Category: Viện Tim Hồ Chí Minh

  • Phác Đồ Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Hở Van Hai Lá

    Phác Đồ Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Hở Van Hai Lá

    Phác Đồ Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Hở Van Hai Lá

    1. Chẩn Đoán Hở Van Hai Lá

    1.1 Lâm Sàng Hở Van Hai Lá

    1.1.1. Triệu Chứng Cơ Năng

    Phù phổi (khó thở khi nghỉ, khi nằm) hoặc sốc tim (do giảm thể tích tống máu) là triệu chứng chính của hở van hai lá nặng, cấp, mới xuất hiện.

    Hở van hai lá mạn tính thường không biểu hiện triệu chứng cơ năng gì trong nhiều năm. Đợt tiến triển của hở van hai lá thường kèm theo khó thở khi gắng sức, nặng hơn sẽ là khó thở khi nằm và cơn khó thở kịch phát về đêm. Lâu ngày sẽ xuất hiện triệu chứng suy tim trái, cũng như các triệu chứng suy tim phải do tăng áp động mạch phổi.

    Loạn nhịp hoàn toàn (rung nhĩ) thường gặp do hậu quả của dãn nhĩ trái.

    Mệt (do giảm thể tích tống máu và cung lượng tim).

    1.1.2. Triệu Chứng Thực Thể

    Sờ: mỏm tim đập mạnh và ngắn nếu chức năng thất trái còn tốt; mỏm tim đập lệch trái khi thất trái dãn.

    Nghe tim:

    – Tiếng tim: TI thường mờ (hở van hai lá mạn) nhưng cũng có thể bình thường nếu do sa van hai lá hoặc rối loạn hoạt động dây chằng. T2 thường tách đôi rộng (do phần chủ của T2 đến sớm), mạnh khi có tăng áp động mạch phổi. Xuất hiện tiếng T3 khi tăng dòng chảy tâm trương. Đôi khi có thể nghe thấy tiếng T4 nhất là trong đợt hở van hai lá cấp.

    – Tiếng thổi tâm thu: toàn thì tâm thu, âm sắc cao, kiểu tống máu, nghe rõ nhất ở mỏm, lan ra nách (thổi giữa tâm thu nếu do sa van hai lá hoặc rối loạn chức năng cơ nhú). Tiếng thổi tâm thu này có thể ngắn, đến sớm khi hở van hai lá cấp/nặng phản ánh tình trạng tăng áp lực nhĩ trái. Tuy vậy nếu áp lực nhĩ trái tăng quá nhiều sẽ không còn nghe rõ thổi tâm thu nữa. Cần chẩn đoán phân biệt tiếng thổi toàn tâm thu của hở van hai lá với hở ba lá và thông liên thất (TLT).

    Các triệu chứng thực thể của suy tim trái và suy tim phải (tĩnh mạch cổ nổi, gan to, cổ chướng, phù chi dưới) xuất hiện khi bệnh tiến triển nặng.

    1.2.Thăm Dò Cận Lâm Sàng

    1.2.1. Điện Tâm Đồ Hở Van Hai Lá

    Điện tâm đồ chỉ cho thấy các biểu hiện không đặc hiệu như lớn nhĩ trái, lớn thất trái, rung nhĩ đều có thể gặp ở bất kỳ giai đoạn nào của hở van hai lá.

    1.2.2 Chụp X Quang Ngực

    Phim chụp X quang ngực thường có dãn thất trái và nhĩ trái nếu hở van hai lá mạn tính. Hình ảnh phù khoảng kẽ và phù phế nang thường gặp khi hở van hai lá cấp hoặc khi đã suy thất trái nặng.

    1.2.3. Siêu Âm Doppler Tim

    Siêu tâm tim (qua thành ngực và qua thực quản) đóng vai trò rất quan trọng, được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ hở van hai lá. Mức độ hở hai lá trên siêu âm Doppler tim thường chia làm 4 độ (từ 1/4 đến 4/4): nhẹ (1/4), vừa (2/4), nhiều (3/4) và rất nhiều (4/4).

    Siêu âm Doppler màu chẩn đoán hở van hai lá bằng hình ảnh dòng màu phụt ngược về nhĩ trái. Rất nhiều thông số thu được nhờ siêu âm Doppler màu được dùng để chẩn đoán mức độ hở van hai lá như diện tích và độ rộng của dòng phụt ngược; cường độ phổ Doppler liên tục; vận tốc tối đa của dòng chảy qua van hai lá, diện tích hở hiệu dụng và thể tích dòng hở… Thông thường nhất là độ hở van hai lá có thể ước tính dựa vào sự lan của dòng màu phụt ngược vào nhĩ trái.

    Siêu âm tim qua thành ngực cũng cho phép đánh giá nguyên nhân gây hở van hai lá.

    Siêu âm tim còn cho phép đánh giá ảnh hưởng của hở van hai lá làm dãn các buồng tim trái (nhĩ, thất trái), đánh giá kích thước, chức năng các buồng tim trái, phân suất tống máu thất trái, áp lực động mạch phổi (ước tính qua vận tốc của dòng hở van ba lá)… Cần lưu ý rằng bất thường bộ máy van hai lá cũng có thể gặp khi hở van hai lá nặng và thất trái khi có bệnh tim thiếu máu cục bộ nặng nề cũng gây hở van hai lá nặng, bởi vậy khi có sự không hợp lý giữa các thông số, hoặc khi cửa sổ siêu âm qua thành ngực không đủ rõ để đánh giá, cần đánh giá mức độ hở hai lá bằng các phương tiện khác như thông tim, chụp cộng hưởng từ hoặc siêu âm tim qua thực quản.

    1.2.4. Thông Tim

    Chụp buồng thất trái cho phép ước lượng mức độ hở van hai lá theo phân độ của Seller thành các mức độ:

    – 1/4: Chỉ có vệt cản quang mờ vào nhĩ trái, không đủ viền rõ hình nhĩ trái

    – 2/4: Cản quang tràn khắp nhĩ trái nhưng đậm độ không bằng thất trái, mất đi nhanh chóng sau 2-3 nhát bóp

    – 3/4: Đậm độ cản quang ở nhĩ trái và thất trái bằng nhau

    – 4/4: Cản quang ở nhĩ trái đậm hơn ở thất trái, xuất hiện cả cản quang ở tĩnh mạch phổi.

    Thông tim kết hợp với chụp ĐMV cũng dùng để khảo sát đồng thời bệnh động mạch vành khi hở van hai lá ở những bệnh nhân có nguy cơ bệnh mạch vành cao như tuổi cao, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp…: bệnh nhân nam tuổi > 40, nữ tuổi > 50 dù không có triệu chứng hoặc yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành cũng nên chụp động mạch vành trước mổ.

    2. Điều Trị Hở Van Hai Lá

    2.1. Điều Trị Hở Van Hai Lá Mạn Tính

    2.1.1. Theo Dõi Định Kỳ

    Bệnh nhân hở van hai lá nhẹ không có triệu chứng, không có bằng chứng dãn thất trái, rối loạn chức năng thất trái hoặc tăng áp ĐMP: chỉ cần theo dõi đều hàng năm đồng thời giáo dục bệnh nhân đến khám ngay nếu xuất hiện các triệu chứng. Siêu âm tim hàng năm cũng không cần thiết trừ phi có bằng chứng trên lâm sàng cho thấy mức độ hở đang nặng lên.

    Bệnh nhân hở van hai lá vừa cần được theo dõi bằng khám lâm sàng và làm siêu âm tim định kỳ hàng năm hoặc ngay khi có triệu chứng cơ năng.

    Bệnh nhân hở van hai lá nặng không có triệu chứng cơ năng, cần tiến hành khám lâm sàng và siêu âm tim 6-12 tháng/lần để đánh giá tiến triển của các triệu chứng lâm sàng và sự thay đổi chức năng thất trái. Nghiệm pháp gắng sức có thể được tiến hành để đánh giá khả năng dung nạp gắng sức của người bệnh, đánh giá mức độ hở van hai lá và áp lực ĐMP khi gắng sức. Các thông số như phân suất tống máu thất và đường kính cuối tâm thu trất trái – ít phụ thuộc vào tiền tải như phân suất tống máu được dùng để xác định thời điểm mổ nhằm đảm bảo sự hồi phục chức năng thất trái và tiên lượng sống sau mổ

    Nếu bệnh nhân xuất hiện triệu chứng, cần đi mổ ngay cho dù các thông số chức năng thất trái dường như bình thường.

    2.1.2. Điều Trị Nội Khoa Hở Van Hai Lá

    Những bệnh nhân hở van hai lá không có triệu chứng, nhịp xoang, kích thước chức năng thất trái và nhĩ trái bình thường, áp lực động mạch phổi bình thường có thể gắng sức mà không có hạn chế gì. Tuy nhiên với những bệnh nhân đã dãn thất trái ,tăng áp lực động mạch phổi hoặc có bất kỳ rối loạn chức năng thất trái nào thì không thể tham gia vào các gắng sức mang tính đối kháng (thi đấu thể thao)…

    Đối với những bệnh nhân hở van hai lá mạn tính chưa có triệu chứng lâm sàng thì không có phác đồ điều trị nội khoa cụ thể, cũng không có thử nghiệm lâm sàng nào để đánh giá về hiệu quả của điều trị nội khoa bằng các thuốc dãn mạch. Nếu không có tăng huyết áp thì chưa có chỉ định để dùng thuốc dãn mạch hay ức chế men chuyển ở những bệnh nhân hở hai lá chưa có triệu chứng, chức năng thất trái còn bù. Tuy nhiên với nhóm hở van hai lá cơ năng hoặc do bệnh tim thiếu máu cục bộ, thì điều trị giảm tiền tải cũng có tác dụng

    Bệnh nhân hở van hai lá khi có rối loạn chức năng tâm thu thất trái được điều trị rối loạn chức năng tâm thu thất trái bằng ức chế men chuyển, chẹn bêta giao cảm (đặc biệt là carvedilol) hay tạo nhịp hai buồng thất… đều làm giảm độ nặng của hở hai lá cơ năng

    Các triệu chứng suy tim cũng có thể được điều trị bằng các thuốc:

    – Các thuốc giảm hậu tải, đặc biệt là ức chế men chuyển, làm giảm thể tích dòng hở và tăng thể tích tống máu. Nhóm này cũng có tác dụng với bệnh nhân hở van hai lá do bệnh lý van tim có triệu chứng đang chờ mổ.

    – Thuốc lợi tiểu và nhóm Nitrate có tác dụng tốt trong điều trị ứ huyết phổi.

    – Rung nhĩ phải được điều trị kiểm soát tần số thất bằng các thuốc chống loạn nhịp, nhất là Digitalis và thuốc chẹn bêta giao cảm, chẹn kênh canxi và đôi khi là amiodarone. Bệnh nhân hở van hai lá có rung nhĩ phải được điều trị chống đông duy trì INR trong khoảng từ 2-3.

    Vai trò của thuốc với bệnh nhân hở van hai lá mạn tính do bệnh van tim, chưa có triệu chứng, nói chung còn cần nhiều thử nghiệm chứng minh nhất là về khả năng làm chậm tiến triển của hở van hai lá hoặc phòng rối loạn chức năng thất trái. Điều trị các thuốc giảm hậu tải quá tích cực có thể làm lu mờ các triệu chứng, từ đó đưa ra các quyết định sai lầm về thời điểm và biện pháp can thiệp.

    Phải dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn cho tất cả trường hợp hở van hai lá do bệnh van tim ngoại trừ hở do dãn thất trái mà các van tim bình thường.

    Cần chú ý phòng thấp thứ phát cho những bệnh nhân hở van hai lá do thấp.

    2.1.3. Chỉ Định Phẫu Thuật Sửa/Thay Van Hai Lá

    Nhóm Chỉ định phẫu thuật thay/sửa van ở bệnh nhân hở van 2 lá
    I 1. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, cấp tính, có triệu chứng lâm sàng.

    2. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, mạn tính, NYHA II-IV, không có rối loạn chức năng thất trái nặng (phân suất tống máu thất trái >30% và đường kính cuối tâm thu thất trái < 55 mm).

    3. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, mạn tính, chưa có triệu chứng cơ năng, rối loạn chức năng thất trái nhẹ (phân suất tống máu thất trái từ 30-60% và/hoặc đường kính cuối tâm thu thất trái >40 mm).

    4. Sửa van hai lá nên được áp dụng cho bệnh nhân hở van hai lá mạn tính so với thay van hai lá.

    II 1. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, mạn tính, chưa có triệu chứng, chức năng thất trái còn bù (phân suất tống máu thất trái > 60% và/hoặc đường kính cuối tâm thu thất trái < 40 mm), mới xuất hiện rung nhĩ.

    2. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, mạn tính, chưa có triệu chứng, chức năng thất trái còn bù, áp lực động mạch phổi tăng cao (áp lực tâm thu ĐMP > 50 mmHg lúc nghỉ hoặc > 60 mmHg lúc gắng sức).

    3. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, mạn tính, chưa có triệu chứng, chức năng thất trái còn bù, khi khả năng sửa van thành công > 90% tại các trung tâm lớn.

    4. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, mạn tính do bệnh lý tiên phát bộ máy van hai lá, phù hợp cho việc sửa van, dù NHYA III-IV và có rối loạn chức năng thất trái nặng (phân suất tống máu thất trái < 30% và/hoặc đường kính cuối tâm thu thất trái > 55 mm).

    5. Bệnh nhân hở van hai lá nặng, mạn tính thứ phát do rối loạn chức năng thất trái nặng (phân suất tống máu thất trái < 30%), liên tục NYHA III-IV cho dù đã điều trị nội khoa tối ưu, kể cả tạo nhịp hai buồng thất: có chỉ định sửa van hai lá hoặc phối hợp các phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành, tạo hình thất trái…

    III 1. Không chỉ định phẫu thuật van hai lá đơn thuần ở bệnh nhân hở van hai lá, có chức năng thất trái còn bù (phân suất tống máu thất trái > 60% và/hoặc đường kính cuối tâm thu thất trái < 40 mm) ở những người nghi ngờ khả năng sửa van hai lá thành công.

    2.1.4. Theo Dõi Sau Mổ

    Siêu âm tim sau mổ 4-6 tuần được dùng làm mốc theo dõi, phát hiện những trường hợp sửa/thay van không tốt, đánh giá chức năng thất trái. Nguyên nhân hở van hai lá tái phát có thể do sửa không tốt (sẽ được phát hiện sớm ngay sau mổ) hoặc do nguyên nhân gây bệnh tiếp tục tiến triển. Bệnh nhân nên được theo dõi lâm sàng và siêu âm tim (đánh giá kết quả mổ sửa van, cơ chế và mức độ hở van, chức năng thất trái, huyết khối hay viêm nội tâm mạc) ít nhất 1 năm/1 lần. Bệnh nhân thay van cơ học cần được điều trị chống đông lâu dài và theo dõi INR. Bệnh nhân thay van sinh học cần theo dõi tiến triển thoái hóa của van. Bệnh nhân sửa van cũng cần được đánh giá hiệu quả của mổ và theo dõi tiến triển của mức độ hở hai lá.

    2.2. Hở Van 2 Lá Cấp Tính

    Những bệnh nhân hở van hai lá nặng cấp tính luôn có những triệu chứng cơ năng nặng nề. Khám lâm sàng ở mỏm tim thường dễ bỏ sót, do thất trái với kích thước bình thường không hề gây mỏm tim đập tăng động. Tiếng thổi tâm thu do hở van hai lá cấp tính nhiều khi không kéo dài hết thì tâm thu thậm chí có lúc không nghe thấy. Siêu âm tim qua thành ngực có thể thấy hình ảnh rách van hai lá, hở van hai lá mức độ nhiều… tuy nhiên siêu âm tim qua thành ngực có thể đánh giá không đầy đủ tổn thương do không ghi nhận được hết dòng màu; do vậy siêu âm tim qua thực quản nên được tiến hành nếu vẫn còn nghi ngờ về hình thái van hai lá và mức độ hở van. Siêu âm tim qua thực quản cũng giúp phát hiện nguyên nhân về giải phẫu gây hở van hai lá, từ đó quyết định phương hướng điều trị.

    Điều trị nội khoa chỉ có vai trò hạn chế và mục đích chủ yếu chỉ nhằm vào việc ổn định huyết động trong khi chờ mổ. Nếu huyết áp trung bình động mạch vẫn trong giới hạn bình thường, sử dụng các thuốc hạ hậu gánh có thể làm ổn định tình trạng hở van hai lá cấp. Truyền tĩnh mạch Nitroprusside và Nitroglycerin làm giảm áp lực mạch phổi, giảm ứ huyết phổi và tăng cường thể tích tống máu. Nếu chưa cần phẫu thuật ngay, có thể chuyển sang dạng thuốc uống, phối hợp thuốc ức chế men chuyển và Hydralazin. Nếu tụt huyết áp, không nên dùng Nitroprusside đơn thuần mà nên phối hợp với một thuốc vận mạch (như Dobutamine). Trong những trường hợp hở van hai lá nặng, cấp (mà thất trái chưa kịp dãn, phì đại như hở van hai lá do đứt cột cơ nhú sau nhồi máu cơ tim) nếu xuất hiện triệu chứng phù phổi, sốc tim, tụt huyết áp thì nên đặt bóng trong động mạch chủ với tác dụng tăng thể tích tống máu, tăng huyết áp trung bình động mạch, giảm thể tích dòng hở, giảm áp lực đổ đầy thất trái để ổn định tình trạng huyết động trong khi chờ mổ. Nếu nguyên nhân gây hở van hai lá cấp là viêm nội tâm mạc thì việc xác định căn nguyên cũng như dùng kháng sinh kịp thời là quan trọng nhất trong điều trị.

    Điều Trị Ngoại Khoa: đa số bệnh nhân hở van hai lá nặng, cấp tính đều phải mổ cấp cứu. Tùy theo nguyên nhân và hình thái tổ chức bộ máy van hai lá mà phẫu thuật mổ sửa van hay thay van hai lá.

    2.3. Hở Van Hai Lá Do Bệnh Tim Thiếu Máu Cục Bộ

    Tiên lượng chung của những bệnh nhân hở van hai lá do bệnh tim thiếu máu cục bộ xấu hơn đáng kể so với các bệnh nhân hở van hai lá do nguyên nhân khác do hở van hai lá gây ra bởi rối loạn chức năng thất trái hậu quả của nhồi máu cơ tim và do rối loạn hoạt động của dây chằng cột cơ và co kéo lá van hai lá.

    Chỉ định phẫu thuật van hai lá ở bệnh nhân mổ bắc cầu chủ vành có kèm hở hai lá nhẹ-vừa vẫn chưa rõ ràng mặc dù có một số nghiên cứu chứng minh kết quả tốt sau khi sửa van hai lá ở nhóm bệnh nhân này :nên chỉ định sửa van hai lá cùng lúc với mổ bắc cầu nối chủ vành .Trong trường hợp hở van hai lá nặng thứ phát do nhồi máu cơ tim cấp, thường xuất hiện tụt huyết áp hoặc phù phổi cấp. Hở van hai lá nặng thường xảy ra trong 6-7% bệnh nhân có sốc tim. Nguyên nhân gây hở van hai lá cần được xác định rõ: có thể do đứt cơ nhú, rối loạn hoạt động dây chằng gây sa lá van hoặc do dãn vòng van vì thất trái dãn nặng. Những bệnh nhân đứt cơ nhú cấp tính cần được phẫu thuật cấp cứu sửa van hoặc thay van hai lá. Nếu hở van hai lá do rối loạn hoạt động của cơ nhú thì điều trị ban đầu cần làm ổn định huyết động ngay, thường phải bằng đặt bóng trong động mạch chủ. Nếu điều trị nội khoa tích cực không làm cải thiện triệu chứng lâm sàng thì cần chỉ định mổ cấp cứu. Phẫu thuật điều trị hở van hai lá cấp tính thường bao gồm phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành để điều trị tái tạo ĐMV kết hợp với phẫu thuật van hai lá (thường là sửa van hai lá có đặt vòng van).

    Phác Đồ Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Hở Van Hai LáXem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần
    2. Nghẽn Đường Ra Thất Phải
    3. Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch Phổi
    4. Phác Đồ Can Thiệp Động Mạch Chủ
    5. Phác Đồ Chăm Sóc Bệnh Nhân Tại Khoa Hồi Sức Ngoại
  • Chăm Sóc Bệnh Nhân Tại Khoa Hồi Sức Ngoại

    Chăm Sóc Bệnh Nhân Tại Khoa Hồi Sức Ngoại

    Phác Đồ Chăm Sóc Bệnh Nhân Tại Khoa Hồi Sức Ngoại

    I. THEO DÕI BỆNH NHÂN TẠI HỒI SỨC:

    1. Ghi nhận các chỉ số huyết động mỗi giờ : tần số tim, huyết áp (tâm thu, tâm truơng, trung bình), áp lực tĩnh mạch trung tâm (ALTMTT), áp lực nhĩ trái (nếu bệnh nhân có catheter trong nhĩ trái), áp lực động mạch phổi (tâm thu, tâm truơng, trung bình) và áp lực động mạch phổi bít (nếu bệnh nhân có catheter Swan-Ganz).
    2. Ghi nhận thân nhiệt và đuờng huyết mỗi 4 giờ.
    3. Đong luợng máu m ất qua các ống dẫn lưu mỗi giờ. Ghi nhận luợng máu, huyết tuơng tuơi hoặc dung dịch cao phân tử truyền cho bệnh nhân.
    4. Đo luợng nuớc tiểu mỗi giờ . Đối với trẻ nhỏ < 15 kg tính tổng cân bằng xuất nhập mỗi 6 giờ.
    5. Đo khí máu động mạch mỗi 4 giờ trong 24 giờ đầu . Đo điện tim và chụp X-quang ngực tại giuờng mỗi ngày (thuờng qui) và khi có chỉ định.

    II. XỬ TRÍ CÁC VẤN ĐỀ TIM MẠCH:

    1. Hội chứng giảm cung lượng tim cấp: Xử trí dựa theo ALTMTT:

    – Nếu ALTMTT < 10 mm Hg : Truyền dịch.

    – Nếu ALTMTT > 10 mm Hg : Siêu âm tim để đánh giá co bóp cơ tim, áp lực động mạch phổi, hoạt động của van tim nhân tạo và phát hiện tràn dịch màng tim chèn ép. Nếu có giảm co bóp cơ tim dùng thuốc tăng co bóp (dopamine hoặc dobutamine liều khởi đầu > 5 pg/kg/phút). Nếu phát hiện tràn dịch màng tim chèn ép hoặc rối loạn hoạt động van nhân tạo báo ngay phẫu thuật viên để giải quyết ngoại khoa.

    2. Rối Loạn Nhịp Và Dẫn Truyền:

    – Rung nhĩ đáp ứng thất nhanh > 130/phút : Truyền TM amiodarone liều tấn công 5 mg/kg, duy trì 15 mg/kg/24 giờ. Nếu rung nhĩ mới xu t hiện sau mổ gây rối loạn huyết động : sốc điện chuyển nhịp (năng luợng khởi đầu 100 J).

    – Rối loạn nhịp thất (ngoại tâm thu thất nhiều, nhịp đôi, cơn nhịp nhanh thất) : Sốc điện (khởi đầu 200 J) nếu cơn nhịp nhanh thất gây tụt huyết áp . Nếu rối loạn nhịp thất không ảnh huởng nhiều đến huyết động truyền TM lidocaine hoặc amiodarone nếu lidocaine khô ng hiệu quả . Song song đó bù K (nếu có hạ K máu), Mg v điều chỉnh Thông khí, rối loạn kiềm toan

    – Nhịp chậm (nhịp xoang chậm, nhịp bộ nối, bloc nhĩ thất hoàn toàn) : Gắn máy tạo nhịp tạm thời để giữ tần số tim > 70 /phút.

    3. Cơn Tăng Áp Động Mạch Phổi:

    – Bệnh nhân thở máy: Cho ngủ bằng midazolam và morphin (hoặc fentanyl). Tăng thể tích thuờng lưu để l àm tăng thông khí bệnh nhân (PaCO2 khoảng 30 mm Hg). Có thể dùng thuốc liệt cơ (pancuronium, vecuronium) để bệnh nhân thích nghi với máy thở. Nếu cơn tăng áp động mạch phổi nặng bóp bóng giúp thở bằng oxy 100%. Dùng iloprost TTM (Ilomedin) 5-10 pg/kg/phút hoặc khí dung iloprost (Ventavis).

    – Bệnh nhân đang tự thở: Cho thở oxy qua sonde mũi 3-6 l/phút và dùng isuprel hoặc iloprost. Nếu không đáp ứng đặt nội khí máy cho thở máy.

    III. CHĂM SÓC HÔ HẤP SAU MỔ:

    1. Chăm Sóc Bệnh Nhân Thở Máy:

    – Cho nằm đầu cao 20°.

    – Hút đàm nhớt và chất tiết miệng họng thường xuyên.

    – Theo dõi áp lực đường thở thường xuyên và nghe phổi để phát hiện các biến chứng tràn khí màng phổi, xẹp phổi. Nếu nghi ngờ chụp X-quang ngực khẩn để xác định chẩn đoán .

    – Nếu bệnh nhân thở máy lâu xoay trở người mỗi 4 giờ để ngừa loét.

    2. Tiêu Chuẩn Rút Ống Nội Khí Quản Cho Bệnh Nhân Tự Thở:

    – Bệnh nhân tỉnh táo, hợp tác, hết tác dụng của thuốc liệt cơ .

    – Huyết động ổn định với liều thuốc tăng co bóp vừa phải (dopamine hoặc dobutamine < 15 pg/kg/phút), không có rối loạn nhịp nguy hiểm.

    – PaO2 > 80 mm Hg với FiO2 40%.

    – Thân nhiệt > 36° C.

    – Chảy máu < 30 ml/giờ.

    – Sau 15 phút tự thở qua ống chữ T với lưu lượng oxy 3 l/phút bệnh nhân không vã mồ hô i, không tăng huyết áp và tần số tim, thở < 30 lần/phút và độ bão hòa oxy máu động mạch > 95%.

    3. Xử Trí Các Biến Chứng Hô Hấp:

    – Tràn khí màng phổi : Đặt ống drain-trocart dẫn lưu màng phổi.

    – Tràn dịch màng phổi: Dẫn lưu bằng kim luồn nếu lượng > 1/3 phế trường. Nếu tràn dịch tái phát sớm lưu kim luồn lại để dẫn lưu liên tục.

    – Xẹp phổi: Nếu bệnh nhân đang thở máy dùng PEEP 4-5 cm H2O và rửa hút phế quản bằng dung dịch NaCl 0,9%. Nếu bệnh nh n đang tự thở cho thở khí dung Ventoline và Mucomyst và vật lý trị liệu hô hấp.

    IV. XỬ TRÍ CHẢY MÁU:

    1. Nếu bệnh nhân chảy máu nhiều (khoảng 100 ml/giờ đối với người lớn 40-50 kg)

    làm xét nghiệm đông máu khẩn, bù dịch và máu để duy trì thể tích tuần hoàn và giữ dung tích hồng cầu > 30%.

    1. Xử trí theo xét nghiệm đông máu:

    – TP < 40% , Fg < 1,5 g/l: Truyền huyết tương tươi .

    – TCK > 1,5 lần TCK chứng : Tiêm 20-40 mg protamine.

    – Tiểu cầu < 60.000/mm3 : Truyền tiểu cầu hoặc máu tươi .

    1. Nếu xét nghiệm đông máu bình thường hoặc nghi chảy máu ngoại khoa : Mổ lại cầm máu

    V. XỬ TRÍ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC:

    1. Chống đau : Truyền TM morphine 0,5-1,5 mg/giờ hoặc tramadol 10-15 mg/giờ. Chống đau cấp : Tiêm TM morphine 0,1 mg/kg hoặc tramadol 50-100 mg.
    2. Chống run : tiêm TM clonidine 1 pg/kg.
    3. Điều trị suy thận cấp : Giải quyết tình trạng giảm cung lượng tim bằng cách bù dịch, dùng thuốc tăng co bóp . Dùng furosemide liều cao 40-100 mg TM, sau đó truyền TM 10-20 mg/giờ.

    Nếu không đáp ứng với các biện pháp này đặt catheter thẩm phân phúc mạc (TPPM).

    Dùng dung dịch đẳng trương (glucose 1,5%) 1 l/chu kỳ ở người lớn và 20 ml/kg/chu kỳ ở trẻ em. Mỗi chu kỳ kéo dài 1 giờ: cho vào 5 phút, lưu 25-30 phút và cho ra 25-30 phút . Theo dõi lượng dịch cho vào và rút ra mỗi giờ. Nếu cần rút thêm nước dùng dung dịch TPPM ưu trương (glucose 4,25%) . L àm TPPM cho đến khi lưu lượng nước tiểu phục hồi ở mức > 1 ml/kg/giờ một cách ổn định.

    1. Sốt sau mổ : Nếu kể từ ng ày hậu phẫu thứ 2 bệnh nhân sốt kéo dài phải kiểm tra c ông thức bạch cầu, c ấy máu và tìm các ổ nhiễm có thể (xem phim X-quang phổi, khám vết mổ, các chỗ chích catheter) .

    Nếu nghi ngờ c ấy đàm (kỹ thuật Prélèvement trachéal protégé – PTP), mủ vết mổ, catheter, điện cực m àng ngoài tim, nước tiểu . Nếu bệnh nhân có hội chứng nhiễm trùng nặng, trong khi chờ đợi kết quả c y bệnh phẩm dùng kháng sinh phổ rộng : vancomycin + meropenem + amikacin hoặc vancomycin + meropenem + levoíloxacin . Khi có kết quả vi trùng học điều chỉnh lại kháng sinh trị liệu cho thích hợp

    1. Điều trị chống huyết khối sau mổ bắc cầu động mạch vành: TTM heparin 200 đơn vị/kg/24 giờ khi bệnh nhân hết chảy máu. Qua ngày hậu phẫu 1, bắt đầu aspirin uống 250 mg . c ác ng ày sau đó dùng aspirin liều 100 mg/ngày. Nếu bệnh nhân mới bị hội chứng mạch vành cấp (< 1 năm), dùng clopidogrel 75 mg/ngày phối hợp với aspirin. Nếu bệnh nhân có chống chỉ định hay không dung nạp aspirin, dùng clopidogrel đơn trị.

    Phác Đồ Chăm Sóc Bệnh Nhân Tại Khoa Hồi Sức NgoạiXem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng Nghiên Cứu Nice – Sugar
    2. Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần
    3. Nghẽn Đường Ra Thất Phải
    4. Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch Phổi
    5. Phác Đồ Can Thiệp Động Mạch Chủ
  • Phác Đồ Can Thiệp Động Mạch Chủ

    Phác Đồ Can Thiệp Động Mạch Chủ

    Phác Đồ Can Thiệp Động Mạch Chủ

    Đường kính trung bình ĐMC : 14-30mm

    Phình động mạch chủ khi đường kính ĐMC > 30mm hoặc lớn hơn 50% dường kính của đoạn ĐMC bình thường.

    1. Chỉ Định Can Thiệp Phình ĐMC Bụng Khi:

    – Đường kính ĐMC bụng > 55mm

    – Bệnh nhân có đường kính ĐMC tăng > 5mm trong vòng 6tháng

    – Bệnh nhân có triệu chứng: đau hoặc căng ở bụng, đau lưng, dấu hiệu thuyên tắc.

    2. Chỉ Định Can Thiệp Phình ĐMC Ngực:

    – Có triệu chứng

    – Đường kính cuối tâm trương của ĐMC lên 50-60mm

    – Đường kính cuối tâm trương của động mạch chủ xuống 60-70 mm

    – Đối với đường kính < 50mm, nếu trong vòng 1 năm đường kính tăng > 10mm

    – Có bị bóc tách

    – Đường kính cho phình > 45 mm tại thời điểm thay van ĐMC

    3. Chỉ Định Phẫu Thuật Phình Qui Động Mạch Chủ

    Với những trường hợp phình động mạch chủ ngực kèm theo đoạn gần của quai động mạch chủ, phẫu thuật thay một phần quai động mạch chủ cùng với sửa chữa động mạch chủ lên

    Thay toàn bộ quai động mạch chủ nếu tách cấp tính khi quai động mạch chủ phình hoặc nếu có tổn thương lan rộng và rò rỉ.

    Thay toàn bộ quai động mạch chủ nếu có phình toàn bộ hoặc khi có tách thành mạn tính mà quai động mạch chủ to lên, và phình quai động mạch chủ đoạn xa, liên quan với động mạch chủ xuống đoạn gần với thủ thuật thân voi

    Với những bệnh nhân nguy cơ cho phẫu thuật thấp, có phình quai động mạch chủ do thoái hóa hay xơ vữa đơn độc, sẽ hợp lý nếu phẫu thuật ở những bệnh nhân không có triệu chứng khi đường kính quai động mạch chủ > 5,5 cm.

    Ở những bệnh nhân phình quai động mạch chủ đơn độc đường kính < 4 cm, sẽ hợp lý khi đánh giá lại bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ mỗi 12 tháng đề theo dõi tiến triển của khối phình.

    Ở những bệnh nhân phình quai động mạch chủ đơn độc đường kính ≥ 4 cm, sẽ hợp lý khi đánh giá lại bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ mỗi 6 tháng đề theo dõi tiến triển của khối phình.

    4. Cận Lâm Sàng

    – Chụp MSCT cản quang: cho hình ảnh lớp trong và lớp ngoài của thành mạch, thấy được lồng giả, lồng thật giúp đo được đường kính, chiều dài chổ hẹp, mức độ gấp khúc của ĐMC, lưu ý nếu BN có chỉ định đặt stent graft cần yêu cầu chụp ĐM đùi, động mạch chậu, động mạch cổ, ĐM thận, ĐM treo mạc treo tràng dưới, để có kế hoặc chuẩn bị trước cho thủ thuật.

    – MRI có thể giúp ích cho việc chẩn đoán cũng như theo dỏi sau thủ thuật trong trường hợp sử dụng stent bằng chất liệu nitinol, tuy nhiên chất cảm từ Gadolium cũng có thể gây suy thận.

    – Chụp mạch máu: rất hạn chế vì chỉ thấy được lồng trong không thấy được thành mạch, không đánh giá được đường kính thật của động mạch, sai số khi đo đạc vì gốc chụp khác nhau.

    5. Theo Dõi Sau Can Thiệp:

    Siêu âm, Xquang bụng, CT theo dỏi kích thước chổ phình: sau 1 tháng, 6 tháng,12 tháng, mỗi năm.

    6. Biến Chứng: Chiếm Khoảng 10%

    Tổn thương ĐM đùi, ĐM chậu, stent không cố định đủ, không áp hết chổ phình, gẫy khung stent. 50% trường hợp đường kính túi phình sẽ nhỏ lại sau 12 tháng. Hình dạng stent, vị trí stent có thể thay đổi kho đường kính túi phình thay đổi.

    Biến chứng dò bên trong (endoleak) gồm 4 type:

    – Type I: khoảng 10% các biến chứng, dòng chảy ngoài stent vào túi phình do stent không áp sát thành mạch ở đầu gần hoặc đầu xa của stent. Khi phát hiện biến chứng này cần sửa chữa càng sớm càng tốt bằng cách nong lại bằng bóng hoặc đặt thêm 1 stent graft khác.

    – Type II :10-25% các biến chứng, dòng chảy từ các nhánh động mạch bị stent graft phủ qua dò ngược vào và ra túi phình do các nhánh này được tưới máu từ tuần hoàn bàng hệ, đa số các trường hợp sẽ tự bít lại, chỉ can thiệp khi túi phình tăng kích thước hoặc dò kéo dài hơn 6-12 tháng.

    – Type III: ít gặp, do tách các thành phần của stent hoặc rách stent, cần đặt thêm stent graft khác khi phát hiện biến chứng này.

    – Type IV: hiếm gặp do máu dò qua các lỗ li ti của stent, không cần điều trị.

    Hội chứng sau đặt stent: sốt, tăng bạch cầu, tăng CRP, có khí bên ngoài stent kéo dài 7-10 ngày sau thủ thuật. Tăng nội độc tố, interleukin 6, Cơ chế không rõ nhưng không phải do nhiễm trùng.

    Stent di lệch đây là một trong những biến chứng nặng.

    Phác Đồ Can Thiệp Động Mạch ChủXem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)
    2. Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng Nghiên Cứu Nice – Sugar
    3. Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần
    4. Nghẽn Đường Ra Thất Phải
    5. Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch Phổi
  • Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch Phổi

    Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch Phổi

    Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch Phổi

    BIDIRECTIONAL CAVO- PULMONARY SHUNT (BSPS)

    1. Định Nghĩa (Theo Phân Loại ICD 9)

    Nối tĩnh mạch chủ trên hoặc hai tĩnh mạch chủ trên vào động mạch phổi . Là phẫu thuật tạm thời giai đoạn trung gian để đến phẫu thuật Fontan

    2. Chỉ Định Phẫu Thuật

    1. Tim chỉ có một tâm th ất chức năng : không có lỗ van ba lá, không có van động mạch phổi với thất phải thiểu sản, thất hai đường vào, thất hai đường ra với một thất thiểu sản, kênh nhĩ thất toàn phần không c ân bằng, hội chứng heterotaxy…
    2. Thời điểm tiến hành phẫu thuật: phẫu thuật có thể được tiến hành từ 3 tháng tuổi khi kháng lực của phổi xuống thấp nhất, tuy nhiên thời điểm tốt nhất l à từ 5 tháng tuổi trở đi .

    3. Phương Pháp Phẫu Thuật :

    1. Phương pháp :

    Phẫu thuật có thể tiến hành dưới sự hỗ trợ của máy Tim Phổi hoặc l àm shunt tạm thời từ tĩnh mạch vô danh đến động mạch phổi hoặc đến nhĩ. có thể làm liệt tim nếu cần can thiệp vào trong tim .

    – cắt rời tĩnh mạch Azygos trong trường hợp không có gián đoạn tĩnh mạch chủ dưới trong hội chứng heterotaxy

    – Kẹp tĩnh mạch chủ trên ngay trên vi trí nút xoang, lưu ý kiểm tra nhịp tim trước khi cắt rời tĩnh mạch chủ trên ra khỏi nhĩ phải . Khâu lại đầu gần . Đặt một kẹp lateral vào động mạch phổi phải, xẻ một đường đủ dài trên mặt trên động mạch phổi Tiến h nh nối tận bên tĩnh mạch chủ trên với động mạch phổi . Đuổi khí và mở các kẹp cho shunt hoạt động . Loại chỉ sử dụng nên là loại tan chậm ( PDS hoặc Maxon.) hoặc chỉ không tan đơn sợi với đường nối kh ng liên tục ở mặt trước

    Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch Phổi 1

    1. Các thủ thuật hỗ trợ: banding động mạch phổi, cắt khâu ống động mạch, sửa van nhĩ thất chung, mở rộng vách liên nhĩ.

    4. Biến Chứng Thường Gặp:

    – Trước mổ : tím nặng

    – Sau mổ : rối loạn nhịp xoang, tr àn dịch m àng tim/phổi, tràn dịch dưỡng trấp

    Tài liệu tham khảo

    – Textbook : C. Marvroudis and C. Baker:Pediatric Cardiac Surgery 2003, Mosby Inc.

    R.A Jonas :Comprehensive Surgical Management of Congenital Heart Disease 2004, Hodder Arnold

    Nối Tĩnh Mạch Chủ Trên Hoặc Hai Tĩnh Mạch Chủ Trên Vào Động Mạch PhổiXem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em
    2. Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)
    3. Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng Nghiên Cứu Nice – Sugar
    4. Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần
    5. Nghẽn Đường Ra Thất Phải
  • Nghẽn Đường Ra Thất Phải

    Nghẽn Đường Ra Thất Phải

    Nghẽn Đường Ra Thất Phải

    1. Nghẽn Đường Ra Thất Phải

    Nghẽn đường ra thất phải bẩm sinh có thể xảy ra ở van động mạch phổi (ĐMP), dưới van ĐMP hoặc trên van ĐMP. Các dạng bệnh khác nhau được tóm tắt trong bảng 4.

    Bẩm sinh:

    – Hẹp tại van ĐMP: dạng vòm; van loạn sản; van ĐMP một lá hay 2 lá

    – Hẹp phễu thất phải, thường nằm trong bệnh tứ chứng Fallot

    • Kết hợp với hẹp van ĐMP, bệnh cơ tim phì đại

    – Hẹp phễu không do cơ

    • Mô van 3 lá
    • Túi phình xoang Valsalva
    • Túi phình vách màng (vách liên thất)

    – Hẹp dưới phễu : Thất phải hai buồng

    – Hẹp trên van ĐMP

    • Màng chắn ĐMP
    • Hẹp nhánh ĐMP
    • Hẹp nhánh xa ĐMP

    – Sau phẫu thuật:

    • Van: tái hẹp van tự nhiên, hẹp van nhân tạo
    • Hẹp ống dẫn (thất phải- ĐMP)
    • Hẹp đoạn xa ĐMP sau thủ thuật tạo dòng chảy thông

    1.1. Hẹp Van ĐMP

    Hẹp van ĐMP thường đơn độc, tần suất 7-12% bệnh tim bẩm sinh; chiếm 80%-90% toàn bộ tổn thương nghẽn đường ra thất phải .(7)

    Có 3 dạng hẹp van ĐMP

    Van ĐMP hình vòm

    Loạn sản van ĐMP: thường gặp ở hội chứng Noonan

    Van ĐMP một lá hay hai lá: thường ở bệnh cảnh tứ chứng Fallot

    1.1.1. Khuyến Cáo Về Chẩn Đoán Và Theo Dõi Hẹp Van ĐMP

    Loại I

    1. Chẩn đoán hẹp van ĐMP cần lâm sàng, ECG, X-quang ngực và siêu âm tim; không cần thông tim (MCC:C)
    2. Bệnh nhân hẹp van ĐMP không triệu chứng cơ năng có độ chênh áp lực tối đa < 30 mmHg, cần khám lâm sàng, ECG và siêu âm tim mỗi 3 hoặc 5 năm (MCC:C)
    3. Bệnh nhân hẹp van ĐMP không triệu chứng cơ năng có độ chênh áp lực tối đa > 30 mmHg, cần theo dõi bằng siêu âm tim mỗi 1 hoặc 2 năm (MCC:C)

    Các phương tiện lâm sàng cần thiết giúp chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân hẹp van

    ĐmP:

    Triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể.

    ECG

    X-quang ngực

    Ảnh cộng hưởng từ/chụp cắt lớp điện toán: giúp xác định chẩn đoán, giải phẫu học các nhánh ĐMP

    Thông tim: thường chỉ cần khi can thiệp nong van.

    1.1.2. Khuyến Cáo Điều Trị Hẹp Van Động Mạch Phổi:

    Loại I

    1. Nong van bằng bóng được chỉ định ở bệnh nhân không triệu chứng cơ năng, có van ĐMP hình vòm và độ chênh áp tối đa 340 mmHg (có thể kèm hở nhẹ van ĐMP) (MCC:B)
    2. Nong van bằng bóng được chỉ định ở bệnh nhân có triệu chứng cơ năng, có van ĐMP hình vòm và độ chênh áp tối đa 3 30 mmHg (MCC:C)
    3. Phẫu thuật bệnh nhân hẹp van ĐMP nặng được chỉ định khi có kèm một trong các tổn thương sau: giảm sản vòng van ĐMP, hở van ĐMP nặng, hẹp dưới van hoặc trên van ĐMP. Nên phẫu thuật hẹp van ĐMP do loạn sản hoặc có kèm hở 3 lá nặng hoặc cần làm thêm thủ thuật Maze (MCC:C)

    1.1.3. Khuyến Cáo Về Theo Dõi Sau Nong Van Hoặc Phẫu Thuật

    Loại I

    Tất cả bệnh nhân sau điều trị cần được theo dõi mỗi năm, chú ý khảo sát mức độ hở van ĐMP; áp lực, đường kính và chức năng thất phải; mức độ hở 3 lá (MCC:C)

    1.2. Nghẽn đường ra thất phải do hẹp trên van, nhánh gần hoặc nhánh xa động mạch phổi

    Biểu hiện lâm sàng các tổn thương này tương tự hẹp van ĐMP. Chẩn đoán cần khám lâm sàng, ECG, x- quang ngực, siêu âm tim, ảnh cộng hưởng từ hoặc chụp cắt lớp điện toán. Ảnh cộng hưởng từ/ chụp cắt lớp điện toán giúp xác định chẩn đoán.

    1.2.1. Khuyến Cáo Điều Trị Hẹp Nhánh Động Mạch Phổi

    Loại I

    1. Hẹp > 50% nhánh ĐMP kèm áp lực thất phải > 50 mmHg và/hoặc có triệu chứng cơ năng cần được điều trị bằng thông tim can thiệp (MCC:B)
    2. Tổn thương như phần trên, cần phẫu thuật khi không thông tim can thiệp được (MCC:B)

    1.2.2. Khuyến Cáo Về Can Thiệp Lại Bệnh Nhân Có Ống Dẫn Thất Phải- Động Mạch Phôi Hoặc Có Van ĐMP Sinh Học:

    Loại I

    Cần phẫu thuật bởi phẫu thuật viên có kinh nghiệm về BTBS các trường hợp hẹp nặng van ĐMP sinh học (độ chênh áp tối đa > 50 mmHg) hoặc hở ống dẫn kèm một trong các điều kiện sau:

    1. Giảm khả năng gắng sức (MCC:C)
    2. Giảm chức năng thất phải (MCC:C)
    3. Dãn đường kính thất phải (TP) cuối tâm trương hoặc hở 3 lá nặng vừa (MCC:C)

    Loại Ila:

    Phẫu thuật hoặc thông tim can thiệp bệnh nhân có triệu chứng cơ năng do nghẽn > 50% ống dẫn TP- ĐMP hoặc hẹp van ĐMP sinh học với độ chênh áp tối đa > 50 mmHg hoặc độ chênh áp trung bình > 30 mmHg (MCC:C)

    Nghẽn Đường Ra Thất Phải

    Xem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Dò Động Mạch Vành
    2. Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em
    3. Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)
    4. Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng Nghiên Cứu Nice – Sugar
    5. Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần
  • Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần

    Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần

    Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần

    1. Định Nghĩa (Theo Phân Loại ICD 10 : Q21.2)

    Kênh nhĩ thất toàn phần bao gồm các tổn thương bẩm sinh của gối nội mạc với van nhĩ thất chung có hai thất c ân bằng hoặc thất trái thiểu sản, thông liên thất phần buồng nhận và thông liên nhĩ thể thứ phát hoặc tâm nhĩ độc nhất .

    Kênh nhĩ thất toàn phần được phân nhóm theo Rastelli loại A, B và c .

    Kênh nhĩ thất toàn phần thường gặp ở trẻ bị hội chứng Down .

    Tổn thương kèm theo : tứ chứng Fallot, hẹp đường ra thất trái và thất trái thiểu sản

    2. Chẩn Đoán

    A. Triệu Chứng Lâm Sàng Chính:

    – Trong những tuần đầu sau sinh trẻ thường không có triệu chứng gì do kháng lực phổi còn cao .

    – Từ tuần thứ tư trở đi : trẻ sẽ có các dấu hiệu tăng áp phổi do luồng th ông trái phải lớn bao gồm khó bú, nhịp tim nhanh, vã mồ hôi và không tăng cân.

    – Các triệu chứng này sẽ nặng hơn nếu có kèm hở van nhĩ thất .

    – Nếu tứ chứng Fallot đi kèm với kênh nhĩ thất toàn phần trẻ sẽ có dấu hiệu tím trung ương .

    B. Xét Nghiệm Cận Lâm Sàng Cần Thiết :

    – X quang ngực thẳng: dấu hiệu tăng tuần hoàn phổi chủ động, dãn lớn các buồng tim

    – ECG : trục bất định

    – Siêu âm tim : giúp chẩn đoán xác định, kích thước và loại thông liên thất và Thông liên nhĩ, mức độ hở van, đánh giá hai thất và các tổn thương đi kèm

    3. Chỉ Định Phẫu Thuật

    1. Kênh nhĩ thất thể toàn phần : chỉ định phẫu thuật khi có chẩn đoán xác định
    2. Bệnh lý phức tạp – kết hợp :

    Tứ chứng Fallot và kênh nhĩ thất toàn phần : chỉ định phẫu thuật khi có chẩn đoán xác định

    Kênh nhĩ thất với thất thất trái thiểu sản : phẫu thuật theo hướng một thất

    1. Thời điểm tiến hành phẫu thuật: mổ chương trình, đa số cần phải được phẫu thuật trước một tuổi để tránh nguy cơ tăng áp phổi không hồi phục

    4. Phương Thức Điều Trị

    1. Tạm thời

    – Banding động mạch phổi : trong những trường hợp tăng áp phổi suy tim nặng mà chưa thể tiến hành phẫu thuật triệt để .

    – Shunt Blalock cho trường hợp kênh nhĩ thất với tứ chứng Fallot ở trẻ có tím nặng mà chưa thể tiến hành phẫu thuật triệt để được . Lưu ý chỉ cần shunt vừa đủ.

    1. Triệt để

    – Vật liệu sử dụng : patch bằng màng ngoài tim được xử lý với glutaraldehyde hoặc goretex dày 0,4-0,6 mm

    – Nguyên tắc Phẫu thuật : đóng thô ng liên thất, đóng thông liên nhĩ, sửa van hai lá và sửa chữa các tổn thương kèm theo . có nhiều phương pháp sửa chữa triệt để

    – Phương pháp hai patch : một patch dùng để đóng lỗ thông liên thất và một patch để đóng lỗ Thông liên nhĩ

    Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần

    – Phương pháp một patch cải tiến ( Nunn): dùng một patch đóng cả hai lỗ thông liên thất và thông liên nhĩ cùng một lúc .

    Kênh Nhĩ Thất Thể Toàn Phần

    1. Các thủ thuật hỗ trợ: PD, ECMO, LVAD Biến chứng thường gặp:

    – Trước mổ : tăng áp phổi nặng, suy tim sung huyết, suy dinh dưỡng và nhiễm trùng phổi .

    – Sau mổ : block nhĩ thất, hở van nhĩ thất tồn lưu, suy tim tiến triển Khuyến cáo khác

    Tài Liệu Tham Khảo

    – Textbook : C. Marvroudis and C. Baker:Pediatric Cardiac Surgery 2003, Mosby Inc.

    R.A Jonas :Comprehensive Surgical Management of Congenital Heart Disease 2004, Hodder Arnold

     

  • Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng – Nghiên Cứu Nice – Sugar

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng – Nghiên Cứu Nice – Sugar

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 
    Nghiên Cứu Nice – Sugar

    1. Mở Đầu:

    Tăng đường huyết thường gặp trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt bệnh nhân bệnh nặng (USIC). Sự tăng đường huyết, đặc biệt là tăng đường huyết nghiêm trọng, liên quan với tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nhiều nhóm bệnh nhân, nhưng các thử nghiệm kiểm tra tác dụng của kiểm soát đường huyết chặt chẽ hơn đã có kết quả mâu thuẫn, đánh giá có hệ thống và phân tích cũng đã dẫn đến những kết luận khác nhau.

    Trước đây, nhiều tổ chức chuyên nghiệp và nhà lâm sàng quan niệm nên kiểm soát đường huyết chặt chẽ đối với bệnh nhân điều trị trong USIC. Tuy nhiên, rào cản đối với việc kiểm soát đường huyết chặt chẽ bao gồm tăng nguy cơ hạ đường huyết nghiêm trọng, sự khó khăn trong việc đạt được mức đường huyết bình thường ở những bệnh nhân bị bệnh nặng, cần nhiều nguồn lực tăng cường vì các vấn đề này và không chắc chắn về những rủi ro và lợi ích.

    Trong hoàn cảnh đó, nghiên cứu đa trung tâm NICE – SUGAR (Normoglycaemia in Intensive Care Evaluation & Survival Using Glucose Algorithm Regulation) được thực hiện đã trả lời cho câu hỏi lớn này.

    2. Nghiên Cứu NICE – SUGAR:

    2.1. Thiết Kế Nghiên Cứu Và Cỡ Mẫu:

    Nghiên cứu đa trung tâm (38 bệnh viện đại học và 4 bệnh viện cộng đồng) trên đa quốc gia (Úc, New Zealand, Canada)

    Có 6104 bệnh nhân khoa USIC tham gia nghiên cứu được chia 2 nhóm:

    – Tích cực: đường huyết 81 -108 mg% (4.5 – 6 mmol/L).

    – Thường quy: đường huyết < 180 mg% (< 10 mmol/L)

    2.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Chính:

    Tử vong trong vòng 90 ngày sau tham gia nghiên cứu

    2.3. Kết Quả Nghiên Cứu:

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 

    2.4. Kết Luận:

    – Kiểm soát đường huyết tích cực không mang lại lợi ích cho bệnh nhân ICU.

    – Đường huyết mục tiêu < 180 mg/dL với mục tiêu đạt được trong nghiên cứu là 144 mg/dL làm giảm tỷ lẹ tử vong 90 ngày nhập viện so với mục tiêu 81-108mg/dl.

    – Tỷ lệ hạ đường huyết cao hơn ở nhóm kiểm soát đường huyết tích cực.

    3. Phác Đồ Cụ Thể:

    3.1. Thuốc Sử Dụng Và Cách Pha:

    Truyền Insulin regular tĩnh mạch liên tục.

    Cách pha: 1 UI Insulin regular / 1 ml normal salin (tại USIC thường pha 20 UI/ 20 ml NS hoặc 50 UI / 50 ml NS)

    3.2. Ba Tình Huống Có Thể Xảy Ra Khi Tiếp Cận Bệnh Nhân:

    – Được thử đường huyết lần đầu.

    – Đang sử dụng Insulin.

    – Đang tạm ngưng sử dụng insulin.

    Trường Hợp Bệnh Nhân Được Thử Đường Huyết Lần Đầu:

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 

    Trường Hợp Bệnh Nhân Đang Được Truyền Insulin:

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 

    Trường Hợp Bệnh Nhân Đang Tạm Ngưng Sử Dụng Insulin:Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng 

    3.3. Một Số Điểm Cần Lưu Ý:

    – Phác đồ điều trị tuỳ thuộc từng tình huống cụ thể.

    – Phải bù đủ dịch.

    – Điều chỉnh rối loạn điện giải (đặc biệt là Kali)

    – Bệnh nhân suy thận, suy dinh dưỡng liều Insulin cần thấp hơn.

    – Bệnh nhân dùng Corticoid liều Insulin cần cao hơn.

    4. Chuyển Insulin Tĩnh Mạch Sang Tiêm Dưới Da:

    Khi bệnh nhân trở lại chế độ ăn bình thường, nhiễm trùng đã ổn hoặc chuyển ra khu vực chăm sóc ít tích cực hơn.

    Khi đường huyết ổn định ở mức mong muốn (140 – 180 mg/dL) trong vòng 3 giờ.

    Insulin tiêm dưới da phải được sử dụng 1 – 4 giờ trước khi ngưng insulin truyền.

    Tuy nhiên, chưa có một phác đồ chuyển đổi nào được chứng minh là an toàn và hiệu quả. Thuốc viên hạ đường huyết không được khuyến cáo ở bệnh nhân USIC.

    75 – 80% tổng liều insulin truyền chia thành insulin nền và insulin trước mỗi bữa ăn.

    Cách tính tổng liều insulin tiêm dưới da khác1:

    – BN ≥70 tuổi hoặc GFR<60ml/phút: 0.2 – 0.4 Ul/kg

    – BN không có tình trạng trên và ĐH 140 – 200mg/dl: 0.4UI/kg – BN không có tình trạng trên và ĐH 201 – 400mg/dl: 0.5UI/kg

    Liều insulin này được chia tương tự như trên

    Cách sử dụng insulin trộn sẵn (Mixtard 30/70, Humulin M 30/70): chia tổng liều insulin thành 2/3 sáng và 1/3 chiều trước ăn 30 phút

    5. Theo Dõi Đường Huyết Tại Giường:

    – Bệnh nhan an uống bình thường: thử ĐH trước các bữa an và trước khi đi ngủ.

    – Bệnh nhan được nuoi an qua đường tiêu hóa hoặc tĩnh mạch liên tục: thử ĐH mỗi 4 đến 6 giờ.

    – Bệnh nhân được nuôi an ngắt quãng: tùy theo từng cá nhân để đạt được mục tiêu là tránh tăng ĐH lúc ăn và hạ ĐH lúc nhịn.

    – Bệnh nhân truyền insulin liên tục: thử ĐH mỗi 30 phút đến 2 giờ.1

    6. Kết Luận:

    – Tình trạng tâng hây hạ đường huyết đều gây râ những hậu quả không tốt cho bệnh nhân USIC

    – Mục tiêu đường huyết cần đạt ở bệnh nhân USIC là 140 đến 180mg/dl

    – Truyền insulin liên tục là phương pháp được lựâ chọn để đạt được và duy trì mục tiêu đường huyết

    – Đường huyết tại giường phải được thêô dõi phù hợp để tránh xảy râ tình trạng tâng đường huyết hây hạ đường huyết.

    Kiểm Soát Đường Huyết Trên Bệnh Nhân Nặng  Nghiên Cứu Nice - Sugar

    Xem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Chỉ Định Siêu Âm Tim Qua Thực Quản
    2. Các Đường Mở Ngực Trong Phẫu Thuật Tim Mạch – Lồng Ngực
    3. Dò Động Mạch Vành
    4. Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em
    5. Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)
  • Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)

    Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)

    Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)

    Khuyến Cáo PCI Mạch Vành Tiên Phát:

    Class I

    1. Thực hiện PCI tiên phát trên bệnh nhân STEMI với triệu chứng thiếu máu <12h.(A)
    2. Thực hiện PCI tiên phát trên bệnh nhân STEMI với triệu chứng thiếu máu <12h và có chống chỉ định với TSH bất kể thời gian trì hoãn từ cơ sở y tế ban đầu.(B)
    3. Thực hiện PCI tiên phát trên bệnh nhân STEMI có shock tim hoặc suy tim cấp nặng bất kể thời điểm xuất hiện NMCT.(B)

    Class IIa

    1. Nên thực hiện PCI tiên phát trên bệnh nhân STEMI trong vòng 12-24h khởi phát nếu có bằng chứng lâm sàng và/hoặc ECG của tình trạng thiếu máu đang diễn tiến.(B)

    Class III: Có Hại

    1. Không nên PCI nhánh động mạch không gây nhồi máu cùng thời điểm PCI tiên phát trên BN STEMI có huyết động ổn định.(B)

    Khuyến cáo về việc hút huyết khối:

    Class IIa

    1. Nên thực hiện hút huyết khối bằng tay trên bệnh nhân PCI tiên phát.(B)

    Khuyến cáo sử dung stent trên BN STEMI:

    Class I

    1. Đặt stent (BMS hoặc DES) có lợi trên BN STEMI.(A)
    2. Nên sử dụng BMS trên bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao, không có khả năng tuân thủ liệu pháp ức chế tiểu cầu kép trong 1 năm hoặc dự định thực hiện thủ thuật xâm lấn hoặc phẫu thuật trong năm tới.(C)

    Class III: Có Hại

    1. Không nên dùng DES trong PCI tiên phát trên bệnh nhân STEMI không có khả năng trì hoãn hoặc tuân thủ liệu pháp ức chế tiểu cầu kép trong thời gian dài vì có thể gây huyết khối trong stent do ngưng sớm 1 trong 2 thuốc.(B)

    Khuyến cáo liệu pháp ức chế tiểu cầu để hỗ trợ PCI tiên phát:

    1. Dùng ASA 162-325mg trước PCI tiên phát.(B)

    Sau PCI, sử dụng ASA liên tục vô hạn định.(A)

    1. Dùng một liều nạp thuốc ức chế thụ thể P2Y12 càng sớm càng tốt hoặc tại thời điểm PCI tiên phát cho BN STEMI. Có thể chọn:

    o Clopidogrel 600mg (B)

    o Prasugrel 60mg (B)

    o Ticagrelor 180mg (B)

    1. Sử dụng thuốc ức chế thụ thể P2Y12 trên BN STEMI sau đặt stent (BMS hoặc DES) với liều duy trì:

    o Clopidogrel 75mg/ngày (B)

    o Prasugrel 10mg/ngày (B)

    o Ticagrelor 90mg/ngày (B)

    Class IIa

    1. Nên sử dụng ASA 81mg/ngày thay cho liều duy trì cao hơn sau PCI tiên phát.(B)
    2. Nên khởi đầu điều trị với thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa như: abciximab (A), liều cao bolus tirofiban (B) hoặc bolus liều gấp đôi eptifibatide (B) ngay thời điểm PCI tiên phát (có hoặc không có đặt stent hoặc đã dùng Clopidogrel) trên một sốt bệnh nhân chọn lọc đã dùng UFH.

    Class IIb

    1. Có thể sử dụng thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa (TM) trên xe cấp cứu, phòng cấp cứu đối với bệnh nhân STEMI dự định PCI tiên phát.(B)
    2. Có thể sử dụng abciximab tiêm vào động mạch vành trên BN STEMI được PCI.(B)
    3. Cân nhắc tiếp tục duy trì thuốc ức chế thụ thể P2Y12 hơn 1 năm trên BN STEMI được đặt DES.(C)

    Class III: Có Hại

    1. Không nên dùng Prasugrel trên bệnh nhân có tiền sử đột quỵ hoặc cơn thoáng thiếu máu não.(B)

    Khuyến cáo liệu pháp kháng đông hỗ trợ PCI mạch vành tiên phát:

    Class I

    1. Đối với BN STEMI được PCI tiên phát, thuốc kháng đông được khuyến cáo:

    – UFH với liều nạp để duy trì hiệu quả kháng đông, hiệu chỉnh liều với thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa (C)

    o Không sử dụng đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa: 70-100 U/kg sau đó duy trì để đạt APTT

    o Sử dụng đối kháng thụ thể GP Ilb/IIIa: 50-70 U/kg sau đó duy trì để đạt APTT

    – Bivalirudin được sử dụng khi đã hoặc chưa dùng UFH trước đó: 0.75 mg/kg bolus tĩnh mạch sau đó 1.75 mg/kg/h, có thể thêm 0.3 mg/kg tĩnh mạch nếu cần

    o Giảm liều 1mg/kg/h nếu eGFR<30 ml/phút

    Class IIa

    1. Trên bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao được PCI tiên phát, nên sử dụng bivalirudin đơn trị liệu ưu tiên hơn phối hợp UFH và đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa. (B)

    Class III: Có Hại

    1. Fondaparinux không được dùng như là thuốc kháng đông duy nhất trong PCI tiên phát vì nguy cơ huyết khối catheter. (B)

    Khuyến cáo dùng TSH trong vòng 120 phút trong trường hợp dư đoán trì hoãn PCI:

    Class I

    1. Trong trường hợp không có chống chỉ định, TSH nên được sử dụng trên BN STEMI có triệu chứng thiếu máu cơ tim trong vòng 12h khi được dư trù không thê thực hiện được PCI tiên phát trong vòng 120 phút kê từ lúc nhập viện.(A)

    Class IIa

    1. Trong trường hợp không có chống chỉ định và BN không có khả năng PCI,

    TSH có thể sử dụng cho BN STEMI nếu lâm sàng hoặc ECG có bằng chứng thiếu máu đang diễn tiến trong vòng 12-24h bắt đầu triệu chứng có ảnh hưởng lên 1 vùng cơ tim lớn hoặc có huyết động không ổn định. (C)

    Class III

    1. Không sử dụng TSH cho bệnh nhân ST chênh xuống ngoại trừ NMCT vùng sau thực hoặc có đi kèm ST chênh lên aVR.(B)

    Khuyến cáo liệu pháp ức chế tiểu cầu trong hỗ trợ TSH:

    Class I

    1. Sử dụng trên BN STEMI dùng TSH: 300mg nếu BN <75 tuổi.(A)

    ASA 162-325mg và Clopidogrel 75mg nếu BN > 75 tuổi.(A)

    1. ASA tiếp tục sử dụng vô hạn định.(A)

    Clopidogrel 75mg/ngày tiếp tục sử dụng ít nhất 14 ngày (A) và lên đến 1 năm

    (C) trên BN STeMi dùng TsH

    Class IIa

    1. Có thể sử dụng ASA 81mg/ngày thay cho liều duy trì cao hơn trên bệnh nhân sau sử dụng TSH.(B)

    Khuyến cáo liệu pháp kháng đông trong hỗ trơ TSH:

    Class I

    1. Thuốc kháng đông nên được sử dụng trong suốt thời gian nằm viện, ít nhất là 48h và lên đến 8 ngày đối với bệnh nhân STEMI dùng TSH.(A)

    – UFH : liều bolus TM hiệu chỉnh theo cân nặng và truyền liên tục, duy trì aPTT 1.5-2 lần bình thường, trong vòng 48h hoặc tới khi đã tái lưu thông MV thành công.(C)

    – Enoxaparin: sử dụng dựa vào tuổi, cân cặng, chức năng thận, với liều bolus tĩnh mạch, 15phút sau tiêm dưới da, duy trì suốt thời gian nằm viện, lên đến 8 ngày hoặc đến khi tái lưu thông thành công.(A)

    – Fondaparinux: tiêm tĩnh mạch liều bolus, sau đó 1 lần mỗi ngày liều tiêm dưới da nếu Clcre > 30ml/p/1.73, trong thời gian nằm viện, lên đến 8 ngày hoặc tái lưu thông MV thành công. (B)

    KHUYẾN CÁO CAN THIỆP TRÌ HOÃN

    Khuyến cáo CMV trên bệnh nhân đã dùng TSH hoăc chưa đươc tái lưu thông ĐMV

    Class I

    1. CMV và dự định PCI để tái lưu thông MV trên bệnh nhân có bất kì một trong những biểu hiện sau:

    – Shock tim hoặc suy tim cấp nặng đang diễn tiến.(B)

    – Đã có kết quả test không xâm lấn với nguy cơ trung bình hoặc nguy cơ cao.(B)

    – Triệu chứng thiếu máu kéo dài hoặc mới khởi phát với mức độ gắng sức tối thiểu trong thời gian nằm viện.(C)

    Class IIa

    1. CMV và dự định can thiệp nên thực hiện trên bệnh nhân có bằng chứng tái lưu thông thất bại hoặc tắc nghẽn trở lại sau điều trị TSH trong thời gian sớm nhất có thể .(B)
    2. Nên CMV trên BN ổn định sau điều trị TSH trong thời gian sớm nhất có thể, lí tưởng là trong vòng 24h, nhưng không nên thực hiện trong vòng 2-3h sau dùng TSH.(B)

    Khuyến cáo can thiệp đỏng mạch thủ phạm gây nhồi máu trên BN đã dùng TSH hoăc chưa đươc tái lưu thông MV

    Class I

    1. PCI động mạch thủ phạm của vùng cơ tim bị nhồi máu ở BN có bất kì một trong các biểu hiện sau:

    – Shock tim hoặc suy tim cấp nặng đang diễn tiến.(B)

    – Đã có kết quả test không xâm lấn với nguy cơ trung bình hoặc nguy cơ cao.(C)

    – Triệu chứng thiếu máu kéo dài hoặc mới khởi phát với mức độ gắng sức tối thiểu trong thời gian nằm viện.(C)

    Class IIa

    1. PCI MV trì hoãn nên thực hiện trên BN có bằng chứng tái lưu thông thất bại hoặc tắc nghẽn trở lại sau điều trị TSH, trong thời gian sớm nhất có thể .(B)
    2. PCI MV trì hoãn động mạch thủ phạm của vùng nhồi máu nên thực hiện ở BN STEMI ổn định sau điều trị TSH trong thời gian sớm nhất có thể, lí tưởng trong vòng 24h, nhưng không nên trong vòng 2-3h sau điều trị TSH.(B)

    Class IIb

    1. PCI động mạch thủ phạm của vùng nhồi máu ở BN STEMI đã ổn định >24h có thể được cân nhắc như là một phần của chiến lược điều trị sau này.(B)

    Class III: Không Có Lợi

    1. Không nên PCI trì hoãn chỗ tắc hoàn toàn trên động mạch thủ phạm của cùng nhồi máu ở BN STEMI >24h không triệu chứng với 1 hoặc 2 nhánh MV bị tổn thương, huyết động và điện giải đồ ổn định đồng thời không có bằng chứng của TMCT.(B)

    Khuyến cáo PCI MV không phải là thủ phạm gây ra nhồi máu trước ra viện

    Class I

    1. PCI động mạch không chi phối vùng nhồi máu được chỉ định làm ở thời điểm khác PCI tiên phát trên BN còn triệu chứng TMCT kéo dài.(C)

    Class IIa

    1. Nên PCI động mạch không chi phối vùng nhồi máu tại thời điểm PCI tiên phát trên BN có test không xâm lấn nguy cơ trung bình hoặc nguy cơ cao.(B)

    Khuyến cáo liệu pháp ức chế tiểu cầu hỗ trợ PCI sau dùng TSH:

    Class I

    1. Sau PCI, ASA dùng vô hạn định.(A)
    2. Clopidogrel:

    – Liều nạp 300mg cho trước hoặc tại thời điểm PCI trên BN chưa dùng liều nạp hoặc PCI trong vòng 24h dùng TSH.(C)

    – Liều nạp 600mg cho trước hoặc tại thời điểm PCI trên BN chưa dùng liều nạp hoặc pCi >24h dùng TSH.(C)

    – Liều 75mg/ngày sau PCI.(C)

    Class IIa

    1. Sau PCI, ASA nên dùng liều 81mg/ngày thay vì dùng liều cao hơn duy trì.(B)
    2. Prasugrel, liều nạp 60mg nên sử dụng trên BN chưa dùng liều nạp Clopidogrel tại thời điểm dùng TSH. Không nên sử dụng Prasugrel dưới 24h sau dùng TSH chọn lọc fibrin hoặc trên 48h sau dùng TSH không chọn lọc fibrin.(B)
    3. Prasugrel nên dùng liều 10mg/ngày đề duy trì sau PCI.(B)

    Class III: Có Hại

    1. Prasugrel không nên sử dụng trên bệnh nhân có tiền sử đột quỵ hoặc TIA.(B)

    Khuyến cáo liệu pháp kháng đông hỗ trơ PCI sau dùng TSH:

    Class I

    1. Với BN STEMI được PCI sau dùng TSH đã dùng UFH tĩnh mạch, nên bolus UFH tĩnh mạch để hỗ trợ PCI, có hiệu chỉnh liều với thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa nếu dùng.(C)
    2. Với BN STEMI được PCI sau dùng TSH đã dùng Enoxaparin, nếu liều tiêm dưới da cuối trong vòng 8h, dùng thêm enoxaparin nếu liều tiêm dưới da cuối từ 8-12h với liều 0.3mg/kg TM.(B)

    Class III: Có Hại

    1. Fondaparinux không nên dùng như là thuốc kháng đông duy nhất để hỗ trợ PCI, cần sử dụng thêm 1 thuốc kháng yếu tố IIa vì nguy cơ huyết khối catheter.(C)

    Khuyến cáo CABG trên BN STEMI:

    Class I

    1. Chỉ định CABG khẩn trương trên BN STEMI với giải phẫu MV không khả năng PCI đang hoặc tái diễn tình trạng thiếu máu, shock tim, suy tim cấp hoặc những nguy cơ cao khác.(B)
    2. Khuyến cáo CABG trên BN STEMI để điều trị tái thông đồng thời biến chứng cơ học.(B)

    Class IIa

    1. Nên sử dụng dụng cụ hỗ trợ tuần hoàn cơ học trên BN STEMI có huyết động không ốn định cần CABG khẩn trương.(C)

    Class IIb

    1. Cân nhắc CABG cấp cứu trong vòng 6h từ khi khởi phát triệu chứng trên BN STEMI không shock tim và không có dự định PCI hay dùng TSH.(C)

    Khuyến cáo chon lưa thời điểm CABG khẩn trương liên quan với việc sử dụng thuốc ức chế tiểu cầu

    Class I

    1. ASA không nên ngưng trước CABG khẩn trương.(C)
    2. Nếu có thể thực hiện được, Clopidogrel hoặc Ticagrelor nên ngưng ít nhất 24h trước CABG khẩn trương có sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể.(B)
    3. Thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa tác dụng ngắn (Eptifibatide, Tirofiban) nên ngưng ít nhất 2-4h trước CABG khẩn trương.(B)
    4. Abciximab nên ngưng ít nhất 12h trước CABG khẩn trương.(B)

    Class IIb

    1. Cân nhắc CABG không sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể khi đã dùng Clopidogrel hoặc Ticagrelor trong vòng 24h đặc biệt khi lợi ích của việc tái lưu thông là vượt trội so với nguy cơ chảy máu.(B)
    2. Cân nhắc CABG khẩn trương trong vòng 5 ngày sử dụng Clopidogrel hoặc 7 ngày sử dụng Prasugrel đặc biệt khi lợi ích của việc tái lưu thông là vượt trội so với nguy cơ chảy máu.(C)

    KHUYẾN CÁO THUỐC ĐIỀU TRỊ

    Beta blockers: ( ức chế beta)

    ClassI:

    1. Thuốc ức chế beta đường uống nên khởi đầu trong 24 giờ đầu tiên cho bệnh nhân bị STEMI mà không có bất kỳ những điều sau đây: dấu hiệu suy tim, bằng chứng của giảm cung lượng tim, nguy cơ thúc đẩy choáng tim, chống chỉ định của sử dụng ức chế beta đường uống khác (khoảng PR kéo dài hơn 0.24 giây, Block nhĩ thất độ 2, độ 3, hen hoặc bệnh đường dẫn khí phản ứng). ( B)
    2. Ức chế beta nên được tiếp tục trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện cho tất cả bệnh nhân STEMI không có chống chỉ định cho việc sử dụng thuốc. (B)
    3. BN có chống chỉ đinh ban đầu với ức chế beta trong vòng 24 giờ đầu tiên STEMI nên được đánh giá lại để xác định khả năng sử dụng thuốc tiếp theo.( C)

    Class IIa:

    1. Có thể sử dụng thuốc ức chế beta tĩnh mạch ở BN có biểu hiện STEMI có tăng huyết áp hoặc có thiếu máu cục bộ tiếp diễn và không có chống chỉ định sử dụng thuốc.( B)

    Thuốc ức chế hệ Renin- Angiotensin-Aldosterone (RAA)

    Class I

    1. Thuốc ức chế men chuyển nên được cho trong vòng 24h đầu cho tất cả các bệnh nhân STEMI thành trước, có suy tim, phân suất tống máu ( EF) < 40%, không có chống chỉ định.( A)
    2. Thuốc ức chế thụ thể nên được cho bệnh nhân có chỉ định hoặc không dung nạp thuốc ức chế men chuyển.( B)
    3. Thuốc kháng aldosterone nên cho bệnh nhân : STEMI và không có chống chỉ định, đã điều trị với ức chế men chuyển và ức chế beta, có phân suất tống máu < 40% và có triệu chứng suy tim hoặc đái tháo đường.( B)

    Class IIa:

    1. Ức chế men chuyển thích hợp cho tất cả bệnh nhân STEMI và không có chống chỉ định. ( A)

    Điều tri Lipid:

    Class I:

    1. Điều trị Statin liều cao nên được khởi đầu hoặc tiếp tục ở tất cả bệnh nhân bị STEMI không có chống chỉ định ( B)

    Class IIa:

    1. Nên có xét nghiệm lipid máu nhanh chóng ở bệnh nhân bị STEMI, tốt nhất là trong vòng 24 giờ đầu của bệnh. ( C)

    Khuyến cáo điều tri shock tim:

    Class I

    1. Khuyến cáo tái lưu thông MV cấp cứu bằng PCI hoặc CABG trên BN shock tim do suy bơm sau STEMI bất kể thời gian trì hoãn từ khi NMCT.(B)
    2. Nếu không có chống chỉ định, thuốc TSH nên được dùng trên BN STEMI có shock tim không phù hợp với PCI hoặc CABG.(B)

    Class IIa

    1. Có thể sử dụng bóng nội động mạch chủ (IABP) trên BN shock tim do STEMI chậm đáp ứng với điều trị nội.(B)

    Class IIb

    1. Cân nhắc luân phiên thay thế dụng cụ trợ thất để hỗ trợ tuần hoàn trên BN shock tim kéo dài.(B)

    Xuất viện:

    Class I

    1. Chỉ định đặt ICD trước khi ra viện trên BN biểu hiện nhịp nhanh thất/rung thất tái diễn >48h sau STEMI chứng tỏ rối loạn nhịp này không phải là thoáng qua hoặc có thể phục hồi được, do nhồi máu hoặc do rối loạn điện giải.(B)

    Class I

    1. Chỉ định tạo nhịp tạm thời trên bệnh nhân nhịp chậm có triệu chứng không đáp ứng với điều trị nội.(C)

    Khuyến Cáo Xử Trí Viêm Màng Ngoài Tim Sau STEMI:

    Class I

    1. Khuyến cáo nên sử dụng ASA trong điều trị VMNT sau STEMI.(B)

    Class IIb

    1. Có thể sử dụng acetaminophen, colchicine hoặc thuốc giảm đau có nguồn gốc á phiện trong trường hợp ASA liều cao không hiệu quả.(C)

    Class III

    1. Glucocorticoids và NSAIDs có thể có hại trong điều trị VMNT sau STEMI.(B)

    Biến chửng huyết khối thuyên tắc: Khuyến cáo dùng kháng đông:

    Class I

    1. AVK nên dùng trên BN STEMI có rung nhĩ CHADS2 score >2, van tim cơ học, thuyên tắc tĩnh mạch hoặc có tình trạng tăng đông.(C)
    2. Thời gian sử dụng liệu pháp 3 thuốc chống sự thành lập huyết khối AVK, ASA và kháng thụ thể P2Y12 nên hạn chế ngắn nhất có thể để giảm thiểu nguy cơ chảy máu.(C)

    Class IIa

    1. AVK nên sử dụng trên BN STEMI với huyết khối thất trái kém di động không triệu chứng thuyên tắc.(C)

    Class IIb

    1. Cân nhắc liệu pháp kháng đông trên BN STEMI có vô động hoặc loạn động vùng mỏm tim.(C)
    2. Cân nhắc sử dụng AVK điều chỉnh INR 2-2.5 trên BN STEMI dùng ức chế tiểu cầu kép.(C)

    Khuyến cáo sử dung test không xâm lấn khảo sát thiếu máu cơ tim trước khi xuất viện:

    Class I

    1. Nên thực hiện test không xâm lấn trước khi ra viện để khảo sát sự hiện diện và lan rộng của vùng nhồi máu trên bệnh nhân chưa CMV và không có nguy cơ cao để CmV.(B)

    Class IIb

    1. Cân nhắc thực hiện test không xâm lấn trước khi ra viện để đánh giá chức năng của vùng không nhồi máu có hẹp MV trên hình ảnh CMV trước đó.(C)
    2. Cân nhắc thực hiện test không xâm lấn trước ra viện để hướng dẫn chế độ vận động sau khi ra viện.(C)

    Class I

    1. Nên đo chức năng tâm thu thất trái trên BN STEMI.(C)

    Class I

    1. Bệnh nhân với chức năng tâm thu thất trái giảm trước đây có khả năng cần đặt ICD nên được đánh giá lại EF sau > 40 ngày xuất viện.(B)

    Kế hoạch chăm sóc sau xuất viện:

    Class I

    1. Thiết kế hệ thống chăm sóc ngoại viện, hệ thống chuyển viện để ngăn ngừa tái nhồi máu cho tất cả BN STEMI.(B)
    2. Phục hồi chức năng tim mạch dựa vào chế độ vận động, kế hoạch phòng ngừa thứ phát được khuyến cáo trên tất cả BN STEMI.(B)
    3. Cung cấp kế hoạch rõ ràng, chi tiết, dựa vào y học chứng cứ để hỗ trợ điều trị thuốc, chế độ ăn và vận động hợp lý kèm kế hoạch phòng ngừa tái nhồi máu cho BN STEMI.(C)

    Khuyến Cáo Xử Trí Nhồi Máu Cơ Tim Cấp St Chênh Lên (Jacc/Aha 2013)Xem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Chỉ Định Chụp Mạch Vành
    2. Chỉ Định Siêu Âm Tim Qua Thực Quản
    3. Các Đường Mở Ngực Trong Phẫu Thuật Tim Mạch – Lồng Ngực
    4. Dò Động Mạch Vành
    5. Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em
  • Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em

    Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em

    Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em

    I. ĐÁNH GIÁ TRƯỚC MỔ VÀ CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN

    1. Đánh Giá Nội Khoa:

    – Bác sĩ gây mê cần phải nắm rõ sinh lý bệnh tim của từng bệnh nhân và loại phẫu thuật sẽ được thực hiện.

    – Hiểu biết rõ ràng về những b ất thường bẩm sinh đi kèm hoặc tình trạng nội khoa của bệnh nhân.

    – Đánh giá mức độ suy tim, tím, hoặc nguy cơ tăng áp lực động mạch phổi, các thủ thuật, phẫu thuật đã l àm trước đó .

    – Tình trạng dinh dư ống: chậm phát triển và tăng trưởng thường là dấu hiệu của bệnh tim bẩm sinh nặng (TBS).

    – Loại phẫu thuật sẽ được thực hiện

    – Cần tìm một tĩnh mạch tốt để đánh dấu trước và bôi kem gây tê tại chỗ, giúp dễ dàng cho việc đặt đường truyền tĩnh mạch khi khởi mê bằng khí mê ở trẻ nhỏ, giúp tránh sự ức chế cơ tim khi phải dùng khí mê nồng độ cao kéo dài lúc dẫn mê.

    2. Khám Tim:

    – Trẻ bị một tổn thương TBS bù trừ kém thường có những dấu hiệu của suy tim.

    – Những nguyên nhân gây ra suy tim ở trẻ em bị TBS có thể là do tăng áp lực động mạch phổi, tưới máu ngoại vi kém và tạo ra chất chuyển hóa.

    – Khó thở nhanh có thể là một trong những dấu hiệu sớm nhất của sự xuất hiện suy tim sung huyết.

    – Khám lâm sàng cần tìm kiếm những dấu hiệu khác của suy tim sung huyết, như sự bứt rứt kích thích, chảy mồ hôi, các ran phổi, tím tái, gan to, tĩnh mạch cổ nổi.

    – Đánh giá các đầu chi bao gồm đánh giá mạch nảy, huyết áp và các ngón dùi trống ở cả bốn chi.

    – Tím được nhận biết khi độ bão hòa oxy động mạch < 85% . Hemoglobin tăng, độ nhớt máu tăng và tuần hoàn bị chậm lại ở trẻ TBS tím .

    – Huyết áp khác nhau giữa các chi gợi ý đến sự hiện diện của hẹp eo ĐMC hoặc một nguồn gốc b ất thuờng của sự cung cấp máu động mạch cho một chi.

    – Trẻ có shunt Blalock-Taussig, mạch sẽ không có hoặc giảm ở cánh tay m à bên đó thông nối giữa động mạch duới đòn và động mạch phổi đã đuợc thực hiện.

    – Khám toàn diện đuờng thở trên để phát hiện những b ất thuờng có thể gây khó khăn trong việc xử trí về đuờng thở nhu vòm miệng hẹp, amygdan phì đại, lu ỡi to, và thiểu sản xuơng hàm duới.

    – Nghe phổi: độ đàn hồi phổi b ất thuờng do hậu quả của shunt trái-phải nhiều, phù phổi, suy tim sung huyết, hoặc nhiễm trùng phổi.

    – Thở khò khè xảy ra ở trẻ bị nhiễm trùng phổi, viêm tiểu phế quản, nhung cũng có thể nghe thấy khi có sự hiện diện của vòng mạch (vascular ring) hoặc mềm sụn khí quản (bronchomalacia) do sự chèn ép từ bên ngoài của phế quản.

    3. Tiền Mê:

    – Giúp trẻ an t m khi đến phòng mổ

    – Cho trẻ làm quen truớc với một số vật dụng sẽ dùng trong phòng mổ (ví dụ khẩu trang) giúp trẻ bớt sợ hãi khi vào phòng mổ

    – Cho phép trẻ mang vào phòng mổ một món đồ chơi thân thuộc và yêu thích nhất của trẻ để tăng thêm sự an tâm và hợp tác của trẻ.

    4. Thuốc An Thần, Gây Ngủ Và Giảm Đau

    – Việc lựa chọn thuốc tùy thuộc tình trạng lâm sàng và tổn thuơng ở tim.

    – Trẻ bị TBS tím có thể có giảm độ bảo hòa oxy nhiều và thoáng qua sau khi cho thuốc tiền mê.

    – Midazolam có nhiều đuờng dùng: đuờng mũi (0,2-0,3mg/kg), hậu môn (0,3-1mg/kg), đuờng miệng (0,5-0,75mg/kg), đuờng tiêm bắp (0,08mg/kg).

    – Thuốc giảm đau thuờng đuợc phối hợp với thuốc ngủ-an thần nhờ đó trẻ sẽ ngủ yên khi đến phòng mổ. Các thuốc đó bao gồm: morphine (0,1-0,2mg/kg tiêm bắp với liều tối đa l à 10mg), fentanyl (15-20mcg/kg qua niêm mạc miệng), và sufentanil (0,3-3mcg/kg đuờng mũi) .

    – Các á phiện gây ra ức chế hô hấp tùy theo liều lượng →cần chú ý đặc biệt khi có b ất cứ dấu hiệu nào của tắc nghẽn đường thở hoặc thiếu dự trữ hô hấp.

    5. Các Thuốc Khác

    – Trẻ bị một tổn thương ở tim có thể đang dùng nhiều loại thuốc khác nhau trước khi được phẫu thuật tim.

    – Digtalis sử dụng trong kiểm soát rối loạn nhịp hoặc trong suy tim sung huyết, thuốc lợi tiểu trong suy tim sung huyết, và thuốc chẹn beta để kiểm soát sự co thắt phễu động mạch phổi trong tứ chứng Fallot hoặc co thắt dưới van động mạch chủ trong bệnh hẹp dưới van động mạch chủ do phì đại vô căn .

    – Nguyên tắc chung là nếu trẻ cần một thuốc để ổn định tim mạch trong giai đoạn trước mổ thì thuốc đó cần tiếp tục cho đến lúc mổ.

    – Prostaglandine E1 (Prostine) truyền tĩnh mạch (0,05-0,1mcg/kg/phút) thường được dùng với những bệnh tim lệ thuộc ống động mạch như teo van động mạch phổi (pulmonary atresia) có kèm hoặc không kèm thông liên th t, teo van ba lá (tricuspid atresia), hội chứng thiểu sản thất trái, đứt đoạn cung động mạch chủ, hoặc hẹp eo động mạch chủ nặng.

    – Ba tác dụng phụ thường gặp của prostaglandine E1 l à ngưng thở (12%), sốt (14%), và phù (10%). Những tác dụng phụ khác ít gặp hơn l à nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim chậm, tụt huyết áp, và ngừng tim.

    6. Nhịn Ăn Uống Trước Mổ

    – Khuynh hướng hiện nay cho phép cung cấp dịch qua đường miệng với dịch trong cho đến 2 giờ trước mổ. Trẻ sinh non và trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi có dự trữ glycogen thấp, nên được nuôi ăn bằng dịch trong (nước ép táo, nước đường, nước) cho đến 2 giờ trước mổ để tránh bị hạ đường huyết.

    – Lợi ích: tránh tụt huyết áp gây ra bởi thuốc mê do thiếu thể tích tuần hoàn tương đối.

    – Trường hợp ca mổ chương trình bị trì hoãn, chúng ta có thể đặt một đường truyền tĩnh mạch và một lượng dịch thích hợp sẽ được truyền trước khi dẫn mê.

    – Dựa trên y học bằng chứng, Hiệp Hội các bác sĩ gây mê Mỹ (ASA task Force) đưa ra các khuyến cáo về việc nhịn ăn uống: dịch trong: 2 giờ; sữa mẹ: 4 giờ; sữa công thức: 6 giờ; và thức ăn đặc (solids): 8 giờ.

    II. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶC BIỆT TRONG GIAI ĐOẠN CHU PHẪU CẦN QUAN TÂM

    1. Tím:

    – Trẻ TBS tím được bù trừ với tình trạng thiếu oxy mãn tính bằng sự gia tăng hồng cầu, tăng thể tích máu, dãn mạch và những sự điều chỉnh về chuyển hóa của các yếu tố như 2,3 – diphosphoglycerate (2,3-DPG) để giúp cho việc cung cấp oxy cho mô tốt hơn .

    – Sự gia tăng độ nhớt máu với đa hồng cầu dẫn đến sự tăng kháng lực và máu di chuyển chậm dẫn đến huyết khối ở thận, phổi và não, đặc biệt ở bệnh nhi bị thiếu nước . Do đó tránh nhịn ăn uống kéo dài trước và sau mổ trên các trẻ bị đa hồng cầu, trừ khi việc cho dịch bằng đường tĩnh mạch được cung cấp đầy đủ.

    – Kháng lực mạch máu phổi tăng nhiều hơn kháng lực mạch máu hệ thống khi hematocrite tăng lên, làm giảm lưu lượng máu lên phổi trên những trẻ đã có tuần hoàn phổi bị hư hại.

    – Rối loạn đô ng máu thường gặp ở trẻ bị TBS tím và có thể ảnh hưởng xấu trên việc cầm máu ngoại khoa . Khi hematocrite tăng trên 65%, độ nhớt máu quá cao sẽ làm tổn hại sự tưới máu vi tuần hoàn.

    2. Shunt Trong Tim:

    2.1 Shunt Phụ Thuộc Và Shunt Bắt Buộc

    – Sự phân biệt giữa các shunt phụ thuộc và shunt bắt buộc rất có ích để hiểu được sự kiểm soát các shunt trong tim.

    ✓ Shunt phụ thuộc là những shunt mà kích thước và chiều hướng của shunt qua các lỗ thông b ất thường ở tim phụ thuộc vào mối tương quan giữa kháng lực mạch máu phổi (PVR) và kháng lực mạch máu hệ thống (SVR) và vì vậy chúng thay đổi.

    – Shunt phụ thuộc xảy ra giữa hai c ấu trúc có AL gần bằng nhau hoặc ít nhất là có cùng một mức biên độ.

    – Shunt phụ thuộc bao gồm ống động mạch, thông liên nhĩ đơn thuần hoặc thông liên thất đơn thuần, cửa sổ phế chủ, hoặc những shunt hệ thống-động mạch phổi khác ví dụ như shunt Blalock-Taussig.

    ✓ Shunt bắt buộc tương đối độc lập với mối tương quan giữa PVR và SVR.

    – Các kháng lực có khuynh hướng cố định và lưu lượng máu xảy ra giữa các c ấu trúc có áp lực khác nhau.

    – Shunt bắt buộc xảy ra giữa thất trái và nhĩ phải trong kênh nhĩ thất chung và giữa các động mạch và tĩnh mạch hệ thống trong các dò động-tĩnh mạch ngoại vi.

    – Những dạng đặc biệt của shunt bắt buộc xảy ra trong bệnh tim phức tạp khi sự tắc nghẽn bán phần hay toàn phần xảy ra cùng với các thông thương giữa các buồng tim.

    – Trong teo van ba lá hoặc teo van hai lá, shunt bắt buộc hiện diện giữa các tâm nhĩ bởi v kh ng c đường thoát của nhĩ ở phía van bị teo.

    – Tương tự, trong teo van động mạch chủ hoặc động mạch phổi, shunt bắt buộc hiện diện giữa các t m nhĩ hoặc giữa các tâm th t v kh ng c đường thoát của th t.

    2.2 Shunt Hạn Chế (Restrictive Shunts)

    – Khi các lỗ thông nhỏ, kích thước của lỗ thông tự nó làm hạn chế shunt và sự tương quan giữa PVR và SVR trở nên ít quan trọng trong việc xác định lượng máu qua shunt.

    – Đ ó là tình huống trẻ bị bệnh tim nhẹ không có triệu chứng hoặc có triệu chứng ít, ví dụ như thông liên nhĩ nhỏ, thông liên thất nhỏ, hoặc cn ống động mạch nhỏ.

    – Shunt không hạn chế (nonrestrictive shunts) là một shunt mà ngang qua đó không có độ chênh về áp lực. Chiều hướng và mức độ của shunt được quyết định bởi độ đàn hồi tương đối của các tâm nhĩ hoặc tâm thất.

    2.3 Shunt Phụ Thuộc Trong Quá Trình Gây Mê.

    – Mục tiêu chính của gây mê là bảo vệ sự cân bằng của shunt hiện hữu bằng cách điều chỉnh SVR và PVR.

    – Shunt phụ thuộc: chiều hướng và lượng máu của shunt trong tim được quyết định bởi huyết động tuần hoàn.

    – Kiểm soát huyết động để giảm thiểu shunt là một mục tiêu lớn của xử trí gây mê. Dòng máu qua shunt ở trường hợp này tùy thuộc vào mối tương quan giữa PVR và SVR, xử trí gây mê tập trung ở việc kiểm soát các kháng lực mạch máu liên quan.

    ✓ Shunt phụ thuộc phải-trái → làm giảm SVR hoặc tăng PVR sẽ làm tăng shunt nhiều hơn .

    ✓ Shunt phụ thuộc trái-phải →làm tăng SVR hoặc giảm PVR sẽ làm tăng shunt nhiều hơn

    ✓ Shunt hai chiều hoặc có shunt cân bằng → b ất cứ sự thay đổi nào về SVR hoặc PVR sẽ làm tăng shunt đi từ phía có kháng lực mạch máu cao.

    – Sự gia tăng cấp tính của shunt trái-phải trong lúc gây mê có một tầm quan trọng trên lâm sàng trong nhiều tình huống.

    Một sự “ăn cắp” máu hệ thống bởi tuần hoàn phổi có thể xảy ra trong những tình huống như kênh nhĩ thất, thân chung động mạch, và hội chứng thiểu sản tim trái.

    Shunt trái-phải thường dung nạp tốt, ngoại trừ sự ăn cắp máu của tuần hoàn phổi dẫn đến tụt huyết áp hệ thống, làm tăng tình trạng toan máu hoặc giảm tưới máu mạch vành.

    Shunt phải- trái, gây giảm độ bảo hòa oxy động mạch, thường gây ra vấn đề nhiều hơn trong quá trình gây mê.

    Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Kháng Lực Mạch Máu Phổi Và Mạch Máu Hệ Thống:

    Các yếu tố làm tăng kháng lực mạch máu phổi (PVR) PEEP

    Áp lực đường thở cao Giảm oxy mô , tăng thán khí Toan máu Hematocrite tăng Catecholamine

    Các yếu tố làm giảm PVR Áp lực đường thở th p Không có PEEP Fi02 cao

    Kiềm máu, giảm thán khí Hematocrite th p Đáp ứng với stress bị loại bỏ Nitric oxide (tác dụng đặc hiêu)

    Thuốc dãn mạch (tác dụng kh ng đặc hiệu)

    Các yếu tố làm tăng kháng lực mạch hệ thống (SVR) Thuốc co mạch

    Các thao tác trực tiếp

    Các yếu tố làm giảm SVR Thuốc dãn mạch

    3. Rối Loạn Đông Máu

    Chức năng đông máu bị rối loạn sau THNCT ở trẻ nhỏ và trẻ em . Rối loạn đông máu do nhiều yếu tố, mất máu là vấn đề quan trọng ở trẻ em nhiều hơn ở người lớn, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

    Do hậu quả của việc tổng hợp các yếu tô đông máu chưa trưởng thành, sử dụng heparin liều cao, sự pha loãng máu sau THNCT dẫn đến pha loãng nồng độ các yếu tố đông máu, fibrinogen giảm còn 50% và tiểu cầu giảm còn 30% so với nồng độ trước khi chạy THNCT. Khi sinh, nồng độ các yếu tố đông máu lệ thuộc vitamin K ở trẻ sơ sinh đủ tháng chỉ bằng 40-60% giá trị của người lớn . Do đó , khi kết thúc THNCT ở trẻ sơ sinh, các yếu tố đông máu thường rất thấp, nồng độ fibrinogen thường dưới 100mg/dl và số lượng tiểu cầu có thể thấp khoảng 50.000-80.000/mm3 . Không những giảm về số lượng m cả về ch t lượng T

    4. Chiến Lược Giảm Chảy Máu Sau THNCT

    – Tiểu cầu nên được dùng đầu tiên để điều trị rối loạn đông máu sau THN C T ở trẻ em . Chỉ định truyền tiểu cầu nếu vẫn còn chảy máu và số lượng TC < 100 000/mm3.

    – Cần dự trù truyền yếu tố kết tủa lạnh (cryoprecipitate), bởi vì nếu tiểu cầu giảm, các yếu tố quan trọng khác như fibrinogen (II) và yếu tố VII cũng sẽ giảm. Với nồng độ cao fibrinogen, cryoprecipiate chứa nồng độ cao yếu tố VIII và yếu tố von Willebrand cũng như yếu tố XIII.

    – Sử dụng huyết tương tươi đông lạnh (PFC) ở trẻ em có thể gây ra sự pha loãng máu quá mức và không có bằng chứng là PFC có hiệu quả trong việc điều trị loại rối loạn đ ng máu n y

    Thuốc Chống Tiêu Sợi Huyết

    – Các thuốc chống tiêu sợi huyết được sử dụng trong phẫu thuật tim nhi bao gồm £-aminocaproic acid (EACA), tranexamic acid (TA), và aprotinin.

    – EA CA và TA đều là những đồng phân lycine đã được chứng minh là làm giảm chảy máu sau mổ tim ở người lớn và trẻ em. Các chất này không có hoạt tính kháng viêm và liều dùng trong phẫu thuật tim nhi chưa được xác định rõ ràng.

    – Liều lượng (coi phần trên)

    Siêu Lọc

    – Siêu lọc là một tiến trình để lấy các chất được lọc từ bệnh nhi trong và sau THNCT.

    – Lợi ích: tăng hematocrite, c ô đặc các yếu tố đông máu và T C , làm tăng HA và làm giảm kháng lực mạch máu phổi, và lấy đi các chất trung gian gây viêm trong dịch lọc.

    – Siêu lọc đã được chứng minh có hiệu quả giảm chảy máu sau mổ tim ở trẻ em.

    III. MONITORING

    • Độ bão hòa oxy mạch nảy đặc biệt quan trọng khi theo dõi ở trẻ bệnh TBS và ít nhất hai cảm biến (capteurs) được đặt ở hai chi khác nhau trong trường hợp một cảm biến có thể kh ng đo được trong quá trình phẫu thuật.

    – Ở trẻ TBS tím, độ bão hòa oxy mạch nảy có thể đánh giá cao hơn độ bão hòa oxy

    động mạch khi độ bão hòa giảm xuống. Sai số này càng nhiều hơn khi có giảm oxy máu nặng.

    – Khi theo dõi bệnh nhân có shunt qua ống động mạch, một cảm biến phải được đặt

    ở ngón tay bên phải để đo sự cung cấp oxy trước ống động mạch và một cảm biến thứ hai phải được đặt ở ngón chân hoặc bàn chân để đo sự cung cấp oxy sau ống động mạch (trẻ có cung động mạch chủ bên trái nên được đặt cảm biến ở ngón tay bên trái).

    Trẻ được phẫu thuật sửa chữa hẹp eo động mạch chủ nên được theo dõi bằng độ bão hòa oxy mạch nảy ở tay bên phải v đ l kiểm báo đáng tin cậy duy nh t trong lúc sửa chữa, v phải đặt cả hai brassard đo huyết áp động mạch không xâm l n trước và sau hẹp eo động mạch chủ.

    • Theo dõi áp lực cuối kỳ thở ra của CO2 (PETCO2) có giá trị cho phần lớn trẻ em, tuy nhiêu PETCO2 không chính xác trong các bệnh nhân tím vì sự kh ng tương thích giữa Thông khí v tưới máu trên các bệnh nhân này. Phân tích khí máu động mạch là chính xác nh t để đánh giá Thông khí v sự trao đổi oxy.
    • Theo dõi nồng độ canxi ion hóa trong máu động mạch là rất quan trọng trong lúc mổ tim hoặc trong các phẫu thuật khác mà sử dụng một lượng máu lớn chứa citrate truyền nhanh. Trẻ sơ sinh rất dễ bị rối loạn nồng độ canxi ion hóa khi truyền máu chứa citrate và những trẻ có dự trữ tim hạn chế dung nạp kém với canxi ion hóa trong máu thấp do tác động của citrate trên cơ tim nhạy hơn .
    • Theo dõi nhiệt độ trong lúc chạy THNCT là một hướng dẫn quan trọng cho việc làm lạnh não thích hợp và làm ấm thích hợp trước khi ngưng c E c . Vì không thể đo nhiệt độ não trực tiếp, những vị trí đo nhiệt độ khác được sử dụng thay thế như m àng nhĩ, thực quản, hậu môn. Trong số đó nhiệt độ thực quản phản ánh nhiệt độ thật của não tốt nh t, còn vị trí m ng nhĩ v hậu môn phản ánh cao hơn nhiệt độ của não. Nhiệt độ hậu môn là một chỉ dẫn có ích trong giai đoạn làm ấm.
    • Sau khi dẫn mê, đặt catheter động mạch quay, ĐM đùi, ĐM nách . . . thường được sử dụng . Nên tránh động mạch cánh tay vì đó l à một động mạch tận cùng.
    • catheter TM trung tâm thường được đặt qua da ở tĩnh mạch cảnh trong hoặc tĩnh mạch dưới đòn . Biến chứng : tràn khí màng phổi, chảy máu và tạo thành cục máu tụ sau khi chích nhầm vào động mạch lớn. Ngày nay kỹ thuật đặt catheter TM trung t m dưới hướng dẫn của siêu âm ngày càng nhiều, giúp giảm các biến chứng này và tăng tỉ lệ thành công. Ở những trẻ có thông liên nhĩ hoặc thông liên thất lớn, kể cả tim một thất hoặc một nhĩ, áp lực tĩnh mạch trung tâm bằng với áp lực l àm đầy thất trái . Lưu ý nên đặt catheter ở tĩnh mạch đùi cho các trẻ TBS 1 th t độc nh t cần thực hiện PT Fontan v việc đặt catheter v o các mạch máu dẫn về tĩnh mạch chủ trên c nguy cơ h nh th nh huyết khối trong tĩnh mạch chủ trên, là một biến chứng nặng nề ở những trẻ này.

    Siêu Âm Tim Qua Thực Quản

    Trong phẫu thuật tim nhi, siêu âm tim qua thực quản thường do bác sĩ tim mạch nhi thực hiện do tính chất phức tạp của tổn thương bẩm sinh cũng như sự khó khăn trong việc đánh giá chính xác các tổn thương v việc sửa chữa các tổn thương n y

    Các thông tin do siêu âm tim qua TQ cung c p gồm hai loại:

    – Đánh giá và theo dõi huyết động: chức năng t âm thất và sự đổ đầy

    – Thông tin về chẩn đoán c ấu trúc: xác nhận hoặc phủ nhận những thông tin trước mổ và đánh giá kết quả sửa chữa phẫu thuật sau khi ngưng THN c T .

    IV. CÁC GIAI Đ OẠN GÂY MÊ CHO PHẪU THUẬT TIM BẨM SINH Ở TRẺ EM

    1. Dẫn Mê

    Dẫn mê có thể bằng khí mê hoặc bằng thuốc mê tĩnh mạch. Nếu đã có sẵn đường truyền tĩnh mạch, dẫn mê bằng đường tĩnh mạch sẽ được ưu tiên chọn lựa.

    Việc kem bôi tê tại chỗ (như EMLA hoặc Ametop) để giảm đau khi đặt đường truyền TM và chỉ cần một độ mê nông trong lúc cho dẫn mê hô hấp để chích tĩnh mạch.

    Sevoflurane được lựa chọn hàng đầu để dẫn mê ở trẻ em vì vị ngọt, êm ái và nhanh .

    TBS tím với shunt phải-trái, dẫn mê thể khí sẽ chậm hơn nhiều so với ở trẻ TBS shunt T-P, không bị tím.

    Ở trẻ bị bệnh tim nặng, nên chọn dẫn mê tĩnh mạch. Ví dụ trẻ sơ sinh bị hẹp eo động mạch chủ hoặc bị hội chứng thiểu sản tim trái, có thể dẫn mê bằng á phiện (fentanyl 2-3 gg/kg) kết hợp với thuốc ngủ/an thần liều rất thấp (sevoílurane hoặc isoílurane) và thuốc dãn cơ

    Ở trẻ lớn hơn có thể dẫn mê với etomidate vì giúp huyết động ổn định

    Ketamine có thể dùng để dẫn mê ở trẻ sơ sinh và trẻ em, duy trì hoặc làm tăng huyết áp, nhịp tim và cung lượng tim, nhưng không nên sử dụng ở trẻ bệnh tim nặng hoặc hẹp van động mạch chủ. Ketamine có thể cho đường tiêm bắp hoặc đường uống nên có ích trong trường hợp đặt đường tĩnh mạch kh khăn

    Sevoílurane có tác dụng có lợi khác là gây ra sự tiền thích nghi (ischemic preconditioning) đối với thiếu máu, cho tim và cả các cơ quan khác đặc biệt là não và thận: nghiên cứu ở người lớn, cho sevoflurane 4% trong 10 phút trước khi kẹp động mạch chủ giúp làm giảm mức độ rối loạn chức năng cơ tim và tổn thương thận sau mổ. Ở trẻ em người ta nghĩ rằng sevoflurane cũng có tác dụng tương tự.

    2. Duy Trì Mê

    Mục đích duy trì ổn định huyết động và gây mê, loại bỏ đáp ứng với stress liên quan đến rạch da, cưa xương ức và phẫu thuật bóc tách các mạch máu lớn, và bắt đầu THNCT.

    Tùy vào sự dung nạp của mỗi bệnh nhân và kế hoạch xử trí về hô hấp sau mổ, có thể duy trì mê bằng khí mê, cho thêm thuốc á phiện, hoặc thuốc mê tĩnh mạch khác.

    Nếu chọn thuốc mê chính yếu là á phiện, thì cần cho lại á phiện khi bắt đầu THN c T để bù trừ lại sự pha loãng á phiện trong dịch mồi và duy trì nồng độ á phiện trong máu.

    Trẻ em cũng có nguy cơ thức tỉnh trong lúc mổ tim như ở người lớn. Phòng ngừa thức tỉnh bằng cách cho isoílurane hoặc sevoílurane qua bộ phận trao đổi oxy dạng màng của THNCT với bình bốc hơi khí mê, hoặc cho midazolam tiêm tĩnh mạch 0,2mg/kg.

    3. Bắt Đầu Và Ngưng THNCT

    Tăng huyết áp và tụt huyết áp có thể xảy ra do THNCT. Kiểm soát huyết áp trong giới hạn bình thường bằng cách dùng ức chế hoặc vận a-adrenergic: phenylephrine để làm tăng huyết áp và phentolamine để làm giảm huyết áp.

    Dung dịch liệt tim được cho sau khi kẹp động mạch chủ để làm ngừng tim và bảo vệ tim trong giai đoạn thiếu máu.

    Cho lại dung dịch liệt tim mỗi 15-20 phút tùy theo mức hạ nhiệt độ.

    Nếu phẫu thuật được thực hiện trong lúc tim đập thì không cần cho dung dịch liệt tim.

    Tổn thương cơ tim tùy thuộc thời gian kẹp ĐM c và hiệu quả bảo vệ cơ tim .

    Sau khi mở kẹp ĐM c , việc tưới máu cho tim được phục hồi, tim sẽ bắt đầu đập lại với nhịp xoang mặc dù không phải lu n như vậy.

    Bloc tim với những mức độ khác nhau thường gặp sau mổ tim và có thể là hậu quả của tổn thương hệ thống dẫn truyền trong lúc mổ.

    Sau khi thả kẹp ĐMC , bắt đầu thuốc tăng co bóp cơ tim hoặc thuốc dãn mạch nếu cần.

    Việc làm ấm bệnh nhân có thể đã được bắt đầu trước khi thả kẹp ĐM c .

    Trong giai đọan làm ấm, thường cần phải tăng thuốc mê: tăng tốc độ truyền tĩnh mạch thuốc ngủ hoặc tăng nồng độ khí mê.

    Ngưng THNCT khi:trẻ đã được làm ấm đầy đủ với nhiệt độ lõi bình thường vàsự khác biệtnhỏ giữa nhiệt độ lõi và nhiệt độ ngoại vi, chức năng tim tốt, phổi được thông khí đầy đủ, thuốc tăng co b p cần thiết đã được bắt đầu.

    Nếu đầu dò siêu âm qua thực quản: kiểm tra khí trong tim để đuổi sạch khí trước khi ngưng THNCT

    Ngay sau khi ngưng THNCT, có thể bù dịch thêm qua canule ĐMC dưới đánh giá trực tiếp của PTV hoặc bác sĩ gây mê

    Siêu âm tim qua thực quản đánh giá kết quả phẫu thuật.

    Nếu kết quả tốt, PTV sẽ yêu cầu cho protamine: lúc này bác sĩ THNCT và ekip phẫu thuật cần đuợc thông báo về việc cho protamine để PTV ngung hút máu từ phẫu truờng và bác sĩ THNCT ngung tất cả các bơm hút máu về→để đảm bảo protamine không đi vào trong hệ thống THNCT trong truờng hợp phải chạy lại THNCT vì b ất cứ lý do gì.

    Kiểm tra lại ACT cùng với khí máu động mạch: ACT phải trở về giá trị truớc khi chạy THNCT.

    Chỉ nên truyền các chế phẩm máu nếu có chỉ định sau khi đã cho protamine xong .

    Sau khi đã đóng ngực xong, trẻ sẽ đuợc chuyển đến phòng hồi sức tim tích cực.

    4. Qui Trình Vận Chuyển Và Bàn Giao Bệnh Nhân Tại Phòng SSĐB

    Sau mổ, bệnh nhi cần đuợc chăm s ó c đặc biệt trong một thời gian . Giai đoạn đầu tiên của việc chăm sóc này là vận chuyển các bệnh nhi từ phòng mổ về khu chăm sóc hồi sức tích cực (PICU) sau mổ. Quá trình chuyển bệnh này cũng có nhiều nguy cơ ảnh huởng đến bệnh nhi. Vì vậy cần phải đuợc tổ chức tốt, không những có những thiết bị phù hợp mà còn cả tinh thần làm việc theo nhóm. Những huớng dẫn duới đây cho việc vận chuyển bệnh nhi đuợc an toàn đuợc thực hiện tại Viện Tim TP HCM:

    Chuẩn Bị

    Thông báo cho khu Hồi sức để chuẩn bị khi đã dự kiến đuợc thời gian bệnh nhi sắp đuợc mổ xong và sắp đuợc chuyển sang khu hồi sức. Một phiếu báo bệnh đuợc chuyển truớc cho khu Hồi sức để giúp chuẩn bị tốt hơn bao gồm các Thông tin nhu: tuổi, cân nặng của bệnh nhi, thông số c ài đặt máy thở, số luợng các loại bơm tiêm điện, hay các thiết bị hỗ trợ khác (VD: E C MO)…

    Khu hồi sức sẽ chuẩn bị sẵn sàng giuờng hoặc nôi, máy thở, thiết bị theo dõi hoặc các thiết bị hỗ trợ khác phù hợp với từng loại bệnh nhi theo phiếu báo bệnh.

    Vận chuyển

    Nhóm vận chuyển bao gồm bác sĩ, kỹ thuật viên, điều dưỡng theo sát bệnh nhi với các thiết bị theo dõi tối thiểu đi kèm như EC G, SpO2.

    Đảm bảo đủ nguồn cung cấp oxy, các thiết bị nhu bơm tiêm điện, ECMO vẫn hoạt động liên tục khi ngắt nguồn điện.

    Ổn định và bàn giao

    Bàn giao các thiết bị: Đảm bảo thiết bị theo dõi được kết nối thích hợp, máy thở hoạt động tốt và thông khí cho bệnh nhi đầy đủ, các máy bơm tiêm điện hay thiết bị hỗ trợ khác vẫn hoạt động liên tục tại khu Hồi sức . c ác đường tiêm truyền vào bệnh nhi có thể bơm truyền thuốc dễ dàng.

    Bàn giao thông tin về bệnh: Bác sĩ gây mê sẽ b àn giao cho bác sĩ hồi sức những thông tin cơ bản về diễn tiến cuộc mổ, phương pháp can thiệp, các loại thuốc sử dụng.

    V. KIỂM SOÁT KHÁNG LỰC MẠCH MÁU HỆ THỐNG VÀ KHÁNG LỰC MẠCH MÁU PHỔI TRONG LÚC GÂY MÊ

    Ở một số trẻ bị hội chứng thiểu sản tim trái được làm phẫu thuật Norwood, lượng máu lên phổi quá nhiều do kháng lực mạch máu phổi tương đối thấp và kháng lực mạch máu hệ thống tương đối cao ‘ăn cắp” máu từ tuần hoàn hệ thống, dẫn đến tụt huyết áp, thiếu máu cơ tim, v toan máu tiến triển.

    Ngược lại nếu PVR tương đối cao so với SVR, trẻ sẽ bị giảm độ bảo hòa oxy tiến triển Sinh lý bệnh tương tự xảy ra với những tuần hoàn phụ thuộc vào ống động mạch và những tổn thương có shunt khác

    Việc kiểm soát PVR và SVR khó tiên lượng trước được vì việc kiểm soát PVR không được hiểu rõ, các thuốc vận mạch thường được phân bố đến cả hai phía của tuần hoàn, những cố gắng bằng dược lý để làm thay đổi dòng máu qua shunt đã đưa đến những kết quả không tiên liệu được.

    Nhiều kỹ thuật đã được chứng minh hữu ích trong việc kiểm soát PVR và SVR tương đối.

    Thuốc mê hô hấp làm giảm SVR nhiều hơn là PVR.

    PVR giảm xuống bằng cách tăng oxy hít vào lên 100% và tăng thông khí đến pH 7,6 hoặc cao hơn

    Áp lực dương cuối kỳ thở ra, toan máu, hạ thân nhiệt, và việc cho thở khí 02 hít vào 30% hoặc thấp hơn cơ thể làm tăng PVR

    Thuốc co mạch như phenylephrine làm tăng SVR nhiều hơn PVR và vì vậy có hiệu quả cấp tính trong việc làm giảm shunt phải-trái và l àm tăng shunt trái-phải trong phòng mổ. Trong lúc mổ tim, một phương pháp trực tiếp để l àm tăng một cách chọn lọc PVR hoặc SVR đề nghị phẫu thuật viên đặt một garrot để chẹn bán phần xung quanh động mạch phổi hoặc động mạch chủ để l m tăng kháng lực, nhờ đ lượng máu đi đến phía đối diện của tuần hoàn sẽ tăng lên

    VI. CÁC THUỐC GÂY NGỦ, AN THẦN , GIẢM ĐAU SỬ DỤNG TRONG GÂY MÊ MỔ TIM TRẺ EM

    Một số thuốc gây mê thường quy được sử dụng cho bệnh nhi tại Viện Tim TP HCM để thực hiện các loại phẫu thuật tim, thông tim can thiệp và phục vụ chẩn đoán (C T Scan, MRI) bao gồm các thuốc mê bốc hơi, thuốc mê tĩnh mạch và các loại thuốc gây tê khác. Mục tiêu của các thuốc là cung cấp an thần, gây mê đủ sâu trong khi vẫn đảm bảo cung cấp oxy đầy đủ và giữ được cung lượng tim.

    1. Thuốc Mê Bốc Hơi: Sevoflurane

    Thường được chọn lựa để dẫn đầu cho bệnh nhi bệnh tim bẩm sinh.

    Một số lợi điểm khi gây mê bằng Sevoflurane là ít gây ức chế cơ tim, ít rối loạn nhịp, huyết động ổn định và không làm xáo trộn các shunt phải – trái ở bệnh nhi Thông liên thất, Thông liên nhĩ khi thông khí tiêu chuẩn với FiO2 100%.

    Cần chú ý khi sử dụng Sevoflurane trong các trường hợp đặc biệt như hẹp đường thoát tâm thất nặng hoặc rối loạn dẫn truyền điện tim.

    Liều lượng: MAC 1,0 – 1,5.

    2. Thuốc Mê Tĩnh Mạch: Midazolam

    Thường dùng để an thần, phối hợp thêm với Fentanyl hoặc Sulfentanil để giảm liều thuốc mê, đặc biệt trong những trường hợp bệnh nhi có huyết động không ổn định

    Liều lượng:

    An thần: 0,1- 0,2 mg/kg chích tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, có thể tăng lên 0,5 mg/kg nếu trẻ khỏe. Nếu dùng qua đường nhỏ mũi, liều 0,2 mg/kg và có thể lặp lại sau 10 phút nếu cần.

    An thần khi thở máy, bolus 0,1mg/kg, truyền tĩnh mạch liên tục50-80 pg/kg/h.

    Liều trong gây mê tĩnh mạch: bolus chậm 0,05- 0,1mg/kg, sau đó duy trì bơm tiêm điện 0,1-0,3mg/kg/giờ.

    Propofol

    Propofol có thể được sử dụng ở những bệnh nhi với chức năng dự trữ tim mạch còn bảo tồn và có thể chịu đựng được một sự giảm nhẹ khả năng co bóp, nhịp tim và SVR.

    Propofol có thể làm tăng shunt phải – trái trong tim và đảo ngược shunt này ở một số bệnh nhân (tứ chứng Fallot) vì vậy khi sử dụng gây mê cho bệnh nhi để đo các thô ng số trong thông tim can thiệp cần phải chú ý và phân tích chính xác.

    Ketamine

    Là thuốc có thể cho chọn lựa để dẫn đầu gây mê bằng đường tĩnh mạch hoặc tiêm bắp ở những bệnh nhi có khả năng dự trữ huyết động tốt hoặc trung bình, bao gồm cả bệnh nhân tăng áp lực động mạch phổi hoặc tím.

    Ở những bệnh nhi chức năng dự trữ tim mạch kém và khả năng co bóp cơ tim bị ức chế cần cẩn thận khi sử dụng Ketamine.

    Liều lượng:

    An thần, giảm đau: 2 – 4 mg/kg tiêm bắp, duy trì truyền tĩnh mạch 4 pg/kg/phút.

    Gây mê: 5 – 10 mg/kg tiêm bắp hoặc 1 – 2 mg/kg tiêm tĩnh mạch, duy trì truyền tĩnh mạch 10 – 40 pg/kg/phút.

    Lưu ý phải phối hợp thêm với midazolam để tránh tình trạng ảo giác, kích động khi thức tỉnh

    Dexmedetomidine

    Được sử dụng trong gây mê trong thời gian gần đây.

    Thuốc tác động chọn lọc trên thụ thể a2 – adrenergic, nên có tác dụng an thần, gây hạ huyết áp và chậm nhịp tim do tác dụng trên hệ thần kinh giao cảm.

    Liều lượng:

    An thần tại hồi sức: 0,3-1 [T g/kg chích tĩnh mạch trong 15 phút sau đó truyền tĩnh mạch 0,2 – 0,7 pg/kg/giờ và tối đa là 24 giờ.

    3.Thuốc Giảm Đau

    Paracetamol

    Tác dụng giảm đau tốt.

    Thường dùng để giảm đau sau mổ, phối hợp để giảm liều thuốc nhóm narcotic.

    Liều lượng: 15 mg/kg/6h. Nếu trẻ nhỏ hơn 10kg: 7,5mg/kg/8h .

    Liều tối đa, dù cho bằng đường nào không được quá 100mg/kg/ngày ở trẻ em, 75mg/kg/ngày ở trẻ nhỏ, 60mg/kg/ngày ở trẻ sơ sinh đủ tháng hay thiếu tháng lớn hơn 32 tuần sau thụ thai, 40mg/kg/ng ày đối với trẻ sinh non nhỏ hơn 32 tuần sau thụ thai.

    Morphine

    Dùng phối hợp với thuốc tê để giảm liều và kéo dài tác dụng trong gây tê xương cùng hoặc gây tê ngoài màng cứng.

    Giảm đau tĩnh mạch trong giai đoạn thở máy:

    Trẻ sơ sinh: 10 – 30 pg/kg/giờ

    Trẻ lớn: 20 – 60 pg/kg/giờ

    Fentanyl Và Sufentanil

    Cung cấp gây mê tốt với huyết động ổn định, ít gây thay đổi nhịp tim và huyết áp.

    Mặc dù những opioid này có thể làm giảm phân suất tống máu sau khi dẫn mê, nhưng có thể trở lại bình thường hoặc cao hơn sau khi đặt ống nội khí quản.

    Liều lượng trong gây mê:

    Sufentanil: bolus 1-5pg/kg, duy trì: 0,01-0,05pg/kg/phút Fentanil: bolus 1-10pg/kg, duy trì: 0,1-0,2pg/kg/phút

    4. Thuốc Giãn Cơ

    Thuốc giãn cơ không khử cực, tác dụng ngắn, ít ảnh hưởng đến tim mạch.

    Rocuronium : Đặt nội khí quản: 0,6 – 1,2 mg/kg; Liều lặp lại: 0,1 – 0,2 mg/kg hoặc duy trì liên tục: 5 -15 pg/kg/phút

    5. Thuốc Tê

    Levobuvipacain, Buvipacain, Ropivacain Dùng gây tê xương cùng hoặc ngoài màng cứng.

    Liều lượng: 2 mg/kg trong mổ, duy trì tại hồi sức 0,25 mg/kg/giờ.

    VII. CÁC BỆNH LÝ TIM BẨM SINH

    Các bệnh tim bẩm sinh sau đây đã được Khoa Gây mê Viện Tim TP HCM thực hiện đảm bảo an toàn cho quá trình phẫu thuật sửa chữa các tổn thương .

    1. Bệnh tim có Shunt Trái – Phải đơn giản: Tăng lưu lượng máu phổi
    • Thông liên nhĩ
    • Thông liên thất
    • Còn ống động mạch
    • Kênh nhĩ thất
    • Cửa sổ phế chủ
    1. Bệnh tim có Shunt Phải – Trái đơn giản: Giảm lưu lượng máu phổi gây tím
    • Tứ chứng Fallot
    • Teo van động mạch phổi
    • Teo van ba lá
    • B ất thường Ebstein
    1. Bệnh tim có shunt phức tạp: trộn lẫn lưu lượng máu phổi và lưu lượng máu hệ thống gây tím
    • Chuyển vị đại động mạch
    • Thân chung động mạch
    • Hồi lưu tĩnh mạch phổi b ất thường hoàn toàn
    • Thất phải hai đường ra
    • Hội chứng thiểu sản tim trái
    1. Bệnh tim với những tổn thương gây tắc nghẽn
    • Hẹp van động mạch chủ
    • Hẹp van hai lá
    • Hẹp van động mạch phổi
    • Hẹp eo cung động mạch chủ
    • Đứt đoạn cung động mạch chủ

    VIII. NGUYÊN TẮC GÂY MÊ CHO B ỆNH TIM BẨM SINH CÓ SHUNT TRÁI – PHẢI

    Đặc Điểm Lâm Sàng Chung

    • Tăng lưu lượng máu phổi . Đối với những shunt lớn, có thể làm tăng gấp 3 – 4 lần lưu lượng máu phổi bình thường, dẫn đến quá tải tim phải. Hậu quả l à dãn nhĩ phải, phì đại thất phải, hở van ba lá, hở van động mạch phổi.
    • Những biểu hiện l âm sàng thường gặp do suy tim ở trẻ: tăng c ân chậm, ăn uống kém, khó thở, hay viêm phổi tái phát, nhịp tim nhanh, âm thổi tim, gan lớn, tim lớn, tăng tuần hoàn phổi, thở khò khè…
    • Điều trị nội khoa trước mổ: lợi tiểu (đôi khi) kết hợp với digoxin. Nếu không can thiệp phẫu thuật, lưu lượng máu phổi nhiều l m tăng áp lực động mạch phổi và nếu kéo dài sẽ dẫn đến đảo ngược luồng shunt (hội chứng Eisenmenger) gây tím, không còn chỉ định phẫu thuật.
    • Điều trị ngoại khoa có xu hướng xử trí sớm những trẻ trong nhóm bệnh này để giảm nguy cơ tổn thương không hồi phục hệ động mạch phổi . Trong trường hợp trẻ quá nhỏ chưa thể phẫu thuật triệt để có thể phẫu thuật tạm thời siết động mạch phổi để làm giảm lưu lượng máu lên phổi, giúp trẻ phát triển chờ đủ điều kiện để phẫu thuật Đối với những trường hợp tăng áp lực động mạch phổi nặng, trẻ nên được phẫu thuật sớm trong vòng 3 – 6 tháng vì khả năng b ất hồi phục hệ mạch máu phổi sẽ xuất hiện khi trẻ được 1 tuổi.

    1. Thông Liên Nhĩ

    Những vấn đề của tăng áp lực động mạch phổi sau mổ hiếm khi gặp phải nếu trẻ được phẫu thuật sớm.

    Trẻ có thể được rút ống nội khí quản ngay trên bàn mổ hoặc ngay sau khi đến khu vực hồi sức tích cực. Vì vậy, nên có kế hoạch sử dụng các thuốc gây mê tác dụng ngắn: khởi mê và duy trì mê bằng servoflurane hoặc propofol, giảm đau bằng sulfentanyl (tốt nhất là remifentanil) hoặc kết hợp với giảm đau trong và sau mổ bằng kỹ thuật tê xương cùng .

    2. Thông Liên Thất

    Nếu lưu lương máu qua lỗ thông liên thất ít được gọi là thông liên thất hạn chế (restrictive) và ngược lại là không hạn chế (unrestrictive).

    Tăng áp lực động mạch phổi sau mổ có thể là một vấn đề nếu trước mổ đã bị tăng áp lực động mạch phổi hoặc phẫu thuật quá trễ khi đã tổn thương không hồi phục hệ mạch máu phổi.

    Sau mổ có thể cần phải hỗ trợ bởi các thuốc tăng co bóp cơ tim và / hoặc các thuốc giảm áp lực động mạch phổi.

    3. Còn Ống Động Mạch

    Bệnh cũng thường gặp ở những trẻ sinh non tháng và có thể dẫn đến thở máy kéo dài. Can thiệp ngoại khoa cho những trẻ này bằng cách mở ngực trái để cột và cắt ống động mạch . Đối với những trẻ lớn hơn thường chọn lựa đóng ống động mạch bằng các thiết bị can thiệp qua da.

    Lưu ý khi gây mê cũng tương tự như các bệnh lý tim bẩm sinh shunt trái – phải trước mổ như được nêu trên.

    Đặt catheter ĐM quay bên P .

    4. Kênh Nhĩ Thất

    Tổn thương này còn được gọi lả kênh nhĩ thất xuất hiện với tần suất khoảng 2:10000 trẻ và chiếm khoảng 3% tổng số bệnh tim bẩm sinh. Bệnh thường xuất hiện chung với hội chứng Trisomy 21 ( hội chứng Down) hoặc các tổn thương tim khác như Tứ chứng Fallot và hội chứng DiGeorge.

    Các thể Kênh nhĩ thất thường gặp gồm Kênh nhĩ thất thể bán phần ( partial với tổn thương l à Thông liên nhĩ thể premium và một chẽ trên lá trước van 2 lá) và Kênh nhĩ th ất thể hoàn toàn (complete với khiếm khuyết cả vách nhĩ lẩn vách th t kèm thêm một van nhĩ th t chung).

    Mô tả thêm về Kênh nhĩ thất còn đề cập đến khái niệm cân bằng (balanced) và không cân bằng ( unbalanced ) tùy thuộc vào van nhĩ thất hẹp hoặc teo hoặc dây chằng van bị cưỡi ngựa ( tức là dây chằng vượt qua phía bên kia của vách liên thất ).

    Ảnh hưởng huyết động liên quan đến Kênh nhĩ thất bao gồm shunt ở mức tâm nhĩ hoặc tâm th t và hở van nhĩ th t.

    Một số lưu ý khi gây mê:

    Thuốc tăng co bóp cơ tim thường được sử dụng để hỗ trợ

    Tình trạng tăng áp lực động mạch phổi sau mổ có thể xuất hiện dòi hỏi phải sử dụng thêm các thuốc hạ áp lực động mạch phổi.

    Siêu âm tim qua thực quản rất có giá trị giúp đánh giá kết quả sửa van nhĩ thất.

    Phân ly nhĩ thất có thể xuất hiện sau mổ nên cần chuẩn bị máy tạo nhịp tim 2 buồng (double chamber) tạm thời.

    5. Cửa Sổ Phế Chủ

    Cửa sổ phế chủ là tổn thương dạng hiếm gặp nối thông giữa động mạch chủ lên và động mạch phổi chính, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 0,1% tổng số bệnh tim bẩm sinh.

    Biểu hiện lâm sàng trẻ thường bị suy tim và nguy cơ cao bị tổn thương hệ mạch máu phổi nếu không được điều trị sớm.

    Một số lưu ý khi gây mê:

    Tăng áp lực động mạch phổi sau mổ là một vấn đề quan trọng.

    Có thể phải sử dụng thuốc tăng co bóp cơ tim và/hoặc các loại thuốc hạ áp lực động mạch phổi để hỗ trợ sau mổ.

    IX. GÂY MÊ CHO BỆNH TIM BẨM SINH CÓ SHUNT PHẢI – TRÁI

    Đặc Điểm Lâm Sàng Chung

    Giảm lưu lượng máu phổi với biểu hiện lâm sàng tím.

    các cơn tím xảy ra với tỷ lệ từ 20 – 70% nếu trẻ không được điều trị . c ơn tím có thể xuất hiện khi trẻ gắng sức như khi trẻ khóc hoặc khi cho trẻ ăn hoặc khi khởi mê. Nguyên nhân cơn tím không rõ ràng, nhưng các yếu tố như toan chuyển hó a, tăng PaC O2, tăng lượng catecholamine trong hệ thống tuần hoàn, những kích thích trong quá trình phẫu thuật được xem là có liên quan. Xử trí cơn tím bao gồm:

    – Tăng thông khí với FiO2 100%

    – Truyền dịch tĩnh mạch

    – An thần (Ví dụ: Fentanyl)

    – Điều chỉnh toan kiềm bằng Sodium Bicarbonate (NaHCO3)

    – Sử dụng các thuốc co mạch như: Norepinephrine (liều 0,5 pg/kg chích tĩnh mạch, sau đó duy trì liều 0,1 – 0,5 pg/kg/phút) hoặc Phenylephrine (5 pg/kg chích tĩnh mạch, sau đó duy trì liều 1 – 5 pg/kg/phút, ở trẻ non tháng có thể sử dụng liều thuốc cao hơn)

    – Sử dụng thuốc chẹn p để giảm co thắt vùng phễu và làm chậm nhịp tim như: Propanolol liều 0,1 – 0,3 mg/kg chích tĩnh mạch.

    1. Tứ Chứng Fallot

    Tứ chứng Fallot là một trong những bệnh tim bẩm sinh tím phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ khoảng 6 – 11% tổng số bệnh tim bẩm sinh. Bốn tổn thương chính trong tứ chứng Fallot bao gồm:

    – Thông liên thất

    – Động mạch chủ c ỡi ngựa

    – Tắc nghẽn đường thoát thất phải

    – Phì đại thất phải

    Shunt phải – trái và tím ở trẻ bị bệnh Tứ chứng Fallot là hậu quả của sự kết hợp giữa hẹp đường thoát thất phải và thông liên thất. Mức độ thiếu oxy máu tùy thuộc vào mối tương quan giữa hẹp đường thoát th t phải và kháng lực mạch máu hệ thống ảnh hưởng đến lưu lượng shunt từ phải sang trái.

    Phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn sẽ đóng lỗ thông liên thất và mở rộng đường thoát thất phải bằng cách cắt cơ trong lòng th t phải và nới rộng động mạch phổi bằng miếng vá màng ngoài tim băng qua cả vòng van động mạch phổi.

    Suy thất phải là một vấn đề đặc biệt sau khi sửa chữa hoàn to àn và trào nguợc động mạch phổi hầu nhu luôn có sau mổ. Ngoài ra nhịp tim nhanh cũng là một vấn đề cần xử trí.

    • Một số lưu ý khi gây mê cho phẫu thuật tạm thời đưa máu từ tuần hoàn hệ thống đến phổi:

    – Phẫu thuật thuờng đuợc chọn lựa là phẫu thuật Blalock – Taussig cải tiến nối thông từ động mạch duới đòn đến nhánh động mạch phổi. Phẫu thuật đuợc thực hiện qua đuờng mở ngực bên (trái hoặc phải) hoặc mở ngực đuờng giữa chẻ dọc xuơng ức. Phần lớn không cần sự hỗ trợ của tuần hoàn ngoài cơ thể.

    – Thuờng chỉ định cho những trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ.

    – Thuốc tiền mê an thần rất hữu ích để giúp trẻ không khóc hay kích thích, tránh đuợc nguy cơ xảy ra cơn tím trong quá trình dẫn mê (bằng khí mê hoặc thuốc mê tĩnh mạch) hay phẫu thuật.

    – Theo dõi huyết động bằng catheter động mạch xâm lấn (đặt catheter theo dõi huyết áp ở động mạch quay bên không làm shunt) và thiết lập đuờng truyền tĩnh mạch trung tâm.

    – Chú ý rối loạn huyết động có thể xuất hiện trong khi mổ . Đặc biệt là trong giai đoạn mở kẹp động mạch có thể gây chảy máu. Vì vậy phải dự trù máu sẳn nếu cần thiết. Rối loạn hô hấp cũng có thể xảy ra do đè ép phổi để bộc lộ phẫu truờng. Vì vậy cần thông khí bằng tay để đảm bảo thông khí tốt trong khi mổ và phổi phải nở ra hoàn toàn vào cuối cuộc mổ.

    – Một liều nhỏ Heparin để phòng ngừa cục máu đông gây thuyên tắc shunt bằng vật liệu nhân tạo.

    – lưu luơng máu phổi cung cấp sau mổ chủ yếu phụ thuộc vào kích thuớc của ống nối shunt (nếu shunt quả nhỏ thì độ bão hòa oxy sẽ thấp, nguợc lại nếu shunt quá lớn sẽ gây suy tim và phù phổi) . lưu luợng của shunt còn phụ thuộc vào huyết áp hệ thống (huyết áp c ng cao th lưu luợng máu qua shunt càng nhiều v à độ bão hòa oxy sẽ tăng lên) .

    • Một số lưu ý khi gây mê cho phẫu thuật sửa chữa hoàn to àn với THN c T:

    – Những trẻ đuợc lên chuơng trình mổ sửa chữa hoàn to àn trong giai đoạn sớm (bỏ qua giai đoạn phẫu thuật tạm thời) thuờng là những trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ. Những trẻ này vẫn có nguy cơ bị lên cơn tím . Nếu trẻ đã có shunt tạm thời trước đó thì trẻ có cơ hội phát triển thể chất hơn và nguy cơ lên cơn tím cũng thấp hơn .

    – An thần tốt để giúp trẻ tránh lên cơn tím l à r ất quan trọng.

    – Dẫn đầu bằng khí mê hoặc thuốc mê tĩnh mạch đều thích hợp.

    – Suy thất phải và trào ngược động mạch phổi có thể là một vấn đề trong giai đoạn hậu phẫu.

    – Sử dụng thuốc tăng co bóp cơ tim quá mức có thể làm trầm trọng thêm tình trạng hẹp đường thoát thất phải do làm hẹp về mặt động học của đường thoát thất phải. Milrinone có thể có lợi vì giúp tăng giãn tâm trương ở trường hợp tâm thất phải bị co cứng.

    – Sốt và thuốc p -adrenergic quá mức có thể gây nhịp tim nhanh sau phẫu thuật.

    2. Teo Động Mạch Phổi

    • Teo động mạch phổi với vách liên thất kín (không có lỗ thông liên thất đi kèm)

    Chiếm tỷ lệ từ 1 – 1,5% tổng số bệnh tim bẩm sinh. Nếu không được điều trị, 50% trẻ tử vong trong giai đoạn sơ sinh và 85% ở trẻ 6 tháng tuổi.

    Một số lưu ý khi gây mê:

    Đối với bệnh nhi có thất phải phì đại nhỏ và tăng áp lực thì việc duy trì áp lực đổ đầy là quan trọng để tránh bị đè sụp th t phải làm giảm khả năng bơm máu Điều n y đặc biệt quan trọng sau khi đường thoát th t phải được giải thoát với việc sửa chữa cả hai th t.

    Hỗ trợ bằng thuốc tăng co b p cơ tim thường là cần thiết đối với những trường hợp suy chức năng thất phải sau giai đoạn THN c T l àm tăng hậu tải của tuần hoàn mạch máu phổi không điều chỉnh. Giảm áp lực đường thở và dùng thuốc có thêm tác dụng giãn mạch máu phổi như milrinone và dobutamine có thể giúp làm giảm hậu tải thất phải.

    Trường hợp c tăng áp lực động mạch phổi nặng, NO có lợi để hỗ trợ giãn mạch máu phổi cho đến khi giường mạch máu phổi điều chỉnh dòng chảy tăng lên . Và cần phải chú ý đến tình trạng phù phổi làm trao đổi oxy kém và co thắt phế quản sau khi một dòng máu lên phổi tăng cấp tính.

    Nếu làm shunt tạm, cần xem xét tiếp tục cân bằng của tuần hoàn song song phổi và hệ thống . Cung luợng tim thấp trong giai đoạn hậu phẫu có thể xuất hiện thứ phát.

    • Teo động mạch phổi với vách liên thất hở (tồn tại lỗ thông liên thất đi kèm)

    Tổn thuơng này có thể đuợc xem nhu l à một biến thể của bệnh Tứ chứng Fallot.

    Biểu hiện lâm sàng tùy thuộc vào luợng máu lên phổi, nếu luợng máu lên phổi nhiều thông qua các tuần hoàn bàng hệ sẽ gây nên tình trạng sung huyết phổi và hình ảnh lâm sàng của suy tim sung huyết. Nếu các nhánh tuần hoàn bàng hệ hẹp ở mức độ vừa trung bình sẽ cân bằng lưu luợng máu phổi với độ bảo hòa oxy khoảng 80%. Nếu hẹp nặng và phụ thuộc vào ống động mạch thì lưu luợng máu phổi sẽ không đủ, trẻ sẽ bị tím và thiếu oxy.

    Trẻ với lưu luợng máu phổi cân bằng có thể sống đến tuổi truởng thành với biểu hiện rất ít triệu chứng mặc dù thất trái đã bị suy do tình trạng quá tải thể tích và shunt trái – phải mạn tính.

    ♦ Một số lưu ý khi gây mê:

    Kỹ thuật gây mê cũng tuơng tự cho bệnh nhân Tứ chứng Fallot.

    Trong truờng hợp mở ngực bằng đuờng bên cần chú ý trao đổi oxy do thông khí một phổi, huyết động không ổn định, chảy máu và toan chuyển hóa.

    3. Teo Van Ba Lá

    Là một dạng thiểu sản tim phải, chiếm 1 – 3% tổng số bệnh tim bẩm sinh.

    Tổn thuơng giải phẫu chính bao gồm không có van 3 lá và thiểu sản thất phải. Máu trộn phải qua lỗ bầu dục hoặc ống động mạch. Những tổn thuơng có thể đi kèm gồm thông liên thất, hẹp hoặc teo động mạch phổi.

    Nếu không điều trị: 60% trẻ tử vong duới 1 tuổi, và chỉ 10% sống đến 10 tuổi.

    Chọn lựa phẫu thuật:

    – Phẫu thuật Fontan cổ điển

    – Teo van 3 lá với giảm lưu luợng mạch máu phổi: shunt Blalock – Taussig

    – Teo van 3 lá với lưu luợng mạch máu phổi tăng: siết động mạch phổi.

    – Fontan bán phần hay Shunt Glenn.

    – Phẫu thuật Fontan cải tiến.

    Một số lưu ý khi gây mê:

    – Bệnh nhi có nguy cơ thiếu oxy máu, giảm cung luợng tim do mất cân bằng kháng lực máu phổi và hệ thống, suy chức năng cơ tim, rối loạn nhịp, thiếu máu cơ tim .

    – Có thể gây mê bằng khí mê nếu chức năng thất trái tốt, phối hợp thêm giảm đau và giãn cơ .

    – Khi dùng thuốc mê tĩnh mạch nên cẩn thận với bọt khí.

    4. Bệnh Ebstein

    Bất thuờng Ebstein chiếm tỷ lệ khá thấp, khoảng 0,3 – 0,7% tổng số bệnh tim bẩm sinh, với tần suất khoảng 1:20000 trẻ sống.

    Tổn thuơng giải phẫu chính bao gồm:

    – B ất thuờng vị trí của các lá van ba lá với lá vách nằm thấp và lá sau gắn vào chỗ nối của đuờng vào và phần cơ bè của thất phải.

    – Nhĩ hóa phần thất phải giữa vòng van ba lá và chỗ gắn của lá vách và lá sau.

    – Buồng tâm thất phải bị thay đổi hình dạng.

    Nếu không đuợc phẫu thuật, tử vong do b ất thuờng Ebstein sẽ xảy ra cuối thời kỳ thơ ấu, thiếu niên hoặc giai đoạn sớm của tuổi truởng thành do suy tim sung huyết.

    Những vấn đề cần lưu ý khi gây mê:

    – Trẻ với mức độ bệnh nhẹ cho đến trung bình, có thể khởi mê bằng Servofluran truớc khi chuyển sang giai đoạn gây mê toàn thân. Những trẻ có cung luợng tim thấp và shunt phải – trái ở tầng nhĩ có thể dẫn mê chậm bằng khí mê. Có thể chọn lựa thay thế bằng ketamine (1 – 4 mg/kg) hoặc thiopental (4 mg/kg).

    – Ở những trẻ bệnh ở mức trung bình đến nặng có thể dẫn đầu bằng ketamine (1 – 4 mg/kg) hoặc etomidate (0,2 – 0,3 mgkg) có thể giúp ổn định huyết động mà không gây ức chế cơ tim hoặc giảm hậu tải.

    – Bệnh nhi bị giãn buồng tim phải nhiều có nguy cơ bị rối loạn nhịp thất nghiêm trọng có thể gây tử vong sau khi sửa chữa. Vì vậy, có thể phòng ngừa rối loạn nhịp bằng cách truyền thuốc chống loạn nhịp (lidocaine hoặc amiodarone).

    – Thuốc tăng co bóp cơ tim đẩy mạnh dòng chảy vào tim phải (ví dụ: mirilnone 0,3 – 0,5 pg/kg/phút hoặc dobutamin 5 pg/kg/phút) có thể giúp cải thiện huyết động sau giai đoạn tuần hoàn ngoài cơ thể ở những bệnh nhi có suy chức năng cơ tim trước đó .

    – Áp lực thất phải đầy có thể là cần thiết để duy trì đủ tiền tải ở những bệnh nhi có chức năng tâm thất kém.

    X. GÂY MÊ CHO BỆNH TIM BẨM SINH CÓ TỔN THƯƠNG GÂY TẮC NGHẼN

    Đối với nhóm bệnh tim bẩm sinh gây tắc nghẽn, mức độ và vị trí tắc nghẽn là một vấn đề hết sức quan trọng đối với việc xử trí tối ưu khi gây mê .

    1. Hẹp Van Động Mạch Chủ

    Gia tăng mất cân bằng giữa cung và cầu oxy (giảm lưu lượng máu mạch vành do giảm giảm áp lực tưới máu + tăng c ông làm việc của thất trái dẫn đến thiếu máu dưới nội mạc cơ tim), phì đại tâm thất trái và tăng nguy cơ suy tâm thất trái. Bệnh nhi luôn đối diện với nguy cơ tử vong đột ngột độ tuổi mà trẻ xu t hiện triệu chứng cũng l một yếu tố nguy cơ, với trẻ càng nhỏ tuổi thì nguy cơ c àng cao . Khoảng 2/3 trẻ có triệu chứng trong vòng 3 tháng đầu tiên của cuộc sống và cần phải hỗ trợ bằng cả thuốc tăng co bóp cơ tim và hỗ trợ thở máy trước khi điều trị.

    Một số lưu ý khi gây mê:

    Một trong những mục tiêu quan trọng khi gây mê là duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu oxy:

    – Duy trì nhịp tim bình thường (không bị nhịp tim quá nhanh hay quá chậm).

    – Duy trì SVR để đảm bảo tưới máu mạch vành.

    – Tránh tăng huyết áp.

    – Tránh ức chế cơ tim .

    Gây mê cho trẻ sơ sinh có phẫu thuật với tuần hoàn cơ thể cũng giống như gây mê phẫu thuật tim cho những trẻ sơ sinh khác

    Catheter khi luồng qua van động mạch chủ hay khi bơm phồng bóng nong có thể gây những ảnh hưởng đáng kể về mặt tim mạch như cung lượng tim giảm, thiếu máu oxy cơ tim, nhịp tim chậm. Vì vậy, phải chuẩn bị để hồi sức trẻ sơ sinh một cách nhanh chóng và pha sẳn epinephrine .

    Có thể trẻ vẫn phải còn thở máy sau mổ bởi vì chức năng của thất trái vẫn còn kém một thời gian.

    2. Hẹp Eo Động Mạch Chủ

    Hẹp eo động mạch chủ là bệnh lý hẹp rời rạc động mạch chủ và chiếm tỷ lệ khoảng 5% tổng số bệnh tim bẩm sinh. Tổn thương thường đơn thuần. Tuy nhiên, một số b ất thường khác có thể đi kèm như thông liên thất, b ất thường cung động mạch chủ hoặc b ất thường van động mạch chủ và các dạng hẹp eo động mạch chủ được phân loại dựa theo những tổn thương đi kèm n y

    Vị trí của hẹp eo động mạch chủ tương quan với vị trí của ống động mạch và có thể ở trước ống động mạch (preductal), ngay ống động mạch (juxtaductal) hoặc sau ống động mạch (postductal). Dạng phổ biến nh t trong giai đoạn sơ sinh l hẹp eo động mạch chủ trước ống động mạch.

    Dạng hẹp eo động mạch trước ống động mạch c liên quan đến tuần hoàn bàng hệ rất ít dưới đoạn hẹp và cần phải sử dụng thuốc Progtaglandin để duy trì ống động mạch không đóng lại sau khi trẻ ra đời. Cả hai dạng hẹp eo động mạch chủ tại vị trí ống động mạch và sau ống động mạch đặc trưng bởi sự phát triển mạnh hệ tuần hoàn phụ để cung cấp máu cho vùng sau chỗ hẹp . Điều này rất quan trọng vì tưới máu tủy sống được cung cấp bởi các mạch máu này và đặc biệt trong giai đoạn kẹp động mạch chủ.

    Trên thực tế, những trẻ này rơi vào hai nhóm: một nhóm biểu hiện ngay trong giai đoạn sơ sinh với tình trạng hẹp eo động mạch chủ trước ống động mạch, tuần hoàn phụ nghèo nàn và chức năng thất trái rất kém. Nhóm còn lại với những trẻ lớn (thường lớn hơn 1 tuổi) với hệ tuần hoàn phụ phát triển và chức năng thất trái tốt hơn .

    Trẻ sơ sinh thường biểu hiện chức năng th t trái kém và có thể trong tình trạng suy tim. Bắt mạch đùi thường rất yếu và thường ở trong tình trạng toan chuyển hóa tiến triển. Sự khác biệt giữa huyết áp hệ thống ở tay phải (trước chỗ hẹp) và chân trái (sau chỗ hẹp) có thể chỉ điểm của sự hiển diện hẹp eo động mạch chủ.

    Một số vấn đề cần lưu ý khi gây mê:

    • Khi phẫu thuật sửa chữa cho những trẻ sơ sinh:

    – Những trẻ sơ sinh bị bệnh với chức năng thất trái kém.

    – Một số trẻ đã được đặt nội khí quản và thở máy có thể đã được hỗ trợ bằng các thuốc tăng co bóp cơ tim .

    – Đặt đường truyền tĩnh mạch để truyền Prostaglandin . Đường truyền này cũng có thể được sử dụng để cho các thuốc để dẫn mê. Có thể dùng opioid liều cao (Fentanyl 5 [T g/kg), đến thuốc giãn cơ và phối hợp thêm sevoflurane liều thấp. Nếu huyết áp thấp, có thể bỏ qua sự phối hợp này.

    – Thuốc tăng co bóp cơ tim có thể được yêu cầu trước mổ và nên có sẵn.

    – Đặt catheter theo dõi huyết áp động mạch nên được đặt ở bên tay phải để có thể theo dõi được huyết áp cả ngay lúc kẹp động mạch chủ. Nếu đặt thêm được đường theo dõi động mạch ở đùi (sau chỗ hẹp) cũng rất cần thiết trong việc theo dõi áp lực tưới máu sau chỗ hẹp. Tuy nhiên, vấn đề này cũng hơi khó khăn vì mạch đùi thường rất khó bắt được.

    – Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm.

    – Phẫu thuật đôi khi được đi đường mở ngực bên trái và không cần tuần hoàn ngoài cơ thể hỗ trợ. – Một bên phổi có thể bị đè xẹp gây ảnh hưởng đến vấn đề thông khí . Lưu ý lựa chọn ống nội khí quản phải vừa khít để không bị rò rĩ khí, gây khó khăn cho việc thông khí trong quá trình phẫu thuật.

    – Tình trạng liệt có thể xuất hiện với tỷ lệ khoảng 1% các trường hợp và thường do làm giảm tưới máu trong quá trình kẹp động mạch chủ Để giảm thiểu nguy cơ bị tổn thương tủy sống, trẻ nên được hạ thân nhiệt làm lạnh từ 34 – 35°c trước khi kẹp động mạch chủ. Thông khí với mức CO2máu bình thường và huyết áp chi trên cần được duy trì. Liều thấp thuốc kháng đông có thể được sử dụng và nên rút ngắn thời gian kẹp động mạch chủ.

    – Tăng huyết áp sau mổ cũng là một vấn đề cần lưu ý và một số thuốc giãn mạch như Nitroprusside có thể cần phải sử dụng.

    • Khi phẫu thuật sửa chữa cho những trẻ lớn hơn:

    Thông thường các trẻ này không nặng như các trẻ sơ sinh

    – Đặt catheter theo dõi huyết áp và đường truyền tĩnh mạch cũng tương tự như phẫu thuật ở trẻ sơ sinh

    – Dẫn mê đường tĩnh mạch cẩn thận với kết hợp fentanyl và một thuốc khác có thể chọn lựa, ví dụ Etomidate thường được chọn lựa vì khả năng ổn định tim mạch tốt.

    – Mặc dù tủy sống được cung cấp máu qua tuần hoàn phụ, tuy nhiên cũng có nguy cơ thiếu máu khi kẹp động mạch chủ. Vì vậy, những biện pháp đề phòng ở trẻ sơ sinh cũng cần được áp dụng cho trẻ lớn.

    – Sử dụng nội khí quản có bóng để có thể dễ dàng điều chỉnh độ hở tránh rò rĩ khí cũng như có thể giúp rút ống nội khí quản sớm.

    – Tăng huyết áp sau mổ cũng l à một vấn đề thường gặp. Vì vậy cần giảm đau tốt, kết hợp với Nitroprusside và chẹn p có thể được sử dụng. Rất nhiều trẻ (khoảng 30%) vẫn còn tăng huyết áp kéo dài cần phải điều trị thường xuyên.

    – Một số trường hợp hẹp eo động mạch chủ có thể được nong bằng bóng kết hợp với có hay không có đặt giá đỡ mạch máu. Biến chứng vỡ động mạch chủ có thể xảy ra. Vì vậy các cơ sở thực hành cần phải chú ý để đối phó với tình huống này nếu xảy ra.

    3. Đứt Đoạn Cung Động Mạch Chủ

    Đứt đoạn động mạch chủ là một b ất thường hiếm gặp với tỷ lệ khoảng 1% bệnh tim bẩm sinh. Tổn thương giải phẫu là sự gián đoạn giữa động mạch chủ lên và động mạch chủ xuống.

    Có ba dạng bệnh đứt đoạn động mạch chủ tùy thuộc vào vị trí xuất hiện đứt đoạn. ồng động mạch còn tồn tại để cung cấp máu cho động mạch chủ xuống. Thông liên thất đi kèm cũng thường gặp.

    Biểu hiện lâm sàng của những trẻ n y thường phát triển kém và nhẹ c n hơn nhũng đứa trẻ b nh thường cùng lứa tuổi Thường phải sử dụng Prostaglandin truyền tĩnh mạch để duy trì ống động mạch không đóng lại. Nếu ống động mạch đóng lại sẽ có sự gia tăng lượng máu lên phổi. Trẻ thường c cung lượng tim kém và toan chuyển hóa.

    Một số vấn đề cần lưu ý khi gây mê:

    – Trẻ sơ sinh bị bệnh nhẹ cân.

    – Hội chứng DiGeorge (đặc biệt là tình trạng hạ canxi máu và cần các chế phẩm máu được chiếu xạ).

    – Thường áp dụng kỹ thuật gây mê opioid liều cao.

    – Huyết áp lý tưởng nên được theo dõi ở phía trên và dưới chỗ đứt đoạn, tuy nhiên thực hành lâm – sàng sẽ gặp nhiều khó khăn .

    – Ngưng tuần hoàn ngoài cơ thể với hạ thân nhiệt sâu có thể sử dụng.

    – Rối loạn đông máu sau tuần hoàn ngoài cơ thể.

    – Tiên lượng chức năng thận kém sau mổ.

    – có nguy cơ lên cơn tăng áp lực động mạch phổi.

    – Những trẻ này có thể phải mổ lại để xử lý tình trạng tắc nghẽn đường thoát thất trái tái phát, có thể xảy ra b ất cứ ở mức độ nào. Và việc tái hẹp cung động mạch chủ có thể được điều trị bằng cách nong bằng bóng qua da.

    Tài liệu tham khảo

    1. Coté Charles J, Lerman J, Todres ID.(2009). A practice of anesthesia for infants and children.
    2. Andropoulos DB (2010). Anesthesia for congenital heart disease.
    3. Lake Carole L. Booker Peter D. (2005). Pediatric cardiac anesthesia.

    Gây Mê Hồi Sức Cho Phẫu Thuật Tim Bẩm Sinh Ở Trẻ Em

    Xem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Chẩn Đoán, Điều Trị Hẹp Van Hai Lá
    2. Chỉ Định Chụp Mạch Vành
    3. Chỉ Định Siêu Âm Tim Qua Thực Quản
    4. Các Đường Mở Ngực Trong Phẫu Thuật Tim Mạch – Lồng Ngực
    5. Dò Động Mạch Vành
  • Phác Đồ Dò Động Mạch Vành

    Phác Đồ Dò Động Mạch Vành

    Dò Động Mạch Vành

    1. Định Nghĩa

    – Dò động tĩnh mạch vành có thể bẩm sinh hoặc mắc phải (chấn thương, sau tạo hình mạch máu…)

    – Dò động tĩnh mạch vành có thể đơn độc hoặc có thể kết hợp với các bệnh khác như tứ chứng Fallot, còn ống động mạch.

    2. Chẩn Đoán:

    2.1 Triệu Chứng Lâm Sàng Chính:

    – Đau ngực

    – Khó thở

    – Suy tim sung huyết

    – Rối loạn nhịp

    – Một số trường hợp: chóng mặt, hồi hợp, mệt mỏi

    – Nghe được âm thổi liên tục liên sườn 2, 3 bờ trái hoặc phải xương ức

    2.2 Xét Nghiệm Cận Lâm Sàng

    – Xquang ngực thẳng: bóng tim to gặp trong hai phần ba trường hợp, có thể gặp tràn dịch màng phổi

    – Siêu âm tim: có thể dãn các buồng tim, giảm động thành cơ tim

    – Thông tim: xác định số lượng lỗ dò, mức độ shunt từ trái sang phải.

    3. Chỉ Định Phẫu Thuật:

    3.1 Bệnh lý thông thường

    3.2 Bệnh lý phức tạp, kết hợp

    3.3 Các tình huống phức tạp (có kết hợp với bệnh lý nền khác hoặc bệnh lý cơ quan khác ngoài tim)

    3.4 Thời điểm tiến hành phẫu thuật: chương trình, bán khẩn, cấp cứu

    – Nếu không phẫu thuật, bệnh nhân dò động tĩnh mạch vành không thể có được thời gian sống như bình thường

    – Thường triệu chứng và biến chứng ở bệnh nhân dò động tĩnh mạch vành bắt đầu thập niên thứ hai hoặc thứ ba

    – Chỉ định phẫu thuật nếu bệnh nhân có triệu chứng

    – Thời gian chỉ định phẫu thuật là vấn đề còn bàn cãi trong một số trường hợp

    4. Phương Thức Điều Trị:

    4.1 Tạm thời:

    4.2 Phẫu thuật:

    – Gây thuyên tắc dò động tĩnh mạch vành qua thông tim can thiệp

    – Tùy thương mức độ thương tổn và hình thái dò động tĩnh mạch, có một số phương pháp phẫu thuật được thực hiện:

    ✓ Cột đầu xa và đầu gần đường dò (không sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể)

    ✓ Bắc cầu động mạch vành bằng tĩnh mạch hiển trong hay động mạch vú trong, cầu nối đến đầu xa sau chỗ dò

    5. Biến Chứng:

    – Nhồi máu cơ tim

    – Thuyên tắc động mạch vành

    – Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng bán cấp

    – Rối loạn nhịp

    – Tràn máu màng tim

    – Phình động mạch vành

    – Đột tử

    6. Khuyến Cáo Khác:

    Tài Liệu Tham Khảo:

    – Guideline của hội tim mạch quốc gia Việt Nam.

    – Textbook

    Dò Động Mạch VànhXem thêm Phác đồ Điều Trị Viện Tim Hồ Chí Minh

    1. Chẩn Đoán, Phẫu Thuật Hẹp Van Động Mạch Chủ (Mắc Phải)
    2. Chẩn Đoán, Điều Trị Hẹp Van Hai Lá
    3. Chỉ Định Chụp Mạch Vành
    4. Chỉ Định Siêu Âm Tim Qua Thực Quản
    5. Các Đường Mở Ngực Trong Phẫu Thuật Tim Mạch – Lồng Ngực