bộ gia đình với giá 450 đô la. Bạn tạo tài khoản Facebook Business Manager và truy cập vào phần quản lý quảng cáo của Facebook.

     

    Bước 1: Chọn mục tiêu quảng cáo của bạn (để thu hút lưu lượng truy cập đến trang chiến dịch của bạn, tôi sẽ chọn Traffic)

     

    Bước 2: Chọn vị trí đối tượng của bạn

     

    Bước 3: Chọn đối tượng cụ thể của đối tượng của bạn

     

    Bước 4: Chọn ngân sách của bạn.

     

    Bước 5: Tạo hình ảnh quảng cáo của bạn. Bạn có thể tự thiết kế hoặc thiết kế bằng các công cụ hỗ trợ online.

     

    Bước 6: Xuất bản quảng cáo của bạn.

     

    Chú thích:

     

    Đây chỉ là một hướng dẫn rất cơ bản cách quảng cáo trên Facebook. Có hàng chục cách để tối ưu hóa và cải thiện kết quả của chiến dịch quảng cáo. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hướng dẫn chi tiết bằng cách search.

     

    1. Sử dụng Facebook cho việc tương tác với khách hàng.

    Dịch vụ khách hàng

     

    Rất nhiều công cụ trợ giúp đã được Facebook tích hợp, điều đó đồng nghĩa với việc nhân viên hỗ trợ khách hàng của bạn có thể phản hồi các tin nhắn trên Facebook thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.

     

    Facebook đã thực sự trở thành một phần mở rộng trong hệ thống website của bạn. Là nơi bạn đăng các sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Là nơi bạn giới thiệu phong cách thương hiệu của bạn, giới thiệu nhân sự mới, chia sẻ cuộc họp và là nơi trả lời các câu hỏi từ khách hàng, người hâm mộ.

     

    Dịch vụ khách hàng trên Facebook chỉ là một trong nhiều điều mà các doanh nghiệp đã rời khỏi Facebook bỏ lỡ. Sự sụt giảm trong phạm vi tiếp cận tự nhiên có thể khiến bạn bực bội và từ bỏ cuộc chơi. Nhưng nền tảng “trả tiền để chơi” cũng có rất nhiều điều tích cực và hay ho nếu bạn chịu khó khám phá.

     

    Có một điều ai cũng thấy và nó không thay đổi với Facebook kể từ năm 2012 đó là: Facebook là nơi khách hàng, và khách hàng tiềm năng của bạn xuất hiện nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.

     

    Phản hồi của khách hàng

     

    Hãy cân nhắc việc hỏi những người hâm mộ, theo dõi bạn về:

     

    • Sản phẩm mà họ yêu thích
    • Điều gì ở doanh nghiệp của bạn (sản phẩm, dịch vụ) làm cho họ phiền toái nhất.
    • Tên của sản phẩm mới, danh mục sản phẩm, tính năng sản phẩm…
    • Thông tin của họ

    Trong một nỗ lực để thúc đẩy việc sử dụng một số tính năng ít được biết đến của họ, Facebook có xu hướng ưu tiên hiển thị cho các cuộc thăm dò (và các câu đố) trong thuật toán tin tức của họ.

     

    Mặc dù không phải tất cả người hâm mộ của bạn sẽ nhìn thấy nó, nhưng tỷ lệ xuất hiện sẽ cao hơn nhiều so với hầu hết các loại bài đăng khác và chắc chẳn đủ để bạn có được cái nhìn sâu sắc hơn về khách hàng và người hâm mộ của mình.

     

    Tổng kết lại

     

    Tính đến tháng 6 năm 2017, Facebook đã có hơn 2 tỷ người dùng. Một con số ấn tượng nhưng đó là kết quả của cả một chặng đường dài.

     

    Một số người trong chúng ta sẽ nhớ lại vào năm 2005, khi mà chúng ta phải có một email đại học để có thể tạo được 1 tài khoản.

     

    Tôi nhớ khi quảng cáo lần đầu tiên xuất hiện trên Newsfeed và khi nút Like được giới thiệu. Tôi nhớ được sự huyền diệu khi lần đầu viết bài về tiếp thị trên Facebook.

     

    Vì vậy, từ năm 2013 Facebook dù không phải là nền tảng duy nhất nhưng nó vẫn là một nền tảng rất có khả năng để phát triển việc kinh doanh trực tuyến của bạn.

     

    Bạn có sử dụng Facebook cho việc sáng tạo hay bất kỳ việc gì khác trong năm qua?

     

    Bạn cảm thấy thất vọng bởi những gì bạn thấy trong Facebook marketing hoặc có câu hỏi về quảng cáo?

     

    Hãy để lại trong mục bình luận bên dưới để chúng ta cùng trao đổi nhé!

     

    Tác giả: James Scherer

     

    Dịch bởi: Chiasekhoahoc.net

     

    Bài viết gốc: https://www.postplanner.com/blog/ways-marketing-on-facebook-has-changed-how-to-use-it-2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BB%A9ng-hi%E1%BB%87u-%E1%BB%A9ng-k%E1%BB%B7-lu%E1%BA%ADt-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ng%C3%A0nh-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Nghiên cứu này vận dụng số liệu của 21 NHTM (NHTM) VN từ năm 2003 – 2008, xem xét liên hệ giữa chi phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, và giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi hàng năm với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, để phản ánh được hiện trạng kỷ luật thị trường ngành

     

     

    ngân hàng (NH) VN giai đoạn 2003-2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỷ luật thị trường ngành NH VN có tồn tại nhưng rất yếu. Ngoài ta tác giả cũng tiến hành phân tích kỷ luật thị trường (KLTT) từng loại hình NHTM – NHTM nhà nước (NHTMNN) và NHTM cổ phần (NHTMCP), để làm rõ thêm một số nguyên nhân gây ra hiện tượng trên. Cuối cùng tác giả gợi

     

    • một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu ứng KLTT [1] ngành NH VN – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát tài chính NH.

    Sự cần thiết của nghiên cứu

     

    Trong bản thảo năm 2001 với việc thảo luận hiệp định Basel mới, tác dụng KLTT đã được nhấn mạnh. KLTT, các yêu cầu vốn tối thiểu và quá trình kiểm tra giám sát được phối hợp với nhau, cùng nhau thành một trong ba trụ cột của cấu trúc khung hiệp ước mới. Một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của KLTT chính là nhấn mạnh sự công khai minh bạch thông tin kinh doanh của các NHTM. Trong

    thực tế, cơ chế KLTT trong thực tiễn kinh doanh và trong hệ thống giám sát NH trước khi Basel II ra đời đã tồn tại: ví dụ như, nếu những người có lợi ích liên quan cho rằng rủi ro kinh doanh của một NHTM khá cao, người gởi tiền và người nắm giữ trái phiếu NH đó sẽ yêu cầu NH trả lãi suất tiền gởi cao hơn hay là sẽ rút tiền gởi ra khỏi NH

     

     

    đó, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh và lực cạnh tranh của NH. Ở tình huống thông thường, khi KLTT tồn tại người gởi tiền yêu cầu NH có độ rủi ro cao sẽ phải chi trả tiền lãi cao, nếu không thì người gởi tiền sẽ rút tiền gởi của mình từ NH có độ rủi ro cao chuyển sang NH có độ rủi ro thấp.

     

    Trụ cột 3 – KLTT bổ sung cho các yêu cầu vốn tối thiểu (trụ cột 1) và quá trình kiểm tra giám sát (trụ cột 2). Ủy ban Basel khuyến khích nguyên tắc thị trường bằng việc phát triển một bộ các yêu cầu minh bạch, cho phép người tham gia thị trường đánh giá các thông tin chủ chốt, đánh giá độ rủi ro của các NHTM. KLTT có thể góp phần cho môi trường hoạt động NH an toàn và lành mạnh, các tổ chức giám sát NH có thể yêu cầu các NHTM phải cung cấp thông tin cho thị trường, điều này giúp cho các chủ thể liên quan giám sát hoạt động NHTM – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát NH (Hệ thống giám sát ngân hàng gồm yếu tố cấu thành

    sau: cơ quan giám sát của nhà nước, cơ chế kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, KLTT, cơ chế hợp tác giám sát quốc tế; và các thành phần khác như: tổ chức bảo hiểm tiền gởi, hai ngành tài chính NH, các tổ chức đánh giá tín nhiệm,…

     

    • KLTT cũng đã được Ông Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia trong

     

    NGUYỄN CHÍ ĐỨC & HOÀNG TRỌNG

     

    khuyến nghị về tái cấu trúc hệ thống giám sát tài chính nhắc đến. Ông cho rằng “thế kiềng ba chân” (1. Quản trị doanh nghiệp tốt; 2. Cơ chế kỷ luật thị trường phát huy tác dụng đầy đủ; 3. Các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả) cần được phát triển cân bằng.

     

    Trong lĩnh vực nghiên cứu KLTT, các nhà nghiên cứu nước ngoài trong ngành NH đã nghiên cứu rất sâu và đạt được nhiều thành tựu, đồng thời đại đa số là nghiên cứu thực chứng người gởi tiền thực hiện KLTT. So sánh ở VN, chỉ vài năm gần đây cùng với việc ra đời Basel II, và việc cam kết thực hiện giám sát NH theo hiệp ước Basel II năm 2004, chúng ta mới biết đến KLTT như là một trong ba trụ cột của hiệp ước Basel II. Do vậy việc nghiên cứu KLTT ở khía cạnh định tính cũng như định lượng còn chưa phát triển. Đây là lý do chủ yếu tác giả muốn nghiên cứu hiện trạng KLTT ngành NH VN hiện nay trên

     

    26             PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    cơ sở phân tích định lượng.

     

    Mô hình, định nghĩa biến, và xử lý số liệu

     

    Mô hình

     

    Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Huizinga (1999 và 2004). Thông qua kiểm nghiệm mối quan hệ tương quan giữa lãi suất huy động thực tế của NHTM (chi phí trả lãi tiền gởi I) và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi (G) với rủi ro của NHTM (X) để khảo sát tình hình KLTT ngành ngân hàng của một quốc gia. Để tiến hành phân tích, phương pháp khá nổi tiếng

     

    Biến số

    Định nghĩa

     

    Dự đoán hệ số

       

    Ij,t (biến phụ

    lãi suất huy động của NH tại thời điểm t (tỷ lệ

             

    tổng chi phí trả lãi thực tế j mỗi năm và tổng nợ

             

    thuộc)

    phải trả.)

             
               

    Gj,t (biến phụ

    tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của NHj tại thời điểm

             

    t (tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động của khách

             

    thuộc)

    hàng.)

             
               

    GQj.t-1

    tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản

    Âm đối với Ij,t

    với

     

    Dương

    đối

     
         

    Gj,t

         

    LDj.t-1

    tỷ lệ lưu động (tỷ lệ giữa tài sản lưu động trên

    – Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    – Dương đối với Gj,t

     

    LRj.t-1

    tỷ lệ lợi nhuận (tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên

    Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    Dương

    đối

    với

     
         

    Gj,t

         

    Dj.t

    bảo hiểm tiền gởi

    Âm đối với Ij,t

       

    NHTMNN là 1, NHTMCP là 0

    Dương

    đối

    với

     
       

    Gj,t

    đối

    với

     
       

    Dương

     

    Yj.t

    Tỷ lệ lạm phát

    Ij,t

         
       

    Âm đối với Gj,t

     
           

    này nhìn từ hai góc độ: NHTM có độ rủi ro cao có phải gánh chịu chi phí huy động vốn cao, và NHTM có độ rủi ro cao sẽ thu hút số lượng tiền gởi ít hơn hay không. Tác giả áp dụng mô hình này để phân tích tình hình VN. Phương trình tính toán như sau:

     

    B j.t =α + β X j.t1 + γ Y j.t  + δ

     

    • Bj,t: Ij,t lãi suất huy động tiền gởi (chi phí trả lãi thực tế) của

    ngân hàng j

     

    • Bj,t: Gj,t tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của ngân hàng j
    • Xj,t-1: biểu thị biến số trạng thái rủi ro ở thời kỳ t-1của ngân hàng j
    • GQj,t-1 (tỷ lệ vốn trên tài sản)
    • LDj,t-1 (tỷ lệ lưu động)
    • LRj,t-1 (tỷ lệ lợi nhuận)
    • Yj,t : biến kinh tế vĩ mô, lấy chỉ số tỷ lệ lạm phát
    • Dj,t : bảo hiểm tiền gởi (BHTG) [3] là biến nhị phân.
    • Dj,t × Xj,t-1: là tích của hai biến Dj,t và Xj,t-1
    • εj,t : là phần dư của mô hình.

    Giải thích các biến và lựa chọn:

     

    Tác giả áp dụng mô hình tính toán trên với một số điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của VN, tình hình số liệu mà tác giả đã thu thập được, và một số lý do khác. Cụ thể, việc lựa chọn các biến số và định nghĩa các biến số

     

    D j.t D j.t X j.t−1 + ε j.t

     

    có một số thay đổi như sau:

     

    • Tác giả không sử dụng chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (căn cứ để tính tỷ lệ này có chỉ tiêu tổng tài sản được điều chỉnh theo rủi ro) vì tác giả nhận thấy số liệu báo cáo của các NHTM về các chỉ tiêu trên chưa đảm bảo độ tin cậy.
    • BHTG ở đây tác giả muốn nhấn mạnh sự bảo đảm tín dụng của Nhà nước đối với hoạt động của các NHTMNN, để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế VN khi hệ thống NHTMNN vẫn tồn tại và chiếm vai trò chủ yếu, đồng thời Công ty bảo hiểm tiền gởi VN vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng bản chất của nó trong nền kinh tế. Vì vậy tác

    giả gọi BHTG tại VN là BHTG ẩn.

     

    • Công chúng biết kết quả kinh doanh các NHTM thường có độ trễ, giả định là một kỳ. Chúng ta thêm một biến chỉ tiêu vĩ mô, chọn tỷ lệ lạm phát thể hiện rủi ro hệ thống.

    Định nghĩa các biến

     

    – Tác giả cho rằng các NHTM sau: VCB (NHTMNN cổ phần hóa); Vietinbank (NHTMNN cổ phần hóa); BIDV; Agribank; MHB là NHTMNN.

     

    Nguồn số liệu

     

    Để tính toán các chỉ tiêu trên, tất nhiên cần phải tiến hành thu thập và chỉnh lý số liệu, tác giả sử dụng số liệu tổng hợp có liên quan từ năm 2003 – 2008 của 21 NHTM, trong đó có 5 NHTMNN và 16

     

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát tác giả tham khảo từ báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước.
    • Các chỉ tiêu Ij,t ; Gj,t ; GQt-1 ; LDj.t-1 ; LRj.t-1 ; Dj.t tác giả tự tính trên cơ sở tập hợp các báo cáo tài chính của 21 NHTM VN từ năm 2003 đến năm 2008. (VCB; Vietinbank; BIDV; Agrib-ank; MHB; ACB; STB; EIB;

    Số 10 – Tháng 3/2011  PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP

     

    27

     
           
           

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB) (Nguyễn Chí Đức, Hoàng Trọng 2009).

     

    Tất cả các số liệu tác giả đề cập đều được tính toán và lựa chọn phù hợp nên có tính tin cậy, và sử dụng được cho phân tích.

     

    Kết quả tính toán và phân tích kết quả

     

    Sau khi xây dựng bảng dữ liệu, tác giả sử dụng chương trình máy tính SPSS kiểm nghiệm mô hình. Các kết quả lần lượt được trình bày trong các phần tiếp theo (chú ý: những con số trong dấu ngoặc là hệ số hồi qui đã chuẩn hóa; * và ** là có ý nghĩa thống kê ở mức 10% và 5%).

     

    1. Kiểm định mối quan hệ tương quan giữa chí phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM.

     

    1a. Mẫu là toàn bộ các NHTM

     

    Các phương trình từ (1) đến (6)

    kiểm nghiệm ảnh hưởng tình hình rủi ro của NHTM và BHTG ẩn đến chi phí trả lãi thực tế của ngân hàng.

     

    • Trong các phương trình từ (1) đến (3), chúng ta lần lượt dùng 3 biến rủi ro tính toán ảnh hưởng đối với lãi suất huy động, áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (GLS) tiến hành tính

    toán. Kết quả cả LDj.t-1, LRj.t-1 đều có hệ số hồi qui âm, biểu thị

     

    LDj.t-1, LRj.t-1 cao sẽ làm giảm lãi suất huy động thực tế. Nhưng

     

    cả hai đều không là thể hiện rõ vì ý nghĩa thống kê kém. Còn

     

    GQj.t-1 có hệ số hồi qui dương, tương phản với dự đoán.

     

    • Các phương trình từ (4) đến
    • ứng với 3 biến rủi ro là GQt-1, LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi qui chúng ta đồng thời lấy các biến

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1 nạp vào trong mô hình. Kết quả là

     

    cả 3 biến rủi ro đều có hệ số âm phù hợp với dự đoán, nhưng đều

    có ý nghĩa thống kê kém. Trong tất

     

    cả các lần hồi qui, Yj.t đều có hệ số dương cùng dấu với dự đoán,

     

    và có ý nghĩa thống kê, thể hiện rõ ràng là khi lạm phát tăng thì lãi suất huy động tăng. Trong tất cả các lần hồi qui, giả định (4) và (5)

     

    Dj.t có hệ số âm cùng dấu với dự đoán, và (4) thể hiện rõ rệt, trong

     

    khi (6) Dj.t có hệ số dương ngược dấu với dự đoán nhưng không có ý

     

    nghĩa thống kê. Đây có thể là biểu thị của việc BHTG ẩn, sự bảo đảm của Nhà nước, làm giảm lãi suất huy động đối với các NHTMNN là có, nhưng không quá rõ ràng. Vậy chúng ta cũng sẽ phải đặt câu hỏi là cơ chế BHTG ẩn này có bao gồm tất cả các NHTM hay không.

     

    Từ những phân tích trên có thể nhận xét là KLTT có tồn tại nhưng

     

    rất yếu, qua đó hai chỉ tiêu LDj.t-1 (tỷ lệ thanh khoản), LRj.t-1 (tỷ lệ

     

    lợi nhuận), có ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn. Chỉ tiêu lạm phát Yj.t rõ ràng ảnh hưởng đến lãi suất huy động, đúng với lý thuyết

     

    Bảng 1: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

         

    Các phương trình

         

    Biến số

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

     
                   

    GQj.t-1

    0.043

       

    -0.008

         

    (0.087)

       

    (-0.015)

         

    LDj.t-1

     

    -0.058

       

    -0.098

       
     

    (-0.077)

       

    (-0.131)

       

    LRj.t-1

       

    -0.014

       

    -0.008

     
       

    (-0.137)

       

    (-0.078)

     

    Dj.t

         

    -0.023 (**)

    -0.005

    0.005

     
         

    (-0.351)

    (-0.069)

    (0.072)

     

    Yj.t

         

    0.329 (**)

    0.328 (**)

    0.34 (**)

     
         

    (0.547)

    (0.544)

    (0.565)

     

    Dj.t * Xj.t-1

         

    0.302

    -0.113

    -0.086 (**)

     
         

    (0.229)

    (-0.111)

    (-0.315)

     

    Tổng quan

    104

    104

    104

    104

    104

    104

     

    sát

                 

    R2

    -0.002

    -0.004

    0.009

    0.295

    0.302

    0.338

     
                   

    F

    0.789

    0.612

    1.975

    11.875

    12.255

    14.263

     
                   

    tài chính tiền tệ.

     

    1b. Mẫu là từng nhóm NHTM Tiến thêm một bước, chúng ta

     

    loại bỏ Dj.t ra khỏi phương trình, để so sánh sự thay đổi của lãi suất huy động của hai nhóm NHTM có bị tác động ảnh hưởng của một số nhân tố giống nhau hay không, ví dụ như kết quả kinh doanh của NHTM và nhận thức của người gởi tiền đối với rủi ro NH. Người gởi tiền có sự phân biệt giữa NHTMNN và NHTMCP hay không, hay nói cách khác BHTG ẩn hiện nay bao trùm lên toàn bộ hệ thống NHTM, hay Nhà nước chỉ bảo đảm tín dụng đối với nhóm NHTMNN. Trong các phương trình hồi qui từ (7) đến (12), chúng ta tiến hành tính toán cho từng nhóm NHTM. Cách tính toán đối với mỗi nhóm ngân hàng là giống nhau, tức là lần lượt

     

    28           PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

                                         

    (18) có 3

    biến rủi

    ro: GQj.t-1,

    Bảng 2: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả

     
     

    LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi

    NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

       
       

    qui chúng ta đồng thời đưa biến

           

    NHTMNN

                 

    NHTMCP

       

    Biến

                           

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1

     

    (7)

     

    (8)

    (9)

         

    (10)

       

    (11)

       

    (12)

         
                                         

    vào trong mô hình. Kết quả là:

       

    0.265 (*)

               

    -0.009

                     

    GQj.t-1

                                   

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

     

    (0.327)

               

    (-0.017)

                   
                                         

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    LDj.t-1

         

    -0.203

                 

    -0.102

             
         

    (0.247)

                 

    (-0.138)

           

    kê, còn LRj.t-1 có hệ số âm, ngược

             

    -0.093

                   

    -0.008

       

    với dự đoán. Yj.t trong tất cả các

    LR

           

    (**)

                         

    j.t-1

           

    (-0.651)

                 

    (-0.843)

     

    phương trình có được 1 dấu hiệu rõ

       

    0.267

     

    0.236

    0.331

       

    0.347

       

    0.356

     

    0.342

       

    ràng, cho thấy Yj.t có tác dụng ảnh

    Yj.t

     

    (**)

     

    (**)

    (**)

         

    (**)

       

    (**)

       

    (**)

         
                           

    hưởng giảm thấp tăng trưởng tiền

       

    (0.619)

     

    (0.548)

    (0.767)

       

    (0.546)

     

    (0.56)

     

    (0.537)

     

    gởi. Dj.t có 1 phương trình có hệ

    Tổng

                                       

    quan

     

    24

     

    24

    24

         

    79

       

    79

       

    79

         

    số dương, 2 mô hình hệ số âm, và

    sát

                                       

    trong đó 1 mô hình là có ý nghĩa

    R2

     

    0.331

     

    0.288

    0.625

         

    0.279

       

    0.298

       

    0.285

         
                           

    thống kê ngược dấu với dự đoán.

                                         

    F

     

    6.939

     

    5.855

    20.963

       

    16.252

       

    17.737

     

    16.734

       

    − Qua phân tích chúng ta có thể

                                         

    nhận thấy thị trường quan tâm đến

               

    2a. Kiểm nghiệm toàn bộ các

    áp dụng GQj.t-1, LDj.t-1, LRj.t-1

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1

    (tỷ lệ vốn tự

    là biến rủi ro, lấy Yj.t là biến kiểm

    NHTM

                   

    có trên tổng tài sản), KLTT có tồn

    soát khi hồi qui.

           

    − Trong các phương trình (13)

    tại.

           

    − Trong các phương trình (7)

    (14) (15), chúng ta lần lượt xem

    2b. Mẫu là từng nhóm NHTM

    (8) (9), tiến hành hồi qui 3 lần đối

    xét ảnh hưởng của 3 biến rủi ro

    Tiến thêm một bước nghiên

    với NHTMNN. Kết quả là GQj.t-1

    đối với tăng trưởng tiền gởi, áp

    cứu, chúng ta loại bỏ Dj.t ra khỏi

    có hệ số dương, có ý nghĩa thống

    dụng phương pháp bình phương

    phương trình, so sánh  tỷ lệ tăng

    kê, ngược với dự đoán; LDj.t-1

    nhỏ nhất thông thường. Kết quả là:

    trưởng tiền gởi của 2 nhóm NHTM

    và LRj.t-1

    có hệ số âm, trong đó

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

    có bị tác động ảnh hưởng của một

    LRj.t-1 có ý nghĩa thống kê.

     

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    số nhân tố giống nhau hay không.

    − Trong các phương trình (10)

    kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược với

    Nếu chỉ số thống kê của nhóm

    (11) (12) tiến hành hồi qui 3 lần đối

    dự đoán.

                   

    NHTMNN đối sự với ảnh hưởng

    với NHTMCP. Kết quả là GQj.t-1,

       

    − Các phương trình (16) (17)

    đến chỉ tiêu tăng trưởng tiền gởi

    LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm

                                         

    phù hợp với dự đoán, nên phần nào

           

    Bảng 3: Kết quả tính toán đối với tất cả NHTM

    cũng phản ánh được một kỷ luật

               

    (Biến phụ thuộc là tăng trưởng tiền gởi)

       

    thị trường có hoạt động ở nhóm

     

    Biến số

     

    (13)

     

    (14)

     

    (15)

     

    (16)

     

    (17)

     

    (18)

    NHTMCP

    này,  tuy

    yếu  nhưng

             

    6 . 6 0 3

                 

    6.512 (**)

           
     

    GQj.t-1

     

    (**)

                         

    mạnh hơn kỷ luật thị trường ở

                     

    (0.434)

           
             

    (0.44)

                         

    nhóm NHTMNN.

         

    LDj.t-1

           

    (0.119)

               

    (0.136)

       
                               

    2.718

               

    3.113

       

    − Trong cả 6 phương trình ở 2

                                         
                         

    -0.208

             

    -0.29

    nhóm NHTM, thì Yj.t đều có hệ số

     

    LRj.t-1

                           
                   

    (-0.065)

           

    (-0.091)

    dương có ý nghĩa thống kê, phản

                                         
     

    Dj.t

                         

    0.06

     

    -0.134

     

    -0.504 (*)

    ánh được một cơ chế lãi suất hình

                           

    (0.03)

     

    (-0.067)

     

    (-0.25)

    thành trên nền kinh tế thị trường

     

    Yj.t

                         

    -2.743 (*)

     

    -2.566

     

    -2.451

                           

    (-0.15)

     

    (-0.141)

     

    (-0.134)

    đang được phản ánh rất rõ nét.

                                           
       

    Dj.t x Xj.t-1

                       

    -4.861

     

    -5.085

     

    0.182

                                         

    2. Kiểm định mối quan hệ tương

                         

    (-0.121)

     

    (-0.164)

     

    (0.022)

    quan giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền

     

    Tổng quan

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    sát

                 

    gởi hàng năm với mức độ rủi ro

                                     
     

    R2

       

    0.186

     

    0.005

     

    -0.005

     

    0.192

     

    0.049

     

    0.039

    trong hoạt động của các NHTM.

                                         
     

    F

       

    24.767

     

    1.476

     

    0.438

     

    7.195

     

    2.327

     

    2.048

                               
                                                     

    Số 10 – Tháng 3/2011    PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP         29

     

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Bảng 4: Kết quả tính toán đối với 2 nhóm NHTM

    (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực)

     

    Biến

     

    NHTMNN

       

    NHTMCP

       

    (19)

    (20)

    (21)

    (22)

    (23)

    (24)

     
     
     

    2 . 6 6 6

       

    6 . 5 4 7

         

    GQj.t-1

    (**)

       

    (**)

         
     

    (0.543)

       

    (0.408)

         
       

    – 2 . 1 3 0

       

    3.180

       

    LDj.t-1

     

    (**)

           
         

    (0.135)

       
       

    (-0.428)

             
         

    – 0 . 3 2 3

       

    -0.297

     

    LRj.t-1

       

    (*)

       
           

    (-0.92)

     
         

    (-0.373)

           

    Yj.t

    -0.617

    -0.922 (*)

    -0.631

    -3.367

    -3.085

    -2.952

     

    (-0.236)

    (-0.353)

    (-0.241)

    (-0.166)

    (-0.152)

    (-0.145)

     

    Số quan

    24

    24

    24

    79

    79

    79

     

    sát

                 

    R2

    0.363

    0.261

    0.194

    0.163

    0.012

    0.002

     

    F

    7.84

    5.249

    3.895

    8.7

    1.468

    1.075

     

    chỉ tiêu rủi ro của các NHTMNN (tất nhiên còn nhiều lý do khác như người gởi tiền có qua ít con đường để đầu tư). Còn đối với các NHTMCP, là các doanh nghiệp thực sự, tự chịu trách nhiệm kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận, nhận sự bảo đảm tín dụng và giúp đỡ của nhà nước có giới hạn, đã từng có những NHTMCP nhỏ sụp đổ, đóng cửa, hay sáp nhập, vì vậy người dân sẽ phải quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro. Nhưng xét trên tổng thể mà nói, KLTT của ngành NH VN trong một nền kinh tế toàn cầu là còn rất yếu, chưa thể xem đó là một

     

    không rõ ràng, trong khi nhóm NHTMCP mà rõ ràng hơn, thì ít nhất chúng ta có thể xác định được KLTT đối với nhóm NHTMCP phản ứng mạnh hơn. Như vậy một sự lý giải hợp lý cho việc KLTT của nhóm NHTMNN yếu hơn chính là chế độ BHTG ẩn, sự bảo đảm tín dụng của nhà nước đối với NHTMNN, khiến cho người gởi tiền phản ứng một cách không rõ ràng đối với các chỉ tiêu rủi ro NH, hay cũng có thể nói họ không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro này. Còn đối với nhóm NHTMCP không có được chế độ BHTG ẩn, hay nếu có thì bị giới hạn, vì vậy người dân không thể không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro, hay chí ít là có quan tâm mạnh hơn so với nhóm NHTMNN, để từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

     

    Trong các phương trình (19),

     

    • và (21), GQt-1 có hệ số dương cùng dấu với dự đoán và

    có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Trong

     

    khi 2 biến rủi ro còn lại LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm, ngược dấu dự đoán và cũng có ý nghĩa thống

     

    kê. Từ phân tích trên ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMNN rất yếu hay có thể nói

    là hầu như không có.

     

    • Trong các phương trình (22),
    • và (24), GQt-1 và LDj.t-1 có hệ số dương, trong đó GQj.t-1 phản

    ứng có ý nghĩa thống kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược dấu với hệ số dự

     

    báo nhưng không có ý nghĩa thống kê. Từ đó ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMCP cũng không phải là mạnh nhưng so với nhóm NHTMNN thì phản ứng có rõ ràng hơn.

     

    • Cả 6 giả định thì Yt đều có hệ số âm, cùng dấu với hệ số dự

    báo.

     

    • Thị trường quan tâm đến

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1 (tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản), nên khiến

     

    cho chỉ tiêu rủi ro này phản ứng tác động đến biến tăng trưởng tiến gởi, người dân có quan tâm đến chỉ tiêu này ở ngành NH VN.

     

    Như vậy quan điểm của người dân về quy tắc Too big to fail (NH lớn không thể chết) ở VN vẫn đang tồn tại. Nhà nước vì xã hội và sự ổn định nền kinh tế sẽ không để cho các NHTMNN sụp đổ. Quan điểm này đã thấm sâu vào trong suy nghĩ của mọi người, vì vậy loại BHTG ẩn này đã làm cho người gởi tiền hầu như không quan tâm đến các

    bộ phận cấu thành trong hệ thống giám sát tài chính NH VN.

     

    Kết luận và thảo luận

     

    Từ hai góc độ phân tích là lãi suất huy động và tăng trưởng tiền gởi của các NHTM, thì chúng ta có kết quả tương đồng về KLTT

     

    • ngành NH VN, và đối với từng nhóm NHTM.
    • KLTT đã bắt đầu hình thành trong ngành NH VN, nhưng hoạt động còn yếu.
    • KLTT của nhóm NHTMNN hoạt động yếu hơn so với nhóm

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát quan hệ rất chặt chẽ với lãi suất huy động vốn và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi theo đúng với lý thuyết tài chính tiền tệ, từ đó chúng ta có thể cho thấy được phần nào các quy luật tài chính tiền tệ đang hoạt động có hiệu quả tại VN.
    • Cũng nên thừa nhận, trong hơn 20 năm, BHTG ẩn của Nhà nước ở một mức độ nhất định đã duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, nhưng cùng với sự cải cách không ngừng của ngành NH, Chính phủ không nên tiếp tục duy trì việc bảo hộ che chở cho các NHTM (NHTMNN hay

    30            PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    NHTMCP), cần xây dựng chế độ BHTG phù hợp với nguyên tắc thị trường thay thế chế độ BHTG ẩn

     

    – đó là 1 chế độ BHTG hiệu quả và mạng lưới an toàn tài chính với cơ chế người cho vay cuối cùng là NHNN làm nội dung chủ yếu. Vì vậy xây dựng chế độ BHTG hiệu quả nên trở thành một bước đi quan trọng trong việc cải cách sâu rộng ngành NH nước ta.

     

    • Đồng thời tiếp tục tăng cường giám sát ngân hàng, kiểm soát nội bộ, tăng cường minh bạch thông tin tài chính của các tổ chức tín dụng.
    • Phải nâng cao trình độ và chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác báo chí, làm sao cho người dân hiểu và tin cậy thông tin của các tổ chức truyền thông đưa ra, tổ chức truyền thống này đang bảo vệ họ, chứ không phải đang bảo vệ cho một số cá nhân có thế lực nào đó.
    • Đặc biệt là phải làm sao nâng cao trình độ hiểu biết của nhà đầu tư về lĩnh vực tài chính NH (vì theo tác giả, hiện nay đại bộ phận người gởi tiền xem không hiểu các báo cáo mà NHTM công bố, cho nên họ cũng không quan tâm đến các chỉ tiêu tài chính, thông tin tài chính của NHTM, đây cũng là một lý do KLTT ngành ngân hàng hoạt động rất yếu).
    • Tất cả các vấn đề trên không phải là một sớm một chiều có thể giải quyết được. Vì vậy việc quá đề cao kỷ luật tự thân của thị trường (bàn tay vô hình) hay quá dựa dẫm vào hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp trong khi lại không chú trọng đúng mức tới vai trò điều tiết và giám sát của Nhà nước là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới khủng hoảng, đổ vỡ nền tài chính (bài học ở Mỹ năm 2008) (Nguyễn

    Chí Đức, Hoàng Trọng 2009). Đây cũng là một bài học cho hệ thống tài chính NH VN, khi mà nền kinh tế thị trường còn rất non trẻ và chưa hoàn hảo, thì chắc chắn bàn tay vô hình chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó, thì hiển nhiên vai trò thanh tra giám sát của các cơ quan nhà nước phải được đề cao và chú trọng, phải là một khâu mấu chốt của Hệ thống thanh tra giám sát tài chính ngân hàng VN giai đoạn hiện nay. Đây là một vấn đề không cần phải tranh luận.

     

    Cụ thể vừa qua Chính phủ thông qua Quyết định Số 34/2008/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2008 Về việc thành lập Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN. (Việc thành lập Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu tổ chức NHNN với mục tiêu nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế). Quyết định số 398/1999/ QĐ-NHNN3 về hoạt động giám sát từ xa, quyết định số 06/2008/ QĐ-NHNN về xếp loại NHTM cổ phần, Quyết định số 457/2005/ QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến vấn đề tổ chức cơ cấu và nghiệp vụ thanh tra giám sát ngành ngân hàng, tăng cường công tác thanh tra giám sát các TCTD là rất phù hợp và cần thiếtl

     

    • Market discipline
    • Theo kết cấu luận văn “Xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng VN và bài học từ Trung quốc” của NCS Nguyễn Chí Đức, Trường Đại học Đồng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc.
    • Deposit Insurance

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà Nước VN
    1. Báo cáo tài chính của 21 NHTM: VCB; Vietinbank; BIDV; Agribank; MHB; ACB; STB; EIB; TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) “Market discipline and financial safety net design”, Finance, Policy Research Working Paper, Development Research Group, The World Bank.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (2004) “Market discipline and deposit insurance” Journal of Monetary Economics, 51, 2004.
    1. Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2009) “Phân tích hệ thống giám sát tài chính ngân hàng VN”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng tháng 12 năm 2009.
    1. Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg ngày
    • tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
    1. Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh Tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN.

    Số 10 – Tháng 3/2011   PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP          31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Customer satisfaction with online group buying services


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-marketing-mix-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-nh%E1%BA%ADn-bi%E1%BA%BFt-li%C3%AAn-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-v%C3%A0-l%C3%B2ng-trung-th%C3%A0nh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-Sanest-Kh%C3%A1nh-H%C3%B2a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ MARKETING-MIX ĐẾN SỰ NHẬN BIẾT, LIÊN TƯỞNG VÀ LÒNG TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU – TRƯỜNG HỢP SANEST KHÁNH HÒA

     

    THE INFLUENCE OF MARKETING-MIX ELEMENTS ON THE AWEARNESS, ASSOCIATIONS AND LOYALTY OF BRAND – A SITUATION OF KHANH HOA SANEST

     

    Lê Thị Hồng Yến1, Hồ Huy Tựu2

     

    Ngày nhận bài: 01/10/2013; Ngày phản biện thông qua: 26/11/2013; Ngày duyệt đăng: 13/8/2014

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu kiểm định vai trò và mối quan hệ của các yếu tố marketing-mix (chất lượng, giá, phân phối và xúc tiến) đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu cho Sanest Khánh Hòa. Dựa vào 333 mẫu điều tra khách hàng, phương pháp phân tích CFA, SEM để đánh giá độ tin cậy, giá trị các thang đo, kiểm định mô hình đề xuất, giả thuyết. Kết quả là bốn nhân tố marketing-mix đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Đến lượt nó, lại có ảnh hưởng dương đến lòng trung thành thương hiệu. Nghĩa là, các yếu tố marketing-mix đều ảnh hưởng gián tiếp đến lòng trung thành thông qua nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Điều này là quan trọng giúp Sanest Khánh Hòa có những định hướng phù hợp trong chiến lược marketing-mix để xây dựng và phát triển thương hiệu.

     

    Từ khóa: marketing-mix, nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu, Sanest Khánh Hòa

     

    ABSTRACT

     

    This study tests the role of marketing-mix elements (quality, price, distribution and promotion) on the awareness, associations and loyalty of brand for the case of Khanh Hoa Sanest company. Based on a data set of 333 customers, confi rmatory factor analysis (CFA) and structural equation model (SEM) were used to assess the reliability and validity of the constructs, and to test the proposed theoretical model and hypotheses. Results show that the marketing-mix elements have positive effects on the awareness and associations of brand. In its turn, on the awareness and associations of brand has a positive effect on brand loyalty. Therefore, the results say also that the marketing-mix elements have indirect effects on brand loyalty via the awareness and associations of brand. The results are important to help Khanh Hoa Sanest company with its marketing-mix strategies which need to build and develop the brand.

     

    Keywords: marketing-mix, awareness, association and brand loyalty, Khanh Hoa Sanest

     

     

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Các tranh luận về mặt lý thuyết và thực tiễn gần đây trên thế giới cho rằng chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu là các thành phần cốt lõi của giá trị thương hiệu và các nhân tố marketing-mix là tiền đề quan trọng tạo nên giá trị thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Keller, 2001; Wood, 2000). Mặc dù, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu đã thực hiện ở trong và ngoài nước (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Aaker, 1996; Nguyễn Đình Thọ

     

    và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002) nhưng chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu. Vì vậy, bài báo này kiểm định vai trò của các yếu tố marketing-mix đối với giá trị thương hiệu trong mô hình quan hệ cấu trúc chung, trong đó các yếu tố marketing-mix được đề nghị có ảnh hưởng dương trực tiếp đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và có ảnh hưởng dương gián tiếp lên trung thành thương hiệu thông qua sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    • Lê Thị Hồng Yến: Cao học Quản trị kinh doanh 2009 – Trường Đại học Nha Trang
    • Hồ Huy Tựu: Khoa Kinh tế – Trường Đại học Nha Trang

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 209

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Yến sào Khánh Hòa (Sanest Khánh Hòa) là một trong những công ty gặt hái được nhiều thành công và khẳng định được thương hiệu của mình. Tuy nhiên, hoạt động marketing hướng đến xây dựng, củng cố thương hiệu còn nhiều hạn chế: hình ảnh cửa hàng không ấn tượng, chương trình hậu mãi và dịch vụ sau bán hàng không được quan tâm đúng mức, quảng bá mờ nhạt. Vì thế, nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng lý luận về xây dựng và phát triển thương hiệu thông qua xem xét ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu sử dụng phương pháp lập mô hình phương trình cấu trúc. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cung cấp một số hàm ý marketing giúp cho lãnh đạo Công ty có những thông tin cần thiết về tầm quan trọng của các yếu tố marketing-mix đến các thành phần nói trên mà công ty đang xây dựng.

     

    1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    2. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là khách hàng đã biết đến thương hiệu Sanest Khánh Hòa.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu

    2.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đối với khách hàng trên thị trường Nha Trang. Đối tượng phỏng vấn có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên và phỏng vấn khoảng 350 khách.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đọan chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp… Bảng câu hỏi được gửi đến trực tiếp 350 khách hàng nhưng thu về được 333 mẫu hợp lệ. Tác giả tiến hành các phân tích như: kiểm định độ tin cậy các thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích SEM, và các phân tích cần thiết khác.

     

    1. Cơ sở lý thuyếtt, mô hình nghiên cứu đề xuất

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    • Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và mối quan hệ với trung thành thương hiệu

    Quan điểm tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng cho rằng tài sản thương hiệu bao gồm chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu (Aaker và Keller, 1990). Nhận biết thương hiệu là một thành phần thái độ của khách hàng với thương hiệu, có nhiều mô hình về thái độ

    con người. Mô hình thông thường cho rằng thái độ là một khái niệm đa thành phần: nhận biết, đánh giá, thích thú và xu hướng hành vi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức độ nhận biết thương hiệu nói lên khả năng nhận dạng, phân biệt các đặc điểm của một thương hiệu trong tập hợp các thương hiệu trên thị trường của khách hàng (Aaker, 1991). Liên tưởng thương hiệu mà khách hàng cảm nhận, đánh giá có thể là các thuộc tính sản phẩm, hình tượng cá nhân hoặc một biểu tượng nào đó và nó cũng được dẫn dắt bởi đặc tính của thương hiệu, đó chính là cái mà công ty muốn thương hiệu đại diện trong tâm trí khách hàng (Keller và Aaker, 1990). Một số tác giả cho rằng nhận biết thương hiệu có mối quan hệ mật thiết với liên tưởng thương hiệu và hầu như giữa chúng không có sự tách biệt rõ rệt. Vì thế, họ thường cho 2 nhân tố này là một (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu ảnh hưởng đến quyết định mua của khách hàng bằng cách gợi lại trong tâm trí của họ hình ảnh sản phẩm, nó giống như sự hiển thị của cảm xúc đối với sản phẩm ấy (Keller, 1993). Lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu nói lên xu hướng mà khách hàng mua, sử dụng một thương hiệu nào trong một họ sản phẩm, kí mới những hợp đồng giao dịch và lặp lại hành vi này, hay chống lại khả năng chuyển đổi sang nhà cung cấp khác (Aaker, 1991). Gia tăng sự trung thành đóng vai trò quan trọng khi các đối thủ cạnh tranh luôn sáng tạo và có những sản phẩm vượt trội (Aaker và Keller, 1990). Sự trung thành thương hiệu thường được xem lại kết cục của sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Aaker, 1991). Tức là, nếu khách hàng có sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng nhiều thì lòng trung thành thương hiệu càng cao và ngược lại. (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Dựa vào các cơ sở lý thuyết và bàn luận trên đây, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H1: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh, mức độ trung thành thương hiệu càng cao

     

    3.1.2. Các yếu tố marketing-mix 4P và 4C của khách hàng

    Lý thuyết marketing cho rằng các yếu tố marketing-mix (4P) là nỗ lực của doanh nghiệp có tác dụng thúc đẩy mức độ mua hàng ở thị trường mục tiêu (Kotler, 2007). Quan điểm hành vi khách hàng lại cho rằng các yếu tố 4P có sự tương thích một đối một với 4 yếu tố cảm nhận quan trọng (4C) của khách hàng (Schiffman và Kanuk, 2010). Bởi vì giá trị thương hiệu là một hiện tượng cảm nhận và tích lũy kiến thức thương hiệu của khách hàng

     

    210 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    (Aaker, 1991). Do đó nghiên cứu này tiếp cận định nghĩa và đo lường các nổ lực marketing-mix dựa trên sự cảm nhận của khách hàng (Yoo, Donthu và Lee, 2000) hơn là các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.

     

    Thứ nhất, sản phẩm (Product – P1) mang đến giải pháp cho khách hàng (Customer solution – C1) được biểu hiện qua chất lượng cảm nhận (Schiffman và Kanuk, 2010). Vì thế, nghiên cứu này tiếp cận chất lượng cảm nhận được đánh giá dựa vào những niềm tin nhận thức quan trọng liên quan đến một sản phẩm, dịch vụ hoặc thương hiệu (Olsen, 2002).

     

    Thứ hai, giá (Price – P2) phản ánh chi phí (Cost – C2) khách hành bỏ ra để có sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Các nghiên cứu đã cho rằng người tiêu dùng không phải luôn nhớ các mức giá thực sự của sản phẩm mà ghi nhận giá theo các cách có ý nghĩa với họ. Nghiên cứu này định nghĩa yếu tố giá theo cách hiểu của Zeithaml (1988).

     

    Thứ ba, phân phối (Place – P3) thường được liên hệ với cảm nhận về sự thuận tiện của khách hàng (Convenience – C3) (Schiffman và Kanuk, 2010). Các noõ lực phân phối của doanh nghiệp có thể liên quan đến cường độ, mật độ phân phối và xây dựng hình ảnh của nhà phân phối (Kotler, 2007). Tuy nhiên, đối với khách hàng cái họ cần là sự sẵn có, dễ dàng tìm mua, tốn ít thời gian và nỗ lực… để có được sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Nghiên cứu này tiếp cận yếu tố phân phối chỉ tập trung vào cường độ phân phối bỏ qua các khía cạnh khác và định nghĩa yếu tố phân phối như cảm nhận về sự thuận tiện thị trường của sản phẩm (Seiders và ctv, 2005).

     

    Cuối cùng, xúc tiến (Promotion – P4) cung cấp thông tin cho khách hàng (Communication – C4) liên quan đến sản phẩm hoặc thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010). Khách hàng có thể có thông tin qua đánh giá của họ về hoạt động quảng cáo, khuyến mãi… của doanh nghiệp (Kotler, 2007). Từ đây, xúc tiến được định nghĩa bao gồm tất cả cảm nhận của khách hàng về thông tin truyền thông mà họ nhận được đối với thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010).

     

    3.1.3. Quan hệ giữa chất lượng cảm nhận với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Người tiêu dùng là người có khả năng nhận biết và liên tưởng thương hiệu tốt nhất, bởi vì khi khách hàng sử dụng sản phẩm và tin tưởng vào chất lượng mà nó đem lại, họ sẽ cố gắng lưu trữ hình ảnh thương hiệu đó trong tâm trí ngay lập tức (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Vì vậy, chất lượng cảm nhận của thương hiệu càng cao thì giúp họ nhận biết và

    liên tưởng thương hiệu càng nhanh (Aaker, 1991;

     

    Keller, 1993). Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H2: Chất lượng càng được cảm nhận tốt, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.4. Quan hệ giữa giá với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Hầu hết các nghiên cứu trước đây khẳng định giá có ảnh hưởng gián tiếp đến nhận biết và liên tưởng thương hiệu thông qua chất lượng cảm nhận, đặc biệt khi giá được cảm nhận ở mức cao hoặc thấp (Kamakura và Russell, 1993; Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức giá vượt trội cũng được xem là kết quả của thương hiệu mạnh (Aaker, 1996). Tuy nhiên, có thể tranh luận rằng việc định giá ở các mức cực biên (rất rẻ hoặc rất đắt) thường có tác dụng gia tăng sự nhận biết và liên tưởng trong giai đoạn kiến tạo thương hiệu bởi tạo nên sự khác biệt cho thương hiệu. Chẳng hạn, Wal-mart đã không thể nổi tiếng như bây giờ nếu thiếu đi chiến lược định giá rẻ cốt lõi ngay những ngày đầu tiên xâm nhập thị trường (Magretta, 2002). Bởi vì, Sanest Khánh Hòa đã và đang thực hiện một chiến lược định giá cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh, nó đã tạo lập được danh tiếng thương hiệu của mình như một nhà cung cấp các sản phẩm yến sào cao cấp. Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng rằng giá có tác động đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    H3: Giá đươc cảm nhận càng cao (thấp), sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.5. Quan hệ giữa phân phối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Khi một sản phẩm được phân phối với số lượng lớn trong các cửa hàng, siêu thị, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng hơn bởi vì họ có thể mua chúng mọi nơi, mọi lúc với ít nỗ lực và thời gian (Smith, 1992). Vì vậy, khi cường độ phân phối tăng lên, khách hàng sẽ cảm nhận nhiều giá trị đạt được hơn đối với sản phẩm phân phối (Seiders và ctv, 2005). Giá trị khách hàng tăng thêm này sẽ có tác động làm gia tăng liên kết tích cực đối với thương hiêu (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Việc phân phối rộng khắp tất nhiên cũng làm gia tăng mức độ tiếp xúc của khách hàng đối với sản phẩm và thương hiệu, qua đó gia tăng mức độ nhận biết của họ đối với thương hiệu. Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H4: Phân phối với cường độ càng mạnh, mức độ nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.1.6. Quan hệ giữa xúc tiến với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Các nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng mức độ xúc tiến quảng bá làm gia tăng sự nhận biết

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 211

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    thương hiệu (Boulding, Lee và Staelin, 1994). Các thông tin quảng bá được lặp đi lặp lại sẽ làm tăng xác suất lưu giữ hình ảnh thương hiệu và tạo ra các liên kết đối với thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng (Shimp, 1997). Vì vậy, cường độ xúc tiến quảng bá có tác động tích cực đến sự nhận biết và

     

    liên tưởng làm gia tăng giá trị thương hiệu (Aaker, 1996). Do đó, giả thuyết sau được đề nghị:

    H5: Hoạt động xúc tiến quảng bá càng mạnh, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

     

     

    Hình 1. Ảnh hưởng của các nhân tố marketing-mix đến giá trị thương hiệu

     

     

    1. Đo lường các cấu trúc khái niệm

    Các khái niệm đều được đo trên thang đo Likert 7 điểm từ (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) không đồng ý đôi chút, (4) trung dung,

     

    • đồng ý đôi chút, (6) đồng ý và (7) hoàn toàn đồng ý. 1. Đo lường khái niệm Giá

    Được đo lường bằng 3 biến quan sát trên thang đo Likert 7 điểm là: Giá các sản phẩm Sanest là:

    • cao; (2) đắt và (3) hợp lý (Smith và Park, 1992). 2. Đo lường khái niệm Chất lượng cảm nhận

    Được đo lường trên thang đối cực 7 điểm mở đầu bằng câu giới thiệu chung: “Khi dùng các sản phẩm Sanest, tôi cảm thấy”: (1) vô ích/hữu ích;

    • vô dụng/hữu dụng; (3) dở/ngon; (4) không tốt/ tốt cho sức khỏe; (5) rủi ro/an toàn và (6) kém bổ dưỡng/bổ dưỡng (Olsen, 2002).

    4.3. Đo lường khái niệm Phân phối

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Smith (1992) gồm 5 biến quan sát mở đầu bằng: “Tôi nhận thấy trên thị trường, các sản phẩm Sanest thì”: (1) rất nhiều; (2) vượt trội về số lượng; (3) thuận tiện để mua; (4) bao phủ rộng khắp; và (5) được phân phối ở những nơi hợp lý.

     

    4.4. Đo lường khái niệm Xúc tiến quảng bá

     

    7 biến quan sát được sử dụng để đo lường khái niệm này trên thang đo Likert 7 điểm như sau:

    • Tôi cảm thấy Sanest đã tốn nhiều chi phí đầu tư cho hoạt động quảng bá; (2) Hoạt động quảng bá của

    Sanest là rất chuyên nghiệp; (3) Hoạt động quảng bá của Sanest là rất thường xuyên; (4) Chương trình cổ động của Sanest là rất mạnh; (5) Sanest thường xuyên khuyến mãi bằng quà tặng; (6) Chính sách chiết khấu của Sanest là hấp dẫn; và (7) Quảng bá của Sanest là ấn tượng (Kirmani và Wright, 1989). 4.5. Đo lường khái niệm Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Yoo, Donthu và Lee (2000) gồm 11 biến quan sát: (1) Các sản phẩm Sanest có nguồn gốc từ thiên nhiên; (2) Các sản phẩm Sanest là rất khác biệt; (3) Các sản phẩm Sanest là dành cho mọi người; (4) Các sản phẩm Sanest là đáng tin cậy; (5) Các sản phẩm Sanest là cao cấp; (6) Các sản phẩm Sanest là rất dễ hình dung trong tâm trí;

     

    • Tôi biết rất rõ các sản phẩm Sanest; (8) Tôi có thể nhận biết các sản phẩm Sanest trong số các thương hiệu cạnh tranh; (9) Logo và slogan của Sanest là rất ấn tượng; (10) Tôi dễ dàng nhận biết được kí hiệu và biểu tượng của Sanest; và (11) Tôi cảm thấy dễ dàng nhận ra logo và slogan của Sanest.

    4.6. Đo lường khái niệm Lòng trung thành thương hiệu Sử dụng thang đo Likert 7 điểm của Beauty và Kahle (1988) với 5 biến quan sát: (1) sự lựa chọn hàng đầu của, (2) luôn ca ngợi, (3) khuyến nghị mọi người dùng, (4) không mua sản phẩm khác nếu có thương hiệu Sanest, (5) luôn quan tâm. Thêm vào đó,

     

    212 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    nghiên cứu Olsen (2002) tác giả đo lường 5 biến quan sát trong tháng đến: số lần mua/dùng, số lần muốn mua/sử dụng, dự định mua/sử dụng, mong muốn mua/sử dụng, cần mua/sử dụng.

     

    III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

     

    1. Phân tích các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha

    Độ tin cậy của thang đo “Chất lượng” với hệ số alpha = 0.949 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.949. Độ tin cậy của thang đo “Giá” với hệ số alpha = 0.765 là khá tốt. Tuy nhiên, chỉ báo PR3 (giá thương hiệu Sanest là hợp lý) không đóng góp vào thang đo “Giá” (0.909 > 0.765). Vì vậy, chúng sẽ bị loại bỏ mục này ra khỏi thang đo. Độ tin cậy của thang đo “Hệ thống phân phối” với hệ số alpha = 0.920 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.920. Độ tin cậy của thang đo “Xúc tiến” với hệ số alpha = 0.921 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.921. Độ tin cậy của thang đo “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” với hệ số alpha = 0.946 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.946. Độ tin cậy của thang đo Likert “Lòng trung thành thương hiệu” của Olsen (2002) với hệ số alpha = 0.924 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.924. Thêm vào đó, ta cũng đi phân tích “Lòng trung thành thương hiệu” của Beauty và Kahle (1988) với hệ số alpha = 0.937 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.937. Điều này chứng tỏ tất cả các thang đo này có thể sử dụng được và không nên loại bỏ mục nào (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

    1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các chỉ báo sử dụng

    Trong quá trình phân tích và loại biến có trọng số < 0.3. Kết quả phân tích nhân tố cuối cùng là rất tốt, chỉ số Kaiser – Mayer – Olkin là 0.937 thuộc phạm vi được xem là thích hợp, tổng phương sai được giải thích bởi 6 nhân tố này là 75.749%. Đúng như mong đợi, 6 nhân tố được rút ra, các nhân tố khác nhau là tách rời, và các giá trị trọng số nhân tố đều lớn hơn 0.5. Do đó, cả 34 chỉ báo này đều được giữ lại cho bước phân tích tiếp theo.

     

    1. Phân tích mô hình đo lường

    Các thang đo khái niệm sẽ được tiến hành phân tích nhân tố khẳng định (CFA). Kết quả cho thấy giá trị của thống kê chi – bình phương là 2000.135 với 512 bậc tự do, xác suất 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do CMIN/DF = 3.907 > 2.0. Giá trị RMSEA là 0.094 > 0.08, đồng thời giá trị CFI = 0.864 < 0.90 và GFI = 0.829 < 0.90 nên không thể chấp nhận được. Tác giả tiếp tục thực hiện các bước phân tích tiếp theo để có thể cải thiện độ phù hợp của mô hình tốt hơn. Đề tài này sử dụng một kỹ thuật lấy tổng trung bình các chỉ báo đối với 5 thang đo: “Chất lượng” có 6 chỉ báo lấy tổng ngẫu nhiên 3 trong số 6 chỉ báo, “Phân phối”, “Xúc tiến”, “Lòng trung thành thương hiệu” đều có 5 chỉ báo, lấy tổng ngẫu nhiên 2 và 3 trong số 5 chỉ báo của mỗi khái niệm, “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” có 11 chỉ báo lấy tổng 5 và 6 trong số 11 chỉ báo để hình thành nên 2 chỉ báo chung cho mỗi thang đo của 5 cấu trúc khái niệm này. Kỹ thuật này đã giúp cải thiện độ phù hợp của mô hình ở mức chấp nhận được (GFI > 0.95; CFI > 0.98; RMSEA = 0.073). Kết quả trên bảng 1 cung cấp các chứng cứ về độ giá trị hội tụ và tin cậy của các thang đo.

     

    Bảng 1. Cấu trúc khái niệm, trọng số nhân tố và độ tin cậy tổng hợp

     

    Cấu trúc khái niệm

    Trọng số nhân tố

    t-values

    Độ tin cậy

    Phương

     
       

    Không chuẩn hóa

    Chuẩn hóa

    tổng hợp

    sai trích

     
       
             
                 

    Giá

    1.13 – 1.21

    0.88 – 0.94

    16.83 – 18.06

    0.91

    0.83

     
                 

    Chất lượng

    3.29 – 3.69

    0.87 – 0.91

    19.06 – 20.58

    0.88

    0.80

     
                 

    Phân phối

    2.38 – 3.17

    0.89 – 0.91

    20.14 – 20.64

    0.90

    0.81

     
                 

    Xúc tiến

    2.00 – 3.27

    0.84 – 0.87

    17.81 – 18.73

    0.84

    0.73

     
                 

    Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu

    5.20 – 5.90

    0.89 – 0.93

    20.14 – 21.66

    0.91

    0.83

     
                 

    Trung thành thương hiệu

    2.95 – 3.34

    0.82 – 0.99

    16.98 – 21.98

    0.91

    0.83

     
                 
    1. Đánh giá các quan hệ cấu trúc và kiểm định giả thuyết

    Kết quả cho thấy giá trị của thống kê Chi – bình phương là 122.419 với 43 bậc tự do, xác suất P = 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 213

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    CMIN/DF = 2.847 < 3.0 là khá tốt. Giá trị RMSEA = 0.075 < 0.08, đồng thời hai giá trị GFI = 0.941 và CFI = 0.975 là cao hơn mức đề nghị 0.90. Kết quả phân tích này hàm ý rằng mô hình phương trình cấu trúc có độ phù hợp tốt so với dữ liệu hiện có.

     

    Bảng 2. Kiểm định các quan hệ cấu trúc trong mô hình đề xuất

     

    Giả thuyết

    Kết luận

    Hệ số cấu trúc

     

    Thống kê t

         

    Không chuẩn hóa

     

    Chuẩn hóa

           
               

    H1

    Ủng hộ

    0.42

     

    0.64

    10.54***

               

    H2

    Ủng hộ

    1.82

     

    0.35

    5.14***

               

    H3

    Ủng hộ

    0.82

     

    0.16

    3.43***

               

    H4

    Ủng hộ

    1.93

     

    0.37

    4.41***

               

    H5

    Ủng hộ

    0.91

     

    0.18

    2.45*

               

    p < 0.05, ** p < 0.01, *** p < 0.00

     

    R2: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu = 79.8%, Lòng trung thành thương hiệu = 41.5%.

     

     

    1. Thảo luận

    Kết quả phân tích khẳng định rằng, 4P đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, đến lượt nó cũng tác động rất mạnh đến lòng trung thành thương hiệu. Mặc dù tất cả 5 giả thuyết nghiên cứu đều được ủng hộ nhưng vai trò của chúng là khác nhau. Thật vậy, tương quan giữa sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu đối với lòng trung thành thương hiệu là mạnh nhất. Thứ hai, là tác động dương của phân phối đối với sự nhận biết và liên tưởng đó. Mối quan hệ của phân phối còn mạnh hơn của chất lượng cảm nhận tiếp đến là xúc tiến. Giá có ảnh hưởng yếu nhất. Điều này xuất phát từ thực tế vì khi đi mua sản phẩm thương hiệu người ta quan tâm đến chất lượng và xem giá như là một dấu hiệu của chất lượng. Vì thế, giá có tác động yếu nhất đối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000).

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
    2. Kết luận

    Mục tiêu nghiên cứu ở đây là kiểm định mối quan hệ giữa Chất lượng, Giá, Phân phối, Xúc tiến, Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, Lòng trung thành thương hiệu Sanest Khánh Hòa, Khách hàng, bao gồm các đoàn khách du lịch trên cả 3 miền đến Nha Trang. Kết quả đã ủng hộ 5 giả thuyết tác giả đưa ra. Nhưng Công ty cần tập trung nâng cao Lòng trung thành thương hiệu thông qua Sự nhận biết, liên tưởng đối với sản phẩm vì sự tương quan giữa 2 yếu tố này là mạnh nhất. Tuy nhiên, để làm được điều đó công ty cần đẩy mạnh công tác marketing-mix. Phân phối và Chất lượng có tác động mạnh đối với Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Vì thế, nên tập trung hoàn thiện hệ thống phân phối, chất lượng để đem lại sự thuận tiện và tự tin cho khách hàng,

    đó là yếu tố quan trọng trong bối cảnh ngày nay. Xúc tiến có tác động tương đối yếu nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng xúc tiến giúp khách hàng lưu giữ hình ảnh rất tốt. Do đó, Công ty nên có các chiến lược xúc tiến ấn tượng vì khách hàng đánh giá không cao yếu tố này. Giá cũng có ảnh hưởng đến Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu nhưng khách hàng nhận xét giá là cao, điều này phù hợp với lý luận ở trên và chiến lược giá mà Công ty xây dựng. Tuy nhiên, Công ty cũng nên hết sức linh hoạt để có những chiến lược giá sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy biến động như hiện nay. Mặt khác, bài báo cũng có một số hạn chế: trước tiên là đối tượng điều tra, mẫu thuận tiện đã làm hạn chế tính khái quát hóa các kết quả của mô hình, điều này yêu cầu phải lặp lại nghiên cứu tương tự cho một mẫu có tính đại diện và ngẫu nhiên để tăng tính chính xác, khái quát hơn. Tiếp đến, vì chỉ tập trung nghiên cứu các biến marketing-mix, nên nghiên cứu này đã bỏ qua một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu như hình ảnh cửa hàng, văn hóa, giá khuyến mãi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng để có bức tranh toàn diện hơn.

     

    1. Kiến nghị

    Chất lượng và xúc tiến là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp khách hàng nhận biết, liên tưởng và tăng sự trung thành của người tiêu dùng. Với mục tiêu duy trì và nâng cao chất lượng của sản phẩm, đề tài này muốn đưa ra một số kiến nghị như sau:

     

    Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách thông thoáng và thủ tục tinh gọn hơn trong vấn đề nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại tiên tiến trên thế giới để phổ biến về cho các cán bộ học tập và chuẩn bị tiếp cận. Đây là một tiền đề hết sức quan trọng để

     

    214 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    các công ty không ngừng phát triển trình độ chuyên môn, nâng cao tay nghề, tính chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, đó cũng là nền tảng để tạo ra những sản phẩm chất lượng với giá cả hợp lý giúp khách hàng có điều kiện tiếp xúc với sản phẩm một cách dễ dàng hơn và hơn thế nữa nó là nhân tố nâng cao sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu trong họ.

     

    Thứ hai, hiện nay, thương hiệu Sanest đã được đa số khách hàng biết đến và tin dùng. Do đó, trong thời gian gần đây công ty chủ quan nên không có những điều tra về nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng. Vì thế, nếu muốn đáp ứng tốt hơn nhu

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Tiếng Việt

    cầu ngày càng cao của họ thì Công ty cần nỗ lực nhiều hơn trong việc tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của khách hàng. Từ đó, góp phần nâng cao sự hài lòng để đạt được mục tiêu cuối cùng là lòng trung thành của họ.

     

    Cuối cùng, hệ thống phân phối của Công ty hầu hết tập trung ở các thành phố lớn. Vì thế, Công ty nên mở rộng mạng lưới phân phối ở các tỉnh lẻ để họ có cơ hội tiếp cận với sản phẩm một cách dễ dàng hơn. Nhưng ở các tỉnh lẻ thì giá cả là vấn đề khiến họ quan tâm. Do đó, Công ty cần có chính sách giá theo khu vực phù hợp với thu nhập vẫn còn đang thấp.

     

    1. Phillip Kotler, 2007. Quản trị Marketing. NXB Thống kê. TP. Hồ Chí Minh.
    1. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002. Nghiên cứu các thành phần của giá trị thương hiệu và đo lường chúng trong thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam. B2002-22-33.

    Tiếng Anh

     

    1. Aaker, D.A. and Keller, K.L., 1990. Consumer evalutions of brand extensions. Journal of Marketing, 54 (1): 27-41.
    1. Aaker, D.A., 1991. Management brand equity: Capitalizing on the value of a brand name. New York, the free press.
    1. Aaker, D.A., 1996. Measuring brand equitty aross products and markets. California Management Review, 38 (3): 102-120.
    1. Beauty, S.E. and Kahle, L.R., 1988. Alternative hierachies of the attitute behavior relationship: The impact of brand

    commitment and habit. Journal of Academy of Marketing Science, 16 (summer): 1-10.

     

    1. Boulding, W., Lee, E. and Stealin, R., 1994. Mastering the marketing mix do advertising, promotion and sales force activities lead to differentiation. Journal of Marketing Research, 31 (3): 159-172.
    1. Keller, K.L., 1993. Conceptualizing, measuring and managing customer-based brand equity. Journal of Maketing, 57 (1): 1-22.
    1. Keller, K.L., 2001. Building customer-based brand equity: A blueprint for creating strong brand. Marketing Management, 7: 15-19.
    1. Kamarura, W.A. and Russell, G.J., 1993. Measuring brand value with scanner data, International Journal of research marketing April: 3-22.
    1. Kirmani, A. and Wright, P., 1989. Money talks: Perceive advertising exppenditures and expected product quality. Journal of

    Consumer Reseach, 16 (12): 344-355.

     

    1. Magretta, J., 2003. What management is? How its works and why it’s everyone’s business. Profile books.
    1. Olsen, S.O., 2002. Comparative evaluation and the relationship between quality, satisfaction and repurchase loyalty. Journal of the Academy of Marketing Science, 30: 240-249.
    1. Schiffman, L.G. and Kanuk, L.L, 2010. Consumer behavior. 10th Pearson Prentice Hall, Boston, MA.
    1. Seiders, 2005. Do satisfied customers really buy more? Examining moderating influences in a retailing context. Journal of Marketing, 69 (October): 26-43.
    1. Shimp, T.E., 1997. Advertising, promotion and supplemental aspects of integrated maketing communication. Fort Worth TX: Druden Press.
    1. Smith, D.C and Park, C.W., 1992. The effect of brand extension on marketing share and advertising efficiency. Journal of Marketing Research, 29 (8): 296-313.
    1. Wood, L., 2000. Brands and brand equity: definition and management. Management Dicision, 38 (9): 662-669.
    1. Yoo, B., Donthu, N. and Lee, S., 2000. An examination of selected maketing mix elements and brand equality. Journal of Academy Maketing Science, 28 (2): 195-211.
    1. Zeithaml, V.A., 1988. Consumer perception of price, quality and value: a mean-end model and synthesis of evidence. Journal

    of Maketing, 52 (7): 2-22.

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 215


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Customer-satisfaction-with-online-group-buying-services.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Customer satisfaction with online group buying services

    Journal of Economics and Development Vol. 15, No.1, April 2013, pp. 91 – 120

    ISSN 1859 0020

       

    Customer Satisfaction with

     

    Online Group-Buying Services

     

    Vu Huy Thong

    National Economics University, Vietnam

    Email: [email protected]

     

    Tran Mai Trang

    Academy of Finance, Vietnam

     

    Abstract

     

    Given the essential role of customers to the success of any business, particularly newly-established ones, it is crucial for Hanoi’s online group-buying (OGB) compa-nies to make constant efforts to keep their customers satisfied. This research aims at investigating customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB through both quantitative and qualitative methods including an online customer survey with 150 OGB customers, in-depth interviews with 20 customers, and participant observation of five OGB websites.

     

    The research results show that the key factors affecting OGB customer satisfac-tion include product price, merchandise variety, information quality, product quali-ty, and delivery. Also, despite the high likelihood of customers’repurchasing and rec-ommending to others, Hanoi’s OGB business has not yet met customer satisfaction, particularly in terms of the information quality, supplier’s reputation, product qual-ity and delivery. The root causes of this situation include the incomplete legal frame-work and ineffective management at macro-level; the poor quality management and business ethics of OGB companies; and the limited OGB customers’ awareness of their rights and responsibilities.

     

    Keywords: Online group-buying, customer satisfaction, macro-management, Hanoi, business ethics.

     

    Journal of Economics and Development                            91                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. Introduction

     

    Vietnam’s market adopted the Online Group-Buying (OGB) business model in late 2010 and since then the business has been developing rapidly in big cities of the country, particularly Ho Chi Minh City (HCMC) and Hanoi. With its dominant economic advan-tages, OGB is considered a potential purchas-ing channel, which has attracted an increasing customer volume, particularly under the diffi-cult situation of Vietnam’s economy at the cur-rent time. Statistics show that as of April 2012, approximately 97 group-buying websites have been operating in Vietnam, in which Nhommua, Muachung, Hotdeal, and Cungmua are the four biggest players, accounting for around 90% of the total OGB market share (FTA Marketing Research and Consultant Company, 2011). Geographically, HCMC is a much more active market for OGB than Hanoi with its market share being 71% compared to only 23% for Hanoi (Do, 2011). The rapid establishment of group-buying websites regis-tered signals the fierce competition in order to attract and retain customers.

     

    On the other hand, the growth of OGB busi-ness is characterized by the revenue and num-ber of deals provided. Results from market research show a dramatically increasing trend of these two indicators in Vietnam’sOGB mar-ket.

     

    Despite the increasing number of OGB companies established in Vietnam, this new model is still in its initial development stage with a modest market share and a great level of spontaneity. Poor experience and professional-ism in operating this new type of business has resulted in the recent shutdowns of a number

     

    of OGB sites, which further implies the severe competition within this harsh and unsystemat-ic business context. This stresses the necessity for attracting and retaining OGB customers to maximise the potential of the business model. Improvement in customer satisfaction can be seen as the key to achieving this purpose, since customer satisfaction plays a role as a remark-able determinant of repeat sales, good word-of-mouth, and customer loyalty leading to an increase in profitability and growth (Sheth, 2001). This is particularly essential in today’s market where customers are presented with lots of choices and thus are becoming more demanding and very critical when their expec-tations are not met.

     

    Therefore, an in-depth understanding of OGB customers’ perspectives on this emerging business in Vietnam is of great importance, which has however, not been thorough ly examined yet. This research aims to:

     

    – identify key factors affecting customers satisfaction of Hanoi’s OGB;

     

    – measure the customer satisfaction degree for each key factor;

     

    – determine underlying reasons causing OGB customer dissatisfaction; and

     

    – come up with recommendations for key stakeholders to improve customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB business.

     

    The research focuses on Hanoi’s OGB mar-ket given its strong potential for the OGB busi-ness development in terms of high internet penetration rate (Cimigo, 2011), modest OGB market share (Do, 2011), and high level of cus-tomer loyalty (AC Nielsen, 2009).

     

    2. Theoretical framework

     

     

    Journal of Economics and Development                            92                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    2.1. Online group-buying

     

    OGB refers to a computer-based mercantile exchange mechanism that enables consumers to benefit from volume discounts achieved through shopping together (Kauffman, & Wang, 2001). In this mechanism, OGB web-sites play an intermediate role to enlarge the reach for the vendors offering discounts and create a convenient platform for customers to find the best bargains.

     

    Being one type of online shopping, OGB has all the advantages that online shopping can offer such as time and money savings, global access, reduction of customer’s discomfort caused by factors like judgmental sales assis-tants, traffic jams, etc. (Rowley, 1996). Furthermore, one major advantage of OGB has over ordinary online shopping is its impressive discount offer, which is either a dynamic pric-ing mechanism or a static one (Anand, & Aron, 2003; Kauffman, & Wang, 2001). The former mechanism determines the discount prices by price-quantity functions; whereas, the latter has pre-determined and fixed discount prices.

     

    On the other hand, online shopping cus-tomers in general and OGB customers in par-ticular face numerous challenges that might hinder their adoption of these shopping chan-nels. These challenges include: the possibility to physically examine the product or the retail-er (Ba, Whinston, & Zhang, 2003); the credi-bility and security of online transactions; the invasion of privacy (Libbon, 1999); the mech-anism of payment and refunds, reliability, cus-tomer service; and the ability to cancel orders online (Jones, & Vijayasarath y, 2000). Particularly, given the increasingly great con-cern of online customers on the privacy issues,

     

    numerous academic efforts over years have been made to address this issue such as those of Devlin (1965), Van Swaay (1995) and Flaherty (1991).

     

    2.2. Concept of customer satisfaction Despite the importance of customer satis-

     

    faction, there is still a lack of a consensus in the definition of this concept due to its ambi-guity. From the literature, customer satisfac-tion definitions are divided into two schools of thought that put stress on either an evaluation process or a response to an evaluation process (Giese, & Cote, 2002) with more representa-tives in the latter school. However, each of these definitions only focuses on one segment of response and at a certain stage of the pur-chasing process; thus, it might be difficult for either definition to create a whole conceptual picture of customer satisfaction.

     

    Addressing those weaknesses, Kotler’s def-inition of customer satisfaction is used in this research to conceptually shed light on Hanoi’s OGB customer satisfaction. Kotler (1997) states that customer satisfaction refers to the result of the customer’s experiences coming from various purchasing processes, including: need arousal, information search, alternatives evaluation, purchase decision, and post-pur-chase behaviour. This definition covers all possible responses that might occur as a result of the purchasing experience. Furthermore, it does not restrict the satisfaction timing in a single purchasing phase like many other defi-nitions but instead goes from the most initial stage to the very last step.

     

    2.3. Theoretical models on OGB customer satisfaction

     

     

    Journal of Economics and Development                            93                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    As the literature shows, very little customer satisfaction research has specialised in OGB. There is hardly any model that specifically looks into the satisfaction of OGB customers. Nonetheless, numbers of academic studies on online customer satisfaction can be utilised for the analysis of customer satisfaction in the OGB context, provided that suitable adapta-tion and adjustments are in place.

     

    After reviewing the most relevant models, two remarkable approaches stand out. The first approach stresses the analysis of processes through which customers reach satisfaction, while the second emphasises determinants of customer satisfaction during different stages of the purchasing process.

    A typical model of the first approach is the Expectation-Confirmation Theory (ECT). It emphasises the cause and effect relationship between consumers’ expectations prior to pur-chase, their perceived performance, and their confirmation, satisfaction and intention to repurchase goods or continue service use. It states that consumers’ repurchase intentions mainly depend on their satisfaction with the previous use of that product or service (Anderson, & Sullivan, 1993) while holding expectation as an additional determining factor of satisfaction (Bhattac herjee, 2001). However, Bhattacherjee (2001) is critical that the ECT model does not consider the possible changes in a customer’s expectation resulting from previous consumption experience. In addition, Yi (1990) singles out the differences and even contradictions in conceptualising whether the satisfaction construct in the ECT studies can be interpreted as attitude and emo-tion. The concept of expectation is also

     

    defined very differently across the ECT stud-ies.

     

    To address the lack of the post-consumption expectation construct in the ECT and better adapt the ECT to the information system con-text, Bhattacherjee (2001) introduces the

    Expectation-Conf irmation Model of Information System (IS) Continuance. This model only focuses on the post-consumption variables with the justification that the effects of pre-consumption variables are already cap-tured in the “confirmation” and “satisfaction” constructs. More importantly, it adds a crucial construct of post-consumption perceived use-fulness as a representative of the post-con-sumption expectation, a very essential but missing construct in the ECT model. However, as this advanced model only focuses on the whole process leading to the continuance of use in the IS context, it does not cover the spe-cific determinants contributing to customer satisfaction, thus it hardly facilitates a practical analysis to come up with realistic recommen-dations for the development of a specific type of business.

     

    The second approach puts great stress on the factors contributing to customer satisfaction during different stages of the purchasing process instead of the process leading to cus-tomer satisfaction. Two outstanding represen-tatives include the E-service Quality Dimension model (Lee, & Lin, 2005), and the Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment (Liu, He, Gao, & Xie, 2008).

     

    Lee and Lin’s E-service Quality Dimension model (2005) establishes linkages between e-service quality dimensions in online shopping with overall service quality and customer sat-

     

    Journal of Economics and Development                            94                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 1: Proposed research model for OGB customer satisfaction analysis

     

     

     

     

     

     

    Source: Adapted from Smith (2007) and Liu et al. (2008)

    isfaction, which in turn affect customer pur-

    Gao and Xie (2008) looks into various factors

    chase intentions, and therefore can be suitable

    that can affect customer satisfaction in the

    for studies on e-service in general, but not

    three stages of the purchasing process, namely

    research on particular aspects of the OGB cus-

    information search and alternatives evaluation

    tomer satisfaction.

    (pre-purchase), purchase, and post-purchase.

    The Model of Satisfaction Process in E-

    Nonetheless, Liu et al.’s model still misses

    commerce Environment proposed by Liu, He,

    some important factors typical for OGB that

    Journal of Economics and Development                            95                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    can affect customer satisfaction, particularly in Vietnam’s context; for example supplier’s rep-utation, quality of product and sales assistant’s attitude.

     

    Incorporating both of the above approaches, Smith (2007) introduces a comprehensive model called the Measuring Model for Customer Satisfaction, which covers both sat-isfaction process and factors affecting satisfac-tion. However, its list of product/service attrib-utes is quite generic and does not include dis-tinct characteristics of OGB where the partici-pation of an intermedia te party exists. Specifically, it does not cover attributes of OGB websites like website design and transac-tion capability as well as security and privacy factors, which are typical for online shopping.

     

    After a thorough analysis of the pros and cons of different relevant theoretical models, the authors developed the Proposed Model for OGB Customer Satisfaction Analysis to be used in this research (see Figure 1) to explore the customer satisfaction in general, and for each key factor affecting satisfaction in partic-ular while taking into account the customer’s expectation prior to purchase for further impli-cations on how well OGB companies fulfil the needs of customers.

     

    This model was adapted from the Smith’s Measuring Model for Customer Satisfaction and Liu et al.’s Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment. Specifically, it expressed the interaction between customer expectation, perceived quality and satisfaction and positive post-purchase behaviours, i.e. the process of customers reaching their satisfac-tion using the OGB service, as presented in Smith’s model, while listing a number of fac-

     

    tors affecting customer satisfaction suitable to the OGB context as introduced in Liu et al’s model. Moreover, three elements specifically related to Vietnam’s context including suppli-er’s reputation, product quality and sales assis-tant’s attitude were added as extra factors affecting OGB customer satisfaction in Hanoi’s context. These elements were derived from the results of the authors’ desk study via a number of relevant articles from newspapers like Thanh Nien, Tuoi Tre, Tien Phong, etc as well as the authors’ interviews prior to the sur-vey.

     

    3. Research methodology

     

    The aims of this research were not to test any assumption or theory but to explore how Hanoi’s customers are satisfied with OGB companies and to present remarkable patterns and phenomena related to this issue based on the proposed model in Section 2.3. Therefore, the authors followed an inductive approach to carry out the research. Given the limited sam-pling size, the research could hardly formulate a generalised theory for the phenomena that were observed. Instead, it could be a good starting point to facilitate any further research on a larger scale and with more statistical sig-nificance.

     

    Following this approach, a combination of quantitative and qualitative research was applied. The qualitative research, including in-depth interviews with 20 Hanoi OGB cus-tomers and observations on five OGB websites and stores in Hanoi, was conducted prior to the quantitative research to explore factors affect-ing OGB customer satisfaction, customer sat-isfaction relating to the affecting factors, and key root causes of customer dissatisfaction in

     

    Journal of Economics and Development                            96                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    order to provide insights for the formulation of the quantitative research. The selected inter-viewees were the authors’ acquaintances who purchased through the OGB channel at least five times. The limited number of interviewees was due to the authors’ time being constrained, scared financial resources as well as the reluc-tance of many people to do in-depth inter-views, as it is a time-consuming process. Key findings from the qualitative research are pre-sented in Box A1 – Appendix.

     

    On the other hand, the quantitative research in the form of a customer survey aimed at quantifying general patterns about the issues related to shopping experiences of Hanoi’s OGB customers and more importantly, meas-uring customer satisfaction towards OGB companies in Hanoi. To design the question-naire for the survey, it was important to find a suitable rating scale to measure the degree of satisfaction of Hanoi’s OGB customers. In this sense, the authors applied the Likert-type five-category satisfaction scale of “Very Dissatisfied – Dissatisfied – Neutral – Satisfied – Very Satisfied” (Vagias, 2006) with the rationale that a five to seven-point scale pro-vides a higher level of reliability and validity than a scale with fewer points; while more thoroughly graded scales were proven not to improve the reliability and validity any further and the results of five- and seven-point scales were found to be quite compatible (Dawes, 2008).

     

    In brief, the questionnaire design was based on the proposed theoretical framework, inputs of the qualitative research, and the Likert-type five-category satisfaction scale to measure Hanoi’s customer satisfaction with OGB serv-

     

    ices. Technically, the questionnaire was creat-ed through the exploitation of Google Docs, a free online survey-creation tool that assists both survey creation and data analysis.

     

    Before launching the survey, the question-naire was pre-tested for necessary adjust-ments; and then, in late September 2012, post-ed on online social networks including Facebook1, Webtretho forum2, sent via e-mail and online messengers3 with an invitation to join the research and help identify new cases by forwarding the invitation to their acquain-tances. In other words, non-probability sam-pling with self-selection and snowball sam-pling techniques were applied to collect pri-mary data.

     

    With regard to the sample size of the survey, given the current statistical system of Vietnam, it was very difficult (or, it could be said, impossible) to identify the total number of OGB customers currently in Hanoi. Therefore, instead of calculating the sample size using a specific formula and confidence level, the authors determined the sample size based on past research experience. Also, considering the above-mentioned limitations in terms of resources as well as the long-awaited respons-es of the two sampling techniques, the authors decided to finish the survey when 150 respons-es collected.

     

    The data analysis was executed with the help of Google Docs and Microsoft Excel. Google Docs was used to process the data col-lected in the forms of frequency distribution and percentage frequency distribution while Excel was for cross tabulation analysis.

     

    1. Results and discussion

     

     

    Journal of Economics and Development                            97                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    4.1. General characteristics of Hanoi’s OGB customers

     

    4.1.1 Profile of respondents

     

    This section presents the profile of the sur-vey respondents regarding their age, gender, marital status, occupation, and monthly per-sonal income as in the table 1.

     

    Table 1 shows that the majority of the respondents are female and in the younger age groups with 84% of the respondent under 36 years old. The dominant occupation is office staff and students accounting for 89% of the respondents in which office staff are in the

     

    majority (74%). There are no big differences in the proportion of married to single respondents as well as in the distribution of respondents in the various personal income groups.

     

    4.1.2. Overall OGB shopping experiences This section presents the sources of infor-

     

    mation through which the respondents learn of OGB, reasons they buy via OGB, and their shopping habits related to frequency, price range and product type.

     

    The survey results show that the majority of the respondents first learned of OGB websites through the Internet and friends/acquaintances,

     

     

    Table 1: Profile of respondents

       
             
       

    [1]

    

    

     

     

     

    [1]

    

     
     

    [1]

       
       
       

      

    

    

       

    
       

    

    


     

     

    

     

    
        

       
     

     

    

       
       

    [1]

       
       

    

    

    


     

      

     

    [1] 

    

    

       

    [1]

       
       

    ‑‑­  [1]‑‑

     

    

       

    ! 

    

     

     [1]

     

    “[1] 

       
       

    # 

     

    

       

    [1]

       
       

    $ % &'( 
     

    

     
       

    
     &'(      #[1]

     

     

    


    [1]

     

       
    [1]   [1]

     

    
     &'(   

     

    

    

       

     &'(

     

    

    

       

    [1]

       

    Journal of Economics and Development                            98                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    accounting for 70% and 60% respectively. This is expected given the high prevalence of the Internet in Hanoi and its advantages in terms of global access, availability, and inex-pensiveness, as well as the power of word-of-mouth advertising in such a collectivist socie-ty like Vietnam. This reasoning was also con-firmed by the interviewees’ answers in the qualitative research carried out prior to the sur-vey. In contrast, it seems that T.V. is not an appropriate advertising channel for OGB as only 4% reported that they first heard of OGB from T.V.

     

    It can be seen that attractive price is the most common reason for the majority of the respondents (82%) becoming OGB customers, followed by door-to-door delivery (49%). These results were similar to the findings of the qualitative research where most of the interviewees said that they selected this shop-ping channel mostly because of its pricing advantage and door-to-door delivery charac-teristic. These factors can be considered the key advantages of OGB over the traditional purchasing model. The attractiveness of dis-counts to Hanoi’s people is also emphasised in AC Nielsen’s 2009 report on HCMC and Hanoi regional consumer differences.

     

    With regard to shopping frequency, over half of the respondents made their latest pur-chases within the last month, in which 28% purchased within the last week. Women are found to have a greater OGB experience than men with 61% using OGB within one month while this percentage is 45% for men. However, most of the respondents are not reg-ular OGB shoppers since only 7% shop every week and 9% do it every two weeks.

     

    In terms of price range, the respondents gen-erally buy products at rather low prices through this purchasing channel. Sixty percent often buy products priced from VND 200,000 to 500,000 and only 9% buy items over VND 1,000,000. Interestingly, the personal income level seems to be not strictly related to the price of the products bought. Many high-income respondents whose monthly salary is over VND 10 million, purchase products with-in the low price ranges, with 29% buying less than VND 200,000 and 54% buying from VND 200,000 to below VND 500,000.

     

    The most consumed product type is food and beverages (64%), followed by household items (47%) and fashion products (41%) which might result from the generally good experience of the customers with these prod-ucts and the fact that eating is among the most basic human needs, and eating out in a group is a Vietnamese people’s habit.

     

    Regarding the payment method, the majori-ty of the respondents (84%) chose to pay in cash. This possibly results from the incomplete technology infrastructure for online payment in Vietnam, consumer’s concern about online payment security, and the Vietnamese habit of using cash. Additionally, due to the lack of trust in the quality of OGB products, many customers want to check the products physi-cally before making payment instead of paying online in advance. These findings are support-ed by Cimigo’s recent research in Vietnam, which states that very few Internet users feel safe to buy products online and many do not trust online payment systems (Cimigo, 2011).

     

    4.2. Key factors affecting OGB customer

     

     

    Journal of Economics and Development                            99                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    satisfaction

     

    4.2.1. Factors affecting customer satisfac-tion

     

    Figure 2 presents the respondents’ percep-tion of factors affecting their satisfaction towards Hanoi’s OGB in three stages of the purchasing process, in which the factors in the pre-purchase and post-purchase stages were generally considered more meaningful than those in the during-purchase stage with higher rates of selection in these first and last stages by respondents. Interestingly, the four most voted factors include price level, product qual-ity, information quality and delivery, were also mentioned by many interviewees as the factors that had great impact on their satisfaction with OGB business.

     

    The section below provides a detailed analysis of the five most salient factors cited by the highest rates of the respondents (50% or more) as ones that affected their satisfaction towards Hanoi’s OGB including product price, merchandise variety, information quality, product quality, and delivery. Another factor – security/privacy – despite a low rate of selec-tion, signals a significant discrepancy between the findings and existing literature, and thus is also put into consideration.

     

    1. a) Product Price

    Most of the respondents (81%) selected the product price as a factor influencing their over-all satisfaction. This is rational since psycho-logically, customers in general and Hanoi’s customers in particular favour promotional

     

    Figure 2: Factors affecting the respondent’s satisfaction towards Hanoi’s OGB in different stages of purchasing process

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           100                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    programs (AC Nielsen, 2009), among which big discounts may be the most attractive par-ticularly in the current difficult economic con-ditions. The significant discount rates certain-ly give customers the feeling of getting a good deal economically. Therefore, it can be said that the product price receives the greatest attention of customers when judging their sat-isfaction. This goes in line with the finding in Section 4.1.2 that attractive price is the most popular reason for website visitors to use OGB.

     

    1. b) Information quality

    Approximately 50% of the respondents cited the information quality of the OGB web-sites as a factor affecting their satisfaction level. This can be explained by the fact that OGB customers cannot physically examine the products prior to purchase, so the information posted on the OGB websites is the key refer-ence source for their purchasing decisions.

    To enable customers to make informed pur-chasing decisions, it is therefore crucial to have detailed, complete and correct product information on the OGB websites. This is sup-ported by Liu et al.’s studies (2012) in their discussions about the importance of informa-tion quality in the OGB model.

     

    1. c) Merchandise variety

    52% of the respondents picked the merchan-dise variety as a factor that can vary their OGB satisfaction with the rationale that they consid-ered OGB as one of the main shopping chan-nels, and they expected a wide enough variety of products from the OGB websites to satisfy their needs. An inability to provide such a wide product range may damage customers’ positive

     

    feelings about the websites and make them turn to other shopping models eventually.

    Other interviewees, who did not pick this factor, thought of OGB as a “journey of enjoy-ment” rather than a normal purchasing experi-ence. They therefore tend to buy stuff that catches their interest, not necessarily based on their needs. The merchandise variety is there-fore not really their concern.

     

    1. d) Delivery

    The delivery of the purchased product is perceived by about half of the respondents as a contributing factor to their satisfaction. Delivery plays an important role in the opera-tion of an OGB website since delayed deliver-ies, lack of delivery points, charged deliveries or wrong deliveries can easily make customers frustrated. It is thus fair to say that delivery receives significant attention of customers, particularly in the new and flourishing OGB market in Hanoi where unsystematic operation is expected.

     

    1. e) Product quality

    Quite a high percentage (58%) of the respondents considers product quality as hav-ing an effect on their satisfaction with Hanoi’s OGB. Given that the quality issue is particular-ly crucial for Vietnam’s OGB in general and Hanoi’s OGB in particular, customers tend to put extra attention on this factor instead of just concentrating on big discounts. This proves the increasingly demanding characteristic of Hanoi’s consumers who love discount prices without tolerating low quality in exchange. This finding is supported by AC Nielsen’s sur-vey (2009) where the quality-consciousness of Hanoi’s consumers is emphasised.

     

    Journal of Economics and Development                           101                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. f) Security/Privacy

    The survey shows a modest percentage of the respondents (19%) think that the issue of security/privacy can affect their satisfaction level. This finding is totally opposite to the results of many academic studies worldwide where privacy and security in e-commerce have become increasing concerns of online customers; however, this is understandable in the particular context of Vietnam. The risks of the lack of security or privacy being violated mainly occur in two forms, including the expo-sition of customers’ personal contacts without their consent, and the leak of their banking information during online transactions. While many interviewees in the pre-survey qualita-tive research shared their experience about the first form, they hardly thought of it as privacy

     

    violation. This may signal a high level of Hanoi’s OGB customers’ lack of awareness and consciousness of the security/privacy issue. Besides, as most of the respondents pay directly in cash, they are not exposed to the risks of security caused by online payment.

     

    4.2.2. Factors affecting customer satisfac-tion in relation to demographic variables

     

    The research results show that respondents’ perception of which factors affect their satis-faction with OGB business to some extent depends on their demographic status in terms of gender, marital status, occupation, age and personal income.

     

    1. a) Gender

    The study results show differences in the way men and women perceive various factors as contributing to their satisfaction, particular-

     

    Figure 3: Factors affecting the satisfaction of female and male respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           102                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ly product price, and delivery and transaction capability (see Figure 3).

     

    It is found out that women generally paid more attention to the price of products than men (85% versus 68%) as they were often responsible for daily expenditures in their fam-ily. Also, since women in general might not be as good as men in information technology, they were more concerned about the transac-tion capability of the OGB websites (42% ver-sus 24%), i.e. the ease to order deals, pay online and track orders. Regarding delivery, the male respondents seemed to have greater interest than women (63% versus 45%), which is reasonable as men generally want to shop in

     

    the most efficient way, whereas women enjoy shopping and do not mind going to the OGB company offices or suppliers’ stores to choose the most suitable products. This finding is in agreement with Knowledge Wharton’s study (2007) about the variation of shopping behav-iour of different genders.

     

    1. b) Marital status

    The biggest difference between the married and the single respondents was their interest in the delivery, with 70% of the former caring about this factor when talking about their sat-isfaction with OGB compared to 38% of the latter (see Figure 4). While the single people seem to have more leisure time, the married

     

    Figure 4: Factors affecting the satisfaction of single and married respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           103                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ones are often busier, thus they are likely to be more concerned with how efficiently a product is delivered.

     

    1. c) Occupation

    Figure 5 shows a significant difference between office staff, students and traders in terms of their perception of product price as a factor affecting their OGB satisfaction, since the selection rates for the three groups were 100%, 77% and 63% respectively. The absolute rate of the student group is explain-able because most students are financially dependent on their parents; therefore, they have to be price-conscious.

     

    1. d) Age

    Clear discrepancies in the perception of the youngest group (under 23) and the oldest group (over 50) can be observed in the selec-tion rates of product price and delivery factors (see Figure 6). Almost all respondents in the youngest group (96%) cared about the product price. As most of the respondents within this age group were likely to belong to the student group, the results of these two groups were understandably comparable (see Section 4.2.2-

     

    c).Meanwhile, 78% of the oldest group were concerned about delivery compared to 38% of the youngest group. This might be because older people tend to be busier so they may

     

    Figure 5: Factors affecting the satisfaction of respondents from different occupations towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           104                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 6: Factors affecting the satisfaction of younger and older group of respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Figure 7: Factors affecting the satisfaction of lowest and highest personal income group towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           105                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    cherish the time-saving characteristic of deliv-ery more than the youngsters.

     

    It can be concluded that the younger age group generally paid more attention to the product price while the older group tended to be more concerned about the delivery process.

     

    1. e) Personal income

    As shown in Figure 7, 91% of the respon-dents who earned less than VND 3 million per month paid great attention to the product price when buying via OGB. This is expected since people with a lower level of personal income usually have to live on a tighter budget than others and thus have a tendency to be more critical of product prices.

     

    4.3. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

     

    The analysis in this section focuses on the overall satisfaction of the survey respondents towards OGB business in Hanoi and the satis-faction degree for each of the factors perceived by most of the respondents as the ones that affect their satisfaction level with OGB busi-ness. These include product price, information quality, merchandise variety, delivery and product quality (see Section 4.2.1). The input data were computed by taking the average sat-isfaction ratings of different variables (see Table A1 – Appendix). The respondents’ expectations of each factor were also taken into account in the analysis to have better insights into OGB business performance.

     

    4.3.1. Overall satisfaction

     

    The survey results on overall satisfaction show that the majority of the respondents (63%) stayed neutral about OGB performance, 27% were satisfied and 10% felt dissatisfied

     

    and worse, which suggests a medium level of overall satisfaction of the respondents (mean: 3.15). From these data, it can be commented that the overall performance of OGB in Hanoi was somewhat up to the respondents’ expecta-tion.

     

    4.3.2. Satisfaction degree for key factors affecting customer satisfaction

     

    1. a) Product price

    As the product price was perceived as the factor affecting customer satisfaction by the highest number of respondents, and the respondent’s top reason to use OGB, the prices offered by OGB were expected to be consider-ably cheaper than those offered by traditional shopping channels.

     

    The survey results show fairly good responses to this factor with the mean satisfac-tion ratings being 3.44 out of 5. Specifically, nearly 40% of the sample found it satisfactory and 5% expressed their utmost satisfaction. This clearly implies that the OGB economical-ly meets or exceeds the expectations of numer-ous Hanoi’s consumers in their search for a money-saving shopping model, particularly in the current difficult situation of the economy.

     

    1. b) Information quality

    It is common sense for customers, particu-larly OGB customers, to expect truthful infor-mation about the products they intend to buy, so that they can make informed purchasing decisio ns. Unfortun ately, the satisfaction degree of the respondents for information quality was quite low, with 45% of the respon-dents reporting their dissatisfaction and the mean satisfaction degree being only 2.57. This may suggest that many customers do not trust

     

    Journal of Economics and Development                           106                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    the information posted on the OGB websites. The  in-depth  intervie ws  captured  com-plaints  about  the  informatio n  inaccuracy regarding products’ original prices, key fea-tures and images as well as unclear and non-transparent origins of goods or unknown sup-pliers. The same findings are found through the authors’ observation of five OGB websites including Nhommua, Muachung, Cungmua,

     

    Hotdeal, and Cucre.

     

    Therefore, it is fair to state that the quality of information provided by Hanoi’s OGB web-sites generally do not meet the customer’s expectation in terms of truthfulness.

     

    1. c) Merchandise variety

    Consumers are likely to expect that the OGB websites will provide them with a large range of goods and services i.e. great merchan-dise variety to facilitate their shopping.

     

    The survey shows that generally the respon-dents were quite satisfied with this factor as the mean satisfaction level was 3.30. Percentage wise, 38% were either very satis-fied or satisfied with the merchandise variety while merely 10% were dissatisfied. Several interviewees who reported dissatisfaction expressed that sometimes they did not find the needed products in these websites or the prod-ucts they wanted to buy quickly had run out of stock.

     

    The above ratings suggest that the OGB websites meet and even exceed the expecta-tions of most customers about the product range.

     

    1. d) Delivery

    It is reasonable for customers to expect quick and free-of-charge delivery with correct

     

    types and sizes of products. Nonetheless, it is revealed through the survey that the delivery seemed not to satisfy the respondents with 36% choosing the “Dissatisfied” category whereas only 19% expressed their satisfaction, which meant an average satisfaction rating of 2.83. The in-depth interviews discovered that key complaints of the delivery focus on delayed, charged and incorrect delivery. This completely matches the authors’ experiences as OGB customers and the related secondary data in this area.

     

    This rating pattern suggests the inability of some OGB companies in meeting the cus-tomer’s expectation of product delivery.

    1. e) Product quality

    As it is often believed that there is a trade-off between low price and good quality, it is seen from the interviews that the respondents tend to set their expectation of the OGB prod-uct quality to be at an acceptable level.

     

    Looking at customer’s expectation of goods and services separately, while the buyers of goods often wish the goods to be functional with rather appealing appearance and good durability, customers buying services expect good quality, friendliness of service providers and particularly equal treatment with normal customers who do not buy through discount vouchers.

     

    Given the above expectation, the product quality received low levels of satisfaction as the respondents rated their satisfaction 2.68 in average 31% of the respondents expressing dissatisfaction, compared to only 2% reporting satisfaction. The qualitative interviews further explored that among the OGB products

     

    Journal of Economics and Development                           107                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    offered, the quality of food and beverage deals were likely to most satisfy the interviewees, while the quality of fashion deals received a lot of negative comments in terms of counterfeits, fakes, unregistered or Chinese products of low quality, which greatly disappointed customers.

     

    4.3.3. Satisfaction degree in relation to demographic and customer shopping habits variables

     

    The examination of possible relationships between the factors affecting customer satis-faction and the demographic, as well as the shopping habits variables, provides a more insightful understanding about the OGB cus-tomer satisfaction. Due to the time limitation, only two key variables were carefully studied, which included gender and shopping frequen-

     

    cy.a) Satisfaction degree and gender

     

    The following radar chart compares the average satisfaction ratings of female and male respondents with regard to different factors affecting customer satisfaction (see TableA2 – Appendix).

     

    The general trend illustrates a medium level of satisfaction from both genders across all the factors, in which females tend to express greater satisfaction than their male counter-parts. However, the factor of supplier’s reputa-tion seemed to please male respondents more than females. This is quite reasonable as females often shop more frequently than males, which might make them more familiar with brands and the repute of suppliers.

     

    Figure 8: Customer satisfaction degree in relation to gender

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           108                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Women can be more critical than men when it comes to supplier’s reputation. The satisfac-tion patterns between female and male do not differ much among the remaining factors.

     

    1. b) Satisfaction degree and shopping fre-quency

    A rough examination of the relationship between the respondents’ shopping frequency and their average ratings of satisfaction demonstrates some interesting findings (see Table A3 – Appendix).

     

    As shown in Figure 9, the more frequent shoppers, who shop every week, generally have a greater degree of satisfaction related to a variety of factors. It might be rationalised that when these respondents interact more fre-quently with OGB, they are likely to under-stand better about the business, have greater chance to experience good things, and become

     

    more tolerant with the OGB experience. This reasoning is in agreement with Zeithaml, Berry and Parasuraman’s journal (1996) about the relationship between shopping frequency and overall satisfaction.

     

    The average rating of supplier’s reputation of the frequent shoppers was remarkably high-er than that of the less frequent buyers, who only purchase via the OGB channel less fre-quently than every two months. This probably implies that the more a person experiences OGB, the better chance they will have to do transaction with more competent and presti-gious suppliers.

     

    4.3.4. Likelihood of using and recommend-ing the OGB channel in the future

    To comprehensively assess customer satis-faction with the OGB business, apart from measuring the satisfaction degree for each fac-

     

    Figure 9: Customer satisfaction degree in relation to shopping frequency

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           109                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tor affecting customer satisfaction, it is neces-sary to explore the likelihood for the existing customers to repeat their OGB buying practice and recommend this shopping model to others.

    Statistically, the majority of respondents (87%) stated that they would continue to buy via this channel and a remarkable percentage (75%) confirmed the likelihood of recommen-dation. This is surprising given the low degree of satisfaction about the product quality among the respondents as previously analysed. A possible explanation for this result is that the huge financial advantage of this OGB channel outweighs the existing quality problems for many customers. This implies that if OGB companies focus more on fixing current quali-ty issues, they can surely win over many more

     

    customers.

     

    4.4. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

     

    The analysis in the previous parts proposes that apart from the respondents’ positive reflection on Hanoi’s OGB business, there are lots of complaints about the business perform-ance. The survey reveals a number of direct reasons for the customer dissatisfaction as illustrated by Figure 10, among which low quality products, false discount rates and incorrect information provided on websites receive the highest level of dissatisfaction.

    To thoroughly address these defects, it is crucial to have a clear idea of the root causes of this dissatisfaction. To this end, the second-ary data from online articles and T.V. inter-views and the primary data from the qualita-

     

    Figure 10: Direct reasons for OGB customer dissatisfaction

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           110                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tive research provided a great help. Reviewing these sources of data, the root causes can be distributed into three stakeholder categories; namely: macro-level management, OGB com-panies and OGB customers.

     

    4.4.1. Shortcomings related to legislation and infrastructure at macro level

    Like other businesses, OGB is subject to macro-level management. Thus, to improve the OGB performance, it is necessary to exam-ine the weaknesses in macro management of this business in Vietnam. Based on the aggre-gation of data collected from different sources, the root causes related to macro-level manage-ment can be divided into two main categories regarding the legal framework and the technol-ogy infrastructure.

     

    1. a) Lack of legislative regulations and super-vision

    Despite being a hot-trend in the recent years, OGB business still gets little attention from policy makers in Vietnam. Although there are a number of legislative documents related to consumer protection and e-com-merce such as the Law of Consumer Rights Protection, the Decree on E-commerce, and the Circular on Regulation on Operation Management of E-Commerce Websites Selling Goods or Providing Services, it is fair to say that these documents are still incomplete and insufficient. Particularly, they lack forceful sanctions for violation. Additionally, there has been no legislative document specialised in the segment of OGB, where there is clear involve-ment of a third party.

     

    Furthermore, the supervision and inspection on compliance with the legislations related to

     

    consumer rights protection and e-commerce is inefficient and even weak. Consequently, numerous violations of OGB consumer rights related to low quality and counterfeit products, false price discount, incorrect advertisement information , disputes and redress, online fraud, and etc., increasingly take place without being rightfully addressed by any agencies. This is supported by the survey results about the key reasons for customer dissatisfaction with OGB as aforementioned. Customers who have been defrauded are eligible to take legal action against the fraudulent seller, but the process is particularly time and effort consum-ing while positive results are quite uncertain.

     

    The lack of legislative regulations on the specific responsibilities of each party involved in OGB is proven more clearly given the recent temporary shutdown of Nhommua.com. This shutdown caused a huge blow to its cus-tomers as they felt really anxious about who would protect their consumer rights and how if Nhommua.com was out of the picture.

     

    b)Underdeveloped technology infrastruc-ture in Vietnam

     

    To optimise the advantages of OGB, it is necessary to develop a modern and stable infrastructure of technology that allows smooth and safe online orders and payment.

     

    Unfortunately, the currently underdevel-oped technology infrastructure in Vietnam restricts the capacity of carrying out smooth online transactions while ensuring customer security and privacy. Although the respondents seem not to realise the seriousness of the pri-vacy and security issues with only 8% feeling discouraged by the possible leak of private information and 1% expressing displeasure

     

    Journal of Economics and Development                           111                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    with the risk of their money being stolen (see Figure 10), consumers are certainly exposed to these great risks.

     

    Besides the risk of security/privacy, retrieval of money through Vietnam’s online payment system is quite troublesome, which somewhat prevents customers from using this purchasing channel.

     

    4.4.2. Lack of business management skills and business ethics of OGB companies

    OGB companies are likely to be the party that receives the greatest blame from unhappy customers. The root causes of this dissatisfac-tion related to this party can be categorised into two main issues as follows:

     

    1. a) Limited business management skills of OGB companies

    One of the issues of most concern men-tioned by OGB’s unhappy customers is prod-uct quality. Statistics show that 55% of the respondents reason their dissatisfaction with the below-standard quality of products. This is partly due to the companies’ poor quality con-trol over the goods and services provided, par-ticularly the lack of efficient checking and test-ing of the product quality before signing the contract with suppliers.

     

    Turning to delivery, three main reasons for the respondents’ displeasure include slow delivery, wrong delivery and charged delivery with the consensus of 20%, 6%, and 24% of the respondents respectively. This owes to the OGB companies’ inability to create a system-atic procedure for accurate, smooth and timely delivery as well as to cover their expenses rea-sonably.

     

    The lack of management competence of

     

    many OGB companies is also demonstrated in their lack of professionalism in the handling of questions and complaints from customers, which was the contributing factor to the dissat-isfaction of 17% of the respondents.

     

    Furthermore, the OGB companies are responsible for the protection of customer’s privacy/security. Nevertheless, as David Tran, co-founder of Nhommua.com stated, many OGB companies still pay little attention to per-sonal informati on protection (Stories of Vietnamese products, 2012).

     

    Apart from the above mentioned factors, the inefficient operation of the websites, which dissatisfied 6% of the respondents, also proves the poor management of the OGB companies, particularly in terms of information technolo-

     

    gy.b) Lack of business ethics of OGB compa-nies

     

    Besides resulting from the incompetence in quality management, low product quality can also be caused by the poor business ethics of OGB companies that only focus on high com-missions and large numbers of vouchers sold by offering extremely cheap but low quality products.

     

    The most common demonstration of OGB companies’ unethical practices however, does not relate to the quality problem but involves false discount rates with 47% of the respon-dents being disappointed by this factor. In some cases, the discount prices are even high-er than when the products are sold in a regular manner.

     

    The dishonesty of some OGB companies is also expressed through incorrect product infor-

     

    Journal of Economics and Development                           112                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    mation posted on their websites with 38% of the survey participants expressing frustration. These websites have tons of beautiful and vivid photos of the products, most of which are either purely illustrative or heavily retouched and in no sense describe the actual state of the products. Also, the text descriptions of the product characteristics are sometimes inten-tionally vague or even inaccurate. These cer-tainly mislead site visitors to a high expecta-tion of the products advertised.

     

    4.4.3. OGB customers’ lack of awareness of consumer rights and responsibilities

     

    The dissatisfaction of customers comes from not only objective causes but also the customers themselves. The interview results and the secondary data show two main subjec-tive reasons for customer dissatisfaction , including the customers’ lack of awareness of their rights and their responsibilities while doing trading transactions.

     

    1. a) Customer’s lack of awareness of their rights

    This lack of perception has been described in articles in the mass media. As the customers do not perceive their rights as consumers ade-quately, they become more vulnerable to the bad practices of OGB companies. It is unfortu-nate that this unawareness together with hesi-tation psychology prevents many customers from exercising their rights legitimately.

     

    1. b) Customer’s lack of responsibility during trading transactions

    Besides being entitled to a set of rights, cus-tomers must be responsible for their shopping behavio urs to minimise possible harmful results. However, a lot of customers still lack

     

    this sense of responsibility during their involvement in the purchasing process.

     

    In terms of goods deals, a common problem is a customer’s hasty decision to buy eye-catching but unnecessary goods offered by OGB websites. This leads to a later waste as they hardly find any chance to use that prod-uct. Furthermore, the OGB companies often have tight policies on goods change or cash refund after the receipt of goods. Therefore, some customers who do not carefully check the product before finalising the purchase may get into trouble later if they are not satisfied with the products and want a refund.

     

    In terms of service deals, one serious mis-take that customers can make is not.reading the voucher’s instructions thoroughly This may create troubles for customers when using the vouchers.

     

    5 Conclusions and recommendations

     

    5.1 Conclusions

     

    5.1.1. Key factors affecting OGB customer satisfaction

    It is revealed that product price, product quality, merchandise variety, delivery, and information quality are the most popular fac-tors selected by the highest percentage of the respondents; whereas the response time, pay-ment method, and security/privacy are the least popular ones. It is surprising yet reason-able that the finding about security/privacy goes against the literature where security-pri-vacy is among of the most concerned areas in e-commerce.

     

    Some interesting findings come into view considering different demographic variables. Specifically, females pay more attention to the

     

    Journal of Economics and Development                           113                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    product price and transaction capability when shopping, but are less attentive to the product delivery than males. Delivery seemed to attract more attention of married people than the sin-gle ones, as well as more interest of the older age group than the younger age groups.

    5.1.2. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

    The measurement of the customer satisfac-tion degree with the OGB business indicates a medium level of overall satisfaction of the respondents. Among the key factors listed above, the product price and merchandise vari-ety have higher satisfaction degrees while the information quality, product quality and deliv-ery have lower rates.

     

    Taking gender and shopping frequency into account, female customers tended to have higher satisfaction rates than males and more frequent shoppers seemed to be more satisfied than less frequent buyers.

     

    It is revealed that despite not being quite satisfied, the respondents are likely to repeat purchase and recommend to others, which implies that the price advantage outweigh existing problems. This is clearly a good signal for the development of Hanoi’s OGB.

     

    5.1.3. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

    The root causes of customer dissatisfaction can result from three parties, including macro-level management, OGB companies, and OGB customers.

    Firstly, the macro-level management over OGB is considered ineffective due to the lack of specific legislative regulations related to OGB and a functional supervision system to

     

    manage the OGB companies’ operation, as well as the underdeveloped technology infra-structure, which may lead to the poor perform-ance of OGB companies and eventually cus-tomer dissatisfaction.

     

    Secondly, the OGB companies are claimed by the majority of interviewees to be responsi-ble for customer dissatisfaction, particularly in terms of the product quality, false price dis-counts, unprofessionalism in complaint han-dling, and incorrect product information. This may be due to their limitation in quality man-agement and more seriously, their poor busi-ness ethics.

     

    Lastly, the customers themselves may con-tribute to the bad purchasing experiences with OGB businesses where they are probably vul-nerable. This happens as a result of the limited awareness of the OGB consumers about their rights and responsibilities.

     

    5.2. Recommendations

     

    From the previous analysis, it is certain that necessary measures need to be taken to improve the satisfaction of Hanoi’s OGB cus-tomers. In this sense, the authors would pro-pose a number of recommendations as fol-lows:

     

    5.2.1. Strengthen macro-level management over the OGB market

     

    Given the incomplete legal framework spe-cialised in OGB, customers’ growing interest in this business form and the current chaotic situation of this market in Vietnam, it is the right time for the authorities to develop specif-ic and detailed regulations with strict sanctions for bad practices in the management and oper-ation of OGB. This is once again re-empha-

     

    Journal of Economics and Development                           114                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    sised by the incident of Nhommua, a big and firmly established OGB company, which tem-porary shut down last December.

     

    As a latecomer to the already-developed worldwide e-commerce market, Vietnam can and should fully take the advantages as a mar-ket follower to learn from the macro-manage-ment of other countries. Vietnam’s govern-ment can then tailor suitable regulations to proactively manage new e-commerce models instead of passively waiting until problems arise to generate ad-hoc solutions.

     

    Several important categories may be taken into consideration with regard to these legal regulations , for example contrac t terms between OGB companies and their suppliers to protect customers, especially in the case of business disputes, as well as a better method of securing suppliers and customers’ money in the case of OGB companies’ bankruptcy. The latter can be implemented through two possi-ble ways. First, OGB companies might be legally required to put customer’s money into an intermediate means of settlement, like an electronic wallet, which would be managed by a concerned governmental authority. Otherwise, OGB companies might be com-pelled to either put aside daily deposits or buy insurance on their business operation to reduce the financial risk for both suppliers and cus-tomers.

     

    These legal regulations should be broadly disseminated to concerned parties, particularly consumers. The OGB customers should be educated to become well-aware of their rights and responsibilities related to OGB business. In this aspect, the relevant social organisations can play a significant role.

     

    Furthermore, macro-level supervision over the operation of OGB companies must be taken into serious consideration. There should be clear-cut regulations prescribing that a gov-ernmental agency will be the direct manage-ment unit of these companies so that they can operate according to the rules while being strictly monitored by the specific agency that bears specific accountability in front of the government.

     

    Additionally, it is necessary for the govern-ment to develop a strategic plan to strengthen the country’s technology infrastructure in order to ensure a safer online transaction envi-ronment to facilitate the operation of e-com-merce in general and OGB in particular.

     

    5.2.2. Improve quality management and business ethics of OGB companies

    Capacity building activities for OGB com-panies are needed to enhance their manage-ment, particularly with regard to quality inspection, delivery, human resources training, question and complaint handling procedures, and information technology skills.

     

    More importantly, these companies must realise that for long-term profits, they have to use more ethical and more professional meas-ures to attract customers, such as improving the product quality and diversity, delivery process, and information quality, rather than trick customers with incorrect descriptions about products or falsely stated discount rates as some OGB companies are doing now. Otherwise, they will soon lose customers due to current fierce competition and increasingly demanding consumers.

     

    5.2.3. Raise awareness of OGB customers

     

     

    Journal of Economics and Development                           115                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    about customer rights and responsibilities Firstly, OGB customers need to well under-

     

    stand their rights and responsibilities to keep themselves from being vulnerable. They have to be continuously updated with legal knowl-edge related to e-commerce and particularly OGB as well as laws about consumer rights protection.

     

    Secondly, consumers should be critical about their responsibilities when shopping. They should refrain from impulse shopping and spend adequate efforts to study a product pre-purchase. Furthermore, they need to care-

     

    fully check the goods before finalising their purchase to avoid potential troubles later, as well as to thoroughly read the vouchers for service deals about the expiration date, appli-cable items, reservation, time requirement, and etc.

     

    Thirdly, given the current chaotic situation of low quality goods and services offered by many OGB websites, it is strongly advisable that the customers only choose deals from prestigious suppliers or from ones that are highly recommended by their family and friends.

     

    APPENDIX

     

    Box A1: Key findings from the qualitative research

     

    • Attractive price and door-to-door delivery were the most common reasons for selecting the OGB channel.
    • With advantages and a high prevalence of the Internet in Hanoi, and the power of word-of-mouth advertising, these channels were the main sources of information through which the interviewees learned about OGB websites.
    • Customer satisfaction was affected differently by different factors including price level, information quality, merchandise variety, supplier’s reputation, website design, sales assistant’s attitude, payment, response time, privacy, transaction capability, product quality, delivery and customer services, in which the most selected factors included price level, product quality, information quality and delivery.
    • Despite the exposition of customers’ personal contacts without their consent experienced by many interviewees, they were unaware of the security/privacy issues.
    • Product level and merchandise variety were the most satisfactory factors due to low price and a copious range of OGB products offered. In contrast, with fake, counterfeit and low quality OGB products generally, and inaccurate information on products’ original prices and features, the product quality and information quality were the least satisfactory ones.
    • Key root causes of customer dissatisfaction resulted from the ineffective macro-level management of OGB in terms of legislative regulations, supervision systems and technology infrastructure; the quality management limitation and poor business ethics of OGB companies; and the limited awareness of OGB consumers about their rights and responsibilities.

    Journal of Economics and Development                           116                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Table A1: Means and standard deviations of satisfaction degree for all the respondents

     

     [1] 
    

     

     
    
    [1]

    [1]

     
         

    

     [1]

    

       
    

    [1]

     
       

    [1] [1] [1]  

       

    

     

     

       


    

     

    ­[1] ! [1] “[1]

     

    

     

    #  $ [1]  %

    [1][1]&

    

     

    #   %

    [1][1]&

    ‑

     

    (    $ 

    


    ’

     

    )[1] $ [1] [1]

     

    ‑

     

    *[1] +#” 

       

    ’

     

    #[1]

     

    ‘

     

    ,[1]”[1] %$ [1]- [1]  [1][1]  ! [1]&

    ’

    ‑

     

    *[1] $[1]$[1].  [1]

     

    ‘‑

     

    /[1]    $ !

     


     

    *$$[1].  [1]$

    

     

    0″[1]   

     

    

     

    

     

    Table A2: Means and standard deviations of satisfaction degree for female and male

     

    

    [1]

     

       


    

     

    [1] [1]

      [1]
             

    [1]
    [1]

    
    
    

    [1]
    [1]

     

    
    
    

     

    

     

    [1]

     

     

    

     

     

    [1]

     

     

    [1]    

     

    

    

     

    

     

    

     

     

    

     

    

     

    ‑­­

    !”  #

     

    

    ‑­

    

     

    
    ‑

    $! %!

    

     

    ­

     


    ‑­

    $! 

    

    

       

    ‑‑‑

    &! !% 

    ‑
    ‑‑‑

    

     

    ­­

    ‘ %  

    

    

     

    ­‑

    ( !)$#!

     

    ­

       

    ­­

    $   “

    

    
    ­

       

    ‑

    * #  +%! ,      !” -

    ‑

    ­
    ‑

    ‑­

     

    ­‑

    ­

    ( % % . 

    

    

    ­

     

    ‑

    /  0 !% “

    

    ­

     

    
    
    

    (%% . %

    ­

    ­­‑‑­

    

     

    

    Journal of Economics and Development                           117                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Journal of Economics and Development

    118

     

    Vol. 15, No.1, April 2013

    Table A3: Means and standard deviations of satisfaction degree for respondents with regard to shopping frequency

     

     

    [1]   

     

    [1]

    

     

    [1]

     

    [1]

     

     [1]

     
               

    

      
     

     

       

     

     

     

     

     

       

     

     

     

     
                         
     

    [1]

    

     

    [1]

     

    

    [1]

     

     [1]

    [1]

     

    

     

    [1]

     

    

     
       

    [1]

         

    [1]

           

    [1]

         

    [1]

     
                     

    [1] [1] [1]  

     

    

     

    

     

    

    

     

    
    
    

    

     

    

         

    

    

     

     ‑­

    

    
    

         

    

    

     

    

       

    

    
    

     

    

     

    
    

     

    [1]!” [1] #[1]­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

    

     

    $! %![1]

     

    

     

    

     

    

    

     

    

    

     

    

    

     

    

     

    
    

     

    $! ‑­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    

     

    & ! !% ‑­

     

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    

         

    

     

    ‘[1] % [1] [1]

     

    
    

    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    ([1]!­)$#!­

     

    

         

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    $­[1]

     

    

    

     

    

     

    

       

    

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    *[1]‑#[1]­

    

    

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    
    

         

    

     

    (‑[1] %[1]%‑[1]+  [1]

    

    
    

         

    

    

    

     

    

    

           

    

     

    

     

    ,[1] - !%‑ “‑

    

    
    

         

    

       

    

    

       

    
    

         

    

     

    (%%‑[1]+  [1]%

    

    
    

     

    

     

    

       

    

    

     

    

     

    

     

    

     

    Notes:

     

    1. A very popular online social network in the world in general and in Vietnam in particular.
    1. A social interactive forum designed mainly for mothers, fathers and other adults to talk about issues regarding family, society, etc. This is a very popular and highly-active forum in Vietnam with more than 1 million members a t the moment. Link: http://www.webtretho.com/forum/
    1. Yahoo Messenger and Skype.

    References

     

    AC Nielsen. (2009), Ho Chi Minh City and Hanoi Regional Consumer Differences, The Nielsen Company, New York, the United States:

     

    Anand, K.S., & Aron, R. (2003), Group Buying on the Web: A Comparison of Price-Discovery Mechanisms’, Management Science, 49(11), 1546-1562.

     

    Anderson, E.W., & Sullivan, M.W. (1993), ‘The Antecedents and Consequences of Customer Satisfaction for Firms’, Marketing Science, 12(2), 125-143.

     

    Ba, S., Whinston, A. B., & Zhang, H. (2003), ‘Building Trust in Online Auction Markets through an Economic Incentive Mechanism’, Decision Support Systems, 35(3), 273-286.

     

    Bhattacherjee, A. (2001), ‘Underst anding Information Systems Continuance: An Expectation-Confirmation Model’, MIS Quarterly, 25(3), 351-370.

    Cimigo.(2011), 2011 Vietnam NetCitizens Report: Internet Usage and Development in Vietnam. Cimigo. Dawes, J. (2008), ‘Do Data Characteristics Change According to the Number of Scale Points

     

    Used? An Experiment Using 5 Point, 7 Point and 10 Point Scales’, International Journal of Market Research, 50(1), 1-19.

     

    Devlin, P. (1965), The Enforcement of Morals. Oxford, Oxford University Press, the United Kingdom. Do, Q.T. (2011), ‘Vietnam Group-Buying Market Overview 2010-2011 [PowerPoint slides]’, Accessed

     

    August 8, 2012, < http://www.doquangtu.net/2011/11/nghien-cuu-oc-lap-ve-thi-truong-group.html>. Flaherty, D.H. (1991), ‘On the Utility of Constitutional Rights to Privacy and Data Protection’, Case

     

    Western Reserve Law Review, 41(3), 831.

     

    FTA Marketing Research and Consultant Company. (2011), Survey on Online Shopping Behaviour, Accessed August 5, 2012, < http://www.ftaresearch.com/vn/library.php?id=106>.

    Giese, J.L., & Cote, J.A. (2002), ‘Defining Consumer Satisfaction’, Academy of Marketing Science Review, 2000(1), Accessed October 17, 2012, <http://www.amsreview.org/ articles/giese01-2000.pdf>.

     

    Jones, J.M., & Vijayasarathy, L.R. (2000), ‘Print and Internet Catalogue Shopping: Assessing Attitudes

     

    and Intentions’, Internet Research: Electronic Networking Applications and Policy, 10, 191-202.

     

    Kauffman, R.J., & Wang, B. (2001), ‘New Buyer’s Arrival under Dynamic Pricing Market Microstructure: The Case of Group-Buying Discounts on the Internet’, Journal of Management Information System, 18(2), 157-188.

     

    Knowledge Wharton. (2007), Men Buy, Women Shop”: The Sexes Have Different Priorities When Walking

     

     

    Journal of Economics and Development                           119                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Down the Aisles, Accessed November 16, 2012, <http://knowledge.wharton.upenn.edu/article.cfm?

    articleid=1848>.

       

    Kotler, P. (1997), Marketing Management: Analysis, Planning, Implementation, and Control, Prentice-

    Hall, New Jersey, United States:.

       

    Lee, G. G., & Lin, H. F. (2005), ‘Customer Perceptions of E-service Quality in Online Shopping’,

    International

    Journal  of  Retail  &  Distributio n

    Manageme nt,

    33(2),  161-176.  doi:

    10.1108/09590550510581485.

       

    Libbon, R.P. (1999), ‘Data Dog’, American Demographics, 21(2), 35.

     

    Likert, R. (1932), ‘A Technique for the Measurement of Attitudes’, Archives of Psychology, 140(1), 55.

    Liu, X., He, M., Gao, F., & Xie, P. (2008), ‘An Empirical Study of Online Shopping Customer Satisfaction

    in China: A Holistic Perspective’, International Journal of Retail & Distribution Management,

    36(11), 919-940. doi: 10.1108/09590550810911683.

       

    OBG websites: Cucre. Available at http://cucre.vn; Cungmua. Available at http://www.cungmua.com;

    Hotdeal. Available  at  http://www.hotdeal.vn/;  Muachung. Available  at  http://muachung.vn;

    Nhommua. Available at http://www.nhommua.com <Accessed November, 2012>.

    Rowley, J. (1996), ‘Retailing and Shopping on the Internet’, International Journal of Retail and

    Distribution, Management, 24(3), 26–37.

     

    BMA Review, Retrieved,

    Sheth, J. N. (2001), ‘Competitive Advantages through Customer Satisfaction’,

    from http://www.jagsheth.net/publications_subject.html <Accessed Agust 12, 2012>.

    Smith, S.M. (2007), ‘How to Measure Customer Satisfaction: Satisfaction Measurement and Theory’,

    About Surveys. Available at http://www.aboutsurveys.com/how-to-measure-customer-satisfaction-

    satisfaction-measurement-and-theory/ <Accessed November 24, 2012>.

     

    Stories of Vietnamese Products. (2012), ‘Mua Hang Theo Nhom va Quyen Loi cua Nguoi Tieu Dung

    [Group-buying and Consumers’ Rights] [Motion picture]’, HTV9, Vietnam.

    Vagias, W.M. (2006),

    Likert-type Scale Response Anchors, Clemson International Institute for Tourism &

    Research Development, Department of Parks, Recreation and Tourism Management. Clemson

    University.

     

    Computer Networks and ISDN Systems,

    Van Swaay, M. (1995), ‘The Value and Protection of Privacy’,

    26(4), 149-155.

         

    Yi, Y. (1990), ‘A Critical Review of Consumer Satisfaction. In V.A. Zeithmal (Ed.)’, Review of Marketing (pp. 68-123), American Marketing Association, Chicago, the United States.

     

    Zeithaml, V.A., Berry, L.L., & Parasuraman, A. (1996), ‘The Behavioural Consequences of Service Quality’, Journal of Marketing, 60(2), 31-46.

     

     

    Journal of Economics and Development                           120                                                   Vol. 15, No.1, April 2013


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%C3%ADnh-v%E1%BB%8B-ch%E1%BB%A7ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-uy-t%C3%ADn-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-c%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-th%C3%B4ng-minh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

     

    • Trƣơng Mỹ Ngọc
    • Lê Nguyễn Hậu

    Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG HCM – Email: [email protected]

     

    (Bài nhận ngày 31 tháng 10 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 12 năm 2016)

     

    TÓM TẮT

     

     

    Bài viết này khám phá vai trò của tính vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Dựa trên kiểm nghiệm mô hình cấu trúc với bộ dữ liệu thu thập từ 259 khách hàng, kết quả cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận về uy tín thương hiệu, dẫn đến lượng giá

    sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng. Bên cạnh ý nghĩa lý thuyết, kết quả này gợi cách tạo uy tín cho các thương hiệu mới của điện thoại thông minh Việt nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu dựa trên tính vị chủng tiêu dùng.

     

     

    Từ khóa: Tính vị chủng, uy tín thương hiệu, giá trị cảm nhận, sẵn lòng mua, điện thoại thông minh, thương hiệu Việt.

     

     

    1.   GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, những chiếc điện thoại thông minh đang thật sự trở thành tâm điểm của thế giới công nghệ. Với việc ngày càng được tích hợp nhiều ứng dụng tiên tiến, điện thoại thông minh giờ đây không chỉ đơn thuần là thiết bị để nghe, gọi hoặc nhắn tin mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng của máy tính, máy ảnh, máy nghe nhạc, v.v… Vì vậy, điện thoại thông minh đang dần thay thế các sản phẩm công nghệ cao khác mang lại nhiều loại giá trị cho con người.

     

    Trong những năm gần đây, thị trường điện

     

    thoại thông minh ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Phan Tuấn, 2015). Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng sẽ là 10% – 15% đến năm 2019 (Trần Nghĩa, 2015). Về phía cung, gần như tất cả các thương hiệu danh tiếng thế giới như: Sony, Samsung, LG, HTC và mới đây là Huawei, Oppo,… đều đã có mặt và đang chiếm được phần to của “miếng bánh”. Ở phần còn lại, từ năm 2008 đã xuất hiện các thương hiệu Việt như Q – Mobile, Mobiistar, F – Mobile, Avio, Q – Smart và gần đây là Bphone của Bkav. Mặc dù đã góp mặt trong mọi phân khúc từ thấp đến cao cấp, nhưng gần như chưa có một thương hiệu điện

     

    Trang 68

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    thoại Việt nào đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện thoại thông minh của nước ngoài. Trong báo cáo gần đây của IDC cho biết trong quý II năm 2015, thị phần điện thoại thông minh của các thương hiệu Việt đã giảm xuống chỉ còn 7%, so với 10% của cùng kỳ năm 2014 (Phan Tuấn, 2015). Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và nghiên cứu là ở giai đoạn đầu chưa có nhiều tương tác với thị trường để tích lũy uy tín thì làm cách nào để smartphone Việt tạo dựng uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận cho người tiêu dùng Việt?

     

    Trong bối cảnh đó, bài báo này được hình thành dựa trên ý tưởng “có thể có sản phẩm hay thương hiệu toàn cầu, nhưng động cơ mua thì không toàn cầu” (De Mooij, 2013) và quan điểm văn hoá đa dạng trong phạm vi quốc gia (Henderson & ctg, 2013). Theo đó, những đặc thù riêng của dân tộc, xã hội và văn hoá của mỗi thị trường và mỗi cá nhân có thể có vai trò khác nhau đối với thái độ và hành vi người tiêu dùng v.v. Trong đó, nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của tính vị chủng của người tiêu dùng Việt đối với trường hợp sản phẩm điện thoại thông minh. Lược khảo sơ bộ cho thấy đã có một vài nghiên cứu trước đây ở Việt nam về chủ đề tính vị chủng (Nguyen & ctg, 2008; Le & ctg., 2011, 2013). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính vị chủng và cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu thì chưa được khám phá.

     

    Mục tiêu của bài báo này là tìm hiểu tác động của tính vị chủng lên cảm nhận về uy tín thương hiệu, từ đó dẫn đến sự lượng giá và cảm nhận giá trị sản phẩm và sự sẵn lòng mua của người tiêu dung Việt đối với chiếc điện thoại thông minh Việt nam. Bên cạnh hàm ý lý thuyết về vai trò của tính vị chủng trong hành

     

    • mua, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà sản xuất điện thoại thông minh Việt nam xây dựng chiến lược phát triển uy tín thương

    hiệu trong giai đoạn khó khăn mới thâm nhập thị trường.

     

    2.   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT

     

    2.1. Các khái niệm nghiên cứu

     

    Tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism): Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng có xuất sứ từ khái niệm tính vị chủng, vốn là một khái niệm tâm lý – xã hội nhằm diễn tả tính cách của một cá nhân trong một bối cảnh văn hoá – xã hội (Sumner, 1906; Levine & Campbell, 1972). Khái niệm tính vị chủng được định nghĩa là khuynh hướng của một người xem cộng đồng văn hoá của họ là trung tâm của vũ trụ, là quy chiếu cho các cộng đồng khác. Họ có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm cộng đồng văn hoá khác và đánh giá cao, tự hào một cách mù quáng các giá trị, chuẩn mực và con người thuộc nhóm văn hoá của mình (Booth 1979; Worchel and Cooper, 1979).

     

    Từ đó, khái niệm tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis & ctg., 2007). Tính vị chủng tiêu dùng được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về sự đúng đắn về đạo lý (moral appropriateness) trong việc mua các sản phẩm nước ngoài. Theo đó, người có tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cho rằng việc mua sản phẩm nước ngoài là sai trái; điều đó sẽ gây tác hại cho sản xuất trong nước, gây mất công ăn việc làm trong nước, là không yêu nước (Shimp & Sharma, 1987; Spillan, 2008).

     

    Uy tín thƣơng hiệu (brand credibility):

     

    Uy tín thương hiệu được định nghĩa là mức độ đáng tin của các tín hiệu hàm chứa trong một thương hiệu (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm hoặc định vị thương hiệu) trong mối tương quan với thị trường và người tiêu dùng

     

    Trang 69

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    (Erdem & Swait, 2004). Khái niện này được cấu thành bởi hai thành phần là sự đáng tin (trustworthiness) và năng lực (capability) của thương hiệu trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng (Erdem & Swait, 1998).

     

    Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu là kết quả tích lũy lâu dài của sự tương tác giữa thương hiệu và thị trường nói chung, thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008). Đối với mỗi cá nhân khách hàng (đặc biệt là khách hàng mới) trong điều kiện thông tin bất đối xứng (doanh nghiệp hiểu rõ về sản phẩm hơn khách hàng rất nhiều), thì uy tín thương hiệu là tín hiệu quan trọng để họ xem xét và lựa chọn thương hiệu (Erdem & Swait, 2004; Wernerfelt, 1988).

     

    Lƣợng giá sản phẩm (product judgement)

     

    được định nghĩa là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự đáng giá của một sản phẩm dựa trên cảm nhận của họ về sự công bằng về giá và cảm nhận về chất lượng (Hansen, 2005). Nói cách khác, lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc hai (second-order reflective construct), được hình thành bởi hai thành tố là chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Chất lượng cảm nhận của sản phẩm gồm một tập hợp các thuộc tính của một sản phẩm tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu tường minh và tiềm ẩn của khách hàng (Zeithaml, 1988). Theo Lee (1996), Monroe & Krishnan (1985) cho rằng chất lượng cảm nhận là đánh giá của khách hàng về khả năng sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra sự hài lòng cho họ. Mặt khác, cảm nhận sự công bằng về giá hay giá cảm nhận phản ánh cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về mức độ hợp lý hay sự tương xứng giữa sản phẩm với giá bán của nó (Agrawal & ctg, 2007; Jacoby & Olson, 1977).

     

    Giá trị cảm nhận (perceived value): Giá

     

    trị cảm nhận được xem là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với những lợi ích mà sản phẩm mang lại so với những gì mà họ bỏ ra (Zeithaml, 1988; Treacy & Wiersema, 1995). Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ thì giá trị cảm nhận có thể khác nhau đối với mỗi người, tuỳ vào tính cách, hoàn cảnh, vào nhận định về mức độ quan trọng của lợi ích và chi phí mà họ phải bỏ ra (Le & ctg., 2013). Đã có nhiều nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận. Đối với điện thoại thông minh, Bakon và Hassan (2013) đề nghị bốn thành phần biểu hiện là giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức. Giá trị chức năng đề cập đến chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Do nghiên cứu này đã xem xét riêng 2 thành phần này trong khái niệm lượng giá sản phẩm nên chỉ xét ba biểu hiện còn lại của giá trị cảm nhận.

     

    Giá trị xã hội gồm những lợi ích từ khả năng một sản phẩm giúp đề cao cảm nhận cá nhân về mặt xã hội (Sweeney & Soutar, 2001; Le & ctg., 2013). Giá trị cảm xúc liên quan đến những trải nghiệm tích cực về tình cảm hay cảm xúc mà một sản phẩm mang lại (Sweeney

     

    • Soutar, 2001). Giá trị tri thức là giá trị có được dựa trên sự đổi mới, tính hiếu kỳ hoặc mới lạ, bởi người tiêu dùng cảm thấy quá quen với những sản phẩm hiện tại (Seth & ctg, 1991). Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng về sự đổi mới liên tục các chức năng của điện thoại thông minh (Krajaluoto & ctg., 2005; You & ctg., 2011; Khan & Hyunwoo, 2009).

    Sẵn lòng mua (Willingness to buy): Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó. Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành

     

    1. Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua. Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng

    Trang 70

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành

     

    1. Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng mua để biểu thị cho khuynh hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng. Sẵn lòng mua được nói đến cả trong khuynh hướng mua (Lumpkin & ctg., 1985) và khuynh hướng mua lại (Hossain, 2006).

    2.2. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

     

    Tính vị chủng và uy tín thƣơng hiệu

     

    Như đã đề cập, uy tín thương hiệu thể hiện lòng tin của khách hàng về các tín hiệu hàm chứa trong thương hiệu và về năng lực thực hiện sự cam kết của thương hiệu với khách hàng. Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu được tích lũy dần thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008).

     

    Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, như đã nêu trong phần giới thiệu đề tài, do còn mới trên thị trường, lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu chưa được tích lũy qua quá trình tương tác trong quá khứ theo cách tiếp cận duy lý nêu trên. Ngược lại, nó được phát triển theo cách tiếp cận xã hội và cảm xúc, dựa vào lòng tin và lòng tự tôn của những người trong cùng một cộng đồng, nghĩa là theo tính vị chủng của họ. Vì người có tính vị chủng cao thường xem cộng đồng của họ là trung tâm, là mẫu mực (Sumner, 1906; Shimp

     

    • Sharma, 1987), nên họ sẽ có xu hướng tin tưởng, nâng cao giá trị và sản phẩm do con người thuộc nhóm của mình tạo ra

    (Chryssochoidis & ctg., 2005). Nghiên cứu thực nghiệm Obradovic (2013) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao sẽ đánh giá thương hiệu nội địa thuận lợi hơn thương hiệu nước ngoài về chất lượng thương hiệu, uy tín thương hiệu và dự định mua. Do đó, giả thuyết

     

    được đặt ra như sau:

     

    H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và cảm nhận về uy tín của các thương hiệu điện thoại thông minh Việt Nam.

     

    Tính vị chủng và giá trị cảm nhận

     

    Những khám phá của Shimp & Sharma (1987), Steenkamp & ctg. (2003), Vida và Reardon (2008) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao thường có thái độ yêu thích và hướng đến các thương hiệu nội địa hơn là những thương hiệu nước ngoài, ngay cả khi các thương hiệu nước ngoài có chất lượng cao hơn (Shimp & Sharma, 1987). Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tác động của tính vị chủng của khách hàng lên việc hình thành thái độ của họ (e.g., Batra & ctg., 2000; Pharr, 2005; Vida & Reardon, 2008). Dimitrovic & ctg. (2009) đã chỉ ra rằng tính vị chủng của khách hàng có hàm ý quan trọng đối với nhận thức của họ về giá trị sản phẩm. Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, nghiên cứu này kỳ vọng tính vị chủng của khách hàng tạo nên một ảnh hưởng tích cực vào nhận thức của họ về giá trị của sản phẩm, dựa trên khía cạnh phi vật chất của nó (tức là giá trị cảm xúc, giá trị xã hội và giá trị trí thức). Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được đề nghị như sau:

     

    H2: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và giá trị cảm nhận của họ đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Uy tín thƣơng hiệu và lƣợng giá sản phẩm

     

    Uy tín thương hiệu được xem là có mối quan hệ trực tiếp với lượng giá sản phẩm với hai biểu hiện chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận (công bằng giá). Vigneron và Johnson (1999) đã chứng minh rằng khách hàng đánh

     

    Trang 71

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    giá chất lượng của một sản phẩm thông qua uy tín thương hiệu. Các nghiên cứu của Baek & ctg. (2010); Hanzaee & Taghipourian (2012) cũng đều cho thấy uy tín thương hiệu có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng cảm nhận. Nghĩa là uy tín thương hiệu chính là dấu hiệu tổng quát quan trọng về sự cam kết chất lượng và khả năng tạo ra chất lượng sản phẩm (Grunert

     

    • , 2001; Jeddiand & Imed, 2010). Mặt khác, uy tín thương hiệu còn thể hiện sự đáng tin (trustworthiness) của thương hiệu đối với khách hàng. Ở đây là sự đáng tin về giá bán sản phẩm. Nghĩa là, một khi khách hàng đánh giá uy tín thương hiệu càng cao thì họ càng yên tâm về sự công bằng trong giá bán trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như sau:

    H3: Có mối quan hệ đồng biến giữa cảm nhận về uy tín thương hiệu và lượng giá sản phẩm của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Lƣợng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận

     

    Mối quan hệ giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận được biện giải dựa trên lý thuyết mục đích – phương tiện MEC (Gutman

     

    • Alden, 1985; Zeithaml, 1988). Theo đó, chất lượng và giá trong lượng giá sản phẩm là những yếu tố cụ thể được khách hàng cân nhắc trước khi mua xem liệu sản phẩm có mang lại những giá trị mà họ mong muốn hay không (Reynolds & Gutman, 1984). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi khách hàng

    đánh giá cao về chất lượng sản phẩm hoặc công bằng về giá thì họ sẽ cảm nhận tốt về giá trị sản phẩm mà họ sử dụng (Hu & ctg., 2009; Chen, 2008). Một vài học giả khác cho rằng lượng giá sản phẩm bao gồm cảm nhận chất lượng và cảm nhận công bằng về giá có tương quan mạnh với giá trị chức năng của sản phẩm (Chen

     

    • Hu, 2010), một yếu tố làm nền tảng cho cảm nhận về các giá trị khác như giá trị xã hội và

    giá trị cảm xúc (Rust & ctg., 2000). Ở Việt nam, Le & ctg (2013) cũng đã cho thấy lượng giá cảm nhận có tác động tích cực lên giá trị cảm nhận. Vì vậy, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

     

    H4: Có mối quan hệ đồng biến giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Giá trị cảm nhận (kỳ vọng) và sự sẵn lòng mua

     

    Giá trị cảm nhận được nhiều học giả xác định là khái niệm có khả năng dự đoán tốt hơn sự hài lòng về các hành vi sau mua trong tiếp thị (Egger & Ulaga, 2002; Whittaker & ctg., 2007). Hơn nữa, giá trị cảm nhận có thể hình thành (kỳ vọng) trước khi mua và sử dụng sản phẩm (Gronroos, 2008). Theo đó, giá trị kỳ vọng có vai trò dẫn dắt thái độ và hành vi tiêu dùng (Sweeney & Soutar, 2001) trong đó có sự sẵn lòng mua. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá trị cảm nhận của một sản phẩm/ thương hiệu dẫn đến ý định hành vi đối với sản phẩm/ thương hiệu đó (Nguyen & ctg., 2008). Tương tự, Flynn & ctg. (2013) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá trị cảm nhận và sự sẵn lòng mua. Vì vậy, trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

     

    H5: Có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt và sự sẵn lòng mua của họ.

     

    Mô hình nghiên cứu

     

    Với năm giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như trong Hình 1. Theo đó, tính vị chủng tiêu dùng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về uy tín thương hiệu (H1), đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị

     

    Trang 72

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    cảm nhận đối với sản phẩm (H2). Tiếp đến, uy tín thương hiệu được giả thuyết là có tác động tích cực đến lượng giá sản phẩm (H3). Lượng giá sẽ được kiểm định mối quan hệ với giá trị cảm nhận (H4), yếu tố được xem là tiền đề quan trọng cho sự sẳn lòng mua của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt (H5).

     

    Trong mô hình nghiên cứu này (hình 1), khái niệm lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc 2 được cấu thành bởi Chất lượng cảm nhận và Công bằng về giá. Tương tự như vậy, Giá trị cảm nhận cũng là một khái niệm tiềm ẩn bậc 2 bao gồm ba thành phần là giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức.

     

                             

    Chat luong

     

    UY TIN

       

    H3+

       

    LUONG GIA

       

    cam nhan

     
                       

    THUONG HIEU

             

    SAN PHAM

               
             

    Cong bang

     
                               
                               

    ve gia

     
                             

    H1+

                 

    H4+

           
                                 
                                   
                                     

    TINH

       

    H2+

       

    GIA TRI

    H5+

     

    SAN LONG MUA

    VI CHUNG

               

    CAM NHAN

         
                           
                                   
                           
                                     
           

    Gia tri xa hoi

       

    Gia tri cam xuc

     

    Gia tri tri thuc

     
                               
       

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

               

    3.   PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Mô hình và các giả thuyết được kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có kích thước 259 cases. Mẫu được thu thập qua một cuộc khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi đến dưới 50 tuổi (nhóm khách hàng chính của điện thoại thông minh). Họ là nhưng người đã/ đang sử dụng điện thoại thông minh và đã biết đến điện thoại thông minh thương hiệu Việt (được nhận dạng thông qua câu hỏi gạn lọc). Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp tại nơi làm việc, học tập, tại nhà hoặc nơi thuận tiện khác.

     

    Nội dung các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, có hiệu chỉnh thông qua bước phỏng vấn sơ bộ (xem Bảng 2). Theo đó, thang đo Tính vị chủng gồm 4 biến quan sát (Keilor & Hult, 1999), Uy tín thương hiệu gồm 4 biến quan sát (Baek & ctg, 2010), thang đo Lượng giá sản phẩm gồm 2 thành phần Cảm

     

    nhận công bằng về giá (4 biến quan sát) và Chất lượng cảm nhận (6 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001, trong đó có 3 biến bổ sung từ phỏng vấn định tính), thang đo Giá trị cảm nhận gồm 3 thành phần là Giá trị cảm xúc (3 biến quan sát), Giá trị xã hội (4 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001) và Giá trị tri thức (4 biến quan sát) (Almakrami, 2013). Thang đo Sẵn lòng mua gồm 3 biến quan sát (Sweeney & Soutar, 2001). Các thang đo có dạng Likert 7 điểm.

     

    1. KẾT QUẢ Mô tả mẫu

    Như trình bày trong Bảng 1, mẫu dữ liệu được thu thập từ 259 người tiêu dùng đã biết đến smartphone thương hiệu Việt như Bphone, Mobiistar, Q – Smart, Viettel, Hkphone, F – Mobile, Masstel, Vivas và Avio. Về giới tính, mẫu gồm 152 nam (58,7%) và 107 nữ (41,3%);

     

    • người thuộc độ tuổi 18 – 34 chiếm 70,7% và 76 người 35 – dưới 50 tuổi (29,3%). Phân bố

    Trang 73

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    thu nhập chủ yếu ở mực trung bình và khá, cụ thể là 4 – 9 trđ/th (45,2%) và 9 – 20 trđ/th (36,7%). Qua đó cho thấy mẫu khảo sát là đủ

     

    đa dạng cho các phân tích thống kê và phản ánh nhóm khách hàng tiềm năng của loại sản phẩm này.

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu (n = 259)

     

     

    Tần số

    Tỷ lệ

     

    Tần số

    Tỷ lệ

    Thương hiệu được biết:

     

    Độ tuổi:

     

    Bphone (Bkav)

    84

    32,4

    18-34 tuổi

    183

    70,7

    Mobiistar

    53

    20,5

    35-49 tuổi

    76

    29,3

    Q-Smart (Q-Mobile)

    46

    17,8

    Tổng

    259

    100

    Viettel

    23

    8,9

    Thu nhập (trđ/th):

       

    HKphone (ROVI)

    22

    8,5

    Dưới 4

    17

    6,6

    F-Mobile (FPT)

    19

    7,3

    Từ 4 – dưới 9

    117

    45,2

    Masstel, Vivas, Avio

    12

    4,6

    Từ 9 – dưới 20

    95

    36,7

    Tổng

    259

    100%

    Từ 20  trở lên

    30

    11,5

    Giới tính:

       

    Tổng

    259

    100

    Nam

    152

    58,7

         

    Nữ

    107

    41,3

         

    Tổng

    259

    100

         

    Đánh giá và gạn lọc thang đo

     

    Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và độ tin cậy Cronbach’s alpha. Với 32 biến ban đầu, sau khi loại 6 biến (đo uy tín thương hiệu, chất lượng

     

    cảm nhận, tính vị chủng, giá trị xã hội và giá trị tri thức) do hệ số tải nhân tố thấp (< 0.4) hoặc có hệ số tải cao trên 2 nhân tố, các thang đo với

     

    • biến còn lại được đưa vào kiểm định chính thức với phân tích CFA.

    ảng 2. Kết quả đánh giá thang đo

     

     

    Hệ số tải

    Thang đo và biến quan sát

    chuẩn

     

    hóa

    Uy tín thƣơng hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,845; CR = 0,846; AVE = 0,649

     

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại có uy tín

    0,838

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại cao cấp

    0,683

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại được nhiều người tin dùng

    0,882

    Tôi nghĩ thương hiệu X luôn thực hiện đúng những cam kết như đã hứa

    *

    Lƣợng giá sản phẩm (2 thành phần):

     

    + Cảm nhận giá: Cronbach’s Alpha = 0,946; CR = 0,948; AVE = 0,820

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá hợp lý

    0,873

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X mang lại những lợi ích tương xứng với giá bán

    0,956

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tương xứng với giá bán

    0,944

    Trang 74

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá phù hợp với mong muốn chi trả của tôi

     

    0,846

    + Chất lƣợng cảm nhận: Cronbach’s Alpha = 0,899; CR = 0,859; AVE = 0,672

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tốt

     

    0,881

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X đáng tin cậy

     

    0,883

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có độ bền cao

     

    0,679

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có những tính năng đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    **

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có cấu hình đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có thời lượng pin đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tính vị chủng: Cronbach’s Alpha = 0,834; CR = 0,841; AVE = 0,639

       

    Tôi nghĩ người Việt Nam chân chính thì luôn ủng hộ các thương hiệu Việt

     

    *

    Mua điện thoại nước ngoài là góp phần làm cho một số người VN bị mất việc

     

    0,856

    Tôi nghĩ mua điện thoại nước ngoài sẽ gây tổn hại cho các thương hiệu điện thoại VN

     

    0,802

    Tôi nghĩ mua điện thoại thông minh thương hiệu Việt là thể hiện lòng yêu nước

     

    0,735

    Giá trị cảm nhận (3 thành phần):

       

    + Giá trị cảm xúc: Cronbach’s Alpha = 0,923; CR = 0,896; AVE = 0,812

     

    Tôi sẽ cảm thấy sung sướng khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,868

    Tôi sẽ cảm thấy thích thú khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,933

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X sẽ mang lại cho tôi sự hài lòng

     

    **

    + Giá trị xã hội: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,916; AVE = 0,784

     

    Sử dụng điện thoại X giúp tôi duy trì mối quan hệ với người thân/bạn bè/đồng nghiệp

     

    *

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi được nhiều người tôn trọng

     

    0,868

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi thể hiện vị trí xã hội của tôi

     

    0,902

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ tạo được ấn tượng với người khác

     

    0,887

    + Giá trị trí thức: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,924; AVE = 0,801

     

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ thỏa mãn tính hiếu kỳ của tôi về công nghệ

     

    0,865

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi nhiều kiến thức về công nghệ mới

     

    0,949

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ khơi dậy tính sáng tạo của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi những trải nghiệm về công nghệ mới

     

    0,869

    Sẵn lòng mua: Cronbach’s Alpha = 0,856; CR = 0,872; AVE = 0,699

       

    Nếu có ý định mua điện thoại thông minh, tôi sẽ mua thương hiệu X

     

    0,966

    Tôi sẽ mua điện thoại thông minh thương hiệu X trong tương lai gần

     

    0,855

    Tôi sẽ mua điện thoại X ngay cả khi có một điện thoại nước ngoài khác cùng chất lượng

     

    0,657

    và giá

       

    Ghi chú: * loại qua EFA;   ** loại qua CFA

     

    Tám thang đo đơn hướng được đưa vào phân tích CFA. Kết quả cho thấy các biến quan sát có giá trị Skewness từ -0,82 đến -0,07 và Kurtosis từ -0,68 đến +0,98 nên được xem là không vi phạm đáng kể về phân phối chuẩn.

     

    Tiếp tục loại thêm 2 biến (đo chất lượng cảm nhận và giá trị cảm xúc) do tương quan giữa các sai số cao, kết quả cho thấy mô hình thang đo với 24 biến quan sát đạt độ phù hợp với dữ liệu thực tế. Cụ thể, ước lượng ML cho kết quả

     

    Trang 75

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    như sau: Chi-square = 253,4; df = 224; p = 0,086; Chi-square/df = 1,13, GFI = 0,926, CFI = 0,994, TLI = 0,992 và RMSEA = 0,023.

     

    Như thể hiện trên Bảng 2, hệ số tải chuẩn hoá của các biến dao động từ 0,66 đến 0,97, đồng thời phương sai trích của các thang đo AVE = 0,64 – 0,82 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy tổng hợp Composite reliability (CR) từ 0,84 đến 0,95 nên các thang đo đạt độ tin cậy. Tương quan giữa các khái niệm dao động từ 0,28 tới 0,64, thấp xa đáng kể với 1 (với p = 0,05) nên các thang đo đạt độ giá trị phân biệt.

     

    Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình này có 242 bậc tự do, giá trị Chi – square = 276,21, Chi – square/df = 1,14, p = 0,06; các chỉ tiêu khác là GFI = 0,919, TLI = 0,992, CFI = 0,993 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,023. Như vậy, có thể kết luận là mô hình này phù hợp tốt với dữ liệu thu thập

     

    được từ thực tiễn và 60% phương sai của yếu tố Sẵn lòng mua được giải thích bởi các yếu tố có trong mô hình nghiên cứu.

     

    Kết quả ước lượng (Bảng 3) cho thấy các mối quan hệ kiểm định đều có hệ số hồi quy chuẩn hoá dương và có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), do đó các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được ủng hộ.

     

    Đồng thời, kết quả còn cho thấy các khái niệm bậc 2 là Giá trị cảm nhận được phản ánh bởi ba khái niệm bậc 1 là Giá trị cảm xúc (l = 0,80), Giá trị xã hội (l = 0,72) và Giá trị tri thức (l = 0,82); còn Lượng giá sản phẩm được phản ánh bởi Cảm nhận giá (l = 0.62) và chất lượng cảm nhận (l = 0.77). Ngoài ra, phân tích cấu trúc đa nhóm cũng đã được thực hiện với các nhóm thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thu nhập về các mối quan hệ được kiểm định trong mô hình.

     

    ảng 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

     

    Mối quan hệ

    Hệ số chuẩn

    p

    Kiểm định

     

    hóa

    giả thuyết

           

    Tính vị chủng

    Uy tín thương hiệu

    0,50

    0,007

    Ủng hộ H1

    Tính vị chủng

    Giá trị cảm nhận

    0,38

    0,005

    Ủng hộ H2

    Uy tín thương hiệu

    Lượng giá sản phẩm

    0,74

    0,003

    Ủng hộ H3

    Lượng giá sản phẩm →

    Giá trị cảm nhận

    0,69

    0,005

    Ủng hộ H4

    Giá trị cảm nhận

    Sẵn lòng mua

    0,77

    0,004

    Ủng hộ H5

    Giá trị cảm nhận → Giá trị cảm xúc

    0,80

    0,004

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị xã hội

    0,72

    0,002

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị trí thức

    0,82

    0,003

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận chất lượng

    0,77

    0,004

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận giá

    0,62

    0,004

     

    5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

     

    Thông qua trường hợp của sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, bài viết này tìm hiểu vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu

     

    đối với những loại sản phẩm tiêu dùng công nghệ cao, đa giá trị và được sản xuất trong nước trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong bối cảnh như vậy thì việc tạo được uy tín trên thị

     

    Trang 76

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    trường và sự chấp nhận mua của người tiêu dùng là một thách thức rất khó vượt qua của các thương hiệu mới nổi của Việt nam.

     

    Với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, việc tạo dựng uy tín thương hiệu bằng cách thức tích lũy dần lòng tin của người tiêu dùng nói riêng và thị trường nói chung thông qua tương tác kinh tế – xã hội như con đường truyền thống đã được đề cập nhiều trong các tài liệu là quan trọng, nhưng cần có nhiều thời gian và phải đầu tư nguồn lực thì mới đạt được mục đích. Trước mắt, khi mà uy tín thương hiệu còn thấp, cần phải có cách tiếp cận khác. Đó chính là cách tiếp cận dựa trên các giá trị xã hội, cộng đồng được chia sẻ thông qua khái niệm tính vị chủng tiêu dùng.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng của người tiêu dùng là yếu tố có tác động mạnh đến cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu. Do đó, yếu tố này là cơ sở rất tiềm năng cho vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu Việt. Mặt khác, tính vị chủng Việt còn có tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thông minh thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của họ. Với tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua uy tín thương hiệu), tính vị chủng tiêu dùng có khả năng tác động mạnh (std. total effect = 0,64; p

     

    • 0,003) đến cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm, trong đó bao gồm giá trị chức năng (lượng giá sản phẩm) và giá trị phi chức năng (xã hội, cảm xúc và tri thức).

    Tiếp đến, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của uy tín thương hiệu đối với việc người tiêu dùng lượng giá sản phẩm (β = 0.74; p = 0.003). Trong điều kiện khách hàng khó có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm điện thoại thông minh Việt (do đặc điểm công nghệ của sản phẩm) thì uy tín thương hiệu chính là yếu tố đại diện để xem xét sản phẩm. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cung

     

    cấp một cứ liệu thực nghiệm khẳng định quan điểm rằng với những sản phẩm thiết yếu có mức giá trung bình thì giá trị chức năng đóng vai trò cơ bản, làm tiền đề (β = 0,69; p = 0,005) cho các dạng giá trị xã hội, cảm xúc và tri thức.

     

    Như vậy, đóng góp đáng chú ý của bài báo này là tìm ra ảnh hưởng quan trọng (trực tiếp và gián tiếp) của tính vị chủng đến uy tín thương hiệu và cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, chưa được nhiều người biết đến. Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín thương hiệu cho điện thoại thông minh thương hiệu Việt trong việc thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm. Kết quả này cũng gợi ý tổng quát cho những sản phẩm thương hiệu Việt có tính chất tương tự như đa giá trị (chức năng, cảm xúc, xã hội, tri thức) và uy tín thương hiệu là chỉ báo cho chất lượng sản phẩm.

     

    Về hàm ý quản trị, con đường khả dĩ để bắt đầu xây dựng uy tín thương hiệu Việt chính là thông qua tín vị chủng. Quá trình này tập trung vào việc chọn nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng có tính vị chủng cao (thường là lớn tuổi hơn) và xây dựng chiến lược và nội dung truyền thông phù hợp.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Bài viết này tập trung vào việc khám phá vai trò của tính vị chủng trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, có công nghệ cao, đa giá trị được sản xuất trong nước và mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến uy tín thương hiệu, lượng giá sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt.

     

    Trang 77

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Kết quả này gợi ý một phương án dành cho các thương hiệu điện thoại thông minh mới nổi của Việt Nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu. Đó là dựa trên tính vị chủng tiêu dùng, dựa trên sự tự hào, tự tôn dân tộc, trên những chuẩn mực giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.

     

    Như những nghiên cứu khác, bài viết cũng còn một số hạn chế. Bên cạnh việc không tìm thấy sự khác biệt trong kết quả giữa các nhóm

     

    nhu nhập, có thể có sự khác biệt liên quan đến yếu tố khác như nhóm tuổi, hoặc trình độ học vấn. Thêm vào đó, các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể mở rộng ra những sản phẩm tương tự. Đồng thời tiếp tục tìm hiểu hiện trạng và vai trò của tính vị chủng của Việt trong thái độ và hành vi tiêu dùng của họ đối với các nhóm sản phẩm khác nhau trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 78

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    The effects of consumer ethnocentrism on Vietnamese brand credibility and perceived value – A Study of Vietnamese branded smartphone

     

    • Truong My Ngoc
    • Le Nguyen Hau

    University of Technology, VNU HCM – Email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    This   study   investigated   the   role   of

    value. Ethnocentrism also has a direct impact

    consumer ethnocentrism on the perception of

    on the perceived value of Vietnamese branded

    brand  credibility  in  the  case  of  Vietnamese

    smartphone, resulting in the willingess-to-buy.

    branded  smartphone –  a  high-tech, multiple-

    Besides contributing to the current literature,

    value  product  being  manufactured  locally.

    the findings also provide suggestions for new

    Based  on  a  survey  of  259  consumers,  the

    Vietnamese  smartphone  brands  to  develop

    analysis revealed that ethnocentrism exerts a

    brand  credibility  on  the  basis  of  consumer

    strong impact on brand credibility which leads

    ethnocentrism

    to  positive  product  judgement  and  perceived

     

    Keyword: Ethnocentrism, brand credibility, perceived value, willingess-to-buy, smartphone, Vietnamese brand.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    • Agarwal, N. K., Wang, Z., Xu, Y., & Poo,
    1. C. C. Factor affecting 3G adoption: An empirical study. Proceeding of 11th Pacific-Asia Conference on Information System (PACIS), 256-270 (2007).
    • Ajzen, I. The Theory of Planned Behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50, 179-211 (1991).
    • AlMakrami, A. H. An investigation into brand value dimensionality and its effects on loyalty: evidence from the high-tech brandscape in Saudi Arabia (Doctoral dissertation, Brunel University) (2013).
    • Baek, T. H., Kim, J., & Yu, J. H. The differential roles of brand credibility and brand prestige in consumer brand choice. Psychology & Marketing, 27(7), 662-678 (2010).
    • Batra, R., Ramaswamy, V., Steenkamp, J. B., & Ramachander, S. Effects of brand local and nonlocal origin on consumer attitudes in developing countries. Journal of Consumer Psychology, 9(2), 83-95 (2000).
    • Chen, C.F., Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction and behavioral

    Trang 79

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    intentions for air passengers: evidence from Taiwan, Transportation Research Part A: Policy and Practice, Vol. 42, pp. 709-717 (2008).

     

    • Chen, P. and Hu, H., How determinant attributes of service quality influence customer-perceived value: an empirical investigation of the Australian coffee outlet

    industry, International Journal of Contemporary Hospitality Management, Vol. 22 No. 4, pp. 535-551 (2010).

     

    • Chryssochoidis, G., Krystallis, A., & Perreas, P. Ethnocentrism beliefs and country-of-origin (COO) effect: Impact of country, product and product attributes on Greek consumers’ evaluation of food products. European Journal of Marketing, 41(11), 1518-1544 (2007).
    • De Mooij,    Global  marketing  and

    advertising: Understanding cultural paradoxes. Sage Publications (2013).

     

    • Dimitrovic, T., Vida, I., & Reardon, J. Purchase behavior in favor of domestic products in the West Balkans. International Business Review, 18(5), 523-535 (2009).
    • Eggert, A., & Ulaga, W. Customer perceived value: A substitute for satisfaction in business markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 17(2/3), 107-118 (2002).
    • Erdem, T., & Swait, J. Brand credibility, brand consideration, and choice. Journal of consumer research, 31(1), 191-198 (2004).
    • Flynn, J., Greig, T., & Mukaiwa, M. The influence of perceived product quality, relative price and risk on customer value and willingness to buy: A study of private label merchandise. Journal of Product & Brand Management, 22(3), 218-228 (2013).
    • Grönroos, C. Service logic revisited: who

    creates value? And who co-creates?. European business review, 20(4), 298-314 (2008).

     

    • Grunert, K. G., Lahteenmaki, L., Niellsen, N. A., Poulsen, J. B., Ueland, O., & Astrom, A. Consumer perception of food products involving genetic modification:

    Results from a qualitative study in four nordic countries. Food Quality and Preference, 12(8), 527-542 (2001).

     

    • Gutman, J., & Alden, S. D. Adolescents’ cognitive structures of retail stores and fashion consumption: a means-end chain analysis of quality. Perceived quality: how

    consumers view stores and merchandise/edited by Jacob Jacoby, Jerry C. Olson (1985).

     

    • Hansen,    Perspectives   on   consumer

    decisionmaking:Anintegrated

     

    approach. Journal           of            Consumer

     

    Behaviour, 4(6), 420-437 (2005).

     

    • Hanzaee, K. H., & Taghipourian, M. J. The effects of brand credibility and prestige on consumers purchase intention in low and high product involvement. Journal of Basic and Applied Scientific Research, 2(2), 1281-1291 (2012).
    • Henderson, G.R., Guzman, F., Huff, L. and Motley, C.M., “The Ian’s pizza tribe: reconceptualzing cross-cultural research in the digital age”,Journal of Business

    Research, Vol. 66, pp. 283-287 (2013).

     

    • Hossain, P. A relational study on perceived value, brand preference, customer satisfaction, and repurchase intention in context of Akij Textile Mills LTD in Bangladesh. Bangladesh: Independent University (2006).
    • Hu, H.H., Kandampully, J. and Juwaheer, T.D., Relationships and impacts of service

    quality, perceived value, customer satisfaction, and image: and empirical study, The Service Industries Journal, Vol. 29 No. 2, pp. 111-125 (2009).

     

    • Jacoby, J., & Olson, J. C. Consumer response to price: An attitudinal information processing perspective. In Wind, Y., & Greenberg, P. (Eds), Moving ahead with attitude research (pp. 73-86). Chicago: American Marketing Association (1977).
    • Jeddiand, N., & Imed, Z. The impact of label perception on the consumer’s purchase intention: An application on food

    Trang 80

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    products. IBIMA Business Review, 20, 1-14 (2010).

     

    • Karjaluoto, H., Karvonen, J., Kesti, M., Koivumaki, T., Manninen, M., Pakola, J., Ristola, A., & Salo, J. Factors affecting consumer choice of mobile phones: Two studies from Finland. Journal of Euromarketing, 14(3), 59-82 (2005).
    • Keillor, B.D. and Hult, G.T.M., A five-country study on national identity: implications for international marketing research and practice, International Marketing Review, Vol. 16 No. 1, pp. 65-82 (1999).
    • Khan, K., & Hyunwoo, K. Factor affecting consumer resistance to innovation – A study of Smartphone (Master’s thesis). Sweden: Jonkoping International Business School (2009). Retrieved from http://hj.diva-portal.org.
    • Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức Anh Người Việt dùng hàng Việt: Vai trò của tính vị chủng và lượng giá đối với sự sẵn lòng mua hàng Việt Nam. Science & Technology, 14(3), 56-67 (2011).
    • Le, N. H., Nguyen, T. H. M., & Nguyen V. T. National identity and the perceived values of foreign products with local brands

    – The case of local wine in Vietnam. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 25(5), 765-783 (2013).

     

    • Lee, D. B. S. H. E. The relationship between price and objective apprarel quality: A comparison between the United States market and Korean market (Master’s thesis). Texas: Texas Tech University (1996).
    • Lumpkin, J. R. Shopping orientation segmentation of the elderly consumer. Journal of Academy of Marketing Science, 13, 271-289 (1985).
    • Monroe, B, K., & Krishnan, R. The effect of price on subjective product evaluations. In Jacoby, J., & Obson, C. J. (Eds),

    Perceived Quality (pp. 210-231). Lexington, MA: D. C. Health and Company (1985).

     

    • Nguyen, D. T., Nguyen, T. T. M., & Barrett, N. Consumer ethnocentrism, cultural sentivity, and intention to purchase local product – Evidence from Vietnam. Journal of Consumer Behavior, 7, 88-100 (2008).
    • Nguyen, T. T. M., & Smith, K. The impact of status orientations on purchase preference for foreign products in Vietnam, and implications for policy and society. Journal of Macromarketing, 32(1), 52-60 (2012).
    • Obradovic, J. Consumer perspective: Does brand globalness really matter? (Master of Science). Vienna: University of Vienna (2013).
    • Phan Tuấn. 5 điểm nhấn của thị trường di

    động Việt trong năm 2015. Báo Dân trí.

     

    Khai thác từ http://dantri.com.vn (27/12/2015).

     

    • Pharr, J. M. Synthesizing country-of-origin research from the last decade: Is the concept still salient in an era of global brands?. Journal of Marketing Theory and Practice, 13(4), 34-44 (2005).
    • Reardon, J., Miller, C., Vida, I., & Kim, I. The effect of ethnocentrism and economic development on the formation of brand and ad attitudes in transitional economies. European Journal of Marketing, 39(7/8), 737-754 (2005).
    • Reynolds, T. J., & Gutman, J. Laddering: Extending the repertory grid methodology to construct attribute-consequence-value hierarchies. Personal values and consumer psychology, 2, 155-167 (1984).
    • Rust, R.T., Zeithaml, V.A. and Lemon, K.N., Driving Customer Equity, The Free Press, New York, NY (2000).
    • Shimp, T. A., & Sharma, S. Consumer ethnocentrism: Construction and validation of the CETSCALE. Journal of Marketing Research, 24(3), 280-289 (1987).
    • Spillan, J. E., Kucukemiroglu, O., & de Mayolo, C. A. Profiling Peruvian consumers’ lifestyles, market segmentation,

    Trang 81

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    and ethnocentrism. Latin American Business Review, 8(4), 38-59 (2008).

     

    • Steenkamp, J. B. E. M., Batra, R., & Alden, D. L. How perceived brand globalness

    creates brand value. Journal of International Business Studies, 34, 53-65 (2003).

     

    • Sumner, G. W. Folkways: The Sociological Importance of Usage, Manner, Custom, Mores, and Morals. Boston: Ginn and Co (1906).
    • Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220 (2001).
    • Sweeney, ,  &  Swait,  J.  The  effects  of

    brand credibility on customer loyalty. Journal of retailing and consumer services, 15(3), 179-193 (2008).

     

    • Trần Nghĩa Smartphone Việt “teo tóp”. Báo Nhịp Cầu Đầu Tư. Khai thác từ http://nhipcaudautu.vn (08/12/2015).
    • Treacy, M., & Wiersema F. The Discipline of Market Leader. United States: Addison-Wesley (1995).
    • Vida, I., & Reardon, J. Domestic consumption: Rational, affective or normative choice?. Journal of Consumer Marketing, 25(1), 34-44 (2008).
    • Vigneron, F., & Johnson, L. W. A review and a conceptual framework of prestige-seeking consumer behavior. Psychology & Marketing, 21, 487-508 (1999).
    • Wernerfelt, B. Umbrella branding as a signal of new product quality: An example of signalling by posting a bond. The RAND Journal of Economics, 458-466 (1988).
    • Whittaker, G., Ledden, L., & Kalafatis, S. P. A re-examination of the relationship between value, satisfaction and intention in business services. Journal of Services Marketing, 21(5), 345-357 (2007).
    • You, J. H., Le, J. H., & Park, C. Factors affecting adoption and post-adoption of Smartphone. 2011 International Conference on Software and Computer Applications, 9, 108-112 (2011).
    • Zeithaml, V. A. Consumer perceptions of price, quality, and value: A means-end model and synthesis of evidence. The Journal of Marketing, 52(3), 2-22 (1988).

     

     

     

    Trang 82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-MARKETING-%C4%90%E1%BB%8AA-PH%C6%AF%C6%A0NG-NH%E1%BA%B0M-THU-H%C3%9AT-KH%C3%81CH-DU-L%E1%BB%8ACH-%C4%90%E1%BA%BEN-S%C6%A0N-LA.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

     

    Lê Ngọc Nương*, Nguyễn Hải Khanh

    Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Hoạt động marketing ngày nay không chỉ giới hạn trong phạm vi doanh nghiệp hay một ngành nghề cụ thể mà còn phát triển trong phạm vi của một vùng, khu vực, địa phương hay quốc gia. Marketing như vậy được gọi là marketing địa phương và có thể được vận dụng trong một tỉnh (thành phố). Sơn La là một tỉnh miền núi nằm phía Tây Bắc tổ quốc, có nền văn hoá đa sắc màu cùng với những ưu đãi của thiên nhiên. Sơn La có vị trí chiến lược quan trọng trên cung đường du lịch Tây Bắc với nhiều lợi thế về phát triển du lịch. Tuy nhiên, trên thực tế tiềm năng và thế mạnh về du lịch của Sơn La chưa được khai thác một cách hiệu quả để xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng khai thác, phát triển du lịch và xây dựng những giải pháp marketing địa phương nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho địa phương và thu hút khách du lịch đến Sơn La ngày một nhiều hơn.

    Từ khóa: Marketing địa phương, Sơn La.

     

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Sơn La là một tỉnh miền núi nằm phía Tây Bắc tổ quốc, vị trí địa lý nằm sâu trong lục địa với trung tâm là thành phố Sơn La, cách Hà Nội 320 km theo trục Quốc lộ 6 Hà Nội – Sơn La – Điện Biên – Lai Châu. Có thể nói Sơn La là một tỉnh có nền văn hoá đa sắc màu với 12 dân tộc anh em sinh sống, cùng với những ưu đãi của thiên nhiên như nguồn nước nóng, các hang động, thung lũng, núi non hùng vĩ… cho thấy Sơn La có một tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch địa phương.

     

    Nhân dịp cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 năm 2011 (từ ngày 27/8 đến 2/9/2011) lần đầu tiên những sản phẩm du lịch sinh thái, văn hóa lịch sử nổi tiếng tại Sơn La và vùng Tây Bắc đã được tỉnh Sơn La tổ chức, giới thiệu trong chương trình du lịch “Qua miền Tây Bắc, Sơn La – 2011”. Chương trình đã nhận được sự quan tâm, quảng bá rộng khắp của các cơ quan thông tấn, báo chí, mọi người trong và ngoài nước.

     

    Sự kiện lớn này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước dành cho ngành du lịch Sơn La. Bởi lẽ Sơn La có vị trí chiến lược quan trọng trên cung đường du lịch Tây Bắc

     

    • Tel: 0973282586

    với nhiều lợi thế về phát triển du lịch, có thể kể đến như khu du lịch cao nguyên Mộc Châu, du lịch lòng hồ Thủy điện Sơn La – thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, các di tích lịch sử, văn hóa cộng đồng… Tuy nhiên, trên thực tế tiềm năng và thế mạnh về du lịch của Sơn La chưa được khai thác một cách hiệu quả để xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Trong khi đó, tại Sơn La chưa có nghiên cứu ứng dụng nào đề cập đến vận dụng lý luận marketing địa phương để tạo lợi thế cạnh tranh cho địa phương và thu hút khách du lịch đến Sơn La ngày một nhiều hơn.

     

    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

     

    Đánh giá thực trạng khai thác, phát triển du lịch Sơn La trong giai đoạn 2008 – 2012, khảo sát – đánh giá các nguồn lực, cơ sở hạ tầng, cơ chế chính sách cần thiết cho phát triển du lịch bền vững và xây dựng những giải pháp marketing địa phương nhằm thu hút khách du lịch đến Sơn La giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020.

     

    ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Đối tượng  nghiên  cứu:  Chủ  thể  là

    Marketing địa phương, khách thể là ngành du lịch Sơn La.

     

    141

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng du lịch

    Sơn La từ năm 2008 – 2012 tại địa bàn tỉnh Sơn La.

     

    • Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả thực hiện đề tài sử dụng các phương pháp sau:

    Phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở các thông tin và số liệu thu thập được, nhóm tác giả tiến hành công việc tổng hợp phân tích, đánh giá.

     

    Phân tích – so sánh: Những thông tin và số liệu thu thập trong một thời kỳ nhất định, nhóm tác giả sử dụng để so sánh, phân tích đánh giá giữa các thời kỳ khác nhau

     

    Điều tra, phỏng vấn: thiết kế bảng hỏi, chọn mẫu và tiến hành thu thập dữ liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

    Phân tích – dự báo: Sau khi tổng hợp được tất cả các thông tin, trên cơ sở đó đưa ra những dự báo cho vấn đến nghiên cứu trong những năm tiếp theo.

     

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Phương pháp và kết quả điều tra xã hội học về du lịch Sơn La

     

    Nhóm tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi và phát ngẫu nhiên cho 140 khách du lịch tại TP. Sơn La, Mộc Châu và Mường La. Số phiếu thu về, sử dụng được là 140 phiếu. Trong đó, 50 phiếu tại Thành phố Sơn La, 45 phiếu tại Mộc Châu và 45 phiếu tại Mường La. Đặc điểm của đối tượng được khảo sát cụ thể như sau:

     

       

    Bảng 1. Đối tượng khách du lịch được khảo sát

         
                     

    (Đơn vị tính: người)

       

    Giới tính

         

    Độ tuổi

         
     

    Du khách

    Nam

     

    Nữ

    <18

    18-24

     

    25-34

    35-55

    >55

     
     

    1. Khách nội địa

    69

    56

    5

    23

    36

    52

    9

     
     

    Miền Bắc

    36

    26

    3

    12

    17

    25

    5

     
     

    Miền Trung

    21

    17

    2

    8

    13

    18

    2

     
     

    Miền Nam

    12

     

    13

    0

    3

     

    6

    9

    2

     
     

    2. Khách Quốc tế

    8

    7

    0

    2

    4

    7

    2

     

    Bảng 2. Mức độ đánh giá của du khách về du lịch Sơn La

     

    (Đơn vị tính: %)

     

    Những ý kiến về cơ sở hạ tầng và chất lượng phục vụ tại các điểm du lịch Sơn La

     

    1. Hệ thống giao thông thuận lợi
    1. Giá cả sinh hoạt hợp lý
    1. Cảnh quan thiên nhiên đẹp
    1. Có những nét văn hóa đặc trưng của địa phương
    1. Con người tại địa phương thân thiện, hiếu khách
    1. Phòng ở tiện nghi, thoải mái
    1. Các điểm du lịch có nhà vệ sinh sạch sẽ
    1. Dễ dàng lựa chọn phương tiện đi lại
    1. Những di tích lịch sử được bảo tồn tốt
    1. Các lễ hội văn hóa độc đáo
    1. Hệ thống điện, nước tại các điểm du lịch tốt
    1. Có nhiều đoàn khách khác cùng đến tham quan
    1. Có sẵn những chỉ dẫn thông tin du lịch
    1. Hướng dẫn viên, thuyết minh viên địa phương nhiệt tình, chuyên nghiệp
    1. Hài lòng khi du lịch đến Sơn La
     

    Thang đánh giá

       

    Rất

    Không

     

    Trung

     

    Đồng

     

    Rất

    không

    đồng

     

    lập

     

    ý

     

    đồng

    đồng

    ý

             

    ý

    ý

                 

    24%

    67%

    7%

    2%

    0%

    2%

    19%

    25%

    51%

    3%

    1%

    9%

    14%

    34%

    42%

    27%

    41%

    18%

    12%

    2%

    3%

    8%

    10%

    44%

    35%

    15%

    21%

    32%

    24%

    8%

    21%

    39%

    26%

    11%

    3%

    22%

    36%

    28%

    13%

    1%

    26%

    35%

    27%

    9%

    3%

    20%

    33%

    20%

    18%

    9%

    19%

    28%

    29%

    19%

    5%

    14%

    29%

    34%

    17%

    6%

    25%

    40%

    25%

    8%

    2%

    19%

    33%

    22%

    21%

    5%

    8%

    29%

    54%

    13%

    4%

    142

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    Qua bảng 1 chúng ta thấy tỉ lệ khách du lịch là nam đi du lịch nhiều hơn (55%), độ tuổi đi du lịch nhiều nhất là từ 35 đến 55 tuổi. Với khách nội địa thì đa số du khách đến Sơn La là từ miền Bắc (chiếm 48%). Số liệu cho thấy lượng khách có độ tuổi từ 18 đến 34 chưa nhiều và đối tượng khách trên 55 còn thấp, đối tượng khách dưới 18 tuổi còn rất ít. Thực tế này sẽ định hướng cho ngành du lịch Sơn La phát triển những sản phẩm du lịch dành cho lứa tuổi chiếm đa số là từ 35 đến 55 tuổi.

     

    Qua số liệu bảng 2, chúng ta cần lưu ý những điểm tốt và chưa tốt, cụ thể như sau:

     

    • Những điểm được đánh giá chưa tốt:

    Cơ sở vật chất phục vụ du lịch: Về hệ thống giao thông, có đến 67% không đồng ý là giao thông thuận lợi, có đến 58% người cho rằng việc lựa chọn phương tiện đi lại không dễ dàng. Điều này ảnh hưởng đến việc quyết định đi du lịch của du khách và ảnh hưởng đến việc du khách có quyết định quay lại Sơn La hay không. Về phòng ở tiện nghi, thoải mái: chỉ có 32% số người đồng ý, còn lại cho rằng không đồng ý và ý kiến trung lập không đánh giá rõ rệt.

     

    Ấn tượng địa phương: Có đến 68% số người cho rằng Sơn La chưa có những điểm đặc trưng riêng về du lịch. Các lễ hội chưa gây ấn tượng khó phai trong du khách (có 53% số người không đồng ý). Nghĩa là việc tạo dựng ấn tượng, các lễ hội và hình tượng của địa phương chưa hiệu quả và chưa được chú trọng gìn giữ và phát huy đúng mức.

     

    Tại các điểm du lịch: Các nhà vệ sinh bị đánh giá là không tốt, có đến 60% du khách cho rằng nhà vệ sinh chưa đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh. Hệ thống điện nước cũng bị đánh giá là chưa tốt (47% không đồng ý và 29% là ý kiến trung lập). Thông tin chỉ dẫn về du lịch cũng không sẵn có tại các điểm du lịch (65% số người không đồng ý và rất không đồng ý). Những di tích lịch sử chưa được bảo tồn đúng mức (61%).

     

    • Những điểm được đánh giá tốt

    Về cảnh quan thiên nhiên được đa số du khách đánh giá là đẹp (chiếm 76%), giá cả

    sinh hoạt và tiền thuê phòng được cho là hợp lý (chiếm 54%), con người tại địa phương được đánh giá là rất thân thiện, hiếu khách (chiếm 79%).

     

    Về mức độ hài lòng sau khi đi du lịch Sơn La, số liệu khảo sát chưa kết luận được về mức độ hài lòng, ý kiến trung lập chiếm 54%, số cho là hài lòng chiếm 17% và số cho là không hài lòng chiếm 37%. Nghĩa là du lịch Sơn La chưa xác định rõ được nhu cầu và mong muốn của du khách, chưa có những giải pháp hiệu quả thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của du khách tốt hơn những địa phương khác trong toàn quốc.

     

    Thực trạng marketing địa phương nhằm thu hút khách du lịch đến Sơn La

     

    • Số lượt khách du lịch đến Sơn La

    Năm 2012, lượng khách đến với Sơn La đạt hơn 400.000 lượt, tăng 4,8 lần so với năm 2003, trong đó có 63.606 lượt khách quốc tế.

     

    Qua đồ thị 1, chúng ta thấy rằng lượt khách đến Sơn La tăng vọt từ năm 2008 sang 2009, sau đó tiếp tục giữ được mức tăng trong các năm tiếp theo. Trong đó, việc thu hút khách nội địa tăng cao hơn so với lượng khách quốc tế. Sự việc này do công tác phát triển và xúc tiến du lịch được quan tâm mạnh mẽ của chính quyền địa phương.

     

    * Thu nhập từ du lịch Sơn La

     

    Đồ thị 2 cho thấy thu nhập từ du lịch năm 2012 đạt hơn 200 tỷ đồng, tăng 6,5 lần so với năm 2003, nâng cao vai trò của du lịch ở địa phương. Ngày càng khẳng định ngành du lịch Sơn La hoàn toàn có thể trở thành ngành mũi nhọn góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế xã hội Sơn La phát triển.

     

    * Nguồn lực ngành du lịch Sơn La

     

    Sau hơn 10 năm thực hiện chiến lược phát triển du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú và dịch vụ hỗ trợ đã phát triển khá nhanh, thu hút trên 150 tổ chức, doanh nghiệp và cùng nhiều thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực phát triển du lịch, tạo việc làm cho trên 2.000 lao động trực tiếp trong ngành và trên

     

    4.000 lao động gián tiếp, được thể hiện qua đồ thị 3.

     

    143

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

     

     

     

    Đồ thị 1. Lượt khách du lịch đến Sơn La trong giai đoạn 2003-2012

     

     

     

    Đồ thị 2. Thu nhập du lịch đến Sơn La trong giai đoạn 2003-2012

     

    Đồ thị về tỷ lệ cơ cấu trình độ trong nguồn lực du lịch cho thấy rằng tỷ lệ những người có trình độ đại học và trên đại học còn hạn chế (dưới 10%), điều này khó có thể thúc đẩy và nâng tầm du lịch Sơn La lên mức đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, ngang tầm đẳng cấp với ngành du lịch trên toàn quốc và trong khu vực, dẫn đến sức cạnh tranh yếu trong thu hút du khách. Số lượng nhân lực chưa qua đào tạo và làm việc trái ngành chiếm tỷ lệ lớn (trên 60%), điều này dẫn đến chất lượng phục vụ trong ngành du lịch không chuyên nghiệp do không được đào tạo đúng chuyên ngành, cần phải đào tạo lại và đào tạo bổ sung cho lực lượng lao động này.

     

    144

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

     

     

     

    Đồ thị 3. Cơ cấu trình độ nguồn nhân lực ngành du lịch

     

     

    NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

     

    Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Tổ quốc. Diện tích tự nhiên rộng đứng thứ 3 cả nước, nhưng Sơn La lại là một trong 7 tỉnh nghèo nhất nước. Cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch còn nhiều khó khăn, hạn chế. Đường giao thông, đường sông chất lượng chưa cao, chưa đa dạng về loại hình vận tải. Bên cạnh đó hệ thống khách sạn nhà nghỉ, nhà hàng, chất lượng và số lượng buồng phòng còn hạn chế.

     

    Nền kinh tế còn chậm phát triển do điểm xuất phát của nền kinh tế Sơn La thấp. Mặc dù mấy năm gần đây, kinh tế của tỉnh đã có khởi sắc, xuất hiện một số điển hình là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển của tỉnh. Tuy nhiên, kinh tế Sơn La nói riêng và kinh tế Tây Bắc nói chung vẫn phát triển chậm so với nhiều vùng trong cả nước. GDP/người chỉ bằng 61% so với mức trung bình của cả nước, thu không đủ chi, cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm.

    Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, khả năng cạnh tranh chưa cao. Mặc dù có nhiều tiềm năng để phát triển đa dạng sản phẩm nhưng các sản phẩm chưa tạo được đặc trưng rõ nét, chưa đa dạng để đáp ứng những nhu cầu du lịch phong phú của khách hàng du lịch tiềm năng. Nguyên nhân là do chưa có những chuyên gia, tổ chức chuyên nghiệp về du lịch tư vấn và triển khai những loại hình du lịch hấp dẫn hướng về khách hàng.

     

    Môi trường kinh doanh, đầu tư du lịch chưa thực sự hấp dẫn cho nên cho thu hút được đầu tư vào du lịch Sơn La. Những điểm du lịch mặc dù có tiềm năng nhưng không được đầu tư đúng mức thì vẫn đủ sức hấp dẫn để lôi cuốn khách hàng đến với Sơn La. Các chính sách ưu đãi về đầu tư cho du lịch, chế độ miễn giảm thuế, ưu đãi về thuê đất cho lĩnh vực du lịch chưa đồng bộ và rõ nét.

     

    Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch còn nhiều hạn chế, dẫn đến khách du lịch, nhất là khách du lịch nước ngoài rất thiếu thông tin về Sơn La. Hiện nay, chủ yếu thông qua hoạt động triển lãm hàng năm để quảng bá về du lịch.

     

    145

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    Các loại hình tuyên truyền, quảng bá chưa phong phú và chưa được tiến hành thường xuyên.

     

    CÁC GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN TỈNH SƠN LA

     

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch

     

    Để thực hiện tốt hoạt động Marketing địa phương cần phải hết sức coi trọng đến lực lượng phục vụ trong du lịch bởi chính những người này sẽ có một sự tác động mạnh mẽ tới du khách. Đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho các trường cao đẳng nghề, cao đẳng cộng đồng hoạt động để từ đó có thể dễ dàng thu hút các học sinh tốt nghiệp phổ thông theo học nghề, giúp cho họ có một tay nghề kỹ thuật vững chắc, góp phần vào sự nghiệp phát triển du lịch của thành phố.

     

    Đa dạng hóa sản phẩm du lịch hướng về khách hàng

     

    Dựa trên nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng có thể phát triển các loại hình du lịch đặc trưng có sức hấp dẫn du khách như du lịch khám phá, du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch giúp đỡ người nghèo…

     

    hướng về thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách du lịch. Bên cạnh đó cần chú trọng đến đầu tư hoặc khuyến khích xây dựng các tụ điểm vui chơi giải trí để giữ chân khách như casino, vũ trường hiện đại, khách sạn đầy đủ tiện nghi.

     

    Rà soát lại quy hoạch du lịch

     

    Sơn La hiện nay chủ yếu khai thác yếu tố thiên nhiên mà chưa có một quy hoạch tương xứng với những gì mình có. Vì thế cần rà soát lại quy hoạch để Sơn La trong tương lai sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn, trở thành điểm đến du lịch bền vững. Sự quy hoạch du lịch cần tính đến sự liên hoàn giữa các khu du lịch, sự kết nối tạo thành chuỗi giá trị không những trong ngành du lịch và hỗ trợ tạo điều kiện lẫn nhau trong việc thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

     

    146

    Tăng cường quảng bá du lịch

     

    Để hình ảnh Sơn La trở nên quen thuộc với mọi người cần chú ý đến hoạt động quảng bá du lịch. Quảng bá Sơn La bằng cách thành lập bộ phận chuyên trách hoặc thuê một công ty PR chuyên nghiệp của nước ngoài để tổ chức các sự kiện lớn nhằm quảng bá cho Sơn La.

     

    Bên cạnh đó cần hoàn thiện khâu cung cấp thông tin du lịch qua website, email, liên kết với các web tìm kiếm nổi tiếng như Google, Yahoo, MSN… để du khách nước ngoài dễ tìm kiếm.

     

    Nâng cao ý thức người dân

     

    Sự thân thiện và lòng hiếu khách của người dân Sơn La hiện nay đang được du khách đánh giá cao, địa phương cần tập trung vào thế mạnh này. Bởi lẽ cộng đồng địa phương có một vai trò rất lớn trong sự phát triển du lịch, các hoạt động du lịch đều có sự tham gia của cộng đồng địa phương. Vì thế, để nâng cao khả năng thu hút khách cần tác động đến ý thức của cộng đồng để họ thực sự trở thành những người bảo vệ các đối tượng du lịch.

     

    Thực hiện công tác liên kết phát triển du lịch

     

    Trong quá trình cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì liên kết hợp tác trong phát triển du lịch để cùng nhau phát triển lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Hoạt động liên kết giữa các tỉnh khu vực Tây Bắc, đặc biệt các tỉnh trên cung đường quốc lộ 6 như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên cần được triển khai thực hiện đồng bộ. Các địa phương cũng phối hợp nhau để tổ chức các sự kiện lớn như Festival qua miền Tây Bắc, Hành trình “Điện Biên năm xưa”, liên hoan văn hóa du lịch Tây Bắc. Chính hoạt động liên kết sẽ khai thác được các nét đặc trưng cũng như phát huy được các thế mạnh về du lịch của các tỉnh để phát triển du lịch của khu vực.

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch

     

    • Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch
    • Đường bộ: những tuyến đường được xác

    định là lộ trình du lịch với hành trình dài cần

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    xây dựng và hình thành trạm dịch vụ dừng chân dọc theo các tuyến đường bộ với khoảng cách hợp lý. Thường xuyên duy tu, sửa chữa các tuyến đường hiện có.

     

    • Đường không: Xúc tiến quá trình cải tạo và xây dựng sân bay Nà Sản trở thành một sân bay quốc tế hiện đại… Có chủ trương hỗ trợ đối với các đường bay mới, ít khách để có thể duy trì hoạt động.
    • Đường sông: Nghiên cứu thiết lập đa dạng các tuyến du lịch bằng đường sông đến Sơn La qua dòng sông Đà. Xây dựng những điểm ven sống thành chợ hàng hóa kết hợp du lịch, xây dựng khu bán hàng lưu niệm, ẩm thực phục vụ khách du lịch văn minh, sạch đẹp.
    • Hoàn chỉnh hệ thống viễn thông – công nghệ thông tin; xây dựng đồng bộ và hiện đại hoá hệ thống biển báo, chỉ dẫn giao thông và du lịch; xây dựng và cải tạo mạng lưới cấp điện, nước cho các khu đô thị và du lịch.

    * Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

     

    • Phát triển cả số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú nhằm đáp ứng nhu cầu của ngành du lịch, đạt tiêu chuẩn 3 sao, 4 sao thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ chất lượng cao của phân khúc thị trường cao cấp.
    • Kiểm tra, lựa chọn và thông báo rộng rãi những khách sạn, nhà hàng, dịch vụ ăn uống, điểm mua sắm đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ở các điểm du lịch, giúp du khách có cơ sở để lựa chọn và quyết định.
    • Ban hành những chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút và lựa chọn những dự án xây dựng khách sạn cao cấp với quy mô lớn, đẳng cấp quốc tế, kêu gọi xây dựng hạ tầng xanh thân thiện với môi trường mà lại tiết kiệm được chi phí.
    • Nâng cấp và xây dựng thêm các khu vui chơi giải trí, các resort, các khu mua sắm lớn, hiện đại và đa dạng hóa về chủng loại hàng hóa, các khu thể thao phù hợp với điều kiện địa hình của thành phố.
    • Phát triển các khu mua sắm để tăng chi tiêu của du khách và có những chính sách ưu đãi với những gian hàng của các làng nghề trong khu mua sắm;
    • Cần xây dựng một số khu vui chơi giải trí hiện đại mang đặc trưng và sự khác biệt so với những nơi khác.
    • Nâng cao hơn nữa chất lượng các dịch vụ kèm theo như dịch vụ vận chuyển, viễn thông, y tế, ngân hàng… và đầu tư nâng cấp, trùng tu các khu bảo tàng, văn hóa, sinh thái.

    Phát triển du lịch gắn kết với cộng đồng địa phương

     

    Gia tăng sự hiểu biết về phát triển du lịch bền vững, hướng tới cân bằng lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương và vấn đề bảo vệ môi trường. Đảm bảo sự tham gia của cộng đồng dân cư vào quá trình xây dựng quy hoạch phát triển du lịch. Muốn vậy phải để người dân địa phương tham gia từ việc đánh giá thực trạng du lịch bền vững, lấy

     

    • kiến người dân về những biện pháp, đề ra những nội quy để phát triển du lịch bền vững. Khi người dân được tham gia và cùng trải nghiệm quá trình này thì bản thân mỗi người

    đã ý thức được trách nhiệm đối với môi trường du lịch.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nguyễn Văn Mạnh (2009), Giáo trình marketing du lịch, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
    1. Vũ Thị Thoa (2012), “Phát triển du lịch bền vững”, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, http://www.vtr.org.vn/index.php?options=items&c ode=2979
    1. Kai Partale (2012), “Quản lý điểm đến cho 8 tỉnh miền núi Tây Bắc”, Chương trình Phát triển

    Năng lực Du lịch có trách nhiệm với Môi trường

     

    và Xã hội, http://www.esrt.vn/default.aspx? portalid=1&tabid=356&itemid=16

     

    1. Hoàng Vượng (2012), “Bộ thương hiệu du lịch tám tỉnh Tây Bắc mở rộng”, Du lịch Việt Nam – 2012 – Số Xuân (2) – Tr. 50-51.
    1. Sở Thương mại & Du lịch Sơn La (2006), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Sơn La giai đoạn 2007 -2020.
    1. Vũ Trí Dũng, ThS Nguyễn Đức Hải (2011), Marketing lãnh thổ, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.

    147

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    SUMMARY

     

    LOCAL MARKETING SOLUTIONS TO ATTRACT TOURISTS

    IN SON LA PROVINCE

     

    Le Ngoc Nuong*, Nguyen Hai Khanh

    College of Economics and Business Administration TNU

     

    Today’s marketing activities are not limited in the scope of the business or a particular industry but are developed in the scope of area, region, local or nation. This marketing is called local marketing and can be applied in a province (city). Son La is a mountainous province located northwest of the country, with colorful culture along with the good conditions in terms of nature. Son La has an important strategic position with many advantages of tourism development. However, Son La tourism has not been developed effectively as key economic sectors which contribute to promote the social and economic development of the province. Research has shown reality of development, tourism development and built local marketing solutions to create competitive advantages and to attract more tourists to Son La.

     

    Key words: Local marketing, Son La

     

     

     

     

     

    Ngày nhận bài: 12/3/2014; ngày phản biện: 09/4/2014; ngày duyệt đăng: 26/9/2014

     

    Phản biện khoa học: TS. Nguyễn Thị Lan Anh – Trường Đại học Kinh tế & QTKD – ĐH Thái Nguyên

     

    • Tel: 0973282586

     

    148


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

    ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

    ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Marketing xã hội giải pháp hữu hiệu của các vấn đề xã hội ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%80-XU%E1%BA%A4T-CHI%E1%BA%BEN-L%C6%AF%E1%BB%A2C-MARKETING-FESTIVAL-TR%C3%80-TH%C3%81I-NGUY%C3%8AN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Trần Kim Yến*, Nguyễn Thị Tâm

    Trường Đại học Hải Phòng

     

    TÓM TẮT

     

    Festival Trà Thái Nguyên là dịp để các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá cho hình ảnh, thương hiệu của trà Thái Nguyên tới bạn bè trong nước và quốc tế, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của thương mại và du lịch Thái Nguyên. Tuy nhiên, do hình thành và phát triển chưa lâu nên Festival trà Thái Nguyên vẫn còn rất nhiều những khiếm khuyết và hạn chế trong công tác truyền thông, quảng bá, xây dựng các chiến lược Marketing để giới thiệu hình ảnh, thúc đẩy phát triển du lịch và thương mại của Festival nói riêng và Thái Nguyên nói chung.

    Từ khóa: Festival trà, chiến lược, marketing, Thái Nguyên

     

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Thái Nguyên là mảnh đất có đặc trưng riêng biệt với những đồi chè xanh tươi ngút ngàn, là vùng sản xuất chè lớn nhất Việt Nam, những sản phẩm chè Thái Nguyên đã xây dựng được thương hiệu của riêng mình, ví dụ chè Tân Cương; chè Hoàng Bình… Chính bởi điều đó, Festival Trà Thái Nguyên đã trở thành một điểm đến du lịch khá hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm, chú ý của đông đảo du khách. Bên cạnh đó, festival cũng là dịp để giới thiệu, quảng bá cho hình ảnh, thương hiệu của chè Thái Nguyên tới bạn bè trong nước và quốc tế.

     

    Tuy nhiên, do hình thành và phát triển chưa lâu, từ 2011 đến 2013 nên Festival trà Thái Nguyên vẫn còn rất nhiều hạn chế trong công tác truyền thông, quảng bá, xây dựng các chiến lược Marketing. Xuất phát từ thực tiễn và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã chọn đề tài: “Xây dựng chiến lược Marketing cho Festival trà Thái Nguyên” để nghiên cứu.

     

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING

     

    Khái niệm chiến lược Marketing

     

    Theo Phillip Kotler: “Chiến lược Marketing là một hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ marketing của mình. Nó bao gồm những chiến lược cụ

     

    • Tel:

    thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với các phức hệ marketing và mức chi phí cho marketing.”[3]

     

    Như vậy, chiến lược marketing tập trung giải quyết các vấn đề chính yếu:

     

    • Lựa chọn thị trường mục tiêu, xác định thị trường tiềm năng.
    • Đề ra các chính sách marketing thích hợp với về sản phẩm, kênh phân phối hay xúc tiến quảng bá…

    Khái niệm chiến lược marketing du lịch

     

    Ngoài chiến lược marketing cơ bản 4P truyền thống gồm các yếu tố sản phẩm (Product), giá (Price), kênh phân phối (Placement) và xúc tiến quảng bá (Promotion) thì chiến lược marketing trong du lịch còn có thêm 3C là khách hàng (Customers), bản thân tổ chức kinh doanh du lịch (Company itself) và đối thủ cạnh tranh (Competitors).

     

    Customers: Khả năng đáp ứng các nhu cầu, mong muốn của khách hàng chính là thước đo cho sự thành công của tổ chức kinh doanh.

     

    Company itself: Một tổ chức, doanh nghiệp cần xác định rõ được các điểm mạnh, điểm yếu của chính tổ chức mình, để từ đó xây dựng được các chiến lược nhằm phát triển các điểm mạnh và khắc phục điểm yếu.

     

    Competiors: Để xây dựng một chiến lược marketing hợp lý và hiệu quả, cần xác định và tìm hiểu rõ về đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

     

    3

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    HOẠT ĐỘNG MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Giới thiệu festival Trà

     

    Thời gian tổ chức

     

    Liên hoan Trà quốc tế Thái Nguyên lần đầu được tổ chức trong 5 ngày từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 11 năm 2011. Sự kiện này là cơ hội để giới thiệu, quảng bá với bạn bè quốc tế về các sản phẩm chè Việt Nam nói chung và sản phẩm chè Thái Nguyên nói riêng, cũng như giao lưu, trao đổi, học hỏi những kinh nghiệm về cây chè và sản phẩm trà giữa các tổ chức, doanh nghiệp.

     

    Tiếp nối thành công từ Festival Trà lần thứ nhất năm 2011, Liên hoan Trà Thái Nguyên lần thứ hai đã được tổ chức vào năm 2013, từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 11 nhằm giới thiệu, quảng bá sâu rộng hơn nữa thương hiệu trà Thái Nguyên, tôn vinh các sản phẩm cùng văn hóa trà đặc trưng, khẳng định hơn nữa danh hiệu “Đệ nhất danh trà” đối với du khách trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, festival cũng tạo cơ hội để xúc tiến thương mại, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành chè, tăng cường các mối liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là phát triển cây chè, sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm trà với các tỉnh thành khác, mở rộng giới thiệu sản phẩm ra khu vực và trên thị trường quốc tế.

     

    Các hoạt động chính của Festival

     

    Trong khuôn khổ festival diễn ra các hoạt động chính như: Lễ khai mạc, lễ hội Văn hóa Trà, carnaval Trà Thái Nguyên, hội thảo về thương hiệu Trà và xúc tiến đầu tư phát triển ngành chè, xúc tiến du lịch, cuộc thi Người đẹp xứ Trà, bắn pháo hoa chào mừng… Trong đó Lễ hội văn hóa Trà là hoạt động chính của festival với sự tham gia của một số đoàn quốc tế, các tỉnh có thế mạnh về cây chè, các doanh nghiệp, các làng nghề và các nghệ nhân tiêu biểu…

     

    Ngoài ra còn có hàng loạt các hoạt động hưởng ứng khác như: Chương trình biểu diễn

    nghệ thuật và lễ hội với sự tham gia của các đoàn nghệ nhân, nghệ thuật trong nước và quốc tế, triển lãm ảnh giới thiệu về đất nước, con người và trà Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung, tổ chức khu Chợ quê để trưng bày các sản phẩm trà và các sản vật đặc trưng của các tộc người,…

     

    Kết quả đạt được

     

    Festival Trà quốc tế lần thứ nhất, thứ hai đều đã được tổ chức thành công tốt đẹp, đúng với nội dung kịch bản đề ra và đảm bảo được an toàn tuyệt đối, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân, du khách và bạn bè quốc tế. Đặc biệt, tại festival lần thứ nhất đã vinh dự ghi được 2 kỷ lục Việt Nam mới: Bộ ấm trà lớn nhất Việt Nam, chương trình nghệ thuật pha trà, thưởng trà có số lượng người tham gia đông nhất; còn tại festival lần thứ hai đã công nhận thêm 1 kỷ lục Việt Nam cho Trà Thái Nguyên là thương hiệu Trà danh tiếng được nhiều người Việt Nam biết đến nhất và sản phẩm Trà Thái Nguyên thuộc top các đặc sản quà tặng có giá trị của châu Á.

     

    Đánh giá hoạt động festival trà qua công thức SWOT

     

    Bảng 01. Phân tích SWOT về hoạt động của

    Festival Trà Thái Nguyên

     

    Strengths

    (Điểm

    Weakenese (Điểm

    mạnh)

       

    yếu)

       

    – S1: Festival Trà là sự

    – W1: Cơ sở vật chất

    kiện văn hóa, du lịch và

    kỹ thuật phục vụ cho

    thương   mại

    về   sản

    festival

    còn

    sài,

    phẩm chè lớn nhất Việt

    đơn  giản,  tính

    thẩm

    Nam.

     

    mỹ chưa cao.

       

    – S2: Festival Trà là sự

    –  W2:  Mức  đầu  tư

    kiện quốc tế nổi bật, thu

    khá  lớn  nhưng

    hiệu

    hút nhiều các quốc gia

    quả kinh tế mang lại

    khác tham gia trưng bày

    từ festival chưa cao.

    sản  phẩm  và  xúc  tiến

    – W3: Các chiến lược

    thương mại.

     

    marketing, quảng bá

       

    cho festival còn hạn

       

    chế và chưa thu hút

       

    được  nhiều  sự  quan

       

    tâm của dư luận.

     
       

    -W4:

    Chất

    lượng

       

    nguồn  nhân lực còn

       

    thiếu và yếu, chuyên

       

    môn hóa chưa cao.

    4

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    Opportunities (Cơ hội)

    Threats

    (Thách

    – O1: Nhu cầu sử dụng

    thức)

           

    chè và các sản phẩm từ

    – T1: Suy thoái kinh

    chè ngày càng gia tăng.

    tế khiến mức đầu tư

    – O2: Trên thế giới cũng

    của cả nhà  nước và

    có rất nhiều các festival

    các nhà đầu tư khác

    trà  được  tổ  chức,  tạo

    đều sụt giảm.

       

    điều kiện cho chè Thái

    – T2: Sự cạnh tranh

    Nguyên được tham gia,

    không

    lành

    mạnh

    quảng  bá  và  xúc  tiến,

    giữa

    các

    sản

    phẩm

    tiêu thụ sản phẩm.

    chè

    trong

    nước

    –  O3:  Festival  Trà  nói

    quốc tế.

           

    riêng và ngành sản xuất

    – T3:  Các  thông  tin

    chè  nói  chung  đã  và

    thất

    thiệt,

    một

    số

    đang nhận được sự quan

    doanh

    nghiệp

    kinh

    tâm, chỉ đạo sát sao.

    doanh

    không

    đúng

                 
    • O4: Sản phẩm chè với đạo đức nghề Thái Nguyên đã xây nghiệp, gây ảnh

    dựng được thương hiệu

    hưởng tới danh tiếng

    ở cả trong nước và quốc

    của sản phẩm và tạo

    tế.

         

    tâm  lý  lo  ngại  cho

    –  O5:  Tài  nguyên  du

    khách hàng.

     

    lịch

    của

    tỉnh

    Thái

    – T4: Các sản phẩm

    Nguyên rất đa dạng, có

    trà và các festival trà

    thể kết hợp với festival

    trên

    thế

    giới

    ngày

    để  xây  dựng  chương

    càng nhiều.

     

    trình  du  lịch  hấp  dẫn,

    –  T5:  Người

    nông

    thu hút du khách.

     

    dân trồng chè không

    – O6: Festival có được

    được hưởng nhiều lợi

    sự quan tâm và đầu tư

    ích

    từ

    festival

    tạo

    của

    nhà

    nước,

    các

    tâm

    không

    tích

    doanh

    nghiệp

    trong

    cực.

         

    nước và quốc tế.

             

    Trong khuôn khổ của bài viết, các tác giả chỉ phân tích một số yếu tố có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của Festival Trà Thái Nguyên.

     

    Điểm mạnh

     

    • Festival Trà là sự kiện văn hóa, du lịch và thương mại về sản phẩm chè lớn nhất Việt

    Nam. Ngoài một số sự kiện nhỏ lẻ của các tỉnh thành, các địa phương giới thiệu về các sản phẩm trà, văn hóa trà như Lễ hội văn hóa Trà của tỉnh Lâm Đồng, Lễ hội Trà Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên… thì Việt Nam chưa có một hoạt động nào mang tầm quốc tế để quảng bá, giới thiệu rộng rãi về các sản phẩm trà của mình.

     

    Festival Trà quốc tế Thái Nguyên lần đầu tiên được tổ chức năm 2011 là sự kiện văn hóa, du lịch và thương mại đầu tiên và cũng là lớn

    nhất Việt Nam nhằm mục đích nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người và sản phẩm Trà Việt Nam nói chung và sản phẩm Trà Thái Nguyên nói riêng.

     

    Bảng 02. Quy mô tổ chức festival Trà 2011 và 2013

     

     

    2011

    2013

         

    Kinh phí

    14 tỷ đồng

    11 tỷ đồng

           

    Số tỉnh/ thành tham gia

    38

    đoàn

    34 đoàn

           

    Số nước tham gia

    5

    đoàn

    10 đoàn

         

    Số lượng các hoạt động

    18 hoạt động

    16 hoạt động

           

    (Nguồn: Sở du lịch tỉnh Thái Nguyên)

     

    Qua hai kỳ festival đã tạo được tiếng vang nhất định trên thị trường khu vực và quốc tế, góp phần quảng bá, truyên truyền và tôn vinh giá trị của cây chè và các sản phẩm trà Việt Nam cũng như khẳng định thương hiệu Trà Thái Nguyên.

     

    Điểm yếu

     

    • Các chiến lược marketing, tuyên truyền, quảng bá về festival còn hạn chế và chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của dư luận. Các chiến lược marketing, các hình thức quảng bá, giới thiệu về festival Trà của tỉnh Thái Nguyên còn khá hạn chế quy mô và phạm vi nhỏ hẹp, tập trung chủ yếu trong tỉnh và một số vùng lân cận, hình thức quảng bá còn đơn điệu, chưa có sức hấp dẫn. Với phương thức quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu là báo chí Thái Nguyên, đài truyền hình tỉnh, cổng thông tin điện tử của tỉnh mà không phải trên truyền hình trung ương hay các trang báo uy tín của cả nước nên độ phủ sóng không cao khiến cho vẫn có rất nhiều người không biết tới festival này. Ngoài ra, các tập sách ảnh hay đặc san Trà Việt cũng chỉ được phát hành trong thời gian ngắn khi diễn ra festival và chủ yếu trong phạm vi tỉnh Thái Nguyên nên hiệu quả tuyên truyền, quảng bá cũng chưa cao. Các hội nghị, hội thảo hay các buổi họp báo giới thiệu về festival cũng chỉ được tổ chức với quy mô nhỏ, khá đơn giản và sơ sài khiến hiệu ứng tuyên truyền, quảng bá cho festival tới người dân trong nước và cả bạn bè quốc tế đã không được như mong đợi.

     

     

    5

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    Cơ hội

     

    • Sản phẩm chè Thái Nguyên đã xây dựng được thương hiệu ở cả trong nước và quốc tế. Ở Việt Nam, nói đến chè ngon người ta nghĩ ngay đến Thái Nguyên với thương hiệu “chè Thái” đã trở nên quen thuộc với người dân. Sản phẩm chè Thái Nguyên đã được người tiêu dùng trong cả nước và quốc tế biết đến với các sản phẩm trà xanh đặc sản, trà xanh cao cấp ướp hương đóng gói, đóng hộp và trà đen. Sản phẩm trà của Thái Nguyên đã có mặt ở trên thị trường 50 tỉnh, thành phố trên cả nước và cũng đã chinh phục được một số thị trường khó tính như Trung Quốc, Pakistan, Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, Srilanca…

    Nhu cầu sử dụng chè và các sản phẩm từ chè của Việt Nam, các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng gia tăng. Theo thống kê của một số nhà nghiên cứu, trà là thức uống được tiêu thụ nhiều thứ hai thế giới chỉ sau nước. Ở Trung Quốc, trà không chỉ được coi là thức uống hàng ngày giống như nước mà còn là một vị thuốc trị bệnh, bổ sung sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Tại Nhật Bản, trà không chỉ còn là thức uống bình thường mà văn hóa ẩm trà đã được nâng lên thành một nền nghệ thuật, một nền văn hóa đặc trưng của đất nước này: Trà đạo. Bên cạnh đó, nếu như cả thế giới trung bình uống 500 triệu tách trà mỗi ngày thì nước Anh đã dùng đến 1/4 số đó.

     

    Còn tại Việt Nam, trà cũng đã trở thành một thứ thức uống bình dị, quen thuộc đối với tất cả mọi người dân ở mọi lứa tuổi, mọi giai cấp. Việt Nam, có thể nói trà có mặt trong mọi hoạt động của xã hội, từ trong gia đình tới các hàng quán vỉa hè và cả những nhà hàng, khách sạn sang trọng. Từ các dịp lễ hội, cưới hỏi, sinh nhật, ma chay, cúng giỗ…đều có sự xuất hiện của trà.

     

    Thách thức

     

    • Các sản phẩm trà và các festival trà trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm trà Thái

    Nguyên. Trên thế giới có rất nhiều quốc gia

    nổi tiếng về chè, các sản phẩm trà và thậm chí là cả văn hóa thưởng trà, có thể kể đến như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Nga…

     

    Trung Quốc được coi là quê hương của cây chè, các sản phẩm trà của Trung Quốc đã có mặt tại rất nhiều quốc gia trên khắp thế giới, đặc biệt được ưa chuộng ở Mỹ, Anh, Pháp, các nước châu Âu và cả Việt Nam. Một số loại trà tiêu biểu được biết đến nhiều nhất của Trung Quốc như: Trà Long Tỉnh, Trà thiết Quan Âm, Phổ Nhĩ, Đại Hồng Bào…Trong đó trà Đại Hồng Bào được coi là bảo vật quốc gia của Trung Quốc với giá khoảng 1,25 triệu USD/kg.

     

    Một đất nước châu Á nữa; Nhật Bản cũng được biết đến là “quốc gia trà đạo” với nền văn hóa thưởng trà của người Nhật đã được nâng lên thành một triết lý, một môn nghệ thuật nổi tiếng trên khắp thế giới. Về các sản phẩm trà của Nhật Bản, riêng trà xanh cũng đã được chia ra làm rất nhiều loại với chất lượng và hương vị khác nhau, tạo được sự đa dạng, phong phú trong lựa chọn cho người sử dụng. Ngoài ra người Nhật còn sáng tạo ra những món ăn, những loại đồ uống có sử dụng trà làm nguyên liệu, tạo nên sự độc đáo riêng biệt và sức hấp dẫn đối với cả khách hàng trong nước và quốc tế.

     

    Bên cạnh đó trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều các sự kiện, các festival mang tầm cỡ quốc tế về sản phẩm trà và văn hóa trà. Có thể kể tới một số festival tiêu biểu nổi bật như Festival Trà quốc tế của Nhật Bản được tổ chức ba năm một lần hay Festivel Trà xanh Boseong được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần vào tháng 5 tại Boseong, nơi nổi tiếng với các đồi chè và các sản phẩm trà hảo hạng của đất nước Hàn Quốc. Hoặc tại đất nước nổi tiếng ưa chuộng các sản phẩm trà là nước Anh cũng tổ chức festival Trà và Cà phê hai năm một lần vào mùa thu ở thủ đô Luân Đôn. Ngoài ra chúng ta còn có thể tìm hiểu về trà thông qua festival Trà của Đức, Festival Trà Vancouver, Festival Trà Toronto của Canada hay Festival Trà quốc tế Los Angeles… Chỉ

     

    6

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    tính riêng trong năm 2014, theo thống kê thì trên thế giới có khoảng 12 sự kiện, lễ hội về trà được tổ chức [6]

     

    Chất lượng nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, tính chuyên môn hóa chưa cao, những chương trình đào tạo ngắn hạn theo mùa vụ không mang lại hiệu quả cao. Qua điều tra thực tế thì lực lượng lao động ở các đơn vị kinh doanh du lịch chỉ có 20% đạt trình độ đại học, còn lại là trình độ trung cấp, sơ cấp nghiệp vụ và lao động không chuyên theo mùa vụ với chuyên môn nghiệp vụ yếu, thiếu tính chuyên nghiệp, đặc biệt là khả năng ngoại ngữ rất hạn chế, nên có thể nói là chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch của tỉnh Thái Nguyên còn khá yếu và thiếu. Hiện nay tỉnh cũng đã có 3 trường đào tạo về du lịch là: Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên, Cao đẳng Thương mại và Du lịch và trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc, tuy nhiên do mới thành lập thêm khoa Du lịch và đi vào hoạt động chưa lâu nên chưa thể đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực cho tỉnh Thái Nguyên.

     

    Bên cạnh đó, trong thời gian chuẩn bị và tổ chức festival Trà Thái Nguyên, ban tổ chức sử dụng chủ yếu là lực lượng lao động tại chỗ, chính là những hộ nông dân trồng chè – nguồn lao động không chuyên theo mùa vụ. Trong thời gian chuẩn bị cho festival, người nông dân đã được đào tạo các khóa ngắn hạn về nghiệp vụ du lịch, cách tiếp đón và phục vụ khách du lịch, cách thức marketing, quảng bá cho festival nói riêng và các sản phẩm trà nói chung. Tuy đây là một nguồn lao động khá dồi dào và có thể sử dụng tại chỗ, phục vụ cho loại hình du lịch cộng đồng, du lịch homestay, nhưng với những chương trình đạo tạo ngắn hạn mang tính thời vụ khiến cho hiệu quả mang lại không cao, chất lượng phục vụ du lịch không đồng đều ở các địa phương, khu vực và gây ra sự tốn kém, lãng phí cho kinh phí của tỉnh và nhà nước khi mỗi sự kiện, mỗi kỳ festival lại phải tổ chức đào tạo lại.

     

    Các thông tin thất thiệt, một số doanh nghiệp kinh doanh không đúng với đạo đức nghề

    nghiệp, gây ảnh hưởng tới danh tiếng của sản phẩm và tạo tâm lý lo ngại cho khách hàng. Khoảng giữa năm 2011, trên các trang báo, tạp chí, báo điện tử đồng loạt đưa thông tin về việc phát hiện ở Yên Bái, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một số tỉnh sản xuất chè ở khu vực phía Bắc, người dân đã đã trộn lẫn phân lân, bùn, bột đất hay xi măng khi chế biến chè và sau đó đem phơi ở trên sân, trên đường quốc lộ…

     

    Tuy Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản đã được xác định là thông tin không chính xác nhưng những thông tin này cũng đã làm dấy lên sự hoang mang và phẫn nộ trong lòng người tiêu dùng, làm giảm sút lòng tin vào các sản phẩm chè trong nước và ảnh hưởng tới uy tín của các thương hiệu trà nổi tiếng như Yên Bái, Thái Nguyên… Bên cạnh đó, những thông tin này được đưa ra ngay trước thời gian diễn ra Festival Trà quốc tế Thái Nguyên lần thứ nhất đã có những ảnh hưởng tiêu cực rất lớn tới các hoạt động và hiệu quả của festival: Làm giảm sút uy tín của các sản phẩm trà, gây cản trở cho hoạt động quảng bá, giới thiệu và tôn vinh thương hiệu “trà Thái”, làm giảm hiệu quả xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư, liên doanh liên kết, ảnh hưởng tới số lượng khách du lịch và các đoàn quốc tế đăng ký tham gia festival cũng giảm từ 8 đoàn xuống 5 đoàn.

     

    Năm 2013, dư luận từng xôn xao về thông tin một số cơ sở chế biến trà đã tái chế bã trà phế thải của các doanh nghiệp sản xuất nước giải khát trà xanh đóng chai. Bã trà đã qua sử dụng của các doanh nghiệp sản xuất trà xanh đóng chai đáng lẽ phải đem tiêu hủy hoặc làm phân bón thì lại được bán lại cho các cơ sở chế biến với giá 200 – 300 VND/ kg. Sau đó, bã trà tại các cơ sở này được phơi, sấy khô, phân loại rồi ướp hương để bán ra thị trường với giá 10.000 VND/ kg. Điều này đã gây ảnh hưởng không hề nhỏ tới uy tín và danh tiếng của các thương hiệu trà Việt Nam, làm mất lòng tin của khách hàng, tạo tâm lý lo ngại, khiến sản lượng tiêu thụ các sản phẩm trà

     

    7

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    trong nước và trà xuất khẩu đều giảm trong năm 2013.

     

    CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Chiến lược marketing sản phẩm

     

    Chiến lược marketing về chất lượng sản phẩm

     

    Để sản xuất “chè sạch”, các hộ dân trồng chè cần được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất chè từ khâu chăm sóc đến thu hái, bảo quản và chế biến sản phẩm một cách khoa học theo đúng quy chuẩn đề ra. Đồng thời, các hộ phải tuân thủ, đáp ứng các yêu cầu như: Thường xuyên cập nhật sổ sách, ghi chép về tình hình sản xuất, yếu tố nguồn nước tưới, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng liều lượng và thời gian quy định… Các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương cũng cần vận động, tuyên truyền cho người dân chuyển từ bón phân hóa học sang bón phân sinh học, vi sinh cho chè, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục cho phép nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường và chất lượng chè, dọn dẹp nhà xưởng, khu chế biến chè sạch sẽ, vệ sinh, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tránh ô nhiễm môi trường.

     

    Chiến lược marketing về hình thức, mẫu mã sản phẩm

     

    Sản phẩm trà, đặc biệt là trà ướp hương không ưa bất cứ mùi vị nào khác lạ nên cần được bảo quản rất kỹ càng với bao gói đóng vào giấy thiếc, đóng vào lọ sành, sứ hay hộp giấy và bảo quản nơi khô mát. Những năm gần đây, đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, các doanh nghiệp và làng chè truyền thống của Thái Nguyên đã tăng cường nghiên cứu và thiết kế thêm rất nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau có thể làm quà tặng, quà biếu, để cưới hỏi…

     

    Các chiến lược marketing cho hình thức, mẫu mã bao bì sản phẩm trà nên tập trung vào nhu cầu sử dụng của khách hàng, có thể đưa ra một số đề xuất như:

     

    • Sản phẩm thuần Việt được sử dụng trong thờ cúng tổ tiên, lễ tết hoặc đám cưới, lễ hỏi,

    ma chay…Các sản phẩm được thiết kế mẫu mã, bao bì với chất liệu và hình thức, hình ảnh mang đậm chất truyền thống của dân tộc.

     

    • Chất liệu: Có thể sử dụng chất liệu gỗ, giấy hoặc chất liệu tre được đan thành những chiếc hộp, giỏ thủ công tinh xảo không chỉ thu hút khách hàng trong nước mà còn là món quà lưu niệm yêu thích của những du khách nước ngoài.
    • Hình ảnh bao bì: Các hình ảnh trên bao bì các sản phẩm trà thường là các đồi chè, búp chè xanh và những người nông dân hái chè cần mẫn, là thể hiện nét đặc trưng của sản phẩm. Bên cạnh đó, với chiến lược tập trung vào nhu cầu sử dụng của khách hàng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể thiết kế thêm nhiều loại mẫu mã bao bì mới, đa dạng và đặc trưng cho từng nhu cầu sử dụng. Nên lựa chọn 2- 3 màu chủ đạo như vàng, xanh, nâu cho các mẫu sản phẩm để khách hàng dễ dàng nhớ đến hình ảnh, kiểu dáng của mỗi sản phẩm.
    • Kiểu dáng: Kiểu dáng hộp đựng của các sản phẩm trà cũng rất đa dạng và phong phú, có thể là hình vuông, hình lục giác, hình ống tròn… Ngoài ra có thể khai thác các hình ảnh mang tính truyền thống như ống tre, búp sen, gùi tre…
    • Sản phẩm mang tính hiện đại, thuận tiện cho việc vận chuyển, bảo quản và đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng cũng như dùng làm quà tặng, biếu hoặc xuất khẩu. Các sản phẩm tập trung vào nhu cầu sử dụng của khách hàng không cần quá cầu kỳ về hình thức mẫu mã nhằm mục đích giảm giá thành, hạ giá bán. Và các sản phẩm này cần đảm bảo được quá trình vận chuyển và bảo quản lâu dài nên chất liệu được sử dụng có thể là gỗ cứng hoặc kim loại. Lưu ý và chú trọng vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm.

    Chiến lược quảng bá, giới thiệu festival Trà

     

    Với số lượng các sự kiện giao lưu, các chương trình festival về trà trên thế giới ngày càng nhiều, Thái Nguyên có thể đưa các sản phẩm trà của mình tới tham dự, chú trọng nhấn mạnh vào các chương trình mang tầm cỡ quốc tế với độ phủ sóng cao, được dư luận thế giới quan tâm nhiều, để giới thiệu, tạo được

     

    8

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    ấn tượng và tìm kiếm những mối liên kết, đầu tư. Bên cạnh đó, ngoài việc tổ chức các festival Trà tại Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung cũng cần xây dựng kế hoạch, đầu tư tổ chức các festival Việt Nam tại nước ngoài. Đó có thể là các festival Trà riêng biệt hoặc là các festival văn hóa, festival tổng hợp và trà là một trong những sản phẩm được chú trọng giới thiệu.

     

    Qua các hoạt động giao lưu, quảng bá này, Thái Nguyên có cơ hội để tìm hiểu, nghiên cứu và so sánh giữa các sản phẩm trà của nước mình với các quốc gia khác trên thế giới. Từ đó sẽ giúp các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất trà tìm ra được những điểm mạnh, những điểm đặc trưng độc đáo được ưa chuộng để phát huy thế mạnh của mình và những hạn chế, những thiếu sót về chất lượng sản phẩm, mẫu mã bao bì hay kĩ thuật sản xuất, chế biến để cải tạo, khắc phục, nâng cao khả năng cạnh tranh.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nguyễn Văn Mạnh (2008), Marketing Du lịch, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
    1. Đỗ Ngọc Quỹ (2010), Văn hóa trà thế giới và Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
    1. Phan Thăng (2007), Marketing căn bản Marketing Essentials, Nxb Lao động -Xã hội, Hà Nội; 437
    1. Báo Thái Nguyên (21/07/2013), “Tài liệu tuyên truyền Festival Trà Thái Nguyên – Việt Nam lần

    thứ hai năm 2013“, http://www.baothainguyen.org.vn/tin-tuc/van-ban/tai-lieu-tuyen-truyen-festival-tra-thai-nguyen-viet-nam-lan-thu-hai-nam-2013-210655-184.html

     

    1. Thanh Tâm (26/12/2013), “Tổng kết Festival

    Trà Thái Nguyên – Việt Nam“, http://festivaltrathainguyen.vn/Home/tin-tuc-su-kien/196/Tong-ket-Festival-Tra-Thai-Nguyen-Viet-Nam

     

    1. blogspot.com, “2014 TeaEvents“, http://internationalteamoment.blogspot.com/p/tea-events.html

    SUMMARY

     

    MARKETING STRATEGY FOR THAI NGUYEN TEA FESTIVAL

     

    Tran Kim Yen*, Nguyen Thi Tam

    Hai Phong University

     

    Thai Nguyen Tea Festival is an opportunity for the State agency on tourism, businesses introduce and promote the image of Thai Nguyen Tea brand to domestic and international customers, while promoting the development of Thai Nguyen trade and tourism. However, due to the formation and development should no longer Thai Nguyen Tea Festival is still a lot of flaws and limitations in communicating, promoting, developing marketing strategies for the festival and Thai Nguyen tea.

     

    Keywords: Tea Festival , strategy, marketing, Thai Nguyen

     

     

    Ngày nhận bài:01/12/2014; Ngày phản biện:25/12/2014; Ngày duyệt đăng: 03/4/2015

     

    Phản biện khoa học: TS. Nguyễn Công Hoàng – Trường Đại học Khoa học – ĐHTN

     

    • Tel:

     

     

    9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-marketing-h%C3%ACnh-%E1%BA%A3nh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-v%C3%A0-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-c%E1%BA%A1nh-tranh-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p-du-l%E1%BB%8Bch-t%E1%BA%A1i-t%E1%BB%89nh-Th%E1%BB%ABa-Thi%C3%AAn-Hu%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Tạp chí Khoa học công nghệ và Thực phẩm 16 (1) (2018) 140-152

     

    NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA YẾU TỐ NĂNG LỰC MARKETING, HÌNH ẢNH THƢƠNG HIỆU VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCH TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

     

    Nguyễn Văn Ít1*, Hoàng Thị Chỉnh2, Trần Anh Minh3

    1Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM 2Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 3Trường Đại học Văn Lang *Email: [email protected]

     

    Ngày nhận bài: 19/7/2018; Ngày chấp nhận đăng: 30/8/2018

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mối quan hệ và đo lường ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch trên cơ sở khảo sát 490 lãnh đạo doanh nghiệp (doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài) thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 7 năm 2018. Phân tích dữ liệu bằng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình cấu trúc (SEM). Kết quả xác định được mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Nghiên cứu này còn đưa ra hàm ý quản trị phù hợp giúp các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đạt hiệu quả kinh doanh tốt.

     

    Từ khóa: Văn hóa tổ chức, năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh.

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp du lịch đã và đang tìm mọi cách để đạt hiệu quả kinh doanh bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng là các doanh nghiệp du lịch cần nắm bắt được một trong những công cụ cơ bản là xây dựng năng lực marketing hiệu quả, hình ảnh thương hiệu tốt làm tăng khả năng cạnh tranh và từ đó tác động tích cực đến hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp [1]. Cũng như văn hóa tổ chức tác động đến năng lực cạnh tranh, từ đó sẽ tạo ra hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh [2]. Hiệu suất kinh doanh là đánh giá của bất kỳ chiến lược kinh doanh nào của doanh nghiệp và cải tiến hiệu suất là trọng tâm của doanh nghiệp. Như vậy, để đánh giá mối quan hệ và ảnh hưởng của các yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch là thật sự cần thiết đối với đối với các doanh nghiệp du lịch. Thừa Thiên Huế là tỉnh đại diện cho miền Trung Việt Nam được lựa chọn để nghiên cứu, bởi vì hiện tại còn thiếu những nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp du lịch.

     

    140

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

     

    2.1. Một số khái niệm

     

    2.1.1. Năng lực marketing

     

    Marketing là một quá trình mà các doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ với khách hàng mạnh mẽ để nắm bắt giá trị từ khách hàng đem lại cho doanh nghiệp [3]. Năng lực marketing của doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc liên tục theo dõi và đáp ứng được những thay đổi của khách hàng cùng với đối thủ cạnh tranh. Trong lĩnh vực du lịch, năng lực marketing đóng một vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng, phản ứng với đối thủ cạnh tranh, thích ứng với biến đổi của môi trường cũng như việc cải thiện chất lượng mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và đối tác.

     

    2.1.2. Hình ảnh thương hiệu

     

    Hình ảnh thương hiệu là sự tin tưởng của khách hàng vào một tổ chức và tổng hợp tất cả những ấn tượng của khách hàng bởi hình ảnh thương hiệu được phân biệt rõ trong tâm trí của họ dựa trên những lợi ích chức năng và cảm xúc mà khách hàng cảm nhận được [4]. Hình ảnh của doanh nghiệp du lịch, khu du lịch được xác định là tất cả các niềm tin, ý tưởng và ấn tượng. Ngày càng có nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng hình ảnh của doanh nghiệp du lịch, khu du lịch bao gồm 2 khía cạnh: nhận thức và tình cảm, phát triển hình ảnh doanh nghiệp thành tài sản của doanh nghiệp, quản lý hình ảnh ấn tượng tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp đó.

     

    2.1.3. Văn hóa tổ chức

     

    Văn hóa là một hệ thống nhận thức được chia sẻ, tâm trí con người tạo ra văn hóa bằng trung bình của một số quy tắc hữu hạn các tổ chức, các hệ thống có kiến thức nằm trong mạng lưới các ý nghĩa chủ quan hoặc kinh tế các thành viên chia sẻ với các mức độ khác nhau và xuất hiện hoạt động theo cách giống như quy tắc [5]. Văn hóa tổ chức là hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên và nó có tác dụng phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác [6]. Chính vì vậy chúng còn được gọi là “bản sắc riêng” hay “bản sắc văn hóa” của một tổ chức mà mọi người có thể xác định được và thông qua đó nhận ra được quan điểm và triết lý đạo đức của một tổ chức doanh nghiệp. Văn hóa tổ chức bao gồm các khía cạnh dựa trên bản sắc doanh nghiệp và được nhận dạng bởi các thành viên trong tổ chức đó. Vì vậy, văn hóa tổ chức cần được xem xét duy trì và phát triển bản sắc của doanh nghiệp.

     

    2.1.4. Năng lực cạnh tranh

     

    Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là năng lực thiết kế, năng lực marketing của một doanh nghiệp về sản phẩm hoặc dịch vụ vượt trội so với những gì được cung cấp bởi các đối thủ cạnh tranh [7]. Một doanh nghiệp được cho là có lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp đó tạo ra giá trị kinh tế cao hơn đối thủ cạnh tranh, giá trị kinh tế được đề cập là so sánh lợi ích nhận được với chi phí bỏ ra của khách hàng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ đã mua. Lợi thế cạnh tranh là cơ sở cho một chiến lược tốt, đồng thời một chiến lược tốt sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh. Do đó, năng lực cạnh tranh rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi vì điều đó giúp phân biệt doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh [8]. Trong thực tế, cách tốt nhất để đạt được lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp lớn và nhỏ là cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng.

     

    141

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    2.1.5. Hiệu quả kinh doanh

     

    Hiệu quả kinh doanh là một bộ tiêu chí nhằm định lượng tính năng suất và hiệu quả các mặt hoạt động trong doanh nghiệp và nó được kiểm định bởi 3 cấp độ: cá nhân, mục tiêu của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các tiêu chí đánh giá đó với môi trường hoạt động (văn hóa, thỏa mãn khách hàng, chiến lược phát triển) [8]. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là thành công của những nỗ lực để đạt được mục tiêu, thu được từ sáng tạo và có thể áp dụng, được nhìn thấy từ những nỗ lực của các nhân viên khi doanh nghiệp của họ tốt hơn so với giai đoạn trước như vốn, quy mô hoạt động và mở rộng kinh doanh, quan điểm về tài chính của nó hiệu suất bao gồm tính khả dụng, tính thanh khoản, khả năng thanh toán và hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp. Đối với các khía cạnh khác nhau của việc xác định thành công của doanh nghiệp là hiệu quả hoạt động kinh doanh được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm mối quan hệ của các yếu tố và năng lực cạnh tranh tác động đến hiệu quả kinh doanh như mở rộng quy mô, tăng lợi nhuận và sự tin tưởng của khách hàng ngày càng tăng.

     

    2.2. Mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu

     

    2.2.1. Văn hóa tổ chức và năng lực marketing

     

    Marketing được xác định dựa trên một nền văn hóa tổ chức riêng biệt của doanh nghiệp đó, sự phát triển định hướng khách hàng trong các doanh nghiệp liên quan đến văn hóa tổ chức của doanh nghiệp đó [9]. Giai đoạn phát triển tiếp theo của chiến lược lập kế hoạch thị trường phải bao gồm sự tích hợp chính thức của văn hóa tổ chức được cân đối, nội bộ nhất quán và cũng phải phù hợp với chiến lược, nếu chiến lược đó được triển khai [10], đây là yếu tố quyết định làm tăng hiệu quả marketing. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và năng lực marketing.

     

    2.2.2. Văn hóa tổ chức và hình ảnh thương hiệu

     

    Văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu, hàng ngày tương tác giữa các thành viên trong tổ chức và khách hang. Để phát triển hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp thì văn hóa tổ chức là yếu tố quyết định hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp đó [11]. Văn hóa tổ chức tạo ra hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp. Hình ảnh của tổ chức thông qua sự nhận dạng của các thành viên trong tổ chức, đặc trưng về “bản sắc” riêng của từng tổ chức giúp phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, tạo nên hình ảnh thương hiệu khác nhau cho các doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và hình ảnh thương hiệu.

     

    2.2.3. Văn hóa tổ chức và năng lực cạnh tranh

     

    Văn hóa tổ chức là một lợi thế tạo ra cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp, quản lý văn hóa tổ chức như một nguồn lực cạnh tranh trong doanh nghiệp, một cái nhìn dựa trên nhận dạng về lợi thế cạnh tranh bền vững [12]. Trong việc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp không thể thiếu văn hóa tổ chức, chiến lược cạnh tranh và thực tiễn quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp [2]. Định hướng thị trường theo quan điểm văn hóa được hiểu như là văn hóa tổ chức; trong đó, thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh tạo thành trục trung tâm trong phương pháp làm việc của doanh nghiệp, định hướng này hàm ý sự tồn tại của một tập hợp các giá trị và thái độ trong tổ chức. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và năng lực cạnh tranh.

     

    142

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    2.2.4. Năng lực marketing và hình ảnh thương hiệu

     

    Doanh nghiệp thể hiện hình ảnh thương hiệu rõ ràng, có thể giao tiếp hiệu quả với khách hàng về các dịch vụ, giá cả và thái độ của khách hàng [13]. Do đó, các chương trình marketing hiệu quả dựa trên xây dựng hình ảnh thương hiệu là quan trọng, bởi vì thông qua đó nâng cao nhận thức và kết nối hình ảnh thương hiệu với khách hàng. Trong đó bao gồm lòng trung thành của khách hàng và khách hàng sẵn sàng chi trả một mức giá cao cho hình ảnh thương hiệu. Tầm quan trọng của bộ phận marketing, đặc biệt là nhân viên marketing, làm tăng trưởng về thương hiệu và phân khúc thị trường đã kích thích nhu cầu của khách hàng. Marketing được coi là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra hình ảnh thương hiệu thành công. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và hình ảnh thương hiệu.

     

    2.2.5. Năng lực marketing và năng lực cạnh tranh

     

    Các nguồn lực ảnh hưởng đến năng lực cạnh của doanh nghiệp bao gồm: khả năng phát triển sản phẩm, chất lượng dịch vụ khách hàng, hiệu quả trong sản xuất, năng lực marketing. Năng lực cạnh tranh của các cửa hàng Đài Loan bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như là chiến lược kinh doanh, năng lực tài chính, cơ sở vật chất các tiện nghi, sản phẩm hàng hóa, chất lượng dịch vụ, marketing, nguồn nhân lực. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hungary gồm: Lập kế hoạch, marketing, đảm bảo chất lượng, phương pháp tổ chức và kiểm soát tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [14]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H5: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và năng lực cạnh tranh.

     

    2.2.6. Hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh

     

    Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được hình thành từ năng lực nội bộ của doanh nghiêp, nguồn lực hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. Nguồn lực vô hình và hữu hình ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, nguồn lực hữu hình chính là tài sản vật chất mà một doanh nghiệp có thể quan sát và đếm được như các nguồn lực tài chính, nguồn lực tổ chức, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ [15]. Nguồn lực vô hình chính là các tài sản mà doanh nghiệp không thể đếm được như nguồn lực con người, nguồn lực đổi mới, nguồn lực về danh tiếng (sức mạnh thương hiệu, danh tiếng với khách hàng). Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, cần nhấn mạnh vai trò của các yếu tố ảnh hưởng như: chiến lược doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp, năng lực hoạt động, khả năng sáng tạo, nguồn lực hữu hình và vô hình khác. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh.

     

    2.2.7. Năng lực marketing và hiệu quả kinh doanh

     

    Khi cạnh tranh trong ngành du lịch trở nên dữ dội hơn, ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động marketing trong kinh doanh du lịch để thu hút khách hàng cũng như giúp khách hàng phân biệt mình với đối thủ cạnh tranh. Các hoạt động marketing tốt có liên quan tích cực đến hiệu quả kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp dịch vụ muốn thực hiện tốt thì phải phân tích được thị trường, lập kế hoạch, thực hiện các chiến lược marketing đúng cách; doanh nghiệp cần tập trung đẩy mạnh chiến lược marketing sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được hiệu quả kinh doanh ngay cả trong cuộc khủng hoảng kinh tế [16]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H7: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và hiệu quả kinh doanh.

     

    143

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    2.2.8. Hình ảnh thương hiệu và hiệu quả kinh doanh

     

    Thương hiệu là chìa khóa thành công của doanh nghiệp kinh doanh du lịch, thương hiệu dựa trên nhận thức của khách hàng và nó quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp [17]. Khi du lịch là sản phẩm thì hình ảnh thương hiệu giúp người tiêu dùng có sự lựa chọn và giảm thiểu rủi ro trong việc đưa ra quyết định, một thương hiệu mạnh có thể giúp phân biệt sản phẩm dịch vụ của mình với sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh [18]. Quá trình xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp du lịch, khu du lịch là rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh dài hạn, hiệu quả kinh doanh trên thị trường thông qua thương hiệu của doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H8: Có mối quan hệ cùng chiều giữa hình ảnh thương hiệu và hiệu quả kinh doanh.

     

    2.2.9. Năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

     

    Trên góc độ giá trị khách hang, một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp khác khi khách hàng có thể nhận thấy được giá trị dành cho họ là cao nhất. Trong đó, giá trị dành cho khách hàng là phần chênh lệch giữa tổng giá trị và tổng chi phí của khách hàng. Lợi thế cạnh tranh là để đạt được hiệu suất cao, một doanh nghiệp phải phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm gia tăng khả năng mở rộng và phát triển thị phần, làm tăng hiệu quả tài chính, tăng sự ổn định và phát triển bền vững trong tương lai [19]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H9: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.

     

    3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Dựa trên các nghiên cứu của Haluk & Özgül (2007), Prasad & Dev (2000), Li (2011)

    [16, 17, 19] và thông qua kết quả định tính, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

     

    Năng lực

     

    marketing

     

    H1

       

    H7

         
     

    H5

           
     

    H4

           
               
                 

    Văn hóa

    H3

    Năng lực

     

    H9

    Hiệu quả

       
       

    tổ chức

     

    cạnh tranh

       

    kinh doanh

    H6

    H2

    H8

     

    Hình ảnh

     

    thương hiệu

     

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

    4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

     

    4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu

     

    Phương pháp định tính: Thông qua việc thống kê, tổng hợp, phân tích: các lý thuyết về năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và các

     

    144

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    nghiên cứu trước đây từ các tạp chí kinh tế trong nước, ngoài nước để khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thành phần tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, các thang đo đối với từng yếu tố. Tác giả đã thảo luận trực tiếp với 9 chuyên gia nhằm xem xét mô hình và thang đo. Các chuyên gia này là những người am hiểu về lĩnh vực du lịch cả lý thuyết và thực tiễn, và các nhà quản trị đang trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

     

    Phương pháp định lượng: Thu thập dữ liệu, áp dụng mô hình đã đề ra và dùng SPSS-AMOS để phân tích dữ liệu nhằm đánh giá mối quan hệ của các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Phương pháp này giúp tác giả kiểm định các thang đo và mối quan hệ cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh.

     

    4.2. Thu thập dữ liệu

     

    Mẫu và thông tin mẫu: Đối tượng chọn mẫu là các nhà quản lý, bao gồm: giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Sử dụng thang đo Likert 5 bậc (1: Hoàn toàn không đồng ý; 2: Không đồng ý; 3: Trung lập; 4: Đồng ý; 5: Hoàn toàn đồng ý). Thu thập 490 đơn vị mẫu đưa vào phân tích.

     

    Thu thập và phân tích dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20 và AMOS, tiến hành kiểm định thông qua các bước: (1) đánh giá sơ bộ thang đo, đo lường độ tin cậy của biến đo lường bằng hệ số Cronbach’s alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory factor analysis) để xác định độ hội tụ (factor loading) và tính phân biệt của các nhóm yếu tố, (2) kiểm định các thang đo với dữ liệu thu thập bằng phân tích khẳng định CFA, (3) phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm xác định các mối quan hệ của các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch.

     

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    5.1. Thống kê mô tả mẫu

     

    Các mẫu được lựa chọn bằng phương pháp phi xác suất. Các cấu trúc nhân khẩu học, đặc điểm tổ chức của người được khảo sát, Trong đó công ty TNHH chiếm cao nhất là 51,1%, vị trí quản lý là giám đốc doanh nghiệp chiếm cao nhất 66,1%, số năm công ty hoạt động từ 5 đến 10 năm chiếm 44,3%, độ tuổi khảo sát phần lớn (52,4%) từ 35 đến 45 tuổi. Kết quả được trình bày ngắn gọn trong Bảng 1 và Bảng 2.

     

    Bảng 1. Thống kê mô tả

     

     

    Đặc điểm

    Tần số

    (%)

             
       

    Doanh nghiệp tư nhân

    56

    11,4

       

    Công ty TNHH

    265

    54,1

    Loại hình doanh nghiệp

     

    Công ty cổ phần

    144

    29,4

       

    Khác

    25

    5,1

             
       

    Giám đốc

    324

    66,1

    Vị trí quản lý

     

    Phó giám đốc

    103

    21,0

           
       

    Trưởng phòng kinh doanh

    63

    12,9

             

    145

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    Đặc điểm

     

    Tần số

    (%)

             
       

    < 5

    69

    14,1

    Số năm công ty được thành lập

     

    5 – 10

    217

    44,3

     

    10 – 15

    148

    30,2

       
       

    ≥ 15

    56

    11,4

             
       

    1 – 5

    169

    34,5

    Công ty có số lượng công ty thành

     

    5 – 10

    209

    42,7

    viên, chi nhánh và văn phòng đại

     

    10 – 15

    98

    20,0

    diện

     
       

    ≥ 15

       
       

    14

    2,9

             
       

    < 5

    29

    5,9

    Quy mô doanh nghiệp

     

    5 – 10

    217

    44,3

    (Số người)

     

    10 – 15

    177

    36,1

       

    ≥ 15

    67

    13,7

             
       

    18 – 25

    16

    3,3

    Số tuổi của đối tượng tham gia

     

    25 – 35

    86

    17,6

           

    khảo sát

     

    35 – 45

    257

    52,4

       
       

    ≥ 45

    131

    26,7

             

    Bảng 2. Thống kê mô tả các nhà quản lý

     

    Nhà quản lý

    Loại hình doanh nghiệp

    Tần số

     
           
     

    Doanh nghiệp tư nhân

    30

     
           

    Giám đốc

    Công ty TNHH

    190

     
         

    Công ty cổ phần

    90

     
     
           
     

    Khác

    14

     
           
     

    Giám đốc

    10

     

    Phó giám đốc

    Phó giám đốc

    50

     
         

    Trưởng phòng kinh doanh

    40

     
     
           
     

    Khác

    3

     
           
     

    Giám đốc

    16

     
           

    Phó giám đốc

    Phó giám đốc

    25

     
         

    Trưởng phòng kinh doanh

    14

     
     
           
     

    Khác

    8

     

    5.2. Phân tích độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha

     

    Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha các biến độc lập. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo thuộc yếu tố độc lập. Trong đó, trừ thang đo VHTC3,

     

    146

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    NLMT2 và HATH4 có hệ số tương quan biến – tổng (Corrected item – Total correlation) < 0,3, tác giả tiến hành loại biến và chạy lại. Kết quả chạy lại cho thấy các yếu tố còn lại đều có hệ số tương quan biến – tổng phù hợp (Corrected item – Total correlation) ≥ 0,3 và hệ số Cronbach’s alpha > 0,6 nên các biến đều chấp nhận được và thích hợp đưa vào các phân tích tiếp theo. Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha các biến phụ thuộc. Kiểm định độ tin cậy của thang đo các yếu tố phụ thuộc hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch: các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng phù hợp (Corrected item – Total correlation) ≥ 0,3 và hệ số Cronbach’s alpha > 0,6 nên các biến đều chấp nhận được và thích hợp đưa vào các phân tích tiếp theo.

     

    Bảng 3. Kết quả hệ số tin cậy Cronbach’s alpha thang đo các thành phần

     

    STT

    Các khái niệm

    Ký hiệu thành

    Số biến

    Cronbach’s

    Hệ số tương quan

     

    phần

    quan sát

    alpha

    biến tổng bé nhất

     
       
                 

    1

    Văn hóa tổ chức

    VHTC

    4

    0,864

    0,659

     
                 

    2

    Năng lực marketing

    NLMT

    6

    0,928

    0,712

     
                 

    3

    Hình ảnh thương hiệu

    HATH

    5

    0,912

    0,757

     
                 

    4

    Năng lực cạnh tranh

    NLCT

    4

    0,929

    0,825

     
                 

    5

    Hiệu quả kinh doanh

    HQKD

    4

    0,909

    0,774

     
                 

    5.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

     

    Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm xem xét mức độ hội tụ của các thang đo theo từng thành phần và giá trị riêng biệt giữa từng yếu tố. Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến độc lập cho thấy, 19 thang đo thuộc về biến yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh được nhóm thành 4 yếu tố như sau: NLMT, NLCT, HATH, VHTC. Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến phụ thuộc cho thấy, 4 thang đo thuộc về biến phụ thuộc hiệu quả kinh doanh được nhóm thành 1 yếu tố, các chỉ số phù hợp tiêu chuẩn [20] cụ thể: Hệ số tải nhân tố (Factor loading) đều > 0,5 nên các thang đo đều quan trọng trong nhân tố và có ý nghĩa thiết thực, mỗi thang đo có sai biệt về hệ số tải nhân tố đều > 0,30 đảm bảo sự phân biệt giữa các yếu tố. Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) = 0,922 là phù hợp (0,5 < KMO < 1), chứng tỏ phân tích nhân tố EFA phù hợp với dữ liệu. Tổng phương sai trích được là 69,879 % nên phù hợp (> 50%) cho biết các nhân tố trích rút ra giải thích được 69,879% biến thiên của dữ liệu, do vậy các thang đo rút ra được chấp nhận. Thống kê Chi-square của kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa Sig = 0,000 nên phù hợp (sig < 5%) chứng tỏ các thang đo có tương quan trong tổng thể.

     

    5.4. Phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory factor analysis)

     

    Trong nghiên cứu này, các tiêu chuẩn được sử dụng để xác định mô hình tốt nhất là kết quả của hệ số bình thường Chi-square χ2/Df ≤ 3, CFI > 0,9, GFI > 0,9, TLI > 0,9, RMSEA< 0,05. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA các biến độc lập như được trình bày ở Bảng 5.

     

    Các trọng số chưa chuẩn hóa đều có ý nghĩa thống kê (p-value < 0,05), và các trọng số chuẩn hóa > 0,5. Từ bảng 5 ta có tất cả các chỉ số đều đạt yêu cầu, đảm bảo tính nhất quán, sự hội tụ và sự phù hợp của mô hình.

     

    147

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    Bảng 4. Nhân tố khám phá (EFA)

     

                 

    Nhân tố

             
                             
       

    1

     

    2

     

    3

    4

     

    5

     
                             
     

    NLMT3

    0,917

                     
                             
     

    NLMT7

    0,914

                     
                             
     

    NLMT5

    0,854

                     
                             
     

    NLMT4

    0,851

                     
                             
     

    NLMT1

    0,696

                     
                             
     

    NLMT6

    0,691

                     
                             
     

    HATH6

         

    0,920

                 
                             
     

    HATH2

         

    0,842

                 
                             
     

    HATH5

         

    0,819

                 
                             
     

    HATH1

         

    0,818

                 
                             
     

    HATH3

         

    0,695

                 
                             
     

    NLCT4

             

    0,894

             
                             
     

    NLCT2

             

    0,886

             
                             
     

    NLCT3

             

    0,860

             
                             
     

    NLCT1

             

    0,858

             
                             
     

    HQKD2

               

    0,904

         
                             
     

    HQKD1

               

    0,828

         
                             
     

    HQKD4

               

    0,813

         
                             
     

    HQKD3

               

    0,796

         
                             
     

    VHTC2

                     

    0,908

     
                             
     

    VHTC4

                     

    0,828

     
                             
     

    VHTC1

                     

    0,698

     
                             
     

    VHTC5

                     

    0,624

     
                           
         

    Bảng 5. Kết quả kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn

         
                         
     

    STT

     

    Chỉ số

       

    Tiêu chuẩn

       

    Kết quả

     
                       
     

    1

     

    Chi-square /df

     

    ≤ 3

       

    2,146

     
                         
     

    2

     

    TLI

       

    ≥ 0,9

       

    0,965

     
                         
     

    3

     

    CFI

       

    ≥ 0,9

       

    0,970

     
                         
     

    4

     

    GFI

       

    ≥ 0,9

       

    0,923

     
                         
     

    5

     

    RMSEA

       

    ≤ 0,08

       

    0,048

     
                             

    148

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

     

     

     

     

    Hình 2. Kết quả phân tích mô hình CFA

     

    5.5. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural equation modeling-SEM)

     

    Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh. Phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề xuất. Các chỉ số đạt kết quả tốt, cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu thu thập và kết quả các tác động có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

     

    Bảng 6. Kết quả kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn

     

    STT

    Chỉ số

    Tiêu chuẩn

    Kết quả

           

    1

    Chi-square /df

    ≤ 3

    2,198

           

    2

    TLI

    ≥ 0,9

    0,964

           

    3

    CFI

    ≥ 0,9

    0,968

           

    4

    GFI

    ≥ 0,9

    0,921

           

    5

    RMSEA

    ≤ 0,08

    0,049

           

    149

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

     

     

    Hình 3. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

     

    Kết quả cho thấy tất cả các chỉ số đều đạt yêu cầu, đảm bảo tính nhất quán, sự hội tụ và sự phù hợp của mô hình tái khẳng định năng lực marketing, hình ảnh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch.

     

    Bảng 7. Kết quả SEM

     

     

    Quan hệ

     

    Hệ số

    S.E.

    C.R.

    p

                 

    NLMT

    <—

    VHTC

    0,576

    0,049

    11,792

    ***

                 

    HATH

    <—

    VHTC

    0,305

    0,056

    5,428

    ***

                 

    HATH

    <—

    NLMT

    0,168

    0,052

    3,237

    0,001

                 

    NLCT

    <—

    VHTC

    0,315

    0,066

    4,777

    ***

                 

    NLCT

    <—

    NLMT

    0,121

    0,059

    2,061

    0,039

                 

    NLCT

    <—

    HATH

    0,123

    0,057

    2,154

    0,031

                 

    HQKD

    <—

    NLCT

    0,111

    0,032

    3,421

    ***

                 

    HQKD

    <—

    HATH

    0,355

    0,039

    9,159

    ***

                 

    HQKD

    <—

    NLMT

    0,278

    0,036

    7,751

    ***

                 

    Kết quả nghiên cứu bao gồm 9 giả thuyết đều tác động thuận chiều như kỳ vọng. Trong đó, yếu tố hình ảnh thương hiệu tác động lớn nhất (0,355), tiếp đến là năng lực marketing (0,278) và năng lực cạnh tranh tác động yếu nhất (0,111) đến hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa tổ chức tác động lần lượt tích cực đến năng lực marketing (0,576), năng lực cạnh tranh (0,315) và hình ảnh thương hiệu (0,305), năng lực marketing tác động tích cực (0,168) đến hình ảnh thương hiệu.

     

    5.6. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

     

    Căn cứ kết quả điều tra thực tế 10 doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế, mối quan hệ giữa năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh thể hiện qua biểu đồ sau:

     

    150

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    Điểm6 đánh giá

     

    5

     

    4

     

    3

    NLMT

     

    2

    HATH

     

    1

    NLCT

     

    0

    HQKD

     

    Doanh nghiệp

     

    Hình 4. Hiệu quả kinh doanh

     

    Biểu đồ trên cho thấy mối quan hệ thuận chiều năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

     

    6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

     

    Kết quả nghiên cứu xác định được các mối quan hệ và ảnh hưởng tác động tích cực từ năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp như sau:

     

    Một là, duy trì củng cố thêm hình ảnh của tổ chức đối với khách hàng và cộng đồng, cần một động lực thực sự, có một tầm nhìn rõ ràng, phác họa hình ảnh cụ thể mà tổ chức mong muốn trong tương lai cũng như văn hóa tổ chức luôn được duy trì dựa trên giá trị của tổ chức, phù hợp với mục tiêu cũng như hài hòa với giá trị cá nhân của các thành viên trong tổ chức và người lao động phải được xem là nguồn lực quan trọng có giá trị, luôn được tôn trọng.

     

    Hai là, để xây dựng hình ảnh thương hiệu bền vững, các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế cần đi đúng hướng như phân tích đánh giá thông tin qua hoạt động nghiên cứu marketing, xây dựng tầm nhìn thương hiệu, hoạch định chiến lược thương hiệu, định vị thương hiệu và xây dựng hệ thống bộ nhận diện thương hiệu.

     

    Ba là, thực hiện tốt chính sách khách hàng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng, tăng cường công tác tư vấn hỗ trợ khách hàng, trong suốt quá trình giao dịch cần xử lý công việc nhanh chóng hiệu quả cho khách hàng, luôn giữ gìn sự hài lòng và tăng cường hợp tác với khách hàng.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Craig J. B., Dibrell C., Davis P. S. – Leveraging family‐based brand identity to enhance firm competitiveness and performance in family businesses, Journal of Small Business Management 46 (3) (2008) 351-371.
    1. Chan L. L., Shaffer M. A., Snape E. – In search of sustained competitive advantage: the impact of organizational culture, competitive strategy and human resource management practices on firm performance, The International Journal of Human Resource Management 15 (1) (2004) 17-35.
    1. Kotler P, Amstrong G. – Principle of marketing (14th), Pearson Prentice Hall (2012) 32-33.
    1. Knapp D. E. – The Brand Mindset, McGraw-Hill, New York (2000) 56-58.
    1. Smircich L. – Concepts of culture and organizational analysis, Administrative Science Quarterly (1983) 339-358.
    1. Nguyễn Mạnh Quân. – Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2011) 8-9.

    151

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    1. Handaru A. W., Kartini D., Effendi N., Febrian E. – Firm competitiveness: Findings from five stars hotels in Jakarta, Indonesia, International Journal of Business and Commerce 5 (8) (24-39).
    1. Smith J. L., Flanagan W. G. – Creating competitive advantage: Give customers a reason to choose you over your competitors, Doubleday, New York (2006) 56-57.
    1. Bonoma T.V. – Making your marketing strategy work, Harvard Business Review 62 (2) (1984) 69-76.
    1. Schwartz H., Davis S. M. – Matching corporate culture and business strategy, Organizational Dynamics 10 (1) (1981) 30-48.
    1. Dowling G. R. – Developing your company image into a corporate asset, Long Range Planning 26 (2) (1993) 101-109.
    1. Fiol C. M. – Managing culture as a competitive resource: An identity-based view of sustainable competitive advantage, Journal of Management 17 (1) (1991) 191-211.
    1. Brown J. R., Ragsdale C. T. – The competitive market efficiency of hotel brands: An application of data envelopment analysis, Journal of Hospitality and Tourism Research 26 (4) (2002) 332-360.
    1. Kadocsa G. – Research of competitiveness factors of SME, Acta Polytechnica Hungarica 3 (4) (2006) 71-84.
    1. Man T. W., Lau T., Chan K. – The competitiveness of small and medium enterprises, Journal of Business Venturing 17 (2) (2002) 123–142.
    1. Haluk Köksal M., Özgül E. – The relationship between marketing strategies and performance in an economic crisis, Marketing Intelligence and Planning 25 (4) (2007) 326-342.
    1. Prasad K., Dev C. S. – Managing hotel brand equity: A customer-centric framework for assessing performance, Cornell Hotel and Restaurant Administration Quarterly 41 (3) (2000) 22-31.
    1. Lim K., O’Cass A. – Consumer brand classifications: An assessment of culture-of-origin versus country-of-origin, Journal of Product and Brand Management 10 (2) (2001) 120-136.
    1. Li V. – The methodology to assess the competitiveness of real estate developers in China, Queensland University of Technology (2011) 15-16.
    1. Hair J. F., Black, W. C., Babin B. J., Anderson R. E., Tatham R.L. – Mutilvariate data analysis, Prentice Hall, Upper Saddle River NJ (2010).

    ABSTRACT

     

    RESEARCH ON IMPACT OF MARKETING CAPABILITIES, BRAND IMAGES

     

    AND COMPETITIVENESS ON BUSINESS PERFORMANCE OF TOURIST ENTERPRISES IN THUA THIEN HUE PROVINCE

     

    Nguyen Van It1*, Hoang Thi Chinh2, Tran Anh Minh3

    1Ho Chi Minh City University of Food Industry

    2University of Economics Ho Chi Minh City

    3Van Lang University

    *Email: [email protected]

     

    The research on progress relationship and impacts of marketing capabilities, brand images, competitiveness on business efficiency of tourist enterprises was conducted on the basis of a survey of 490 tourism enterprises’ managers in Thua Thien Hue from March 2018 to July 2018. This study analyzed the data by Explorary Factor Analysis (EFA), Structural Equation Modeling (SEM). The results determined the relationship and level impacts of marketing capabilities, brand images, competitiveness on business performance of tourist enterprises. Based on these results, some implications are also considered to improve business efficiency for tourist enterprises.

     

    Keywords: Organizational culture, marketing capabilities, brand images, competitiveness, business performance.

     

    152


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập nhóm chương 3 Hành vi thị trường B2C và B2B


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%9D-%C4%90%E1%BB%8ANH-MUA-TRANG-PH%E1%BB%A4%CC%A3C-N%E1%BB%AE-QUA-M%E1%BA%A0NG-X%C3%83-H%E1%BB%98I-FACEBOOK.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Ý định mua trang phục …

     

    Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

     

    PURCHASE INTENTION WOMEN’ S CLOTHING IN FACEBOOK NETWORK

     

    Hoàng Thị Phương Thả̉o*, Nguyễn Trúc Thanh Mai**

     

     

    TÓM TẮT

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook. Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên 198 người dùng Facebook là nữ, có độ tuổi từ 18 trở lên, đang sử dụng Facebook và chưa mua trang phục nữ qua loại hình này. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố có ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook, gồm: giá cảm nhận, nhận thức rủi ro, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến, số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook. Cuối cùng, kết quả phân tích phương sai cho thấy có sự khác nhau giữa các nhóm thu nhập và thời gian sử dụng Facebook đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội này. Cụ thể, nhóm thu nhập thấp có ý định mua trang phục nữ qua Facebook tích cực hơn, và thời gian sử dụng Facebook càng lâu thì ý định mua càng cao.

     

    Từ khóa:  ý  định  mua,  mạ̣ng  xã  hội,

     

    Facebook, mua sắm trực tuyến, trang phục nữ

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã kéo theo sự phát triển của hàng loạt các ứng dụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Điều này không chỉ làm thay đổi phương thức bán hàng mà còn làm thay đổi cả thói quen mua sắm của người tiêu dùng. Thay vì

     

    ABSTRACT

     

    The aims of this is to examine the effective factors for purchase intention of consumer who choose female clothes via social media, such as Facebook. Data analysis is investigated from 198 women who aregreater or equal 18 years old, using Facebook and never buy women’s clothing in Facebook before. The results indicate that perceived price, perceived risk, online purchase experience, the number of likes a page of interest or item of interest on Facebook are four factors to affect purchase intention. Furthermore, analysis of variance show that the relationship between purchase intention to income and time to use Facebook to purchase intention are different. In particular, purchase intention is higher when consumers have lower income and spend more time to use Facebook.

     

    Keyword: purchase intention, social network, Facebook, online shopping, women’s clothing.

     

    phải đến các cửa hàng, chợ, siêu thị…để ngắm nghía và lựa chọn, người tiêu dùng có thể ngồi tại nhà mua sắm qua mạng mà vẫn có thể có được những món hàng ưng ý với mức giá tốt nhất. Trong báo cáo của bà Trương Thanh Hà (2014) – chuyên gia phân tích và hoạch định chiến lược của Công ty Google châu Á – Thái

     

    25

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bình Dương về Hành vi người tiêu dùng trực tuyến cho thấy trang phục là mặt hàng được nhiều người lựa chọn nhất khi mua sắm trực tuyến, 51% số người sử dụng Internet tại Việt Nam chưa bao giờ mua hàng trực tuyến muốn thử mua trang phục trên mạng. Facebook là mạng xã hội được yêu thích nhất tại Việt Nam với 21% người sử dụng, và việc mua sắm qua trang mạng xã hội này chiếm gần 50% (Medialink, 2015). Mua sắm trên Facebook cũng tương tự như mua sắm trên các website bán lẻ, cũng mang những lợi ích cùng rủi ro như khi mua sắm trực tuyến. Tuy nhiên, Facebook lại có một số tính năng đặc trưng riêng mà các website không có, như việc có thể tự do kết bạn, người bán càng có nhiều bạn thì hình ảnh sản phẩm được đăng sẽ càng đến được với nhiều người, đồng thời tính năng like, share có tác động tích cực đến ý nghĩ của người dùng. Nắm bắt xu hướng đó, hiện nay, kinh doanh trang phục nữ qua Facebook thời gian gần đây có sự tăng trưởng vượt bậc. Bên cạnh đó, để có thể khai thác tốt thị trường và phát triển lâu dài cần hiểu rõ các nhân tố nào tác động đến ý định mua của người tiêu dùng. Hiện nay, các nghiên cứu trên thế giới cũng bắt đầu quan tâm đến ý định mua qua Facebook như đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng trên Facebook (Richard và Guppy, 2014), Sự ràng buộc mạnh mẽ của Facebook và hành vi trong ý định mua (Oosthoek, 2013), tuy nhiên vẫn còn chiếm số lượng hạn chế. Tại Việt Nam cũng có nghiên cứu riêng cho Facebook, nhưng vẫn còn mang tính chung chung của mô hình mua sắm trực tuyến mà chưa có nét đặc trưng riêng của Facebook. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook sẽ tìm ra được các nhân tố đặc trưng tác động cũng như khuyến nghị công tác quản trị nhằm thu hút người sử dụng Facebook đến với hình thức mua hàng qua mạng xã hội này, cải thiện và phát triển hơn nữa hình thức bán hàng tiện lợi qua kênh mới này.

    2. MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK VÀ KINH DOANH TRÊN FACEBOOK

     

    Facebook là một trang mạng xã hội được thành lập vào năm 2004 bởi một sinh viên trường Harvard, tên Mark Zuckerberg. Kể từ lúc hoạt động, Facebook đã đạt được danh tiếng khổng lồ, đặc biệt là trong các trường đại học. Năm 2006, Facebook mở đăng kí cho tất cả các sinh viên đại học, sau đó cho các sinh viên phổ thông, và hiện nay bất kỳ ai trên 13 tuổi đều có thể tạo cho mình một tài khoản Facebook.

     

    Facebook vào Việt Nam năm 2008 và sự gia tăng lượng người Việt Nam sử dụng nhanh hàng đầu của thế giới. Đặc biệt, có nhiều sinh viên sử dụng Facebook và dường như nghiện Facebook. Họ sử dụng Facebook để kết bạn, chia sẻ cảm giác của họ, ý tưởng, trò chơi, hình ảnh, video , âm nhạc…

     

    Facebook thu hút hàng triệu người dùng mỗi năm. Sự đơn giản trong thiết kế giao diện và sự tập trung vào kết nối con người với nhau đã giúp cho sự phát triển danh tiếng của Facebook và làm cho nó trở thành trang mạng xã hội được biết đến nhiều nhất (Nielsen, 2009).

     

    Facebook đã thay đổi cuộc sống con người, ít nhất là trong cách mọi người giao tiếp. Cùng với sự lây lan của các mạng xã hội, các mối quan hệ đã trở nên gần gũi hơn và rộng hơn so với trong quá khứ, và các trang web xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời của cuộc sống với tác động tích cực và tiêu cực của nó.

     

    Bất kì người sử dụng Facebook nào cũng có thể tạo riêng cho mình một cửa hàng trên Facebook bằng cách đăng sản phẩm trên trang cá nhân hoặc trang fanpage. Trong khi các cửa hàng trực tuyến chỉ tương tác hạn chế giữa một người mua với trang web bán hàng, thì các cửa hàng trên Facebook có thể tương tác đa chiều trong mạng xã hội. Các khách hàng có thể trao đổi thông tin, đánh giá sản phẩm, giới thiệu cho bạn bè hay những người trong mạng xã hội thông qua các trạng thái cập nhật. Ngoài ra, khi

     

    26

     

    Ý định mua trang phục …

     

    một người sử dụng và hài lòng về một sản phẩm nào đó, họ có thể gợi ý sản phẩm cho những người sử dụng tiềm năng khác thông qua các chức năng thích hoặc chia sẻ, đánh dấu bạn bè.

     

    1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT1. Ý định mua
      • định mua diễn tả “Những gì chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ mua” (Blackwell và cộng sự, 2001, trang 283). Người tiêu dùng có ý định mua sắm trực tuyến đề cập đến sự sẵn sàng của họ để mua hàng trong một cửa hàng trên mạng. Thông thường, yếu tố này được đo bằng sự sẵn sàng của người tiêu dùng để mua và quay trở lại mua thêm. Ý định của người tiêu dùng về mua sắm trực tuyến liên quan tích cực đến thái độ đối với mua sắm trực tuyến, và ảnh hưởng đến việc ra quyết định và hành vi mua sắm của họ. (Li và Zhang, 2002). Ý định là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hành vi (Ajzen, 1991). Hay nói cách khác, nghiên cứu về ý định mua hàng trực tuyến sẽ cho dự đoán tốt đối với hành vi mua hàng trực tuyến.

    3.2. Giá cảm nhận và ý định mua

     

    Giá là chi phí mà người tiêu dùng phải trả để có được sản phẩm, dịch vụ mong muốn. Facebook nói riêng và Internet nói chung đã thay đổi cách mua sắm của nhiều người và giúp mọi người tiết kiệm nhiều tiền bạc cũng như thời gian một cách dễ dàng. Có rất nhiều thông tin quảng cáo giảm giá nếu như khách hàng mua nhiều hàng hoặc giao hàng miễn phí. Khách hàng sẽ cảm thấy mình có được rất nhiều lợi ích với chi phí mình bỏ ra. Do đó, người tiêu dùng sẽ cảm nhận về giá thông qua việc cảm nhận mức chi phí bỏ ra thấp hơn khi thực hiện mua sắm. Trong nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến người tiêu dùng trực tuyến”, Hasslinger và cộng sự (2007) đã đề cập đến việc người tiêu dùng tin rằng mua hàng qua mạng thì tiết kiệm được về giá và có thể dễ dàng so sánh về giá. Nguyễn Lê Phương Thanh (2013), cũng chỉ ra rằng giá cảm nhận có ảnh hưởng tích cực đến ý

     

    định mua của người tiêu dùng. Do đó giả thuyết thứ nhất được đưa ra là:

     

    H1: Giá cảm nhận có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.3. Nhận thức sự hữu dụng và ý định mua

     

    Nhận thức sự hữu dụng là mức độ mà một cá nhân tin rằng bằng cách sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc mình (Davis và cộng sự, 1989). Putro và Haryanto (2015) đưa ra định nghĩa rằng nhận thức sự hữu dụng từ mua trực tuyến là sự mong đợi của người tiêu dùng về sự tiện lợi, chất lượng và dịch vụ của một sản phẩm sẽ có mặt tại bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào. Các chỉ số của biến này là hữu ích, hiệu quả, năng suất cao. Liat và Wuan (2014), Nguyễn Lê Phương Thanh (2013) cũng đã chỉ ra nhận thức sự hữu dụng có tác động dương đến ý định mua trực tuyến. Vì thế, giả thuyết thứ hai cũng được đưa ra cân nhắc:

     

    H2: Nhận thức sự hữu dụng có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.4. Nhóm tham khảo chuẩn tắc và ý định mua

     

    Nhóm tham khảo chuẩn tắc đề cập đến nhận thức áp lực xã hội của người tiêu dùng mà có thể ảnh hưởng đến họ để thực hiện hành vi nhất định (Fishbein và Ajzen, 1975). Mọi người thường bị ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè và những người thân đến ý định mua sắm (Liat và Wuan, 2014). Facebook là mạng xã hội, nơi kết nối mọi người lại với nhau. Khi những người mà họ xem là quan trọng giới thiệu một cửa hàng Facebook để mua sản phẩm, họ sẽ có xu hướng mua tại cửa hàng này hơn thay vì mua tại một cửa hàng xa lạ. Nghiên cứu này xem xét nhóm tham khảo chuẩn tắc như ý kiến, lời khuyên của những người quan trọng của cá nhân được khảo sát tác động đến ý định mua sắm trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook. Từ những lập luận trên, giả thuyết thứ ba được đề cập là:

     

    H3: Ý kiến tích cực của nhóm tham khảo có

     

    27

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.5. Nhận thức rủi ro và ý định mua

     

    Trong mô hình chấp nhận thương mại điện tử (E-CAM), nhận thức rủi ro bao gồm nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/ dịch vụ và nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến. Người tiêu dùng nhận thức rủi ro trong mua sắm trực tuyến bao gồm rủi ro tài chính (ví dụ, sợ thiệt hại kinh tế trong kết quả mua), rủi ro xã hội (ví dụ, sợ bị từ chối xã hội đối với sản phẩm mua trực tuyến), rủi ro hoạt động (ví dụ, sợ một sản phẩm mua trực tuyến không có chất lượng như quảng cáo), và rủi ro riêng tư (tức là, sợ tiết lộ các thông tin cá nhân) (Kim và cộng sự, 2004). Nhận thức rủi ro của người tiêu dùng là một rào cản quan trọng đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng (Kim và cộng sự, 2007). Nhận thức rủi ro làm giảm sự sẵn lòng mua hàng của người tiêu dùng qua Internet (Masoud, 2013). Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Lê Phương Thanh (2013) và Trịnh Minh Long (2014) cũng đã đề cập đến sự ảnh hưởng của nhận thức rủi ro đến ý định mua sắm trực tuyến. Do đó, giả thuyết thứ 4 được đưa ra là:

     

    H4: Nhận thức rủi ro có tác động âm đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.6. Kinh nghiệm mua sắm trực tuyến và ý định mua

     

    Hành vi mua sắm trực tuyến đề cập đến quá trình mua sản phẩm hoặc dịch vụ qua Internet (Liang and Lai, 2000). Những kinh nghiệm mua sắm trực tuyến ảnh hưởng tích cực đến nhận thức của người tiêu dùng mua sắm trực tuyến và ý định mua hàng trực tuyến (Dai và cộng sự, 2014). Kim và cộng sự (2004), Putro và Haryanto (2015) đã đề cập rằng kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có ảnh hưởng trực tiếp ý định mua trực tuyến. Trong nghiên cứu này, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến được hiểu rằng người tiêu dùng đã từng mua bất kì sản phẩm

    trực tuyến hoặc mua qua mạng xã hội Facebook (sản phẩm khác trang phục nữ). Từ đó, giả thuyết thứ năm cũng được đề xuất là:

     

    H5: Kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.7. Số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook và ý định mua

     

    “Like” là một hình thức để có được thông tin phản hồi hoặc kết nối với những gì mà bạn quan tâm trên Facebook. Khi nhấp vào nút “like” một điều gì đó, bạn dễ dàng để cho ai đó biết rằng bạn thích nó, mà không để lại một lời nhận xét (Harris và Dennis, 2011). Bởi thích một trang nào đó là người dùng đã tự nguyện chọn tham gia, tiếp nhận thông tin với các chủ sở hữu của trang đó. Các cá nhân có thể tạo ra các trang Facebook và sau đó khuyến khích người dùng Facebook để trở thành “fan” của những trang này bằng cách nhấn vào nút “like” trên trang. Khi trang này đã được thích, người dùng nhận được thông tin cập nhật kinh doanh và khả năng quan sát hoạt động người hâm mộ khác trong trang đó thông qua thông tin cá nhân của họ (Nelson-Field, 2012). Do đó, quảng cáo các mặt hàng mới, giảm giá, khuyến nghị và đánh giá bởi những người khác có thể và sẽ được người sử dụng nhìn thấy. Theo Richard và Guppy (2014) số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm ảnh hưởng tích cực đến ý định mua sản phẩm. Từ những lập luận trên, giả thuyết thứ sáu được hình thành:

     

    H6: Số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.8. Sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook và ý định mua

     

    Facebook cho phép người dùng chia sẻ các thông tin về sản phẩm/dịch vụ nếu họ thấy quan trọng và thích hợp (Harris và Dennis, 2011). Chia sẻ là việc người dùng đăng các liên kết về hình ảnh của sản phẩm hoặc trang kinh doanh

     

    28

     

    Ý định mua trang phục …

     

    lên Facebook của họ, điều này sẽ dẫn đến việc những thông tin này xuất hiện trên trang chủ của bạn bè. Thông qua đó, mọi người đều có thể nắm bắt thông tin, bình luận và chia sẻ thêm liên kết đến bạn bè của họ. Theo Richard và Guppy (2014) sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm. Do đó, giả thuyết thứ bảy được đưa ra là:

     

    H7: Sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook có tác động dương đến đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm khám phá, bổ sung và điều chỉnh các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm trong mô hình. Kỹ thuật thảo luận tay đôi với các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất – chọn mẫu quota: gồm 4 người bán trang phục nữ trên Facebook trên 1 năm; 8 người dùng Facebook, từ 18 tuổi trở lên, đã mua sản phẩm bất kì trên Facebook và có ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội này. Thang đo được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu của Mansori và cộng sự (2012), Liat và Wuan (2014), Haryo and Budhi (2015), Kim và cộng sự (2004), Ling và cộng sự (2010), Richard và Guppy (2014). Các thang đo được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với đối tượng được khảo sát. Cuối cùng mô hình “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook” sử dụng 7 khái niệm thành phần có tác động đến ý định mua, và có tổng cộng 29 biến quan sát trong mô hình này – giá cảm nhận (PRICE1àPRICE3), nhận thức sự hữu dụng (PU4àPU8), nhóm tham khảo chuẩn tắc (SN9àSN11), nhận thức rủi ro (PR12àPR15), kinh nghiệm mua sắm trực tuyến (OSE16àOSE19), số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook (LIKE20àLIKE23), sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook (SHARE24àSHARE26), và 1

     

    biến phụ thuộc ý định mua trang phục nữ qua Facebook (INT27àINT29).

     

    Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua bản câu hỏi khảo sát do đáp viên tự trả lời. Bản câu hỏi chính thức được hình thành từ cơ sở lý thuyết thông qua bước hiệu chỉnh từ nghiên cứu định tính. Thông tin thu thập được dùng để đánh giá độ tin cậy, kiểm định thang đo, kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu.

     

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Mẫu được thu thập theo phương pháp phi xác suất – chọn mẫu phán đoán. Hơn 200 phiếu khảo sát được phát ra gồm 150 phiếu khảo sát trực tuyến và 70 phiếu phát trực tiếp. Sau khi loại bỏ các phiếu khảo sát được trả lời không hợp lệ (do thiếu các thông tin quan trọng), còn lại 198 phiếu được đưa vào phân tích định lượng.

     

    Thống kê từ mẫu nghiên cứu cho thấy, đối tượng tham gia nghiên cứu phần lớn ở độ tuổi từ 18 đến 30, thu nhập trung bình chủ yếu dưới 10 triệu, hầu hết đều có kinh nghiệm sử dụng Facebook trên 3 năm. Như vậy, trong nghiên cứu này, đối tượng là những người trẻ tuổi, thu nhập chưa cao và đã trải nghiệm Facebook trong thời gian dài.

     

    5.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

     

    Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha đạt yêu cầu (>0.6). Hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều đạt giá trị lớn hơn 0.3. Do vậy, các biến đo lường của các thành phần đều đạt yêu cầu và được sử dụng trong phân tích nhân tố.

     

    5.2. Phân tích nhân tố

     

    Hệ số KMO = 0.800 > 0.5, kiểm định Bartlett có sig = 0.000 < 0.05: đạt yêu cầu. Kết quả này chỉ ra rằng các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau và phân tích nhân tố (EFA) là thích hợp. Kết quả phân tích nhân tố đã đưa ra mô hình ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook vẫn giữ nguyên các yếu

     

    29

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    tố ban đầu với Eigenvalue > 1, các biến quan sát có hệ số tải > 0.5 và tổng phương sai trích = 64.849%.

     

    5.3. Ma trận hệ số tương quan

     

    Phân tích tương quan Pearson được thực hiện nhằm khẳng định có mối quan hệ tuyến tính

    giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập, khi đó việc sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính là phù hợp. Giá trị tuyệt đối |r| càng gần 1 thì tương quan càng mạnh. Đồng thời cũng cần phân tích tương quan giữa các biến độc lập với nhau, nếu các biến có tương quan chặt thì phải lưu ý đến vấn đề đa cộng tuyến sau khi phân tích hồi quy.

     

     

    INT

    PRICE

    PU

    SN

    PR

    OSE

    LIKE

    SHARE

                     

    INT

    1.000

    0.298*

    0.280*

    0.010

    -0.392*

    0.534*

    0.474*

    -0.028

                     

    PRICE

     

    1.000

    0.104

    0.027

    -0.064

    0.262

    0.276

    0.060

                     

    PU

       

    1.000

    -0.047

    -0.162

    0.280

    0.384

    -0.089

                     

    SN

         

    1.000

    0.010

    -0.051

    -0.002

    0.249

                     

    PR

           

    1.000

    -0.273

    -0.257

    0.095

                     

    OSE

             

    1.000

    0.521

    -0.060

                     

    LIKE

               

    1.000

    -0.078

                     

    SHARE

                 

    1.000

                     

    Ghi chú: * Tương quan ở mức ý nghĩa 5%

     

    Kết quả phân tích tương quan, các biến độc lập không có tương quan chặt với nhau và đều có tương quan đáng kể với biến phụ thuộc ngoại trừ biến “nhóm tham khảo chuẩn tắc” và “sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook” không có tương quan với biến phụ thuộc.

     

    5.4. Kiểm định giả thuyết

     

    Bảng 1 cho thấy, mô hình nghiên cứu có R2 hiệu chỉnh là 0.391, nghĩa là có 39.1% sự biến thiên của ý định mua (INT) được giải

    thích bởi sự biến thiên của các biến độc lập. Giá trị F = 19.045 tương ứng với sig = 0.000

    • 05, có thể kết luận mô hình hồi quy tuyến tính xây dựng được phù hợp với tổng thể. Hệ số Beta chuẩn hóa của các biến giá cảm nhận (PRICE), nhận thức rủi ro (PR), kinh nghiệm mua sắm trực tuyến (OSE), số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm (LIKE) đều có mức ý nghĩa quan sát sig < 0.05, vì thế giả thuyết H1, H4, H5, H6 được chấp nhận, giả thuyết H2, H3 và H7 bị bác bỏ.

    Bảng 1: Tóm tắt kết quả phân tích hồi quy

     

     

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số

       

    Thống kê đa cộng tuyến

       

    hóa

    chuẩn hóa

       

    Biến độc lập

     

    t

    Sig.

       
               

    B

     

    Sai số

    Beta

    Độ chấp nhận

    Hệ số phóng đại

           
       

    chuẩn

       

    của biến

    phương sai VIF

               
                     

    (Hằng số)

    4.801

     

    1.528

     

    3.143

    0.002

       
                     

    PRICE

    0.142

     

    0.060

    0.140

    2.379

    0.018

    0.896

    1.116

                     

    PU

    0.055

     

    0.048

    0.070

    1.149

    0.252

    0.838

    1.194

                     

    SN

    0.024

     

    0.058

    0.023

    0.408

    0.684

    0.933

    1.072

                     

    30

     

                     

    Ý định mua trang phục …

                         
                         

    PR

    -0.190

     

    0.046

    -0.240

     

    -4.099

    0.000

    0.899

     

    1.112

                         

    OSE

    0.254

     

    0.053

    0.320

     

    4.766

    0.000

    0.684

     

    1.461

                         

    LIKE

    0.157

     

    0.060

    0.181

     

    2.603

    0.010

    0.637

     

    1.570

                         

    SHARE

    0.021

     

    0.060

    0.020

     

    0.352

    0.725

    0.918

     

    1.089

                     

    Biến phụ thuộc: Ý định mua trang phục nữ qua Facebook

           
                   

    R2 hiệu chỉnh = 0.391

    ; F = 19.045

    ; sig = 0.000

             
                         

    Qua bảng kết quả phân tích cho thấy VIF đều nhỏ hơn 2, do đó ta có thể kết luận mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

     

    5.5. Kiểm định sự khác biệt về ý định mua trang phục nữ qua Facebook theo các đặc điểm cá nhân

    Phân tích ANOVA (Bảng 2) cho thấy các nhóm thu nhập và thời gian sử dụng Facebook khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook.

     

    Bảng 2: Tóm tắt kết quả phân tích sâu ANOVA – Tukey

     

    (I)

    (J)

    Trung bình khác

    Sai số chuẩn

    Mức ý

     

    biệt (I-J)

    nghĩa

     
         
               

    Thu nhập

             
               

    < 5 triệu

    5 – 10 triệu

    .38750

    .30952

    .424

     
             

    10 – 15 triệu

    1.31429*

    .43588

    .008

     
     
               

    5 – 10 triệu

    < 5 triệu

    -.38750

    .30952

    .424

     
             

    10 – 15 triệu

    .92679

    .44230

    .093

     
     
               

    10 – 15

    < 5 triệu

    -1.31429*

    .43588

    .008

     

    triệu

    5 – 10 triệu

    -.92679

    .44230

    .093

     
               

    Thời gian sử dụng Facebook

           
               

    1 đến <3

    3 đến <5 năm

    .61308

    .40726

    .291

     

    năm

    5 năm trở lên

    -.31775

    .42559

    .736

     
               

    3 đến <5

    1 đến <3 năm

    -.61308

    .40726

    .291

     

    năm

    5 năm trở lên

    -.93083*

    .31748

    .010

     
               

    5 năm trở

    1 đến <3 năm

    .31775

    .42559

    .736

     

    lên

    3 đến <5 năm

    .93083*

    .31748

    .010

     
               

    Ghi chú: Biến phụ thuộc là Ý định mua; * Sự khác biệt có ý nghĩa tại mức ý nghĩa 5%.

     

     

    Cụ thể, có sự khác nhau giữa thu nhập dưới 5 triệu và thu nhập từ 10 đến 15 triệu đồng, nhóm thu nhập thấp có ý định mua trang phục nữ qua Facebook tích cực hơn; có sự khác nhau

     

    giữa thời gian sử dụng Facebook từ 3 đến 5 năm và nhóm sử dụng trên 5 năm, cho thấy thời gian sử dụng Facebook càng lâu thì ý định mua càng cao.

     

    31

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 nhân tố được rút trích với 28 biến quan sát, thể hiện 7 nhân tố tác động (7 biến độc lập) đến của ý định mua trang phục nữ qua Facebook (biến phụ thuộc). Trong đó có 4 biến ảnh hưởng là giá cảm nhận, nhận thức rủi ro, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến và số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook. Nhân tố kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có tác động

     

    dương mạnh nhất (β5 = 0.320), kế tiếp là tác động âm của nhận thức rủi ro (β4 = -0.240), rồi đến

     

    tác động dương của số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm (β6 = 0.181), cuối cùng là tác động dương của giá cảm nhận (β1 = 0.140).

     

    Biến giá cảm nhận, nhận thức rủi ro, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến gần như tương đồng với nghiên cứu về ý định mua trực tuyến của các tác giả trước: Mansori và cộng sự (2012), Putro và Haryanto (2015), Trịnh Minh Long (2014). Riêng biến số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm đã tạo nên sự khác biệt rõ nét loại hình mua sắm trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook so với mua sắm trên các trang web bán hàng. Đây là điểm đặc trưng của đề tài này bởi chức năng “thích” là một đặc trưng riêng biệt của Facebook. Một sản phẩm hoặc trang bán sản phẩm được nhiều người thích sẽ làm tăng sự tin cậy đối với người bán cũng như chất lượng sản phẩm được bán, từ đó sẽ có tác động tích cực đến ý định mua hơn so với các trang web bán hàng trực tuyến. Bên cạnh đó, một người bán hàng mới trên Facebook nhờ chức năng “thích” cũng sẽ tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng đến khách hàng hơn một người bán mới xuất hiện trên một trang mạng. Các biến nhận thức sự hữu dụng, nhóm tham khảo chuẩn tắc và sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook không có ảnh hưởng đến ý định mua trong nghiên cứu này.

     

    Phân tích ANOVA cho thấy các nhóm thu nhập và thời gian sử dụng Facebook khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến ý

    định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook.

     

    Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được, một số kiến nghị được tác giả đưa ra cho những người kinh doanh trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook:

     

    • Thứ nhất, giá trên Facebook thấp hơn so với giá tại cửa hàng là yếu tố quan trọng thúc đẩy người dùng Facebook mua thử sản phẩm. Người kinh doanh trang phục nữ qua Facebook nên thường xuyên tạo các chương trình khuyến khích khách hàng như mua với số lượng bao nhiêu thì sẽ miễn phí giao hàng hoặc sẽ bán với giá ưu đãi hơn. Có nhiều chương trình ưu đãi để những người truy cập Facebook khi nhìn qua sẽ cảm nhận được sản phẩm đang có giá tốt, phù hợp với túi tiền người dùng có thu nhập trung bình khá như đối tượng trong mẫu nghiên cứu.
    • Bên cạnh đó, nhận thức rủi ro càng cao, người tiêu dùng càng ít muốn mua sản phẩm. Vì thế việc tạo niềm tin đến khách hàng là yếu tố rất quan trọng. Người bán trang phục qua Facebook cần cố gắng giảm thiểu cảm nhận rủi ro của khách hàng. Sản phẩm đăng bán nên là ảnh chụp thật, màu sắc, chất liệu, kích cỡ cần được nêu rõ để người mua cảm nhận chân thực hơn sẽ thúc đẩy ý định mua hơn. Vì sản phẩm trang phục mang tính đặc thù, cần phù hợp với vóc dáng chiều cao và cân nặng của người mua vì thế người bán nên tạo lòng tin của khách hàng bằng cách liên kết với các công ty giao nhận, khi nhận được sản phẩm mới trả tiền sẽ giúp người mua cảm giác yên tâm hơn, và đưa ra chính sách đổi trả hàng rõ ràng, niềm nở, vui vẻ khi khách hàng mặc không vừa hoặc do lỗi sản phẩm.
    • Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có tác động mạnh nhất đến
    • định mua trang phục nữ qua Facebook (β5 = 0.320). Người dùng Facebook đã từng mua sản phẩm trên các website sẽ dễ mua sản phẩm được bán trên Facebook hơn. Sự quen thuộc với các hình thức thanh toán, giao nhận, lựa

    32

     

    Ý định mua trang phục …

     

    chọn sản phẩm, nên khi nhìn thấy trang phục nữ yêu thích được bán trên Facebook, người dùng Facebook dễ bị tác động đến ý định mua hơn. Người dùng Facebook lâu năm, đã từng mua sản phẩm khác trang phục cũng sẽ dễ chọn mua trang phục khi thấy thích. Người bán cần quan tâm kết bạn với những đối tượng thường mua hàng trực tuyến để tăng doanh số bán tốt hơn.

     

    • Cuối cùng, người kinh doanh trang phục nữ cần có những hoạt động nhằm khuyến khích khách hàng thích sản phẩm hoặc trang bán hàng của mình nhằm tăng càng nhiều số lượt “like”, cũng là cách để tăng sự tin tưởng đến người mua.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Ajzen, I. (1991). The theory of planned Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179–211.
    • Blackwell, R. D., Miniard, P. W., & Engel, J. F. (2001). Consumer behavior. Troy, MO: Harcourt College Publishers.
    • Dai, B., Forsythe, S., & Kwon, W. (2014). The impact of online shopping experience on risk perceptions and online purchase intention: Does product categogy matter?, Journal of Electronic Commerce Research, 15(1), 13-24.
    • Davis, D. F., Bagozzi, P. R. & Warshaw, R. P. (1989). User acceptance of computer technology: a comparison of two theoretical model. Management Science, 35, 982-1003.
    • Fishbein, M., and Ajzen, I. (1975). Belief, Attitude, Intention and Behavior: An Introduction to theory and research. Reading, MA:Addition – Wesley website http://people. umass.edu/aizen/f&a1975.html, ngày truy cập 20/11/2015.
    • Harris, L., & Dennis, C. (2011). Engaging customers on facebook: Challenges for eretailers. Journal of Consumer Behaviour, 10(6), 338-346.
    • Hasslinger, A., Hodzic, S., & Opazo, C. (2007). Consumer behaviour in online shopping.

    Kristianstad University.

     

    • Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Hồng Đức.
    • Kim, J. D., Ferrin, L. D., & Rao, H. R. (2007). A trust-based consumer decision-making model in electronic commerce: The role of trust, perceived risk, and their antecedents, Decision Support Systems 44, 544–564.
    • Kim, I. J., Lee, C. H.,& Kim, J. H. (2004). Factors Affecting Online Search Intention and Online Purchase Intention, Seoul Journal of Business, 10(2), 27-48.
    • Li, N., & Zhang, P.(2002). Consumer Online Shopping Attitudes And Behavior: An Assessment of Research, Eighth Americas Conference on Information Systems, 508-517.
    • Liat, B. C., & Wuan, S. Y. (2014). Factors Influencing Consumers’ Online Purchase Intention: A Study among University Students in Malaysia.International Journal of Liberal Arts and Social Science, 2(8), 121-133.
    • Liang, T., & Lai, H. (2000). Electronic store design and consumer choice: an empirical study. System Sciences Proceedings of 33rd International Conference in Hawaii.
    • Masoud, Y. E.(2013), The Effect of Perceived Risk on Online Shopping in Jordan, European Journal of Business and Management, 5(6), 76-88.
    • Medialink (2015). Tổng quan thị trường internet Việt Nam 2015. Received October 11, 2015, romhttp://www.medialink.com.vn/online-marketing/tong-quan-thi-truong-internet-viet-nam-2015.html.
    • Nelson-Field, K., Riebe, E.,& Sharp, B. (2012), ‘What’s not to “like?” Can a Facebook fan base give a brand the advertising reach it needs?’, Journal of Advertising Research, 52(2), 262-269.

    33

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    • Nielsen (2009). Global Faces and Networked Places: A Nielsen report on Social Networking’s New Global Footprint, Received June 08, 2016, from http://apo.org.au/resource/ global-faces-and-networked-places-nielsen-report-social-networkings-new-global-footprint.
    • Nguyễn Lê Phương Thanh (2013). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Oosthoek, A. (2013), What is the impact of Facebook tie strength and behavior on purchase intention?, Erasmus University Rotterdam.
    • Putro, H. & Haryanto, B. (2015). Factors Affecting Purchase Intention of Online

    Shopping in Zalora Indonesia. British Journal of Economics, Management & Trade, 9, 1-12.

     

    • Richard, E. J. & Guppy, S. (2014). Facebook: Investigating the influence on consumer purchase intention. Asian Journal of Business Research, 4(2), Special Issue, 1-15.
    • Trịnh Minh Long (2014). Factors affecting consumer’s online purchase intention: The moderating role of product category – An empirical study in Ho Chi Minh city. Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Trương Thanh Hà (2014). Báo cáo hành vi người tiêu dùng online. Khai thác từ http:// com/blog/bao-cao-google-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-online.html.

     

     

     

     

     

    34

     

    Áp dụng thẻ điểm cân bằng …

     

    ÁP DỤ̣NG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TẠI DOANH NGHIỆP VỪ̀A VÀ NHỎ – NHÌN TỪ̀ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI

     

    Nguyễn Thị Thu Nhuần*

     

    BALANCED SCORECARD IMPLEMENTION IN SMALL AND MEDIUM-SIZED ENTERPRISES – REFLECTION ON THEORY AND PRACTICE IN THE WORLD

     

     

    TÓM TẮT

     

    Thẻ điểm cân bằng (BSC) đã được nhìn nhận là một trong mười công cụ quản trị chiến lược quan trọng, được quan tâm hàng đầu trên thế giới. Đã có rất nhiều nghiên cứu về khả năng áp dụng BSC và các phiên bản khác nhau của BSC vào các doanh nghiệp có quy mô lớn. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc áp dụng BSC đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ vẫn còn khá nhiều khoảng trống, do đó, khả năng áp dụng BSC vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, tại Việt Nam vẫn còn chưa được nghiên cứu thoả đáng.

     

    Từ khóa: thẻ điểm cân bằng, doanh nghiệp, vừa và nhỏ, kinh nghiệm thế giới

     

    1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BSC

    Các nghiên cứu gần đây đều cho thấy việc lập kế hoạch chiến lược có tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ) thì chưa có những nghiên cứu như vậy, chủ yếu do đặc thù các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh, do những khó khăn dễ thấy khi môi trường làm việc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quá nhiều mối quan hệ chồng chéo, bảo mật với nhiều điểm khuất tất. Do sự thiếu hụt đó, bài báo này chỉ bàn về khả năng áp dụng thẻ điểm

     

    ABSTRACT

     

    Balanced Scorecard (BSC) is one of the ten most important management concepts to have been introduced via articles in the Havard Business Review. Since its introduction in 1992, the BSC has featured in a wealth of academic and pratitioner papers. Writing on the BSC focuses on its application in large organisations, drawing on case sample – multi billion Dollar companies. But there is no comprehensive literature on BSC used by small and medium-sized enterprises (especially super–small–sized enterprises) in Vietnam exits today.

     

    Keywords: Balanced Scorecard, enterprise, small and world experience

     

    cân bằng (Balanced Scorecard) cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam dựa trên các nghiên cứu – kinh nghiệm trên thế giới.

     

    • BSC (Balanced Scorecard) là một hệ thống các thước đo nhằm đo lường kết quả hoạt động dựa trên chiến lược và tầm nhìn của doanh nghiệp. Hệ thống thước đo BSC phân chia kết quả hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu trên bốn khía cạnh: Tài chính – Khách hàng – Hoạt động nội bộ – Học hỏi và phát triển.
    • Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của Luật doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp có số vốn từ 100 tỷ trở xuống, hoặc có số nhân công dưới 300 người. Tuy nhiên, 96%
    • Phòng Thanh tra và KĐCLGD, trường Cao đẳng Công Nghiệp Tuy Hòa, ĐT: 090.808.2418, Email: [email protected]

     

     

    35

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc gia là doanh nghiệp siêu nhỏ (Vũ Tiến Lộc, 2016), tức là doanh nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng, hoặc nhân lực từ 10 người trở xuống.

     

    Theo tác giả, việc thiếu hụt các nghiên cứu mang tính phổ quát về BSC đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể là nguyên nhân để đánh giá BSC chỉ phù hợp để sử dụng cho doanh nghiệp lớn. Các lý thuyết quản trị chiến lược hầu hết đều có thể sử dụng cho các doanh nghiệp – bất kể quy mô – mà chỉ cần điều chỉnh đôi chút cho phù hợp hình thức, mục tiêu kinh doanh.

     

    1. TÌNH HÌNH ÁP DỤ̣NG BSC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪ̀A VÀ NHỎ TRÊN THẾ GIỚI

    BSC thường được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động quản trị chiến lược tại các công ty lớn. Theo tờ Havard Business Review, trong ấn phẩm kỷ niệm phát hành thứ 75, BSC được xem là một trong 10 công cụ quản trị quan trọng nhất đã từng được giới thiệu trên tạp chí. Kể từ khi được giới thiệu vào năm 1992, BSC đã trở thành nguồn tư liệu nghiên cứu của rất nhiều bài báo, nhà khoa học kinh tế, nhiều quyển sách bán chạy. Các nghiên cứu không chỉ viết về một vài công ty tiêu biểu như Mobil và CIGNA (Kaplan và Norton 1996, 2000), ABB Skandia, SKF và Halifax (Olve, 1999) mà còn về rất nhiều tập đoàn đa quốc gia trị giá hàng tỷ USD.

     

    Nghiên cứu đo lường kết quả kinh doanh của 100 doanh nghiệp tại Kenya trên tổng thể 740 doanh nghiệp từ 5 ngành nghề chính (Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, vải vóc – may mặc – giày da; Gỗ và các sản phẩm từ gỗ, giấy, ngành in và xuất bản; Hoá chất, xăng dầu, cao su và nhựa dẻo; Ngành khai khoáng – khoáng sản phi kim, trừ xăng dầu; Luyện kim, cơ khí chế tạo) để xem xét sự ảnh hưởng của 4 khía cạnh đối với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đều có số lao động từ 50 người trở xuống. Kết quả nghiên cứu cho thấy 96% doanh nghiệp đang

    sử dụng BSC để đánh giá khía cạnh Tài chính, tuy nhiên, các thang đo chưa thực sự hiện hữu trong khía cạnh Hoạt động nội bộ, mảng Học hỏi và phát triển của doanh nghiệp còn chưa được nghiên cứu. Nhìn chung còn có một khoảng trống lớn giữa lý thuyết về đo lường khía cạnh Khách hàng với Hoạt động nội bộ, Học hỏi và phát triển, đồng thời là khoảng trống lớn về lý thuyết với áp dụng thực tế BSC vào các doanh nghiệp. Nghiên cứu cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Kenya nên đầu tư phát triển các thang đo phi tài chính – bên cạnh các thang đo tài chính. Giá trị của doanh nghiệp được tạo ra từ Khách hàng nên các doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ các khía cạnh phi tài chính còn lại và xem đó là hướng đầu tư phát triển lớn. Nhà quản lý cũng cần xác định quá trình phát triển nội bộ trong dài hạn của doanh nghiệp, từ đó hoàn thiện các khâu về nhân lực, cấu trúc hệ thống và tổ chức cho phù hợp.

     

    Nghiên cứu về khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên lý thuyết BSC tại Mỹ cũng cho thấy: các doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ cùng một nội dung BSC như các doanh nghiệp lớn. Đối với khía cạnh Khách hàng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chọn lựa những tác động trực tiếp như: tính tập thể địa phương, tái chế sản phẩm, hả năng phản hồi tức thời, và các nhãn hiệu sạch, thân thiện với môi trường. Trong chuỗi giá trị trên thế giới, giữa các doanh nghiệp lớn, vẫn có những vị trí nhất định dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mặc dù khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp kém hơn và các chiến lược hoạt động phần lớn phụ thuộc vào những khách hàng doanh nghiệp quy mô lớn mà họ cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho. Bằng việc lựa chọn mục tiêu phù hợp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể có cơ hội xác định vị trí phát triển bền vững trong chuỗi giá trị toàn cầu.

     

    Nghiên cứu trên 500 doanh nghiệp nhỏ tại Anh và Cộng hoà Síp (cũng với quy mô không

     

    36

     

    Áp dụng thẻ điểm cân bằng …

     

    quá 50 nhân viên, hoặc trị giá từ 6,5 triệu bảng Anh trở xuống – theo tiêu chuẩn của Anh) về khả năng áp dụng (có chủ đích hoặc không) BSC vào chiến lược và kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng xác định lý do các doanh nghiệp nhỏ không áp dụng BSC vào việc đo lường kết quả kinh doanh. Thông qua việc phát phiếu điều tra, kết quả cho thấy các doanh nghiệp nhỏ tại Anh và Cộng hoà Síp hầu như chỉ tập trung vào việc đo lường phương diện tài chính. Kết quả là, các chỉ tiêu đo lường Tài chính chiếm tỷ trọng lớn, đóng vai trò quan trọng hơn các phương diện – chỉ tiêu phi tài chính trong việc ra quyết định. Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ tại Anh và Cộng hoà Síp không thực sự ứng dụng BSC, lý do chủ yếu do các doanh nghiệp không hề biết đến hoặc rất thiếu thông tin kiến thức chi tiết về BSC. Các doanh nghiệp nếu có biết đến BSC thì không áp dụng BSC vì cho rằng công cụ quản trị này không phù hợp với quy mô doanh nghiệp nhỏ. Do đó, chỉ có 7,5% doanh nghiệp được thực sự có áp dụng BSC để quản trị. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, những doanh nghiệp không hề biết hoặc không sử dụng BSC thật ra cũng sử dụng các cách tiếp cận đo lường kết quả hoạt động gần giống như BSC. Do vậy, các doanh nghiệp nhỏ cũng đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên bốn khía cạnh giống như mô tả của BSC, sử dụng các chỉ tiêu đo lường tương tự như BSC.

     

    1. KHẢ NĂNG ÁP DỤ̣NG BSC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪ̀A VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

    Hầu hết các nghiên cứu về việc áp dụng BSC cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới đều cho thấy sự cần thiết phải chỉnh sửa thay đổi và sự khác biệt trong cách áp dụng giữa BSC với các doanh nghiệp lớn và BSC với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hai đặc điểm thường được nhắc đến và so sánh nhiều nhất là sự khác biệt trong cấu trúc tổ chức và sự khác biệt trong quy trình quản trị. Các doanh nghiệp vừa và

     

    nhỏ (đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ) thường có cấu trúc đơn giản, hệ thống đơn giản; người quản lý (thường cũng là giám đốc điều hành, sở hữu hoặc đồng sở hữu doanh nghiệp) trực tiếp làm việc với một nhóm nhỏ các cộng sự mà gần như không cần thông qua các giám đốc, nhà quản lý trung gian. Nếu có khoảng 100 nhân viên trở lên thì cách làm việc này sẽ không hiệu quả, và nếu có khoảng 300 nhân viên thì nhất thiết phải có các quản lý cấp trung, thường là sẽ có giám đốc cho từng lĩnh vực riêng. Doanh nghiệp càng phát triển thì cấu trúc càng thay đổi cho phù hợp với các vấn đề giao tiếp, hợp tác làm việc phát sinh trong nội bộ.

     

    Khái niệm xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam khá giống với thế giới, mô hình kinh doanh và môi trường kinh doanh, đặc điểm cấu trúc nội bộ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ giống nhau ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, do đó có thể nói rằng, các kết quả nghiên cứu về BSC trên doanh nghiệp vừa và nhỏ của thế giới cũng có thể áp dụng tại Việt Nam. Theo đó, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều nhận ra được tầm quan trọng của bốn khía cạnh (BSC) nhưng hầu như chỉ tập trung mục tiêu đánh giá vào các chỉ tiêu Tài chính, do đó, chủ yếu nhìn nhận kết quả hoạt động và phát triển chiến lược kinh doanh dựa trên khía cạnh Tài chính. Như vậy, để chiến lược phát triển của doanh nghiệp hoàn thiện hơn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tăng cường nghiên cứu và phát triển các chỉ tiêu trong ba khía cạnh phi tài chính (Khách hàng, Hoạt động nội bộ, Học hỏi và phát triển), đặc biệt là khía cạnh Khách hàng vì khía cạnh này sẽ thúc đẩy các khía cạnh còn lại phát triển bền vững.

     

    1. KẾT LUẬN

    Như vậy, việc áp dụng BSC cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam là hoàn toàn khả thi. Đặc biệt, với quy mô nhỏ, khả năng phổ biến kiến thức về BSC và hình thành các tuyến báo

     

    37

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    cáo bám sát vào chiến lược đã vạch ra là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, yêu cầu nhà quản lý phải có kiến thức cụ thể về BSC và khả năng tuỳ biến BSC vào doanh nghiệp, đặc biệt là việc xây dựng và phát triển các chỉ tiêu thuộc khía cạnh phi tài chính. Tốt nhất là nhà quản lý đã từng có kinh nghiệm áp dụng BSC vào các tổ chức khác, hoặc có tham gia vào quá trình xây dựng và ứng dụng BSC ban đầu.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Subash Bijlani – Dr. Thomas J. Mierzwa , Satisfying sustainability in SMEs – Balanced Scorecard Metaphors for Managing SME Business Processes, 2012, University of Maryland University College;
    • George Giannopoulos – Andrew Holt –

    Ehsan Khansalar – Stephanie Cleanthous, The use of Balanced Scorecard in small companies, 2013, International Journal of Business and Management – vol.8 – no.14;

     

    • Chimwani Pamela Muhenje et al, Application of Strategic Performance Measures in Small and Medium- Sized Manufacturing Enterprises in Kenya – The used of Balanced Scorecard Perspectives, 2013, International Journal of Management Sciences and Business Research – vol.2 – issue 6;
    • Henrik Andersen, Ian Cobbold and Gavin Lawrie, Balanced Scorecard implementation in SMEs: reflection on literature and practice, Manufacturing information systems – The Fourth SMESME International Conference.

     

     

     

     

     

    38


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]