Category: Kiến thức khác

  • Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

    CHỈ THỊ

    CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 15/2007/CT-TTg NGÀY 22 THÁNG 6 NĂM 2007

    VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ

    NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Trong những năm gần đây, với việc thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ của Nghị quyết số 09/2001/NQ-CP của Chính phủ về “Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài thời kỳ 2001-2005” và các Chỉ thị số 19/2001/CT-TTg ngày 28 tháng 8 năm 2001 và số 13/2005/CT-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp nhằm tạo chuyển biến mới trong công tác thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nhiều khó khăn, vướng mắc đã được tháo gỡ; môi trường đầu tư của nước ta không ngừng được cải thiện và càng trở lên hấp dẫn hơn. Nhờ đó, hoạt động đầu tư nước ngoài đã vượt qua giai đoạn suy giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, từng bước phục hồi và tăng nhanh từ năm 2004. Cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp của nước ngoài cũng đã có xu hướng gia tăng đáng kể, nhất là từ sau khi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cùng các nghị định hướng dẫn có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu huy động vốn lớn bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Tiến độ triển khai cũng như chất lượng của một số dự án đầu tư còn hạn chế, vốn đầu tư thực hiện còn thấp so với vốn đăng ký, chưa đẩy mạnh chuyển giao công nghệ nguồn, công nghệ tiên tiến vào nước ta.

    Chủ trương tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và tiếp tục khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm (2006-2010). Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài”.

    Bước vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010, mặc dù phải đối phó với không ít khó khăn thách thức, nhưng nước ta đang có những thời cơ, thuận lợi mới, rất to lớn cho việc tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài:

    Một là, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục đà tăng trưởng cao, ổn định, bền vững. Riêng năm 2006 mức tăng GDP trên 8,17%, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 40 tỷ đô la Mỹ; môi trường đầu tư không ngừng được cải thiện đã khiến luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng trở lại từ năm 2004 và hiện đang xuất hiện một làn sóng đầu tư mới vào nước ta, tiếp tục tạo đà cho sự tăng trưởng cao trong những năm tới.

    Hai là, với các sự kiện Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tổ chức thành công Hội nghị APEC 14, Quốc hội Hoa kỳ thông qua Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam, thành công của các chuyến thăm làm việc song phương, đa phương của lãnh đạo cấp cao nước ta thời gian qua, đã tạo ra tầm ảnh hưởng lớn hơn của Việt Nam trên trường quốc tế.

    Ba là, thể chế kinh tế thị trường ở nước ta ngày càng được tập trung xây dựng và hoàn thiện, trong đó hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến môi trường đầu tư, kinh doanh đã có những bước tiến quan trọng, tạo môi trường pháp lý bình đẳng, ngày càng thông thoáng, minh bạch và thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư kinh doanh một cách có hiệu quả tại Việt Nam.

    Bốn là, Việt Nam có tình hình chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; là một thị trường đang phát triển nhiều tiềm năng với dân số trên 80 triệu người và tương lai không xa là 100 triệu, đồng thời là một cửa ngõ thông thương thuận lợi với thị trường nhiều nước thành viên ASEAN. Bên cạnh đó, môi trường kinh tế thế giới tiếp tục chiều hướng tích cực. Những trung tâm kinh tế lớn của thế giới hoặc đã qua giai đoạn suy thoái, bước vào thời kỳ ổn định hoặc đang tiếp tục đà phát triển mạnh, đều đang có nhu cầu gia tăng mạnh mẽ hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

    Các yếu tố trên là những tiền đề quan trọng tạo nên những cơ hội mới, thuận lợi mới để đẩy mạnh thu hút làn sóng đầu tư vào nước ta. Tuy vậy, để tận dụng tốt thời cơ, cần phải tập trung nỗ lực khắc phục những mặt còn hạn chế đối với hoạt động đầu tư, như việc thực thi pháp luật, chính sách, chất lượng kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, xúc tiến đầu tư, thủ tục hành chính và hiện tượng tham nhũng, tiêu cực.

    I. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

    Nhằm tranh thủ cơ hội mới, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương tiến hành một số giải pháp chủ yếu và công việc cụ thể sau đây:

    1. Về công tác quy hoạch

    1. a) Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu; rà soát để định kỳ bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch không còn phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án.
    2. b) Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định mới của Luật Đầu tư trong công tác quy hoạch, bảo đảm việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm không phù hợp với các cam kết quốc tế.
    3. c) Hoàn chỉnh và công bố rộng rãi quy hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư.

    2. Về xây dựng và thực thi chính sách pháp luật

    1. a) Tiếp tục ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh; rà soát luật pháp, chính sách, sửa đổi hoặc bãi bỏ các ưu đãi, trợ cấp không phù hợp với quy định của WTO, cam kết quốc tế và có giải pháp bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư. Tăng cường tập huấn, phổ biến nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với dự án xây dựng công trình phúc lợi phục vụ người lao động làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, bảo đảm tương thích với luật pháp hiện hành.
    2. b) Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Chấn chỉnh tình trạng ban hành và áp dụng các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trái với quy định của pháp luật.

    3. Về xúc tiến đầu tư

    1. a) Hoàn thiện, công bố Danh mục dự án quốc gia về kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2010 hướng tới năm 2020 (có phân kỳ 2006-2010). Xây dựng chương trình vận động đầu tư tại địa bàn trọng điểm và các tập đoàn xuyên quốc gia tiềm năng; chú trọng ngành công nghiệp phụ trợ của một số ngành (chế tạo, lắp ráp, dệt may, da giầy) và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu và quy hoạch phát triển ngành, địa phương.
    2. b) Ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007-2010 để bảo đảm kinh phí cho hoạt động xúc tiến đầu tư gắn với xúc tiến thương mại và du lịch. Khẩn trương điều chỉnh các mục tiêu, cơ chế và tổ chức hoạt động của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu (thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ) phù hợp nguyên tắc của WTO và pháp luật hiện hành. Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam, kết hợp các chuyến công tác của lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước với hoạt động xúc tiến đầu tư; tổ chức tốt các hội thảo ở trong nước và nước ngoài; nâng cao chất lượng tài liệu xúc tiến đầu tư và trang thông tin điện tử về đầu tư nước ngoài. Tổ chức tốt “Những ngày Việt Nam ở nước ngoài”.
    3. c) Tăng cường các đoàn vận động đầu tư làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn, tại một số địa bàn trọng điểm ở nước ngoài để kêu gọi đầu tư vào các dự án lớn, quan trọng. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ hiệu quả các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam.
    4. d) Khẩn trương đặt bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm ở nước ngoài. Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch các cấp, ở trong nước lẫn đại diện ở nước ngoài nhằm đồng bộ và nâng cao hiệu quả của các hoạt động này.

    4. Khắc phục tình trạng yếu kém về kết cấu hạ tầng

    1. a) Rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tăng cường công tác quy hoạch, thực thi các quy hoạch cũng như thu hút đầu tư vào các công trình giao thông, năng lượng.
    2. b) Tranh thủ tối đa các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải); hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc – Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam – Trung Quốc; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc – Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam – Trung Quốc, đường sắt nối các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
    3. c) Đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích sản xuất, sử dụng điện từ, các loại năng lượng mới (sức gió, thủy triều, năng lượng mặt trời); trước mắt, bảo đảm cung cấp điện cho sản xuất.
    4. d) Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng trong đó có các công trình giao thông, cảng biển, các nhà máy điện độc lập.

    đ) Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần để nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn như cảng Hiệp Phước – Thị Vải, Lạch Huyện, Vân Phong…

    1. e) Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu.
    2. g) Tăng cường thu hút đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng các khu du lịch quốc gia có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

    5. Về lao động – tiền lương

    1. a) Phát triển nhanh về quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề, đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho doanh nghiệp; tập trung đầu tư phát triển 40 trường đào tạo nghề chất lượng cao, trong đó có một số trường đạt đẳng cấp quốc tế.
    2. b) Để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh quan hệ lao động theo tinh thần Bộ Luật Lao động, tăng cường các biện pháp sau:

    – Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách về lao động, tiền lương trong tình hình mới; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động đối với người sử dụng lao động nhằm bảo đảm điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động;

    – Tuyên truyền giáo dục để nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động cho người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm bảo đảm chính sách, pháp luật về lao động và tiền lương được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc.

    1. c) Xây dựng mặt bằng chung về mức lương tối thiểu cho lao động làm việc trong doanh nghiệp thuộc các thành viên kinh tế có tính đến các yếu tố về lạm phát, địa bàn đầu tư và quy định về mức sống tối thiểu của người Việt Nam.

    6. Về cải cách hành chính

    1. a) Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong phê duyệt, cấp Giấy Chứng nhận đầu tư, quản lý các dự án đầu tư nước ngoài, gắn với tăng cường hợp tác, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật về đầu tư. Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp và điều chỉnh Giấy Chứng nhận đầu tư.
    2. b) Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài.
    3. c) Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài, thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết thủ tục đầu tư. Đảm bảo sự thống nhất, các quy trình, các thủ tục tại địa phương, đồng thời, phù hợp với điều kiện cụ thể.
    4. d) Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa Trung ương và địa phương và giữa các bộ, ngành liên quan.

    đ) Thành lập đường dây nóng tại cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư ở các cấp nhằm kịp thời nắm bắt, xử lý vướng mắc của nhà đầu tư và khắc phục tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với nhà đầu tư.

    7. Các giải pháp khác

    1. a) Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư ở cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
    2. b) Đẩy mạnh việc xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.
    3. c) Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình hành động Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản giai đoạn II nhằm góp phần nâng cao môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

    II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Để triển khai thực hiện các nhóm giải pháp nêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

    1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    1. a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hoàn chỉnh, trình Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư còn thiếu; rà soát các vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp. Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành một số quy định của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp trong quý III năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương liên quan làm việc với các cơ quan chức năng của Chính phủ Nhật Bản và các tập đoàn của Nhật Bản nhằm thúc đẩy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Khu công nghệ cao Hòa Lạc.
    3. c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Giao thông vận tải, Tài chính và các Bộ, ngành liên quan làm việc với các cơ quan chức năng của Chính phủ Nhật Bản về dự án xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam và dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan khẩn trương thiết lập bộ phận xúc tiến đầu tư nước ngoài tại một số địa bàn trọng điểm theo thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 103/TB-VPCP ngày 09 tháng 5 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ về đề án tăng cường bộ phận xúc tiến đầu tư nước ngoài tại một số địa bàn trọng điểm.

    đ) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức các cuộc vận động đầu tư nhằm vào các địa bàn trọng điểm, các đối tác, tập đoàn lớn, các dự án quan trọng. Triển khai thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia nhằm tăng cường phối hợp hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư.

    1. e) Làm đầu mối phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện Chương trình hành động Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn II góp phần nâng cao môi trường đầu tư, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.
    2. g) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng mạng thông tin toàn quốc về đầu tư nước ngoài, nhằm kịp thời cung cấp và thu thập thông tin về đầu tư.
    3. h) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập đường dây nóng về đầu tư nhằm kịp thời nắm bắt, xử lý vướng mắc của nhà đầu tư và khắc phục tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà đối với các nhà đầu tư.
    4. i) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Khoa học và Công nghệ và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007 chính sách ưu đãi đầu tư đối với các dự án công nghệ cao nằm ngoài khu công nghệ cao.
    5. k) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan lập Nhóm hỗ trợ các dự án đầu tư quy mô lớn ngay từ ban đầu nhằm đẩy mạnh quá trình hình thành và triển khai hiệu quả đầu tư tại Việt Nam.

    2. Bộ Tài chính

    1. a) Khẩn trương điều chỉnh các mục tiêu, cơ chế và tổ chức hoạt động của Quỹ hỗ trợ xuất khẩu thành lập theo Quyết định số 195/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ phù hợp với các nguyên tắc của WTO và pháp luật hiện hành và đổi tên Quỹ này thành Quỹ Xúc tiến thương mại – Đầu tư – Du lịch, trình Chính phủ trong quý II năm 2007.
      b) Chủ trì xây dựng chính sách khuyến khích và cơ chế quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp và nguồn đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất các hình thức trợ cấp môi trường phù hợp với quy định của Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) của WTO.
    3. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi các quy định bất hợp lý liên quan đến chi phí giao dịch trong hoạt động lưu chuyển hàng hóa, thủ tục hải quan, trình Chính phủ trong quý III năm 2007.

    3. Bộ Công nghiệp

    1. a) Lập phương án cấp điện và biện pháp xử lý ứng với các mức độ thiếu nguồn điện; lập kế hoạch ưu tiên cấp điện cho sản xuất, nhất là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất và các địa bàn trọng điểm phát triển công nghiệp, dịch vụ quan trọng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. b) Khẩn trương thực hiện lộ trình thị trường hóa ngành điện, xây dựng cơ chế và khung định giá năng lượng (than, khí, điện), trình Chính phủ phê duyệt và công bố công khai trong quý IV năm 2007.
    3. c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định danh sách các dự án nguồn điện và năng lượng cần gọi vốn đầu tư nước ngoài theo hình thức đầu tư khác nhau; xây dựng tóm tắt đầu tư dự án và tổ chức vận động đầu tư.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng giải pháp sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời, trình Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    đ) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đánh giá thực trạng chất thải công nghiệp trong quý IV năm 2007.

    1. e) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững môi trường phù hợp với Luật bảo vệ môi trường năm 2005 trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

    1. a) Khẩn trương hoàn thiện và trình Chính phủ trong quý IV năm 2007 ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Dạy nghề.
    2. b) Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ lộ trình tiến tới một chính sách chung về mức lương tối thiểu áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả lao động làm việc trong các nhà thầu nước ngoài, có tính đến các yếu tố điều chỉnh như lạm phát, địa bàn đầu tư và các quy định về mức sống tối thiểu của người Việt Nam.
    3. c) Phát triển nhanh về quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề theo ba cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề) đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho doanh nghiệp; tập trung đầu tư phát triển 40 trường đào tạo nghề chất lượng cao, trong đó có một số trường hợp đạt đẳng cấp quốc tế.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu đổi mới các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, trong đó có lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về nguồn nhân lực.

    5. Bộ Tài nguyên và Môi trường

    1. a) Xây dựng đề án tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi các quy định ưu đãi đầu tư về lĩnh vực đất đai, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý II năm 2007.
    3. c) Xây dựng đề án phát triển dịch vụ môi trường phù hợp với các quy định WTO làm cơ sở thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực xử lý môi trường, cung cấp các dịch vụ môi trường, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý II năm 2007.
    4. d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Công nghiệp nghiên cứu, xây dựng chính sách ưu đãi đối với hoạt động bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp.

    đ) Xây dựng quan hệ đối tác trong công tác bảo vệ môi trường giữa các cơ quan quản lý môi trường, hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp và cộng đồng.

    6. Bộ Bưu chính, Viễn thông

    Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007 phương án mở cửa đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông phù hợp với WTO và cam kết quốc tế.

    7. Bộ Giáo dục và Đào tạo

    1. a) Xây dựng quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, trong đó, nhấn mạnh việc xã hội hóa hoạt động giáo dục và đào tạo, tăng khả năng tự đào tạo của doanh nghiệp, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng đề án đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo nhu cầu phát triển, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.
    3. c) Rà soát, đề xuất điều chỉnh Nghị định số 06/2000/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2000 về khuyến khích đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo và Nghị định số 18/2001/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ về việc lập và hoạt động của các cơ sở văn hóa, giáo dục nước ngoài tại Việt Nam theo hướng phù hợp với pháp luật đầu tư và hội nhập quốc tế.

    8. Bộ Y tế

    1. a) Tiếp tục trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Quy hoạch mạng lưới y tế dự phòng trong quý II năm 2007.
    2. b) Tiếp tục hoàn thiện Đề án phát triển công nghiệp dược, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007.
    3. c) Xây dựng dự thảo Luật Dược và Đề án phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    9. Bộ Văn hóa – Thông tin

    Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng trình Chính phủ ban hành danh mục các lĩnh vực không cấp phép và lĩnh vực đầu tư có điều kiện trong lĩnh vực văn hóa, thông tin phù hợp với lộ trình cam kết quốc tế trong quý III năm 2007.

    10. Bộ Thương mại

    Chủ trì tổ chức việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tới các địa phương, các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong và ngoài nước về lộ trình mở cửa thị trường liên quan đến các lĩnh vực đầu tư có điều kiện , phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam đã ký kết.

    11. Bộ Tư pháp

    Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra, rà soát việc ban hành, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực đầu tư để đảm bảo các hoạt động đầu tư có hiệu quả theo chức năng, nhiệm vụ của mình và theo quy định của pháp luật hiện hành.

    12. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện việc tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của Ngân hàng thương mại Việt Nam

    13. Bộ Ngoại giao

    1. a) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thành lập và quản lý hoạt động của bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm.
    2. b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình quảng bá quốc gia dưới hình thức “Những ngày Việt Nam ở nước ngoài” giai đoạn 2007 – 2010.

    14. Bộ Nội vụ

    1. a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng đề án kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan quản lý đầu tư và đăng ký kinh doanh phù hợp với quy định của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2007.
    2. b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng trình Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng liên quan đến trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ, công chức, viên chức trong năm 2007.

    15. Bộ Giao thông vận tải

    Chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành và địa phương rà soát các quy hoạch chuyên ngành bao gồm đường bộ, đường cao tốc, hệ thống cảng biển Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2007.

    16. Bộ Xây dựng

    Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2007 về Quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại, đặc biệt ở các vùng kinh tế trọng điểm.

    17. Bộ Khoa học và Công nghệ

    Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ và dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện  hợp tác đầu tư với nước ngoài trong hoạt động khoa học và công nghệ, trình Chính phủ ban hành trong quý III năm 2007.

    18. Tổng cục Du lịch

    Chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành, địa phương liên quan lập đề an thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch nhằm hình thành các khu du lịch quốc gia có quy mô, chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2007.

    19. Trách nhiệm của Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    1. a) Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp lệnh chuyên ngành. Đồng thời, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp theo Chỉ thị này của Thủ tướng Chính phủ.
    2. b) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương rà soát lại các điều kiện đầu tư, kinh doanh; bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ ngay các điều kiện không còn phù hợp. Đồng thời, không được tự quy định thêm điều kiện đầu tư, kinh doanh, các ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện.
    3. c) Triển khai việc phân cấp và tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.
    4. d) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy  ban nhân dân cấp tỉnh tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Đặc biệt, khẩn trương hoàn chỉnh các cơ chế tài chính, đầu tư, chính sách đất đai và cơ sở hạ tầng nhằm thu hút mọi nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.

    đ) Tiếp tục cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính. Nâng cao hiệu quả việc chống tham nhũng và nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư; thực hành tiết kiệm, chỗng lãng phí, kiểm tra giám sát và xử lý nghiêm khắc các hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức ở các cấp quản lý.

    1. e) Tăng cường công tác thông tin, quản lý dữ liệu đầu tư và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật đầu tư.
    2. g) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành cơ chế phối hợp giữa các Sở, Ban, ngành trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, công khai các thủ tục đầu tư, kinh doanh.
    3. h) Tiếp tục rà soát và có kế hoạch triển khai tốt các thỏa thuận trong Kế hoạch hành động thực hiện Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn II góp phần nâng cao môi trường đầu tư, kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc thực hiện Chỉ thị này.

    Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị này và báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết quả thực hiện chậm nhất trong quý I năm 2008 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Trường hợp phát sinh những vấn đề vượt thẩm quyền cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến chỉ đạo thực hiện./.

       THỦ TƯỚNG

    Nguyễn Tấn Dũng

  • Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghị định quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    nghị định

    của chính phủ Số 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000
    Quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài
    tại Việt Nam

    chính phủ

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

    Căn cứ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 09 tháng 6 năm 2000;

    Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

    Nghị định:

    Chương I
    những quy định chung

    Điều 1. Phạm vi áp dụng

    Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 09 tháng 6 năm 2000 (sau đây gọi chung là Luật Đầu tư nước ngoài).

    Đầu tư nước ngoài vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao; đầu tư nước ngoài theo Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (viết tắt theo tiếng Anh là BOT), Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (viết tắt theo tiếng Anh là BTO), Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (viết tắt theo tiếng Anh là BT); đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học thực hiện theo quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan.

    Các hoạt động tín dụng quốc tế, hoạt động thương mại và các hình thức đầu tư gián tiếp khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

    Điều 2. Đối tượng tham gia hợp tác đầu tư

    Đối tượng tham gia hợp tác đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài gồm:

    1. Doanh nghiệp Việt Nam:
    2. a) Doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước;
    1. b) Hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã;
    2. c) Doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;
    3. d) Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật Doanh nghiệp.
    4. Cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định.
    5. Nhà đầu tư nước ngoài.
    6. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
    7. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
    8. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng BOT, BTO và BT.

    Điều 3. Danh mục và lựa chọn dự án đầu tư

    1. Ban hành kèm theo Nghị định này:
    2. a) Danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư;
    3. b) Danh mục dự án khuyến khích đầu tư;
    4. c) Danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư;
    5. d) Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện;

    đ) Danh mục lĩnh vực không cấp phép đầu tư.

    Căn cứ vào quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh danh mục nói trên.

    1. Nhà đầu tư được chủ động lựa chọn dự án đầu tư, đối tác đầu tư, hình thức đầu tư, địa bàn, thời hạn đầu tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ góp vốn pháp định phù hợp với quy định của Luật Đầu tư nước ngoài và Nghị định này.

     

    Điều 4. Luật điều chỉnh

    1. Các đối tượng tham gia hợp tác đầu tư quy định tại Điều 2 Nghị định này phải tuân thủ quy định của Luật Đầu tư nước ngoài, quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.
    2. Trong trường hợp cụ thể nào đó về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà pháp luật Việt Nam chưa có quy định thì các bên có thể thoả thuận trong hợp đồng việc áp dụng luật của nước ngoài nếu việc áp dụng luật của nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    Điều 5. Ngôn ngữ sử dụng

    Hồ sơ dự án đầu tư và các văn bản chính thức gửi các Cơ quan Nhà nước Việt Nam được làm bằng tiếng Việt Nam hoặc bằng tiếng Việt Nam và tiếng nước ngoài thông dụng.

    Chương II
    Hình thức đầu tư

    Điều 6. Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan và Luật Đầu tư nước ngoài.

    Điều 7. Nội dung Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là các Bên hợp doanh); địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Đóng góp của các Bên hợp doanh, việc phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng;
    4. Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước;
    5. Thời hạn hợp đồng;
    6. Quyền, nghĩa vụ của các Bên hợp doanh;
    7. Các nguyên tắc tài chính;
    8. Thể thức sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng;
    9. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

    Ngoài các nội dung trên, các Bên hợp doanh có thể thỏa thuận những nội dung khác trong Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải do đại diện có thẩm quyền của các Bên hợp doanh ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối hợp đồng. Hợp đồng hợp tác kinh doanh có hiệu lực kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 8. Ban điều phối

    Trong quá trình kinh doanh, nếu xét thấy cần thiết, các Bên hợp doanh có thể thoả thuận thành lập Ban điều phối để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Ban điều phối không phải là cơ quan lãnh đạo của các Bên hợp doanh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban điều phối do các Bên hợp doanh thỏa thuận.

    Điều 9. Văn phòng điều hành

    Bên hợp doanh nước ngoài được thành lập Văn phòng điều hành tại Việt Nam để làm đại diện cho mình trong việc thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh và chịu trách nhiệm về hoạt động của Văn phòng điều hành.

    Văn phòng điều hành của Bên hợp doanh nước ngoài có con dấu, được mở tài khoản, được tuyển dụng lao động, được ký hợp đồng và tiến hành các hoạt động kinh doanh trong phạm vi các quyền và nghĩa vụ quy định tại Giấy phép đầu tư và Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Văn phòng điều hành của Bên hợp doanh nước ngoài phải đăng ký tại Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 10. Nghĩa vụ nộp thuế của các Bên hợp doanh

    1. Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo Luật Đầu tư nước ngoài; Bên hợp doanh Việt Nam thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo các quy định của pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước.
    2. Thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ tài chính khác của các Bên hợp doanh (gồm cả tiền thuê đất, thuế tài nguyên…) có thể được tính gộp vào phần sản phẩm được chia cho Bên hợp doanh Việt Nam và Bên hợp doanh Việt Nam có trách nhiệm nộp cho Nhà nước.

    Điều 11. Hình thức Doanh nghiệp liên doanh

    1. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở Hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

    Trong trường hợp đặc biệt, Doanh nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên cơ sở Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước khác.

    1. Doanh nghiệp liên doanh mới là doanh nghiệp được thành lập giữa Doanh nghiệp liên doanh đã được thành lập tại Việt Nam với:
    2. a) Nhà đầu tư nước ngoài;
    3. b) Doanh nghiệp Việt Nam;
    4. c) Cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định;
    5. d) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

    đ) Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam.

    1. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Mỗi Bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 12. Nội dung Hợp đồng liên doanh

    Hợp đồng liên doanh phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh; tên, địa chỉ của Doanh nghiệp liên doanh;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ góp vốn pháp định, phương thức, tiến độ góp vốn và tiến độ xây dựng;
    4. Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước;
    5. Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp;
    6. Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
    7. Quyền và nghĩa vụ của các Bên liên doanh;
    8. Các nguyên tắc tài chính;
    9. Thể thức sửa đổi và chấm dứt hợp đồng, điều kiện chuyển nhượng, điều kiện chấm dứt hoạt động, giải thể doanh nghiệp;
    10. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

    Ngoài các nội dung trên, các Bên liên doanh có thể thỏa thuận những nội dung khác trong Hợp đồng liên doanh.

    Hợp đồng liên doanh phải do đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối hợp đồng. Hợp đồng liên doanh có hiệu lực kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 13. Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh

    Điều lệ của Doanh nghiệp liên doanh phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ của doanh nghiệp; tên, quốc tịch, địa chỉ của người đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ góp vốn pháp định, phương thức và tiến độ góp vốn pháp định;
    4. Cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp;
    5. Thể thức thông qua quyết định của doanh nghiệp; nguyên tắc giải quyết tranh chấp;
    6. Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
    7. Các nguyên tắc tài chính;
    8. Tỷ lệ phân chia lãi và lỗ cho các Bên liên doanh;
    9. Quan hệ lao động trong doanh nghiệp, các vấn đề về sử dụng và đào tạo lao động;
    10. Thời hạn hoạt động, điều kiện chấm dứt hoạt động và giải thể doanh nghiệp;
    11. Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, các Bên liên doanh có thể thỏa thuận những nội dung khác trong Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh.

    Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh phải do đại diện có thẩm quyền của các Bên liên doanh ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối Điều lệ. Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh được đăng ký tại Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 14. Vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh

    1. Vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.
    2. Tỷ lệ góp vốn của Bên hoặc các Bên liên doanh nước ngoài do các Bên liên doanh thoả thuận, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh. Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế – xã hội khác của dự án, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép Bên liên doanh nước ngoài có tỷ lệ góp vốn thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn pháp định.

    Trường hợp thành lập Doanh nghiệp liên doanh mới, tỷ lệ góp vốn pháp định của các Nhà đầu tư nước ngoài phải bảo đảm điều kiện nêu trên.

    1. Đối với những dự án quan trọng theo quy định của Chính phủ, khi ký kết Hợp đồng liên doanh, các Bên liên doanh thoả thuận việc tăng tỷ lệ góp vốn của Bên Việt Nam trong vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh.

    Điều 15. Tiến độ góp vốn pháp định

    1. Vốn pháp định có thể được góp một lần khi thành lập Doanh nghiệp liên doanh hoặc góp từng phần theo phương thức và tiến độ góp vốn pháp định quy định tại Hợp đồng liên doanh.
    2. Trường hợp các Bên liên doanh không thực hiện việc góp vốn theo tiến độ đã cam kết mà không có lý do chính đáng, thì Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có quyền thu hồi Giấy phép đầu tư.

    Điều 16. Góp vốn pháp định bằng giá trị quyền sử dụng đất

    Việc góp vốn pháp định bằng giá trị quyền sử dụng đất của Bên Việt Nam do các Bên liên doanh thỏa thuận trên cơ sở mức giá tiền thuê đất được ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định trong khung giá do Bộ Tài chính ban hành.

    Điều 17. Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh

    1. Hội đồng quản trị là cơ quan lãnh đạo của Doanh nghiệp liên doanh. Hội đồng quản trị gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác.

    Việc quyết định số lượng thành viên của Hội đồng quản trị, số lượng thành viên của mỗi Bên liên doanh, việc cử Chủ tịch Hội đồng quản trị, bổ nhiệm Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc thứ nhất thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài.

    Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc và các chức vụ khác của Doanh nghiệp liên doanh.

    1. Nhiệm kỳ Hội đồng quản trị do các Bên liên doanh thoả thuận, nhưng không quá 5 năm.
    2. Trong trường hợp thành lập Doanh nghiệp liên doanh mới, Bên Doanh nghiệp liên doanh đang hoạt động có ít nhất 2 thành viên trong Hội đồng quản trị và trong đó có ít nhất 1 thành viên là công dân Việt Nam đại diện cho Bên liên doanh Việt Nam.
    3. Các thành viên Hội đồng quản trị không hưởng lương, nhưng có thể được hưởng phụ cấp liên quan tới hoạt động của Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị quyết định. Các khoản chi phí này được hạch toán vào chi phí quản lý của Doanh nghiệp liên doanh.

    Điều 18. Phương thức họp của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh

    1. Hội đồng quản trị họp định kỳ mỗi năm ít nhất một lần. Hội đồng quản trị có thể họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc của ít nhất 2/3 số thành viên Hội đồng quản trị hoặc của Tổng Giám đốc hoặc của Phó Tổng Giám đốc thứ nhất. Các cuộc họp của Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập và chủ trì. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập và chủ trì cuộc họp của Hội đồng quản trị.
    2. Cuộc họp của Hội đồng quản trị phải có ít nhất 2/3 thành viên Hội đồng quản trị đại diện của các Bên liên doanh tham gia. Các thành viên của Hội đồng quản trị có thể ủy quyền bằng văn bản cho người đại diện tham gia cuộc họp và biểu quyết thay về các vấn đề được ủy quyền.
    3. Hội đồng quản trị thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền theo hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản.

    Điều 19. Quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị

    Chủ tịch Hội đồng quản trị có quyền hạn và trách nhiệm:

    1. Triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị;
    2. Giữ vai trò chủ chốt trong việc giám sát, đôn đốc thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị.

    Điều 20. Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc

    1. Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc Doanh nghiệp liên doanh quản lý và điều hành công việc hàng ngày của Doanh nghiệp liên doanh. Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ Doanh nghiệp có quy định khác. Tổng Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc thứ nhất do Bên liên doanh Việt Nam đề cử và là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam. Trong trường hợp Doanh nghiệp liên doanh chỉ có một Phó Tổng Giám đốc thì người đó là Phó Tổng Giám đốc thứ nhất.
    1. Hội đồng quản trị phân định quyền hạn và nhiệm vụ giữa Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc thứ nhất. Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về hoạt động của Doanh nghiệp liên doanh. Tổng Giám đốc cần trao đổi với Phó Tổng Giám đốc thứ nhất về việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng quản trị về một số vấn đề quan trọng như: bộ máy tổ chức; bổ nhiệm, miễn nhiệm nhân sự chủ chốt; quyết toán tài chính hàng năm, quyết toán công trình; ký kết các hợp đồng kinh tế.

    Trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữa Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc thứ nhất trong điều hành hoạt động của doanh nghiệp thì ý kiến của Tổng Giám đốc là quyết định, nhưng Phó Tổng Giám đốc thứ nhất có quyền bảo lưu ý kiến của mình để đưa ra Hội đồng quản trị xem xét, quyết định tại phiên họp gần nhất.

    1. Trường hợp Tổng Giám đốc vắng mặt, Phó Tổng Giám đốc thứ nhất được ủy quyền thay mặt Tổng Giám đốc điều hành doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc về công việc của mình.

    Điều 21. Hình thức Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà đầu tư nước ngoài, do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 22. Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    Điều lệ của Doanh nghịêp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

    1. Tên, địa chỉ của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của Nhà đầu tư nước ngoài;
    2. Mục tiêu và phạm vi kinh doanh;
    3. Vốn đầu tư, vốn pháp định; phương thức, tiến độ thực hiện vốn và tiến độ xây dựng;
    4. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
    5. Các nguyên tắc tài chính;
    6. Quan hệ lao động trong doanh nghiệp, các vấn đề về sử dụng và đào tạo lao động;
    7. Thời hạn hoạt động, điều kiện chấm dứt hoạt động và giải thể doanh nghiệp;
    8. Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, Điều lệ doanh nghiệp có thể bao gồm những nội dung khác.

    Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải do đại diện có thẩm quyền của Nhà đầu tư ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối Điều lệ. Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được đăng ký tại Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 23. Vốn pháp định của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    1. Vốn pháp định của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.
    2. Phương thức và tiến độ thực hiện vốn pháp định được quy định tại Điều lệ doanh nghiệp. Trường hợp Nhà đầu tư nước ngoài không thực hiện vốn pháp định theo tiến độ đã quy định mà không có lý do chính đáng, thì Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có quyền thu hồi Giấy phép đầu tư.
    3. Việc điều chỉnh vốn đầu tư, vốn pháp định do Nhà đầu tư nước ngoài quyết định và được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    Điều 24. Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

    Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Tổng Giám đốc, trừ trường hợp Điều lệ doanh nghiệp có quy định khác.

    Chương III
    Triển khai dự án và tổ chức kinh doanh

    Điều 25. Nhân sự và phiên họp đầu tiên của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh

    Sau khi được cấp Giấy phép đầu tư, Doanh nghiệp liên doanh phải triển khai những công việc sau:

    1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư, các Bên liên doanh thông báo cho nhau danh sách thành viên Hội đồng quản trị, cử Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị.
    2. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư, Hội đồng quản trị tổ chức phiên họp đầu tiên để thực hiện các công việc chủ yếu sau:
    3. a) Thông qua Quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị;
    4. b) Bổ nhiệm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng (hoặc Giám đốc tài chính);
    5. c) Xác định cụ thể tiến độ góp vốn pháp định của các Bên liên doanh, kế hoạch và tiến độ xây dựng.
    6. Biên bản phiên họp đầu tiên của Hội đồng quản trị được gửi tới Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi Doanh nghiệp liên doanh đặt trụ sở chính. Đối với doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, biên bản được gửi đến Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao (sau đây gọi chung là Ban quản lý Khu công nghiệp) nơi thực hiện dự án.
    7. Danh sách Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc Doanh nghiệp liên doanh được đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư; đối với doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, danh sách trên được đăng ký tại Ban quản lý Khu công nghiệp.

    Điều 26. Thành lập và đăng ký bộ máy quản lý của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Việc thành lập bộ máy quản lý và cử nhân sự của Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài quyết định.

    Việc đăng ký danh sách nhân sự của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đại diện các Bên hợp doanh và Văn phòng điều hành của Bên hợp doanh nước ngoài (đối với Hợp đồng hợp tác kinh doanh) được thực hiện như đối với Doanh nghiệp liên doanh được quy định tại Điều 25 của Nghị định này.

    Điều 27. Bố cáo về việc thành lập

    Sau khi được bổ nhiệm, Tổng Giám đốc Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đại diện các Bên hợp doanh thực hiện đăng bố cáo trên báo Trung ương hoặc báo hàng ngày của địa phương trong ba số liên tiếp về những nội dung chủ yếu như sau:

    1. Tên, địa chỉ của doanh nghiệp hoặc địa điểm thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh; tên, địa chỉ của Chi nhánh, Văn phòng đại diện, Văn phòng điều hành (nếu có);
    2. Tên, địa chỉ của các Bên liên doanh, các Bên hợp doanh hoặc Nhà đầu tư nước ngoài;
    3. Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc của các Bên hợp doanh;
    4. Số và ngày cấp Giấy phép đầu tư, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư, thời hạn hoạt động của doanh nghiệp hoặc thời hạn thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    5. Vốn đầu tư, vốn pháp định của doanh nghiệp; tỷ lệ góp vốn của mỗi Bên liên doanh và vốn do các Bên hợp doanh cam kết thực hiện;
    6. Mục tiêu và phạm vi hoạt động.

    Điều 28. Đăng ký kinh doanh, Chứng chỉ hành nghề

    1. Giấy phép đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
    2. Đối với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật phải có Giấy phép kinh doanh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh chỉ cần đăng ký với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để triển khai hoạt động kinh doanh theo quy định tại Giấy phép đầu tư mà không phải xin Giấy phép kinh doanh.
    3. Đối với những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định phải có chứng chỉ hành nghề, thì trước khi đi vào hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.

    Điều 29. Chi nhánh, Văn phòng đại diện

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh được mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện ngoài tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc địa điểm hoạt động chính của Hợp đồng hợp tác kinh doanh để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định tại Giấy phép đầu tư.

    Trường hợp cần thiết để đẩy mạnh xuất khẩu, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể mở Chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện của mình ở nước ngoài để thực hiện các hoạt động giao dịch, tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm. Việc mở Chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện ở nước ngoài phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, chuẩn y.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu trách nhiệm về hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện của mình ở nước ngoài. Thu nhập của Chi nhánh được tính vào thu nhập của doanh nghiệp, hàng năm phải được chuyển về công ty mẹ tại Việt Nam và chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức quy định tại Giấy phép đầu tư. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở Chi nhánh tại nước đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế trùng với Việt Nam, thì thực hiện theo quy định của Hiệp định.
    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn trình tự, thủ tục mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh.

    Điều 30. Thuê tổ chức quản lý

    1. Đối với các lĩnh vực khách sạn, văn phòng cho thuê, căn hộ cho thuê, sân golf, thể thao, vui chơi giải trí, khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo và một số lĩnh vực khác cần có kỹ năng quản lý chuyên sâu, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thuê tổ chức quản lý để quản lý hoạt động kinh doanh.
    2. Việc thuê quản lý không được làm thay đổi hoặc tác động tiêu cực đến mục tiêu hoạt động của dự án và lợi ích của Nhà nước Việt Nam đã được quy định tại Giấy phép đầu tư.
    3. Việc thuê quản lý được thực hiện thông qua hợp đồng quản lý ký giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh với tổ chức quản lý. Phí quản lý do các Bên thỏa thuận trong hợp đồng quản lý, được tính vào chi phí quản lý của doanh nghiệp hoặc của các Bên hợp doanh.

    Hợp đồng quản lý chỉ có hiệu lực sau khi được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    1. Tổ chức quản lý hoạt động dưới danh nghĩa và sử dụng con dấu, tài khoản của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, của một hoặc các Bên hợp doanh. Tổ chức quản lý chịu trách nhiệm trước Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và tuân thủ pháp luật Việt Nam trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng quản lý.

    Tổ chức quản lý phải nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các Bên hợp doanh có trách nhiệm nộp thay tổ chức quản lý các khoản này cho Nhà nước Việt Nam.

    Trong mọi trường hợp, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của tổ chức quản lý trước pháp luật Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý nêu tại hợp đồng quản lý. Tổ chức quản lý phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về những hoạt động của mình nằm ngoài phạm vi hợp đồng quản lý.

    Điều 31. Tổ chức lại doanh nghiệp

    1. Việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức đầu tư (sau đây gọi chung là tổ chức lại doanh nghiệp) phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y.

    Hồ sơ đề nghị tổ chức lại doanh nghiệp gồm:

    1. a) Đơn xin tổ chức lại doanh nghiệp;
    2. b) Hồ sơ chuyển nhượng vốn (đối với trường hợp chuyển nhượng vốn);
    3. c) Nghị quyết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc thỏa thuận của các Bên hợp doanh;
    4. d) Điều lệ doanh nghiệp mới (trừ trường hợp chuyển thành doanh nghiệp Việt Nam);

    đ) Báo cáo tình hình hoạt động tài chính của các doanh nghiệp trước khi được tổ chức lại;

    1. e) Giải trình về việc tổ chức lại doanh nghiệp;
    2. g) Các tài liệu liên quan đến quyền sử dụng đất;

    ­h) Các tài liệu khác khi Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư yêu cầu.

    1. Giải trình về việc tổ chức lại doanh nghiệp có các nội dung chủ yếu như sau:
    2. a) Tên, địa chỉ người đại diện theo pháp luật; tên, địa chỉ các doanh nghiệp trước và sau khi tổ chức lại doanh nghiệp;
    3. b) Mục tiêu sản xuất, kinh doanh;
    4. c) Phương án sử dụng lao động;
    5. d) Phương án giải quyết các quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp liên quan đến việc tổ chức lại doanh nghiệp;

    đ) Thời hạn thực hiện việc tổ chức lại doanh nghiệp.

    1. Trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định chấp thuận việc tổ chức lại doanh nghiệp dưới hình thức cấp Giấy phép đầu tư. Trường hợp không chấp thuận, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư phải có văn bản giải thích rõ lý do.

    Điều 32. Kế thừa quyền và nghĩa vụ sau khi tổ chức lại doanh nghiệp

    Sau khi được cấp Giấy phép đầu tư cho việc tổ chức lại doanh nghiệp, doanh nghiệp mới kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cũ theo như phương án giải quyết các quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp nêu trong giải trình về việc tổ chức lại doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định này.

    Điều 33. Chuyển nhượng vốn

    1. Khi chuyển nhượng vốn, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đăng ký chuyển nhượng vốn với Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.
    2. Hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn gồm:
    3. a) Đơn đăng ký chuyển nhượng vốn;
    4. b) Hợp đồng chuyển nhượng vốn;
    5. c) Nghị quyết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc thỏa thuận của các Bên hợp doanh;
    6. d) Sửa đổi, bổ sung Hợp đồng liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh doanh, Điều lệ doanh nghiệp;

    đ) Báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp;

    1. e) Tư cách pháp lý, tình hình tài chính của Bên nhận chuyển nhượng trong trường hợp chuyển nhượng cho bên ngoài doanh nghiệp.
    2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký chuyển nhượng vốn, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư quyết định điều chỉnh Giấy phép đầu tư.

    Điều 34. Cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định

    1. Trong quá trình hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định khi có những thay đổi về mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các trường hợp khác.
    2. Việc cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định nêu tại khoản 1 Điều này không được làm giảm tỷ lệ vốn pháp định xuống dưới mức quy định tại Điều 14 và Điều 23 Nghị định này.
    3. Việc cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định, thay đổi tỷ lệ góp vốn của các Bên liên doanh do Hội đồng quản trị doanh nghiệp quyết định và được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y.

    Điều 35. Chuyển giao không bồi hoàn

    Trường hợp Nhà đầu tư nước ngoài cam kết chuyển giao không bồi hoàn tài sản thuộc sở hữu của mình cho Nhà nước Việt Nam hoặc cho Bên Việt Nam khi hết thời hạn hoạt động theo quy định tại Giấy phép đầu tư, thì  tài sản chuyển giao phải bảo đảm trong tình trạng hoạt động bình thường.

    Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh chấm dứt hoạt động trước thời hạn do các nguyên nhân không phải là bất khả kháng và nếu việc chấm dứt này làm thay đổi cam kết chuyển giao không bồi hoàn, thì Nhà đầu tư nước ngoài có trách nhiệm hoàn lại những ưu đãi đã được hưởng do cam kết chuyển giao không bồi hoàn mà có.

    Điều 36. Tạm ngừng hoạt động hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án

    Khi có lý do xác đáng cần phải tạm ngừng hoạt động hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh phải báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư. Trừ trường hợp bất khả kháng, việc tạm ngừng hoạt động hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án chỉ được thực hiện sau khi được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    Khi tạm ngừng hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án, tùy từng trường hợp cụ thể, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh có thể được miễn, giảm các nghĩa vụ tài chính.

    Điều 37. Chấm dứt hoạt động, thanh lý, giải thể doanh nghiệp

    Việc chấm dứt hoạt động, thanh lý, giải thể Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh được thực hiện theo trình tự sau:

    1. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định chấm dứt hoạt động của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong những trường hợp quy định tại Điều 52 Luật Đầu tư nước ngoài.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh có trách nhiệm thành lập Ban thanh lý để thanh lý tài sản doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
    3. Sau khi kết thúc thanh lý, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh lập báo cáo và gửi hồ sơ thanh lý trình Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư xem xét, ra quyết định giải thể doanh nghiệp hoặc chấm dứt hiệu lực Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    Điều 38. Bố cáo về việc chấm dứt hoạt động

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định chấm dứt hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,  các Bên hợp doanh phải đăng trên báo Trung ương hoặc báo hàng ngày của địa phương trong ba số liên tiếp về việc chấm dứt hoạt động và thanh lý tài sản của doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    ­Điều 39. Thành lập Ban thanh lý

    1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn hoạt động hoặc kể từ ngày quyết định chấm dứt hoạt động trước thời hạn có hiệu lực, Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc Nhà đầu tư nước ngoài (đối với Doanh nghiệp 100% nước ngoài) hoặc các Bên hợp doanh có trách nhiệm thành lập Ban thanh lý để tiến hành thanh lý tài sản của doanh nghiệp hoặc thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Thành phần Ban thanh lý do Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh quyết định.
    2. Quá thời hạn nêu tại khoản 1 Điều này, nếu Ban thanh lý không được thành lập, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư ra quyết định thành lập Ban thanh lý để thực hiện việc thanh lý doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể mời đại diện của các cơ quan, tổ chức có liên quan hoặc chuyên gia, đại diện người lao động, đại diện chủ nợ tham gia Ban thanh lý.
    3. Quyết định thành lập Ban thanh lý nêu tại các khoản 1 và 2 Điều này phải quy định rõ thành phần, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, kinh phí hoạt động của Ban thanh lý và được gửi cho các Bên liên doanh, các thành viên Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh.

    Điều 40. Quyền hạn và nhiệm vụ của Ban thanh lý

    1. Ban thanh lý là tổ chức giúp Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh trong việc thanh lý doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ban thanh lý được sử dụng con dấu của doanh nghiệp hoặc của Bên Việt Nam tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh để phục vụ việc thanh lý;
    2. Trong quá trình thanh lý, Ban thanh lý có quyền:
    3. a) Yêu cầu Tổng Giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng của doanh nghiệp, đại diện các Bên hợp doanh, và đề nghị tổ chức, cá nhân khác cung cấp hồ sơ, tài liệu, chứng từ… liên quan đến hoạt động thanh lý;
    4. b) Trong trường hợp cần thiết, mời các tổ chức, chuyên gia Việt Nam hoặc nước ngoài tiến hành kiểm toán, giám định máy móc, thiết bị, nhà xưởng, xác định giá trị còn lại của doanh nghiệp hoặc của Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
    5. Ban thanh lý có nhiệm vụ:
    6. a) Thông báo bằng văn bản cho các chủ nợ, các tổ chức có liên quan về việc thanh lý doanh nghiệp, thanh lý Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    7. b) Xác định giá trị tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp hoặc của Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    8. c) Xác định các nghĩa vụ tài chính đã thực hiện đối với Nhà nước;
    9. d) Xác định các khoản còn phải thu, phải trả;

    đ) Lập phương án thanh lý để Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh chuẩn y;

    1. e) Thực hiện phương án thanh lý đã được chuẩn y;
    2. g) Lập báo cáo kết quả thanh lý trình Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh.

    Điều 41. Thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ

    Trong quá trình thanh lý, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  hoặc các Bên hợp doanh thanh toán các nghĩa vụ theo thứ tự ưu tiên như sau:

    1. Chi phí liên quan đến hoạt động thanh lý;
    2. Lương, chi phí bảo hiểm xã hội mà doanh nghiệp hoặc các Bên hợp doanh còn nợ;
    3. Các khoản thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp, của các Bên hợp doanh đối với Nhà nước Việt Nam;
    4. Các khoản nợ;
    5. Các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp, của các Bên hợp doanh.

    Điều 42. Thời hạn hoạt động của Ban thanh lý

    1. 1. Thời hạn hoạt động của Ban thanh lý không quá 12 tháng kể từ ngày thành lập.
    2. Khi hết thời hạn, nếu việc thanh lý chưa kết thúc, Ban thanh lý vẫn chấm dứt hoạt động; trong trường hợp đó, các Bên liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh tự giải quyết các vấn đề chưa được xử lý. Trường hợp có tranh chấp thì việc xử lý tranh chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 122 của Nghị định này.

    Điều 43. Phương thức thanh lý tài sản

    Tài sản của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tài sản để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh khi thanh lý được thực hiện theo phương thức do các bên thoả thuận.

    Trong trường hợp Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, khi chấm dứt hoạt động, giá trị quyền sử dụng đất của thời gian còn lại thuộc tài sản thanh lý của doanh nghiệp.

    Điều 44. Thủ tục giải quyết khi lâm vào tình trạng phá sản

    Trong quá trình thanh lý, nếu có đủ yếu tố để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thì Ban thanh lý phải báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư để chấm dứt việc thanh lý và chuyển sang giải quyết theo thủ tục phá sản quy định trong pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

    Chương IV
    các vấn đề về thuế – tài chính

    Điều 45. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất là 25% lợi nhuận thu được, trừ những trường hợp quy định tại Điều 46 của Nghị định này.

    Đối với lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên quý hiếm khác thì mức thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Dầu khí và pháp luật có liên quan.

    Điều 46. Thuế thu nhập doanh nghiệp trong các trường hợp khuyến khích đầu tư

    Thuế suất thuế  thu nhập doanh nghiệp ưu đãi được áp dụng như sau:

    1. 20% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau:
    2. a) Doanh nghiệp khu công nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ;
    3. b) Dự án sản xuất không thuộc loại các dự án nêu tại Điều 45 và các khoản 2 và 3 Điều này.
    4. 15% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau:
    5. a) Thuộc danh mục dự án khuyến khích đầu tư;
    6. b) Đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn;
    7. c) Doanh nghiệp dịch vụ trong Khu chế xuất;
    8. d) Doanh nghiệp khu công nghiệp xuất khẩu trên 50% sản phẩm;

    đ) Chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động.

    1. 10% đối với dự án có một trong các tiêu chuẩn sau:
    2. a) Có 2 trong các tiêu chuẩn nêu tại khoản 2 Điều này;
    3. b) Thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư;
    4. c) Đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư;
    5. d) Doanh nghiệp phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao; Doanh nghiệp chế xuất;

    đ) Thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học;

    1. Thời hạn áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi được quy định như sau:
    2. a) Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi nêu tại Điều này được áp dụng trong suốt thời hạn thực hiện dự án đầu tư đối với dự án đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau:

    – Thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư;

    – Thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn trong danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư;

    – Phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao;

    – Đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao;

    – Thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học.

    1. b) Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% được áp dụng trong 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án được quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
    2. c) Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 15% được áp dụng trong 12 năm, kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án được quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
    3. d) Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20% được áp dụng trong 10 năm, kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ các dự án được quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
    4. Sau thời gian được hưởng mức thuế suất ưu đãi nêu tại các điểm b, c, d khoản 4 Điều này, các dự án phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất là 25%.
    5. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo Luật đầu tư nước ngoài được giảm 20% thuế thu nhập doanh nghiệp so với các dự án cùng loại, trừ trường hợp được hưởng mức thuế là 10%.

    Điều 47. Các dự án không được hưởng thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

    Các mức thuế suất nêu tại Điều 46 Nghị định này không áp dụng với các dự án khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê (trừ trường hợp đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư hoặc chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động), các dự án tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, cung cấp dịch vụ (trừ dự án trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao).

    Điều 48. Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

    Việc miễn, giảm thuế  thu nhập doanh nghiệp áp dụng như sau:

    1. Các dự án nêu tại khoản 1 Điều 46 Nghị định này được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 1 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 02 năm tiếp theo.
    2. Các dự án nêu tại khoản 2 Điều 46 Nghị định này được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 02 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo.
    3. Các dự án nêu tại khoản 3 Điều 46 Nghị định này và các dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 04 ăm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo, trừ những dự án được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 8 năm.
    4. Các Doanh nghiệp BOT, BTO, BT đầu tư vào địa bàn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư; Doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao; doanh nghiệp dịch vụ công nghệ cao trong Khu công nghệ cao; các dự án trồng rừng và các dự án xây dựng – kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng tại điạ bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; các dự án có quy mô lớn và có tác động lớn đối với kinh tế – xã hội thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 8 năm kể từ khi kinh doanh có lãi.
    5. Thời hạn miễn, giảm thuế được tính liên tục kể từ năm đầu tiên kinh doanh có lãi.
    6. Việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trên đây không áp dụng đối với các dự án khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê (trừ trường hợp đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư hoặc chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động), các dự án đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, cung cấp dịch vụ (trừ dự án trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao).

    Điều 49. Điều chỉnh thuế suất ưu đãi và thời hạn miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

    1. Trong quá trình kinh doanh, nếu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài không đạt các tiêu chuẩn để được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi và thời hạn miễn, giảm thuế quy định tại các Điều 46 và 48 Nghị định này, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư sẽ điều chỉnh mức thuế suất, thời hạn miễn, giảm thuế đã được quy định trong Giấy phép đầu tư.
    2. Bộ Tài chính quyết định việc miễn, giảm thuế theo quy định hiện hành đối với các trường hợp gặp khó khăn trong quá trình kinh doanh do thiên tai, hoả hoạn và các điều kiện bất khả kháng khác.

    Điều 50. Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

    1. Lợi nhuận mà Nhà đầu tư nước ngoài thu được do đầu tư tại Việt Nam (kể cả thuế thu nhập doanh nghiệp được hoàn lại do tái đầu tư và lợi nhuận thu được do chuyển nhượng vốn), nếu chuyển ra nước ngoài hoặc được giữ lại ngoài Việt Nam đều phải chịu thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
    1. Thuế suất thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài áp dụng như sau:
    2. a) 3% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với:

    – Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài;

    – Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư  vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao;

    – Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh từ 10 triệu USD trở lên;

    – Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư.

    1. b) 5% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh từ 5 triệu USD đến dưới 10 triệu USD và đối với Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học.
    2. c) 7% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài đối với Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều này.
    3. Thuế chuyển lợi nhuận được thu theo từng lần chuyển lợi nhuận.
    4. Trường hợp Nhà đầu tư nước ngoài đã nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, nhưng sau đó không chuyển ra nước ngoài, thì số thuế đã nộp sẽ được hoàn lại.

    Điều 51. Hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong trường hợp tái đầu tư

    1. Nhà đầu tư nước ngoài dùng lợi nhuận và các khoản thu hợp pháp khác từ hoạt động đầu tư ở Việt Nam để tái đầu tư vào dự án đang thực hiện hoặc đầu tư vào dự án mới theo Luật Đầu tư nước ngoài được hoàn lại một phần hoặc toàn bộ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp của số lợi nhuận tái đầu tư (trừ những trường hợp được quy định tại Luật Dầu khí) nếu đáp ứng các điều kiện sau:
    2. a) Tái đầu tư vào những dự án được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nêu tại Điều 46 của Nghị định này;
    3. b) Vốn tái đầu tư được sử dụng từ 3 năm trở lên;
    4. c) Đã góp đủ vốn pháp định, vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh ghi trong Giấy phép đầu tư.
    5. Mức hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với số lợi nhuận tái đầu tư tại Việt Nam được quy định như sau:
    6. a) 100% nếu tái đầu tư vào các dự án thuộc diện được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%;
    7. b) 75% nếu tái đầu tư vào các dự án thuộc diện được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 15%;
    8. c) 50% nếu tái đầu tư vào các dự án thuộc diện được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20%.
    9. Khi có yêu cầu sử dụng lợi nhuận tái đầu tư, Nhà đầu tư nước ngoài lập hồ sơ gửi Bộ Tài chính để được xem xét hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp, gồm:
    10. a) Đơn xin hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp do tái đầu tư;
    11. b) Cam kết về việc sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư từ 3 năm trở lên;
    12. c) Cam kết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, Nhà đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh về việc Nhà đầu tư nước ngoài đã góp đủ vốn pháp định hoặc vốn để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    13. d) Bản sao Giấy phép đầu tư;

    đ) Giấy chứng nhận của Cơ quan thuế về số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp.

    1. Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính thông báo quyết định của mình cho Nhà đầu tư nước ngoài; trong trường hợp được chấp thuận, Nhà đầu tư nước ngoài được làm thủ tục hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần lợi nhuận của mình dùng để tái đầu tư. Quá thời hạn nêu trên, nếu chưa hoặc không chấp thuận, Bộ Tài chính thông báo cho Nhà đầu tư nước ngoài bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Trường hợp số lợi nhuận đã đăng ký tái đầu tư không được sử dụng để tái đầu tư, thì Nhà đầu tư nước ngoài phải nộp lại phần thuế thu nhập doanh nghiệp đã được hoàn, cộng thêm một khoản tiền lãi được tính bằng lợi tức tiền vay đối với số thuế phải nộp lại.

    Điều 52. Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chuyển nhượng vốn

    Việc chuyển nhượng vốn thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Luật Đầu tư nước ngoài và là đối tượng chịu thuế theo quy định như sau:

    1. Trong trường hợp chuyển nhượng vốn có phát sinh lợi nhuận, Bên chuyển nhượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 25% lợi nhuận thu được.
    2. Lợi nhuận chịu thuế bằng giá trị chuyển nhượng trừ đi giá trị ban đầu của phần vốn chuyển nhượng, trừ đi chi phí chuyển nhượng (nếu có).

    Trường hợp các Nhà đầu tư nước ngoài sau đó lại tiếp tục chuyển nhượng phần vốn của mình, thì giá trị ban đầu của phần vốn chuyển nhượng từng lần sau được xác định bằng giá trị chuyển nhượng của hợp đồng chuyển nhượng ngay trước đó cộng với giá trị phần vốn góp bổ sung (nếu có).

    1. Sau khi Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư xác nhận việc đăng ký Hợp đồng chuyển nhượng vốn thông qua việc điều chỉnh Giấy phép đầu tư, bên chuyển nhượng vốn hoặc người được uỷ quyền phải nộp cho Cơ quan Thuế địa phương tờ khai thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vốn kèm theo hồ sơ có liên quan theo quy định của Cơ quan Thuế.

    Điều 53. Năm tính thuế

    Năm tính thuế đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh có thể đề nghị Bộ Tài chính cho áp dụng năm tài chính 12 tháng của mình để tính và nộp thuế  thu nhập doanh nghiệp.

    Điều 54. Lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

    Lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là số chênh lệch giữa tổng các khoản thu với tổng các khoản chi cộng với các khoản lợi nhuận phụ khác trong năm tính thuế trừ đi số lỗ được chuyển theo quy định tại Điều 40 của Luật Đầu tư nước ngoài. Lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp gồm lợi nhuận chịu thuế của cơ sở chính cộng với lợi nhuận chịu thuế của cơ sở phụ (nếu có) của doanh nghiệp.

    Việc xác định lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được tính vào chi phí các khoản chi được cơ quan thuế xác định là khoản chi hợp lý tài trợ cho các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam.

    Điều 55. Chuyển lỗ

    Trong quá trình hoạt động, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài sau khi quyết toán thuế với cơ quan thuế mà bị lỗ thì được chuyển khoản lỗ sang năm sau, số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm.

    Điều 56. Trích lập quỹ doanh nghiệp

    Sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trích lợi nhuận còn lại để lập các quỹ dự phòng, quỹ phúc lợi, quỹ mở rộng sản xuất và các quỹ khác theo quyết định của doanh nghiệp.

    Điều 57. Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định, bao gồm:
    2. a) Thiết bị, máy móc;
    3. b) Phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và phương tiện vận chuyển dùng để đưa đón công nhân (ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên, phương tiện thuỷ);
    4. c) Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm với thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển và vận tải chuyên dùng quy định tại điểm b khoản này;
    5. d) Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để chế tạo thiết bị, máy móc trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm với thiết bị, máy móc;

    đ) Vật tư xây dựng mà trong nước chưa sản xuất được.

    1. Nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để thực hiện dự án BOT, BTO, BT; giống cây trồng, vật nuôi, nông dược đặc chủng được phép nhập khẩu để thực hiện dự án nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp được miễn thuế nhập khẩu.
    2. Việc miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu nêu tại khoản 1 và 2 Điều này được áp dụng cho cả trường hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế, đổi mới công nghệ.
    3. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh trong lĩnh vực khách sạn, văn phòng – căn hộ cho thuê, nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ kỹ thuật, siêu thị, sân golf, khu du lịch, khu thể thao, khu vui chơi giải trí, cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo, văn hoá, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ tư vấn cũng được áp dụng việc miễn thuế như quy định tại khoản 1 và 3 Điều này, trừ các trang thiết bị chỉ được nhập khẩu miễn thuế nhập khẩu một lần theo quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.
    4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đầu tư vào dự án thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất.
    5. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đầu tư sản xuất linh kiện, phụ tùng cơ khí, điện, điện tử được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 05 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất.
    6. Nguyên liệu, bộ phận rời, phụ tùng và vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu.
    7. Hàng hoá, vật tư khác dùng cho các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ được miễn thuế nhập khẩu.
    8. Căn cứ vào Giấy phép đầu tư, giải trình kinh tế – kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật của dự án, Bộ Thương mại hoặc Cơ quan được Bộ Thương mại uỷ quyền quyết định danh mục hàng hoá nhập khẩu miễn thuế. Hàng hóa nhập khẩu nêu trên không được nhượng bán tại thị trường Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, nếu nhượng bán tại thị trường Việt Nam thì phải được Bộ Thương mại chấp thuận và phải nộp các khoản thuế liên quan theo quy định của pháp luật.

     

    Điều 58. Thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu và đối với nguyên liệu để sản xuất sản phẩm bán cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh sản xuất hàng xuất khẩu được tạm chưa nộp thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu trong thời hạn được quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Đối với một số sản phẩm xuất khẩu do yêu cầu sản xuất hoặc chu kỳ sản xuất, thì thời gian tạm chưa nộp thuế do Bộ Tài chính quyết định.

    Quá thời hạn nêu trên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh phải nộp thuế nhập khẩu và khi xuất khẩu thành phẩm được hoàn thuế nhập khẩu số nguyên liệu, vật tư đã nhập khẩu theo tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ thành phẩm xuất khẩu.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh bán sản phẩm của mình sản xuất cho các doanh nghiệp khác để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu tương ứng với số sản phẩm này.

    Điều 59. Giá tính thuế nhập khẩu

    Giá tính thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu thuộc diện phải chịu thuế nhập khẩu được xác định theo giá ghi trong hoá đơn hàng hoá nhập khẩu. Trường hợp không có hoá đơn thì giá tính thuế nhập khẩu được xác định theo quy định của Bộ Tài chính.

     

    Điều 60. Thuế giá trị gia tăng

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được tạm chưa phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu trong thời hạn tạm chưa phải nộp thuế nhập khẩu theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh không phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với:
    3. a) Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được, nhập khẩu để tạo tài sản cố định của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;

    Trường hợp dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ nhập khẩu thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng, nhưng trong dây chuyền đồng bộ đó có cả loại thiết bị, máy móc trong nước đã sản xuất được thì cũng không tính thuế giá trị gia tăng cho cả dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ;

    1. b) Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được để tạo tài sản cố định của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc để thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    2. c) Nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất sản phẩm cung cấp cho các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu.

    Điều 61. Khấu hao tài sản cố định

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thực hiện việc khấu hao tài sản cố định theo quy định của Bộ Tài chính.

    Chương  V
    chế độ kế toán, thống kê và bảo hiểm

    Điều 62. Công tác kế toán, kiểm toán, thống kê

    1. Công tác kế toán, kiểm toán, thống kê trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán, thống kê của Việt Nam.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện kế toán theo chế độ kế toán Việt Nam.

    Trường hợp có lý do chính đáng cần áp dụng chế độ kế toán nước ngoài thông dụng khác thì phải được Bộ Tài chính chấp thuận.

    1. Bên hợp doanh nước ngoài ghi chép kế toán theo nội dung phù hợp với từng loại hình hợp tác kinh doanh.

    Điều 63. Đơn vị đo lường, tiền tệ, ghi chép kế toán, thống kê

    1. Đơn vị đo lường dùng trong kế toán và thống kê là đơn vị đo lường chính thức của Việt Nam. Các đơn vị đo lường khác phải được quy đổi ra đơn vị đo lường chính thức của Việt Nam.
    2. Đơn vị tiền tệ được sử dụng trong ghi chép kế toán và thống kê là đồng Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên hợp doanh nước ngoài có thể đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận việc sử dụng đơn vị tiền tệ nước ngoài.
    3. Việc ghi chép kế toán và thống kê được thực hiện bằng tiếng Việt Nam hoặc đồng thời bằng tiếng Việt Nam và tiếng nước ngoài thông dụng.

    Điều 64. Báo cáo tài chính

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài phải gửi báo cáo tài chính hàng năm đến Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê trong vòng 03 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính của doanh nghiệp.

    Báo cáo tài chính hàng năm của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về kiểm toán trước khi gửi tới các cơ quan trên.

    Công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính độc lập, khách quan, trung thực của kết quả kiểm toán.

    Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài đã được kiểm toán có thể được sử dụng làm cơ sở để xác định và quyết toán các nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước Việt Nam.

    Điều 65. Quy định về bảo hiểm

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện việc bảo hiểm trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm ký với công ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện việc bảo hiểm tự nguyện và bắt buộc theo quy định của pháp luật.

    Đối tượng bảo hiểm gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

     

    Chương VI
    quản lý ngoại hối

    Điều 66. Mở tài khoản

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài được mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản đồng Việt Nam tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.

    Trong trường hợp đặc biệt, đối với một số dự án có nhu cầu cần thiết, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản tại ngân hàng ở nước ngoài sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận. Doanh nghiệp có trách nhiệm báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tình hình sử dụng tài khoản mở ở nước ngoài. Việc mở, sử dụng và đóng tài khoản của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Điều 67. Quy định về bảo đảm ngoại tệ

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên hợp doanh nước ngoài được mua ngoại tệ tại Ngân hàng Thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng cho các giao dịch vãng lai và các giao dịch được phép khác theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
    2. Đối với những dự án đặc biệt quan trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ trong từng thời kỳ, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo đảm cân đối ngoại tệ cho Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và được quy định tại Giấy phép đầu tư.
    3. Chính phủ Việt Nam bảo đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và một số dự án quan trọng khác trong trường hợp các Ngân hàng Thương mại không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ nêu tại khoản 1 Điều này.

    Điều 68. Chuyển các khoản thu ra nước ngoài của Nhà đầu tư nước ngoài

    1. Sau khi thực hiện các nghĩa vụ về thuế, Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài:
    2. a) Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, khoản thu được chia;
    3. b) Tiền thu nhập do cung ứng dịch vụ và chuyển giao công nghệ;
    4. c) Tiền gốc và lãi của các khoản vay nước ngoài;
    5. d) Vốn đầu tư;

    đ) Các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.

    1. Khi chấm dứt hoạt động và giải thể doanh nghiệp, Nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài tài sản thuộc sở hữu hợp pháp.
    2. Trong trường hợp số tiền chuyển ra nước ngoài quy định tại khoản 2 Điều này cao hơn vốn ban đầu và vốn tái đầu tư, thì số tiền chênh lệch đó chỉ được chuyển ra nước ngoài sau khi được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y.

    Điều 69. Chuyển các khoản thu nhập của người nước ngoài ra nước ngoài

    Người nước ngoài làm việc trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hợp đồng hợp tác kinh doanh, được chuyển ra nước ngoài tiền lương và các khoản thu nhập hợp pháp khác bằng tiền nước ngoài, sau khi đã nộp thuế thu nhập và chi phí khác.

    Điều 70. Tỷ giá chuyển đổi

    Tỷ giá chuyển đổi tiền nước ngoài sang tiền Việt Nam và ngược lại áp dụng trong quá trình đầu tư và sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm chuyển đổi.

    Chương VII
    xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ,
    bảo vệ môi trường

    Điều 71. Đăng ký kế hoạch nhập khẩu

    1.Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh đăng ký kế hoạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, nguyên liệu… cho toàn bộ thời gian xây dựng cơ bản của dự án, hoặc chia thành từng năm phù hợp với tiến độ xây lắp. Kế hoạch nhập khẩu có thể được bổ sung, điều chỉnh vào tháng đầu của mỗi quý và hàng năm phù hợp với tiến độ góp vốn, tiến độ thi công, chương trình sản xuất kinh doanh.

    1. Trên cơ sở Giấy phép đầu tư, căn cứ vào giải trình kinh tế – kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật công trình, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Cơ quan được Bộ Thương mại uỷ quyền duyệt kế hoạch nhập khẩu cho từng dự án. Quá thời hạn trên, nếu chưa phê duyệt, Cơ quan được Bộ Thương mại ủy quyền phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp, các Bên hợp doanh và nêu rõ lý do.
    2. Trong điều kiện thương mại như nhau, khuyến khích Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh mua hàng hoá tại Việt Nam thay vì nhập khẩu.

    Điều 72. Yêu cầu đối với thiết bị, máy móc, vật tư nhập khẩu

    Thiết bị, máy móc, vật tư nhập khẩu vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư phải bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, phù hợp với yêu cầu sản xuất, yêu cầu về bảo vệ môi trường, an toàn lao động nêu trong giải trình kinh tế – kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật và các quy định về nhập khẩu thiết bị, máy móc.

    Trừ thiết bị, máy móc đã qua sử dụng thuộc danh mục cấm nhập khẩu, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được quyền quyết định và chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế – kỹ thuật của việc nhập khẩu thiết bị, máy móc đã qua sử dụng và đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

     

    Điều 73. Giám định thiết bị, máy móc nhập khẩu

    1. Thiết bị, máy móc nhập khẩu để thực hiện dự án đầu tư phải được giám định giá trị, chất lượng trước khi nhập khẩu hoặc trước khi lắp đặt, trừ thiết bị, máy móc đã được mua sắm thông qua đấu thầu.
    2. Hải quan cửa khẩu căn cứ vào kế hoạch nhập khẩu đã được phê duyệt để cho phép nhập khẩu thiết bị, máy móc mà không yêu cầu việc xuất trình chứng chỉ giám định.
    3. Tổ chức thực hiện giám định giá trị thiết bị, máy móc nhập khẩu là Công ty giám định được phép hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức Nhà nước Việt Nam có chức năng giám định, hoặc Công ty giám định ở nước ngoài đối với việc giám định thiết bị, máy móc trước khi nhập khẩu. Nhà đầu tư phải cung cấp thông tin cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư về Công ty giám định mà mình lựa chọn.

    Tổ chức giám định phải chịu trách nhiệm pháp lý và vật chất về kết quả giám định. Trong trường hợp giá trị thiết bị, máy móc được giám định thấp hơn giá trị do Nhà đầu tư báo cáo, thì Nhà đầu tư phải điều chỉnh lại giá trị thực hiện theo kết quả đó. Nếu phát hiện có gian lận, thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    1. Trong trường hợp cần thiết, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể yêu cầu giám định lại giá trị các thiết bị, máy móc nhập khẩu.

    Điều  74. Thuê mua tài chính và thuê thiết bị, máy móc

    1. Đối với một số dự án có yêu cầu đặc biệt, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thuê thiết bị, máy móc ở trong nước và ở nước ngoài để thực hiện dự án.
    2. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê mua tài chính thiết bị, máy móc tạo tài sản cố định, thì được miễn thuế nhập khẩu.
    3. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê thiết bị, máy móc để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện theo quy định sau:
    4. a) Chỉ được thuê thiết bị, máy móc chưa có trong dây chuyền công nghệ đăng ký tại giải trình kinh tế – kỹ thuật, cũng như khuôn mẫu và phụ tùng đi kèm để sản xuất trong một thời gian nhất định;
    5. b) Thiết bị, máy móc thuê từ nước ngoài phải tái xuất khẩu khi hết thời hạn thuê.

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho Bên cho thuê theo quy định của pháp luật.

    Doanh nghiệp được hạch toán chi phí thuê thiết bị, máy móc vào chi phí kinh doanh, không thực hiện việc khấu hao tài sản đối với thiết bị, máy móc thuê, không được tính giá trị tài sản thuê vào giá trị tài sản của doanh nghiệp.

    Thiết bị, máy móc thuê trong thời hạn thuê không được coi là tài sản của Bên thuê khi tiến hành các thủ tục giải thể hay phá sản doanh nghiệp.

    Điều 75. Gia công và gia công lại

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thực hiện hoạt động gia công hoặc gia công lại sản phẩm theo mục tiêu được quy định tại Giấy phép đầu tư, cụ thể là:

    1. Nhận gia công nước ngoài;
    2. Nhận gia công trong nước;
    3. Đặt gia công trong nước một phần sản phẩm hoặc một số công đoạn mà công suất máy móc, thiết bị hoặc dây chuyền công nghệ chưa bảo đảm sản xuất được.

    Điều 76. Xuất khẩu hàng hoá

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu sản phẩm của mình, được nhận ủy thác xuất khẩu theo quy định của pháp luật.

    Doanh nghiệp làm thủ tục xuất khẩu tại Cơ quan Hải quan mà không phải đăng ký kế hoạch xuất khẩu.

    Trừ các mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, danh mục hàng hoá xuất khẩu có điều kiện, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được trực tiếp mua hàng hoá, sản phẩm tại thị trường Việt Nam để chế biến xuất khẩu hoặc để xuất khẩu theo quy định của Bộ Thương mại.

     

    Điều 77. Tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Việt Nam

    Đối với sản phẩm tiêu thụ tại thị trường Việt Nam, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trực tiếp hoặc thông qua đại lý tiêu thụ để thực hiện, mà không bị giới hạn về địa bàn tiêu thụ. Doanh nghiệp được làm đại lý tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp khác có cùng loại sản phẩm sản xuất tại Việt Nam.

    Giá bán sản phẩm do doanh nghiệp quyết định. Đối với những hàng hoá, dịch vụ Nhà nước thống nhất quản lý giá, giá bán thực hiện theo khung giá do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố.

    Điều 78. Bán sản phẩm của Doanh nghiệp chế xuất vào thị trường Việt Nam

    Doanh nghiệp chế xuất được bán vào thị trường nội địa các sản phẩm sản xuất tại doanh nghiệp, bao gồm:

    1. Nguyên liệu, bán thành phẩm cho các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu;
    2. Hàng hoá mà trong nước có nhu cầu nhập khẩu;
    3. Phế liệu, phế phẩm còn giá trị thương mại.

    Thủ tục và việc nộp thuế đối với các hàng hoá nói trên thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập khẩu.

    Điều 79. Kho bảo thuế

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu được lập Kho bảo thuế tại doanh nghiệp. Hàng hoá đưa vào Kho bảo thuế chưa thuộc diện phải nộp thuế nhập khẩu.

    Doanh nghiệp có nhu cầu thành lập Kho bảo thuế phải bảo đảm các điều kiện và thủ tục sau đây:

    1. Xuất khẩu ít nhất 50% sản phẩm;
    2. Hàng hoá đưa từ Kho bảo thuế vào cơ sở sản xuất phải được đăng ký, và chịu sự giám sát của hải quan;
    3. Hàng hoá đưa vào Kho bảo thuế không được bán tại thị trường Việt Nam. Trường hợp được Bộ Thương mại cho phép bán tại thị trường Việt Nam, doanh nghiệp phải nộp thuế nhập khẩu và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật;
    4. Hàng hoá đưa vào Kho bảo thuế nếu bị hư hỏng, giảm phẩm chất không đáp ứng yêu cầu sản xuất thì phải tái xuất khẩu hoặc tiêu huỷ. Việc tiêu huỷ phải theo đúng quy định và chịu sự giám sát của Cơ quan Hải quan, Cơ quan Thuế và Cơ quan Môi trường.

    Tổng cục Hải quan căn cứ vào quy định trên đây để hướng dẫn việc cấp Giấy phép thành lập Kho bảo thuế tại Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thực hiện việc quản lý, giám sát hoạt động của Kho bảo thuế.

    Điều 80. Bảo hộ và khuyến khích chuyển giao công nghệ

    1. Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi và bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của bên chuyển giao công nghệ để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ; khuyến khích chuyển giao nhanh công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến và công nghệ đáp ứng một trong các yêu cầu sau:
    2. a) Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết tại Việt Nam hoặc sản xuất hàng xuất khẩu;
    3. b) Nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất;
    4. c) Tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
    5. Nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, trật tự công cộng và an toàn lao động.

    Điều 81. Chuyển giao công nghệ và góp vốn bằng công nghệ

    1. Việc chuyển giao công nghệ của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thực hiện trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.
    2. Giá trị công nghệ chuyển giao dùng để góp vốn do các bên thoả thuận và trong mọi trường hợp không vượt quá 20% vốn pháp định.

    Bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật,… dùng để góp vốn được miễn các loại thuế có liên quan đến chuyển giao công nghệ.

    1. Khi góp vốn bằng công nghệ, Nhà đầu tư phải lập hồ sơ chuyển giao công nghệ. Hồ sơ chuyển giao công nghệ được gửi kèm theo hồ sơ dự án xin cấp Giấy phép đầu tư và phải có các tài liệu liên quan đến sở hữu công nghiệp, văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và các văn bản xác nhận về tính năng kỹ thuật, nguyên tắc thoả thuận giá trị công nghệ của các bên liên doanh.

    Việc góp vốn bằng công nghệ phải được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chấp thuận. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư thực hiện việc điều chỉnh Giấy phép đầu tư sau khi việc góp vốn bằng công nghệ được chuẩn y.

    Điều 82. Bảo vệ môi trường

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh có trách nhiệm tuân thủ các quy định, đáp ứng các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam.
    2. Căn cứ vào tính chất hoạt động, trình độ công nghệ và mức độ tác động môi trường, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường công bố danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

    Việc lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

    1. Đối với các dự án ngoài danh mục nói trên, trong hồ sơ xin phép đầu tư, Nhà đầu tư chỉ cần giải trình các yếu tố có thể ảnh hưởng đến môi trường, nêu các giải pháp xử lý và cam kết bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và hoạt động kinh doanh.
    2. Trường hợp Nhà đầu tư áp dụng tiêu chuẩn môi trường tiên tiến của quốc tế trong quá trình xây dựng và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thì chỉ cần đăng ký với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

    Chương VIII
    quan hệ Lao động

    Điều 83. Tuyển dụng lao động

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh tuyển dụng lao động Việt Nam thông qua các tổ chức cung ứng lao động Việt Nam. Sau thời hạn tối đa 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung ứng lao động của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh mà tổ chức cung ứng lao động Việt Nam không đáp ứng được thì Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được trực tiếp tuyển dụng lao động Việt Nam.
    2. Khi có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh làm thủ tục tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Ban quản lý Khu công nghiệp để được xem xét cấp Giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

    Điều 84. Lương trả cho lao động Việt Nam

    1. Mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt Nam làm việc trong Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được quy định và trả bằng tiền đồng Việt Nam. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố mức lương tối thiểu theo từng thời kỳ.
    2. Mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt Nam có thể được điều chỉnh khi chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 10% trở lên so với lần điều chỉnh gần nhất.

    Chương IX
    Đất đai, xây dựng, đấu thầu, nghiệm thu,
    quyết toán công trình

    Điều 85. Thuê đất và trả tiền thuê đất

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư và phải trả tiền thuê theo quy định của Bộ Tài chính.

     

    Điều 86. Mức tiền thuê đất và miễn, giảm tiền thuê đất

    Trên cơ sở khung giá tiền thuê đất và điều kiện miễn, giảm do Bộ Tài chính quy định, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức tiền thuê và việc miễn giảm cho từng dự án. Giá tiền thuê đất được giữ không tăng trong thời hạn tối thiểu là 5 năm; khi điều chỉnh tăng thì mức tăng không vượt quá 15% so với lần điều chỉnh trước đó.

    Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê đất của Nhà nước đã trả trước tiền thuê cho suốt thời hạn dự án hoặc cho một số năm, nếu trong thời hạn đó mà có quyết định tăng giá tiền thuê thì tiền thuê đã trả không điều chỉnh lại.

    Điều 87. Quy định về thuê đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao

    1. Đối với dự án đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao do doanh nghiệp phát triển hạ tầng đầu tư xây dựng hạ tầng, thì việc trả tiền thuê đất, tiền thuê lại đất đã phát triển hạ tầng và phí sử dụng các công trình hạ tầng thực hiện theo hợp đồng ký kết với doanh nghiệp phát triển hạ tầng.
    2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê đất, thuê lại đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng dẫn của Tổng cục Địa chính.

    Điều 88. Thẩm quyền quyết định cho thuê đất

    Thủ tướng Chính phủ quyết định cho thuê đất đối với dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên, các loại đất khác từ 50 ha trở lên. ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho thuê đất đối với các dự án còn lại.

    Điều 89. Đền bù, giải phóng mặt bằng, hồ sơ thuê đất

    1. Trường hợp được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất, ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng, hoàn thành các thủ tục cho thuê đất. Chi phí đền bù, giải toả được tính vào vốn đầu tư của dự án. ủy ban nhân dân cấp tỉnh thỏa thuận với doanh nghiệp được thuê đất về nguồn tài chính để thực hiện việc đền bù, giải tỏa.
    2. Trường hợp Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, Bên Việt Nam có trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng và hoàn thành các thủ tục để được quyền sử dụng đất. Chi phí thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng được tính trong phần góp vốn của Bên Việt Nam hoặc do các Bên thoả thuận.
    3. Đơn giá đền bù thực hiện theo quy định chung của Nhà nước.
    4. Đối với dự án do ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép đầu tư, việc xem xét cho thuê đất được tiến hành đồng thời với việc xem xét cấp Giấy phép đầu tư.
    5. Đối với các dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép đầu tư, hồ sơ xin thuê đất kèm theo hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư bao gồm các nội dung sau:
    6. a) Vị trí, diện tích đất sử dụng;
    7. b) Giá tiền thuê đất do ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị trên cơ sở khung giá tiền thuê đất do Bộ Tài chính quy định;
    8. c) Phương án đền bù, giải phóng mặt bằng.
    9. Thủ tục, hồ sơ thuê đất, thuê lại đất thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Địa chính.

    Điều 90. Thời hạn tính tiền thuê đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

    Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh thuê đất để thực hiện dự án đầu tư hoặc Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, thời hạn tính tiền thuê đất hoặc tính giá trị góp vốn của Bên Việt Nam được tính kể từ khi bàn giao đất trên thực địa.

    Điều 91. Ưu đãi về tiền thuê đất

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được thuê đất với mức giá thấp nhất và được miễn, giảm tối đa các loại thuế trong trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và các công trình hạ tầng ngoài hàng rào. Mức giá thuê đất thấp nhất cũng được áp dụng đối với các lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học.

    Điều 92. Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất tại tổ chức tín dụng Việt Nam, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam với nước ngoài theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật trong các trường hợp sau:
    1. a) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trả tiền thuê đất nhiều năm, nếu thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất 5 năm;
    2. b) Doanh nghiệp liên doanh mà Bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, nếu thời hạn góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn lại ít nhất 5 năm.
    3. Giá trị quyền sử dụng đất thế chấp bao gồm chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng và tiền thuê đất đã trả trừ đi tiền thuê đất cho thời gian đã sử dụng.
    4. Hồ sơ và thủ tục thế chấp giá trị quyền sử dụng đất thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Địa chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Điều 93. Giải chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

    1. Khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ có thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện việc giải chấp theo quy định của pháp luật.
    2. Trường hợp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay nợ, thì tài sản thế chấp được xử lý theo quy định của pháp luật.
    3. Tổ chức hoặc cá nhân nhận quyền sử dụng đất hợp pháp phát sinh từ việc thế chấp theo quy định của pháp luật được tiếp tục sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Giấy phép đầu tư; trường hợp thay đổi, bổ sung mục tiêu hoạt động phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận.

    Điều 94. Quản lý xây dựng công trình có vốn đầu tư nước ngoài

    Việc quản lý xây dựng công trình có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo các nội dung sau:

    1. Thẩm định về quy hoạch, kiến trúc công trình xây dựng.
    2. Thẩm định thiết kế kỹ thuật.
    3. Kiểm tra việc thực hiện đấu thầu trong xây dựng, cấp Giấy phép thầu tư vấn và xây dựng cho nhà thầu trúng thầu.
    4. Quản lý chất lượng công trình xây dựng.

    Điều 95. Thẩm định quy hoạch và phương án kiến trúc

    Trong hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư phải kèm theo thiết kế sơ bộ thể hiện phương án kiến trúc.

    Việc thẩm định quy hoạch và phương án kiến trúc công trình được thực hiện trong quá trình thẩm định dự án đầu tư.

    Điều 96. Nội dung thẩm định thiết kế kỹ thuật

    Thiết kế công trình xây dựng được thẩm định với các nội dung sau:

    1. Tư cách pháp lý của tổ chức thiết kế.
    1. Sự phù hợp của bản thiết kế so với quy hoạch và kiến trúc đã được thẩm định trong dự án và quy hoạch được duyệt.
    2. Sự tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật, xây dựng của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật của nước ngoài được Bộ Xây dựng chấp thuận.

    Điều 97. Thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật và quyết định xây dựng

    Thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật được quy định như sau:

    1. Bộ Xây dựng thẩm định thiết kế kỹ thuật thuộc dự án nhóm A quy định tại Điều 114 của Nghị định này, trừ dự án có công trình xây dựng quy mô nhỏ, tính chất đơn giản. ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định thiết kế kỹ thuật đối với các dự án còn lại.

    Bộ Xây dựng hướng dẫn việc thẩm định thiết kế kỹ thuật.

    1. Việc thẩm định thiết kế kỹ thuật và thông báo quyết định cho Nhà đầu tư được thực hiện trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Sau khi thiết kế kỹ thuật được chấp thuận, Nhà đầu tư được thi công công trình.

    Quá thời hạn 20 ngày làm việc nêu trên, nếu cơ quan thẩm định thiết kế không thông báo quyết định của mình cho Nhà đầu tư, thì Nhà đầu tư được thi công công trình theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật đã nộp.

    1. Chậm nhất 10 ngày làm việc trước khi khởi công xây dựng công trình, Nhà đầu tư phải thông báo về ngày khởi công công trình cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xây dựng công trình.

    Điều 98. Trách nhiệm đối với công trình

    1. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về chất lượng công trình, an toàn công trình; phòng chống cháy, nổ; bảo vệ môi trường trong thời kỳ xây dựng công trình cũng như trong suốt thời gian sử dụng công trình.
    2. Tổ chức khảo sát, thiết kế, nhà thầu xây dựng phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật Việt Nam về phần việc của mình liên quan đến chất lượng công trình.

    Điều 99. Đưa công trình vào sử dụng

    Khi kết thúc xây dựng công trình, Nhà đầu tư báo cáo cơ quan thẩm định thiết kế công trình về việc hoàn thành xây dựng công trình và được phép đưa công trình vào sử dụng. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan này tiến hành kiểm tra công trình; nếu phát hiện vi phạm thiết kế đã được duyệt, quy định về xây dựng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    Điều 100. Quy định về đấu thầu đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài

    1. Doanh nghiệp liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh doanh có sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam từ 30% vốn pháp định, vốn kinh doanh trở lên phải tổ chức đấu thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh, đại diện có thẩm quyền của các Bên hợp doanh có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu trên cơ sở ý kiến thoả thuận của Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.
    2. Ngoài các dự án quy định tại khoản 1 Điều này, khuyến khích Nhà đầu tư các dự án khác tổ chức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

    Điều 101. Quyết toán công  trình

    1. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày hoàn thành xây dựng công trình hoặc hạng mục công trình đưa vào khai thác sử dụng, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh gửi báo cáo quyết toán công trình tới Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư. Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, tính chính xác của báo cáo quyết toán.
    2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được báo cáo quyết toán công trình, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có trách nhiệm xem xét và cấp giấy xác nhận đăng ký báo cáo quyết toán công trình.

    Trường hợp cần thiết, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư có thể thẩm định báo cáo quyết toán vốn đầu tư và yêu cầu điều chỉnh vốn đầu tư theo đúng chi phí hợp lý.

    1. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày hoàn thành xây dựng đưa toàn bộ công trình vào sử dụng, chủ đầu tư phải nộp hồ sơ hoàn công để lưu trữ theo quy định của pháp luật.
    2. Việc xác nhận quyền sở hữu công trình được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 102. Thanh khoản

    1. Nhà đầu tư nộp báo cáo quyết toán công trình đã được xác nhận đăng ký tới cơ quan Hải quan để tiến hành thủ tục thanh khoản đối với máy móc thiết bị, nguyên vật liệu đã nhập khẩu để lắp đặt và xây dựng công trình.
    2. Trường hợp hàng hoá đã nhập khẩu không sử dụng hết cho việc lắp đặt, xây dựng công trình của dự án, Nhà đầu tư báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư và cơ quan Hải quan để xử lý. Hàng hoá nêu trên chỉ được nhượng bán tại thị trường trong nước khi có chấp thuận của Bộ Thương mại và phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan theo quy định của pháp luật.

    Điều 103. Hỗ trợ đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào

    Chính phủ bảo đảm hỗ trợ xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đến hàng rào của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao. Trong trường hợp cần thiết, các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh công trình hạ tầng kỹ thuật có thể thoả thuận với doanh nghiệp phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao hoặc Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về việc ứng trước vốn hoặc phương thức khác để xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật.

    Chương X
    Thủ tục cấp Giấy phép đầu tư

    Điều 104. Quy trình cấp Giấy phép đầu tư

    1. Các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được chấp thuận dưới hình thức Giấy phép đầu tư. Giấy phép đầu tư được ban hành theo mẫu thống nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
    2. Việc cấp Giấy phép đầu tư thực hiện theo một trong hai quy trình sau:
    3. a) Đăng ký cấp Giấy phép đầu tư;
    4. b) Thẩm định cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 105. Điều kiện đối với dự án thuộc diện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư

    1. Các dự án thuộc diện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư phải đồng thời đáp ứng các điều kiện sau đây:
    2. a) Không thuộc nhóm A theo quy định tại Điều 114 của Nghị định này;
    3. b) Phù hợp với quy hoạch đã được duyệt;
    4. c) Không thuộc danh mục dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.
    5. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, dự án thuộc diện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
    6. a) Xuất khẩu toàn bộ sản phẩm;
    7. b) Đầu tư vào Khu công nghiệp đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
    8. c) Thuộc lĩnh vực sản xuất có quy mô vốn đầu tư đến 5 triệu USD và có tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm từ 80% trở lên.
    9. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư không được phép từ chối việc cấp Giấy phép đầu tư cho các dự án đáp ứng đủ điều kiện đăng ký cấp Giấy phép đầu tư.
    10. Các dự án còn lại thuộc diện thẩm định cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 106. Đăng ký cấp Giấy phép đầu tư

    1. Hồ sơ đăng ký cấp Giấy phép đầu tư gồm:
    2. a) Đơn đăng ký cấp Giấy phép đầu tư;
    3. b) Hợp đồng liên doanh và Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh hoặc Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    4. c) Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các bên.
    5. Hồ sơ đăng ký cấp Giấy phép đầu tư được lập thành 05 bộ, trong đó ít nhất có 01 bộ gốc và tất cả được nộp cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.
    6. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư thông báo quyết định chấp thuận dưới hình thức Giấy phép đầu tư.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành văn bản hướng dẫn lập hồ sơ dự án đăng ký cấp Giấy phép đầu tư.

    Điều 107. Hồ sơ thẩm định cấp Giấy phép đầu tư

    1. Hồ sơ thẩm định cấp Giấy phép đầu tư gồm:
    2. a) Đơn xin cấp Giấy phép đầu tư;
    3. b) Hợp đồng liên doanh và Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh hoặc Điều lệ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
    4. c) Giải trình kinh tế – kỹ thuật;
    5. d) Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các Bên liên doanh, các Bên hợp doanh, Nhà đầu tư nước ngoài;

    đ) Các tài liệu liên quan đến chuyển giao công nghệ (nếu có).

    1. Hồ sơ được lập thành 12 bộ đối với dự án nhóm A và 08 bộ đối với dự án nhóm B, trong đó ít nhất có 01 bộ gốc và tất cả được nộp cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành văn bản hướng dẫn lập hồ sơ dự án đầu tư nước ngoài.

    Điều 108. Nội dung thẩm định dự án đầu tư

    Nội dung thẩm định dự án đầu tư gồm:

    1. Tư cách pháp lý, năng lực tài chính của Nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam.
    2. Mức độ phù hợp của dự án với quy hoạch.
    3. Lợi ích kinh tế – xã hội (khả năng tạo năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới và sản phẩm mới; mở rộng thị trường; khả năng tạo việc làm cho người lao động; lợi ích kinh tế của dự án và các khoản nộp cho ngân sách,…).
    4. Trình độ kỹ thuật và công nghệ áp dụng, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái.
    5. Tính hợp lý của việc sử dụng đất, định giá tài sản góp vốn của Bên Việt Nam (nếu có).

    Điều 109. Quy trình thẩm định dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép đầu tư

    1. Đối với dự án nhóm A, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Trường hợp có ý kiến khác nhau về những vấn đề quan trọng của dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức họp tư vấn với đại diện có thẩm quyền của các cơ quan có liên quan để xem xét dự án trước khi trình Thủ tướng Chính phủ. Tùy từng trường hợp cụ thể, Thủ tướng Chính phủ có thể yêu cầu Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư nghiên cứu và tư vấn để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;
    2. Đối với dự án nhóm B thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan trước khi xem xét, quyết định.
    3. Thời hạn thẩm định dự án:
    4. a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi hồ sơ tới các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan lấy ý kiến;
    5. b) Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có ý kiến bằng văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư về nội dung dự án thuộc phạm vi quản lý của mình; quá thời hạn trên mà không có ý kiến bằng văn bản thì coi như chấp thuận dự án;
    6. c) Đối với dự án nhóm A, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình ý kiến thẩm định lên Thủ tướng Chính phủ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được Tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đối với dự án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo quyết định về việc cấp Giấy phép đầu tư đối với dự án;
    7. d) Đối với dự án nhóm B, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thành việc thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư.

    Thời hạn trên đây không kể thời gian Nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư.

    Mọi yêu cầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với Nhà đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ dự án được thực hiện bằng văn bản trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.

    Sau khi hết thời hạn quy định nêu trên mà không cấp Giấy phép đầu tư,  Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho Nhà đầu tư nêu rõ lý do, đồng sao gửi cho các cơ quan có liên quan.

    1. Việc cấp Giấy phép đầu tư đối với các dự án trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và Khu công nghệ cao thực hiện theo cơ chế ủy quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    Điều 110. Quy trình thẩm định đối với các dự án do ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép đầu tư

    1. Nội dung thẩm định dự án theo quy định tại Điều 108 của Nghị định này.
    2. Thời hạn thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư:
    3. a) Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ dự án tới Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật và các Bộ, ngành liên quan lấy ý kiến đối với dự án;
    4. b) Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các Bộ, ngành có ý kiến bằng văn bản gửi ủy ban nhân dân tỉnh về nội dung dự án thuộc phạm vi quản lý của mình; quá thời hạn trên mà không có ý kiến bằng văn bản thì coi như chấp thuận dự án;
    5. c) Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoàn thành việc thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư.

    Thời hạn trên đây không kể thời gian Nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư.

    Mọi yêu cầu của ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với Nhà đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung hồ sơ dự án được thực hiện bằng văn bản trong vòng 20 ngày làm việc ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.

    Sau khi hết thời hạn quy định nêu trên mà không cấp Giấy phép đầu tư, ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo bằng văn bản cho Nhà đầu tư nêu rõ lý do, đồng thời sao gửi cho các cơ quan có liên quan.

    1. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày cấp Giấy phép đầu tư, Giấy phép điều chỉnh, ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi bản gốc Giấy phép đầu tư, Giấy phép điều chỉnh đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư và bản sao đến Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan.

    Điều 111. Điều chỉnh Giấy phép đầu tư

    1. Việc sửa đổi, bổ sung Giấy phép đầu tư được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận dưới hình thức Giấy phép điều chỉnh.
    2. Thẩm quyền cấp Giấy phép điều chỉnh được quy định như sau:
    3. a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định cấp Giấy phép điều chỉnh đối với các dự án quy định tại Điều 114 và khoản 2 Điều 115 Nghị định này và ủy quyền cho Ban Quản lý Khu công nghiệp quyết định cấp Giấy phép điều chỉnh đối với các dự án được ủy quyền;
    4. b) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cấp Giấy phép điều chỉnh đối với các dự án trong diện được phân cấp cấp Giấy phép đầu tư.
    5. Khi có nhu cầu sửa đổi, bổ sung Giấy phép đầu tư, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh nộp hồ sơ xin điều chỉnh Giấy phép đầu tư cho Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều này. Hồ sơ gồm:
    6. a) Đơn xin điều chỉnh Giấy phép đầu tư;
    7. b) Nghị quyết của Hội đồng quản trị Doanh nghiệp liên doanh hoặc thỏa thuận của các Bên hợp doanh hoặc đề nghị của Nhà đầu tư nước ngoài về các nội dung xin sửa đổi, bổ sung Giấy phép đầu tư;
    8. c) Báo cáo tình hình thực hiện dự án.
    9. Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư thông báo quyết định cho Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh về việc điều chỉnh Giấy phép đầu tư trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

    Thời hạn trên đây không kể thời gian Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh giải trình bổ sung.

    Chương XI
    Quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư nước ngoài

     

    Điều 112. Hướng dẫn hoạt động đầu tư

    1. Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực và địa bàn quản lý; cung cấp các thông tin cần thiết và tạo mọi điều kiện thuận lợi để Nhà đầu tư lựa chọn cơ hội đầu tư tại Việt Nam; cải tiến việc điều hành, rà soát thủ tục đầu tư nhằm bảo đảm thủ tục đầu tư đơn giản, nhanh chóng.
    2. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền liên quan tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài; trường hợp có ý kiến khác nhau phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    Điều 113. Phối hợp hoạt động quản lý nhà nước

    1. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật, thực hiện chế độ phối hợp trong công tác quản lý doanh nghiệp.
    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xử lý kịp thời các vấn đề thuộc thẩm quyền và hướng dẫn các doanh nghiệp hoạt động theo đúng quy định tại Giấy phép đầu tư và quy định của pháp luật.
    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, cung cấp thông tin về tình hình đầu tư nước ngoài cho các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh, định kỳ làm việc với các Bộ Tài chính, Thương mại, Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục địa chính, Tổng cục Hải quan và ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, giải quyết các kiến nghị của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh, đề xuất những chính sách, biện pháp cải thiện môi trường đầu tư.

    Điều 114. Thẩm quyền quyết định dự án đầu tư

    1. Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án nhóm A gồm:
    2. a) Các dự án không phân biệt quy mô vốn đầu tư thuộc các lĩnh vực:

    – Xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu đô thị; dự án BOT, BTO, BT;

    – Xây dựng và kinh doanh cảng biển, sân bay; kinh doanh vận tải đường biển, hàng không;

    – Hoạt động dầu khí;

    – Dịch vụ bưu chính, viễn thông

    – Văn hoá; xuất bản, báo chí; truyền thanh, truyền hình; cơ sở khám, chữa bệnh; giáo dục, đào tạo; nghiên cứu khoa học; sản xuất thuốc chữa bệnh cho người;

    – Bảo hiểm, tài chính, kiểm toán, giám định;

    – Thăm dò, khai thác tài nguyên quý hiếm;

    – Xây dựng nhà ở để bán;

    – Dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

    1. b) Các dự án có vốn đầu tư từ 40 triệu USD trở lên thuộc các ngành điện, khai khoáng, luyện kim, xi măng, cơ khí chế tạo, hoá chất, khách sạn, căn hộ Văn phòng cho thuê, khu vui chơi – giải trí – du lịch;
    2. c) Các dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên và các loại đất khác từ 50 ha trở lên.
    3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định dự án nhóm B (là các dự án không quy định tại khoản 1 Điều này), trừ những dự án quy định tại khoản 3 Điều này.
    4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với những dự án quy định tại khoản 1 Điều 115 Nghị định này.

     

    Điều 115. Phân cấp cấp Giấy phép đầu tư

    1. Dự án đầu tư phân cấp cấp Giấy phép đầu tư cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
    2. a) Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã được duyệt;
    3. b) Không thuộc dự án nhóm A quy định tại khoản 1 Điều 114 Nghị định này có quy mô vốn đầu tư theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
    4. Không phân cấp việc cấp Giấy phép đầu tư cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực sau đây (không phân biệt quy mô vốn đầu tư):
    5. a) Xây dựng đường quốc lộ, đường sắt;
    6. b) Sản xuất xi măng, luyện kim, điện, đường ăn, rượu, bia, thuốc lá; sản xuất, lắp ráp ôtô, xe máy;
    7. c) Du lịch lữ hành.

    Điều 116. Chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

    Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh  có trách nhiệm:

    1. Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã được duyệt, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan lập và công bố danh mục dự án thu hút đầu tư nước ngoài tại địa phương; tổ chức vận động và xúc tiến đầu tư.
    2. Chủ trì thẩm định, cấp Giấy phép đầu tư và điều chỉnh Giấy phép đầu tư, quyết định giải thể Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh trước thời hạn đối với các dự án thuộc thẩm quyền.
    3. Tham gia thẩm định đối với các dự án trên địa bàn do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép đầu tư.
    4. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn lãnh thổ theo các nội dung chủ yếu sau đây:
    5. a) Giám sát việc thực hiện góp vốn, thực hiện các quy định của Giấy phép đầu tư và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
    6. b) Giám sát việc thực hiện các quy định về nghĩa vụ tài chính, quan hệ lao động tiền lương, trật tự an toàn xã hội, và bảo vệ môi trường sinh thái, phòng, chống cháy nổ;
    7. c) Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tổ chức thực hiện việc giải phóng mặt bằng; cho phép đặt trụ sở, Chi nhánh; đăng ký cư trú cho người nước ngoài; giới thiệu lao động Việt Nam cho các doanh nghiệp và cấp các chứng chỉ theo quy định hiện hành;
    8. d) Giải quyết các khó khăn, vướng mắc của Nhà đầu tư theo thẩm quyền và kiến nghị các Bộ, ngành giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền;

    đ) Chủ trì hoặc tham gia cùng các Bộ, ngành kiểm tra, thanh tra hoạt động của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

    1. e) Đánh giá hiệu qủa kinh tế – xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn.
    2. Định kỳ hàng quý, 6 tháng và hàng năm, ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi báo cáo về hoạt động đầu tư nước ngoài trên địa bàn đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    Điều 117. Chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối giải quyết các vấn đề trong quá trình hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư gồm:
    2. a) Hướng dẫn, phối hợp các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án kêu gọi đầu tư và tiến hành các hoạt động xúc tiến kêu gọi đầu tư;
    3. b) Chủ trì thẩm định, cấp Giấy phép đầu tư và Giấy phép điều chỉnh đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền;
    4. c) Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ủy quyền cho Ban Quản lý Khu công nghiệp cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy phép đầu tư cho dự án đầu tư nước ngoài đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao trên cơ sở đề nghị của ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (đối với Khu công nghệ cao);
    5. d) Hoà giải tranh chấp khi có yêu cầu;

    đ) Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài;

    1. e) Đánh giá tổng thể hiệu quả kinh tế – xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam;
    2. g) Quyết định giải thể Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh trước thời hạn đối với dự án thuộc thẩm quyền.
    3. Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp tình hình cấp Giấy phép đầu tư và hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho các Bộ, ngành liên quan.

    Điều 118. Chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

    Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có  trách nhiệm:

    1. Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến đầu tư nước ngoài.
    2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài của ngành; tổ chức vận động, xúc tiến đầu tư.
    3. Tham gia ý kiến về các vấn đề thuộc thẩm quyền trong việc thẩm định dự án, cấp và điều chỉnh Giấy phép đầu tư.
    1. Ban hành và hướng dẫn việc thực hiện chính sách, giải quyết các thủ tục liên quan đến triển khai, thực hiện dự án đầu tư.
    2. Kiểm tra chuyên ngành; đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực quản lý ngành.
    3. Ban hành quy phạm, quy trình kỹ thuật liên quan đến lĩnh vực, ngành kinh tế kỹ thuật.
    4. Thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    Điều 119. Quy định về thanh tra, kiểm tra

    1. Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh phải bảo đảm thực hiện đúng chức năng, đúng thẩm quyền và tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài và pháp luật về thanh tra, kiểm tra.
    2. Các cơ quan có chức năng về thanh tra, kiểm tra có trách nhiệm lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Ban Quản lý Khu công nghiệp có liên quan để phối hợp thực hiện việc thanh tra, kiểm tra. Việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên ngành được thực hiện không quá một lần trong một năm đối với một doanh nghiệp.
    3. Người ra quyết định kiểm tra, thanh tra không đúng pháp luật hoặc lợi dụng kiểm tra, thanh tra để vụ lợi, sách nhiễu, gây phiền hà cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tùy theo mức độ vi phạm, sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    4. Nhà đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với các quyết định và hành vi trái pháp luật, gây khó khăn, phiền hà của viên chức, cơ quan Nhà nước. Việc khiếu nại, khởi kiện và việc giải quyết khiếu nại, khởi kiện được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Chương XII
    Bảo đảm đầu tư và xử lý tranh chấp

    Điều 120. Bảo đảm đầu tư

    1. Chính phủ Việt Nam bảo đảm đối đãi công bằng và thỏa đáng đối với Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.
    2. Việc ký các thoả thuận hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm, bảo lãnh về đầu tư chỉ được áp dụng đối với các dự án đặc biệt quan trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ thuộc lĩnh lực cơ sở hạ tầng, dự án đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT và một số dự án đặc biệt quan trọng khác.

    Điều 121. Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật

    1. Trong trường hợp do những thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, thì Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh tiếp tục được hưởng các ưu đãi đã được quy định trong Giấy phép đầu tư hoặc được Nhà nước giải quyết thoả đáng theo các biện pháp sau:
    2. a) Thay đổi mục tiêu hoạt động của dự án;
    3. b) Giảm, miễn thuế trong khuôn khổ của pháp luật;
    4. c) Thiệt hại của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp;
    5. d) Được xem xét bồi thường thỏa đáng trong một số trường hợp cần thiết.

    Đối với dự án do ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Quản lý Khu công nghiệp cấp Giấy phép đầu tư thì trước khi quyết định áp dụng các biện pháp trên, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban Quản lý Khu công nghiệp phải thống nhất ý kiến với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.

    1. Các quy định mới ưu đãi hơn được ban hành sau khi cấp Giấy phép đầu tư sẽ đương nhiên được áp dụng thay thế các quy định tương ứng trước đó. Nếu việc áp dụng các quy định mới của pháp luật dẫn tới việc phải điều chỉnh Giấy phép đầu tư thì Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư điều chỉnh Giấy phép đầu tư.

    Điều 122. Xử lý tranh chấp

    1. Tranh chấp giữa các Bên liên doanh, các Bên hợp doanh với nhau; hoặc tranh chấp giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổ chức, cá nhân nước ngoài; hoặc tranh chấp giữa các Bên liên doanh nước ngoài, các Bên hợp doanh nước ngoài với các tổ chức kinh tế Việt Nam trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải giữa các bên tranh chấp.

    Trong trường hợp hòa giải không thành, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận một trong các phương thức giải quyết sau đây:

    1. a) Tòa án Việt Nam;
    2. b) Trọng tài Việt Nam hoặc Trọng tài nước ngoài, Trọng tài quốc tế;
    3. c) Trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập.
    4. Tranh chấp giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nhau hoặc giữa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các tổ chức kinh tế Việt Nam được giải quyết tại tổ chức trọng tài hoặc tòa án Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.
    5. 3. Tranh chấp giữa Nhà đầu tư nước ngoài với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát sinh từ hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; tranh chấp giữa Doanh nghiệp BOT với các tổ chức kinh tế Việt Nam được giải quyết theo phương thức do các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng phù hợp với Quy chế của Chính phủ về đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    Chương XIII
    khen thưởng và xử lý vi phạm

     

    Điều 123. Khen thưởng

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và các cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
    2. Căn cứ thành tích của doanh nghiệp hoặc cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng góp cho xã hội và chấp hành tốt các quy định của pháp luật Việt Nam, Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định các hình thức khen thưởng, gồm:
    3. a) Huân chương, Huy chương của Nhà nước;
    4. b) Huân chương, Huy chương của Chủ tịch nước;
    5. c) Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;
    6. d) Bằng khen của Bộ trưởng các Bộ và của Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;

    đ) Bằng khen của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh và cá nhân tự thấy đạt được các thành tích nêu tại khoản 2 điều này, gửi văn bản đề nghị để được xem xét khen thưởng theo quy định sau:
    2. a) Văn bản đề nghị Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư khen thưởng được gửi đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét và ra quyết định khen thưởng doanh nghiệp, cá nhân theo thẩm quyền hoặc đề nghị Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ xem xét khen thưởng;
    3. b) Văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ khen thưởng được gửi đến Bộ quản lý chuyên ngành hoặc cơ quan ngang Bộ xem xét;
    4. c) Văn bản đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng được gửi đến ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét.

    Điều 124.  Xử lý vi phạm

    1. Cán bộ viên chức, cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam lợi dụng quyền hạn của mình gây khó khăn, phiền hà, cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài, tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp do hành vi vi phạm gây ra thiệt hại, thì cán bộ, viên chức, cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan phải bồi thường cho tổ chức, cá nhân bị thiệt hại.

    1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Bên hợp doanh, Nhà đầu tư nước ngoài và người lao động vi phạm các quy định của Giấy phép đầu tư và pháp luật Việt Nam thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    Chương XIV
    Điều khoản thi hành

    Điều 125. Điều khoản thi hành

    1. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2000 và thay thế Nghị định số 12/CP ngày 18 tháng 02 năm 1997 và Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
    2. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

    Phụ lục I

    1. danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư

    – Sản xuất, chế biến xuất khẩu từ 80% sản phẩm trở lên;

    – Chế biến nông sản, lâm sản (trừ gỗ), thuỷ sản từ nguồn nguyên liệu trong nước xuất khẩu 50% sản phẩm trở lên;

    – Sản xuất các loại giống mới có chất lượng và có hiệu quả kinh tế cao;

    – Nuôi trồng nông, lâm, thủy sản;

    – Sản xuất vật liệu mới, vật liệu quý hiếm; ứng dụng công nghệ mới về sinh học; công nghệ mới để sản xuất thiết bị thông tin, viễn thông;

    – Công nghiệp kỹ thuật cao;

    – Đầu tư vào nghiên cứu phát triển;

    – Sản xuất thiết bị xử lý chất thải;

    – Sản xuất nguyên liệu thuốc kháng sinh;

    – Xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường, xử lý chất thải;

    – Đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT.

    1. danh mục dự án khuyến khích đầu tư

    – Sản xuất, chế biến xuất khẩu từ 50% sản phẩm trở lên;

    – Sản xuất, chế biến xuất khẩu từ 30% sản phẩm trở lên và sử dụng nhiều nguyên liệu, vật tư trong nước (có giá trị từ 30% chi phí sản xuất trở lên);

    – Sử dụng nhiều lao động và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam;

    – Chế biến nông sản, lâm sản (trừ gỗ), thủy sản;

    – Bảo quản thực phẩm; bảo quản nông sản sau thu hoạch;

    – Thăm dò; khai thác và chế biến sâu khoáng sản;

    – Phát triển công nghiệp hoá dầu; xây dựng, vận hành đường ống dẫn dầu, dẫn khí, kho, cảng dầu;

    – Sản xuất thiết bị, cụm chi tiết trong khai thác dầu khí, mỏ, năng lượng; sản xuất thiết bị nâng hạ cỡ lớn;

    – Sản xuất thép cao cấp, hợp kim, kim loại mầu, kim loại đặc biệt, phôi thép, sắt xốp dùng trong công nghiệp;

    – Sản xuất các máy công cụ gia công kim loại, thiết bị luyện kim;

    – Chế tạo thiết bị cơ khí chính xác, thiết bị kiểm tra, kiểm soát an toàn, sản xuất  khuôn mẫu cho các sản phẩm kim loại và phi kim loại;

    – Sản xuất khí cụ điện trung, cao thế;

    – Sản xuất các loại động cơ diezen có công nghệ, kỹ thuật tiên tiến; sản xuất máy, phụ tùng ngành động lực, thủy lực, máy áp lực;

    – Sản xuất phụ tùng ô tô, phụ tùng xe máy; sản xuất, lắp ráp thiết bị, xe máy thi công xây dựng; sản xuất thiết bị kỹ thuật cho ngành vận tải;

    – Đóng tàu thủy; sản xuất thiết bị phụ tùng cho các tàu vận tải, tàu đánh cá;

    – Sản xuất thiết bị thông tin, viễn thông;

    – Sản xuất linh kiện, thiết bị điện tử, công nghệ tin học;

    – Sản xuất thiết bị, phụ tùng, máy nông nghiệp, thiết bị tưới tiêu;

    – Sản xuất các loại nguyên liệu thuốc trừ sâu bệnh;

    – Sản xuất các loại hoá chất cơ bản, hoá chất tinh khiết, thuốc nhuộm, các loại hoá chất chuyên dùng;

    – Sản xuất nguyên liệu chất tẩy rửa, phụ gia cho ngành hóa chất;

    – Sản xuất xi măng đặc chủng, vật liệu composit, vật liệu cách âm, cách điện, cách nhiệt cao, vật liệu tổng hợp thay gỗ, vật liệu chịu lửa, chất dẻo xây dựng, sợi thủy tinh;

    – Sản xuất các loại vật liệu xây dựng nhẹ;

    – Sản xuất bột giấy;

    – Sản xuất tơ, sợi các loại, vải đặc biệt dùng trong ngành công nghiệp;

    – Sản xuất nguyên liệu cao cấp để sản xuất giầy, dép, quần áo xuất khẩu;

    – Sản xuất bao bì cao cấp phục vụ hàng xuất khẩu;

    – Sản xuất thiết bị y tế trong công nghệ phân tích và công nghệ chiết xuất trong y học;

    – Sản xuất nguyên liệu thuốc, sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP quốc tế;

    – Cải tạo, phát triển nguồn năng lượng;

    – Vận tải khách công cộng;

    – Xây dựng, cải tạo cầu, đường bộ, sân bay, bến cảng, nhà ga, bến xe, đường sắt;

    – Xây dựng nhà máy sản xuất nước, hệ thống cấp thoát nước;

    – Xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

    III. Danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư

     

    Số TT Tỉnh/thành phố Mục A:
    Địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn
    Mục B:
    Địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn
    (1) (2) (3) (4)
    1 Hà Giang Toàn bộ các huyện và thị xã
    2 Cao Bằng Toàn bộ các huyện và thị xã
    3 Lai Châu Toàn bộ các huyện và thị xã
    4 Lào Cai Toàn bộ các huyện và thị xã
    5 Sơn La Toàn bộ các huyện và thị xã
    6 Bắc Kạn Toàn bộ các huyện và thị xã
    7 Tuyên Quang Toàn bộ các huyện và thị xã
    8 Lạng Sơn Toàn bộ các huyện và thị xã
    9 Yên Bái Toàn bộ các huyện và thị xã
    10 Thái Nguyên Toàn bộ các huyện, thị xã và thành phố Thái Nguyên
    11 Bắc Giang Toàn bộ các huyện và thị xã
    12 Vĩnh Phúc Các huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên Các huyện không thuộc mục A
    13 Phú thọ Toàn bộ các huyện, thị xã và thành phố Việt Trì
    14 Hoà Bình Toàn bộ các huyện và thị xã
    15 Bắc Ninh Các huyện: Quế Võ, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành
    16 Hà Nội Huyện Sóc Sơn
    17 Hà Tây Các huyện: Ba Vì, Mỹ Đức, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, ứng Hoà
    18 Quảng Ninh Các huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Quảng Hà, Hoành Bồ, Tiên Yên, Đông Triều và thị xã Móng Cái Huyện Yên Hưng và các thị xã: Cẩm Phả, Uông Bí
    19 Hải Phòng Các huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng
    20 Hải Dương Huyện Chí Linh Toàn bộ các huyện không thuộc mục A
    21 Hưng Yên Toàn bộ các huyện và thị xã
    22 Thái Bình Toàn bộ các huyện và thị xã
    23 Hà Nam Toàn bộ các huyện và thị xã
    24 Nam Định Toàn bộ các huyện và thành phố Nam Định
    25 Ninh Bình Các huyện: Nho Quan, Yên Mô, Gia Viễn Thị xã Tam Điệp và các huyện không thuộc mục A
    26 Thanh Hoá Các huyện: Lang Chánh, Thường Xuân, Quan Hoá, Bá Thước, Ngọc Lặc, Như Xuân, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Quan Sơn, Mường Lát Các huyện không thuộc mục A
    27 Nghệ  An Các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Tân Kỳ, Thanh Chương, Đô Lương. Thị xã Cửa Lò và các huyện không thuộc mục A
    28 Hà Tĩnh Toàn bộ các huyện Thị xã Hà Tĩnh
    29 Quảng Bình Toàn bộ các huyện Thị xã Đồng Hới
    30 Quảng Trị Thị xã Quảng Trị và các huyện Thị xã Đông Hà
    31 Thừa Thiên Huế Toàn bộ các huyện Thành phố Huế
    32 Đà Nẵng Huyện Hòa Vang và các quận: Thanh Khê, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu
    33 Quảng Nam Toàn bộ các huyện và thị xã Hội An Thị xã Tam Kỳ
    34 Quảng Ngãi Toàn bộ các huyện Thị xã Quảng Ngãi
    35 Bình Định Toàn bộ các huyện Thành phố Quy Nhơn
    36 Phú Yên Toàn bộ các huyện Thị xã Tuy Hoà
    37 Khánh Hoà Các huyện: Khánh Sơn, Khánh Vĩnh Các huyện không thuộc mục A
    38 Bình Thuận Toàn bộ các huyện Thị xã Phan Thiết
    39 Ninh Thuận Toàn bộ các huyện Thị xã Phan Rang
    40 Kon Tum Toàn bộ các huyện và thị xã
    41 Gia Lai Toàn bộ các huyện và thị xã
    42 Đắk Lắk Toàn bộ các huyện và thành phố Buôn Ma Thuột
    43 Lâm Đồng Toàn bộ các huyện, thị xã và thành phố Đà Lạt
    44 Đồng Nai Các huyện: Định Quán, Tân Phú, Xuân Lộc
    45 Bình Phước Toàn bộ các huyện và thị xã
    46 Bình Dương Các huyện: Bến Cát, Phú Giáo, Tân Uyên, Dầu Tiến
    47 Tây Ninh Toàn bộ các huyện
    48 Thành phố Hồ Chí Minh Các huyện Cần Giờ, Củ Chi.
    49 Bà Rịa – Vũng Tàu Các huyện: Long Đất, Xuyên Mộc
    50 Long An Toàn bộ các huyện Thị xã Tân An
    51 Đồng Tháp Toàn bộ các huyện và thị xã
    52 Tiền Giang Toàn bộ các huyện và thị xã Thành phố Mỹ Tho
    53 Bến Tre Toàn bộ các huyện và thị xã
    54 Vĩnh Long Toàn bộ các huyện và thị xã
    55 Trà Vinh Toàn bộ các huyện và thị xã
    56 An Giang Toàn bộ các huyện và Thành phố Long Xuyên
    57 Cần Thơ Toàn bộ các huyện và thị xã Thành phố Cần Thơ
    58 Sóc Trăng Toàn bộ các huyện và thị xã
    59 Bạc Liêu Toàn bộ các huyện và thị xã
    60 Cà Mau Toàn bộ các huyện và thị xã
    61 Kiên Giang Toàn bộ các huyện và thị xã

    Iv. Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện

     

    1. Chỉ đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh

    – Xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thông nội hạt (chỉ thực hiện theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh);

    – Khai thác, chế biến dầu khí, khoáng sản quý hiếm;

    – Dịch vụ tư vấn (trừ tư vấn kỹ thuật);

    – Vận tải hàng không, đường sắt, đường biển; vận tải hành khách công cộng; xây dựng cảng, ga hàng không (trừ các dự án BOT, BTO, BT);

    – Sản xuất thuốc nổ công nghiệp;

    – Trồng rừng;

    – Du lịch lữ hành;

    – Văn hoá.

    1. Các sản phẩm phải đảm bảo yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu

    Tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc đối với các sản phẩm mà sản xuất trong nước đã đáp ứng đủ yêu cầu về số lượng, chất lượng do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố trong từng thời kỳ.

    1. Dự án chế biến phải gắn với đầu tư tạo nguồn nguyên liệu

    – Sản xuất, chế biến sữa;

    – Sản xuất dầu thực vật, đường mía;

    – Chế biến gỗ.

    1. Dự án đầu tư vào dịch vụ nhập khẩu, dịch vụ phân phối trong nước thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

     

    1. danh mục lĩnh vực không cấp Giấy phép đầu tư
    1. Dự án gây nguy hại đến an ninh quốc gia, quốc phòng và lợi ích công cộng.
    2. Dự án gây phương hại đến di tích lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ tục của Việt Nam.
    3. Dự án gây tổn hại đến môi trường sinh thái; dự án xử lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam.
    4. Dự án sản xuất các loại hóa chất độc hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế.

    phụ lục II

    1. Quy định chi tiết về danh mục máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải được miễn thuế nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp có vốn
      đầu tư nước ngoài và các Bên hợp doanh
    1. Máy móc thiết bị chính thuộc dây chuyền công nghệ bao gồm:

    Máy móc, thiết bị sản xuất; vật tư, linh kiện, bộ phận rời đi kèm để lắp đặt hệ thống thiết bị; khuôn mẫu đi kèm với thiết bị máy móc, dụng cụ sản xuất… để hoàn chỉnh hoạt động sản xuất ra sản phẩm quy định tại Giấy phép đầu tư.

    1. Máy móc thiết bị phụ trợ thuộc dây chuyền công nghệ bao gồm:
    2. Hệ thống điện: toàn bộ thiết bị máy móc vật tư để lắp đặt hoàn chỉnh hệ thống cấp điện.
    3. Hệ thống cấp thoát nước: toàn bộ thiết bị máy móc vật tư đường ống… lắp đặt để hoàn chỉnh hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải.
    4. Hệ thống chiếu sáng: toàn bộ thiết bị máy móc vật tư để lắp đặt hoàn chỉnh hệ thống chiếu sáng.
    5. Hệ thống điều hoà, thông gió của khu vực sản xuất.
    6. Trang thiết bị phòng thí nghiệm.
    7. Trang thiết bị phòng cháy chữa cháy, trang thiết bị chống sét, trang thiết bị an toàn lao động…
    8. Hệ thống thông tin liên lạc.
    9. Máy móc thiết bị cần thiết cho thiết kế sản phẩm hoặc trang thiết bị văn phòng phục vụ cho quản lý sản xuất.
    10. Phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ bao gồm:
    11. Các phương tiện vận tải chuyên dùng cho hoạt động kinh doanh quy định tại Giấy phép đầu tư.
    12. Phương tiện vận tải để vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm trong dây chuyền công nghệ.
    1. Quy định chi tiết về danh mục các nhóm trang thiết bị miễn thuế nhập khẩu của các doanh nghiệp khách sạn, văn phòng – căn hộ cho thuê, nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ kỹ thuật, siêu thị, sân golf, khu du lịch, khu thể thao, khu vui chơi giải trí,
      cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo, văn hóa, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ tư vấn
    1. Danh mục các nhóm trang thiết bị miễn thuế nhập khẩu theo quy định chung
    1. Hệ thống cung cấp nước các loại (máy bơm, máy lọc, đồng hồ nước, nồi hơi…).
    2. Hệ thống điều hòa và thông gió (điều hoà trung tâm hoặc cục bộ và vật tư phụ tùng đồng bộ…).
    3. Hệ thống phòng cháy và chống cháy.
    4. Hệ thống điện và chiếu sáng (đèn các loại, đèn chiếu…).
    5. Hệ thống xử lý rác và nước thải.
    6. Hệ thống thông tin liên lạc.
    7. Hệ thống vận chuyển (thang máy, xe điện, các loại xe đẩy).
    8. Hệ thống giặt là.
    9. Hệ thống bảo vệ.
    10. Trang thiết bị thể dục thể thao, bể bơi, sân tennis, cắt tóc, vũ trường, karaoke, vui chơi giải trí, vật lý trị liệu (trừ các trang thiết bị nêu tại mục B Phụ lục này, nếu có).
    11. Máy móc thiết bị liên quan đến việc chăm sóc cỏ (cắt cỏ, phun thuốc trừ sâu…).
    12. Hệ thống phun nước, tưới tiêu và thoát nước.
    13. Máy móc, trang thiết bị, dụng cụ y tế, dụng cụ thí nghiệm.
    14. Trang thiết bị giảng dạy và học tập (bao gồm cả bàn ghế, bảng, đồ dùng dạy học, thí nghiệm v.v…).
    15. Các loại phụ tùng kèm theo các loại máy móc, trang thiết bị nêu trên.
    16. Máy móc, trang bị các loại chuyên áp dụng cho doanh nghiệp ngân hàng, tài chính (két bảo vệ, máy vi tính các loại, máy đếm tiền, máy kiểm tra tiền giả, hệ thống thông tin, máy móc bảo vệ, xe chở tiền).
    17. Trang thiết bị văn phòng phục vụ quản lý kinh doanh (máy tính, máy in, fax, telex, photocopy, bàn, ghế, tủ đựng tài liệu…).
    1. Danh mục các nhóm trang thiết bị chỉ được miễn thuế nhập khẩu một lần, không áp dụng cho trường hợp thay thế
    1. Trang thiết bị phòng khách sạn và trang trí nội thất (giường, tủ, bàn, ghế, điện thoại).
    2. Thiết bị vệ sinh (bồn tắm, bệ xí, lavabo, các vật tư lắp đặt hệ thống vệ sinh, gương…).
    3. Trang bị nội thất phòng khách (bàn, ghế).
    4. Trang thiết bị bếp, phòng ăn, nhà hàng, quầy bar (các loại bếp và dụng cụ làm bếp).
    5. Tranh, tượng, thảm và các vật trang trí khác.
    6. Tủ lạnh, ti vi, lò vi sóng, máy hút khói, hút bụi, khử mùi, ly, tách, đĩa, chén, bát.
    7. Thiết bị nghe nhìn.
    8. Dụng cụ đánh golf.
  • LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006 

    LUẬT

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Luật này quy định về bảo hiểm xã hội.

    CHƯƠNG I

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

     

    1. Luật này quy định về chế độ, chính người lao động, của cơ quan, tổ chức, hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ về bảo hiểm xã hội.

    sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của

    cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội; tổ chức bảo

    tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước

    1. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm mang tính kinh doanh.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
    1. Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
    1. Cán bộ, công chức, viên chức;
    1. Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
    1. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

    đ) Hạ s ĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

    1. Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
    1. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà

    nướ c, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạ t động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

    1. Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều này.
    1. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động quy định tại khoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên.
    1. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này.
    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.

    Người lao động tham gia bả o hiểm xã hội bắ t buộc, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đây gọi chung là người lao động.

    Điều 3. Giải thích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

    1. Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
    1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
    1. Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội.
    1. Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
    1. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội là thời gian được tính từ khi người lao động bắt đầu

    đóng bảo hiểm xã hội cho đến khi dừng đóng. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm

    xã hội không liên tục thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

    1. Mức lương tối thiểu chung là mức lương thấp nhất do Chính phủ công bố ở từng thời kỳ.
    1. Thân nhân là con, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia bảo hiểm xã hội; người khác mà người tham gia bảo hiểm xã hội phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng.

    Điều 4. Các chế độ bảo hiểm xã hội

    1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: a) ốm đau;
    1. b) Thai sản;
    1. c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; d) Hưu trí;

    đ) Tử tuất.

    1. Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: a) Hưu trí;
    2. b) Tử tuất.
    1. Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ sau đây:
    1. Trợ cấp thất nghiệp;
    1. Hỗ trợ học nghề;
    1. Hỗ trợ tìm việc làm.

    Điều 5. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội

    1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
    1. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền

    lương, tiền công của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên

    cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
    1. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.

    Điều 6. Chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội

    1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội.
    1. Nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội và các biện pháp cần thiết khác để bảo toàn, tăng trưởng quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo hộ, không bị phá sản.

    Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội được miễn thuế.

    Điều 7. Nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

    1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội.
    1. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về bảo hiểm xã hội.
    1. Tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác bảo hiểm xã hội.
    1. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội.

    Điều 8. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

     

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    1. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
    1. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

    Điều 9. Hiện đại hoá quản lý bảo hiểm xã hội

    1. Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý bảo hiểm xã hội hiện đại.
    1. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội.

    Điều 10. Thanh tra bảo hiểm xã hội

    1. Thanh tra lao động – thương binh và xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về bảo hiểm xã hội.
    1. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra chuyên ngành về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.

    Điều 11. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn

    1. Tổ chức công đoàn có các quyền sau đây:
    1. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội;
    1. Yêu cầu người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về bảo hiểm xã hội của người lao động;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Tổ chức công đoàn có các trách nhiệm sau đây:
    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người lao động;
    1. Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. c) Tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    Điều 12. Quyền và trách nhiệm của đại diện người sử dụng lao động

    1. Đại diện người sử dụng lao động có các quyền sau đây:
    1. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
    1. Đại diện người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:
    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động;
    1. Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. Tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    Điều 13. Chế độ báo cáo, kiểm toán

    1. Hằng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
    1. Định kỳ ba năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ bảo hiểm xã hội và báo cáo kết quả với Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, quỹ bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất.

    Điều 14. Các hành vi bị nghiêm cấm

    1. Không đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
    1. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội.
    1. Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội sai mục đích.
    1. Gây phiền hà, trở ngại, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động.
    1. Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về bảo hiểm xã hội.

    CHƯƠNG II

    QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG, NGƯỜI SỬ DỤNG LAO

    ĐỘNG, TỔ CHỨC BẢO HIỂM XÃ HỘI

     

    Điều 15. Quyền của người lao động

     

    Người lao động có các quyền sau đây:

    1. Được cấp sổ bảo hiểm xã hội;
    1. Nhận sổ bảo hiểm xã hội khi không còn làm việc;
    1. Nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời;
    1. Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau đây:
    1. Đang hưởng lương hưu;
    1. Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng;
    1. Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;
    1. Uỷ quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;
    1. Yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin quy định tại điểm h khoản 1 Điều 18; yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin quy định tại khoản 11 Điều 20 của Luật này;
    1. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 16. Trách nhiệm của người lao động

    1. Người lao động có các trách nhiệm sau đây:
    1. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;
    1. Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội;
    1. Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định;
    1. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
    1. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn có các trách nhiệm sau đây:
    1. a) Đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
    1. Thông báo hằng tháng với tổ chức bảo hiểm xã hội về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp;
    1. Nhận việc làm hoặc tham gia khoá học nghề phù hợp khi tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu.

    Điều 17. Quyền của người sử dụng lao động

    Người sử dụng lao động có các quyền sau đây:

    1. Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 18. Trách nhiệm của người sử dụng lao động

    1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:
    1. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của người lao động trong thời gian người lao động làm việc;
    1. Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc;
    1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xã hội;

    đ) Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động;

    1. Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41, Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật này;
    1. Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
    1. Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;
    1. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
    1. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, hằng tháng người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 102 và trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

    Điều 19. Quyền của tổ chức bảo hiểm xã hội

    Tổ chức bảo hiểm xã hội có các quyền sau đây:

    1. Tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản theo quy định của pháp luật;
    1. Từ chối yêu cầu trả bảo hiểm xã hội không đúng quy định;
    1. Khiếu nại về bảo hiểm xã hội;
    1. Kiểm tra việc đóng bảo hiểm xã hội và trả các chế độ bảo hiểm xã hội;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội;
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 20. Trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm xã hội

    Tổ chức bảo hiểm xã hội có các trách nhiệm sau đây:

    1. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội;
    1. Thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;
    1. Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội; thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn;
    1. Cấp sổ bảo hiểm xã hội đến từng người lao động;
    1. Quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
    1. Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán, hướng dẫn nghiệp vụ về bảo hiểm xã

    hội;

    1. Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 41 của Luật này;
    1. ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội; lưu trữ hồ sơ của người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
    1. Định kỳ sáu tháng, báo cáo Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội. Hằng năm, báo cáo Chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước về tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội;
    1. Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ

    tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;

    1. Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
    1. Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện bảo hiểm xã hội;
    1. Thực hiện hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội;
    1. Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

    CHƯƠNG III

    BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

    MỤC 1

    CHẾ ĐỘ ỐM ĐAU

    Điều 21. Đối tượng áp dụng chế độ ốm đau

    Đối tượng áp dụng chế độ ốm đau là người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 22. Điều kiện hưởng chế độ ốm đau

    1. Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế.

    Trườ ng hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc sử dụng ma tuý, chất gây nghiện khác thì không được hưởng chế độ ốm đau.

    1. Có con dưới bảy tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế.

    Điều 23. Thời gian hưởng chế độ ốm đau

    1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:
    1. Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;
    1. Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.
    1. Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:
    1. Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;
    1. Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.
    1. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật này tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

    Điều 24. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau

    1. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là hai mươi ngày làm việc nếu con dưới ba tuổi; tối đa là mười lăm ngày làm việc nếu con từ đủ ba tuổi đến dưới bảy tuổi.
    1. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 25. Mức hưởng chế độ ốm đau

    1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều
    • và Điều 24 của Luật này thì mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    1. Người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng được quy định như sau:
    1. Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên;
    1. Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm;
    1. Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm.
    1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    1. Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung.

    Điều 26. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau

    1. Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 23 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.
    1. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

    MỤC 2

    CHẾ ĐỘ THAI SẢN

    Điều 27. Đối tượng áp dụng chế độ thai sản

    Đối tượng áp dụng chế độ thai sản là người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 28. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

    1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Lao động nữ mang thai;
    1. Lao động nữ sinh con;
    1. Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;
    1. d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.
    1. Người lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

    Điều 29. Thời gian hưởng chế độ khi khám thai

    Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai năm lần, mỗi lầ n một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y t ế hoặc ngườ i mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai.

    Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 30. Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu

    Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dướ i ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.

    Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 31. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con

    1. Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định sau đây: a) Bốn tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường;
    2. Năm tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân;
    1. Sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật;
    1. Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba mươi ngày.
    1. Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ sáu mươi ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc ba mươi ngày tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc

    hưở ng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điề u này; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.

    1. Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.
    1. Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 32. Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi

    Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.

    Điều 33. Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai

    1. Khi đặt vòng tránh thai người lao động được nghỉ việc bảy ngày.
    1. Khi thực hiện biện pháp triệt sản người lao động được nghỉ việc mười lăm ngày.
    1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

    Điều 34. Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi

    Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dướ i bốn tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

    Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

    Điều 35. Mức hưởng chế độ thai sản

    1. Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 29, 30, 31, 32 và 33 của Luật này thì mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 36. Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con

    1. Lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây:
    1. Sau khi sinh con từ đủ sáu mươi ngày trở lên;
    1. Có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại cho sức khoẻ của người lao động;
    1. Phải báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý.
    1. Ngoài tiền lương, tiền công của những ngày làm việc, lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này.

    Điều 37. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản

    1. Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 30, khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.
    1. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

    MỤC 3

    CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP

    Điều 38. Đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

    Đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệ nh nghề nghiệp là người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 39. Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

    Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;
    2. Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
    1. Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
    1. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 40. Điều kiện hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp

    Người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại;
    1. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 41. Giám định mức suy giảm khả năng lao động

    1. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định;
    1. Sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định.
    1. Người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp;
    1. Bị tai nạn lao động nhiều lần;
    1. Bị nhiều bệnh nghề nghiệp.

    Điều 42. Trợ cấp một lần

    1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.
    1. Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:
    1. Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung;
    1. Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

    Điều 43. Trợ cấp hằng tháng

    1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.
    1. Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:
    1. Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung;
    1. Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

    Điều 44. Thời điểm hưởng trợ cấp

    1. Thời điểm hưởng trợ cấp quy định tại các điều 42, 43 và 46 của Luật này được tính từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện.
    1. Trường hợp thương tật hoặc bệnh tật tái phát, người lao động được đi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa.

    Điều 45. Cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình

    Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật.

    Điều 46. Trợ cấp phục vụ

    Người lao động bị suy gi ảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng quy định tại Điều 43 của Luật này, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung.

    Điều 47. Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

    Ngườ i lao động đang làm việc bị chế t do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung.

    Điều 48. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật

    1. Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày.
    1. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

    MỤC 4

    CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

    Điều 49. Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí

    Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí là người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    Điều 50. Điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;
    1. Nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
    1. Người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Nam đủ năm mươi lăm tuổi, nữ đủ năm mươi tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Luật công an nhân dân có quy định khác;
    1. Nam từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi, nữ từ đủ bốn mươi lăm tuổi đến đủ năm mươi tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

    Điều 51. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

    Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên,

    hưởng lương hưu vớ i mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng l ương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;
    1. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.

    Điều 52. Mức lương hưu hằng tháng

    1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
    1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.
    1. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung.

    Điều 53. Điều chỉnh lương hưu

    Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế. Mức điều chỉnh cụ thể do Chính phủ quy định.

    Điều 54. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

    1. Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
    1. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 55. Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    1. Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Ra nước ngoài để định cư.
    1. Người lao động quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật này được

    hưởng bảo hiểm xã h ội một lần khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.

    Điều 56. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần

    Mức hưở ng bảo hiểm xã hội một l ần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi nă m tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 57. Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội

    Người lao động khi nghỉ việ c mà chưa đủ điề u kiện để hưởng lươ ng hưu theo quy định tại Đi ều 50 và Điề u 51 hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lầ n theo quy đị nh tại Điều 55 và Điều 56 của Luật này thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 58. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính l ương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của năm năm cuối trước khi nghỉ hưu.
    1. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 59. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một l ần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến trước ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:
    1. Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu năm cuối trước khi nghỉ hưu;
    1. Tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tám năm cuối trước khi nghỉ hưu.
    1. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 60. Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của mười năm cuối trước khi nghỉ hưu.
    1. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 61. Điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội

    1. Tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 1 Điều 94 của

    Luật này được điều chỉnh theo mức lương tối thiểu chung tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí.

    1. Tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 2 Điều 94 của Luật này được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    Điều 62. Tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng

    Người lao động đang hưở ng lương hưu, trợ cấp bảo hi ểm xã hội hằng tháng bị tạm dừ ng hưở ng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;
    1. Xuất cảnh trái phép;
    1. Bị Toà án tuyên bố là mất tích.

    MỤC 5

    CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT

    Điều 63. Trợ cấp mai táng

    1. Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng:
    1. Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này đang đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc.
    1. Trợ cấp mai táng bằng mười tháng lương tối thiểu chung.
    1. Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp quy định tại khoản 2 Điều này.

    Điều 64. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất hằng tháng

    1. Các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng tháng:
    1. Đã đóng bảo hiểm xã hội đủ mười lăm năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần;
    1. Đang hưởng lương hưu;
    1. Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    1. Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
    1. Thân nhân của các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, bao gồm:
    1. Con chưa đủ mười lăm tuổi; con chưa đủ mười tám tuổi nếu còn đi học; con từ đủ mười lăm tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
    1. Vợ từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ sáu mươi tuổi trở lên; vợ dưới năm mươi lăm tuổi, chồng dưới sáu mươi tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
    1. Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối

    tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ sáu mươi tuổi trở lên đối với nam, từ đủ năm mươi lăm tuổi trở lên đối với nữ;

    1. Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu dưới sáu mươi tuổi đối với nam, dưới năm mươi lăm tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

    Thân nhân quy định tại các điểm b, c và d khoản này phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    Điều 65. Mức trợ cấp tuất hằng tháng

    1. Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung.
    1. Trường hợp có một người chết thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này thì số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng không quá bốn người; trường hợp có từ hai người chết trở lên thì thân nhân của những người này được hưởng hai lần mức trợ cấp quy định tại khoản 1 Điều này.
    1. Thời điểm hưởng trợ cấp tuất hằng tháng được thực hiện kể từ tháng liền kề sau tháng mà người lao động, người hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chết.

    Điều 66. Các trường hợp hưởng trợ cấp tuất một lần

    Các đối tượng quy định t ại khoản 1 Điều 63 của Luật này thuộc một trong các trường hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần:

    1. Người chết không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này;
    1. Người chết thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 64 nhưng không có thân nhân hưởng tiền tuất hằng tháng quy định tại khoản 2 Điều 64 của Luật này.

    Điều 67. Mức trợ cấp tuất một lần

    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao động đang làm việc hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội; mức thấp nhất bằng ba tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng.
    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng bốn mươi tám tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng ba tháng lương hưu đang hưởng.

    Điề u 68. Tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tu ất đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đó đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được cộng với thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.
    1. Cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng hoặc mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định.

    CHƯƠNG IV

    BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

    MỤC 1

    CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

     

    Điều 69. Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí

    Bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng đối với người lao động quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật này.

    Điều 70. Điều kiện hưởng lương hưu

    1. Người lao động hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;
    1. b) Đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
    1. Trường hợp nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi nhưng thời gian đóng

    bảo hiể m xã hội còn thiếu không quá năm năm so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm.

    Điều 71. Mức lương hưu hằng tháng

    1. Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 76 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
    1. Việc điều chỉnh lương hưu được thực hiện như quy định tại Điều 53 của Luật này

    Điều 72. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

    1. Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
    1. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 73. Bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng

    Người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 70 của Luật này;
    1. Không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Ra nước ngoài để định cư.

    Điều 74. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần

    Mức hưở ng bảo hiểm xã hội một l ần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 75. Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội

    Người lao động dừng đóng bảo hi ểm xã hội tự nguyệ n mà chưa đủ điều ki ện để hưởng lương hưu theo quy định tại Điề u 70 hoặc chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 73 và Điều 74 của Luật này thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

    Điều 76. Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội

    1. Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
    1. Thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập

    tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    MỤC 2

    CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT

    Điều 77. Trợ cấp mai táng

    1. Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng: a) Người lao động đã có ít nhất năm năm đóng bảo hiểm xã hội;
    2. b) Người đang hưởng lương hưu.
    1. Trợ cấp mai táng bằng mười tháng lương tối thiểu chung.
    1. Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp quy định tại khoản 2 Điều này.

    Điều 78. Trợ cấp tuất

    1. Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội, người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người đang hưởng lương hưu khi chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần.
    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao động đang đóng hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết

    đượ c tính theo thời gian đã hưởng lươ ng hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng l ương hưu thì tính bằng bốn mươi tám tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.

    Điề u 79. Tính hưở ng chế độ hưu trí và chế độ t ử tuất đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện

    1. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được cộng với thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.
    1. Cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng hoặc mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định.

    CHƯƠNG V

    BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

    Điều 80. Đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp

    Bả o hiểm th ất nghiệp áp dụng bắt buộc đối người lao động quy định tại khoản 3 và người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này.

    Điều 81. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

    Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;
    1. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
    1. Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này.

    Điều 82. Trợ cấp thất nghiệp

    1. Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp.
    1. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:
    1. Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
    1. Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo

    hiểm thất nghiệp;

    1. Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
    1. Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

    Điều 83. Hỗ trợ học nghề

    Người đang hưởng trợ c ấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá sáu tháng. Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề.

    Điều 84. Hỗ trợ tìm việc làm

    Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí.

    Điều 85. Bảo hiểm y tế

    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.

    Điều 86. Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp

    Người đang hưởng tr ợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Không thực hiện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này;
    1. Bị tạm giam.

    Điều 87. Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:
    1. a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;
    1. Có việc làm;
    1. Thực hiện nghĩa vụ quân sự;
    1. Hưởng lương hưu;

    đ) Sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

    1. Không thực hiện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này trong ba tháng liên tục;
    1. Ra nước ngoài để định cư;
    1. Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;
    1. Bị chết.
    1. Các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này sẽ được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng giá trị còn lại của trợ cấp thất nghiệp quy định tại Điều 82 của Luật này.
    1. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp lần sau.

    CHƯƠNG VI

    QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI

    MỤC 1

    QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

    Điều 88. Nguồn hình thành quỹ

    1. Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 92 của Luật này.
    1. Người lao động đóng theo quy định tại Điều 91 của Luật này.
    1. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Hỗ trợ của Nhà nước.
    1. Các nguồn thu hợp pháp khác.

    Điều 89. Các quỹ thành phần

    1. Quỹ ốm đau và thai sản.
    1. Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
    1. Quỹ hưu trí và tử tuất.

    Điều 90. Sử dụng quỹ

    1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định tại Chương III của Luật này.
    1. Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
    1. Chi phí quản lý.
    1. Chi khen thưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Luật này.
    1. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.

    Điều 91. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động

    1. Hằng tháng, người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%.
    1. Người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.
    1. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động quy định tại điểm e khoản 1 Điều
    • của Luật này do Chính phủ quy định.

    Điều 92. Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động

    1. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
    1. 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ quy định tại Mục 1 và Mục 2 Chương III của Luật này và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;
    1. 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    1. 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.
    1. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên mức lương tối thiểu chung đối với mỗi người lao động quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
    1. 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    1. 16% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.
    1. Người sử dụng lao động thuộc các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì mức đóng hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.

    Điều 93. Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất

    1. Trong trường hợp người sử dụng lao động gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc người lao động và người sử dụng lao động không có khả năng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì được tạm dừng đóng trong thời gian không quá mười hai tháng.
    1. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, khoảng thời gian tạm dừng đóng và thẩm quyền quyết định việc tạm dừng đóng.

    Điều 94. Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.
    1. Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động.
    1. Trường hợp mức tiền lương, tiền công quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.

    Điều 95. Chi phí quản lý

    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

    Điều 96. Nguyên tắc đầu tư

    Hoạt động đầ u tư từ quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.

    Điều 97. Các hình thức đầu tư

    1. Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của ngân hàng thương mại của Nhà nước.
    1. Cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay.
    1. Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia.
    1. Các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định.

    MỤC 2

    QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

    Điều 98. Nguồn hình thành quỹ

    1. Người lao động đóng theo quy định tại Điều 100 của Luật này.
    1. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Hỗ trợ của Nhà nước.
    1. Các nguồn thu hợp pháp khác.

    Điều 99. Sử dụng quỹ

    1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định tại Chương IV của Luật này.
    1. Đóng bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu.
    1. Chi phí quản lý.
    1. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.

    Điều 100. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động

    1. Mức đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng bảo

    hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.

    Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi tuỳ theo khả nă ng của người lao động ở từng thờ i kỳ, nhưng thấ p nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.

    1. Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau đây: a) Hằng tháng;
    2. b) Hằng quý;
    1. c) Sáu tháng một lần.

    Điều 101. Chi phí quản lý

    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội tự nguyện hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội tự nguyện bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

    MỤC 3

    QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

    Điều 102. Nguồn hình thành quỹ

    1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
    1. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
    1. Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng

    đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.

    1. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
    1. Các nguồn thu hợp pháp khác.

    Điều 103. Sử dụng quỹ

    1. Trả trợ cấp thất nghiệp.
    1. Hỗ trợ học nghề.
    1. Hỗ trợ tìm việc làm.
    1. Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp.
    1. Chi phí quản lý.
    1. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.

    Điều 104. Chi phí quản lý

    Chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

    Điều 105. Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp

    Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính như quy định tại Điều 94 của Luật này.

    CHƯƠNG VII

    TỔ CHỨC BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Điều 106. Tổ chức bảo hiểm xã hội

    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội là tổ chức sự nghiệp, có chức năng thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
    1. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định.

    Điều 107. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội

    1. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội do Chính phủ thành lập, có trách nhiệm chỉ đạo và giám sát hoạt động của tổ chức bảo hiểm xã hội.
    1. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội gồm đại diện Bộ Lao động – Thương binh và Xã

    hội, Bộ Tài chính, Tổng liên đoàn lao động Vi ệt Nam, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, tổ chức bảo hiểm xã hội và một số thành viên khác do Chính phủ quy định.

    1. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
    1. Quy chế làm việc của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội do Chính phủ quy định.

    Điều 108. Nhiệm vụ của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội

    1. Thẩm định kế hoạch hoạt động hằng năm, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của tổ chức bảo hiểm xã hội.
    1. Quyết định hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội theo đề nghị của tổ chức bảo hiểm xã hội.
    1. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, chiến lược phát triển của ngành, kiện toàn hệ thống tổ chức của tổ chức bảo hiểm xã hội, cơ chế quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
    1. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh lãnh đạo của tổ chức bảo hiểm xã hội.

    CHƯƠNG VIII

    THỦ TỤC THỰC HIỆN BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Điều 109. Sổ bảo hiểm xã hội

    1. Sổ bảo hiểm xã hội được cấp đối với từng người lao động để theo dõi việc đóng,

    hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội và là cơ sở để giải quyết các chế độ bảo hi ểm xã hội theo quy định của Luật này. Mẫu Sổ bảo hiểm xã hội do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

    1. Sổ bảo hiểm xã hội sẽ được dần thay thế bằng thẻ bảo hiểm xã hội điện tử trong quá trình áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý bảo hiểm xã hội. Chính phủ quy định thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi sử dụng thẻ bảo hiểm xã hội điện tử.

    Điều 110. Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội

     

    1. Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
    1. Tờ khai cá nhân của người lao động theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định;
    1. Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc do người sử dụng lao động lập;
    1. Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động đối với người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội lần đầu; hợp đồng lao động đối với người sử dụng lao động là cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động.
    1. Hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.
    1. Hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:
    1. Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định;
    1. Danh sách người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp do người sử dụng lao động lập.

    Điều 111. Cấp Sổ bảo hiểm xã hội

    1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người sử dụng lao động nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 110 của Luật này.
    1. Người lao động nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm cấp sổ bảo hiểm xã hội trong thời hạn ba

    mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người tham gia b ảo hiể m xã h ội bắt buộc và bảo hiể m thấ t nghiệ p; hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợ p lệ c ủa người tham gia bả o hiểm xã hội tự nguyện; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 112. Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Giấy xác nhận nghỉ ốm đối với người lao động điều trị ngoại trú, giấy ra viện đối với người lao động điều trị nội trú tại cơ sở y tế, giấy ra viện hoặc phiếu hội chẩn của bệnh viện đối với người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày.
    1. Xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên.
    1. Giấy xác nhận của người sử dụng lao động về thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, kèm theo giấy khám bệnh của con đối với người lao động nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau.
    1. Danh sách người nghỉ ốm và người nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau do người sử

    dụng lao động lập.

    Điều 113. Hồ sơ hưởng chế độ thai sản

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con hoặc giấy chứng tử trong trường hợp sau khi sinh con mà con chết hoặc mẹ chết.

    Trườ ng hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chế t lưu, ngườ i lao động thực hiện các biện pháp tránh thai phải có giấy xác nhận của c ơ sở y tế có thẩm quyền; nh ận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải có chứng nhận theo quy định của pháp luật.

    1. Xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc xác nhận của người sử dụng lao động đối với lao động nữ là người tàn tật.
    1. Danh sách người hưởng chế độ thai sản do người sử dụng lao động lập.

    Điều 114. Hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Biên bản điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là tai nạn lao động thì phải có thêm bản sao Biên bản tai nạn giao thông.
    1. Giấy ra viện sau khi đã điều trị tai nạn lao động.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.
    1. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động.

    Điều 115. Hồ sơ hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại, trường hợp biên bản xác định cho nhiều người thì hồ sơ của mỗi người lao động có bản trích sao.
    1. Giấy ra viện sau khi điều trị bệnh nghề nghiệp, trường hợp không điều trị tại bệnh viện thì phải có giấy khám bệnh nghề nghiệp.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.
    1. Văn bản đề nghị giải quyết chế độ bệnh nghề nghiệp.

    Điều 116. Hồ sơ hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ

    1. Danh sách người đã hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà sức khoẻ còn yếu do người sử dụng lao động lập.
    1. Văn bản đề nghị giải quyết trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.

    Điều 117. Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản

    1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động quy định tại Điều 112 và Điều 113 của Luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.
    1. Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao

    động đã được gi ải quyết chế độ ốm đau, thai s ản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 112, 113 và 116 của Luật này.

    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 118. Giải quyết hưở ng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

    1. Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 114, 115 và 116 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 119. Hồ sơ hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Quyết định nghỉ việc đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội; đơn đề nghị hưởng lương hưu đối với người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa đối với người nghỉ hưu theo quy định tại Điều 51 của Luật này.

    Điều 120. Hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Sổ bảo hiểm xã hội.
    1. Quyết định nghỉ việc trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55; quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 55 của Luật này.
    1. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật này.
    1. Bản sao giấy tờ định cư ở nước ngoài trong trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 55 của Luật này.
    1. Đơn đề nghị của người lao động trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 55 của Luật này.

    Điều 121. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội và người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm:
    1. Sổ bảo hiểm xã hội;
    1. Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
    1. Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định;
    1. Biên bản điều tra tai nạn lao động, bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp trong trường hợp chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên bao gồm:
    1. Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
    1. Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

    Điều 122. Giả i quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

    1. Người sử dụng lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 119, Điều 120 và khoản 1 Điều 121 của Luật này.
    1. Người lao động không còn quan hệ lao động thì trực tiếp nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Luật này.
    1. Thân nhân của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu; mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 123. Hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

    1. Hồ sơ hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần bao gồm: a) Sổ bảo hiểm xã hội;
    1. b) Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất bao gồm:
    1. Sổ bảo hiểm xã hội đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội;
    1. Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Toà án tuyên bố là đã chết;
    1. Tờ khai của thân nhân theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.

    Điều 124. Giải quyết hưởng chế độ hưu trí, chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

    1. Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 123, thân nhân của người đang hưởng lương hưu nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu; mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội một lần, chế độ tử tuất; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 125. Hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp

    1. Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu do tổ chức bảo hiểm xã hội quy định.
    1. Bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết hạn hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đúng pháp luật.

    Điều 126. Giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp

    1. Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 125 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 127. Hồ sơ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người chấp hành xong hình phạt tù

    1. Đối với người chưa hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, hồ sơ bao gồm: a) Sổ bảo hiểm xã hội;
    1. b) Bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù; c) Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội.
    1. Đối với người đã hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội thì hồ sơ bao gồm: a) Bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù;
    2. b) Đơn đề nghị hưởng tiếp bảo hiểm xã hội.

    Điều 128. Giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần đối với người chấp hành xong hình phạt tù

    1. Người lao động nộp hồ sơ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 127 của Luật này.
    1. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Điều 129. Di chuyển nơi hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội

    Khi người đang hưở ng lươ ng hưu, trợ c ấp bảo hiểm xã hội hằ ng tháng chuyển đến nơi ở khác trong nướ c mà muốn được hưởng bảo hiểm xã hội ở nơi mới thì phải có đơn gửi tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng.

    Tổ chức bảo hiể m xã hội có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn năm ngày, kể t ừ ngày nhận được đơn; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    CHƯƠNG IX

    KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Điều 130. Khiếu nại về bảo hiểm xã hội

    1. Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và những người khác có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
    1. Người sử dụng lao động có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    Điều 131. Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại

    1. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
    1. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:
    1. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu về bảo hiểm xã hội là người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại.

    Trong trườ ng hợp người có quyết định, hành vi về bảo hi ểm xã hội bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có thẩm quyền giải quyết;

    1. b) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại

    lần đầu hoặc quá thờ i hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh;

    1. Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án;
    1. Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Điều 132. Tố cáo, giải quyết tố cáo về bảo hiểm xã hội

    Việc tố cáo và giả i quyết tố cáo vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    CHƯƠNG X

    KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

    Điều 133. Khen thưởng

    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện Luật này hoặc phát hiện vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
    1. Người sử dụng lao động thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được khen thưởng từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Chính phủ.

    Điều 134. Các hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội

    1. Không đóng.
    1. Đóng không đúng thời gian quy định.
    1. Đóng không đúng mức quy định.
    1. Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội.

    Điều 135. Các hành vi vi phạm pháp luật về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội

    1. Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động.
    1. Không cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của Luật này.

    Điều 136. Các hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội

    1. Sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội trái quy định của pháp luật.
    1. Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội.

    Điều 137. Các hành vi vi phạm pháp luật về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội

    1. Gian lận, giả mạo hồ sơ.
    1. Cấp giấy chứng nhận, giám định sai.

    Điều 138. Xử lý vi phạm

    1. Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại các điều 134, 135, 136 và
    • của Luật này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    1. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại các điều 134, 135, 136 và 137 của Luật này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    1. Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 134 của Luật này từ ba mươi ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm.

    Trong trường hợp ngườ i sử dụng lao động không thực hiện quy định tại khoả n này thì theo yêu cầ u của người có thẩ m quyền xử lý vi phạm hành chính, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích tiền t ừ tài khoả n tiề n gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này.

    CHƯƠNG XI

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 139. Quy định chuyển tiếp

    1. Các quy định của Luật này được áp dụng đối với người đã tham gia bảo hiểm xã hội từ trước ngày Luật này có hiệu lực.
    1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tiền tuất hằng tháng và người bị đình chỉ hưởng bảo hiểm xã hội do vi phạm pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn thực hiện theo các quy định trước đây và được điều chỉnh mức hưởng theo quy định của pháp luật.
    1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng trước ngày Luật này có hiệu lực thì khi chết được áp dụng chế độ tử tuất quy định tại Luật này.
    1. Người lao động có thời gian làm việc trong khu vực nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 nếu chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp một lần, trợ cấp xuất ngũ, phục viên thì thời gian đó được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
    1. Hằng năm, Nhà nước chuyển từ ngân sách một khoản kinh phí vào quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc để bảo đảm trả đủ lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; đóng bảo hiểm xã hội cho thời gian làm việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 đối với người quy định tại khoản 4 Điều này.
    1. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức.

    Điều 140. Hiệu lực thi hành

    1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007; riêng đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đối với bảo hiểm thất nghiệp thì từ ngày
    • tháng 01 năm 2009.
    1. Những quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ.

    Điều 141. Hướng dẫn thi hành

    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006.

    Chủ tịch Quốc hội

    Nguyễn Phú Trọng

  • Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro do nhiều nguyên nhân: do môi trường thiên nhiên (Bão, lụt, động đất, hạn hán…); do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật (Khoa học kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống con người nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn ôtô, hàng không , tai nạn lao động…); do môi trường xã hội (khi xã hội càng phát triển thì con người càng có nguy cơ gặp nhiều rủi ro như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, lạm phát…)

    Bảo hiểm là một biện pháp để đối phó với rủi ro trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có. Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội bảo hiểm không chỉ chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất. Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc sống con người.

    Sự ra đời và phát triển của BHNT đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển cuả nền kinh tế trên thế giới. Ngày nay tham gia BHNT trở thành một nhu cầu tất yếu của người dân các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.

    Phần I

    TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

    1. Khái niệm:

    Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiềm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định) còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người.

    2. Vai trò của BHNT:

    2.1. Đối với nền kinh tế :

    BHNT ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia:

    Thứ nhất: BHNT góp phần ổn định tài chính cho người tham gia hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm.

    Xã hội càng phát triển càng có nhiều cơ hội nhưng cũng đồng nghĩa với có nhiều rủi ro đe doạ cuộc sống con người dẫn đến những bất ổn về tài chính cho cá nhân gia đình cũng như xã hội.

    Khi rủi ro xảy ra, nếu tham gia BHNT thì bản thân hoặc người thân, gia đình của bạn sẽ dược đảm bảo về mặt tài chính bù đắp phần nào những tổn thất do rủi ro gây ra.

    Còn nếu rủi ro không xảy ra, thông qua một số loại hình sản phẩm khác như bảo hiểm trợ cấp hưu trí, bảo hiểm hỗn hợp.. người tham gia vẫn nhận được số tiền bảo hiểm cùng với lãi để sử dụng cho nhu cầu ngày càng cao của con người.

    Hiện nay hầu hết các công ty lớn trên thế giới đều tham gia BHNT nhằm duy trì hoạt động của công ty, bù đắp phần thiệt hại do rủi ro trong trường hợp người chủ công ty phải ngừng làm việc do tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn.

    Thứ hai: BHNT góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và tăng thêm quyền lợi cho người lao động.

    BHNT giúp tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội như vấn đề thất nghiệp, vấn đề giáo dục…

    Nếu không có BHXH, hàng năm Ngân sách Nhà nước phải chi ra một lượng tiền khá lớn để chi trả cho các cá nhân, công ty gặp rủi ro dưới hình thức trợ cấp (trợ cấp ốm đau, trợ cấp mất việc làm..). Các khoản chi này sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

    Với BHNT, người tham gia đã có thể tự bảo vệ cho mình, chủ động đối phó với các rủi ro đồng thời tạo ra một khoản tiết kiệm (không may rủi ro xảy ra, bên cạnh các chế độ bảo hiểm y tế, BHXH người lao động còn được hưởng quyền lợi từ BHNT nếu họ tham gia).

    Bên cạnh đó, tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện người lao động còn được hưởng khoản trợ cấp hưu trí, tự lo được cho bản thân, giảm gánh nặng cho gia đình cũng như xã hội.

    Thứ ba: BHNT là công cụ thu hút vốn đầu tư hữu hiệu.

    Phí trong BHNT khá lớn, nhờ đó mà lượng vốn nhàn rỗi được huy động từ dân

    chúng.

    BHNT là một trong những hình thức huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tạo nguồn đầu tư dài hạn cho sự phát triển kinh tế- xã hội, giảm bớt tình trạng vay vốn nước ngoài với lãi suất cao.

    Ngoài ra, khi các công ty BHNT nước ngoài tham gia vào thị trường BH nội địa, nguồn vốn do họ đầu tư vào cũng sẽ rất lớn.

    Thêm vào đó, do đặc điểm của BHNT là mang tính dài hạn, nguồn vốn huy động được có thể đem đầu tư trong một thời gian dài đây là được coi là nguồn vốn tuyệt vời nhất cho các dự án kinh tế lớn.

    Thứ tư: BHNT tạo ra một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động.

    Hoạt động BHNT cần một mạng lưới rất lớn các đại lý khai thác bảo hiểm, đội ngũ nhân viên tin học, tài chính, kế toán, quản lý kinh tế… Vì vậy, phát triển BHNT đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm bớt số lượng người thất nghiệp, bớt đi gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

    Thứ năm: BHNT là biện pháp đầu tư hợp lý cho giáo dục và góp phần tạo nên một tập quán, một phong cách sống mới.

    Đối với những nước đang phát triển, đầu tư cho giáo dục là rất quan trọng và phải coi là nền tảng của sự phát triển. Tuy nhiên khi chi phí cho giáo dục ngày một tăng thì nguồn lực của các nước này lại rất hạn hẹp, bên cạnh các biện pháp hỗ trợ giáo dục như kêu gọi đóng góp, viện trợ của các cơ quan trong và ngoài nước, cho sinh viên vay vốn tín dụng đều mang tính nhất thời, không ổn định, tham gia BH An sinh giáo dục là một biện pháp hợp lý để đầu tư cho việc học hành của con em nhờ tiết kiệm thường xuyên của gia đình.

    Tham gia BHNT còn thể hiện một nếp sống đẹp thông qua việc tạo cho mỗi người thói quen biết tiết kiệm, biết lo lắng cho tương lai của người thân, đồng thời giáo dục con em mình cũng biết tiết kiệm và sống có trách nhiệm đối với người khác.

    Do vậy, thực hiện BHNT chính là một trong những công cụ để thực hiện chiến lược phát triển toàn diện con người.

    2.2. Trong lĩnh vực bảo hiểm

    BHNT là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất

    Bảo hiểm thương mại trên thế giới đã có lịch sử phát triển hơn 500 năm. Bảo hiểm hoạt động trên nguyên tắc “số đông bù số ít” đó là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông và một vài người trong số họ chẳng may gặp phải rủi ro. Bảo hiểm ra đời là một biện pháp hữu hiệu để xử lý các rủi ro tồn tại khách quan. Tham gia bảo hiểm đang ngày càng trở thành một tác nghiệp không thể thiếu được đối với các chủ doanh nghiệp, một thói quen tốt trong dân chúng.

    Một trong các loại hình bảo hiểm ra đời khá lâu là BHNT với lịch sử phát triển

    • năm, nó đang ngày càng chứng tỏ vị thế của mình trong thị trường bảo hiểm nói chung.

    BHNT ngày càng lớn mạnh và trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trên thị trường BH.

    Thực tế tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giới không ngừng tăng và chiếm tỉ lệ lớn doanh thu trong tổng doanh thu của các nghiệp vụ BH.

    Tóm lại, dù đứng trên giác độ khách quan hay chủ quan chúng ta cũng phải thừa nhận rằng BHNT vẫn ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình trong thị trường BH nói riêng và trong nền kinh tế của các quốc gia, nền kinh tế thế giới nói chung.

    3. Những đặc điểm cơ bản của BHNT:

    3.1. BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro.

    Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với BH phi nhân thọ.

    Tham gia BHNT người mua có trách nhiệm nộp phí BH cho người BH theo định kỳ đồng thời người bảo hiểm cũng có trách nhiệm trả một số tiền lớn cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thoả thuận khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm này trả khi người được bảo hiểm sống đến một độ tuổi nhất định, hoặc cho người thừa hưởng khi người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn được bảo hiểm.

    Tính tiết kiệm trong bảo hiểm thể hiện ở ngay trong từng cá nhân, gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Tiết kiệm bằng cách mua bảo hiểm khác với các loại hình tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm không những tích luỹ về mặt tài chính mà còn mang tính bảo vệ cho bản thân, khi có rủi ro xảy ra cho bản thân thì vẫn được đảm bảo về mặt tài chính. Đó chính là đặc điểm cơ bản của BHNT mà các loại hình tiết kiệm khác không có được.

    3.2. BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia BH

    Khác với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia BH gặp rủi ro, BHNT do vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính tiết kiệm đã đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của con người, mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng sản phẩm bảo hiểm. Chẳng hạn như Bảo hiểm An hưởng hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người được bảo hiểm là có một khoản tiền góp phần ổn định cuộc sống khi họ về hưu, bảo hiểm An gia thịnh vượng đáp ứng yêu cầu của người tham gia là có được một khoản tiền lớn sau một thời gian ấn định trước…

    Ngoài ra, hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn khi người tham gia bảo hiểm gặp những khó khăn về mặt tài chính, thủ tục cho

    vay được công ty bảo hiểm giải quyết rất nhanh gọn không như đi vay vốn ngân hàng hơn nữa số tiền cho vay này có thể trả hay không trả lại cho công ty BH (số tiền cho vay được giới hạn theo quy định trong hợp đồng bảo hiểm).

    3.3. Các hợp đồng trong BHNT rất đa dạng.

    Tính đa dạng của các hợp đồng BHNT xuất phát từ mục đích của người tham gia và từ các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm. Mỗi sản phẩm của công ty thiết kế ra là để phù hợp với từng đối tượng tham gia khác nhau, cho nên bất cứ ai cũng có thể tham gia bảo hiểm và có được sản phẩm phù hợp với mục đích của bản thân khi tham gia bảo hiểm.

    3.4. Quá trình định phí BHNT khá phức tạp.

    Để đưa được sản phẩm BHNT đến với người tiêu dùng, người BH đã phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo ra sản phẩm bao gồm: chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng… Tuy nhiên những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên phí BHNT, còn phần chủ yếu là phụ thuộc vào:

    • Độ tuổi của người tham gia bảo hiểm
    • Tuổi thọ bình quân của con người
    • Số tiền bảo hiểm
    • Thời hạn tham gia bảo hiểm
    • Phương thức thanh toán
    • Lãi suất đầu tư
    • Tỉ lệ lạm phát, thiểu phát của đồng tiền

    ……

    Đối với sản phẩm BHNT, để định giá phí BHNT thì phải dựa trên từng vùng địa lý, từng quốc gia, từng chế độ xã hội, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước khác nhau là khác nhau. Hơn nữa còn phải nắm vững đặc trưng cơ bản của từng loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích chiều hướng phát triển chung của mỗi loại sản phẩm trên thị trường…

    3.5. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định.

     

    – Những điều kiện về kinh tế:

    • Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) phải đạt đến một mức độ nhất định, thể hiện sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
    • Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người phải đạt mức trung bình

    trở lên.

    • Mức thu nhập của dân cư phải phát triển đến một mức độ nhất định để không những đảm bảo nhu cầu tối thiểu của con người mà còn đáp ứng được những nhu cầu cao hơn.
    • Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền phải tương đối ổn định
    • Tỷ giá hối đoái phải ổn định ở mức hợp lý thì người dân mới tin tưởng mà đầu tư vào BHNT

    …….

    – Những điều kiện xã hội:

    Tình hình xã hội tương đối ổn định, không xảy ra nội chiến, bạo động. Một xã hội phát triển ổn định thì người dân mới tin tưởng đầu tư cho những kế hoạch trung và dài hạn.

    Ngoài ra, môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT.

    4. Các loại hình BHNT:

    4.1. Phân loại theo rủi ro bảo hiểm: Có 3 loại hình BHNT cơ bản:

    4.1.1. Bảo hiểm tử kỳ (bảo hiểm tạm thời, hay bảo hiểm sinh mạng có thời hạn)

    • Đây là loại hình BH được ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của hợp đồng. Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì người được BH không nhận được bất kỳ một khoản tiền nào. Điều đó cũng có nghĩa là người BH không phải thanh toán số tiền BH cho người được BH. Ngược lại, nếu có cái chết xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, người BH có trách nhiệm thanh toán số tiền BH cho người thụ hưởng quyền lợi BH được chỉ định.
    • Các loại hình:
    • Bảo hiểm tử kỳ cố định
    • Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục
    • Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi
    • Bảo hiểm tử kỳ giảm dần
    • Bảo hiểm tử kỳ tăng dần
    • Bảo hiểm thu nhập gia đình
    • Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên
    • Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện.
    • Đặc điểm:
    • Thời hạn BH xác định
    • Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời
    • Mức phí BH thấp vì không phải lập quỹ tiết kiệm cho người được BH. – Mục đích:
    • Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất
    • Bảo trợ cho gia đình và người thân trong một thời gian ngắn
    • Thanh toán các khoản nợ nần về vay hoặc thế chấp của người được BH

    4.1.2. Bảo hiểm trong trường sinh kỳ :

    • Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong một khoản thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm. Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào.
    • Đặc điểm:
    • Trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc cho đến khi chết.
    • Phí bảo hiểm đóng một lần
    • Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời hạn BH không xác định.

    – Mục đích:

    • Đảm bảo thu nhập cố định khi về hưu hay khi tuổi cao sức yếu.
    • Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi XH hoặc con cái khi tuổi già.
    • Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.

    4.1.3. Bảo hiểm trọn đời (bảo hiểm trường sinh):

    • Bảo hiểm trọn đời là loại hình BHNT mà thời gian bảo hiểm không xác định và số tiền bảo hiểm được chi trả cho người thừa kế khi người được bảo hiểm chết. Trong một số trường hợp, loại hình bảo hiểm này còn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay khi họ sống đến 99 tuổi (như Prudential).
    • Các loại:
    • Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phi lợi nhuận
    • BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhận
    • BHNT trọn đời đóng phí liên tục
    • BHNT trọn đời đóng phí một lần
    • BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí.
    • Đặc điểm:
    • Số tiền bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm chết
    • Thời hạn BH không xác định
    • Phí BH có thể đóng một lần hoặc đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt quá trình bảo hiểm
    • Phí BH cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn vì rủi ro chết chắc chắn xảy ra nên số tiền bảo hiểm chắc chắn phải chi trả.
    • Mục đích:
    • Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình
    • Giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau.

    4.1.4. BHNT hỗn hợp:

    • BHNT hỗn hợp là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến đáo hạn hợp đồng và thời hạn bảo hiểm được xác định trước, trong đó bảo tức trả khi đáo hạn hợp đồng và phụ thuộc vào hiệu quả mang lại do đầu tư phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm chọn.
    • Khi triển khai BHNT hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể đa dạng hóa loại sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau, hợp đồng phi lợi nhuận, có lợi nhuận và các hợp đồng khác tuỳ theo tình hình thực tế.
    • Đặc điểm:
    • STBH được trả khi hết hạn hợp đồng hoặc người được BH bị tử vong trong thời hạn bảo hiểm.
    • Thời hạn bảo hiểm xác định (thường là 5 năm, 10 năm, 20 năm…)
    • Phí BH thường đóng định kỳ và không đổi trong suốt thời hạn BH.
    • Có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm và cũng có thể được hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia.
    • Yếu tố rủi ro và tiết kiệm đan xen nhau.

    – Mục đích:

    • Đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và người thân.
    • Tạo lập quỹ giáo dục, hưu trí, trả nợ.

    4.2. Phân loại theo phương thức tham gia bảo hiểm:

    4.2.1. Bảo hiểm cá nhân:

    Là loại bảo hiểm con người thực hiện dưới hình thức người tham gia BH là cá nhân. Thông thường loại bảo hiểm tự nguyện đều do cá nhân tham gia BH

    4.2.2. Bảo hiểm nhóm:

    Là BH con người theo hình thức tập thể có kèm theo danh sách cá nhân được BH. Thí dụ tập thể cán bộ, công nhân viên của một doanh nghiệp đều được mua bảo hiểm con người có kèm theo danh sách các cá nhân được bảo hiểm rủi ro chết hoặc bảo hiểm tai nạn bất ngờ nhằm đảm bảo an toàn sản xuất, lao động.

    5. Số tiền bảo hiểm và nguyên tắc định phí:

     

    5.1. Số tiền bảo hiểm:

    Đây là hạn mức trách nhiệm của nhà bảo hiểm đối với người bảo hiểm.

    Trong BHNT nhà bảo hiểm sẽ đưa ra nhiều mức số tiền khác nhau và người tham gia bảo hiểm sẽ dựa trên khả năng tài chính của mình để lựa chọn số tiền thích hợp nhất. Đây cũng là số tiền người tham gia đăng kí với công ty BHNT.

    Người tham gia BHNT có quyền lựa chọn một trong các mức số tiền bảo hiểm sau: 5 triệu, 10 triệu, 15 triệu, 20 triệu, 30 triệu, 40 triệu, 50 triệu.

    Phí bảo hiểm

    Số tiền bảo hiểm =

    Tỷ lệ phí

    5.2.Nguyên tắc định phí:

    5.2.1. Phí bảo hiểm:

    • Phí bảo hiểm là số tiền cần phải thu của công ty bảo hiểm để công ty bảo hiểm đảm bảo trách nhiệm của mình khi có các sự kiện bảo hiểm được xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm như: chết, hết hạn hợp đồng, thương tật và đảm bảo cho việc hoạt động của công ty.

    Đây cũng là sự thể hiện trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm với công ty bảo hiểm nhằm nhận được sự bảo đảm trước những rủi ro đã được nhà bảo hiểm nhận bảo hiểm.

    • Phí bảo hiểm có thể nộp một lần ngay sau khi ký hợp đồng hoặc có thể nộp định kỳ trong năm. Phí nộp một lần sẽ phải đóng góp ít hơn so với tổng số chi phí đóng góp hàng kỳ do hiệu quả đầu tư của việc đóng phí một lần cao hơn và chi phí quản lý thấp hơn.
    • Phí bảo hiểm gồm hai phần: phí thuần và phụ phí.
    • Phí thuần là những khoản phí dùng để chi trả cho người được bảo hiểm.
    • Phụ phí gồm:
    • Chi phí khai thác chi cho tuyên truyền, quảng cáo, môi giới, đại lý…
    • Chi phí quản lý hợp đồng trong thời hạn hợp đồng đang thu phí, kể cả chi phí thu phí BH …
    • Chi phí quản lý liên quan đến các khoản chi trả bồi thường.

    5.2.2. Nguyên tắc định phí:

    Nguyên tắc tính phí được dựa trên biểu thức cân bằng giữa trách nhiệm của công ty bảo hiểm và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm tính theo giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Trách nhiệm của người được bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng bằng trách nhiệm của công ty bảo hiểm tại thời điểm ký hợp đồng

    5.2.3.Cách xác định phí:

    1. Phí thuần:

    Các yếu tố cơ bản để xác định là:

    • Tuổi thọ của người được bảo hiểm cụ thể là bảng tỉ lệ tử vong.
    • Lãi suất kỹ thuật: lãi xuất tiền gửi tính trong cơ sở tính phí.

    Ngoài ra, còn có các nhân tố khác tác động như thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, cách thức nộp phí, tỉ lệ huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn.

    • Qua bảng tỉ lệ tử vong ta có thể đưa ra số lượng những người còn sống (lx+n)
    • lứa tuổi x sau n năm. Từ đây có thể tính được xác suất sống và xác suất tử vong của một người ở độ tuổi x sau n năm.

    Tuổi

    • Số người sống (lx) Số người chết (dx) Tỷ lệ chết (1000.qx)
    • Lãi suất kỹ thuật: nhà bảo hiểm phải có trách nhiệm đầu tư các khoản phí để đưa ra một phần lãi làm giảm mức phí đóng của người tham gia. Mức lãi này càng cao

    thì càng phải kích thích được số lượng người tham gia. Do vậy nhà bảo hiểm phải đưa vào lãi suất tiền gửi để tính phí.

    – Gọi:

    • tuổi của người được bảo hiểm khi bắt đầu được nhận bảo hiểm. lx: số người sống

    l(x+n): số ngưòi được bảo hiểm sống sau n năm hợp đồng.

    d(x+k): số người được bảo hiểm chết trong năm hợp đồng k.

    • thời hạn hợp đồng.
    • thừa số chiết khấu v=1/1+i.

    T(x+k): số người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn trong năm hợp đồng k.

    • số tiền bảo hiểm. p: phí thuần.

    p”: phí toàn phần.

    + Phí thuần cho trách nhiệm bảo hiểm khi hết hợp đồng:

    • Phí thuần cho trách nhiệm bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết trước khi hết hạn hợp đồng:
    • Phí thuần cho trách nhiệm bảo hiểm khi người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn:

    ( Theo điều qui định của nghiệp vụ thì khi người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn sẽ được công ty bảo hiểm trả định kỳ 1/4 số tiền bảo hiểm trong những năm còn lại của hợp đồng).

    => Phí thuần BHNT:

    1. Phí toàn phần:

    Thông thường thu phí chiếm khoảng 5% phụ phí, trong đó:

    + 3% chi phí quản lí

    + 2% chi phí khai thác hợp đồng

    Mức phí không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm có thể nộp theo tháng, quý, năm hoặc theo 2 kì trong năm.

    • Công thức tính phí nộp mỗi kì (F) theo phí tháng như sau: + Nếu nộp phí theo quý:

    Fquí = Ftháng * 3*0,98

    (so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo quý giảm 2%) + Nếu nộp phí hai kỳ trong năm:

    F2 kì = Ftháng * 6 * 0,96

    (so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo hai kỳ trong năm giảm 4%)

    • Nếu nộp phí theo năm: Fnăm = Ftháng * 12 * 0,92

    ( so với tổng số phí nộp theo tháng thì tổng số phí nộp theo năm giảm 8%) – Phí bảo hiểm cho các mức số trên bảo hiểm được tính theo tỉ lệ sau:

    • Với các mức số tiền bảo hiểm từ 5 triệu đến 30 triệuVNĐ- tính bằng 100% tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.
    • Với các mức số tiền bảo hiểm từ 31 triệu đến 40 triệuVNĐ- tính bằng 98% tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.
    • Với các mức số tiền bảo hiểm từ 41 triệu đến 50 triệuVNĐ- tính bằng 97% tỉ lệ phí của một đơn vị số trên bảo hiểm.

    Phần II

    THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG

    BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM

    1. Sự hình thành và phát triển

    Bắt đầu từ năm 1986 Việt Nam đã chính thức thực hiện chính sách “Đổi mới”, với trọng tâm là chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Chính sách đổi mới đã thực sự có tác động tích cực đối với toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, đem lại sự ổn định và tăng trưởng kinh tế cao, đời sống người dân được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong 10 năm qua đạt trên 7% và trong năm 2007 đạt 8,5%; thu nhập bình quân theo đầu người tăng từ 423 đô la Mỹ năm 2001 lên 835 đô la Mỹ năm 2007; lạm phát được kiềm chế và kiểm soát; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 32% năm 2000 và còn 14,7% vào năm 2007. Tăng trưởng kinh tế cùng với việc xoá bỏ dần cơ chế bao cấp đã thúc đẩy nhu cầu và sự ra đời của thị trường bảo hiểm nhân thọ của người dân Việt Nam.

    Năm 1996 đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam bằng việc Bộ Tài chính cho phép Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ. Đáp lại yêu cầu của quá trình mở cửa và hội nhập cũng như yêu cầu phát triển của bản thân ngành bảo hiểm nhân thọ. Sau thời gian thí điểm, Bộ Tài chính đã lần lượt cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài (trong năm 1999 cấp giấy phép cho 3 doanh nghiệp là Prudential, Manulife, Bảo Minh – CMG – nay là Daiichi Life), sau đó là AIA (năm 2000), Prevoir, ACE Life, Great Eastern Life và Cathay Life. Đến nay trên thị trường đã có 09 doanh nghiệp hoạt động và theo dự báo sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được cấp giấy phép hoạt động trong thời gian tới.

    Với sự gia nhập của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, sản phẩm, chất lượng dịch vụ và tính chuyên nghiệp. Có thể kể ra những con số và thông tin đáng chú ý sau:

    • Về khai thác mới: nếu như năm 1996 doanh thu phí khai thác mới của toàn thị trường chưa đầy 1 tỷ đồng thì đến năm 2003 con số này là 2.050 tỷ đồng (bằng 0,61% GDP) và năm 2007 ước đạt 1.815 tỷ đồng (bằng 0,16 % GDP). Trong giai đoạn từ 2004 đến 2006, thị trường bước vào giai đoạn suy giảm và đã có dấu hiệu hồi phục từ năm 2007.
    • Tổng doanh thu phí bảo hiểm: năm 2003 tổng doanh thu phí của toàn thị trường đạt 6.442 tỷ đồng (bằng 1,92% GDP) và năm 2007 đạt 9.485 tỷ đồng (bằng 2,06% GDP). Chính từ nguồn phí bảo hiểm này, ngành bảo hiểm nhân thọ đã cung cấp một lượng vốn lớn cho nền kinh tế.
    • Tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối năm 2007: 3.834 nghìn hợp đồng chính (bằng khoảng 4,5% dân số).
    • Về kênh phân phối đại lý: thị trường đã tạo việc làm cho nhiều người lao động. Tổng số đại lý tại cuối năm 2007 là 70.000 người.
    • Về sản phẩm: Đến nay, thị trường đã cung cấp cho công chúng hầu hết các dòng sản phẩm từ sản phẩm truyền thống đến bảo hiểm liên kết chung (universal life) và gần đây là bảo hiểm liên kết đơn vị (unit linked).

    Sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cũng là một nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển của khung pháp lý cho thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng.Cho đến 1/4/2001 Luật kinh doanh bảo hiểm chính thức phát huy hiệu lực tạo ra hành lang pháp lý đồng thời góp phần khẳng định vị trí của ngành kinh doanh bảo hiểm trong xã hội Việt Nam.

    2. Đặc điểm:

    • Về sản phẩm: Giống như quá trình phát triển của các thị trường khác trên thế giới, đến nay sản phẩm chủ yếu của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn là các sản phẩm hỗn hợp truyền thống với 73% doanh thu khai khác mới và 87% số lượng hợp đồng chính có hiệu lực tại cuối năm 2007. Tỷ trọng này đã giảm trong thời gian qua với sự gia tăng của các sản phẩm mang tính bảo vệ và sản phẩm phi truyền thống. Sản phẩm liên kết chung (universal life) đã được đưa ra thị trường trong thời gian gần đây và thu được những kết quả đáng chú ý. Từ đầu năm 2008 sản phẩm liên kết đơn vị

    (unit linked) cũng đã được đưa ra thị trường. Các sản phẩm bancassurance cũng đã lần lượt được đưa ra thị trường trong mấy năm gần đây.

    • Về kênh phân phối: Kênh phân phối qua đại lý đến nay đây vẫn là kênh phân phối chính, đóng góp khoảng 99% doanh thu khai thác mới. Đáng chú ý, sau một giai đoạn phát triển “nóng” về số lượng đại lý với hệ quả là “vào nhanh, ra nhanh”, trong thời gian gần đây các doanh nghiệp đã chú trọng đến chất lượng và tính chuyên nghiệp của nghề đại lý bảo hiểm. Tại cuối năm 2004, toàn thị trường có gần 100.000 đại lý hoạt động thì đến cuối năm 2007 con số này chỉ là gần 70.000 đại lý hoạt động. Bên cạnh kênh phân phối qua đại lý, các doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng thêm kênh bancassurance nhưng đến nay kết quả của kênh phân phối này vẫn còn rất khiêm tốn (với dưới 1% doanh thu khai thác mới).
    • Năng lực tài chính: Nhằm nâng cao năng lực tài chính của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã có quy định nâng mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ từ 400 tỷ lên 600 tỷ đồng. Đối với các doanh nghiệp được phép triển khai bảo hiểm liên kết đơn vị thì yêu cầu về mức vốn điều lệ đã góp phải cao hơn mức vốn pháp định từ 200 tỷ đồng trở lên.

    BHNT từ khi ra đời và triển khai các nghiệp vụ BHNT hỗn hợp mang tính chất vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm đã và đang huy động được một lượng vốn không nhỏ trong dân. Tuy bước đầu, lượng người tham gia bảo hiểm chưa lớn, số hợp đồng tham gia ở mức trách nhiệm cao cũng chưa nhiều, nhưng đã mở ra thêm cho người dân một cách thức tiết kiệm mới đồng thời góp phần vào phát triển nguồn vốn, tăng đầu tư cho đất nước.

    3. Thuận lợi:

    – Về dân số và nhu cầu đào tạo: Hiện nay dân số Việt Nam là 85 triệu người-đứng hàng thứ 13 trên thế giới, với mức tăng hàng năm khoảng 1 triệu người. Điểm đáng chú ý, Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm hơn 60% tổng dân số; tuổi thọ trung bình không ngừng được cải thiện (từ 50 tuổi trong những năm 1960 tăng lên 72 tuổi vào năm 2005). Với dân số trẻ cùng với truyền thống hiếu học cộng với yêu cầu rất lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao sau khi Việt Nam hội nhập vào kinh tế thế giới, dẫn đến nhu cầu đào tạo của Việt Nam

    ngày càng cao, đặc biệt là nhu cầu đào tạo chất lượng cao cả ở trong và ngoài nước kéo theo yêu cầu tài chính cho đào tạo ngày càng lớn.

    • Phát triển kinh tế: Từ khi thực hiện chính sách “đổi mới”, nền kinh tế Việt Nam đã có sự tiến bộ vượt bậc và theo dự đoán Việt Nam tiếp tục đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trong thời gian tới (dự báo trên 7%/năm); đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới năm 2010 GDP/người sẽ đạt 1.000 USD, và hơn thế nữa, người Việt Nam có truyền thống tiết kiệm và có mức tiết kiệm/thu nhập vào hàng cao nhất thế giới. Đáng chú ý, sự phát triển kinh tế đã làm cho tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo, tạo ra nhu cầu cao về bảo hiểm nhân thọ. Xin nhắc lại, tỷ trọng người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ hiện nay ở Việt Nam mới chỉ chiếm 4,5% dân số (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ là 90%, Singapore 50%, và ngay tại Indonesia tỷ lệ này cũng trên 10%) và số tiền tiết kiệm được người dân dùng mua bảo hiểm nhân thọ mới chiếm 3,45% tổng số tiền tiết kiệm trong khu vực dân cư.
    • Nhu cầu hoạch định kế hoạch tài chính và độc lập tài chính ngày càng cao hơn. Theo đà phát triển kinh tế – xã hội và sự hình thành gia đình hạt nhân (bố mẹ và con), làm cho nhu cầu hoạch định tài chính và nhu cầu độc lập tài chính ngày càng cao, nhằm tạo lập một cuộc sống ổn định, tự chủ và có mức hưởng thụ cao. Chẳng hạn, quan niệm “trẻ cậy cha, già cậy con” của người Việt Nam đến nay đã có nhiều thay đổi, đặc biệt ở các thành phố lớn. Các cá nhân đã quan tâm nhiều hơn đến nguồn tài chính khi nghỉ hưu, hết sức lao động để có thể sống độc lập về tài chính, không phải lệ thuộc hoặc dựa vào con cái, người thân.
    • Sự phát triển của thị trường tài chính một mặt cho phép nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đồng thời tạo là cơ sở cho sự ra đời của các sản phẩm bảo hiểm gắn với đầu tư, tích hợp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ với các sản phẩm bảo hiểm tài chính khác (chẳng hạn, có thể kết hợp sản phẩm bảo hiểm với các sản phẩm tín dụng ngân hàng…). Bên cạnh đó, sự lên xuống của thị trường chứng khoán trong thời gian qua cho thấy nhu cầu uỷ thác đầu tư cho nhà đầu tư chuyên nghiệp (chẳng hạn, các quỹ đầu tư) ngày càng cấp thiết, tạo tiền đề cho sự phát triển của sản phẩm liên kết đơn vị (unit Linked).
    • Sự ủng hộ của Nhà nước Việt Nam mạnh mẽ đối với sự phát triển của thị trường thông qua việc tạo môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh thuận lợi cho ngành cũng như thực thi chính sách hội nhập nhằm tiếp thu công nghệ kinh doanh, công nghệ quản lý tiên tiến cho sự phát triển của ngành.

    3. Thách thức:

    Mặc dù đã có những bước phát triển dài nhưng có thể thấy, đến nay thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé và vẫn đang trong giai đoạn hình thành. Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam cũng đang gặp phải một số thách thức đối với sự phát triển bền vững của mình, có thể kể:

    • Thứ nhất, lạm phát. Trong năm 2007 tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là 12,6% và dự báo trong năm 2008 tỷ lệ này còn cao hơn, làm cho chúng ta nhớ đến tình trạng lạm phát trong những năm đầu bảo hiểm nhân thọ được triển khai. Lạm phát cao kéo theo hệ quả là làm giảm niềm tin của công chúng đối với các khoản đầu tư dài hạn, các hợp đồng bảo hiểm dài hạn đồng thời làm cho lãi suất ngắn hạn tăng lên cao (như lãi suất tiết kiệm ngân hàng), tạo ra sự cạnh tranh lớn đối với các sản phẩm BHNT.
    • Thứ hai, sự cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính (như ngân hàng, chứng khoán và các tổ chức tài chính) và các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trong việc thu hút tiền vốn nhàn rỗi trong dân chúng ngày càng gay gắt. Các ngân hàng đã đưa ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao đối với các sản phẩm bảo hiểm như tiết kiệm gửi định kỳ, tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm với thời hạn dài kèm theo các hình thức khuyến mại như tặng bảo hiểm, rút thăm trúng thưởng và nhiều ưu đãi liên quan khác. Theo đánh giá chung, sự cạnh tranh của các tổ chức tài chính là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự suy giảm của thị trường bảo hiểm nhân thọ trong giai đoạn 2004-2006.
    • Thứ ba, môi trường luật pháp điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm mặc dù đã được quan tâm xây dựng nhưng đến nay vẫn chưa theo kịp sự phát triển của ngành, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Việc sửa đổi Luật kinh doanh bảo hiểm đã được đưa vào chương trình nghị sự của Quốc hội trong năm 2010.
    • Thứ tư, nhận thức và hiểu biết của thị trường cũng như của các cơ quan nhà nước nói chung về BHNT vẫn chưa cao, gây khó khăn cho hoạt động của ngành. Đặc

    biệt, đến nay đại lý BHNT chưa nhận được sự đánh giá cao của công chúng và chưa được chính thức thừa nhận như một nghề nghiệp chuyên nghiệp.

    • Thứ năm, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ gặp không ít khó khăn do thị trường tài chính của Việt Nam chưa phát triển đầy đủ. Hiện có tới 90% nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chỉ dành đầu tư vào trái phiếu chính phủ và gửi ngân hàng thương mại. Vì thế hiệu quả đầu tư thấp và bảo tức cho người tham gia bảo hiểm vẫn chưa cao.

    Bên cạnh những thách thức trên, những hệ quả của giai đoạn phát triển “nóng” cũng là những vấn đề mà ngành BHNT cần phải giải quyết, vượt qua.

    Từ những phân tích ở trên một lần nữa có thể khẳng định rằng, trong thời gian tới cơ hội phát triển cho ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là rất lớn tuy nhiên cũng đi cùng là những thách thức không nhỏ. Để thành công, doanh nghiệp cần có chiến lược sản phẩm, phân phối và công nghệ phù hợp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • BẢO HIỂM XÃ HỘI

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÁC DẠNG BÀI TẬP MẪU BẢO HIỂM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%E1%BA%A2O-HI%E1%BB%82M-X%C3%83-H%E1%BB%98I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BẢO HIỂM XÃ HỘI

    BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội. Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội, Bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng nhất.

     

    Lịch sử

     

    Các chế độ của Bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Hệ thống Bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bismarck (1850) và sau đó được hoàn thiện (18831889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm về Bảo hiểm xã hộiở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 …), tiếp đến là các nước châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2).

    Các chế độ đảm bảo

    Theo tổng kết của ILO (công ước 102 năm 1952), Bảo hiểm xã hội bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Công ước cũng nói rõ là những nước phê chuẩn công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất. Việc áp dụng Bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế – xã hội, Bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ.

    Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an sinh xã hội nói chung, Bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước có chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế độ trợ cấp thất nghiệp.

    1

    Bảo hiểm xã hội bước sang giai đoạn mới.

    Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XI, ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội thông qua một số Luật quan trọng trong đó có Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) số 71/2006/QH11 và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh số 13/2006/L-CTN ban hành ngày 12/7/2006.

    Với 11 chương 141 điều Luật BHXH quy định về chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia Bảo hiểm xã hội; tổ chức Bảo hiểm xã hội; quỹ Bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện Bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội.

    Điểm mới của văn bản Luật này là, ngoài hình thức BHXH bắt buộc, việc mở rộng hình thức BHXH tự nguyện và hình thức BH thất nghiệp, đã được quy định tại Chương IV và Chương V . Đây là đổi mới quan trọng trong chính sách BHXH của Đảng và Nhà nước ta để tiến tới BHXH cho mọi người lao động ở bất cứ thành phần kinh tế nào cũng đều có nghĩa vụ tham gia và thụ hưởng những quyền lợi về chế độ BHXH đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

    Như vậy các chế độ Bảo hiểm xã hội bao gồm:

    • Bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm các chế độ ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất.
    • Bảo hiểm xã hội tự nguyện gồm các chế độ: Hưu trí; Tử tuất.
    • Bảo hiểm thất nghiệp gồm các chế độ Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ học nghề; Hỗ trợ tìm việc làm

    Nếu hiệu lực chung của Luật này là thi hành từ ngày 1/1/2007, thì BHXH tự nguyện có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2008 còn BHXH thất nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009. Luật BHXH này không áp dụng đối với bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm mang tính kinh doanh.

    Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước qui định mức bình quân của tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến trước ngày Luật BHXH có hiệu lực trước khi nghỉ hưu được qui định tại mục 4 điều 59 như sau:

    “Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31-12 năm 2000 thì tính bình quân của tiền luơng tháng đóng BHXH của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu; Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01tháng 01 năm 2001 đến ngày 31-12-2006 thì tính bình quân của tiền luơng tháng đóng BHXH của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu” (Đối với ngưòi lao động bắt đầu tham gia BHXH trước ngày ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì cách tính lương hưu vẫn như qui định hiện hành).

    Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia BHXH, từ ngày Luật BHXH có hiệu lực được qui định tại điều 60 mục 1: “Người lao động thuộc

    2

     
    Bảo hiểm xã hội

    đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước qui định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của mười năm cuối trước khi nghỉ hưu”.

    Mức đóng                                                        bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của

    người lao động. Mức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    Mức hưởng Bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng Bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội.

    Người lao động vừa có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng Bảo hiểm xã hội.

    Một điểm khác nữa là Luật không khống chế số tháng được hưởng trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu mà “Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương,tiền công tháng đóng BHXH” – Khoản 2 điều 54.

    Hằng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội.

    Định kỳ ba năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ Bảo hiểm xã hội và báo cáo kết quả với Quốc hội. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, quỹ Bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất…

    Trong thời điểm Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO thì việc ban hành Luật BHXH là cần thiết để đảm bảo an sinh xã hội, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của nước ta hiện nay và trong tương lai./.

    3

    Những quy định mới về bảo hiểm xă hội bắt buộc

    26-07-2006

    Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội thông qua và ngày 12-7, Chủ tịch nước ký lệnh công bố. Luật gồm 11 chương với 141 điều, trong đó Chương III quy định về Bảo hiểm xã hội bắt buộc, cụ thể là chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động… So với các quy định hiện hành thì nội dung chương này có một số điểm mới dưới đây:

    Trước hết, về chế độ ốm đau, Luật bổ sung quy định trường hợp con nhỏ ốm đau người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc, không khống chế chỉ thực hiện với con thứ nhất, thứ hai; tăng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau (thêm 10 ngày) đối với người có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội từ 30 năm trở lên.

    Luật cũng quy định chi tiết hơn về mức hưởng ốm đau đối với người mắc bệnh cần chữa trị dài ngày. Theo đó, người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau: Tối đa không quá 180 ngày trong một năm tính cả ngày lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Hết thời hạn 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn. Cụ thể là:

    • Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên.
    • Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm.
    • Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội của tháng liền kề, trước khi nghỉ việc nếu đã đóng Bảo hiểm xã hội dưới 15 năm.

    Thứ hai, về chế độ thai sản, Luật quy định thời gian tối thiểu đóng Bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ thai sản khi sinh con, nhận nuôi con nuôi sơ sinh. Theo đó, lao động nữ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi phải đóng Bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

    Luật tăng số lần nghỉ việc đi khám thai từ ba lên năm lần; Quy định thời gian nghỉ việc do sẩy thai thuỳ thuộc vào tháng tuổi của thai; Bổ sung quy định nghỉ sáu tháng với lao động nữ là người tàn tật; Tăng thời gian nghỉ sinh con khi con bị chết từ 75 ngày lên 90 ngày; 15 ngày lên 30 ngày. Sau khi sinh mà mẹ chết thì người bố (hoặc người nuôi dưỡng) được hưởng chế độ của thời gian còn lại mà người mẹ chưa hưởng; Trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu cho mỗi con.

    4

    Thứ ba, về chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Luật bổ sung quy định giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi người lao động vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp hoặc bị tai nạn lao động nhiều lần hoặc bị nhiều bệnh nghề nghiệp. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được chia thành nhiều mức tuỳ thuộc vào từng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

    Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính gồm có hai phần: phần trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động được hưởng trên nền mức lương tối thiểu chung và phần trợ cấp tính theo thời gian đóng Bảo hiểm xã hội được hưởng trên nền tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội. Điều chỉnh mức trợ cấp từ 80% mức lương tối thiểu chung, lên bằng mức lương tối thiểu chung đối với người phục vụ người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Nâng mức trợ cấp một lần từ 24 tháng mức lương tối thiểu chung lên 36 tháng đối với thân nhân khi người lao động chết vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

    Thứ tư, về chế độ hưu trí, Luật bổ sung quy định thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tối thiểu để đủ điều kiện nghỉ hưu là 20 năm. Mức lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế. Không khống chế số tháng được nhận trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Nâng mức hưởng trợ cấp một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng cứ mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội tính bằng một tháng lên 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội.

    Cách tính mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ tính lương hưu đối với người thuộc diện thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được chia thành ba giai đoạn: người bắt đầu tham gia Bảo hiểm xã hội trước ngày 1 tháng 1 năm 1995 cách tính lương hưu vẫn như quy định hiện hành; người tham gia Bảo hiểm xã hội từ 1-1-1995 đến trước ngày Luật có hiệu lực thì thời gian tính bình quân sáu năm và tám năm; người tham gia Bảo hiểm xã hội sau ngày Luật có hiệu lực thì tính bình quân 10 năm.

    Tiền lương, tiền công đã đóng BHXH của người lao động thuộc diện thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    Thứ năm, về chế độ tử tuất, Luật nâng mức trợ cấp mai táng từ tám lên 10 tháng mức lương tối thiểu; Nâng định suất từ 40% lên 50% mức lương tối thiểu chung; Nâng mức trợ cấp tuất một lần cho thân nhân người đang đóng Bảo hiểm xã hội bị chết, mỗi năm bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công đóng Bảo hiểm xã hội, không khống chế mức tối đa, thấp nhất bằng ba tháng. Trợ cấp một lần cho thân nhân người đang hưởng hương hưu mà chết, cao nhất bằng 48 tháng lương hưu.

    VŨ HOÀNG LONG

    5

    Vi phạm Bảo hiểm xã hội có thể bị phạt 20 triệu đồng

    Theo Nghị định 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, mức phạt cao nhất là 20 triệu đồng.

    Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn hoặc không thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; ngoài ra còn bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra.

    Cụ thể, nếu không cấp sổ BHXH hoặc không chốt sổ BHXH đúng hạn cho người lao động; không giải quyết chế độ đúng hạn cho người lao động tham BHXH theo quy định; không cấp giấy chứng nhận hoặc cấp giấy chứng nhận sai của các cơ sở y tế, Hội đồng giám định y khoa để người lao động được hưởng chế độ BHXH có thể bị phạt đến 20 triệu đồng.

    Nghị định 135/2007/NĐ-CP cũng quy định rất rõ ràng: Người sử dụng lao động có hành vi không đóng BHXH cho toàn bộ số người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc thì tùy thuộc vào số người lao động mà bị phạt cảnh cáo (vi phạm với từ 1 đến 10 người lao động) hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đồng đến 20 triệu đồng (mức phạt cao nhất áp dụng khi vi phạm với từ 501 người lao động trở lên).

    Còn mức xử phạt đối với người lao động có hành vi không đóng, chậm đóng BHXH bắt buộc hoặc thỏa thuận với người sử dụng lao động không nộp BHXH bắt buộc thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đồng đến 1 triệu đồng; bị buộc truy nộp số tiền BHXH vào quỹ BHXH trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt.

    Mai Phương

    6

    Bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa hợp với người thu nhập thấp

    Lý Hà

     

    Phạm vi thực hiện, đối tượng áp dụ ng sẽ như thế nào; bảo toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguy ện ra sao; việc liên thông giữa bảo hiểm xã hội bắ t buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, thủ tục tham gia và hưởng chính sách thế nào cho phù hợp..

    Trên đây là nh ững v ấn đề đã được đưa ra thảo luận trong Hội thảo “Xây dựng Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hộ i về Bảo hiểm xã hội tự nguyện”, vừa được tổ chức tại Hà Nội và Tp.HCM.

    Dự thảo Nghị đị nh hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội tự nguyện, gồm có 5 chương, 42 điều, quy định phạm vi, đối t ượng áp dụng; quyền và trách nhiệm của các bên tham gia B ảo hiểm xã hội tự nguyện; các ch ế độ Bảo hiểm xã h ội tự nguyện; quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện; thủ tục thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện; khiếu nại, tố cáo về Bảo hiểm xã hộ i tự nguyện và quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Dần dần, khi nền kinh tế phát tri ển, thì chính sách sẽ có những sửa đổi để hoàn thiện hơn, cũng như sẽ mở rộng hơn các đối tượng được tham gia.

    Đối t ượng áp dụng củ a Dự thảo Nghị định là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp dụ ng của pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng là hưu trí và tử tuất.

    Về mức đóng được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện và được tính trên mức thu nhập do người tham gia Bảo hiểm xã hội lựa chọn nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu chung; cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.

    Mức hưởng được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Ngoài ra, Dự thảo Nghị định còn quy định, người vừa có thời gian đ óng Bảo hiểm xã h ội bắt buộc vừa có thời gian đóng Bảo hiể m xã hội tự nguyện được hưởng ch ế độ hưu trí và chế độ t ử tuất trên cơ sở tổng thời gian đã đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Về điều kiện để được hưởng l ương h ưu theo Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội trở lên.

    Tại hộ i thảo, nhi ều đại biểu đã th ống nhất và đồng tình với Dự thảo Nghị định nêu trên. Theo đại diện Bảo hiểm xã hội Tp.HCM, Điều 8, 9, 11 và đặc biệt là Điều 19 trong Dự thảo chưa phù hợp với thực tế.

    Trong khoản 1 Đi ều 19 của Dự thảo Nghị định quy đị nh ng ười đ ang h ưởng lương hưu hàng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp như: chấp hành hình phạt tù không được hưởng án treo, xuất cảnh trái phép, bị Toà án tuyên bố mất tích.

    Lương hưu hàng tháng đượ c tiếp tụ c thực hiện khi người bị phạt tù đ ã chấp hành xong hình phạt tù hoặc khi ng ười được toà án tuyên bố mất tích trở về hoặc ng ười xuất cảnh trở về định cư hợp pháp. Trong trường hợp toà có kết luận bị oan thì được truy lĩnh tiền lương hưu trong thời gian bị đình chỉ.

    7

    Theo các đại biểu, người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện chẳng có ảnh h ưởng gì đến việc khi b ị phạt tù hay xuất cảnh trái phép. Bởi đây là họ tự nguyện đ óng tiền để hưởng chế độ, do đó vi ệc quy định tạm dừng hưởng chế độ h ưu trí của ng ười tham gia Bảo hiểm xã h ội tự nguyện là không khả thi, nó khác với người tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của luật hiện hành.

    Có một vướng mắc hiện nay, nếu ngườ i đã tham gia B ảo hiểm xã hội bắt buộc đ ã đủ năm công tác nh ưng chưa đủ tuổi nhận lương hưu, nay đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện một lần cho đủ số năm còn lại, nếu sau khi đóng mà được hưởng lương h ưu ngay thì sẽ có nhiều người tham gia. Còn nếu nh ư phải chờ đến khi đủ tuổi mới được nhận lương hưu thì sẽ không thu hút nhiều đối tượng tham gia.

    Ông Nguyễn Thái Dũng, đại diện Hội Nông dân tỉnh Đồng Nai đề nghị, nên cho phép các đối tượng tham gia đóng một lần, đồng thời cần mở rộng đối tượng được tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Còn ông Phạm Minh Thành, Bảo hi ểm xã hội tỉnh Đồng Nai cho rằng cần có sự liên thông giữa Bảo hiểm xã hội bắt buộc v ới Bảo hiểm xã hội tự nguyện, điều này sẽ tạo cho người tham gia Bảo hiểm xã hội có nhiều điều kiện thuận lợi để được hưởng chính sách an sinh xã hội Nhà nước.

    Theo Thứ trưởng Bộ Lao độ ng – Thương binh và Xã hội Lê Bạch Hồng, không nên kỳ vọng chính sách này ra đời sẽ làm vừa lòng tất cả mọi người, cũng như mọi người đều được tham gia ngay từ đầu.

    Về mặt nguyên tắc thì tất cả đều có thể tham gia, nhưng thực tế ch ỉ có người có mức sống trung bình tr ở lên mới có đủ điề u kiện để tham gia. Dần dần, khi nền kinh tế phát triển, thì chính sách sẽ có những sửa đổi để hoàn thiện hơn, cũng như sẽ mở rộng hơn các đối tượng được tham gia.

    Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội Phạm Đỗ Nhật Tân cho biết, những ý kiến đóng góp của nhi ều đại bi ểu là chuyên gia pháp lu ật, các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý Nhà nước và đơ n vị Bảo hiểm xã hội, Ban soạn thảo đã tiếp thu và sẽ lấy thêm một số ý kiến đóng góp, bổ sung để hoàn thiện trình Chính phủ trong thời gian tới.

    Xét trên bình diện thế giới hiện nay thì Việt Nam là 1/67 quốc gia có chương trình Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

    Theo lộ trình, đến ngày 1/1/2008, Luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành.

    8

    Vỡ quĩ bảo hiểm y tế

    Thứ hai 26.11.2007, 09:51

    Quĩ bảo hiểm y tế (BHYT) đã vỡ nhanh quá mức tưởng tượng của nhiều người.

    Chỉ tròn một năm kể từ ngày sửa đổi điều lệ BHYT mới (tháng 6/2006), đến giữa năm 2007, quĩ BHYT đã tiêu hết sạch 2.800 tỉ đồng kết dư từ gần mười năm nay. Nhiều người đổ lỗi cho việc qui định mới mở rộng quá mức quyền lợi của người bệnh, làm quĩ BHYT nhanh chóng hết tiền. Nhưng thực tế cho thấy một phần quan trọng của nguyên do vỡ quĩ là phương thức thanh toán BHYT và quản lý chi tiêu.

    Vỡ quĩ do phương thức thanh toán!

    Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội VN, riêng năm 2006 quĩ BHYT đã bội chi khoảng 1.800 tỉ đồng. Sang năm 2007, tốc độ bội chi còn khủng khiếp hơn: nửa đầu năm 2007, riêng bộ phận BHYT tự nguyện đã bội chi 700 tỉ đồng.

    Một nguồn tin có trách nhiệm tại Bảo hiểm xã hội VN ước tính trong cả năm 2007, riêng bộ phận BHYT tự nguyện có thể bội chi 2.000 tỉ đồng!

    Chính vì lý do này, hôm 22/11, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng vừa ký văn bản cho phép Bảo hiểm xã hội VN được sử dụng 2.000 tỉ đồng tạm ứng từ quĩ Bảo hiểm xã hội bắt buộc để giao cho các cơ sở y tế phục vụ việc khám chữa bệnh trong quí I năm 2008.

    Lý giải nguyên nhân quĩ BHYT vỡ quá nhanh, phó vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế) Nghiêm Trần Dũng cho biết phương thức thanh toán hiện tại là theo phí dịch vụ, khuyến khích cơ sở y tế sử dụng nhiều dịch vụ, vì sử dụng dịch vụ nào thì quĩ BHYT thanh toán dịch vụ đó! Về lý do vỡ quĩ vì qui định mới mở rộng quyền lợi cho người có thẻ thì ông Dũng cho rằng không hẳn như vậy, qui định mới không mở rộng gì ghê gớm mà chỉ phân định rõ ràng cái gì thuộc phạm vi bảo hiểm chi trả.

    Trưởng Ban Bảo hiểm xã hội tự nguyện (Bảo hiểm xã hội VN) Hoàng Kiến Thiết cũng thừa nhận quĩ BHYT hết tiền quá nhanh có một phần do khâu kiểm soát chi trả. “Có trạm y tế phường ở tỉnh Sóc Trăng đã lập khống hàng trăm hồ sơ để rút quĩ BHYT trên 50 triệu đồng. Một trạm y tế phường đã như vậy, chúng ta có 11.000 trạm y tế, hàng ngàn bệnh viện các tuyến” – ông Thiết nói.

    Phải làm gì?

    Quĩ BHYT hết tiền, nhưng không phải cứ hết tiền là nâng mức đóng của người tham gia. Ông Nghiêm Trần Dũng nhấn mạnh như vậy. Hiện Bộ Y tế đang tính toán đề nghị Chính phủ nâng mức hỗ trợ cho nhóm được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí. Theo đó, đề nghị nâng mệnh giá thẻ BHYT của người nghèo (hiện là 80.000 đồng/thẻ), trẻ em dưới sáu tuổi (khoảng 110.000 đồng/thẻ)… lên cao hơn.

    Theo ông Hoàng Kiến Thiết, muốn quĩ BHYT bảo đảm an toàn cần nâng mệnh giá thẻ cho nhóm người nghèo, trẻ dưới sáu tuổi, người có công với cách mạng lên 200.000 đồng/thẻ/người.

    Một gợi ý nữa của ông Nghiêm Trần Dũng là phải khai thác tối đa nhóm doanh nghiệp đang “trốn” BHYT của người lao động bằng cách khai thấp số lao động, khai thấp mức lương của người lao động…

    9

    Hôm nay 26/11, tại Bộ Y tế sẽ có một cuộc họp nhằm xóa bỏ qui định phải 10% số dân trong cộng đồng tham gia thì mới được mua BHYT tự nguyện. Hơn nửa năm kể từ khi thay đổi cách thức thực hiện BHYT tự nguyện, số người tham gia loại hình này đã tụt từ ba triệu người còn khoảng 700.000 người.

    Làm hạ số người tham gia BHYT tự nguyện là một trong những cách thức nhằm hạn chế chi tiêu, chống vỡ quĩ.

    Nhưng thực tế quĩ vẫn vỡ và còn có nhiều cách để quản lý quĩ tốt.

    Ví dụ như cần chuẩn hóa các xét nghiệm, không thể để tình trạng ở huyện xét nghiệm, lên tỉnh lại xét nghiệm và lên trung ương làm thêm một loạt xét nghiệm tương tự nữa…

    10

    Những nguyên tắc cơ bản của BHXH

    15/07/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Nội dung cụ thể trong từng Chương, Điều của Luật phải đảm bảo tuân thủ và thể hiện được những nguyên tắc cơ bản đã được quy định. Nguyên tắc của BHXH trong Luật BHXH được quy định tại Điều 5 gồm những nội dung sau:

    1. Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.

    Nguyên tắc này được thể hiện trên các mặt sau: có đóng BHXH thì được hưởng chế độ; thời gian tham gia đóng BHXH nhiều, mức đóng góp cao thì mức trợ cấp ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, lương hưu, trợ cấp tử tuất và trợ cấp thất nghiệp được hưởng với mức cao và ngược lại. Tuy nhiên, với đặc tính của bảo hiểm thì chia sẻ giữa những người tham gia là không thể thiếu, nguyên tắc chia sẻ của BHXH được thể hiện ở tất cả các chế độ, nhưng rõ nết nhất là ở các chế độ: ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN và trợ cấp thất nghiệp (số đông người tham gia đóng góp để chi trả cho một số người không may rủi ro hoặc khi sinh sản).

    1. Mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.

    Nguyên tắc này quy định người tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đóng BHXH theo tỷ lệ xác định trên cơ sở tiền lương, tiền công mà không đóng BHXH trên mức thu nhập thực tế như: tiền lương tăng thêm, các khoản phụ cấp khác (trừ phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề), thu nhập do lương tăng thêm, do thực hiện chế độ khoán sản phẩm đem lại…Việc quy định nguyên tắc này vừa đảm bảo cho việc sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp được ổn định, vừa đảm bảo cho thực hiện quản lý thu BHXH trong điều kiện thực tế hiện nay (việc xác định thu nhập của người lao động còn khó khăn). Đối với BHXH tự nguyện mức đóng BHXH được quy định trên cơ sở mức thu nhập do người tham gia lựa chọn tùy khả năng kinh tế của họ nhưng không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu, đây là quy định hợp lý nhằm thu hút và tạo điều kiện để đông đảo người lao động trong xã hội có thể tham gia BHXH.

    1. Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đóng BHXH.

    Với nguyên tắc này, giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có sự liên thông, đảm bảo cho người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động có nhiều cơ hội được hưởng chế độ hưu trí do thời gian đóng BHXH được tính bằng tổng thời gian đóng BHXH của 2 loại hình. Tuy nhiên theo quy định của Luật BHXH thì trong cùng một thời điểm, người lao động chỉ được tham gia đóng BHXH bắt buộc hoặc BHXH tự nguyện.

    1. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

    11

    Nguyên tắc này quy định quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời khi các quỹ thành phần tạm thời bị mất cân đối, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH.

    1. Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.

    Với nguyên tắc này, việc thực hiện BHXH đối với người lao động phải được nghiên cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động, người sử dụng lao động khi tham gia BHXH và khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH.

    Nhìn chung những nguyên tắc của BHXH nêu trên đã thể hiện quan điểm và thể chế hóa đường lối của Đảng và

    Nhà nước về BHXH, đó là:

    • Xây dựng trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện những quy định trong pháp luật về BHXH hiện hành, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế;
    • Chế độ BHXH xây dựng mức hưởng trên cơ sở mức đóng và chia sẻ giữa những người tham gia BHXH nhằm góp phần thực hiện an sinh xã hội; bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia BHXH ở các thời kỳ khác nhau; bảo đảm quan hệ hài hòa giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội; mở rộng đối tượng tham gia BHXH, các chế độ BHXH và loại hình BHXH; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và tiến trình công nghiệp hóa.
    • Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được hạch toán tương ứng với từng nhóm chế độ; quản lý và sử dụng theo nguyên tắc cân đối thu – chi, bảo toàn và phát triển; được Nhà nước bảo hộ.

    Quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động

    19/07/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Quyền và trách nhiệm củ người sử dụng lao động (NSDLĐ) khi tham gia BHXH được quy định tại các Điều 17 và Điều 18 của Luật BHXH, cụ thể như sau:

    12

    1. NSDLĐ có các quyền:
    • Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về BHXH;
    • Khiếu nại, tố cáo về BHXH;
    • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Với quy định trên, NSDLĐ được quyền từ chối thực hiện những yêu cầu không có quy định hoặc không đúng quy định của pháp luật về BHXH trong việc thực hiện BHXH từ NLĐ hoặc tổ chức BHXH như: về yêu cầu thu nộp BHXH trước thời hạn quy định; về thanh quyết toán chế độ ốm đau, thai sản; về lập hồ sơ hưởng chế độ hưu trí, tử tuất, TNLĐ-BNN… Ngoài ra, có quyền khiếu nại với cơ quan BHXH và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra toà án về quyết định, hành vi của tổ chức BHXH khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về BHXH, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình và có các quyền khác mà pháp luật cho phép có liên quan đến BHXH.

    1. Trách nhiệm của NSDLĐ:
    • Đóng BHXH theo quy định và hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của NLĐ theo quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH;
    • Bảo quản sổ BHXH của NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc;
    • Trả sổ BHXH cho NLĐ khi người đó không còn làm việc;
    • Lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, đóng và hưởng BHXH;
    • Trả trợ cấp BHXH cho NLĐ;
    • Giới thiệu NLĐ trong đơn vị đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa khi bị TNLĐ-BNN và nghỉ hưu trước tuổi quy định do suy giảm khản năng lao động.
    • Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thông tin về việc đóng BHXH của NLĐ khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;
    • Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

    Với các nội dung trên, trách nhiệm của NSDLĐ được quy định rất cụ thể và đầy đủ. Có thể tổng hợp theo các nhóm trách nhiệm là:

    • Nhóm liên quan đến việc đóng BHXH: Hàng tháng trích tiền để đóng BHXH theo quy định từ quỹ tiền lương của đơn vị để nộp cho cơ quan BHXH, trong đó bao gồm cả phần đóng góp của NSDLĐ và của NLĐ trong đơn vị để nộp cùng một lúc vào quỹ BHXH; từ 1/1/2009 thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, NSDLĐ thuộc đối tượng tham gia còn có trách nhiệm đóng bảo hiểm tự nguyện và trích từ tiền công, tiền lương của NLĐ theo đúng quy định để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
    • Nhóm liên quan đến sổ BHXH: Thực hiện việc lập hồ sơ tham gia BHXH để cơ quan BHXH cấp sổ BHXH cho từng NLĐ trong đơn vị; bảo quản sổ BHXH trong thời gian NLĐ làm việc và khi NLĐ chấm dứt quan hệ lao động như: nghỉ hưu, chấm dứt hợp đồng lao động, buộc thôi việc, chết… NSDLĐ có trách nhiệm lập thủ tục về BHXH và trả sổ BHXH cho NLĐ lưu giữ.
    • Nhóm liên quan đến giải quyết hưởng các chế độ BHXH: Chi trả chế độ trợ cấp BHXH ốm đau, thai sản và trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản cho NLĐ trong đơn vị và quyết toán với tổ chức BHXH; lập hồ sơ hưởng các chế độ BHXH theo quy định của NLĐ trong đơn vị kịp thời, chuyển cho tổ chức

    13

    BHXH giải quyết; Lập hồ sơ và giới thiệu NLĐ trong đơn vị bị TNLĐ-BNN và nghỉ hưu trước tuổi quy định đi giám định mức suy giảm khả năng lao động.

    • Nhóm liên quan đến việc cung cấp tài liệu, thông tin: Cung cấp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi có yêu cầu; khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu thì NSDLĐ có trách nhiệm cung cấp các thông tin về đóng BHXH của NLĐ.

    Việc quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của NSDLĐ trong Luật BHXH không những là cơ sở để NSDLĐ thực hiện đầy đủ trách nhiệm cũng như xác định các quyền của mình mà còn là căn cứ pháp lý để NLĐ, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về BHXH và là cơ sở pháp lý để giải quyết khi có khiếu nại, tố cáo về BHXH của NLĐ.

    14

    Quyền và trách nhiệm của tổ chức BHXH

    01/08/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Theo quy định của Luật BHXH thì tổ chức BHXH là tổ chức sự nghiệp, có chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH theo quy định. Về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức BHXH do Chính phủ quy định phù hợp với tình hình thực tế, nhằm đảm bảo thực hiện tốt và có hiệu quả chế độ chính sách BHXH đối với người tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.

    Quyền và trách nhiệm của tổ chức BHXH được quy định tại các Điều 19 và Điều 20 của Luật BHXH, nội dung cụ thể như sau:

    1. Quyền của tổ chức BHXH:
    • Tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản theo quy định;
    • Từ chối yêu cầu trả BHXH không đúng quy định;
    • Khiếu nại về BHXH;
    • Kiểm tra việc đóng BHXH và trả các chế độ BHXH;
    • Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH và quản lý quỹ BHXH;
    • Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH;
    • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Với quy định trên, ngoài quyền theo quy định đối với tổ chức sự nghiệp của Nhà nước trong việc tổ chức quản lý nhân sự, tài chính, tài sản, tổ chức BHXH với chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH theo quy định, còn được quyền từ chối những yêu cầu không đúng về trả BHXH của các tổ chức, cá nhân; có quyền kiểm tra BHXH và trả các chế độ BHXH của người sử dụng lao động (SDLĐ) đối với người lao động (NLĐ) để hướng dẫn, yêu cầu thực hiện theo đúng quy định và trong trường hợp phát hiện vi phạm về BHXH thì kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý. Ngoài ra, tổ chức BHXH được quyền kiến nghị trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH và quản lý quỹ BHXH phù hợp với quyền lợi của các bên tham gia BHXH.

    1. Trách nhiệm của tổ chức BHXH:
    • Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ, người SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH;
    • Thực hiện việc thu BHXH theo quy định;
    • Tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHXH; thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp BHXH đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn;
    • Cấp sổ BHXH đến từng NLĐ;
    • Quản lý, sử dụng quỹ BHXH theo quy định;
    • Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH;
    • Tổ chức thực hiện công tác thống kê, kế toán, hướng dẫn nghiệp vụ về BHXH;

    15

    • Giới thiệu NLĐ đi giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa đối với NLĐ vị TNLĐ-BNN khi thương tật, bệnh tật tái phát, người vừa bị TNLĐ vừa bị BNN hoặc người bị TNLĐ nhiều lần, người bị nhiều BNN.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHXH; lưu trữ hồ sơ của người tham gia BHXH theo quy định;
    • Định kỳ sáu tháng, báo cáo Hội đồng quản lý BHXH về tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH;
    • Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;
    • Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
    • Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện BHXH;
    • Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

    Theo các nội dung nêu trên, trách nhiệm của tổ chức BHXH được quy định rất cụ thể, chi tết từ việc thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn thủ tục thực hiện BHXH, cấp sổ BHXH, thu BHXH, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và chi trả các chế độ BHXH, quản lý và sử dụng quỹ BHXH, quản lý nghiệp vụ, lưu trữ hồ sơ của người tham gia, cung cấp tài liệu, thông tin… cho đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thực hiện BHXH cũng như các trách nhiệm khác liên quan đến BHXH.

    Nhìn chung, Luật BHXH đã quy định đầy đủ, chi tiết về quyền, trách nhiệm của các bên tham gia BHXH, nhất là quyền và trách nhiệm của tổ chức BHXH. Đây sẽ là căn cứ để thực hiện đúng pháp luật về BHXH và là căn cứ để giải quyết khi có tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về BHXH, nhằm mục tiêu là đảm bảo tốt quyền tham gia và hưởng BHXH của NLĐ.

    16

    Chế độ ốm đau

    01/09/2006 Tìm hiểu Luật BHXH

    Chế độ ốm đau là một trong các chế độ của BHXH bắt buộc. Chế độ ốm đau được quy định tại Mục 1

    Chương III của Luật BHXH từ Điều 21 đến Điều 26, nội dung cụ thể như sau:

    1. Đối tượng áp dụng: Là NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc quy định tại Luật BHXH, trừ đối tượng là hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; người làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

     

    1. Điều kiện hưởng: NLĐ bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế theo quy định, trừ trường hợp tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác; con dưới bảy tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế theo quy định.

     

    1. Thời gian hưởng chế độ: NLĐ được nghỉ tối đa trong 1 năm tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần như sau:

     

    – Làm việc trong điều kiện bình thường: 30 ngày, nếu đóng BHXH dưới 15 năm; 40 ngày, nếu đóng BHXH từ

     

    • năm đến dưới 30 năm; 60 ngày, nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.

    – Làm các nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên: 40 ngày, nếu đóng BHXH dưới 15 năm; 50 ngày, nếu đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày, nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.

    – Nghỉ chăm sóc con ốm: 20 ngày nếu con dưới 3 tuổi, 15 ngày nếu con từ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định.

    Đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân (sau đây gọi là cán bộ lực lượng vũ trang). Thời gian hưởng chế độ ốm đau tùy thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

    Đối với người lao động bị mắc các bệnh thuộc danh mục cần điều trị dài ngày (sau đây gọi là người mắc bệnh dài ngày) được nghỉ hưởng trợ cấp ốm đau tối đa 180 ngày/năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần (không căn cứ thời gian đóng BHXH). Trường hợp hết 180 ngày còn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ với mức thấp hơn.

    1. Mức hưởng chế độ ốm đau:
    • Mức hưởng đối với người ốm đau bình thường và con ốm đau: bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Đối với cán bộ lực lượng vũ trang thì mức hưởng chế độ ốm đau bằng 100% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
    • Mức hưởng đối với người mắc bậnh dài ngày nếu hết 180 ngày cần tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ với mức bằng 65% mức tiền lương đóng BHXH trước khi nghỉ việc nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên; bằng

    17

    55% nếu đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm; bằng 45% nếu đóng BHXH dưới 15 năm. Trường hợp mức hưởng thấp hơn mức lươn tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung.

    1. Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe: Người lao động thuộc đối tượng nêu trên, sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 ngày đến 10 ngày trong một năm. Mức hưởng 1 ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại gia đình; bằng 40% nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại cơ sở tập trung.

    Với quy định về chế độ ốm đau của Luật BHXH nêu trên, so với quy định hiện nay có một số nội dung thay đổi đó là:

    • Tăng thời gian tối đa hưởng chế độ đối với người có trên 30 năm đóng BHXH: Làm việc trong điều kiện bình thường được nghỉ 60 ngày (hiện nay là 50 ngày); làm việc điều kiện nặng nhọc, độc hại được nghỉ 70 ngày (hiện nay là 60 ngày).
    • Không khống chế số lượng con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc (hiện nay chỉ hưởng trợ cấp đối với con thứ nhất, thứ hai).
    • Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu một người đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ theo quy định (hiện nay không có quy định).
    • Mức hưởng đối với người mắc bệnh dài ngày nếu hết 180 ngày còn tiếp tục điều trị được hưởng theo 3 mức tùy theo thời gian đóng BHXH và nếu thấp thì tính bằng mức lương tối thiểu chung.
    • Trường hợp nghỉ việc để thực hiện các biện pháp tránh thai thuộc chế độ trợ cấp thai sản (hiện nay là chế độ ốm đau).Chế độ ốm đau quy định trong Luật BHXH về cơ bản đã giải quyết được những bất hợp lý và những vấn đề chưa quy định cụ thể về chế độ ốm đau của Điều lệ BHXH, đồng thời có quy định tăng quyền lợi hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động tham gia BHXH.

    18

    Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp

    20/03/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN) là một trong những chế độ BHXH bắt buộc được quy định tại Mục 3 Chương III Luật BHXH từ Điều 38 đến Điều 48. Ngoài những quy định về đối tượng áp dụng; điều kiện hưởng; Luật BHXH quy định về mức hưởng chế độ TNLĐ-BNN như sau:

    a. Mức hưởng trợ cấp một lần:

    NLĐ bị TNLĐ- BNN suy giảm KNLĐ từ 5% đến 30%. Mức hưởng được tính như sau: Suy giảm 5% KNLĐ thì được hưởng 5 tháng lương tồi thiểu (LTT) chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng LTT chung. Ngoài ra, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

    Trường hợp chết do TNLĐ-BNN: Thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 tháng LTT chung và được hưởng chế độ tử tuất theo quy định.

    Mức trợ cấp hàng tháng:

     

    • NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp được tính như sau: Suy giảm 31% KNLĐ thì được hưởng bằng 30% mức LTT chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức LTT chung. Ngoài ra, còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH , từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
    • NLĐ bị TNLĐ-BNN mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật.
    • NLĐ bị suy giảm KNLĐ từ 81 % trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng quy định, hàng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức LTT chung.
    • NLĐ sau khi điều trị ổn định thương tật do TNLĐ hoặc bệnh tật do BNN mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ 5 ngày đến 10 ngày. Mức hưởng 1 ngày bằng 25% mức LTT chung nếu nghỉ tại gia đình; bằng 40% nếu nghỉ tại cơ sở tập trung.

    Ngoài ra, người bị TNLĐ-BNN hưởng trợ cấp hàng tháng, nếu nghỉ việc thì được BHYT do quỹ BHXH trả; được giám định tổng hợp mức suy giảm KNLĐ khi vừa bị TNLĐ vừa bị BNN, bị TNLĐ nhiều lần; bị nhiều BNN; khi vết thương tái phát được đi giám định lại mức độ suy giảm KNLĐ do thương tật.

    So với quy định tại Điều lệ BHXH, chế độ TNLĐ-BNN quy định tại Luật BHXH có những thay đổi đảm bảo giải quyết được những bất hợp lý và những vấn đề chưa quy định cụ thể; nâng cao quyền lợi cũng như mục tiêu hỗ trợ tăng cường sức khoẻ đối với người tham gia BHXH khi bị TNLĐ hoặc mắc BNN, cụ thể những thay đổi đó là:

    19

    • Thứ nhất: Mức hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN một lần, hàng tháng theo tỷ lệ suy giảm KNLĐ và được tính theo LTT chung (nếu người có cùng tỷ lệ thương tật thì mức hưởng như nhau). Nhưng ngoài ra, còn được hưởng thêm tính theo số năm đã đóng BHXH và tiền lương, tiền công đóng BHXH (đây là khoản tính theo đóng góp).
    • Thứ hai: Mức trợ cấp phục vụ hàng tháng tăng từ 0,8 mức LTT chung (theo quy định tại Điều lệ BHXH) lên bằng mức LTT chung.
    • Thứ ba: Tăng mức trợ cấp chết do TNLĐ-BNN từ 24 tháng LTT chung (theo quy định Điều lệ BHXH) lên bằng 36 tháng.
    • Thứ tư: Quy định được giám định tổng hợp mức suy giảm KNLĐ khi vừa bị TNLĐ vừa bị BNN, bị TNLĐ nhiều lần; bị nhiều BNN; khi vết thương tái phát được đi giám định lại mức độ suy giảm KNLĐ do thương tật.
    • Thứ năm: Quy định cụ thể thời điểm hưởng trợ cấp đối với trường hợp bị TNLĐ-BNN lần đầu và trường hợp đi giám định lại mức suy giảm KNLĐ do thương tật hoặc bệnh tật tái phát.

    20

    Chế độ tử tuất

    01/04/2007

    Một trong 5 chế độ của BHXH bắt buộc là chế độ tử tuất được quy định tại Mục 5 chương III Luật BHXH từ Điều 63 đến Điều 68 và khoản 3 Điều 139, bao gồm các quy định về đối tượng áp dụng; điều kiện về người chết và thân nhân để được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần; mức trợ cấp mai táng, mức trợ cấp hàng tháng, mức trợ cấp .một lần

    So với quy định tại Điều lệ BHXH, một số nội dung về chế độ tử tuất trong Luật BHXH có những thay đổi như sau:

    Thứ nhất: Bổ sung thêm đối tượng là hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn được tham gia đóng BHXH để hưởng chế độ tử tuất. Ngoài ra, quy định cụ thể đối tượng gồm những người lao động đang đóng BHXH, người bảo lưu thời gian đóng BHXH, người hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng đã nghỉ việc (bao gồm cả người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, TNLĐ-BNN hàng tháng trước 1/1/2007)

    Thứ hai: Về điều kiện để thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng:

    • Điều kiện đối với người chết, nhìn chung quy định như Điều lệ BHXH là người tham gia BHXH phải có đủ 15 năm đóng BHXH trở lên chưa hưởng BHXH một lần, người đang hưởng lương hưu, người chết do TNLĐ-BNN (không phụ thuộc thời gian đóng BHXH). Riêng đối với người đang hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng có mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì thân nhân mới được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng (Điều lệ BHXH quy định quy định mức suy giảm khả năng lao động từ 31 % trở lên).
    • Điều kiện đối với thân nhân người chết, cơ bản như quy định tại Điều lệ BHXH gồm con chưa đủ 15 tuổi; con chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học; vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng khi còn sống có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ không có thu nhập hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiếu chung.

    Ngoài ra, Luật BHXH có quy định đối tượng con từ đủ 15 tuổi trở lên. vợ dưới 55 tuổi, chồng dưới 60, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chổng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu dưới 60 đối với nam; dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên thì được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

    Thứ ba: Về mức trợ cấp mai táng và trợ cấp hàng tháng:

    • Quy định trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung (Điều lệ BHXH quy định bằng 8 tháng)
    • Quy định mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối thiểu chung (Điều lệ

    21

    BHXH quy định bằng 40% mức lương tối thiểu chung). Mức trợ cấp hàng tháng đối với trường hợp thân nhân không có người được tiếp nuôi dưỡng vẫn là 70% mức lương tối thiểu chung

    – Vẫn quy định số thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng cho một người chết không quá 4 người, nhưng mỗi thân nhân có từ 2 người chết trở lên thì được hưởng 2 lần mức trợ cấp hàng tháng.

    Thứ tư: Về điều kiện và mức trợ cấp tuất một lần:

    • Thân nhân người chết hưởng trợ cấp tuất một lần khi người lao động đóng BHXH chưa đủ 15 năm (trừ trường hợp chết do TNLĐ-BNN), người đang hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng có mức suy giảm khả năng lao động dưới 61% hoặc người chết đủ điều kiện để thân nhân hưởng trợ cấp hàng tháng nhưng không có thân nhân hưởng trợ cấp hàng tháng.
    • Mức hưởng trợ cấp tuất một lần:
    • Đối với người đang tham gia BHXH, người bảo lưu thời gian đóng BHXH mà chết tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, mức thấp nhất bằng 3 tháng mức bình quân tiền lương. tiền công tháng (Điều lệ BHXH quy định cứ mỗi năm tính bằng 0,5 tháng và khống chế tối đa bằng 12 tháng).
    • Đối với người hưởng lương hưu chết, quy định nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó thì cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng 3 tháng lương hưu đang hưởng (Điều lệ BHXH quy định chết ở năm thứ nhất được hưởng 12 tháng lương hưu, sau đó từ năm thứ 2 trở đi cứ thêm 1 năm hưởng trừ đi 1 tháng, tối thiều mức hưởng là 3 tháng).

    Với quy định trong Luật BHXH, về cơ bản chế độ tử tuất vẫn đảm bảo 2 hình thức trợ cấp là trợ cấp tuất hàng tháng và trợ cấp tuất một lần, mức hưởng đều được quy định tăng so với trước đây, kể cả tiền mai táng, trợ cấp tuất hàng tháng và nhất là trợ cấp tuất một lần (tính như người hưởng trợ cấp BHXH một lần, ngoài ra còn được hưởng thêm tiền mai táng).

    22

    BHXH tự nguyện

    02/04/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Luật BHXH đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006. Ngoài loại hình BHXH bắt buộc, Luật BHXH còn quy định loại hình BHXH tự nguyện (TN) được thực hiện từ ngày 1/1/2008.

    BHXH TN trong Luật BHXH được quy định tại chương IV, từ Điều 69 đến Điều 79 và Điều 100, cụ thể như sau:

    Thứ nhất: Đối tượng tham gia BHXH TN là tất cả công dân Việt Nam trong độ tuổi LĐ, mà không thuộc đối tượng đang tham gia đóng BHXH bắt buộc. Với quy định này, không nhất thiết người lao động (NLĐ) trong độ tuổi LĐ phải có việc làm mới được tham gia mà bao gồm cả những người trong độ tuổi LĐ nhưng không có khả năng LĐ, nhưng có nguồn thu nhập để đóng BHXH theo quy định.

    Thứ hai: Chế độ mà người tham gia BHXH TN được hưởng gồm hưu trí và tử tuất, nội dung của các chế độ này về cơ bản quy định như đối với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đó là:

    1. Chế độ hưu trí:

    – Được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên.

    Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH (kể cả BHXH bắt buộc và BHXH TN) còn thiếu không quá 5 năm so với thời gian qui định thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu hàng tháng.

    • Mức lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; tối đa bằng 75%.

    Mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian. Thu nhập tháng đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

    • NLĐ đã đóng BHXH trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
    • NLĐ được hưởng BHXH một lần khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc trường hợp ra nước ngoài để định cư. Mức hưởng BHXH một lần được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
    • NLĐ dừng đóng BHXH TN mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu hoặc chưa nhận BHXH một lần thì được bảo lưu thời gian đóng BHXH.
    1. Chế độ tử tuất:

    23

    Có đủ 5 năm đóng BHXH trở lên hoặc đang hưởng lương hưu, khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung và trợ cấp tuất một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH đối với người đang đóng hoặc người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH chết, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng bình quân thu nhập tháng đóng BHXH và được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu đối với người đang hưởng lương hưu chết, nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 1 tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.

    Thứ ba: Luật BHXH quy định người LĐ đóng BHXH bắt buộc sau đó đóng BHXH TN thì thời gian đóng BHXH bắt buộc được cộng với thời gian đóng BHXH TN hoặc ngược lại để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.

    Thứ tư: Mức đóng BHXH hàng tháng bằng 16% mức thu nhập NLĐ lựa chọn; từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%. Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH được thay đổi tùy theo khả năng của NLĐ ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung. Người lao động được chọn các phương thức đóng theo hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần.

    Quy định BHXH TN trong Luật BHXH đã đảm bảo công bằng về quyền được tham giam BHXH và hưởng BHXH đối với mọi NLĐ trong xã hội, đồng thời quy định liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH TN đã tạo điều kiện thuận lợi khi chuyển dịch LĐ, đảm bảo cuộc sống ổn định cả khi đang làm việc và khi ngừng việc, nhất là khi hết tuổi LĐ; đảm bảo từng bước ổn định xã hội và an sinh xã hội của đất nước.

    24

    Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp

    04/04/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại chương V Luật BHXH từ điều 80 đến điều 87. Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc và được quy định thi hành từ 1/1/2009. Nội dung cụ thể về BH thất nghiệp như sau:

    1.         Đối tượng áp dụng:

    BH thất nghiệp áp dụng bắt buộc đối với NLĐ là công dân Việt Nam làm việc theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và người SDLĐ có sử dụng từ 10 lao động trở lên.

    2. Điều kiện hưởng:

    NLĐ đang đóng BH thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm được hưởng BH thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

    • Đã đóng BH thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp;
    • Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH;
    • Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.

    3. Quyền lợi được hưởng khi thất nghiệp:

    1. Hàng tháng được hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BH thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp và số tháng được hưởng phụ thuộc vào thời gian đóng BH thất nghiệp: được hưởng 3 tháng nếu đóng. BH thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng; 6 tháng nếu đóng BH thất nghiệp từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng; 9 tháng nếu đóng BH thất nghiệp từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng và 12 tháng nếu đóng BH thất nghiệp từ đủ 144 tháng trở lên.
    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá 6 tháng. Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề
    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí.
    1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được cấp thẻ BHYT.

    4. Tạm dừng và chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp:

    • Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp khi không thực hiện thông báo hàng tháng với tổ chức BHXH về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc bị tạm giam.
    • Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp khi hết thời hạn hưởng trợ cắp thất nghiệp; khi có việc làm; khi thực hiện nghĩa vụ quân sự; khi hưởng lương hưu; khi mà sau 2 lần từ chối nhận việc làm do tổ chức BHXH giới thiệu mà không có lý do chính đáng; khi không thực hiện quy định thông báo hàng tháng với tổ chức BHXH về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp trong 3 tháng liên tục; khi ra nước ngoài để định cư; khi chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo

    25

    dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo và khi bị chết.

    Các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do có việc làm hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng giá trị còn lại của trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại điểm e khoản 3 nêu trên.

    Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời gian đóng BH thất nghiệp trước đó không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp lần sau.

    BH thất nghiệp là một nội dung mở trong chính sách BHXH của nước ta. Mục tiêu của BH thất nghiệp là nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm. Với những nội dung quy định về BH thất nghiệp trong Luật BHXH đã đảm bảo phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội của nước ta trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập.

    Với mốc thời gian thực hiện được quy định trong Luật BHXH bắt đầu từ 1/1/2009 sẽ đảm bảo có đủ thời giản để chuẩn bị cho việc triển khai thực hiện chính sách BH thất nghiệp được tốt. BH thất nghiệp khi thực hiện sẽ từng bước đảm bảo đời sống của NLĐ và gia đình họ; đồng thời góp phần đảm bảo ổn định xã hội và an sinh xã hội.

    26

    Quỹ BHXH bắt buộc

    07/04/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Quỹ BHXH bắt buộc được quy định tại Mục 1 chương VI Luật BHXH từ điều 88 đến điều 97, nội dung cụ thể như sau:

    Nguồn hình thành và sử dụng:

     

    • Quỹ BHXH được hình thành từ đóng góp của NLĐ và NSDLĐ tham gia BHXH; tiền sinh lời của các hoạt động đầu tư quỹ; hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác.
    • Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH; đóng BHYT cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ TNLĐ-BNN hàng tháng; chi phí quản lý chi khen thưởng cho NSDLĐ thực hiện tốt công tác BHXH, phòng ngừa TNLĐ-BNN và chi cho công tác đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
    • Quỹ BHXH được quy định thành các quỹ thành phần là: Quỹ ốm đau và thai sản; quỹ TNLĐ-BNN và quỹ hưu trí và tử tuất.

    2. Mức đóng và phương thức đóng của NLĐ và NSDLĐ:

    • Hàng tháng, NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định (trừ đối tượng là hạ sỹ quan, binh sỹ QĐNĐ và hạ sỹ quan, binh sỹ CAND phục vụ có thời hạn) đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%. Riêng NLĐ hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các DN nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp, diêm nghiệp thì được đóng BHXH theo hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần. Đối với người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc thì mức đóng và phương thức

    đóng                    được                     giao                     cho                     Chính                    phủ                     quy                    định.

    • Hàng tháng, NSDLĐ đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động với mức 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó NSDLĐ giữ lại 2% để trả kịp thời cho NLĐ đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hàng quý với tổ chức BHXH; 1% vào quỹ TNLĐ-BNN; 11%vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi mức đóng là 14%.
    • Hàng tháng, NSDLĐ đóng trên mức lương tối thiểu chung đối với mỗi NLĐ thuộc đối tượng là hạ sỹ quan, binh sỹ QĐND và hạ sỹ, quan binh sỹ CAND phục vụ có thời hạn với mức 1% vào quỹ TNLĐ-BNN; 16% vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ nărn 2010 trở đi cứ 2 năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.
    • Riêng NSDLĐ thuộc các DN nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì thực hiện đóng BHXH theo hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần.

    3. Tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc:

    • NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

    27

    • Đối với NLĐ đóng BHXH theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH là mức tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ.
    • Trường hợp mức tiền lương, tiền công cao hơn 20 tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH 20 tháng lương tối thiểu chung.

    4. Một số quy định khác:

    • Trong trường hợp NSDLĐ gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc NLĐ và NSDLĐ không có khả năng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì được tạm dừng đóng BHXH trong thời gian không quá 12 tháng. Điều kiện, khoảng thời gian tạm dừng đóng và thẩm quyền quyết định việc tạm dừng đóng được giao cho Chính phủ quy định cụ thể.
    • Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải bảo đảm nguyên tắc an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết; quỹ BHXH được đầu tư vào các hình thức: Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của ngân hàng thương mại của Nhà nước, cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay, đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia và các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định.
    • Chi phí quản lý BHXH bắt buộc hàng năm bằng chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước và được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.

    So với Điều lệ BHXH. quỹ BHXH trong Luật đã quy định cụ thể nguồn hình thành và sử dụng; quy định các quỹ thànhphần và mức đóng đối với từng quỹ thành phần; giảm mức đóng để thực hiện chế độ ốm đau, thai sản. TNLĐ-BNN từ 5% trước đây còn 4% (ốm đau, thai sài 3%. TNLĐ-BNN 1%) để tăng vào quỹ hưu trí, tử tuất từ 15% trước đây lên 16% cho phù hợp và quy định tăng dần mức đóng bắt đầu từ năm 2010 đối với NLĐ và NSDLĐ để đến năm 2014 đạt 22% nhằm đảm bảo một bước cân đối quỹ hưu trí, tử tuất được lâu dài, đủ khả năng chi trả lương hưu trong tương lai và không để lại gánh nặng về tài chính cho các thế hệ sau.

    Ngoài ra, Luật còn quy định NSDLĐ được giữ lại 2% mức đóng BHXH để trả kịp thời chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ; qui định về tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; quy định về hoạt động đầu tư quỹ, chi phí quản lý BHXH và quy định mức tiền lương cao nhất (mức trần) phải thực hiện đóng BHXH (điều lệ BHXH không có quy định này), với quy định này trong tương lai sẽ giảm khoảng cách chênh lệch về lương hưu giữa những người nghỉ hưu, chênh lệch về trợ cấp được hưởng khi nghỉ ốm đau, nghỉ thai sản cũng giảm và góp phần đảm bảo quỹ cân đối lâu dài, bền vững.

    28

    Sổ Bảo hiểm xã hội

    01/05/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Điều 15 Luật BHXH quy định NLĐ khi tham gia BHXH được quyền cấp sổ BHXH và nhận lại sổ BHXH khi không còn làm việc. Vời quy định này, việc cấp sổ BHXH đối với NLĐ đã được quy định cụ thể trong Chương VIII Luật BHXH từ Điều 109 đến Điều 111, nội dung quy định về sổ BHXH, hồ sơ tham gia BHXH và quy trình, thời hạn cấp sổ BHXH như sau:

    1. Sổ BHXH được cấp đối với từng NLĐ để theo dõi việc đóng, hưởng các chế độ BHXH và là cơ sở để giải quyết các chế độ BHXH theo quy định.

    Mẫu Sổ BHXH do tổ chức BHXH và sẽ được dần thay thế bằng thẻ BHXH điện tử trong quá trình áp dụng CNTT vào quản lý BHXH, thủ tục BHXH khi sử dụng thẻ BHXH điện tử được Chính phủ quy định.

     

    1. Hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
    • Tờ khai cá nhân của NLĐ theo mẫu do tổ chức BHXH quy định;
    • Danh sách NLĐ tham gia BHXH bắt buộc do người SDLĐ lập;
    • Bản sao quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đang ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động đối với người SDLĐ tham gia BHXH lần đầu; HĐLĐ đối người SDLĐ là cá nhân có thuê mướn, sử dụng LĐ.
    1. Hồ sơ tham gia BHXH TN là tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức BHXH quy định.

     

     

    1. Hồ sơ tham gia BHXH thất nghiệp bao gồm:
    • Tờ khai cá nhân theo mẫu do tổ chức BHXH quy định;
    • Danh sách NLĐ them gia bảo hiểm thất nghiệp do người SDLĐ lập.
    1. Về cấp sổ BHXH:
    • Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày giao kết HĐLĐ, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người SDLĐ nộp hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc và hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định nêu trên cho tổ chức BHXH.
    • NLĐ tham gia BHXH TN nộp hồ sơ tham gia BHXH (tờ khai cá nhân theo mẫu) cho tổ chức BHXH.
    • Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hổ sơ hợp lệ đối với người tham gia BHXH bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp; 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của người tham gia BHXH tự nguyện, tổ chức BHXH có trách nhiệm cấp sổ BHXH cho từng NLĐ; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Việc cấp sổ BHXH theo quy định của Luật BHXH không những đảm bảo cho người tham gia BHXH sớm được cấp sổ BHXH, không phải lo ngại về quyền lợi tham gia BHXH do hiện nay còn có hiện tượng tham gia BHXH nhưng chưa được cấp sổ BHXH (vì chưa có quy định thời hạn đề nghị cấp sổ BHXH đối với người SDLĐ sau khi NLĐ giao kết HĐLĐ, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng), góp phần yên tâm làm việc, nâng cao hiệu quả công việc được giao. Ngoài ra, sổ BHXH được cấp đầy đủ, kịp thời sẽ tạo thuận lợi cho tổ chức BHXH trong việc quản lý thu – nộp BHXH và nhất là giải quyết các chế độ BHXH cho NLĐ.

    29

    Việc quy định mẫu Sổ BHXH do tổ chức BHXH quy định và được dần thay thế bằng thẻ BHXH điện tử đảm bảo phù hợp với thực tế về quản lý BHXH. Trong tương lai khi sử dụng thẻ BHXH điện tử sẽ tạo thuận tiện trong việc theo dõi việc đóng – hưởng BHXH của từng người tham gia BHXH, đảm bảo chính xác trong giải quyết các chế độ BHXH, giảm khối lượng quản lý sổ BHXH ở đơn vị SDLĐ và người tham gia BHXH có thể biết được tình hình đóng – hưởng BHXH của mình bất kỳ khi nào.

    30

    Hồ sơ và việc giải quyết hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN 22/05/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Hồ sơ và việc giải quyết hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN được quy định từ Điều 112 đến Điều 118 Chương VIII Luật BHXH, nội dung quy định cụ thể như sau:

    1. Hồ sơ hưởng chế độ ốm đau gồm: Sổ BHXH; Giấy xác nhận nghỉ ốm đối với trường hợp điều trị ngoại trú, giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở y tế, giấy ra viện hoặc phiếu hội chẩn của bệnh viện đối với trường hợp mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; Xác nhận của NSDLĐ về điều kiện làm việc đối với NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên; Giấy xác nhận của NSDLĐ về thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau, kèm theo giấy khám bệnh của con đối với NLĐ nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau; Danh sách người nghỉ ốm và người nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau do NSDLĐ lập.

     

    1. Hồ sơ hưởng chế độ thai sản gồm: Sổ BHXH; Bản sao giấy chứng sinh hợac bản sao giấy khai sinh của con (hoặc giấy chứng tử trong trường hợp sau khi sinh con mà con chết hoặc mẹ chết); Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, NLĐ thực hiện các biện pháp tránh thai phải có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải có chứng nhận theo quy định của pháp luật; Xác nhận của NSDLĐ về điều kiện làm việc đối với NLĐ làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc xác nhận của NSDLĐ đối với lao động nữ là người tàn tật; Danh sách người hưởng chế độ thai sản do NSDLĐ lập.

     

    1. Hồ sơ hưởng chế độ TNLĐ gồm: Sổ BHXH; Biên bản điều tra TNLĐ, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là TNLĐ thì phải có thêm bản sao Biên bản tai nạn giao thông; Giấy ra viện sau khi đã điều trị TNLĐ; Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải quyết chế độ TNLĐ của NSDLĐ.

     

    1. Hồ sơ hưởng chế độ BNN gồm: Sổ BHXH; Biên bản đo đạc môi trường có yếu tố độc hại, trường hợp Biên bản xác định cho nhiều người thì hồ sơ của mỗi NLĐ có bản trích sao; Giấy ra viện sau khi điều trị BNN, trường hợp không điều trị tại bệnh viện thì phải có giấy khám BNN; Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa; Văn bản đề nghị giải quyết chế độ BNN của NSDLĐ

     

    1. Hồ sơ hưởng trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe gồm: Danh sách người đã hưởng chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN mà sức khỏe còn yếu do NSDLĐ lập; Văn bản đề nghị giải quyết trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe của NSDLĐ.

     

    1. Về giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản: trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ NLĐ, NSDLĐ có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động và hàng quý nộp hồ sơ của những NLĐ đã được giải

    31

    quyết chế độ cho tổ chức BHXH để quyết toán trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    1. Về giải quyết hưởng chế độ TNLĐ-BNN, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị TNLĐ-BNN: NSDLĐ nộp hồ sơ cho tổ chức BHXH để giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

     

    Nhìn chung, hồ sơ và thời hạn giải quyết hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN trong Luật BHXH được quy định cụ thể, rõ ràng các giấy tờ đối với hồ sơ từng loại chế độ, đảm bảo đủ căn cứ để thực hiện chế độ và việc quy định cụ thể về hồ sơ đối với mỗi chế độ đã tạo thuận lợi cho NLĐ, NSDLĐ khi giải quyết chế độ, hạn chế việc đòi hỏi thủ tục giấy tờ không cần thiết.

    Ngoài ra, Luật BHXH quy định cụ thể về thời hạn giải quyết, quyết toán các chế độ, góp phần đảm bảo thu nhập, ổn định sinh hoạt thường xuyên cho NLĐ; đồng thời nâng cao trách nhiệm của NSDLĐ, của tổ chức BHXH trong việc thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ, góp phần thực hiện một bước trong tiến trình cải cách hành chính.

    32

    Hồ sơ và việc giải quyết chế độ hưu, BHXH một lần và tử tuất 25/05/2007 Tìm hiểu Luật BHXH

    Hồ sơ và việc giải quyết hưởng lương hưu, BHXH một lần và chế độ tử tuất đối với người tham gia

    BHXH bắt buộc được quy định tại các điều từ Điều 119 đến Điều 122 và Điều 127, 128 Chương VIII Luật

    BHXH, nội dung quy định cụ thể như sau:

    1. Hồ sơ hưởng lương hưu gồm: Sổ BHXH; Quyết định nghỉ việc đối với người đang đóng BHXH hoặc đơn đề nghị hưởng lương hưu đối với người bảo lưu thời gian đóng BHXH. Đối với người hưởng chế độ hưu trí khi suy giảm khả năng lao động có thêm biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa.

     

    1. Hồ sơ hưởng BHXH một lần là Sổ BHXH. Ngoài ra đối với từng đối tượng, hồ sơ có thêm:
    • Quyết định nghỉ việc trong trường hợp NLĐ đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH.
    • Quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc đối với cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang.
    • Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa trong trường hợp NLĐ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;
    • Bản sao giấy tờ định cư ở nước ngoài trong trường hợp NLĐ ra nước ngoài để định cư.
    • Đơn đề nghị của NLĐ trong trường hợp sau 1 năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất:
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng BHXH và người bảo lưu thời gian đóng BHXH gồm: Sổ BHXH; giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết; tờ khai của thân nhân theo mẫu của tổ chức BHXH. Trường hợp chết do TNLĐ-BNN thì có thêm biên bản điều tra TNLĐ hoặc bệnh án điều trị BNN.
    1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất của người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng thuộc đối tượng được hưởng chế độ tử tuất theo quy định, gồm: Giấy chứng tử, giấy báo tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết; tờ khai của thân nhân theo mẫu của tổ chức BHXH.

    Ngoài ra, Luật BHXH cũng quy định hồ sơ hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH đối với người chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể là:

    • Đối với người chưa hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, hồ sơ gồm: Sổ BHXH; bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù và đơn đề nghị hưởng chế độ BHXH.
    • Đối với người đã hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, hồ sơ gồm: Đơn đề nghị hưởng tiếp BHXH và bản sao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù.
    1. Về giải quyết hưởng lương hưu, BHXH một lần, chế độ tử tuất: Luật BHXH quy định việc nộp hồ sơ và giải quyết chế độ như sau:

    33

    NSDLĐ nộp hồ sơ cho tổ chức BHXH đối với người đang làm việc tại đơn vị; NLĐ không còn quan hệ lao động, người chấp hành xong hình phạt tù và thân nhân của người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng thuộc đối tượng được hưởng chế độ tử tuất theo quy định thì trực tiếp nộp hồ sơ cho tổ chức BHXH.

    Tổ chức BHXH có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người hưởng lương hưu và người chấp hành xong hình phạt tù hưởng lương hưu, BHXH một lần; 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp NLĐ hưởng BHXH một lần, chế độ tử tuất. Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Nhìn chung, hồ sơ và thời hạn giải quyết hưởng chế độ hưu trí, tử tuất trong Luật BHXH được quy định cục thể, rõ ràng các giấy tờ đối với hồ sơ từng loại chế độ, đảm bảo đủ căn cứ để thực hiện chế độ và việc quy định cụ thể về hồ sơ đối với mỗi chế độ đã tạo thuận lợi cho NLĐ, NSDLĐ khi giải quyết chế độ, hạn chế những thủ tục giấy tờ không cần thiết.

    34

    PHÁC THẢO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ BỨC TRANH TOÀN CỤC HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM

    NGUYỄN TIẾ N HÙNG (Bài tham luận tại Hội thảo “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội” tổ chức tại Học Viện Tài chính – Phân viện TP.HCM tháng 8/2002)

    Việc nghiên cứu hoàn thiện các chế độ BHXH nói riêng, các đảm bảo xã hội nói chung phải dựa trên 2 xuất phát điểm: một là, phải xây dựng hệ thống cơ sở lý luận làm hệ qui chiếu cho đối tượng nghiên cứu và mục tiêu hướng tới cho giải pháp hoàn thiện; hai là, mô tả được thực trạng của đối tượng cần hoàn thiện. Trong phạm vi bài viết này, tác giả không có ý định xây dụng chuẩn mực lý thuyết về ASXH, BHXH, cũng không có tham vọng mô tả chi tiết, đầy đủ về hệ thống ASXH, BHXH ở Việt Nam, chỉ hy vọng phác thảo những nét chính trong bức tranh toàn cục về hệ thống đó ở Việt Nam mà thôi.

    HỆ THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

    Ở nước ta, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm thực hiện BHXH:

    • Sắc lệnh số 54/SL ngày 1/11/1945 ấn định những điều kiện cho công chức về hưu;
    • Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức;
    • Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ấn định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với công chức;
    • Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 ấn định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân sản xuất.

    Những văn bản trên cho thấy nhà nước ta đã sớm có nhận thức và sớm thực hiện BHXH theo hình thức hiện đại so với nhiều nước trên thế giới và khu vực, sớm chứng tỏ là một nhà nước tiên tiến của giai cấp công nhân và người lao động.

    Tuy nhiên, phải đến năm 1961, chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước mới thực sự thực hiện trên cơ sở thành lập Quĩ BHXH thống nhất toàn quốc (riêng thời kỳ 61-75: toàn miền Bắc) sau khi Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/11/1961 với 6 loại trợ cấp (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất). Quĩ BHXH, lúc này, là Quĩ độc lập thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) nhưng nguồn thu chủ yếu từ sự tài trợ của NSNN, tiếp đến là sự đóng góp từ các cơ quan và xí nghiệp quốc doanh theo % trên tổng Quĩ lương (từ 1962 đến 1987: 4,7%, từ 1987 đến 1993: 15%) còn công nhân và viên chức không cần đóng phí BHXH. Việc quản lý BHXH được giao cho Bộ lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam) đảm trách. Đối với khu vực ngoài quốc doanh, Điều lệ BHXH đối với xã viên hợp tác xã các tổ hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng được ban hành (Quyết định 292/BCH-LĐ ngày 15/2/82 của LHX trung ương) nhưng chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn ngủi, từ năm 1982 đến năm 1989.

    Kể từ sau Đại hội VII của Đảng công cuộc đổi mới đất nước đi vào chiều sâu, trong đó việc đổi mới BHXH để phù hợp với điều kiện kinh tế -xã hội mới là một yêu cầu bức bách nhằm thực hiện các chính sách xã hội. Việc

    35

    đổi mới được đánh dấu bằng việc tách với một bộ phận cấu thành của BHXH – chế độ chăm sóc y tế khi ốm đau cho người lao động thành một Quĩ độc lập: Bảo hiểm y tế (Nghị định 299/HĐBT) ngày 15-8-1992 ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế) với việc qui định không chỉ người sử dụng lao động mà cả người lao động cũng phải tham gia đóng phí. Tiếp theo đó, ngày 22 tháng 6 năm 1993, Chính phủ lại ban hành Nghị định 43/CP qui định tạm thời chế độ BHXH mở đầu cho cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện BHXH chằm vào mục đích xóa sự bao cấp của NSNN đối với BHXH, mở rộng diện bắt buộc không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nước như trước đây mà đối với tất cả người lao động hưởng lương, qui định lại nguồn thu chi, cơ cấu nguồn thu dùng cho mỗi loại chế độ…

    Việc cải cách thực sự đi vào thực tiễn khi hàng loạt các văn bản pháp qui được ban hành từ năm 1995:

    • Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHXH;
    • Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam;
    • Quyết định số 606/ Ttg ngày 26/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Qui chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam;
    • Nghị định số 93/1998/NĐ – CP ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH (ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ) Như đã nêu trên, việc áp dụng BHXH trên của quốc gia khác nhau thường cùng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng. Có nước quan tâm thực hiện các chế độ đảm bảo cho các rủi ro dễ xảy ra trước mắt như chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, các nước khác lại quan tâm đến các chế độ đảm bảo cho tuổi già, tuổi hưu trí, cho cái chết. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế-xã hội, phù hợp với đặc điểm của từng nơi, bảo hiểm sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ. Hiện nay nội dung thực hiện BHXH ở Việt Nam theo qui định tại chương XII Bộ Luật lao động (được Quốc hội thông qua ngày 23/06/1994) bao gồm 5 chế độ sau: Chế độ ốm đau; Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Chế độ trợ cấp thai sản; Chế độ hưu trí; Chế độ tiền tử. Ngoài ra, người lao động còn được hưởng chế độ chăm sóc y tế (khám và chữa bệnh) theo Điều lệ bảo hiểm y tế. Và đặc biệt là kể từ ngày 21/03/2001, người lao động tham gia BHXH còn được hưởng chế độ trợ cấp nghỉ dưỡng sức (Quyết định số 37/2001/QĐ–TTg của Thủ tướng Chính phủ).

    Việc thực hiện BHXH được tiến hành theo 2 hình thức: bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện áp dụng cho 2 nhóm

    đối tượng khác nhau: người lao động làm công ăn lương và nhóm người lao động tự do (không có người sử dụng lao động ổn định). Như vậy, hiện nay căn cứ vào những gì đang diễn ra ở Việt Nam thì BHXH là một chế định pháp lý nhằm bảo vệ người lao động bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ người lao động, người sử dụng lao động, cộng với sự hỗ trợ của nhà nước, thực hiện việc trợ cấp vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và gia đình họ trong các trường hợp người lao động tham gia BHXH bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo luật định hoặc chết làm họ hoặc gia đình mất hoặc giảm thu nhập bất ngờ.

    • nước ta, mặc dù đến những năm gần đây, nội dung các chế độ và phương thức quản lí thực hiện mới được đổi mới theo xu thế hiện đại, phù hợp với nền kinh tế thị trường đang được xây dựng, nhưng nếu tính từ 1945 đến nay, chúng ta đã áp dụng hầu hết các chế độ trợ cấp đã nêu ở trên chứng tỏ nội dung cơ bản của BHXH đã được nhận thức và dược áp dụng ở Việt Nam.

    36

    HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM

    Ngoài việc sớm thực hiện các chế độ trợ cấp thuộc cơ chế BHXH, nước ta cũng đã sớm thực hiện nhiều cơ chế khác thuộc hệ thống ASXH.

    Cứu trợ xã hội

    Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường xuyên có thiên tai (bão tố, lũ lụt, …), hơn nữa, liên miên trải qua chiến tranh chống xâm lược, vì vậy một bộ phận không nhỏ người dân luôn sống trong tình trạng nghèo túng, khó khăn. Tinh thần tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam sớm nảy nở và phát huy cao độ.

    Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phá kho thóc bị Nhật chiếm đóng, chia cho người người, ngăn chặn nạn đói đã làm hơn 2 triệu người chết. Sau khi thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã xác định rõ phải chống 3 loại giặc, trong đó có giặc đói, phát động nhường cơm sẻ áo, lập “hũ gạo tiết kiệm” trợ giúp những người nghèo khó. Trong cải cách ruộng đất, người nghèo, tàn tật, neo đơn được chia ruộng, giảm tô. Tháng 11/1954, Hội đồng chính phủ (HĐCP) lập Ban Cứu tế xã hội ở trung ương và địa phương. Tháng 8/1965, HĐCP ban hành Thông tư 157/CP về cứu trợ đột xuất; tháng 11/1966, ban hành Thông tư 202/CP về chính sách đối với người già không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người tàn tật. Tháng 9/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 236/HĐBT qui định lại chế độ cứu trợ thường xuyên và chế độ nuôi dưỡng các đối tượng cứu trợ xã hội ở các cơ sở tập trung.

    Từ khi thực hiện đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta càng quan tâm thực hiện các chính sách cứu trợ, bảo trợ xã hội đối với những người nghèo khó, tàn tật. Cụ thể, nhiều văn bản được ban hành và triển khai thực hiện, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay:

    • Chính sách cứu trợ đối với trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa: bao gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất;
    • Chính sách đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số: Thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, Thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, quan tâm đến người lao động nghèo trong quá trình chuyển đổi DNNN thành công ti cổ phần, Thành lập Ban chủ nhiệm chương trình mục tiêu XĐGN, Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa;
    • Chính sách đối với người tàn tật: Ban hành pháp lệnh người tàn tật, Khuyến khích thành lập và hỗ trợ Hội bảo trợ người tàn tật (Hội người mù,…);
    • Chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam: Thành lập Quĩ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, …
    • Chính sách cứu trợ xã hội đối với công chức nhà nuớc, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang qua hình thức trợ cấp khó khăn đột xuất và thường xuyên.

    Bên cạnh việc hàng năm bỏ ra nhiều tỷ đồng NSNN từ cấp Trung ương đến địa phương để trợ cấp khó khăn, làm công tác cứu trợ, bảo trợ người nghèo, khó khăn, tàn tật, nhà nuớc đã tạo cơ chế để mở rộng sự trợ giúp từ cộng đồng: ban hành qui chế tổ chức và hoạt động của Quĩ xã hội, Quĩ từ thiện, phát động phong trào tình nguyện (Nhà tình thương, Vì đàn em,…) đã thu hút được sự đóng góp của rất nhiều người từ tiền của đến công sức. Đặc biệt trong thời gian gần đây, nguồn nhân tài vật lực đóng góp cho cứu trợ xã hội không chỉ được đóng góp từ trong nước mà còn đến từ kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và cả kiều bào nước ngoài.

    37

    Chăm sóc y tế

    • nước ta, việc chăm sóc y tế được thực hiện theo cách khác nhau qua ba giai đoạn:
    • Giai đoạn từ năm 1961 đến 1992: Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH năm 1961 coi việc chăm sóc y tế cùng với chế độ trợ cấp ốm đau là một chế độ quan trọng hàng đầu của BHXH. Cụ thể như sau:
    • Đảm bảo chăm sóc y tế cho công nhân, viên chức nhà nước;
    • Đảm bảo cho cả trường hợp ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, mang thai và sinh đẻ;
    • Thực hiện chăm sóc y tế miễn phí tức toàn bộ do nhà nước đài thọ (cung cấp dịch vụ khám, điều trị, tiền thuốc men, bồi dưỡng, phí tổn tàu xe đi lại khám – chữa bệnh, …). Tuy nhiên, có sự phân biệt nơi khám và điều trị theo nhóm mức lương, nhóm cán bộ, công nhân, nhân viên.
      • Giai đoạn từ năm 1992 đến 2002: Ngày 15/08/1992, Nghị định 299/ HĐBT ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế và chính thức tách Bảo hiểm y tế ra hệ thống BHXH đặt dưới sự quản lý của Bộ Y tế. Hệ thống cơ quan bảo hiểm y tế được thành lập từ trung ương đến địa phương. Các nét chính của chế độ chăm sóc y tế giai đoạn này là:
    • Đảm bảo chăm sóc y tế theo chế độ bắt buộc không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nước mà còn mở rộng ra đối với mọi người lao động ăn lương;
    • Đảm bảo chăm sóc y tế trong trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm y tế bị ốm đau, thai sản, không đảm bảo chăm sóc y tế trong trường hợp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp (Điều này là điểm khác so với giai đoạn trước và khác với Công ước 102) , không đảm bảo chăm sóc y tế đối với những bệnh xã hội , bệnh tật bẩm sinh, điều dưỡng, an dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng, tạo hình thẩm mỹ, làm chân giả – tay giả

    – mắt giả, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, dịch vụ bảo vệ sức khỏe đặc biệt, dịch vụ y tế tự chọn, khám chữa bệnh ở nước ngoài, tai nạn chiến tranh, thiên tai;

    • Nguồn tài chính đảm bảo cho chăm sóc y tế được huy động từ người lao động (1% tiền lương) và người sử dụng lao động (2% Quĩ lương) không có sự hỗ trợ của nhà nước. Mặc dù cơ quan bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế vẫn theo mô hình gián tiếp qua việc ký hợp đồng khám chữa bệnh giữa Bảo hiểm y tế và cơ sở y tế.
      • Giai đoạn hiện nay: Bắt đầu thực hiện chủ trương chuyển Bảo hiểm y tế sang quản lý chung với BHXH vì các lý do sau:

    – Đối tượng quản lý của BHXH và Bảo hiểm y tế là tương đồng (loại áp dụng chế độ bắt buộc), việc sát nhập làm cho việc quản lý thuận lợi hơn, vừa tiết kiệm, vừa đảm bảo phục vụ tốt hơn cho người được bảo hiểm;

    – Dù trước đây, Bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế vẫn là theo mô hình gián tiếp. Về lâu dài, dù muốn chắc chắn nước ta cũng chưa có thể áp dụng mô hình trực tiếp chăm sóc y tế, nên việc chuyển về BHXH một mặt, vẫn giữ nguyên mô hình gián tiếp; mặt khác, vai trò, trách nhiệm một người quản lý Quĩ tiền sẽ dễ phát huy hơn trong việc tổ chức thu – chi, giám sát việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế của cơ sở y tế, đầu tư và phát triển Quĩ, …

    Ưu đãi xã hội

    Cơ chế ưu đãi xã hội là nét riêng có trong hệ thống ASXH Việt Nam. Cơ chế này nhằm đảm bảo cho 2 nhóm người chủ yếu như sau:

    38

    Nhóm những người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất nước, công cuộc cách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả cuộc đời của mình với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng; những người gặp rủi ro trong quá trình hoạt động cho sư nghiệp chung của cộng đồng. Phần lớn những người thuộc nhóm này thường bị suy giảm, mất khả năng lao động, khả năng cầu tiến trong điều kiện cạnh tranh của thị trường trong khi sự đóng góp của họ là vô giá (tính mạng, thân thể, gia sản, …). Việc ưu đãi đặc biệt những người này so với những người lao động bình thường kể cả những người lao động bất hạnh khác là phù hợp với truyền thống lâu đời của dân tộc: uống nước nhớ nguồn. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này gồm có:

    • Chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam;
    • Chính sách ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ Cách mạng.

    Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1946, Hồ Chủ tịch đã kêu gọi thành lập Hội Binh sĩ bị thương, khởi xướng phong trào “Mùa đông binh sĩ”, luôn quan tâm thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sĩ, … Sắc lệnh 20/SL ngày 18/02/1947 ban hành chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ qui định những khoản BHXH đặc biệt như: hưu bổng, thương tật, tử tuất. Sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 đều có những chính sách bảo đảm cho công nhân viên ngành quân giới bị thương được hưởng quyền lợi giống như quân nhân và quyền lợi ưu tiên như đối với thương binh. Tháng 05/1954, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ có văn bản qui định cho nhân viên, cán bộ dân chính, công an dân quân hoặc thường dân tham gia dân công, tham gia chiến đấu mà bị thương thì cũng coi là thương binh.

    Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, chính sách ưu đãi đối với người có công được tiếp tục bổ sung, đổi mới: xác định khái niệm thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, qui định chế độ trợ cấp thương tật, chế độ đối với thương binh ở trại, chế độ miễn, giảm tiền tàu xe, ưu tiên sắp xếp việc làm, xác định khái niệm “liệt sĩ”thay cho “tử sĩ”, trợ cấp tử tuất cho gia đình liệt sĩ, chính sách trợ giúp thương binh, gia đình liệt sĩ trong hoạt động hợp tác xã nông nghiệp. Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, quân dân du kích, tự vệ, quân nhân dự bị, sửa đổi chế độ phụ cấp thương tật, trợ cấp tử tuất. Chính sách ưu đãi đối với người có công tiếp tục được mở rộng trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đối với mọi đối tượng trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà bị thương tật, hy sinh như: thanh niên xung phong, dân công thời chiến, lực lượng vận tải nhân dân, lao động nghĩa vụ, cán bộ y tế xã, hợp tác xã, khối phố, …

    Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, rồi cuộc chiến biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, chiến tranh tình nguyện ở Campuchia xảy ra, công việc xác định liệt sỹ, tìm kiếm, qui tập hài cốt, xây dựng nghĩa trang liệt sỹ, xác nhận thương binh, thống nhất chính sách đối với người có công và gia đình có công được làm hàng ngày, hàng giờ liên tục từ đó đến nay. Ngoài những chính sách hỗ trợ trực tiếp (trợ cấp), trong thời kỳ này, nhà nước ta cũng đã qui định nhiều chính sách ưu tiên trong các hoạt động kinh tế đối với người và gia đình có công. Năm 1994, Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng và Pháp lệnh qui định danh hiệu danh dự nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng được công bố đã hoàn thiện chính sách ưu đãi xã hội về nhiều mặt đối với người có công với cách mạng.

    39

    Nhóm những người đã và sẽ cung cấp sức lao động quiù báu cho nền kinh tế-xã hội bao gồm những người già đã có quá trình làm việc, lao động lâu năm, cống hiến sức lao động cho xã hội, những bà mẹ có công sinh nở, nuôi nấng con trẻ và trẻ em – nguồn sức lao động cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai lâu dài. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này ở Việt Nam gồm có:

    • Chính sách đối với người cao tuổi (Pháp lệnh người cao tuổi);
    • Chính sách đối với bà mẹ và trẻ em.

    Nguồn tài chính để tạo Quĩ ưu đãi xã hội đối với những người này trước tiên là NSNN, tiếp đó là sự đóng góp của toàn cộng đồng đầy tính nhân văn qua các phong trào, hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, phong trào tình nguyện đã và đang diễn dưới nhiều hình thức da dạng và hiệu quả, thiết thực ở khắp mọi miền đất nước.

    Dịch vụ xã hội

    Dịch vụ xã hội và trợ cấp (bằng tiền) ASXH (trợ cấp BHXH, bảo hiểm y tế, ưu đãi xã hội, …) là 2 mặt của cùng một hành động bảo vệ an toàn cho xã hội nói chung và cho người lao động nói riêng. Sẽ không thể có hiệu quả tích cực dù tiền trợ cấp có cao đến đâu mà dịch vụ nghèo nàn không đáp ứng nhu cầu của người lao động. Dịch vụ xã hội có thể bao gồm những dịch vụ y tế, phòng ngừa y tế (vệ sinh phòng dịch, y tế dự phòng, …), phòng ngừa tai nạn, dịch vụ đối với người tàn tật (phục hồi chức năng, cung cấp bộ phận giả, …), dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, thực hiện tái thích ứng nghề,…Tùy thuộc vào sự phát triển của kinh tế cũng như nhu cầu của xã hội trong từng thời kỳ mà dịch vụ xã hội phát triển ở những loại nào nhưng hầu như quốc gia nào cũng quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ y tế để đảm bảo cho rủi ro ốm đau lên hàng đầu.

    Việc tổ chức và phát triển hệ thống dịch vụ xã hội trước tiên phải dựa vào sự đầu tư từ NSNN đặc biệt cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo cán bộ y tế. Tuy nhiên, nhà nước có thể thu hồi khoản đầu tư này khi sử dụng mạng lưới chăm sóc y tế không chỉ cho những người lao động được bảo hiểm y tế, BHXH trợ cấp mà còn còn cung cấp dịch vụ cho rộng rãi người dân trong cộng đồng.

    • Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước đến nay, nhà nước ta đã có nhiều quan tâm đến nhiều nội dung dịch vụ xã hội: tổ chức mạng lưới y tế đến thôn xã, đào tạo cán bộ y tế, thực hiện y tế dự phòng phòng chống bệnh bướu cổ, AIDS, các dịch bệnh truyền nhiễm, thực hiện một thời gian dài cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh miễn phí, thực hiện hệ thống trường dạy nghề để tái thích ứng nghề cho người lao động nói chung, người lao động thương tật nói riêng. Hiện nay, từ khi đổi mới kinh tế, nhà nước ta có chính sách khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ xã hội bằng các nguồn lực đa dạng của xã hội, điều này, một mặt làm cho cơ sở vật chất dịch vụ xã hội ngày càng tốt hơn, mặt khác, nhà nước có thể tập trung nguồn lực của mình để chăm sóc tốt hơn cho các đối tượng ưu đãi xã hội và BHXH.

    Các khoản đảm bảo khác được cung cấp bởi người sử dụng lao động

    1. Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc

    Trợ cấp thôi việc là khoản tiền của người sử dụng lao động trả cho người lao động thuộc quyền quản lý khi người lao động thôi việc theo các truờng hợp đã có qui định của pháp luật như: mãn hạn hợp đồng, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng một các hợp pháp, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không phải vì lý do nguời lao động phạm lỗi nặng bị sa thải. Trợ cấp mất việc là trợ cấp cho người lao

    40

    động bị thôi việc do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ khiến cho người lao động chưa đến hạn hoặc chưa đến lúc chấm dứt hợp đồng đã bị mất việc một cách bị động. Trợ cấp mất việc vừa bao hàm ý nghĩa là trợ cấp thôi việc vừa có ý nghĩa là một khoản bồi thường, bù đắp thiệt thòi cho người lao động do người sử dụng lao động dơn phương đình chỉ hợp đồng.

    Việc thực hiện 2 chế độ trợ cấp này thường được áp dụng chung trong giai đoạn trước 1994 và sau đó mới tách ra riêng biệt từ khi có Luật Lao động.

    • Giai đoạn 1945 – 1954: Ngày 01/10/1945, Bộ Lao động ban hành văn bản bắt buộc các xưởng kỹ nghệ, các nhà thương mại phải báo trước một tháng trước khi sa thải công nhân và ấn định tiền phụ cấp cho công nhân bị sa thải. Năm 1947, Chủ tịch Hồ chí Minh ký sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 qui định chủ sử dụng lao động phải trả “phụ cấp thâm niên” cho công nhân khi bị thải hồi không phải vì tự ý xin thôi việc để ra làm việc ở một sở khác hay để ra làm ăn kinh doanh riêng. Ngày 20/05/1950 và ngày 22/05/1950, chính phủ ban hành 2 sắc lệnh số 76/SL và 77/SL qui định trợ cấp thôi việc vì thiếu sức khoẻ đối với người lao động trong lĩnh vực nhà nước.
    • Giai đoạn 1955 – 1985: Thông tư 88/TTg ngày 01/10/1964 của Thủ tướng Chính phủ qui định áp dụng trợ cấp thôi việc chung của các trường hợp do cơ quan, xí nghiệp kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế hoặc giải thể, cả trường hợp do công nhân, viên chức nhà nước tự xin thôi việc vì hoàn cảnh gia đình khó khăn đặc biệt, vì hưởng úng các cuộc vận động lớn của nhà nước đi khai hoang, đi xây dựng kinh tế miền núi,… hoặc vì có nguyện vọng riêng nhưng phù hợp với nhu cầu giảm nhẹ biên chế của cơ quan, xí nghiệp. Mức trợ cấp được qui định phân biệt đối với người làm việc trước và sau ngày 20/07/1954. Đối với người làm việc trước 20/07/1954, cứ mỗi năm làm việc được trợ cấp bằng nửa tháng lương kể cả trợ cấp thường xuyên và trợ cấp con. Đối với người làm sau ngày 20/07/1954, mức trợ cấp được tính như trên nhưng có khống chế mức tối đa và tối thiểu: tối đa bằng 5 tháng lương và tối thiểu bằng nửa tháng lương (và phụ cấp). Ngoài ra, người được trợ cấp thôi việc còn được trợ cấp thêm một lần bằng từ nửa tháng lương đến ba tháng lương (kể cả phụ cấp) nhưng không vượt quá số tiền đã làm việc, được trợ cấp thêm tiền tàu xe, cước phí hành lý, tiền ăn dọc đường cho bản thân và gia đình về đến trú quán, được tiếp tục cấp phiếu gạo như khi đang làm việc, …
    • Giai đoạn 1985 – 1994:
    • Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về đổi mới kế hoạch và hạch toán kinh doanh đối với các xí nghiệp quốc doanh và thông tư số 1-LĐTBXH-TT ngày 09/01/1988 hướng dẫn thực hiện Nghị định 217 qui định là người lao động (trong biên chế hoặc làm việc theo hợp đồng lao động) bị nghỉ việc do thu hẹp sản xuất, giải thể xí nghiệp được trợ cấp một tháng lương kể cả phụ cấp và bù giá. Còn đối với người lao động thôi việc do vi phạm kỷ luật nhưng chưa đến mức bị thi hành kỷ luật buộc thôi việc, hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cứ mỗi năm công tác được trợ cấp nửa tháng lương kể cả phụ cấp và bù giá.
    • Ngày 29/12/1987, Quyết định số 227/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng về sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế các khu vực hành chính sự nghiệp qui định những cán bộ, công nhân, viên chức tự nguyện xin thôi việc để về sản xuất ở gia đình hoặc tự kiếm việc làm thì được trợ cấp cứ mỗi năm công tác trong cơ quan nhà nước bằng một tháng lương và các khoản trợ cấp, phụ cấp nếu có.
    • Ngày 09/10/1989, Quyết định số 176/HĐBT về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh qui định trợ cấp thôi việc trả cho những lao động ra làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh cứ mỗi năm công tác liên tục được trợ cấp một tháng lương cơ bản công với phụ cấp nếu có và tối thiểu là 3 tháng do đơn vị trả. Nhà

    41

    nước chỉ hỗ trợ đối với những đơn vị khó khăn nhưng tối đa chỉ ½ khoản trợ cấp. Đây là khoản trợ cấp một lần và trả trực tiếp cho người lao động, nhưng nếu nguồn chi trả và tiền mặt khó khăn thì có thể thỏa thuận trả rải ra một số lần.

    • Ngày 12/04/1991, Hội đồng bộ trưởng ban hành Quyết định số 111/HĐBT về một số chính sách trong việc sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp qui định rằng những người thôi việc chuyển hẳn ra ngoài biên chế nhà nước thì mỗi năm công tác được trả một tháng lương và phụ cấp, tối thiểu là 3 tháng.
    • Ngày 30/08/1990, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh Hợp đồng lao động để điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động trong đó có qui định về trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, Nghị định 165/HĐBT ngày 12/05/1992 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh trên đã ấn định mức trợ cấp thôi việc bằng ½ tháng tiền công hoặc tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm làm việc đối với trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động, hoặïc một trong hai bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với qui định của Pháp lệnh Hợp đồng lao động. Còn trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động ốm đau, thương tật đã điều trị 6 tháng liền không khỏi hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là phụ nữ có thai đang nghỉ đẻ theo chế độ, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động đang ốm đau, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người lao động đang nghỉ chế độ hàng năm, nghỉ phép thì người lao động được hưởng mức trợ cấp gấp rưỡi mức trên (tức ¾ tháng lương). Nếu người lao động từ 45 tuổi trở lên đối với nam, 40 tuổi đối với nữ đã làm liên tục 5 năm liên tục với người sử dụng lao động thì người lao động còn được trợ cấp thêm ít nhất 2 tháng tiền công hoặc tiền lương, phụ cấp lương. Đối với việc chấm dứt hợp đồng lao động theo một công việc nhất định, theo mùa vụ có hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm thì được trợ cấp 1 tháng tiền công hoặc tiền lương và phụ cấp lương (nếu có). Trợ cấp thôi việc được trả trực tiếp cho người lao động một lần. Ngoài khoản trợ cấp nói trên, người lao động làm việc trên 1 năm còn được cấp tiền tàu xe, cước phí hành lý, tiền ăn dọc đường cho bản thân về đến nơi cư trú theo chế độ hiện hành. • Giai đoạn 1994 đến nay: Chế độ trợ cấp thôi việc và mất việc được phân biệt rõ ràng
    • Luật Lao động và sau đó là Nghị định 198/CP ngày 31/12/1994 qui định người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo mức cứ mỗi năm làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên là ½ tháng lương cộng với phụ cấp lương nếu có khi chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu người sử dụng lao động là doanh nghiệp thì trợ cấp thôi việc được hạch toán vào giá thành, chi phí lưu thông, còn nếu là tổ chức cá nhân không là doanh nghiệp thì phải tự tìm nguồn trang trải.
    • Luật Lao động qui định rõ người sử dụng lao động phải lập Quĩ dự phòng về trợ cấp mất việc làm; khi phải cho người lao động thôi việc do phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ một năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng lương. Việc lập quĩ dự phòng về trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp bằng cách trích trong lợi nhuận ròng. Đối với địa phương, ngành có quá nhiều người mất việc làm do thay đổi cơ cấu và công nghệ mới có thể có sự hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước.
    1. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với người lao động tàn tật

    Đây có thể xem là một loại chế độ cứu trợ xã hội đối với người lao động tàn tật, chỉ có điều là nhà nước không trực tiếp thực hiện mà qui định buộc người sử dụng lao động phải thực hiện. Luật Lao động có mục riêng về lao động là người tàn tật có qui định các doanh nghiệp phải nhận một tỷ lệ lao động là người tàn tật so với tổng số lao động để làm việc ở vị trí thích hợp, nếu không nhận thì phải nộp một khoản tiền góp vào Quĩ tạo việc làm

    42

    cho người tàn tật, qui định các chế độ ưu đãi giảm, miễn thuế cho những doanh nghiệp dành riêng cho người tàn tật hoặc nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ qui định.

    1. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với lao động bị tai nạn lao động

    Trong phần chăm sóc xã hội, chúng ta thấy chế độ chăm sóc y tế ở Việt Nam thông qua bảo hiểm y tế đối với người lao động không bao gồm trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (khác với công uớc 102 – ILO). Tuy nhiên, Luật Lao động có qui định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.

    MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

    1. Hệ thống ASXH mà đặc biệt là cơ chế BHXH đã hình thành rất sớm ở Việt Nam ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này đã khẳng định tầm nhìn của những người lãnh đạo và chính sách xã hội của nhà nước ta – nhà nước của giai cấp công – nông, của những người lao động.
    1. Về nội dung thực hiện, xét từ năm 1945 đến nay, ở nước ta gần như thực hiện đầy đủ các chế độ cần có của cơ chế BHXH và rất nhiều cơ chế khác của ASXH mà các quốc gia khác trên thế giới đang thực hiện, hơn nữa, cơ chế ưu đãi xã hội được chú trọng thực hiện thể hiện nét riêng có, sáng tạo trong hệ thống ASXH của Việt Nam. Hiện nay, hệ thống này tương đối phức tạp bao gồm: BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chăm sóc xã hội, dịch vụ xã hội và các đảm bảo khác cung cấp bởi người sử dụng lao động (xem sơ đồ ở cuối bài).
    1. Do ảnh hưởng của chiến tranh liên miên, kinh tế – xã hội không ổn định, thay đổi qua nhiều thời kỳ dẫn đến tình trạng nội dung các chế độ đảm bảo của BHXH nói riêng, ASXH nói chung có tính ổn định không cao, đôi lúc chạy theo việc giải quyết nhu cầu xã hội trước mắt, chứ không được xây dựng có hệ thống, lâu dài.
    2. Do cơ chế quản lý kinh tế – xã hội theo kiểu tập trung bao cấp nên một thời gian dài, cũng như các vấn đề khác, BHXH, ASXH với rất nhiều chế độ đều gần như được bao cấp miễn phí từ nhà nước, cơ chế huy động từ nhiều phía vốn có và vốn là thế mạnh của hệ thống này không được vận dụng. Điều này, một mặt, là gánh nặêng cho NSNN trong điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế thời chiến, khủng hoảng kinh tế kéo dài, một mặt, không thể đáp ứng nhu cầu đảm bảo tốt cho các đối tượng được đảm bảo trong xã hội, nếu có chỉ trong một nhóm nhỏ, thời gian ngắn rồi không có điều kiện tiếp tục duy trì.
    1. Một thời gian dài, cũng do đặc điểm cơ chế quản lý kinh tế-xã hội, chế độ đảm bảo của BHXH và ASXH chỉ mới chăm lo cho công nhân – viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang, người có đóng góp cho cách mạng chứ chưa thực sự mở rộng đảm bảo cho mọi người lao động trong xã hội.
    2. Hiện nay, hệ thống ASXH nói chung, hệ thống BHXH nói riêng ở Việt Nam đã bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới và đang đứng trước một đói hỏi bức bách là phải nhanh chóng hoàn thiện các chế độ đảm bảo (số lượng, nội dung đảm bảo, nguồn huy động,…), nhằm đảm bảo tốt cho mọi người lao động (hưởng lương và cả tự do, công chức nhà nước lẫn hợp đồng lao động với mọi chủ sử dụng lao động khác) trong một điều kiện mới (kinh tế thị trường, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế).
    1. Việc tổ chức quản lý tài chính và nghiệp vụ đối với các cơ chế của ASXH trong thời gian qua thay đổi nhiều lần (BHXH), phân tán manh mún và không hợp lý (bảo hiểm y tế), nhập nhằng, chưa xác định rõ ràng (ưu đãi xã hội), hoặc quản lý chưa chặt chẽ (cứu trợ xã hội) cũng đặt ra một yêu cầu hoàn thiện để thích ứng cho giai đoạn mới.

    43


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bản chất kinh tế của Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-NGHI%E1%BB%86P-V%E1%BB%A4-KHO-H%C3%80NG-V%C3%80-BAO-B%C3%8C-TRONG-LOGISTICS.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO HÀNG VÀ BAO BÌ TRONG LOGISTICS

    Chương 6:              QUẢN TRỊ NGHIỆP VỤ KHO VÀ BÌ

    6.1-  Quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    6.1.1- Mục tiêu và nguyên tắc cuả quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    a-   Vị trí và nội dung của quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Trong hệ thống các nghiệp vụ logistics, nghiệp vụ kho là những hoạt động logistics tiếp nối và hỗ trợ cho quá trình cung ứng và đặc biệt là quá trình cung ứng hàng hóa cho khách hàng. Do đó, nghiệp vụ kho chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bán hàng, quản trị dự trữ và quản trị mua hàng.

    Nghiệp vụ kho hàng hoá là hệ thống các mặt công tác được thực hiện đối với hàng hoá trong quá trình vận động qua kho nhằm đáp ứng cho quá trình vận động và mua, bán hàng hoá qua kho với chi phí thấp nhất.

    Quản trị nghiệp vụ kho có vai trò to lớn trong hệ thống logistics kinh doanh thương mại:

    – Nghiệp vụ kho đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng, quá trình logistics trực tiếp. Cơ cấu, số lượng và chất lượng lô hàng cung ứng cho khách hàng là kết quả của quá trình nghiệp vụ kho; thời gian cung ứng hàng hoá chịu ảnh hưởng lớn của quá trình nghiệp vụ kho, đặc biệt chịu ảnh hưởng của công tác chuẩn bị hàng trong công đoạn phát hàng ở kho. Và như vậy, trình độ dịch vụ khách hàng cũng chịu ảnh hưởng khá lớn của nghiệp vụ kho.

    – Nghiệp vụ kho tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyết định của quản trị mua và dự trữ hàng hoá; nghiệp vụ kho đáp ứng những điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật để bảo quản qui mô và cơ cấu dự trữ hàng hoá tối ưu, kiểm tra và cung cấp thông tin tình hình biến động dự trữ hàng hoá để quản trị có hiệu quả dự trữ hàng hoá trong kho; nghiệp vụ kho trực tiếp kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình mua hàng, ngăn chặn hàng hoá không đảm bảo chất lượng lọt vào kênh logistics, đồng thời nâng cao hiệu lực của quá trình mua hàng.

    – Quá trình nghiệp vụ kho sử dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến hợp lý, một mặt, nâng cao chất lượng dịch vụ của quá trình, mặt khác, giảm chi phí nghiệp vụ kho và do đó giảm chi phí của toàn bộ quá trình logistics

    Quản trị nghiệp vụ kho bao gồm những nội dung sau: 1- Thiết kế quá trình nghiệp vụ kho; 2- Qui hoạch mặt bằng nghiệp vụ kho; 3- Quản trị thiết bị nghiệp vụ kho; 4- Tổ chức lao động nghiệp vụ kho; Trong đó nội dung đầu là quan trọng nhất vì nó quyết định nội dung của những nội dung sau.

    b-   Mục tiêu và nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá

    Xuất phát từ vị trí và vai trò của quản trị nghiệp vụ kho đã nêu ở trên, quản trị nghiệp vụ kho tập trung vào những mục tiêu sau:

    – Thứ nhất, là mục tiêu đáp ứng nhanh những yêu cầu của quá trình mua bán hàng hoá qua kho. Mục tiêu này gắn liền với chức năng hỗ trợ của nghiệp vụ kho hàng hoá.

    – Thứ hai, là mục tiêu hợp lý hoá việc phân bố dự trữ hàng hoá trong kho. Mục tiêu này liên quan đến quản trị dự trữ hàng hoá và sử dụng hợp lý diện tích và dung tích kho.

    – Thứ ba, là mục tiêu chất lượng hàng hoá bảo quản. Mục tiêu này liên quan đến việc quản trị chất lượng hàng hoá trong kinh doanh thương mại được tập trung chủ yếu trong kho hàng hoá.

    Các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện các mục tiêu này bao gồm: Số lần vi phạm hợp đồng cung cấp hàng hoá cho khách hàng; tỷ lệ các lô hàng bị trả lại; thời gian trung bình chuẩn bị một lô hàng để phát cho khách hàng; tốc độ chu chuyển hàng hoá ở kho; hệ số sử dụng diện tích và dung tích kho; tỷ lệ hao hụt hàng hoá ở kho; giá thành nghiệp vụ kho,…

    Các nguyên tắc quản trị nghiệp vụ kho hàng hoá:

    • Nguyên tắc hiệu quả: đạt mục tiêu với chi phí thấp
    • Nguyên tắc tiến bộ kỹ thuật
    • Nguyên tắc hệ thống
    • Nguyên tắc giảm hao hụt

    6.1.2- Quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá

    Tuỳ thuộc vào loại hàng hoá dự trữ và bảo quản, loại hình kho và các điêù kiện khác mà quá trình nghiệp vụ kho khác nhau. Tuy nhiên quá trình bao gồm 3 giai đoạn: tiếp nhận hàng, bảo quản hàng, phát hàng. Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho được thể hiện ở hình 6.1

    a-   Nghiệp vụ tiếp nhận hàng

    a.1- Các yêu cầu tiếp nhận hàng ở kho

    Tiếp nhận hàng là hệ thống các mặt công tác kiểm tra tình trạng số lượng và chất lượng hàng hoá thực nhập vào kho, xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận, vận chuyển hàng hoá trong việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền quản lý hàng hoá theo các văn bản pháp lý qui định.

    Tiếp nhận hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ trung gian giữa quá trình nghiệp vụ mua hàng, nghiệp vụ vận chuyển, và nghiệp vụ kho. Do đó, tiếp nhận hàng hoá thể hiện mối quan hệ kinh tế – pháp lý giữa các đơn vị kinh tế: nguồn hàng, đơn vị vận chuyển, và doanh nghiệp thương mại. Chính vì vậy, tiếp nhận hàng phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Phải xác định trách nhiệm vật chất cụ thể giữa đơn vị cung ứng và người nhận hàng.

    Đây là xác định rõ trách nhiệm vật chất trong việc thực hiên các cam kết kinh tế – pháp lý giữa người bán (nguồn hàng) và người mua (doanh nghiệp thương mại ), và đơn vị vận chuyển hàng hoá đã được ký kết trong hợp đồng mua-bán và hợp đồng vận chuyển hàng hoá.

    – Phải kiểm tra việc thực hiện kế hoạch nhập hàng của doanh nghiệp, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng mua bán và vận chuyển giữa các bên.

    Thông qua tiếp nhận hàng hoá, có thể tập hợp được thông tin về mua hàng và vận chuyển hàng hoá, do đó, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng ở kho một cách chi tiết và cụ thể.

    2
    1
    1.1
    1.2
    1.1a
    1.1b
    • Sơ đồ tổng quát quá trình nghiệp vụ kho

    – Phải đảm bảo tiếp nhận kịp thời, nhanh chóng và chính xác.

    Yêu cầu này nhằm tiết kiệm thời gian hàng hoá dừng lại ở công đoạn tiếp nhận, do đó giải phóng nhanh phương tiện vận tải, nhanh chóng đưa hàng hoá vào nơi bảo quản. Tính kịp thời và nhanh chóng không được làm ảnh hưởng đến tính chính xác trong việc kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá.

    a.2-           Nội dung tiếp nhận hàng

    Công đoạn tiếp nhận hàng ở kho bao gồm: tiếp nhận số lượng, tiếp nhận chất lượng, và làm chứng từ nhập hàng.

    • Tiếp nhận số lượng

     là tiến hành kiểm tra số lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên trong việc giao nhận hàng hoá về mặt lượng.

    Chế độ, kỹ thuật tiếp nhận, phương pháp, thời hạn, các thủ tục tiếp nhận…sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí tiếp nhận, phương tiện vận tải, đặc điểm của bao bì, tính chất của hàng hoá… đã được qui định trong trong các văn bản pháp lý.

    Tiếp nhận hàng hoá có thể bao gồm 2 bước:

    – Tiếp nhận sơ bộ: Tiếp nhận theo đơn vị bao bì hàng hoá bằng phương pháp đếm số lượng các đơn vị bao bì chứa lượng hàng hoá tiêu chuẩn để xác định tổng lượng hàng hoá. Tiếp nhận sơ bộ nhằm giải phóng nhanh phương tiện vận tải chờ bốc dỡ. Tiếp nhận sơ bộ chỉ trong trường hợp hàng hoá đựng trong bao bì tiêu chuẩn nguyên vẹn, không bị dập vỡ, không có dấu hiệu mất an toàn. Kết thúc tiếp nhận sơ bộ, trách nhiệm vật chất về hàng hoá vẫn chưa chuyển giao cho bên nhận.

    – Tiếp nhận chi tiết: áp dụng trong trường hợp hàng hoá đã qua tiếp nhận sơ bộ, hoặc hàng hoá không có bao bì, bao bì không an toàn. Tiếp nhận chi tiết theo đơn vị hàng hoá bằng các phương pháp và đơn vị đo lường hợp pháp của nhà nước. Tiếp nhận chi tiết có thể được tiến hành trên mẫu đại diện, thường là từ 15 -20% qyi mô lô hàng. Sau khi tiếp nhận chi tiết, trách nhiệm vật chất về mặt lượng của hàng hoá được chuyển giao cho bên nhận hàng.

    Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cam kết giữa các bên mà hàng hoá chỉ cần qua bước tiếp nhận sơ bộ nguyên đai kiện rồi chuyển vào kho mà không cần qua bước tiếp nhận chi tiết.

    Trong quá trình tiếp nhận, nếu phát hiện hàng hoá thừa hoặc thiếu, phải lập biên bản để qui trách nhiệm vật chất.

    • Tiếp nhận chất lượng hàng hoá

     Bao gồm các mặt công tác nhằm kiểm tra tình trạng chất lượng hàng hoá thực nhập và xác định trách nhiệm vật chất giữa các bên giao nhận về tình trạng không đảm bảo chất lượng của hàng hoá nhập kho.

    “Chất lượng hàng hoá là khả năng hàng hoá thực hiện những chức năng của mình; chất lượng hàng hoá bao gồm độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, dễ vận hành và sửa chữa, và các đặc tính giá trị khác”. Các đặc tính chất lượng hàng hoá được đo lường bằng các chỉ tiêu khác nhau, nhưng chủ yếu là các chỉ tiêu lý, hoá, sinh, và các chỉ tiêu cảm quan.

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải căn cứ vào các văn bản có tính pháp lý, như: hợp đồng, các văn bản tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá, chế độ qui định tiếp nhận hàng hoá; đồng thời phải căn cứ vào các chứng từ đi kèm như hoá đơn, giấy đảm bảo chất lượng,…

    Tiếp nhận chất lượng hàng hoá phải tiến hành theo các bước sau:

    – Thứ nhất, phải lấy mẫu kiểm tra chất lượng: Việc kiểm tra chất lượng không thể tiến hành đối với toàn bộ lô hàng được, do đó phải lấy mẫu để kiểm tra. Mẫu kiểm tra phải được lấy theo phương pháp khoa học theo qui định hoặc đã thoả thuận giữa các bên. Mẫu kiểm tra phải được đánh dấu hoặc niêm phong có gắn nhãn hiệu kèm chữ ký của những người tham gia tiếp nhận, đồng thời phải lập biên bản lấy mẫu. Mẫu lựa chọn để kiểm tra phải được bảo quản cẩn thận cho tới khi tiếp nhận xong và không có sự tranh chấp giữa các bên nữa.

    – Thứ hai, phải xác định phương pháp kiểm tra và đánh giá chất lượng. Tuỳ thuộc vào đặc điểm hàng hoá, những qui định và sự thoả thuận giữa các bên mà có thể sử dụng phương pháp kiểm tra thích hợp. Có 2 phương pháp kiểm tra chủ yếu: phương pháp cảm quan và phương pháp phân tích thí nghiệm.

    Phương pháp cảm quan là phương pháp sử dụng các giác quan của con người để kiểm tra chất lượng. Các chỉ tiêu cảm quan thường là: màu sắc, mùi vị, âm thanh độ cứng,… Phương pháp này có ưu điểm là: đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền, thiết bị dụng cụ không phức tạp, và trong một số trường hợp, phải dùng chỉ tiêu cảm quan mới đánh giá chất lượng tổng hợp một cách chính xác như các loại hàng kích thích,… Nhược điểm của phương pháp này là thiếu chính xác, thiếu khách quan, phụ thuộc vào trình độ cảm quan và các yếu tố tâm sinh lý của người kiểm tra.

    Phương pháp phân tích thí nghiệm là phương pháp sử dụng các thiết bị phân tích trong phòng thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu chất lượng về lý, hoá, sinh,… Yêu cầu quan trọng của phương pháp này là phải có những thiết bị có độ chính xác cao. Ưu điểm của phân phối này là kiểm tra chính xác và khách quan chất lượng hàng hoá. Nhược điểm của phương pháp này là đòi hỏi phải có thiết bị phức tạp, thời gian để phân tích lâu. Ngày nay, do phát triển của khoa học kỹ thuật, các thiết bị phân tích trở nên tinh vi, đảm bảo kiểm tra nhanh mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao

    Đối với phương pháp kiểm tra cảm quan, phải sử dụng phương pháp cho điểm để đánh giá chất lượng; còn đối với phương pháp phân tích thí nghiệm, việc đánh giá dựa trên cơ sở kết quả phân tích định lượng.

    Thời gian tiếp nhận chất lượng hàng hoá không được vượt quá giới hạn qui định. Thời gian tiếp nhận tuỳ thuộc vào tính chất hàng hoá, khoảng cách giữa nơi giao và nơi nhận, điều kiện giao thông vận tải, phương thức giao nhận,…

    – Trong quá trình kiểm tra và đánh giá, nếu phát hiện thấy chất lượng hàng hoá không đảm bảo tiêu chuẩn và các cam kết, bao bì và hàng hoá không đúng qui cách, phải lập biên bản về tình trạng chất lượng có mặt bên giao hàng hoặc cơ quan giám định chất lượng hàng hoá.

    Hàng hoá không đảm bảo chất lượng phải xử lý theo những qui định của pháp luật và sự thoả thuận giữa các bên. Nguyên tắc xử lý là: pháp lý, thoả thuận, và giảm chi phí cho cả các bên.

    • Làm chứng từ nhận hàng

    Làm chứng từ nhận hàng bao gồm những công tác nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá và tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng.

    Sau khi kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá, nếu lô hàng đảm bảo thì người nhận hàng (thủ kho) ký vào hoá đơn giao hàng và kết thúc việc nhận hàng. Trường hợp hàng hoá không đảm bảo số lượng và chất lượng hoặc không có chứng từ đi kèm thì phải tiến hành lập biên bản và tuỳ theo tình hình cụ thể để xử lý.

    Sau khi tiếp nhận, phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ nhập hàng vào kho. Mỗi một lô hàng nhập kho phải ghi sổ theo dõi tình hình nhập hàng, đồng thời phải ghi chép số liệu hàng nhập vào trong thẻ kho để nắm được tình hình nhập xuất và tồn kho.

    b-   Nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho

    b.1-          Yêu cầu đối với nghiệp vụ bảo quản

    Bảo quản hàng hoá là hệ thống các mặt công tác nhằm đảm bảo giữ gìn nguyên vẹn số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình dự trữ, tận dụng đến mức cao nhất diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất thiết bị và lao động kho.

    Trong toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho, bảo quản hàng hoá là công đoạn nghiệp vụ cơ bản và phức tạp nhất, quyết định chất lượng công tác kho, thực hiện tốt chức năng cơ bản của kho hàng hoá; công đọan nghiệp vụ này có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng của công đoạn nghiệp vụ tiếp nhận và phát hàng, thực hiện mục tiêu của quá trình nghiệp vụ kho.

    Công đoạn nghiệp vụ bảo quản hàng hoá ở kho phải thực hiện những yêu cầu sau:

    – Phải giữ gìn tốt số lượng và chất lượng hàng hoá bảo quản ở kho, phấn đấu giảm đến mức thấp nhất hao hụt hàng hoá ở kho;

    – Tận dụng diện tích và dung tích kho, nâng cao năng suất các loại thiết bị và lao động kho;

    – Tạo điều kiện để thực hiện tốt nhất quá trình nghiệp vụ kho.

    Quá trình bảo quản hàng hoá ở kho bao gồm 3 mạt công tác cơ bản: Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho; Chăm sóc và giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho; Quản trị định mức hao hụt hàng hoá ở kho.

    b.2-          Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho

    Phân bố và chất xếp hàng hoá ở kho là sự qui hoạch vị trí của hàng hoá bảo quản, là phương pháp để hàng hoá tại những nơi qui định thích hợp với đặc điểm, tính chất hàng hoá, kho, bao bì và thiết bị kho.

    Phân bố và chất xếp hàng hoá hợp lý ở kho sẽ đảm bảo thuận tiện cho việc bảo quản hàng hoá, tiếp nhận và phát hàng, đồng thời tận dụng tốt nhất diện tích và dung tích kho hàng hoá.

    Nguyên tắc của phân bố và chất xếp hàng hoá: Phải theo khu vực và theo loại hàng, tránh ảnh hưởng có hại lẫn nhau giữa các loại hàng hoá và môi trường bảo quản và bố trí lân cận những hàng hoá có liên quan với nhau trong tiêu dùng; đảm bảo trật tự và vệ sinh- dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm kê hàng hoá; đảm bảo mỹ quan cho kho hàng hoá.

    Có nghĩa những hàng hoá giống nhau về điều kiện và kỹ thuật bảo quản thì có thể bảo quản trong cùng một khu vực kho; tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hoá do đặc tính thương phẩm mà ảnh hưởng có hại lẫn nhau tuy rằng có cùng điều kiện bảo quản, thì cần phải để cách ly nhau như chè, thuốc lá,. ..

    Do những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng thường được phát trong cùng một lô hàng, cho nên để thuận tiện cho phát hàng, cần được bố trí gần nhau.

    Yêu cầu chung trong phân bố và chất xếp: Đảm bảo thuận tiện cho việc tiến hành các nghiệp vụ kho; đảm bảo an toàn cho con người, hàng hoá và phương tiện; bảo đảm tiết kiệm sức lao động, giảm chi phí, không ngừng nâng cao năng suất lao động, tận dụng sức chứa của kho, công suất thiết bị

    Những căn cứ để tiến hành phân bố và chất xếp: Tính chất, đặc điểm của hàng hoá, kho và thiết bị; các phương pháp và điều kiện kỹ thuật bảo quản hàng hoá; điều kiện khí hậu khu vực kho; các tiêu chuẩn và định mức kinh tế – kỹ thuật đối với con người, hàng hoá và thiết bị.

    Nội dung của phân bố và chất xếp hàng hoá trong kho:

    1/ Phân loại hàng hoá bảo quản theo các đặc trưng kinh tế và kỹ thuật:

    Những đặc trưng kinh tế đối với hàng hoá bảo quản bao gồm: qui mô lưu chuyển và dự trữ hàng hoá, tốc độ chu chuyển hàng hoá, tính liên quan trong tiêu dùng hàng hoá. Những hàng hoá có tốc độ chu chuyển nhanh, cường độ xuất nhập cao sẽ được phân bố ở những vị trí thuận tiện cho di chuyển và xếp dỡ; những hàng hoá có liên quan trong tiêu dùng được bố trí lân cận nhau,. ..

    Những đặc trưng kỹ thuật đối với hàng hoá: tính chất và đặc điểm thương phẩm của hàng hoá.

    2/ Xác định các phương pháp chất xếp hàng hoá trong kho:

    Phương pháp chất xếp là cách thức để hàng tại những vị trí bảo quản hàng hoá. Mỗi loại hàng hoá khác nhau với những tính chất và bao bì khác nhau có thể áp dụng các phương pháp chất xếp khác nhau. Mỗi loại phương pháp chất xếp có những ưu và nhược điểm nhất định, và có tải trọng chất xếp trên một đơn vị diện tích khác nhau. Có 3 phương pháp chất xếp phổ biến:

    – Phương pháp đổ đống: Thường áp dụng đối với những hàng hoá ở dạng hạt rời và không có bao bì.

    Ưu điểm của phương pháp này là: Sử dụng triệt để diện tích và dung tích nhà kho, đỡ tốn chi phí bao bì trong quá trình bảo quản hàng hoá tại kho.

    Nhược điểm: Cần phải có thiết bị ngăn ô phức tạp, khó khăn cho quá trình di chuyển hàng hoá trong kho, đặc biệt là những kho chưa được cơ giới hoá; khó kiểm tra, phát hiện hàng hoá bị hư hỏng, kém chất lượng.

    – Phương pháp xếp trên giàn, giá, bục, tủ: Thường áp dụng để chất xếp những hàng hoá đã mở bao, hàng lẻ, hàng xuất còn thừa,hoặc hàng cần bảo quản trên giá tủ chuyên dùng.

    Ưu điểm của phương pháp này: Có chiều cao chất xếp lớn, đảm bảo tính chính xác của quá trình công nghệ kho, thuận tiện cho cơ giới hoá kho.

    Nhược điểm: Giá trị của các thiết bị chứa đựng khá cao, hệ số sử dụng diện tích và dung tích không lớn, phải có các thiết bị xếp dỡ phức tạp, nhất là khi chiều cao chất xếp lớn.

    – Phương pháp xếp hàng thành chồng: Thường sử dụng đối với hàng hoá bảo quản nguyên bao, nguyên kiện.

    Ưu điểm: Đảm bảo tính trật tự của các chồng hàng, có thể sử dụng tốt diện tích, dung tích nhà kho khi bao bì đảm bảo; thuận tiện cho công tác xuất nhập, kiểm kê, kiểm tra và bảo quản hàng hoá.

    Nhược điểm: Không thật sử dụng triệt để dung tích nhà kho, kém an toàn cho con người và hàng hoá.

    Phương pháp xếp thành chồng hiện nay được áp dụng phổ biến ở nước ta. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của hàng hoá, mà có các loại hình chất xếp thành chồng: chồng hình vuông, hình chữ nhật và hình chóp. Xếp chồng hình chóp áp dụng cho các loại hàng đóng bao như muối, đường, gạo đỗ,. ..;xếp theo hình chữ nhật và hình vuông áp dụng khi bao bì chắc chắn. Xếp chồng hình chữ nhật có 6 kiểu: 1- Xếp thẳng thành chồng; 2- Xếp cách ván thành chồng; 3- Xếp đứng thành chồng; 4- Xếp chéo thành chồng (kiểu chữ thập); 5- Xếp ngược thành chồng; và 6- Xếp miệng giếng thành chồng.

    Dựa vào các phương pháp chất xếp và đặc điểm của hàng hoá, xác định tiêu chuẩn chất xếp trên một đơn vị diện tích bảo quản.

    3/ Tính toán diện tích bảo quản:

    Trên cơ sở qui mô hàng hoá nhập kho và tiêu chuẩn chứa hàng trên một đơn vị diện tích, có thể xác định được diện tích cần thiết để bảo quản hàng hoá.

    4/ Xác định vị trí phân bố hàng hoá:

    Vị trí phân bố hàng hoá bảo quản thường được xác định tuỳ thuộc vào hệ thống qui hoạch diện tích bảo quản. Trong kho, có 2 hệ thống qui hoạch: qui hoạch động và qui hoạch cố định.

    – Hệ thống qui hoạch động (định vị động): cho phép định vị hàng hoá bảo quản trong kho thay đổi theo thời gian nhập lô hàng mới với mục đích sử dụng hiệu quả dung tích kho.

    – Hệ thống qui hoạch cố định: Mỗi loại hàng hoá được định vị lâu ở khu vực lựa chọn. Lợi thế của hệ thống này là xác định ngay được vị trí bảo quản hàng hoá để đưa hàng vào và lấy hàng ra. Tuy nhiên, hệ thống này sử dụng không hiệu quả diện tích và dung tích bảo quản hàng hoá ở kho.

    5/ Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản – đánh dấu hoặc ghi ký, mã hiệu hàng hoá lên sơ đồ qui hoạch diện tích bảo quản hàng hoá.

    Tiến hành chất xếp hàng hoá vào vị trí bảo quản theo các phương pháp dự tính. Di chuyển và chất xếp hàng hoá là loại lao động nặng nhọc, cần phải được cơ giới hoá. Đồng thời để xác định nhanh chóng vị trí bảo quản hàng hoá, đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ phát hàng, cần phải đánh dấu vị trí phân bố hàng hoá trên sơ đồ qui hoạch. Trong trường hợp tự động hoá quá trình công nghệ kho, cần phải mã hoá khu vực bảo quản.

    b.3-          Chăm sóc, giữ gìn hàng hoá bảo quản ở kho

    Hàng hoá trong thời gian bảo quản tại kho, dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài có thể bị suy giảm số lượng và chất lượng. Để tạo nên điều kiện thích hợp bảo quản hàng hoá, phát hiện hàng hoá bị giảm sút chất lượng, đề phòng hàng hoá mất mát, phải sử dụng một hệ thống các mặt công tác: Quản lý nhiệt độ, độ ẩm; vệ sinh, sát trùng ở kho; phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật; kiểm tra và giám sát chất lượng hàng hoá.

    • Quản lý nhiệt độ, độ ẩm hàng hoá và kho

    Nhiệt độ và độ ẩm là 2 yếu tố cơ bản của điều kiện bảo quản hàng hoá. Do tính chất thương phẩm mà mỗi loại hàng hoá có những khác nhau trong việc chống lại những tác động của môi trường, và do đó, đòi hỏi phải được bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm nhất định.

    Quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho là một hệ thống các biện pháp khác nhau nhằm tạo ra cũng như duy trì nhiệt độ và độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá.

    Nội dung của quản lý nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm 2 công tác cơ bản: Xây dựng chế độ về nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho từng loại hàng hoá khác nhau; và kiểm tra và tạo lập, duy trì nhiệt độ độ ẩm theo yêu cầu.

    Các biện pháp tạo ra và duy trì nhiệt độ, độ ẩm ở kho bao gồm: Thông gió; dùng chất hút ẩm; sấy, và bịt kín.

    a/ Thông gió

    Thông gió là quá trình làm thay đổi không khí trong kho để cải thiện điều kiện bảo quản: điều hoà nhiệt độ, độ ẩm thích hợp với yêu cầu bảo quản hàng hoá, loại trừ các khí có hại trong kho ra ngoài (CO2, NO2, NH3,. ..)

    Có 2 phương pháp thông gió: thông gió tự nhiên và nhân tạo.

    Thông gió tự nhiên là quá trình làm thay đổi không khí trong kho dựa vào các điều kiện tự nhiên. Để thông gió tự nhiên, phải nắm vững thời cơ thông gió và phương pháp mở cửa kho.

    Thời cơ thông gió phải đảm bảo 4 điều kiện sau:

    • Điều kiện 1: Ngoài trời không mưa, không có sương mù, sấm sét, và không có gió mạnh từ cấp 4 trở lên.
    • Điều kiện 2: Nhiệt độ ngoài kho không được thấp hơn 10oC và cao quá 32oC.
    • Điều kiện 3: Độ ẩm tuyệt đối ngaòi kho phải thấp hơn độ ẩm tuyệt đối trong kho.
    • Điều kiện 4: Nhiệt độ thấp nhất của một trong 2 môi trường (trong hoặc ngoài kho) không được thấp hơn quá 10C so với nhiệt độ điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao hơn.

    Như vậy, nếu điều kiện thời tiết không đảm bảo 4 điều kiện trên thì không phải là thời cơ thông gió. Bảng 6.1 cho ta ví dụ về thời cơ thông gió.

    Ở nước ta, thời cơ thông gió thường là các tháng nóng và khô ráo, còn các tháng nhiều mưa và độ ẩm cao (tháng 3,4,8,9) ít có thời cơ thông gió. Trong ngày, theo kinh nghiệm thì có thể mở cửa kho thông gió vào lúc 8- 9 h và 17- 18 h hàng ngày, nhất là về mùa hè.

    Để thông gió tốt, phải biết cách mở cửa thông gió và tính toán diện tích cửa thông gió. Diện tích cửa thông gió được tính theo công thức sau:

     
       
    • Bảng xác định thời cơ thông gió

    a/ Trường hợp nhiệt độ không đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 70 16,64 16
    22 75 14,49 17
    Có thể

    được

    22 80 15,54 18,2
    22 85 16,32 19
    Không

    lợi

    22 95 18,33 21
    22 100 19,43 22

    a/ Trường hợp nhiệt độ thay đổi, độ ẩm tương đối khác nhau

    Điều kiện Nhiệt độ (0C) Độ ẩm tương đối (%) Độ ẩm tuyệt đối (g/cm3) Điểm sương (0C)
    Trong kho 30 65 20 22,5
    Ngoài

    kho

    Không lợi 22      
    22      
    22      
    Tốt nhất 22 65 12,83 15
    22 75 14.49 17
    22 80 15,54 18,2
    Tổ

    chức

    thông

    gió

    được

    23 65 13,64 16
    23 75 15,43 18
    23 80 16,46 19,2
    24 65 14,16 16,7
    24 75 18,34 19
    24 80 17,43 20,2
    25 65 14,98 17,6
    25 75 17,29 20
    25 80 18,44 21

    Trình tự thông gió:

    – Mở cửa thông gió theo hướng gió thổi tới để tạo nên luồng gió mạnh vào kho.

    – Mở dần những cửa hai bên để cho luồng không khí mới đó thổi đều vào kho có thể lùa vào các đống hàng.

    – Mở những cửa còn lại để luồng gió mới đưa không khí không thích hợp ra ngoài.

    Tác dụng của thông gió tự nhiên: Điều chỉnh được nhiệt độ và độ ẩm trong kho, tốn ít chi phí, nhanh chóng và đơn giản, cải thiện môi trường công tác của cán bộ và nhân viên kho.

    Tuy nhiên thông gió tự nhiên phụ thuộc vào điều kện thiên nhiên, chỉ áp dụng đối với một số loại kho nhất định. Đối với một số kho hàng và trong điều kiện thời tiết, khí hậu không cho phép thông gió tự nhiên, phải tiến hành thông gió nhân tạo: kết hợp quạt thông gió với máy lạnh, máy điều hoà nhiệt độ. Dùng phương pháp này có ưu điểm là chủ động điểu hoà nhiệt độ độ ẩm, nhưng chi phí cao, thiết kế, thiết bị phức tạp.

    b/ Dùng chất hút ẩm

    Là sử dụng một số chất có khả năng hấp thụ hơi nước trong không khí nhằm giảm độ ẩm trong kho.

    Dùng chất hút ẩm chỉ có khả năng làm giảm độ ẩm chứ không giảm được nhiệt độ và thay đổi thành phàan không khí trong kho.

    Những yêu cầu khi sử dụng chất hút ẩm: Kho phải kín, chất hút ẩm phải có năng suất hút ẩm cao, không làm nhiễm bẩn môi trường, gây mùi lạ đối với hàng hoá, độc với người, giá thành hạ, sử dụng nhiều lần, tốn ít thể tích.

    Những chất hút ẩm thường dùng:

    CaCl2: là chất hút ẩm mạnh nhất, có thể hút ẩm đến 200% trọng lượng của nó, nhưng giá đắt.

    CaO (vôi sống): có khả năng hút ẩm 30%. Khi hút ẩm, vôi sống toả nhiệt và tăng thể tích 2- 3 lần, và sau đó bở ra thành vôi bột có thể bay trong không khí làm ảnh hưởng đến hàng hoá. Tuy nhiên, vôi sống rẻ và dễ tìm.

    Ngoài ra, tuỳ loại kho và hàng hoá, có thể dùng các chất chống ẩm khác, như tro, than, trấu,. ..

    c/ Phương pháp sấy hàng hoá

    Dùng nhiệt độ cao để chống ẩm cho hàng hoá. Sấy làm giảm hàm lượng nước ở hàng hoá đến độ ẩm an toàn.

    Có thể dùng ánh nắng mặt trời để sấy, hoặc trong những trường hợp nhất định, có thể sấy bằng lò, bằng hơi nóng, bằng ánh điện, bằng tia hồng ngoại, và đặc biệt có thể sấy chân không nhiệt độ thấp.

    d/ Phương pháp bịt kín

    Nhằm ngăn cách môi trường bảo quản với môi trường bên ngoài, tạo nên điều kiện bảo quản phù hợp vơí yêu cầu và tính chất của hàng hoá.

    Phương pháp này giữ được độ ẩm không khí an toàn đối với một số hàng dễ hút ẩm như chè, thuốc lá, hàng khô,. ..,giữ được chất lượng đối với một số hàng vị giác và hương phẩm, tránh ảnh hưởng có hại của một số hàng có mùi vị lạ.

    Có nhiều cách bịt kín: trong chum, vại, thùng,. ..Với một số lượng lớn có thể áp dụng một số phương pháp sau:

    – Bịt kín toàn kho: lô hàng lớn và ít nhập xuất.

    – Bịt kín từng ô gian, đống hàng: lượng hàng hoá nhỏ, hàng đống gói lẻ.

    Yêu cầu đối với hàng hoá đưa vào bảo quản bịt kín là phải có thuỷ phần an toàn

    • Vệ sinh, sát trùng ở kho

    Là một hệ thống các biên pháp để tiêu diệt sinh vật, vi sinh vật và loại trừ các tạp chất ảnh hưởng có hại đối với hàng hoá và kho.

    Những căn cứ để làm vệ sinh, sát trung ở kho:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá và bao bì

    – Căn cứ vào tập tính sinh hoạt của từng loại sinh vật và vi sinh vật.

    – Căn cứ vào vị trí và tình trạng kiến trú nhà kho, điều kiện thiết bị bảo quản và làm vệ sinh sát trùng.

    Nội dung của công tác vệ sinh sát trùng ở kho:

    1/ Đảm bảo những điều kiện vệ sinh, phòng ngừa trùng bọ phát sinh

    – Điều kiện vệ sinh kho tàng: Phải thường xuyên làm tốt công tác vệ sinh trong và ngoài kho. Trong kho không được tạo nên những điều kiện cho sinh vật làm tổ. Trước khi nhập hàng, phải sát trung kho. Phải đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm trong kho thích hợp với hàng hoá.

    – Điều kiện hàng hoá: Hàng hoá phải sạch sẽ, đảm bảo các tiêu chuẩn bảo quản, đặc biệt đảm bảo thuỷ phần an toàn, không bị nhiễm trùng; cách ly hàng hoá nhiễm và không nhiễm trùng, hàng tốt và hàng bị giảm chất lượng.

    – Điều kiện bao bì và thiết bị: Bao bì và thiết bị cũng phải luôn luôn sạch sẽ, không bị nhiễm trùng.

    – Điều kiện con người: Người làm công tác kho cũng phải đảm bảo luôn luôn sạch sẽ.

    2/ Xây dựng và tổ chức thực hiện các chế độ kiểm tra vệ sinh, chế độ vệ sinh sát trùng kho, hàng hoá và thiết bị.

    3/ Sử dụng hiệu quả các phương pháp diệt trùng:

    – Phương pháp lý học, cơ học: Dùng nhiệt độ cao như ánh sáng mặt trời, sấy, dùng ánh sáng hấp dẫn côn trùng để tập trung tiêu diệt, dùng tia cực tím, sóng điện từ,. ..;Dùng bẫy đánh bắt,. ..

    – Phương pháp sinh thái học: Thay đổi môi trường sống của trùng bọ bằng cách thay đổi hàng hoá bảo quản trong kho nhằm hạn chế tốc độ sinh trưởng hoặc tiêu diệt chúng.

    – Phương pháp hoá học: Đây là phương pháp phổ biến tiêu diệt triệt để các loại sinh vật và vi sinh vật trên phạm vi rộng.

    • Phòng cháy, chữa cháy, phòng gian bảo mật

    Cháy là hiện tượng thường dễ xảy ra do sơ suất trong sản xuất, sinh hoạt như: hút thuốc lá không đúng nơi qui định, mang xách những vật có lửa không thận trọng, hệ thống dây điện, thiết bị điện, lò sấy, ống khói không đảm bảo an toàn, so các thiết điện, thiết bị sản xuất, động cơ đốt trong không có vật bảo hiểm, do sấm sét, và thậm chí còn do sản phẩm tự bốc cháy.

    Cháy làm tổn thất nghiêm trọng tài sản của doanh nghiệp và xã hội, do đó phòng chống cháy là công tác cần phải được quan tâm đặc biệt. Ở kho có thể sử dụng các biện pháp phòng chống chaý sau:

    – Biện pháp về tổ chức

    – Biện pháp về sử dụng thiết bị

    – Biện pháp kỹ thuật

    – Biện pháp có tính chế độ

    – Các biện pháp chạy hoả

    – Những biện pháp phòng ngừa, chữa cháy

    – Những biện pháp phòng hoả tĩnh điện

    – Những biện pháp trong thiết kế xây dựng

    Những biện pháp bảo mật phòng gian:

    – Phải xây dựng nội qui phòng gian bảo mật và kiểm tra, đôn đốc nhân viên kho thực hiện tốt chế độ và nội qui đó.

    – Tổ chức lực lượng bảo vệ kho tàng, hàng hoá. Thường xuyên tuần tra, canh gác, xây dựng các phương án bảo vệ kho và hàng hoá.

    – Xây dựng và trang bị các công trình, thiết bị bảo vệ: nhà kho phải có khoá chắc chắn, có điện bảo vệ ban đêm, có hàng rào xung quanh kho,. ..

    – Giáo dục và nêu cao tinh thần cảnh giác phòng chống trộm cắp cho cán bộ và nhân kho.

    • Giám sát và kiểm tra hàng hoá, kho tàng

    Giám sát và kiểm tra là 2 mặt công tác có mối quan hệ mật thiết với nhau. Giám sát là là hoạt động có tính chất thường xuyên nhằm theo dõi quá trình nghiệp vụ kho, tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, phát hiện kịp thời những hiện tượng bất thường để có biện pháp xử lý. Kiểm tra là tập hợp những thao tác cụ thể nhằm xác định cụ thể tình trạng kho, hàng hoá, thiết bị, tình hình thực hiện các chế độ, nội qui, qui trình, qui phạm kỹ thuật,. ..tại một thời điểm nhất định để có biện pháp xử lý kịp thời.

    Phải qui định chế độ kiểm tra thường kỳ, lúc cần thiết có thể kiểm tra đột xuất; nếu theo dõi thấy hiện tượng khác thường cũng phải tổ chức kiểm tra ngay để phát hiện ra nguyên nhân, từ đó có biện pháp xử lý.

    b.4-          Quản trị định mức hao hụt hàng hoá

    Quản trị định mức hao hụt hàng hoá là việc sử dụng những biện pháp tổ chức và kỹ thuật nhằm giảm đến mức thấp nhất hao hụt tự nhiên và loại trừ hao hụt do chủ quan gây ra.

    Như vậy, nội dung của quản trị định mức hao hụt bao gồm:

    – Xây dựng định mức

    – Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    – Kiểm tra giám sát việc thực hiện định mức, điều chỉnh định mức.

    • Xây dựng định mức hao hụt hàng hoá

    Định mức hao hụt hàng hoá là việc xác định lượng tiêu hao vật chất cần thiết và hợp lý, phù hợp với những điều kiện kinh tế, kỹ thuật và xã hội trong bảo quản hàng hoá tại kho.

    Hao hụt ở kho là do những nguyên nhân sau:

    – Do ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên của chính bản thân hàng hoá

    Tức là do tính chất thương phẩm của hàng hoá trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố môi trường bên ngoài: Do các quá trình sinh hoá, sinh lý của hàng hoá; Do tính chất hoá lý sinh của hàng hoá,. ..Với môi trường bên ngoài khác nhau, cường độ của các quá trình này cũng khác nhau. Nhiệm vụ công tác kho là tạo ra điều kiện môi trường nhằm hạn chế đến mức tối đa các quá trình tự nhiên này. Loại hao hụt do nguyên nhân này còn gọi là hao hụt tự nhiên.

    – Hao hụt tất yếu do thực hiện các thao tác nghiệp vụ kỹ thuật kho

    Trong quá trình thực hiện các thao tác nghiệp vụ kho như di chuyển, xếp dỡ, biến đổi hàng hoá,. ..có thể xẩy ra hao hụt không thể tránh khỏi. Tuy nhiên có thể hạn chế những hao hụt này bằng cách cải tiến phương pháp nghiệp vụ, hoàn thiện các thiết bị kỹ thuật kho. Loại hao hụt này được gọi là hao hụt tất yếu nghiệp vụ.

    Hao hụt tự nhiên và tất yếu thuộc hao hụt định mức, và chỉ định mức cho 2 loại hao hụt này.

    – Hao hụt do lỗi của nhân viên kho không thực hiện đúng các chế độ, qui trình, qui phạm bảo quản hàng hoá ở kho mà để xẩy ra hao hụt. Đây là hao hụt do chủ quan gây nên, và cán bộ kho phải chịu trách nhiệm vật chất.

    – Hao hụt do tai hoạ thiên nhiên không khắc phục được.

    Những hao hụt do 2 nguyên nhân sau không có tính khách quan, hoặc không lường trước được, nên không phải thuộc phạm vi định mức, mà là hao hụt vượt định mức.

    Những căn cứ để xây dựng định mức hao hụt:

    – Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá: Mỗi loại hàng hoá có những đặc điểm và tính chất tự nhiên khác nhau, trong những điều kiện và kỹ thuật bảo quản nhất định, sẽ có hao hụt khác nhau. Vì thế, khi xây dựng định mức hao hụt phải phân biệt theo loại hàng.

    – Căn cứ vào điều kiện và kỹ thuật bảo quản, vận chuyển hàng hoá.

    – Căn cứ vào trình độ kỹ thuật của cán bộ và nhân viên kho.

    Các phương pháp tính định mức hao hụt:

    Có 2 phương pháp tính định mức hao hụt: phương pháp thống kê – kinh nghiệm, và phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật.

    – Phương pháp thống kê – kinh nghiệm: là phương pháp tính định mức dựa trên tập hợp thống kê tỷ lệ hao hụt hàng hoá trong những thời gian đã qua, kết hợp với kinh nghiệm của người làm công tác định mức.

    Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, nhanh chóng, tốn ít chi phí và trong những điều kiện công tác kho thường xuyên biến động, phương pháp này tương đối hợp lý. Nhược điểm của phương pháp này là: không loại trừ được những nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    – Phương pháp tính toán kinh tế – kỹ thuật: là phương pháp tính định mức dựa trên cơ sở thiết lập các điều kiện kinh tế – kỹ thuật hợp lý trong bảo quản hàng hoá, loại trừ các nguyên nhân chủ quan gây nên hao hụt.

    Phương pháp này có ưu điểm là đảm bảo độ chính xác cao, loại trừ được các nguyên nhân chủ quan, đồng thời khuyến khích người làm công tác bảo quản tìm mọi cách để giảm hao hụt. Nhược điểm chủ yếu của phương pháp này là thời gian khảo sát lâu, chi phí tốn kém, và trong trường hợp điều kiện bảo quản không ổn định, con số định mức có độ tin cậy không cao.

    Định mức hao hụt phải là con số trung bình tiên tiến mới có tác dụng quản trị hao hụt.

    • Xét duyệt, ban hành và tổ chức thực hiện định mức

    Sau khi xây dựng định mức, các cấp có thẩm quyền phải tiến hành xét duyệt và ban hành định mức kịp thời, nếu không định mức có thể sau một thời gian sẽ trở nên lạc hậu.

    Tổ chức thực hiện định mức bao gồm những nội dung sau:

    – Phải tổ chức nghiên cứu và hướng dẫn việc thực hiện định mức một cách tỉ mỉ và cẩn thận cho mọi người.

    – Phải tạo mọi điều kiện bảo quản hàng hoá hợp lý, động viên mọi người bảo quản hàng hoá theo đúng các qui trình, qui phạm đã ban hành, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để giảm hao hụt hàng hoá đến mức thấp nhất.

    – Phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc thực hiện định mức. Để đánh giá việc thực hiện định mức, phải so sánh giữa mức hao hụt thực tế và mức hao hụt được phép tính theo định mức:

           
       
       
    Ht– Hao hụt thực tế trong một thời kỳ nhất định

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    Dk– Tồn kho cuối kỳ thực tế

     

    Ht = Dc – Dk ;

           
       
    Hđ– Hao hụt tính theo định mức

    M- Mức lưu chuyển hàng hoá trong kỳ báo cáo

    Dc– Tồn kho cuối kỳ theo sổ sách

    k- Tỷ lệ hao hụt định mức có tính đến thời gian bảo quản trung bình

       
     

    Hđ = (M + Dc).k

           
       
    ki– Tỷ kệ hao hụt định mức trong thời gian bảo quản i

    kn– tỷ lệ hao hụt định mức thời gian bảo quản cuối

    tn– Thời lượng bảo quản hàng hoá nằm trong thời gian bảo

    quản cuối

    Tn– Thời gian bảo quản cuối có tỷ lệ hao hụt kn

       
     

    Nếu Ht £ Hđ thì thực hiện tốt định mức và được khen thưởng;

    Nếu Ht > Hđ thì không thực hiện định mức và phải xác định nguyên nhân và xử lý kịp thời, xác định trách nhiệm vật chất về hàng hoá hao hụt vượt định mức.

    • Kiểm tra, theodõi việc thựchiện định mức, điều chỉnh định mức

    Để tăng cường tính khoa học, tính thực tiễn và tính hành chính của định mức ban hành, các cấp xây dựng xét duyệt, ban hành định mức và tổ chức thực hiện định mức phải kiểm tra, theo dõi việc thực hiện định mức.

    Nội dung của công tác này bao gồm:

    – Kiểm tra việc chấp hành các qui định về điều kiện và kỹ thuật bảo quản hàng hoá, qui trình, qui phạm công tác kho.

    -Kiểm tra việc thực hiện các chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong công tác tổ chức thực hiện định mức.

    – Trong quá trình kiểm tra, theo dõi, có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý của định mức trong thực tế và cần phải điều chỉnh. Định mức quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng xấu đến kết quả công tác kho.

    c-   Nghiệp vụ phát hàng ở kho

    c.1-           Vị trí và yêu cầu

    Phát hàng là công đoạn nghiệp vụ cuối cùng thể hiện chất lượng của toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho hàng hoá. Những mục tiêu cơ bản của nghiệp vụ kho đều được thực hiện ở công đoạn nghiệp vụ này. Nghiệp vụ phát hàng cấu thành nên quá trình nghiệp vụ vận chuyển, và đặc biệt là bộ phận cấu thành của quá trình logistics trực tiếp (logistics bán hàng ) trong doanh nghiệp thương mại bán buôn. Chính vì vậy, nghiệp vụ phát hàng phải thực hiện được những yêu cầu sau:

    – Xác định rõ trách nhiệm vật chất cụ thể giữa các bộ phận công tác kế hoạch, chuẩn bị và giao hàng;

    – Phải đảm bảo phát hàng kịp thời, nhanh chóng và chính xác cho khách hàng theo hợp đồng và lệnh xuất kho.

    – Phải đảm bảo giảm những chi phí cho toàn bộ quá trình phát hàng.

    Công đoạn nghiệp vụ phát hàng bao gồm 3 công tác chủ yếu: xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng; chuẩn bị phát hàng; và tiến hành giao hàng.

    c.2-           Nội dung nghiệp vụ phát hàng
    • Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng

    Xây dựng kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là quá trình dự tính các chỉ tiêu và các giải pháp nghiệp vụ kỹ thuật nhằm thực hiện tốt việc phát hàng đồng thời sử dụng tốt nhất lực lượng lao động và thiết bị kỹ thuật kho.

    Như vậy kế hoạch nghiệp vụ phát hàng dự tính nội dung, thời hạn hạn chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng theo đơn đặt hàng, thời gian cung cấp phương tiện vận tải và tiến hành vận chuyển hàng hoá; trong kế hoạch nghiệp vụ cũng dự tính lực lượng lao động cần thiết để thực hiện các thao tác nghiệp vụ. Kế hoạch nghiệp vụ đảm bảo phát hàng cho khách hàng một cách nhanh chóng, cân đối, chính xác, đồng thời sử dụng triệt để lao động kho và thiết bị.

    Yêu cầu đối với kế hoạch nghiệp vụ là: một mặt phải đảm bảo cung cấp hàng hoá cho khách hàng một cách cân đối, mặt khác, phải theo đúng hợp đồng, lệnh xuất kho.

    Căn cứ để lập kế hoạch nghiệp vụ phát hàng là: hợp đồng, đơn đặt hàng mua bán và vận chuyển hàng hoá, tình hình bán buôn hàng hoá từ kho.

    Nội dung của kế hoạch nghiệp vụ bao gồm:

    – Các chỉ tiêu nghiệp vụ: Số lượng, cơ cấu các lô hàng giao, thời hạn giao hàng cho các đối tượng khách hàng khác nhau; đặc trưng các lô hàng giao.

    – Các giải pháp nghiệp vụ: thời hạn và nội dung chuẩn bị và tổng hợp các lô hàng; phương án vận chuyển và bố trí lực lượng lao động thiết bị xếp dỡ và giao hàng

    • Chuẩn bị phát hàng

    Bao gồm chuẩn bị hàng hoá, chuẩn bị lao động và phương tiện, đặc biệt là chuẩn bị hàng hoá.

    Chuẩn bị hàng hoá là quá trình biến đổi hình thức hàng hoá và tổng hợp lô hàng theo địa chỉ khách hàng. Việc biến đổi hàng hoá là cần thiết, vì hàng hoá nhập kho là theo yêu cầu của kho và doanh nghiệp thương mại đã được ghi trong hợp đồng mua bán, còn hàng hoá giao từ kho là theo yêu cầu của khách hàng.

    Quá trình chuẩn bị hàng để phát bao gồm:

     
       

    Có 2 phương pháp tổng hợp các lô hàng: phương pháp phân tán và tập trung.

    – Phương pháp phân tán: Thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng phân tán theo từng đơn hàng. Phương pháp này thường áp dụng ở những kho hàng có qui mô nhỏ, lô hàng nhỏ, và tần số xuất nhập hàng hoá không cao.

    – Phương pháp tập trung: thực hiện toàn bộ quá trình chuẩn bị hàng một cách tập trung, chuyên môn hoá theo từng giai đoạn của quá trình, cho nhiều đơn đặt hàng cùng một lúc. Phương pháp này thường áp dụng trong những kho qui mô lớn, cường độ xuất nhập lớn, phải chuẩn bị hàng hoá để phát một cách tập trung để tăng năng suất, giảm chi phí.

    • Giao hàng

    Bao gồm các thao tác nghiệp vụ để chuyển giao hàng hoá cho các đối tượng nhận hàng. Có 2 hình thức giao hàng: giao hàng từ kho của doanh nghiệp thương mại, và giao hàng ở cơ sở logistics của khách hàng.

    Trường hợp giao hàng ở kho của doanh nghiệp gồm những thao tác sau: Kiểm tra chứng từ, hoá đơn thanh toán và lệnh xuất kho; kiểm tra người nhận hàng; kiểm tra hàng hoá và phương tiện vận tải; chất xếp hàng hoá lên phương tiện vận tải; làm chứng từ giao hàng; làm giấy phép vận chuyển.

    Để kiểm tra, theo dõi tình hình giao hàng và bán buôn hàng hoá từ kho, cũng như biến động của dự trữ, phải mở sổ theo dõi hàng xuất, đồng thời khi xuất các lô hàng, phải ghi chép cẩn thận vào thẻ kho để kiểm tra biến động của dự trữ hàng hoá nhằm bổ sung kịp thời.

    6.2-  Quản trị nghiệp vụ bao bì hàng hoá

    6.2.1-    Chức năng và yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    a-   Khái niệm và chức năng của bao bì

    Bao bì là phương tiện đi theo hàng để bảo quản, bảo vệ, vận chuyển và giới thiệu hàng hoá từ khi sản xuất đến khi tiêu thụ hàng hoá.

    Như vậy, bao bì hàng hoá cần thiết là do những yếu tố khách quan sau:

    – Do tính chất của hàng hoá.

    Hàng hoá trong quá trình vận động trong hệ thống phân phối, do những tính chất tự nhiên, dươí ảnh hưởng của môi trường bên ngoài có thể làm suy giảm chất lượng và hao hụt số lượng. Để thường xuyên ngăn cản những tác động này, cần phải có phương tiện thường xuyên gắn liền với hàng hoá, đó là bao bì.

    – Do phải đảm bảo thuận tiện cho quá trình vận động của hàng hoá.

    Bao bì có vai trò là những đơn vị hàng hoá lớn đảm bảo thuận tiện cho viẹc giao nhận về mặt số lượng, thuận tiện cho xếp dỡ hàng hoá trong vận chuyển và trong dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Do yêu cầu đảm bảo thuận tiện cho bán hàng.

    Bán hàng cũng có nghĩa chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa các bên, đòi hỏi phải xác định nhanh số lượng, do đó, bao bì có vai trò là đơn vị lớn định lượng hàng hoá. Ngoài ra trong bán lẻ, bao bì chứa đựng lượng hàng hoá phù hợp với yêu cầu mua và tiêu dùng hàng hoá của khách hàng; đồng thời, bao bì còn giúp áp dụng các phương pháp bán hàng, như phương pháp bán hàng tự phục vụ.

    Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng, bao bì hàng hoá có những chức năng sau:

    – Chức năng hậu cần: Bao bì gắn liền với toàn bộ quá trình hậu cần trong hệ thống kênh phân phối và trong hệ thống hậu cần doanh nghiệp. Bao bì hỗ trợ cho quá trình mua, bán, vận chuyển và dự trữ, bảo quản hàng hoá.

    – Chức năng marketing: Bao bì thúc đẩy quá trình bán hàng, đảm bảo truyền tin marketing cho khách hàng về hàng hoá và về doanh nghiệp.

    b-   Yêu cầu đối với bao bì hàng hoá

    Để thực hiện những chức năng của mình, bao bì hàng hoá phải đảm bảo những yêu cầu sau:

    • Phải đảm bảo giữ gìn hàng hoá

    Đây là yêu cầu cơ bản đối với bao bì, đặc biệt đối với bao bì ngoài (bao bì công nghiệp). Chính vì vậy, bao bì phải phù hợp với đặc điểm và tính chất của hàng hoá, của những điều kiện trong quá trình vận động hàng hoá (vận chuyển và dự trữ, bảo quản).

    • Phải đúng qui cách và hạ giá cước vận chuyển

    Bao bì phải đúng với những qui định của các văn bản pháp lý: tiêu chuẩn, hợp đồng. Khối lượng bao bì phải nhỏ, kích thước phải phù hợp với kích thước phương tiện vận tải, và phải đảm bảo thuận tiện cho việc xếp dỡ hàng hoá.

    • thuận tiện cho mua bán, đẹp, và đảm bảo truyền tin marketing

    Bao bì, đặc biệt là bao bì trong (bao bì tiêu dùng) phải thực hiện đầy đủ chức năng marketing. Do đó, khi thiết kế và chọn bao bì, cần phải nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng về bao bì, bao gói: nhu cầu cung cấp thông tin, nhu cầu sử dụng hàng hoá và bao bì, nhu cầu thẩm mỹ.

    • Giá thành sản xuất bao bì phải giảm

    Giá thành sản xuất giảm, tạo điều kiện để giảm giá hàng hoá bán ra. Muốn vậy, cần cải tiến công nghệ sản xuất và sử dụng bao bì: vật liệu chế tạo, phương pháp công nghệ, thiết bị sản xuất, vv .

    6.2.2-    Những căn cứ thiết kế và lựa chọn bao bì

    Khi thiết kế để sản xuất và lựa chọn bao bì để đưa vào sử dụng trong hệ thống kênh hậu cần, phải căn cứ vào những yếu tố sau:

    a-   Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của hàng hoá

    Căn cứ vào yếu tố này để thiết kế hoặc lựa chọn bao bì với vật liệu, hình dáng, kích thước thích hợp, đáp ứng những yêu cầu đối với bao bì.

    b-   Căn cứ vào những điều kiện của vận chuyển hàng hoá

    Những điều kiện của vận chuyển hàng hoá bao gồm: Khoảng cách, con đường, phương tiện vận chuyển, điều kiện thiết bị xếp dỡ hàng hoá. Những điều kiện này nhằm thiết kế và chọn bao bì về vật liệu, kích thước, trọng tải,… nhằm đảm bảo an toàn cho hàng hoá trong vận chuyển, mặt khác tiết kiệm chi phí và hao hụt.

    c-   Căn cứ vào những điều kiện của dự trữ và bảo quản hàng hoá

    Những điều kiện đó là: tình trạng kiến trúc xây dựng kho, thiết bị và phương pháp công nghệ kho.

    d-   Căn cứ vào phương pháp bán hàng

    Các phương pháp bán hàng khác nhau đòi hỏi bao bì, bao gói thích hợp (bao bì trong), thuận tiện cho quá trình bán hàng và mua hàng của khách hàng. Bao bì dùng trong phương pháp bán hàng tự phục vụ cần phải thiết kế thích hợp với quá trình mua hàng của khách hàng.

    e-   Căn cứ vào nhu cầu sử dụng bao bì của khách hàng

    Những yêu cầu về truyền tin marketing của khách hàng, thói quen và tập quán tiêu dùng bao bì.

    f-     Căn cứ vào những điều kiện có tính pháp lý

    Các văn bản tiêu chuẩn hóa về bao bì, hợp đồng mua bán hàng hoá.

    g-   Căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp

    Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định việc sử dụng bao bì với vật liệu chế tạo đắt hay rẻ.

    6.2.3-    Phân loại và tiêu chuẩn hoá bao bì

    a-   Phân loại bao bì

    Bao gồm các tiêu thức phân loại sau:

    • Theo tác dụng của bao bì

    Thực ra là theo chức năng của bao bì, bao gồm 2 loại: Bao bì ngoài (bao bì công nghiệp, bao bì vận tải, bao bì bán buôn). Chức năng của loại bao bì này hậu cần, bao gồm mâm tải, thùng tải và các loại bao kiện; và bao bì trong (bao bì tiêu dùng, bao bì bán lẻ) với chức năng chủ yếu là marketing, bao gồm các loại bao gói trực tiếp với hàng hoá.

    • Theo số lần sử dụng

    Bao gồm các loại:

    – Bao bì dùng một lần: chỉ sử dụng cho một lần để bao gói hàng hoá, chủ yếu là bao bì tiêu dùng.

    – Bao bì dùng lại: có thể sử dụng lại. Tùy thuộc vào điều kiện của quá trình phân phối mà số lần sử dụng từ 2 trở lên, bao gồm chủ yếu là các loại bao kiện và một số bao bì trong (chai lọ,…)

    – Bao bì dùng nhiều lần: số lần và thời gian sử dụng đã định trước; là tài sản của bên giao hàng, thường là các loại mâm tải (pallet) và thùng tải (container).

    • Theo độ cứng

    Bao gồm bao bì cứng, mềm, và nửa mềm.

    • Bao bì cứng: chịu được các tác động cơ học cao trong quá trình vận động, bao gồm các loại thùng kiện hàng (bao bì vận tải).
    • Bao bì nửa cứng: chịu được tác động hạn chế của lực bên ngoài trong quá trình vận động, thường là các loại bao bì bằng bìa, các tông.
    • Bao bì mềm: dễ biến đổi hình dạng khi sử dụng như các loại bao tải, túi chất dẻo,…
    • Theo kết cấu

    Bao gồm bao bì nguyên dạng, bao bì tháo lắp, bao bì gấp xếp, và bao bì thiết bị. Bao bì tháo lắp và gấp xếp có tác dụng trong việc vận chuyển không có hàng, tận dụng công suất của phương tiện vận tải.

    • Theo nguyên liệu chế tạo

    Bao gồm bao bì: gỗ, kim loại, gốm và thủy tinh, các tông và giấy, nhựa và chất dẻo, cao su, bao bì bằng vải,… Mỗi loại có yêu cầu riêng về tiêu chuẩn vật liệu.

    b-   Tiêu chuẩn hóa bao bì

    Tiêu chuẩn hóa bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng các tiêu chuẩn về bao bì trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hoá.

    Tiêu chuẩn hóa bao bì cũng như các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa khác, có ý nghĩa rất to lớn trong nền kinh tế quốc dân. Tiêu chuẩn hóa đảm bảo sản xuất và sử dụng bao bì tiết kiệm và hiệu quả.

    Các cấp tiêu chuẩn bao bì: tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Nhà nước, và tiêu chuẩn quốc tế. Cấp tiêu chuẩn càng thấp thì càng có nhiều tiêu chuẩn, và tiêu chuẩn càng chi tiết. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cấp thấp hơn phải đảm bảo thống nhất với cấp tiêu chuẩn cấp cao hơn.

    Các loại tiêu chuẩn bao bì gồm: vật liệu chế tạo, độ bền, kích thước, hình dạng, kết cấu, cách ghi nhãn hiệu hàng hoá và các dấu hiệu, màu sắc,…

    Trong các loại tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn kích thước được đặc biệt chú ý vì nó liên quan đến việc sử dụng phương tiện vận tải, xếp dỡ hàng hoá, phương pháp bảo quản hàng hoá trong các kho,…. Tiêu chuẩn hóa về kích thước bao bì phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải được gọi là thống nhất hóa kích thước bao bì.

    Thống nhất hóa kích thước bao bì là quá trình xây dựng và thống nhất áp dụng tiêu chuẩn hệ thống kích thước bao bì phù hợp với nhau và phù hợp với kích thước của phương tiện vận tải và các phương tiện bảo quản và xếp dỡ hàng hoá dựa trên Môdun (Module) đơn vị.

    Module đơn vị là kích thước của thùng tải (Container) tiêu chuẩn và mâm tải (Pallet) tiêu chuẩn (1200 m.m ´ 800 m.m). Kích thước Module này là tiêu chuẩn để xác định kích thước của các loại bao bì bên trong, thùng chứa hàng của phương tiện vận tải, cơ cấu phương tiện xếp dỡ, diện tích nhà kho, …

    Bao bì trong thống nhất kích thước về chiều dài và chiều rộng, chiều sâu được xác định theo công thức sau:

    A: Kích thước bên trong bao bì thống nhất

    M: Kích thước Module đơn vị [thùng tải hoặc mâm tải đơn vị (800 ´ 1200)]

    N: Số nguyên (ước số của chiều dài, chiều rộng, hoặc chiều sâu)

    K: Hệ số, tính khe hở giữa các bao kiện chứa trong Module đơn vị, thường là 0,95.

    c-   Mâm tải hóa và hòm tải hóa trong tổ chức vận động hàng hóa

    Để cơ giới hóa toàn bộ quá trình vận động hàng hóa, bao gồm vận chuyển, xếp dỡ, bảo quản hàng hóa trong các cơ sở hậu cần, ngoài việc phải có các phương tiện cơ giới hóa, như phương tiện vận tải, nhà kho, phương tiện xếp dỡ, còn cần phải có các phương tiện bao bì, bao gói cơ giới hóa. Những phương tiện bao bì, bao gói thuận tiện cho cơ giới hóa thống nhất toàn bộ quá trình vận động hàng hóa là hệ thống thùng tải và mâm tải.

    Như vậy, mâm tải và thùng tải có ý nghĩa to lớn trong hệ thống hậu cần. Nhờ áp dụng mâm tải và thùng tải mà đảm bảo thống nhất áp dụng cơ giới hóa trong kênh hậu cần, nâng cao trình độ dịch vụ và giảm chi phí trong phân phối và vận động hàng hóa và kinh doanh thương mại.

    Tất nhiên, để áp dụng có hiệu quả mâm tải và thùng tải, các yếu tố của quá trình vận động phải được cơ giới hóa đồng bộ: phương tiện vận tải, phương tiện xếp dỡ, thiết bị và các công trình cơ sở hậu cần.

    c.1-           Mâm tải hóa

    Mâm tải hóa là quá trình sử dụng bao bì bao gói kiêm thiết bị vận chuyển được thống nhất kích cỡ theo các tiêu chuẩn qui định trong phân phối và vận động hàng hóa.

    Mâm tải có cấu tạo thường bằng các thanh gỗ độ bền cao ghép định hình với nhau thành các bản gỗ theo kết cấu qui định. Kích thước của mâm tải thường là 1200 ´ 1600 (m.m), 1200 ´ 800 (m.m). Kích thước này tùy thuộc vào các loại phương tiện vận tải:

    • Vận tải đường biển: Mâm tải có kích thước 1600 ´ 1200 ´ 180 (m.m); trọng lượng cả bì là 1,5 T, tạong lượng của riêng mâm tải là 70 – 80 kg.
    • Vận tải đường sắt: Kích thước mâm tải là 1200 ´ 800 ´ 150 (m.m). trọng lượng của riêng mâm tải 23-25 kg được coi là hợp lý nhất.

    Theo tiêu chuẩn ISO thì kích thước mâm tải quốc tế 1200 ´ 1600, 1200 ´ 1800; tải trọng tối đa là 2T.

    Hàng hóa được ghép thành kiện chặt chẽ trên mâm tải, sau đó được cần cẩu xếp vào các khoang tàu hoặc toa xe lửa để vận chuyển. Do đặc điểm chỉ có một mặt để xếp hàng hóa nên việc ghép kiện hàng trên mâm tải và gia cố để kiện hàng ổn định, chắc chắn là đặc biệt quan trọng.

    Khi xếp hàng lên mâm tải, cần sử dụng hết trọng tải của mâm tải, giảm đến mức thấp nhất khoảng trống giữa các bao hàng. Cự ly nhô ra của kiện hàng hóa ngoài mâm tải không quá 150 m.m. chiều cao tối đa của kiện hàng đã ghép là 1,6 m.

    Phương pháp ghép kiện trên mâm tải khác nhau tùy thuộc vào kích thước và hình dạng của bao hàng, tính chất hàng hóa, và loại phương tiện vận tải cungf các nghiệp vụ xếp dỡ.

    Khi ghép mâm tải, vấn đề đặt ra là phải tính toán số bao hàng và lớp hàng tối ưu, có nghĩa có hệ số sử dụng trọng tải tối đa nhưng kích thước không vượt quá dung sai qui định (50 m.m). Ta có:

    ;                   Suy ra:

    Qn = N.qm + qn             hay:

    ;                     ;

    đây:

    Np: Số bao xếp trên một lớp của mâm tải

    L: Số lớp bao xếp trên mâm tải

    N: Tổng số bao xếp trên mâm tải

    qm: Khối lượng cả bao của một bao hàng (kg)

    qn: Khối lượng bản thân mâm tải (kg)

    Qn: Khối lượng của kiện hàng trên mâm tải (kg)

    Qn £ Qmax (Qmax: Tải trọng tối đa của mâm tải)

    Np là số bao xếp trên một lớp mâm tải. Ở đây kết hơp với phương pháp xếp, ta có thể xác định được diện tích bề mặt của một lớp. Nếu diện tích chất xếp vượt quá diện tích cho phép, ta phải điều chỉnh phương pháp xếp hoặc giảm Qn để đạt được mục đích.

    Trong những năm gần đây, trong ngành vận tải biển đã xuất hiện loại mâm tải lớn có kích thước 6,1 ´ 2,44 (m) và 12,2 ´ 2,4 (m).

    Các mâm tải sau khi dỡ hàng được chuyển trả về cới cung ứng theo hành trình ngược.

    c.2-           Thùng tải hóa

    Cùng với quá trình mâm tải hóa là quá trình thùng tải hóa (Conteiner). Thùng tải là loại bao gói quay vòng nhiều lần, thuộc loại bao bì vận chuyển có kích thước lớn nhất hiện nay.

    Đây là loại bao bì kiêm thiết bị vận chuyển có những đặc trưng xác định, bền chắc, sử dụng nhiều lần, có kết cấu chuyên dụng bảo đảm vận chuyển bằng hoặc nhiều loại phương tiện vận tải mà không phải đóng gói lại, chuyển tải nhanh từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác có dung tích từ 1m3 trở lên.

    Vận chuyển bằng thùng tải đem lại hiệu quả cao:

    – Hàng vận chuyển trong thùng tải có thể giảm chi phí lao động từ 8-10 lần. Thời gian xếp dỡ khi sử dụng thùng tải giảm từ 5-7 lần, trên mâm tải gảim từ 3-4 lần so với xếp dỡ từng bao kiện riêng lẻ;

    – Vận chuyển trong thùng tải cho phép bảo quản tốt chất lượng, số lượng hàng hóa. Hàng hóa vận chuyển trong thùng tải hoặc một số hàng vận chuyển trên mâm tải có thể bảo quản ngoài kho. Giao nhận bằng thùng tải hoặc mâm tải theo đơn vị thùng tải và mâm tải, do đó gảim thời gian giao nhận. Cùng khối lượng hàng hóa như nhau, nhưng nếu sử dụng thùng tải sẽ tiết kiệm vật liệu sản xuất hơn rất nhiều nếu chỉ chứa đựng trong bao bì thông thường.

    Thùng tải có nhiều loại: loại cố định, loại không cố định, loại cứng, loại mềm, loại bằng gỗ khung kim loại, loại bằng kim loại, chất dẻo,…Có thể phân loại thùng tải  chuyên dùng và thùng tải dùng chung. Loại dùng chung được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Theo tiêu chuẩn ISO, thùng tải có kích thước như sau:

    R: 2,44m ´ C: 2,59m ´ D: 3,05m

    R: 6,10m ´ C: 9,15m ´ D: 12,2m

    Dung tích thùng tải khoảng 9 – 60 m3, trọng tải 5 – 30T, hệ số bao bì khoảng 0,25 – 0,35.

    Hệ số chất xếp hàng hóa vào thùng tải ít nhất là 80% mới được coi là xếp đầy hàng. Kết cấu thùng tải có thêm những phụ kiện cần thiết để tiện cho xếp dỡ hàng hóa.

    Vận chuyển trong thùng tải tuy có nhiều ưu điểm, nhưng cũng có những hạn chế nhất định do vốn đầu tư lớn, tải trọng của thùng tải lớn làm tăng hệ số bao bì, và trong nhiều trường hợp, phải tốn kém nhiều chi phí vận chuyển thùng tải hoàn trả.

    Thùng tải được áp dụng nhiều nhất trong vận chuyển quốc tế.

    6.2.4-    Quá trình trình luân chuyển bao bì

    a-   Tiếp nhận bao bì

    Là hệ thống các mặt công tác nhằm kiểm tra và đánh giá tình trạng số lượng và chất lượng bao bì thực nhập cùng với hàng hoá.

    Yêu cầu của tiếp nhận bao bì: xác định trách nhiệm vật chất của các bên trong việc chuyển giao bao bì căn cứ vào các văn bản pháp lý.

    Trong trường hợp sử dụng bao bì để đóng gói hàng hoá, thì việc tiếp nhận bao bì được tiến hành riêng như tiếp nhận một loại hàng hoá, còn trong trường hợp bao bì gắn liền với hàng hoá thì việc tiếp nhận bao bì nằm trong nội dung tiếp nhận hàng hoá ở kho hay cửa hàng.

    Tiếp nhận bao bì cũng bao gồm: tiếp nhận số lượng và tiếp nhận chất lượng. Căn cứ để tiếp nhận là các văn bản pháp qui về bao bì (tiêu chuẩn hóa về bao bì, qui định về tiếp nhận hàng hoá, bao bì,…), vào các cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng.

    Trong trường hợp bao bì không đảm bảo số lượng và chất lượng, phải lập biên bản nhằm qui trách nhiệm vật chất rõ ràng.

    b-   Mở và bảo quản bao bì

    Bao gồm các mặt công tác để tháo dỡ hàng hoá ra khỏi bao bì và giữ gìn số lượng và chất lượng bao bì trong quá trình mở và bảo quản bao bì.

    Yêu cầu: đảm bảo giữ gìn tốt bao bì trong quá trình tháo dỡ hàng hoá và bảo quản, tận dụng diện tích và thể tích khu vực bảo quản.

    Nguyên tắc của mở bao bì: theo đúng qui trình, đúng kỹ thuật và dụng cụ. Do đó đối với mỗi loại bao bì cần xây dựng qui trình, qui phạm mở bao bì thích hợp.

    Nội dung của bảo quản bao bì:

    • Vệ sinh và phân loại bao bì theo quyền sở hữu và mức độ chất lượng để thuận tiện cho việc xử lý bao bì và bảo quản bao bì;
    • Phân bố và chất xếp bao bì đảm bảo tận dụng diện tích và dung tích nơi bảo quản, thuận tiện cho việc chăm sóc, giữ gìn bao bì;
    • Đảm bảo các điều kiện giữ gìn tốt bao bì: tránh mưa nắng, chống các hiện tượng sử dụng bao bì không đúng mục đích.

    c-   Hoàn trả và tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng

    Bao gồm những mặt công tác nhằm hoàn trả bao bì sử dụng nhiều lần cho chủ sở hữu và tiêu thụ bao bì theo các hình thức xác định.

    Sử dụng lại bao bì và tận dụng vật liệu bao bì đã qua sử dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và đối với bản thân các doanh nghiệp:

    + Với nền kinh tế: Tiết kiệm nguồn tài nguyên, lao động và các chi phí để chế tạo bao bì.

    + Với các doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp sản xuất, giảm chi phí vật liệu và lao động sản xuất bao bì, tiết kiệm chi phí sản xuất bao bì và hàng hoá.

    + Với doanh nghiệp thương mại: Tăng thu nhập cho doanh nghiệp,

    Yêu cầu: Hoàn trả bao bì cho chủ sở hữu theo đúng chế độ và cam kết giữa các bên, tận thu và tiêu thụ những bao bì đã qua sử dụng với chi phí thấp nhất.

    + Hoàn trả: Những bao bì dùng nhiều lần, là tài sản của bên chủ hàng hoặc bên cho thuê mướn bao bì (container) phải tiến hành hoàn trả lại theo các cam kết pháp lý.

    + Tiêu thụ: Bán các loại bao bì hoặc vật liệu bao bì đã qua sử dụng cho các đơn vị sản xuất hàng hoá hoặc sản xuất bao bì để sử dụng lại hoặc dùng làm vật liệu chế tạo bao bì.

    Nội dung:

    • Xây dựng kế hoạch hoàn trả và tiêu thụ bao bì: xác định số lượng, thời gian và thời hạn hoàn trả cho chủ sở hữu; xác định khách hàng và nhu cầu tiêu thụ bao bì đã qua sử dụng, nhận đơn đặt hàng hoặc ký hợp đồng tiêu thụ bao bì.
    • Chuẩn bị bao bì hoàn trả và cung ứng: thu thập bao bì từ các cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp và từ trong dân chúng; phân loại, vệ sinh, đóng gói bao bì gọn gàng nhằm tận dụng dung tích phương tiện vận tải.
    • Giao bao bì cho các đối tượng nhận: vận chuyển, giao nhận bao bì. Cần chú ý chất xếp để tận dụng trọng tải và dung tích của phương tiện vận tải, xây dựng hành trình giao bao bì hợp lý nhằm giảm cự ly vận chuyển bình quân, tăng tốc độ giao bao bì, giảm chi phí.

    6.2.5-    Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    a-   Những nguyên nhân tạo nên chi phí bao bì

    Đối với các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại bán buôn, phải sử dụng bao bì cho nhiều hoạt động hậu cần: bao gói và bao gói lại hàng hoá, đóng kiện hàng hoá trong các bao bì vận tải thuận tiện cho vận chuyển,…Còn đối với các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, phải sử dụng bao bì để bao gói lẻ hàng hoá, đặc biệt đối với các siêu thị bán hàng theo phương pháp tự phục vụ. Vì vậy, quản trị nghiệp vụ bao bì một mặt nhằm thỏa mãn yêu cầu sử dụng bao bì của doanh nghiệp, mặt khác, tiết kiệm chi phí bao bì thực hiện tốt những nhiệm vụ của hậu cần ke thương mại. Cần phải nắm vững những nguyên nhân gây nên chi phí về bao bì để từ đó có những giải pháp hợp lý.

    Những nguyên nhân chi phí bao bì bao gồm:

    a.1-           Nguyên nhân khách quan
    • Do tính chất tự nhiên của bao bì: những tính chất lý, hóa, sinh hóa,… của bao bì trong mối quan hệ với các nhân tố của môi trường làm cho bao bì giảm độ bền, hư hỏng, như dưới tác động của môi trường, bao bì có thể bị mục nát (bao bì gỗ), lão hóa (bao bì chất dẻo), han rỉ (bao bì kim loại).
    • Do quá trình sử dụng bao bì: do chứa đựng hàng hoá, vận chuyển, xếp dỡ,…(sử dụng) nên tiêu hao giá trị sử dụng, và tất nhiên làm suy giảm số lượng và chất lượng bao bì.
    a.2-           Nguyên nhân chủ quan
    • Do nhận thức chưa đúng đắn về bao bì của cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại: coi bao bì không phải là tài sản của doanh nghiệp, không phải là nguồn thu nhập của doanh nghiệp; chưa nhận thức rằng, tiết kiệm bao bì có lợi ích rất lớn cho nền kinh tế quốc dân;
    • Do cán bộ và nhân viên không chấp hành đúng những qui định về công tác bao bì, chủ yếu là thực hiện quá trình nghiệp vụ bao bì: tiếp nhận, mở và bảo quản bao bì, hoàn trả bao bì.

    b-   Những biện pháp giảm chi phí bao bì

    b.1-          Biện pháp giảm chi phí do chủ quan
    • Giáo dục cho cán bộ và nhân viên trong các doanh nghiệp thương mại nhận thức ý nghĩa kinh tế quốc dân của bao bì, tầm quan trọng của bao bì trong việc tăng thu nhập của doanh nghiệp: coi bao bì đã qua sử dụng là mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Xây dựng các qui định, chế độ công tác về bao bì; chế độ khen thưởng và trách nhiệm vật chất trong việc không làm tốt những qui định về công tác bao bì.
    • Tổ chức bộ phận chuyên trách quản trị nghiệp vụ bao bì trong các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt trong các doanh nghiệp thương mại bán buôn.
    b.2-          Biện pháp giảm chi phí do khách quan

    – Hoàn thiện các điều kiện thực hiện nghiệp vụ bao bì, đặc biệt nghiệp vụ bảo quản và hoàn trả, tiêu thụ bao bì.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Bản chất kinh tế của Logistics

    Bản chất kinh tế của Logistics

    Bản chất kinh tế của Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN LOGISTICS VIỆT NAM KHÔNG NHANH CẢI TIẾN SẼ CHẬM ĐÀ PHÁT TRIỂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%E1%BA%A3n-ch%E1%BA%A5t-kinh-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bản chất kinh tế của Logistics

     

    Bản chất kinh tế của Logistics

    TS. LÊ PHÚC HÒA,
    TS. LÝ BÁCH CHẤN
    Trường Đại học GTVT-TP. HCM

    Logistics đã và đang được phát triển mạnh ở các nước có nền kinh tế phát triển. Những năm gần đây, dịch vụ logistics bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Đã có nhiều bài viết về logistics đăng trên các tạp chí, một số hội thảo về logistics được tổ chức, một vài công trình nghiên cứu thực hiện logistics được tiến hành tại Việt Nam. Nhằm giúp cho việc định hướng đúng trong hoạt động nghiên cứu và thực hiện logistics tại Việt Nam, xin giới thiệu những nét cơ bản về bản chất của logistics.

    Một trong những vấn đề quan trọng đối với nhà sản xuất là làm thế nào để bán hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng với giá thành thấp nhất nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Giá bán của hàng hóa đến tay người tiêu dùng phải đảm bảo tối thiểu bù đắp các chi phí:

    G ≥ C1 + C2 + C3 + C4 + C5 (1)

    Trong đó :

    C1: giá thành sản xuất ra hàng hóa. Đây là cơ sở cho việc xác định giá bán EXWORK

    C2: chi phí hoạt động marketing

    C3: chi phí vận tải

    C4: chi phí cơ hội vốn cho hàng tồn trữ

    C5: chi phí bảo quản hàng hóa.

    Chúng ta nhận thấy, C1 phụ thuộc vào công nghệ sản xuất. Vì vậy muốn hạ giá thành xuất xưởng của sản phẩm, người ta tập trung vào việc cải tiến công nghệ, bao gồm hợp lý hóa dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất của máy móc, thiết bị, lao động, sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, năng lượng… Đây là vấn đề quan trọng mà mọi nhà sản xuất phải tính đến.

    Chi phí cho hoạt động marketing C2 thường được nhà sản xuất ấn định ở mức độ nhất định nào đó và có thể kiểm soát dễ dàng.

    Chi phí vận tải C3 chiếm một tỷ trọng khá lớn – một phần ba cho đến hai phần ba chi phí lưu thông phân phối. Mặc dù ngành vận tải đã có những cố gắng giảm chi phí vận tải bằng những giải pháp công nghệ như vận tải hàng hóa bằng container, đóng mới các phương tiện, thiết bị có sức chở lớn, tổ chức vận tải đa phương thức,… nhưng chi phí vận tải vẫn không ngừng tăng lên do giá nhiên liệu ngày một leo thang. Điều này buộc các nhà sản xuất áp dụng nhiều biện pháp góp phần giảm chi phí vận tải. Một trong những giải pháp đó là tăng khả năng sử dụng các trang thiết bị, công cụ và phương tiện vận tải bằng cách thiết kế các sản phẩm, đóng gói bao bì hàng hóa nhằm tăng tỷ trọng chất xếp của hàng hóa (cargo density).

    Chi phí cơ hội vốn C4 là suất sinh lời tối thiểu mà công ty kiếm được khi vốn không đầu tư cho hàng tồn trữ mà cho một hoạt động khác. Để đơn giản, ta giả thiết rằng mức sinh lời tối thiểu của vốn là mức lãi suất phải trả khi vay vốn của một tổ chức tài chính, cho nên C4 được xác định như sau:

    C4 = (qikv)t [(1+r)t-1] (2)

    Trong đó:

    – qi: số lượng sản phẩm cho một lần gửi hàng đi

    – kv: định mức vốn cho một đơn vị sản phẩm. Mức vốn này phụ thuộc vào công nghệ sản xuất

    – t = 1 ÷ m: số đơn vị thời gian chịu lãi suất hàng năm của hàng tồn trữ (tháng hoặc năm)

    – r: mức lãi suất phải trả cho vốn vay.

    Qua công thức (2) ta thấy C4 phụ thuộc vào thị trường vốn (r), công nghệ sản xuất (kv), và khối lượng vật tư, sản phẩm tồn trữ. Nếu r cố định và kv cố định thì C4 tỷ lệ thuận với qi, tức là khi qi nhỏ bao nhiêu lần thì C4 nhỏ bấy nhiêu lần và ngược lại.

    Trước đây, khi thị trường tiêu thụ còn bị hạn chế, số lượng sản phẩm sản xuất còn ít, mức lãi vay còn thấp, nên các nhà sản xuất ít quan tâm đến chi phi này. Ngày nay, khi thị trường tiêu thụ được mở rộng, số lượng sản phẩm nhiều lên, mức lãi suất vay cao thì chi phí này chiếm một phần đáng kể trong tổng chí phí liên quan đến hàng tồn trữ. Điều này buộc các nhà sản xuất phải có giải pháp thích hợp để giảm chi phí này. Và giải pháp đó chính là giảm khối lượng cho một lượt sản xuất và giao hàng (qi) xuống.

    Chi phí bảo quản hàng hóa C5 bao gồm chi phí thuê kho bãi, bảo quản hàng hóa, đưa hàng hóa ra vào kho, hàng bị hư hỏng, bảo hiểm cho hàng hóa.

    C5 = qi.Tbq.glk + qi.k.g + Cbh (3)

    Trong đó:

    – Tbq: thời gian bảo quản trong kho của lô hàng qi

    – glk: chi phí trung bình cho một đơn vị hàng hóa lưu kho một ngày

    – k: tỷ lệ tổn thất, hư hỏng hàng lưu kho

    – g: giá trị của đơn vị hàng lưu kho

    – Cbh: chi phí bảo hiểm cho lô hàng lưu kho

    Theo công thức (3) ta thấy chi phí C5 có quan hệ với qi; nếu qi nhỏ, thời gian tồn trữ t nhỏ, dẫn đến chi phí này nhỏ, và ngược lại.

    Qua đây, chúng ta thấy để giảm giá thành hàng hóa cần phải tổ chức tốt và kiểm soát chặt chẽ chi phí vận tải cũng như những chi phí liên quan đến lượng hàng tồn trữ (chi phí cơ hội vốn của hàng tồn trữ và chi phí bảo quản). Đây là những thành phần cơ bản của logistics. Vậy ta có:

    Clog = C3 + C4 + C5 (4)

    Và công thức (1) có thể viết lại như sau:

    G = C1 + C2 + Clog (5)

    Chúng ta thấy rằng, khi giảm qi thì n số lần lưu thông sẽ tăng lên vì khối lượng lưu thông Q trong một khoảng thời gian T nào đó được tính:

    Q = Σ qi (6)

    Như vậy, thay vì lưu thông một lần với khối lượng Q, ta giao hàng làm n lần. Ta có tổng chi phí logistics khi lưu thông khối lượng hàng Q trong thời gian T như sau:

    Σ Cilog = Σ C3 + Σ C4+ Σ C5 (7)

    Như phân tích ở trên, bằng cách tăng n ta giảm được qi thì vẫn có Σ C4 +Σ C5 thấp hơn, nhưng lại phát sinh các vấn đề sau:

    – Thời gian giao hàng ngắn hơn nên đòi hòi hỏi công tác tổ chức vận tải sao cho đảm bảo, tức là dịch vụ vận tải đa phương thức phải nâng cao. Như vậy có nghĩa là chi phí vận tải sẽ tăng lên.

    – Vì giao hàng nhiều đợt nên vấn đề kiểm soát hàng hóa, vật tư trong lưu thông phải chặt chẽ hơn, đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin nhanh nhóng, chính xác. Chính vì vậy mà bất kỳ một hệ thống logistics nào cũng phải có một hệ thống thông tin song hành để kiểm soát kịp thời dòng dịch chuyển của hàng hóa.

    Qua những phân tích ở trên, chúng ta thấy mấu chốt ở đây là khối lượng hàng cung ứng qi cần phải là bao nhiêu để làm giảm Clog = C3 + C4 + C5. Đây chính là quan điểm xương sống của logistics hay chính là bản chất của logistics.

    Thành công của nền kinh tế Nhật Bản xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không kể đến một nguyên nhân quan trọng đó là quan điểm của Nhật Bản về vấn đề tồn trữ. Theo các nhà kinh tế cũng như các nhà kinh doanh Nhật Bản thì “không có dự trữ là tốt nhất” (no stock is the best). Quan niệm này được hiểu theo hai nghĩa: không có dự trữ là tốt nhất và không vốn là tốt nhất. Hai nghĩa trên có chung một bản chất kinh tế vì tiền vốn dưới dạng hiện vật chính là vật tư, sản phẩm. Quan điểm này của Nhật Bản được sự ủng hộ mạnh mẽ và ngày càng được các nước châu Âu và Mỹ chấp nhận.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • GIAO NHẬN VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

    GIAO NHẬN VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

    GIAO NHẬN VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đường biển bằng container của Công ty TNHH dịch vụ giao nhận vận chuyển thương mại Siêu Ký


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/GIAO-NH%E1%BA%ACN-V%E1%BA%ACN-T%E1%BA%A2I-V%C3%80-B%E1%BA%A2O-HI%E1%BB%82M-H%C3%80NG-HO%C3%81-XU%E1%BA%A4T-NH%E1%BA%ACP-KH%E1%BA%A8U.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIAO NHẬN VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

    GIAO NHẬN VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

    Chương I: GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

    I. Khái quát chung về vận tải đường biển

      1. Ðặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải đường biển
      2. Tác dụng của vận tải đường biển đối với buôn bán quốc tế
      3. Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển

    II. Các phương thức thuê tàu chuyên chở hàng hoá

      1. Phương thức thuê tàu chợ
      2. Phương thức thuê tàu chuyến

    III. Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển

      1. Khái quát chung về giao nhận
      2. Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại cảng

    IV. Các loại chứng từ có liên quan đến giao nhận vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển

      1. Chứng từ sử dụng với hàng xuất khẩu
      2. Chứng từ sử dụng với hàng nhập khẩu

    Chương II: GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ BẰNG CONTAINER

    I. Container

      1. Khái niệm
      2. Tiêu chuẩn hoá container
      3. Phân loại

    II. Nghiệp vụ chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng container

      1. Kỹ thuật đóng hàng vào container
      2. Phương pháp gửi hàng bằng container
      3. Chứng từ vận chuyển hàng hoá bằng container
      4. Trách nhiệm của người chuyên chở container đối với hàng hoá
      5.Cước phí trong chuyên chở hàng hoá bằng container

    Chương III: GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ BẰNG VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC

    I. Khái quát về vận tải đa phương thức

      1. Khái niệm
      2. Ðặc điểm vận tải đa phương thức quốc tế
      3. Các hình thức vận tải đa phương thức trên thế giới

    II. Cơ sở vật chất kỹ thuật trong vận tải đa phương thức quốc tế

      1. Các phương thức vận tải trong vận tải đa phương thức
      2. Các đầu mối chyển tiếp và thông tin trong vận tải đa phương thức
      3. Thủ tục hải quan trong vận tải đa phương thức

    III. Tổ chức chuyên chở hàng hoá bằng vận tải đa phương thức quốc tế

      1. Nguồn luật điều chỉnh vận tải đa phương thức
      2. Người kinh doanh vận tải đa phương thức
      3. Chứng từ vận tải đa phương thức
      4. Trách nhiệm của MTO đối với hàng hoá

    Chương IV: GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG

    I. Khái quát về vận tải hàng không

      1. Khái niệm và đặc điểm vận tải hàng không
      2. Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải hàng không

    II. Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không

      1. Cơ sở pháp lý của vận tải hàng không
      2. Vận đơn hàng không
      3. Khiếu nại và kiện tụng người chuyên chở hàng không
      4. Cước hàng không

    III. Giao nhận hàng hoá bằng đường hàng không

      1. Giao hàng xuất khẩu
      2. Nhận hàng nhập khẩu

    Chương V: BẢO HIỂM HÀNG HOÁ CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

    I. Những vấn đề cơ bản trong bảo hiểm

      1. Bảo hiểm
      2. Người bảo hiểm
      3. Người được bảo hiểm
      4. Ðối tượng bảo hiểm
      5. Giá trị bảo hiểm
      6. Số tiển bảo hiểm
      7. Phí bảo hiểm
      8. Tỷ lệ phí bảo hiểm
      9. Rủi ro
      10. Tổn thất

    II. Bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường biển

      1. Sự cần thiết phải bảo hiểm
      2. Rủi ro trong bảo hiểm hàng hải
      3. Tổn thất trong bảo hiểm hàng hải
      4. Các điều kiện bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường biển trên thị trường bảo hiểm

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Thuật ngữ giao nhận vận tải

    Thuật ngữ giao nhận vận tải

    Thuật ngữ giao nhận vận tải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Áp dụng thương mại điện tử trong giao nhận hàng hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Thu%E1%BA%ADt-ng%E1%BB%AF-giao-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BA%ADn-t%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thuật ngữ giao nhận vận tải

       

    Thuật ngữ giao nhận vận tải

     

    A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z

     

    A   (Back to top)

     
      Abatement Sự giảm giá (Hàng hóa, cước phí,…)
      Sự giảm giá(Hàng hóa,  
      cước phí,…)  
      Accept except Thuật ngữ được người thuê tàu hoặc đại lý thuê tàu sử dụng trong giao dịch
      Chấp nhận nhưng loại để chỉ mình chấp nhận một số điều khoản hoặc chi tiết nào đó nhưng không
      trừ chấp nhận các phần khác bị loại trừ sẽ được gạt bỏ hoặc sửa đổi theo yêu cầu.
      Accomplished bill of Vận đơn gốc đã được trao cho người chuyên chở (Surrendered) tại cảng dở và
      lading hàng đã được nhận xong.
      Vận đơn đã nhận hàng  
      Abandonment Là việc từ chối thực hiện một hành động. (abandonment of action). Thí dụ:
      Sự khước từ: Khước từ việc thưa kiện, truy cứu, chuyến hành trình, việc giao nhận hàng vì
        những lý do nào đó. 2. Sự từ bỏ: Là việc từ bỏ một tài sản được bảo hiểm
        (Abandonment of insured property) trong trường hợp tài sản bị tổn thất coi
        như toàn bộ ước tính (constructive total loss). Chủ tài sản phải làm văn bản
        từ bỏ tài sản và thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản ấy cho người
        (công ty) bảo hiểm, để được người này xem xét từ chối hoặc chấp nhận bồi
        thường toàn bộ lô hàng. Ví dụ: Tàu bị đắm ở biển sâu, trục vớt khó khăn và
        tốn kém nên chủ tàu tuyên bố từ bỏ tàu, chuyển quyền sở hữu con tàu cho
        người (công ty) bảo hiểm xem xét từ chối hoặc chấp nhận bồi thường theo giá
        trị bảo hiểm của tàu. Nếu người bảo hiểm từ chối bồi thường tổn thất toàn bộ
        với lý do chính đáng, thì họ sẽ bồi thường tổn thất bộ phận (Partial loss).
      Aboard 1. Trên, lên (Tàu, xe lửa, máy bay) – Xà lan chở trên tàu (Lighters aboard
      1. Trên, lên (Tàu, xe ship) – Xếp hàng lên tàu (To get aboard) 2. Với Giới từ dùng trong thuật ngữ:
      lửa, máy bay) Va đụng với một tàu khác (to fall aboard of a ship). A.B.S Chữ viết tắt của:
        American Bureau of Shipping. (Xem: American Bureau of shipping)
      Accomplished bill of Vận đơn gốc đã được trao cho người chuyên chở (Surrendered) tại cảng dỡ và
      lading hàng đã được nhận xong.
      Vận đơn đã nhận hàng  
      Act of war Bao gồm chiến tranh giữa các quốc gia, nội chiến, khởi nghĩa, nổi loạn, hành
      Hành động chiến tranh động thù địch như tiêu diệt, phá hoại, bắt giữ, tịch thu và các hành động
        chiến tranh khác tương tự… Trong nghiệp vụ bảo hiểm, rủi ro tổn thất do
        hành động chiến tranh được bảo hiểm theo điều kiện đặc biệt, có giới hạn,
        theo điều khoản bảo hiểm chiến tranh (war risk insurance clause)
      Actual carrier or Thuật ngữ được dùng trong nghiệp vụ gom hàng vận chuyển (Consolidation)
      effective carrier để chỉ người chuyên chở có tàu đảm trách việc chở hàng thực sự, khác với
      Người chuyên chở đích người chuyên chở danh nghĩa theo hợp đồng vận tải nhưng không có tàu
      thực (NVOCC) đứng ra ký kết hợp đồng vận tải, sau đó lại phải thuê người chuyên
        chở đích thực chở hàng thay. (Xem: Consolidation or groupage)
      Actual total loss Thuật ngữ dùng trong nghiệp vụ bảo hiểm, chỉ lô hàng được bảo hiểm bị hoàn
      Tổn thất toàn bộ thực toàn tổn thất về số lượng hoặc về phẩm chất. (Xem: Total loss)
      tế  
      Addendum Bản ghi những điều bổ sung vào một văn bản pháp luật chủ yếu (hiệp định,
      Phụ lục hợp đồng, thỏa thuận…), làm thành một bộ phận không tách rời của văn bản
        ấy. (Xem: Rider )
      Additional charges Là khoản tiền phải trả thêm vào số tiền gốc theo một quy định nào đó. Thí
      Phụ phí dụ: Trong chuyên chở hàng bằng tàu chợ hay tàu container, có trường hợp
        người thuê tàu phải trả phụ phí về nhiên liệu tăng giá (Bunker adjustment
        charges), về đồng tiền trả cước mất giá (Currency adjustment charges), về
        lỏng hàng (Lighterage)… thêm vào số tiền cước gốc, theo quy định của chủ
        tàu.
      Additional Premium Là khoản tiền mà người bảo hiểm phải trả thêm trong trường hợp hàng được
      Phụ phí bảo hiểm bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm gốc B hoặc C mà muốn mở rộng thêm một
        số rủi ro phụ như: rủi ro trộm cắp và / hoặc không giao hàng, thấm ướt nước
        mưa, nước ngọt, rách vỡ, dây bẩn do dầu mỡ, hành vi ác ý hay phá hoại…
        Ngoài ra, một số công ty bảo hiểm quy định người được bảo hiểm phải trả
         
         
        thêm phụ phí khi sử dụng “tàu già” (Tàu có nhiều năm tuổi).
      A ddress commission Là khoản tiền tính trên phần trăm tổng số cước phí được chủ tàu / người
      Hoa hồng người thuê chuyên chở trích thưởng cho người thuê tàu chuyến hoặc thuê tàu hạn định
      tàu nhằm khuyến khích người này phát triển quan hệ giao dịch giữa đôi bên, Về
        thực chất, hoa hồng người thêu tàu là số tiền giảm cước mà chủ tàu / người
        chuyên chở dành cho người thuê tàu
      Abandonment Abandonment 1. Sự khước từ: Là việc từ chối thực hiện một hành động.
      Sự khước từ (abandonment of action). Thí dụ: Khước từ việc thưa kiện, truy cứu, chuyến
        hành trình, việc giao nhận hàng vì những lý do nào đó. 2. Sự từ bỏ: Là việc từ
        bỏ một tài sản được bảo hiểm (Abandonment of insured property) trong
        trường hợp tài sản bị tổn thất coi như toàn bộ ước tính (constructive total
        loss). Chủ tài sản phải làm văn bản từ bỏ tài sản và thực hiện việc chuyển
        quyền sở hữu tài sản ấy cho người (công ty) bảo hiểm, để được người này
        xem xét từ chối hoặc chấp nhận bồi thường toàn bộ lô hàng. Ví dụ: Tàu bị
        đắm ở biển sâu, trục vớt khó khăn và tốn kém nên chủ tàu tuyên bố từ bỏ
        tàu, chuyển quyền sở hữu con tàu cho người (công ty) bảo hiểm xem xét từ
        chối hoặc chấp nhận bồi thường theo giá trị bảo hiểm của tàu. Nếu người bảo
        hiểm từ chối bồi thường tổn thất toàn bộ với lý do chính đáng, thì họ sẽ bồi
        thường tổn thất bộ phận (Partial loss).
      Accept except… Thuật ngữ được người thuê tàu hoặc đại lý thuê tàu sử dụng trong giao dịch
      Chấp nhận nhưng loại để chỉ mình chấp nhận một số điều khoản hoặc chi tiết nào đó nhưng không
      trừ chấp nhận các phần khác bị loại trừ sẽ được gạt bỏ hoặc sửa đổi tùy theo yêu
        cầu.
      Accomplished bill of Vận đơn gốc đã được trao cho người chuyên chở (Surrendered) tại cảng dỡ và
      lading hàng đã được nhận xong.
      Vận đơn đã nhận hàng  
      Act of God or natural Tai họa bất ngờ do thiên tai gây ra, ngoài kiểm soát của con người như: động
      calamity đất, sét đánh, núi lửa phun, lũ lụt, bão tố, lốc, sóng thần  Thiên tai là sức
      Thiên tai mạnh khó phòng chống được nên tập quán quốc tế xét trường hợp xảy ra
        thiên tai gây tổn thất tài sản, sinh mệnh hoặc cản trở, thủ tiêu nghĩa vụ của
        một bên đương sự được qui định bởi một hợp đồng hay cam kết nào đó, thì
        đương sự ấy được miễn giảm trách nhiệm do trườnt hợp bất khả kháng (force
        majeure). Tuy nhiên, trong nghiệp vụ bảo hiểm, thiên tai là một loại rủi ro
        được bảo hiểm và người được bảo hiểm sẽ được bồi thường tổt thất tài sản do
        thiên tai gây ra.
      Act of state or Act of Bao gồm các mệnh lệnh, chỉ thị về đình chỉ, cấm đoán, ngăn trở mua bán,
      prince chuyên chở, hợp tác, đầu tư, gây tổn thất tài sản hoặc cản trở, thủ tiêu nghĩa
      Hành vi nhà cầm quyền vụ của một bên đương sự được quy định bởi một hợp đồng hay cam kết nào
        đó, thì bên đương sự ấy được miễn giảm trách nhiệm do trường hợp bất khả
        kháng (force majeure). Trong nghiệp vụ bảo hiểm, rủi ro gây tổn thất do
        hành vi nhà cầm quyền là loại rủi ro bị loại trừ, không được bảo hiểm
        (excluded risk).
      Act of war Bao gồm chiến tranh giữa các quốc gia, nội chiến, khởi nghĩa, nổi loạn, hành
      Hành động chiến tranh động thù địch như tiêu diệt, phá hoại, bắt giữ, tịch thu và các hành động
        chiến tranh khác tương tự  Trong nghiệp vụ bảo hiểm, rủi ro tổn thất do
        hành động chiến tranh được bảo hiểm theo điều kiện đặc biệt, có giới hạn,
        theo điều khoản bảo hiểm chiến tranh (war risk insurance clause).
      Actual carrier or Thuật ngữ được dùng trong nghiệp vụ gom hàng vận chuyển (Consolidation)
      effective carrier để chỉ người chuyên chở có tàu đảm trách việc chở hàng thực sự, khác với
      Người chuyên chở đích người chuyên chở danh nghĩa theo hợp đồng vận tải nhưng không có tàu
      thực (NVOCC) đứng ra ký kết hợp đồng vận tải, sau đó lại phải thuê người chuyên
        chở đích thực chở hàng thay. (Xem: Consolidation or groupage)
      Actual total loss Thuật ngữ dùng trong nghiệp vụ bảo hiểm, chỉ lô hàng được bảo hiểm bị hoàn
      Tổn thất toàn bộ thực toàn tổn thất về số lượng hoặc về phẩm chất. (Xem: Total loss)
      tế  
      Addendum Bản ghi những điều bổ sung vào một văn bản pháp luật chủ yếu (hiệp định,
      Phụ lục hợp đồng, thỏa thuận  ), làm thành một bộ phận không tách rời của văn bản
        ấy. (Xem: Rider)
      Additional charges Là khoản tiền phải trả thêm vào số tiền gốc theo một quy định nào đó. Thí
      Phụ phí dụ: Trong chuyên chở hàng bằng tàu chợ hay tàu container, có trường hợp
         

    2

           
        người thuê tàu phải trả phụ phí về nhiên liệu tăng giá (Bunker adjustment
        charges), về đồng tiền trả cước mất giá (Currency adjustment charges), về
        lỏng hàng (Lighterage)   thêm vào số tiền cước gốc, theo quy định của chủ
        tàu.  
      Additional Premium Là khoản tiền mà người bảo hiểm phải trả thêm trong trường hợp hàng được
      Phụ phí bảo hiểm bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm gốc B hoặc C mà muốn mở rộng thêm một
        số rủi ro phụ như: rủi ro trộm cắp và / hoặc không giao hàng, thấm ướt nước
        mưa, nước ngọt, rách vỡ, dây bẩn do dầu mỡ, hành vi ác ý hay phá hoại
        Ngoài ra, một số công ty bảo hiểm quy định người được bảo hiểm phải trả
        thêm phụ phí khi sử dụng ì  tàu già   (Tàu có nhiều năm tuổi).  
      A ddress commission Là khoản tiền tính trên phần trăm tổng số cước phí được chủ tàu / người
      Hoa hồng người thuê chuyên chở trích thưởng cho người thuê tàu chuyến hoặc thuê tàu hạn định
      tàu nhằm khuyến khích người này phát triển quan hệ giao dịch giữa đôi bên, Về
        thực chất, hoa hồng người thêu tàu là số tiền giảm cước mà chủ tàu / người
        chuyên chở dành cho người thuê tàu. Nhưng cũng có một số chủ tàu / người
        chuyên chở không chấp nhận cho người thuê tàu hưởng hoa hồng bằng cách
        ghi vào hợp đồng thuê tàu câu ì  miễn hoa hồng người thuê tàu (Free of
        Address Commisson).  
      Ad – hoc Arbitration Được lập ra nhằm xét xử một vụ tranh chấp nào đó và sẽ chấm dứt tồn tại
      committee sau khi xét xử.  
      Hội đồng trọng tài vụ    
      việc    
      Adjustment of (Xem: General average)  
      Average    
      Tính toán tổn thất /    
      Bảng tính tổn thất    
      Ad – valorem freight Là loại cước do người chuyên chở (chủ tàu) đặt ra và thu phí đối với loại hàng
      Cước theo giá trị có giá trị cao như vàng bạc, đá quý, tác phẩm nghệ thuật danh tiếng
      Advance freight Là một phần tiền của tổng số cước phí chuyên chở mà chủ tàu và người thuê
      Cước trả trước tàu thỏa thuận phải trả trước khi tàu chở hàng đến giao tại cảng đích
      Advance on freight Là số tiền mà người gởi hàng tạm ứng cho Thuyền trưởng để trả các chi phí
      Tiền tạm ứng trên cước tại cảng (không phải là cước trả trước) và sau đó sẽ được khấu trừ khi thanh
        toán cước. Cước trả trước thường chiếm khoảng 1/3 tổng số cước phí và tùy
        thỏa thuận mà người thuê tàu có thể được hưởng một lãi suất định trên số
        tiền đã trả trước (khoảng 3%). Cước trả trước không phải là tiền vay nợ của
        chủ tàu (Loan) và chủ tàu thường quy định trong điều khoản thanh toán:
        ì  Cước trả trước  phần trăm khi ký phát vận đơn, không khấu trừ và không
        thoái hoàn cho dù tàu và / hoặc hàng hóa bị mất hay không mất . (The
        freight to be paid in  on signing Bills of Lading, discountless and non
        returnable, ship and / or cargo lost or not lost).  
      Affreightment Người thuê tàu / chủ hàng (Affreighter / Cargo Owner) có nhu cầu chuyên chở
      (Chartering) đàm phán và ký kết với người chở thuê / chủ tàu (Carrier / Shipí s owner)
      Việc thuê tàu một hợp đồng thuê tàu (contract of affreightment) mà theo đó người chở thuê
        cam kết vận chuyển hàng hoặc cung cấp một phần hay toàn bộ con tàu cho
        người thuê sử dụng để chở hàng và người thuê phải trả số tiền cước nhất định
        đã được thỏa thuận trước. Hợp đồng thuê tàu bao gồm các điều khoản quy
        định quyền lợi, nghĩa vụ của người thuê và người cho thuê; là hợp đồng thuê
        chuyến hoặc định hạn (Voyage or time Charter-Party), vận đơn đường biển
        (Bill of Lading) và đơn lưu khoang (Booking note).  
      Agency Agreement Là một hợp đồng trong đó người ủy thác (Principal) ủy nhiệm cho người đại lý
      Hợp đồng đại lý (Agent) thay mặt mình để thực hiện một số công việc được chỉ định và bằng
        dịch vụ đó người đại lý nhận được một số tiền thù lao gọi là hoa hồng đại lý
        (Agency commission). Trong vận tải biển, hợp đồng đại lý được ký kết phổ
        biến giữa chủ tàu và đại lý chủ tàu (shipownerí  s agent), còn ở các trường
        hợp khác chủ tàu thường chỉ định đại lý tạm thời bằng điện báo hay Telex với
        nội dung ủy thác ngắn gọn. Các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng đại lý chủ
        tàu gồm có: – Chỉ định đại lý và khu vực đại lý. – Phạm vi công việc đại lý (thu
        xếp thủ tục tàu ra vào cảng, tiến hành bốc dỡ và giao nhận hàng, kiểm tra
        thu nộp cước, thanh toán các loại phí theo chỉ thị của chủ tàu  ) – Quyền và
        trách nhiệm của 2 bên. – Hoa hồng đại lý – Xử lý tranh chấp – Điều kiện hiệu
           

    3

         
        lực và kết thúc hợp đồng
      Agency fees Là số tiền thù lao mà chủ tàu trả cho đại lý tàu biển (Ship-agent) về những
      Đại lý phí dịch vụ đã làm trong lúc tàu hoạt động tại cảng: Làm thủ tục ra vào cảng, liên
        hệ các nơi và theo dõi bốc dỡ hàng, tính toán thưởng phạt bốc dỡ, lo liệu vật
        phẩm cung ứng, thu xếp thuyền viên đi bờ  Đại lý phí được tính nhiều hay ít
        căn cứ vào nội dung yêu cầu của chủ tàu, kết quá phục vụ của đại lý, cỡ tàu
        to nhỏ và tính chất, khối lượng hàng bốc dỡ. Đôi khi, để giản tiện công việc,
        chủ tàu yêu cầu đại lý phí được tính chung vào tổng số tiền hoa hồng ghi
        trong hợp đồng thuê tàu mà chủ tàu sẽ chi trả. Riêng trong chuyên chở tàu
        chợ, ngoài đại lý phí theo lệ thường, chủ tàu chợ đôi khi còn trích một phần
        tiền cước làm hoa hồng về hàng hóa xuất nhập khẩu. Điều này không phải là
        thông lệ trong chuyên chở hàng bằng tàu chuyến dù rằng đôi khi chủ tàu cũng
        chấp nhận cho đại lý được hưởng hoa hồng trên tổng số tiền cước thu được.
      Advice of shipment of hàng / người mua hàng biết tình hình hàng hóa đã được gởi đi và những chi
      Advice of despatch tiết có liên quan. Trong mua bán xuất nhập khẩu, thông báo kịp thời việc giữ
      Giấy báo gởi hàng hàng là trách nhiệm của người bán hàng.
      All in rate Là tổng số tiền bao gồm: Cước thuê tàu, các loại phụ phí và phí bất thường
      Cước toàn bộ khác mà người thuê phải trả cho người chuyên chở. Thí dụ: tàu chợ thường áp
        dụng thu cước toàn bộ khi chở thuê.
      All risks (A.R.) Là điều kiện bảo hiểm rộng nhất và theo điều kiện này, người bảo hiểm chịu
      Bảo hiểm mọi rủi ro trách nhiệm về mọi rủi ro gây ra mất mát, hư hỏng cho hàng hóa được bảo
        hiểm (thiên tai, tai nan của biển, rủi ro phụ khác  ) nhưng loại trừ các trường
        hợp: Chiến tranh, đình công, khủng bố, khuyết tật vốn có của hàng hóa, hành
        động ác ý của người được bảo hiểm, tàu không đủ khả năng hàng hải, mất
        mát hư hỏng do chậm trễ, thiếu sót về bao bì đóng gói hàng, hao hụt tự nhiên
        của hàng, hư hỏng, mất mát hoặc chi phí do thiếu khả năng thanh toán của
        người chủ tàu, người thuê tàu hoặc người điều hành chuyên chở. Từ
        01/01/1982, Hiệp hội bảo hiểm London (Anh) đã thay đổi điều kiện bảo hiểm
        A.R. thành ì  Điều kiện bảo hiểm hàng hóa A   (Institute Cargo Clauses A) với
        nội dung bảo hiểm không thay đổi về cơ bản.
      All time saved both Thuật ngữ được dùng trong hợp đồng thuê chuyến có quy định thưởng phạt
      ends theo cách bù trừ (Reversible laydays). Có nghĩa là: Hợp đồng thuê tàu quy
      Toàn bộ thời gian bốc định cho người thuê tàu được tính gộp toàn bộ thời gian bốc dỡ tiết kiệm được
      dỡ tiết kiệm được ở 2 ở 2 đầu cảng bốc dỡ nhanh (Despatch money). Cách tính này có lợi cho người
      đầu thuê tàu hơn là cách tính thưởng phạt riêng rẽ ở mỗi đầu cảng (Separate
        laydays). Thí dụ: Một hợp đồng thuê tàu quy định thời gian bốc dỡ theo cách
        bù trừ gồm 10 ngày làm việc tốt trời không kể Chủ nhật và ngày lễ dù có làm,
        tiền phạt bốc dỡ chậm là 5000 USD cho cả tàu/ngày, tiền thưởng bốc dỡ
        nhanh bằng ½ tiền phạt. Thực tế, người thuê tàu đã dùng 4 ngày bốc hàng tại
        cảng gởi và 3 ngày dỡ hàng tại cảng đến. Như vậy toàn bộ thời gian tiết kiệm
        ở 2 đầu cảng là 3 ngày và nhận được tiền thưởng bốc dỡ nhanh là: 2,500 USD
        x 3 = 7.500 USD (Xem: Laydays)
      All told Thuật ngữ đặt sau chữ ì  Trọng tải tàu   để chỉ trọng tải toàn phần của con
      Toàn phần tàu (Deadweight all told), bao gồm: Trọng lượng hàng hóa, trọng lượng vật
        phẩm cung ứng cho chuyến đi (Nhiên liệu, nước, thực phẩm, vật liệu chèn lót,
        phụ tùng dự trữ), trọng lượng thuyền viên và hành lý.
      Always accessible (Xem: reachable on arrival)
      Luôn luôn tiếp cận được  
      Always safely afloat Thuật ngữ có nghĩa là đáy tàu không bao giờ chạm đất khi ra vào hoặc đỗ tại
      Luôn luôn nổi an toàn cầu cảng, bảo đảm an toàn cho tàu. Chủ tàu đưa thuật ngữ này vào hợp đồng
        thuê tàu, nhằm đặt trách nhiệm cho người thuê tàu chọn cảng nước sâu bảo
        đảm tàu không chạm đáy lúc ra vào cũng như lúc làm hàng tại cảng. Tuy
        nhiên, ở một số cảng mà độ sâu cầu cảng có phần bị hạn chế hoặc ảnh hưởng
        của thủy triều nhưng đất đáy là bùn nhão, người thuê tàu có thể yêu cầu chủ
        tàu chấp thuận: ì  Tàu không luôn luôn nổi nhưng chạm đáy an toàn   (not
        always afloat but safely aground). (Xem: arrived ship)
      American Bureau of Có chức năng đăng kiểm và cấp giấy chứng nhận đăng kiểm cho các tàu biển
      shipping (A.B.S) hoạt động kinh doanh, phù hợp với quy chế, điều kiện do A.B.S của Hoa Kỳ
      Tổ chức đăng kiểm tàu quy định.
      Hoa Kỳ  
         

    4

             
      Anchorage dues Số tiền mà cảng quy định các tàu neo đậu trong hoặc ngoài khu vực cảng
      Thuế neo tàu phải giao nộp.    
      Antedated bill of Việc ký lùi ngày cấp vận đơn (Antedating) thông thường do người gởi hàng
      lading yêu cầu để đáp ứng phù hợp với thời gian giao hàng đã được quy định trong
      Vận đơn ký lùi ngày cấp hợp đồng mua bán hoặc thời hạn hiệu lực của thư tín dụng. Nó bị các trọng tài
        và tòa án quốc tế lên án là thiếu trung thực, gian dối và do đó có thể gây hậu
        quả tai hại cho người xuất khẩu giao hàng cũng như người chuyên chở đã ký
        lùi ngày vận đơn.    
             
      Arbitration Là phương thứd giải quyết tranh chấp bằng cách đưa vấn đề tranh chấp ra
      Sự phân xử của trọng trước trọng tài viên (Arbitrator) xét xử và phán quyết, khi 2 bên đương sự
      tài không thể giải quyết bằng thương lượng nhưng lại không muốn đưa vấn đề ra
        tòa án. Phán quyết của trọng tài (Arbitration award) có hiệu lực pháp lý như
        phán quyết của tòa án. Thông thường, mỗi bên đương sự cử 1 trọng tài viên
        của mình để xem xét và nhất trí thì các bên đương sự phải chỉ định thêm
        trọng tài viên thứ 3 hoặc chỉ định một trọng tài viên quyết định (Umpire).
        Trọng tài viên quyết định là người có quyền ra quyết định cuối cùng về các
        vấn đề mà các trọng tài viên kia chưa nhất trí.    
      Arbitrator or arbiter Xem: arbitration)    
      Trọng tài viên, Người      
      phân xử      
      Arrest or seizure Khi chủ tàu hoặc chủ hàng vi phạm luật lệ, tập quán địa phương hoặc gây tổn
      Việc bắt giữ – Việc sai hại đến quyền lợi của địa phương thì căn cứ theo sự khởi tố hoặc vụ kiện mà
      áp chính quyền sở tại sẽ ra lệnh bắt giữ, sai áp tàu hoặc hàng hóa tạm thời để
        chờ đợi xét xử theo pháp luật. Thí dụ: Tàu X va đụng và làm hỏng cầu cảng,
        sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ tại cảng chờ xét xử. Tuy nhiên, nếu chủ tàu
        có yêu cầu và sẵn sàng nộp tiền bảo chứng (bail) cho việc bồi thường thì tàu
        có thể được thả ra và tiếp tục kinh doanh.    
      Arrived ship Theo hợp đồng thuê tàu, con tàu được gọi ì  Tàu đã đến khi đáp ứng đủ 3
      Tàu đã đến (cảng) điều kiện sau: 1. Tàu phải thực sự đã vào cầu, bến của cảng bốc dỡ hàng có
        tên trong hợp đồng. 2. Tàu phải thực sự đã sẵn sàng về mọi mặt để bốc, dỡ
        hàng. 3. Thông báo sẵn sàng bốc, dỡ thích hợp bằng văn bản phải được trao
        cho người gởi hay người nhận hàng. Trong hợp đồng thuê chuyến có quy định
        thưởng phạt bốc dỡ, thuật ngữ trên đây liên quan mật thiết đến việc tính thời
        gian bốc dỡ hàng và tính thưởng phạt bốc dỡ. Vì vậy, người thuê nên nêu cụ
        thể tên cầu bến của cảng mà tàu phải đến, vào cầu bến để bốc dỡ hàng, tránh
        nêu chung chung tên cảng đến vì vùng cảng khá rộng lớn, tàu đến cảng
        nhưng chưa vào cầu đã có quyền trao thông báo sẵn sàng bốc dỡ và bắt đầu
        tính thời gian bốc dỡ. Thường thì chủ tàu không thích cách quy định cụ thể
        này vì họ lo ngại gặp trắc trở khi tàu vào cầu (Thí dụ: do cảng bị ùn tắc) và
        họ chưa có quyền trao thông báo sẵn sàng bốc dỡ mà phải neo đậu chờ cầu.
        Do đó, họ yêu cầu hợp đồng quy định tàu đã đến ì cho dù tàu đã vào cầu hay
        chưa   (Whether in berth or not), ì  cho dù đã vào cảng hay chưa   (Whether
        in port or not), ì  Cho dù đã kiểm dịch hay chưa (Whether in free pratique
        or not) và ì  Cho dù đã xong thủ tục hải quan hay chưa (Whether in
        customs clearance or not). Hợp đồng thuê tàu chở ngũ cốc Baltimore, mẫu C
        có những quy định tương tư như sau: ì  Nếu khi đến cảng dỡ hàng, tàu không
        vào được vì ùn tàu thì tàu vẫn có quyền trao thông báo sẵn sàng để bốc dỡ
        ngay lúc tàu còn neo đậu tại một địa điểm ngoài cảng do cảng chỉ định và bắt
        đầu tính thời gian bốc dỡ cho dù tàu vào cầu hay chưa, vào cảng hay chưa, đã
        kiểm dịch hay chưa, đã xong thủ tục hải quan hay chưa. Thời gian tàu rời nơi
        neo đậu để vào cầu sẽ không tính vào thời gian bốc dỡ (ì If on arrival at port
        of discharge, vessel is unable to enter a port due to congestion, vessel to be
        allowed to tender notice of readiness upon arrival off the port at the place
        appointe by the Harbour Master and time to commence as per charter
        whether vessel in berth or not, whether in port or not, whether entered at
        Customs or not. Time used in shifting from anchorage to berth not count as
        laytime   ). Những quy định nói trên trong hợp đồng thuê tàu đặt người thuê ở
        thế bất lợi. Người thêu tàu cần xem xét kỹ thực trạng của Cảng đến, tình hình
        địa phương, yêu cầu chuyên chở  để đấu tranh để đạt đến những thỏa thuận
        công bằng hợp lý.    
             

    5

         
      As agent only Thuật ngữ này được ghi chú dưới chữ ký để chứng minh người ký tên trong
      Chỉ nhân danh đại lý chứng từ (Thí dụ: Vận đơn đường biển, vận đơn hàng không, hợp đồng thuê
        tàu  ) chữ ký tên với tư cách pháp nhân là người được người khác ủy nhiệm
        để thực hiện hoặc xác nhận một việc hay một số việc gì đó và chỉ chịu trách
        nhiệm giới hạn trong phạm vi ủy nhiệm ấy.
      Assortment  
      Việc phân loại, xếp  
      hạng hàng hóa  
      Assurer (Insurer) Là người nhận bảo hiểm lợi ích của khách hàng (Người được bảo hiểm) theo
      Người bảo hiểm những quy tắc, điều kiện bảo hiểm quy định, có quyền thu phí bảo hiểm đồng
        thời chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất do những rủi ro được bảo hiểm gây
        ra cho đối tượng bảo hiểm (Subject matter insured).
      Assured (Insured) Thuật ngữ được dùng để chỉ người có lợi ích của mình để được bảo hiểm
      Người được bảo hiểm (Hàng hóa, tàu biển, tài sản khác  ) chớ không phải bản thân người này được
        bảo hiểm (Trừ bảo hiểm nhân thọ).
      At and from… Thuật ngữ được sử dụng trong hợp đồng bảo hiểm chuyến (Insurance voyage
      Tại và từ policy): ì  Tại và từ một cảng quy định   . Có nghĩa là ì  Bảo hiểm có hiệu lực
        từ khi tàu đến tại cảng quy định và trong suốt chuyến đi tiếp theo   . Nhưng
        nếu khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết mà tàu chưa đến cảng quy định thì
        hợp đồng bảo hiểm sẽ có hiệu lực khi nào tàu đến tại cảng ấy. Cần phân biệt
        với thuật ngữ ì  Từ    (From) một cảng nào đó có nghĩa là bảo hiểm chỉ có
        hiệu lực khi tàu bắt đầu chuyến đi từ cảng ấy.
      Attorney Người đại diện toàn quyền Là người được một người khác (Người ủy quyền)
      Người được ủy quyền chỉ định để hành động thay cho người này giải quyết, xử lý một việc nào đó.
        Thí dụ: Một luật sư được thân chủ ủy quyền ra trước tòa để bênh vực quyền
        lợi trong một vụ kiện (altorney – at – law); một đại lý vận tải được chủ tàu ủy
        nhiệm thanh lý những phí vặt của tàu sau tai nạn đắm tàu. Việc ủy quyền
        phải được viết thành văn bản gọi là ủy quyền (Warrant or power of attorney)
        hoặc thư ủy quyền (Letter of attorney).
      Australian Grain Loại hợp đồng thuê tàu chuyến chở ngũ cốc do Phòng vận tải Vương quốc Anh
      Charter (Austrai) (Chamber of shipping of the United Kingdom) và Hiệp hội những người gởi
      Hợp đồng thuê chở ngũ hàng Úc (Australian Grain shipperí  s association) soạn thảo và áp dụng trong
      cốc Úc chuyên chở ngũ cốc từ Úc.
      Autonomous port Loại cảng ở Pháp được xây dựng và quản lý bởi một Hội đồng quản trị gồm đại
      Cảng tự quản diện của chính quyền sở tại, công nhân cảng, người giao nhận
      Average Là thiệt hại (damage) của tàu và / hoặc hàng hóa trong một chuyến đi cũng
      Tổn thất như những phí tổn đặc biệt (extraordinary expenses) xảy ra liên quan đến
        một sự cố hàng hải. Theo thói quen, chữ “average” cũng được dùng để chỉ
        “tổn thất riêng” (Particular average). (Xem: General average và Particular
        average)
      Average adjuster Là những chuyên gia có kinh nghiệm được tin cậy ủy thác công việc tính toán
      Chuyên viên tính tổn các mất mát, thiệt hại và các phí tổn của những bên có quyền lợi trong
      thất (Lý toán viên tổn chuyến đi biển và phân định thuộc tổn thất riêng hay tổn thất chung. Việc tính
      thất) toán tổn thất và phân chia đóng góp của các bên trong trường hợp tổn thất
        chung và trong trường hợp 2 tàu đụng nhau là những công việc khá tế nhị và
        phức tạp nên người ta thường ủy thác cho những chuyên viên tính tổn thất
        trung thực và giàu kinh nghiệm đứng ra giải quyết.
      Average bond Bản cam kết đóng góp tổn thất chung Khi xảy ra trường hợp tổn thất chung,
      Bản cam kết thuyền trưởng (Người chuyên chở) gửi cho các chủ hàng trong chuyến đi biển
        chung bản cam kết đóng góp tổn thất chung, yêu cầu ký tên xác nhận cam
        kết đóng góp tổn thất chung theo tỷ lệ tương ứng do các chuyên viên tính tổn
        thất sẽ xác định sau. Chỉ khi nào chủ hàng đồng ý cam kết hoặc đại diện cho
        chủ hàng (Công ty bảo hiểm) đồng ý ký cam kết thì hàng hóa mới được dỡ và
        giao cho người nhận hàng. Cùng với việc ký cam kết, chủ hàng sẽ phải tạm
        ứng một số tiền ký quỹ tương đương với phần phải đóng góp (General
        average deposit), trừ khi người chuyên chở chấp nhận khác đi. (Xem: Average
        và General Average).
      Average guarantee Do công ty bảo hiểm lập, xác nhận sự bảo đảm của mình với chủ tàu sẽ đứng
      Giấy bảo lãnh đóng góp ra chi trả phần tiền đóng góp và / hoặc tiền cứu hộ do chuyên viên tính tổn
      tổn thất chung thất, phân bổ cho hàng hóa được bảo hiểm có liên quan đến tổn thất chung.
         

    6

           
        Nếu không có giấy bảo lãnh của Công ty bảo hiểm thì chủ hàng phải tự ký bản  
        cam kết đóng góp tổn thất chung và rót tiền ký quỹ thì mới được tàu cho  
        nhận hàng.  
           
      Average Statement Là bản trình bày chi tiết phần đóng góp tổn thất chung của mỗi bên có quyền  
      Bản phân bố tổn thất lợi trên tàu tương ứng theo tỷ lệ giá trị của tài sản ấy. Bản phân bố tổn thất  
      chung chung do những chuyên viên tính tổn thất chung lập ra và phân phát cho tất  
        cả các bên trong chuyến đi chung, ngay sau khi họ đã hoàn thành công việc  
        tính toán.  
           

    B      (Back to top)

        Back freight or home Dùng để chỉ tiền cước mà người thuê tàu phải trả cho chuyên chở hàng trở về    
           
        freight cảng gởi hoặc một cảng thuận tiện nào khác mà vì một trở ngại nguy hiểm    
        Cước chuyến về nào đó làm cho con tàu không thể đến được cảng đích để giao hàng.    
               
        Bagging plant Được đặt tại cảng dỡ hàng để đóng bao hàng rời được vận chuyển đến. Cách    
        Thiết bị đóng bao làm này có lợi: hàng rời được chở xô trên tàu có hiệu quả kinh tế hơn được    
          chở đóng bao và hàng rời được đóng bao tại cảng dỡ sẽ dễ dàng, thuận tiện    
          chuyển tải vào nội địa.    
               
        Back freight or home Dùng để chỉ tiền cước mà người thuê tàu phải trả cho chuyên chở hàng trở về    
        freight cảng gởi hoặc một cảng thuận tiện nào khác mà vì một trở ngại nguy hiểm    
        Cước chuyến về nào đó làm cho con tàu không thể đến được cảng đích để giao hàng.    
               
        Ballast Gồm các vật liệu nặng như: nước biển, cát, đá, phế liệu, kim loại,    dùng làm    
        Vật dằn tàu vật liệu dằn tàu để giữ gìn hay tăng thêm độ ổn định khi tàu chạy trên biển    
          đồng thời giữ cho bánh lái, chân vịt của tàu hoạt động bình thường, trong    
          trường hợp tàu chở đến mức trọng tải thích hợp hoặc khi tàu phải chạy không    
          hàng tức chạy dằn (Ballast trip).    
               
        Ballastage Chi phí bỏ ra để mua và chất xếp vật dằn tàu khi tàu phải chạy dằn (Ballast    
        Phí dằn tàu trip).    
               
        Ballast bonus      
        Phụ phí tàu chạy dằn Trong thuê tàu chuyến hoặc thuê định hạn, đôi khi chủ tàu phải điều con tàu    
          từ một địa điểm cách xa đến cảng gởi hàng hoặc cảng giao hàng và con tàu bị    
          buộc phải chạy dằn trên cự ly vận chuyển ấy. Do đó, chủ tàu có thể đề nghị    
          và được người thuê chấp nhận trả phụ phí tàu chạy dằn để khuyến khích ý đồ    
          chở thuê của chủ tàu (Ballast trip).    
               
        Baltic and Công hội Hàng hải Quốc tế và vùng Bantic    
        International      
        Maritime Conference      
        (BIMCO)      
               
        Baltic Mercantile & Là một tổ chức giao dịch thuê tàu chuyến và tàu định hạn vào loại lớn của thế    
        Shipping Exchange giới, có lịch sử lâu đời, trụ sở đặt tại London (Vương quốc Anh). Hằng ngày    
        (Baltic) làm việc vào buổi trưa, các đại diện chủ tàu và các môi giới thuê tàu đại diện    
        Sở giao dịch thuê tàu cho người thuê cùng nhau tiếp xúc và đàm phán ký kết hợp đồng thuê tàu (kể    
        Ban-tích cả mua bán tàu). Giao dịch thuê tàu chủ yếu trên tuyến Nam Mỹ – châu Âu    
          (chở ngũ cốc), Bắc Mỹ – châu Âu (chở than), Nam Á – châu Âu (Chở đường và    
          sản phẩm vùng nhiệt đới). Giá cước thuê tàu tại Sở giao dịch thuê tàu Ban –    
          tích ảnh hưởng rộng đến giá cước vận chuyển ở những khu vực khác.    
               
        Baltime Mẫu chuẩn hợp đồng thuê tàu định hạn “Baltime” do tổ chức “Công hội hàng    
        Mã hiệu của mẫu chuẩn hải quốc tế và vùng Ban – tích” (BIMCO) soạn thảo, nhiều lần được bổ sung,    
        hợp đồng thuê tàu định sửa chữa và được phòng hàng hải của Vương quốc Anh chấp nhận, thực hiện.    
        hạn “Baltime”.      
               
        Baltimore Form C Tên viết ngắn gọn của mẫu hợp đồng thuê tàu chuyến chở hàng hạt từ Hoa Kỳ    
          (Approved Baltimore Berth Grain Charter Party).    
               
        Bare boat charter or      
        Demise charter Tàu trần (Bare ship or bare boat) được trang bị đầy đủ, bảo đảm tính năng    
        (BARECON) hàng hải nhưng không có biên chế thuyền bộ (Crew). Trong thời hạn thuê tàu    
        Thuê tàu trần trần, chủ tàu tạm giao con tàu cho người thuê quản trị và khai thác. Tiền cước    
          thuê tàu trần (hire) được trả theo tấn trọng tải mớn nước mùa hè của tàu    
          (Summer DWT) cho mỗi tháng niên lịch (Calendar month) và thường được    
          quy định trả trước. Khi giao tàu cho người thuê (on delivery of the ship), tàu    
          phải được kiểm tra kỹ để xác định tình trạng và điều kiện so với các quy định    
               

    7

         
        của hợp đồng. Phí kiểm tra trả cho các giám định viên (Surveyor) khi giao tàu
        sẽ do người thuê chịu và khi trả tàu sẽ do chủ tàu chịu. Người thuê tự đảm
        trách việc thuê thuyền viên, có quyền chỉ định thuyền trưởng và máy trưởng
        nhưng phải được sự đồng ý của chủ tàu. Nếu chủ tàu có lý do chính đáng
        không bằng lòng việc làm của họ thì chủ tàu có quyền yêu cầu thay thế bằng
        người khác. Người thuê có quyền quản trị và khai thác con tàu chở hàng trong
        khu vực hoạt động được quy định trong hợp đồng. Người thuê phải giữ gìn,
        chăm sóc, duy tu sửa chữa tàu theo định kỳ kỹ thuật, bảo đảm tình trạng
        phẩm chất con tàu lúc hoàn trả như lúc tiếp nhận, trừ những hao mòn tự
        nhiên (Fair wear and tear excepted). Nếu không có thỏa thuận đặc biệt nào
        khác, hợp đồng thuê tàu trần thường quy định: – Chủ tàu đảm trách và trả
        phí: Khấu hao tàu (Depreciation), bảo hiểm thân tàu (Hull insurance), kiểm
        tra (Survey), kể cả hoa hồng cho môi giới thuê tàu trần nếu có (Brokerage). –
        Người thuê tàu đảm trách và trả phí: Lương và phụ cấp thuyền viên (Crew’s
        wages and subvention), lương thực, thực phẩm (Provision), duy tu sửa chữa
        (Maintenance and repairs), cung ứng vật phẩm, thiết bị cho tàu (Stores,
        supplies and equipments), nhiên liệu dầu nhờn (Fuel and lubricating oil,…),
        nước ngọt, cảng phí (Port charges), đại lý phí (Agency fees), phí bốc dỡ hàng
        (Stevedoring charges), phí quét hầm (Cleaning of holds), phí chèn lót
        (Dunnage), phí dằn tàu (Ballastage), phí hành chính văn phòng (Overhead
        charges), hoa hồng môi giới thuê tàu (Brokerage), nếu có. Chủ tàu áp dụng
        cách cho thuê tàu trần khi có khó khăn thuê mượn thuyền viên, có ý định
        tránh phiền phức khi xảy ra sự cố hoặc khi xảy ra chiến tranh. Người thuê tàu
        sử dụng cách thuê tàu trần mục đích chỉ để khai thác trong một thời gian nhất
        định (Tốt hơn là bỏ vốn mua lấy tàu) hoặc để bổ sung sức chở cho đội tàu nhà
        khi có nhu cầu đột xuất. Về thực chất, thuê tàu trần là một biến tướng của
        thuê tàu định hạn, với các điều khoản tương tự nhau nhưng có điểm khác là
        con tàu được thuê không có biên chế thuyền viên.
      Barratry Là hành vi phi pháp, cố ý của thuyền trưởng hoặc thủy thủ gây tổn hại cho
      Hành vi ác ý gây hại chủ tàu hoặc người thuê tàu và tất nhiên là không có sự tham gia đồng lõa từ
        phía chủ tàu. Như vậy, hành vi sơ suất (Negligence) của thuyền trưởng hoặc
        thuyền viên không phải là hành vi ác ý gây hại vì nó không có sự chủ tâm, cố
        ý gây thiệt hại (Wilfully committed) cho chủ tàu/người thuê tàu. Thí dụ: Cố
        tình vi phạm quy tắc giao thông, buôn lậu hàng hóa, cố ý đánh đắm tàu
        (Wilful sinking) là những hành vi ác ý gây hại.
      Basic freight – Basic Dùng để chỉ số tiền cước chính mà người thuê phải trả cho người vận chuyển
      rate of freight về lô hàng chuyên chở theo như đã thỏa thuận trong hợp đồng vận tải. Ngoài
      Cước gốc cước gốc ra, người vận chuyển có thể tùy đặc tính lô hàng và điều kiện
        chuyên chở mà quy định, thu thêm một số phụ phí khác. Thí dụ: phụ phí chở
        hàng nguy hiểm, độc hại, phụ phí chạy dằn (Ballast trip), phụ phí cảng bốc/dỡ
        ứ đọng,…
      Bay plan Có ý nghĩa như sơ đồ chất xếp hàng trên tàu phổ thông (Stowage plan),
      Sơ đồ ô xếp Container nhằm mục đích giúp chất xếp container khoa học, hợp lý, an toàn và tiện lợi
      trên tàu cho bốc, dỡ Container
      Bearer (of a bill of Là người có vận đơn trong tay, xuất trình với tàu để đổi lấy việc nhận hàng.
      lading) Vận đơn này có tên là vận đơn xuất trình (to Bearer bill of lading).
      Người xuất trình vận  
      đơn  
      Berth Charter or Khi một hợp đồng thuê tàu quy định chủ tàu nhận chở thuê hàng tại một bến
      Berth Charter Party (dọc ke cảng) được nêu tên cụ thể (on the berth…), thì được gọi là “Hợp đồng
      Hợp đồng chở hàng tại chở hàng tại bến”. Đặc điểm của cách thuê này là: – Tên và tính chất hàng
      bến không cần biết trước chính xác miễn là hàng hợp pháp nhưng số lượng hàng
        đã báo phải đảm bảo đầy đủ, nếu không chủ hàng phải trả cước khống. – Chủ
        tàu đảm trách và chịu phí bốc dỡ hàng, phí kiểm kiện, phí chất xếp kể cảng
        phí,… Cách thuê này hàm ý: Con tàu được coi là “Tàu đến” (Arrived ship) khi
        nó đã thực sự cặp bến được chỉ định, đã hoàn thành thủ tục vào cảng và sẵn
        sàng nhận hàng, thông báo sẵn sàng đã được trao cho người thuê hoặc người
        gởi hàng. Việc nêu rõ tên bến của cảng nào sẽ tránh được hiểu lầm của 2 bên
        thuê và cho thuê có thể dẫn đến tranh chấp vì nếu 2 bên chỉ nêu tên cảng mà
        không nêu cụ thể tên bến, thì nó là “Hợp đồng thuê tàu chở hàng tại cảng”…
        (Port charter) và có hàm ý: con tàu được coi là “Tàu đến” khi nó đã nằm ở bất
        cứ nơi nào trong phạm vi cảng được chỉ định. Những thuật ngữ “Berth
         

    8

         
        charter” và “Port charter” hiện nay ít được sử dụng.
      Berth note or Văn bản của người thuê tàu gởi cho hãng tàu (Người chuyên chở) yêu cầu
      booking note dành chỗ trên tàu để vận chuyển hàng hóa. Đơn lưu khoang thường được các
      Đơn lưu khoang hãng tàu chợ in sẵn thành mẫu đơn để người thuê tiện điền vào các khoản
        mục: – Tên hãng tàu, tên tàu. – Tên người thuê và địa chỉ. – Tên hàng, trọng
        lượng/thể tích, tính chất. – Địa điểm, thời gian bốc hàng và địa điểm dỡ hàng.
        – Tiền cước và cách trả. Nếu người chuyên chở và người thuê đồng ý ký xác
        nhận vào đơn lưu khoang thì nó trở thành văn bản thỏa thuận sơ bộ có tính
        ràng buộc pháp lý cho đến khi hàng bốc xong xuống tàu, vận đơn đường biển
        được thuyền trưởng ký phát sẽ thay thế cho đơn lưu khoang, có chức năng là
        hợp đồng vận tải biển điều chỉnh nghĩa vụ và quyền lợi của đôi bên.
      Berth terms or Liner Điều khoản này được áp dụng trong chuyên chở bằng tàu chợ hoặc tàu
      terms chuyến, có nghĩa là: Chủ tàu đảm trách bốc dỡ hàng tại cảng và chịu phí kể
      Điều khoản bốc dỡ tại cả rủi ro xảy ra cho hàng hóa trong quá trình bốc dỡ. Thuật ngữ ì  Berth
      bến cảng hay điều terms   được dùng đồng nghĩa với ì  Liner terms   , vì trong chuyên chở tàu
      khoản bốc dỡ tàu chợ. chợ, chủ tàu đảm trách và chịu chi phí bốc dỡ tại các bến cảng làm hàng (trên
        thực tế, chi phí bốc dỡ này đã được tính gộp vào cước suất tàu chợ). Tuy
        nhiên, trong một số trường hợp, chủ tàu lại căn cứ theo mức bốc dỡ thông
        thường của bến cảng địa phương mà quy định thời hạn tối đa bao nhiêu ngày
        cho việc bốc dỡ hàng. Nếu số ngày bốc dỡ vượt quá thời hạn ấy thì người thuê
        phải chịu phạt về chậm trễ, do lỗi của mình hoặc đại lý của mình và phải trả
        phí lưu tàu (Detention), căn cứ theo tấn đăng ký tịnh của tàu và tiền phạt đã
        được thỏa thuận. Thí dụ: Hợp đồng thuê tàu chở ngũ cốc Ban-ti-mo mẫu C
        (The Baltimore Berth grain Charter Party – Form C) quy định bốc hàng như
        sau: “Tàu bốc hàng theo điều kiện tàu đảm trách bốc dỡ, căn cứ vào năng
        suất bốc dỡ thông thường của cầu bến và nếu tàu bị lưu giữ quá 5 ngày (Trừ
        Chủ nhật và ngày lễ) do lỗi của người thuê hay đại lý của họ, thì người thuê
        phải chịu phạt chậm cho mỗi tấn đăng ký tính bằng,…”
      Berth rates or Liner Dùng để chỉ loại cước áp dụng riêng biệt cho chuyên chở bằng tàu chợ và
      rates thường được tập hợp thành biểu cước tàu chợ (Liner Freight Tariff). Cước suất
      Cước suất tàu chợ tàu chợ được tính dựa trên cơ sở: trọng lượng (Weight), thể tích (Measure-
        ment) hoặc giá trị (Value) của mặt hàng chuyên chở mà người chuyên chở tùy
        ý chọn và áp dụng sao cho có lợi nhất cho mình.
      Bill of Health Là giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe của thuyền viên trên tàu do cơ quan y
      Giấy chứng sức khỏe tế có thẩm quyền tại cảng địa phương cấp theo mẫu đã định. Đôi khi, tùy theo
        quy định riêng, giấy này còn phải được cơ quan lãnh sự nước có cảng đến của
        con tàu thị thực mới có giá trị để làm thủ tục được giao dịch tụ do (Free
        pratique).
      Bill of Lading (Ocean Chứng từ vận tải đường biển do người chuyên chở hoặc đại diện của họ
      Bill of Loading) B/L (Thuyền trưởng, đại lý vận tải) ký phát cho người thuê tàu (Người gởi hàng)
      Vận đơn (Vận tải đơn) làm bằng chứng cho việc người chuyên chở đã nhận hàng và đảm trách việc
      đường biển vận chuyển từ cảng gởi đến cảng đích quy định để giao cho người nhận hàng.
        Có nhiều loại vận đơn đường biển nhưng xét về cách chuyên chở có 2 loại: 1.
        Vận đơn tàu chợ (Liner B/L), với 3 chức năng: – Biên lai giao nhận hàng giữa
        người chuyên chở và người nhận hàng. – Bằng chứng xác nhận quyền sở hữu
        hàng của người có tên trong vận đơn. – Bằng chứng xác nhận hợp đồng vận
        tải đã được ký giữa người chuyên chở và người thuê tàu. Vận đơn tàu chợ
        được sử dụng trong cách vận chuyển hàng bằng tàu chợ phổ thông
        (Conventional Liner) và cả trong cách vận chuyển bằng Container (Container
        Liner). 2. Vận đơn tàu chuyến (Charter Party B/L), với 2 chức năng: – Biên lai
        giao nhận hàng giữa người chuyên chở và người gởi, người nhận hàng. – Bằng
        chứng xác nhận quyền sở hữu hàng của người có tên trong vận đơn. Vận đơn
        tàu chuyến không có giá trị pháp lý của một hợp đồng vận tải vì hợp đồng
        thuê tàu chuyến chính là hợp đồng vận tải còn vận đơn tàu chuyến chỉ là một
        văn kiện bổ sung cho hợp đồng. Các điều khoản vận đơn nói chung được xây
        dựng trên cơ sở pháp lý của Công ước quốc tế Brúcxen (Còn gọi là quy tắc
        Hagues) 1924 hoặc quy tắc Hagues    Visby 1977, đã được nhiều quốc gia
        phê duyệt và chấp nhận áp dụng. Ngoài một số chi tiết được sửa chữa, bổ
        sung quy tắc Hagues    Visby vẫn đưa trên cơ sở pháp lý của quy tắc Hagues.
        Vận đơn của 1 lô hàng chuyên chở được lập thành 1 bộ 3 bản chính giá trị
        giao dịch như nhau và một số bản phụ không giao dịch được. Khi người nhận
        hàng sử dụng một trong 3 bản chính để nhận hàng thì hai bản còn lại sẽ mặc
         

    9

         
        nhiên mất hiệu lực. Nội dung của vận đơn gồm 2 phần chủ yếu: – Phần một ở
        trang đầu gồm các tiêu đề chừa trống để người gởi hàng cung cấp và điền các
        thông tin về: Các bên đương sự (Người chuyên chở, người gởi, người nhận
        hàng); Chuyến vận chuyển (tên tàu, cảng gởi, cảng đích,…); mô tả hàng
        chuyên chở (tên, số lượng, tính chất, bao bì, ký mã hiệu hàng,…), cước phí và
        cách thanh toán. Phần dưới của trang, có ghi nơi, ngày ký phát và chữ ký của
        người ký phát vận đơn. Trên vận đơn, còn ghi chú: Ý kiến của thuyền trưởng
        về tình trạng bên ngoài của hàng hóa. Phần sau ở trang 2 chứa đựng các điều
        khoản được in sẵn do người chuyên chở lập ra về cơ sở pháp lý, trách nhiệm
        người chuyên chở, tàu chạy chệch đường, bốc dỡ hàng, quy định hàng đặc
        biệt (súc vật sống, hàng nguy hiểm, hàng trên boong), tổn thất chung, tàu
        đụng nhau, chiến tranh và đình công,… Mỗi vận đơn được đánh số thứ tự, ghi
        rõ nơi và ngày phát cùng chữ ký của người ký phát. Vận đơn có tác dụng quan
        trọng chẳng những đối với hoạt động của ngành vận tải đường biển mà còn là
        một chứng từ không thể thiếu trong mua bán, giao nhận và thanh toán ngoại
        thương, trong nghiệp vụ bảo hiểm, nghiệp vụ ngân hàng.
      BIMCO (The Baltic Là một tổ chức hàng hải thành lập lâu đời, có uy tín lớn. Hội viên gồm các chủ
      and International tàu và các tổ chức môi giới hàng hải thuộc nhiều quốc gia châu Âu , Bắc Phi,
      Maritime Conference) Trung Cận Đông, Canada,… Tiền thân của BIMCO là Công hội hàng hải Ban
      Công hội hàng hải quốc Tích và Biển Trắng, thành lập năm 1905, trụ sở tại: Copenhagen (Đan Mạch).
      tế và vùng Ban-Tích. BIMCO xây dựng quy chế hoạt động, cung cấp thông tin phục vụ lợi ích của
        các thành viên và soạn thảo các loại chứng từ vận tải quốc tế, các mẫu chuẩn
        hợp đồng thuê tàu, các quy tắc và thực hành giao dịch, qua đó BIMCO đã và
        đang đóng góp đáng kể cho sự phát triển hàng hải quốc tế. Thí dụ: BIMCO đã
        soạn thảo mẫu chuẩn hợp đồng thuê tàu định hạn (Baltime), mẫu chuẩn hợp
        đồng thuê chuyến chở than (Baltcon)… rất được hoan nghênh và sử dụng phổ
        biến.
      Black list Là bảng kê ghi tên những con tàu bị cấm hoạt động kinh doanh tại các cảng
      Danh sách đen (sổ đen) của nước công bố danh sách này.
      Blokade Là biện pháp quân sự ngăn chặn của nước tham chiến không cho tàu bè xuất
      Phong tỏa nhập vào vùng biển và cảng khẩu của kẻ thù. Tàu và hàng hóa của các nước
        trung lập đi vào khu vực bị phong tỏa sẽ bị bắt giữ và tịch thu.
      Board and board Dùng để chỉ hai con tàu cặp mạn nhau để chuyển hàng từ tàu này sang tàu
      Cặp mạn (Mạn kề mạn) kia, khi cần thực hiện việc chuyển tải.
      Bond Là giấy bảo đảm do người chủ kho ngoại quan lập và gửi cho hải quan cam
      Giấy cam kết kết khi nào người gửi hàng vào kho hoàn thành thủ tục hải quan và nộp thuế
        thì mới cấp phiếu xuất kho.
      Bonded cargo or Chỉ hàng hóa tạm thời được gởi vào kho ngoại quan (Bonded warehouse) hoặc
      bonded goods để chờ làm thủ tục thông quan hoặc để chờ nộp thuế (nếu có) rồi mới xuất
      Hàng lưu kho ngoại kho chở vào nội địa hoặc tái xuất.
      quan  
      Bonded warehouse or Là kho của hải quan hoặc của tư nhân đặt dưới sự giám sát của hải quan và
      bonded store được dùng để tạm chứa hàng chưa làm thủ tục hải quan và nộp thuế (nếu
      Kho ngoại quan có). Tại các kho này, chủ hàng có thể sửa chữa, đóng gói là phân chia lại
        hàng hóa dưới sự giám sát của hải quan.
      Bond note Khi chủ hàng hoàn thành thủ tục xuất nhập khẩu và nộp thuế (nếu có), hải
      Giấy phép xuất kho quan sẽ cấp một chứng từ gọi là giấy phép xuất kho ngoại quan cho phép
      ngoại quan. hàng được rời để chuyển tiếp vào nội địa hoặc tái xuất đi nước ngoài.
      Booking Thuê tàu chợ để vận chuyển hàng gọi là lưu khoang. Chủ hàng tiếp xúc với
      Việc lưu khoang hãng tàu đại lý, đại diện của hãng tàu hoặc thuyền trưởng và lập đơn lưu
        khoang (Booking note) giữ chỗ trên tàu để vận chuyển hàng. Việc lưu khoang
        chỉ áp dụng trong thuê tàu chợ là những con tàu hoạt động chở thuê đều đặn
        trên một tuyến vận chuyển cố định và theo một lịch trình chạy tàu đã định
        trước. Hàng chuyên chở chủ yếu là hàng khô có bao bì, số lượng không hạn
        chế, không bắt buộc người thuê phải gởi hàng đầy tàu như thuê chuyến.
        Bốc/dỡ và chi phí bốc/dỡ hàng do chủ tàu đảm trách. Cước tàu chợ do chủ tàu
        lập thành biểu cước trong đó quy định cước suất cho từng mặt hàng hay
        nhóm hàng (Liner freight rates). Vận đơn đường biển do thuyền trưởng thay
        mặt hãng tàu ký phát cho người thuê, có chức năng là một hợp đồng vận tải
        đường biển điều chỉnh mối quan hệ pháp lý giữa đôi bên (Liner B/L).
         

    10

         
      Both ends Thuật ngữ thường được dùng trong đàm phán thuê tàu để chỉ chủ tàu và
      Cả hai đầu bến người thuê cùng nhau thỏa thuận mức bốc dỡ, chi phí bốc dỡ hoặc chỉ định đại
        lý…được áp dụng chung cho cả hai đầu bến bao gồm cảng bốc hàng và cảng
        dỡ hàng.
      Both to blame Quy tắc chung của Công ước Brúcxen 1910 được đa số quốc gia áp dụng xử lý
      collision Clause 2 tàu đâm va cùng có lỗi có nội dung như sau: Khi hai tàu đâm va và 2 bên
      Điều khoản 2 tàu đâm cùng có lỗi do hành động bất cẩn hoặc lỗi lầm trong việc chạy tàu và quản trị
      va cùng có lỗi tàu, gây tổn thất tàu và hàng hóa, thì bên này phải đền bù cho bên kia tương
        ứng với mức độ phạm lỗi của mình. Nhưng luật pháp của Hoa Kỳ về tàu đâm
        va nhau lại quy định khác: Khi xảy ra đâm va do lỗi của cả 2 tàu, thì tổng số
        tổn thất về tàu và hàng hóa sẽ được phân chia đều cho mỗi tàu cùng gánh
        chịu một nửa (50%) bất kể mức độ lỗi lầm nhiều ít thế nào. Vì thế, để bảo vệ
        lợi ích của mình, các chủ tàu đưa vào vận đơn ì  Điều khoản 2 tàu đâm va
        cùng có lỗi   với nội dung như sau đây: Nếu vụ tàu đâm va có liên quan đến
        phán quyết của luật pháp Hoa Kỳ thì điều khoản 2 tàu đâm va cùng có lỗi sẽ
        áp dụng theo dưới đây: ì  Nếu tàu chở hàng A đâm va tàu không hàng B do
        hậu quả sơ suất của tàu B và do hành vi sơ suất hoặc lỗi lầm của thuyền
        trưởng, thủy thủ, hoa tiêu hay người phục vụ trong việc chạy tàu và quản trị
        tàu chở hàng A, thì chủ hàng trên tàu A sẽ bồi thường cho người chuyên chở
        (Tàu A) mọi mất mát hoặc trách nhiệm đối với tàu không hàng B đến mức
        mất mát hoặc trách nhiệm này tương ứng với mất mát hoặc hư hỏng mà chủ
        hàng được tàu không hàng B đã hoặc sẽ bồi thường và nó đã được đối chiếu,
        giảm trừ hoặc trích giữ như làmột phần khiếu nại của tàu B đối với tàu A. Quy
        định vừa được đề cập cũng sẽ áp dụng tại nơi nào đó mà chủ tàu, người điều
        hành hoặc người quản lý tàu hay phương tiện nào khác mà phạm lỗi lầm
        trong một vụ tàu đâm va   .
      Box rate Trong vận chuyển hàng bằng container, các hãng tàu lấy container làm đơn vị
      Cước suất container tính và thu cước (khác với tàu hàng thông thường mà tấn trọng lượng hoặc
        mét khối được lấy làm đơn vị tính cước).
      Breakdown Clause or 1. Trong một số hợp đồng thuê tàu định hạn, điều khoản này quy định:
      off-hire Clause ì  Trong trường hợp tàu phải ngừng hoạt động quá 48 tiếng đồng hồ vì lý do
      Điều khoản tàu hỏng hỏng máy, tàu vào ụ khô, thiếu hụt vật phẩm dự trữ, mắc cạn, hun sấy khử
      hay điều khoản đình trùng…thì người thuê sẽ miễn trả cước sau 48 tiếng đồng hồ ấy cho đến khi
      thuê nào con tàu bắt đầu hoạt động toàn bộ bình thường trở lại…   2. Trong một
        số hợp đồng thuê tàu định hạn khác, thời gian đình thuê và người thuê được
        miễn trả cước bắt đầu tính ngay từ khi con tàu phải ngừng hoạt động. Thí dụ:
        Hợp đồng mẫu Baltime quy định: A. Trong trường hợp tàu vào ụ khô hay tiến
        hành các biện pháp cần thiết khác để duy trì hoạt động hữu hiệu của tàu, tàu
        thiếu hụt nhân công hoặc vật phẩm dự trữ thuộc phía chủ tàu đảm trách, tàu
        hỏng máy hay hư vỏ hay gặp tai nạn khác cản trở hoặc ngăn chặn hoạt động
        của con tàu mà thời gian kéo dài quá 24 tiếng đồng hồ liên tục, thì người thuê
        được miễn trả cước suốt thời gian con tàu mất khả năng đáp ứng ngay đòi hỏi
        của dịch vụ. Tiền cước nếu đã trả trước cũng sẽ được điều chỉnh lại tương
        ứng. B. Trong trường hợp vì thời tiết bắt buộc mà tàu vào cảng hoặc đến nơi
        neo đậu, tàu hoạt động tại các cảng mớn nước nông, tại các con sông hoặc
        các cảng có cồn, cát, hoặc tàu hứng chịu một tai nạn xảy ra đối với hàng
        chuyên chở, thì bất cứ tình hình chậm trễ nào và/hoặc bất cứ chi phí nào do
        đó phát sinh đều sẽ thuộc về người thuê gánh chịu, cho dù tình hình chậm trễ
        và/hoặc chi phí ấy có nguyên nhân trong sự sơ suất của những người giúp
        việc cho chủ tàu. Điều này cho thấy những quy định của điều khoản đình thuê
        trong các hợp đồng thuê tàu định hạn tồn tại nhiều khác biệt phức tạp về cách
        quy nguyên nhân và giải quyết hậu quả. Vì vậy, người thuê và chủ tàu cần
        thương lượng để có sự thỏa thuận thống nhất. Tại điều khoản này, chủ tàu có
        thể chấp nhận trả các phụ phí do tình hình ngừng hoạt động của tàu gây ra.
        Thí dụ: phí đặc biệt về cung cấp nhiên liệu, nước ngọt, …cho tàu.
      Broken Stowage Là khoảng không gian hoặc khe hở trong hầm hàng do cấu trúc con tàu, do
      Khoảng trống chất xếp bao bì hàng hóa hoặc do sử dụng vật liệu chèn lót ngăn cách hàng hóa…tạo
        ra và gây hậu quả làm giảm bớt dung tích chứa hàng của tàu.
      Brokerage Số tiền thù lao được tính theo một tỷ lệ nhất định của tổng số cước phí mà
      Hoa hồng môi giới chủ tàu trả cho người môi giới về vai trò trung gian trong đàm phán ký kết
        hợp đồng thuê tàu giữa chủ tàu và chủ hàng.
         

    11

                 
        Bulk cargo   Dùng để chỉ những loại hàng không đóng bao, được chuyên chở dưới dạng rời    
             
        Hàng rời   còn gọi là chở xá (Carriage in bulk) như: Than đá, quặng, ngũ cốc, dầu mỏ,    
            phân bón, ximăng,…    
                 
        Bulker or Bulk ship   Là loại tàu chở hàng khô không đóng bao (Hàng rời), cấu trúc một boong    
        (Bulk carrier)   (Single deck), có sức chở lớn từ một vạn đến vài vạn tấn trọng tải, tốc độ    
        Tàu chở hàng khô rời   trung bình khoảng 14-15 hải lý/giờ, trang thiết bị làm hàng phù hợp với đặc    
            tính của từng loại hàng. Các loại tàu chở hàng rời phổ biến gồm có: Tàu chở    
            than (Coal carrier), chở quặng (Ore carrier), chở ngũ cốc (Cereal carrier), chở    
            xi măng (Cement carrier), chở phân bón (Fertilizer), tàu chở hàng rời-dầu hỗn    
            hợp (Bulk-Oil Carrier), tàu chở hàng rời-quặng hỗn hợp (Bulk-Ore Carrier),…    
                 

    Bunker adjustment        Số tiền phụ thu mà người thuê phải trả thêm cho chủ tàu ngoài cước suất gốc

    charges (BAC) được công bố của hãng tàu chợ hay hãng tàu Container, khi nhiêu liệu sử Phí điều chỉnh giá nhiên dụng cho tàu tăng giá bất thường vào một thời điểm nào đó. liệu

        Bulker adjustment   Tỷ lệ phần trăm mà chủ tàu công bố làm cơ sở tính phí điều chỉnh giá nhiên    
             
        factor (BAF)     liệu, khi nhiên liệu sử dụng cho tàu tăng giá bất thường vào một thời điểm    
        Hệ số điều chỉnh giá   nào đó. Tiền phụ thu này được gọi là phụ thu nhiên liệu (Bunker surcharge).    
        nhiên liệu.          
                   
        Bunker Clause     Điều khoản này trong hợp đồng thuê định hạn quy định người thuê sẽ chấp    
        Điều khoản nhiên liệu   nhận và chi trả số nhiên liệu còn sót trong bồn chứa của tàu tại cảng giao tàu    
              và chủ tàu sẽ chấp nhận và chi trả số nhiên liệu còn sót trong bồn chứa tại    
              cảng hoàn trả tàu theo mức giá nhiên liệu tại các nơi ấy. Mức tối đa và tối    
              thiểu của số lượng nguyên liệu này do hai bên quy định. Ngoài ra, cũng có    
              trường hợp chủ tàu thương lượng với người thuê để nhận được một số lượng    
              nhiên liệu tại cảng hoàn trả tàu lớn hơn số lượng nhiên liệu quy định trong    
              hợp đồng khi giá nhiên liệu mua dọc đường rẻ hơn giá nhiên liệu tại cảng    
              hoàn trả tàu. Lợi ích thu được từ chênh lệch giá nhiên liệu chở dôi thêm sẽ    
              được thỏa thuận chia đều cho 2 bên theo tỷ lệ 50/50.    
       

    C   (Back to top)

             
        Car carrier Là loại tàu chuyên dùng được đóng và trang bị riêng để chở ô tô xếp trần lên tàu :    
        Tàu chở ô tô cầu dẫn để đưa xe lên xuống tàu và nhiều tầng để chất xếp xe thuận lợi.    
        Cargo capacity Thuật ngữ thường được dùng trong hợp đồng thuê để chỉ số tấn hàng hóa mà tàu có    
        or cargo thể chở an toàn đến dấu chuyên chở mùa hè(Summer loadline mark). Sức chở hàng    
        carrying của một con tàu tùy thuộc một phần vào tính chất của từng loại hàng mà đặc biệt là    
        capacity. hệ số chất xếp của nó (Stowage factor).    
        Trọng tải hàng          
        hóa(Sức chở          
        hàng)          
        Cabotage or Là hoạt động vận chuyển của các con tàu giữa các cảng ven bờ của cùng một nước.    
        coasting trade Nói chung, tàu nước ngoài không được tham gia vận tải ven bờ trừ khi có sự cho    
        Hàng hải ven bờ phép của nước sở tại.    
        Cancelling date Trong hợp đồng thuê tàu chuyến hoặc thuê tàu định hạn, điều khoản hủy hợp đồng    
        or cancelling (Cancellation Clause) quy định người thuê tàu có quyền hủy hợp đồng nếu con tàu    
        day được thuê chuyến không đến cảng bốc hàng hoặc con tàu được thuê định hạn không    
        Hạn (ngày) hủy đến địa điểm giao tàu đúng kỳ hạn quy định, cho dù bất cứ nguyên nhân nào ngoài    
        hợp đồng sự kiểm soát của chủ tàu và cho dù thuyền trưởng đã tích cực cố gắng để khắc phục    
          chậm trễ. Theo mẫu chuẩn hợp đồng thuê chuyến Gencon thì trong trường hợp trên,    
          người thuê tàu phải kịp thời thông báo cho chủ tàu việc hủy hợp đồng chậm nhất 48    
          tiếng đồng hồ trước khi tàu đến cảng bốc hàng. Theo mẫu chuẩn hợp đồng thuê    
          định hạn Baltime, người thuê phải thông báo hủy bỏ hợp đồng trong vòng 48 tiếng    
          đồng hồ sau khi đã được chủ tàu cho biết tàu sẽ không đến kịp kỳ hạn tại địa điểm    
          giao tàu. Nghĩa vụ của chủ tàu và thuyền trưởng là đưa tàu đến cảng hoặc địa điểm    
          quy định đúng kỳ hạn. Nếu cố tình hoặc chểnh mảng, gây ra chậm trễ thì đó là một    
          vi phạm hợp đồng dẫn đến người thuê có quyền hủy hợp đồng hoặc tiếp tục thuê    
          tùy theo sự cân nhắc, tính toán. Mặt khác, chủ tàu có thể phải chịu trách nhiệm bồi    
          thường tổn thất cho người thuê ở một mực độ nào tùy quy định của hợp đồng, mặc    
          dù cũng ít khi người thuê tàu đòi bồi thường vì tàu không đến đúng hạn.    
        Cargo capacity Thuật ngữ thường được dùng trong hợp đồng thuê để chỉ số tấn hàng hóa mà tàu có    
        or cargo thể chở an toàn đến dấu chuyên chở mùa hè (Summer loadline mark). Sức chở    
        carrying hàng của một con tàu tùy thuộc một phần vào tính chất của từng loại hàng mà đặc    
                   
         
      capacity biệt là hệ số chất xếp của nó (Stowage factor).
      Trọng tải hàng  
      hóa (Sức chở  
      hàng)  
        Là sơ đồ bố trí hàng hóa trên một con tàu, có tác dụng giúp nắm được vị trí, tạo
      Cargo plan or thuận lợi cho việc làm hàng, giao nhận hàng an toàn, nhanh chóng, tránh nhầm lẫn.
      stowage plan Sơ đồ là một hình vẽ mặt cắt dọc của con tàu, trên đó từng lô hàng được xếp chung
      Sơ đồ xếp hàng tại một nơi chứa trong hầm, có đánh dấu theo vận đơn hoặc tô bằng màu khác nhau
        để tiện theo dõi.
      Cargo Do chủ tàu hoặc người thuê tàu phân công đi theo chăm sóc, bảo quản và giao nhận
      superintendent đối với một loại hàng cá biệt (súc vật sống, hàng có giá trị cao,…) trong suốt quá
      Người áp tải hàng trình vận chuyển.
      Carrier 1. Người chuyên chở    Người vận tải Là một bên ký kết một hợp đồng chuyên chở
        với một người gửi hàng. Họ có thể là người chủ tàu (Owner of vessel) hoặc là người
        thuê tàu (Charterer). Họ có thể là người chuyên chở công cộng (Common carrier),
        kinh doanh dịch vụ chở thuê cho mọi chủ hàng hoặc là người thầu chuyên chở
        (Contracting carrier) trong vận chuyển đi suốt và vận tải đa phương thức. 2. Tàu
        vận chuyển Là bất kỳ loại tàu nào dùng vào việc chuyên chở hàng đường biển. Thí
        dụ: Tàu chở hàng bách hóa (General cargo carrier), tàu chở hàng rời (Bulk carrier),
        tàu chở dầu (Oil carrier), tàu chở hàng hạt rời (Grain carrier), tàu chở khí dầu hóa
        lỏng (Liquid petrolium gas carrier), tàu chở súc vật sống (Cattle carrier),…
      Cell guide Dùng để giữ chặt container đúng với vị trí trong ô tàu container (cell) để bảo đảm
      Cấu trúc định an toàn.
      hướng chất xếp  
      Chartering Người kinh doanh dịch vụ hàng hải làm môi giới trung gian theo ủy thác của chủ
      broker hàng để tìm thuê tàu hoặc theo ủy thác của chủ tàu để tìm hàng chở thuê. Họ có
      Môi giới thuê tàu thể ký kết hợp đồng thuê tàu theo ủy quyền của chủ hàng hoặc chủ tàu và hưởng
        hoa hồng môi giới theo tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền cước vận chuyển
        (Brokerage commission).
      Charter – Party Là những hợp đồng thuê tàu được các tổ chức hàng hải quốc tế, các chủ tàu hoặc
      Standard các tổ chức giao nhận quốc tế soạn thảo làm mẫu chuẩn cho đàm phán và ký kết
      Mẫu chuẩn hợp hợp đồng thuê tàu. Nội dung của hợp đồng bao gồm nhiều điều khoản khá đầy đủ
      đồng thuê tàu về điều kiện pháp lý, điều kiện vận chuyển, điều kiện cước phí và một số điều kiện
        khác. Mỗi mẫu chuẩn hợp đồng thuê tàu được dùng cho một loại hàng hoặc một
        mặt hàng nào đó và có mã số gọi riêng (Code name). Có thể chia mẫu chuẩn hợp
        đồng thuê tàu làm 2 loại: 1. Loại được sử dụng phổ biến và chính thức được một số
        tổ chức hàng hải quốc tế hoặc quốc gia thừa nhận: – Hợp đồng chở bách hóa thống
        nhất, mã số ì  Gencon   . – Hợp đồng chở ngũ cốc Úc, mã số ì  Auswheat   . – Hợp
        đồng chở than biển Đông, mã số ì  Centrocon   . – Hợp đồng thuê định hạn, mã số
        ì  Baltime   … 2. Loại mang tính riêng biệt (Private form), ít được phổ biến và sử
        dụng trong trường hợp cá biệt: – Hợp đồng chở quặng sắt Na Uy (Iron Ore Charter
        Party from Narvik). – Hợp đồng chở phốt phát Ai Cập (Egyptian Phosphate
        Charter). – Hợp đồng chở than Nam Phi (South African Coal Charter). Đối với loại
        hợp đồng này, người thuê cần cẩn thận khi sử dụng vì thông thường nó chưa phải là
        một mẫu chuẩn hoàn chỉnh và được quốc tế rộng rãi thừa nhận. Khi sử dụng các
        mẫu chuẩn hợp đồng thuê tàu, cần chú ý đến ngày tháng soạn thảo vì nó đã trải
        qua nhiều lần sửa chữa, bổ sung. Mặt khác, tuy hợp đồng được gọi là mẫu chuẩn
        nhưng không mang tính bắt buộc mà tùy người thuê và chủ tàu thương lượng và
        thỏa thuận, có thể giữ lại, hủy bỏ hoặc sửa đổi bổ sung. Điều này thường không
        tránh khỏi trong việc lập và ký kết hợp đồng, thậm chí còn thêm một phụ bản với
        nhiều điểm bổ sung phù hợp yêu cầu thực tế của chuyên chở.
      Change of Chỉ con tàu sau khi bắt đầu hành trình lại thay đổi cảng đích (Cảng dỡ hàng) mà
      voyage hợp đồng thuê chuyến trước kia đã quy định. Trừ khi hợp đồng bảo hiểm có quy
      Thay đổi hành định khác còn thì người bảo hiểm sẽ được miễn trách đối với mọi tổn thất của
      trình tàu/hàng xảy ra kể từ lúc con tàu rời khỏi hành trình cũ mà hợp đồng trước kia đã
        quy định.
      Charterer Là người hoặc công ty thuê tàu của chủ tàu để chở hàng chuyến giữa các cảng
      Người thuê tàu (Voyage charterer) hoặc để tự kinh doanh chuyên chở trong một thời gian nhất định
        (Time charterer).

     

    D   (Back to top)

     
         

    13

         
      Damages for Trong một số hợp đồng có qui định thời gian phạt bốc/dỡ chậm (Dumurrage
      detention layday), người ta còn qui định thêm:”Nếu người thuê tàu lưu giữ tàu vượt quá
      Tiền phạt lưu giữ tàu thời gian bốc/dỡ chậm thì họ phải chịu phạt về việc lưu giữ tàu tại cảng bốc
        dỡ với số tiền cao hơn số tiền phạt bốc dỡ chậm”. Thí dụ: “Thời gian áp dụng
        tiền phạt bốc dỡ chậm là 10 ngày với mức phí 5.000USD/tàu/ngày và thời
        gian sau 10 ngày sẽ áp dụng tiền phạt lưu tàu với mức phí 7.000
        USD/tàu/ngày”.
      Days all purposes Thuật ngữ được dùng trong hợp đồng thuê tàu chuyến để chỉ: Ngày bốc và dỡ
      Ngày bốc và dỡ hàng hàng được tính gộp chung ở cả hai đầu cảng bốc và cảng dỡ. Thí dụ: Thời gian
      tính gộp được phép, 10 ngày bốc và dở hàng tính gộp:(Time allowed, 10 days all
        purposes).
      Deadfreight Là khoản tiến cước của số lượng hàng mà người thuê tàu tuy đã thoả thuận
      Cước khống giao xuống tàu để gửi đi theo qui định của hợp đồng thuê tàu nhưng lại do
        nhiều nguyên nhân trên thực tế hàng không gửi đi được, khiến cho khả năng
        chuyên chở của con tàu không được tận dụng, trọng tải và dung tích tàu dành
        cho số hàng bị bỏ trống.
      Deadweight charter Là cách thuê tàu chở hàng khô rời trên cơ sở tiền cước được trả theo tấn trọng
      Thuê bao trọng tải tải của con tàu (còn gọi là thuê bao cả tàu). Mục đích của người thuê bao
        trọng tải tàu là tạo thế chủ động trong việc chọn lựa chủng loại và số lượng
        hàng chuyên chở phù hợp với khả năng vận chuyển của con tàu được thuê.
        Người thuê bao sẽ không trả cước khống nếu tàu không đầy hàng
      Damages for Trong một số hợp đồng có quy định thời gian phạt bốc/dỡ chậm (Durmurrage
      detention layday), người ta còn quy định thêm: ì  Nếu như người thuê tàu lưu giữ tàu
      Tiền phạt lưu giữ tàu vượt quá thời gian bốc/dỡ chậm thì họ phải chịu phạt về việc lưu giữ tàu tại
        cảng bốc/dỡ với số tiền cao hơn tiền phạt bốc dỡ chậm   . Thí dụ: ì  …thời
        gian áp dụng tiền phạt bốc dỡ chậm là 10 ngày với mức phí 5.000 USD/ tàu/
        ngày và thời gian sau 10 ngày sẽ áp dụng tiền phạt lưu tàu với mức phí 7.000
        USD/ tàu/ ngày   .
      Dangerous goods Gồm các loại hàng có đặc tính lý hóa dễ gây cháy, nổ, ăn mòn, nhiễm độc,
      Hàng hóa nguy hiểm phóng xạ, …đe doạ sinh mệnh con người và tài sản trong quá trình bảo quản
        và vận chuyển. Vì lẽ đó, căn cứ vào nhóm, loại hàng nguy hiểm và cách
        chuyên chở mà người ta đề xuất áp dụng những quy tắc vận chuyển thích hợp
        riêng biệt: – Quy tắc vận chuyển hàng nguy hiểm đường biển (IMDG Code) –
        Quy tắc vận chuyển hàng nguy hiểm đường bộ và đường sắt (ADR/RID) – Quy
        tắc vận chuyển hàng nguy hiểm đường hàng không (DGR). Các quy tắc này
        đòi hỏi chủ hàng    người gửi hàng và người chuyên chở    chủ tàu sự tuân
        thủ nghiêm ngặt trong các vấn đề bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, cách bốc
        dỡ, chất xếp, vận chuyển và biện pháp xử lý thích đáng.
        Là ngày vượt quá số lượng ngày được phép dùng cho bốc / dỡ hàng theo quy
      Days on demurrage. định của hợp đồng thuê tàu. Số ngày bốc / dỡ chậm được tính theo số ngày
      (Demurrage days) bình thường (Running days) nghĩa là bao gồm ngày làm việc, ngày Chủ nhật
      Ngày bốc / dỡ chậm và ngày lễ, bất luận thời tiết tốt hoặc xấu. Trong một số hợp đồng thuê tàu,
        ngày bốc / dỡ chậm được giới hạn cụ thể. Thí dụ: 10 ngày. Nếu ngày bốc / dỡ
        chậm vượt quá số lượng ấy và theo yêu cầu của chủ hàng, tàu vẫn ở tại cảng
        tiếp tục làm hàng, thì người thuê phải đền bù cho chủ tàu những tổn thất do
        tàu bị lưu giữ.
      Deadfreight Là khoản tiền cước của số lượng hàng mà người thuê tàu tuy đã thỏa thuận
      Cước khống giao xuống tàu để gửi đi theo quy định của hợp đồng thuê tàu nhưng lại do
        nhiều nguyên nhân trên thực tế hàng không gửi đi được, khiến cho khả năng
        chuyên chở của con tàu không được tận dụng, trọng tải và dung tích tàu dành
        cho số hàng bị bỏ trống. Cần lưu ý: Cước khống là tiền cước của lô hàng
        không thực sự gửi đi do đó phải trừ đi phí bốc / dỡ hàng không được tính vào
        nếu hợp đồng thuê tàu đã ký trước khi quy định tiền cước và phí bốc / dỡ tính
        gộp, theo điều kiện bốc / dỡ tàu chợ (liner terms).
      Deadweight Là sức chở của con tàu được đo bằng tấn    mét hệ (Metric ton = 1.000 kg),
      Trọng tải của tàu tấn Anh (British ton = 1016 kg) hoặc tấn Mỹ (US ton = 907,2 kg). Có hai loại
        trọng tải của tàu: – Trọng tải toàn phần (Gross deadweight or deadweight all
        told) bao gồm: Trọng lượng hàng hóa, trọng lượng hành khách và hành lý
        (nếu có), trọng lượng vật phẩm cung ứng cho chuyến đi: nhiên liệu, dầu mỡ,
        nước ngọt, thực phẩm, vật liệu phụ tùng dự trữ, trọng lượng thuyền viên và
        hành trang (D.W.T = DW.a.t). – Trọng tải tịnh (Cargo deadweight or cargo
         

    14

           
        deadweight capacity): Là trọng lượng toàn bộ hàng hóa mà con tàu chở được  
        (D.V.C.C.). Theo công ước quốc tế về dấu chuyên chở (International  
        Convention on Loadline) trọng tải tàu được ghi trong Giấy chứng nhận trọng  
        tải là trọng tải toàn phần và trọng tải tịnh của con tàu khi mớn nước của tàu  
        đặt dấu chuyên chở nước biển mùa hè làm tiêu chuẩn.  
           
        Là cách thuê tàu chở hàng khô rời trên cơ sở tiền cước được trả theo tấn trọng  
      Deadweight charter tải của con tàu (còn gọi là thuê bao cả tàu). Mục đích của người thuê bao  
      Thuê bao trọng tải trọng tải tàu là tạo thế chủ động trong việc chọn lựa chủng loại và số lượng  
        hàng chuyên chở phù hợp với khả năng vận chuyển của con tàu được thuê.  
        Người thuê bao sẽ không trả cước khống nếu tàu không đầy hàng.  
           

     

    E

    (Back to top)

         
             
      Escalation clause Mục đích của điều khoản này nhằm bảo vệ lợi ích của đương sự (Chủ tàu hay    
      Điều khoản tăng giá chủ hàng) tránh khỏi việc gánh chịu hậu quả của giá cả tăng lên làm nảy sinh    
      hay giá cả leo thang những thiệt hại bất ngờ. Điều khoản qui định cho phép đương sự được thu phụ    
          phí để bù đắp tổn thất hoặc qui định cho phép đương sự được quyền từ chối    
          thanh toán những chi phí đột xuất xét ra không thuộc trách nhiệm của mình.    
             
      Endorsement 1. Việc ký hậu Vận đơn, ngân phiếu hoặc hợp đồng bảo hiểm được ký hậu    
          (Endorsed), có nghĩa là người nhận hàng có tên ghi trên vận đơn theo lệnh (to    
          order B/L), người chủ ngân phiếu hoặc người được bảo hiểm có tên trong hợp    
          đồng bảo hiểm thực hiện quyền làm chủ sở hữu tài sản hoặc quyền lợi của    
          mình bằng cách ký tên trên trang sau của chứng từ hữu quan để xác nhận    
          việc chuyển nhượng cho một người nào khác gọi là người thụ hưởng    
          (Endorsee). Có 2 loại ký hậu phổ biến: – Ký hậu để trống (Blank or general    
          endorsement): trên chứng từ không ghi tên người được ký hậu, ai có được    
          chứng từ ký hậu này, thì người ấy có quyền thụ hưởng tài sản hoặc quyền lợi    
          được chuyển nhượng. – Ký hậu ghi danh (full endorsement): trên chứng từ có    
          ghi tên người được kýhậu và người này là người thụ hưởng tài sản hoặc quyền    
          lợi được chuyển nhượng. 2. Giấy bảo hiểm bổ sung. Sau khi cấp đơn bảo hiểm    
          chính thức mà người được bảo hiểm yêu cầu sửa đổi, bổ sung một số chi tiết    
          trong đơn bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ căn cứ yêu cầu ấy để cung cấp 1    
          giấy bảo hiểm bổ sung có giá trị pháp lý đầy đủ kèm theo đơn bảo hiểm.    
             
      Even if used (E.i.u.) Thuật ngữ dùng trong thuê tàu chuyến, có nghĩa là: những ngày được trừ ra    
      Cho dù được sử dụng không tính vào thời gian bốc dỡ hàng nếu được sử dụng vào bốc dỡ hàng cũng    
          không tính vào thời gian bốc dỡ.    
             
      Exceptions clause Thường được đưa vào hợp đồng thuê tàu chuyến hoặc vận đơn tàu chợ quy    
      Điều khoản miễn trừ định cho tàu chở hàng được miễn trách nhiệm đối với hư hỏng hàng do những    
          nguyên nhân được nêu ra như: thiên tai bất khả kháng, sơ suất điều khiển tàu    
          của thuyền trưởng,…    
             
      Excess landing Chỉ hàng hóa được giao lên bờ vượt quá số lượng đã ghi trong bản lược khai    
      Giao vượt số lượng của tàu (shipí  s manifest).    
             
      Ex – quay Là một điều kiện mua bán quốc tế, theo đó người bán giao hàng cho người    
      Giao tại cầu cảng mua tại cầu cảng đến được quy định trong hợp đồng.    
             
      Ex – Ship Là một điều kiện mua bán quốc tế, theo đó người bán giao hàng cho người    
      Giao tại tàu (Cảng đến mua trên tàu tại cảng đến được quy định trong hợp đồng.    
      quy định)      
             
      Ex – Works Là một điều kiện mua bán quốc tế, theo đó người bán giao hàng cho người    
      Giao tại xưởng mua tại xưởng sản xuất của mình.    
      F (Back to top)      
               

    Far Eastern Freight Conference (FEFC) Hiệp hội vận tải Viễn đông

    Hiệp hội thành lập từ cuối thế kỷ 19, bao gồm nhiều hảng tàu chợ liên kết kinh doanh chở thuê hàng hoá từ Châu Âu đi Viễn đông Châu Á và ngược lại. Ban thư ký hiệp hội đóng tại London và các phân ban đóng tại một số cảng Hamburg, Rotterdam, Antwerp…. Các thành viên chủ chốt gồm có các hãng

    tàu : Peninsular & Orient Steam Navigation Company (P&O) của Anh, Nedlloyd của Hà Lan, Maersk của Bỉ, Nippon Yusen Kaisa (NYK) của Nhật, Compagnien Générale Maritime của Pháp (CGM), Nepture Orient Line (NOL) của Singapore, Amarican President Lines của Hoa Kỳ, Swedish East Asiatic Co.,Ltd của Thuỵ Điển, Lloyd Triestino Societa Anonima di Navigazione của

    15

           
        Ý,…  
      Feeder vessel or Loại tàu container cỡ nhỏ, có sức chứa khoảng vài trăm container 20í  (TEU),
      feeder ship hoạt động trên tuyến vận chuyển nhanh (Feeder service), phục vụ việc tập
      Tàu Container tiếp vận trung hoặc phân phối container hàng hóa giữa các cảng nhánh (feeder ports)
        và các cảng bốc/dỡ trung tâm (hub ports) của các con tàu container cỡ lớn
        chuyên hoạt động đường dài. Thông thường các hãng tàu container này thu
        cước vận chuyển suốt (through rate) trong đó bao gồm cả cước vận chuyển
        nhanh.  
      FIATA (Fédération Là một tổ chức quốc tế rộng rãi, lớn mạnh và có uy tín gồm các hiệp hội giao
      internationale des nhận với nhiều nước là thành viên hoạt động trên lĩnh vực giao nhận hàng
      associa-tions de quốc tế. Được thành lập tại Viên năm 1926 và có trụ sở tại Zurich (Thụy Sĩ).
      transitaires et Hiện nay, FIATA bao gồm 35.000 thành viên của trên 130 quốc gia, trong đó
      assimilés) có ì  Hiệp hội giao nhận Việt Nam   (VIFFAS) được thành lập từ 18/5/1994.
      Liên đoàn quốc tế các FIATA là một tổ chức phi chính phủ nhưng được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế
      hiệp hội giao nhận kể cả các tổ chức kinh tế của Liên Hiệp quốc (UNC TAD, IATA, IMO,…) xem
        như một tư vấn giao nhận, vận tải quốc tế. FIATA đã soạn thảo nhiều văn
        kiện giá trị như: Điều lệ giao nhận, vận đơn,… được thừa nhận và sử dụng
        rộng rãi.  
      Final sailing Một con tàu được coi như đã thực hiện chuyến rời cảng cuối cùng khi nó đã
      Chuyến rời cảng cuối nhận xong hàng và rời cảng bốc hàng, thực hiện chuyến vận chuyển cuối
      cùng cùng theo quy định của một hợp đồng thuê tàu.  
      Fast as can Thuật ngữ được dùng trong trường hợp giao nhận hàng không có định mức
      Nhanh có thể được bốc dỡ, chỉ quy định chung chung bốc/dỡ nhanh đến mức mà tàu có thể giao
        hoặc nhận được. Thí dụ: tàu đảm trách bốc/dỡ hàng nhanh đến mức mà tàu
        có thể nhận hoặc giao được (Liner terms as fast as the vessel can receive or
        deliver).  
      Firm order 1. Đơn đặt thuê tàu cố định (Không thay đổi) 2. Đơn đặt mua hàng cố định
        Trong nghiệp vụ thuê tàu, khi người thuê tàu đưa ra một đơn đặt thuê tàu cố
        định, điều đó có nghĩa là người thuê có yêu cầu chắn chắn về thuê chở hàng
        và đã chuẩn bị sẵn sàng để đi vào thương lượng cụ thể, dứt khoát (Firm
        negociations) với người chở thuê (Chủ tàu) để ký kết hợp đồng thuê tàu.
        Thông thường, để chủ động trong tìm thuê tàu, người thuê quy định rõ thời
        hạn mà người nhận đơn đặt thuê phải trả lời. Nếu quá hạn quy định, đơn đặt
        thuê sẽ không còn hiệu lực. Thí dụ: Firm order with daysí notice (đơn đặt
        thuê cố định trong…ngày)  
      First refusal Thông thường trong đàm phán ký kết hợp đồng thuê tàu, chủ tàu và người
      Quyền ưu tiên thuê đều cố gắng giành quyền ưu tiên về quyết định hoặc chọn lựa một giải
        pháp nào đó có lợi cho mình. Thí dụ: Khối lượng lô hàng chuyên chở từ cảng X
        đến cảng Y là 10,000 tấn mét-hệ bột mì đóng bao có cộng thêm hoặc trừ đi
        10% tùy theo chọn lựa của chủ tàu (10,000 metric tons flour in bags with
        10% more or less at ownerí  s option). Như vậy, chủ tàu có quyền ưu tiên
        quyết định khối lượng hàng nhận chở phù hợp với thoả thuận nói trên. Tuy
        nhiên, cũng có những trường hợp người thuê cho chủ tàu được hưởng quyền
        ưu tiên về chuyên chở hàng của mình trên một tuyến đường nào đó nhằm
        khuyến khích, động viên sự tích cực hợp tác của chủ tàu. Thí dụ: ì  Người thuê
        dành quyền ưu tiên cho chủ tàu về chuyên chở toàn bộ số gạo của mình đi từ
        Việt Nam đến các cảng Đông Phi châu trong năm 199… (Charterer to give
        Ownerí  s first refusal on all shipments of rice from Vietnam to East Coasts of
        Afica during 199…)  
      Flat rate Khi chủ hàng có yêu cầu chở hàng đến một vùng cảng (Range of ports) bao
      Cước suất đồng loạt gồm một số cảng nằm trong phạm vi được xác định bởi 2 cảng đầu và cuối và
        một trong các cảng ấy sẽ được chọn làm cảng dỡ hàng, thì người thuê tàu và
        người chuyên chở có thể thỏa thuận quy định cước suất đồng loạt, không thay
        đổi khi hàng được dỡ tại bất cứ cảng nào trong vùng cảng đó, bất kể cự ly vận
        chuyển xa hay gần. Ngoài ra, cước suất đồng loạt cũng có thể được áp dụng
        đối với một số loại hàng chuyên chở tương tự mà chủ hàng thuê chở chưa thể
        khẳng định tên mặt hàng cụ thể sẽ được vận chuyển.  
      Floating policy Là loại hợp đồng bảo hiểm hàng hóa có ghi các điều khoản bảo hiểm chung
      Hợp đồng bảo hiểm để chưa xác định tên tàu và các chi tiết khác. Phần khai báo tên tàu và các chi
      ngỏ tiết khác sẽ được thực hiện sau, bằng cách nào tùy hai bên (Người bảo hiểm
        và người được bảo hiểm) thỏa thuận. Hợp đồng bảo hiểm để ngỏ có nhiều nét
           

    16

         
        giống hợp đồng bảo hiểm bao (Open cover), nhưng trong hợp đồng bảo hiểm
        để ngỏ, phí bảo hiểm phải được trả ngay khi ký kết và một khi số tiền bảo
        hiểm được khai báo vượt mức quy định của hợp đồng đã ký thì hai bên phải
        ký tiếp một hợp đồng bảo hiểm khác.
      Forwarding agent Là người (công ty) nhận ủy thác của một người khác (chủ hàng, người chuyên
      (Forwarder) chở, người giao nhận khác…) để theo chỉ dẫn của người này mà làm thay các
      Đại lý giao nhận phần việc liên quan đến giao nhận hàng chuỵên chở trong hay ngoài nước:
        Giao hàng xuất khẩu, nhận hàng nhập khẩu, lưu kho hàng hóa, làm thủ tục
        hải quan, thu trả tiền hàng hay cước phí… Đại lý giao nhận được hưởng hoa
        hồng đại lý cao thấp tùy theo mức độ dịch vụ giao nhận được ủy thác
        (Forwarding agentí  s commission)
      Franchise Là tỷ lệ miễn trách nhiệm bồi thường cho người bảo hiểm trong một vụ tổn
      Mức miễn giảm thất hàng hóa. Có hai loại miễn giảm: – Miễn giảm có trừ (Deductible
        franchise): Người bảo hiểm chỉ bồi thường phần tổn thất vượt quá tỷ lệ miễn
        giảm quy định trong hợp đồng bảo hiểm. Thí dụ: Miễn giảm có trừ 3% (Free
        from 3%) . Có nghĩa là: Tổn thất dưới 3% thì không bồi thường và nếu tổn
        thất trên 3% thì chỉ bồi thường phần vượt quá 3% của số tiền bảo hiểm. –
        Miễn giảm không trừ (Non-deductible franchise): Người bảo hiểm không bồi
        thường nếu tổn thất thấp hơn mức miễn giảm quy định; nhưng nếu tổn thất
        vượt quá mức miễn giảm quy định thì người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ
        tổn thất. Thí dụ: Mức miễn giảm không trừ quy định 3% (Warranted free from
        particular average under 3%), nay tổn thất là 5%, vượt quá mức giảm quy
        định là 3%, thì người bảo hiểm sẽ đền trọn tổn thất là 5% của toàn bộ số tiền
        bảo hiểm.
      Free alongside ship Là điều kiện mua bán quốc tế, theo đó người bán có trách nhiệm và chịu chi
      (FAS) phí cho đến khi hàng được đặt dọc mạn tàu tại cảng xếp hàng quy định trong
      Giao dọc mạn tàu hợp đồng.
      Free despatch Dùng trong hợp đồng vận tải chuyến để chỉ người chuyên chở (Chủ tàu)
      Miễn thưởng bốc / dỡ không phải chi trả tiền thưởng bốc / dỡ nhanh cho chủ hàng, cho dù người
      nhanh này đã rút ngắn được thời gian bốc / dỡ hàng sớm hơn quy định của hợp
        đồng.
      Free in and out (FIO) Thuật ngữ thuê tàu hàng hải dùng để chỉ: Người chuyên chở (Chủ tàu) không
      (to the ship) có trách nhiệm trả phí bốc / dỡ hàng (loading and dis-charging charges). Phí
      Miễn phí bốc và dỡ bốc / dỡ hàng do người thuê tàu gánh chịu và như vậy họ cũng phải tự đảm
        trách việc bốc / dỡ hàng.
      Free in and out, Thuật ngữ thuê tàu dùng để chỉ: Người chuyên chở (Chủ tàu) không có trách
      stowed and trimmed nhiệm trả phí bốc / dỡ, kể cả việc chất xếp và san cào hàng trong hầm tàu và
      (FIOST) như vậy cũng không chịu trách nhiệm bốc / dỡ, làm hàng… Trách nhiệm bốc /
      Miễn phí bốc và dỡ, dỡ, chất xếp và san cào hàng tại hầm tàu cùng các chi phí phát sinh thuộc về
      chất xếp và san cào người thuê tàu gánh chịu.
      hàng  
      Free in and out and Theo quy định này, người chuyên chở (Chủ tàu) không đảm trách việc bốc dỡ,
      free taxes việc chi trả phí bốc dỡ và cũng không gánh chịu việc nộp các loại thuế liên
      Miễn phí bốc và dỡ và quan do chính quyền địa phương đặt ra. Việc bốc dỡ hàng, chi trả phí làm
      miễn nộp thuế hàng và nộp thuế tại địa phương sẽ do người thuê tàu chịu trách nhiệm.
      Free on board (FOB) Là điều kiện mua bán quốc tế, theo đó, người bán có trách nhiệm và chịu chi
        phí cho đến khi hàng được giao lên tàu tại cảng xếp hàng quy định trong hợp
        đồng.
      Free Pratique Theo tập quán hàng hải quốc tế, bất cứ tàu buôn nào muốn được vào cảng và
      Miễn dịch    Giấy chứng cập bến, đều phải chịu thủ tục kiểm tra vệ sinh đối với thuyền viên, hành
      miễn dịch khách và hàng hóa thuộc loại động thực vật, thực vật nếu có. Việc kiểm tra
        này do tổ chức y tế, vệ sinh nước sở tại thực hiện. Nếu con tàu đáp ứng đầy
        đủ điều kiện y tế vệ sinh thì sẽ được coi là miễn dịch (To be in free pratique)
        và sẽ nhận được một giấy chứng miễn dịch cho phép tàu được cập cảng và
        làm hàng. Ngược lại, nếu tàu không đáp ứng đầy đủ điều kiện y tế vệ sinh của
        nước sở tại thì sẽ bị từ chối vào cảng hoặc sẽ bị lưu giữ tại một vị trí riêng biệt
        ngoài khu cảng để xử lý dịch bệnh trước khi được phép vào cầu cảng làm
        hàng.
      Free time Là thời hạn mà người chuyên chở quy định cho chủ hàng sử dụng vào việc
      Thời gian nhận hàng nhận hàng và hoàn trả container tại cảng dỡ. Thời gian nhận hàng được tính
         

    17

         
        từ ngày tàu thông báo container chứa hàng đã đến cảng dỡ. Thí dụ: ì  Thời
        gian nhận hàng trong vòng 7 ngày…   Nếu vượt thời gian quy định, chủ hàng
        phải chịu phạt phí lưu giữ container quá hạn.
      Fridays and holidays Là cách quy định thời gian bốc dỡ hàng không bao gồm thứ sáu trong tuần và
      excluded (FHEX) ngày lễ, vì đó là những ngày nghỉ việc của nước sở tại. Quy định này được áp
      Thứ sáu và ngày lễ bị dụng chủ yếu với một số nước Ả-Rập quy định ngày nghỉ việc trong tuần là
      loại trừ ngày thứ sáu theo đạo Hồi, khác với đa số các nước khác trên thế giới thường
        quy định thời gian bốc dỡ không bao gồm Chủ nhật và ngày lễ (Sundays and
        holidays excluded).
      Freight (Ocean I. Cước chuyên chở (Cước vận chuyển đường biển) II. Hàng (hóa) chuyên chở
      freight) (Cargo) 1. Là số tiền mà người thuê tàu phải trả cho người chuyên chở về
        công vận chuyển đưa hàng đến đích và sẵn sàng giao cho người nhận. Thông
        thường cước chuyên chở được xây dựng trên cơ sở các yếu tố: – Hàng chuyên
        chở: Số khối lượng, chủng loại, đặc tính, giá trị kinh tế, cách đóng gói, hệ số
        chất xếp… – Tuyến chuyên chở: khoảng cách vận chuyển, tình hình cảng
        bốc/dỡ, điều kiện thời tiết khí hậu… – Con tàu: Kích cỡ trọng tải/ dung tích,
        khấu hao, bảo hiểm, duy tu sửa chữa, tiêu hao nhiên liệu, thời gian chạy tàu
        và đỗ ở cảng, quản lý khai thác… – Sự cố khác: khủng hoảng và cạnh tranh
        kinh tế, phong tỏa, cấm vận, chiến tranh… * Căn cứ vào các yếu tố này mà
        cước chuyên chở được cấu thành bởi: – Các loại phí cố định: Phí khấu hoa, duy
        tu sửa chữa vàbảo hiểm con tàu, lương bổng và bảo hiểm xã hội của thuyền
        viên, phí quản lý hành chính… – Các loại phí biến động: Phí tiêu hao nhiên
        liệu và vật liệu, phí bốc dỡ làm hàng, cảng phí và thuế… * Cước chuyên chở
        được tính toán bằng 2 cách: – Dựa vào hàng chuyên chở: Lấy đơn vị trọng
        lượng hàng (Weight) hoặc đơn vị thể tích hàng (Measurement) làm đơn vị tính
        cước (Freight unit) – Dựa vào con tàu: Lấy đơn vị trọng tải hoặc dung tích của
        con tàu làm đơn vị tính cước (Lumpsum Freight) Tuỳ phương thức và đặc
        điểm kinh doanh của con tàu mà cước chuyên chở có thể phân thành 3 loại: –
        Biểu cước tàu chợ (Liner bound freight tariff) – Cước tàu chạy rong hay cước
        mở (Tramp freight or open freight): Gồm cước chuyến và cước định hạn. –
        Cước riêng biệt: Gồm biểu cước chuyên chở container (container freight
        tariff), cước chuyên chở dầu (tanker freight), cước chuyên chở hàng đông lạnh
        (reefer freight)… * Cước chuyên chở có thể: – Được trả trước tại cảng bốc
        hàng (Freight prepaid or freight paid at port of loading) – Được trả sau tại
        cảng dỡ hàng (Freight payable at port of destination or freight to collect) –
        Một phần cước được trả tại cảng bốc hàng và phần còn lại được trả tại cảng dỡ
        hàng (…% payable at port of loading and …% payable at port of discharging)
        Do quy định trong vận đơn tàu chợ hoặc do thỏa thuận giữa người thuê tàu và
        người chuyên chở. 2. Hàng chuyên chở: Do khác biệt về đóng gói, được chi
        thành: – Hàng có bao bì (Package freight) – Hàng rời (Bulk freight) Ngoài ra
        tùy tính chất đặc điểm, hàng được chia ra nhiều loại để áp dụng suất cước
        riêng biệt. – Hàng chóng hỏng (Perishable freight) – Hàng quá khổ (Large size
        freight) – Hàng dài (Long freight) Freight conference or shipping conference
        Hiệp hội vận tải biển (Công hội hàng hải) Tổ chức liên kết giữa những hãng
        tàu dựa trên cơ sở một thỏa ước được ký kết (Conference Agreement) về cùng
        nhau kinh doanh chở thu6 hàng hóa trên một tuyến hay khu vực hàng hải
        theo những điều kiện vận chuyển thống nhất nhằm mục đích hạn chế cạnh
        tranh nội bộ bảo vệ lợi ích của các thành viện, giữ vững thế độc quyền và
        chống lại sự cạnh tranh từ bên ngoài. Mức độ liên kết do thỏa ước quy định
        cao thấp, linh hoạt hay chặt chẽ tùy theo thỏa thuận giữa các thành viên hiệp
        hội. a. Hiệp hội quy định biểu cước, giảm cước và điều kiện vận chuyển thống
        nhất (Freight conference) b. Loại hiệp hội có tính hợp tác cao hơn dựa trên cơ
        sở thỏa ước hợp doanh (Pool agreement) quy định, mức phân chia hàng vận
        chuyển hoặc phân chia lợi nhuận căn cứ theo đóng góp (tàu, vốn) của mỗi
        thành viên. * Hoạt động tập trung của hiệp hồi nhằm vào các vấn đề: – Quy
        định biểu cước, giảm cước thống nhất bắt buộc mỗi thành viên cùng thực
        hiện. – Xây dựng điều khoản và điều kiện vận chuyển được lồng vào nội dung
        vận đơn. – Đặt kế hoạch khai thác kinh doanh: Phân chia số lượng chuyến đi,
        số lượng hàng hóa chuyên chở và cước thu nhập. – Kiểm tra giám sát việc
        tuân thủ quy chế, quy định của hiệp hội. – Ap dụng biện pháp đối phó cạnh
        tranh của các hãng tàu ngoài hiệp hội (Outsiders) Do tính đặc thù của ngành
        vận tải biển, các hiệp hội hàng hải ra đời vào cuối thế kỷ 19 và phát triển cho
        đến nay có trên 200 tổ chức bao gồm các hiệp hội tàu chợ truyền thống (Liner
         

    18

         
        freight conferences), các hiệp hội tàu container, các công-xoọc-xiôm
        (Consortium) và các ì  pun   hàng hải (Shipping pools). Số lượng này thường
        xuyên biến động bởi việc giải thể, sáp nhập hoặc thành lập các hiệp hội mới. *
        Những hiệp hội vận tải biển đứng hàng đầu của thế giới ngày nay gồm có: –
        Hiệp hội Châu Au    Viễn Đông (Far-Eastern Freight Conference) – Hiệp hội
        Viễn Đông    Đông Phi Châu (Far East/East Africa Freight Conference) – Hiệp
        hội lục địa Châu Au    Cận Đông (Continent/Near-East Conference) – Hiệp hội
        Á/Bắc Mỹ (Asia/North America Rate Agreement) – Công-xoọc-xiôm Mitsui-OSK
        line (bao gồm Kline, Safmarine, NYK Line, Nedlloyd Line) – Hiệp hội Tân hoàn
        cầu (New Global Alliance): Gồm các hãng tàu Hapag Lloyd, NOL, NYK, P&O,
        và OOCL… Freight in full of all port charges, pilotage, consulages light due,
        trimming, lighterage at discharging port Cước toàn bộ gồm cả cảng phí, phí
        hoa tiêu, phí lãnh sự, phí san cào, phí chiếu sáng tại cảng dỡ hàng Theo quy
        định này, người thuê phải trả đầy đủ tiền cước cho người chuyên chở, trong
        đó bao gồm cả cảng phí, phí hoa tiêu, phí lãnh sự, phí ánh sáng, phí san cào,
        phí lỏng hảng tại cảng dỡ.
      Freight rate Là số tiền cước mà tàu chợ thu theo đơn vị hàng chuyên chở (tấn hay mét
      Cước suất khối)
      Freighter (Cargo Dùng để chở hàng, khác với loại tàu (chở) khách (passenger ship)
      ship)  
      Tàu (chở) hàng  
      Freight payable at Thuật ngữ dùng để chỉ người thuê tàu trả cước tại đích đến của hàng hóa, có
      destination or freight nghĩa là trả cước sau khi tàu hoàn thành chuyến vận chuyển. Để được rõ
      to collect ràng, chính xác hơn, trong hợp đồng vận tải đôi khi người ta còn ghi thêm:
      Cước trả tại đích đến Cước trả trước khi dỡ hàng (Before breaking bulk) hoặc sau khi dỡ hàng (After
      hoặc cước trả sau dis-charging) tại cảng đích.
      Freight index Trong nghiên cứu tình hình thị trường thuê tàu, người ta thường lấy mức cước
      Chỉ số cước tại một khu vực hoặc tuyến chuyên chở vào một thời điểm nào đó làm chỉ số
        cước gốc và xuất phát từ đó mà tìm ra và so sánh sự biến động tăng giảm của
        giá cước trong một khoảng thời gian cần xem xét, để làm cơ sở góp phần dự
        đoán xu hướng phát triển của giá cước trong những năm tới. Thí dụ: – Chỉ số
        cước tàu chợ (Liner freight index) – Chỉ số cước tàu chạy rông (Tramp freight
        index) – Chỉ số cước tàu container (Container freight index)
      Freight note Là chứng từ do người chuyên chở hoặc đại lý, đại diện người chuyên chở gởi
      Thông báo cước đến chủ hàng hoặc đại lý của họ, thông báo về số tiền cước chuyển chở phải
        trả trước khi được trao vận đơn tại cảng bốc hoặc cảng dỡ hàng.
      Freight payable on Trong chuyên chở hàng có khối lượng lớn bằng tàu chuyến, người ta có thể
      in-taken quantity lấy khối lượng xếp xuống tàu tại cảng gửi hoặc lấy khối lượng hàng dỡ lên bờ
      Cước trả theo khối tại cảng đến làm cơ sở để tính cước, tùy chủ tàu và người thuê thỏa thuận.
      lượng hàng xếp xuống Nhưng trên thực tế, chủ tàu thường yêu cầu người thuê trả cước theo khối
      tàu lượng hàng xếp xuống tàu tại cảng gửi.
      Freight ton (freight Là đơn vị đo lường phổ biến của một mặt hàng chuyên chở (Thông thường là
      unit) tấn hay mét khối) được dùng làm cơ sở để tính cước. Cần lưu ý vì còn có
      Tấn cước những sai biệt về đơn vị đo lường ở một số nước do tập quán sử dụng lâu đời
        để lại cho nên phải quy định rõ, cụ thể đơn vị đo lường trong hợp đồng để
        tránh hiểu lầm, gây tranh chấp.
      Frustration Hợp đồng thuê tàu mất tác dụng khi nó không còn đạt được mục đích kinh tế
      Mất tác dụng mong muốn do con tàu gặp phải một sự cố bất ngờ ngoài sự kiểm soát và
        ngoài trách nhiệm của các bên đương sự làm hỏng kế hoạch dự tính. Thí dụ:
        Tàu bị bão gây hư hỏng nặng mà nếu sửa chữa để có thể tiếp tục hành trình
        theo hợp đồng thì phải kéo dài thời gian, tăng thêm nhiều phí tổn và hai bên
        đương sự sẽ không đạt được mục đích kinh tế. Do đó, hợp đồng thuê tàu được
        đặt trong tình trạng mất tác dụng nghĩa là không tồn tại nữa và không bên
        nào chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hợp đồng này.
      Full and complete Chỉ khối lượng hàng đầy đủ và trọn vẹn cho sức chở bằng tấn hoặc mét khối
      cargo của con tàu.
      Hàng đầy đủ và trọn  
      vẹn  
      Full container load Dùng để chỉ hàng được chở đầy một container và người chuyên chở sẽ thu
      (FCL) cước theo đơn vị container (CBR hoặc FAK).
         

    19

    Chở trọn container

    G      (Back to top)

        General average Là tổn thất do ì  hành động tổn thất chung   gây ra cho tàu và hàng hóa    
           
        Tổn thất chung trong một chuyến đi trên biển, nhằm bảo vệ lợi ích của tất cả các bên (Chủ    
          tàu, chủ hàng). Do đó mỗi bên phải cùng nhau gánh chịu Tổn thất chung khác    
          với tổn thất riêng (Particular average) là loại tổn thất chỉ liên quan đến lợi ích    
          riêng của chủ tài sản nào đó (Chủ tàu hay chủ hàng) trong chuyến đi chung    
          trên biển và người này phải tự mình gánh chịu mà không đòi hỏi được các chủ    
          tài sản khác cùng đóng góp. Tổn thất chung bao gồm: 1. Hy sinh tổn thất    
          chung (General average sacrifices): Là những thiệt hại vật chất của: – Tàu:    
          Do dập tắt đám cháy trên tàu, chặt bỏ thiết bị vật dụng bị đổ nát, động cơ tàu    
          bị hỏng do chạy máy quá giới hạn cho phép để vượt cạn,… – Hàng: Vứt bỏ    
          hàng để làm nhẹ tàu, hàng ngấm ướt do dập đám cháy trên tàu, hư hỏng khi    
          phải dỡ hàng tại cảng lánh nạn… 2. Chi phí tổn thất chung (General average    
          expenditures) Bao gồm các chi phí cứu hộ (Phí lai dắt, phí sang mạn hàng,…),    
          chi phí tại cảng lánh nạn (Phí vào và rời cảng, phí dỡ hàng, phí sửa chữa tàu,    
          chi phí lương bổng thuyền viên trong thời gian tàu lưu tại cảng lánh nạn,…_    
          và các chi phí khác có liên quan (Phí giám định, phí tính toán phân chia đóng    
          góp tổn thất chung,…) Tổn thất chung là một sự cố hàng hải thừơng xảy ra    
          và cách giải quyết khá phức tạp đòi hỏi tính chính xác và có thời gian. Vì thế,    
          trước đây rất lâu người ta đã cố gắng soạn thảo và áp dụng thống nhất các    
          văn bản luật pháp về tổn thất chung như: Quy tắc York-Antwerp 1924, quy    
          tắc York-Antwerp 1950 Hiện nay các nước thống nhất sử dụng quy tắc York-    
          Antwerp 1994 (York-Antwerp Rules 1994) mà nội dung gồm 7 quy tắc từ A    
          đến G và 22 điều khoản nhằm diễn giải rõ ràng các trường hợp tổn thất    
          chung, các hy sinh và chi phí tổn thất, cách tính toán đóng góp tổn thất chung    
          và thủ tục tiến hành.    
               
        General average act. Theo diễn giải của Quy tắc A York-Antwerp 1994 được quốc tế công nhận phổ    
        Hành động tổn thất biến: Được coi là hành động tổn thất chung chỉ khi nào hành động ấy có chủ    
        chung định (Intentionally) và hợp lý (Reasonably) vì sự an toàn chung (Common    
          safety) khi gặp hiểm họa, đã gây ra những hy sinh và phí tổn bất thường    
          nhằm bảo vệ tài sản thoát khỏi hiểm họa trong một chuyến đi chung trên    
          biển. Thí dụ: – Vứt bỏ hàng để làm nhẹ tàu. – Tự nguyện đưa tàu vào cạn để    
          tránh tai nạn. – Bơm nước vào hầm hàng để dập tắt lửa – Đưa tàu vào cảng    
          lánh nạn để cứu chữa…    
               
        General average Điều khoản trong hợp đồng thuê tàu hoặc vận đơn quy định nơi và quy tắc xử    
        clause lý tổn thất chung (thường áp dụng quy tắc York-Antwerp)    
        Điều khoản tổn thất      
        chung      
               
        General average Khi xảy ra trường hợp tổn thất chung, chủ tàu có quyền yêu cầu người nhận    
        deposit hàng đóng một số tiền ký quỹ nào đó trước khi nhận hàng, làm cơ sở bảo đảm    
        Tiền ký quỹ tổn thất việc chi trả phần phải đóng góp tổn thất chung (general average    
        chung contribution). Tiền ký quỹ được đưa vào tài khoản liên doanh của chủ tàu và    
          chủ hàng. Người đóng tiền ký quỹ sẽ nhận được biên nhận làm bằng chứng    
          (deposit receipt) Số tiền ký quỹ kể cả tiền lãi của nó sẽ do những chuyên viên    
          tính tổn thất chung (average adjuster) sử dụng để chi trả tổn thất chung    
          và/hoặc tổn thất riêng, và/hoặc các phí khác. Nếu số tiền ký quỹ vượt quá    
          mức đóng góp thì số dư thừa sẽ được hoàn trả cho người nộp. Cũng có một số    
          trường hợp, chủ tàu chấp nhận người nhận hàng (hoặc công ty bảo hiểm lô    
          hàng) làm giấy bảo đảm chi trả mà không phải nộp tiền ký quỹ (Letter of    
          guarantee)    
               
        General cargo Là các loại hàng thông thường, được đóng thành đơn vị: thùng, kiện, hòm, bó,    
        Hàng bách hóa sọt, bình, vại  để bốc xếp, vận chuyển được an toàn và tiện lợi. Còn được viết    
          tắt là Generals Cách bốc dỡ và công cụ bốc dỡ hàng bách hóa rất khác biệt với    
          cách bốc dỡ và công cụ bốc dỡ hàng rời là loại hàng không bao bì được chở    
          trần (Bulk cargo) Khoang chứa hàng bách hóa thường chiếm nhiều dung tích    
          hơn khoang chứa hàng rời vì nó bao gồm cả bao bì hàng hóa và khoảng trống    
          chất xếp (Broken stowage)    
               
        General purpose Container đa dạng, dùng để chở hàng bách hóa.    
        container      
               

    20

               
        Gross charter or Theo cách thuê này, người thuê tàu chỉ phải trả tiền cước chuyên chở mà    
        gross terms or liner không phải gánh chịu thêm loại phí nào khác có liên quan. Chủ tàu sẽ phải    
        terms gánh chịu ngoài phí khai thác con tàu ra, các loại phí bốc dỡ hàng, phí kiểm    
        Thuê tàu theo điều kiện kiện, cảng phí… Các điều kiện thuê này được áp dụng phổ biến trong thuê tàu    
        rộng hay thuê theo điều chợ nên còn được gọi là ì  Thuê theo điều kiện tàu chợ   Ngược lại với cách    
        kiện tàu chợ thuê theo điều kiện rộng là cách thuê theo điều kiện hẹp (Net charter), quy    
          định người thuê phải gánh chịu phí bốc / dỡ và chất xếp hàng (Free in and out    
          and free stowed to the ship) nhưng không bao gồm cảng phí. Các thuật ngữ    
          ì  Gross charter và Net charter   chỉ thường được sử dụng ở Hoa Kỳ.    
               
        Gross Tonnage (GT) Theo Điều 7 của công ước về dung tải (Tonnage) 1969 và có hiệu lực từ 1982,    
        Dung tích (dung tải) dung tích toàn phần áp dụng cho các tàu biển có chiều dài bằng hoặc hơn    
        toàn phần 24m thay thế cho dung tích đăng ký toàn phần (Gross Register Tonnage)    
          trước kia và bao gồm toàn bộ không gian khép kín của tàu, được đo theo một    
          công thức quy định: – Dung tích toàn bộ các hầm chứa hàng hoặc buồng chứa    
          hành khách nếu có. – Dung tích buồng máy – Dung tích toàn bộ các kho chứa    
          nhiên liệu, nước ngoạt và thực phẩm. – Dung tích buồng ăn, buồng ngủ câu    
          lạc bộ thuyền viên. – Dung tích buồng hải đồ và điện báo thông tin , nhưng    
          không bao gồm dung tích buồng lái, buồng vệ sinh và lối đi lại, dung tích đáy    
          đôi. Đơn vị đo dung tích tàu là m3 (đơn vị đo dung tích đăng ký cũ: 1RT =    
          100 cubic feet)    
               
        Gross weight Là tổng trọng lượng hàng chuyên chở (Cargo gross weight) bao gồm trọng    
        Trọng lượng (hàng) cả lượng tịnh của hàng hóa (Cargo net weight) và trọng lượng của bao bì (Cargo    
        package weight)    
               
        Groupage Bill of Là vận đơn do người chuyên chở thực cấp cho người giao nhận kiêm người    
        lading (Master bill of gom hàng đã thuê trọn container để gửi hàng lẻ của nhiều chủ hàng đến cùng    
        ladingk) một cảng đích. Mỗi chủ hàng lẻ được nhận riêng một vận đơn gom hàng    
        Vận đơn gộp chugn (House bill of lading) để làm bằng chứng giao nhận hàng.    
        hàng (vận đơn người      
        chuyên chở thực)      
               
    • (Back to top)
    Hague Rules   Là quy tắc luật pháp chi phối vận chuyển hàng đường biển, quy định quyền lợi
     
    Quy tắc Hague   và trách nhiệm của chủ tàu, chủ hàng dựa trên công ước quốc tế để thống
        nhất một số quy tắc luật pháp liên quan đến vận đơn (The International
        Convention for the Unification of certain Rules of Law relating to Bill of
        lading), được ký kết tại Brussels, ngày 25/8/1924. Quy tắc đã được hơn 60
        quốc gia phê chuẩn và áp dụng.
         

    Hague – Vixby Rules Là quy tắc Hague được bổ sung và sửa đổi bởi nghị định thư 1968 (Protocol Quy tắc Hague Vixby 1928) Về cơ bản, điều khoản về quyền lợi và trách nhiệm của chủ tàu, chủ

    hàng trong quy tắc Hague      Vixby không có gì thay đổi so với quy tắc Hague.

      Hamburg Rules   Là quy tắc luật pháp chi phối hợp đồng vận tải đường biển, dựa trên công ước  
         
      Quy tắc Hamburg   Hamburg (Hamburg Convention) ký kết ngày 31/3/1978 tại Hamburg và có  
          hiệu lực từ 1/1/1992 Quy tắc này là kết quả đấu tranh của nhóm 77 nước  
          đang phát triển nhằm mục đích thay thế quy tắc Hague và có nhiều tiến bộ,  
          công bằng hơn khi quy định quyền lợi và trách nhiệm của chủ tàu, chủ hàng.  
          Tuy nhiên, hiện nay quy tắc Hamburg vẫn chưa được 1 số nước có đội tàu chở  
          thuê phát triển mạnh tán thành và áp dụng.  
             
      Harbour dues   Số tiền mà chủ tàu phải nộp cho quản lý cảng về sử dụng cảng trong việc  
      Cảng phí   kinh doanh.  
             
      Hague Rules   Là quy tắc luật pháp chi phối vận chuyển hàng đường biển, quy định quyền lợi  
      Quy tắc Hague   và trách nhiệm của chủ tàu, chủ hàng dựa trên công ước quốc tế để thống  
          nhất một số quy tắc luật pháp liên quan đến vận đơn (The International  
          Convention for the Unification of certain Rules of Law relating to Bill of  
          lading), được ký kết tại Brussels, ngày 25/8/1924. Quy tắc đã được hơn 60  
          quốc gia phê chuẩn và áp dụng.  
             
      Head Charter or Head   Là hợp đồng thuê tàu đầu tiên được ký kết giữa chủ tàu và người thuê. Thuật  
      Charter – Party   ngữ được dùng để phân biệt với hợp đồng thuê tàu thứ cấp được ký kết giữa  
      Hợp đồng gốc   người thuê tàu và người thứ ba, khi cho thuê lại tàu (sublet)  
             
      Heavy lift   Chỉ loại hàng mà trọng lượng vượt quá mức nâng thông thường do tàu quy  
      Hàng nặng quá cỡ   định và bị buộc phải sử dụng thiết bị nâng hàng riêng để bốc, dỡ (heavy lift  
             

    21

               
          crane or heavy lift derrick)    
               
        Hire money or Hire Được tính trên cơ sở bao nhiêu tiền/ngày cho cả tàu hoặc tấn trọng tải/tháng    
        Tiền thuê tàu định hạn. tùy thỏa thuận và thường được trả trước theo định kỳ tháng hoặc quý    
               
        Hold (Cargo hold) Là nơi chất xếp, chứa và bảo quản hàng hóa của con tàu trong quá trình vận    
        Hầm hảng, Khoang chuyển. Tùy tính chất hàng chuyên chở mà hầm hàng được cấu tạo và trang    
        hàng bị thích hợp thành các loại: Hầm hàng khô (Dry cargo hold); hầm hàng rời    
          (Bulk cargo hold); hầm mát, lạnh và đông sâu (Chilled, cold and deep-freeze    
          hold), hầm cách nhiệt (Insulated hold), hầm quặng (Ore hold),… Điều kiện    
          hầm hàng về trang thiết bị, về vệ sinh, về thông gió, …tốt, xấu là một trong    
          những nhân tố ảnh hưởng lớn đến gìn giữ phẩm chất hàng hóa trong quá trình    
          vận chuyển.    
               
        Hold cleaning Việc làm sạch hầm hàng là nhiệm vụ của tàu trước khi nhận xếp và chở lô    
        Dọn vệ sinh hầm hàng hàng mới.    
               
        Hull insurance Bảo hiểm thân tàu bao gồm các đối tượng: Vỏ tàu, máy tàu và trang thiết bị    
        Bảo hiểm thân tàu của tàu Theo điều kiện của Hiệp hội bảo hiểm London, các rủi ro chính được    
          bảo hiểm là: – Tai nạn lúc bốc / dỡ hàng và tiếp nhiên liệu. – Thiên tai gây ra    
          như: Động đất, núi lửa phun, gió lốc, sét đánh,… – Tàu mắc cạn, bị lật hoặc bị    
          đắm, mất tích. – Tàu đâm va tàu khác hoặc đâm va vật thể cố định (Trang    
          thiết bị cầu cảng… kể cả tảng băng) – Nổ trên tàu, nổ nồi hơi, gãy trục máy    
          hoặc do khuyết tật ngầm của vỏ hay máy tàu. – Hư hỏng do sơ suất bất cẩn    
          của thuyền trưởng, sĩ quan, thuyền viên, hoa tiêu hay thợ sửa chữa tàu mà    
          những người này không phải là người được bảo hiểm. – Đóng góp hi sinh và    
          chi phí tổn thất chung. – Chi phí hợp lý và cần thiết nhằm cứu chữa tàu và    
          hạn chế tổn thất. Nhưng cần lưu ý: Các tổn thất nói trên không có nguyên    
          nhân do sự thiếu cần mẫn của người được bảo hiểm, chủ tàu hoặc người quản    
          trị tàu. Các trường hợp mà người bảo hiểm được miễn trách bồi thường gồm    
          có: – Tàu không đủ tính năng hàng hải. – Hàng động ác ý hoặc sơ suất bất cẩn    
          của người được bảo hiểm – Rủi ro chiến tranh. – Rủi ro đình công. Tuy nhiên,    
          tùy theo yêu cầu của mình mà người được bảo hiểm có thể sửa đổi hoặc bổ    
          sung một vài điều kiện của Hiệp hội bảo hiểm London, với sự thỏa thuận của    
          người bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm thân tàu có thể được ký theo thời hạn 12    
          tháng hoặc theo chuyến nếu thời hạn dưới 3 tháng.    
               
        Husband (Ship’ s Là người thay mặc chủ tàu chăm nom quản lý con tàu (ví như người chồng    
        husband) của ì  cô tàu   )    
        Người chăm nom tàu      
               

    I      (Back to top)

        ICC (International Là một tổ chức thương mại quốc tế phi chính phủ, thành lập từ năm 1919, tồn    
           
        Chamber of tại và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử cho đến nay. Trụ sở đóng tại Paris    
        Commerce) (Pháp). Mục tiêu của Phòng Thương Mại Quốc Tế là phục vụ và thúc đẩy sự    
        Phòng thương mại quốc giao lưu hàng hóa, dịch vụ, tư bản giữa các nước trên cơ sở cạnh tranh công    
        tế bằng, góp phần xây dựng trật tự kinh tê quốc tế. Phạm vi hoạt động của nó    
          bao gồm nhiều lĩnh vực quan trọng như: Ngoại thương, du lịch, thanh toán    
          quốc tế, vấn đề cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, quyền sở    
          hữu công nghiệp, vấn đề trọng tài giải quyết tranh chấp…    
               
        Ice Clause Được ghi trong vận đơn hoặc hợp đồng thuê tàu, quy định người thuê và chủ    
        Điều khoản đóng băng tàu cùng nhau thỏa thuận giải pháp xử lý trường hợp tàu đến không vào được    
          vì cảng đóng băng: thuyền trưởng có quyền điều tàu đến 1 cảnh an toàn khác    
          để dỡ hàng hoặc người thuê chọn cách lưu giữ tàu để đợi băng tan hay phá    
          băng và chấp nhận chịu phạt dỡ chậm hàng hoặc lưu tàu nếu điều đó xảy ra.    
               
        Idle ship (Laid-up- Chỉ con tàu không có việc làm, phải nằm chờ trong khoảng thời gian nào đó.    
        ship)      
        Tàu nằm không      
               
        IMDG Code Do tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) đề xuất áp dụng vào năm 1965 nhằm đảm    
        (International bảo an toàn trong quá trình vận chuyển hàng nguy hiểm đường biển. Nội    
        Maritime Dangerous dung của quy tắc bao gồm: Việc phân loại hàng nguy hiểm, cách đóng gói,    
        Goods Code) quy định về nhãn hiệu, cách bốc dỡ, chất xếp và biện pháp xử lý trong quá    
        Quy tắc quốc tế về vận trình vận chuyển. Chủ hàng có bổn phận đóng gói, dán nhãn và khai báo đầy    
        chuyển hàng nguy hiểm đủ, chính xác bằng văn bản tình hình hàng hóa, còn người chuyên chở có bổn    
        đường biển phận thực hiện đúng đắn, thích đáng các quy tắc vận chuyển nói trên. Theo    
          IMDG Code, hàng nguy hiểm được phân thành 9 nhóm: – Nhóm 1: gồm các    
               

    22

         
        chất nổ – Nhóm 2: gồm các chất khí (Khí nén, khí hóa lỏng) có thể gây cháy
        nổ, độc hại, ăn mòn… – Nhóm 3: chất lỏng dễ cháy – Nhóm 4.1: chất rắn dễ
        cháy – Nhóm 4.2: chất dễ bị bốc cháy – Nhóm 4.3: chất khi tiếp xúc nước có
        thể bốc khí cháy. – Nhóm 5.1: chất ô-xy hóa – Nhóm 5.2: chất peroxide hữu
        cơ – Nhóm 6: chất độc hại gây tổn thương hoặc tử vong khi tiếp xúc qua
        đường tiêu hóa hoặc hô hấp hoặc gây nhiễm qua da. – Nhóm 7: chất phóng
        xạ – Nhóm 8: chất ăn mòn – Nhóm 9: các chất nguy hiểm khác không thuộc
        các nhóm trên. Mỗi nhóm được chia thành nhiều loại hàng và mỗi loại hàng
        đều có nhãn hiệu với màu sắc biểu thị tính chất nguy hiểm, đòi hỏi yêu cầu
        riêng biệt về bốc dỡ, chất xếp, vận chuyển.
      Immediate rebate Chỉ việc giảm cước được thực hiện ngay khi gửi hàng do Hiệp hội vận tải ưu
      Giảm cước ngay đãi chủ hàng, trên cơ sở hai bên đã ký một hợp đồng trung thực xác nhận chủ
        hàng sẽ ủy thác toàn bộ khối lượng hàng của mình cho các thành viên của
        Hiệp hội chuyên chở.
      In Bulk Chỉ trạng thái những lô hàng chuyên chở không có bao bì, không được đóng
      Chở rời thành chiếc, hòm, kiện, bao..như: Hạt ngũ cốc, quặng, than, phân bón, dầu
        mỏ…
      In case Chỉ trạng thái hàng hóa được chứa đựng trong bao bì thành kiện, hòm, thùng,
      Đóng bao hộp, …trong quá trình bảo quản hoặc vận chuyển. Hàng đóng bao chủ yếu là
        hàng bách hóa (general cargo) như: Đồ dùng gia đình, máy móc và linh kiện,
        phương tiện vận tải, hàng dệt may, thực phẩm…
      Independent line or Là những hãng tàu không tham gia Hiệp hội vận tải, đứng ra kinh doanh độc
      Non-confermce line lập. Cạnh tranh giữa hãng tàu độc lập với các hãng tàu thuộc Hiệp hội vận tải
      or outsider thường xuyên xảy ra để dành ưu thế kinh doanh trên cùng tuyến đường vận
      Hãng tàu độc lập hay chuyển.
      hãng tàu ngoài Hiệp hội  
      vận tải  
      Inducement cargo Là khối lượng hàng ít nhất do hãng tàu chợ quy định để con tàu chấp nhận
      Lượng hàng tối thiểu ghé lấy hoặc trả hàng tại cảng nhằm bảo đảm lợi ích kinh doanh của mình.
      Indicative seal Dùng để niêm phong cửa container chứa hàng, chứng tỏ có bị vi phạm mở ra
      Dấu phong hay không
      Incentive Trong vận chuyển hàng bằng cotnainer, chủ tàu (Người chuyên chở) thường
      Tiền thưởng khuyến trích từ thu nhập cước phí một khoản tiền nhỏ (trên dưới 1%) để thưởng cho
      khích chủ hàng (Người gửi hàng) nhằm khuyến khích người này tiếp tục giao dịch
        với hãng tàu sau này. Tiền thưởng khuyến khích có thể được xem như tiền
        hoa hồng đại lý thuê tàu mà người chuyên chở trả cho người môi giới trong
        các giao dịch thuê tàu phổ thông (Thuê chuyến, định hạn hay tàu chợ)
      Insitute clauses Là những điều kiện bảo hiểm do ì  Ủy ban kỹ thuật và điều khoản   của Hiệp
      Điều kiện bảo hiểm của hội những công ty bảo hiểm London (Technical and Clauses Committee of the
      Hiệp hội bảo hiểm Institute of London underwriters) soạn thảo, có sự tán thành của Liên đoàn
      London bảo hiểm Lloyd’s. Điều kiện bảo hiểm hàng chuyên chở (Institute Cargo
        Clauses) ban hành ngày 01/01/1963 gồm có: Điều kiện miễn bảo hiểm tổn
        thất riêng FPA (Free from particular average), điều kiện có bảo hiểm tổn thất
        W.A (With particular average), điều kiện bảo hiểm chiến tranh (War risks),
        điều kiện bảo hiểm đình công (Strikes). Bắt đầu từ 01/01/1982, Hiệp hội bảo
        hiểm London sửa chữa và bổ sung, ban hành điều kiện bảo hiểm mới gồm có:
        Điều kiện bảo hiểm C (Institute Cargo Clauses C) thay thế cho điều kiện FPA,
        điều kiện bảo hiểm B (Institue Cargo Clauses B) thay thế cho điều kiện W.A,
        điều kiện bảo hiểm A (Institute Cargo Clauses A) thay thế cho điều kiện A.R
        và các điều kiện chiến tranh (Institute War Clauses Cargo), điều kiện đình
        công (Institute Strikes Clauses Cargo). Các điều kiện bảo hiểm hàng hóa này
        được áp dụng rộng rãi tại Anh và được nhiều nước khác trên thế giới tham
        khảo và vận dụng. Instituter Cargo Clauses (A) Điều kiện bảo hiểm hàng hóa
        (A) của Hiệp hội Anh. A.Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm chịu
        trách nhiệm về 1. Mọi rủi ro mất mát hay hư hại của đối tượng được bảo hiểm
        trừ các trường hợp miễn trừ. 2.Chi phí tổn thất chung và cứu hộ được tính
        toán và các định phù hợp với hợp đồng thuê tàu và/hoặc luật lệ điều chỉnh. 3.
        Mở rộng việc bồi thường cho người được bảo hiểm phần trách nhiệm theo điều
        khoản ì  Hai tàu đụng nhau cùng có lỗi   của hợp đồng thuê tàu. B. Các
        trường hợp loại trừ của điều kiện bảo hiểm (A) gồm có: 1. Tổn thất hoặc phí
        tổn có thể quy cho cách hành xử xấu cố ý của người được bảo hiểm; rò chảy
         

    23

             
        thông thường, hao hụt thông thường và hoa mòn thông thường của đối tượng
        được bảo hiểm    tổn thất do bao bì thiếu sót, hoặc không thích hợp    tổn
        thất và phí tổn do khuyết tật vốn có của đối tượng được bảo hiểm    tổn thất
        hoặc phí tổn gần nhất do chậm trễ cho dù chậm trễ ấy bắt nguồn từ một rủi
        ro được bảo hiểm    tổn thất hoặc phí tổn do không còn khả năng trả nợ hoặc
        thiếu hụt tài chính của chủ tàu, người thuê tàu hoặc người điều hành    tổn
        thất và phí tổn do vũ khí nguyên tử hoặc phóng xạ. 2. Tổn thất hoặc phí tổn
        do tàu không đủ tính năng hàng hải, không thích hợp cho vận chuyển
        container an toàn. 3. Tổn thất hoặc phí tổn gây ra bởi nội chiến, chiến tranh
        cách mạng, nổi dậy hoặc bạo hành quần chúng hoặc hành động thù địch bởi
        hoặc do 1 thế lực tham chiến    bắt giữ, tịch thu, câu lưu hoặc câu thúc hoặc
        hậu quả của mưu đồ ấy (Trừ cướp biển)    do mìn, thủy lôi hoặc vũ khí khác
        trôi giạt. 4. Tổn thất hoặc phí tổn do: Đình công, bế xưởng của công nhân
        bạo động, bạo loạn của quần chúng    hành động của kẻ khủng bố hoặc người
        nào bắt nguồn từ động cơ chính trị.  
      Institue Cargo A. Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm chịu trách nhiệm về: 1. Mất
      Clauses (B) mát hoặc hư hại được quy hợp lý cho: Cháy hoặc nỗ    tàu hay phương tiện bị
      Điều kiện bảo hiểm mắc cạn, lật úp hoặc đắm    tàu hỏa trật đường ray, ô tô bị lật    đâm va tàu
      hàng hóa(B) của Hiệp khác hoặc vật thể bên ngoài trừ nước    dỡ hàng tại cảng gặp nạn    động
      hội Anh đất, núi lửa phun hoặc sét đánh. 2. Mất mát hoặc hư hại của đối tượng bảo
        hiểm do hy sinh tổn thất chung    vứt (hàng) xuống biển hoặc nước biển cuốn
        hàng xâm nhập của nước biển, nước sông vào hầm hàng hoặc nơi chứa
        hàng. 3. Tổn thất toàn bộ của nguyên kiện rơi mất khi bốc hoặc dỡ hàng. 4.
        Chi phí tổn thất chung và cứu hộ được tính toán và xác định phù hợp với hợp
        đồng thuê tàu và / hoặc luật lệ điều chỉnh. 5. Mở rộng bồi thường cho người
        được bảo hiểm phần trách nhiệm theo điều khoản ì  Hai tàu đụng nhau cùng
        có lỗi của hợp đồng thuê tàu. B. Các trường hợp loại trừ (Exclusion) của
        điều kiện bảo hiểm (B) gồm có: 1. Tổn thất hoặc phí tổn có thể quy cho cách
        hành xử xấu cố ý của người được bảo hiểm rò chảy thông thường, hao hụt
        thông thường, hao mòn thông thường của đối tượng được bảo hiểm    tổn
        thất do bao bì thiếu sót hoặc không thích hợp    tổn thất hoặc phí tổn gần
        nhất do chậm trễ cho dù chậm trễ ấy bắt nguồn từ rủi ro được bảo hiểm
        tổn thất hoặc phí tổn do không còn khả năng trả nợ hoặc thiếu hụt tài chính
        của chủ tàu, người thuê, người điều hành    tổn thất và phí tổn do vũ khí
        nguyên tử hoặc phóng xạ. 2. Tổn thất hoặc phí tổn do tàu không đủ tính năng
        hàng hải, không thích hợp cho vận chuyển container an toàn. 3. Tổn thất hoặc
        phí tổn gây ra bởi nội chiến, chiến tranh cách mạng, nổi dậy hoặc bạo loạn
        quần chúng hoặc hành động thù địch bởi hoặc do 1 thế lực tham chiến    bắt
        giữ, tịch thu, câu lưu hoặc câu thúc hoặc những hậu quả của mưu đồ ấy. 4.
        Tổn thất hoặc phí tổn do: đình công hoặc bế xưởng của công nhân    bạo
        động, bạo loạn quần chúng    hành động của kẻ khủng bố hoặc người nào bắt
        nguồn từ động cơ chính trị.  
      Institute Cargo A. Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm chịu trách nhiệm về: 1. Mất
      Clauses (C) mát hoặc hư hại được quy hợp lý cho: Cháy hoặc nổ    tàu hay phương tiện
      Điều kiện bảo hiểm vận tải bị mắc cạn, lật úp hoặc đắm    phương tiện vận tải trên bộ bị lật đổ
      hàng hóa (C) của Hiệp hoặc trật ray    đâm va tàu khác hoặc vật thể bên ngoài trừ nước    dỡ hàng
      hội Anh tại cảng gặp nạn. 2. Mất mát hoặc hư hại của đối tượng bảo hiểm gây ra do
        hy sinh tổn thất chung    vứt hàng xuống biển. 3. Chi phí tổn thất chung và
        cứu hộ được tính toán, xác định phù hợp với hợp đồng thuê tàu và luật lệ điều
        chỉnh 4. Mở rộng bồi thường cho người được bảo hiểm phần trách nhiệm theo
        điều khoản ì  Hai tàu đụng nhau cùng có lỗi của hợp đồng thuê tàu. B. Các
        trường hợp loại trừ (Exclusions) của điều kiện bảo hiểm (C) gồm có: 1. Tổn
        thất hoặc phí tổn có thể quy cho cách hành xử xấu, cố ý của người được bảo
        hiểm rò chảy thông thường, hao hụt thông thường, hao mòn thông thường
        của đối tượng được bảo hiểm    tổn thất do bao bì thiếu sót hoặc không thích
        hợp tổn thất hoặc phí tổn do khuyết tật vốn có của đối tượng được bảo
        hiểm tổn thất hoặc phí tổn gần nhất do chậm trễ ấy bắt nguồn từ 1 rủi ro
        được bảo hiểm    tổn thất hoặc phí tổn do không còn khả năng trả nợ hoặc
        thiếu hụt tài chính của chủ tàu, người điều hành    tổn thất do vũ khí nguyên
        tử và phóng xạ. 2. Tổn thất hoặc phí tổn do tàu không đủ tính năng hàng hải,
        không thích hợp cho vận chuyển container an toàn. 3. Tổn thất hoặc phí tổn
        gây ra bởi nội chiến, chiến tranh cách mạng, nổi dậy hoặc bạo loạn quần
        chúng hoặc hành động thù địch bởi hoặc do 1 thế lực tham chiến    bắt giữ,
             

    24

         
        tịch thu, câu lưu hoặc câu thúc hoặc những hậu quả của mưu đồ ấy. 4. Tổn
        thất hoặc phí tổn do: đình công hoặc bế xưởng của công nhân    bạo động,
        bạo loạn quần chúng    hành động của kẻ khủng bố hoặc người nào bắt
        nguồn từ động cơ chính trị.
      Institute Warranties Nghĩa vụ do Hiệp hội những người bảo hiểm London đặt ra cho người được
      Điều kiện cam kết của bảo hiểm cam kết không đưa tàu được bảo hiểm đến một số vùng biển bị loại
      Hiệp hội bảo hiểm Anh trừ, được coi là có nhiều rủi ro tai nạn hàng hải. Ranh giới địa dư của vùng
        biển này (Institute warranty limits) được xác định theo kinh độ, vĩ độ trên bản
        đồ.
      Insurable value Là giá trị tài sản được ghi trong hợp đồng bảo hiểm (Đơn bảo hiểm hoặc Giấy
      Giá trị bảo hiểm chứng nhận bảo hiểm) . Giá trị bảo hiểm một lô hàng CIF thông thường bao
        gồm: * C (Cost): Giá hàng tại cảng gửi * I (Insurance premium): Phí bảo
        hiểm * F (Freight): Cước chuyên chở Nhưng tùy theo yêu cầu của người được
        bảo hiểm, giá trị bảo hiểm có thể tăng thêm 10% lãi suất dự thu và trở
        thành: CIF + 10% CIF
      Insured risks Là những rủi ro được người bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm theo những điều
      Rủi ro được bảo hiểm kiện quy định và chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất do các rủi ro được bảo
        hiểm gây ra: * Rủi ro được bảo hiểm được chia làm 2 loại: 1. Rủi ro được bảo
        hiểm theo điều kiện thông thường, bao gồm: Thiên tai (Act of God), tai nạn
        (hiểm họa) của biển (Perils of the sea) và rủi ro phụ, khách quan (Extraneous
        risks). 2. Rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện đặc biệt, bao gồm: Chiến tranh
        (War risks) và đình công (Strikes riots & civil commotions). Loại này chỉ được
        bảo hiểm đi kèm với các điều kiện bảo hiểm thông thường chứ không được
        nhận bảo hiểm riêng một mình. Ngoài hai loại rủi ro được bảo hiểm nói trên,
        còn có loại rủi ro bị loại trừ hoàn toàn, không được nhận bảo hiểm (Excluded
        risks), bao gồm: hành xử xất cố ý hoặc sai lầm của người được bảo hiểm
        (Willfu misconduct or default of the insured)    rò chảy, hao hụt hoặc hao
        mòn thông thường của đối tượng bảo hiểm (Ordinary leakage, loss of weight
        or wear & tear of the subject-matter insured)    khuyết tật vốn có của đối
        tượng bảo hiểm (Inherent vice)    bao bì thiếu sót hoặc không thích hợp
        (Improper packing)    chậm trễ hoặc mất thị trường (Delay or loss of market)
        tàu không đủ tính năng hàng hải (Unseaworthiness)    vi phạm luật lệ xuất
        nhập khẩu hoặc vận tải    không có khả năng trả nợ của chủ tàu, người thuê
        tàu hoặc người điều hành.
      Insured amount Người được bảo hiểm, bảo hiểm tài sản của mình bằng một số tiền nhất định
      Số tiền bảo hiểm mà không nhất thiết căn cứ theo giá trị thực tế của nó. Số tiền bảo hiểm
        thường thấp hơn giá trị tài sản được bảo hiểm và khi xãy ra tổn thất, số tiền
        bồi thường sẽ tính tương ứng với tỷ lệ của số tiền bảo hiểm với giá trị tài sản
        bảo hiểm.
      International Ngày 06/3/1948, ì  Tổ chức tư vấn hàng hải liên chính phủ   IMCO
      Maritime (International Governmental Maritime Consultative Organization), là tiền thân
      Organization (IMO) của tổ chức hàng hải quốc tế IMO được thành lập tại Geneva với mục đích
      Tổ chức hàng hải quốc trước tiên là xây dựng ì  Công ước bảo đảm an toàn sinh mệnh người trên
      tế biển cả   và sau đó từng bước mở rộng đến các lĩnh vực hoạt động hàng hải
        khác… Ngày 22/5/1982 tổ chức IMCO đổi thành tổ chức IMO hiện nay, bao
        gồm hơn 155 nước thành viên (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
        viên thứ 126 từ ngày 12/6/1984) và 2 quan sát viên là Hongkong và Macao.
        Cơ cấu tổ chức của IMO gồm có: Ban tư vấn (Consultative committee), Ban
        an toàn hàng hải (Maritime Safety Committee), Ban pháp luật (Legal
        Committee), Ban bảo vệ môi trường (Marine Environment Protection
        Committee) …Hoạt động của các Ban này đã góp phần không nhỏ vào bảo
        đảm an toàn và phát triển ngành hàng hải thế giới.
      Intermodal transport Là cách vận chuyển hàng hóa mà trong quá trình đi suốt có sự tham gia phối
      or combined hợp từ 2 phương thức vận tải trở lên. Thí dụ: Phối hợp giữa đường biển
      transport or hàng không    đường ô tô,…Chủ hàng (Người gửi hàng) và người vận tải đa
      multimodal transport phương thức MTO hay CTO (Multimodal or combinded transport operator)
      Vận tải đa phương thức thỏa thuận cùng nhau ký kết một hợp đồng vận tải quy định các điều kiện
      hay vận tải hỗn hợp chuyên chở và một giá cước chung cho toàn tuyến vận chuyển. Người vận tải
        đa phương thức đảm trách vận chuyển đi suốt kể cả việc chuyển tải dọc
        đường, ký kết các hợp đồng vận tải phụ (Subcontract of carriage) với các chủ
        phương tiện vận tải trên từng cung đường và chịu trách nhiệm bồi thường tổn
         

    25

           
          thất hàng hóa hoặc giao hàng chậm trễ. Vận tải đa phương thức có ưu điểm
          góp phần tăng nhanh tốc độ vận chuyển, rút ngắn thời gian và chi phí chuyển
          tải, giảm bớt thủ tục giấy tờ nhưng có nhược điểm: tổ chức vận chuyển khá
          phức tạp, quy tắc luật pháp quốc tế về vận tải đa phương thức chưa áp dụng
          thống nhất. Tháng 8/1950 công ước quốc tế về vận tải đa phương thức do
          IMO và UNCTAD soạn thảo tuy đã được 83 nước thành viên Liên hiệp quốc
          thông qua nhưng đến nay chưa có hiệu lực vì số lượng quốc gia phê duyệt
          chưa đủ theo thủ tục. Do đó, người ta tạm thời sử dụng bản ì  Quy tắc thống
          nhất về chứng từ vận tải liên hợp   (Uniform Rules for a combined transport
          document) do Phòng Thương Mại Quốc Tế soạn thảo (Văn kiện 481 công bố
          ngày 01/01/1992) và được UNCTAD tán thành làm cơ sở luật pháp cho việc
          lập 2 loại chứng từ vận tải liên hợp : COMBIDOC do tổ chức hàng hải quốc tế
          và Bantic soạn thảo và vận đơn hỗn hợp FBL (FIATA Bill of Lading) do Hiệp hội
          giao nhận quốc tế FIATA soạn thảo. Hai loại chứng từ này giống nhau về các
          điều khoản cơ bản nhưng cũng có một vài quy định chi tiết khác nhau cần lưu
          ý khi sử dụng.
      Internatinal Load Do tổ chức quản lý hàng hải hoặc tổ chức xếp hạng tàu, được ủy quyền cấp
      Line Certificate phát cho tàu hoạt động trên các tuyến hàng hải quốc tế. Giấy chứng nhận ghi
      Giấy chứng nhận quốc các chi tiết về mức chuyên chở và mạn khô của con tàu theo như quy định
      tế mức chuyên chở của Công ước quốc tế về mức chuyên chở tàu biển (Internatinal Con-vention
      (Giấy chứng quốc tế tải on Load Line).
      trọng)  
      International Do tổ chức quản lý hàng hải quốc gia hoặc tổ chức xếp hạng tàu được ủy
      Tonnage Certificate quyền cấp phát cho tàu hoạt động trên các tuyến hàng hải quốc tế, phù hợp
      Giấy chứng quốc tế với Công ước quốc tế quy định về trọng tải, kích thước tàu biển (International
      trọng tải (tàu) Convention of Tonnage Mea-surement of ships). Giấy chứng có ghi dung tích,
          trọng tải toàn phần và cấu trúc các khoang hầm của con tàu.
      Itinerary (Sailing Là bản thông báo về thời gian và chuyến đi cụ thể ghé qua các cảng làm hàng
      list)   của các con tàu hoạt động chuyên chở theo định tuyến (tàu chợ, tàu
      Lịch tàu chạy container).
      J (Back to top)  
      Jettison Là hành động cố ý ném bỏ hàng khỏi tàu để tránh một hiểm họa thực tế đang
      Vứt hàng xuống biển đe dọa sinh mệnh và tài sản trên tàu Quy tắc 2 của York-Antwerp 1994 nêu
          rõ: Tổn thất cho tàu và/hoặc hàng do việc vứt hàng xuống biển vì an toàn
          chung kể cả tổn thất do nước biển tràn vào khi mở hầm hàng để vứt hàng
          xuống biển cũng được nhận là tổn thất chung. Tuy nhiên, hàng bị vứt xuống
          biển và được nhận là hy sinh tổn thất chung phải là hàng được chất xếp đúng
          quy định kỹ thuật trong hầm hàng. Nếu là hàng xếp trên boong thì hàng này
          cũng phải phù hợp với tập quán thương mại cho phép xếp trên boong mới
          được nhận là hy sinh tổn thất chung Riêng hàng bị vứt xuống biển do nguyên
          nhân khuyết tật vốn có của bản thấn hàng hoặc do thiếu sót của chủ hàng,
          người gởi hàng (Biến đổi phẩm chất đe dọa đến an toàn chung) sẽ không
          được nhận là hy sinh tổn thất chung
      Joint service Là việc liên kết cùng nhau kinh doanh chở thuê trên một tuyến đường cụ thể
      Liên doanh chuyên chở nào đó của 2 hoặc nhiều hãng tàu bằng cách mỗi bên góp một số tàu vào
          hoạt động nhưng không chung vốn tàu như tổ chức Cong-xoọc-xiômk
          (Consortiums).
      K (Back to top)  
      Keel Là cấu trúc thấp nhất làm chỗ dựa cho khung xương của con tàu
      Sống đáy tàu  
      Knot (Kn) Là đơn vị đo tốc độ của tàu thuyền. Hải lý / giờ quốc tế (International nautical
      Hải lý / giờ (phút) knot) bằng 1.852 m/giờ.
      L (Back to top)  
      Labels of dangerous Được dùng trong vận chuyển hàng hóa để biểu thị tính chất nguy hiểm của nó
      goods bằng hình vẽ và những ký hiệu đặc biệt. Theo ì  Quy tắc vận chuyển hàng
      Nhãn hiệu hàng nguy nguy hiểm   (IMDG Code) thì chủ hàng (Người gởi hàng) có trách nhiệm dán
      hiểm nhãn hiệu hàng nguy hiểm chính xác và đúng mẫu quy định tại một hoặc hai
          nơi dễ nhìn thấy nhất trên kiện hàng hoặc container nhằm thông tin cảnh báo
          việc vận chuyển, bảo quản và bốc dỡ hàng phải hết sức thận trọng và áp
           

    26

         
        dụng biện pháp thích hợp.
      Lashings Dùng để giữ hàng hóa hoặc container không di dịch khi tàu chạy.
      Dây buộc, dây chằng.  
      Latent defect Chỉ khuyết điểm hoặc thiếu sót của tàu mà người ta không phát hiện được
      Khuyết tật ẩn dấu (ẩn mặc dù có sự kiểm tra xem xét mẫn cán, thích đáng (Due diligence). Theo
      tì) quy tắc Hagues 1924 khi tàu không đủ tính năng hàng hải do khuyết tật ẩn
        dấu gây ra thì người chuyên chở sẽ được miễn trách nhiệm bồi thường tổn
        thất.
      Lay/can Chỉ tàu phải đến cảng để sẵn sàng nhận hàng đúng ngày quy định để nhận
      (laydays/cancelling hàng (Laydays not to commence before…) và người thuê tàu phải có hàng
      date) sẵn sàng để giao vào lúc ấy. Nếu tàu đến sớm hơn thì người thuê tàu không
      Ngày tàu đến cảng bốc chịu trách nhiệm về việc hàng hóa chưa sẵn sàng. Nếu vì bất cứ lý do nào mà
      hàng/ngày hủy hợp tàu đến chậm hơn ngày hủy hợp đồng (Cancelling date) thì người thuê có
      đồng quyền đơn phương hủy hợp đồng mà không chịu bất cứ trách nhiệm nào.
        Trong trường hợp thuê tàu, người ta thường tách việc tàu đến cảng bốc hàng
        và việc hủy hợp đồng thành hai điều khoản riêng biệt (Loading, discharging
        clause and cancelling clause) nhằm làm rõ hơn trách nhiệm của chủ tàu phải
        đưa tàu đến cảng nhận hàng đúng thời gian quy định và quyền của người thuê
        tàu hủy hợp đồng vận tải đã ký nếu tàu không đến cảng bốc đúng ngày quy
        định. Từ Laydays, ngoài cách hiểu như trên, còn có nghĩa là: những ngày
        được dành cho bốc/dỡ hàng hay thời gian bốc/dỡ hàng (laytime) như dưới
        đây.
      Laydays or laytime Là số ngày hoặc thời gian mà hợp đồng thuê tàu qui định cho người thuê tàu
      Số ngày bốc/dỡ hàng được sử dụng để bốc và dỡ hàng tại cảng khẩu có liên quan (Time allowed for
      hay thời gian bốc/dỡ loading and discharging). Tùy theo thỏa thuận giữa chủ tàu và người thuê,
      hàng thời gian bốc và dỡ hàng có thể có hai cách quy định: 1. Quy định chung
        chung, không dứt khoát. Thí dụ: – Bốc / dỡ theo mức nhanh thường lệ của
        cảng (With customary quick despatch = CQD) – Bốc / dỡ nhanh theo khả năng
        tàu tiếp nhận và giao hàng (As fast as the ship can receive and deliver). Cách
        quy định này không kèm theo quy định thưởng phạt bốc / dỡ nhanh, chậm. 2.
        Quy định rõ, dứt khoát thời gian bốc dỡ bằng một số ngày hay mức bốc / dỡ
        bằng bao nhiêu tấn cho một ngày. Thí dụ: – Thời gian cho bốc hàng là 10
        ngày… (10 running days for loading). – Mức bốc hàng cho cả tàu / ngày là
        800 MT (Loading at a rate of 800 metric-tons per day and ship). – Mức bốc
        hàng cho mỗi máng / ngày là 100 MT (Loading at a rate of 100 metric-tons
        per day and hatch). Cách quy định này thường kèm theo quy định thưởng
        phạt bốc, dỡ nhanh, chậm. Ngày bốc / dỡ hàng tùy theo thỏa thuận trong hợp
        đồng thuê tàu mà có thể được quy định tính toán bằng: a. Ngày niên lịch
        (Calendar days) hay ngày liên tục (Consecutive or running days): Dài 24 tiếng
        đồng hồ bắt đầu từ 0 giờ nửa đêm này đến 24 giờ nửa đêm sau, không phân
        biệt ngày làm việc, ngày nghỉ hay ngày lễ. Cách tính này có lợi cho chủ tàu vì
        nó rút ngắn thời gian bốc / dỡ hàng của tàu tại cảng bốc / dỡ. b. Ngày làm
        việc (Working days) do nhà chức trách địa phương hoặc tập quán cảng bốc /
        dỡ quy định loại trừ những ngày nghỉ và ngày lễ (Non-working days and
        holidays excluded). Thông thường, phần lớn các cảng trên thế giới quy định
        ngày làm việc dài 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ 0 giờ nửa đêm này đến 24 giờ
        nửa đêm sau bất kể công việc bốc dỡ hàng có sử dụng hết hoặc không hết
        thời gian. Nhưng cũng có 1 số cảng quy định ngày làm việc không dài 24 giờ,
        thí dụ: Ở các nước Trung Mỹ, ngày làm việc của các cảng khẩu dài 8 tiếng
        đồng hồ từ thứ hai đến thứ sáu và chỉ dài 4 tiếng đồng hồ vào thứ bảy vì ngày
        nghỉ cuối tuần bắt đầu từ 11 giờ trưa ngày thử bảy. Do dó quy định rõ ì  ngày
        làm việc 24 tiếng đồng hồ   là để có sự nhìn nhận thống nhất, tránh hiểu lầm.
        Hơn nữa, người ta có thể thỏa thuận thêm: đó là ì  Ngày làm việc 24 tiếng
        liên tục   (Working days of 24 consecutive hours). Như vậy, có nghĩa là ngày
        bốc dỡ là ngày làm việc 24 giờ, và bốc/dỡ được tiến hành liên tục cả ngày lẫn
        đêm. c. Thời tiết tốt xấu cũng ảnh hưởng đến thời gian bốc/dỡ. Do đó, người
        ta quy định: Ngày thời tiết tốt cho làm hàng (Weather permitting days) mới
        được tính vào thời gian bốc dỡ. Thời tiết xấu gây trở ngại cho bốc/dỡ như:
        Mưa, bão, gió to, sóng to, động đất… thì thời gian ấy sẽ không được tính vào
        số ngày bốc / dỡ. Trong hợp đồng thuê tàu, cần có những quy định chính xác,
        rõ ràng về thời gian bốc / dỡ hàng vì nó có liên quan mật thiết đến lợi ích của
        chủ tàu và người thuê. Thí dụ: – Hàng được bốc và dỡ trong vòng 20 ngày làm
         

    27

         
        việc thời tiết tốt (cho phép), không kể Chủ nhật, ngày lễ ở hai đầu trừ khi có
        sử dụng (Cargo to be loaded and discharged in 20 weather working days both
        ends, Sundays holidays excluded unless used). – Hàng được bốc theo mức
        2500 MT và dỡ theo mức 2100 MT cho mỗi ngày làm việc thời tiết tốt không
        kể chủ nhật và ngày lễ cho dù có sử dụng (Cargo to be loaded at a rate of
        2100MT and discharged at a rate of 2100 MT per weather working day,
        Sundays holidays excepted even if used).
      Lease contract or Lease Hợp đồng thuê mướn là văn bản pháp lý được ký giữa người cho thuê (Lessor)
      Hợp đồng thuê mướn và người thuê (Lessee). Hợp đồng thuê mướn chứa đựng những điều khoản
        thông thường của một hợp đồng kinh tế quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của
        2 bên đương sự, đối tượng thuê mướn có thể là nhà phố, đất đai, công cụ sản
        xuất, công cụ vận tải kể cả container,…
      Length over all Khoảng cách từ điểm đầu mũi đến điểm cuối phía sau lái tàu.
      (L.O.A)  
      Chiều dài toàn phần  
      (của tàu)  
      Less than a container Là lô hàng không đủ số hoặc trọng lượng để thuê trọn một container nên phải
      load (LCL) kết hợp cùng những lô hàng lẻ khác đóng chung vào một container gởi đi.
      Hàng gởi lẻ container Cách gởi này gọi là cách gởi hàng lẻ container.
      Letter of indemnity Là văn bản của một người thứ ba (Người ngoài cuộc) đứng ngoài quan hệ của
      Giấy bảo đảm    Giấy một hợp đồng mà cam kết bồi thường cho một bên ký kết về rủi ro tổn thất có
      bảo lãnh thể xảy ra cho bên đó. Giấy bảo đảm, bảo lãnh thường cần đến trong các
        trường hợp sau đây: – Cam kết để nhận vận đơn sạch (hoàn hảo): Khi giao
        hàng xuất khẩu, đôi lúc xảy ra tình trạng thiếu sót bên ngoài hàng hóa mà
        thuyền trưởng có thể ghi chú vào vận đơn làm cho vận đơn có thể trở thành
        không sạch và không được ngân hàng chấp nhận thanh toán, người gởi hàng
        buộc phải thương lượng với thuyền trưởng và làm giấy bảo đảm, cam kết bồi
        thường tổn thất của người chuyên chở nếu người nhận hàng khiếu nại hàng
        không đúng như ghi trên vận đơn. Tuy nhiên, việc làm giấy bảo đảm này
        không được các tòa án quốc tế công nhận rộng rãi là hợp pháp, việc cam kết
        có thể gây hậu quả nặng nề nên người gởi hàng cần cân nhắc kỹ. – Bảo lãnh
        để nhận hàng: Vì vận đơn cần xuất trình cho tàu để nhận hàng nhưng không
        đến kịp lúc tàu đến giao hàng, người nhận bị buộc phải yêu cầu ngân hàng hỗ
        trợ làm giấy bảo lãnh để có thể nhận được hàng từ người chuyên chở
        (Bankerí  s indemnity). – Bảo đảm đóng góp tổn thất chung: theo quy tắc
        York-Antwerp 1990, chủ hàng có tài sản trong chuyến tàu gặp tổn thất chung
        phải ký cam kết đóng góp tổn thất chung (Average bond) và ứng tiền đóng
        vào tài khoản chung để làm quỹ xử lý tổn thất chung, thì mới được nhận hàng
        của mình còn trên tàu. Nhưng nếu hàng hóa đã được bảo hiểm, chủ hàng sẽ
        yêu cầu công ty bảo hiểm đứng ra làm thư bảo lãnh (Letter of indemnity or
        letter of guarantee) gởi cho người chuyên chở để có thể nhanh chóng mang
        hàng về.
      Letter of reservation Là văn bản của người nhận hàng gửi cho thuyền trưởng thông báo mình bảo
      Thư dự kháng lưu, giữ quyền khiếu kiện hàng bị tổn thất đối với người chuyên chở khi phát
        hiện hàng hóa có dấu hiệu bị hư hại nhưng chưa rõ ràng (Damages non-
        apparent) nên không thể lập ngay giấy chứng nhận hàng hư hại hoặc biên
        bản giám định hàng hư hỏng tại hiện trường. Theo điều khoản 3 của Công ước
        Bruc-xen 1924 về vận đơn đường biển, thư dự kháng về hàng hư hại chưa rõ
        ràng (Bao bì xộc xệch, bị vấy bẩn, hướng chất xếp bị đảo lộn so với nhãn hiệu
        chỉ dẫn,…) phải được lập và trao cho thuyền trưởng hoặc đại diện người
        chuyên chở trong vòng 3 ngày kể từ ngày nhận hàng, trước khi mang hàng
        về. Nếu không, người chuyên chở sẽ từ chối xem xét bồi thường hàng bị tổn
        thất.
      Lift on / lift off Là loại tàu container thông thường, sử dụng loại cẩu trang bị trên tàu hoặc
      container ship (LO- cẩu bờ để bốc hoặc dỡ hàng qua mạn tàu.
      LO container ship)  
      Tàu container bốc dỡ  
      qua mạn  
      Light cargo Loại hàng có tỷ trọng thấp (Density), mỗi tấn trọng lượng chiếm trên 50 foot
      Hàng nhẹ khối hay 1,415 m3, vì thế tuy con tàu đã có dung tích chứa đầy hàng nhẹ
        nhưng trọng tải an toàn tối đa của nó vẫn chưa sử dụng hết. Thí dụ: Bông xô,
         

    28

         
        hạt nhựa, lông vũ,… Do đó, để tận dụng dung tích và trọng tải của con tàu
        nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất, người ta phải kết hợp khéo léo việc
        chất xếp hàng nhẹ cùng với hàng nặng (Heavy cargo) trong điều kiện cho
        phép.
      Light displacement Là trọng lượng bản thân con tàu khi chưa chở hàng, lấy mớn nước biển mùa
      Lượng rẽ nước tàu rỗng hè thấp nhất (Light draft) làm tiêu chuẩn. Lượng rẽ nước tàu rỗng bao gồm: –
        Trọng lượng thân vỏ tàu. – Trọng lượng máy tàu. – Trọng lượng trang thiết bị
        và phụ tùng của tàu. – Trọng lượng nồi hơi – Trọng lượng nhiên liệu sót trong
        máy tàu và ống dẫn. – Trọng lượng nước sót trong nồi hơi và ống dẫn. – Trọng
        lượng nước la-canh sót trong ba-lat (Ballast).
      Lighterage 1. Việc lỏng hàng. 2. Phí lỏng hàng. Là cách bốc hoặc dỡ hàng khi tàu không
        cập trực tiếp cầu bến, phải neo đậu ngoài cầu cảng và dụng sà lan (Lighter)
        để chuyển hàng hóa lên xuống tàu. Lỏng hàng xảy ra khi mớn nước không
        cho phép tàu cập cầu an toàn hoặc khi cầu bến bị ùn tắc hoặc khi trên tàu chở
        loại hàng đặc biệt mà tổ chức quản lý cảng buộc tàu phải bốc hoặc dỡ ngoài
        cầu cảng. Lỏng hàng sẽ làm tăng thêm chi phí bốc hoặc dỡ hàng (Phí lỏng
        hàng), cao hơn phí bốc/dỡ thông thường khi tàu bốc/dỡ trực tiếp tại cầu. Nói
        chung, trong nhiều hợp đồng thuê tàu hay vận đơn đường biển chủ tàu
        thường quy định nếu xảy ra lỏng hàng thì người thuê tàu (Chủ hàng) phải
        gánh chịu phí lỏng hàng kể cả những rủi ro do việc lỏng hàng gây ra.
      Lighter aboard ship Là loại tàu được thiết kế đặc biệt, có trọng tải và dung tích lớn (20000 –
      (Lash) or lighter 30000 DWT) được trang bị cẩu chuyên dùng có sức nâng khỏe để đưa sà lan
      carrier hàng hóa lên xuống tàu và chở đi. Các sà lan này có sức chứa hàng khá lớn,
      Tàu chở xà lan miệng hầm được đậy kín và không trang bị động cơ tự hành mà phải dựa vào
        tàu kéo lai dắt vào bến để bốc hoặc dỡ lên bờ.
      Limitation of liability Dùng để chỉ số tiền tối đa mà người chuyên chở phải bồi thường cho người
      Giới hạn bồi thường thuê tàu/ người chủ vận đơn về tổn thất hàng mà mình gánh chịu trách nhiệm
        căn cứ theo hợp đồng vận tải, tính trên cơ sở đơn vị đóng gói, đơn vị
        tấn,…Mức bồi thường được ấn định do 2 bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc
        theo quy tắc của Luật pháp có liên quan.
      Liner Là loại tàu có từ 2 boong trở lên, kinh doanh chở thuê hàng hóa trên một
      Tàu chợ (Tàu định tuyến vận chuyển cố định, ghé qua những cảng bốc/ dỡ hàng theo một lịch
      tuyến) trình chạy tàu đều đặn được công bố trước. Tàu được trang bị tốt và tốc độ
        khá cao. Hàng chuyên chở chủ yếu là bách hóa đóng kiện, có số lượng nhiều ít
        không bắt buộc. Cước vận chuyển được xây dựng, tập hợp thành biểu suất
        cước phí hay biểu cước (Liner freight tariff) theo từng loại và mặt hàng, tương
        đối ổn định so với cước thuê chuyến (voyage charter freight rate) và chịu sự
        khống chế hoặc ảnh hưởng của các hội vận tải tàu chợ hoặc Công-xọc-xiôm.
        Vận đơn tàu chợ là bằng chứng của hợp đồng vận tải đã được ký kết giữa
        người chuyên chở và người thuê tàu đồng thời là biên lai giao nhận hàng hóa
        và là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa của ngừơi nhận hàng có tên
        trong vận đơn. Thủ tục thuê tàu chợ đơn giản, ngắn gọn, người thuê nghiên
        cứu lịch trình chạy tàu, làm giấy lưu chỗ (Booking note) và nếu được nhận
        chở, sẽ đưa hàng ra dọc mạn tàu giao cho người chuyên chở, sau đó nhận vận
        đơn do thuyền trưởng ký phát.
      Liner freight tariff Là bản liệt kê theo thứ tự A, B, C…hoặc theo đặc tính hàng hóa, các loại cước
      Biểu cước tàu chợ suất tàu chợ do hãng tàu đơn phương ấn định để thu cước đối với từng loại
        hoặc mặt hàng chuyên chở. Cước suất tàu chợ (Liner freight rate) được tính
        trên cơ sở giá thành vận tải thực tế và phần lãi dự kiến được thu vào. Giá
        thành vận tải tàu chợ là tổng chi phí mà người vận tải phải bỏ ra để vận
        chuyển hàng hóa và bao gồm: – Các loại phí khấu hao, duy tu sửa chữa và
        bảo hiểm tàu. – Lương bổng và bảo hiểm xã hội của thuyền viên. – Phí cung
        ứng vật phẩm (Nhiên liệu, thực phẩm, dự trữ, vật tư, phụ tùng…) – Phí bốc và
        dỡ hàng (Theo điều kiện bốc/ dỡ tàu chợ) – Cảng phí, phí qua kênh đào quốc
        tế… – Phí quản lý, hành chánh. Ngoài ra để quyết định cụ thể cước suất cho
        từng loại hoặc mặt hàng, người vận tải còn phải xem xét đến hệ số chất xếp
        hàng, cự ly vận chuyển và cả tình hình thị trường vận tải, đồng thời quyết
        định thu thêm các loại phụ phí (Surcharges) có liên quan đến giá thành và thu
        nhập như: Phụ phí về giá dầu tăng (BAC= Banker adjustment charges), phụ
        phí đồng tiền thanh toán mất giá (CAC= Currency adjustment charges), phụ
        phí về cảng ùn tàu (Port congestion surcharges), trong những trừơng hợp có
         

    29

         
        biến động. Tuy nhiên, ngược lại, hãng tàu chợ cũng thực hiện chính sách giảm
        cước (Rebate) nhằmthu hút khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của
        mình.
      Liner terms of berth Liner freight conference (Shipping conference) Hiệp hội vận tải tàu chợ (Công
      terms hội hàng hải) Là hình thức liên kết hợp tác của các hãng tàu chợ cùng kinh
      Điều kiện bốc dỡ tàu doanh trong một khu vực hay trên một tuyến đường vận tải, ra đời vào đầu
      chợ thế kỷ 19 và phát triển mạnh trong thế kỷ 20. Mục đích thành lập Hiệp hội
        vận tải tàu chợ là bằng cách chế định, áp dụng những chính sách và biểu cước
        thống nhất trong khu vực, Hiệp hội sẽ gạt bỏ sự cạnh tranh không lành mạnh
        giữa các thành viên, bạo vệ lợi ích Hiệp hội chống sự xâm nhập kinh doanh
        của các hãng tàu ngoài Hiệp hội (Outsiders) Hiện nay, trên các tuyến hàng hải
        trọng yếu của thế giới có trên 400 Hiệp hội vận tải tàu chợ hoạt động, số
        lượng này thường biến động bởi nhiều nguyên nhân gây ra sự tan rã của một
        số Hiệp hội này và sự ra đời của một số Hiệp hội khác. Những Hiệp hội vận tải
        tàu chợ nổi tiếng gồm có: “Hiệp hội vận tải tàu chợ Viễn Đông” (Far East
        Freight Conference), “Hiệp hội vận tải tàu chợ Biển Đỏ” (Continent Red Sea
        Liner Conference), “Hiệp hội vận tải tàu chợ xuyên Đại Tây Dương”
        (Transatlantic Freight Conference), “Hiệp hội vận tải tàu chợ xuyên Thái Bình
        Dương” đi phía Tây (Transpacific Westbound Freight Conference),… Vào thế
        kỷ 20, ngành vận tải biển phát triển mạnh thêm, một số Hiệp hội liên kết
        nhau thành những “Siêu Hiệp hội” (Super-shipping conferences) hoặc thành
        các “Pun” (Pools), các Công-xọc-xiôm vận tải (consortiums) cùng nhau phân
        chia khối lượng hàng vận chuyển và ăn chia cước thu nhập theo đồng vốn
        đóng góp kinh doanh của mỗi thành viên.
      Lloyd’s register of Là tổ chức đăng kiểm và xếp hạng tàu biển của nước Anh, thành lập chính
      shipping thức năm 1760, xuất phát từ yêu cầu nghiệp vụ ngành vận tải biển mà nơi
      Công ty đăng kiểm tàu tập trung các thông tin lúc đầu là quán cà phê của Edward Lloyd (London). Tổ
      biển Lloyd’s chức Lloyd’s nhận đăng kiểm và xếp hạng các loại tàu biển có dung tích từ
        100 BRT trở lên cho các hãng tàu Anh và ngoại quốc. Việc giám định kiểm
        soát bắt đầu từ khi con tàu được thiết kế theo đồ án cho đến lúc nó được hạ
        thủy và chạy thử. Lloyd’s sẽ căn cứ vào kết qủa giám định, đối chiếu với
        ì  Quy tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật của Lloyd’s (Lloyd’s Rules and Regulations)
        mà xếp hạng và cấp giấy chứng hạng thứ của tàu (Certificate of shipí  s
        class). Sau đó, tên và đặc điểm con tàu sẽ được ghi vào sổ danh bạ (Register
        book of shipping) của Lloyd’s được phát hành hàng năm. Lloyd’s cấp hạng thứ
        cao nhất là 100 A1 cho các loại tàu biển phổ thông, tàu dầu và tàu quặng
        chuyên dùng được đóng phù hợp với ì  Quy tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật của
        Lloyd’s. Dãy số 100 dùng để chỉ thân, vỏ và máy tàu (Máy chính, máy phụ,
        nồi hơi, các thiết bị quan trọng, hệ thống bơm, hệ thống điện) đáp ứng đúng
        yêu cầu kỹ thuật của Lloyd’s. Số 1 dùng để chỉ thiết bị neo, dây cáp, ống neo
        trong điều kiện hoạt động tốt. Đối với các con tàu mà trang thiết bị chưa hoàn
        toàn phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định mà Lloyd’s xét có thể chấp
        nhận được thì cấp hạng thứ 100A và thay thế số 1 ở sau bằng một vạch
        ngang. Đối với các con tàu kém về chất lượng và thiếu về trang bị, sau khi
        kiểm tra giám định lại (4 năm/ lần) thì sẽ bị loại khỏi sổ danh ba đăng kiểm.
        Từ tháng 7/ 1949, “Quy tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật của Lloyd’s” được sửa đổi.
        Ký hiệu 100A được cấp cho các tàu hàng thông thường và tàu khách đạt yêu
        cầu. Ký hiệu 100A1 với dấu thập đen phân biệt dùng để chỉ các con tàu được
        đóng dưới sự kiểm soát, giám định đặc biệt của Lloyd’s. Ký hiệu LMC (Lloyd’s
        Machinery Certificate) với dấu thập đỏ phân biệt dùng để chỉ máy tàu được
        chế tạo dưới sự giám định đặc biệt của Lloyd’s.
      Lloyd’s Underwriters Tên gọi chung của các công ty bảo hiểm Anh, xuất phát từ tên một chủ quán
      Association cà phê Edward Lloyd tại London vào cuối thế kỷ 18. Quán ì  Lloyd’s Coffee   là
      Liên đoàn bảo hiểm nơi gặp gỡ, thông báo và trao đổi các thông tin, trao đổi nghiệp vụ thuê tàu
      Lloyd’s và bảo hiểm hàng hải. Năm 1727, Liên đoàn bảo hiểm Lloyd’s chính thức
        thành lập, kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm tại nước Anh và trên toàn thế giới.
        Liên đoàn bảo hiểm Lloyd’s có ảnh hưởng lớn đến thị trường bảo hiểm toàn
        thế giới về quy định các quy tắc, điều kiện bảo hiểm và số lượng doanh thu.
        Lloyd’s có một mạng lưới đại lý bảo hiểm lành nghề phục vụ đắc lực tại hầu
        khắp các cảng khẩu quan trọng trên thế giới.
      Lumpsum charter Khác với cách thuê chuyến thông thường mà tiền cước phí được trả căn cứ
      Thuê bao (con tàu) theo khối lượng hoặc trọng lượng thực tế của hàng chuyên chở, thuê bao là
         

    30

         
        cách thuê chuyến mà tiền cước phí được tính và trả căn cứ theo trọng tải hoặc
        dung tích của con tàu đã được thuê (Lumpsum freight). Người thuê bao con
        tàu có quyền chất xếp và vận chuyển một số lượng hàng hóa tùy theo yêu
        cầu cụ thể của mình miễn là không vượt qúa mức trọng tải an toàn của con
        tàu và không phải chịu phạt cước khống nếu hàng chuyên chở không đầy tàu.
        Trong cách thuê bao, người thuê tự mình phải gánh chịu phí bốc hoặc dỡ
        hàng.
      N   (Back to top)  
      Natural wastage Là hao phí, thiếu hụt không thể tránh đối với một số hàng hóa chuyên chở do
      Hao hụt tự nhiên đặc tính của nó hoặc do cách chuyên chở. Thí dụ: Chuyên chở dầu phải chịu
        hao phí tất nhiên vì dầu bốc hơi hoặc chuyên chở các loại hàng rời phải chịu
        hao phí tất nhiên vì rơi vãi và không thể dọn sạch hết hàng trong hầm tàu. Vì
        lẽ đó, người bảo hiểm quy định mức miễn giảm (Franchise) thích hợp với tỷ lệ
        hao hụt tự nhiên để tránh trách nhiệm bồi thường.
      Nautical error Chỉ những lỗi lầm của thuyền trưởng, thủy thủ hoặc người phục vụ cho người
      Lỗi hàng vận chuyên chở có hành vi chểnh mảng, sai sót, không hoàn thành bổn phận
        trong việc điều khiển, chạy tàu. Thí dụ: Say rượu nên lái tàu vào cạn, tự ý
        ghé vào cảng ngoài luồng,… Điều 4 của Công ước Brúc-xen 1924 quy định
        người chuyên chở được miễn trách nhiệm đối với lỗi hàng vận (Nautical error)
        hoặc lỗi về quản trị tàu (error in management of the ship). Quy định này có
        lợi cho chủ tàu vì không phải trong trường hợp nào người ta cũng có thể phân
        biệt rõ lỗi hàng vận với lỗi thương mại về quản lý và làm hàng (Commercial
        error in management and handling of the cargo) mà chủ tàu thường viện cớ
        tổn thất hàng là do lỗi hàng vận gây ra để được hưởng miễn trách. Do đó, chủ
        hàng bị thiệt vì không đòi được tàu bồi thường tổn thất hàng.
      Near clause Trách nhiệm của người chuyên chở là đưa tàu đến địa điểm bốc dỡ hàng đúng
      Điều khoản đến gần quy định trong hợp đồng. Nhưng đôi khi do những trở ngại bất ngờ ngoài sự
        kiểm soát của tàu (Bến đậu hư hỏng bởi bão tố, đường vào cảng bị cạn vì đất
        cát dồn đến, cảng bị phong tỏa,…) làm cho con tàu không đến nơi một cách
        an toàn. Để đề phòng trường hợp ấy, một số hợp đồng quy định ì  Điều khoản
        đến gần   cho phép người chuyên chở được đưa tàu đến một địa điểm gần đó
        để giao nhận hàng coi như vẫn hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng. Thí dụ: Hợp
        đồng mẫu Gencon quy định: ì  Con tàu đã nói sẽ đến cảng xếp hàng… hoặc
        địa điểm gần đấy mà con tàu có thể cập bến an toàn và luôn luôn đậu nổi…
        (The said vessel shall proceed to the loading port… or so near thereto as she
        may safely get and he always afloat…).
      Negligence clause Điều khoản quy định những hư hỏng của máy móc trong tàu do sự sơ suất,
      (Inchmaree clause) bất cẩn (Negligence) của thuyền viên gây nên không được coi là tai nạn hàng
      Điều khoản sơ suất hải (Maritime perils) và do đó sẽ không được bảo hiểm bồi thường. Điều
        khoản này còn được gọi là điều khoản Inchmaree (Inchmaree clause) do một
        vụ kiện đã được tòa án xét xử con tàu có tên Inchmaree theo điều khoản quy
        định trên.
      Negotiable Bill of Vận đơn lưu thông là chứng từ vận tải hợp pháp, cho phép chủ hàng có tên
      Lading and non- trong vận đơn thực hiện việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa ghi trong vận
      negotiable Bill of đơn cho một người nào khác bằng cách trao tay hay ký hậu (Endorsement).
      Lading Vận đơn gốc (Original) sạch-hàng đã xếp lên tàu (Clean on board) có ghi chữ
      Vận đơn lưu thông và ì  Lưu thông   (Negotiable) có nghĩa là vận đơn có thể được chuyển nhượng
      vận đơn không lưu cho người khác và vẫn được các ngân hàng thương mại chấp nhận thanh toán.
      thông Ngược lại, các bản vận đơn có ghi chữ ì  Không lưu thông   (Non-negotiable)
        là những bản phụ của vận đơn gốc (Copies) không được chuyển nhượng cho
        người khác và sẽ không được các ngân hàng thương mại chấp nhận thanh
        toán. Chúng chỉ được dùng làm bằng chứng trong các nghiệp vụ liên quan cần
        đến (Cảng, quản lý xuất nhập khẩu, thống kê,…)
      Net capacity Dung tích tịnh của con tàu còn được gọi là dung tải tịnh của con tàu (Net
      Dung tích tịnh Tonnage) là sức chứa hàng của nó tính bằng m3 khi con tàu đạt đến mớn
        nước biển mùa hè. Như vậy, dung tích tịnh của con tàu không bao gồm các
        khoang khác dùng ngoài mục đích chứa hàng (Buồng máy, nơi sinh hoạt
        thuyền viên, kho thực phẩm, hầm chứa nhiên liệu,…)
      Net charter Con tàu được thuê theo điều kiện trả thực cước nghĩa là sau khi con tàu được
      Thuê tàu trả thực cước giao cho người thuê tại cảng bốc hàng đầu tiên, thì từ đó người thuê phải tự
         

    31

         
        mình gánh chịu phí bốc / dỡ hàng và các loại phí khác tại cảng bốc hàng đầu
        tiên, các cảng bốc hàng kế tiếp và cảng dỡ hàng. Sau khi dỡ xong hàng, tàu
        được hoàn trả cho chủ tàu thì từ đó phí rời cảng và các phí khác sẽ do chủ tàu
        gánh chịu. Như vậy, tiền cước thuê tàu theo điều kiện này được tính dựa trên
        phí vận chuyển đơn thuần. Hiện nay, điều kiện thuê tàu này ít được dùng và
        hầu như nó chỉ được sử dụng ở Hoa Kỳ.
      New Jason clause Khi tổn thất chung xảy ra và được xử theo án lệ nước Mỹ, chủ tàu không được
      (Amended Jason phép thu nhận phần tỷ lệ đóng góp tổn thất chung của chủ hàng nếu nguyên
      clause) nhân xảy ra tổn thất chung ấy do bất cẩn trong việc chạy tàu hoặc sai lầm
      Điều khoản Jason mới trong việc quản trị con tàu. Do đó, để tránh hậu quả bất lợi nói trên, chủ tàu
      (Điều khoản Jason được đặt ra điều khoản Jason mới có nội dung quy định như sau: ì  Chủ hàng hoặc
      sửa đổi) người gởi, người nhận hàng có bổn phận đóng góp tổn thất chung bất kể hiểm
        họa, tai nạn xảy ra trước hoặc sau hành trình của con tàu, bất kể nguyên
        nhân xảy ra tổn thất chung như thế nào bao gồm cả nguyên nhân bất cẩn của
        tàu mà tàu được hưởng miễn trách căn cứ theo luật pháp, hợp đồng hoặc cách
        nào khác. Họ sẽ trả phí cứu hộ và những chi phí đặc biệt phát sinh đối với
        hàng hóa. Phí cứu hộ sẽ được trả toàn bộ đầy đủ cho dù tàu cứu hộ thuộc sở
        hữu chủ tàu hay sở hữu của người ngoài. Số tiền ký quỹ đóng góp tổn thất
        chung do người chuyên chở hoặc đại lý của họ dự kiến coi như đầy đủ sẽ được
        chủ hàng, người gởi hoặc người nhận hàng giao nộp trước khi nhận hàng   .
      No cure no pay Thuật ngữ dùng trong hợp đồng cứu hộ (Salvage Agreement), có nghĩa là:
      Không cứu được, không tiền cứu hộ chỉ được chi trả khi tài sản được cứu phù hợp với hợp đồng.
      chi trả  
      Non vessel operating Trong vận chuyển hàng bằng container, đại bộ phận các hãng tàu chỉ chở
      common carrier thuê trọn container (FCL/FCL) mà không nhận chở thuê hàng lẻ (Không đủ
      (NVOCC) trọng tải, thể tích container). Để đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng lẻ, một số
      Người vận tải (Chuyên người kinh doanh dịch vụ vận tải mà phần lớn là những Công ty giao nhận
      chở) công cộng không hàng đứng ra làm người chở thuê hàng lẻ. Họ tập hợp hàng hóa từ nhiều chủ
      tàu hàng, sắp xếp và phân loại cho đủ trọn một hay nhiều container rồi sau đó họ
        thuê hãng tàu container là những người vận tải thực sự để chở hàng đến đích
        giao cho người nhận, bởi vì bản thân họ không có tàu. Thu nhập của họ là
        khoản tiền chênh lệch giữa tiền cước nhận được từ các chủ hàng lẻ và tiền
        cước mà họ phải trả cho hãng tàu container. Họ được gọi là ì  Người vận tải
        công cộng không tàu   .
      Non delivery Thuật ngữ dùng để chỉ người chuyên chở không có hàng để giao cho người
      Không giao hàng nhận tại cảng đến mà lẽ ra đó là nghĩa vụ của mình. Tàu không giao hàng có
        thể do nhiều nguyên nhân gây ra như: Thiên tai (Bão làm đắm tàu và
        hàng…), hàng bị trộm cắp, bị mất tung tích, bị tịch thu, bị phá hoại,… Tùy
        theo quy định của hợp đồng thuê tàu hoặc vận đơn và nguyên nhân không
        giao hàng mà xác định trách nhiệm người chuyên chở đối với ì  Không giao
        hàng   .
      Non reversible layday Dùng để chỉ thỏa thuận giữa chủ tàu và người thuê về cách tính thời gian làm
      Thời gian bốc dỡ không hàng của tàu tại cảng bốc và cảng dỡ hàng không gộp chung làm một mà
      bù trừ tách riêng thành thời gian bốc hàng (Loading time) và thời gian dỡ hàng
        (Discharging time). Như vậy, việc thưởng / phạt bốc dỡ nhanh, chậm cũng do
        đó được tính riêng lẻ mà không được tính gộp thời gian bốc và thời gian dỡ
        hàng để được bù trừ cho nhau.
      Norgrain (North Hợp đồng thuê chuyến chở hàng hạt từ Hoa Kỳ và Canada, do Hiệp hội môi
      American Grain giới và đại lý tàu Hoa Kỳ soạn thảo (Association of Ship Brokers and Agents-
      Charter – Party) USA)
      Not always afloat but Tại một bến cảng mà người thuê tàu biết trước là có độ sâu ít nhiều hạn chế
      safe aground đối với mớn nước của con tàu được thuê nhưng đáy bến là bùn mềm thì người
      Không luôn luôn nổi thuê tàu yêu cầu chủ tàu chấp nhận ghi vào hợp đồng thuật ngữ trên, có
      nhưng chạm đáy an nghĩa là: tàu không luôn luôn đậu nổi tại bến cảng, mà cho phép tàu có lúc
      toàn chạm đáy trong điều kiện tàu và hàng vẫn được bảo đảm an toàn. Bằng quy
        định này, người thuê tránh được sự phản đối và khiếu nại của người chuyên
        chở và vẫn được phép xuống hàng đầy tàu dù đáy tàu vẫn chạm nhẹ trên đất
        bùn.
      Notice of readiness Khi con tàu được thuê đến cảng giao hoặc nhận hàng, chủ tàu phải thông báo
      Thông báo sẵn sàng bốc bằng văn bản hoặc Telex càng sớm càng tốt cho người thuê (Người gởi hoặc
      / dỡ nhận hàng) biết tàu đã đến cảng và sẵn sàng để bốc dỡ hàng. Tàu được coi là
         

    32

         
        đã sẵn sàng bốc dỡ hàng khi có đủ các điều kiện sau: – Tàu đã đến đúng địa
        điểm bốc dỡ quy định trong hợp đồng hoặc đã đến gần nơi ấy mà tàu có thể
        tiếp cận được một cách an toàn. – Tàu đã hoàn thành các thủ tục pháp lý cần
        thiết (Thủ tục vào cảng, thủ tục an ninh, hải quan, y tế, kiểm dịch). – Tàu đã
        chuẩn bị đủ mọi mặt để giao nhận hàng (Hầm hàng, công cụ bốc dỡ, ánh
        sáng,…) tùy theo quy định của hợp đồng thuê tàu. Đối với tàu chở ngũ cốc
        rời, hợp đồng thuê tàu đôi khi còn quy định chủ tàu phải xuất trình kèm theo
        thông báo sẵn sàng bốc dỡ giấy giám định xác nhận các hầm hàng của tàu đủ
        điều kiện tiếp nhận, bảo quản ngũ cốc rời. Khi người thuê tàu (Người gởi hoặc
        người nhận hàng) ghi ngày giờ chấp nhận thông báo sẵn sàng bốc dỡ được
        trao vào ngày làm việc địa phương thì sau đó, thời gian bốc dỡ hàng bắt đầu
        được tính theo quy định của hợp đồng. Thí dụ: Hợp đồng thuê tàu mẫu
        Gencon quy định ì  Thời gian bốc dỡ hàng bắt đầu tính từ 13 giờ nếu thông
        báo sẵn sàng bốc dỡ được trao và chấp nhận trước 12 giờ cùng ngày và bắt
        đầu tính từ 6 giờ ngày hôm sau nếu thông báo sẵn sàng bốc dỡ được trao và
        chấp nhận vào giờ làm việc buổi chiều của ngày hôm trước   .
      O   (Back to top)  
      Off-hire clause or Theo thông lệ và quy định của hợp đồng thuê tàu định hạn, người thuê tàu có
      suspension of hire nghĩa vụ trả cước trong suốt thời gian từ khi nhận đến khi trả tàu. Nhưng
      Clause trong hợp đồng thường có ghi thêm điều khoản đình thuê nghĩa là người thuê
      Điều khoản đình thuê tàu có quyền đình thuê một cách hợp lý và không trả cước trong thời gian mà
        con tàu mất khả năng hoạt động kinh doanh vì những nguyên nhân đã được
        hai bên thỏa thuận như: Tàu mắc cạn; bị cháy; vỏ máy hoặc thiết bị hư hỏng,
        tàu thiếu phụ tùng dự bị lẽ ra phải có để thay thế bộ phận hư hỏng, tàu không
        hoạt động do lỗi lầm, sơ suất của thuyền viên; tàu vào ụ để bảo dưỡng định
        kỳ kỹ thuật,…Ở một số hợp đồng thuê định hạn, người ta quy định cách tính
        thời gian đình thuê bắt đầu từ khi con tàu mất khả năng hoạt động cho đến
        khi nó trở lại hoạt động tại nơi mà trước khi nó đã ngừng hoạt động vì sự cố
        nào đó (Put back clause). Luật pháp của một số nước lại quy định thời gian
        đình thuê chỉ được tính nếu nó vượt quá khoảng thời gian miễn tính
        (Threshold rule). Thí dụ: Hợp đồng thuê định hạn Baltime quy định thời gian
        đình thuê chỉ được tính nếu tàu ngừng hoạt động quá 24 tiếng đồng hồ và khi
        tính thời gian đình thuê sẽ tính toàn bộ, không có khấu trừ. Hợp đồng cũng
        quy định nếu tàu ngừng hoạt động do thời tiết xấu (Bão tố, sương mù), động
        đất, băng hoặc cồn cát phong tỏa, đình công bãi công của thuyền viên hoặc
        công nhân bốc dỡ trên bờ… thì thời gian ấy không được tính vào đình thuê.
        Điều khoản đình thuê khá phức tạp, lý do và cách tính thời gian đình thuê còn
        nhiều điểm chưa thống nhất nên người thuê tàu cần đàm phán và thỏa thuận
        cụ thể với chủ tàu.
      Offer Trong thuê tàu chuyến, việc chào giá cho thuê do chủ tàu phát ra cho người
      Chào giá    Đơn chào thuê. Nội dung đơn chào giá gồm có: – Tên địa chỉ hãng tàu. – Tên và đặc
      giá điểm con tàu. – Khối lượng và tính chất loại hàng. – Cảng bến bốc / dỡ. – Cước
        phí và điều kiện thanh toán. – Các điều khoản khác (Mẫu hợp đồng thuê tàu,
        hoa hồng đại lý, chỉ định đại lý tàu,..) Nếu là thuê tàu định hạn, hãng tàu phải
        mô tả đầy đủ và chính xác con tàu (Shipí  s description). Nội dung gồm có: –
        Tên và địa chỉ hãng tàu. – Tên tàu, năm đóng, quốc tịch và nơi đăng ký. –
        Trọng tải và dung tích. – Số lượng và kích thước hầm hàng. – Trang bị bốc dỡ
        và bảo vệ hàng. – Tốc độ và mức tiêu hao nhiên liệu. – Cước phí và điều kiện
        thanh toán. – Các điều khoản khác (Mẫu hợp đồng, kỳ hạn cho thuê,…) Người
        thuê nghiên cứu đơn chào giá và trả lời bằng nhiều cách: – Chấp nhận thuê
        hoàn toàn theo đơn chào giá (Clean accept). – Từ chối hoàn toàn không mặc
        cả (Chartererí  s decline ownerí  s offer without counter). – Từ chối đơn chào
        giá và chào lại (Chartererí  s decline ownerí  s offer and counter    offer as
        follows…) Chào giá của chủ tàu có 2 dạng: Chào giá cố định (Firm offer) và
        chào giá có điều kiện (Offer subject to…)
      On – Carrier Là người hoặc công ty ký hợp đồng đảm trách chuyên chở hàng nối tiếp từ
      Người vận tải (chuyên cảng hoặc nơi bốc dỡ của tàu biển (tàu biển viễn dương) đến đích giao hàng
      chở) nối tiếp cuối cùng thường nằm sâu trong nội địa bằng ô tô tải, tàu hỏa hoặc sà lan.
      On hire survey – Off Trong thuê tàu định hạn, khi kỳ hạn thuê chấm dứt, người thuê phải hoàn trả
      hire survey cho chủ tàu con tàu trong tình trạng tốt (In good order and condition) như khi
      Giám định tiếp nhận nó đã được giao cho người thuê sử dụng từ ban đầu, trừ những hao mòn tự
         

    33

               
      thuê    Giám định chấm nhiên thông thường (Ordinary wear and tear excepted). Do đó, để bảo vệ lợi
      dứt thuê ích công bằng cho 2 bên, hợp đồng thuê tàu định hạn quy định lúc giao tàu
        cho người thuê và lúc người thuê hoàn trả cho chủ tàu, con tàu phải được
        giám định kỹ lưỡng về mọi mặt và biên bản giám định được xác định làm cơ
        sở cho việc tiếp nhận và giao trả tàu.  
      Once on demurrage, Khi đã xảy ra chậm trễ bốc/dỡ hàng so với quy định của hợp đồng thuê tàu thì
      always on người thuê tàu, người gửi hoặc người nhận hàng sẽ không còn được áp dụng
      demurrage. điều kiện ì Chủ nhật, ngày lễ và ngày thời tiết xấu được loại trừ, không tính
      ì  Một khi bắt đầu thời vào thời gian bốc dỡ . Thời gian bốc/dỡ chậm được tính bắt đầu từ ngày hết
      gian bị phạt bốc/dỡ hạn bốc/dỡ xong hàng trong thực tế, trong đó gồm các ngày Chủ nhật, ngày
      chậm, thời gian bốc/dỡ lễ và ngày thời tiết xấu và chỉ trừ đi thời gian bốc/dỡ bị ngắt quãng do lỗi của
      chậm trễ sẽ được tính phía tàu như: Chểnh mảng làm việc của thuyền viên, cần cẩu tàu bị hỏng, tàu
      liên tục   . không thể cung cấp năng lượng cho bốc dỡ,… Open conference Hiệp hội vận
        tải ì  mở Chỉ hiệp hội vận tải tàu chợ quy chế thoáng, không đòi hỏi bỏ
        phiếu để kết nạp thành viên mới.  
      Open cover Là một loại hợp đồng bảo hiểm hàng hóa được 2 bên    người bảo hiểm và
      Hợp đồng bảo hiểm bao người được bảo hiểm ký kết trước khi thực hiện các chuyến vận chuyển hàng.
      (mở sẵn) Nội dung hợp đồng bao gồm các điều khoản xác định: Tình hình hàng hóa,
        loại tàu chở hàng, cách tính giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối đa cho mỗi
        chuyến đi, điều kiện bảo hiểm, phí suất bảo hiểm, thời hạn hiệu lực và các chi
        tiết khác đã được 2 bên nhất trí thỏa thuận. (Khối lượng hàng cụ thể cho từng
        chuyến chuyên chở chưa được xác định). Người được bảo hiểm sẽ thông báo
        kịp thời cho người bảo hiểm các chi tiết thiết yếu về chuyến gửi hàng và yêu
        cầu người này ký phát bảo hiểm đơn hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm nếu cần.
        Thông báo này sẽ không được trao chậm hơn lúc bắt đầu dỡ hàng từ tàu tại
        cảng đích đã được nêu trong hợp đồng.  
      Open rate Là loại cước mà người gửi hàng hoặc người giao nhận thương lượng với hãng
      Cước suất ì  mở tàu để vận chuyển 1 mặt hàng nào đó khối lượng ít hơn khối lượng tối thiểu
        mà hãng tàu quy định để nhận chở đối với mặt hàng ấy. Cước suất mở thấp
        hơn cước suất được công bố trên biển cước và thường được áp dụng đối với
        một mặt hàng đi thẳng từ cảng gửi tới cảng đích.
      Outport or Outside Tàu chợ hoạt động theo tuyến cố định và theo lịch trình chạy tàu được công
      port bố trước, ghi rõ tên các cảng chính mà tàu ghé qua để giao hoặc nhận hàng
      Cảng ngoài luồng (Main ports of call). Ngoài ra tàu có thể công bố một số cảng phụ gọi là
        ì  Cảng ngoài luồng dọc tuyến đi mà tàu có thể ghé bất thường nếu chủ
        hàng yêu cầu với số lượng hàng hóa đủ để trang trải chi phí vào ra cảng và có
        lãi.      
      Outsider Là những công ty kinh doanh chở thuê độc lập, không tham gia và do đó cũng
      Hãng tàu ngoài hiệp hội không bị ràng buộc bởi quy chế của hiệp hội vận tải mà tự mình đặt ra các
      vận tải điều kiện chở thuê và cước phí. Hãng tàu ngoài hiệp hội là đối tượng cạnh
        tranh của các thành viên hiệp hội vận tải cùng kinh doanh chở thuê chung
        tuyến đường.    
      Overloaded ship Chỉ con tàu đã xếp hàng vượt quá mớn nước an toàn cho phép có thể dẫn đến
      Tàu xếp hàng quá tải sự cố, tai họa không lường được.  
      Overside delivery Điều khoản này cho phép người nhận hàng có thể nhận loại hàng đóng kiện
      clause or under dưới móc cẩu trên bờ hoặc trên sà lan. Nếu người nhận nó ý định sử dụng sà
      tackle clause lan của mình để nhận hàng qua mạn tàu thì phải thông báo cho chủ tàu 48
      Điều khoản giao hàng tiếng đồng hồ trước khi tàu đến và khi nhận hàng phải làm hàng liên tục
      qua mạn tàu hay dưới không kể ngày đêm, Chủ nhật, ngày lễ theo khả năng bốc dỡ nhanh nhất của
      móc cẩu con tàu. Nội dung của điều khoản này quy định: ì  Người nhận hàng có thể
        chọn cách dỡ hàng bằng sà lan của mình nhưng không được vì nó gây chậm
        trễ cho tàu. Các sà lan nhận hàng sang mạn phải làm việc liên tục ngày đêm
        kể cả Chủ nhật và ngày lễ. Thông báo về quyết định dùng sà lan dỡ hàng
        sang mạn phải được trao 48 tiếng đồng hồ trước khi tàu đến. Nếu không có
        thông báo, tàu có quyền từ chối dỡ hàng bằng sà lan và có quyền giao hàng
        trực tiếp lên bờ hoặc bằng công cụ vận tải nào khác mà mọi chi phí do đó
        phát sinh sẽ do người nhận hàng gánh chịu   . ì Điều khoản giao hàng qua
        mạn tàu có nội dung quy định tương tự như ì Điều khoản dưới móc cẩu
        (Under tackle or souspalan) được sử dụng phổ biến trong ngành hàng hải của
        Pháp.      
               

    34

    P      (Back to top)

        Paramount clause Gọi là ì  Điều khoản đứng đầu   vì tính chất ý nghĩa rất quan trọng về pháp lý    
           
        Điều khoản đứng đầu của nó. Điều khoản này dẫn chiếu luật pháp nào sẽ là luật áp dụng trong    
        (Vận đơn) thương vụ vận tải này và sẽ chi phối mối quan hệ quyền lợi và nghĩa vụ giữa    
          người chuyên chở và người thuê tàu. Trong vận chuyển hàng bằng tàu chợ,    
          vận đơn tàu chợ là bằng chứng của hợp đồng chuyên chở, điều khoản đứng    
          đầu của vận đơn dẫn chiếu luật áp dụng là quy tắc Hague (Hague Rules)    
          thuộc công ước Brúc-xen 1924 (Brussels Convention 1924) hoặc là quy tắc    
          Hague-Visby, dựa trên cơ sở công ước Brúc-xen được bổ sung, sửa chữa bằng    
          nghị định thư 1968 (Protocol 1968). Đại đa số nước đã ký kết hoặc phê duyệt    
          Công ước Brúc-xen và nghị định thư 1968 áp dụng một trong hai quy tắc này    
          làm cơ sở luật pháp điều chỉnh vận đơn tàu chợ của nuớc mình. Tuy nhiên vẫn    
          còn một số ít nước trên thế giới chưa tham gia và phê duyệt các Công ước và    
          nghị định thư nói trên. Điều khoản đứng đầu trong vận đơn tàu chợ của họ    
          dẫn chiếu luật hàng hải quốc gia của mình làm luật cơ sở cho việc điều chỉnh    
          vận đơn. Ngoài ra, cũng cần lưu ý trong việc chở hàng bằng tàu chuyến,    
          người chuyên chở ký phát vận đơn trên đó có ì  Điều khoản đứng đầu   dẫn    
          chiếu đến việc áp dụng quy tắc Hague hoặc quy tắc Hague-Visby, được luật    
          pháp nước gửi hàng hoặc nước nhận hàng cho phép áp dụng thì vận đơn này    
          là một văn bản pháp lý bổ sung cho hợp đồng thuê tàu và không được trái với    
          điều khoản của hợp đồng thuê tàu đã được ký kết.    
               
        Parcel List Là bản kê những gói nhỏ chở trên tàu, trọng lượng, kích thước và giá trị kinh    
        Bản khai gói chở kèm tế không đáng kể và không có vận đơn. Thí dụ: Gói hàng mẫu, túi chứng từ,    
          bưu phẩm vặt… (Không bao gồm đồ trang sức, vàng bạc, đá quý, máy ảnh).    
          Khi trên tàu có gói chở kèm, tàu phải lập bản khai gói chở kèm nộp theo bản    
          lược khai hàng hóa để xuất trình cho hải quan kiểm tra khi ra, vào cảng khẩu.    
               
        Parcel receipt Là chứng từ mà thuyền trưởng ký phát cho các chủ hàng có gói gửi theo tàu.    
        Phiếu nhận gói chở kèm Trên phiếu gửi có ghi: Người gửi hàng, dấu hiệu số kiện, trọng lượng, giá trị,    
          tên tàu, cảng đến, tên và địa chỉ người nhận hàng,… Phiếu nhận gói chở kèm    
          không có chức năng tác dụng của một vận đơn nên không có giá trị giao dịch    
          và không được ký hậu.    
               
        Packing list or Là bản kê chi tiết hàng hóa đóng chung trong một kiện hoặc một container    
        Packing note hàng, do chủ hàng (Người gửi hàng) lập. Nội dung bao gồm: Tên hàng, số    
        Phiếu đóng gói lượng, trọng lượng tịnh và trọng lượng cả bì, kích cỡ,… Phiếu đóng gói được    
          đặt trong kiện hoặc container hàng để người nhận hàng tiện kiểm tra hàng    
          hóa.    
               
        Part Cargo Chỉ một lô hàng có khối lượng đáng kể nhưng không đủ để chiếm trọn dung    
        Phần hàng tích và trọng tải của con tàu chuyến được thuê. Được gọi là một phần hàng    
          trong tổng số hàng được chở trên tàu trong chuyến vận chuyển.    
               
        Partial delivery or Trong hợp đồng mua bán xuất nhập khẩu, quy định giao hàng từng phần có    
        partial shipment nghĩa là hàng hóa thuộc hợp đồng mua bán không phải giao toàn bộ trong    
        Giao hàng từng phần một chuyến chuyên chở mà được giao bằng nhiều chuyến chuyên chở do    
          người bán quyết định (Partial shipment allowed), hoặc do 2 bên thỏa thuận    
          theo định kỳ (Shipment by instalment).    
               
        Particular Average (P.A) Là một tổn thất bộ phận của một đối tượng bảo hiểm (Insured subject    
        Tổn thất riêng matter) do một rủi ro được bảo hiểm gây ra (Insured risks) và lại không phải    
          là tổn thất chung vì nó chỉ liên quan đến lợi ích riêng của người được bảo hiểm    
          ấy.    
               
        Penalty clause or Thường được áp dụng trong thuê tàu chuyến, điều khoản này quy định nếu    
        Indemnity clause chủ tàu không thực hiện hợp đồng thuê tàu đã ký kết gây nên tổn thất có    
        Điều khoản tiền phạt chứng cứ cho người thuê thì phải chịu phạt tiền hay bồi thường một số tiền    
        hày điều khoản bồi không vượt quá số tiền cước phí dự tính thu được.    
        thường      
               
        Performance Clause Trong hợp đồng thuê tàu định hạn, điều khoản hiệu suất nêu rõ: nếu tàu chạy    
        Điều khoản hiệu suất không đạt được tốc độ quy định hoặc tàu tiêu hao nhiên liệu vượt quá định    
          mức, thì người thuê có quyền khiếu nại giảm giá cước để bù đắp thiệt hại về    
          thời gian bị mất và phí vượt trội về nhiên liệu.    
               
        Perils of the sea Là tai nạn bất ngờ. Bao gồm các loại tai nạn: Cháy (Fire), nổ (Explosion), đâm    
        Hiểm họa của biển va (Collision), lật đổ (sizing), đắm (Sinking), mắc cạn (Stranding), phiêu dạt    
        Tai nạn của biển (Wrecking), mất tích (Missing),… được người bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm    
               

    35

           
        và chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất. Tai nạn của biển khác với tai nạn
        trên biển (Perils on the sea) xảy ra trong tình hình hoạt động bình thường
        trên biển. Thí dụ: tàu bị bắt vì buôn lậu hàng hóa, tàu bị đánh chìm do sự phá
        hoại của một phần tử khiêu khích.  
      Perishable Goods Chỉ các loại hàng dễ thiu thối, biến chất trong quá trình vận chuyển nhiều
      Hàng dễ hỏng ngày trên biển và đòi hỏi có biện pháp bảo quản thích đáng như: thông gió,
        làm lạnh, ướp đông,… Thí dụ: thực phẩm, rau quả, thịt cá,…
      Pick up Charge Là số tiền mà người cho thuê trả cho người thuê khi người này nhận container
      Phụ phí nhận container tại một địa điểm mà tại đó nhu cầu thuê mướn container nghèo nàn và ít ỏi,
        nhằm mục đích khuyến khích người thuê. Phụ phí này thường được áp dụng
        linh hoạt tùy tính chất địa điểm nhận container và ý đồ của người cho thuê.
      Pier to house Dùng để chỉ loại chuyên chở của hãng tàu container nhận hàng từ người gởi
      Từ cầu cảng đến nhà tại cầu cảng nước xuất khẩu và vận chuyển hàng đến tận cơ sở (xí nghiệp,
      xưởng kho…) tại nước nhập khẩu để giao cho người nhận.
      Pilotage 1. Hoa tiêu: việc dẫn đường đưa tàu ra, vào cảng do hoa tiêu viên cảng sở tại
        đảm nhiệm. 2. Phí hoa tiêu, còn gọi là pilotage dues: phí trả cho công việc
        dẫn đường ra, vào cảng.  
      Port dues or Harbour Là số tiền mà tàu biển phải trả cho mỗi lần ra vào cảng. Cảng phí bao gồm:
      due Phí trọng tải (Tonnage dues), phí cầu tàu (Pier dues), phí thả neo (Anchorage
      Cảng phí dues), phí buộc dây (Mooring dues), thuế bến (Wharfage), thuế quan
        (Customs dues) và đôi khi còn có phí ánh sáng đèn pha (Light dues).
      Port of registry or Là nơi con tàu nộp hồ sơ tàu để xin đăng ký với cơ quan quản lý hàng hải cho
      Port of registration phép con tàu hoạt động hợp pháp. Cơ quan đăng ký (Ở Việt Nam là cơ quan
      Cảng đăng ký Đăng kiểm) sẽ kiểm tra chu đáo con tàu và nếu xét đủ tiêu chuẩn để hoạt
        động trong phạm vi, lĩnh vực nào đó thì sẽ ghi vào sổ đăng bạ, cấp giấy
        chứng nhận đăng ký (Certificate of Registry) và giấy chứng nhận quyền sở
        hữu (Certificate of Ownership), là những chứng từ không thể thiếu trong bộ
        chứng từ hoàn chỉnh của tàu  
      Pro-forma charter Để tiện lợi cho đàm phán ký kết hợp đồng, chủ tàu và người thuê tàu thường
      Bản dự thảo hợp đồng sử dụng các hợp đồng thuê tàu tiêu chuẩn (mẫu) như: Gencon, Nuvoy,
      thuê tàu Grainvoy,… làm căn cứ thương lượng. Đó là các loại hợp đồng do các tổ chức
        hàng hải soạn thảo được nhiều người biết đến và sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên
        vì các điều khoản trong các hợp đồng này hoàn toàn có thể được bổ sung, sửa
        chữa cho phù hợp với yêu cầu vận chuyển thực tế nên đôi khi một trong hai
        bên đương sự thuê và cho thuê tàu soạn thảo và chuyển cho đối tác tham
        khảo ì  bản dự thảo hợp đồng thuê tàu làm cơ sở cho đàm phán thương
        lượng. Thí dụ: bản dự thảo hợp đồng Gencon 1994 (Gencon-Proforma 1994)
      Promotional Rate Chỉ loại cước suất thấp hơn cước suất thông thường do một hãng tàu hay một
      Cước suất khuyến mãi Hiệp hội vận tải nào đó áp dụng nhân nhượng cho người gửi (chủ hàng) để
        tạo thuận lợi cho xuất khẩu vào một thị trường mới.
      Prompt delivery or 1. Theo hợp đồng mua bán ì  Giao ngay lập tức   có nghĩa là người bán phải
      spot delivery giao hàng ngay cho người mua theo yêu cầu khẩn cấp của người này (Có hay
      Giao ngay lập tức không có quy định cụ thể một số ngày sau khi ký kết hợp đồng). 2. Theo hợp
        đồng thuê tàu định hạn, ì  Giao ngay lập tức   có nghĩa là chủ tàu phải giao
        tàu ngay cho người thuê sử dụng theo yêu cầu khẩn cấp của người này (Có
        hay không có quy định cụ thể ngày phải giao tàu).
      Protecting Agent Là người hoặc công ty được chủ tàu chỉ định để bảo vệ lợi ích của mình và
      Đại lý giám hộ giám sát việc làm của đại lý tàu khi con tàu của người chủ tàu đang ở cảng.
      Protection & Là một loại hình bảo hiểm riêng biệt do ì Hội tương hỗ của các chủ tàu   đảm
      Indemnity (P&I) trách (Shipowners mutual protection and indemnity association) nhằm bảo vệ
      Bảo hiểm trách nhiệm quyền lợi của các chủ tàu hội viên đối với những rủi ro thuộc trách nhiệm chủ
      chủ tàu tàu không được các loại bảo hiểm thông thường chấp nhận bảo hiểm như bảo
        hiểm thân tàu (Hull insurance), bảo hiểm hàng hóa (Cargo insurance) và bảo
        hiểm cước (Freight insurance). Hội tương hỗ của các chủ tàu là một tổ chức
        pháp nhân được thành lập dưới dạng công ty. Cơ quan lãnh đạo là Hội đồng
        giám đốc do các chủ tàu là hội viên bầu ra theo nhiệm kỳ. Dưới Hội đồng giám
        đốc có các nhóm chuyên viên có chức năng tự giúp xử lý những công việc
        hàng ngày. Hội định ra quy chế, quy tắc hoạt động trong đó có phần trọng
        yếu nhất là điều kiện bảo trợ đối với rủi ro của các con tàu của hội viên (Điều
        kiện bảo hiểm riêng biệt). Cơ sở tài chính của hội dựa vào phí đóng góp hàng
           

    36

    năm của các chủ tàu hội viên (Contribution or call) tùy theo số lượng tấn tàu của từng hội viên và cũng tùy theo tình hình mà hội có thể yêu cầu đóng góp thêm (Supplementary Call) hoặc đóng góp khẩn cấp (Catastrophe Call). Các khoản tiền đóng góp được coi như một loại phí bảo hiểm dùng lập quỹ dự trữ để bù đắp cho các hội viên khi xảy ra rủi ro gây tổn thất nằm trong quy định của Hội. Vào cuối năm tài chính, Hội sẽ hặch toán và nếu tiền qũy không sử dụng hết thì phần còn lại sẽ được hoàn trả cho các hội viên trước khi thu tiền đóng góp năm mới. Hiện nay, có nhiều ì Hội tương hỗ của các chủ tàu  được thành lập nhưng được biết tiếng hơn hết là Hội của các nước Anh, Na Uy, Hoa Kỳ. Quy chế hoạt động của mỗi hội tuy có khác nhau nhưng các quy tắc và thể lệ bảo trợ (bảo hiểm) về cơ bản giống nhau như sau: 1. Đối với các rủi ro đâm va (Collision) a. Đâm va vào tàu khác: Hội chịu trách nhiệm bồi thường: – 1/4 tổn thất và phí tổn của bất kỳ tàu nào khác, mà theo tập quán quốc tế 3/4 tổn thất và phí tổn đó đã được ì Bảo hiểm thân tàu  (Hull insurance) bồi

    thường. Tỷ lệ này có thể thay đổi tùy yêu cầu của chủ tàu hội viên và chấp thuận của hội, theo cách xử lý trách nhiệm chéo hay trách nhiệm 50/50 về 2 tàu đâm va. – Tổn thất hàng, bất động sản hay vật dụng cá nhân, sinh mệnh, thương tật thuyền viên, phí cứu hộ và cứu chữa tài sản, phí đóng góp tổn thất chung có liên quan. b. Đâm va vật thể nổi hoặc cố định. – Tổn thất các vật thể như: Cầu cảng, ụ tàu, phao, đập chắn sóng,.. c. Hội cũng chấp nhận bồi thường trách nhiệm của chủ tàu hội viên điều khiển tàu không đúng cách gây hậu quả làm cho 2 tàu khác đâm va nhau hoặc làm cho 1 tàu nào khác phải mắc cạn. 2. Đối với thuyền viên. Hội chấp thuận gánh chịu: – Phí bệnh viện, phí điều trị, phí cấp cứu, phí mai táng khi thuyền viên ốm đau hoặc chết, tiền thương tật do bất cẩn trong lao động gây ra, mà chủ tàu hội viên có trách nhiệm theo luật hay hợp đồng lao động. – Phí hồi hương (Repatriation) và các phí khác có liên quan do ốm đau hoặc tàu đắm. – Đồ dùng cá nhân bị tổn hại, mất mát. – Hội cũng nhận bồi thường tiền thương tật, phí điều trị, phí mai táng với bất kỳ người nào khác do lỗi bất cẩn của chủ tàu hội viên gây ra và có trách nhiệm. 3. Đối với rủi ro ô nhiễm (Pollution): Do thoát thải của dầu mỡ hoặc khí độc khi tàu được bảo hiểm gặp nạn hoặc hư hỏng thiết bị (Bồn chứa, ống dẫn). – Trách nhiệm đối với tổn thất, tổn hại, làm bẩn. – Tiền phạt gây ô nhiễm do luật định hay quyết định của nhà cầm quyền (Công ước quốc tế về ô nhiễm MARPOL 1973-1978). – Phí áp dụng biện pháp hợp lý để tránh, hạn chế và cứu chữa tổn thất, tổn hại. Điều kiện bảo hiểm này được kèm quy định giới hạn mức bồi thường của hội (Khoảng 300 triệu 500 triệu USD) do hậu quả ô nhiễm đôi khi rất nghiêm trọng và mức bồi thường rất lớn. 4. Đối với tổn thất hàng hóa. Hội nhận bồi thường: – Hàng hóa bị thiếu hụt, hư hàng, mất mát kể cả các loại tài sản khác không thuộc về tàu (Nhưng loại trừ tài sản có giá trị cao như vàng bạc, đá quý,…) mà nguyên nhân gây tổn thất do: hành động bất cẩn hoặc lỗi lầm thuyền viên hay người làm việc cho chủ tàu hội viên trong công việc bốc dỡ, chất xếp, vận chuyển và chăm sóc hàng không đúng quy cách hoặc do tàu được bảo hiểm không đủ khả năng đi biển gây nên. – Phí bổ sung bốc dỡ ngoài phí bốc dỡ thông thường mà chủ tàu hội viên phải gánh chịu khi xử lý hàng bị tổn thất mà không đòi được người nào khác bồi thường. – Các tổn thất hàng hóa được chuyên chở bằng phương tiện vận tải khác ngoài con tàu được bảo hiểm hoặc được lưu kho bãi hay xử lý ngoài kho bãi của cảng bốc dỡ nhưng chủ tàu hội viên vẫn phải chịu trách nhiệm căn cứ theo vận đơn đi suốt hoặc hợp đồng vận chuyển đã được hội chấp thuận. – Phần tỷ lệ hàng hóa tổn thất trong tổn thất chung hoặc cứu hộ phân bổ cho bên khác nhưng chủ tàu không thu được do vi phạm hợp đồng chuyên chở. – Vì sự cố gây tổn thất hàng xảy ra thường xuyên và nguyên nhân khá phức tạp nên hội phải xác định rõ trường hợp hội được miễn trách đồng thời đòi hỏi chủ tàu hội viên có trách nhiệm đầy đủ cứu chữa hàng và thực hiện tốt các quy tắc, thủ tục khiếu nại thì mới được hội chấp thuận bồi thường. 5. Đối với di dời xác tàu (Shipí s wreck removal) – Chi phí, phí tổn trục vớt, di dời hoặc phá hủy xác tàu được bảo hiểm kể cả việc đánh dấu và báo hiệu ánh sáng tại nơi ấy mà chủ tàu hội viên phải thực hiện theo luật định, theo lệnh tòa án hoặc theo một điều khoản của hợp đồng bồi thường đã được hội chấp thuận. – Các chi phí phát sinh khác do kết quả của trục vớt, di dời, phá hủy xác tàu, mà chủ tàu hội viên chịu trách nhiệm. 6. Đối với rủi ro phạt vạ: do nhà đương cục, tòa án hoặc trọng tài thuộc các trường hợp: – Thiếu sót trong chấp hành quy tắc an toàn kỹ thuật hay quy định của bất kỳ

    37

           
        nước nào liên quan đến con tàu được bảo hiểm. – Giao thiếu hoặc thừa hàng
        hóa so với số liệu của chứng từ hoặc chở lậu hàng hóa. – Vi phạm thể lệ hải
        quan, quy định nhập cảnh. – Gây ô nhiễm dầu, thoát thải khí độc. – Các hành
        động bất cẩn, lỗi lầm của thuyền viên hay đại lý tàu. Ngoài các rủi ro được hội
        gánh chịu nêu trên, chủ tàu hội viên có thể yêu cầu hội bảo hiểm thêm về
        cước phí, tiền phạt bốc dỡ và bảo vệ (Freight, demurrage & defence) là loại
        bảo hiểm không nằm trong diện P & I.
      R   (Back to top)    
      Rate of freight or Là số tiền cước chuyên chở phải trả cho 1 đơn vị hàng hóa: tấn, m3 hoặc
      Freight rate container.  
      Cước suất    
      Readdressing Trong việc gởi hàng, có những trường hợp cá biệt mà người thuê phải sửa đổi
      Việc chuyển đổi địa chỉ địa chỉ người nhận hàng khác với địa chỉ đã ghi trên vận đơn trước kia. Như
        vậy, người thuê phải kịp thời thông báo cho tàu và được tàu chấp nhận. Việc
        chuyển đổi địa chỉ chỉ nên thực hiện trong tình thế bắt buộc và người thuê yêu
        cầu chuyển đổi địa chỉ thường phải chịu thêm phụ phí.
      Rebate or Freight Trong thuê tàu chợ hoặc thuê tàu vận chuyển container, chủ tàu thực hiện
      abatement việc giảm cước công khai hay bí mật nhằm khuyến khích người thuê tàu gắn
      Giảm cước bó chuyên chở hàng hóa với mình đồng thời sử dụng việc giảm cước như một
        lợi khí cạnh tranh với các chủ tàu khác. Tất nhiên khi chủ tàu là thành viên
        của một hiệp hội vận tải nào đó thì việc giảm cước của họ sẽ tuân thủ sự quản
        lý và chỉ đạo thống nhất của tổ chức này. Có 2 cách giảm cước: – Giảm cước
        ngay (Immediate rebate): Chủ tàu trả ngay số tiền cước được giảm giá vào
        lúc người thuê thanh toán cước chở hàng (~ 9-10% trên giá cước). – Giảm
        cước định kỳ hay hồi khấu (deferred rebate ) : Chủ tàu căn cứ vào hợp đồng
        giảm cước (Rebate contract) với khách thuê quen mà thực hiện chi trả tiền
        giảm cước theo định kỳ 3 hoặc 6 tháng / lần tùy thỏa thuận. Trong vận
        chuyển hàng bằng container, chủ tàu giảm cước bằng cách thưởng khuyến
        khích cho khách hàng (Incentive) tức là khấu trừ một tỷ lệ phần trăm (~1-
        2,5% ) trên tiền cước phải trả. Đối với khách hàng có khối lượng hàng lớn,
        chủ tàu thực hiện chiết khấu căn cứ theo hợp đồng định kỳ – số lượng ( Time
        volume contract ). Thí dụ : ì Trong định kỳ 6 tháng, chủ hàng xếp được
        200 TEU đầu tiên sẽ trả số tiền cước là…., nếu xếp vượt quá số lượng nói trên
        sẽ được giảm giá và trả cước thấp hơn là…  .
      Received for Là chứng từ mà người chuyên chở ký phát cho người thuê tàu hay người gởi
      shipment bill of hàng xác nhận mình đã nhận hàng, chờ tàu đến sẽ bốc xếp và vận chuyển.
      lading (Custody bill Vận đơn nhận hàng trước để chở có chức năng như một biên nhận hàng hóa
      of lading ) làm bằng chứng cho nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở bắt đầu
      Vận đơn nhận hàng từ ngày nhận cho đến ngày giao trả hàng tại nơi đến. Nhưng theo thông lệ
      trước để chở quốc tế, vận đơn nhận hàng trước để chở không được người nhập khẩu và
        ngân hàng chấp nhận là 1 trong bộ chứng từ thanh toán trong mua bán quốc
        tế với lý do là hàng chưa thực xếp xuống tàu, trừ khi có một thỏa thuận nào
        khác giữa người mua và người bán. Do đó, sau khi hàng đã thực tế được xếp
        xuống tàu người gởi hàng phải yêu cầu đổi ì  Vận đơn nhận hàng trước
        thành ì  Vận đơn hàng đã xếp (On board B/L).
      Reefer ship or Là tàu được trang bị hệ thống máy làm lạnh, dùng để chở các loại hàng dễ
      refrigerated ship: hỏng như: rau, quả, thịt, cá. Register – Danh bạ đăng ký (tàu) – Cơ quan
      Tàu đông lạnh đăng ký (đăng kiểm) tàu.  
      Register – ton (RT) Là đơn vị đo lường dung tích tàu. Một tấn đăng ký có 100 feet khối (Cubic
      Tấn    đăng ký feet) và bằng 2,83m3.  
      Registry of shipping Theo thông lệ quốc tế, và luật pháp mỗi quốc gia có tàu đều quy định bất cứ
      Việc đăng kiểm (đăng phương tiện và công cụ vận tải nào gồm tàu hàng, tàu khách, container đều
      ký) tàu phải được kiểm tra chặt chẽ và đăng ký ghi tên vào sổ đăng bạ (Register
        book) của cơ quan đăng kiểm nhà nước thì mới được cấp phép hoạt động kinh
        doanh. Giấy chứng nhận đăng ký (Shipí  s certificate of registry) là một chứng
        từ quan trọng cấp cho tàu, xác nhận tên, quốc tịch, năm đóng, cảng đăng ký,
        kích thước, trọng tải, chủ sở hữu của con tàu,… nó minh chứng luật pháp chi
        phối luật pháp con tàu tại nơi nó đăng ký. Ở Việt Nam, việc đăng tàu do Công
        ty đăng kiểm tàu Việt Nam (VIRES) đảm trách. VIRES là một Công ty quốc
        doanh đảm trách việc đăng kiểm tàu đồng thời kiêm luôn việc xếp thứ hạng
           

    38

               
          tàu (Shipí  s Classification). Ở nhiều nước khác việc đăng kiểm tàu do chính    
          quyền quản lý còn việc xếp hạng tàu là do các tổ chức xếp hạng tàu tư nhân    
          (Classification Societies). Những Công ty xếp hạng tàu nổi tiếng thế giới gồm    
          có: Công ty Lloyd của Anh (Lloyd’s Register of Shipping), Công ty BV của    
          Pháp (Bureau Véritas), Công ty ABS của Mỹ (American Bureau of Shipping),    
          Công ty NK của Nhật (Nippon Kaiji Kentei Kyok)…    
               
        Revenue – Ton Là đơn vị hàng hóa mà người chuyên chở chọn làm cơ sở để tính và thu cước.    
        (Freight ton) Trong kinh doanh chở thuê bằng tàu chợ, chủ tàu thường chủ động quy định 3    
        Tấn – Tính cước cách tính cước: – Cước theo trọng lượng hàng (Freight by cargo weight) –    
          Cước theo thể tích hàng (Freight by measurement) – Cước theo giá trị hàng    
          (Freight ad valorem) Và tự dành cho mình quyền chọn lựa và áp dụng cách    
          tính cước nào có lợi nhất.    
               
        Reverible layday Dùng để chỉ thỏa thuận giữa chủ tàu và người thuê về cách tính thời gian bốc    
        Thời gian bốc dỡ bù trừ và dỡ hàng ở 2 đầu cảng làm hàng được tính gộp làm 1 và được bù trừ lẫn    
          nhau. Như vậy, việc tính toán thưởng phạt bốc/dỡ nhanh chóng sẽ chỉ được    
          thực hiện sau khi chở xong hàng ở cảng dỡ và toàn bộ thời gian làm hàng ở 2    
          đầu cảng đã được tổng kết chính xác. Thí dụ: Chủ tàu và người thuê thỏa    
          thuận thời gian bốc dỡ bù trừ cho 1 lô phân bón đóng bao 10.000 tấn, năng    
          suất bốc và dỡ hàng là 1.000 tấn/ngày. Khi thực tế tiến hành bốc hàng, người    
          thuê chỉ thực hiện được mức bốc phân bón 900 tấn/ngày, thấp hơn mức quy    
          định là 100 tấn. Sau đó, người thuê cố gắng tìm cách nâng mức dỡ hàng tại    
          cảng dỡ lên 1.100 tấn. Như vậy, đã rút ngắn thời gian dỡ hàng bù vào thời    
          gian bốc hàng chậm trễ trước kia, bảo đảm thực hiện bốc và dỡ hàng đúng    
          thời gian quy định, tránh được bị phạt bốc dỡ chậm.    
               
        Rider Là văn bản đính kèm với hợp đồng thuê tàu để bổ sung những điều khoản    
        Phần phụ lục hoặc quy định đã được 2 bên chủ tàu và người thuê thỏa thuận, mà riêng bản    
          thân hợp đồng thuê tàu không thể bao quát và đề cập đầy đủ các chi tiết cần    
          thiết.    
               
        Rolling cargo Là các loại hàng như ôtô, máy kéo, xe nâng…tiện lợi cho việc đưa hàng xuống    
        Hàng chuyên chở có tàu Ro-Ro băng cầu dẫn.    
        bánh lăn      
               

    T      (Back to top)

        Tallying Việc giao nhận hàng tại cảng giữa người chuyên chở và chủ hàng đòi hỏi phải    
           
        Việc kiểm đếm hàng tiến hành chặt chẽ, chính xác bằng cách: Kiểm tra và cân đếm số lượng hàng    
        (kiểm đếm) thực tế được bốc xuống tàu hoặc dỡ lên bờ. Việc kiểm đếm có thể tiến hành    
          tại cầu cảng (Dock tally) hoặc tại miệng hầm tàu (Hatch tally) do nhân viên    
          kiểm kiện (Tallyman or tally clerk) đại diện cho 2 bên giao và nhận cùng ghi    
          chép và đối chiếu. Thông thường, ở các cảng khẩu trọng yếu, hàng hóa đi đến    
          với khối lượng lớn, có nhiều công ty kiểm đếm (Tally company) làm dịch vụ    
          kiểm đếm thuê cho tàu và chủ hàng.    
               
        Tanker (tankship) Là loại tàu có cấu trúc 1 boong, có khoang hàng đặc biệt gồm các bồn chứa có    
        Tàu chở hàng lỏng(Tàu vách ngăn trong tư thế đứng hoặc nằm, dùng để chứa dầu mỡ, dầu thực vật    
        dầu) và khí hoá lỏng. Công cụ bốc dỡ gồm một hệ thống máy bơm và ống dẫn.    
          Thiết bị phòng chống cháy được bố trí đầy đủ và nghiêm ngặt trên các tàu chở    
          dầu mỡ và khí hóa lỏng. Có nhiều cỡ tàu: Loại nhỏ trọng tải vài nghìn tấn    
          dùng để chở dầu thực vật hoặc phân phối sản phẩm dầu mỡ giữa các cảng    
          gần nhau và loại lớn hoặc cực lớn trọng tải vài chục ngàn tấn cho đến    
          400/500 nghìn tấn dùng để chở sản phẩm dầu và dầu thô trên tuyến đường    
          dài (Ultra large crude oil carrier = ULCC). Tùy tính chất hàng chuyên chở mà    
          có thể phân chia: – Tàu chở dầu (Oil tanker) gồm: Tàu chở dầu mỡ thô (Crude    
          oil tanker), sản phẩm dầu mỡ được chế luyện (Product oil tanker) và dầu hay    
          chất lỏng nguồn gốc thực vật như dầu hương liệu, mật mía, rượu… (Vegetable    
          oi tanker). – Tàu chở khí hoá lỏng (Liquefied gas tanker) như: Metan, butan,…    
          được chứa trong bầu hoặc ống ống tròn, cấu trúc kiên cố và kín hơi có khả    
          năng chịu áp suất lớn và nhiệt độ rất thấp dưới âm độ.    
               
        Tare Là trọng lượng của công cụ chứa hàng chuyên chở như: Hòm, kiện, sọt,    
        Trọng lượng của bao bì container,… Trong chuyên chở hàng có bao bì thông thường, người vận tải sẽ    
          thu cước phí theo tổng trọng lượng hàng hóa bao gồm trong đó là trọng lượng    
          bao bì. Nhưng trong chuyên chở hàng bằng container, người vận tải sẽ thu    
          cước theo trọng lượng tịnh của hàng hóa, có nghĩa là trừ đi trọng lượng của    
               

    39

         
        container.
      Tariff 1. BIểu thuế (Hải quan) Là loại thuế đánh vào hàng hóa xuất / nhập khẩu và
        quá cảnh do hải quan thu, nộp vào ngân quỹ quốc gia. Một nước có thể đặt ra
        nhiều loại biểu thuế tùy theo đường lối chính sách đối ngoại của mình: – Biểu
        thuế phổ thông (General tariff):Áp dụng mức thuế suất bình thường đối với
        hàng hóa xuất nhập khẩu và quá cảnh của nước ngoài. – Biểu thuế ưu đãi
        (Preferential tariff): Áp dụng mức thuế suất thấp đối với một số nước được
        hưởng chế độ ưu đãi. – Biểu thuế tối huệ quốc (Most favoured nation tariff):
        Dành riêng áp dụng đối với các nước được hưởng chế độ tối huệ quốc trong
        quan hệ kinh tế đối ngoại. – Biểu thuế bảo hộ (Protection or protective tariff):
        Áp dụng thuế suất cao đối với những mặt hàng nhập khẩu nhằm bảo vệ các
        loại hàng này sản xuất trong nước chống xâm nhập cạnh tranh từ bên ngoài.
        Thuế suất được tính theo đơn vị trọng lượng / thể tích (Specific tariff) hoặc
        theo giá trị hàng (Advalorem tariff). 2. Biểu cước tàu chợ (Liner freight tariff)
        Là bảng kê tổng hợp các cước suất do các Hiệp hội vận tải tàu chợ hoặc
        những công ty kinh doanh tàu chợ quy định, áp dụng vào việc thu cước hàng
        hóa chở thuê. (Xem: Liner freight tariff). 3. Biểu cước tàu container
        (Container freight tariff) Là bảng kê tổng hợp các cước suất do các hiệp
        hội/Công-xoọc-xiôm (consortiums) (vận tải tàu container quy định áp dụng
        vào việc thu cước hàng hóa chở thuê. (Xem: Container freight tariff).
      Terminal chassis Là thiết bị hỗ trợ bốc dỡ chuyên dùng làm giá đỡ để chất xếp và vận chuyển
      Khung gầm container giữa tàu-cảng và trong bãi chứa nhờ vào động lực của máy kéo
        (tractor)
      Terminal handling Là số tiền mà chủ hàng phải chi cho hãng tàu về công việc tàu tiếp nhận và
      charge chất xếp container hàng xuống tàu tại cảng gửi (cảng bốc hàng) để chở đi
      Phí làm hàng (tại bến hoặc về công việc tàu dỡ container hàng lên bờ tại cảng đích để giao trả cho
      cảng container) người nhận hàng.
      Terms of a contract Là những điều kiện mà 2 bên đương sự trao đổi nhau để thoả thuận, đi đến ký
      Điều kiện (điều khỏan) kết hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng vận tải (Expressterms); Thí dụ: –
      hợp đồng Delivery terms: Điều kiện giao hàng. – Liner terms: Điều kiện vận chuyển tàu
        chợ. – Icoterms: Điều kiện thương mại quốc tế.
      TEU (Twenty feet Là đơn vị container cỡ 20í  (foot) được dùng làm tiêu chuẩn đo lường sức chứa
      equivalent unit) container của con tàu và tính cước chuyên chở.
      Đơn vị container bằng  
      20 foot  
      Through Bill of Là loại vận đơn cấp cho lô hàng được chở từ cảng gửi hàng đến cảng đích mà
      Lading dọc đường hàng được chuyển tải từ tàu này sang tàu khác hoặc trung chuyển
      Vận đơn chở suốt từ phương thức vận tải này sang phương tiện của phương thức vận tải khác.
        Tuỳ theo thỏa thuận của hợp đồng mà người cấp vận đơn chở suốt có thể chịu
        trách nhiệm đối với hàng hoá trong suốt quá trình vận chuyển hay là chỉ chịu
        trách nhiệm đối với hàng hóa trong cung đoạn vận chuyển do mình thực hiện
        mà thôi.
      Tidal port Là cảng có mực nước biến động do chịu ảnh hưởng của thuỷ triều lên xuống.
      Cảng thủy triều Tại những cảng thuỷ triều có biên độ lớn, việc ra vào và làm hàng của tàu có
        thể bị trở ngại nên cần có sự dự tính thích hợp.
      Time – Charter 1. Là cách thuê trọn con tàu: – Lấy thời hạn thuê làm cơ sở (định hạn). – Tàu
      Thuê (tàu) định hạn được giao cho người thuê sử dụng cho đến lúc kết thúc thời hạn sẽ đươc hoàn
        trả cho chủ tàu. – Cước định hạn được tính theo tấn trọng tải/tháng của con
        tàu và thông thường được trả trước, bất kể lượng hàng được chở như thế nào.
        2. Có 2 cách thuê định hạn: – Thuê định hạn phổ thông: chủ tàu giao tàu có
        đủ biên chế thuyền viên cho người thuê sử dụng trong thời hạn thuê. – Thuê
        tàu trần (bare-boat charter or charter per demise): chủ tào giao tàu không có
        thuyền bộ (crew) cho người thuê sử dụng trong thời gian thuê. 3. Hợp đồng
        thuê định hạn phổ thông thường dựa vào mẫu chuẩn ì  Baltime   do ì  HIệp
        hội hàng hải Bantic và quốc tế soạn thảo và được bổ sung sửa chữa nhiều lần.
        – Hợp đồng quy định trách nhiệm của chủ tàu: Có sự khẩn trương đúng mức
        làm cho con tàu đủ tính năng hàng hải và duy trì hoạt động có tính năng hàng
        hải trong suốt thời hạn thuê; cung cấp và chi trả mọi tư liệu sinh hoạt, lương
        bổng, tiền thưởng và phí bảo hiểm xã hội khác cho toàn bộ thuyền bộ, sĩ quan
        và thuyền trưởng; chi trả phí bảo hiểm thân tàu và phí duy tu sửa chữa kỹ
        thuật theo định kỳ. – Hợp đồng quy định trách nhiệm người thuê: Tự mình
         

    40

           
        điều động khai thác con tàu trong phạm vi hoạt động và giới hạn hàng được
        chở, chi trả mọi chi phí khai thác con tàu, gồm có: Nhiên liệu nước nồi hơi,
        cảng phí, phí hoa tiêu, phí qua kênh đào, thuế cước, phí làm hàng bốc dỡ, tiền
        thưởng làm việc ngoài giờ. – Hợp đồng còn quy định những điều khoản trọng
        yếu như: Điều khoản về giao và hoàn trả tàu, điều khoản đình thuê, điều
        khoản cước phí, điều khoản tố tụng và những điều khoản khác về tổn thất
        chung, ký phát vận đơn, tàu đụng nhau,… Trong thuê tàu định hạn, người
        thuê cần phải nắm vững tính chất, đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của con tàu để
        có phương án thuê và sử dụng có hiệu quả phù hợp với yêu cầu chuyên chở
        của mình. (Xem: Phụ ục số 16)
      Time Sheet or Layday Là bảng tính thời gian sử dụng vào việc bốc hoặc dỡ hàng để tính thưởng phạt
      Statement trong đó có chữ ký xác nhận của thuyền trưởng và người thuê tàu hay đại
      Bảng tính thời gian diện của họ. Nội dung chi tiết gồm có: – Tên cảng, tên tàu. – Ngày giờ tàu
      thưởng phạt bốc/dỡ đến. – Ngày giờ trao thông báo sẵn sàng bốc /dỡ. – Ngày giờ bắt đầu bốc dỡ. –
      (hàng) Khối lượng hàng bốc dỡ từng ngày. – Thời gian gián đoạn và nguyên nhân. –
        Ngày giờ bốc/dỡ. – Thời gian được phép sử dụng cho bốc/dỡ. – Kết quả
        thưởng/ phạt Bảng tính thời gian thưởng phạt bốc /dỡ là cơ sở để tính thưởng
        phạt bốc /dỡ theo quy định của hợp đồng. Thông thường, nếu có điểm nào
        trong bảng tính chưa đồng ý thì thuyền trưởng hoặc người thuê có thể ghi
        ì  Có kháng nghị (Under protest) để tiếp tục giải quyết sau.
      Tonnage 1. Thuật ngữ được dùng để chỉ: – Dung tích (Sức chứa) của 1 con tàu, được
        đo bằng thể tích:m3 hoặc cubic feet (Registered Tonnage). Còn được gọi là
        dung tích của tàu. – Trọng tải (Sức chở) của 1 con tàu, được đo bằng trọng
        lượng:Tấn hoặc cân Anh (Deadweight tonnage). 2. Là một tập hợp dung tích
        hoặc trọng tải tàu của một đơn vị nào đó. Thí dụ: – National Tonnage (Số
        lượng đội tàu quốc gia) – Coastal Tonnage (Số lượng đội tàu cận duyên) –
        Charter Tonnage (Số lượng đội tàu thuê mướn).
      Tonnage Certificate cấp phát: Tên và loại tàu, quốc tịch, chủ sở hữu, cảng đăng ký, kích thước,
      (Certificate of dung tích, trọng tải,… Tàu buôn hoạt động trên các tuyến đường quốc tế phải
      Tonnage) có giấy chứng nhận dung tải quốc tế (Intenational Tonnage Certificate), phù
      Giấy chứng nhận dung hợp với quy tắc của công ước về chế độ thống nhất đo dung tải tàu ký kết tại
      tải Olso ngày 10/6/1947 và được bổ sung bởi ì  Công ước quốc tế về đo dung tích
        trọng tải của tàu được ký ngày 23/1/1969 và có hiệu lực từ 18/7/1982 (The
        International Convention of the TonnageMeasurement of ship) Giấy chứng
        nhận dung tải tàu được dùng làm cơ sở để tính thuế cảng và các chi phí có
        liên quan, ngoại trừ thuế kênh đào Suez và Panama được tính theo số đo
        dung tải tàu theo quy tắc riêng của các con kênh này (Suez cacal Tonnage &
        Panama canal Tonnage).
      Total loss Chỉ lô hàng bị hư hỏng hoặc mất mát toàn bộ về số, khối lượng hoặc phẩm
      Tổn thất toàn bộ chất. Có 2 loại tổn thất toàn bộ: – Tổn thất toàn bộ thực sự: Lô hàng được bảo
        hiểm không tồn tại hoặc thực sự mất hết phẩm chất (Actual total loss) Thí dụ:
        Lô hàng 3.000 hộp áo sơ-mi bị mất sạch, chưa rõ nguyên nhân. – Tổn thất
        toàn bộ ước tính: Lô hàng được bảo hiểm tuy chưa bị tổn thất hoàn toàn
        nhưng số lượng còn sót không đáng kể hoặc phẩm chất lô hàng bị suy giảm
        nghiêm trọng đến mức giá trị sử dụng còn sót không đáng kể (Contructive
        total loss). Nếu phải bỏ công và chi phí để cứu chữa, tái chế, đóng gói và tiếp
        chuyển sẽ ngang bằng hoặc vượt quá giá trị bảo hiểm của lô hàng. Trong
        trường hợp này, người được bảo hiểm có thể thực hiện quyền từ bỏ lô hàng,
        yêu cầu người bảo hiểm bồi thường toàn bộ lô hàng và nếu được người bảo
        hiểm chấp nhận thì sau khi nhận đủ số tiền bồi thường, người được bảo hiểm
        sẽ làm thủ tục chuyển giao quyền chi phối và xử lý hàng hóa (kể cả việc khiếu
        nại người có lỗi gây tổn thất) cho người bảo hiểm. Nhưng cũng có trường hợp
        hiếm hoi, người bảo hiểm từ chối bồi thường tổn thất toàn bộ ước tính mà chỉ
        bồi thường bộ phận số hàng đã bị tổn thất thực sự. Như vậy, chủ hàng sẽ giữ
        nguyên quyền chi phối số hàng còn lại mà không chuyển giao cho người bảo
        hiểm. Thí dụ: Lô bọt mì 5200 tần do bão biển làm ướt hàng, mất phẩm chất
        hoàn toàn 5100 tấn. Còn lại 100 tấn cũng bị thiệt hại bộ phận do rách vỡ, dây
        bẩn. Người được bảo hiểm đã đề nghị và được hãng bảo hiểm chấp nhận bồi
        thường coi như tổn thất toàn bộ. (Xem: Subrogation).
      Towage 1. Việc lai dắt B: (kéo, đẩy) tàu hoặc sà lan băng sức mạnh của tàu lai dắt
        hoặc tàu kéo (towboat or tugboat) 2. Phí lai dắt tàu: Còn được gọi là towage
        due hoặc tug boat charges. Trade usage (Commercial usage) Tập quán mua
           

    41

                 
          bán – Tập quán thương mại Là những lề thói, quán lệ được áp dụng lâu đời    
          trong mua bán, có tính ổn định, hợp pháp và được giải thích thống nhất. Tác    
          dụng của tập quán mua bán là giải thích, bổ sung và hướng dẫn thực hiện các    
          điều khoản có liên quan của hợp đồng mua bán mà các điều khoản đó chưa    
          quy định hoặc quy định chưa cụ thể.    
               
        Tramp Là loại tàu làm dịch vụ chở thuê (Tramping service) cơ động tuỳ theo yêu cầu    
        Tàu chạy rong chủ hàng mà không có tuyến cố định, không có lịch trình chạy tàu cố định    
          (Sailing schedule) như tàu chợ. Thường được sử dụng trong vận chuyển hàng    
          khối lượng lớn, không bao bì (hàng rời) như: Ngũ cốc, than, quặng, phân bón,    
          tàu đa phần có cấu trúc một boong (Single deck), trọng tải lớn và thân tàu bố    
          trí nhiều hầm hàng.      
               
        Tramp-Liner Là loại tàu có cấu trúc thích hợp cho phép tùy tình hình thị trường thuê tàu    
          mà kinh doanh theo cách chạy rong hoặc theo cách tàu chợ. Chất lượng loại    
          tàu nào cao hơn loại tàu chạy rong thông thường, có cấu trúc 2 boong (Tween    
          deck).      
               
        Transhipment Bill of Là loại vận đơn do người chuyên chở hoặc đại diện của họ ký phát cho chủ    
        Lading hàng hay người gởi hàng trong trường hợp hàng được vận chuyển từ cảng gửi    
        Vận đơn chuyển tải đến cảng cuối phải trải qua một đôi lần chuyển tải dọc đường (Transhipment)    
          từ tàu này sang tàu khác. Vận đơn chuyển tải thuộc loại: Vận đơn chuyển    
          suốt (Through Bill of Lading).    
               
        Trasit goods (Goods Chỉ hàng chuyên chở từ nước gửi đến nước đến, dọc đường phải đi qua nước    
        in transit) thứ ba.      
        Hàng quá cảnh        
               
        Transit time Là thời gian được dùng để chuyển đổi hàng hóa/container từ phương tiện vận    
        Thời gian trung chuyển tải này sang phương tiện vận tải khác.    
               
        Transport in bulk Hàng rời là loại hàng không có bao bì, được chở xô với khối lượng lớn (in    
        Vận chuyển hàng rời mass), chiếm hầu như toàn bộ dung tích    trọng tải của tàu chở hàng rời    
          trong chuyến đi. Thí dụ: Than, quặng các loại, ngũ cốc, phân bón, ximăng,…    
               
        Trasporter oe Là loại công cụ bốc dỡ sử dụng chuyển động liên tục của các băng chuyền    
        Conveyor bằng cao su hay nhựa dẻo để vận chuyển một số loại hàng thích hợp, trên    
        Băng chuyền một hướng cố định và trong một khoảng cách giới hạn. Thí dụ: – Băng chuyền    
          cho bốc dỡ than, quặng, phân bón,… hoặc các kiện hàng có trọng lượng và    
          hình dáng thích hợp (Túi xách, các-tông, bao gói,…) – Băng chuyền đóng rút    
          hàng và vào container.      
               
        Transtainer or Loại cẩu cấu trúc dạng khung với 4 chân đế gắn vào bánh kim loại lăn trên    
        Trasfer crane ray hoặc bánh lăn cao su, bên trên trang bị một xe tời điện (Trolley) để thao    
        Cẩu di động tác nâng lên, hạ xuống và dịch chuyển các loại hàng bốc dỡ có trọng lượng    
          lớn. Thường được sử dụng phổ biến trong vận chuyển, xếp tầng các container    
          tại bãi chứa.      
               
        Trip-time chartering Là cách thuê tàu phối hợp thuê chuyến và thuê định hạn nghĩa là con tàu    
        Việc thuê chuyến định được thuê cho 1 chuyến vận chuyển và kết thúc trong thời hạn quy định. Thí    
        hạn dụ: ì  thuê 1 chuyến định hạn với 2 cảng bốc hàng tại Nhật và 2 cảng bốc    
          hàng tại Việt Nam. Hoàn trả tại trạm hoa tiêu cảng dỡ sau cùng. Thời hạn    
          thuê tổng cộng 25 ngày . Khi cho thuê chuyến định hạn, chủ tàu thường yêu    
          cầu thêm quy định sau: ì Nếu người thuê không hoàn trả đúng thời hạn thì    
          phải trả cước phụ trội nếu giá cước thị trường tăng cao vào thời điểm ấy   . Vì    
          vậy, người thuê cần cân nhắc và xem xét các điều khoản nào cần bổ sung và    
          sửa đổi cho thích hợp yêu cầu chuyên chở.    
                 
    • (Back to top)

    Unclean bill of lading  (Xem: Bill of lading)

    Vận đơn không sạch

    (không hợp cách)

    Uncontainerable             Hàng không xếp được vào container (do quá khổ)

    cargo

    Underwriter or                Người bảo hiểm – Công ty bảo hiểm Là người đứng ra kinh doanh nghiệp vụ

    Insurer                               bảo hiểm, có quyền thu phí bảo hiểm đồng thời có trách nhiệm bồi thường tổn thất của các đối tuợng được bảo hiểm, tuỳ theo điều kiện bảo hiểm đã được quy định theo luật bảo hiểm hoặc quy chế bảo hiểm.

    42

                 
        Unloading or Việc dỡ hàng từ tàu lên bờ      
        Discharging        
                 
        Unitization Chỉ việc gộp các kiện hàng lẻ thành một đơn vị có kích cỡ thống nhất để nâng      
        Đơn vị hóa cao hiệu quả bốc dỡ và vận chuyển. Quá trình đơn vị hóa các kiện hàng lẻ dẫn      
          đến sự ra đời cách vận chuyển bằng pallet và cách vận chuyển container.      
                 
        Unstuffing Việc rút hàng (Dỡ hàng) ra khỏi container (Xem: Stuffing)      
        orDevanning        
                 
        Utilisation allowance Khi chủ hàng có 1lô hàng lẻ, không đủ dung tích hoặc tải trọng của container      
        (FCL allowance) nhưng vẫn chịu thiệt thuê trọn 1 container để chở, thì hãng tàu có thể ưu đãi      
        Tiền giảm cước sử dụng giảm giá cước cho thuê trọn container tuỳ theo mức độ sử dụng (utilization).      
        trọn container Số tiền ấy được gọi là tiền giảm cước sử dụng trọn container.      
                 
        V (Back to top)      
               
        Ventilation Thông gió, thông hơi hầm hàng, container hàng là biện pháp quan trọng để    
        Việc thông gió, thông bảo vệ phẩm chất hàng trong quá trình vận chuyển dài ngày trên biển, qua    
        hơi   những vùng địa lý có nhiệt độ và độ ẩm khác nhau. Mục đích thông gió, thông    
            hơi là làm giảm nhiệt độ, phòng tránh hàng bị hấp hơi, ẩm ướt, ngăn ngừa tự    
            bốc cháy, thải bỏ mùi hôi và khí độc do đặc tính của hàng hoá. Người ta thực    
            hiện thông gió, thông hơi tự nhiên bằng cách lấy gió trời hoặc thông gió,    
            thông hơi bằng quạt máy.    
               
        Ventilated container (Xem: Ventilation).    
        Tontainer thông gió      
               
        Vessel sharing Khi 2 hãng vận tải kinh doanh chuyên chở có chung 1 lịch trình (Common    
        agreement chedule), 2 bên sẽ ký thỏa thuận phân chia số tàu mỗi bên tham gia vận    
        Bản thỏa thuận chia chuyển nhằm tránh sự dư thừa trọng tải có thể đưa đến sự cạnh tranh gay    
        phần tàu chạy chung gắt.    
        lịch trình      
               
        Voyage charter or Là cách thuê trọn con tàu hay một phần lớn trọng tải của con tàu chạy rông    
        Trip charter để chở hàng, lấy chuyến vận chuyển làm cơ sở thuê và trả cước. Chủ hàng    
        Thuê (tàu) chuyến thuê chuyến nhằm mục đích chở lô hàng lớn thường được chở rời như: Than,    
            các loại quặng, hạt ngũ cốc, dầu mỏ,… Chủ hàng và chủ tàu thường thỏa    
            thuận chọn một hợp đồng thuê tàu tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến trên thị    
            trường thuê tàu quốc tế làm cơ sở để tiện lợi, rút ngắn đàm phán và ký kết    
            hợp đồng thuê chuyến (Voyage charter-party standard). Hợp đồng này chứa    
            đựng các điều khoản trọng yếu về: 1- Tình hình con tàu được thuê. 2- Tình    
            hình hàng chuyên chở. 3- Cảng bốc/dỡ hàng và cảng chuyển tải nếu có. 4-    
            Định mức bốc/dỡ và thưởng phạt. 5- Cước phí và thanh toán. 6- Nghĩa vụ,    
            quyền lợi và trường hợp miễn trách nhiệm của các bên. 7- Các quy định linh    
            tinh khác như: Cấp vận đơn, giải quyết tranh chấp, tố tụng,… Nói chung,    
            trong thuê chuyến chủ tàu có nghĩa vụ cung cấp cho con tàu có tính năng    
            hàng hải và khả năng làm hàng, điều tàu đến cảng gởi hàng đúng thời hạn,    
            thực hiện việc bốc xếp, san cào hàng theo quy định của hợp đồng, giữ gìn,    
            bảo quản, vận cuyển và giao trả hàng đầy đủ và an toàn cho người nhận tại    
            cảng đến. Còn người thuê có nghĩa vụ giao hàng xuống tàu tại cảng gởi và    
            nhận hàng tại cảng đến đúng theo quy định trong hợp đồng, trả cước phí    
            chuyên chở và chấp hành thưởng phạt bốc/dỡ nếu có. Người thuê có thể tùy    
            theo yêu cầu vận chuyển mà có 3 cách thuê chuyến: – Thuê chuyến đơn hay    
            thuê chuyến một (Single voyage) – Thuê chuyến khứ hồi hay thuê chuyến đi    
            lẫn chuyến về (Round voyage) – Thuê chuyến liên tiếp (Consecutive voyages):    
            Đi liên tiếp hay về liên tiếp. Tóm lại, thuê chuyến có ưu điểm là giá cước    
            thường thấp hơn giá cước tàu chợ, nhưng nó cũng có nhược điểm là thường    
            xuyên biến động, việc đàm phán thuê khá phức tạp và tốn phí nhiều thời gian    
            để 2 bên thoả thuận đi đến ký kết hợp đồng. (Xem: Charter-Party).    
        W (Back to top)      
        War clause Vận đơn hoặc hợp đồng thuê tàu có ghi điều khoản chiến tranh với nội dung ít    
        Điều khoản chiến tranh nhiều khác nhau tùy theo mỗi chủ thể nhưng thường có chung quy định: Cho    
            phép thuyền trưởng rộng quyền đối phó khi có chiến tranh gây nguy hiểm cho    
            tàu, hàng hoặc thuyền viên.    
               
        Warehousing Lưu kho việc gửi hàng vào kho (warehouse) (xem:Storage)    
        Warranted free Thuật ngữ thường được sử dụng trong các văn kiện ngành bảo hiểm, có giá trị    
           
                 
                       

    43

           
      from… như một bảo lưu cho phép người bảo hiểm được giải miễn trách nhiệm đối với  
      Cho phép được miễn một sự việc hay một vấn đề gì đó. Thí dụ: Cho phép công ty bảo hiểm được  
      trách đối với… miễn trách đối với tổn thất riêng dưới 3% giá trị bảo hiểm (Warranted free  
        from particular aveage under 3%).  
           
      Warrnty Thuật ngữ thường được dùng trong các hợp đồng bảo hiểm để chỉ một điều  
      Sự bảo đảm kiện phải được hoàn thành chính xác cho dù nó có mật thiết hay không đến  
        một tai nạn rủi ro nào đó mà nếu người được bảo hiểm vi phạm điều kiện đó  
        thì người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm nữa bắt đầu từ lúc ấy. Sự bảo  
        đảm có thể được biểu thị rõ rệt bằng cách ghi chép trong hợp đồng hoặc được  
        hiểu ngầm là một điều tất nhiên. Thí dụ: trong hợp đồng bảo hiểm chuyến,  
        tuy không ghi rõ thành văn bản nhưng con tàu thực hiện chuyến đi phải được  
        hiểu có sự bảo đảm ngầm là tính năng hàng hải (Sea-worthiness). (Xem:  
        Institute warraties)  
           
      Waybill (Xem: Sea waybill).  
      Giấy gửi hàng    
           
      Weather permitting Thời tiết thuận lợi (cho làm hàng) (Xem: Laytime).  
           
      Weather working day (Xem:Laydays)  
      of 24 hours    
      Ngày làm việc tốt trời    
      24 giờ    
           
           

    Lưu ý : Chúng tôi cố gắng cung cấp chính xác những thông tin mà chúng tôi mà chúng tôi có được từ các nguồn mà chúng tôi tin tưởng, tuy nhiên chúng tôi không chắc chắn các thông tin trên là hoàn toàn chính xác. Mọi sự tin tưởng của bạn vào sự chính xác và giá trị của thông tin trên chúng tôi coi đó là sự rủi ro riêng của người đọc. Tất cả các thông tin trên được cung cấp mang tính chất thiện ý nhưng không có bảo đảm.

    A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z

    </TABLE

    A   (Back to top)  
    AIR WAYBILL A nonnegotiable shipping document evidencing the contract between shipper
      and air carrier for transportation and delivery of cargo
       
    ALL-RISK INSURANCE The broadest form of coverage available, providing protection against all risk of
      physical loss or damage from any external cause. Does not cover loss or
      damage due to delay, inherent vice, inadequate packaging, or loss of market.
       

    B      (Back to top)

    BAF (BUNKER An adjustment in shipping charges to offset price fluctuations in the cost of
    ADJUSTMENT FACTOR) fuel. Also known as a Bunker Surcharge (B/S). The word Bunker refers to fuel
      storage containers on a vessel.
       
    BILL OF LADING (B/L) A document issued by a common carrier to a shipper that serves as:
      1. A receipt for the goods delivered to the carrier for shipment.
      2. A definition of the contract of carriage of the goods.
      3. A Document of Title to the goods described therein.
      4. This document is generally not negotiable unless consigned “to order.”
      (See “Bill of Lading, Order” below.)
       
    BILL OF LADING, ON A bill of lading acknowledging that the relative goods have been received on
    BOARD board a specified vessel.
       
    BILL OF LADING, A negotiable bill of lading. There are two types:
    ORDER    
      1. A bill drawn to the order of a foreign consignee, enabling him to endorse
      the bill to a third party.
      2. A bill of lading drawn to the order of the shipper and endorsed by him either
      “in blank” or to a named consignee. The purpose of the latter bill is to protect
      the shipper against the buyer’s obtaining the merchandise before he has paid
      or accepted the relative draft.&nbps;
       
    BONDED WAREHOUSE A warehouse authorized by customs for storage of goods on which payment of
      duties is deferred until the goods are removed.
         

    44

    BREAK-BULK VESSEL A vessel designed to handle large or oversized cargo; generally cargo
      unsuitable for container stowage.
       
    BULK CARGO Loose cargo that is loaded directly into a ship’s hold.
       
    BULK CARRIER There are two types of bulk carriers, the dry-bulk carrier and the liquid-bulk
      carrier, better known as a tanker. Bulk cargo is a shipment such as oil, grain,
      or one which is not packaged, bundled, bottled, or otherwise packed and is
      loaded without counting or marking.
       

    C      (Back to top)

    CAD (CASH AGAINST A method of payment for goods in which documents transferring title are given
    DOCUMENTS) to the buyer upon payment of cash to an intermediary acting for the seller.
       
    CAF (CURRENCY A surcharge on freight charges by a carrier to offset foreign currency
    ADJUSTMENT FACTOR) fluctuations.
       
    CARGO INSURANCE Insurance to protect the financial interest of the owner of the cargo in the
      event of a loss during transportation.
       
    CARNET A customs document permitting the holder to carry or send merchandise
      temporarily into certain foreign countries without paying duties or posting
      bonds. All of the goods traveling under a Carnet must be returned to the origin
      country to avoid penalties.
       
    CARRIER Any person who, through a contract of carriage, undertakes to perform or
      procure the performance of carriage by rail, road, sea, air, inland waterway, or
      by a combination of modes.
       
    CERTIFICATE OF A document used under a letter of credit containing an affidavit that goods
    MANUFACTURE have been manufactured and are being held for the account and risk of the
      buyer.
       
    CERTIFICATE OF A document containing an affidavit to prove the origin of imported goods. It is
    ORIGIN used for customs or foreign exchange purposes or both. Certificates of Origin
      are commonly certified by an official organization in the country of origin such
      as a consular office or a chamber of commerce.
       
    CFS (CONTAINER The term CFS at loading port means the location designated by carriers for the
    FREIGHT STATION) receiving of cargo to be loaded into containers by the carrier. At discharge or
      destination ports, the term CFS means the bonded location designated by
      carriers for devanning of containerized cargo.
       
    CFS CHARGE (Container Freight Station Charge) – The charge assessed for services
      performed at the origin or destination for loading or unloading of cargo
      into/from containers at a CFS.
       
    CFS RECEIVING The service performed at the loading port in receiving and packing cargo into
    SERVICES containers from CFS to CY or shipside.
       
    CFS/CFS (PIER TO PIER) The term CFS/CFS refers to cargo delivered at origin in less-than-containerload
      quantities to a container freight station (CFS) to be loaded into containers and
      to be unloaded from the container at destination CFS.
       
    CHARGEABLE WEIGHT Rate for airfreight goods where dimensional weight factor exceeds the actual
      weight of the cargo.
       
    CHARTER Originally meant a flight where a shipper contracted hire of an aircraft from an
      air carrier, but has usually come to mean any non-scheduled commercial
      service.
       
    CHASSIS A rectangular steel frame, supported by springs and wheeled axles constructed
      to accept mounting of containers for over-the-road transport.
       
    CIA (CASH IN A method of payment for goods whereby the buyer pays the seller prior to
    ADVANCE) shipping the goods.
       
    CLASSIFICATION A term for the determination of the correct tariff number in a Customs tariff for
      admissibility and duty purposes.
       
    COMBINATION VESSELS A type of ship that accommodates both container and break-bulk cargo. It can
      be either self-sustaining or non-self sustaining. Also known as a
      Container/Break-bulk Vessel.
       
    COMMERCIAL INVOICE Receipt for a transaction and or goods purchased (invoice) indicating the
      sender or seller and the receiver or purchaser. A commercial invoice should
       

    45

      contain an itemized list of the merchandise with the complete description of
      goods with their unit value and extended total value. Depending on the
      Customs requirements of the destination country, there may be additional
      requirements, statement or clauses that must appear as well.
       
    CONFERENCE A group of vessel operators joined together for the purpose of establishing
      freight rates.
       
    CONFIRMED LETTER OF (See Letter of Credit, Confirmed)
    CREDIT  
       
    CONSIGNEE The individual or company to whom a seller or shipper sends merchandise and
      who, upon presentation of necessary documents, is recognized as the
      merchandise owner for the purpose of declaring and paying customs duties.
       
    CONSIGNOR A term used to describe any person who consigns goods to himself or to
      another party in a bill of lading or equivalent document. A consignor might be
      the owner of the goods, or a freight forwarder who consigns goods on behalf of
      his principal.
       
    CONSOLIDATED A method of shipping whereby an agent (freight forwarder or consolidator)
    SHIPMENT combines individual consignments from various shippers into one shipment
      made to a destination agent, for the benefit of preferential rates. (Also called
      “groupage”) The consolidation is then de-consolidated by the destination agent
      into its original component consignments and made available to consignees.
      Consolidation provides shippers access to better rates than would be otherwise
      attainable.
       
    CONSOLIDATOR Special forms signed by the consular office of a country to which cargo is
      destined.
       
    CONSULAR INVOICE A document required by some countries describing a shipment of goods and
      showing information such as the consignor, consignee, and value of the
      shipment. Certified by a consular official, a consular invoice is used by the
      country’s customs officials to verify the value, quantity, and nature of the
      shipment.
       
    D (Back to top)  
    DATE DRAFT A draft that matures in a specified number of days after issuance without
        regard to date of acceptance.
         
    DDC   Destination Delivery Charge.
       
    DDP (DELIVERED DUTY Also known as “free domicile” or “free house.”
    PAID  
       
    DDU (DELIVERED DUTY This reflects the emergence of “door-to-door” intermodal or courier contracts or
    UNPAID) carriage where only the destination customs duty and taxes (if any) are paid by
        consignee.
       
    DEAD FREIGHT Freight charges paid by the charterer of a vessel for the contracted space which
        is left partially unoccupied.
       
    DECK CARGO Cargo carried on deck rather than stowed under deck. On-deck carriage is
        required for certain commodities, such as explosives.
       
    DEMURRAGE A penalty for exceeding free time allowed for loading or unloading at a pier or
        freight terminal. Also a charge for undue detention of transportation equipment
        or carriers in port while loading or unloading.
       
    DENSITY Weight units per unit of volume
       
    DIM WEIGHT An airfreight term used to describe the results of computing the chargeable
    (DIMENSIONAL weight from the cubic measurement of a shipment.
    WEIGHT)  
       
    DRAFT An unconditional order in writing from one person (the Drawer) to another (the
        Drawee), directing the drawee to pay a specified amount to a named drawer on
        presentation or on a fixed date.
       
    DRAWEE The individual or firm on whom a draft is drawn and who owes the stated
        amount to the drawer.
         
         
    E (Back to top)  
         

    46

    EDI OR EDIFACT (Electronic Data Interchange for Administration, Commerce and Transport) –
      From the United Nations-backed electronic data interchange standards body,
      this is a set of standards that are used to define data sets in certain documents
      to standardize them for electronic transmission from one format to another.
       
    ENDORSEMENT IN 1.&nbps; Commonly used on a bank check, an endorsement in blank is an
    BLANK endorsement to the bearer. It contains only the name of the endorser and
      specifies no particular payee.
      2.&nbps; Also, a common means of endorsing bills of lading dawn to the order
      of the shipper. The bills are endorsed “For…” (See Bill of Lading, Order)
       
    EXPORT LICENSE A document secured from a government, authorizing a shipper to export a
      specific quantity of a particular commodity to a certain country. An export
      license is often required when a government places restrictions upon exports.
       
    EXPORT TRADING A corporation or other business entity organized and operated primarily for the
    COMPANY purpose of exporting goods and services, or of providing export-related
      services to other companies
       

    F      (Back to top)

    FCL Full Container Load, Full Car Load.
       
    FEDERAL MARITIME The U.S. Federal agency responsible for overseeing Ocean Carriers,
    COMMISSION (FMC) Conferences, NVOCC’s and Ocean Freight Forwarders (now called OTI’s – Ocean
      Transportation Intermediaries) at ocean ports and inland waterways.
       
    FEEDER VESSEL A vessel that connects with a line vessel to service a port not directly served by
      that line vessel.
       
    FEU (Forty foot equivalent) Term normally used in ocean freight rate negotiations
      referring to the equivalent of two twenty foot ocean containers.
       
    FIATA International Federation of Freight Forwarders Associations.
       
    FLAG CARRIER An airline or vessel of one national registry whose government gives it partial
      or total monopoly over international routes.
       
    FLAT BED CHASSIS A semi-trailer with a level bed and no sides or tops. The floor is a standard
      height from the ground.
       
    FLAT RACK A platform designed with the flexibility to carry oversized cargo on board
      container vessels. It can be loaded from the sides and top, usually having
      adjustable or removable bulkheads at the front and back.
       
    FMC (See Federal Maritime Commission)
       
    FORCE MAJEURE The title of a standard clause found in marine contracts exempting the parties
      for non-fulfillment of their obligations by reasons of occurrences beyond their
      control, such as earthquakes, floods, or war.
       
    FOREIGN FREIGHT (See Forwarder)
    FORWARDER  
       
    FOREIGN TRADE ZONE A port designated by the government for duty-free entry of any non-prohibited
    (FTZ) goods. Merchandise may be stored, displayed, and used for manufacturing
      within the zone and re-exported without duties being paid. Duties are imposed
      only when the original goods or items manufactured from those goods pass
      from the zone into an area of the country subject to customs authority. Also
      called a Free Trade Zone.
       
    FOREIGN TRADE ZONE A form declaring goods which are brought duty free into a Foreign Trade Zone
    ENTRY for further processing or storage and subsequent exportation from the zone
      into the commerce of another country.
       
    FORWARDER An independent business that dispatches shipments for exporters for a fee. The
      firm may ship by land, air, or sea, or it may specialize. Usually it handles all the
      services connected with an export shipment, including preparation of
      documents, booking cargo space, warehousing, pier delivery, and export
      clearance. The firm may also handle banking and insurance services on behalf
      of a client.
       
    FREE OF PARTICULAR A marine insurance clause relating to the recoverability of partial and total
    AVERAGE (FPA losses from perils of the sea. The American and English coverage’s vary as
      follows:
       

    47

      1.  American Conditions (FPAAC) – The underwriter does not assume
      responsibility for partial losses unless caused by sinking, stranding, burning, or
      colliding with another vessel.
      2.  English Conditions (FPAEC) – The underwriter assumes responsibility for
      partial losses if the vessel is sunk, stranded, burned, on fire, or in collision,
      even though such an event did not actually cause the damage suffered by the
      goods.
       
    FREE OUT (FO) The cost of unloading a vessel is borne by the charterer.
       
    FREE PORT A port which is a Foreign Trade Zone open to all traders on equal terms, or
      more specifically a port where merchandise may he stored duty-free pending
      re-export or sale within that country.
       
    FREE TRADE ZONE (See Foreign Trade Zone)
       
    FREIGHT FORWARDER (See Forwarder)
       
    G (Back to top)  
    GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) – A multilateral treaty intended to
        help reduce trade barriers and promote tariff concessions.
       
    GROSS WEIGHT (GR The full weight of a shipment, including containers and packaging materials
    WT./GW)  
    H (Back to top)  
    HARMONIZED CODE An internationally accepted and uniform description system for classifying
        goods for customs, statistical, and other purposes.
       
    HARMONIZED SYSTEM A key provision of the international trade bill, effective January 1, 1989, that
    (HS) established international uniformity for classifying goods moving in
        international trade under a single commodity code.
       
    HI (OR HIGH) CUBE Any container exceeding 102 inches in height.
       
    HOUSE AIR WAYBILL An air waybill issued by an airfreight consolidator. (See also Air Waybill)
         
         
    I (Back to top)  
    IATA International Air Transport Association.
       
    ICAO (International Civil Aviation Organization) – A specialized agency of the United
        Nations headquartered in Montreal. It promotes general development of civil
        aviation such as aircraft design and operation, safety procedures, and
        contractual agreements.
       
    ICC (INTERNATIONAL A non-governmental organization serving as a policy advocate on world
    CHAMBER OF business.
    COMMERCE)  
       
    IGLOO A contoured structural container designed for use in main-deck carriage on
        narrow body aircraft.
       
    IMPORT LICENSE A certificate issued by countries exercising import controls that permits
        importation of the articles stated in the license and often authorizes and/or
        releases the funds in payment of the importation.
       
    IN-BOND A term use to describe cargo that has not been cleared by Customs to enter
        the commerce of a country.
       
    INCOTERMS The set of international standards for the uniform interpretation of common
        contract clauses in international trade. INCOTERMS 2000, formulated in concert
        with many international entities, comprises the latest revisions and should now
        be used exclusively.
       
    INDUCEMENT When steamship lines publish in their schedules the name of a port and the
        words “by inducement” in parentheses, this means the vessel will call at the
        port if there is a sufficient amount of profitable cargo available and booked.
       
    INLAND CARRIER A transportation line which hauls export or import cargo between ports and
        inland points.
       
    INSPECTION A document certifying that merchandise was in good condition, or in
    CERTIFICATE accordance with certain specifications immediately prior to shipment.
         

    48

    INTEGRATED CARRIER A forwarder that uses its own aircraft, whether owned or leased, rather than
      scheduled airlines.
       
    INTERLINE A mutual agreement between airlines to link their route network
       
    INTERMODAL This refers to the capacity to go from ship to train to truck or the like. The term
      generally refers to containerized shipping or the capacity to handle containers
      across different modes of transport.
       
    ISO 9000 A series of voluntary international quality standards.
       
    J   (Back to top)  
    JOINT VENTURE A term of business partnership involving joint management and the sharing of
      risks and profits between enterprises sometimes based in different countries.
       
    JUST IN TIME (JIT) The principle of production and inventory control in which goods arrive when
      needed for production or use.
       
    K (Back to top)  
    KNOT, NAUTICAL The unit of speed equivalent to one nautical mile: 6,080.20 feet per hour or
        1.85 kilometers per hour.
         
         
    L (Back to top)  
    L&D   Loss and Damage.
         
    L/C   (See Letter of Credit)
         
    LCL   Less than Container Load; Less than Car load.
       
    LEGAL WEIGHT The weight of the goods plus any immediate wrappings or packagings that are
        sold along with the goods, e.g., the weight of a tin can as well as its contents.
        (See also Gross Weight)
       
    LESS THAN TRUCKLOAD Rates applicable when the quantity of freight is less than the volume or
    (LTL) truckload minimum weight.
       
    LETTER OF CREDIT A document issued by a bank per instructions by a buyer of goods authorizing
    (L/C) the seller to draw a specified sum of money under specified terms. Issued as
        revocable or irrevocable.
       
    LETTER OF CREDIT, A letter of credit containing a guarantee on the part of both the issuing and
    CONFIRMED advising banks of payment to the seller, provided the seller’s documentation is
        in order and the terms of the letter of credit are met.
       
    LIGHTER An open or covered barge equipped with a crane and towed by a tugboat. Used
        mostly in harbors and inland waterways.
       
    LINER The word “liner” is derived from the term “line traffic,” which denotes operation
        along definite routes on the basis of definite, fixed schedules. A liner thus is a
        vessel that engages in this kind of transportation, which usually involves the
        haulage of general cargo as distinct from bulk cargo.
       
    LO/LO (LIFT-ON/LIFT- Denotes the method by which cargo is loaded onto and discharged from an
    OFF)   ocean vessel, which in this case is by the use of a crane.
       
    LOAD FACTOR Capacity used as against capacity available and expressed as a percentage.
       
    LOGISTICS The efficient and cost-effective management of the physical movement of
    MANAGEMENT goods from supply points to final sale and the associated transfer and holding
        of such goods at various intermediate storage points.
         
    LTL   (See Less than Truckload)
         
         
    M (Back to top)  
    M/T OR METRIC TON 1000 Kilos
       
    MANIFEST A list of the goods being transported by a carrier.
       
    MEASUREMENT TON The measurement ton (also known as the cargo ton or freight ton) is a space
        measurement, usually 40 cubic feet or one cubic meter. Cargo is assessed a
        certain rate for every 40 cubic feet or one cubic meter it occupies.
       
    MERCOSUR A trade alliance between Argentina, Brazil, Paraguay and Uruguay, with Chile
         

    49

        and Bolivia as associate members.
         
         
    N (Back to top)  
    NAFTA (North American Free Trade Agreement) – A free trade agreement comprising
        the U.S.A., Canada, and Mexico.
       
    NATIONAL CARRIER A flag carrier owned or controlled by the state
       
    NET TERMS Free of charters’ commission.
       
    NET WEIGHT (ACTUAL The weight of the goods alone without any immediate wrappings; e.g., the
    NET WEIGHT) weight of the contents of a tin can without the weight of the can.
       
    NON-VESSEL (NVOCC) – In the United States, a term for an FMC-Iicensed cargo consolidator
    OPERATING COMMON of shipments in ocean trade, generally arranging for or performing
    CARRIER consolidation and containerization functions. In trade lanes that do not include
        the U.S.A., NVOCC’s operate under different rules and governmental licensing
        may not be a requirement.
         
    NOS   Not Otherwise Specified.
         
    NT   Net Tons.
       
    NVOCC (See Non-Vessel-Operating Common Carrier
         
         
    O (Back to top)  
    O/R   Owner’s Risk.
         
    OD   Outside Diameter.
       
    OPEN ACCOUNT A trade arrangement in which goods are shipped to a foreign buyer without
        guarantee of payment such as a note, L/C, or other formal written evidence of
        indebtedness.
       
    OPEN POLICY A cargo insurance policy that is an open contract; e.g., it provides protection
        for all shipments in transit within a specified geographic trade area for a limited
        period of time. It is referred to as “open” because it does not require reporting
        of individual shipments. Summary or grouped reporting requirements vary with
        different policies.
         
         
    P (Back to top)  
    PA   (See Particular Average)
       
    PART CHARTER Where part of an airline’s scheduled flight is sold as if it were a charter in its
        own right. Often incorrectly used as a synonym for split charter
       
    PART LOAD CHARTER Where a part of an aircraft’s load is discharged at one destination and a part of
        it at another. This is distinct from a split charter where a number of
        consignments are carried to the same destination. Inbound, part loads are
        treated as single entity charters under the regulations in most countries.
       
    PARTICULAR AVERAGE Partial loss or damage to goods.
    (PA)    
       
    PERILS OF THE SEA Fortuitous accidents or casualties peculiar to transportation on navigable water,
        such as sinking, collision of vessel, striking a submerged object, or
        encountering heavy weather or other unusual forces of nature.
       
    PERISHABLES Any cargo that loses considerable value if it is delayed in transportation. This
        usually refers to fresh fruit and vegetables.
       
    PHYTOSANITARY A certificate issued by an exporting countries’ Department of Agriculture
    INSPECTION indicating that a shipment has been inspected and is free of harmful pests and
    CERTIFICATE plant diseases.
       
    PILFERAGE As used in marine insurance policies, the term denotes petty thievery-the
        taking of small parts of a shipment-as opposed to the theft of a whole shipment
        or large unit. Many ordinary marine insurance policies do not cover against
        pilferage, and when this coverage is desired it must be added to the policy.
       
    PORT MARKS An identifying set of letters, numbers, or geometric symbols followed by the
        name of the port of destination that are placed on export shipments. Foreign
        government requirements may be exceedingly strict in the matter of port
         

    50

      marks.
       
    PORT OF DISCHARGE A port where a vessel is off-loaded and cargo discharged
       
    PORT OF ENTRY A port at which foreign goods are admitted into the receiving country.
       
    PORT OF LOADING A port where cargo is loaded aboard the vessel, lashed, and stowed.
       
    PREPAID FREIGHT Generally speaking, freight charges both in ocean and air transport may be
      either prepaid in the currency of the country of export or they may be billed
      collect for payment by the consignee in his local currency. On shipments to
      some countries, however, freight charges must be prepaid because of foreign
      exchange regulations of the country of import or rules of steamship companies
      or airlines.
       
    PRIMA FACIE A Latin term frequently encountered in foreign trade that means “on first
      appearance.” When a steamship company issues a clean bill of lading, it
      acknowledges that the goods were received “in apparent good order and
      condition” and this is said by the courts to constitute prima facie evidence of
      the conditions of the containers; that is, if nothing to the contrary appears, it
      must be inferred that the cargo was in good condition when received by the
      carrier.
       
    PROOF OF DELIVERY The delivery receipt copy of a freight bill indicating the name of the person who
    (POD) signed for a package with the date and time of delivery.
       
    R   (Back to top)  
    REEFER A refrigerated container, trailer or railcar for transporting perishables.
       
    RO/RO (ROLL-ON/ROLL- A ship designed to accommodate cargo that is rolled on and rolled off. Many
    OFF) VESSEL Ro/Ro vessels can also accommodate containers and/or break-bulk cargo.
       
    ROUTE An established passage, from the point of departure to the terminating station.
       

    S      (Back to top)

    SHIP’S MANIFEST An instrument in writing containing a list of the shipments constituting the
      ship’s cargo.
       
    SHIPMENT Freight tendered to a carrier by one consignor at one place at one time for
      delivery to one consignee at one place on one bill of lading.
       
    SHIPPER Term used to describe an exporter (usually the seller).
       
    SHORT-SHIPPED Cargo manifested but not loaded.
       
    SIGHT DRAFT A draft payable upon presentation to the drawee. (Compare with Date Draft
      and Time Draft.)
       
    STEAMSHIP AGENT A duly appointed and authorized representative in a specified territory acting
      on behalf of a steamship line or lines and attending to all matters relating to
      the vessels owned by his principals
       
    STEAMSHIP LINE A company usually having the following departments: vessel operations,
      container operations, tariff department, booking, outbound rates, inward rates,
      and sales. The company can maintain its own in-country offices to handle
      regional sales, operations, or other matters, or appoint steamship agents to
      represent them doing the same. Some lines have liner offices in several regions
      and appointed agents in others
       
    STOWAGE The lading of cargo in a vessel in such a manner as to provide the utmost
      safety and efficiency for the ship and the goods it carries.
       
    STRIKES, RIOTS AND An insurance clause referring to loss or damage directly caused by strikers,
    CIVIL COMMOTION’S locked-out workmen, persons’ participation in labor disturbances, and riots of
      various kinds. The ordinary marine insurance policy does not cover this risk.
      Coverage against it can be added only by endorsement.
       
    SUE & LABOR CAUSE A provision in marine insurance obligating the assured to do things necessary
      after a loss to prevent further loss and to act in the best interests of the
      insurer.
       

    T      (Back to top)

    TARE WEIGHT The weight of packing and containers without the goods to be shipped.
       

    51

    TARIFF A general term for any listing of rates or charges. The tariffs most frequently
      encountered in foreign trade are: tariffs of international transportation
      companies operating on sea, land, and in the air; tariffs of international cable,
      radio, and telephone companies; and the customs tariffs of the various
      countries that list goods that are duty free and those subject to import duty,
      giving the rate of duty in each case. There are various classes of customs
      duties.
       
    TEMPERATURE Any cargo requiring carriage under controlled temperature.
    CONTROLLED CARGO  
       
    TEU A twenty-foot equivalent unit (6.1m). A standard unit for counting containers of
      various lengths and for describing container ship or terminal capacity. A
      standard 40′ container (FEU) equals 2 TEUs.
       
    THC (TERMINAL A charge for handling services performed at terminals.
    HANDLING CHARGE)  
       
    TIME DRAFT A draft that matures in a certain number of days, either from acceptance or the
      date of the draft.
       
    TON Freight rates for liner cargo generally are quoted on the basis of a certain rate
      per ton, depending on the nature of the commodity. This ton, however, may be
      a weight ton or a measurement ton.
       
    TON-DEADWEIGHT The carrying capacity of the ship in terms of the weight in tons of the cargo,
      fuel, provisions, and passengers which a vessel can carry.
       
    TRACKING A system of recording movement intervals of shipments from origin to
      destination.
       
    TRANSSHIPMENT The transfer of a shipment from one carrier to another in international trade,
      most frequently from one ship to another. Because the unloading and reloading
      of delicate merchandise may cause damage, transshipments are avoided
      whenever possible.
       
    V   (Back to top)  
    VALUATION CHARGES Additional transportation charges assessed shippers who declare a value of
      goods higher than the value of carriers’ limits of liability.
       
    VOLUME WEIGHT An international airfreight term used to describe the results of computing the
      chargeable weight from the cubic measurement of a shipment.
       

    W      (Back to top)

    W/M Weight and/or Measurement
       
    WAR RISK The possible aggressive actions against a ship and its cargo by a belligerent
      government. This risk can be insured by a marine policy with a risk clause.
       
    WAR RISK INSURANCE Insurance issued by marine underwriters against war-like operations
      specifically described in the policy. In former times, war risk insurance was
      taken out only in times of war, but currently many exporters cover most of
      their shipments with war risk insurance as a protection against losses from
      derelict torpedoes and floating mines placed during former wars, and also as a
      safeguard against unforeseen warlike developments. In the U.S.A., war risk
      insurance is written in a separate policy from the ordinary marine insurance; it
      is desirable to take out both policies with the same underwriter in order to
      avoid the ill effects of a possible dispute between underwriters as to the cause
      (marine peril or war peril) of a given loss.
       
    WAREHOUSE RECEIPT A receipt of commodities deposited in a warehouse identifying the commodities
      deposited. It is non-negotiable if permitting delivery only to a specified person
      or firm, but it is negotiable if made out to the order of a person or firm or to a
      bearer. Endorsement (without endorsement if made out to bearer) and delivery
      of a negotiable warehouse receipt serves to transfer the property covered by
      the receipt. Warehouse receipts are common documents in international
      banking.
       
    WAREHOUSE-TO- A clause in marine insurance policy whereby the underwriter agrees to cover
    WAREHOUSE the goods while in transit between the initial point of shipment and the point of
      destination with certain limitations, and also subject to the law of insurable
       

    52

      interest. The warehouse-to-warehouse clause was once extremely important,
      but marine extension clauses now often override its provisions.
         
    WEIGHT Gross – The weight of the goods including packing, wrappers, or containers,
      both internal and external. The total weight as shipped.
      Net – The weight of the goods themselves without the inclusion of any
      wrapper.
      Tare – The weight of the packaging or container.
      Weight/Measurement Ton – In many cases, a rate is shown per
      weight/measurement ton, carrier’s option. This means that the rate will be
      assessed on either a weight ton or measurement ton basis, whichever will yield
      the carrier the greater revenue.
      Weight Ton – Metric measure equals 1000 Kilograms; in English measure a
      short ton is 2000 pounds, a long ton is 2240 pounds.
       
    WEIGHT LOAD FACTOR Payload achieved as against available capacity, expressed as a percentage.
      Cargo is frequently limited by volume rather than weight; load factors of 100
      percent are rarely achieved.
       
    WITH AVERAGE (WA) A marine insurance term meaning that shipment is protected for partial
      damage whenever the damage exceeds a stated percentage.
       
    WITH PARTICULAR An insurance term meaning that partial loss or damage of goods is insured. The
    AVERAGE (WPA) damage generally must be caused by sea water, and many terms specify a
      minimum percentage of damage before payment. It may be extended to cover
      loss by theft, pilferage, leakage and breakage, or other perils depending on the
      nature of the cargo.
         

    Please take note that we endeavor to report accurate information and as such we obtain same from sources which we believe are reliable; however, we cannot guarantee its accuracy. Any reliance you may place on the accuracy of this information or the validity of our opinion is at the reader’s own risk. All information is given in good faith, but without guarantee.

    span class=”footer”>International Freight Forwarding, Chartering, Shipping Agency, Logistics, Warehousing and Inland Transportation

    53


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ph%C3%A2n-bi%E1%BB%87t-gi%E1%BB%AFa-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-nh%C3%A2n-s%E1%BB%B1-v%C3%A0-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và Quản trị nguồn nhân lực

    Phân biệt giữa Quản trị nhân sự và

    quản trị nguồn nhân lực

    Quản trị Nhân sự khác gì so với Quản trị nguồn nhân lực?

    Mình xin mạo mụi nói lên nhận xét kểu conbo.

    Thứ nhất về mặt từ ngữ:

    Dĩ nhiên là khác nhau xa rồi. Nhân sự với nguồn nhân lực đâu có giống nhau. Nhưng cái conbo nói ở đây chính là sự hiểu từ ngữ đó vào ứng dụng thực tế thì có sự khác biệt. Một người đều hành về nhân sự sẽ khác một người đều hành về nguồn nhân lực. Human resources: Tiếng Anh

    dịch sang thì là nguồn nhân lực. Nhưng theo mô hình quản trị trung Hoa thì được dịch là Nhân sự. Trước đây, chưa có sự tiếp cận khoa học quản trị phương Tây thì hầu hết các công ty Việt Nam đều chỉ có 1 chức danh đó là Nhân sự. Nhưng khi tiếp cận Cách quản trị phương Tây thì từ được hiểu đúng nghĩa hơn và sát với công việc hơn nên nhiều công ty đã đổi tên thành Nguồn nhân lực.

    Thứ hai về mặt nội dung:

    Thực chất Hai mà là một, hai chức danh đều làm một nội dung công việc. Có thể công ty này dùng từ nhân sự và công ty kia dùng từ nguồn nhân lực. Như tác giả Nổi tiếng về Sách Quản trị Nguồn nhân lực : Nguyễn Hữu Thân trước đây cũng sử dụng tựa đề sách là “Quản Trị Nhân Sự” nhưng xuất bản gần đây thì đổi tên thành “Quản Trị Nguồn Nhân Lực” cùng tác giả và cùng nội dung.

    Tuy nhiên do cách hiểu từ ngữ để vận dụng vào thực tế thì sẽ xuất hiện sự khác biệt. Nếu hiểu theo nghĩa Nhân Sự thì sẽ có quan điểm ôn hòa, con người là trung tâm của sự việc; Quản trị theo mô hình tình cảm và hòa thuận, động viên và khuyến khích làm việc tập thể; Giải quyết mâu thuẫn giữa con người với con người.

    Còn hiểu theo từ Quản trị Nguồn nhân lực thì rõ ràng sự quản lý về đội ngũ nhân viên, đội ngũ lao động. Đề cao tinh thần trách nhiệm giữa nhân viên với công ty. Mang tính chất điều hành nhân viên và thấy được Con người là Tài Sản của Công ty. Con người là Một Nguồn lực của Doanh nghiệp cần phải chăm sóc và bảo vệ.

    Sự khác biệt giữa quản trị nhân sự (QTNS) và quản trị nguồn nhân lực (QT NNL).

    1.     Quan niệm QTNS tại các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập

    trung:

    1. Quan điểm, triết lý về nhân viên trong DN: nhân viên là chủ nhân của

    DN

    1. Mục tiêu quan tâm hàng đầu:ý nghĩa, lợi ích chính trị trong các hoạt động sản xuất, dịch vụ.
    1. Quan hệ giữa nhân viên và chủ doanh nghiệp: không rõ ràng
    1. Cơ sở của năng suất, chất lượng: Tổ chức + công nghệ, kỹ thuật
    1. Quyền thiết lập các chính sách, thủ tục cán bộ: Nhà nước
    1. Định hướng hoạt động: Dài hạn
    1. Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách quản trị con người với chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức: Tách rời

    2.Quan niệm QTNS tại các nước khác:

    Quan điểm, triết lý về nhân viên trong DN: lao động là yếu tố chi phí đầu

    vào

    1. Mục tiêu quan tâm hàng đầu:lợi ích của tổ chức, doanh nghiệp.
    1. Quan hệ giữa nhân viên và chủ doanh nghiệp: quan hệ thuê mướn
    1. Cơ sở của năng suất, chất lượng: công nghệ, kỹ thuật + quản trị
    1. Quyền thiết lập các chính sách, thủ tục cán bộ: Nhà nước + tổ chức, doanh nghiệp
    1. Định hướng hoạt động: Ngắn hạn và trung hạn
    1. Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách quản trị con người với chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức: Phục vụ cho chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức

    3.Quan niệm QT NNL cho các nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: (*)

    Quan điểm, triết lý về nhân viên trong DN: con người là tài sản quý, nguồn nhân lực cần được đầu tư phát triển.

    1. Mục tiêu quan tâm hàng đầu:Cả lợi ích của tổ chức lẫn lợi ích của nhân

    viên.

    1. Quan hệ giữa nhân viên và chủ doanh nghiệp: Quan hệ hợp tác bình

    đẳng, hai bên cùng có lợi.

    1. Cơ sở của năng suất, chất lượng: Quản trị + chất lượng nguồn nhân lực
    • công nghệ, kỹ thuật
    1. Quyền thiết lập các chính sách, thủ tục cán bộ: Nhà nước + tổ chức, doanh nghiệp
    1. Định hướng hoạt động: Dài hạn
    1. Mối quan hệ giữa chiến lược, chính sách quản trị con người với chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức: Phục vụ cho chiến lược, chính sách kinh doanh của tổ chức.

    những

    (*) Đối với các nước công nghiệp phát triển, quản trị nguồn nhân lực sẽ có yêu             cầu             cao             hơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]